Document: Điểm b Khoản 6 Điều 1 Quyết định 3151/QĐ-UBND 2017 chất lượng an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản Quảng Ninh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "15/08/2017", "sign_number": "3151/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "15/08/2017", "sign_number": "3151/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "15/08/2017", "sign_number": "3151/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "15/08/2017", "sign_number": "3151/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "15/08/2017", "sign_number": "3151/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 6 Điều 1 Quyết định 3151/QĐ-UBND 2017 chất lượng an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản Quảng Ninh

Điều 1. Phê duyệt Đề án nâng cao năng lực quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, với các nội dung chính như sau:
...
6. Giải pháp thực hiện
6.1. Hoàn thiện bộ máy quản lý ATTP nông lâm thủy sản từ cấp tỉnh đến cấp huyện, cấp xã
Kiện toàn, ổn định bộ máy làm công tác quản lý chất lượng, ATTP các cấp theo hướng tăng cường vai trò, trách nhiệm của thủ trưởng các cấp từ tỉnh đến cấp huyện, cấp xã đảm bảo đủ nguồn lực phục vụ cho công tác quản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản.
6.1.1 Đối với cơ quan quản lý cấp Tỉnh
Tăng cường nhân lực, bố trí cán bộ chuyên trách lĩnh vực quản lý chất lượng, ATTP tại các Chi cục trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT. Tùy theo tình hình của mỗi Chi cục trên cơ sở phát huy tối đa nhân lực, cơ sở vật chất đã có.
...
b) Các Chi cục khác trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT:
Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ, cơ sở vật chất, lực lượng cán bộ, biên chế hiện có, các Chi cục phân công nhiệm vụ cụ thể cho phòng chuyên môn đảm nhiệm công tác quản lý chất lượng, ATTP theo nhiệm vụ được Sở Nông nghiệp và PTNT giao. Bố trí ổn định từ 01-2 cán bộ có năng lực trình độ, chuyên môn nghiệp vụ phù hợp để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu, tổng hợp, theo dõi, hướng dẫn,... về công tác quản lý chất lượng, ATTP của đơn vị.
- Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật: Quản lý chất lượng, ATTP trong lĩnh vực trồng trọt; giống cây trồng; vật tư nông nghiệp: phân bón, thuốc Bảo vệ thực vật; Quản lý việc sử dụng phân bón, thuốc BVTV, các chất kích thích sử dụng trong trồng trọt của người dân đảm bảo sản xuất sản phẩm an toàn. Phối hợp với Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản kiểm tra, lấy mẫu phân tích hàm lượng kim loại nặng, dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật có trong sản phẩm tiêu thụ trên thị trường.
- Chi cục Chăn nuôi và Thú y: Quản lý về chất lượng, ATTP trong chăn nuôi, sản xuất, kinh doanh và hướng dẫn sử dụng thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y trên địa bàn tỉnh; Tổ chức kiểm tra, kiểm soát tình trạng sử dụng chất cấm, chất hạn chế sử dụng của các tổ chức, cá nhân trong tỉnh về chăn nuôi; Quản lý ATTP, vệ sinh thú y trong khâu giết mổ gia súc, gia cầm. Phối hợp với Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản tổ chức kiểm tra, giám sát chất lượng thịt gia súc, gia cầm theo chuỗi ATTP được xác lập.
- Chi cục Thủy sản: Quản lý về chất lượng, ATTP trong quá trình nuôi trồng, khai thác thủy sản; Kiểm tra giám sát việc sử dụng thức ăn, hóa chất, chế phẩm sinh học sử dụng trong quá trình nuôi trồng, khai thác thủy sản. Phối hợp với Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản trong việc quản lý chất lượng, ATTP trong chuỗi cung cấp thủy sản và các lĩnh vực có liên quan.
- Chi cục Kiểm lâm: Quản lý nhà nước về chất lượng VTNN trong quá trình sản xuất kinh doanh Giống cây lâm nghiệp chính trên địa bàn tỉnh; Kiểm tra giám sát giống cây lâm nghiệp chính trên địa bàn tỉnh. Phối hợp với Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản trong việc quản lý giống cây lâm nghiệp chính và các lĩnh vực có liên quan.
- Chi cục Thủy lợi: Quản lý nhà nước trong quá trình sản xuất, kinh doanh nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh; Kiểm tra giám sát việc sản xuất, kinh doanh nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh. Phối hợp với Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản trong việc quản lý và các lĩnh vực có liên quan.
6.1.2. Đối với cơ quan quản lý ATTP cấp huyện/thị xã/thành phố
UBND cấp huyện/thị xã/thành phố (sau đây gọi tắt là cấp huyện) thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, thực hiện nghiêm túc trách nhiệm quản lý VTNN, ATTP theo quy định của Luật An toàn thực phẩm, pháp luật liên quan và phân cấp của UBND Tỉnh; Giao Phòng Nông nghiệp và PTNT/Kinh tế là đơn vị chịu trách nhiệm tham mưu cho UBND huyện/thành phố/thị xã về công tác quản lý chất lượng, ATTP thuộc phạm vi quản lý của ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện. Phân công, bố trí từ 01-2 cán bộ làm kiêm công tác quản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản với nguyên tắc “Rõ người-rõ việc-rõ trách nhiệm-rõ hiệu quả”; cán bộ phải được đào tạo, có kiến thức về ATTP, đảm bảo sự ổn định của đội ngũ cán bộ để công tác an toàn thực phẩm đạt hiệu quả, ưu tiên cán bộ có chuyên môn về lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản để tăng hiệu quả quản lý.
