Document: Khoản 7 Điều 1 Quyết định 1573/QĐ-TTg xây dựng nông thôn mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới 2016

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "09/08/2016", "sign_number": "1573/QĐ-TTg", "signer": "Vương Đình Huệ", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "09/08/2016", "sign_number": "1573/QĐ-TTg", "signer": "Vương Đình Huệ", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "09/08/2016", "sign_number": "1573/QĐ-TTg", "signer": "Vương Đình Huệ", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "09/08/2016", "sign_number": "1573/QĐ-TTg", "signer": "Vương Đình Huệ", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "09/08/2016", "sign_number": "1573/QĐ-TTg", "signer": "Vương Đình Huệ", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 7 Điều 1 Quyết định 1573/QĐ-TTg xây dựng nông thôn mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới 2016

Điều 1. Phê duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khu vực biên giới tỉnh Điện Biên với những nội dung chủ yếu sau:
...
7. Các giải pháp thực hiện:
a) Về tuyên truyền, vận động tham gia xây dựng nông thôn mới:
- Tăng cường vai trò của cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng trong tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong xây dựng nông thôn mới; hướng dẫn, vận động người dân thay đổi dần tập quán du canh, du cư sang phương thức sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững; thường xuyên phổ biến mô hình mới, cách làm hay, các điển hình tiên tiến, các sáng kiến và kinh nghiệm tốt về xây dựng nông thôn mới và sản xuất đạt hiệu quả trên các phương tiện thông tin đại chúng;
- Hưởng ứng phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” bằng các đợt phát động thi đua xây dựng nông thôn mới; tổ chức bình xét, đánh giá để khen thưởng, động viên kịp thời đối với các tập thể, cá nhân và các hộ gia đình có thành tích xuất sắc trong xây dựng nông thôn và trong sản xuất.
b) Về phát triển sản xuất:
- Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch các vùng sản xuất tập trung, giao đất sản xuất nông nghiệp trên nương, giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp để nhân dân yên tâm ổn định phát triển sản xuất, khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng mới nhằm đáp ứng nhu cầu phòng hộ đầu nguồn, cung cấp nước cho các thủy điện lớn;
- Khuyến khích doanh nghiệp phát triển mạnh các vùng trồng cây công nghiệp (cà phê, cao su, chè...), đồng thời nghiên cứu phát triển thêm một số loài cây có giá trị kinh tế cao, như: mắc ca, cây có dầu tăng cường hỗ trợ đầu tư giúp doanh nghiệp xây dựng các vùng nguyên liệu gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm để ký kết hợp đồng với nhân dân sản xuất; hướng dẫn kỹ thuật, thu mua sản phẩm;
- Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi, phát triển chăn nuôi theo quy mô hộ gia đình là chính; đồng thời, xây dựng các mô hình phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại, đảm bảo tốc độ tăng trưởng của đàn gia súc, gia cầm; đầu tư, hỗ trợ phát triển thủy sản ở những vùng có lợi thế;
- Đẩy mạnh mô hình hợp tác xã kiểu mới theo hướng liên doanh, liên kết mở rộng sản xuất, kinh doanh theo chuỗi giá trị sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp.
c) Về đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:
- Tập trung đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng cho đội ngũ cán bộ xã, thôn, bản, cán bộ quản lý hợp tác xã, tổ hợp tác để có đủ năng lực đảm nhận nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng nông thôn mới; thực hiện có hiệu quả kết luận số 64-KL/TW ngày 28 tháng 5 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; tăng cường thực hiện việc điều động, luân chuyển cán bộ ở các cấp; các ngành xuống giúp đỡ cơ sở (từ bản đến xã), ưu tiên mở rộng việc thực hiện chương trình đưa đội ngũ trí thức trẻ đã tốt nghiệp đại học về công tác tại các xã vùng Đề án; phát huy vai trò già làng, trưởng bản, người có uy tín trong dòng họ, các cá nhân tiêu biểu đối với việc xây dựng nông thôn mới;
- Từng bước đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, mở rộng ngành nghề, lĩnh vực đào tạo; xã hội hóa việc đào tạo nghề, mở rộng quy mô và hình thức dạy nghề, chú ý các ngành, nghề phù hợp với nhu cầu thực tế ở địa phương; nâng cao chất lượng đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp cũng như phát triển công nghiệp, dịch vụ, làng nghề, xuất khẩu lao động; quan tâm đào tạo nghề phổ thông cho lao động ở các độ tuổi phù hợp, giúp nông dân nâng cao kỹ năng, chất lượng lao động và có thể chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm mới; tăng cường mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn kỹ thuật về cây trồng, vật nuôi mới, kỹ năng quản lý kinh tế hộ, trang trại và ngành nghề ở nông thôn (thương mại, dịch vụ, bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm).
d) Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất:
- Đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến vào sản xuất đẩy nhanh tiến độ cơ giới hóa ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp, góp phần tăng năng suất, sản lượng cây trồng.
- Tổ chức tốt và tạo điều kiện phát triển dịch vụ cung ứng giống cây trồng vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với điều kiện phát triển sản xuất của vùng, đặc biệt là những giống cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao để nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm hàng hóa trong nông nghiệp; tăng cường lực lượng cán bộ khuyến nông xuống tận cơ sở (thôn, bản) để tuyên truyền, xây dựng nhân rộng những mô hình có hiệu quả.

Content:
Các giải pháp thực hiện:
a) Về tuyên truyền, vận động tham gia xây dựng nông thôn mới:
- Tăng cường vai trò của cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng trong tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong xây dựng nông thôn mới; hướng dẫn, vận động người dân thay đổi dần tập quán du canh, du cư sang phương thức sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững; thường xuyên phổ biến mô hình mới, cách làm hay, các điển hình tiên tiến, các sáng kiến và kinh nghiệm tốt về xây dựng nông thôn mới và sản xuất đạt hiệu quả trên các phương tiện thông tin đại chúng;
- Hưởng ứng phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” bằng các đợt phát động thi đua xây dựng nông thôn mới; tổ chức bình xét, đánh giá để khen thưởng, động viên kịp thời đối với các tập thể, cá nhân và các hộ gia đình có thành tích xuất sắc trong xây dựng nông thôn và trong sản xuất.
b) Về phát triển sản xuất:
- Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch các vùng sản xuất tập trung, giao đất sản xuất nông nghiệp trên nương, giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp để nhân dân yên tâm ổn định phát triển sản xuất, khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng mới nhằm đáp ứng nhu cầu phòng hộ đầu nguồn, cung cấp nước cho các thủy điện lớn;
- Khuyến khích doanh nghiệp phát triển mạnh các vùng trồng cây công nghiệp (cà phê, cao su, chè...), đồng thời nghiên cứu phát triển thêm một số loài cây có giá trị kinh tế cao, như: mắc ca, cây có dầu tăng cường hỗ trợ đầu tư giúp doanh nghiệp xây dựng các vùng nguyên liệu gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm để ký kết hợp đồng với nhân dân sản xuất; hướng dẫn kỹ thuật, thu mua sản phẩm;
- Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi, phát triển chăn nuôi theo quy mô hộ gia đình là chính; đồng thời, xây dựng các mô hình phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại, đảm bảo tốc độ tăng trưởng của đàn gia súc, gia cầm; đầu tư, hỗ trợ phát triển thủy sản ở những vùng có lợi thế;
- Đẩy mạnh mô hình hợp tác xã kiểu mới theo hướng liên doanh, liên kết mở rộng sản xuất, kinh doanh theo chuỗi giá trị sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp.
c) Về đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:
- Tập trung đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng cho đội ngũ cán bộ xã, thôn, bản, cán bộ quản lý hợp tác xã, tổ hợp tác để có đủ năng lực đảm nhận nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng nông thôn mới; thực hiện có hiệu quả kết luận số 64-KL/TW ngày 28 tháng 5 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; tăng cường thực hiện việc điều động, luân chuyển cán bộ ở các cấp; các ngành xuống giúp đỡ cơ sở (từ bản đến xã), ưu tiên mở rộng việc thực hiện chương trình đưa đội ngũ trí thức trẻ đã tốt nghiệp đại học về công tác tại các xã vùng Đề án; phát huy vai trò già làng, trưởng bản, người có uy tín trong dòng họ, các cá nhân tiêu biểu đối với việc xây dựng nông thôn mới;
- Từng bước đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, mở rộng ngành nghề, lĩnh vực đào tạo; xã hội hóa việc đào tạo nghề, mở rộng quy mô và hình thức dạy nghề, chú ý các ngành, nghề phù hợp với nhu cầu thực tế ở địa phương; nâng cao chất lượng đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp cũng như phát triển công nghiệp, dịch vụ, làng nghề, xuất khẩu lao động; quan tâm đào tạo nghề phổ thông cho lao động ở các độ tuổi phù hợp, giúp nông dân nâng cao kỹ năng, chất lượng lao động và có thể chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm mới; tăng cường mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn kỹ thuật về cây trồng, vật nuôi mới, kỹ năng quản lý kinh tế hộ, trang trại và ngành nghề ở nông thôn (thương mại, dịch vụ, bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm).
d) Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất:
- Đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến vào sản xuất đẩy nhanh tiến độ cơ giới hóa ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp, góp phần tăng năng suất, sản lượng cây trồng.
- Tổ chức tốt và tạo điều kiện phát triển dịch vụ cung ứng giống cây trồng vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với điều kiện phát triển sản xuất của vùng, đặc biệt là những giống cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao để nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm hàng hóa trong nông nghiệp; tăng cường lực lượng cán bộ khuyến nông xuống tận cơ sở (thôn, bản) để tuyên truyền, xây dựng nhân rộng những mô hình có hiệu quả.