Document: Khoản 2 Điều 1 Quyêt định 1220/QĐ-UBND năm 2010 phê duyệt Đề án"Đào tạo nghề cho lao động nông

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "24/06/2010", "sign_number": "1220/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Đức Long", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "24/06/2010", "sign_number": "1220/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Đức Long", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "24/06/2010", "sign_number": "1220/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Đức Long", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "24/06/2010", "sign_number": "1220/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Đức Long", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "24/06/2010", "sign_number": "1220/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Đức Long", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyêt định 1220/QĐ-UBND năm 2010 phê duyệt Đề án"Đào tạo nghề cho lao động nông

Điều 1. Phê duyệt Đề án " Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Nam Định đến năm 2020" (sau đây gọi tắt là Đề án) với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
2. Mục tiêu cụ thể:
a, Năm 2010:
- Đào tạo nghề (cả 3 cấp trình độ) cho 19,6 ngàn lao động ở khu vực nông thôn và lao động nữ trong tỉnh;
Trong đó số lao động được hỗ trợ chi phí học nghề (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) là 5,5 ngàn người, gồm:
+ Học nghề nông nghiệp: 2,2 ngàn người;
+ Học nghề phi nông nghiệp: 3,3 ngàn người;
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã, gồm:
+ Đào tạo: Trình độ trung cấp (chuyên ngành Luật, Văn hoá, Công an,Quân sự) cho 300 người; trình độ Đại Học ( hệ vừa học vừa làm chuyên ngành Luật, Hành chính, kinh tế Nông nghiệp) cho 300 người;
+ Bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn và lý luận chính trị cho cán bộ công chức xã, phường, thị trấn: 1.500 ngàn người; cập nhập kiến thức quản lý Nhà nước mới cho từng vị trí công việc: 2.500 ngàn người;
b) Giai đoạn 2011 - 2015:
- Đào tạo nghề (cả 3 cấp trình độ) cho 120 ngàn lao động ở khu vực nông thôn và lao động nữ trong tỉnh. Bình quân mỗi năm đào tạo nghề khoảng 24 ngàn lao động;
Trong đó số lao động được hỗ trợ chi phí học nghề (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) là 13 ngàn người/năm, gồm:
+ Học nghề nông nghiệp: 4 ngàn người.
+ Học nghề phi nông nghiệp: 9 ngàn người.
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, gồm:
+ Đào tạo trình độ trung cấp chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị cho cán bộ, công chức và cán bộ cơ sở: 2.100 người; trình độ cao đẳng, đại học chuyên môn nghiệp vụ và chính trị cho các cán bộ, công chức và cán bộ cơ sở xã phường, thị trấn: 600 người.
+ Bồi dưỡng: Cập nhập kiến thức chuyên môn nghiệp vụ nâng cao năng lực quản lý theo từng vị trí công việc cho các cán bộ, công chức và cán bộ cơ sở xã phường, thị trấn: 5.500 người; Kiến thức quản lý nhà nước theo từng vị trí công việc cho các cán bộ cơ sở xã phường, thị trấn: 10.000 người, nghiệp vụ chuyên môn và kỹ năng hoạt động cho cán bộ xã phường, thị trấn đầu nhiệm kỳ 2011 - 2016: 6.500 người.
c) Giai đoạn 2016 - 2020:
- Đào tạo nghề (cả 3 cấp trình độ) cho 132 ngàn lao động ở khu vực nông thôn. Bình quân mỗi năm đào tạo khoảng 26,5 ngàn lao động;
Trong đó số lao động được hỗ trợ chi phí học nghề ( trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) là 14,2 ngàn người/năm, gồm:
+ Học nghề nông nghiệp: 5 ngàn người;
+ Học nghề phi nông nghiệp: 9,2 ngàn người;
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, gồm:
+ Đào tạo: Trình độ trung cấp chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị cho cán bộ công chức và cán bộ cơ sở: 1.500 người; trình độ cao đẳng, đại học chuyên môn nghiệp vụ và chính trị cho các cán bộ công chức xã phường, thị trấn: 1.000 người.
+ Bồi dưỡng: cập nhập kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao năng lực quản lý theo từng vị trí công việc cho các cán bộ công chức xã phường, thị trấn: 6.000 người; Quản lý nhà nước theo từng vị trí công việc cho đội ngũ cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn: 10.000 người; Nghiệp vụ chuyên môn và kỹ năng hoạt động cho cán bộ xã phường, thị trấn để nâng cao trình độ đầu nhiệm kỳ 2016 - 2021: 6.500 người
II. ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ ÁN:
1. Lao động nông thôn, lao động nữ (cả nông thôn và thành thị) trong độ tuổi lao động có trình độ học vấn và sức khoẻ phù hợp với nghề cần học. Trong đó, ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, lao động nữ bị mất việc làm trong các doanh nghiệp.
2. Cán bộ chuyên trách đảng, đoàn thể chính trị - xã hội, chính quyền và công chức chuyên môn; cán bộ nguồn bổ sung thay thế cho cán bộ, công chức xã đến tuổi nghỉ công tác hoặc thiếu hụt do cơ học có độ tuổi phù hợp với quy hoạch cán bộ đến năm 2015 và đến năm 2020.
III. DẠY NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN:
1. Tuyên truyền, tư vấn học nghề và việc làm đối với lao động nông thôn.
- Tăng cường tuyên truyền sâu rộng bằng nhiều hình thức về chủ trương, chính sách, pháp luật về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhất là các chính sách khuyến khích hỗ trợ của nhà nước cho đào tạo nghề, cho người học nghề nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, của toàn xã hội về việc học nghề là điều kiện để tạo việc làm, giảm nghèo bền vững, tạo điều kiện cho người lao động tích cực tham gia học nghề.
- Các cấp chính quyền và ngành Lao động - Thương binh và Xã hội triển khai thực hiện các hoạt động tư vấn học nghề, tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn nhất là cấp xã.
- Các tổ chức chính trị xã hội, Hội nghề nghiệp (đặc biệt là Hội Nông dân) tăng cường tuyên truyền, tư vấn cho các hội viên của mình về chính sách của Nhà nước về đào tạo nghề tích cực tham gia học nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập để xoá đói giảm nghèo bền vững.
- Đổi mới chương trình và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường THCS, THPT để học sinh có nhận thức đúng đắn về học nghề, nhất là với số không có khả năng học THPT và Đại học, Cao đẳng, để chủ động lựa chọn loại hình học nghề phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình.
2. Triển khai các mô hình dạy nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn.
- Năm 2010: Chỉ đạo 3 huyện làm điểm gồm Giao Thuỷ, Ý Yên, Mỹ Lộc, mỗi huyện xây dựng 2 mô hình dạy nghề ngắn hạn ( 01 mô hình dạy nghề nông nghiệp và 01 mô hình dạy nghề phi nông nghiệp);
- Các năm tiếp theo trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm ở 03 huyện đã làm thí điểm có kế hoạch và phương án triển khai nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh.
- Các mô hình dạy nghề thí điểm thực hiện với sự tham gia của nhiều bên: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Uỷ ban nhân dân cấp xã, cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp tiếp nhận lao động sau khi học nghề (đối với dạy nghề phi nông nghiệp).
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm hướng nghiệp giới thiệu việc làm (đặc biệt là Sàn giao dịch việc làm tỉnh), thiết lập mối quan hệ gắn bó giữa các trung tâm giới thiệu việc làm với các cơ sở đào tạo nghề, các doanh nghiệp tạo điều kiện cho người lao động sau học nghề tạo được việc làm.
- Xây dựng và phát triển khai chương trình tư vấn, hỗ trợ thanh niên lập nghiệp, khởi sự doanh nghiệp….

Content:
Mục tiêu cụ thể:
a, Năm 2010:
- Đào tạo nghề (cả 3 cấp trình độ) cho 19,6 ngàn lao động ở khu vực nông thôn và lao động nữ trong tỉnh;
Trong đó số lao động được hỗ trợ chi phí học nghề (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) là 5,5 ngàn người, gồm:
+ Học nghề nông nghiệp: 2,2 ngàn người;
+ Học nghề phi nông nghiệp: 3,3 ngàn người;
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã, gồm:
+ Đào tạo: Trình độ trung cấp (chuyên ngành Luật, Văn hoá, Công an,Quân sự) cho 300 người; trình độ Đại Học ( hệ vừa học vừa làm chuyên ngành Luật, Hành chính, kinh tế Nông nghiệp) cho 300 người;
+ Bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn và lý luận chính trị cho cán bộ công chức xã, phường, thị trấn: 1.500 ngàn người; cập nhập kiến thức quản lý Nhà nước mới cho từng vị trí công việc: 2.500 ngàn người;
b) Giai đoạn 2011 - 2015:
- Đào tạo nghề (cả 3 cấp trình độ) cho 120 ngàn lao động ở khu vực nông thôn và lao động nữ trong tỉnh. Bình quân mỗi năm đào tạo nghề khoảng 24 ngàn lao động;
Trong đó số lao động được hỗ trợ chi phí học nghề (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) là 13 ngàn người/năm, gồm:
+ Học nghề nông nghiệp: 4 ngàn người.
+ Học nghề phi nông nghiệp: 9 ngàn người.
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, gồm:
+ Đào tạo trình độ trung cấp chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị cho cán bộ, công chức và cán bộ cơ sở: 2.100 người; trình độ cao đẳng, đại học chuyên môn nghiệp vụ và chính trị cho các cán bộ, công chức và cán bộ cơ sở xã phường, thị trấn: 600 người.
