Document: Điều 1 Quyết định 3416/QĐ-UBND 2021 Đề án phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Thanh Hóa

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "01/09/2021", "sign_number": "3416/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Giang", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "01/09/2021", "sign_number": "3416/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Giang", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "01/09/2021", "sign_number": "3416/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Giang", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "01/09/2021", "sign_number": "3416/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Giang", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "01/09/2021", "sign_number": "3416/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Giang", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 3416/QĐ-UBND 2021 Đề án phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Thanh Hóa có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Đề án phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030, với các nội dung chủ yếu sau:
I. QUAN ĐIỂM
1. Phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Thanh Hóa dựa trên tiềm năng, lợi thế cạnh tranh của từng địa phương; phù hợp với quy hoạch tỉnh Thanh Hóa, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh và từng địa phương.
2. Phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Thanh Hóa đảm bảo theo hướng sản xuất nông nghiệp tập trung, quy mô lớn, năng suất, chất lượng cao; sản xuất vùng nguyên liệu gắn với chế biến tinh, chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm gắn với thị trường tiêu thụ; nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới để phát triển bền vững.
3. Chủ thể thực hiện phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực là doanh nghiệp, hợp tác xã, nông hộ; trong đó, Nhà nước đóng vai trò về xây dựng thể chế, quản lý, định hướng phát triển, ban hành chính sách hỗ trợ.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung
Phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững; ứng dụng công nghệ cao, thông minh để hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá quy mô lớn, chất lượng cao; phát triển các chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ; nâng cao hiệu quả sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng nông lâm thủy sản từ đó nâng cao thu nhập cho người sản xuất và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và của tỉnh.
2. Mục tiêu cụ thể
a) Giai đoạn 2021 - 2025
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản bình quân 3,2%; cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đến hết năm 2025: nông nghiệp 65,2%, lâm nghiệp 10,3%, thủy sản 24,5%; sản lượng lương thực ổn định 1,5 triệu tấn.
- Quy mô sản xuất: lúa 216,7 nghìn ha gieo trồng, sản lượng lúa 1,3 triệu tấn, sản lượng gạo 880 nghìn tấn; rau, quả 55 nghìn ha gieo trồng, sản lượng 720 nghìn tấn; cây ăn quả 30,5 nghìn ha, sản lượng 490 nghìn tấn; mía 18 nghìn ha, sản lượng 1,26 triệu tấn; ngô 40 nghìn ha gieo trồng, sản lượng 200 nghìn tấn; đàn gia cầm 26 triệu con, thịt hơi 62 nghìn tấn, trứng 190 triệu quả; đàn lợn 2,2 triệu con, thịt hơi 330 nghìn tấn; trâu thịt 140 nghìn con, sản lượng 17,5 nghìn tấn; bò thịt 200 nghìn con, sản lượng thịt 25 nghìn tấn; bò sữa 50 nghìn con, sản lượng sữa 96 nghìn tấn; gỗ rừng trồng 125 nghìn ha, sản lượng 1.100 nghìn m3; tre, luồng, vầu 128 nghìn ha, sản lượng khai thác 63,6 triệu cây; tôm nuôi 4,1 nghìn ha, sản lượng 10,7 nghìn tấn; tàu cá khai thác xa bờ 1.350 cái, sản lượng khai thác 88 nghìn tấn; ngao nuôi 1 nghìn ha, sản lượng 13 nghìn tấn; các sản phẩm nuôi biển (diện tích nuôi lồng, giàn trên biển 70 nghìn m3, diện tích nuôi trong ao nước mặn, lợ 3.500 ha; sản lượng nuôi 3.200 tấn).
b) Định hướng đến năm 2030
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản bình quân 2,7%; cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đến năm 2030: nông nghiệp 63%, lâm nghiệp 11,5%, thuỷ sản 25,5%; sản lượng lương thực ổn định 1,5 triệu tấn.
- Quy mô sản xuất: lúa 200 nghìn ha gieo trồng, sản lượng lúa 1,3 triệu tấn, sản lượng gạo 900 nghìn tấn; rau, quả 60 nghìn ha gieo trồng, sản lượng 798 nghìn tấn; cây ăn quả 30,5 nghìn ha, sản lượng 610 nghìn tấn; mía 16,5 nghìn ha, sản lượng 1,287 triệu tấn; ngô 40 nghìn ha gieo trồng, sản lượng 200 nghìn tấn; đàn gia cầm 28 triệu con, thịt hơi 67 nghìn tấn, trứng 201 triệu quả; đàn lợn 2,2 triệu con, thịt hơi 330 nghìn tấn; trâu thịt 140 nghìn con, sản lượng 19 nghìn tấn; bò thịt 220 nghìn con, sản lượng thịt 29,2 nghìn tấn; bò sữa 75 nghìn con, sản lượng sữa 120 nghìn tấn; gỗ rừng trồng 125 nghìn ha, sản lượng 1.300 nghìn m3; tre, luồng, vầu 128 nghìn ha, sản lượng khai thác 64,6 triệu cây; tôm nuôi 4,1 nghìn ha, sản lượng 16 nghìn tấn; tàu cá khai thác xa bờ 1.500 cái, sản lượng khai thác 97 nghìn tấn; ngao nuôi 1 nghìn ha, sản lượng 13 nghìn tấn; các sản phẩm nuôi biển (diện tích nuôi lồng, giàn trên biển 70 nghìn m3, diện tích nuôi trong ao nước mặn, lợ 3.300 ha; sản lượng nuôi 4.150 tấn).
III. NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
1. Lĩnh vực trồng trọt
1.1. Gạo
- Đến năm 2025: diện tích gieo trồng lúa 216,7 nghìn ha, sản lượng lúa 1,3 triệu tấn, sản lượng gạo 880 nghìn tấn; trong đó, có 150 nghìn ha sản xuất lúa thâm canh năng suất, chất lượng, hiệu quả cao (70% diện tích lúa thâm canh năng suất, chất lượng cao sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, VietGAP; trong đó có 5% sản xuất theo hữu cơ (TCVN 11041-6-2017). Có 70% diện tích sản xuất lúa gạo được doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với các hộ dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ; 80% sản lượng gạo và các sản phẩm chế biến từ gạo tiêu thụ trong và ngoài tỉnh, 20% xuất khẩu; 04 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP, 01 sản phẩm được công nhận về chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể.
- Đến năm 2030: diện tích gieo trồng lúa 200 nghìn ha, sản lượng 1,3 triệu tấn, sản lượng gạo 900 nghìn tấn; trong đó, có 150 nghìn ha sản xuất lúa thâm canh năng suất, chất lượng, hiệu quả cao (100% diện tích lúa thâm canh năng suất, chất lượng cao sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, VietGAP; trong đó có 10% sản xuất theo hữu cơ (TCVN 11041-6-2017). Có 90% diện tích sản xuất lúa gạo được doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với các hộ dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ; 70% sản lượng gạo và các sản phẩm chế biến từ gạo tiêu thụ trong và ngoài tỉnh, 30% xuất khẩu; 06 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP, 02 sản phẩm được công nhận về chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể.
1.2. Rau, quả
* Rau, quả:
- Đến năm 2025: diện tích gieo trồng 55 nghìn ha/năm, sản lượng 720 nghìn tấn; trong đó, vùng sản xuất rau an toàn tập trung chuyên canh 14,3 nghìn ha (có 50% áp dụng công nghệ cao, theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ (TCVN 11041-2-2017); có 70% diện tích sản xuất rau an toàn được doanh nghiệp, hợp tác xã, cửa hàng và các nhà máy chế biến liên kết với các hộ dân sản xuất và tiêu thụ; 90% sản lượng rau, quả tươi cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh, 10% xuất khẩu.; có 03 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: diện tích gieo trồng rau, quả 60 nghìn ha, sản lượng 798 nghìn tấn; trong đó, vùng sản xuất rau an toàn tập trung chuyên canh 20 nghìn ha (có 70% áp dụng công nghệ cao, theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ (TCVN 11041-2- 2017); 100% diện tích rau, quả an toàn được liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm; 85% sản phẩm rau, quả tươi tiêu thụ trong nước, 15% xuất khẩu; có 06 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
* Cây ăn quả:
- Đến năm 2025: diện tích 30,5 nghìn ha, sản lượng 490 nghìn tấn; trong đó, vùng cây ăn quả tập trung chuyên canh 18 nghìn ha (có 30% được chứng nhận VietGAP, 25% sản xuất ứng dụng công nghệ cao). Có 65% diện tích cây ăn quả tập trung được doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với các hộ dân sản xuất, tiêu thụ; 95% sản lượng quả tươi cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh, 5% xuất khẩu; có 10 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP, 06 sản phẩm được công nhận sản phẩm chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể.
- Đến năm 2030: ổn định diện tích 30,5 nghìn ha, sản lượng 610 nghìn tấn; trong đó, vùng cây ăn quả tập trung chuyên canh 20 nghìn ha (có 75% được chứng nhận VietGAP, 70% sản xuất ứng dụng công nghệ cao). Có 90% diện tích cây ăn quả tập trung được doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với các hộ dân sản xuất, tiêu thụ; 90% sản lượng quả tươi cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh, 10% xuất khẩu; có 15 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP, 08 sản phẩm được công nhận sản phẩm chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể.
1.3. Mía đường
- Đến năm 2025: diện tích 18 nghìn ha, sản lượng 1,26 triệu tấn; trong đó, vùng mía nguyên liệu phục vụ các nhà máy chế biến đường 16,5 nghìn ha. Có 70% diện tích mía nguyên liệu sử dụng giống mới có năng suất, chất lượng cao, sạch bệnh được sản xuất từ phương pháp nuôi cấy mô và được tưới bằng hệ thống tưới. Cơ giới hóa 95% khâu làm đất; 70% khâu trồng và chăm sóc mía; 50% khâu thu hoạch - bốc xếp mía. Có 100% diện tích mía nguyên liệu được các công ty mía đường liên kết với người dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ; có 01 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: diện tích 16,5 nghìn ha, sản lượng 1,287 triệu tấn; trong đó, vùng mía nguyên liệu phục vụ các nhà máy chế biến đường 16,5 nghìn ha. Có 100% diện tích mía nguyên liệu sử dụng giống mới có năng suất, chất lượng cao, sạch bệnh được sản xuất từ phương pháp nuôi cấy mô; 90% diện tích mía được tưới bằng hệ thống tưới. Cơ giới hóa 100% khâu làm đất; 90% khâu trồng và chăm sóc mía; 80% khâu thu hoạch - bốc xếp mía. Có 100% diện tích mía nguyên liệu được các công ty mía đường liên kết với người dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ; có 02 sản phẩm được chứng nhận là sản phẩm OCOP, 01 sản phẩm được công nhận sản phẩm chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể.
1.4. Cây ngô
- Đến năm 2025: diện tích 40 nghìn ha, sản lượng 200 nghìn tấn; trong đó, vùng ngô thâm canh năng suất, chất lượng, hiệu quả cao 20 nghìn ha (có 40% sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, VietGAP; trong đó có 5% sản xuất theo hữu cơ (TCVN 11041-6-2017). Có 50% diện tích sản xuất ngô được doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với các hộ dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ; 90% sản lượng ngô và các sản phẩm chế biến từ ngô tiêu thụ trong và ngoài tỉnh, 10% xuất khẩu; có 01 sản phẩm được chứng nhận là sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: ổn định diện tích 40 nghìn ha, sản lượng 200 nghìn tấn; trong đó, vùng ngô thâm canh năng suất, chất lượng, hiệu quả cao 20 nghìn ha (có 70% sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, VietGAP; trong đó có 10% sản xuất theo hữu cơ (TCVN 11041-6-2017). Có 70% diện tích sản xuất ngô được doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với các hộ dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ; 80% sản lượng ngô và các sản phẩm chế biến từ ngô tiêu thụ trong và ngoài tỉnh, 20% xuất khẩu; có 02 sản phẩm được chứng nhận là sản phẩm OCOP.
