Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định số 3542/QĐ/UBND ngày 26 tháng 11 năm 2011 về việc phê duyệt quy hoạch

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "26/11/2011", "sign_number": "3542/QĐ-UBND", "signer": "Vương Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "26/11/2011", "sign_number": "3542/QĐ-UBND", "signer": "Vương Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "26/11/2011", "sign_number": "3542/QĐ-UBND", "signer": "Vương Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "26/11/2011", "sign_number": "3542/QĐ-UBND", "signer": "Vương Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "26/11/2011", "sign_number": "3542/QĐ-UBND", "signer": "Vương Văn Việt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định số 3542/QĐ/UBND ngày 26 tháng 11 năm 2011 về việc phê duyệt quy hoạch

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2011-2020, với những nội dung sau:
...
2. Định hướng phát triển nhân lực đến năm 2020
2.1. Phát triển nhân lực theo bậc đào tạo
Tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo trong nền kinh tế với cơ cấu hợp lý. Đến năm 2015, tổng lao động qua đào tạo đạt khoảng 1.189 nghìn người, chiếm 55%; năm 2020 khoảng 1.582 nghìn người, chiếm 70% lao động làm việc trong nền kinh tế. Trong tổng số lao động qua đào tạo, số lao động đào tạo qua hệ thống giáo dục - đào tạo năm 2015 khoảng 251 nghìn người (chiếm 21% số lao động qua đào tạo), năm 2020 khoảng 339 nghìn người (chiếm 21,4%); số lao động đào tạo qua hệ thống dạy nghề năm 2015 khoảng 938,3 nghìn người (chiếm 79%), năm 2020 khoảng 1.243 nghìn người (chiếm 78,6%).
Về cơ cấu bậc đào tạo: Năm 2015 số lao động qua đào tạo trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng khoảng 730 nghìn người, chiếm 61,4% tổng số lao động qua đào tạo, trung cấp khoảng 219,5 nghìn người (chiếm 18,5%); cao đẳng khoảng 131,5 nghìn người (chiếm 11,0%); đại học khoảng 102,3 nghìn người (chiếm 8,6%); trên đại khoảng trên 5,6 nghìn người (khoảng 0,5%). Năm 2020, số lao động qua đào tạo trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng khoảng 811,7 nghìn người, chiếm 51,3% tổng số lao động qua đào tạo, trung cấp khoảng 358,2 nghìn người (chiếm 22,6%); cao đẳng khoảng 246,6 nghìn người (chiếm 15,6%); đại học khoảng 155,9 nghìn người (chiếm 9,9%) và trên đại học khoảng 9,6 nghìn người (chiếm 0,6%).
2.2. Phát triển nhân lực các ngành, lĩnh vực
a) Phát triển nhân lực trong ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Dự kiến tốc độ tăng trưởng khu vực I giai đoạn 2011 - 2015 là 3,5%; giai đoạn 2016 - 2020 là 4,3%; những năm tới, ruộng đất canh tác có xu hướng bị thu hẹp; việc đưa máy móc, áp dụng KHCN vào sản xuất được đẩy mạnh. Xu thế chuyển dịch lao động từ khu vực này sang các khu vực khác tiếp tục diễn ra. Tỷ lệ lao động khu vực I so với tổng lao động làm việc trong nền kinh tế năm 2015 khoảng 40%, năm 2020 giảm xuống 30,4%.
Đến năm 2015, dự kiến lao động khu vực I là 864,8 nghìn người, trong đó lao động nông nghiệp là 802,5 nghìn người, lâm nghiệp là 10,4 nghìn người, thuỷ sản là 51,9 nghìn người; đến năm 2020 là 687 nghìn người; trong đó, lao động nông nghiệp 604,4 nghìn người, lâm nghiệp 13,7 nghìn người, thuỷ sản 68,7 nghìn người.
Dự kiến, số lao động qua đào tạo khu vực I đạt 39,2% năm 2015 và 54,1% năm 2020, tương ứng với 338,9 nghìn người, năm 2015 và 371,8 nghìn người năm 2020. Trong số lao động được đào tạo, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng chiếm khoảng 78,9% năm 2015 và 72,3% năm 2020; tương ứng trung cấp chiếm khoảng 14,5% và 18,3%; cao đẳng khoảng 4,6% và 6,8%; đại học trở lên khoảng 2% và 2,6%.
Trong ngành thuỷ sản, tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 68% năm 2015 và khoảng 80% năm 2020, trong đó: lao động đào tạo sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng chiếm khoảng 75% lao động qua đào tạo của ngành thuỷ sản vào năm 2015 và 68% năm 2020; tương ứng trung cấp chiếm khoảng 16% và 21%; cao đẳng khoảng 5,8% và 8,3%; đại học trở lên khoảng 2% và 3,2%.
Trong giai đoạn 2011 - 2020 có khoảng 40 - 45% lao động đã qua đào tạo của khu vực I được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng làm việc.
b) Phát triển nhân lực trong ngành công nghiệp - xây dựng
Dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP khu vực II (công nghiệp - xây dựng) giai đoạn 2011 - 2015 là 22,3%, giai đoạn 2016 - 2020 là 20,6%. Tỷ lệ lao động nhóm ngành công nghiệp - xây dựng trong tổng lao động của nền kinh tế năm 2015 là 32% và năm 2020 là 39,5%.
Dự kiến, lao động khu vực II đến năm 2015 là 691,8 nghìn người, trong đó: lao động công nghiệp khai thác mỏ 42,9 nghìn người, công nghiệp chế biến 379,1 nghìn người, công nghiệp phân phối điện nước 13,8 nghìn người, xây dựng 256 nghìn người. Đến năm 2020, lao động khu vực II là 892,7 nghìn người, trong đó: Khai thác mỏ 55,4 nghìn người, công nghiệp chế biến 489,2 nghìn người, công nghiệp phân phối điện nước 17,8 nghìn người, xây dựng 330,3 nghìn người.
Dự kiến, số lao động qua đào tạo khu vực II sẽ đạt 54,5% vào năm 2015 và 66,5% năm 2020, tương ứng với 374,6 nghìn người (công nghiệp khai thác mỏ 21 nghìn người, công nghiệp chế biến 214,7 nghìn người, công nghiệp phân phối điện nước 6,7 nghìn người, xây dựng 132 nghìn người) năm 2015 và 593,2 nghìn người (công nghiệp khai thác mỏ 28,6 nghìn người, công nghiệp chế biến 345,9 nghìn người, công nghiệp phân phối điện nước 7,6 nghìn người, xây dựng 211,1 nghìn người) năm 2020. Trong số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng chiếm khoảng 61,7% năm 2015 và 50% năm 2020; tương ứng trung cấp chiếm 23% và 30,2%; cao đẳng khoảng 11,8% và 15,6%; đại học trở lên khoảng 3,6% và 4,3%.
Tỷ lệ lao động khu vực II cần đào tạo bồi dưỡng lại khoảng từ 30 - 35% tổng số lao động đã qua đào tạo của ngành.
c) Phát triển nhân lực trong ngành dịch vụ
Tốc độ tăng trưởng dịch vụ giai đoạn 2011 - 2015 là 16,8%, giai đoạn 2016 - 2020 là 20,1%. Đây là khu vực có tốc độ tăng trưởng ổn định. Tỷ lệ lao động ngành dịch vụ năm 2015 là 28% và năm 2020 tăng lên 30,1%.
Số lao động ngành dịch vụ năm 2015 khoảng 605,4 nghìn người, năm 2020 khoảng 680,3 nghìn người. Số lao động qua đào tạo năm 2015 khoảng 475,6 nghìn người (chiếm 78,6% lao động toàn ngành), năm 2020 khoảng 617 nghìn người (chiếm 90,7%). Trong số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng chiếm 48,6% năm 2015 và 45,3% năm 2020; trung cấp khoảng 17,8% và 17,9%; cao đẳng khoảng 15,1% và 20,9%; đại học trở lên khoảng 18,5% và 21,2%.
Tỷ lệ lao động của ngành cần đào tạo, bồi dưỡng lại khoảng từ 30 - 35% tổng số lao động đã qua đào tạo.
2.3. Phát triển nhân lực trong các lĩnh vực đặc thù và các vùng của tỉnh
- Phát triển nhân lực lĩnh vực khoa học công nghệ, giáo dục - đào tạo
Lao động trong ngành khoa học công nghệ và giáo dục - đào tạo là những ngành đặc biệt quan trọng, có vai trò to lớn trong phát triển nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Lao động qua đào tạo ngành khoa học công nghệ và giáo dục - đào tạo năm 2015 là 81,7 nghìn người, chiếm 99,9% số lao động toàn ngành; năm 2020 là 87,7 nghìn người, chiếm 99,9%; trên đại học là 2,5 nghìn người năm 2015 và 4,2 nghìn người năm 2020; chiếm 45% và 43% số người có trình độ trên đại học toàn tỉnh.
- Phát triển nhân lực là đội ngũ doanh nhân
Dự báo đến năm 2015 Thanh Hoá có khoảng 16.000 doanh nghiệp, năm 2020 có trên 20.000 doanh nghiệp. Phát triển nhân lực là đội ngũ doanh nhân có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế; dự kiến số doanh nhân khoảng 32 nghìn người vào năm 2015 và trên 50 nghìn người vào năm 2020; số doanh nhân có trình độ đại học trở lên khoảng trên 18 nghìn người năm 2015 và 42 nghìn người năm 2020.
- Phát triển nhân lực đi làm việc ở nước ngoài
Giai đoạn 2011 - 2015 có khoảng 60 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài, bình quân mỗi năm có 12 nghìn người; giai đoạn 2016 - 2020 có khoảng trên 40 nghìn người, bình quân mỗi năm có 8 nghìn người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 100%, trong đó đào tạo nghề là 90%.
- Phát triển nhân lực trong KKT, các KCN và khu công nghệ cao
Thanh Hoá có KKT Nghi Sơn với diện tích 18.611 ha, 4 KCN tập trung là Lễ Môn, Tây Bắc ga, Bỉm Sơn, Lam Sơn; dự kiến đến năm 2020 sẽ có thêm 5 KCN mới và 1 khu công nghệ cao được thành lập.
Dự kiến trong giai đoạn tới, nhu cầu lao động có tay nghề cao cho KKT, các KCN và khu công nghệ cao của tỉnh là khá lớn; đến năm 2015 lao động qua đào tạo trên 150 nghìn người, năm 2020 trên 294 nghìn người. Giai đoạn 2011 - 2015: đào tạo CĐN trên 18 nghìn người, TCN 22,5 nghìn người; đào tạo CĐ, ĐH và trên ĐH trên 4,5 nghìn người; giai đoạn 2016 - 2020: đào tạo CĐN trên 35 nghìn người, TCN trên 44 nghìn người, đào tạo CĐ, ĐH và trên ĐH trên 9 nghìn người.
- Phát triển nhân lực ngành du lịch
Lao động trực tiếp làm việc trong ngành du lịch đến 2015 là 26,5 nghìn người và 50,5 nghìn người năm 2020; tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 74,2% năm 2015 và 84,5% năm 2020. Trong số lao động qua đào tạo, SCN và dạy nghề dưới 3 tháng chiếm khoảng 37% năm 2015 và 32% năm 2020; tương ứng TC và CĐ chiếm khoảng 40% và 42%; ĐH trở lên khoảng 23% và 26%.
- Phát triển nhân lực lĩnh vực y tế
Nhu cầu cán bộ y tế đến năm 2015 khoảng 11,2 nghìn người và khoảng 11,7 nghìn người năm 2020. Số cán bộ y tế cần bổ sung đến năm 2015 là 3,9 nghìn người và năm 2020 là 4,4 nghìn người, trong đó số bác sỹ cần bổ sung năm 2015 là 780 bác sỹ và 296 dược sỹ đại học; năm 2020 là 1.218 bác sỹ và 488 dược sỹ đại học để đạt mục tiêu 7 bác sỹ/1 vạn dân, 1 dược sỹ đại học/vạn dân vào năm 2015 và 8 bác sỹ/1 vạn dân và 1,5 dược sỹ đại học/vạn dân vào năm 2020.
