Document: Khoản 11 Điều 1 Quyết định 46/2006/QĐ-TTg  đề án quy hoạch tổng thể lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn 2015-2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/02/2006", "sign_number": "46/2006/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/02/2006", "sign_number": "46/2006/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/02/2006", "sign_number": "46/2006/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/02/2006", "sign_number": "46/2006/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/02/2006", "sign_number": "46/2006/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 11 Điều 1 Quyết định 46/2006/QĐ-TTg  đề án quy hoạch tổng thể lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn 2015-2020

Điều 1. Phê duyệt Đề án Quy hoạch tổng thể lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
11. Tai nạn giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông đặc biệt nghiêm trọng.
- Cơ quan chỉ huy:
Trung ương: Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn và các cơ quan liên quan;
Địa phương: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Lực lượng tham gia ứng cứu: quân đội, công an, dân quân tự vệ, các đơn vị của Bộ Giao thông vận tải và lực lượng khác của địa phương;
- Phương tiện: xe cẩu, xe nâng chuyên dụng; máy bay trực thăng lưỡng dụng tìm kiếm cứu nạn; máy hàn; máy cắt sắt, cắt bê tông; xe cứu thương.
IV. HỆ THỐNG CƠ QUAN CHỈ ĐẠO VÀ LỰC LƯỢNG TÌM KIẾM CỨU NẠN.
Tổ chức hệ thống cơ quan chỉ đạo và lực lượng tìm kiếm cứu nạn từ Trung ương đến địa phương như sau:
- Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn.
- Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn các Bộ, ngành.
- Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn thuộc huyện (sau đây gọi tắt là Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn địa phương).
Để bảo đảm sự chỉ đạo tập trung, có hiệu quả, căn cứ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tại các Bộ liên quan và các địa phương thành lập cơ quan chỉ đạo làm việc theo chế độ kiêm nhiệm để chỉ đạo công tác tìm kiếm cứu nạn, cơ quan này có thể kiêm nhiệm cả công tác phòng chống lụt bão, phòng chống cháy rừng...
- Các đơn vị chuyên trách làm nhiệm vụ thuộc lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn.
1. Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn.
Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn là cơ quan làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, bao gồm: Chủ tịch là thành viên Chính phủ; Phó Chủ tịch thường trực, một số ủy viên là cấp Thứ trưởng hoặc tương đương thuộc các Bộ: Quốc phòng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Công an, Giao thông vận tải, Công nghiệp, Thủy sản, Y tế, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính và Văn phòng Chính phủ; Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn có cơ quan thường trực chuyên trách đặt tại Bộ Quốc phòng.
Thủ tướng Chính phủ quyết định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn và cơ quan thường trực.
Để bảo đảm sự chỉ đạo kịp thời của Chính phủ và sự phù hợp với Hiệp định ASEAN về quản lý thiên tai và ứng phó khẩn cấp mà Việt Nam đã ký tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 38 tại Viêng Chăn, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, phải khẩn trương triển khai việc nghiên cứu, rà soát lại chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, tính chất, phạm vi hoạt động của các Ban, Ủy ban đang làm việc theo chế độ kiêm nhiệm liên quan đến lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn như: phòng chống lụt bão, thiên tai, phòng chống cháy rừng, phòng chống cháy nổ, an toàn giao thông..., trên cơ sở đó xây dựng đề án về cơ cấu tổ chức theo hướng thành lập cơ quan chuyên trách ở Trung ương và một số đơn vị chuyên trách ở các Bộ liên quan để đảm nhiệm các nhiệm vụ nêu trên.
2. Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn các Bộ, ngành.
Kiện toàn Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn tại một số Bộ: Quốc phòng, Công an, Giao thông vận tải, Thủy sản, Công nghiệp, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Y tế và Tổng công ty Dầu khí Việt Nam.
