Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1022/QĐ-BCT Quy hoạch phát triển thương mại Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam 2017

Type: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "24/03/2017", "sign_number": "1022/QĐ-BCT", "signer": "Trần Tuấn Anh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "24/03/2017", "sign_number": "1022/QĐ-BCT", "signer": "Trần Tuấn Anh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "24/03/2017", "sign_number": "1022/QĐ-BCT", "signer": "Trần Tuấn Anh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "24/03/2017", "sign_number": "1022/QĐ-BCT", "signer": "Trần Tuấn Anh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "24/03/2017", "sign_number": "1022/QĐ-BCT", "signer": "Trần Tuấn Anh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1022/QĐ-BCT Quy hoạch phát triển thương mại Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam 2017

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Quy hoạch phát triển thương mại Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035” với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
3. Định hướng phát triển
3.1. Định hướng phát triển xuất nhập khẩu
a) Định hướng phát triển xuất khẩu
Về mặt hàng xuất khẩu:
Hạn chế và cắt giảm dần việc xuất khẩu các loại tài nguyên, nhiên liệu thô, các sản phẩm sơ chế... gắn với từng bước nâng cao và thay thế bằng việc xuất khẩu các mặt hàng đã qua chế biến, các mặt hàng có giá trị gia tăng cao, phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.
Tăng cường ứng dụng công nghệ, đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, hiện đại hóa dây chuyền sản xuất và chế biến nhằm tạo ra những sản phẩm chế biến có chất lượng, thân thiện với môi trường. Từ đó đẩy mạnh tìm kiếm và mở rộng các thị trường tiềm năng, bao gồm cả những thị trường khó tính như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU...
Về thị trường xuất khẩu:
Duy trì và giữ vững các thị trường truyền thống, ổn định như Trung Quốc, EU, Nhật Bản, ASEAN... đồng thời, phát triển các thị trường mới với nhiều phân đoạn thị trường, chú trọng các thị trường có triển vọng đối với hàng hóa xuất khẩu mới của Vùng để thông qua nhập khẩu tìm kiếm cơ hội cho xuất khẩu.
Thông qua liên doanh, liên kết với các tập đoàn sản xuất quốc tế lớn để tiếp cận thị trường bản địa. Chú trọng các thị trường đã ký FTA với Việt Nam và lộ trình cắt giảm thuế quan với các cơ hội mở cửa thị trường nước ngoài để tìm kiếm mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu của Vùng.
Tiếp tục tăng cường và mở rộng mối quan hệ thương mại với các thị trường trung gian để tìm kiếm cơ hội phát triển xuất khẩu, nhất là phát triển sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mới sang các thị trường khác. Trong xu thế phát triển mạng sản xuất kinh doanh mang tính toàn cầu và điều kiện cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế hiện nay, thị trường trung gian còn có vai trò cung cấp thông tin thị trường, tư vấn chuyển giao công nghệ chế biến, liên kết các nhà sản xuất trong chuỗi giá trị và cung cấp các nguồn nguyên liệu bổ sung.
Về hình thức xuất khẩu:
Trong giai đoạn trước mắt, tiếp tục kết hợp chặt chẽ giữa xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu ủy thác qua các đầu mối xuất khẩu lớn (thông qua các cảng biển và cửa khẩu đường bộ qua biên giới), nhất là các đầu mối xuất khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh. Về lâu dài, từng bước phát triển quan hệ với các đối tác thương mại tại các nước nhập khẩu để chuyển từ xuất khẩu ủy thác sang xuất khẩu trực tiếp là chính.
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, từng bước tạo lập cơ sở hạ tầng, trong đó hoàn thiện và chuyên nghiệp hóa hệ thống trung tâm logistics; thực hiện giao dịch điện tử, ký kết hợp đồng xuất khẩu thông qua thương mại điện tử với các doanh nghiệp ở nước ngoài.
Khai thác tối đa lợi thế xuất khẩu tại chỗ trên cơ sở đa dạng hóa và nâng cao chất lượng cung ứng hàng hóa, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của khách nước ngoài, trong đó chủ yếu là nhu cầu ăn, uống và hàng công nghiệp phục vụ cá nhân tại các khách sạn, nhà hàng. Đồng thời, phát triển các hình thức dịch vụ, các cửa hàng thương mại bán các đặc sản của ngành trồng trọt, thủy sản, thủ công mỹ nghệ tại các khu, tuyến du lịch có nhiều khách nước ngoài, từ đó tạo cơ hội tăng chi tiêu mua sắm của khách du lịch.
b) Định hướng phát triển nhập khẩu
Ưu tiên nhập khẩu nguyên vật liệu, đặc biệt là thiết bị và công nghệ, chú trọng phục vụ cho nhu cầu xây dựng và hình thành các khu công nghiệp trên địa bàn theo hướng: có công nghệ và quy trình sản xuất - kinh doanh tiên tiến, đáp ứng được yêu cầu của thị trường về tính năng, chất lượng sản phẩm và phù hợp về giá cả; có khả năng thu hồi vốn nhanh, đồng thời đảm bảo các tiêu chuẩn thân thiện môi trường và tiết kiệm năng lượng.
Giảm dần nhập khẩu các mặt hàng có thể sản xuất được ở trong nước, kiểm soát chặt chẽ, tiến tới hạn chế nhập khẩu các mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu.
3.2. Định hướng phát triển mô hình tổ chức lưu thông thị trường
a) Thị trường hàng công nghiệp tiêu dùng
Đối với lưu thông hàng tiêu dùng nhập khẩu: Phát huy tối đa hiệu quả của các công trình thương mại hiện có, đặc biệt là hệ thống trung tâm logistics, đồng thời chú trọng phát triển các điều kiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ thương mại ở các khu vực cửa khẩu, bến cảng phục vụ hoạt động tập kết và lưu chuyển hàng hóa quy mô lớn vào thị trường nội địa.
Đối với lưu thông hàng tiêu dùng được sản xuất trong Vùng: Hầu hết hàng tiêu dùng được cung ứng từ hệ thống phân phối của các nhà sản xuất trong Vùng. Do đó, tổ chức hệ thống đại lý rộng khắp thông qua các doanh nghiệp (gồm cả doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp phân phối), các hộ kinh doanh đến người tiêu dùng trên địa bàn, bao gồm cả khu vực thành thị, nông thôn, biên giới và các điểm du lịch.
Hình thành và phát triển các kênh phân phối hàng hóa (cả bán buôn và bán lẻ) đa dạng. Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp phân phối hàng tiêu dùng chuyên nghiệp, có tiềm lực và kỹ năng kinh doanh, từng bước áp dụng quy trình và công nghệ kinh doanh tiên tiến, hiện đại, mà trước hết là ở đô thị lớn trong Vùng.
Phát triển mạng lưới cung ứng của các thương nhân tới vùng nông thôn, trong đó ưu tiên các hộ kinh doanh có kinh nghiệm để hình thành mạng lưới phân phối chủ yếu hàng công nghiệp tiêu dùng ở khu vực thị trường này; hỗ trợ các hộ dân vùng biên giới, hải đảo và khu vực còn khó khăn tự mở cửa hàng kinh doanh theo phương thức thanh toán trả sau; bên cạnh phương thức kinh doanh truyền thống, áp dụng bổ sung các hình thức giao dịch mới, hiện đại...
b) Thị trường hàng nông, lâm, thủy sản
Hình thành các trung tâm phân phối bán buôn chuyên nghiệp hàng nông, lâm, thủy sản để tập kết hàng hóa nông sản từ các tỉnh, thành phố trong Vùng nhằm cung ứng cho bán lẻ và cho các đối tượng tiêu dùng lớn. Chú trọng các khu vực tiêu thụ tập trung: phát triển các chợ đầu mối, chợ chuyên doanh nông sản tại ngoại vi thành phố Hồ Chí Minh (gắn với các địa phương có vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn); hình thành các khu bán buôn nông sản riêng biệt tại trung tâm các tỉnh còn lại trong Vùng.
Khuyến khích phát triển các nhà phân phối bán buôn nông sản chuyên nghiệp với các nhà phân phối lớn làm nòng cốt, có kinh nghiệm và tiềm lực về tài chính, có quan hệ bạn hàng ổn định, có phương thức kinh doanh và lực lượng lao động đáp ứng được yêu cầu.
Tổ chức tiêu thụ mặt hàng thủy hải sản nuôi trồng và đánh bắt tại chỗ của ngư dân, hình thành các chợ chuyên doanh thủy sản, chợ cá gắn với các cảng cá. Tổ chức tốt khâu vận chuyển tới các nhà máy chế biến, tới các khách sạn, nhà hàng và tới các chợ bán lẻ. Chú trọng các vùng nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản tập trung tại Bà Rịa - Vũng Tàu và Tiền Giang.
Thu hút doanh nghiệp đầu tư cho sản xuất và tiêu thụ: Gắn kết doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng nông, lâm, thủy sản (cung cấp gia súc, gia cầm làm nguyên liệu đầu vào cho nhà máy chế biến thực phẩm); cung ứng nông sản từ sản xuất tới các khách sạn, nhà hàng, các siêu thị, chuỗi cửa hàng thực phẩm.
Hình thành cơ chế phối hợp tiêu thụ hàng nông sản là nguyên liệu của sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giữa các tỉnh, thành phố có cùng cơ cấu cây trồng vật nuôi. Đặc biệt là hợp tác để cung ứng nguyên liệu cho hàng hóa đã có thương hiệu để tận dụng công suất chế biến, tăng khối lượng sản phẩm ra thị trường.
Ngoài hệ thống chợ truyền thống vẫn chuyên trách đảm nhận cung ứng hàng nông sản, cần phát triển thêm các loại hình cửa hàng thực phẩm chất lượng cao như cửa hàng thực phẩm sạch, rau an toàn; các điểm bán hàng Việt... Bên cạnh đó, cần hiện đại hóa khu chợ bán hàng nông, thủy sản tại đô thị; nâng cấp, cải tạo các khu chợ chuyên doanh nông sản ở nông thôn, đặc biệt quan tâm đến khu mua bán thủy sản tươi sống, đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm.
Giám sát chất lượng nông sản thực phẩm vào hệ thống khách sạn, nhà hàng, trước hết là tại các điểm phân phối tập trung như chợ bán buôn, (hoặc thông qua việc nhân rộng hệ thống chợ an toàn thực phẩm)... cung cấp thức ăn tươi sống, an toàn để tạo uy tín và hấp dẫn khách du lịch.
c) Thị trường hàng tư liệu sản xuất
Củng cố, phát triển hệ thống đại lý, cơ sở kinh doanh của các chủ thể sản xuất kinh doanh để tiêu thụ hàng tư liệu sản xuất trên địa bàn các tỉnh, thành phố trong Vùng.
Phát triển đa dạng các hình thức bán buôn theo hướng đấu thầu mua sắm khối lượng lớn và cung ứng hàng hóa trực tiếp.
Phát triển các trung tâm giao dịch bán buôn nguyên vật liệu cho các ngành sản xuất, củng cố mạng lưới điểm mua bán hàng hóa tư liệu sản xuất, các cơ sở hạ tầng phục vụ lưu thông loại hàng hóa đặc thù như hệ thống kho, bãi, bến cảng... trên địa bàn các tỉnh, thành phố trong Vùng.
3.3. Định hướng phát triển các thành phần kinh tế tham gia hoạt động thương mại
a) Về tính chất kinh doanh
Doanh nghiệp bán buôn: Loại hình doanh nghiệp này vừa liên kết với các nhà sản xuất, tổ chức khai thác nguồn hàng ngoài tỉnh, tổ chức nhập khẩu để tạo nguồn hàng ổn định, vừa tham gia các hoạt động xuất khẩu, cung ứng hàng hóa cho các doanh nghiệp, hộ kinh doanh để bán lẻ và phát luồng hàng hóa ra ngoài tỉnh.
Doanh nghiệp bán lẻ: Loại hình doanh nghiệp bán lẻ có mạng lưới bán lẻ theo các loại hình như trung tâm mua sắm, chuỗi siêu thị, các chuỗi cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng tổng hợp, cửa hàng tiện lợi ở khu vực các phường, thị trấn, thành phố. Phát triển các chuỗi cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng tổng hợp, cửa hàng tiện lợi ở khu vực nông thôn.
Các cửa hàng bán buôn, bán lẻ của hộ kinh doanh: Thông qua các hình thức đại lý, các hộ kinh doanh tham gia vào hệ thống kinh doanh theo chuỗi (thông qua hình thức liên kết, liên doanh, nhượng quyền thương mại...) để kết nối các cửa hàng độc lập với các doanh nghiệp sản xuất, phân phối và xuất, nhập khẩu hàng hóa.
Công ty kinh doanh dịch vụ logistics: Là loại hình công ty tổ chức các dịch vụ logistics một cách chuyên nghiệp, hiện đại với những khách hàng quy mô lớn, ổn định.
Tổ chức quản lý, kinh doanh khai thác chợ: Ban quản lý chợ ở các địa phương, đặc biệt là khu vực đô thị sẽ tiếp tục đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp kinh doanh khai thác chợ.
Hợp tác xã thương mại và dịch vụ nông thôn hoặc hợp tác xã kinh doanh tổng hợp: Loại hình này sẽ tập trung đảm nhận các dịch vụ cung ứng “đầu vào” cho sản xuất nông nghiệp và tổ chức “đầu ra” cho các hộ nông dân. Từng bước chuyển đổi các Ban quản lý, tổ quản lý chợ tại các xã hoạt động theo mô hình hợp tác xã. Đồng thời thành lập các hợp tác xã mới để quản lý chợ được đầu tư xây dựng mới hoặc các chợ đang giao khoán cho tổ chức, cá nhân theo đúng quy định hiện hành.
b) Về quy mô doanh nghiệp
Coi trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh, đồng thời, khuyến khích và thúc đẩy quá trình hình thành các doanh nghiệp lớn thông qua quá trình tích tụ và tập trung, xác lập sự liên kết giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ trong việc tổ chức thị trường, tạo sức mạnh để hợp tác và cạnh tranh có hiệu quả với các tập đoàn nước ngoài. Trên cơ sở đó, phát huy vai trò và vị trí của thương mại trong nước trong việc định hướng và thúc đẩy sản xuất phát triển, định hướng và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong phú, đa dạng của người dân, tạo mối quan hệ chặt chẽ với thị trường thế giới thông qua xuất khẩu và nhập khẩu, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng GDP, tạo tiền đề để chủ động hội nhập kinh tế - thương mại quốc tế một cách sâu rộng và thành công.
c) Về hình thức sở hữu
Giai đoạn từ nay đến năm 2025, tiếp tục lấy doanh nghiệp có vốn nhà nước làm nòng cốt trong việc phát triển sản xuất và kinh doanh các nhóm hàng cơ khí, luyện kim, hóa chất, dệt may, bia - rượu - nước giải khát; tận dụng thu hút các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc phát triển sản xuất và kinh doanh các nhóm hàng điện, điện tử, từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng trong chuỗi sản xuất kinh doanh các sản phẩm này.
Bên cạnh đó, tạo điều kiện thuận lợi, tập trung phát triển các doanh nghiệp tư nhân, thu hút khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào hoạt động sản xuất, thu mua, chế biến, bảo quản và tổ chức hệ thống tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm, thủy sản, nâng cao một bước trình độ chuyên môn hóa, chất lượng sản phẩm và tính bền vững của thị trường tiêu thụ.
3.4. Định hướng phát triển các dịch vụ phụ trợ của ngành thương mại
a) Dịch vụ logistics
Sự phát triển của hoạt động lưu chuyển hàng hóa giữa Vùng với thị trường quốc tế sẽ kéo theo sự gia tăng nhu cầu các dịch vụ logistics. Tùy theo tính chất (quy mô, phạm vi) của dòng hàng hóa cũng như yêu cầu của khách hàng để từ đó tổ chức cung ứng các dịch vụ này một cách phù hợp, trong đó, chú trọng kết nối vận chuyển hai đầu giữa cảng biển với các cửa khẩu.
Những nhiệm vụ chủ yếu để phát triển các dịch vụ logistics trên địa bàn Vùng bao gồm:
Tăng cường tiềm lực và cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh dịch vụ logistics hiện đang hoạt động trên địa bàn: cho phép huy động vốn theo hình thức đối tác công tư; minh bạch hóa các quy định về đầu tư, tiêu chí cấp phép...; áp dụng đồng bộ hình thức thông quan điện tử; hỗ trợ đào tạo, nâng cao trình độ nhân lực ngành logistics và ứng dụng công nghệ quản lý chuỗi cung ứng hiện đại; ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics có uy tín...
Thu hút các doanh nghiệp kinh doanh logistics chuyên nghiệp cả trong và ngoài nước trong việc xây dựng hạ tầng và cung ứng dịch vụ, từ đại lý giao nhận truyền thống đến đại lý giao nhận với vai trò là nhà vận tải đa phương thức hay nhà cung cấp dịch vụ logistics trọn gói.
Khuyến khích phát triển các dịch vụ logistics thuê ngoài, tích hợp trọn gói và đồng bộ, tổ chức hoạt động theo mô hình logistics bên thứ ba (3PL) để tối thiểu hóa chi phí và bổ sung giá trị gia tăng cho hàng hóa và dịch vụ. Từng bước triển khai mô hình logistics bên thứ tư (4PL) và logistics bên thứ 5 (5PL) trên cơ sở phát triển thương mại điện tử và quản trị chuỗi cung ứng hiện đại, chuyên nghiệp và hiệu quả.
Tạo điều kiện về quỹ đất, vốn đầu tư, hạ tầng kỹ thuật và xã hội để hình thành một số cơ sở cung ứng dịch vụ logistics tập trung, nhất là ở Khu kinh tế cửa khẩu và các cảng biển. Hỗ trợ kinh doanh dịch vụ logistics theo hướng đơn giản hóa các thủ tục hành chính có liên quan đến đầu tư xây dựng, đặc biệt là cải thiện thủ tục hải quan nhằm khuyến khích xây dựng cơ sở hạ tầng và tiện lợi hóa thông quan hơn nữa tại các cửa khẩu, cảng biển.
b) Dịch vụ tài chính, ngân hàng
Tăng cường thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kho bạc và các Ngân hàng thương mại về tài chính, tín dụng trong các giao dịch thương mại quy mô lớn và trong thanh toán xuất nhập khẩu qua biên giới.
Đảm bảo các thương nhân, cơ sở kinh doanh vừa và nhỏ được tiếp cận với nguồn vốn kịp thời, dễ dàng... theo đúng quy định hiện hành về hạn mức vay, lãi suất; hoặc nới lỏng hạn mức cho vay đối với các giao dịch hàng hóa khuyến khích sản xuất và xuất khẩu.
Tiếp tục thiết lập và tăng cường mối quan hệ đa phương giữa các ngân hàng trong và ngoài nước nhằm mở rộng diện thanh toán cũng như bổ sung hình thức thanh toán hiện đại, đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô và cường độ lưu thông hàng hóa qua biên giới.
c) Dịch vụ xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin
Đẩy mạnh và tổ chức hiệu quả, thiết thực các hoạt động xúc tiến thương mại giữa các địa phương trong Vùng, trước mắt là với các doanh nghiệp Trung Quốc và ASEAN để tìm kiếm bạn hàng, giới thiệu sản phẩm mua và bán.
Xây dựng cơ sở chuyên nghiệp để tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại, trọng tâm là các trung tâm hội chợ triển lãm, trung tâm giới thiệu sản phẩm, hàng hóa đặc trưng của Vùng, nơi thường xuyên tổ chức các hội chợ triển lãm thương mại cấp quốc gia và cấp Vùng.
Nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ thông tin: Hỗ trợ thông tin thương mại thông qua xây dựng năng lực và kết nối mạng lưới internet; cung cấp trực tuyến thông tin về thị trường trong và ngoài nước cho doanh nghiệp. Thu hút các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ thông tin vào tổ chức hoạt động trên địa bàn.
Mở thêm các kênh thông tin để phổ biến kiến thức thương mại - thị trường cho các hộ kinh doanh nhỏ lẻ, đặc biệt là tại vùng nông thôn, nhằm hỗ trợ phát triển mở rộng quy mô kinh doanh, thay đổi tập quán kinh doanh hoặc thay đổi mô hình kinh doanh phù hợp với xu hướng thị trường.
3.5. Định hướng phát triển thương mại điện tử
Ứng dụng thương mại điện tử trên địa bàn các tỉnh, thành phố trong Vùng phải được thực hiện cả giữa doanh nghiệp - doanh nghiệp và doanh nghiệp - người tiêu dùng, chủ yếu ở các khâu như:
Giao dịch mua bán trực tuyến; sử dụng chứng từ, thanh toán điện tử; sử dụng phần mềm chuyên dụng trong quản lý kinh doanh, quan hệ khách hàng...; trao đổi thông tin, quảng cáo qua các website...
Ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động logistics (e-logistics) và quản trị dây chuyền cung ứng an toàn và thân thiện (sử dụng phần mềm quản lý kho...).
3.6. Định hướng phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại
a) Kết cấu hạ tầng bán buôn
Phục vụ hàng nông sản: Tiếp tục định hình và hoàn thiện kênh phân phối bán buôn hàng nông sản, trong đó xác định nòng cốt là các chợ đầu mối bán buôn nông sản (chủ yếu được tập kết và phát luồng tại một số chợ đầu mối tại thành phố Hồ Chí Minh) và một số chợ hạng I ở các thành phố, thị xã khác trong Vùng.
Phục vụ hàng tiêu dùng nhập khẩu: Các hoạt động bán buôn hàng tiêu dùng nhập khẩu chủ yếu tập trung vào các chợ bán buôn, trung tâm bán buôn hàng tiêu dùng... do đó, khuyến khích việc hình thành khu bán buôn tập trung để thuận lợi cho việc tổ chức các dịch vụ chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ phục vụ cho lưu thông bán buôn hàng hóa tại khu trung tâm bán buôn này.
Căn cứ vào nhu cầu và khả năng thực tế ở những thời điểm thích hợp, bố trí trong chợ đầu mối bán buôn, trung tâm bán buôn có sàn đấu giá hoặc sàn giao dịch hàng hóa.
b) Kết cấu hạ tầng bán lẻ
Tại địa bàn đô thị: Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị trung tâm của các tỉnh trong Vùng sẽ phát triển đa dạng hệ thống hạ tầng thương mại bán lẻ, từ loại hình đến quy mô và với mật độ cao. Tuy nhiên, chú trọng phát triển các loại hình bán lẻ hiện đại, có phương thức kinh doanh tiên tiến. Tập trung phát triển theo chiều sâu theo hướng chuyên nghiệp hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng hàng hóa, hình thành hệ thống hạ tầng thương mại văn minh.
Tại địa bàn nông thôn: Chú trọng phát triển loại hình bán lẻ truyền thống là chủ yếu bao gồm: chợ dân sinh ở các xã, cụm xã; các điểm bán, cửa hàng truyền thống tại các cụm dân cư nông thôn, bên cạnh các chợ xã hoặc ở trung tâm xã. Giai đoạn sau năm 2025 sẽ phát triển thay thế dần và phát triển mới các cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng tiện lợi, tự chọn.
Tại các khu công nghiệp: Phát triển hạ tầng thương mại bán lẻ phục vụ công nhân tại các khu công nghiệp có khu nhà ở của công nhân. Các loại hình thương mại chủ yếu bao gồm: chợ, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng truyền thống kết hợp với các cơ sở dịch vụ chăm sóc cá nhân khác để tạo thành khu thương mại - dịch vụ tổng hợp trong các khu công nghiệp. Hình thành các hoạt động thương mại bán lẻ nội khu hoặc ngoại khu ở các dự án xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp.
Tại các khu du lịch: Phát triển các loại hình hạ tầng thương mại đặc trưng phục vụ nhu cầu mua sắm của khách du lịch như khu ẩm thực, khu mua bán hàng ban đêm, cửa hàng lưu niệm, cửa hàng trưng bày và giới thiệu đặc sản, cửa hàng truyền thống (kết hợp giữa văn minh thương mại và bản sắc văn hóa dân tộc),... gắn với các điểm, tuyến, khu du lịch đã được quy hoạch trong Vùng.
c) Kết cấu hạ tầng xuất nhập khẩu
Vùng có nhiều tiềm năng, lợi thế về thương mại quốc tế cả trên biển và trên bộ (qua biên giới). Quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng xuất nhập khẩu cần đạt được mục tiêu kết nối, lưu thông hàng hóa giữa các cảng, cửa khẩu biên giới với nội địa và ngược lại. Các loại hình hạ tầng xuất nhập khẩu chủ yếu sẽ bao gồm: hệ thống kho, bãi hàng hóa; trung tâm logistics, chợ biên giới...
Hệ thống hạ tầng thương mại phục vụ xuất - nhập khẩu được phân bố tập trung tại khu vực cảng, các khu kinh tế cửa khẩu và cửa khẩu biên giới của các tỉnh, thành phố trong Vùng. Loại hình hạ tầng phục vụ cho xuất nhập khẩu phù hợp ở khu vực cảng là trung tâm logistics và hệ thống kho bãi...
d) Kết cấu hạ tầng thương mại nông thôn
Xây dựng và hình thành hệ thống hạ tầng thương mại nông thôn với số lượng, loại hình, cơ cấu, quy mô... phù hợp với định hướng phát triển không gian kinh tế - xã hội, với trình độ phát triển thị trường khu vực nông thôn, với sự phát triển của các hoạt động thương mại bán buôn, bán lẻ trên từng địa bàn, kết hợp chặt chẽ với quá trình xây dựng nông thôn mới của các địa phương trong Vùng.
Phát triển hệ thống hạ tầng thương mại nông thôn theo hướng mở, tạo ra khả năng gắn kết và ảnh hưởng lan tỏa của các loại hình hạ tầng thương mại trong khu vực nông thôn, giữa nông thôn với đô thị, tăng cường tính liên kết phát triển giữa các tỉnh, thành phố trong Vùng và giữa Vùng với các vùng kinh tế khác trong cả nước.
Từng bước phát triển một số loại hình hạ tầng thương mại hiện đại, kết hợp với kế thừa, cải tạo các loại hình truyền thống trên địa bàn nông thôn, tăng cường điều kiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, đảm bảo văn minh thương mại và giữ gìn bản sắc văn hóa, tập quán từng địa phương.
Áp dụng bổ sung các phương thức kinh doanh tiên tiến trong các loại hình hạ tầng truyền thống, nâng cao trình độ và phương thức giao dịch tại các chợ bán buôn và chợ tổng hợp bán buôn bán lẻ quy mô lớn ở khu vực nông thôn.
Hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý trong các loại hình hạ tầng thương mại nông thôn đồng thời với việc nâng cao trình độ và tính chuyên nghiệp cho đội ngũ lao động quản lý và kinh doanh.
Phát triển chủ yếu các công trình thương mại quy mô vừa và nhỏ, kinh doanh tổng hợp, trong đó chợ truyền thống và cửa hàng thương mại (truyền thống, hiện đại) sẽ là các loại hình phổ biến.

Content:
Định hướng phát triển
3.1. Định hướng phát triển xuất nhập khẩu
a) Định hướng phát triển xuất khẩu
Về mặt hàng xuất khẩu:
Hạn chế và cắt giảm dần việc xuất khẩu các loại tài nguyên, nhiên liệu thô, các sản phẩm sơ chế... gắn với từng bước nâng cao và thay thế bằng việc xuất khẩu các mặt hàng đã qua chế biến, các mặt hàng có giá trị gia tăng cao, phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.
Tăng cường ứng dụng công nghệ, đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, hiện đại hóa dây chuyền sản xuất và chế biến nhằm tạo ra những sản phẩm chế biến có chất lượng, thân thiện với môi trường. Từ đó đẩy mạnh tìm kiếm và mở rộng các thị trường tiềm năng, bao gồm cả những thị trường khó tính như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU...
Về thị trường xuất khẩu:
Duy trì và giữ vững các thị trường truyền thống, ổn định như Trung Quốc, EU, Nhật Bản, ASEAN... đồng thời, phát triển các thị trường mới với nhiều phân đoạn thị trường, chú trọng các thị trường có triển vọng đối với hàng hóa xuất khẩu mới của Vùng để thông qua nhập khẩu tìm kiếm cơ hội cho xuất khẩu.
Thông qua liên doanh, liên kết với các tập đoàn sản xuất quốc tế lớn để tiếp cận thị trường bản địa. Chú trọng các thị trường đã ký FTA với Việt Nam và lộ trình cắt giảm thuế quan với các cơ hội mở cửa thị trường nước ngoài để tìm kiếm mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu của Vùng.
Tiếp tục tăng cường và mở rộng mối quan hệ thương mại với các thị trường trung gian để tìm kiếm cơ hội phát triển xuất khẩu, nhất là phát triển sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mới sang các thị trường khác. Trong xu thế phát triển mạng sản xuất kinh doanh mang tính toàn cầu và điều kiện cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế hiện nay, thị trường trung gian còn có vai trò cung cấp thông tin thị trường, tư vấn chuyển giao công nghệ chế biến, liên kết các nhà sản xuất trong chuỗi giá trị và cung cấp các nguồn nguyên liệu bổ sung.
Về hình thức xuất khẩu:
Trong giai đoạn trước mắt, tiếp tục kết hợp chặt chẽ giữa xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu ủy thác qua các đầu mối xuất khẩu lớn (thông qua các cảng biển và cửa khẩu đường bộ qua biên giới), nhất là các đầu mối xuất khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh. Về lâu dài, từng bước phát triển quan hệ với các đối tác thương mại tại các nước nhập khẩu để chuyển từ xuất khẩu ủy thác sang xuất khẩu trực tiếp là chính.
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, từng bước tạo lập cơ sở hạ tầng, trong đó hoàn thiện và chuyên nghiệp hóa hệ thống trung tâm logistics; thực hiện giao dịch điện tử, ký kết hợp đồng xuất khẩu thông qua thương mại điện tử với các doanh nghiệp ở nước ngoài.
Khai thác tối đa lợi thế xuất khẩu tại chỗ trên cơ sở đa dạng hóa và nâng cao chất lượng cung ứng hàng hóa, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của khách nước ngoài, trong đó chủ yếu là nhu cầu ăn, uống và hàng công nghiệp phục vụ cá nhân tại các khách sạn, nhà hàng. Đồng thời, phát triển các hình thức dịch vụ, các cửa hàng thương mại bán các đặc sản của ngành trồng trọt, thủy sản, thủ công mỹ nghệ tại các khu, tuyến du lịch có nhiều khách nước ngoài, từ đó tạo cơ hội tăng chi tiêu mua sắm của khách du lịch.
b) Định hướng phát triển nhập khẩu
Ưu tiên nhập khẩu nguyên vật liệu, đặc biệt là thiết bị và công nghệ, chú trọng phục vụ cho nhu cầu xây dựng và hình thành các khu công nghiệp trên địa bàn theo hướng: có công nghệ và quy trình sản xuất - kinh doanh tiên tiến, đáp ứng được yêu cầu của thị trường về tính năng, chất lượng sản phẩm và phù hợp về giá cả; có khả năng thu hồi vốn nhanh, đồng thời đảm bảo các tiêu chuẩn thân thiện môi trường và tiết kiệm năng lượng.
Giảm dần nhập khẩu các mặt hàng có thể sản xuất được ở trong nước, kiểm soát chặt chẽ, tiến tới hạn chế nhập khẩu các mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu.
3.2. Định hướng phát triển mô hình tổ chức lưu thông thị trường
a) Thị trường hàng công nghiệp tiêu dùng
Đối với lưu thông hàng tiêu dùng nhập khẩu: Phát huy tối đa hiệu quả của các công trình thương mại hiện có, đặc biệt là hệ thống trung tâm logistics, đồng thời chú trọng phát triển các điều kiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ thương mại ở các khu vực cửa khẩu, bến cảng phục vụ hoạt động tập kết và lưu chuyển hàng hóa quy mô lớn vào thị trường nội địa.
Đối với lưu thông hàng tiêu dùng được sản xuất trong Vùng: Hầu hết hàng tiêu dùng được cung ứng từ hệ thống phân phối của các nhà sản xuất trong Vùng. Do đó, tổ chức hệ thống đại lý rộng khắp thông qua các doanh nghiệp (gồm cả doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp phân phối), các hộ kinh doanh đến người tiêu dùng trên địa bàn, bao gồm cả khu vực thành thị, nông thôn, biên giới và các điểm du lịch.
Hình thành và phát triển các kênh phân phối hàng hóa (cả bán buôn và bán lẻ) đa dạng. Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp phân phối hàng tiêu dùng chuyên nghiệp, có tiềm lực và kỹ năng kinh doanh, từng bước áp dụng quy trình và công nghệ kinh doanh tiên tiến, hiện đại, mà trước hết là ở đô thị lớn trong Vùng.
Phát triển mạng lưới cung ứng của các thương nhân tới vùng nông thôn, trong đó ưu tiên các hộ kinh doanh có kinh nghiệm để hình thành mạng lưới phân phối chủ yếu hàng công nghiệp tiêu dùng ở khu vực thị trường này; hỗ trợ các hộ dân vùng biên giới, hải đảo và khu vực còn khó khăn tự mở cửa hàng kinh doanh theo phương thức thanh toán trả sau; bên cạnh phương thức kinh doanh truyền thống, áp dụng bổ sung các hình thức giao dịch mới, hiện đại...
b) Thị trường hàng nông, lâm, thủy sản
Hình thành các trung tâm phân phối bán buôn chuyên nghiệp hàng nông, lâm, thủy sản để tập kết hàng hóa nông sản từ các tỉnh, thành phố trong Vùng nhằm cung ứng cho bán lẻ và cho các đối tượng tiêu dùng lớn. Chú trọng các khu vực tiêu thụ tập trung: phát triển các chợ đầu mối, chợ chuyên doanh nông sản tại ngoại vi thành phố Hồ Chí Minh (gắn với các địa phương có vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn); hình thành các khu bán buôn nông sản riêng biệt tại trung tâm các tỉnh còn lại trong Vùng.
Khuyến khích phát triển các nhà phân phối bán buôn nông sản chuyên nghiệp với các nhà phân phối lớn làm nòng cốt, có kinh nghiệm và tiềm lực về tài chính, có quan hệ bạn hàng ổn định, có phương thức kinh doanh và lực lượng lao động đáp ứng được yêu cầu.
Tổ chức tiêu thụ mặt hàng thủy hải sản nuôi trồng và đánh bắt tại chỗ của ngư dân, hình thành các chợ chuyên doanh thủy sản, chợ cá gắn với các cảng cá. Tổ chức tốt khâu vận chuyển tới các nhà máy chế biến, tới các khách sạn, nhà hàng và tới các chợ bán lẻ. Chú trọng các vùng nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản tập trung tại Bà Rịa - Vũng Tàu và Tiền Giang.
Thu hút doanh nghiệp đầu tư cho sản xuất và tiêu thụ: Gắn kết doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng nông, lâm, thủy sản (cung cấp gia súc, gia cầm làm nguyên liệu đầu vào cho nhà máy chế biến thực phẩm); cung ứng nông sản từ sản xuất tới các khách sạn, nhà hàng, các siêu thị, chuỗi cửa hàng thực phẩm.
Hình thành cơ chế phối hợp tiêu thụ hàng nông sản là nguyên liệu của sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giữa các tỉnh, thành phố có cùng cơ cấu cây trồng vật nuôi. Đặc biệt là hợp tác để cung ứng nguyên liệu cho hàng hóa đã có thương hiệu để tận dụng công suất chế biến, tăng khối lượng sản phẩm ra thị trường.
Ngoài hệ thống chợ truyền thống vẫn chuyên trách đảm nhận cung ứng hàng nông sản, cần phát triển thêm các loại hình cửa hàng thực phẩm chất lượng cao như cửa hàng thực phẩm sạch, rau an toàn; các điểm bán hàng Việt... Bên cạnh đó, cần hiện đại hóa khu chợ bán hàng nông, thủy sản tại đô thị; nâng cấp, cải tạo các khu chợ chuyên doanh nông sản ở nông thôn, đặc biệt quan tâm đến khu mua bán thủy sản tươi sống, đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm.
Giám sát chất lượng nông sản thực phẩm vào hệ thống khách sạn, nhà hàng, trước hết là tại các điểm phân phối tập trung như chợ bán buôn, (hoặc thông qua việc nhân rộng hệ thống chợ an toàn thực phẩm)... cung cấp thức ăn tươi sống, an toàn để tạo uy tín và hấp dẫn khách du lịch.
c) Thị trường hàng tư liệu sản xuất
Củng cố, phát triển hệ thống đại lý, cơ sở kinh doanh của các chủ thể sản xuất kinh doanh để tiêu thụ hàng tư liệu sản xuất trên địa bàn các tỉnh, thành phố trong Vùng.
Phát triển đa dạng các hình thức bán buôn theo hướng đấu thầu mua sắm khối lượng lớn và cung ứng hàng hóa trực tiếp.
Phát triển các trung tâm giao dịch bán buôn nguyên vật liệu cho các ngành sản xuất, củng cố mạng lưới điểm mua bán hàng hóa tư liệu sản xuất, các cơ sở hạ tầng phục vụ lưu thông loại hàng hóa đặc thù như hệ thống kho, bãi, bến cảng... trên địa bàn các tỉnh, thành phố trong Vùng.
3.Định hướng phát triển các thành phần kinh tế tham gia hoạt động thương mại
a) Về tính chất kinh doanh
Doanh nghiệp bán buôn: Loại hình doanh nghiệp này vừa liên kết với các nhà sản xuất, tổ chức khai thác nguồn hàng ngoài tỉnh, tổ chức nhập khẩu để tạo nguồn hàng ổn định, vừa tham gia các hoạt động xuất khẩu, cung ứng hàng hóa cho các doanh nghiệp, hộ kinh doanh để bán lẻ và phát luồng hàng hóa ra ngoài tỉnh.
Doanh nghiệp bán lẻ: Loại hình doanh nghiệp bán lẻ có mạng lưới bán lẻ theo các loại hình như trung tâm mua sắm, chuỗi siêu thị, các chuỗi cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng tổng hợp, cửa hàng tiện lợi ở khu vực các phường, thị trấn, thành phố. Phát triển các chuỗi cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng tổng hợp, cửa hàng tiện lợi ở khu vực nông thôn.
Các cửa hàng bán buôn, bán lẻ của hộ kinh doanh: Thông qua các hình thức đại lý, các hộ kinh doanh tham gia vào hệ thống kinh doanh theo chuỗi (thông qua hình thức liên kết, liên doanh, nhượng quyền thương mại...) để kết nối các cửa hàng độc lập với các doanh nghiệp sản xuất, phân phối và xuất, nhập khẩu hàng hóa.
Công ty kinh doanh dịch vụ logistics: Là loại hình công ty tổ chức các dịch vụ logistics một cách chuyên nghiệp, hiện đại với những khách hàng quy mô lớn, ổn định.
Tổ chức quản lý, kinh doanh khai thác chợ: Ban quản lý chợ ở các địa phương, đặc biệt là khu vực đô thị sẽ tiếp tục đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp kinh doanh khai thác chợ.
Hợp tác xã thương mại và dịch vụ nông thôn hoặc hợp tác xã kinh doanh tổng hợp: Loại hình này sẽ tập trung đảm nhận các dịch vụ cung ứng “đầu vào” cho sản xuất nông nghiệp và tổ chức “đầu ra” cho các hộ nông dân. Từng bước chuyển đổi các Ban quản lý, tổ quản lý chợ tại các xã hoạt động theo mô hình hợp tác xã. Đồng thời thành lập các hợp tác xã mới để quản lý chợ được đầu tư xây dựng mới hoặc các chợ đang giao khoán cho tổ chức, cá nhân theo đúng quy định hiện hành.
b) Về quy mô doanh nghiệp
Coi trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh, đồng thời, khuyến khích và thúc đẩy quá trình hình thành các doanh nghiệp lớn thông qua quá trình tích tụ và tập trung, xác lập sự liên kết giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ trong việc tổ chức thị trường, tạo sức mạnh để hợp tác và cạnh tranh có hiệu quả với các tập đoàn nước ngoài. Trên cơ sở đó, phát huy vai trò và vị trí của thương mại trong nước trong việc định hướng và thúc đẩy sản xuất phát triển, định hướng và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong phú, đa dạng của người dân, tạo mối quan hệ chặt chẽ với thị trường thế giới thông qua xuất khẩu và nhập khẩu, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng GDP, tạo tiền đề để chủ động hội nhập kinh tế - thương mại quốc tế một cách sâu rộng và thành công.
c) Về hình thức sở hữu
Giai đoạn từ nay đến năm 2025, tiếp tục lấy doanh nghiệp có vốn nhà nước làm nòng cốt trong việc phát triển sản xuất và kinh doanh các nhóm hàng cơ khí, luyện kim, hóa chất, dệt may, bia - rượu - nước giải khát; tận dụng thu hút các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc phát triển sản xuất và kinh doanh các nhóm hàng điện, điện tử, từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng trong chuỗi sản xuất kinh doanh các sản phẩm này.
Bên cạnh đó, tạo điều kiện thuận lợi, tập trung phát triển các doanh nghiệp tư nhân, thu hút khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào hoạt động sản xuất, thu mua, chế biến, bảo quản và tổ chức hệ thống tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm, thủy sản, nâng cao một bước trình độ chuyên môn hóa, chất lượng sản phẩm và tính bền vững của thị trường tiêu thụ.
3.4. Định hướng phát triển các dịch vụ phụ trợ của ngành thương mại
a) Dịch vụ logistics
Sự phát triển của hoạt động lưu chuyển hàng hóa giữa Vùng với thị trường quốc tế sẽ kéo theo sự gia tăng nhu cầu các dịch vụ logistics. Tùy theo tính chất (quy mô, phạm vi) của dòng hàng hóa cũng như yêu cầu của khách hàng để từ đó tổ chức cung ứng các dịch vụ này một cách phù hợp, trong đó, chú trọng kết nối vận chuyển hai đầu giữa cảng biển với các cửa khẩu.
Những nhiệm vụ chủ yếu để phát triển các dịch vụ logistics trên địa bàn Vùng bao gồm:
Tăng cường tiềm lực và cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh dịch vụ logistics hiện đang hoạt động trên địa bàn: cho phép huy động vốn theo hình thức đối tác công tư; minh bạch hóa các quy định về đầu tư, tiêu chí cấp phép...; áp dụng đồng bộ hình thức thông quan điện tử; hỗ trợ đào tạo, nâng cao trình độ nhân lực ngành logistics và ứng dụng công nghệ quản lý chuỗi cung ứng hiện đại; ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics có uy tín...
Thu hút các doanh nghiệp kinh doanh logistics chuyên nghiệp cả trong và ngoài nước trong việc xây dựng hạ tầng và cung ứng dịch vụ, từ đại lý giao nhận truyền thống đến đại lý giao nhận với vai trò là nhà vận tải đa phương thức hay nhà cung cấp dịch vụ logistics trọn gói.
Khuyến khích phát triển các dịch vụ logistics thuê ngoài, tích hợp trọn gói và đồng bộ, tổ chức hoạt động theo mô hình logistics bên thứ ba (3PL) để tối thiểu hóa chi phí và bổ sung giá trị gia tăng cho hàng hóa và dịch vụ. Từng bước triển khai mô hình logistics bên thứ tư (4PL) và logistics bên thứ 5 (5PL) trên cơ sở phát triển thương mại điện tử và quản trị chuỗi cung ứng hiện đại, chuyên nghiệp và hiệu quả.
Tạo điều kiện về quỹ đất, vốn đầu tư, hạ tầng kỹ thuật và xã hội để hình thành một số cơ sở cung ứng dịch vụ logistics tập trung, nhất là ở Khu kinh tế cửa khẩu và các cảng biển. Hỗ trợ kinh doanh dịch vụ logistics theo hướng đơn giản hóa các thủ tục hành chính có liên quan đến đầu tư xây dựng, đặc biệt là cải thiện thủ tục hải quan nhằm khuyến khích xây dựng cơ sở hạ tầng và tiện lợi hóa thông quan hơn nữa tại các cửa khẩu, cảng biển.
b) Dịch vụ tài chính, ngân hàng
Tăng cường thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kho bạc và các Ngân hàng thương mại về tài chính, tín dụng trong các giao dịch thương mại quy mô lớn và trong thanh toán xuất nhập khẩu qua biên giới.
Đảm bảo các thương nhân, cơ sở kinh doanh vừa và nhỏ được tiếp cận với nguồn vốn kịp thời, dễ dàng... theo đúng quy định hiện hành về hạn mức vay, lãi suất; hoặc nới lỏng hạn mức cho vay đối với các giao dịch hàng hóa khuyến khích sản xuất và xuất khẩu.
Tiếp tục thiết lập và tăng cường mối quan hệ đa phương giữa các ngân hàng trong và ngoài nước nhằm mở rộng diện thanh toán cũng như bổ sung hình thức thanh toán hiện đại, đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô và cường độ lưu thông hàng hóa qua biên giới.
c) Dịch vụ xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin
Đẩy mạnh và tổ chức hiệu quả, thiết thực các hoạt động xúc tiến thương mại giữa các địa phương trong Vùng, trước mắt là với các doanh nghiệp Trung Quốc và ASEAN để tìm kiếm bạn hàng, giới thiệu sản phẩm mua và bán.
Xây dựng cơ sở chuyên nghiệp để tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại, trọng tâm là các trung tâm hội chợ triển lãm, trung tâm giới thiệu sản phẩm, hàng hóa đặc trưng của Vùng, nơi thường xuyên tổ chức các hội chợ triển lãm thương mại cấp quốc gia và cấp Vùng.
Nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ thông tin: Hỗ trợ thông tin thương mại thông qua xây dựng năng lực và kết nối mạng lưới internet; cung cấp trực tuyến thông tin về thị trường trong và ngoài nước cho doanh nghiệp. Thu hút các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ thông tin vào tổ chức hoạt động trên địa bàn.
Mở thêm các kênh thông tin để phổ biến kiến thức thương mại - thị trường cho các hộ kinh doanh nhỏ lẻ, đặc biệt là tại vùng nông thôn, nhằm hỗ trợ phát triển mở rộng quy mô kinh doanh, thay đổi tập quán kinh doanh hoặc thay đổi mô hình kinh doanh phù hợp với xu hướng thị trường.
3.5. Định hướng phát triển thương mại điện tử
Ứng dụng thương mại điện tử trên địa bàn các tỉnh, thành phố trong Vùng phải được thực hiện cả giữa doanh nghiệp - doanh nghiệp và doanh nghiệp - người tiêu dùng, chủ yếu ở các khâu như:
Giao dịch mua bán trực tuyến; sử dụng chứng từ, thanh toán điện tử; sử dụng phần mềm chuyên dụng trong quản lý kinh doanh, quan hệ khách hàng...; trao đổi thông tin, quảng cáo qua các website...
Ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động logistics (e-logistics) và quản trị dây chuyền cung ứng an toàn và thân thiện (sử dụng phần mềm quản lý kho...).
3.6. Định hướng phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại
a) Kết cấu hạ tầng bán buôn
Phục vụ hàng nông sản: Tiếp tục định hình và hoàn thiện kênh phân phối bán buôn hàng nông sản, trong đó xác định nòng cốt là các chợ đầu mối bán buôn nông sản (chủ yếu được tập kết và phát luồng tại một số chợ đầu mối tại thành phố Hồ Chí Minh) và một số chợ hạng I ở các thành phố, thị xã khác trong Vùng.
Phục vụ hàng tiêu dùng nhập khẩu: Các hoạt động bán buôn hàng tiêu dùng nhập khẩu chủ yếu tập trung vào các chợ bán buôn, trung tâm bán buôn hàng tiêu dùng... do đó, khuyến khích việc hình thành khu bán buôn tập trung để thuận lợi cho việc tổ chức các dịch vụ chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ phục vụ cho lưu thông bán buôn hàng hóa tại khu trung tâm bán buôn này.
Căn cứ vào nhu cầu và khả năng thực tế ở những thời điểm thích hợp, bố trí trong chợ đầu mối bán buôn, trung tâm bán buôn có sàn đấu giá hoặc sàn giao dịch hàng hóa.
b) Kết cấu hạ tầng bán lẻ
Tại địa bàn đô thị: Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị trung tâm của các tỉnh trong Vùng sẽ phát triển đa dạng hệ thống hạ tầng thương mại bán lẻ, từ loại hình đến quy mô và với mật độ cao. Tuy nhiên, chú trọng phát triển các loại hình bán lẻ hiện đại, có phương thức kinh doanh tiên tiến. Tập trung phát triển theo chiều sâu theo hướng chuyên nghiệp hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng hàng hóa, hình thành hệ thống hạ tầng thương mại văn minh.
Tại địa bàn nông thôn: Chú trọng phát triển loại hình bán lẻ truyền thống là chủ yếu bao gồm: chợ dân sinh ở các xã, cụm xã; các điểm bán, cửa hàng truyền thống tại các cụm dân cư nông thôn, bên cạnh các chợ xã hoặc ở trung tâm xã. Giai đoạn sau năm 2025 sẽ phát triển thay thế dần và phát triển mới các cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng tiện lợi, tự chọn.
Tại các khu công nghiệp: Phát triển hạ tầng thương mại bán lẻ phục vụ công nhân tại các khu công nghiệp có khu nhà ở của công nhân. Các loại hình thương mại chủ yếu bao gồm: chợ, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng truyền thống kết hợp với các cơ sở dịch vụ chăm sóc cá nhân khác để tạo thành khu thương mại - dịch vụ tổng hợp trong các khu công nghiệp. Hình thành các hoạt động thương mại bán lẻ nội khu hoặc ngoại khu ở các dự án xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp.
Tại các khu du lịch: Phát triển các loại hình hạ tầng thương mại đặc trưng phục vụ nhu cầu mua sắm của khách du lịch như khu ẩm thực, khu mua bán hàng ban đêm, cửa hàng lưu niệm, cửa hàng trưng bày và giới thiệu đặc sản, cửa hàng truyền thống (kết hợp giữa văn minh thương mại và bản sắc văn hóa dân tộc),... gắn với các điểm, tuyến, khu du lịch đã được quy hoạch trong Vùng.
c) Kết cấu hạ tầng xuất nhập khẩu
Vùng có nhiều tiềm năng, lợi thế về thương mại quốc tế cả trên biển và trên bộ (qua biên giới). Quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng xuất nhập khẩu cần đạt được mục tiêu kết nối, lưu thông hàng hóa giữa các cảng, cửa khẩu biên giới với nội địa và ngược lại. Các loại hình hạ tầng xuất nhập khẩu chủ yếu sẽ bao gồm: hệ thống kho, bãi hàng hóa; trung tâm logistics, chợ biên giới...
Hệ thống hạ tầng thương mại phục vụ xuất - nhập khẩu được phân bố tập trung tại khu vực cảng, các khu kinh tế cửa khẩu và cửa khẩu biên giới của các tỉnh, thành phố trong Vùng. Loại hình hạ tầng phục vụ cho xuất nhập khẩu phù hợp ở khu vực cảng là trung tâm logistics và hệ thống kho bãi...
d) Kết cấu hạ tầng thương mại nông thôn
Xây dựng và hình thành hệ thống hạ tầng thương mại nông thôn với số lượng, loại hình, cơ cấu, quy mô... phù hợp với định hướng phát triển không gian kinh tế - xã hội, với trình độ phát triển thị trường khu vực nông thôn, với sự phát triển của các hoạt động thương mại bán buôn, bán lẻ trên từng địa bàn, kết hợp chặt chẽ với quá trình xây dựng nông thôn mới của các địa phương trong Vùng.
Phát triển hệ thống hạ tầng thương mại nông thôn theo hướng mở, tạo ra khả năng gắn kết và ảnh hưởng lan tỏa của các loại hình hạ tầng thương mại trong khu vực nông thôn, giữa nông thôn với đô thị, tăng cường tính liên kết phát triển giữa các tỉnh, thành phố trong Vùng và giữa Vùng với các vùng kinh tế khác trong cả nước.
Từng bước phát triển một số loại hình hạ tầng thương mại hiện đại, kết hợp với kế thừa, cải tạo các loại hình truyền thống trên địa bàn nông thôn, tăng cường điều kiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, đảm bảo văn minh thương mại và giữ gìn bản sắc văn hóa, tập quán từng địa phương.
Áp dụng bổ sung các phương thức kinh doanh tiên tiến trong các loại hình hạ tầng truyền thống, nâng cao trình độ và phương thức giao dịch tại các chợ bán buôn và chợ tổng hợp bán buôn bán lẻ quy mô lớn ở khu vực nông thôn.
Hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý trong các loại hình hạ tầng thương mại nông thôn đồng thời với việc nâng cao trình độ và tính chuyên nghiệp cho đội ngũ lao động quản lý và kinh doanh.
Phát triển chủ yếu các công trình thương mại quy mô vừa và nhỏ, kinh doanh tổng hợp, trong đó chợ truyền thống và cửa hàng thương mại (truyền thống, hiện đại) sẽ là các loại hình phổ biến.