Document: Điều 1 Quyết định 112/2004/QĐ-TTg  Chương trình phát triển giống thuỷ sản đến 2010

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/06/2004", "sign_number": "112/2004/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/06/2004", "sign_number": "112/2004/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/06/2004", "sign_number": "112/2004/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/06/2004", "sign_number": "112/2004/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/06/2004", "sign_number": "112/2004/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 112/2004/QĐ-TTg  Chương trình phát triển giống thuỷ sản đến 2010 có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Chương trình phát triển giống thủy sản đến năm 2010 với những nội dung chủ yếu sau đây:
I. MỤC TIÊU:
- Nâng cao năng lực nghiên cứu, phấn đấu từng bước làm chủ công nghệ sản xuất giống để hình thành tập đoàn giống thủy sản đa dạng, có giá trị kinh tế và xuất khẩu, phục vụ phát triển nuôi trồng ở các vùng sinh thái nước ngọt, nước mặn và nước lợ
- Hoàn thiện và từng bước hiện đại hoá hệ thống sản xuất giống thủy sản hàng hoá nhằm chủ động đáp ứng đủ giống tốt, kịp thời vụ, đa dạng về giống loài thủy sản nuôi, phục vụ cho phát triển nuôi trồng thủy sản và chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả và bền vững.
Các chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2010:
- Giống thủy sản nuôi nước lợ, mặn: 35 tỷ con giống tôm, trên 500 triệu con giống giáp xác khác, trên 11 tỷ con giống nhuyễn thể, khoảng 400 triệu con giống cá biển, trên 6.000 tấn giống rong tảo biển.
- Giống thủy sản nuôi nước ngọt: trên 3,5 tỷ con giống tôm càng xanh, trên 700 triệu con giống cá da trơn, trên 500 triệu con giống rô phi đơn tính đực, trên 12 tỷ cá giống khác.
II. NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH:
1. Nâng cấp, hoàn thiện cơ sở hạ tầng và trang thiết bị của các Trung tâm giống thủy sản
a. Đầu tư xây dựng, hoàn thiện hệ thống Trung tâm quốc gia giống thủy sản:
- Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc (tại Phú Tảo - Hải Dương).
- Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Trung (tại Đắk Nông).
- Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Nam (tại Cái Bè - Tiền Giang).
- Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Bắc (tại Xuân Đán - Cát Bà - Hải Phòng).
- Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Trung (tại Vạn Ninh - Khánh Hoà).
- Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Nam (tại Bà Rịa - Vũng Tàu).
b. Xây dựng 16 Trung tâm giống thủy sản cấp I, gồm: 5 Trung tâm giống hải sản và 11 Trung tâm giống thủy sản nước ngọt:
- Các Trung tâm giống hải sản cấp I: xây dựng ở 5 tỉnh ven biển: Đà Nẵng (Hoà Hải), Ninh Thuận (Ninh Phước), Cà Mau (Hòn Khoai, Tân Ân), Bạc Liêu (Hợp Thành, thị xã Bạc Liêu), Kiên Giang (Phú Quốc).
- Các Trung tâm giống thủy sản nước ngọt cấp I: xây dựng theo cụm tỉnh hoặc theo vùng, bố trí tại 11 tỉnh có diện tích nuôi nước ngọt lớn và có khu hệ thủy sản tự nhiên đặc trưng cho vùng, bao gồm:
+ Đối với vùng miền núi phía Bắc: Trung tâm giống thủy sản cấp I tại 4 tỉnh: Sơn La (tại huyện Mai Sơn) phục vụ các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình; Bắc Giang (tại huyện Lạng Giang) phục vụ các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang; Hà Giang (tại huyện Vị Xuyên) phục vụ các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng; Yên Bái (tại huyện Văn Chấn) phục vụ các tỉnh Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lào Cai.
+ Đối với các tỉnh miền Trung: Trung tâm giống thủy sản cấp I đặt tại 3 tỉnh: Nghệ An (Yên Lý, Diễn Châu) phục vụ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh; Thừa Thiên Huế (Cư Chánh) phục vụ các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế; Bình Định (Phù Mỹ) phục vụ các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận và một phần cho các tỉnh Tây Nguyên.
