Document: Điều 2 Quyết định 311-CP chính sách ổn định nghĩa vụ bán lợn thịt hoặc trâu bò thịt cho Nhà nước

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "01/10/1980", "sign_number": "311-CP", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "01/10/1980", "sign_number": "311-CP", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "01/10/1980", "sign_number": "311-CP", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "01/10/1980", "sign_number": "311-CP", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "01/10/1980", "sign_number": "311-CP", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định 311-CP chính sách ổn định nghĩa vụ bán lợn thịt hoặc trâu bò thịt cho Nhà nước có nội dung như sau:

Điều 2. : Hộ nông dân xã viên, tập đoàn viên có nghĩa vụ bán lợn thịt cho Nhà nước theo giá chỉ đạo và được Nhà nước bán lại một số hàng tiêu dùng thiết yếu (vải mặc, dầu hoả thắp sáng...) cũng theo giá chỉ đạo.
Nghĩa vụ bán lợn thịt của hộ xã viên được ổn định trong thời gian 5 năm, bắt đầu từ năm 1981, theo mức bình quân mỗi hộ ở các vùng như sau (tính theo thịt lợn hơi):
- Vùng đồng bằng (gồm các tỉnh Thái Bình, Hà Nam Ninh, Hải Hưng và các huyện ngoại thành Hà Nội, Hải Phòng): 20 kilôgam/năm;
- Vùng trung du và ven biển (gồm các tỉnh Vĩnh Phú, Hà Bắc, Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, Hà Sơn Bình, Quảng Ninh): 15 kilôgam/năm;
- Vùng miền núi (gồm các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Hoàng Liên Sơn, Sơn La, Lai Châu, Hà Tuyên): 10 kilôgam/năm.
Nếu dùng trâu bò thịt để làm nghĩa vụ thì tính quy đổi ra lợn thịt theo quy định của Bộ Nội thương.
Những hộ xã viên không có sức lao động và nguồn thức ăn chăn nuôi thì không phải làm nghĩa vụ bán lợn thịt và do Uỷ ban Nhân dân xã xét, quyết định.
Ở miền Nam, mức nghĩa vụ của hộ xã viên, tập đoàn viên do Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố quy định theo hướng dẫn của Bộ Nội thương.

Content:
Điều 2. : Hộ nông dân xã viên, tập đoàn viên có nghĩa vụ bán lợn thịt cho Nhà nước theo giá chỉ đạo và được Nhà nước bán lại một số hàng tiêu dùng thiết yếu (vải mặc, dầu hoả thắp sáng...) cũng theo giá chỉ đạo.
Nghĩa vụ bán lợn thịt của hộ xã viên được ổn định trong thời gian 5 năm, bắt đầu từ năm 1981, theo mức bình quân mỗi hộ ở các vùng như sau (tính theo thịt lợn hơi):
- Vùng đồng bằng (gồm các tỉnh Thái Bình, Hà Nam Ninh, Hải Hưng và các huyện ngoại thành Hà Nội, Hải Phòng): 20 kilôgam/năm;
- Vùng trung du và ven biển (gồm các tỉnh Vĩnh Phú, Hà Bắc, Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, Hà Sơn Bình, Quảng Ninh): 15 kilôgam/năm;
- Vùng miền núi (gồm các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Hoàng Liên Sơn, Sơn La, Lai Châu, Hà Tuyên): 10 kilôgam/năm.
Nếu dùng trâu bò thịt để làm nghĩa vụ thì tính quy đổi ra lợn thịt theo quy định của Bộ Nội thương.
Những hộ xã viên không có sức lao động và nguồn thức ăn chăn nuôi thì không phải làm nghĩa vụ bán lợn thịt và do Uỷ ban Nhân dân xã xét, quyết định.
Ở miền Nam, mức nghĩa vụ của hộ xã viên, tập đoàn viên do Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố quy định theo hướng dẫn của Bộ Nội thương.