Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2297/QĐ-UBND 2022 Đề án phát triển chăn nuôi bền vững Kiên Giang

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "14/09/2022", "sign_number": "2297/QĐ-UBND", "signer": "Lê Quốc Anh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "14/09/2022", "sign_number": "2297/QĐ-UBND", "signer": "Lê Quốc Anh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "14/09/2022", "sign_number": "2297/QĐ-UBND", "signer": "Lê Quốc Anh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "14/09/2022", "sign_number": "2297/QĐ-UBND", "signer": "Lê Quốc Anh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "14/09/2022", "sign_number": "2297/QĐ-UBND", "signer": "Lê Quốc Anh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2297/QĐ-UBND 2022 Đề án phát triển chăn nuôi bền vững Kiên Giang

Điều 1. Phê duyệt Đề án phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng đến năm 2030 tỉnh Kiên Giang (đính kèm Đề án), với các nội dung chính như sau:
...
3. Xây dựng đề án phát triển ngành chăn nuôi bền vững theo phương án chọn
3.1. Định hướng phát triển các loại vật nuôi
Tập trung phát triển những vật nuôi có lợi thế, có sản phẩm hàng hóa lớn nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh, khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Thành phố Hồ Chí Minh và hướng đến xuất khẩu. Trước hết tập trung phát triển chăn nuôi heo, bò thịt, gia cầm và chim yến.
3.2. Định hướng các cơ sở giết mổ gia súc - gia cầm tập trung
Ngành chăn nuôi heo được nhiều thành phần tham gia đầu tư, từ sản xuất con giống đến chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ; đồng thời lượng tiêu thụ thịt heo chiếm tỷ lệ lớn trong nhu cầu tiêu dùng của người dân, do đó xác định heo là đối tượng vật nuôi tham gia chuỗi liên kết và cung ứng. Để bảo đảm chuỗi cung ứng sản phẩm thịt heo an toàn thực phẩm từ trang trại đến bàn ăn thì việc hoàn thành hệ thống mạng lưới cơ sở giết mổ là hết sức cần thiết và cấp bách, có thể nói hệ thống giết mổ hoàn chỉnh đi vào hoạt động sẽ mở ra nhiều cơ hội hợp tác xây dựng các chuỗi liên kết giữa những hộ kinh doanh giết mổ và các trang trại chăn nuôi trong cũng như ngoài tỉnh sẽ được thuận lợi. Do đó việc xúc tiến xây dựng các cơ sở giết mổ ở các địa phương chưa có hoặc chưa hoàn thành nâng cấp các cơ sở cũ cần phải được ưu tiên; trong thời gian tới, cần hoàn thành xây dựng và đầu tư nâng cấp các lò giết mổ tập trung.
Song song đó phải có sự xúc tác, tạo động lực từ cơ chế, chính sách, đặc biệt là các ưu đãi, hỗ trợ theo các Nghị định của Chính phủ; Quyết định của thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành Trung ương có liên quan.
3.3. Định hướng phát triển khu vực chăn nuôi
Về lâu dài sẽ từng bước chuyển các cơ sở chăn nuôi tập trung (trang trại) vào các vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung để tránh gây ô nhiễm cho các khu dân cư, hạn chế dịch bệnh, tiện lợi cho tổ chức sản xuất. Giai đoạn từ nay đến năm 2025 sẽ chọn 1 - 2 khu vực thí điểm xây dựng khu vực chăn nuôi tập trung ở những nơi có tiềm năng, lợi thế, kinh nghiệm về chăn nuôi trang trại như Châu Thành, Tân Hiệp, Hòn Đất, Kiên Lương, Giang Thành.
Các khu vực khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung có mật độ trang trại chăn nuôi hợp lý, không gây quá tải về môi trường, kết hợp tốt giữa chăn nuôi với các ngành sản xuất khác. Nhà nước đảm bảo xây dựng cơ sở hạ tầng (đường, điện, nước) đến khu chăn nuôi tập trung, các trang trại sẽ xây dựng các công trình nối kết từ các tuyến trục vào trang trại. Việc tích tụ đất trong các khu vực khuyến khích phát triển chăn nuôi sẽ do các hộ và doanh nghiệp tự thoả thuận.
3.4. Thức ăn chăn nuôi
Khuyến khích phát triển công nghiệp sản xuất nguyên liệu, thức ăn bổ sung, nhất là công nghệ sinh học nhằm đáp ứng đủ các chế phẩm sinh học thay thế kháng sinh, hóa chất dùng trong chăn nuôi và tận thu, nâng cao giá trị dinh dưỡng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp trong tỉnh như: bã, men bia, bã dứa, tiết và phụ phẩm lò mổ, vỏ đầu tôm, các phụ phẩm từ khai thác, nuôi trồng...
Thí điểm chọn một số diện tích đất sản xuất kém hiệu quả chuyển sang trồng cây chế biến thức ăn gia súc để phục vụ phát triển chăn nuôi đại gia súc ở vùng Tứ giác Long Xuyên và các vùng chăn nuôi tập trung.
Khuyến khích, kêu gọi các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư xây dựng 01-02 nhà máy chế biến thức ăn gia súc (kết hợp chế biến thức ăn cho tôm) công suất khoảng 35.000 tấn/năm ở một trong các khu công nghiệp của tỉnh.
3.5. Kiểm soát dịch bệnh
Nâng cao năng lực kiểm soát dịch bệnh, nhất là việc khống chế các dịch bệnh nguy hiểm ảnh hưởng đến đàn vật nuôi và những dịch bệnh có nguy cơ lây sang người, bảo đảm an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao trong tỉnh và cả nước.
II. Giải pháp thực hiện
1. Giải pháp về quy hoạch, định hướng và quản lý
1.1. Quy định vùng cấm và vùng được phép chăn nuôi
Ngày 05/8/2022, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 22/2022/NQ-HĐND , quy định khu vực không được phép chăn nuôi, chính sách hỗ trợ di dời cơ sở chăn nuôi ra khỏi khu vực không được phép chăn nuôi và vùng nuôi chim yến trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Trong quá trình thực hiện Nghị quyết, Sở Nông nghiệp và PTNT tham mưu UBND tỉnh xây dựng bản đồ chăn nuôi, trong đó thể hiện được các vùng cấm nuôi, vùng định hướng chăn nuôi tập trung đáp ứng đầy đủ các quy định về điều kiện chăn nuôi, nhất là khoảng cách an toàn trong chăn nuôi theo Thông tư số 23/2019/TT-BNNPTNT ngày 30/11/2019 Hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về hoạt động chăn nuôi; Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND ngày 24/12/2020 của UBND tỉnh về việc quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đến năm 2030. Các địa phương xác định mật độ, khoảng cách hợp lý giữa các cơ sở, trang trại chăn nuôi, đảm bảo cách ly dịch bệnh nhất là Dịch tả heo Châu Phi và sức tải môi trường đối với chất thải, khí thải phát sinh trong quá trình chăn nuôi để hoạch định chiến lược, kế hoạch phát triển chăn nuôi. Bởi việc quy hoạch chăn nuôi tập trung kiểu “khu công nghiệp” đặt ra nhiều vấn đề nan giải về quỹ đất, vốn, hạ tầng, thu hút đầu tư, đặc biệt là rất khó thực hiện giải pháp an toàn dịch bệnh, môi trường.
Bên cạnh đó, căn cứ Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 để điều chỉnh, tích hợp phát triển chăn nuôi phù hợp tiềm năng, lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh của từng vùng sinh thái; bám sát tín hiệu thị trường. Đây là giải pháp then chốt, làm kim chỉ nam cho việc tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị để chăn nuôi của tỉnh đi đúng hướng công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao, chăn nuôi tuần hoàn ở cả quy mô trang trại, hộ chăn nuôi chuyên nghiệp; khẳng định vai trò quan trọng của chăn nuôi nông hộ truyền thống.
Vùng Tứ giác Long Xuyên tập trung phát triển chăn nuôi trâu, bò, các trang trại nuôi heo, gia cầm quy mô từ 30 - 300 đơn vị vật nuôi theo hình thức công nghiệp; vùng Tây sông Hậu tiếp tục phát huy lợi thế về chăn nuôi gia trại, trang trại gia công thương phẩm heo, gia cầm từ 30 đơn vị vật nuôi trở lên và sản xuất, cung ứng giống vật nuôi.
1.2. Định hướng vùng chăn nuôi tập trung
Vùng Tứ giác Long Xuyên: với điều kiện đất sản xuất nông nghiệp lớn, dư địa phát triển chăn nuôi còn nhiều, đây sẽ vùng ưu tiên tập trung cơ sở chăn nuôi trang trại vừa, trang trại lớn và các Hợp tác xã chăn nuôi trâu, bò, heo, gà, vịt. Huyện Hòn Đất định hướng đến năm 2025 hình thành vùng chăn nuôi tập trung tại xã Bình Giang, xã Bình Sơn diện tích khoảng 150 ha; Huyện Kiên Lương định hướng đến năm 2025 hình thành vùng chăn nuôi tập trung tại ấp Cảng, xã Hòa Điền diện tích khoảng 300 ha và đến năm 2030 bổ sung thêm vùng chăn nuôi tập trung ở xã Kiên Bình; huyện Giang Thành định hướng đến năm 2025 hình thành vùng chăn nuôi tập trung ở xã Vĩnh Điều khoảng 150 ha đến 214 ha, đến năm 2030 bổ sung vùng chăn nuôi tập trung ở xã Phú Mỹ, Phú Lợi. Tại các vùng chăn nuôi tập trung kết hợp xây dựng cơ sở chế biến thức ăn cho gia súc, gia cầm và sản xuất phân hữu cơ theo quy trình công nghiệp nhằm tận dụng phế phụ phẩm trong chăn nuôi.
Vùng Tây sông Hậu: Việc vận hành cống Cái Lớn - Cái Bé theo đánh giá của cơ quan chuyên môn không có tác động lớn đến lĩnh vực chăn nuôi, chủ yếu tác động đến trồng trọt và nuôi trồng thủy sản. Do đó, cần phát huy thế mạnh vốn có của chăn nuôi trang trại quy mô vừa, hình thành các vùng chăn nuôi tập trung liên xã, cụm xã về chăn nuôi heo, gia cầm và cung ứng giống. Trong đó, Giồng Riềng ưu tiên xã Long Thạnh, Vĩnh Thạnh, Thạnh Phước, Thạnh Lộc, Bàn Tân Định, Hòa Lợi, Hòa Thuận; huyện Gò Quao tập trung các xã Vĩnh Tuy, Vĩnh Thăng, Vĩnh Hòa Hưng Bắc, Định An; huyện Tân Hiệp chủ yếu các xã Thạnh Trị, Tân An, Tân Hiệp A, Thạnh Đông A, Tân Thành, Tân Hội, Tân Hòa; huyện Châu Thành tập trung các xã Minh Hòa, Giục Tượng, Mong Thọ A, Mong Thọ B, Vĩnh Hòa Phú,...
Các huyện, thành phố còn lại: duy trì tổng đàn hợp lý, chăn nuôi các loài đặc sản, đặc hữu của địa phương trong vùng được phép chăn nuôi và đảm bảo các điều kiện về vệ sinh thú y, môi trường theo quy định.
Đến năm 2025 xây dựng được ít nhất 5 cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh, đến năm 2030 phấn đấu 15 cơ sở nuôi, ít nhất 01 cơ sở sản xuất giống vật nuôi (Trại giống Nông Lâm Ngư nghiệp Hòn Đất) và 2 vùng chăn nuôi tập trung an toàn dịch bệnh.
1.3. Quản lý, phát triển nuôi chim yến
Các huyện, thành phố có lợi thế phát triển nghề nuôi chim yến cần quy hoạch chi tiết vùng nuôi, tổ chức thực hiện nghiêm Điều 25 (Quản lý nuôi chim yến) Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ Hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi, Nghị quyết của HĐND tỉnh về vùng nuôi chim yến.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực: xây dựng, bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm..., vừa tận dụng, phát huy ưu thế của tỉnh có số nhà yến đứng đầu cả nước, nhưng phải làm tốt khâu quản lý, định hướng, điều tiết được sản xuất, bình đẳng, không để xảy ra xung đột, khiếu kiện, trên cơ sở đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của tổ chức, cá nhân nuôi yến và cộng đồng.
Thông qua các hoạt động khuyến nông phổ biến, nhân rộng mô hình nuôi chim yến hiệu quả nhờ sử dụng công nghệ cao, liên kết trong sản xuất; xây dựng yến sào thành sản phẩm OCOP Kiên Giang, tăng giá trị thông qua chế biến sâu, đa dạng sản phẩm, hỗ trợ quảng bá, tạo dựng thương hiệu, hướng đến xuất khẩu.
Thường xuyên dự báo và cập nhật số lượng quần thể, số lượng nhà yến, sản lượng, nhu cầu thị trường tiêu thụ sản phẩm yến sào để quản lý, khuyến cáo, ban hành các chính sách phù hợp.
Ngành thú y chủ động xây dựng kế hoạch, giải pháp phòng, chống dịch bệnh, kiểm tra vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nuôi yến phù hợp thực tiễn và quy định pháp luật hiện hành.
1.4. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung
Kế thừa thành quả đạt được từ Đề án Quy hoạch hệ thống cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2006 - 2010, Sở Nông nghiệp và PTNT rà soát, điều chỉnh, bổ sung, tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch xây dựng hoàn thiện mạng lưới cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung tỉnh Kiên Giang. Trong đó:
- Chỉ đạo các huyện, thành phố chậm nhất đến cuối năm 2022 phải xây dựng hoàn thành cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung tại thị trấn như huyện Giang Thành, An Biên, U Minh Thượng.
- Các cơ sở giết mổ tập trung tại các huyện, thành phố: Rạch Giá, Hà Tiên, Giồng Riềng, Kiên Lương, Châu Thành, Tân Hiệp từng bước nâng cấp, cải tạo, đầu tư hệ thống giết mổ treo, mở rộng công suất phù hợp với nhu cầu giết mổ.
- Cơ sở đã hoạt động, đến nay qua rà soát quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đánh giá điều kiện đảm bảo ATTP theo Thông tư số 38/2018/TT-BNNPTNT xếp loại C không có khả năng khắc phục sai lỗi, vi phạm nghiêm trọng về môi trường,... buộc dừng hoạt động hoặc phải di dời.
2. Giải pháp về khoa học công nghệ, khuyến nông và cải tạo giống vật nuôi
2.1. Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số
Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ vào quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh, phòng bệnh, truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi như công nghệ quản lý TE-FOOD (một ứng dụng của công nghệ Blockchain) đang được áp dụng khá phổ biến ở các tỉnh, thành. Công nghệ TE-FOOD triển khai phù hợp ở các cơ sở chăn nuôi heo từ 30 con, gia cầm từ 1.000 con trở lên, giúp cập nhật thông tin theo thời gian thực về tổng đàn, giám sát dịch bệnh, sản lượng tiêu thụ, truy xuất nguồn gốc dễ dàng và hạn chế tối đa (hoặc thay thế) các loại giấy tờ, thủ tục... phục vụ cho công tác quản lý, kiểm dịch, kiểm soát giết mổ.
Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ về xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái và sự cố môi trường, trong đó tập trung cho việc ngăn chặn, hạn chế và xử lý ô nhiễm tại khu vực khu chăn nuôi, giết mổ, khu xử lý chất thải tập trung,....
Tạo điều kiện, cơ chế hỗ trợ nâng cao năng lực hoạt động cho Trung tâm Giống Nông lâm ngư nghiệp, Trung tâm Khuyến nông liên kết với các cơ sở nghiên cứu khoa học trong - ngoài tỉnh để khảo nghiệm, xây dựng mô hình trình diễn, chuyển giao, hướng dẫn các tiến bộ khoa học cho người dân ứng dụng vào sản xuất.
Chuyển đổi số trong nông nghiệp bao gồm chăn nuôi là xu thế tất yếu, khách quan của thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, là động lực và là một trong những giải pháp đột phá lớn, không những khắc phục hạn chế nội tại của ngành về cơ sở dữ liệu, kết nối cung cầu, thương mại điện tử,...mà còn góp phần nâng tầm ngành chăn nuôi về năng suất, sản lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phê duyệt, ban hành chương trình hành động cụ thể đến 2025. Đây cũng là cơ hội của Đề án phát triển chăn nuôi tỉnh Kiên Giang khi được triển khai trong thời điểm ngành nông nghiệp đặc biệt quan tâm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào sản xuất ở tất cả các lĩnh vực.
Đánh số vùng nuôi, cơ sở chăn nuôi gia súc gia cầm theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và PTNT phục vụ truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử, xuất khẩu.
2.2. Công tác khuyến nông
Đẩy mạnh chương trình khuyến nông chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, chuỗi khép kín, kinh tế tuần hoàn để người chăn nuôi có thể làm chủ được kỹ thuật xuất sản, giao dịch sản phẩm; chuyển giao quy trình, công nghệ chăn nuôi cho nông hộ, trang trại phù hợp với từng đối tượng vật nuôi và vùng sinh thái.
Đa dạng hóa các chương trình truyền thông nhằm từng bước thay đổi nhận thức và các thói quen không phù hợp trong chăn nuôi, giết mổ, chế biến và tiêu dùng sản phẩm chăn nuôi.
Triển khai các “Mô hình trình diễn kỹ thuật” để người chăn nuôi tham quan, học tập, trao đổi kinh nghiệm. Tổ chức hội nghị tổng kết, đánh giá và nhân rộng các mô hình trên để tuyên truyền, giới thiệu những kinh nghiệm hay, cách làm giỏi, những gương điển hình tiên tiến trong phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm và động vật khác. Định hướng giai đoạn từ 2021 - 2025 xây dựng trên 10 loại mô hình, với hàng trăm điểm trình diễn thực hiện.
2.3. Cải tạo giống vật nuôi
Chọn tạo nâng cao năng suất, chất lượng, sự đồng nhất về sản phẩm của các giống vật nuôi trong sản xuất phù hợp với địa phương, từng phương thức chăn nuôi và phân khúc thị trường; hỗ trợ tích cực cho chương trình xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, sản phẩm chăn nuôi sản xuất theo chuỗi và truy xuất được nguồn gốc.
Tiếp tục cải tiến nâng cao tầm vóc đàn bò trong tỉnh, phát triển mạng lưới thụ tinh nhân tạo và sử dụng một số giống bò có khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái trong tỉnh để tạo đàn cái nền phục vụ cho lai tạo giống bò thịt chất lượng cao, cung cấp bê đực cho nuôi vỗ béo bò thịt tại Giang Thành, Hà Tiên.
Bình tuyển, chọn lọc đàn trâu trong sản xuất, tạo đàn cái nền và đực giống tốt cung cấp cho nhu cầu cải tiến, nâng cao chất lượng đàn giống, thực hiện tốt giải pháp đảo đực giống giữa các vùng nhằm tránh tình trạng cận huyết và phát huy ưu thế lai.
Giống heo: Đến năm 2025, Trại giống nông nghiệp Hòn Đất - Trung tâm giống Nông lâm ngư nghiệp tỉnh dự kiến nuôi 150 con nái và 08 con đực giống (gồm giống Yorkshire, Landrac, Duroc) cấp ông bà, sản xuất đàn bố mẹ từ 1.000 - 1.500 con/năm (đáp ứng 8-12% nhu cầu giống của tỉnh, còn lại người dân tự giữ lại làm giống từ đàn thương phẩm và mua từ các tỉnh lân cận). Đến năm 2030, cấp bố mẹ: từ 2.000 - 2.500 con giống (đáp ứng 30 - 40% nhu cầu giống của tỉnh).
Giống gia cầm: Đến năm 2025, đối với cơ sở sản xuất giống gà có từ 1 - 2 cơ sở sản xuất giống có qui mô 5.000 mái đẻ/cơ sở, đối với cơ sở sản xuất giống vịt có từ 2 - 3 trại vịt bố mẹ với qui mô từ 2.000 mái đẻ trở lên/trại. Đến năm 2030, Trại gà giống - Trung tâm Giống dự kiến nuôi 2.000 con giống cấp ông bà, 80.000 - 120.000 con giống cấp bố mẹ (đáp ứng 5 - 10% nhu cầu con giống của các cơ sở/hộ chăn nuôi trong tỉnh).
Lượng giống vật nuôi còn lại do các cơ sở sản xuất giống trong dân cung ứng, một phần con giống do các hộ tự túc và phần của các trang trại do hệ thống khép kín trong nội bộ doanh nghiệp, công ty đảm bảo.
Hằng năm, Chi cục Chăn nuôi và Thú y tổ chức đánh giá, bình tuyển chất lượng đối với đàn đực giống, hoạt động dịch vụ gieo tinh trực tiếp trên địa bàn nhằm loại thải những đực giống kém chất lượng, không có lý lịch, nguồn gốc rõ ràng. Đồng thời đề xuất tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ thải loại đực giống mang tính khả thi.
Khuyến khích trang trại, doanh nghiệp đầu tư cơ sở sản xuất giống vật nuôi chất lượng tốt, chủ động nguồn giống phục vụ nhu cầu chăn nuôi của tỉnh.
3. Giải pháp nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh
3.1. Tăng cường năng lực ngành chăn nuôi và thú y
Trọng tâm là tổ chức thực hiện Kế hoạch số 120/KH-UBND ngày 11/6/2021 của UBND tỉnh về tăng cường năng lực hệ thống cơ quan quản lý chuyên ngành thú y các cấp giai đoạn 2021 - 2030 tỉnh Kiên Giang. Trong đó, sắp xếp lại tổ chức Chi cục Chăn nuôi và Thú y, giữ ổn định bộ máy thú y từ tỉnh, đến các huyện, thành phố và tăng cường bố trí lực lượng nhân viên thú y cấp xã đạt trên 80% tổng số xã, phường, thị trấn đảm bảo về số lượng, chất lượng và các chế độ về phụ cấp lương, bảo hiểm phù hợp quy định và đặc thù của tỉnh.
Thay đổi cách tiếp cận về phương thức quản lý sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm để người sản xuất, kinh doanh tự chủ động trong việc kiểm soát chất lượng, an toàn sản phẩm chăn nuôi của mình trước khi ra thị trường.
Xã hội hóa các dịch vụ công về chăn nuôi, thú y như tiêm phòng, chẩn đoán, xét nghiệm, điều trị bệnh động vật,... để các thành phần kinh tế có đủ điều kiện có thể tham gia nhằm giảm áp lực về biên chế, ngân sách nhà nước nhưng cung cấp cho người dân chất lượng dịch vụ tốt nhất.
Đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ chăn nuôi, thú y các cấp, nhất là hệ thống chăn nuôi thú y cấp xã về kỹ năng, kỹ thuật chăn nuôi, quản lý dịch bệnh và an toàn thực phẩm.
3.2. Phòng, chống dịch bệnh động vật
Chủ động tổ chức và nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo an toàn dịch tễ đàn gia súc, gia cầm và các vật nuôi khác thông qua truyền thông, tiêm phòng, vệ sinh tiêu độc, kiểm soát giết mổ, kiểm dịch vận chuyển, xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh (sản xuất giống và chăn nuôi tập trung), triển khai chính sách hỗ trợ thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh trong chăn nuôi kịp thời.
Phối hợp, trao đổi thông tin chăn nuôi, vận chuyển, giám sát dịch bệnh chủ động, bị động với Chi cục Thú y vùng VII và Chi cục Chăn nuôi và Thú y của 10 tỉnh trong khu vực nhằm nắm bắt thông tin dịch tễ kịp thời, chủ động phương án trong tình huống bị dịch uy hiếp hoặc khi mầm bệnh đã xâm nhập, liên kết chống dịch liên tỉnh nhất là địa bàn giáp ranh.
Đẩy mạnh hoạt động chẩn đoán, xét nghiệm, điều trị bệnh động vật: Duy trì chứng nhận ISO/IEC 17025:2017 của bộ phận xét nghiệm phục vụ giám sát sau tiêm phòng trên gia súc gia cầm nhằm đánh giá tỷ lệ bảo hộ sau tiêm phòng để có biện pháp phòng, chống dịch bệnh hiệu quả. Bên cạnh đó, nâng cấp, cải tạo khu mô khám, đầu tư trang thiết bị và cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo, tập huấn các kỹ thuật chuyên sâu, mở rộng phạm vi, chỉ tiêu chẩn đoán, điều trị bệnh.
