Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 134/QĐ-TTg 2015 tái cơ cấu ngành Xây dựng gắn chuyển đổi mô hình tăng trưởng 2014 2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/01/2015", "sign_number": "134/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/01/2015", "sign_number": "134/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/01/2015", "sign_number": "134/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/01/2015", "sign_number": "134/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/01/2015", "sign_number": "134/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 134/QĐ-TTg 2015 tái cơ cấu ngành Xây dựng gắn chuyển đổi mô hình tăng trưởng 2014 2020

Điều 1. Phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành Xây dựng gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2014 - 2020 (sau đây gọi tắt là Đề án) với các nội dung chủ yếu sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2020.
a) Về hoàn thiện thể chế, chính sách:
Hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách quản lý nhà nước trong các lĩnh vực thuộc ngành xây dựng phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xu hướng hội nhập quốc tế, xây dựng hành lang pháp lý hoàn chỉnh để các loại thị trường ngành xây dựng phát triển ổn định, cạnh tranh bình đẳng, công bằng và minh bạch; thúc đẩy phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội vào các lĩnh vực, sản phẩm ngành xây dựng có lợi thế cạnh tranh cao.
b) Về lĩnh vực đầu tư xây dựng:
- Xây dựng được hầu hết các công trình xây dựng thiết yếu bảo đảm chất lượng, thẩm mỹ, có giá thành cạnh tranh. Khắc phục cơ bản tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí, tham nhũng trong đầu tư xây dựng, nhất là các dự án sử dụng vốn nhà nước; hạn chế tối đa việc điều chỉnh tổng mức đầu tư, điều chỉnh tiến độ dự án để đảm bảo nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
- Lĩnh vực tư vấn xây dựng và thi công xây lắp đạt trình độ ngang tầm các nước trong khu vực, trong đó có một số sản phẩm ngang tầm với các nước phát triển trên thế giới (xây dựng các nhà cao tầng, đường cao tốc, các nhà máy điện công suất lớn...), mức tăng trưởng bình quân hàng năm của tư vấn từ 10% - 15%, của xây lắp từ 8% - 12%.
- Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn đầu tư công, đồng thời tăng dần tỷ trọng vốn đầu tư ngoài ngân sách trong đó đặc biệt chú trọng đẩy mạnh mô hình đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP).
c) Về lĩnh vực phát triển đô thị:
- Hệ thống đô thị quốc gia phân bố hợp lý; phát triển đô thị bền vững, xanh, sạch, đẹp, đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; hình thành một số đô thị trung tâm cấp quốc gia, cấp vùng có mức độ hiện đại, tốc độ phát triển và năng lực cạnh tranh ngang tầm với các nước trong khu vực; hình thành một số đô thị có chức năng đặc thù như: đô thị di sản, đô thị du lịch, đô thị khoa học...
- Tỷ lệ đô thị hóa cả nước đạt khoảng 40%; cấp nước bao phủ đạt 90% đối với đô thị loại IV trở lên, đạt 70% đô thị loại V; tỷ lệ thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt đạt chuẩn 60% đối với đô thị loại III trở lên; thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt 90%.
- Tổ chức thực hiện và điều chỉnh kịp thời các mục tiêu về phát triển đô thị trên cơ sở Quyết định số 1659/QĐ-TTg ngày 07 tháng 11 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ.
d) Về lĩnh vực nhà ở và thị trường bất động sản:
- Phát triển đa dạng các loại hình nhà ở đáp ứng cơ bản nhu cầu về nhà ở cho người dân, hoàn thành các mục tiêu trong Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Phấn đấu đến năm 2020 diện tích nhà ở bình quân toàn quốc đạt khoảng 25 m2/người, trong đó tại đô thị khoảng 29 m2/người, tại nông thôn khoảng 22 m2/người; giai đoạn 2016 - 2020 đầu tư xây dựng mới khoảng 12,5 triệu m2 nhà ở xã hội khu vực đô thị.
- Tỷ lệ nhà ở kiên cố toàn quốc đạt khoảng 70%, trong đó tại đô thị đạt trên 75%, tại nông thôn đạt 65%; xóa nhà ở đơn sơ trên phạm vi toàn quốc; nâng tỷ lệ hộ gia đình có công trình phụ hợp vệ sinh lên 90%, trong đó tại đô thị đạt xấp xỉ 100% và tại nông thôn đạt trên 80%.
- Tỷ lệ nhà ở chung cư trong các dự án phát triển nhà ở tại các đô thị loại đặc biệt đạt trên 90%, đô thị loại I và loại II đạt trên 60%, đô thị loại III đạt trên 40% tổng số đơn vị nhà ở xây dựng mới; tỷ lệ nhà ở cho thuê đạt tối thiểu khoảng 30% tổng quỹ nhà ở tại các đô thị từ loại III trở lên.
- Phát triển thị trường bất động sản ổn định, vững chắc, có cấu trúc hoàn chỉnh và cơ cấu hợp lý; khắc phục tình trạng lệch pha cung - cầu, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng cơ bản nhu cầu về nhà ở và các loại bất động sản khác; thị trường hoạt động hiệu quả và trở thành thị trường quan trọng, kết nối lưu thông với các thị trường khác của nền kinh tế. Phấn đấu nguồn thu từ kinh doanh bất động sản và đất đai đạt từ 10 - 15% tổng nguồn thu ngân sách.
