Document: Điều 5 Quyết định 248/1998/QĐ-TTg chủ trương điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dự toán ngân sách Nhà nước năm 1999

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/12/1998", "sign_number": "248/1998/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/12/1998", "sign_number": "248/1998/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/12/1998", "sign_number": "248/1998/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/12/1998", "sign_number": "248/1998/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/12/1998", "sign_number": "248/1998/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 5 Quyết định 248/1998/QĐ-TTg chủ trương điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dự toán ngân sách Nhà nước năm 1999 có nội dung như sau:

Điều 5. Về tài chính - tiền tệ
1- Tập trung chỉ đạo thực hiện tốt Luật thuế giá trị gia tăng, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện để không ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và cân đối ngân sách của các địa phương. Bộ Tài chính căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 1999, tổ chức thực hiện ngay từ đầu năm 1999 những quy định bổ sung, sửa đổi Luật thuế giá trị gia tăng.
Trong quá trình thực hiện, nếu có biến động nguồn thu thuế giá trị gia tăng làm ảnh hưởng đến ngân sách địa phương thì Bộ Tài chính điều chỉnh số bổ sung từ ngân sách trung ương cho địa phương và báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả điều chỉnh.
2- Thực hiện chính sách triệt để tiết kiệm trong chi tiêu ngân sách, sử dụng tài sản, công quỹ, gắn với việc thực hiện công khai ngân sách, công khai các khoản đóng góp của nhân dân theo Quyết định số 225/1998/QĐ-TTg ngày 20 tháng 11 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ và tăng cường kiểm tra, thanh tra việc chi tiêu ngân sách.
Trong năm 1999, thực hiện giảm chi so với năm 1998 : 30% đối với chi công tác phí trong nước, 40% đối với kinh phí đoàn ra, đoàn vào, 60 - 70% đối với chi mua sắm trang thiết bị, sửa chữa, chi hội nghị, khánh tiết, tiếp khách, tiền thưởng các loại của các cơ quan hành chính, sự nghiệp; nghiêm cấm sử dụng xe ô tô công vào việc riêng của cá nhân và dùng xe ô tô công để đưa đón cán bộ không đúng tiêu chuẩn quy định, dùng tiền công quỹ để làm quà biếu, tặng, lợi dụng hội, họp để tổ chức đi nghỉ...Tổ chức thí điểm việc khoán quỹ lương, khoán chi hành chính đối với các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan Đảng và đoàn thể, trên cơ sở xác định rõ khối lượng nhiệm vụ được giao hàng năm.
Căn cứ vào tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô, sau khi sắp xếp, điều hòa xe ô tô từ nơi thừa sang nơi thiếu, Bộ Tài chính tổng hợp số lượng xe ô tô cần mua trong năm 1999 trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
3- Giao dự toán chi thường xuyên năm 1999 cho các Bộ, cơ quan trung ương bằng mức 90% dự toán theo phương án phân bổ ngân sách trung ương đã được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua (trừ các khoản chi tiền lương và có tính chất lương, chi bằng nguồn viện trợ, bằng nguồn vốn vay ngoài nước).
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện mức giao dự toán chi thường xuyên năm 1999 cho các đơn vị trực thuộc bằng mức 90% (trừ các khoản chi tiền lương và có tính chất lương, chi từ nguồn vốn vay và viện trợ ngoài nước) và giao dự toán ngân sách cho chính quyền cấp dưới bằng mức 100% theo phương án phân bổ dự toán chi ngân sách đã được Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định.
Căn cứ nguyên tắc trên, ủy ban nhân dân huyện giao dự toán chi thường xuyên cho các đơn vị trực thuộc bằng 90% và giao dự toán ngân sách cho chính quyền cấp xã bằng mức 100% theo phương án phân bổ dự toán chi ngân sách đã được Hội đồng nhân dân huyện quyết định.
4- Thưởng vượt dự toán thu về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt (trừ các khoản thuế tiêu thụ đặc biệt ngân sách địa phương được hưởng 100%) cho các địa phương theo mức do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Số vượt thu làm căn cứ xét thưởng đối với thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu và thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa dự toán thu được Thủ tướng Chính phủ giao và số thực thu đối với hàng hóa thực tế có xuất khẩu, nhập khẩu thuộc địa bàn của địa phương.
Số thưởng do vượt thu nêu trên chỉ được sử dụng cho mục đích đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
5- Kiểm soát chặt chẽ lượng tiền cung ứng, chỉ tiêu tăng dư nợ tín dụng và mức vay thương mại nước ngoài. Trong tháng 1 năm 1999, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trình Thủ tướng Chính phủ quyết định các chỉ tiêu này.
6- Ban hành đầy đủ các văn bản pháp quy để cụ thể hoá Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng. Tiếp tục chấn chỉnh và củng cố hệ thống Ngân hàng thương mại, sắp xếp và xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của Thanh tra ngân hàng. Tăng cường năng lực thẩm định của tổ chức tín dụng, bảo đảm hiệu quả của các khoản cho vay. Có biện pháp xử lý và giảm tối đa các khoản nợ quá hạn, làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của hệ thống ngân hàng.
7- Có chính sách, biện pháp khuyến khích mang ngoại tệ vào Việt Nam, đồng thời kiểm soát chặt chẽ lượng ngoại tệ mang ra khỏi Việt Nam.
8- Tổ chức hoạt động của thị trường chứng khoán ở quy mô và hình thức thích hợp. Trước mắt, cho phép một số doanh nghiệp có đủ điều kiện được phát hành cổ phiếu ra công chúng, từng bước thực hiện việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình qua Trung tâm Giao dịch chứng khoán. Trong quý I năm 1999, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước trình Thủ tướng Chính phủ phương án tổ chức hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam.
9- Trong tháng 5 năm 1999 ban hành cơ chế tín dụng đầu tư nhà nước theo hướng hỗ trợ vốn đầu tư tập trung cho các dự án cấp thiết, có hiệu quả; đổi mới phương thức xét duyệt và thẩm định dự án cho vay; có chính sách ưu đãi sau đầu tư cho các dự án của tất cả các thành phần kinh tế...

Content:
Điều 5. Về tài chính - tiền tệ
1- Tập trung chỉ đạo thực hiện tốt Luật thuế giá trị gia tăng, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện để không ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và cân đối ngân sách của các địa phương. Bộ Tài chính căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 1999, tổ chức thực hiện ngay từ đầu năm 1999 những quy định bổ sung, sửa đổi Luật thuế giá trị gia tăng.
Trong quá trình thực hiện, nếu có biến động nguồn thu thuế giá trị gia tăng làm ảnh hưởng đến ngân sách địa phương thì Bộ Tài chính điều chỉnh số bổ sung từ ngân sách trung ương cho địa phương và báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả điều chỉnh.
2- Thực hiện chính sách triệt để tiết kiệm trong chi tiêu ngân sách, sử dụng tài sản, công quỹ, gắn với việc thực hiện công khai ngân sách, công khai các khoản đóng góp của nhân dân theo Quyết định số 225/1998/QĐ-TTg ngày 20 tháng 11 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ và tăng cường kiểm tra, thanh tra việc chi tiêu ngân sách.
Trong năm 1999, thực hiện giảm chi so với năm 1998 : 30% đối với chi công tác phí trong nước, 40% đối với kinh phí đoàn ra, đoàn vào, 60 - 70% đối với chi mua sắm trang thiết bị, sửa chữa, chi hội nghị, khánh tiết, tiếp khách, tiền thưởng các loại của các cơ quan hành chính, sự nghiệp; nghiêm cấm sử dụng xe ô tô công vào việc riêng của cá nhân và dùng xe ô tô công để đưa đón cán bộ không đúng tiêu chuẩn quy định, dùng tiền công quỹ để làm quà biếu, tặng, lợi dụng hội, họp để tổ chức đi nghỉ...Tổ chức thí điểm việc khoán quỹ lương, khoán chi hành chính đối với các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan Đảng và đoàn thể, trên cơ sở xác định rõ khối lượng nhiệm vụ được giao hàng năm.
Căn cứ vào tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô, sau khi sắp xếp, điều hòa xe ô tô từ nơi thừa sang nơi thiếu, Bộ Tài chính tổng hợp số lượng xe ô tô cần mua trong năm 1999 trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
3- Giao dự toán chi thường xuyên năm 1999 cho các Bộ, cơ quan trung ương bằng mức 90% dự toán theo phương án phân bổ ngân sách trung ương đã được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua (trừ các khoản chi tiền lương và có tính chất lương, chi bằng nguồn viện trợ, bằng nguồn vốn vay ngoài nước).
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện mức giao dự toán chi thường xuyên năm 1999 cho các đơn vị trực thuộc bằng mức 90% (trừ các khoản chi tiền lương và có tính chất lương, chi từ nguồn vốn vay và viện trợ ngoài nước) và giao dự toán ngân sách cho chính quyền cấp dưới bằng mức 100% theo phương án phân bổ dự toán chi ngân sách đã được Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định.
Căn cứ nguyên tắc trên, ủy ban nhân dân huyện giao dự toán chi thường xuyên cho các đơn vị trực thuộc bằng 90% và giao dự toán ngân sách cho chính quyền cấp xã bằng mức 100% theo phương án phân bổ dự toán chi ngân sách đã được Hội đồng nhân dân huyện quyết định.
4- Thưởng vượt dự toán thu về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt (trừ các khoản thuế tiêu thụ đặc biệt ngân sách địa phương được hưởng 100%) cho các địa phương theo mức do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Số vượt thu làm căn cứ xét thưởng đối với thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu và thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa dự toán thu được Thủ tướng Chính phủ giao và số thực thu đối với hàng hóa thực tế có xuất khẩu, nhập khẩu thuộc địa bàn của địa phương.
Số thưởng do vượt thu nêu trên chỉ được sử dụng cho mục đích đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
5- Kiểm soát chặt chẽ lượng tiền cung ứng, chỉ tiêu tăng dư nợ tín dụng và mức vay thương mại nước ngoài. Trong tháng 1 năm 1999, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trình Thủ tướng Chính phủ quyết định các chỉ tiêu này.
6- Ban hành đầy đủ các văn bản pháp quy để cụ thể hoá Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng. Tiếp tục chấn chỉnh và củng cố hệ thống Ngân hàng thương mại, sắp xếp và xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của Thanh tra ngân hàng. Tăng cường năng lực thẩm định của tổ chức tín dụng, bảo đảm hiệu quả của các khoản cho vay. Có biện pháp xử lý và giảm tối đa các khoản nợ quá hạn, làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của hệ thống ngân hàng.
7- Có chính sách, biện pháp khuyến khích mang ngoại tệ vào Việt Nam, đồng thời kiểm soát chặt chẽ lượng ngoại tệ mang ra khỏi Việt Nam.
8- Tổ chức hoạt động của thị trường chứng khoán ở quy mô và hình thức thích hợp. Trước mắt, cho phép một số doanh nghiệp có đủ điều kiện được phát hành cổ phiếu ra công chúng, từng bước thực hiện việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình qua Trung tâm Giao dịch chứng khoán. Trong quý I năm 1999, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước trình Thủ tướng Chính phủ phương án tổ chức hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam.
9- Trong tháng 5 năm 1999 ban hành cơ chế tín dụng đầu tư nhà nước theo hướng hỗ trợ vốn đầu tư tập trung cho các dự án cấp thiết, có hiệu quả; đổi mới phương thức xét duyệt và thẩm định dự án cho vay; có chính sách ưu đãi sau đầu tư cho các dự án của tất cả các thành phần kinh tế...