6.1.3. Ủy ban nhân dân cấp xã/phường/thị trấn
UBND cấp xã/phường/thị trấn (sau đây gọi là cấp xã) tùy theo tình hình cụ thể, bố trí từ 01-2 cán bộ kiêm nhiệm, ưu tiên cán bộ phụ trách nông nghiệp- địa chính làm kiêm quản lý ATTP trên địa bàn. Bên cạnh đó, cần phát huy sự hỗ trợ của nhân viên khuyến nông/khuyến ngư viên, thú y viên. UBND xã/phường/thị trấn giao nhiệm vụ cho trưởng thôn/trưởng bản cùng thực hiện công tác quản lý, giám sát đảm bảo sự vào cuộc một cách toàn diện ngay tại cơ sở, giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm ngay từ khâu sản xuất ban đầu.
6.1.4. Tăng cường hiệu quả phối hợp liên ngành và các tổ chức hiệp hội có liên quan
- Kết hợp chặt chẽ với các đơn vị được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về ATTP ngành Y tế và ngành Công thương tạo các mối liên kết ngang giữa các ngành đảm bảo tính kế thừa trong các hoạt động quản lý theo chuỗi thực phẩm.
- Tăng cường quan hệ phối hợp và chỉ đạo theo ngành dọc; thiết lập chế độ thông tin, báo cáo trực tiếp giữa cơ quan tỉnh, huyện, xã; nâng cao năng lực thu thập dữ liệu và thông tin báo cáo, phù hợp với các chương trình giám sát và hệ thống thống kê báo cáo của từng lĩnh vực.
- Các ngành phối hợp với các tổ chức, hiệp hội tăng cường phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức quản lý chất lượng nông lâm thủy sản; đẩy mạnh xúc tiến thương mại và tiêu thụ sản phẩm nội địa, xuất khẩu.
6.2. Giải pháp đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng công tác quản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh
Ưu tiên bố trí kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, hoạt động quản lý chất lượng, ATTP các cấp đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới. Trước mắt ưu tiên đầu tư cho cơ quan chuyên môn cấp Tỉnh là Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản và cơ sở vật chất để hình thành hệ thống quản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản theo Vùng/liên huyện. Tập trung đầu tư các hạng mục sau:
6.2.1. Cơ quan quản lý cấp Tỉnh
a) Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản:
- Trang bị thiết bị văn phòng, trang thiết bị kỹ thuật, đặc biệt các dụng cụ xét nghiệm nhanh (máy phát hiện đo nhanh, Test nhanh,...) định tính các chỉ tiêu hóa chất cấm, hóa chất tồn dư trong nông lâm thủy sản cho cán bộ làm công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát ATTP sản phẩm nông lâm thủy sản.
- Đầu tư sửa chữa, cải tạo, sử dụng cơ sở vật chất các trạm hiện giao Chi cục Thủy sản và Trung tâm Khuyến nông (tại thành phố Móng Cái, thị xã Đông Triều) cho Chi cục để thực hiện quản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản và muối theo Vùng/liên huyện (khu vực Miền Đông và Miền Tây của tỉnh).
b) Các Chi cục trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT
- Đầu tư phương tiện chuyên dụng (xe ô tô) lưu động kiểm nghiệm nhanh ATTP, dịch bệnh động vật, thực vật ngành Nông nghiệp và PTNT, kịp thời phát hiện, sàng lọc định hướng cho các chỉ tiêu kiểm nghiệm khẳng định về dịch bệnh động thực vật và ATTP nông lâm thủy sản, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn Tỉnh.
- Theo nhiệm vụ phân công của các đơn vị, đầu tư thiết bị văn phòng, trang thiết bị, dụng cụ xét nghiệm nhanh phục vụ hoạt động kiểm tra, thanh tra VTNN cho Chi cục Chăn nuôi và Thú y; Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật; Chi cục Thủy sản.
6.2.2. Đối với cơ quan quản lý cấp huyện
- UBND cấp huyện căn cứ chức năng nhiệm vụ bố trí ngân sách đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị văn phòng; mua sắm các thiết bị trang thiết bị, dụng cụ xét nghiệm nhanh (máy đo nhanh, Test nhanh) định tính các chỉ tiêu hóa chất cấm, hóa chất tồn dư trong nông lâm thủy sản cho hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm soát các sản phẩm VTNN, ATTP nông lâm thủy sản tại địa phương.
- Ưu tiên bố trí đủ kinh phí, nguồn lực cho công tác quản lý, bảo đảm ATTP (tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra, chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP,...) trên địa bàn cấp huyện.
6.2.3. Đối với cơ quan quản lý cấp xã
UBND cấp xã căn cứ chức năng nhiệm vụ bố trí đảm bảo về cơ sở vật chất, trang thiết cần thiết cho cán bộ kiêm nhiệm làm công tác kiểm tra, kiểm soát về ATTP các sản phẩm nông lâm thủy sản tại địa phương.
Bố trí kinh phí đảm bảo cho các hoạt động có liên quan đến công tác quản lý ATTP nông lâm thủy sản trên địa bàn cấp xã.
6.2.4. Đầu tư hỗ trợ phát triển sản xuất:
- Áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong quản lý, kiểm soát chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản. Áp dụng các phương pháp kiểm tra, phân tích tiên tiến, sử dụng trang thiết bị kiểm tra nhanh tại hiện trường.
