Document: Điểm c Khoản 2 Điều 1 Quyết định 3959/QĐ-UBND năm 2012 phê duyệt Đề án Bảo quản chế biến nông lâm

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "27/12/2012", "sign_number": "3959/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đình Sơn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "27/12/2012", "sign_number": "3959/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đình Sơn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "27/12/2012", "sign_number": "3959/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đình Sơn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "27/12/2012", "sign_number": "3959/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đình Sơn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "27/12/2012", "sign_number": "3959/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đình Sơn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 2 Điều 1 Quyết định 3959/QĐ-UBND năm 2012 phê duyệt Đề án Bảo quản chế biến nông lâm

Điều 1. Phê duyệt Đề án Bảo quản, chế biến nông, lâm, thủy sản sau thu hoạch tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2015 định hướng đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể.
...
c) Bảo quản, chế biến thủy sản
- Đến năm 2015: 100% sản lượng các loại sản phẩm thủy sản xuất khẩu được bảo quản và chế biến tại nhà máy đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu; 100% sản lượng thủy sản tiêu thụ thị trường nội địa (dạng tươi sống) được bảo quản ở các kho lạnh đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Đến năm 2015: Giảm mức tổn thất sản phẩm sau khai thác từ 25-30% xuống còn 15-20%.
II. NHIỆM VỤ
1. Bảo quản, chế biến hạt giống
Lựa chọn nhà đầu tư, thành lập công ty sản xuất, kinh doanh hạt giống trên cơ sở đấu thầu cơ sở vật chất của trung tâm Giống cây trồng Hà Tĩnh. Xây dựng hệ thống sân phơi, máy sấy, kho chứa tạm hạt giống tại các vùng sản xuất giống liên doanh liên kết với doanh nghiệp.
Bảo quản, chế biến nông sản.
2.1. Đối với lúa, gạo.
- Bảo quản: Đẩy mạnh việc khuyến cáo, hướng dẫn người dân, nhất là nông dân đưa vào sử dụng các công cụ chứa và bảo quản thóc tại nông hộ đáp ứng tiêu chuẩn an toàn, hợp vệ sinh, chống mối mọt, côn trùng, chuột bọ xâm hại; đồng thời khuyến cáo nông dân đưa vào sử dụng, thay thế những công cụ bảo quản truyền thống bằng thiết bị chứa kiểu Siclo dung tích 0,3-1,0 tấn/cái.
- Xay xát, chế biến:
+ Giai đoạn 2012-2015: Khuyến cáo các cơ sở dịch vụ xay xát đầu tư đưa vào sử dụng các loại máy xay xát loại 0,8 - 1,0 tấn/giờ hoặc dây chuyền gồm xay xát, sàng phân loại công suất 1,0 - 2,0 tấn/gìờ với thiết bị, công nghệ cải tiến nhằm nâng cao chất lượng gạo chế biến và hạ giá dịch vụ xay xát, nâng tỷ lệ thu hồi lên 67% - 68%. Đồng thời từng bước đưa hoạt động xay xát, chế biến gạo vào quy hoạch để hình thành các khu chế biến gạo tập trung phù hợp với quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên từng địa bàn dân cư;
+ Giai đoạn 2016-2020: Khuyến khích việc thay thế, đổi mới các dây chuyền chế biến cũ bằng các thiết bị công nghệ mới, hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế, đưa tỷ lệ thu hồi gạo thành phẩm lên 69% - 70%, Đồng thời hoàn thiện quy hoạch các khu vực xay xát, chế biến gạo, trên cơ sở kết hợp các cơ sở quy mô lớn với quy mô vừa và nhỏ theo một cơ cấu hợp lý, gắn với vùng nguyên liệu, tiết kiệm chi phí vận chuyển nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động của hệ thống sau thu hoạch;
+ Xúc tiến, đầu tư nhà máy tồn trữ, xay xát gạo tại khu công nghiệp Hạ Vàng, huyện Can Lộc và Bắc Cẩm Xuyên.
