Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 73/QĐ-UBND 2008 Quy hoạch bưu chính viễn thông Bến Tre 2007 2015 định hướng 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/01/2008", "sign_number": "73/QĐ-UBND", "signer": "Cao Tấn Khổng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/01/2008", "sign_number": "73/QĐ-UBND", "signer": "Cao Tấn Khổng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/01/2008", "sign_number": "73/QĐ-UBND", "signer": "Cao Tấn Khổng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/01/2008", "sign_number": "73/QĐ-UBND", "signer": "Cao Tấn Khổng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/01/2008", "sign_number": "73/QĐ-UBND", "signer": "Cao Tấn Khổng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 73/QĐ-UBND 2008 Quy hoạch bưu chính viễn thông Bến Tre 2007 2015 định hướng 2020

Điều 1. Phê duyệt “Quy hoạch phát triển Bưu chính Viễn thông tỉnh Bến Tre giai đoạn 2007 - 2010 và định hướng đến năm 2020” với nội dung chính như sau:
...
2. Quy hoạch phát triển viễn thông và Internet.
a) Quan điểm phát triển:
Phát triển viễn thông tỉnh Bến Tre phù hợp với Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh Bến Tre đến năm 2020.
Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng mạng lưới viễn thông, tin học của tỉnh có công nghệ hiện đại, dung lượng lớn, tốc độ cao, phủ sóng rộng, hoạt động hiệu quả, an toàn và tin cậy đến mọi vùng của tỉnh... làm nền tảng cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, thương mại điện tử, và các lĩnh vực khác. Tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia thị trường dịch vụ viễn thông, Internet. Tạo cơ chế, chính sách phù hợp nhằm huy động các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư, phát triển hạ tầng viễn thông trên địa bàn tỉnh.
Phát triển đi đôi với đảm bảo an ninh - quốc phòng, an toàn thông tin và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển một cách bền vững.
b) Mục tiêu phát triển:
Xây dựng mạng viễn thông đáp ứng điều kiện cần thiết để phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin rộng khắp toàn tỉnh, đảm bảo sự phát triển kinh tế xã hội của toàn tỉnh, các vùng, trong đó có các khu kinh tế động lực.
Tạo lập thị trường cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia thị trường dịch vụ viễn thông và Internet. Các doanh nghiệp bình đẳng trong phát triển mạng lưới, ứng dụng các công nghệ tiên tiến theo định hướng phát triển lên mạng NGN (công nghệ mạng hội tụ).
Đảm bảo các dịch vụ trong môi trường Internet, cho phép phát triển dịch vụ hành chính, thương mại điện tử.
c) Chỉ tiêu phát triển:
Năm 2010 đạt mật độ điện thoại ở mức 42,4 máy/100 dân trong đó: điện thoại cố định đạt mật độ 15,9 máy/100 dân và mật độ điện thoại di động đạt 26,5 máy/100 dân. Đến 2015 các chỉ tiêu viễn thông của tỉnh đạt mức khá so với cả nước, mật độ điện thoại 78,3 máy/100 dân, trong đó mật độ điện thoại cố định đạt 31,2 máy/100 dân và mật độ điện thoại di động đạt 47,1 máy/100 dân.
Năm 2010 số thuê bao Internet khoảng 30.000 thuê bao, đạt mật độ 2,17 thuê bao/100 dân (chưa quy đổi) trong đó 99% là thuê bao Internet băng rộng. Tỷ lệ số dân sử dụng Internet băng thông rộng đạt khoảng 20%. Đến năm 2015 tỷ lệ số dân sử dụng Internet băng thông rộng đạt trên 60%.
Năm 2010 toàn bộ 100% số xã có cáp quang và kết nối thành nhiều vòng Ring vật lý đến tất cả các huyện đảm bảo an toàn, an ninh thông tin.
d) Quy hoạch phát triển viễn thông đến năm 2015:
+ Mạng chuyển mạch:
Đến năm 2015 số máy điện thoại cố định toàn tỉnh đạt 456.357 thuê bao, tăng 346.209 thuê bao so với năm 2006. Để đáp ứng nhu cầu phát triển thuê bao giai đoạn này, cần phải tăng dung lượng các trạm hiện có, thay thế 3 tổng đài độc lập (do không tích hợp với hệ thống tổng đài hiện tại) và lắp mới 135 tổng đài vệ tinh.
Giai đoạn 2011 - 2015: thay thế toàn bộ các điểm chuyển mạch cũ bằng các điểm chuyển mạch đa dịch vụ của mạng NGN. Thay thế các Host hiện có bằng các Host Multiservice Switch.
Đến năm 2015, toàn tỉnh có 135 tổng đài (2 tổng đài HOST và 132 tổng đài vệ tinh) với tổng dung lượng lắp 623.864 lines.
+ Mạng truyền dẫn:
Thành lập các vòng Ring tăng độ an toàn cho mạng, thay thế các tuyến truyền dẫn viba bằng truyền dẫn quang. Nâng cao chất lượng mạng truyền dẫn, phục vụ nhu cầu băng thông rộng trong tương lai, đảm bảo phục vụ truyền khối lượng dữ liệu lớn giữa các đơn vị, phục vụ cho các ứng dụng đòi hỏi băng thông rộng như hội nghị từ xa, truyền số liệu tốc độ cao…
Giai đoạn 2011-2015: xây dựng mạng cáp quang đến Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban ngành, huyện thị để kết nối mạng diện rộng Intranet phục vụ chính quyền toàn tỉnh theo phương án: xây dựng vòng Ring cáp quang nội thị của các doanh nghiệp cần tổ chức các điểm rẽ tại hầu hết các cơ quan cấp tỉnh, đồng thời cũng dành riêng phần lưu lượng cáp cho mục đích này. Dự kiến cần 50km cáp quang cho mạng Chính phủ điện tử tại tỉnh Bến Tre.
+ Mạng ngoại vi:
Thực hiện ngầm hóa đến khu vực dân cư, cụm dân cư, khu công nghiệp. Phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, hiện đại hóa mạng ngoại vi.
Giai đoạn 2007 - 2010: hoàn thiện ngầm hóa tại các tuyến đường chính, trung tâm thương mại, khu du lịch, khu công nghiệp của thị xã Bến Tre đạt từ 70-80%.
Giai đoạn 2010 - 2015: ngầm hóa mạng cáp tại trung tâm các huyện, thị trấn, tại các khu công nghiệp, khu dân cư, 100% ngầm hóa trục chính tới các xã.
Đến năm 2015: ngầm hóa hoàn toàn các tuyến cáp ngoại vi tại trung tâm huyện, thị trấn; những khu vực không thể ngầm hóa thì có thể sử dụng cáp treo, nhưng độ dài cáp treo không quá 500 m, tại khu vực nông thôn chiều dài cáp treo không quá 2 km.
+ Mạng Internet và VoIP:
Đến năm 2012 đảm bảo 100% số xã được cung cấp dịch vụ Internet tốc độ cao. Ưu tiên phát triển, mở rộng mạng lưới Internet đến vùng nông thôn, xã, ấp trên địa bàn tỉnh.
Phát triển truy nhập Internet băng rộng theo 2 phương thức qua mạng cáp nội hạt và không dây. Truy nhập Internet qua mạng nội hạt phát triển theo hướng truy nhập của mạng NGN và là bước đầu xây dựng mạng NGN. Truy nhập không dây triển khai cho thuê bao di động CDMA, bước đầu cung cấp truy nhập Internet không dây thông qua các điểm truy nhập WiFi tại các địa điểm công cộng.
+ Mạng di động:
Trong phạm vi bán kính 0,5 km đối với nội thị xã Bến Tre, 1 km với các thị trấn đặt một cột cao để sử dụng chung cơ sở hạ tầng. Sử dụng các giải pháp roaming giữa các hệ thống cùng công nghệ hoặc các giải pháp nhằm nâng cao dung lượng của từng BTS và sử dụng các trạm lặp loại nhỏ để hạn chế việc trồng cột quá nhiều tại các địa bàn.
Đến hết năm 2015, trên toàn tỉnh có 404 vị trí trạm phát sóng di động cung cấp cho 688.924 thuê bao, đạt mật độ 47,1 máy/100 dân.
+ Mạng NGN:
Lộ trình chuyển đổi.
Giai đoạn 1: tích hợp truy nhập mạng NGN dành cho điện thoại cố định và Internet. Mạng di động hoạt động độc lập, chỉ sử dụng các đường truyền liên tỉnh.
Lắp đặt 01 MultiService switch tại thị xã Bến Tre vào năm 2008. Triển khai lắp đặt các MultiService Acces (lắp các thiết bị DSLAM) phục vụ cho các thuê bao Internet băng rộng tại trung tâm các huyện và thị xã. Giai đoạn 2009-2010, tổ chức các Media Gateway cho các khu vực tập trung lưu lượng lớn và trung tâm các huyện. Mạng điện thoại cố định kết nối NGN thông qua các Media Gateway từ tổng đài HOST, mạng Internet và VoIP kết nối thông qua các Multiservice Access.
Giai đoạn 2: lắp đặt thiết bị Media Gateway phát triển các thuê bao đa dịch vụ, mở rộng vùng mạng đến toàn bộ các khu vực trong huyện, thị xã. Tích hợp các mạng di động có các công nghệ khác nhau truy nhập NGN từ các trạm BSC thông qua Multi service switch. Sau năm 2015, đảm bảo chuyển hoàn toàn sang công nghệ mới NGN.

Content:
Quy hoạch phát triển viễn thông và Internet.
a) Quan điểm phát triển:
Phát triển viễn thông tỉnh Bến Tre phù hợp với Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh Bến Tre đến năm 2020.
Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng mạng lưới viễn thông, tin học của tỉnh có công nghệ hiện đại, dung lượng lớn, tốc độ cao, phủ sóng rộng, hoạt động hiệu quả, an toàn và tin cậy đến mọi vùng của tỉnh... làm nền tảng cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, thương mại điện tử, và các lĩnh vực khác. Tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia thị trường dịch vụ viễn thông, Internet. Tạo cơ chế, chính sách phù hợp nhằm huy động các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư, phát triển hạ tầng viễn thông trên địa bàn tỉnh.
Phát triển đi đôi với đảm bảo an ninh - quốc phòng, an toàn thông tin và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển một cách bền vững.
b) Mục tiêu phát triển:
Xây dựng mạng viễn thông đáp ứng điều kiện cần thiết để phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin rộng khắp toàn tỉnh, đảm bảo sự phát triển kinh tế xã hội của toàn tỉnh, các vùng, trong đó có các khu kinh tế động lực.
Tạo lập thị trường cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia thị trường dịch vụ viễn thông và Internet. Các doanh nghiệp bình đẳng trong phát triển mạng lưới, ứng dụng các công nghệ tiên tiến theo định hướng phát triển lên mạng NGN (công nghệ mạng hội tụ).
Đảm bảo các dịch vụ trong môi trường Internet, cho phép phát triển dịch vụ hành chính, thương mại điện tử.
c) Chỉ tiêu phát triển:
Năm 2010 đạt mật độ điện thoại ở mức 42,4 máy/100 dân trong đó: điện thoại cố định đạt mật độ 15,9 máy/100 dân và mật độ điện thoại di động đạt 26,5 máy/100 dân. Đến 2015 các chỉ tiêu viễn thông của tỉnh đạt mức khá so với cả nước, mật độ điện thoại 78,3 máy/100 dân, trong đó mật độ điện thoại cố định đạt 31,2 máy/100 dân và mật độ điện thoại di động đạt 47,1 máy/100 dân.
Năm 2010 số thuê bao Internet khoảng 30.000 thuê bao, đạt mật độ 2,17 thuê bao/100 dân (chưa quy đổi) trong đó 99% là thuê bao Internet băng rộng. Tỷ lệ số dân sử dụng Internet băng thông rộng đạt khoảng 20%. Đến năm 2015 tỷ lệ số dân sử dụng Internet băng thông rộng đạt trên 60%.
Năm 2010 toàn bộ 100% số xã có cáp quang và kết nối thành nhiều vòng Ring vật lý đến tất cả các huyện đảm bảo an toàn, an ninh thông tin.
d) Quy hoạch phát triển viễn thông đến năm 2015:
+ Mạng chuyển mạch:
Đến năm 2015 số máy điện thoại cố định toàn tỉnh đạt 456.357 thuê bao, tăng 346.209 thuê bao so với năm 2006. Để đáp ứng nhu cầu phát triển thuê bao giai đoạn này, cần phải tăng dung lượng các trạm hiện có, thay thế 3 tổng đài độc lập (do không tích hợp với hệ thống tổng đài hiện tại) và lắp mới 135 tổng đài vệ tinh.
Giai đoạn 2011 - 2015: thay thế toàn bộ các điểm chuyển mạch cũ bằng các điểm chuyển mạch đa dịch vụ của mạng NGN. Thay thế các Host hiện có bằng các Host Multiservice Switch.
Đến năm 2015, toàn tỉnh có 135 tổng đài (2 tổng đài HOST và 132 tổng đài vệ tinh) với tổng dung lượng lắp 623.864 lines.
+ Mạng truyền dẫn:
Thành lập các vòng Ring tăng độ an toàn cho mạng, thay thế các tuyến truyền dẫn viba bằng truyền dẫn quang. Nâng cao chất lượng mạng truyền dẫn, phục vụ nhu cầu băng thông rộng trong tương lai, đảm bảo phục vụ truyền khối lượng dữ liệu lớn giữa các đơn vị, phục vụ cho các ứng dụng đòi hỏi băng thông rộng như hội nghị từ xa, truyền số liệu tốc độ cao…
Giai đoạn 2011-2015: xây dựng mạng cáp quang đến Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban ngành, huyện thị để kết nối mạng diện rộng Intranet phục vụ chính quyền toàn tỉnh theo phương án: xây dựng vòng Ring cáp quang nội thị của các doanh nghiệp cần tổ chức các điểm rẽ tại hầu hết các cơ quan cấp tỉnh, đồng thời cũng dành riêng phần lưu lượng cáp cho mục đích này. Dự kiến cần 50km cáp quang cho mạng Chính phủ điện tử tại tỉnh Bến Tre.
+ Mạng ngoại vi:
Thực hiện ngầm hóa đến khu vực dân cư, cụm dân cư, khu công nghiệp. Phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, hiện đại hóa mạng ngoại vi.
Giai đoạn 2007 - 2010: hoàn thiện ngầm hóa tại các tuyến đường chính, trung tâm thương mại, khu du lịch, khu công nghiệp của thị xã Bến Tre đạt từ 70-80%.
Giai đoạn 2010 - 2015: ngầm hóa mạng cáp tại trung tâm các huyện, thị trấn, tại các khu công nghiệp, khu dân cư, 100% ngầm hóa trục chính tới các xã.
Đến năm 2015: ngầm hóa hoàn toàn các tuyến cáp ngoại vi tại trung tâm huyện, thị trấn; những khu vực không thể ngầm hóa thì có thể sử dụng cáp treo, nhưng độ dài cáp treo không quá 500 m, tại khu vực nông thôn chiều dài cáp treo không quá 2 km.
+ Mạng Internet và VoIP:
Đến năm 2012 đảm bảo 100% số xã được cung cấp dịch vụ Internet tốc độ cao. Ưu tiên phát triển, mở rộng mạng lưới Internet đến vùng nông thôn, xã, ấp trên địa bàn tỉnh.
Phát triển truy nhập Internet băng rộng theo 2 phương thức qua mạng cáp nội hạt và không dây. Truy nhập Internet qua mạng nội hạt phát triển theo hướng truy nhập của mạng NGN và là bước đầu xây dựng mạng NGN. Truy nhập không dây triển khai cho thuê bao di động CDMA, bước đầu cung cấp truy nhập Internet không dây thông qua các điểm truy nhập WiFi tại các địa điểm công cộng.
+ Mạng di động:
Trong phạm vi bán kính 0,5 km đối với nội thị xã Bến Tre, 1 km với các thị trấn đặt một cột cao để sử dụng chung cơ sở hạ tầng. Sử dụng các giải pháp roaming giữa các hệ thống cùng công nghệ hoặc các giải pháp nhằm nâng cao dung lượng của từng BTS và sử dụng các trạm lặp loại nhỏ để hạn chế việc trồng cột quá nhiều tại các địa bàn.
Đến hết năm 2015, trên toàn tỉnh có 404 vị trí trạm phát sóng di động cung cấp cho 688.924 thuê bao, đạt mật độ 47,1 máy/100 dân.
+ Mạng NGN:
Lộ trình chuyển đổi.
Giai đoạn 1: tích hợp truy nhập mạng NGN dành cho điện thoại cố định và Internet. Mạng di động hoạt động độc lập, chỉ sử dụng các đường truyền liên tỉnh.
Lắp đặt 01 MultiService switch tại thị xã Bến Tre vào năm 2008. Triển khai lắp đặt các MultiService Acces (lắp các thiết bị DSLAM) phục vụ cho các thuê bao Internet băng rộng tại trung tâm các huyện và thị xã. Giai đoạn 2009-2010, tổ chức các Media Gateway cho các khu vực tập trung lưu lượng lớn và trung tâm các huyện. Mạng điện thoại cố định kết nối NGN thông qua các Media Gateway từ tổng đài HOST, mạng Internet và VoIP kết nối thông qua các Multiservice Access.
Giai đoạn 2: lắp đặt thiết bị Media Gateway phát triển các thuê bao đa dịch vụ, mở rộng vùng mạng đến toàn bộ các khu vực trong huyện, thị xã. Tích hợp các mạng di động có các công nghệ khác nhau truy nhập NGN từ các trạm BSC thông qua Multi service switch. Sau năm 2015, đảm bảo chuyển hoàn toàn sang công nghệ mới NGN.