Document: Điểm d Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2881/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch phát triển ngành y tế Bình Thuận 2011 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "2881/QĐ-UBND", "signer": "Lê Tiến Phương", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "2881/QĐ-UBND", "signer": "Lê Tiến Phương", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "2881/QĐ-UBND", "signer": "Lê Tiến Phương", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "2881/QĐ-UBND", "signer": "Lê Tiến Phương", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "2881/QĐ-UBND", "signer": "Lê Tiến Phương", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2881/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch phát triển ngành y tế Bình Thuận 2011 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển Ngành Y tế tỉnh Bình Thuận đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể:
...
d) Mạng lưới y tế dự phòng tuyến huyện:
Đến năm 2015, đầu tư và nâng cấp các trung tâm y tế huyện tại tất cả các huyện, thị và thành phố của tỉnh Bình Thuận. Các trung tâm này được đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị để hoạt động theo chức năng theo quy định của Bộ Y tế.
2. Quy hoạch phát triển mạng lưới khám chữa bệnh và vận chuyển cấp cứu:
2.1. Định hướng phát triển:
- Tăng số giường bệnh công lập/10.000 dân từ 22,3 năm 2010 lên 30,1 giường bệnh vào năm 2015 và 30,6 giường bệnh vào năm 2020 (không tính giường bệnh trạm y tế xã).
- Đẩy mạnh thực hiện chính sách xã hội hóa y tế, tăng số giường bệnh tư nhân/10.000 dân từ 0,8 năm 2010 lên 12,2 giường bệnh vào năm 2015 và 18,6 giường bệnh vào năm 2020.
- Thực hiện từng bước cơ cấu lại số bệnh viện và số giường bệnh của các tuyến điều trị.
- Nâng cấp, bổ sung các trang thiết bị y tế thiết yếu cho các bệnh viện tuyến tỉnh và các bệnh viện tuyến huyện theo quy định của Bộ Y tế. Đảm bảo đến năm 2015 có 90% các bệnh viện tuyến tỉnh, có 80% các bệnh viện tuyến huyện được đầu tư các trang thiết bị y tế đồng bộ và đến năm 2020, tất cả các tuyến là 100%. Tăng cường đào tạo, tuyển dụng đội ngũ cán bộ y tế và nhân viên kỹ thuật chuyên môn về trang thiết bị y tế cho các bệnh viện để sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị y tế hiện đại.
- Đến năm 2015, ngoài các cơ sở y tế công lập đã có, từng bước phát triển các trung tâm khám chữa bệnh chuyên khoa như chạy thận nhân tạo, phẫu thuật mắt, điều trị bệnh răng miệng, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, các bệnh nội tiết, chẩn đoán hình ảnh… với trang thiết bị y tế hiện đại và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế nâng cao. Phấn đấu đến 2020, Ngành y tế tỉnh Bình Thuận có khả năng giải quyết hầu hết nhu cầu khám chữa bệnh chuyên khoa của người dân trong tỉnh và khách vãng lai.
- Đến năm 2015 mỗi bệnh viện trong tỉnh có ít nhất 1 bác sỹ chuyên khoa y học cổ truyền. 80% số phòng khám đa khoa khu vực, 80% trạm y tế xã thực hiện khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền theo đúng quy định phân tuyến của Bộ Y tế và tỷ lệ này là 100% vào năm 2020; tăng tỷ lệ lượt người khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền trong tỉnh so với tổng số lượt người khám chữa bệnh ở toàn tỉnh từ 20% (2010) lên 25% năm 2015 và 30% năm 2020.
- Xây dựng mới Bệnh viện y dược học cổ truyền - phục hồi chức năng (thay thế bệnh viện y học cổ truyền hiện tại), là trung tâm điều trị, nghiên cứu khoa học đào tạo cán bộ điều dưỡng - phục hồi chức năng của toàn tỉnh. Triển khai chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng ở 80% số huyện, 60% số xã vào năm 2015, đến năm 2020 các tỷ lệ này là 100% và 80%.
- Nâng cao tính hiệu quả, công bằng trong khám chữa bệnh ở các bệnh viện và các cơ sở y tế công. Tăng gấp đôi số người nghèo, cận nghèo, các đối tượng chính sách được tiếp cận khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công. Tăng tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế lên 80% vào năm 2015 và 100% vào năm 2020.
- Tăng cường các hoạt động kết hợp quân dân y, đặc biệt ở khu vực miền núi và hải đảo để đảm cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản cho nhân dân ở khu vực này, góp phần nâng cao tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho đồng bào các dân tộc ở tỉnh Bình Thuận.
2.2. Phát triển mạng lưới khám chữa bệnh:
Mạng lưới y tế của tỉnh Bình Thuận được tổ chức trên cơ sở Nghị định số 13/2008/NĐ-CP, Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 25/4/2008 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ.
a) Các bệnh viện tuyến tỉnh:
- Tiếp tục đầu tư về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế cho Bệnh viện đa khoa tỉnh để đạt tiêu chuẩn của bệnh viện hạng I vào năm 2020. Trong thời kỳ 2011-2020, Bệnh viện tập trung đầu tư vào việc tăng cường cơ sở vật chất, hiện đại hóa trang thiết bị y tế và nâng cao năng lực cán bộ. Trong đó, đầu tư xây dựng mới khoa ung bướu - xạ trị, khoa giải phẫu bệnh lý, khoa nội thần kinh và khoa tim mạch can thiệp đưa vào hoạt động trước năm 2015.
- Đầu tư và nâng cấp về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế cho hai bệnh viện tuyến 2 là Bệnh viện đa khoa khu vực Nam Bình Thuận và Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Bình Thuận, đến năm 2015 đạt tiêu chuẩn đầy đủ của Bệnh viện hạng II, với quy mô 300 giường bệnh/bệnh viện.
Điều chỉnh mạng lưới bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh từ 2 bệnh viện hiện nay thành 7 bệnh viện chuyên khoa có quy mô lớn hơn:
+ Xây dựng mới Bệnh viện y dược học cổ truyền - phục hồi chức năng (thay thế bệnh viện y học cổ truyền hiện tại), với qui mô 300 giường bệnh, đi vào hoạt động vào năm 2014. Đồng thời, tập trung đầu tư vào việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và hiện đại hóa trang thiết bị y tế.
+ Đầu tư mới và cải tạo nâng cấp về về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế cho Bệnh viện lao và bệnh phổi ổn định với qui mô 100 giường bệnh. Đồng thời, tiếp tục đầu tư vào việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và cải tạo, nâng cấp trang thiết bị y tế hiện đại.
+ Đầu tư xây mới Bệnh viện sản - nhi với quy mô 300 giường bệnh, đi vào hoạt động trong năm 2015. Đồng thời, tập trung đầu tư vào việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế hiện đại.
+ Nâng cấp Trung tâm da liễu thành Bệnh viện da liễu với quy mô 50 giường bệnh vào năm 2015 và tiếp tục đầu tư vào cải tạo, nâng cấp trang thiết bị y tế hiện đại. Hiện nay, Trung tâm da liễu có diện tích khuôn viên đất là 837 m2, khi chuyển thành bệnh viện cần cấp mới diện tích khuôn viên đất là 5.000m2.
+ Nâng cấp Trung tâm mắt thành Bệnh viện chuyên khoa mắt với quy mô 50 giường bệnh vào năm 2015. Hiện nay, Trung tâm mắt có diện tích khuôn viên là 2.200 m2, khi chuyển thành bệnh viện cần cấp mới diện tích khuôn viên đất là 5.000m2, để phát triển cho các năm tiếp theo. Đồng thời, tập trung đầu tư vào nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế hiện đại.
+ Nâng cấp Trung tâm phòng chống sốt rét - bướu cổ thành Bệnh viện nội tiết với quy mô 50 giường bệnh vào năm 2015. Trung tâm có diện tích khuôn viên là 581m2, khi chuyển thành Bệnh viện cần được cấp mới diện tích khuôn viên đất rộng là 5.000m2, để phát triển cho các năm tiếp theo. Đồng thời, tập trung đầu tư vào nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và tăng cường trang thiết bị y tế hiện đại.
+ Thành lập và xây mới Bệnh viện Tâm thần với qui mô từ 50 giường bệnh vào năm 2020. Bệnh viện cần mới diện tích khuôn viên đất từ 5.000m2 đến 10.000m2, để phát triển cho các năm tiếp theo.
b) Tuyến huyện:
- Các bệnh viện đa khoa tuyến huyện:
Quy hoạch nâng cấp điều chỉnh các bệnh viện huyện hiện có để phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân theo cụm dân cư và vùng địa lý. Đến năm 2015, tiếp tục đầu tư và nâng cấp, cải tạo tất cả các bệnh viện huyện đạt đầy đủ tiêu chuẩn bệnh viện hạng III. Đồng thời đầu tư thêm các trang thiết bị y tế cho các bệnh viện đa khoa huyện.
+ Nâng cấp Phòng khám đa khoa Phan Rí Cửa thành Bệnh viện Phan Rí Cửa với quy mô 70 giường bệnh đến năm 201.
+ Nâng cấp Phòng khám đa khoa Mê Pu thành Bệnh viện đa khoa Mê Pu huyện Đức Linh với quy mô 50 giường bệnh đến năm 2015.
+ Tiếp tục đầu tư về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế cho Bệnh viện đa khoa huyện Hàm Tân lên 120 giường bệnh vào năm 2015 và 150 giường bệnh vào năm 2020.
+ Tiếp tục đầu tư về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế cho Bệnh viện đa khoa thị xã La Gi để nâng cấp thành Bệnh viện đa khoa khu vực La Gi, đạt tiêu chuẩn của Bệnh viện tuyến II với qui mô là 250 giường bệnh vào năm 2020. phục vụ nhân dân khu vực phía Nam, chủ yếu là huyện Hàm Tân và thị xã La Gi.
- Các phòng khám đa khoa khu vực:
Đến năm 2015, tỉnh Bình Thuận có 11 phòng khám đa khoa khu vực. Các phòng khám đa khoa khu vực tiếp tục được đầu tư nâng cấp về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế để đảm bảo thực hiện các dịch vụ có chất lượng từ nay đến năm 2020. Từ sau năm 2020, căn cứ vào tình hình phát triển của các trạm y tế xã, nơi nào trạm y tế xã đủ khả năng khám chữa bệnh thì có thể giảm bớt số phòng khám đa khoa khu vực và tập trung đầu tư cho trạm y tế xã. Đến năm 2010, tổng số giường bệnh của các phòng khám đa khoa khu vực là 240 giường bệnh và giữ nguyên đến năm 2020.
