Document: Khoản 6 Điều 1 Quyết định 532/QĐ-UBND năm 2014 phát triển vật liệu xây dựng Bà Rịa Vũng Tàu đến 2020 tầm nhìn 2030

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "17/03/2014", "sign_number": "532/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "17/03/2014", "sign_number": "532/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "17/03/2014", "sign_number": "532/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "17/03/2014", "sign_number": "532/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "17/03/2014", "sign_number": "532/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 6 Điều 1 Quyết định 532/QĐ-UBND năm 2014 phát triển vật liệu xây dựng Bà Rịa Vũng Tàu đến 2020 tầm nhìn 2030

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 với nội dung chính như sau:
...
6. Giải pháp chủ yếu:
a) Tập trung giải quyết tốt cân đối về tài chính và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để phục vụ cho việc phát triển sản xuất vật liệu xây dựng.
Các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng cần có biện pháp tiết kiệm để tạo tích lũy và tăng cường hợp tác liên doanh với các doanh nghiệp trong ngành ở các trung tâm kinh tế lớn trong nước và một số tỉnh lân cận, để cùng góp vốn đầu tư vào sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và phát huy tốt các lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên ở tỉnh. Song song với việc giải quyết tốt cân đối về tài chính, cần tập trung phát triển cơ sở hạ tầng, cải tạo, nâng cấp các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, nâng cấp cảng sông để phục vụ cho việc xuất các sản phẩm vật liệu xây dựng ra ngoài tỉnh.
Nhu cầu về vốn đầu tư để phát triển sản xuất vật liệu xây dựng ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2015 khoảng 1.128,6 tỷ đồng; giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 286,35 tỷ đồng.
b) Có chính sách thị trường đúng đắn để giữ vững và mở rộng thị trường trong tỉnh và ngoại tỉnh.
Giữ vững và mở rộng mối quan hệ với thị trường vật liệu xây dựng trong nước thông qua các hợp đồng mua bán và liên kết sản xuất, đặc biệt chú trọng vào các mặt hàng vật liệu xây dựng mà tỉnh không có khả năng xuất ra ngoài. Đồng thời, tập trung vào việc phát triển kinh tế - xã hội để nâng cao mức sống của nhân dân để kích cầu cho thị trường vật liệu xây dựng nói chung, đặc biệt là thị trường nông thôn rộng lớn còn nhiều tiềm năng. Ngoài việc đẩy mạnh sản xuất tại chỗ đối với các sản phẩm vật liệu xây dựng thông dụng cần tổ chức tốt việc cung ứng các sản phẩm vật liệu xây dựng mà các vùng này chưa sản xuất được để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nhân dân.
c) Tăng cường công tác đào tạo cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề và đẩy mạnh các hoạt động khoa học và công nghệ trong lĩnh vực vật liệu xây dựng để giữ vững và ổn định sản xuất.
Đào tạo kịp thời đội ngũ lao động sản xuất vật liệu xây dựng dưới nhiều hình thức: Tập trung, tại chức, đào tạo theo hợp đồng của các doanh nghiệp. Có kế hoạch đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ đại học trở lên cho ngành vật liệu xây dựng, đồng thời chú trọng đào tạo cán bộ thuộc chuyên ngành tự động hóa, cơ khí, cán bộ địa chất và khai thác mỏ… để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của ngành.
Công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật cần tập trung vào giải quyết những khó khăn trong sản xuất và áp dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất. Có giải pháp hỗ trợ nguồn vốn khoa học công nghệ để tổ chức sản xuất và trình diễn kỹ thuật cho các chủng loại vật liệu xây dựng với quy mô nhỏ, vốn đầu tư ban đầu thấp, để làm cơ sở nhân rộng ra trên địa bàn.
d) Tăng cường quản lý nhà nước về sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng trên địa bàn.
Thống nhất công tác quản lý, tổ chức thực hiện quy hoạch vật liệu xây dựng là Sở Xây dựng, cơ quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với ngành vật liệu xây dựng. Đồng thời, nghiên cứu các quy định về quản lý sản xuất đối với các sản phẩm vật liệu xây dựng thông dụng, như gạch ngói đất sét nung, khai thác đá cát sỏi,… để trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý nhà nước về các lĩnh vực này.
