Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2483/QĐ-UBND 2007 quy hoạch phát triển thủy sản Cần Thơ

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "31/10/2007", "sign_number": "2483/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "31/10/2007", "sign_number": "2483/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "31/10/2007", "sign_number": "2483/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "31/10/2007", "sign_number": "2483/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "31/10/2007", "sign_number": "2483/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2483/QĐ-UBND 2007 quy hoạch phát triển thủy sản Cần Thơ

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản thành phố Cần Thơ đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
5. Nhu cầu và nguồn vốn đầu tư
5.1. Nhu cầu vốn đầu tư
Tổng nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho giai đoạn 2006 - 2020 là 4.561.266 triệu đồng; trong đó, giai đoạn 2006 - 2010 là 1.600.474 triệu đồng, giai đoạn: 2011- 2015 là 1.613.016 triệu đồng và giai đoạn 2016 - 2020 là 1.347.776 triệu đồng, cơ cấu nhu cầu vốn đầu tư cho từng lĩnh vực cụ thể như sau:
- Khai thác và dịch vụ thương mại thủy sản: giai đoạn 2006 - 2020 là 9.074 triệu đồng chiếm 2%; trong đó, giai đoạn 2006 - 2010 là 3.118 triệu đồng, giai đoạn: 2011 - 2015 là 2.978 triệu đồng và giai đoạn 2016 - 2020 là 2.978 triệu đồng;
- Nuôi thủy sản: giai đoạn 2006 - 2020 là 1.210.220 triệu đồng, chiếm 26,53%; trong đó, giai đoạn 2006 - 2010 là 585.900 triệu đồng, giai đoạn 2011 - 2015 là 312.160 triệu đồng và giai đoạn 2016 - 2020 là 312.160 triệu đồng;
- Chế biến và Dịch vụ thương mại thủy sản: giai đoạn 2006 - 2020 là 3.341.972 triệu đồng chiếm 73,27%; trong đó, giai đoạn 2006 - 2010 là 1.011.456 triệu đồng, giai đoạn 2011 - 2015 là 1.297.878 triệu đồng và giai đoạn 2016 - 2020 là 1.032.638 triệu đồng.
5.2. Cơ cấu nguồn vốn
Ngân sách Trung ương hỗ trợ, ngân sách thành phố và huy động các nguồn vốn khác, năm giai đoạn 2006 - 2020 ngân sách nhà nước hỗ trợ là 115.000 triệu đồng, chiếm 2,5% so với nhu cầu vốn đầu tư là 4.561.266 triệu đồng (chiếm 100%); trong đó, ngân sách trung ương hỗ trợ là 63.516 triệu đồng, ngân sách thành phố là 51.484 triệu đồng, cụ thể như sau:
- Giai đoạn 2006 - 2010 là 75.000 triệu đồng; trong đó ngân sách trung ương là 43.516 triệu đồng, ngân sách thành phố là 31.484 triệu đồng;
- Giai đoạn 2011 - 2015 là 20.000 triệu đồng; trong đó, ngân sách trung ương hỗ trợ là 10.000 triệu đồng, ngân sách thành phố là 10.000 triệu đồng;
- Giai đoạn 2016 - 2020 là 20.000 triệu đồng; trong đó, ngân sách trung ương là 10.000 triệu đồng, ngân sách thành phố là 10.000 triệu đồng.
