Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 111/2005/QĐ-UB sửa đổi điều khoản  Quyết  định 23/2005/QĐ-UB cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "27/07/2005", "sign_number": "111/2005/QĐ-UB", "signer": "Lê Quý Đôn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "27/07/2005", "sign_number": "111/2005/QĐ-UB", "signer": "Lê Quý Đôn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "27/07/2005", "sign_number": "111/2005/QĐ-UB", "signer": "Lê Quý Đôn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "27/07/2005", "sign_number": "111/2005/QĐ-UB", "signer": "Lê Quý Đôn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "27/07/2005", "sign_number": "111/2005/QĐ-UB", "signer": "Lê Quý Đôn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 111/2005/QĐ-UB sửa đổi điều khoản  Quyết  định 23/2005/QĐ-UB cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số Điều, Khoản của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 23/2005/QĐ-UB ngày 18-02-2005 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở trên địa bàn thành phố Hà Nội, như sau:
...
4. Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 và Mục a Khoản 4 Điều 11 quy định về hạn mức khi xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao, như sau:
“2. Trường hợp đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư được sử dụng trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 mà ranh giới thửa đất chưa được xác định trong hồ sơ địa chính hoặc trên các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Khoản 1, 2, 3 Điều 5 bản quy định này thì diện tích đất ở được xác định không quá năm (5) lần hạn mức quy định tại Mục a Khoản 2/Điều 10 bản quy định này, nhưng tổng diện tích không vượt quá diện tích đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng. Phần diện tích còn lại, nếu tại hồ sơ, chủ sử dụng kê khai là đất vườn, ao liền kề thì xác định là đất vườn, ao liền kề; nếu chủ sử dụng kê khai là đất ở thì xác định là đất ở nhưng phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định.
4- Trường hợp đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01-7-2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2, 3 Điều 5 bản quy định này mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất vườn, ao thì diện tích đất ở được xác định như sau:
a- Trường hợp diện tích thửa đất ở có vườn, ao lớn hơn hạn mức quy định tại Mục a Khoản 2/Điều 10 bản quy định này thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức quy định. Phần diện tích còn lại, nếu tại hồ sơ, chủ sử dụng kê khai là đất vườn, ao liền kề thì xác định là đất vườn, ao liền kề; nếu chủ sử dụng kê khai là đất ở thì xác định là đất ở nhưng phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định."
5- Sửa đổi Mục b/Khoản 2 Điều 19 về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các trường hợp người sử dụng đất trực tiếp lập và nộp hồ sơ, như sau:
“- Phòng Tài nguyên và Môi trường quân, huyện có trách nhiệm thẩm định hồ sơ; xác nhận trường hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ghi ý kiến (bằng văn bản) đối với trường hợp không đủ điều kiện. Trường hợp đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì làm trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất đối với nơi chưa có bản đồ địa chính: xác định nghĩa vụ tài chính đối với người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, trình Uỷ ban nhân dân quận, huyện quyết định cấp Giấy chứng nhận. Sau khi Uỷ ban nhân dân quận, huyện quyết định, Phòng Tài nguyên và Môi trường quận, huyện ra thông báo (kèm theo bản sao Quyết định cấp Giấy chứng nhận) gửi người được cấp Giấy chứng nhận và cơ quan Thuế về thực hiện nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất và chế độ thu tiền, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định. Phòng Tài nguyên Môi trường và Nhà đất hoặc Văn phòng Đăng ký đất nhà tổ chức trả Giấy chứng nhận tại trụ sở Uỷ ban nhân dân quận, huyện hoặc trụ sở Uỷ ban nhân dân phường, xã, thị trấn (nơi có đất)."
6. Sửa đổi Điều 25 quy định về trách nhiệm đính chính nghĩa vụ tài chính, như sau:
“Các trường hợp người sử dụng đất yêu cầu xử lý tồn tại về nộp tiền sử dụng đất sau khi Nghị định số 198/2004/NĐ-CP và Thông tư 117/2004/TT-BTC có hiệu lực thi hành theo quy định tại Khoản 1, 3 Điều 24 bản quy định này thì trách nhiệm giải quyết như sau:
1. Văn phòng đăng ký đất nhà (Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất) có trách nhiệm xác nhận nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm bắt đầu sử dụng đất ở, cung cấp thông tin địa chính cho Cục Thuế làm căn cứ thu nghĩa vụ tài chính đối với Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp.
2. Văn phòng đăng ký đất nhà quận, huyện (nơi đã thành lập), Phòng Tài nguyên và Môi trường (nơi chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất nhà) có trách nhiệm xác nhận nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm bắt đầu sử dụng đất ở và cung cấp thông tin địa chính cho Chi Cục thuế làm căn cứ thu nghĩa vụ tài chính đối với Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân quận, huyện cấp”.
7. Sửa đổi Mục b Khoản 11 Điều 26 về trách nhiệm của các Sở, Ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp, như sau:
“b. Thành lập Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận phường, xã, thị trấn để tổ chức cho nhân dân kê khai, đăng ký, tổ chức phân loại, xét cấp giấy chứng nhận. Thành phần Hội đồng gồm:
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường, xã, thị trấn - Chủ tịch Hội đồng;
+ Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường, xã, thị trấn phụ trách nhà đất - đô thị - Uỷ viên thường trực;
+ Cán bộ địa chính phường, xã thị trấn - Uỷ viên thường trực;
+ Đại diện Mặt trận Tổ quốc phường, xã, thị trấn - Uỷ viên;
+ Cán bộ Tư pháp phường, xã, thị trấn - Uỷ viên;
+ Trưởng Công an phường, xã, thị trấn - Uỷ viên;
+ Trưởng thôn, Trưởng cụm dân cư (nơi cấp Giấy chứng nhận) - Uỷ viên".

Content:
Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 và Mục a Khoản 4 Điều 11 quy định về hạn mức khi xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao, như sau:
“2. Trường hợp đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư được sử dụng trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 mà ranh giới thửa đất chưa được xác định trong hồ sơ địa chính hoặc trên các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Khoản 1, 2, 3 Điều 5 bản quy định này thì diện tích đất ở được xác định không quá năm (5) lần hạn mức quy định tại Mục a Khoản 2/Điều 10 bản quy định này, nhưng tổng diện tích không vượt quá diện tích đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng. Phần diện tích còn lại, nếu tại hồ sơ, chủ sử dụng kê khai là đất vườn, ao liền kề thì xác định là đất vườn, ao liền kề; nếu chủ sử dụng kê khai là đất ở thì xác định là đất ở nhưng phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định.
4- Trường hợp đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01-7-2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2, 3 Điều 5 bản quy định này mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất vườn, ao thì diện tích đất ở được xác định như sau:
a- Trường hợp diện tích thửa đất ở có vườn, ao lớn hơn hạn mức quy định tại Mục a Khoản 2/Điều 10 bản quy định này thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức quy định. Phần diện tích còn lại, nếu tại hồ sơ, chủ sử dụng kê khai là đất vườn, ao liền kề thì xác định là đất vườn, ao liền kề; nếu chủ sử dụng kê khai là đất ở thì xác định là đất ở nhưng phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định."
5- Sửa đổi Mục b/Khoản 2 Điều 19 về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các trường hợp người sử dụng đất trực tiếp lập và nộp hồ sơ, như sau:
“- Phòng Tài nguyên và Môi trường quân, huyện có trách nhiệm thẩm định hồ sơ; xác nhận trường hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ghi ý kiến (bằng văn bản) đối với trường hợp không đủ điều kiện. Trường hợp đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì làm trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất đối với nơi chưa có bản đồ địa chính: xác định nghĩa vụ tài chính đối với người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, trình Uỷ ban nhân dân quận, huyện quyết định cấp Giấy chứng nhận. Sau khi Uỷ ban nhân dân quận, huyện quyết định, Phòng Tài nguyên và Môi trường quận, huyện ra thông báo (kèm theo bản sao Quyết định cấp Giấy chứng nhận) gửi người được cấp Giấy chứng nhận và cơ quan Thuế về thực hiện nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất và chế độ thu tiền, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định. Phòng Tài nguyên Môi trường và Nhà đất hoặc Văn phòng Đăng ký đất nhà tổ chức trả Giấy chứng nhận tại trụ sở Uỷ ban nhân dân quận, huyện hoặc trụ sở Uỷ ban nhân dân phường, xã, thị trấn (nơi có đất)."
6. Sửa đổi Điều 25 quy định về trách nhiệm đính chính nghĩa vụ tài chính, như sau:
“Các trường hợp người sử dụng đất yêu cầu xử lý tồn tại về nộp tiền sử dụng đất sau khi Nghị định số 198/2004/NĐ-CP và Thông tư 117/2004/TT-BTC có hiệu lực thi hành theo quy định tại Khoản 1, 3 Điều 24 bản quy định này thì trách nhiệm giải quyết như sau:
1. Văn phòng đăng ký đất nhà (Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất) có trách nhiệm xác nhận nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm bắt đầu sử dụng đất ở, cung cấp thông tin địa chính cho Cục Thuế làm căn cứ thu nghĩa vụ tài chính đối với Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân thành phố cấp.
2. Văn phòng đăng ký đất nhà quận, huyện (nơi đã thành lập), Phòng Tài nguyên và Môi trường (nơi chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất nhà) có trách nhiệm xác nhận nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm bắt đầu sử dụng đất ở và cung cấp thông tin địa chính cho Chi Cục thuế làm căn cứ thu nghĩa vụ tài chính đối với Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân quận, huyện cấp”.
7. Sửa đổi Mục b Khoản 11 Điều 26 về trách nhiệm của các Sở, Ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp, như sau:
“b. Thành lập Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận phường, xã, thị trấn để tổ chức cho nhân dân kê khai, đăng ký, tổ chức phân loại, xét cấp giấy chứng nhận. Thành phần Hội đồng gồm:
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường, xã, thị trấn - Chủ tịch Hội đồng;
+ Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường, xã, thị trấn phụ trách nhà đất - đô thị - Uỷ viên thường trực;
+ Cán bộ địa chính phường, xã thị trấn - Uỷ viên thường trực;
+ Đại diện Mặt trận Tổ quốc phường, xã, thị trấn - Uỷ viên;
+ Cán bộ Tư pháp phường, xã, thị trấn - Uỷ viên;
+ Trưởng Công an phường, xã, thị trấn - Uỷ viên;
+ Trưởng thôn, Trưởng cụm dân cư (nơi cấp Giấy chứng nhận) - Uỷ viên".