- Tiếp tục triển khai và nhân rộng các mô hình quản lý ATTP tiên tiến VietGAP gắn với chứng nhận và công bố tiêu chuẩn chất lượng; áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng, ATTP tiên tiến khác (GMP, GHP, HACCP, ISO 22000); Khuyến khích các cơ sở duy trì tốt điều kiện ATTP song song với áp dụng chế độ kiểm tra giám sát chặt chẽ đối với các cơ sở vi phạm.
- Tiếp tục thực hiện các chính sách của Trung ương, của tỉnh đã ban hành về hỗ trợ các tổ chức, cá nhân sản xuất, sơ chế, chế biến, kinh doanh nông lâm thủy sản như Chính sách khuyến kích phát triển sản xuất hàng hóa Nông nghiệp tập trung, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, chính sách hỗ trợ lãi suất vốn vay đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng, bổ sung các cơ chế, chính sách phát triển sản xuất theo chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn. Khuyến khích các trang trại trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản các tổ chức/cá nhân áp dụng VietGAP gắn với chương trình xây dựng thương hiệu; chương trình OCOP Tỉnh. Hỗ trợ các cá nhân, đơn vị xây dựng mô hình sản xuất, chế biến nông lâm thủy sản đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm áp dụng các tiêu chuẩn GMP, GHP, HACCP...
- Tập trung triển khai thực hiện Đề án đảm bảo ATTP tại các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung giai đoạn 2014-2020 theo Quyết định số 2685/QĐ-UBND ngày 17/11/2014 của UBND Tỉnh. Đối với giết mổ nhỏ lẻ trong khu dân cư, các địa phương xây dựng lộ trình cụ thể di dời các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ vào các khu giết mổ tập trung đã được phê duyệt, tiến tới xóa các điểm giết mổ trái phép không đủ điều kiện ATTP, điều kiện vệ sinh thú y trên địa bàn.
- Trên cơ sở các chính sách của tỉnh và quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp tập trung được UBND Tỉnh phê duyệt, triển khai thực hiện sản xuất đảm bảo ATTP/chứng nhận VietGAP. Khuyến khích, hỗ trợ, hướng dẫn, thu hút doanh nghiệp đầu tư sản xuất quy mô lớn, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, công nghiệp chế biến thực phẩm nhằm xây dựng thương hiệu, uy tín chất lượng sản phẩm nông sản, thủy sản của địa phương trên thị trường; nâng cao hiệu quả sản xuất, tạo ra lượng hàng hóa lớn đảm bảo ATTP phục vụ cho người tiêu dùng, góp phần tăng giá trị sản phẩm trong sản xuất, tiêu thụ. Đẩy mạnh phát triển chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn trên địa bàn Tỉnh.
6.3. Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực
- Khảo sát, đánh giá nhu cầu đào tạo về công tác quản lý, kiểm soát chất lượng, ATTP ở các cấp và cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh, từ đó có định hướng đúng về hình thức, nội dung, phương pháp và số lượng người đào tạo cho phù hợp, sát với với trình độ nhận thức, đối tượng, tập quán, các vùng sinh thái.
- Bồi dưỡng, đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao có chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện nhiệm vụ quản lý chất lượng, ATTP theo chính sách của Tỉnh. Chú trọng công tác đào tạo và thu hút nguồn nhân lực cho chế biến nông sản thực phẩm.
- Đẩy mạnh công tác phối hợp các viện nghiên cứu, các trường đại học, các tổ chức trong và ngoài nước ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật công nghệ mới, hiện đại, thân thiện với môi trường vào các lĩnh vực sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản, kinh doanh sản phẩm nông lâm thủy sản, nhằm cải thiện và đảm bảo ATTP trên địa bàn tỉnh.
6.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra, thanh tra, giám sát chất lượng, ATTP chuyên ngành
- Thực hiện đồng bộ, quyết liệt công tác quản lý ATTP theo chuỗi từ nuôi trồng, thu hái, khai thác, giết mổ, sơ chế, chế biến đến vận chuyển, tiêu thụ đảm bảo ATTP.
- Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về ATTP của cơ quan nhà nước; kiên quyết xử lý cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý. Lãnh đạo cơ quan quản lý các cấp từ xã đến cấp tỉnh phải chịu trách nhiệm về chất lượng VTNN, ATTP trên địa bàn.
- Giám sát về chất lượng, ATTP tập trung các sản phẩm có nguy cơ cao, được người tiêu dùng sử dụng hàng ngày, duy trì hoạt động giám sát tồn dư kháng sinh, hóa chất độc hại trong nông sản, thủy sản thực phẩm.
- Kiểm tra đánh giá xếp loại, định kỳ chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo ATTP cho các cơ sở kiểm tra đạt yêu cầu, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất về điều kiện bảo đảm ATTP trong toàn bộ chuỗi sản xuất kinh doanh đảm bảo tần suất theo quy định ở cả 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) theo phân công, phân cấp tránh chồng chéo, bỏ sót. Kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả trong giết mổ, vệ sinh thú y, thú y thủy sản.
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất tập trung thanh tra, kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất, kinh doanh hóa chất, kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật,... và việc tuân thủ nguyên tắc sử dụng hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật trong nuôi trồng, bảo quản, sơ chế, chế biến thực phẩm nông lâm thủy sản. Đẩy lùi tình trạng kinh doanh hàng thực phẩm giả, kém chất lượng, quá hạn sử dụng, vi phạm quy định ghi nhãn hàng hóa, có nguồn gốc nhập lậu và gian lận thương mại,... Xử lý nghiêm những hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.
- Phát huy vai trò giám sát cộng đồng, trên cơ sở huy động các tổ chức chính trị-xã hội, chính quyền và người dân cùng tham gia.
6.5. Giải pháp thương mại và xúc tiến đầu tư
- Đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất thực phẩm an toàn nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới. Cung cấp thông tin, định hướng, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, chú trọng hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ sản phẩm an toàn theo chuỗi cung ứng thực phẩm ở cấp tỉnh, nhất là các chính sách, quy định mới có liên quan của Việt Nam và quốc tế, đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài.
- Hỗ trợ doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh tham gia Chương trình xúc tiến thương mại, hội chợ, giới thiệu, quảng bá, tham quan học hỏi, kết nối tiêu thụ sản phẩm. Hỗ trợ các tổ chức cá nhân có sản phẩm đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm tham gia các hội chợ thương mại trong và ngoài nước, đặc biệt các sản phẩm trong chương trình OCOP Tỉnh;
- Cung cấp thông tin cụ thể, chính xác các sản phẩm nông lâm thủy sản an toàn để người tiêu dùng biết, lựa chọn; Tăng cường hoạt động quản lý việc kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy sản, đặc biệt các địa điểm kinh doanh không nằm trong quy hoạch, tiến tới xóa bỏ hiện tượng kinh doanh, buôn bán tự phát.
6.Giải pháp truyền thông, tuyên truyền phổ biến pháp luật
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền các cấp đối với công tác đảm bảo chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản.
- Ủy ban Mặt trận tổ quốc tỉnh, các đoàn thể từ cấp tỉnh đến cơ sở làm tốt công tác vận động đoàn viên, hội viên thực hiện tốt các quy định về ATTP gắn với xây dựng làng, bản, khu phố văn hóa, chương trình xây dựng nông thôn mới tạo sự chuyển biến căn bản về nhận thức trong mọi tầng lớp nhân dân; đưa chương trình tuyên truyền, vận động thực hiện các tiêu chí ATTP vào kế hoạch công tác hàng năm của các tổ chức đoàn thể để tổ chức thực hiện.
- Xác định nhóm đối tượng theo vai trò nhiệm vụ trong chuỗi cung cấp thực phẩm, theo vùng sinh thái, dân tộc... để xây dựng thông điệp, cách tiếp cận thích hợp, xây dựng các sản phẩm truyền thông phù hợp các nhóm đối tượng. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, truyền thông về đảm bảo chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản trên các phương tiện thông tin đại chúng;
- Tổ chức các hội thảo/lớp tập huấn đào tạo hướng dẫn và xây dựng chuỗi liên kết sản xuất, triển khai kiểm soát ATTP tại các công đoạn sản xuất trong chuỗi trên cơ sở đánh giá nguy cơ về ATTP.
6.7. Xã hội hóa công tác quản lý chất lượng, ATTP
Sau khi việc quản lý chất lượng, ATTP hình thành và đạt được những thành công nhất định sẽ chuyển dần công tác quản lý có sự tham gia xã hội hóa nhằm mục đích giảm nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước, đồng thời tranh thủ các nguồn lực, các thành phần khác trong xã hội. Huy động tối đa nguồn lực xã hội tham gia vào công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm.
- Hình thành các hiệp hội, ngành hàng, tổ hợp tác, hợp tác xã: Khuyến khích các tổ chức, cá nhân hoạt động trong cùng loại hình liên kết với nhau tạo thành tổ hợp tác, hợp tác xã tiến tới thành lập hiệp hội ngành hàng trong từng lĩnh vực tạo nên sức mạnh tập thể, tạo hiệu quả cao trong việc đàm phán trong kinh doanh, đồng thời tạo ra cơ chế giám sát chéo lẫn nhau trong việc giám sát chất lượng, ATTP. Các cơ quan nhà nước sẽ hỗ trợ các tổ hợp tác, hợp tác xã, hiệp hội ngành hàng trong hoạt động như tạo điều kiện để tiêu thụ sản phẩm; tập huấn kỹ thuật...
- Hình thành các tổ chức người tiêu dùng: Khuyến khích hình thành các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng do các tổ chức tình nguyện hoặc do chính người tiêu dùng thành lập để bảo vệ người tiêu dùng. Hiệp hội người tiêu dùng là cơ quan đại diện cho người tiêu dùng đồng thời hỗ trợ các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý.
- Đẩy mạnh xã hội hóa một số khâu dịch vụ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý chất lượng, ATTP như công tác kiểm nghiệm, tổ chức chứng nhận; phát huy vai trò của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các tổ chức đoàn thể trong việc tham gia bảo đảm ATTP.
- Khuyến khích các cơ sở duy trì tốt điều kiện ATTP song song với áp dụng chế độ kiểm tra giám sát chặt chẽ đối với các cơ sở vi phạm.
6.8. Giải pháp đảm bảo nguồn vốn đầu tư
a) Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ngân sách đầu tư vào công tác quản lý chất lượng ATTP. Nguồn vốn từ ngân sách để đầu tư hạ tầng cơ sở, trang thiết bị, đào tạo, tuyên truyền, tập huấn, xúc tiến thương mại, hỗ trợ phát triển sản xuất phục vụ công tác quản lý của các cơ quan quan quản lý các cấp.
