Document: Điều 10 Nghị định 122-HĐBT chế độ quản lý các chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "20/07/1982", "sign_number": "122-HĐBT", "signer": "Võ Nguyên Giáp", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "20/07/1982", "sign_number": "122-HĐBT", "signer": "Võ Nguyên Giáp", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "20/07/1982", "sign_number": "122-HĐBT", "signer": "Võ Nguyên Giáp", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "20/07/1982", "sign_number": "122-HĐBT", "signer": "Võ Nguyên Giáp", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "20/07/1982", "sign_number": "122-HĐBT", "signer": "Võ Nguyên Giáp", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 10 Nghị định 122-HĐBT chế độ quản lý các chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước có nội dung như sau:

Điều 10. Chế độ báo cáo tình hình thực hiện chương trình
a- Các cơ quan, đơn vị và cán bộ được giao chủ trì nhiệm vụ, đề tài thuộc các chương trình có trách nhiệm báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao chủ yếu là đánh giá kết quả đạt được so với nhiệm vụ ghi trong kế hoạch thực hiện và điều hoà nêu những đề nghị cần thiết lên cơ quan có thẩm quyền giải quyết để tạo điều kiện cho chương trình được tiến hành thuận lợi. Thời gian báo cáo được quy định như sau:
Tháng 3 hàng năm: báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ trong 6 tháng (từ tháng 9 năm trước) và đề nghị điều chỉnh kế hoạch (nếu cần).
Tháng 9 hàng năm: báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ 12 tháng (từ tháng 9 năm trước) và đề nghị bố trí kế hoạch năm sau.
Các báo cáo này phải được gửi tới:
Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước;
Cơ quan chủ trì chương trình;
Chủ nhiệm chương trình;
Cơ quan chủ quản nhiệm vụ, vấn đề, đề tài.
b- Các cơ quan chủ quản nhiệm vụ, vấn đề, đề tài có trách nhiệm gửi báo cáo định kỳ cho cơ quan thống kê theo sự hướng dẫn của Tổng cục Thống kê.
c- Sau khi hoàn thành một nhiệm vụ, đề tài, cũng như khi kết thúc một bước quan trọng (ví dụ: hoàn thành nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, chuẩn bị đưa vào sản xuất...) cán bộ và cơ sở chủ trì việc thực hiện phải làm báo cáo để Ban chủ nhiệm chương trình kiểm tra và tổ chức đánh giá. Các kết quả đánh giá của Ban chủ nhiệm chương trình phải được gửi tới:
Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước;
Cơ quan chủ trì chương trình;
Cơ quan chủ quản nhiệm vụ, vấn đề, đề tài.
d- Trên cơ sở các bản đánh giá tình hình thực hiện từng nhiệm vụ, đề tài, sau khi kết thúc toàn bộ chương trình, Chủ nhiệm chương trình chịu trách nhiệm xây dựng bản báo cáo tổng hợp tình hình thực hiện toàn bộ chương trình.
Bộ chủ trì tổ chức việc đánh giá và làm báo cáo chính thức trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đồng thời gửi Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê .
Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có trách nhiệm theo dõi chỉ đạo và nhận xét kết quả thực hiện các chương trình và tổng hợp báo cáo lên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Content:
Điều 10. Chế độ báo cáo tình hình thực hiện chương trình
a- Các cơ quan, đơn vị và cán bộ được giao chủ trì nhiệm vụ, đề tài thuộc các chương trình có trách nhiệm báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao chủ yếu là đánh giá kết quả đạt được so với nhiệm vụ ghi trong kế hoạch thực hiện và điều hoà nêu những đề nghị cần thiết lên cơ quan có thẩm quyền giải quyết để tạo điều kiện cho chương trình được tiến hành thuận lợi. Thời gian báo cáo được quy định như sau:
Tháng 3 hàng năm: báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ trong 6 tháng (từ tháng 9 năm trước) và đề nghị điều chỉnh kế hoạch (nếu cần).
Tháng 9 hàng năm: báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ 12 tháng (từ tháng 9 năm trước) và đề nghị bố trí kế hoạch năm sau.
Các báo cáo này phải được gửi tới:
Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước;
Cơ quan chủ trì chương trình;
Chủ nhiệm chương trình;
Cơ quan chủ quản nhiệm vụ, vấn đề, đề tài.
b- Các cơ quan chủ quản nhiệm vụ, vấn đề, đề tài có trách nhiệm gửi báo cáo định kỳ cho cơ quan thống kê theo sự hướng dẫn của Tổng cục Thống kê.
c- Sau khi hoàn thành một nhiệm vụ, đề tài, cũng như khi kết thúc một bước quan trọng (ví dụ: hoàn thành nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, chuẩn bị đưa vào sản xuất...) cán bộ và cơ sở chủ trì việc thực hiện phải làm báo cáo để Ban chủ nhiệm chương trình kiểm tra và tổ chức đánh giá. Các kết quả đánh giá của Ban chủ nhiệm chương trình phải được gửi tới:
Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước;
Cơ quan chủ trì chương trình;
Cơ quan chủ quản nhiệm vụ, vấn đề, đề tài.
d- Trên cơ sở các bản đánh giá tình hình thực hiện từng nhiệm vụ, đề tài, sau khi kết thúc toàn bộ chương trình, Chủ nhiệm chương trình chịu trách nhiệm xây dựng bản báo cáo tổng hợp tình hình thực hiện toàn bộ chương trình.
Bộ chủ trì tổ chức việc đánh giá và làm báo cáo chính thức trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đồng thời gửi Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê .
Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có trách nhiệm theo dõi chỉ đạo và nhận xét kết quả thực hiện các chương trình và tổng hợp báo cáo lên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.