Document: Điểm đ Khoản 6 Điều 1 Quyết định 2078/QĐ-TTg 2017 điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Bắc Kạn

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "22/12/2017", "sign_number": "2078/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Xuân Phúc", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "22/12/2017", "sign_number": "2078/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Xuân Phúc", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "22/12/2017", "sign_number": "2078/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Xuân Phúc", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "22/12/2017", "sign_number": "2078/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Xuân Phúc", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "22/12/2017", "sign_number": "2078/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Xuân Phúc", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm đ Khoản 6 Điều 1 Quyết định 2078/QĐ-TTg 2017 điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Bắc Kạn

Điều 1. Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (sau đây gọi tắt là Quy hoạch) với những nội dung chủ yếu sau:
...
6. Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt chẽ với củng cố quốc phòng, an ninh.
II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
1. Mục tiêu tổng quát:
Phát triển kinh tế bền vững gắn với nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh; tập trung phát triển, nâng cao giá trị kinh tế trong sản xuất nông - lâm nghiệp, gắn với sản xuất hàng hóa và từng bước xây dựng mô hình nông nghiệp công nghệ cao; tập trung ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến, nhất là chế biến sau thu hoạch; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt là hạ tầng nông thôn và hạ tầng giao thông; phát triển đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ, du lịch. Từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là khu vực nông thôn, chú trọng giảm nghèo bền vững. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội. Phấn đấu đưa tỉnh Bắc Kạn trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực.
2. Mục tiêu cụ thể:
...
đ) Quốc phòng - an ninh:
Hoàn thành 100% chỉ tiêu động viên quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ cấp tỉnh đạt 3,74% dân số. Phấn đấu tỷ lệ khám phá án hàng năm đạt 85% trở lên; tai nạn giao thông giảm cả ba tiêu chí.
III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC
1. Về nông, lâm nghiệp, thủy sản và xây dựng nông thôn mới
Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo sản phẩm có thương hiệu, sức cạnh tranh trên thị trường, phải gắn với thị trường theo chuỗi giá trị sản phẩm trong điều kiện hội nhập và biến đổi khí hậu. Tăng giá trị trên một đơn vị canh tác; xây dựng các vùng chuyên canh lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, dược liệu, cây ăn quả, khu vực chăn nuôi gắn với xây dựng nông thôn mới bền vững. Tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và công nghệ cao nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng giá trị thu nhập. Tăng cường hỗ trợ và chuyển giao kỹ thuật cho đồng bào vùng cao nhằm khai thác tiềm năng đất đai, phát triển trồng trọt, chăn nuôi và phát triển lâm nghiệp. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất khu vực nông lâm, thủy sản bình quân tăng khoảng 6,2%/năm giai đoạn 2016 - 2020 và 5,2%/năm giai đoạn 2021- 2030.
a) Trồng trọt: Ổn định diện tích cây lương thực; tăng cường thâm canh nhằm nâng cao năng suất, sản lượng đảm bảo an ninh lương thực. Tập trung phát triển cây trồng đặc sản, có giá trị kinh tế cao (quýt, hồng, dong riềng...) để hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung theo hướng mở rộng diện tích; đầu tư quy trình công nghệ chăm sóc, cải tạo thay thế dần những vườn cây ăn quả đã già cỗi, năng suất thấp, nhiễm sâu bệnh bằng các giống tốt, sạch sâu bệnh.
Đẩy mạnh chế biến, bảo quản, giảm tổn thất sau thu hoạch bằng các hoạt động hỗ trợ công nghệ và thiết bị chế biến bảo quản cho nông dân đối với các sản phẩm như: Ngô, rau, quả tươi... Hỗ trợ thông tin, dự báo thị trường, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Dự kiến đến năm 2020 đất nông nghiệp của tỉnh có khoảng 455.434 ha, trong đó đất trồng lúa có 17.290 ha; cây hàng năm khác có khoảng 14.753 ha; đất trồng cây lâu năm có khoảng 8.714 ha.
b) Chăn nuôi, thủy sản: Phát triển chăn nuôi đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu thực phẩm của tỉnh và cung cấp ra ngoài tỉnh. Phát triển chăn nuôi phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng trên địa bàn. Tiếp tục tăng về số lượng tổng đàn, chất lượng thịt khi xuất bán; phát triển trồng cỏ đảm bảo thức ăn cho trâu, bò. Khuyến khích chăn nuôi theo hướng công nghiệp và bán chăn thả để tăng quy mô đàn trâu, bò thịt, dê, lợn nạc, gia cầm. Tích cực mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi, là cơ sở để thúc đẩy phát triển nhanh chăn nuôi.
Chú trọng phát triển vật nuôi có giá trị kinh tế cao như lợn rừng, nhím... Nuôi trồng thủy sản cần chú trọng các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao, phù hợp với thị hiếu và nhu cầu tiêu dùng.
c) Lâm nghiệp: Đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp, chuyển dịch mạnh sang phát triển rừng sản xuất để cung cấp nguyên liệu phục vụ sản phẩm chủ lực như: đồ mộc gia dụng, ván nhân tạo, giấy các loại, đũa...
