Document: Điểm e Khoản 6 Điều 1 Quyết định 2078/QĐ-TTg 2017 điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Bắc Kạn

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "22/12/2017", "sign_number": "2078/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Xuân Phúc", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "22/12/2017", "sign_number": "2078/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Xuân Phúc", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "22/12/2017", "sign_number": "2078/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Xuân Phúc", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "22/12/2017", "sign_number": "2078/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Xuân Phúc", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "22/12/2017", "sign_number": "2078/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Xuân Phúc", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm e Khoản 6 Điều 1 Quyết định 2078/QĐ-TTg 2017 điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Bắc Kạn

Điều 1. Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (sau đây gọi tắt là Quy hoạch) với những nội dung chủ yếu sau:
...
6. Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt chẽ với củng cố quốc phòng, an ninh.
II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
1. Mục tiêu tổng quát:
Phát triển kinh tế bền vững gắn với nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh; tập trung phát triển, nâng cao giá trị kinh tế trong sản xuất nông - lâm nghiệp, gắn với sản xuất hàng hóa và từng bước xây dựng mô hình nông nghiệp công nghệ cao; tập trung ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến, nhất là chế biến sau thu hoạch; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt là hạ tầng nông thôn và hạ tầng giao thông; phát triển đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ, du lịch. Từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là khu vực nông thôn, chú trọng giảm nghèo bền vững. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội. Phấn đấu đưa tỉnh Bắc Kạn trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực.
2. Mục tiêu cụ thể:
...
e) Cải cách hành chính, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Cải cách hành chính đồng bộ, toàn diện, hiệu quả, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Phấn đấu chỉ số cải cách hành chính hàng năm của tỉnh cao hơn năm trước và đến năm 2020 đứng vào nhóm khá của cả nước. Xây dựng nền công vụ của tỉnh chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả, đáp ứng sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp, tổ chức. Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến được cung cấp theo mức độ 3 đạt 70%, mức độ 4 đạt 30% ở cấp tỉnh; tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến được cung cấp theo mức độ 3 đạt 70%, mức độ 4 đạt 20% ở cấp huyện (bao gồm cả các xã).
IV. PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG
1. Về giao thông
Đường bộ: Xây dựng đường Hồ Chí Minh và hệ thống đường quốc lộ qua địa bàn tỉnh; cải tạo, nâng cấp các tuyến đường tỉnh ĐT251, ĐT252, ĐT252B, ĐT253, ĐT255B, ĐT256, ĐT257B, ĐT258B, ĐT259B, đạt cấp IV miền núi..., xây dựng các cầu yếu trên các tuyến đường; đến năm 2020 tất cả các đường huyện đạt tiêu chuẩn đường cấp V, VI miền núi, một số tuyến quan trọng đạt cấp IV miền núi và mặt đường nhựa hóa; đường xã phải đạt cấp VI miền núi hoặc giao thông nông thôn loại A và loại B cho các loại xe đi lại được 4 mùa.
Nghiên cứu phát triển mạng lưới đường thủy, đường hàng không đáp ứng nhu cầu thực tế của tỉnh.
2. Hệ thống điện
Tiếp tục đầu tư mới và nâng cấp cải tạo các công trình cấp điện (hệ thống các trạm biến áp, hệ thống dây cao thế và hạ thế đã cũ nát....) đáp ứng đủ chất lượng, an toàn và kịp thời nhu cầu tiêu thụ điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh.
3. Cấp nước sạch
Xây dựng các trạm cấp nước sạch cho phù hợp với quy mô dân số, tình hình sản xuất của mỗi đô thị, đáp ứng tối đa nhu cầu nước sạch phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.
4. Hệ thống thủy lợi
Tập trung ưu tiên đầu tư xây dựng mới các công trình thủy lợi cho các địa bàn trọng điểm về nông nghiệp. Xây dựng mới các công trình thủy lợi để mở rộng diện tích canh tác và thâm canh tăng vụ. Xây dựng một số hồ chứa nước phục vụ phòng chống cháy rừng.
5. Thông tin và truyền thông
Đến năm 2020 hoàn thành triển khai ứng dụng công nghệ tự động hóa cấp tỉnh. Phát triển hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động đồng bộ. Tỉnh Bắc Kạn là một trong những tỉnh trong khu vực có hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động phát triển hiện đại, đạt mức bình quân chung cả nước. Tất cả các cơ quan, sở, ban, ngành có trang thông tin điện tử có nội dung cập nhật thường xuyên, hoạt động ổn định hiệu quả.
V. TỔ CHỨC KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN
1. Định hướng các vùng kinh tế - xã hội của tỉnh
Vùng 1- Vùng trung tâm: gồm các huyện Chợ Mới, Bạch Thông và thành phố Bắc Kạn. Đây là vùng trung tâm, động lực phát triển kinh tế, xã hội của Bắc Kạn với các trung tâm được hình thành là thành phố Bắc Kạn, thị trấn Chợ Mới (thị xã trong tương lai) và thị trấn Phủ Thông.
Vùng 2 - Vùng phía Đông của tỉnh: gồm toàn bộ huyện Na Rì. Trung tâm kinh tế của vùng là thị trấn Yến Lạc nằm trên trục Quốc lộ 3B đi Lạng Sơn.
Vùng 3- Vùng phía Tây của tỉnh: gồm toàn bộ huyện Chợ Đồn. Các trung tâm kinh tế của vùng gồm thị trấn Bằng Lũng (thị xã Bằng Lũng trong tương lai) và thị tứ Bản Thi (thị trấn Bản Thi trong tương lai).
Vùng 4- Vùng phía Tây Bắc và Bắc của tỉnh: gồm các huyện Ba Bể, Pác Nặm và huyện Ngân Sơn. Các trung tâm kinh tế của vùng gồm thị trấn Chợ Rã (thị xã Chợ Rã trong tương lai), thị trấn Vân Tùng, thị trấn Nà Phặc, thị trấn Bộc Bố và thị trấn Chu Hương.
2. Tổ chức không gian văn hóa-du lịch
Cụm du lịch Hồ Ba Bể và phụ cận, đây là cụm du lịch nổi tiếng không chỉ của riêng Bắc Kạn mà còn của cả Việt Nam và khá nổi tiếng trên bản đồ du lịch quốc tế. Hồ Ba bể đã được tổ chức UNESCO công nhận là khu Ramsar - vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, là Di tích Quốc gia đặc biệt và đang trở thành di sản thiên nhiên thế giới, một vùng núi non trùng điệp, khí hậu mát mẻ, sinh thái độc đáo ở phía Bắc nước ta. Thị xã Chợ Rã (trong tương lai) sẽ trở thành trung tâm dịch vụ du lịch, các điểm du lịch có Vườn quốc gia Ba Bể, danh thắng Hồ Ba Bể, thác Đầu đẳng, Ao Tiên, sông Năng, động Puông, Đồn Đèn...
Cụm du lịch thành phố Bắc Kạn và phụ cận đây là cụm du lịch trung tâm, mang tính chất đầu mối điều hành các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, có các khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, các đền chùa như Đền Thắm, Chùa Thạch Long, Đền Thác Giềng, Đền Thượng... có các điểm du lịch như Hồ Nặm Cắt, Hồ Khuổi Lặng, di tích lịch sử văn hóa Nà Tu, di tích lịch sử đồn Phủ Thông...
Cụm du lịch ATK Chợ Đồn và phụ cận. Tại đây là quần thể những di tích lịch sử cách mạng thuộc “Chiến khu Việt Bắc”.
Cụm du lịch Na Rì và phụ cận có khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, có danh thắng Động Nàng Tiên, Thác nước Nà Đăng...
3. Định hướng phát triển hệ thống đô thị
Phát triển hệ thống đô thị của tỉnh theo hướng phân bố hợp lý, cân đối giữa các vùng và kết nối chặt chẽ với hệ thống đô thị của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ. Kết hợp hài hòa giữa cải tạo, nâng cấp các đô thị hiện có với xây dựng các đô thị mới có chọn lọc. Xây dựng hệ thống đô thị là các trung tâm phát triển về kinh tế, văn hóa với chức năng là hạt nhân thúc đẩy của cả vùng xung quanh (vùng ven đô) và vùng nông thôn phát triển. Phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa của tỉnh đến năm 2020 đạt 19% và đến năm 2030 đạt 26%.
Tập trung đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng cho thành phố Bắc Kạn đến năm 2030 phấn đấu đạt đô thị loại II; Đến năm 2020, các thị trấn - trung tâm huyện lỵ của tỉnh hiện nay đều đạt đô thị loại IV.
Đến năm 2030 hệ thống đô thị của tỉnh có: 01 thành phố, 03 thị xã và 10 thị trấn, cụ thể:
Thành phố Bắc Kạn - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh Bắc Kạn và là đô thị hạt nhân của tiểu vùng phía Nam, đến năm 2030 đạt đô thị loại II.
Thị xã Chợ Rã, được nâng cấp từ thị trấn Chợ Rã thành thị xã Chợ Rã sau năm 2020, là đô thị hạt nhân phát triển kinh tế - xã hội, trung tâm kinh tế vùng Tây Bắc của tỉnh; quy mô dân số đạt 7-10 nghìn người vào năm 2020.
Thị xã Chợ Mới, được nâng cấp từ thị trấn Chợ Mới trong giai đoạn 2015-2020, là trung tâm huyện lỵ huyện Chợ Mới và là đô thị hạt nhân phát triển kinh tế - xã hội, trung tâm kinh tế tiểu vùng phía Nam của tỉnh; quy mô dân số đạt khoảng 10 nghìn người vào năm 2020.
Thị xã Bằng Lũng, được nâng cấp từ thị trấn Bằng Lũng huyện lỵ huyện Chợ Đồn thành thị xã Bằng Lũng sau năm 2020, là trung tâm huyện lỵ huyện Chợ Đồn và là đô thị hạt nhân phát triển kinh tế - xã hội, trung tâm kinh tế vùng phía Tây của tỉnh; quy mô dân số khoảng 10 nghìn người vào năm 2020.
Thị trấn Yến Lạc - trung tâm huyện lỵ huyện Na Rì; đến năm 2020 đạt đô thị loại IV với quy mô dân đạt khoảng 10 nghìn người. Kinh tế chủ yếu là công nghiệp chế biến nông, lâm sản và dịch vụ thương mại;
Thị trấn Phủ Thông - trung tâm huyện lỵ của huyện Bạch Thông; đến năm 2020 đạt đô thị loại IV với quy mô dân đạt khoảng 7 - 8 nghìn người; kinh tế chủ yếu là công nghiệp chế biến nông, lâm sản, du lịch và dịch vụ thương mại;
Thị trấn Vân Tùng được nâng cấp từ xã Vân Tùng, là trung tâm huyện lỵ của huyện Ngân Sơn; đến năm 2020 đạt đô thị loại IV với quy mô dân số 7 - 8 nghìn người; kinh tế chủ yếu là công nghiệp chế biến nông, lâm sản và du lịch, dịch vụ thương mại;
Thị trấn Nà Phặc - đô thị phía Nam huyện Ngân Sơn, là trung tâm kinh tế vùng phía Bắc của tỉnh gắn với sự phát triển trục Quốc lộ 3 đi Cao Bằng; đến năm 2020 đạt đô thị loại IV, quy mô dân số đạt khoảng 10 nghìn người; kinh tế chủ yếu là công nghiệp chế biến nông, lâm sản và dịch vụ thương mại;
Thị trấn Bộc Bố được nâng cấp từ xã Bộ Bố, là trung tâm huyện lỵ của huyện Pắc Nặm; đến năm 2020 đạt đô thị loại IV với quy mô dân số dự kiến đạt 7-8 nghìn người; kinh tế chủ yếu là công nghiệp chế biến nông, lâm sản và du lịch, dịch vụ thương mại, lâm nghiệp và kinh tế vườn;
Thị trấn Khang Ninh được nâng cấp từ xã Khang Ninh, quy mô dân số dự kiến đến năm 2025 đạt 2 - 2,5 nghìn người; kinh tế chủ yếu phát triển du lịch Hồ Ba Bể gắn với phát triển dịch vụ, thương mại.
Thị trấn Bản Thi được nâng cấp từ xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn là trung tâm công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, thương mại và dịch vụ; quy mô dân số dự kiến đến năm 2020 đạt 5 - 6 nghìn người;
Thị trấn Bằng Vân được nâng cấp từ xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn là trung tâm kinh tế, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội huyện Ngân Sơn, kinh tế chủ yếu là phát triển thương mại, dịch vụ; quy mô dân số dự kiến đến năm 2020 đạt 5-6 nghìn người;
Thị trấn Sáu Hai được nâng cấp từ xã Nông Hạ, huyện Chợ Mới là đô thị cửa ngõ phía Bắc của huyện Chợ Mới, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội huyện Chợ Mới, kinh tế chủ yếu là phát triển thương mại, dịch vụ; quy mô dân số dự kiến đến năm 2020 đạt 5 - 6 nghìn người;
Thị trấn Cư Lễ được nâng cấp từ xã Cư Lễ, huyện Na Rì là đô thị cửa ngõ phía Bắc của huyện Na Rì, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội huyện Na Rì; kinh tế chủ yếu là phát triển thương mại, dịch vụ; quy mô dân số dự kiến đến năm 2020 đạt 3 - 4 nghìn người.
