Document: Điều 1 Quyết định 14/QĐ-UBND năm 2013 phê duyệt Quy hoạch phát triển nghề làng nghề

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "02/01/2013", "sign_number": "14/QĐ-UBND", "signer": "Trần Xuân Việt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "02/01/2013", "sign_number": "14/QĐ-UBND", "signer": "Trần Xuân Việt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "02/01/2013", "sign_number": "14/QĐ-UBND", "signer": "Trần Xuân Việt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "02/01/2013", "sign_number": "14/QĐ-UBND", "signer": "Trần Xuân Việt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "02/01/2013", "sign_number": "14/QĐ-UBND", "signer": "Trần Xuân Việt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 14/QĐ-UBND năm 2013 phê duyệt Quy hoạch phát triển nghề làng nghề có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển nghề, làng nghề Thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 với những nội dung chủ yếu sau:
I. Quan điểm phát triển:
Phát triển nghề, làng nghề phù hợp với Chiến lược và Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô, gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ngoại thành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn kết với phát triển làng nghề chung cả nước.
Phát huy sự tham gia của cộng đồng có sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức quốc tế, góp phần tạo việc làm tại chỗ để tăng thu nhập, để xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn theo phương châm “ly nông bất ly hương”, gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới.
Phát triển làng nghề song song với khôi phục, phát triển ngành nghề truyền thống, ổn định thị trường tiêu thụ, bảo đảm an toàn về môi trường sinh thái.
Phát triển nghề, làng nghề cần gắn với phát triển du lịch, tạo thành các tua du lịch hấp dẫn... Khuyến khích tạo điều kiện thu hút khách quốc tế đến với làng nghề, sử dụng sản phẩm và dịch vụ của làng nghề.
II. Mục tiêu:
1. Mục tiêu chung:
- Phát triển nghề, làng nghề nhằm bảo tồn các giá trị truyền thống; đồng thời phát triển các làng có nghề mới; Rà soát phân loại các nghề, làng nghề cần duy trì, bảo tồn hoặc chuyển nghề khác. - Phát triển các sản phẩm thủ công thể mạnh, gắn sản xuất làng nghề với các hoạt động du lịch, văn hóa, lễ hội.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của khu vực làng nghề theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - thương mại, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp.
- Phát triển lực lượng lao động có tay nghề và trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người lao động. Hình thành đội ngũ doanh nhân có trình độ quản lý, trình độ tổ chức kinh doanh, tiếp thị sản phẩm, tạo mẫu mã sản phẩm tại các làng nghề.
- Phát triển các sản phẩm của làng nghề truyền thống đang có thị trường tiềm năng, gắn với khôi phục văn hóa truyền thống của làng nghề.
2. Mục tiêu cụ thể:
- Năm 2015 tỷ trọng sản xuất nghề, làng nghề của thành phố Hà Nội đạt 8,4%, đến năm 2020 chiếm 8,5% và đến năm 2030 chiếm 8,9% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của Thành phố.
- Năm 2030 Thành phố có 1.500 làng có nghề chiếm khoảng 65,33% so với tổng số làng ở ngoại thành thành phố.
- Bảo tồn và khôi phục 21 làng. Giai đoạn 2011 - 2015: 10 làng; giai đoạn 2016-2020: 11 làng.
- Phát triển làng nghề kết hợp với du lịch 17 làng. Giai đoạn 2011 - 2020: 10 làng; giai đoạn 2021 - 2030: 7 làng.
- Hạn chế phát triển hoặc chuyển hướng nghề mới, hoặc di dời vào cụm công nghiệp làng nghề 14 làng. Giai đoạn 2011 - 2015: 2 làng; giai đoạn 2016 - 2020: 6 làng; giai đoạn 2021 - 2030: 6 làng.
- Xử lý ô nhiễm môi trường 80 làng. Giai đoạn 2011 - 2015: 30 làng; giai đoạn 2016 - 2020: 30 làng; giai đoạn 2021 - 2030: 20 làng.
- Nâng cấp cơ sở hạ tầng 70 làng: giai đoạn 2011 - 2015: 25 làng; giai đoạn 2016 - 2020: 25 làng; giai đoạn 2021 - 2030: 20 làng.
- Tạo việc làm ổn định cho khoảng 800 ngàn đến 1 triệu lao động nông thôn, trong đó tạo việc làm mới cho khoảng 200 nghìn lao động.
- Phấn đấu thu nhập bình quân đầu người từ ngành nghề đạt 25 - 30 triệu đồng/năm vào năm 2015 và đạt 35 - 40 triệu đồng/năm vào năm 2020, 50 - 60 triệu đồng/năm vào năm 2030.
III. Quy hoạch các ngành nghề, làng nghề:
1. Phát triển các nghề, làng nghề có giá trị truyền thống:
a. Ngành thủ công mỹ nghệ:
- Bảo tồn, khôi phục, phát triển các nghề truyền thống, xây dựng làng nghề gắn với du lịch, chú trọng đến đào tạo nghề, tìm kiếm vật liệu thay thế, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, xây dựng trung tâm thương mại tại làng nghề, hỗ trợ các cơ sở tham gia các hội chợ, trưng bày sản phẩm. Hình thành các doanh nghiệp thương mại tại các làng nghề.
- Đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường, ưu tiên xử lý ô nhiễm môi trường cho các làng nghề truyền thống mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao.
- Hoàn chỉnh các cụm sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu mặt bằng phục vụ cho sản xuất kinh doanh nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Giá trị sản xuất năm 2015 đạt 1.850 tỷ đồng, năm 2020 đạt 4.634 tỷ đồng và năm 2030 là 29.183 tỷ đồng. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 18,4%/năm, 2016 - 2020 là 20,2%/năm và 2021 - 2030 là 20,2%/năm.
b. Ngành nghề chế biến lâm sản:
- Xây dựng thương hiệu cho các làng nghề Hà Nội về chế biến sản phẩm lâm sản. Xây dựng các trung tâm thương mại ở các làng nghề truyền thống.
- Hình thành các cụm sản xuất tiểu thủ công nghiệp chế biến các sản phẩm lâm sản. Khuyến khích, hỗ trợ di dời các doanh nghiệp, các hộ sản xuất lớn trong các làng nghề thuộc ngành nghề chế biến lâm sản vào các cụm công nghiệp làng nghề. Hoàn chỉnh một số cụm công nghiệp làng nghề đang triển khai xây dựng
- Xây dựng chương trình du lịch làng nghề gắn với các tua du lịch
- Giá trị sản xuất năm 2015 đạt 6.485 tỷ đồng, năm 2020 là 17.310 tỷ đồng và năm 2030 là 89.592 tỷ đồng. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 19,2%/năm, 2016 - 2020 là 21,7%/năm và 2021 - 2030 là 17,9%/năm.
c. Ngành nghề dệt lụa:
- Bảo tồn các giá trị truyền thống của làng nghề, sử dụng các loại nguyên liệu tự nhiên, khôi phục các mẫu hoa văn và các kỹ thuật đang có nguy cơ thất truyền, hoàn thiện và nâng cao kỹ thuật sản xuất, chất lượng sản phẩm kết hợp phát triển các tua du lịch.
- Giá trị sản xuất đến năm 2015 là 326 tỷ đồng, năm 2020 là 824 tỷ đồng và năm 2030 là 4.520 tỷ đồng. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 16%/năm, 2016 - 2020 là 20,4%/năm và 2021 - 2030 là 18,6%/năm.
d. Ngành nghề thêu, ren:
- Đa dạng hóa, thương mại hóa sản phẩm, mở rộng sản xuất, xây dựng làng nghề kết hợp với du lịch. Chú trọng công tác đào tạo nghề. Khôi phục nghề ren ở Hạ Mỗ - Đan Phượng; Bình Đà - Thanh Oai.
- Giá trị sản xuất đến năm 2015 là 992 tỷ đồng, năm 2020 là 2.435 tỷ đồng và năm 2030 là 12.425 tỷ đồng. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 18,2%/năm, 2016 - 2020 là 19,7%/năm và 2021 - 2030 là 17,7%/năm.
đ. Ngành nghề gốm sứ:
- Bảo tồn, khôi phục và phát triển giá trị truyền thống trong sản phẩm gốm sứ. Đa dạng hóa sản phẩm, tạo ra các sản phẩm có tính cạnh tranh mạnh trên thị trường, chú trọng phát triển sản phẩm mới, hiện đại, đẩy mạnh xuất khẩu. Quy hoạch, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nguyên liệu. Phát triển mạnh du lịch, dịch vụ tại làng nghề. Hoàn chỉnh các cụm sản xuất tiểu thủ công nghiệp.
- Giảm số lò đốt than, xây dựng lò đốt bằng dầu và gas. Sản lượng sản phẩm gốm sứ hàng năm tăng từ 20 - 22%.
- Giá trị sản xuất đến năm 2015 là 1.317 tỷ đồng, năm 2020 là 2.566 tỷ đồng và năm 2030 là 9.323 tỷ đồng. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 10%/năm, 2016 - 2020 là 14,3%/năm và 2021 - 2030 là 13,8%/năm.
e. Ngành nghề da, giầy, khâu bóng:
- Xây dựng thương hiệu sản phẩm, đa dạng chủng loại sản phẩm và tiến tới xuất khẩu vào năm 2015. Đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ, tạo việc làm cho người lao động ở vùng lân cận. Bảo vệ môi trường trong công đoạn thuộc da.
- Giá trị sản xuất đến năm 2015 là 816 tỷ đồng, năm 2020 là 2.130 tỷ đồng và năm 2030 là 14.510 tỷ đồng. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 18,1%/năm, 2016 - 2020 là 21,2%/năm và 2021 - 2030 là 21,2%/năm.
2. Phát triển các ngành nghề theo hướng tham gia sản xuất các sản phẩm phụ trợ phục vụ cho sản xuất công nghiệp:
a. Ngành nghề dệt may:
- Phát triển nghề dệt may tham gia sản xuất các sản phẩm phụ trợ cho may xuất khẩu như khuy, mex, vải lót... Triển khai công tác xử lý ô nhiêm môi trường.
- Giá trị sản xuất đến năm 2015 là 1.750 tỷ đồng, năm 2020 là 3.428 tỷ đồng và năm 2030 là 13.725 tỷ đồng.
- Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 12%/năm, 2016 - 2020 là 14,4%/năm và 2021 - 2030 là 14,9%/năm.
b. Ngành nghề cơ kim khí, điện, rèn dao kéo:
- Định hướng để tham gia vào sản xuất các sản phẩm phụ trợ. Tập trung vào phát triển các sản phẩm đơn lẻ dùng trong gia dụng, nội thất. Đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã để thích ứng với nhu cầu thị trường và giảm thiểu ô nhiễm. Tăng cường quản lý môi trường, triển khai những dự án xử lý ô nhiễm môi trường và hỗ trợ di dời những cơ cở gây ô nhiễm ra cụm CN làng nghề.
- Giá trị sản xuất đến năm 2015 là 1.500 tỷ đồng, năm 2020 là 3.824 tỷ đồng và năm 2030 là 14.322 tỷ đồng.
- Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 20,4%/năm, 2016 - 2020 là 20,6%/năm và 2021 - 2030 là 14,1%/năm.
3. Phát triển một số ngành nghề khác:
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân có điều kiện về vốn, đất đai, kiến thức và kinh nghiệm đầu tư gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh. Phát triển nghề bảo quản và chế biến rau quả ở các khu vực ven đô thị ở các huyện, thị và các vùng chuyên canh rau an toàn. Phát triển các nghề chế biến thuốc nam, đông dược phục vụ nhu cầu nội địa và xuất khẩu.
- Giá trị sản xuất đến năm 2015 là 1.155 tỷ đồng, năm 2020 là 2.955 tỷ đồng và năm 2030 là 12.410 tỷ đồng. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 20%/năm, 2016 - 2020 là 20,7%/năm và 2021 - 2030 là 15,4%/năm.
4. Phát triển một số ngành nghề mới:
- Ưu tiên phát triển các nghề bảo quản, chế biến rau quả ở các khu vực ven đô thị và các vùng chuyên canh rau an toàn, nghề chế biến thuốc nam, đông dược. Xây dựng dự án khôi phục nghề cũ; Tổ chức nhân cấy nghề, lựa chọn các hộ có đủ điều kiện để thành lập các cơ sở sản xuất mới tại địa phương.
- Đến năm 2030 Thành phố có gần 1.500 làng có nghề chiếm 65,3% so với tổng số làng ở ngoại thành thành phố .
IV. Giải pháp thực hiện:
1. Giải pháp về vốn
Dự kiến vốn cho các dự án ưu tiên đầu tư theo quy hoạch là: 8.525 tỷ đồng (Giai đoạn 2010 - 2020: 3.890 tỷ đồng, giai đoạn 2021 - 2030: 4.635 tỷ đồng)
- Xây dựng cơ chế huy động mọi nguồn vốn của các tổ chức xã hội, hội nghề nghiệp và các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nông thôn...
- Hoàn thiện cơ chế để các doanh nghiệp làng nghề, hộ sản xuất... tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng.
- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các làng nghề.
- Tăng cường hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho hoạt động xúc tiến thương mại, đào tạo, đổi mới ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển sản xuất, cải tạo và xử lý môi trường tại các làng nghề.
- Xây dựng cơ chế nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài, của tổ chức phi Chính phủ đầu tư vào lĩnh vực phát triển liên quan đến làng nghề.
2. Giải pháp về thị trường tiêu thụ:
a. Đối với thị trường trong nước:
- Gắn kết các làng nghề với hệ thống siêu thị, chợ, trung tâm thương mại để dựa sản phẩm vào phân phối và kết hợp với chương trình đưa hàng về nông thôn.
- Hình thành mối liên kết với các doanh nghiệp giúp các làng nghề trở thành vệ tinh cho các doanh nghiệp.
- Tổ chức và hỗ trợ các làng nghề tham gia các hội chợ triển lãm chuyên ngành, trưng bày giới thiệu sản phẩm.
- Nâng cấp phòng giới thiệu sản phẩm làng nghề Hà Nội hiện có thành Trung tâm giới thiệu sản phẩm làng nghề Hà Nội; Tiếp tục triển khai xây dựng 04 Trung tâm giới thiệu sản phẩm làng nghề truyền thống với khách hàng trong và ngoài nước theo các tua du lịch tại các huyện: Thường Tín, Chương Mỹ, Sóc Sơn và thị xã Sơn Tây.
b. Thị trường xuất khẩu:
- Chú trọng đến dịch vụ cung cấp thông tin, tìm kiếm thị trường, kết nối giao thương, tham gia hội chợ triển lãm quốc tế, tham quan khảo sát thị trường...
- Phối hợp với các Trung tâm Xúc tiến thương mại, thương vụ và các cơ quan đại diện thương mại Việt Nam tại nước ngoài để quảng bá, giới thiệu tiềm năng, thế mạnh và các sản phẩm của làng nghề tới nước sở tại.
- Hỗ trợ các hiệp hội, các làng nghề xây dựng và duy trì trang Website nhằm quảng bá thương hiệu sản phẩm... trên Internet.
c. Xây dựng, phát triển thương hiệu làng nghề:
- Hỗ trợ các làng nghề trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu, nhất là làng nghề truyền thống.
- Nâng cao vai trò của các tổ chức Hội, Hiệp hội, chính quyền cấp xã, thôn và các doanh nghiệp trong các làng nghề trong việc quảng bá, giới thiệu thương hiệu làng nghề tới khách hàng trong và ngoài nước.
d. Xúc tiến thiết kế mẫu mã sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường:
- Lập đề án xây dựng đội ngũ thiết kế mẫu mã sản phẩm, tiến tới thành lập trung tâm thiết kế mẫu mã sản phẩm thủ công mỹ nghệ cấp Thành phố.
- Khuyến khích hỗ trợ các nghệ nhân, thợ giỏi tham gia các cuộc thi về sáng tác mẫu mã sản phẩm cho các làng nghề do các tỉnh, thành phố khác tổ chức.
đ. Thị trường về nguyên liệu:
- Xây dựng quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu của một số sản phẩm đặc thù có nhu cầu lớn như: Mây tre giang đan guột tế, gốm sứ, dệt may, chế biến lương thực thực phẩm...
- Tăng cường liên doanh, liên kết hợp tác với các tỉnh, thành trong cả nước trong việc cung cấp nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất kinh doanh.
3. Giải pháp về bảo vệ môi trường:
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, vận động doanh nghiệp, hộ sản xuất trong làng nghề thực hiện tốt các quy định về Luật bảo vệ môi trường.
- Xây dựng cơ chế chính sách nhằm hỗ trợ các cơ sở sản xuất nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường của các làng nghề.
- Tổ chức di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư.
- Khuyến khích áp dụng sản xuất sạch hơn bằng các công nghệ giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
4. Giải pháp về kỹ thuật, công nghệ:
- Khuyến khích áp dụng kỹ thuật hiện đại, công nghệ mới vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp, đặc biệt là áp dụng khoa học kỹ thuật giảm nhẹ sức lao động trong một số công đoạn sản xuất nhất định.
- Tăng cường cơ chế hỗ trợ vốn đầu tư phục vụ mục đích đổi mới công nghệ, thực hiện ưu đãi tín dụng và hỗ trợ vốn đối với những ngành nghề và cơ sở sản xuất áp dụng công nghệ tiên tiến.
- Đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề: phần mềm quản lý sản xuất, quản lý chẩt lượng sản phẩm, xây dựng website, chợ ảo điện tử...
- Phát triển các hoạt động thông tin tư vấn và chuyển giao công nghệ trong sản xuất làng nghề.
5. Giải pháp về đất đai:
- Đáp ứng mặt bằng phục vụ cho mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ mới, di dời các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất ô nhiễm môi trường.
- Bảo đảm dành quỹ đất cho phát triển TTCN và làng nghề theo đúng quy hoạch để phát triển bền vững công nghiệp nông thôn.
- Xây dựng quy hoạch sử dụng đất cho phát triển làng nghề gắn với xây dựng quy hoạch nông thôn mới theo Đề án xây dựng nông thôn mới thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2020, định hướng đến năm 2030.
6. Phát triển làng nghề gắn với du lịch:
- Nâng cấp, chỉnh trang cơ sở hạ tầng của các làng nghề, phục vụ tốt hơn cho nhu cầu du lịch, từng bước khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường.
- Xây dựng các trung tâm trưng bày, giới thiệu sản phẩm, bãi đỗ xe, xây dựng khu sản xuất tập trung có đủ điều kiện để làm điểm du lịch cho khách tham quan đến làng nghề.
- Xây dựng các tua du lịch làng nghề theo các các tuyến du lịch như: Hà Nội - chùa Hương, Hà Nội - Tràng An, Bái Đính, Tam Cốc, Bích Động, Cúc Phương, Hà Nội - Hòa Bình, Hà Nội - Ba Vì...
7. Giải pháp về tổ chức và quản lý nhà nước:
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước, Thành phố về vai trò, ý nghĩa của sự phát triển nghề, làng nghề.
- Thường xuyên rà soát các văn bản về cơ chế, chính sách liên quan đến làng nghề để điều chỉnh, bổ sung và thống nhất triển khai trên địa bàn thành phố.
- Thành lập mạng lưới khuyến công để đẩy mạnh các hoạt động khuyến công trên địa bàn Thành phố.
- Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế một cửa bảo đảm thông thoáng, giải quyết công việc nhanh gọn kịp thời, hiệu quả để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các hợp tác xã, các hộ sản xuất trong làng nghề sản xuất kinh doanh.
8. Giải pháp về nguồn nhân lực:
- Tăng cường hơn nữa công tác đào tạo nghề theo hình thức truyền nghề, nhân cấy nghề, xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc biệt để khuyến khích các nghệ nhân và thợ giỏi tham gia đào tạo.
- Bồi dưỡng kiến thức về kỹ thuật, tổ chức sản xuất, quản lý doanh nghiệp cho các chủ doanh nghiệp, chủ cơ sở sản xuất tại làng nghề.

Content:
Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển nghề, làng nghề Thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 với những nội dung chủ yếu sau:
I. Quan điểm phát triển:
Phát triển nghề, làng nghề phù hợp với Chiến lược và Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô, gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ngoại thành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn kết với phát triển làng nghề chung cả nước.
Phát huy sự tham gia của cộng đồng có sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức quốc tế, góp phần tạo việc làm tại chỗ để tăng thu nhập, để xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn theo phương châm “ly nông bất ly hương”, gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới.
Phát triển làng nghề song song với khôi phục, phát triển ngành nghề truyền thống, ổn định thị trường tiêu thụ, bảo đảm an toàn về môi trường sinh thái.
Phát triển nghề, làng nghề cần gắn với phát triển du lịch, tạo thành các tua du lịch hấp dẫn... Khuyến khích tạo điều kiện thu hút khách quốc tế đến với làng nghề, sử dụng sản phẩm và dịch vụ của làng nghề.
II. Mục tiêu:
1. Mục tiêu chung:
- Phát triển nghề, làng nghề nhằm bảo tồn các giá trị truyền thống; đồng thời phát triển các làng có nghề mới; Rà soát phân loại các nghề, làng nghề cần duy trì, bảo tồn hoặc chuyển nghề khác. - Phát triển các sản phẩm thủ công thể mạnh, gắn sản xuất làng nghề với các hoạt động du lịch, văn hóa, lễ hội.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của khu vực làng nghề theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - thương mại, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp.
- Phát triển lực lượng lao động có tay nghề và trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người lao động. Hình thành đội ngũ doanh nhân có trình độ quản lý, trình độ tổ chức kinh doanh, tiếp thị sản phẩm, tạo mẫu mã sản phẩm tại các làng nghề.
- Phát triển các sản phẩm của làng nghề truyền thống đang có thị trường tiềm năng, gắn với khôi phục văn hóa truyền thống của làng nghề.
2. Mục tiêu cụ thể:
- Năm 2015 tỷ trọng sản xuất nghề, làng nghề của thành phố Hà Nội đạt 8,4%, đến năm 2020 chiếm 8,5% và đến năm 2030 chiếm 8,9% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của Thành phố.
- Năm 2030 Thành phố có 1.500 làng có nghề chiếm khoảng 65,33% so với tổng số làng ở ngoại thành thành phố.
- Bảo tồn và khôi phục 21 làng. Giai đoạn 2011 - 2015: 10 làng; giai đoạn 2016-2020: 11 làng.
- Phát triển làng nghề kết hợp với du lịch 17 làng. Giai đoạn 2011 - 2020: 10 làng; giai đoạn 2021 - 2030: 7 làng.
- Hạn chế phát triển hoặc chuyển hướng nghề mới, hoặc di dời vào cụm công nghiệp làng nghề 14 làng. Giai đoạn 2011 - 2015: 2 làng; giai đoạn 2016 - 2020: 6 làng; giai đoạn 2021 - 2030: 6 làng.
- Xử lý ô nhiễm môi trường 80 làng. Giai đoạn 2011 - 2015: 30 làng; giai đoạn 2016 - 2020: 30 làng; giai đoạn 2021 - 2030: 20 làng.
- Nâng cấp cơ sở hạ tầng 70 làng: giai đoạn 2011 - 2015: 25 làng; giai đoạn 2016 - 2020: 25 làng; giai đoạn 2021 - 2030: 20 làng.
- Tạo việc làm ổn định cho khoảng 800 ngàn đến 1 triệu lao động nông thôn, trong đó tạo việc làm mới cho khoảng 200 nghìn lao động.
- Phấn đấu thu nhập bình quân đầu người từ ngành nghề đạt 25 - 30 triệu đồng/năm vào năm 2015 và đạt 35 - 40 triệu đồng/năm vào năm 2020, 50 - 60 triệu đồng/năm vào năm 2030.
III. Quy hoạch các ngành nghề, làng nghề:
1. Phát triển các nghề, làng nghề có giá trị truyền thống:
a. Ngành thủ công mỹ nghệ:
- Bảo tồn, khôi phục, phát triển các nghề truyền thống, xây dựng làng nghề gắn với du lịch, chú trọng đến đào tạo nghề, tìm kiếm vật liệu thay thế, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, xây dựng trung tâm thương mại tại làng nghề, hỗ trợ các cơ sở tham gia các hội chợ, trưng bày sản phẩm. Hình thành các doanh nghiệp thương mại tại các làng nghề.
- Đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường, ưu tiên xử lý ô nhiễm môi trường cho các làng nghề truyền thống mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao.
- Hoàn chỉnh các cụm sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu mặt bằng phục vụ cho sản xuất kinh doanh nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Giá trị sản xuất năm 2015 đạt 1.850 tỷ đồng, năm 2020 đạt 4.634 tỷ đồng và năm 2030 là 29.183 tỷ đồng. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 18,4%/năm, 2016 - 2020 là 20,2%/năm và 2021 - 2030 là 20,2%/năm.
b. Ngành nghề chế biến lâm sản:
- Xây dựng thương hiệu cho các làng nghề Hà Nội về chế biến sản phẩm lâm sản. Xây dựng các trung tâm thương mại ở các làng nghề truyền thống.
- Hình thành các cụm sản xuất tiểu thủ công nghiệp chế biến các sản phẩm lâm sản. Khuyến khích, hỗ trợ di dời các doanh nghiệp, các hộ sản xuất lớn trong các làng nghề thuộc ngành nghề chế biến lâm sản vào các cụm công nghiệp làng nghề. Hoàn chỉnh một số cụm công nghiệp làng nghề đang triển khai xây dựng
- Xây dựng chương trình du lịch làng nghề gắn với các tua du lịch
- Giá trị sản xuất năm 2015 đạt 6.485 tỷ đồng, năm 2020 là 17.310 tỷ đồng và năm 2030 là 89.592 tỷ đồng. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 19,2%/năm, 2016 - 2020 là 21,7%/năm và 2021 - 2030 là 17,9%/năm.
c. Ngành nghề dệt lụa:
- Bảo tồn các giá trị truyền thống của làng nghề, sử dụng các loại nguyên liệu tự nhiên, khôi phục các mẫu hoa văn và các kỹ thuật đang có nguy cơ thất truyền, hoàn thiện và nâng cao kỹ thuật sản xuất, chất lượng sản phẩm kết hợp phát triển các tua du lịch.
- Giá trị sản xuất đến năm 2015 là 326 tỷ đồng, năm 2020 là 824 tỷ đồng và năm 2030 là 4.520 tỷ đồng. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 16%/năm, 2016 - 2020 là 20,4%/năm và 2021 - 2030 là 18,6%/năm.
d. Ngành nghề thêu, ren:
- Đa dạng hóa, thương mại hóa sản phẩm, mở rộng sản xuất, xây dựng làng nghề kết hợp với du lịch. Chú trọng công tác đào tạo nghề. Khôi phục nghề ren ở Hạ Mỗ - Đan Phượng; Bình Đà - Thanh Oai.
- Giá trị sản xuất đến năm 2015 là 992 tỷ đồng, năm 2020 là 2.435 tỷ đồng và năm 2030 là 12.425 tỷ đồng. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 18,2%/năm, 2016 - 2020 là 19,7%/năm và 2021 - 2030 là 17,7%/năm.
đ. Ngành nghề gốm sứ:
- Bảo tồn, khôi phục và phát triển giá trị truyền thống trong sản phẩm gốm sứ. Đa dạng hóa sản phẩm, tạo ra các sản phẩm có tính cạnh tranh mạnh trên thị trường, chú trọng phát triển sản phẩm mới, hiện đại, đẩy mạnh xuất khẩu. Quy hoạch, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nguyên liệu. Phát triển mạnh du lịch, dịch vụ tại làng nghề. Hoàn chỉnh các cụm sản xuất tiểu thủ công nghiệp.
- Giảm số lò đốt than, xây dựng lò đốt bằng dầu và gas. Sản lượng sản phẩm gốm sứ hàng năm tăng từ 20 - 22%.
- Giá trị sản xuất đến năm 2015 là 1.317 tỷ đồng, năm 2020 là 2.566 tỷ đồng và năm 2030 là 9.323 tỷ đồng. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 10%/năm, 2016 - 2020 là 14,3%/năm và 2021 - 2030 là 13,8%/năm.
e. Ngành nghề da, giầy, khâu bóng:
- Xây dựng thương hiệu sản phẩm, đa dạng chủng loại sản phẩm và tiến tới xuất khẩu vào năm 2015. Đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ, tạo việc làm cho người lao động ở vùng lân cận. Bảo vệ môi trường trong công đoạn thuộc da.
- Giá trị sản xuất đến năm 2015 là 816 tỷ đồng, năm 2020 là 2.130 tỷ đồng và năm 2030 là 14.510 tỷ đồng. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 18,1%/năm, 2016 - 2020 là 21,2%/năm và 2021 - 2030 là 21,2%/năm.
2. Phát triển các ngành nghề theo hướng tham gia sản xuất các sản phẩm phụ trợ phục vụ cho sản xuất công nghiệp:
a. Ngành nghề dệt may:
- Phát triển nghề dệt may tham gia sản xuất các sản phẩm phụ trợ cho may xuất khẩu như khuy, mex, vải lót... Triển khai công tác xử lý ô nhiêm môi trường.
- Giá trị sản xuất đến năm 2015 là 1.750 tỷ đồng, năm 2020 là 3.428 tỷ đồng và năm 2030 là 13.725 tỷ đồng.
- Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 12%/năm, 2016 - 2020 là 14,4%/năm và 2021 - 2030 là 14,9%/năm.
b. Ngành nghề cơ kim khí, điện, rèn dao kéo:
- Định hướng để tham gia vào sản xuất các sản phẩm phụ trợ. Tập trung vào phát triển các sản phẩm đơn lẻ dùng trong gia dụng, nội thất. Đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã để thích ứng với nhu cầu thị trường và giảm thiểu ô nhiễm. Tăng cường quản lý môi trường, triển khai những dự án xử lý ô nhiễm môi trường và hỗ trợ di dời những cơ cở gây ô nhiễm ra cụm CN làng nghề.
- Giá trị sản xuất đến năm 2015 là 1.500 tỷ đồng, năm 2020 là 3.824 tỷ đồng và năm 2030 là 14.322 tỷ đồng.
- Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 20,4%/năm, 2016 - 2020 là 20,6%/năm và 2021 - 2030 là 14,1%/năm.
3. Phát triển một số ngành nghề khác:
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân có điều kiện về vốn, đất đai, kiến thức và kinh nghiệm đầu tư gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh. Phát triển nghề bảo quản và chế biến rau quả ở các khu vực ven đô thị ở các huyện, thị và các vùng chuyên canh rau an toàn. Phát triển các nghề chế biến thuốc nam, đông dược phục vụ nhu cầu nội địa và xuất khẩu.
- Giá trị sản xuất đến năm 2015 là 1.155 tỷ đồng, năm 2020 là 2.955 tỷ đồng và năm 2030 là 12.410 tỷ đồng. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 20%/năm, 2016 - 2020 là 20,7%/năm và 2021 - 2030 là 15,4%/năm.
4. Phát triển một số ngành nghề mới:
- Ưu tiên phát triển các nghề bảo quản, chế biến rau quả ở các khu vực ven đô thị và các vùng chuyên canh rau an toàn, nghề chế biến thuốc nam, đông dược. Xây dựng dự án khôi phục nghề cũ; Tổ chức nhân cấy nghề, lựa chọn các hộ có đủ điều kiện để thành lập các cơ sở sản xuất mới tại địa phương.
- Đến năm 2030 Thành phố có gần 1.500 làng có nghề chiếm 65,3% so với tổng số làng ở ngoại thành thành phố .
IV. Giải pháp thực hiện:
1. Giải pháp về vốn
Dự kiến vốn cho các dự án ưu tiên đầu tư theo quy hoạch là: 8.525 tỷ đồng (Giai đoạn 2010 - 2020: 3.890 tỷ đồng, giai đoạn 2021 - 2030: 4.635 tỷ đồng)
- Xây dựng cơ chế huy động mọi nguồn vốn của các tổ chức xã hội, hội nghề nghiệp và các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nông thôn...
- Hoàn thiện cơ chế để các doanh nghiệp làng nghề, hộ sản xuất... tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng.
- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các làng nghề.
- Tăng cường hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho hoạt động xúc tiến thương mại, đào tạo, đổi mới ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển sản xuất, cải tạo và xử lý môi trường tại các làng nghề.
- Xây dựng cơ chế nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài, của tổ chức phi Chính phủ đầu tư vào lĩnh vực phát triển liên quan đến làng nghề.
2. Giải pháp về thị trường tiêu thụ:
a. Đối với thị trường trong nước:
- Gắn kết các làng nghề với hệ thống siêu thị, chợ, trung tâm thương mại để dựa sản phẩm vào phân phối và kết hợp với chương trình đưa hàng về nông thôn.
- Hình thành mối liên kết với các doanh nghiệp giúp các làng nghề trở thành vệ tinh cho các doanh nghiệp.
- Tổ chức và hỗ trợ các làng nghề tham gia các hội chợ triển lãm chuyên ngành, trưng bày giới thiệu sản phẩm.
- Nâng cấp phòng giới thiệu sản phẩm làng nghề Hà Nội hiện có thành Trung tâm giới thiệu sản phẩm làng nghề Hà Nội; Tiếp tục triển khai xây dựng 04 Trung tâm giới thiệu sản phẩm làng nghề truyền thống với khách hàng trong và ngoài nước theo các tua du lịch tại các huyện: Thường Tín, Chương Mỹ, Sóc Sơn và thị xã Sơn Tây.
b. Thị trường xuất khẩu:
- Chú trọng đến dịch vụ cung cấp thông tin, tìm kiếm thị trường, kết nối giao thương, tham gia hội chợ triển lãm quốc tế, tham quan khảo sát thị trường...
- Phối hợp với các Trung tâm Xúc tiến thương mại, thương vụ và các cơ quan đại diện thương mại Việt Nam tại nước ngoài để quảng bá, giới thiệu tiềm năng, thế mạnh và các sản phẩm của làng nghề tới nước sở tại.
- Hỗ trợ các hiệp hội, các làng nghề xây dựng và duy trì trang Website nhằm quảng bá thương hiệu sản phẩm... trên Internet.
c. Xây dựng, phát triển thương hiệu làng nghề:
- Hỗ trợ các làng nghề trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu, nhất là làng nghề truyền thống.
- Nâng cao vai trò của các tổ chức Hội, Hiệp hội, chính quyền cấp xã, thôn và các doanh nghiệp trong các làng nghề trong việc quảng bá, giới thiệu thương hiệu làng nghề tới khách hàng trong và ngoài nước.
d. Xúc tiến thiết kế mẫu mã sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường:
- Lập đề án xây dựng đội ngũ thiết kế mẫu mã sản phẩm, tiến tới thành lập trung tâm thiết kế mẫu mã sản phẩm thủ công mỹ nghệ cấp Thành phố.
- Khuyến khích hỗ trợ các nghệ nhân, thợ giỏi tham gia các cuộc thi về sáng tác mẫu mã sản phẩm cho các làng nghề do các tỉnh, thành phố khác tổ chức.
đ. Thị trường về nguyên liệu:
- Xây dựng quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu của một số sản phẩm đặc thù có nhu cầu lớn như: Mây tre giang đan guột tế, gốm sứ, dệt may, chế biến lương thực thực phẩm...
- Tăng cường liên doanh, liên kết hợp tác với các tỉnh, thành trong cả nước trong việc cung cấp nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất kinh doanh.
3. Giải pháp về bảo vệ môi trường:
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, vận động doanh nghiệp, hộ sản xuất trong làng nghề thực hiện tốt các quy định về Luật bảo vệ môi trường.
- Xây dựng cơ chế chính sách nhằm hỗ trợ các cơ sở sản xuất nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường của các làng nghề.
- Tổ chức di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư.
- Khuyến khích áp dụng sản xuất sạch hơn bằng các công nghệ giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
4. Giải pháp về kỹ thuật, công nghệ:
- Khuyến khích áp dụng kỹ thuật hiện đại, công nghệ mới vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp, đặc biệt là áp dụng khoa học kỹ thuật giảm nhẹ sức lao động trong một số công đoạn sản xuất nhất định.
- Tăng cường cơ chế hỗ trợ vốn đầu tư phục vụ mục đích đổi mới công nghệ, thực hiện ưu đãi tín dụng và hỗ trợ vốn đối với những ngành nghề và cơ sở sản xuất áp dụng công nghệ tiên tiến.
- Đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề: phần mềm quản lý sản xuất, quản lý chẩt lượng sản phẩm, xây dựng website, chợ ảo điện tử...
- Phát triển các hoạt động thông tin tư vấn và chuyển giao công nghệ trong sản xuất làng nghề.
5. Giải pháp về đất đai:
- Đáp ứng mặt bằng phục vụ cho mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ mới, di dời các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất ô nhiễm môi trường.
- Bảo đảm dành quỹ đất cho phát triển TTCN và làng nghề theo đúng quy hoạch để phát triển bền vững công nghiệp nông thôn.
- Xây dựng quy hoạch sử dụng đất cho phát triển làng nghề gắn với xây dựng quy hoạch nông thôn mới theo Đề án xây dựng nông thôn mới thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2020, định hướng đến năm 2030.
6. Phát triển làng nghề gắn với du lịch:
- Nâng cấp, chỉnh trang cơ sở hạ tầng của các làng nghề, phục vụ tốt hơn cho nhu cầu du lịch, từng bước khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường.
- Xây dựng các trung tâm trưng bày, giới thiệu sản phẩm, bãi đỗ xe, xây dựng khu sản xuất tập trung có đủ điều kiện để làm điểm du lịch cho khách tham quan đến làng nghề.
- Xây dựng các tua du lịch làng nghề theo các các tuyến du lịch như: Hà Nội - chùa Hương, Hà Nội - Tràng An, Bái Đính, Tam Cốc, Bích Động, Cúc Phương, Hà Nội - Hòa Bình, Hà Nội - Ba Vì...
7. Giải pháp về tổ chức và quản lý nhà nước:
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước, Thành phố về vai trò, ý nghĩa của sự phát triển nghề, làng nghề.
- Thường xuyên rà soát các văn bản về cơ chế, chính sách liên quan đến làng nghề để điều chỉnh, bổ sung và thống nhất triển khai trên địa bàn thành phố.
- Thành lập mạng lưới khuyến công để đẩy mạnh các hoạt động khuyến công trên địa bàn Thành phố.
- Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế một cửa bảo đảm thông thoáng, giải quyết công việc nhanh gọn kịp thời, hiệu quả để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các hợp tác xã, các hộ sản xuất trong làng nghề sản xuất kinh doanh.
8. Giải pháp về nguồn nhân lực:
- Tăng cường hơn nữa công tác đào tạo nghề theo hình thức truyền nghề, nhân cấy nghề, xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc biệt để khuyến khích các nghệ nhân và thợ giỏi tham gia đào tạo.
- Bồi dưỡng kiến thức về kỹ thuật, tổ chức sản xuất, quản lý doanh nghiệp cho các chủ doanh nghiệp, chủ cơ sở sản xuất tại làng nghề.