Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 11/QĐ-UBND 2018 phê duyệt Đề án phát triển làng nghề và làng có nghề Nghệ An

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "03/01/2018", "sign_number": "11/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Viết Hồng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "03/01/2018", "sign_number": "11/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Viết Hồng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "03/01/2018", "sign_number": "11/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Viết Hồng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "03/01/2018", "sign_number": "11/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Viết Hồng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "03/01/2018", "sign_number": "11/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Viết Hồng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 11/QĐ-UBND 2018 phê duyệt Đề án phát triển làng nghề và làng có nghề Nghệ An

Điều 1. Phê duyệt Đề án phát triển làng nghề và làng có nghề trên địa bàn miền Tây Nghệ An đến 2020 với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Định hướng phát triển
3.1. Bảo tồn, phát triển các làng nghề và làng có nghề có giá trị truyền thống
a) Nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa
Tiếp tục duy trì và phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm ươm tơ dệt lụa ở các làng có điều kiện trên địa bàn. Chú trọng phát triển mô hình sản xuất làng nghề dâu tằm tơ nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đất, lao động, tay nghề. Tập trung đầu tư giống mới với năng suất cao (cả giống tằm và giống dâu), kỹ thuật trồng dâu nuôi tằm ươm tơ, làm tơ xe và dệt lụa.
- Mục tiêu: Sản lượng lượng tơ sản xuất tại các làng nghề đạt 200-250 tấn, GTXS đạt 3-5 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 1.000 lao động.
- Kế hoạch phát triển: Khuyến khích phát triển nghề dâu tằm tơ ở huyện Tân Kỳ (xã Nghĩa Đồng); huyện Quỳ Hợp (xã Châu Cường).
- Phát triển làng nghề dâu tằm tơ:
Quy mô: làng nghề sử dụng từ 100-150 lao động; giá trị sản xuất bình quân 1 tỷ đồng.
Bố trí xây dựng làng nghề: Phấn đấu đến 2025 công nhận thêm 1 làng nghề dâu tằm tơ huyện Tân Kỳ (xã Nghĩa Đồng).
b) Nghề dệt thổ cẩm
Phấn đấu khôi phục và phát triển nghề dệt thổ cẩm ở các huyện Kỳ Sơn, Con Cuông, Tân Kỳ, Quế Phong. Đào tạo dạy nghề, cải tiến một số trang thiết bị khung dệt. Khuyến khích thành lập các cơ sở sản xuất kinh doanh làm đơn vị hạt nhân để phát triển nghề nhằm cải tiến mẫu mã mặt hàng, tìm kiếm thị trường sản phẩm cho người sản xuất
- Mục tiêu: Giải quyết việc làm cho 15.000 lao động, giá trị sản xuất đạt từ 50-100 tỷ đồng;
- Bố trí phát triển: Khuyến khích phát triển nghề dệt thổ cẩm ở tất cả các huyện miền Tây Nghệ An, trong đó chú trọng đầu tư ở một số vùng trọng điểm Huyện Tân Kỳ, Anh Sơn, Quỳ Châu, Kỳ Sơn, Quế Phong, Con Cuông; Tương Dương và Quỳ Hợp.
- Xây dựng làng nghề dệt thổ cẩm:
Quy mô: Bình quân mỗi làng nghề sử dụng từ 150-300 lao động, GTSX bình quân của mỗi làng đạt từ 1-2 tỷ đồng.
Kế hoạch xây dựng làng: Kế hoạch 2017-2020 xây dựng được 34 làng nghề dệt thổ cẩm, đến 2025 phát triển thêm 12 làng nghề. Cụ thể:
+ Huyện Tân Kỳ: Khôi phục các làng nghề từ lâu đơn có nguy cơ mai một ở các xã Phú Sơn; Đồng Văn; Nghĩa Thái; Tiền Kỳ.
+ Huyện Anh Sơn: Xã Thành Sơn; Hòa Sơn; Tam Sơn
+ Huyện Quỳ Châu: Xã Châu Phong; Châu Thuận; Châu Hội; Châu Bình.
+ Huyện Kỳ Sơn: Xã Hữu Lập; Mỹ Lý; Phà Đánh; Bắc Lý; Na Loi; Keng Đu; Mường Luống; Nậm Càn; Mường Ải; Chiêu Lưu; Phà đánh.
+ Huyện Quế Phong: Xã Phà Nạt; Quế Sơn; Tiền Phong; Quang Phong; Châu Thôn; Nậm Khóng và Châu Kim.
