Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 349/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "17/08/2009", "sign_number": "349/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Huế", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "17/08/2009", "sign_number": "349/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Huế", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "17/08/2009", "sign_number": "349/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Huế", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "17/08/2009", "sign_number": "349/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Huế", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "17/08/2009", "sign_number": "349/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Huế", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 349/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020, với những nội dung chính sau:
...
4. Vật liệu xây:
- Các cơ sở gạch ngói nung tuy nen hiện có cần phát huy đầy đủ năng lực sản xuất đã đầu tư. Trên cơ sở sản xuất đã đi vào ổn định sẽ tiếp tục đầu tư cải tạo lò nung, hệ máy chế biến và hệ thống sân bãi để nâng sản lượng lên 1,2 - 1,5 lần so với công suất hiện có, nhằm tiết kiệm chi phí đầu tư, giảm giá thành sản phẩm, nhanh chóng đưa sản phẩm ra thị trường.
- Tiếp tục đầu tư sản xuất gạch ngói nung bằng lò tuy nen với qui mô hợp lý tại các địa bàn trong tỉnh, phấn đấu mỗi huyện đồng bằng có ít nhất một cơ sở sản xuất gạch tuy nen, riêng các huyện có thị trường tiêu thụ và có nguồn nguyên liệu tốt có thể có thể đầu tư nhiều hơn để cung ứng ra ngoài tỉnh. Tuỳ thuộc vào trữ lượng nguyên liệu và nhu cầu thị trường từng khu vực có thể lựa chọn qui mô sản xuất lớn từ 20 - 25 triệu viên/năm hoặc qui mô trung bình từ 10 - 15 triệu viên/năm một cơ sở.
- Đầu tư chuyển đổi sản xuất gạch bằng lò đứng thủ công sang lò đứng nung gạch liên tục đối với các cơ sở sản xuất gạch bằng lò đứng thủ công hiện có, trên cơ sở liên doanh liên kết giữa các cơ sở để huy động nguồn vốn và thực hiện theo kế hoạch để chủ động cung ứng vật liệu xây cho nhu cầu của xã hội trong từng giai đoạn. Qui mô mỗi khu vực cần đạt trung bình khoảng 4 triệu viên/năm, có thể tới 8 - 10 triệu viên/năm; đầu tư cần đồng bộ cả lò nung
và thiết bị chế biến tạo hình để phát huy hiệu quả sản xuất. Đến năm 2012 xoá bỏ hoàn toàn lò đứng nung gạch thủ công trên địa bàn tỉnh.
- Khuyến khích các cơ sở khai thác đá cát xây dựng, cơ sở xi măng nghiền, các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khác cũng như các hộ tư nhân đầu tư sản xuất gạch bê tông nhẹ và gạch không nung từ nguyên liệu đá mạt, cát vàng và xi măng để giải quyết một phần nhu cầu về vật liệu xây tại chỗ và cung ứng cho xây dựng nhà xưởng sản xuất cũng như các hạng mục công trình phụ trợ tại các khu, cụm công nghiệp. Nâng tỷ lệ gạch không nung lên 20% đến năm 2015 và 30% đến năm 2020 như Quyết định của Chính phủ.
- Đưa năng lực sản xuất vật liệu xây các loại của tỉnh lên 410 triệu viên đến năm 2015 và 550 triệu viên đến năm 2020.

Content:
Vật liệu xây:
- Các cơ sở gạch ngói nung tuy nen hiện có cần phát huy đầy đủ năng lực sản xuất đã đầu tư. Trên cơ sở sản xuất đã đi vào ổn định sẽ tiếp tục đầu tư cải tạo lò nung, hệ máy chế biến và hệ thống sân bãi để nâng sản lượng lên 1,2 - 1,5 lần so với công suất hiện có, nhằm tiết kiệm chi phí đầu tư, giảm giá thành sản phẩm, nhanh chóng đưa sản phẩm ra thị trường.
- Tiếp tục đầu tư sản xuất gạch ngói nung bằng lò tuy nen với qui mô hợp lý tại các địa bàn trong tỉnh, phấn đấu mỗi huyện đồng bằng có ít nhất một cơ sở sản xuất gạch tuy nen, riêng các huyện có thị trường tiêu thụ và có nguồn nguyên liệu tốt có thể có thể đầu tư nhiều hơn để cung ứng ra ngoài tỉnh. Tuỳ thuộc vào trữ lượng nguyên liệu và nhu cầu thị trường từng khu vực có thể lựa chọn qui mô sản xuất lớn từ 20 - 25 triệu viên/năm hoặc qui mô trung bình từ 10 - 15 triệu viên/năm một cơ sở.
- Đầu tư chuyển đổi sản xuất gạch bằng lò đứng thủ công sang lò đứng nung gạch liên tục đối với các cơ sở sản xuất gạch bằng lò đứng thủ công hiện có, trên cơ sở liên doanh liên kết giữa các cơ sở để huy động nguồn vốn và thực hiện theo kế hoạch để chủ động cung ứng vật liệu xây cho nhu cầu của xã hội trong từng giai đoạn. Qui mô mỗi khu vực cần đạt trung bình khoảng 4 triệu viên/năm, có thể tới 8 - 10 triệu viên/năm; đầu tư cần đồng bộ cả lò nung
và thiết bị chế biến tạo hình để phát huy hiệu quả sản xuất. Đến năm 2012 xoá bỏ hoàn toàn lò đứng nung gạch thủ công trên địa bàn tỉnh.
- Khuyến khích các cơ sở khai thác đá cát xây dựng, cơ sở xi măng nghiền, các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khác cũng như các hộ tư nhân đầu tư sản xuất gạch bê tông nhẹ và gạch không nung từ nguyên liệu đá mạt, cát vàng và xi măng để giải quyết một phần nhu cầu về vật liệu xây tại chỗ và cung ứng cho xây dựng nhà xưởng sản xuất cũng như các hạng mục công trình phụ trợ tại các khu, cụm công nghiệp. Nâng tỷ lệ gạch không nung lên 20% đến năm 2015 và 30% đến năm 2020 như Quyết định của Chính phủ.
- Đưa năng lực sản xuất vật liệu xây các loại của tỉnh lên 410 triệu viên đến năm 2015 và 550 triệu viên đến năm 2020.