Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2033/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển sản xuất  tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "04/12/2009", "sign_number": "2033/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Sinh Hùng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "04/12/2009", "sign_number": "2033/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Sinh Hùng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "04/12/2009", "sign_number": "2033/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Sinh Hùng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "04/12/2009", "sign_number": "2033/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Sinh Hùng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "04/12/2009", "sign_number": "2033/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Sinh Hùng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2033/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển sản xuất  tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long

Điều 1. Phê duyệt Đề án phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 với các nội dung sau:
...
4. Xây dựng hệ thống thống kê, dự báo thị trường và nâng cao năng lực cho hoạt động xúc tiến thương mại.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Về quản lý quy hoạch
- Phát triển nuôi cá tra chủ yếu ở khu vực ven sông Tiền và sông Hậu, với diện tích tối đa năm 2015 là 11.000 ha và năm 2020 là 13.000 ha;
Trong năm 2009, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các địa phương rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sản xuất và tiêu thụ cá tra cho các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long.
- Các cơ sở nuôi cá tra mới có quy mô 10 ha trở lên, phải nằm trong vùng sản xuất theo quy hoạch, có cơ sở hạ tầng phù hợp với sản xuất công nghiệp. Rà soát, bố trí lại các cơ sở hiện có phù hợp quy hoạch, bảo đảm vệ sinh môi trường và an toàn dịch bệnh;
- Hình thành và phát triển các cơ sở chế biến cá tra tại các vùng nuôi theo quy hoạch hoặc ở những trung tâm nghề cá của địa phương, bảo đảm phát triển sản xuất đi đôi với chế biến, tiêu thụ sản phẩm.
2. Tổ chức lại sản xuất
- Tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn kết chặt chẽ và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các khâu nuôi, thu mua, chế biến và xuất khẩu. Tổ chức lại các hộ nuôi cá tra theo mô hình quản lý cộng động (nhóm hộ, Hiệp hội nuôi cá tra) và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh tế tập thể: Hợp tác xã, Tổ hợp tác;
- Bố trí, sắp xếp lại hệ thống các cơ sở chế biến và tiêu thụ phù hợp với các vùng sản xuất nguyên liệu; thực hiện nguyên tắc nhà máy chế biến phải có vùng nguyên liệu, có trách nhiệm ký kết và thực hiện hợp đồng thu mua nguyên liệu với người nuôi để bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định;
- Tại các vùng sản xuất hình thành các cơ sở thu gom, bao tiêu sản phẩm cho người nuôi, các đại lý cung cấp thức ăn, thuốc thú y, các sản phẩm khác phục vụ nuôi cá, bảo đảm chất lượng các sản phẩm dịch vụ, giá cả hợp lý và tăng sự gắn kết với lợi ích của người nuôi;
- Phát huy vai trò của các Hội, Hiệp hội trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên, là cầu nối để tổ chức liên kết giữa các khâu của quá trình sản xuất, tiêu thụ giữa các hội viên với các tổ chức và cơ quan quản lý nhà nước.
3. Về sản xuất giống, thức ăn và chế biến, xuất khẩu cá tra.
- Đến năm 2015 hoàn thành việc thay thế toàn bộ giống cá tra ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, bảo đảm giống có chất lượng cao, sạch bệnh;
- Thực hiện việc công bố chất lượng sản phẩm, ghi nhãn bao bì đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thức ăn thuốc thú y, sản phẩm cải tạo môi trường, … phục vụ nuôi cá tra, bảo đảm kiểm soát được chất lượng sản phẩm phục vụ nuôi trồng thủy sản;
- Thực hiện việc công bố và chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng sản phẩm đã công bố đối với các cơ sở chế biến để giám sát hoạt động quá trình sản xuất của cơ sở; thực hiện kiểm dịch, kiểm tra chất lượng và cấp Giấy chứng nhận đối với tất cả các sản phẩm cá tra xuất khẩu và tiêu thụ nội địa;
- Ban Chỉ đạo sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ đạo, điều hành sản xuất và nhập khẩu cá tra bảo đảm sự phát triển ổn định; đồng thời tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu, nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu;
- Tăng cường vai trò chỉ đạo của Hiệp hội Chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam (AVSEP) nhằm tập trung và thống nhất sự liên kết của các thành viên, tạo sức cạnh tranh, giữ uy tín hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế; đồng thời có lợi cho doanh nghiệp và Hiệp hội.
4. Tăng cường công tác quản lý nhà nước
- Tiếp tục triển khai các nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo về sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long để chỉ đạo, điều hành, chủ động xử lý kịp thời những khó khăn vướng mắc trong sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Trước mắt kiện toàn, củng cố bộ máy và nâng cao năng lực cho các đơn vị chuyên ngành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và ở địa phương để đáp ứng nhiệm vụ;
- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn, quy chuẩn nhằm quản lý nhà nước trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ sản xuất và xuất khẩu thủy sản, quản lý môi trường, quản lý quy hoạch,… có hiệu quả;
Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các quy định, các thủ tục hành chính gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp, người sản xuất; tiếp tục thực hiện việc phân cấp cho địa phương, cơ sở trong việc quản lý chất lượng giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản, chế phẩm sinh học và xử lý môi trường; đẩy nhanh tiến độ xã hội hóa các dịch vụ công ở một số lĩnh vực có đủ điều kiện.
- Xây dựng hệ thống thống kê và dự báo về tình hình sản xuất, tiêu thụ; quan trắc, cảnh báo về môi trường dịch bệnh; tiến hành đánh số vùng nuôi để thực hiện truy xuất nguồn gốc để phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành sản xuất và tiêu thụ cá tra;
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát các cơ sở sản xuất, kinh doanh việc tuân thủ các quy định pháp luật về kiểm tra, chứng nhận điều kiện sản xuất, kinh doanh bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và giữ gìn môi trường.

Content:
Xây dựng hệ thống thống kê, dự báo thị trường và nâng cao năng lực cho hoạt động xúc tiến thương mại.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Về quản lý quy hoạch
- Phát triển nuôi cá tra chủ yếu ở khu vực ven sông Tiền và sông Hậu, với diện tích tối đa năm 2015 là 11.000 ha và năm 2020 là 13.000 ha;
Trong năm 2009, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các địa phương rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sản xuất và tiêu thụ cá tra cho các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long.
- Các cơ sở nuôi cá tra mới có quy mô 10 ha trở lên, phải nằm trong vùng sản xuất theo quy hoạch, có cơ sở hạ tầng phù hợp với sản xuất công nghiệp. Rà soát, bố trí lại các cơ sở hiện có phù hợp quy hoạch, bảo đảm vệ sinh môi trường và an toàn dịch bệnh;
- Hình thành và phát triển các cơ sở chế biến cá tra tại các vùng nuôi theo quy hoạch hoặc ở những trung tâm nghề cá của địa phương, bảo đảm phát triển sản xuất đi đôi với chế biến, tiêu thụ sản phẩm.
2. Tổ chức lại sản xuất
- Tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn kết chặt chẽ và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các khâu nuôi, thu mua, chế biến và xuất khẩu. Tổ chức lại các hộ nuôi cá tra theo mô hình quản lý cộng động (nhóm hộ, Hiệp hội nuôi cá tra) và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh tế tập thể: Hợp tác xã, Tổ hợp tác;
- Bố trí, sắp xếp lại hệ thống các cơ sở chế biến và tiêu thụ phù hợp với các vùng sản xuất nguyên liệu; thực hiện nguyên tắc nhà máy chế biến phải có vùng nguyên liệu, có trách nhiệm ký kết và thực hiện hợp đồng thu mua nguyên liệu với người nuôi để bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định;
- Tại các vùng sản xuất hình thành các cơ sở thu gom, bao tiêu sản phẩm cho người nuôi, các đại lý cung cấp thức ăn, thuốc thú y, các sản phẩm khác phục vụ nuôi cá, bảo đảm chất lượng các sản phẩm dịch vụ, giá cả hợp lý và tăng sự gắn kết với lợi ích của người nuôi;
- Phát huy vai trò của các Hội, Hiệp hội trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên, là cầu nối để tổ chức liên kết giữa các khâu của quá trình sản xuất, tiêu thụ giữa các hội viên với các tổ chức và cơ quan quản lý nhà nước.
3. Về sản xuất giống, thức ăn và chế biến, xuất khẩu cá tra.
- Đến năm 2015 hoàn thành việc thay thế toàn bộ giống cá tra ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, bảo đảm giống có chất lượng cao, sạch bệnh;
- Thực hiện việc công bố chất lượng sản phẩm, ghi nhãn bao bì đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thức ăn thuốc thú y, sản phẩm cải tạo môi trường, … phục vụ nuôi cá tra, bảo đảm kiểm soát được chất lượng sản phẩm phục vụ nuôi trồng thủy sản;
- Thực hiện việc công bố và chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng sản phẩm đã công bố đối với các cơ sở chế biến để giám sát hoạt động quá trình sản xuất của cơ sở; thực hiện kiểm dịch, kiểm tra chất lượng và cấp Giấy chứng nhận đối với tất cả các sản phẩm cá tra xuất khẩu và tiêu thụ nội địa;
- Ban Chỉ đạo sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ đạo, điều hành sản xuất và nhập khẩu cá tra bảo đảm sự phát triển ổn định; đồng thời tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu, nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu;
- Tăng cường vai trò chỉ đạo của Hiệp hội Chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam (AVSEP) nhằm tập trung và thống nhất sự liên kết của các thành viên, tạo sức cạnh tranh, giữ uy tín hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế; đồng thời có lợi cho doanh nghiệp và Hiệp hội.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước
- Tiếp tục triển khai các nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo về sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long để chỉ đạo, điều hành, chủ động xử lý kịp thời những khó khăn vướng mắc trong sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Trước mắt kiện toàn, củng cố bộ máy và nâng cao năng lực cho các đơn vị chuyên ngành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và ở địa phương để đáp ứng nhiệm vụ;
- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn, quy chuẩn nhằm quản lý nhà nước trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ sản xuất và xuất khẩu thủy sản, quản lý môi trường, quản lý quy hoạch,… có hiệu quả;
Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các quy định, các thủ tục hành chính gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp, người sản xuất; tiếp tục thực hiện việc phân cấp cho địa phương, cơ sở trong việc quản lý chất lượng giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản, chế phẩm sinh học và xử lý môi trường; đẩy nhanh tiến độ xã hội hóa các dịch vụ công ở một số lĩnh vực có đủ điều kiện.
- Xây dựng hệ thống thống kê và dự báo về tình hình sản xuất, tiêu thụ; quan trắc, cảnh báo về môi trường dịch bệnh; tiến hành đánh số vùng nuôi để thực hiện truy xuất nguồn gốc để phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành sản xuất và tiêu thụ cá tra;
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát các cơ sở sản xuất, kinh doanh việc tuân thủ các quy định pháp luật về kiểm tra, chứng nhận điều kiện sản xuất, kinh doanh bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và giữ gìn môi trường.