Duy trì ổn định trong suốt thời kỳ quy hoạch rừng đặc dụng; tập trung trồng rừng phòng hộ trên các lưu vực sông, chú trọng ở các khu xung yếu và những vùng thường bị sạt lở. Trồng rừng phòng hộ kết hợp trồng rừng nguyên liệu. Tiếp tục trồng rừng sản xuất, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến ván nhân tạo, chế biến giấy, lấy gỗ và tạo ra vùng cây đặc sản.
Tăng cường quản lý bảo vệ toàn bộ diện tích rừng tự nhiên và diện tích trồng thêm khi hết thời kỳ đầu tư cơ bản, đặc biệt là bảo vệ nghiêm ngặt các khu vực có nguồn gen động, thực vật quý hiếm, các khu rừng đặc dụng. Tiến hành giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho các hộ gia đình sống ở rừng, tăng cường lực lượng kiểm lâm, phòng chống cháy rừng, phân khu chức năng các khu rừng đặc dụng, gắn trách nhiệm bảo vệ rừng với chính quyền cấp xã. Rừng cần được chăm sóc, phục hồi bằng các biện pháp lâm sinh.
Phấn đấu trồng mới bình quân khoảng 6.500 ha rừng/năm nâng tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2020 đạt 72%;
d) Xây dựng nông thôn mới: Tập trung huy động, lồng ghép các nguồn lực đầu tư theo hướng xã hội hóa để xây dựng và phát triển nông thôn mới theo bộ tiêu chí Quốc gia vận dụng vào điều kiện cụ thể của tỉnh Bắc Kạn, trong đó tập trung thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao đời sống nhân dân, giảm nghèo bền vững; có kế hoạch xây dựng, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp các trung tâm văn hóa thể thao xã, nhà văn hóa thôn, bản phù hợp với thực tế và nhu cầu sử dụng đảm bảo trật tự xã hội, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
Phấn đấu đến năm 2020 có 23,6% số xã (26 xã) đạt chuẩn nông thôn mới và bình quân các xã đạt trên 10 tiêu chí. Đến năm 2030 có trên 60 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
2. Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp để tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn tỉnh, tăng khả năng đóng góp cho nền kinh tế, tạo nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, cụ thể:
- Tập trung đầu tư phát triển các ngành công nghiệp có tiềm năng, lợi thế và chuyển dịch cơ cấu nội ngành công nghiệp giai đoạn 2016 - 2020 theo hướng tiếp tục phát triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, công nghiệp chế biến nông, lâm sản, điện tử, lắp ráp... Công nghiệp phụ trợ và sản xuất cơ khí hướng vào sản xuất hàng tiêu dùng có chất lượng cao. Ngành công nghiệp công nghệ cao phát triển phù hợp với điều kiện của tỉnh và nhu cầu thị trường.
- Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phải gắn với phát triển ngành nghề nông thôn và các vùng tập trung đông dân cư như thị trấn, trung tâm cụm xã, vùng có nguồn nguyên liệu tại chỗ. Tập trung phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản gắn với nguồn nguyên liệu của tỉnh; phát triển các làng nghề tạo thương hiệu cho các sản phẩm hàng hóa, tận dụng nguồn nguyên liệu và nguồn nhân công tại chỗ góp phần tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho dân cư; tìm kiếm, du nhập các nghề mới, đa dạng hóa các ngành nghề, tạo thêm việc làm cho lao động khu vực nông thôn.
- Phát triển công nghiệp gắn với quy hoạch phát triển đô thị, hình thành các khu đô thị nhỏ trên các trục giao thông, gần các đô thị lớn, gần các khu công nghiệp làm hạt nhân lan tỏa, thúc đẩy phát triển kinh tế.
- Tăng cường quản lý, thẩm định, lựa chọn dự án đầu tư các công trình công nghiệp sản xuất, chế biến trên địa bàn tỉnh đảm bảo hiệu quả và có tính khả thi cao. Nâng cao công tác kiểm tra, giám sát cấp, thu hồi giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép đầu tư đảm bảo đúng quy định, phù hợp với xu thế phát triển công nghiệp của tỉnh và vùng.
- Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cần gắn với phát triển thương mại, dịch vụ và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Tiếp tục thu hút đầu tư xây dựng Khu công nghiệp Thanh Bình II, các cụm, điểm công nghiệp ở các địa phương có điều kiện thuận lợi. Tất cả các khu, cụm công nghiệp đi vào hoạt động đều có hệ thống xử lý nước thải tập trung đảm bảo công suất xử lý toàn cụm.
Phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2016 - 2020 bình quân đạt khoảng 11 - 12%/năm; giai đoạn 2021 - 2030 bình quân đạt khoảng 9 - 10%/năm.
3. Định hướng phát triển khu vực dịch vụ
Tập trung phát triển các ngành thương mại, dịch vụ, du lịch để nhanh chóng trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, ưu tiên phát triển như: thương mại, vận tải, kho bãi, bưu chính viễn thông, ngân hàng, tài chính tín dụng, bảo hiểm, bất động sản và du lịch. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất khu vực dịch vụ, giai đoạn 2016 - 2020 đạt khoảng 10%/năm; giai đoạn 2021 - 2030 đạt trên 10%. Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong tổng GRDP đạt khoảng 47% vào năm 2020 và 49% vào năm 2030.
a) Về thương mại:
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ giai đoạn 2016 - 2020 bình quân tăng 22%/năm, giai đoạn 2021-2030 bình quân tăng trên 20%/năm; hoạt động xuất khẩu với mục tiêu kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 2016 - 2020 bình quân tăng khoảng 15%/năm; giai đoạn 2021-2030 tăng bình quân 17 - 18%/năm.
- Thực hiện tốt việc quản lý chất lượng hàng hóa, đảm bảo việc cung ứng hàng hóa đúng chất lượng, nhất là trong các dịp lễ, tết. Nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý Nhà nước đối với hoạt động thương mại nhằm thực hiện chức năng định hướng thị trường, tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, tạo điều kiện cho mọi chủ thể kinh tế phát triển kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh trong khuôn khổ pháp lý,
- Đẩy mạnh xuất khẩu theo hướng hình thành các nguồn hàng có quy mô lớn, ổn định, chất lượng cao; giảm dần tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm thô, sản phẩm sơ chế và gia công nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu.
- Củng cố mạng lưới chợ trên địa bàn tỉnh theo hướng: mở thêm chợ mới ở những địa bàn có mật độ chợ thấp và quy mô dân số phục vụ quá cao, sắp xếp hợp lý những chợ tự phát chưa có địa điểm theo quy hoạch và những chợ cần phải di dời, nâng cấp cơ sở hạ tầng cho mạng lưới chợ hiện có.
Đối với thành phố Bắc Kạn và các thị trấn, huyện lỵ: phát triển hệ thống chợ đầu mối làm trung tâm phân phối các luồng hàng đến các huyện và các xã trong khu vực. Tiếp tục nâng cấp, cải tạo các chợ hiện có. Sắp xếp, quản lý các dãy phố buôn bán theo hướng khang trang, sạch đẹp, đảm bảo văn minh đô thị và vệ sinh môi trường;
Đối với các trung tâm cụm xã: xây dựng các chợ, các điểm thương mại cung cấp hàng tiêu dùng, vật tư sản xuất và tổ chức thu mua nông sản hàng hóa đáp ứng yêu cầu trao đổi sản phẩm của nhân dân trong khu vực; đối với các xã: Nâng cấp, mở rộng và xây mới hệ thống chợ xã đảm bảo đến năm 2020 tất cả các xã đều có khu vực buôn bán, trao đổi hàng hóa.
b) Về du lịch:
- Phát triển du lịch có trọng tâm, trọng điểm trên cơ sở phát huy tiềm năng thế mạnh về du lịch, đưa du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh, từng bước khẳng định Bắc Kạn là một trong những điểm đến du lịch của cả nước với 4 loại hình du lịch chủ yếu: du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng vùng miền núi, du lịch lịch sử - văn hóa lễ hội- mua sắm, du lịch tâm linh và du lịch thương mại, công vụ (tổ chức hội nghị hội thảo kết hợp du lịch).
- Dự kiến đến năm 2020 đón được 570.000 - 670.000 lượt khách trong đó có 19-20 nghìn lượt khách quốc tế; đến năm 2025 đón được 880.000- 1.135.000 lượt khách trong đó có 28 - 35 nghìn lượt khách quốc tế và đến năm 2030 đón được 1.240.000 - 1.760.000 lượt khách du lịch trong đó có 40 - 60 nghìn lượt khách quốc tế.
- Tập trung đầu tư khu du lịch Ba Bể trở thành trung tâm du lịch sinh thái mang tầm khu vực và quốc gia với các loại hình du lịch kết hợp với nghỉ dưỡng, tham quan danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa và các lễ hội truyền thống.
- Tiếp tục đầu tư, tôn tạo, nâng cấp các di tích lịch sử cách mạng, văn hóa, xây dựng các sản phẩm du lịch đặc sắc.
- Quan tâm, hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành của tỉnh về năng lực và khả năng tài chính để cùng địa phương chủ động trong công tác phát triển du lịch của tỉnh, đồng thời đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, góp phần đưa du lịch Bắc Kạn phát triển tương xứng với tiềm năng du lịch hiện có; chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đa dạng các sản phẩm dịch vụ du lịch, nâng cao chất lượng phục vụ, dịch vụ của các khách sạn, nhà nghỉ và các khu du lịch đáp ứng được nhu cầu ăn, nghỉ, vui chơi của khách du lịch.
c) Một số lĩnh vực dịch vụ khác:
Phát triển nhanh, đa dạng và nâng cao chất lượng các loại dịch vụ; ưu tiên phát triển các loại hình, sản phẩm dịch vụ cho sản xuất, đời sống như dịch vụ tài chính - ngân hàng, dịch vụ bưu chính - viễn thông, dịch vụ vận tải, dịch vụ phân phối...
4. Phát triển các lĩnh vực văn hóa - xã hội
a) Giáo dục - đào tạo:
Tiếp tục đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục và đào tạo nhằm huy động mọi nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị theo hướng chuẩn hóa. Phấn đấu đến năm 2020 có 40 xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3; 40 xã và 02 huyện, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 3; 70 xã và 06 huyện, thành phố đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2; có 111 trường đạt chuẩn quốc gia (30%), tăng 40 trường so với năm 2015. Tỷ lệ tốt nghiệp THPT hằng năm đạt từ 90% trở lên; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 40%, trong đó đào tạo nghề đạt trên 18%. Đến năm 2030 tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt trên 50%. Đảm bảo hầu hết các xã có trường mầm non, trường tiểu học, 100% các huyện, thành phố có trường THPT và hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú được củng cố, phát triển.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên các cấp theo hướng chuẩn hóa đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, đến năm 2020, tỷ lệ giáo viên trên chuẩn đào tạo đạt 70% (mầm non), 85% (tiểu học), và 12% (THPT); phấn đấu đến năm 2030 tỷ lệ giáo viên trên chuẩn đạt 80% (mầm non), 95% (tiểu học), 90% (THCS) và 20% (THPT).
Rà soát sắp xếp, đầu tư phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Chú trọng dạy nghề cho lao động nông thôn, đặc biệt lao động vùng chuyên canh, vùng chuyển đổi cơ cấu kinh tế; dạy nghề lưu động, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm đối tượng khó khăn, yếu thế là dân tộc thiểu số được tham gia học nghề, tăng cơ hội việc làm, tự tạo việc làm.
b) Y tế - chăm sóc sức khỏe nhân dân:
Phát triển hệ thống y tế theo hướng hiện đại, dự phòng tích cực và chủ động đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Phát triển hệ thống cảnh báo sớm, đáp ứng nhanh, chủ động giám sát dịch tễ không để xảy ra dịch lớn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Ưu tiên phát triển nhanh các dịch vụ y tế chất lượng cao, xã hội hóa đầu tư một số cơ sở y tế với dịch vụ chất lượng cao.
- Tuyến tỉnh: Hoàn thiện và củng cố hệ thống y tế tuyến tỉnh; đến năm 2018 nâng cấp Trường Trung cấp y tế lên thành Trường Cao đẳng y tế; khuyến khích xã hội hóa đầu tư một số cơ sở y tế với dịch vụ chất lượng cao.
- Tuyến huyện: Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các bệnh viện tuyến huyện, trung tâm y tế huyện đảm bảo thực hiện 2 chức năng là khám chữa bệnh và y tế dự phòng nhằm phối hợp chặt chẽ giữa dự phòng và điều trị; đào tạo phát triển đội ngũ bác sỹ chuyên khoa đủ khả năng khám, chữa bệnh một số chuyên khoa sâu. Đến năm 2020, hệ thống bệnh viện tuyến huyện gồm 8 bệnh viện trong đó có ít nhất 02 bệnh viện đạt tiêu chuẩn hạng II. Tăng cường đầu tư hoạt động cho các phòng khám đa khoa khu vực trên địa bàn tỉnh.
- Tuyến cơ sở (trạm y tế xã, phường, thị trấn): Phát triển tuyến cơ sở theo hướng đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn đến 2020 theo Quyết định số 4667/QĐ-BYT ngày 07 tháng 11 năm 2014 của Bộ Y tế và thực hiện chủ trương tăng cường phân cấp cho trạm y tế xã phường quản lý sức khỏe cộng đồng theo quy định tại Nghị định số 117/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ về y tế xã, phường, thị trấn.
Tiếp tục đưa bác sĩ về làm việc thường xuyên ở các trạm y tế xã miền núi, vùng sâu vùng xa. Phát triển dịch vụ bác sỹ gia đình, chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc sức khỏe tại nhà cho người cao tuổi và trẻ em. Thực hiện tốt các chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình nhằm nâng cao chất lượng dân số của tỉnh.
c) Văn hóa, thể dục thể thao:
Nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, thể thao, gắn với thực hiện nhiệm vụ thông tin tuyên truyền đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân; xây dựng con người văn hóa trong thời kỳ mới; từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và giữa các giai tầng xã hội; thực hiện tốt xã hội hóa để phát triển đa dạng các hoạt động văn hóa, thể thao, đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh và bền vững.
Phát triển văn hóa góp phần gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc; bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh thực hiện các chỉ tiêu phát triển văn hóa nông thôn; phát triển các môn thể thao có thế mạnh, gìn giữ và phát triển các môn thể thao dân tộc truyền thống; đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa - thể thao.
Thực hiện có hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
Tăng cường đầu tư, từng bước hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa - thể thao các cấp theo quy hoạch và theo quy định.
d) Dân số, lao động - việc làm và các vấn đề xã hội khác:
- Công tác dân số: Tiếp tục thực hiện tốt công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình, đảm bảo không áp dụng kỹ thuật khoa học để sinh đẻ theo ý muốn về giới tính là nguyên nhân chính dẫn đến mất cân bằng về giới tính; nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần.
- Lao động - việc làm: Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, tầng lớp dân cư mở thêm ngành nghề tạo việc làm cho mình và cho người khác; thực hiện các giải pháp để giúp người thất nghiệp, người thiếu việc có việc làm. Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển nguồn lực con người và giải quyết việc làm cho người lao động.
- Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững: Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo, khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chương trình, dự án giảm nghèo tạo cơ hội cho hộ nghèo, cận nghèo tiếp cận các chính sách trợ giúp về đất đai, tín dụng, giáo dục nghề nghiệp, tạo việc làm, khuyến nông - lâm - ngư, tiêu thụ sản phẩm... để phát triển sản xuất, tăng thu nhập phấn đấu vươn lên thoát nghèo. Nhân rộng các mô hình hỗ trợ sinh kế, sản xuất, giảm nghèo bền vững có hiệu quả.
- Nâng mức sống hộ gia đình chính sách người có công; thực hiện đầy đủ các chính sách trợ giúp xã hội đã ban hành. Thực hiện tốt công tác cứu trợ đột xuất đảm bảo người dân không bị thiệt hại khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời.
- Tạo môi trường an toàn, lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn diện; bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em.
- Thực hiện bình đẳng giới, nâng vị thế của phụ nữ trong một số lĩnh vực, địa bàn trọng điểm có bất bình đẳng giới hoặc nguy cơ bất bình đẳng giới cao, bảo đảm bình đẳng giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội và gia đình.
đ) Khoa học - công nghệ
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Xây dựng cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu đổi mới công nghệ; tiếp tục tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ; đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nguồn nhân lực khoa học công nghệ.

Content:
Quốc phòng - an ninh:
Hoàn thành 100% chỉ tiêu động viên quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ cấp tỉnh đạt 3,74% dân số. Phấn đấu tỷ lệ khám phá án hàng năm đạt 85% trở lên; tai nạn giao thông giảm cả ba tiêu chí.
III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC
1. Về nông, lâm nghiệp, thủy sản và xây dựng nông thôn mới
Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo sản phẩm có thương hiệu, sức cạnh tranh trên thị trường, phải gắn với thị trường theo chuỗi giá trị sản phẩm trong điều kiện hội nhập và biến đổi khí hậu. Tăng giá trị trên một đơn vị canh tác; xây dựng các vùng chuyên canh lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, dược liệu, cây ăn quả, khu vực chăn nuôi gắn với xây dựng nông thôn mới bền vững. Tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và công nghệ cao nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng giá trị thu nhập. Tăng cường hỗ trợ và chuyển giao kỹ thuật cho đồng bào vùng cao nhằm khai thác tiềm năng đất đai, phát triển trồng trọt, chăn nuôi và phát triển lâm nghiệp. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất khu vực nông lâm, thủy sản bình quân tăng khoảng 6,2%/năm giai đoạn 2016 - 2020 và 5,2%/năm giai đoạn 2021- 2030.
a) Trồng trọt: Ổn định diện tích cây lương thực; tăng cường thâm canh nhằm nâng cao năng suất, sản lượng đảm bảo an ninh lương thực. Tập trung phát triển cây trồng đặc sản, có giá trị kinh tế cao (quýt, hồng, dong riềng...) để hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung theo hướng mở rộng diện tích; đầu tư quy trình công nghệ chăm sóc, cải tạo thay thế dần những vườn cây ăn quả đã già cỗi, năng suất thấp, nhiễm sâu bệnh bằng các giống tốt, sạch sâu bệnh.
Đẩy mạnh chế biến, bảo quản, giảm tổn thất sau thu hoạch bằng các hoạt động hỗ trợ công nghệ và thiết bị chế biến bảo quản cho nông dân đối với các sản phẩm như: Ngô, rau, quả tươi... Hỗ trợ thông tin, dự báo thị trường, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Dự kiến đến năm 2020 đất nông nghiệp của tỉnh có khoảng 455.434 ha, trong đó đất trồng lúa có 17.290 ha; cây hàng năm khác có khoảng 14.753 ha; đất trồng cây lâu năm có khoảng 8.714 ha.
b) Chăn nuôi, thủy sản: Phát triển chăn nuôi đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu thực phẩm của tỉnh và cung cấp ra ngoài tỉnh. Phát triển chăn nuôi phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng trên địa bàn. Tiếp tục tăng về số lượng tổng đàn, chất lượng thịt khi xuất bán; phát triển trồng cỏ đảm bảo thức ăn cho trâu, bò. Khuyến khích chăn nuôi theo hướng công nghiệp và bán chăn thả để tăng quy mô đàn trâu, bò thịt, dê, lợn nạc, gia cầm. Tích cực mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi, là cơ sở để thúc đẩy phát triển nhanh chăn nuôi.
Chú trọng phát triển vật nuôi có giá trị kinh tế cao như lợn rừng, nhím... Nuôi trồng thủy sản cần chú trọng các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao, phù hợp với thị hiếu và nhu cầu tiêu dùng.
c) Lâm nghiệp: Đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp, chuyển dịch mạnh sang phát triển rừng sản xuất để cung cấp nguyên liệu phục vụ sản phẩm chủ lực như: đồ mộc gia dụng, ván nhân tạo, giấy các loại, đũa...
Duy trì ổn định trong suốt thời kỳ quy hoạch rừng đặc dụng; tập trung trồng rừng phòng hộ trên các lưu vực sông, chú trọng ở các khu xung yếu và những vùng thường bị sạt lở. Trồng rừng phòng hộ kết hợp trồng rừng nguyên liệu. Tiếp tục trồng rừng sản xuất, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến ván nhân tạo, chế biến giấy, lấy gỗ và tạo ra vùng cây đặc sản.
Tăng cường quản lý bảo vệ toàn bộ diện tích rừng tự nhiên và diện tích trồng thêm khi hết thời kỳ đầu tư cơ bản, đặc biệt là bảo vệ nghiêm ngặt các khu vực có nguồn gen động, thực vật quý hiếm, các khu rừng đặc dụng. Tiến hành giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho các hộ gia đình sống ở rừng, tăng cường lực lượng kiểm lâm, phòng chống cháy rừng, phân khu chức năng các khu rừng đặc dụng, gắn trách nhiệm bảo vệ rừng với chính quyền cấp xã. Rừng cần được chăm sóc, phục hồi bằng các biện pháp lâm sinh.
Phấn đấu trồng mới bình quân khoảng 6.500 ha rừng/năm nâng tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2020 đạt 72%;
d) Xây dựng nông thôn mới: Tập trung huy động, lồng ghép các nguồn lực đầu tư theo hướng xã hội hóa để xây dựng và phát triển nông thôn mới theo bộ tiêu chí Quốc gia vận dụng vào điều kiện cụ thể của tỉnh Bắc Kạn, trong đó tập trung thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao đời sống nhân dân, giảm nghèo bền vững; có kế hoạch xây dựng, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp các trung tâm văn hóa thể thao xã, nhà văn hóa thôn, bản phù hợp với thực tế và nhu cầu sử dụng đảm bảo trật tự xã hội, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
Phấn đấu đến năm 2020 có 23,6% số xã (26 xã) đạt chuẩn nông thôn mới và bình quân các xã đạt trên 10 tiêu chí. Đến năm 2030 có trên 60 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
2. Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp để tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn tỉnh, tăng khả năng đóng góp cho nền kinh tế, tạo nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, cụ thể:
- Tập trung đầu tư phát triển các ngành công nghiệp có tiềm năng, lợi thế và chuyển dịch cơ cấu nội ngành công nghiệp giai đoạn 2016 - 2020 theo hướng tiếp tục phát triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, công nghiệp chế biến nông, lâm sản, điện tử, lắp ráp... Công nghiệp phụ trợ và sản xuất cơ khí hướng vào sản xuất hàng tiêu dùng có chất lượng cao. Ngành công nghiệp công nghệ cao phát triển phù hợp với điều kiện của tỉnh và nhu cầu thị trường.
- Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phải gắn với phát triển ngành nghề nông thôn và các vùng tập trung đông dân cư như thị trấn, trung tâm cụm xã, vùng có nguồn nguyên liệu tại chỗ. Tập trung phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản gắn với nguồn nguyên liệu của tỉnh; phát triển các làng nghề tạo thương hiệu cho các sản phẩm hàng hóa, tận dụng nguồn nguyên liệu và nguồn nhân công tại chỗ góp phần tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho dân cư; tìm kiếm, du nhập các nghề mới, đa dạng hóa các ngành nghề, tạo thêm việc làm cho lao động khu vực nông thôn.
- Phát triển công nghiệp gắn với quy hoạch phát triển đô thị, hình thành các khu đô thị nhỏ trên các trục giao thông, gần các đô thị lớn, gần các khu công nghiệp làm hạt nhân lan tỏa, thúc đẩy phát triển kinh tế.
- Tăng cường quản lý, thẩm định, lựa chọn dự án đầu tư các công trình công nghiệp sản xuất, chế biến trên địa bàn tỉnh đảm bảo hiệu quả và có tính khả thi cao. Nâng cao công tác kiểm tra, giám sát cấp, thu hồi giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép đầu tư đảm bảo đúng quy định, phù hợp với xu thế phát triển công nghiệp của tỉnh và vùng.
- Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cần gắn với phát triển thương mại, dịch vụ và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Tiếp tục thu hút đầu tư xây dựng Khu công nghiệp Thanh Bình II, các cụm, điểm công nghiệp ở các địa phương có điều kiện thuận lợi. Tất cả các khu, cụm công nghiệp đi vào hoạt động đều có hệ thống xử lý nước thải tập trung đảm bảo công suất xử lý toàn cụm.
Phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2016 - 2020 bình quân đạt khoảng 11 - 12%/năm; giai đoạn 2021 - 2030 bình quân đạt khoảng 9 - 10%/năm.
3. Định hướng phát triển khu vực dịch vụ
Tập trung phát triển các ngành thương mại, dịch vụ, du lịch để nhanh chóng trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, ưu tiên phát triển như: thương mại, vận tải, kho bãi, bưu chính viễn thông, ngân hàng, tài chính tín dụng, bảo hiểm, bất động sản và du lịch. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất khu vực dịch vụ, giai đoạn 2016 - 2020 đạt khoảng 10%/năm; giai đoạn 2021 - 2030 đạt trên 10%. Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong tổng GRDP đạt khoảng 47% vào năm 2020 và 49% vào năm 2030.
a) Về thương mại:
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ giai đoạn 2016 - 2020 bình quân tăng 22%/năm, giai đoạn 2021-2030 bình quân tăng trên 20%/năm; hoạt động xuất khẩu với mục tiêu kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 2016 - 2020 bình quân tăng khoảng 15%/năm; giai đoạn 2021-2030 tăng bình quân 17 - 18%/năm.
- Thực hiện tốt việc quản lý chất lượng hàng hóa, đảm bảo việc cung ứng hàng hóa đúng chất lượng, nhất là trong các dịp lễ, tết. Nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý Nhà nước đối với hoạt động thương mại nhằm thực hiện chức năng định hướng thị trường, tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, tạo điều kiện cho mọi chủ thể kinh tế phát triển kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh trong khuôn khổ pháp lý,
- Đẩy mạnh xuất khẩu theo hướng hình thành các nguồn hàng có quy mô lớn, ổn định, chất lượng cao; giảm dần tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm thô, sản phẩm sơ chế và gia công nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu.
- Củng cố mạng lưới chợ trên địa bàn tỉnh theo hướng: mở thêm chợ mới ở những địa bàn có mật độ chợ thấp và quy mô dân số phục vụ quá cao, sắp xếp hợp lý những chợ tự phát chưa có địa điểm theo quy hoạch và những chợ cần phải di dời, nâng cấp cơ sở hạ tầng cho mạng lưới chợ hiện có.
Đối với thành phố Bắc Kạn và các thị trấn, huyện lỵ: phát triển hệ thống chợ đầu mối làm trung tâm phân phối các luồng hàng đến các huyện và các xã trong khu vực. Tiếp tục nâng cấp, cải tạo các chợ hiện có. Sắp xếp, quản lý các dãy phố buôn bán theo hướng khang trang, sạch đẹp, đảm bảo văn minh đô thị và vệ sinh môi trường;
Đối với các trung tâm cụm xã: xây dựng các chợ, các điểm thương mại cung cấp hàng tiêu dùng, vật tư sản xuất và tổ chức thu mua nông sản hàng hóa đáp ứng yêu cầu trao đổi sản phẩm của nhân dân trong khu vực; đối với các xã: Nâng cấp, mở rộng và xây mới hệ thống chợ xã đảm bảo đến năm 2020 tất cả các xã đều có khu vực buôn bán, trao đổi hàng hóa.
b) Về du lịch:
- Phát triển du lịch có trọng tâm, trọng điểm trên cơ sở phát huy tiềm năng thế mạnh về du lịch, đưa du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh, từng bước khẳng định Bắc Kạn là một trong những điểm đến du lịch của cả nước với 4 loại hình du lịch chủ yếu: du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng vùng miền núi, du lịch lịch sử - văn hóa lễ hội- mua sắm, du lịch tâm linh và du lịch thương mại, công vụ (tổ chức hội nghị hội thảo kết hợp du lịch).
- Dự kiến đến năm 2020 đón được 570.000 - 670.000 lượt khách trong đó có 19-20 nghìn lượt khách quốc tế; đến năm 2025 đón được 880.000- 1.135.000 lượt khách trong đó có 28 - 35 nghìn lượt khách quốc tế và đến năm 2030 đón được 1.240.000 - 1.760.000 lượt khách du lịch trong đó có 40 - 60 nghìn lượt khách quốc tế.
- Tập trung đầu tư khu du lịch Ba Bể trở thành trung tâm du lịch sinh thái mang tầm khu vực và quốc gia với các loại hình du lịch kết hợp với nghỉ dưỡng, tham quan danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa và các lễ hội truyền thống.
- Tiếp tục đầu tư, tôn tạo, nâng cấp các di tích lịch sử cách mạng, văn hóa, xây dựng các sản phẩm du lịch đặc sắc.
- Quan tâm, hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành của tỉnh về năng lực và khả năng tài chính để cùng địa phương chủ động trong công tác phát triển du lịch của tỉnh, đồng thời đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, góp phần đưa du lịch Bắc Kạn phát triển tương xứng với tiềm năng du lịch hiện có; chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đa dạng các sản phẩm dịch vụ du lịch, nâng cao chất lượng phục vụ, dịch vụ của các khách sạn, nhà nghỉ và các khu du lịch đáp ứng được nhu cầu ăn, nghỉ, vui chơi của khách du lịch.
c) Một số lĩnh vực dịch vụ khác:
Phát triển nhanh, đa dạng và nâng cao chất lượng các loại dịch vụ; ưu tiên phát triển các loại hình, sản phẩm dịch vụ cho sản xuất, đời sống như dịch vụ tài chính - ngân hàng, dịch vụ bưu chính - viễn thông, dịch vụ vận tải, dịch vụ phân phối...
4. Phát triển các lĩnh vực văn hóa - xã hội
a) Giáo dục - đào tạo:
Tiếp tục đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục và đào tạo nhằm huy động mọi nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị theo hướng chuẩn hóa. Phấn đấu đến năm 2020 có 40 xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3; 40 xã và 02 huyện, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 3; 70 xã và 06 huyện, thành phố đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2; có 111 trường đạt chuẩn quốc gia (30%), tăng 40 trường so với năm 2015. Tỷ lệ tốt nghiệp THPT hằng năm đạt từ 90% trở lên; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 40%, trong đó đào tạo nghề đạt trên 18%. Đến năm 2030 tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt trên 50%. Đảm bảo hầu hết các xã có trường mầm non, trường tiểu học, 100% các huyện, thành phố có trường THPT và hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú được củng cố, phát triển.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên các cấp theo hướng chuẩn hóa đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, đến năm 2020, tỷ lệ giáo viên trên chuẩn đào tạo đạt 70% (mầm non), 85% (tiểu học), và 12% (THPT); phấn đấu đến năm 2030 tỷ lệ giáo viên trên chuẩn đạt 80% (mầm non), 95% (tiểu học), 90% (THCS) và 20% (THPT).
Rà soát sắp xếp, đầu tư phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Chú trọng dạy nghề cho lao động nông thôn, đặc biệt lao động vùng chuyên canh, vùng chuyển đổi cơ cấu kinh tế; dạy nghề lưu động, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm đối tượng khó khăn, yếu thế là dân tộc thiểu số được tham gia học nghề, tăng cơ hội việc làm, tự tạo việc làm.
b) Y tế - chăm sóc sức khỏe nhân dân:
Phát triển hệ thống y tế theo hướng hiện đại, dự phòng tích cực và chủ động đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Phát triển hệ thống cảnh báo sớm, đáp ứng nhanh, chủ động giám sát dịch tễ không để xảy ra dịch lớn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Ưu tiên phát triển nhanh các dịch vụ y tế chất lượng cao, xã hội hóa đầu tư một số cơ sở y tế với dịch vụ chất lượng cao.
- Tuyến tỉnh: Hoàn thiện và củng cố hệ thống y tế tuyến tỉnh; đến năm 2018 nâng cấp Trường Trung cấp y tế lên thành Trường Cao đẳng y tế; khuyến khích xã hội hóa đầu tư một số cơ sở y tế với dịch vụ chất lượng cao.
- Tuyến huyện: Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các bệnh viện tuyến huyện, trung tâm y tế huyện đảm bảo thực hiện 2 chức năng là khám chữa bệnh và y tế dự phòng nhằm phối hợp chặt chẽ giữa dự phòng và điều trị; đào tạo phát triển đội ngũ bác sỹ chuyên khoa đủ khả năng khám, chữa bệnh một số chuyên khoa sâu. Đến năm 2020, hệ thống bệnh viện tuyến huyện gồm 8 bệnh viện trong đó có ít nhất 02 bệnh viện đạt tiêu chuẩn hạng II. Tăng cường đầu tư hoạt động cho các phòng khám đa khoa khu vực trên địa bàn tỉnh.
- Tuyến cơ sở (trạm y tế xã, phường, thị trấn): Phát triển tuyến cơ sở theo hướng đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn đến 2020 theo Quyết định số 4667/QĐ-BYT ngày 07 tháng 11 năm 2014 của Bộ Y tế và thực hiện chủ trương tăng cường phân cấp cho trạm y tế xã phường quản lý sức khỏe cộng đồng theo quy định tại Nghị định số 117/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ về y tế xã, phường, thị trấn.
Tiếp tục đưa bác sĩ về làm việc thường xuyên ở các trạm y tế xã miền núi, vùng sâu vùng xa. Phát triển dịch vụ bác sỹ gia đình, chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc sức khỏe tại nhà cho người cao tuổi và trẻ em. Thực hiện tốt các chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình nhằm nâng cao chất lượng dân số của tỉnh.
c) Văn hóa, thể dục thể thao:
Nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, thể thao, gắn với thực hiện nhiệm vụ thông tin tuyên truyền đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân; xây dựng con người văn hóa trong thời kỳ mới; từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và giữa các giai tầng xã hội; thực hiện tốt xã hội hóa để phát triển đa dạng các hoạt động văn hóa, thể thao, đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh và bền vững.
Phát triển văn hóa góp phần gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc; bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh thực hiện các chỉ tiêu phát triển văn hóa nông thôn; phát triển các môn thể thao có thế mạnh, gìn giữ và phát triển các môn thể thao dân tộc truyền thống; đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa - thể thao.
Thực hiện có hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
Tăng cường đầu tư, từng bước hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa - thể thao các cấp theo quy hoạch và theo quy định.
d) Dân số, lao động - việc làm và các vấn đề xã hội khác:
- Công tác dân số: Tiếp tục thực hiện tốt công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình, đảm bảo không áp dụng kỹ thuật khoa học để sinh đẻ theo ý muốn về giới tính là nguyên nhân chính dẫn đến mất cân bằng về giới tính; nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần.
- Lao động - việc làm: Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, tầng lớp dân cư mở thêm ngành nghề tạo việc làm cho mình và cho người khác; thực hiện các giải pháp để giúp người thất nghiệp, người thiếu việc có việc làm. Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển nguồn lực con người và giải quyết việc làm cho người lao động.
- Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững: Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo, khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chương trình, dự án giảm nghèo tạo cơ hội cho hộ nghèo, cận nghèo tiếp cận các chính sách trợ giúp về đất đai, tín dụng, giáo dục nghề nghiệp, tạo việc làm, khuyến nông - lâm - ngư, tiêu thụ sản phẩm... để phát triển sản xuất, tăng thu nhập phấn đấu vươn lên thoát nghèo. Nhân rộng các mô hình hỗ trợ sinh kế, sản xuất, giảm nghèo bền vững có hiệu quả.
- Nâng mức sống hộ gia đình chính sách người có công; thực hiện đầy đủ các chính sách trợ giúp xã hội đã ban hành. Thực hiện tốt công tác cứu trợ đột xuất đảm bảo người dân không bị thiệt hại khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời.
- Tạo môi trường an toàn, lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn diện; bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em.
- Thực hiện bình đẳng giới, nâng vị thế của phụ nữ trong một số lĩnh vực, địa bàn trọng điểm có bất bình đẳng giới hoặc nguy cơ bất bình đẳng giới cao, bảo đảm bình đẳng giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội và gia đình.
Khoa học - công nghệ
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Xây dựng cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu đổi mới công nghệ; tiếp tục tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ; đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nguồn nhân lực khoa học công nghệ.