Document: Điểm d Khoản 7 Điều 1 Quyết định 3453/QĐ-UBND 2014 phê duyệt quy hoạch thủy lợi phục vụ chuyển đổi sản xuất Long An

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Long An", "promulgation_date": "16/10/2014", "sign_number": "3453/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nguyên", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Long An", "promulgation_date": "16/10/2014", "sign_number": "3453/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nguyên", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Long An", "promulgation_date": "16/10/2014", "sign_number": "3453/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nguyên", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Long An", "promulgation_date": "16/10/2014", "sign_number": "3453/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nguyên", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Long An", "promulgation_date": "16/10/2014", "sign_number": "3453/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nguyên", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 7 Điều 1 Quyết định 3453/QĐ-UBND 2014 phê duyệt quy hoạch thủy lợi phục vụ chuyển đổi sản xuất Long An

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch thủy lợi phục vụ chuyển đổi sản xuất tỉnh Long An đến năm 2020, với nội dung chính như sau:
...
7. Những nội dung quy hoạch chủ yếu
...
d) Giải pháp phát triển hệ thống công trình thủy lợi:
- Giai đoạn 2014-2015
Tập trung đầu tư xây dựng các công trình chuyển tiếp để hoàn thành dứt điểm theo kế hoạch.
+ Các dự án Trung ương đầu tư: Bảo Định GĐ 2, kênh Đồng Tiến - Dương Văn Dương - La Grăng, kênh Nam Ngàn - Bắc Đông, khu tưới Đức Hòa - Hồ Phước Hòa, Kênh 79, kênh 28, Kênh 61,...
+ Các dự án vốn ngân sách địa Phương: Dự án phát triển sản xuất: Khóm, khoai mỡ, chanh, Tà Khiết (huyện Tân Hưng), Trại giống lúa ĐTM; các dự án đầu tư sửa chữa, nâng cấp công trình thủy lợi theo kế hoạch.
- Giai đoạn từ 2016 đến 2020
+ Tập trung đầu tư xây dựng hệ thống công trình kiểm soát mặn theo hình thức bao từng lưu vực sông rạch vùng Hạ, hoàn thiện khép kín các dự án kiểm soát mặn và ngọt hóa cho vùng V và VI;
+ Vùng Bắc kênh TT - LG không kiểm soát lũ, Vùng nam kênh TT - LG bao theo kênh cấp II để kiểm soát lũ tháng Tám, cao trình bờ bao tùy thuộc vào từng vùng cụ thể.
+ Nạo vét mở rộng tuyến kênh trục và kênh cấp I cụ thể: Kênh 61, kênh Rạch Tràm - Mỹ Bình, rạch Cái Cỏ - Long Khốt, kênh Phước Xuyên, Kênh 79, Kênh 28,… Để tăng cường khả năng thoát lũ và lấy nước vào mùa khô.
+ Đối với Tiểu vùng kẹp giữa hai sông Vàm Cỏ Tây - Vàm Cỏ Đông và kênh Trà Cú Thượng: Làm hệ thống đê bao kép kín theo kênh cấp II và hệ thống cống dưới đê để kiểm soát mặn giữ ngọt vào mùa khô đồng thời nạo vét tuyến Bo Bo và các kênh cấp II nối hai sông Vàm Cỏ để tăng cường khả năng lấy ngọt trong mùa khô, thau chua rửa phèn trong mùa mưa.
+ Đối với Vùng IV các công trình tưới được bố trí như đã được thiết kế của dự án khu tưới Đức Hòa, Vùng V các công trình chống ngập và kiểm soát mặn sẽ được bố trí như phương án chọn của dự án quy hoạch thủy lợi chống ngập úng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Phát triển hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn toàn tỉnh để tăng cường khả năng tưới tiêu.
+ Tất cả các công trình được đặt trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng cùng với sự phát triển sản xuất cao ở các nước thượng lưu đặc biệt là Campuchia và các công trình thủy điện trên sông Mê Công.
- Giai đoạn sau 2020
+ Xây dựng tuyến kiểm soát lũ kênh Tân Thành - Lò Gạch. Đây là công trình đầu mối kiểm soát lũ với vai trò chủ đạo, có tác động toàn cục trên diện rộng ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng ĐTM và yếu tố xuyên biên giới được đề xuất để giải quyết vấn đề lũ, là một trong những cơ sở để tổ hợp hình thành các phương án bố trí hệ thống thủy lợi. Dù vậy vẫn cần hệ thống bờ bao kiểm soát lũ sớm để đảm bảo sản xuất an toàn giai đoạn đầu mùa lũ, nhưng sẽ ứng với mực nước lũ thấp hơn. Thời gian sản xuất, canh tác của mùa vụ khi áp dụng biện pháp này được kéo dài hơn và an toàn hơn so với biện pháp kiểm soát lũ ở vùng thích nghi. Sau khi thu hoạch mùa vụ, thực hiện phân lũ vào khoảng đầu đến cuối tháng 8 để khai thác mặt lợi của lũ.
Tuyến kiểm soát lũ Tân Thành - Lò Gạch, gồm: Tuyến đê, cống, đập tràn, kênh cấp I... kiểm soát lượng lũ tràn vào ĐTM và sau đó phân lũ thoát ra hướng sông Tiền và một phần ra hướng sông Vàm Cỏ Tây. Hệ thống này vận hành theo phương thức kiểm soát lũ sớm.
+ Xây dựng cống Vàm Cỏ: Theo Quyết định số 1590/QĐ-TTg ngày 09/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thủy lợi Việt nam. Cống Vàm Cỏ vận hành theo chế độ triều để tiêu thoát lũ, ngăn mặn giữ ngọt, ngăn nước biển dâng ở quy mô kích thước và vị trí thích hợp, cùng với việc cải tạo lòng dẫn sông Vàm Cỏ để tăng cường khả năng tiêu thoát lũ từ ĐTM ra nơi nhận nước tiêu (phía biển Đông).
(Bố trí hệ thống công trình chi tiết cho từng vùng theo xem Phụ lục kèm theo)

