Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 460/QĐ-TTg 2022 Chiến lược nợ công đến 2030

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "14/04/2022", "sign_number": "460/QĐ-TTg", "signer": "Lê Minh Khái", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "14/04/2022", "sign_number": "460/QĐ-TTg", "signer": "Lê Minh Khái", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "14/04/2022", "sign_number": "460/QĐ-TTg", "signer": "Lê Minh Khái", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "14/04/2022", "sign_number": "460/QĐ-TTg", "signer": "Lê Minh Khái", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "14/04/2022", "sign_number": "460/QĐ-TTg", "signer": "Lê Minh Khái", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 460/QĐ-TTg 2022 Chiến lược nợ công đến 2030

Điều 1. Phê duyệt “Chiến lược nợ công đến năm 2030 với những nội dung chủ yếu sau:
...
5. Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện
a) Hoàn thiện thể chế chính sách và công cụ quản lý nợ.
Việc hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách và công cụ quản lý nợ sẽ thực hiện thông qua hai giai đoạn, cụ thể:
- Giai đoạn 2021-2025:
+ Tiếp tục rà soát các Luật, Nghị định, đề xuất nội dung sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện về quy định thể chế, chức năng nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chính quyền địa phương đảm bảo nhất quán với quy định của Luật Quản lý nợ công năm 2017. Tổ chức nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thống nhất chức năng quản lý vốn vay nợ công với quản lý đầu tư công trong tổng thể ngân sách nhà nước để nâng cao hiệu quả.
+ Tổ chức thực hiện tốt các công cụ nợ (chiến lược, kế hoạch vay, trả nợ công 05 năm, chương trình quản lý nợ công 03 năm, kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm) làm căn cứ triển khai các nghiệp vụ về huy động, sử dụng vốn vay cho đầu tư phát triển trong từng giai đoạn cụ thể.
+ Tổ chức rà soát, đánh giá tình hình triển khai Luật Quản lý nợ công 2017, báo cáo Chính phủ bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các quy định để triển khai có hiệu quả Luật quản lý nợ công, bổ sung chế tài để nâng cao trách nhiệm thanh toán trả nợ của đối tượng được bảo lãnh, không chuyển nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp thành nghĩa vụ nợ của Nhà nước; nghiên cứu, bổ sung quy định về khung quản lý rủi ro danh mục nợ Chính phủ phù hợp với thông lệ quốc tế.
+ Nghiên cứu, tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện các hạn mức nợ nước ngoài khu vực tư nhân, báo cáo Chính phủ đề xuất chủ trương bổ sung, sửa đổi hoặc báo cáo Quốc hội sửa đổi các quy định về giám sát, quản lý nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng cho phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước, tính chất nguồn vốn vay và đối tượng vay.
- Giai đoạn 2026-2030:
+ Tổng kết, đánh giá Luật Quản lý nợ công 2017, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội bổ sung, sửa đổi Luật Quản lý nợ công, hoàn thiện thể chế để triển khai có hiệu quả công tác quản lý nợ theo thông lệ quốc tế.
+ Trên cơ sở tổng kết, đánh giá quy định pháp luật về phương thức quản lý nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng bằng hạn mức, căn cứ chủ trương của cấp thẩm quyền cho phép tách bạch quản lý nợ nước ngoài tự vay, tự trả với nợ nước ngoài khu vực công, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp với các Bộ, ngành nghiên cứu, báo cáo cấp thẩm quyền điều chỉnh hoặc ban hành quy định triển khai chính sách quản lý nợ nước ngoài tự vay, tự trả nhằm kiểm soát luồng vốn theo mục tiêu đề ra của giai đoạn 2026-2030.
+ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trình Chính phủ hoàn thiện khung pháp lý, mô hình tổ chức về ổn định tài chính để thực thi chính sách an toàn vĩ mô.
b) Thực hiện các công cụ, biện pháp quản lý nợ hiện đại
- Chủ động kết hợp linh hoạt các công cụ nợ, kênh huy động trong và ngoài nước tùy theo điều kiện thị trường để đảm bảo danh mục nợ Chính phủ đáp ứng các mục tiêu quản lý rủi ro đặt ra.
- Triển khai công cụ quản lý nợ Chính phủ theo quy định phù hợp với yêu cầu thực tiễn, gắn với quản lý ngân sách nhà nước, quản lý ngân quỹ nhà nước, bảo đảm hiệu quả, an toàn và thanh khoản của ngân sách nhà nước.
