Document: Khoản 7 Điều 1 Quyết định 1392/QĐ-UBND 2017 liên kết sản xuất ứng dụng công nghệ cao Vĩnh Phúc 2017 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Phúc", "promulgation_date": "09/05/2017", "sign_number": "1392/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Việt Văn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Phúc", "promulgation_date": "09/05/2017", "sign_number": "1392/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Việt Văn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Phúc", "promulgation_date": "09/05/2017", "sign_number": "1392/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Việt Văn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Phúc", "promulgation_date": "09/05/2017", "sign_number": "1392/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Việt Văn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Phúc", "promulgation_date": "09/05/2017", "sign_number": "1392/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Việt Văn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 7 Điều 1 Quyết định 1392/QĐ-UBND 2017 liên kết sản xuất ứng dụng công nghệ cao Vĩnh Phúc 2017 2020

Điều 1. Phê duyệt Chương trình nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ “Xây dựng mô hình thí điểm liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao đối với sản phẩm rau quả trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”, giai đoạn 2017-2020, với các nội dung chủ yếu sau đây:
...
7. Mục tiêu, quy mô của Chương trình:
- Xây dựng được 01 mô hình (20 ha trong vùng quy hoạch) thí điểm liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị đối với sản phẩm rau quả; 80 ha mở rộng liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị theo mô hình thí điểm đối với mỗi loại rau quả (ớt - ngô ngọt - bí đỏ) trên địa bàn tỉnh, đảm bảo năng suất, chất lượng, hiệu quả, nâng cao giá trị gia tăng trong toàn chuỗi; sản phẩm từ các mô hình đảm bảo an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Các sản phẩm rau quả trong chuỗi là sản phẩm chủ lực theo Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh, ưu tiên các sản phẩm rau quả cao cấp, có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ liên tỉnh và xuất khẩu; sản phẩm đang có nguy cơ cao, nhiều bức xúc trong dư luận xã hội về an toàn thực phẩm (rau ăn lá, cà chua,...).
- Nghiên cứu, đề xuất việc cụ thể hóa các cơ chế, chính sách, quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật do Trung ương ban hành hoặc xây dựng, đề xuất trình các cơ quan có thẩm quyền của tỉnh ban hành theo thẩm quyền các cơ chế, chính sách (bao gồm cả các cơ chế, chính sách đặc thù của tỉnh), quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng, từng loại hình áp dụng trên địa bàn tỉnh,... nhằm thúc đẩy quá trình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị đối với sản phẩm rau quả trên địa bàn tỉnh.
- Theo dõi, nghiên cứu, đề xuất mô hình phù hợp với điều kiện thực tế: sơ đồ hóa (mang tính hệ thống) các tác nhân tham gia sản xuất, phân phối, tiếp thị, và bán sản phẩm; đặc điểm của các tác nhân tham gia, cơ cấu lợi nhuận và chi phí, dòng hàng hóa trong suốt chuỗi, các đặc điểm của việc làm, địa chỉ tiêu thụ và khối lượng bán hàng trong và ngoài nước (trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát); xác định sự phân phối lợi ích giữa những tác nhân tham gia trong chuỗi (phân tích chênh lệch giá, lợi nhuận,...); xác định hạt nhân trong các tác nhân tham gia liên kết trong chuỗi (doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác, người lao động,...); giải pháp cải tiến, nâng cấp chuỗi giá trị đảm bảo tăng giá trị gia tăng và phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh,...
- Theo dõi, phân tích, đánh giá, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách (cơ chế, chính sách đặc thù) hỗ trợ, khuyến khích của tỉnh đối với doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác, người lao động,... trong việc triển khai ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, CNTT, cơ giới hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (hỗ trợ xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị,...) phục vụ tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu ngành nông nghiệp, xây dựng NTM; đổi mới hình thức sản xuất, từng bước xây dựng mô hình nông nghiệp thông minh,... hướng tới thành phố thông minh; Đẩy mạnh hợp tác giữa KH&CN với sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là ươm tạo các doanh nghiệp ứng dụng các giải pháp KH&CN mới. Ươm tạo, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp về quy trình công nghệ sản xuất; vốn, máy móc thiết bị, đào tạo cho cán bộ, nông dân (công nhân nông nghiệp) kiến thức quản lý và kỹ năng, sản xuất. Nhằm phát triển và hoàn thiện các ý tưởng KH&CN vào thực tiễn sản xuất. Thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, khuyến khích đổi mới công nghệ để doanh nghiệp sản xuất tăng năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập quốc tế.
- Theo dõi, nghiên cứu, tổng kết đánh giá, hoàn thiện mô hình, làm hình mẫu để tổ chức tham quan học tập, các lớp tập huấn, hội nghị đầu bờ,... phổ biến các hình thức tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, chuyển giao kết quả nghiên cứu KH&CN, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm; giúp các chủ trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ về lập dự án đầu tư, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, huy động vốn, tuyển dụng và đào tạo lao động, lựa chọn công nghệ, tìm kiếm thị trường, hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, hợp đồng bảo hiểm sản xuất, kinh doanh,...
Từ đó, nhân ra diện rộng, phấn đấu đến năm 2020 đạt 300-400 ha, năm 2025 mở rộng từ 1.000-1.500 ha gieo trồng tại các vùng trồng trọt hàng hóa tập trung có liên kết theo chuỗi giá trị đối với các loại rau quả chủ lực theo Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh, hiện thực hóa các quy hoạch chung, quy hoạch ngành và quy hoạch xây dựng NTM, tạo ra các sản phẩm rau quả cao cấp, có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ liên tỉnh và xuất khẩu.

Content:
Mục tiêu, quy mô của Chương trình:
- Xây dựng được 01 mô hình (20 ha trong vùng quy hoạch) thí điểm liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị đối với sản phẩm rau quả; 80 ha mở rộng liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị theo mô hình thí điểm đối với mỗi loại rau quả (ớt - ngô ngọt - bí đỏ) trên địa bàn tỉnh, đảm bảo năng suất, chất lượng, hiệu quả, nâng cao giá trị gia tăng trong toàn chuỗi; sản phẩm từ các mô hình đảm bảo an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Các sản phẩm rau quả trong chuỗi là sản phẩm chủ lực theo Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh, ưu tiên các sản phẩm rau quả cao cấp, có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ liên tỉnh và xuất khẩu; sản phẩm đang có nguy cơ cao, nhiều bức xúc trong dư luận xã hội về an toàn thực phẩm (rau ăn lá, cà chua,...).
- Nghiên cứu, đề xuất việc cụ thể hóa các cơ chế, chính sách, quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật do Trung ương ban hành hoặc xây dựng, đề xuất trình các cơ quan có thẩm quyền của tỉnh ban hành theo thẩm quyền các cơ chế, chính sách (bao gồm cả các cơ chế, chính sách đặc thù của tỉnh), quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng, từng loại hình áp dụng trên địa bàn tỉnh,... nhằm thúc đẩy quá trình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị đối với sản phẩm rau quả trên địa bàn tỉnh.
- Theo dõi, nghiên cứu, đề xuất mô hình phù hợp với điều kiện thực tế: sơ đồ hóa (mang tính hệ thống) các tác nhân tham gia sản xuất, phân phối, tiếp thị, và bán sản phẩm; đặc điểm của các tác nhân tham gia, cơ cấu lợi nhuận và chi phí, dòng hàng hóa trong suốt chuỗi, các đặc điểm của việc làm, địa chỉ tiêu thụ và khối lượng bán hàng trong và ngoài nước (trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát); xác định sự phân phối lợi ích giữa những tác nhân tham gia trong chuỗi (phân tích chênh lệch giá, lợi nhuận,...); xác định hạt nhân trong các tác nhân tham gia liên kết trong chuỗi (doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác, người lao động,...); giải pháp cải tiến, nâng cấp chuỗi giá trị đảm bảo tăng giá trị gia tăng và phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh,...
- Theo dõi, phân tích, đánh giá, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách (cơ chế, chính sách đặc thù) hỗ trợ, khuyến khích của tỉnh đối với doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác, người lao động,... trong việc triển khai ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, CNTT, cơ giới hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (hỗ trợ xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị,...) phục vụ tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu ngành nông nghiệp, xây dựng NTM; đổi mới hình thức sản xuất, từng bước xây dựng mô hình nông nghiệp thông minh,... hướng tới thành phố thông minh; Đẩy mạnh hợp tác giữa KH&CN với sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là ươm tạo các doanh nghiệp ứng dụng các giải pháp KH&CN mới. Ươm tạo, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp về quy trình công nghệ sản xuất; vốn, máy móc thiết bị, đào tạo cho cán bộ, nông dân (công nhân nông nghiệp) kiến thức quản lý và kỹ năng, sản xuất. Nhằm phát triển và hoàn thiện các ý tưởng KH&CN vào thực tiễn sản xuất. Thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, khuyến khích đổi mới công nghệ để doanh nghiệp sản xuất tăng năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập quốc tế.
- Theo dõi, nghiên cứu, tổng kết đánh giá, hoàn thiện mô hình, làm hình mẫu để tổ chức tham quan học tập, các lớp tập huấn, hội nghị đầu bờ,... phổ biến các hình thức tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, chuyển giao kết quả nghiên cứu KH&CN, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm; giúp các chủ trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ về lập dự án đầu tư, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, huy động vốn, tuyển dụng và đào tạo lao động, lựa chọn công nghệ, tìm kiếm thị trường, hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, hợp đồng bảo hiểm sản xuất, kinh doanh,...
Từ đó, nhân ra diện rộng, phấn đấu đến năm 2020 đạt 300-400 ha, năm 2025 mở rộng từ 1.000-1.500 ha gieo trồng tại các vùng trồng trọt hàng hóa tập trung có liên kết theo chuỗi giá trị đối với các loại rau quả chủ lực theo Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh, hiện thực hóa các quy hoạch chung, quy hoạch ngành và quy hoạch xây dựng NTM, tạo ra các sản phẩm rau quả cao cấp, có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ liên tỉnh và xuất khẩu.