Document: Khoản 1 Điều 1 Thông tư 14-LĐ/TT hướng dẫn tuyển dụng cho thôi việc công nhân, viên chức Nhà nước tình hình mới

Type: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "21/06/1977", "sign_number": "14-LĐ/TT", "signer": "Nguyễn Thọ Chân", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "21/06/1977", "sign_number": "14-LĐ/TT", "signer": "Nguyễn Thọ Chân", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "21/06/1977", "sign_number": "14-LĐ/TT", "signer": "Nguyễn Thọ Chân", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "21/06/1977", "sign_number": "14-LĐ/TT", "signer": "Nguyễn Thọ Chân", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "21/06/1977", "sign_number": "14-LĐ/TT", "signer": "Nguyễn Thọ Chân", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 1 Thông tư 14-LĐ/TT hướng dẫn tuyển dụng cho thôi việc công nhân, viên chức Nhà nước tình hình mới

Điều 1. của Điều lệ tuyển dụng và cho thôi việc ban hành theo nghị định số 24-CP ngày 13-3-1963 quy định căn cứ tuyển dụng chung cho cả hai khu vực là: “Nhu cầu sản xuất và công tác”, “Chỉ tiêu lao động và chỉ tiêu biên chế đã được Chính phủ quy định cho xí nghiệp, cơ quan”.
1. Các xí nghiệp, cơ quan (kể cả xí nghiệp, cơ quan trung ương đóng tại địa phương) khi dự kiến số lao động cần bổ sung của năm kế hoạch để báo cáo cấp trên, phải báo cáo cho Sở, Ty lao động. Báo cáo đó phải nêu rõ làm việc gì và tiêu chuẩn sức khỏe của từng công việc mà xí nghiệp yêu cầu. Sở, Ty lao động tổng hợp nhu cầu bổ sung lao động, tham gia với ủy ban kế hoạch tỉnh, thành phố cân đối lao động. Đối với những yêu cầu cấp thiết, các Sở, Ty lao động có thể cho đơn vị tuyển trước một phần.
Sau khi nhận được kế hoạch tuyển lao động và tuyển sinh đào tạo của xí nghiệp, Sở, Ty lao động nơi xí nghiệp đóng có trách nhiệm hướng dẫn nơi tuyển, nguồn lao động và chính sách, chế độ, tiêu chuẩn tuyển dụng, phối hợp với các cơ quan liên quan và chỉ đạo cấp dưới đảm bảo việc tuyển lao động theo yêu cầu thực tế của đơn vị chủ quản.
Thủ trưởng xí nghiệp, cơ quan được phân cấp quản lý loại công nhân, viên chức nào thì ra quyết định tuyển dụng và cho thôi việc đối với loại công nhân, viên chức đó, sau khi đã báo cho ban chấp hành công đoàn cùng cấp biết. Nếu tuyển dụng hay cho thôi việc không đúng quy định của Nhà nước hoặc hợp đồng đã ký kết, ban chấp hành công đoàn có quyền can thiệp và yêu cầu xét lại.
Riêng trường hợp cho công nhân, viên chức, thôi việc vì vi phạm kỷ luật lao động hoặc vì xí nghiệp, cơ quan giải thể, thu hẹp sản xuất hay giảm biên chế, thủ trưởng cần bàn thống nhất với ban chấp hành công đoàn cùng cấp. Trường hợp hai bên không nhất trí thì quyết định của thủ trưởng được tạm thời thi hành nhưng cả hai bên phải kịp thời báo cáo lên cấp trên của mình. Nếu cấp trên quyết định khác với ý kiến của thủ trưởng xí nghiệp, cơ quan thì phải chấp hành quyết định của thủ trưởng, chuyên môn cấp trên.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có nhiệm vụ cung cấp đủ lực lượng lao động thường xuyên và lao động thời vụ cho các cơ sở kinh tế do các Bộ trực tiếp quản lý đặt trong tỉnh, thành phố. Ủy ban nhân dân cơ sở qua đăng ký lao động kiểm kê và nắm chắc lực lượng lao động địa phương có thể đi làm cho Nhà nước. Ủy ban nhân dân cơ sở cần tổ chức lực lượng lao động sẵn sàng làm hợp đồng cho Nhà nước để tiện huy động và quản lý giá công thuê mướn theo đúng chế độ của Nhà nước.
3. Bộ Lao động chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, phổ biến kinh nghiệm và phân bổ lao động cho những yêu cầu lớn tuyển ở nhiều tỉnh hoặc một số yêu cầu tuyển lao động cho các công trình trọng điểm của trung ương.
Sở, Ty lao động có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố cung cấp và điều chỉnh lao động cho các xí nghiệp, cơ quan địa phương và trung ương đóng tại địa phương, hướng dẫn xã, hợp tác xã, khu phố tổ chức lao động chưa có việc làm ổn định đi làm hợp đồng cho xí nghiệp, cơ quan Nhà nước, hướng dẫn và kiểm tra việc chấp hành chế độ tuyển dụng và cho thôi việc đối với công nhân, viên chức Nhà nước.
4. Để thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, Ủy ban nhân dân các cấp cần phối hợp với các đoàn thể quần chúng, đặc biệt là công đoàn để giáo dục, động viên quần chúng hăng hái làm việc cho Nhà nước. Ngoài ra cần đề cao quyền giám sát của công đoàn như luật công đoàn đã quy định.
IV. PHẠM VI THI HÀNH

Thông tư này thay các thông tư số 6-LB/TT ngày 6-9-1963 và thông tư số 23-LB/TT ngày 3-11-1963 của liên Bộ Lao động - Nội vụ, thi hành cho các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước, kể cả các cơ sở công tư hợp doanh.
Các quy định của các Bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với thông tư này đều bãi bỏ.
Riêng các tỉnh phía Nam vẫn tiếp tục thi hành theo thông tư số 7-LĐ/TT ngày 2-4-1977 của Bộ Lao động.

BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG

Content:
Các xí nghiệp, cơ quan (kể cả xí nghiệp, cơ quan trung ương đóng tại địa phương) khi dự kiến số lao động cần bổ sung của năm kế hoạch để báo cáo cấp trên, phải báo cáo cho Sở, Ty lao động. Báo cáo đó phải nêu rõ làm việc gì và tiêu chuẩn sức khỏe của từng công việc mà xí nghiệp yêu cầu. Sở, Ty lao động tổng hợp nhu cầu bổ sung lao động, tham gia với ủy ban kế hoạch tỉnh, thành phố cân đối lao động. Đối với những yêu cầu cấp thiết, các Sở, Ty lao động có thể cho đơn vị tuyển trước một phần.
Sau khi nhận được kế hoạch tuyển lao động và tuyển sinh đào tạo của xí nghiệp, Sở, Ty lao động nơi xí nghiệp đóng có trách nhiệm hướng dẫn nơi tuyển, nguồn lao động và chính sách, chế độ, tiêu chuẩn tuyển dụng, phối hợp với các cơ quan liên quan và chỉ đạo cấp dưới đảm bảo việc tuyển lao động theo yêu cầu thực tế của đơn vị chủ quản.
Thủ trưởng xí nghiệp, cơ quan được phân cấp quản lý loại công nhân, viên chức nào thì ra quyết định tuyển dụng và cho thôi việc đối với loại công nhân, viên chức đó, sau khi đã báo cho ban chấp hành công đoàn cùng cấp biết. Nếu tuyển dụng hay cho thôi việc không đúng quy định của Nhà nước hoặc hợp đồng đã ký kết, ban chấp hành công đoàn có quyền can thiệp và yêu cầu xét lại.
Riêng trường hợp cho công nhân, viên chức, thôi việc vì vi phạm kỷ luật lao động hoặc vì xí nghiệp, cơ quan giải thể, thu hẹp sản xuất hay giảm biên chế, thủ trưởng cần bàn thống nhất với ban chấp hành công đoàn cùng cấp. Trường hợp hai bên không nhất trí thì quyết định của thủ trưởng được tạm thời thi hành nhưng cả hai bên phải kịp thời báo cáo lên cấp trên của mình. Nếu cấp trên quyết định khác với ý kiến của thủ trưởng xí nghiệp, cơ quan thì phải chấp hành quyết định của thủ trưởng, chuyên môn cấp trên.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có nhiệm vụ cung cấp đủ lực lượng lao động thường xuyên và lao động thời vụ cho các cơ sở kinh tế do các Bộ trực tiếp quản lý đặt trong tỉnh, thành phố. Ủy ban nhân dân cơ sở qua đăng ký lao động kiểm kê và nắm chắc lực lượng lao động địa phương có thể đi làm cho Nhà nước. Ủy ban nhân dân cơ sở cần tổ chức lực lượng lao động sẵn sàng làm hợp đồng cho Nhà nước để tiện huy động và quản lý giá công thuê mướn theo đúng chế độ của Nhà nước.
3. Bộ Lao động chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, phổ biến kinh nghiệm và phân bổ lao động cho những yêu cầu lớn tuyển ở nhiều tỉnh hoặc một số yêu cầu tuyển lao động cho các công trình trọng điểm của trung ương.
Sở, Ty lao động có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố cung cấp và điều chỉnh lao động cho các xí nghiệp, cơ quan địa phương và trung ương đóng tại địa phương, hướng dẫn xã, hợp tác xã, khu phố tổ chức lao động chưa có việc làm ổn định đi làm hợp đồng cho xí nghiệp, cơ quan Nhà nước, hướng dẫn và kiểm tra việc chấp hành chế độ tuyển dụng và cho thôi việc đối với công nhân, viên chức Nhà nước.
4. Để thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, Ủy ban nhân dân các cấp cần phối hợp với các đoàn thể quần chúng, đặc biệt là công đoàn để giáo dục, động viên quần chúng hăng hái làm việc cho Nhà nước. Ngoài ra cần đề cao quyền giám sát của công đoàn như luật công đoàn đã quy định.
IV. PHẠM VI THI HÀNH

Thông tư này thay các thông tư số 6-LB/TT ngày 6-9-1963 và thông tư số 23-LB/TT ngày 3-11-1963 của liên Bộ Lao động - Nội vụ, thi hành cho các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước, kể cả các cơ sở công tư hợp doanh.
Các quy định của các Bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với thông tư này đều bãi bỏ.
Riêng các tỉnh phía Nam vẫn tiếp tục thi hành theo thông tư số 7-LĐ/TT ngày 2-4-1977 của Bộ Lao động.

BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG