Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 4251/QĐ-BGTVT duyệt tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông nông thôn

Type: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "01/12/2015", "sign_number": "4251/QĐ-BGTVT", "signer": "Đinh La Thăng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "01/12/2015", "sign_number": "4251/QĐ-BGTVT", "signer": "Đinh La Thăng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "01/12/2015", "sign_number": "4251/QĐ-BGTVT", "signer": "Đinh La Thăng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "01/12/2015", "sign_number": "4251/QĐ-BGTVT", "signer": "Đinh La Thăng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "01/12/2015", "sign_number": "4251/QĐ-BGTVT", "signer": "Đinh La Thăng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 4251/QĐ-BGTVT duyệt tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông nông thôn

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông nông thôn đến năm 2020” với các nội dung chủ yếu như sau:
...
3. Huy động tối đa nguồn lực xã hội, đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong việc bảo đảm trật tự an toàn giao thông nông thôn.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
Nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật về trật tự, an toàn giao thông cho người tham gia giao thông khu vực nông thôn; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông trên đường giao thông nông thôn; tăng cường công tác quản lý Nhà nước và sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức về công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông nông thôn nhằm giảm 5 ÷ 10% số người chết do tai nạn giao thông trên đường giao thông nông thôn hàng năm một cách bền vững.
2. Mục tiêu cụ thể
a) Về tuyên truyền: 100% người tham gia giao thông khu vực nông thôn được tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự, an toàn giao thông.
b) Về thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm: 100% xã có tổ tuần tra, kiểm soát và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông theo thẩm quyền quy định.
c) Về kết cấu hạ tầng:
- Xóa bỏ 100% các điểm đen về tai nạn giao thông trên các tuyến đường huyện và đường xã đang khai thác.
- 100% đường huyện, đường xã đi lại quanh năm; tỷ lệ mặt đường được nhựa hóa hoặc bê tông xi măng hóa đối với đường huyện đạt 100%, đường xã tối thiểu 70%; các đường thôn xóm tối thiểu 50% và 45% các đường trục chính nội đồng được cứng hóa, phương tiện cơ giới đi lại thuận tiện.
- Đưa dần hệ thống đường giao thông nông thôn vào cấp kỹ thuật, đường huyện đạt tiêu chuẩn đường tối thiểu cấp V, đường xã tối thiểu đạt cấp VI theo TCVN 4054:2005; tối thiểu 50% các đường thôn xóm đạt loại A theo tiêu chuẩn 22TCN 2010-92 trở lên.
- Từng bước bố trí các nguồn vốn để bảo trì hệ thống đường giao thông nông thôn: 100% đường huyện và tối thiểu 45% đường xã được bảo trì.
- 100% các huyện có bến xe khách tại trung tâm, tối thiểu đạt loại 4. Bố trí điểm dừng, đỗ tại trung tâm xã dọc theo các quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện có tuyến vận tải hành khách công cộng.
- Đảm bảo an toàn giao thông và từng bước xây dựng các bến, bến ngang, bến cảng tại các vùng có thể sử dụng vận tải thủy nội địa phục vụ vận chuyển hành khách, hàng hóa, đặc biệt ở hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.
d) Về phương tiện
- Loại bỏ 100% xe ô tô và phương tiện đường thủy nội địa quá niên hạn sử dụng.
- 100% phương tiện đường thủy nội địa được đăng ký, đăng kiểm theo quy định của pháp luật.
- Kiểm soát, loại bỏ dần các phương tiện tự chế không được đăng ký, đăng kiểm theo quy định của pháp luật.
đ) Về đào tạo, sát hạch và cấp giấy phép lái xe
- 100% người điều khiển xe gắn máy ở khu vực nông thôn có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật.
- 80% thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa có chứng chỉ chuyên môn.
e) Về sơ cấp cứu sau tai nạn: 100% xã có đội sơ cấp cứu tai nạn giao thông.
