Document: Điều 7 Thông tư 16/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện gia hạn giảm khoản thu Ngân sách

Type: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "08/02/2013", "sign_number": "16/2013/TT-BTC", "signer": "Đỗ Hoàng Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "08/02/2013", "sign_number": "16/2013/TT-BTC", "signer": "Đỗ Hoàng Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "08/02/2013", "sign_number": "16/2013/TT-BTC", "signer": "Đỗ Hoàng Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "08/02/2013", "sign_number": "16/2013/TT-BTC", "signer": "Đỗ Hoàng Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "08/02/2013", "sign_number": "16/2013/TT-BTC", "signer": "Đỗ Hoàng Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 7 Thông tư 16/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện gia hạn giảm khoản thu Ngân sách có nội dung như sau:

Điều 7. Tiền sử dụng đất
1. Các dự án sử dụng đất vào mục đích xây nhà để bán, để cho thuê, kinh doanh kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng theo hình thức nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà chủ đầu tư đã được bàn giao đất để thực hiện nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất (SDĐ) do có khó khăn về tài chính, cụ thể là: kết quả tài chính tính đến 31/12/2012 mà lỗ hoặc chi phí của doanh nghiệp lớn hơn doanh thu do giá trị hàng tồn kho quá lớn hoặc doanh nghiệp đã phát sinh chi phí đầu tư lớn nhưng chưa có doanh thu do chưa bán được hàng thì được nộp tiền sử dụng đất trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày phải nộp tiền sử dụng đất thông báo lần đầu của cơ quan thuế hoặc văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không bị tính phạt chậm nộp trong thời gian này.
2. Chủ đầu tư của các dự án chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất (SDĐ) do có khó khăn về tài chính quy định tại khoản 1 Điều này phải có văn bản đề nghị kèm theo các giấy tờ có liên quan đến các thông tin nêu trong văn bản gửi tới cơ quan quản lý thuế - nơi đơn vị kê khai nộp thuế TNDN theo mẫu tại Phụ lục số 04 ban hành kèm theo Thông tư này; Căn cứ hồ sơ nhận được, cơ quan thuế lập danh sách gửi lấy ý kiến Sở Tài chính, Sở Xây dựng và báo cáo UBND cấp tỉnh để UBND cấp tỉnh thông qua Thường trực HĐND xem xét trước khi quyết định trên cơ sở cân đối nguồn ngân sách địa phương.
Các trường hợp này, khi kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính hàng quý, chủ đầu tư dự án phải thực hiện kê khai nộp tiền sử dụng đất tương ứng với thu nhập đã kê khai theo mẫu quy định tại Phụ lục số 05 ban hành theo Thông tư này. Số tiền SDĐ phải nộp là số tiền được xác định tương ứng với số tiền thu SDĐ chủ đầu tư dự án đã thu được theo các hợp đồng chuyển nhượng bất động sản đã ký; Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng không xác định rõ khoản thu SDĐ thì thu theo tỷ trọng tổng doanh thu SDĐ phải nộp NSNN trên tổng doanh thu bán hàng về hoạt động chuyển nhượng bất động sản của doanh nghiệp.
3. Đối với các dự án hiện nay đang trong thời gian được nộp theo tiến độ thực hiện dự án theo quy định tại Nghị quyết 33/2008/NQ-CP và Thông tư số 192/2009/TT-BTC ngày 01/10/2009 của Bộ Tài chính và các dự án đang trong thời gian được gia hạn nộp tiền SDĐ theo quy định tại Nghị quyết số 13/2012/NQ-CP và Thông tư số 83/2012/TT-BTC ngày 23/5/2012 của Bộ Tài chính thì xử lý như sau:
- Trường hợp dự án mà thời gian tính từ ngày phải nộp tiền SDĐ theo thông báo nộp tiền SDĐ lần đầu của cơ quan thuế hoặc văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến này phải nộp tiền SDĐ theo các quyết định giãn nộp, gia hạn nộp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa đủ 24 tháng thì số tiền SDĐ phát sinh còn phải nộp (nếu có) được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều này cho thời gian còn lại.
- Trường hợp dự án mà thời gian tính từ ngày phải nộp tiền SDĐ theo thông báo nộp tiền SDĐ lần đầu của cơ quan thuế hoặc văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến thời điểm phải nộp tiền SDĐ theo các quyết định giãn nộp, gia hạn nộp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã quá 24 tháng thì phải nộp ngay số tiền SDĐ phát sinh còn phải nộp (nếu có) và bị xử phạt chậm nộp theo quy định.

Content:
Điều 7. Tiền sử dụng đất
1. Các dự án sử dụng đất vào mục đích xây nhà để bán, để cho thuê, kinh doanh kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng theo hình thức nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà chủ đầu tư đã được bàn giao đất để thực hiện nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất (SDĐ) do có khó khăn về tài chính, cụ thể là: kết quả tài chính tính đến 31/12/2012 mà lỗ hoặc chi phí của doanh nghiệp lớn hơn doanh thu do giá trị hàng tồn kho quá lớn hoặc doanh nghiệp đã phát sinh chi phí đầu tư lớn nhưng chưa có doanh thu do chưa bán được hàng thì được nộp tiền sử dụng đất trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày phải nộp tiền sử dụng đất thông báo lần đầu của cơ quan thuế hoặc văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không bị tính phạt chậm nộp trong thời gian này.
2. Chủ đầu tư của các dự án chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất (SDĐ) do có khó khăn về tài chính quy định tại khoản 1 Điều này phải có văn bản đề nghị kèm theo các giấy tờ có liên quan đến các thông tin nêu trong văn bản gửi tới cơ quan quản lý thuế - nơi đơn vị kê khai nộp thuế TNDN theo mẫu tại Phụ lục số 04 ban hành kèm theo Thông tư này; Căn cứ hồ sơ nhận được, cơ quan thuế lập danh sách gửi lấy ý kiến Sở Tài chính, Sở Xây dựng và báo cáo UBND cấp tỉnh để UBND cấp tỉnh thông qua Thường trực HĐND xem xét trước khi quyết định trên cơ sở cân đối nguồn ngân sách địa phương.
Các trường hợp này, khi kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính hàng quý, chủ đầu tư dự án phải thực hiện kê khai nộp tiền sử dụng đất tương ứng với thu nhập đã kê khai theo mẫu quy định tại Phụ lục số 05 ban hành theo Thông tư này. Số tiền SDĐ phải nộp là số tiền được xác định tương ứng với số tiền thu SDĐ chủ đầu tư dự án đã thu được theo các hợp đồng chuyển nhượng bất động sản đã ký; Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng không xác định rõ khoản thu SDĐ thì thu theo tỷ trọng tổng doanh thu SDĐ phải nộp NSNN trên tổng doanh thu bán hàng về hoạt động chuyển nhượng bất động sản của doanh nghiệp.
3. Đối với các dự án hiện nay đang trong thời gian được nộp theo tiến độ thực hiện dự án theo quy định tại Nghị quyết 33/2008/NQ-CP và Thông tư số 192/2009/TT-BTC ngày 01/10/2009 của Bộ Tài chính và các dự án đang trong thời gian được gia hạn nộp tiền SDĐ theo quy định tại Nghị quyết số 13/2012/NQ-CP và Thông tư số 83/2012/TT-BTC ngày 23/5/2012 của Bộ Tài chính thì xử lý như sau:
- Trường hợp dự án mà thời gian tính từ ngày phải nộp tiền SDĐ theo thông báo nộp tiền SDĐ lần đầu của cơ quan thuế hoặc văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến này phải nộp tiền SDĐ theo các quyết định giãn nộp, gia hạn nộp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa đủ 24 tháng thì số tiền SDĐ phát sinh còn phải nộp (nếu có) được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều này cho thời gian còn lại.
- Trường hợp dự án mà thời gian tính từ ngày phải nộp tiền SDĐ theo thông báo nộp tiền SDĐ lần đầu của cơ quan thuế hoặc văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến thời điểm phải nộp tiền SDĐ theo các quyết định giãn nộp, gia hạn nộp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã quá 24 tháng thì phải nộp ngay số tiền SDĐ phát sinh còn phải nộp (nếu có) và bị xử phạt chậm nộp theo quy định.