- Tiếp tục phát hành trái phiếu Chính phủ gắn với tái cơ cấu nợ công, nợ Chính phủ theo hướng tập trung phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn từ 5 năm trở lên khi thị trường thuận lợi để vừa huy động vốn cho ngân sách nhà nước, vừa kéo dài kỳ hạn bình quân danh mục nợ trái phiếu Chính phủ.
- Căn cứ điều kiện thị trường tích cực thực hiện các nghiệp vụ cơ cấu lại nợ (nghiệp vụ mua lại, hoán đổi, sử dụng công cụ phái sinh và các nghiệp vụ khác) với chi phí phù hợp để cơ cấu lại danh mục nợ trong nước và nước ngoài của Chính phủ theo hướng an toàn, bền vững, góp phần giãn nghĩa vụ trả nợ gốc qua các năm, giảm áp lực thanh khoản cho ngân sách nhà nước.
- Đối với áp lực trả nợ trực tiếp của Chính phủ tăng cao trong trung, dài hạn, xem xét điều chỉnh cơ chế, chính sách để bố trí một phần ngân sách nhà nước trả nợ gốc, qua đó giảm gánh nặng nợ. Đối với các khoản vay, công cụ nợ huy động thời gian tới cần tính toán để đảm bảo lịch trả nợ dàn đều, không để nghĩa vụ trả nợ tập trung vào một số năm.
- Nghiên cứu thông lệ quốc tế, tiến tới áp dụng phương pháp thống kê nợ nước ngoài của khu vực công theo nguyên tắc nơi cư trú của chủ nợ để phù hợp hơn với chuẩn mực quốc tế; đồng thời theo dõi chỉ tiêu nợ nước ngoài theo tiêu chí ngoại tệ để quản lý rủi ro tỷ giá. Báo cáo tách bạch nợ nước ngoài của khu vực công (nợ Chính phủ, nợ Chính phủ bảo lãnh) và nợ tự vay, tự trả của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng.
- Áp dụng các biện pháp củng cố kiểm soát dòng vốn song song với kiểm soát theo hạn mức rút vốn ròng, bao gồm:
+ Nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền cho phép áp dụng một số biện pháp bổ trợ quản lý nợ nước ngoài của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng theo phương thức tự vay, tự trả nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn hoạt động vay nước ngoài ngắn, trung - dài hạn: áp dụng giới hạn về mức vay nước ngoài theo từng nhóm doanh nghiệp; yêu cầu thực hiện biện pháp phòng ngừa rủi ro đối với các khoản vay nước ngoài bằng ngoại tệ; cải tiến cơ chế báo cáo và chế tài phù hợp với biện pháp kiểm soát vay ngắn, trung - dài hạn; kiểm soát việc vay nợ của các tổ chức tín dụng thông qua các tỷ lệ đảm bảo an toàn...
+ Nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền về khả năng áp dụng biện pháp giám sát thông qua các chỉ tiêu an toàn song song với việc điều chỉnh khung pháp lý về quản lý nợ nước ngoài tự vay, tự trả theo hướng không áp dụng hạn mức trần nợ tự vay, tự trả của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng.
c) Thực hiện huy động, quản lý và sử dụng nợ hiệu quả
- Nguồn vốn vay cho đầu tư phát triển phải được kiểm soát một cách chặt chẽ về mục tiêu, hiệu quả đầu tư, kế hoạch trả nợ và những tác động của tổng vốn vay đến dư nợ công, nợ Chính phủ và nghĩa vụ trả nợ.
- Báo cáo Quốc hội, Chính phủ xem xét phê duyệt một số chương trình đầu tư công để thực hiện một số dự án, công trình quan trọng, trọng điểm, có tính động lực, sức lan tỏa lớn và giải quyết các vấn đề phát triển quốc gia, vùng và liên kết vùng... Căn cứ điều kiện thị trường và khả năng huy động từ các đối tác phát triển, chủ động lựa chọn linh hoạt nguồn vốn vay phù hợp, bố trí đủ kế hoạch vốn để hoàn thành trong từng giai đoạn 2021-2025 và 2026-2030.
- Nghiên cứu, đề xuất giải pháp huy động nguồn lực trên thị trường vốn trong nước, quốc tế để thực hiện các chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.
