Document: Điều 1 Quyết định 2491/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "21/05/2011", "sign_number": "2491/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thành Tài", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "21/05/2011", "sign_number": "2491/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thành Tài", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "21/05/2011", "sign_number": "2491/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thành Tài", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "21/05/2011", "sign_number": "2491/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thành Tài", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "21/05/2011", "sign_number": "2491/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thành Tài", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 2491/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu sau:
1. Quan điểm phát triển:
a) Phát triển vật liệu xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 phù hợp với quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch các ngành trên địa bàn thành phố.
b) Phát triển vật liệu xây dựng trên địa bàn thành phố chú trọng kết hợp hài hòa các nhân tố: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường hướng đến phát triển bền vững; trên cơ sở ưu tiên lựa chọn công nghệ tiên tiến, hiện đại, tiêu tốn ít năng lượng, nguyên liệu; quy mô hợp lý; sản phẩm đạt chất lượng kỹ, mỹ thuật, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
c) Tập trung các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng vào các khu công nghiệp để thuận lợi trong phát triển sản xuất và đảm bảo về môi trường; từng bước chuyển đổi hoặc ngưng hoạt động các cơ sở sản xuất có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường, hiệu quả kinh tế thấp, không phù hợp với quy hoạch chung của thành phố.
d) Đa dạng hóa các hình thức đầu tư để thu hút mọi nguồn lực (vốn, chất xám, công nghệ, …), khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực sản xuất và kinh doanh các loại vật liệu xây dựng mới, cao cấp và thân thiện môi trường.
2. Mục tiêu phát triển:
a) Dựa vào những lợi thế về thị trường, nguồn lực, năng lực lao động qua đào tạo, trình độ quản lý, điều kiện tiếp cận công nghệ mới, vị thế địa lý, thuận lợi trong trung chuyển hàng hóa … để phát triển vật liệu xây dựng thành ngành kinh tế mạnh của thành phố.
b) Phát triển ngành vật liệu xây dựng có công nghệ sản xuất hiện đại tạo ra các sản phẩm chất lượng cao về kỹ thuật, mỹ thuật, tiêu hao nguyên liệu và năng lượng thấp, bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên; từ năm 2011, chấm dứt hoạt động của các cơ sở sử dụng đất sét để sản xuất gạch ngói nung bằng lò thủ công, từng bước xóa bỏ các cơ sở sản xuất sử dụng đất sét làm gạch ngói nung; đến năm 2015, hoàn tất việc xóa bỏ các cơ sở sản xuất có công nghệ lạc hậu, không đảm bảo điều kiện vệ sinh môi trường, hiệu quả kinh tế thấp.
c) Thành phố trở thành trung tâm giao dịch, trưng bày, triển lãm sản phẩm vật liệu xây dựng quy mô lớn; đến năm 2020, hoàn tất phương án di dời các nhà máy, trạm nghiền, trạm trộn xi măng ra khỏi thành phố đến những địa phương có quy hoạch phù hợp; di dời các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng khác nằm ngoài khu, cụm công nghiệp ra khỏi thành phố đến những địa phương có quy hoạch phù hợp hoặc vào các khu công nghiệp của thành phố.
3. Định hướng quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2020:
a) Xi măng:
- Không đầu tư xây dựng hoặc mở rộng các nhà máy, trạm nghiền, trạm trộn xi măng trên địa bàn thành phố. Các trạm nghiền, trạm trộn xi măng hiện đang hoạt động phải đảm bảo yêu cầu về môi trường, nồng độ bụi xi măng trong khí thải ≤ 30 mg/Nm3, tiêu hao điện năng dưới 36 KWh/tấn xi măng cho toàn dây chuyền.
- Đầu tư xây dựng các trạm tiếp nhận đạt yêu cầu vệ sinh môi trường trong các khu công nghiệp để đáp ứng nhu cầu xây dựng của thành phố.
b) Vật liệu xây:
- Không khai thác đất sét sản xuất gạch xây dựng, không đầu tư các cơ sở sản xuất gạch xây nung trên địa bàn thành phố.
- Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư các cơ sở sản xuất gạch không nung trong các khu công nghiệp để phục vụ cho nhu cầu của thành phố.
- Phát triển sản xuất các loại vật liệu nhẹ, siêu nhẹ dùng để làm tường, vách ngăn, vật liệu chống cháy, chậm cháy, vật liệu cách âm, cách nhiệt, cách điện, tiết kiệm năng lượng, vật liệu mới …
c) Vật liệu lợp:
- Không khai thác đất sét sản xuất ngói nung, không đầu tư các cơ sở sản xuất ngói nung trên địa bàn thành phố.
- Phát triển sản xuất đa dạng các sản phẩm tấm lợp như tấm lợp kim loại, tonmat, tấm lợp composite, tấm lợp polycarbonate, tấm lợp polycarbonate - hợp kim nhôm, tấm lợp từ sợi hữu cơ và bi tum, tấm lợp acrylic có phủ các hạt đá tự nhiên …
- Phát triển các loại vật liệu lợp chất lượng cao, sản xuất trên các dây chuyền công nghệ, thiết bị hiện đại.
d) Đá xây dựng:
- Không khai thác đá trên địa bàn thành phố.
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vật liệu xây dựng trên địa bàn thành phố liên doanh, liên kết với các địa phương khác (như Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu, …) đầu tư khai thác các mỏ đá có chất lượng tốt, trữ lượng lớn, đồng thời nghiên cứu đầu tư phát triển vật liệu thay thế để tạo nguồn cung cấp ổn định cho nhu cầu xây dựng của thành phố.
đ) Các xây dựng:
- Không khai thác cát trên địa bàn thành phố.
- Khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vật liệu xây dựng trên địa bàn thành phố liên doanh, liên kết với các địa phương khác (như Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh, …) đầu tư khai thác các mỏ cát có chất lượng tốt, trữ lượng lớn đến cung cấp ổn định cho nhu cầu xây dựng của thành phố.
- Khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vật liệu xây dựng nghiên cứu, ứng dụng công nghệ khai thác, sản xuất cát xây dựng và vật liệu thay thế hiện đại để đảm bảo nguồn cung cấp cho nhu cầu xây dựng của thành phố.
e) Đá ốp lát:
- Đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất đá ốp lát nhân tạo cao cấp bao gồm các sản phẩm terastone và brettonstone trong các khu công nghiệp của thành phố.
- Đầu tư chiều sâu công nghệ sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm và phát huy hết công suất các cơ sở sản xuất đá ốp lát hiện có.
g) Bê tông:
- Đầu tư chiều sâu công nghệ sản xuất, bố trí hợp lý các cơ sở sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn và trạm trộn bê tông tươi trong các khu công nghiệp để hình thành mạng lưới cung ứng thuận tiện cho nhu cầu xây dựng của thành phố.
- Nghiên cứu, sản xuất đa dạng hóa các sản phẩm bê tông: bê tông mác cao (mác 400, 600, 800), bê tông tự lèn, các loại bê tông nhẹ, bê tông cách âm, cách nhiệt, bê tông dự ứng lực, cấu liện bê tông, bê tông bán lắp ghép, bê tông thương phẩm … đáp ứng tiêu chuẩn xây dựng các công trình cao tầng và các công trình xây dựng khác.
h) Các loại vật liệu xây dựng khác và vật liệu mới:
- Đầu tư chiều sâu để nâng cao công suất và chất lượng các sản phẩm vật liệu trang trí hoàn thiện như gạch ốp lát, sứ vệ sinh, kính xây dựng … của các cơ sở sản xuất hiện có.
- Đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất kính an toàn, vữa trộn sẵn, tấm tường thạch cao, tấm ốp tường alumin composite, tấm trần và vách xi măng sợi, gạch lát hè tự chèn có công nghệ hiện đại nhằm đáp ứng cho nhu cầu thành phố.
