Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2201/QĐ-UBND năm 2008 Quy hoạch bảo vệ môi trường Bạc Liêu đến 2010

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bạc Liêu", "promulgation_date": "05/11/2008", "sign_number": "2201/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Hoàng Bê", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bạc Liêu", "promulgation_date": "05/11/2008", "sign_number": "2201/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Hoàng Bê", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bạc Liêu", "promulgation_date": "05/11/2008", "sign_number": "2201/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Hoàng Bê", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bạc Liêu", "promulgation_date": "05/11/2008", "sign_number": "2201/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Hoàng Bê", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bạc Liêu", "promulgation_date": "05/11/2008", "sign_number": "2201/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Hoàng Bê", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2201/QĐ-UBND năm 2008 Quy hoạch bảo vệ môi trường Bạc Liêu đến 2010

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Bạc Liêu đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Giải pháp và các chương trình thực hiện quy hoạch:
3.1. Hoàn thiện cơ chế, tổ chức, văn bản pháp lý:
- Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, ưu tiên đầu tư nhân lực cho tổ chức môi trường thuộc các phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện, thị xã;
- Rà soát và ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu lực thi hành các quy định về bảo vệ môi trường; xây dựng các chính sách gắn kết trách nhiệm bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội, cân bằng và tạo động lực thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển;
- Xác định rõ trách nhiệm và phân công, phân cấp hợp lý nhiệm vụ bảo vệ môi trường giữa các ngành, các cấp;
- Tăng cường năng lực quản lý Nhà nước về môi trường phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của hệ thống tổ chức như tăng cường nguồn lực về nhân lực, về đầu tư cho các hoạt động quản lý môi trường; chú trọng đầu tư cho nghiên cứu chính sách và pháp luật, kiểm soát ô nhiễm và chất thải, thanh tra, hệ thống quan trắc và phân tích môi trường, giáo dục và nâng cao nhận thức môi trường cũng như tăng cường các cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động quản lý Nhà nước về môi trường.
3.2. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường:
- Tổ chức các hoạt động về bảo vệ môi trường trong cộng đồng như phát động các phong trào bảo vệ môi trường,... cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều cơ quan chức năng khác nhau (Phụ nữ, thanh niên, y tế,...) nhằm thu hút sự chú ý, tham gia của nhiều tầng lớp dân cư, doanh nghiệp trong khu vực, tạo ảnh hưởng tốt, hiệu quả cho phong trào;
- Tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao nhận thức cộng đồng góp phần giữ gìn vệ sinh môi trường, thực hiện nếp sống văn minh đô thị thông qua giáo dục tại trường học, họp tổ dân phố, các phương tiện thông tin đại chúng, các chương trình phát động xanh - sạch - đẹp nhân các ngày lễ lớn trong năm;
- Thường xuyên đào tạo và phổ biến kiến thức về bảo vệ môi trường đến nhân dân thông qua các buổi họp ấp, xã đồng thời tạo điều kiện khuyến khích người dân tiếp cận, học hỏi; những nhà quản lý môi trường tại địa phương nên thường xuyên giáo dục cho người dân hiểu được việc áp dụng kỹ thuật trong nông nghiệp không đúng cách sẽ mang lại những hậu quả khó lường;
- Đưa các chương trình cơ bản về bảo vệ môi trường vào chương trình học chính khóa, ngoại khóa của các trường học như tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về môi trường trong trường học, tổ chức các hoạt động dã ngoại về môi trường của học sinh, sinh viên có sự tham gia hướng dẫn của các cơ quan quản lý môi trường;
- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ quản lý và chế độ chính sách cho đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường từ tỉnh đến cơ sở nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác bảo vệ môi trường tại địa phương, đơn vị.