+ Đối với các tỉnh phía Nam: Trung tâm giống thủy sản cấp I đặt tại 4 tỉnh: thành phố Hồ Chí Minh (An Hội - Củ Chi) phục vụ cho các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh; Cần Thơ (Ô Môn) phục vụ các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, một phần tỉnh Kiên Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, một phần tỉnh Bến Tre; An Giang (Bình Thành - Châu Thành) phục vụ các tỉnh An Giang, một phần tỉnh Kiên Giang; Đồng Tháp (Tân Nhuận Đông - Châu Thành) phục vụ các tỉnh Đồng Tháp, một phần tỉnh Long An, một phần tỉnh Vĩnh Long, một phần tỉnh Tiền Giang.
c. Nâng cấp, xây dựng Trung tâm giống thủy sản của các tỉnh: nâng cấp các trại giống hiện có, đảm bảo đến năm 2010 mỗi tỉnh có một Trung tâm giống thủy sản để tiếp nhận và nuôi dưỡng giống mới, tiếp nhận giống gốc, tiếp nhận và ứng dụng công nghệ mới và chuyển giao công nghệ cho cơ sở sản xuất giống hàng hoá và tham gia sản xuất giống hàng hoá.
2. Nâng cao năng lực cho đội ngũ nghiên cứu và sản xuất
- Tăng cường đội ngũ khoa học kỹ thuật, nghiên cứu viên cho các Viện và Trung tâm nghiên cứu thủy sản, Trung tâm quốc gia giống thủy sản để có đủ nhân lực đảm nhiệm chức năng phát triển giống thủy sản, gồm: ưu tiên đào tạo đội ngũ khoa học ở trong và ngoài nước cho các Viện nghiên cứu, Trung tâm nghiên cứu, Trung tâm quốc gia giống thủy sản, Trường đào tạo có chuyên ngành nuôi trồng thủy sản.
- Đẩy mạnh các hình thức đào tào về quản lý và kỹ thuật sản xuất giống, nâng cao trình độ sản xuất giống, sản xuất thức ăn cho giai đoạn ương nuôi con giống cho đội ngũ kỹ thuật, công nhân của các cơ sở sản xuất; tập huấn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ cho ngư dân, nông dân sản xuất giống thủy sản. Khuyến khích các thành phần kinh tế cử người đi đào tạo, huấn luyện để có những chuyên gia và đội ngũ kỹ thuật giỏi về sản xuất giống thủy sản.
3. Hình thành và từng bước hiện đại hoá hệ thống các cơ sở sản xuất giống hàng hoá
Phát triển hệ thống cơ sở sản xuất giống hàng hoá theo quy hoạch ngành, địa phương, khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế ở những vùng có lợi thế về sản xuất giống và những vùng nuôi trọng điểm mà điều kiện có thể sản xuất được giống nhằm đáp ứng đủ giống cho nuôi trồng xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp.
a. Các cơ sở sản xuất giống thủy sản nuôi nước lợ, mặn:
Vùng ven biển phía Bắc: phát triển một số trại sản xuất giống tôm sú, tôm rảo, các đối tượng nước lợ phân bố tự nhiên của vùng để giải quyết một phần giống tại chỗ, đồng thời các trại này là nơi tiếp nhận ấu trùng tôm sú đưa từ miền Trung hoặc ấu trùng các đối tượng khác để ương thành giống lớn. Riêng khu vực biển Quảng Ninh. Hải Phòng khuyến khích phát triển các trại sinh sản nhân tạo cá biển, các cơ sở ương trứng cá thụ tinh thành cá giống phục vụ cho các vùng nuôi.
Vùng ven biển miền Trung từ Đà Nẵng tới Bình Thuận: phát triển sản xuất giống thủy sản hàng hoá cung cấp cho các vùng nuôi cả nước. Đối tượng sản xuất chính của miền Trung là tôm sú và nhiều loài thủy sản nước lợ, mặn như cá cam, cá hồng, cá tráp, cua, ghẹ (Đà Nẵng, Quảng Nam), tôm hùm (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà), cá song, ốc hương (Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận).
Vùng ven biển phía Nam: phát triển sản xuất giống các loài tôm sú, tôm càng xanh để chủ động một phần giống cho nhu cầu tại chỗ. Một số tỉnh có bãi bồi cửa sông là điều kiện thuận lợi cho nhuyễn thể phát triển như Tiền Giang, Bến Tre, cần phát triển cơ sở sản xuất giống nhuyễn thể nhân tạo, đủ cung cấp cho nhu cầu nuôi trong vùng, giảm bớt sự khai thác giống tự nhiên.
b. Các cơ sở sản xuất giống thủy sản nuôi nước ngọt:
Các tỉnh phía Bắc: với các cơ sở sản xuất hiện có, nâng cao chất lượng con giống và bổ sung những giống mới đã được kiểm nghiệm vào cơ cấu giống nuôi; ưu tiên chuyển giao công nghệ chuyển giới tính rô phi dòng GIFT cho các trại sản xuất giống có quy mô lớn của các thành phần kinh tế để chủ động sản xuất tại địa phương cung cấp cho các cơ sở ương thành cá giống.
Các tỉnh miền Trung: phát triển các điểm ương san giống hoặc xây dựng trại sản xuất cá giống có quy mô phù hợp với phạm vi phục vụ để duy trì được hoạt động.
Các tỉnh phía Nam: phát triển sản xuất giống ở tất cả các địa phương. Trước mắt ưu tiên đầu tư nghiên cứu công nghệ sản xuất giống cá ba sa, tôm càng xanh toàn đực, giống rô phi GIFT đơn tính đực, các đối tượng bản địa quý hiếm có thể xuất khẩu và các loài cá đồng để nhanh chóng chuyển giao cho sản xuất đại trà, cung cấp đủ giống cho nuôi xuất khẩu và phục vụ cho tiêu dùng trong nước.
Đối với vùng miền núi, vùng Tây Nguyên: thông qua hoạt động khuyến ngư để phát triển các điểm sản xuất giống quy mô nhỏ và ương san cá giống ở vùng sâu vùng xa nhằm giải quyết giống tại chỗ và khôi phục nghề cá hồ chứa.
c. Xây dựng một số khu sản xuất giống thủy sản tập trung theo hướng công nghiệp:
Các khu sản xuất giống tập trung được xây dựng ở những vùng có điều kiện thuận lợi và tại các vùng nuôi trọng điểm. Mỗi khu có thể thành lập từ 200 đến 500 trại giống, công suất mỗi trại 10 triệu con tôm giống/năm để tạo được số lượng giống thủy sản lớn và thực hiện Quy chế kiểm dịch, nhãn hàng hoá, công nhận chất lượng trước khi xuất xưởng. Ngoài thời vụ sản xuất tôm giống các trại còn có thể sản xuất giống nhuyễn thể, ương cá biển, các đối tượng giáp xác khác.
Trước mắt, từ năm 2004 - 2006 hỗ trợ đầu tư xây dựng một số khu sản xuất giống thủy sản nước lợ mặn tập trung:
- Khu sản xuất giống tập trung Cam Lập - Cam Ranh - Khánh Hoà.
- Khu sản xuất giống tập trung Ninh Hải - Ninh Thuận.
- Khu sản xuất giống tập trung Ngọc Hiển - Cà Mau.
- Khu sản xuất giống tập trung Phú Quốc - Kiên Giang.
- Khu sản xuất giống tập trung Hiệp Thành - Bạc Liêu.
- Khu sản xuất giống tập trung tại Quảng Nam.
4. Tăng cường công tác quản lý giống thủy sản
- Tiếp tục hoàn thiện và tăng cường năng lực cho hệ thống quản lý, kiểm soát chất lượng giống và dịch bệnh ở tất cả các khâu từ sản xuất, lưu thông, kiểm tra chất lượng giống, công nhận tiêu chuẩn giống gốc, tiêu chuẩn đàn bố mẹ, thực hiện quy định về nhãn hàng hoá để đảm bảo giống có chất lượng tốt, nuôi có năng suất cao, giảm thiểu dịch bệnh.
- Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn ngành về trại sản xuất giống, điều kiện sản xuất giống và chất lượng con giống.
- Cung cấp đàn thủy sản bố mẹ dòng thuần cho các trại sản xuất giống.
- Triển khai các quy hoạch khu sản xuất giống tập trung, quy mô lớn và quy hoạch phát triển trại giống của các địa phương và áp dụng các quy định về công nhận chất lượng.
- Tổ chức cảnh báo về môi trường dịch bệnh cho các nhà sản xuất.
