Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 494/QĐ-UBND 2011 quy hoạch phát triển đào tạo nghề 2011-2020 Yên Bái

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Yên Bái", "promulgation_date": "09/04/2011", "sign_number": "494/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Thị Thanh Trà", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Yên Bái", "promulgation_date": "09/04/2011", "sign_number": "494/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Thị Thanh Trà", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Yên Bái", "promulgation_date": "09/04/2011", "sign_number": "494/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Thị Thanh Trà", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Yên Bái", "promulgation_date": "09/04/2011", "sign_number": "494/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Thị Thanh Trà", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Yên Bái", "promulgation_date": "09/04/2011", "sign_number": "494/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Thị Thanh Trà", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 494/QĐ-UBND 2011 quy hoạch phát triển đào tạo nghề 2011-2020 Yên Bái

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển đào tạo nghề tỉnh Yên Bái, giai đoạn 2011 - 2020, với các nội dung chủ yếu như sau:
...
3. Nhiệm vụ chủ yếu
3.1. Phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề
a) Củng cố, nâng cấp phát triển các cơ sở dạy nghề
- Đầu tư trọng điểm cho Trường Cao đẳng nghề Yên Bái có 2- 3 nghề đào tạo đạt chuẩn quốc gia vào năm 2015, từng bước chuẩn bị nâng cấp trường lên Trường Cao đẳng nghề khu vực Tây Bắc trước năm 2020.
- Đầu tư cho Trường Trung cấp kinh tế - kỹ thuật Yên Bái thành Trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật nông lâm nghiệp vào năm 2012.
- Đầu tư trường Trung cấp nghề Nghĩa Lộ thành Trường Trung cấp nghề nội trú khu vực Tây Bắc.
- Đầu tư Trung tâm Dạy nghề huyện Lục Yên và Trung tâm Dạy nghề huyện Văn Yên thành trung tâm dạy nghề kiểu mẫu đạt chuẩn quốc gia.
- Các huyện Trấn Yên, Yên Bình, Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải, mỗi huyện đều có các trung tâm dạy nghề và cơ sở khác có tham gia hoạt động dạy nghề để đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề cho lao động của địa phương.
b) Thành lập mới các trường
Thành lập mới Trường Trung cấp nghề thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ trên cơ sở nâng cấp Trung tâm Dạy nghề- Giới thiệu việc làm.
c) Phát triển các cơ sở khác có tham gia hoạt động dạy nghề và liên kết dạy nghề, các lớp dạy nghề
- Củng cố, tăng cường cở sở vật chất duy trì hoạt động dạy nghề của các cơ sở dạy nghề hiện có, bổ sung thêm vào hệ thống cơ sở dạy nghề một số trường, trung tâm tham gia hoạt động dạy nghề gồm Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật và Du lịch, 10 Trung tâm Giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp dạy nghề tại các huyện, thị xã, thành phố.
- Phát triển loại hình các lớp dạy nghề mở tại các hợp tác xã, cơ sở sản xuất, làng nghề truyền thống... Khuyến khích các doanh nghiệp thành lập cơ sở dạy nghề để đào tạo nghề phục vụ cho nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp.
d) Thành lập các cơ sở phục vụ dạy nghề
Thành lập Trung tâm đào tạo lái xe trên cơ sở tách khoa Giao thông của trường Cao đẳng nghề Yên Bái. Thành lập Trung tâm thực hành sản xuất và hợp tác đào tạo tại các trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề. Thành lập Khoa dạy nghề nội trú, Khoa đào tạo nghề công tác xã hội và Khoa Sư phạm kỹ thuật tại trường Cao đẳng nghề Yên Bái với nhiệm vụ đào tạo giáo viên dạy nghề, cán bộ làm công tác xã hội cho khu vực Tây Bắc.
3.2. Quy mô tuyển sinh dạy nghề
Giai đoạn 2011 - 2020, tuyển mới đào tạo nghề 136.000 người, trong đó: Cao đẳng nghề 22.350 người, Trung cấp nghề 34.000 người, Sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 79.650 người, chia ra:
- Giai đoạn 2010 - 2015: tuyển mới 58.800 người, bình quân 11.760 người/năm: Cao đẳng nghề 7.200 người, Trung cấp nghề 13.000 người, Sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 38.600 người.
- Giai đoạn 2016 - 2020: tuyển mới 77.200 người, bình quân 15.440 người/năm: Cao đẳng nghề 15.150 người, Trung cấp nghề 21.000 người, Sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 41.050 người.
Đảm bảo dạy nghề trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng theo các mục tiêu của các chương trình, đề án trên địa bàn tỉnh.
- Mỗi năm dạy nghề cho 5.800 - 7.000 lao động nông thôn tại địa bàn các huyện, thị xã, thành phố. Phấn đấu 100% các xã, thị trấn của tỉnh có các lớp dạy nghề được triển khai tại địa bàn.
- Bình quân trong giai đoạn 2011- 2020, trong số lao động nông thôn: mỗi năm dạy nghề cho 400-500 lao động phục vụ xuất khẩu, dạy nghề cho 800 - 1.000 người nghèo; dạy nghề cho 350 học sinh dân tộc nội trú, người tàn tật, bộ đội xuất ngũ, người nghiện sau cai nghiện, dạy nghề cho 300 lao động tại các doanh nghiệp, lao động nông thôn khác: 4.000-5.000 người.
3.3. Cơ cấu ngành nghề và cấp trình độ đào tạo
Tăng số lượng và tỷ trọng lao động được đào tạo nghề trong lĩnh vực Công nghiệp xây dựng và Thương mại dịch vụ; giảm tỷ trọng lao động được đào tạo nghề trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp trong tổng số lao động được đào tạo nghề hàng năm.
Tập trung phát triển đào tạo những ngành nghề mũi nhọn nhằm phát huy tiềm năng và thế mạnh của tỉnh. Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề nhằm đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp sản xuất có chất lượng cao và có tính cạnh tranh cao, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và khu vực, thiết thực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển trong giai đoạn tới.
3.4. Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề
a) Tăng cường số lượng giáo viên dạy nghề cho các cơ sở dạy nghề
- Giai đoạn 2011 - 2015: bổ sung thêm 160 giáo viên so với 2011, tổng số giáo viên dạy nghề toàn tỉnh năm 2015 có 540 người.
- Giai đoạn 2016 - 2020: bổ sung thêm 150 giáo viên so với 2015, tổng số giáo viên dạy nghề toàn tỉnh năm 2020 có 752 người. (Tổng số giáo viên dạy nghề năm 2020 tăng 310 người so với năm 2011).
b) Tăng cường biên chế cán bộ quản lý cho trường, trung tâm dạy nghề
Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề đảm bảo phù hợp về số lượng, cơ cấu và chất lượng đáp ứng yêu cầu thực tế dạy nghề của tỉnh và khu vực.
Giai đoạn 2011-2015: bổ sung thêm 14 biên chế cán bộ quản lý cho Trường Trung cấp nghề Nghĩa Lộ và Trường Cao đẳng nghề Yên Bái. Bổ sung 30 biên chế cho 8 trung tâm dạy nghề, nâng tổng số cán bộ quản lý dạy nghề đạt 72 người/8 trung tâm, đảm bảo có 9 biên chế cán bộ quản lý/trung tâm để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý, tổng số cán bộ quản lý dạy nghề toàn tỉnh đến 2015 đạt 127 người.
Giai đoạn 2015-2020: bổ sung thêm 15 biên chế cán bộ quản lý cho Trường Trung cấp nghề Nghĩa Lộ, tổng số cán bộ quản lý toàn tỉnh đến năm 2020 đạt 142 người.
c) Đào tạo và liên kết đào tạo giáo viên dạy nghề
- Thành lập Khoa Sư phạm trực thuộc Trường Cao đẳng nghề Yên Bái vào năm 2011 để đào tạo đội ngũ giáo viên dạy nghề cho các cơ sở dạy nghề. Quy mô đào tạo hệ chính quy 100- 200 sinh viên/năm, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề cho 200 - 300 giáo viên/năm.
- Tăng cường liên kết với các trường sư phạm kỹ thuật để đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề bổ sung cho các cơ sở dạy nghề của tỉnh.
3.5. Cải tiến, nâng cao chất lượng chương trình, giáo trình dạy nghề
- Xây dựng và đổi mới nội dung chương trình, giáo trình dạy nghề theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề phù hợp với tiến bộ kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất và tiếp cận với trình độ tiên tiến trong khu vực và thế giới, đảm bảo đào tạo trong liên thông giữa các trình độ. Xây dựng các chương trình, giáo trình, tài liệu giảng dạy theo hướng tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, theo phương pháp phân tích nghề, từng bước chuyển sang chương trình dạy nghề theo modul.
