Document: Điểm d Khoản 6 Điều 1 Quyết định 1551/QĐ-UBND 2010 quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Tuy Hòa Phú Yên

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "13/10/2010", "sign_number": "1551/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Đình Cự", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "13/10/2010", "sign_number": "1551/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Đình Cự", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "13/10/2010", "sign_number": "1551/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Đình Cự", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "13/10/2010", "sign_number": "1551/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Đình Cự", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "13/10/2010", "sign_number": "1551/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Đình Cự", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 6 Điều 1 Quyết định 1551/QĐ-UBND 2010 quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Tuy Hòa Phú Yên

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch, với các nội dung sau:
...
6. Về môi trường:
Tỷ lệ che phủ của rừng năm 2020: 47%; tỷ lệ dân số thành phố sử dụng nước máy năm 2010: 98%, năm 2015: 100%; tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sạch qua xử lý năm 2010: 80%, năm 2015: 90% và năm 2020: 100%; tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt đô thị đạt 90% năm 2010; 95% năm 2015 và 100% năm 2020; tỷ lệ các cơ sở sản xuất xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 80% năm 2010, 100% năm 2015; tỷ lệ hộ gia đình có công trình vệ sinh: 88% năm 2010; 100% năm 2015.
Xem Biểu 1 - Các chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu đến năm 2020 tại Phụ lục kèm Quyết định này.
V. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH VÀ LĨNH VỰC
1. Các ngành kinh tế:
...
d) Văn hóa - thông tin:
- Phấn đấu đến năm 2020 có trên 92% hộ gia đình, trên 80% thôn, khu phố, 60% phường, xã đạt chuẩn văn hóa;
- Xây dựng thư viện thiếu nhi thành phố, đài tưởng niệm liệt sỹ, bia tưởng niệm di tích nhà tù Ngọc Lãng; cải tạo, xây dựng các trung tâm Văn hóa xã, các điểm sinh hoạt thôn - khu phố; công viên Vạn Kiếp, Hồ Sơn, Liên Trì, công viên trung tâm gắn với hồ điều hòa; hoàn thiện công viên núi Nhạn, mở rộng Quảng trường 1 tháng 4...; hoàn thành đưa vào sử dụng sân vận động và trung tâm thể thao thành phố; quy hoạch đầu tư xây dựng sân vận động tại các xã có điều kiện, đảm bảo sau năm 2015 100% xã có sân vận động; khuyến khích các phường dành quỹ đất xây dựng các khu tập thể dục - thể thao tạo điều kiện rèn luyện sức khỏe cộng đồng; tiếp tục đưa các hoạt động thể dục thể thao vào các công sở, trường học, duy trì và phát triển các môn thể thao truyền thống gắn với văn hóa, lễ hội ở mỗi địa phương; phấn đấu năm 2010, có 30% dân số tập thể dục thể thao thường xuyên và năm 2020: 50 - 60%.
3. Khoa học - công nghệ:
Huy động tối đa các nguồn lực xã hội đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và đội ngũ cán bộ, từng bước xây dựng Tuy Hòa trở thành địa phương có tiềm lực mạnh về nghiên cứu - ứng dụng triển khai các tiến bộ khoa học kỹ thuật; lựa chọn phát triển một số công nghệ trọng điểm: thông tin - truyền thông; sinh học; vật liệu tiên tiến; tự động hóa và cơ điện tử; cơ khí - chế tạo máy; bảo quản và chế biến nông sản, thực phẩm; áp dụng công nghệ năng lượng mới, sử dụng năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng (pin mặt trời, điện gió, biogas,…) phục vụ nhu cầu dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội.
4. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng:
a) Hệ thống giao thông-vận tải:
* Đường bộ:
- Giao thông đối ngoại: Phát triển gắn kết với hệ thống giao thông tỉnh và cả nước, lấy trục quốc lộ 1A (mới), quốc lộ 25, ĐT645 làm trục chính, tạo hành lang quan hệ với các tỉnh, thành ở hai đầu Bắc-Nam và vùng Tây Nguyên; kiến nghị, phối hợp với Trung ương, tỉnh đầu tư nâng cấp, kéo dài các tuyến: quốc lộ 25, ĐT645, tuyến ven biển Lê Duẩn - Long Thủy; tuyến Tuy Hòa - Vũng Rô; tuyến nối thành phố Tuy Hòa (từ xã Hòa Kiến) đến Tuy An - Sơn Hòa (xã lộ 20 kéo dài), chiều dài tuyến 50km; tuyến từ Bình Kiến - An Thọ (huyện Tuy An), dài 13km; tuyến từ Hòa Kiến - kênh N1 - Phú Hòa, dài 20km; tuyến đường cao tốc nối sân bay Tuy Hòa đến khu vực gành Đá Dĩa; phối hợp đầu tư xây dựng điểm giao cắt khác cốt giữa đường Hùng Vương với đường sắt Bắc-Nam...;
- Giao thông đối nội:
+ Đường nội thành: Phát triển về phía Bắc, đầu tư mới hệ thống đường dạng ô mạng cờ; lấy các trục đường Hùng Vương, Trường Chinh, Lê Duẩn, Độc Lập, Nguyễn Trãi, Duy Tân làm trục chính theo hướng Bắc-Nam, các trục đường Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Trần Phú và đường Nguyễn Hữu Thọ làm trục chính theo hướng Đông-Tây, nối với các khu chức năng trong thành phố; đến năm 2010 nhựa và bêtông hóa 60% đường nội thành, đến năm 2017 đạt 100%; đầu tư nâng cấp, khai thông nối dài tất cả các tuyến đường ngang, dọc đã được quy hoạch: Lê Trung Kiên, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thái Học, Trần Quý Cáp, Trần Bình Trọng, Nguyễn Trãi, Ngô Quyền, Trần Quốc Toản, Lương Văn Chánh, Chu Văn An, Lê Quý Đôn, Hai Bà Trưng, Duy Tân...; kéo dài đường Lê Lợi đến đường Trường Chinh và công viên Vạn Kiếp; thông tuyến đường Trần Phú, đường Nguyễn Hữu Thọ đến giáp tuyến quốc lộ 1A mới để điều tiết mật độ giao thông các tuyến Trần Hưng Đạo, Hải Dương…; hoàn thành đường Bạch Đằng giai đoạn 2 để xây dựng các công viên dọc kè, công viên dưới chân núi Nhạn; xây dựng đường bờ kè Nam sông Đà Rằng (khu đô thị Nam thành phố Tuy Hòa); nâng cấp, mở rộng đại lộ Nguyễn Tất Thành, đường Lạc Long Quân, Ngô Gia Tự, đường 3 tháng 2 (ở các phường: Phú Lâm, Phú Thạnh) kết hợp đầu tư xây dựng đường chiếu sáng; xây dựng đường số 14 (đoạn từ quốc lộ 1A đến Độc Lập); tiếp tục bê tông hóa vỉa hè, lắp đặt đầy đủ các hệ thống biển báo, các cụm đèn chỉ dẫn giao thông ở các ngã tư có mật độ giao thông đông; giải tỏa thông thoáng các góc đường bị che chắn tầm nhìn, các đường cứu hỏa bị lấn chiếm;
+ Đường ngoại thành: Đầu tư nâng cấp tuyến đường đi nghĩa trang Thọ Vức (xã Hòa Kiến);
* Đường sắt: Kiến nghị, phối hợp ngành Đường sắt đầu tư nâng cấp tuyến Bắc-Nam đi qua địa bàn, nâng cấp, hiện đại hóa ga Tuy Hòa thành ga cấp 2; xây dựng tuyến đường sắt Phú Yên-Tây Nguyên, nghiên cứu đầu tư tuyến đường sắt tải nhẹ trên cao (tại khu đô thị mới Nam thành phố Tuy Hòa);
* Đường hàng không: Phối hợp đầu tư nâng cấp, mở rộng sân bay Tuy Hòa đảm bảo đến năm 2015 đạt CHK cấp 4C (theo tiêu chuẩn ICAO) và sân bay quân sự cấp 1; tiếp tục nâng cấp thành sân bay quốc tế khi có đủ điều kiện cần thiết; đồng thời, kiến nghị Chính phủ cho phép nâng tần suất bay, mở rộng đường bay đến các thành phố lớn trong nước: Đà Nẵng, Hà Nội...;
* Đường thủy: xây dựng các bến đậu taxi thủy (sức chứa nhỏ hơn 20 người) và tàu thuyền (sức chứa lớn hơn 20 người) ở dọc bờ kè Nam sông Đà Rằng (phía Đông Bắc khu đô thị mới Nam thành phố Tuy Hòa); nâng cấp, mở rộng cảng cá Đông Tác, đáp ứng nhu cầu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão;
* Bến, bãi đỗ xe, dịch vụ giao thông vận tải: Nâng cấp, hoàn thiện kết cấu hạ tầng bến xe phường Phú Lâm, bến xe nội thành; khuyến khích, kêu gọi đầu tư xây dựng: bến xe chất lượng cao (tại phường 8), các bãi đỗ xe (tại phường Phú Lâm, Bình Kiến...; quy mô 5-10 ha/bãi), khu dịch vụ tổng hợp giao thông vận tải (ở phía Bắc thành phố Tuy Hòa).
