Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 42/2001/QĐ-UB phát triển ngành Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Quảng Bình 2001 2010

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "13/12/2001", "sign_number": "42/2001/QĐ-UB", "signer": "Đinh Hữu Cường", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "13/12/2001", "sign_number": "42/2001/QĐ-UB", "signer": "Đinh Hữu Cường", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "13/12/2001", "sign_number": "42/2001/QĐ-UB", "signer": "Đinh Hữu Cường", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "13/12/2001", "sign_number": "42/2001/QĐ-UB", "signer": "Đinh Hữu Cường", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "13/12/2001", "sign_number": "42/2001/QĐ-UB", "signer": "Đinh Hữu Cường", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 42/2001/QĐ-UB phát triển ngành Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Quảng Bình 2001 2010

Điều 1. : Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thời kỳ 2001 - 2010 với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
3. Thủy lợi:
Từ nay đến năm 2010 cơ bản giải quyết được hạn, mặn, úng cho các vùng sản xuất lúa trong toàn tỉnh, đồng thời tăng diện tích tưới cho một số loại cây trồng khác như: tiêu, lạc, mía, rau màu; tao sự chuyển biến mạnh mẽ về công tác thủy lợi vùng núi và gò đồi. Đảm bảo tiêu úng chắc chắn để giao cây đúng thời vụ ở vùng ruộng sâu. Phấn đấu đến năm 2010 tưới cho diện tích lúa 48.000 ha, trong đó tưới chủ động 47.000 ha, tưới cho cây khác 5.000 ha.
Hoàn thành các công trình chuyển tiếp để đưa vào sử dụng, từng bước xây dựng mới các công trình trọng điểm như hồ Rào Đá, Bang, Khe Lau, Thác Chuối, Bồng lai, Ồ ồ, Khe Văn và các trạm bơm điện ở 2 huyện miền núi. Tiếp tục đầu tư, nâng cấp các công trình hiện có, kiên cố hóa canh mương, đặc biệt là ở những vùng trọng điểm lúa, tu sửa, bồi trúc hệ thống đê điều ngăn mặn, chống úng ở các huyện, nhằm hạn chế những thiệt hại cho sản xuất.
III/ Những giải pháp chủ yếu phát triển nông, lâm nghiệp và kinh tế nông thôn:
- Đẩy mạnh công tác khuyến nông, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, đổi mới giống cây, con, quy hoạch, xây dựng vùng chuyên canh các cây công nghiệp chủ lực, tạo vành đai thực phẩm, rau đậu quanh thị xã Đồng Hới và các thị trấn.
- Đưa nhanh các giống có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh vào sản xuất. Đối với vụ 8 cần đưa bộ giống lúa ngắn ngày và cực ngắn có năng suất cao để tạo thế ổn định và gặt trước mùa bão lụt.
- Tăng cường công tác bảo vệ thực vật, phòng trừ có hiệu quả các loại sâu bệnh, dập tắt các ổ dịch bệnh, giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra.
- Ứng dụng công nghệ và kỹ thuật canh tác thích hợp nhằm giảm bớt thất thoát trong và sau khi thu hoạch, tăng chất lượng nông sản.
- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng để tăng diện tích, sản lượng mía cho Nhà máy đường và nuôi tôm phục vụ chế biến xuất khẩu. Phát triển tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề trong nông thôn, chú trọng công tác chế biến nông sản nhằm tăng cường tiêu thụ sản phẩm cho nhân dân.
- Tổ chức tốt hoạt động ứng dụng vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc thú y, công cụ máy móc cho nhân dân, tạo điều kiện cho kinh tế nông thôn phát triển.
- Tăng cường cơ sở vật chất, cán bộ cho hệ thống thú y toàn tỉnh, thực hiện nghiêm túc pháp lệnh thú y, kiểm soát công tác giết mổ động vật, vệ sinh thực phẩm, nâng cao tỷ lệ tiêm phòng và chủ động trong công tác chẩn đoán bệnh.
- Tăng cường cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi, khuyến khích hộ gia đình, phát triển chăn nuôi có quy mô khá lớn, lập lại trật tự trong quản lý giống thức ăn và an toàn dịch bệnh gia súc, gia cầm.
- Giải quyết tốt vấn đề thủy lợi cho nông thôn gắn với công tác phòng chống thiên tai. Bên cạnh đầu tư xây dựng mới các công trình thủy lợi cần phải chú trọng cải tạo, nâng cấp; kiên cố hóa canh mương, với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, mặt khác khép kín hệ thống thủy nông nội đồng nhằm tăng diện tích tưới.
- Ứng dụng các công nghệ mới, vật liệu mới và những tiến bộ kỹ thuật xây dựng công trình thủy lợi nhằm đảm bảo chất lượng và quản lý khai thác công trình.
- Đổi mới cơ chế quản lý thủy nông từ tỉnh xuống cơ sở phù hợp với yêu cầu phát triển nông thôn.
- Đẩy mạnh công tác khuyến lâm, áp dụng các mô hình nông lâm kết hợp, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng rừng, thực hiện tốt các chương trình tuyển chọn giống cây trồng, chương trình trồng rừng ven biển, tuyên truyền giáo dục về bảo vệ rừng.
- Huy động mọi nguồn vốn như chương trình 5 triệu ha rừng, thuế tài nguyên, ODA, NGO, để đầu tư trồng mới, chăm sóc, bảo vệ và phát triển vốn rừng.
- Đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý của các lâm trường quốc doanh toàn tỉnh, mặt khác làm tốt công tác giao đất, giao rừng đến từng hộ nông dân nhằm tiến tới mọi khu rừng đều có chủ quản lý và quản lý theo đúng quy chế.