Sau năm 2020, tùy theo tình hình cụ thể có thể chuyển các phòng khám đa khoa khu vực thành các cơ sở 2 của các bệnh viện đa khoa tuyến huyện.
c) Tuyến xã:
Đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các trạm y tế đã xuống cấp đảm bảo đầy đủ trang thiết bị theo chuẩn của Bộ Y tế và nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.
d) Phát triển các cơ sở y tế ngoài công lập:
Khuyến khích phát triển mạng lưới y tế ngoài công lập tăng cả về số lượng và qui mô. Từ năm 2011 khối y tế ngoài công lập trở thành lực lượng quan trọng, hỗ trợ cho hệ thống y tế công lập trong việc khám chữa bệnh cho nhân dân.
d) Nguồn vốn đầu tư:
- Các bệnh viện và phòng khám đa khoa công lập:
Căn cứ số liệu thống kê vốn đầu tư xây dựng mới 1 giường bệnh ở tuyến tỉnh ước tính cần 500 triệu đồng và đầu tư nâng cấp, mở rộng là 200 triệu/giường bệnh. Vốn đầu tư tương ứng cho tuyến huyện: Đầu tư xây dựng mới 1 giường bệnh ước tính cần 400 triệu đồng và đầu tư nâng cấp, mở rộng là 200 triệu/giường bệnh.
- Trạm y tế xã, phường, thị trấn:
Nhu cầu vốn đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới cho các trạm y tế xã, phường, thị trấn theo bảng 17.
- Nhu cầu vốn đầu tư phát triển bệnh viện ngoài công lập:
Căn cứ tiêu chí quy mô các bệnh ngoài công lập thuộc danh mục đặc biệt khuyến khích đầu tư của tỉnh, xác định suất đầu tư theo bảng 18 và 19.
2.Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế:
Đảm bảo đủ trang thiết bị y tế cho các cơ sở y tế của tỉnh Bình Thuận theo các tiêu chuẩn về chủng loại, chất lượng trang thiết bị y tế do Bộ Y tế quy định, đặc biệt chú trọng đầu tư cho tuyến cơ sở (huyện, xã). Đến năm 2015, tỷ lệ các cơ sở khám chữa bệnh được đầu tư đủ trang thiết bị y tế theo phân tuyến kỹ thuật của Bộ Y tế đạt trên 90% ở tuyến tỉnh, trên 80% ở tuyến huyện và 100% cho các trạm y tế xã. Đến năm 2020, tất cả các cơ sở y tế đều có đủ trang thiết bị y tế theo chuẩn quy định.
2.4. Phát triển mạng lưới dịch vụ vận chuyển cấp cứu:
Từng bước đáp ứng mọi yêu cầu vận chuyển cấp cứu của người dân trên địa bàn tỉnh Bình Thuận đặc biệt đối với các huyện vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi và khách du lịch; cấp cứu, cứu hộ, cứu nạn nhanh chóng, kịp thời, chính xác, giảm nguy cơ tử vong và biến chứng nặng cho bệnh nhân, nạn nhân.
Xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng cho khoa hồi sức cấp cứu của các bệnh viện.Tăng cường phương tiện vận chuyển và thiết bị vận chuyển cấp cứu cho các đội cấp cứu 115; hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc cấp cứu và vận chuyển cấp cứu; bổ sung nhân lực cả về số lượng và chất lượng; chuẩn bị sẵn sàng phương án và nguồn lực để đáp ứng các tình huống cần cấp cứu - vận chuyển cấp cứu hàng loạt nạn nhân trên địa bàn khi cần thiết.
Khuyến khích thành lập hệ thống vận chuyển cấp cứu tư nhân, phát huy tối đa năng lực xử trí cấp cứu tại chỗ của mạng lưới y tế cơ sở.
Phát triển rộng rãi mạng lưới nhân viên hội chữ thập đỏ ở các khu dân cư, trường học, cơ quan, doanh nghiệp (mạng lưới này được huấn luyện về sơ cấp cứu bệnh nhân).
Dự kiến các hạng mục cần được đầu tư, như sau:
- Giai đoạn 2011-2015 hình thành đội cấp cứu 115 trực thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh. Phát triển mạng lưới vận chuyển cấp cứu vệ tinh (là các đội cấp cứu 115 thuộc các bệnh viện đa khoa tuyến huyện), đảm bảo thực hiện tốt công tác vận chuyển cấp cứu đến các vùng sâu, vùng xa.
- Đầu tư hệ thống xe cấp cứu và trang thiết bị cần thiết cho các đội cấp cứu 115 (mỗi đội có từ 2 đến 3 xe) của Bệnh viện đa khoa khu vực Nam Bình Thuận, Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Bình Thuận và các bệnh viện đa khoa tuyến huyện, phục vụ cho tất cả các địa phương khi cần thiết trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Tất cả các xe cấp cứu chuyên dụng có đầy đủ các trang thiết bị cấp cứu hoặc có thể làm các tiểu phẫu tại chỗ.
- Xây dựng hệ thống thông tin điều hành cấp cứu và vận chuyển cấp cứu cho toàn tỉnh.
- Sau năm 2015, nghiên cứu nâng cấp Đội cấp cứu 115 của Bệnh viện đa khoa tỉnh tương xứng là Trung tâm cấp cứu 115 với 5 xe cấp cứu chuyên dụng và các phương tiện thiết bị khác.
- Tổng cộng kinh phí đầu tư cho mạng lưới vận chuyển cấp cứu là 13 tỷ đồng.
Quy hoạch phát triển lĩnh vực Dược:
3.1. Về công tác quản lý dược:
a) Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý dược, nâng cao chất lượng công tác quản lý Nhà nước về dược về mọi mặt:
- Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển ngành dược tỉnh Bình Thuận theo từng giai đoạn 2011 - 2015 và 2016 - 2020.
- Kiện toàn bộ máy quản lý dược ở cả 3 tuyến, đặc biệt hoàn thiện bộ máy quản lý dược tuyến huyện và xã.
- Chỉ đạo việc triển khai và tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy chế chuyên môn về dược.
- Tăng cường công tác quản lý giám sát, đảm bảo chất lượng thuốc cung ứng trên địa bàn.
- Tiếp tục thực hiện chính sách quốc gia về thuốc, đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả.
- Quản lý thông tin, quảng cáo thuốc.
- Quản lý giá thuốc.
b) Tăng cường đầu tư cho Phòng nghiệp vụ dược cả về nhân lực và cơ sở vật chất để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quản lý công tác dược của Ngành tại địa phương, đảm bảo quản lý quá trình sử dụng thuốc tại các đơn vị theo quy định của nhà nước, thực hiện tốt công tác tư vấn trong việc xây dựng các chiến lược, kế hoạch nhằm hoàn thành tốt các mục tiêu phát triển công tác dược. Cải cách hệ thống quản lý dược theo tinh thần cải cách hành chính Nhà nước: Giảm đầu mối, nâng cao hiệu quả, sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý...
3.2. Kiện toàn hệ thống sản xuất và cung ứng thuốc:
- Kiện toàn và sắp xếp lại mạng lưới cung ứng thuốc bao gồm cả khu vực nhà nước và tư nhân nhằm tăng khả năng tiếp cận của người sử dụng. Cung ứng đủ thuốc cho công tác phòng và chữa bệnh đến tận người dân đảm bảo chất lượng và giá cả hợp lý.
- Đến năm 2015 củng cố mạng lưới cung ứng thuốc hiện có, áp dụng tiêu chuẩn thực hành phân phối thuốc tốt (GDP), thực hành nhà thuốc tốt (GPP) cho các đơn vị bán buôn, bán lẻ thuốc.
- Phát triển hệ thống cung ứng thuốc cho vùng sâu, vùng xa, đảm bảo cung ứng đủ thuốc có chất lượng cho nhân dân ở tất cả các huyện, đặc biệt là các vùng khó khăn.
- Tăng cường công tác quản lý chất lượng cung ứng thuốc, chuẩn hóa về cơ sở vật chất của các cơ sở sản xuất kinh doanh thuốc và mỹ phẩm, bước đầu đưa tiêu chuẩn thực hành Nhà thuốc tốt vào việc đánh giá và tuyên truyền cho các cơ sở kinh doanh bán lẻ thuốc.
3.Đảm bảo chất lượng thuốc:
- Tăng cường giám sát chất lượng thuốc và mỹ phẩm lưu thông trên địa bàn tỉnh và cung ứng thuốc đạt tiêu chuẩn. Thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát, thanh tra tất cả các khâu: chuẩn bị sản xuất, quá trình sản xuất, tồn trữ, lưu thông, cấp phát, sử dụng.
- Tăng cường khả năng kiểm nghiệm thuốc, nâng cấp Trung tâm kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn thực hành kiểm nghiệm thuốc (GLP) vào năm 2015.
3.4. Công tác dược tại các bệnh viện:
- Tập trung đảm bảo cung ứng đủ thuốc theo yêu cầu điều trị phù hợp với từng loại bệnh viện, đồng thời nâng cao vai trò tư vấn của Ngành dược trong thực hành điều trị. Cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin về thuốc và thực hành tốt công tác tư vấn dược lâm sàng cho công tác điều trị.
- Tăng cường chất lượng hoạt động của Hội đồng thuốc trong công tác điều trị, lựa chọn danh mục thuốc của các bệnh viện và xây dựng các phác đồ điều trị. Tập trung nâng cao trình độ chuyên môn về dược và y cho các thành viên Hội đồng thuốc cũng như bác sỹ điều trị trong bệnh viện.
- Chuẩn hóa các khoa dược tại bệnh viện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực nhằm đảm bảo nhu cầu thuốc với chất lượng cao cho điều trị. Đến năm 2015 hoàn thành xây dựng phần mềm, áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý sử dụng thuốc tại các bệnh viện tỉnh và huyện. Tăng cường vai trò của dược lâm sàng trong tư vấn sử dụng thuốc, thu thập thông tin, theo dõi các phản ứng bất lợi của thuốc, quy chế hóa việc bình và tự bình đơn thuốc trong các bệnh viện... góp phần nâng cao chất lượng điều trị sử dụng thuốc an toàn, hợp lý. Nâng cao kiến thức sử dụng thuốc thông qua việc đào tạo tại chỗ cho cán bộ y bác sỹ.
- Giám sát tình hình sử dụng kháng sinh trong các bệnh viện. Tổ chức nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực dược.
3.5. Sản xuất thuốc đông dược:
- Phát huy thế mạnh của tỉnh Bình Thuận là tỉnh thuộc Vùng duyên hải miền Trung, diện tích đất rừng, đồi núi chiếm 80% diện tích tự nhiên, có nhiều nguồn dược liệu quý với nhiều chủng loại cho sản xuất và cung ứng thuốc đông dược.
- Đến năm 2015, hoàn thành điều tra cơ bản và khoanh vùng phát triển các nguồn dược liệu trong tỉnh. Đến năm 2020, xây dựng một trung tâm nuôi trồng và chế biến dược liệu nhằm khai thác, phát triển các nguồn dược liệu phong phú tại địa phương, đáp ứng nhu cầu thuốc đông dược của nhân dân trong tỉnh.
- Quy hoạch các khu nuôi trồng cây, con làm nguyên liệu sản xuất thuốc đông y.
- Phấn đấu đến năm 2020, Tạo điều kiện thuận cho các thành phần kinh tế tư nhân đầu tư xây dựng một dây chuyền sơ chế các nguyên liệu thuốc đông y đạt tiêu chuẩn trong nước, đáp ứng nhu cầu trong tỉnh và khu vực.
- Khuyến khích sử dụng thuốc đông dược tại tất cả các tuyến y tế. Củng cố và mở rộng các vườn thuốc nam tại tuyến xã.
3.6. Thông tin và quản lý thông tin thuốc:
Tăng cường việc thực hiện quy chế thông tin quảng cáo thuốc cho các đơn vị y tế trong ngành và các đơn vị kinh doanh thuốc của tỉnh Bình Thuận. Cung cấp thông tin dược lâm sàng đầy đủ và cập nhật thường xuyên cho các cơ sở y tế trên địa bàn. Quản lý chặt chẽ việc tiếp cận để xúc tiến thương mại của các hãng buôn bán thuốc.

Content:
Mạng lưới y tế dự phòng tuyến huyện:
Đến năm 2015, đầu tư và nâng cấp các trung tâm y tế huyện tại tất cả các huyện, thị và thành phố của tỉnh Bình Thuận. Các trung tâm này được đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị để hoạt động theo chức năng theo quy định của Bộ Y tế.
2. Quy hoạch phát triển mạng lưới khám chữa bệnh và vận chuyển cấp cứu:
2.1. Định hướng phát triển:
- Tăng số giường bệnh công lập/10.000 dân từ 22,3 năm 2010 lên 30,1 giường bệnh vào năm 2015 và 30,6 giường bệnh vào năm 2020 (không tính giường bệnh trạm y tế xã).
- Đẩy mạnh thực hiện chính sách xã hội hóa y tế, tăng số giường bệnh tư nhân/10.000 dân từ 0,8 năm 2010 lên 12,2 giường bệnh vào năm 2015 và 18,6 giường bệnh vào năm 2020.
- Thực hiện từng bước cơ cấu lại số bệnh viện và số giường bệnh của các tuyến điều trị.
- Nâng cấp, bổ sung các trang thiết bị y tế thiết yếu cho các bệnh viện tuyến tỉnh và các bệnh viện tuyến huyện theo quy định của Bộ Y tế. Đảm bảo đến năm 2015 có 90% các bệnh viện tuyến tỉnh, có 80% các bệnh viện tuyến huyện được đầu tư các trang thiết bị y tế đồng bộ và đến năm 2020, tất cả các tuyến là 100%. Tăng cường đào tạo, tuyển dụng đội ngũ cán bộ y tế và nhân viên kỹ thuật chuyên môn về trang thiết bị y tế cho các bệnh viện để sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị y tế hiện đại.
- Đến năm 2015, ngoài các cơ sở y tế công lập đã có, từng bước phát triển các trung tâm khám chữa bệnh chuyên khoa như chạy thận nhân tạo, phẫu thuật mắt, điều trị bệnh răng miệng, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, các bệnh nội tiết, chẩn đoán hình ảnh… với trang thiết bị y tế hiện đại và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế nâng cao. Phấn đấu đến 2020, Ngành y tế tỉnh Bình Thuận có khả năng giải quyết hầu hết nhu cầu khám chữa bệnh chuyên khoa của người dân trong tỉnh và khách vãng lai.
- Đến năm 2015 mỗi bệnh viện trong tỉnh có ít nhất 1 bác sỹ chuyên khoa y học cổ truyền. 80% số phòng khám đa khoa khu vực, 80% trạm y tế xã thực hiện khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền theo đúng quy định phân tuyến của Bộ Y tế và tỷ lệ này là 100% vào năm 2020; tăng tỷ lệ lượt người khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền trong tỉnh so với tổng số lượt người khám chữa bệnh ở toàn tỉnh từ 20% (2010) lên 25% năm 2015 và 30% năm 2020.
- Xây dựng mới Bệnh viện y dược học cổ truyền - phục hồi chức năng (thay thế bệnh viện y học cổ truyền hiện tại), là trung tâm điều trị, nghiên cứu khoa học đào tạo cán bộ điều dưỡng - phục hồi chức năng của toàn tỉnh. Triển khai chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng ở 80% số huyện, 60% số xã vào năm 2015, đến năm 2020 các tỷ lệ này là 100% và 80%.
- Nâng cao tính hiệu quả, công bằng trong khám chữa bệnh ở các bệnh viện và các cơ sở y tế công. Tăng gấp đôi số người nghèo, cận nghèo, các đối tượng chính sách được tiếp cận khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công. Tăng tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế lên 80% vào năm 2015 và 100% vào năm 2020.
- Tăng cường các hoạt động kết hợp quân dân y, đặc biệt ở khu vực miền núi và hải đảo để đảm cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản cho nhân dân ở khu vực này, góp phần nâng cao tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho đồng bào các dân tộc ở tỉnh Bình Thuận.
2.2. Phát triển mạng lưới khám chữa bệnh:
Mạng lưới y tế của tỉnh Bình Thuận được tổ chức trên cơ sở Nghị định số 13/2008/NĐ-CP, Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 25/4/2008 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ.
a) Các bệnh viện tuyến tỉnh:
- Tiếp tục đầu tư về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế cho Bệnh viện đa khoa tỉnh để đạt tiêu chuẩn của bệnh viện hạng I vào năm 2020. Trong thời kỳ 2011-2020, Bệnh viện tập trung đầu tư vào việc tăng cường cơ sở vật chất, hiện đại hóa trang thiết bị y tế và nâng cao năng lực cán bộ. Trong đó, đầu tư xây dựng mới khoa ung bướu - xạ trị, khoa giải phẫu bệnh lý, khoa nội thần kinh và khoa tim mạch can thiệp đưa vào hoạt động trước năm 2015.
- Đầu tư và nâng cấp về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế cho hai bệnh viện tuyến 2 là Bệnh viện đa khoa khu vực Nam Bình Thuận và Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Bình Thuận, đến năm 2015 đạt tiêu chuẩn đầy đủ của Bệnh viện hạng II, với quy mô 300 giường bệnh/bệnh viện.
