Document: Điều 8 Quyết định 65/2005/QĐ-BGTVT chức danh, nhiệm vụ theo chức danh thuyền viên đăng ký thuyền viên làm việc trên tầu biển Việt Nam

Type: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "30/11/2005", "sign_number": "65/2005/QĐ-BGTVT", "signer": "Đào Đình Bình", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "30/11/2005", "sign_number": "65/2005/QĐ-BGTVT", "signer": "Đào Đình Bình", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "30/11/2005", "sign_number": "65/2005/QĐ-BGTVT", "signer": "Đào Đình Bình", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "30/11/2005", "sign_number": "65/2005/QĐ-BGTVT", "signer": "Đào Đình Bình", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "30/11/2005", "sign_number": "65/2005/QĐ-BGTVT", "signer": "Đào Đình Bình", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 8 Quyết định 65/2005/QĐ-BGTVT chức danh, nhiệm vụ theo chức danh thuyền viên đăng ký thuyền viên làm việc trên tầu biển Việt Nam có nội dung như sau:

Điều 8. Nhiệm vụ của thuyền trưởng
1. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi giao, nhận tầu:
a) Việc bàn giao tầu phải được tiến hành trực tiếp giữa thuyền trưởng nhận tầu và thuyền trưởng giao tầu;
b) Khi giao, nhận tầu phải bàn giao chi tiết về phân vỏ tầu, các máy móc, trang thiết bị, tài sản, toàn bộ các hồ sơ, tài liệu, tiền mặt và phải lập bản thống kê từng hạng mục;
c) Thuyền trưởng nhận tầu yêu cầu thuyền trưởng giao tầu cho biết về cấu trúc đặc biệt, tính năng kỹ thuật, khả năng khai thác và kế hoạch tiếp tục hoàn thành. Thuyền trưởng giao tầu yêu cầu các sỹ quan phụ trách từng bộ phận báo cáo bằng văn bản về tình hình mọi mặt của bộ phận mình và bản kê tài sản của tầu. Thuyền trưởng nhận tầu cùng với máy trưởng, đại phó và máy hai tiến hành kiểm tra, tìm hiểu tình trạng thực tế của tầu;
d) Thời gian bắt đầu và kết thúc việc bàn giao phải được ghi vào biên bản, hai bên cùng ký tên và phải ghi vào nhật ký hàng hải. Biên bản bàn giao tầu phải được lập thành 04 bản: 01 bản gửi cho chủ tầu, 01 bản lưu lại tầu và 02 bản cho bên giao và bên nhận;
đ) Thuyền trưởng giao tầu phải họp toàn thể thuyền viên để giới thiệu thuyền trưởng nhận tầu và thông báo cụ thể thời gian chuyển giao quyền điều hành cho thuyền trưởng mới.
2. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi đưa tầu vào khai thác hoặc ngừng khai thác:
a) Thực hiện theo lệnh của chủ tầu để đưa tầu vào khai thác, ngừng khai thác hoặc sửa chữa hay giải bản;
b) Trước mỗi chuyến đi, thuyền trưởng phải có những biện pháp nhằm bảo đảm an toàn cho người, tầu và hàng hóa trên tầu, kể cả vật tư kỹ thuật, nhiên liệu, nước ngọt, lương thực, thực phẩm của tầu;
c) Phân công cụ thể cho đại phó và máy trưởng tiến hành chuẩn bị mọi mặt để tầu khởi hành an toàn đúng giờ quy định;
d) Kiểm tra việc chuẩn bị hải đồ, các tài liệu hàng hải khác liên quan đến toàn bộ chuyến đi của tầu;
đ) Nắm vững tình hình diễn biến thời tiết trong khu vực tầu sẽ đi qua, lập kế hoạch chuyến đi và vạch hướng đi trên hải đồ có tính toán đầy đủ ảnh hưởng của các điều kiện địa lý, khí tượng - thủy văn hàng hải và các yếu tố khác;
e) Kiểm tra việc xếp hàng hóa theo sơ đồ hàng hóa đảm bảo số lượng và chất lượng của hàng hóa. Đặc biệt, chú ý bốc dỡ và vận chuyển hàng rời, hàng nguy hiểm trên tầu; tận dụng dung tích và trọng tải của tầu nhưng phải đảm bảo tính ổn định của tầu;
g) Ít nhất 02 giờ trước khi tầu rời cảng phải biết được toàn bộ tình hình công việc chuẩn bị của tầu, kiểm tra sự có mặt của thuyền viên và những người khác còn ở trên tầu;
h) Trường hợp có thuyền viên của tầu vắng mặt, để bảo đảm cho tầu xuất phát đúng giờ, thuyền trưởng phải kịp thời thông báo cho giám đốc cảng vụ, chủ tầu nếu tầu đậu ở các cảng trong nước hoặc thông báo cho đại lý, cơ quan đại diện ngoại giao có thẩm quyền của Việt Nam nếu tầu đậu ở cảng nước ngoài biết họ tên, chức danh và thời gian rời tầu của thuyền viên đó. Đồng thời, phải áp dụng mọi biện pháp để thuyền viên này kịp trở về tầu hoặc đón tầu ở cảng sắp đến, nếu sự vắng mặt của thuyền viên đó không ảnh hưởng đến an toàn của tầu.
3. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi tầu hành trình:
a) Tính toán một cách thận trọng hướng dẫn của tầu nhằm bảo đảm an toàn và kinh tế nhất; thường xuyên áp dụng mọi phương pháp, sử dụng mọi thiết bị hàng hải có sẵn trên tầu; kiểm tra, hướng dẫn và yêu cầu các sỹ quan trực ca phải thực hiện nghiêm chỉnh quy định hiện hành về chế độ trực ca khi tầu hành trình;
b) Chú ý kiểm tra hướng đi của tầu. Ngoài thuyền trưởng không ai có quyền thay đổi hướng đi đã định. Trường hợp có nguy cơ va chạm hoặc để tránh tình huống nguy hiểm bất ngờ hay có người rơi xuống biển thì thuyền trưởng cho phép sỹ quan trực ca boong có quyền thay đổi hướng đi của tầu nhưng sau đó phải báo ngay cho thuyền trưởng;
c) Khẩn trương có mặt ở buồng lái khi sỹ quan trực ca boong yêu cầu và có mặt thường xuyên ở buồng lái khi tầu hành trình trong luồng hẹp, eo biển, kênh đào, gần bờ, khi ra vào cảng, trong các khu vực nguy hiểm, khi thời tiết xấu, tầm nhìn xa bị hạn chế hoặc qua những khu vực có mật độ phương tiện thủy cao. Trong các trường hợp nói trên, thuyền trưởng phải áp dụng các biện pháp thích hợp, chuẩn bị neo ở vị trí sẵn sàng thả neo và phải thông báo cho buồng máy biết để sẵn sàng thực hiện điều động khi cần thiết;
d) Khi gặp các tảng băng trôi, các vật chướng ngại và các nguy hiểm trực tiếp khác đối với tầu hoặc khi gặp bão nhiệ đới, gặp nhiệt độ không khí xuống dưới 0oC cùng với gió mạnh gây ra đóng băng trên thượng tầng kiến trúc của tầu hay khi gặp gió cấp 10 hoặc trên cấp 10 mà chưa nhận được tin báo bão thì thuyền trưởng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để xử lý tình huống một cách thích hợp nhằm bảo đảm an toàn cho người, tầu và hàng hóa trên tầu; đồng thời, thông báo ngay những diễn biến nói trên với các tầu thuyền xung quanh, chủ tầu và cơ quan có thẩm quyền đầu tiên ở đất liền mà tầu có thể liên lạc được;
đ) Trường hợp tầu đi vào vùng có băng do tầu phá băng dẫn đường, thuyền trưởng phải chấp hành sự hướng dẫn của thuyền trưởng tầu phá băng và kịp thời có các khuyến nghị với tầu phá băng để bảo đảm an toàn hành trình cho tầu của mình.
4. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi có hoa tiêu dẫn tầu:
a) Khi tầu hành trình ở vùng hoa tiêu bắt buộc thì phải sử dụng hoa tiêu dẫn tầu theo quy định. Tại những vùng hoa tiêu không bắt buộc, nếu thấy cần thiết thì thuyền trưởng vẫn có quyền sử dụng hoa tiêu để bảo đảm an toàn;
b) Bảo đảm an toàn trong việc đưa đón hoa tiêu lên tầu và rời tầu, bố trí chu đáo nơi nghỉ, ăn uống cho hoa tiêu và đào tạo điều kiện thuộc lợi hoa tiêu thực hiện nhiệm vụ;
c) Trước khi hoa tiêu thực hiện nhiệm vụ, thuyền trưởng thông báo cho hoa tiêu biết về tính năng điều động, tình trạng máy móc, thiết bị của tầu và những thông báo cần thiết khác nhằm tạo điều kiện cho hoa tiêu có thể chủ động xử lý khi dẫn tầu;
d) Phải có mặt ở buồng lái để kịp thời xử lý các tình huống, tăng cường cảnh giới và chuẩn bị neo ở vị trí sẵn sàng thả neo. Khi vắng mặt ở buồng lái, thuyền trưởng phải giới thiệu cho hoa tiêu biết sỹ quan được mình uỷ quyền thay thế;
đ) Việc sử dụng hoa tiêu dẫn tầu không miễn giảm nghĩa vụ điều khiển tầu của thuyền trưởng. Thuyền trưởng phải có biện pháp phòng ngừa và xử lý kịp thời, chính xác mọi tình huống có thể xảy ra nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho tầu;
e) Trường hợp hoa tiêu xử lý tình huống thiếu chính xác hoặc không hợp lý, thuyền trưởng phải kịp thời đình chỉ hành động xử lý đó của hoa tiêu và yêu cầu hoa tiêu phải có hành động đúng để bảo đảm an toàn hành trình của tầu. Trường hợp cần thiết, thuyền trưởng có quyền yêu cầu thay thế hoa tiêu.
