Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 2140/QĐ-UBND 2012 quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn Hưng Yên

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Hưng Yên", "promulgation_date": "12/12/2012", "sign_number": "2140/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Minh Ngọc", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Hưng Yên", "promulgation_date": "12/12/2012", "sign_number": "2140/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Minh Ngọc", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Hưng Yên", "promulgation_date": "12/12/2012", "sign_number": "2140/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Minh Ngọc", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Hưng Yên", "promulgation_date": "12/12/2012", "sign_number": "2140/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Minh Ngọc", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Hưng Yên", "promulgation_date": "12/12/2012", "sign_number": "2140/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Minh Ngọc", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 2140/QĐ-UBND 2012 quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn Hưng Yên

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020 với các nội dung chính như sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể:
- Phấn đấu đạt tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên qua các thời kỳ như sau:
+ Giai đoạn 2012-2015 bình quân tăng 17,5%/năm;
+ Giai đoạn 2016-2020 bình quân tăng 16%/năm;
- Giá trị sản xuất khu vực ngành nghề nông thôn dự kiến đến năm 2015 đạt 12.370 tỷ đồng, đến năm 2020 đạt 25.990 tỷ đồng;
- Tốc độ tăng trưởng khối làng nghề giai đoạn 2012-2015 ước đạt 18,32%/năm, giai đoạn 2016-2020 đạt 17,07%/năm. Giá trị sản xuất làng nghề đến năm 2015 ước đạt 2.295 tỷ đồng, đến năm 2020 ước đạt 5.050 tỷ đồng.
III. Quy hoạch định hướng phát triển
1. Nhóm ngành nghề chế biến, bảo quản nông lâm, thủy sản:
- Xay xát lương thực, chế biến thức ăn chăn nuôi: Ổn định về số lượng, tăng về quy mô các cơ sở sản xuất, hình thành các cơ sở chuyên thu mua lúa về xay xát rồi bán lại cho các đầu mối phân phối và tiêu thụ. Đến năm 2020 toàn tỉnh còn khoảng 2.010 cở sở, sử dụng 3.919 lao động, giá trị sản xuất khoảng 702 tỷ đồng;
- Chế biến đậu phụ, bún, bánh: Đến năm 2020, có 225 cơ sở, sử dụng khoảng 1.210 lao động, giá trị sản lượng đạt 16,5 tỷ đồng. Trong quá trình sản xuất phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Sản xuất rượu: Đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ về khoa học kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất rượu, đăng ký chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu Rượu Trương Xá;
- Giết mổ gia súc và chế biến, bảo quản sản phẩm từ thịt: Năm 2015 có 1.435 cở sở sản xuất, sử dụng 3.088 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 800 tỷ đồng; năm 2020 có 1.800 cơ sở sản xuất sử dụng khoảng 3.906 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 1.565 tỷ đồng. Phát triển cần chú trọng cải tiến quy trình sản xuất, trang thiết bị và mặt bằng sản xuất để đáp ứng kịp thời cho yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm. Hình thành các khu giết mổ gắn với các vùng chăn nuôi tập trung xa khu dân cư;
- Chế biến và bảo quản rau quả: Tăng cường ứng dụng hiệu quả các biện pháp công nghệ trong bảo quản tươi, chế biến sau thu hoạch nguyên liệu. Đầu tư theo chiều sâu nâng cấp máy móc thiết bị công nghệ đồng bộ, tận dụng mặt bằng cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực để hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh;
- Cưa xẻ, bào gỗ: Đến năm 2015 có 95 cơ sở sản xuất, sử dụng 278 lao động, tạo ra giá trị sản lượng đạt khoảng 51 tỷ đồng; năm 2020 có 109 cơ sở sử dụng 325 lao động, tạo ra giá trị sản lượng đạt khoảng 98,5 tỷ đồng. Đây là ngành nghề quan trọng, vì vậy trong thời gian tới cần phải đưa vào những cụm công nghiệp để phát triển.
2. Quy hoạch phát triển nhóm ngành nghề vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan, cơ khí:
- Khai thác cát đá, sỏi: Không khuyến khích tăng thêm số lượng các cơ sở sản xuất, chú trọng đầu tư trang thiết bị công nghệ khai thác, mở rộng quy mô và chú trọng bảo vệ môi trường. Khoanh vùng khai thác hợp lý để không làm ảnh hưởng tới môi trường, có chế tài mạnh để xử phạt các cơ sở khai thác trái phép gây nguy cơ sạt lở dòng sông. Hình thành các Hợp tác xã có chính sách thuế hợp lý. Đến năm 2020 số cơ sở sản xuất khoảng 67 cơ sở, sử dụng 518 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 87 tỷ đồng;
- Nhóm nghề đồ gỗ, mộc gia dụng: Chú trọng tiếp thị, tìm kiếm phát triển và chiếm lĩnh thị trường; không ngừng sáng tạo thay đổi mẫu mã sản phẩm từng bước tiến hành đăng ký nhãn hiệu sản phẩm độc quyền;
- Cơ khí nhỏ (gò, hàn, rèn, sửa chữa động cơ, máy nổ, cơ khí nhỏ). Khuyến khích sản xuất các sản phẩm phù trợ cho các khu công nghiệp; các sản phẩm định hướng tham gia vào chuỗi sản phẩm phù trợ như sản phẩm lắp ráp xe máy, máy nông nghiệp…tập trung vào sửa chữa, phát triển các sản phẩm đơn lẻ dùng trong gia dụng nội thất phục vụ nhu cầu dân dụng;
- Sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic: Nâng cấp, cải tiến công nghệ chế biến, hệ thống xử lý chất thải, khí thải để bảo đảm môi trường; ưu tiên đầu tư phát triển chế biến các sản phẩm phục vụ cho ngành da giầy, y tế. Đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh có khoảng 114 cơ sở sản xuất, sử dụng 583 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 557 tỷ đồng;
- May trang phục, sản xuất trang phục dệt đan: Khuyến khích phát triển các ngành nghề may mặc sản xuất các sản phẩm phù trợ phục vụ cho sản xuất công nghiệp: Đến năm 2020, có 1.206 cơ sở sử dụng 3.121 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 332 tỷ đồng;
- Sản xuất gạch, ngói: Chuyển hoàn toàn sang sản xuất gạch tuylen để nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo vệ sinh môi trường;
- Gốm Sứ: Đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất, cải tiến mẫu mã sản phẩm, chú trọng hơn đến sản xuất các sản phẩm cao cấp để nâng cao sức cạnh tranh;
- Thủ công, mỹ nghệ: Khuyến khích phát triển các nghề đã có trên địa bàn tỉnh; chủ động liên doanh, liên kết với các đối tác trong và ngoài nước để tìm kiếm thị trường, có chính sách hỗ trợ các cơ sở tham gia các cuộc triển lãm, hội chợ tổ chức trong và ngoài tỉnh; phong tặng danh hiệu nghệ nhân cho những lao động có tay nghề cao, có chính sách thu hút và mời gọi các nghệ nhân từ nơi khác đến Hưng Yên sản xuất và kinh doanh; chú trọng các chính sách ưu đãi trong đào tạo lao động, đặc biệt là đào tạo lao động thiết kế mẫu mã;
- Sản xuất kim loại mầu, kim loại quý, đúc kim loại: Chủ yếu sản xuất ở xã Đại Đồng, Văn Lâm với các sản phẩm chủ yếu là đồ thờ. Đầu tư vốn, đổi mới công nghệ, đào tạo lao động, xây dựng thương hiệu, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm;
- Bàn máy khâu, thùng loa: Khuyến khích phát triển các cơ sở sản xuất;
- Sản xuất tinh dầu, dược liệu: Khuyến khích phát triển các cơ sở sản xuất, chế biến dược liệu; nghiên cứu và ưu tiên các dự án đầu tư sản xuất các hoạt chất chiết suất từ thảo mộc cung cấp cho thị trường trong nước và giảm tỷ lệ nhập khẩu;
- Vật liệu xây dựng, gốm sứ: Đến năm 2015 toàn tỉnh có khoảng 162 cơ sở sản xuất, sử dụng 3.621 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 78 tỷ đồng; Năm 2020 có khoảng 162 cơ sở sản xuất, sử dụng 4.294 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 140 tỷ đồng;
- Mây tre đan: Chú trọng đổi mới mẫu mã sản phẩm, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm để mở rộng thị trường tiêu thụ. Đầu tư về trang thiết bị kỹ thuật, vốn để sản xuất;
- Sản xuất kim loại mầu, kim loại quý, đúc kim loại: Đầu tư vốn, đổi mới công nghệ, đào tạo lao động có tay nghề cao để sản xuất ra những sản phẩm cao cấp, xây dựng thương hiệu;
- Sản xuất đồ kim hoàn: Tiếp tục duy trì và phát triển ngành nghề, tập trung các khóa đào tạo đội ngũ nghệ nhân giỏi. Đồng thời tăng cường đổi mới công nghệ sản xuất, tạo ra những sản phẩm có mẫu mã đẹp, độc đáo nhằm thu hút được người tiêu dùng.
- Tái chế phế liệu: Khuyến khích di dời các hộ quy mô lớn đầu tư vào các cụm công nghiệp như: Khu công nghiệp Minh Khai, cụm công nghiệp Chỉ Đạo…

Content:
Mục tiêu cụ thể:
- Phấn đấu đạt tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên qua các thời kỳ như sau:
+ Giai đoạn 2012-2015 bình quân tăng 17,5%/năm;
+ Giai đoạn 2016-2020 bình quân tăng 16%/năm;
- Giá trị sản xuất khu vực ngành nghề nông thôn dự kiến đến năm 2015 đạt 12.370 tỷ đồng, đến năm 2020 đạt 25.990 tỷ đồng;
- Tốc độ tăng trưởng khối làng nghề giai đoạn 2012-2015 ước đạt 18,32%/năm, giai đoạn 2016-2020 đạt 17,07%/năm. Giá trị sản xuất làng nghề đến năm 2015 ước đạt 2.295 tỷ đồng, đến năm 2020 ước đạt 5.050 tỷ đồng.
III. Quy hoạch định hướng phát triển
1. Nhóm ngành nghề chế biến, bảo quản nông lâm, thủy sản:
- Xay xát lương thực, chế biến thức ăn chăn nuôi: Ổn định về số lượng, tăng về quy mô các cơ sở sản xuất, hình thành các cơ sở chuyên thu mua lúa về xay xát rồi bán lại cho các đầu mối phân phối và tiêu thụ. Đến năm 2020 toàn tỉnh còn khoảng 2.010 cở sở, sử dụng 3.919 lao động, giá trị sản xuất khoảng 702 tỷ đồng;
- Chế biến đậu phụ, bún, bánh: Đến năm 2020, có 225 cơ sở, sử dụng khoảng 1.210 lao động, giá trị sản lượng đạt 16,5 tỷ đồng. Trong quá trình sản xuất phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Sản xuất rượu: Đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ về khoa học kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất rượu, đăng ký chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu Rượu Trương Xá;
- Giết mổ gia súc và chế biến, bảo quản sản phẩm từ thịt: Năm 2015 có 1.435 cở sở sản xuất, sử dụng 3.088 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 800 tỷ đồng; năm 2020 có 1.800 cơ sở sản xuất sử dụng khoảng 3.906 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 1.565 tỷ đồng. Phát triển cần chú trọng cải tiến quy trình sản xuất, trang thiết bị và mặt bằng sản xuất để đáp ứng kịp thời cho yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm. Hình thành các khu giết mổ gắn với các vùng chăn nuôi tập trung xa khu dân cư;
- Chế biến và bảo quản rau quả: Tăng cường ứng dụng hiệu quả các biện pháp công nghệ trong bảo quản tươi, chế biến sau thu hoạch nguyên liệu. Đầu tư theo chiều sâu nâng cấp máy móc thiết bị công nghệ đồng bộ, tận dụng mặt bằng cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực để hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh;
- Cưa xẻ, bào gỗ: Đến năm 2015 có 95 cơ sở sản xuất, sử dụng 278 lao động, tạo ra giá trị sản lượng đạt khoảng 51 tỷ đồng; năm 2020 có 109 cơ sở sử dụng 325 lao động, tạo ra giá trị sản lượng đạt khoảng 98,5 tỷ đồng. Đây là ngành nghề quan trọng, vì vậy trong thời gian tới cần phải đưa vào những cụm công nghiệp để phát triển.
Quy hoạch phát triển nhóm ngành nghề vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan, cơ khí:
- Khai thác cát đá, sỏi: Không khuyến khích tăng thêm số lượng các cơ sở sản xuất, chú trọng đầu tư trang thiết bị công nghệ khai thác, mở rộng quy mô và chú trọng bảo vệ môi trường. Khoanh vùng khai thác hợp lý để không làm ảnh hưởng tới môi trường, có chế tài mạnh để xử phạt các cơ sở khai thác trái phép gây nguy cơ sạt lở dòng sông. Hình thành các Hợp tác xã có chính sách thuế hợp lý. Đến năm 2020 số cơ sở sản xuất khoảng 67 cơ sở, sử dụng 518 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 87 tỷ đồng;
- Nhóm nghề đồ gỗ, mộc gia dụng: Chú trọng tiếp thị, tìm kiếm phát triển và chiếm lĩnh thị trường; không ngừng sáng tạo thay đổi mẫu mã sản phẩm từng bước tiến hành đăng ký nhãn hiệu sản phẩm độc quyền;
- Cơ khí nhỏ (gò, hàn, rèn, sửa chữa động cơ, máy nổ, cơ khí nhỏ). Khuyến khích sản xuất các sản phẩm phù trợ cho các khu công nghiệp; các sản phẩm định hướng tham gia vào chuỗi sản phẩm phù trợ như sản phẩm lắp ráp xe máy, máy nông nghiệp…tập trung vào sửa chữa, phát triển các sản phẩm đơn lẻ dùng trong gia dụng nội thất phục vụ nhu cầu dân dụng;
- Sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic: Nâng cấp, cải tiến công nghệ chế biến, hệ thống xử lý chất thải, khí thải để bảo đảm môi trường; ưu tiên đầu tư phát triển chế biến các sản phẩm phục vụ cho ngành da giầy, y tế. Đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh có khoảng 114 cơ sở sản xuất, sử dụng 583 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 557 tỷ đồng;
- May trang phục, sản xuất trang phục dệt đan: Khuyến khích phát triển các ngành nghề may mặc sản xuất các sản phẩm phù trợ phục vụ cho sản xuất công nghiệp: Đến năm 2020, có 1.206 cơ sở sử dụng 3.121 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 332 tỷ đồng;
- Sản xuất gạch, ngói: Chuyển hoàn toàn sang sản xuất gạch tuylen để nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo vệ sinh môi trường;
- Gốm Sứ: Đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất, cải tiến mẫu mã sản phẩm, chú trọng hơn đến sản xuất các sản phẩm cao cấp để nâng cao sức cạnh tranh;
- Thủ công, mỹ nghệ: Khuyến khích phát triển các nghề đã có trên địa bàn tỉnh; chủ động liên doanh, liên kết với các đối tác trong và ngoài nước để tìm kiếm thị trường, có chính sách hỗ trợ các cơ sở tham gia các cuộc triển lãm, hội chợ tổ chức trong và ngoài tỉnh; phong tặng danh hiệu nghệ nhân cho những lao động có tay nghề cao, có chính sách thu hút và mời gọi các nghệ nhân từ nơi khác đến Hưng Yên sản xuất và kinh doanh; chú trọng các chính sách ưu đãi trong đào tạo lao động, đặc biệt là đào tạo lao động thiết kế mẫu mã;
- Sản xuất kim loại mầu, kim loại quý, đúc kim loại: Chủ yếu sản xuất ở xã Đại Đồng, Văn Lâm với các sản phẩm chủ yếu là đồ thờ. Đầu tư vốn, đổi mới công nghệ, đào tạo lao động, xây dựng thương hiệu, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm;
- Bàn máy khâu, thùng loa: Khuyến khích phát triển các cơ sở sản xuất;
- Sản xuất tinh dầu, dược liệu: Khuyến khích phát triển các cơ sở sản xuất, chế biến dược liệu; nghiên cứu và ưu tiên các dự án đầu tư sản xuất các hoạt chất chiết suất từ thảo mộc cung cấp cho thị trường trong nước và giảm tỷ lệ nhập khẩu;
- Vật liệu xây dựng, gốm sứ: Đến năm 2015 toàn tỉnh có khoảng 162 cơ sở sản xuất, sử dụng 3.621 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 78 tỷ đồng; Năm 2020 có khoảng 162 cơ sở sản xuất, sử dụng 4.294 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 140 tỷ đồng;
- Mây tre đan: Chú trọng đổi mới mẫu mã sản phẩm, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm để mở rộng thị trường tiêu thụ. Đầu tư về trang thiết bị kỹ thuật, vốn để sản xuất;
- Sản xuất kim loại mầu, kim loại quý, đúc kim loại: Đầu tư vốn, đổi mới công nghệ, đào tạo lao động có tay nghề cao để sản xuất ra những sản phẩm cao cấp, xây dựng thương hiệu;
- Sản xuất đồ kim hoàn: Tiếp tục duy trì và phát triển ngành nghề, tập trung các khóa đào tạo đội ngũ nghệ nhân giỏi. Đồng thời tăng cường đổi mới công nghệ sản xuất, tạo ra những sản phẩm có mẫu mã đẹp, độc đáo nhằm thu hút được người tiêu dùng.
- Tái chế phế liệu: Khuyến khích di dời các hộ quy mô lớn đầu tư vào các cụm công nghiệp như: Khu công nghiệp Minh Khai, cụm công nghiệp Chỉ Đạo…