- Tăng cường quản lý rủi ro tài khóa của ngân sách trung ương, ngân sách địa phương phát sinh từ hoạt động vay về cho vay lại, gắn quyền chủ động quyết định vay của địa phương với tăng cường trách nhiệm trả nợ, gắn trách nhiệm trả nợ vay lại với mức độ tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.
d) Tiếp tục tăng cường công khai, minh bạch về huy động, quản lý và sử dụng nợ công, nâng cao định mức tín nhiệm quốc gia
- Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và triển khai Đề án Định hướng cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia đến năm 2030.
- Xây dựng và triển khai chiến lược tiếp xúc, duy trì quan hệ với thị trường vốn trong nước và quốc tế.
- Rà soát, hệ thống hóa các chế độ báo cáo, cải thiện công bố thông tin định kỳ về nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia, bao gồm các kênh trực tuyến.
đ) Phát triển thị trường tài chính, thị trường vốn trong nước
- Đa dạng hóa kỳ hạn phát hành, bao gồm cả kỳ hạn dưới 5 năm, đảm bảo kỳ hạn phát hành bình quân trong phạm vi Quốc hội cho phép, đồng thời đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư, góp phần hình thành đường cong lãi suất chuẩn với đầy đủ các kỳ hạn tham chiếu cho các công cụ nợ cũng như các thành phần kinh tế khác.
- Phát triển đa dạng hệ thống nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu Chính phủ, ưu tiên phát triển nhà đầu tư dài hạn như các quỹ đầu tư, hệ thống quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện; thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư dài hạn trên thị trường. Đổi mới cơ chế đầu tư của Bảo hiểm xã hội Việt Nam theo Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23 tháng 5 năm 2018 của Ban chấp hành trung ương khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.
- Phát triển đa dạng các sản phẩm, hàng hóa trên thị trường để đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư; phát triển sản phẩm trái phiếu Chính phủ xanh để huy động vốn cho các dự án bảo vệ môi trường phục vụ phát triển kinh tế bền vững. Nghiên cứu đưa trái phiếu Chính phủ vào rổ chỉ số trái phiếu quốc tế để thu hút thêm các quỹ đầu tư, các nhà đầu tư chuyên nghiệp nước ngoài.
e) Về nghĩa vụ nợ dự phòng
Kiểm soát chặt chẽ nghĩa vụ nợ dự phòng của ngân sách nhà nước từ các hoạt động bảo lãnh Chính phủ, cho vay lại vốn vay nước ngoài. Nghiên cứu, đề xuất bổ sung quy định về dự phòng rủi ro trong ngân sách nhà nước đối với các nghĩa vụ nợ phát sinh từ các dự án hợp tác công tư, bảo lãnh Chính phủ.
g) Tổ chức bộ máy, ứng dụng công nghệ thông tin
Hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nợ công; đổi mới phương thức quản lý nợ công trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, tiệm cận mô hình quản lý nợ tiên tiến của quốc tế.
Tập trung hình thành cơ quan quản lý nợ công chuyên nghiệp, hiện đại theo thông lệ quốc tế theo đúng chỉ đạo tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18 tháng 11 năm 2016 của Bộ Chính trị; nâng cao trình độ công chức làm công tác quản lý nợ; củng cố, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm soát, giải ngân nguồn vốn vay nước ngoài; hiện đại hóa cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý nợ; xây dựng cơ sở dữ liệu, thống kê về nợ. Đảm bảo kinh phí từ nguồn trích phí cho vay lại, bảo lãnh Chính phủ để thực hiện nhiệm vụ quản lý nợ công theo quy định Luật Quản lý nợ công năm 2017.
Thống nhất thực hiện quản lý nợ chính quyền địa phương, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan chính quyền địa phương trong quản lý nợ chính quyền địa phương bảo đảm minh bạch, hiệu quả; tăng cường năng lực cán bộ quản lý nợ chính quyền địa phương đáp ứng yêu cầu theo dõi, đánh giá và quản lý rủi ro; xây dựng và kết nối hệ thống thông tin nợ chính quyền địa phương đảm bảo cập nhật, phục vụ quản lý theo hạn mức dư nợ và bội chi ngân sách địa phương hằng năm; trang bị công cụ phân tích, đánh giá danh mục nợ, cơ cấu nợ chính quyền địa phương, tiến tới áp dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro, đảm bảo bền vững nợ chính quyền địa phương.
h) Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn vay công. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả hệ thống giám sát nội bộ, khung kiểm soát rủi ro và hoạt động kiểm toán nội bộ.
Đẩy mạnh phân cấp phân quyền, nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lý nợ công; giáo dục, nâng cao tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu. Cá thể hóa trách nhiệm đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương; khen thưởng, kỷ luật kịp thời, nghiêm minh.

Content:
Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện
a) Hoàn thiện thể chế chính sách và công cụ quản lý nợ.
Việc hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách và công cụ quản lý nợ sẽ thực hiện thông qua hai giai đoạn, cụ thể:
- Giai đoạn 2021-2025:
+ Tiếp tục rà soát các Luật, Nghị định, đề xuất nội dung sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện về quy định thể chế, chức năng nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chính quyền địa phương đảm bảo nhất quán với quy định của Luật Quản lý nợ công năm 2017. Tổ chức nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thống nhất chức năng quản lý vốn vay nợ công với quản lý đầu tư công trong tổng thể ngân sách nhà nước để nâng cao hiệu quả.
+ Tổ chức thực hiện tốt các công cụ nợ (chiến lược, kế hoạch vay, trả nợ công 05 năm, chương trình quản lý nợ công 03 năm, kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm) làm căn cứ triển khai các nghiệp vụ về huy động, sử dụng vốn vay cho đầu tư phát triển trong từng giai đoạn cụ thể.
+ Tổ chức rà soát, đánh giá tình hình triển khai Luật Quản lý nợ công 2017, báo cáo Chính phủ bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các quy định để triển khai có hiệu quả Luật quản lý nợ công, bổ sung chế tài để nâng cao trách nhiệm thanh toán trả nợ của đối tượng được bảo lãnh, không chuyển nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp thành nghĩa vụ nợ của Nhà nước; nghiên cứu, bổ sung quy định về khung quản lý rủi ro danh mục nợ Chính phủ phù hợp với thông lệ quốc tế.
+ Nghiên cứu, tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện các hạn mức nợ nước ngoài khu vực tư nhân, báo cáo Chính phủ đề xuất chủ trương bổ sung, sửa đổi hoặc báo cáo Quốc hội sửa đổi các quy định về giám sát, quản lý nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng cho phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước, tính chất nguồn vốn vay và đối tượng vay.
- Giai đoạn 2026-2030:
+ Tổng kết, đánh giá Luật Quản lý nợ công 2017, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội bổ sung, sửa đổi Luật Quản lý nợ công, hoàn thiện thể chế để triển khai có hiệu quả công tác quản lý nợ theo thông lệ quốc tế.
+ Trên cơ sở tổng kết, đánh giá quy định pháp luật về phương thức quản lý nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng bằng hạn mức, căn cứ chủ trương của cấp thẩm quyền cho phép tách bạch quản lý nợ nước ngoài tự vay, tự trả với nợ nước ngoài khu vực công, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp với các Bộ, ngành nghiên cứu, báo cáo cấp thẩm quyền điều chỉnh hoặc ban hành quy định triển khai chính sách quản lý nợ nước ngoài tự vay, tự trả nhằm kiểm soát luồng vốn theo mục tiêu đề ra của giai đoạn 2026-2030.
+ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trình Chính phủ hoàn thiện khung pháp lý, mô hình tổ chức về ổn định tài chính để thực thi chính sách an toàn vĩ mô.
b) Thực hiện các công cụ, biện pháp quản lý nợ hiện đại
- Chủ động kết hợp linh hoạt các công cụ nợ, kênh huy động trong và ngoài nước tùy theo điều kiện thị trường để đảm bảo danh mục nợ Chính phủ đáp ứng các mục tiêu quản lý rủi ro đặt ra.
- Triển khai công cụ quản lý nợ Chính phủ theo quy định phù hợp với yêu cầu thực tiễn, gắn với quản lý ngân sách nhà nước, quản lý ngân quỹ nhà nước, bảo đảm hiệu quả, an toàn và thanh khoản của ngân sách nhà nước.
- Tiếp tục phát hành trái phiếu Chính phủ gắn với tái cơ cấu nợ công, nợ Chính phủ theo hướng tập trung phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn từ 5 năm trở lên khi thị trường thuận lợi để vừa huy động vốn cho ngân sách nhà nước, vừa kéo dài kỳ hạn bình quân danh mục nợ trái phiếu Chính phủ.
