Document: Khoản 7 Điều 1 Quyết định 3675/QĐ-UBND 2018 Đề án Tổng thể phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/09/2018", "sign_number": "3675/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/09/2018", "sign_number": "3675/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/09/2018", "sign_number": "3675/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/09/2018", "sign_number": "3675/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/09/2018", "sign_number": "3675/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 7 Điều 1 Quyết định 3675/QĐ-UBND 2018 Đề án Tổng thể phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh

Điều 1. Phê duyệt Đề án Tổng thể phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (sau đây gọi tắt là Đề án), với các nội dung chủ yếu sau:
...
7. Về nguồn vốn thực hiện đề án (Chi tiết theo Phụ lục 06)
7.1- Nhu cầu vốn đầu tư:
Theo Quyết định số 4209/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 của UBND tỉnh về Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành thủy sản tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, tổng nhu cầu vốn thực hiện đề án, cụ thể:
Tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2018-2030, dự kiến khoảng 4.098 tỷ đồng; trong đó: Ngân sách 1.744 tỷ đồng, vốn khác 2.354 tỷ đồng.
- Giai đoạn: 2018-2020 là: 1.273 tỷ đồng, gồm:
+ Ngân sách là: 589 tỷ đồng (Trung ương là: 134 tỷ đồng, chiếm 10,53%; Địa phương là 455 tỷ đồng, chiếm 35,74 %);
+ Vốn khác là: 684 tỷ đồng, chiếm 53,73 %.
- Giai đoạn 2021-2030 là: 2.825 tỷ đồng, gồm:
+ Ngân sách là: 1.155 tỷ đồng (Trung ương là: 412 tỷ đồng, chiếm 14,58%; Địa phương là: 743 tỷ đồng, chiếm 26,30%);
+ Vốn khác là: 1.670 tỷ đồng, chiếm 59,12%.
7.2- Phân kỳ đầu tư theo giai đoạn và các nguồn vốn như sau:

TT

Nguồn vốn

Tổng

Dự kiến nhu cầu vốn GĐ 2018-2020
(Tỷ đồng)

Dự kiến nhu cầu vốn GĐ 2021-2030
(Tỷ đồng)

1

Trung ương

546

134

412

2

Địa phương

1198

455

743

2.1

Tỉnh

935

360

575

2.2

Huyện

263

95

168

3

Vốn khác

2354

684

1670

Tổng

4098

1273

2825

7.3- Thu hút, huy động nguồn vốn đầu tư:
- Nguồn vốn từ Ngân sách: Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn Trung ương, ngân sách địa phương để đầu tư vào vùng sản xuất giống tập trung, vùng nuôi trồng tập trung, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, chợ thủy sản đầu mối; cơ sở vật chất phục vụ quản lý nhà nước, công tác thông tin tuyên truyền; công tác ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong xây dựng và nhân rộng mô hình nuôi trồng, khai thác thủy sản; chính sách phát triển đội tàu khai thác thủy sản xa bờ.
- Huy động từ các thành phần kinh tế: Tạo cơ chế, chính sách đồng bộ để thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp vào lĩnh vực thủy sản. Xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong đầu tư các lĩnh vực thủy sản.
- Nguồn vốn tín dụng: Tạo điều kiện các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi; chuyển hướng việc Ngân sách hỗ trợ trực tiếp cho người sản xuất thủy sản sang hỗ trợ lãi suất tín dụng.
- Thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Có chính sách khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài, cải thiện môi trường đầu tư; tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ, tài trợ của quốc tế, nhất là trong lĩnh vực bảo vệ nguồn lợi, tái tạo rừng ngập mặn và xây dựng khu bảo tồn biển, các khu neo đậu tránh trú bão để phòng tránh, giảm nhẹ rủi ro thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Content:
Về nguồn vốn thực hiện đề án (Chi tiết theo Phụ lục 06)
7.1- Nhu cầu vốn đầu tư:
Theo Quyết định số 4209/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 của UBND tỉnh về Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành thủy sản tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, tổng nhu cầu vốn thực hiện đề án, cụ thể:
Tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2018-2030, dự kiến khoảng 4.098 tỷ đồng; trong đó: Ngân sách 1.744 tỷ đồng, vốn khác 2.354 tỷ đồng.
- Giai đoạn: 2018-2020 là: 1.273 tỷ đồng, gồm:
+ Ngân sách là: 589 tỷ đồng (Trung ương là: 134 tỷ đồng, chiếm 10,53%; Địa phương là 455 tỷ đồng, chiếm 35,74 %);
+ Vốn khác là: 684 tỷ đồng, chiếm 53,73 %.
- Giai đoạn 2021-2030 là: 2.825 tỷ đồng, gồm:
+ Ngân sách là: 1.155 tỷ đồng (Trung ương là: 412 tỷ đồng, chiếm 14,58%; Địa phương là: 743 tỷ đồng, chiếm 26,30%);
+ Vốn khác là: 1.670 tỷ đồng, chiếm 59,12%.
7.2- Phân kỳ đầu tư theo giai đoạn và các nguồn vốn như sau:

TT

Nguồn vốn

Tổng

Dự kiến nhu cầu vốn GĐ 2018-2020
(Tỷ đồng)

Dự kiến nhu cầu vốn GĐ 2021-2030
(Tỷ đồng)

1

Trung ương

546

134

412

2

Địa phương

1198

455

743

2.1

Tỉnh

935

360

575

2.2

Huyện

263

95

168

3

Vốn khác

2354

684

1670

Tổng

4098

1273

2825

7.3- Thu hút, huy động nguồn vốn đầu tư:
- Nguồn vốn từ Ngân sách: Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn Trung ương, ngân sách địa phương để đầu tư vào vùng sản xuất giống tập trung, vùng nuôi trồng tập trung, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, chợ thủy sản đầu mối; cơ sở vật chất phục vụ quản lý nhà nước, công tác thông tin tuyên truyền; công tác ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong xây dựng và nhân rộng mô hình nuôi trồng, khai thác thủy sản; chính sách phát triển đội tàu khai thác thủy sản xa bờ.
- Huy động từ các thành phần kinh tế: Tạo cơ chế, chính sách đồng bộ để thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp vào lĩnh vực thủy sản. Xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong đầu tư các lĩnh vực thủy sản.
- Nguồn vốn tín dụng: Tạo điều kiện các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi; chuyển hướng việc Ngân sách hỗ trợ trực tiếp cho người sản xuất thủy sản sang hỗ trợ lãi suất tín dụng.
- Thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Có chính sách khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài, cải thiện môi trường đầu tư; tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ, tài trợ của quốc tế, nhất là trong lĩnh vực bảo vệ nguồn lợi, tái tạo rừng ngập mặn và xây dựng khu bảo tồn biển, các khu neo đậu tránh trú bão để phòng tránh, giảm nhẹ rủi ro thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.