Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 3721/QĐ-UBND 2017 phê duyệt Quy hoạch phát triển Dệt May Da Giầy Thanh Hóa

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "29/09/2017", "sign_number": "3721/QĐ-UBND", "signer": "Ngô Văn Tuấn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "29/09/2017", "sign_number": "3721/QĐ-UBND", "signer": "Ngô Văn Tuấn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "29/09/2017", "sign_number": "3721/QĐ-UBND", "signer": "Ngô Văn Tuấn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "29/09/2017", "sign_number": "3721/QĐ-UBND", "signer": "Ngô Văn Tuấn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "29/09/2017", "sign_number": "3721/QĐ-UBND", "signer": "Ngô Văn Tuấn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 3721/QĐ-UBND 2017 phê duyệt Quy hoạch phát triển Dệt May Da Giầy Thanh Hóa

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển Dệt May, Da - Giầy tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Mục tiêu phát triển Công nghiệp phụ trợ Dệt May, Da - Giầy
Giá trị SXCN (giá 2010) giai đoạn 2016 - 2020 đạt 812 tỷ đồng, giai đoạn 2021 - 2025 đạt 2.030 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021 - 2025 là 20% (chưa bao hàm phần dệt nhuộm cho ngành May); định hướng đến năm 2030: Giá trị SXCN (giá 2010) đạt 3.200 tỷ đồng, tăng trưởng giai đoạn 2026 - 2030 là 9,8%.
III. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN
1. Quy hoạch phát triển ngành Dệt
1.1- Về sản phẩm
Phát triển các mặt hàng dệt kim, dệt thoi là sản phẩm có khả năng gắn kết các khâu sản xuất sợi, may mặc; tập trung sản xuất hàng dệt kim cao cấp dành cho may quần áo phụ nữ và trẻ em; vải pha len cho may complete, áo khoác; vải kỹ thuật, vải trang trí nội thất, vải không dệt,
Tập trung nguồn lực vào các khâu trọng yếu để nâng cao chất lượng sản phẩm, trong đó khâu nhuộm, hoàn tất là quan trọng. Khuyến khích phát triển doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt lụa tơ tằm, dệt vải chất lượng cao.
1.2- Về đầu tư các dự án và phân bố đầu tư theo không gian lãnh thổ
Phát triển công nghiệp dệt được định hướng gần các đầu mối giao thông, gần thị trường tiêu thụ sản phẩm, gần nguồn cung ứng lao động có trình độ, có tay nghề, nhưng phải cách xa nơi dân cư tập trung để sản xuất ổn định, thuận lợi cho việc xử lý chất thải, nước thải gây ô nhiễm môi trường sau này.
Để thuận lợi cho khâu cung cấp nước và xử lý nước thải, trong kỳ quy hoạch 2016 - 2025 trước mắt chỉ quy hoạch 1 khu công nghiệp tập trung ngành dệt nhuộm, đặt tại Khu kinh tế Nghi Sơn. Ngoài ra, tại khu vực 11 huyện miền núi sẽ thu hút đầu tư một số dự án dệt thổ cẩm, khôi phục và phát triển các làng nghề dệt thổ cẩm truyền thống gắn với du lịch. Đối với một số nghề dệt như: Dệt thảm, dệt lưới, dệt chiếu... sử dụng nguyên liệu tại chỗ như tơ tằm, đay, cói, hoặc nghề thêu ren...tiếp tục phát triển mạnh tại các khu vực thuần nông, nơi ít có nghề phụ tiểu thủ công nghiệp, nơi có nghề truyền thống và thị trường quen thuộc từ trước.
