Document: Điều 6 Nghị định 54/2001/NĐ-CP hướng dẫn thi hành hình phạt trục xuất

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "23/08/2001", "sign_number": "54/2001/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "23/08/2001", "sign_number": "54/2001/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "23/08/2001", "sign_number": "54/2001/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "23/08/2001", "sign_number": "54/2001/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "23/08/2001", "sign_number": "54/2001/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 6 Nghị định 54/2001/NĐ-CP hướng dẫn thi hành hình phạt trục xuất có nội dung như sau:

Điều 6. Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an có trách nhiệm :
1. Thông báo thời điểm thi hành án cho người bị trục xuất chậm nhất là 24 giờ trước khi thi hành.
2. Chuyển cho Bộ Ngoại giao bản sao quyết định thi hành án của Toà án và thông báo các thông tin, tài liệu cần thiết để phối hợp thi hành án.
3. Thu thập, tiếp nhận các thông tin, tài liệu cần thiết cho việc tổ chức thi hành án từ Toà án và các cơ quan khác có liên quan; lập hồ sơ và tổ chức thi hành hình phạt trục xuất.
4. Trường hợp người bị trục xuất thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định này phải thông báo bằng văn bản cho Toà án đã ra quyết định thi hành án để Toà án xem xét, quyết định việc kéo dài thời hạn rời khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với người bị trục xuất.
5. Trường hợp người bị trục xuất không còn lý do để kéo dài thời hạn rời khỏi lãnh thổ Việt Nam thì phải thông báo cho Toà án đã ra quyết định thi hành án để quyết định tiếp tục thi hành án.
6. Tiếp tục tổ chức thi hành hình phạt trục xuất theo quyết định thi hành án của Toà án đã có trước khi có quyết định kéo dài thời hạn rời khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với người bị trục xuất, nếu hết thời hạn kéo dài đó mà Toà án không có quyết định khác.
7. Trường hợp trong thời hạn rời khỏi lãnh thổ Việt Nam của người bị trục xuất được kéo dài mà Toà án ra quyết định tiếp tục thi hành án thì cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm thi hành ngay.
8. Thông báo cho Toà án biết kết quả thi hành án.

Content:
Điều 6. Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an có trách nhiệm :
1. Thông báo thời điểm thi hành án cho người bị trục xuất chậm nhất là 24 giờ trước khi thi hành.
2. Chuyển cho Bộ Ngoại giao bản sao quyết định thi hành án của Toà án và thông báo các thông tin, tài liệu cần thiết để phối hợp thi hành án.
3. Thu thập, tiếp nhận các thông tin, tài liệu cần thiết cho việc tổ chức thi hành án từ Toà án và các cơ quan khác có liên quan; lập hồ sơ và tổ chức thi hành hình phạt trục xuất.
4. Trường hợp người bị trục xuất thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định này phải thông báo bằng văn bản cho Toà án đã ra quyết định thi hành án để Toà án xem xét, quyết định việc kéo dài thời hạn rời khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với người bị trục xuất.
5. Trường hợp người bị trục xuất không còn lý do để kéo dài thời hạn rời khỏi lãnh thổ Việt Nam thì phải thông báo cho Toà án đã ra quyết định thi hành án để quyết định tiếp tục thi hành án.
6. Tiếp tục tổ chức thi hành hình phạt trục xuất theo quyết định thi hành án của Toà án đã có trước khi có quyết định kéo dài thời hạn rời khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với người bị trục xuất, nếu hết thời hạn kéo dài đó mà Toà án không có quyết định khác.
7. Trường hợp trong thời hạn rời khỏi lãnh thổ Việt Nam của người bị trục xuất được kéo dài mà Toà án ra quyết định tiếp tục thi hành án thì cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm thi hành ngay.
8. Thông báo cho Toà án biết kết quả thi hành án.