Document: Điều 5 Quyết định 1101-QĐ/LB thu tiền nuôi rừng

Type: {"issuing_agency": "Bộ Lâm nghiệp, Bộ Tài chính", "promulgation_date": "23/10/1981", "sign_number": "1101-QĐ/LB", "signer": "Trần Văn Quế, Võ Trí Cao", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Lâm nghiệp, Bộ Tài chính", "promulgation_date": "23/10/1981", "sign_number": "1101-QĐ/LB", "signer": "Trần Văn Quế, Võ Trí Cao", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Lâm nghiệp, Bộ Tài chính", "promulgation_date": "23/10/1981", "sign_number": "1101-QĐ/LB", "signer": "Trần Văn Quế, Võ Trí Cao", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Lâm nghiệp, Bộ Tài chính", "promulgation_date": "23/10/1981", "sign_number": "1101-QĐ/LB", "signer": "Trần Văn Quế, Võ Trí Cao", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Lâm nghiệp, Bộ Tài chính", "promulgation_date": "23/10/1981", "sign_number": "1101-QĐ/LB", "signer": "Trần Văn Quế, Võ Trí Cao", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 5 Quyết định 1101-QĐ/LB thu tiền nuôi rừng có nội dung như sau:

Điều 5. :
Tiền nuôi rừng phải được xác định trong nhiệm vụ, kế hoạch của đơn vị, tổ chức quốc doanh lâm nghiệp khai thác lâm sản và được thanh toán bằng lợi nhuận cân đối của xí nghiệp.
Việc thu, nộp tiền nuôi rừng được thực hiện tại cội hoặc tại kho 1 do Bộ Lâm nghiệp quyết đinh (theo để nghị của Cục kiểm lâm nhân dân và căn cứ tình hình cụ thể của từng nơi).
Các lâm trường, xí nghiệp quốc doanh lâm nghiệp có khai thác lâm sản phải nộp tiền nuôi rừng theo số thực tế phải nộp mà tổ chức kiểm lâm nhân dân đã xác định tại cội hoặc tại kho 1. Hàng tháng, quý đơn vị phải quyết toán số thu, nộp và điều chỉnh kế hoạch nộp kỳ sau.
Trường hợp do các yếu tố khách quan biến động làm phát sinh lỗ thì đơn vị phải kịp thời đề nghị Bộ Lâm nghiệp xét cho điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận của xí nghiệp.
Các tổ chức kinh tế quốc doanh ngoài ngành lâm nghiệp, cơ quan Nhà nước, lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị tập thể, cá nhân được phép khai thác những sản phẩm chủ yếu như gỗ, củi, tre, nứa, v.v... phải nộp tiền nuôi rừng ngay từ khi được cấp giấy phép khai thác. Khi khai thác xong, kiểm lâm nhân dân phải đến tại chỗ xác nhận và người khai thác sẽ thanh toán số tiền nuôi rừng phải nộp nếu có chênh lệch.
Đối với các loại lâm sản khác và đặc sản rừng mà nhân dân những xã ở nơi có rừng được phép khai thác để dùng hoặc để bán ra thị trường, thì người khai thác phải nộp tiền nuôi rừng tại các hạt, trạm kiểm lâm nhân dân gần nhất. Nếu khai thác để bán cho cơ quan được phép thu mua của Nhà nước ngay tại nơi thu mua thì cơ quan thu mua nộp tiền nuôi rừng.
Chỉ sau khi đã làm xong các thủ tục và nộp đủ tiền nuôi rừng, đơn vị hoặc cá nhân mới được đưa sản phẩm khai thác ra khỏi rừng và vận chuyển đi nơi khác. Riêng gỗ tròn, ngoài thủ tục chung đã quy định nhất thiết phải có dấu búa của kiểm lâm nhân dân quản lý khu vực mới được coi là sản phẩm của rừng được khai thác hợp pháp.

Content:
Điều 5. :
Tiền nuôi rừng phải được xác định trong nhiệm vụ, kế hoạch của đơn vị, tổ chức quốc doanh lâm nghiệp khai thác lâm sản và được thanh toán bằng lợi nhuận cân đối của xí nghiệp.
Việc thu, nộp tiền nuôi rừng được thực hiện tại cội hoặc tại kho 1 do Bộ Lâm nghiệp quyết đinh (theo để nghị của Cục kiểm lâm nhân dân và căn cứ tình hình cụ thể của từng nơi).
Các lâm trường, xí nghiệp quốc doanh lâm nghiệp có khai thác lâm sản phải nộp tiền nuôi rừng theo số thực tế phải nộp mà tổ chức kiểm lâm nhân dân đã xác định tại cội hoặc tại kho 1. Hàng tháng, quý đơn vị phải quyết toán số thu, nộp và điều chỉnh kế hoạch nộp kỳ sau.
Trường hợp do các yếu tố khách quan biến động làm phát sinh lỗ thì đơn vị phải kịp thời đề nghị Bộ Lâm nghiệp xét cho điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận của xí nghiệp.
Các tổ chức kinh tế quốc doanh ngoài ngành lâm nghiệp, cơ quan Nhà nước, lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị tập thể, cá nhân được phép khai thác những sản phẩm chủ yếu như gỗ, củi, tre, nứa, v.v... phải nộp tiền nuôi rừng ngay từ khi được cấp giấy phép khai thác. Khi khai thác xong, kiểm lâm nhân dân phải đến tại chỗ xác nhận và người khai thác sẽ thanh toán số tiền nuôi rừng phải nộp nếu có chênh lệch.
Đối với các loại lâm sản khác và đặc sản rừng mà nhân dân những xã ở nơi có rừng được phép khai thác để dùng hoặc để bán ra thị trường, thì người khai thác phải nộp tiền nuôi rừng tại các hạt, trạm kiểm lâm nhân dân gần nhất. Nếu khai thác để bán cho cơ quan được phép thu mua của Nhà nước ngay tại nơi thu mua thì cơ quan thu mua nộp tiền nuôi rừng.
Chỉ sau khi đã làm xong các thủ tục và nộp đủ tiền nuôi rừng, đơn vị hoặc cá nhân mới được đưa sản phẩm khai thác ra khỏi rừng và vận chuyển đi nơi khác. Riêng gỗ tròn, ngoài thủ tục chung đã quy định nhất thiết phải có dấu búa của kiểm lâm nhân dân quản lý khu vực mới được coi là sản phẩm của rừng được khai thác hợp pháp.