Document: Điều 2 Quyết định 1032/QĐ-UBND 2011 Chương trình bảo vệ trẻ em Quảng Nam 2011 2015

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "05/04/2011", "sign_number": "1032/QĐ-UBND", "signer": "Trần Minh Cả", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "05/04/2011", "sign_number": "1032/QĐ-UBND", "signer": "Trần Minh Cả", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "05/04/2011", "sign_number": "1032/QĐ-UBND", "signer": "Trần Minh Cả", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "05/04/2011", "sign_number": "1032/QĐ-UBND", "signer": "Trần Minh Cả", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "05/04/2011", "sign_number": "1032/QĐ-UBND", "signer": "Trần Minh Cả", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định 1032/QĐ-UBND 2011 Chương trình bảo vệ trẻ em Quảng Nam 2011 2015 có nội dung như sau:

Điều 2. Tổ chức thực hiện chương trình
1. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội: Chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp, Công an tỉnh, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Hội Liên hiệp Phụ nữ, các cơ quan, đơn vị liên quan và UBND huyện, thành phố xây dựng kế hoạch thực hiện và điều phối các hoạt động của chương trình; quản lý và tổ chức thực hiện các chương trình được phân công; nghiên cứu, đề xuất hình thành mạng lưới cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở cơ sở; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát, tổng hợp tình hình thực hiện chương trình, định kỳ báo cáo UBND tỉnh; tổ chức tổng kết chương trình vào năm 2015.
2. Sở Tư pháp: Tăng cường hướng dẫn, thường xuyên kiểm tra đối với tổ chức hoạt động và trợ giúp pháp lý cho trẻ em; tăng cường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác nuôi con nuôi; phối hợp thực hiện chương trình theo chức năng, nhiệm vụ được phân công.
3. Công an tỉnh: Phối hợp với các ngành chức năng có biện pháp phòng ngừa, phát hiện kịp thời, điều tra, xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em; ngăn ngừa, quản lý, giáo dục trẻ em làm trái pháp luật, trẻ em mắc các tệ nạn xã hội, thí điểm thực hiện mô hình thân thiện đối với trẻ em vi phạm pháp luật; chủ trì quản lý và tổ chức thực hiện các nội dung đã được phân công trong Chương trình.
4. Sở Giáo dục và Đào tạo: Chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, không có bạo lực; tiếp tục thực hiện phong trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, giảm thiểu hiện tượng học sinh bỏ học; thực hiện đầy đủ các chính sách miễn giảm các khoản đóng góp đối với trẻ em trong diện chính sách theo quy định.
5. Sở Y tế: Tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi, trẻ em có hoàn đặc biệt, trẻ em thuộc hộ gia đình nghèo; phục hồi chức năng trẻ khuyết tật; thực hiện các dịch vụ y tế cho trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em bị bạo lực.
6. Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch: Tổ chức các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, vui chơi giải trí, thể thao phục vụ trẻ em và thu hút trẻ em tham gia, đặc biệt là các Trung tâm vui chơi và Điểm vui chơi dành cho trẻ em; triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào xây dựng “Gia đình văn hoá”; quản lý chặt chẽ các loại văn hoá phẩm không lành mạnh đối với trẻ em; phối hợp với các ngành chức năng kiểm tra, phát hiện và xử lý các cơ sở dịch vụ internet, cơ sở vi phạm lưu hành văn hoá phẩm độc hại, đặc biệt là khu vực xung quanh các trường học.
7. Sở Nội vụ: Chủ trì, phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn các địa phương thực hiện việc bố trí cán bộ phụ trách công tác gia đình trẻ em cấp xã, phường, thị trấn theo đúng Nghị quyết 157/2010/NQ-HĐND.
8. Sở Thông tin và Truyền thông: Chủ trì, phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn, chỉ đạo cơ quan truyền thông đại chúng đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, giáo dục về chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ chăm sóc trẻ em; tăng cường kiểm tra các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản liên quan đến trẻ em.
9. Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân tỉnh: Phối hợp với các ngành chức năng trong công tác thụ lý hồ sơ và đề nghị xét xử các vụ việc xâm hại tình dục trẻ em, trẻ em vi phạm pháp luật, lạm dụng sức lao động trẻ em và các vụ việc vi phạm quyền trẻ em. Có hình thức xét xử điểm, xử lưu động các vụ việc vi phạm nghiêm trọng đến tính mạng và nhân phẩm của trẻ em.
