Document: Khoản 7 Điều 1 Quyết định 2466/QĐ-UBND 2011 quy hoạch bảo tồn tôn tạo phát huy giá trị vịnh Nha Trang Khánh Hòa

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "08/09/2011", "sign_number": "2466/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Chiến Thắng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "08/09/2011", "sign_number": "2466/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Chiến Thắng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "08/09/2011", "sign_number": "2466/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Chiến Thắng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "08/09/2011", "sign_number": "2466/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Chiến Thắng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "08/09/2011", "sign_number": "2466/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Chiến Thắng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 7 Điều 1 Quyết định 2466/QĐ-UBND 2011 quy hoạch bảo tồn tôn tạo phát huy giá trị vịnh Nha Trang Khánh Hòa

Điều 1. Phê duyệt Đồ án quy hoạch Tổng thể Bảo tồn, Tôn tạo và Phát huy giá trị vịnh Nha Trang với những nội dung chính sau:
...
7. Quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật
a. Quy hoạch hệ thống giao thông:
- Quy hoạch hệ thống giao thông đường bộ trong dải ven biển:
+ Bố trí các thiết bị đảm bảo an toàn giao thông; xây dựng các bãi đỗ xe tập trung.
+ Từ đường Lê Lợi đến đường Lê Thánh Tôn: Chuyển hướng xe cơ giới sang các tuyến đường phía Tây; Sử dụng các giải pháp thiết kế đặc biệt để sử dụng đường Trần Phú qua đoạn này làm quảng trường kết nối từ các công trình phía Tây đường Trần Phú hiện nay với khu vực bờ biển, chỉ cho xe cơ giới lưu thông trong những điều kiện hạn chế.
- Quy hoạch hệ thống giao thông đường bộ trên các đảo:
+ Giao thông nội bộ trên đảo chủ yếu là giao thông công cộng, với các loại xe nhỏ chứa khoảng 10-15 người, hạn chế phương tiện cá nhân, hạn chế sử dụng phương tiện gây ô nhiễm.
+ Mạng lưới đường tận dụng địa hình, hạn chế san lấp. Đối với các đảo nhỏ như Trí Nguyên, Hòn Tằm chỉ đi bộ, không sử dụng phương tiện xe cơ giới.
- Giao thông thủy phục vụ du lịch:
+ Cảng Nha Trang: xây dựng thành cảng hành khách Quốc tế.
+ Xây dựng cảng du lịch tại đảo Hòn Tre.
+ Xây dựng các bến thuyền du lịch và du thuyền tại các điểm khai thác du lịch ven bờ và trên các đảo, đảm bảo không tác động xấu đến môi trường ven biển.
- Giao thông thủy phục vụ dân dụng:
+ Cảng cá Cù Lao và cảng Cá Vĩnh Trường: chuyển đổi thành bến đỗ tàu thuyền; chuyển cảng cá đến Hòn Rớ.
+ Cảng cá Hòn Rớ; Xây dựng và mở rộng thành cảng cá của thành phố. Có quy hoạch hiện đại đảm bảo vệ sinh môi trường.
- Tổ chức giao thông công cộng:
+ Sử dụng hết công suất cáp treo Vinpearl để hỗ trợ giao thông đường thủy đến các đảo.
+ Hệ thống giao thông cộng cộng liên kết với mạng lưới giao thông công cộng toàn đô thị. Phương tiện phục vụ giao thông công cộng có thể sử dụng rất đa dạng: xe khách, xe buýt, cáp treo, tàu, thuyền và các loại xe khác hoạt động trên đảo.
+ Các điểm trung chuyển (tiếp vận) được sử dụng để chuyển đổi các loại hình giao thông tập trung ở dải ven biển, tại các điểm lớn như quảng trường, cảng, tại các nút giao thông với các đường hướng tâm và đường có liên kết đối ngoại (hướng đến các bến đỗ xe đối ngoại, nhà ga, sân bay).
b. Quy hoạch san nền:
Quy hoạch san nền phù hợp với các giải pháp quy hoạch các khu chức năng, phù hợp với các độ dốc khác nhau của địa hình, không san nền đại trà, chỉ san nền cục bộ phục vụ xây dựng công trình, phải đảm bảo cảnh quan tự nhiên cho môi trường khu vực vịnh, tôn tạo trồng thêm nhiều cây xanh trên các đảo.
c. Quy hoạch thoát nước mưa:
- Khu vực các đảo: Tổ chức thoát nước theo đường giao thông và các khu vực xây dựng đơn lẻ, cục bộ. Hướng thoát theo các khe tụ thủy từng sườn núi thoát trực tiếp ra biển, trong các khu vực có xây dựng công trình dùng cống hộp kín, tại các sườn núi dùng mương xây hở thoát ra biển.
- Khu vực bờ biển: Thực hiện theo dự án thoát nước của thành phố đang được triển khai, vẫn giữ nguyên các cửa xả hiện trạng ra biển có cải tạo thu gom nước thải bơm về trạm xử lý. Các cửa xả chính theo thứ tự từ Bắc xuống Nam: cửa Ba Làng, cửa Đặng Tất, cửa Hòn Chồng, cửa cầu Trần Phú, cửa Dã Tượng, phần lớn lưu vực của thành phố thoát ra sông Cái và sông Quán Trường theo hệ thống cổng chính của thành phố.
- Sông Quán Trường và sông Cái được nạo vét, nắn dòng và làm đường, kè bờ để chống ngập úng cho thành phố Nha Trang. Dự án xây dựng kè phải đảm bảo phù hợp với yêu cầu về xây dựng cảnh quan hai bên sông.
d. Quy hoạch cấp nước:
- Dải ven biển: cấp nước từ đường ống dẫn nước chính dọc đường Trần Phú thuộc hệ thống cấp nước thành phố.
- Các đảo: Nguồn nước lấy từ hệ thống cấp nước thành phố và nhà máy xử lý nước biển xây dựng tại Hòn Tằm.
+ Trang bị đội tàu chuyển nước từ đất liền cấp cho các đảo ven bờ.
+ Đặt các điểm lấy nước tại các tuyến ống phân phối dọc bờ biển để đưa nước vào các tàu chứa nước ra đảo.
+ Tại các đảo sử dụng nguồn nước từ nhà máy nước thành phố: xây dựng các bể chứa nước và trạm bơm cấp nước cục bộ cho mỗi khu vực đảo.
+ Kết hợp sử dụng cảng hiện có để cập bến cho tàu chở nước, xây dựng các điểm cấp nước trên đảo phù hợp với vị trí cảng cập bến tàu thuyền.
- Định hướng dài hạn: Quy hoạch hệ thống cấp nước tập trung phục vụ các khu đô thị du lịch tập trung trên đảo Hòn Tre và đảo Trí Nguyên. Xây dựng đường ống cấp nước sạch ra đảo từ mạng lưới cấp nước thành phố.
e. Quy hoạch cấp điện:
- Nguồn điện: từ hệ thống trạm 110 KV của thành phố Nha Trang;
- Lưới trung thế:
+ Trên đường Trần Phú, Phạm Văn Đồng: cải tạo lại các đường điện nổi 22 KV hiện có thành cáp ngầm chống thấm dọc 22 KV.
+ Khu vực đảo Trí Nguyên: cải tạo tuyến 22 KV từ Bình Tân đến để đáp ứng nhu cầu cấp điện theo từng giai đoạn.
+ Khu vực đảo Hòn Tre: hiện tại trên đảo đã xây dựng trạm điện Diezen với công suất dài hạn là 6x1.000 kVA. Phương án dài hạn là xây dựng tuyến điện 22 KV ngầm qua biển đấu nối với mạng điện lưới Quốc gia trên đất liền. Khi đó trạm Diezen sẽ dùng làm nhiệm vụ dự phòng sự cố hoặc khi thiếu điện lưới.
+ Các đảo khác và khu vực resort sinh thái phía bắc đảo Hòn Tre: cấp điện cục bộ bằng Diezen, tuabin gió loại nhỏ hoặc pin mặt trời.
f. Quy hoạch thu gom và xử lý nước thải
- Khu vực ven biển: cấm xả nước thải không qua xử lý trực tiếp ra vùng ven biển. Tất cả nước thải sinh hoạt phải được xử lý sơ bộ qua bể tự hoại hợp quy cách trước khi xả ra hệ thống thoát nước chung của thành phố và được thu gom toàn bộ về các trạm xử lý tập trung xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi xả ra môi trường. Tại các khu vực xây mới sẽ sử dụng hệ thống thoát nước riêng hoàn toàn, tại các khu hiện trạng sẽ xây dựng tuyến cống bao tách nước thải đưa về trạm xử lý.
- Khu vực các đảo:
+ Cấm xả nước thải không qua xử lý trực tiếp ra biển. Tùy theo quy mô và phân đợt xây dựng để lựa chọn hình thức thu gom, xử lý nước thải tập trung hay phân tán. Với các đảo lớn, mật độ dân cư cao, sử dụng hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung. Với các đảo nhỏ, các cụm dân cư, dịch vụ du lịch độc lập khuyến khích sử dụng hệ thống thu gom và xử lý nước thải phân tán. Các công trình xử lý nước thải phải tiết kiệm diện tích, đảm bảo hiệu quả xử lý nhưng cần giảm thiểu khoảng cách ly, không ảnh hưởng đến cảnh quan chung và vệ sinh môi trường.
+ Với các khu dân cư độc lập, lưu lượng thải nhỏ, mức độ yêu cầu vệ sinh môi trường trung bình: đề xuất xử lý cục bộ, sử dụng bể tự hoại cải tiến có vách ngăn mỏng dòng hướng lên với ngăn lọc kỵ khí (BASTAF) kết hợp với giếng tự thấm. Nước thải đầu ra đảm bảo tiêu chuẩn B theo QCVN với các chỉ tiêu SS và BOD.
+ Với các khu du lịch, khu đô thị cao cấp, bố trí độc lập, lượng thải nhỏ hoặc trung bình, mức độ yêu cầu vệ sinh môi trường cao: Sử dụng công trình xử lý sinh học dạng hợp khối (JRY-Series, Hyclear System). Đây là công trình xử lý tiên tiến, có thể chôn ngầm dưới đất nên không gây mùi và tiếng ồn, đặc biệt tiết kiệm đất và hạn chế tối đa ảnh hưởng đến cảnh quan chung. Nước thải đầu ra đảm bảo tiêu chuẩn A theo QCVN với các chỉ tiêu SS và BOD.
- Xử lý nước thải: Nước thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn QCVN 14-2008 “Quy chuẩn quốc gia về nước thải sinh hoạt”. Nước sau xử lý cần được dự trữ trong các hồ chứa để tiếp tục xử lý bậc 3 và có thể sử dụng để tưới cây rửa đường, phục vụ cho công tác phòng cháy chữa cháy.
g. Quy hoạch thu gom và xử lý chất thải rắn (CTR):
- CTR sinh hoạt được thu gom tập trung.
- Dự kiến bố trí một điểm thu gom và xử lý CTR hợp vệ sinh trên đảo Hòn Tre quy mô khoảng 3 ha, phục vụ cho đảo Hòn Tre và các đảo lân cận. CTR nguy hại và CTR có khả năng tái chế cần được phân loại và vận chuyển về khu xử lý CTR quy hoạch tại thôn Lương Hòa - xã Vĩnh Lương để xử lý. Các tàu du lịch chuyên chở khách ra đảo phải có bộ phận thu gom rác, không cho phép xả thải ra biển. Chất thải trên tàu phải được thu gom và xử lý khi tàu trở về đất liền.
- Khu vực ven biển: CTR sẽ được thu gom và chuyển về khu xử lý CTR quy hoạch tại thôn Lương Hòa, xã Vĩnh Lương.

Content:
Quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật
a. Quy hoạch hệ thống giao thông:
- Quy hoạch hệ thống giao thông đường bộ trong dải ven biển:
+ Bố trí các thiết bị đảm bảo an toàn giao thông; xây dựng các bãi đỗ xe tập trung.
+ Từ đường Lê Lợi đến đường Lê Thánh Tôn: Chuyển hướng xe cơ giới sang các tuyến đường phía Tây; Sử dụng các giải pháp thiết kế đặc biệt để sử dụng đường Trần Phú qua đoạn này làm quảng trường kết nối từ các công trình phía Tây đường Trần Phú hiện nay với khu vực bờ biển, chỉ cho xe cơ giới lưu thông trong những điều kiện hạn chế.
- Quy hoạch hệ thống giao thông đường bộ trên các đảo:
+ Giao thông nội bộ trên đảo chủ yếu là giao thông công cộng, với các loại xe nhỏ chứa khoảng 10-15 người, hạn chế phương tiện cá nhân, hạn chế sử dụng phương tiện gây ô nhiễm.
+ Mạng lưới đường tận dụng địa hình, hạn chế san lấp. Đối với các đảo nhỏ như Trí Nguyên, Hòn Tằm chỉ đi bộ, không sử dụng phương tiện xe cơ giới.
- Giao thông thủy phục vụ du lịch:
+ Cảng Nha Trang: xây dựng thành cảng hành khách Quốc tế.
+ Xây dựng cảng du lịch tại đảo Hòn Tre.
+ Xây dựng các bến thuyền du lịch và du thuyền tại các điểm khai thác du lịch ven bờ và trên các đảo, đảm bảo không tác động xấu đến môi trường ven biển.
