Document: Điều 11 Thông tư 20/2015/TT-BKHCN hướng dẫn Nghị định 93/2014/NĐ-CP phạt vi phạm hành chính khoa học công nghệ

Type: {"issuing_agency": "Bộ Khoa học và Công nghệ", "promulgation_date": "05/11/2015", "sign_number": "20/2015/TT-BKHCN", "signer": "Nguyễn Quân", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Khoa học và Công nghệ", "promulgation_date": "05/11/2015", "sign_number": "20/2015/TT-BKHCN", "signer": "Nguyễn Quân", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Khoa học và Công nghệ", "promulgation_date": "05/11/2015", "sign_number": "20/2015/TT-BKHCN", "signer": "Nguyễn Quân", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Khoa học và Công nghệ", "promulgation_date": "05/11/2015", "sign_number": "20/2015/TT-BKHCN", "signer": "Nguyễn Quân", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Khoa học và Công nghệ", "promulgation_date": "05/11/2015", "sign_number": "20/2015/TT-BKHCN", "signer": "Nguyễn Quân", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 11 Thông tư 20/2015/TT-BKHCN hướng dẫn Nghị định 93/2014/NĐ-CP phạt vi phạm hành chính khoa học công nghệ có nội dung như sau:

Điều 11. Hành vi vi phạm về đăng ký, quản lý, sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quy định tại Khoản 9 Điều 1 Nghị định số 93/2014/NĐ-CP
1. Hành vi không thông báo việc thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ với cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ là việc tổ chức, cá nhân lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động mà không thông báo bằng văn bản việc thành lập quỹ cho Sở Khoa học và Công nghệ địa phương nơi đặt trụ sở chính của quỹ.
2. Hành vi không báo cáo việc trích, sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ theo quy định là việc tổ chức, cá nhân thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ không gửi báo cáo bằng văn bản việc trích, sử dụng quỹ tới cơ quan thuế, Sở Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ địa phương nơi đăng ký thành lập quỹ. Thời hạn phải gửi báo cáo được xác định là cùng thời điểm nộp báo cáo quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp.
3. Đối với hành vi không hoàn trả đúng thời hạn kinh phí tài trợ từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ hình thành từ nguồn vốn ngân sách nhà nước thì thời hạn làm căn cứ xác định vi phạm được xác định theo hợp đồng hoặc quyết định tài trợ của quỹ. Trường hợp có khác nhau về thời hạn ghi trong hợp đồng và thời hạn ghi trong quyết định tài trợ thì xác định thời hạn theo hợp đồng. Thời hạn hoàn trả bao gồm cả thời gian được gia hạn (nếu có). Việc gia hạn phải được thể hiện bằng văn bản của quỹ tài trợ.
4. Khi xác định các hành vi vi phạm của tổ chức thuộc diện phải lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ thì tổ chức thuộc diện phải lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ được xác định là doanh nghiệp nhà nước quy định tại Điều 9 Nghị định số 95/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ quy định về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ.
Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ theo quy định tại Khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tỷ lệ tối thiểu mà doanh nghiệp nhà nước phải trích từ thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ được xác định là mức 3%, theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 95/2014/NĐ-CP.

Content:
Điều 11. Hành vi vi phạm về đăng ký, quản lý, sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quy định tại Khoản 9 Điều 1 Nghị định số 93/2014/NĐ-CP
1. Hành vi không thông báo việc thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ với cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ là việc tổ chức, cá nhân lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động mà không thông báo bằng văn bản việc thành lập quỹ cho Sở Khoa học và Công nghệ địa phương nơi đặt trụ sở chính của quỹ.
2. Hành vi không báo cáo việc trích, sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ theo quy định là việc tổ chức, cá nhân thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ không gửi báo cáo bằng văn bản việc trích, sử dụng quỹ tới cơ quan thuế, Sở Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ địa phương nơi đăng ký thành lập quỹ. Thời hạn phải gửi báo cáo được xác định là cùng thời điểm nộp báo cáo quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp.
3. Đối với hành vi không hoàn trả đúng thời hạn kinh phí tài trợ từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ hình thành từ nguồn vốn ngân sách nhà nước thì thời hạn làm căn cứ xác định vi phạm được xác định theo hợp đồng hoặc quyết định tài trợ của quỹ. Trường hợp có khác nhau về thời hạn ghi trong hợp đồng và thời hạn ghi trong quyết định tài trợ thì xác định thời hạn theo hợp đồng. Thời hạn hoàn trả bao gồm cả thời gian được gia hạn (nếu có). Việc gia hạn phải được thể hiện bằng văn bản của quỹ tài trợ.
4. Khi xác định các hành vi vi phạm của tổ chức thuộc diện phải lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ thì tổ chức thuộc diện phải lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ được xác định là doanh nghiệp nhà nước quy định tại Điều 9 Nghị định số 95/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ quy định về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ.
Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ theo quy định tại Khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tỷ lệ tối thiểu mà doanh nghiệp nhà nước phải trích từ thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ được xác định là mức 3%, theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 95/2014/NĐ-CP.