Document: Điều 4 Nghị định 69-CP quy định thủ tục thi hành án dân sự

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "18/10/1993", "sign_number": "69-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "18/10/1993", "sign_number": "69-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "18/10/1993", "sign_number": "69-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "18/10/1993", "sign_number": "69-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "18/10/1993", "sign_number": "69-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 4 Nghị định 69-CP quy định thủ tục thi hành án dân sự có nội dung như sau:

Điều 4. 1. Trưởng Phòng thi hành án cấp tỉnh, Đội trưởng Đội thi hành án, Trưởng Phòng thi hành án quân khu có quyền ra các quyết định uỷ thác.
2. Phòng thi hành án cấp tỉnh trực tiếp tổ chức thi hành hoặc uỷ thác cho Phòng thi hành án cấp tỉnh nơi khác ra quyết định thi hành trong những trường hợp sau đây:
a) Thi hành bản án, quyết định về nhận người lao động trở lại làm việc hoặc bồi thường thiệt hại mà người phải thi hành án là cơ quan Nhà nước cấp tỉnh trở lên;
b) Thi hành bản án, quyết định có nhân tố nước ngoài hoặc liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.
3. Trưởng Phòng thi hành án có thể uỷ thác cho Đội trưởng Đội thi hành án ra quyết định thi hành một phần bản án, quyết định trong những trường hợp sau đây:
a) Phần bản án, quyết định liên quan đến tài sản kê biên, tạm giữ và tang vật được Toà án chuyển giao thì Phòng thi hành án cấp tỉnh trực tiếp thi hành. Phần bản án, quyết định còn lại nếu Phòng thi hành án cấp tỉnh không có điều kiện trực tiếp thi hành thì phải uỷ thác cho Đội thi hành án ra quyết định thi hành;
b) Việc thi hành bản án, quyết định có liên quan đến nhiều quận, huyện trong tỉnh, thành phố hoặc ở các tỉnh, thành phố khác nhau.
4. Trưởng Phòng thi hành án quân khu có thể uỷ thác cho Trưởng Phòng thi hành án cấp tỉnh hoặc Đội trưởng Đội thi hành án và ngược lại.

Content:
Điều 4. 1. Trưởng Phòng thi hành án cấp tỉnh, Đội trưởng Đội thi hành án, Trưởng Phòng thi hành án quân khu có quyền ra các quyết định uỷ thác.
2. Phòng thi hành án cấp tỉnh trực tiếp tổ chức thi hành hoặc uỷ thác cho Phòng thi hành án cấp tỉnh nơi khác ra quyết định thi hành trong những trường hợp sau đây:
a) Thi hành bản án, quyết định về nhận người lao động trở lại làm việc hoặc bồi thường thiệt hại mà người phải thi hành án là cơ quan Nhà nước cấp tỉnh trở lên;
b) Thi hành bản án, quyết định có nhân tố nước ngoài hoặc liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.
3. Trưởng Phòng thi hành án có thể uỷ thác cho Đội trưởng Đội thi hành án ra quyết định thi hành một phần bản án, quyết định trong những trường hợp sau đây:
a) Phần bản án, quyết định liên quan đến tài sản kê biên, tạm giữ và tang vật được Toà án chuyển giao thì Phòng thi hành án cấp tỉnh trực tiếp thi hành. Phần bản án, quyết định còn lại nếu Phòng thi hành án cấp tỉnh không có điều kiện trực tiếp thi hành thì phải uỷ thác cho Đội thi hành án ra quyết định thi hành;
b) Việc thi hành bản án, quyết định có liên quan đến nhiều quận, huyện trong tỉnh, thành phố hoặc ở các tỉnh, thành phố khác nhau.
4. Trưởng Phòng thi hành án quân khu có thể uỷ thác cho Trưởng Phòng thi hành án cấp tỉnh hoặc Đội trưởng Đội thi hành án và ngược lại.