Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 807/QĐ-UBND năm 2006 điều chỉnh bổ sung quy hoạch cấp nước

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "17/11/2006", "sign_number": "807/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Hoàng Hà", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "17/11/2006", "sign_number": "807/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Hoàng Hà", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "17/11/2006", "sign_number": "807/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Hoàng Hà", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "17/11/2006", "sign_number": "807/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Hoàng Hà", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "17/11/2006", "sign_number": "807/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Hoàng Hà", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 807/QĐ-UBND năm 2006 điều chỉnh bổ sung quy hoạch cấp nước

Điều 1. Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch cấp nước (thủy lợi) tỉnh Bình Định với những nội dung chủ yếu sau:
...
4. Nhiệm vụ chủ yếu và các giải pháp chính:
4.1. Nhiệm vụ chủ yếu:
Phối hợp với các huyện, thành phố rà soát và xác định quy hoạch phát triển cây trồng, vật nuôi của từng địa phương, trong đó tập trung vào chuyển đổi cơ cấu sản xuất phù hợp với quy hoạch thủy lợi.
Sửa chữa, nâng cấp và xây dựng mới một số công trình nhằm đáp ứng đủ nhu cầu nước cho nông nghiệp và các ngành kinh tế - dân sinh, trong đó có quản lý thiên tai và phát triển nguồn nước trên cơ sở phù hợp với chiến lược phát triển của các huyện, thành phố.
Trên cơ sở quy hoạch phát triển thủy lợi, tiến hành giải quyết các vấn đề then chốt như bảo đảm an toàn các công trình trong khai thác và phòng chống lũ lụt, kiểm soát lũ, kiểm soát tưới, tiêu úng và phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất nhằm đáp ứng mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội.
Ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ để nâng cao hiệu quả trong quản lý và sử dụng tài nguyên nước.
Kiên cố hóa kênh mương.
4.2. Những giải pháp chính:
a. Vùng lưu vực sông Lại Giang:
Vùng lưu vực sông Lại Giang gồm 4 tiểu vùng là Tiểu vùng sông An Lão, Tiểu vùng lưu vực sông Kim Sơn, Tiểu vùng Bắc sông Lại Giang và Tiểu vùng Nam sông Lại Giang. Phương án quy hoạch cấp n­ước cho các tiểu vùng là sửa chữa, nâng cấp công trình đã có, kiên cố hóa kênh mương và chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm đảm bảo các công trình tưới hết diện tích theo năng lực thiết kế; đồng thời xây dựng mới một số công trình như sau:
- Tiểu vùng sông An Lão: Đảm bảo các công trình cũ tưới hết diện tích theo năng lực thiết kế 2.940ha (kể cả chuyển đổi cây trồng tăng 930ha). Có 11 công trình mới gồm 7 hồ chứa, 3 đập dâng và 1 trạm bơm để tưới cho khoảng 1.450ha canh tác. Trong đó, hồ Đồng Mít là công trình mấu chốt trong lưu vực làm nhiệm vụ cấp nước cho hạ lưu sông Lại Giang và tưới tại chỗ 250ha. Về lâu dài, khi kinh tế phát triển, cần xem xét đầu tư xây dựng hồ Nước Dinh để bổ sung nước cho hạ lưu sông Lại Giang và tưới tại chỗ 200ha. Tổng diện tích được tưới đến 2020 là 4.380ha. Còn 140ha (trừ 250ha đất nương rẫy) nằm cao và phân tán nên chuyển sang trồng cây chịu hạn.
- Tiểu vùng lưu vực sông Kim Sơn: Các công trình cũ tưới hết diện tích theo năng lực thiết kế 2.680ha; đầu t­ư xây dựng mới 16 công trình tưới 1.930ha canh tác. Tổng diện tích được tưới từ nay cho đến năm 2020 là 4.610ha đất canh tác. Diện tích đất canh tác còn lại 230ha (trừ 300 ha đất nương rẫy) nằm rải rác sẽ chuyển sang trồng cây có khả năng chịu hạn.
- Tiểu vùng Bắc sông Lại Giang: Bên cạnh các công trình cũ tưới hết diện tích theo năng lực thiết kế thì hệ thống đập Lại Giang được xác định lại diện tích khu tưới là 4.410ha canh tác (kể cả diện tích tưới của 3 trạm bơm: Hoài Xuân, Hoài Hương và Cầu Voi ở hạ lưu đập), do nguồn sông An Lão có hạn, chỉ tưới được 1.160ha. Diện tích còn lại cần bổ sung từ công trình tạo nguồn thượng lưu (hồ Đồng Mít). Đầu tư mới 3 công trình cấp nước cho 650ha đất canh tác và 50ha nuôi trồng thuỷ sản. Tổng diện tích được tưới năm 2020 là 6.600ha. Còn lại 110ha nằm rải rác, tưới bằng tiểu thủy nông hoặc chuyển sang trồng cây chịu hạn. Lượng nước còn thiếu khoảng 120 triệu m3 phải bổ sung từ công trình tạo nguồn ở thượng lưu (hồ Đồng Mít và hồ Nước Dinh).
- Tiểu vùng Nam sông Lại Giang: Sửa chữa, nâng cấp các công trình đã có tưới hết diện tích thiết kế lên đến 1.550ha. Đầu tư xây dựng mới 4 công trình tưới cho 450ha đất canh tác. Tổng diện tích được tưới năm 2020 là 2.000ha. Chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản gần 100ha.
b. Vùng Đầm Trà Ổ:
Phương án cấp n­ước cho vùng này là giữ nguyên hiện trạng đầm Trà Ổ như hiện nay để cấp nước ngọt; đầu tư nâng cấp, sửa chữa một số các công trình thủy lợi hiện có, tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm mở rộng diện tích tưới do chuyển đổi là 1.200ha. Đầu tư xây dựng 2 hồ chứa và 1 trạm bơm tưới thêm 400ha. Tổng diện tích tưới năm 2020 là 2.780ha. Còn khoảng 2.000ha canh tác chưa có nguồn nước thì chuyển sang trồng các loại cây chịu hạn. Bên cạnh đó, cần tiếp tục nghiên cứu khả năng chuyển nước cho lưu vực Trà Ổ từ phía Nam (lưu vực sông La Tinh).
c. Vùng Nam Bình Định:
Vùng Nam Bình Định có 6 tiểu vùng là Tiểu vùng Bắc sông La Tinh, Tiểu vùng Nam La Tinh - Bắc sông Kôn, Tiểu vùng Nam sông Kôn, Tiểu vùng lưu vực sông Hà Thanh, Tiểu vùng Vĩnh Thạnh và Tiểu vùng Tân An - Đập Đá.
- Tiểu vùng Bắc sông La Tinh: cũng là khu vực đặc biệt khó khăn về nguồn nước. Cần tận dụng nguồn nước sông La Tinh và các suối nhỏ để xây dựng các hồ chứa vừa, nhỏ; chuyển nước sông Kôn sang thông qua hệ thống kênh Văn Phong. Sửa chữa nâng cấp các công trình hiện có, kiên cố hóa kênh mương kết hợp với chuyển đổi cơ cấu cây trồng để đảm bảo tổng diện tích tưới ổn định 3.280ha. Hệ thống kênh Hội Sơn được nâng cấp sẽ tưới tổng cộng trên 1.000ha. Khoảng 2.900ha sử dụng nguồn nước của hồ Định Bình chuyển qua kênh Văn Phong bơm tưới. Một số công trình xây dựng mới khác tưới khoảng 100ha. Diện tích được tưới của tiểu vùng này năm 2020 là 7.917ha.
- Tiểu vùng Nam La Tinh - Bắc sông Kôn: phân làm 3 khu vực tưới nhỏ hơn, đã xây dựng được 60 công trình gồm 33 hồ chứa, 18 đập dâng và 9 trạm bơm đảm bảo tưới cho 6.360ha canh tác. Cùng với việc xây dựng mới các hồ Thuận Phong, Phú Dõng, Hệ thống Văn Phong, kiên cố hóa hệ thống kênh Hội Sơn, kênh Thuận Ninh sẽ bảo đảm tưới 17.100ha. Còn 950ha phải tưới bằng nguồn nước tại chỗ hoặc chuyển sang các cây trồng chịu hạn.
