Document: Điểm a Khoản 3 Điều 1 Quyết định 271/2006/QĐ-TTg "Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng đến 2020"

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "27/11/2006", "sign_number": "271/2006/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "27/11/2006", "sign_number": "271/2006/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "27/11/2006", "sign_number": "271/2006/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "27/11/2006", "sign_number": "271/2006/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "27/11/2006", "sign_number": "271/2006/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm a Khoản 3 Điều 1 Quyết định 271/2006/QĐ-TTg "Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng đến 2020"

Điều 1. Phê duyệt "Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng đến năm 2020" (sau đây gọi tắt là Quy hoạch) với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực
a) Phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế
- Dịch vụ:
+ Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 14 - 14,5% thời kỳ 2006 - 2010 và 14,4 - 15,0% thời kỳ 2011 - 2020; tỷ trọng dịch vụ trong GDP của thành phố đạt 52 - 53% vào năm 2010 và khoảng 63 - 64% vào năm 2020;
+ Xác định dịch vụ biển, du lịch, thương mại là các ngành dịch vụ chủ lực, phát triển với tốc độ cao; đối với một số loại dịch vụ như đô thị, tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, tư vấn, y tế, giáo dục phát triển phục vụ cho cả các địa phương lân cận;
+ Một số sản phẩm chủ lực như khối lượng hàng hoá qua cảng đạt từ 25 - 30 triệu tấn vào năm 2010 và 80 - 100 triệu tấn vào năm 2020; khối lượng hàng hoá vận tải biển đạt trên 20 triệu tấn vào năm 2010 và khoảng 55 triệu tấn vào năm 2020; đón 3.700 nghìn lượt khách du lịch vào năm 2010 (khách quốc tế là 1.200 nghìn lượt) và 6.900 nghìn lượt khách (khách quốc tế là 4.200 nghìn lượt) vào năm 2020; xuất khẩu 1,9 - 2 tỷ USD vào năm 2010 và 5,5 - 6 tỷ USD vào năm 2020 (xuất khẩu dịch vụ chiếm khoảng 6 - 10% tổng giá trị xuất khẩu);
+ Phát triển thành phố Hải Phòng trở thành trung tâm dịch vụ hàng hải và vận tải biển lớn của Việt Nam; trung tâm thương mại, giao dịch ngoại thương, xúc tiến thị trường và vận động đầu tư lớn của vùng Bắc Bộ, cả nước và khu vực; trung tâm du lịch của vùng duyên hải Bắc Bộ; trung tâm giao dịch thông tin, bưu chính viễn thông và hội nghị quốc tế lớn thứ 3 của Việt Nam; trung tâm giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học lớn của vùng Bắc Bộ (có trường đại học đạt tiêu chuẩn quốc tế đáp ứng cho nhu cầu học của tầng lớp dân cư có thu nhập cao và cho sinh viên quốc tế); trung tâm y tế lớn của vùng duyên hải Bắc Bộ, nhằm giảm tải cho Hà Nội; trung tâm tài chính quốc gia và hướng tới trở thành một trung tâm tài chính quốc tế sau năm 2020.
- Công nghiệp - xây dựng:
+ Phát triển công nghiệp với tốc độ nhanh, có chất lượng cao và hiệu quả. Tốc độ tăng bình quân GDP công nghiệp - xây dựng thời kỳ 2006 - 2010 là 14% và tiếp tục duy trì mức tăng trưởng này trong thời kỳ 2011 - 2020. Đưa tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP lên 39 - 40% vào năm 2010 và 33 - 34% vào năm 2020;
+ Nâng dần vị thế của công nghiệp Hải Phòng trong công nghiệp của vùng Bắc Bộ và của ngành công nghiệp cả nước; phấn đấu đến sau năm 2015, một số phân ngành, sản phẩm công nghiệp của Hải Phòng có tầm ảnh hưởng lớn trong khu vực và thế giới. Chú trọng hợp tác với các địa phương trong nước và với quốc tế trong quá trình phát triển;
+ Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực đến năm 2010 là đóng tàu có tải trọng trên 80.000 tấn, xi măng, thép, thiết bị tin học, sản phẩm cơ khí và phụ tùng, linh kiện điện tử, động cơ nổ, động cơ điện, dệt may, da giầy, thuỷ sản chế biến. Sau năm 2010, ngoài các sản phẩm trên sẽ sản xuất thêm các sản phẩm tự động hoá (thiết bị tự động, rôbốt v.v..), vật liệu từ tính cao cấp, vật liệu kỹ thuật cao (cách nhiệt, chịu mài mòn), sứ polyme cách điện, polyme dẫn điện, vật liệu mới, vật liệu composit, polyme tổng hợp v.v..;
+ Ưu tiên các nguồn lực, ưu đãi về chính sách cho một số ngành, sản phẩm công nghiệp chủ lực của Thành phố như đóng và sửa chữa tàu thuyền, công nghiệp cơ khí, điện tử, hàng tiêu dùng cao cấp, hoá chất, vật liệu xây dựng;
+ Kim ngạch hàng công nghiệp xuất khẩu đạt từ 1,3 - 1,5 tỷ USD vào năm 2010 và khoảng 3 tỷ USD vào năm 2020;
+ Chuyển đổi cơ cấu công nghiệp theo hướng tăng nhanh nhóm ngành chủ đạo, có lợi thế, có truyền thống; hình thành các ngành, sản phẩm công nghiệp mới, nhất là các sản phẩm ưu tiên phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; tăng nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp, đặc biệt cho xuất khẩu; tăng thoả đáng các ngành công nghiệp phụ trợ; tăng tỷ trọng công nghiệp tư nhân, đặc biệt tỷ trọng đầu tư nước ngoài cho các ngành công nghiệp chủ lực; chuyển công nghiệp cần nhiều lao động về khu vực nông thôn;
+ Phát triển các khu, cụm công nghiệp tập trung, gắn với phát triển hệ thống đô thị, phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp, tăng cường đầu tư hiện đại hoá và đổi mới thiết bị, công nghệ;
+ Huy động có hiệu quả các nguồn lực trong nước; thu hút tối đa các nguồn lực bên ngoài, đặc biệt là từ các công ty xuyên quốc gia; mọi thành phần kinh tế đều được khuyến khích đầu tư vào các phân ngành công nghiệp;
+ Khôi phục các làng nghề truyền thống hoạt động có hiệu quả, kết hợp kỹ thuật truyền thống với kỹ thuật hiện đại. Hình thành các cụm, điểm công nghiệp nông thôn gắn với dịch vụ tại các thị trấn, thị tứ, đầu mối giao thông làm vệ tinh cho các khu công nghiệp, khu chế xuất.
Quá trình phát triển phải kết hợp chặt chẽ với bảo vệ môi trường, môi sinh, bảo đảm sự phát triển bền vững.
- Nông - lâm - ngư nghiệp:
+ Phát triển theo hướng tập trung, công nghệ cao, chất lượng, năng suất cao, có hiệu quả, có sức cạnh tranh và an toàn thực phẩm; gắn với công nghiệp chế biến và thị trường đô thị. Bảo đảm tốc độ tăng nhanh, bền vững, đạt trên 5%/năm trong giai đoạn 2006 - 2010 và khoảng 6,4%/năm trong giai đoạn 2011 - 2020;
+ Cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng mạnh tỷ trọng chăn nuôi; phát triển các cây, con có giá trị, phù hợp điều kiện địa phương; sử dụng có hiệu quả cao quỹ đất nông nghiệp bằng thâm canh tăng năng suất, tăng vụ, tăng chất lượng và giá trị sản phẩm. Các sản phẩm chủ yếu là lúa, ngô, rau đậu, hoa, cây cảnh, cây ăn quả và lợn thịt, lợn sữa xuất khẩu, gia cầm, bò;
+ Về thuỷ sản, phát triển thành phố Hải Phòng trở thành trung tâm thuỷ sản về giống, thức ăn, khoa học - công nghệ, chế biến, xuất khẩu của vùng, là đầu mối chính cung ứng nhu cầu thuỷ, hải sản của các tỉnh Bắc Bộ, đặc biệt là thủ đô Hà Nội và các khu công nghiệp;
+ Về lâm nghiệp, chú trọng công tác quản lý khoanh nuôi, bảo vệ rừng, nhất là diện tích rừng phòng hộ hiện có. Củng cố vành đai rừng phòng hộ, chắn sóng đê biển trên cơ sở bảo vệ rừng hiện có và trồng mới trên diện tích bãi triều cao;
+ Phát triển nền nông nghiệp với nhiều thành phần. Khuyến khích kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại. Khu vực nông nghiệp nhà nước cần tập trung vào việc sản xuất và cung ứng các loại giống cây trồng, vật nuôi, nghiên cứu ứng dụng, đổi mới kỹ thuật, công nghệ. Khu vực tập thể được khuyến khích phát triển nhằm tăng cường vai trò của nhóm hộ nông dân trong việc đổi mới về tổ chức hợp tác xã nông nghiệp cho phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và các công nghệ mới vào sản xuất, sử dụng các loại giống mới năng suất cao; tập trung xây dựng hệ thống thuỷ lợi, kiên cố hoá hệ thống kênh mương, bảo đảm chủ động tưới tiêu, ngăn mặn, kiểm soát ngập úng;
+ Kinh tế nông thôn sẽ phát triển theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng và lao động nông nghiệp; xây dựng nông thôn công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.