3.3. Áp dụng các công cụ kinh tế, thể chế hóa việc thực thi quy hoạch bảo vệ môi trường:
- Phí môi trường: Phí môi trường là một công cụ kinh tế trực tiếp dựa trên nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” và “Ai hưởng thụ môi trường trong lành phải đóng phí cho công tác cải thiện môi trường”; phí môi trường được đặt ra nhằm mục đích khuyến khích các nhà sản xuất, kinh doanh đầu tư giảm thiểu ô nhiễm, thay đổi hành vi gây ô nhiễm của các đối tượng bị thu phí, đặc biệt là các cơ sở sản xuất công nghiệp; áp dụng các lệ phí hành chính và xử phạt vi phạm hành chính: Lệ phí hành chính là phí phải trả cho cơ quan Nhà nước về những dịch vụ đăng ký hoặc do thực hiện cưỡng chế thi hành các quy định về môi trường; đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, tùy theo mức độ ô nhiễm, lưu lượng xả thải và tính chất nguy hại mà bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Thuế sử dụng các thành phần môi trường: Thuế sử dụng các thành phần môi trường có mục đích giảm khai thác tài nguyên thiên nhiên, sử dụng tài nguyên một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất, đặc biệt là đối với các loại tài nguyên không thể tái tạo được như nước ngầm, tài nguyên đất…;
- Thành lập quỹ dự phòng môi trường: Nguồn đóng góp cho quỹ môi trường là các khoản thu thuế môi trường và các khoản phạt vi phạm Luật Môi trường; quỹ này tồn tại theo kiểu “Lấy nó nuôi nó”, hoạt động phát triển không phải như hoạt động ngân hàng;
- Giấy phép thải có thể chuyển nhượng hay quota gây ô nhiễm: Đây là biện pháp sử dụng công cụ kinh tế để kiểm soát ô nhiễm môi trường đạt hiệu quả cao nhất và đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng; việc phân phối ban đầu của các giấy phép liên quan đến một chuẩn mực nào đó của môi trường xung quanh nhưng sau đó giấy phép có thể đem ra mua bán chuyển nhượng dựa trên một luật lệ đã định sẵn. Do vậy, loại công cụ kinh tế này rất linh hoạt và mềm dẻo, phù hợp cho việc quản lý những dạng thải khó đo lường và kiểm soát nhưng lại phù hợp với cơ chế thị trường có tính hoàn hảo;
- Nhãn môi trường: Đây là loại công cụ có ý nghĩa cho người tiêu dùng và hình ảnh của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp tham gia vào xuất khẩu hàng hóa; được dán nhãn sinh thái là một sự khẳng định uy tín của sản phẩm và của nhà sản xuất. Vì thế, các sản phẩm có nhãn sinh thái thường có sức cạnh tranh cao và giá bán ra thị trường cũng thường cao hơn các sản phẩm cùng loại. Tỉnh Bạc Liêu đang có rất nhiều ngành nghề chế biến thủy sản phát triển và xuất khẩu ra nước ngoài, việc áp dụng công cụ kinh tế này trong quản lý sẽ góp phần nâng cao ý thức của chủ doanh nghiệp đối với sản phẩm của mình cũng như đối với chất lượng sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài, điều này sẽ làm cho người tiêu dùng quốc tế có cái nhìn mới về sản phẩm của mình, góp phần tăng thu nhập kinh tế. Với những lý do trên, tỉnh Bạc Liêu nên xây dựng và ban hành cơ chế để một số mặt hàng xuất khẩu cũng như tiêu thụ nội địa của tỉnh được dán nhãn môi trường;
- Ký quỹ môi trường: Nội dung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanh nghiệp trước khi đầu tư phải đặt cọc tại ngân hàng một khoản tiền nào đó đủ lớn để đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và công tác bảo vệ môi trường. Trong quá trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu cơ sở có các biện pháp chủ động khắc phục, không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái ra môi trường đúng như cam kết thì số tiền ký quỹ sẽ được hoàn trả lại cho doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết hoặc phá sản, số tiền trên sẽ được rút ra từ tài khoản ngân hàng chi cho công tác khắc phục sự cố ô nhiễm đồng thời với việc đóng cửa doanh nghiệp;
- Các hình thức hỗ trợ tài chính: Đối với tỉnh Bạc Liêu do kinh phí đầu tư các công trình xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp rất tốn kém, chi phí vận hành thiết bị cũng sẽ làm tăng thêm giá thành sản phẩm. Do đó, Nhà nước và tỉnh cần có chính sách khuyến khích như: Miễn giảm thuế, được vay vốn dài hạn với lãi suất ưu đãi cho các công trình xử lý ô nhiễm có yêu cầu đầu tư vốn lớn, đặc biệt có chính sách cụ thể đối với các đối tượng phải di dời đến khu công nghiệp tập trung.
3.4. Xã hội hóa nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường:
- Thực hiện chính sách ưu đãi thu hút đầu tư:
+ Áp dụng chính sách ưu đãi, hỗ trợ về đất đai đối với hoạt động bảo vệ môi trường;
+ Áp dụng chính sách miễn, giảm thuế, phí đối với các hoạt động bảo vệ môi trường được quy định;
+ Tổ chức, cá nhân đầu tư bảo vệ môi trường được ưu tiên vay vốn từ các quỹ bảo vệ môi trường; trường hợp vay vốn tại các tổ chức tín dụng khác để đầu tư bảo vệ môi trường thì được xem xét hỗ trợ lãi suất sau đầu tư hoặc bảo lãnh tín dụng đầu tư theo điều lệ của quỹ bảo vệ môi trường;
+ Chương trình, dự án bảo vệ môi trường trọng điểm của Nhà nước cần sử dụng vốn lớn được ưu tiên xem xét cho sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức;
+ Chính phủ quy định cụ thể các chính sách ưu đãi đối với hoạt động bảo vệ môi trường.
- Thu hút nguồn vốn đầu tư trong tỉnh:
+ Kêu gọi sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước cho bảo vệ môi trường;
+ Khuyến khích các tổ chức tài chính trong huyện tham gia vào việc cung cấp tài chính cho việc bảo vệ môi trường;
+ Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đóng góp nguồn tài chính cho bảo vệ môi trường, phòng ngừa và khắc phục ô nhiễm;
+ Huy động các tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư đóng góp công sức, tiền của để đầu tư bảo vệ môi trường;
+ Thu hút đầu tư cho bảo vệ môi trường từ các nguồn vốn hỗ trợ phát triển như quỹ bảo vệ môi trường của tỉnh, huyện;
+ Áp dụng các chính sách, cơ chế hỗ trợ về vốn, trợ giá đối với các hoạt động bảo vệ môi trường nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm và tạo nguồn kinh phí để đầu tư áp dụng các công nghệ sạch và các biện pháp bảo vệ môi trường khác;
+ Tăng cường và đa dạng hóa đầu tư bảo vệ môi trường;
+ Ðầu tư bảo vệ môi trường phải được đa dạng hóa về hình thức và nguồn vốn nhằm huy động được mọi nguồn lực trong xã hội;
+ Ban hành quy định về tăng cường và đa dạng các nguồn vốn bảo vệ môi trường, trong đó dự kiến hàng năm tăng dần tổng chi ngân sách cho hoạt động bảo vệ môi trường 10%, thành lập cơ chế tài chính như quỹ bảo vệ môi trường địa phương, ngành và ngân hàng môi trường;
+ Mức đầu tư bảo vệ môi trường phải được tăng cường theo nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế; các doanh nghiệp được tính vốn đầu tư bảo vệ môi trường trong giá thành chi phí sản xuất để huy động từ 1 - 2% tổng chi phí của doanh nghiệp.
- Thu hút nguồn vốn đầu tư từ các vùng phụ cận và vốn đầu tư nước ngoài:
+ Tiếp tục thực hiện các chính sách đổi mới, thu hút sự tham gia của các tổ chức quốc tế;
+ Tăng cường hợp tác quốc tế trong các Ủy ban của Liên hợp quốc về bảo vệ môi trường;
+ Tìm kiếm sự hỗ trợ quốc tế cho công tác nghiên cứu, thu thập và xử lý dữ liệu môi trường, triển khai các dự án phòng chống thiên tai và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường.
3.5. Tăng cường nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ:
- Nâng cao nhận thức về vai trò nền tảng và động lực phát triển kinh tế xã hội của nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ;
- Nghiên cứu đổi mới cơ chế trong công tác bảo vệ môi trường;
- Xây dựng và phát triển thị trường nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ;
- Vận dụng và xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ;
- Đẩy mạnh hợp tác trong và ngoài nước về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực môi trường;
- Nhập khẩu, tiến tới tự sản xuất các thiết bị phân loại, thu gom vận chuyển, xử lý chất thải;
- Xây dựng các đề án, dự án bảo vệ môi trường tỉnh;
- Hình thành phát triển ngành công nghiệp môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước;
- Thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học các dự án, đầu tư đưa vào áp dụng các công nghệ kỹ thuật tiên tiến, phù hợp với điều kiện của các địa phương trong tất cả các khâu của quy trình giải quyết chất thải;
- Hiện đại hóa công nghệ và sản xuất thiết bị chuyên ngành xử lý chất thải;
- Bên cạnh các hình thức tự nguyện, việc bắt buộc áp dụng sản xuất sạch hơn vào sản xuất nên được thực hiện đối với một số ngành công nghiệp trong địa bàn tỉnh;
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.
3.6. Tăng cường hợp tác khu vực và quốc tế:
Để thực hiện tốt việc hợp tác trong khu vực và quốc tế về lĩnh vực môi trường cần đề xuất một số giải pháp sau:
- Cụ thể hóa bằng các kế hoạch và chương trình hợp tác cụ thể, trong đó, xác lập các nội dung ưu tiên hợp tác trước;
- Phân công trách nhiệm và thành lập Ban chỉ đạo thực hiện hợp tác khu vực và quốc tế trong lĩnh vực môi trường để triển khai thực hiện các nội dung của chiến lược và các chương trình, dự án, đề án hợp tác trọng điểm trong từng giai đoạn;
- Tăng cường sự hợp tác giữa các ngành và các cơ quan chức năng trong các vấn đề liên quan;
- Sử dụng có hiệu quả vốn vay và viện trợ của nước ngoài đầu tư phát triển khoa học và công nghệ nói chung và trong lĩnh vực môi trường nói riêng;
- Quy hoạch lực lượng cán bộ khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường, đảm bảo về số lượng và chất lượng đáp ứng cho nhu cầu thực tiễn của các chương trình, dự án, đề án hợp tác, tạo cầu nối thích hợp và thuận lợi trong hợp tác khu vực và quốc tế;
- Mở rộng quan hệ hợp tác phát triển khoa học, công nghệ trong và ngoài nước; tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của các nước, các tổ chức quốc tế và Trung ương trong các lĩnh vực đào tạo, quản lý, nghiên cứu khoa học, ứng dụng, đổi mới công nghệ;
- Xây dựng cơ chế ưu tiên và thường xuyên tăng cường hợp tác, liên kết, hỗ trợ toàn diện về khoa học và công nghệ với các địa phương lân cận và các nước trong vùng;
- Xây dựng các cơ chế thích hợp, tạo điều kiện để cán bộ khoa học và công nghệ được tham dự các khóa đào tạo, tập huấn, tham quan khảo sát chuyên đề ở nước ngoài, học hỏi các kinh nghiệm phục vụ ứng dụng trong thực tế quản lý, nghiên cứu, sản xuất kinh doanh của thành phố.

Content:
Giải pháp và các chương trình thực hiện quy hoạch:
3.1. Hoàn thiện cơ chế, tổ chức, văn bản pháp lý:
- Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, ưu tiên đầu tư nhân lực cho tổ chức môi trường thuộc các phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện, thị xã;
- Rà soát và ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu lực thi hành các quy định về bảo vệ môi trường; xây dựng các chính sách gắn kết trách nhiệm bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội, cân bằng và tạo động lực thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển;
- Xác định rõ trách nhiệm và phân công, phân cấp hợp lý nhiệm vụ bảo vệ môi trường giữa các ngành, các cấp;
- Tăng cường năng lực quản lý Nhà nước về môi trường phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của hệ thống tổ chức như tăng cường nguồn lực về nhân lực, về đầu tư cho các hoạt động quản lý môi trường; chú trọng đầu tư cho nghiên cứu chính sách và pháp luật, kiểm soát ô nhiễm và chất thải, thanh tra, hệ thống quan trắc và phân tích môi trường, giáo dục và nâng cao nhận thức môi trường cũng như tăng cường các cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động quản lý Nhà nước về môi trường.
3.2. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường:
- Tổ chức các hoạt động về bảo vệ môi trường trong cộng đồng như phát động các phong trào bảo vệ môi trường,... cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều cơ quan chức năng khác nhau (Phụ nữ, thanh niên, y tế,...) nhằm thu hút sự chú ý, tham gia của nhiều tầng lớp dân cư, doanh nghiệp trong khu vực, tạo ảnh hưởng tốt, hiệu quả cho phong trào;
- Tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao nhận thức cộng đồng góp phần giữ gìn vệ sinh môi trường, thực hiện nếp sống văn minh đô thị thông qua giáo dục tại trường học, họp tổ dân phố, các phương tiện thông tin đại chúng, các chương trình phát động xanh - sạch - đẹp nhân các ngày lễ lớn trong năm;
- Thường xuyên đào tạo và phổ biến kiến thức về bảo vệ môi trường đến nhân dân thông qua các buổi họp ấp, xã đồng thời tạo điều kiện khuyến khích người dân tiếp cận, học hỏi; những nhà quản lý môi trường tại địa phương nên thường xuyên giáo dục cho người dân hiểu được việc áp dụng kỹ thuật trong nông nghiệp không đúng cách sẽ mang lại những hậu quả khó lường;
- Đưa các chương trình cơ bản về bảo vệ môi trường vào chương trình học chính khóa, ngoại khóa của các trường học như tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về môi trường trong trường học, tổ chức các hoạt động dã ngoại về môi trường của học sinh, sinh viên có sự tham gia hướng dẫn của các cơ quan quản lý môi trường;
- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ quản lý và chế độ chính sách cho đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường từ tỉnh đến cơ sở nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác bảo vệ môi trường tại địa phương, đơn vị.
3.Áp dụng các công cụ kinh tế, thể chế hóa việc thực thi quy hoạch bảo vệ môi trường:
- Phí môi trường: Phí môi trường là một công cụ kinh tế trực tiếp dựa trên nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” và “Ai hưởng thụ môi trường trong lành phải đóng phí cho công tác cải thiện môi trường”; phí môi trường được đặt ra nhằm mục đích khuyến khích các nhà sản xuất, kinh doanh đầu tư giảm thiểu ô nhiễm, thay đổi hành vi gây ô nhiễm của các đối tượng bị thu phí, đặc biệt là các cơ sở sản xuất công nghiệp; áp dụng các lệ phí hành chính và xử phạt vi phạm hành chính: Lệ phí hành chính là phí phải trả cho cơ quan Nhà nước về những dịch vụ đăng ký hoặc do thực hiện cưỡng chế thi hành các quy định về môi trường; đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, tùy theo mức độ ô nhiễm, lưu lượng xả thải và tính chất nguy hại mà bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Thuế sử dụng các thành phần môi trường: Thuế sử dụng các thành phần môi trường có mục đích giảm khai thác tài nguyên thiên nhiên, sử dụng tài nguyên một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất, đặc biệt là đối với các loại tài nguyên không thể tái tạo được như nước ngầm, tài nguyên đất…;
- Thành lập quỹ dự phòng môi trường: Nguồn đóng góp cho quỹ môi trường là các khoản thu thuế môi trường và các khoản phạt vi phạm Luật Môi trường; quỹ này tồn tại theo kiểu “Lấy nó nuôi nó”, hoạt động phát triển không phải như hoạt động ngân hàng;
- Giấy phép thải có thể chuyển nhượng hay quota gây ô nhiễm: Đây là biện pháp sử dụng công cụ kinh tế để kiểm soát ô nhiễm môi trường đạt hiệu quả cao nhất và đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng; việc phân phối ban đầu của các giấy phép liên quan đến một chuẩn mực nào đó của môi trường xung quanh nhưng sau đó giấy phép có thể đem ra mua bán chuyển nhượng dựa trên một luật lệ đã định sẵn. Do vậy, loại công cụ kinh tế này rất linh hoạt và mềm dẻo, phù hợp cho việc quản lý những dạng thải khó đo lường và kiểm soát nhưng lại phù hợp với cơ chế thị trường có tính hoàn hảo;