b) Hệ thống bưu chính, viễn thông:
Nâng tỷ lệ thuê bao sử dụng điện thoại lên 30 máy/100 dân năm 2010; 60 máy/100 dân năm 2015 và trên 70 máy/100 dân vào năm 2020; tỷ lệ dân số sử dụng internet/tổng dân số: năm 2010: 20%, năm 2015: 35% và năm 2020: 40%.
c) Hệ thống lưới điện:
Quy hoạch sắp xếp lại hệ thống phù hợp không gian kiến trúc đô thị mới; tiếp tục đầu tư nâng cấp đảm bảo cung cấp điện an toàn, ổn định cho sản xuất và đời sống; cải tạo, nâng cấp hệ thống chiếu sáng hiện hữu, đầu tư hệ thống chiếu sáng ở các vùng đô thị mới: Bình Kiến, Bình Ngọc, An Phú và các tuyến đường mới: đường Lê Duẩn-Long Thủy, đường Trần Phú, đường Nguyễn Hữu Thọ, Hùng Vương-Vũng Rô, đường Bạch Đằng...; tiếp tục thực hiện đề án chiếu sáng hẻm phố theo phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”, đến trước năm 2015 có 100% hẻm phố được chiếu sáng.
d) Hệ thống cấp, thoát nước và xử lý rác thải:
- Cấp nước sạch: Kiến nghị, phối hợp với tỉnh đầu tư mở rộng hệ thống cấp nước sạch đến các khu dân cư trên địa bàn và các vùng phụ cận; tuyên truyền, vận động nhân dân sử dụng nước sạch đảm bảo đến năm 2016 có 100% dân số cơ bản sử dụng nước sạch; trong đó: năm 2010 cơ bản có 100% dân số đô thị được sử dụng nước máy;
- Thoát nước:
+ Khu vực đô thị: Kiến nghị, phối hợp với tỉnh đẩy nhanh tiến độ đầu tư nâng cấp, cải tạo hệ thống thoát nước đô thị, xây dựng đề án tách thoát nước mưa, thoát nước thải riêng; đảm bảo đến trước 2012 thành phố có hệ thống thoát nước mưa hoàn chỉnh, đến năm 2020 có hệ thống thoát nước sinh hoạt riêng;
+ Khu vực nông thôn: Xây dựng hệ thống thoát nước chung (cống, rãnh, mương tiêu) đảm bảo các điểm dân cư đông đúc có hệ thống thoát nước;
- Xử lý rác thải: nghiên cứu lập thiết chế vệ sinh môi trường đến cấp phường, xã; quy hoạch, đầu tư xây dựng các bãi tập kết, phương tiện thu gom đựng rác, bảo đảm các điều kiện vệ sinh tại các điểm dân cư và nơi công cộng; thu gom rác thải bằng các phương pháp tiên tiến, đưa về điểm xử lý rác-chất thải rắn tập trung (tại khu vực Thọ Vức).
e) Hệ thống thủy lợi:
Kiến nghị, phối hợp với tỉnh xây dựng kè 2 bờ sông Đà Rằng (phần còn lại) và hệ thống kè ven biển từ phường Phú Đông đến xã An Phú, đồng thời nâng nền thích hợp cho phần diện tích đất liền bên trong kè để chỉnh trang các khu dân cư phát triển du lịch.
5. Lĩnh vực quốc phòng - an ninh:
- Phát huy truyền thống đoàn kết của hệ thống chính trị, nêu cao ý thức tự lực, tự cường, khai thác mọi nguồn lực, tận dụng thời cơ, đẩy mạnh thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược, xây dựng nền quốc phòng-an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ thành phố ngày càng vững chắc.
- Chủ động phòng ngừa bằng các biện pháp đấu tranh đồng bộ, làm thất bại các âm mưu “diễn biến hòa bình” và “bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch, đẩy lùi, khắc phục mọi nguy cơ, bảo vệ vững chắc địa bàn.
- Mở rộng, phát huy vai trò các đội dân phòng xã, phường; tăng cường đấu tranh ngăn ngừa, tuần tra, nhất là ở các khu vực có các tệ nạn xã hội, giảm thiểu tai nạn giao thông...; xây dựng thành phố Tuy Hòa thành đô thị văn minh, an toàn.
- Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng - an ninh:
+ Phát triển một số ngành, lĩnh vực vừa làm kinh tế vừa đảm nhận nhiệm vụ quốc phòng an ninh: công nghiệp đóng tàu, thông tin liên lạc, đội tàu khai thác hải sản xa bờ, tàu tuần tra kiểm soát cứu hộ, cứu nạn trên biển...
+ Xây dựng hoàn chỉnh các công trình theo kế hoạch an ninh - quốc phòng: phòng thủ ven biển (tuyến đường Độc Lập-Long Thủy, cầu cảng Hải đội 2); trận địa phòng không.
+ Đầu tư xây dựng mới cơ quan Quân sự thành phố (tại phường 8); phối hợp tỉnh di dời trại tạm giam đến vị trí thích hợp.
Tổ chức không gian lãnh thổ và đơn vị hành chính:
Lập đề án, kiến nghị tỉnh trình Chính phủ:
a) Không gian lãnh thổ: Phát triển, mở rộng theo các hướng:
- Phía Nam, phía Bắc: Cơ bản giữ ranh giới như hiện tại; nghiên cứu giai đoạn sau 2020 - khi có điều kiện - phát triển phía Bắc đến xã An Mỹ (sáp nhập các xã: An Mỹ và An Chấn của huyện Tuy An vào thành phố Tuy Hòa); phát triển các chức năng vùng ngoại thành hỗ trợ phát triển khu vực nội thành;
- Phía Tây: Phát triển đến tuyến tránh quốc lộ 1A vào sau năm 2015, sáp nhập thôn Phước Khánh (xã Hòa Trị), một phần thôn Ân Niên, thôn Đông Bình và toàn bộ thôn Đông Phước (xã Hòa An) và 2 thôn: Phước Lộc, Phú Lễ (xã Hòa Thành) vào thành phố Tuy Hòa; dự kiến, đến năm 2020, diện tích tự nhiên thành phố: Stự nhiên = 142,47km2.
b) Đơn vị hành chính:
Chuyển xã Bình Ngọc thành phường; tách phường 9 thành phường Phước Hậu và phường 9 (mới); tách xã An Phú thành phường và xã mới; tách xã Bình Kiến thành phường và xã mới (gồm thôn Liên Trì 2, Phú Vang); sáp nhập một phần diện tích xã Hòa An, Hòa Trị, Hòa Thành vào các xã, phường lân cận; dự kiến, đến năm 2020, thành phố có 19 đơn vị hành chính: 16 phường và 3 xã.
c) Phát triển kinh tế xã hội theo vùng:
- Khu vực nội thành: Đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, chỉnh trang đô thị, phân khu chức năng, sắp xếp lại các khu dân cư hợp lý, đẩy mạnh phát triển các hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp; xây dựng vùng có cơ cấu kinh tế dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp, trong đó công nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp sạch, công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn.
- Khu vực ngoại thành: Triển khai thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) “Về nông nghiệp, nông dân và nông thôn”; xây dựng mô hình nông thôn kiểu mới, hiện đại, có mối quan hệ phát triển gắn kết chặt chẽ với vùng đô thị.
+ Về nông nghiệp: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, chuyển đổi diện tích lúa 1 vụ kém hiệu quả sang trồng rau màu (đu đủ, ớt, dưa leo, khổ qua phủ bạc, cây bắp lai...), phát triển đa dạng các đối tượng vật nuôi (bò, heo, nai, nhím...); tăng cường khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; ứng dụng đồng bộ, hiệu quả tiến bộ khoa học kỹ thuật, các mô hình sản xuất tiên tiến IMP, VAC, VACR... vào sản xuất; tiếp tục thực hiện các dự án phát triển nông nghiệp-nông thôn đã xây dựng;
+ Về nông dân: Nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, thực hiện hiệu quả công tác giảm nghèo, xóa nhà ở tạm, các chương trình mục tiêu quốc gia, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đảm bảo cơ bản điều kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa, thể dục, thể thao gần tới mức các vùng đô thị trung bình; phối hợp với các trường, trung tâm dạy nghề của tỉnh tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp cho nông dân, xây dựng đội ngũ nông dân chất lượng cao, nắm vững, đi đầu trong việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; tiếp tục nhân rộng và phát triển các ngành nghề mới nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn, ổn định thu nhập, nâng cao mức sống;
+ Về nông thôn: Quan tâm đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng, đẩy mạnh đầu tư nâng cấp, bê tông hóa giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi, kênh mương nội đồng đảm bảo chủ động tưới tiêu toàn bộ diện tích đất lúa hai vụ, rau màu; xây dựng các công trình cấp nước sạch...; tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, giữ vững ổn định chính trị - an ninh, trật tự, xây dựng vùng nông thôn lành mạnh; quan tâm tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức và thực hiện bảo vệ môi trường.

Content:
Văn hóa - thông tin:
- Phấn đấu đến năm 2020 có trên 92% hộ gia đình, trên 80% thôn, khu phố, 60% phường, xã đạt chuẩn văn hóa;
- Xây dựng thư viện thiếu nhi thành phố, đài tưởng niệm liệt sỹ, bia tưởng niệm di tích nhà tù Ngọc Lãng; cải tạo, xây dựng các trung tâm Văn hóa xã, các điểm sinh hoạt thôn - khu phố; công viên Vạn Kiếp, Hồ Sơn, Liên Trì, công viên trung tâm gắn với hồ điều hòa; hoàn thiện công viên núi Nhạn, mở rộng Quảng trường 1 tháng 4...; hoàn thành đưa vào sử dụng sân vận động và trung tâm thể thao thành phố; quy hoạch đầu tư xây dựng sân vận động tại các xã có điều kiện, đảm bảo sau năm 2015 100% xã có sân vận động; khuyến khích các phường dành quỹ đất xây dựng các khu tập thể dục - thể thao tạo điều kiện rèn luyện sức khỏe cộng đồng; tiếp tục đưa các hoạt động thể dục thể thao vào các công sở, trường học, duy trì và phát triển các môn thể thao truyền thống gắn với văn hóa, lễ hội ở mỗi địa phương; phấn đấu năm 2010, có 30% dân số tập thể dục thể thao thường xuyên và năm 2020: 50 - 60%.
3. Khoa học - công nghệ:
Huy động tối đa các nguồn lực xã hội đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và đội ngũ cán bộ, từng bước xây dựng Tuy Hòa trở thành địa phương có tiềm lực mạnh về nghiên cứu - ứng dụng triển khai các tiến bộ khoa học kỹ thuật; lựa chọn phát triển một số công nghệ trọng điểm: thông tin - truyền thông; sinh học; vật liệu tiên tiến; tự động hóa và cơ điện tử; cơ khí - chế tạo máy; bảo quản và chế biến nông sản, thực phẩm; áp dụng công nghệ năng lượng mới, sử dụng năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng (pin mặt trời, điện gió, biogas,…) phục vụ nhu cầu dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội.
4. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng:
a) Hệ thống giao thông-vận tải:
* Đường bộ:
- Giao thông đối ngoại: Phát triển gắn kết với hệ thống giao thông tỉnh và cả nước, lấy trục quốc lộ 1A (mới), quốc lộ 25, ĐT645 làm trục chính, tạo hành lang quan hệ với các tỉnh, thành ở hai đầu Bắc-Nam và vùng Tây Nguyên; kiến nghị, phối hợp với Trung ương, tỉnh đầu tư nâng cấp, kéo dài các tuyến: quốc lộ 25, ĐT645, tuyến ven biển Lê Duẩn - Long Thủy; tuyến Tuy Hòa - Vũng Rô; tuyến nối thành phố Tuy Hòa (từ xã Hòa Kiến) đến Tuy An - Sơn Hòa (xã lộ 20 kéo dài), chiều dài tuyến 50km; tuyến từ Bình Kiến - An Thọ (huyện Tuy An), dài 13km; tuyến từ Hòa Kiến - kênh N1 - Phú Hòa, dài 20km; tuyến đường cao tốc nối sân bay Tuy Hòa đến khu vực gành Đá Dĩa; phối hợp đầu tư xây dựng điểm giao cắt khác cốt giữa đường Hùng Vương với đường sắt Bắc-Nam...;
- Giao thông đối nội:
