Document: Điều 2 Nghị định 374-TTg thuế nông nghiệp vùng đã cải cách ruộng đất để sửa đổi điều 11 và điều 20 của Điều lệ thuế nông nghiệp và vùng đã cải cách ruộng đất

Type: {"issuing_agency": "Phủ Thủ tướng", "promulgation_date": "15/10/1959", "sign_number": "374-TTg", "signer": "Phạm Hùng", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Phủ Thủ tướng", "promulgation_date": "15/10/1959", "sign_number": "374-TTg", "signer": "Phạm Hùng", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Phủ Thủ tướng", "promulgation_date": "15/10/1959", "sign_number": "374-TTg", "signer": "Phạm Hùng", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Phủ Thủ tướng", "promulgation_date": "15/10/1959", "sign_number": "374-TTg", "signer": "Phạm Hùng", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Phủ Thủ tướng", "promulgation_date": "15/10/1959", "sign_number": "374-TTg", "signer": "Phạm Hùng", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 2 Nghị định 374-TTg thuế nông nghiệp vùng đã cải cách ruộng đất để sửa đổi điều 11 và điều 20 của Điều lệ thuế nông nghiệp và vùng đã cải cách ruộng đất có nội dung như sau:

Điều 2. 0 mới: “Đối với các ruộng đất dự trữ (ruộng đất dành đón thương binh, dành cho những công trình kiến thiết v.v…) ruộng vắng chủ, do chính quyền và nông hội giao cho nhân dân cày cấy, thì hoa lợi ruộng đất đó không gộp vào hoa lợi ruộng đất sẵn có của nông bộ nhận ruộng để tính thuế, mà nộp thuế theo thuế suất bình quân của mỗi xã.
Nếu các đoàn thể, tổ đổi công nhận cày cấy các loại ruộng đất nói trên cũng nộp thuế theo thuế suất bình quân của xã.
Nếu chính quyền có thu phần hoa lợi vào các loại ruộng đất nói trên thì nộp thuế 10% phần hoa lợi thu được, người cày cấy chỉ phải nộp thuế vào phần hoa lợi còn lại.
Đối với những vùng ruộng đất nhiều, dân số ít xét cần khuyến khích cày cấy hết diện tích, Ủy ban Hành chính khu, thành phố, tỉnh có thể quyết định giảm 25% đến 50% số thuế về phần ruộng đất dự trữ đất vắng chủ”.
Điều 2. – Đối với Miền núi, Bộ Tài chính cùng với Ủy ban Hành chính khu, tỉnh miền núi quy định những biện pháp thích hợp để áp dụng nghị định này.

Content:
Điều 2. 0 mới: “Đối với các ruộng đất dự trữ (ruộng đất dành đón thương binh, dành cho những công trình kiến thiết v.v…) ruộng vắng chủ, do chính quyền và nông hội giao cho nhân dân cày cấy, thì hoa lợi ruộng đất đó không gộp vào hoa lợi ruộng đất sẵn có của nông bộ nhận ruộng để tính thuế, mà nộp thuế theo thuế suất bình quân của mỗi xã.
Nếu các đoàn thể, tổ đổi công nhận cày cấy các loại ruộng đất nói trên cũng nộp thuế theo thuế suất bình quân của xã.
Nếu chính quyền có thu phần hoa lợi vào các loại ruộng đất nói trên thì nộp thuế 10% phần hoa lợi thu được, người cày cấy chỉ phải nộp thuế vào phần hoa lợi còn lại.
Đối với những vùng ruộng đất nhiều, dân số ít xét cần khuyến khích cày cấy hết diện tích, Ủy ban Hành chính khu, thành phố, tỉnh có thể quyết định giảm 25% đến 50% số thuế về phần ruộng đất dự trữ đất vắng chủ”.
Điều 2. – Đối với Miền núi, Bộ Tài chính cùng với Ủy ban Hành chính khu, tỉnh miền núi quy định những biện pháp thích hợp để áp dụng nghị định này.