Ban Chỉ đạo nêu trên làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, chịu sự chỉ đạo trực tiếp về lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn của Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn. Thủ trưởng các Bộ, cơ quan nêu trên quyết định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn tại Bộ, ngành mình.
3. Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn địa phương.
Kiện toàn Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn tại các địa phương.
Ban Chỉ đạo nêu trên làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, chịu sự chỉ đạo về lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn của Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn cấp trên và của Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn. Chủ tịch Ủy ban nhân dân địa phương quyết định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn ở địa phương cấp mình.
4. Các đơn vị chuyên trách làm nhiệm vụ thuộc lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn.
a) Kiện toàn các cơ quan, đơn vị sau đây:
- Cơ quan thường trực giúp việc của Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn.
- Các trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn khu vực; các trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn Hàng hải; các trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn Hàng không (trên các khu vực miền Bắc, miền Trung, miền Nam).
- Các trung tâm ứng phó sự cố tràn dầu khu vực: miền Bắc, miền Trung, miền Nam.
- Trung tâm huấn luyện tìm kiếm cứu nạn Hàng không; Trung tâm huấn luyện tìm kiếm cứu nạn Hàng hải.
b) Nghiên cứu, đề xuất thành lập các đơn vị sau đây:
- Các trạm tìm kiếm cứu nạn tại một số huyện đảo xa đất liền: Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Ly Sơn (Quảng Ngãi), Trường Sa (Khánh Hoà), Phú Quý (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), Thổ Chu, Phú Quốc (Kiên Giang).
- Các đơn vị chuyên trách tìm kiếm cứu nạn thuộc các Bộ: Quốc phòng, Công an, Giao thông vận tải.
Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát đề xuất về mô hình, cơ cấu tổ chức lực lượng, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị nêu tại mục a, b khoản 4 nêu trên, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
V. ĐỊNH HƯỚNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG, MUA SẮM, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TRANG THIẾT BỊ TÌM KIẾM CỨU NẠN GIAI ĐOẠN NĂM 2006 - 2015
1. Nguyên tắc, mục tiêu đầu tư:
a) Xây dựng cơ bản:
Từng bước đầu tư cơ sở vật chất và xây dựng cơ sở hạ tầng cho các đơn vị chuyên trách làm nhiệm vụ thuộc lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn nêu tại điểm 4 phần IV Điều 1 Quyết định này (Phụ lục I kèm theo).
b) Mua sắm trang thiết bị:
- Ưu tiên trang bị các loại thiết yếu, thông dụng phục vụ tìm kiếm cứu nạn đáp ứng nhu cầu cứu nạn tại các vùng trọng điểm bão, lũ và các vùng ven biển để đưa vào dự trữ, sẵn sàng cấp phát khi cần gồm: các loại xuồng, ca nô có tốc độ cao; nhà bạt cứu sinh các loại; phao áo cứu sinh; phao cứu sinh các loại và các loại trang thiết bị cần thiết (Phụ lục II kèm theo).
- Từng bước trang bị các loại thiết bị chuyên dụng đặc biệt, như: máy bay trực thăng lưỡng dụng tìm kiếm cứu nạn; tàu tìm kiếm cứu nạn đa năng, chuyên dụng có tốc độ cao, tầm hoạt động xa bờ, chịu được gió bão đến cấp 8; tàu đa năng, chuyên dụng ứng phó sự cố tràn dầu, tầm hoạt động xa bờ; thiết bị ứng phó sự cố tràn dầu; các trang thiết bị chuyên dụng phục vụ tìm kiếm cứu nạn của các Bộ, ngành (Phụ lục III kèm theo).
Việc mua sắm các loại trang thiết bị nêu trên phải bảo đảm đúng danh mục quy định tại Phụ lục II, Phụ lục III ban hành kèm theo Quyết định này và danh mục quy định chi tiết các chủng loại trang thiết bị tìm kiếm cứu nạn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Các trang thiết bị tìm kiếm cứu nạn dự trữ quốc gia phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn dự trữ quốc gia. Khi cần dự trữ loại trang thiết bị thiết yếu, thông dụng phục vụ tìm kiếm cứu nạn ở một số Bộ, ngành và địa phương phải báo cáo Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
c) Trường hợp khẩn cấp:
Ngoài việc trưng dụng trang thiết bị của cá nhân, tổ chức theo quy định của Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp. Có thể thuê trang thiết bị cần thiết của các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị để đáp ứng kịp thời nhiệm vụ đề ra.
2. Nguồn vốn đầu tư.
a) Nguồn vốn ngân sách:
Hàng năm các cơ quan liên quan xây dựng kế hoạch cụ thể, lập dự toán kinh phí cho lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Trước mắt, từ nay đến năm 2010 nguồn vốn đầu tư chủ yếu được bảo đảm từ ngân sách của Nhà nước và huy động các nguồn vốn khác. Nghiên cứu thực thiện xã hội hóa một số khâu thuộc lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn.
b) Nguồn vốn từ nước ngoài:
Nguồn tài trợ, viện trợ nhân đạo của các tổ chức, cá nhân; vốn từ quan hệ quốc tế về tìm kiếm cứu nạn.
3. Quản lý, sử dụng trang thiết bị tìm kiếm cứu nạn.
Xây dựng cơ chế cấp phát, quản lý, sử dụng trang thiết bị tìm kiếm cứu nạn bao gồm:
- Quy định việc sử dụng hàng dự trữ quốc gia phục vụ tìm kiếm cứu nạn sau khi đã xuất khỏi kho dự trữ quốc gia;
- Quy định việc sử dụng trang thiết bị tìm kiếm cứu nạn được cấp từ các nguồn khác;
- Quy định biện pháp thu hồi, đưa vào niêm cất bảo quản sau khi kết thúc đợt hoạt động tìm kiếm cứu nạn để tái sử dụng trong thời gian tiếp theo;
- Kiểm tra, thống kê, kiểm kê, báo cáo định kỳ, đột xuất.
VI. ĐỊNH HƯỚNG CHUNG GIAI ĐOẠN NĂM 2016 - 2020
Tổ chức tổng kết, đánh giá tình hình, rút kinh nghiệm việc thực hiện Quy hoạch tổng thể lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn ở từng giai đoạn: năm 2006 - 2010 và giai đoạn năm 2011 - 2015, trên cơ sở đó báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả triển khai thực hiện, đề xuất việc điều chỉnh, bổ sung giai đoạn tiếp theo và chủ trương quy hoạch giai đoạn năm 2016 - 2020, trong đó bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
1. Bổ sung, điều chỉnh tổ chức hệ thống tìm kiếm cứu nạn, bảo đảm sự phù hợp với giai đoạn mới.
2. Bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị đã đầu tư giai đoạn trước, đề xuất hướng đầu tư những năm tiếp theo đến năm 2020.
3. Giải pháp thực hiện và trách nhiệm của các Bộ, ngành, cơ quan và địa phương liên quan.
VII. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Xây dựng, hoàn thiện văn bản pháp lý đối với lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để làm cơ sở điều hành, thực thi hoạt động tìm kiếm cứu nạn.
2. Nghiên cứu để có các giải pháp về huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; có cơ chế thực hiện xã hội hóa một số khâu thuộc lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn nhằm huy động các nguồn lực hợp pháp để đầu tư vào lĩnh vực này.
3. Phân biệt dịch vụ công, dịch vụ sinh lời trong tìm kiếm cứu nạn để có giải pháp huy động cá nhân, doanh nghiệp tham gia tìm kiếm cứu nạn hoặc để xác định hướng đầu tư sinh lợi nhuận trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn (như cứu hộ cho các doanh nghiệp, cứu hộ quốc tế).
4. Phát huy vai trò trách nhiệm của các Bộ, ngành trong việc tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch; tăng cường giáo dục truyền thông cho cộng đồng trong việc phòng, chống thiên tai, tai nạn, sự cố.