- Tất cả các trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề xây dựng chương trình, giáo trình theo chương trình khung của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, đảm bảo thống nhất về danh mục nghề và kiến thức, kỹ năng đào tạo chủ yếu của nghề theo chuẩn quốc gia.

Content:
Nhiệm vụ chủ yếu
3.1. Phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề
a) Củng cố, nâng cấp phát triển các cơ sở dạy nghề
- Đầu tư trọng điểm cho Trường Cao đẳng nghề Yên Bái có 2- 3 nghề đào tạo đạt chuẩn quốc gia vào năm 2015, từng bước chuẩn bị nâng cấp trường lên Trường Cao đẳng nghề khu vực Tây Bắc trước năm 2020.
- Đầu tư cho Trường Trung cấp kinh tế - kỹ thuật Yên Bái thành Trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật nông lâm nghiệp vào năm 2012.
- Đầu tư trường Trung cấp nghề Nghĩa Lộ thành Trường Trung cấp nghề nội trú khu vực Tây Bắc.
- Đầu tư Trung tâm Dạy nghề huyện Lục Yên và Trung tâm Dạy nghề huyện Văn Yên thành trung tâm dạy nghề kiểu mẫu đạt chuẩn quốc gia.
- Các huyện Trấn Yên, Yên Bình, Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải, mỗi huyện đều có các trung tâm dạy nghề và cơ sở khác có tham gia hoạt động dạy nghề để đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề cho lao động của địa phương.
b) Thành lập mới các trường
Thành lập mới Trường Trung cấp nghề thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ trên cơ sở nâng cấp Trung tâm Dạy nghề- Giới thiệu việc làm.
c) Phát triển các cơ sở khác có tham gia hoạt động dạy nghề và liên kết dạy nghề, các lớp dạy nghề
- Củng cố, tăng cường cở sở vật chất duy trì hoạt động dạy nghề của các cơ sở dạy nghề hiện có, bổ sung thêm vào hệ thống cơ sở dạy nghề một số trường, trung tâm tham gia hoạt động dạy nghề gồm Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật và Du lịch, 10 Trung tâm Giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp dạy nghề tại các huyện, thị xã, thành phố.
- Phát triển loại hình các lớp dạy nghề mở tại các hợp tác xã, cơ sở sản xuất, làng nghề truyền thống... Khuyến khích các doanh nghiệp thành lập cơ sở dạy nghề để đào tạo nghề phục vụ cho nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp.
d) Thành lập các cơ sở phục vụ dạy nghề
Thành lập Trung tâm đào tạo lái xe trên cơ sở tách khoa Giao thông của trường Cao đẳng nghề Yên Bái. Thành lập Trung tâm thực hành sản xuất và hợp tác đào tạo tại các trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề. Thành lập Khoa dạy nghề nội trú, Khoa đào tạo nghề công tác xã hội và Khoa Sư phạm kỹ thuật tại trường Cao đẳng nghề Yên Bái với nhiệm vụ đào tạo giáo viên dạy nghề, cán bộ làm công tác xã hội cho khu vực Tây Bắc.
3.2. Quy mô tuyển sinh dạy nghề
Giai đoạn 2011 - 2020, tuyển mới đào tạo nghề 136.000 người, trong đó: Cao đẳng nghề 22.350 người, Trung cấp nghề 34.000 người, Sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 79.650 người, chia ra:
- Giai đoạn 2010 - 2015: tuyển mới 58.800 người, bình quân 11.760 người/năm: Cao đẳng nghề 7.200 người, Trung cấp nghề 13.000 người, Sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 38.600 người.
- Giai đoạn 2016 - 2020: tuyển mới 77.200 người, bình quân 15.440 người/năm: Cao đẳng nghề 15.150 người, Trung cấp nghề 21.000 người, Sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 41.050 người.
Đảm bảo dạy nghề trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng theo các mục tiêu của các chương trình, đề án trên địa bàn tỉnh.
- Mỗi năm dạy nghề cho 5.800 - 7.000 lao động nông thôn tại địa bàn các huyện, thị xã, thành phố. Phấn đấu 100% các xã, thị trấn của tỉnh có các lớp dạy nghề được triển khai tại địa bàn.
- Bình quân trong giai đoạn 2011- 2020, trong số lao động nông thôn: mỗi năm dạy nghề cho 400-500 lao động phục vụ xuất khẩu, dạy nghề cho 800 - 1.000 người nghèo; dạy nghề cho 350 học sinh dân tộc nội trú, người tàn tật, bộ đội xuất ngũ, người nghiện sau cai nghiện, dạy nghề cho 300 lao động tại các doanh nghiệp, lao động nông thôn khác: 4.000-5.000 người.
3.Cơ cấu ngành nghề và cấp trình độ đào tạo
Tăng số lượng và tỷ trọng lao động được đào tạo nghề trong lĩnh vực Công nghiệp xây dựng và Thương mại dịch vụ; giảm tỷ trọng lao động được đào tạo nghề trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp trong tổng số lao động được đào tạo nghề hàng năm.
Tập trung phát triển đào tạo những ngành nghề mũi nhọn nhằm phát huy tiềm năng và thế mạnh của tỉnh. Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề nhằm đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp sản xuất có chất lượng cao và có tính cạnh tranh cao, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và khu vực, thiết thực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển trong giai đoạn tới.
3.4. Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề
a) Tăng cường số lượng giáo viên dạy nghề cho các cơ sở dạy nghề
- Giai đoạn 2011 - 2015: bổ sung thêm 160 giáo viên so với 2011, tổng số giáo viên dạy nghề toàn tỉnh năm 2015 có 540 người.
- Giai đoạn 2016 - 2020: bổ sung thêm 150 giáo viên so với 2015, tổng số giáo viên dạy nghề toàn tỉnh năm 2020 có 752 người. (Tổng số giáo viên dạy nghề năm 2020 tăng 310 người so với năm 2011).
b) Tăng cường biên chế cán bộ quản lý cho trường, trung tâm dạy nghề
Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề đảm bảo phù hợp về số lượng, cơ cấu và chất lượng đáp ứng yêu cầu thực tế dạy nghề của tỉnh và khu vực.
Giai đoạn 2011-2015: bổ sung thêm 14 biên chế cán bộ quản lý cho Trường Trung cấp nghề Nghĩa Lộ và Trường Cao đẳng nghề Yên Bái. Bổ sung 30 biên chế cho 8 trung tâm dạy nghề, nâng tổng số cán bộ quản lý dạy nghề đạt 72 người/8 trung tâm, đảm bảo có 9 biên chế cán bộ quản lý/trung tâm để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý, tổng số cán bộ quản lý dạy nghề toàn tỉnh đến 2015 đạt 127 người.
Giai đoạn 2015-2020: bổ sung thêm 15 biên chế cán bộ quản lý cho Trường Trung cấp nghề Nghĩa Lộ, tổng số cán bộ quản lý toàn tỉnh đến năm 2020 đạt 142 người.
c) Đào tạo và liên kết đào tạo giáo viên dạy nghề
- Thành lập Khoa Sư phạm trực thuộc Trường Cao đẳng nghề Yên Bái vào năm 2011 để đào tạo đội ngũ giáo viên dạy nghề cho các cơ sở dạy nghề. Quy mô đào tạo hệ chính quy 100- 200 sinh viên/năm, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề cho 200 - 300 giáo viên/năm.
- Tăng cường liên kết với các trường sư phạm kỹ thuật để đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề bổ sung cho các cơ sở dạy nghề của tỉnh.
3.5. Cải tiến, nâng cao chất lượng chương trình, giáo trình dạy nghề
- Xây dựng và đổi mới nội dung chương trình, giáo trình dạy nghề theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề phù hợp với tiến bộ kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất và tiếp cận với trình độ tiên tiến trong khu vực và thế giới, đảm bảo đào tạo trong liên thông giữa các trình độ. Xây dựng các chương trình, giáo trình, tài liệu giảng dạy theo hướng tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, theo phương pháp phân tích nghề, từng bước chuyển sang chương trình dạy nghề theo modul.
- Tất cả các trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề xây dựng chương trình, giáo trình theo chương trình khung của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, đảm bảo thống nhất về danh mục nghề và kiến thức, kỹ năng đào tạo chủ yếu của nghề theo chuẩn quốc gia.