Điều chỉnh mạng lưới bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh từ 2 bệnh viện hiện nay thành 7 bệnh viện chuyên khoa có quy mô lớn hơn:
+ Xây dựng mới Bệnh viện y dược học cổ truyền - phục hồi chức năng (thay thế bệnh viện y học cổ truyền hiện tại), với qui mô 300 giường bệnh, đi vào hoạt động vào năm 2014. Đồng thời, tập trung đầu tư vào việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và hiện đại hóa trang thiết bị y tế.
+ Đầu tư mới và cải tạo nâng cấp về về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế cho Bệnh viện lao và bệnh phổi ổn định với qui mô 100 giường bệnh. Đồng thời, tiếp tục đầu tư vào việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và cải tạo, nâng cấp trang thiết bị y tế hiện đại.
+ Đầu tư xây mới Bệnh viện sản - nhi với quy mô 300 giường bệnh, đi vào hoạt động trong năm 2015. Đồng thời, tập trung đầu tư vào việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế hiện đại.
+ Nâng cấp Trung tâm da liễu thành Bệnh viện da liễu với quy mô 50 giường bệnh vào năm 2015 và tiếp tục đầu tư vào cải tạo, nâng cấp trang thiết bị y tế hiện đại. Hiện nay, Trung tâm da liễu có diện tích khuôn viên đất là 837 m2, khi chuyển thành bệnh viện cần cấp mới diện tích khuôn viên đất là 5.000m2.
+ Nâng cấp Trung tâm mắt thành Bệnh viện chuyên khoa mắt với quy mô 50 giường bệnh vào năm 2015. Hiện nay, Trung tâm mắt có diện tích khuôn viên là 2.200 m2, khi chuyển thành bệnh viện cần cấp mới diện tích khuôn viên đất là 5.000m2, để phát triển cho các năm tiếp theo. Đồng thời, tập trung đầu tư vào nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế hiện đại.
+ Nâng cấp Trung tâm phòng chống sốt rét - bướu cổ thành Bệnh viện nội tiết với quy mô 50 giường bệnh vào năm 2015. Trung tâm có diện tích khuôn viên là 581m2, khi chuyển thành Bệnh viện cần được cấp mới diện tích khuôn viên đất rộng là 5.000m2, để phát triển cho các năm tiếp theo. Đồng thời, tập trung đầu tư vào nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và tăng cường trang thiết bị y tế hiện đại.
+ Thành lập và xây mới Bệnh viện Tâm thần với qui mô từ 50 giường bệnh vào năm 2020. Bệnh viện cần mới diện tích khuôn viên đất từ 5.000m2 đến 10.000m2, để phát triển cho các năm tiếp theo.
b) Tuyến huyện:
- Các bệnh viện đa khoa tuyến huyện:
Quy hoạch nâng cấp điều chỉnh các bệnh viện huyện hiện có để phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân theo cụm dân cư và vùng địa lý. Đến năm 2015, tiếp tục đầu tư và nâng cấp, cải tạo tất cả các bệnh viện huyện đạt đầy đủ tiêu chuẩn bệnh viện hạng III. Đồng thời đầu tư thêm các trang thiết bị y tế cho các bệnh viện đa khoa huyện.
+ Nâng cấp Phòng khám đa khoa Phan Rí Cửa thành Bệnh viện Phan Rí Cửa với quy mô 70 giường bệnh đến năm 201.
+ Nâng cấp Phòng khám đa khoa Mê Pu thành Bệnh viện đa khoa Mê Pu huyện Đức Linh với quy mô 50 giường bệnh đến năm 2015.
+ Tiếp tục đầu tư về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế cho Bệnh viện đa khoa huyện Hàm Tân lên 120 giường bệnh vào năm 2015 và 150 giường bệnh vào năm 2020.
+ Tiếp tục đầu tư về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế cho Bệnh viện đa khoa thị xã La Gi để nâng cấp thành Bệnh viện đa khoa khu vực La Gi, đạt tiêu chuẩn của Bệnh viện tuyến II với qui mô là 250 giường bệnh vào năm 2020. phục vụ nhân dân khu vực phía Nam, chủ yếu là huyện Hàm Tân và thị xã La Gi.
- Các phòng khám đa khoa khu vực:
Đến năm 2015, tỉnh Bình Thuận có 11 phòng khám đa khoa khu vực. Các phòng khám đa khoa khu vực tiếp tục được đầu tư nâng cấp về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế để đảm bảo thực hiện các dịch vụ có chất lượng từ nay đến năm 2020. Từ sau năm 2020, căn cứ vào tình hình phát triển của các trạm y tế xã, nơi nào trạm y tế xã đủ khả năng khám chữa bệnh thì có thể giảm bớt số phòng khám đa khoa khu vực và tập trung đầu tư cho trạm y tế xã. Đến năm 2010, tổng số giường bệnh của các phòng khám đa khoa khu vực là 240 giường bệnh và giữ nguyên đến năm 2020.
Sau năm 2020, tùy theo tình hình cụ thể có thể chuyển các phòng khám đa khoa khu vực thành các cơ sở 2 của các bệnh viện đa khoa tuyến huyện.
c) Tuyến xã:
Đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các trạm y tế đã xuống cấp đảm bảo đầy đủ trang thiết bị theo chuẩn của Bộ Y tế và nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.
Phát triển các cơ sở y tế ngoài công lập:
Khuyến khích phát triển mạng lưới y tế ngoài công lập tăng cả về số lượng và qui mô. Từ năm 2011 khối y tế ngoài công lập trở thành lực lượng quan trọng, hỗ trợ cho hệ thống y tế công lập trong việc khám chữa bệnh cho nhân dân.
