Document: Điểm b Khoản 2 Điều 1 Thông tư 32-LĐ/TL trả lương ngày công nhân viên chức thuộc khu vực sản xuất

Type: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "26/12/1958", "sign_number": "32-LĐ/TL", "signer": "Nguyễn Văn Tạo", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "26/12/1958", "sign_number": "32-LĐ/TL", "signer": "Nguyễn Văn Tạo", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "26/12/1958", "sign_number": "32-LĐ/TL", "signer": "Nguyễn Văn Tạo", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "26/12/1958", "sign_number": "32-LĐ/TL", "signer": "Nguyễn Văn Tạo", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "26/12/1958", "sign_number": "32-LĐ/TL", "signer": "Nguyễn Văn Tạo", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điểm b Khoản 2 Điều 1 Thông tư 32-LĐ/TL trả lương ngày công nhân viên chức thuộc khu vực sản xuất

Điều 1. 3 nghị định 182-TTg ngày 07-04-1958 của Thủ tướng Chính phủ quy định: "Công nhân sản xuất ở khu vực sản xuất được hưởng lương trả theo lương ngày..." nhằm thực hiện một hình thức tiền lương thích hợp với chế độ hạch toán của các xí nghiệp. Trong hoàn cảnh các xí nghiệp chưa thực hiện được chế độ tiền lương theo sản phẩm thì "hình thức trả lương ngày tiến bộ hơn lương tháng" (Thông tư số 197-TTg ngày 17-04-1958 của Thủ tướng phủ).
...
2. Cũng anh A trên đây, nếu làm việc nơi có phụ cấp khu vực 12% thì lương ngày của anh là:

40.000đ + (40.000đ x 12%)

= 1.756đ

25,5

II. ĐỐI TƯỢNG THI HÀNH TRẢ LƯƠNG NGÀY VÀ QUYỀN LỢI NHỮNG NGƯỜI HƯỞNG LƯƠNG NGÀY
1. Những công nhân, viên chức được tính trả lương ngày:
...
b) Những công nhân, viên chức ngoài biên chế Nhà nước làm việc thường xuyên hoặc tạm thời, theo vụ, theo mùa, đều trả lương ngày.
Những công nhân, viên chức chưa thực hiện trả lương ngày:
Những công nhân, viên chức làm việc không nhất thiết chỉ trong số giờ tiêu chuẩn nhất định hàng ngày, mà khi cần thiết phải có mặt để làm việc, thì chưa trả lương ngày mà vẫn trả lương tháng.
Ví dụ: Công nhân lái xe ô-tô, tàu hỏa, công nhân viên chức làm việc trên các tàu thủy, công nhân viên chức thường đi công tác lưu động luôn, ban Quản đốc xí nghiệp, Ban chỉ huy công trường v.v...
Các Bộ, các ngành, các Ủy ban Hành chính địa phương căn cứ tính chất sản xuất và công tác của từng loại công nhân viên chức trong các đơn vị thuộc mình quản lý để quy định cụ thể những người nào, loại công việc nào được trả lương ngày hoặc trả lương tháng mà áp dụng cho sát.
III. - QUYỀN LỢI CỦA NHỮNG NGƯỜI HƯỞNG LƯƠNG NGÀY VÀ HƯỞNG LƯƠNG THÁNG

