Document: Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 805/BNN-KH 2014 Vùng Kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long 2020 2030

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "22/04/2014", "sign_number": "805/BNN-KH", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "22/04/2014", "sign_number": "805/BNN-KH", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "22/04/2014", "sign_number": "805/BNN-KH", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "22/04/2014", "sign_number": "805/BNN-KH", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "22/04/2014", "sign_number": "805/BNN-KH", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 805/BNN-KH 2014 Vùng Kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long 2020 2030

Điều 1. : Phê duyệt Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng Kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long (gồm thành phố Cần Thơ và các tỉnh: An Giang, Kiên Giang, Cà Mau) đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với các nội dung chính sau:
...
2. Một số chỉ tiêu cụ thể đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
...
b) Định hướng đến năm 2030:
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản bình quân 4,5% - 5%/năm; trong đó nông nghiệp tăng 3,3 - 3,8%/năm, lâm nghiệp tăng 2 - 2,5%/năm và thủy sản tăng 7,2 - 7,7%/năm.
- Cơ cấu giá trị sản xuất: Nông nghiệp 51,9%, lâm nghiệp 0,4% và thủy sản 47,7%.
- Giá trị sản lượng bình quân trên 1 ha đất trồng trọt đạt 240 - 250 triệu đồng/ha/năm, nuôi trồng thủy sản đạt 430 - 450 triệu đồng/ha/năm.
- Tổng sản lượng lúa đạt 9,5 - 10 triệu tấn, sản lượng thủy hải sản trên 2 triệu tấn.
III. ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH
1. Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
a) Đến năm 2020:
Hạn chế đến mức thấp nhất việc chuyển đất nông nghiệp, đặc biệt là đất chuyên trồng lúa sang đất phi nông nghiệp, đảm bảo quy mô diện tích các nhóm đất chính đến năm 2020:
- Đất sản xuất nông nghiệp khoảng 1,41 triệu ha, trong đó:
+ Đất lúa 787 nghìn ha, trong đó đất chuyên lúa 704 nghìn ha
+ Đất cây lâu năm 130,7 nghìn ha, trong đó đất trồng cây ăn quả và trồng dừa 49,5 ngàn ha.
- Đất lâm nghiệp đến năm 2020 là 215 nghìn ha, trong đó rừng sản xuất 96,8 nghìn ha, rừng phòng hộ 61,1 nghìn ha và rừng đặc dụng 57,1 nghìn ha.
- Đất nuôi thủy sản năm 2020 là 259,3 nghìn ha, trong đó nuôi thủy sản nước ngọt 12,1 nghìn ha, nuôi thủy sản nước lợ 247,2 nghìn ha.
- Đất sản xuất muối ổn định 80 ha.
b) Tầm nhìn đến năm 2030:
Dự báo toàn vùng có khoảng 10 nghìn ha đất sản xuất nông nghiệp bị ngập do nước biển dâng, dự kiến sẽ chuyển sang đất lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản; đất sản xuất nông nghiệp giảm còn khoảng 1,4 triệu ha, đất lâm nghiệp tăng lên 220 - 225 nghìn ha, đất nuôi trồng thủy sản tăng lên 265 - 270 nghìn ha.
Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp
a) Trồng trọt
- Lúa:
+ Quỹ đất lúa đến năm 2020 là 787,2 nghìn ha, trong đó đất 2 - 3 vụ lúa 704,2 nghìn ha, chiếm 89,4%. Cơ cấu đất canh tác lúa gồm: lúa chất lượng cao 420 nghìn ha, lúa thơm đặc sản 100 nghìn ha, lúa hữu cơ 10 nghìn ha (phân bổ ở các huyện vùng U Minh, tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau) và các loại lúa khác.
+ Diện tích gieo trồng lúa năm 2020 đạt 1,67 triệu ha; áp dụng đồng bộ các biện pháp thâm canh tiên tiến, trọng tâm là cấp I hóa sản xuất giống lúa, nâng tỉ lệ diện tích sử dụng giống lúa xác nhận hoặc tương đương đến năm 2020 đạt trên 80%. Tăng năng suất lúa bình quân cả năm lên trên 6 tấn/ha; tổng sản lượng lúa đạt 10,2 triệu tấn, trong đó sản lượng lúa phục vụ xuất khẩu đạt trên 60%. Đẩy mạnh hợp tác, liên kết sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp với nông dân; xây dựng cánh đồng lớn sản xuất lúa giống, lúa hàng hóa chất lượng cao; tăng tỉ lệ cơ giới hóa trong tất cả các khâu; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để hạ giá thành, nâng cao giá trị gia tăng.
+ Định hướng đến năm 2030, quỹ đất trồng 2 - 3 vụ lúa của vùng ổn định khoảng 700 nghìn ha, chuyển 87,2 ngàn ha sang các loại đất nông nghiệp khác và đất phi nông nghiệp; diện tích gieo trồng lúa đạt khoảng 1,5 - 1,55 triệu ha, sản lượng lúa đạt 9,5 - 10 triệu tấn.
- Ngô: Mở rộng diện tích gieo trồng ngô tại các vùng đất trên nền phù sa thuộc các huyện giữa và ven sông Tiền - sông Hậu ở An Giang, Cần Thơ và trên nền đất xám dọc biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc tỉnh An Giang, Kiên Giang. Đến năm 2020, diện tích ngô đạt khoảng 42 nghìn ha, gấp 3 lần hiện nay, năng suất bình quân 7,3 - 7,5 tấn/ha, sản lượng 307 - 315 nghìn tấn, chủ yếu phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi.
- Rau các loại: Diện tích bố trí đến năm 2020 khoảng 65,5 nghìn ha, sản lượng đạt khoảng 530 nghìn tấn. Xây dựng các vùng trồng rau tập trung chuyên canh trên đất màu, đất vườn và vùng rau luân canh trên đất lúa, ứng dụng công nghệ cao và quy trình sản xuất an toàn gắn với xây dựng thương hiệu và mô hình thức tổ chức hợp tác, liên kết sản xuất, nhất là đối với các nhà máy chế biến rau quả ở Cần Thơ, An Giang và Kiên Giang.
- Cây công nghiệp hàng năm: Chủ yếu luân canh trên đất lúa, áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý để tăng năng suất, sản lượng và thu nhập trên đơn vị diện tích đất canh tác. Đến năm 2020, diện tích bố trí khoảng 18 - 20 ngàn ha, phát triển các cây trồng chủ lực gồm: mía 6,5 ngàn ha, sản lượng đạt trên 530 nghìn tấn; đậu nành (đậu tương) 1,8 nghìn ha, sản lượng đạt 4,8 nghìn tấn; mè (vừng) 8 nghìn ha và sản lượng đạt 10 nghìn tấn.
- Cây ăn quả: Diện tích bố trí đến năm 2020 đạt từ 49 - 50 nghìn ha, sản lượng trên 500 nghìn tấn; trong đó, các cây ăn quả chủ lực 19,5 nghìn ha (gồm: xoài 7,1 nghìn ha ở An Giang, Cần Thơ; cam 1 nghìn ha, nhãn 1 nghìn ha ở Cần Thơ, chuối 10,4 nghìn ha ở Kiên Giang, An Giang, Cà Mau và Cần Thơ).
- Dừa: Mở rộng diện tích trồng dừa đến năm 2020 lên 21 nghìn ha, tập trung chủ yếu ở các huyện thuộc tỉnh Cà Mau và Kiên Giang; trồng thay thế các vườn dừa già cỗi bằng các giống mới có năng suất cao; áp dụng quy trình thâm canh thích hợp và các biện pháp phòng trừ dịch hại, nhân rộng các mô hình trồng xen dừa + ca cao, dừa + cây ăn quả... để nâng cao hiệu quả sử dụng đất; phát triển ngành nghề nông thôn chế biến các sản phẩm từ cây dừa.
b) Chăn nuôi
- Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo mô hình gia trại, trang trại, phù hợp với điều kiện sinh thái vùng ngập lũ và ảnh hưởng mặn, ứng dụng công nghệ tiên tiến, chủ động kiểm soát dịch bệnh; đẩy mạnh mô hình chăn nuôi heo, gà, vịt siêu trứng và siêu thịt theo phương thức chăn nuôi bán công nghiệp và công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao, gắn với các cơ sở chế biến công nghiệp và giết mổ tập trung quy mô lớn, đảm bảo an toàn thực phẩm và vệ sinh, môi trường; nâng cao chuỗi giá trị gia tăng và thu nhập cho nông dân.
- Phấn đấu đến năm 2020, đàn lợn đạt 1,3 triệu con, tăng trên 400 nghìn con; đàn gà đạt 7,2 triệu con, tăng 3 triệu con; đàn vịt và gia cầm khác đạt 12,5 triệu con, tăng 3,6 triệu con; đàn bò đạt 119 nghìn con, tăng 27 nghìn con; sản lượng thịt các loại 262 nghìn tấn, tăng 136 nghìn tấn và trứng gia cầm 871 triệu quả, tăng 421 triệu quả so với năm 2010.
- Khuyến khích các thành phần kinh tế, nhất là doanh nghiệp đầu tư xây dựng các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, lắp đặt dây chuyền giết mổ bán công nghiệp, đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường.
- Thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý dịch bệnh, đảm bảo cho ngành chăn nuôi an toàn, phát triển bền vững.

Content:
Định hướng đến năm 2030:
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản bình quân 4,5% - 5%/năm; trong đó nông nghiệp tăng 3,3 - 3,8%/năm, lâm nghiệp tăng 2 - 2,5%/năm và thủy sản tăng 7,2 - 7,7%/năm.
- Cơ cấu giá trị sản xuất: Nông nghiệp 51,9%, lâm nghiệp 0,4% và thủy sản 47,7%.
- Giá trị sản lượng bình quân trên 1 ha đất trồng trọt đạt 240 - 250 triệu đồng/ha/năm, nuôi trồng thủy sản đạt 430 - 450 triệu đồng/ha/năm.
- Tổng sản lượng lúa đạt 9,5 - 10 triệu tấn, sản lượng thủy hải sản trên 2 triệu tấn.
III. ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH
1. Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
a) Đến năm 2020:
Hạn chế đến mức thấp nhất việc chuyển đất nông nghiệp, đặc biệt là đất chuyên trồng lúa sang đất phi nông nghiệp, đảm bảo quy mô diện tích các nhóm đất chính đến năm 2020:
- Đất sản xuất nông nghiệp khoảng 1,41 triệu ha, trong đó:
+ Đất lúa 787 nghìn ha, trong đó đất chuyên lúa 704 nghìn ha
+ Đất cây lâu năm 130,7 nghìn ha, trong đó đất trồng cây ăn quả và trồng dừa 49,5 ngàn ha.
- Đất lâm nghiệp đến năm 2020 là 215 nghìn ha, trong đó rừng sản xuất 96,8 nghìn ha, rừng phòng hộ 61,1 nghìn ha và rừng đặc dụng 57,1 nghìn ha.
- Đất nuôi thủy sản năm 2020 là 259,3 nghìn ha, trong đó nuôi thủy sản nước ngọt 12,1 nghìn ha, nuôi thủy sản nước lợ 247,2 nghìn ha.
- Đất sản xuất muối ổn định 80 ha.
Tầm nhìn đến năm 2030:
Dự báo toàn vùng có khoảng 10 nghìn ha đất sản xuất nông nghiệp bị ngập do nước biển dâng, dự kiến sẽ chuyển sang đất lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản; đất sản xuất nông nghiệp giảm còn khoảng 1,4 triệu ha, đất lâm nghiệp tăng lên 220 - 225 nghìn ha, đất nuôi trồng thủy sản tăng lên 265 - 270 nghìn ha.
Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp
a) Trồng trọt
- Lúa:
+ Quỹ đất lúa đến năm 2020 là 787,2 nghìn ha, trong đó đất 2 - 3 vụ lúa 704,2 nghìn ha, chiếm 89,4%. Cơ cấu đất canh tác lúa gồm: lúa chất lượng cao 420 nghìn ha, lúa thơm đặc sản 100 nghìn ha, lúa hữu cơ 10 nghìn ha (phân bổ ở các huyện vùng U Minh, tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau) và các loại lúa khác.
+ Diện tích gieo trồng lúa năm 2020 đạt 1,67 triệu ha; áp dụng đồng bộ các biện pháp thâm canh tiên tiến, trọng tâm là cấp I hóa sản xuất giống lúa, nâng tỉ lệ diện tích sử dụng giống lúa xác nhận hoặc tương đương đến năm 2020 đạt trên 80%. Tăng năng suất lúa bình quân cả năm lên trên 6 tấn/ha; tổng sản lượng lúa đạt 10,2 triệu tấn, trong đó sản lượng lúa phục vụ xuất khẩu đạt trên 60%. Đẩy mạnh hợp tác, liên kết sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp với nông dân; xây dựng cánh đồng lớn sản xuất lúa giống, lúa hàng hóa chất lượng cao; tăng tỉ lệ cơ giới hóa trong tất cả các khâu; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để hạ giá thành, nâng cao giá trị gia tăng.
+ Định hướng đến năm 2030, quỹ đất trồng 2 - 3 vụ lúa của vùng ổn định khoảng 700 nghìn ha, chuyển 87,2 ngàn ha sang các loại đất nông nghiệp khác và đất phi nông nghiệp; diện tích gieo trồng lúa đạt khoảng 1,5 - 1,55 triệu ha, sản lượng lúa đạt 9,5 - 10 triệu tấn.
- Ngô: Mở rộng diện tích gieo trồng ngô tại các vùng đất trên nền phù sa thuộc các huyện giữa và ven sông Tiền - sông Hậu ở An Giang, Cần Thơ và trên nền đất xám dọc biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc tỉnh An Giang, Kiên Giang. Đến năm 2020, diện tích ngô đạt khoảng 42 nghìn ha, gấp 3 lần hiện nay, năng suất bình quân 7,3 - 7,5 tấn/ha, sản lượng 307 - 315 nghìn tấn, chủ yếu phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi.
- Rau các loại: Diện tích bố trí đến năm 2020 khoảng 65,5 nghìn ha, sản lượng đạt khoảng 530 nghìn tấn. Xây dựng các vùng trồng rau tập trung chuyên canh trên đất màu, đất vườn và vùng rau luân canh trên đất lúa, ứng dụng công nghệ cao và quy trình sản xuất an toàn gắn với xây dựng thương hiệu và mô hình thức tổ chức hợp tác, liên kết sản xuất, nhất là đối với các nhà máy chế biến rau quả ở Cần Thơ, An Giang và Kiên Giang.
- Cây công nghiệp hàng năm: Chủ yếu luân canh trên đất lúa, áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý để tăng năng suất, sản lượng và thu nhập trên đơn vị diện tích đất canh tác. Đến năm 2020, diện tích bố trí khoảng 18 - 20 ngàn ha, phát triển các cây trồng chủ lực gồm: mía 6,5 ngàn ha, sản lượng đạt trên 530 nghìn tấn; đậu nành (đậu tương) 1,8 nghìn ha, sản lượng đạt 4,8 nghìn tấn; mè (vừng) 8 nghìn ha và sản lượng đạt 10 nghìn tấn.
- Cây ăn quả: Diện tích bố trí đến năm 2020 đạt từ 49 - 50 nghìn ha, sản lượng trên 500 nghìn tấn; trong đó, các cây ăn quả chủ lực 19,5 nghìn ha (gồm: xoài 7,1 nghìn ha ở An Giang, Cần Thơ; cam 1 nghìn ha, nhãn 1 nghìn ha ở Cần Thơ, chuối 10,4 nghìn ha ở Kiên Giang, An Giang, Cà Mau và Cần Thơ).
- Dừa: Mở rộng diện tích trồng dừa đến năm 2020 lên 21 nghìn ha, tập trung chủ yếu ở các huyện thuộc tỉnh Cà Mau và Kiên Giang; trồng thay thế các vườn dừa già cỗi bằng các giống mới có năng suất cao; áp dụng quy trình thâm canh thích hợp và các biện pháp phòng trừ dịch hại, nhân rộng các mô hình trồng xen dừa + ca cao, dừa + cây ăn quả... để nâng cao hiệu quả sử dụng đất; phát triển ngành nghề nông thôn chế biến các sản phẩm từ cây dừa.
Chăn nuôi
- Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo mô hình gia trại, trang trại, phù hợp với điều kiện sinh thái vùng ngập lũ và ảnh hưởng mặn, ứng dụng công nghệ tiên tiến, chủ động kiểm soát dịch bệnh; đẩy mạnh mô hình chăn nuôi heo, gà, vịt siêu trứng và siêu thịt theo phương thức chăn nuôi bán công nghiệp và công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao, gắn với các cơ sở chế biến công nghiệp và giết mổ tập trung quy mô lớn, đảm bảo an toàn thực phẩm và vệ sinh, môi trường; nâng cao chuỗi giá trị gia tăng và thu nhập cho nông dân.
- Phấn đấu đến năm 2020, đàn lợn đạt 1,3 triệu con, tăng trên 400 nghìn con; đàn gà đạt 7,2 triệu con, tăng 3 triệu con; đàn vịt và gia cầm khác đạt 12,5 triệu con, tăng 3,6 triệu con; đàn bò đạt 119 nghìn con, tăng 27 nghìn con; sản lượng thịt các loại 262 nghìn tấn, tăng 136 nghìn tấn và trứng gia cầm 871 triệu quả, tăng 421 triệu quả so với năm 2010.
- Khuyến khích các thành phần kinh tế, nhất là doanh nghiệp đầu tư xây dựng các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, lắp đặt dây chuyền giết mổ bán công nghiệp, đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường.
- Thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý dịch bệnh, đảm bảo cho ngành chăn nuôi an toàn, phát triển bền vững.