Content:
Phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế
- Dịch vụ:
+ Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 14 - 14,5% thời kỳ 2006 - 2010 và 14,4 - 15,0% thời kỳ 2011 - 2020; tỷ trọng dịch vụ trong GDP của thành phố đạt 52 - 53% vào năm 2010 và khoảng 63 - 64% vào năm 2020;
+ Xác định dịch vụ biển, du lịch, thương mại là các ngành dịch vụ chủ lực, phát triển với tốc độ cao; đối với một số loại dịch vụ như đô thị, tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, tư vấn, y tế, giáo dục phát triển phục vụ cho cả các địa phương lân cận;
+ Một số sản phẩm chủ lực như khối lượng hàng hoá qua cảng đạt từ 25 - 30 triệu tấn vào năm 2010 và 80 - 100 triệu tấn vào năm 2020; khối lượng hàng hoá vận tải biển đạt trên 20 triệu tấn vào năm 2010 và khoảng 55 triệu tấn vào năm 2020; đón 3.700 nghìn lượt khách du lịch vào năm 2010 (khách quốc tế là 1.200 nghìn lượt) và 6.900 nghìn lượt khách (khách quốc tế là 4.200 nghìn lượt) vào năm 2020; xuất khẩu 1,9 - 2 tỷ USD vào năm 2010 và 5,5 - 6 tỷ USD vào năm 2020 (xuất khẩu dịch vụ chiếm khoảng 6 - 10% tổng giá trị xuất khẩu);
+ Phát triển thành phố Hải Phòng trở thành trung tâm dịch vụ hàng hải và vận tải biển lớn của Việt Nam; trung tâm thương mại, giao dịch ngoại thương, xúc tiến thị trường và vận động đầu tư lớn của vùng Bắc Bộ, cả nước và khu vực; trung tâm du lịch của vùng duyên hải Bắc Bộ; trung tâm giao dịch thông tin, bưu chính viễn thông và hội nghị quốc tế lớn thứ 3 của Việt Nam; trung tâm giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học lớn của vùng Bắc Bộ (có trường đại học đạt tiêu chuẩn quốc tế đáp ứng cho nhu cầu học của tầng lớp dân cư có thu nhập cao và cho sinh viên quốc tế); trung tâm y tế lớn của vùng duyên hải Bắc Bộ, nhằm giảm tải cho Hà Nội; trung tâm tài chính quốc gia và hướng tới trở thành một trung tâm tài chính quốc tế sau năm 2020.
- Công nghiệp - xây dựng:
+ Phát triển công nghiệp với tốc độ nhanh, có chất lượng cao và hiệu quả. Tốc độ tăng bình quân GDP công nghiệp - xây dựng thời kỳ 2006 - 2010 là 14% và tiếp tục duy trì mức tăng trưởng này trong thời kỳ 2011 - 2020. Đưa tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP lên 39 - 40% vào năm 2010 và 33 - 34% vào năm 2020;
+ Nâng dần vị thế của công nghiệp Hải Phòng trong công nghiệp của vùng Bắc Bộ và của ngành công nghiệp cả nước; phấn đấu đến sau năm 2015, một số phân ngành, sản phẩm công nghiệp của Hải Phòng có tầm ảnh hưởng lớn trong khu vực và thế giới. Chú trọng hợp tác với các địa phương trong nước và với quốc tế trong quá trình phát triển;
+ Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực đến năm 2010 là đóng tàu có tải trọng trên 80.000 tấn, xi măng, thép, thiết bị tin học, sản phẩm cơ khí và phụ tùng, linh kiện điện tử, động cơ nổ, động cơ điện, dệt may, da giầy, thuỷ sản chế biến. Sau năm 2010, ngoài các sản phẩm trên sẽ sản xuất thêm các sản phẩm tự động hoá (thiết bị tự động, rôbốt v.v..), vật liệu từ tính cao cấp, vật liệu kỹ thuật cao (cách nhiệt, chịu mài mòn), sứ polyme cách điện, polyme dẫn điện, vật liệu mới, vật liệu composit, polyme tổng hợp v.v..;
+ Ưu tiên các nguồn lực, ưu đãi về chính sách cho một số ngành, sản phẩm công nghiệp chủ lực của Thành phố như đóng và sửa chữa tàu thuyền, công nghiệp cơ khí, điện tử, hàng tiêu dùng cao cấp, hoá chất, vật liệu xây dựng;
+ Kim ngạch hàng công nghiệp xuất khẩu đạt từ 1,3 - 1,5 tỷ USD vào năm 2010 và khoảng 3 tỷ USD vào năm 2020;
