Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 879/QĐ-UBND Kế hoạch phòng chống dịch bệnh trên động vật thủy sản nuôi An Giang 2017

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "20/03/2017", "sign_number": "879/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "20/03/2017", "sign_number": "879/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "20/03/2017", "sign_number": "879/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "20/03/2017", "sign_number": "879/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "20/03/2017", "sign_number": "879/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 879/QĐ-UBND Kế hoạch phòng chống dịch bệnh trên động vật thủy sản nuôi An Giang 2017

Điều 1. : Phê duyệt Kế hoạch phòng, chống dịch bệnh trên động vật thủy sản nuôi tỉnh An Giang giai đoạn 2017-2020, với các nội dung cụ thể như sau:
...
4. Nhận xét, đánh giá.
- Trong năm 2016 diện tích thủy sản nuôi bị bệnh giảm hơn so với năm 2015, bệnh xuất hiện hầu như rải rác quanh năm, tỷ lệ diện tích bị bệnh trên diện tích nuôi trung bình hàng tháng từ 2-3%. Bệnh xảy ra chủ yếu trong giai đoạn cá giống và cá nhỏ (cá dưới 300gram), tỷ lệ hao hụt trung bình trong một vụ nuôi do bệnh gây ra từ 15-25%, có một số trường hợp tỷ lệ hao hụt trên 50% (chủ yếu hao hụt trong giai đoạn cá nhỏ).
- Bệnh trên thủy sản nuôi xuất hiện nhiều vào một số thời điểm trong năm như: Thời điểm đầu mùa nước lũ (từ tháng 6 đến tháng 7) và thời điểm nước lũ rút kết hợp với gió mùa Đông Bắc (từ tháng 10 đến tháng 12), vào các thời điểm này thì tỷ lệ diện tích thủy sản bị bệnh trên diện tích nuôi trung bình hàng tháng cao hơn các thời điểm khác trong năm (tỷ lệ diện tích bị bệnh trung bình trên diện tích nuôi từ 3-4%).
B. Kế hoạch thực hiện phòng, chống dịch bệnh trên động vật thủy sản nuôi giai đoạn 2017-2020
1. Công tác tuyên truyền
Hàng năm thực hiện tuyên truyền về phương pháp phòng trị một số bệnh thường gặp trên cá tra, cá lóc, cá rô phi-điêu hồng; biện pháp phòng chống bệnh trắng đuôi trên tôm càng xanh; danh mục hóa chất kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng trong nuôi trồng thủy sản cho các hộ nuôi trên địa bàn toàn tỉnh qua các phương tiện thông tin đại chúng. Thực hiện tuyên truyền 6 đợt/năm tại 9 huyện, thị, thành có phát triển nuôi trồng thủy sản. Thực hiện vào các thời điểm bệnh dễ phát sinh trên thủy sản nuôi, trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 11 hàng năm (bình quân thực hiện tuyên truyền 8 xã/huyện/đợt).
2. Công tác tập huấn
a) Nội dung
- Tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ thực hiện công tác phòng, chống dịch bệnh thủy sản tại các Trạm Chăn nuôi và Thú y và nhân viên chăn nuôi và thú y 11 huyện, thị xã, thành về một số nội dung như: Quản lý nuôi cá tra an toàn dịch bệnh; Một số bệnh thường gặp trên cá tra nuôi và phương pháp phòng trị bệnh; Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về phòng chống dịch bệnh trên động vật thủy sản; Cách ghi chép, thu thập, phân tích số liệu, báo cáo dịch bệnh và vẽ bản đồ dịch tễ và một số nội dung khác có liên quan.
- Tập huấn phòng chống dịch bệnh cho người nuôi, nhằm nâng cao kiến thức cho người nuôi về việc phòng, chống dịch bệnh trên động vật thủy sản.
b) Đối tượng, địa điểm và thời gian thực hiện
- Cán bộ Trạm Chăn nuôi và Thú y: Thực hiện 01 lớp/năm (45 người/lớp, 3 ngày/lớp); Thời gian thực hiện từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2018 và năm 2020.
- Nhân viên Chăn nuôi và Thú y các xã, phường, thị trấn: Thực hiện 03 lớp/năm (55 người/lớp, 1 ngày/lớp); Thời gian thực hiện từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2018 và năm 2020.
- Các hộ nuôi cá tra, cá lóc, cá rô phi - điêu hồng, tôm càng xanh và các đối tượng thủy sản nuôi khác: Thực hiện 11 lớp/năm (30 người/lớp, 1 ngày/lớp); Thời gian thực hiện từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm.
