Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 138/QĐ-UBND năm 2010 Quy hoạch phát triển giáo dục đào tạo đến 2015

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Phước", "promulgation_date": "15/01/2010", "sign_number": "138/QĐ-UBND", "signer": "Trương Tấn Thiệu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Phước", "promulgation_date": "15/01/2010", "sign_number": "138/QĐ-UBND", "signer": "Trương Tấn Thiệu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Phước", "promulgation_date": "15/01/2010", "sign_number": "138/QĐ-UBND", "signer": "Trương Tấn Thiệu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Phước", "promulgation_date": "15/01/2010", "sign_number": "138/QĐ-UBND", "signer": "Trương Tấn Thiệu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Phước", "promulgation_date": "15/01/2010", "sign_number": "138/QĐ-UBND", "signer": "Trương Tấn Thiệu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 138/QĐ-UBND năm 2010 Quy hoạch phát triển giáo dục đào tạo đến 2015

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Bình Phước đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 (có Quy hoạch kèm theo), với các nội dung chính như sau:
...
2. Nội dung Quy hoạch
1.1. Mục tiêu tổng quát
Giáo dục - đào tạo Bình Phước có qui mô phù hợp, chất lượng và hiệu quả cao, đáp ứng tốt mục tiêu phát triển, hoàn thiện nhân cách con người, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế ngày càng sâu rộng; đồng thời thoả mãn nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân.
2. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể
- Về giáo dục mầm non
Nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ em trước 6 tuổi bằng những hình thức thích hợp, tạo cơ sở để trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, thẩm mĩ; mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo, đặc biệt chú trọng trẻ 5 tuổi, trẻ em các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; phổ biến rộng rãi kiến thức và phương pháp nuôi dạy trẻ cho các gia đình; hạ thấp và xoá bỏ tình trạng suy dinh dưỡng và kém phát triển ở trẻ em.
Tăng tỉ lệ trẻ em đi nhà trẻ từ 8,3% (2008) lên 25% (2015) và 50-55% (2020). Tỉ lệ trẻ em từ 3-5 tuổi đi học mẫu giáo tăng từ 47,8% (2008) lên 75% (2015) và 85-90% (2020); đặc biệt trẻ 5 tuổi đi học tăng từ 90% (2008) lên 95-98% (2015) và 100% (2020).
Đến năm 2015, mỗi xã vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn có ít nhất 1 trường công lập làm nòng cốt. Số trường đạt chuẩn quốc gia 10-15% trên tổng số trường. Các trường đều có đủ các khu, phòng chức năng, công trình vệ sinh, nước sạch, sân chơi, tường rào...
Từ sau năm 2015, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, tập trung xây dựng một số trường trọng điểm, hướng tới đạt chuẩn quốc gia từ 50-55% (2020).
Đào tạo, bồi dưỡng và từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non, nâng cao tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn từ 75,6% (2008) lên 80-85% (2015) và 100% (2020).
- Về giáo dục phổ thông
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục đạo đức, nhân cách, pháp luật và truyền thống cho học sinh. Cung cấp những kiến thức phổ thông cơ bản, có hệ thống, tiếp cận với trình độ chung của quốc gia, khu vực và thế giới; tạo dựng và kích thích tính chủ động, tích cực và sáng tạo, giúp cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống. Giáo dục phổ thông phải có sự liên kết chặt chẽ với giáo dục kĩ thuật nghề nghiệp phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương, của vùng để tạo cơ hội thuận lợi cho học sinh khi tham gia vào thị trường lao động.
+ Tiểu học: duy trì thành quả đã đạt được của phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, tiến tới hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi vào năm 2015.
Tăng tỉ lệ huy động học sinh đi học từ 85,5% (2008) lên 100% (2015). Tỉ lệ học sinh được học 2 buổi/ngày từ 20% (2008) lên 50-60% (2015) và 100% (2020).
Đủ phòng học, 50-60% số học sinh có đủ phòng học 2 buổi/ngày (2015) và 100% (2020); các khu, phòng, công trình chức năng được đảm bảo. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia tăng từ 7,6% (2008) lên 45-50% (2015) và 65-70% (2020). Mỗi huyện/thị xã có từ 2-3 trường trọng điểm chất lượng cao (2020).
Đảm bảo đủ giáo viên cả số lượng và theo cơ cấu bộ môn; nâng tỉ lệ đạt chuẩn của giáo viên từ 98,3% (2008) lên 100% (2015), trong đó tỉ lệ giáo viên trên chuẩn tăng từ 27% (2008) lên 35- 40% (2015) và 70-75% (2020).
+ Trung học cơ sở: phấn đấu hoàn thành phổ cập vào năm học 2009-2010. Nâng cao chất lượng giáo dục đại trà; đẩy mạnh công tác hướng nghiệp tạo thuận lợi cho phân luồng sau trung học cơ sở (THCS) phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương.
Tăng tỉ lệ học sinh THCS từ 69,1% (2008) lên 92% (2015) và 100% (2020); trong đó tỉ lệ học sinh THCS đúng độ tuổi là 80% (2008), 90-95% (2015) và 100% (2020).
Mỗi trường đều có đủ phòng học; số phòng kiên cố hóa, đúng qui cách chiếm 75-80% (2015) và 100% (2020); các trường có đủ các khối phòng chức năng và công trình phụ. Hoàn thành việc xoá “xã trắng” trường THCS (2015). Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia 25-30% (2015) và 50-55% (2020); mỗi huyện/thị đều có trường trọng điểm chất lượng cao. Tỷ lệ trường ngoài công lập 10-15% (2020).
Đảm bảo đủ giáo viên cả số lượng và cơ cấu; tỷ lệ đạt chuẩn 99,3% (2008) lên 100% (2010), nâng cao tỉ lệ trên chuẩn đào tạo từ 18,2% (2008) lên 40% (2015) và 65-70% (2020).
+ Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học: cùng với các trường trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp góp phần vào thực hiện mục tiêu hoàn thành phổ cập trung học vào năm 2020; nâng cao chất lượng giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu đạt chuẩn quốc gia, trong đó một bộ phận tiến tới đạt chuẩn mực khu vực; tạo mọi điều kiện phát huy năng lực của mỗi học sinh trong việc lựa chọn ngành/nghề đào tạo sau trung học hoặc tham gia thị trường lao động.
Tăng tỉ lệ học trung học phổ thông (THPT) từ 47,1% (2008) lên 72% (2015) và đạt 75-80% (2020). Thực hiện phân luồng học sinh sau THCS vào các trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, tiến dần tới mục tiêu phổ cập trung học cho thanh niên, thiếu niên trong độ tuổi 15-21, đặc biệt 15-17 tuổi ở 5-6/10 huyện, thị vào năm 2015 và đạt 10/12 huyện, thị (2020).
Các trường có đủ phòng học kiên cố, đúng quy cách; các khối phòng chức năng và công trình phụ. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia 10-15% (2015) và 40-45% (2020); có từ 1-2 trường trọng điểm chất lượng cao(hoặc trường chuyên). Tỷ lệ trường ngoài công lập đạt 6% (2015) và 10-15% (2020).
Tỉ lệ đạt chuẩn của giáo viên tăng từ 97,2% (2008) lên 100% (2010), trong đó số trên chuẩn là 10-15% (2015) và 20-25% (2020).
+ Trường phổ thông dân tộc nội trú:
Các trường phổ thông dân tộc nội trú tiếp tục được đầu tư mở rộng và đảm bảo cơ sở vật chất (các phòng học, khu các phòng chức năng, diện tích khuôn viên, tường rào, nhà ở cho học sinh...). Ngoài 5 trường DTNT hiện có, dự kiến sẽ nâng cấp Trường DTNT Phước Long lên thành Trường DTNT cấp 2+3 Phước Long, thành lập Trường DTNT Đồng Phú và Trường DTNT Bù Đốp. Như vậy, đến năm 2015, số lượng trường DTNT sẽ là 7 trường. Dự kiến nâng cấp Trường DTNT Bình Long thành Trường DTNT cấp 2+3 sau năm 2015.
Hình thành một số cơ sở trường bán trú dân nuôi ở các trung tâm cụm xã cho cấp tiểu học hoặc trường phổ thông có nhiều cấp học.
- Về đào tạo nhân lực (đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học):
Tiến tới đảm bảo phần lớn yêu cầu nhân lực có trình độ chuyên môn kĩ thuật theo các cấp trình độ (dạy nghề các trình độ, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và trên đại học), phối hợp với các cơ sở đào tạo trong vùng hợp tác đào tạo, chuẩn hoá và bồi dưỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, qui hoạch phát triển chung của vùng đến năm 2020, hội nhập với tiến trình phát triển chung của cả nước. Đảm bảo thực hiện mục tiêu nhân lực được đặt ra trong Qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Bình Phước đến năm 2020: tăng tỉ lệ lao động qua đào tạo từ 23% (2005) lên 40-45% (2015) và 55-60% (2020).
Giai đoạn 2010-2015, chuẩn bị điều kiện để đầu tư nâng cấp Trường Trung cấp Y tế lên Trường Cao đẳng Y tế (2012); tăng cường năng lực đào tạo cho các trường: Trường Trung cấp Kinh tế - kỹ thuật, 2 trường dạy nghề và 12 cơ sở dạy nghề và có đăng ký dạy nghề; chuẩn bị điều kiện nâng cấp Trường Cao đẳng Sư phạm thành trường đại học đa ngành (sau 2015) và mở rộng mạng lưới các cơ sở dạy nghề xã hội và tư nhân để đáp ứng nhu cầu học và chuyển đổi nghề của người lao động. Đồng thời, nghiên cứu xây dựng một số cơ sở giáo dục khác (Trường Năng khiếu TDTT, Văn hoá - Nghệ thuật, dạy nghề cho người tàn tật và Trường Giáo dưỡng).
Giai đoạn 2016-2020, thành lập trường đại học (ĐH) đa ngành (trên cơ sở nâng cấp CĐ Sư phạm); nâng cấp Trường Trung cấp nghề Tôn Đức Thắng lên thành Trường Cao đăng nghề Tôn Đức Thắng; thu hút và liên kết xây dựng 1 trường ĐH đạt chuẩn quốc tế; thành lập mới 2 trường trung cấp nghề (1 trường tư thục và 01 trường của doanh nghiệp nằm trong KCN), mỗi huyện, thị đều có 1 trung tâm dạy nghề để đến năm 2020 Bình Phước sẽ có tổng số 31 trường, trung tâm dạy nghề và các cơ sở có đăng ký dạy nghề.
Tiếp tục thu hút và đa dạng hoá các nguồn đầu tư nâng cao chất lượng của hệ thống các cơ sở đào tạo, đảm bảo đào tạo nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nhân lực cho sự phát triển khu liên hợp công nghiệp - dịch vụ - đô thị; cho nhóm ngành công nghiệp cơ khí, sửa chữa, chế tạo trong sản xuất nông, lâm nghiệp, nâng cao chất lượng vận tải; cho nhóm ngành dệt, may, da, giầy, điện - điện tử, sản xuất vật liệu xây dựng; nhân lực chuyên môn hóa trồng trọt, chăm sóc và chế biến nông sản hàng hoá có tính cạnh tranh cao như cao su, cà phê, hồ tiêu, điều; cây ăn quả; chăn nuôi và chế biến các sản phẩm chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò).
- Các trung tâm giáo dục tổng hợp, hướng nghiệp các huyện, thị đảm bảo triển khai một phần và phối hợp với các trường, trung tâm dạy nghề nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề phù hợp với định hướng phát triển và cơ cấu kinh tế của địa phương; những ngành, nghề tương đối đặc biệt và yêu cầu kỹ năng, trình độ cao thì sẽ do Trường Cao đẳng nghề của tỉnh và phối hợp với các trường đào tạo nghề trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam để đào tạo.
- Các Trung tâm giáo dục thường xuyên (TTGDTX), Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) được thành lập tại tất cả các huyện, thị, trên các địa bàn xã, phường, thị trấn đặc biệt các huyện vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, biên giới còn nhiều khó khăn; từng bước nâng cấp TTGDTX để đủ sức tiếp nhận và giảng dạy học sinh sau phân luồng THCS, giảm áp lực cho khối trường THPT và góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, tạo điều kiện cho mọi người dân có thể học tập suốt đời, hướng tới một xã hội học tập.

Content:
Nội dung Quy hoạch
1.1. Mục tiêu tổng quát
Giáo dục - đào tạo Bình Phước có qui mô phù hợp, chất lượng và hiệu quả cao, đáp ứng tốt mục tiêu phát triển, hoàn thiện nhân cách con người, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế ngày càng sâu rộng; đồng thời thoả mãn nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân.
Mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể
- Về giáo dục mầm non
Nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ em trước 6 tuổi bằng những hình thức thích hợp, tạo cơ sở để trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, thẩm mĩ; mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo, đặc biệt chú trọng trẻ 5 tuổi, trẻ em các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; phổ biến rộng rãi kiến thức và phương pháp nuôi dạy trẻ cho các gia đình; hạ thấp và xoá bỏ tình trạng suy dinh dưỡng và kém phát triển ở trẻ em.
Tăng tỉ lệ trẻ em đi nhà trẻ từ 8,3% (2008) lên 25% (2015) và 50-55% (2020). Tỉ lệ trẻ em từ 3-5 tuổi đi học mẫu giáo tăng từ 47,8% (2008) lên 75% (2015) và 85-90% (2020); đặc biệt trẻ 5 tuổi đi học tăng từ 90% (2008) lên 95-98% (2015) và 100% (2020).
Đến năm 2015, mỗi xã vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn có ít nhất 1 trường công lập làm nòng cốt. Số trường đạt chuẩn quốc gia 10-15% trên tổng số trường. Các trường đều có đủ các khu, phòng chức năng, công trình vệ sinh, nước sạch, sân chơi, tường rào...
Từ sau năm 2015, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, tập trung xây dựng một số trường trọng điểm, hướng tới đạt chuẩn quốc gia từ 50-55% (2020).
Đào tạo, bồi dưỡng và từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non, nâng cao tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn từ 75,6% (2008) lên 80-85% (2015) và 100% (2020).
- Về giáo dục phổ thông
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục đạo đức, nhân cách, pháp luật và truyền thống cho học sinh. Cung cấp những kiến thức phổ thông cơ bản, có hệ thống, tiếp cận với trình độ chung của quốc gia, khu vực và thế giới; tạo dựng và kích thích tính chủ động, tích cực và sáng tạo, giúp cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống. Giáo dục phổ thông phải có sự liên kết chặt chẽ với giáo dục kĩ thuật nghề nghiệp phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương, của vùng để tạo cơ hội thuận lợi cho học sinh khi tham gia vào thị trường lao động.
+ Tiểu học: duy trì thành quả đã đạt được của phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, tiến tới hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi vào năm 2015.
Tăng tỉ lệ huy động học sinh đi học từ 85,5% (2008) lên 100% (2015). Tỉ lệ học sinh được học 2 buổi/ngày từ 20% (2008) lên 50-60% (2015) và 100% (2020).
Đủ phòng học, 50-60% số học sinh có đủ phòng học 2 buổi/ngày (2015) và 100% (2020); các khu, phòng, công trình chức năng được đảm bảo. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia tăng từ 7,6% (2008) lên 45-50% (2015) và 65-70% (2020). Mỗi huyện/thị xã có từ 2-3 trường trọng điểm chất lượng cao (2020).
Đảm bảo đủ giáo viên cả số lượng và theo cơ cấu bộ môn; nâng tỉ lệ đạt chuẩn của giáo viên từ 98,3% (2008) lên 100% (2015), trong đó tỉ lệ giáo viên trên chuẩn tăng từ 27% (2008) lên 35- 40% (2015) và 70-75% (2020).
+ Trung học cơ sở: phấn đấu hoàn thành phổ cập vào năm học 2009-2010. Nâng cao chất lượng giáo dục đại trà; đẩy mạnh công tác hướng nghiệp tạo thuận lợi cho phân luồng sau trung học cơ sở (THCS) phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương.
Tăng tỉ lệ học sinh THCS từ 69,1% (2008) lên 92% (2015) và 100% (2020); trong đó tỉ lệ học sinh THCS đúng độ tuổi là 80% (2008), 90-95% (2015) và 100% (2020).
Mỗi trường đều có đủ phòng học; số phòng kiên cố hóa, đúng qui cách chiếm 75-80% (2015) và 100% (2020); các trường có đủ các khối phòng chức năng và công trình phụ. Hoàn thành việc xoá “xã trắng” trường THCS (2015). Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia 25-30% (2015) và 50-55% (2020); mỗi huyện/thị đều có trường trọng điểm chất lượng cao. Tỷ lệ trường ngoài công lập 10-15% (2020).
Đảm bảo đủ giáo viên cả số lượng và cơ cấu; tỷ lệ đạt chuẩn 99,3% (2008) lên 100% (2010), nâng cao tỉ lệ trên chuẩn đào tạo từ 18,2% (2008) lên 40% (2015) và 65-70% (2020).
+ Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học: cùng với các trường trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp góp phần vào thực hiện mục tiêu hoàn thành phổ cập trung học vào năm 2020; nâng cao chất lượng giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu đạt chuẩn quốc gia, trong đó một bộ phận tiến tới đạt chuẩn mực khu vực; tạo mọi điều kiện phát huy năng lực của mỗi học sinh trong việc lựa chọn ngành/nghề đào tạo sau trung học hoặc tham gia thị trường lao động.
Tăng tỉ lệ học trung học phổ thông (THPT) từ 47,1% (2008) lên 72% (2015) và đạt 75-80% (2020). Thực hiện phân luồng học sinh sau THCS vào các trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, tiến dần tới mục tiêu phổ cập trung học cho thanh niên, thiếu niên trong độ tuổi 15-21, đặc biệt 15-17 tuổi ở 5-6/10 huyện, thị vào năm 2015 và đạt 10/12 huyện, thị (2020).
Các trường có đủ phòng học kiên cố, đúng quy cách; các khối phòng chức năng và công trình phụ. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia 10-15% (2015) và 40-45% (2020); có từ 1-2 trường trọng điểm chất lượng cao(hoặc trường chuyên). Tỷ lệ trường ngoài công lập đạt 6% (2015) và 10-15% (2020).
Tỉ lệ đạt chuẩn của giáo viên tăng từ 97,2% (2008) lên 100% (2010), trong đó số trên chuẩn là 10-15% (2015) và 20-25% (2020).
+ Trường phổ thông dân tộc nội trú:
Các trường phổ thông dân tộc nội trú tiếp tục được đầu tư mở rộng và đảm bảo cơ sở vật chất (các phòng học, khu các phòng chức năng, diện tích khuôn viên, tường rào, nhà ở cho học sinh...). Ngoài 5 trường DTNT hiện có, dự kiến sẽ nâng cấp Trường DTNT Phước Long lên thành Trường DTNT cấp 2+3 Phước Long, thành lập Trường DTNT Đồng Phú và Trường DTNT Bù Đốp. Như vậy, đến năm 2015, số lượng trường DTNT sẽ là 7 trường. Dự kiến nâng cấp Trường DTNT Bình Long thành Trường DTNT cấp 2+3 sau năm 2015.
Hình thành một số cơ sở trường bán trú dân nuôi ở các trung tâm cụm xã cho cấp tiểu học hoặc trường phổ thông có nhiều cấp học.
- Về đào tạo nhân lực (đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học):
Tiến tới đảm bảo phần lớn yêu cầu nhân lực có trình độ chuyên môn kĩ thuật theo các cấp trình độ (dạy nghề các trình độ, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và trên đại học), phối hợp với các cơ sở đào tạo trong vùng hợp tác đào tạo, chuẩn hoá và bồi dưỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, qui hoạch phát triển chung của vùng đến năm 2020, hội nhập với tiến trình phát triển chung của cả nước. Đảm bảo thực hiện mục tiêu nhân lực được đặt ra trong Qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Bình Phước đến năm 2020: tăng tỉ lệ lao động qua đào tạo từ 23% (2005) lên 40-45% (2015) và 55-60% (2020).
Giai đoạn 2010-2015, chuẩn bị điều kiện để đầu tư nâng cấp Trường Trung cấp Y tế lên Trường Cao đẳng Y tế (2012); tăng cường năng lực đào tạo cho các trường: Trường Trung cấp Kinh tế - kỹ thuật, 2 trường dạy nghề và 12 cơ sở dạy nghề và có đăng ký dạy nghề; chuẩn bị điều kiện nâng cấp Trường Cao đẳng Sư phạm thành trường đại học đa ngành (sau 2015) và mở rộng mạng lưới các cơ sở dạy nghề xã hội và tư nhân để đáp ứng nhu cầu học và chuyển đổi nghề của người lao động. Đồng thời, nghiên cứu xây dựng một số cơ sở giáo dục khác (Trường Năng khiếu TDTT, Văn hoá - Nghệ thuật, dạy nghề cho người tàn tật và Trường Giáo dưỡng).
Giai đoạn 2016-2020, thành lập trường đại học (ĐH) đa ngành (trên cơ sở nâng cấp CĐ Sư phạm); nâng cấp Trường Trung cấp nghề Tôn Đức Thắng lên thành Trường Cao đăng nghề Tôn Đức Thắng; thu hút và liên kết xây dựng 1 trường ĐH đạt chuẩn quốc tế; thành lập mới 2 trường trung cấp nghề (1 trường tư thục và 01 trường của doanh nghiệp nằm trong KCN), mỗi huyện, thị đều có 1 trung tâm dạy nghề để đến năm 2020 Bình Phước sẽ có tổng số 31 trường, trung tâm dạy nghề và các cơ sở có đăng ký dạy nghề.
Tiếp tục thu hút và đa dạng hoá các nguồn đầu tư nâng cao chất lượng của hệ thống các cơ sở đào tạo, đảm bảo đào tạo nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nhân lực cho sự phát triển khu liên hợp công nghiệp - dịch vụ - đô thị; cho nhóm ngành công nghiệp cơ khí, sửa chữa, chế tạo trong sản xuất nông, lâm nghiệp, nâng cao chất lượng vận tải; cho nhóm ngành dệt, may, da, giầy, điện - điện tử, sản xuất vật liệu xây dựng; nhân lực chuyên môn hóa trồng trọt, chăm sóc và chế biến nông sản hàng hoá có tính cạnh tranh cao như cao su, cà phê, hồ tiêu, điều; cây ăn quả; chăn nuôi và chế biến các sản phẩm chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò).
- Các trung tâm giáo dục tổng hợp, hướng nghiệp các huyện, thị đảm bảo triển khai một phần và phối hợp với các trường, trung tâm dạy nghề nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề phù hợp với định hướng phát triển và cơ cấu kinh tế của địa phương; những ngành, nghề tương đối đặc biệt và yêu cầu kỹ năng, trình độ cao thì sẽ do Trường Cao đẳng nghề của tỉnh và phối hợp với các trường đào tạo nghề trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam để đào tạo.
- Các Trung tâm giáo dục thường xuyên (TTGDTX), Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) được thành lập tại tất cả các huyện, thị, trên các địa bàn xã, phường, thị trấn đặc biệt các huyện vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, biên giới còn nhiều khó khăn; từng bước nâng cấp TTGDTX để đủ sức tiếp nhận và giảng dạy học sinh sau phân luồng THCS, giảm áp lực cho khối trường THPT và góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, tạo điều kiện cho mọi người dân có thể học tập suốt đời, hướng tới một xã hội học tập.