+ Huyện Con Cuông: Xã Môn Sơn; Chi khê; Mậu Đức; Bồng Khê; Lục Dạ.
+ Huyện Tương Dương: Khôi phục các làng nghề từ lâu đơn có nguy cơ mai một ở các xã Tam Quang; Xã Lượng; Lượng Minh.
+ Huyện Quỳ Hợp: Xã Châu Cường; Châu Thái; Bắc Sơn.
c) Nghề mây tre đan
Tập trung phát triển nghề mây tre đan ở những địa phương có điều kiện. Khuyến khích một số hộ có vốn đứng ra thành lập DN để cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm. Tập trung phát triển mạnh các mặt hàng phục vụ cho xuất khẩu đồng thời chú trọng sản xuất các mặt hàng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của người dân trong tỉnh.
- Mục tiêu : Xây dựng thêm 4 làng nghề mây tre đan, GTSX ngành nghề mây tre đan đạt 10 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt 0,5 triệu USD, thu hút từ 4-5 triệu lao động. Dự kiến năm 2020 đạt 30 tỷ đồng, năm 2025 đạt 45 tỷ đồng.
- Bố trí phát triển : Ưu tiên phát triển nghề mây tre đan ở những làng có nghề mây tre đan truyền thống, có điều kiện thuận lợi về nguồn nguyên liệu cụ thể: huyện Con Cuông làng Bản Diềm; huyện Thanh Chương làng Đồng Tâm.
- Xây dựng làng nghề mây tre đan:
Qui mô: Bình quân mỗi làng có từ 150-300 lao động, GTSX bình quân đạt 1-5 tỷ đồng.
Kế hoạch xây dựng làng nghề: Tập trung xây dựng làng nghề mây tre đan ở các địa phương sau: Huyện Nghĩa Đàn làng Đồng Khánh xã Nghĩa Khánh; Huyện Tương Dương làng Bản Can xã Tam Thái và làng bản Na Bè xã Xá Lượng; Huyện Thành Chương làng Đồng Tâm xã Thanh Yên.
d) Nghề sản xuất hương
Duy trì và phát triển các làng nghề sản xuất hương có lịch sử lâu đời; Khuyến khích hình thành các doanh nghiệp, hộ kinh doanh phát triển sản phẩm hương trầm thành hương thẻ có giá trị kinh tế cao; phát triển sản phẩm theo hướng chất lượng sản phẩm, tăng cường xây dựng thương hiệu, truy xuất hàng hóa.
+ Mục tiêu : Xây dựng thêm 4 làng nghề sản xuất hương, GTSX ngành nghề mây tre đan đạt 30 tỷ đồng, thu hút từ 500-1.000 triệu lao động. Thu nhập lao động đạt từ 40-50 triệu đồng/người/năm.
+ Bố trí phát triển : Ưu tiên phát triển nghề xản xuất hương ở những làng có nghề sản xuất hương truyền thống, có lịch sử phát triển lâu đời ở huyện Quỳ Châu như: làng Hợp Tiến xã Châu tiến; làng Hạnh Khai thị trấn Tân Lạc; làng Bản Lâu 2 xã Châu Bình
+ Xây dựng làng nghề sản xuất hương:
Qui mô: Bình quân mỗi làng có từ 90-150 lao động, GTSX bình quân đạt 7 tỷ đồng.
Kế hoạch xây dựng làng nghề: Đến 2020 phát triển thêm 02 làng nghề sản xuất hương ở Huyện Quỳ Châu: làng nghề sản xuất hương trầm Lâm Hội xã Châu Hội, làng nghề sản xuất hương trầm Bình 2, xã Châu Bình và 02 làng nghề sản xuất hương ở Thị xã Thái hòa: làng nghề sản xuất hương Long Sơn; làng nghề sản xuất hương Nghĩa Mỹ.
e) Nghề chế biến nông sản thực phẩm
Khuyến khích nghề chế biến nông sản thực phẩm phát triển ở tất cả các địa phương trên địa bàn nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân địa phương. Tiếp tục nghiên cứu, cải tiến mẫu mã nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng nông sản trong tỉnh.
- Mục tiêu: Phấn đấu chế biến được trên 60% sản lượng nông sản thực phẩm các loại, giá trị sản xuất đạt 50 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 1 triệu lao động.
- Bố trí phát triển:
+ Huyện Thanh Chương: Phát triển nghề chế biến bún, bánh, thực phẩm các loại ở xã Thanh Lương; Thanh Hoa; Võ Liệt; Thanh Yên;
+ Huyện Tương Dương ở xã Tam Quang.
+ Huyện Nghĩa Đàn: phát triển nghề chế biến mía đường ở xã Nghĩa Hưng; nghề chế biến nông sản xã Nghĩa Hưng.
+ Thị xã Thái Hòa: Phát triển nghề chế biến mật ong ở xã Nam Cường, Phú Tân, Thí Nghiệm.
+ Huyện Tân Kỳ: phát triển nghề chế biến bún bánh miến xã Nghĩa Thái.
- Xây dựng làng nghề
Quy mô: Bình quân mỗi làng có từ 100-150 lao động; giá trị sản xuất bình quân đạt 8 tỷ đồng; thu nhập bình quân đạt 15 triệu đồng/người/năm.
Kế hoạch phát triển làng nghề: đến 2025 phát triển thêm 7 làng nghề, tập trung phát triển ở các huyện: Thị xã Thái Hòa 03 làng; Nghĩa Đàn 01 làng; Tương Dương 01 làng; Thanh Chương 02 làng.
g) Nghề mộc
Phát triển ngành nghề mộc nhằm khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên rừng và rừng trồng, lao động, chất xám sẵn có để tạo nguồn hàng xuất khẩu và đáp ứng tiêu dùng trong nước. Khuyến khích hình thành các DN, HTX, tổ hợp tham gia sản xuất đồ mộc dân dụng, trang trí nội thất, mộc mỹ nghệ, sửa chữa đóng mới tàu thuyền, thu hút lao động có tay nghề, giải quyết việc làm cho người lao động.
- Mục tiêu: Phấn đấu doanh số ngành nghề mộc đạt 80 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 1 triệu lao động, xây dựng thêm 3 làng nghề sản xuất đồ mộc.
- Bố trí phát triển:
+ Huyện Thanh Chương: phát triển nghề mộc dân dụng ở xã Thanh Tường; Thanh Lương.
+ Thị xã Thái Hòa: phát triển nghề mộc mỹ nghệ
+ Huyện Tân Kỳ: phát triển nghề mộc cơ khí ở thị trấn
- Xây dựng làng nghề mộc:
Qui mô: Bình quân mỗi làng nghề sử dụng từ 150-300 lao động doanh thu bình quân của mỗi làng nghề đạt 6-10 tỷ đồng.
Phát triển xây dựng làng nghề: Phát triển 03 làng nghề mộc ở Khối 2, thị trấn Tân Kỳ; xã Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Đàn; Thôn Yên Long xã Thanh Lương, huyện Thanh Chương.
h) Nghề khác
Giai đoạn 2017-2020, phấn đấu phát triển thêm 03 làng nghề:
- Huyện Quế Phong: làng nghề rèn Minh Châu xã Tri Lễ.
- Huyện Con Cuông: Làng nghề rượu men lá Bản Xiềng, xã Đôn Phục.
- Huyện Thanh Chương: làng nghề chổi tre giang thôn Trường, xã Thanh Lĩnh.
3.2 Phát triển làng nghề và làng có nghề gắn với du lịch
- Phát triển làng nghề gắn với tuyến du lịch Lễ hội Hang Bua, Thẩm Ồm kết hợp phát triển làng nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Thái, bản Hoa Tiến, xã Châu Tiến và Bản Thêm xã Châu Thuận; làng nghề sản xuất hương trầm xã Châu Bình, Châu Hội (Quỳ Châu);
- Phát triển làng nghề gắn với điểm du lịch Thác Sao Va- Quế Phong; phát triển làng dệt thổ cẩm Bản Mường Him, xã Tiền Phong; làng nghề dệt thổ cẩm Bản Cỏ Noong, xã Mường Nọoc; làng nghề mây tre đan Na Thắng xã Tiền Phong;
- Phát triển làng nghề gắn với du lịch Vườn Quốc gia Pù Mát; phát triển làng nghề dệt thổ cẩm bản Thái Sơn và bản Xiềng (xã Môn Sơn), bản Khe Rạn (xã Bồng Khê), bản Nưa (xã Yên Khê) huyện Con Cuông.
3.3 Du nhập làng nghề và làng có nghề mới
Ngành nghề được du nhập phải bảo đảm phù hợp với thuần phong mỹ tục của địa phương, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh, du nhập nghề gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, môi trường sản xuất, vệ sinh an toàn thực phẩm và hiệu quả và bền vững.
Những ngành nghề có khả năng du nhập, phát triển trong thời gian tới bao gồm:
- Chạm, chế tác đá mỹ nghệ, tranh đá;
- Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ;
- Bảo quản, sơ chế nông sản, lâm sản;
- Thêu, chế tác tranh gỗ.

Content:
Định hướng phát triển
3.1. Bảo tồn, phát triển các làng nghề và làng có nghề có giá trị truyền thống
a) Nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa
Tiếp tục duy trì và phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm ươm tơ dệt lụa ở các làng có điều kiện trên địa bàn. Chú trọng phát triển mô hình sản xuất làng nghề dâu tằm tơ nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đất, lao động, tay nghề. Tập trung đầu tư giống mới với năng suất cao (cả giống tằm và giống dâu), kỹ thuật trồng dâu nuôi tằm ươm tơ, làm tơ xe và dệt lụa.
- Mục tiêu: Sản lượng lượng tơ sản xuất tại các làng nghề đạt 200-250 tấn, GTXS đạt 3-5 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 1.000 lao động.
- Kế hoạch phát triển: Khuyến khích phát triển nghề dâu tằm tơ ở huyện Tân Kỳ (xã Nghĩa Đồng); huyện Quỳ Hợp (xã Châu Cường).
- Phát triển làng nghề dâu tằm tơ:
Quy mô: làng nghề sử dụng từ 100-150 lao động; giá trị sản xuất bình quân 1 tỷ đồng.
Bố trí xây dựng làng nghề: Phấn đấu đến 2025 công nhận thêm 1 làng nghề dâu tằm tơ huyện Tân Kỳ (xã Nghĩa Đồng).
b) Nghề dệt thổ cẩm
Phấn đấu khôi phục và phát triển nghề dệt thổ cẩm ở các huyện Kỳ Sơn, Con Cuông, Tân Kỳ, Quế Phong. Đào tạo dạy nghề, cải tiến một số trang thiết bị khung dệt. Khuyến khích thành lập các cơ sở sản xuất kinh doanh làm đơn vị hạt nhân để phát triển nghề nhằm cải tiến mẫu mã mặt hàng, tìm kiếm thị trường sản phẩm cho người sản xuất
- Mục tiêu: Giải quyết việc làm cho 15.000 lao động, giá trị sản xuất đạt từ 50-100 tỷ đồng;
- Bố trí phát triển: Khuyến khích phát triển nghề dệt thổ cẩm ở tất cả các huyện miền Tây Nghệ An, trong đó chú trọng đầu tư ở một số vùng trọng điểm Huyện Tân Kỳ, Anh Sơn, Quỳ Châu, Kỳ Sơn, Quế Phong, Con Cuông; Tương Dương và Quỳ Hợp.
- Xây dựng làng nghề dệt thổ cẩm:
Quy mô: Bình quân mỗi làng nghề sử dụng từ 150-300 lao động, GTSX bình quân của mỗi làng đạt từ 1-2 tỷ đồng.
Kế hoạch xây dựng làng: Kế hoạch 2017-2020 xây dựng được 34 làng nghề dệt thổ cẩm, đến 2025 phát triển thêm 12 làng nghề. Cụ thể:
+ Huyện Tân Kỳ: Khôi phục các làng nghề từ lâu đơn có nguy cơ mai một ở các xã Phú Sơn; Đồng Văn; Nghĩa Thái; Tiền Kỳ.
+ Huyện Anh Sơn: Xã Thành Sơn; Hòa Sơn; Tam Sơn
+ Huyện Quỳ Châu: Xã Châu Phong; Châu Thuận; Châu Hội; Châu Bình.
+ Huyện Kỳ Sơn: Xã Hữu Lập; Mỹ Lý; Phà Đánh; Bắc Lý; Na Loi; Keng Đu; Mường Luống; Nậm Càn; Mường Ải; Chiêu Lưu; Phà đánh.
+ Huyện Quế Phong: Xã Phà Nạt; Quế Sơn; Tiền Phong; Quang Phong; Châu Thôn; Nậm Khóng và Châu Kim.
+ Huyện Con Cuông: Xã Môn Sơn; Chi khê; Mậu Đức; Bồng Khê; Lục Dạ.
+ Huyện Tương Dương: Khôi phục các làng nghề từ lâu đơn có nguy cơ mai một ở các xã Tam Quang; Xã Lượng; Lượng Minh.