- Nhãn môi trường: Đây là loại công cụ có ý nghĩa cho người tiêu dùng và hình ảnh của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp tham gia vào xuất khẩu hàng hóa; được dán nhãn sinh thái là một sự khẳng định uy tín của sản phẩm và của nhà sản xuất. Vì thế, các sản phẩm có nhãn sinh thái thường có sức cạnh tranh cao và giá bán ra thị trường cũng thường cao hơn các sản phẩm cùng loại. Tỉnh Bạc Liêu đang có rất nhiều ngành nghề chế biến thủy sản phát triển và xuất khẩu ra nước ngoài, việc áp dụng công cụ kinh tế này trong quản lý sẽ góp phần nâng cao ý thức của chủ doanh nghiệp đối với sản phẩm của mình cũng như đối với chất lượng sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài, điều này sẽ làm cho người tiêu dùng quốc tế có cái nhìn mới về sản phẩm của mình, góp phần tăng thu nhập kinh tế. Với những lý do trên, tỉnh Bạc Liêu nên xây dựng và ban hành cơ chế để một số mặt hàng xuất khẩu cũng như tiêu thụ nội địa của tỉnh được dán nhãn môi trường;
- Ký quỹ môi trường: Nội dung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanh nghiệp trước khi đầu tư phải đặt cọc tại ngân hàng một khoản tiền nào đó đủ lớn để đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và công tác bảo vệ môi trường. Trong quá trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu cơ sở có các biện pháp chủ động khắc phục, không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái ra môi trường đúng như cam kết thì số tiền ký quỹ sẽ được hoàn trả lại cho doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết hoặc phá sản, số tiền trên sẽ được rút ra từ tài khoản ngân hàng chi cho công tác khắc phục sự cố ô nhiễm đồng thời với việc đóng cửa doanh nghiệp;
- Các hình thức hỗ trợ tài chính: Đối với tỉnh Bạc Liêu do kinh phí đầu tư các công trình xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp rất tốn kém, chi phí vận hành thiết bị cũng sẽ làm tăng thêm giá thành sản phẩm. Do đó, Nhà nước và tỉnh cần có chính sách khuyến khích như: Miễn giảm thuế, được vay vốn dài hạn với lãi suất ưu đãi cho các công trình xử lý ô nhiễm có yêu cầu đầu tư vốn lớn, đặc biệt có chính sách cụ thể đối với các đối tượng phải di dời đến khu công nghiệp tập trung.
3.4. Xã hội hóa nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường:
- Thực hiện chính sách ưu đãi thu hút đầu tư:
+ Áp dụng chính sách ưu đãi, hỗ trợ về đất đai đối với hoạt động bảo vệ môi trường;
+ Áp dụng chính sách miễn, giảm thuế, phí đối với các hoạt động bảo vệ môi trường được quy định;
+ Tổ chức, cá nhân đầu tư bảo vệ môi trường được ưu tiên vay vốn từ các quỹ bảo vệ môi trường; trường hợp vay vốn tại các tổ chức tín dụng khác để đầu tư bảo vệ môi trường thì được xem xét hỗ trợ lãi suất sau đầu tư hoặc bảo lãnh tín dụng đầu tư theo điều lệ của quỹ bảo vệ môi trường;
+ Chương trình, dự án bảo vệ môi trường trọng điểm của Nhà nước cần sử dụng vốn lớn được ưu tiên xem xét cho sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức;
+ Chính phủ quy định cụ thể các chính sách ưu đãi đối với hoạt động bảo vệ môi trường.
- Thu hút nguồn vốn đầu tư trong tỉnh:
+ Kêu gọi sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước cho bảo vệ môi trường;
+ Khuyến khích các tổ chức tài chính trong huyện tham gia vào việc cung cấp tài chính cho việc bảo vệ môi trường;
+ Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đóng góp nguồn tài chính cho bảo vệ môi trường, phòng ngừa và khắc phục ô nhiễm;
+ Huy động các tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư đóng góp công sức, tiền của để đầu tư bảo vệ môi trường;
+ Thu hút đầu tư cho bảo vệ môi trường từ các nguồn vốn hỗ trợ phát triển như quỹ bảo vệ môi trường của tỉnh, huyện;
+ Áp dụng các chính sách, cơ chế hỗ trợ về vốn, trợ giá đối với các hoạt động bảo vệ môi trường nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm và tạo nguồn kinh phí để đầu tư áp dụng các công nghệ sạch và các biện pháp bảo vệ môi trường khác;
+ Tăng cường và đa dạng hóa đầu tư bảo vệ môi trường;
+ Ðầu tư bảo vệ môi trường phải được đa dạng hóa về hình thức và nguồn vốn nhằm huy động được mọi nguồn lực trong xã hội;
+ Ban hành quy định về tăng cường và đa dạng các nguồn vốn bảo vệ môi trường, trong đó dự kiến hàng năm tăng dần tổng chi ngân sách cho hoạt động bảo vệ môi trường 10%, thành lập cơ chế tài chính như quỹ bảo vệ môi trường địa phương, ngành và ngân hàng môi trường;
+ Mức đầu tư bảo vệ môi trường phải được tăng cường theo nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế; các doanh nghiệp được tính vốn đầu tư bảo vệ môi trường trong giá thành chi phí sản xuất để huy động từ 1 - 2% tổng chi phí của doanh nghiệp.
- Thu hút nguồn vốn đầu tư từ các vùng phụ cận và vốn đầu tư nước ngoài:
+ Tiếp tục thực hiện các chính sách đổi mới, thu hút sự tham gia của các tổ chức quốc tế;
+ Tăng cường hợp tác quốc tế trong các Ủy ban của Liên hợp quốc về bảo vệ môi trường;
+ Tìm kiếm sự hỗ trợ quốc tế cho công tác nghiên cứu, thu thập và xử lý dữ liệu môi trường, triển khai các dự án phòng chống thiên tai và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường.
3.5. Tăng cường nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ:
- Nâng cao nhận thức về vai trò nền tảng và động lực phát triển kinh tế xã hội của nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ;
- Nghiên cứu đổi mới cơ chế trong công tác bảo vệ môi trường;
- Xây dựng và phát triển thị trường nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ;
- Vận dụng và xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ;
- Đẩy mạnh hợp tác trong và ngoài nước về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực môi trường;
- Nhập khẩu, tiến tới tự sản xuất các thiết bị phân loại, thu gom vận chuyển, xử lý chất thải;
- Xây dựng các đề án, dự án bảo vệ môi trường tỉnh;
- Hình thành phát triển ngành công nghiệp môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước;
- Thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học các dự án, đầu tư đưa vào áp dụng các công nghệ kỹ thuật tiên tiến, phù hợp với điều kiện của các địa phương trong tất cả các khâu của quy trình giải quyết chất thải;
- Hiện đại hóa công nghệ và sản xuất thiết bị chuyên ngành xử lý chất thải;
- Bên cạnh các hình thức tự nguyện, việc bắt buộc áp dụng sản xuất sạch hơn vào sản xuất nên được thực hiện đối với một số ngành công nghiệp trong địa bàn tỉnh;
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.
3.6. Tăng cường hợp tác khu vực và quốc tế:
Để thực hiện tốt việc hợp tác trong khu vực và quốc tế về lĩnh vực môi trường cần đề xuất một số giải pháp sau:
- Cụ thể hóa bằng các kế hoạch và chương trình hợp tác cụ thể, trong đó, xác lập các nội dung ưu tiên hợp tác trước;
- Phân công trách nhiệm và thành lập Ban chỉ đạo thực hiện hợp tác khu vực và quốc tế trong lĩnh vực môi trường để triển khai thực hiện các nội dung của chiến lược và các chương trình, dự án, đề án hợp tác trọng điểm trong từng giai đoạn;
- Tăng cường sự hợp tác giữa các ngành và các cơ quan chức năng trong các vấn đề liên quan;
- Sử dụng có hiệu quả vốn vay và viện trợ của nước ngoài đầu tư phát triển khoa học và công nghệ nói chung và trong lĩnh vực môi trường nói riêng;
- Quy hoạch lực lượng cán bộ khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường, đảm bảo về số lượng và chất lượng đáp ứng cho nhu cầu thực tiễn của các chương trình, dự án, đề án hợp tác, tạo cầu nối thích hợp và thuận lợi trong hợp tác khu vực và quốc tế;
- Mở rộng quan hệ hợp tác phát triển khoa học, công nghệ trong và ngoài nước; tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của các nước, các tổ chức quốc tế và Trung ương trong các lĩnh vực đào tạo, quản lý, nghiên cứu khoa học, ứng dụng, đổi mới công nghệ;
- Xây dựng cơ chế ưu tiên và thường xuyên tăng cường hợp tác, liên kết, hỗ trợ toàn diện về khoa học và công nghệ với các địa phương lân cận và các nước trong vùng;
- Xây dựng các cơ chế thích hợp, tạo điều kiện để cán bộ khoa học và công nghệ được tham dự các khóa đào tạo, tập huấn, tham quan khảo sát chuyên đề ở nước ngoài, học hỏi các kinh nghiệm phục vụ ứng dụng trong thực tế quản lý, nghiên cứu, sản xuất kinh doanh của thành phố.