Document: Điểm c Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2195/QĐ-BNN-TCTL 2015 hệ thống các trạm trực canh cảnh báo sóng thần

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "11/06/2015", "sign_number": "2195/QĐ-BNN-TCTL", "signer": "Hoàng Văn Thắng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "11/06/2015", "sign_number": "2195/QĐ-BNN-TCTL", "signer": "Hoàng Văn Thắng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "11/06/2015", "sign_number": "2195/QĐ-BNN-TCTL", "signer": "Hoàng Văn Thắng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "11/06/2015", "sign_number": "2195/QĐ-BNN-TCTL", "signer": "Hoàng Văn Thắng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "11/06/2015", "sign_number": "2195/QĐ-BNN-TCTL", "signer": "Hoàng Văn Thắng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2195/QĐ-BNN-TCTL 2015 hệ thống các trạm trực canh cảnh báo sóng thần

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch chi tiết hệ thống các trạm trực canh cảnh báo sóng thần với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Tận dụng tối đa cơ sở hạ tầng sẵn có vùng ven biển để xây dựng hệ thống các trạm trực canh cảnh báo sóng thần, giảm chi phí đầu tư.
II. MỤC TIÊU
- Đảm bảo thông tin nhanh nhất, kịp thời, chính thống thông qua hệ thống các trạm trực canh và tin nhắn điện thoại di động để chủ động phòng tránh, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản do sóng thần nói riêng và thiên tai gây ra nói chung gây ra góp phần phát triển ổn định kinh tế xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh.
- Nâng cao năng lực chỉ đạo, chỉ huy ứng phó với sóng thần, bão, áp thấp nhiệt đới, lũ và các loại hình thiên tai khác.
- Nâng cao nhận thức trong công tác phòng tránh thiên tai nói chung và sóng thần nói riêng.
- Giảm thiểu chi phí đầu tư xây dựng thông qua việc kết hợp cơ sở hạ tầng hiện có, phát huy hiệu quả đầu tư.
III. PHẠM VI QUY HOẠCH
Vùng ven biển, hải đảo có nguy cơ cao chịu tác động của sóng thần thuộc địa bàn 13 tỉnh/thành phố ven biển: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu.
IV. GIẢI PHÁP QUY HOẠCH
1. Quy hoạch hệ thống các trạm trực canh cảnh báo sóng thần
1.1. Kịch bản động đất gây sóng thần
Kịch bản động đất có độ lớn 9,0 độ richter xảy ra tại đới đứt gẫy Manila để đánh giá, xác định ảnh hưởng do sóng thần gây ra đối với các tỉnh ven biển từ Hà Tĩnh đến Bà Rịa Vũng Tàu. Theo đó, sau 2 giờ, sóng thần sẽ ảnh hưởng đến các tỉnh ven biển Việt Nam, các tỉnh từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế và từ Bình Định đến Bà Rịa - Vũng Tàu chịu tác động của sóng thần có độ cao từ 2m đến trên 4m; các tỉnh từ Đà Nẵng đến Quảng Ngãi có thể chịu tác động của sóng thần có độ cao khoảng 10m.
1.2. Vị trí, quy mô
...
c) Hoạt động truyền thông tin cảnh báo của hệ thống
Đối với thông tin cảnh báo sẽ được hệ thống phần mềm xử lý, phân chia khu vực, đối tượng, hình thức phát tin đến người dân như tin nhắn, hay qua hệ thống loa đài, còi ú, đèn một cách tự động:
- Cảnh báo bằng SMS: Viện Vật lý địa cầu, Ban chỉ đạo TWPCTT và các địa phương xác định nội dung, đối tượng nhận để gửi tin nhắn. Khi có lệnh gửi tin nhắn, hệ thống sẽ xử lý và gửi nội dung tin nhắn đến các đối tượng cần cảnh báo.
- Dạng tín hiệu còi, đèn: Viện Vật lý địa cầu, Ban chỉ đạo TWPCTT, các địa phương xác định vùng cần cảnh báo bằng còi và đèn. Khi có lệnh cảnh báo bằng còi, đèn hệ thống sẽ xử lý và điều khiển các trạm cảnh báo phát tín hiệu báo động.
