Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 885/QĐ-UBND năm 2013 tăng cường quản lý chất lượng nông lâm thủy sản Lâm Đồng

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "10/05/2013", "sign_number": "885/QĐ-UBND", "signer": "Phạm S", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "10/05/2013", "sign_number": "885/QĐ-UBND", "signer": "Phạm S", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "10/05/2013", "sign_number": "885/QĐ-UBND", "signer": "Phạm S", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "10/05/2013", "sign_number": "885/QĐ-UBND", "signer": "Phạm S", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "10/05/2013", "sign_number": "885/QĐ-UBND", "signer": "Phạm S", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 885/QĐ-UBND năm 2013 tăng cường quản lý chất lượng nông lâm thủy sản Lâm Đồng

Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch thực hiện Đề án tăng cường năng lực quản lý chất lượng nông, lâm, thủy sản tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2013-2015 với những nội dung chủ yếu sau:
...
5. Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ quản lý, giám sát về an toàn thực phẩm:
- Đầu tư, xây dựng mới phòng kiểm nghiệm chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm sản và thủy sản thuộc Chi cục Quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản;
- Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật khác phục vụ cho công tác quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản, nâng cao khả năng cảnh báo nguy cơ về chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản trên phạm vi toàn tỉnh.
IV. Các giải pháp chủ yếu:
1. Về cơ chế chính sách:
- Đề xuất cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù của hệ thống quản lý, kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản theo hướng kết hợp hài hòa các nguồn lực, kết hợp việc thu phí và lệ phí với nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước;
- Xây dựng và ban hành chính sách khuyến khích việc xã hội hóa công tác đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm theo hướng mở rộng mô hình hợp tác công tư, khuyến khích đầu tư của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, tư nhân, cổ phần cho các dịch vụ tư vấn, đào tạo, chứng nhận, kiểm nghiệm;
- Hoàn chỉnh biên chế nhân lực theo vị trí việc làm cho hệ thống quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản ở tỉnh và các địa phương trong tỉnh.
2. Phân cấp công tác kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản:
- Xây dựng lực lượng kiểm soát an toàn thực phẩm của các địa phương, đồng thời có chế tài để các cơ sở sản xuất tăng cường công tác tự kiểm soát, giám sát các khâu trong quá trình sản xuất;
- Thực hiện việc phân cấp quản lý, kiểm soát cho địa phương theo hướng cấp tỉnh quản lý các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh lớn, do cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cấp huyện quản lý các cơ sở do cấp huyện cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cấp xã quản lý các cơ sở sản xuất, hộ nông dân, hộ tiểu thương kinh doanh nhỏ lẻ và tăng cường sự tham gia của các lực lượng xã hội;
- Bố trí cán bộ chuyên trách công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản ở Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện, Phòng Kinh tế thành phố. Đào tạo và giao nhiệm vụ quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản cho Ban Nông nghiệp, cán bộ thú y, bảo vệ thực vật, khuyến nông cấp xã. Nghiên cứu mô hình cộng tác viên giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản ở cấp huyện/xã;
- Xây dựng mô hình quản lý và kiểm soát từ cơ sở sản xuất;
- Khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng các phòng kiểm nghiệm, cung ứng dịch vụ tư vấn, đào tạo, chứng nhận;
- Tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm sản và thủy sản.
3. Đào tạo nguồn nhân lực:
- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài đối với công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm;
- Thường xuyên tổ chức tập huấn, bổ túc, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho công chức quản lý, cán bộ chuyên môn nghiệp vụ về các chính sách, quy định mới có liên quan;
- Tăng cường tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ ngắn ngày cho cán bộ chuyên trách ở cấp huyện, xã và các đối tượng là lực lượng kiểm soát, nhân viên, cán bộ làm việc tại các cơ sở sản xuất.
4. Cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin:
- Xây dựng và đưa vào hoạt động cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin về chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản đảm bảo thông tin để chỉ đạo, điều hành và phục vụ công tác quản lý nhanh, chính xác;
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong triển khai dịch vụ công phục vụ người dân và doanh nghiệp;
- Xây dựng hệ thống ISO về thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản, nhất là các lĩnh vực: Truy xuất nguồn gốc; cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về ATTP; cấp giấy chứng nhận về quảng cáo thực phẩm.
V. Kinh phí thực hiện:
Tổng nhu cầu vốn: 15.660 triệu đồng, trong đó:
- Ngân sách trung ương: 6.264 triệu đồng;
- Ngân sách địa phương: 5.794 triệu đồng;
- Vốn khác: 3.602 triệu đồng.
(Chi tiết tại Phụ lục I đính kèm)

Content:
Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ quản lý, giám sát về an toàn thực phẩm:
- Đầu tư, xây dựng mới phòng kiểm nghiệm chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm sản và thủy sản thuộc Chi cục Quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản;
- Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật khác phục vụ cho công tác quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản, nâng cao khả năng cảnh báo nguy cơ về chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản trên phạm vi toàn tỉnh.
IV. Các giải pháp chủ yếu:
1. Về cơ chế chính sách:
- Đề xuất cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù của hệ thống quản lý, kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản theo hướng kết hợp hài hòa các nguồn lực, kết hợp việc thu phí và lệ phí với nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước;
- Xây dựng và ban hành chính sách khuyến khích việc xã hội hóa công tác đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm theo hướng mở rộng mô hình hợp tác công tư, khuyến khích đầu tư của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, tư nhân, cổ phần cho các dịch vụ tư vấn, đào tạo, chứng nhận, kiểm nghiệm;
- Hoàn chỉnh biên chế nhân lực theo vị trí việc làm cho hệ thống quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản ở tỉnh và các địa phương trong tỉnh.
2. Phân cấp công tác kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản:
- Xây dựng lực lượng kiểm soát an toàn thực phẩm của các địa phương, đồng thời có chế tài để các cơ sở sản xuất tăng cường công tác tự kiểm soát, giám sát các khâu trong quá trình sản xuất;
- Thực hiện việc phân cấp quản lý, kiểm soát cho địa phương theo hướng cấp tỉnh quản lý các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh lớn, do cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cấp huyện quản lý các cơ sở do cấp huyện cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cấp xã quản lý các cơ sở sản xuất, hộ nông dân, hộ tiểu thương kinh doanh nhỏ lẻ và tăng cường sự tham gia của các lực lượng xã hội;
- Bố trí cán bộ chuyên trách công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản ở Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện, Phòng Kinh tế thành phố. Đào tạo và giao nhiệm vụ quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản cho Ban Nông nghiệp, cán bộ thú y, bảo vệ thực vật, khuyến nông cấp xã. Nghiên cứu mô hình cộng tác viên giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản ở cấp huyện/xã;
- Xây dựng mô hình quản lý và kiểm soát từ cơ sở sản xuất;
- Khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng các phòng kiểm nghiệm, cung ứng dịch vụ tư vấn, đào tạo, chứng nhận;
- Tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm sản và thủy sản.
3. Đào tạo nguồn nhân lực:
- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài đối với công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm;
- Thường xuyên tổ chức tập huấn, bổ túc, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho công chức quản lý, cán bộ chuyên môn nghiệp vụ về các chính sách, quy định mới có liên quan;
- Tăng cường tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ ngắn ngày cho cán bộ chuyên trách ở cấp huyện, xã và các đối tượng là lực lượng kiểm soát, nhân viên, cán bộ làm việc tại các cơ sở sản xuất.
4. Cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin:
- Xây dựng và đưa vào hoạt động cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin về chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản đảm bảo thông tin để chỉ đạo, điều hành và phục vụ công tác quản lý nhanh, chính xác;
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong triển khai dịch vụ công phục vụ người dân và doanh nghiệp;
- Xây dựng hệ thống ISO về thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản, nhất là các lĩnh vực: Truy xuất nguồn gốc; cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về ATTP; cấp giấy chứng nhận về quảng cáo thực phẩm.
V. Kinh phí thực hiện:
Tổng nhu cầu vốn: 15.660 triệu đồng, trong đó:
- Ngân sách trung ương: 6.264 triệu đồng;
- Ngân sách địa phương: 5.794 triệu đồng;
- Vốn khác: 3.602 triệu đồng.
(Chi tiết tại Phụ lục I đính kèm)