+ Đường nội thành: Phát triển về phía Bắc, đầu tư mới hệ thống đường dạng ô mạng cờ; lấy các trục đường Hùng Vương, Trường Chinh, Lê Duẩn, Độc Lập, Nguyễn Trãi, Duy Tân làm trục chính theo hướng Bắc-Nam, các trục đường Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Trần Phú và đường Nguyễn Hữu Thọ làm trục chính theo hướng Đông-Tây, nối với các khu chức năng trong thành phố; đến năm 2010 nhựa và bêtông hóa 60% đường nội thành, đến năm 2017 đạt 100%; đầu tư nâng cấp, khai thông nối dài tất cả các tuyến đường ngang, dọc đã được quy hoạch: Lê Trung Kiên, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thái Học, Trần Quý Cáp, Trần Bình Trọng, Nguyễn Trãi, Ngô Quyền, Trần Quốc Toản, Lương Văn Chánh, Chu Văn An, Lê Quý Đôn, Hai Bà Trưng, Duy Tân...; kéo dài đường Lê Lợi đến đường Trường Chinh và công viên Vạn Kiếp; thông tuyến đường Trần Phú, đường Nguyễn Hữu Thọ đến giáp tuyến quốc lộ 1A mới để điều tiết mật độ giao thông các tuyến Trần Hưng Đạo, Hải Dương…; hoàn thành đường Bạch Đằng giai đoạn 2 để xây dựng các công viên dọc kè, công viên dưới chân núi Nhạn; xây dựng đường bờ kè Nam sông Đà Rằng (khu đô thị Nam thành phố Tuy Hòa); nâng cấp, mở rộng đại lộ Nguyễn Tất Thành, đường Lạc Long Quân, Ngô Gia Tự, đường 3 tháng 2 (ở các phường: Phú Lâm, Phú Thạnh) kết hợp đầu tư xây dựng đường chiếu sáng; xây dựng đường số 14 (đoạn từ quốc lộ 1A đến Độc Lập); tiếp tục bê tông hóa vỉa hè, lắp đặt đầy đủ các hệ thống biển báo, các cụm đèn chỉ dẫn giao thông ở các ngã tư có mật độ giao thông đông; giải tỏa thông thoáng các góc đường bị che chắn tầm nhìn, các đường cứu hỏa bị lấn chiếm;
+ Đường ngoại thành: Đầu tư nâng cấp tuyến đường đi nghĩa trang Thọ Vức (xã Hòa Kiến);
* Đường sắt: Kiến nghị, phối hợp ngành Đường sắt đầu tư nâng cấp tuyến Bắc-Nam đi qua địa bàn, nâng cấp, hiện đại hóa ga Tuy Hòa thành ga cấp 2; xây dựng tuyến đường sắt Phú Yên-Tây Nguyên, nghiên cứu đầu tư tuyến đường sắt tải nhẹ trên cao (tại khu đô thị mới Nam thành phố Tuy Hòa);
* Đường hàng không: Phối hợp đầu tư nâng cấp, mở rộng sân bay Tuy Hòa đảm bảo đến năm 2015 đạt CHK cấp 4C (theo tiêu chuẩn ICAO) và sân bay quân sự cấp 1; tiếp tục nâng cấp thành sân bay quốc tế khi có đủ điều kiện cần thiết; đồng thời, kiến nghị Chính phủ cho phép nâng tần suất bay, mở rộng đường bay đến các thành phố lớn trong nước: Đà Nẵng, Hà Nội...;
* Đường thủy: xây dựng các bến đậu taxi thủy (sức chứa nhỏ hơn 20 người) và tàu thuyền (sức chứa lớn hơn 20 người) ở dọc bờ kè Nam sông Đà Rằng (phía Đông Bắc khu đô thị mới Nam thành phố Tuy Hòa); nâng cấp, mở rộng cảng cá Đông Tác, đáp ứng nhu cầu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão;
* Bến, bãi đỗ xe, dịch vụ giao thông vận tải: Nâng cấp, hoàn thiện kết cấu hạ tầng bến xe phường Phú Lâm, bến xe nội thành; khuyến khích, kêu gọi đầu tư xây dựng: bến xe chất lượng cao (tại phường 8), các bãi đỗ xe (tại phường Phú Lâm, Bình Kiến...; quy mô 5-10 ha/bãi), khu dịch vụ tổng hợp giao thông vận tải (ở phía Bắc thành phố Tuy Hòa).
b) Hệ thống bưu chính, viễn thông:
Nâng tỷ lệ thuê bao sử dụng điện thoại lên 30 máy/100 dân năm 2010; 60 máy/100 dân năm 2015 và trên 70 máy/100 dân vào năm 2020; tỷ lệ dân số sử dụng internet/tổng dân số: năm 2010: 20%, năm 2015: 35% và năm 2020: 40%.
