Document: Điểm c Khoản 2 Điều 1 Quyết định 4292/QĐ-UBND 2014 Đề án tái cơ cấu kinh tế Thanh Hóa

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "05/12/2014", "sign_number": "4292/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "05/12/2014", "sign_number": "4292/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "05/12/2014", "sign_number": "4292/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "05/12/2014", "sign_number": "4292/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "05/12/2014", "sign_number": "4292/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 2 Điều 1 Quyết định 4292/QĐ-UBND 2014 Đề án tái cơ cấu kinh tế Thanh Hóa

Điều 1. Phê duyệt Đề án tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 (sau đây gọi tắt là đề án) với các nội dung chủ yếu sau:
...
2. Mục tiêu tái cơ cấu kinh tế
2.1. Mục tiêu tổng quát
Tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kết hợp chiều rộng và chiều sâu, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng theo chiều sâu, tạo tiền đề để sau năm 2020 cơ bản phát triển theo chiều sâu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Ưu tiên phát triển mạnh các ngành, sản phẩm công nghiệp, dịch vụ có hàm lượng khoa học công nghệ, giá trị gia tăng cao; phát triển kinh tế biển, các vùng kinh tế động lực; phấn đấu đến năm 2020 có sản phẩm, lĩnh vực sản xuất đạt trình độ quốc gia và khu vực. Phấn đấu đến năm 2025, xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh có nền công nghiệp; dịch vụ hiện đại với tốc độ đô thị hóa cao và trở thành một trong những tỉnh có nền kinh tế nằm trong tốp đầu của cả nước.
2.2. Mục tiêu cụ thể
...
c) Về tái cơ cấu đầu tư
- Giai đoạn 2014 - 2015: Tổng vốn đầu tư đạt 165.000 tỷ đồng; trong đó cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực: nông, lâm, thủy sản chiếm 9%, công nghiệp - xây dựng chiếm 63,1%, dịch vụ chiếm 27,9%; cơ cấu đầu tư theo địa bàn: vùng đồng bằng chiếm 35,2%, vùng ven biển chiếm 51,5%, vùng miền núi chiếm 13,3%.
- Giai đoạn 2016 - 2020: Tổng vốn đầu tư đạt 600.000 tỷ đồng; trong đó cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực: nông, lâm, thủy sản chiếm 11,2%, công nghiệp - xây dựng chiếm 59,6%, dịch vụ chiếm 29,2%; cơ cấu đầu tư theo địa bàn: vùng đồng bằng chiếm 32%, vùng ven biển chiếm 56%, vùng miền núi chiếm 12%.
- Giai đoạn 2021 - 2025: Tổng vốn đầu tư đạt 750.000 tỷ đồng; trong đó cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực: nông, lâm, thủy sản chiếm 18%, công nghiệp - xây dựng chiếm 47%, dịch vụ chiếm 35%; cơ cấu đầu tư theo địa bàn: vùng đồng bằng chiếm 38%, vùng ven biển chiếm 42%, vùng miền núi chiếm 20%.
II. ĐỊNH HƯỚNG TÁI CƠ CẤU KINH TẾ
1. Định hướng tái cơ cấu các ngành kinh tế
1.1. Tái cơ cấu ngành nông, lâm, thủy sản
a) Về nông nghiệp
- Trên cơ sở phát huy lợi thế của từng vùng, địa phương, đẩy mạnh phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng; giảm dần diện tích gieo trồng cây hàng năm có hiệu quả thấp sang trồng các loại cây công nghiệp, nguyên liệu phục vụ chế biến, thức ăn chăn nuôi; từ nay đến năm 2020, chuyển 32.000 ha đất lúa sang trồng cỏ, thức ăn gia súc, ngô và nuôi trồng thủy sản.
- Xây dựng cơ chế chính sách và lộ trình để hỗ trợ phát triển các sản phẩm nông nghiệp có khả năng cạnh tranh tốt và sản phẩm nông nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ cao.
- Đẩy mạnh cơ giới hóa trên tất cả các khâu từ trồng trọt, thu hoạch, chế biến, bảo quản. Đến năm 2020, tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất đạt 95%; tỷ lệ cơ giới hóa của khâu gieo trồng, chăm bón 70%, khâu thu hoạch là 70%, khâu chế biến 80%. Nghiên cứu, xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách thu hút doanh nghiệp, các hợp tác xã, cũng như tạo điều kiện cho nông dân đầu tư trang thiết bị phục vụ cơ giới hóa trong nông nghiệp. Trước mắt, ưu tiên đầu tư hệ thống thủy nông đảm bảo nguồn nước tưới; xây dựng lộ trình chuyển đổi máy bơm trục ngang sang trục đứng để tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí sản xuất, phấn đấu diện tích được tưới, phun bằng máy bơm nước từ giếng khoan hoặc tưới tiết kiệm nước năm 2015 đạt 50%, năm 2020 đạt 70%. Cơ giới hóa khâu gieo trồng và chăm sóc theo hướng công nghiệp, sử dụng máy cấy lúa, hàng tra hạt (ngô, đậu đỗ, lúa nương…), đào hố trồng cây; tăng cường đầu tư máy phun thuốc trừ sâu chạy bằng động cơ để bảo đảm năng suất, chất lượng phun thuốc, giảm sức lao động và độc hại cho nông dân; cơ giới hóa khâu thu hoạch, làm khô, bảo quản theo hướng trang bị các loại máy gặt lúa, máy đập lúa, máy gặt đập liên hợp... Trong bảo quản, chế biến, tập trung hỗ trợ đầu tư xây dựng kho lạnh để bảo quản giống và sản phẩm cây màu, cây vụ đông, lúa giống.
- Chuyển đổi mô hình chăn nuôi theo hướng tăng chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, sức cạnh tranh, hiệu quả, đảm bảo an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi trang trại tập trung, công nghệ cao, đồng bộ, theo chuỗi giá trị (từ giống, thức ăn, thú y... đến giết mổ, chế biến, tiêu thụ) gắn với thị trường, song song với con nuôi có giá trị cao; bố trí các trang trại chăn nuôi ở vùng bán sơn địa, khu vực xa khu dân cư nhằm hạn chế tác động của ô nhiễm môi trường. Giảm dần mô hình chăn nuôi nông hộ; song, sẽ tập trung công tác khuyến nông để giúp các hộ chăn nuôi chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, kiểm soát dịch bệnh và an toàn vệ sinh thực phẩm.
- Đẩy mạnh cơ cấu các vật nuôi theo hướng tăng quy mô đàn: gia cầm, bò sữa, bò thịt; khuyến khích chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm đặc sản, như: dê, lợn đen, gà thả vườn, nhím, thỏ... Khai thác thế mạnh về đất đai và đồng cỏ để phát triển đàn bò sữa, bò thịt; đối với chăn nuôi bò thịt chất lượng cao: bố trí ở vùng trung du và một số nơi vùng đồng bằng để phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Đối với đàn bò sữa, trọng tâm là phát triển các trang trại bò sữa theo quy mô, tập trung ở các huyện: Thọ Xuân, Như Thanh, Triệu Sơn, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Hà Trung, Yên Định, Như Xuân, Nông Cống; hình thành vùng chăn nuôi bò sữa tập trung do Công ty TNHH Bò sữa Thống Nhất Thanh Hóa và Công ty Cổ phần ứng dụng công nghệ cao nông nghiệp và thực phẩm sữa TH đầu tư theo phương thức mới, áp dụng kỹ thuật công nghệ cao đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, quy mô lớn. Đồng thời, xây dựng các mô hình trình diễn quy mô nhỏ trong dân để làm nòng cốt phát triển nhân rộng ra toàn tỉnh.
b) Về lâm nghiệp
Phát triển lâm nghiệp bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng theo hướng tăng diện tích rừng kinh tế; chú trọng nâng cao chất lượng rừng, sớm hình thành vùng sản xuất rừng gỗ lớn, vùng luồng, quế thâm canh tập trung, gắn với chế biến sâu theo hướng công nghiệp hiện đại, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao để xuất khẩu, thay thế dần các sản phẩm thô (dăm gỗ, nhựa thông, nứa thanh) như hiện nay. Tăng cường quản lý bảo vệ, phát triển và sử dụng hợp lý đất lâm nghiệp, nhằm bảo vệ môi trường, sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học.
Đẩy mạnh công tác trồng rừng, bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh, chăm sóc và quản lý rừng; khai thác có hiệu quả lâm đặc sản (nhựa thông, cánh kiến, cao su trên đất lâm nghiệp, sở, trẩu,...); mở rộng diện tích rừng kinh tế để trồng các cây gỗ lớn (Lát hoa, Xoan, Keo tai tượng, Sao đen...) ở những nơi có điều kiện, tạo nguồn cung để phát triển các sản phẩm và thị trường đồ mộc cao cấp; giảm diện tích trồng rừng kinh doanh gỗ nhỏ. Chú trọng thâm canh, tăng năng suất, đảm bảo nguyên liệu cho các cơ sở đã đi vào hoạt động, trong đó ưu tiên nguyên liệu cho các cơ sở chế biến sâu, các cơ sở chế biến gắn với đầu tư và thu mua nguyên liệu theo hợp đồng với nông dân; hạn chế sản xuất dăm gỗ.
c) Về thủy sản
- Tổ chức lại sản xuất ngành thủy sản ở tất cả các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng, hậu cần dịch vụ và chế biến thủy sản theo chuỗi giá trị sản phẩm từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến tiêu thụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả. Giảm dần đánh bắt gần bờ, tăng đánh bắt xa bờ; giảm tỷ trọng khai thác, tăng tỷ trọng nuôi trồng, trong đó giảm diện tích nuôi trồng quảng canh cải tiến, tăng diện tích nuôi trồng công nghiệp chất lượng cao.
+ Về khai thác: Chuyển đổi mạnh cơ cấu khai thác thủy sản ven bờ sang khai thác xa bờ để nâng cao giá trị kinh tế gắn với bảo vệ nguồn lợi tài nguyên biển. Chú trọng cải hoán, đóng mới tàu cá công suất từ 90 CV trở lên. Hiện đại hóa công tác quản lý nghề cá trên biển, đặc biệt sớm hoàn thiện hệ thống thông tin tàu cá nhằm chủ động cảnh báo, kịp thời ứng phó với các tai nạn, rủi ro trên biển, cứu hộ cứu nạn.
+ Về nuôi trồng thủy sản: Phát triển toàn diện nuôi trồng thủy sản cả 3 loại hình: nước mặn, nước lợ và nước ngọt theo hướng chuyển đổi cơ cấu sản xuất hiệu quả, bền vững, trong đó chú trọng đầu tư phát triển 4 loại chủ lực là tôm sú, tôm chân trắng, ngao Bến Tre và cua. Xây dựng chính sách hỗ trợ nông dân chuyển một số diện tích đất lúa, cói sang nuôi trồng thủy sản.
* Đối với nuôi thủy sản nước lợ, mặn: Cơ cấu đối tượng nuôi chủ yếu của vụ 1 (xuân hè) là: tôm sú, tôm he chân trắng; vụ 2 là: cua, tôm he chân trắng, tôm sú. Ngoài các đối tượng nuôi chủ lực có thể phát triển nuôi tôm rảo, cá vược, bống bớp, cá rô phi đơn tính, trồng rau câu... ở những nơi có điều kiện.
* Đối với nuôi thủy sản nước ngọt: Đa dạng hóa các đối tượng và hình thức nuôi trồng phù hợp với trình độ, điều kiện tự nhiên của từng vùng miền. Tiếp tục chuyển dịch diện tích ruộng trũng năng suất thấp sang nuôi thủy sản, nuôi trồng thủy sản kết hợp trồng trọt, chăn nuôi phát triển trang trại tổng hợp.