- Tiểu vùng Nam sông Kôn: Phương án cấp nước cho tiểu vùng này là sửa chữa và nâng cấp cho các công trình hồ chứa nước đảm bảo tưới theo thiết kế. Xây dựng kênh Thượng Sơn để dẫn nước sau thủy điện An Khê tưới 3.500ha. Xây dựng mới hồ Núi Tháp tưới cho 400ha. Đến năm 2020 tưới được 8.730ha. Diện tích còn lại 2.260ha (trong đó có 2.000ha thuộc khu tưới Núi Một) được giải quyết bằng biện pháp bơm tát cục bộ hoặc chuyển sang trồng cây chịu hạn.
- Tiểu vùng lưu vực sông Hà Thanh: Nâng cấp các công trình đã xây dựng để đảm bảo tưới hết diện tích thiết kế. Xây dựng một số hồ như hồ Đá Mài, hồ Long Mỹ 1, hồ Suối Chình, hồ Suối Chiếp, hồ Suối Bụt, hồ Canh Thịnh, hồ Canh Vinh, hồ Suối Đuốc, trạm bơm Phước Mỹ, tưới khoảng 2.270ha. Khoảng 1.500ha khu vực phía Nam được tưới bởi nguồn sông Kôn sau khi có hồ Định Bình. Năm 2020 diện tích tưới là 6.550ha canh tác. Còn khoảng 200ha (không kể 440ha đất nương rẫy) nằm rải rác chuyển sang trồng cây chịu hạn.
- Tiểu vùng Vĩnh Thạnh: Tu sửa, nâng cấp các công trình đã xây dựng. Xây dựng mới kênh N1 Định Bình tưới 1.320ha; làm xi-phông chuyển nước từ kênh N1 tưới cho 380 ha phía tả sông Kôn. Hồ Định Bình cấp nước tưới cho 13.360ha, tạo nguồn cho trạm bơm Phù Mỹ tưới 2.900ha, kênh sông Kôn - Hà Thanh tưới 1.500ha, ngoài ra còn bổ sung nước cho hệ thống Tân An Đập Đá tưới ổn định cho 14.020ha canh tác. Như vậy đến năm 2020, Tiểu vùng Vĩnh Thạnh được 2.430ha. Diện tích còn lại 240ha (đã trừ 340 ha đất nương rẫy) tưới bằng các công trình nhỏ hoặc chuyển trồng các cây chịu hạn.
- Tiểu vùng Tân An - Đập Đá: Nâng cấp để sử dụng lưu lượng cơ bản của sông Kôn và nguồn nước bổ sung của hồ Định Bình, nước xả của thủy điện An Khê. Tiếp tục bê tông hóa kênh mương để tưới ổn định cho 14.020ha.

Content:
Nhiệm vụ chủ yếu và các giải pháp chính:
4.1. Nhiệm vụ chủ yếu:
Phối hợp với các huyện, thành phố rà soát và xác định quy hoạch phát triển cây trồng, vật nuôi của từng địa phương, trong đó tập trung vào chuyển đổi cơ cấu sản xuất phù hợp với quy hoạch thủy lợi.
Sửa chữa, nâng cấp và xây dựng mới một số công trình nhằm đáp ứng đủ nhu cầu nước cho nông nghiệp và các ngành kinh tế - dân sinh, trong đó có quản lý thiên tai và phát triển nguồn nước trên cơ sở phù hợp với chiến lược phát triển của các huyện, thành phố.
Trên cơ sở quy hoạch phát triển thủy lợi, tiến hành giải quyết các vấn đề then chốt như bảo đảm an toàn các công trình trong khai thác và phòng chống lũ lụt, kiểm soát lũ, kiểm soát tưới, tiêu úng và phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất nhằm đáp ứng mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội.
Ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ để nâng cao hiệu quả trong quản lý và sử dụng tài nguyên nước.
Kiên cố hóa kênh mương.
4.2. Những giải pháp chính:
a. Vùng lưu vực sông Lại Giang:
Vùng lưu vực sông Lại Giang gồm 4 tiểu vùng là Tiểu vùng sông An Lão, Tiểu vùng lưu vực sông Kim Sơn, Tiểu vùng Bắc sông Lại Giang và Tiểu vùng Nam sông Lại Giang. Phương án quy hoạch cấp n­ước cho các tiểu vùng là sửa chữa, nâng cấp công trình đã có, kiên cố hóa kênh mương và chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm đảm bảo các công trình tưới hết diện tích theo năng lực thiết kế; đồng thời xây dựng mới một số công trình như sau:
- Tiểu vùng sông An Lão: Đảm bảo các công trình cũ tưới hết diện tích theo năng lực thiết kế 2.940ha (kể cả chuyển đổi cây trồng tăng 930ha). Có 11 công trình mới gồm 7 hồ chứa, 3 đập dâng và 1 trạm bơm để tưới cho khoảng 1.450ha canh tác. Trong đó, hồ Đồng Mít là công trình mấu chốt trong lưu vực làm nhiệm vụ cấp nước cho hạ lưu sông Lại Giang và tưới tại chỗ 250ha. Về lâu dài, khi kinh tế phát triển, cần xem xét đầu tư xây dựng hồ Nước Dinh để bổ sung nước cho hạ lưu sông Lại Giang và tưới tại chỗ 200ha. Tổng diện tích được tưới đến 2020 là 4.380ha. Còn 140ha (trừ 250ha đất nương rẫy) nằm cao và phân tán nên chuyển sang trồng cây chịu hạn.
- Tiểu vùng lưu vực sông Kim Sơn: Các công trình cũ tưới hết diện tích theo năng lực thiết kế 2.680ha; đầu t­ư xây dựng mới 16 công trình tưới 1.930ha canh tác. Tổng diện tích được tưới từ nay cho đến năm 2020 là 4.610ha đất canh tác. Diện tích đất canh tác còn lại 230ha (trừ 300 ha đất nương rẫy) nằm rải rác sẽ chuyển sang trồng cây có khả năng chịu hạn.
- Tiểu vùng Bắc sông Lại Giang: Bên cạnh các công trình cũ tưới hết diện tích theo năng lực thiết kế thì hệ thống đập Lại Giang được xác định lại diện tích khu tưới là 4.410ha canh tác (kể cả diện tích tưới của 3 trạm bơm: Hoài Xuân, Hoài Hương và Cầu Voi ở hạ lưu đập), do nguồn sông An Lão có hạn, chỉ tưới được 1.160ha. Diện tích còn lại cần bổ sung từ công trình tạo nguồn thượng lưu (hồ Đồng Mít). Đầu tư mới 3 công trình cấp nước cho 650ha đất canh tác và 50ha nuôi trồng thuỷ sản. Tổng diện tích được tưới năm 2020 là 6.600ha. Còn lại 110ha nằm rải rác, tưới bằng tiểu thủy nông hoặc chuyển sang trồng cây chịu hạn. Lượng nước còn thiếu khoảng 120 triệu m3 phải bổ sung từ công trình tạo nguồn ở thượng lưu (hồ Đồng Mít và hồ Nước Dinh).
- Tiểu vùng Nam sông Lại Giang: Sửa chữa, nâng cấp các công trình đã có tưới hết diện tích thiết kế lên đến 1.550ha. Đầu tư xây dựng mới 4 công trình tưới cho 450ha đất canh tác. Tổng diện tích được tưới năm 2020 là 2.000ha. Chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản gần 100ha.
b. Vùng Đầm Trà Ổ:
Phương án cấp n­ước cho vùng này là giữ nguyên hiện trạng đầm Trà Ổ như hiện nay để cấp nước ngọt; đầu tư nâng cấp, sửa chữa một số các công trình thủy lợi hiện có, tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm mở rộng diện tích tưới do chuyển đổi là 1.200ha. Đầu tư xây dựng 2 hồ chứa và 1 trạm bơm tưới thêm 400ha. Tổng diện tích tưới năm 2020 là 2.780ha. Còn khoảng 2.000ha canh tác chưa có nguồn nước thì chuyển sang trồng các loại cây chịu hạn. Bên cạnh đó, cần tiếp tục nghiên cứu khả năng chuyển nước cho lưu vực Trà Ổ từ phía Nam (lưu vực sông La Tinh).
c. Vùng Nam Bình Định:
Vùng Nam Bình Định có 6 tiểu vùng là Tiểu vùng Bắc sông La Tinh, Tiểu vùng Nam La Tinh - Bắc sông Kôn, Tiểu vùng Nam sông Kôn, Tiểu vùng lưu vực sông Hà Thanh, Tiểu vùng Vĩnh Thạnh và Tiểu vùng Tân An - Đập Đá.