- Căn cứ điều kiện thị trường tích cực thực hiện các nghiệp vụ cơ cấu lại nợ (nghiệp vụ mua lại, hoán đổi, sử dụng công cụ phái sinh và các nghiệp vụ khác) với chi phí phù hợp để cơ cấu lại danh mục nợ trong nước và nước ngoài của Chính phủ theo hướng an toàn, bền vững, góp phần giãn nghĩa vụ trả nợ gốc qua các năm, giảm áp lực thanh khoản cho ngân sách nhà nước.
- Đối với áp lực trả nợ trực tiếp của Chính phủ tăng cao trong trung, dài hạn, xem xét điều chỉnh cơ chế, chính sách để bố trí một phần ngân sách nhà nước trả nợ gốc, qua đó giảm gánh nặng nợ. Đối với các khoản vay, công cụ nợ huy động thời gian tới cần tính toán để đảm bảo lịch trả nợ dàn đều, không để nghĩa vụ trả nợ tập trung vào một số năm.
- Nghiên cứu thông lệ quốc tế, tiến tới áp dụng phương pháp thống kê nợ nước ngoài của khu vực công theo nguyên tắc nơi cư trú của chủ nợ để phù hợp hơn với chuẩn mực quốc tế; đồng thời theo dõi chỉ tiêu nợ nước ngoài theo tiêu chí ngoại tệ để quản lý rủi ro tỷ giá. Báo cáo tách bạch nợ nước ngoài của khu vực công (nợ Chính phủ, nợ Chính phủ bảo lãnh) và nợ tự vay, tự trả của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng.
- Áp dụng các biện pháp củng cố kiểm soát dòng vốn song song với kiểm soát theo hạn mức rút vốn ròng, bao gồm:
+ Nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền cho phép áp dụng một số biện pháp bổ trợ quản lý nợ nước ngoài của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng theo phương thức tự vay, tự trả nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn hoạt động vay nước ngoài ngắn, trung - dài hạn: áp dụng giới hạn về mức vay nước ngoài theo từng nhóm doanh nghiệp; yêu cầu thực hiện biện pháp phòng ngừa rủi ro đối với các khoản vay nước ngoài bằng ngoại tệ; cải tiến cơ chế báo cáo và chế tài phù hợp với biện pháp kiểm soát vay ngắn, trung - dài hạn; kiểm soát việc vay nợ của các tổ chức tín dụng thông qua các tỷ lệ đảm bảo an toàn...
+ Nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền về khả năng áp dụng biện pháp giám sát thông qua các chỉ tiêu an toàn song song với việc điều chỉnh khung pháp lý về quản lý nợ nước ngoài tự vay, tự trả theo hướng không áp dụng hạn mức trần nợ tự vay, tự trả của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng.
c) Thực hiện huy động, quản lý và sử dụng nợ hiệu quả
- Nguồn vốn vay cho đầu tư phát triển phải được kiểm soát một cách chặt chẽ về mục tiêu, hiệu quả đầu tư, kế hoạch trả nợ và những tác động của tổng vốn vay đến dư nợ công, nợ Chính phủ và nghĩa vụ trả nợ.
- Báo cáo Quốc hội, Chính phủ xem xét phê duyệt một số chương trình đầu tư công để thực hiện một số dự án, công trình quan trọng, trọng điểm, có tính động lực, sức lan tỏa lớn và giải quyết các vấn đề phát triển quốc gia, vùng và liên kết vùng... Căn cứ điều kiện thị trường và khả năng huy động từ các đối tác phát triển, chủ động lựa chọn linh hoạt nguồn vốn vay phù hợp, bố trí đủ kế hoạch vốn để hoàn thành trong từng giai đoạn 2021-2025 và 2026-2030.
- Nghiên cứu, đề xuất giải pháp huy động nguồn lực trên thị trường vốn trong nước, quốc tế để thực hiện các chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.
- Tăng cường quản lý rủi ro tài khóa của ngân sách trung ương, ngân sách địa phương phát sinh từ hoạt động vay về cho vay lại, gắn quyền chủ động quyết định vay của địa phương với tăng cường trách nhiệm trả nợ, gắn trách nhiệm trả nợ vay lại với mức độ tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.
d) Tiếp tục tăng cường công khai, minh bạch về huy động, quản lý và sử dụng nợ công, nâng cao định mức tín nhiệm quốc gia
- Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và triển khai Đề án Định hướng cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia đến năm 2030.
- Xây dựng và triển khai chiến lược tiếp xúc, duy trì quan hệ với thị trường vốn trong nước và quốc tế.
- Rà soát, hệ thống hóa các chế độ báo cáo, cải thiện công bố thông tin định kỳ về nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia, bao gồm các kênh trực tuyến.
đ) Phát triển thị trường tài chính, thị trường vốn trong nước
- Đa dạng hóa kỳ hạn phát hành, bao gồm cả kỳ hạn dưới 5 năm, đảm bảo kỳ hạn phát hành bình quân trong phạm vi Quốc hội cho phép, đồng thời đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư, góp phần hình thành đường cong lãi suất chuẩn với đầy đủ các kỳ hạn tham chiếu cho các công cụ nợ cũng như các thành phần kinh tế khác.
- Phát triển đa dạng hệ thống nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu Chính phủ, ưu tiên phát triển nhà đầu tư dài hạn như các quỹ đầu tư, hệ thống quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện; thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư dài hạn trên thị trường. Đổi mới cơ chế đầu tư của Bảo hiểm xã hội Việt Nam theo Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23 tháng 5 năm 2018 của Ban chấp hành trung ương khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.
- Phát triển đa dạng các sản phẩm, hàng hóa trên thị trường để đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư; phát triển sản phẩm trái phiếu Chính phủ xanh để huy động vốn cho các dự án bảo vệ môi trường phục vụ phát triển kinh tế bền vững. Nghiên cứu đưa trái phiếu Chính phủ vào rổ chỉ số trái phiếu quốc tế để thu hút thêm các quỹ đầu tư, các nhà đầu tư chuyên nghiệp nước ngoài.
e) Về nghĩa vụ nợ dự phòng
Kiểm soát chặt chẽ nghĩa vụ nợ dự phòng của ngân sách nhà nước từ các hoạt động bảo lãnh Chính phủ, cho vay lại vốn vay nước ngoài. Nghiên cứu, đề xuất bổ sung quy định về dự phòng rủi ro trong ngân sách nhà nước đối với các nghĩa vụ nợ phát sinh từ các dự án hợp tác công tư, bảo lãnh Chính phủ.
g) Tổ chức bộ máy, ứng dụng công nghệ thông tin
Hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nợ công; đổi mới phương thức quản lý nợ công trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, tiệm cận mô hình quản lý nợ tiên tiến của quốc tế.
Tập trung hình thành cơ quan quản lý nợ công chuyên nghiệp, hiện đại theo thông lệ quốc tế theo đúng chỉ đạo tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18 tháng 11 năm 2016 của Bộ Chính trị; nâng cao trình độ công chức làm công tác quản lý nợ; củng cố, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm soát, giải ngân nguồn vốn vay nước ngoài; hiện đại hóa cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý nợ; xây dựng cơ sở dữ liệu, thống kê về nợ. Đảm bảo kinh phí từ nguồn trích phí cho vay lại, bảo lãnh Chính phủ để thực hiện nhiệm vụ quản lý nợ công theo quy định Luật Quản lý nợ công năm 2017.
Thống nhất thực hiện quản lý nợ chính quyền địa phương, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan chính quyền địa phương trong quản lý nợ chính quyền địa phương bảo đảm minh bạch, hiệu quả; tăng cường năng lực cán bộ quản lý nợ chính quyền địa phương đáp ứng yêu cầu theo dõi, đánh giá và quản lý rủi ro; xây dựng và kết nối hệ thống thông tin nợ chính quyền địa phương đảm bảo cập nhật, phục vụ quản lý theo hạn mức dư nợ và bội chi ngân sách địa phương hằng năm; trang bị công cụ phân tích, đánh giá danh mục nợ, cơ cấu nợ chính quyền địa phương, tiến tới áp dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro, đảm bảo bền vững nợ chính quyền địa phương.
h) Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn vay công. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả hệ thống giám sát nội bộ, khung kiểm soát rủi ro và hoạt động kiểm toán nội bộ.
Đẩy mạnh phân cấp phân quyền, nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lý nợ công; giáo dục, nâng cao tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu. Cá thể hóa trách nhiệm đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương; khen thưởng, kỷ luật kịp thời, nghiêm minh.