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Tuyên truyền, giáo dục an toàn giao thông
Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự, an toàn giao thông khu vực nông thôn với các nội dung như sau:
- Tập trung tuyên tuyền, phổ biến về đội mũ bảo hiểm, chở quá số người theo quy định, đã uống rượu, bia không điều khiển phương tiện tham gia giao thông, chạy quá tốc độ quy định và các hành vi lấn chiếm hành lang an toàn giao thông, chăn thả gia súc trên lòng và lề đường theo hướng tăng cường bằng hình ảnh trực quan, sinh động;
- Lồng ghép tuyên truyền, phổ biến vào chương trình xây dựng Nông thôn mới, Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” vào các chương trình khác;
- Tập trung tuyên truyền, phổ biến trong các dịp ngày lễ, hội, ngày tết, các phiên chợ, tại các thị trấn, thị tứ, các cụm công nghiệp, khu công nghiệp và khu chế xuất, khu tập trung đông người;
- Phối hợp với các tổ chức tôn giáo (Phật Giáo, Công Giáo ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long; Tin Lành ở khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc; Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long) lồng ghép nội dung tuyên truyền, phổ biến vào các sự kiện, các buổi sinh hoạt tôn giáo ở địa phương;
- Đưa nội dung tuyên truyền, phổ biến vào các buổi sinh hoạt của chi bộ, các tổ chức đoàn thể, làng, bản, thôn, xóm, các tổ dân phố;
- Xây dựng các chương trình truyền hình tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự, an toàn giao thông bằng tiếng dân tộc trên các đài truyền hình Trung ương và địa phương, phát sóng vào thời gian phù hợp với điều kiện sinh hoạt người dân khu vực nông thôn;
- Xây dựng tài liệu và thực hiện tuyên truyền an toàn giao thông bằng tiếng dân tộc cho đồng bào dân tộc thiểu số (dân tộc Tày, Mường, Nùng, Thái, H’Mông ở vùng Trung du miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ; dân tộc Chăm ở vùng Nam Trung Bộ; dân tộc Gia Rai, Ê Đê ở Tây Nguyên và dân tộc Khơ Me ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long);
- Xây dựng và cung cấp cho các xã, bản, làng “Cẩm nang tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự, an toàn giao thông nông thôn”;
- Lồng ghép tuyên truyền vào các sinh hoạt văn hóa truyền thống, các loại hình nghệ thuật phù hợp với các vùng miền (loại hình cải lương đối với khu vực vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long; Bài chòi đối với vùng duyên hải Nam Trung Bộ; Chèo đối với vùng Đồng bằng sông Hồng và các loại hình nghệ thuật khác của các dân tộc thiểu số ở các vùng);
- Đưa nội dung chấp hành pháp luật về trật tự, an toàn giao thông vào các hương ước, quy ước của thôn, làng, bản và khu dân cư; hàng năm, các hộ dân cư ký cam kết thực hiện;
- Thông tin các trường hợp vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông về các thôn, xóm, bản, làng, các tổ dân phố và trên hệ thống loa phát thanh, đài phát thanh và truyền hình địa phương;
- Đẩy mạnh giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, ý thức và kỹ năng của học sinh về các chủ đề đi bộ an toàn, đi xe đạp an toàn, ngồi trên xe máy an toàn, đi tàu thuyền an toàn (vùng Đồng bằng sông Cửu Long), an toàn giao thông vào ban đêm trong trường học, chú trọng cung cấp kỹ năng tham gia giao thông an toàn cho các em học sinh;
- Tăng cường các nội dung giáo dục bằng hình ảnh trực quan, sinh động và lồng ghép trong các sinh hoạt ngoại khóa của nhà trường;
- Tiến hành tuyên truyền cho học sinh vào buổi chào cờ đầu tuần;
- Hàng ngày, trước khi tan học, giáo viên giành 2 ÷ 3 phút nhắc nhở các em học sinh chấp hành các quy định về trật tự, an toàn giao thông, đặc biệt không tụ tập ở lòng đường, không đi xe đạp thành hàng 2, hàng 3..., không đi ngược chiều, đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên xe gắn máy; in các nội dung tuyên truyền về an toàn giao thông vào vở của học sinh.
2. Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
- Lực lượng nòng cốt là Cảnh sát giao thông, Công an xã phối hợp với dân phòng, dân quân và các tổ chức đoàn thể như Đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh...tập trung tuần tra, kiểm soát và xử phạt vi phạm trật tự an toàn giao thông trên các tuyến đường giao thông nông thôn tại các giao cắt, các khu dân cư, thị trấn, thị tứ, các khu công nghiệp, khu chế xuất, trường học vào các giờ cao điểm, tan tầm và đặc biệt vào các ngày lễ (ngày 30/4 và 1/5, ngày 2/9...), ngày tết, các ngày hội ở địa phương theo các chủ đề về đội mũ bảo hiểm, chở quá số người theo quy định, vi phạm quy định về nồng độ cồn và chạy quá tốc độ quy định.
