Document: Điều 5 Quyết định 960-TTg định hướng dài hạn kế hoạch 5 năm 1996-2000 phát triển kinh tế - xã hội miền núi phía Bắc

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/12/1996", "sign_number": "960-TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/12/1996", "sign_number": "960-TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/12/1996", "sign_number": "960-TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/12/1996", "sign_number": "960-TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/12/1996", "sign_number": "960-TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 5 Quyết định 960-TTg định hướng dài hạn kế hoạch 5 năm 1996-2000 phát triển kinh tế - xã hội miền núi phía Bắc có nội dung như sau:

Điều 5. Phát triển sản xuất.
1. Lâm nghiệp:
- Bảo vệ và phát triển vốn rừng, nâng cao độ che phủ toàn vùng từ 20% hiện nay lên 30% vào năm 2000 và 50% vào năm 2010. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng với Bộ ngành có liên quan và các địa phương triển khai một số giải pháp chính sau:
- Nghiên cứu ngay phương án đóng cửa rừng trong một thời gian để bảo vệ và phát triển vốn rừng, theo hướng chỉ cho phép khai thác gỗ trụ mỏ, gỗ nguyên liệu cho công nghiệp giấy với số lượng được Chính phủ cho phép và theo đúng quy trình, quy phạm quy định, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định trong năm 1997.
- Sớm hoàn thành việc giao đất, giao và khoán rừng cho hộ gia đình, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ, để hộ thực sự là người chủ của rừng, yên tâm tự bỏ vốn, công sức để chăm sóc bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh, trồng mới và không chặt, đốt phá rừng, tạo thành phong trào quần chúng mọi nhà, mọi người tham gia chăm sóc, bảo vệ và trồng thêm rừng mới.
- Đối với rừng phòng hộ ngoài phần quy hoạch làm rừng đặc dụng, chuyển toàn bộ rừng tự nhiên hiện có làm rừng phòng hộ thì phải khoán đến hộ gia đình, đối với nơi thưa dân hoặc ít dân thì khoán cho cộng đồng bản, làng, xã hoặc tập thể cơ quan, trường học, đơn vị lực lượng vũ trang bảo vệ, khoanh nuôi, trồng mới theo quy hoạch và được trợ cấp kinh phí bảo vệ, trồng rừng mới một số năm, chủ rừng được khai thác cây kinh tế và sản phẩm khác của rừng theo quy định của Nhà nước, nhưng phải duy trì vốn rừng và bảo vệ chức năng phòng hộ của rừng.
- Đối với rừng đặc dụng, các Ban quản lý chịu trách nhiệm quản lý và phát triển rừng theo quy định hiện hành của Nhà nước.
- Đối với rừng trồng là rừng sản xuất thì giao đất trống, đồi núi trọc, rừng nghèo kiệt cho các hộ để chủ động bảo vệ, khoanh nuôi phục hồi và trồng mới, Nhà nước hỗ trợ giống để trồng rừng theo quy hoạch ở vùng cao (trên 800m), cho vay với lãi suất ưu đãi theo chu kỳ khai thác từng loại cây để trồng rừng ở vùng thấp.
Từ năm 1997 trở đi phát động cho được phong trào mỗi gia đình trồng thêm 1 đến 2 ha rừng trở lên (bao gồm rừng vườn, cây công nghiệp, cây ăn quả), để sớm đạt được mục tiêu đã đề ra.
- Giao Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định và hướng dẫn cụ thể mức hỗ trợ và lãi suất cho vay ưu đãi cụ thể để các địa phương thực hiện các mục tiêu trên.
2. Nông nghiệp:
- Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng địa phương để lựa chọn cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp nhằm phát triền nền nông nghiệp hàng hoá có hiệu quả, ổn định lâu dài phù hợp với cơ chế thị trường.
- Phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả phù hợp với lợi thế đất đai, khí hậu ở các tiểu vùng như: cây chè, cây cà phê, đậu tương, mía, cây có sợi, thuốc lá, chuối, nhãn, vải, hồng, quýt, mận v.v...
- Cùng với việc phát triển chăn nuôi gia đình về trâu bò, lợn, gia cầm cần phát triền chăn nuôi bò sữa tập trung ở Mộc Châu (Sơn La), nuôi bò thịt chất lượng cao, ngựa, hươu, nai, ong v.v....
- Khuyến khích sản xuất lương thực ở nơi có điều kiện nhưng không được phá rừng và làm sói mòn đất.
+ Đối với diện tích lúa nước hiện có thì thâm canh, sử dụng các giống lúa lai có năng suất cao, giảm dần diện tích lúa nương trên đất dốc, chấm dứt tệ phá rừng làm lúa nương. Khuyến khích tập quán canh tác truyền thống của đồng bào dân tộc trồng lúa trên ruộng bậc thang với việc đầu tư thâm canh chống sói mòn và bảo vệ đất.
+ Mở rộng giống ngô lai có năng suất cao, khuyến khích trồng khoai tây vụ đông và vụ xuân ở những tiểu vùng có đất đai khí hậu thích hợp.
3. Để phát triển sản xuất nông lâm nghiệp theo hướng trên đây cần phải tiếp tục tăng cường hệ thống tổ chức khuyến nông, khuyến lâm từ tỉnh đến các bản làng, khuyến khích phát triển các tổ chức khuyến nông, khuyến lâm tự nguyện, khuyến nông của các tổ chức doanh nghiệp Nhà nước, đa dạng hoá các hình thức khuyến nông, khuyến lâm phù hợp với trình độ và tập quán của từng vùng, từng dân tộc.
Từ 1997 trở đi công tác khuyến nông, khuyến lâm phải được xác định là một trong những nhiệm vụ của chương trình công tác và chỉ đạo trọng tâm của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền các cấp, của các tổ chức đoàn thể quần chúng của các hội nghề nghiệp và của các doanh nghiệp Nhà nước, giúp đồng bào biết cách sản xuất, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, góp phần tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo.
4. Phát triển sản xuất công nghiệp trước hết nhằm phục vụ phát triển kinh tế hàng hoá của vùng như: công cụ sản xuất nông lâm nghiệp. Hình thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ kết hợp từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu, trước mắt là công nghiệp chế biến đường, chè, chế biến thức ăn chăn nuôi, chế biến rau quả, công nghiệp giấy v. v...
5. Phát triển thương mại, dịch vụ nhằm thúc đẩy phát triền kinh tế hàng hoá, đặc biệt là chợ, chợ phiên, trung tâm thương mại dịch vụ, khu thương mại tự do biên giới, du lịch dân tộc miền núi, nhằm giúp cho đồng bào không chỉ trao đổi mua bán hàng hoá mà còn là nơi giao lưu văn hoá, tình cảm của họ, góp phần thúc đẩy xây dựng nông thôn, bản làng văn minh, văn hoá.

Content:
Điều 5. Phát triển sản xuất.
1. Lâm nghiệp:
- Bảo vệ và phát triển vốn rừng, nâng cao độ che phủ toàn vùng từ 20% hiện nay lên 30% vào năm 2000 và 50% vào năm 2010. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng với Bộ ngành có liên quan và các địa phương triển khai một số giải pháp chính sau:
- Nghiên cứu ngay phương án đóng cửa rừng trong một thời gian để bảo vệ và phát triển vốn rừng, theo hướng chỉ cho phép khai thác gỗ trụ mỏ, gỗ nguyên liệu cho công nghiệp giấy với số lượng được Chính phủ cho phép và theo đúng quy trình, quy phạm quy định, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định trong năm 1997.
- Sớm hoàn thành việc giao đất, giao và khoán rừng cho hộ gia đình, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ, để hộ thực sự là người chủ của rừng, yên tâm tự bỏ vốn, công sức để chăm sóc bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh, trồng mới và không chặt, đốt phá rừng, tạo thành phong trào quần chúng mọi nhà, mọi người tham gia chăm sóc, bảo vệ và trồng thêm rừng mới.
- Đối với rừng phòng hộ ngoài phần quy hoạch làm rừng đặc dụng, chuyển toàn bộ rừng tự nhiên hiện có làm rừng phòng hộ thì phải khoán đến hộ gia đình, đối với nơi thưa dân hoặc ít dân thì khoán cho cộng đồng bản, làng, xã hoặc tập thể cơ quan, trường học, đơn vị lực lượng vũ trang bảo vệ, khoanh nuôi, trồng mới theo quy hoạch và được trợ cấp kinh phí bảo vệ, trồng rừng mới một số năm, chủ rừng được khai thác cây kinh tế và sản phẩm khác của rừng theo quy định của Nhà nước, nhưng phải duy trì vốn rừng và bảo vệ chức năng phòng hộ của rừng.
- Đối với rừng đặc dụng, các Ban quản lý chịu trách nhiệm quản lý và phát triển rừng theo quy định hiện hành của Nhà nước.
- Đối với rừng trồng là rừng sản xuất thì giao đất trống, đồi núi trọc, rừng nghèo kiệt cho các hộ để chủ động bảo vệ, khoanh nuôi phục hồi và trồng mới, Nhà nước hỗ trợ giống để trồng rừng theo quy hoạch ở vùng cao (trên 800m), cho vay với lãi suất ưu đãi theo chu kỳ khai thác từng loại cây để trồng rừng ở vùng thấp.
Từ năm 1997 trở đi phát động cho được phong trào mỗi gia đình trồng thêm 1 đến 2 ha rừng trở lên (bao gồm rừng vườn, cây công nghiệp, cây ăn quả), để sớm đạt được mục tiêu đã đề ra.
- Giao Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định và hướng dẫn cụ thể mức hỗ trợ và lãi suất cho vay ưu đãi cụ thể để các địa phương thực hiện các mục tiêu trên.
2. Nông nghiệp:
- Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng địa phương để lựa chọn cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp nhằm phát triền nền nông nghiệp hàng hoá có hiệu quả, ổn định lâu dài phù hợp với cơ chế thị trường.
- Phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả phù hợp với lợi thế đất đai, khí hậu ở các tiểu vùng như: cây chè, cây cà phê, đậu tương, mía, cây có sợi, thuốc lá, chuối, nhãn, vải, hồng, quýt, mận v.v...
- Cùng với việc phát triển chăn nuôi gia đình về trâu bò, lợn, gia cầm cần phát triền chăn nuôi bò sữa tập trung ở Mộc Châu (Sơn La), nuôi bò thịt chất lượng cao, ngựa, hươu, nai, ong v.v....
- Khuyến khích sản xuất lương thực ở nơi có điều kiện nhưng không được phá rừng và làm sói mòn đất.
+ Đối với diện tích lúa nước hiện có thì thâm canh, sử dụng các giống lúa lai có năng suất cao, giảm dần diện tích lúa nương trên đất dốc, chấm dứt tệ phá rừng làm lúa nương. Khuyến khích tập quán canh tác truyền thống của đồng bào dân tộc trồng lúa trên ruộng bậc thang với việc đầu tư thâm canh chống sói mòn và bảo vệ đất.
+ Mở rộng giống ngô lai có năng suất cao, khuyến khích trồng khoai tây vụ đông và vụ xuân ở những tiểu vùng có đất đai khí hậu thích hợp.
3. Để phát triển sản xuất nông lâm nghiệp theo hướng trên đây cần phải tiếp tục tăng cường hệ thống tổ chức khuyến nông, khuyến lâm từ tỉnh đến các bản làng, khuyến khích phát triển các tổ chức khuyến nông, khuyến lâm tự nguyện, khuyến nông của các tổ chức doanh nghiệp Nhà nước, đa dạng hoá các hình thức khuyến nông, khuyến lâm phù hợp với trình độ và tập quán của từng vùng, từng dân tộc.
Từ 1997 trở đi công tác khuyến nông, khuyến lâm phải được xác định là một trong những nhiệm vụ của chương trình công tác và chỉ đạo trọng tâm của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền các cấp, của các tổ chức đoàn thể quần chúng của các hội nghề nghiệp và của các doanh nghiệp Nhà nước, giúp đồng bào biết cách sản xuất, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, góp phần tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo.
4. Phát triển sản xuất công nghiệp trước hết nhằm phục vụ phát triển kinh tế hàng hoá của vùng như: công cụ sản xuất nông lâm nghiệp. Hình thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ kết hợp từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu, trước mắt là công nghiệp chế biến đường, chè, chế biến thức ăn chăn nuôi, chế biến rau quả, công nghiệp giấy v. v...
5. Phát triển thương mại, dịch vụ nhằm thúc đẩy phát triền kinh tế hàng hoá, đặc biệt là chợ, chợ phiên, trung tâm thương mại dịch vụ, khu thương mại tự do biên giới, du lịch dân tộc miền núi, nhằm giúp cho đồng bào không chỉ trao đổi mua bán hàng hoá mà còn là nơi giao lưu văn hoá, tình cảm của họ, góp phần thúc đẩy xây dựng nông thôn, bản làng văn minh, văn hoá.