VI. DANH MỤC CÁC CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN ƯU TIÊN NGHIÊN CỨU ĐẦU TƯ (Phụ lục kèm theo)
VII. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Giải pháp về vốn đầu tư: Tổng nhu cầu vốn đầu tư ước tính khoảng 219 nghìn tỷ đồng; giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 31 nghìn tỷ đồng; giai đoạn 2021-2030 dự kiến khoảng 188 nghìn tỷ đồng. Trong đó, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (bao gồm cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức) chủ yếu dành cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội; giai đoạn 2016-2020 dự kiến huy động được khoảng 11 nghìn tỷ đồng; giai đoạn 2021-2030 dự kiến huy động được 64 nghìn tỷ đồng, ngoài ra huy động các nguồn vốn khác.
2. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực: Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng. Đẩy mạnh đào tạo, thực hiện tốt chính sách đãi ngộ để thu hút lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật cho các ngành của tỉnh. Tăng cường công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý các doanh nghiệp.
3. Giải pháp về khoa học công nghệ
Đầu tư đồng bộ các trang thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến trong các lĩnh vực quản lý và sản xuất; tăng cường kiểm soát hoạt động chuyển giao công nghệ đảm bảo chất lượng. Phát triển mạnh các hoạt động tư vấn, dịch vụ khoa học và chuyển giao công nghệ. Khuyến khích đội ngũ tri thức, chuyên gia, đội ngũ giảng viên các trường cao đẳng tham gia nghiên cứu khoa học.
4. Giải pháp về cơ chế, chính sách
Ban hành các cơ chế, chính sách thu hút các nhà đầu tư, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, doanh nhân phát triển; xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, phát triển khoa học công nghệ cao nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Tăng cường cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đổi mới nội dung, phương thức chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp. Cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh của tỉnh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Phát triển hợp tác xã kiểu mới trong sản xuất nông lâm nghiệp. Thực hiện có hiệu quả liên kết giữa sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản và vai trò tổ chức đại diện cho nông dân.
5. Giải pháp về hợp tác quốc tế, khu vực và với các địa phương khác
Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, nhanh chóng tăng thu nhập và nâng cao mức sống dân cư. Mở rộng quan hệ hợp tác đầu tư, tăng cường liên doanh liên kết với các địa bàn khác một số lĩnh vực mà Bắc Kạn có tiềm năng và điều kiện phát triển.

Content:
Cải cách hành chính, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Cải cách hành chính đồng bộ, toàn diện, hiệu quả, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Phấn đấu chỉ số cải cách hành chính hàng năm của tỉnh cao hơn năm trước và đến năm 2020 đứng vào nhóm khá của cả nước. Xây dựng nền công vụ của tỉnh chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả, đáp ứng sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp, tổ chức. Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến được cung cấp theo mức độ 3 đạt 70%, mức độ 4 đạt 30% ở cấp tỉnh; tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến được cung cấp theo mức độ 3 đạt 70%, mức độ 4 đạt 20% ở cấp huyện (bao gồm cả các xã).
IV. PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG
1. Về giao thông
Đường bộ: Xây dựng đường Hồ Chí Minh và hệ thống đường quốc lộ qua địa bàn tỉnh; cải tạo, nâng cấp các tuyến đường tỉnh ĐT251, ĐT252, ĐT252B, ĐT253, ĐT255B, ĐT256, ĐT257B, ĐT258B, ĐT259B, đạt cấp IV miền núi..., xây dựng các cầu yếu trên các tuyến đường; đến năm 2020 tất cả các đường huyện đạt tiêu chuẩn đường cấp V, VI miền núi, một số tuyến quan trọng đạt cấp IV miền núi và mặt đường nhựa hóa; đường xã phải đạt cấp VI miền núi hoặc giao thông nông thôn loại A và loại B cho các loại xe đi lại được 4 mùa.