10. Sở kế hoạch và Đầu tư: Chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành liên quan bố trí kinh phí thực hiện chương trình trong dự toán kế hoạch hàng năm của các ngành, địa phương; chủ trì, phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội vận động các nguồn hỗ trợ phát triển chính thức cho các chương trình, dự án bảo vệ, chăm sóc trẻ em; đưa chỉ tiêu bảo vệ, chăm sóc trẻ em vào đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, địa phương.
11. Sở Tài chính: Phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư bố trí kinh phí thực hiện chương trình trong dự toán ngân sách hàng năm của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành, địa phương theo quy định của pháp luật và khả năng cân đối của ngân sách; hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng, thanh quyết toán kinh phí thực hiện chương trình.
12. Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Nam, Báo Quảng Nam: Tăng thời lượng phát sóng, số lượng tin, bài về các chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về bảo vệ và chăm sóc trẻ em; thông tin, phổ biến kịp thời những kinh nghiệm và biểu dương các điển hình tiên tiến thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, phản ảnh và lên án các vụ việc xâm phạm quyền trẻ em.
13. UBND huyện, thành phố: Tổ chức triển khai thực hiện chương trình tại địa phương theo hướng dẫn của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành chức năng; chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn căn cứ tình hình thực tế của địa phương xây dựng kế hoạch thực hiện nội dung bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn, trong đó, cần xác định những mục tiêu ưu tiên trong từng thời điểm và phải coi nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Hàng năm, bố trí kinh phí để thực hiện đạt mục tiêu chương trình của địa phương đến năm 2015. Huy động mọi nguồn lực: Nhà nước, vận động đóng góp Quỹ bảo trợ trẻ em, các tổ chức phi Chính phủ để hỗ trợ cho trẻ em, trong đó tập trung hỗ trợ trực tiếp cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và gia đình nghèo dưới các hình thức: đỡ đầu, trợ cấp, giải quyết chính sách, cho vay vốn, hỗ trợ việc làm...; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện chương trình của các xã, phường, thị trấn, định kỳ tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện chương trình với UBND tỉnh (thông qua Sở Lao động - Thương binh và Xã hội).
14. Đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đoàn thể: Liên đoàn Lao động, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh... phối hợp với ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, các ngành liên quan và các huyện, thành phố trong công tác tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội tham gia thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Giám sát việc chấp hành pháp luật về trẻ em, đưa ra những kiến nghị nhằm thực hiện tốt các mục tiêu của chương trình, vận động đoàn viên, hội viên tham gia các hoạt động nhân đạo từ thiện, nhận đỡ đầu, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, vận động ủng hộ Quỹ Bảo trợ trẻ em các cấp.

Content:
Điều 2. Tổ chức thực hiện chương trình
1. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội: Chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp, Công an tỉnh, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Hội Liên hiệp Phụ nữ, các cơ quan, đơn vị liên quan và UBND huyện, thành phố xây dựng kế hoạch thực hiện và điều phối các hoạt động của chương trình; quản lý và tổ chức thực hiện các chương trình được phân công; nghiên cứu, đề xuất hình thành mạng lưới cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở cơ sở; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát, tổng hợp tình hình thực hiện chương trình, định kỳ báo cáo UBND tỉnh; tổ chức tổng kết chương trình vào năm 2015.
2. Sở Tư pháp: Tăng cường hướng dẫn, thường xuyên kiểm tra đối với tổ chức hoạt động và trợ giúp pháp lý cho trẻ em; tăng cường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác nuôi con nuôi; phối hợp thực hiện chương trình theo chức năng, nhiệm vụ được phân công.
3. Công an tỉnh: Phối hợp với các ngành chức năng có biện pháp phòng ngừa, phát hiện kịp thời, điều tra, xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em; ngăn ngừa, quản lý, giáo dục trẻ em làm trái pháp luật, trẻ em mắc các tệ nạn xã hội, thí điểm thực hiện mô hình thân thiện đối với trẻ em vi phạm pháp luật; chủ trì quản lý và tổ chức thực hiện các nội dung đã được phân công trong Chương trình.
4. Sở Giáo dục và Đào tạo: Chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, không có bạo lực; tiếp tục thực hiện phong trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, giảm thiểu hiện tượng học sinh bỏ học; thực hiện đầy đủ các chính sách miễn giảm các khoản đóng góp đối với trẻ em trong diện chính sách theo quy định.
