Document: Điểm d Khoản 9 Điều 1 Quyết định 980/QĐ-TTg năm 2013 phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng trung du Bắc Bộ

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "21/06/2013", "sign_number": "980/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "21/06/2013", "sign_number": "980/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "21/06/2013", "sign_number": "980/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "21/06/2013", "sign_number": "980/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "21/06/2013", "sign_number": "980/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 9 Điều 1 Quyết định 980/QĐ-TTg năm 2013 phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng trung du Bắc Bộ

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030 với những nội dung chính như sau:
...
9. Định hướng phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật vùng:
...
d) Định hướng thoát nước thải, quản lý chất thải rắn và nghĩa trang
- Thoát nước thải:
Tổng nhu cầu thoát nước thải cho các đô thị đến năm 2020 là khoảng 900.000 m3/ngày đêm; đến năm 2030 khoảng 1.300.000 m3/ngày đêm.
Các đô thị lớn, đang sử dụng hệ thống thoát nước chung: Phát triển hệ thống thoát nước hỗn hợp trên cơ sở mạng lưới thoát nước chung đã có và xây dựng mạng lưới tiêu gom nước thải. Các đô thị vừa và nhỏ xây dựng bổ sung các tuyến cống bao đưa nước thải về trạm xử lý nước thải tập trung.
Các đô thị, khu vực phát triển mới sử dụng hệ thống thoát nước riêng.
Các đô thị loại 4 - 5 theo phân cấp đô thị chỉ sử dụng hệ thống thoát nước riêng. Tuy nhiên phần lớn các đô thị này hiện nay chưa có hệ thống thoát nước. Để hướng tới các đô thị văn minh, hiện đại phát triển đồng bộ và đảm bảo vệ sinh môi trường, kiến nghị sử dụng hệ thống thoát nước riêng hoàn toàn cho các thị trấn, thị tứ có đủ điều kiện đầu tư.
Các điểm dân cư nông thôn, trung tâm cụm xã, cụm dân cư tập trung cần có hệ thống thoát nước chung. Nước thải từ các khu vệ sinh được xử lý sơ bộ bằng bể tự hoại sau đó thoát ra hệ thống thoát nước chung. Tận dụng hệ thống các ao, hồ sẵn có để làm sạch tự nhiên nước thải.
- Thu gom, xử lý chất thải rắn:
Tổng nhu cầu xử lý chất thải rắn toàn vùng đến năm 2020 là khoảng 13.500 tấn/ngày đêm; đến năm 2030 khoảng 15.500 tấn/ngày đêm. Chất thải rắn sau khi thu gom và phân loại tại nguồn thải sẽ được đưa đến các khu xử lý chất thải rắn tập trung.
Tại các thành phố cần xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn tập trung hoặc khu xử lý chất thải rắn tập trung với công nghệ sản xuất phân hữu cơ; sản xuất nhựa tái chế hoặc đốt rác thu hồi năng lượng phù hợp với tính chất rác và điều kiện kinh tế xã hội của từng tỉnh; quy mô khu xử lý khoảng 15 - 50 ha.
Các thị trấn, thị xã sử dụng bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh quy mô từ 5 - 10 ha. Khuyến khích sử dụng chung bãi chôn lấp chất thải rắn nếu đảm bảo khoảng cách từ các đô thị đến bãi chôn lấp không quá 25 km. Các thị tứ bố trí bãi chôn lấp quy mô khoảng 1 - 5 ha và các trạm trung chuyển chất thải rắn có thể kết hợp sử dụng khu chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh của các đô thị lớn hơn nếu khoảng cách vận chuyển không quá 15 km.
- Định hướng quy hoạch nghĩa trang:
Tổng nhu cầu đất nghĩa trang toàn vùng đến năm 2020 là khoảng 900 ha; đến năm 2030 khoảng 1.000 tấn/ngày đêm.
Mỗi đô thị xây dựng một nghĩa trang riêng, bố trí xa dân cư, nguồn nước; quy mô các nghĩa trang từ 5 - 30 ha. Tại khu vực nông thôn xây dựng các nghĩa trang riêng phù hợp với quy mô dân số, quy mô các nghĩa trang có thể từ 1 - 5 ha. Đối với các xã vùng biên, có chính sách động viên và hỗ trợ người dân ở các điểm dân cư sát biên giới chôn cất sát đường biên để góp phần vào việc bảo vệ chủ quyền.

Content:
Định hướng thoát nước thải, quản lý chất thải rắn và nghĩa trang
- Thoát nước thải:
Tổng nhu cầu thoát nước thải cho các đô thị đến năm 2020 là khoảng 900.000 m3/ngày đêm; đến năm 2030 khoảng 1.300.000 m3/ngày đêm.
Các đô thị lớn, đang sử dụng hệ thống thoát nước chung: Phát triển hệ thống thoát nước hỗn hợp trên cơ sở mạng lưới thoát nước chung đã có và xây dựng mạng lưới tiêu gom nước thải. Các đô thị vừa và nhỏ xây dựng bổ sung các tuyến cống bao đưa nước thải về trạm xử lý nước thải tập trung.
Các đô thị, khu vực phát triển mới sử dụng hệ thống thoát nước riêng.
Các đô thị loại 4 - 5 theo phân cấp đô thị chỉ sử dụng hệ thống thoát nước riêng. Tuy nhiên phần lớn các đô thị này hiện nay chưa có hệ thống thoát nước. Để hướng tới các đô thị văn minh, hiện đại phát triển đồng bộ và đảm bảo vệ sinh môi trường, kiến nghị sử dụng hệ thống thoát nước riêng hoàn toàn cho các thị trấn, thị tứ có đủ điều kiện đầu tư.
Các điểm dân cư nông thôn, trung tâm cụm xã, cụm dân cư tập trung cần có hệ thống thoát nước chung. Nước thải từ các khu vệ sinh được xử lý sơ bộ bằng bể tự hoại sau đó thoát ra hệ thống thoát nước chung. Tận dụng hệ thống các ao, hồ sẵn có để làm sạch tự nhiên nước thải.
- Thu gom, xử lý chất thải rắn:
Tổng nhu cầu xử lý chất thải rắn toàn vùng đến năm 2020 là khoảng 13.500 tấn/ngày đêm; đến năm 2030 khoảng 15.500 tấn/ngày đêm. Chất thải rắn sau khi thu gom và phân loại tại nguồn thải sẽ được đưa đến các khu xử lý chất thải rắn tập trung.
Tại các thành phố cần xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn tập trung hoặc khu xử lý chất thải rắn tập trung với công nghệ sản xuất phân hữu cơ; sản xuất nhựa tái chế hoặc đốt rác thu hồi năng lượng phù hợp với tính chất rác và điều kiện kinh tế xã hội của từng tỉnh; quy mô khu xử lý khoảng 15 - 50 ha.
Các thị trấn, thị xã sử dụng bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh quy mô từ 5 - 10 ha. Khuyến khích sử dụng chung bãi chôn lấp chất thải rắn nếu đảm bảo khoảng cách từ các đô thị đến bãi chôn lấp không quá 25 km. Các thị tứ bố trí bãi chôn lấp quy mô khoảng 1 - 5 ha và các trạm trung chuyển chất thải rắn có thể kết hợp sử dụng khu chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh của các đô thị lớn hơn nếu khoảng cách vận chuyển không quá 15 km.
- Định hướng quy hoạch nghĩa trang:
Tổng nhu cầu đất nghĩa trang toàn vùng đến năm 2020 là khoảng 900 ha; đến năm 2030 khoảng 1.000 tấn/ngày đêm.
Mỗi đô thị xây dựng một nghĩa trang riêng, bố trí xa dân cư, nguồn nước; quy mô các nghĩa trang từ 5 - 30 ha. Tại khu vực nông thôn xây dựng các nghĩa trang riêng phù hợp với quy mô dân số, quy mô các nghĩa trang có thể từ 1 - 5 ha. Đối với các xã vùng biên, có chính sách động viên và hỗ trợ người dân ở các điểm dân cư sát biên giới chôn cất sát đường biên để góp phần vào việc bảo vệ chủ quyền.