Nghiên cứu phát triển mạng lưới đường thủy, đường hàng không đáp ứng nhu cầu thực tế của tỉnh.
2. Hệ thống điện
Tiếp tục đầu tư mới và nâng cấp cải tạo các công trình cấp điện (hệ thống các trạm biến áp, hệ thống dây cao thế và hạ thế đã cũ nát....) đáp ứng đủ chất lượng, an toàn và kịp thời nhu cầu tiêu thụ điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh.
3. Cấp nước sạch
Xây dựng các trạm cấp nước sạch cho phù hợp với quy mô dân số, tình hình sản xuất của mỗi đô thị, đáp ứng tối đa nhu cầu nước sạch phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.
4. Hệ thống thủy lợi
Tập trung ưu tiên đầu tư xây dựng mới các công trình thủy lợi cho các địa bàn trọng điểm về nông nghiệp. Xây dựng mới các công trình thủy lợi để mở rộng diện tích canh tác và thâm canh tăng vụ. Xây dựng một số hồ chứa nước phục vụ phòng chống cháy rừng.
5. Thông tin và truyền thông
Đến năm 2020 hoàn thành triển khai ứng dụng công nghệ tự động hóa cấp tỉnh. Phát triển hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động đồng bộ. Tỉnh Bắc Kạn là một trong những tỉnh trong khu vực có hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động phát triển hiện đại, đạt mức bình quân chung cả nước. Tất cả các cơ quan, sở, ban, ngành có trang thông tin điện tử có nội dung cập nhật thường xuyên, hoạt động ổn định hiệu quả.
V. TỔ CHỨC KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN
1. Định hướng các vùng kinh tế - xã hội của tỉnh
Vùng 1- Vùng trung tâm: gồm các huyện Chợ Mới, Bạch Thông và thành phố Bắc Kạn. Đây là vùng trung tâm, động lực phát triển kinh tế, xã hội của Bắc Kạn với các trung tâm được hình thành là thành phố Bắc Kạn, thị trấn Chợ Mới (thị xã trong tương lai) và thị trấn Phủ Thông.
Vùng 2 - Vùng phía Đông của tỉnh: gồm toàn bộ huyện Na Rì. Trung tâm kinh tế của vùng là thị trấn Yến Lạc nằm trên trục Quốc lộ 3B đi Lạng Sơn.
Vùng 3- Vùng phía Tây của tỉnh: gồm toàn bộ huyện Chợ Đồn. Các trung tâm kinh tế của vùng gồm thị trấn Bằng Lũng (thị xã Bằng Lũng trong tương lai) và thị tứ Bản Thi (thị trấn Bản Thi trong tương lai).
Vùng 4- Vùng phía Tây Bắc và Bắc của tỉnh: gồm các huyện Ba Bể, Pác Nặm và huyện Ngân Sơn. Các trung tâm kinh tế của vùng gồm thị trấn Chợ Rã (thị xã Chợ Rã trong tương lai), thị trấn Vân Tùng, thị trấn Nà Phặc, thị trấn Bộc Bố và thị trấn Chu Hương.
2. Tổ chức không gian văn hóa-du lịch
Cụm du lịch Hồ Ba Bể và phụ cận, đây là cụm du lịch nổi tiếng không chỉ của riêng Bắc Kạn mà còn của cả Việt Nam và khá nổi tiếng trên bản đồ du lịch quốc tế. Hồ Ba bể đã được tổ chức UNESCO công nhận là khu Ramsar - vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, là Di tích Quốc gia đặc biệt và đang trở thành di sản thiên nhiên thế giới, một vùng núi non trùng điệp, khí hậu mát mẻ, sinh thái độc đáo ở phía Bắc nước ta. Thị xã Chợ Rã (trong tương lai) sẽ trở thành trung tâm dịch vụ du lịch, các điểm du lịch có Vườn quốc gia Ba Bể, danh thắng Hồ Ba Bể, thác Đầu đẳng, Ao Tiên, sông Năng, động Puông, Đồn Đèn...
Cụm du lịch thành phố Bắc Kạn và phụ cận đây là cụm du lịch trung tâm, mang tính chất đầu mối điều hành các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, có các khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, các đền chùa như Đền Thắm, Chùa Thạch Long, Đền Thác Giềng, Đền Thượng... có các điểm du lịch như Hồ Nặm Cắt, Hồ Khuổi Lặng, di tích lịch sử văn hóa Nà Tu, di tích lịch sử đồn Phủ Thông...
Cụm du lịch ATK Chợ Đồn và phụ cận. Tại đây là quần thể những di tích lịch sử cách mạng thuộc “Chiến khu Việt Bắc”.
Cụm du lịch Na Rì và phụ cận có khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, có danh thắng Động Nàng Tiên, Thác nước Nà Đăng...
3. Định hướng phát triển hệ thống đô thị
Phát triển hệ thống đô thị của tỉnh theo hướng phân bố hợp lý, cân đối giữa các vùng và kết nối chặt chẽ với hệ thống đô thị của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ. Kết hợp hài hòa giữa cải tạo, nâng cấp các đô thị hiện có với xây dựng các đô thị mới có chọn lọc. Xây dựng hệ thống đô thị là các trung tâm phát triển về kinh tế, văn hóa với chức năng là hạt nhân thúc đẩy của cả vùng xung quanh (vùng ven đô) và vùng nông thôn phát triển. Phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa của tỉnh đến năm 2020 đạt 19% và đến năm 2030 đạt 26%.
Tập trung đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng cho thành phố Bắc Kạn đến năm 2030 phấn đấu đạt đô thị loại II; Đến năm 2020, các thị trấn - trung tâm huyện lỵ của tỉnh hiện nay đều đạt đô thị loại IV.
Đến năm 2030 hệ thống đô thị của tỉnh có: 01 thành phố, 03 thị xã và 10 thị trấn, cụ thể:
Thành phố Bắc Kạn - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh Bắc Kạn và là đô thị hạt nhân của tiểu vùng phía Nam, đến năm 2030 đạt đô thị loại II.
Thị xã Chợ Rã, được nâng cấp từ thị trấn Chợ Rã thành thị xã Chợ Rã sau năm 2020, là đô thị hạt nhân phát triển kinh tế - xã hội, trung tâm kinh tế vùng Tây Bắc của tỉnh; quy mô dân số đạt 7-10 nghìn người vào năm 2020.
Thị xã Chợ Mới, được nâng cấp từ thị trấn Chợ Mới trong giai đoạn 2015-2020, là trung tâm huyện lỵ huyện Chợ Mới và là đô thị hạt nhân phát triển kinh tế - xã hội, trung tâm kinh tế tiểu vùng phía Nam của tỉnh; quy mô dân số đạt khoảng 10 nghìn người vào năm 2020.
Thị xã Bằng Lũng, được nâng cấp từ thị trấn Bằng Lũng huyện lỵ huyện Chợ Đồn thành thị xã Bằng Lũng sau năm 2020, là trung tâm huyện lỵ huyện Chợ Đồn và là đô thị hạt nhân phát triển kinh tế - xã hội, trung tâm kinh tế vùng phía Tây của tỉnh; quy mô dân số khoảng 10 nghìn người vào năm 2020.
Thị trấn Yến Lạc - trung tâm huyện lỵ huyện Na Rì; đến năm 2020 đạt đô thị loại IV với quy mô dân đạt khoảng 10 nghìn người. Kinh tế chủ yếu là công nghiệp chế biến nông, lâm sản và dịch vụ thương mại;
Thị trấn Phủ Thông - trung tâm huyện lỵ của huyện Bạch Thông; đến năm 2020 đạt đô thị loại IV với quy mô dân đạt khoảng 7 - 8 nghìn người; kinh tế chủ yếu là công nghiệp chế biến nông, lâm sản, du lịch và dịch vụ thương mại;
Thị trấn Vân Tùng được nâng cấp từ xã Vân Tùng, là trung tâm huyện lỵ của huyện Ngân Sơn; đến năm 2020 đạt đô thị loại IV với quy mô dân số 7 - 8 nghìn người; kinh tế chủ yếu là công nghiệp chế biến nông, lâm sản và du lịch, dịch vụ thương mại;
Thị trấn Nà Phặc - đô thị phía Nam huyện Ngân Sơn, là trung tâm kinh tế vùng phía Bắc của tỉnh gắn với sự phát triển trục Quốc lộ 3 đi Cao Bằng; đến năm 2020 đạt đô thị loại IV, quy mô dân số đạt khoảng 10 nghìn người; kinh tế chủ yếu là công nghiệp chế biến nông, lâm sản và dịch vụ thương mại;
Thị trấn Bộc Bố được nâng cấp từ xã Bộ Bố, là trung tâm huyện lỵ của huyện Pắc Nặm; đến năm 2020 đạt đô thị loại IV với quy mô dân số dự kiến đạt 7-8 nghìn người; kinh tế chủ yếu là công nghiệp chế biến nông, lâm sản và du lịch, dịch vụ thương mại, lâm nghiệp và kinh tế vườn;
Thị trấn Khang Ninh được nâng cấp từ xã Khang Ninh, quy mô dân số dự kiến đến năm 2025 đạt 2 - 2,5 nghìn người; kinh tế chủ yếu phát triển du lịch Hồ Ba Bể gắn với phát triển dịch vụ, thương mại.
Thị trấn Bản Thi được nâng cấp từ xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn là trung tâm công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, thương mại và dịch vụ; quy mô dân số dự kiến đến năm 2020 đạt 5 - 6 nghìn người;
Thị trấn Bằng Vân được nâng cấp từ xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn là trung tâm kinh tế, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội huyện Ngân Sơn, kinh tế chủ yếu là phát triển thương mại, dịch vụ; quy mô dân số dự kiến đến năm 2020 đạt 5-6 nghìn người;
Thị trấn Sáu Hai được nâng cấp từ xã Nông Hạ, huyện Chợ Mới là đô thị cửa ngõ phía Bắc của huyện Chợ Mới, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội huyện Chợ Mới, kinh tế chủ yếu là phát triển thương mại, dịch vụ; quy mô dân số dự kiến đến năm 2020 đạt 5 - 6 nghìn người;
Thị trấn Cư Lễ được nâng cấp từ xã Cư Lễ, huyện Na Rì là đô thị cửa ngõ phía Bắc của huyện Na Rì, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội huyện Na Rì; kinh tế chủ yếu là phát triển thương mại, dịch vụ; quy mô dân số dự kiến đến năm 2020 đạt 3 - 4 nghìn người.
VI. DANH MỤC CÁC CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN ƯU TIÊN NGHIÊN CỨU ĐẦU TƯ (Phụ lục kèm theo)
VII. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Giải pháp về vốn đầu tư: Tổng nhu cầu vốn đầu tư ước tính khoảng 219 nghìn tỷ đồng; giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 31 nghìn tỷ đồng; giai đoạn 2021-2030 dự kiến khoảng 188 nghìn tỷ đồng. Trong đó, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (bao gồm cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức) chủ yếu dành cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội; giai đoạn 2016-2020 dự kiến huy động được khoảng 11 nghìn tỷ đồng; giai đoạn 2021-2030 dự kiến huy động được 64 nghìn tỷ đồng, ngoài ra huy động các nguồn vốn khác.
2. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực: Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng. Đẩy mạnh đào tạo, thực hiện tốt chính sách đãi ngộ để thu hút lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật cho các ngành của tỉnh. Tăng cường công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý các doanh nghiệp.
3. Giải pháp về khoa học công nghệ
Đầu tư đồng bộ các trang thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến trong các lĩnh vực quản lý và sản xuất; tăng cường kiểm soát hoạt động chuyển giao công nghệ đảm bảo chất lượng. Phát triển mạnh các hoạt động tư vấn, dịch vụ khoa học và chuyển giao công nghệ. Khuyến khích đội ngũ tri thức, chuyên gia, đội ngũ giảng viên các trường cao đẳng tham gia nghiên cứu khoa học.
4. Giải pháp về cơ chế, chính sách
Ban hành các cơ chế, chính sách thu hút các nhà đầu tư, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, doanh nhân phát triển; xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, phát triển khoa học công nghệ cao nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Tăng cường cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đổi mới nội dung, phương thức chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp. Cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh của tỉnh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Phát triển hợp tác xã kiểu mới trong sản xuất nông lâm nghiệp. Thực hiện có hiệu quả liên kết giữa sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản và vai trò tổ chức đại diện cho nông dân.
5. Giải pháp về hợp tác quốc tế, khu vực và với các địa phương khác
Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, nhanh chóng tăng thu nhập và nâng cao mức sống dân cư. Mở rộng quan hệ hợp tác đầu tư, tăng cường liên doanh liên kết với các địa bàn khác một số lĩnh vực mà Bắc Kạn có tiềm năng và điều kiện phát triển.