Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 18/2009/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thời kỳ đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/2009", "sign_number": "18/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/2009", "sign_number": "18/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/2009", "sign_number": "18/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/2009", "sign_number": "18/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/2009", "sign_number": "18/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 18/2009/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thời kỳ đến 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thời kỳ đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau:
...
2. Phương hướng phát triển các ngành, lĩnh vực
a) Tập trung phát triển mạnh các ngành kinh tế biển
- Phát triển toàn diện và hiện đại hóa ngành thuỷ sản, xây dựng vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thành Vùng kinh tế thuỷ sản trọng điểm của cả nước và đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Tiếp tục hiện đại hóa ngành thuỷ sản trên tất cả các lĩnh vực. Chuyển đổi cơ cấu sản xuất hợp lý giữa nuôi trồng và khai thác gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm và bảo vệ nguồn lợi, bảo đảm phát triển bền vững. Đến năm 2020, sản lượng thủy sản trong vùng đạt khoảng từ 800 - 850 nghìn tấn, chiếm 18 - 19% sản lượng thủy sản cả nước, trong đó khai thác khoảng 400 - 420 nghìn tấn (riêng khai thác tại Vịnh Thái Lan khoảng 250 nghìn tấn), sản lượng xa bờ chiếm hơn 70%; diện tích nuôi trồng khoảng 350 nghìn ha (diện tích nuôi chuyên khoảng 300 nghìn ha), sản lượng nuôi đạt trên 400 nghìn tấn; kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2 tỷ USD.
Chuyển đổi mạnh cơ cấu sản xuất từ nghề cá ven bờ sang nghề cá xa bờ gắn với bảo vệ và phát triển nguồn lợi. Đầu tư phát triển các đội tầu lớn (trên 100 CV) và đồng bộ các cơ sở hậu cần nghề cá dọc ven biển và trên một số đảo để mở rộng khai thác các vùng biển khơi, nhất là các khu vực chồng lấn kết hợp với bảo đảm an ninh, quốc phòng và chủ quyền quốc gia trên biển. Đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản ở tất cả các loại hình mặt nước theo hướng nuôi sinh thái, thân thiện với môi trường. Ưu tiên phát triển nuôi công nghiệp và bán công nghiệp ở những nơi có Điều kiện. Phát triển nuôi nhuyễn thể vùng triều và nuôi cá, đặc sản trên biển kết hợp với du lịch. Tiếp tục đầu tư hiện đại hoá các cơ sở chế biến thủy sản hiện có, xây dựng một số cơ sở chế biến hiện đại tại các khu vực thuận tiện về kết cấu hạ tầng, về tiếp thị, thương mại và xử lý chất thải như ở các khu công nghiệp (KCN): Tắc Cậu, An Thới, Hòa Trung và một số KCN khác..., tạo các sản phẩm chất lượng cao phục vụ xuất khẩu. Hình thành 2 trung tâm chế biến thủy sản quy mô cấp vùng tại thành phố Cà Mau và Tắc Cậu (Kiên Giang).
- Phát triển nhanh và bền vững du lịch biển - đảo và ven biển để trở thành ngành mũi nhọn, đóng góp tích cực vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Vùng. Tổ chức hợp lý không gian du lịch trong toàn Vùng. Xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng du lịch và các công trình vui chơi giải trí trên đảo Phú Quốc; phát triển đa dạng các loại hình du lịch, các khu vui chơi, giải trí phức hợp chất lượng cao cả trên biển và trên đảo, sớm xây dựng đảo Phú Quốc thành Khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng biển - đảo cao cấp, hiện đại tầm cỡ khu vực và thế giới. Đẩy mạnh liên kết với các nước quanh Vịnh Thái Lan hình thành các tour du lịch quốc tế, nối du lịch vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan nói chung và đảo Phú Quốc nói riêng với các điểm du lịch nổi tiếng trong khu vực, nhất là sau khi tuyến đường xuyên á phía Nam và Trục kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Singapore được hoàn thành.
Xây dựng các cụm du lịch Hà Tiên - Kiên Lương, Năm Căn - Đất Mũi và các tuyến du lịch nội vùng và liên vùng ... để liên kết, phối hợp với du lịch đảo Phú Quốc, tạo sự phát triển nhanh và bền vững trong toàn Vùng. Tiếp tục đầu tư xây dựng đồng bộ và hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng các khu du lịch trọng điểm như Mũi Nai, Hòn Trẹm, Thạch Động, Đông Hồ, Chùa Hang, Khai Long, Đất Mũi ... và các điểm du lịch tại các thành phố Cà Mau, Rạch Giá. Xây dựng nhanh Khu du lịch Hà Tiên gắn với phát triển Khu kinh tế cửa khẩu. Hình thành các tam giác phát triển du lịch Cà Mau - Hà Tiên - Cần Thơ; Rạch Giá - Hà Tiên - Châu Đốc và Rạch Giá - Cà Mau - Phú Quốc để kết nối du lịch vùng ven biển với các vùng nội địa. Gắn phát triển du lịch với bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái đặc thù ven biển.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch để kêu gọi đầu tư và thu hút du khách. Phấn đấu đến năm 2010 thu hút khoảng 1,3 - 1,4 triệu lượt khách du lịch, trong đó có 350 - 400 nghìn lượt khách quốc tế và năm 2020 đạt trên 3 triệu lượt khách, trong đó có khoảng 1 triệu lượt khách quốc tế; đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 9 - 10%/năm. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh trong những năm tới.
- Phát triển thăm dò, khai thác và chế biến khí. Đẩy mạnh công tác tự đầu tư và Điều hành tìm kiếm, thăm dò dầu khí trong khu vực nhằm khẳng định tính thương mại để có kế hoạch phát triển khai thác. Chủ động thực hiện công tác nghiên cứu khảo sát địa chấn nhằm đánh giá chính xác tiềm năng và trữ lượng dầu khí tại những lô, những cấu tạo còn ở dạng triển vọng.
Tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là các công ty dầu khí lớn vào đầu tư tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí tại vùng biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan. Đẩy mạnh khai thác dầu khí tại các lô đã xác định trữ lượng và các vùng biển chồng lấn. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các hợp đồng dầu khí tại những phát hiện đã lập kế hoạch phát triển mỏ nhằm sớm đưa vào khai thác. Đặc biệt, đẩy mạnh khai thác các mỏ dầu khí thuộc vùng biển thỏa thuận hợp tác khai thác chung với Malaysia (PM-3) để khai thác có hiệu quả tài nguyên của khu vực này .
Xây dựng hoàn thiện đường ống dẫn khí PM3 - Cà Mau, đường ống khí Lô B, 52, 49 - Trà Nóc, tiếp tục xây dựng một số tuyến đường ống dẫn khí khác từ Vịnh Thái Lan vào bờ để cung cấp cho nhà máy điện Ô Môn, Trà Nóc... và các cơ sở chế biến khí khác trong khu vực. Triển khai xây dựng nhà máy phân đạm công suất 800.000 tấn urê/năm tại Khu công nghiệp khí - điện - đạm Cà Mau để đưa vào hoạt động sau năm 2010. Thu hút đầu tư xây dựng nhà máy khí hoá lỏng và một số cơ sở hoá chất khác sử dụng nguồn khí áp thấp của Vịnh Thái Lan.
- Phát triển đồng bộ kinh tế hàng hải. Tận dụng mọi khả năng có thể để phát triển kinh tế hàng hải bao gồm: hệ thống cảng biển, đội tầu, công nghiệp đóng mới và sửa chữa tầu biển, dịch vụ cảng và dịch vụ hàng hải..., tạo tiền đề để tiến ra biển, đồng thời hỗ trợ, thúc đẩy các ngành khác phát triển.
Phát triển hợp lý hệ thống cảng biển trong Vùng. Nâng cấp, mở rộng cảng Năm Căm (Cà Mau), Hòn Chông (Kiên Giang) đạt công suất từ 700 - 800 nghìn tấn/năm và cảng xi măng Bình Trị đạt từ 1,8 - 2 triệu tấn/năm. Xây dựng mới cảng Bãi Nò (Hà Tiên) quy mô 500 nghìn tấn/năm và cảng chuyên dùng Nam Du cho Trung tâm nhiệt điện Kiên Lương. Xây dựng đồng bộ các cảng biển tại khu vực Phú Quốc gồm: cảng An Thới (tiếp nhận tầu 3.000 DWT và 1 bến nổi tiếp nhận tầu đến 30.000 DWT); cảng Vịnh Đầm (tiếp nhận tầu 3.000 DWT và tầu khách có sức chở 2.000 hành khách); cảng hành khách Dương Đông, Mũi Đất Đỏ (tiếp nhận tầu có sức chở 2.000 hành khách) và các bến đậu cho tầu du lịch, thuyền buồm... đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của Đảo. Từng bước xây dựng tại Phú Quốc một Trung tâm cảng biển và dịch vụ hàng hải lớn của khu vực Vịnh Thái Lan.