- Về chế biến và dịch vụ hậu cần thủy sản: Phát triển và hoàn thiện các dịch vụ hậu cần thủy sản như: các cảng cá, bến cá, Hòn Mê, Lạch Hới, Hòa Lộc, Hải Châu, Lạch Trường, Hoằng Trường, Quảng Nham, Hoằng Phụ, Nga Bạch, Nghi Sơn, các khu neo đậu nghề cá Lạch Trường, Sông Lý, kênh Sao Sa; Phát triển các khu dịch vụ - đô thị nghề cá ở Ngư Lộc, Hòa Lộc (Hậu Lộc), Hoằng Trường (Hoằng Hóa), Ghép (Quảng Xương), Lạch Bạng (Tĩnh Gia), Lạch Hới (Sầm Sơn). Đầu tư nâng cấp hệ thống chợ đầu mối tiêu thụ sản phẩm tại Tĩnh Gia, Sầm Sơn, Hậu Lộc; xây dựng mới chợ chuyên doanh hải sản Nga Tiến, Hoằng Trường, Quảng Nham, Hải Nhân, Quảng Tiến. Khuyến khích phát triển các đội tàu hậu cần dịch vụ hoạt động trên biển, tạo điều kiện cho tàu hoạt động dài ngày trên biển, nâng cao hiệu quả khai thác hải sản.

Content:
Về tái cơ cấu đầu tư
- Giai đoạn 2014 - 2015: Tổng vốn đầu tư đạt 165.000 tỷ đồng; trong đó cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực: nông, lâm, thủy sản chiếm 9%, công nghiệp - xây dựng chiếm 63,1%, dịch vụ chiếm 27,9%; cơ cấu đầu tư theo địa bàn: vùng đồng bằng chiếm 35,2%, vùng ven biển chiếm 51,5%, vùng miền núi chiếm 13,3%.
- Giai đoạn 2016 - 2020: Tổng vốn đầu tư đạt 600.000 tỷ đồng; trong đó cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực: nông, lâm, thủy sản chiếm 11,2%, công nghiệp - xây dựng chiếm 59,6%, dịch vụ chiếm 29,2%; cơ cấu đầu tư theo địa bàn: vùng đồng bằng chiếm 32%, vùng ven biển chiếm 56%, vùng miền núi chiếm 12%.
- Giai đoạn 2021 - 2025: Tổng vốn đầu tư đạt 750.000 tỷ đồng; trong đó cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực: nông, lâm, thủy sản chiếm 18%, công nghiệp - xây dựng chiếm 47%, dịch vụ chiếm 35%; cơ cấu đầu tư theo địa bàn: vùng đồng bằng chiếm 38%, vùng ven biển chiếm 42%, vùng miền núi chiếm 20%.
II. ĐỊNH HƯỚNG TÁI CƠ CẤU KINH TẾ
1. Định hướng tái cơ cấu các ngành kinh tế
1.1. Tái cơ cấu ngành nông, lâm, thủy sản
a) Về nông nghiệp
- Trên cơ sở phát huy lợi thế của từng vùng, địa phương, đẩy mạnh phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng; giảm dần diện tích gieo trồng cây hàng năm có hiệu quả thấp sang trồng các loại cây công nghiệp, nguyên liệu phục vụ chế biến, thức ăn chăn nuôi; từ nay đến năm 2020, chuyển 32.000 ha đất lúa sang trồng cỏ, thức ăn gia súc, ngô và nuôi trồng thủy sản.
- Xây dựng cơ chế chính sách và lộ trình để hỗ trợ phát triển các sản phẩm nông nghiệp có khả năng cạnh tranh tốt và sản phẩm nông nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ cao.
- Đẩy mạnh cơ giới hóa trên tất cả các khâu từ trồng trọt, thu hoạch, chế biến, bảo quản. Đến năm 2020, tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất đạt 95%; tỷ lệ cơ giới hóa của khâu gieo trồng, chăm bón 70%, khâu thu hoạch là 70%, khâu chế biến 80%. Nghiên cứu, xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách thu hút doanh nghiệp, các hợp tác xã, cũng như tạo điều kiện cho nông dân đầu tư trang thiết bị phục vụ cơ giới hóa trong nông nghiệp. Trước mắt, ưu tiên đầu tư hệ thống thủy nông đảm bảo nguồn nước tưới; xây dựng lộ trình chuyển đổi máy bơm trục ngang sang trục đứng để tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí sản xuất, phấn đấu diện tích được tưới, phun bằng máy bơm nước từ giếng khoan hoặc tưới tiết kiệm nước năm 2015 đạt 50%, năm 2020 đạt 70%. Cơ giới hóa khâu gieo trồng và chăm sóc theo hướng công nghiệp, sử dụng máy cấy lúa, hàng tra hạt (ngô, đậu đỗ, lúa nương…), đào hố trồng cây; tăng cường đầu tư máy phun thuốc trừ sâu chạy bằng động cơ để bảo đảm năng suất, chất lượng phun thuốc, giảm sức lao động và độc hại cho nông dân; cơ giới hóa khâu thu hoạch, làm khô, bảo quản theo hướng trang bị các loại máy gặt lúa, máy đập lúa, máy gặt đập liên hợp... Trong bảo quản, chế biến, tập trung hỗ trợ đầu tư xây dựng kho lạnh để bảo quản giống và sản phẩm cây màu, cây vụ đông, lúa giống.
- Chuyển đổi mô hình chăn nuôi theo hướng tăng chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, sức cạnh tranh, hiệu quả, đảm bảo an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi trang trại tập trung, công nghệ cao, đồng bộ, theo chuỗi giá trị (từ giống, thức ăn, thú y... đến giết mổ, chế biến, tiêu thụ) gắn với thị trường, song song với con nuôi có giá trị cao; bố trí các trang trại chăn nuôi ở vùng bán sơn địa, khu vực xa khu dân cư nhằm hạn chế tác động của ô nhiễm môi trường. Giảm dần mô hình chăn nuôi nông hộ; song, sẽ tập trung công tác khuyến nông để giúp các hộ chăn nuôi chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, kiểm soát dịch bệnh và an toàn vệ sinh thực phẩm.
- Đẩy mạnh cơ cấu các vật nuôi theo hướng tăng quy mô đàn: gia cầm, bò sữa, bò thịt; khuyến khích chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm đặc sản, như: dê, lợn đen, gà thả vườn, nhím, thỏ... Khai thác thế mạnh về đất đai và đồng cỏ để phát triển đàn bò sữa, bò thịt; đối với chăn nuôi bò thịt chất lượng cao: bố trí ở vùng trung du và một số nơi vùng đồng bằng để phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Đối với đàn bò sữa, trọng tâm là phát triển các trang trại bò sữa theo quy mô, tập trung ở các huyện: Thọ Xuân, Như Thanh, Triệu Sơn, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Hà Trung, Yên Định, Như Xuân, Nông Cống; hình thành vùng chăn nuôi bò sữa tập trung do Công ty TNHH Bò sữa Thống Nhất Thanh Hóa và Công ty Cổ phần ứng dụng công nghệ cao nông nghiệp và thực phẩm sữa TH đầu tư theo phương thức mới, áp dụng kỹ thuật công nghệ cao đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, quy mô lớn. Đồng thời, xây dựng các mô hình trình diễn quy mô nhỏ trong dân để làm nòng cốt phát triển nhân rộng ra toàn tỉnh.
b) Về lâm nghiệp
Phát triển lâm nghiệp bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng theo hướng tăng diện tích rừng kinh tế; chú trọng nâng cao chất lượng rừng, sớm hình thành vùng sản xuất rừng gỗ lớn, vùng luồng, quế thâm canh tập trung, gắn với chế biến sâu theo hướng công nghiệp hiện đại, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao để xuất khẩu, thay thế dần các sản phẩm thô (dăm gỗ, nhựa thông, nứa thanh) như hiện nay. Tăng cường quản lý bảo vệ, phát triển và sử dụng hợp lý đất lâm nghiệp, nhằm bảo vệ môi trường, sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học.
Đẩy mạnh công tác trồng rừng, bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh, chăm sóc và quản lý rừng; khai thác có hiệu quả lâm đặc sản (nhựa thông, cánh kiến, cao su trên đất lâm nghiệp, sở, trẩu,...); mở rộng diện tích rừng kinh tế để trồng các cây gỗ lớn (Lát hoa, Xoan, Keo tai tượng, Sao đen...) ở những nơi có điều kiện, tạo nguồn cung để phát triển các sản phẩm và thị trường đồ mộc cao cấp; giảm diện tích trồng rừng kinh doanh gỗ nhỏ. Chú trọng thâm canh, tăng năng suất, đảm bảo nguyên liệu cho các cơ sở đã đi vào hoạt động, trong đó ưu tiên nguyên liệu cho các cơ sở chế biến sâu, các cơ sở chế biến gắn với đầu tư và thu mua nguyên liệu theo hợp đồng với nông dân; hạn chế sản xuất dăm gỗ.
Về thủy sản
- Tổ chức lại sản xuất ngành thủy sản ở tất cả các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng, hậu cần dịch vụ và chế biến thủy sản theo chuỗi giá trị sản phẩm từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến tiêu thụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả. Giảm dần đánh bắt gần bờ, tăng đánh bắt xa bờ; giảm tỷ trọng khai thác, tăng tỷ trọng nuôi trồng, trong đó giảm diện tích nuôi trồng quảng canh cải tiến, tăng diện tích nuôi trồng công nghiệp chất lượng cao.
+ Về khai thác: Chuyển đổi mạnh cơ cấu khai thác thủy sản ven bờ sang khai thác xa bờ để nâng cao giá trị kinh tế gắn với bảo vệ nguồn lợi tài nguyên biển. Chú trọng cải hoán, đóng mới tàu cá công suất từ 90 CV trở lên. Hiện đại hóa công tác quản lý nghề cá trên biển, đặc biệt sớm hoàn thiện hệ thống thông tin tàu cá nhằm chủ động cảnh báo, kịp thời ứng phó với các tai nạn, rủi ro trên biển, cứu hộ cứu nạn.
+ Về nuôi trồng thủy sản: Phát triển toàn diện nuôi trồng thủy sản cả 3 loại hình: nước mặn, nước lợ và nước ngọt theo hướng chuyển đổi cơ cấu sản xuất hiệu quả, bền vững, trong đó chú trọng đầu tư phát triển 4 loại chủ lực là tôm sú, tôm chân trắng, ngao Bến Tre và cua. Xây dựng chính sách hỗ trợ nông dân chuyển một số diện tích đất lúa, cói sang nuôi trồng thủy sản.
* Đối với nuôi thủy sản nước lợ, mặn: Cơ cấu đối tượng nuôi chủ yếu của vụ 1 (xuân hè) là: tôm sú, tôm he chân trắng; vụ 2 là: cua, tôm he chân trắng, tôm sú. Ngoài các đối tượng nuôi chủ lực có thể phát triển nuôi tôm rảo, cá vược, bống bớp, cá rô phi đơn tính, trồng rau câu... ở những nơi có điều kiện.
* Đối với nuôi thủy sản nước ngọt: Đa dạng hóa các đối tượng và hình thức nuôi trồng phù hợp với trình độ, điều kiện tự nhiên của từng vùng miền. Tiếp tục chuyển dịch diện tích ruộng trũng năng suất thấp sang nuôi thủy sản, nuôi trồng thủy sản kết hợp trồng trọt, chăn nuôi phát triển trang trại tổng hợp.
- Về chế biến và dịch vụ hậu cần thủy sản: Phát triển và hoàn thiện các dịch vụ hậu cần thủy sản như: các cảng cá, bến cá, Hòn Mê, Lạch Hới, Hòa Lộc, Hải Châu, Lạch Trường, Hoằng Trường, Quảng Nham, Hoằng Phụ, Nga Bạch, Nghi Sơn, các khu neo đậu nghề cá Lạch Trường, Sông Lý, kênh Sao Sa; Phát triển các khu dịch vụ - đô thị nghề cá ở Ngư Lộc, Hòa Lộc (Hậu Lộc), Hoằng Trường (Hoằng Hóa), Ghép (Quảng Xương), Lạch Bạng (Tĩnh Gia), Lạch Hới (Sầm Sơn). Đầu tư nâng cấp hệ thống chợ đầu mối tiêu thụ sản phẩm tại Tĩnh Gia, Sầm Sơn, Hậu Lộc; xây dựng mới chợ chuyên doanh hải sản Nga Tiến, Hoằng Trường, Quảng Nham, Hải Nhân, Quảng Tiến. Khuyến khích phát triển các đội tàu hậu cần dịch vụ hoạt động trên biển, tạo điều kiện cho tàu hoạt động dài ngày trên biển, nâng cao hiệu quả khai thác hải sản.