Document: Điểm b Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2094/QĐ-UBND quy hoạch vùng sản xuất chế biến tiêu thụ cây dong riềng Bắc Kạn 2015 2025

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "21/12/2016", "sign_number": "2094/QĐ-UBND", "signer": "Đỗ Thị Minh Hoa", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "21/12/2016", "sign_number": "2094/QĐ-UBND", "signer": "Đỗ Thị Minh Hoa", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "21/12/2016", "sign_number": "2094/QĐ-UBND", "signer": "Đỗ Thị Minh Hoa", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "21/12/2016", "sign_number": "2094/QĐ-UBND", "signer": "Đỗ Thị Minh Hoa", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "21/12/2016", "sign_number": "2094/QĐ-UBND", "signer": "Đỗ Thị Minh Hoa", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2094/QĐ-UBND quy hoạch vùng sản xuất chế biến tiêu thụ cây dong riềng Bắc Kạn 2015 2025

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch vùng sản xuất, chế biến tiêu thụ cây dong riềng tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015 - 2025, định hướng đến 2030, với nội dung chủ yếu như sau:
...
5. Nội dung quy hoạch:
...
b) Quy hoạch chế biến, bảo quản sản phẩm từ cây dong riềng:
- Chế biến, bảo quản tinh bột:
+ Đến năm 2020 sản lượng củ dong đạt 112.500 tấn, thời gian chế biến 90 ngày, công suất chế biến 1.250 tấn củ/ngày; duy trì 97 cơ sở chế biến tinh bột dong hiện có với công suất 1.179 tấn củ/ngày; đầu tư mới 05 dây truyền chế biến tinh bột với công suất 90 tấn củ/ngày. Trong đó, huyện Ba Bể 01 dây truyền công suất 18 tấn củ/ngày; Chợ Mới và Ngân Sơn mỗi huyện đầu tư 02 dây truyền công suất 36 tấn củ/ngày.
+ Đến năm 2025 và ổn định đến 2030 sản lượng đạt 160.000tấn củ; thời gian chế biến 90 ngày, công suất chế biến 1.800 tấn củ/ngày; duy trì 102 cơ sở chế biến tinh bột dong hiện có, công suất 1.267 tấn củ/ngày; đầu tư, nâng cấp 20 dây truyền chế biến tinh bột, nâng công suất chế biến thêm 530 tấn củ/ngày. Trong đó, huyện Ba Bể 04 dây chuyền với công suất 158 tấn củ/ngày; Na Rì 07 dây truyền với tổng công suất 168 tấn củ/ngày; Bạch Thông 02 dây truyền công suất 78 tấn củ/ngày; Chợ Mới 03 dây truyền công suất 54 tấn củ/ngày; Ngân Sơn 04 dây truyền chế biến với công xuất 72 tấn củ/ngày.
+ Bảo quản tinh bột: Thực hiện phương pháp bảo quản tinh bột ướt bằng hệ thống bể, nhà kho để dự trữ nguồn nguyên liệu. Tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp bảo quản mới để nâng cao chất lượng nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến miến.
- Chế biến, bảo quản miến dong:
+ Đến năm 2020 tổng sản lượng tinh bột thu được 17.000 tấn, trong đó 40% sản lượng được chế biến thành miến (tương đương 7.000 tấn tinh bột sản xuất ra 4.200 tấn miến), 60% sản lượng tinh bột bán ra ngoài tỉnh (tương đương với khoảng 10.000 tấn). Để sản xuất 4.200 tấn miến, trong thời gian 180 ngày cần công suất chế biến tối thiểu 24 tấn/ngày; duy trì 36 cơ sở chế biến miến dong hiện có với công suất 18,77 tấn/ngày; đầu tư, nâng cấp công suất 04 dây truyền chế biến miến dong tăng thêm 5,5 tấn miến/ngày, cụ thể như sau: Huyện Bạch Thông đầu tư 01 dây truyền công suất 2,5 tấn miến/ngày; Ba Bể, Chợ Đồn và Ngân Sơn đầu tư mỗi huyện 01 dây truyền chế biến miến với công suất 01 tấn/ngày.
+ Đến năm 2025, sử dụng 60% sản lượng tinh bột để sản xuất miến dong (tương đương 15.000 tấn tinh bột, sản xuất ra 9.000 tấn miến). 40% sản lượng tinh bột bán ra ngoài tỉnh (tương đương với sản lượng 9.000 tấn). Để sản xuất 9.000 tấn miến trong thời gian 180 ngày, công suất chế biến tối thiểu đạt 49 tấn/ngày; duy trì 40 cơ sở chế biến miến dong, công suất 24,3 tấn/ngày; đầu tư, nâng cấp mở rộng thêm 12 dây chuyền, công nghệ với công suất chế biến tăng thêm 25 tấn/ngày tại các địa phương: Huyện Ba Bể 03 dây truyền sản xuất miến công suất 7,5 tấn/ngày; Na Rì 04 dây truyền sản xuất miến công suất 10 tấn/ngày; Bạch Thông, Chợ Đồn mỗi huyện 02 cơ sở chế biến với công suất 3,5 tấn/ngày; huyện Chợ Mới đầu tư, nâng cấp thêm công suất 0,5 tấn miến/ngày.
