Document: Điều 16 Nghị định 161/2005/NĐ-CP hướng dẫn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Luật sửa đổi

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "27/12/2005", "sign_number": "161/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "27/12/2005", "sign_number": "161/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "27/12/2005", "sign_number": "161/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "27/12/2005", "sign_number": "161/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "27/12/2005", "sign_number": "161/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 16 Nghị định 161/2005/NĐ-CP hướng dẫn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Luật sửa đổi có nội dung như sau:

Điều 16. Đề xuất chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (sau đây gọi chung là luật, pháp lệnh) và chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

1. Căn cứ vào Điều 22 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Điều 59 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và yêu cầu quản lý của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ.

Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ lập dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ.

2. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các chủ thể có quyền trình dự án luật (trừ Chính phủ) theo quy định tại Điều 87 của Hiến pháp năm 1992 và kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội được gửi đến Bộ Tư pháp để trình Chính phủ.

Người đứng đầu các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và công dân có thể gửi kiến nghị xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đến Bộ Tư pháp; gửi đề nghị xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ đến Văn phòng Chính phủ.

3. Đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; những quan điểm, nội dung chính của văn bản; dự báo tác động kinh tế xã hội; dự kiến thời gian trình văn bản; nguồn lực tài chính, nhân lực và các nguồn lực khác bảo đảm thi hành văn bản.

4. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải được gửi đến Bộ Tài chính để thẩm định về nguồn tài chính dự kiến, gửi đến Bộ Nội vụ để thẩm định về nguồn nhân lực dự kiến (nếu có) nhằm bảo đảm thi hành luật, pháp lệnh sau khi được ban hành.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nội vụ có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về nguồn tài chính, nguồn nhân lực dự kiến nhằm bảo đảm thi hành luật, pháp lệnh sau khi được ban hành.

Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ phải kèm theo văn bản của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ đánh giá về nguồn tài chính, nguồn nhân lực dự kiến nhằm bảo đảm thi hành luật, pháp lệnh sau khi được ban hành.

5. Đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm được gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ chậm nhất là ngày 01 tháng 7 của năm trước.

Đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ của Quốc hội được gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ chậm nhất là ngày 01 tháng 7 của năm kết thúc nhiệm kỳ của Quốc hội khoá trước.

6. Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn gửi đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh quy định tại khoản 5 Điều này, Bộ Tư pháp phải hoàn thành việc lập dự thảo Dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo thứ tự ưu tiên ban hành văn bản, căn cứ vào nhu cầu quản lý nhà nước, tính khả thi của văn bản và tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Đối với đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh không đáp ứng các tiêu chí quy định tại các khoản 3 và 4 Điều này thì Bộ Tư pháp yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức và cá nhân bổ sung, hoàn chỉnh đề nghị, kiến nghị đó.

7. Đề nghị của các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, kiến nghị của người đứng đầu các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và công dân về việc xây dựng nghị quyết, nghị định hàng năm của Chính phủ được gửi đến Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp chậm nhất là ngày 05 tháng 11 của năm trước.

8. Trình tự, thủ tục đề xuất xây dựng nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh quy định tại điểm b khoản 2 Điều 56 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo các quy định về đề xuất chương trình xây dựng luật, pháp lệnh tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này.

Content:
Điều 16. Đề xuất chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (sau đây gọi chung là luật, pháp lệnh) và chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

1. Căn cứ vào Điều 22 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Điều 59 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và yêu cầu quản lý của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ.

Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ lập dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ.

2. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các chủ thể có quyền trình dự án luật (trừ Chính phủ) theo quy định tại Điều 87 của Hiến pháp năm 1992 và kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội được gửi đến Bộ Tư pháp để trình Chính phủ.

Người đứng đầu các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và công dân có thể gửi kiến nghị xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đến Bộ Tư pháp; gửi đề nghị xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ đến Văn phòng Chính phủ.

3. Đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; những quan điểm, nội dung chính của văn bản; dự báo tác động kinh tế xã hội; dự kiến thời gian trình văn bản; nguồn lực tài chính, nhân lực và các nguồn lực khác bảo đảm thi hành văn bản.

4. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải được gửi đến Bộ Tài chính để thẩm định về nguồn tài chính dự kiến, gửi đến Bộ Nội vụ để thẩm định về nguồn nhân lực dự kiến (nếu có) nhằm bảo đảm thi hành luật, pháp lệnh sau khi được ban hành.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nội vụ có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về nguồn tài chính, nguồn nhân lực dự kiến nhằm bảo đảm thi hành luật, pháp lệnh sau khi được ban hành.

Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ phải kèm theo văn bản của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ đánh giá về nguồn tài chính, nguồn nhân lực dự kiến nhằm bảo đảm thi hành luật, pháp lệnh sau khi được ban hành.

5. Đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm được gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ chậm nhất là ngày 01 tháng 7 của năm trước.

Đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ của Quốc hội được gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ chậm nhất là ngày 01 tháng 7 của năm kết thúc nhiệm kỳ của Quốc hội khoá trước.

6. Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn gửi đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh quy định tại khoản 5 Điều này, Bộ Tư pháp phải hoàn thành việc lập dự thảo Dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo thứ tự ưu tiên ban hành văn bản, căn cứ vào nhu cầu quản lý nhà nước, tính khả thi của văn bản và tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Đối với đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh không đáp ứng các tiêu chí quy định tại các khoản 3 và 4 Điều này thì Bộ Tư pháp yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức và cá nhân bổ sung, hoàn chỉnh đề nghị, kiến nghị đó.

7. Đề nghị của các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, kiến nghị của người đứng đầu các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và công dân về việc xây dựng nghị quyết, nghị định hàng năm của Chính phủ được gửi đến Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp chậm nhất là ngày 05 tháng 11 của năm trước.

8. Trình tự, thủ tục đề xuất xây dựng nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh quy định tại điểm b khoản 2 Điều 56 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo các quy định về đề xuất chương trình xây dựng luật, pháp lệnh tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này.