Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 786/QĐ-UBND 2006 phát triển làng nghề Bình Định 2010 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "08/11/2006", "sign_number": "786/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Hoàng Hà", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "08/11/2006", "sign_number": "786/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Hoàng Hà", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "08/11/2006", "sign_number": "786/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Hoàng Hà", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "08/11/2006", "sign_number": "786/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Hoàng Hà", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "08/11/2006", "sign_number": "786/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Hoàng Hà", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 786/QĐ-UBND 2006 phát triển làng nghề Bình Định 2010 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Bình Định đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu như sau:
...
4. Những vấn đề có liên quan đến các cơ sở sản xuất, làng nghề hiện đang hoạt động kém hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường:
Các cơ sở sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ và gây ô nhiễm môi trường cấp độ nặng không thuộc diện quy hoạch thành làng nghề. Trong những năm đến, chính quyền địa phương (huyện, xã) và các cơ quan có liên quan cần tổ chức vận động, tuyên truyền hướng dẫn các cơ sở này chuyển đổi ngành nghề phù hợp hoặc muốn tiếp tục sản xuất thì di dời vào các cụm, điểm công nghiệp theo quy hoạch, cụ thể gồm có:
- Các cơ sở chế biến tinh bột mì tại các thôn Phụng Du 1, 2 và Tấn Thạnh 1, 2 (xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn);
- Các cơ sở chế biến tinh bột mì thôn Phú Hưng (xã Bình Tân), thôn Ngãi Hậu (xã Bình Thành), huyện Tây Sơn;
- Các cơ sở sản xuất gạch ngói tại các thôn Thượng Giang (xã Tây Giang), Trà Sơn (xã Tây An), Phú Hòa, Phú An (xã Tây Xuân), Hòa Lạc, Hòa Trung (xã Bình Tường), thôn 1, 2, thôn Lai Nghi, Thủ Thiện (xã Bình Nghi), huyện Tây Sơn.
V. Các giải pháp chủ yếu:
Để đảm bảo tính khả thi trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch phát triển các làng nghề trên địa bàn tỉnh, cần sử dụng các giải pháp chủ yếu sau đây:
1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và tăng cường quản lý nhà nước.
2. Giải pháp về kỹ thuật công nghệ và bảo vệ môi trường.
3. Giải pháp về phát triển hạ tầng.
4. Giải pháp về đào tạo lao động, đào tạo quản lý.

Content:
Những vấn đề có liên quan đến các cơ sở sản xuất, làng nghề hiện đang hoạt động kém hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường:
Các cơ sở sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ và gây ô nhiễm môi trường cấp độ nặng không thuộc diện quy hoạch thành làng nghề. Trong những năm đến, chính quyền địa phương (huyện, xã) và các cơ quan có liên quan cần tổ chức vận động, tuyên truyền hướng dẫn các cơ sở này chuyển đổi ngành nghề phù hợp hoặc muốn tiếp tục sản xuất thì di dời vào các cụm, điểm công nghiệp theo quy hoạch, cụ thể gồm có:
- Các cơ sở chế biến tinh bột mì tại các thôn Phụng Du 1, 2 và Tấn Thạnh 1, 2 (xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn);
- Các cơ sở chế biến tinh bột mì thôn Phú Hưng (xã Bình Tân), thôn Ngãi Hậu (xã Bình Thành), huyện Tây Sơn;
- Các cơ sở sản xuất gạch ngói tại các thôn Thượng Giang (xã Tây Giang), Trà Sơn (xã Tây An), Phú Hòa, Phú An (xã Tây Xuân), Hòa Lạc, Hòa Trung (xã Bình Tường), thôn 1, 2, thôn Lai Nghi, Thủ Thiện (xã Bình Nghi), huyện Tây Sơn.
V. Các giải pháp chủ yếu:
Để đảm bảo tính khả thi trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch phát triển các làng nghề trên địa bàn tỉnh, cần sử dụng các giải pháp chủ yếu sau đây:
1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và tăng cường quản lý nhà nước.
2. Giải pháp về kỹ thuật công nghệ và bảo vệ môi trường.
3. Giải pháp về phát triển hạ tầng.
Giải pháp về đào tạo lao động, đào tạo quản lý.