VI. Giải pháp thực hiện
1. Chính sách huy động nguồn vốn và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển sản xuất
- Thực hiện chính sách của nhà nước và tình hình thực tế của thành phố trong cơ chế đầu tư để thu hút nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vốn và công nghệ để phát triển sản xuất kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực của ngành thủy sản; chính sách cho vay vốn ưu đãi đối với những vùng còn nhiều khó khăn, các cồn nổi trên sông Hậu; ưu đãi cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, dịch vụ nghề cá,… nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư phát huy tiềm năng của địa phương, phát triển sản xuất kinh doanh và dịch vụ nghề cá;
- Cùng với việc cho các doanh nghiệp vay theo quy định, khuyến khích các ngân hàng thương mại bằng các hình thức phù hợp tham gia trực tiếp đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phát triển nghề cá theo quy hoạch;
- Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất trong ngành thủy sản theo hướng phát triển kinh tế nhiều thành phần; trong đó, khuyến khích phát triển mô hình kinh tế trang trại, các hợp tác xã, tổ hợp tác nuôi trồng, chế biến và dịch vụ hậu cần thủy sản nhằm tập trung các nguồn vốn, tạo khối lượng hàng hóa và dịch vụ lớn, tăng sức cạnh tranh; củng cố một số quốc doanh nhằm giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực dịch vụ và chuyển giao công nghệ mới; phát triển kinh tế tư bản tư nhân ở các lĩnh vực nghề cá; khuyến khích thành lập các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để thu hút vốn, công nghệ cao và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
2. Tập trung đầu tư xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng nghề cá
- Tập trung vốn đầu tư xây dựng các chợ đầu mối ở những nơi có điều kiện thuận lợi như: quận Bình Thủy, huyện Phong Điền, huyện Thốt Nốt, và huyện Vĩnh Thạnh,...;
- Tiếp tục đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hoàn thiện hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản, tạo được những vùng sản xuất tập trung để áp dụng công nghệ tiên tiến, tạo sản lượng hàng hóa lớn và ổn định; đồng thời, bảo vệ môi trường, sinh thái;
- Điều chỉnh quy hoạch thủy lợi theo hướng phục vụ đa mục tiêu, không chỉ phục vụ cho nông nghiệp mà cho cả nuôi trồng thủy sản, nước sinh hoạt, giao thông; gắn quy hoạch thủy lợi với kiểm soát lũ, tháo chua, xổ phèn, ngăn mặn, giữ ngọt, xây dựng cụm, tuyến dân cư; gắn phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, nông nghiệp với thủy sản.
3. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu gắn với tổ chức lại sản xuất
- Về khai thác thủy sản: tiếp tục chuyển dịch cơ cấu nghề khai thác thủy sản ảnh hưởng đến công tác bảo vệ nguồn lợi sang nghề khác như nuôi trồng thủy sản, dịch vụ, du lịch,... Quản lý chặt chẽ việc đóng mới, cấp giấy phép khai thác, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực khai thác thủy sản; giảm dần sản lượng khai thác đến năm 2015 và ổn định 4.000 tấn hàng năm; hướng dẫn hộ gia đình, cá nhân khai thác theo mùa vụ, tránh khai thác trong mùa đẻ trứng rộ; khai thác phải đi đôi với bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản;
- Về nuôi trồng thủy sản: phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản ở tất cả các loại mặt nước, trong đó chú trọng đến vùng nuôi ao, ruộng, lồng bè tập trung, gắn với mô hình quản lý cộng đồng, hình thành các tổ chức kinh tế tập thể, hội, chi hội,.... hình thành vùng nuôi thâm canh tập trung có khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, thực hiện nuôi sạch, sản xuất giống sạch, bảo vệ môi trường và là nguồn cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho xuất khẩu;
- Về dịch vụ chế biến: hình thành các cụm dịch vụ (chợ cá đầu mối, dịch vụ nguyên vật liệu,…) gắn với các khu công nghiệp chế biến công nghệ cao để thu hút khối lượng nguyên liệu lớn, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, tăng giá trị cho các loại sản phẩm, từng bước xây dựng thương hiệu cho sản phẩm thủy sản của thành phố nói riêng, đồng bằng sông Cửu Long và Việt Nam nói chung.
4. Về chế biến thương mại và phát triển thị trường
- Mở rộng thị trường trong nước thông qua việc đa dạng hóa các loại sản phẩm có chất lượng cao, giá cả hợp lý, phù hợp khẩu vị; đồng thời, chú trọng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm tại các đô thị lớn, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh, khu công nghiệp Biên Hòa, Bình Dương, Tây Nguyên và miền Bắc;
- Phát huy lợi thế cạnh tranh của thủy sản nuôi trồng để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản; tăng cường xúc tiến thương mại, đào tạo cán bộ có năng lực làm công tác thương mại, tăng cường khả năng thông tin và dự báo thị trường,… để tiếp tục giữ vững thị trường truyền thống, phát triển thị trường mới, đặc biệt chú ý mở rộng ra các thị trường Trung Quốc, Châu Phi, các nước Ả Rập, Nam Mỹ,...;
- Các tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội chế biến xuất khẩu thủy sản tích cực tiếp thị trên các thị trường trong và ngoài nước; nhanh chóng xây dựng thương hiệu, quảng bá thương hiệu như cá tra, tôm càng xanh,…; đồng thời, có các biện pháp chặt chẽ để giữ vững và nâng cao uy tín của thương hiệu.