2. Lĩnh vực chăn nuôi
2.1. Thịt và trứng gia cầm
- Đến năm 2025: tổng đàn gia cầm 26 triệu con, sản lượng thịt hơi 62 nghìn tấn, sản lượng trứng 190 triệu quả; trong đó, gà lông màu 10 triệu con. Có 75% trang trại chăn nuôi gia cầm áp dụng quy trình thực hành chăn nuôi VietGAP, an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh; 75% trang trại ứng dụng công nghệ xử lý chất thải trong chăn nuôi; 50% tổng đàn gia cầm được các công ty liên kết với các chủ trang trại sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ; 95% thịt và trứng gia cầm tiêu thụ trong tỉnh và các tỉnh khu vực phía Bắc, 5% xuất khẩu (sản phẩm thịt gà chất lượng cao được chế biến từ nhà máy giết mổ, chế biến gia cầm xuất khẩu VietAvis tại xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa); có 02 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP, 01 sản phẩm được công nhận sản phẩm chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể.
- Đến năm 2030: tổng đàn gia cầm 28 triệu con, sản lượng thịt hơi 67 nghìn tấn, sản lượng trứng 201 triệu quả; trong đó, gà lông màu 12 triệu con. Có 95% trang trại chăn nuôi gia cầm áp dụng quy trình thực hành chăn nuôi VietGAP, an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh; 90% trang trại ứng dụng công nghệ xử lý chất thải trong chăn nuôi; 60% tổng đàn gia cầm được các công ty liên kết với các chủ trang trại sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ; 90% thịt và trứng gia cầm tiêu thụ trong tỉnh và các tỉnh khu vực phía Bắc, 10% xuất khẩu; có 04 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP, 02 sản phẩm được công nhận sản phẩm chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể.
2.2. Thịt lợn
- Đến năm 2025: tổng đàn 2,2 triệu con, trong đó lợn hướng nạc 1,2 triệu con. Có 70% lợn thịt chăn nuôi tập trung, quy mô lớn ứng dụng công nghệ cao; 75% trang trại chăn nuôi lợn áp dụng quy trình thực hành chăn nuôi VietGAP, an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh; 100% trang trại ứng dụng công nghệ xử lý chất thải trong chăn nuôi; 70% tổng đàn lợn thịt được các công ty liên kết với các chủ trang trại sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ; 65% sản lượng thịt lợn sản xuất ra cung cấp cho thị trường trong tỉnh (đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu thụ trong tỉnh), 35% sản lượng thịt lợn cung cấp ra tỉnh ngoài; có 02 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: ổn định tổng đàn 2,2 triệu con, trong đó lợn hướng nạc 1,2 triệu con. Có 85% lợn thịt chăn nuôi tập trung, quy mô lớn ứng dụng công nghệ cao; 95% trang trại chăn nuôi lợn áp dụng quy trình thực hành chăn nuôi VietGAP, an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh; 85% tổng đàn lợn thịt được các công ty liên kết với các chủ trang trại sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ; 60% sản lượng thịt lợn sản xuất ra cung cấp cho thị trường trong tỉnh, 40% sản lượng thịt lợn cung cấp ra tỉnh ngoài; có 03 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
2.3. Trâu thịt, bò thịt, bò sữa và các sản phẩm từ sữa bò
* Trâu thịt:
- Đến năm 2025: tổng đàn trâu 200 nghìn con (trong đó, đàn trâu thịt 140 nghìn con), sản lượng thịt 17,5 nghìn tấn; trong đó, có 20% đàn trâu được nuôi tại các trang trại, hợp tác xã, 80% nuôi tại các nông hộ; tỷ lệ lai hóa đàn trâu đạt 35%; có 70% sản lượng thịt trâu cung cấp cho thị trường trong tỉnh (đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu thụ trong tỉnh), 30% sản lượng cung cấp ra ngoài tỉnh.
- Đến năm 2030: ổn định đàn trâu 200 nghìn con (trong đó, đàn trâu thịt 140 nghìn con), sản lượng thịt 19 nghìn tấn; trong đó, có 30% đàn trâu được nuôi tại các trang trại, hợp tác xã, 70% nuôi tại các nông hộ; tỷ lệ lai hóa đàn trâu đạt 40%; có 55% sản lượng thịt trâu cung cấp cho thị trường trong tỉnh, 45% sản lượng cung cấp ra ngoài tỉnh.
* Bò thịt:
- Đến năm 2025: tổng đàn bò thịt 200 nghìn con, sản lượng thịt 25 nghìn tấn; trong đó, đàn bò thịt lai chiếm 90% (bò thịt chất lượng cao 75 nghìn con), bò thịt nội (bò vàng) chiếm 10%. Có 60% bò thịt chất lượng cao được các công ty, trang trại chăn nuôi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi; 55% sản phẩm thịt bò cung ứng cho thị trường trong tỉnh (đáp ứng được 90% nhu cầu), 45% cung ứng cho thị trường ngoài tỉnh.
- Đến năm 2030: tổng đàn bò thịt 220 nghìn con, sản lượng thịt 29,2 nghìn tấn; trong đó, đàn bò thịt lai chiếm 91% (bò thịt chất lượng cao 75 nghìn con), bò thịt nội (bò vàng) chiếm 9%. Có 80% bò thịt chất lượng cao được các công ty, trang trại chăn nuôi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi; 45% sản phẩm thịt bò cung ứng cho thị trường trong tỉnh (đáp ứng được 95% nhu cầu), 55% cung ứng cho thị trường ngoài tỉnh.
* Bò sữa:
- Đến năm 2025: tổng đàn bò sữa 50 nghìn con, sản lượng sữa 96 nghìn tấn; trong đó: Công ty TNHH một thành viên bò sữa Thống Nhất Thanh Hóa đầu tư Dự án trung tâm các trang trại chăn nuôi bò sữa chất lượng cao với quy mô 16 nghìn con; dự án trang trại bò sữa Vinamilk Organic Thanh Hóa 2 nghìn con; trang trại bò sữa số 01 (Trại Sao Vàng- Thọ Xuân) 1,5 nghìn con; Trại bò sữa số 2 tại huyện Như Thanh 2 nghìn con; Công ty CP ứng dụng công nghệ cao nông nghiệp và thực phẩm sữa TH xây dựng các cụm trang trại tại huyện Nông cống và Như Thanh với quy mô 20 nghìn con,... có 100% đàn bò sữa được các công ty liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ.
- Đến năm 2030: tổng đàn bò sữa 75 nghìn con, sản lượng sữa 120 nghìn tấn; có 100% trang trại chăn nuôi bò sữa được chứng nhận cơ sở an toàn dịch bệnh, áp dụng tiêu chuẩn quốc tế (GlobGAP) trong chăn nuôi; 100% đàn bò sữa được các công ty liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ.
3. Lĩnh vực lâm nghiệp
3.1. Gỗ và các sản phẩm từ gỗ
- Đến năm 2025: diện tích vùng nguyên liệu gỗ rừng trồng 125 nghìn ha, sản lượng khai thác 1,1 triệu m3; trong đó, rừng gỗ lớn 56 nghìn ha, sản lượng khai thác 500 nghìn m3. Có 16% diện tích gỗ rừng trồng liên kết được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC; 85% gỗ và các sản phẩm từ gỗ được tiêu thụ trong nước, 15% xuất khẩu; có 01 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: ổn định diện tích vùng nguyên liệu gỗ rừng trồng 125 nghìn ha, sản lượng khai thác 1,3 triệu m3; trong đó, rừng gỗ lớn 56 nghìn ha, sản lượng khai thác 700 nghìn m3; có 20% diện tích gỗ rừng trồng liên kết cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC; 75% gỗ và các sản phẩm từ gỗ được tiêu thụ trong nước, 25% xuất khẩu; có 02 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
3.2. Tre, luồng, vầu và các sản phẩm từ tre, luồng, vầu
- Đến năm 2025: diện tích vùng nguyên liệu 128 nghìn ha, sản lượng khai thác 63,6 triệu cây và 84 nghìn tấn nguyên liệu giấy ngoài gỗ; trong đó, vùng sản xuất tre, luồng, vầu tập trung 112 nghìn ha. Có 8% diện tích tre, luồng, vầu được liên kết cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC; 85% sản phẩm từ tre, luồng, vầu tiêu thụ trong nước, 15% xuất khẩu.; có 01 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: ổn định diện tích vùng nguyên liệu 128 nghìn ha, sản lượng khai thác 64,6 triệu cây và 85 nghìn tấn nguyên liệu giấy ngoài gỗ; trong đó, vùng sản xuất tre, luồng, vầu tập trung 112 nghìn ha. Có 12% diện tích tre, luồng, vầu được liên kết cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC; 75% sản phẩm từ tre, luồng, vầu tiêu thụ trong nước, 15% xuất khẩu; có 02 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
4. Lĩnh vực thủy sản
4.1. Tôm
- Đến năm 2025: diện tích nuôi 4.100 ha (tôm chân trắng 700 ha, tôm sú 3.400 ha); sản lượng 10,7 nghìn tấn. Có 50% diện tích nuôi tôm được chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap; 30% diện tích nuôi thâm canh công nghệ cao trong nhà bạt, nhà kính; 25% diện tích nuôi tôm được các công ty, hợp tác xã liên kết với các hộ dân sản xuất, chế biến, tiêu thụ; 70% sản phẩm tôm tiêu thụ trong nước, 30% xuất khẩu; có 01 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: diện tích nuôi 4.100 ha (tôm chân trắng 1.000 ha, tôm sú 3.100 ha); sản lượng 16 nghìn tấn. Có 70% diện tích nuôi tôm được chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap; 50% diện tích nuôi thâm canh công nghệ cao trong nhà bạt, nhà kính; 60% diện tích nuôi tôm được các công ty, hợp tác xã liên kết với các hộ dân sản xuất, chế biến, tiêu thụ; 50% sản phẩm tôm tiêu thụ trong nước, 50% xuất khẩu; có 02 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
4.2. Sản phẩm hải sản khai thác xa bờ
- Đến năm 2025: tổng số tàu cá khai thác xa bờ 1.350 tàu, sản lượng khai thác 88 nghìn tấn; có 60% sản lượng khai thác xa bờ được liên kết thu mua, chế biến và tiêu thụ; 50% tàu khai thác xa bờ có hầm bảo quản bằng công nghệ bảo quản mới; 70% sản phẩm khai thác xa bờ cung ứng cho thị trường trong tỉnh và tỉnh ngoài, 30% xuất khẩu; có 02 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: tổng số tàu cá khai thác xa bờ 1.500 tàu, sản lượng khai thác 97 nghìn tấn; có 80% sản lượng khai thác xa bờ được liên kết thu mua, chế biến và tiêu thụ; 80% tàu khai thác xa bờ có hầm bảo quản bằng công nghệ bảo quản mới; 60% sản phẩm khai thác xa bờ cung ứng cho thị trường trong tỉnh và tỉnh ngoài, 40% xuất khẩu; có 03 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
4.3. Ngao và các sản phẩm nuôi biển
* Ngao:
- Đến năm 2025: diện tích nuôi 1.000 ha, sản lượng 13 nghìn tấn (tập trung ở các vùng bãi triều thuộc các huyện: Hậu Lộc, Nga Sơn, thị xã Nghi Sơn, Quảng Xương, Hoang Hóa); 100% diện tích ngao nuôi tập trung được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP; 70% sản phẩm ngao nuôi tiêu thụ trong nước, 30% xuất khẩu; có 01 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: diện tích nuôi ổn định 1.000 ha, sản lượng 13 nghìn ha 1.000 ha, sản lượng 13 nghìn tấn; 100% diện tích ngao nuôi tập trung được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP; 65% sản phẩm ngao nuôi tiêu thụ trong nước, 35% xuất khẩu.