+ Chuyển đổi cơ cấu công nghiệp theo hướng tăng nhanh nhóm ngành chủ đạo, có lợi thế, có truyền thống; hình thành các ngành, sản phẩm công nghiệp mới, nhất là các sản phẩm ưu tiên phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; tăng nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp, đặc biệt cho xuất khẩu; tăng thoả đáng các ngành công nghiệp phụ trợ; tăng tỷ trọng công nghiệp tư nhân, đặc biệt tỷ trọng đầu tư nước ngoài cho các ngành công nghiệp chủ lực; chuyển công nghiệp cần nhiều lao động về khu vực nông thôn;
+ Phát triển các khu, cụm công nghiệp tập trung, gắn với phát triển hệ thống đô thị, phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp, tăng cường đầu tư hiện đại hoá và đổi mới thiết bị, công nghệ;
+ Huy động có hiệu quả các nguồn lực trong nước; thu hút tối đa các nguồn lực bên ngoài, đặc biệt là từ các công ty xuyên quốc gia; mọi thành phần kinh tế đều được khuyến khích đầu tư vào các phân ngành công nghiệp;
+ Khôi phục các làng nghề truyền thống hoạt động có hiệu quả, kết hợp kỹ thuật truyền thống với kỹ thuật hiện đại. Hình thành các cụm, điểm công nghiệp nông thôn gắn với dịch vụ tại các thị trấn, thị tứ, đầu mối giao thông làm vệ tinh cho các khu công nghiệp, khu chế xuất.
Quá trình phát triển phải kết hợp chặt chẽ với bảo vệ môi trường, môi sinh, bảo đảm sự phát triển bền vững.
- Nông - lâm - ngư nghiệp:
+ Phát triển theo hướng tập trung, công nghệ cao, chất lượng, năng suất cao, có hiệu quả, có sức cạnh tranh và an toàn thực phẩm; gắn với công nghiệp chế biến và thị trường đô thị. Bảo đảm tốc độ tăng nhanh, bền vững, đạt trên 5%/năm trong giai đoạn 2006 - 2010 và khoảng 6,4%/năm trong giai đoạn 2011 - 2020;
+ Cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng mạnh tỷ trọng chăn nuôi; phát triển các cây, con có giá trị, phù hợp điều kiện địa phương; sử dụng có hiệu quả cao quỹ đất nông nghiệp bằng thâm canh tăng năng suất, tăng vụ, tăng chất lượng và giá trị sản phẩm. Các sản phẩm chủ yếu là lúa, ngô, rau đậu, hoa, cây cảnh, cây ăn quả và lợn thịt, lợn sữa xuất khẩu, gia cầm, bò;
+ Về thuỷ sản, phát triển thành phố Hải Phòng trở thành trung tâm thuỷ sản về giống, thức ăn, khoa học - công nghệ, chế biến, xuất khẩu của vùng, là đầu mối chính cung ứng nhu cầu thuỷ, hải sản của các tỉnh Bắc Bộ, đặc biệt là thủ đô Hà Nội và các khu công nghiệp;
+ Về lâm nghiệp, chú trọng công tác quản lý khoanh nuôi, bảo vệ rừng, nhất là diện tích rừng phòng hộ hiện có. Củng cố vành đai rừng phòng hộ, chắn sóng đê biển trên cơ sở bảo vệ rừng hiện có và trồng mới trên diện tích bãi triều cao;
+ Phát triển nền nông nghiệp với nhiều thành phần. Khuyến khích kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại. Khu vực nông nghiệp nhà nước cần tập trung vào việc sản xuất và cung ứng các loại giống cây trồng, vật nuôi, nghiên cứu ứng dụng, đổi mới kỹ thuật, công nghệ. Khu vực tập thể được khuyến khích phát triển nhằm tăng cường vai trò của nhóm hộ nông dân trong việc đổi mới về tổ chức hợp tác xã nông nghiệp cho phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và các công nghệ mới vào sản xuất, sử dụng các loại giống mới năng suất cao; tập trung xây dựng hệ thống thuỷ lợi, kiên cố hoá hệ thống kênh mương, bảo đảm chủ động tưới tiêu, ngăn mặn, kiểm soát ngập úng;
+ Kinh tế nông thôn sẽ phát triển theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng và lao động nông nghiệp; xây dựng nông thôn công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.