- Giao thông thủy phục vụ dân dụng:
+ Cảng cá Cù Lao và cảng Cá Vĩnh Trường: chuyển đổi thành bến đỗ tàu thuyền; chuyển cảng cá đến Hòn Rớ.
+ Cảng cá Hòn Rớ; Xây dựng và mở rộng thành cảng cá của thành phố. Có quy hoạch hiện đại đảm bảo vệ sinh môi trường.
- Tổ chức giao thông công cộng:
+ Sử dụng hết công suất cáp treo Vinpearl để hỗ trợ giao thông đường thủy đến các đảo.
+ Hệ thống giao thông cộng cộng liên kết với mạng lưới giao thông công cộng toàn đô thị. Phương tiện phục vụ giao thông công cộng có thể sử dụng rất đa dạng: xe khách, xe buýt, cáp treo, tàu, thuyền và các loại xe khác hoạt động trên đảo.
+ Các điểm trung chuyển (tiếp vận) được sử dụng để chuyển đổi các loại hình giao thông tập trung ở dải ven biển, tại các điểm lớn như quảng trường, cảng, tại các nút giao thông với các đường hướng tâm và đường có liên kết đối ngoại (hướng đến các bến đỗ xe đối ngoại, nhà ga, sân bay).
b. Quy hoạch san nền:
Quy hoạch san nền phù hợp với các giải pháp quy hoạch các khu chức năng, phù hợp với các độ dốc khác nhau của địa hình, không san nền đại trà, chỉ san nền cục bộ phục vụ xây dựng công trình, phải đảm bảo cảnh quan tự nhiên cho môi trường khu vực vịnh, tôn tạo trồng thêm nhiều cây xanh trên các đảo.
c. Quy hoạch thoát nước mưa:
- Khu vực các đảo: Tổ chức thoát nước theo đường giao thông và các khu vực xây dựng đơn lẻ, cục bộ. Hướng thoát theo các khe tụ thủy từng sườn núi thoát trực tiếp ra biển, trong các khu vực có xây dựng công trình dùng cống hộp kín, tại các sườn núi dùng mương xây hở thoát ra biển.
- Khu vực bờ biển: Thực hiện theo dự án thoát nước của thành phố đang được triển khai, vẫn giữ nguyên các cửa xả hiện trạng ra biển có cải tạo thu gom nước thải bơm về trạm xử lý. Các cửa xả chính theo thứ tự từ Bắc xuống Nam: cửa Ba Làng, cửa Đặng Tất, cửa Hòn Chồng, cửa cầu Trần Phú, cửa Dã Tượng, phần lớn lưu vực của thành phố thoát ra sông Cái và sông Quán Trường theo hệ thống cổng chính của thành phố.
- Sông Quán Trường và sông Cái được nạo vét, nắn dòng và làm đường, kè bờ để chống ngập úng cho thành phố Nha Trang. Dự án xây dựng kè phải đảm bảo phù hợp với yêu cầu về xây dựng cảnh quan hai bên sông.
d. Quy hoạch cấp nước:
- Dải ven biển: cấp nước từ đường ống dẫn nước chính dọc đường Trần Phú thuộc hệ thống cấp nước thành phố.
- Các đảo: Nguồn nước lấy từ hệ thống cấp nước thành phố và nhà máy xử lý nước biển xây dựng tại Hòn Tằm.
+ Trang bị đội tàu chuyển nước từ đất liền cấp cho các đảo ven bờ.
+ Đặt các điểm lấy nước tại các tuyến ống phân phối dọc bờ biển để đưa nước vào các tàu chứa nước ra đảo.
+ Tại các đảo sử dụng nguồn nước từ nhà máy nước thành phố: xây dựng các bể chứa nước và trạm bơm cấp nước cục bộ cho mỗi khu vực đảo.
+ Kết hợp sử dụng cảng hiện có để cập bến cho tàu chở nước, xây dựng các điểm cấp nước trên đảo phù hợp với vị trí cảng cập bến tàu thuyền.
- Định hướng dài hạn: Quy hoạch hệ thống cấp nước tập trung phục vụ các khu đô thị du lịch tập trung trên đảo Hòn Tre và đảo Trí Nguyên. Xây dựng đường ống cấp nước sạch ra đảo từ mạng lưới cấp nước thành phố.
e. Quy hoạch cấp điện:
- Nguồn điện: từ hệ thống trạm 110 KV của thành phố Nha Trang;
- Lưới trung thế:
+ Trên đường Trần Phú, Phạm Văn Đồng: cải tạo lại các đường điện nổi 22 KV hiện có thành cáp ngầm chống thấm dọc 22 KV.
+ Khu vực đảo Trí Nguyên: cải tạo tuyến 22 KV từ Bình Tân đến để đáp ứng nhu cầu cấp điện theo từng giai đoạn.
+ Khu vực đảo Hòn Tre: hiện tại trên đảo đã xây dựng trạm điện Diezen với công suất dài hạn là 6x1.000 kVA. Phương án dài hạn là xây dựng tuyến điện 22 KV ngầm qua biển đấu nối với mạng điện lưới Quốc gia trên đất liền. Khi đó trạm Diezen sẽ dùng làm nhiệm vụ dự phòng sự cố hoặc khi thiếu điện lưới.
+ Các đảo khác và khu vực resort sinh thái phía bắc đảo Hòn Tre: cấp điện cục bộ bằng Diezen, tuabin gió loại nhỏ hoặc pin mặt trời.
f. Quy hoạch thu gom và xử lý nước thải
- Khu vực ven biển: cấm xả nước thải không qua xử lý trực tiếp ra vùng ven biển. Tất cả nước thải sinh hoạt phải được xử lý sơ bộ qua bể tự hoại hợp quy cách trước khi xả ra hệ thống thoát nước chung của thành phố và được thu gom toàn bộ về các trạm xử lý tập trung xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi xả ra môi trường. Tại các khu vực xây mới sẽ sử dụng hệ thống thoát nước riêng hoàn toàn, tại các khu hiện trạng sẽ xây dựng tuyến cống bao tách nước thải đưa về trạm xử lý.
- Khu vực các đảo:
+ Cấm xả nước thải không qua xử lý trực tiếp ra biển. Tùy theo quy mô và phân đợt xây dựng để lựa chọn hình thức thu gom, xử lý nước thải tập trung hay phân tán. Với các đảo lớn, mật độ dân cư cao, sử dụng hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung. Với các đảo nhỏ, các cụm dân cư, dịch vụ du lịch độc lập khuyến khích sử dụng hệ thống thu gom và xử lý nước thải phân tán. Các công trình xử lý nước thải phải tiết kiệm diện tích, đảm bảo hiệu quả xử lý nhưng cần giảm thiểu khoảng cách ly, không ảnh hưởng đến cảnh quan chung và vệ sinh môi trường.
+ Với các khu dân cư độc lập, lưu lượng thải nhỏ, mức độ yêu cầu vệ sinh môi trường trung bình: đề xuất xử lý cục bộ, sử dụng bể tự hoại cải tiến có vách ngăn mỏng dòng hướng lên với ngăn lọc kỵ khí (BASTAF) kết hợp với giếng tự thấm. Nước thải đầu ra đảm bảo tiêu chuẩn B theo QCVN với các chỉ tiêu SS và BOD.
+ Với các khu du lịch, khu đô thị cao cấp, bố trí độc lập, lượng thải nhỏ hoặc trung bình, mức độ yêu cầu vệ sinh môi trường cao: Sử dụng công trình xử lý sinh học dạng hợp khối (JRY-Series, Hyclear System). Đây là công trình xử lý tiên tiến, có thể chôn ngầm dưới đất nên không gây mùi và tiếng ồn, đặc biệt tiết kiệm đất và hạn chế tối đa ảnh hưởng đến cảnh quan chung. Nước thải đầu ra đảm bảo tiêu chuẩn A theo QCVN với các chỉ tiêu SS và BOD.
- Xử lý nước thải: Nước thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn QCVN 14-2008 “Quy chuẩn quốc gia về nước thải sinh hoạt”. Nước sau xử lý cần được dự trữ trong các hồ chứa để tiếp tục xử lý bậc 3 và có thể sử dụng để tưới cây rửa đường, phục vụ cho công tác phòng cháy chữa cháy.
g. Quy hoạch thu gom và xử lý chất thải rắn (CTR):
- CTR sinh hoạt được thu gom tập trung.
- Dự kiến bố trí một điểm thu gom và xử lý CTR hợp vệ sinh trên đảo Hòn Tre quy mô khoảng 3 ha, phục vụ cho đảo Hòn Tre và các đảo lân cận. CTR nguy hại và CTR có khả năng tái chế cần được phân loại và vận chuyển về khu xử lý CTR quy hoạch tại thôn Lương Hòa - xã Vĩnh Lương để xử lý. Các tàu du lịch chuyên chở khách ra đảo phải có bộ phận thu gom rác, không cho phép xả thải ra biển. Chất thải trên tàu phải được thu gom và xử lý khi tàu trở về đất liền.
- Khu vực ven biển: CTR sẽ được thu gom và chuyển về khu xử lý CTR quy hoạch tại thôn Lương Hòa, xã Vĩnh Lương.