Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1278/QĐ-BTTTT 2017 công tác phòng ngừa chống vi phạm pháp luật tội phạm Internet

Type: {"issuing_agency": "Bộ Thông tin và Truyền thông", "promulgation_date": "03/08/2017", "sign_number": "1278/QĐ-BTTTT", "signer": "Hoàng Vĩnh Bảo", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Thông tin và Truyền thông", "promulgation_date": "03/08/2017", "sign_number": "1278/QĐ-BTTTT", "signer": "Hoàng Vĩnh Bảo", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Thông tin và Truyền thông", "promulgation_date": "03/08/2017", "sign_number": "1278/QĐ-BTTTT", "signer": "Hoàng Vĩnh Bảo", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Thông tin và Truyền thông", "promulgation_date": "03/08/2017", "sign_number": "1278/QĐ-BTTTT", "signer": "Hoàng Vĩnh Bảo", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Thông tin và Truyền thông", "promulgation_date": "03/08/2017", "sign_number": "1278/QĐ-BTTTT", "signer": "Hoàng Vĩnh Bảo", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1278/QĐ-BTTTT 2017 công tác phòng ngừa chống vi phạm pháp luật tội phạm Internet

Điều 1. Phê duyệt Đề án "Tăng cường hiệu quả công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet" thuộc Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025 và định hướng đến năm 2030 với các nội dung chủ yếu như sau:
...
3. Các hoạt động của Đề án
a) Hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet
- Rà soát và sửa đổi, bổ sung nhằm nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả các văn bản hiện có về phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet phù hợp với yêu cầu thực tiễn; tăng cường các chế tài xử lý sai phạm nghiêm khắc hơn, có tính răn đe cao hơn đối với những hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm trên Internet, cụ thể hóa các hành vi sai phạm về nội dung.
- Xây dựng chính sách quản lý thông tin trên mạng theo sự phát triển của công nghệ, đặc biệt là mạng viễn thông di động khi số lượng người sử dụng ngày càng tăng, tính chất thông tin ngày càng đa dạng, phức tạp.
- Xây dựng cơ chế ưu đãi đặc thù và chính sách phù hợp khuyến khích, thúc đẩy phát triển các dịch vụ Internet hấp dẫn của các doanh nghiệp Việt Nam, tạo sức cạnh tranh với dịch vụ của doanh nghiệp nước ngoài.
- Xây dựng chính sách khuyến khích sự hợp tác, hỗ trợ hợp pháp của các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước với các cơ quan chức năng trong phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet.
- Nghiên cứu chính sách hỗ trợ phát triển mạng xã hội và công cụ tìm kiếm của Việt Nam.
Thời gian thực hiện: từ năm 2017 đến năm 2020.
b) Tăng cường năng lực cho lực lượng thanh tra ngành Thông tin và Truyền thông và các lực lượng tham gia phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet
- Tăng cường năng lực cho lực lượng thanh tra ngành Thông tin và Truyền thông và các lực lượng tham gia phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet từ Trung ương xuống địa phương đủ về số lượng và bảo đảm trình độ chuyên môn nghiệp vụ; lựa chọn người có trình độ lý luận, chuyên môn, kỹ thuật cao để theo dõi hoạt động phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet.
- Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ tham gia phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet chuyên nghiệp, hiệu quả, liêm chính, tăng tính chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nắm chắc tình hình để tham mưu, giải quyết công việc đúng quy định pháp luật; chấp hành nghiêm mệnh lệnh công tác; bám sát các quy định về hoạt động nghiệp vụ, công tác thanh tra, điều tra; xây dựng, áp dụng và vận hành các hệ thống quản lý chất lượng theo đúng tiêu chuẩn ISO.
- Định kỳ tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo và đào tạo lại, trang bị những kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho lực lượng thanh tra ngành Thông tin và Truyền thông và các lực lượng tham gia phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet.
- Hình thành bộ máy tiếp nhận, xử lý các phản ánh về thông tin sai phạm trên mạng Internet từ cộng đồng. Nghiên cứu hình thành đội ngũ tuần hành, giám sát mạng Internet hoạt động theo cơ chế, quy chế riêng.
- Rà soát, trang bị phương tiện, thiết bị tác nghiệp, bổ sung kinh phí nghiệp vụ, kinh phí thanh tra cho lực lượng thanh tra Thông tin và Truyền thông và các lực lượng tham gia phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet.
