Document: Điều 1 Quyết định 6077/QĐ-BCT năm 2012 phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới chợ

Type: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "15/10/2012", "sign_number": "6077/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hòa", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "15/10/2012", "sign_number": "6077/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hòa", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "15/10/2012", "sign_number": "6077/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hòa", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "15/10/2012", "sign_number": "6077/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hòa", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "15/10/2012", "sign_number": "6077/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hòa", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 6077/QĐ-BCT năm 2012 phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới chợ có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới chợ biên giới Việt Nam-Campuchia đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu sau đây:
I. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
1. Phát triển mạng lưới chợ biên giới phải vừa phù hợp, vừa thúc đẩy phát triển mặt bằng kinh tế-xã hội của khu vực biên giới hai nước Việt Nam và Campuchia, một mặt thích ứng với trình độ phát triển kinh tế-xã hội của khu vực biên giới, mặt khác dẫn dắt và thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao thu nhập, kích thích và định hướng phát triển tiêu dùng, cải thiện điều kiện sinh hoạt vật chất của cư dân hai bên biên giới, từng bước nâng cao mặt bằng kinh tế-xã hội của khu vực biên giới ngang tầm với mặt bằng kinh tế-xã hội chung của mỗi quốc gia.
2. Phát triển mạng lưới chợ biên giới phải vừa phù hợp, vừa góp phần thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trong các chủ trương, chính sách của hai nước Việt Nam và Campuchia về phát triển một tuyến biên giới chung hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng. Đồng thời phát triển mạng lưới chợ biên giới phải vừa phù hợp quy hoạch giao thông, quy hoạch về quản lý đất đai các tỉnh biên giới, vừa góp phần thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển thương mại của mỗi quốc gia và của các tỉnh có chung đường biên giới hai nước Việt Nam và Campuchia.
3. Phát triển mạng lưới chợ biên giới phải vừa nhằm trực tiếp phát triển sản xuất và tiêu dùng của cư dân hai bên biên giới, vừa thông qua đó nhằm củng cố và phát huy các giá trị văn hóa xã hội, từng bước xây dựng và phát triển các cộng đồng cư dân hai bên biên giới ngày một phồn vinh trong một môi trường yên bình, hữu nghị truyền thống và hợp tác dài lâu, góp phần tạo cơ sở kinh tế-xã hội để bảo đảm vững chắc an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội trên toàn tuyến biên giới hai nước. Chợ chăm lo cuộc sống cho dân để dân chăm lo giữ gìn biên giới.
4. Phát triển mạng lưới chợ biên giới phải bảo đảm khai thác và phát huy tối đa lợi thế về địa-kinh tế của các cửa khẩu, kể cả các đường mòn lối mở qua lại giữa hai nước. Chợ vừa gắn chặt với cửa khẩu, phục vụ cho hoạt động của cửa khẩu và vừa kết nối cửa khẩu với các vùng và với cả nước. Kết hợp đáp ứng nhu cầu trao đổi mua bán của cư dân hai bên biên giới (là trước hết và chủ yếu) với phục vụ hoạt động kinh doanh và xuất nhập khẩu của thương nhân.
5. Phát triển mạng lưới chợ biên giới phải vừa phát huy được vị trí trung tâm và vai trò nòng cốt của chợ, vừa bảo đảm sự hài hòa và cân đối dựa trên mức độ tương thích về tính chất và công năng trong các không gian thị trường giữa chợ với các loại hình khác (như siêu thị, trung tâm mua sắm, kho bán buôn và bán lẻ hàng hóa...) trong tổng thể mạng lưới thương mại trên thị trường khu vực biên giới, thể hiện quan hệ tương hỗ và bổ trợ cho nhau giữa thương mại truyền thống với thương mại hiện đại.
6. Phát triển mạng lưới chợ biên giới phải được bảo đảm hiện thực hóa bằng một hệ thống các chính sách, giải pháp khuyến khích (ưu đãi, hỗ trợ) phù hợp của Nhà nước trong từng giai đoạn theo hướng đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, đa dạng hóa loại hình và quy mô chợ, đa dạng hóa chế độ sở hữu và mô hình quản trị kinh doanh khai thác chợ. Đầu tư xây dựng chợ đi đôi với đổi mới, hoàn thiện về tổ chức và hoạt động, về công nghệ và kỹ thuật cùng các điều kiện về cơ sở vật chất khác của chợ theo hướng hiện đại và chuyên nghiệp.
II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
1. Mục tiêu tổng quát
Đáp ứng đầy đủ nhu cầu trao đổi, mua bán hàng hóa, phục vụ trước hết và chủ yếu cho sản xuất và đời sống của cư dân hai bên biên giới Việt Nam và Campuchia. Phát huy vị trí trung tâm và vai trò chủ lực của chợ trong tổng thể mạng lưới thương mại tại khu vực biên giới, thúc đẩy sản xuất, xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và điều kiện sinh hoạt của cư dân hai bên biên giới, đồng thời mở rộng phạm vi hoạt động và đối tượng phục vụ, hiện đại hóa và chuyên nghiệp hóa về tổ chức và quản trị kinh doanh khai thác chợ để từng bước vươn lên đáp ứng nhu cầu và nâng cao khả năng phục vụ cho hoạt động kinh doanh thương mại và xuất nhập khẩu của thương nhân trong và ngoài khu vực, thúc đẩy giao thương trong và ngoài nước, phát triển thị trường và qua đó góp phần phát triển kinh tế-xã hội của khu vực biên giới nói riêng và của các tỉnh có chung đường biên giới hai nước nói chung, góp phần xây dựng và thúc đẩy tuyến biên giới Việt Nam-Campuchia phát triển bền vững trong hòa bình, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng.
2. Mục tiêu cụ thể
- Đến năm 2015, thông qua mạng lưới chợ biên giới, đáp ứng được 80% nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa phục vụ sản xuất và đời sống sinh hoạt hàng ngày của cư dân hai bên biên giới Việt Nam và Campuchia; 60% nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ phục vụ kinh doanh thương mại và xuất nhập khẩu của thương nhân Việt Nam và Campuchia ở trong và ngoài khu vực biên giới. Bình quân hàng năm tại các chợ trong giai đoạn 2011-2015: doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 19-20%, doanh thu bán buôn hàng hóa tăng 14-15%.
Hoàn thành 100% số lượng chợ thuộc hạng mục cải tạo (mở rộng và nâng cấp); xây dựng mới 70-80% số chợ dân sinh biên giới, bán lẻ hàng hóa phục vụ cư dân hai bên biên giới là chủ yếu và 50-60% số chợ cửa khẩu vừa bán lẻ, vừa thu gom tập trung và bán buôn phát luồng hàng hóa phục vụ cả hoạt động kinh doanh thương mại và xuất nhập khẩu của thương nhân hai nước trong và ngoài khu vực biên giới.
- Đến năm 2020, thông qua mạng lưới chợ biên giới, đáp ứng tuyệt đại bộ phận nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa phục vụ cho sản xuất và đời sống thường ngày của cư dân hai bên biên giới Việt Nam và Campuchia, phục vụ cho hoạt động kinh doanh thương mại và xuất nhập khẩu của thương nhân Việt Nam và Campuchia trong và ngoài khu vực biên giới. Bình quân hàng năm, tại các chợ trong giai đoạn 2016-2020: doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 15-16%, doanh thu bán buôn hàng hóa tăng 17-18%.
Hoàn thành về cơ bản các hạng mục cải tạo và xây mới mạng lưới các loại chợ biên giới Việt Nam-Campuchia. Hầu hết các cửa khẩu (quốc tế, chính, phụ) và kể cả đường mòn lối mở qua lại biên giới hai nước đều có chợ (hoặc là chợ cửa khẩu vừa bán buôn vừa bán lẻ hoặc là chợ bán lẻ phục vụ dân sinh biên giới) để đáp ứng nhu cầu về trao đổi mua bán hàng hóa của mọi đối tượng trong và ngoài khu vực biên giới hai nước.
Đổi mới và hoàn chỉnh đồng bộ về mô hình quản lý (quản trị), trang thiết bị và công nghệ cùng các điều kiện và hệ thống cơ sở vật chất-kỹ thuật khác của chợ, thúc đẩy hoạt động của mạng lưới chợ biên giới hai nước từng
bước phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp với hiệu quả kinh tế-xã hội ngày càng cao.
Từ mạng lưới chợ biên giới, tạo lập các kênh lưu thông hàng hóa, kết nối thị trường khu vực biên giới với thị trường các vùng và thị trường cả nước; tạo sức mạnh lan tỏa từ thị trường khu vực biên giới ra thị trường các vùng xung quanh và thị trường toàn quốc của cả phía Việt Nam và phía Campuchia.
III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
1. Phát triển rộng khắp loại hình chợ biên giới (chợ dân sinh chuyên bán lẻ hoặc chủ yếu là bán lẻ) theo hướng phổ cập: mỗi chợ phải gắn với ít nhất là một cửa khẩu (thường là cửa khẩu phụ) hoặc đường mòn lối mở qua lại nhất định giữa hai bên biên giới; và ngược lại, ở đâu có cửa khẩu (hoặc đường mòn lối mở) thì ở đó có điều kiện tiên quyết để xem xét (cùng với các điều kiện khác) hình thành chợ biên giới, đáp ứng nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa phục vụ sản xuất và đời sống của cư dân hai bên biên giới. Bảo đảm mối tương quan cân bằng giữa số lượng các cửa khẩu và đường mòn lối mở với số lượng chợ biên giới.
- Phát triển chợ biên giới với quy mô nhỏ, xây dựng kiên cố, có thiết kế kiến trúc phù hợp với nhu cầu và tập quán trao đổi mua bán hàng hóa của cư dân biên giới hai nước. Trong đó, chú trọng quy hoạch diện tích (sân, bãi) thỏa đáng làm nơi để cư dân bán sản phẩm do mình làm ra, hình thành không gian giao dịch trực tiếp giữa người sản xuất với người tiêu dùng.
- Tại các cửa khẩu phụ và đường mòn lối mở, do điều kiện kinh doanh khó khăn, ít có khả năng sinh lời trong đầu tư, thu nhập và mức sống của cư dân hai bên biên giới thấp, nên vốn cho đầu tư phát triển các chợ biên giới chủ yếu là từ các nguồn: 1) Chính sách của Nhà nước ưu đãi hoặc hỗ trợ đầu tư; 2) Kết hợp, lồng ghép với các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội khác của Chính phủ đối với khu vực biên giới; 3) Nguồn vốn hỗ trợ hợp tác; 4) Sử dụng các nguồn tài trợ quốc tế, tài trợ của các tổ chức phi Chính phủ...
2. Phát triển cả về lượng và chất loại hình chợ cửa khẩu (chợ tổng hợp vừa bán buôn vừa bán lẻ, đa năng, đa ngành, đa lĩnh vực) theo hướng có lựa chọn và sắp xếp theo hạng bậc: mỗi cửa khẩu (cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính) phải có ít nhất một chợ cửa khẩu. Tùy theo quy mô và trình độ phát triển của từng cửa khẩu mà xây dựng và phát triển các chợ cửa khẩu cho phù hợp, bảo đảm sự tương thích giữa tính chất và công năng của chợ với hình thức và nội dung hoạt động của cửa khẩu và bảo đảm sự tương đương giữa quy mô và tầm quan trọng của cửa khẩu với quy mô và năng lực tổ chức, quản trị các hoạt động của chợ.
- Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu của cư dân hai bên biên giới, là nơi cung cấp các dịch vụ để cư dân trao đổi mua bán hàng hóa phục vụ cho sản xuất và đời sống, chợ cửa khẩu còn phải đáp ứng ngày càng nhiều nhu cầu mua sắm của khách vãng lai và nhất là nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ phục vụ cho hoạt động kinh doanh và xuất nhập khẩu của thương nhân. Theo đó, phát triển chợ cửa khẩu với quy mô vừa và lớn, xây dựng kiên cố, có thiết kế kiến trúc phức hợp, trong đó chú trọng quy hoạch các phân khu chức năng dành cho bán buôn và xuất nhập khẩu với mô hình tổ chức, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ vận hành, quản trị kinh doanh và bộ máy nhân lực từng bước được hiện đại hóa và chuyên nghiệp hóa.
- Phát triển các loại chợ cửa khẩu đi đôi với mở rộng và kết nối giao thương các chợ cửa khẩu với các trung tâm kinh tế (trung tâm sản xuất chế biến hoặc trung tâm tiêu dùng), trung tâm logistics, bến cảng, nhà ga...; vừa hội tụ vừa lan tỏa các luồng vận động hàng hóa ra vào khu vực biên giới hai nước, từ đó phát huy tầm ảnh hưởng của chợ cửa khẩu tới đời sống kinh tế-xã hội toàn tuyến biên giới và xa hơn nữa tới các vùng khác trong và ngoài nước.
- Tại các cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu chính, do điều kiện kinh doanh thuận lợi, có khả năng sinh lời trong đầu tư, thu nhập và sinh hoạt của cư dân biên giới hai nước sống gần cửa khẩu cùng khá hơn, nên nguồn lực để đầu tư phát triển các loại hình chợ cửa khẩu này có thể chủ yếu bằng con đường xã hội hóa: 1) Vốn đầu tư của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế (chủ yếu là tư nhân); 2) Tiền đóng góp của các hộ kinh doanh. Doanh nghiệp có thể bỏ vốn ra đầu tư xây dựng chợ rồi cho thuê hoặc bán lại các điểm kinh doanh (gian hàng, cửa hàng, quầy hàng, sạp hàng) cho các hộ kinh doanh. Nhà nước chỉ đảm nhận và phát huy vai trò, chức trách trong việc hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi về thủ tục đầu tư và quản lý hành chính; kiến tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, thông thoáng và minh bạch; kiểm tra, giám sát hoạt động của chợ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp có khả năng, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể ở từng giai đoạn, Nhà nước có các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển chợ cửa khẩu, như chính sách hỗ trợ hoặc ưu đãi về đất đai và mặt bằng xây dựng, hỗ trợ về tư vấn và ứng dụng mô hình mua bán tiên tiến (quầy đấu giá, sàn giao dịch), hỗ trợ về chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Thực hiện thứ tự ưu tiên phát triển theo hạng bậc chợ cửa khẩu, quan tâm trước hết đến các chợ nằm trong khu kinh tế cửa khẩu, chợ gắn với cửa khẩu quốc tế và chợ có kết nối với các trục giao thông xuyên quốc gia, chợ có đường dẫn tới các đô thị, trung tâm kinh tế, cảng biển lớn.
IV. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN
1. Phương án quy hoạch
Số lượng, loại hình, vị trí, công năng, mức độ và phân kì đầu tư mạng lưới chợ biên giới của các tỉnh có chung đường biên giới hai nước Việt Nam và Campuchia đến năm 2020 được thể hiện chi tiết tại Phụ lục 1 kèm theo Quyết định này.
2. Lựa chọn ưu tiên đầu tư
Danh mục các dự án chợ biên giới Việt Nam-Campuchia được ưu tiên đầu tư (xây mới hoặc nâng cấp, mở rộng) trong giai đoạn 2011-2015 cụ thể như trong Phụ lục 2 kèm theo Quyết định này.
V. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH CHỦ YẾU
Điều kiện cần và đủ để lập chợ là có dân (người sản xuất, người tiêu dùng) và do đó là có cung cầu về hàng hóa (tương đối tập trung và đủ lớn), có giao thông thuận tiện và có diện tích mặt bằng bảo đảm. Vì vậy, để phát triển mạng lưới chợ biên giới hai nước đến năm 2020 đúng như Quy hoạch trên đây, nhìn tổng thể dưới giác độ kinh tế vĩ mô, Nhà nước có các chính sách, giải pháp ưu đãi, khuyến khích phát triển mạnh các ngành nghề sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp…), đồng thời cải thiện nhanh các cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội ở khu vực biên giới, vừa nhằm nâng cao thu nhập và mức sống cho cư dân biên giới hiện có, vừa nhằm thu hút đông đảo cư dân ở các vùng lân cận đến khu vực biên giới “an cư lạc nghiệp”, làm ăn sinh sống, hình thành trên các cụm-tuyến cư dân biên giới sầm uất, từ đó thúc đẩy sự gia tăng quy mô nhu cầu trao đổi, mua bán đối với chợ biên giới.
Tuy nhiên, với khoảng thời gian từ nay đến năm 2020, cần tập trung vào một số chính sách chủ yếu sau đây:
1. Chính sách đầu tư xây dựng chợ biên giới
Trước hết, tập trung hướng dẫn và kiến tạo môi trường thuận lợi để vận dụng triệt để các chính sách hiện hành của Nhà nước về đầu tư phát triển chợ nói chung, chợ nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa và đặc biệt là chợ biên giới Việt Nam-Campuchia nói riêng, Ngoài ra:
- Khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức đầu tư hoặc liên kết, hợp tác cùng đầu tư xây dựng (kể cả xây mới và nâng cấp, mở rộng) và sau đó tiếp tục quản lý, quản trị kinh doanh khai thác các loại hình chợ biên giới. Ở những nơi có điều kiện kinh doanh thuận lợi, doanh nghiệp và người dân có khả năng về tài chính, nhà nước kêu gọi, động viên doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư và các hộ kinh doanh tham gia đóng góp để xây dựng chợ.
- Tùy theo tình hình và điều kiện trong từng thời kỳ nhất định, Nhà nước có các chính sách phù hợp để khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng chợ biên giới: như chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai; chính sách hỗ trợ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, đào tạo phát triển nguồn nhân lực và các hỗ trợ phát triển khác.
- Ở những nơi điều kiện kinh doanh khó khăn, cả doanh nghiệp lẫn hộ kinh doanh đều không có khả năng đầu tư, trong khi nhu cầu cần phải có chợ cho dân là rất bức thiết, Nhà nước có chính sách hỗ trợ một phần vốn đầu tư, chủ yếu là về cơ sở hạ tầng như: tiền thuê đất, thuế sử dụng đất, chi phí đền bù, giải tỏa, san lấp mặt bằng, chi phí lắp đặt điện nước, làm đường đi lại trong chợ và một số hạng mục khác.
- Trường hợp có đất thuộc sở hữu Nhà nước thì Nhà nước có chính sách ưu đãi cho nhà đầu tư xây dựng chợ biên giới thông qua các hình thức như: đấu thầu, giao, cho thuê, chuyển đổi mục đích sử dụng đất hoặc các hình thức khác.
2. Chính sách phát triển hệ thống giao thông đường bộ, thúc đẩy sự hình thành và phát triển mạng lưới chợ biên giới
Cư dân sinh sống tập trung và giao thông đi lại thuận tiện là hai trong số các điều kiện tiên quyết để cho ra đời và thúc đẩy chợ phát triển. Do đó, Nhà nước có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển các hệ thống giao thông đường bộ tại khu vực biên giới, bao gồm:
- (1) Đường kết nối chợ với các khu, cụm cư dân biên giới.
- (2) Đường kết nối chợ với các cửa khẩu, kể cả đường mòn, lối mở.
- (3) Đường kết nối chợ với các trung tâm kinh tế, các thị trấn, thị xã, thành phố.
- (4) Đường kết nối chợ với các quốc lộ, tỉnh lộ và mạng lưới giao thông ngoại vi, các trục giao thông dẫn đến các vùng kinh tế và các địa phương trong và ngoài nước.
- (5) Đường kết nối chợ với các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kinh tế, sân bay, bến cảng và các đô thị lớn.
Trước mắt, tập trung đầu tư để đến năm 2015 hoàn thành các hạng mục công trình giao thông đường bộ (1) và (2) cho 80% số chợ trong mạng lưới chợ biên giới và hoàn thành các hạng mục công trình giao thông đường bộ (3), (4) và (5) cho 40% số chợ cửa khẩu có hoạt động bán buôn và xuất nhập khẩu. Đến năm 2020, về cơ bản hoàn thành đồng bộ các hệ thông giao thông phục vụ hoạt động của tất cả các chợ trong mạng lưới chợ biên giới Việt Nam - Campuchia.
3. Chính sách phát triển nguồn nhân lực cho các chợ biên giới
Nhà nước có chính sách hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần kinh phí để tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn cho các đối tượng với hai chương trình chính là:
a) Chương trình dành cho đối tượng là lãnh đạo và nhân viên thuộc Ban quản lý chợ và Công ty chợ: Hướng dẫn tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách về chợ; nâng cao kiến thức và kỹ năng về quản lý các mặt hoạt động của chợ...
b) Chương trình dành cho các đối tượng là chủ thể (thương nhân) kinh doanh tại chợ: Tuyên truyền, phổ biến luật pháp, chính sách về chợ; nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh tối ưu...
4. Một số chính sách khuyến khích, ưu đãi cho chợ biên giới
a) Nhằm khuyến khích đội ngũ thương nhân kinh doanh cố định, thường xuyên và chuyên nghiệp tại chợ, đồng thời thu hút thêm ngày càng nhiều các thương nhân khác vào kinh doanh trong chợ, Nhà nước có các chính sách ưu đãi phù hợp với tình hình và điều kiện trong từng thời kỳ cho đối tượng này, như:
- Được miễn hoặc giảm một số loại thuế nhất định.
- Được giảm tiền thuê địa điểm kinh doanh, thuê quầy, sạp, cửa hàng, kiốt, quầy bán hàng.
- Được cung cấp miễn phí một số dịch vụ: dịch vụ thông tin liên lạc; dịch vụ đo lường; dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hóa, an toàn vệ sinh thực phẩm, kiểm dịch động thực vật; dịch vụ quảng cáo; dịch vụ đào tạo; dịch vụ tư vấn và một số dịch vụ khác.
b) Nhằm khuyến khích đông đảo người dân vào chợ mua hoặc bán hàng hóa, Nhà nước có chính sách ưu đãi (miễn thuế xuất-nhập khẩu) cho cư dân biên giới hai nước khi đưa hàng hóa qua biên giới (chỉ áp dụng đối với hàng hóa đem từ chợ qua biên giới hoặc đem qua biên giới vào chợ). Danh mục, số lượng và giá trị hàng hóa được miễn thuế do Chính phủ quy định cụ thể tùy theo tình hình và điều kiện trong từng thời kỳ nhất định.
5. Giải pháp về đất đai
Việc sử dụng diện tích đất để xây dựng chợ biên giới áp dụng theo tiêu chuẩn thiết kế xây dựng (TCVN 9211:2012) về Chợ-tiêu chuẩn thiết kế xây dựng (được Bộ Xây dựng ban hành thay thế tiêu chuẩn Xây dựng Việt Nam 351:2006) tùy vào điều kiện cụ thể của địa bàn khu vực biên giới, chợ biên giới thuộc chợ hạng 3, chợ cửa khẩu chủ yếu thuộc chợ hạng 2.