5. Về khoa học - công nghệ, khuyến ngư và hợp tác quốc tế
- Tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu khoa học - công nghệ; đồng thời, lựa chọn và du nhập công nghệ tiên tiến của nước ngoài tạo đột phá để phát triển nhanh, hiệu quả phù hợp với nghề cá thành phố nhất là trong sản xuất giống, công nghệ chế biến tạo giá trị gia tăng cao; bảo quản nguyên liệu sau thu hoạch; nghiên cứu bảo vệ nguồn lợi trên hệ thống sông Hậu, khu ruộng trũng phía Tây thành phố;
- Tiếp tục xây dựng các mô hình khuyến ngư, nhân rộng các mô hình tốt trong sản xuất; thực hiện tốt chính sách khuyến khích các nhà khoa học trong và ngoài ngành chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất, góp phần thúc đẩy sản xuất có năng suất, chất lượng cao, hiệu quả và bền vững. Thực hiện xã hội hóa công tác khuyến nông theo Nghị định số 56/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ về khuyến nông, khuyến ngư;
- Đổi mới chính sách quản lý khoa học - công nghệ, gắn khoa học với thực tiễn sản xuất;
- Tranh thủ sự hỗ trợ về tài chính và trợ giúp kỹ thuật của các tổ chức quốc tế và khu vực thông qua các chương trình, dự án cụ thể, phù hợp với mục tiêu phát triển của quy hoạch, chủ động hội nhập quốc tế; tích cực tìm kiếm đối tác để thu hút vốn đầu tư, công nghệ nước ngoài nhằm tạo nguồn lực cho phát triển; tích cực tìm kiếm và hợp tác nước ngoài để xuất khẩu lao động và nhập khẩu nguyên liệu chế biến thủy sản;
- Tranh thủ các dự án quốc tế ngành thủy sản giai đoạn II (FSPS II) 2006 - 2010 hỗ trợ cho thủy sản thành phố như: tăng cường quản lý hành chính thủy sản (STOFA); phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững (SUDA); tăng cường năng lực sau thu hoạch và Marketing (POSMA).

Content:
Nhu cầu và nguồn vốn đầu tư
5.1. Nhu cầu vốn đầu tư
Tổng nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho giai đoạn 2006 - 2020 là 4.561.266 triệu đồng; trong đó, giai đoạn 2006 - 2010 là 1.600.474 triệu đồng, giai đoạn: 2011- 2015 là 1.613.016 triệu đồng và giai đoạn 2016 - 2020 là 1.347.776 triệu đồng, cơ cấu nhu cầu vốn đầu tư cho từng lĩnh vực cụ thể như sau:
- Khai thác và dịch vụ thương mại thủy sản: giai đoạn 2006 - 2020 là 9.074 triệu đồng chiếm 2%; trong đó, giai đoạn 2006 - 2010 là 3.118 triệu đồng, giai đoạn: 2011 - 2015 là 2.978 triệu đồng và giai đoạn 2016 - 2020 là 2.978 triệu đồng;
- Nuôi thủy sản: giai đoạn 2006 - 2020 là 1.210.220 triệu đồng, chiếm 26,53%; trong đó, giai đoạn 2006 - 2010 là 585.900 triệu đồng, giai đoạn 2011 - 2015 là 312.160 triệu đồng và giai đoạn 2016 - 2020 là 312.160 triệu đồng;
- Chế biến và Dịch vụ thương mại thủy sản: giai đoạn 2006 - 2020 là 3.341.972 triệu đồng chiếm 73,27%; trong đó, giai đoạn 2006 - 2010 là 1.011.456 triệu đồng, giai đoạn 2011 - 2015 là 1.297.878 triệu đồng và giai đoạn 2016 - 2020 là 1.032.638 triệu đồng.