Nguồn vốn ngân sách nhà nước được huy động theo nguyên tắc cơ quan chuyên môn cấp nào thì do cấp đó chịu trách nhiệm bố trí trên cơ sở lồng ghép với các chương trình, nhiệm vụ, dự án khác để thực hiện Đề án.
b) Nguồn vốn khác (của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, FDI,...)
Đây là nguồn vốn đóng vai trò quan trọng trong tổng vốn đầu tư đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm trong lĩnh vực sản xuất chế biến nông lâm thủy sản. Vốn đầu tư từ các doanh nghiệp ưu tiên đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng hạ tầng, cơ sở vật chất nhà xưởng, máy móc thiết bị, thương mại đảm bảo chất lượng, ATTP sản phẩm nông lâm thủy sản.

Content:
Các Chi cục khác trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT:
Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ, cơ sở vật chất, lực lượng cán bộ, biên chế hiện có, các Chi cục phân công nhiệm vụ cụ thể cho phòng chuyên môn đảm nhiệm công tác quản lý chất lượng, ATTP theo nhiệm vụ được Sở Nông nghiệp và PTNT giao. Bố trí ổn định từ 01-2 cán bộ có năng lực trình độ, chuyên môn nghiệp vụ phù hợp để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu, tổng hợp, theo dõi, hướng dẫn,... về công tác quản lý chất lượng, ATTP của đơn vị.
- Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật: Quản lý chất lượng, ATTP trong lĩnh vực trồng trọt; giống cây trồng; vật tư nông nghiệp: phân bón, thuốc Bảo vệ thực vật; Quản lý việc sử dụng phân bón, thuốc BVTV, các chất kích thích sử dụng trong trồng trọt của người dân đảm bảo sản xuất sản phẩm an toàn. Phối hợp với Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản kiểm tra, lấy mẫu phân tích hàm lượng kim loại nặng, dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật có trong sản phẩm tiêu thụ trên thị trường.
- Chi cục Chăn nuôi và Thú y: Quản lý về chất lượng, ATTP trong chăn nuôi, sản xuất, kinh doanh và hướng dẫn sử dụng thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y trên địa bàn tỉnh; Tổ chức kiểm tra, kiểm soát tình trạng sử dụng chất cấm, chất hạn chế sử dụng của các tổ chức, cá nhân trong tỉnh về chăn nuôi; Quản lý ATTP, vệ sinh thú y trong khâu giết mổ gia súc, gia cầm. Phối hợp với Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản tổ chức kiểm tra, giám sát chất lượng thịt gia súc, gia cầm theo chuỗi ATTP được xác lập.
- Chi cục Thủy sản: Quản lý về chất lượng, ATTP trong quá trình nuôi trồng, khai thác thủy sản; Kiểm tra giám sát việc sử dụng thức ăn, hóa chất, chế phẩm sinh học sử dụng trong quá trình nuôi trồng, khai thác thủy sản. Phối hợp với Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản trong việc quản lý chất lượng, ATTP trong chuỗi cung cấp thủy sản và các lĩnh vực có liên quan.
- Chi cục Kiểm lâm: Quản lý nhà nước về chất lượng VTNN trong quá trình sản xuất kinh doanh Giống cây lâm nghiệp chính trên địa bàn tỉnh; Kiểm tra giám sát giống cây lâm nghiệp chính trên địa bàn tỉnh. Phối hợp với Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản trong việc quản lý giống cây lâm nghiệp chính và các lĩnh vực có liên quan.
- Chi cục Thủy lợi: Quản lý nhà nước trong quá trình sản xuất, kinh doanh nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh; Kiểm tra giám sát việc sản xuất, kinh doanh nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh. Phối hợp với Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản trong việc quản lý và các lĩnh vực có liên quan.
6.1.2. Đối với cơ quan quản lý ATTP cấp huyện/thị xã/thành phố
UBND cấp huyện/thị xã/thành phố (sau đây gọi tắt là cấp huyện) thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, thực hiện nghiêm túc trách nhiệm quản lý VTNN, ATTP theo quy định của Luật An toàn thực phẩm, pháp luật liên quan và phân cấp của UBND Tỉnh; Giao Phòng Nông nghiệp và PTNT/Kinh tế là đơn vị chịu trách nhiệm tham mưu cho UBND huyện/thành phố/thị xã về công tác quản lý chất lượng, ATTP thuộc phạm vi quản lý của ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện. Phân công, bố trí từ 01-2 cán bộ làm kiêm công tác quản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản với nguyên tắc “Rõ người-rõ việc-rõ trách nhiệm-rõ hiệu quả”; cán bộ phải được đào tạo, có kiến thức về ATTP, đảm bảo sự ổn định của đội ngũ cán bộ để công tác an toàn thực phẩm đạt hiệu quả, ưu tiên cán bộ có chuyên môn về lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản để tăng hiệu quả quản lý.
6.1.3. Ủy ban nhân dân cấp xã/phường/thị trấn
UBND cấp xã/phường/thị trấn (sau đây gọi là cấp xã) tùy theo tình hình cụ thể, bố trí từ 01-2 cán bộ kiêm nhiệm, ưu tiên cán bộ phụ trách nông nghiệp- địa chính làm kiêm quản lý ATTP trên địa bàn. Bên cạnh đó, cần phát huy sự hỗ trợ của nhân viên khuyến nông/khuyến ngư viên, thú y viên. UBND xã/phường/thị trấn giao nhiệm vụ cho trưởng thôn/trưởng bản cùng thực hiện công tác quản lý, giám sát đảm bảo sự vào cuộc một cách toàn diện ngay tại cơ sở, giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm ngay từ khâu sản xuất ban đầu.
6.1.4. Tăng cường hiệu quả phối hợp liên ngành và các tổ chức hiệp hội có liên quan
- Kết hợp chặt chẽ với các đơn vị được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về ATTP ngành Y tế và ngành Công thương tạo các mối liên kết ngang giữa các ngành đảm bảo tính kế thừa trong các hoạt động quản lý theo chuỗi thực phẩm.
- Tăng cường quan hệ phối hợp và chỉ đạo theo ngành dọc; thiết lập chế độ thông tin, báo cáo trực tiếp giữa cơ quan tỉnh, huyện, xã; nâng cao năng lực thu thập dữ liệu và thông tin báo cáo, phù hợp với các chương trình giám sát và hệ thống thống kê báo cáo của từng lĩnh vực.
- Các ngành phối hợp với các tổ chức, hiệp hội tăng cường phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức quản lý chất lượng nông lâm thủy sản; đẩy mạnh xúc tiến thương mại và tiêu thụ sản phẩm nội địa, xuất khẩu.
6.2. Giải pháp đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng công tác quản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh
Ưu tiên bố trí kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, hoạt động quản lý chất lượng, ATTP các cấp đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới. Trước mắt ưu tiên đầu tư cho cơ quan chuyên môn cấp Tỉnh là Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản và cơ sở vật chất để hình thành hệ thống quản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản theo Vùng/liên huyện. Tập trung đầu tư các hạng mục sau:
6.2.1. Cơ quan quản lý cấp Tỉnh
a) Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản:
- Trang bị thiết bị văn phòng, trang thiết bị kỹ thuật, đặc biệt các dụng cụ xét nghiệm nhanh (máy phát hiện đo nhanh, Test nhanh,...) định tính các chỉ tiêu hóa chất cấm, hóa chất tồn dư trong nông lâm thủy sản cho cán bộ làm công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát ATTP sản phẩm nông lâm thủy sản.
- Đầu tư sửa chữa, cải tạo, sử dụng cơ sở vật chất các trạm hiện giao Chi cục Thủy sản và Trung tâm Khuyến nông (tại thành phố Móng Cái, thị xã Đông Triều) cho Chi cục để thực hiện quản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản và muối theo Vùng/liên huyện (khu vực Miền Đông và Miền Tây của tỉnh).
Các Chi cục trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT
- Đầu tư phương tiện chuyên dụng (xe ô tô) lưu động kiểm nghiệm nhanh ATTP, dịch bệnh động vật, thực vật ngành Nông nghiệp và PTNT, kịp thời phát hiện, sàng lọc định hướng cho các chỉ tiêu kiểm nghiệm khẳng định về dịch bệnh động thực vật và ATTP nông lâm thủy sản, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn Tỉnh.
- Theo nhiệm vụ phân công của các đơn vị, đầu tư thiết bị văn phòng, trang thiết bị, dụng cụ xét nghiệm nhanh phục vụ hoạt động kiểm tra, thanh tra VTNN cho Chi cục Chăn nuôi và Thú y; Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật; Chi cục Thủy sản.
6.2.2. Đối với cơ quan quản lý cấp huyện
- UBND cấp huyện căn cứ chức năng nhiệm vụ bố trí ngân sách đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị văn phòng; mua sắm các thiết bị trang thiết bị, dụng cụ xét nghiệm nhanh (máy đo nhanh, Test nhanh) định tính các chỉ tiêu hóa chất cấm, hóa chất tồn dư trong nông lâm thủy sản cho hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm soát các sản phẩm VTNN, ATTP nông lâm thủy sản tại địa phương.
- Ưu tiên bố trí đủ kinh phí, nguồn lực cho công tác quản lý, bảo đảm ATTP (tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra, chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP,...) trên địa bàn cấp huyện.
6.2.3. Đối với cơ quan quản lý cấp xã
UBND cấp xã căn cứ chức năng nhiệm vụ bố trí đảm bảo về cơ sở vật chất, trang thiết cần thiết cho cán bộ kiêm nhiệm làm công tác kiểm tra, kiểm soát về ATTP các sản phẩm nông lâm thủy sản tại địa phương.
Bố trí kinh phí đảm bảo cho các hoạt động có liên quan đến công tác quản lý ATTP nông lâm thủy sản trên địa bàn cấp xã.
6.2.4. Đầu tư hỗ trợ phát triển sản xuất:
- Áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong quản lý, kiểm soát chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản. Áp dụng các phương pháp kiểm tra, phân tích tiên tiến, sử dụng trang thiết bị kiểm tra nhanh tại hiện trường.
- Tiếp tục triển khai và nhân rộng các mô hình quản lý ATTP tiên tiến VietGAP gắn với chứng nhận và công bố tiêu chuẩn chất lượng; áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng, ATTP tiên tiến khác (GMP, GHP, HACCP, ISO 22000); Khuyến khích các cơ sở duy trì tốt điều kiện ATTP song song với áp dụng chế độ kiểm tra giám sát chặt chẽ đối với các cơ sở vi phạm.
