Document: Điều 1 Quyết định  117-TTg  trợ cấp tiền học trong tiền lương

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "27/11/1992", "sign_number": "117-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "27/11/1992", "sign_number": "117-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "27/11/1992", "sign_number": "117-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "27/11/1992", "sign_number": "117-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "27/11/1992", "sign_number": "117-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định  117-TTg  trợ cấp tiền học trong tiền lương có nội dung như sau:

Điều 1. Nay trợ cấp tiền học bằng 15% mức lương chức vụ (cấp bậc) hoặc mức trợ cấp đã được tính lại theo Quyết định số 203-HĐBT ngày 28 tháng 12 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng đối với công nhân viên chức hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang hưởng lương và các đối tượng chính sách xã hội hưởng trợ cấp có tính chất lương.
Khoản trợ cấp này cũng được áp dụng đối với công nhân viên chức hành chính sự nghiệp khi tính chế độ theo Quyết định số 111-HĐBT ngày 12 tháng 4 năm 1991 và Quyết định 76-HĐBT ngày 9 tháng 3 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng.
Đối với công nhân viên chức khu vực sản xuất kinh doanh, khoản trợ cấp thêm 15% nói trên được tính trong đơn giá tiền lương, được áp dụng khi tính chế độ bảo hiểm xã hội, trợ cấp thôi việc theo Quyết định số 176-HĐBT ngày 9 tháng 10 năm 1989 và hạch toán vào giá thành hoặc phí lưu thông.

Content:
Điều 1. Nay trợ cấp tiền học bằng 15% mức lương chức vụ (cấp bậc) hoặc mức trợ cấp đã được tính lại theo Quyết định số 203-HĐBT ngày 28 tháng 12 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng đối với công nhân viên chức hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang hưởng lương và các đối tượng chính sách xã hội hưởng trợ cấp có tính chất lương.
Khoản trợ cấp này cũng được áp dụng đối với công nhân viên chức hành chính sự nghiệp khi tính chế độ theo Quyết định số 111-HĐBT ngày 12 tháng 4 năm 1991 và Quyết định 76-HĐBT ngày 9 tháng 3 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng.
Đối với công nhân viên chức khu vực sản xuất kinh doanh, khoản trợ cấp thêm 15% nói trên được tính trong đơn giá tiền lương, được áp dụng khi tính chế độ bảo hiểm xã hội, trợ cấp thôi việc theo Quyết định số 176-HĐBT ngày 9 tháng 10 năm 1989 và hạch toán vào giá thành hoặc phí lưu thông.