Nguồn vốn đầu tư:
- Các bệnh viện và phòng khám đa khoa công lập:
Căn cứ số liệu thống kê vốn đầu tư xây dựng mới 1 giường bệnh ở tuyến tỉnh ước tính cần 500 triệu đồng và đầu tư nâng cấp, mở rộng là 200 triệu/giường bệnh. Vốn đầu tư tương ứng cho tuyến huyện: Đầu tư xây dựng mới 1 giường bệnh ước tính cần 400 triệu đồng và đầu tư nâng cấp, mở rộng là 200 triệu/giường bệnh.
- Trạm y tế xã, phường, thị trấn:
Nhu cầu vốn đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới cho các trạm y tế xã, phường, thị trấn theo bảng 17.
- Nhu cầu vốn đầu tư phát triển bệnh viện ngoài công lập:
Căn cứ tiêu chí quy mô các bệnh ngoài công lập thuộc danh mục đặc biệt khuyến khích đầu tư của tỉnh, xác định suất đầu tư theo bảng 18 và 19.
2.Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế:
Đảm bảo đủ trang thiết bị y tế cho các cơ sở y tế của tỉnh Bình Thuận theo các tiêu chuẩn về chủng loại, chất lượng trang thiết bị y tế do Bộ Y tế quy định, đặc biệt chú trọng đầu tư cho tuyến cơ sở (huyện, xã). Đến năm 2015, tỷ lệ các cơ sở khám chữa bệnh được đầu tư đủ trang thiết bị y tế theo phân tuyến kỹ thuật của Bộ Y tế đạt trên 90% ở tuyến tỉnh, trên 80% ở tuyến huyện và 100% cho các trạm y tế xã. Đến năm 2020, tất cả các cơ sở y tế đều có đủ trang thiết bị y tế theo chuẩn quy định.
2.4. Phát triển mạng lưới dịch vụ vận chuyển cấp cứu:
Từng bước đáp ứng mọi yêu cầu vận chuyển cấp cứu của người dân trên địa bàn tỉnh Bình Thuận đặc biệt đối với các huyện vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi và khách du lịch; cấp cứu, cứu hộ, cứu nạn nhanh chóng, kịp thời, chính xác, giảm nguy cơ tử vong và biến chứng nặng cho bệnh nhân, nạn nhân.
Xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng cho khoa hồi sức cấp cứu của các bệnh viện.Tăng cường phương tiện vận chuyển và thiết bị vận chuyển cấp cứu cho các đội cấp cứu 115; hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc cấp cứu và vận chuyển cấp cứu; bổ sung nhân lực cả về số lượng và chất lượng; chuẩn bị sẵn sàng phương án và nguồn lực để đáp ứng các tình huống cần cấp cứu - vận chuyển cấp cứu hàng loạt nạn nhân trên địa bàn khi cần thiết.
Khuyến khích thành lập hệ thống vận chuyển cấp cứu tư nhân, phát huy tối đa năng lực xử trí cấp cứu tại chỗ của mạng lưới y tế cơ sở.
Phát triển rộng rãi mạng lưới nhân viên hội chữ thập đỏ ở các khu dân cư, trường học, cơ quan, doanh nghiệp (mạng lưới này được huấn luyện về sơ cấp cứu bệnh nhân).
Dự kiến các hạng mục cần được đầu tư, như sau:
- Giai đoạn 2011-2015 hình thành đội cấp cứu 115 trực thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh. Phát triển mạng lưới vận chuyển cấp cứu vệ tinh (là các đội cấp cứu 115 thuộc các bệnh viện đa khoa tuyến huyện), đảm bảo thực hiện tốt công tác vận chuyển cấp cứu đến các vùng sâu, vùng xa.
- Đầu tư hệ thống xe cấp cứu và trang thiết bị cần thiết cho các đội cấp cứu 115 (mỗi đội có từ 2 đến 3 xe) của Bệnh viện đa khoa khu vực Nam Bình Thuận, Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Bình Thuận và các bệnh viện đa khoa tuyến huyện, phục vụ cho tất cả các địa phương khi cần thiết trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Tất cả các xe cấp cứu chuyên dụng có đầy đủ các trang thiết bị cấp cứu hoặc có thể làm các tiểu phẫu tại chỗ.
- Xây dựng hệ thống thông tin điều hành cấp cứu và vận chuyển cấp cứu cho toàn tỉnh.
- Sau năm 2015, nghiên cứu nâng cấp Đội cấp cứu 115 của Bệnh viện đa khoa tỉnh tương xứng là Trung tâm cấp cứu 115 với 5 xe cấp cứu chuyên dụng và các phương tiện thiết bị khác.
- Tổng cộng kinh phí đầu tư cho mạng lưới vận chuyển cấp cứu là 13 tỷ đồng.
Quy hoạch phát triển lĩnh vực Dược:
3.1. Về công tác quản lý dược:
a) Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý dược, nâng cao chất lượng công tác quản lý Nhà nước về dược về mọi mặt:
- Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển ngành dược tỉnh Bình Thuận theo từng giai đoạn 2011 - 2015 và 2016 - 2020.
- Kiện toàn bộ máy quản lý dược ở cả 3 tuyến, đặc biệt hoàn thiện bộ máy quản lý dược tuyến huyện và xã.
- Chỉ đạo việc triển khai và tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy chế chuyên môn về dược.
- Tăng cường công tác quản lý giám sát, đảm bảo chất lượng thuốc cung ứng trên địa bàn.
- Tiếp tục thực hiện chính sách quốc gia về thuốc, đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả.
- Quản lý thông tin, quảng cáo thuốc.
- Quản lý giá thuốc.
b) Tăng cường đầu tư cho Phòng nghiệp vụ dược cả về nhân lực và cơ sở vật chất để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quản lý công tác dược của Ngành tại địa phương, đảm bảo quản lý quá trình sử dụng thuốc tại các đơn vị theo quy định của nhà nước, thực hiện tốt công tác tư vấn trong việc xây dựng các chiến lược, kế hoạch nhằm hoàn thành tốt các mục tiêu phát triển công tác dược. Cải cách hệ thống quản lý dược theo tinh thần cải cách hành chính Nhà nước: Giảm đầu mối, nâng cao hiệu quả, sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý...
3.2. Kiện toàn hệ thống sản xuất và cung ứng thuốc:
- Kiện toàn và sắp xếp lại mạng lưới cung ứng thuốc bao gồm cả khu vực nhà nước và tư nhân nhằm tăng khả năng tiếp cận của người sử dụng. Cung ứng đủ thuốc cho công tác phòng và chữa bệnh đến tận người dân đảm bảo chất lượng và giá cả hợp lý.
- Đến năm 2015 củng cố mạng lưới cung ứng thuốc hiện có, áp dụng tiêu chuẩn thực hành phân phối thuốc tốt (GDP), thực hành nhà thuốc tốt (GPP) cho các đơn vị bán buôn, bán lẻ thuốc.
- Phát triển hệ thống cung ứng thuốc cho vùng sâu, vùng xa, đảm bảo cung ứng đủ thuốc có chất lượng cho nhân dân ở tất cả các huyện, đặc biệt là các vùng khó khăn.
- Tăng cường công tác quản lý chất lượng cung ứng thuốc, chuẩn hóa về cơ sở vật chất của các cơ sở sản xuất kinh doanh thuốc và mỹ phẩm, bước đầu đưa tiêu chuẩn thực hành Nhà thuốc tốt vào việc đánh giá và tuyên truyền cho các cơ sở kinh doanh bán lẻ thuốc.
3.Đảm bảo chất lượng thuốc:
- Tăng cường giám sát chất lượng thuốc và mỹ phẩm lưu thông trên địa bàn tỉnh và cung ứng thuốc đạt tiêu chuẩn. Thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát, thanh tra tất cả các khâu: chuẩn bị sản xuất, quá trình sản xuất, tồn trữ, lưu thông, cấp phát, sử dụng.
- Tăng cường khả năng kiểm nghiệm thuốc, nâng cấp Trung tâm kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn thực hành kiểm nghiệm thuốc (GLP) vào năm 2015.
3.4. Công tác dược tại các bệnh viện:
- Tập trung đảm bảo cung ứng đủ thuốc theo yêu cầu điều trị phù hợp với từng loại bệnh viện, đồng thời nâng cao vai trò tư vấn của Ngành dược trong thực hành điều trị. Cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin về thuốc và thực hành tốt công tác tư vấn dược lâm sàng cho công tác điều trị.
- Tăng cường chất lượng hoạt động của Hội đồng thuốc trong công tác điều trị, lựa chọn danh mục thuốc của các bệnh viện và xây dựng các phác đồ điều trị. Tập trung nâng cao trình độ chuyên môn về dược và y cho các thành viên Hội đồng thuốc cũng như bác sỹ điều trị trong bệnh viện.
- Chuẩn hóa các khoa dược tại bệnh viện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực nhằm đảm bảo nhu cầu thuốc với chất lượng cao cho điều trị. Đến năm 2015 hoàn thành xây dựng phần mềm, áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý sử dụng thuốc tại các bệnh viện tỉnh và huyện. Tăng cường vai trò của dược lâm sàng trong tư vấn sử dụng thuốc, thu thập thông tin, theo dõi các phản ứng bất lợi của thuốc, quy chế hóa việc bình và tự bình đơn thuốc trong các bệnh viện... góp phần nâng cao chất lượng điều trị sử dụng thuốc an toàn, hợp lý. Nâng cao kiến thức sử dụng thuốc thông qua việc đào tạo tại chỗ cho cán bộ y bác sỹ.
- Giám sát tình hình sử dụng kháng sinh trong các bệnh viện. Tổ chức nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực dược.
3.5. Sản xuất thuốc đông dược:
- Phát huy thế mạnh của tỉnh Bình Thuận là tỉnh thuộc Vùng duyên hải miền Trung, diện tích đất rừng, đồi núi chiếm 80% diện tích tự nhiên, có nhiều nguồn dược liệu quý với nhiều chủng loại cho sản xuất và cung ứng thuốc đông dược.
- Đến năm 2015, hoàn thành điều tra cơ bản và khoanh vùng phát triển các nguồn dược liệu trong tỉnh. Đến năm 2020, xây dựng một trung tâm nuôi trồng và chế biến dược liệu nhằm khai thác, phát triển các nguồn dược liệu phong phú tại địa phương, đáp ứng nhu cầu thuốc đông dược của nhân dân trong tỉnh.
- Quy hoạch các khu nuôi trồng cây, con làm nguyên liệu sản xuất thuốc đông y.
- Phấn đấu đến năm 2020, Tạo điều kiện thuận cho các thành phần kinh tế tư nhân đầu tư xây dựng một dây chuyền sơ chế các nguyên liệu thuốc đông y đạt tiêu chuẩn trong nước, đáp ứng nhu cầu trong tỉnh và khu vực.
- Khuyến khích sử dụng thuốc đông dược tại tất cả các tuyến y tế. Củng cố và mở rộng các vườn thuốc nam tại tuyến xã.
3.6. Thông tin và quản lý thông tin thuốc:
Tăng cường việc thực hiện quy chế thông tin quảng cáo thuốc cho các đơn vị y tế trong ngành và các đơn vị kinh doanh thuốc của tỉnh Bình Thuận. Cung cấp thông tin dược lâm sàng đầy đủ và cập nhật thường xuyên cho các cơ sở y tế trên địa bàn. Quản lý chặt chẽ việc tiếp cận để xúc tiến thương mại của các hãng buôn bán thuốc.