- Tiếp tục thực hiện các chính sách của Trung ương, của tỉnh đã ban hành về hỗ trợ các tổ chức, cá nhân sản xuất, sơ chế, chế biến, kinh doanh nông lâm thủy sản như Chính sách khuyến kích phát triển sản xuất hàng hóa Nông nghiệp tập trung, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, chính sách hỗ trợ lãi suất vốn vay đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng, bổ sung các cơ chế, chính sách phát triển sản xuất theo chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn. Khuyến khích các trang trại trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản các tổ chức/cá nhân áp dụng VietGAP gắn với chương trình xây dựng thương hiệu; chương trình OCOP Tỉnh. Hỗ trợ các cá nhân, đơn vị xây dựng mô hình sản xuất, chế biến nông lâm thủy sản đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm áp dụng các tiêu chuẩn GMP, GHP, HACCP...
- Tập trung triển khai thực hiện Đề án đảm bảo ATTP tại các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung giai đoạn 2014-2020 theo Quyết định số 2685/QĐ-UBND ngày 17/11/2014 của UBND Tỉnh. Đối với giết mổ nhỏ lẻ trong khu dân cư, các địa phương xây dựng lộ trình cụ thể di dời các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ vào các khu giết mổ tập trung đã được phê duyệt, tiến tới xóa các điểm giết mổ trái phép không đủ điều kiện ATTP, điều kiện vệ sinh thú y trên địa bàn.
- Trên cơ sở các chính sách của tỉnh và quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp tập trung được UBND Tỉnh phê duyệt, triển khai thực hiện sản xuất đảm bảo ATTP/chứng nhận VietGAP. Khuyến khích, hỗ trợ, hướng dẫn, thu hút doanh nghiệp đầu tư sản xuất quy mô lớn, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, công nghiệp chế biến thực phẩm nhằm xây dựng thương hiệu, uy tín chất lượng sản phẩm nông sản, thủy sản của địa phương trên thị trường; nâng cao hiệu quả sản xuất, tạo ra lượng hàng hóa lớn đảm bảo ATTP phục vụ cho người tiêu dùng, góp phần tăng giá trị sản phẩm trong sản xuất, tiêu thụ. Đẩy mạnh phát triển chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn trên địa bàn Tỉnh.
6.3. Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực
- Khảo sát, đánh giá nhu cầu đào tạo về công tác quản lý, kiểm soát chất lượng, ATTP ở các cấp và cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh, từ đó có định hướng đúng về hình thức, nội dung, phương pháp và số lượng người đào tạo cho phù hợp, sát với với trình độ nhận thức, đối tượng, tập quán, các vùng sinh thái.
- Bồi dưỡng, đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao có chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện nhiệm vụ quản lý chất lượng, ATTP theo chính sách của Tỉnh. Chú trọng công tác đào tạo và thu hút nguồn nhân lực cho chế biến nông sản thực phẩm.
- Đẩy mạnh công tác phối hợp các viện nghiên cứu, các trường đại học, các tổ chức trong và ngoài nước ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật công nghệ mới, hiện đại, thân thiện với môi trường vào các lĩnh vực sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản, kinh doanh sản phẩm nông lâm thủy sản, nhằm cải thiện và đảm bảo ATTP trên địa bàn tỉnh.
6.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra, thanh tra, giám sát chất lượng, ATTP chuyên ngành
- Thực hiện đồng bộ, quyết liệt công tác quản lý ATTP theo chuỗi từ nuôi trồng, thu hái, khai thác, giết mổ, sơ chế, chế biến đến vận chuyển, tiêu thụ đảm bảo ATTP.
- Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về ATTP của cơ quan nhà nước; kiên quyết xử lý cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý. Lãnh đạo cơ quan quản lý các cấp từ xã đến cấp tỉnh phải chịu trách nhiệm về chất lượng VTNN, ATTP trên địa bàn.
- Giám sát về chất lượng, ATTP tập trung các sản phẩm có nguy cơ cao, được người tiêu dùng sử dụng hàng ngày, duy trì hoạt động giám sát tồn dư kháng sinh, hóa chất độc hại trong nông sản, thủy sản thực phẩm.
- Kiểm tra đánh giá xếp loại, định kỳ chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo ATTP cho các cơ sở kiểm tra đạt yêu cầu, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất về điều kiện bảo đảm ATTP trong toàn bộ chuỗi sản xuất kinh doanh đảm bảo tần suất theo quy định ở cả 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) theo phân công, phân cấp tránh chồng chéo, bỏ sót. Kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả trong giết mổ, vệ sinh thú y, thú y thủy sản.
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất tập trung thanh tra, kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất, kinh doanh hóa chất, kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật,... và việc tuân thủ nguyên tắc sử dụng hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật trong nuôi trồng, bảo quản, sơ chế, chế biến thực phẩm nông lâm thủy sản. Đẩy lùi tình trạng kinh doanh hàng thực phẩm giả, kém chất lượng, quá hạn sử dụng, vi phạm quy định ghi nhãn hàng hóa, có nguồn gốc nhập lậu và gian lận thương mại,... Xử lý nghiêm những hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.
- Phát huy vai trò giám sát cộng đồng, trên cơ sở huy động các tổ chức chính trị-xã hội, chính quyền và người dân cùng tham gia.
6.5. Giải pháp thương mại và xúc tiến đầu tư
- Đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất thực phẩm an toàn nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới. Cung cấp thông tin, định hướng, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, chú trọng hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ sản phẩm an toàn theo chuỗi cung ứng thực phẩm ở cấp tỉnh, nhất là các chính sách, quy định mới có liên quan của Việt Nam và quốc tế, đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài.