- Dạng tín hiệu âm thanh: Viện Vật lý địa cầu, Ban chỉ đạo TWPCTT và các địa phương chọn vùng cần cảnh báo và kiều bản tin thông báo (trực tiếp hoặc kịch bản có sẵn). Khi có lệnh cảnh báo bằng âm thanh, hệ thống sẽ xử lý và điều khiển trạm trực canh phát bản tin trực tiếp (người đọc) hoặc theo kịch bản.
V. KINH PHÍ THỰC HIỆN
1. Kinh phí
Tổng kinh phí xây dựng hệ thống báo động trực canh cảnh báo sóng thần: 293.344 triệu đồng (Hai trăm chín mươi ba tỷ, ba trăm bốn mươi bốn triệu đồng), trong đó:
- Kinh phí xây dựng trạm: 191.724 triệu đồng
- Kinh phí xây dựng hệ thống điều khiển tại các cơ quan Trung ương và Ban chỉ huy PCTT&TKCN của 13 tỉnh, thành phố: 79.629 triệu đồng
- Kết nối mạng lưới truyền dẫn, truyền tin: 21.991 triệu đồng
2. Nguồn vốn: Ngân sách nhà nước và xã hội hóa.
- Nguồn vốn ngân sách nhà nước: 277.060 triệu đồng chiếm 94,45% tổng kinh phí, phục vụ đầu tư xây dựng trạm trực canh tại các khu dân cư, các khu công nghiệp, thiết lập hệ thống điều khiển trung tâm và kết nối mạng lưới truyền dẫn, truyền tin.
- Nguồn vốn xã hội hóa: 16.284 triệu đồng chiếm 5,55% tổng kinh phí, phục vụ đầu tư xây dựng các trạm cảnh báo tại các khu du lịch, khu công nghiệp độc lập.
VI. PHÂN KỲ ĐẦU TƯ
1. Giai đoạn 1 (năm 2015 - 2017)
Tổng kinh phí 180.878 triệu đồng, gồm: 173.801 triệu đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và 7.077 triệu đồng từ nguồn xã hội hóa, cụ thể:
- Xây dựng, lắp đặt 281 trạm trực canh cảnh báo sóng thần tại 7 tỉnh/thành phố có nguy cơ cao: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Ninh Thuận, trong đó: 23 trạm loại 1; 63 trạm loại 2; 53 trạm loại 3; 142 trạm loại 4;
- Xây dựng hệ thống quản lý trung tâm và điều khiển chỉ huy cấp Trung ương;
- Thiết bị điều khiển chỉ huy cho 7 tỉnh/thành phố;
- Mạng lưới truyền dẫn, truyền tin tại các cơ quan Trung ương và 7 tỉnh/thành phố.
(Chi tiết như Phụ lục 2)
2. Giai đoạn 2 (năm 2018 - 2019)
Tổng kinh phí 112.466 triệu đồng, gồm: 103.259 triệu đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và 9.207 triệu đồng từ nguồn xã hội hóa, cụ thể:
- Xây dựng 251 trạm trực canh cảnh báo sóng thần tại 6 tỉnh (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu), trong đó: 13 trạm loại 1; 62 trạm loại 2; 62 trạm loại 3; 114 trạm loại 4;
- Kinh phí thiết bị điều khiển chỉ huy cho 6 tỉnh;
- Xây dựng mạng lưới truyền dẫn truyền tin cho 6 tỉnh.
(Chi tiết như Phụ lục 2)

Content:
Hoạt động truyền thông tin cảnh báo của hệ thống
Đối với thông tin cảnh báo sẽ được hệ thống phần mềm xử lý, phân chia khu vực, đối tượng, hình thức phát tin đến người dân như tin nhắn, hay qua hệ thống loa đài, còi ú, đèn một cách tự động:
- Cảnh báo bằng SMS: Viện Vật lý địa cầu, Ban chỉ đạo TWPCTT và các địa phương xác định nội dung, đối tượng nhận để gửi tin nhắn. Khi có lệnh gửi tin nhắn, hệ thống sẽ xử lý và gửi nội dung tin nhắn đến các đối tượng cần cảnh báo.
- Dạng tín hiệu còi, đèn: Viện Vật lý địa cầu, Ban chỉ đạo TWPCTT, các địa phương xác định vùng cần cảnh báo bằng còi và đèn. Khi có lệnh cảnh báo bằng còi, đèn hệ thống sẽ xử lý và điều khiển các trạm cảnh báo phát tín hiệu báo động.
- Dạng tín hiệu âm thanh: Viện Vật lý địa cầu, Ban chỉ đạo TWPCTT và các địa phương chọn vùng cần cảnh báo và kiều bản tin thông báo (trực tiếp hoặc kịch bản có sẵn). Khi có lệnh cảnh báo bằng âm thanh, hệ thống sẽ xử lý và điều khiển trạm trực canh phát bản tin trực tiếp (người đọhoặc theo kịch bản.
V. KINH PHÍ THỰC HIỆN
1. Kinh phí
Tổng kinh phí xây dựng hệ thống báo động trực canh cảnh báo sóng thần: 293.344 triệu đồng (Hai trăm chín mươi ba tỷ, ba trăm bốn mươi bốn triệu đồng), trong đó:
- Kinh phí xây dựng trạm: 191.724 triệu đồng
- Kinh phí xây dựng hệ thống điều khiển tại các cơ quan Trung ương và Ban chỉ huy PCTT&TKCN của 13 tỉnh, thành phố: 79.629 triệu đồng
- Kết nối mạng lưới truyền dẫn, truyền tin: 21.991 triệu đồng
2. Nguồn vốn: Ngân sách nhà nước và xã hội hóa.
- Nguồn vốn ngân sách nhà nước: 277.060 triệu đồng chiếm 94,45% tổng kinh phí, phục vụ đầu tư xây dựng trạm trực canh tại các khu dân cư, các khu công nghiệp, thiết lập hệ thống điều khiển trung tâm và kết nối mạng lưới truyền dẫn, truyền tin.
- Nguồn vốn xã hội hóa: 16.284 triệu đồng chiếm 5,55% tổng kinh phí, phục vụ đầu tư xây dựng các trạm cảnh báo tại các khu du lịch, khu công nghiệp độc lập.
VI. PHÂN KỲ ĐẦU TƯ
1. Giai đoạn 1 (năm 2015 - 2017)
Tổng kinh phí 180.878 triệu đồng, gồm: 173.801 triệu đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và 7.077 triệu đồng từ nguồn xã hội hóa, cụ thể:
- Xây dựng, lắp đặt 281 trạm trực canh cảnh báo sóng thần tại 7 tỉnh/thành phố có nguy cơ cao: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Ninh Thuận, trong đó: 23 trạm loại 1; 63 trạm loại 2; 53 trạm loại 3; 142 trạm loại 4;
- Xây dựng hệ thống quản lý trung tâm và điều khiển chỉ huy cấp Trung ương;
- Thiết bị điều khiển chỉ huy cho 7 tỉnh/thành phố;
- Mạng lưới truyền dẫn, truyền tin tại các cơ quan Trung ương và 7 tỉnh/thành phố.
(Chi tiết như Phụ lục 2)
2. Giai đoạn 2 (năm 2018 - 2019)
Tổng kinh phí 112.466 triệu đồng, gồm: 103.259 triệu đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và 9.207 triệu đồng từ nguồn xã hội hóa, cụ thể:
- Xây dựng 251 trạm trực canh cảnh báo sóng thần tại 6 tỉnh (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu), trong đó: 13 trạm loại 1; 62 trạm loại 2; 62 trạm loại 3; 114 trạm loại 4;
- Kinh phí thiết bị điều khiển chỉ huy cho 6 tỉnh;
- Xây dựng mạng lưới truyền dẫn truyền tin cho 6 tỉnh.
(Chi tiết như Phụ lục 2)