Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 252/QĐ-TTg phê duyệt Chiến luợc phát triển thị trường chứng khoán

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "01/03/2012", "sign_number": "252/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "01/03/2012", "sign_number": "252/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "01/03/2012", "sign_number": "252/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "01/03/2012", "sign_number": "252/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "01/03/2012", "sign_number": "252/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 252/QĐ-TTg phê duyệt Chiến luợc phát triển thị trường chứng khoán

Điều 1. Phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Các giải pháp thực hiện
a) Hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao năng lực quản lý, giám sát
- Hoàn thiện hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán số 70 năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Chứng khoán số 62 năm 2010 để thực thi trong giai đoạn 2011 - 2015.
- Xây dựng và trình Quốc hội vào năm 2015 ban hành Luật Chứng khoán mới (thay thế cho Luật Chứng khoán hiện hành) với phạm vi điều chỉnh rộng hơn, tiếp cận gần hơn với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, điều chỉnh đồng bộ hoạt động chứng khoán trong mối liên kết với các khu vực dịch vụ của thị trường tài chính. Luật Chứng khoán mới được xây dựng trên cơ sở đồng bộ, thống nhất với các Luật liên quan.
b) Tăng cung hàng hóa cho thị trường và cải thiện chất lượng nguồn cung
- Áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế về công bố thông tin, quản trị công ty và xây dựng cơ chế bảo vệ nhà đầu tư nhỏ, cụ thể:
+ Xây dựng cơ chế công bố thông tin của công ty đại chúng dựa trên quy mô vốn và tính đại chúng;
+ Từng bước hoàn thiện các văn bản hướng dẫn áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS), chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và chuẩn mực kiểm toán đối với công ty đại chúng.
+ Hướng dẫn doanh nghiệp từng bước áp dụng thông lệ quốc tế về quản trị công ty và quản trị rủi ro; xây dựng các quy định và chế tài bảo vệ nhà đầu tư thiểu số.
- Chuẩn hóa các quy định về chào bán chứng khoán ra công chúng theo thông lệ quốc tế, cụ thể:
+ Từng bước đơn giản hóa thủ tục đăng ký chào bán chứng khoán bằng cách chuyển từ cơ chế thẩm định điều kiện chào bán sang cơ chế chào bán dựa trên công bố thông tin đầy đủ;
+ Tăng cường công tác quản lý, giám sát đối với hoạt động chào bán chứng khoán và các chế tài xử lý phù hợp;
+ Đa dạng hóa các sản phẩm chứng khoán được chào bán ra công chúng, như trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm quyền mua, các sản phẩm liên kết đầu tư và các sản phẩm cơ cấu.
- Cải tiến phương thức định giá và chào bán cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa gắn với niêm yết trên thị trường chứng khoán, cụ thể:
+ Áp dụng phương pháp dụng sổ (book building) cho các tổ chức chào mua chuyên nghiệp đồng thời với phương thức đấu giá cổ phần hóa;
+ Nâng cao chất lượng tư vấn cổ phần hóa và minh bạch trong quá trình cổ phần doanh nghiệp, thực hiện đấu giá cổ phần hóa thông qua chào bán ra công chúng với niêm yết, giao dịch trên thị trường tập trung.
- Hoàn thiện và phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu công ty trên cơ sở gắn kết giữa thị trường chào bán sơ cấp với thị trường giao dịch thứ cấp; từng bước xây dựng đường cong lợi suất chuẩn cho thị trường trái phiếu, cụ thể:
+ Hoàn thiện các văn bản pháp lý hướng dẫn Luật Quản lý nợ công nhằm kiểm soát việc vay, trả nợ và quản lý nợ công minh bạch và có tính dự báo;
+ Hoàn thiện phương thức và hình thức phát hành trái phiếu với các kỳ hạn và thời gian đáo hạn hợp lý; xây dựng lịch biểu phát hành trái phiếu Chính phủ theo lô lớn phù hợp với yêu cầu sử dụng vốn của Chính phủ;
+ Xây dựng hệ thống các nhà kinh doanh trái phiếu sơ cấp và tạo lập cơ chế liên kết giữa các thành viên thị trường sơ cấp với thành viên thị trường thứ cấp trái phiếu, từng bước hình thành các nhà tạo lập thị trường trái phiếu;
+ Phát triển các nhà đầu tư có tổ chức như quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí để trở thành nhà đầu tư chính trên thị trường chứng khoán, giảm bớt tỷ trọng của các ngân hàng thương mại.
- Phát triển thị trường trái phiếu công ty, trên cơ sở:
+ Thực hiện cơ chế cấp giấy chứng nhận đăng ký phát hành trước cho hoạt động phát hành trái phiếu công ty, từng bước tiến tới việc thực hiện đăng ký phát hành trên cơ sở công bố đầy đủ thông tin;
+ Đa dạng hóa các loại hình trái phiếu, như trái phiếu được bảo đảm bằng tài sản, được bảo đảm thanh toán, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền; từng bước xây dựng cơ chế nghiệp vụ chứng khoán hóa tài sản;
+ Phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm, trước hết là tổ chức định mức tín nhiệm cổ phần có tham gia vốn của đối tác nước ngoài có uy tín trong lĩnh vực định mức tín nhiệm.
- Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh được chuẩn hóa theo hướng phát triển với các công cụ từ đơn giản đến phức tạp; về dài hạn cần thống nhất hoạt động thị trường phái sinh có công cụ gốc là chứng khoán, hàng hóa, tiền tệ;
c) Giải pháp phát triển và đa dạng hóa các loại hình nhà đầu tư, cải thiện chất lượng cầu đầu tư nhằm hướng tới cầu đầu tư bền vững
- Phát triển và đa dạng hóa các tổ chức đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư khác tham gia thị trường chứng khoán, trên cơ sở:
+ Xây dựng khuôn khổ pháp luật và chính sách tài chính thích hợp để tạo điều kiện hình thành và phát triển các tổ chức đầu tư, như: Quỹ bất động sản; quỹ đầu tư chỉ số; quỹ bảo hiểm liên kết; quỹ hưu trí tự nguyện và một số loại hình quỹ đầu tư khác;
+ Xây dựng cơ chế kết nối giữa thị trường tiền tệ với thị trường vốn thông qua việc cho phép các công ty quản lý quỹ kết hợp với các ngân hàng thương mại thiết kế các sản phẩm tài chính để nhà đầu tư có thể vay nợ thông qua việc thế chấp các chứng chỉ quỹ; phát triển các hình thức tiết kiệm liên kết đầu tư.
- Xây dựng cơ chế thu hút nhà đầu tư nước ngoài, khuyến khích đầu tư dài hạn:
+ Khuyến khích tổ chức đầu tư nước ngoài đầu tư dài hạn vào Việt Nam phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế thông qua chính sách tài chính ưu đãi (thuế và phí) và đơn giản hóa thủ tục đăng ký đầu tư;
+ Tăng cường quản lý, giám sát, tăng cường tính công khai, minh bạch chế độ báo cáo, thống kê các hoạt động lưu chuyển vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Xây dựng các phương án để có thể chủ động xử lý, ứng xử khi dòng vốn có sự đảo chiều;
- Phát triển nhà đầu tư cá nhân gắn với đào tạo, tập huấn phổ cập kiến thức và thông tin tuyên truyền.
d) Giải pháp phát triển, nâng cao năng lực cho hệ thống các tổ chức trung gian thị trường, phát triển các Hiệp hội, tổ chức phụ trợ thị trường chứng khoán.
- Đối với công ty chứng khoán
+ Nâng cao năng lực tài chính, phát triển các hoạt động nghiệp vụ theo hướng chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa các hoạt động kinh doanh chứng khoán theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế;
+ Tăng cường quản trị công ty và quản trị rủi ro dựa trên các chỉ tiêu an toàn tài chính đối với công ty chứng khoán phù hợp với các tiêu chuẩn, chuẩn mực quốc tế;
+ Sắp xếp lại hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo hướng thúc đẩy việc hợp nhất, sáp nhập hoặc giải thể các tổ chức yếu kém để tăng quy mô hoạt động, giảm số lượng công ty cho phù hợp với sự phát triển của thị trường; từng bước phát triển các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo mô hình kinh doanh đa năng và chuyên doanh, trên cơ sở đó nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ chứng khoán ra các thị trường khu vực;
+ Nâng cao chất lượng nhân viên hành nghề kinh doanh chứng khoán thông qua chuẩn hóa các chương trình đào tạo hành nghề kinh doanh chứng khoán theo các chuẩn mực cao nhất và từng bước mở cửa cho các tổ chức đào tạo chứng khoán nước ngoài có uy tín.
- Đối với công ty quản lý quỹ
+ Tạo điều kiện, khuyến khích việc tái cơ cấu hệ thống các công ty quản lý quỹ theo hướng chuyên nghiệp. Áp dụng các quy định bảo đảm an toàn tài chính và vốn khả dụng đối với các công ty quản lý quỹ.
+ Khuyến khích các công ty quản lý quỹ huy động và quản lý các loại hình quỹ đầu tư đa dạng trong và ngoài nước, các sản phẩm liên kết đầu tư, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các công ty quản lý quỹ.
- Tăng cường công tác quản lý, giám sát việc tuân thủ luật pháp của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, giám sát chặt chẽ việc dịch chuyển luồng vốn giữa lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản, tăng cường công tác kiểm tra, soát xét báo cáo tài chính nhằm kiểm soát độ an toàn tài chính của các tổ chức kinh doanh chứng khoán.
- Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ đăng ký, lưu ký và thanh toán chứng khoán trên cơ sở:
+ Mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ lưu ký chứng khoán, hỗ trợ hoạt động đầu tư của nhà đầu tư chứng khoán;
+ Tổ chức thực hiện thanh toán bù trừ song phương, đa phương cho các chứng khoán cơ sở và chứng khoán phái sinh theo hướng rút ngắn quy trình, thời gian thanh toán chứng khoán;
+ Triển khai mô hình thanh toán, bù trừ đối tác trung tâm (CCP);
+ Cải tiến công tác thanh toán giao dịch chứng khoán theo mô hình hệ thống thanh toán tập trung qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Tăng cường vai trò của các tổ chức Hiệp hội: Phát huy vai trò tự quản của các tổ chức Hiệp hội ngành chứng khoán trong việc hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước trên các lĩnh vực pháp lý, thể chế, chính sách và đào tạo nguồn nhân lực, giám sát sự tuân thủ quy định pháp luật của các thành viên Hiệp hội.
đ) Giải pháp tái cấu trúc tổ chức thị trường, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin của thị trường, nâng cao chất lượng hoạt động và giao dịch trên thị trường chứng khoán
- Tái cấu trúc mô hình tổ chức thị trường chứng khoán Việt Nam, theo hướng:
+ Tổ chức việc giao dịch chứng khoán theo hướng cả nước chỉ có 01 Sở Giao dịch chứng khoán;
+ Phân định các khu vực thị trường: (i) thị trường cổ phiếu; (ii) thị trường trái phiếu và (iii) thị trường chứng khoán phái sinh;
+ Liên kết giữa Sở Giao dịch chứng khoán và Trung tâm Lưu ký chứng khoán để gắn kết mạnh hoạt động thanh toán, bù trừ và lưu ký chứng khoán với hoạt động giao dịch chứng khoán.
- Hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của thị trường chứng khoán theo hướng thống nhất, đồng bộ, đảm bảo khả năng quản lý, giám sát thông qua hệ thống tự động đối với các hoạt động giao dịch, thanh toán, bù trừ và lưu ký chứng khoán:
+ Hoàn chỉnh hệ thống công nghệ thông tin cho thị trường chứng khoán để đi vào hoạt động trước năm 2015;
+ Xây dựng Kế hoạch phát triển hạ tầng công nghệ thông tin cho toàn ngành chứng khoán theo hướng đồng bộ, chuẩn hóa các định dạng về thông tin, báo cáo, quy chuẩn kết nối cũng như định hướng phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin tại các Sở Giao dịch chứng khoán và các thành viên thị trường, đáp ứng cho việc liên kết các Sở Giao dịch chứng khoán khu vực.
e) Tăng cường năng lực quản lý, giám sát và cưỡng chế thực thi
- Củng cố tổ chức, chức năng của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để đảm bảo đủ thẩm quyền thực hiện các nhiệm vụ quản lý, giám sát và cưỡng chế thực thi tiếp cận được các chuẩn mực của IOSCO.
- Phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trên hệ thống theo dõi thị trường, công bố thông tin và báo cáo tự động tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; xây dựng Trung tâm tích hợp dữ liệu chung cho toàn bộ thị trường để xử lý dữ liệu và cơ chế phân quyền truy cập dữ liệu xử lý.
- Xây dựng Quy chế phối hợp quản lý, giám sát chặt chẽ giữa Bộ Tài chính với Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công an, các Bộ, ngành liên quan nhằm nâng cao tính minh bạch, công khai trong hoạt động của khu vực tài chính và phát huy hiệu quả quản lý nhà nước trên thị trường tài chính.
- Tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, giám sát, thanh tra và cưỡng chế thực thi thông qua các chương trình đào tạo trong nước và quốc tế.
g) Tăng cường hợp tác quốc tế
- Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm hỗ trợ xây dựng chính sách, quản lý thị trường và đào tạo nhân lực cho thị trường chứng khoán; hợp tác và chia sẻ thông tin nhằm giám sát, phát hiện và xử lý vi phạm các hành vi vi phạm xuyên biên giới.
- Xây dựng cơ chế chính sách và quy định pháp lý nhằm triển khai thực hiện các cam kết WTO và các cam kết về hội nhập thị trường vốn khu vực ASEAN, ASEAN+, bảo đảm tính công khai, minh bạch và bình đẳng đối với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
- Triển khai thực hiện các chương trình hợp tác song phương với các cơ quan quản lý trong khuôn khổ các Biên bản ghi nhớ đã ký kết; tham gia Biên bản ghi nhớ đa phương đầy đủ (Phụ lục A) trong khuôn khổ IOSCO khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đáp ứng đủ các chuẩn mực quy định.
h) Tăng cường công tác đào tạo, nghiên cứu và thông tin tuyên truyền
- Phát triển Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Đào tạo chứng khoán thành đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo về chứng khoán; đẩy mạnh hợp tác với các trường đại học, các cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước trong hoạt động nghiên cứu, đào tạo kiến thức về thị trường vốn; cho phép các tổ chức đào tạo nước ngoài có uy tín thực hiện dịch vụ đào tạo chứng khoán tại Việt Nam. Công nhận các chứng chỉ chuyên môn cấp quốc tế trong lĩnh vực chứng khoán.
- Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức chứng khoán cho công chúng.
i) Kinh phí và cơ sở vật chất kỹ thuật cho thị trường chứng khoán
Nhà nước đảm bảo cơ sở vật chất, kỹ thuật ban đầu cho Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Lưu ký chứng khoán. Các tổ chức này hoạt động trên cơ sở tự chủ tài chính và tiến tới cổ phần hóa từng bước để thu hồi vốn nhà nước.

Content:
Các giải pháp thực hiện
a) Hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao năng lực quản lý, giám sát
- Hoàn thiện hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán số 70 năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Chứng khoán số 62 năm 2010 để thực thi trong giai đoạn 2011 - 2015.
- Xây dựng và trình Quốc hội vào năm 2015 ban hành Luật Chứng khoán mới (thay thế cho Luật Chứng khoán hiện hành) với phạm vi điều chỉnh rộng hơn, tiếp cận gần hơn với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, điều chỉnh đồng bộ hoạt động chứng khoán trong mối liên kết với các khu vực dịch vụ của thị trường tài chính. Luật Chứng khoán mới được xây dựng trên cơ sở đồng bộ, thống nhất với các Luật liên quan.
b) Tăng cung hàng hóa cho thị trường và cải thiện chất lượng nguồn cung
- Áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế về công bố thông tin, quản trị công ty và xây dựng cơ chế bảo vệ nhà đầu tư nhỏ, cụ thể:
+ Xây dựng cơ chế công bố thông tin của công ty đại chúng dựa trên quy mô vốn và tính đại chúng;
+ Từng bước hoàn thiện các văn bản hướng dẫn áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS), chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và chuẩn mực kiểm toán đối với công ty đại chúng.
+ Hướng dẫn doanh nghiệp từng bước áp dụng thông lệ quốc tế về quản trị công ty và quản trị rủi ro; xây dựng các quy định và chế tài bảo vệ nhà đầu tư thiểu số.
- Chuẩn hóa các quy định về chào bán chứng khoán ra công chúng theo thông lệ quốc tế, cụ thể:
+ Từng bước đơn giản hóa thủ tục đăng ký chào bán chứng khoán bằng cách chuyển từ cơ chế thẩm định điều kiện chào bán sang cơ chế chào bán dựa trên công bố thông tin đầy đủ;
+ Tăng cường công tác quản lý, giám sát đối với hoạt động chào bán chứng khoán và các chế tài xử lý phù hợp;
+ Đa dạng hóa các sản phẩm chứng khoán được chào bán ra công chúng, như trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm quyền mua, các sản phẩm liên kết đầu tư và các sản phẩm cơ cấu.
- Cải tiến phương thức định giá và chào bán cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa gắn với niêm yết trên thị trường chứng khoán, cụ thể:
+ Áp dụng phương pháp dụng sổ (book building) cho các tổ chức chào mua chuyên nghiệp đồng thời với phương thức đấu giá cổ phần hóa;
+ Nâng cao chất lượng tư vấn cổ phần hóa và minh bạch trong quá trình cổ phần doanh nghiệp, thực hiện đấu giá cổ phần hóa thông qua chào bán ra công chúng với niêm yết, giao dịch trên thị trường tập trung.
- Hoàn thiện và phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu công ty trên cơ sở gắn kết giữa thị trường chào bán sơ cấp với thị trường giao dịch thứ cấp; từng bước xây dựng đường cong lợi suất chuẩn cho thị trường trái phiếu, cụ thể:
+ Hoàn thiện các văn bản pháp lý hướng dẫn Luật Quản lý nợ công nhằm kiểm soát việc vay, trả nợ và quản lý nợ công minh bạch và có tính dự báo;
+ Hoàn thiện phương thức và hình thức phát hành trái phiếu với các kỳ hạn và thời gian đáo hạn hợp lý; xây dựng lịch biểu phát hành trái phiếu Chính phủ theo lô lớn phù hợp với yêu cầu sử dụng vốn của Chính phủ;
+ Xây dựng hệ thống các nhà kinh doanh trái phiếu sơ cấp và tạo lập cơ chế liên kết giữa các thành viên thị trường sơ cấp với thành viên thị trường thứ cấp trái phiếu, từng bước hình thành các nhà tạo lập thị trường trái phiếu;
+ Phát triển các nhà đầu tư có tổ chức như quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí để trở thành nhà đầu tư chính trên thị trường chứng khoán, giảm bớt tỷ trọng của các ngân hàng thương mại.
- Phát triển thị trường trái phiếu công ty, trên cơ sở:
+ Thực hiện cơ chế cấp giấy chứng nhận đăng ký phát hành trước cho hoạt động phát hành trái phiếu công ty, từng bước tiến tới việc thực hiện đăng ký phát hành trên cơ sở công bố đầy đủ thông tin;
+ Đa dạng hóa các loại hình trái phiếu, như trái phiếu được bảo đảm bằng tài sản, được bảo đảm thanh toán, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền; từng bước xây dựng cơ chế nghiệp vụ chứng khoán hóa tài sản;
+ Phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm, trước hết là tổ chức định mức tín nhiệm cổ phần có tham gia vốn của đối tác nước ngoài có uy tín trong lĩnh vực định mức tín nhiệm.
- Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh được chuẩn hóa theo hướng phát triển với các công cụ từ đơn giản đến phức tạp; về dài hạn cần thống nhất hoạt động thị trường phái sinh có công cụ gốc là chứng khoán, hàng hóa, tiền tệ;
c) Giải pháp phát triển và đa dạng hóa các loại hình nhà đầu tư, cải thiện chất lượng cầu đầu tư nhằm hướng tới cầu đầu tư bền vững
- Phát triển và đa dạng hóa các tổ chức đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư khác tham gia thị trường chứng khoán, trên cơ sở:
+ Xây dựng khuôn khổ pháp luật và chính sách tài chính thích hợp để tạo điều kiện hình thành và phát triển các tổ chức đầu tư, như: Quỹ bất động sản; quỹ đầu tư chỉ số; quỹ bảo hiểm liên kết; quỹ hưu trí tự nguyện và một số loại hình quỹ đầu tư khác;
+ Xây dựng cơ chế kết nối giữa thị trường tiền tệ với thị trường vốn thông qua việc cho phép các công ty quản lý quỹ kết hợp với các ngân hàng thương mại thiết kế các sản phẩm tài chính để nhà đầu tư có thể vay nợ thông qua việc thế chấp các chứng chỉ quỹ; phát triển các hình thức tiết kiệm liên kết đầu tư.
- Xây dựng cơ chế thu hút nhà đầu tư nước ngoài, khuyến khích đầu tư dài hạn:
+ Khuyến khích tổ chức đầu tư nước ngoài đầu tư dài hạn vào Việt Nam phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế thông qua chính sách tài chính ưu đãi (thuế và phí) và đơn giản hóa thủ tục đăng ký đầu tư;
+ Tăng cường quản lý, giám sát, tăng cường tính công khai, minh bạch chế độ báo cáo, thống kê các hoạt động lưu chuyển vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Xây dựng các phương án để có thể chủ động xử lý, ứng xử khi dòng vốn có sự đảo chiều;
- Phát triển nhà đầu tư cá nhân gắn với đào tạo, tập huấn phổ cập kiến thức và thông tin tuyên truyền.
d) Giải pháp phát triển, nâng cao năng lực cho hệ thống các tổ chức trung gian thị trường, phát triển các Hiệp hội, tổ chức phụ trợ thị trường chứng khoán.
- Đối với công ty chứng khoán
+ Nâng cao năng lực tài chính, phát triển các hoạt động nghiệp vụ theo hướng chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa các hoạt động kinh doanh chứng khoán theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế;
+ Tăng cường quản trị công ty và quản trị rủi ro dựa trên các chỉ tiêu an toàn tài chính đối với công ty chứng khoán phù hợp với các tiêu chuẩn, chuẩn mực quốc tế;
+ Sắp xếp lại hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo hướng thúc đẩy việc hợp nhất, sáp nhập hoặc giải thể các tổ chức yếu kém để tăng quy mô hoạt động, giảm số lượng công ty cho phù hợp với sự phát triển của thị trường; từng bước phát triển các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo mô hình kinh doanh đa năng và chuyên doanh, trên cơ sở đó nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ chứng khoán ra các thị trường khu vực;
+ Nâng cao chất lượng nhân viên hành nghề kinh doanh chứng khoán thông qua chuẩn hóa các chương trình đào tạo hành nghề kinh doanh chứng khoán theo các chuẩn mực cao nhất và từng bước mở cửa cho các tổ chức đào tạo chứng khoán nước ngoài có uy tín.
- Đối với công ty quản lý quỹ
+ Tạo điều kiện, khuyến khích việc tái cơ cấu hệ thống các công ty quản lý quỹ theo hướng chuyên nghiệp. Áp dụng các quy định bảo đảm an toàn tài chính và vốn khả dụng đối với các công ty quản lý quỹ.
+ Khuyến khích các công ty quản lý quỹ huy động và quản lý các loại hình quỹ đầu tư đa dạng trong và ngoài nước, các sản phẩm liên kết đầu tư, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các công ty quản lý quỹ.
- Tăng cường công tác quản lý, giám sát việc tuân thủ luật pháp của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, giám sát chặt chẽ việc dịch chuyển luồng vốn giữa lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản, tăng cường công tác kiểm tra, soát xét báo cáo tài chính nhằm kiểm soát độ an toàn tài chính của các tổ chức kinh doanh chứng khoán.
- Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ đăng ký, lưu ký và thanh toán chứng khoán trên cơ sở:
+ Mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ lưu ký chứng khoán, hỗ trợ hoạt động đầu tư của nhà đầu tư chứng khoán;
+ Tổ chức thực hiện thanh toán bù trừ song phương, đa phương cho các chứng khoán cơ sở và chứng khoán phái sinh theo hướng rút ngắn quy trình, thời gian thanh toán chứng khoán;
+ Triển khai mô hình thanh toán, bù trừ đối tác trung tâm (CCP);
+ Cải tiến công tác thanh toán giao dịch chứng khoán theo mô hình hệ thống thanh toán tập trung qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Tăng cường vai trò của các tổ chức Hiệp hội: Phát huy vai trò tự quản của các tổ chức Hiệp hội ngành chứng khoán trong việc hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước trên các lĩnh vực pháp lý, thể chế, chính sách và đào tạo nguồn nhân lực, giám sát sự tuân thủ quy định pháp luật của các thành viên Hiệp hội.
đ) Giải pháp tái cấu trúc tổ chức thị trường, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin của thị trường, nâng cao chất lượng hoạt động và giao dịch trên thị trường chứng khoán
- Tái cấu trúc mô hình tổ chức thị trường chứng khoán Việt Nam, theo hướng:
+ Tổ chức việc giao dịch chứng khoán theo hướng cả nước chỉ có 01 Sở Giao dịch chứng khoán;
+ Phân định các khu vực thị trường: (i) thị trường cổ phiếu; (ii) thị trường trái phiếu và (iii) thị trường chứng khoán phái sinh;
+ Liên kết giữa Sở Giao dịch chứng khoán và Trung tâm Lưu ký chứng khoán để gắn kết mạnh hoạt động thanh toán, bù trừ và lưu ký chứng khoán với hoạt động giao dịch chứng khoán.
- Hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của thị trường chứng khoán theo hướng thống nhất, đồng bộ, đảm bảo khả năng quản lý, giám sát thông qua hệ thống tự động đối với các hoạt động giao dịch, thanh toán, bù trừ và lưu ký chứng khoán:
+ Hoàn chỉnh hệ thống công nghệ thông tin cho thị trường chứng khoán để đi vào hoạt động trước năm 2015;
+ Xây dựng Kế hoạch phát triển hạ tầng công nghệ thông tin cho toàn ngành chứng khoán theo hướng đồng bộ, chuẩn hóa các định dạng về thông tin, báo cáo, quy chuẩn kết nối cũng như định hướng phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin tại các Sở Giao dịch chứng khoán và các thành viên thị trường, đáp ứng cho việc liên kết các Sở Giao dịch chứng khoán khu vực.
e) Tăng cường năng lực quản lý, giám sát và cưỡng chế thực thi
- Củng cố tổ chức, chức năng của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để đảm bảo đủ thẩm quyền thực hiện các nhiệm vụ quản lý, giám sát và cưỡng chế thực thi tiếp cận được các chuẩn mực của IOSCO.
- Phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trên hệ thống theo dõi thị trường, công bố thông tin và báo cáo tự động tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; xây dựng Trung tâm tích hợp dữ liệu chung cho toàn bộ thị trường để xử lý dữ liệu và cơ chế phân quyền truy cập dữ liệu xử lý.
- Xây dựng Quy chế phối hợp quản lý, giám sát chặt chẽ giữa Bộ Tài chính với Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công an, các Bộ, ngành liên quan nhằm nâng cao tính minh bạch, công khai trong hoạt động của khu vực tài chính và phát huy hiệu quả quản lý nhà nước trên thị trường tài chính.
- Tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, giám sát, thanh tra và cưỡng chế thực thi thông qua các chương trình đào tạo trong nước và quốc tế.
g) Tăng cường hợp tác quốc tế
- Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm hỗ trợ xây dựng chính sách, quản lý thị trường và đào tạo nhân lực cho thị trường chứng khoán; hợp tác và chia sẻ thông tin nhằm giám sát, phát hiện và xử lý vi phạm các hành vi vi phạm xuyên biên giới.
- Xây dựng cơ chế chính sách và quy định pháp lý nhằm triển khai thực hiện các cam kết WTO và các cam kết về hội nhập thị trường vốn khu vực ASEAN, ASEAN+, bảo đảm tính công khai, minh bạch và bình đẳng đối với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
- Triển khai thực hiện các chương trình hợp tác song phương với các cơ quan quản lý trong khuôn khổ các Biên bản ghi nhớ đã ký kết; tham gia Biên bản ghi nhớ đa phương đầy đủ (Phụ lục A) trong khuôn khổ IOSCO khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đáp ứng đủ các chuẩn mực quy định.
h) Tăng cường công tác đào tạo, nghiên cứu và thông tin tuyên truyền
- Phát triển Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Đào tạo chứng khoán thành đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo về chứng khoán; đẩy mạnh hợp tác với các trường đại học, các cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước trong hoạt động nghiên cứu, đào tạo kiến thức về thị trường vốn; cho phép các tổ chức đào tạo nước ngoài có uy tín thực hiện dịch vụ đào tạo chứng khoán tại Việt Nam. Công nhận các chứng chỉ chuyên môn cấp quốc tế trong lĩnh vực chứng khoán.
- Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức chứng khoán cho công chúng.
i) Kinh phí và cơ sở vật chất kỹ thuật cho thị trường chứng khoán
Nhà nước đảm bảo cơ sở vật chất, kỹ thuật ban đầu cho Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Lưu ký chứng khoán. Các tổ chức này hoạt động trên cơ sở tự chủ tài chính và tiến tới cổ phần hóa từng bước để thu hồi vốn nhà nước.