Document: Khoản 6 Điều 6 Thông tư 02-BCNN/KH chế độ quản lý hàng thiếu tiêu chuẩn phế phẩm phế liệu hướng dẫn Quyết định 63-CP

Type: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Khoản 6 Điều 6 Thông tư 02-BCNN/KH chế độ quản lý hàng thiếu tiêu chuẩn phế phẩm phế liệu hướng dẫn Quyết định 63-CP

Điều 6. – Các xí nghiệp, công trường thuộc Bộ phải triệt để ngăn cấm những hành động giấu phế phẩm, phế liệu và hàng thiếu tiêu chuẩn.
...
6. Nhà nước định giá thông qua Bộ Thương nghiệp:
Trong Thông tư số 63-CP, Hội đồng Chính phủ quy định:
- Bộ Nội thương chỉ đạo giá bán lẻ những hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu.
- Bộ Nội thương Quyết định giá bán lẻ sau khi thống nhất ý kiến với Bộ (Vụ Kế hoạch) và Cục quản lý đối với những thứ sinh ra thường xuyên và có giá trị lớn.
- Bộ Nội thương có thể ủy quyền cho Ủy ban hành chính tỉnh lập một Hội đồng hoá giá gồm có đại biểu của Tài chính - Mậu dịch – và xí nghiệp để xét định giá bán lẻ những thứ không quan trọng.
- Các công ty Mậu dịch sẽ căn cứ vào các nguyên tắc định giá do Bộ Nội thương quy định mà cùng với các xí nghiệp, công trường thương lượng định giá thu mua phế phẩm và phế liệu.
c) Nguyên tắc quản lý tài vụ:
1. Nguyên tắc kinh doanh các sản phẩm chế biến bằng phế phẩm và phế liệu, nếu có lãi thì được giữ số lãi ấy làm vốn để mở rộng sản xuất (kể cả xí nghiệp Quốc doanh, xí nghiệp địa phương và công tư hợp doanh đã quy định ở mục V, trang 4 trong Thông tư số 63-CP ngày 14-11-1960 của Hội đồng Chính phủ do Phủ Thủ tướng ban hành).
2. Vụ Tài vụ có nhiệm vụ hướng dẫn các xí nghiệp, công trường tổ chức chứng từ sổ sách và hạch toán kế toán về phế phẩm, phế liệu vào tài khoản riêng để có thể theo dõi nhằm phấn đấu giảm tỷ lệ phế phẩm:
- Sau khi Bộ thống nhất ý kiến với Bộ Tài chính, hàng thiếu tiêu chuẩn trong hoàn cảnh cụ thể của các xí nghiệp nước ta hiện nay vẫn được coi như thành phẩm loại 2, loại 3, v.v… được tính trong kế hoạch sản lượng với giá thành toàn bộ của nó như các thành phẩm khác do xí nghiệp sản xuất ra và hạch toán vào tài khoản 060 – “kho thành phẩm” đối với xí nghiệp đã thi hành chế độ lệnh nhật ký của Bộ, hoặc hạch toán vào tài khoản 059 – “sản phẩm làm ra” đối với xí nghiệp chưa thi hành chế độ lệnh nhật ký. Nhưng lãnh đạo phải hết sức hạn chế sự sinh ra hàng thiếu tiêu chuẩn.
- Riêng về phế phẩm và phế liệu thì hạch toán chung vào tài khoản 030. Không mở thêm tài khoản riêng về phế phẩm nữa cho thêm phức tạp khiến việc theo dõi bị phân tán. Do đó tài khoản 030 theo Bộ Tài chính quy định là tài khoản hạch toán phế liệu, nay thay đổi danh từ là “phế phẩm và phế liệu” chia ra 2 tài khoản phụ:
030.0 – Kho phế phẩm
030.1 – Kho phế liệu
Vụ Tài vụ của Bộ sẽ liên hệ với Vụ chế độ kế toán Bộ Tài chính để thống nhất danh từ tài khoản chính 030 kể trên ban hành từ 1957 trong lúc chưa có chế độ quản lý tài vụ đối với phế phẩm và phế liệu như hiện nay.
