Document: Điều 16 Thông tư 44/2009/TT-BNNPTNT quản lý tài chính nguồn hỗ trợ nước ngoài phạm vi Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn quản lý

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "21/07/2009", "sign_number": "44/2009/TT-BNNPTNT", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "21/07/2009", "sign_number": "44/2009/TT-BNNPTNT", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "21/07/2009", "sign_number": "44/2009/TT-BNNPTNT", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "21/07/2009", "sign_number": "44/2009/TT-BNNPTNT", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "21/07/2009", "sign_number": "44/2009/TT-BNNPTNT", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 16 Thông tư 44/2009/TT-BNNPTNT quản lý tài chính nguồn hỗ trợ nước ngoài phạm vi Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn quản lý có nội dung như sau:

Điều 16. Kiểm toán dự án
Kiểm toán các dự án chủ yếu bao gồm kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm và kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành, cụ thể:
1. Kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm được thực hiện theo quy định của Nhà tài trợ hoặc theo các yêu cầu kiểm toán của cơ quan chức năng của Việt Nam nhằm: (i) kiểm tra và xác nhận tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính dự án trong một năm tài chính; (ii) đồng thời xác nhận các nguồn lực của dự án đã được sử dụng phù hợp theo các thủ tục, quy định, chính sách, chế độ tài chính, kế toán mà Chính phủ đã thống nhất với Nhà tài trợ áp dụng trong khuôn khổ dự án.
2. Kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành áp dụng đối với tất cả các dự án ODA quan trọng quốc gia, dự án ODA nhóm A, dự án ODA nhóm B sử dụng vốn nhà nước khi hoàn thành (trước khi trình cấp có thẩm quyền thẩm tra, phê duyệt quyết toán); các dự án còn lại thực hiện kiểm toán quyết toán theo yêu cầu của Nhà tài trợ và cấp có thẩm quyền.
3. Ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thể, theo yêu cầu của Nhà tài trợ, còn phải thực hiện kiểm toán tuân thủ (Performance Audit), kiểm toán hiệu quả chi tiêu hoặc kiểm toán chuyên đề về mua sắm tài sản (Procurement Audit).
4. Nhà thầu kiểm toán được lựa chọn thực hiện dịch vụ kiểm toán dự án phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau: (i) là các công ty kiểm toán hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, có tên trong danh sách các công ty có đủ điều kiện thực hiện kiểm toán do Bộ Tài chính (hoặc tổ chức nghề nghiệp được Bộ Tài chính uỷ quyền) công bố hàng năm, trừ trường hợp các cam kết giữa Chính phủ với các Nhà tài trợ có quy định khác; (ii) tuân thủ các quy định hiện hành về kiểm toán cũng như các chuẩn mực kiểm toán và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kiểm toán.
5. Chủ dự án phải lập và trình Bộ (Vụ Tài chính) xem xét, phê duyệt Kế hoạch kiểm toán và Hồ sơ mời thầu/Điều khoản tham chiếu cho dịch vụ kiểm toán hàng năm hoặc cho kiểm toán toàn giai đoạn dự án (trừ các trường hợp đã được Bộ trưởng uỷ quyền) trước khi tiến hành các thủ tục tiếp theo theo quy định của pháp luật đấu thầu hiện hành.
6. Ngay sau khi nhận được Báo cáo kiểm toán tài chính năm và Báo cáo kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành do Nhà thầu kiểm toán thực hiện, trong vòng 10 ngày làm việc, cùng với việc gửi báo cáo kiểm toán theo yêu cầu của Nhà tài trợ, Chủ dự án còn phải gửi cho Vụ Tài chính 01 bộ (gồm cả thư quản lý) để nắm bắt thông tin, kiến nghị phục vụ công tác quản lý, đồng thời đây cũng là một trong những căn cứ để thẩm tra, phê duyệt quyết toán dự án.

Content:
Điều 16. Kiểm toán dự án
Kiểm toán các dự án chủ yếu bao gồm kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm và kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành, cụ thể:
1. Kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm được thực hiện theo quy định của Nhà tài trợ hoặc theo các yêu cầu kiểm toán của cơ quan chức năng của Việt Nam nhằm: (i) kiểm tra và xác nhận tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính dự án trong một năm tài chính; (ii) đồng thời xác nhận các nguồn lực của dự án đã được sử dụng phù hợp theo các thủ tục, quy định, chính sách, chế độ tài chính, kế toán mà Chính phủ đã thống nhất với Nhà tài trợ áp dụng trong khuôn khổ dự án.
2. Kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành áp dụng đối với tất cả các dự án ODA quan trọng quốc gia, dự án ODA nhóm A, dự án ODA nhóm B sử dụng vốn nhà nước khi hoàn thành (trước khi trình cấp có thẩm quyền thẩm tra, phê duyệt quyết toán); các dự án còn lại thực hiện kiểm toán quyết toán theo yêu cầu của Nhà tài trợ và cấp có thẩm quyền.
3. Ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thể, theo yêu cầu của Nhà tài trợ, còn phải thực hiện kiểm toán tuân thủ (Performance Audit), kiểm toán hiệu quả chi tiêu hoặc kiểm toán chuyên đề về mua sắm tài sản (Procurement Audit).
4. Nhà thầu kiểm toán được lựa chọn thực hiện dịch vụ kiểm toán dự án phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau: (i) là các công ty kiểm toán hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, có tên trong danh sách các công ty có đủ điều kiện thực hiện kiểm toán do Bộ Tài chính (hoặc tổ chức nghề nghiệp được Bộ Tài chính uỷ quyền) công bố hàng năm, trừ trường hợp các cam kết giữa Chính phủ với các Nhà tài trợ có quy định khác; (ii) tuân thủ các quy định hiện hành về kiểm toán cũng như các chuẩn mực kiểm toán và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kiểm toán.
5. Chủ dự án phải lập và trình Bộ (Vụ Tài chính) xem xét, phê duyệt Kế hoạch kiểm toán và Hồ sơ mời thầu/Điều khoản tham chiếu cho dịch vụ kiểm toán hàng năm hoặc cho kiểm toán toàn giai đoạn dự án (trừ các trường hợp đã được Bộ trưởng uỷ quyền) trước khi tiến hành các thủ tục tiếp theo theo quy định của pháp luật đấu thầu hiện hành.
6. Ngay sau khi nhận được Báo cáo kiểm toán tài chính năm và Báo cáo kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành do Nhà thầu kiểm toán thực hiện, trong vòng 10 ngày làm việc, cùng với việc gửi báo cáo kiểm toán theo yêu cầu của Nhà tài trợ, Chủ dự án còn phải gửi cho Vụ Tài chính 01 bộ (gồm cả thư quản lý) để nắm bắt thông tin, kiến nghị phục vụ công tác quản lý, đồng thời đây cũng là một trong những căn cứ để thẩm tra, phê duyệt quyết toán dự án.