Document: Điều 8 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1983 13-LCT/HĐNN7

Type: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "26/12/1983", "sign_number": "13-LCT/HĐNN7", "signer": "Trường Chinh", "type": "Luật"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "26/12/1983", "sign_number": "13-LCT/HĐNN7", "signer": "Trường Chinh", "type": "Luật"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "26/12/1983", "sign_number": "13-LCT/HĐNN7", "signer": "Trường Chinh", "type": "Luật"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "26/12/1983", "sign_number": "13-LCT/HĐNN7", "signer": "Trường Chinh", "type": "Luật"}
Signer: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "26/12/1983", "sign_number": "13-LCT/HĐNN7", "signer": "Trường Chinh", "type": "Luật"}

Full Text:
Điều 8 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1983 13-LCT/HĐNN7 có nội dung như sau:

Điều 8. Số đại biểu Hội đồng nhân dân của mỗi cấp như sau:
1- Hội đồng nhân dân xã, thị trấn và phường.
Xã và thị trấn miền xuôi có từ hai nghìn người trở xuống được bầu hai mươi đại biểu; có trên hai nghìn người thì cứ thêm hai trăm năm mươi người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá bốn mươi nhăm đại biểu.
Xã và thị trấn miền núi và hải đảo có từ bảy trăm người trở xuống được bầu hai mươi đại biểu; có trên bảy trăm người thì cứ thêm hai trăm người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá bốn mươi nhăm đại biểu.
Xã có từ ba trăm người trở xuống được bầu mười lăm đại biểu.
Phường có từ hai nghìn người trở xuống được bầu hai mươi đại biểu; có trên hai nghìn người thì cứ thêm bốn trăm người được bầu thềm một đại biểu, nhưng tổng số không quá bốn mươi nhăm đại biểu.
2- Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc
tỉnh.
Huyện miền xuôi và quận có từ năm mươi nghìn người trở xuống được bầu bốn mươi đại biểu; có trên năm mươi nghìn người thì cứ thêm sáu nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá sáu mươi đại biểu.
Huyện miền núi và hải đảo có từ hai mươi nghìn người trở xuống được bầu bốn mươi đại biểu; có trên hai mươi nghìn người thì cứ thêm hai nghìn năm trăm người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá sáu mươi đại biểu.
Thị xã có từ hai mươi nghìn người trở xuống được bầu bốn mươi đại biểu; có trên hai mươi nghìn người thì cứ thêm bốn nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá sáu mươi đại biểu.
Thành phố thuộc tỉnh có sáu mươi nghìn người trở xuống được bầu năm mươi đại biểu; có trên sáu mươi nghìn người thì cứ thêm tám nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá bảy mươi đại biểu.
3- Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và
cấp tương đương.
Tỉnh miền xuôi có từ năm trăm nghìn người trở xuống được bầu bảy mươi đại biểu; có trên năm trăm nghìn người thì cứ thêm ba mươi nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá một trăm hai mươi đại biểu.
Tỉnh miền núi có từ hai trăm năm mươi nghìn người trở xuống được bầu bảy mươi đại biểu; có trên hai trăm năm mươi nghìn người thì cứ thêm mười lăm nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá một trăm hai mươi đại biểu.
Thành phố trực thuộc trung ương có từ năm trăm nghìn người trở xuống được bầu bảy mươi đại biểu; có trên năm trăm nghìn người thì cứ thêm hai mươi nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá một trăm hai mươi đại biểu.
Thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được bầu không quá một trăm năm mươi đại biểu.
Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo được bầu năm mươi đại biểu. Hội đồng Nhà nước có thể quyết định tăng thêm số đại biểu Hội đồng nhân dân đặc khu khi xét thấy cần thiết.

Content:
Điều 8. Số đại biểu Hội đồng nhân dân của mỗi cấp như sau:
1- Hội đồng nhân dân xã, thị trấn và phường.
Xã và thị trấn miền xuôi có từ hai nghìn người trở xuống được bầu hai mươi đại biểu; có trên hai nghìn người thì cứ thêm hai trăm năm mươi người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá bốn mươi nhăm đại biểu.
Xã và thị trấn miền núi và hải đảo có từ bảy trăm người trở xuống được bầu hai mươi đại biểu; có trên bảy trăm người thì cứ thêm hai trăm người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá bốn mươi nhăm đại biểu.
Xã có từ ba trăm người trở xuống được bầu mười lăm đại biểu.
Phường có từ hai nghìn người trở xuống được bầu hai mươi đại biểu; có trên hai nghìn người thì cứ thêm bốn trăm người được bầu thềm một đại biểu, nhưng tổng số không quá bốn mươi nhăm đại biểu.
2- Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc
tỉnh.
Huyện miền xuôi và quận có từ năm mươi nghìn người trở xuống được bầu bốn mươi đại biểu; có trên năm mươi nghìn người thì cứ thêm sáu nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá sáu mươi đại biểu.
Huyện miền núi và hải đảo có từ hai mươi nghìn người trở xuống được bầu bốn mươi đại biểu; có trên hai mươi nghìn người thì cứ thêm hai nghìn năm trăm người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá sáu mươi đại biểu.
Thị xã có từ hai mươi nghìn người trở xuống được bầu bốn mươi đại biểu; có trên hai mươi nghìn người thì cứ thêm bốn nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá sáu mươi đại biểu.
Thành phố thuộc tỉnh có sáu mươi nghìn người trở xuống được bầu năm mươi đại biểu; có trên sáu mươi nghìn người thì cứ thêm tám nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá bảy mươi đại biểu.
3- Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và
cấp tương đương.
Tỉnh miền xuôi có từ năm trăm nghìn người trở xuống được bầu bảy mươi đại biểu; có trên năm trăm nghìn người thì cứ thêm ba mươi nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá một trăm hai mươi đại biểu.
Tỉnh miền núi có từ hai trăm năm mươi nghìn người trở xuống được bầu bảy mươi đại biểu; có trên hai trăm năm mươi nghìn người thì cứ thêm mười lăm nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá một trăm hai mươi đại biểu.
Thành phố trực thuộc trung ương có từ năm trăm nghìn người trở xuống được bầu bảy mươi đại biểu; có trên năm trăm nghìn người thì cứ thêm hai mươi nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá một trăm hai mươi đại biểu.
Thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được bầu không quá một trăm năm mươi đại biểu.
Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo được bầu năm mươi đại biểu. Hội đồng Nhà nước có thể quyết định tăng thêm số đại biểu Hội đồng nhân dân đặc khu khi xét thấy cần thiết.