Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 782/QĐ-TCTS-KHTC duyệt kết quả dự án cơ bản Điều tra năng lực khai thác thủy sản 2015

Type: {"issuing_agency": "Tổng cục Thuỷ sản", "promulgation_date": "21/12/2015", "sign_number": "782/QĐ-TCTS-KHTC", "signer": "Nguyễn Thị Thu Nguyệt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tổng cục Thuỷ sản", "promulgation_date": "21/12/2015", "sign_number": "782/QĐ-TCTS-KHTC", "signer": "Nguyễn Thị Thu Nguyệt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tổng cục Thuỷ sản", "promulgation_date": "21/12/2015", "sign_number": "782/QĐ-TCTS-KHTC", "signer": "Nguyễn Thị Thu Nguyệt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tổng cục Thuỷ sản", "promulgation_date": "21/12/2015", "sign_number": "782/QĐ-TCTS-KHTC", "signer": "Nguyễn Thị Thu Nguyệt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tổng cục Thuỷ sản", "promulgation_date": "21/12/2015", "sign_number": "782/QĐ-TCTS-KHTC", "signer": "Nguyễn Thị Thu Nguyệt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 782/QĐ-TCTS-KHTC duyệt kết quả dự án cơ bản Điều tra năng lực khai thác thủy sản 2015

Điều 1. Phê duyệt kết quả điều tra dự án “Điều tra năng lực khai thác thủy sản” với các nội dung chủ yếu sau:
...
2. Hệ thống cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá.
Các dịch vụ cung cấp nguyên liệu, nước ngọt đều do các cơ sở tư nhân cung cấp. Các cơ sở này hoạt động với quy mô nhỏ, nguồn vốn đầu tư hạn chế, nên chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nghề cá.
Thiếu hệ thống các cơ sở kinh doanh ngư cụ, lưới sợi (năm 2014 cả nước có 264 cơ sở; trung bình khoảng 9 cơ sở/tỉnh).
Đội tàu dịch vụ đã phát huy tốt vai trò của mình như: điều tiết giá cả, hàng hóa cho thị trường nội địa và xuất khẩu; là cầu nối và giải quyết mối quan hệ cung cầu, đáp ứng nhu cầu về đầu tư, vốn, chi phí, cung ứng nguyên, nhiên, vật liệu cho ngư dân; góp phần thúc đẩy khai thác thủy sản. Tuy nhiên, hệ thống này còn phân tán và manh mún, đội tàu dịch vụ phục vụ khai thác xa bờ dài ngày trên biển còn hạn chế.
Hệ thống thu mua, nậu vựa kinh doanh nguyên liệu thủy sản phát triển tương đối mạnh, tuy nhiên cơ sở vật chất kỹ thuật còn hạn chế, hậu cần dịch vụ thu mua trên biển phát triển tự phát, nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ. Vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, công tác bảo quản sản phẩm và giảm tổn thất sau thu hoạch chưa được chú trọng, chưa được điều tra, đánh giá để đưa ra định hướng quản lý và phát triển hệ thống này.

Content:
Hệ thống cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá.
Các dịch vụ cung cấp nguyên liệu, nước ngọt đều do các cơ sở tư nhân cung cấp. Các cơ sở này hoạt động với quy mô nhỏ, nguồn vốn đầu tư hạn chế, nên chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nghề cá.
Thiếu hệ thống các cơ sở kinh doanh ngư cụ, lưới sợi (năm 2014 cả nước có 264 cơ sở; trung bình khoảng 9 cơ sở/tỉnh).
Đội tàu dịch vụ đã phát huy tốt vai trò của mình như: điều tiết giá cả, hàng hóa cho thị trường nội địa và xuất khẩu; là cầu nối và giải quyết mối quan hệ cung cầu, đáp ứng nhu cầu về đầu tư, vốn, chi phí, cung ứng nguyên, nhiên, vật liệu cho ngư dân; góp phần thúc đẩy khai thác thủy sản. Tuy nhiên, hệ thống này còn phân tán và manh mún, đội tàu dịch vụ phục vụ khai thác xa bờ dài ngày trên biển còn hạn chế.
Hệ thống thu mua, nậu vựa kinh doanh nguyên liệu thủy sản phát triển tương đối mạnh, tuy nhiên cơ sở vật chất kỹ thuật còn hạn chế, hậu cần dịch vụ thu mua trên biển phát triển tự phát, nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ. Vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, công tác bảo quản sản phẩm và giảm tổn thất sau thu hoạch chưa được chú trọng, chưa được điều tra, đánh giá để đưa ra định hướng quản lý và phát triển hệ thống này.