Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 24/2007/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển thuỷ sản tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010, định hướng đến năm 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "08/08/2007", "sign_number": "24/2007/QĐ-UBND", "signer": "Lê Thị Quang", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "08/08/2007", "sign_number": "24/2007/QĐ-UBND", "signer": "Lê Thị Quang", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "08/08/2007", "sign_number": "24/2007/QĐ-UBND", "signer": "Lê Thị Quang", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "08/08/2007", "sign_number": "24/2007/QĐ-UBND", "signer": "Lê Thị Quang", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "08/08/2007", "sign_number": "24/2007/QĐ-UBND", "signer": "Lê Thị Quang", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 24/2007/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển thuỷ sản tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010, định hướng đến năm 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển thuỷ sản tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, với các nội dung chủ yếu sau:
...
5. Quy hoạch khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên trên sông
5.1- Nhiệm vụ:
- Duy trì sản lượng khai thác hàng năm 150 tấn.
- Thu hút trên 300 lao động khai thác trên sông, suối.
5.2- Quy hoạch các vùng khai thác và bảo vệ nguồn lợi:
- Các điểm khai thác ở những đoạn sông, suối rộng, sâu, nước chảy chậm hoặc khúc nước quẩn trên sông Lô, sông Gâm, sông Phó Đáy và ở tất cả các sông, suối khác.
- Vùng bảo vệ nguồn lợi tự nhiên là các bãi đẻ của cá trên các sông, suối:
+ Bảo vệ bãi đẻ của các loài cá dầm xanh, xã Thanh Tương, huyện Na Hang (hàng năm vào mùa mưa cá thường tập trung về đây đẻ trứng).
+ Bảo vệ bãi đẻ cá mè trắng ở thượng nguồn sông Lô, huyện Hàm Yên.
+ Bảo vệ bãi đẻ cá ở soi Cờ, soi Đen, soi Long, xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn.
+ Bảo vệ bãi đẻ cá ở ghềnh Ruộc sông Lô, huyện Yên Sơn.
+ Bảo vệ bãi đẻ của cá trắm đen trên sông Lô thuộc thị xã Tuyên Quang.
III. QUY HOẠCH VÙNG NUÔI THUỶ ĐẶC SẢN
Tại một số vùng có điều kiện thích hợp, nuôi thử nghiệm một số loài cá bản địa có giá trị kinh tế cao trên vùng hồ thuỷ điện Tuyên Quang như: Dầm xanh, anh vũ, lăng, chiên... và một số loài cá vùng nước lạnh: cá tầm, cá hồi...
Phát triển một số mô hình nuôi ba ba, cá sấu... trong giai đoạn 2007 - 2010.
Để cung ứng các giống đặc sản có giá trị cao cho nuôi trồng, công tác nghiên cứu khoa học cần được ưu tiên; triển khai các đề tài điều tra, đánh giá nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên làm cơ sở cho việc lập dự án bảo vệ nguồn lợi, bảo tồn nguồn gen quý hiếm, tổ chức sưu tập, lưu giữ các đối tượng quý hiếm tại Trung tâm sản xuất giống thuỷ sản và thực hiện nghiên cứu công nghệ sinh sản nhân tạo giống đáp ứng nhu cầu sản xuất.
IV. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Về giống
1.1- Nhu cầu giống thuỷ sản
- Đến năm 2010: Tổng nhu cầu là 69,5 triệu con, trong đó: Ao, hồ nhỏ 37,4 triệu con; ruộng trũng trồng lúa kém hiệu quả 4,7 triệu con; hồ chứa, mặt nước lớn 26,6 triệu con; nuôi cá lồng trên sông 0,8 triệu con.
- Đến năm 2015: Tổng nhu cầu là 85,6 triệu con, trong đó: Ao, hồ nhỏ 48,75 triệu con; ruộng trũng trồng lúa kém hiệu quả 8,3 triệu con; hồ chứa, mặt nước lớn 27,4 triệu con; nuôi cá lồng trên sông 1,2 triệu con.
- Đến năm 2020: Tổng nhu cầu là 93,8 triệu con, trong đó: Ao, hồ nhỏ 60 triệu con; ruộng trũng trồng lúa kém hiệu quả 11,6 triệu con; hồ chứa, mặt nước lớn 20,6 triệu con; nuôi cá lồng trên sông 1,6 triệu con.
1.2- Khả năng đáp ứng của các cơ sở sản xuất giống hiện có:
Với năng lực hiện có, các cơ sở sản xuất giống thủy sản hiện tại chỉ sản xuất được khoảng 20 triệu cá hương và 10 triệu cá giống, đáp ứng từ 40% đến 45% nhu cầu giống hiện nay.
1.3- Giải pháp thực hiện:
- Hoàn thành xây dựng Trung tâm sản xuất giống thuỷ sản cấp I Hoàng Khai để tiếp nhận giống mới, nuôi thuần hóa giống nhập, giữ giống thuần và nhân giống cung ứng cho các cơ sở ương giống trong tỉnh, tạo đàn cá giống ông bà, bố mẹ có năng suất cao (cá trắm cỏ, cá chép lai, cá trôi ấn độ, cá rô phi vằn dòng GIFT…); quy mô sản xuất hàng năm 1 - 2 tấn cá hậu bị, 100 - 150 triệu cá bột và 5 - 10 triệu cá giống.
- Cải tạo, nâng cấp 02 trại sản xuất giống thủy sản: Trại cá thị xã Tuyên Quang và trại cá Sơn Dương; quy mô mỗi trại 1 năm sản xuất 10 - 15 triệu cá giống.
- Xây dựng mới 01 trại sản xuất giống thuỷ sản cho hồ thuỷ điện Tuyên Quang có công suất 20 triệu cá giống/năm.
- Cải tạo trại giống cá Hàm Yên, Chiêm Hoá; hình thành một số điểm ương cá giống chất lượng tốt ở các huyện, nhất là vùng sâu, vùng xa giao thông đi lại khó khăn để cung cấp đủ giống tại chỗ cho người nuôi.
- Khuyến khích các cơ sở hộ gia đình ương cá giống mở rộng quy mô để tăng sản lượng cá giống hàng năm.
2. Về thức ăn
- Đến năm 2010: Khuyến khích các hộ nuôi trồng thuỷ sản có điều kiện sử dụng các thiết bị chế biến thức ăn (máy nghiền, máy trộn, máy sấy thức ăn…) phù hợp để tăng hiệu quả trong nuôi trồng thuỷ sản.
- Sau năm 2010, xây dựng phân xưởng sản xuất chế biến thức ăn tại trại sản xuất giống thuỷ sản hồ thuỷ điện Tuyên Quang phục vụ nuôi cá hồ chứa, năng lực sản xuất 5.000 - 6.000 tấn/năm, đáp ứng được 30% - 35% nhu cầu thức ăn chế biến cho nuôi trồng thuỷ sản toàn tỉnh, một phần các hộ gia đình tự sản xuất, phần còn thiếu thông qua các đại lý nhập từ các nhà máy chế biến thức ăn ngoài địa bàn. Sau năm 2015 các cơ sở chế biến thức ăn đáp ứng nhu cầu nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn.
3. Về phòng trừ dịch bệnh, quản lý môi trường nuôi
3.1- Nguồn gốc dịch bệnh thủy sản
Nguồn gốc cơ bản của các loại dịch bệnh thủy sản trước hết là chất lượng con giống, để tránh dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản phải thực hiện phòng trừ mầm bệnh ngay từ khâu giống, môi trường nuôi, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng...
3.2- Kiểm dịch và phòng trừ dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản
- Tăng cường kiểm tra chất lượng con giống và đảm bảo yêu cầu an toàn vệ sinh thú y trong thuỷ sản, chất lượng giống cá bố mẹ; thực hiện công bố chất lượng hàng hoá đối với con giống của cơ sở sản xuất có đủ điều kiện; kiểm dịch con giống trước khi lưu thông.
- Kiểm soát nguồn cá giống đưa vào sản xuất, tổ chức phòng, chống dịch bệnh cho các đối tượng nuôi, kiểm dịch con giống chất lượng để các trại bán giống có đủ cơ sở công bố chất lượng theo quy định của ngành thuỷ sản.
3.3- Về quản lý môi trường nuôi thủy sản
- Quản lý tốt môi trường nước vùng nuôi trồng thuỷ sản, vùng nuôi thuỷ sản gắn với du lịch sinh thái, đảm bảo không gây ô nhiễm nguồn nước; tập trung quản lý nguồn nước cung cấp cho nuôi trồng thuỷ sản, sử dụng thức ăn, thuốc, chế phẩm…, áp dụng các biện pháp xử lý nước thải từ các vùng nuôi ra môi trường, đặc biệt là những vùng nuôi thâm canh, công nghiệp.
- Hướng dẫn, tuyên truyền, tập huấn các phương pháp nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả kinh tế, đảm bảo môi trường sinh thái, nhất là những vùng nuôi trồng thuỷ sản gắn với phát triển du lịch.
4. Giải pháp về kỹ thuật, khoa học và công nghệ
4.1- Đối với loại hình mặt nước ao, hồ nhỏ:
- Đến năm 2010: Diện tích mặt nước từ 0,5 ha đến 02 ha áp dụng phương thức nuôi thâm canh, sử dụng thức ăn công nghiệp; diện tích mặt nước từ 02 ha trở lên đến dưới 05 ha áp dụng phương thức nuôi bán thâm canh.
- Từ sau năm 2010: Áp dụng rộng rãi phương thức nuôi thâm canh, theo hướng công nghiệp, có trang thiết bị sục khí, quạt nước và hệ thống điều chỉnh, xử lý môi trường đồng bộ.
4.2- Đối với loại hình chuyển đổi ruộng trũng, lầy thụt trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản:
- Những vùng có diện tích tập trung, thuận lợi nguồn nước, giao thông chuyển đổi thành ao nuôi chuyên thuỷ sản hoặc nuôi 1 vụ thuỷ sản với cấy 1 vụ lúa; lựa chọn đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao như: Cá rô phi đơn tính, tôm càng xanh và những đối tượng nuôi mới phù hợp theo phương thức thâm canh và bán thâm canh, tạo thành vùng hàng hoá tập trung, đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh, ngoài tỉnh và vùng nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu.
- Những vùng nuôi phân tán, thuận lợi nguồn nước, đầu tư cải tạo ruộng để kết hợp trồng lúa với nuôi cá xen trong lúa nhằm tạo ra sản phẩm tại chỗ, cải thiện đời sống người dân, nâng cao hiệu quả sử dụng đất; đối tượng nuôi là cá chép, cá rô phi, cá trôi, cá trắm, cá mè...; do thời gian nuôi ngắn theo vụ lúa nên cần thả giống sớm, có thể đào rãnh trong ruộng để thả giống cỡ lớn hơn từ khi làm đất, sử dụng thức ăn tinh, phụ phẩm nông nghiệp, thức ăn chế biến sẵn để sớm được thu hoạch.
4.3- Đối với loại hình nuôi trong các hồ chứa thủy lợi mặt nước lớn
- Định hướng phát triển thuỷ sản gắn với phát triển du lịch, nhằm khai thác có hiệu quả nguồn lợi tự nhiên, phục vụ hoạt động dịch vụ du lịch, bảo vệ môi trường sinh thái; nghiêm cấm đánh cá huỷ diệt; tuyên truyền và nâng cao ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên.
- Nguyên tắc khai thác, sử dụng mặt nước hồ chứa lớn để phát triển thủy sản hàng hóa là không được làm thay đổi hoặc ảnh hưởng đến chức năng chính của hồ (cắt lũ, trữ nước để phục vụ phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ điện, phục vụ nước sinh hoạt, phát triển du lịch…) và không gây ô nhiễm môi trường nước, không làm ảnh hưởng xấu tới cảnh quan khu vực.
- Phát triển thuỷ sản ở hồ chứa nước thuỷ lợi (có diện tích từ 5 ha trở lên) theo phương thức thả giống cỡ lớn, đối tượng cá nuôi truyền thống; quản lý bảo vệ và khai thác theo phương thức đánh tỉa, thả bù để thu hoạch thường xuyên và thuận lợi trong tiêu thụ sản phẩm.
