Document: Điểm c Khoản 3 Điều 1 Thông tư 04-LĐTL tạm thời ấn định nguyên tắc nội dung hướng dẫn chế độ lương theo sản phẩm

Type: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "11/02/1959", "sign_number": "04-LĐTL", "signer": "Nguyễn Văn Tạo", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "11/02/1959", "sign_number": "04-LĐTL", "signer": "Nguyễn Văn Tạo", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "11/02/1959", "sign_number": "04-LĐTL", "signer": "Nguyễn Văn Tạo", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "11/02/1959", "sign_number": "04-LĐTL", "signer": "Nguyễn Văn Tạo", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "11/02/1959", "sign_number": "04-LĐTL", "signer": "Nguyễn Văn Tạo", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điểm c Khoản 3 Điều 1 Thông tư 04-LĐTL tạm thời ấn định nguyên tắc nội dung hướng dẫn chế độ lương theo sản phẩm

Điều 1. 3 nghị định số 182-TTg ngày 07-04-1958 của Thủ tướng Chính phủ về việc cải tiến và tăng lương năm 1958 quy định: “Bộ Lao động sẽ dựa trên cơ sở chế độ tiền lương đã được cải tiến mà điều chỉnh và mở rộng dần việc thi hành từng bước có lãnh đạo chế độ lương theo sản phẩm”.
...
3. Ngoài ra trả lương theo sản phẩm còn đảm bảo thực hiện nguyên tắc tiền lương xã hội chủ nghĩa “phân phối theo lao động” làm cho thu nhập của công nhân được tăng lên trực tiếp theo năng suất lao động, do đó có tác dụng bồi dưỡng kịp thời cho những người tích cực có thành tích trong sản xuất.
Miền Bắc nước ta đã bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội và bắt đầu kiến thiết kinh tế theo kế hoạch dài hạn. Nhiệm vụ trước mắt là phải ra sức thi đua sản xuất và tiết kiệm đẩy mạnh sản xuất, thực hiện kế hoạch Nhà nước, cải thiện một bước đời sống của nhân dân. Việc thực hiện chế độ lương theo sản phẩm có một ý nghĩa quan trọng. Với những ưu điểm nói trên, nó là một trong những nhân tố quan trọng đảm bảo cho năng suất lao động không ngừng nâng cao, sản xuất không ngừng phát triển, giá thành dần dần hạ thấp và trên cơ sở đó đời sống của công nhân ngày một nâng cao.
Trong thời gian qua, ở một số xí nghiệp, công trường, việc thực hiện chế độ lương theo sản phẩm đã có tác dụng nhất định khuyến khích công nhân nâng cao năng suất, phát huy sáng kiến, đảm bảo hoàn thành kế hoạch Nhà nước, đồng thời làm tăng thêm thu nhập cho công nhân. Nhưng vì lãnh đạo thiếu chặt chẽ, hoàn cảnh có nhiều khó khăn, phức tạp như việc quản lý xí nghiệp, công trường chưa được củng cố, chế độ cấp bậc lương chưa được hợp lý, cán bộ chuyên trách còn thiếu, định mức chưa chính xác, cho nên việc thực hiện chế độ lương theo sản phẩm đã phạm phải một số thiếu sót.
Để kịp thời động viên công nhân phát huy nhiệt tình lao động nâng cao năng suất, hạ thấp giá thành sản phẩm, đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước, với những kinh nghiệm đã đúc rút được và dựa trên cơ sở chế độ lương cấp bậc đã được cải tiến thêm một bước, nay cần tiến hành điều chỉnh và mở rộng dần chế độ lương theo sản phẩm một cách có kế hoạch, có lãnh đạo.
