Document: Điều 8 Nghị định 49-HĐBT hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "04/03/1991", "sign_number": "49-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "04/03/1991", "sign_number": "49-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "04/03/1991", "sign_number": "49-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "04/03/1991", "sign_number": "49-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "04/03/1991", "sign_number": "49-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 8 Nghị định 49-HĐBT hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam có nội dung như sau:

Điều 8. Những điều khoản không được đưa vào hợp đồng.
Những điều khoản sau không được đưa vào hợp đồng chuyển giao công nghệ:
1. Buộc Bên nhận công nghệ phải mua hoặc phải tiếp nhận có điều kiện (về số lượng, chất lượng, quy cách) từ Bên giao công nghệ hoặc từ một Bên do Bên giao công nghệ chỉ định những đối tượng sau:
- Nguyên liệu, vật liệu;
- Tư liệu sản xuất, như máy móc, thiết bị, xe cộ;
- Sản phẩm trung gian;
- Lao động đơn giản.
Trường hợp do yêu cầu của công nghệ cần có những đảm bảo đặc biệt về nguyên liệu, vật liệu, các phụ kiện, tư liệu sản xuất hoặc nhân lực có trình độ kỹ thuật kèm theo phải được giải trình chi tiết và phải được cả hai Bên thoả thuận.
2. Buộc Bên nhận công nghệ phải chấp nhận và tuân theo một số hạn mức nhất định về:
- Quy mô sản xuất, số lượng sản phẩm (hoặc nhóm sản phẩm) cho một thời hạn nhất định;
- Giá cả, khối lượng và phạm vi tiêu thụ sản phẩm;
- Chọn đại lý tiêu thụ sản phẩm hoặc đại diện thương mại của Bên nhận công nghệ, kể cả cơ chế hoạt động và quan hệ giữa Bên nhận công nghệ và các đại diện này.
3. Hạn chế thị trường xuất khẩu của Bên nhận công nghệ:
- Thị trường không được xuất khẩu;
- Thị trường bắt buộc xuất khẩu;
- Khối lượng và cơ cấu các nhóm sản phẩm được xuất khẩu theo từng thị trường và từng thời điểm.
Trong trường hợp Bên giao công nghệ đang sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tương tự tại một thị trường nhất định, hoặc đã cấp giấy phép sử dụng các quyền sở hữu công nghiệp độc quyền (lixăng độc quyền) cho một Bên thứ ba khác tiếp nhận công nghệ tương tự, việc sản xuất và xuất khẩu sản phẩm phải tuân theo các thoả thuận trong hợp đồng phù hợp với các văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp của Việt Nam và quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
4. Quy định Bên nhận công nghệ không được nghiên cứu và phát triển tiếp tục công nghệ được chuyển giao hoặc không được tiếp nhận từ các nguồn khác những công nghệ tương tự.
5. Ngăn cấm Bên nhận tự do sử dụng công nghệ sau khi hợp đồng hết hiệu lực hoặc sau khi hết thời hạn của những quyền sở hữu công nghiệp ghi trong hợp đồng.
Trong trường hợp xét thấy có nhu cầu đặc biệt (do tính năng của công nghệ được chuyển giao, do sự cần thiết của nền kinh tế quốc dân) cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý chuyển giao công nghệ có thể xem xét và cho phép đưa một số điều khoản hạn chế nói trên vào hợp đồng.

Content:
Điều 8. Những điều khoản không được đưa vào hợp đồng.
Những điều khoản sau không được đưa vào hợp đồng chuyển giao công nghệ:
1. Buộc Bên nhận công nghệ phải mua hoặc phải tiếp nhận có điều kiện (về số lượng, chất lượng, quy cách) từ Bên giao công nghệ hoặc từ một Bên do Bên giao công nghệ chỉ định những đối tượng sau:
- Nguyên liệu, vật liệu;
- Tư liệu sản xuất, như máy móc, thiết bị, xe cộ;
- Sản phẩm trung gian;
- Lao động đơn giản.
Trường hợp do yêu cầu của công nghệ cần có những đảm bảo đặc biệt về nguyên liệu, vật liệu, các phụ kiện, tư liệu sản xuất hoặc nhân lực có trình độ kỹ thuật kèm theo phải được giải trình chi tiết và phải được cả hai Bên thoả thuận.
2. Buộc Bên nhận công nghệ phải chấp nhận và tuân theo một số hạn mức nhất định về:
- Quy mô sản xuất, số lượng sản phẩm (hoặc nhóm sản phẩm) cho một thời hạn nhất định;
- Giá cả, khối lượng và phạm vi tiêu thụ sản phẩm;
- Chọn đại lý tiêu thụ sản phẩm hoặc đại diện thương mại của Bên nhận công nghệ, kể cả cơ chế hoạt động và quan hệ giữa Bên nhận công nghệ và các đại diện này.
3. Hạn chế thị trường xuất khẩu của Bên nhận công nghệ:
- Thị trường không được xuất khẩu;
- Thị trường bắt buộc xuất khẩu;
- Khối lượng và cơ cấu các nhóm sản phẩm được xuất khẩu theo từng thị trường và từng thời điểm.
Trong trường hợp Bên giao công nghệ đang sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tương tự tại một thị trường nhất định, hoặc đã cấp giấy phép sử dụng các quyền sở hữu công nghiệp độc quyền (lixăng độc quyền) cho một Bên thứ ba khác tiếp nhận công nghệ tương tự, việc sản xuất và xuất khẩu sản phẩm phải tuân theo các thoả thuận trong hợp đồng phù hợp với các văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp của Việt Nam và quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
4. Quy định Bên nhận công nghệ không được nghiên cứu và phát triển tiếp tục công nghệ được chuyển giao hoặc không được tiếp nhận từ các nguồn khác những công nghệ tương tự.
5. Ngăn cấm Bên nhận tự do sử dụng công nghệ sau khi hợp đồng hết hiệu lực hoặc sau khi hết thời hạn của những quyền sở hữu công nghiệp ghi trong hợp đồng.
Trong trường hợp xét thấy có nhu cầu đặc biệt (do tính năng của công nghệ được chuyển giao, do sự cần thiết của nền kinh tế quốc dân) cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý chuyển giao công nghệ có thể xem xét và cho phép đưa một số điều khoản hạn chế nói trên vào hợp đồng.