Document: Khoản 6 Điều 1 Quyết định 1279/QĐ-UBND 2018 chính sách phát triển kinh tế xã hội dân tộc thiểu số Quảng Ninh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/04/2018", "sign_number": "1279/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Thị Thu Thủy", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/04/2018", "sign_number": "1279/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Thị Thu Thủy", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/04/2018", "sign_number": "1279/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Thị Thu Thủy", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/04/2018", "sign_number": "1279/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Thị Thu Thủy", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/04/2018", "sign_number": "1279/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Thị Thu Thủy", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 6 Điều 1 Quyết định 1279/QĐ-UBND 2018 chính sách phát triển kinh tế xã hội dân tộc thiểu số Quảng Ninh

Điều 1. Phê duyệt Đề án thực hiện chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 - 2020 theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (có Đề án kèm theo) với các nội dung chủ yếu sau:
...
6. Giải pháp thực hiện Đề án
6.1. Công tác chỉ đạo
- Phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ sở trong chỉ đạo, triển khai, tổ chức thực hiện Đề án.
- Phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên từ cơ sở với nhiệm vụ thực hiện Đề án và vai trò chủ động, tích cực trong tham gia thực hiện Đề án của người dân, trực tiếp là các hộ thuộc diện thụ hưởng chính sách theo Đề án, chống tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước và tư tưởng “không muốn thoát nghèo”.
- Ban Dân tộc tỉnh và cơ quan công tác dân tộc cấp huyện là cơ quan thường trực tham mưu cho cấp ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp trong công tác triển khai thực hiện Đề án. Riêng cấp xã giao Ban Chỉ đạo giảm nghèo và Chủ tịch (hoặc 01 Phó Chủ tịch) Ủy ban nhân dân xã (phường, thị trấn) trực tiếp chỉ đạo thực hiện Đề án, giao cán bộ Văn phòng - Thống kê phối hợp với các bộ phận chuyên môn liên quan tham mưu triển khai thực hiện Đề án trên địa bàn.
- Định kỳ và thường xuyên kiểm tra, đánh giá tiến độ, kết quả triển khai thực hiện Đề án; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc; phát hiện và giải quyết kịp thời những hạn chế, tránh sai phạm trong quá trình triển khai thực hiện Đề án từ cơ sở.
6.2. Công tác thông tin, tuyên truyền
- Thực hiện công khai dân chủ trong thực hiện Đề án ở tất cả các cấp, nhất là ở xã, thôn, bản bằng nhiều hình thức: Thông tin đại chúng, thông qua sinh hoạt của tổ chức trong Đảng, Hội đồng nhân dân, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân để thông báo công khai cho cán bộ, đảng viên và nhân dân được biết, được bàn, được kiểm tra, giám sát thực hiện Đề án.
- Tuyên truyền, vận động các hộ dân thuộc diện thụ hưởng chính sách chủ động, tích cực trong thực hiện Đề án; xây dựng và kịp thời phát hiện, nhân rộng các tập thể, cá nhân điển hình trong triển khai, thực hiện Đề án. Phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trong công tác tuyên truyền, vận động thực hiện Đề án.
- Xây dựng phóng sự, tin, bài, phát huy hiệu quả hoạt động của các cụm loa truyền thanh xã, khu phố, thôn, bản tuyên truyền về tiến độ và kết quả triển khai thực hiện Đề án.
- Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể ở các cấp trong tuyên truyền, phổ biến chính sách và triển khai thực hiện Đề án đến cán bộ, đoàn viên, hội viên và nhân dân, tạo sự đồng thuận, quyết tâm, thực hiện tốt vai trò giám sát trong thực hiện Đề án.
6.3. Về nguồn vốn và phân bổ vốn thực hiện đề án
a. Về nguồn vốn
- Ngân sách tỉnh bố trí từ nguồn dự phòng ngân sách tỉnh năm 2018 để thực hiện Đề án theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước, tổng số tiền 18,635 tỷ đồng.
- Đối với nguồn vốn vay Ngân hàng Chính sách xã hội: Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh đề nghị Ngân hàng Chính sách xã hội Trung ương bố trí theo đúng quy định tại Quyết định số 2085/QĐ-TTg và Thông tư số 02/2017/TT-UBDT. Trường hợp nguồn vốn Trung ương bố trí không đủ vốn theo Đề án của tỉnh (67,281 tỷ đồng), tham mưu cho UBND tỉnh bố trí bổ sung từ ngân sách tỉnh để ủy thác cho Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay theo Đề án được duyệt.
- Ngoài các nguồn vốn trên, các địa phương chủ động huy động, lồng ghép các nguồn vốn khác có cùng mục tiêu, vốn xã hội hóa từ cộng đồng và người dân để thực hiện có hiệu quả các nội dung của Đề án.
b. Về phân bổ và thực hiện kế hoạch
- Bố trí kế hoạch hàng năm theo phân kỳ đầu tư, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên hỗ trợ về đất sản xuất, nước sinh hoạt làm trước, ưu tiên hộ khó khăn hơn hỗ trợ trước. Đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung chính sách và kế hoạch theo Đề án được phê duyệt;
- Ủy ban nhân dân tỉnh phân bổ kế hoạch vốn cho cấp huyện theo từng nội dung hỗ trợ theo Đề án được phê duyệt trên cơ sở đề xuất của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Dân tộc tỉnh và các Sở, ngành, địa phương liên quan. Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ kế hoạch UBND tỉnh giao để Quyết định phân bổ và thông báo chi tiết số hộ, nội dung hỗ trợ cho từng xã (phường, thị trấn); phê duyệt danh sách hộ, nội dung, định mức hỗ trợ cho từng hộ và giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã làm chủ đầu tư các nội dung hỗ trợ thuộc Đề án.

Content:
Giải pháp thực hiện Đề án
6.1. Công tác chỉ đạo
- Phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ sở trong chỉ đạo, triển khai, tổ chức thực hiện Đề án.
- Phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên từ cơ sở với nhiệm vụ thực hiện Đề án và vai trò chủ động, tích cực trong tham gia thực hiện Đề án của người dân, trực tiếp là các hộ thuộc diện thụ hưởng chính sách theo Đề án, chống tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước và tư tưởng “không muốn thoát nghèo”.
- Ban Dân tộc tỉnh và cơ quan công tác dân tộc cấp huyện là cơ quan thường trực tham mưu cho cấp ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp trong công tác triển khai thực hiện Đề án. Riêng cấp xã giao Ban Chỉ đạo giảm nghèo và Chủ tịch (hoặc 01 Phó Chủ tịch) Ủy ban nhân dân xã (phường, thị trấn) trực tiếp chỉ đạo thực hiện Đề án, giao cán bộ Văn phòng - Thống kê phối hợp với các bộ phận chuyên môn liên quan tham mưu triển khai thực hiện Đề án trên địa bàn.
- Định kỳ và thường xuyên kiểm tra, đánh giá tiến độ, kết quả triển khai thực hiện Đề án; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc; phát hiện và giải quyết kịp thời những hạn chế, tránh sai phạm trong quá trình triển khai thực hiện Đề án từ cơ sở.
6.2. Công tác thông tin, tuyên truyền
- Thực hiện công khai dân chủ trong thực hiện Đề án ở tất cả các cấp, nhất là ở xã, thôn, bản bằng nhiều hình thức: Thông tin đại chúng, thông qua sinh hoạt của tổ chức trong Đảng, Hội đồng nhân dân, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân để thông báo công khai cho cán bộ, đảng viên và nhân dân được biết, được bàn, được kiểm tra, giám sát thực hiện Đề án.
- Tuyên truyền, vận động các hộ dân thuộc diện thụ hưởng chính sách chủ động, tích cực trong thực hiện Đề án; xây dựng và kịp thời phát hiện, nhân rộng các tập thể, cá nhân điển hình trong triển khai, thực hiện Đề án. Phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trong công tác tuyên truyền, vận động thực hiện Đề án.
- Xây dựng phóng sự, tin, bài, phát huy hiệu quả hoạt động của các cụm loa truyền thanh xã, khu phố, thôn, bản tuyên truyền về tiến độ và kết quả triển khai thực hiện Đề án.
- Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể ở các cấp trong tuyên truyền, phổ biến chính sách và triển khai thực hiện Đề án đến cán bộ, đoàn viên, hội viên và nhân dân, tạo sự đồng thuận, quyết tâm, thực hiện tốt vai trò giám sát trong thực hiện Đề án.
6.3. Về nguồn vốn và phân bổ vốn thực hiện đề án
a. Về nguồn vốn
- Ngân sách tỉnh bố trí từ nguồn dự phòng ngân sách tỉnh năm 2018 để thực hiện Đề án theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước, tổng số tiền 18,635 tỷ đồng.
- Đối với nguồn vốn vay Ngân hàng Chính sách xã hội: Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh đề nghị Ngân hàng Chính sách xã hội Trung ương bố trí theo đúng quy định tại Quyết định số 2085/QĐ-TTg và Thông tư số 02/2017/TT-UBDT. Trường hợp nguồn vốn Trung ương bố trí không đủ vốn theo Đề án của tỉnh (67,281 tỷ đồng), tham mưu cho UBND tỉnh bố trí bổ sung từ ngân sách tỉnh để ủy thác cho Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay theo Đề án được duyệt.
- Ngoài các nguồn vốn trên, các địa phương chủ động huy động, lồng ghép các nguồn vốn khác có cùng mục tiêu, vốn xã hội hóa từ cộng đồng và người dân để thực hiện có hiệu quả các nội dung của Đề án.
b. Về phân bổ và thực hiện kế hoạch
- Bố trí kế hoạch hàng năm theo phân kỳ đầu tư, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên hỗ trợ về đất sản xuất, nước sinh hoạt làm trước, ưu tiên hộ khó khăn hơn hỗ trợ trước. Đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung chính sách và kế hoạch theo Đề án được phê duyệt;
- Ủy ban nhân dân tỉnh phân bổ kế hoạch vốn cho cấp huyện theo từng nội dung hỗ trợ theo Đề án được phê duyệt trên cơ sở đề xuất của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Dân tộc tỉnh và các Sở, ngành, địa phương liên quan. Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ kế hoạch UBND tỉnh giao để Quyết định phân bổ và thông báo chi tiết số hộ, nội dung hỗ trợ cho từng xã (phường, thị trấn); phê duyệt danh sách hộ, nội dung, định mức hỗ trợ cho từng hộ và giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã làm chủ đầu tư các nội dung hỗ trợ thuộc Đề án.