Document: Điều 1 Thông tư 1765-PT/KH trình độ học lực giáo viên tư thục bổ sung thể lệ trường tư

Type: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục", "promulgation_date": "28/08/1957", "sign_number": "1765-PT/KH", "signer": "Nguyễn Văn Hiếu", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục", "promulgation_date": "28/08/1957", "sign_number": "1765-PT/KH", "signer": "Nguyễn Văn Hiếu", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục", "promulgation_date": "28/08/1957", "sign_number": "1765-PT/KH", "signer": "Nguyễn Văn Hiếu", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục", "promulgation_date": "28/08/1957", "sign_number": "1765-PT/KH", "signer": "Nguyễn Văn Hiếu", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục", "promulgation_date": "28/08/1957", "sign_number": "1765-PT/KH", "signer": "Nguyễn Văn Hiếu", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 1 Thông tư 1765-PT/KH trình độ học lực giáo viên tư thục bổ sung thể lệ trường tư có nội dung như sau:

Điều 1. 4 quy chế trường phổ thông 10 năm và Thông tư giải thích số 830-TT-PT ngày 21-08-1956 của Nha Giáo dục phổ thông (Đoạn 4, Mục C) đã quy định rõ thể thức nhận học sinh vào học mỗi lớp, việc lập và bảo quản hồ sơ cá nhân của học sinh.
Hiện nay, một số trường tư chưa chấp hành nghiêm chỉnh thể lệ nhận học sinh, nhất là việc lập hồ sơ cá nhân của học sinh (không có học bạ, thiếu giấy chứng nhận học lực hợp lệ, không có khai sinh v.v...).
Khu, Sở, Ty, sau khi nhắc nhở lại cho các trường rõ thể lệ, cần nghiêm khắc phê bình hoặc áp dụng kỷ luật đối với những trường tư nào nhận học sinh vô nguyên tắc.
5. – Số học sinh tối đa mỗi lớp (hay phòng học):
Theo thông tư số 16-TT/PT ngày 04-02-1956 của Bộ, thì Ty hay Sở Gíao dục sẽ đề nghị với Ủy ban Hành chính ghi rõ số học sinh tối đa được thu nhận vào mỗi phòng học trong giấy phép mở trường. Để bảo đảm sức khỏe của học sinh và chất lượng giảng dạy. Bộ quy định số học sinh tối đa của mỗi lớp là 60 học sinh.
Nếu vì lý do đặc biệt, Sở hay Ty nào thấy cần cho phép trường tự nhận quá mức ấn định trên đây sẽ trình bày ý kiến với Ủy ban Hành chính thành phố hay tỉnh quyết định và báo cáo lên Nha Giáo dục Phổ thông biết quyết định của Ủy ban Hành chính.
C. - VỀ GIÁO VIÊN
1. - Số giờ tối đa hàng tuần của giáo viên:
Thông tư số 16-TT-PT của Bộ đã hướng dẫn các Sở, Ty thể thức ấn định chế độ công tác của giáo viên tư. Tuy nhiên, Bộ nhận thấy trường hợp một số giáo viên dạy nhiều lớp tại cấp 1, hoặc quá nhiều giờ tại cấp 2 và 3 còn rất phổ biến dù hoàn cảnh tuyển dụng giáo viên đã tương đối dễ dàng hơn trước.
Bộ quy định số giờ tối đa hàng tuần của giáo viên trường tư như sau:
- Giáo viên cấp 1: chỉ dạy nhiều nhất 1 lớp (hoặc đơn, hoặc ghép)
- Giáo viên cấp 2, 3: chỉ dạy nhiều nhất 30 giờ một tuần lễ...
Tuy nhiên, Sở hay Ty giáo dục có thể châm chước về số giờ tối đa đối với hai loại giáo viên cấp 1 sau đây:
- giáo viên cấp 1 đã dạy một lớp cấp 1, nhưng lớp này có ít học sinh ảnh hưởng lớn đến đời sống giáo viên.