- Hỗ trợ doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh tham gia Chương trình xúc tiến thương mại, hội chợ, giới thiệu, quảng bá, tham quan học hỏi, kết nối tiêu thụ sản phẩm. Hỗ trợ các tổ chức cá nhân có sản phẩm đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm tham gia các hội chợ thương mại trong và ngoài nước, đặc biệt các sản phẩm trong chương trình OCOP Tỉnh;
- Cung cấp thông tin cụ thể, chính xác các sản phẩm nông lâm thủy sản an toàn để người tiêu dùng biết, lựa chọn; Tăng cường hoạt động quản lý việc kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy sản, đặc biệt các địa điểm kinh doanh không nằm trong quy hoạch, tiến tới xóa bỏ hiện tượng kinh doanh, buôn bán tự phát.
6.Giải pháp truyền thông, tuyên truyền phổ biến pháp luật
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền các cấp đối với công tác đảm bảo chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản.
- Ủy ban Mặt trận tổ quốc tỉnh, các đoàn thể từ cấp tỉnh đến cơ sở làm tốt công tác vận động đoàn viên, hội viên thực hiện tốt các quy định về ATTP gắn với xây dựng làng, bản, khu phố văn hóa, chương trình xây dựng nông thôn mới tạo sự chuyển biến căn bản về nhận thức trong mọi tầng lớp nhân dân; đưa chương trình tuyên truyền, vận động thực hiện các tiêu chí ATTP vào kế hoạch công tác hàng năm của các tổ chức đoàn thể để tổ chức thực hiện.
- Xác định nhóm đối tượng theo vai trò nhiệm vụ trong chuỗi cung cấp thực phẩm, theo vùng sinh thái, dân tộc... để xây dựng thông điệp, cách tiếp cận thích hợp, xây dựng các sản phẩm truyền thông phù hợp các nhóm đối tượng. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, truyền thông về đảm bảo chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản trên các phương tiện thông tin đại chúng;
- Tổ chức các hội thảo/lớp tập huấn đào tạo hướng dẫn và xây dựng chuỗi liên kết sản xuất, triển khai kiểm soát ATTP tại các công đoạn sản xuất trong chuỗi trên cơ sở đánh giá nguy cơ về ATTP.
6.7. Xã hội hóa công tác quản lý chất lượng, ATTP
Sau khi việc quản lý chất lượng, ATTP hình thành và đạt được những thành công nhất định sẽ chuyển dần công tác quản lý có sự tham gia xã hội hóa nhằm mục đích giảm nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước, đồng thời tranh thủ các nguồn lực, các thành phần khác trong xã hội. Huy động tối đa nguồn lực xã hội tham gia vào công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm.
- Hình thành các hiệp hội, ngành hàng, tổ hợp tác, hợp tác xã: Khuyến khích các tổ chức, cá nhân hoạt động trong cùng loại hình liên kết với nhau tạo thành tổ hợp tác, hợp tác xã tiến tới thành lập hiệp hội ngành hàng trong từng lĩnh vực tạo nên sức mạnh tập thể, tạo hiệu quả cao trong việc đàm phán trong kinh doanh, đồng thời tạo ra cơ chế giám sát chéo lẫn nhau trong việc giám sát chất lượng, ATTP. Các cơ quan nhà nước sẽ hỗ trợ các tổ hợp tác, hợp tác xã, hiệp hội ngành hàng trong hoạt động như tạo điều kiện để tiêu thụ sản phẩm; tập huấn kỹ thuật...
- Hình thành các tổ chức người tiêu dùng: Khuyến khích hình thành các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng do các tổ chức tình nguyện hoặc do chính người tiêu dùng thành lập để bảo vệ người tiêu dùng. Hiệp hội người tiêu dùng là cơ quan đại diện cho người tiêu dùng đồng thời hỗ trợ các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý.
- Đẩy mạnh xã hội hóa một số khâu dịch vụ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý chất lượng, ATTP như công tác kiểm nghiệm, tổ chức chứng nhận; phát huy vai trò của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các tổ chức đoàn thể trong việc tham gia bảo đảm ATTP.
- Khuyến khích các cơ sở duy trì tốt điều kiện ATTP song song với áp dụng chế độ kiểm tra giám sát chặt chẽ đối với các cơ sở vi phạm.
6.8. Giải pháp đảm bảo nguồn vốn đầu tư
a) Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ngân sách đầu tư vào công tác quản lý chất lượng ATTP. Nguồn vốn từ ngân sách để đầu tư hạ tầng cơ sở, trang thiết bị, đào tạo, tuyên truyền, tập huấn, xúc tiến thương mại, hỗ trợ phát triển sản xuất phục vụ công tác quản lý của các cơ quan quan quản lý các cấp.
Nguồn vốn ngân sách nhà nước được huy động theo nguyên tắc cơ quan chuyên môn cấp nào thì do cấp đó chịu trách nhiệm bố trí trên cơ sở lồng ghép với các chương trình, nhiệm vụ, dự án khác để thực hiện Đề án.
Nguồn vốn khác (của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, FDI,...)
Đây là nguồn vốn đóng vai trò quan trọng trong tổng vốn đầu tư đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm trong lĩnh vực sản xuất chế biến nông lâm thủy sản. Vốn đầu tư từ các doanh nghiệp ưu tiên đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng hạ tầng, cơ sở vật chất nhà xưởng, máy móc thiết bị, thương mại đảm bảo chất lượng, ATTP sản phẩm nông lâm thủy sản.