- Phát triển nhân lực vùng miền núi
Đến năm 2015, tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế của vùng khoảng 645 nghìn người, năm 2020 khoảng 662 nghìn người. Cơ cấu lao động trong các ngành nông, lâm, thuỷ sản - công nghiệp và xây dựng - dịch vụ đến năm 2015 là 65% - 15% - 20%; năm 2020 là 55% - 20% - 25%.
Lao động qua đào tạo năm 2015 khoảng 226 nghìn người, chiếm 35%; năm 2020 khoảng 298 nghìn người, chiếm 45% tổng số lao động làm việc của vùng. Trong số lao động qua đào tạo, đào tạo qua hệ dạy nghề năm 2015 khoảng 171,3 nghìn người, chiếm 75,7%, năm 2020 khoảng 232,8 nghìn người, chiếm 78%; đào tạo qua hệ giáo dục, đào tạo năm 2015 khoảng 54,8 nghìn người, chiếm 24,3%, năm 2020 khoảng 65,4 nghìn người, chiếm 22% tổng số lao động qua đào tạo.
- Phát triển nhân lực vùng ven biển
Đến năm 2015, tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế của vùng khoảng 657,2 nghìn người, năm 2020 khoảng 698 nghìn người. Cơ cấu lao động trong các ngành nông, lâm, thuỷ sản - công nghiệp và xây dựng - dịch vụ đến năm 2015 là 45% - 28,3% - 26,7%; năm 2020 là 30% - 39,8% - 30,2%.
Lao động qua đào tạo năm 2015 khoảng 361 nghìn người, chiếm 55%; năm 2020 khoảng 488 nghìn người, chiếm 70% tổng số lao động làm việc của vùng. Trong tổng số lao động qua đào tạo, đào tạo qua hệ dạy nghề năm 2015 khoảng 293,6 nghìn người, chiếm 81%, năm 2020 khoảng 392,4 nghìn người, chiếm 80%; đào tạo qua hệ giáo dục, đào tạo năm 2015 khoảng 67,9 nghìn người, chiếm 19%; năm 2020 khoảng 96,2 nghìn người, chiếm 20% tổng số lao động qua đào tạo.

Content:
Định hướng phát triển nhân lực đến năm 2020
2.1. Phát triển nhân lực theo bậc đào tạo
Tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo trong nền kinh tế với cơ cấu hợp lý. Đến năm 2015, tổng lao động qua đào tạo đạt khoảng 1.189 nghìn người, chiếm 55%; năm 2020 khoảng 1.582 nghìn người, chiếm 70% lao động làm việc trong nền kinh tế. Trong tổng số lao động qua đào tạo, số lao động đào tạo qua hệ thống giáo dục - đào tạo năm 2015 khoảng 251 nghìn người (chiếm 21% số lao động qua đào tạo), năm 2020 khoảng 339 nghìn người (chiếm 21,4%); số lao động đào tạo qua hệ thống dạy nghề năm 2015 khoảng 938,3 nghìn người (chiếm 79%), năm 2020 khoảng 1.243 nghìn người (chiếm 78,6%).
Về cơ cấu bậc đào tạo: Năm 2015 số lao động qua đào tạo trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng khoảng 730 nghìn người, chiếm 61,4% tổng số lao động qua đào tạo, trung cấp khoảng 219,5 nghìn người (chiếm 18,5%); cao đẳng khoảng 131,5 nghìn người (chiếm 11,0%); đại học khoảng 102,3 nghìn người (chiếm 8,6%); trên đại khoảng trên 5,6 nghìn người (khoảng 0,5%). Năm 2020, số lao động qua đào tạo trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng khoảng 811,7 nghìn người, chiếm 51,3% tổng số lao động qua đào tạo, trung cấp khoảng 358,2 nghìn người (chiếm 22,6%); cao đẳng khoảng 246,6 nghìn người (chiếm 15,6%); đại học khoảng 155,9 nghìn người (chiếm 9,9%) và trên đại học khoảng 9,6 nghìn người (chiếm 0,6%).
2.Phát triển nhân lực các ngành, lĩnh vực
a) Phát triển nhân lực trong ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Dự kiến tốc độ tăng trưởng khu vực I giai đoạn 2011 - 2015 là 3,5%; giai đoạn 2016 - 2020 là 4,3%; những năm tới, ruộng đất canh tác có xu hướng bị thu hẹp; việc đưa máy móc, áp dụng KHCN vào sản xuất được đẩy mạnh. Xu thế chuyển dịch lao động từ khu vực này sang các khu vực khác tiếp tục diễn ra. Tỷ lệ lao động khu vực I so với tổng lao động làm việc trong nền kinh tế năm 2015 khoảng 40%, năm 2020 giảm xuống 30,4%.
Đến năm 2015, dự kiến lao động khu vực I là 864,8 nghìn người, trong đó lao động nông nghiệp là 802,5 nghìn người, lâm nghiệp là 10,4 nghìn người, thuỷ sản là 51,9 nghìn người; đến năm 2020 là 687 nghìn người; trong đó, lao động nông nghiệp 604,4 nghìn người, lâm nghiệp 13,7 nghìn người, thuỷ sản 68,7 nghìn người.
Dự kiến, số lao động qua đào tạo khu vực I đạt 39,2% năm 2015 và 54,1% năm 2020, tương ứng với 338,9 nghìn người, năm 2015 và 371,8 nghìn người năm 2020. Trong số lao động được đào tạo, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng chiếm khoảng 78,9% năm 2015 và 72,3% năm 2020; tương ứng trung cấp chiếm khoảng 14,5% và 18,3%; cao đẳng khoảng 4,6% và 6,8%; đại học trở lên khoảng 2% và 2,6%.
Trong ngành thuỷ sản, tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 68% năm 2015 và khoảng 80% năm 2020, trong đó: lao động đào tạo sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng chiếm khoảng 75% lao động qua đào tạo của ngành thuỷ sản vào năm 2015 và 68% năm 2020; tương ứng trung cấp chiếm khoảng 16% và 21%; cao đẳng khoảng 5,8% và 8,3%; đại học trở lên khoảng 2% và 3,2%.
Trong giai đoạn 2011 - 2020 có khoảng 40 - 45% lao động đã qua đào tạo của khu vực I được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng làm việc.
b) Phát triển nhân lực trong ngành công nghiệp - xây dựng
Dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP khu vực II (công nghiệp - xây dựng) giai đoạn 2011 - 2015 là 22,3%, giai đoạn 2016 - 2020 là 20,6%. Tỷ lệ lao động nhóm ngành công nghiệp - xây dựng trong tổng lao động của nền kinh tế năm 2015 là 32% và năm 2020 là 39,5%.
Dự kiến, lao động khu vực II đến năm 2015 là 691,8 nghìn người, trong đó: lao động công nghiệp khai thác mỏ 42,9 nghìn người, công nghiệp chế biến 379,1 nghìn người, công nghiệp phân phối điện nước 13,8 nghìn người, xây dựng 256 nghìn người. Đến năm 2020, lao động khu vực II là 892,7 nghìn người, trong đó: Khai thác mỏ 55,4 nghìn người, công nghiệp chế biến 489,2 nghìn người, công nghiệp phân phối điện nước 17,8 nghìn người, xây dựng 330,3 nghìn người.
Dự kiến, số lao động qua đào tạo khu vực II sẽ đạt 54,5% vào năm 2015 và 66,5% năm 2020, tương ứng với 374,6 nghìn người (công nghiệp khai thác mỏ 21 nghìn người, công nghiệp chế biến 214,7 nghìn người, công nghiệp phân phối điện nước 6,7 nghìn người, xây dựng 132 nghìn người) năm 2015 và 593,2 nghìn người (công nghiệp khai thác mỏ 28,6 nghìn người, công nghiệp chế biến 345,9 nghìn người, công nghiệp phân phối điện nước 7,6 nghìn người, xây dựng 211,1 nghìn người) năm 2020. Trong số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng chiếm khoảng 61,7% năm 2015 và 50% năm 2020; tương ứng trung cấp chiếm 23% và 30,2%; cao đẳng khoảng 11,8% và 15,6%; đại học trở lên khoảng 3,6% và 4,3%.
Tỷ lệ lao động khu vực II cần đào tạo bồi dưỡng lại khoảng từ 30 - 35% tổng số lao động đã qua đào tạo của ngành.
c) Phát triển nhân lực trong ngành dịch vụ
Tốc độ tăng trưởng dịch vụ giai đoạn 2011 - 2015 là 16,8%, giai đoạn 2016 - 2020 là 20,1%. Đây là khu vực có tốc độ tăng trưởng ổn định. Tỷ lệ lao động ngành dịch vụ năm 2015 là 28% và năm 2020 tăng lên 30,1%.
Số lao động ngành dịch vụ năm 2015 khoảng 605,4 nghìn người, năm 2020 khoảng 680,3 nghìn người. Số lao động qua đào tạo năm 2015 khoảng 475,6 nghìn người (chiếm 78,6% lao động toàn ngành), năm 2020 khoảng 617 nghìn người (chiếm 90,7%). Trong số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng chiếm 48,6% năm 2015 và 45,3% năm 2020; trung cấp khoảng 17,8% và 17,9%; cao đẳng khoảng 15,1% và 20,9%; đại học trở lên khoảng 18,5% và 21,2%.
Tỷ lệ lao động của ngành cần đào tạo, bồi dưỡng lại khoảng từ 30 - 35% tổng số lao động đã qua đào tạo.
2.3. Phát triển nhân lực trong các lĩnh vực đặc thù và các vùng của tỉnh
- Phát triển nhân lực lĩnh vực khoa học công nghệ, giáo dục - đào tạo
Lao động trong ngành khoa học công nghệ và giáo dục - đào tạo là những ngành đặc biệt quan trọng, có vai trò to lớn trong phát triển nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Lao động qua đào tạo ngành khoa học công nghệ và giáo dục - đào tạo năm 2015 là 81,7 nghìn người, chiếm 99,9% số lao động toàn ngành; năm 2020 là 87,7 nghìn người, chiếm 99,9%; trên đại học là 2,5 nghìn người năm 2015 và 4,2 nghìn người năm 2020; chiếm 45% và 43% số người có trình độ trên đại học toàn tỉnh.
- Phát triển nhân lực là đội ngũ doanh nhân
Dự báo đến năm 2015 Thanh Hoá có khoảng 16.000 doanh nghiệp, năm 2020 có trên 20.000 doanh nghiệp. Phát triển nhân lực là đội ngũ doanh nhân có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế; dự kiến số doanh nhân khoảng 32 nghìn người vào năm 2015 và trên 50 nghìn người vào năm 2020; số doanh nhân có trình độ đại học trở lên khoảng trên 18 nghìn người năm 2015 và 42 nghìn người năm 2020.
- Phát triển nhân lực đi làm việc ở nước ngoài
Giai đoạn 2011 - 2015 có khoảng 60 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài, bình quân mỗi năm có 12 nghìn người; giai đoạn 2016 - 2020 có khoảng trên 40 nghìn người, bình quân mỗi năm có 8 nghìn người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 100%, trong đó đào tạo nghề là 90%.
- Phát triển nhân lực trong KKT, các KCN và khu công nghệ cao
Thanh Hoá có KKT Nghi Sơn với diện tích 18.611 ha, 4 KCN tập trung là Lễ Môn, Tây Bắc ga, Bỉm Sơn, Lam Sơn; dự kiến đến năm 2020 sẽ có thêm 5 KCN mới và 1 khu công nghệ cao được thành lập.
Dự kiến trong giai đoạn tới, nhu cầu lao động có tay nghề cao cho KKT, các KCN và khu công nghệ cao của tỉnh là khá lớn; đến năm 2015 lao động qua đào tạo trên 150 nghìn người, năm 2020 trên 294 nghìn người. Giai đoạn 2011 - 2015: đào tạo CĐN trên 18 nghìn người, TCN 22,5 nghìn người; đào tạo CĐ, ĐH và trên ĐH trên 4,5 nghìn người; giai đoạn 2016 - 2020: đào tạo CĐN trên 35 nghìn người, TCN trên 44 nghìn người, đào tạo CĐ, ĐH và trên ĐH trên 9 nghìn người.
- Phát triển nhân lực ngành du lịch
Lao động trực tiếp làm việc trong ngành du lịch đến 2015 là 26,5 nghìn người và 50,5 nghìn người năm 2020; tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 74,2% năm 2015 và 84,5% năm 2020. Trong số lao động qua đào tạo, SCN và dạy nghề dưới 3 tháng chiếm khoảng 37% năm 2015 và 32% năm 2020; tương ứng TC và CĐ chiếm khoảng 40% và 42%; ĐH trở lên khoảng 23% và 26%.
- Phát triển nhân lực lĩnh vực y tế
Nhu cầu cán bộ y tế đến năm 2015 khoảng 11,2 nghìn người và khoảng 11,7 nghìn người năm 2020. Số cán bộ y tế cần bổ sung đến năm 2015 là 3,9 nghìn người và năm 2020 là 4,4 nghìn người, trong đó số bác sỹ cần bổ sung năm 2015 là 780 bác sỹ và 296 dược sỹ đại học; năm 2020 là 1.218 bác sỹ và 488 dược sỹ đại học để đạt mục tiêu 7 bác sỹ/1 vạn dân, 1 dược sỹ đại học/vạn dân vào năm 2015 và 8 bác sỹ/1 vạn dân và 1,5 dược sỹ đại học/vạn dân vào năm 2020.
- Phát triển nhân lực vùng miền núi
Đến năm 2015, tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế của vùng khoảng 645 nghìn người, năm 2020 khoảng 662 nghìn người. Cơ cấu lao động trong các ngành nông, lâm, thuỷ sản - công nghiệp và xây dựng - dịch vụ đến năm 2015 là 65% - 15% - 20%; năm 2020 là 55% - 20% - 25%.
Lao động qua đào tạo năm 2015 khoảng 226 nghìn người, chiếm 35%; năm 2020 khoảng 298 nghìn người, chiếm 45% tổng số lao động làm việc của vùng. Trong số lao động qua đào tạo, đào tạo qua hệ dạy nghề năm 2015 khoảng 171,3 nghìn người, chiếm 75,7%, năm 2020 khoảng 232,8 nghìn người, chiếm 78%; đào tạo qua hệ giáo dục, đào tạo năm 2015 khoảng 54,8 nghìn người, chiếm 24,3%, năm 2020 khoảng 65,4 nghìn người, chiếm 22% tổng số lao động qua đào tạo.
- Phát triển nhân lực vùng ven biển
Đến năm 2015, tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế của vùng khoảng 657,2 nghìn người, năm 2020 khoảng 698 nghìn người. Cơ cấu lao động trong các ngành nông, lâm, thuỷ sản - công nghiệp và xây dựng - dịch vụ đến năm 2015 là 45% - 28,3% - 26,7%; năm 2020 là 30% - 39,8% - 30,2%.
Lao động qua đào tạo năm 2015 khoảng 361 nghìn người, chiếm 55%; năm 2020 khoảng 488 nghìn người, chiếm 70% tổng số lao động làm việc của vùng. Trong tổng số lao động qua đào tạo, đào tạo qua hệ dạy nghề năm 2015 khoảng 293,6 nghìn người, chiếm 81%, năm 2020 khoảng 392,4 nghìn người, chiếm 80%; đào tạo qua hệ giáo dục, đào tạo năm 2015 khoảng 67,9 nghìn người, chiếm 19%; năm 2020 khoảng 96,2 nghìn người, chiếm 20% tổng số lao động qua đào tạo.