Xây dựng đội tầu biển có cơ cấu phù hợp, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá và hành khách trong vùng. Đẩy mạnh vận tải ven biển đến các vùng trong cả nước; hình thành các tuyến vận tải biển ra các đảo, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa các đảo và đất liền. Phát triển vận tải biển sang Campuchia, Thái Lan, Malaysia. Mở các tuyến vận tải hành khách cao tốc từ Cà Mau, Năm Căn, Rạch Giá, Hà Tiên... ra Phú Quốc và từ Phú Quốc, Hà Tiên đến các đô thị lớn ven biển của các nước quanh Vịnh Thái Lan để thúc đẩy phát triển du lịch. Xây dựng đồng bộ các cơ sở hạ tầng dịch vụ khác như hệ thống hậu cần dịch vụ cảng, dịch vụ thủy thủ, cung ứng tàu biển, hệ thống thông tin an toàn hàng hải, hệ thống ra đa kiểm soát và cảnh giới biển, hệ thống đèn biển, phao tiêu, trục vớt cứu hộ... đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển và an ninh, quốc phòng.
b) Phát triển các ngành kinh tế ven biển
- Phát triển mạnh công nghiệp ven biển, tạo sự vượt trội của công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của Vùng, đồng thời làm nền tảng cho tăng trưởng nhanh và hiệu quả. Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế, công nghiệp cơ bản, then chốt như chế biến khí, công nghiệp điện, công nghiệp đóng tầu, sản xuất xi măng, chế biến thủy sản công nghệ cao... để đến năm 2020 cơ bản vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan có một nền công nghiệp vững chắc với cơ cấu hiện đại.
Tập trung xây dựng hoàn chỉnh nhà máy điện Cà Mau 1 (750 MW); đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà máy điện Cà Mau 2 (750 MW) để đưa vào hoạt động theo kế hoạch. Xây dựng nhà máy phân đạm Cà Mau (800.000 tấn/năm) để đưa vào hoạt động sau năm 2010. Triển khai đầu tư xây dựng Trung tâm nhiệt điện Kiên Lương quy mô 4.400 MW (giai đoạn I khoảng 1.200 MW). Xây dựng nhà máy điện diezen tại Phú Quốc đạt công suất 21,5 MW vào năm 2010, đáp ứng yêu cầu phát triển của Đảo. Phát triển năng lượng gió, năng lượng mặt trời tại vùng ven biển và trên các đảo.
Nâng cấp mở rộng các cơ sở sản xuất xi măng hiện có; lắp đặt thêm một số dây chuyền mới, nâng năng lực sản xuất trong vùng lên 4,1 triệu tấn xi măng và 4,4 triệu tấn clinker vào năm 2010 và tiếp tục mở rộng công suất sau năm 2010. Phát triển sản xuất các loại vật liệu xây dựng khác. Xây dựng trạm nghiền clinker và nhà máy gạch tuynen tại Phú Quốc để chủ động nguồn vật liệu xây dựng cho xây dựng Đảo.
Tiếp tục đầu tư nâng cao năng lực các cơ sở đóng mới và sữa chữa tầu cá hiện có. Xây dựng một số cơ sở sửa chữa và đóng mới tầu cá, chủ yếu đóng tầu công suất lớn phục vụ đánh bắt xa bờ tại Sông Đốc, Năm Căn, Hòn Khoai (Cà Mau), Rạch Giá, An Thới (Kiên Giang)... Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà máy đóng tầu Năm Căn (Cà Mau); thu hút đầu tư xây dựng nhà máy đóng tầu Hòn Chông (Kiên Giang), hình thành Trung tâm đóng tầu biển quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu đóng mới và sửa chữa các loại tầu trong Vùng.
Phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản chất lượng cao phục vụ xuất khẩu và du lịch. Đầu tư đổi mới thiết bị các cơ sở chế biến gạo xuất khẩu hiện có; xây dựng mới một số cơ sở xay xát, đánh bóng gạo xuất khẩu quy mô từ 20.000 - 40.000 tấn/năm tại các khu vực trọng điểm như Trần Văn Thời (Cà Mau), Rạch Giá, Hòn Đất (Kiên Giang)... nâng công suất chế biến gạo toàn Vùng lên 2,7 - 2,8 triệu tấn vào năm 2010 và trên 3,5 triệu tấn vào năm 2020.
Phát triển các ngành công nghiệp khác như may mặc, da giầy, chế biến gỗ, điện tử, điện gia dụng, cơ khí sửa chữa, mộc gia dụng... phù hợp với Điều kiện của từng địa phương. Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và khai thác thuỷ sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ven biển.
Về phát triển các khu công nghiệp: tập trung xây dựng hoàn chỉnh khu công nghiệp khí - điện - đạm Cà Mau. Phát triển nhanh khu vực tập trung công nghiệp nặng Bình An - Kiên Lương, từng bước hình thành 2 trung tâm công nghiệp lớn và hiện đại, tạo sự đột phá trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp của Vùng. Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp hiện có, đẩy mạnh thu hút đầu tư để nâng cao tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp. Xúc tiến thành lập một số khu công nghiệp mới như Thạnh Lộc, U Minh, Thuận Yên (Kiên Giang); Hòa Trung, Sông Đốc, Năm Căn (Cà Mau)... đáp ứng yêu cầu phát triển của Vùng.
- Phát triển đa dạng các ngành dịch vụ để thúc đẩy các ngành sản xuất phát triển và phục vụ đời sống nhân dân. Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ biển và các ngành có giá trị gia tăng cao như dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu, dịch vụ du lịch, dịch vụ nghề cá, dịch vụ dầu khí, dịch vụ vận tải, tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông..., đưa dịch vụ thực sự trở thành khu vực kinh tế năng động, tạo nhiều việc làm và đóng góp lớn cho nền kinh tế của Vùng.
- Phát triển đồng bộ hệ thống thương mại trong vùng theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Hình thành 2 trung tâm thương mại đầu mối của Vùng ở thành phố Cà Mau và thành phố Rạch Giá. Xây dựng một số trung tâm thương mại hiện đại tại Phú Quốc và Khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên gắn với phát triển du lịch. Xây dựng các trung tâm thương mại khác tại các thị xã, các trung tâm huyện lỵ, các cụm kinh tế ven biển... làm chức năng đầu mối cho từng khu vực. Cải tạo, nâng cấp và xây dựng hệ thống các chợ, các điểm thương mại ở các thị tứ và các vùng nông thôn... từng bước hình thành thị trường thông suốt, lưu thông hàng hóa thuận tiện trong toàn Vùng.
Đẩy mạnh các hoạt động xuất nhập khẩu. Xây dựng hoàn chỉnh Khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên gắn với đầu tư cửa khẩu quốc tế Xà Xía; nâng cấp cửa khẩu Giang Thành để mở rộng giao thương hàng hóa giữa vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan với Campuchia và các nước trong khu vực.
Phát triển dịch vụ tài chính, ngân hàng. Tạo Điều kiện thuận lợi để thu hút các Công ty tài chính lớn đầu tư tài chính và mở chi nhánh hoạt động trong Vùng, nhất là ở Phú Quốc. Vận động các nước quanh Vịnh Thái Lan và các tổ chức quốc tế xây dựng Quỹ phát triển vùng Vịnh Thái Lan để phát triển nhanh, gắn kết với các hành lang kinh tế, các trục kinh tế trong khu vực.
Phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải, dịch vụ cảng, dịch vụ hàng không, dịch vụ nghề cá, dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin và các dịch vụ khác. Hình thành một số ngành dịch vụ mới như dịch vụ dầu khí, dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ ... tạo Điều kiện thúc đẩy kinh tế biển trong Vùng.
- Phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp sinh thái ven biển theo hướng năng suất, chất lượng cao và bền vững. Đầu tư phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, hình hành các vùng sản xuất tập trung thâm canh cao gắn với chế biến, tạo bước chuyển dịch có hiệu quả cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Phát triển các vùng lúa cao sản, lúa đặc sản phục vụ xuất khẩu. Chuyển một phần diện tích trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản và cây công nghiệp, cây ăn trái, cây thực phẩm... phù hợp với quy hoạch sử dụng đất ở từng địa phương để nâng cao hiệu quả sản xuất. Mở rộng các mô hình sản xuất hiện đại, hiệu quả như kinh tế trang trại, Khu nông nghiệp công nghệ cao... để tạo ra các sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao phục vụ du lịch và xuất khẩu. Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với 6 tiểu vùng nông nghiệp sinh thái ven biển của Vùng, từng bước xây dựng nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững.
Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn, nâng tỷ lệ che phủ của rừng lên 20 - 21% bảo đảm yêu cầu phòng hộ ven biển kết hợp với phát triển du lịch. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng. Đẩy mạnh khoanh nuôi, tái sinh rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, đặc biệt là các vườn quốc gia Phú Quốc, U Minh Thượng, U Minh Hạ, Mũi Cà Mau, các khu bảo tồn thiên nhiên và rừng trên các đảo. Phát triển trồng rừng sản xuất, khuyến khích đầu tư trồng rừng theo hướng thâm canh năng suất cao, gắn với chế biến lâm sản và kinh doanh du lịch.