+ Huyện Quỳ Hợp: Xã Châu Cường; Châu Thái; Bắc Sơn.
c) Nghề mây tre đan
Tập trung phát triển nghề mây tre đan ở những địa phương có điều kiện. Khuyến khích một số hộ có vốn đứng ra thành lập DN để cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm. Tập trung phát triển mạnh các mặt hàng phục vụ cho xuất khẩu đồng thời chú trọng sản xuất các mặt hàng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của người dân trong tỉnh.
- Mục tiêu : Xây dựng thêm 4 làng nghề mây tre đan, GTSX ngành nghề mây tre đan đạt 10 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt 0,5 triệu USD, thu hút từ 4-5 triệu lao động. Dự kiến năm 2020 đạt 30 tỷ đồng, năm 2025 đạt 45 tỷ đồng.
- Bố trí phát triển : Ưu tiên phát triển nghề mây tre đan ở những làng có nghề mây tre đan truyền thống, có điều kiện thuận lợi về nguồn nguyên liệu cụ thể: huyện Con Cuông làng Bản Diềm; huyện Thanh Chương làng Đồng Tâm.
- Xây dựng làng nghề mây tre đan:
Qui mô: Bình quân mỗi làng có từ 150-300 lao động, GTSX bình quân đạt 1-5 tỷ đồng.
Kế hoạch xây dựng làng nghề: Tập trung xây dựng làng nghề mây tre đan ở các địa phương sau: Huyện Nghĩa Đàn làng Đồng Khánh xã Nghĩa Khánh; Huyện Tương Dương làng Bản Can xã Tam Thái và làng bản Na Bè xã Xá Lượng; Huyện Thành Chương làng Đồng Tâm xã Thanh Yên.
d) Nghề sản xuất hương
Duy trì và phát triển các làng nghề sản xuất hương có lịch sử lâu đời; Khuyến khích hình thành các doanh nghiệp, hộ kinh doanh phát triển sản phẩm hương trầm thành hương thẻ có giá trị kinh tế cao; phát triển sản phẩm theo hướng chất lượng sản phẩm, tăng cường xây dựng thương hiệu, truy xuất hàng hóa.
+ Mục tiêu : Xây dựng thêm 4 làng nghề sản xuất hương, GTSX ngành nghề mây tre đan đạt 30 tỷ đồng, thu hút từ 500-1.000 triệu lao động. Thu nhập lao động đạt từ 40-50 triệu đồng/người/năm.
+ Bố trí phát triển : Ưu tiên phát triển nghề xản xuất hương ở những làng có nghề sản xuất hương truyền thống, có lịch sử phát triển lâu đời ở huyện Quỳ Châu như: làng Hợp Tiến xã Châu tiến; làng Hạnh Khai thị trấn Tân Lạc; làng Bản Lâu 2 xã Châu Bình
+ Xây dựng làng nghề sản xuất hương:
Qui mô: Bình quân mỗi làng có từ 90-150 lao động, GTSX bình quân đạt 7 tỷ đồng.
Kế hoạch xây dựng làng nghề: Đến 2020 phát triển thêm 02 làng nghề sản xuất hương ở Huyện Quỳ Châu: làng nghề sản xuất hương trầm Lâm Hội xã Châu Hội, làng nghề sản xuất hương trầm Bình 2, xã Châu Bình và 02 làng nghề sản xuất hương ở Thị xã Thái hòa: làng nghề sản xuất hương Long Sơn; làng nghề sản xuất hương Nghĩa Mỹ.
e) Nghề chế biến nông sản thực phẩm
Khuyến khích nghề chế biến nông sản thực phẩm phát triển ở tất cả các địa phương trên địa bàn nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân địa phương. Tiếp tục nghiên cứu, cải tiến mẫu mã nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng nông sản trong tỉnh.
- Mục tiêu: Phấn đấu chế biến được trên 60% sản lượng nông sản thực phẩm các loại, giá trị sản xuất đạt 50 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 1 triệu lao động.
- Bố trí phát triển:
+ Huyện Thanh Chương: Phát triển nghề chế biến bún, bánh, thực phẩm các loại ở xã Thanh Lương; Thanh Hoa; Võ Liệt; Thanh Yên;
+ Huyện Tương Dương ở xã Tam Quang.
+ Huyện Nghĩa Đàn: phát triển nghề chế biến mía đường ở xã Nghĩa Hưng; nghề chế biến nông sản xã Nghĩa Hưng.
+ Thị xã Thái Hòa: Phát triển nghề chế biến mật ong ở xã Nam Cường, Phú Tân, Thí Nghiệm.
+ Huyện Tân Kỳ: phát triển nghề chế biến bún bánh miến xã Nghĩa Thái.
- Xây dựng làng nghề
Quy mô: Bình quân mỗi làng có từ 100-150 lao động; giá trị sản xuất bình quân đạt 8 tỷ đồng; thu nhập bình quân đạt 15 triệu đồng/người/năm.
Kế hoạch phát triển làng nghề: đến 2025 phát triển thêm 7 làng nghề, tập trung phát triển ở các huyện: Thị xã Thái Hòa 03 làng; Nghĩa Đàn 01 làng; Tương Dương 01 làng; Thanh Chương 02 làng.
g) Nghề mộc
Phát triển ngành nghề mộc nhằm khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên rừng và rừng trồng, lao động, chất xám sẵn có để tạo nguồn hàng xuất khẩu và đáp ứng tiêu dùng trong nước. Khuyến khích hình thành các DN, HTX, tổ hợp tham gia sản xuất đồ mộc dân dụng, trang trí nội thất, mộc mỹ nghệ, sửa chữa đóng mới tàu thuyền, thu hút lao động có tay nghề, giải quyết việc làm cho người lao động.
- Mục tiêu: Phấn đấu doanh số ngành nghề mộc đạt 80 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 1 triệu lao động, xây dựng thêm 3 làng nghề sản xuất đồ mộc.
- Bố trí phát triển:
+ Huyện Thanh Chương: phát triển nghề mộc dân dụng ở xã Thanh Tường; Thanh Lương.
+ Thị xã Thái Hòa: phát triển nghề mộc mỹ nghệ
+ Huyện Tân Kỳ: phát triển nghề mộc cơ khí ở thị trấn
- Xây dựng làng nghề mộc:
Qui mô: Bình quân mỗi làng nghề sử dụng từ 150-300 lao động doanh thu bình quân của mỗi làng nghề đạt 6-10 tỷ đồng.
Phát triển xây dựng làng nghề: Phát triển 03 làng nghề mộc ở Khối 2, thị trấn Tân Kỳ; xã Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Đàn; Thôn Yên Long xã Thanh Lương, huyện Thanh Chương.
h) Nghề khác
Giai đoạn 2017-2020, phấn đấu phát triển thêm 03 làng nghề:
- Huyện Quế Phong: làng nghề rèn Minh Châu xã Tri Lễ.
- Huyện Con Cuông: Làng nghề rượu men lá Bản Xiềng, xã Đôn Phục.
- Huyện Thanh Chương: làng nghề chổi tre giang thôn Trường, xã Thanh Lĩnh.
3.2 Phát triển làng nghề và làng có nghề gắn với du lịch
- Phát triển làng nghề gắn với tuyến du lịch Lễ hội Hang Bua, Thẩm Ồm kết hợp phát triển làng nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Thái, bản Hoa Tiến, xã Châu Tiến và Bản Thêm xã Châu Thuận; làng nghề sản xuất hương trầm xã Châu Bình, Châu Hội (Quỳ Châu);
- Phát triển làng nghề gắn với điểm du lịch Thác Sao Va- Quế Phong; phát triển làng dệt thổ cẩm Bản Mường Him, xã Tiền Phong; làng nghề dệt thổ cẩm Bản Cỏ Noong, xã Mường Nọoc; làng nghề mây tre đan Na Thắng xã Tiền Phong;
- Phát triển làng nghề gắn với du lịch Vườn Quốc gia Pù Mát; phát triển làng nghề dệt thổ cẩm bản Thái Sơn và bản Xiềng (xã Môn Sơn), bản Khe Rạn (xã Bồng Khê), bản Nưa (xã Yên Khê) huyện Con Cuông.
3.3 Du nhập làng nghề và làng có nghề mới
Ngành nghề được du nhập phải bảo đảm phù hợp với thuần phong mỹ tục của địa phương, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh, du nhập nghề gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, môi trường sản xuất, vệ sinh an toàn thực phẩm và hiệu quả và bền vững.
Những ngành nghề có khả năng du nhập, phát triển trong thời gian tới bao gồm:
- Chạm, chế tác đá mỹ nghệ, tranh đá;
- Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ;
- Bảo quản, sơ chế nông sản, lâm sản;
- Thêu, chế tác tranh gỗ.