Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2101/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Tây Ninh đến năm 2010, có xét đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Tây Ninh", "promulgation_date": "02/10/2007", "sign_number": "2101/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Châu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Tây Ninh", "promulgation_date": "02/10/2007", "sign_number": "2101/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Châu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Tây Ninh", "promulgation_date": "02/10/2007", "sign_number": "2101/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Châu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Tây Ninh", "promulgation_date": "02/10/2007", "sign_number": "2101/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Châu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Tây Ninh", "promulgation_date": "02/10/2007", "sign_number": "2101/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Châu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2101/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Tây Ninh đến năm 2010, có xét đến 2020

Điều 1. Phê duyệt dự án "Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Tây Ninh đến năm 2010, có xét đến năm 2020" với những nội dung chủ yếu sau:
...
4. Quy hoạch các chuyên ngành công nghiệp trên địa bàn Tây Ninh giai đoạn đến năm 2010, có xét đến năm 2020
a. Công nghiệp khai thác khoáng sản: Tập trung cho khai thác đá vôi, mở rộng khai thác than bùn phục vụ sản xuất than vi sinh, hình thành và phát triển công nghiệp khai thác nước khoáng.
-Các thành phần kinh tế đều được đầu tư vào thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản theo pháp luật. Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, liên kết và hợp tác giữa các doanh nghiệp.
-Phấn đấu đến năm 2010 đưa ngành công nghiệp khai thác khoáng sản Tây Ninh trở thành một trong những ngành công nghiệp phát triển tương đối toàn diện có cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, có đủ khả năng khai thác, chế biến nhằm đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong tỉnh và khu vực.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~105 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~185 tỷ đồng.
b. Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm: Tập trung vào những lĩnh vực mà Tây Ninh có thế mạnh: Chế biến đường mía, chế biến tinh bột sắn, chế biến mủ cao su, chế biến điều, chế biến dầu thực vật, chế biến súc sản.
-Hướng công nghiệp chế biến vào các sản phẩm nông nghiệp đã hình thành vùng nguyên liệu tập trung tại chỗ.
-Hình thành các tổ hợp công nghiệp bao gồm nhà máy chính và những cơ sở sản xuất vệ tinh sản xuất các sản phẩm hàng hoá từ phế liệu, phụ liệu của nhà máy chính nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, hạ giá thành sản phẩm.
-Các nhà máy cần hỗ trợ nông dân về giống, vốn, kỹ thuật..., cam kết bao tiêu sản phẩm nông nghiệp với giá hợp lý, đảm bảo sản xuất ổn định của nhà máy.
Chế biến đường mía
-Nâng tổng công suất chế biến mía cây lên 20.500 tấn/ngày khi đủ điều kiện về thị trường.
-Đa dạng hóa sản phẩm để hạ giá thành.
Chế biến tinh bột sắn ( khoai mì ).
-Không xây dựng thêm các cơ sở chế biến tinh bột sắn. Giữ ổn định công suất đến năm 2010.
-Nghiên cứu khắc phục toàn diện ô nhiễm gây ra trong quá trình sản xuất.
-Nghiên cứu, đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất có nguyên liệu là phụ phẩm, phế liệu của các nhà máy chế biến tinh bột sắn.
Chế biến điều
-Đến năm 2010 không xây dựng thêm nhà máy chế biến.
-Từng bước nâng cao công nghệ chế biến, đổi mới thiết bị.
-Xây dựng thêm các phân xưởng chế biến dầu vỏ hạt điều, than hoạt tính và các sản phẩm từ nước ép thịt quả điều.
Chế biến dầu thực vật
- Công nghiệp chế biến dầu ở Tây Ninh chỉ làm dầu thô.
Chế biến súc sản
-Đầu tư xây dựng ở thị xã và mỗi huyện một cơ sở chế biến súc sản.
-Đầu tư xây dựng nhà máy chế biến súc sản chất lượng cao sử dụng trong nước và xuất khẩu. Kèm theo có phân xưởng chế biến da, xưởng chế biến thức ăn chăn nuôi từ phế liệu mổ. Đầu tư xây dựng nhà máy chế biến sữa bò và các sản phẩm từ sữa.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~2.666 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~4.292 tỷ đồng.
c. Công nghiệp chế biến gỗ, giấy: Tập trung vào lĩnh vực chế biến gỗ, chủ yếu là gỗ cao su và ván dăm làm từ bã mía.
-Đầu tư xây dựng một số nhà máy chế biến đồ gỗ xuất khẩu công suất lớn, thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến, trên cơ sở nguyên liệu là gỗ cao su thanh lý. Nguồn bã mía có thể làm gỗ ván dăm.
-Không đầu tư làm giấy bao bì từ bã mía.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~855 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~2.126 tỷ đồng.
d. Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: Tập trung vào lĩnh vực sản xuất xi măng, gạch ngói nung và vật liệu lợp.
-Đối với các dự án xây dựng mới, phải bảo đảm sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành cạnh tranh trên thị trường.
-Phát triển sản xuất VLXD phải kết hợp hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~1.950 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~3.434 tỷ đồng.
đ. Công nghiệp hoá chất: Tập trung vào lĩnh vực sản xuất cao su kỹ thuật, phân bón và nhựa dân dụng.
-Tận dụng nguồn tài nguyên than bùn và các chất thải của công nghiệp chế biến nông sản để sản xuất phân vi sinh.
-Đầu tư sản xuất các sản phẩm cao su kỹ thuật có giá trị gia tăng cao.
-Phát triển các sản phẩm nhựa dân dụng, bao bì PP... theo hướng áp dụng công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại để sản xuất hàng hoá có chất lượng cao từ nguồn nguyên liệu nhập, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~1.515 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~3.763 tỷ đồng.
Sơ chế mủ cao su
-Đa dạng hoá sản phẩm mủ cao su sơ chế phù hợp với thị trường tiêu thụ, gia tăng tỷ lệ mủ RSS, TSR, mủ Latex... Tỷ lệ chế biến các sản phẩm cao su chiếm 30% lượng cao su mủ khô của tỉnh.
e. Công nghiệp dệt may, da giày: Tập trung vào lĩnh vực may mặc, sơ chế da và gia công sản phẩm da.
-Phát huy thế mạnh về nguồn nhân lực, hình thành những khu sản xuất hàng dệt -may tập trung tại các khu, cụm công nghiệp.
-Đầu tư chiều sâu đổi mới trang thiết bị, tăng năng suất lao động, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm, đặc biệt chú trọng tới các mặt hàng có giá trị gia tăng trong nước cao. Đầu tư mạnh hơn cho phần nguyên phụ liệu và da thuộc.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~2.490 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~7.482 tỷ đồng.
g. Công nghiệp cơ khí và gia công kim loại: Tập trung vào các lĩnh vực: cơ khí chế tạo phục vụ chăm sóc, thu hoạch, chế biến nông lâm sản; cơ khí ô tô; sửa chữa máy móc thiết bị.
-Xây dựng Công ty Cơ khí Tây Ninh thành doanh nghiệp cơ khí đầu đàn làm trung tâm cơ khí chế tạo của địa phương, tập trung đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ thiết bị và mở rộng sản xuất.
-Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển các cụm cơ khí nhỏ theo địa bàn để thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn. Chú ý phát triển các sản phẩm cơ khí phụ trợ. Đi thẳng vào công nghệ tiên tiến, đồng thời tận dụng các công nghệ thích hợp sử dụng nhiều lao động.
-Đón đầu xu thế chuyển dịch sản xuất từ thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở phát triển bền vững. Ưu tiên đầu tư một số ngành sản xuất cơ khí phù hợp với quy hoạch và định hướng phát triển chung, có lợi thế so sánh của địa phương đến giai đoạn năm 2010 và các năm sau là: cơ khí nông nghiệp, cơ khí giao thông vận tải, cơ khí xây dựng.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~395 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~695 tỷ đồng.
h. Công nghiệp chế biến khác: Tập trung cho xử lý rác theo quy mô công nghiệp, có tái chế một phần chất dẻo thu được và chế biến phần rác hữu cơ thành phân vi sinh.
-Giải quyết toàn bộ rác thải ô nhiễm bằng nhà máy xử lý theo công nghệ hiện đại, bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~45 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~112 tỷ đồng.
i. Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, gas, nước: Tập trung vào lĩnh vực cung cấp điện năng, sản xuất và phân phối nước sạch tập trung.
-Phát triển lưới điện trung thế, hạ thế và trạm hạ thế có đủ khả năng cung cấp cho hệ thống phụ tải. Cung cấp đủ điện cho các khu, cụm công nghiệp. Đảm bảo >98% số hộ dân dùng điện vào năm 2010.
-Đến 2010 cấp 100 lít nước/người/ngàyđối với thị trấn nhỏ, 150 lít nước/người/ngàyđối với thị xã và các thị trấn, khu cụm công nghiệp lớn.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~509 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~1.265 tỷ đồng.
k. Tiểu thủ công nghiệp và làng nghề:
-Khôi phục làng nghề truyền thống gắn với các cụm tiểu thủ công nghiệp - thương mại - dịch vụ - du lịch ở các thị trấn, thị tứ.
-Phát triển các ngành nghề có nhiều tiềm năng về nguyên liệu tại chỗ nhằm thu hút nhiều và nhanh lực lượng lao động dư thừa và nông nhàn, nâng cao thu nhập trong dân.
-Xây dựng các mối liên doanh, liên kết theo mặt hàng, theo địa bàn... trong tổ chức sản xuất, cung ứng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm.
-Khuyến khích các cá nhân, doanh nghiệp có khả năng về vốn, kinh nghiệm kinh doanh tổ chức thu gom sản phẩm, tìm thị trường tiêu thụ ổn định. Thành lập các hội nghề nghiệp.
-Xây dựng thương hiệu bánh tráng phơi sương Trảng Bàng. Duy trì ở mức cần thiết nghề chằm nón, đan giỏ... để giải quyết việc làm cho người dân.
-Phát triển các nghề thủ công mỹ nghệ (khảm tre, mộc mỹ nghệ ...). Đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, bao bì theo hướng xuất khẩu. Chú trọng sản xuất hàng lưu niệm phục vụ khách du lịch đến các địa danh tham quan du lịch của tỉnh như núi Bà Đen, toà thánh Tây Ninh, khu di tích Trung ương Cục Miền Nam...
-Du nhập nghề làm hoa, cây cảnh về khu vực quanh thị xã Tây Ninh và thị trấn Hoà Thành.
-Du nhập nghề trồng và sơ chế thảo dược ở các huyện Tân Châu, Tân Biên và Dương Minh Châu.
-Xây dựng thêm 1-2 làng nghề truyền thống theo tiêu chí về làng nghề của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Content:
Quy hoạch các chuyên ngành công nghiệp trên địa bàn Tây Ninh giai đoạn đến năm 2010, có xét đến năm 2020
a. Công nghiệp khai thác khoáng sản: Tập trung cho khai thác đá vôi, mở rộng khai thác than bùn phục vụ sản xuất than vi sinh, hình thành và phát triển công nghiệp khai thác nước khoáng.
-Các thành phần kinh tế đều được đầu tư vào thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản theo pháp luật. Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, liên kết và hợp tác giữa các doanh nghiệp.
-Phấn đấu đến năm 2010 đưa ngành công nghiệp khai thác khoáng sản Tây Ninh trở thành một trong những ngành công nghiệp phát triển tương đối toàn diện có cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, có đủ khả năng khai thác, chế biến nhằm đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong tỉnh và khu vực.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~105 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~185 tỷ đồng.
b. Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm: Tập trung vào những lĩnh vực mà Tây Ninh có thế mạnh: Chế biến đường mía, chế biến tinh bột sắn, chế biến mủ cao su, chế biến điều, chế biến dầu thực vật, chế biến súc sản.
-Hướng công nghiệp chế biến vào các sản phẩm nông nghiệp đã hình thành vùng nguyên liệu tập trung tại chỗ.
-Hình thành các tổ hợp công nghiệp bao gồm nhà máy chính và những cơ sở sản xuất vệ tinh sản xuất các sản phẩm hàng hoá từ phế liệu, phụ liệu của nhà máy chính nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, hạ giá thành sản phẩm.
-Các nhà máy cần hỗ trợ nông dân về giống, vốn, kỹ thuật..., cam kết bao tiêu sản phẩm nông nghiệp với giá hợp lý, đảm bảo sản xuất ổn định của nhà máy.
Chế biến đường mía
-Nâng tổng công suất chế biến mía cây lên 20.500 tấn/ngày khi đủ điều kiện về thị trường.
-Đa dạng hóa sản phẩm để hạ giá thành.
Chế biến tinh bột sắn ( khoai mì ).
-Không xây dựng thêm các cơ sở chế biến tinh bột sắn. Giữ ổn định công suất đến năm 2010.
-Nghiên cứu khắc phục toàn diện ô nhiễm gây ra trong quá trình sản xuất.
-Nghiên cứu, đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất có nguyên liệu là phụ phẩm, phế liệu của các nhà máy chế biến tinh bột sắn.
Chế biến điều
-Đến năm 2010 không xây dựng thêm nhà máy chế biến.
-Từng bước nâng cao công nghệ chế biến, đổi mới thiết bị.
-Xây dựng thêm các phân xưởng chế biến dầu vỏ hạt điều, than hoạt tính và các sản phẩm từ nước ép thịt quả điều.
Chế biến dầu thực vật
- Công nghiệp chế biến dầu ở Tây Ninh chỉ làm dầu thô.
Chế biến súc sản
-Đầu tư xây dựng ở thị xã và mỗi huyện một cơ sở chế biến súc sản.
-Đầu tư xây dựng nhà máy chế biến súc sản chất lượng cao sử dụng trong nước và xuất khẩu. Kèm theo có phân xưởng chế biến da, xưởng chế biến thức ăn chăn nuôi từ phế liệu mổ. Đầu tư xây dựng nhà máy chế biến sữa bò và các sản phẩm từ sữa.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~2.666 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~4.292 tỷ đồng.
c. Công nghiệp chế biến gỗ, giấy: Tập trung vào lĩnh vực chế biến gỗ, chủ yếu là gỗ cao su và ván dăm làm từ bã mía.
-Đầu tư xây dựng một số nhà máy chế biến đồ gỗ xuất khẩu công suất lớn, thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến, trên cơ sở nguyên liệu là gỗ cao su thanh lý. Nguồn bã mía có thể làm gỗ ván dăm.
-Không đầu tư làm giấy bao bì từ bã mía.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~855 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~2.126 tỷ đồng.
d. Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: Tập trung vào lĩnh vực sản xuất xi măng, gạch ngói nung và vật liệu lợp.
-Đối với các dự án xây dựng mới, phải bảo đảm sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành cạnh tranh trên thị trường.
-Phát triển sản xuất VLXD phải kết hợp hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~1.950 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~3.434 tỷ đồng.
đ. Công nghiệp hoá chất: Tập trung vào lĩnh vực sản xuất cao su kỹ thuật, phân bón và nhựa dân dụng.
-Tận dụng nguồn tài nguyên than bùn và các chất thải của công nghiệp chế biến nông sản để sản xuất phân vi sinh.
-Đầu tư sản xuất các sản phẩm cao su kỹ thuật có giá trị gia tăng cao.
-Phát triển các sản phẩm nhựa dân dụng, bao bì PP... theo hướng áp dụng công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại để sản xuất hàng hoá có chất lượng cao từ nguồn nguyên liệu nhập, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~1.515 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~3.763 tỷ đồng.
Sơ chế mủ cao su
-Đa dạng hoá sản phẩm mủ cao su sơ chế phù hợp với thị trường tiêu thụ, gia tăng tỷ lệ mủ RSS, TSR, mủ Latex... Tỷ lệ chế biến các sản phẩm cao su chiếm 30% lượng cao su mủ khô của tỉnh.
e. Công nghiệp dệt may, da giày: Tập trung vào lĩnh vực may mặc, sơ chế da và gia công sản phẩm da.
-Phát huy thế mạnh về nguồn nhân lực, hình thành những khu sản xuất hàng dệt -may tập trung tại các khu, cụm công nghiệp.
-Đầu tư chiều sâu đổi mới trang thiết bị, tăng năng suất lao động, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm, đặc biệt chú trọng tới các mặt hàng có giá trị gia tăng trong nước cao. Đầu tư mạnh hơn cho phần nguyên phụ liệu và da thuộc.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~2.490 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~7.482 tỷ đồng.
g. Công nghiệp cơ khí và gia công kim loại: Tập trung vào các lĩnh vực: cơ khí chế tạo phục vụ chăm sóc, thu hoạch, chế biến nông lâm sản; cơ khí ô tô; sửa chữa máy móc thiết bị.
-Xây dựng Công ty Cơ khí Tây Ninh thành doanh nghiệp cơ khí đầu đàn làm trung tâm cơ khí chế tạo của địa phương, tập trung đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ thiết bị và mở rộng sản xuất.
-Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển các cụm cơ khí nhỏ theo địa bàn để thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn. Chú ý phát triển các sản phẩm cơ khí phụ trợ. Đi thẳng vào công nghệ tiên tiến, đồng thời tận dụng các công nghệ thích hợp sử dụng nhiều lao động.
-Đón đầu xu thế chuyển dịch sản xuất từ thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở phát triển bền vững. Ưu tiên đầu tư một số ngành sản xuất cơ khí phù hợp với quy hoạch và định hướng phát triển chung, có lợi thế so sánh của địa phương đến giai đoạn năm 2010 và các năm sau là: cơ khí nông nghiệp, cơ khí giao thông vận tải, cơ khí xây dựng.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~395 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~695 tỷ đồng.
h. Công nghiệp chế biến khác: Tập trung cho xử lý rác theo quy mô công nghiệp, có tái chế một phần chất dẻo thu được và chế biến phần rác hữu cơ thành phân vi sinh.
-Giải quyết toàn bộ rác thải ô nhiễm bằng nhà máy xử lý theo công nghệ hiện đại, bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~45 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~112 tỷ đồng.
i. Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, gas, nước: Tập trung vào lĩnh vực cung cấp điện năng, sản xuất và phân phối nước sạch tập trung.
-Phát triển lưới điện trung thế, hạ thế và trạm hạ thế có đủ khả năng cung cấp cho hệ thống phụ tải. Cung cấp đủ điện cho các khu, cụm công nghiệp. Đảm bảo >98% số hộ dân dùng điện vào năm 2010.
-Đến 2010 cấp 100 lít nước/người/ngàyđối với thị trấn nhỏ, 150 lít nước/người/ngàyđối với thị xã và các thị trấn, khu cụm công nghiệp lớn.
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2010 đạt ~509 tỷ đồng, năm 2015 đạt ~1.265 tỷ đồng.
k. Tiểu thủ công nghiệp và làng nghề:
-Khôi phục làng nghề truyền thống gắn với các cụm tiểu thủ công nghiệp - thương mại - dịch vụ - du lịch ở các thị trấn, thị tứ.
-Phát triển các ngành nghề có nhiều tiềm năng về nguyên liệu tại chỗ nhằm thu hút nhiều và nhanh lực lượng lao động dư thừa và nông nhàn, nâng cao thu nhập trong dân.
-Xây dựng các mối liên doanh, liên kết theo mặt hàng, theo địa bàn... trong tổ chức sản xuất, cung ứng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm.
-Khuyến khích các cá nhân, doanh nghiệp có khả năng về vốn, kinh nghiệm kinh doanh tổ chức thu gom sản phẩm, tìm thị trường tiêu thụ ổn định. Thành lập các hội nghề nghiệp.
-Xây dựng thương hiệu bánh tráng phơi sương Trảng Bàng. Duy trì ở mức cần thiết nghề chằm nón, đan giỏ... để giải quyết việc làm cho người dân.
-Phát triển các nghề thủ công mỹ nghệ (khảm tre, mộc mỹ nghệ ...). Đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, bao bì theo hướng xuất khẩu. Chú trọng sản xuất hàng lưu niệm phục vụ khách du lịch đến các địa danh tham quan du lịch của tỉnh như núi Bà Đen, toà thánh Tây Ninh, khu di tích Trung ương Cục Miền Nam...
-Du nhập nghề làm hoa, cây cảnh về khu vực quanh thị xã Tây Ninh và thị trấn Hoà Thành.
-Du nhập nghề trồng và sơ chế thảo dược ở các huyện Tân Châu, Tân Biên và Dương Minh Châu.
-Xây dựng thêm 1-2 làng nghề truyền thống theo tiêu chí về làng nghề của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.