Document: Điều 5 Nghị định 60/2002/NĐ-CP xác định giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định thực hiện Điều 7 Hiệp định chung thuế quan thương mại

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "06/06/2002", "sign_number": "60/2002/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "06/06/2002", "sign_number": "60/2002/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "06/06/2002", "sign_number": "60/2002/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "06/06/2002", "sign_number": "60/2002/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "06/06/2002", "sign_number": "60/2002/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 5 Nghị định 60/2002/NĐ-CP xác định giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định thực hiện Điều 7 Hiệp định chung thuế quan thương mại có nội dung như sau:

Điều 5. Phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch đối với hàng hoá nhập khẩu.
1. Trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu là trị giá giao dịch, sau khi đã được điều chỉnh theo quy định tại Điều 11 Nghị định này.
2. Điều kiện áp dụng phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch:
a) Người mua có đầy đủ quyền định đoạt, sử dụng hàng hoá sau khi nhập khẩu. Nếu có những hạn chế dưới đây thì được coi là thoả mãn điều kiện này:
- Việc mua bán, sử dụng hàng hoá phải tuân theo những quy định của pháp luật Việt Nam.
- Người mua và người bán có thoả thuận về nơi tiêu thụ hàng hoá sau khi nhập khẩu.
- Những hạn chế khác không ảnh hưởng đến giá trị hàng hoá.
b) Việc bán hàng hay giá cả không phụ thuộc vào một số điều kiện dẫn đến việc không xác định được trị giá của những hàng hoá cần xác định trị giá tính thuế;
c) Sau khi bán lại hàng hoá, người nhập khẩu không phải trả thêm bất kỳ khoản tiền nào từ số tiền thu được do việc định đoạt, sử dụng hàng hoá mang lại, không kể các khoản điều chỉnh quy định tại Điều 11 Nghị định này;
d) Người mua và người bán không có mối quan hệ đặc biệt hoặc nếu có thì mối quan hệ đó không ảnh hưởng đến trị giá giao dịch. Việc xác định ảnh hưởng của mối quan hệ đặc biệt được quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Xác định ảnh hưởng của mối quan hệ đặc biệt đến trị giá giao dịch:
a) Trường hợp người mua khai báo họ có mối quan hệ đặc biệt với người bán nhưng mối quan hệ đặc biệt này không ảnh hưởng đến trị giá giao dịch thì được coi là thoả mãn quy định tại điểm d khoản 2 Điều này.
b) Trường hợp cơ quan hải quan có căn cứ cho rằng mối quan hệ đặc biệt có ảnh hưởng đến trị giá giao dịch thì phải thông báo ngay bằng văn bản cho người khai hải quan biết để chứng minh bằng cách chỉ ra trị giá giao dịch xấp xỉ với một trong những trị giá dưới đây của lô hàng được xuất khẩu đến Việt Nam trong cùng ngày hoặc trong vòng 30 ngày trước, hoặc sau ngày xuất khẩu lô hàng đang được xác định trị giá:
- Trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu giống hệt hay tương tự được bán cho người nhập khẩu khác không có mối quan hệ đặc biệt với người xuất khẩu (người bán);
- Trị giá tính thuế của hàng hoá nhập khẩu giống hệt hay tương tự được xác định theo quy định tại Điều 8 Nghị định này;
- Trị giá tính thuế của hàng hoá nhập khẩu giống hệt hay tương tự được xác định theo quy định tại Điều 9 Nghị định này.
Nếu quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan hải quan mà người khai hải quan không chứng minh được thì cơ quan hải quan thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 13 Nghị định này.

Content:
Điều 5. Phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch đối với hàng hoá nhập khẩu.
1. Trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu là trị giá giao dịch, sau khi đã được điều chỉnh theo quy định tại Điều 11 Nghị định này.
2. Điều kiện áp dụng phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch:
a) Người mua có đầy đủ quyền định đoạt, sử dụng hàng hoá sau khi nhập khẩu. Nếu có những hạn chế dưới đây thì được coi là thoả mãn điều kiện này:
- Việc mua bán, sử dụng hàng hoá phải tuân theo những quy định của pháp luật Việt Nam.
- Người mua và người bán có thoả thuận về nơi tiêu thụ hàng hoá sau khi nhập khẩu.
- Những hạn chế khác không ảnh hưởng đến giá trị hàng hoá.
b) Việc bán hàng hay giá cả không phụ thuộc vào một số điều kiện dẫn đến việc không xác định được trị giá của những hàng hoá cần xác định trị giá tính thuế;
c) Sau khi bán lại hàng hoá, người nhập khẩu không phải trả thêm bất kỳ khoản tiền nào từ số tiền thu được do việc định đoạt, sử dụng hàng hoá mang lại, không kể các khoản điều chỉnh quy định tại Điều 11 Nghị định này;
d) Người mua và người bán không có mối quan hệ đặc biệt hoặc nếu có thì mối quan hệ đó không ảnh hưởng đến trị giá giao dịch. Việc xác định ảnh hưởng của mối quan hệ đặc biệt được quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Xác định ảnh hưởng của mối quan hệ đặc biệt đến trị giá giao dịch:
a) Trường hợp người mua khai báo họ có mối quan hệ đặc biệt với người bán nhưng mối quan hệ đặc biệt này không ảnh hưởng đến trị giá giao dịch thì được coi là thoả mãn quy định tại điểm d khoản 2 Điều này.
b) Trường hợp cơ quan hải quan có căn cứ cho rằng mối quan hệ đặc biệt có ảnh hưởng đến trị giá giao dịch thì phải thông báo ngay bằng văn bản cho người khai hải quan biết để chứng minh bằng cách chỉ ra trị giá giao dịch xấp xỉ với một trong những trị giá dưới đây của lô hàng được xuất khẩu đến Việt Nam trong cùng ngày hoặc trong vòng 30 ngày trước, hoặc sau ngày xuất khẩu lô hàng đang được xác định trị giá:
- Trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu giống hệt hay tương tự được bán cho người nhập khẩu khác không có mối quan hệ đặc biệt với người xuất khẩu (người bán);
- Trị giá tính thuế của hàng hoá nhập khẩu giống hệt hay tương tự được xác định theo quy định tại Điều 8 Nghị định này;
- Trị giá tính thuế của hàng hoá nhập khẩu giống hệt hay tương tự được xác định theo quy định tại Điều 9 Nghị định này.
Nếu quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan hải quan mà người khai hải quan không chứng minh được thì cơ quan hải quan thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 13 Nghị định này.