đ) Về lĩnh vực vật liệu xây dựng, cơ khí xây dựng:
- Sản lượng vật liệu xây dựng thông thường đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong nước và một phần xuất khẩu. Chất lượng sản phẩm vật liệu xây dựng bảo đảm các tiêu chuẩn trong nước, một số đáp ứng tiêu chuẩn khu vực và quốc tế. Giá trị sản xuất, giá trị gia tăng trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng duy trì sự tăng trưởng ổn định, bền vững, bình quân khoảng 10%/năm.
- Sản xuất xi măng đạt khoảng 115 triệu tấn/năm, trong đó xuất khẩu khoảng 15%; gạch gốm ốp lát và đá ốp lát đạt khoảng 570 triệu m2, xuất khẩu khoảng 25%; sứ vệ sinh đạt khoảng 21 triệu sản phẩm, xuất khẩu khoảng 16%; gạch xây đạt khoảng 30 tỷ viên quy tiêu chuẩn, trong đó vật liệu xây không nung chiếm khoảng 40%.
- Đầu tư sản xuất các vật liệu cao cấp có giá trị lớn phục vụ thi công các công trình có yêu cầu kỹ thuật, chất lượng cao, hạn chế nhập khẩu, đến năm 2020 giảm từ 50% - 60% khối lượng vật liệu cao cấp nhập khẩu.
- Phát triển mạnh sản phẩm cơ khí xây dựng, nhất là các sản phẩm cơ khí phi tiêu chuẩn; tăng tỷ trọng cơ khí chế tạo trong nước nhằm chủ động trong công tác vận hành, khai thác, sửa chữa thay thế, cung cấp vật tư, phụ tùng.
- Nâng cao trình độ tư vấn, thiết kế, chế tạo nhằm sản xuất các vật tư thiết bị phụ tùng cho các dây chuyền thiết bị đồng bộ (dây chuyền sản xuất xi măng, sản xuất vật liệu không nung, gạch ốp lát, thiết bị xử lý chất thải rắn đô thị...).
e) Về các doanh nghiệp xây dựng:
Hoàn thành việc tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước theo các đề án đã được phê duyệt; hình thành một số doanh nghiệp lớn trong ngành có trình độ quản lý hiện đại, công nghệ tiên tiến, có tiềm lực về vốn, đủ năng lực cạnh tranh ở tầm khu vực; các doanh nghiệp vừa và nhỏ được sắp xếp, tái cơ cấu theo hướng chuyên môn hóa cao. Các doanh nghiệp trong ngành có đủ năng lực mở rộng, tiến tới chiếm lĩnh và chi phối thị trường xây dựng trong nước.

Content:
Mục tiêu cụ thể đến năm 2020.
a) Về hoàn thiện thể chế, chính sách:
Hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách quản lý nhà nước trong các lĩnh vực thuộc ngành xây dựng phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xu hướng hội nhập quốc tế, xây dựng hành lang pháp lý hoàn chỉnh để các loại thị trường ngành xây dựng phát triển ổn định, cạnh tranh bình đẳng, công bằng và minh bạch; thúc đẩy phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội vào các lĩnh vực, sản phẩm ngành xây dựng có lợi thế cạnh tranh cao.
b) Về lĩnh vực đầu tư xây dựng:
- Xây dựng được hầu hết các công trình xây dựng thiết yếu bảo đảm chất lượng, thẩm mỹ, có giá thành cạnh tranh. Khắc phục cơ bản tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí, tham nhũng trong đầu tư xây dựng, nhất là các dự án sử dụng vốn nhà nước; hạn chế tối đa việc điều chỉnh tổng mức đầu tư, điều chỉnh tiến độ dự án để đảm bảo nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
- Lĩnh vực tư vấn xây dựng và thi công xây lắp đạt trình độ ngang tầm các nước trong khu vực, trong đó có một số sản phẩm ngang tầm với các nước phát triển trên thế giới (xây dựng các nhà cao tầng, đường cao tốc, các nhà máy điện công suất lớn...), mức tăng trưởng bình quân hàng năm của tư vấn từ 10% - 15%, của xây lắp từ 8% - 12%.
- Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn đầu tư công, đồng thời tăng dần tỷ trọng vốn đầu tư ngoài ngân sách trong đó đặc biệt chú trọng đẩy mạnh mô hình đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP).
c) Về lĩnh vực phát triển đô thị:
- Hệ thống đô thị quốc gia phân bố hợp lý; phát triển đô thị bền vững, xanh, sạch, đẹp, đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; hình thành một số đô thị trung tâm cấp quốc gia, cấp vùng có mức độ hiện đại, tốc độ phát triển và năng lực cạnh tranh ngang tầm với các nước trong khu vực; hình thành một số đô thị có chức năng đặc thù như: đô thị di sản, đô thị du lịch, đô thị khoa học...
- Tỷ lệ đô thị hóa cả nước đạt khoảng 40%; cấp nước bao phủ đạt 90% đối với đô thị loại IV trở lên, đạt 70% đô thị loại V; tỷ lệ thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt đạt chuẩn 60% đối với đô thị loại III trở lên; thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt 90%.
- Tổ chức thực hiện và điều chỉnh kịp thời các mục tiêu về phát triển đô thị trên cơ sở Quyết định số 1659/QĐ-TTg ngày 07 tháng 11 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ.
d) Về lĩnh vực nhà ở và thị trường bất động sản:
- Phát triển đa dạng các loại hình nhà ở đáp ứng cơ bản nhu cầu về nhà ở cho người dân, hoàn thành các mục tiêu trong Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Phấn đấu đến năm 2020 diện tích nhà ở bình quân toàn quốc đạt khoảng 25 m2/người, trong đó tại đô thị khoảng 29 m2/người, tại nông thôn khoảng 22 m2/người; giai đoạn 2016 - 2020 đầu tư xây dựng mới khoảng 12,5 triệu m2 nhà ở xã hội khu vực đô thị.
- Tỷ lệ nhà ở kiên cố toàn quốc đạt khoảng 70%, trong đó tại đô thị đạt trên 75%, tại nông thôn đạt 65%; xóa nhà ở đơn sơ trên phạm vi toàn quốc; nâng tỷ lệ hộ gia đình có công trình phụ hợp vệ sinh lên 90%, trong đó tại đô thị đạt xấp xỉ 100% và tại nông thôn đạt trên 80%.
- Tỷ lệ nhà ở chung cư trong các dự án phát triển nhà ở tại các đô thị loại đặc biệt đạt trên 90%, đô thị loại I và loại II đạt trên 60%, đô thị loại III đạt trên 40% tổng số đơn vị nhà ở xây dựng mới; tỷ lệ nhà ở cho thuê đạt tối thiểu khoảng 30% tổng quỹ nhà ở tại các đô thị từ loại III trở lên.
- Phát triển thị trường bất động sản ổn định, vững chắc, có cấu trúc hoàn chỉnh và cơ cấu hợp lý; khắc phục tình trạng lệch pha cung - cầu, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng cơ bản nhu cầu về nhà ở và các loại bất động sản khác; thị trường hoạt động hiệu quả và trở thành thị trường quan trọng, kết nối lưu thông với các thị trường khác của nền kinh tế. Phấn đấu nguồn thu từ kinh doanh bất động sản và đất đai đạt từ 10 - 15% tổng nguồn thu ngân sách.
đ) Về lĩnh vực vật liệu xây dựng, cơ khí xây dựng:
- Sản lượng vật liệu xây dựng thông thường đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong nước và một phần xuất khẩu. Chất lượng sản phẩm vật liệu xây dựng bảo đảm các tiêu chuẩn trong nước, một số đáp ứng tiêu chuẩn khu vực và quốc tế. Giá trị sản xuất, giá trị gia tăng trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng duy trì sự tăng trưởng ổn định, bền vững, bình quân khoảng 10%/năm.
- Sản xuất xi măng đạt khoảng 115 triệu tấn/năm, trong đó xuất khẩu khoảng 15%; gạch gốm ốp lát và đá ốp lát đạt khoảng 570 triệu m2, xuất khẩu khoảng 25%; sứ vệ sinh đạt khoảng 21 triệu sản phẩm, xuất khẩu khoảng 16%; gạch xây đạt khoảng 30 tỷ viên quy tiêu chuẩn, trong đó vật liệu xây không nung chiếm khoảng 40%.
- Đầu tư sản xuất các vật liệu cao cấp có giá trị lớn phục vụ thi công các công trình có yêu cầu kỹ thuật, chất lượng cao, hạn chế nhập khẩu, đến năm 2020 giảm từ 50% - 60% khối lượng vật liệu cao cấp nhập khẩu.
- Phát triển mạnh sản phẩm cơ khí xây dựng, nhất là các sản phẩm cơ khí phi tiêu chuẩn; tăng tỷ trọng cơ khí chế tạo trong nước nhằm chủ động trong công tác vận hành, khai thác, sửa chữa thay thế, cung cấp vật tư, phụ tùng.
- Nâng cao trình độ tư vấn, thiết kế, chế tạo nhằm sản xuất các vật tư thiết bị phụ tùng cho các dây chuyền thiết bị đồng bộ (dây chuyền sản xuất xi măng, sản xuất vật liệu không nung, gạch ốp lát, thiết bị xử lý chất thải rắn đô thị...).
e) Về các doanh nghiệp xây dựng:
Hoàn thành việc tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước theo các đề án đã được phê duyệt; hình thành một số doanh nghiệp lớn trong ngành có trình độ quản lý hiện đại, công nghệ tiên tiến, có tiềm lực về vốn, đủ năng lực cạnh tranh ở tầm khu vực; các doanh nghiệp vừa và nhỏ được sắp xếp, tái cơ cấu theo hướng chuyên môn hóa cao. Các doanh nghiệp trong ngành có đủ năng lực mở rộng, tiến tới chiếm lĩnh và chi phối thị trường xây dựng trong nước.