Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 134/QĐ-TTg 2015 tái cơ cấu ngành Xây dựng gắn chuyển đổi mô hình tăng trưởng 2014 2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/01/2015", "sign_number": "134/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/01/2015", "sign_number": "134/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/01/2015", "sign_number": "134/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/01/2015", "sign_number": "134/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/01/2015", "sign_number": "134/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 134/QĐ-TTg 2015 tái cơ cấu ngành Xây dựng gắn chuyển đổi mô hình tăng trưởng 2014 2020

Điều 1. Phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành Xây dựng gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2014 - 2020 (sau đây gọi tắt là Đề án) với các nội dung chủ yếu sau:
...
3. Các quan điểm tái cơ cấu ngành xây dựng.
Thứ nhất, tái cơ cấu ngành xây dựng là một hợp phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; gắn với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của ngành, nhằm không ngừng nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh, bảo đảm phát triển bền vững các lĩnh vực thuộc ngành.
Thứ hai, phân định rõ vai trò, chức năng của Nhà nước và của thị trường, khắc phục tư tưởng “nhà nước hóa” cũng như tư tưởng “thị trường hóa” một cách thái quá trong quản lý đầu tư phát triển. Trong đó, Nhà nước có vai trò định hướng và giữ nhịp cho thị trường phát triển, một mặt phải xây dựng hành lang pháp lý hoàn chỉnh, tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển; đồng thời tăng cường sự quản lý, điều tiết của Nhà nước đối với các loại thị trường để thị trường phát triển ổn định, coi thị trường là phương tiện để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa, hướng đến phục vụ con người, nhất là người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội.
Thứ ba, đổi mới tư duy quản lý phát triển theo nguyên tắc việc đầu tư xây dựng, phát triển đô thị, nhà ở và thị trường bất động sản phải tuân thủ theo quy hoạch và có kế hoạch, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, tự phát, phong trào dẫn đến dự án “treo”.
Thứ tư, tái cơ cấu ngành xây dựng theo lộ trình thích hợp, ưu tiên các lĩnh vực, sản phẩm có sức tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh cao, từng bước chiếm lĩnh, chi phối thị trường trong nước, đồng thời với chủ động hội nhập quốc tế.
Thứ năm, kết hợp hài hòa giữa giải quyết các vấn đề cấp bách với các vấn đề cơ bản, dài hạn; giữa phát triển kinh tế với thực hiện chính sách an sinh xã hội, đảm bảo sự tiến bộ và công bằng xã hội, nhất là trong lĩnh vực nhà ở; hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.
Thứ sáu, thực hiện tái cơ cấu ngành xây dựng gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính và phân công, phân cấp một cách hợp lý, bảo đảm sự quản lý thống nhất, chỉ đạo thông suốt từ trung ương đến địa phương, phát huy sự chủ động, sáng tạo của địa phương.
Thứ bảy, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, tích cực của các tổ chức, doanh nghiệp trong việc tự tái cấu trúc và tái cơ cấu chung của toàn ngành xây dựng; khuyến khích và thu hút sự tham gia tích cực của người dân và các thành phần kinh tế vào các lĩnh vực sản xuất sản phẩm xây dựng và dịch vụ đô thị.
II. ĐỊNH HƯỚNG TÁI CƠ CẤU MỘT SỐ LĨNH VỰC VÀ SẢN PHẨM CHỦ YẾU CỦA NGÀNH XÂY DỰNG.
1. Lĩnh vực tư vấn xây dựng
- Tạo bước phát triển đột phá trong lĩnh vực tư vấn xây dựng từ quan điểm, cách làm, mô hình phát triển, trình độ quản lý, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ, sự hiểu biết về môi trường pháp lý; đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng, công bằng và minh bạch giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn, kể cả tư vấn trong nước và tư vấn nước ngoài.
- Đổi mới tư duy và nâng cao chất lượng tư vấn quy hoạch xây dựng. Đồ án quy hoạch phải có tầm nhìn dài hạn, có tính toán các nguồn lực thực hiện, để quy hoạch phải thực sự đi trước một bước và có tính khả thi cao, làm cơ sở cho việc kế hoạch hóa đầu tư và quản lý thực hiện các dự án đầu tư xây dựng.
