Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 268/QĐ-UBND 2022 Chương trình phát triển thủy sản Quảng Ngãi đến 2030

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "28/03/2022", "sign_number": "268/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Văn Minh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "28/03/2022", "sign_number": "268/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Văn Minh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "28/03/2022", "sign_number": "268/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Văn Minh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "28/03/2022", "sign_number": "268/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Văn Minh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "28/03/2022", "sign_number": "268/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Văn Minh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 268/QĐ-UBND 2022 Chương trình phát triển thủy sản Quảng Ngãi đến 2030

Điều 1. Phê duyệt Chương trình phát triển thủy sản tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (gọi tắt là Chương trình), với các nội dung sau:
...
4. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, tăng cường nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ, ưu tiên và khuyến khích phát triển sản xuất thủy sản hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, chuyển đổi số. Quá trình thực hiện, luôn luôn quán triệt quan điểm phát triển thủy sản đi đối với bảo vệ môi trường sinh thái bền vững.
II. Mục tiêu, chỉ tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
1. Mục tiêu đến năm 2030
1.1. Mục tiêu chung:
- Khai thác tiềm năng, lợi thế phát triển bền vững toàn diện các lĩnh vực sản xuất khai thác, nuôi trồng, chế biến và xây dựng kết cấu hạ tầng nghề cá theo hướng bền vững cả về kinh tế, xã hội, môi trường, phấn đấu trở thành ngành sản xuất hàng hóa mạnh có cơ cấu và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo đạt được các chỉ tiêu về phát triển bền vững kinh tế biển theo quy định của Trung ương.
- Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, phòng chống thiên tai nhằm giảm thiểu rủi ro trong sản xuất thủy sản; Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng ngư dân và những người lao động thủy sản, từng bước nâng cao thu nhập và mức sống của ngư dân, góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc phòng trên các vùng biển và hải đảo.
1.2. Mục tiêu cụ thể:
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất thủy sản bình quân từ 5-6%/năm.
- Giá trị sản xuất thủy sản đạt 9.056 tỷ đồng. Giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 25 triệu USD.
- Tổng sản lượng thủy sản đạt 275.000 tấn.
- Về khai thác thủy sản:
+ Sản lượng khai thác thủy sản ở mức 260.000 tấn/năm; số lượng tàu thuyền khai thác đến năm 2030 giảm còn dưới 4.500 chiếc. Cơ cấu tàu thuyền khai thác theo hướng giảm dần tàu có chiều dài dưới 15 mét khai thác vùng biển ven bờ và vùng lộng. Tiếp tục giảm tỷ lệ nghề lưới kéo xuống dưới 25%, khuyến khích chuyển đổi sang các nghề khai thác thân thiện với môi trường. Chú trọng nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm thủy sản khai thác, 100% tàu thuyền có chiều dài từ 15m trở lên được lắp thiết bị giám sát hành trình.
- Nuôi trồng thủy sản:
+ Diện tích nuôi trồng thủy sản phấn đấu đến năm 2030 đạt 2.030 ha nuôi nước lợ, ngọt. Trong đó nuôi lợ 930 ha (gồm nuôi trên cát 300 ha, nuôi vùng triều 630 ha), nuôi nước ngọt 1.100 ha và 200.000m3 lồng nuôi mặn (khoảng hơn 2.000 lồng nuôi) trên biển. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng dần khoảng 3-4%/năm, phấn đấu đến năm 2030 đạt 15.000 tấn, trong đó trong đó nuôi nước lợ 12.000 tấn (trong đó tôm nước lợ 9.000 tấn), cá nước ngọt 2.000 tấn, nuôi biển 1.000 tấn;
- Chế biến thủy sản:
+ Tổng công suất nhà máy chế biến thủy sản đến năm 2030 đạt 30.000 tấn; sản lượng sản phẩm thủy sản chế biến khoảng 23.000 tấn, xuất khẩu thủy sản đạt 25 triệu USD;
- Xây dựng hình thành 1 - 2 chuỗi liên kết sản xuất khai thác, nuôi trồng - chế biến - tiêu thụ sản phẩm thủy sản.
- Phấn đấu 100% các cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và đảm bảo đúng các quy định của nhà nước về sản xuất kinh doanh thủy sản.
2. Một số chỉ tiêu thực hiện đến năm 2030 (có Phụ lục I kèm theo)
3. Tầm nhìn đến năm 2045
Đến năm 2030, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi có bước phát triển với mức độ khá cao, nhiều dự án, công trình lớn của tỉnh đã cơ bản hoàn thành và đi vào hoạt động, sản xuất kinh doanh của ngành thủy sản đi vào ổn định và phát triển, có điều kiện thúc đẩy ngành thủy sản phát triển toàn diện, bền vững hơn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong giai đoạn đến năm 2030.
Định hướng đến năm 2045, giá trị sản xuất toàn ngành tăng lên gấp 2 lần so với năm 2022, tăng gấp 1,5 lần so với năm 2030. Cơ cấu giá trị sản xuất trong ngành có sự chuyển biến tích cực, theo hướng giảm tỷ trọng khai thác, tăng tỷ trọng nuôi trồng, giá trị sản xuất toàn ngành thủy sản chiếm tỷ trọng đáng kể trong ngành nông nghiệp nói riêng và trong nền kinh tế của tỉnh nói chung. Phấn đấu đến năm 2045 đưa kinh tế biển và vùng ven biển, hải đảo, trung du, miền núi phát triển mạnh, giữ vị trí, vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh; hướng đến phát triển kinh tế thủy sản nhanh và bền vững là mục tiêu hàng đầu và xuyên suốt của tỉnh nhà.
Tiếp tục phát triển khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản theo hướng bền vững, hiện đại, bảo vệ nguồn lợi và môi trường sinh thái, chú trọng phát triển chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng và tăng thu nhập cho người dân. Tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp các Cảng cá, khu neo đậu trú bão cho tàu cá trên địa bàn tỉnh theo Quy hoạch hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
III. Định hướng phát triển theo lĩnh vực
1. Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
- Điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản và môi trường sống của các loài thủy sản theo quy định của Luật Thủy sản 2017. Cập nhật vào hệ thống cơ sở dữ liệu nguồn lợi thủy sản. Thiết lập các khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, phục hồi các hệ sinh thái.
- Bảo vệ môi trường sống của các loài thủy sản; Định kỳ thả bổ sung, tái tạo các giống loài thủy sản có giá trị kinh tế, khoa học, loài thủy sản bản địa, loài thủy sản đặc hữu vào vùng nước tự nhiên, hồ chứa, đầm phá vùng ven biển và vùng biển. Huy động các nguồn lực tài chính tham gia, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền sâu rộng bằng nhiều hình thức đến các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trong lĩnh khai thác thủy sản.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của Khu Bảo tồn biển Lý Sơn. Quan tâm bảo vệ các khu vực tập trung sinh sản, khu vực thủy sản còn non sinh sống và đường di cư của loài thủy sản. Bảo tồn, bảo vệ môi trường sống các loài thủy sản, các rạn san hô ở khu vực biển Gành Yến, xã Bình Hải; vùng biển Châu Me, xã Phổ Châu gắn với du lịch sinh thái và nông thôn mới.
- Tăng cường thực hiện đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản, giao quyền quản lý cho tổ chức cộng đồng trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản đối với vùng biển ven bờ, vùng nước nội địa.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm ngăn chặn các hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định. Đầu tư đóng mới tàu kiểm ngư phục vụ công tác tuần tra bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
2. Khai thác thủy sản
- Tổ chức lại hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững, hiệu quả trên cơ sở giảm số lượng tàu cá, giảm cường lực khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác tại các vùng biển xa bờ và viễn dương phù hợp với trữ lượng nguồn lợi thủy sản từng vùng biển và khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển.
- Chuyển đổi cơ cấu nghề khai thác hợp lý, giảm thiểu tới chấm dứt các nghề khai thác có tính hủy diệt nguồn lợi thủy sản, chuyển đổi các nghề xâm hại lớn đến nguồn lợi, sử dụng nhiều nhiên liệu sang các các nghề khai thác thân thiện với môi trường và nguồn lợi thủy sản.
- Thực hiện quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm, chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.
- Quản lý chặt chẽ hoạt động đánh bắt thông qua hệ thống giám sát tàu cá, thực hiện cấp phép khai thác trên cơ sở hạn ngạch giấy phép khai thác thủy sản, kiểm soát ngư cụ, công cụ khai thác. Đẩy mạnh tuyên truyền hướng dẫn chủ tàu cá triển khai lắp đặt thiết bị giám sát hành trình tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15 mét trở lên để quản lý hoạt động của tàu cá trên biển.
- Củng cố, phát triển các hợp tác xã dịch vụ, tổ hợp tác, nghiệp đoàn nghề cá, tổ đội sản xuất; doanh nghiệp khai thác hải sản xa bờ, khai thác viễn dương.
- Tiếp tục tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ thuyền trưởng, máy trưởng và thuyền viên nâng cao trình độ ứng dụng quy trình kỹ thuật và trang thiết bị đánh bắt tiên tiến, ứng dụng kỹ thuật khoa học công nghệ tiên tiến trong khai thác, bảo quản sản phẩm sau khai thác, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm sau thu hoạch; đảm bảo an toàn thực phẩm cho tàu cá, điều kiện sống và làm việc của thuyền viên phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế.
- Hiện đại hóa công tác quản lý nghề cá trên biển nhằm chủ động cảnh báo, kịp thời ứng phó với các sự cố, rủi ro, thiên tai trên biển. Đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động trên biển, tham gia hiệu quả công tác hỗ trợ tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
3. Nuôi trồng thủy sản
- Phát triển nuôi trồng thủy sản trên các loại mặt nước lợ, mặn, ngọt phù hợp với từng vùng sinh thái, gắn với bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Chú trọng đa dạng hóa các đối tượng nuôi và hình thức nuôi. Tận dụng tiềm năng mặt nước phát triển nuôi trong các vùng rừng ngập mặn, các hồ chứa, hồ thủy điện, thủy lợi, sông lớn trong tỉnh.
- Xác định tôm nước lợ là đối tượng nuôi chủ lực của tỉnh. Tập trung các giải pháp nhằm hạn chế dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, nâng cao năng suất thủy sản nuôi như: đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu, trang thiết bị hiện đại, nâng cấp hạ tầng vùng nuôi tập trung, đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải vùng nuôi tập trung, đầu tư đường điện vùng nuôi, tăng cường dụng tiến bộ khoa học trong nuôi trồng thủy sản gắn bảo vệ môi trường và hạn chế nguy cơ dịch bệnh
- Chú trọng phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển thành một lĩnh vực sản xuất hàng hóa; khuyến khích người nuôi và thu hút các cá nhân, doanh nghiệp đầu tư nuôi thủy sản trên biển theo hướng công nghiệp hiện đại, ứng dụng kỹ thuật nuôi tiên tiến với các đối tượng có giá trị kinh tế.
- Duy trì và phát triển nuôi các loài thủy sản truyền thống, cá bản địa ở các vùng nông thôn, trung du, miền núi có điều kiện sinh thái phù hợp với các hình thức nuôi đa dạng. Tận dụng mặt nước các vùng rừng ngập mặn, đẩy mạnh hình thức nuôi lồng, bè các đối tượng thủy sản nước ngọt tại các hồ chứa, hồ thủy điện, thủy lợi, sông lớn trong tỉnh để phát triển nuôi trồng các đối tượng thủy sản phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương
- Chú trọng công tác phát triển sản xuất giống thủy sản chất lượng gắn với các đối tượng nuôi chủ lực, có giá trị kinh tế; Áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất giống, chủ động sản xuất các con giống chủ đạo của địa phương.
- Khuyến khích phát triển các mô hình nuôi ứng dụng khoa học công nghệ mới, tiên tiến, thân thiện môi trường, đảm bảo điều kiện an toàn thực phẩm; các mô hình nuôi hữu cơ, nuôi sinh thái, áp dụng các quy trình thực hành nuôi tốt (GAP), nuôi có trách nhiệm (CoC) để nâng cao giá trị và phát triển bền vững. Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người nuôi tự giác thực hiện các thủ tục hành chính lĩnh vực nuôi trồng thủy sản theo quy định.
- Nâng cao năng lực quản lý và sản xuất nuôi trồng thủy sản theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong quản lý, giám sát việc sản xuất, ương dưỡng, kinh doanh giống thủy sản; việc kinh doanh thức ăn, hóa chất, sản phẩm xử lý môi trường trong nuôi trồng thủy sản.
- Khuyến khích liên doanh, liên kết theo chuỗi từ việc sản xuất giống, nuôi trồng, khai thác, thu mua, chế biến, tiêu thụ thủy sản theo chuỗi giá trị.
4. Chế biến và thương mại thủy sản
- Đẩy mạnh đầu tư chế biến, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng tăng tỷ trọng chế biến sâu, chế biến tinh, nâng cao chất lượng và tỷ trọng các sản phẩm có giá trị tăng cao. Khuyến khích đầu tư các cơ sở chế biến sản xuất các sản phẩm giá trị gia tăng.
- Tập trung củng cố các cơ sở chế biến đang có, có giải pháp xử lý triệt để các vấn đề về môi trường trước khi thải nước thải ra môi trường. Khuyến khích phát triển các kho lạnh trữ sản phẩm thủy sản, không cho phép đầu tư các cơ sở chế biến thủy sản ở cảng cá.
- Phát triển công nghệ chế biến thủy sản, nhất là chế biến các sản phẩm xuất khẩu; khôi phục và phát triển các nghề chế biến thủy sản truyền thống, sản xuất đặc sản biển, giải quyết việc làm và thu nhập cho người dân.
- Tăng cường nghiên cứu, đầu tư, áp dụng công nghệ tiên tiến trong chế biến để nâng cao năng suất lao động, nâng cao tỷ trọng các sản phẩm giá trị gia tăng, nâng cao chất lượng sản phẩm và đảm bảo an toàn thực phẩm.
- Tạo điều kiện thúc đẩy mở rộng liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp và đối tác trong và ngoài tỉnh; tổ chức hiệp hội doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh để liên kết, hợp tác kinh doanh sản xuất.
- Tăng cường công tác quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm thủy sản, đảm bảo chất lượng và uy tín sản phẩm trên thị trường. Khuyến khích và hỗ trợ các cơ sở chế biến áp dụng quy trình, hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như: ISO, HACCP, GMP...
- Tổ chức sản xuất thủy sản tuần hoàn theo chuỗi giá trị sản phẩm. Thực hiện việc truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu các sản phẩm thủy sản, nhất là các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao của tỉnh. Hình thành hệ thống kênh phân phối sản phẩm thủy sản trong và ngoài tỉnh.

Content:
Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, tăng cường nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ, ưu tiên và khuyến khích phát triển sản xuất thủy sản hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, chuyển đổi số. Quá trình thực hiện, luôn luôn quán triệt quan điểm phát triển thủy sản đi đối với bảo vệ môi trường sinh thái bền vững.
II. Mục tiêu, chỉ tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
1. Mục tiêu đến năm 2030
1.1. Mục tiêu chung:
- Khai thác tiềm năng, lợi thế phát triển bền vững toàn diện các lĩnh vực sản xuất khai thác, nuôi trồng, chế biến và xây dựng kết cấu hạ tầng nghề cá theo hướng bền vững cả về kinh tế, xã hội, môi trường, phấn đấu trở thành ngành sản xuất hàng hóa mạnh có cơ cấu và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo đạt được các chỉ tiêu về phát triển bền vững kinh tế biển theo quy định của Trung ương.
- Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, phòng chống thiên tai nhằm giảm thiểu rủi ro trong sản xuất thủy sản; Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng ngư dân và những người lao động thủy sản, từng bước nâng cao thu nhập và mức sống của ngư dân, góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc phòng trên các vùng biển và hải đảo.
1.2. Mục tiêu cụ thể:
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất thủy sản bình quân từ 5-6%/năm.
- Giá trị sản xuất thủy sản đạt 9.056 tỷ đồng. Giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 25 triệu USD.
- Tổng sản lượng thủy sản đạt 275.000 tấn.
- Về khai thác thủy sản:
+ Sản lượng khai thác thủy sản ở mức 260.000 tấn/năm; số lượng tàu thuyền khai thác đến năm 2030 giảm còn dưới 4.500 chiếc. Cơ cấu tàu thuyền khai thác theo hướng giảm dần tàu có chiều dài dưới 15 mét khai thác vùng biển ven bờ và vùng lộng. Tiếp tục giảm tỷ lệ nghề lưới kéo xuống dưới 25%, khuyến khích chuyển đổi sang các nghề khai thác thân thiện với môi trường. Chú trọng nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm thủy sản khai thác, 100% tàu thuyền có chiều dài từ 15m trở lên được lắp thiết bị giám sát hành trình.
- Nuôi trồng thủy sản:
+ Diện tích nuôi trồng thủy sản phấn đấu đến năm 2030 đạt 2.030 ha nuôi nước lợ, ngọt. Trong đó nuôi lợ 930 ha (gồm nuôi trên cát 300 ha, nuôi vùng triều 630 ha), nuôi nước ngọt 1.100 ha và 200.000m3 lồng nuôi mặn (khoảng hơn 2.000 lồng nuôi) trên biển. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng dần khoảng 3-4%/năm, phấn đấu đến năm 2030 đạt 15.000 tấn, trong đó trong đó nuôi nước lợ 12.000 tấn (trong đó tôm nước lợ 9.000 tấn), cá nước ngọt 2.000 tấn, nuôi biển 1.000 tấn;
- Chế biến thủy sản:
+ Tổng công suất nhà máy chế biến thủy sản đến năm 2030 đạt 30.000 tấn; sản lượng sản phẩm thủy sản chế biến khoảng 23.000 tấn, xuất khẩu thủy sản đạt 25 triệu USD;
- Xây dựng hình thành 1 - 2 chuỗi liên kết sản xuất khai thác, nuôi trồng - chế biến - tiêu thụ sản phẩm thủy sản.
- Phấn đấu 100% các cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và đảm bảo đúng các quy định của nhà nước về sản xuất kinh doanh thủy sản.
2. Một số chỉ tiêu thực hiện đến năm 2030 (có Phụ lục I kèm theo)
3. Tầm nhìn đến năm 2045
Đến năm 2030, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi có bước phát triển với mức độ khá cao, nhiều dự án, công trình lớn của tỉnh đã cơ bản hoàn thành và đi vào hoạt động, sản xuất kinh doanh của ngành thủy sản đi vào ổn định và phát triển, có điều kiện thúc đẩy ngành thủy sản phát triển toàn diện, bền vững hơn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong giai đoạn đến năm 2030.
Định hướng đến năm 2045, giá trị sản xuất toàn ngành tăng lên gấp 2 lần so với năm 2022, tăng gấp 1,5 lần so với năm 2030. Cơ cấu giá trị sản xuất trong ngành có sự chuyển biến tích cực, theo hướng giảm tỷ trọng khai thác, tăng tỷ trọng nuôi trồng, giá trị sản xuất toàn ngành thủy sản chiếm tỷ trọng đáng kể trong ngành nông nghiệp nói riêng và trong nền kinh tế của tỉnh nói chung. Phấn đấu đến năm 2045 đưa kinh tế biển và vùng ven biển, hải đảo, trung du, miền núi phát triển mạnh, giữ vị trí, vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh; hướng đến phát triển kinh tế thủy sản nhanh và bền vững là mục tiêu hàng đầu và xuyên suốt của tỉnh nhà.
Tiếp tục phát triển khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản theo hướng bền vững, hiện đại, bảo vệ nguồn lợi và môi trường sinh thái, chú trọng phát triển chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng và tăng thu nhập cho người dân. Tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp các Cảng cá, khu neo đậu trú bão cho tàu cá trên địa bàn tỉnh theo Quy hoạch hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
III. Định hướng phát triển theo lĩnh vực
1. Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
- Điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản và môi trường sống của các loài thủy sản theo quy định của Luật Thủy sản 2017. Cập nhật vào hệ thống cơ sở dữ liệu nguồn lợi thủy sản. Thiết lập các khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, phục hồi các hệ sinh thái.
- Bảo vệ môi trường sống của các loài thủy sản; Định kỳ thả bổ sung, tái tạo các giống loài thủy sản có giá trị kinh tế, khoa học, loài thủy sản bản địa, loài thủy sản đặc hữu vào vùng nước tự nhiên, hồ chứa, đầm phá vùng ven biển và vùng biển. Huy động các nguồn lực tài chính tham gia, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền sâu rộng bằng nhiều hình thức đến các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trong lĩnh khai thác thủy sản.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của Khu Bảo tồn biển Lý Sơn. Quan tâm bảo vệ các khu vực tập trung sinh sản, khu vực thủy sản còn non sinh sống và đường di cư của loài thủy sản. Bảo tồn, bảo vệ môi trường sống các loài thủy sản, các rạn san hô ở khu vực biển Gành Yến, xã Bình Hải; vùng biển Châu Me, xã Phổ Châu gắn với du lịch sinh thái và nông thôn mới.
- Tăng cường thực hiện đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản, giao quyền quản lý cho tổ chức cộng đồng trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản đối với vùng biển ven bờ, vùng nước nội địa.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm ngăn chặn các hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định. Đầu tư đóng mới tàu kiểm ngư phục vụ công tác tuần tra bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
2. Khai thác thủy sản
- Tổ chức lại hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững, hiệu quả trên cơ sở giảm số lượng tàu cá, giảm cường lực khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác tại các vùng biển xa bờ và viễn dương phù hợp với trữ lượng nguồn lợi thủy sản từng vùng biển và khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển.
- Chuyển đổi cơ cấu nghề khai thác hợp lý, giảm thiểu tới chấm dứt các nghề khai thác có tính hủy diệt nguồn lợi thủy sản, chuyển đổi các nghề xâm hại lớn đến nguồn lợi, sử dụng nhiều nhiên liệu sang các các nghề khai thác thân thiện với môi trường và nguồn lợi thủy sản.
- Thực hiện quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm, chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.
- Quản lý chặt chẽ hoạt động đánh bắt thông qua hệ thống giám sát tàu cá, thực hiện cấp phép khai thác trên cơ sở hạn ngạch giấy phép khai thác thủy sản, kiểm soát ngư cụ, công cụ khai thác. Đẩy mạnh tuyên truyền hướng dẫn chủ tàu cá triển khai lắp đặt thiết bị giám sát hành trình tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15 mét trở lên để quản lý hoạt động của tàu cá trên biển.
- Củng cố, phát triển các hợp tác xã dịch vụ, tổ hợp tác, nghiệp đoàn nghề cá, tổ đội sản xuất; doanh nghiệp khai thác hải sản xa bờ, khai thác viễn dương.
- Tiếp tục tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ thuyền trưởng, máy trưởng và thuyền viên nâng cao trình độ ứng dụng quy trình kỹ thuật và trang thiết bị đánh bắt tiên tiến, ứng dụng kỹ thuật khoa học công nghệ tiên tiến trong khai thác, bảo quản sản phẩm sau khai thác, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm sau thu hoạch; đảm bảo an toàn thực phẩm cho tàu cá, điều kiện sống và làm việc của thuyền viên phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế.
- Hiện đại hóa công tác quản lý nghề cá trên biển nhằm chủ động cảnh báo, kịp thời ứng phó với các sự cố, rủi ro, thiên tai trên biển. Đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động trên biển, tham gia hiệu quả công tác hỗ trợ tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
3. Nuôi trồng thủy sản
- Phát triển nuôi trồng thủy sản trên các loại mặt nước lợ, mặn, ngọt phù hợp với từng vùng sinh thái, gắn với bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Chú trọng đa dạng hóa các đối tượng nuôi và hình thức nuôi. Tận dụng tiềm năng mặt nước phát triển nuôi trong các vùng rừng ngập mặn, các hồ chứa, hồ thủy điện, thủy lợi, sông lớn trong tỉnh.
- Xác định tôm nước lợ là đối tượng nuôi chủ lực của tỉnh. Tập trung các giải pháp nhằm hạn chế dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, nâng cao năng suất thủy sản nuôi như: đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu, trang thiết bị hiện đại, nâng cấp hạ tầng vùng nuôi tập trung, đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải vùng nuôi tập trung, đầu tư đường điện vùng nuôi, tăng cường dụng tiến bộ khoa học trong nuôi trồng thủy sản gắn bảo vệ môi trường và hạn chế nguy cơ dịch bệnh
- Chú trọng phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển thành một lĩnh vực sản xuất hàng hóa; khuyến khích người nuôi và thu hút các cá nhân, doanh nghiệp đầu tư nuôi thủy sản trên biển theo hướng công nghiệp hiện đại, ứng dụng kỹ thuật nuôi tiên tiến với các đối tượng có giá trị kinh tế.
- Duy trì và phát triển nuôi các loài thủy sản truyền thống, cá bản địa ở các vùng nông thôn, trung du, miền núi có điều kiện sinh thái phù hợp với các hình thức nuôi đa dạng. Tận dụng mặt nước các vùng rừng ngập mặn, đẩy mạnh hình thức nuôi lồng, bè các đối tượng thủy sản nước ngọt tại các hồ chứa, hồ thủy điện, thủy lợi, sông lớn trong tỉnh để phát triển nuôi trồng các đối tượng thủy sản phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương
- Chú trọng công tác phát triển sản xuất giống thủy sản chất lượng gắn với các đối tượng nuôi chủ lực, có giá trị kinh tế; Áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất giống, chủ động sản xuất các con giống chủ đạo của địa phương.
- Khuyến khích phát triển các mô hình nuôi ứng dụng khoa học công nghệ mới, tiên tiến, thân thiện môi trường, đảm bảo điều kiện an toàn thực phẩm; các mô hình nuôi hữu cơ, nuôi sinh thái, áp dụng các quy trình thực hành nuôi tốt (GAP), nuôi có trách nhiệm (CoC) để nâng cao giá trị và phát triển bền vững. Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người nuôi tự giác thực hiện các thủ tục hành chính lĩnh vực nuôi trồng thủy sản theo quy định.
- Nâng cao năng lực quản lý và sản xuất nuôi trồng thủy sản theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong quản lý, giám sát việc sản xuất, ương dưỡng, kinh doanh giống thủy sản; việc kinh doanh thức ăn, hóa chất, sản phẩm xử lý môi trường trong nuôi trồng thủy sản.
- Khuyến khích liên doanh, liên kết theo chuỗi từ việc sản xuất giống, nuôi trồng, khai thác, thu mua, chế biến, tiêu thụ thủy sản theo chuỗi giá trị.
Chế biến và thương mại thủy sản
- Đẩy mạnh đầu tư chế biến, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng tăng tỷ trọng chế biến sâu, chế biến tinh, nâng cao chất lượng và tỷ trọng các sản phẩm có giá trị tăng cao. Khuyến khích đầu tư các cơ sở chế biến sản xuất các sản phẩm giá trị gia tăng.
- Tập trung củng cố các cơ sở chế biến đang có, có giải pháp xử lý triệt để các vấn đề về môi trường trước khi thải nước thải ra môi trường. Khuyến khích phát triển các kho lạnh trữ sản phẩm thủy sản, không cho phép đầu tư các cơ sở chế biến thủy sản ở cảng cá.
- Phát triển công nghệ chế biến thủy sản, nhất là chế biến các sản phẩm xuất khẩu; khôi phục và phát triển các nghề chế biến thủy sản truyền thống, sản xuất đặc sản biển, giải quyết việc làm và thu nhập cho người dân.
- Tăng cường nghiên cứu, đầu tư, áp dụng công nghệ tiên tiến trong chế biến để nâng cao năng suất lao động, nâng cao tỷ trọng các sản phẩm giá trị gia tăng, nâng cao chất lượng sản phẩm và đảm bảo an toàn thực phẩm.
- Tạo điều kiện thúc đẩy mở rộng liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp và đối tác trong và ngoài tỉnh; tổ chức hiệp hội doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh để liên kết, hợp tác kinh doanh sản xuất.
- Tăng cường công tác quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm thủy sản, đảm bảo chất lượng và uy tín sản phẩm trên thị trường. Khuyến khích và hỗ trợ các cơ sở chế biến áp dụng quy trình, hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như: ISO, HACCP, GMP...
- Tổ chức sản xuất thủy sản tuần hoàn theo chuỗi giá trị sản phẩm. Thực hiện việc truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu các sản phẩm thủy sản, nhất là các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao của tỉnh. Hình thành hệ thống kênh phân phối sản phẩm thủy sản trong và ngoài tỉnh.