Document: Điều 4 Thông tư 41/2011/TT-NHNN hướng dẫn nhận biết và cập nhật thông tin khách hàng

Type: {"issuing_agency": "Ngân hàng Nhà nước", "promulgation_date": "15/12/2011", "sign_number": "41/2011/TT-NHNN", "signer": "Trần Minh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Ngân hàng Nhà nước", "promulgation_date": "15/12/2011", "sign_number": "41/2011/TT-NHNN", "signer": "Trần Minh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Ngân hàng Nhà nước", "promulgation_date": "15/12/2011", "sign_number": "41/2011/TT-NHNN", "signer": "Trần Minh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Ngân hàng Nhà nước", "promulgation_date": "15/12/2011", "sign_number": "41/2011/TT-NHNN", "signer": "Trần Minh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Ngân hàng Nhà nước", "promulgation_date": "15/12/2011", "sign_number": "41/2011/TT-NHNN", "signer": "Trần Minh Tuấn", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 4 Thông tư 41/2011/TT-NHNN hướng dẫn nhận biết và cập nhật thông tin khách hàng có nội dung như sau:

Điều 4. Cơ sở xác định mức độ rủi ro
1. Mức độ rủi ro rửa tiền có thể dựa trên những cơ sở sau:
a) Loại khách hàng: người cư trú hay người không cư trú; khách hàng là tổ chức hay cá nhân; khách hàng thuộc các danh sách cảnh báo; khách hàng trong các lĩnh vực kinh doanh bất động sản, cầm đồ, casino, kinh doanh ngành hàng có doanh thu chủ yếu bằng tiền mặt, kinh doanh qua mạng Internet;
b) Loại sản phẩm, dịch vụ khách hàng thường sử dụng: nộp tiền mặt, chuyển khoản, chuyển tiền điện tử, giao dịch thẻ, đổi tiền;
c) Vị trí địa lý nơi khách hàng cư trú hoặc có trụ sở chính: các nước trong danh sách cấm vận nêu tại các Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc; các nước trong danh sách công khai không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ các khuyến nghị về chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố do Lực lượng đặc nhiệm tài chính công bố định kỳ (sau đây gọi là danh sách công khai); khu vực được nhận định có nhiều hoạt động ma túy;
d) Các cơ sở khác theo quy định nội bộ của tổ chức báo cáo.
2. Các tổ chức báo cáo có thể xác định mức độ rủi ro rửa tiền dựa vào những cơ sở nêu tại Khoản 1 Điều này, nhưng phải chú ý tới các giao dịch và mối quan hệ kinh doanh của khách hàng với tổ chức, cá nhân từ những nước nằm trong danh sách công khai. Trong trường hợp cần thiết, tổ chức báo cáo phải kiểm tra cơ sở, mục đích của các giao dịch đó. Nếu nghi ngờ giao dịch có liên quan tới rửa tiền, tổ chức báo cáo phải báo cáo giao dịch đáng ngờ về Cục Phòng, chống rửa tiền.

Content:
Điều 4. Cơ sở xác định mức độ rủi ro
1. Mức độ rủi ro rửa tiền có thể dựa trên những cơ sở sau:
a) Loại khách hàng: người cư trú hay người không cư trú; khách hàng là tổ chức hay cá nhân; khách hàng thuộc các danh sách cảnh báo; khách hàng trong các lĩnh vực kinh doanh bất động sản, cầm đồ, casino, kinh doanh ngành hàng có doanh thu chủ yếu bằng tiền mặt, kinh doanh qua mạng Internet;
b) Loại sản phẩm, dịch vụ khách hàng thường sử dụng: nộp tiền mặt, chuyển khoản, chuyển tiền điện tử, giao dịch thẻ, đổi tiền;
c) Vị trí địa lý nơi khách hàng cư trú hoặc có trụ sở chính: các nước trong danh sách cấm vận nêu tại các Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc; các nước trong danh sách công khai không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ các khuyến nghị về chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố do Lực lượng đặc nhiệm tài chính công bố định kỳ (sau đây gọi là danh sách công khai); khu vực được nhận định có nhiều hoạt động ma túy;
d) Các cơ sở khác theo quy định nội bộ của tổ chức báo cáo.
2. Các tổ chức báo cáo có thể xác định mức độ rủi ro rửa tiền dựa vào những cơ sở nêu tại Khoản 1 Điều này, nhưng phải chú ý tới các giao dịch và mối quan hệ kinh doanh của khách hàng với tổ chức, cá nhân từ những nước nằm trong danh sách công khai. Trong trường hợp cần thiết, tổ chức báo cáo phải kiểm tra cơ sở, mục đích của các giao dịch đó. Nếu nghi ngờ giao dịch có liên quan tới rửa tiền, tổ chức báo cáo phải báo cáo giao dịch đáng ngờ về Cục Phòng, chống rửa tiền.