Content:
Phương hướng phát triển các ngành, lĩnh vực
a) Tập trung phát triển mạnh các ngành kinh tế biển
- Phát triển toàn diện và hiện đại hóa ngành thuỷ sản, xây dựng vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thành Vùng kinh tế thuỷ sản trọng điểm của cả nước và đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Tiếp tục hiện đại hóa ngành thuỷ sản trên tất cả các lĩnh vực. Chuyển đổi cơ cấu sản xuất hợp lý giữa nuôi trồng và khai thác gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm và bảo vệ nguồn lợi, bảo đảm phát triển bền vững. Đến năm 2020, sản lượng thủy sản trong vùng đạt khoảng từ 800 - 850 nghìn tấn, chiếm 18 - 19% sản lượng thủy sản cả nước, trong đó khai thác khoảng 400 - 420 nghìn tấn (riêng khai thác tại Vịnh Thái Lan khoảng 250 nghìn tấn), sản lượng xa bờ chiếm hơn 70%; diện tích nuôi trồng khoảng 350 nghìn ha (diện tích nuôi chuyên khoảng 300 nghìn ha), sản lượng nuôi đạt trên 400 nghìn tấn; kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2 tỷ USD.
Chuyển đổi mạnh cơ cấu sản xuất từ nghề cá ven bờ sang nghề cá xa bờ gắn với bảo vệ và phát triển nguồn lợi. Đầu tư phát triển các đội tầu lớn (trên 100 CV) và đồng bộ các cơ sở hậu cần nghề cá dọc ven biển và trên một số đảo để mở rộng khai thác các vùng biển khơi, nhất là các khu vực chồng lấn kết hợp với bảo đảm an ninh, quốc phòng và chủ quyền quốc gia trên biển. Đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản ở tất cả các loại hình mặt nước theo hướng nuôi sinh thái, thân thiện với môi trường. Ưu tiên phát triển nuôi công nghiệp và bán công nghiệp ở những nơi có Điều kiện. Phát triển nuôi nhuyễn thể vùng triều và nuôi cá, đặc sản trên biển kết hợp với du lịch. Tiếp tục đầu tư hiện đại hoá các cơ sở chế biến thủy sản hiện có, xây dựng một số cơ sở chế biến hiện đại tại các khu vực thuận tiện về kết cấu hạ tầng, về tiếp thị, thương mại và xử lý chất thải như ở các khu công nghiệp (KCN): Tắc Cậu, An Thới, Hòa Trung và một số KCN khác..., tạo các sản phẩm chất lượng cao phục vụ xuất khẩu. Hình thành 2 trung tâm chế biến thủy sản quy mô cấp vùng tại thành phố Cà Mau và Tắc Cậu (Kiên Giang).
- Phát triển nhanh và bền vững du lịch biển - đảo và ven biển để trở thành ngành mũi nhọn, đóng góp tích cực vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Vùng. Tổ chức hợp lý không gian du lịch trong toàn Vùng. Xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng du lịch và các công trình vui chơi giải trí trên đảo Phú Quốc; phát triển đa dạng các loại hình du lịch, các khu vui chơi, giải trí phức hợp chất lượng cao cả trên biển và trên đảo, sớm xây dựng đảo Phú Quốc thành Khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng biển - đảo cao cấp, hiện đại tầm cỡ khu vực và thế giới. Đẩy mạnh liên kết với các nước quanh Vịnh Thái Lan hình thành các tour du lịch quốc tế, nối du lịch vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan nói chung và đảo Phú Quốc nói riêng với các điểm du lịch nổi tiếng trong khu vực, nhất là sau khi tuyến đường xuyên á phía Nam và Trục kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Singapore được hoàn thành.
Xây dựng các cụm du lịch Hà Tiên - Kiên Lương, Năm Căn - Đất Mũi và các tuyến du lịch nội vùng và liên vùng ... để liên kết, phối hợp với du lịch đảo Phú Quốc, tạo sự phát triển nhanh và bền vững trong toàn Vùng. Tiếp tục đầu tư xây dựng đồng bộ và hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng các khu du lịch trọng điểm như Mũi Nai, Hòn Trẹm, Thạch Động, Đông Hồ, Chùa Hang, Khai Long, Đất Mũi ... và các điểm du lịch tại các thành phố Cà Mau, Rạch Giá. Xây dựng nhanh Khu du lịch Hà Tiên gắn với phát triển Khu kinh tế cửa khẩu. Hình thành các tam giác phát triển du lịch Cà Mau - Hà Tiên - Cần Thơ; Rạch Giá - Hà Tiên - Châu Đốc và Rạch Giá - Cà Mau - Phú Quốc để kết nối du lịch vùng ven biển với các vùng nội địa. Gắn phát triển du lịch với bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái đặc thù ven biển.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch để kêu gọi đầu tư và thu hút du khách. Phấn đấu đến năm 2010 thu hút khoảng 1,3 - 1,4 triệu lượt khách du lịch, trong đó có 350 - 400 nghìn lượt khách quốc tế và năm 2020 đạt trên 3 triệu lượt khách, trong đó có khoảng 1 triệu lượt khách quốc tế; đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 9 - 10%/năm. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh trong những năm tới.
- Phát triển thăm dò, khai thác và chế biến khí. Đẩy mạnh công tác tự đầu tư và Điều hành tìm kiếm, thăm dò dầu khí trong khu vực nhằm khẳng định tính thương mại để có kế hoạch phát triển khai thác. Chủ động thực hiện công tác nghiên cứu khảo sát địa chấn nhằm đánh giá chính xác tiềm năng và trữ lượng dầu khí tại những lô, những cấu tạo còn ở dạng triển vọng.
Tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là các công ty dầu khí lớn vào đầu tư tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí tại vùng biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan. Đẩy mạnh khai thác dầu khí tại các lô đã xác định trữ lượng và các vùng biển chồng lấn. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các hợp đồng dầu khí tại những phát hiện đã lập kế hoạch phát triển mỏ nhằm sớm đưa vào khai thác. Đặc biệt, đẩy mạnh khai thác các mỏ dầu khí thuộc vùng biển thỏa thuận hợp tác khai thác chung với Malaysia (PM-3) để khai thác có hiệu quả tài nguyên của khu vực này .
Xây dựng hoàn thiện đường ống dẫn khí PM3 - Cà Mau, đường ống khí Lô B, 52, 49 - Trà Nóc, tiếp tục xây dựng một số tuyến đường ống dẫn khí khác từ Vịnh Thái Lan vào bờ để cung cấp cho nhà máy điện Ô Môn, Trà Nóc... và các cơ sở chế biến khí khác trong khu vực. Triển khai xây dựng nhà máy phân đạm công suất 800.000 tấn urê/năm tại Khu công nghiệp khí - điện - đạm Cà Mau để đưa vào hoạt động sau năm 2010. Thu hút đầu tư xây dựng nhà máy khí hoá lỏng và một số cơ sở hoá chất khác sử dụng nguồn khí áp thấp của Vịnh Thái Lan.
- Phát triển đồng bộ kinh tế hàng hải. Tận dụng mọi khả năng có thể để phát triển kinh tế hàng hải bao gồm: hệ thống cảng biển, đội tầu, công nghiệp đóng mới và sửa chữa tầu biển, dịch vụ cảng và dịch vụ hàng hải..., tạo tiền đề để tiến ra biển, đồng thời hỗ trợ, thúc đẩy các ngành khác phát triển.
Phát triển hợp lý hệ thống cảng biển trong Vùng. Nâng cấp, mở rộng cảng Năm Căm (Cà Mau), Hòn Chông (Kiên Giang) đạt công suất từ 700 - 800 nghìn tấn/năm và cảng xi măng Bình Trị đạt từ 1,8 - 2 triệu tấn/năm. Xây dựng mới cảng Bãi Nò (Hà Tiên) quy mô 500 nghìn tấn/năm và cảng chuyên dùng Nam Du cho Trung tâm nhiệt điện Kiên Lương. Xây dựng đồng bộ các cảng biển tại khu vực Phú Quốc gồm: cảng An Thới (tiếp nhận tầu 3.000 DWT và 1 bến nổi tiếp nhận tầu đến 30.000 DWT); cảng Vịnh Đầm (tiếp nhận tầu 3.000 DWT và tầu khách có sức chở 2.000 hành khách); cảng hành khách Dương Đông, Mũi Đất Đỏ (tiếp nhận tầu có sức chở 2.000 hành khách) và các bến đậu cho tầu du lịch, thuyền buồm... đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của Đảo. Từng bước xây dựng tại Phú Quốc một Trung tâm cảng biển và dịch vụ hàng hải lớn của khu vực Vịnh Thái Lan.
Xây dựng đội tầu biển có cơ cấu phù hợp, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá và hành khách trong vùng. Đẩy mạnh vận tải ven biển đến các vùng trong cả nước; hình thành các tuyến vận tải biển ra các đảo, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa các đảo và đất liền. Phát triển vận tải biển sang Campuchia, Thái Lan, Malaysia. Mở các tuyến vận tải hành khách cao tốc từ Cà Mau, Năm Căn, Rạch Giá, Hà Tiên... ra Phú Quốc và từ Phú Quốc, Hà Tiên đến các đô thị lớn ven biển của các nước quanh Vịnh Thái Lan để thúc đẩy phát triển du lịch. Xây dựng đồng bộ các cơ sở hạ tầng dịch vụ khác như hệ thống hậu cần dịch vụ cảng, dịch vụ thủy thủ, cung ứng tàu biển, hệ thống thông tin an toàn hàng hải, hệ thống ra đa kiểm soát và cảnh giới biển, hệ thống đèn biển, phao tiêu, trục vớt cứu hộ... đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển và an ninh, quốc phòng.
b) Phát triển các ngành kinh tế ven biển
- Phát triển mạnh công nghiệp ven biển, tạo sự vượt trội của công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của Vùng, đồng thời làm nền tảng cho tăng trưởng nhanh và hiệu quả. Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế, công nghiệp cơ bản, then chốt như chế biến khí, công nghiệp điện, công nghiệp đóng tầu, sản xuất xi măng, chế biến thủy sản công nghệ cao... để đến năm 2020 cơ bản vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan có một nền công nghiệp vững chắc với cơ cấu hiện đại.
Tập trung xây dựng hoàn chỉnh nhà máy điện Cà Mau 1 (750 MW); đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà máy điện Cà Mau 2 (750 MW) để đưa vào hoạt động theo kế hoạch. Xây dựng nhà máy phân đạm Cà Mau (800.000 tấn/năm) để đưa vào hoạt động sau năm 2010. Triển khai đầu tư xây dựng Trung tâm nhiệt điện Kiên Lương quy mô 4.400 MW (giai đoạn I khoảng 1.200 MW). Xây dựng nhà máy điện diezen tại Phú Quốc đạt công suất 21,5 MW vào năm 2010, đáp ứng yêu cầu phát triển của Đảo. Phát triển năng lượng gió, năng lượng mặt trời tại vùng ven biển và trên các đảo.
Nâng cấp mở rộng các cơ sở sản xuất xi măng hiện có; lắp đặt thêm một số dây chuyền mới, nâng năng lực sản xuất trong vùng lên 4,1 triệu tấn xi măng và 4,4 triệu tấn clinker vào năm 2010 và tiếp tục mở rộng công suất sau năm 2010. Phát triển sản xuất các loại vật liệu xây dựng khác. Xây dựng trạm nghiền clinker và nhà máy gạch tuynen tại Phú Quốc để chủ động nguồn vật liệu xây dựng cho xây dựng Đảo.
Tiếp tục đầu tư nâng cao năng lực các cơ sở đóng mới và sữa chữa tầu cá hiện có. Xây dựng một số cơ sở sửa chữa và đóng mới tầu cá, chủ yếu đóng tầu công suất lớn phục vụ đánh bắt xa bờ tại Sông Đốc, Năm Căn, Hòn Khoai (Cà Mau), Rạch Giá, An Thới (Kiên Giang)... Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà máy đóng tầu Năm Căn (Cà Mau); thu hút đầu tư xây dựng nhà máy đóng tầu Hòn Chông (Kiên Giang), hình thành Trung tâm đóng tầu biển quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu đóng mới và sửa chữa các loại tầu trong Vùng.
Phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản chất lượng cao phục vụ xuất khẩu và du lịch. Đầu tư đổi mới thiết bị các cơ sở chế biến gạo xuất khẩu hiện có; xây dựng mới một số cơ sở xay xát, đánh bóng gạo xuất khẩu quy mô từ 20.000 - 40.000 tấn/năm tại các khu vực trọng điểm như Trần Văn Thời (Cà Mau), Rạch Giá, Hòn Đất (Kiên Giang)... nâng công suất chế biến gạo toàn Vùng lên 2,7 - 2,8 triệu tấn vào năm 2010 và trên 3,5 triệu tấn vào năm 2020.
Phát triển các ngành công nghiệp khác như may mặc, da giầy, chế biến gỗ, điện tử, điện gia dụng, cơ khí sửa chữa, mộc gia dụng... phù hợp với Điều kiện của từng địa phương. Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và khai thác thuỷ sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ven biển.
Về phát triển các khu công nghiệp: tập trung xây dựng hoàn chỉnh khu công nghiệp khí - điện - đạm Cà Mau. Phát triển nhanh khu vực tập trung công nghiệp nặng Bình An - Kiên Lương, từng bước hình thành 2 trung tâm công nghiệp lớn và hiện đại, tạo sự đột phá trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp của Vùng. Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp hiện có, đẩy mạnh thu hút đầu tư để nâng cao tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp. Xúc tiến thành lập một số khu công nghiệp mới như Thạnh Lộc, U Minh, Thuận Yên (Kiên Giang); Hòa Trung, Sông Đốc, Năm Căn (Cà Mau)... đáp ứng yêu cầu phát triển của Vùng.
- Phát triển đa dạng các ngành dịch vụ để thúc đẩy các ngành sản xuất phát triển và phục vụ đời sống nhân dân. Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ biển và các ngành có giá trị gia tăng cao như dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu, dịch vụ du lịch, dịch vụ nghề cá, dịch vụ dầu khí, dịch vụ vận tải, tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông..., đưa dịch vụ thực sự trở thành khu vực kinh tế năng động, tạo nhiều việc làm và đóng góp lớn cho nền kinh tế của Vùng.
- Phát triển đồng bộ hệ thống thương mại trong vùng theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Hình thành 2 trung tâm thương mại đầu mối của Vùng ở thành phố Cà Mau và thành phố Rạch Giá. Xây dựng một số trung tâm thương mại hiện đại tại Phú Quốc và Khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên gắn với phát triển du lịch. Xây dựng các trung tâm thương mại khác tại các thị xã, các trung tâm huyện lỵ, các cụm kinh tế ven biển... làm chức năng đầu mối cho từng khu vực. Cải tạo, nâng cấp và xây dựng hệ thống các chợ, các điểm thương mại ở các thị tứ và các vùng nông thôn... từng bước hình thành thị trường thông suốt, lưu thông hàng hóa thuận tiện trong toàn Vùng.
Đẩy mạnh các hoạt động xuất nhập khẩu. Xây dựng hoàn chỉnh Khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên gắn với đầu tư cửa khẩu quốc tế Xà Xía; nâng cấp cửa khẩu Giang Thành để mở rộng giao thương hàng hóa giữa vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan với Campuchia và các nước trong khu vực.
Phát triển dịch vụ tài chính, ngân hàng. Tạo Điều kiện thuận lợi để thu hút các Công ty tài chính lớn đầu tư tài chính và mở chi nhánh hoạt động trong Vùng, nhất là ở Phú Quốc. Vận động các nước quanh Vịnh Thái Lan và các tổ chức quốc tế xây dựng Quỹ phát triển vùng Vịnh Thái Lan để phát triển nhanh, gắn kết với các hành lang kinh tế, các trục kinh tế trong khu vực.
Phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải, dịch vụ cảng, dịch vụ hàng không, dịch vụ nghề cá, dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin và các dịch vụ khác. Hình thành một số ngành dịch vụ mới như dịch vụ dầu khí, dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ ... tạo Điều kiện thúc đẩy kinh tế biển trong Vùng.
- Phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp sinh thái ven biển theo hướng năng suất, chất lượng cao và bền vững. Đầu tư phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, hình hành các vùng sản xuất tập trung thâm canh cao gắn với chế biến, tạo bước chuyển dịch có hiệu quả cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Phát triển các vùng lúa cao sản, lúa đặc sản phục vụ xuất khẩu. Chuyển một phần diện tích trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản và cây công nghiệp, cây ăn trái, cây thực phẩm... phù hợp với quy hoạch sử dụng đất ở từng địa phương để nâng cao hiệu quả sản xuất. Mở rộng các mô hình sản xuất hiện đại, hiệu quả như kinh tế trang trại, Khu nông nghiệp công nghệ cao... để tạo ra các sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao phục vụ du lịch và xuất khẩu. Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với 6 tiểu vùng nông nghiệp sinh thái ven biển của Vùng, từng bước xây dựng nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững.
Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn, nâng tỷ lệ che phủ của rừng lên 20 - 21% bảo đảm yêu cầu phòng hộ ven biển kết hợp với phát triển du lịch. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng. Đẩy mạnh khoanh nuôi, tái sinh rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, đặc biệt là các vườn quốc gia Phú Quốc, U Minh Thượng, U Minh Hạ, Mũi Cà Mau, các khu bảo tồn thiên nhiên và rừng trên các đảo. Phát triển trồng rừng sản xuất, khuyến khích đầu tư trồng rừng theo hướng thâm canh năng suất cao, gắn với chế biến lâm sản và kinh doanh du lịch.