5. Nhiệm vu của thuyền trưởng khi có người rơi xuống biển:
Trường hợp có người rơi xuống biển, thuyền trưởng phải kịp thời áp dụng các biện pháp có hiệu quả để tìm cứu người bị nạn, đồng thời thông báo cho chủ tầu hoặc người quản lý tầu, người khai thác tầu, thông báo cho tầu thuyền khác đang hành trình gần khu vực đó tìm kiếm và cứu giúp; chỉ được phép cho tầu rời khỏi khu vực có người rơi xuống biển khi đã cố gắng tìm kiếm nhưng xét thấy không còn hy vọng. Thời gian và các biện pháp đã tiến hành tìm cứu phải được ghi vào nhật ký hàng hải.
6. Nhiệm vụ của thuyền trưởng trong tìm kiếm cứu nạn và cứu hộ:
a) Khi nhận được tín hiệu cấp cứu hoặc khi phát hiện có tầu bị nạn, thuyền trưởng có nhiệm vụ nhanh chóng điều động tầu đến cứu trợ nếu việc cứu nạn không gây nguy hiểm nghiêm trọng cho tầu và thuyền viên của mình. Thời gian, vị trí tầu bị nạn và lý do đến hoặc không đến cứu trợ phải được ghi vào nhật ký hàng hải;
b) Khi cứu hộ tầu bị nạn, thuyền trưởng phải áp dụng mọi biện pháp có hiệu quả để cứu người. Việc cứu tầu, hàng hóa và tài sản khác chỉ được tiến hành khi có sự thỏa thuận của thuyền trưởng tầu bị nạn theo hợp đồng cứu hộ. Trường hợp vì lý do nào đó mà thuyền trưởng tầu bị nạn không thể ký hợp đồng cứu hộ thì ít nhất phải có sự thỏa thuận bằng lời hay bằng vô tuyến điện hoặc bằng tín hiệu trông thấy được của thuyền trưởng tầu bị nạn. Các hình thức thỏa thuận này phải được ghi vào nhật ký hàng hải;
c) Khi gặp tầu không có người, nếu điều kiện cho phép thì thuyền trưởng phải tổ chức kéo tầu đó vào cảng gần nhất và thông báo chính quyền cảng, chủ tầu hoặc người quản lý tầu, người khai thác tầu và cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam ở nước đó biết. Trường hợp không thể lai dắt được thì ghi vào nhật ký hàng hải vị trí của tầu đó, nguyên nhân không thực hiện được việc lai dắt và phải thông báo cho chính quyền cảng gần nhất.
7. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi xảy ra đâm va:
a) Trường hợp xảy ra đâm va với tầu khác, thuyền trưởng phải yêu cầu thuyền trưởng tầu đó thông báo cho mình biết tên, hô hiệu, số IMO, cảng đăng ký, cảng xuất phát, cảng ghé, cảng đến của tầu và tên chủ tầu. Đồng thời, thông báo cho tầu kia biết những thông tin nói trên của tầu mình. Nếu xét thấy tầu mình có khả năng và điều kiện cho phép thì phải có trách nhiệm cứu tầu bị nạn, trước hết là cứu người;
b) Sau khi xảy ra đâm va, thuyền trưởng phải kịp thời lập biên bản về diễn biến xảy ra sự cố, nêu rõ sự thiệt hại của mỗi bên có xác nhận của thuyền trưởng tầu kia và các bên hữu quan. Đồng thời, tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ tai nạn theo quy định của pháp luật;
c) Trường hợp tầu mình gặp nạn mà không còn khả năng cứu được và bắt buộc phải bỏ tầu, thuyền trưởng phải áp dụng mọi biện pháp để cứu người và tổ chức mang theo nhật ký hàng hải, nhật ký máy, nhật ký vô tuyến điện, hải đồ khu vực bị nạn, tiền và các hồ sơ, tài liệu cần thiết khác của tầu;
d) Nếu tầu mình bị tai nạn cần thiết có sự cứu trợ thì truyền trưởng phải dùng mọi biện pháp yêu cầu khác cứu giúp, nhưng trước hết phải yêu cầu sự cứu trợ của các tầu mang cờ quốc tịch Việt Nam;
đ) Nếu được tầu khác cứu giúp, thuyền trưởng có nhiệm vụ chỉ huy thuyền viên, hành khách của tầu mình thực hiện nghiêm chỉnh quy định của tầu đó.
8. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi bỏ tầu:
a) Khi bỏ tầu, thuyền trưởng phải tổ chức đưa người xuống xuồng cứu sinh theo thứ tự ưu tiên: trẻ em, người ốm, người già và phụ nữ;
b) Khi bỏ tầu, thuyền trưởng vẫn phải chịu trách nhiệm trong việc tổ chức tìm kiếm và cứu số hành khách (nếu có), thuyền viên, đang bị mất tích và áp dụng các biện pháp cần thiết để đưa những người còn lại đến nơi an toàn và về nước, nếu tầu bị tai nạn ở nước ngoài;
c) Thuyền trưởng phải là người rời tầu cuối cùng.
9. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi có bệnh nhân trên tầu:
a) Trường hợp trên tầu có bệnh nhân nhưng không có đủ khả năng cứu chữa người lâm bệnh, thuyền trưởng có trách nhiệm tìm mọi biện pháp để nhận được sự giúp đỡ về y tế, kể cả phải đưa tầu vào cảng gần nhất và phải báo ngay cho chính quyền cảng và chủ tầu hoặc người quản lý, người khai thác tầu;
b) Trường hợp thuyền trưởng lâm bệnh nặng hoặc bị tai nạn bất ngờ thì tạm thời trao lại quyền chỉ huy tầu cho đại phó và báo cáo chủ tầu biết để có biện pháp giải quyết kịp thời, đồng thời, báo cáo cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam tại nước đó biết nếu tầu ở nước ngoài và phải ghi vào nhật ký hàng hải.
10. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi tầu vào, rời cảng, neo đậu:
a) Khi tầu hoạt động trên lãnh hải hoặc neo đậu ở cảng và các khu vực nêo đậu tại Việt Nam hoặc nước ngoài, thuyền trưởng phải tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và pháp luật của nước đó;
b) Trước và trong khi làm thủ tục tầu đến, trong và sau khi làm thủ tục tầu rời cảng, không được cho thuyền viên của tầu giao tiếp với người khác, trừ các trường hợp thật cần thiết;
c) Trường hợp xảy ra tranh chấp có liên quan đến tầu hoặc thuyền viên bị bắt giữ, thuyền trưởng phải kịp thời lập kháng nghị hàng hải và phải báo cáo ngay cho cơ quan đại diện ngoại giao có thẩm quyền của Việt Nam ở nước đó và chủ tầu hoặc người quản lý tầu, người khai thác biết để có biện pháp can thiệp;
d) Khi tầu đậu trong cảng, thuyền trưởng phải tổ chức áp dụng các biện pháp phòng cháy, chữa cháy nhằm đảm bảo an toàn cho người, tầu và hàng hóa;
đ) Khi tầu hành trình ở những khu vực chưa quen biết hoặc tầm nhìn xa bị hạn chế hay gần khu vực có nhiều vật chướng ngại nguy hiểm, thuyền trưởng có quyền yêu cầu các sỹ quan khác phải có mặt ở vị trí để thực hiện nhiệm vụ;
e) Khi tầu neo đậu ở các khu vực mà các điều kiện an toàn hàng hải không đảm bảo, thuyền trưởng phải thường xuyên có mặt ở tầu. Nếu phải rời tầu thì yêu cầu đại phó ở lại tầu để thay mặt mình xử lý kịp thời những tình huống có thể xảy ra;
g) Khi thuyền trưởng rời khỏi tầu, nhất thiết phải có chỉ thị cụ thể công việc cho đại phó hay sỹ quan trực ca boong ở lại tầu; Đối với những việc quan trọng phải được ghi rõ trong nhật ký hàng hải và thông báo cho sỹ quan trực ca boong biết địa chỉ của mình trong thời gian ở trên bờ;
h) Kết thúc mỗi chuyến đi, thuyền trưởng phải lập báo cáo gửi chủ tầu, hoặc người quản lý tầu, người khai thác tầu về tình hình chuyến đi và kết quả việc thực hiện kế hoạch khai thác tầu.
11. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi tầu chở khách:
Áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn tuyệt đối sinh mạng hành khách, thuyền viên, hàng hóa, hành lý và tài sản trên tầu; tổ chức huấn luyện cứu sinh, cứu hỏa, cứu thủng tầu và hướng dẫn cho hành khách cách sử dụng phương tiện cứu sinh, cứu hỏa và các thiết bị an toàn khác.
12. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi nhận tầu đóng mới:
Khi nhận tầu đóng mới, thuyền trưởng có nhiệm vụ tổ chức nhận bàn giao cụ thể về vỏ tầu, máy móc, toàn bộ trang thiết bị kỹ thuật, các hồ sơ kỹ thuật, tài sản, dụng cụ sinh hoạt. Việc nhận và bàn giao tầu phải được lập biên bản có ký xác nhận của thuyền trưởng bên nhận và bên giao.
13. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi sửa chữa tầu:
a) Duyệt các hạng mục sửa chữa do đại phó, máy trưởng lập;
b) Không được tự ý điều chỉnh các hạng mục sửa chữa đã được duyệt và thanh toán kinh phí khi chưa có sự đồng ý của chủ tầu;
c) Trong thời gian tầu trên đà, thuyền trưởng phải áp dụng các biện pháp nhằm bảo đảm an toàn cho tầu và thực hiện đúng nội quy của đà; cùng với đại phó và máy trưởng tiến hành kiểm tra vỏ tầu, hệ thống van thông biển, chân vịt, bánh lái và lập biên bản xác nhận hiện trạng của chúng. Công việc này cũng phải được thực hiện lại trước khi tầu xuống đà và có xác nhận của cơ quan đăng kiểm;
d) Tổ chức kiểm tra, giám sát về tiến độ, chất lượng sửa chữa, đảm bảo an toàn lao động và tổ chức cho thuyền viên thực hiện tốt các công việc tự sửa chữa, tự bảo quan trong thời gian tầu trên đà;
đ) Khi hoàn thành việc sửa chữa tầu, tổ chức nghiệm thu từng phần về các hạng mục sửa chữa bảo đảm chất lượng, tránh gây thiệt hại cho chủ tầu.