- Tiểu vùng Bắc sông La Tinh: cũng là khu vực đặc biệt khó khăn về nguồn nước. Cần tận dụng nguồn nước sông La Tinh và các suối nhỏ để xây dựng các hồ chứa vừa, nhỏ; chuyển nước sông Kôn sang thông qua hệ thống kênh Văn Phong. Sửa chữa nâng cấp các công trình hiện có, kiên cố hóa kênh mương kết hợp với chuyển đổi cơ cấu cây trồng để đảm bảo tổng diện tích tưới ổn định 3.280ha. Hệ thống kênh Hội Sơn được nâng cấp sẽ tưới tổng cộng trên 1.000ha. Khoảng 2.900ha sử dụng nguồn nước của hồ Định Bình chuyển qua kênh Văn Phong bơm tưới. Một số công trình xây dựng mới khác tưới khoảng 100ha. Diện tích được tưới của tiểu vùng này năm 2020 là 7.917ha.
- Tiểu vùng Nam La Tinh - Bắc sông Kôn: phân làm 3 khu vực tưới nhỏ hơn, đã xây dựng được 60 công trình gồm 33 hồ chứa, 18 đập dâng và 9 trạm bơm đảm bảo tưới cho 6.360ha canh tác. Cùng với việc xây dựng mới các hồ Thuận Phong, Phú Dõng, Hệ thống Văn Phong, kiên cố hóa hệ thống kênh Hội Sơn, kênh Thuận Ninh sẽ bảo đảm tưới 17.100ha. Còn 950ha phải tưới bằng nguồn nước tại chỗ hoặc chuyển sang các cây trồng chịu hạn.
- Tiểu vùng Nam sông Kôn: Phương án cấp nước cho tiểu vùng này là sửa chữa và nâng cấp cho các công trình hồ chứa nước đảm bảo tưới theo thiết kế. Xây dựng kênh Thượng Sơn để dẫn nước sau thủy điện An Khê tưới 3.500ha. Xây dựng mới hồ Núi Tháp tưới cho 400ha. Đến năm 2020 tưới được 8.730ha. Diện tích còn lại 2.260ha (trong đó có 2.000ha thuộc khu tưới Núi Một) được giải quyết bằng biện pháp bơm tát cục bộ hoặc chuyển sang trồng cây chịu hạn.
- Tiểu vùng lưu vực sông Hà Thanh: Nâng cấp các công trình đã xây dựng để đảm bảo tưới hết diện tích thiết kế. Xây dựng một số hồ như hồ Đá Mài, hồ Long Mỹ 1, hồ Suối Chình, hồ Suối Chiếp, hồ Suối Bụt, hồ Canh Thịnh, hồ Canh Vinh, hồ Suối Đuốc, trạm bơm Phước Mỹ, tưới khoảng 2.270ha. Khoảng 1.500ha khu vực phía Nam được tưới bởi nguồn sông Kôn sau khi có hồ Định Bình. Năm 2020 diện tích tưới là 6.550ha canh tác. Còn khoảng 200ha (không kể 440ha đất nương rẫy) nằm rải rác chuyển sang trồng cây chịu hạn.
- Tiểu vùng Vĩnh Thạnh: Tu sửa, nâng cấp các công trình đã xây dựng. Xây dựng mới kênh N1 Định Bình tưới 1.320ha; làm xi-phông chuyển nước từ kênh N1 tưới cho 380 ha phía tả sông Kôn. Hồ Định Bình cấp nước tưới cho 13.360ha, tạo nguồn cho trạm bơm Phù Mỹ tưới 2.900ha, kênh sông Kôn - Hà Thanh tưới 1.500ha, ngoài ra còn bổ sung nước cho hệ thống Tân An Đập Đá tưới ổn định cho 14.020ha canh tác. Như vậy đến năm 2020, Tiểu vùng Vĩnh Thạnh được 2.430ha. Diện tích còn lại 240ha (đã trừ 340 ha đất nương rẫy) tưới bằng các công trình nhỏ hoặc chuyển trồng các cây chịu hạn.
- Tiểu vùng Tân An - Đập Đá: Nâng cấp để sử dụng lưu lượng cơ bản của sông Kôn và nguồn nước bổ sung của hồ Định Bình, nước xả của thủy điện An Khê. Tiếp tục bê tông hóa kênh mương để tưới ổn định cho 14.020ha.