- Xây dựng Tổ tuần tra, kiểm soát và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông theo thẩm quyền quy định tại mỗi xã với lực lượng nòng cốt là Công an xã, dân phòng, dân quân và các tổ chức đoàn thể nhằm thực hiện tuần tra, kiểm soát và xử phạt vi phạm trên các đường xã, đường thôn, xóm, tập trung xử lý các trường hợp không đội mũ bảo hiểm, chở quá số người theo quy định, và các hành vi lấn chiếm hành lang an toàn giao thông.
- Tăng cường kiểm tra, xử phạt vi phạm giao thông đường thủy nội địa, đặc biệt ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng.
3. Quản lý nhà nước
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về trật tự, an toàn giao thông nông thôn.
- Ban hành hướng dẫn và thiết kế định hình các loại dầm cầu, cầu treo, các thiết kế điển hình về các loại kết cấu mặt đường phù hợp với đặc điểm của từng vùng, miền trong cả nước.
- Bổ sung tiêu chí về an toàn giao thông nông thôn vào Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới; bổ sung an toàn giao thông nông thôn là một tiêu chí đánh giá xếp loại danh hiệu Gia đình văn hóa, Khu dân cư văn hóa, Thôn văn hóa ... trong Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
- Thực hiện Quyết định số 13/2015/QĐ-TTg ngày 05 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt.
- Thực hiện Quyết định số 12/2015/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách thu hút xã hội hóa đầu tư và khai thác bến xe khách.
- Xây dựng và ban hành cơ chế bổ sung kinh phí từ ngân sách huyện và xã cho các hoạt động về tuyên truyền, phổ biến pháp luật, tuần tra, xử lý vi phạm trong các đợt cao điểm như ngày lễ, ngày tết và các ngày hội của địa phương.
- Xây dựng và ban hành cơ chế phối hợp giữa cấp ủy, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức tôn giáo, già làng, trưởng bản và gắn trách nhiệm của người đứng trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông nông thôn.
- Có chính sách khen thưởng định kỳ (hàng quý, 6 tháng và tổng kết hàng năm) hoặc đột xuất đối với tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông nông thôn và nhân rộng các mô hình điển hình tiên tiến.
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu tai nạn giao thông tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Content:
Huy động tối đa nguồn lực xã hội, đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong việc bảo đảm trật tự an toàn giao thông nông thôn.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
Nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật về trật tự, an toàn giao thông cho người tham gia giao thông khu vực nông thôn; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông trên đường giao thông nông thôn; tăng cường công tác quản lý Nhà nước và sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức về công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông nông thôn nhằm giảm 5 ÷ 10% số người chết do tai nạn giao thông trên đường giao thông nông thôn hàng năm một cách bền vững.
2. Mục tiêu cụ thể
a) Về tuyên truyền: 100% người tham gia giao thông khu vực nông thôn được tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự, an toàn giao thông.
b) Về thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm: 100% xã có tổ tuần tra, kiểm soát và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông theo thẩm quyền quy định.
c) Về kết cấu hạ tầng:
- Xóa bỏ 100% các điểm đen về tai nạn giao thông trên các tuyến đường huyện và đường xã đang khai thác.
- 100% đường huyện, đường xã đi lại quanh năm; tỷ lệ mặt đường được nhựa hóa hoặc bê tông xi măng hóa đối với đường huyện đạt 100%, đường xã tối thiểu 70%; các đường thôn xóm tối thiểu 50% và 45% các đường trục chính nội đồng được cứng hóa, phương tiện cơ giới đi lại thuận tiện.
- Đưa dần hệ thống đường giao thông nông thôn vào cấp kỹ thuật, đường huyện đạt tiêu chuẩn đường tối thiểu cấp V, đường xã tối thiểu đạt cấp VI theo TCVN 4054:2005; tối thiểu 50% các đường thôn xóm đạt loại A theo tiêu chuẩn 22TCN 2010-92 trở lên.
- Từng bước bố trí các nguồn vốn để bảo trì hệ thống đường giao thông nông thôn: 100% đường huyện và tối thiểu 45% đường xã được bảo trì.
- 100% các huyện có bến xe khách tại trung tâm, tối thiểu đạt loại 4. Bố trí điểm dừng, đỗ tại trung tâm xã dọc theo các quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện có tuyến vận tải hành khách công cộng.
- Đảm bảo an toàn giao thông và từng bước xây dựng các bến, bến ngang, bến cảng tại các vùng có thể sử dụng vận tải thủy nội địa phục vụ vận chuyển hành khách, hàng hóa, đặc biệt ở hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.
d) Về phương tiện
- Loại bỏ 100% xe ô tô và phương tiện đường thủy nội địa quá niên hạn sử dụng.
- 100% phương tiện đường thủy nội địa được đăng ký, đăng kiểm theo quy định của pháp luật.
- Kiểm soát, loại bỏ dần các phương tiện tự chế không được đăng ký, đăng kiểm theo quy định của pháp luật.
đ) Về đào tạo, sát hạch và cấp giấy phép lái xe
- 100% người điều khiển xe gắn máy ở khu vực nông thôn có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật.
- 80% thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa có chứng chỉ chuyên môn.
e) Về sơ cấp cứu sau tai nạn: 100% xã có đội sơ cấp cứu tai nạn giao thông.
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Tuyên truyền, giáo dục an toàn giao thông
Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự, an toàn giao thông khu vực nông thôn với các nội dung như sau:
- Tập trung tuyên tuyền, phổ biến về đội mũ bảo hiểm, chở quá số người theo quy định, đã uống rượu, bia không điều khiển phương tiện tham gia giao thông, chạy quá tốc độ quy định và các hành vi lấn chiếm hành lang an toàn giao thông, chăn thả gia súc trên lòng và lề đường theo hướng tăng cường bằng hình ảnh trực quan, sinh động;
- Lồng ghép tuyên truyền, phổ biến vào chương trình xây dựng Nông thôn mới, Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” vào các chương trình khác;
- Tập trung tuyên truyền, phổ biến trong các dịp ngày lễ, hội, ngày tết, các phiên chợ, tại các thị trấn, thị tứ, các cụm công nghiệp, khu công nghiệp và khu chế xuất, khu tập trung đông người;
- Phối hợp với các tổ chức tôn giáo (Phật Giáo, Công Giáo ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long; Tin Lành ở khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc; Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long) lồng ghép nội dung tuyên truyền, phổ biến vào các sự kiện, các buổi sinh hoạt tôn giáo ở địa phương;
- Đưa nội dung tuyên truyền, phổ biến vào các buổi sinh hoạt của chi bộ, các tổ chức đoàn thể, làng, bản, thôn, xóm, các tổ dân phố;
- Xây dựng các chương trình truyền hình tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự, an toàn giao thông bằng tiếng dân tộc trên các đài truyền hình Trung ương và địa phương, phát sóng vào thời gian phù hợp với điều kiện sinh hoạt người dân khu vực nông thôn;
- Xây dựng tài liệu và thực hiện tuyên truyền an toàn giao thông bằng tiếng dân tộc cho đồng bào dân tộc thiểu số (dân tộc Tày, Mường, Nùng, Thái, H’Mông ở vùng Trung du miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ; dân tộc Chăm ở vùng Nam Trung Bộ; dân tộc Gia Rai, Ê Đê ở Tây Nguyên và dân tộc Khơ Me ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long);
- Xây dựng và cung cấp cho các xã, bản, làng “Cẩm nang tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự, an toàn giao thông nông thôn”;
- Lồng ghép tuyên truyền vào các sinh hoạt văn hóa truyền thống, các loại hình nghệ thuật phù hợp với các vùng miền (loại hình cải lương đối với khu vực vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long; Bài chòi đối với vùng duyên hải Nam Trung Bộ; Chèo đối với vùng Đồng bằng sông Hồng và các loại hình nghệ thuật khác của các dân tộc thiểu số ở các vùng);
- Đưa nội dung chấp hành pháp luật về trật tự, an toàn giao thông vào các hương ước, quy ước của thôn, làng, bản và khu dân cư; hàng năm, các hộ dân cư ký cam kết thực hiện;
- Thông tin các trường hợp vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông về các thôn, xóm, bản, làng, các tổ dân phố và trên hệ thống loa phát thanh, đài phát thanh và truyền hình địa phương;
- Đẩy mạnh giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, ý thức và kỹ năng của học sinh về các chủ đề đi bộ an toàn, đi xe đạp an toàn, ngồi trên xe máy an toàn, đi tàu thuyền an toàn (vùng Đồng bằng sông Cửu Long), an toàn giao thông vào ban đêm trong trường học, chú trọng cung cấp kỹ năng tham gia giao thông an toàn cho các em học sinh;
- Tăng cường các nội dung giáo dục bằng hình ảnh trực quan, sinh động và lồng ghép trong các sinh hoạt ngoại khóa của nhà trường;
- Tiến hành tuyên truyền cho học sinh vào buổi chào cờ đầu tuần;
- Hàng ngày, trước khi tan học, giáo viên giành 2 ÷ 3 phút nhắc nhở các em học sinh chấp hành các quy định về trật tự, an toàn giao thông, đặc biệt không tụ tập ở lòng đường, không đi xe đạp thành hàng 2, hàng 3..., không đi ngược chiều, đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên xe gắn máy; in các nội dung tuyên truyền về an toàn giao thông vào vở của học sinh.
2. Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
- Lực lượng nòng cốt là Cảnh sát giao thông, Công an xã phối hợp với dân phòng, dân quân và các tổ chức đoàn thể như Đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh...tập trung tuần tra, kiểm soát và xử phạt vi phạm trật tự an toàn giao thông trên các tuyến đường giao thông nông thôn tại các giao cắt, các khu dân cư, thị trấn, thị tứ, các khu công nghiệp, khu chế xuất, trường học vào các giờ cao điểm, tan tầm và đặc biệt vào các ngày lễ (ngày 30/4 và 1/5, ngày 2/9...), ngày tết, các ngày hội ở địa phương theo các chủ đề về đội mũ bảo hiểm, chở quá số người theo quy định, vi phạm quy định về nồng độ cồn và chạy quá tốc độ quy định.
- Xây dựng Tổ tuần tra, kiểm soát và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông theo thẩm quyền quy định tại mỗi xã với lực lượng nòng cốt là Công an xã, dân phòng, dân quân và các tổ chức đoàn thể nhằm thực hiện tuần tra, kiểm soát và xử phạt vi phạm trên các đường xã, đường thôn, xóm, tập trung xử lý các trường hợp không đội mũ bảo hiểm, chở quá số người theo quy định, và các hành vi lấn chiếm hành lang an toàn giao thông.
- Tăng cường kiểm tra, xử phạt vi phạm giao thông đường thủy nội địa, đặc biệt ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng.
Quản lý nhà nước
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về trật tự, an toàn giao thông nông thôn.
- Ban hành hướng dẫn và thiết kế định hình các loại dầm cầu, cầu treo, các thiết kế điển hình về các loại kết cấu mặt đường phù hợp với đặc điểm của từng vùng, miền trong cả nước.
- Bổ sung tiêu chí về an toàn giao thông nông thôn vào Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới; bổ sung an toàn giao thông nông thôn là một tiêu chí đánh giá xếp loại danh hiệu Gia đình văn hóa, Khu dân cư văn hóa, Thôn văn hóa ... trong Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
- Thực hiện Quyết định số 13/2015/QĐ-TTg ngày 05 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt.
- Thực hiện Quyết định số 12/2015/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách thu hút xã hội hóa đầu tư và khai thác bến xe khách.
- Xây dựng và ban hành cơ chế bổ sung kinh phí từ ngân sách huyện và xã cho các hoạt động về tuyên truyền, phổ biến pháp luật, tuần tra, xử lý vi phạm trong các đợt cao điểm như ngày lễ, ngày tết và các ngày hội của địa phương.
- Xây dựng và ban hành cơ chế phối hợp giữa cấp ủy, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức tôn giáo, già làng, trưởng bản và gắn trách nhiệm của người đứng trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông nông thôn.
- Có chính sách khen thưởng định kỳ (hàng quý, 6 tháng và tổng kết hàng năm) hoặc đột xuất đối với tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông nông thôn và nhân rộng các mô hình điển hình tiên tiến.
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu tai nạn giao thông tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.