14. Nhiệm vụ trực ca của thuyền trưởng:
a) Nếu trên tầu không bố trí chức danh phó ba thì thuyền trưởng phải đảm nhiệm ca trực của phó ba;
b) Nếu trên tầu không bố trí chức danh phó hai và phó ba thì nhiệm vụ của chức danh đó do thuyền trưởng và đại phó đảm nhiệm theo sự phân công của thuyền trưởng.

Content:
Điều 8. Nhiệm vụ của thuyền trưởng
1. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi giao, nhận tầu:
a) Việc bàn giao tầu phải được tiến hành trực tiếp giữa thuyền trưởng nhận tầu và thuyền trưởng giao tầu;
b) Khi giao, nhận tầu phải bàn giao chi tiết về phân vỏ tầu, các máy móc, trang thiết bị, tài sản, toàn bộ các hồ sơ, tài liệu, tiền mặt và phải lập bản thống kê từng hạng mục;
c) Thuyền trưởng nhận tầu yêu cầu thuyền trưởng giao tầu cho biết về cấu trúc đặc biệt, tính năng kỹ thuật, khả năng khai thác và kế hoạch tiếp tục hoàn thành. Thuyền trưởng giao tầu yêu cầu các sỹ quan phụ trách từng bộ phận báo cáo bằng văn bản về tình hình mọi mặt của bộ phận mình và bản kê tài sản của tầu. Thuyền trưởng nhận tầu cùng với máy trưởng, đại phó và máy hai tiến hành kiểm tra, tìm hiểu tình trạng thực tế của tầu;
d) Thời gian bắt đầu và kết thúc việc bàn giao phải được ghi vào biên bản, hai bên cùng ký tên và phải ghi vào nhật ký hàng hải. Biên bản bàn giao tầu phải được lập thành 04 bản: 01 bản gửi cho chủ tầu, 01 bản lưu lại tầu và 02 bản cho bên giao và bên nhận;
đ) Thuyền trưởng giao tầu phải họp toàn thể thuyền viên để giới thiệu thuyền trưởng nhận tầu và thông báo cụ thể thời gian chuyển giao quyền điều hành cho thuyền trưởng mới.
2. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi đưa tầu vào khai thác hoặc ngừng khai thác:
a) Thực hiện theo lệnh của chủ tầu để đưa tầu vào khai thác, ngừng khai thác hoặc sửa chữa hay giải bản;
b) Trước mỗi chuyến đi, thuyền trưởng phải có những biện pháp nhằm bảo đảm an toàn cho người, tầu và hàng hóa trên tầu, kể cả vật tư kỹ thuật, nhiên liệu, nước ngọt, lương thực, thực phẩm của tầu;
c) Phân công cụ thể cho đại phó và máy trưởng tiến hành chuẩn bị mọi mặt để tầu khởi hành an toàn đúng giờ quy định;
d) Kiểm tra việc chuẩn bị hải đồ, các tài liệu hàng hải khác liên quan đến toàn bộ chuyến đi của tầu;
đ) Nắm vững tình hình diễn biến thời tiết trong khu vực tầu sẽ đi qua, lập kế hoạch chuyến đi và vạch hướng đi trên hải đồ có tính toán đầy đủ ảnh hưởng của các điều kiện địa lý, khí tượng - thủy văn hàng hải và các yếu tố khác;
e) Kiểm tra việc xếp hàng hóa theo sơ đồ hàng hóa đảm bảo số lượng và chất lượng của hàng hóa. Đặc biệt, chú ý bốc dỡ và vận chuyển hàng rời, hàng nguy hiểm trên tầu; tận dụng dung tích và trọng tải của tầu nhưng phải đảm bảo tính ổn định của tầu;
g) Ít nhất 02 giờ trước khi tầu rời cảng phải biết được toàn bộ tình hình công việc chuẩn bị của tầu, kiểm tra sự có mặt của thuyền viên và những người khác còn ở trên tầu;
h) Trường hợp có thuyền viên của tầu vắng mặt, để bảo đảm cho tầu xuất phát đúng giờ, thuyền trưởng phải kịp thời thông báo cho giám đốc cảng vụ, chủ tầu nếu tầu đậu ở các cảng trong nước hoặc thông báo cho đại lý, cơ quan đại diện ngoại giao có thẩm quyền của Việt Nam nếu tầu đậu ở cảng nước ngoài biết họ tên, chức danh và thời gian rời tầu của thuyền viên đó. Đồng thời, phải áp dụng mọi biện pháp để thuyền viên này kịp trở về tầu hoặc đón tầu ở cảng sắp đến, nếu sự vắng mặt của thuyền viên đó không ảnh hưởng đến an toàn của tầu.
3. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi tầu hành trình:
a) Tính toán một cách thận trọng hướng dẫn của tầu nhằm bảo đảm an toàn và kinh tế nhất; thường xuyên áp dụng mọi phương pháp, sử dụng mọi thiết bị hàng hải có sẵn trên tầu; kiểm tra, hướng dẫn và yêu cầu các sỹ quan trực ca phải thực hiện nghiêm chỉnh quy định hiện hành về chế độ trực ca khi tầu hành trình;
b) Chú ý kiểm tra hướng đi của tầu. Ngoài thuyền trưởng không ai có quyền thay đổi hướng đi đã định. Trường hợp có nguy cơ va chạm hoặc để tránh tình huống nguy hiểm bất ngờ hay có người rơi xuống biển thì thuyền trưởng cho phép sỹ quan trực ca boong có quyền thay đổi hướng đi của tầu nhưng sau đó phải báo ngay cho thuyền trưởng;
c) Khẩn trương có mặt ở buồng lái khi sỹ quan trực ca boong yêu cầu và có mặt thường xuyên ở buồng lái khi tầu hành trình trong luồng hẹp, eo biển, kênh đào, gần bờ, khi ra vào cảng, trong các khu vực nguy hiểm, khi thời tiết xấu, tầm nhìn xa bị hạn chế hoặc qua những khu vực có mật độ phương tiện thủy cao. Trong các trường hợp nói trên, thuyền trưởng phải áp dụng các biện pháp thích hợp, chuẩn bị neo ở vị trí sẵn sàng thả neo và phải thông báo cho buồng máy biết để sẵn sàng thực hiện điều động khi cần thiết;
d) Khi gặp các tảng băng trôi, các vật chướng ngại và các nguy hiểm trực tiếp khác đối với tầu hoặc khi gặp bão nhiệ đới, gặp nhiệt độ không khí xuống dưới 0oC cùng với gió mạnh gây ra đóng băng trên thượng tầng kiến trúc của tầu hay khi gặp gió cấp 10 hoặc trên cấp 10 mà chưa nhận được tin báo bão thì thuyền trưởng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để xử lý tình huống một cách thích hợp nhằm bảo đảm an toàn cho người, tầu và hàng hóa trên tầu; đồng thời, thông báo ngay những diễn biến nói trên với các tầu thuyền xung quanh, chủ tầu và cơ quan có thẩm quyền đầu tiên ở đất liền mà tầu có thể liên lạc được;
đ) Trường hợp tầu đi vào vùng có băng do tầu phá băng dẫn đường, thuyền trưởng phải chấp hành sự hướng dẫn của thuyền trưởng tầu phá băng và kịp thời có các khuyến nghị với tầu phá băng để bảo đảm an toàn hành trình cho tầu của mình.
4. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi có hoa tiêu dẫn tầu:
a) Khi tầu hành trình ở vùng hoa tiêu bắt buộc thì phải sử dụng hoa tiêu dẫn tầu theo quy định. Tại những vùng hoa tiêu không bắt buộc, nếu thấy cần thiết thì thuyền trưởng vẫn có quyền sử dụng hoa tiêu để bảo đảm an toàn;
b) Bảo đảm an toàn trong việc đưa đón hoa tiêu lên tầu và rời tầu, bố trí chu đáo nơi nghỉ, ăn uống cho hoa tiêu và đào tạo điều kiện thuộc lợi hoa tiêu thực hiện nhiệm vụ;
c) Trước khi hoa tiêu thực hiện nhiệm vụ, thuyền trưởng thông báo cho hoa tiêu biết về tính năng điều động, tình trạng máy móc, thiết bị của tầu và những thông báo cần thiết khác nhằm tạo điều kiện cho hoa tiêu có thể chủ động xử lý khi dẫn tầu;
d) Phải có mặt ở buồng lái để kịp thời xử lý các tình huống, tăng cường cảnh giới và chuẩn bị neo ở vị trí sẵn sàng thả neo. Khi vắng mặt ở buồng lái, thuyền trưởng phải giới thiệu cho hoa tiêu biết sỹ quan được mình uỷ quyền thay thế;
đ) Việc sử dụng hoa tiêu dẫn tầu không miễn giảm nghĩa vụ điều khiển tầu của thuyền trưởng. Thuyền trưởng phải có biện pháp phòng ngừa và xử lý kịp thời, chính xác mọi tình huống có thể xảy ra nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho tầu;
e) Trường hợp hoa tiêu xử lý tình huống thiếu chính xác hoặc không hợp lý, thuyền trưởng phải kịp thời đình chỉ hành động xử lý đó của hoa tiêu và yêu cầu hoa tiêu phải có hành động đúng để bảo đảm an toàn hành trình của tầu. Trường hợp cần thiết, thuyền trưởng có quyền yêu cầu thay thế hoa tiêu.
5. Nhiệm vu của thuyền trưởng khi có người rơi xuống biển:
Trường hợp có người rơi xuống biển, thuyền trưởng phải kịp thời áp dụng các biện pháp có hiệu quả để tìm cứu người bị nạn, đồng thời thông báo cho chủ tầu hoặc người quản lý tầu, người khai thác tầu, thông báo cho tầu thuyền khác đang hành trình gần khu vực đó tìm kiếm và cứu giúp; chỉ được phép cho tầu rời khỏi khu vực có người rơi xuống biển khi đã cố gắng tìm kiếm nhưng xét thấy không còn hy vọng. Thời gian và các biện pháp đã tiến hành tìm cứu phải được ghi vào nhật ký hàng hải.
6. Nhiệm vụ của thuyền trưởng trong tìm kiếm cứu nạn và cứu hộ:
a) Khi nhận được tín hiệu cấp cứu hoặc khi phát hiện có tầu bị nạn, thuyền trưởng có nhiệm vụ nhanh chóng điều động tầu đến cứu trợ nếu việc cứu nạn không gây nguy hiểm nghiêm trọng cho tầu và thuyền viên của mình. Thời gian, vị trí tầu bị nạn và lý do đến hoặc không đến cứu trợ phải được ghi vào nhật ký hàng hải;
b) Khi cứu hộ tầu bị nạn, thuyền trưởng phải áp dụng mọi biện pháp có hiệu quả để cứu người. Việc cứu tầu, hàng hóa và tài sản khác chỉ được tiến hành khi có sự thỏa thuận của thuyền trưởng tầu bị nạn theo hợp đồng cứu hộ. Trường hợp vì lý do nào đó mà thuyền trưởng tầu bị nạn không thể ký hợp đồng cứu hộ thì ít nhất phải có sự thỏa thuận bằng lời hay bằng vô tuyến điện hoặc bằng tín hiệu trông thấy được của thuyền trưởng tầu bị nạn. Các hình thức thỏa thuận này phải được ghi vào nhật ký hàng hải;
c) Khi gặp tầu không có người, nếu điều kiện cho phép thì thuyền trưởng phải tổ chức kéo tầu đó vào cảng gần nhất và thông báo chính quyền cảng, chủ tầu hoặc người quản lý tầu, người khai thác tầu và cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam ở nước đó biết. Trường hợp không thể lai dắt được thì ghi vào nhật ký hàng hải vị trí của tầu đó, nguyên nhân không thực hiện được việc lai dắt và phải thông báo cho chính quyền cảng gần nhất.
7. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi xảy ra đâm va:
a) Trường hợp xảy ra đâm va với tầu khác, thuyền trưởng phải yêu cầu thuyền trưởng tầu đó thông báo cho mình biết tên, hô hiệu, số IMO, cảng đăng ký, cảng xuất phát, cảng ghé, cảng đến của tầu và tên chủ tầu. Đồng thời, thông báo cho tầu kia biết những thông tin nói trên của tầu mình. Nếu xét thấy tầu mình có khả năng và điều kiện cho phép thì phải có trách nhiệm cứu tầu bị nạn, trước hết là cứu người;
b) Sau khi xảy ra đâm va, thuyền trưởng phải kịp thời lập biên bản về diễn biến xảy ra sự cố, nêu rõ sự thiệt hại của mỗi bên có xác nhận của thuyền trưởng tầu kia và các bên hữu quan. Đồng thời, tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ tai nạn theo quy định của pháp luật;
c) Trường hợp tầu mình gặp nạn mà không còn khả năng cứu được và bắt buộc phải bỏ tầu, thuyền trưởng phải áp dụng mọi biện pháp để cứu người và tổ chức mang theo nhật ký hàng hải, nhật ký máy, nhật ký vô tuyến điện, hải đồ khu vực bị nạn, tiền và các hồ sơ, tài liệu cần thiết khác của tầu;
d) Nếu tầu mình bị tai nạn cần thiết có sự cứu trợ thì truyền trưởng phải dùng mọi biện pháp yêu cầu khác cứu giúp, nhưng trước hết phải yêu cầu sự cứu trợ của các tầu mang cờ quốc tịch Việt Nam;
đ) Nếu được tầu khác cứu giúp, thuyền trưởng có nhiệm vụ chỉ huy thuyền viên, hành khách của tầu mình thực hiện nghiêm chỉnh quy định của tầu đó.
8. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi bỏ tầu:
a) Khi bỏ tầu, thuyền trưởng phải tổ chức đưa người xuống xuồng cứu sinh theo thứ tự ưu tiên: trẻ em, người ốm, người già và phụ nữ;
b) Khi bỏ tầu, thuyền trưởng vẫn phải chịu trách nhiệm trong việc tổ chức tìm kiếm và cứu số hành khách (nếu có), thuyền viên, đang bị mất tích và áp dụng các biện pháp cần thiết để đưa những người còn lại đến nơi an toàn và về nước, nếu tầu bị tai nạn ở nước ngoài;
c) Thuyền trưởng phải là người rời tầu cuối cùng.
9. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi có bệnh nhân trên tầu:
a) Trường hợp trên tầu có bệnh nhân nhưng không có đủ khả năng cứu chữa người lâm bệnh, thuyền trưởng có trách nhiệm tìm mọi biện pháp để nhận được sự giúp đỡ về y tế, kể cả phải đưa tầu vào cảng gần nhất và phải báo ngay cho chính quyền cảng và chủ tầu hoặc người quản lý, người khai thác tầu;
b) Trường hợp thuyền trưởng lâm bệnh nặng hoặc bị tai nạn bất ngờ thì tạm thời trao lại quyền chỉ huy tầu cho đại phó và báo cáo chủ tầu biết để có biện pháp giải quyết kịp thời, đồng thời, báo cáo cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam tại nước đó biết nếu tầu ở nước ngoài và phải ghi vào nhật ký hàng hải.
10. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi tầu vào, rời cảng, neo đậu:
a) Khi tầu hoạt động trên lãnh hải hoặc neo đậu ở cảng và các khu vực nêo đậu tại Việt Nam hoặc nước ngoài, thuyền trưởng phải tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và pháp luật của nước đó;
b) Trước và trong khi làm thủ tục tầu đến, trong và sau khi làm thủ tục tầu rời cảng, không được cho thuyền viên của tầu giao tiếp với người khác, trừ các trường hợp thật cần thiết;
c) Trường hợp xảy ra tranh chấp có liên quan đến tầu hoặc thuyền viên bị bắt giữ, thuyền trưởng phải kịp thời lập kháng nghị hàng hải và phải báo cáo ngay cho cơ quan đại diện ngoại giao có thẩm quyền của Việt Nam ở nước đó và chủ tầu hoặc người quản lý tầu, người khai thác biết để có biện pháp can thiệp;
d) Khi tầu đậu trong cảng, thuyền trưởng phải tổ chức áp dụng các biện pháp phòng cháy, chữa cháy nhằm đảm bảo an toàn cho người, tầu và hàng hóa;
đ) Khi tầu hành trình ở những khu vực chưa quen biết hoặc tầm nhìn xa bị hạn chế hay gần khu vực có nhiều vật chướng ngại nguy hiểm, thuyền trưởng có quyền yêu cầu các sỹ quan khác phải có mặt ở vị trí để thực hiện nhiệm vụ;
e) Khi tầu neo đậu ở các khu vực mà các điều kiện an toàn hàng hải không đảm bảo, thuyền trưởng phải thường xuyên có mặt ở tầu. Nếu phải rời tầu thì yêu cầu đại phó ở lại tầu để thay mặt mình xử lý kịp thời những tình huống có thể xảy ra;
g) Khi thuyền trưởng rời khỏi tầu, nhất thiết phải có chỉ thị cụ thể công việc cho đại phó hay sỹ quan trực ca boong ở lại tầu; Đối với những việc quan trọng phải được ghi rõ trong nhật ký hàng hải và thông báo cho sỹ quan trực ca boong biết địa chỉ của mình trong thời gian ở trên bờ;
h) Kết thúc mỗi chuyến đi, thuyền trưởng phải lập báo cáo gửi chủ tầu, hoặc người quản lý tầu, người khai thác tầu về tình hình chuyến đi và kết quả việc thực hiện kế hoạch khai thác tầu.
11. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi tầu chở khách:
Áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn tuyệt đối sinh mạng hành khách, thuyền viên, hàng hóa, hành lý và tài sản trên tầu; tổ chức huấn luyện cứu sinh, cứu hỏa, cứu thủng tầu và hướng dẫn cho hành khách cách sử dụng phương tiện cứu sinh, cứu hỏa và các thiết bị an toàn khác.
12. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi nhận tầu đóng mới:
Khi nhận tầu đóng mới, thuyền trưởng có nhiệm vụ tổ chức nhận bàn giao cụ thể về vỏ tầu, máy móc, toàn bộ trang thiết bị kỹ thuật, các hồ sơ kỹ thuật, tài sản, dụng cụ sinh hoạt. Việc nhận và bàn giao tầu phải được lập biên bản có ký xác nhận của thuyền trưởng bên nhận và bên giao.
13. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi sửa chữa tầu:
a) Duyệt các hạng mục sửa chữa do đại phó, máy trưởng lập;
b) Không được tự ý điều chỉnh các hạng mục sửa chữa đã được duyệt và thanh toán kinh phí khi chưa có sự đồng ý của chủ tầu;
c) Trong thời gian tầu trên đà, thuyền trưởng phải áp dụng các biện pháp nhằm bảo đảm an toàn cho tầu và thực hiện đúng nội quy của đà; cùng với đại phó và máy trưởng tiến hành kiểm tra vỏ tầu, hệ thống van thông biển, chân vịt, bánh lái và lập biên bản xác nhận hiện trạng của chúng. Công việc này cũng phải được thực hiện lại trước khi tầu xuống đà và có xác nhận của cơ quan đăng kiểm;
d) Tổ chức kiểm tra, giám sát về tiến độ, chất lượng sửa chữa, đảm bảo an toàn lao động và tổ chức cho thuyền viên thực hiện tốt các công việc tự sửa chữa, tự bảo quan trong thời gian tầu trên đà;
đ) Khi hoàn thành việc sửa chữa tầu, tổ chức nghiệm thu từng phần về các hạng mục sửa chữa bảo đảm chất lượng, tránh gây thiệt hại cho chủ tầu.
14. Nhiệm vụ trực ca của thuyền trưởng:
a) Nếu trên tầu không bố trí chức danh phó ba thì thuyền trưởng phải đảm nhiệm ca trực của phó ba;
b) Nếu trên tầu không bố trí chức danh phó hai và phó ba thì nhiệm vụ của chức danh đó do thuyền trưởng và đại phó đảm nhiệm theo sự phân công của thuyền trưởng.