- Mở rộng thị trường, tiếp nhận những chủng loại vật liệu trang trí hoàn thiện, vật liệu mới có chất lượng cao mà thành phố có nhu cầu nhưng chưa sản xuất được.

Content:
Điều 1. Phê duyệt quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu sau:
1. Quan điểm phát triển:
a) Phát triển vật liệu xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 phù hợp với quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch các ngành trên địa bàn thành phố.
b) Phát triển vật liệu xây dựng trên địa bàn thành phố chú trọng kết hợp hài hòa các nhân tố: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường hướng đến phát triển bền vững; trên cơ sở ưu tiên lựa chọn công nghệ tiên tiến, hiện đại, tiêu tốn ít năng lượng, nguyên liệu; quy mô hợp lý; sản phẩm đạt chất lượng kỹ, mỹ thuật, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
c) Tập trung các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng vào các khu công nghiệp để thuận lợi trong phát triển sản xuất và đảm bảo về môi trường; từng bước chuyển đổi hoặc ngưng hoạt động các cơ sở sản xuất có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường, hiệu quả kinh tế thấp, không phù hợp với quy hoạch chung của thành phố.
d) Đa dạng hóa các hình thức đầu tư để thu hút mọi nguồn lực (vốn, chất xám, công nghệ, …), khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực sản xuất và kinh doanh các loại vật liệu xây dựng mới, cao cấp và thân thiện môi trường.
2. Mục tiêu phát triển:
a) Dựa vào những lợi thế về thị trường, nguồn lực, năng lực lao động qua đào tạo, trình độ quản lý, điều kiện tiếp cận công nghệ mới, vị thế địa lý, thuận lợi trong trung chuyển hàng hóa … để phát triển vật liệu xây dựng thành ngành kinh tế mạnh của thành phố.
b) Phát triển ngành vật liệu xây dựng có công nghệ sản xuất hiện đại tạo ra các sản phẩm chất lượng cao về kỹ thuật, mỹ thuật, tiêu hao nguyên liệu và năng lượng thấp, bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên; từ năm 2011, chấm dứt hoạt động của các cơ sở sử dụng đất sét để sản xuất gạch ngói nung bằng lò thủ công, từng bước xóa bỏ các cơ sở sản xuất sử dụng đất sét làm gạch ngói nung; đến năm 2015, hoàn tất việc xóa bỏ các cơ sở sản xuất có công nghệ lạc hậu, không đảm bảo điều kiện vệ sinh môi trường, hiệu quả kinh tế thấp.
c) Thành phố trở thành trung tâm giao dịch, trưng bày, triển lãm sản phẩm vật liệu xây dựng quy mô lớn; đến năm 2020, hoàn tất phương án di dời các nhà máy, trạm nghiền, trạm trộn xi măng ra khỏi thành phố đến những địa phương có quy hoạch phù hợp; di dời các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng khác nằm ngoài khu, cụm công nghiệp ra khỏi thành phố đến những địa phương có quy hoạch phù hợp hoặc vào các khu công nghiệp của thành phố.
3. Định hướng quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2020:
a) Xi măng:
- Không đầu tư xây dựng hoặc mở rộng các nhà máy, trạm nghiền, trạm trộn xi măng trên địa bàn thành phố. Các trạm nghiền, trạm trộn xi măng hiện đang hoạt động phải đảm bảo yêu cầu về môi trường, nồng độ bụi xi măng trong khí thải ≤ 30 mg/Nm3, tiêu hao điện năng dưới 36 KWh/tấn xi măng cho toàn dây chuyền.
- Đầu tư xây dựng các trạm tiếp nhận đạt yêu cầu vệ sinh môi trường trong các khu công nghiệp để đáp ứng nhu cầu xây dựng của thành phố.
b) Vật liệu xây:
- Không khai thác đất sét sản xuất gạch xây dựng, không đầu tư các cơ sở sản xuất gạch xây nung trên địa bàn thành phố.
- Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư các cơ sở sản xuất gạch không nung trong các khu công nghiệp để phục vụ cho nhu cầu của thành phố.
