Document: Điều 2 Quyết định 137-HĐBT cơ chế quản lý kinh doanh ngành đường biển Việt Nam

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "18/05/1985", "sign_number": "137-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "18/05/1985", "sign_number": "137-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "18/05/1985", "sign_number": "137-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "18/05/1985", "sign_number": "137-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "18/05/1985", "sign_number": "137-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định 137-HĐBT cơ chế quản lý kinh doanh ngành đường biển Việt Nam có nội dung như sau:

Điều 2. - Để có đủ ngoại tệ thanh toán tiền thuê tàu nước ngoài và các chi phí hàng hải khác trong vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu và các đội tàu biển của nước ta thực hiện tốt kinh doanh hạch toán thu chi ngoại tệ, các ngành, các địa phương có hàng xuất CIF, nhập FOB (hàng tư bản), kể cả hàng viện trợ không hoàn lại và viện trợ nhân dân mà do ta đảm nhiệm việc vận chuyển, hàng năm phải lập và bảo đảm kế hoạch ngoại tệ thanh toán cước phí vận chuyển cho toàn bộ khối lượng hàng hoá đó. Cụ thể là khi bán, mua hàng và tiếp nhận hàng viện trợ không hoàn lại và viện trợ nhân dân đều phải dành một khoản tiền để đủ trả cước phí vận chuyển bằng ngoại tệ, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước phải bảo đảm cân đối ngoại tệ cho nhu cầu vận tải hàng hoá của Trung ương, Ngân hàng phải bảo đảm chi đủ số ngoại tệ tiền cước chuyên chở hàng xuất nhập khẩu cho vận tải.

Content:
Điều 2. - Để có đủ ngoại tệ thanh toán tiền thuê tàu nước ngoài và các chi phí hàng hải khác trong vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu và các đội tàu biển của nước ta thực hiện tốt kinh doanh hạch toán thu chi ngoại tệ, các ngành, các địa phương có hàng xuất CIF, nhập FOB (hàng tư bản), kể cả hàng viện trợ không hoàn lại và viện trợ nhân dân mà do ta đảm nhiệm việc vận chuyển, hàng năm phải lập và bảo đảm kế hoạch ngoại tệ thanh toán cước phí vận chuyển cho toàn bộ khối lượng hàng hoá đó. Cụ thể là khi bán, mua hàng và tiếp nhận hàng viện trợ không hoàn lại và viện trợ nhân dân đều phải dành một khoản tiền để đủ trả cước phí vận chuyển bằng ngoại tệ, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước phải bảo đảm cân đối ngoại tệ cho nhu cầu vận tải hàng hoá của Trung ương, Ngân hàng phải bảo đảm chi đủ số ngoại tệ tiền cước chuyên chở hàng xuất nhập khẩu cho vận tải.