6. Giải pháp về bảo vệ môi trường
Tuân thủ các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật chuyên ngành và các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường được áp dụng đối với chợ (theo Quy đinh tại Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011); thưc hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong các chợ (xử lý rác thải, phế thải); thực hiện các quy chế kiểm tra và các chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm.

Content:
Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới chợ biên giới Việt Nam-Campuchia đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu sau đây:
I. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
1. Phát triển mạng lưới chợ biên giới phải vừa phù hợp, vừa thúc đẩy phát triển mặt bằng kinh tế-xã hội của khu vực biên giới hai nước Việt Nam và Campuchia, một mặt thích ứng với trình độ phát triển kinh tế-xã hội của khu vực biên giới, mặt khác dẫn dắt và thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao thu nhập, kích thích và định hướng phát triển tiêu dùng, cải thiện điều kiện sinh hoạt vật chất của cư dân hai bên biên giới, từng bước nâng cao mặt bằng kinh tế-xã hội của khu vực biên giới ngang tầm với mặt bằng kinh tế-xã hội chung của mỗi quốc gia.
2. Phát triển mạng lưới chợ biên giới phải vừa phù hợp, vừa góp phần thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trong các chủ trương, chính sách của hai nước Việt Nam và Campuchia về phát triển một tuyến biên giới chung hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng. Đồng thời phát triển mạng lưới chợ biên giới phải vừa phù hợp quy hoạch giao thông, quy hoạch về quản lý đất đai các tỉnh biên giới, vừa góp phần thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển thương mại của mỗi quốc gia và của các tỉnh có chung đường biên giới hai nước Việt Nam và Campuchia.
3. Phát triển mạng lưới chợ biên giới phải vừa nhằm trực tiếp phát triển sản xuất và tiêu dùng của cư dân hai bên biên giới, vừa thông qua đó nhằm củng cố và phát huy các giá trị văn hóa xã hội, từng bước xây dựng và phát triển các cộng đồng cư dân hai bên biên giới ngày một phồn vinh trong một môi trường yên bình, hữu nghị truyền thống và hợp tác dài lâu, góp phần tạo cơ sở kinh tế-xã hội để bảo đảm vững chắc an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội trên toàn tuyến biên giới hai nước. Chợ chăm lo cuộc sống cho dân để dân chăm lo giữ gìn biên giới.
4. Phát triển mạng lưới chợ biên giới phải bảo đảm khai thác và phát huy tối đa lợi thế về địa-kinh tế của các cửa khẩu, kể cả các đường mòn lối mở qua lại giữa hai nước. Chợ vừa gắn chặt với cửa khẩu, phục vụ cho hoạt động của cửa khẩu và vừa kết nối cửa khẩu với các vùng và với cả nước. Kết hợp đáp ứng nhu cầu trao đổi mua bán của cư dân hai bên biên giới (là trước hết và chủ yếu) với phục vụ hoạt động kinh doanh và xuất nhập khẩu của thương nhân.
5. Phát triển mạng lưới chợ biên giới phải vừa phát huy được vị trí trung tâm và vai trò nòng cốt của chợ, vừa bảo đảm sự hài hòa và cân đối dựa trên mức độ tương thích về tính chất và công năng trong các không gian thị trường giữa chợ với các loại hình khác (như siêu thị, trung tâm mua sắm, kho bán buôn và bán lẻ hàng hóa...) trong tổng thể mạng lưới thương mại trên thị trường khu vực biên giới, thể hiện quan hệ tương hỗ và bổ trợ cho nhau giữa thương mại truyền thống với thương mại hiện đại.
6. Phát triển mạng lưới chợ biên giới phải được bảo đảm hiện thực hóa bằng một hệ thống các chính sách, giải pháp khuyến khích (ưu đãi, hỗ trợ) phù hợp của Nhà nước trong từng giai đoạn theo hướng đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, đa dạng hóa loại hình và quy mô chợ, đa dạng hóa chế độ sở hữu và mô hình quản trị kinh doanh khai thác chợ. Đầu tư xây dựng chợ đi đôi với đổi mới, hoàn thiện về tổ chức và hoạt động, về công nghệ và kỹ thuật cùng các điều kiện về cơ sở vật chất khác của chợ theo hướng hiện đại và chuyên nghiệp.
II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
1. Mục tiêu tổng quát
Đáp ứng đầy đủ nhu cầu trao đổi, mua bán hàng hóa, phục vụ trước hết và chủ yếu cho sản xuất và đời sống của cư dân hai bên biên giới Việt Nam và Campuchia. Phát huy vị trí trung tâm và vai trò chủ lực của chợ trong tổng thể mạng lưới thương mại tại khu vực biên giới, thúc đẩy sản xuất, xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và điều kiện sinh hoạt của cư dân hai bên biên giới, đồng thời mở rộng phạm vi hoạt động và đối tượng phục vụ, hiện đại hóa và chuyên nghiệp hóa về tổ chức và quản trị kinh doanh khai thác chợ để từng bước vươn lên đáp ứng nhu cầu và nâng cao khả năng phục vụ cho hoạt động kinh doanh thương mại và xuất nhập khẩu của thương nhân trong và ngoài khu vực, thúc đẩy giao thương trong và ngoài nước, phát triển thị trường và qua đó góp phần phát triển kinh tế-xã hội của khu vực biên giới nói riêng và của các tỉnh có chung đường biên giới hai nước nói chung, góp phần xây dựng và thúc đẩy tuyến biên giới Việt Nam-Campuchia phát triển bền vững trong hòa bình, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng.
2. Mục tiêu cụ thể
- Đến năm 2015, thông qua mạng lưới chợ biên giới, đáp ứng được 80% nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa phục vụ sản xuất và đời sống sinh hoạt hàng ngày của cư dân hai bên biên giới Việt Nam và Campuchia; 60% nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ phục vụ kinh doanh thương mại và xuất nhập khẩu của thương nhân Việt Nam và Campuchia ở trong và ngoài khu vực biên giới. Bình quân hàng năm tại các chợ trong giai đoạn 2011-2015: doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 19-20%, doanh thu bán buôn hàng hóa tăng 14-15%.
Hoàn thành 100% số lượng chợ thuộc hạng mục cải tạo (mở rộng và nâng cấp); xây dựng mới 70-80% số chợ dân sinh biên giới, bán lẻ hàng hóa phục vụ cư dân hai bên biên giới là chủ yếu và 50-60% số chợ cửa khẩu vừa bán lẻ, vừa thu gom tập trung và bán buôn phát luồng hàng hóa phục vụ cả hoạt động kinh doanh thương mại và xuất nhập khẩu của thương nhân hai nước trong và ngoài khu vực biên giới.
- Đến năm 2020, thông qua mạng lưới chợ biên giới, đáp ứng tuyệt đại bộ phận nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa phục vụ cho sản xuất và đời sống thường ngày của cư dân hai bên biên giới Việt Nam và Campuchia, phục vụ cho hoạt động kinh doanh thương mại và xuất nhập khẩu của thương nhân Việt Nam và Campuchia trong và ngoài khu vực biên giới. Bình quân hàng năm, tại các chợ trong giai đoạn 2016-2020: doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 15-16%, doanh thu bán buôn hàng hóa tăng 17-18%.
Hoàn thành về cơ bản các hạng mục cải tạo và xây mới mạng lưới các loại chợ biên giới Việt Nam-Campuchia. Hầu hết các cửa khẩu (quốc tế, chính, phụ) và kể cả đường mòn lối mở qua lại biên giới hai nước đều có chợ (hoặc là chợ cửa khẩu vừa bán buôn vừa bán lẻ hoặc là chợ bán lẻ phục vụ dân sinh biên giới) để đáp ứng nhu cầu về trao đổi mua bán hàng hóa của mọi đối tượng trong và ngoài khu vực biên giới hai nước.
Đổi mới và hoàn chỉnh đồng bộ về mô hình quản lý (quản trị), trang thiết bị và công nghệ cùng các điều kiện và hệ thống cơ sở vật chất-kỹ thuật khác của chợ, thúc đẩy hoạt động của mạng lưới chợ biên giới hai nước từng
bước phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp với hiệu quả kinh tế-xã hội ngày càng cao.
Từ mạng lưới chợ biên giới, tạo lập các kênh lưu thông hàng hóa, kết nối thị trường khu vực biên giới với thị trường các vùng và thị trường cả nước; tạo sức mạnh lan tỏa từ thị trường khu vực biên giới ra thị trường các vùng xung quanh và thị trường toàn quốc của cả phía Việt Nam và phía Campuchia.
III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
1. Phát triển rộng khắp loại hình chợ biên giới (chợ dân sinh chuyên bán lẻ hoặc chủ yếu là bán lẻ) theo hướng phổ cập: mỗi chợ phải gắn với ít nhất là một cửa khẩu (thường là cửa khẩu phụ) hoặc đường mòn lối mở qua lại nhất định giữa hai bên biên giới; và ngược lại, ở đâu có cửa khẩu (hoặc đường mòn lối mở) thì ở đó có điều kiện tiên quyết để xem xét (cùng với các điều kiện khác) hình thành chợ biên giới, đáp ứng nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa phục vụ sản xuất và đời sống của cư dân hai bên biên giới. Bảo đảm mối tương quan cân bằng giữa số lượng các cửa khẩu và đường mòn lối mở với số lượng chợ biên giới.
- Phát triển chợ biên giới với quy mô nhỏ, xây dựng kiên cố, có thiết kế kiến trúc phù hợp với nhu cầu và tập quán trao đổi mua bán hàng hóa của cư dân biên giới hai nước. Trong đó, chú trọng quy hoạch diện tích (sân, bãi) thỏa đáng làm nơi để cư dân bán sản phẩm do mình làm ra, hình thành không gian giao dịch trực tiếp giữa người sản xuất với người tiêu dùng.
- Tại các cửa khẩu phụ và đường mòn lối mở, do điều kiện kinh doanh khó khăn, ít có khả năng sinh lời trong đầu tư, thu nhập và mức sống của cư dân hai bên biên giới thấp, nên vốn cho đầu tư phát triển các chợ biên giới chủ yếu là từ các nguồn: 1) Chính sách của Nhà nước ưu đãi hoặc hỗ trợ đầu tư; 2) Kết hợp, lồng ghép với các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội khác của Chính phủ đối với khu vực biên giới; 3) Nguồn vốn hỗ trợ hợp tác; 4) Sử dụng các nguồn tài trợ quốc tế, tài trợ của các tổ chức phi Chính phủ...
2. Phát triển cả về lượng và chất loại hình chợ cửa khẩu (chợ tổng hợp vừa bán buôn vừa bán lẻ, đa năng, đa ngành, đa lĩnh vực) theo hướng có lựa chọn và sắp xếp theo hạng bậc: mỗi cửa khẩu (cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính) phải có ít nhất một chợ cửa khẩu. Tùy theo quy mô và trình độ phát triển của từng cửa khẩu mà xây dựng và phát triển các chợ cửa khẩu cho phù hợp, bảo đảm sự tương thích giữa tính chất và công năng của chợ với hình thức và nội dung hoạt động của cửa khẩu và bảo đảm sự tương đương giữa quy mô và tầm quan trọng của cửa khẩu với quy mô và năng lực tổ chức, quản trị các hoạt động của chợ.
- Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu của cư dân hai bên biên giới, là nơi cung cấp các dịch vụ để cư dân trao đổi mua bán hàng hóa phục vụ cho sản xuất và đời sống, chợ cửa khẩu còn phải đáp ứng ngày càng nhiều nhu cầu mua sắm của khách vãng lai và nhất là nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ phục vụ cho hoạt động kinh doanh và xuất nhập khẩu của thương nhân. Theo đó, phát triển chợ cửa khẩu với quy mô vừa và lớn, xây dựng kiên cố, có thiết kế kiến trúc phức hợp, trong đó chú trọng quy hoạch các phân khu chức năng dành cho bán buôn và xuất nhập khẩu với mô hình tổ chức, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ vận hành, quản trị kinh doanh và bộ máy nhân lực từng bước được hiện đại hóa và chuyên nghiệp hóa.
- Phát triển các loại chợ cửa khẩu đi đôi với mở rộng và kết nối giao thương các chợ cửa khẩu với các trung tâm kinh tế (trung tâm sản xuất chế biến hoặc trung tâm tiêu dùng), trung tâm logistics, bến cảng, nhà ga...; vừa hội tụ vừa lan tỏa các luồng vận động hàng hóa ra vào khu vực biên giới hai nước, từ đó phát huy tầm ảnh hưởng của chợ cửa khẩu tới đời sống kinh tế-xã hội toàn tuyến biên giới và xa hơn nữa tới các vùng khác trong và ngoài nước.
- Tại các cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu chính, do điều kiện kinh doanh thuận lợi, có khả năng sinh lời trong đầu tư, thu nhập và sinh hoạt của cư dân biên giới hai nước sống gần cửa khẩu cùng khá hơn, nên nguồn lực để đầu tư phát triển các loại hình chợ cửa khẩu này có thể chủ yếu bằng con đường xã hội hóa: 1) Vốn đầu tư của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế (chủ yếu là tư nhân); 2) Tiền đóng góp của các hộ kinh doanh. Doanh nghiệp có thể bỏ vốn ra đầu tư xây dựng chợ rồi cho thuê hoặc bán lại các điểm kinh doanh (gian hàng, cửa hàng, quầy hàng, sạp hàng) cho các hộ kinh doanh. Nhà nước chỉ đảm nhận và phát huy vai trò, chức trách trong việc hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi về thủ tục đầu tư và quản lý hành chính; kiến tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, thông thoáng và minh bạch; kiểm tra, giám sát hoạt động của chợ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp có khả năng, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể ở từng giai đoạn, Nhà nước có các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển chợ cửa khẩu, như chính sách hỗ trợ hoặc ưu đãi về đất đai và mặt bằng xây dựng, hỗ trợ về tư vấn và ứng dụng mô hình mua bán tiên tiến (quầy đấu giá, sàn giao dịch), hỗ trợ về chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Thực hiện thứ tự ưu tiên phát triển theo hạng bậc chợ cửa khẩu, quan tâm trước hết đến các chợ nằm trong khu kinh tế cửa khẩu, chợ gắn với cửa khẩu quốc tế và chợ có kết nối với các trục giao thông xuyên quốc gia, chợ có đường dẫn tới các đô thị, trung tâm kinh tế, cảng biển lớn.
IV. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN
1. Phương án quy hoạch
Số lượng, loại hình, vị trí, công năng, mức độ và phân kì đầu tư mạng lưới chợ biên giới của các tỉnh có chung đường biên giới hai nước Việt Nam và Campuchia đến năm 2020 được thể hiện chi tiết tại Phụ lục 1 kèm theo Quyết định này.
2. Lựa chọn ưu tiên đầu tư
Danh mục các dự án chợ biên giới Việt Nam-Campuchia được ưu tiên đầu tư (xây mới hoặc nâng cấp, mở rộng) trong giai đoạn 2011-2015 cụ thể như trong Phụ lục 2 kèm theo Quyết định này.
V. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH CHỦ YẾU
Điều kiện cần và đủ để lập chợ là có dân (người sản xuất, người tiêu dùng) và do đó là có cung cầu về hàng hóa (tương đối tập trung và đủ lớn), có giao thông thuận tiện và có diện tích mặt bằng bảo đảm. Vì vậy, để phát triển mạng lưới chợ biên giới hai nước đến năm 2020 đúng như Quy hoạch trên đây, nhìn tổng thể dưới giác độ kinh tế vĩ mô, Nhà nước có các chính sách, giải pháp ưu đãi, khuyến khích phát triển mạnh các ngành nghề sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp…), đồng thời cải thiện nhanh các cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội ở khu vực biên giới, vừa nhằm nâng cao thu nhập và mức sống cho cư dân biên giới hiện có, vừa nhằm thu hút đông đảo cư dân ở các vùng lân cận đến khu vực biên giới “an cư lạc nghiệp”, làm ăn sinh sống, hình thành trên các cụm-tuyến cư dân biên giới sầm uất, từ đó thúc đẩy sự gia tăng quy mô nhu cầu trao đổi, mua bán đối với chợ biên giới.
Tuy nhiên, với khoảng thời gian từ nay đến năm 2020, cần tập trung vào một số chính sách chủ yếu sau đây:
1. Chính sách đầu tư xây dựng chợ biên giới
Trước hết, tập trung hướng dẫn và kiến tạo môi trường thuận lợi để vận dụng triệt để các chính sách hiện hành của Nhà nước về đầu tư phát triển chợ nói chung, chợ nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa và đặc biệt là chợ biên giới Việt Nam-Campuchia nói riêng, Ngoài ra:
- Khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức đầu tư hoặc liên kết, hợp tác cùng đầu tư xây dựng (kể cả xây mới và nâng cấp, mở rộng) và sau đó tiếp tục quản lý, quản trị kinh doanh khai thác các loại hình chợ biên giới. Ở những nơi có điều kiện kinh doanh thuận lợi, doanh nghiệp và người dân có khả năng về tài chính, nhà nước kêu gọi, động viên doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư và các hộ kinh doanh tham gia đóng góp để xây dựng chợ.