5. Sở Y tế: Tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi, trẻ em có hoàn đặc biệt, trẻ em thuộc hộ gia đình nghèo; phục hồi chức năng trẻ khuyết tật; thực hiện các dịch vụ y tế cho trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em bị bạo lực.
6. Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch: Tổ chức các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, vui chơi giải trí, thể thao phục vụ trẻ em và thu hút trẻ em tham gia, đặc biệt là các Trung tâm vui chơi và Điểm vui chơi dành cho trẻ em; triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào xây dựng “Gia đình văn hoá”; quản lý chặt chẽ các loại văn hoá phẩm không lành mạnh đối với trẻ em; phối hợp với các ngành chức năng kiểm tra, phát hiện và xử lý các cơ sở dịch vụ internet, cơ sở vi phạm lưu hành văn hoá phẩm độc hại, đặc biệt là khu vực xung quanh các trường học.
7. Sở Nội vụ: Chủ trì, phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn các địa phương thực hiện việc bố trí cán bộ phụ trách công tác gia đình trẻ em cấp xã, phường, thị trấn theo đúng Nghị quyết 157/2010/NQ-HĐND.
8. Sở Thông tin và Truyền thông: Chủ trì, phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn, chỉ đạo cơ quan truyền thông đại chúng đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, giáo dục về chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ chăm sóc trẻ em; tăng cường kiểm tra các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản liên quan đến trẻ em.
9. Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân tỉnh: Phối hợp với các ngành chức năng trong công tác thụ lý hồ sơ và đề nghị xét xử các vụ việc xâm hại tình dục trẻ em, trẻ em vi phạm pháp luật, lạm dụng sức lao động trẻ em và các vụ việc vi phạm quyền trẻ em. Có hình thức xét xử điểm, xử lưu động các vụ việc vi phạm nghiêm trọng đến tính mạng và nhân phẩm của trẻ em.
10. Sở kế hoạch và Đầu tư: Chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành liên quan bố trí kinh phí thực hiện chương trình trong dự toán kế hoạch hàng năm của các ngành, địa phương; chủ trì, phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội vận động các nguồn hỗ trợ phát triển chính thức cho các chương trình, dự án bảo vệ, chăm sóc trẻ em; đưa chỉ tiêu bảo vệ, chăm sóc trẻ em vào đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, địa phương.
11. Sở Tài chính: Phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư bố trí kinh phí thực hiện chương trình trong dự toán ngân sách hàng năm của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành, địa phương theo quy định của pháp luật và khả năng cân đối của ngân sách; hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng, thanh quyết toán kinh phí thực hiện chương trình.
12. Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Nam, Báo Quảng Nam: Tăng thời lượng phát sóng, số lượng tin, bài về các chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về bảo vệ và chăm sóc trẻ em; thông tin, phổ biến kịp thời những kinh nghiệm và biểu dương các điển hình tiên tiến thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, phản ảnh và lên án các vụ việc xâm phạm quyền trẻ em.
13. UBND huyện, thành phố: Tổ chức triển khai thực hiện chương trình tại địa phương theo hướng dẫn của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành chức năng; chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn căn cứ tình hình thực tế của địa phương xây dựng kế hoạch thực hiện nội dung bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn, trong đó, cần xác định những mục tiêu ưu tiên trong từng thời điểm và phải coi nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Hàng năm, bố trí kinh phí để thực hiện đạt mục tiêu chương trình của địa phương đến năm 2015. Huy động mọi nguồn lực: Nhà nước, vận động đóng góp Quỹ bảo trợ trẻ em, các tổ chức phi Chính phủ để hỗ trợ cho trẻ em, trong đó tập trung hỗ trợ trực tiếp cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và gia đình nghèo dưới các hình thức: đỡ đầu, trợ cấp, giải quyết chính sách, cho vay vốn, hỗ trợ việc làm...; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện chương trình của các xã, phường, thị trấn, định kỳ tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện chương trình với UBND tỉnh (thông qua Sở Lao động - Thương binh và Xã hội).
14. Đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đoàn thể: Liên đoàn Lao động, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh... phối hợp với ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, các ngành liên quan và các huyện, thành phố trong công tác tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội tham gia thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Giám sát việc chấp hành pháp luật về trẻ em, đưa ra những kiến nghị nhằm thực hiện tốt các mục tiêu của chương trình, vận động đoàn viên, hội viên tham gia các hoạt động nhân đạo từ thiện, nhận đỡ đầu, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, vận động ủng hộ Quỹ Bảo trợ trẻ em các cấp.