Document: Điểm đ Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2631/QĐ-TTg 2013 quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Hồ Chí Minh đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "31/12/2013", "sign_number": "2631/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "31/12/2013", "sign_number": "2631/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "31/12/2013", "sign_number": "2631/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "31/12/2013", "sign_number": "2631/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "31/12/2013", "sign_number": "2631/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm đ Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2631/QĐ-TTg 2013 quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Hồ Chí Minh đến 2020

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 với những nội dung chủ yếu như sau:
...
5. Thực hiện phát triển bền vững, gắn kết giữa phát triển kinh tế - xã hội với thích ứng biến đổi khí hậu, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội thành phố với Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Vùng đồng bằng sông Cửu Long, cả nước và quốc tế. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong quá trình phát triển, hội nhập quốc tế, tăng trưởng xanh, bền vững.
II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
1. Mục tiêu tổng quát
Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại với vai trò đô thị đặc biệt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đóng góp ngày càng lớn đối với khu vực và cả nước; từng bước trở thành trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học - công nghệ của đất nước và khu vực Đông Nam Á; góp phần tích cực đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Phát triển thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm văn hóa, thể thao, trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Vùng và cả nước; đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững, phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
2. Mục tiêu cụ thể
...
đ) Quốc phòng, an ninh
Tiếp tục thực hiện Chương trình hành động 16-CTr/TU của Thành ủy về thực hiện Nghị quyết Trung ương 8, khóa IX về chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới và Chương trình hành động số 49-CTr/TU ngày 20 tháng 2 năm 2009 của Thành ủy về thực hiện Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị khóa X về tiếp tục xây dựng thành phố Hồ Chí Minh thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới; thực hiện tốt chính sách tôn giáo, dân tộc, bảo đảm an sinh xã hội; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống, phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên cơ sở phát triển tiềm lực chính trị, tinh thần ngày càng vững mạnh, ngang tầm với yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Tạo chuyển biến rõ nét về trật tự, an toàn xã hội, nếp sống đô thị, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng thành phố Hồ Chí Minh trở thành khu vực phòng thủ vững chắc.
III. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH, LĨNH VỰC
1. Định hướng phát triển các ngành dịch vụ
- Phát triển dịch vụ mang tính đột phá trên cơ sở nâng cao chất lượng, hiệu quả các ngành dịch vụ và đầu tư phát triển mới các sản phẩm dịch vụ; phát triển thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm dịch vụ của khu vực Đông Nam Á.
- Tập trung phát triển 09 nhóm ngành dịch vụ tài chính - tín dụng - ngân hàng - bảo hiểm; thương mại; vận tải, kho bãi, dịch vụ cảng; bưu chính - viễn thông và công nghệ thông tin - truyền thông; kinh doanh tài sản - bất động sản; dịch vụ thông tin tư vấn, khoa học - công nghệ; du lịch; y tế; giáo dục - đào tạo; phát triển trung tâm tài chính mang tầm khu vực Đông Nam Á.
- Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng dịch vụ hiện đại, bao gồm hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm phân phối hàng hóa, cao ốc văn phòng, nhà hàng khách sạn cao cấp, thương mại điện tử, trung tâm y tế kỹ thuật cao, các trường đại học đạt chuẩn quốc tế; phát triển đồng bộ giữa hạ tầng dịch vụ hiện đại và hạ tầng dịch vụ truyền thống.
- Phát triển du lịch thành phố ngang tầm với các nước trong khu vực; phát triển thành phố thành trung tâm du lịch và trung chuyển khách du lịch, phát triển các loại hình du lịch mua sắm, du lịch hội nghị, du lịch khám chữa bệnh, du lịch ẩm thực; đẩy mạnh phát triển du lịch nội địa.
- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khu vực dịch vụ giai đoạn 2011 - 2015 đạt từ 11,17% - 12,07%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt từ 10,17% - 11%/năm, giai đoạn 2021 - 2025 đạt từ 8,55% - 9,37%/năm; giai đoạn 2011 - 2015 tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân đạt 10,5%/năm; giai đoạn 2016 - 2020, đạt bình quân 10%/năm; giai đoạn 2021 - 2025 đạt bình quân 12%/năm. Đến năm 2015 giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt từ 36 - 37 tỷ USD, năm 2020 đạt từ 57 - 59 tỷ USD và năm 2025 đạt từ 100 - 105 tỷ USD. Khách du lịch quốc tế đến năm 2015 đạt khoảng 5 triệu lượt người, đến năm 2020 đạt khoảng 8 triệu lượt người và đến năm 2025 đạt khoảng 13,5 triệu lượt người.
2. Định hướng phát triển công nghiệp - xây dựng
- Phát triển công nghiệp - xây dựng thành phố Hồ Chí Minh tập trung vào những ngành, lĩnh vực, những công đoạn có hàm lượng giá trị gia tăng cao; phát triển 04 nhóm ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng cao (cơ khí; điện tử - công nghệ thông tin; hóa dược - cao su; chế biến tinh lương thực thực phẩm) và các ngành công nghệ sinh học, công nghiệp sạch, tiết kiệm năng lượng; phát triển công nghiệp thời trang ngành dệt may - da giày, công nghiệp thiết kế; chuyển dần từ hoạt động gia công lắp ráp sang hoạt động sản xuất.
- Tiếp tục phát triển các khu công nghiệp công nghệ cao; bố trí sản xuất vào các khu, cụm công nghiệp đã được quy hoạch; phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ phục vụ phát triển công nghiệp cơ khí, điện tử - tin học; hạn chế thu hút các dự án đầu tư mới thâm dụng lao động phổ thông.
- Tốc độ tăng trưởng GDP khu vực công nghiệp - xây dựng giai đoạn 2011 - 2015 đạt bình quân 8,7%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt bình quân 8,7%/năm và giai đoạn 2021 - 2025 đạt bình quân 8,5%/năm.
3. Định hướng phát triển nông nghiệp - nông thôn
Phát triển nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo hướng hiện đại, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh cao gắn với đặc thù nông nghiệp của một đô thị đặc biệt và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP khu vực nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 bình quân đạt 5%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 5%/năm và giai đoạn 2021 - 2025 đạt 5%/năm.
Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại có kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh theo tiêu chí nông thôn mới; gắn kết hài hòa giữa phát triển nông thôn và phát triển đô thị, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần nhân dân nông thôn, thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn. Phấn đấu đến năm 2015 đạt 100% xã đạt chuẩn nông thôn mới (56/56 xã, không tính 2 xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh và xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn đã có tốc độ đô thị hóa rất cao).
4. Định hướng phát triển các lĩnh vực văn hóa - xã hội
a) Lao động, việc làm
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thành phố, đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế - xã hội, phát triển đội ngũ lao động trình độ cao đạt tiêu chuẩn quốc tế; cân đối cung - cầu về lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần người lao động; phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động thị trường lao động.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2015 đạt 70%, năm 2020 đạt 85% và năm 2025 đạt 90%.
b) Giáo dục - đào tạo
- Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; hoàn thiện cơ sở vật chất, mạng lưới trường, lớp, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, nội dung và phương thức giáo dục; đẩy mạnh xã hội hóa và liên kết quốc tế, huy động mọi nguồn lực vào việc đầu tư cho ngành giáo dục và đào tạo; đảm bảo các chuẩn về giáo viên, trường lớp và cơ sở vật chất các ngành học, bậc học, phấn đấu đến năm 2020 xây dựng thành phố thành một trung tâm lớn về giáo dục - đào tạo chất lượng cao của cả nước và khu vực Đông Nam Á.
- Giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông: duy trì phổ cập học sinh các bậc học theo đúng độ tuổi.
- Giáo dục mầm non: Nhà trẻ: Huy động cháu ra lớp năm 2020 đạt tỷ lệ 30% và đạt 32% năm 202Mẫu giáo: Huy động cháu ra lớp đạt tỷ lệ 80% năm 2020 và năm 2025 là 85%.