- Những hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu nếu có lãi thì coi như vốn hoàn trả Nhà nước, hoặc nếu lỗ thì giảm giá thành sản phẩm theo đúng nguyên tắc định giá đã giải thích ở đoạn “b” kể trên, nghĩa là:
Hàng thiếu tiêu chuẩn có thể được hưởng một mức lãi nhỏ hoặc không có lãi.
Phế phẩm và phế liệu thì nguyên tắc là không được tính lãi.
III. CHẾ ĐỘ BÁO CÁO VỀ HÀNG THIẾU TIÊU CHUẨN PHẾ PHẨM VÀ PHẾ LIỆU CỦA XÍ NGHIỆP, CÔNG TRƯỜNG VÀ CÁC CƠ QUAN THUỘC BỘ CÔNG NGHIỆP NHẸ
Để Bộ có thể xét duyệt lại các chỉ tiêu kế hoạch 1961 về nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ thấp tỷ lệ hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu một cách chính xác, Bộ yêu cầu các xí nghiệp, công trường và các cơ quan cung tiêu, sự nghiệp thuộc Bộ gửi về Bộ các báo cáo dưới đây kèm theo các mẫu hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu.
1. Báo cáo tổng kết tình hình quản lý, sử dụng và tồn kho hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu từ trước đến nay (từ ngày bắt đầu sản xuất, xây dựng cơ bản, cung cấp đến hết ngày 31-12-1960). Nội dung báo cáo nêu rõ 3 phần:
I. Tình hình quản lý – Sử dụng - Tồn kho đến 31-12-1960.
II. Ưu khuyết điểm – Ảnh hưởng và tác hại – Nguyên nhân.
III. Đề nghị biện pháp giải quyết cho năm 1961.
2. Bảng tổng kiểm kê tất cả những hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu. Nội dung chia ra 3 cột:
I. Hàng thiếu tiêu chuẩn (số lượng, giá thành đơn vị, thành tiền, đề nghị giá bán hay đề nghị sửa chữa lại thành hàng đủ tiêu chuẩn, chi phí sửa chữa).
II. Phế phẩm (số lượng, giá thành đơn vị, tổng giá thành đề nghị sửa chữa, chi phí sửa chữa, giá bán, hay đề nghị đưa ra tiêu thụ).
III. Phế liệu (số lượng, giá đơn vị, trị giá tổng số, đề nghị sử dụng hoặc đề nghị giá bán. Nếu đề nghị sử dụng thì nói rõ có thể sản xuất mặt hàng gì).
3. Bảng thống kê tổng hợp các tỷ lệ phế phẩm, phế liệu của từng đơn vị sản phẩm đã sản xuất ra trong năm 1960, dự kiến tỷ lệ đề nghị áp dụng cho năm 1961, phân tích lý do vì sao dự kiến tỷ lệ đó và nêu rõ mức phấn đấu của xí nghiệp, công trường hạ thấp tỷ lệ đó bao nhiêu.
4. Bảng tiêu chuẩn sử dụng nguyên nhiên vật liệu và động lực, vật dụng đóng bao, đóng gói (bao bì), dụng cụ đồ nghề, v.v… (tức là bảng tiêu chuẩn kỹ thuật kinh tế thực tế đã thực hiện năm 1960 và đề nghị tiêu chuẩn sử dụng cho năm 1961, nói rõ lý do đề nghị).
5. Các báo cáo trên gửi về cơ quan thuộc Bộ mỗi nơi một bản: Văn phòng Bộ, Vụ Kế hoạch, Vụ Kỹ thuật, Viện nghiên cứu Công nghiệp nhẹ, Vụ Tài vụ, các Cục quản lý sản xuất.
Thời hạn báo cáo chậm nhất đến hết ngày 20-3-1961.
6. Ngoài ra, từ nay, hàng tháng các xí nghiệp, công trường gửi báo cáo về Bộ (Vụ Kế hoạch và Vụ Tài vụ):
1. Báo cáo những thiệt hại về hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm, phế liệu trong tháng (báo cáo tổng giá trị bằng tiền có tỷ lệ so sánh với giá trị tổng sản lượng. So sánh mức chỉ tiêu của Bộ quy định với mức thực tế phát sinh trong tháng báo cáo).
2. Báo cáo về những chi phí sửa chữa phế phẩm.
IV. KẾT LUẬN
Nói chung tình hình quản lý và sử dụng hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu trong các xí nghiệp, công trường thuộc Bộ từ trước đến nay có nhiều thiếu sót tác hại không ít đến tài sản và ngân sách Nhà nước do nguyên nhân:
- Hoặc là chưa quan tâm đúng mức;
- Hoặc là thiếu tinh thần trách nhiệm;
- Hoặc là nhận thức còn thiếu sót;
- Hoặc là chưa có chế độ quản lý và chế độ trách nhiệm thu thập và sử dụng hợp lý những hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu.
Trên tinh thần cần kiệm xây dựng công nghiệp, chúng ta cần quán triệt chế độ tiết kiệm và ý nghĩa quan trọng của việc quản lý hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu đã có kế hoạch sử dụng hợp lý và động viên toàn thể cán bộ công nhân viên trong xí nghiệp, công trường mình ra sức đấu tranh giảm dần tỷ lệ hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu; ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tham ô, lãng phí và hạn chế đến mức tối thiểu sự sinh ra hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu trong quá trình sản xuất và xây dựng cơ bản.
Bởi vậy, từ nay Bộ yêu cầu các xí nghiệp, công trường và các cơ quan thuộc Bộ thi hành tốt chỉ thị này và xem đây là một mặt hoạt động cần chú trọng đầy đủ để bố trí thì giờ, cán bộ và tổ chức cho thích hợp.
Các ông Giám đốc có trách nhiệm tổ chức phổ biến, giải thích rộng rãi thông tư này của Bộ cho toàn thể cán bộ công nhân và nhân viên trong đơn vị xí nghiệp, công trường và cơ quan thuộc Bộ để việc quản lý và sử dụng hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu từ nay về sau sẽ thu được kết quả tốt đẹp như mong muốn.

BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG NGHIỆP NHẸ

Content:
Nhà nước định giá thông qua Bộ Thương nghiệp:
Trong Thông tư số 63-CP, Hội đồng Chính phủ quy định:
- Bộ Nội thương chỉ đạo giá bán lẻ những hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu.
- Bộ Nội thương Quyết định giá bán lẻ sau khi thống nhất ý kiến với Bộ (Vụ Kế hoạch) và Cục quản lý đối với những thứ sinh ra thường xuyên và có giá trị lớn.
- Bộ Nội thương có thể ủy quyền cho Ủy ban hành chính tỉnh lập một Hội đồng hoá giá gồm có đại biểu của Tài chính - Mậu dịch – và xí nghiệp để xét định giá bán lẻ những thứ không quan trọng.
- Các công ty Mậu dịch sẽ căn cứ vào các nguyên tắc định giá do Bộ Nội thương quy định mà cùng với các xí nghiệp, công trường thương lượng định giá thu mua phế phẩm và phế liệu.
c) Nguyên tắc quản lý tài vụ:
1. Nguyên tắc kinh doanh các sản phẩm chế biến bằng phế phẩm và phế liệu, nếu có lãi thì được giữ số lãi ấy làm vốn để mở rộng sản xuất (kể cả xí nghiệp Quốc doanh, xí nghiệp địa phương và công tư hợp doanh đã quy định ở mục V, trang 4 trong Thông tư số 63-CP ngày 14-11-1960 của Hội đồng Chính phủ do Phủ Thủ tướng ban hành).
2. Vụ Tài vụ có nhiệm vụ hướng dẫn các xí nghiệp, công trường tổ chức chứng từ sổ sách và hạch toán kế toán về phế phẩm, phế liệu vào tài khoản riêng để có thể theo dõi nhằm phấn đấu giảm tỷ lệ phế phẩm:
- Sau khi Bộ thống nhất ý kiến với Bộ Tài chính, hàng thiếu tiêu chuẩn trong hoàn cảnh cụ thể của các xí nghiệp nước ta hiện nay vẫn được coi như thành phẩm loại 2, loại 3, v.v… được tính trong kế hoạch sản lượng với giá thành toàn bộ của nó như các thành phẩm khác do xí nghiệp sản xuất ra và hạch toán vào tài khoản 060 – “kho thành phẩm” đối với xí nghiệp đã thi hành chế độ lệnh nhật ký của Bộ, hoặc hạch toán vào tài khoản 059 – “sản phẩm làm ra” đối với xí nghiệp chưa thi hành chế độ lệnh nhật ký. Nhưng lãnh đạo phải hết sức hạn chế sự sinh ra hàng thiếu tiêu chuẩn.
- Riêng về phế phẩm và phế liệu thì hạch toán chung vào tài khoản 030. Không mở thêm tài khoản riêng về phế phẩm nữa cho thêm phức tạp khiến việc theo dõi bị phân tán. Do đó tài khoản 030 theo Bộ Tài chính quy định là tài khoản hạch toán phế liệu, nay thay đổi danh từ là “phế phẩm và phế liệu” chia ra 2 tài khoản phụ:
030.0 – Kho phế phẩm
030.1 – Kho phế liệu
Vụ Tài vụ của Bộ sẽ liên hệ với Vụ chế độ kế toán Bộ Tài chính để thống nhất danh từ tài khoản chính 030 kể trên ban hành từ 1957 trong lúc chưa có chế độ quản lý tài vụ đối với phế phẩm và phế liệu như hiện nay.
- Những hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu nếu có lãi thì coi như vốn hoàn trả Nhà nước, hoặc nếu lỗ thì giảm giá thành sản phẩm theo đúng nguyên tắc định giá đã giải thích ở đoạn “b” kể trên, nghĩa là:
Hàng thiếu tiêu chuẩn có thể được hưởng một mức lãi nhỏ hoặc không có lãi.
Phế phẩm và phế liệu thì nguyên tắc là không được tính lãi.
III. CHẾ ĐỘ BÁO CÁO VỀ HÀNG THIẾU TIÊU CHUẨN PHẾ PHẨM VÀ PHẾ LIỆU CỦA XÍ NGHIỆP, CÔNG TRƯỜNG VÀ CÁC CƠ QUAN THUỘC BỘ CÔNG NGHIỆP NHẸ
Để Bộ có thể xét duyệt lại các chỉ tiêu kế hoạch 1961 về nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ thấp tỷ lệ hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu một cách chính xác, Bộ yêu cầu các xí nghiệp, công trường và các cơ quan cung tiêu, sự nghiệp thuộc Bộ gửi về Bộ các báo cáo dưới đây kèm theo các mẫu hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu.
1. Báo cáo tổng kết tình hình quản lý, sử dụng và tồn kho hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu từ trước đến nay (từ ngày bắt đầu sản xuất, xây dựng cơ bản, cung cấp đến hết ngày 31-12-1960). Nội dung báo cáo nêu rõ 3 phần:
I. Tình hình quản lý – Sử dụng - Tồn kho đến 31-12-1960.
II. Ưu khuyết điểm – Ảnh hưởng và tác hại – Nguyên nhân.
III. Đề nghị biện pháp giải quyết cho năm 1961.
2. Bảng tổng kiểm kê tất cả những hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu. Nội dung chia ra 3 cột:
I. Hàng thiếu tiêu chuẩn (số lượng, giá thành đơn vị, thành tiền, đề nghị giá bán hay đề nghị sửa chữa lại thành hàng đủ tiêu chuẩn, chi phí sửa chữa).
II. Phế phẩm (số lượng, giá thành đơn vị, tổng giá thành đề nghị sửa chữa, chi phí sửa chữa, giá bán, hay đề nghị đưa ra tiêu thụ).
III. Phế liệu (số lượng, giá đơn vị, trị giá tổng số, đề nghị sử dụng hoặc đề nghị giá bán. Nếu đề nghị sử dụng thì nói rõ có thể sản xuất mặt hàng gì).
3. Bảng thống kê tổng hợp các tỷ lệ phế phẩm, phế liệu của từng đơn vị sản phẩm đã sản xuất ra trong năm 1960, dự kiến tỷ lệ đề nghị áp dụng cho năm 1961, phân tích lý do vì sao dự kiến tỷ lệ đó và nêu rõ mức phấn đấu của xí nghiệp, công trường hạ thấp tỷ lệ đó bao nhiêu.
4. Bảng tiêu chuẩn sử dụng nguyên nhiên vật liệu và động lực, vật dụng đóng bao, đóng gói (bao bì), dụng cụ đồ nghề, v.v… (tức là bảng tiêu chuẩn kỹ thuật kinh tế thực tế đã thực hiện năm 1960 và đề nghị tiêu chuẩn sử dụng cho năm 1961, nói rõ lý do đề nghị).
5. Các báo cáo trên gửi về cơ quan thuộc Bộ mỗi nơi một bản: Văn phòng Bộ, Vụ Kế hoạch, Vụ Kỹ thuật, Viện nghiên cứu Công nghiệp nhẹ, Vụ Tài vụ, các Cục quản lý sản xuất.
Thời hạn báo cáo chậm nhất đến hết ngày 20-3-1961.
Ngoài ra, từ nay, hàng tháng các xí nghiệp, công trường gửi báo cáo về Bộ (Vụ Kế hoạch và Vụ Tài vụ):
1. Báo cáo những thiệt hại về hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm, phế liệu trong tháng (báo cáo tổng giá trị bằng tiền có tỷ lệ so sánh với giá trị tổng sản lượng. So sánh mức chỉ tiêu của Bộ quy định với mức thực tế phát sinh trong tháng báo cáo).
2. Báo cáo về những chi phí sửa chữa phế phẩm.
IV. KẾT LUẬN
Nói chung tình hình quản lý và sử dụng hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu trong các xí nghiệp, công trường thuộc Bộ từ trước đến nay có nhiều thiếu sót tác hại không ít đến tài sản và ngân sách Nhà nước do nguyên nhân:
- Hoặc là chưa quan tâm đúng mức;
- Hoặc là thiếu tinh thần trách nhiệm;
- Hoặc là nhận thức còn thiếu sót;
- Hoặc là chưa có chế độ quản lý và chế độ trách nhiệm thu thập và sử dụng hợp lý những hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu.
Trên tinh thần cần kiệm xây dựng công nghiệp, chúng ta cần quán triệt chế độ tiết kiệm và ý nghĩa quan trọng của việc quản lý hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu đã có kế hoạch sử dụng hợp lý và động viên toàn thể cán bộ công nhân viên trong xí nghiệp, công trường mình ra sức đấu tranh giảm dần tỷ lệ hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu; ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tham ô, lãng phí và hạn chế đến mức tối thiểu sự sinh ra hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu trong quá trình sản xuất và xây dựng cơ bản.
Bởi vậy, từ nay Bộ yêu cầu các xí nghiệp, công trường và các cơ quan thuộc Bộ thi hành tốt chỉ thị này và xem đây là một mặt hoạt động cần chú trọng đầy đủ để bố trí thì giờ, cán bộ và tổ chức cho thích hợp.
Các ông Giám đốc có trách nhiệm tổ chức phổ biến, giải thích rộng rãi thông tư này của Bộ cho toàn thể cán bộ công nhân và nhân viên trong đơn vị xí nghiệp, công trường và cơ quan thuộc Bộ để việc quản lý và sử dụng hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu từ nay về sau sẽ thu được kết quả tốt đẹp như mong muốn.

BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG NGHIỆP NHẸ