Document: Điều 2 Quyết định 42/2012/QĐ-UBND sửa đổi bồi thường hỗ trợ  tái định cư Khánh Hòa

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "21/12/2012", "sign_number": "42/2012/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Vinh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "21/12/2012", "sign_number": "42/2012/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Vinh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "21/12/2012", "sign_number": "42/2012/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Vinh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "21/12/2012", "sign_number": "42/2012/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Vinh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "21/12/2012", "sign_number": "42/2012/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Vinh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định 42/2012/QĐ-UBND sửa đổi bồi thường hỗ trợ  tái định cư Khánh Hòa có nội dung như sau:

Điều 2. Sửa đổi và bổ sung một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND ngày 02 tháng 6 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại Quyết định số 101/2009/QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh và Quy định ban hành kèm theo (sau đây gọi tắt là Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND), nội dung như sau:
1. Bổ sung Khoản 3, Điều 2 Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND về sửa đổi, bổ sung Khoản 3, Điều 12 Quy đinh kèm theo Quyết định số 101/2009/QĐ-UBND , như sau:
“đ) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi thửa đất ở có vườn, ao theo quy định tại Điểm a và bị thu hồi các thửa đất nông nghiệp trong khu dân cư quy định theo tại Điểm b Khoản 3 Điều này thì diện tích đất được hỗ trợ tính theo hạn mức quy định cho từng nội dung.
e) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhiều thửa đất nông nghiệp bị thu hồi (của một dự án hoặc nhiều dự án) thì chỉ được hỗ trợ với diện tích tối đa bằng hạn mức quy định tại Điểm a hoặc Điểm b Khoản 3 Điều này.”
2. Sửa đổi Khoản 4 Điều 2 Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND về sửa đổi Điểm c Khoản 6 Điều 15 Quy định kèm theo Quyết định 101/2009/QĐ-UBND , như sau:
“c) Đất bị thu hồi thuộc trường hợp quy định tại Khoản 8 Điều 8 Quy định này thì được bồi thường cho toàn bộ diện tích đất ở được xác định theo Khoản 2 Khoản 3 Điều này, và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 45 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ”.
3. Sửa đổi Khoản 5 Điều 2 Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND về sửa đổi Khoản 1 Điều 18 Quy định kèm theo Quyết định 101/2009/QĐ-UBND , như sau:
“1. Trường hợp diện tích thửa đất còn lại sau khi thu hồi không bảo đảm các điều kiện theo quy định dưới đây thì khuyến khích chủ sử dụng chuyển nhượng cho hộ sử dụng đất lân cận hoặc đề nghị Nhà nước thu hồi và bồi thường theo giá đất tại Bảng giá các loại đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định nhân với hệ số điều chỉnh giá đất (hệ số K) do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành:
- Tại đô thị: Diện tích đất còn lại sau khi thu hồi phải lớn hơn hoặc bằng hai mươi lăm mét vuông (25 m2) với chiều sâu và bề rộng lô đất phải lớn hơn hoặc bằng ba mét (3 m).
- Tại nông thôn: Diện tích đất còn lại sau khi thu hồi phải lớn hơn hoặc bằng bốn mươi mét vuông (40 m2) với chiều sâu và bề rộng lô đất phải lớn hơn hoặc bằng bốn mét (4 m).
Trường hợp diện tích đất còn lại sau thu hồi có hình dạng đặc biệt thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét quyết định.
Sau khi Nhà nước thu hồi và bồi thường thì phần diện tích đất thu hồi này sẽ giao cho Ủy ban nhân dân xã quản lý nếu đất thuộc khu vực nông thôn, giao cho tổ chức phát triển quỹ đất quản lý nếu đất thuộc khu vực đô thị và khu vực đã được quy hoạch phát triển đô thị.”
4. Sửa đổi Khoản 13 Điều 2 Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND về sửa đổi Điều 41 Quy định kèm theo Quyết định 101/2009/QĐ-UBND , như sau:
“1. Hộ gia đình, cá nhân bị Nhà nước thu hồi đất ở, đang ở tại thửa đất bị thu hồi và được bồi thường, hỗ trợ về đất ở thì được bố trí tái định cư khi có một trong các điều kiện sau:
a) Hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi toàn bộ diện tích đất ở.
b) Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở mà phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 1, Điều 18 Quy định này.
c) Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở.