- Giáo dục tiểu học: Đến năm 2015, huy động 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1; phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi đạt 100%; học sinh được học hai buổi/ngày đạt 100%. Sĩ số học sinh không quá 35 học sinh/lớp năm 2015; 30 học sinh/lớp năm 2020; 30 học sinh/lớp năm 202Giáo dục trung học cơ sở (THCS): Phấn đấu đến năm 2015, đạt tỷ lệ 100% học sinh được học hai buổi/ngày; 100% các trường THCS đảm bảo đủ các phòng học bộ môn và các phòng phục vụ học tập. Phấn đấu một lớp học ở bậc THCS khoảng 38 học sinh/lớp vào năm 2015; 35 học sinh/lớp năm 2020 và đạt 30 học sinh/lớp năm 2025.
- Giáo dục trung học phổ thông (THPT): Phấn đấu một lớp học ở bậc THPT đạt khoảng 40 học sinh/lớp vào năm 2015; 35 học sinh/lớp đến năm 2020 và 30 học sinh/lớp đến năm 2025.
- Giáo dục nghề nghiệp: đến năm 2015, tỷ lệ lao động qua đào tạo chung làm việc trong các thành phần kinh tế đạt 80%, đến năm 2020 đạt 90% năm 2025, đạt 100%. Đào tạo nghề gắn với nhu cầu xã hội.
- Giáo dục đại học: Phát triển giáo dục đại học phù hợp với Quyết định số 37/2013/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020. Phấn đấu đến 2020 thành phố có ít nhất 1 trường đạt tiêu chuẩn đào tạo ngang tầm với các trường tiên tiến trong khu vực.
c) Y tế
- Đẩy mạnh phát triển ngành y tế, từng bước hiện đại, hoàn chỉnh hướng tới công bằng, hiệu quả và phát triển: thực hiện tốt các chương trình quốc gia về sức khỏe, tiếp tục đầu tư y tế dự phòng, tăng cường các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm; củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế từ cơ sở đến thành phố; phát triển hệ thống y tế chuyên sâu kỹ thuật cao; đẩy mạnh xã hội hóa, đầu tư phát triển cơ sở vật chất ngành y tế, xây dựng các cụm bệnh viện tại các cửa ngõ thành phố, giảm áp lực các bệnh viện tuyến trên; đảm bảo số giường bệnh đạt 42 trên 10.000 dân đến năm 2015 và duy trì 42 giường bệnh trên 10.000 dân cho cả 2 giai đoạn: 2016 - 2020 và 2021 - 2025.
- Phát triển ngành Dược và Y học Cổ truyền thành một ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn.
- Thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân.
- Phát triển nguồn nhân lực y tế theo hướng tăng nhanh tỷ lệ nguồn nhân lực chuyên khoa sâu, tăng cường năng lực khám chữa bệnh, kiện toàn hệ thống tổ chức cán bộ.
- Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đầu tư, hỗ trợ kinh phí, chuyển giao khoa học - công nghệ và kinh nghiệm quản lý của các nước, các tổ chức quốc tế để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân.
d) Văn hóa, thể thao
- Phát triển văn hóa theo hướng văn minh, hiện đại phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và các giá trị tinh thần mang nét đặc trưng của Việt Nam và của nhân dân thành phố, đảm bảo tính đa dạng về văn hóa. Phát triển văn hóa đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân thành phố, tạo điều kiện giao lưu văn hóa giữa thành phố Hồ Chí Minh với cả nước và thế giới. Tiếp thu có chọn lọc văn hóa của thời đại, để nâng cao mức độ hưởng thụ của nhân dân. Thông qua việc tổ chức các loại hình văn hóa, mở rộng việc tham gia của nhân dân vào các tổ chức hiệp hội chuyên môn, đào tạo kỹ năng hưởng thụ văn hóa và tổ chức các hội thi quần chúng, sáng tạo nghệ thuật.
- Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa. Phát triển hệ thống cơ sở vật chất ngành văn hóa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân thành phố, phục vụ du lịch trong nước và quốc tế. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa. Xây dựng các tượng đài chiến thắng, tượng đài lịch sử đúng tầm cỡ quy mô thành phố. Phát triển các khu vui chơi giải trí, ngành công nghiệp giải trí ngang tầm các nước trong khu vực; bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật. Chú trọng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, đến năm 2015 số khu phố đạt chuẩn là 70%, năm 2020 là 75% và năm 2025 là 85%. Đảm bảo, 100% người dân thường xuyên tiếp cận với dịch vụ văn hóa. Đầu tư một số công trình văn hóa cho tương xứng với tầm vóc của một trung tâm văn hóa lớn phía Nam.
- Phát triển thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm thể dục thể thao của cả nước. Đối với thể thao quần chúng, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia luyện tập thể dục thể thao, trang bị phương tiện luyện tập thể dục thể thao ở các khu vực công cộng. Tỷ lệ dân số luyện tập thể dục thể thao thường xuyên là 28% năm 2015, 33% năm 2020 và từ 40% trở lên vào năm 202Đối với thể thao học đường, đảm bảo cơ sở vật chất cho học sinh tham gia luyện tập thể dục thể thao. Đối với thể thao thành tích cao, đầu tư phát triển các môn thể thao thành phố có thế mạnh, những môn thể thao trọng điểm, hiện đại hóa cơ sở luyện tập thể thao đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Định hướng phát triển khoa học và công nghệ
- Với vị trí là trung tâm khoa học và công nghệ của cả nước và khu vực, hoạt động khoa học và công nghệ thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 phải thực sự trở thành động lực trực tiếp, đóng góp quan trọng vào chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững, đạt trình độ trung bình tiên tiến, rút ngắn khoảng cách với các thành phố lớn trong khu vực.
- Đầu tư thỏa đáng, đáp ứng nhu cầu cho phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ trên cơ sở tăng cường đầu tư từ ngân sách thành phố kết hợp với huy động các nguồn lực đầu tư từ xã hội, nhất là các doanh nghiệp. Chú trọng đầu tư về cơ sở vật chất và phát triển nguồn nhân lực trình độ cao nhằm tạo bước đột phá về năng lực nội sinh; tiếp thu, sáng tạo và từng bước làm chủ công nghệ mới trên một số lĩnh vực.
- Củng cố và hoàn thiện cơ chế liên kết hợp tác giữa nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp trong đó lấy doanh nghiệp làm trung tâm cho hoạt động khoa học và công nghệ, lấy đổi mới công nghệ, ứng dụng và phát triển công nghệ mới làm đòn bẩy cho sự tăng trưởng nhanh và bền vững, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
- Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý khoa học và công nghệ; chính sách đối với đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong và ngoài nước nhằm khai thác hiệu quả nhất mọi tiềm năng trí tuệ phục sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa và từng bước phát triển nền kinh tế trí thức.

Content:
Quốc phòng, an ninh
Tiếp tục thực hiện Chương trình hành động 16-CTr/TU của Thành ủy về thực hiện Nghị quyết Trung ương 8, khóa IX về chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới và Chương trình hành động số 49-CTr/TU ngày 20 tháng 2 năm 2009 của Thành ủy về thực hiện Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị khóa X về tiếp tục xây dựng thành phố Hồ Chí Minh thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới; thực hiện tốt chính sách tôn giáo, dân tộc, bảo đảm an sinh xã hội; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống, phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên cơ sở phát triển tiềm lực chính trị, tinh thần ngày càng vững mạnh, ngang tầm với yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Tạo chuyển biến rõ nét về trật tự, an toàn xã hội, nếp sống đô thị, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng thành phố Hồ Chí Minh trở thành khu vực phòng thủ vững chắc.
III. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH, LĨNH VỰC
1. Định hướng phát triển các ngành dịch vụ
- Phát triển dịch vụ mang tính đột phá trên cơ sở nâng cao chất lượng, hiệu quả các ngành dịch vụ và đầu tư phát triển mới các sản phẩm dịch vụ; phát triển thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm dịch vụ của khu vực Đông Nam Á.
- Tập trung phát triển 09 nhóm ngành dịch vụ tài chính - tín dụng - ngân hàng - bảo hiểm; thương mại; vận tải, kho bãi, dịch vụ cảng; bưu chính - viễn thông và công nghệ thông tin - truyền thông; kinh doanh tài sản - bất động sản; dịch vụ thông tin tư vấn, khoa học - công nghệ; du lịch; y tế; giáo dục - đào tạo; phát triển trung tâm tài chính mang tầm khu vực Đông Nam Á.
- Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng dịch vụ hiện đại, bao gồm hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm phân phối hàng hóa, cao ốc văn phòng, nhà hàng khách sạn cao cấp, thương mại điện tử, trung tâm y tế kỹ thuật cao, các trường đại học đạt chuẩn quốc tế; phát triển đồng bộ giữa hạ tầng dịch vụ hiện đại và hạ tầng dịch vụ truyền thống.
- Phát triển du lịch thành phố ngang tầm với các nước trong khu vực; phát triển thành phố thành trung tâm du lịch và trung chuyển khách du lịch, phát triển các loại hình du lịch mua sắm, du lịch hội nghị, du lịch khám chữa bệnh, du lịch ẩm thực; đẩy mạnh phát triển du lịch nội địa.
- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khu vực dịch vụ giai đoạn 2011 - 2015 đạt từ 11,17% - 12,07%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt từ 10,17% - 11%/năm, giai đoạn 2021 - 2025 đạt từ 8,55% - 9,37%/năm; giai đoạn 2011 - 2015 tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân đạt 10,5%/năm; giai đoạn 2016 - 2020, đạt bình quân 10%/năm; giai đoạn 2021 - 2025 đạt bình quân 12%/năm. Đến năm 2015 giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt từ 36 - 37 tỷ USD, năm 2020 đạt từ 57 - 59 tỷ USD và năm 2025 đạt từ 100 - 105 tỷ USD. Khách du lịch quốc tế đến năm 2015 đạt khoảng 5 triệu lượt người, đến năm 2020 đạt khoảng 8 triệu lượt người và đến năm 2025 đạt khoảng 13,5 triệu lượt người.
2. Định hướng phát triển công nghiệp - xây dựng
- Phát triển công nghiệp - xây dựng thành phố Hồ Chí Minh tập trung vào những ngành, lĩnh vực, những công đoạn có hàm lượng giá trị gia tăng cao; phát triển 04 nhóm ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng cao (cơ khí; điện tử - công nghệ thông tin; hóa dược - cao su; chế biến tinh lương thực thực phẩm) và các ngành công nghệ sinh học, công nghiệp sạch, tiết kiệm năng lượng; phát triển công nghiệp thời trang ngành dệt may - da giày, công nghiệp thiết kế; chuyển dần từ hoạt động gia công lắp ráp sang hoạt động sản xuất.
- Tiếp tục phát triển các khu công nghiệp công nghệ cao; bố trí sản xuất vào các khu, cụm công nghiệp đã được quy hoạch; phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ phục vụ phát triển công nghiệp cơ khí, điện tử - tin học; hạn chế thu hút các dự án đầu tư mới thâm dụng lao động phổ thông.
- Tốc độ tăng trưởng GDP khu vực công nghiệp - xây dựng giai đoạn 2011 - 2015 đạt bình quân 8,7%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt bình quân 8,7%/năm và giai đoạn 2021 - 2025 đạt bình quân 8,5%/năm.
3. Định hướng phát triển nông nghiệp - nông thôn
Phát triển nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo hướng hiện đại, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh cao gắn với đặc thù nông nghiệp của một đô thị đặc biệt và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP khu vực nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 bình quân đạt 5%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 5%/năm và giai đoạn 2021 - 2025 đạt 5%/năm.
Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại có kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh theo tiêu chí nông thôn mới; gắn kết hài hòa giữa phát triển nông thôn và phát triển đô thị, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần nhân dân nông thôn, thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn. Phấn đấu đến năm 2015 đạt 100% xã đạt chuẩn nông thôn mới (56/56 xã, không tính 2 xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh và xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn đã có tốc độ đô thị hóa rất cao).