- Những người ở trong biên chế Nhà nước hưởng lương ngày cũng như những người hưởng lương tháng đều được hưởng các quyền lợi về chế độ xã hội và phúc lợi như nhau.
- Trường hợp ngừng việc, không sản xuất thì tiền lương của người lương ngày và lương tháng đều áp dụng như nhau chừ không phân biệt (trừ những người thuê mướn tạm thời ít ngày, không thường xuyên liên tục, có việc thì làm, không có việc thì nghỉ).
- Những ngày có sản xuất, có công tác, những ngày nghỉ lễ và nghỉ phép do Chính phủ quy định v.v... được trả đủ lương ngày. Ngày chủ nhật nghỉ không có lương vì đã tính trả vào ngày làm việc rồi.
- Những người hưởng lương ngày nói chung nếu có làm thêm giờ được hưởng phụ cấp làm thêm giờ.
Trong khi thi hành, các Bộ, các ngành, các Ủy ban Hành chính địa phương cần có kế hoạch lãnh đạo chặt chẽ hướng dẫn học tập chu đáo và quy định rõ những công việc, những người được trả lương ngày và trả lương tháng để cơ sở thực hiện cho thống nhất.
Thông tư này thi hành trong tất cả đơn vị thuộc khu vực sản xuất từ ngày 01-01-1959. Các điểm quy định thuộc các văn bản trước đây trái với phương pháp tính lương ngày của thông tư này đều phải sửa lại và thi hành đúng thông tư này. Trong lúc tính lại lương ngày, nếu có chênh lệch về tiền lương so với cách tính trước không đặt vấn đề truy lĩnh hoặc truy hoàn những ngày trước 01-01-1959.

BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG

Content:
Những công nhân, viên chức ngoài biên chế Nhà nước làm việc thường xuyên hoặc tạm thời, theo vụ, theo mùa, đều trả lương ngày.
Những công nhân, viên chức chưa thực hiện trả lương ngày:
Những công nhân, viên chức làm việc không nhất thiết chỉ trong số giờ tiêu chuẩn nhất định hàng ngày, mà khi cần thiết phải có mặt để làm việc, thì chưa trả lương ngày mà vẫn trả lương tháng.
Ví dụ: Công nhân lái xe ô-tô, tàu hỏa, công nhân viên chức làm việc trên các tàu thủy, công nhân viên chức thường đi công tác lưu động luôn, ban Quản đốc xí nghiệp, Ban chỉ huy công trường v.v...
Các Bộ, các ngành, các Ủy ban Hành chính địa phương căn cứ tính chất sản xuất và công tác của từng loại công nhân viên chức trong các đơn vị thuộc mình quản lý để quy định cụ thể những người nào, loại công việc nào được trả lương ngày hoặc trả lương tháng mà áp dụng cho sát.
III. - QUYỀN LỢI CỦA NHỮNG NGƯỜI HƯỞNG LƯƠNG NGÀY VÀ HƯỞNG LƯƠNG THÁNG

- Những người ở trong biên chế Nhà nước hưởng lương ngày cũng như những người hưởng lương tháng đều được hưởng các quyền lợi về chế độ xã hội và phúc lợi như nhau.
- Trường hợp ngừng việc, không sản xuất thì tiền lương của người lương ngày và lương tháng đều áp dụng như nhau chừ không phân biệt (trừ những người thuê mướn tạm thời ít ngày, không thường xuyên liên tục, có việc thì làm, không có việc thì nghỉ).
- Những ngày có sản xuất, có công tác, những ngày nghỉ lễ và nghỉ phép do Chính phủ quy định v.v... được trả đủ lương ngày. Ngày chủ nhật nghỉ không có lương vì đã tính trả vào ngày làm việc rồi.
- Những người hưởng lương ngày nói chung nếu có làm thêm giờ được hưởng phụ cấp làm thêm giờ.
Trong khi thi hành, các Bộ, các ngành, các Ủy ban Hành chính địa phương cần có kế hoạch lãnh đạo chặt chẽ hướng dẫn học tập chu đáo và quy định rõ những công việc, những người được trả lương ngày và trả lương tháng để cơ sở thực hiện cho thống nhất.
Thông tư này thi hành trong tất cả đơn vị thuộc khu vực sản xuất từ ngày 01-01-1959. Các điểm quy định thuộc các văn bản trước đây trái với phương pháp tính lương ngày của thông tư này đều phải sửa lại và thi hành đúng thông tư này. Trong lúc tính lại lương ngày, nếu có chênh lệch về tiền lương so với cách tính trước không đặt vấn đề truy lĩnh hoặc truy hoàn những ngày trước 01-01-1959.

BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG