Document: Khoản 8 Điều 1 Quyết định 3599/QĐ-UBND 2013 phê duyệt Quy hoạch chế biến gỗ Quảng Ninh đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/12/2013", "sign_number": "3599/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/12/2013", "sign_number": "3599/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/12/2013", "sign_number": "3599/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/12/2013", "sign_number": "3599/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/12/2013", "sign_number": "3599/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 8 Điều 1 Quyết định 3599/QĐ-UBND 2013 phê duyệt Quy hoạch chế biến gỗ Quảng Ninh đến 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, với nội dung chính sau:
...
8. Giải pháp thực hiện quy hoạch.
8.1. Giải pháp về thể chế, chính sách:
- Tiếp tục áp dụng các chính sách hỗ trợ tài chính và ưu đãi về thuế cho phát triển vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến gỗ;
- Tuyên truyền, chỉ đạo tổ chức tốt các chính sách hiện có, đề xuất xây dựng mới các chính sách sau: Chính sách liên kết giữa người sản xuất gỗ, các công ty lâm nghiệp với các cơ sở, công ty chế biến gỗ; Chính sách khuyến khích đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu tập trung phục vụ công nghiệp chế biến gỗ; Chính sách khuyến khích đầu tư phát triển công nghiệp chế biến gỗ; Các chính sách về tín dụng, đầu tư phù hợp với điều kiện cụ thể của từng giai đoạn, đồng thời xây dựng những chính sách áp dụng riêng cho một số vùng đặc thù để có thể thu hút mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư phát triển chế biến gỗ ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn vừa có thể tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương, vừa tạo ra thu nhập cho người dân địa phương, đồng thời phát triển kinh tế của những vùng khó khăn.
8.2. Giải pháp về đất đai, mặt bằng sản xuất:
- Ưu tiên bố trí các doanh nghiệp chế biến gỗ vào sản xuất tại các khu, cụm công nghiệp đã được quy hoạch tại địa phương;
- Xây dựng các chính sách ưu đãi về mặt bằng sản xuất cho các doanh nghiệp chế biến gỗ đầu tư sản xuất tại các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn;
- Có chính sách phù hợp để có thể di dời hoặc đóng cửa các cơ sở chế biến gỗ đang sản xuất tại các khu vực đông dân cư, làm ô nhiễm môi trường.
8.3. Giải pháp về liên kết trong chế biến gỗ:
- Tổ chức lại sản xuất theo chuỗi sản phẩm (liên kết dọc): Từ trồng rừng, thu mua nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
8.4. Giải pháp về khoa học và công nghệ:
- Khuyến khích và có chính sách ưu đãi đối với các đơn vị đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại phục vụ cho chế biến gỗ;
- Tạo điều kiện hỗ trợ cho các tổ chức cá nhân nghiên cứu các đề tài khoa học phục vụ phát triển ngành chế biến gỗ; hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng website; xây dựng ISO, chứng chỉ FSC, CoC...;
- Phát triển các nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động công nghệ, đồng thời có chính sách thu hút các chuyên gia giỏi phục vụ cho hoạt động chế biến gỗ. Xây dựng hệ thống thông tin khoa học công nghệ và bộ phận tư vấn hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc lựa chọn công nghệ máy móc thiết bị hiện đại phù hợp phục vụ cho sản xuất chế biến gỗ của đơn vị.
8.5. Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực:
- Tăng cường hợp tác, liên kết giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp để đào tạo tại chỗ, gắn đào tạo với sử dụng lao động để nâng cao tay nghề cho công nhân và cán bộ kỹ thuật đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp;
- Xây dựng kế hoạch tổ chức đánh giá nhu cầu đào tạo ngành chế biến gỗ và bố trí kinh phí hỗ trợ hàng năm để đào tạo nguồn nhân lực cho ngành chế biến gỗ, bao gồm đào tạo cán bộ kỹ thuật, quản lý, công nhân kỹ thuật lành nghề đáp ứng cho yêu cầu phát triển ngành chế biến gỗ. Hỗ trợ tăng cường đào tạo tay nghề công nhân chế biến gỗ;
- Khuyến khích và tạo điều kiện phát huy nguồn nhân lực tại chỗ của các cơ sở sản xuất, tích cực tranh thủ các nguồn nhân lực bên ngoài để để tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật và tay nghề cao cho các doanh nghiệp chế biến gỗ;
- Thường xuyên tổ chức các chuyến tham quan trong và ngoài nước để học tập kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh của các đơn vị tiến bộ, nắm bắt thị trường, công nghệ để áp dụng phù hợp với điều kiện của tỉnh;
- Xây dựng định hướng phát triển và kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển ngành chế biến gỗ trong từng giai đoạn.
8.6. Giải pháp về môi trường:
Bố trí các cơ sở chế biến gỗ vào các khu, cụm công nghiệp nhằm có điều kiện xử lý vấn đề môi trường; Các doanh nghiệp xây dựng mới phải thực hiện đầy đủ các thủ tục về quản lý môi trường theo quy định;
- Các doanh nghiệp phải cam kết thực hiện tốt các yêu cầu xử lý chất thải, đồng thời đầu tư đổi mới công nghệ để đảm bảo vệ sinh môi trường;
- Tăng cường bộ máy quản lý nhà nước về môi trường, xử lý nghiêm các doanh nghiệp vi phạm quy định về môi trường.
8.7. Giải pháp về nguồn nguyên liệu:
- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư trồng rừng nguyên liệu. Tạo cơ chế để chủ cơ sở chế biến gỗ gắn với vùng nguyên liệu bằng nhiều hình thức như: thuê đất trồng rừng, nhận khoán hoặc thuê rừng, liên doanh góp vốn trồng rừng với các Công ty lâm nghiệp, Ban quản lý rừng phòng hộ, với nhân dân, liên doanh liên kết giữa các cơ sở chế biến, hoặc đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu gỗ với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cùng góp vốn trồng rừng;
- Xác định cơ cấu cây trồng vừa phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu của từng vùng, vừa phù hợp với yêu cầu của chế biến gỗ và thị hiếu tiêu dùng sản phẩm gỗ của thị trường trong và ngoài nước.
- Tổng nhu cầu gỗ tròn cho giai đoạn 2016 - 2020 là 2.100.260 m3; diện tích cần trồng rừng 176.930 ha (bình quân 80 - 100m3 gỗ/ha trồng trong 6 - 8 năm). Như vậy, ngay trên địa bàn Tỉnh đã đủ diện tích để trồng rừng, kể cả trồng rừng thâm canh gỗ lớn (hiện nay diện tích rừng sản xuất của Tỉnh là 195.208 ha) nguyên liệu cho sản xuất chế biến các sản phẩm gỗ trên địa bàn và xuất khẩu theo quy hoạch (bình quân một năm cần từ 25.000 - 30.000 ha rừng trồng khai thác khoảng 2,0 - 2,4 m3 gỗ).
(Chi tiết như Bảng 21 phụ biểu kèm theo).
8.8. Giải pháp về quản lý nhà nước:
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn, xử lý các hành vi sản xuất, chế biến lâm sản trái phép; kiểm soát, đăng ký chặt chẽ nguồn nguyên liệu lâm sản đầu vào của các cơ sở chế biến;
- Đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động chế biến gỗ, thực hiện các chức năng định hướng, giám sát, kiểm tra và hướng dẫn, tạo điều kiện, tạo môi trường để các đơn vị chế biến gỗ phát triển sản xuất kinh doanh tạo ra các sản phẩm tinh chế, đủ sức cạnh tranh trên thị trường.

Content:
Giải pháp thực hiện quy hoạch.
8.1. Giải pháp về thể chế, chính sách:
- Tiếp tục áp dụng các chính sách hỗ trợ tài chính và ưu đãi về thuế cho phát triển vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến gỗ;
- Tuyên truyền, chỉ đạo tổ chức tốt các chính sách hiện có, đề xuất xây dựng mới các chính sách sau: Chính sách liên kết giữa người sản xuất gỗ, các công ty lâm nghiệp với các cơ sở, công ty chế biến gỗ; Chính sách khuyến khích đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu tập trung phục vụ công nghiệp chế biến gỗ; Chính sách khuyến khích đầu tư phát triển công nghiệp chế biến gỗ; Các chính sách về tín dụng, đầu tư phù hợp với điều kiện cụ thể của từng giai đoạn, đồng thời xây dựng những chính sách áp dụng riêng cho một số vùng đặc thù để có thể thu hút mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư phát triển chế biến gỗ ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn vừa có thể tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương, vừa tạo ra thu nhập cho người dân địa phương, đồng thời phát triển kinh tế của những vùng khó khăn.
8.2. Giải pháp về đất đai, mặt bằng sản xuất:
- Ưu tiên bố trí các doanh nghiệp chế biến gỗ vào sản xuất tại các khu, cụm công nghiệp đã được quy hoạch tại địa phương;
- Xây dựng các chính sách ưu đãi về mặt bằng sản xuất cho các doanh nghiệp chế biến gỗ đầu tư sản xuất tại các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn;
- Có chính sách phù hợp để có thể di dời hoặc đóng cửa các cơ sở chế biến gỗ đang sản xuất tại các khu vực đông dân cư, làm ô nhiễm môi trường.
8.3. Giải pháp về liên kết trong chế biến gỗ:
- Tổ chức lại sản xuất theo chuỗi sản phẩm (liên kết dọc): Từ trồng rừng, thu mua nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
8.4. Giải pháp về khoa học và công nghệ:
- Khuyến khích và có chính sách ưu đãi đối với các đơn vị đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại phục vụ cho chế biến gỗ;
- Tạo điều kiện hỗ trợ cho các tổ chức cá nhân nghiên cứu các đề tài khoa học phục vụ phát triển ngành chế biến gỗ; hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng website; xây dựng ISO, chứng chỉ FSC, CoC...;
- Phát triển các nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động công nghệ, đồng thời có chính sách thu hút các chuyên gia giỏi phục vụ cho hoạt động chế biến gỗ. Xây dựng hệ thống thông tin khoa học công nghệ và bộ phận tư vấn hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc lựa chọn công nghệ máy móc thiết bị hiện đại phù hợp phục vụ cho sản xuất chế biến gỗ của đơn vị.
8.5. Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực:
- Tăng cường hợp tác, liên kết giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp để đào tạo tại chỗ, gắn đào tạo với sử dụng lao động để nâng cao tay nghề cho công nhân và cán bộ kỹ thuật đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp;
- Xây dựng kế hoạch tổ chức đánh giá nhu cầu đào tạo ngành chế biến gỗ và bố trí kinh phí hỗ trợ hàng năm để đào tạo nguồn nhân lực cho ngành chế biến gỗ, bao gồm đào tạo cán bộ kỹ thuật, quản lý, công nhân kỹ thuật lành nghề đáp ứng cho yêu cầu phát triển ngành chế biến gỗ. Hỗ trợ tăng cường đào tạo tay nghề công nhân chế biến gỗ;
- Khuyến khích và tạo điều kiện phát huy nguồn nhân lực tại chỗ của các cơ sở sản xuất, tích cực tranh thủ các nguồn nhân lực bên ngoài để để tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật và tay nghề cao cho các doanh nghiệp chế biến gỗ;
- Thường xuyên tổ chức các chuyến tham quan trong và ngoài nước để học tập kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh của các đơn vị tiến bộ, nắm bắt thị trường, công nghệ để áp dụng phù hợp với điều kiện của tỉnh;
- Xây dựng định hướng phát triển và kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển ngành chế biến gỗ trong từng giai đoạn.
8.6. Giải pháp về môi trường:
Bố trí các cơ sở chế biến gỗ vào các khu, cụm công nghiệp nhằm có điều kiện xử lý vấn đề môi trường; Các doanh nghiệp xây dựng mới phải thực hiện đầy đủ các thủ tục về quản lý môi trường theo quy định;
- Các doanh nghiệp phải cam kết thực hiện tốt các yêu cầu xử lý chất thải, đồng thời đầu tư đổi mới công nghệ để đảm bảo vệ sinh môi trường;
- Tăng cường bộ máy quản lý nhà nước về môi trường, xử lý nghiêm các doanh nghiệp vi phạm quy định về môi trường.
8.7. Giải pháp về nguồn nguyên liệu:
- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư trồng rừng nguyên liệu. Tạo cơ chế để chủ cơ sở chế biến gỗ gắn với vùng nguyên liệu bằng nhiều hình thức như: thuê đất trồng rừng, nhận khoán hoặc thuê rừng, liên doanh góp vốn trồng rừng với các Công ty lâm nghiệp, Ban quản lý rừng phòng hộ, với nhân dân, liên doanh liên kết giữa các cơ sở chế biến, hoặc đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu gỗ với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cùng góp vốn trồng rừng;
- Xác định cơ cấu cây trồng vừa phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu của từng vùng, vừa phù hợp với yêu cầu của chế biến gỗ và thị hiếu tiêu dùng sản phẩm gỗ của thị trường trong và ngoài nước.
- Tổng nhu cầu gỗ tròn cho giai đoạn 2016 - 2020 là 2.100.260 m3; diện tích cần trồng rừng 176.930 ha (bình quân 80 - 100m3 gỗ/ha trồng trong 6 - 8 năm). Như vậy, ngay trên địa bàn Tỉnh đã đủ diện tích để trồng rừng, kể cả trồng rừng thâm canh gỗ lớn (hiện nay diện tích rừng sản xuất của Tỉnh là 195.208 ha) nguyên liệu cho sản xuất chế biến các sản phẩm gỗ trên địa bàn và xuất khẩu theo quy hoạch (bình quân một năm cần từ 25.000 - 30.000 ha rừng trồng khai thác khoảng 2,0 - 2,4 m3 gỗ).
(Chi tiết như Bảng 21 phụ biểu kèm theo).
8.Giải pháp về quản lý nhà nước:
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn, xử lý các hành vi sản xuất, chế biến lâm sản trái phép; kiểm soát, đăng ký chặt chẽ nguồn nguyên liệu lâm sản đầu vào của các cơ sở chế biến;
- Đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động chế biến gỗ, thực hiện các chức năng định hướng, giám sát, kiểm tra và hướng dẫn, tạo điều kiện, tạo môi trường để các đơn vị chế biến gỗ phát triển sản xuất kinh doanh tạo ra các sản phẩm tinh chế, đủ sức cạnh tranh trên thị trường.