- Coi trọng việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lao động trẻ ở nông thôn để đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Xây dựng các mô hình làm ăn giỏi để nhân ra diện rộng. Có kế hoạch thu hút lực lượng cán bộ kỹ thuật nông lâm nghiệp có năng lực, đào tạo bổ sung nguồn nhân lực tại chỗ để phục vụ cho phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Content:
Thủy lợi:
Từ nay đến năm 2010 cơ bản giải quyết được hạn, mặn, úng cho các vùng sản xuất lúa trong toàn tỉnh, đồng thời tăng diện tích tưới cho một số loại cây trồng khác như: tiêu, lạc, mía, rau màu; tao sự chuyển biến mạnh mẽ về công tác thủy lợi vùng núi và gò đồi. Đảm bảo tiêu úng chắc chắn để giao cây đúng thời vụ ở vùng ruộng sâu. Phấn đấu đến năm 2010 tưới cho diện tích lúa 48.000 ha, trong đó tưới chủ động 47.000 ha, tưới cho cây khác 5.000 ha.
Hoàn thành các công trình chuyển tiếp để đưa vào sử dụng, từng bước xây dựng mới các công trình trọng điểm như hồ Rào Đá, Bang, Khe Lau, Thác Chuối, Bồng lai, Ồ ồ, Khe Văn và các trạm bơm điện ở 2 huyện miền núi. Tiếp tục đầu tư, nâng cấp các công trình hiện có, kiên cố hóa canh mương, đặc biệt là ở những vùng trọng điểm lúa, tu sửa, bồi trúc hệ thống đê điều ngăn mặn, chống úng ở các huyện, nhằm hạn chế những thiệt hại cho sản xuất.
III/ Những giải pháp chủ yếu phát triển nông, lâm nghiệp và kinh tế nông thôn:
- Đẩy mạnh công tác khuyến nông, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, đổi mới giống cây, con, quy hoạch, xây dựng vùng chuyên canh các cây công nghiệp chủ lực, tạo vành đai thực phẩm, rau đậu quanh thị xã Đồng Hới và các thị trấn.
- Đưa nhanh các giống có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh vào sản xuất. Đối với vụ 8 cần đưa bộ giống lúa ngắn ngày và cực ngắn có năng suất cao để tạo thế ổn định và gặt trước mùa bão lụt.
- Tăng cường công tác bảo vệ thực vật, phòng trừ có hiệu quả các loại sâu bệnh, dập tắt các ổ dịch bệnh, giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra.
- Ứng dụng công nghệ và kỹ thuật canh tác thích hợp nhằm giảm bớt thất thoát trong và sau khi thu hoạch, tăng chất lượng nông sản.
- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng để tăng diện tích, sản lượng mía cho Nhà máy đường và nuôi tôm phục vụ chế biến xuất khẩu. Phát triển tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề trong nông thôn, chú trọng công tác chế biến nông sản nhằm tăng cường tiêu thụ sản phẩm cho nhân dân.
- Tổ chức tốt hoạt động ứng dụng vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc thú y, công cụ máy móc cho nhân dân, tạo điều kiện cho kinh tế nông thôn phát triển.
- Tăng cường cơ sở vật chất, cán bộ cho hệ thống thú y toàn tỉnh, thực hiện nghiêm túc pháp lệnh thú y, kiểm soát công tác giết mổ động vật, vệ sinh thực phẩm, nâng cao tỷ lệ tiêm phòng và chủ động trong công tác chẩn đoán bệnh.
- Tăng cường cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi, khuyến khích hộ gia đình, phát triển chăn nuôi có quy mô khá lớn, lập lại trật tự trong quản lý giống thức ăn và an toàn dịch bệnh gia súc, gia cầm.
- Giải quyết tốt vấn đề thủy lợi cho nông thôn gắn với công tác phòng chống thiên tai. Bên cạnh đầu tư xây dựng mới các công trình thủy lợi cần phải chú trọng cải tạo, nâng cấp; kiên cố hóa canh mương, với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, mặt khác khép kín hệ thống thủy nông nội đồng nhằm tăng diện tích tưới.
- Ứng dụng các công nghệ mới, vật liệu mới và những tiến bộ kỹ thuật xây dựng công trình thủy lợi nhằm đảm bảo chất lượng và quản lý khai thác công trình.
- Đổi mới cơ chế quản lý thủy nông từ tỉnh xuống cơ sở phù hợp với yêu cầu phát triển nông thôn.
- Đẩy mạnh công tác khuyến lâm, áp dụng các mô hình nông lâm kết hợp, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng rừng, thực hiện tốt các chương trình tuyển chọn giống cây trồng, chương trình trồng rừng ven biển, tuyên truyền giáo dục về bảo vệ rừng.
- Huy động mọi nguồn vốn như chương trình 5 triệu ha rừng, thuế tài nguyên, ODA, NGO, để đầu tư trồng mới, chăm sóc, bảo vệ và phát triển vốn rừng.
- Đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý của các lâm trường quốc doanh toàn tỉnh, mặt khác làm tốt công tác giao đất, giao rừng đến từng hộ nông dân nhằm tiến tới mọi khu rừng đều có chủ quản lý và quản lý theo đúng quy chế.
- Coi trọng việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lao động trẻ ở nông thôn để đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Xây dựng các mô hình làm ăn giỏi để nhân ra diện rộng. Có kế hoạch thu hút lực lượng cán bộ kỹ thuật nông lâm nghiệp có năng lực, đào tạo bổ sung nguồn nhân lực tại chỗ để phục vụ cho phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn.