Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1316/QĐ-UBND 2014 bảo trì công trình dân dụng công nghiệp vật liệu xây dựng trước 20/01/2011 Bà Rịa Vũng Tàu

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "24/06/2014", "sign_number": "1316/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "24/06/2014", "sign_number": "1316/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "24/06/2014", "sign_number": "1316/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "24/06/2014", "sign_number": "1316/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "24/06/2014", "sign_number": "1316/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1316/QĐ-UBND 2014 bảo trì công trình dân dụng công nghiệp vật liệu xây dựng trước 20/01/2011 Bà Rịa Vũng Tàu

Điều 1. Phê duyệt “Đề án bảo trì công trình dân dụng, công trình công nghiệp vật liệu xây dựng và công trình hạ tầng kỹ thuật thuộc sở hữu nhà nước trước ngày 20/01/2011 (ngày có hiệu lực của Nghị định số 114/2010/NĐ-CP ngày 06/12/2010 của Chính phủ)” với những nội dung chính như sau:
...
3. Thực trạng công tác bảo trì công trình xây dựng:
Các công trình hầu hết chưa lập quy trình bảo trì công trình xây dựng. Thực tế hiện nay, các chủ sở hữu, chủ quản lý sử dụng công trình chưa thực hiện công tác này mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật đã quy định đối với những công trình đang khai thác sử dụng chưa có quy trình bảo trì cần phải kiểm định chất lượng và lập quy trình bảo trì. Hiện nay, khi công trình xây dựng xong, được nghiệm thu đưa vào sử dụng thì người quản lý, sử dụng chỉ chú trọng về khai thác, ít quan tâm đến bảo trì công trình.
Việc kiểm tra định kỳ, kiểm tra thường xuyên chưa được chú trọng; kiểm tra đột xuất chỉ khi đã có hư hỏng hoặc sự cố tiến hành khắc phục.
Việc quản lý hồ sơ công trình đang khai thác sử dụng còn nhiều bất cập, có những công trình được chuyển giao nhiều lần cho nhiều chủ sở hữu sử dụng. Trong quá trình chuyển giao, hồ sơ thiết kế, hoàn công bị thất lạc, khi cần tìm đến để nghiên cứu cải tạo, sửa chữa hoặc kiểm định thì không đồng bộ hoặc là không còn. Điều này có thể dẫn đến có những sự cố đáng tiếc xảy ra.
Về nguồn vốn bảo trì, trong các lĩnh vực xây dựng, hàng năm mới bố trí nguồn vốn duy tu sửa chữa các công trình hạ tầng như giao thông; thoát nước đô thị; chưa bố trí nguồn vốn để bảo trì công trình xây dựng dân dụng và các công trình xây dựng khác.
Công tác khảo sát hiện trạng của đề án đã được thực hiện cho các công trình xây dựng dân dụng được xây dựng trước năm 2011 chưa có quy trình bảo trì là 338 công trình (trong đó có 27 công trình sử dụng vốn nhà nước khác, không do tỉnh quản lý); các công trình thoát nước được xây dựng trước năm 2011 chưa có quy trình bảo trì là 443 công trình. Số lượng công trình nói trên chiếm khoảng 90% số lượng công trình thực tế hiện có đã được xây dựng xong, đưa vào sử dụng trước năm 2011 và chưa có quy trình bảo trì. Vì vậy, trong các bảng tính toán kèm theo, số lượng các công trình được nhân với hệ số 1,1.

Content:
Thực trạng công tác bảo trì công trình xây dựng:
Các công trình hầu hết chưa lập quy trình bảo trì công trình xây dựng. Thực tế hiện nay, các chủ sở hữu, chủ quản lý sử dụng công trình chưa thực hiện công tác này mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật đã quy định đối với những công trình đang khai thác sử dụng chưa có quy trình bảo trì cần phải kiểm định chất lượng và lập quy trình bảo trì. Hiện nay, khi công trình xây dựng xong, được nghiệm thu đưa vào sử dụng thì người quản lý, sử dụng chỉ chú trọng về khai thác, ít quan tâm đến bảo trì công trình.
Việc kiểm tra định kỳ, kiểm tra thường xuyên chưa được chú trọng; kiểm tra đột xuất chỉ khi đã có hư hỏng hoặc sự cố tiến hành khắc phục.
Việc quản lý hồ sơ công trình đang khai thác sử dụng còn nhiều bất cập, có những công trình được chuyển giao nhiều lần cho nhiều chủ sở hữu sử dụng. Trong quá trình chuyển giao, hồ sơ thiết kế, hoàn công bị thất lạc, khi cần tìm đến để nghiên cứu cải tạo, sửa chữa hoặc kiểm định thì không đồng bộ hoặc là không còn. Điều này có thể dẫn đến có những sự cố đáng tiếc xảy ra.
Về nguồn vốn bảo trì, trong các lĩnh vực xây dựng, hàng năm mới bố trí nguồn vốn duy tu sửa chữa các công trình hạ tầng như giao thông; thoát nước đô thị; chưa bố trí nguồn vốn để bảo trì công trình xây dựng dân dụng và các công trình xây dựng khác.
Công tác khảo sát hiện trạng của đề án đã được thực hiện cho các công trình xây dựng dân dụng được xây dựng trước năm 2011 chưa có quy trình bảo trì là 338 công trình (trong đó có 27 công trình sử dụng vốn nhà nước khác, không do tỉnh quản lý); các công trình thoát nước được xây dựng trước năm 2011 chưa có quy trình bảo trì là 443 công trình. Số lượng công trình nói trên chiếm khoảng 90% số lượng công trình thực tế hiện có đã được xây dựng xong, đưa vào sử dụng trước năm 2011 và chưa có quy trình bảo trì. Vì vậy, trong các bảng tính toán kèm theo, số lượng các công trình được nhân với hệ số 1,1.