Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1807/QĐ-UBND 2014 Đề án phát triển y tế biển đảo Khánh Hòa đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "15/07/2014", "sign_number": "1807/QĐ-UBND", "signer": "Lê Xuân Thân", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "15/07/2014", "sign_number": "1807/QĐ-UBND", "signer": "Lê Xuân Thân", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "15/07/2014", "sign_number": "1807/QĐ-UBND", "signer": "Lê Xuân Thân", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "15/07/2014", "sign_number": "1807/QĐ-UBND", "signer": "Lê Xuân Thân", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "15/07/2014", "sign_number": "1807/QĐ-UBND", "signer": "Lê Xuân Thân", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1807/QĐ-UBND 2014 Đề án phát triển y tế biển đảo Khánh Hòa đến 2020

Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch triển khai Đề án phát triển y tế biển, đảo tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020, với các nội dung chính như sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể
a) Giai đoạn 2014 - 2015
- Đào tạo, bổ túc bác sĩ về y học biển có đủ năng lực cấp cứu, khám chữa bệnh các bệnh lý đặc thù biển cho 20% các Bệnh viện hoặc Trung tâm y tế ven biển;
- Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Khánh Hòa và 02 Trung tâm Y tế huyện, thị xã, thành phố ven biển có đủ năng lực khám dự phòng, tư vấn sức khoẻ, phòng chống bệnh nghề nghiệp, phòng chống bệnh dịch cho nhân dân, lực lượng lao động vùng biển đảo;
- Đầu tư Bệnh viện huyện Trường Sa quy mô 30 giường bệnh và Trung tâm thu nhận và điều trị bệnh đặc thù vùng biển, đảo tại Bệnh viện Quân y 87;
- Đầu tư cho Trung tâm cấp cứu 115 đủ khả năng phối hợp cấp cứu vận chuyển cấp cứu trên biển;
- Triển khai thực hiện bộ tiêu chí chuẩn về y tế cho vùng biển đảo, phấn đấu 50% các trạm y tế xã đảo độc lập đạt bộ tiêu chí chuẩn về y tế cho vùng biển đảo;
- Tập huấn, truyền thông trang bị kiến thức cho 40% người lao động trên các tàu biển có kiến thức tự bảo vệ sức khỏe và biết kêu gọi sự trợ giúp khi có tình huống cấp cứu;
- 60% tàu vận tải biển - tàu viễn dương thực hiện đầy đủ các quy định quốc tế về bảo đảm y tế biển.
b) Giai đoạn 2016 - 2020
- Đào tạo, bổ túc bác sĩ về y học biển có đủ năng lực cấp cứu, khám chữa bệnh các bệnh lý đặc thù biển cho Bệnh viện huyện Trường Sa và 70% các bệnh viện/Trung tâm y tế ven biển;
- 100% Trung tâm Y tế ven biển có đủ năng lực khám dự phòng, tư vấn sức khỏe, phòng chống bệnh nghề nghiệp, phòng chống bệnh dịch cho nhân dân, lực lượng lao động vùng biển đảo;
- 100% các trạm y tế xã đảo độc lập đạt bộ tiêu chí chuẩn về y tế cho vùng biển đảo;
- Xây dựng 1 mô hình trợ giúp y tế từ xa (Telemedicine) từ Bệnh viện Quân y 87 đến Bệnh viện huyện Trường Sa;
- Tập huấn, truyền thông trang bị kiến thức cho 100% người lao động trên các tàu biển có kiến thức tự bảo vệ sức khỏe và biết kêu gọi sự trợ giúp khi có tình huống cấp cứu;
- 100% tàu vận tải biển, tàu viễn dương thực hiện đầy đủ các quy định quốc tế về bảo đảm y tế biển.
II. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Nâng cao nhận thức và năng lực quản lý nhà nước về y tế biển
- Thường xuyên đưa nội dung phát triển y tế biển đảo vào Nghị quyết của Đảng bộ, kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và địa phương; có chính sách ưu tiên đầu tư cho phát triển y tế biển, đảo;
- Triển khai áp dụng đồng bộ và phổ biến rộng rãi Bộ tiêu chí chuẩn về y tế cho vùng biển, đảo, làm cơ sở phấn đấu và đánh giá sự hoàn thành nhiệm vụ của Kế hoạch;
- Xây dựng, ban hành các phương án phối hợp liên ngành trong việc đảm bảo y tế, tham gia xử lý những tình huống khẩn cấp trên biển, đảo, theo từng cấp độ, từng khu vực và tổ chức diễn tập;
- Bố trí cán bộ chuyên trách về y tế biển, đảo tại Sở Y tế để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về y tế biển, đảo và làm đầu mối phối hợp để giải quyết công việc thường xuyên và các tình huống cấp cứu khẩn cấp trên biển, đảo;
- Xây dựng hệ thống thông tin, báo cáo, kiểm tra, giám sát phù hợp với đặc thù biển, đảo.
2. Củng cố và phát triển cơ sở y tế dự phòng
- Bổ sung biên chế, trang thiết bị cho Trung tâm y tế dự phòng tỉnh và các Trung tâm y tế cấp huyện ven biển đủ năng lực khám dự phòng, tư vấn sức khỏe, phòng chống bệnh nghề nghiệp, phòng chống dịch bệnh; tập huấn kiến thức dự phòng các vấn đề về sức khỏe, cho nhân dân, lực lượng lao động vùng biển, đảo;
- Tổ chức các đội cơ động sẵn sàng di chuyển ra đảo triển khai phòng chống dịch bệnh;
- Tăng cường công tác thanh tra, giám sát công tác vệ sinh an toàn lao động các ngành kinh tế biển; đánh giá tác động môi trường, dự báo ứng phó với biến đổi khí hậu; quản lý chất thải y tế; an toàn thực phẩm, vệ sinh phòng chống dịch trên vùng biển, đảo.

