Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 460/QĐ-UBND 2019 Đề án huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng Trà Vinh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Trà Vinh", "promulgation_date": "21/03/2019", "sign_number": "460/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trung Hoàng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Trà Vinh", "promulgation_date": "21/03/2019", "sign_number": "460/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trung Hoàng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Trà Vinh", "promulgation_date": "21/03/2019", "sign_number": "460/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trung Hoàng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Trà Vinh", "promulgation_date": "21/03/2019", "sign_number": "460/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trung Hoàng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Trà Vinh", "promulgation_date": "21/03/2019", "sign_number": "460/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trung Hoàng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 460/QĐ-UBND 2019 Đề án huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng Trà Vinh

Điều 1. Phê duyệt Đề án huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội xây dựng nông thôn mới tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2019 – 2020, với các nội dung chủ yếu sau:
...
3. Giải pháp thực hiện
a) Tăng cường huy động nguồn vốn từ ngân sách nhà nước:
- Đối với nguồn hỗ trợ đầu tư từ Trung ương
+ Vận dụng có hiệu quả các cơ chế, chính sách của Trung ương để xây dựng các chương trình, dự án nhằm tranh thủ nguồn hỗ trợ đầu tư từ Trung ương. Tăng cường phối hợp với Bộ, ngành Trung ương tiếp tục triển khai các công trình đang đầu tư dở dang, bổ sung danh mục và bố trí vốn đầu tư đối với công trình mới từ các chương trình, dự án của Chính phủ;
+ Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn hỗ trợ đầu tư từ Trung ương (các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai trên địa bàn nông thôn và tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo và vốn ngân sách hỗ trợ trực tiếp của Chương trình xây dựng nông thôn mới bao gồm cả trái phiếu Chính phủ) (nếu có); đối với các nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia giao các Sở, ngành là cơ quan quản lý chương trình thực hiện lồng ghép các dự án thành phần để thực hiện các tiêu chí nông thôn mới; đối với nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ và vốn hỗ trợ có mục tiêu từ Chương trình chính phủ, ngoài việc thực hiện theo các mục tiêu của từng chương trình, phải lồng ghép để thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
- Đối với ngân sách địa phương:
+ Triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp tăng thu ngân sách. Xác định tỷ lệ vốn thu được từ đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền hoặc cho thuê đất và nguồn vượt thu (nếu có) để thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới.
+ Huy động nguồn ngân sách cấp tỉnh, huyện, xã và các nguồn vốn hợp pháp khác bằng các cơ chế chính sách, nguồn ngân sách tỉnh với vai trò là nguồn vốn “thúc đẩy” để hỗ trợ triển khai thực hiện Chương trình.
b) Tăng cường huy động nguồn vốn qua kênh tín dụng
- Tuyên truyền, nâng cao nhận thức, làm rõ cho các cấp, các ngành và nông dân trong tỉnh thấy rõ hơn tín dụng là kênh vốn chủ yếu cho nông dân để phát triển kinh tế - xã hội.
- Nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức tín dụng Nhà nước trên địa bàn tỉnh.
- Tăng cường hiệu lực của Nhà nước đối với việc quản lý vốn của Nhà nước cho nông dân vay để giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh (cả sản xuất và tiêu thụ cho hộ nông dân) góp phần giảm rủi ro tín dụng, tạo nhu cầu ổn định về vốn vay của nông dân.
- Cần mở rộng tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn cả về nguồn vốn, phạm vi và hình thức hoạt động với thủ tục đơn giản, linh hoạt về mức vay.
c) Tăng cường huy động vốn đầu tư từ doanh nghiệp
- Tiếp tục nghiên cứu sửa đổi chính sách theo hướng ưu tiên hơn nữa đối với các dự án đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn so với các dự án khác.
- Tiếp tục nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội (giao thông, thuỷ lợi, điện, nước,...), quan tâm công tác giải phóng mặt bằng, bố trí vốn đối ứng,... Đồng thời, thực hiện các giải pháp tăng cường khả năng thu hút và sử dụng các nguồn vốn vay và tài trợ quốc tế.
- Khuyến khích người dân đầu tư vào sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực: sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là chế biến nông, lâm, thuỷ sản và dịch vụ nông thôn. Tôn vinh ưu đãi những tập thể, cá nhân có công đầu tư phát triển ngành nghề, phát triển thị trường, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
- Xây dựng hệ thống thông tin doanh nghiệp đến tận cơ sở để nắm chắc tình hình hoạt động của doanh nghiệp và cung cấp cho doanh nghiệp những thông tin về cơ chế, về thị trường một cách nhanh chóng.
d) Huy động nguồn lực xã hội hóa
- Huy động vốn đóng góp của tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng, duy tu, bảo dưỡng công trình kết cấu hạ tầng nông thôn theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Nội dung, hình thức huy động đóng góp tự nguyện của cộng đồng dân cư thực hiện theo Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở và sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền cơ sở. Các khoản đóng góp của cộng đồng, cá nhân đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn bao gồm: Đóng góp xây dựng các công trình công cộng của địa phương bằng công lao động, tiền mặt, vật liệu, máy móc thiết bị, hiến đất…(nếu đóng góp bằng tiền thì cần được cộng đồng bàn bạc quyết định, Hội đồng nhân dân xã thông qua); đóng góp tự nguyện và tài trợ từ các doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.
- Thực hiện rà soát, xây dựng các cơ chế, chính sách trong huy động nguồn lực, nhất là nguồn lực từ cộng đồng để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn.
đ) Tăng cường cải cách hành chính
Thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính; rà soát, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền loại bỏ các thủ tục rườm rà, tạo sự thông thoáng, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng thực thi công vụ của cán bộ, công chức; tiếp tục duy trì và thực hiện tốt đối thoại với doanh nghiệp để cải thiện môi trường đầu tư, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc của các nhà đầu tư, thông qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp yên tâm đầu tư, sản xuất, kinh doanh tại Trà Vinh.
e) Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao nhận thức, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và nội lực của người dân để xây dựng nông thôn mới
- Tiếp tục tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 04/10/2011 của Tỉnh ủy về xây dựng nông thôn mới giai đọan 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2020. Tăng cường công tác thông tin để người dân hiểu rõ xây dựng Nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, chủ thể là người dân, nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ một phần nhằm phát triển nông thôn toàn diện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn.
- Ban chỉ đạo các cấp tổ chức tuyên truyền, học tập, nghiên cứu các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tiếp tục xây dựng chuyên mục về xây dựng Nông thôn mới trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương trong suốt quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Từ đó nâng cao nhận thức, khơi dậy tinh thần yêu nước, phát huy nội lực, tự lực, tự cường và trách nhiệm cao của cộng đồng dân cư nông thôn; chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.
g) Phát huy vai trò của chủ thể cộng đồng dân cư trong thực hiện chương trình nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới phải xác định chủ thể cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, cơ chế, chính sách, cơ chế hỗ trợ. Cần tích cực tuyên truyền để cán bộ, người dân thấy được vai trò chủ thể của mình, vì chỉ khi nào cán bộ cơ sở và người dân hiểu đúng, hiểu rõ yêu cầu và nội dung xây dựng nông thôn mới thì mới tạo ra tính chủ động, tự giác tham gia và tham gia một cách sáng tạo vào việc xây dựng nông thôn mới. Các hoạt động triển khai thực hiện chương trình nông thôn mới phải có sự tham gia của cộng đồng dân cư, cụ thể: Tham gia và lựa chọn những công việc gì cần làm trước và việc gì làm sau thật thiết thực với yêu cầu của người dân trong xã và phù hợp với khả năng, điều kiện của địa phương; quyết định mức độ đóng góp trong xây dựng các công trình công cộng của xã; trực tiếp tổ chức thi công hoặc tham gia thi công xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội của xã theo kế hoạch hàng năm; tham gia quản lý và giám sát các công trình xây dựng của xã; tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình sau khi hoàn thành.
h) Hoàn thiện môi trường đầu tư và tăng cường thu hút đầu tư
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quảng bá môi trường đầu tư của tỉnh thông qua các cơ quan báo chí và trang thông tin điện tử của Trung ương và địa phương.
- Ưu tiên bố trí vốn đầu tư hạ tầng hỗ trợ thu hút đầu tư; tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; sử dụng hình thức hợp tác nhà nước và tư nhân trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng.
- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy định liên quan đến thủ tục đầu tư. Tiếp tục xây dựng và triển khai thực hiện tốt cơ chế một cửa liên thông trong xử lý hồ sơ của nhà đầu tư.
- Phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo nghề gắn với đầu ra nhằm đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật cao của nhà đầu tư. Phát triển hệ thống dạy nghề đa cấp (sơ cấp, trung cấp và cao đẳng nghề), chuyển từ dạy nghề trình độ thấp sang trình độ cao nhằm nâng cao chất lượng lao động, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.
- Bảo đảm an ninh, trật tự cho hoạt động của các doanh nghiệp, nhà đầu tư; xử lý nghiêm đối với các trường hợp có hành động kích động, gây rối, phá hoại đến hoạt động triển khai dự án và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nhà đầu tư. Có biện pháp đủ mạnh để can thiệp kịp thời, có hiệu quả để dự án hoạt động bình thường, tạo tâm lý an tâm cho nhà đầu tư khi triển khai thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh.
- Nâng cao chất lượng các dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư; cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời cho nhà đầu tư như: chổ ở, các dịch vụ tài chính, ngân hàng,...
- Nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư; nghiên cứu và có chính sách vận động thu hút các đối tác, nhà đầu tư trọng điểm, phù hợp với định hướng thu hút đầu tư của tỉnh. Gắn hoạt động xúc tiến đầu tư của tỉnh với chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia, các Bộ, ngành Trung ương, các địa phương trong cùng khu vực; nâng cao chất lượng, nội dung tài liệu xúc tiến đầu tư; tiếp tục triển khai và mở rộng các chương trình hợp tác phát triển giữa Trà Vinh và các địa phương trong và ngoài nước; tăng cường hơn nữa tính chủ động phối hợp giữa các Sở, Ban, ngành và địa phương trong xúc tiến đầu tư; tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư.
- Đổi mới công tác triển khai quy hoạch, kế hoạch và tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách; làm tốt việc rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch, công bố rộng rãi quy hoạch.
i) Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các ngành, các cấp và công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát cộng đồng trong triển khai thực hiện Chương trình nông thôn mới
- Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của đảng bộ, chi bộ cơ sở để thực sự là hạt nhân lãnh đạo toàn diện trên địa bàn nông thôn. Nâng cao năng lực cán bộ trong bộ máy quản lý nhà nước và đội ngũ cán bộ chuyên môn, kỹ thuật về nông nghiệp, nông thôn từ tỉnh đến cơ sở. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính để phục vụ tốt hơn yêu cầu sản xuất, đời sống của nhân dân.
- Nâng cao năng lực, hiệu quả chỉ đạo, tổ chức thực hiện của chính quyền và Ban chỉ đạo các cấp, tổ công tác và các cán bộ thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới từ tỉnh xuống cơ sở, đảm bảo thực hiện tốt kế hoạch và mục tiêu Chương trình xây dựng nông thôn mới đã xác định.
- Duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên giữa lãnh đạo tỉnh, các Sở, Ban, ngành và địa phương với các nhà đầu tư để xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư.

Content:
Giải pháp thực hiện
a) Tăng cường huy động nguồn vốn từ ngân sách nhà nước:
- Đối với nguồn hỗ trợ đầu tư từ Trung ương
+ Vận dụng có hiệu quả các cơ chế, chính sách của Trung ương để xây dựng các chương trình, dự án nhằm tranh thủ nguồn hỗ trợ đầu tư từ Trung ương. Tăng cường phối hợp với Bộ, ngành Trung ương tiếp tục triển khai các công trình đang đầu tư dở dang, bổ sung danh mục và bố trí vốn đầu tư đối với công trình mới từ các chương trình, dự án của Chính phủ;
+ Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn hỗ trợ đầu tư từ Trung ương (các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai trên địa bàn nông thôn và tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo và vốn ngân sách hỗ trợ trực tiếp của Chương trình xây dựng nông thôn mới bao gồm cả trái phiếu Chính phủ) (nếu có); đối với các nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia giao các Sở, ngành là cơ quan quản lý chương trình thực hiện lồng ghép các dự án thành phần để thực hiện các tiêu chí nông thôn mới; đối với nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ và vốn hỗ trợ có mục tiêu từ Chương trình chính phủ, ngoài việc thực hiện theo các mục tiêu của từng chương trình, phải lồng ghép để thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
- Đối với ngân sách địa phương:
+ Triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp tăng thu ngân sách. Xác định tỷ lệ vốn thu được từ đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền hoặc cho thuê đất và nguồn vượt thu (nếu có) để thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới.
+ Huy động nguồn ngân sách cấp tỉnh, huyện, xã và các nguồn vốn hợp pháp khác bằng các cơ chế chính sách, nguồn ngân sách tỉnh với vai trò là nguồn vốn “thúc đẩy” để hỗ trợ triển khai thực hiện Chương trình.
b) Tăng cường huy động nguồn vốn qua kênh tín dụng
- Tuyên truyền, nâng cao nhận thức, làm rõ cho các cấp, các ngành và nông dân trong tỉnh thấy rõ hơn tín dụng là kênh vốn chủ yếu cho nông dân để phát triển kinh tế - xã hội.
- Nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức tín dụng Nhà nước trên địa bàn tỉnh.
- Tăng cường hiệu lực của Nhà nước đối với việc quản lý vốn của Nhà nước cho nông dân vay để giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh (cả sản xuất và tiêu thụ cho hộ nông dân) góp phần giảm rủi ro tín dụng, tạo nhu cầu ổn định về vốn vay của nông dân.
- Cần mở rộng tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn cả về nguồn vốn, phạm vi và hình thức hoạt động với thủ tục đơn giản, linh hoạt về mức vay.
c) Tăng cường huy động vốn đầu tư từ doanh nghiệp
- Tiếp tục nghiên cứu sửa đổi chính sách theo hướng ưu tiên hơn nữa đối với các dự án đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn so với các dự án khác.
- Tiếp tục nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội (giao thông, thuỷ lợi, điện, nước,...), quan tâm công tác giải phóng mặt bằng, bố trí vốn đối ứng,... Đồng thời, thực hiện các giải pháp tăng cường khả năng thu hút và sử dụng các nguồn vốn vay và tài trợ quốc tế.
- Khuyến khích người dân đầu tư vào sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực: sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là chế biến nông, lâm, thuỷ sản và dịch vụ nông thôn. Tôn vinh ưu đãi những tập thể, cá nhân có công đầu tư phát triển ngành nghề, phát triển thị trường, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
- Xây dựng hệ thống thông tin doanh nghiệp đến tận cơ sở để nắm chắc tình hình hoạt động của doanh nghiệp và cung cấp cho doanh nghiệp những thông tin về cơ chế, về thị trường một cách nhanh chóng.
d) Huy động nguồn lực xã hội hóa
- Huy động vốn đóng góp của tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng, duy tu, bảo dưỡng công trình kết cấu hạ tầng nông thôn theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Nội dung, hình thức huy động đóng góp tự nguyện của cộng đồng dân cư thực hiện theo Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở và sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền cơ sở. Các khoản đóng góp của cộng đồng, cá nhân đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn bao gồm: Đóng góp xây dựng các công trình công cộng của địa phương bằng công lao động, tiền mặt, vật liệu, máy móc thiết bị, hiến đất…(nếu đóng góp bằng tiền thì cần được cộng đồng bàn bạc quyết định, Hội đồng nhân dân xã thông qua); đóng góp tự nguyện và tài trợ từ các doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.
- Thực hiện rà soát, xây dựng các cơ chế, chính sách trong huy động nguồn lực, nhất là nguồn lực từ cộng đồng để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn.
đ) Tăng cường cải cách hành chính
Thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính; rà soát, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền loại bỏ các thủ tục rườm rà, tạo sự thông thoáng, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng thực thi công vụ của cán bộ, công chức; tiếp tục duy trì và thực hiện tốt đối thoại với doanh nghiệp để cải thiện môi trường đầu tư, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc của các nhà đầu tư, thông qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp yên tâm đầu tư, sản xuất, kinh doanh tại Trà Vinh.
e) Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao nhận thức, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và nội lực của người dân để xây dựng nông thôn mới
- Tiếp tục tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 04/10/2011 của Tỉnh ủy về xây dựng nông thôn mới giai đọan 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2020. Tăng cường công tác thông tin để người dân hiểu rõ xây dựng Nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, chủ thể là người dân, nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ một phần nhằm phát triển nông thôn toàn diện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn.
- Ban chỉ đạo các cấp tổ chức tuyên truyền, học tập, nghiên cứu các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tiếp tục xây dựng chuyên mục về xây dựng Nông thôn mới trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương trong suốt quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Từ đó nâng cao nhận thức, khơi dậy tinh thần yêu nước, phát huy nội lực, tự lực, tự cường và trách nhiệm cao của cộng đồng dân cư nông thôn; chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.
g) Phát huy vai trò của chủ thể cộng đồng dân cư trong thực hiện chương trình nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới phải xác định chủ thể cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, cơ chế, chính sách, cơ chế hỗ trợ. Cần tích cực tuyên truyền để cán bộ, người dân thấy được vai trò chủ thể của mình, vì chỉ khi nào cán bộ cơ sở và người dân hiểu đúng, hiểu rõ yêu cầu và nội dung xây dựng nông thôn mới thì mới tạo ra tính chủ động, tự giác tham gia và tham gia một cách sáng tạo vào việc xây dựng nông thôn mới. Các hoạt động triển khai thực hiện chương trình nông thôn mới phải có sự tham gia của cộng đồng dân cư, cụ thể: Tham gia và lựa chọn những công việc gì cần làm trước và việc gì làm sau thật thiết thực với yêu cầu của người dân trong xã và phù hợp với khả năng, điều kiện của địa phương; quyết định mức độ đóng góp trong xây dựng các công trình công cộng của xã; trực tiếp tổ chức thi công hoặc tham gia thi công xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội của xã theo kế hoạch hàng năm; tham gia quản lý và giám sát các công trình xây dựng của xã; tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình sau khi hoàn thành.
h) Hoàn thiện môi trường đầu tư và tăng cường thu hút đầu tư
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quảng bá môi trường đầu tư của tỉnh thông qua các cơ quan báo chí và trang thông tin điện tử của Trung ương và địa phương.
- Ưu tiên bố trí vốn đầu tư hạ tầng hỗ trợ thu hút đầu tư; tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; sử dụng hình thức hợp tác nhà nước và tư nhân trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng.
- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy định liên quan đến thủ tục đầu tư. Tiếp tục xây dựng và triển khai thực hiện tốt cơ chế một cửa liên thông trong xử lý hồ sơ của nhà đầu tư.
- Phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo nghề gắn với đầu ra nhằm đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật cao của nhà đầu tư. Phát triển hệ thống dạy nghề đa cấp (sơ cấp, trung cấp và cao đẳng nghề), chuyển từ dạy nghề trình độ thấp sang trình độ cao nhằm nâng cao chất lượng lao động, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.
- Bảo đảm an ninh, trật tự cho hoạt động của các doanh nghiệp, nhà đầu tư; xử lý nghiêm đối với các trường hợp có hành động kích động, gây rối, phá hoại đến hoạt động triển khai dự án và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nhà đầu tư. Có biện pháp đủ mạnh để can thiệp kịp thời, có hiệu quả để dự án hoạt động bình thường, tạo tâm lý an tâm cho nhà đầu tư khi triển khai thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh.
- Nâng cao chất lượng các dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư; cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời cho nhà đầu tư như: chổ ở, các dịch vụ tài chính, ngân hàng,...
- Nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư; nghiên cứu và có chính sách vận động thu hút các đối tác, nhà đầu tư trọng điểm, phù hợp với định hướng thu hút đầu tư của tỉnh. Gắn hoạt động xúc tiến đầu tư của tỉnh với chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia, các Bộ, ngành Trung ương, các địa phương trong cùng khu vực; nâng cao chất lượng, nội dung tài liệu xúc tiến đầu tư; tiếp tục triển khai và mở rộng các chương trình hợp tác phát triển giữa Trà Vinh và các địa phương trong và ngoài nước; tăng cường hơn nữa tính chủ động phối hợp giữa các Sở, Ban, ngành và địa phương trong xúc tiến đầu tư; tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư.
- Đổi mới công tác triển khai quy hoạch, kế hoạch và tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách; làm tốt việc rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch, công bố rộng rãi quy hoạch.
i) Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các ngành, các cấp và công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát cộng đồng trong triển khai thực hiện Chương trình nông thôn mới
- Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của đảng bộ, chi bộ cơ sở để thực sự là hạt nhân lãnh đạo toàn diện trên địa bàn nông thôn. Nâng cao năng lực cán bộ trong bộ máy quản lý nhà nước và đội ngũ cán bộ chuyên môn, kỹ thuật về nông nghiệp, nông thôn từ tỉnh đến cơ sở. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính để phục vụ tốt hơn yêu cầu sản xuất, đời sống của nhân dân.
- Nâng cao năng lực, hiệu quả chỉ đạo, tổ chức thực hiện của chính quyền và Ban chỉ đạo các cấp, tổ công tác và các cán bộ thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới từ tỉnh xuống cơ sở, đảm bảo thực hiện tốt kế hoạch và mục tiêu Chương trình xây dựng nông thôn mới đã xác định.
- Duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên giữa lãnh đạo tỉnh, các Sở, Ban, ngành và địa phương với các nhà đầu tư để xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư.