Document: Điều 18 Thông tư 175/2013/TT-BTC áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan

Type: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "29/11/2013", "sign_number": "175/2013/TT-BTC", "signer": "Đỗ Hoàng Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "29/11/2013", "sign_number": "175/2013/TT-BTC", "signer": "Đỗ Hoàng Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "29/11/2013", "sign_number": "175/2013/TT-BTC", "signer": "Đỗ Hoàng Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "29/11/2013", "sign_number": "175/2013/TT-BTC", "signer": "Đỗ Hoàng Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "29/11/2013", "sign_number": "175/2013/TT-BTC", "signer": "Đỗ Hoàng Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 18 Thông tư 175/2013/TT-BTC áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan có nội dung như sau:

Điều 18. Đánh giá xếp hạng mức độ rủi ro của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh
1. Doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa được đánh giá xếp hạng mức độ rủi ro, bao gồm:
a) Hạng 1: Doanh nghiệp ưu tiên;
b) Hạng 2: Doanh nghiệp rủi ro rất thấp;
c) Hạng 3: Doanh nghiệp rủi ro thấp;
d) Hạng 4: Doanh nghiệp rủi ro trung bình;
đ) Hạng 5: Doanh nghiệp rủi ro cao;
e) Hạng 6: Doanh nghiệp rủi ro rất cao;
g) Hạng 7: Doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh dưới 365 ngày.
2. Việc đánh giá, công nhận Doanh nghiệp ưu tiên được thực hiện theo theo Thông tư số 86/2013/TT-BTC ngày 17 tháng 6 năm 2013 của Bộ Tài chính về việc áp dụng chế độ ưu tiên trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp đủ điều kiện.
3. Doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh dưới 365 ngày là doanh nghiệp chưa có hoặc có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa dưới 365 ngày trở về trước tính đến ngày đánh giá.
4. Cơ quan hải quan thu thập thông tin, ứng dụng tiêu chí và hệ thống thông tin nghiệp vụ để đánh giá, xếp hạng mức độ rủi ro của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, trừ trường hợp tại điểm a khoản 1 Điều này.
5. Kết quả đánh giá, xếp hạng mức độ rủi ro của doanh nghiệp được cung cấp, làm cơ sở cho việc áp dụng chính sách ưu tiên, áp dụng chế độ, chính sách quản lý hải quan, quản lý thuế hoặc áp dụng các biện pháp kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan và các biện pháp nghiệp vụ khác trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh.
Việc áp dụng khoản này đối với doanh nghiệp tại điểm g khoản 1 Điều này được thực hiện theo hướng dẫn của Tổng cục Hải quan trên cơ sở phù hợp với quy mô, lĩnh vực hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp và yêu cầu quản lý hải quan, quản lý thuế trong từng thời kỳ.
6. Tổng cục Hải quan có trách nhiệm:
a) Căn cứ vào số lượng doanh nghiệp xuất nhập khẩu có trụ sở chính và hoạt động trên từng địa bàn Cục Hải quan để xây dựng kế hoạch, lập danh sách doanh nghiệp đưa vào diện đánh giá xếp hạng phù hợp với điều kiện, khả năng của từng Cục Hải quan.
b) Tổng cục Hải quan ban hành quy trình, phân công nhiệm vụ và quy định trách nhiệm cụ thể của đơn vị Hải quan các cấp trong việc thu thập thông tin, đánh giá xếp hạng mức độ rủi ro đối với doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh.

Content:
Điều 18. Đánh giá xếp hạng mức độ rủi ro của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh
1. Doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa được đánh giá xếp hạng mức độ rủi ro, bao gồm:
a) Hạng 1: Doanh nghiệp ưu tiên;
b) Hạng 2: Doanh nghiệp rủi ro rất thấp;
c) Hạng 3: Doanh nghiệp rủi ro thấp;
d) Hạng 4: Doanh nghiệp rủi ro trung bình;
đ) Hạng 5: Doanh nghiệp rủi ro cao;
e) Hạng 6: Doanh nghiệp rủi ro rất cao;
g) Hạng 7: Doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh dưới 365 ngày.
2. Việc đánh giá, công nhận Doanh nghiệp ưu tiên được thực hiện theo theo Thông tư số 86/2013/TT-BTC ngày 17 tháng 6 năm 2013 của Bộ Tài chính về việc áp dụng chế độ ưu tiên trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp đủ điều kiện.
3. Doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh dưới 365 ngày là doanh nghiệp chưa có hoặc có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa dưới 365 ngày trở về trước tính đến ngày đánh giá.
4. Cơ quan hải quan thu thập thông tin, ứng dụng tiêu chí và hệ thống thông tin nghiệp vụ để đánh giá, xếp hạng mức độ rủi ro của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, trừ trường hợp tại điểm a khoản 1 Điều này.
5. Kết quả đánh giá, xếp hạng mức độ rủi ro của doanh nghiệp được cung cấp, làm cơ sở cho việc áp dụng chính sách ưu tiên, áp dụng chế độ, chính sách quản lý hải quan, quản lý thuế hoặc áp dụng các biện pháp kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan và các biện pháp nghiệp vụ khác trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh.
Việc áp dụng khoản này đối với doanh nghiệp tại điểm g khoản 1 Điều này được thực hiện theo hướng dẫn của Tổng cục Hải quan trên cơ sở phù hợp với quy mô, lĩnh vực hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp và yêu cầu quản lý hải quan, quản lý thuế trong từng thời kỳ.
6. Tổng cục Hải quan có trách nhiệm:
a) Căn cứ vào số lượng doanh nghiệp xuất nhập khẩu có trụ sở chính và hoạt động trên từng địa bàn Cục Hải quan để xây dựng kế hoạch, lập danh sách doanh nghiệp đưa vào diện đánh giá xếp hạng phù hợp với điều kiện, khả năng của từng Cục Hải quan.
b) Tổng cục Hải quan ban hành quy trình, phân công nhiệm vụ và quy định trách nhiệm cụ thể của đơn vị Hải quan các cấp trong việc thu thập thông tin, đánh giá xếp hạng mức độ rủi ro đối với doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh.