Document: Điều 2 Quyết định 183-HĐBT  giải quyết một số vấn đề nhằm đổi mới hoạt động của thương nghiệp quốc doanh

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "20/12/1988", "sign_number": "183-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "20/12/1988", "sign_number": "183-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "20/12/1988", "sign_number": "183-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "20/12/1988", "sign_number": "183-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "20/12/1988", "sign_number": "183-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định 183-HĐBT  giải quyết một số vấn đề nhằm đổi mới hoạt động của thương nghiệp quốc doanh có nội dung như sau:

Điều 2. Phân công kinh doanh mặt hàng giữa các ngành sản xuất và các ngành lưu thông như sau:
1- Đối với hàng nông sản thực phẩm.
- Những mặt hàng là nguyên liệu của công nghiệp chế biến hoặc chủ yếu để xuất khẩu theo hiệp định cam kết quốc tế của Nhà nước thì Nhà nước chỉ định các xí nghiệp, Liên hiệp xí nghiệp và các tổ chức kinh doanh trực tiếp đầu tư và tổ chức mua ở những vùng sản xuất tập trung; ở những nơi khác thì thông qua các đơn vị thương nghiệp quốc doanh (hoặc hợp tác xã mua bán) mua hoặc làm đại lý mua.
- Những mặt hàng vừa để tiêu dùng trong nước vừa để xuất khẩu và ở những nơi mà các tổ chức kinh doanh xuất khẩu không đầu tư thì các tổ chức kinh doanh nội thương mua, ưu tiên chọn lọc hàng đủ tiêu chuẩn bán lại cho các tổ chức kinh doanh xuất khẩu theo hợp đồng.
- Những mặt hàng thực phẩm - rau quả, đặc biệt là hàng tươi sống, thì cơ sở (người) sản xuất được trực tiếp bán buôn và bán lẻ. Khuyến khích người sản xuất trực tiếp đưa thực phẩm tươi sống vào bán ở các thành phố, khu công nghiệp.
- Thực hiện rộng rãi hình thức đại lý mua và bán (kể cả kinh doanh trong nước và xuất nhập khẩu) để nông sản, thực phẩm không phải mua đi bán lại và vận động qua nhiều khâu.
- Quan hệ mua bán giữa các tổ chức kinh tế của Nhà nước với cơ sở và người sản xuất nông nghiệp phải bình đẳng, thuận mua vừa bán, chủ yếu theo hợp đồng kinh tế.
2- Đối với công nghiệp tiêu dùng.
- Sản phẩm hàng hoá do các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh sản xuất thì thương nghiệp quốc doanh thông qua các hình thức đấu thầu bán nguyên liệu mua thành phẩm hoặc đặt hàng để nắm phần lớn những mặt hàng quan trọng đưa vào lưu thông có tổ chức.
- Sản phẩm hàng hoá do các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh trung ương và địa phương sản xuất thì tuỳ đặc điểm của từng mặt hàng và hiệu quả kinh tế - xã hội, các xí nghiệp có thể bán toàn bộ hàng hoá cho thương nghiệp quốc doanh hoặc thông qua hệ thống đại lý bán buôn, bán lẻ của thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán hoặc trực tiếp tổ chức bán lẻ theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền giao và theo đúng quy định của Nhà nước về lưu thông hàng hoá.
3- Đối với khâu bán lẻ và kinh doanh ăn uống công cộng, dịch vụ.
- Sử dụng hợp lý và có hiệu quả mạng lưới bán lẻ và dịch vụ của thương nghiệp quốc doanh. Thực hiện rộng rãi chế độ hạch toán kinh tế độc lập ở các cửa hàng; cửa hàng nào chưa có điều kiện thì áp dụng chế độ khoán định mức.
- Những ngành (ngoài hệ thống Bộ Nội thương) và các cơ sở sản xuất được phép trực tiếp tổ chức bán lẻ mặt hàng tiêu dùng nào thì phải bàn với cơ quan quản lý thương nghiệp có thẩm quyền để tận dụng mạng lưới và lao động thương nghiệp sẵn có, không tuỳ tiện tăng lao động và tổ chức bộ máy lưu thông riêng.
- Đối với những cửa hàng, cửa hiệu của thương nghiệp quốc doanh kinh doanh không có hiệu quả thì Bộ Nội thương cùng Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố xem xét, xử lý, kể cả việc cho tập thể và tư nhân đấu thầu hoặc thuê để kinh doanh.

Content:
Điều 2. Phân công kinh doanh mặt hàng giữa các ngành sản xuất và các ngành lưu thông như sau:
1- Đối với hàng nông sản thực phẩm.
- Những mặt hàng là nguyên liệu của công nghiệp chế biến hoặc chủ yếu để xuất khẩu theo hiệp định cam kết quốc tế của Nhà nước thì Nhà nước chỉ định các xí nghiệp, Liên hiệp xí nghiệp và các tổ chức kinh doanh trực tiếp đầu tư và tổ chức mua ở những vùng sản xuất tập trung; ở những nơi khác thì thông qua các đơn vị thương nghiệp quốc doanh (hoặc hợp tác xã mua bán) mua hoặc làm đại lý mua.
- Những mặt hàng vừa để tiêu dùng trong nước vừa để xuất khẩu và ở những nơi mà các tổ chức kinh doanh xuất khẩu không đầu tư thì các tổ chức kinh doanh nội thương mua, ưu tiên chọn lọc hàng đủ tiêu chuẩn bán lại cho các tổ chức kinh doanh xuất khẩu theo hợp đồng.
- Những mặt hàng thực phẩm - rau quả, đặc biệt là hàng tươi sống, thì cơ sở (người) sản xuất được trực tiếp bán buôn và bán lẻ. Khuyến khích người sản xuất trực tiếp đưa thực phẩm tươi sống vào bán ở các thành phố, khu công nghiệp.
- Thực hiện rộng rãi hình thức đại lý mua và bán (kể cả kinh doanh trong nước và xuất nhập khẩu) để nông sản, thực phẩm không phải mua đi bán lại và vận động qua nhiều khâu.
- Quan hệ mua bán giữa các tổ chức kinh tế của Nhà nước với cơ sở và người sản xuất nông nghiệp phải bình đẳng, thuận mua vừa bán, chủ yếu theo hợp đồng kinh tế.
2- Đối với công nghiệp tiêu dùng.
- Sản phẩm hàng hoá do các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh sản xuất thì thương nghiệp quốc doanh thông qua các hình thức đấu thầu bán nguyên liệu mua thành phẩm hoặc đặt hàng để nắm phần lớn những mặt hàng quan trọng đưa vào lưu thông có tổ chức.
- Sản phẩm hàng hoá do các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh trung ương và địa phương sản xuất thì tuỳ đặc điểm của từng mặt hàng và hiệu quả kinh tế - xã hội, các xí nghiệp có thể bán toàn bộ hàng hoá cho thương nghiệp quốc doanh hoặc thông qua hệ thống đại lý bán buôn, bán lẻ của thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán hoặc trực tiếp tổ chức bán lẻ theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền giao và theo đúng quy định của Nhà nước về lưu thông hàng hoá.
3- Đối với khâu bán lẻ và kinh doanh ăn uống công cộng, dịch vụ.
- Sử dụng hợp lý và có hiệu quả mạng lưới bán lẻ và dịch vụ của thương nghiệp quốc doanh. Thực hiện rộng rãi chế độ hạch toán kinh tế độc lập ở các cửa hàng; cửa hàng nào chưa có điều kiện thì áp dụng chế độ khoán định mức.
- Những ngành (ngoài hệ thống Bộ Nội thương) và các cơ sở sản xuất được phép trực tiếp tổ chức bán lẻ mặt hàng tiêu dùng nào thì phải bàn với cơ quan quản lý thương nghiệp có thẩm quyền để tận dụng mạng lưới và lao động thương nghiệp sẵn có, không tuỳ tiện tăng lao động và tổ chức bộ máy lưu thông riêng.
- Đối với những cửa hàng, cửa hiệu của thương nghiệp quốc doanh kinh doanh không có hiệu quả thì Bộ Nội thương cùng Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố xem xét, xử lý, kể cả việc cho tập thể và tư nhân đấu thầu hoặc thuê để kinh doanh.