Document: Điều 4 Quyết định 195-HĐBT thực hiện chế độ quyết toán vật tư trong nền kinh tế quốc dân

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "14/12/1982", "sign_number": "195-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "14/12/1982", "sign_number": "195-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "14/12/1982", "sign_number": "195-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "14/12/1982", "sign_number": "195-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "14/12/1982", "sign_number": "195-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 4 Quyết định 195-HĐBT thực hiện chế độ quyết toán vật tư trong nền kinh tế quốc dân có nội dung như sau:

Điều 4. - Các cấp Bộ, tỉnh căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, có trách nhiệm tổ chức thực hiện tốt chế độ quyết toán vật tư trong nền kinh tế quốc dân.
a) Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và các cấp Bộ, tỉnh có trách nhiệm triển khai công tác định mức sử dụng vật tư theo Nghị định số 201-CP ngày 26-5-1981 của Hội đồng Chính phủ về công tác định mức kinh tế kỹ thuật. Trường hợp chưa có định mức chính thức thì thủ trưởng các đơn vị sản xuất, kinh doanh, các Bộ, tỉnh phải căn cứ vào nội dung và tinh thần Nghị định số 201-CP nói trên, phê chuẩn ngay các định mức tạm thời làm căn cứ tính toán các chỉ tiêu kế hoạch phân phối vật tư và kiểm tra sử dụng vật tư. Trong thời hạn không quá 6 tháng, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và các Bộ, các tỉnh, thành phố phải rà soát lại để xét duyệt và phê chuẩn thành các định mức chính thức.
b) Bộ Tài chính có trách nhiệm ban hành chế độ định mức vốn lưu động trong tất cả các ngành sản xuất kinh doanh và những quy định cụ thể về thưởng phạt trong việc tiết kiệm vật tư.
Bộ Tài chính có trách nhiệm cùng với Tổng cục Thống kê hoàn thiện chế độ hạch toán vật tư thống nhất.
c) Bộ Vật tư và các Bộ quản lý cung ứng vật tư Nhà nước khác có trách nhiệm ban hành các chế độ về cung ứng, sử dụng, tồn kho và chế độ kiểm tra đối với các loại vật tư do Bộ mình quản lý trong tất cả các ngành sản xuất, kinh doanh.
d) Cơ quan tài chính có quyền phạt trừ, giảm mức trích lập các quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi hàng quý và hàng năm đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh nếu không lập báo cáo quyết toán vật tư hoặc báo cáo quyết toán vật tư không được ngành thống kê Nhà nước xác nhận.
e) Tổng cục Thống kê có trách nhiệm ban hành và hoàn thiện những quy định về ghi chép ban đầu, báo cáo thống kê, phân loại sản phẩm... có liên quan đến công tác quyết toán vật tư.
Trên cơ sở thực hiện tập trung, thống nhất công tác quyết toán vật tư, hàng năm Tổng cục Thống kê phải lập báo cáo tổng quyết toán những loại vật tư chủ yếu trong toàn nền kinh tế quốc dân trình lên Hội đồng Bộ trưởng và gửi cho các cơ quan có liên quan của Đảng và Nhà nước.

Content:
Điều 4. - Các cấp Bộ, tỉnh căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, có trách nhiệm tổ chức thực hiện tốt chế độ quyết toán vật tư trong nền kinh tế quốc dân.
a) Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và các cấp Bộ, tỉnh có trách nhiệm triển khai công tác định mức sử dụng vật tư theo Nghị định số 201-CP ngày 26-5-1981 của Hội đồng Chính phủ về công tác định mức kinh tế kỹ thuật. Trường hợp chưa có định mức chính thức thì thủ trưởng các đơn vị sản xuất, kinh doanh, các Bộ, tỉnh phải căn cứ vào nội dung và tinh thần Nghị định số 201-CP nói trên, phê chuẩn ngay các định mức tạm thời làm căn cứ tính toán các chỉ tiêu kế hoạch phân phối vật tư và kiểm tra sử dụng vật tư. Trong thời hạn không quá 6 tháng, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và các Bộ, các tỉnh, thành phố phải rà soát lại để xét duyệt và phê chuẩn thành các định mức chính thức.
b) Bộ Tài chính có trách nhiệm ban hành chế độ định mức vốn lưu động trong tất cả các ngành sản xuất kinh doanh và những quy định cụ thể về thưởng phạt trong việc tiết kiệm vật tư.
Bộ Tài chính có trách nhiệm cùng với Tổng cục Thống kê hoàn thiện chế độ hạch toán vật tư thống nhất.
c) Bộ Vật tư và các Bộ quản lý cung ứng vật tư Nhà nước khác có trách nhiệm ban hành các chế độ về cung ứng, sử dụng, tồn kho và chế độ kiểm tra đối với các loại vật tư do Bộ mình quản lý trong tất cả các ngành sản xuất, kinh doanh.
d) Cơ quan tài chính có quyền phạt trừ, giảm mức trích lập các quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi hàng quý và hàng năm đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh nếu không lập báo cáo quyết toán vật tư hoặc báo cáo quyết toán vật tư không được ngành thống kê Nhà nước xác nhận.
e) Tổng cục Thống kê có trách nhiệm ban hành và hoàn thiện những quy định về ghi chép ban đầu, báo cáo thống kê, phân loại sản phẩm... có liên quan đến công tác quyết toán vật tư.
Trên cơ sở thực hiện tập trung, thống nhất công tác quyết toán vật tư, hàng năm Tổng cục Thống kê phải lập báo cáo tổng quyết toán những loại vật tư chủ yếu trong toàn nền kinh tế quốc dân trình lên Hội đồng Bộ trưởng và gửi cho các cơ quan có liên quan của Đảng và Nhà nước.