3. Quan trắc môi trường nước trong ao nuôi:
Hàng năm trang bị bộ test nhanh các chỉ tiêu Ôxy hòa tan, pH, độ kiềm, NH3, H2S, NO2 cho Trạm Chăn nuôi và Thú y để thực hiện quan trắc môi trường nước trong ao nuôi. Trang bị 2 bộ test/năm cho Trạm Chăn nuôi và Thú y các huyện: Chợ Mới, Thoại Sơn, Châu Thành, Châu Phú, Phú Tân, An Phú, Thành phố Long Xuyên, Tp Châu Đốc và thị xã Tân Châu. Hàng tháng mỗi huyện thực hiện quan trắc môi trường nước tại 20 ao nuôi, từ kết quả quan trắc tổ chức đánh giá và khuyến cáo các biện pháp xử lý nếu phát hiện các chỉ tiêu vượt mức giới hạn cho phép, nhằm hạn chế dịch bệnh phát sinh và lây lan.
4. Công tác giám sát dịch bệnh
a) Giám sát chủ động
- Trên cá tra: Thực hiện thu mẫu giám sát dịch bệnh chủ động như sau: Mỗi tháng chọn ngẫu nhiên 30 cơ sở nuôi thương phẩm và 10 cơ sở sản xuất giống trên các vùng nuôi trọng điểm toàn tỉnh, mỗi cơ sở chọn 1 ao thu mẫu, thực hiện thu mẫu liên tục từ tháng 3 đến tháng 11 hàng năm (9 đợt thu với tổng số mẫu là 360 mẫu/năm). Chỉ tiêu xét nghiệm:
+ Bệnh gan thận mủ do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri
* Phân lập và định danh vi khuẩn Edwardsiella ictaluri.
* Làm kháng sinh đồ cho mẫu đầu tiên phân lập được đối với các loại kháng sinh được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản.
+ Bệnh xuất huyết do vi khuẩn Aeromonas hydrophila
* Phân lập và định danh vi khuẩn Aeromonas hydrophila.
* Làm kháng sinh đồ cho mẫu đầu tiên phân lập được đối với các loại kháng sinh được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản.
- Trên tôm càng xanh: Hàng năm tổ chức thu mẫu tôm để giám sát bệnh trắng đuôi do virus MrNV (Macrobrachium rosenbergii nodavirus) và XSV (Extra small virus) gây ra, thực hiện thu mẫu trong giai đoạn 1-2 tháng đầu của vụ nuôi nhằm phát hiện sớm tôm bị nhiễm bệnh để có biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn dịch bệnh lây lan. Thực hiện thu 30 mẫu/năm trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 7 tại các huyện Thoại Sơn, Châu Thành, Châu Phú, Phú Tân và An Phú.
b) Giám sát bị động
- Trên cá tra: Để kiểm soát dịch bệnh có hiệu quả, hạn chế thiệt hại do dịch bệnh gây ra, trên cá tra nuôi sẽ tổ chức thực hiện thu mẫu cá bệnh hàng năm vào trước thời điểm bệnh có khả năng xảy ra nhiều, gửi mẫu đến Cơ quan Thú y vùng VII để thực hiện phân tích nhanh tác nhân gây bệnh và làm kháng sinh đồ. Từ kết quả phân tích mẫu sẽ khuyến cáo các biện pháp phòng trị bệnh phù hợp cho người nuôi. Thực hiện thu mẫu 2 đợt/năm, mỗi đợt thu 30 mẫu tại: Tp Long Xuyên, huyện An Phú, huyện Thoại Sơn, huyện Chợ Mới, huyện Châu Thành, huyện Châu Phú, huyện Phú Tân, thị xã Tân Châu và thành phố Châu Đốc.
Đợt 1: Từ tháng 6 đến tháng 7 hàng năm. Đợt 2: Từ tháng 10 đến tháng 11 hàng năm.
- Trên tôm càng xanh: Tăng cường giám sát trong giai đoạn 1-2 tháng đầu vụ nuôi, trong quá trình giám sát nếu phát hiện bệnh sẽ tổ chức thu mẫu gửi đến đơn vị có đầy đủ trang thiết bị gần nhất để phân tích nhanh, chẩn đoán tác nhân gây bệnh. Từ kết quả phân tích sẽ cảnh báo kịp thời cho người nuôi về việc phòng ngừa dịch bệnh nhằm hạn chế dịch bệnh phát sinh và lây lan.
- Trên các đối tượng nuôi khác (cá lóc, cá rô phi - điêu hồng…): Mùa vụ phát sinh bệnh trên các đối tượng nuôi này thường là từ tháng 3 đến tháng 4 và từ tháng 6 đến tháng 7, mỗi năm thực hiện thu mẫu cá bệnh 2 đợt với số lượng như sau: Cá lóc 20 mẫu, cá rô phi - điêu hồng 30 mẫu.

Content:
Nhận xét, đánh giá.
- Trong năm 2016 diện tích thủy sản nuôi bị bệnh giảm hơn so với năm 2015, bệnh xuất hiện hầu như rải rác quanh năm, tỷ lệ diện tích bị bệnh trên diện tích nuôi trung bình hàng tháng từ 2-3%. Bệnh xảy ra chủ yếu trong giai đoạn cá giống và cá nhỏ (cá dưới 300gram), tỷ lệ hao hụt trung bình trong một vụ nuôi do bệnh gây ra từ 15-25%, có một số trường hợp tỷ lệ hao hụt trên 50% (chủ yếu hao hụt trong giai đoạn cá nhỏ).
- Bệnh trên thủy sản nuôi xuất hiện nhiều vào một số thời điểm trong năm như: Thời điểm đầu mùa nước lũ (từ tháng 6 đến tháng 7) và thời điểm nước lũ rút kết hợp với gió mùa Đông Bắc (từ tháng 10 đến tháng 12), vào các thời điểm này thì tỷ lệ diện tích thủy sản bị bệnh trên diện tích nuôi trung bình hàng tháng cao hơn các thời điểm khác trong năm (tỷ lệ diện tích bị bệnh trung bình trên diện tích nuôi từ 3-4%).
B. Kế hoạch thực hiện phòng, chống dịch bệnh trên động vật thủy sản nuôi giai đoạn 2017-2020
1. Công tác tuyên truyền
Hàng năm thực hiện tuyên truyền về phương pháp phòng trị một số bệnh thường gặp trên cá tra, cá lóc, cá rô phi-điêu hồng; biện pháp phòng chống bệnh trắng đuôi trên tôm càng xanh; danh mục hóa chất kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng trong nuôi trồng thủy sản cho các hộ nuôi trên địa bàn toàn tỉnh qua các phương tiện thông tin đại chúng. Thực hiện tuyên truyền 6 đợt/năm tại 9 huyện, thị, thành có phát triển nuôi trồng thủy sản. Thực hiện vào các thời điểm bệnh dễ phát sinh trên thủy sản nuôi, trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 11 hàng năm (bình quân thực hiện tuyên truyền 8 xã/huyện/đợt).
2. Công tác tập huấn
a) Nội dung
- Tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ thực hiện công tác phòng, chống dịch bệnh thủy sản tại các Trạm Chăn nuôi và Thú y và nhân viên chăn nuôi và thú y 11 huyện, thị xã, thành về một số nội dung như: Quản lý nuôi cá tra an toàn dịch bệnh; Một số bệnh thường gặp trên cá tra nuôi và phương pháp phòng trị bệnh; Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về phòng chống dịch bệnh trên động vật thủy sản; Cách ghi chép, thu thập, phân tích số liệu, báo cáo dịch bệnh và vẽ bản đồ dịch tễ và một số nội dung khác có liên quan.
- Tập huấn phòng chống dịch bệnh cho người nuôi, nhằm nâng cao kiến thức cho người nuôi về việc phòng, chống dịch bệnh trên động vật thủy sản.
b) Đối tượng, địa điểm và thời gian thực hiện
- Cán bộ Trạm Chăn nuôi và Thú y: Thực hiện 01 lớp/năm (45 người/lớp, 3 ngày/lớp); Thời gian thực hiện từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2018 và năm 2020.
- Nhân viên Chăn nuôi và Thú y các xã, phường, thị trấn: Thực hiện 03 lớp/năm (55 người/lớp, 1 ngày/lớp); Thời gian thực hiện từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2018 và năm 2020.
- Các hộ nuôi cá tra, cá lóc, cá rô phi - điêu hồng, tôm càng xanh và các đối tượng thủy sản nuôi khác: Thực hiện 11 lớp/năm (30 người/lớp, 1 ngày/lớp); Thời gian thực hiện từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm.
3. Quan trắc môi trường nước trong ao nuôi:
Hàng năm trang bị bộ test nhanh các chỉ tiêu Ôxy hòa tan, pH, độ kiềm, NH3, H2S, NO2 cho Trạm Chăn nuôi và Thú y để thực hiện quan trắc môi trường nước trong ao nuôi. Trang bị 2 bộ test/năm cho Trạm Chăn nuôi và Thú y các huyện: Chợ Mới, Thoại Sơn, Châu Thành, Châu Phú, Phú Tân, An Phú, Thành phố Long Xuyên, Tp Châu Đốc và thị xã Tân Châu. Hàng tháng mỗi huyện thực hiện quan trắc môi trường nước tại 20 ao nuôi, từ kết quả quan trắc tổ chức đánh giá và khuyến cáo các biện pháp xử lý nếu phát hiện các chỉ tiêu vượt mức giới hạn cho phép, nhằm hạn chế dịch bệnh phát sinh và lây lan.
Công tác giám sát dịch bệnh
a) Giám sát chủ động
- Trên cá tra: Thực hiện thu mẫu giám sát dịch bệnh chủ động như sau: Mỗi tháng chọn ngẫu nhiên 30 cơ sở nuôi thương phẩm và 10 cơ sở sản xuất giống trên các vùng nuôi trọng điểm toàn tỉnh, mỗi cơ sở chọn 1 ao thu mẫu, thực hiện thu mẫu liên tục từ tháng 3 đến tháng 11 hàng năm (9 đợt thu với tổng số mẫu là 360 mẫu/năm). Chỉ tiêu xét nghiệm:
+ Bệnh gan thận mủ do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri
* Phân lập và định danh vi khuẩn Edwardsiella ictaluri.
* Làm kháng sinh đồ cho mẫu đầu tiên phân lập được đối với các loại kháng sinh được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản.
+ Bệnh xuất huyết do vi khuẩn Aeromonas hydrophila
* Phân lập và định danh vi khuẩn Aeromonas hydrophila.
* Làm kháng sinh đồ cho mẫu đầu tiên phân lập được đối với các loại kháng sinh được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản.
- Trên tôm càng xanh: Hàng năm tổ chức thu mẫu tôm để giám sát bệnh trắng đuôi do virus MrNV (Macrobrachium rosenbergii nodavirus) và XSV (Extra small virus) gây ra, thực hiện thu mẫu trong giai đoạn 1-2 tháng đầu của vụ nuôi nhằm phát hiện sớm tôm bị nhiễm bệnh để có biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn dịch bệnh lây lan. Thực hiện thu 30 mẫu/năm trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 7 tại các huyện Thoại Sơn, Châu Thành, Châu Phú, Phú Tân và An Phú.
b) Giám sát bị động
- Trên cá tra: Để kiểm soát dịch bệnh có hiệu quả, hạn chế thiệt hại do dịch bệnh gây ra, trên cá tra nuôi sẽ tổ chức thực hiện thu mẫu cá bệnh hàng năm vào trước thời điểm bệnh có khả năng xảy ra nhiều, gửi mẫu đến Cơ quan Thú y vùng VII để thực hiện phân tích nhanh tác nhân gây bệnh và làm kháng sinh đồ. Từ kết quả phân tích mẫu sẽ khuyến cáo các biện pháp phòng trị bệnh phù hợp cho người nuôi. Thực hiện thu mẫu 2 đợt/năm, mỗi đợt thu 30 mẫu tại: Tp Long Xuyên, huyện An Phú, huyện Thoại Sơn, huyện Chợ Mới, huyện Châu Thành, huyện Châu Phú, huyện Phú Tân, thị xã Tân Châu và thành phố Châu Đốc.
Đợt 1: Từ tháng 6 đến tháng 7 hàng năm. Đợt 2: Từ tháng 10 đến tháng 11 hàng năm.
- Trên tôm càng xanh: Tăng cường giám sát trong giai đoạn 1-2 tháng đầu vụ nuôi, trong quá trình giám sát nếu phát hiện bệnh sẽ tổ chức thu mẫu gửi đến đơn vị có đầy đủ trang thiết bị gần nhất để phân tích nhanh, chẩn đoán tác nhân gây bệnh. Từ kết quả phân tích sẽ cảnh báo kịp thời cho người nuôi về việc phòng ngừa dịch bệnh nhằm hạn chế dịch bệnh phát sinh và lây lan.
- Trên các đối tượng nuôi khác (cá lóc, cá rô phi - điêu hồng…): Mùa vụ phát sinh bệnh trên các đối tượng nuôi này thường là từ tháng 3 đến tháng 4 và từ tháng 6 đến tháng 7, mỗi năm thực hiện thu mẫu cá bệnh 2 đợt với số lượng như sau: Cá lóc 20 mẫu, cá rô phi - điêu hồng 30 mẫu.