2. Quy hoạch phát triển ngành May
2.1- Về sản phẩm
Phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm may xuất khẩu, làm cơ sở trực tiếp thúc đẩy ngành dệt phát triển; lựa chọn những mặt hàng chiến lược và nâng cao chất lượng những mặt hàng đã có uy tín trên thị trường để đầu tư và đồng bộ dây chuyền sản xuất, nhằm khai thác tối đa năng lực hiện có. Đa dạng hóa và nâng cao đẳng cấp mặt hàng, phát triển các mặt hàng có giá trị gia tăng cao; sản xuất các sản phẩm may mặc phục vụ thị trường trong nước, gắn với hoạt động du lịch; phấn đấu đến năm 2025, thị trường nội địa đạt 15% - 20%, đến năm 2030 đạt 30% - 35% tổng sản lượng sản phẩm May. Trong đó, các sản phẩm phục vụ thể thao, du lịch, phụ nữ, trẻ em chiếm 50% - 60%.
Khuyến khích các doanh nghiệp may chuyển hướng đầu tư dần từ hình thức gia công sang sản xuất sản phẩm cuối cùng, xây dựng thương hiệu riêng để nâng giá trị gia tăng của sản phẩm.
2.2- Về phân bố các dự án đầu tư theo không gian lãnh thổ
Ngành may mặc là ngành sử dụng nhiều lao động, ít gây tác động xấu tới môi trường, có thể phát triển ngành may mặc rộng khắp tại các khu vực phụ cận hoặc cài răng lược với các lĩnh vực công nghiệp khác. Ưu tiên bố trí các doanh nghiệp may tại các Khu, Cụm công nghiệp, chuyển dịch dần về các khu vực thị trấn, thị tứ, vùng sâu, vùng xa để thu hút lao động tại chỗ và cung cấp sản phẩm ngay trên địa bàn.
Quy hoạch, phân bố các dự án đầu tư ngành may mặc cần đảm bảo tính hài hòa, cân đối các cự ly khoảng cách giữa dự án may với dự án may, giữa dự án may với dự án da giầy (có quy mô từ 1.000 lao động trở lên) một cách hợp lý, (khoảng cách từ 7km - 10km) nhằm thu hút lao động tại chỗ thuận lợi.
Tại 11 huyện miền núi do địa hình miền núi cao, mật độ dân cư thấp, giao thông không thuận lợi, nên có thể phát triển các cơ sở may mặc quy mô nhỏ, chủ yếu sản xuất sản phẩm dệt may phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và có thể tham gia xuất khẩu dưới dạng sản phẩm thủ công, tiểu thủ công nghiệp với quy mô hộ gia đình hoặc doanh nghiệp nhỏ.
3. Quy hoạch phát triển ngành Da - Giầy
3.1- Về sản phẩm
Giữ vững sản phẩm chủ lực là giầy thể thao, giầy vải và thị trường truyền thống là Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản; giầy thể thao và giầy vải được ưu tiên hàng đầu trong sản xuất hàng xuất khẩu; khai thác cả thị trường trong và ngoài nước, nhưng tập trung nhiều hơn cho xuất khẩu; sản xuất đa dạng các sản phẩm Da: Giầy dép da thời trang, cặp, túi, ví... chất lượng cao phục vụ thị trường mới, thị trường cao cấp và thị trường nội địa, với nhiều mẫu mã, chất lượng, giá cả phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Khuyến khích đầu tư mới mở rộng các cơ sở đế giầy, vải bồi, các chi tiết bán thành phẩm đưa về nông thôn, miền núi. Hình thành các doanh nghiệp hiện đại, sản xuất các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật và hàm lượng chế biến cao để từng bước làm chủ thị trường tiêu thụ.
3.2- Về phân bố các dự án đầu tư theo không gian lãnh thổ
Ngành Da - Giầy là ngành có thể sử dụng được nhiều lao động nam giới hơn so với ngành May trên các công đoạn sản xuất, nên có thể phân bố ngành Da - Giầy xen cư với ngành Dệt May, sao cho hai ngành này không xảy ra tranh chấp lao động, mà còn phát huy hết tiềm năng về lao động trên từng địa bàn.
Do ngành Da - Giầy có ảnh hưởng môi trường nhiều hơn ngành May nên cần được ưu tiên bố trí sản xuất tại các khu, cụm công nghiệp, khu vực còn nhiều nguồn lao động; chuyển dịch bố trí ngành Da - Giầy dần về khu vực thị trấn, thị tứ miền núi, làm hạt nhân xây dựng các cụm công nghiệp ở khu vực nông thôn, miền núi. Khu vực thành phố, tập trung phát triển về cung ứng dịch vụ, cung cấp nguyên phụ liệu, công nghệ mẫu mốt và hướng tới hình thành trung tâm xúc tiến thương mại và phát triển thời trang giầy dép, sản phẩm đồ da.

Content:
Mục tiêu phát triển Công nghiệp phụ trợ Dệt May, Da - Giầy
Giá trị SXCN (giá 2010) giai đoạn 2016 - 2020 đạt 812 tỷ đồng, giai đoạn 2021 - 2025 đạt 2.030 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021 - 2025 là 20% (chưa bao hàm phần dệt nhuộm cho ngành May); định hướng đến năm 2030: Giá trị SXCN (giá 2010) đạt 3.200 tỷ đồng, tăng trưởng giai đoạn 2026 - 2030 là 9,8%.
III. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN
1. Quy hoạch phát triển ngành Dệt
1.1- Về sản phẩm
Phát triển các mặt hàng dệt kim, dệt thoi là sản phẩm có khả năng gắn kết các khâu sản xuất sợi, may mặc; tập trung sản xuất hàng dệt kim cao cấp dành cho may quần áo phụ nữ và trẻ em; vải pha len cho may complete, áo khoác; vải kỹ thuật, vải trang trí nội thất, vải không dệt,
Tập trung nguồn lực vào các khâu trọng yếu để nâng cao chất lượng sản phẩm, trong đó khâu nhuộm, hoàn tất là quan trọng. Khuyến khích phát triển doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt lụa tơ tằm, dệt vải chất lượng cao.
1.2- Về đầu tư các dự án và phân bố đầu tư theo không gian lãnh thổ
Phát triển công nghiệp dệt được định hướng gần các đầu mối giao thông, gần thị trường tiêu thụ sản phẩm, gần nguồn cung ứng lao động có trình độ, có tay nghề, nhưng phải cách xa nơi dân cư tập trung để sản xuất ổn định, thuận lợi cho việc xử lý chất thải, nước thải gây ô nhiễm môi trường sau này.
Để thuận lợi cho khâu cung cấp nước và xử lý nước thải, trong kỳ quy hoạch 2016 - 2025 trước mắt chỉ quy hoạch 1 khu công nghiệp tập trung ngành dệt nhuộm, đặt tại Khu kinh tế Nghi Sơn. Ngoài ra, tại khu vực 11 huyện miền núi sẽ thu hút đầu tư một số dự án dệt thổ cẩm, khôi phục và phát triển các làng nghề dệt thổ cẩm truyền thống gắn với du lịch. Đối với một số nghề dệt như: Dệt thảm, dệt lưới, dệt chiếu... sử dụng nguyên liệu tại chỗ như tơ tằm, đay, cói, hoặc nghề thêu ren...tiếp tục phát triển mạnh tại các khu vực thuần nông, nơi ít có nghề phụ tiểu thủ công nghiệp, nơi có nghề truyền thống và thị trường quen thuộc từ trước.
2. Quy hoạch phát triển ngành May
2.1- Về sản phẩm
Phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm may xuất khẩu, làm cơ sở trực tiếp thúc đẩy ngành dệt phát triển; lựa chọn những mặt hàng chiến lược và nâng cao chất lượng những mặt hàng đã có uy tín trên thị trường để đầu tư và đồng bộ dây chuyền sản xuất, nhằm khai thác tối đa năng lực hiện có. Đa dạng hóa và nâng cao đẳng cấp mặt hàng, phát triển các mặt hàng có giá trị gia tăng cao; sản xuất các sản phẩm may mặc phục vụ thị trường trong nước, gắn với hoạt động du lịch; phấn đấu đến năm 2025, thị trường nội địa đạt 15% - 20%, đến năm 2030 đạt 30% - 35% tổng sản lượng sản phẩm May. Trong đó, các sản phẩm phục vụ thể thao, du lịch, phụ nữ, trẻ em chiếm 50% - 60%.
Khuyến khích các doanh nghiệp may chuyển hướng đầu tư dần từ hình thức gia công sang sản xuất sản phẩm cuối cùng, xây dựng thương hiệu riêng để nâng giá trị gia tăng của sản phẩm.
2.2- Về phân bố các dự án đầu tư theo không gian lãnh thổ
Ngành may mặc là ngành sử dụng nhiều lao động, ít gây tác động xấu tới môi trường, có thể phát triển ngành may mặc rộng khắp tại các khu vực phụ cận hoặc cài răng lược với các lĩnh vực công nghiệp khác. Ưu tiên bố trí các doanh nghiệp may tại các Khu, Cụm công nghiệp, chuyển dịch dần về các khu vực thị trấn, thị tứ, vùng sâu, vùng xa để thu hút lao động tại chỗ và cung cấp sản phẩm ngay trên địa bàn.
Quy hoạch, phân bố các dự án đầu tư ngành may mặc cần đảm bảo tính hài hòa, cân đối các cự ly khoảng cách giữa dự án may với dự án may, giữa dự án may với dự án da giầy (có quy mô từ 1.000 lao động trở lên) một cách hợp lý, (khoảng cách từ 7km - 10km) nhằm thu hút lao động tại chỗ thuận lợi.
Tại 11 huyện miền núi do địa hình miền núi cao, mật độ dân cư thấp, giao thông không thuận lợi, nên có thể phát triển các cơ sở may mặc quy mô nhỏ, chủ yếu sản xuất sản phẩm dệt may phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và có thể tham gia xuất khẩu dưới dạng sản phẩm thủ công, tiểu thủ công nghiệp với quy mô hộ gia đình hoặc doanh nghiệp nhỏ.
Quy hoạch phát triển ngành Da - Giầy
3.1- Về sản phẩm
Giữ vững sản phẩm chủ lực là giầy thể thao, giầy vải và thị trường truyền thống là Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản; giầy thể thao và giầy vải được ưu tiên hàng đầu trong sản xuất hàng xuất khẩu; khai thác cả thị trường trong và ngoài nước, nhưng tập trung nhiều hơn cho xuất khẩu; sản xuất đa dạng các sản phẩm Da: Giầy dép da thời trang, cặp, túi, ví... chất lượng cao phục vụ thị trường mới, thị trường cao cấp và thị trường nội địa, với nhiều mẫu mã, chất lượng, giá cả phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Khuyến khích đầu tư mới mở rộng các cơ sở đế giầy, vải bồi, các chi tiết bán thành phẩm đưa về nông thôn, miền núi. Hình thành các doanh nghiệp hiện đại, sản xuất các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật và hàm lượng chế biến cao để từng bước làm chủ thị trường tiêu thụ.
3.2- Về phân bố các dự án đầu tư theo không gian lãnh thổ
Ngành Da - Giầy là ngành có thể sử dụng được nhiều lao động nam giới hơn so với ngành May trên các công đoạn sản xuất, nên có thể phân bố ngành Da - Giầy xen cư với ngành Dệt May, sao cho hai ngành này không xảy ra tranh chấp lao động, mà còn phát huy hết tiềm năng về lao động trên từng địa bàn.
Do ngành Da - Giầy có ảnh hưởng môi trường nhiều hơn ngành May nên cần được ưu tiên bố trí sản xuất tại các khu, cụm công nghiệp, khu vực còn nhiều nguồn lao động; chuyển dịch bố trí ngành Da - Giầy dần về khu vực thị trấn, thị tứ miền núi, làm hạt nhân xây dựng các cụm công nghiệp ở khu vực nông thôn, miền núi. Khu vực thành phố, tập trung phát triển về cung ứng dịch vụ, cung cấp nguyên phụ liệu, công nghệ mẫu mốt và hướng tới hình thành trung tâm xúc tiến thương mại và phát triển thời trang giầy dép, sản phẩm đồ da.