- giáo viên cấp 1 đã dạy một lớp cấp 1, nhưng có đủ trình độ văn hóa để dạy thêm một số giờ tại cấp 2.
Đối với những giáo viên cấp 1 này, Sở hay Ty có thể đặc biệt cho phép hoặc dạy thêm lớp thứ hai, hoặc dạy thêm một số giờ học tại cấp 2.
2. - Giáo viên trường công dạy học tại trường tư:
Nghị định số 286-NĐ ngày 08-05-1956 của Bộ (điều 8) và thông tư giải thích số 359-TT-PT ngày 11-05-1956 của Nha Giáo dục phổ thông (Mục VI) đã ấn định rõ nguyên tắc giáo viên trường công dạy thêm giờ tại trường tư.
Những nguyên tắc này chưa được các trường và giáo viên tôn trọng triệt để, một phần vì năm vừa qua trường tư thiếu nhiều giáo viên, nhất là giáo viên cấp 3, một phần vì các cơ quan giáo dục còn thiếu cương quyết trong việc áp dụng thể lệ.
Bộ nhắc các Khu, Sở và Ty chú ý áp dụng đúng mấy nguyên tắc sau:
- Giáo viên trường công phải được phép của cơ quan giáo dục mà giáo viên trực thuộc trước khi ra dạy thêm tại trường tư. Số giờ tối đa được dạy thêm ngoài là 6 giờ một tuần.
- Giáo viên trường công, khi đến dạy tại một trường tư nào phải có giấy phép của Ty hay Sở Giáo dục nơi mở trường như bất cứ một giáo viên tư thục nào khác.
- Trường tư chỉ được nhận những giáo viên trường công đã có giấy phép của Sở hay Ty Giáo dục vào dạy tại trường mình.
D. - HIỆU TRƯỞNG
Điều 1 của Nghị định số 80-NĐ ngày 07-02-1956 quy định người nào muốn xin làm hiệu trưởng một trường tư dạy văn hóa thì một trong năm điều kiện là "phải đã dạy học ở một trường công hay tư, hoặc đã trực tiếp tham gia công tác chuyên môn giáo dục khác trong một thời gian ít nhất 3 năm".
Bộ thấy điều kiện này có thể châm chước đối với những người đã theo học mãn khóa các trường sư phạm chính quy muốn xin làm hiệu trưởng.
E. - HỌC PHÍ
1. - Miễn giảm học phí
Việc cho học sinh trường tư được miễn giảm học phí là do sự tự nguyện của mỗi trường. Tuy nhiên Bộ nhận thấy cơ quan giáo dục cũng nên hướng dẫn các trường thực hiện việc miễn giảm tốt.
Bộ đề nghị các Sở và Ty nên căn cứ vào thể lệ miễn, giảm học phí tại các trường dân lập và thể lệ cấp học bổng để giúp đỡ và hướng dẫn các trường tư thực hiện đúng ý nghĩa việc miễn giảm đạt được tác dụng thực tế đối với học sinh nghèo cần chiếu cố.
2. - Giá biểu học phí.
Bộ thấy hiện nay chưa nên đặt vấn đề quy định giá biểu học phí thống nhất trong toàn quốc, mà chỉ nên đặt một số nguyên tắc sau để các Sở hay Ty dựa vào đó lãnh đạo giá biểu học phí:
- Nếu lẻ tẻ có trường định giá biểu học phí cao quá so với những trường khác trong tỉnh, cơ quan giáo dục tỉnh vận động trường ấy điều chỉnh lại cho hợp lý.
- Nếu thấy giá biểu học phí có chiều hướng chung là tăng lên quá cao, cơ quan giáo dục tỉnh phối hợp với Công đoàn giáo dục vận động các trường cùng thỏa thuận đặt một giá biểu học phí đúng mức. Nếu thấy cần thiết hơn nữa, Sở hay Ty Giáo dục sẽ đề nghị với Ủy ban Hành chính thành phố hay tỉnh ấn định giá biểu học phí chung từng thời kỳ (niên học, học kỳ).
Bộ trân trọng yêu cầu các Khu, Sở, Ty phổ biến rộng rãi thông tư này cho tất cả các trường tư thục các cấp.

T.L. BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC
GIÁM ĐỐC NHA GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

Content:
Điều 1. 4 quy chế trường phổ thông 10 năm và Thông tư giải thích số 830-TT-PT ngày 21-08-1956 của Nha Giáo dục phổ thông (Đoạn 4, Mục C) đã quy định rõ thể thức nhận học sinh vào học mỗi lớp, việc lập và bảo quản hồ sơ cá nhân của học sinh.
Hiện nay, một số trường tư chưa chấp hành nghiêm chỉnh thể lệ nhận học sinh, nhất là việc lập hồ sơ cá nhân của học sinh (không có học bạ, thiếu giấy chứng nhận học lực hợp lệ, không có khai sinh v.v...).
Khu, Sở, Ty, sau khi nhắc nhở lại cho các trường rõ thể lệ, cần nghiêm khắc phê bình hoặc áp dụng kỷ luật đối với những trường tư nào nhận học sinh vô nguyên tắc.
5. – Số học sinh tối đa mỗi lớp (hay phòng học):
Theo thông tư số 16-TT/PT ngày 04-02-1956 của Bộ, thì Ty hay Sở Gíao dục sẽ đề nghị với Ủy ban Hành chính ghi rõ số học sinh tối đa được thu nhận vào mỗi phòng học trong giấy phép mở trường. Để bảo đảm sức khỏe của học sinh và chất lượng giảng dạy. Bộ quy định số học sinh tối đa của mỗi lớp là 60 học sinh.
Nếu vì lý do đặc biệt, Sở hay Ty nào thấy cần cho phép trường tự nhận quá mức ấn định trên đây sẽ trình bày ý kiến với Ủy ban Hành chính thành phố hay tỉnh quyết định và báo cáo lên Nha Giáo dục Phổ thông biết quyết định của Ủy ban Hành chính.
C. - VỀ GIÁO VIÊN
1. - Số giờ tối đa hàng tuần của giáo viên:
Thông tư số 16-TT-PT của Bộ đã hướng dẫn các Sở, Ty thể thức ấn định chế độ công tác của giáo viên tư. Tuy nhiên, Bộ nhận thấy trường hợp một số giáo viên dạy nhiều lớp tại cấp 1, hoặc quá nhiều giờ tại cấp 2 và 3 còn rất phổ biến dù hoàn cảnh tuyển dụng giáo viên đã tương đối dễ dàng hơn trước.
Bộ quy định số giờ tối đa hàng tuần của giáo viên trường tư như sau:
- Giáo viên cấp 1: chỉ dạy nhiều nhất 1 lớp (hoặc đơn, hoặc ghép)
- Giáo viên cấp 2, 3: chỉ dạy nhiều nhất 30 giờ một tuần lễ...
Tuy nhiên, Sở hay Ty giáo dục có thể châm chước về số giờ tối đa đối với hai loại giáo viên cấp 1 sau đây:
- giáo viên cấp 1 đã dạy một lớp cấp 1, nhưng lớp này có ít học sinh ảnh hưởng lớn đến đời sống giáo viên.
- giáo viên cấp 1 đã dạy một lớp cấp 1, nhưng có đủ trình độ văn hóa để dạy thêm một số giờ tại cấp 2.
Đối với những giáo viên cấp 1 này, Sở hay Ty có thể đặc biệt cho phép hoặc dạy thêm lớp thứ hai, hoặc dạy thêm một số giờ học tại cấp 2.
2. - Giáo viên trường công dạy học tại trường tư:
Nghị định số 286-NĐ ngày 08-05-1956 của Bộ (điều 8) và thông tư giải thích số 359-TT-PT ngày 11-05-1956 của Nha Giáo dục phổ thông (Mục VI) đã ấn định rõ nguyên tắc giáo viên trường công dạy thêm giờ tại trường tư.
Những nguyên tắc này chưa được các trường và giáo viên tôn trọng triệt để, một phần vì năm vừa qua trường tư thiếu nhiều giáo viên, nhất là giáo viên cấp 3, một phần vì các cơ quan giáo dục còn thiếu cương quyết trong việc áp dụng thể lệ.
Bộ nhắc các Khu, Sở và Ty chú ý áp dụng đúng mấy nguyên tắc sau:
- Giáo viên trường công phải được phép của cơ quan giáo dục mà giáo viên trực thuộc trước khi ra dạy thêm tại trường tư. Số giờ tối đa được dạy thêm ngoài là 6 giờ một tuần.
- Giáo viên trường công, khi đến dạy tại một trường tư nào phải có giấy phép của Ty hay Sở Giáo dục nơi mở trường như bất cứ một giáo viên tư thục nào khác.
- Trường tư chỉ được nhận những giáo viên trường công đã có giấy phép của Sở hay Ty Giáo dục vào dạy tại trường mình.
D. - HIỆU TRƯỞNG
Điều 1 của Nghị định số 80-NĐ ngày 07-02-1956 quy định người nào muốn xin làm hiệu trưởng một trường tư dạy văn hóa thì một trong năm điều kiện là "phải đã dạy học ở một trường công hay tư, hoặc đã trực tiếp tham gia công tác chuyên môn giáo dục khác trong một thời gian ít nhất 3 năm".
Bộ thấy điều kiện này có thể châm chước đối với những người đã theo học mãn khóa các trường sư phạm chính quy muốn xin làm hiệu trưởng.
E. - HỌC PHÍ
1. - Miễn giảm học phí
Việc cho học sinh trường tư được miễn giảm học phí là do sự tự nguyện của mỗi trường. Tuy nhiên Bộ nhận thấy cơ quan giáo dục cũng nên hướng dẫn các trường thực hiện việc miễn giảm tốt.
Bộ đề nghị các Sở và Ty nên căn cứ vào thể lệ miễn, giảm học phí tại các trường dân lập và thể lệ cấp học bổng để giúp đỡ và hướng dẫn các trường tư thực hiện đúng ý nghĩa việc miễn giảm đạt được tác dụng thực tế đối với học sinh nghèo cần chiếu cố.
2. - Giá biểu học phí.
Bộ thấy hiện nay chưa nên đặt vấn đề quy định giá biểu học phí thống nhất trong toàn quốc, mà chỉ nên đặt một số nguyên tắc sau để các Sở hay Ty dựa vào đó lãnh đạo giá biểu học phí:
- Nếu lẻ tẻ có trường định giá biểu học phí cao quá so với những trường khác trong tỉnh, cơ quan giáo dục tỉnh vận động trường ấy điều chỉnh lại cho hợp lý.
- Nếu thấy giá biểu học phí có chiều hướng chung là tăng lên quá cao, cơ quan giáo dục tỉnh phối hợp với Công đoàn giáo dục vận động các trường cùng thỏa thuận đặt một giá biểu học phí đúng mức. Nếu thấy cần thiết hơn nữa, Sở hay Ty Giáo dục sẽ đề nghị với Ủy ban Hành chính thành phố hay tỉnh ấn định giá biểu học phí chung từng thời kỳ (niên học, học kỳ).
Bộ trân trọng yêu cầu các Khu, Sở, Ty phổ biến rộng rãi thông tư này cho tất cả các trường tư thục các cấp.

T.L. BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC
GIÁM ĐỐC NHA GIÁO DỤC PHỔ THÔNG