Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 558/QĐ-UBND 2018 quy hoạch thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp Kiên Giang 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "12/03/2018", "sign_number": "558/QĐ-UBND", "signer": "Mai Anh Nhịn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "12/03/2018", "sign_number": "558/QĐ-UBND", "signer": "Mai Anh Nhịn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "12/03/2018", "sign_number": "558/QĐ-UBND", "signer": "Mai Anh Nhịn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "12/03/2018", "sign_number": "558/QĐ-UBND", "signer": "Mai Anh Nhịn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "12/03/2018", "sign_number": "558/QĐ-UBND", "signer": "Mai Anh Nhịn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 558/QĐ-UBND 2018 quy hoạch thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp Kiên Giang 2020

Điều 1. Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tỉnh Kiên Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, gồm các nội dung chính như sau:
...
3. Phương án bố trí công trình thủy lợi tỉnh Kiên Giang
a) Vùng Tứ giác Long Xuyên:
- Vùng kiểm soát lũ cả năm (sản xuất 3 vụ) theo quy hoạch sản xuất nông nghiệp (từ kênh Tri Tôn đến kênh Cái Sắn).
- Khu vực ven biển (phía tây Quốc lộ 80) phát triển nuôi trồng thủy sản (tôm - lúa): Cải tạo, nạo vét các kênh lấy nước mặn xen kẽ với các kênh thoát lũ, nâng cấp hệ thống bờ bao các ô sản xuất để tránh nước tràn.
- Diện tích nuôi trồng thủy sản của huyện Kiên Lương, Giang Thành và thị xã Hà Tiên vẫn giữ nguyên theo quy hoạch.
- Các cống phân ranh mặn - ngọt thuộc của hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản Vàm Răng - Ba Hòn: Thiết kế dạng cống xà lan để có thể linh hoạt trong di chuyển vị trí, phục vụ việc bố trí lại sản xuất;
- Nạo vét Kênh Ranh tỉnh (từ kênh Rạch Giá - Long Xuyên đến kênh kênh Tám Ngàn) để điều hòa lượng nước lũ từ biên giới và từ Sông Hậu về Kiên Giang ra cho các trục kênh của Kiên Giang, tăng cường khả năng thoát lũ. Vào mùa kiệt cũng cải thiện khả năng cấp nước cho vùng Tứ giác Long Xuyên.
- Nạo vét, mở rộng hệ thống kênh trục vùng Tứ giác Long Xuyên (22 tuyến).
- Nạo vét, mở rộng các kênh thoát lũ từ kênh Rạch Giá - Hà Tiên ra biển (23 tuyến).
- Cải tạo, nâng cấp bờ bao 2 bên kênh thoát lũ từ Quốc lộ 80 ra biển.
- Xây dựng các tuyến bờ bao chống lũ tháng VIII theo quy mô kênh cấp 2.
- Hoàn chỉnh các cống ngăn mặn khu vực thành phố Rạch Giá.
- Tiếp tục đầu tư Dự án thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản Vàm Răng - Ba Hòn.
- Xây dựng hệ thống thủy lợi nội đồng lấy nước mặn phục vụ nuôi trồng thủy sản.
b) Vùng Tây Sông Hậu và U Minh Thượng:
- Xây dựng hệ thống đê bao, cống nội đồng theo các ô bao để điều tiết nước phục vụ sản xuất.
- Vận hành hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé: Đóng cống đến hết tháng 2 để ngăn mặn, tháng 3 sẽ mở để lấy nước mặn phục vụ diện tích sản xuất tôm - lúa.
- Các kênh lấy mặn của khu vực ven biển An Minh - An Biên: Tiến hành nạo vét để bảo đảm khả năng lấy mặn.
- Hoàn thiện hệ thống cống dưới đê biển Tây và nâng cấp tuyến đê này.
- Nâng cấp các tuyến đê sông Cái Lớn, Cái Bé và dọc các kênh trục.
- Nạo vét, mở rộng hệ thống kênh trục, cấp 1 nối Sông Hậu với sông Cái Lớn, Cái Bé.
- Nạo vét, mở rộng hệ thống kênh trục và cấp 1 lấy nước vào vùng U Minh Thượng.
- Xây dựng các tuyến đê, bờ bao phòng chống thiên tai và bảo vệ sản xuất.
- Đắp bờ bao kiểm soát lũ của vùng Tây Sông Hậu theo quy mô kênh cấp 2, các ô bao quy mô 300-500ha.
- Đầu tư các cống còn thiếu trên tuyến đê bao rừng quốc gia U Minh Thượng.
- Tăng cường xây dựng hệ thống thủy lợi nội đồng kết hợp giao thông nông thôn.

Content:
Phương án bố trí công trình thủy lợi tỉnh Kiên Giang
a) Vùng Tứ giác Long Xuyên:
- Vùng kiểm soát lũ cả năm (sản xuất 3 vụ) theo quy hoạch sản xuất nông nghiệp (từ kênh Tri Tôn đến kênh Cái Sắn).
- Khu vực ven biển (phía tây Quốc lộ 80) phát triển nuôi trồng thủy sản (tôm - lúa): Cải tạo, nạo vét các kênh lấy nước mặn xen kẽ với các kênh thoát lũ, nâng cấp hệ thống bờ bao các ô sản xuất để tránh nước tràn.
- Diện tích nuôi trồng thủy sản của huyện Kiên Lương, Giang Thành và thị xã Hà Tiên vẫn giữ nguyên theo quy hoạch.
- Các cống phân ranh mặn - ngọt thuộc của hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản Vàm Răng - Ba Hòn: Thiết kế dạng cống xà lan để có thể linh hoạt trong di chuyển vị trí, phục vụ việc bố trí lại sản xuất;
- Nạo vét Kênh Ranh tỉnh (từ kênh Rạch Giá - Long Xuyên đến kênh kênh Tám Ngàn) để điều hòa lượng nước lũ từ biên giới và từ Sông Hậu về Kiên Giang ra cho các trục kênh của Kiên Giang, tăng cường khả năng thoát lũ. Vào mùa kiệt cũng cải thiện khả năng cấp nước cho vùng Tứ giác Long Xuyên.
- Nạo vét, mở rộng hệ thống kênh trục vùng Tứ giác Long Xuyên (22 tuyến).
- Nạo vét, mở rộng các kênh thoát lũ từ kênh Rạch Giá - Hà Tiên ra biển (23 tuyến).
- Cải tạo, nâng cấp bờ bao 2 bên kênh thoát lũ từ Quốc lộ 80 ra biển.
- Xây dựng các tuyến bờ bao chống lũ tháng VIII theo quy mô kênh cấp 2.
- Hoàn chỉnh các cống ngăn mặn khu vực thành phố Rạch Giá.
- Tiếp tục đầu tư Dự án thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản Vàm Răng - Ba Hòn.
- Xây dựng hệ thống thủy lợi nội đồng lấy nước mặn phục vụ nuôi trồng thủy sản.
b) Vùng Tây Sông Hậu và U Minh Thượng:
- Xây dựng hệ thống đê bao, cống nội đồng theo các ô bao để điều tiết nước phục vụ sản xuất.
- Vận hành hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé: Đóng cống đến hết tháng 2 để ngăn mặn, tháng 3 sẽ mở để lấy nước mặn phục vụ diện tích sản xuất tôm - lúa.
- Các kênh lấy mặn của khu vực ven biển An Minh - An Biên: Tiến hành nạo vét để bảo đảm khả năng lấy mặn.
- Hoàn thiện hệ thống cống dưới đê biển Tây và nâng cấp tuyến đê này.
- Nâng cấp các tuyến đê sông Cái Lớn, Cái Bé và dọc các kênh trục.
- Nạo vét, mở rộng hệ thống kênh trục, cấp 1 nối Sông Hậu với sông Cái Lớn, Cái Bé.
- Nạo vét, mở rộng hệ thống kênh trục và cấp 1 lấy nước vào vùng U Minh Thượng.
- Xây dựng các tuyến đê, bờ bao phòng chống thiên tai và bảo vệ sản xuất.
- Đắp bờ bao kiểm soát lũ của vùng Tây Sông Hậu theo quy mô kênh cấp 2, các ô bao quy mô 300-500ha.
- Đầu tư các cống còn thiếu trên tuyến đê bao rừng quốc gia U Minh Thượng.
- Tăng cường xây dựng hệ thống thủy lợi nội đồng kết hợp giao thông nông thôn.