Document: Điều 8 Nghị định 36-CP tổ chức bảo vệ các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/1975", "sign_number": "36-CP", "signer": "Lê Thanh Nghị", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/1975", "sign_number": "36-CP", "signer": "Lê Thanh Nghị", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/1975", "sign_number": "36-CP", "signer": "Lê Thanh Nghị", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/1975", "sign_number": "36-CP", "signer": "Lê Thanh Nghị", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/1975", "sign_number": "36-CP", "signer": "Lê Thanh Nghị", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 8 Nghị định 36-CP tổ chức bảo vệ các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước có nội dung như sau:

Điều 8. - Tổ chức và biên chế của các phòng, ban và đội, tổ bảo vệ ở các cơ quan, xí nghiệp trực thuộc Trung ương do thủ trưởng ngành sở quan quyết định, sau khi thoả thuận với Bộ trưởng Bộ Công an.
Tổ chức và biên chế của các phòng, ban và đội, tổ bảo vệ ở các cơ quan, xí nghiệp địa phương, do Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định theo đề nghị thống nhất của Thủ trưởng ngành Công an địa phương.
Biên chế cán bộ bảo vệ (không kể biên chế của đội bảo vệ ở những nơi thật cần thiết) ở mỗi cơ quan, xí nghiệp được xác định căn cứ vào tính chất, tầm quan trọng và quy mô của đơn vị, số lượng cán bộ, công nhân, viên chức và khối lượng tài sản cần được bảo vệ và được tính theo tỷ lệ từ hai đến năm phần nghìn (20/00 đến 50/00) số biên chế chung của cơ quan, xí nghiệp; đó là mức nói chung, là mức tối đa, phải xuất phát từ tình hình và yêu cầu thực tế của từng cơ quan, xí nghiệp mà số người cho sát.

Content:
Điều 8. - Tổ chức và biên chế của các phòng, ban và đội, tổ bảo vệ ở các cơ quan, xí nghiệp trực thuộc Trung ương do thủ trưởng ngành sở quan quyết định, sau khi thoả thuận với Bộ trưởng Bộ Công an.
Tổ chức và biên chế của các phòng, ban và đội, tổ bảo vệ ở các cơ quan, xí nghiệp địa phương, do Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định theo đề nghị thống nhất của Thủ trưởng ngành Công an địa phương.
Biên chế cán bộ bảo vệ (không kể biên chế của đội bảo vệ ở những nơi thật cần thiết) ở mỗi cơ quan, xí nghiệp được xác định căn cứ vào tính chất, tầm quan trọng và quy mô của đơn vị, số lượng cán bộ, công nhân, viên chức và khối lượng tài sản cần được bảo vệ và được tính theo tỷ lệ từ hai đến năm phần nghìn (20/00 đến 50/00) số biên chế chung của cơ quan, xí nghiệp; đó là mức nói chung, là mức tối đa, phải xuất phát từ tình hình và yêu cầu thực tế của từng cơ quan, xí nghiệp mà số người cho sát.