II. ĐIỀU KIỆN CHUẨN BỊ THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ LƯƠNG THEO SẢN PHẨM
Thông tư số 197-TTg ngày 17-04-1958 của Thủ tướng Chính phủ (Phần III mục 4) quy định: “Các xí nghiệp Nhà nước cần nghiên cứu để điều chỉnh và mở rộng dần việc áp dụng chế độ lương theo sản phẩm một cách thận trọng; đối với những xí nghiệp, công trường đã có đủ điều kiện cần thiết thì cho thi hành chế độ lương theo sản phẩm, đối với những nơi chưa đủ điều kiện thì phải chuẩn bị chu đáo rồi mới thực hiện chế độ lương theo sản phẩm; đối với những nơi đã thi hành mà có lệch lạc thì phải sửa chữa và điều chỉnh lại cho thích hợp …”
Chế độ lương theo sản phẩm có nhiều ưu điểm, nhưng phải phù hợp với đặc điểm, yêu cầu sản xuất và đòi hỏi những điều kiện cụ thể nhất định. Có hai điều kiện chính:
1.Tổ chức sản xuất tương đối ổn định và sản xuất yêu cầu tăng số lượng hoặc rút ngắn thời gian để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch.
2. Tính chất sản xuất có thể định được mức và theo dõi được số lượng và chất lượng sản phẩm.
Thiếu một trong hai điều kiện trên thì không thi hành được chế độ lương theo sản phẩm. Đã có những điều kiện căn bản nói trên lại còn phải chuẩn bị kỹ về tư tưởng, về tổ chức, về định mức thì mới bảo đảm cho việc thực hiện chế độ lương theo sản phẩm thu được kết quả tốt.
1. Chuẩn bị về tư tưởng:
Phải coi trọng công tác giáo dục chính sách, lãnh đạo tư tưởng làm cho cán bộ và công nhân thông suốt mục đích ý nghĩa, nguyên tắc và nội dung chế độ lương theo sản phẩm, phân biệt sự khác nhau về căn bản với chế độ lương khoán của đế quốc, nhận rõ mục đích chủ yếu của chế độ lương theo sản phẩm là nhằm nâng cao năng suất lao động hạ giá thành, phát triển sản xuất. Trên cơ sở đó thu nhập của người công nhân được tăng lên một cách hợp lý. Cần làm cho cán bộ thấy rõ thực hiện trả lương theo sản phẩm là một công tác quan trọng trong việc lãnh đạo sản xuất, quản lý xí nghiệp, tránh coi đó chỉ là đơn thuần để tăng thu nhập cho công nhân, nên làm một cách đơn giản thiếu lãnh đạo chặt chẽ. Ngược lại cũng tránh tư tưởng cầu toàn, ngại khó, không quyết tâm khắc phục khó khăn, tạo điều kiện thực hiện chế độ lương theo sản phẩm; lại cũng đề phòng tư tưởng cho chế độ lương theo sản phẩm tự nó đã có nhiều ưu điểm mà xem nhẹ công tác chính trị và công tác tổ chức, chỉ nhấn mạnh về tác dụng khuyến khích vật chất của tiền lương mà xem nhẹ công tác giáo dục chính trị và tư tưởng cho quần chúng.
Đối với công nhân phải coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa xã hội làm cho ý thức lao động xã hội chủ nghĩa, ý thức làm chủ của công nhân được nâng cao, làm cho anh em hiểu rõ quyền lợi cá nhân không thể tách rời với quyền lợi quốc gia, lợi ích trước mắt phải phục tùng lợi ích lâu dài. Phải đề cao lợi ích tập thể trước hết, gắn với lợi ích cá nhân, phải có thái độ lao động của giai cấp làm chủ xã hội, đề cao tinh thần trách nhiệm đối với nhiệm vụ kiến thiết miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà mà ra sức tăng năng suất lao động làm nhiều, nhanh, tốt, rẻ, hoàn thành tốt kế hoạch Nhà nước. Trên cơ sở giáo dục tốt tư tưởng xã hội chủ nghĩa, việc thực hiện chế độ lương theo sản phẩm mới có điều kiện nâng cao năng suất lao động, tăng phẩm chất, hạ giá thành. Tư tưởng chỉ nhìn đến quyền lợi trước mắt mà làm ẩu, làm lấy nhiều, không đảm bảo kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hoặc muốn hạ thấp mức để cho dễ vượt là trái với mục đích, ý nghĩa và nguyên tắc của chế độ trả lương theo sản phẩm.