2.Đối với ngô:
- Đối với sản xuất quy mô nông hộ, trang trại: Phát triển và phổ cập các mẫu kho xếp, kho nhỏ có chống dột, chống chuột, thông gió... Bằng các vật liệu địa phương, giá rẻ. Đẩy mạnh các hoạt động trình diễn kỹ thuật, giới thiệu mô hình bảo quản sau thu hoạch có hiệu quả cao; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ nông dân, các chủ trang trại tiếp cận các công nghệ tiên tiến, giá rẻ nhưng tiện dụng và hiệu quả, nhất là đối với các thiết bị sấy, công cụ và thiết bị bảo quản;
- Tại các vùng sản xuất ngô hàng hóa: Phát triển các cơ sở sơ chế quy mô hộ, liên hộ. Giới thiệu, khuyến cáo việc đầu tư xây dựng tại các vùng sản xuất tập trung hệ thống kho với trang thiết bị tự động hóa, bảo quản kín bằng phương thức đổ rời quy mô vừa và lớn, hoặc phương thức đóng bao quy mô nhỏ nhằm hạn chế suy giảm chất lượng, ức chế sự phát triển của vi sinh vật, sinh vật hại kho, với chi phí rẻ không sử dụng hóa chất, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
2.3. Đối với ……
- Thời kỳ 2012-2015: Khuyến khích đầu tư thiết kế, sản xuất và chuyển giao cho các hộ dân các thùng/kho bảo quản đổ rời hoặc đóng bao sản phẩm phù hợp để phòng chống mối mọt, giảm tổn thất;
- Thời kỳ 2016-2020: Đối với hộ nông dân và các cơ sở dịch vụ liên hộ: Đẩy mạnh các hoạt động giới thiệu và chuyển giao dây chuyền thiết bị công nghệ tiên tiến, đồng bộ, gồm máy thu hoạch, thiết bị sấy, bóc tách vỏ, làm sạch, phân loại, cân định lượng, đóng gói, thiết bị bảo quản;
- Áp dụng công nghệ phân tích nhanh các loại mycotoxin, aflatoxin tại các cơ sở sản xuất và buôn bán; đồng thời tiến hành định lượng dư lượng thuốc dịch hại.
2.4. Bảo quản, chế biến nông sản khác:
- Chế biến (bún, bánh tráng, miến): Ưu tiên phát triển các làng nghề đã có, tiến tới đầu tư phát triển công nghệ sạch, đăng ký chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu hàng hóa;
- Rượu: Đầu tư dây chuyền, công nghệ hiện đại để khử độc trước khi đóng chai nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gắn với đăng ký chất lượng, xây dựng thương hiệu;
- Rau, củ, quả chất luợng cao: Phát triển nhanh các cơ sở sơ chế, tiệt trùng, đóng gói gắn với các vùng sản xuất để cung ứng cho các nhà hàng, khách sạn, siêu thị;
- Cao su: Phát triển mạnh công nghiệp cao su theo hướng giảm sản phẩm sơ chế, nâng cao sản lượng sản phẩm tinh chế; đầu tư nhà máy có máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến, công suất phù hợp với sản lượng mủ của tỉnh;
- Chè: Không ngừng nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm, ứng dụng công nghệ CTC, OTD trong chế biến Chè đen và lựa chọn công nghệ truyền thống của Việt Nam để chế biến Chè xanh; áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất hàng hóa xuất khẩu: IS09000; IS014001; HACCP; xây dựng thương hiệu chè Hà Tĩnh.

Content:
Bảo quản, chế biến thủy sản
- Đến năm 2015: 100% sản lượng các loại sản phẩm thủy sản xuất khẩu được bảo quản và chế biến tại nhà máy đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu; 100% sản lượng thủy sản tiêu thụ thị trường nội địa (dạng tươi sống) được bảo quản ở các kho lạnh đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Đến năm 2015: Giảm mức tổn thất sản phẩm sau khai thác từ 25-30% xuống còn 15-20%.
II. NHIỆM VỤ
1. Bảo quản, chế biến hạt giống
Lựa chọn nhà đầu tư, thành lập công ty sản xuất, kinh doanh hạt giống trên cơ sở đấu thầu cơ sở vật chất của trung tâm Giống cây trồng Hà Tĩnh. Xây dựng hệ thống sân phơi, máy sấy, kho chứa tạm hạt giống tại các vùng sản xuất giống liên doanh liên kết với doanh nghiệp.
Bảo quản, chế biến nông sản.
2.1. Đối với lúa, gạo.
- Bảo quản: Đẩy mạnh việc khuyến cáo, hướng dẫn người dân, nhất là nông dân đưa vào sử dụng các công cụ chứa và bảo quản thóc tại nông hộ đáp ứng tiêu chuẩn an toàn, hợp vệ sinh, chống mối mọt, côn trùng, chuột bọ xâm hại; đồng thời khuyến cáo nông dân đưa vào sử dụng, thay thế những công cụ bảo quản truyền thống bằng thiết bị chứa kiểu Siclo dung tích 0,3-1,0 tấn/cái.
- Xay xát, chế biến:
+ Giai đoạn 2012-2015: Khuyến cáo các cơ sở dịch vụ xay xát đầu tư đưa vào sử dụng các loại máy xay xát loại 0,8 - 1,0 tấn/giờ hoặc dây chuyền gồm xay xát, sàng phân loại công suất 1,0 - 2,0 tấn/gìờ với thiết bị, công nghệ cải tiến nhằm nâng cao chất lượng gạo chế biến và hạ giá dịch vụ xay xát, nâng tỷ lệ thu hồi lên 67% - 68%. Đồng thời từng bước đưa hoạt động xay xát, chế biến gạo vào quy hoạch để hình thành các khu chế biến gạo tập trung phù hợp với quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên từng địa bàn dân cư;
+ Giai đoạn 2016-2020: Khuyến khích việc thay thế, đổi mới các dây chuyền chế biến cũ bằng các thiết bị công nghệ mới, hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế, đưa tỷ lệ thu hồi gạo thành phẩm lên 69% - 70%, Đồng thời hoàn thiện quy hoạch các khu vực xay xát, chế biến gạo, trên cơ sở kết hợp các cơ sở quy mô lớn với quy mô vừa và nhỏ theo một cơ cấu hợp lý, gắn với vùng nguyên liệu, tiết kiệm chi phí vận chuyển nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động của hệ thống sau thu hoạch;
+ Xúc tiến, đầu tư nhà máy tồn trữ, xay xát gạo tại khu công nghiệp Hạ Vàng, huyện Can Lộc và Bắc Cẩm Xuyên.
2.Đối với ngô:
- Đối với sản xuất quy mô nông hộ, trang trại: Phát triển và phổ cập các mẫu kho xếp, kho nhỏ có chống dột, chống chuột, thông gió... Bằng các vật liệu địa phương, giá rẻ. Đẩy mạnh các hoạt động trình diễn kỹ thuật, giới thiệu mô hình bảo quản sau thu hoạch có hiệu quả cao; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ nông dân, các chủ trang trại tiếp cận các công nghệ tiên tiến, giá rẻ nhưng tiện dụng và hiệu quả, nhất là đối với các thiết bị sấy, công cụ và thiết bị bảo quản;
- Tại các vùng sản xuất ngô hàng hóa: Phát triển các cơ sở sơ chế quy mô hộ, liên hộ. Giới thiệu, khuyến cáo việc đầu tư xây dựng tại các vùng sản xuất tập trung hệ thống kho với trang thiết bị tự động hóa, bảo quản kín bằng phương thức đổ rời quy mô vừa và lớn, hoặc phương thức đóng bao quy mô nhỏ nhằm hạn chế suy giảm chất lượng, ức chế sự phát triển của vi sinh vật, sinh vật hại kho, với chi phí rẻ không sử dụng hóa chất, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
2.3. Đối với ……
- Thời kỳ 2012-2015: Khuyến khích đầu tư thiết kế, sản xuất và chuyển giao cho các hộ dân các thùng/kho bảo quản đổ rời hoặc đóng bao sản phẩm phù hợp để phòng chống mối mọt, giảm tổn thất;
- Thời kỳ 2016-2020: Đối với hộ nông dân và các cơ sở dịch vụ liên hộ: Đẩy mạnh các hoạt động giới thiệu và chuyển giao dây chuyền thiết bị công nghệ tiên tiến, đồng bộ, gồm máy thu hoạch, thiết bị sấy, bóc tách vỏ, làm sạch, phân loại, cân định lượng, đóng gói, thiết bị bảo quản;
- Áp dụng công nghệ phân tích nhanh các loại mycotoxin, aflatoxin tại các cơ sở sản xuất và buôn bán; đồng thời tiến hành định lượng dư lượng thuốc dịch hại.
2.4. Bảo quản, chế biến nông sản khác:
- Chế biến (bún, bánh tráng, miến): Ưu tiên phát triển các làng nghề đã có, tiến tới đầu tư phát triển công nghệ sạch, đăng ký chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu hàng hóa;
- Rượu: Đầu tư dây chuyền, công nghệ hiện đại để khử độc trước khi đóng chai nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gắn với đăng ký chất lượng, xây dựng thương hiệu;
- Rau, củ, quả chất luợng cao: Phát triển nhanh các cơ sở sơ chế, tiệt trùng, đóng gói gắn với các vùng sản xuất để cung ứng cho các nhà hàng, khách sạn, siêu thị;
- Cao su: Phát triển mạnh công nghiệp cao su theo hướng giảm sản phẩm sơ chế, nâng cao sản lượng sản phẩm tinh chế; đầu tư nhà máy có máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến, công suất phù hợp với sản lượng mủ của tỉnh;
- Chè: Không ngừng nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm, ứng dụng công nghệ CTC, OTD trong chế biến Chè đen và lựa chọn công nghệ truyền thống của Việt Nam để chế biến Chè xanh; áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất hàng hóa xuất khẩu: IS09000; IS014001; HACCP; xây dựng thương hiệu chè Hà Tĩnh.