Document: Điều 48 Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1989 20-LCT/HĐNN8

Type: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "30/06/1989", "sign_number": "20-LCT/HĐNN8", "signer": "Võ Chí Công", "type": "Luật"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "30/06/1989", "sign_number": "20-LCT/HĐNN8", "signer": "Võ Chí Công", "type": "Luật"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "30/06/1989", "sign_number": "20-LCT/HĐNN8", "signer": "Võ Chí Công", "type": "Luật"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "30/06/1989", "sign_number": "20-LCT/HĐNN8", "signer": "Võ Chí Công", "type": "Luật"}
Signer: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "30/06/1989", "sign_number": "20-LCT/HĐNN8", "signer": "Võ Chí Công", "type": "Luật"}

Full Text:
Điều 48 Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1989 20-LCT/HĐNN8 có nội dung như sau:

Điều 48. Sau khi nhận được biên bản của các Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra các biên bản đó và lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình.
Biên bản phải ghi rõ:
- Số đại biểu Hội đồng nhân dân ấn định cho đơn vị bầu cử;
- Số người ứng cử;
- Tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử;
- Số phiếu phát ra; số phiếu thu vào;
- Số cử tri đã đi bầu, số cử tri không đi bầu, tỷ lệ số cử tri đã đi bầu so với tổng số cử tri;
- Số phiếu hợp lệ;
- Số phiếu không hợp lệ;
- Số phiếu trắng;
- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;
- Danh sách những người trúng cử;
- Những khiếu nại do Tổ bầu cử đã giải quyết;
- Những khiếu nại do Ban bầu cử đã giải quyết; những khiếu nại chuyển lên Hội đồng bầu cử giải quyết.
Biên bản làm thành bốn bản, có chữ ký của Trưởng ban, Phó Trưởng ban và Thư ký; một bản gửi Hội đồng bầu cử, một bản gửi Thường trực Hội đồng nhân dân, một bản gửi Uỷ ban nhân dân, một bản gửi Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp với Ban bầu cử. Đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn, thì biên bản làm thành ba bản.

Content:
Điều 48. Sau khi nhận được biên bản của các Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra các biên bản đó và lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình.
Biên bản phải ghi rõ:
- Số đại biểu Hội đồng nhân dân ấn định cho đơn vị bầu cử;
- Số người ứng cử;
- Tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử;
- Số phiếu phát ra; số phiếu thu vào;
- Số cử tri đã đi bầu, số cử tri không đi bầu, tỷ lệ số cử tri đã đi bầu so với tổng số cử tri;
- Số phiếu hợp lệ;
- Số phiếu không hợp lệ;
- Số phiếu trắng;
- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;
- Danh sách những người trúng cử;
- Những khiếu nại do Tổ bầu cử đã giải quyết;
- Những khiếu nại do Ban bầu cử đã giải quyết; những khiếu nại chuyển lên Hội đồng bầu cử giải quyết.
Biên bản làm thành bốn bản, có chữ ký của Trưởng ban, Phó Trưởng ban và Thư ký; một bản gửi Hội đồng bầu cử, một bản gửi Thường trực Hội đồng nhân dân, một bản gửi Uỷ ban nhân dân, một bản gửi Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp với Ban bầu cử. Đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn, thì biên bản làm thành ba bản.