2. Chuẩn bị về tổ chức:
Trong ban phụ trách xí nghiệp, công trường phải phân công một người trực tiếp theo dõi thực hiện chế độ lương theo sản phẩm giúp cho Ban phụ trách lãnh đạo thi hành được tốt. Ngoài ra ở các Cục, Sở, Công ty, các xí nghiệp, công trường phải có cán bộ chuyên trách về chế độ lương theo sản phẩm. Tùy theo đơn vị lớn nhỏ mà đào tạo một số cán bộ cần thiết có trình độ về chính sách và nghiệp vụ để thường xuyên theo dõi giúp đỡ cho ban phụ trách xí nghiệp, công trường lãnh đạo thực hiện chế độ lương theo sản phẩm.
Ngoài ra những công việc về tổ chức cần phải chuẩn bị là:
- Chấn chỉnh tổ chức lao động cho hợp lý, sử dụng công nhân cho đúng nghề, sát với yêu cầu của từng bộ phận, tránh chỗ thừa chỗ thiếu.
- Cải tiến việc sử dụng và cung cấp máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu cho hợp lý, đầy đủ kịp thời đảm bảo sản xuất được liên tục.
- Quy định chế độ trách nhiệm rõ ràng của từng người, từng bộ phận, thực hiện thống kê, kiểm tra, nghiệm thu về số lượng và chất lượng sản phẩm cho chặt chẽ, có kế hoạch phối hợp mật thiết giữa các bộ phận đó, tăng cường công tác bảo hộ lao động và an toàn kỹ thuật.
- Có kế hoạch chăm lo cải thiện đời sống, bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ, kỹ thuật và văn hóa cho công nhân viên chức.
3. Chuẩn bị về định mức và đơn giá trả lương:
Định mức đúng là cơ sở để thực hiện trả lương theo sản phẩm được hợp lý. Định mức cũng là một công tác khó khăn phức tạp. Cho nên cán bộ phải đi sâu nắm chắc điều kiện sản xuất, trình độ công nhân để nghiên cứu định mức cho tốt rồi mới tiến hành trả lương theo sản phẩm.
Trên cơ sở định mức được tốt và sắp xếp cấp bậc công nhân đã tương đối hợp lý thì việc định đơn giá trả lương theo sản phẩm mới được đúng.
Tóm lại phải phân tích đặc điểm, điều kiện sản xuất và làm các công tác chuẩn bị cho tốt. Công tác chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức, định mức và đơn giá càng làm được đầy đủ bao nhiêu thì việc thực hiện chế độ lương theo sản phẩm càng có kết quả bấy nhiêu. Nhưng cũng không nên quá dè dặt, cầu toàn chờ cho có thật đầy đủ mọi điều kiện mới thi hành. Lãnh đạo theo đúng đường lối quần chúng thì quá trình thực hiện chế độ lương theo sản phẩm sẽ bồi bổ tạo điều kiện tốt cho việc thi hành được kết quả.
III. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
1. Định mức:
...
c) Về phương pháp định mức trung bình tiền tiến có căn cứ kỹ thuật thì tùy theo tình hình cụ thể của mỗi nơi mà áp dụng phương pháp đã hướng dẫn tại thông tư số 24-LĐ-TT ngày 30 tháng 11 năm 1957 của Bộ Lao động:
Phương pháp định mức tốt nhất là phải:
a) Nghiên cứu kiểm tra đầy đủ xem địa điểm công tác, điều kiện và hoàn cảnh làm việc, việc sử dụng công suất máy, phương pháp làm việc của công nhân, việc phân phối sử dụng nhân công, việc cung cấp nguyên vật liệu dụng cụ … đã hợp lý chưa.
b) Căn cứ vào kết quả đã phân tích được, thu nhập kinh nghiệm tiền tiến của công nhân mà xây dựng cải tiến lại chế độ công tác sử dụng công suất máy móc, thiết bị có hiệu quả hơn trước, tổ chức địa điểm công tác và phương pháp làm việc hợp lý hơn.
c) Trên cơ sở đã cải tiến chế độ công tác, bố trí sử dụng máy móc thiết bị và phương pháp làm việc mới mà tính toán phân tích định ra mức thời gian hoặc mức sản lượng.
Định mức như trên là định mức theo phương pháp định ngạch kỹ thuật. Với định mức đó, đa số công nhân được cán bộ giúp đỡ nắm được kỹ thuật mới của công việc mình làm và nếu cố gắng thì đạt và vượt mức.
Trong khi chưa định được mức theo phương pháp nói trên, có thể tạm thời làm theo phương pháp thống kê kinh nghiệm kết hợp với việc suy xét kỹ càng các nhân tố tiền tiến có thể nâng cao được tiêu chuẩn mà xác định.
Định mức theo thống kê kinh nghiệm tức là căn cứ vào kinh nghiệm và tài liệu thống kê trong quá trình sản xuất của từng cấp bậc thợ để định mức, nhưng cần chú trọng phân tích tổ chức lao động, phương pháp làm việc trước có những điểm nào chưa hợp lý cần sửa đổi lại để xác định mức. Tránh cách làm chỉ căn cứ theo số liệu thống kê được rồi dùng phương pháp tính toán đơn thuần theo một công thức nhất định để định mức, mà không có sự nghiên cứu phân tích đầy đủ.
Việc định mức do Giám đốc xí nghiệp dự kiến và đưa ra cho công nhân tham gia ý kiến, đem áp dụng thử trong một thời gian ngắn, chỉnh lý lại các mức chưa sát rồi mới quyết định và công bố chính thức. Tránh áp dụng phương pháp dân chủ bình nghị để định mức. Công đoàn và Đoàn thanh niên lao động có tránh nhiệm lãnh đạo, động viên công nhân tham gia ý kiến một cách rộng rãi để xây dựng mức được tốt.
Định mức phải đi đôi với việc phổ biến kinh nghiệm tiền tiến. Khi đã có mức mới, cán bộ có trách nhiệm tạo điều kiện, bố trí đầy đủ phương tiện và phải giúp đỡ công nhân đạt và vượt mức.
2. Thay đổi mức:
Thời gian xét lại mức đối với những công việc làm thường xuyên, lâu dài tại các xí nghiệp công nghiệp tạm thời quy định từ 3 tháng đến 1 năm.
Trong phạm vi từ 3 tháng đến 1 năm, tùy tình hình cụ thể của mỗi xí nghiệp mà quy định cụ thể thời gian xét lại mức cho thích hợp. Nếu định mức tương đối đã chính xác, có căn cứ kỹ thuật, thì có thể để đến 1 năm mới xét lại mức. Trường hợp định mức theo thống kê kinh nghiệm, chưa được chính xác thì thời gian xét lại mức có thể ngắn hơn (ví dụ: 6 tháng).
Vì kỹ thuật sản xuất và thiết bị của xí nghiệp luôn luôn cải tiến, trình độ kỹ thuật, văn hóa của công nhân ngày càng nâng cao, khả năng sáng tạo của công nhân càng được phát huy nhiều, tổ chức lao động, tổ chức sản xuất luôn luôn được cải tiến hợp lý hơn, cho nên định mức lúc đầu dù có chính xác cũng cần phải định kỳ xét lại. Nhưng không nhất thiết cứ đến thời hạn đã định là phải thay đổi tất cả các mức. Nếu sau khi xét lại mức thấy có những mức cũ còn có tính chất tiền tiến chưa có nhân tố gì làm ảnh hưởng đến mức cũ thì vẫn tiếp tục cho áp dụng.
Phải tránh sử đổi mức quá nhanh làm cho công nhân thiếu phấn khỏi tinh tưởng, luôn luôn phải đuổi theo mức mới đồng thời làm ảnh hưởng đến thu nhập của công nhân. Ngược lại, mức không nên để lâu không thay đổi trở nên lạc hậu, không có tác dụng khuyến khích công nhân phát huy tính tích cực và tính sáng tạo để đạt và vượt mức và gây lãng phí cho quỹ lương.
Đối với các công trường kiến thiết cơ bản, các nông trường, lâm trường do tính chất công tác lưu động, phân tán, chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời thiết nhiều cho nên việc điều chỉnh mức cần phải linh hoạt, kịp thời, thời gian xét lại mức có thể ngắn hơn ở các xí nghiệp công nghiệp và sẽ do Bộ sở quan quy định.
Trong những trường hợp dưới đây thì mặc dầu chưa đến kỳ hạn xét lại mức cũng có thể sửa đổi mức.
a) Điều kiện làm việc thay đổi (có thuận tiện hoặc khó khăn hơn trước).
b) Kỹ thuật sản xuất, phương pháp làm việc thay đổi theo sự hướng dẫn của Ban phụ trách xí nghiệp công trường. Khi có sáng kiến phát minh đã được phổ biến hướng dẫn cho công nhân áp dụng thì mức sẽ thay đổi.
c) Thiết bị máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu có thay đổi.

Content:
Về phương pháp định mức trung bình tiền tiến có căn cứ kỹ thuật thì tùy theo tình hình cụ thể của mỗi nơi mà áp dụng phương pháp đã hướng dẫn tại thông tư số 24-LĐ-TT ngày 30 tháng 11 năm 1957 của Bộ Lao động:
Phương pháp định mức tốt nhất là phải:
a) Nghiên cứu kiểm tra đầy đủ xem địa điểm công tác, điều kiện và hoàn cảnh làm việc, việc sử dụng công suất máy, phương pháp làm việc của công nhân, việc phân phối sử dụng nhân công, việc cung cấp nguyên vật liệu dụng cụ … đã hợp lý chưa.
b) Căn cứ vào kết quả đã phân tích được, thu nhập kinh nghiệm tiền tiến của công nhân mà xây dựng cải tiến lại chế độ công tác sử dụng công suất máy móc, thiết bị có hiệu quả hơn trước, tổ chức địa điểm công tác và phương pháp làm việc hợp lý hơn.
Trên cơ sở đã cải tiến chế độ công tác, bố trí sử dụng máy móc thiết bị và phương pháp làm việc mới mà tính toán phân tích định ra mức thời gian hoặc mức sản lượng.
Định mức như trên là định mức theo phương pháp định ngạch kỹ thuật. Với định mức đó, đa số công nhân được cán bộ giúp đỡ nắm được kỹ thuật mới của công việc mình làm và nếu cố gắng thì đạt và vượt mức.
Trong khi chưa định được mức theo phương pháp nói trên, có thể tạm thời làm theo phương pháp thống kê kinh nghiệm kết hợp với việc suy xét kỹ càng các nhân tố tiền tiến có thể nâng cao được tiêu chuẩn mà xác định.
Định mức theo thống kê kinh nghiệm tức là căn cứ vào kinh nghiệm và tài liệu thống kê trong quá trình sản xuất của từng cấp bậc thợ để định mức, nhưng cần chú trọng phân tích tổ chức lao động, phương pháp làm việc trước có những điểm nào chưa hợp lý cần sửa đổi lại để xác định mức. Tránh cách làm chỉ căn cứ theo số liệu thống kê được rồi dùng phương pháp tính toán đơn thuần theo một công thức nhất định để định mức, mà không có sự nghiên cứu phân tích đầy đủ.
Việc định mức do Giám đốc xí nghiệp dự kiến và đưa ra cho công nhân tham gia ý kiến, đem áp dụng thử trong một thời gian ngắn, chỉnh lý lại các mức chưa sát rồi mới quyết định và công bố chính thức. Tránh áp dụng phương pháp dân chủ bình nghị để định mức. Công đoàn và Đoàn thanh niên lao động có tránh nhiệm lãnh đạo, động viên công nhân tham gia ý kiến một cách rộng rãi để xây dựng mức được tốt.
Định mức phải đi đôi với việc phổ biến kinh nghiệm tiền tiến. Khi đã có mức mới, cán bộ có trách nhiệm tạo điều kiện, bố trí đầy đủ phương tiện và phải giúp đỡ công nhân đạt và vượt mức.
2. Thay đổi mức:
Thời gian xét lại mức đối với những công việc làm thường xuyên, lâu dài tại các xí nghiệp công nghiệp tạm thời quy định từ 3 tháng đến 1 năm.
Trong phạm vi từ 3 tháng đến 1 năm, tùy tình hình cụ thể của mỗi xí nghiệp mà quy định cụ thể thời gian xét lại mức cho thích hợp. Nếu định mức tương đối đã chính xác, có căn cứ kỹ thuật, thì có thể để đến 1 năm mới xét lại mức. Trường hợp định mức theo thống kê kinh nghiệm, chưa được chính xác thì thời gian xét lại mức có thể ngắn hơn (ví dụ: 6 tháng).
Vì kỹ thuật sản xuất và thiết bị của xí nghiệp luôn luôn cải tiến, trình độ kỹ thuật, văn hóa của công nhân ngày càng nâng cao, khả năng sáng tạo của công nhân càng được phát huy nhiều, tổ chức lao động, tổ chức sản xuất luôn luôn được cải tiến hợp lý hơn, cho nên định mức lúc đầu dù có chính xác cũng cần phải định kỳ xét lại. Nhưng không nhất thiết cứ đến thời hạn đã định là phải thay đổi tất cả các mức. Nếu sau khi xét lại mức thấy có những mức cũ còn có tính chất tiền tiến chưa có nhân tố gì làm ảnh hưởng đến mức cũ thì vẫn tiếp tục cho áp dụng.
Phải tránh sử đổi mức quá nhanh làm cho công nhân thiếu phấn khỏi tinh tưởng, luôn luôn phải đuổi theo mức mới đồng thời làm ảnh hưởng đến thu nhập của công nhân. Ngược lại, mức không nên để lâu không thay đổi trở nên lạc hậu, không có tác dụng khuyến khích công nhân phát huy tính tích cực và tính sáng tạo để đạt và vượt mức và gây lãng phí cho quỹ lương.
Đối với các công trường kiến thiết cơ bản, các nông trường, lâm trường do tính chất công tác lưu động, phân tán, chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời thiết nhiều cho nên việc điều chỉnh mức cần phải linh hoạt, kịp thời, thời gian xét lại mức có thể ngắn hơn ở các xí nghiệp công nghiệp và sẽ do Bộ sở quan quy định.
Trong những trường hợp dưới đây thì mặc dầu chưa đến kỳ hạn xét lại mức cũng có thể sửa đổi mức.
a) Điều kiện làm việc thay đổi (có thuận tiện hoặc khó khăn hơn trước).
b) Kỹ thuật sản xuất, phương pháp làm việc thay đổi theo sự hướng dẫn của Ban phụ trách xí nghiệp công trường. Khi có sáng kiến phát minh đã được phổ biến hướng dẫn cho công nhân áp dụng thì mức sẽ thay đổi.
Thiết bị máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu có thay đổi.