- Tùy theo tình hình và điều kiện trong từng thời kỳ nhất định, Nhà nước có các chính sách phù hợp để khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng chợ biên giới: như chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai; chính sách hỗ trợ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, đào tạo phát triển nguồn nhân lực và các hỗ trợ phát triển khác.
- Ở những nơi điều kiện kinh doanh khó khăn, cả doanh nghiệp lẫn hộ kinh doanh đều không có khả năng đầu tư, trong khi nhu cầu cần phải có chợ cho dân là rất bức thiết, Nhà nước có chính sách hỗ trợ một phần vốn đầu tư, chủ yếu là về cơ sở hạ tầng như: tiền thuê đất, thuế sử dụng đất, chi phí đền bù, giải tỏa, san lấp mặt bằng, chi phí lắp đặt điện nước, làm đường đi lại trong chợ và một số hạng mục khác.
- Trường hợp có đất thuộc sở hữu Nhà nước thì Nhà nước có chính sách ưu đãi cho nhà đầu tư xây dựng chợ biên giới thông qua các hình thức như: đấu thầu, giao, cho thuê, chuyển đổi mục đích sử dụng đất hoặc các hình thức khác.
2. Chính sách phát triển hệ thống giao thông đường bộ, thúc đẩy sự hình thành và phát triển mạng lưới chợ biên giới
Cư dân sinh sống tập trung và giao thông đi lại thuận tiện là hai trong số các điều kiện tiên quyết để cho ra đời và thúc đẩy chợ phát triển. Do đó, Nhà nước có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển các hệ thống giao thông đường bộ tại khu vực biên giới, bao gồm:
- (1) Đường kết nối chợ với các khu, cụm cư dân biên giới.
- (2) Đường kết nối chợ với các cửa khẩu, kể cả đường mòn, lối mở.
- (3) Đường kết nối chợ với các trung tâm kinh tế, các thị trấn, thị xã, thành phố.
- (4) Đường kết nối chợ với các quốc lộ, tỉnh lộ và mạng lưới giao thông ngoại vi, các trục giao thông dẫn đến các vùng kinh tế và các địa phương trong và ngoài nước.
- (5) Đường kết nối chợ với các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kinh tế, sân bay, bến cảng và các đô thị lớn.
Trước mắt, tập trung đầu tư để đến năm 2015 hoàn thành các hạng mục công trình giao thông đường bộ (1) và (2) cho 80% số chợ trong mạng lưới chợ biên giới và hoàn thành các hạng mục công trình giao thông đường bộ (3), (4) và (5) cho 40% số chợ cửa khẩu có hoạt động bán buôn và xuất nhập khẩu. Đến năm 2020, về cơ bản hoàn thành đồng bộ các hệ thông giao thông phục vụ hoạt động của tất cả các chợ trong mạng lưới chợ biên giới Việt Nam - Campuchia.
3. Chính sách phát triển nguồn nhân lực cho các chợ biên giới
Nhà nước có chính sách hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần kinh phí để tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn cho các đối tượng với hai chương trình chính là:
a) Chương trình dành cho đối tượng là lãnh đạo và nhân viên thuộc Ban quản lý chợ và Công ty chợ: Hướng dẫn tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách về chợ; nâng cao kiến thức và kỹ năng về quản lý các mặt hoạt động của chợ...
b) Chương trình dành cho các đối tượng là chủ thể (thương nhân) kinh doanh tại chợ: Tuyên truyền, phổ biến luật pháp, chính sách về chợ; nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh tối ưu...
4. Một số chính sách khuyến khích, ưu đãi cho chợ biên giới
a) Nhằm khuyến khích đội ngũ thương nhân kinh doanh cố định, thường xuyên và chuyên nghiệp tại chợ, đồng thời thu hút thêm ngày càng nhiều các thương nhân khác vào kinh doanh trong chợ, Nhà nước có các chính sách ưu đãi phù hợp với tình hình và điều kiện trong từng thời kỳ cho đối tượng này, như:
- Được miễn hoặc giảm một số loại thuế nhất định.
- Được giảm tiền thuê địa điểm kinh doanh, thuê quầy, sạp, cửa hàng, kiốt, quầy bán hàng.
- Được cung cấp miễn phí một số dịch vụ: dịch vụ thông tin liên lạc; dịch vụ đo lường; dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hóa, an toàn vệ sinh thực phẩm, kiểm dịch động thực vật; dịch vụ quảng cáo; dịch vụ đào tạo; dịch vụ tư vấn và một số dịch vụ khác.
b) Nhằm khuyến khích đông đảo người dân vào chợ mua hoặc bán hàng hóa, Nhà nước có chính sách ưu đãi (miễn thuế xuất-nhập khẩu) cho cư dân biên giới hai nước khi đưa hàng hóa qua biên giới (chỉ áp dụng đối với hàng hóa đem từ chợ qua biên giới hoặc đem qua biên giới vào chợ). Danh mục, số lượng và giá trị hàng hóa được miễn thuế do Chính phủ quy định cụ thể tùy theo tình hình và điều kiện trong từng thời kỳ nhất định.
5. Giải pháp về đất đai
Việc sử dụng diện tích đất để xây dựng chợ biên giới áp dụng theo tiêu chuẩn thiết kế xây dựng (TCVN 9211:2012) về Chợ-tiêu chuẩn thiết kế xây dựng (được Bộ Xây dựng ban hành thay thế tiêu chuẩn Xây dựng Việt Nam 351:2006) tùy vào điều kiện cụ thể của địa bàn khu vực biên giới, chợ biên giới thuộc chợ hạng 3, chợ cửa khẩu chủ yếu thuộc chợ hạng 2.
6. Giải pháp về bảo vệ môi trường
Tuân thủ các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật chuyên ngành và các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường được áp dụng đối với chợ (theo Quy đinh tại Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011); thưc hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong các chợ (xử lý rác thải, phế thải); thực hiện các quy chế kiểm tra và các chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm.