Document: Điểm d Khoản 2 Điều 1 Quyết định số 731/QĐ-UBND 2013 phổ biến giáo dục pháp luật Hà Nam 2013 2016

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Nam", "promulgation_date": "10/07/2013", "sign_number": "731/QĐ-UBND", "signer": "Mai Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Nam", "promulgation_date": "10/07/2013", "sign_number": "731/QĐ-UBND", "signer": "Mai Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Nam", "promulgation_date": "10/07/2013", "sign_number": "731/QĐ-UBND", "signer": "Mai Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Nam", "promulgation_date": "10/07/2013", "sign_number": "731/QĐ-UBND", "signer": "Mai Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Nam", "promulgation_date": "10/07/2013", "sign_number": "731/QĐ-UBND", "signer": "Mai Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 2 Điều 1 Quyết định số 731/QĐ-UBND 2013 phổ biến giáo dục pháp luật Hà Nam 2013 2016

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2013-2016” bao gồm các nội dung sau đây:
...
2. Thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh.
2.1. Tổ chức cán bộ tham mưu về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
...
d) Ở Tổ dân phố, thôn, xóm:
Tổ chức hoạt động hòa giải cơ sở tại các xã, phường, thị trấn hiện có 1303 tổ hòa giải với 8.556 hoà giải viên (100% các thôn, xóm, tổ dân phố, khu phố đã thành lập Tổ hoà giải), mỗi tổ hòa giải gồm 3 đến 5 hòa giải viên do Trưởng ban Mặt trận hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn làm tổ trưởng. Thông qua hoạt động hòa giải đã góp phần giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ nhân dân.
2.Hình thức và phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật chủ yếu.
a) Tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt các cấp:
Giúp cho cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành nắm vững và vận dụng đúng đắn các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước vào thực tiễn công tác. Thời gian qua việc triển khai phương pháp này chưa kịp thời, thường xuyên. Mặt khác, hình thức này hạn chế đối tượng nếu không có các bước triển khai tiếp theo thì việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật vẫn không đến được với cán bộ, công chức và người dân.
b) Hình thức phổ biến trên các phương tiện thông tin tại xã, phường, thị trấn:
Phần lớn các xã, phường trên địa bàn tỉnh có điều kiện phát triển hệ thống truyền thanh nên phương pháp này đã phát huy được tác dụng. Còn ở một số xã do hệ thống truyền thanh còn hạn chế nên việc sử dụng phương pháp này chưa đạt hiệu quả.
c) Hoạt động trợ giúp pháp lý: Đây là hình thức tuyên truyền rất cơ động có thể áp dụng cho các xã xa trung tâm. Hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động chủ yếu tập trung vào việc giải đáp pháp luật tại chỗ cho nhân dân. Hiện nay mỗi huyện có từ 4 đến 6 cộng tác viên trợ giúp pháp lý, nhưng lực lượng cộng tác viên này chưa phát huy được khả năng trợ giúp cho nhân dân. Việc trợ giúp cho người dân chủ yếu do cộng tác viên thường trực của Trung tâm trợ giúp pháp lý của tỉnh tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động tại các xã, do vậy tỷ lệ người dân được giải đáp, tuyên truyền pháp luật chưa cao.
d) Việc phát hành Bản tin Tư pháp và các tài liệu pháp luật chưa phát huy được hiệu quả, chủ yếu mới chỉ phát đến Uỷ ban nhân dân xã, phường thị trấn còn nhân dân ở các tổ dân phố, thôn, vùng xa trung tâm vẫn chưa có điều kiện tiếp cận. Hiệu quả của việc khai thác tủ sách pháp luật chưa cao, việc đọc sách báo chưa thành ý thức, nề nếp trong nhân dân.

Content:
Ở Tổ dân phố, thôn, xóm:
Tổ chức hoạt động hòa giải cơ sở tại các xã, phường, thị trấn hiện có 1303 tổ hòa giải với 8.556 hoà giải viên (100% các thôn, xóm, tổ dân phố, khu phố đã thành lập Tổ hoà giải), mỗi tổ hòa giải gồm 3 đến 5 hòa giải viên do Trưởng ban Mặt trận hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn làm tổ trưởng. Thông qua hoạt động hòa giải đã góp phần giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ nhân dân.
2.Hình thức và phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật chủ yếu.
a) Tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt các cấp:
Giúp cho cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành nắm vững và vận dụng đúng đắn các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước vào thực tiễn công tác. Thời gian qua việc triển khai phương pháp này chưa kịp thời, thường xuyên. Mặt khác, hình thức này hạn chế đối tượng nếu không có các bước triển khai tiếp theo thì việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật vẫn không đến được với cán bộ, công chức và người dân.
b) Hình thức phổ biến trên các phương tiện thông tin tại xã, phường, thị trấn:
Phần lớn các xã, phường trên địa bàn tỉnh có điều kiện phát triển hệ thống truyền thanh nên phương pháp này đã phát huy được tác dụng. Còn ở một số xã do hệ thống truyền thanh còn hạn chế nên việc sử dụng phương pháp này chưa đạt hiệu quả.
c) Hoạt động trợ giúp pháp lý: Đây là hình thức tuyên truyền rất cơ động có thể áp dụng cho các xã xa trung tâm. Hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động chủ yếu tập trung vào việc giải đáp pháp luật tại chỗ cho nhân dân. Hiện nay mỗi huyện có từ 4 đến 6 cộng tác viên trợ giúp pháp lý, nhưng lực lượng cộng tác viên này chưa phát huy được khả năng trợ giúp cho nhân dân. Việc trợ giúp cho người dân chủ yếu do cộng tác viên thường trực của Trung tâm trợ giúp pháp lý của tỉnh tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động tại các xã, do vậy tỷ lệ người dân được giải đáp, tuyên truyền pháp luật chưa cao.
Việc phát hành Bản tin Tư pháp và các tài liệu pháp luật chưa phát huy được hiệu quả, chủ yếu mới chỉ phát đến Uỷ ban nhân dân xã, phường thị trấn còn nhân dân ở các tổ dân phố, thôn, vùng xa trung tâm vẫn chưa có điều kiện tiếp cận. Hiệu quả của việc khai thác tủ sách pháp luật chưa cao, việc đọc sách báo chưa thành ý thức, nề nếp trong nhân dân.