Các huyện, thành phố cần biên chế các cán bộ chuyên trách có năng lực và am hiểu về lĩnh vực vật liệu xây dựng để thường xuyên theo dõi và kiểm tra tình hình sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn, tạo ra một hệ thống quản lý thống nhất và xuyên suốt từ tỉnh xuống huyện, giúp cho công tác quản lý chung của ngành được chặt chẽ và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển sản xuất vật liệu xây dựng đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
đ) Các giải pháp về phục hồi môi trường, phát triển bền vững:
Trong quá trình lập đề án sản xuất vật liệu xây dựng, đề án thăm dò khoáng sản, đề án khai thác và chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng phải có phần đánh giá tác động môi trường, đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường, trình cấp có thẩm quyền thông qua và nghiêm chỉnh thực hiện theo các giải pháp đã được đề xuất.
e) Đẩy mạnh công tác chuẩn bị đầu tư và điều tra cơ bản để phục vụ cho yêu cầu phát triển vật liệu xây dựng trên địa bàn bằng các dự án cụ thể.
Các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn cần tập trung tiền vốn và nhân lực, tiến hành khảo sát địa chất, khảo sát cơ sở hạ tầng kỹ thuật để lựa chọn địa điểm cho các công trình sản xuất đã có quy hoạch. Trên cơ sở đó, xây dựng dự án đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy cao, làm căn cứ cho việc đầu tư vào phát triển sản xuất vật liệu xây dựng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đồng thời, xúc tiến mạnh mẽ việc khảo sát bổ sung nâng cấp trữ lượng đối với các mỏ nguyên liệu đang được khai thác sử dụng, để đáp ứng nhu cầu mở rộng nâng cao sản lượng sản phẩm vật liệu xây dựng và tiến hành khảo sát kỹ các mỏ nguyên liệu dự kiến đưa vào khai thác để phục vụ cho sản xuất vật liệu xây dựng trong giai đoạn tới.
Nội dung chi tiết thể hiện trong đồ án quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 do Viện Vật liệu xây dựng - Bộ Xây dựng lập, đã được Hội đồng thẩm định và Sở Xây dựng thẩm định trình duyệt kèm theo.

Content:
Giải pháp chủ yếu:
a) Tập trung giải quyết tốt cân đối về tài chính và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để phục vụ cho việc phát triển sản xuất vật liệu xây dựng.
Các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng cần có biện pháp tiết kiệm để tạo tích lũy và tăng cường hợp tác liên doanh với các doanh nghiệp trong ngành ở các trung tâm kinh tế lớn trong nước và một số tỉnh lân cận, để cùng góp vốn đầu tư vào sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và phát huy tốt các lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên ở tỉnh. Song song với việc giải quyết tốt cân đối về tài chính, cần tập trung phát triển cơ sở hạ tầng, cải tạo, nâng cấp các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, nâng cấp cảng sông để phục vụ cho việc xuất các sản phẩm vật liệu xây dựng ra ngoài tỉnh.
Nhu cầu về vốn đầu tư để phát triển sản xuất vật liệu xây dựng ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2015 khoảng 1.128,6 tỷ đồng; giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 286,35 tỷ đồng.
b) Có chính sách thị trường đúng đắn để giữ vững và mở rộng thị trường trong tỉnh và ngoại tỉnh.
Giữ vững và mở rộng mối quan hệ với thị trường vật liệu xây dựng trong nước thông qua các hợp đồng mua bán và liên kết sản xuất, đặc biệt chú trọng vào các mặt hàng vật liệu xây dựng mà tỉnh không có khả năng xuất ra ngoài. Đồng thời, tập trung vào việc phát triển kinh tế - xã hội để nâng cao mức sống của nhân dân để kích cầu cho thị trường vật liệu xây dựng nói chung, đặc biệt là thị trường nông thôn rộng lớn còn nhiều tiềm năng. Ngoài việc đẩy mạnh sản xuất tại chỗ đối với các sản phẩm vật liệu xây dựng thông dụng cần tổ chức tốt việc cung ứng các sản phẩm vật liệu xây dựng mà các vùng này chưa sản xuất được để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nhân dân.
c) Tăng cường công tác đào tạo cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề và đẩy mạnh các hoạt động khoa học và công nghệ trong lĩnh vực vật liệu xây dựng để giữ vững và ổn định sản xuất.
Đào tạo kịp thời đội ngũ lao động sản xuất vật liệu xây dựng dưới nhiều hình thức: Tập trung, tại chức, đào tạo theo hợp đồng của các doanh nghiệp. Có kế hoạch đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ đại học trở lên cho ngành vật liệu xây dựng, đồng thời chú trọng đào tạo cán bộ thuộc chuyên ngành tự động hóa, cơ khí, cán bộ địa chất và khai thác mỏ… để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của ngành.
Công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật cần tập trung vào giải quyết những khó khăn trong sản xuất và áp dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất. Có giải pháp hỗ trợ nguồn vốn khoa học công nghệ để tổ chức sản xuất và trình diễn kỹ thuật cho các chủng loại vật liệu xây dựng với quy mô nhỏ, vốn đầu tư ban đầu thấp, để làm cơ sở nhân rộng ra trên địa bàn.
d) Tăng cường quản lý nhà nước về sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng trên địa bàn.
Thống nhất công tác quản lý, tổ chức thực hiện quy hoạch vật liệu xây dựng là Sở Xây dựng, cơ quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với ngành vật liệu xây dựng. Đồng thời, nghiên cứu các quy định về quản lý sản xuất đối với các sản phẩm vật liệu xây dựng thông dụng, như gạch ngói đất sét nung, khai thác đá cát sỏi,… để trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý nhà nước về các lĩnh vực này.
Các huyện, thành phố cần biên chế các cán bộ chuyên trách có năng lực và am hiểu về lĩnh vực vật liệu xây dựng để thường xuyên theo dõi và kiểm tra tình hình sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn, tạo ra một hệ thống quản lý thống nhất và xuyên suốt từ tỉnh xuống huyện, giúp cho công tác quản lý chung của ngành được chặt chẽ và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển sản xuất vật liệu xây dựng đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
đ) Các giải pháp về phục hồi môi trường, phát triển bền vững:
Trong quá trình lập đề án sản xuất vật liệu xây dựng, đề án thăm dò khoáng sản, đề án khai thác và chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng phải có phần đánh giá tác động môi trường, đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường, trình cấp có thẩm quyền thông qua và nghiêm chỉnh thực hiện theo các giải pháp đã được đề xuất.
e) Đẩy mạnh công tác chuẩn bị đầu tư và điều tra cơ bản để phục vụ cho yêu cầu phát triển vật liệu xây dựng trên địa bàn bằng các dự án cụ thể.
Các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn cần tập trung tiền vốn và nhân lực, tiến hành khảo sát địa chất, khảo sát cơ sở hạ tầng kỹ thuật để lựa chọn địa điểm cho các công trình sản xuất đã có quy hoạch. Trên cơ sở đó, xây dựng dự án đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy cao, làm căn cứ cho việc đầu tư vào phát triển sản xuất vật liệu xây dựng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đồng thời, xúc tiến mạnh mẽ việc khảo sát bổ sung nâng cấp trữ lượng đối với các mỏ nguyên liệu đang được khai thác sử dụng, để đáp ứng nhu cầu mở rộng nâng cao sản lượng sản phẩm vật liệu xây dựng và tiến hành khảo sát kỹ các mỏ nguyên liệu dự kiến đưa vào khai thác để phục vụ cho sản xuất vật liệu xây dựng trong giai đoạn tới.
Nội dung chi tiết thể hiện trong đồ án quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 do Viện Vật liệu xây dựng - Bộ Xây dựng lập, đã được Hội đồng thẩm định và Sở Xây dựng thẩm định trình duyệt kèm theo.