+ Bồi dưỡng: Cập nhập kiến thức chuyên môn nghiệp vụ nâng cao năng lực quản lý theo từng vị trí công việc cho các cán bộ, công chức và cán bộ cơ sở xã phường, thị trấn: 5.500 người; Kiến thức quản lý nhà nước theo từng vị trí công việc cho các cán bộ cơ sở xã phường, thị trấn: 10.000 người, nghiệp vụ chuyên môn và kỹ năng hoạt động cho cán bộ xã phường, thị trấn đầu nhiệm kỳ 2011 - 2016: 6.500 người.
c) Giai đoạn 2016 - 2020:
- Đào tạo nghề (cả 3 cấp trình độ) cho 132 ngàn lao động ở khu vực nông thôn. Bình quân mỗi năm đào tạo khoảng 26,5 ngàn lao động;
Trong đó số lao động được hỗ trợ chi phí học nghề ( trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) là 14,2 ngàn người/năm, gồm:
+ Học nghề nông nghiệp: 5 ngàn người;
+ Học nghề phi nông nghiệp: 9,2 ngàn người;
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, gồm:
+ Đào tạo: Trình độ trung cấp chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị cho cán bộ công chức và cán bộ cơ sở: 1.500 người; trình độ cao đẳng, đại học chuyên môn nghiệp vụ và chính trị cho các cán bộ công chức xã phường, thị trấn: 1.000 người.
+ Bồi dưỡng: cập nhập kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao năng lực quản lý theo từng vị trí công việc cho các cán bộ công chức xã phường, thị trấn: 6.000 người; Quản lý nhà nước theo từng vị trí công việc cho đội ngũ cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn: 10.000 người; Nghiệp vụ chuyên môn và kỹ năng hoạt động cho cán bộ xã phường, thị trấn để nâng cao trình độ đầu nhiệm kỳ 2016 - 2021: 6.500 người
II. ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ ÁN:
1. Lao động nông thôn, lao động nữ (cả nông thôn và thành thị) trong độ tuổi lao động có trình độ học vấn và sức khoẻ phù hợp với nghề cần học. Trong đó, ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, lao động nữ bị mất việc làm trong các doanh nghiệp.
Cán bộ chuyên trách đảng, đoàn thể chính trị - xã hội, chính quyền và công chức chuyên môn; cán bộ nguồn bổ sung thay thế cho cán bộ, công chức xã đến tuổi nghỉ công tác hoặc thiếu hụt do cơ học có độ tuổi phù hợp với quy hoạch cán bộ đến năm 2015 và đến năm 2020.
III. DẠY NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN:
1. Tuyên truyền, tư vấn học nghề và việc làm đối với lao động nông thôn.
- Tăng cường tuyên truyền sâu rộng bằng nhiều hình thức về chủ trương, chính sách, pháp luật về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhất là các chính sách khuyến khích hỗ trợ của nhà nước cho đào tạo nghề, cho người học nghề nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, của toàn xã hội về việc học nghề là điều kiện để tạo việc làm, giảm nghèo bền vững, tạo điều kiện cho người lao động tích cực tham gia học nghề.
- Các cấp chính quyền và ngành Lao động - Thương binh và Xã hội triển khai thực hiện các hoạt động tư vấn học nghề, tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn nhất là cấp xã.
- Các tổ chức chính trị xã hội, Hội nghề nghiệp (đặc biệt là Hội Nông dân) tăng cường tuyên truyền, tư vấn cho các hội viên của mình về chính sách của Nhà nước về đào tạo nghề tích cực tham gia học nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập để xoá đói giảm nghèo bền vững.
- Đổi mới chương trình và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường THCS, THPT để học sinh có nhận thức đúng đắn về học nghề, nhất là với số không có khả năng học THPT và Đại học, Cao đẳng, để chủ động lựa chọn loại hình học nghề phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình.
Triển khai các mô hình dạy nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn.
- Năm 2010: Chỉ đạo 3 huyện làm điểm gồm Giao Thuỷ, Ý Yên, Mỹ Lộc, mỗi huyện xây dựng 2 mô hình dạy nghề ngắn hạn ( 01 mô hình dạy nghề nông nghiệp và 01 mô hình dạy nghề phi nông nghiệp);
- Các năm tiếp theo trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm ở 03 huyện đã làm thí điểm có kế hoạch và phương án triển khai nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh.
- Các mô hình dạy nghề thí điểm thực hiện với sự tham gia của nhiều bên: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Uỷ ban nhân dân cấp xã, cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp tiếp nhận lao động sau khi học nghề (đối với dạy nghề phi nông nghiệp).
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm hướng nghiệp giới thiệu việc làm (đặc biệt là Sàn giao dịch việc làm tỉnh), thiết lập mối quan hệ gắn bó giữa các trung tâm giới thiệu việc làm với các cơ sở đào tạo nghề, các doanh nghiệp tạo điều kiện cho người lao động sau học nghề tạo được việc làm.
- Xây dựng và phát triển khai chương trình tư vấn, hỗ trợ thanh niên lập nghiệp, khởi sự doanh nghiệp….