5. Tổ chức thực hiện các đề án, dự án phát triển giống thủy sản.
- Đề án "Phát triển công nghệ nuôi thành thục tôm sú bố mẹ và sản xuất giống có chất lượng cao"

Content:
Điều 1. Phê duyệt Chương trình phát triển giống thủy sản đến năm 2010 với những nội dung chủ yếu sau đây:
I. MỤC TIÊU:
- Nâng cao năng lực nghiên cứu, phấn đấu từng bước làm chủ công nghệ sản xuất giống để hình thành tập đoàn giống thủy sản đa dạng, có giá trị kinh tế và xuất khẩu, phục vụ phát triển nuôi trồng ở các vùng sinh thái nước ngọt, nước mặn và nước lợ
- Hoàn thiện và từng bước hiện đại hoá hệ thống sản xuất giống thủy sản hàng hoá nhằm chủ động đáp ứng đủ giống tốt, kịp thời vụ, đa dạng về giống loài thủy sản nuôi, phục vụ cho phát triển nuôi trồng thủy sản và chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả và bền vững.
Các chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2010:
- Giống thủy sản nuôi nước lợ, mặn: 35 tỷ con giống tôm, trên 500 triệu con giống giáp xác khác, trên 11 tỷ con giống nhuyễn thể, khoảng 400 triệu con giống cá biển, trên 6.000 tấn giống rong tảo biển.
- Giống thủy sản nuôi nước ngọt: trên 3,5 tỷ con giống tôm càng xanh, trên 700 triệu con giống cá da trơn, trên 500 triệu con giống rô phi đơn tính đực, trên 12 tỷ cá giống khác.
II. NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH:
1. Nâng cấp, hoàn thiện cơ sở hạ tầng và trang thiết bị của các Trung tâm giống thủy sản
a. Đầu tư xây dựng, hoàn thiện hệ thống Trung tâm quốc gia giống thủy sản:
- Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc (tại Phú Tảo - Hải Dương).
- Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Trung (tại Đắk Nông).
- Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Nam (tại Cái Bè - Tiền Giang).
- Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Bắc (tại Xuân Đán - Cát Bà - Hải Phòng).
- Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Trung (tại Vạn Ninh - Khánh Hoà).
- Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Nam (tại Bà Rịa - Vũng Tàu).
b. Xây dựng 16 Trung tâm giống thủy sản cấp I, gồm: 5 Trung tâm giống hải sản và 11 Trung tâm giống thủy sản nước ngọt:
- Các Trung tâm giống hải sản cấp I: xây dựng ở 5 tỉnh ven biển: Đà Nẵng (Hoà Hải), Ninh Thuận (Ninh Phước), Cà Mau (Hòn Khoai, Tân Ân), Bạc Liêu (Hợp Thành, thị xã Bạc Liêu), Kiên Giang (Phú Quốc).
- Các Trung tâm giống thủy sản nước ngọt cấp I: xây dựng theo cụm tỉnh hoặc theo vùng, bố trí tại 11 tỉnh có diện tích nuôi nước ngọt lớn và có khu hệ thủy sản tự nhiên đặc trưng cho vùng, bao gồm:
+ Đối với vùng miền núi phía Bắc: Trung tâm giống thủy sản cấp I tại 4 tỉnh: Sơn La (tại huyện Mai Sơn) phục vụ các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình; Bắc Giang (tại huyện Lạng Giang) phục vụ các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang; Hà Giang (tại huyện Vị Xuyên) phục vụ các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng; Yên Bái (tại huyện Văn Chấn) phục vụ các tỉnh Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lào Cai.
+ Đối với các tỉnh miền Trung: Trung tâm giống thủy sản cấp I đặt tại 3 tỉnh: Nghệ An (Yên Lý, Diễn Châu) phục vụ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh; Thừa Thiên Huế (Cư Chánh) phục vụ các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế; Bình Định (Phù Mỹ) phục vụ các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận và một phần cho các tỉnh Tây Nguyên.
+ Đối với các tỉnh phía Nam: Trung tâm giống thủy sản cấp I đặt tại 4 tỉnh: thành phố Hồ Chí Minh (An Hội - Củ Chi) phục vụ cho các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh; Cần Thơ (Ô Môn) phục vụ các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, một phần tỉnh Kiên Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, một phần tỉnh Bến Tre; An Giang (Bình Thành - Châu Thành) phục vụ các tỉnh An Giang, một phần tỉnh Kiên Giang; Đồng Tháp (Tân Nhuận Đông - Châu Thành) phục vụ các tỉnh Đồng Tháp, một phần tỉnh Long An, một phần tỉnh Vĩnh Long, một phần tỉnh Tiền Giang.
c. Nâng cấp, xây dựng Trung tâm giống thủy sản của các tỉnh: nâng cấp các trại giống hiện có, đảm bảo đến năm 2010 mỗi tỉnh có một Trung tâm giống thủy sản để tiếp nhận và nuôi dưỡng giống mới, tiếp nhận giống gốc, tiếp nhận và ứng dụng công nghệ mới và chuyển giao công nghệ cho cơ sở sản xuất giống hàng hoá và tham gia sản xuất giống hàng hoá.
2. Nâng cao năng lực cho đội ngũ nghiên cứu và sản xuất
- Tăng cường đội ngũ khoa học kỹ thuật, nghiên cứu viên cho các Viện và Trung tâm nghiên cứu thủy sản, Trung tâm quốc gia giống thủy sản để có đủ nhân lực đảm nhiệm chức năng phát triển giống thủy sản, gồm: ưu tiên đào tạo đội ngũ khoa học ở trong và ngoài nước cho các Viện nghiên cứu, Trung tâm nghiên cứu, Trung tâm quốc gia giống thủy sản, Trường đào tạo có chuyên ngành nuôi trồng thủy sản.
- Đẩy mạnh các hình thức đào tào về quản lý và kỹ thuật sản xuất giống, nâng cao trình độ sản xuất giống, sản xuất thức ăn cho giai đoạn ương nuôi con giống cho đội ngũ kỹ thuật, công nhân của các cơ sở sản xuất; tập huấn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ cho ngư dân, nông dân sản xuất giống thủy sản. Khuyến khích các thành phần kinh tế cử người đi đào tạo, huấn luyện để có những chuyên gia và đội ngũ kỹ thuật giỏi về sản xuất giống thủy sản.
3. Hình thành và từng bước hiện đại hoá hệ thống các cơ sở sản xuất giống hàng hoá
Phát triển hệ thống cơ sở sản xuất giống hàng hoá theo quy hoạch ngành, địa phương, khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế ở những vùng có lợi thế về sản xuất giống và những vùng nuôi trọng điểm mà điều kiện có thể sản xuất được giống nhằm đáp ứng đủ giống cho nuôi trồng xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp.
a. Các cơ sở sản xuất giống thủy sản nuôi nước lợ, mặn:
Vùng ven biển phía Bắc: phát triển một số trại sản xuất giống tôm sú, tôm rảo, các đối tượng nước lợ phân bố tự nhiên của vùng để giải quyết một phần giống tại chỗ, đồng thời các trại này là nơi tiếp nhận ấu trùng tôm sú đưa từ miền Trung hoặc ấu trùng các đối tượng khác để ương thành giống lớn. Riêng khu vực biển Quảng Ninh. Hải Phòng khuyến khích phát triển các trại sinh sản nhân tạo cá biển, các cơ sở ương trứng cá thụ tinh thành cá giống phục vụ cho các vùng nuôi.
Vùng ven biển miền Trung từ Đà Nẵng tới Bình Thuận: phát triển sản xuất giống thủy sản hàng hoá cung cấp cho các vùng nuôi cả nước. Đối tượng sản xuất chính của miền Trung là tôm sú và nhiều loài thủy sản nước lợ, mặn như cá cam, cá hồng, cá tráp, cua, ghẹ (Đà Nẵng, Quảng Nam), tôm hùm (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà), cá song, ốc hương (Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận).
Vùng ven biển phía Nam: phát triển sản xuất giống các loài tôm sú, tôm càng xanh để chủ động một phần giống cho nhu cầu tại chỗ. Một số tỉnh có bãi bồi cửa sông là điều kiện thuận lợi cho nhuyễn thể phát triển như Tiền Giang, Bến Tre, cần phát triển cơ sở sản xuất giống nhuyễn thể nhân tạo, đủ cung cấp cho nhu cầu nuôi trong vùng, giảm bớt sự khai thác giống tự nhiên.
b. Các cơ sở sản xuất giống thủy sản nuôi nước ngọt:
Các tỉnh phía Bắc: với các cơ sở sản xuất hiện có, nâng cao chất lượng con giống và bổ sung những giống mới đã được kiểm nghiệm vào cơ cấu giống nuôi; ưu tiên chuyển giao công nghệ chuyển giới tính rô phi dòng GIFT cho các trại sản xuất giống có quy mô lớn của các thành phần kinh tế để chủ động sản xuất tại địa phương cung cấp cho các cơ sở ương thành cá giống.
Các tỉnh miền Trung: phát triển các điểm ương san giống hoặc xây dựng trại sản xuất cá giống có quy mô phù hợp với phạm vi phục vụ để duy trì được hoạt động.
Các tỉnh phía Nam: phát triển sản xuất giống ở tất cả các địa phương. Trước mắt ưu tiên đầu tư nghiên cứu công nghệ sản xuất giống cá ba sa, tôm càng xanh toàn đực, giống rô phi GIFT đơn tính đực, các đối tượng bản địa quý hiếm có thể xuất khẩu và các loài cá đồng để nhanh chóng chuyển giao cho sản xuất đại trà, cung cấp đủ giống cho nuôi xuất khẩu và phục vụ cho tiêu dùng trong nước.
Đối với vùng miền núi, vùng Tây Nguyên: thông qua hoạt động khuyến ngư để phát triển các điểm sản xuất giống quy mô nhỏ và ương san cá giống ở vùng sâu vùng xa nhằm giải quyết giống tại chỗ và khôi phục nghề cá hồ chứa.
c. Xây dựng một số khu sản xuất giống thủy sản tập trung theo hướng công nghiệp:
Các khu sản xuất giống tập trung được xây dựng ở những vùng có điều kiện thuận lợi và tại các vùng nuôi trọng điểm. Mỗi khu có thể thành lập từ 200 đến 500 trại giống, công suất mỗi trại 10 triệu con tôm giống/năm để tạo được số lượng giống thủy sản lớn và thực hiện Quy chế kiểm dịch, nhãn hàng hoá, công nhận chất lượng trước khi xuất xưởng. Ngoài thời vụ sản xuất tôm giống các trại còn có thể sản xuất giống nhuyễn thể, ương cá biển, các đối tượng giáp xác khác.
Trước mắt, từ năm 2004 - 2006 hỗ trợ đầu tư xây dựng một số khu sản xuất giống thủy sản nước lợ mặn tập trung:
- Khu sản xuất giống tập trung Cam Lập - Cam Ranh - Khánh Hoà.
- Khu sản xuất giống tập trung Ninh Hải - Ninh Thuận.
- Khu sản xuất giống tập trung Ngọc Hiển - Cà Mau.
- Khu sản xuất giống tập trung Phú Quốc - Kiên Giang.
- Khu sản xuất giống tập trung Hiệp Thành - Bạc Liêu.
- Khu sản xuất giống tập trung tại Quảng Nam.
4. Tăng cường công tác quản lý giống thủy sản
- Tiếp tục hoàn thiện và tăng cường năng lực cho hệ thống quản lý, kiểm soát chất lượng giống và dịch bệnh ở tất cả các khâu từ sản xuất, lưu thông, kiểm tra chất lượng giống, công nhận tiêu chuẩn giống gốc, tiêu chuẩn đàn bố mẹ, thực hiện quy định về nhãn hàng hoá để đảm bảo giống có chất lượng tốt, nuôi có năng suất cao, giảm thiểu dịch bệnh.
- Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn ngành về trại sản xuất giống, điều kiện sản xuất giống và chất lượng con giống.
- Cung cấp đàn thủy sản bố mẹ dòng thuần cho các trại sản xuất giống.
- Triển khai các quy hoạch khu sản xuất giống tập trung, quy mô lớn và quy hoạch phát triển trại giống của các địa phương và áp dụng các quy định về công nhận chất lượng.
- Tổ chức cảnh báo về môi trường dịch bệnh cho các nhà sản xuất.
5. Tổ chức thực hiện các đề án, dự án phát triển giống thủy sản.
- Đề án "Phát triển công nghệ nuôi thành thục tôm sú bố mẹ và sản xuất giống có chất lượng cao"