c) Hệ thống lưới điện:
Quy hoạch sắp xếp lại hệ thống phù hợp không gian kiến trúc đô thị mới; tiếp tục đầu tư nâng cấp đảm bảo cung cấp điện an toàn, ổn định cho sản xuất và đời sống; cải tạo, nâng cấp hệ thống chiếu sáng hiện hữu, đầu tư hệ thống chiếu sáng ở các vùng đô thị mới: Bình Kiến, Bình Ngọc, An Phú và các tuyến đường mới: đường Lê Duẩn-Long Thủy, đường Trần Phú, đường Nguyễn Hữu Thọ, Hùng Vương-Vũng Rô, đường Bạch Đằng...; tiếp tục thực hiện đề án chiếu sáng hẻm phố theo phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”, đến trước năm 2015 có 100% hẻm phố được chiếu sáng.
Hệ thống cấp, thoát nước và xử lý rác thải:
- Cấp nước sạch: Kiến nghị, phối hợp với tỉnh đầu tư mở rộng hệ thống cấp nước sạch đến các khu dân cư trên địa bàn và các vùng phụ cận; tuyên truyền, vận động nhân dân sử dụng nước sạch đảm bảo đến năm 2016 có 100% dân số cơ bản sử dụng nước sạch; trong đó: năm 2010 cơ bản có 100% dân số đô thị được sử dụng nước máy;
- Thoát nước:
+ Khu vực đô thị: Kiến nghị, phối hợp với tỉnh đẩy nhanh tiến độ đầu tư nâng cấp, cải tạo hệ thống thoát nước đô thị, xây dựng đề án tách thoát nước mưa, thoát nước thải riêng; đảm bảo đến trước 2012 thành phố có hệ thống thoát nước mưa hoàn chỉnh, đến năm 2020 có hệ thống thoát nước sinh hoạt riêng;
+ Khu vực nông thôn: Xây dựng hệ thống thoát nước chung (cống, rãnh, mương tiêu) đảm bảo các điểm dân cư đông đúc có hệ thống thoát nước;
- Xử lý rác thải: nghiên cứu lập thiết chế vệ sinh môi trường đến cấp phường, xã; quy hoạch, đầu tư xây dựng các bãi tập kết, phương tiện thu gom đựng rác, bảo đảm các điều kiện vệ sinh tại các điểm dân cư và nơi công cộng; thu gom rác thải bằng các phương pháp tiên tiến, đưa về điểm xử lý rác-chất thải rắn tập trung (tại khu vực Thọ Vức).
e) Hệ thống thủy lợi:
Kiến nghị, phối hợp với tỉnh xây dựng kè 2 bờ sông Đà Rằng (phần còn lại) và hệ thống kè ven biển từ phường Phú Đông đến xã An Phú, đồng thời nâng nền thích hợp cho phần diện tích đất liền bên trong kè để chỉnh trang các khu dân cư phát triển du lịch.
5. Lĩnh vực quốc phòng - an ninh:
- Phát huy truyền thống đoàn kết của hệ thống chính trị, nêu cao ý thức tự lực, tự cường, khai thác mọi nguồn lực, tận dụng thời cơ, đẩy mạnh thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược, xây dựng nền quốc phòng-an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ thành phố ngày càng vững chắc.
- Chủ động phòng ngừa bằng các biện pháp đấu tranh đồng bộ, làm thất bại các âm mưu “diễn biến hòa bình” và “bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch, đẩy lùi, khắc phục mọi nguy cơ, bảo vệ vững chắc địa bàn.
- Mở rộng, phát huy vai trò các đội dân phòng xã, phường; tăng cường đấu tranh ngăn ngừa, tuần tra, nhất là ở các khu vực có các tệ nạn xã hội, giảm thiểu tai nạn giao thông...; xây dựng thành phố Tuy Hòa thành đô thị văn minh, an toàn.
- Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng - an ninh:
+ Phát triển một số ngành, lĩnh vực vừa làm kinh tế vừa đảm nhận nhiệm vụ quốc phòng an ninh: công nghiệp đóng tàu, thông tin liên lạc, đội tàu khai thác hải sản xa bờ, tàu tuần tra kiểm soát cứu hộ, cứu nạn trên biển...