3.3. Quản lý vật tư đầu vào trong chăn nuôi
Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư đầu vào (giống, thuốc thú y, hóa chất, vắc xin, thức ăn chăn nuôi, vật tư,...) đảm bảo các điều kiện về thủ tục hành chính, chứng chỉ hành nghề, vệ sinh thú y, chất lượng, nhãn hàng hóa,... theo quy định pháp luật hiện hành; xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm, công khai trên phương tiện thông tin theo quy định.
Phát huy vai trò tham mưu, phối hợp quản lý nhà nước trên địa bàn phụ trách của các Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện, thành phố.

Content:
Xây dựng đề án phát triển ngành chăn nuôi bền vững theo phương án chọn
3.1. Định hướng phát triển các loại vật nuôi
Tập trung phát triển những vật nuôi có lợi thế, có sản phẩm hàng hóa lớn nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh, khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Thành phố Hồ Chí Minh và hướng đến xuất khẩu. Trước hết tập trung phát triển chăn nuôi heo, bò thịt, gia cầm và chim yến.
3.2. Định hướng các cơ sở giết mổ gia súc - gia cầm tập trung
Ngành chăn nuôi heo được nhiều thành phần tham gia đầu tư, từ sản xuất con giống đến chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ; đồng thời lượng tiêu thụ thịt heo chiếm tỷ lệ lớn trong nhu cầu tiêu dùng của người dân, do đó xác định heo là đối tượng vật nuôi tham gia chuỗi liên kết và cung ứng. Để bảo đảm chuỗi cung ứng sản phẩm thịt heo an toàn thực phẩm từ trang trại đến bàn ăn thì việc hoàn thành hệ thống mạng lưới cơ sở giết mổ là hết sức cần thiết và cấp bách, có thể nói hệ thống giết mổ hoàn chỉnh đi vào hoạt động sẽ mở ra nhiều cơ hội hợp tác xây dựng các chuỗi liên kết giữa những hộ kinh doanh giết mổ và các trang trại chăn nuôi trong cũng như ngoài tỉnh sẽ được thuận lợi. Do đó việc xúc tiến xây dựng các cơ sở giết mổ ở các địa phương chưa có hoặc chưa hoàn thành nâng cấp các cơ sở cũ cần phải được ưu tiên; trong thời gian tới, cần hoàn thành xây dựng và đầu tư nâng cấp các lò giết mổ tập trung.
Song song đó phải có sự xúc tác, tạo động lực từ cơ chế, chính sách, đặc biệt là các ưu đãi, hỗ trợ theo các Nghị định của Chính phủ; Quyết định của thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành Trung ương có liên quan.
3.Định hướng phát triển khu vực chăn nuôi
Về lâu dài sẽ từng bước chuyển các cơ sở chăn nuôi tập trung (trang trại) vào các vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung để tránh gây ô nhiễm cho các khu dân cư, hạn chế dịch bệnh, tiện lợi cho tổ chức sản xuất. Giai đoạn từ nay đến năm 2025 sẽ chọn 1 - 2 khu vực thí điểm xây dựng khu vực chăn nuôi tập trung ở những nơi có tiềm năng, lợi thế, kinh nghiệm về chăn nuôi trang trại như Châu Thành, Tân Hiệp, Hòn Đất, Kiên Lương, Giang Thành.
Các khu vực khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung có mật độ trang trại chăn nuôi hợp lý, không gây quá tải về môi trường, kết hợp tốt giữa chăn nuôi với các ngành sản xuất khác. Nhà nước đảm bảo xây dựng cơ sở hạ tầng (đường, điện, nước) đến khu chăn nuôi tập trung, các trang trại sẽ xây dựng các công trình nối kết từ các tuyến trục vào trang trại. Việc tích tụ đất trong các khu vực khuyến khích phát triển chăn nuôi sẽ do các hộ và doanh nghiệp tự thoả thuận.
3.4. Thức ăn chăn nuôi
Khuyến khích phát triển công nghiệp sản xuất nguyên liệu, thức ăn bổ sung, nhất là công nghệ sinh học nhằm đáp ứng đủ các chế phẩm sinh học thay thế kháng sinh, hóa chất dùng trong chăn nuôi và tận thu, nâng cao giá trị dinh dưỡng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp trong tỉnh như: bã, men bia, bã dứa, tiết và phụ phẩm lò mổ, vỏ đầu tôm, các phụ phẩm từ khai thác, nuôi trồng...
Thí điểm chọn một số diện tích đất sản xuất kém hiệu quả chuyển sang trồng cây chế biến thức ăn gia súc để phục vụ phát triển chăn nuôi đại gia súc ở vùng Tứ giác Long Xuyên và các vùng chăn nuôi tập trung.
Khuyến khích, kêu gọi các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư xây dựng 01-02 nhà máy chế biến thức ăn gia súc (kết hợp chế biến thức ăn cho tôm) công suất khoảng 35.000 tấn/năm ở một trong các khu công nghiệp của tỉnh.
3.5. Kiểm soát dịch bệnh
Nâng cao năng lực kiểm soát dịch bệnh, nhất là việc khống chế các dịch bệnh nguy hiểm ảnh hưởng đến đàn vật nuôi và những dịch bệnh có nguy cơ lây sang người, bảo đảm an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao trong tỉnh và cả nước.
II. Giải pháp thực hiện
1. Giải pháp về quy hoạch, định hướng và quản lý
1.1. Quy định vùng cấm và vùng được phép chăn nuôi
Ngày 05/8/2022, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 22/2022/NQ-HĐND , quy định khu vực không được phép chăn nuôi, chính sách hỗ trợ di dời cơ sở chăn nuôi ra khỏi khu vực không được phép chăn nuôi và vùng nuôi chim yến trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Trong quá trình thực hiện Nghị quyết, Sở Nông nghiệp và PTNT tham mưu UBND tỉnh xây dựng bản đồ chăn nuôi, trong đó thể hiện được các vùng cấm nuôi, vùng định hướng chăn nuôi tập trung đáp ứng đầy đủ các quy định về điều kiện chăn nuôi, nhất là khoảng cách an toàn trong chăn nuôi theo Thông tư số 23/2019/TT-BNNPTNT ngày 30/11/2019 Hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về hoạt động chăn nuôi; Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND ngày 24/12/2020 của UBND tỉnh về việc quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đến năm 2030. Các địa phương xác định mật độ, khoảng cách hợp lý giữa các cơ sở, trang trại chăn nuôi, đảm bảo cách ly dịch bệnh nhất là Dịch tả heo Châu Phi và sức tải môi trường đối với chất thải, khí thải phát sinh trong quá trình chăn nuôi để hoạch định chiến lược, kế hoạch phát triển chăn nuôi. Bởi việc quy hoạch chăn nuôi tập trung kiểu “khu công nghiệp” đặt ra nhiều vấn đề nan giải về quỹ đất, vốn, hạ tầng, thu hút đầu tư, đặc biệt là rất khó thực hiện giải pháp an toàn dịch bệnh, môi trường.
Bên cạnh đó, căn cứ Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 để điều chỉnh, tích hợp phát triển chăn nuôi phù hợp tiềm năng, lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh của từng vùng sinh thái; bám sát tín hiệu thị trường. Đây là giải pháp then chốt, làm kim chỉ nam cho việc tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị để chăn nuôi của tỉnh đi đúng hướng công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao, chăn nuôi tuần hoàn ở cả quy mô trang trại, hộ chăn nuôi chuyên nghiệp; khẳng định vai trò quan trọng của chăn nuôi nông hộ truyền thống.
Vùng Tứ giác Long Xuyên tập trung phát triển chăn nuôi trâu, bò, các trang trại nuôi heo, gia cầm quy mô từ 30 - 300 đơn vị vật nuôi theo hình thức công nghiệp; vùng Tây sông Hậu tiếp tục phát huy lợi thế về chăn nuôi gia trại, trang trại gia công thương phẩm heo, gia cầm từ 30 đơn vị vật nuôi trở lên và sản xuất, cung ứng giống vật nuôi.
1.2. Định hướng vùng chăn nuôi tập trung
Vùng Tứ giác Long Xuyên: với điều kiện đất sản xuất nông nghiệp lớn, dư địa phát triển chăn nuôi còn nhiều, đây sẽ vùng ưu tiên tập trung cơ sở chăn nuôi trang trại vừa, trang trại lớn và các Hợp tác xã chăn nuôi trâu, bò, heo, gà, vịt. Huyện Hòn Đất định hướng đến năm 2025 hình thành vùng chăn nuôi tập trung tại xã Bình Giang, xã Bình Sơn diện tích khoảng 150 ha; Huyện Kiên Lương định hướng đến năm 2025 hình thành vùng chăn nuôi tập trung tại ấp Cảng, xã Hòa Điền diện tích khoảng 300 ha và đến năm 2030 bổ sung thêm vùng chăn nuôi tập trung ở xã Kiên Bình; huyện Giang Thành định hướng đến năm 2025 hình thành vùng chăn nuôi tập trung ở xã Vĩnh Điều khoảng 150 ha đến 214 ha, đến năm 2030 bổ sung vùng chăn nuôi tập trung ở xã Phú Mỹ, Phú Lợi. Tại các vùng chăn nuôi tập trung kết hợp xây dựng cơ sở chế biến thức ăn cho gia súc, gia cầm và sản xuất phân hữu cơ theo quy trình công nghiệp nhằm tận dụng phế phụ phẩm trong chăn nuôi.
Vùng Tây sông Hậu: Việc vận hành cống Cái Lớn - Cái Bé theo đánh giá của cơ quan chuyên môn không có tác động lớn đến lĩnh vực chăn nuôi, chủ yếu tác động đến trồng trọt và nuôi trồng thủy sản. Do đó, cần phát huy thế mạnh vốn có của chăn nuôi trang trại quy mô vừa, hình thành các vùng chăn nuôi tập trung liên xã, cụm xã về chăn nuôi heo, gia cầm và cung ứng giống. Trong đó, Giồng Riềng ưu tiên xã Long Thạnh, Vĩnh Thạnh, Thạnh Phước, Thạnh Lộc, Bàn Tân Định, Hòa Lợi, Hòa Thuận; huyện Gò Quao tập trung các xã Vĩnh Tuy, Vĩnh Thăng, Vĩnh Hòa Hưng Bắc, Định An; huyện Tân Hiệp chủ yếu các xã Thạnh Trị, Tân An, Tân Hiệp A, Thạnh Đông A, Tân Thành, Tân Hội, Tân Hòa; huyện Châu Thành tập trung các xã Minh Hòa, Giục Tượng, Mong Thọ A, Mong Thọ B, Vĩnh Hòa Phú,...
Các huyện, thành phố còn lại: duy trì tổng đàn hợp lý, chăn nuôi các loài đặc sản, đặc hữu của địa phương trong vùng được phép chăn nuôi và đảm bảo các điều kiện về vệ sinh thú y, môi trường theo quy định.
Đến năm 2025 xây dựng được ít nhất 5 cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh, đến năm 2030 phấn đấu 15 cơ sở nuôi, ít nhất 01 cơ sở sản xuất giống vật nuôi (Trại giống Nông Lâm Ngư nghiệp Hòn Đất) và 2 vùng chăn nuôi tập trung an toàn dịch bệnh.
1.Quản lý, phát triển nuôi chim yến
Các huyện, thành phố có lợi thế phát triển nghề nuôi chim yến cần quy hoạch chi tiết vùng nuôi, tổ chức thực hiện nghiêm Điều 25 (Quản lý nuôi chim yến) Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ Hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi, Nghị quyết của HĐND tỉnh về vùng nuôi chim yến.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực: xây dựng, bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm..., vừa tận dụng, phát huy ưu thế của tỉnh có số nhà yến đứng đầu cả nước, nhưng phải làm tốt khâu quản lý, định hướng, điều tiết được sản xuất, bình đẳng, không để xảy ra xung đột, khiếu kiện, trên cơ sở đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của tổ chức, cá nhân nuôi yến và cộng đồng.
Thông qua các hoạt động khuyến nông phổ biến, nhân rộng mô hình nuôi chim yến hiệu quả nhờ sử dụng công nghệ cao, liên kết trong sản xuất; xây dựng yến sào thành sản phẩm OCOP Kiên Giang, tăng giá trị thông qua chế biến sâu, đa dạng sản phẩm, hỗ trợ quảng bá, tạo dựng thương hiệu, hướng đến xuất khẩu.
Thường xuyên dự báo và cập nhật số lượng quần thể, số lượng nhà yến, sản lượng, nhu cầu thị trường tiêu thụ sản phẩm yến sào để quản lý, khuyến cáo, ban hành các chính sách phù hợp.
Ngành thú y chủ động xây dựng kế hoạch, giải pháp phòng, chống dịch bệnh, kiểm tra vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nuôi yến phù hợp thực tiễn và quy định pháp luật hiện hành.
1.4. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung
Kế thừa thành quả đạt được từ Đề án Quy hoạch hệ thống cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2006 - 2010, Sở Nông nghiệp và PTNT rà soát, điều chỉnh, bổ sung, tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch xây dựng hoàn thiện mạng lưới cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung tỉnh Kiên Giang. Trong đó:
- Chỉ đạo các huyện, thành phố chậm nhất đến cuối năm 2022 phải xây dựng hoàn thành cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung tại thị trấn như huyện Giang Thành, An Biên, U Minh Thượng.
- Các cơ sở giết mổ tập trung tại các huyện, thành phố: Rạch Giá, Hà Tiên, Giồng Riềng, Kiên Lương, Châu Thành, Tân Hiệp từng bước nâng cấp, cải tạo, đầu tư hệ thống giết mổ treo, mở rộng công suất phù hợp với nhu cầu giết mổ.
- Cơ sở đã hoạt động, đến nay qua rà soát quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đánh giá điều kiện đảm bảo ATTP theo Thông tư số 38/2018/TT-BNNPTNT xếp loại C không có khả năng khắc phục sai lỗi, vi phạm nghiêm trọng về môi trường,... buộc dừng hoạt động hoặc phải di dời.
2. Giải pháp về khoa học công nghệ, khuyến nông và cải tạo giống vật nuôi
2.1. Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số
Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ vào quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh, phòng bệnh, truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi như công nghệ quản lý TE-FOOD (một ứng dụng của công nghệ Blockchain) đang được áp dụng khá phổ biến ở các tỉnh, thành. Công nghệ TE-FOOD triển khai phù hợp ở các cơ sở chăn nuôi heo từ 30 con, gia cầm từ 1.000 con trở lên, giúp cập nhật thông tin theo thời gian thực về tổng đàn, giám sát dịch bệnh, sản lượng tiêu thụ, truy xuất nguồn gốc dễ dàng và hạn chế tối đa (hoặc thay thế) các loại giấy tờ, thủ tục... phục vụ cho công tác quản lý, kiểm dịch, kiểm soát giết mổ.
Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ về xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái và sự cố môi trường, trong đó tập trung cho việc ngăn chặn, hạn chế và xử lý ô nhiễm tại khu vực khu chăn nuôi, giết mổ, khu xử lý chất thải tập trung,....
Tạo điều kiện, cơ chế hỗ trợ nâng cao năng lực hoạt động cho Trung tâm Giống Nông lâm ngư nghiệp, Trung tâm Khuyến nông liên kết với các cơ sở nghiên cứu khoa học trong - ngoài tỉnh để khảo nghiệm, xây dựng mô hình trình diễn, chuyển giao, hướng dẫn các tiến bộ khoa học cho người dân ứng dụng vào sản xuất.
Chuyển đổi số trong nông nghiệp bao gồm chăn nuôi là xu thế tất yếu, khách quan của thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, là động lực và là một trong những giải pháp đột phá lớn, không những khắc phục hạn chế nội tại của ngành về cơ sở dữ liệu, kết nối cung cầu, thương mại điện tử,...mà còn góp phần nâng tầm ngành chăn nuôi về năng suất, sản lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phê duyệt, ban hành chương trình hành động cụ thể đến 2025. Đây cũng là cơ hội của Đề án phát triển chăn nuôi tỉnh Kiên Giang khi được triển khai trong thời điểm ngành nông nghiệp đặc biệt quan tâm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào sản xuất ở tất cả các lĩnh vực.
Đánh số vùng nuôi, cơ sở chăn nuôi gia súc gia cầm theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và PTNT phục vụ truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử, xuất khẩu.
2.2. Công tác khuyến nông
Đẩy mạnh chương trình khuyến nông chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, chuỗi khép kín, kinh tế tuần hoàn để người chăn nuôi có thể làm chủ được kỹ thuật xuất sản, giao dịch sản phẩm; chuyển giao quy trình, công nghệ chăn nuôi cho nông hộ, trang trại phù hợp với từng đối tượng vật nuôi và vùng sinh thái.
Đa dạng hóa các chương trình truyền thông nhằm từng bước thay đổi nhận thức và các thói quen không phù hợp trong chăn nuôi, giết mổ, chế biến và tiêu dùng sản phẩm chăn nuôi.
Triển khai các “Mô hình trình diễn kỹ thuật” để người chăn nuôi tham quan, học tập, trao đổi kinh nghiệm. Tổ chức hội nghị tổng kết, đánh giá và nhân rộng các mô hình trên để tuyên truyền, giới thiệu những kinh nghiệm hay, cách làm giỏi, những gương điển hình tiên tiến trong phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm và động vật khác. Định hướng giai đoạn từ 2021 - 2025 xây dựng trên 10 loại mô hình, với hàng trăm điểm trình diễn thực hiện.
2.Cải tạo giống vật nuôi
Chọn tạo nâng cao năng suất, chất lượng, sự đồng nhất về sản phẩm của các giống vật nuôi trong sản xuất phù hợp với địa phương, từng phương thức chăn nuôi và phân khúc thị trường; hỗ trợ tích cực cho chương trình xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, sản phẩm chăn nuôi sản xuất theo chuỗi và truy xuất được nguồn gốc.
Tiếp tục cải tiến nâng cao tầm vóc đàn bò trong tỉnh, phát triển mạng lưới thụ tinh nhân tạo và sử dụng một số giống bò có khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái trong tỉnh để tạo đàn cái nền phục vụ cho lai tạo giống bò thịt chất lượng cao, cung cấp bê đực cho nuôi vỗ béo bò thịt tại Giang Thành, Hà Tiên.
Bình tuyển, chọn lọc đàn trâu trong sản xuất, tạo đàn cái nền và đực giống tốt cung cấp cho nhu cầu cải tiến, nâng cao chất lượng đàn giống, thực hiện tốt giải pháp đảo đực giống giữa các vùng nhằm tránh tình trạng cận huyết và phát huy ưu thế lai.
Giống heo: Đến năm 2025, Trại giống nông nghiệp Hòn Đất - Trung tâm giống Nông lâm ngư nghiệp tỉnh dự kiến nuôi 150 con nái và 08 con đực giống (gồm giống Yorkshire, Landrac, Duroc) cấp ông bà, sản xuất đàn bố mẹ từ 1.000 - 1.500 con/năm (đáp ứng 8-12% nhu cầu giống của tỉnh, còn lại người dân tự giữ lại làm giống từ đàn thương phẩm và mua từ các tỉnh lân cận). Đến năm 2030, cấp bố mẹ: từ 2.000 - 2.500 con giống (đáp ứng 30 - 40% nhu cầu giống của tỉnh).
Giống gia cầm: Đến năm 2025, đối với cơ sở sản xuất giống gà có từ 1 - 2 cơ sở sản xuất giống có qui mô 5.000 mái đẻ/cơ sở, đối với cơ sở sản xuất giống vịt có từ 2 - 3 trại vịt bố mẹ với qui mô từ 2.000 mái đẻ trở lên/trại. Đến năm 2030, Trại gà giống - Trung tâm Giống dự kiến nuôi 2.000 con giống cấp ông bà, 80.000 - 120.000 con giống cấp bố mẹ (đáp ứng 5 - 10% nhu cầu con giống của các cơ sở/hộ chăn nuôi trong tỉnh).
Lượng giống vật nuôi còn lại do các cơ sở sản xuất giống trong dân cung ứng, một phần con giống do các hộ tự túc và phần của các trang trại do hệ thống khép kín trong nội bộ doanh nghiệp, công ty đảm bảo.
Hằng năm, Chi cục Chăn nuôi và Thú y tổ chức đánh giá, bình tuyển chất lượng đối với đàn đực giống, hoạt động dịch vụ gieo tinh trực tiếp trên địa bàn nhằm loại thải những đực giống kém chất lượng, không có lý lịch, nguồn gốc rõ ràng. Đồng thời đề xuất tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ thải loại đực giống mang tính khả thi.
Khuyến khích trang trại, doanh nghiệp đầu tư cơ sở sản xuất giống vật nuôi chất lượng tốt, chủ động nguồn giống phục vụ nhu cầu chăn nuôi của tỉnh.
Giải pháp nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh
3.1. Tăng cường năng lực ngành chăn nuôi và thú y
Trọng tâm là tổ chức thực hiện Kế hoạch số 120/KH-UBND ngày 11/6/2021 của UBND tỉnh về tăng cường năng lực hệ thống cơ quan quản lý chuyên ngành thú y các cấp giai đoạn 2021 - 2030 tỉnh Kiên Giang. Trong đó, sắp xếp lại tổ chức Chi cục Chăn nuôi và Thú y, giữ ổn định bộ máy thú y từ tỉnh, đến các huyện, thành phố và tăng cường bố trí lực lượng nhân viên thú y cấp xã đạt trên 80% tổng số xã, phường, thị trấn đảm bảo về số lượng, chất lượng và các chế độ về phụ cấp lương, bảo hiểm phù hợp quy định và đặc thù của tỉnh.
Thay đổi cách tiếp cận về phương thức quản lý sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm để người sản xuất, kinh doanh tự chủ động trong việc kiểm soát chất lượng, an toàn sản phẩm chăn nuôi của mình trước khi ra thị trường.
Xã hội hóa các dịch vụ công về chăn nuôi, thú y như tiêm phòng, chẩn đoán, xét nghiệm, điều trị bệnh động vật,... để các thành phần kinh tế có đủ điều kiện có thể tham gia nhằm giảm áp lực về biên chế, ngân sách nhà nước nhưng cung cấp cho người dân chất lượng dịch vụ tốt nhất.
Đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ chăn nuôi, thú y các cấp, nhất là hệ thống chăn nuôi thú y cấp xã về kỹ năng, kỹ thuật chăn nuôi, quản lý dịch bệnh và an toàn thực phẩm.
3.2. Phòng, chống dịch bệnh động vật
Chủ động tổ chức và nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo an toàn dịch tễ đàn gia súc, gia cầm và các vật nuôi khác thông qua truyền thông, tiêm phòng, vệ sinh tiêu độc, kiểm soát giết mổ, kiểm dịch vận chuyển, xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh (sản xuất giống và chăn nuôi tập trung), triển khai chính sách hỗ trợ thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh trong chăn nuôi kịp thời.
Phối hợp, trao đổi thông tin chăn nuôi, vận chuyển, giám sát dịch bệnh chủ động, bị động với Chi cục Thú y vùng VII và Chi cục Chăn nuôi và Thú y của 10 tỉnh trong khu vực nhằm nắm bắt thông tin dịch tễ kịp thời, chủ động phương án trong tình huống bị dịch uy hiếp hoặc khi mầm bệnh đã xâm nhập, liên kết chống dịch liên tỉnh nhất là địa bàn giáp ranh.
Đẩy mạnh hoạt động chẩn đoán, xét nghiệm, điều trị bệnh động vật: Duy trì chứng nhận ISO/IEC 17025:2017 của bộ phận xét nghiệm phục vụ giám sát sau tiêm phòng trên gia súc gia cầm nhằm đánh giá tỷ lệ bảo hộ sau tiêm phòng để có biện pháp phòng, chống dịch bệnh hiệu quả. Bên cạnh đó, nâng cấp, cải tạo khu mô khám, đầu tư trang thiết bị và cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo, tập huấn các kỹ thuật chuyên sâu, mở rộng phạm vi, chỉ tiêu chẩn đoán, điều trị bệnh.
3.Quản lý vật tư đầu vào trong chăn nuôi
Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư đầu vào (giống, thuốc thú y, hóa chất, vắc xin, thức ăn chăn nuôi, vật tư,...) đảm bảo các điều kiện về thủ tục hành chính, chứng chỉ hành nghề, vệ sinh thú y, chất lượng, nhãn hàng hóa,... theo quy định pháp luật hiện hành; xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm, công khai trên phương tiện thông tin theo quy định.
Phát huy vai trò tham mưu, phối hợp quản lý nhà nước trên địa bàn phụ trách của các Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện, thành phố.