Document: Khoản 2 Điều 5 Thông tư 63/2010/TT-BCA-V24 hướng dẫn quản lý giải quyết khiếu nại, tố cáo

Type: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "29/12/2010", "sign_number": "63/2010/TT-BCA-V24", "signer": "Lê Hồng Anh", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "29/12/2010", "sign_number": "63/2010/TT-BCA-V24", "signer": "Lê Hồng Anh", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "29/12/2010", "sign_number": "63/2010/TT-BCA-V24", "signer": "Lê Hồng Anh", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "29/12/2010", "sign_number": "63/2010/TT-BCA-V24", "signer": "Lê Hồng Anh", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "29/12/2010", "sign_number": "63/2010/TT-BCA-V24", "signer": "Lê Hồng Anh", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 5 Thông tư 63/2010/TT-BCA-V24 hướng dẫn quản lý giải quyết khiếu nại, tố cáo

Điều 5. Xử lý đơn thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan Công an
...
2. Xử lý đơn tố cáo
2.1. Xử lý đơn tố cáo không thuộc lĩnh vực tố tụng hình sự:
a) Đơn tố cáo ghi rõ họ, tên, địa chỉ và có chữ ký trực tiếp của người viết đơn (sau đây gọi là đơn có danh) thì chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết quy định tại Điều 18 của Thông tư này;
b) Trong trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn mà tố cáo không được giải quyết thì chuyển đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo để giải quyết theo quy định tại Điều 69 Luật Khiếu nại, tố cáo;
c) Trường hợp người tố cáo có bằng chứng mới chứng minh việc giải quyết không đúng pháp luật thì chuyển đến Thủ trưởng cơ quan Thanh tra cùng cấp của Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo để giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 62 Luật Khiếu nại, tố cáo;
d) Đơn tố cáo không có họ, tên, địa chỉ hoặc họ, tên, địa chỉ không rõ ràng; không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký (sau đây gọi là đơn nặc danh) hoặc những tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới thì không giải quyết, cơ quan nhận được loại đơn này thì lưu đơn.
2.2. Xử lý đơn tố cáo thuộc lĩnh vực tố tụng hình sự:
a) Đơn tố cáo không liên quan đến biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc những trường hợp cụ thể sau đây thì chuyển đến Thủ trưởng cơ quan điều tra cùng cấp của người bị tố cáo (theo quy định tại Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003):
- Tố cáo Phó thủ trưởng cơ quan điều tra;
- Tố cáo Điều tra viên cơ quan điều tra.
b) Tố cáo Thủ trưởng cơ quan điều tra; Phó thủ trưởng và Điều tra viên cơ quan điều tra đã được Thủ trưởng cơ quan điều tra giải quyết nhưng người tố cáo không đồng ý mà có bằng chứng mới thì chuyển đến Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp;
c) Tố cáo thuộc những trường hợp cụ thể sau đây thì chuyển ngay đến Viện Kiểm sát cùng cấp với cơ quan bị tố cáo theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 337 và Điều 339 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003:
- Tố cáo liên quan đến hành vi bắt, tạm giữ, tạm giam của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng và Điều tra viên cơ quan điều tra;
- Tố cáo hành vi tố tụng của cán bộ Công an có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra thì chuyển đến Viện Kiểm sát có thẩm quyền truy tố đối với người phạm tội mà người bị tố cáo đã tiến hành một số hoạt động điều tra;
d) Đơn tố cáo nặc danh hoặc tố cáo đã được cơ quan, cá nhân có thẩm quyền của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân giải quyết mà người tố cáo không đưa ra được bằng chứng mới thì không giải quyết, cơ quan nhận được đơn lưu đơn;
Đơn khiếu nại, tố cáo cán bộ, cơ quan Công an trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện Kiểm sát, sau khi chuyển đơn phải được Thủ trưởng cơ quan điều tra Công an các cấp đề nghị Viện Kiểm sát thông báo kết quả giải quyết.

Content:
Xử lý đơn tố cáo
2.1. Xử lý đơn tố cáo không thuộc lĩnh vực tố tụng hình sự:
a) Đơn tố cáo ghi rõ họ, tên, địa chỉ và có chữ ký trực tiếp của người viết đơn (sau đây gọi là đơn có danh) thì chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết quy định tại Điều 18 của Thông tư này;
b) Trong trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn mà tố cáo không được giải quyết thì chuyển đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo để giải quyết theo quy định tại Điều 69 Luật Khiếu nại, tố cáo;
c) Trường hợp người tố cáo có bằng chứng mới chứng minh việc giải quyết không đúng pháp luật thì chuyển đến Thủ trưởng cơ quan Thanh tra cùng cấp của Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo để giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 62 Luật Khiếu nại, tố cáo;
d) Đơn tố cáo không có họ, tên, địa chỉ hoặc họ, tên, địa chỉ không rõ ràng; không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký (sau đây gọi là đơn nặc danh) hoặc những tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới thì không giải quyết, cơ quan nhận được loại đơn này thì lưu đơn.
2.Xử lý đơn tố cáo thuộc lĩnh vực tố tụng hình sự:
a) Đơn tố cáo không liên quan đến biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc những trường hợp cụ thể sau đây thì chuyển đến Thủ trưởng cơ quan điều tra cùng cấp của người bị tố cáo (theo quy định tại Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003):
- Tố cáo Phó thủ trưởng cơ quan điều tra;
- Tố cáo Điều tra viên cơ quan điều tra.
b) Tố cáo Thủ trưởng cơ quan điều tra; Phó thủ trưởng và Điều tra viên cơ quan điều tra đã được Thủ trưởng cơ quan điều tra giải quyết nhưng người tố cáo không đồng ý mà có bằng chứng mới thì chuyển đến Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp;
c) Tố cáo thuộc những trường hợp cụ thể sau đây thì chuyển ngay đến Viện Kiểm sát cùng cấp với cơ quan bị tố cáo theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 337 và Điều 339 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003:
- Tố cáo liên quan đến hành vi bắt, tạm giữ, tạm giam của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng và Điều tra viên cơ quan điều tra;
- Tố cáo hành vi tố tụng của cán bộ Công an có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra thì chuyển đến Viện Kiểm sát có thẩm quyền truy tố đối với người phạm tội mà người bị tố cáo đã tiến hành một số hoạt động điều tra;
d) Đơn tố cáo nặc danh hoặc tố cáo đã được cơ quan, cá nhân có thẩm quyền của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân giải quyết mà người tố cáo không đưa ra được bằng chứng mới thì không giải quyết, cơ quan nhận được đơn lưu đơn;
Đơn khiếu nại, tố cáo cán bộ, cơ quan Công an trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện Kiểm sát, sau khi chuyển đơn phải được Thủ trưởng cơ quan điều tra Công an các cấp đề nghị Viện Kiểm sát thông báo kết quả giải quyết.