+ Xây dựng hoàn chỉnh các công trình theo kế hoạch an ninh - quốc phòng: phòng thủ ven biển (tuyến đường Độc Lập-Long Thủy, cầu cảng Hải đội 2); trận địa phòng không.
+ Đầu tư xây dựng mới cơ quan Quân sự thành phố (tại phường 8); phối hợp tỉnh di dời trại tạm giam đến vị trí thích hợp.
Tổ chức không gian lãnh thổ và đơn vị hành chính:
Lập đề án, kiến nghị tỉnh trình Chính phủ:
a) Không gian lãnh thổ: Phát triển, mở rộng theo các hướng:
- Phía Nam, phía Bắc: Cơ bản giữ ranh giới như hiện tại; nghiên cứu giai đoạn sau 2020 - khi có điều kiện - phát triển phía Bắc đến xã An Mỹ (sáp nhập các xã: An Mỹ và An Chấn của huyện Tuy An vào thành phố Tuy Hòa); phát triển các chức năng vùng ngoại thành hỗ trợ phát triển khu vực nội thành;
- Phía Tây: Phát triển đến tuyến tránh quốc lộ 1A vào sau năm 2015, sáp nhập thôn Phước Khánh (xã Hòa Trị), một phần thôn Ân Niên, thôn Đông Bình và toàn bộ thôn Đông Phước (xã Hòa An) và 2 thôn: Phước Lộc, Phú Lễ (xã Hòa Thành) vào thành phố Tuy Hòa; dự kiến, đến năm 2020, diện tích tự nhiên thành phố: Stự nhiên = 142,47km2.
b) Đơn vị hành chính:
Chuyển xã Bình Ngọc thành phường; tách phường 9 thành phường Phước Hậu và phường 9 (mới); tách xã An Phú thành phường và xã mới; tách xã Bình Kiến thành phường và xã mới (gồm thôn Liên Trì 2, Phú Vang); sáp nhập một phần diện tích xã Hòa An, Hòa Trị, Hòa Thành vào các xã, phường lân cận; dự kiến, đến năm 2020, thành phố có 19 đơn vị hành chính: 16 phường và 3 xã.
c) Phát triển kinh tế xã hội theo vùng:
- Khu vực nội thành: Đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, chỉnh trang đô thị, phân khu chức năng, sắp xếp lại các khu dân cư hợp lý, đẩy mạnh phát triển các hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp; xây dựng vùng có cơ cấu kinh tế dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp, trong đó công nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp sạch, công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn.
- Khu vực ngoại thành: Triển khai thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) “Về nông nghiệp, nông dân và nông thôn”; xây dựng mô hình nông thôn kiểu mới, hiện đại, có mối quan hệ phát triển gắn kết chặt chẽ với vùng đô thị.
+ Về nông nghiệp: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, chuyển đổi diện tích lúa 1 vụ kém hiệu quả sang trồng rau màu (đu đủ, ớt, dưa leo, khổ qua phủ bạc, cây bắp lai...), phát triển đa dạng các đối tượng vật nuôi (bò, heo, nai, nhím...); tăng cường khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; ứng dụng đồng bộ, hiệu quả tiến bộ khoa học kỹ thuật, các mô hình sản xuất tiên tiến IMP, VAC, VACR... vào sản xuất; tiếp tục thực hiện các dự án phát triển nông nghiệp-nông thôn đã xây dựng;
+ Về nông dân: Nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, thực hiện hiệu quả công tác giảm nghèo, xóa nhà ở tạm, các chương trình mục tiêu quốc gia, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đảm bảo cơ bản điều kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa, thể dục, thể thao gần tới mức các vùng đô thị trung bình; phối hợp với các trường, trung tâm dạy nghề của tỉnh tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp cho nông dân, xây dựng đội ngũ nông dân chất lượng cao, nắm vững, đi đầu trong việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; tiếp tục nhân rộng và phát triển các ngành nghề mới nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn, ổn định thu nhập, nâng cao mức sống;
+ Về nông thôn: Quan tâm đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng, đẩy mạnh đầu tư nâng cấp, bê tông hóa giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi, kênh mương nội đồng đảm bảo chủ động tưới tiêu toàn bộ diện tích đất lúa hai vụ, rau màu; xây dựng các công trình cấp nước sạch...; tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, giữ vững ổn định chính trị - an ninh, trật tự, xây dựng vùng nông thôn lành mạnh; quan tâm tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức và thực hiện bảo vệ môi trường.