5. Đến năm 2010 và năm 2015, sau 5 năm một lần cần cập nhật để có hướng điều chỉnh quy hoạch, bảo đảm sự phù hợp với nhu cầu của lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Content:
Tai nạn giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông đặc biệt nghiêm trọng.
- Cơ quan chỉ huy:
Trung ương: Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn và các cơ quan liên quan;
Địa phương: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Lực lượng tham gia ứng cứu: quân đội, công an, dân quân tự vệ, các đơn vị của Bộ Giao thông vận tải và lực lượng khác của địa phương;
- Phương tiện: xe cẩu, xe nâng chuyên dụng; máy bay trực thăng lưỡng dụng tìm kiếm cứu nạn; máy hàn; máy cắt sắt, cắt bê tông; xe cứu thương.
IV. HỆ THỐNG CƠ QUAN CHỈ ĐẠO VÀ LỰC LƯỢNG TÌM KIẾM CỨU NẠN.
Tổ chức hệ thống cơ quan chỉ đạo và lực lượng tìm kiếm cứu nạn từ Trung ương đến địa phương như sau:
- Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn.
- Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn các Bộ, ngành.
- Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn thuộc huyện (sau đây gọi tắt là Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn địa phương).
Để bảo đảm sự chỉ đạo tập trung, có hiệu quả, căn cứ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tại các Bộ liên quan và các địa phương thành lập cơ quan chỉ đạo làm việc theo chế độ kiêm nhiệm để chỉ đạo công tác tìm kiếm cứu nạn, cơ quan này có thể kiêm nhiệm cả công tác phòng chống lụt bão, phòng chống cháy rừng...
- Các đơn vị chuyên trách làm nhiệm vụ thuộc lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn.
1. Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn.
Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn là cơ quan làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, bao gồm: Chủ tịch là thành viên Chính phủ; Phó Chủ tịch thường trực, một số ủy viên là cấp Thứ trưởng hoặc tương đương thuộc các Bộ: Quốc phòng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Công an, Giao thông vận tải, Công nghiệp, Thủy sản, Y tế, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính và Văn phòng Chính phủ; Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn có cơ quan thường trực chuyên trách đặt tại Bộ Quốc phòng.
Thủ tướng Chính phủ quyết định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn và cơ quan thường trực.
Để bảo đảm sự chỉ đạo kịp thời của Chính phủ và sự phù hợp với Hiệp định ASEAN về quản lý thiên tai và ứng phó khẩn cấp mà Việt Nam đã ký tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 38 tại Viêng Chăn, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, phải khẩn trương triển khai việc nghiên cứu, rà soát lại chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, tính chất, phạm vi hoạt động của các Ban, Ủy ban đang làm việc theo chế độ kiêm nhiệm liên quan đến lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn như: phòng chống lụt bão, thiên tai, phòng chống cháy rừng, phòng chống cháy nổ, an toàn giao thông..., trên cơ sở đó xây dựng đề án về cơ cấu tổ chức theo hướng thành lập cơ quan chuyên trách ở Trung ương và một số đơn vị chuyên trách ở các Bộ liên quan để đảm nhiệm các nhiệm vụ nêu trên.
2. Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn các Bộ, ngành.
Kiện toàn Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn tại một số Bộ: Quốc phòng, Công an, Giao thông vận tải, Thủy sản, Công nghiệp, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Y tế và Tổng công ty Dầu khí Việt Nam.
Ban Chỉ đạo nêu trên làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, chịu sự chỉ đạo trực tiếp về lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn của Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn. Thủ trưởng các Bộ, cơ quan nêu trên quyết định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn tại Bộ, ngành mình.
3. Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn địa phương.
Kiện toàn Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn tại các địa phương.