* Các sản phẩm nuôi biển:
- Đến năm 2025: diện tích nuôi lồng, giàn tại khu vực biển đảo Hòn Mê 70 nghìn m3 (cá song, cá giò, cá hồng mỹ, cá vược,…), diện tích nuôi trong ao nước mặn, lợ tại các khu vực ven biển 3.500 ha (cá hồng mỹ, cá vược, cá đối mục, cua xanh, hàu,…), sản lượng nuôi biển 3.200 tấn; có 80% diện tích nôi biển được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP; 70% sản phẩm nuôi biển tiêu thụ trong nước, 30% xuất khẩu; có 01 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: diện tích nuôi lồng, giàn trên biển ổn định 70 nghìn m3, diện tích nuôi trong ao nước mặn, lợ 3.300 ha, sản lượng nuôi biển 4.150 tấn; có 100% diện tích nôi biển được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP; 65% sản phẩm nuôi biển tiêu thụ trong nước, 35% xuất khẩu; có 02 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
(Có các Phụ lục và Đề án kèm theo)
IV. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Giải pháp về giống
- Tăng cường công tác chọn tạo và phát triển các giống cây trồng mới năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận; cải tiến tính trạng các cây trồng (lúa, ngô, rau, quả, mía, cây thức ăn chăn nuôi, cây gai xanh) theo hướng có năng suất, chất lượng cao phục vụ xuất khẩu và thích ứng với biến đổi khí hậu. Chọn tạo giống vật nuôi (gia cầm, bò, lợn) có năng suất, chất lượng cao, kháng bệnh, giống thích ứng với biến đổi khí hậu. Chọn tạo giống cây lâm nghiệp nhập nội và bản địa làm gỗ lớn; cây lâm sản ngoài gỗ (tre, luồng) có năng suất, chất lượng, lợi thế cạnh tranh cao. Nghiên cứu làm chủ và phát triển công nghệ chọn tạo giống bố mẹ và kỹ thuật sản xuất giống đối với một số giống thuỷ sản chủ lực (tôm, ngao) sạch bệnh.
- Đẩy mạnh công tác nhập nội, mua bản quyền giống mới; bình tuyển cây đầu dòng, chọn lọc cây trội; xây dựng và chăm sóc vườn cây đầu dòng, rừng giống, vườn giống; sản xuất giống các cấp; bảo quản, chế biến hạt giống theo hướng công nghiệp; nhập công nghệ sản xuất giống, hoàn thiện công nghệ sản xuất giống; đào tạo, tập huấn; kiểm soát chất lượng giống,...
- Đầu tư nâng cấp, hiện đại hóa các cơ sở nghiên cứu, sản xuất giống cây trồng, vật nuôi (Viện/Trường/Trung tâm) của tỉnh. Hỗ trợ đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi, xử lý chất thải…) các vùng sản xuất giống tập trung, tạo điều kiện thuận lợi để công nghiệp hóa sản xuất giống. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, chế biến giống theo hướng công nghiệp hiện đại.
2. Giải pháp về bố trí đất đai
- Rà soát kế hoạch sử dụng đất để xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh, các vùng trọng điểm sản xuất các sản phẩm nông nghiệp chủ lực nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất.
- Tập trung triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 10/01/2019 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tích tụ tập trung đất đai để phát triển sản xuất nông nghiệp quy mô lớn ứng dụng công nghệ cao đến năm 2025, định hướng đến 2030.
- Hạn chế việc thu hồi đất nông nghiệp cho các mục đích khác; tiếp tục chuyển đổi diện tích đất trồng lúa, mía, sắn,… kém hiệu quả sang các loại cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn.
- Khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ gia đình, cá nhân thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, hình thành các vùng sản xuất quy mô lớn. Bố trí hợp lý khu vực chăn thả phục vụ phát triển chăn nuôi gia súc; hình thành những khu chăn nuôi tập trung xa khu dân cư, dễ cách ly và xử lý môi trường theo quy định của Luật Chăn nuôi.
3. Giải pháp về cơ sở hạ tầng
Rà soát, lồng ghép các chương trình, dự án, đặc biệt là Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới để làm mới và hoàn thiện các công trình về thuỷ lợi, điện, giao thông nội đồng,… phục vụ cho các vùng sản xuất tập trung. Quan tâm đầu tư cho các vùng sản xuất hàng hóa trọng điểm và vùng khó khăn; thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa đầu tư, nhằm huy động nguồn lực từ các doanh nghiệp, tổ chức và người dân đầu tư vào nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Trong đó tập trung vào 01 số lĩnh vực sau:
- Tăng cường đầu tư để hoàn thiện hệ thống giao thông nội đồng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung và hệ thống giao thông đến các vùng sản xuất để thuận tiện cho việc vận chuyển vật tư và tiêu thụ sản phẩm.
- Tập trung đầu tư hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng, củng cố hệ thống thủy nông cơ sở đáp ứng yêu cầu sản xuất lúa và cây rau màu, yêu cầu chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa; ưu tiên đầu tư các vùng đất chuyên canh.
- Tăng đầu tư cơ sở hạ tầng cho nuôi trồng thủy sản tập trung (tôm he chân trắng quy mô công nghiệp, ngao), hệ thống cảnh báo và giám sát môi trường, hệ thống quản lý dịch bệnh và thú y thủy sản; tiếp tục đầu tư sắp xếp quy hoạch các dự án cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão.
- Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đài trạm thông tin ven biển phục vụ tàu thuyền đánh bắt hải sản, chủ động ứng phó với các cơn bão, sóng thần và các tai nạn, rủi ro trên biển, tăng cường bảo vệ, hỗ trợ đảm bảo an toàn cho ngư dân hoạt động trên biển, nhất là ở các khu vực xa bờ.
4. Giải pháp về khoa học công nghệ
- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ trở thành khâu đột phá để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp chủ lực; trong đó, Viện Nông nghiệp Thanh Hóa là đơn vị đầu mối về nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp.
- Tập trung tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ vào sản xuất; ưu tiên tập trung trên một số lĩnh vực: giống, bảo vệ thực vật, thú y, kiểm tra chất lượng giống, phân bón, công nghệ sinh học, quy trình sản xuất thực hành nông nghiệp tốt; bảo quản, chế biến sản phẩm nông sản, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.
- Nhân rộng các mô hình ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp xanh trong trồng trọt, chăn nuôi có hiệu quả đã được khẳng định; đẩy mạnh sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi thủy sản theo hướng an toàn đạt tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ trong nước và nước ngoài (JAS, IFOAM),… nhằm nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm.
- Xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ trong chế biến, bảo quản nông sản, xử lý môi trường và phát triển bền vững. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, sản xuất nông nghiệp; xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ trong sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản, xử lý môi trường nhằm phát triển nông nghiệp xanh, bền vững.
- Đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công lập theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm; huy động sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt các doanh nghiệp ngoài nhà nước vào các hoạt động khoa học công nghệ, đào tạo và các dịch vụ nông nghiệp khác; phân cấp mạnh mẽ hoạt động khuyến nông cho các tổ chức nông dân và doanh nghiệp.
- Ưu tiên thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào các vùng, khu nông nghiệp công nghệ cao để phát triển các sản phẩm chủ lực; trong đó, quan tâm đến nghiên cứu, hoàn thiện và phát triển các quy trình công nghệ trong sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao; bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp theo hướng tinh, sâu; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại,...
- Đào tạo, bồi dưỡng để hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật và công nghệ đủ về số lượng, có trình kỹ thuật độ cao trong lĩnh vực nông nghiệp và sinh học, phục vụ các chương trình, đề án nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong theo dõi sự biến đổi khí hậu, nhiệt độ, môi trường, độ ẩm, các tác động ảnh hưởng đến quá trình sản xuất nông nghiệp, như: xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, phát triển nông nghiệp và nông thôn; triển khai hệ thống giám sát môi trường nông nghiệp đối với khu trang trại tập trung, quy mô lớn; thí điểm triển khai hệ thống cảnh báo cho cây trồng trong các vùng, khu nông nghiệp công nghệ cao và một số trang trại, hộ gia đình.
5. Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực
- Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn, trong đó có lựa chọn trọng tâm, trọng điểm như: đào tạo lao động nông thôn có trình độ sơ cấp nghề; kỹ thuật viên cần có chứng chỉ hành nghề; tập huấn kỹ thuật cho lao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp; đào tạo lao động nông thôn có chứng chỉ nghề để đủ điều kiện hợp đồng lao động với các doanh nghiệp nông nghiệp.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã, tổ hợp tác: tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuẩn cho các cán bộ quản lý hợp tác xã, tổ hợp tác; phát hiện, tổng kết các mô hình thực tiễn về kinh tế hợp tác, hợp tác xã, tổ chức, liên kết sản xuất để phổ biến, nhân rộng thông qua các chương trình bồi dưỡng, tập huấn phù hợp. Đào tạo, tập huấn cho cán bộ và thành viên hợp tác xã; đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với phát triển các sản phẩm OCOP.
- Xây dựng đội ngũ chuyên gia và nhà khoa học giỏi trong từng lĩnh vực, từng sản phẩm nông nghiệp tỉnh có lợi thế. Xây dựng đội ngũ trí thức phục vụ nông nghiệp nông thôn; xây dựng quỹ cho trí thức trẻ vay lập nghiệp ở nông thôn (xây dựng doanh nghiệp, xây dựng trang trại, mở dịch vụ khoa học công nghệ, dịch vụ nông nghiệp…), thu hút trí thức trẻ về làm việc ở nông thôn.
- Khuyến khích các trường đại học tham gia nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ thông qua việc đẩy mạnh phương thức đặt hàng giao trực tiếp trong lĩnh vực khoa học công nghệ, ưu tiên tạo ra sản phẩm, quy trình công nghệ cao phục vụ phát triển sản phẩm chủ lực của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Tổ chức rà soát hệ thống khuyến nông từ tỉnh đến huyện, xã; đào tạo tập huấn để nâng cao trình độ cán bộ khuyến nông; xây dựng mạng lưới khuyến nông tham gia trực tiếp vào chuyển giao khoa học công nghệ, tiến bộ kỹ thuật gắn với đào tạo nghề cho nông dân trên sản phẩm có lợi thế của vùng.
6. Giải pháp phát triển các hình thức tổ chức sản xuất
- Tập trung đổi mới tổ chức sản xuất theo hướng phát triển hợp tác, liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và người dân trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò nòng cốt định hướng sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng và quản lý thương hiệu, tiêu thụ sản phẩm.
- Xây dựng và nhân rộng các mô hình, chuỗi liên kết sản xuất trồng trọt có hiệu quả cao đã và đang thực hiện thành công trên địa bàn tỉnh; phát triển chăn nuôi theo hình thức trang trại tập trung quy mô lớn, hiện đại. Liên kết với các cơ sở chế biến để hình thành vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn gắn với cấp chứng chỉ FSC. Thành lập các tổ cộng đồng, hợp tác xã tại các vùng nuôi nhằm hỗ trợ nhau trong dịch vụ đầu vào, kỹ thuật nuôi cũng như tiêu thụ sản phẩm; phát triển mạnh các tổ đoàn kết trên biển.
- Phát triển hợp tác xã sản xuất nông nghiệp kiểu mới để đẩy mạnh liên kết phát triển vùng nguyên liệu cung cấp cho doanh nghiệp chế biến, tạo thành các chuỗi giá trị sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp; hỗ trợ và tạo điều kiện cho các hợp tác xã, cơ sở, làng nghề xây dựng thương hiệu sản phẩm, xây dựng chỉ dẫn địa lý của đặc sản xứ Thanh, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, tăng cường năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP.
- Phát huy vai trò đầu tầu của doanh nghiệp trong chuỗi liên kết để hình thành vùng nguyên liệu sản xuất, hỗ trợ đầu vào và thu mua sản phẩm cho nông dân, từng bước tiến tới xây dựng thương hiệu sản phẩm nông sản; đẩy mạnh liên kết, ký kết hợp đồng sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản.
7. Giải pháp về thu gom, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch, chế biến sản phẩm
- Tập trung sản xuất các sản phẩm nông nghiệp chủ lực theo vùng, gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm để thu hút các doanh nghiệp có khả năng chế biến vào đầu tư chế biến tinh, sâu; đẩy mạnh cơ giới hóa vào các khâu từ sản xuất - bảo quản - chế biến - vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm, áp dụng quản lý chất lượng tiên tiến (GHP, DNP, HACCP, ISO..), kết hợp tổ chức sản xuất theo chuỗi, nâng cao giá trị gia tăng.
- Tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế tiếp cận được các nguồn vốn để đầu tư công nghệ thu hoạch, bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp. Trong trồng trọt: đầu tư nâng cấp, đầu tư mới các nhà máy có dây truyền thiết bị công nghệ hiện đại chế biến đường, lúa gạo, ngô xuất khẩu; lắp đặt hệ thống nhà mát, nhà lạnh trong bảo quản rau, quả. Chăn nuôi, thủy sản: xây mới các cơ sở giết mổ tập trung; các nhà máy chế biến thành phẩm, chủ động tiêu thụ thịt tại chỗ, nâng cao giá trị gia tăng. Lâm nghiệp: đổi mới công nghệ, thiết bị của các cơ sở hiện có, sản xuất các sản phẩm theo hướng chế biến tinh, sâu; loại bỏ sản xuất dăm gỗ, ván bóc; thu hút đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến các sản phẩm: ván HDF, ván thanh, ván sàn, ván ốp tường, đồ gỗ xuất khẩu ngay tại các vùng nguyên liệu tập trung.
- Khuyến khích, tạo cơ chế hỗ trợ hình thành các mô hình liên kết, hợp tác về sản xuất và tiêu thụ nông sản (tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp,...) theo hướng chuyên môn hóa và ưu tiên hỗ trợ mua sắm máy móc, thiết bị, công nghệ sau thu hoạch với các chính sách ưu đãi về tín dụng; hướng các chính sách hỗ trợ của nhà nước về đào tạo nhân lực và nâng cao trình độ quản lý. Xây dựng mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị khép kín: thu hoạch - phơi sấy - sơ chế, giết mổ - bảo quản - chế biến - tiêu thụ.
8. Giải pháp về xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại và phát triển thị trường
- Đẩy mạnh việc triển khai xây dựng, duy trì, phát triển thương hiệu cho nhóm nông sản chủ lực: đề xuất các nhiệm vụ duy trì, phát triển quảng bá sản phẩm đã có thương hiệu trên địa bàn tỉnh trên cơ sở điều tra, khảo sát về tình hình sản xuất, thị trường tiêu thụ của các sản phẩm, đánh giá những thuận lợi và khó khăn của từng sản phẩm trong nhóm nông sản chủ lực đã có thương hiệu; xây dựng các dự án khoa học công nghệ phù hợp cho từng sản phẩm, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới, công nghệ cao để nâng cao năng suất, chất lượng các sản phẩm đã có thương hiệu; tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò các sản phẩm nổi tiếng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Thông qua các hình thức tuyên truyền và quảng bá nhằm thúc đẩy sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm có thương hiệu của tỉnh.
- Tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm đã có thương hiệu:
+ Xây dựng kế hoạch quản lý, kiểm soát chất lượng sản phẩm nông sản sử dụng nhãn hiệu giai đoạn 2021 - 2025. Quản lý, kiểm soát chất lượng sản phẩm trong chuỗi giá trị sản phẩm nông sản từ khâu sản xuất (giống cây trồng, vật tư nông nghiệp, quy trình sản xuất, chăm sóc,...) đến sơ chế, phân loại, bảo quản sau thu hoạch (các trung tâm sau thu hoạch, doanh nghiệp, cơ sở) chế biến và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa.
+ Hướng dẫn các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở, đầu mối thu mua nông sản, nông hộ sử dụng nhãn hiệu, xây dựng kế hoạch và các điều kiện để chuẩn hóa sản phẩm đạt tiêu chuẩn đủ điều kiện đăng ký sử dụng nhãn hiệu; chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra, kiểm soát và công bố chất lượng và phân loại nông sản được gắn nhãn hiệu trước khi tiêu thụ.
+ Các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tiến hành giám sát quá trình thực hiện của các đơn vị được sử dụng nhãn hiệu chứng nhận; định kỳ và đột xuất lấy mẫu kiểm tra chất lượng sản phẩm, thực hiện các chế tài đối với các sản phẩm không đạt chất lượng và các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm, sử dụng nhãn hiệu không hợp pháp.
+ Tuyên truyền cho các đối tượng: Hộ nông dân, hợp tác xã, tổ hợp tác, các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất hoặc tham gia vào chuỗi sản xuất, cung cấp dịch vụ, giúp nâng cao ý thức, thực hiện tốt công tác quản lý chất lượng sản phẩm, nâng cao giá trị thương hiệu trong quá trình triển khai thực hiện.
- Quảng bá thương hiệu các sản phẩm nông sản đã có thương hiệu:
+ Tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tiếp cận với thị trường, giới thiệu sản phẩm đã có thương hiệu ra ngoài tỉnh thông qua các hội chợ, triển lãm,...
+ Xây dựng, đăng tải các phim tư liệu sản phẩm nông sản đã có thương hiệu trên Đài Phát thanh - Truyền hình Trung ương và địa phương, Internet, mạng xã hội và quảng bá ở nước ngoài. Xây dựng trang thông tin về thương hiệu các sản phẩm nông sản của tỉnh phục vụ quảng bá trên các báo, tạp chí,...
+ Xây dựng chuyên trang Website thương hiệu sản phẩm nông sản Thanh Hóa phục vụ người tiêu dùng trong việc truy cập, tìm kiếm các sản phẩm chất lượng mang thương hiệu.
+ Hợp tác với các trung tâm phân phối nông sản lớn, với đơn vị dịch vụ du lịch (cơ sở lưu trú, lữ hành, phương tiện vận chuyển công cộng...) để quảng bá nông sản của tỉnh. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm nông sản đã có thương hiệu hoạt động xúc tiến thương mại theo các Chương trình xúc tiến thương mại Quốc gia, Chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch của tỉnh. Xây dựng trung tâm trưng bày, giới thiệu và bán các sản phẩm mang thương hiệu của tỉnh ở các địa bàn cửa ngõ và các trung tâm thương mại, du lịch của tỉnh.
- Tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ:
+ Đẩy mạnh hỗ trợ triển khai thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại để thúc đẩy tiếp cận thị trường cả trong nước và quốc tế, tạo đầu ra cho nông sản hàng hóa.
+ Dự báo thị trường cho các doanh nghiệp sản xuất, chế biến nông sản, đặc biệt là người dân để họ có định hướng, phương án sản xuất phù hợp.
+ Tăng cường nghiên cứu phân khúc thị trường tiêu thụ, kết nối với nhiều kênh phân phối, trong đó có hợp tác liên kết giữa các doanh nghiệp hoạt động thương mại tại các thị trường tiêu thụ sản phẩm.
+ Tiếp tục đầu tư nâng cấp, cải tạo, xây dựng mới chợ nông thôn, chợ đầu mối tiêu thụ nông sản hàng hóa, các khu giết mổ gia súc gia cầm tập trung và trung tâm thương mại, siêu thị.
+ Quy hoạch sắp xếp lại các điểm tiêu thụ nông sản, thủy sản theo hệ thống nhằm gia tăng sức mua cho người dân tại chỗ và khách vãng lai, khách du lịch đối với nông sản, thủy sản hàng hóa là thế mạnh của tỉnh; nhất là đặc sản truyền thống nổi tiếng của tỉnh.
9. Giải pháp về bảo vệ môi trường
- Tuyên truyền, vận động người dân bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cho người sản xuất và góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp thông qua hành động thu gom, phân loại, xử lý các loại rác thải. Khuyến khích người dân sử dụng phế phẩm nông nghiệp để làm phân bón, thức ăn chăn nuôi; tận dụng phụ phẩm nông nghiệp từ thân cây, lá cây để ủ làm phân xanh hữu cơ bón cho cây trồng thay thế các loại phân hóa học, vừa giảm chi phí sản xuất, vừa bảo vệ môi trường.
- Ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật cao, thân thiện với môi trường trong sản xuất nông nghiệp,... khuyến khích các cơ sở sản xuất, chế biến nông sản đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ thiết bị, hiện đại hóa các công nghệ truyền thống theo phương châm kết hợp giữa công nghệ tiên tiến với công nghệ truyền thống. Khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng sạch.
- Thường xuyên kiểm tra, giám sát về ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề và các cơ sở sản xuất, kinh doanh; kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV, thú y, hóa chất, chất cấm trong trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định.
- Tăng cường các hoạt động giám sát chất lượng, quan trắc và cảnh báo ô nhiễm môi trường; đầu tư trang thiết bị giám sát, quan trắc môi trường; nâng cao năng lực giám sát chất lượng và cảnh báo ô nhiễm môi trường; rà soát và xây dựng hoàn chỉnh mạng lưới quan trắc.
10. Giải pháp về nguồn vốn và cơ chế chính sách khuyến khích phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực
- Ưu tiên lồng ghép, bố trí kinh phí từ nguồn ngân sách tỉnh, ngân sách cấp huyện và huy động từ các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện phát triển các sản phẩm nông nghiệp tỉnh; khuyến khích, vận động các thành phần kinh tế tư nhân đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh. Đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thực sự thông thoáng và tăng cường công tác xúc tiến đầu tư để thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tham gia đầu tư phát triển sản xuất.
- Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách hỗ trợ của Trung ương và của tỉnh; đồng thời, rà soát sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp theo hướng giảm số lượng các cơ chế chính sách, giảm số lượng các nội dung hỗ trợ để tăng định mức và tập trung hỗ trợ những nội dung quan trọng có tính chất “đòn bẩy”, tạo động lực thúc đẩy phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, như: hỗ trợ tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm; hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật cho các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung, quy mô lớn,...

Content:
Điều 1. Phê duyệt Đề án phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030, với các nội dung chủ yếu sau:
I. QUAN ĐIỂM
1. Phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Thanh Hóa dựa trên tiềm năng, lợi thế cạnh tranh của từng địa phương; phù hợp với quy hoạch tỉnh Thanh Hóa, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh và từng địa phương.
2. Phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Thanh Hóa đảm bảo theo hướng sản xuất nông nghiệp tập trung, quy mô lớn, năng suất, chất lượng cao; sản xuất vùng nguyên liệu gắn với chế biến tinh, chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm gắn với thị trường tiêu thụ; nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới để phát triển bền vững.
3. Chủ thể thực hiện phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực là doanh nghiệp, hợp tác xã, nông hộ; trong đó, Nhà nước đóng vai trò về xây dựng thể chế, quản lý, định hướng phát triển, ban hành chính sách hỗ trợ.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung
Phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững; ứng dụng công nghệ cao, thông minh để hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá quy mô lớn, chất lượng cao; phát triển các chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ; nâng cao hiệu quả sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng nông lâm thủy sản từ đó nâng cao thu nhập cho người sản xuất và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và của tỉnh.
2. Mục tiêu cụ thể
a) Giai đoạn 2021 - 2025
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản bình quân 3,2%; cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đến hết năm 2025: nông nghiệp 65,2%, lâm nghiệp 10,3%, thủy sản 24,5%; sản lượng lương thực ổn định 1,5 triệu tấn.
- Quy mô sản xuất: lúa 216,7 nghìn ha gieo trồng, sản lượng lúa 1,3 triệu tấn, sản lượng gạo 880 nghìn tấn; rau, quả 55 nghìn ha gieo trồng, sản lượng 720 nghìn tấn; cây ăn quả 30,5 nghìn ha, sản lượng 490 nghìn tấn; mía 18 nghìn ha, sản lượng 1,26 triệu tấn; ngô 40 nghìn ha gieo trồng, sản lượng 200 nghìn tấn; đàn gia cầm 26 triệu con, thịt hơi 62 nghìn tấn, trứng 190 triệu quả; đàn lợn 2,2 triệu con, thịt hơi 330 nghìn tấn; trâu thịt 140 nghìn con, sản lượng 17,5 nghìn tấn; bò thịt 200 nghìn con, sản lượng thịt 25 nghìn tấn; bò sữa 50 nghìn con, sản lượng sữa 96 nghìn tấn; gỗ rừng trồng 125 nghìn ha, sản lượng 1.100 nghìn m3; tre, luồng, vầu 128 nghìn ha, sản lượng khai thác 63,6 triệu cây; tôm nuôi 4,1 nghìn ha, sản lượng 10,7 nghìn tấn; tàu cá khai thác xa bờ 1.350 cái, sản lượng khai thác 88 nghìn tấn; ngao nuôi 1 nghìn ha, sản lượng 13 nghìn tấn; các sản phẩm nuôi biển (diện tích nuôi lồng, giàn trên biển 70 nghìn m3, diện tích nuôi trong ao nước mặn, lợ 3.500 ha; sản lượng nuôi 3.200 tấn).
b) Định hướng đến năm 2030
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản bình quân 2,7%; cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đến năm 2030: nông nghiệp 63%, lâm nghiệp 11,5%, thuỷ sản 25,5%; sản lượng lương thực ổn định 1,5 triệu tấn.
- Quy mô sản xuất: lúa 200 nghìn ha gieo trồng, sản lượng lúa 1,3 triệu tấn, sản lượng gạo 900 nghìn tấn; rau, quả 60 nghìn ha gieo trồng, sản lượng 798 nghìn tấn; cây ăn quả 30,5 nghìn ha, sản lượng 610 nghìn tấn; mía 16,5 nghìn ha, sản lượng 1,287 triệu tấn; ngô 40 nghìn ha gieo trồng, sản lượng 200 nghìn tấn; đàn gia cầm 28 triệu con, thịt hơi 67 nghìn tấn, trứng 201 triệu quả; đàn lợn 2,2 triệu con, thịt hơi 330 nghìn tấn; trâu thịt 140 nghìn con, sản lượng 19 nghìn tấn; bò thịt 220 nghìn con, sản lượng thịt 29,2 nghìn tấn; bò sữa 75 nghìn con, sản lượng sữa 120 nghìn tấn; gỗ rừng trồng 125 nghìn ha, sản lượng 1.300 nghìn m3; tre, luồng, vầu 128 nghìn ha, sản lượng khai thác 64,6 triệu cây; tôm nuôi 4,1 nghìn ha, sản lượng 16 nghìn tấn; tàu cá khai thác xa bờ 1.500 cái, sản lượng khai thác 97 nghìn tấn; ngao nuôi 1 nghìn ha, sản lượng 13 nghìn tấn; các sản phẩm nuôi biển (diện tích nuôi lồng, giàn trên biển 70 nghìn m3, diện tích nuôi trong ao nước mặn, lợ 3.300 ha; sản lượng nuôi 4.150 tấn).
III. NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
1. Lĩnh vực trồng trọt
1.1. Gạo
- Đến năm 2025: diện tích gieo trồng lúa 216,7 nghìn ha, sản lượng lúa 1,3 triệu tấn, sản lượng gạo 880 nghìn tấn; trong đó, có 150 nghìn ha sản xuất lúa thâm canh năng suất, chất lượng, hiệu quả cao (70% diện tích lúa thâm canh năng suất, chất lượng cao sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, VietGAP; trong đó có 5% sản xuất theo hữu cơ (TCVN 11041-6-2017). Có 70% diện tích sản xuất lúa gạo được doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với các hộ dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ; 80% sản lượng gạo và các sản phẩm chế biến từ gạo tiêu thụ trong và ngoài tỉnh, 20% xuất khẩu; 04 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP, 01 sản phẩm được công nhận về chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể.
- Đến năm 2030: diện tích gieo trồng lúa 200 nghìn ha, sản lượng 1,3 triệu tấn, sản lượng gạo 900 nghìn tấn; trong đó, có 150 nghìn ha sản xuất lúa thâm canh năng suất, chất lượng, hiệu quả cao (100% diện tích lúa thâm canh năng suất, chất lượng cao sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, VietGAP; trong đó có 10% sản xuất theo hữu cơ (TCVN 11041-6-2017). Có 90% diện tích sản xuất lúa gạo được doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với các hộ dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ; 70% sản lượng gạo và các sản phẩm chế biến từ gạo tiêu thụ trong và ngoài tỉnh, 30% xuất khẩu; 06 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP, 02 sản phẩm được công nhận về chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể.
1.2. Rau, quả
* Rau, quả:
- Đến năm 2025: diện tích gieo trồng 55 nghìn ha/năm, sản lượng 720 nghìn tấn; trong đó, vùng sản xuất rau an toàn tập trung chuyên canh 14,3 nghìn ha (có 50% áp dụng công nghệ cao, theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ (TCVN 11041-2-2017); có 70% diện tích sản xuất rau an toàn được doanh nghiệp, hợp tác xã, cửa hàng và các nhà máy chế biến liên kết với các hộ dân sản xuất và tiêu thụ; 90% sản lượng rau, quả tươi cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh, 10% xuất khẩu.; có 03 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: diện tích gieo trồng rau, quả 60 nghìn ha, sản lượng 798 nghìn tấn; trong đó, vùng sản xuất rau an toàn tập trung chuyên canh 20 nghìn ha (có 70% áp dụng công nghệ cao, theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ (TCVN 11041-2- 2017); 100% diện tích rau, quả an toàn được liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm; 85% sản phẩm rau, quả tươi tiêu thụ trong nước, 15% xuất khẩu; có 06 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
* Cây ăn quả:
- Đến năm 2025: diện tích 30,5 nghìn ha, sản lượng 490 nghìn tấn; trong đó, vùng cây ăn quả tập trung chuyên canh 18 nghìn ha (có 30% được chứng nhận VietGAP, 25% sản xuất ứng dụng công nghệ cao). Có 65% diện tích cây ăn quả tập trung được doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với các hộ dân sản xuất, tiêu thụ; 95% sản lượng quả tươi cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh, 5% xuất khẩu; có 10 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP, 06 sản phẩm được công nhận sản phẩm chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể.
- Đến năm 2030: ổn định diện tích 30,5 nghìn ha, sản lượng 610 nghìn tấn; trong đó, vùng cây ăn quả tập trung chuyên canh 20 nghìn ha (có 75% được chứng nhận VietGAP, 70% sản xuất ứng dụng công nghệ cao). Có 90% diện tích cây ăn quả tập trung được doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với các hộ dân sản xuất, tiêu thụ; 90% sản lượng quả tươi cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh, 10% xuất khẩu; có 15 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP, 08 sản phẩm được công nhận sản phẩm chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể.
1.3. Mía đường
- Đến năm 2025: diện tích 18 nghìn ha, sản lượng 1,26 triệu tấn; trong đó, vùng mía nguyên liệu phục vụ các nhà máy chế biến đường 16,5 nghìn ha. Có 70% diện tích mía nguyên liệu sử dụng giống mới có năng suất, chất lượng cao, sạch bệnh được sản xuất từ phương pháp nuôi cấy mô và được tưới bằng hệ thống tưới. Cơ giới hóa 95% khâu làm đất; 70% khâu trồng và chăm sóc mía; 50% khâu thu hoạch - bốc xếp mía. Có 100% diện tích mía nguyên liệu được các công ty mía đường liên kết với người dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ; có 01 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: diện tích 16,5 nghìn ha, sản lượng 1,287 triệu tấn; trong đó, vùng mía nguyên liệu phục vụ các nhà máy chế biến đường 16,5 nghìn ha. Có 100% diện tích mía nguyên liệu sử dụng giống mới có năng suất, chất lượng cao, sạch bệnh được sản xuất từ phương pháp nuôi cấy mô; 90% diện tích mía được tưới bằng hệ thống tưới. Cơ giới hóa 100% khâu làm đất; 90% khâu trồng và chăm sóc mía; 80% khâu thu hoạch - bốc xếp mía. Có 100% diện tích mía nguyên liệu được các công ty mía đường liên kết với người dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ; có 02 sản phẩm được chứng nhận là sản phẩm OCOP, 01 sản phẩm được công nhận sản phẩm chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể.
1.4. Cây ngô
- Đến năm 2025: diện tích 40 nghìn ha, sản lượng 200 nghìn tấn; trong đó, vùng ngô thâm canh năng suất, chất lượng, hiệu quả cao 20 nghìn ha (có 40% sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, VietGAP; trong đó có 5% sản xuất theo hữu cơ (TCVN 11041-6-2017). Có 50% diện tích sản xuất ngô được doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với các hộ dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ; 90% sản lượng ngô và các sản phẩm chế biến từ ngô tiêu thụ trong và ngoài tỉnh, 10% xuất khẩu; có 01 sản phẩm được chứng nhận là sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: ổn định diện tích 40 nghìn ha, sản lượng 200 nghìn tấn; trong đó, vùng ngô thâm canh năng suất, chất lượng, hiệu quả cao 20 nghìn ha (có 70% sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, VietGAP; trong đó có 10% sản xuất theo hữu cơ (TCVN 11041-6-2017). Có 70% diện tích sản xuất ngô được doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với các hộ dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ; 80% sản lượng ngô và các sản phẩm chế biến từ ngô tiêu thụ trong và ngoài tỉnh, 20% xuất khẩu; có 02 sản phẩm được chứng nhận là sản phẩm OCOP.
2. Lĩnh vực chăn nuôi
2.1. Thịt và trứng gia cầm
- Đến năm 2025: tổng đàn gia cầm 26 triệu con, sản lượng thịt hơi 62 nghìn tấn, sản lượng trứng 190 triệu quả; trong đó, gà lông màu 10 triệu con. Có 75% trang trại chăn nuôi gia cầm áp dụng quy trình thực hành chăn nuôi VietGAP, an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh; 75% trang trại ứng dụng công nghệ xử lý chất thải trong chăn nuôi; 50% tổng đàn gia cầm được các công ty liên kết với các chủ trang trại sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ; 95% thịt và trứng gia cầm tiêu thụ trong tỉnh và các tỉnh khu vực phía Bắc, 5% xuất khẩu (sản phẩm thịt gà chất lượng cao được chế biến từ nhà máy giết mổ, chế biến gia cầm xuất khẩu VietAvis tại xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa); có 02 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP, 01 sản phẩm được công nhận sản phẩm chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể.
- Đến năm 2030: tổng đàn gia cầm 28 triệu con, sản lượng thịt hơi 67 nghìn tấn, sản lượng trứng 201 triệu quả; trong đó, gà lông màu 12 triệu con. Có 95% trang trại chăn nuôi gia cầm áp dụng quy trình thực hành chăn nuôi VietGAP, an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh; 90% trang trại ứng dụng công nghệ xử lý chất thải trong chăn nuôi; 60% tổng đàn gia cầm được các công ty liên kết với các chủ trang trại sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ; 90% thịt và trứng gia cầm tiêu thụ trong tỉnh và các tỉnh khu vực phía Bắc, 10% xuất khẩu; có 04 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP, 02 sản phẩm được công nhận sản phẩm chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể.
2.2. Thịt lợn
- Đến năm 2025: tổng đàn 2,2 triệu con, trong đó lợn hướng nạc 1,2 triệu con. Có 70% lợn thịt chăn nuôi tập trung, quy mô lớn ứng dụng công nghệ cao; 75% trang trại chăn nuôi lợn áp dụng quy trình thực hành chăn nuôi VietGAP, an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh; 100% trang trại ứng dụng công nghệ xử lý chất thải trong chăn nuôi; 70% tổng đàn lợn thịt được các công ty liên kết với các chủ trang trại sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ; 65% sản lượng thịt lợn sản xuất ra cung cấp cho thị trường trong tỉnh (đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu thụ trong tỉnh), 35% sản lượng thịt lợn cung cấp ra tỉnh ngoài; có 02 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: ổn định tổng đàn 2,2 triệu con, trong đó lợn hướng nạc 1,2 triệu con. Có 85% lợn thịt chăn nuôi tập trung, quy mô lớn ứng dụng công nghệ cao; 95% trang trại chăn nuôi lợn áp dụng quy trình thực hành chăn nuôi VietGAP, an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh; 85% tổng đàn lợn thịt được các công ty liên kết với các chủ trang trại sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ; 60% sản lượng thịt lợn sản xuất ra cung cấp cho thị trường trong tỉnh, 40% sản lượng thịt lợn cung cấp ra tỉnh ngoài; có 03 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
2.3. Trâu thịt, bò thịt, bò sữa và các sản phẩm từ sữa bò
* Trâu thịt:
- Đến năm 2025: tổng đàn trâu 200 nghìn con (trong đó, đàn trâu thịt 140 nghìn con), sản lượng thịt 17,5 nghìn tấn; trong đó, có 20% đàn trâu được nuôi tại các trang trại, hợp tác xã, 80% nuôi tại các nông hộ; tỷ lệ lai hóa đàn trâu đạt 35%; có 70% sản lượng thịt trâu cung cấp cho thị trường trong tỉnh (đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu thụ trong tỉnh), 30% sản lượng cung cấp ra ngoài tỉnh.
- Đến năm 2030: ổn định đàn trâu 200 nghìn con (trong đó, đàn trâu thịt 140 nghìn con), sản lượng thịt 19 nghìn tấn; trong đó, có 30% đàn trâu được nuôi tại các trang trại, hợp tác xã, 70% nuôi tại các nông hộ; tỷ lệ lai hóa đàn trâu đạt 40%; có 55% sản lượng thịt trâu cung cấp cho thị trường trong tỉnh, 45% sản lượng cung cấp ra ngoài tỉnh.
* Bò thịt:
- Đến năm 2025: tổng đàn bò thịt 200 nghìn con, sản lượng thịt 25 nghìn tấn; trong đó, đàn bò thịt lai chiếm 90% (bò thịt chất lượng cao 75 nghìn con), bò thịt nội (bò vàng) chiếm 10%. Có 60% bò thịt chất lượng cao được các công ty, trang trại chăn nuôi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi; 55% sản phẩm thịt bò cung ứng cho thị trường trong tỉnh (đáp ứng được 90% nhu cầu), 45% cung ứng cho thị trường ngoài tỉnh.
- Đến năm 2030: tổng đàn bò thịt 220 nghìn con, sản lượng thịt 29,2 nghìn tấn; trong đó, đàn bò thịt lai chiếm 91% (bò thịt chất lượng cao 75 nghìn con), bò thịt nội (bò vàng) chiếm 9%. Có 80% bò thịt chất lượng cao được các công ty, trang trại chăn nuôi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi; 45% sản phẩm thịt bò cung ứng cho thị trường trong tỉnh (đáp ứng được 95% nhu cầu), 55% cung ứng cho thị trường ngoài tỉnh.
* Bò sữa:
- Đến năm 2025: tổng đàn bò sữa 50 nghìn con, sản lượng sữa 96 nghìn tấn; trong đó: Công ty TNHH một thành viên bò sữa Thống Nhất Thanh Hóa đầu tư Dự án trung tâm các trang trại chăn nuôi bò sữa chất lượng cao với quy mô 16 nghìn con; dự án trang trại bò sữa Vinamilk Organic Thanh Hóa 2 nghìn con; trang trại bò sữa số 01 (Trại Sao Vàng- Thọ Xuân) 1,5 nghìn con; Trại bò sữa số 2 tại huyện Như Thanh 2 nghìn con; Công ty CP ứng dụng công nghệ cao nông nghiệp và thực phẩm sữa TH xây dựng các cụm trang trại tại huyện Nông cống và Như Thanh với quy mô 20 nghìn con,... có 100% đàn bò sữa được các công ty liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ.
- Đến năm 2030: tổng đàn bò sữa 75 nghìn con, sản lượng sữa 120 nghìn tấn; có 100% trang trại chăn nuôi bò sữa được chứng nhận cơ sở an toàn dịch bệnh, áp dụng tiêu chuẩn quốc tế (GlobGAP) trong chăn nuôi; 100% đàn bò sữa được các công ty liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ.
3. Lĩnh vực lâm nghiệp
3.1. Gỗ và các sản phẩm từ gỗ
- Đến năm 2025: diện tích vùng nguyên liệu gỗ rừng trồng 125 nghìn ha, sản lượng khai thác 1,1 triệu m3; trong đó, rừng gỗ lớn 56 nghìn ha, sản lượng khai thác 500 nghìn m3. Có 16% diện tích gỗ rừng trồng liên kết được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC; 85% gỗ và các sản phẩm từ gỗ được tiêu thụ trong nước, 15% xuất khẩu; có 01 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: ổn định diện tích vùng nguyên liệu gỗ rừng trồng 125 nghìn ha, sản lượng khai thác 1,3 triệu m3; trong đó, rừng gỗ lớn 56 nghìn ha, sản lượng khai thác 700 nghìn m3; có 20% diện tích gỗ rừng trồng liên kết cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC; 75% gỗ và các sản phẩm từ gỗ được tiêu thụ trong nước, 25% xuất khẩu; có 02 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
3.2. Tre, luồng, vầu và các sản phẩm từ tre, luồng, vầu
- Đến năm 2025: diện tích vùng nguyên liệu 128 nghìn ha, sản lượng khai thác 63,6 triệu cây và 84 nghìn tấn nguyên liệu giấy ngoài gỗ; trong đó, vùng sản xuất tre, luồng, vầu tập trung 112 nghìn ha. Có 8% diện tích tre, luồng, vầu được liên kết cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC; 85% sản phẩm từ tre, luồng, vầu tiêu thụ trong nước, 15% xuất khẩu.; có 01 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: ổn định diện tích vùng nguyên liệu 128 nghìn ha, sản lượng khai thác 64,6 triệu cây và 85 nghìn tấn nguyên liệu giấy ngoài gỗ; trong đó, vùng sản xuất tre, luồng, vầu tập trung 112 nghìn ha. Có 12% diện tích tre, luồng, vầu được liên kết cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC; 75% sản phẩm từ tre, luồng, vầu tiêu thụ trong nước, 15% xuất khẩu; có 02 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
4. Lĩnh vực thủy sản
4.1. Tôm
- Đến năm 2025: diện tích nuôi 4.100 ha (tôm chân trắng 700 ha, tôm sú 3.400 ha); sản lượng 10,7 nghìn tấn. Có 50% diện tích nuôi tôm được chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap; 30% diện tích nuôi thâm canh công nghệ cao trong nhà bạt, nhà kính; 25% diện tích nuôi tôm được các công ty, hợp tác xã liên kết với các hộ dân sản xuất, chế biến, tiêu thụ; 70% sản phẩm tôm tiêu thụ trong nước, 30% xuất khẩu; có 01 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: diện tích nuôi 4.100 ha (tôm chân trắng 1.000 ha, tôm sú 3.100 ha); sản lượng 16 nghìn tấn. Có 70% diện tích nuôi tôm được chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap; 50% diện tích nuôi thâm canh công nghệ cao trong nhà bạt, nhà kính; 60% diện tích nuôi tôm được các công ty, hợp tác xã liên kết với các hộ dân sản xuất, chế biến, tiêu thụ; 50% sản phẩm tôm tiêu thụ trong nước, 50% xuất khẩu; có 02 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
4.2. Sản phẩm hải sản khai thác xa bờ
- Đến năm 2025: tổng số tàu cá khai thác xa bờ 1.350 tàu, sản lượng khai thác 88 nghìn tấn; có 60% sản lượng khai thác xa bờ được liên kết thu mua, chế biến và tiêu thụ; 50% tàu khai thác xa bờ có hầm bảo quản bằng công nghệ bảo quản mới; 70% sản phẩm khai thác xa bờ cung ứng cho thị trường trong tỉnh và tỉnh ngoài, 30% xuất khẩu; có 02 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: tổng số tàu cá khai thác xa bờ 1.500 tàu, sản lượng khai thác 97 nghìn tấn; có 80% sản lượng khai thác xa bờ được liên kết thu mua, chế biến và tiêu thụ; 80% tàu khai thác xa bờ có hầm bảo quản bằng công nghệ bảo quản mới; 60% sản phẩm khai thác xa bờ cung ứng cho thị trường trong tỉnh và tỉnh ngoài, 40% xuất khẩu; có 03 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
4.3. Ngao và các sản phẩm nuôi biển
* Ngao:
- Đến năm 2025: diện tích nuôi 1.000 ha, sản lượng 13 nghìn tấn (tập trung ở các vùng bãi triều thuộc các huyện: Hậu Lộc, Nga Sơn, thị xã Nghi Sơn, Quảng Xương, Hoang Hóa); 100% diện tích ngao nuôi tập trung được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP; 70% sản phẩm ngao nuôi tiêu thụ trong nước, 30% xuất khẩu; có 01 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: diện tích nuôi ổn định 1.000 ha, sản lượng 13 nghìn ha 1.000 ha, sản lượng 13 nghìn tấn; 100% diện tích ngao nuôi tập trung được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP; 65% sản phẩm ngao nuôi tiêu thụ trong nước, 35% xuất khẩu.
* Các sản phẩm nuôi biển:
- Đến năm 2025: diện tích nuôi lồng, giàn tại khu vực biển đảo Hòn Mê 70 nghìn m3 (cá song, cá giò, cá hồng mỹ, cá vược,…), diện tích nuôi trong ao nước mặn, lợ tại các khu vực ven biển 3.500 ha (cá hồng mỹ, cá vược, cá đối mục, cua xanh, hàu,…), sản lượng nuôi biển 3.200 tấn; có 80% diện tích nôi biển được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP; 70% sản phẩm nuôi biển tiêu thụ trong nước, 30% xuất khẩu; có 01 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
- Đến năm 2030: diện tích nuôi lồng, giàn trên biển ổn định 70 nghìn m3, diện tích nuôi trong ao nước mặn, lợ 3.300 ha, sản lượng nuôi biển 4.150 tấn; có 100% diện tích nôi biển được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP; 65% sản phẩm nuôi biển tiêu thụ trong nước, 35% xuất khẩu; có 02 sản phẩm được chứng nhận sản phẩm OCOP.
(Có các Phụ lục và Đề án kèm theo)
IV. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Giải pháp về giống
- Tăng cường công tác chọn tạo và phát triển các giống cây trồng mới năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận; cải tiến tính trạng các cây trồng (lúa, ngô, rau, quả, mía, cây thức ăn chăn nuôi, cây gai xanh) theo hướng có năng suất, chất lượng cao phục vụ xuất khẩu và thích ứng với biến đổi khí hậu. Chọn tạo giống vật nuôi (gia cầm, bò, lợn) có năng suất, chất lượng cao, kháng bệnh, giống thích ứng với biến đổi khí hậu. Chọn tạo giống cây lâm nghiệp nhập nội và bản địa làm gỗ lớn; cây lâm sản ngoài gỗ (tre, luồng) có năng suất, chất lượng, lợi thế cạnh tranh cao. Nghiên cứu làm chủ và phát triển công nghệ chọn tạo giống bố mẹ và kỹ thuật sản xuất giống đối với một số giống thuỷ sản chủ lực (tôm, ngao) sạch bệnh.
- Đẩy mạnh công tác nhập nội, mua bản quyền giống mới; bình tuyển cây đầu dòng, chọn lọc cây trội; xây dựng và chăm sóc vườn cây đầu dòng, rừng giống, vườn giống; sản xuất giống các cấp; bảo quản, chế biến hạt giống theo hướng công nghiệp; nhập công nghệ sản xuất giống, hoàn thiện công nghệ sản xuất giống; đào tạo, tập huấn; kiểm soát chất lượng giống,...
- Đầu tư nâng cấp, hiện đại hóa các cơ sở nghiên cứu, sản xuất giống cây trồng, vật nuôi (Viện/Trường/Trung tâm) của tỉnh. Hỗ trợ đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi, xử lý chất thải…) các vùng sản xuất giống tập trung, tạo điều kiện thuận lợi để công nghiệp hóa sản xuất giống. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, chế biến giống theo hướng công nghiệp hiện đại.
2. Giải pháp về bố trí đất đai
- Rà soát kế hoạch sử dụng đất để xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh, các vùng trọng điểm sản xuất các sản phẩm nông nghiệp chủ lực nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất.
- Tập trung triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 10/01/2019 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tích tụ tập trung đất đai để phát triển sản xuất nông nghiệp quy mô lớn ứng dụng công nghệ cao đến năm 2025, định hướng đến 2030.
- Hạn chế việc thu hồi đất nông nghiệp cho các mục đích khác; tiếp tục chuyển đổi diện tích đất trồng lúa, mía, sắn,… kém hiệu quả sang các loại cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn.
- Khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ gia đình, cá nhân thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, hình thành các vùng sản xuất quy mô lớn. Bố trí hợp lý khu vực chăn thả phục vụ phát triển chăn nuôi gia súc; hình thành những khu chăn nuôi tập trung xa khu dân cư, dễ cách ly và xử lý môi trường theo quy định của Luật Chăn nuôi.
3. Giải pháp về cơ sở hạ tầng
Rà soát, lồng ghép các chương trình, dự án, đặc biệt là Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới để làm mới và hoàn thiện các công trình về thuỷ lợi, điện, giao thông nội đồng,… phục vụ cho các vùng sản xuất tập trung. Quan tâm đầu tư cho các vùng sản xuất hàng hóa trọng điểm và vùng khó khăn; thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa đầu tư, nhằm huy động nguồn lực từ các doanh nghiệp, tổ chức và người dân đầu tư vào nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Trong đó tập trung vào 01 số lĩnh vực sau:
- Tăng cường đầu tư để hoàn thiện hệ thống giao thông nội đồng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung và hệ thống giao thông đến các vùng sản xuất để thuận tiện cho việc vận chuyển vật tư và tiêu thụ sản phẩm.
- Tập trung đầu tư hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng, củng cố hệ thống thủy nông cơ sở đáp ứng yêu cầu sản xuất lúa và cây rau màu, yêu cầu chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa; ưu tiên đầu tư các vùng đất chuyên canh.
- Tăng đầu tư cơ sở hạ tầng cho nuôi trồng thủy sản tập trung (tôm he chân trắng quy mô công nghiệp, ngao), hệ thống cảnh báo và giám sát môi trường, hệ thống quản lý dịch bệnh và thú y thủy sản; tiếp tục đầu tư sắp xếp quy hoạch các dự án cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão.
- Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đài trạm thông tin ven biển phục vụ tàu thuyền đánh bắt hải sản, chủ động ứng phó với các cơn bão, sóng thần và các tai nạn, rủi ro trên biển, tăng cường bảo vệ, hỗ trợ đảm bảo an toàn cho ngư dân hoạt động trên biển, nhất là ở các khu vực xa bờ.
4. Giải pháp về khoa học công nghệ
- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ trở thành khâu đột phá để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp chủ lực; trong đó, Viện Nông nghiệp Thanh Hóa là đơn vị đầu mối về nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp.
- Tập trung tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ vào sản xuất; ưu tiên tập trung trên một số lĩnh vực: giống, bảo vệ thực vật, thú y, kiểm tra chất lượng giống, phân bón, công nghệ sinh học, quy trình sản xuất thực hành nông nghiệp tốt; bảo quản, chế biến sản phẩm nông sản, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.
- Nhân rộng các mô hình ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp xanh trong trồng trọt, chăn nuôi có hiệu quả đã được khẳng định; đẩy mạnh sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi thủy sản theo hướng an toàn đạt tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ trong nước và nước ngoài (JAS, IFOAM),… nhằm nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm.
- Xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ trong chế biến, bảo quản nông sản, xử lý môi trường và phát triển bền vững. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, sản xuất nông nghiệp; xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ trong sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản, xử lý môi trường nhằm phát triển nông nghiệp xanh, bền vững.
- Đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công lập theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm; huy động sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt các doanh nghiệp ngoài nhà nước vào các hoạt động khoa học công nghệ, đào tạo và các dịch vụ nông nghiệp khác; phân cấp mạnh mẽ hoạt động khuyến nông cho các tổ chức nông dân và doanh nghiệp.
- Ưu tiên thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào các vùng, khu nông nghiệp công nghệ cao để phát triển các sản phẩm chủ lực; trong đó, quan tâm đến nghiên cứu, hoàn thiện và phát triển các quy trình công nghệ trong sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao; bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp theo hướng tinh, sâu; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại,...
- Đào tạo, bồi dưỡng để hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật và công nghệ đủ về số lượng, có trình kỹ thuật độ cao trong lĩnh vực nông nghiệp và sinh học, phục vụ các chương trình, đề án nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong theo dõi sự biến đổi khí hậu, nhiệt độ, môi trường, độ ẩm, các tác động ảnh hưởng đến quá trình sản xuất nông nghiệp, như: xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, phát triển nông nghiệp và nông thôn; triển khai hệ thống giám sát môi trường nông nghiệp đối với khu trang trại tập trung, quy mô lớn; thí điểm triển khai hệ thống cảnh báo cho cây trồng trong các vùng, khu nông nghiệp công nghệ cao và một số trang trại, hộ gia đình.
5. Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực
- Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn, trong đó có lựa chọn trọng tâm, trọng điểm như: đào tạo lao động nông thôn có trình độ sơ cấp nghề; kỹ thuật viên cần có chứng chỉ hành nghề; tập huấn kỹ thuật cho lao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp; đào tạo lao động nông thôn có chứng chỉ nghề để đủ điều kiện hợp đồng lao động với các doanh nghiệp nông nghiệp.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã, tổ hợp tác: tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuẩn cho các cán bộ quản lý hợp tác xã, tổ hợp tác; phát hiện, tổng kết các mô hình thực tiễn về kinh tế hợp tác, hợp tác xã, tổ chức, liên kết sản xuất để phổ biến, nhân rộng thông qua các chương trình bồi dưỡng, tập huấn phù hợp. Đào tạo, tập huấn cho cán bộ và thành viên hợp tác xã; đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với phát triển các sản phẩm OCOP.
- Xây dựng đội ngũ chuyên gia và nhà khoa học giỏi trong từng lĩnh vực, từng sản phẩm nông nghiệp tỉnh có lợi thế. Xây dựng đội ngũ trí thức phục vụ nông nghiệp nông thôn; xây dựng quỹ cho trí thức trẻ vay lập nghiệp ở nông thôn (xây dựng doanh nghiệp, xây dựng trang trại, mở dịch vụ khoa học công nghệ, dịch vụ nông nghiệp…), thu hút trí thức trẻ về làm việc ở nông thôn.
- Khuyến khích các trường đại học tham gia nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ thông qua việc đẩy mạnh phương thức đặt hàng giao trực tiếp trong lĩnh vực khoa học công nghệ, ưu tiên tạo ra sản phẩm, quy trình công nghệ cao phục vụ phát triển sản phẩm chủ lực của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Tổ chức rà soát hệ thống khuyến nông từ tỉnh đến huyện, xã; đào tạo tập huấn để nâng cao trình độ cán bộ khuyến nông; xây dựng mạng lưới khuyến nông tham gia trực tiếp vào chuyển giao khoa học công nghệ, tiến bộ kỹ thuật gắn với đào tạo nghề cho nông dân trên sản phẩm có lợi thế của vùng.
6. Giải pháp phát triển các hình thức tổ chức sản xuất
- Tập trung đổi mới tổ chức sản xuất theo hướng phát triển hợp tác, liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và người dân trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò nòng cốt định hướng sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng và quản lý thương hiệu, tiêu thụ sản phẩm.
- Xây dựng và nhân rộng các mô hình, chuỗi liên kết sản xuất trồng trọt có hiệu quả cao đã và đang thực hiện thành công trên địa bàn tỉnh; phát triển chăn nuôi theo hình thức trang trại tập trung quy mô lớn, hiện đại. Liên kết với các cơ sở chế biến để hình thành vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn gắn với cấp chứng chỉ FSC. Thành lập các tổ cộng đồng, hợp tác xã tại các vùng nuôi nhằm hỗ trợ nhau trong dịch vụ đầu vào, kỹ thuật nuôi cũng như tiêu thụ sản phẩm; phát triển mạnh các tổ đoàn kết trên biển.
- Phát triển hợp tác xã sản xuất nông nghiệp kiểu mới để đẩy mạnh liên kết phát triển vùng nguyên liệu cung cấp cho doanh nghiệp chế biến, tạo thành các chuỗi giá trị sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp; hỗ trợ và tạo điều kiện cho các hợp tác xã, cơ sở, làng nghề xây dựng thương hiệu sản phẩm, xây dựng chỉ dẫn địa lý của đặc sản xứ Thanh, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, tăng cường năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP.
- Phát huy vai trò đầu tầu của doanh nghiệp trong chuỗi liên kết để hình thành vùng nguyên liệu sản xuất, hỗ trợ đầu vào và thu mua sản phẩm cho nông dân, từng bước tiến tới xây dựng thương hiệu sản phẩm nông sản; đẩy mạnh liên kết, ký kết hợp đồng sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản.
7. Giải pháp về thu gom, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch, chế biến sản phẩm
- Tập trung sản xuất các sản phẩm nông nghiệp chủ lực theo vùng, gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm để thu hút các doanh nghiệp có khả năng chế biến vào đầu tư chế biến tinh, sâu; đẩy mạnh cơ giới hóa vào các khâu từ sản xuất - bảo quản - chế biến - vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm, áp dụng quản lý chất lượng tiên tiến (GHP, DNP, HACCP, ISO..), kết hợp tổ chức sản xuất theo chuỗi, nâng cao giá trị gia tăng.
- Tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế tiếp cận được các nguồn vốn để đầu tư công nghệ thu hoạch, bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp. Trong trồng trọt: đầu tư nâng cấp, đầu tư mới các nhà máy có dây truyền thiết bị công nghệ hiện đại chế biến đường, lúa gạo, ngô xuất khẩu; lắp đặt hệ thống nhà mát, nhà lạnh trong bảo quản rau, quả. Chăn nuôi, thủy sản: xây mới các cơ sở giết mổ tập trung; các nhà máy chế biến thành phẩm, chủ động tiêu thụ thịt tại chỗ, nâng cao giá trị gia tăng. Lâm nghiệp: đổi mới công nghệ, thiết bị của các cơ sở hiện có, sản xuất các sản phẩm theo hướng chế biến tinh, sâu; loại bỏ sản xuất dăm gỗ, ván bóc; thu hút đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến các sản phẩm: ván HDF, ván thanh, ván sàn, ván ốp tường, đồ gỗ xuất khẩu ngay tại các vùng nguyên liệu tập trung.
- Khuyến khích, tạo cơ chế hỗ trợ hình thành các mô hình liên kết, hợp tác về sản xuất và tiêu thụ nông sản (tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp,...) theo hướng chuyên môn hóa và ưu tiên hỗ trợ mua sắm máy móc, thiết bị, công nghệ sau thu hoạch với các chính sách ưu đãi về tín dụng; hướng các chính sách hỗ trợ của nhà nước về đào tạo nhân lực và nâng cao trình độ quản lý. Xây dựng mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị khép kín: thu hoạch - phơi sấy - sơ chế, giết mổ - bảo quản - chế biến - tiêu thụ.
8. Giải pháp về xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại và phát triển thị trường
- Đẩy mạnh việc triển khai xây dựng, duy trì, phát triển thương hiệu cho nhóm nông sản chủ lực: đề xuất các nhiệm vụ duy trì, phát triển quảng bá sản phẩm đã có thương hiệu trên địa bàn tỉnh trên cơ sở điều tra, khảo sát về tình hình sản xuất, thị trường tiêu thụ của các sản phẩm, đánh giá những thuận lợi và khó khăn của từng sản phẩm trong nhóm nông sản chủ lực đã có thương hiệu; xây dựng các dự án khoa học công nghệ phù hợp cho từng sản phẩm, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới, công nghệ cao để nâng cao năng suất, chất lượng các sản phẩm đã có thương hiệu; tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò các sản phẩm nổi tiếng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Thông qua các hình thức tuyên truyền và quảng bá nhằm thúc đẩy sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm có thương hiệu của tỉnh.
- Tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm đã có thương hiệu:
+ Xây dựng kế hoạch quản lý, kiểm soát chất lượng sản phẩm nông sản sử dụng nhãn hiệu giai đoạn 2021 - 2025. Quản lý, kiểm soát chất lượng sản phẩm trong chuỗi giá trị sản phẩm nông sản từ khâu sản xuất (giống cây trồng, vật tư nông nghiệp, quy trình sản xuất, chăm sóc,...) đến sơ chế, phân loại, bảo quản sau thu hoạch (các trung tâm sau thu hoạch, doanh nghiệp, cơ sở) chế biến và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa.
+ Hướng dẫn các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở, đầu mối thu mua nông sản, nông hộ sử dụng nhãn hiệu, xây dựng kế hoạch và các điều kiện để chuẩn hóa sản phẩm đạt tiêu chuẩn đủ điều kiện đăng ký sử dụng nhãn hiệu; chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra, kiểm soát và công bố chất lượng và phân loại nông sản được gắn nhãn hiệu trước khi tiêu thụ.
+ Các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tiến hành giám sát quá trình thực hiện của các đơn vị được sử dụng nhãn hiệu chứng nhận; định kỳ và đột xuất lấy mẫu kiểm tra chất lượng sản phẩm, thực hiện các chế tài đối với các sản phẩm không đạt chất lượng và các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm, sử dụng nhãn hiệu không hợp pháp.
+ Tuyên truyền cho các đối tượng: Hộ nông dân, hợp tác xã, tổ hợp tác, các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất hoặc tham gia vào chuỗi sản xuất, cung cấp dịch vụ, giúp nâng cao ý thức, thực hiện tốt công tác quản lý chất lượng sản phẩm, nâng cao giá trị thương hiệu trong quá trình triển khai thực hiện.
- Quảng bá thương hiệu các sản phẩm nông sản đã có thương hiệu:
+ Tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tiếp cận với thị trường, giới thiệu sản phẩm đã có thương hiệu ra ngoài tỉnh thông qua các hội chợ, triển lãm,...
+ Xây dựng, đăng tải các phim tư liệu sản phẩm nông sản đã có thương hiệu trên Đài Phát thanh - Truyền hình Trung ương và địa phương, Internet, mạng xã hội và quảng bá ở nước ngoài. Xây dựng trang thông tin về thương hiệu các sản phẩm nông sản của tỉnh phục vụ quảng bá trên các báo, tạp chí,...
+ Xây dựng chuyên trang Website thương hiệu sản phẩm nông sản Thanh Hóa phục vụ người tiêu dùng trong việc truy cập, tìm kiếm các sản phẩm chất lượng mang thương hiệu.
+ Hợp tác với các trung tâm phân phối nông sản lớn, với đơn vị dịch vụ du lịch (cơ sở lưu trú, lữ hành, phương tiện vận chuyển công cộng...) để quảng bá nông sản của tỉnh. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm nông sản đã có thương hiệu hoạt động xúc tiến thương mại theo các Chương trình xúc tiến thương mại Quốc gia, Chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch của tỉnh. Xây dựng trung tâm trưng bày, giới thiệu và bán các sản phẩm mang thương hiệu của tỉnh ở các địa bàn cửa ngõ và các trung tâm thương mại, du lịch của tỉnh.
- Tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ:
+ Đẩy mạnh hỗ trợ triển khai thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại để thúc đẩy tiếp cận thị trường cả trong nước và quốc tế, tạo đầu ra cho nông sản hàng hóa.
+ Dự báo thị trường cho các doanh nghiệp sản xuất, chế biến nông sản, đặc biệt là người dân để họ có định hướng, phương án sản xuất phù hợp.
+ Tăng cường nghiên cứu phân khúc thị trường tiêu thụ, kết nối với nhiều kênh phân phối, trong đó có hợp tác liên kết giữa các doanh nghiệp hoạt động thương mại tại các thị trường tiêu thụ sản phẩm.
+ Tiếp tục đầu tư nâng cấp, cải tạo, xây dựng mới chợ nông thôn, chợ đầu mối tiêu thụ nông sản hàng hóa, các khu giết mổ gia súc gia cầm tập trung và trung tâm thương mại, siêu thị.
+ Quy hoạch sắp xếp lại các điểm tiêu thụ nông sản, thủy sản theo hệ thống nhằm gia tăng sức mua cho người dân tại chỗ và khách vãng lai, khách du lịch đối với nông sản, thủy sản hàng hóa là thế mạnh của tỉnh; nhất là đặc sản truyền thống nổi tiếng của tỉnh.
9. Giải pháp về bảo vệ môi trường
- Tuyên truyền, vận động người dân bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cho người sản xuất và góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp thông qua hành động thu gom, phân loại, xử lý các loại rác thải. Khuyến khích người dân sử dụng phế phẩm nông nghiệp để làm phân bón, thức ăn chăn nuôi; tận dụng phụ phẩm nông nghiệp từ thân cây, lá cây để ủ làm phân xanh hữu cơ bón cho cây trồng thay thế các loại phân hóa học, vừa giảm chi phí sản xuất, vừa bảo vệ môi trường.
- Ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật cao, thân thiện với môi trường trong sản xuất nông nghiệp,... khuyến khích các cơ sở sản xuất, chế biến nông sản đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ thiết bị, hiện đại hóa các công nghệ truyền thống theo phương châm kết hợp giữa công nghệ tiên tiến với công nghệ truyền thống. Khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng sạch.
- Thường xuyên kiểm tra, giám sát về ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề và các cơ sở sản xuất, kinh doanh; kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV, thú y, hóa chất, chất cấm trong trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định.
- Tăng cường các hoạt động giám sát chất lượng, quan trắc và cảnh báo ô nhiễm môi trường; đầu tư trang thiết bị giám sát, quan trắc môi trường; nâng cao năng lực giám sát chất lượng và cảnh báo ô nhiễm môi trường; rà soát và xây dựng hoàn chỉnh mạng lưới quan trắc.
10. Giải pháp về nguồn vốn và cơ chế chính sách khuyến khích phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực
- Ưu tiên lồng ghép, bố trí kinh phí từ nguồn ngân sách tỉnh, ngân sách cấp huyện và huy động từ các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện phát triển các sản phẩm nông nghiệp tỉnh; khuyến khích, vận động các thành phần kinh tế tư nhân đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh. Đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thực sự thông thoáng và tăng cường công tác xúc tiến đầu tư để thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tham gia đầu tư phát triển sản xuất.
- Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách hỗ trợ của Trung ương và của tỉnh; đồng thời, rà soát sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp theo hướng giảm số lượng các cơ chế chính sách, giảm số lượng các nội dung hỗ trợ để tăng định mức và tập trung hỗ trợ những nội dung quan trọng có tính chất “đòn bẩy”, tạo động lực thúc đẩy phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, như: hỗ trợ tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm; hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật cho các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung, quy mô lớn,...