- Phát triển sản xuất các loại vật liệu nhẹ, siêu nhẹ dùng để làm tường, vách ngăn, vật liệu chống cháy, chậm cháy, vật liệu cách âm, cách nhiệt, cách điện, tiết kiệm năng lượng, vật liệu mới …
c) Vật liệu lợp:
- Không khai thác đất sét sản xuất ngói nung, không đầu tư các cơ sở sản xuất ngói nung trên địa bàn thành phố.
- Phát triển sản xuất đa dạng các sản phẩm tấm lợp như tấm lợp kim loại, tonmat, tấm lợp composite, tấm lợp polycarbonate, tấm lợp polycarbonate - hợp kim nhôm, tấm lợp từ sợi hữu cơ và bi tum, tấm lợp acrylic có phủ các hạt đá tự nhiên …
- Phát triển các loại vật liệu lợp chất lượng cao, sản xuất trên các dây chuyền công nghệ, thiết bị hiện đại.
d) Đá xây dựng:
- Không khai thác đá trên địa bàn thành phố.
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vật liệu xây dựng trên địa bàn thành phố liên doanh, liên kết với các địa phương khác (như Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu, …) đầu tư khai thác các mỏ đá có chất lượng tốt, trữ lượng lớn, đồng thời nghiên cứu đầu tư phát triển vật liệu thay thế để tạo nguồn cung cấp ổn định cho nhu cầu xây dựng của thành phố.
đ) Các xây dựng:
- Không khai thác cát trên địa bàn thành phố.
- Khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vật liệu xây dựng trên địa bàn thành phố liên doanh, liên kết với các địa phương khác (như Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh, …) đầu tư khai thác các mỏ cát có chất lượng tốt, trữ lượng lớn đến cung cấp ổn định cho nhu cầu xây dựng của thành phố.
- Khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vật liệu xây dựng nghiên cứu, ứng dụng công nghệ khai thác, sản xuất cát xây dựng và vật liệu thay thế hiện đại để đảm bảo nguồn cung cấp cho nhu cầu xây dựng của thành phố.
e) Đá ốp lát:
- Đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất đá ốp lát nhân tạo cao cấp bao gồm các sản phẩm terastone và brettonstone trong các khu công nghiệp của thành phố.
- Đầu tư chiều sâu công nghệ sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm và phát huy hết công suất các cơ sở sản xuất đá ốp lát hiện có.
g) Bê tông:
- Đầu tư chiều sâu công nghệ sản xuất, bố trí hợp lý các cơ sở sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn và trạm trộn bê tông tươi trong các khu công nghiệp để hình thành mạng lưới cung ứng thuận tiện cho nhu cầu xây dựng của thành phố.
- Nghiên cứu, sản xuất đa dạng hóa các sản phẩm bê tông: bê tông mác cao (mác 400, 600, 800), bê tông tự lèn, các loại bê tông nhẹ, bê tông cách âm, cách nhiệt, bê tông dự ứng lực, cấu liện bê tông, bê tông bán lắp ghép, bê tông thương phẩm … đáp ứng tiêu chuẩn xây dựng các công trình cao tầng và các công trình xây dựng khác.
h) Các loại vật liệu xây dựng khác và vật liệu mới:
- Đầu tư chiều sâu để nâng cao công suất và chất lượng các sản phẩm vật liệu trang trí hoàn thiện như gạch ốp lát, sứ vệ sinh, kính xây dựng … của các cơ sở sản xuất hiện có.
- Đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất kính an toàn, vữa trộn sẵn, tấm tường thạch cao, tấm ốp tường alumin composite, tấm trần và vách xi măng sợi, gạch lát hè tự chèn có công nghệ hiện đại nhằm đáp ứng cho nhu cầu thành phố.
- Mở rộng thị trường, tiếp nhận những chủng loại vật liệu trang trí hoàn thiện, vật liệu mới có chất lượng cao mà thành phố có nhu cầu nhưng chưa sản xuất được.