Ban Chỉ đạo nêu trên làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, chịu sự chỉ đạo về lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn của Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn cấp trên và của Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn. Chủ tịch Ủy ban nhân dân địa phương quyết định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Tìm kiếm Cứu nạn ở địa phương cấp mình.
4. Các đơn vị chuyên trách làm nhiệm vụ thuộc lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn.
a) Kiện toàn các cơ quan, đơn vị sau đây:
- Cơ quan thường trực giúp việc của Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn.
- Các trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn khu vực; các trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn Hàng hải; các trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn Hàng không (trên các khu vực miền Bắc, miền Trung, miền Nam).
- Các trung tâm ứng phó sự cố tràn dầu khu vực: miền Bắc, miền Trung, miền Nam.
- Trung tâm huấn luyện tìm kiếm cứu nạn Hàng không; Trung tâm huấn luyện tìm kiếm cứu nạn Hàng hải.
b) Nghiên cứu, đề xuất thành lập các đơn vị sau đây:
- Các trạm tìm kiếm cứu nạn tại một số huyện đảo xa đất liền: Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Ly Sơn (Quảng Ngãi), Trường Sa (Khánh Hoà), Phú Quý (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), Thổ Chu, Phú Quốc (Kiên Giang).
- Các đơn vị chuyên trách tìm kiếm cứu nạn thuộc các Bộ: Quốc phòng, Công an, Giao thông vận tải.
Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát đề xuất về mô hình, cơ cấu tổ chức lực lượng, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị nêu tại mục a, b khoản 4 nêu trên, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
V. ĐỊNH HƯỚNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG, MUA SẮM, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TRANG THIẾT BỊ TÌM KIẾM CỨU NẠN GIAI ĐOẠN NĂM 2006 - 2015
1. Nguyên tắc, mục tiêu đầu tư:
a) Xây dựng cơ bản:
Từng bước đầu tư cơ sở vật chất và xây dựng cơ sở hạ tầng cho các đơn vị chuyên trách làm nhiệm vụ thuộc lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn nêu tại điểm 4 phần IV Điều 1 Quyết định này (Phụ lục I kèm theo).
b) Mua sắm trang thiết bị:
- Ưu tiên trang bị các loại thiết yếu, thông dụng phục vụ tìm kiếm cứu nạn đáp ứng nhu cầu cứu nạn tại các vùng trọng điểm bão, lũ và các vùng ven biển để đưa vào dự trữ, sẵn sàng cấp phát khi cần gồm: các loại xuồng, ca nô có tốc độ cao; nhà bạt cứu sinh các loại; phao áo cứu sinh; phao cứu sinh các loại và các loại trang thiết bị cần thiết (Phụ lục II kèm theo).
- Từng bước trang bị các loại thiết bị chuyên dụng đặc biệt, như: máy bay trực thăng lưỡng dụng tìm kiếm cứu nạn; tàu tìm kiếm cứu nạn đa năng, chuyên dụng có tốc độ cao, tầm hoạt động xa bờ, chịu được gió bão đến cấp 8; tàu đa năng, chuyên dụng ứng phó sự cố tràn dầu, tầm hoạt động xa bờ; thiết bị ứng phó sự cố tràn dầu; các trang thiết bị chuyên dụng phục vụ tìm kiếm cứu nạn của các Bộ, ngành (Phụ lục III kèm theo).
Việc mua sắm các loại trang thiết bị nêu trên phải bảo đảm đúng danh mục quy định tại Phụ lục II, Phụ lục III ban hành kèm theo Quyết định này và danh mục quy định chi tiết các chủng loại trang thiết bị tìm kiếm cứu nạn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Các trang thiết bị tìm kiếm cứu nạn dự trữ quốc gia phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn dự trữ quốc gia. Khi cần dự trữ loại trang thiết bị thiết yếu, thông dụng phục vụ tìm kiếm cứu nạn ở một số Bộ, ngành và địa phương phải báo cáo Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
c) Trường hợp khẩn cấp:
Ngoài việc trưng dụng trang thiết bị của cá nhân, tổ chức theo quy định của Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp. Có thể thuê trang thiết bị cần thiết của các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị để đáp ứng kịp thời nhiệm vụ đề ra.