Content:
Giải pháp phát triển hệ thống công trình thủy lợi:
- Giai đoạn 2014-2015
Tập trung đầu tư xây dựng các công trình chuyển tiếp để hoàn thành dứt điểm theo kế hoạch.
+ Các dự án Trung ương đầu tư: Bảo Định GĐ 2, kênh Đồng Tiến - Dương Văn Dương - La Grăng, kênh Nam Ngàn - Bắc Đông, khu tưới Đức Hòa - Hồ Phước Hòa, Kênh 79, kênh 28, Kênh 61,...
+ Các dự án vốn ngân sách địa Phương: Dự án phát triển sản xuất: Khóm, khoai mỡ, chanh, Tà Khiết (huyện Tân Hưng), Trại giống lúa ĐTM; các dự án đầu tư sửa chữa, nâng cấp công trình thủy lợi theo kế hoạch.
- Giai đoạn từ 2016 đến 2020
+ Tập trung đầu tư xây dựng hệ thống công trình kiểm soát mặn theo hình thức bao từng lưu vực sông rạch vùng Hạ, hoàn thiện khép kín các dự án kiểm soát mặn và ngọt hóa cho vùng V và VI;
+ Vùng Bắc kênh TT - LG không kiểm soát lũ, Vùng nam kênh TT - LG bao theo kênh cấp II để kiểm soát lũ tháng Tám, cao trình bờ bao tùy thuộc vào từng vùng cụ thể.
+ Nạo vét mở rộng tuyến kênh trục và kênh cấp I cụ thể: Kênh 61, kênh Rạch Tràm - Mỹ Bình, rạch Cái Cỏ - Long Khốt, kênh Phước Xuyên, Kênh 79, Kênh 28,… Để tăng cường khả năng thoát lũ và lấy nước vào mùa khô.
+ Đối với Tiểu vùng kẹp giữa hai sông Vàm Cỏ Tây - Vàm Cỏ Đông và kênh Trà Cú Thượng: Làm hệ thống đê bao kép kín theo kênh cấp II và hệ thống cống dưới đê để kiểm soát mặn giữ ngọt vào mùa khô đồng thời nạo vét tuyến Bo Bo và các kênh cấp II nối hai sông Vàm Cỏ để tăng cường khả năng lấy ngọt trong mùa khô, thau chua rửa phèn trong mùa mưa.
+ Đối với Vùng IV các công trình tưới được bố trí như đã được thiết kế của dự án khu tưới Đức Hòa, Vùng V các công trình chống ngập và kiểm soát mặn sẽ được bố trí như phương án chọn của dự án quy hoạch thủy lợi chống ngập úng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Phát triển hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn toàn tỉnh để tăng cường khả năng tưới tiêu.
+ Tất cả các công trình được đặt trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng cùng với sự phát triển sản xuất cao ở các nước thượng lưu đặc biệt là Campuchia và các công trình thủy điện trên sông Mê Công.
- Giai đoạn sau 2020
+ Xây dựng tuyến kiểm soát lũ kênh Tân Thành - Lò Gạch. Đây là công trình đầu mối kiểm soát lũ với vai trò chủ đạo, có tác động toàn cục trên diện rộng ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng ĐTM và yếu tố xuyên biên giới được đề xuất để giải quyết vấn đề lũ, là một trong những cơ sở để tổ hợp hình thành các phương án bố trí hệ thống thủy lợi. Dù vậy vẫn cần hệ thống bờ bao kiểm soát lũ sớm để đảm bảo sản xuất an toàn giai đoạn đầu mùa lũ, nhưng sẽ ứng với mực nước lũ thấp hơn. Thời gian sản xuất, canh tác của mùa vụ khi áp dụng biện pháp này được kéo dài hơn và an toàn hơn so với biện pháp kiểm soát lũ ở vùng thích nghi. Sau khi thu hoạch mùa vụ, thực hiện phân lũ vào khoảng đầu đến cuối tháng 8 để khai thác mặt lợi của lũ.
Tuyến kiểm soát lũ Tân Thành - Lò Gạch, gồm: Tuyến đê, cống, đập tràn, kênh cấp I... kiểm soát lượng lũ tràn vào ĐTM và sau đó phân lũ thoát ra hướng sông Tiền và một phần ra hướng sông Vàm Cỏ Tây. Hệ thống này vận hành theo phương thức kiểm soát lũ sớm.
+ Xây dựng cống Vàm Cỏ: Theo Quyết định số 1590/QĐ-TTg ngày 09/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thủy lợi Việt nam. Cống Vàm Cỏ vận hành theo chế độ triều để tiêu thoát lũ, ngăn mặn giữ ngọt, ngăn nước biển dâng ở quy mô kích thước và vị trí thích hợp, cùng với việc cải tạo lòng dẫn sông Vàm Cỏ để tăng cường khả năng tiêu thoát lũ từ ĐTM ra nơi nhận nước tiêu (phía biển Đông).
(Bố trí hệ thống công trình chi tiết cho từng vùng theo xem Phụ lục kèm theo)