4. Định hướng phát triển các lĩnh vực văn hóa - xã hội
a) Lao động, việc làm
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thành phố, đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế - xã hội, phát triển đội ngũ lao động trình độ cao đạt tiêu chuẩn quốc tế; cân đối cung - cầu về lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần người lao động; phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động thị trường lao động.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2015 đạt 70%, năm 2020 đạt 85% và năm 2025 đạt 90%.
b) Giáo dục - đào tạo
- Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; hoàn thiện cơ sở vật chất, mạng lưới trường, lớp, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, nội dung và phương thức giáo dục; đẩy mạnh xã hội hóa và liên kết quốc tế, huy động mọi nguồn lực vào việc đầu tư cho ngành giáo dục và đào tạo; đảm bảo các chuẩn về giáo viên, trường lớp và cơ sở vật chất các ngành học, bậc học, phấn đấu đến năm 2020 xây dựng thành phố thành một trung tâm lớn về giáo dục - đào tạo chất lượng cao của cả nước và khu vực Đông Nam Á.
- Giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông: duy trì phổ cập học sinh các bậc học theo đúng độ tuổi.
- Giáo dục mầm non: Nhà trẻ: Huy động cháu ra lớp năm 2020 đạt tỷ lệ 30% và đạt 32% năm 202Mẫu giáo: Huy động cháu ra lớp đạt tỷ lệ 80% năm 2020 và năm 2025 là 85%.
- Giáo dục tiểu học: Đến năm 2015, huy động 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1; phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi đạt 100%; học sinh được học hai buổi/ngày đạt 100%. Sĩ số học sinh không quá 35 học sinh/lớp năm 2015; 30 học sinh/lớp năm 2020; 30 học sinh/lớp năm 202Giáo dục trung học cơ sở (THCS): Phấn đấu đến năm 2015, đạt tỷ lệ 100% học sinh được học hai buổi/ngày; 100% các trường THCS đảm bảo đủ các phòng học bộ môn và các phòng phục vụ học tập. Phấn đấu một lớp học ở bậc THCS khoảng 38 học sinh/lớp vào năm 2015; 35 học sinh/lớp năm 2020 và đạt 30 học sinh/lớp năm 2025.
- Giáo dục trung học phổ thông (THPT): Phấn đấu một lớp học ở bậc THPT đạt khoảng 40 học sinh/lớp vào năm 2015; 35 học sinh/lớp đến năm 2020 và 30 học sinh/lớp đến năm 2025.
- Giáo dục nghề nghiệp: đến năm 2015, tỷ lệ lao động qua đào tạo chung làm việc trong các thành phần kinh tế đạt 80%, đến năm 2020 đạt 90% năm 2025, đạt 100%. Đào tạo nghề gắn với nhu cầu xã hội.
- Giáo dục đại học: Phát triển giáo dục đại học phù hợp với Quyết định số 37/2013/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020. Phấn đấu đến 2020 thành phố có ít nhất 1 trường đạt tiêu chuẩn đào tạo ngang tầm với các trường tiên tiến trong khu vực.
c) Y tế
- Đẩy mạnh phát triển ngành y tế, từng bước hiện đại, hoàn chỉnh hướng tới công bằng, hiệu quả và phát triển: thực hiện tốt các chương trình quốc gia về sức khỏe, tiếp tục đầu tư y tế dự phòng, tăng cường các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm; củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế từ cơ sở đến thành phố; phát triển hệ thống y tế chuyên sâu kỹ thuật cao; đẩy mạnh xã hội hóa, đầu tư phát triển cơ sở vật chất ngành y tế, xây dựng các cụm bệnh viện tại các cửa ngõ thành phố, giảm áp lực các bệnh viện tuyến trên; đảm bảo số giường bệnh đạt 42 trên 10.000 dân đến năm 2015 và duy trì 42 giường bệnh trên 10.000 dân cho cả 2 giai đoạn: 2016 - 2020 và 2021 - 2025.
- Phát triển ngành Dược và Y học Cổ truyền thành một ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn.
- Thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân.
- Phát triển nguồn nhân lực y tế theo hướng tăng nhanh tỷ lệ nguồn nhân lực chuyên khoa sâu, tăng cường năng lực khám chữa bệnh, kiện toàn hệ thống tổ chức cán bộ.
- Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đầu tư, hỗ trợ kinh phí, chuyển giao khoa học - công nghệ và kinh nghiệm quản lý của các nước, các tổ chức quốc tế để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân.
d) Văn hóa, thể thao
- Phát triển văn hóa theo hướng văn minh, hiện đại phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và các giá trị tinh thần mang nét đặc trưng của Việt Nam và của nhân dân thành phố, đảm bảo tính đa dạng về văn hóa. Phát triển văn hóa đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân thành phố, tạo điều kiện giao lưu văn hóa giữa thành phố Hồ Chí Minh với cả nước và thế giới. Tiếp thu có chọn lọc văn hóa của thời đại, để nâng cao mức độ hưởng thụ của nhân dân. Thông qua việc tổ chức các loại hình văn hóa, mở rộng việc tham gia của nhân dân vào các tổ chức hiệp hội chuyên môn, đào tạo kỹ năng hưởng thụ văn hóa và tổ chức các hội thi quần chúng, sáng tạo nghệ thuật.
- Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa. Phát triển hệ thống cơ sở vật chất ngành văn hóa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân thành phố, phục vụ du lịch trong nước và quốc tế. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa. Xây dựng các tượng đài chiến thắng, tượng đài lịch sử đúng tầm cỡ quy mô thành phố. Phát triển các khu vui chơi giải trí, ngành công nghiệp giải trí ngang tầm các nước trong khu vực; bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật. Chú trọng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, đến năm 2015 số khu phố đạt chuẩn là 70%, năm 2020 là 75% và năm 2025 là 85%. Đảm bảo, 100% người dân thường xuyên tiếp cận với dịch vụ văn hóa. Đầu tư một số công trình văn hóa cho tương xứng với tầm vóc của một trung tâm văn hóa lớn phía Nam.
- Phát triển thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm thể dục thể thao của cả nước. Đối với thể thao quần chúng, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia luyện tập thể dục thể thao, trang bị phương tiện luyện tập thể dục thể thao ở các khu vực công cộng. Tỷ lệ dân số luyện tập thể dục thể thao thường xuyên là 28% năm 2015, 33% năm 2020 và từ 40% trở lên vào năm 202Đối với thể thao học đường, đảm bảo cơ sở vật chất cho học sinh tham gia luyện tập thể dục thể thao. Đối với thể thao thành tích cao, đầu tư phát triển các môn thể thao thành phố có thế mạnh, những môn thể thao trọng điểm, hiện đại hóa cơ sở luyện tập thể thao đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Định hướng phát triển khoa học và công nghệ
- Với vị trí là trung tâm khoa học và công nghệ của cả nước và khu vực, hoạt động khoa học và công nghệ thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 phải thực sự trở thành động lực trực tiếp, đóng góp quan trọng vào chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững, đạt trình độ trung bình tiên tiến, rút ngắn khoảng cách với các thành phố lớn trong khu vực.
- Đầu tư thỏa đáng, đáp ứng nhu cầu cho phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ trên cơ sở tăng cường đầu tư từ ngân sách thành phố kết hợp với huy động các nguồn lực đầu tư từ xã hội, nhất là các doanh nghiệp. Chú trọng đầu tư về cơ sở vật chất và phát triển nguồn nhân lực trình độ cao nhằm tạo bước đột phá về năng lực nội sinh; tiếp thu, sáng tạo và từng bước làm chủ công nghệ mới trên một số lĩnh vực.
- Củng cố và hoàn thiện cơ chế liên kết hợp tác giữa nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp trong đó lấy doanh nghiệp làm trung tâm cho hoạt động khoa học và công nghệ, lấy đổi mới công nghệ, ứng dụng và phát triển công nghệ mới làm đòn bẩy cho sự tăng trưởng nhanh và bền vững, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
- Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý khoa học và công nghệ; chính sách đối với đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong và ngoài nước nhằm khai thác hiệu quả nhất mọi tiềm năng trí tuệ phục sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa và từng bước phát triển nền kinh tế trí thức.