2. Nguồn vốn đầu tư.
a) Nguồn vốn ngân sách:
Hàng năm các cơ quan liên quan xây dựng kế hoạch cụ thể, lập dự toán kinh phí cho lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Trước mắt, từ nay đến năm 2010 nguồn vốn đầu tư chủ yếu được bảo đảm từ ngân sách của Nhà nước và huy động các nguồn vốn khác. Nghiên cứu thực thiện xã hội hóa một số khâu thuộc lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn.
b) Nguồn vốn từ nước ngoài:
Nguồn tài trợ, viện trợ nhân đạo của các tổ chức, cá nhân; vốn từ quan hệ quốc tế về tìm kiếm cứu nạn.
3. Quản lý, sử dụng trang thiết bị tìm kiếm cứu nạn.
Xây dựng cơ chế cấp phát, quản lý, sử dụng trang thiết bị tìm kiếm cứu nạn bao gồm:
- Quy định việc sử dụng hàng dự trữ quốc gia phục vụ tìm kiếm cứu nạn sau khi đã xuất khỏi kho dự trữ quốc gia;
- Quy định việc sử dụng trang thiết bị tìm kiếm cứu nạn được cấp từ các nguồn khác;
- Quy định biện pháp thu hồi, đưa vào niêm cất bảo quản sau khi kết thúc đợt hoạt động tìm kiếm cứu nạn để tái sử dụng trong thời gian tiếp theo;
- Kiểm tra, thống kê, kiểm kê, báo cáo định kỳ, đột xuất.
VI. ĐỊNH HƯỚNG CHUNG GIAI ĐOẠN NĂM 2016 - 2020
Tổ chức tổng kết, đánh giá tình hình, rút kinh nghiệm việc thực hiện Quy hoạch tổng thể lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn ở từng giai đoạn: năm 2006 - 2010 và giai đoạn năm 2011 - 2015, trên cơ sở đó báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả triển khai thực hiện, đề xuất việc điều chỉnh, bổ sung giai đoạn tiếp theo và chủ trương quy hoạch giai đoạn năm 2016 - 2020, trong đó bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
1. Bổ sung, điều chỉnh tổ chức hệ thống tìm kiếm cứu nạn, bảo đảm sự phù hợp với giai đoạn mới.
2. Bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị đã đầu tư giai đoạn trước, đề xuất hướng đầu tư những năm tiếp theo đến năm 2020.
3. Giải pháp thực hiện và trách nhiệm của các Bộ, ngành, cơ quan và địa phương liên quan.
VII. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Xây dựng, hoàn thiện văn bản pháp lý đối với lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để làm cơ sở điều hành, thực thi hoạt động tìm kiếm cứu nạn.
2. Nghiên cứu để có các giải pháp về huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; có cơ chế thực hiện xã hội hóa một số khâu thuộc lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn nhằm huy động các nguồn lực hợp pháp để đầu tư vào lĩnh vực này.
3. Phân biệt dịch vụ công, dịch vụ sinh lời trong tìm kiếm cứu nạn để có giải pháp huy động cá nhân, doanh nghiệp tham gia tìm kiếm cứu nạn hoặc để xác định hướng đầu tư sinh lợi nhuận trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn (như cứu hộ cho các doanh nghiệp, cứu hộ quốc tế).
4. Phát huy vai trò trách nhiệm của các Bộ, ngành trong việc tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch; tăng cường giáo dục truyền thông cho cộng đồng trong việc phòng, chống thiên tai, tai nạn, sự cố.
5. Đến năm 2010 và năm 2015, sau 5 năm một lần cần cập nhật để có hướng điều chỉnh quy hoạch, bảo đảm sự phù hợp với nhu cầu của lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.