Document: Khoản 1 Điều 1 Quyết định 1231/QĐ-UBND 2011 quy hoạch cấp nước sạch môi trường tỉnh Bình Phước

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Phước", "promulgation_date": "23/05/2011", "sign_number": "1231/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Văn Tòng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Phước", "promulgation_date": "23/05/2011", "sign_number": "1231/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Văn Tòng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Phước", "promulgation_date": "23/05/2011", "sign_number": "1231/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Văn Tòng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Phước", "promulgation_date": "23/05/2011", "sign_number": "1231/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Văn Tòng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Phước", "promulgation_date": "23/05/2011", "sign_number": "1231/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Văn Tòng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 1 Quyết định 1231/QĐ-UBND 2011 quy hoạch cấp nước sạch môi trường tỉnh Bình Phước

Điều 1. Phê duyệt đề cương và dự toán lập Quy hoạch tổng thể cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Bình Phước giai đoạn 2011 - 2020, với nội dung như sau:
1. Sự cần thiết phải xây dựng quy hoạch:
Tính đến cuối năm 2010, trên địa bàn tỉnh có khoảng 73,29% số dân nông thôn được cấp nước sinh hoạt; khoảng 53,03% số hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh; 43,3% chuồng trại chăn nuôi được cải tạo và xây mới đảm bảo quản lý chất thải; khoảng 93,22% tổng số trường học, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, 93,81% tổng số trạm xá xã, 20,83% tổng số chợ ở khu vực nông thôn được cung cấp nước sinh hoạt và có công trình vệ sinh đủ tiêu chuẩn. Kết quả này đã góp phần quan trọng vào việc phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, cải thiện cảnh quan môi trường, điều kiện sống và nâng cao sức khoẻ cho nhân dân. Trong giai đoạn 2001 - 2010, Chương trình đã xây dựng mới đưa vào sử dụng 46 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung; hỗ trợ kinh phí cho các hộ dân thực hiện xây dựng hơn 6.400 giếng đào mới, cải tạo, nâng cấp 18.926 giếng đào tại các xã, thuộc các huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, từ vốn tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội đã cho 14.562 hộ dân nông thôn vay vốn tín dụng để xây dựng 14.562 công trình cấp nước (chủ yếu là giếng đào, giếng khoan nhỏ lẽ và lu, bể chứa nước mưa). Song song với thực hiện nhiệm vụ cấp nước, nhiệm vụ vệ sinh môi trường đã được Chương trình chú trọng thực hiện, trong 10 năm thực hiện Chương trình đã xây dựng hoàn thành đưa vào sử dụng 71 nhà tiêu hợp vệ sinh tại các trường học; 27 nhà tiêu hợp vệ sinh tại các trạm y tế. Ngoài ra, vận động người dân nông thôn trong tỉnh tự đầu tư xây dựng đưa vào sử dụng khoảng 7.802 hố xí hợp vệ sinh, 10.366 chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh kết hợp với Biogas. Trong đó có 14.561 hộ dân được vay vốn tín dụng từ Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh để xây dựng 14.561 công trình nhà tiêu hợp vệ sinh tại các hộ gia đình nông thôn trong tỉnh.
Tuy nhiên, trong giai đoạn 2001 - 2010, quy hoạch cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh chỉ mới tập trung xác lập việc xây dựng các công trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và vệ sinh của người dân nông thôn trong tỉnh. Các nghiên cứu trong quy hoạch tổng thể cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn được áp dụng vào thực tiển và đã xây dựng được hàng loạt công trình góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân nông thôn, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Nhưng các nghiên cứu này được thực hiện mới chỉ để giải quyết việc đưa tỷ lệ người dân có nguồn nước hợp vệ sinh và nhà tiêu hợp vệ sinh để sử dụng, còn vấn đề chất lượng nguồn nước cũng như công tác xử lý nước sinh hoạt chỉ được ứng dụng vào các hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung, công tác xử lý nước hộ gia đình chưa được thực hiện. Quy hoạch của giai đoạn này chỉ mới tập trung đến việc khai thác sử dụng nước ngầm, mà trữ lượng nước ngầm chỉ có hạn. Trên thực tế, việc sử dụng nước ngầm cho phát triển kinh tế cũng như cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân sinh trên địa bàn tỉnh khá phổ biến, theo kết quả quan trắc chất lượng nước sinh hoạt hàng năm thì chất lượng nguồn nước ngầm tầng nông đang có dấu hiệu ô nhiễm, hàm lượng vi sinh trong nước rất cao. Vì vậy, nếu sử dụng lâu dài không có quy hoạch thì nguồn nước ngầm sẽ bị cạn kiệt và chất lượng nước sẽ bị ô nhiểm nghiêm trọng. Để giải quyết vấn đề này, trong giai đoạn tiếp theo cần được điều tra để tìm ra các biện pháp cải thiện chất lượng nguồn nước để sử dụng và bảo vệ hợp lý nguồn nước này; đồng thời, xây dựng các giải pháp bảo vệ, khai thác và xử lý nguồn nước mặt để cung cấp nước sinh hoạt cho người dân nông thôn mà trong quy hoạch cấp nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2001 - 2010 chưa đề cập.
Tại Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 với mục đích đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã. Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn. Để thực hiện hoàn thành mục tiêu trên, việc xem xét đầu tư xây dựng các công trình cấp nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn cần thiết được thực hiện theo quy hoạch giai đoạn 2010 - 2020 để đạt yêu cầu theo tiêu chí nông thôn mới.
Hơn nữa, trong những năm gần đây, do những tác động, ảnh hưởng bất lợi của biến đổi khí hậu, hiện tượng elnino kéo dài làm tăng nhiệt độ và giảm lượng mưa đã làm cho nguồn nước trên địa bàn tỉnh có dấu hiệu suy giảm, vì vậy để có những định hướng cơ bản, chiến lược ứng phó thích hợp, cần phải nghiên cứu xem xét một cách thích đáng những vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh trong quy hoạch cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2011 - 2020 để thực hiện.

Content:
Sự cần thiết phải xây dựng quy hoạch:
Tính đến cuối năm 2010, trên địa bàn tỉnh có khoảng 73,29% số dân nông thôn được cấp nước sinh hoạt; khoảng 53,03% số hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh; 43,3% chuồng trại chăn nuôi được cải tạo và xây mới đảm bảo quản lý chất thải; khoảng 93,22% tổng số trường học, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, 93,81% tổng số trạm xá xã, 20,83% tổng số chợ ở khu vực nông thôn được cung cấp nước sinh hoạt và có công trình vệ sinh đủ tiêu chuẩn. Kết quả này đã góp phần quan trọng vào việc phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, cải thiện cảnh quan môi trường, điều kiện sống và nâng cao sức khoẻ cho nhân dân. Trong giai đoạn 2001 - 2010, Chương trình đã xây dựng mới đưa vào sử dụng 46 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung; hỗ trợ kinh phí cho các hộ dân thực hiện xây dựng hơn 6.400 giếng đào mới, cải tạo, nâng cấp 18.926 giếng đào tại các xã, thuộc các huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, từ vốn tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội đã cho 14.562 hộ dân nông thôn vay vốn tín dụng để xây dựng 14.562 công trình cấp nước (chủ yếu là giếng đào, giếng khoan nhỏ lẽ và lu, bể chứa nước mưa). Song song với thực hiện nhiệm vụ cấp nước, nhiệm vụ vệ sinh môi trường đã được Chương trình chú trọng thực hiện, trong 10 năm thực hiện Chương trình đã xây dựng hoàn thành đưa vào sử dụng 71 nhà tiêu hợp vệ sinh tại các trường học; 27 nhà tiêu hợp vệ sinh tại các trạm y tế. Ngoài ra, vận động người dân nông thôn trong tỉnh tự đầu tư xây dựng đưa vào sử dụng khoảng 7.802 hố xí hợp vệ sinh, 10.366 chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh kết hợp với Biogas. Trong đó có 14.561 hộ dân được vay vốn tín dụng từ Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh để xây dựng 14.561 công trình nhà tiêu hợp vệ sinh tại các hộ gia đình nông thôn trong tỉnh.
Tuy nhiên, trong giai đoạn 2001 - 2010, quy hoạch cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh chỉ mới tập trung xác lập việc xây dựng các công trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và vệ sinh của người dân nông thôn trong tỉnh. Các nghiên cứu trong quy hoạch tổng thể cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn được áp dụng vào thực tiển và đã xây dựng được hàng loạt công trình góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân nông thôn, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Nhưng các nghiên cứu này được thực hiện mới chỉ để giải quyết việc đưa tỷ lệ người dân có nguồn nước hợp vệ sinh và nhà tiêu hợp vệ sinh để sử dụng, còn vấn đề chất lượng nguồn nước cũng như công tác xử lý nước sinh hoạt chỉ được ứng dụng vào các hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung, công tác xử lý nước hộ gia đình chưa được thực hiện. Quy hoạch của giai đoạn này chỉ mới tập trung đến việc khai thác sử dụng nước ngầm, mà trữ lượng nước ngầm chỉ có hạn. Trên thực tế, việc sử dụng nước ngầm cho phát triển kinh tế cũng như cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân sinh trên địa bàn tỉnh khá phổ biến, theo kết quả quan trắc chất lượng nước sinh hoạt hàng năm thì chất lượng nguồn nước ngầm tầng nông đang có dấu hiệu ô nhiễm, hàm lượng vi sinh trong nước rất cao. Vì vậy, nếu sử dụng lâu dài không có quy hoạch thì nguồn nước ngầm sẽ bị cạn kiệt và chất lượng nước sẽ bị ô nhiểm nghiêm trọng. Để giải quyết vấn đề này, trong giai đoạn tiếp theo cần được điều tra để tìm ra các biện pháp cải thiện chất lượng nguồn nước để sử dụng và bảo vệ hợp lý nguồn nước này; đồng thời, xây dựng các giải pháp bảo vệ, khai thác và xử lý nguồn nước mặt để cung cấp nước sinh hoạt cho người dân nông thôn mà trong quy hoạch cấp nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2001 - 2010 chưa đề cập.
Tại Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 với mục đích đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã. Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn. Để thực hiện hoàn thành mục tiêu trên, việc xem xét đầu tư xây dựng các công trình cấp nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn cần thiết được thực hiện theo quy hoạch giai đoạn 2010 - 2020 để đạt yêu cầu theo tiêu chí nông thôn mới.
Hơn nữa, trong những năm gần đây, do những tác động, ảnh hưởng bất lợi của biến đổi khí hậu, hiện tượng elnino kéo dài làm tăng nhiệt độ và giảm lượng mưa đã làm cho nguồn nước trên địa bàn tỉnh có dấu hiệu suy giảm, vì vậy để có những định hướng cơ bản, chiến lược ứng phó thích hợp, cần phải nghiên cứu xem xét một cách thích đáng những vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh trong quy hoạch cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2011 - 2020 để thực hiện.