Content:
Mục tiêu cụ thể
a) Giai đoạn 2014 - 2015
- Đào tạo, bổ túc bác sĩ về y học biển có đủ năng lực cấp cứu, khám chữa bệnh các bệnh lý đặc thù biển cho 20% các Bệnh viện hoặc Trung tâm y tế ven biển;
- Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Khánh Hòa và 02 Trung tâm Y tế huyện, thị xã, thành phố ven biển có đủ năng lực khám dự phòng, tư vấn sức khoẻ, phòng chống bệnh nghề nghiệp, phòng chống bệnh dịch cho nhân dân, lực lượng lao động vùng biển đảo;
- Đầu tư Bệnh viện huyện Trường Sa quy mô 30 giường bệnh và Trung tâm thu nhận và điều trị bệnh đặc thù vùng biển, đảo tại Bệnh viện Quân y 87;
- Đầu tư cho Trung tâm cấp cứu 115 đủ khả năng phối hợp cấp cứu vận chuyển cấp cứu trên biển;
- Triển khai thực hiện bộ tiêu chí chuẩn về y tế cho vùng biển đảo, phấn đấu 50% các trạm y tế xã đảo độc lập đạt bộ tiêu chí chuẩn về y tế cho vùng biển đảo;
- Tập huấn, truyền thông trang bị kiến thức cho 40% người lao động trên các tàu biển có kiến thức tự bảo vệ sức khỏe và biết kêu gọi sự trợ giúp khi có tình huống cấp cứu;
- 60% tàu vận tải biển - tàu viễn dương thực hiện đầy đủ các quy định quốc tế về bảo đảm y tế biển.
b) Giai đoạn 2016 - 2020
- Đào tạo, bổ túc bác sĩ về y học biển có đủ năng lực cấp cứu, khám chữa bệnh các bệnh lý đặc thù biển cho Bệnh viện huyện Trường Sa và 70% các bệnh viện/Trung tâm y tế ven biển;
- 100% Trung tâm Y tế ven biển có đủ năng lực khám dự phòng, tư vấn sức khỏe, phòng chống bệnh nghề nghiệp, phòng chống bệnh dịch cho nhân dân, lực lượng lao động vùng biển đảo;
- 100% các trạm y tế xã đảo độc lập đạt bộ tiêu chí chuẩn về y tế cho vùng biển đảo;
- Xây dựng 1 mô hình trợ giúp y tế từ xa (Telemedicine) từ Bệnh viện Quân y 87 đến Bệnh viện huyện Trường Sa;
- Tập huấn, truyền thông trang bị kiến thức cho 100% người lao động trên các tàu biển có kiến thức tự bảo vệ sức khỏe và biết kêu gọi sự trợ giúp khi có tình huống cấp cứu;
- 100% tàu vận tải biển, tàu viễn dương thực hiện đầy đủ các quy định quốc tế về bảo đảm y tế biển.
II. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Nâng cao nhận thức và năng lực quản lý nhà nước về y tế biển
- Thường xuyên đưa nội dung phát triển y tế biển đảo vào Nghị quyết của Đảng bộ, kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và địa phương; có chính sách ưu tiên đầu tư cho phát triển y tế biển, đảo;
- Triển khai áp dụng đồng bộ và phổ biến rộng rãi Bộ tiêu chí chuẩn về y tế cho vùng biển, đảo, làm cơ sở phấn đấu và đánh giá sự hoàn thành nhiệm vụ của Kế hoạch;
- Xây dựng, ban hành các phương án phối hợp liên ngành trong việc đảm bảo y tế, tham gia xử lý những tình huống khẩn cấp trên biển, đảo, theo từng cấp độ, từng khu vực và tổ chức diễn tập;
- Bố trí cán bộ chuyên trách về y tế biển, đảo tại Sở Y tế để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về y tế biển, đảo và làm đầu mối phối hợp để giải quyết công việc thường xuyên và các tình huống cấp cứu khẩn cấp trên biển, đảo;
- Xây dựng hệ thống thông tin, báo cáo, kiểm tra, giám sát phù hợp với đặc thù biển, đảo.
Củng cố và phát triển cơ sở y tế dự phòng
- Bổ sung biên chế, trang thiết bị cho Trung tâm y tế dự phòng tỉnh và các Trung tâm y tế cấp huyện ven biển đủ năng lực khám dự phòng, tư vấn sức khỏe, phòng chống bệnh nghề nghiệp, phòng chống dịch bệnh; tập huấn kiến thức dự phòng các vấn đề về sức khỏe, cho nhân dân, lực lượng lao động vùng biển, đảo;
- Tổ chức các đội cơ động sẵn sàng di chuyển ra đảo triển khai phòng chống dịch bệnh;
- Tăng cường công tác thanh tra, giám sát công tác vệ sinh an toàn lao động các ngành kinh tế biển; đánh giá tác động môi trường, dự báo ứng phó với biến đổi khí hậu; quản lý chất thải y tế; an toàn thực phẩm, vệ sinh phòng chống dịch trên vùng biển, đảo.