- Hình thành đội ngũ chuyên gia tư vấn giỏi, có đủ năng lực thiết kế, giám sát, quản lý dự án đối với các công trình dân dụng cao trên 40 tầng, công trình công cộng, công trình hạ tầng quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp; tham gia vào lĩnh vực tư vấn điện hạt nhân, năng lượng tái tạo; tham gia tổng thầu EPC các dự án giao thông, năng lượng điện, thủy lợi, công trình công nghiệp khác.
- Phát triển mô hình tổ chức tư vấn quản lý dự án chuyên nghiệp, có năng lực quản lý tổng hợp về dự án bao gồm cả kinh tế, kỹ thuật, môi trường, xã hội, thị trường và pháp luật liên quan đến đầu tư xây dựng.
- Áp dụng và làm chủ các phần mềm, thiết bị công nghệ và kỹ thuật tiên tiến hiện đại trong khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, quản lý xây dựng và kinh tế xây dựng, thí nghiệm và kiểm định chất lượng công trình xây dựng.
2. Lĩnh vực thi công xây lắp
- Nâng cao năng lực tổ chức, quản lý thi công xây lắp theo hướng chuyên nghiệp hóa và chuyên môn hóa cao, làm chủ các công nghệ xây dựng tiên tiến, hiện đại để đảm nhận việc thi công các công trình có quy mô lớn, phức tạp, đòi hỏi kỹ thuật thi công tiên tiến như: nhà ở và các công trình dân dụng cao trên 40 tầng; công trình công cộng nhịp lớn (cung thể thao, nhà thi đấu, sân vận động); công trình ven biển và ngoài khơi; công trình dạng tháp cao... Tiếp thu công nghệ xây dựng các công trình nhà máy điện hạt nhân, công trình ngầm đô thị dạng tuyến và công trình ngầm dạng điểm sâu đến 30 m.
- Tăng cường nghiên cứu, áp dụng kết cấu công trình sử dụng các vật liệu mới, cường độ cao, đẩy mạnh công nghiệp hóa trong thi công xây dựng để nâng cao chất lượng công trình, rút ngắn thời gian thi công, hạ giá thành sản phẩm.
- Tăng cường lực lượng chuyên sâu về xây dựng, tổng thầu EPC các công trình năng lượng điện, giao thông, thủy lợi.
- Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn và công nhân kỹ thuật; đảm bảo tỷ lệ công nhân xây dựng đã qua đào tạo đạt trên 50%; phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giỏi, chuyên gia kỹ thuật, công nhân lành nghề, đáp ứng yêu cầu thi công các công trình hiện đại, quy mô lớn, phức tạp cao.
3. Lĩnh vực phát triển đô thị
- Sắp xếp và tổ chức mạng lưới đô thị quốc gia một cách hợp lý theo Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 và Chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2012 - 2020, có rà soát, cập nhật, bổ sung để bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương và của cả nước theo từng giai đoạn.
- Kiểm soát chặt chẽ quá trình đầu tư phát triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch, nhất là quản lý phát triển các đô thị mới và các khu vực phát triển đô thị, đảm bảo đồng bộ về hệ thống hạ tầng kỹ thuật (giao thông, cấp nước, thoát nước, xử lý rác thải, cấp điện, chiếu sáng đô thị,...) và hạ tầng xã hội, khai thác hiệu quả và sử dụng tiết kiệm các nguồn lực xã hội, nhất là tài nguyên đất đai; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng - an ninh, bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, hướng tới phát triển bền vững.
- Đổi mới tư duy trong việc nâng cấp, nâng loại đô thị theo hướng không khuyến khích mở rộng quy mô mà tập trung nâng cao chất lượng, tính đồng bộ và năng lực cạnh tranh của đô thị, chú trọng phát huy vai trò, giá trị đặc trưng của từng đô thị như: Đô thị động lực phát triển kinh tế cấp quốc gia và cấp vùng, đô thị di sản, đô thị sinh thái, đô thị du lịch, đô thị khoa học...
- Tái cơ cấu đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị (sản xuất và cung cấp nước sạch, thoát nước và xử lý nước thải, xử lý chất thải rắn, dịch vụ nghĩa trang, chiếu sáng đô thị...) theo hướng lựa chọn công nghệ, thiết bị phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam và của từng địa phương, trong đó ưu tiên lựa chọn công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại, tiết kiệm nguyên, nhiên liệu, thân thiện với môi trường.
- Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ đô thị, nhất là các nguồn lực ngoài Nhà nước; khai thác và sử dụng hợp lý vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi trong lĩnh vực phát triển đô thị.

Content:
Các quan điểm tái cơ cấu ngành xây dựng.
Thứ nhất, tái cơ cấu ngành xây dựng là một hợp phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; gắn với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của ngành, nhằm không ngừng nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh, bảo đảm phát triển bền vững các lĩnh vực thuộc ngành.
Thứ hai, phân định rõ vai trò, chức năng của Nhà nước và của thị trường, khắc phục tư tưởng “nhà nước hóa” cũng như tư tưởng “thị trường hóa” một cách thái quá trong quản lý đầu tư phát triển. Trong đó, Nhà nước có vai trò định hướng và giữ nhịp cho thị trường phát triển, một mặt phải xây dựng hành lang pháp lý hoàn chỉnh, tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển; đồng thời tăng cường sự quản lý, điều tiết của Nhà nước đối với các loại thị trường để thị trường phát triển ổn định, coi thị trường là phương tiện để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa, hướng đến phục vụ con người, nhất là người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội.
Thứ ba, đổi mới tư duy quản lý phát triển theo nguyên tắc việc đầu tư xây dựng, phát triển đô thị, nhà ở và thị trường bất động sản phải tuân thủ theo quy hoạch và có kế hoạch, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, tự phát, phong trào dẫn đến dự án “treo”.
Thứ tư, tái cơ cấu ngành xây dựng theo lộ trình thích hợp, ưu tiên các lĩnh vực, sản phẩm có sức tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh cao, từng bước chiếm lĩnh, chi phối thị trường trong nước, đồng thời với chủ động hội nhập quốc tế.
Thứ năm, kết hợp hài hòa giữa giải quyết các vấn đề cấp bách với các vấn đề cơ bản, dài hạn; giữa phát triển kinh tế với thực hiện chính sách an sinh xã hội, đảm bảo sự tiến bộ và công bằng xã hội, nhất là trong lĩnh vực nhà ở; hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.
Thứ sáu, thực hiện tái cơ cấu ngành xây dựng gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính và phân công, phân cấp một cách hợp lý, bảo đảm sự quản lý thống nhất, chỉ đạo thông suốt từ trung ương đến địa phương, phát huy sự chủ động, sáng tạo của địa phương.
Thứ bảy, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, tích cực của các tổ chức, doanh nghiệp trong việc tự tái cấu trúc và tái cơ cấu chung của toàn ngành xây dựng; khuyến khích và thu hút sự tham gia tích cực của người dân và các thành phần kinh tế vào các lĩnh vực sản xuất sản phẩm xây dựng và dịch vụ đô thị.
II. ĐỊNH HƯỚNG TÁI CƠ CẤU MỘT SỐ LĨNH VỰC VÀ SẢN PHẨM CHỦ YẾU CỦA NGÀNH XÂY DỰNG.
1. Lĩnh vực tư vấn xây dựng
- Tạo bước phát triển đột phá trong lĩnh vực tư vấn xây dựng từ quan điểm, cách làm, mô hình phát triển, trình độ quản lý, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ, sự hiểu biết về môi trường pháp lý; đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng, công bằng và minh bạch giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn, kể cả tư vấn trong nước và tư vấn nước ngoài.
- Đổi mới tư duy và nâng cao chất lượng tư vấn quy hoạch xây dựng. Đồ án quy hoạch phải có tầm nhìn dài hạn, có tính toán các nguồn lực thực hiện, để quy hoạch phải thực sự đi trước một bước và có tính khả thi cao, làm cơ sở cho việc kế hoạch hóa đầu tư và quản lý thực hiện các dự án đầu tư xây dựng.
- Hình thành đội ngũ chuyên gia tư vấn giỏi, có đủ năng lực thiết kế, giám sát, quản lý dự án đối với các công trình dân dụng cao trên 40 tầng, công trình công cộng, công trình hạ tầng quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp; tham gia vào lĩnh vực tư vấn điện hạt nhân, năng lượng tái tạo; tham gia tổng thầu EPC các dự án giao thông, năng lượng điện, thủy lợi, công trình công nghiệp khác.
- Phát triển mô hình tổ chức tư vấn quản lý dự án chuyên nghiệp, có năng lực quản lý tổng hợp về dự án bao gồm cả kinh tế, kỹ thuật, môi trường, xã hội, thị trường và pháp luật liên quan đến đầu tư xây dựng.
- Áp dụng và làm chủ các phần mềm, thiết bị công nghệ và kỹ thuật tiên tiến hiện đại trong khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, quản lý xây dựng và kinh tế xây dựng, thí nghiệm và kiểm định chất lượng công trình xây dựng.
2. Lĩnh vực thi công xây lắp
- Nâng cao năng lực tổ chức, quản lý thi công xây lắp theo hướng chuyên nghiệp hóa và chuyên môn hóa cao, làm chủ các công nghệ xây dựng tiên tiến, hiện đại để đảm nhận việc thi công các công trình có quy mô lớn, phức tạp, đòi hỏi kỹ thuật thi công tiên tiến như: nhà ở và các công trình dân dụng cao trên 40 tầng; công trình công cộng nhịp lớn (cung thể thao, nhà thi đấu, sân vận động); công trình ven biển và ngoài khơi; công trình dạng tháp cao... Tiếp thu công nghệ xây dựng các công trình nhà máy điện hạt nhân, công trình ngầm đô thị dạng tuyến và công trình ngầm dạng điểm sâu đến 30 m.
- Tăng cường nghiên cứu, áp dụng kết cấu công trình sử dụng các vật liệu mới, cường độ cao, đẩy mạnh công nghiệp hóa trong thi công xây dựng để nâng cao chất lượng công trình, rút ngắn thời gian thi công, hạ giá thành sản phẩm.
- Tăng cường lực lượng chuyên sâu về xây dựng, tổng thầu EPC các công trình năng lượng điện, giao thông, thủy lợi.
- Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn và công nhân kỹ thuật; đảm bảo tỷ lệ công nhân xây dựng đã qua đào tạo đạt trên 50%; phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giỏi, chuyên gia kỹ thuật, công nhân lành nghề, đáp ứng yêu cầu thi công các công trình hiện đại, quy mô lớn, phức tạp cao.
Lĩnh vực phát triển đô thị
- Sắp xếp và tổ chức mạng lưới đô thị quốc gia một cách hợp lý theo Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 và Chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2012 - 2020, có rà soát, cập nhật, bổ sung để bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương và của cả nước theo từng giai đoạn.
- Kiểm soát chặt chẽ quá trình đầu tư phát triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch, nhất là quản lý phát triển các đô thị mới và các khu vực phát triển đô thị, đảm bảo đồng bộ về hệ thống hạ tầng kỹ thuật (giao thông, cấp nước, thoát nước, xử lý rác thải, cấp điện, chiếu sáng đô thị,...) và hạ tầng xã hội, khai thác hiệu quả và sử dụng tiết kiệm các nguồn lực xã hội, nhất là tài nguyên đất đai; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng - an ninh, bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, hướng tới phát triển bền vững.
- Đổi mới tư duy trong việc nâng cấp, nâng loại đô thị theo hướng không khuyến khích mở rộng quy mô mà tập trung nâng cao chất lượng, tính đồng bộ và năng lực cạnh tranh của đô thị, chú trọng phát huy vai trò, giá trị đặc trưng của từng đô thị như: Đô thị động lực phát triển kinh tế cấp quốc gia và cấp vùng, đô thị di sản, đô thị sinh thái, đô thị du lịch, đô thị khoa học...
- Tái cơ cấu đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị (sản xuất và cung cấp nước sạch, thoát nước và xử lý nước thải, xử lý chất thải rắn, dịch vụ nghĩa trang, chiếu sáng đô thị...) theo hướng lựa chọn công nghệ, thiết bị phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam và của từng địa phương, trong đó ưu tiên lựa chọn công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại, tiết kiệm nguyên, nhiên liệu, thân thiện với môi trường.
- Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ đô thị, nhất là các nguồn lực ngoài Nhà nước; khai thác và sử dụng hợp lý vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi trong lĩnh vực phát triển đô thị.