5.2. Cơ cấu nguồn vốn
Ngân sách Trung ương hỗ trợ, ngân sách thành phố và huy động các nguồn vốn khác, năm giai đoạn 2006 - 2020 ngân sách nhà nước hỗ trợ là 115.000 triệu đồng, chiếm 2,5% so với nhu cầu vốn đầu tư là 4.561.266 triệu đồng (chiếm 100%); trong đó, ngân sách trung ương hỗ trợ là 63.516 triệu đồng, ngân sách thành phố là 51.484 triệu đồng, cụ thể như sau:
- Giai đoạn 2006 - 2010 là 75.000 triệu đồng; trong đó ngân sách trung ương là 43.516 triệu đồng, ngân sách thành phố là 31.484 triệu đồng;
- Giai đoạn 2011 - 2015 là 20.000 triệu đồng; trong đó, ngân sách trung ương hỗ trợ là 10.000 triệu đồng, ngân sách thành phố là 10.000 triệu đồng;
- Giai đoạn 2016 - 2020 là 20.000 triệu đồng; trong đó, ngân sách trung ương là 10.000 triệu đồng, ngân sách thành phố là 10.000 triệu đồng.
VI. Giải pháp thực hiện
1. Chính sách huy động nguồn vốn và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển sản xuất
- Thực hiện chính sách của nhà nước và tình hình thực tế của thành phố trong cơ chế đầu tư để thu hút nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vốn và công nghệ để phát triển sản xuất kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực của ngành thủy sản; chính sách cho vay vốn ưu đãi đối với những vùng còn nhiều khó khăn, các cồn nổi trên sông Hậu; ưu đãi cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, dịch vụ nghề cá,… nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư phát huy tiềm năng của địa phương, phát triển sản xuất kinh doanh và dịch vụ nghề cá;
- Cùng với việc cho các doanh nghiệp vay theo quy định, khuyến khích các ngân hàng thương mại bằng các hình thức phù hợp tham gia trực tiếp đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phát triển nghề cá theo quy hoạch;
- Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất trong ngành thủy sản theo hướng phát triển kinh tế nhiều thành phần; trong đó, khuyến khích phát triển mô hình kinh tế trang trại, các hợp tác xã, tổ hợp tác nuôi trồng, chế biến và dịch vụ hậu cần thủy sản nhằm tập trung các nguồn vốn, tạo khối lượng hàng hóa và dịch vụ lớn, tăng sức cạnh tranh; củng cố một số quốc doanh nhằm giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực dịch vụ và chuyển giao công nghệ mới; phát triển kinh tế tư bản tư nhân ở các lĩnh vực nghề cá; khuyến khích thành lập các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để thu hút vốn, công nghệ cao và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
2. Tập trung đầu tư xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng nghề cá
- Tập trung vốn đầu tư xây dựng các chợ đầu mối ở những nơi có điều kiện thuận lợi như: quận Bình Thủy, huyện Phong Điền, huyện Thốt Nốt, và huyện Vĩnh Thạnh,...;
- Tiếp tục đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hoàn thiện hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản, tạo được những vùng sản xuất tập trung để áp dụng công nghệ tiên tiến, tạo sản lượng hàng hóa lớn và ổn định; đồng thời, bảo vệ môi trường, sinh thái;
- Điều chỉnh quy hoạch thủy lợi theo hướng phục vụ đa mục tiêu, không chỉ phục vụ cho nông nghiệp mà cho cả nuôi trồng thủy sản, nước sinh hoạt, giao thông; gắn quy hoạch thủy lợi với kiểm soát lũ, tháo chua, xổ phèn, ngăn mặn, giữ ngọt, xây dựng cụm, tuyến dân cư; gắn phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, nông nghiệp với thủy sản.
3. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu gắn với tổ chức lại sản xuất
- Về khai thác thủy sản: tiếp tục chuyển dịch cơ cấu nghề khai thác thủy sản ảnh hưởng đến công tác bảo vệ nguồn lợi sang nghề khác như nuôi trồng thủy sản, dịch vụ, du lịch,... Quản lý chặt chẽ việc đóng mới, cấp giấy phép khai thác, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực khai thác thủy sản; giảm dần sản lượng khai thác đến năm 2015 và ổn định 4.000 tấn hàng năm; hướng dẫn hộ gia đình, cá nhân khai thác theo mùa vụ, tránh khai thác trong mùa đẻ trứng rộ; khai thác phải đi đôi với bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản;
- Về nuôi trồng thủy sản: phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản ở tất cả các loại mặt nước, trong đó chú trọng đến vùng nuôi ao, ruộng, lồng bè tập trung, gắn với mô hình quản lý cộng đồng, hình thành các tổ chức kinh tế tập thể, hội, chi hội,.... hình thành vùng nuôi thâm canh tập trung có khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, thực hiện nuôi sạch, sản xuất giống sạch, bảo vệ môi trường và là nguồn cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho xuất khẩu;
- Về dịch vụ chế biến: hình thành các cụm dịch vụ (chợ cá đầu mối, dịch vụ nguyên vật liệu,…) gắn với các khu công nghiệp chế biến công nghệ cao để thu hút khối lượng nguyên liệu lớn, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, tăng giá trị cho các loại sản phẩm, từng bước xây dựng thương hiệu cho sản phẩm thủy sản của thành phố nói riêng, đồng bằng sông Cửu Long và Việt Nam nói chung.
4. Về chế biến thương mại và phát triển thị trường
- Mở rộng thị trường trong nước thông qua việc đa dạng hóa các loại sản phẩm có chất lượng cao, giá cả hợp lý, phù hợp khẩu vị; đồng thời, chú trọng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm tại các đô thị lớn, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh, khu công nghiệp Biên Hòa, Bình Dương, Tây Nguyên và miền Bắc;
- Phát huy lợi thế cạnh tranh của thủy sản nuôi trồng để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản; tăng cường xúc tiến thương mại, đào tạo cán bộ có năng lực làm công tác thương mại, tăng cường khả năng thông tin và dự báo thị trường,… để tiếp tục giữ vững thị trường truyền thống, phát triển thị trường mới, đặc biệt chú ý mở rộng ra các thị trường Trung Quốc, Châu Phi, các nước Ả Rập, Nam Mỹ,...;
- Các tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội chế biến xuất khẩu thủy sản tích cực tiếp thị trên các thị trường trong và ngoài nước; nhanh chóng xây dựng thương hiệu, quảng bá thương hiệu như cá tra, tôm càng xanh,…; đồng thời, có các biện pháp chặt chẽ để giữ vững và nâng cao uy tín của thương hiệu.
Về khoa học - công nghệ, khuyến ngư và hợp tác quốc tế
- Tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu khoa học - công nghệ; đồng thời, lựa chọn và du nhập công nghệ tiên tiến của nước ngoài tạo đột phá để phát triển nhanh, hiệu quả phù hợp với nghề cá thành phố nhất là trong sản xuất giống, công nghệ chế biến tạo giá trị gia tăng cao; bảo quản nguyên liệu sau thu hoạch; nghiên cứu bảo vệ nguồn lợi trên hệ thống sông Hậu, khu ruộng trũng phía Tây thành phố;
- Tiếp tục xây dựng các mô hình khuyến ngư, nhân rộng các mô hình tốt trong sản xuất; thực hiện tốt chính sách khuyến khích các nhà khoa học trong và ngoài ngành chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất, góp phần thúc đẩy sản xuất có năng suất, chất lượng cao, hiệu quả và bền vững. Thực hiện xã hội hóa công tác khuyến nông theo Nghị định số 56/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ về khuyến nông, khuyến ngư;
- Đổi mới chính sách quản lý khoa học - công nghệ, gắn khoa học với thực tiễn sản xuất;
- Tranh thủ sự hỗ trợ về tài chính và trợ giúp kỹ thuật của các tổ chức quốc tế và khu vực thông qua các chương trình, dự án cụ thể, phù hợp với mục tiêu phát triển của quy hoạch, chủ động hội nhập quốc tế; tích cực tìm kiếm đối tác để thu hút vốn đầu tư, công nghệ nước ngoài nhằm tạo nguồn lực cho phát triển; tích cực tìm kiếm và hợp tác nước ngoài để xuất khẩu lao động và nhập khẩu nguyên liệu chế biến thủy sản;
- Tranh thủ các dự án quốc tế ngành thủy sản giai đoạn II (FSPS II) 2006 - 2010 hỗ trợ cho thủy sản thành phố như: tăng cường quản lý hành chính thủy sản (STOFA); phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững (SUDA); tăng cường năng lực sau thu hoạch và Marketing (POSMA).