- Tổ chức xây dựng và áp dụng phần mềm theo dõi, quản lý, lưu trữ dữ liệu về tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra và các hoạt động nghiệp vụ khác.
- Xây dựng kế hoạch phối hợp giữa lực lượng thanh tra ngành Thông tin và Truyền thông và các lực lượng chức năng thuộc các Bộ, ngành, cơ quan có trách nhiệm trong phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet, đảm bảo an toàn an ninh thông tin mạng và thực hiện các biện pháp ngăn chặn những hành vi lợi dụng môi trường mạng gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích của tổ chức, công dân.
Thời gian thực hiện: từ năm 2017 đến năm 2020.
c) Nâng cao năng lực kỹ thuật, nghiệp vụ để phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet
- Xây dựng hệ thống kiểm duyệt và triển khai phần mềm chặn lọc, phát hiện, thu thập, xử lý thông tin sai phạm trên môi trường mạng; triển khai hệ thống cảnh báo, cổng kiểm soát quốc gia chặn lọc các truy cập thông tin sai phạm từ người dùng; xây dựng phần mềm bảo vệ an ninh máy tính cá nhân khi truy cập Internet cho phép bảo vệ người sử dụng mạng Internet tránh được các sự cố an toàn thông tin khi cố tình hoặc truy cập nhầm vào các trang thông tin có nội dung độc hại, nguy hiểm và sai trái.
- Đầu tư, xây dựng hệ thống thiết bị có khả năng phân tích hành vi, phương thức, thủ đoạn mà tội phạm mạng sử dụng để thực hiện các hành vi vi phạm.
- Nâng cao năng lực phát hiện, đánh giá, thẩm định nội dung thông tin độc hại trên Internet; thiết lập cơ chế thẩm định nội dung thông tin sai phạm một cách mềm dẻo, hiệu quả. Hình thành mạng lưới cộng tác viên và mạng lưới phản bác thông tin sai trái, thù địch trên môi trường mạng. Thường xuyên đôn đốc, yêu cầu các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp Internet, đặc biệt là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động kịp thời có biện pháp kỹ thuật xử lý các nguồn phát tán thông tin sai phạm, chủ động rà soát, có phương án xử lý đối với hành vi lợi dụng hệ thống thông tin di động để phát tán tin nhắn rác, thông tin chống phá Đảng, Nhà nước và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
- Đẩy mạnh công tác nắm tình hình, dự báo tình hình, công tác thanh tra, kiểm tra, xác minh, đánh giá việc chấp hành quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet, tăng cường hậu kiểm đối với các loại hình dịch vụ trên mạng Internet để chấn chỉnh, xử lý kịp thời các sai phạm; chú trọng nâng cao năng lực công tác quản lý và điều hành ngăn chặn địa chỉ IP và phân giải tên miền để chủ động phòng ngừa và xử lý sai phạm trên môi trường mạng. Chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, loại bỏ nguy cơ mất an ninh, an toàn mạng thông tin quốc gia, bảo vệ bí mật nhà nước trên không gian mạng, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
- Tăng cường thu thập, phát hiện, điều tra, xử lý thông tin, tài liệu, hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; tổ chức ngăn chặn các hoạt động xâm nhập, phá hoại, lấy cắp thông tin trên mạng, xử lý các hoạt động lợi dụng mạng để tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bí mật nhà nước và các hoạt động tội phạm khác.
- Lực lượng thanh tra có trách nhiệm phối hợp với cơ quan công an, cơ quan điều tra khi có yêu cầu trong quá trình điều tra, xử lý đối với các vụ việc có dấu hiệu tội phạm lợi dụng môi trường mạng; đặc biệt cần tăng cường phối hợp với cơ quan chức năng Bộ Công an áp dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ truy tìm những đối tượng lợi dụng mạng Internet thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet để xử lý theo quy định. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm trên mạng Internet, cơ quan thanh tra chuyển ngay hồ sơ vụ việc tới cơ quan điều tra có thẩm quyền để xem xét, xử lý theo đúng quy định tại Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-VKSTC-TTCP-BCA-BQP ngày 22/3/2012 của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ quốc phòng quy định về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố.
- Kiện toàn lực lượng giám định viên tư pháp ngành Thông tin và Truyền thông để đảm bảo tổ chức tiếp nhận trưng cầu và cử người tham gia giám định tư pháp đối với các vụ việc phạm tội trên mạng Internet do Cơ quan điều tra trưng cầu theo đúng quy định của Luật Giám định tư pháp, phục vụ kịp thời công tác điều tra, truy tố, xét xử vụ án.