- Đối với hồ thuỷ điện Tuyên Quang:
Từ nay đến năm 2012: Hồ còn giàu dinh dưỡng, đối tượng thả chủ yếu là cá mè hoa, mè trắng, cá trôi, rô phi vằn, cá chép, một số loài cá bản địa...; hình thành một số mô hình nuôi cá lồng trên hồ; những khu vực khe nước lạnh thực hiện thử nghiệm nuôi cá hồi vân, cá tầm, cá quế...
Từ sau năm 2012, dinh dưỡng của hồ và sản lượng cá khai thác giảm dần, phương thức phát triển như sau:
Tổ chức thả cá giống ra hồ và cấp đăng ký kinh doanh cho nhân dân khai thác có thu thuế và lệ phí theo quy định.
Phát triển nuôi cá lồng với số lượng hợp lý; hình thành các tổ chức nuôi cá lồng tập trung trên một số khu vực hồ, tạo cảnh quan môi trường sinh thái và cung cấp sản phẩm thuỷ sản phục vụ du lịch; phương thức nuôi đơn loài, sử dụng thức ăn công nghiệp; đối tượng nuôi là các loài cá có giá trị kinh tế (rô phi đơn tính, cá chép lai...); các loài cá bản địa quý hiếm (chiên, bỗng, lăng...); các đối tượng nuôi mới phù hợp điều kiện tự nhiên của hồ (cá tầm, cá quế, cá hồi vân...).
- Xây dựng chợ cá ven hồ, đầu tư cơ sở bảo quản, chế biến đông lạnh để nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng với thị trường tiêu dùng và xuất khẩu.
Hình thành các nghề dịch vụ cung cấp thức ăn, giống, vật tư kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm.
Những nơi có khe nước lạnh có thể nghiên cứu phát triển nuôi cá nước lạnh như cá tầm, cá hồi, đối tượng nuôi mới.
Phát triển nuôi cá eo ngách ở những nơi có điều kiện thích hợp, ở vùng thượng nguồn cắm đăng chắn, quây lưới nuôi ghép các đối tượng cá truyền thống, cá bản địa.
Việc phát triển thuỷ sản trên hồ và xây dựng hạ tầng nghề cá ven hồ sẽ tạo thêm cảnh quan và địa chỉ hấp dẫn cho du lịch sinh thái và khám phá cộng đồng góp phần thúc đẩy ngành du lịch của tỉnh phát triển.
4.4- Đối với loại hình mặt nước sông:
- Phát triển nuôi cá lồng trên sông Lô, sông Gâm ở những vùng có điều kiện phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, môi trường và an toàn dịch bệnh…; phương thức nuôi chủ yếu là đơn loài, đối tượng là các loài cá ưa nước chảy như cá rô phi đơn tính, cá chép lai, cá trắm cỏ, các loài cá bản địa có giá trị kinh tế cao (bỗng, dầm xanh, anh vũ, chiên, lăng…); sử dụng thức ăn tinh, chế biến sẵn để giảm ô nhiễm môi trường và có năng suất cao.
- Đối với huyện Na Hang tập trung phát triển nghề nuôi cá lồng trên hồ thuỷ điện, không phát triển nuôi cá lồng trên sông.
- Tổ chức nuôi thành những cụm tập trung để tạo vùng sản xuất hàng hoá và hình thành hệ thống các dịch vụ cung ứng vật liệu, giống, thức ăn, thuốc phòng trị bệnh, dịch vụ tư vấn kỹ thuật cho sản xuất.
5. Về tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản
- Đến năm 2010, thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản ở Tuyên Quang chủ yếu là nội tỉnh. Đối với những vùng nuôi trồng thủy sản tập trung (vùng chuyển đổi; vùng nuôi cá lồng trên hồ thuỷ điện Tuyên Quang) đầu tư xây dựng một khu giao dịch và phân phối sản phẩm ngay tại vùng sản xuất (chợ cá) để người dân không phải vận chuyển sản phẩm đi xa.
- Từ sau năm 2010, xây dựng một nhà máy đông lạnh và trung tâm thương mại thủy sản phục vụ vùng sản xuất tập trung tại hồ thuỷ điện Tuyên Quang; đồng thời xây dựng thương hiệu sản phẩm thuỷ sản có giá trị kinh tế cao của tỉnh.

Content:
Quy hoạch khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên trên sông
5.1- Nhiệm vụ:
- Duy trì sản lượng khai thác hàng năm 150 tấn.
- Thu hút trên 300 lao động khai thác trên sông, suối.
5.2- Quy hoạch các vùng khai thác và bảo vệ nguồn lợi:
- Các điểm khai thác ở những đoạn sông, suối rộng, sâu, nước chảy chậm hoặc khúc nước quẩn trên sông Lô, sông Gâm, sông Phó Đáy và ở tất cả các sông, suối khác.
- Vùng bảo vệ nguồn lợi tự nhiên là các bãi đẻ của cá trên các sông, suối:
+ Bảo vệ bãi đẻ của các loài cá dầm xanh, xã Thanh Tương, huyện Na Hang (hàng năm vào mùa mưa cá thường tập trung về đây đẻ trứng).
+ Bảo vệ bãi đẻ cá mè trắng ở thượng nguồn sông Lô, huyện Hàm Yên.
+ Bảo vệ bãi đẻ cá ở soi Cờ, soi Đen, soi Long, xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn.
+ Bảo vệ bãi đẻ cá ở ghềnh Ruộc sông Lô, huyện Yên Sơn.
+ Bảo vệ bãi đẻ của cá trắm đen trên sông Lô thuộc thị xã Tuyên Quang.
III. QUY HOẠCH VÙNG NUÔI THUỶ ĐẶC SẢN
Tại một số vùng có điều kiện thích hợp, nuôi thử nghiệm một số loài cá bản địa có giá trị kinh tế cao trên vùng hồ thuỷ điện Tuyên Quang như: Dầm xanh, anh vũ, lăng, chiên... và một số loài cá vùng nước lạnh: cá tầm, cá hồi...
Phát triển một số mô hình nuôi ba ba, cá sấu... trong giai đoạn 2007 - 2010.
Để cung ứng các giống đặc sản có giá trị cao cho nuôi trồng, công tác nghiên cứu khoa học cần được ưu tiên; triển khai các đề tài điều tra, đánh giá nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên làm cơ sở cho việc lập dự án bảo vệ nguồn lợi, bảo tồn nguồn gen quý hiếm, tổ chức sưu tập, lưu giữ các đối tượng quý hiếm tại Trung tâm sản xuất giống thuỷ sản và thực hiện nghiên cứu công nghệ sinh sản nhân tạo giống đáp ứng nhu cầu sản xuất.
IV. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Về giống
1.1- Nhu cầu giống thuỷ sản
- Đến năm 2010: Tổng nhu cầu là 69,5 triệu con, trong đó: Ao, hồ nhỏ 37,4 triệu con; ruộng trũng trồng lúa kém hiệu quả 4,7 triệu con; hồ chứa, mặt nước lớn 26,6 triệu con; nuôi cá lồng trên sông 0,8 triệu con.
- Đến năm 2015: Tổng nhu cầu là 85,6 triệu con, trong đó: Ao, hồ nhỏ 48,75 triệu con; ruộng trũng trồng lúa kém hiệu quả 8,3 triệu con; hồ chứa, mặt nước lớn 27,4 triệu con; nuôi cá lồng trên sông 1,2 triệu con.
- Đến năm 2020: Tổng nhu cầu là 93,8 triệu con, trong đó: Ao, hồ nhỏ 60 triệu con; ruộng trũng trồng lúa kém hiệu quả 11,6 triệu con; hồ chứa, mặt nước lớn 20,6 triệu con; nuôi cá lồng trên sông 1,6 triệu con.
1.2- Khả năng đáp ứng của các cơ sở sản xuất giống hiện có:
Với năng lực hiện có, các cơ sở sản xuất giống thủy sản hiện tại chỉ sản xuất được khoảng 20 triệu cá hương và 10 triệu cá giống, đáp ứng từ 40% đến 45% nhu cầu giống hiện nay.
1.3- Giải pháp thực hiện:
- Hoàn thành xây dựng Trung tâm sản xuất giống thuỷ sản cấp I Hoàng Khai để tiếp nhận giống mới, nuôi thuần hóa giống nhập, giữ giống thuần và nhân giống cung ứng cho các cơ sở ương giống trong tỉnh, tạo đàn cá giống ông bà, bố mẹ có năng suất cao (cá trắm cỏ, cá chép lai, cá trôi ấn độ, cá rô phi vằn dòng GIFT…); quy mô sản xuất hàng năm 1 - 2 tấn cá hậu bị, 100 - 150 triệu cá bột và 5 - 10 triệu cá giống.
- Cải tạo, nâng cấp 02 trại sản xuất giống thủy sản: Trại cá thị xã Tuyên Quang và trại cá Sơn Dương; quy mô mỗi trại 1 năm sản xuất 10 - 15 triệu cá giống.
- Xây dựng mới 01 trại sản xuất giống thuỷ sản cho hồ thuỷ điện Tuyên Quang có công suất 20 triệu cá giống/năm.
- Cải tạo trại giống cá Hàm Yên, Chiêm Hoá; hình thành một số điểm ương cá giống chất lượng tốt ở các huyện, nhất là vùng sâu, vùng xa giao thông đi lại khó khăn để cung cấp đủ giống tại chỗ cho người nuôi.
- Khuyến khích các cơ sở hộ gia đình ương cá giống mở rộng quy mô để tăng sản lượng cá giống hàng năm.
2. Về thức ăn
- Đến năm 2010: Khuyến khích các hộ nuôi trồng thuỷ sản có điều kiện sử dụng các thiết bị chế biến thức ăn (máy nghiền, máy trộn, máy sấy thức ăn…) phù hợp để tăng hiệu quả trong nuôi trồng thuỷ sản.
- Sau năm 2010, xây dựng phân xưởng sản xuất chế biến thức ăn tại trại sản xuất giống thuỷ sản hồ thuỷ điện Tuyên Quang phục vụ nuôi cá hồ chứa, năng lực sản xuất 5.000 - 6.000 tấn/năm, đáp ứng được 30% - 35% nhu cầu thức ăn chế biến cho nuôi trồng thuỷ sản toàn tỉnh, một phần các hộ gia đình tự sản xuất, phần còn thiếu thông qua các đại lý nhập từ các nhà máy chế biến thức ăn ngoài địa bàn. Sau năm 2015 các cơ sở chế biến thức ăn đáp ứng nhu cầu nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn.
3. Về phòng trừ dịch bệnh, quản lý môi trường nuôi
3.1- Nguồn gốc dịch bệnh thủy sản
Nguồn gốc cơ bản của các loại dịch bệnh thủy sản trước hết là chất lượng con giống, để tránh dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản phải thực hiện phòng trừ mầm bệnh ngay từ khâu giống, môi trường nuôi, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng...
3.2- Kiểm dịch và phòng trừ dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản
- Tăng cường kiểm tra chất lượng con giống và đảm bảo yêu cầu an toàn vệ sinh thú y trong thuỷ sản, chất lượng giống cá bố mẹ; thực hiện công bố chất lượng hàng hoá đối với con giống của cơ sở sản xuất có đủ điều kiện; kiểm dịch con giống trước khi lưu thông.
- Kiểm soát nguồn cá giống đưa vào sản xuất, tổ chức phòng, chống dịch bệnh cho các đối tượng nuôi, kiểm dịch con giống chất lượng để các trại bán giống có đủ cơ sở công bố chất lượng theo quy định của ngành thuỷ sản.
3.3- Về quản lý môi trường nuôi thủy sản
- Quản lý tốt môi trường nước vùng nuôi trồng thuỷ sản, vùng nuôi thuỷ sản gắn với du lịch sinh thái, đảm bảo không gây ô nhiễm nguồn nước; tập trung quản lý nguồn nước cung cấp cho nuôi trồng thuỷ sản, sử dụng thức ăn, thuốc, chế phẩm…, áp dụng các biện pháp xử lý nước thải từ các vùng nuôi ra môi trường, đặc biệt là những vùng nuôi thâm canh, công nghiệp.
- Hướng dẫn, tuyên truyền, tập huấn các phương pháp nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả kinh tế, đảm bảo môi trường sinh thái, nhất là những vùng nuôi trồng thuỷ sản gắn với phát triển du lịch.
4. Giải pháp về kỹ thuật, khoa học và công nghệ
4.1- Đối với loại hình mặt nước ao, hồ nhỏ:
- Đến năm 2010: Diện tích mặt nước từ 0,5 ha đến 02 ha áp dụng phương thức nuôi thâm canh, sử dụng thức ăn công nghiệp; diện tích mặt nước từ 02 ha trở lên đến dưới 05 ha áp dụng phương thức nuôi bán thâm canh.
- Từ sau năm 2010: Áp dụng rộng rãi phương thức nuôi thâm canh, theo hướng công nghiệp, có trang thiết bị sục khí, quạt nước và hệ thống điều chỉnh, xử lý môi trường đồng bộ.
4.2- Đối với loại hình chuyển đổi ruộng trũng, lầy thụt trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản:
- Những vùng có diện tích tập trung, thuận lợi nguồn nước, giao thông chuyển đổi thành ao nuôi chuyên thuỷ sản hoặc nuôi 1 vụ thuỷ sản với cấy 1 vụ lúa; lựa chọn đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao như: Cá rô phi đơn tính, tôm càng xanh và những đối tượng nuôi mới phù hợp theo phương thức thâm canh và bán thâm canh, tạo thành vùng hàng hoá tập trung, đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh, ngoài tỉnh và vùng nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu.
- Những vùng nuôi phân tán, thuận lợi nguồn nước, đầu tư cải tạo ruộng để kết hợp trồng lúa với nuôi cá xen trong lúa nhằm tạo ra sản phẩm tại chỗ, cải thiện đời sống người dân, nâng cao hiệu quả sử dụng đất; đối tượng nuôi là cá chép, cá rô phi, cá trôi, cá trắm, cá mè...; do thời gian nuôi ngắn theo vụ lúa nên cần thả giống sớm, có thể đào rãnh trong ruộng để thả giống cỡ lớn hơn từ khi làm đất, sử dụng thức ăn tinh, phụ phẩm nông nghiệp, thức ăn chế biến sẵn để sớm được thu hoạch.
4.3- Đối với loại hình nuôi trong các hồ chứa thủy lợi mặt nước lớn
- Định hướng phát triển thuỷ sản gắn với phát triển du lịch, nhằm khai thác có hiệu quả nguồn lợi tự nhiên, phục vụ hoạt động dịch vụ du lịch, bảo vệ môi trường sinh thái; nghiêm cấm đánh cá huỷ diệt; tuyên truyền và nâng cao ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên.
- Nguyên tắc khai thác, sử dụng mặt nước hồ chứa lớn để phát triển thủy sản hàng hóa là không được làm thay đổi hoặc ảnh hưởng đến chức năng chính của hồ (cắt lũ, trữ nước để phục vụ phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ điện, phục vụ nước sinh hoạt, phát triển du lịch…) và không gây ô nhiễm môi trường nước, không làm ảnh hưởng xấu tới cảnh quan khu vực.
- Phát triển thuỷ sản ở hồ chứa nước thuỷ lợi (có diện tích từ 5 ha trở lên) theo phương thức thả giống cỡ lớn, đối tượng cá nuôi truyền thống; quản lý bảo vệ và khai thác theo phương thức đánh tỉa, thả bù để thu hoạch thường xuyên và thuận lợi trong tiêu thụ sản phẩm.
- Đối với hồ thuỷ điện Tuyên Quang:
Từ nay đến năm 2012: Hồ còn giàu dinh dưỡng, đối tượng thả chủ yếu là cá mè hoa, mè trắng, cá trôi, rô phi vằn, cá chép, một số loài cá bản địa...; hình thành một số mô hình nuôi cá lồng trên hồ; những khu vực khe nước lạnh thực hiện thử nghiệm nuôi cá hồi vân, cá tầm, cá quế...
Từ sau năm 2012, dinh dưỡng của hồ và sản lượng cá khai thác giảm dần, phương thức phát triển như sau:
Tổ chức thả cá giống ra hồ và cấp đăng ký kinh doanh cho nhân dân khai thác có thu thuế và lệ phí theo quy định.
Phát triển nuôi cá lồng với số lượng hợp lý; hình thành các tổ chức nuôi cá lồng tập trung trên một số khu vực hồ, tạo cảnh quan môi trường sinh thái và cung cấp sản phẩm thuỷ sản phục vụ du lịch; phương thức nuôi đơn loài, sử dụng thức ăn công nghiệp; đối tượng nuôi là các loài cá có giá trị kinh tế (rô phi đơn tính, cá chép lai...); các loài cá bản địa quý hiếm (chiên, bỗng, lăng...); các đối tượng nuôi mới phù hợp điều kiện tự nhiên của hồ (cá tầm, cá quế, cá hồi vân...).
- Xây dựng chợ cá ven hồ, đầu tư cơ sở bảo quản, chế biến đông lạnh để nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng với thị trường tiêu dùng và xuất khẩu.
Hình thành các nghề dịch vụ cung cấp thức ăn, giống, vật tư kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm.
Những nơi có khe nước lạnh có thể nghiên cứu phát triển nuôi cá nước lạnh như cá tầm, cá hồi, đối tượng nuôi mới.
Phát triển nuôi cá eo ngách ở những nơi có điều kiện thích hợp, ở vùng thượng nguồn cắm đăng chắn, quây lưới nuôi ghép các đối tượng cá truyền thống, cá bản địa.
Việc phát triển thuỷ sản trên hồ và xây dựng hạ tầng nghề cá ven hồ sẽ tạo thêm cảnh quan và địa chỉ hấp dẫn cho du lịch sinh thái và khám phá cộng đồng góp phần thúc đẩy ngành du lịch của tỉnh phát triển.
4.4- Đối với loại hình mặt nước sông:
- Phát triển nuôi cá lồng trên sông Lô, sông Gâm ở những vùng có điều kiện phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, môi trường và an toàn dịch bệnh…; phương thức nuôi chủ yếu là đơn loài, đối tượng là các loài cá ưa nước chảy như cá rô phi đơn tính, cá chép lai, cá trắm cỏ, các loài cá bản địa có giá trị kinh tế cao (bỗng, dầm xanh, anh vũ, chiên, lăng…); sử dụng thức ăn tinh, chế biến sẵn để giảm ô nhiễm môi trường và có năng suất cao.
- Đối với huyện Na Hang tập trung phát triển nghề nuôi cá lồng trên hồ thuỷ điện, không phát triển nuôi cá lồng trên sông.
- Tổ chức nuôi thành những cụm tập trung để tạo vùng sản xuất hàng hoá và hình thành hệ thống các dịch vụ cung ứng vật liệu, giống, thức ăn, thuốc phòng trị bệnh, dịch vụ tư vấn kỹ thuật cho sản xuất.
Về tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản
- Đến năm 2010, thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản ở Tuyên Quang chủ yếu là nội tỉnh. Đối với những vùng nuôi trồng thủy sản tập trung (vùng chuyển đổi; vùng nuôi cá lồng trên hồ thuỷ điện Tuyên Quang) đầu tư xây dựng một khu giao dịch và phân phối sản phẩm ngay tại vùng sản xuất (chợ cá) để người dân không phải vận chuyển sản phẩm đi xa.
- Từ sau năm 2010, xây dựng một nhà máy đông lạnh và trung tâm thương mại thủy sản phục vụ vùng sản xuất tập trung tại hồ thuỷ điện Tuyên Quang; đồng thời xây dựng thương hiệu sản phẩm thuỷ sản có giá trị kinh tế cao của tỉnh.