+ Đến năm 2030, sử dụng 80% tinh bột để sản xuất miến dong (tương đương 25.000tấn tinh bột, sản xuất ra 12.000 tấn miến). Để sản xuất được 12.000 tấn miến trong thời gian 180 ngày cần công suất chế biến tối thiểu 64 tấn/ngày; duy trì 52 cơ sở chế biến miến dong, công suất 49,3 tấn/ngày; đầu tư, nâng cấp mở rộng thêm các dây chuyền, công nghệ chế biến miến với công suất chế biến tăng thêm 15 tấn/ngày tại các địa phương: Huyện Ba Bể và Bạch Thông mỗi huyện tăng công suất 02 tấn/ngày; Na Rì tăng công suất 06 tấn/ngày; Chợ Đồn và Chợ Mới mỗi huyện tăng công suất thêm 0,5 tấn/ngày và huyện Ngân Sơn đầu tư tăng thêm công suất 04 tấn miến/ngày.
Sản phẩm miến dong sản xuất ra cần được phơi, sấy khô và đóng gói kín; bố trí kho lưu trữ sản phẩm trước khi xuất bán đảm bảo thoáng mát, khô ráo và tránh ẩm mốc; việc đóng gói sản phẩm đa dạng, phong phú nhưng phải tuân thủ nhãn mác theo quy định của Nhãn hiệu tập thể “Miến dong Bắc Kạn”; đóng gói sản phẩm miến dong đa dạng về kích cỡ, trọng lượng nhằm phục vụ theo nhu cầu người tiêu dùng.
- Thị trường tiêu thụ tinh bột và miến dong
+ Theo tính toán, chỉ tính riêng thị trường Hà Nội, Thái Nguyên và Bắc Kạn sản phẩm miến dong có nhiều tiềm năng, đến năm 2020 sản lượng miến dong sản xuất ra mới chỉ đáp ứng được khoảng 16% nhu cầu tiêu thụ; năm 2025 bằng 33% nhu cầu tiêu thụ và 2030 bằng 47% nhu cầu tiêu thụ. Do vậy việc tiêu thụ tinh bột và miến dong Bắc Kạn cần tập trung vào thị trường tiêu dùng nội địa như Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên ... và có hướng tới xuất khẩu.
+ Xây dựng các chương trình tiếp thị, giới thiệu, quảng bá sản phẩm đến người tiêu dùng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để phát triển thương hiệu miến dong Bắc Kạn với người tiêu dùng trong và ngoài nước.

Content:
Quy hoạch chế biến, bảo quản sản phẩm từ cây dong riềng:
- Chế biến, bảo quản tinh bột:
+ Đến năm 2020 sản lượng củ dong đạt 112.500 tấn, thời gian chế biến 90 ngày, công suất chế biến 1.250 tấn củ/ngày; duy trì 97 cơ sở chế biến tinh bột dong hiện có với công suất 1.179 tấn củ/ngày; đầu tư mới 05 dây truyền chế biến tinh bột với công suất 90 tấn củ/ngày. Trong đó, huyện Ba Bể 01 dây truyền công suất 18 tấn củ/ngày; Chợ Mới và Ngân Sơn mỗi huyện đầu tư 02 dây truyền công suất 36 tấn củ/ngày.
+ Đến năm 2025 và ổn định đến 2030 sản lượng đạt 160.000tấn củ; thời gian chế biến 90 ngày, công suất chế biến 1.800 tấn củ/ngày; duy trì 102 cơ sở chế biến tinh bột dong hiện có, công suất 1.267 tấn củ/ngày; đầu tư, nâng cấp 20 dây truyền chế biến tinh bột, nâng công suất chế biến thêm 530 tấn củ/ngày. Trong đó, huyện Ba Bể 04 dây chuyền với công suất 158 tấn củ/ngày; Na Rì 07 dây truyền với tổng công suất 168 tấn củ/ngày; Bạch Thông 02 dây truyền công suất 78 tấn củ/ngày; Chợ Mới 03 dây truyền công suất 54 tấn củ/ngày; Ngân Sơn 04 dây truyền chế biến với công xuất 72 tấn củ/ngày.
+ Bảo quản tinh bột: Thực hiện phương pháp bảo quản tinh bột ướt bằng hệ thống bể, nhà kho để dự trữ nguồn nguyên liệu. Tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp bảo quản mới để nâng cao chất lượng nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến miến.
- Chế biến, bảo quản miến dong:
+ Đến năm 2020 tổng sản lượng tinh bột thu được 17.000 tấn, trong đó 40% sản lượng được chế biến thành miến (tương đương 7.000 tấn tinh bột sản xuất ra 4.200 tấn miến), 60% sản lượng tinh bột bán ra ngoài tỉnh (tương đương với khoảng 10.000 tấn). Để sản xuất 4.200 tấn miến, trong thời gian 180 ngày cần công suất chế biến tối thiểu 24 tấn/ngày; duy trì 36 cơ sở chế biến miến dong hiện có với công suất 18,77 tấn/ngày; đầu tư, nâng cấp công suất 04 dây truyền chế biến miến dong tăng thêm 5,5 tấn miến/ngày, cụ thể như sau: Huyện Bạch Thông đầu tư 01 dây truyền công suất 2,5 tấn miến/ngày; Ba Bể, Chợ Đồn và Ngân Sơn đầu tư mỗi huyện 01 dây truyền chế biến miến với công suất 01 tấn/ngày.
+ Đến năm 2025, sử dụng 60% sản lượng tinh bột để sản xuất miến dong (tương đương 15.000 tấn tinh bột, sản xuất ra 9.000 tấn miến). 40% sản lượng tinh bột bán ra ngoài tỉnh (tương đương với sản lượng 9.000 tấn). Để sản xuất 9.000 tấn miến trong thời gian 180 ngày, công suất chế biến tối thiểu đạt 49 tấn/ngày; duy trì 40 cơ sở chế biến miến dong, công suất 24,3 tấn/ngày; đầu tư, nâng cấp mở rộng thêm 12 dây chuyền, công nghệ với công suất chế biến tăng thêm 25 tấn/ngày tại các địa phương: Huyện Ba Bể 03 dây truyền sản xuất miến công suất 7,5 tấn/ngày; Na Rì 04 dây truyền sản xuất miến công suất 10 tấn/ngày; Bạch Thông, Chợ Đồn mỗi huyện 02 cơ sở chế biến với công suất 3,5 tấn/ngày; huyện Chợ Mới đầu tư, nâng cấp thêm công suất 0,5 tấn miến/ngày.
+ Đến năm 2030, sử dụng 80% tinh bột để sản xuất miến dong (tương đương 25.000tấn tinh bột, sản xuất ra 12.000 tấn miến). Để sản xuất được 12.000 tấn miến trong thời gian 180 ngày cần công suất chế biến tối thiểu 64 tấn/ngày; duy trì 52 cơ sở chế biến miến dong, công suất 49,3 tấn/ngày; đầu tư, nâng cấp mở rộng thêm các dây chuyền, công nghệ chế biến miến với công suất chế biến tăng thêm 15 tấn/ngày tại các địa phương: Huyện Ba Bể và Bạch Thông mỗi huyện tăng công suất 02 tấn/ngày; Na Rì tăng công suất 06 tấn/ngày; Chợ Đồn và Chợ Mới mỗi huyện tăng công suất thêm 0,5 tấn/ngày và huyện Ngân Sơn đầu tư tăng thêm công suất 04 tấn miến/ngày.
Sản phẩm miến dong sản xuất ra cần được phơi, sấy khô và đóng gói kín; bố trí kho lưu trữ sản phẩm trước khi xuất bán đảm bảo thoáng mát, khô ráo và tránh ẩm mốc; việc đóng gói sản phẩm đa dạng, phong phú nhưng phải tuân thủ nhãn mác theo quy định của Nhãn hiệu tập thể “Miến dong Bắc Kạn”; đóng gói sản phẩm miến dong đa dạng về kích cỡ, trọng lượng nhằm phục vụ theo nhu cầu người tiêu dùng.
- Thị trường tiêu thụ tinh bột và miến dong
+ Theo tính toán, chỉ tính riêng thị trường Hà Nội, Thái Nguyên và Bắc Kạn sản phẩm miến dong có nhiều tiềm năng, đến năm 2020 sản lượng miến dong sản xuất ra mới chỉ đáp ứng được khoảng 16% nhu cầu tiêu thụ; năm 2025 bằng 33% nhu cầu tiêu thụ và 2030 bằng 47% nhu cầu tiêu thụ. Do vậy việc tiêu thụ tinh bột và miến dong Bắc Kạn cần tập trung vào thị trường tiêu dùng nội địa như Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên ... và có hướng tới xuất khẩu.
+ Xây dựng các chương trình tiếp thị, giới thiệu, quảng bá sản phẩm đến người tiêu dùng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để phát triển thương hiệu miến dong Bắc Kạn với người tiêu dùng trong và ngoài nước.