Document: Điều 1 Bộ luật Tố tụng hình sự 1992 sửa đổi 5-L/CTN

Type: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "22/12/1992", "sign_number": "5-L/CTN", "signer": "Lê Đức Anh", "type": "Luật"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "22/12/1992", "sign_number": "5-L/CTN", "signer": "Lê Đức Anh", "type": "Luật"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "22/12/1992", "sign_number": "5-L/CTN", "signer": "Lê Đức Anh", "type": "Luật"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "22/12/1992", "sign_number": "5-L/CTN", "signer": "Lê Đức Anh", "type": "Luật"}
Signer: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "22/12/1992", "sign_number": "5-L/CTN", "signer": "Lê Đức Anh", "type": "Luật"}

Full Text:
Điều 1 Bộ luật Tố tụng hình sự 1992 sửa đổi 5-L/CTN có nội dung như sau:

Điều 1. : Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
1 - Khoản 4 Điều 43 về người làm chứng được sửa đổi, bổ sung như sau:
"4. Người làm chứng đã được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án triệu tập, nhưng cố ý không đến mà không có lý do chính đáng, thì có thể bị dẫn giải.
Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng, thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 242 của Bộ luật hình sự; khai gian dối thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 241 của Bộ luật hình sự."
2- Đoạn 2 khoản 1 Điều 121 về kê biên tài sản được sửa đổi như sau:
"Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 62 của Bộ luật này có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Lệnh kê biên của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 62 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành."
3- Điều 215a về việc Toà án cấp phúc thẩm áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, được bổ sung một đoạn vào cuối điều như sau:
"Đối với bị cáo không bị tạm giam, nhưng bị phạt tù thì Toà án quyết định bắt giam ngay, trừ các trường hợp quy định tại Điều 231 của Bộ luật này."
4- Điều 222 về huỷ án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại được bổ sung khoản 4 như sau:
"4. Trong trường hợp huỷ án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại mà thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy việc tiếp tục tạm giam bị cáo là cần thiết, thì Toà án cấp phúc thẩm ra lệnh tạm giam cho đến khi cơ quan điều tra hoặc Toà án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án.
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày huỷ án sơ thẩm, hồ sơ vụ án phải được chuyển cho cơ quan điều tra hoặc Toà án cấp sơ thẩm để giải quyết theo thủ tục chung."
5- Điều 256 về huỷ bản án hoặc quyết định để điều tra lại hoặc xét xử lại được bổ sung một đoạn vào cuối điều như sau:
"Trong trường hợp huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại hoặc để xét xử lại và xét thấy việc tiếp tục tạm giam bị cáo là cần thiết, thì Hội đồng giám đốc thẩm ra lệnh tạm giam cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Toà án thụ lý lại vụ án."

Content:
Điều 1. : Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
1 - Khoản 4 Điều 43 về người làm chứng được sửa đổi, bổ sung như sau:
"4. Người làm chứng đã được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án triệu tập, nhưng cố ý không đến mà không có lý do chính đáng, thì có thể bị dẫn giải.
Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng, thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 242 của Bộ luật hình sự; khai gian dối thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 241 của Bộ luật hình sự."
2- Đoạn 2 khoản 1 Điều 121 về kê biên tài sản được sửa đổi như sau:
"Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 62 của Bộ luật này có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Lệnh kê biên của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 62 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành."
3- Điều 215a về việc Toà án cấp phúc thẩm áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, được bổ sung một đoạn vào cuối điều như sau:
"Đối với bị cáo không bị tạm giam, nhưng bị phạt tù thì Toà án quyết định bắt giam ngay, trừ các trường hợp quy định tại Điều 231 của Bộ luật này."
4- Điều 222 về huỷ án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại được bổ sung khoản 4 như sau:
"4. Trong trường hợp huỷ án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại mà thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy việc tiếp tục tạm giam bị cáo là cần thiết, thì Toà án cấp phúc thẩm ra lệnh tạm giam cho đến khi cơ quan điều tra hoặc Toà án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án.
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày huỷ án sơ thẩm, hồ sơ vụ án phải được chuyển cho cơ quan điều tra hoặc Toà án cấp sơ thẩm để giải quyết theo thủ tục chung."
5- Điều 256 về huỷ bản án hoặc quyết định để điều tra lại hoặc xét xử lại được bổ sung một đoạn vào cuối điều như sau:
"Trong trường hợp huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại hoặc để xét xử lại và xét thấy việc tiếp tục tạm giam bị cáo là cần thiết, thì Hội đồng giám đốc thẩm ra lệnh tạm giam cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Toà án thụ lý lại vụ án."