Document: Điều 15 Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1994 35-L/CTN

Type: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "21/06/1994", "sign_number": "35-L/CTN", "signer": "Lê Đức Anh", "type": "Luật"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "21/06/1994", "sign_number": "35-L/CTN", "signer": "Lê Đức Anh", "type": "Luật"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "21/06/1994", "sign_number": "35-L/CTN", "signer": "Lê Đức Anh", "type": "Luật"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "21/06/1994", "sign_number": "35-L/CTN", "signer": "Lê Đức Anh", "type": "Luật"}
Signer: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "21/06/1994", "sign_number": "35-L/CTN", "signer": "Lê Đức Anh", "type": "Luật"}

Full Text:
Điều 15 Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1994 35-L/CTN có nội dung như sau:

Điều 15. Chậm nhất là tám mươi ngày trước ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp ấy thành lập Hội đồng bầu cử từ năm đến mười lăm người gồm đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội khác; ở xã, phường, thị trấn thì Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập Hội đồng bầu cử từ năm đến chín người gồm đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức xã hội khác, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.
Hội đồng bầu cử bầu Chủ tịch, Phó chủ tịch và Thư ký.
Danh sách Hội đồng bầu cử tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải báo cáo lên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Danh sách Hội đồng bầu cử các cấp khác phải báo cáo lên Uỷ ban nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp.
Hội đồng bầu cử có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1- Chỉ đạo việc tổ chức bầu cử ở địa phương, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về bầu cử;
2- Nhận hồ sơ của người tự ứng cử và chuyển cho Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;
3- Xét và giải quyết những khiếu nại, tố cáo về công tác bầu cử của các Ban bầu cử, Tổ bầu cử;
4- Công bố số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị và số đại biểu được bầu của mỗi đơn vị bầu cử ở địa phương mình;
5- Nhận hồ sơ và công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử, xét và giải quyết những khiếu nại về việc lập danh sách đó;
6- Nhận tài liệu và phiếu bầu của Uỷ ban nhân dân cùng cấp và phân phối cho các Ban bầu cử chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày bầu cử;
7- Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử do các Ban bầu cử gửi đến, làm biên bản tổng kết cuộc bầu cử ở địa phương;
8- Chỉ đạo việc bầu cử thêm, bầu cử lại theo quy định tại các điều 53, 54, 55, và 56 của Luật này;
9- Công bố kết quả bầu cử;
10- Trình Hội đồng nhân dân biên bản tổng kết cuộc bầu cử và chuyển giao các hồ sơ, tài liệu về cuộc bầu cử theo quy định tại Điều 57 của Luật này.

Content:
Điều 15. Chậm nhất là tám mươi ngày trước ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp ấy thành lập Hội đồng bầu cử từ năm đến mười lăm người gồm đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội khác; ở xã, phường, thị trấn thì Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập Hội đồng bầu cử từ năm đến chín người gồm đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức xã hội khác, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.
Hội đồng bầu cử bầu Chủ tịch, Phó chủ tịch và Thư ký.
Danh sách Hội đồng bầu cử tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải báo cáo lên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Danh sách Hội đồng bầu cử các cấp khác phải báo cáo lên Uỷ ban nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp.
Hội đồng bầu cử có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1- Chỉ đạo việc tổ chức bầu cử ở địa phương, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về bầu cử;
2- Nhận hồ sơ của người tự ứng cử và chuyển cho Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;
3- Xét và giải quyết những khiếu nại, tố cáo về công tác bầu cử của các Ban bầu cử, Tổ bầu cử;
4- Công bố số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị và số đại biểu được bầu của mỗi đơn vị bầu cử ở địa phương mình;
5- Nhận hồ sơ và công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử, xét và giải quyết những khiếu nại về việc lập danh sách đó;
6- Nhận tài liệu và phiếu bầu của Uỷ ban nhân dân cùng cấp và phân phối cho các Ban bầu cử chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày bầu cử;
7- Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử do các Ban bầu cử gửi đến, làm biên bản tổng kết cuộc bầu cử ở địa phương;
8- Chỉ đạo việc bầu cử thêm, bầu cử lại theo quy định tại các điều 53, 54, 55, và 56 của Luật này;
9- Công bố kết quả bầu cử;
10- Trình Hội đồng nhân dân biên bản tổng kết cuộc bầu cử và chuyển giao các hồ sơ, tài liệu về cuộc bầu cử theo quy định tại Điều 57 của Luật này.