Document: Khoản 6 Điều 1 Quyết định 3214/QĐ-UBND 2020 Phát triển nuôi biển theo hướng bền vững Kiên Giang đến năm 2030

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "31/12/2020", "sign_number": "3214/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nhàn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "31/12/2020", "sign_number": "3214/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nhàn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "31/12/2020", "sign_number": "3214/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nhàn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "31/12/2020", "sign_number": "3214/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nhàn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "31/12/2020", "sign_number": "3214/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nhàn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 6 Điều 1 Quyết định 3214/QĐ-UBND 2020 Phát triển nuôi biển theo hướng bền vững Kiên Giang đến năm 2030

Điều 1. Phê duyệt Đề án Phát triển nuôi biển theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đến năm 2030 (đính kèm Đề án), với các nội dung chính như sau:
...
6. Giải pháp về khoa học công nghệ, khuyến ngư
a) Khoa học, công nghệ
- Phối hợp với các ngành, địa phương, doanh nghiệp, nhà khoa học nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng công nghệ cao phù hợp với điều kiện của địa phương nhằm đa dạng hóa các đối tượng nuôi trong tỉnh.
- Nghiên cứu đề xuất, đặt hàng các nhiệm vụ khoa học công nghệ nhằm hoàn thiện quy trình nuôi cá lồng bè công nghệ cao, sử dụng hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp nhằm giảm áp lực khai thác nguồn cá tươi sống tự nhiên làm thức ăn; khuyến cáo người nuôi tăng tỷ trọng sử dụng thức ăn công nghiệp giảm thiểu được ô nhiễm môi trường nước trong quá trình nuôi.
- Phối hợp với các ngành, địa phương xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu cho các đối tượng nuôi biển có giá trị kinh tế góp phần nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản cho xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.
- Tổ chức triển khai các đề tài đã được đề xuất trong đề án theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Ngoài ra, ưu tiên các hướng nghiên cứu mới, có triển vọng về sản xuất giống và nuôi biển sẽ được hỗ trợ bằng cơ chế, chính sách.
- Đối với cơ sở giống hải sản: cơ sở giống ứng dụng công nghệ RAS tiên tiến; công nghệ gen, nguôi cấy mô, lưu trữ, lai tạo và phát triển giống mới; Kết nối với các trung tâm giống hải sản nước ngoài trong việc cung cấp nguồn gen hải sản.
- Đối với cá biển: cơ sở nuôi cá biển sử dụng lồng nổi HDPE cải tiến, đường kính 20-30 m, có khả năng tự chìm, có xà lan cung cấp thức ăn; cơ sở nuôi cá biển khơi, sử dụng tàu ương giống nuôi biển cỡ lớn bằng thép, kết hợp với hệ thống các lồng nổi HDPE; cơ sở nuôi cá biển sâu, giá trị cao, các lồng chìm sử dụng lưới kim loại và vật liệu thân thiện môi trường khác; cơ sở nuôi cá biển sinh thái sử dụng thức ăn sinh thái từ bột ấu trùng ruồi lính đen, đậu nành hoặc vi tảo.
- Đối với nhuyễn thể hai mảnh vỏ: cơ sở nuôi hàu Thái Bình Dương, vẹm xanh sử dụng phao nổi là ống nhựa HDPE, cơ giới hóa khâu thu hoạch bằng tàu chuyên dụng; cơ sở nuôi sò, nghêu vùng ven biển cần kiểm soát nguồn nước.
- Đối với giáp xác biển: cơ sở ương giống tôm hùm, tôm tít sử dụng công nghệ RAS; cơ sở nuôi tôm hùm thương phẩm kết hợp với công nghệ RAS và nuôi biển hở; liên doanh sản xuất giống tôm hùm, tôm tít.
- Khuyến khích các dự án, công trình (du lịch, năng lượng,...) trên biển kết hợp tận dụng diện tích biển của dự án, công trình có tiềm năng, lợi thế để phát triển nuôi biển.
b) Công tác khuyến ngư
- Xây dựng các mô hình trình diễn kỹ thuật để người nuôi đến tham quan, học tập, trao đổi kinh nghiệm. Tổ chức hội nghị tổng kết, đánh giá và nhân rộng các mô hình trên để tuyên truyền, giới thiệu những kinh nghiệm hay, cách làm giỏi, những gương điển hình tiên tiến trong phát triển nuôi lồng bè và nhuyễn thể.
- Tổ chức chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và hướng dẫn người nuôi ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ nuôi lồng bè mới để nâng cao hiệu quả gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.
- Thông qua công tác khuyến ngư, định kỳ mở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn về kỹ thuật và chuyển giao kỹ thuật nuôi thủy sản lồng bè và nhuyễn thể cho người sản xuất. Tổ chức tham quan học hỏi những mô hình sản xuất tiên tiến, có hiệu quả nhằm giúp người dân bổ sung kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn cho nuôi biển.
- Tổ chức các khóa học, hội thảo chuyên đề về tác động của môi trường và dịch bệnh đến sản xuất, để người dân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Ngoài ra, cần có các hoạt động tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về phân biệt, chọn lựa các loại con giống tốt xấu; các thông tin về thị trường, giá cả của các mặt hàng thủy sản cho người sản xuất.

Content:
Giải pháp về khoa học công nghệ, khuyến ngư
a) Khoa học, công nghệ
- Phối hợp với các ngành, địa phương, doanh nghiệp, nhà khoa học nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng công nghệ cao phù hợp với điều kiện của địa phương nhằm đa dạng hóa các đối tượng nuôi trong tỉnh.
- Nghiên cứu đề xuất, đặt hàng các nhiệm vụ khoa học công nghệ nhằm hoàn thiện quy trình nuôi cá lồng bè công nghệ cao, sử dụng hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp nhằm giảm áp lực khai thác nguồn cá tươi sống tự nhiên làm thức ăn; khuyến cáo người nuôi tăng tỷ trọng sử dụng thức ăn công nghiệp giảm thiểu được ô nhiễm môi trường nước trong quá trình nuôi.
- Phối hợp với các ngành, địa phương xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu cho các đối tượng nuôi biển có giá trị kinh tế góp phần nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản cho xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.
- Tổ chức triển khai các đề tài đã được đề xuất trong đề án theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Ngoài ra, ưu tiên các hướng nghiên cứu mới, có triển vọng về sản xuất giống và nuôi biển sẽ được hỗ trợ bằng cơ chế, chính sách.
- Đối với cơ sở giống hải sản: cơ sở giống ứng dụng công nghệ RAS tiên tiến; công nghệ gen, nguôi cấy mô, lưu trữ, lai tạo và phát triển giống mới; Kết nối với các trung tâm giống hải sản nước ngoài trong việc cung cấp nguồn gen hải sản.
- Đối với cá biển: cơ sở nuôi cá biển sử dụng lồng nổi HDPE cải tiến, đường kính 20-30 m, có khả năng tự chìm, có xà lan cung cấp thức ăn; cơ sở nuôi cá biển khơi, sử dụng tàu ương giống nuôi biển cỡ lớn bằng thép, kết hợp với hệ thống các lồng nổi HDPE; cơ sở nuôi cá biển sâu, giá trị cao, các lồng chìm sử dụng lưới kim loại và vật liệu thân thiện môi trường khác; cơ sở nuôi cá biển sinh thái sử dụng thức ăn sinh thái từ bột ấu trùng ruồi lính đen, đậu nành hoặc vi tảo.
- Đối với nhuyễn thể hai mảnh vỏ: cơ sở nuôi hàu Thái Bình Dương, vẹm xanh sử dụng phao nổi là ống nhựa HDPE, cơ giới hóa khâu thu hoạch bằng tàu chuyên dụng; cơ sở nuôi sò, nghêu vùng ven biển cần kiểm soát nguồn nước.
- Đối với giáp xác biển: cơ sở ương giống tôm hùm, tôm tít sử dụng công nghệ RAS; cơ sở nuôi tôm hùm thương phẩm kết hợp với công nghệ RAS và nuôi biển hở; liên doanh sản xuất giống tôm hùm, tôm tít.
- Khuyến khích các dự án, công trình (du lịch, năng lượng,...) trên biển kết hợp tận dụng diện tích biển của dự án, công trình có tiềm năng, lợi thế để phát triển nuôi biển.
b) Công tác khuyến ngư
- Xây dựng các mô hình trình diễn kỹ thuật để người nuôi đến tham quan, học tập, trao đổi kinh nghiệm. Tổ chức hội nghị tổng kết, đánh giá và nhân rộng các mô hình trên để tuyên truyền, giới thiệu những kinh nghiệm hay, cách làm giỏi, những gương điển hình tiên tiến trong phát triển nuôi lồng bè và nhuyễn thể.
- Tổ chức chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và hướng dẫn người nuôi ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ nuôi lồng bè mới để nâng cao hiệu quả gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.
- Thông qua công tác khuyến ngư, định kỳ mở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn về kỹ thuật và chuyển giao kỹ thuật nuôi thủy sản lồng bè và nhuyễn thể cho người sản xuất. Tổ chức tham quan học hỏi những mô hình sản xuất tiên tiến, có hiệu quả nhằm giúp người dân bổ sung kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn cho nuôi biển.
- Tổ chức các khóa học, hội thảo chuyên đề về tác động của môi trường và dịch bệnh đến sản xuất, để người dân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Ngoài ra, cần có các hoạt động tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về phân biệt, chọn lựa các loại con giống tốt xấu; các thông tin về thị trường, giá cả của các mặt hàng thủy sản cho người sản xuất.