Document: Khoản 1 Điều 1 Quyết định 2838/QĐ-UBND 2006 điều chỉnh Quy hoạch nông lâm nghiệp thủy sản Phú Thọ đến 2010 định hướng 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "09/10/2006", "sign_number": "2838/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Đình Vượng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "09/10/2006", "sign_number": "2838/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Đình Vượng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "09/10/2006", "sign_number": "2838/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Đình Vượng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "09/10/2006", "sign_number": "2838/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Đình Vượng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "09/10/2006", "sign_number": "2838/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Đình Vượng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 1 Quyết định 2838/QĐ-UBND 2006 điều chỉnh Quy hoạch nông lâm nghiệp thủy sản Phú Thọ đến 2010 định hướng 2020

Điều 1. Duyệt điều chỉnh Quy hoạch nông, lâm nghiệp - thủy sản tỉnh Phú Thọ đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 với những nội dung chính sau:
1. Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch nông, lâm nghiệp - thủy sản giai đoạn 2001 - 2005
1.1. Kết quả đạt được:
- Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp - thủy sản tăng tốc độ cao; năm 2005 tăng 47,7% so năm 2000, bình quân tăng 8,1%/năm (mục tiêu đề ra 5%/năm). Giá trị tăng thêm nông, lâm nghiệp - thủy sản năm 2005 tăng 40,2% so với năm 2000, bình quân tăng 6,97%/năm.
- Cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản chuyển dịch tích cực, cụ thể: Trồng trọt giảm từ 72% (năm 2000) xuống còn 63% (năm 2005); chăn nuôi tăng từ 25,6% lên 34%; lâm nghiệp giảm từ 9,1% xuống 8,8%; thủy sản tăng từ 4,4% lên 4,5%. Cơ cấu lao động trong nông nghiệp giảm từ 79,8% (năm 2000) xuống 72,2% (năm 2005).
- Các chương trình nông nghiệp trọng điểm được chú trọng đầu tư và chỉ đạo: Chương trình lương thực, chương trình phát triển chè, chăn nuôi lợn xuất khẩu, chương trình trồng mới 8 vạn ha rừng đạt và vượt mục tiêu đề ra; chương trình cây ăn quả, chương trình phát triển thủy sản, phong trào chăn nuôi bò thịt đã có những kết quả bước đầu và triển vọng phát triển tốt; các mô hình trang trại đạt hiệu quả kinh tế cao đang được nhân rộng.
- Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhất là tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi và áp dụng kỹ thuật thâm canh đã tăng nhanh năng suất và sản lượng. Năng suất lúa tăng 24,4%, ngô tăng 37,9%, chè tăng 39,5%, rau thực phẩm tăng 8,4%.
- Đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn được chú trọng: Trung bình 141,8 tỷ đồng/năm; đảm bảo diện tích tưới chủ động 2 vụ tăng từ 34 ngàn ha lên 45 ngàn ha, tiêu chủ động 5 ngàn ha lên 7,5 ngàn ha. Bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi.
- Công tác trồng chăm sóc, bảo vệ rừng có nhiều tiến bộ, nâng độ che phủ của rừng từ 35,8% (năm 2000) lên 45,2% (năm 2005).
- Sản xuất nông, lâm nghiệp - thủy sản phát triển góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, giảm tỷ lệ hộ nghèo, không còn hộ đói.
1.2. Tồn tại, hạn chế:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp về tổng thể là tích cực, nhưng trong nội bộ ngành chậm, chưa vững chắc và hiệu quả thấp; tỷ trọng giá trị ngành trồng trọt cao. Sản phẩm hàng hóa ít, khối lượng nhỏ, chưa phong phú, chất lượng chưa cao, sức cạnh tranh thấp. Việc gắn kết giữa sản xuất, chế biến - tiêu thụ sản phẩm còn nhiều bất cập.
- Hạ tầng nông nghiệp thiếu, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa, tỷ suất hàng hóa nông nghiệp thấp.
- Chưa có được những mô hình ứng dụng công nghệ cao, những điển hình sản xuất nổi trội, nhiều mô hình chậm được nhân rộng trong sản xuất.
- Chưa thu hút được các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển, chưa thu hút được nhiều các nguồn vốn đầu tư nhất là đầu tư nước ngoài, đầu tư tư nhân. Huy động các nguồn lực cho phát triển nông, lâm nghiệp - thủy sản có nhiều hạn chế.

Content:
Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch nông, lâm nghiệp - thủy sản giai đoạn 2001 - 2005
1.Kết quả đạt được:
- Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp - thủy sản tăng tốc độ cao; năm 2005 tăng 47,7% so năm 2000, bình quân tăng 8,1%/năm (mục tiêu đề ra 5%/năm). Giá trị tăng thêm nông, lâm nghiệp - thủy sản năm 2005 tăng 40,2% so với năm 2000, bình quân tăng 6,97%/năm.
- Cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản chuyển dịch tích cực, cụ thể: Trồng trọt giảm từ 72% (năm 2000) xuống còn 63% (năm 2005); chăn nuôi tăng từ 25,6% lên 34%; lâm nghiệp giảm từ 9,1% xuống 8,8%; thủy sản tăng từ 4,4% lên 4,5%. Cơ cấu lao động trong nông nghiệp giảm từ 79,8% (năm 2000) xuống 72,2% (năm 2005).
- Các chương trình nông nghiệp trọng điểm được chú trọng đầu tư và chỉ đạo: Chương trình lương thực, chương trình phát triển chè, chăn nuôi lợn xuất khẩu, chương trình trồng mới 8 vạn ha rừng đạt và vượt mục tiêu đề ra; chương trình cây ăn quả, chương trình phát triển thủy sản, phong trào chăn nuôi bò thịt đã có những kết quả bước đầu và triển vọng phát triển tốt; các mô hình trang trại đạt hiệu quả kinh tế cao đang được nhân rộng.
- Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhất là tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi và áp dụng kỹ thuật thâm canh đã tăng nhanh năng suất và sản lượng. Năng suất lúa tăng 24,4%, ngô tăng 37,9%, chè tăng 39,5%, rau thực phẩm tăng 8,4%.
- Đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn được chú trọng: Trung bình 141,8 tỷ đồng/năm; đảm bảo diện tích tưới chủ động 2 vụ tăng từ 34 ngàn ha lên 45 ngàn ha, tiêu chủ động 5 ngàn ha lên 7,5 ngàn ha. Bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi.
- Công tác trồng chăm sóc, bảo vệ rừng có nhiều tiến bộ, nâng độ che phủ của rừng từ 35,8% (năm 2000) lên 45,2% (năm 2005).
- Sản xuất nông, lâm nghiệp - thủy sản phát triển góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, giảm tỷ lệ hộ nghèo, không còn hộ đói.
1.2. Tồn tại, hạn chế:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp về tổng thể là tích cực, nhưng trong nội bộ ngành chậm, chưa vững chắc và hiệu quả thấp; tỷ trọng giá trị ngành trồng trọt cao. Sản phẩm hàng hóa ít, khối lượng nhỏ, chưa phong phú, chất lượng chưa cao, sức cạnh tranh thấp. Việc gắn kết giữa sản xuất, chế biến - tiêu thụ sản phẩm còn nhiều bất cập.
- Hạ tầng nông nghiệp thiếu, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa, tỷ suất hàng hóa nông nghiệp thấp.
- Chưa có được những mô hình ứng dụng công nghệ cao, những điển hình sản xuất nổi trội, nhiều mô hình chậm được nhân rộng trong sản xuất.
- Chưa thu hút được các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển, chưa thu hút được nhiều các nguồn vốn đầu tư nhất là đầu tư nước ngoài, đầu tư tư nhân. Huy động các nguồn lực cho phát triển nông, lâm nghiệp - thủy sản có nhiều hạn chế.