2. Hộ gia đình bị thu hồi toàn bộ diện tích đất ở, đủ điều kiện bố trí tái định cư theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà trong hộ gia đình có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống đủ điều kiện tách hộ (từ 3 cặp vợ chồng trở lên), hoặc hộ gia đình có từ 8 nhân khẩu trở lên cùng chung sống trên thửa đất ở bị thu hồi, có hộ khẩu tại nơi có đất bị thu hồi trước thời điểm quy hoạch được duyệt (đối với quy hoạch phê duyệt trước ngày 23 tháng 7 năm 1999) hoặc công bố (đối với quy hoạch phê duyệt từ ngày 23 tháng 7 năm 1999 đến ngày 01 tháng 7 năm 2004), hoặc công bố và cắm mốc (đối với quy hoạch phê duyệt từ sau ngày 01 tháng 7 năm 2004), thì được giao thêm 1 lô đất hoặc một căn hộ chung cư theo giá thị trường không qua đấu giá, trừ trường hợp đã được giải quyết giao thêm đất theo Khoản 3 Điều này.
3. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi toàn bộ hoặc một phần diện tích đất ở, được bồi thường về đất ở và đang ở tại thửa đất bị thu hồi mà diện tích đất ở bị thu hồi lớn: Từ 300 m2 trở lên đối với các phường nội thành thành phố Nha Trang; từ 500 m2 trở lên đối với đô thị các huyện, thị xã, thành phố còn lại; từ 1.000 m2 trở lên đối với đất ở nông thôn thì ngoài lô đất tái định cư theo quy định hoặc lô đất ở trên phần diện tích còn lại, còn được giao thêm 1 lô đất tái định cư hoặc một căn hộ chung cư tái định cư.
4. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở, được bồi thường về đất ở nhưng hiện không ở tại thửa đất bị thu hồi thì được xét giao một lô đất tái định cư khi có một trong các điều kiện sau:
a) Diện tích đất ở bị thu hồi tối thiểu phải bằng diện tích đất đủ điều kiện xây dựng nhà ở theo quy định và người bị thu hồi đất hiện đang ở nhờ nơi khác hoặc đang ở nhà thuê, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận hiện không có chỗ ở ổn định nào khác trên địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi. (Nhà thuê để ở hoặc nhà ở nhờ thì không gọi là chỗ ở ổn định).
b) Diện tích đất ở bị thu hồi có nguồn gốc do Nhà nước giao đất tái định cư hoặc do mua thông qua đấu giá của nhà nước hoặc các trường hợp mua lại đất tái định cư, mua lại đất thông qua đấu giá của Nhà nước, nay bị giải tỏa toàn bộ, không còn đủ diện tích xây dựng nhà ở theo quy định.
Các trường hợp tại Điểm a và b Khoản này không được xét hỗ trợ tái định cư theo quy định tại Điều 44 của Quy định này.
5. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi toàn bộ diện tích đất, được bồi thường về đất nhưng không đủ điều kiện được bồi thường đất ở, trên thửa đất đó có nhà ở và người sử dụng đất thực tế ăn, ở, sinh hoạt trước ngày quy hoạch xây dựng được cấp thẩm quyền phê duyệt và công khai hoặc trước ngày có thông báo thu hồi đất (nếu khu vực đó chưa có quy hoạch xây dựng), mà không có chỗ ở nào khác tại địa phương (xã, phường, thị trấn) nơi có đất thu hồi và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận thì được xem xét bố trí tái định cư, nhưng không được xét hỗ trợ tái định cư theo quy định tại Điều 44 của Quy định này.”
5. Sửa đổi Khoản 21 Điều 2 Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND về sửa đổi Khoản 8, Điều 60 Quy định kèm theo Quyết định 101/2009/QĐ-UBND , như sau:
“8. Trường hợp tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã thực hiện thông báo nhận tiền bồi thường, hỗ trợ đến tổ chức, hộ gia đình, cá nhân theo kế hoạch chi trả, nhưng hết thời hạn chi trả theo kế hoạch mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không đến nhận tiền thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nộp số tiền bồi thường, hỗ trợ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó vào Kho bạc Nhà nước. Khi tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đồng ý nhận thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm rút tiền về để chi trả theo quy định”.

Content:
Điều 2. Sửa đổi và bổ sung một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND ngày 02 tháng 6 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại Quyết định số 101/2009/QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh và Quy định ban hành kèm theo (sau đây gọi tắt là Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND), nội dung như sau:
1. Bổ sung Khoản 3, Điều 2 Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND về sửa đổi, bổ sung Khoản 3, Điều 12 Quy đinh kèm theo Quyết định số 101/2009/QĐ-UBND , như sau:
“đ) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi thửa đất ở có vườn, ao theo quy định tại Điểm a và bị thu hồi các thửa đất nông nghiệp trong khu dân cư quy định theo tại Điểm b Khoản 3 Điều này thì diện tích đất được hỗ trợ tính theo hạn mức quy định cho từng nội dung.
e) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhiều thửa đất nông nghiệp bị thu hồi (của một dự án hoặc nhiều dự án) thì chỉ được hỗ trợ với diện tích tối đa bằng hạn mức quy định tại Điểm a hoặc Điểm b Khoản 3 Điều này.”
2. Sửa đổi Khoản 4 Điều 2 Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND về sửa đổi Điểm c Khoản 6 Điều 15 Quy định kèm theo Quyết định 101/2009/QĐ-UBND , như sau:
“c) Đất bị thu hồi thuộc trường hợp quy định tại Khoản 8 Điều 8 Quy định này thì được bồi thường cho toàn bộ diện tích đất ở được xác định theo Khoản 2 Khoản 3 Điều này, và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 45 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ”.
3. Sửa đổi Khoản 5 Điều 2 Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND về sửa đổi Khoản 1 Điều 18 Quy định kèm theo Quyết định 101/2009/QĐ-UBND , như sau:
“1. Trường hợp diện tích thửa đất còn lại sau khi thu hồi không bảo đảm các điều kiện theo quy định dưới đây thì khuyến khích chủ sử dụng chuyển nhượng cho hộ sử dụng đất lân cận hoặc đề nghị Nhà nước thu hồi và bồi thường theo giá đất tại Bảng giá các loại đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định nhân với hệ số điều chỉnh giá đất (hệ số K) do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành:
- Tại đô thị: Diện tích đất còn lại sau khi thu hồi phải lớn hơn hoặc bằng hai mươi lăm mét vuông (25 m2) với chiều sâu và bề rộng lô đất phải lớn hơn hoặc bằng ba mét (3 m).
- Tại nông thôn: Diện tích đất còn lại sau khi thu hồi phải lớn hơn hoặc bằng bốn mươi mét vuông (40 m2) với chiều sâu và bề rộng lô đất phải lớn hơn hoặc bằng bốn mét (4 m).
Trường hợp diện tích đất còn lại sau thu hồi có hình dạng đặc biệt thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét quyết định.
Sau khi Nhà nước thu hồi và bồi thường thì phần diện tích đất thu hồi này sẽ giao cho Ủy ban nhân dân xã quản lý nếu đất thuộc khu vực nông thôn, giao cho tổ chức phát triển quỹ đất quản lý nếu đất thuộc khu vực đô thị và khu vực đã được quy hoạch phát triển đô thị.”
4. Sửa đổi Khoản 13 Điều 2 Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND về sửa đổi Điều 41 Quy định kèm theo Quyết định 101/2009/QĐ-UBND , như sau:
“1. Hộ gia đình, cá nhân bị Nhà nước thu hồi đất ở, đang ở tại thửa đất bị thu hồi và được bồi thường, hỗ trợ về đất ở thì được bố trí tái định cư khi có một trong các điều kiện sau:
a) Hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi toàn bộ diện tích đất ở.
b) Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở mà phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 1, Điều 18 Quy định này.
c) Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở.
2. Hộ gia đình bị thu hồi toàn bộ diện tích đất ở, đủ điều kiện bố trí tái định cư theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà trong hộ gia đình có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống đủ điều kiện tách hộ (từ 3 cặp vợ chồng trở lên), hoặc hộ gia đình có từ 8 nhân khẩu trở lên cùng chung sống trên thửa đất ở bị thu hồi, có hộ khẩu tại nơi có đất bị thu hồi trước thời điểm quy hoạch được duyệt (đối với quy hoạch phê duyệt trước ngày 23 tháng 7 năm 1999) hoặc công bố (đối với quy hoạch phê duyệt từ ngày 23 tháng 7 năm 1999 đến ngày 01 tháng 7 năm 2004), hoặc công bố và cắm mốc (đối với quy hoạch phê duyệt từ sau ngày 01 tháng 7 năm 2004), thì được giao thêm 1 lô đất hoặc một căn hộ chung cư theo giá thị trường không qua đấu giá, trừ trường hợp đã được giải quyết giao thêm đất theo Khoản 3 Điều này.
3. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi toàn bộ hoặc một phần diện tích đất ở, được bồi thường về đất ở và đang ở tại thửa đất bị thu hồi mà diện tích đất ở bị thu hồi lớn: Từ 300 m2 trở lên đối với các phường nội thành thành phố Nha Trang; từ 500 m2 trở lên đối với đô thị các huyện, thị xã, thành phố còn lại; từ 1.000 m2 trở lên đối với đất ở nông thôn thì ngoài lô đất tái định cư theo quy định hoặc lô đất ở trên phần diện tích còn lại, còn được giao thêm 1 lô đất tái định cư hoặc một căn hộ chung cư tái định cư.
4. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở, được bồi thường về đất ở nhưng hiện không ở tại thửa đất bị thu hồi thì được xét giao một lô đất tái định cư khi có một trong các điều kiện sau:
a) Diện tích đất ở bị thu hồi tối thiểu phải bằng diện tích đất đủ điều kiện xây dựng nhà ở theo quy định và người bị thu hồi đất hiện đang ở nhờ nơi khác hoặc đang ở nhà thuê, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận hiện không có chỗ ở ổn định nào khác trên địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi. (Nhà thuê để ở hoặc nhà ở nhờ thì không gọi là chỗ ở ổn định).
b) Diện tích đất ở bị thu hồi có nguồn gốc do Nhà nước giao đất tái định cư hoặc do mua thông qua đấu giá của nhà nước hoặc các trường hợp mua lại đất tái định cư, mua lại đất thông qua đấu giá của Nhà nước, nay bị giải tỏa toàn bộ, không còn đủ diện tích xây dựng nhà ở theo quy định.
Các trường hợp tại Điểm a và b Khoản này không được xét hỗ trợ tái định cư theo quy định tại Điều 44 của Quy định này.
5. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi toàn bộ diện tích đất, được bồi thường về đất nhưng không đủ điều kiện được bồi thường đất ở, trên thửa đất đó có nhà ở và người sử dụng đất thực tế ăn, ở, sinh hoạt trước ngày quy hoạch xây dựng được cấp thẩm quyền phê duyệt và công khai hoặc trước ngày có thông báo thu hồi đất (nếu khu vực đó chưa có quy hoạch xây dựng), mà không có chỗ ở nào khác tại địa phương (xã, phường, thị trấn) nơi có đất thu hồi và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận thì được xem xét bố trí tái định cư, nhưng không được xét hỗ trợ tái định cư theo quy định tại Điều 44 của Quy định này.”
5. Sửa đổi Khoản 21 Điều 2 Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND về sửa đổi Khoản 8, Điều 60 Quy định kèm theo Quyết định 101/2009/QĐ-UBND , như sau:
“8. Trường hợp tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã thực hiện thông báo nhận tiền bồi thường, hỗ trợ đến tổ chức, hộ gia đình, cá nhân theo kế hoạch chi trả, nhưng hết thời hạn chi trả theo kế hoạch mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không đến nhận tiền thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nộp số tiền bồi thường, hỗ trợ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó vào Kho bạc Nhà nước. Khi tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đồng ý nhận thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm rút tiền về để chi trả theo quy định”.