Thời gian thực hiện hàng năm đến hết năm 2025.
d) Thông tin tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức người dân trong phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet
- Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành liên quan trong công tác thông tin, tuyên truyền và chỉ đạo các cơ quan báo chí đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho các cấp, các ngành, các địa phương, lực lượng vũ trang và toàn xã hội nhận thức đúng đắn, đầy đủ về tình hình, những thuận lợi, khó khăn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; về nguyên nhân, sự nguy hiểm, tác hại và ảnh hưởng do vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet gây ra đối với an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet cho toàn dân, chủ động đấu tranh chống lại các thông tin xuyên tạc, chống phá từ các thế lực thù địch, phản động; xây dựng lòng tin của nhân dân, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội, đoàn kết một lòng xung quanh sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành, quản lý của Nhà nước.
- Xây dựng kế hoạch tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, kết hợp với truyền thông xã hội, với gia đình, nhà trường, các tổ chức đoàn thể nhằm hướng dẫn, nâng cao ý thức phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet, ý thức sử dụng thông tin trên Internet của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ để tự mình sàng lọc những nội dung xấu, khai thác những thông tin có lợi phục vụ nhu cầu học tập, thông tin giải trí lành mạnh.
Thời gian thực hiện hàng năm đến hết năm 2025.
đ) Tăng cường hợp tác quốc tế và phối hợp xuyên quốc gia trong quản lý thông tin trên Internet
- Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và các Bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch nghiên cứu mở rộng và nâng cao tính hiệu quả của việc phối hợp quốc tế trong quản lý thông tin trên Internet; tham gia và nâng cao hiệu quả thực thi các hiệp định, công ước quốc tế, tuyên bố về an toàn an ninh thông tin, ngăn ngừa tội phạm mạng và quản lý thông tin trên Internet mà Việt Nam là thành viên, đảm bảo theo đúng đường lối ngoại giao của Nhà nước, phù hợp với luật pháp Việt Nam và luật pháp, thông lệ quốc tế. Phối hợp với các tổ chức an toàn thông tin, phòng, chống tội phạm mạng quốc tế trong việc chia sẻ thông tin, phối hợp nghiệp vụ để phòng, chống các hình thức tội phạm xuyên quốc gia.
- Đối với những thông tin vi phạm được cung cấp theo dịch vụ xuyên biên giới từ máy chủ của nước ngoài, ngoài việc thực hiện theo quy định tại Thông tư số 38/2016/TT-BTTTT ngày 26 tháng 12 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết về việc cung cấp thông tin công cộng qua biên giới, các đơn vị tham gia Đề án tham mưu Lãnh đạo Bộ, ngành mình tăng cường hợp tác quốc tế thông qua con đường ngoại giao nhằm phối hợp xử lý vi phạm phù hợp với thông lệ quốc tế.
Thời gian thực hiện hàng năm đến hết năm 2025.

Content:
Các hoạt động của Đề án
a) Hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet
- Rà soát và sửa đổi, bổ sung nhằm nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả các văn bản hiện có về phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet phù hợp với yêu cầu thực tiễn; tăng cường các chế tài xử lý sai phạm nghiêm khắc hơn, có tính răn đe cao hơn đối với những hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm trên Internet, cụ thể hóa các hành vi sai phạm về nội dung.
- Xây dựng chính sách quản lý thông tin trên mạng theo sự phát triển của công nghệ, đặc biệt là mạng viễn thông di động khi số lượng người sử dụng ngày càng tăng, tính chất thông tin ngày càng đa dạng, phức tạp.
- Xây dựng cơ chế ưu đãi đặc thù và chính sách phù hợp khuyến khích, thúc đẩy phát triển các dịch vụ Internet hấp dẫn của các doanh nghiệp Việt Nam, tạo sức cạnh tranh với dịch vụ của doanh nghiệp nước ngoài.
- Xây dựng chính sách khuyến khích sự hợp tác, hỗ trợ hợp pháp của các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước với các cơ quan chức năng trong phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet.
- Nghiên cứu chính sách hỗ trợ phát triển mạng xã hội và công cụ tìm kiếm của Việt Nam.
Thời gian thực hiện: từ năm 2017 đến năm 2020.
b) Tăng cường năng lực cho lực lượng thanh tra ngành Thông tin và Truyền thông và các lực lượng tham gia phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet
- Tăng cường năng lực cho lực lượng thanh tra ngành Thông tin và Truyền thông và các lực lượng tham gia phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet từ Trung ương xuống địa phương đủ về số lượng và bảo đảm trình độ chuyên môn nghiệp vụ; lựa chọn người có trình độ lý luận, chuyên môn, kỹ thuật cao để theo dõi hoạt động phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet.
- Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ tham gia phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet chuyên nghiệp, hiệu quả, liêm chính, tăng tính chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nắm chắc tình hình để tham mưu, giải quyết công việc đúng quy định pháp luật; chấp hành nghiêm mệnh lệnh công tác; bám sát các quy định về hoạt động nghiệp vụ, công tác thanh tra, điều tra; xây dựng, áp dụng và vận hành các hệ thống quản lý chất lượng theo đúng tiêu chuẩn ISO.
- Định kỳ tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo và đào tạo lại, trang bị những kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho lực lượng thanh tra ngành Thông tin và Truyền thông và các lực lượng tham gia phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet.
- Hình thành bộ máy tiếp nhận, xử lý các phản ánh về thông tin sai phạm trên mạng Internet từ cộng đồng. Nghiên cứu hình thành đội ngũ tuần hành, giám sát mạng Internet hoạt động theo cơ chế, quy chế riêng.
- Rà soát, trang bị phương tiện, thiết bị tác nghiệp, bổ sung kinh phí nghiệp vụ, kinh phí thanh tra cho lực lượng thanh tra Thông tin và Truyền thông và các lực lượng tham gia phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet.
- Tổ chức xây dựng và áp dụng phần mềm theo dõi, quản lý, lưu trữ dữ liệu về tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra và các hoạt động nghiệp vụ khác.
- Xây dựng kế hoạch phối hợp giữa lực lượng thanh tra ngành Thông tin và Truyền thông và các lực lượng chức năng thuộc các Bộ, ngành, cơ quan có trách nhiệm trong phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet, đảm bảo an toàn an ninh thông tin mạng và thực hiện các biện pháp ngăn chặn những hành vi lợi dụng môi trường mạng gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích của tổ chức, công dân.
Thời gian thực hiện: từ năm 2017 đến năm 2020.
c) Nâng cao năng lực kỹ thuật, nghiệp vụ để phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet
- Xây dựng hệ thống kiểm duyệt và triển khai phần mềm chặn lọc, phát hiện, thu thập, xử lý thông tin sai phạm trên môi trường mạng; triển khai hệ thống cảnh báo, cổng kiểm soát quốc gia chặn lọc các truy cập thông tin sai phạm từ người dùng; xây dựng phần mềm bảo vệ an ninh máy tính cá nhân khi truy cập Internet cho phép bảo vệ người sử dụng mạng Internet tránh được các sự cố an toàn thông tin khi cố tình hoặc truy cập nhầm vào các trang thông tin có nội dung độc hại, nguy hiểm và sai trái.
- Đầu tư, xây dựng hệ thống thiết bị có khả năng phân tích hành vi, phương thức, thủ đoạn mà tội phạm mạng sử dụng để thực hiện các hành vi vi phạm.
- Nâng cao năng lực phát hiện, đánh giá, thẩm định nội dung thông tin độc hại trên Internet; thiết lập cơ chế thẩm định nội dung thông tin sai phạm một cách mềm dẻo, hiệu quả. Hình thành mạng lưới cộng tác viên và mạng lưới phản bác thông tin sai trái, thù địch trên môi trường mạng. Thường xuyên đôn đốc, yêu cầu các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp Internet, đặc biệt là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động kịp thời có biện pháp kỹ thuật xử lý các nguồn phát tán thông tin sai phạm, chủ động rà soát, có phương án xử lý đối với hành vi lợi dụng hệ thống thông tin di động để phát tán tin nhắn rác, thông tin chống phá Đảng, Nhà nước và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
- Đẩy mạnh công tác nắm tình hình, dự báo tình hình, công tác thanh tra, kiểm tra, xác minh, đánh giá việc chấp hành quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet, tăng cường hậu kiểm đối với các loại hình dịch vụ trên mạng Internet để chấn chỉnh, xử lý kịp thời các sai phạm; chú trọng nâng cao năng lực công tác quản lý và điều hành ngăn chặn địa chỉ IP và phân giải tên miền để chủ động phòng ngừa và xử lý sai phạm trên môi trường mạng. Chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, loại bỏ nguy cơ mất an ninh, an toàn mạng thông tin quốc gia, bảo vệ bí mật nhà nước trên không gian mạng, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
- Tăng cường thu thập, phát hiện, điều tra, xử lý thông tin, tài liệu, hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; tổ chức ngăn chặn các hoạt động xâm nhập, phá hoại, lấy cắp thông tin trên mạng, xử lý các hoạt động lợi dụng mạng để tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bí mật nhà nước và các hoạt động tội phạm khác.
- Lực lượng thanh tra có trách nhiệm phối hợp với cơ quan công an, cơ quan điều tra khi có yêu cầu trong quá trình điều tra, xử lý đối với các vụ việc có dấu hiệu tội phạm lợi dụng môi trường mạng; đặc biệt cần tăng cường phối hợp với cơ quan chức năng Bộ Công an áp dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ truy tìm những đối tượng lợi dụng mạng Internet thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet để xử lý theo quy định. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm trên mạng Internet, cơ quan thanh tra chuyển ngay hồ sơ vụ việc tới cơ quan điều tra có thẩm quyền để xem xét, xử lý theo đúng quy định tại Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-VKSTC-TTCP-BCA-BQP ngày 22/3/2012 của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ quốc phòng quy định về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố.
- Kiện toàn lực lượng giám định viên tư pháp ngành Thông tin và Truyền thông để đảm bảo tổ chức tiếp nhận trưng cầu và cử người tham gia giám định tư pháp đối với các vụ việc phạm tội trên mạng Internet do Cơ quan điều tra trưng cầu theo đúng quy định của Luật Giám định tư pháp, phục vụ kịp thời công tác điều tra, truy tố, xét xử vụ án.
Thời gian thực hiện hàng năm đến hết năm 2025.
d) Thông tin tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức người dân trong phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet
- Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành liên quan trong công tác thông tin, tuyên truyền và chỉ đạo các cơ quan báo chí đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho các cấp, các ngành, các địa phương, lực lượng vũ trang và toàn xã hội nhận thức đúng đắn, đầy đủ về tình hình, những thuận lợi, khó khăn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; về nguyên nhân, sự nguy hiểm, tác hại và ảnh hưởng do vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet gây ra đối với an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet cho toàn dân, chủ động đấu tranh chống lại các thông tin xuyên tạc, chống phá từ các thế lực thù địch, phản động; xây dựng lòng tin của nhân dân, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội, đoàn kết một lòng xung quanh sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành, quản lý của Nhà nước.
- Xây dựng kế hoạch tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, kết hợp với truyền thông xã hội, với gia đình, nhà trường, các tổ chức đoàn thể nhằm hướng dẫn, nâng cao ý thức phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet, ý thức sử dụng thông tin trên Internet của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ để tự mình sàng lọc những nội dung xấu, khai thác những thông tin có lợi phục vụ nhu cầu học tập, thông tin giải trí lành mạnh.
Thời gian thực hiện hàng năm đến hết năm 2025.
đ) Tăng cường hợp tác quốc tế và phối hợp xuyên quốc gia trong quản lý thông tin trên Internet
- Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và các Bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch nghiên cứu mở rộng và nâng cao tính hiệu quả của việc phối hợp quốc tế trong quản lý thông tin trên Internet; tham gia và nâng cao hiệu quả thực thi các hiệp định, công ước quốc tế, tuyên bố về an toàn an ninh thông tin, ngăn ngừa tội phạm mạng và quản lý thông tin trên Internet mà Việt Nam là thành viên, đảm bảo theo đúng đường lối ngoại giao của Nhà nước, phù hợp với luật pháp Việt Nam và luật pháp, thông lệ quốc tế. Phối hợp với các tổ chức an toàn thông tin, phòng, chống tội phạm mạng quốc tế trong việc chia sẻ thông tin, phối hợp nghiệp vụ để phòng, chống các hình thức tội phạm xuyên quốc gia.
- Đối với những thông tin vi phạm được cung cấp theo dịch vụ xuyên biên giới từ máy chủ của nước ngoài, ngoài việc thực hiện theo quy định tại Thông tư số 38/2016/TT-BTTTT ngày 26 tháng 12 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết về việc cung cấp thông tin công cộng qua biên giới, các đơn vị tham gia Đề án tham mưu Lãnh đạo Bộ, ngành mình tăng cường hợp tác quốc tế thông qua con đường ngoại giao nhằm phối hợp xử lý vi phạm phù hợp với thông lệ quốc tế.
Thời gian thực hiện hàng năm đến hết năm 2025.