Document: Khoản 6 Điều 1 Quyết định 2585/QĐ-UBND phát triển khoa học công nghệ tỉnh Kiên Giang

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "13/12/2007", "sign_number": "2585/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Ngọc Sương", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "13/12/2007", "sign_number": "2585/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Ngọc Sương", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "13/12/2007", "sign_number": "2585/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Ngọc Sương", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "13/12/2007", "sign_number": "2585/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Ngọc Sương", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "13/12/2007", "sign_number": "2585/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Ngọc Sương", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 6 Điều 1 Quyết định 2585/QĐ-UBND phát triển khoa học công nghệ tỉnh Kiên Giang

Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Kiên Giang đến năm 2010 và định 2015, với những nội dung chủ yếu như sau:
...
6. Giải pháp phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2010 và định hướng đến 2015:
6.1. Nhóm giải pháp thúc đẩy đổi mới công nghệ:
* Đối với kích cầu công nghệ:
- Thành lập Quỹ phát triển KH-CN (Quỹ KH-CN), ban hành Quy chế điều hành và sử dụng hiệu quả Quỹ KH-CN; cùng các định chế tài chính cho phép Quỹ KH-CN hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới thiết bị - công nghệ;
- Thành lập Quỹ hỗ trợ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao để nhằm hình thành và phát triển doanh nghiệp công nghệ cao;
- Tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng và hội nhập để giúp doanh nghiệp có được chỗ dựa vững chắc trong đầu tư đổi mới thiết bị - công nghệ;
- Phân tích, đánh giá, phổ biến kinh nghiệm các mô hình hiện đại hóa thành công cũng như các bài học rút ra từ thất bại làm nền tảng giúp doanh nghiệp vững tin trong đầu tư đổi mới thiết bị - công nghệ.
* Đối với thúc đẩy cung công nghệ:
- Để đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, các khu chế xuất, khu công nghiệp tỉnh phải tạo ra môi trường pháp lý thông thoáng để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài;
- Để đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ trong nước, đòi hỏi các đề tài nghiên cứu - triển khai nhất thiết phải có địa chỉ áp dụng (đơn vị đặt hàng phải vừa là đơn vị ứng dụng);
- Để xứng đáng là chỗ dựa vững chắc cho các doanh nghiệp trong đầu tư đổi mới thiết bị - công nghệ, đòi hỏi phải nâng cao khả năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ KH-CN, để tạo ra các giải pháp công nghệ phù hợp, đáp ứng cho yêu cầu hiện đại hóa với chi phí thấp. Ban hành Quy chế cho phép tính chi phí chất xám, chi phí chuyển giao CN vào giá thành đối với các hợp đồng tư vấn và chuyển giao công nghệ nhằm giúp cho các đơn vị hoạt động KH-CN giảm được thuế thu nhập doanh nghiệp.
* Đối với liên kết cung - cầu công nghệ:
- Giải pháp cho vấn đề này nhằm tạo nên kênh thông tin làm cầu nối giữa nghiên cứu và triển khai với doanh nghiệp. Thông qua dự án đầu tư xây dựng Trung tâm giao dịch và tư vấn chuyển giao thiết bị, công nghệ (Trung tâm). Trung tâm sẽ tổ chức chợ thiết bị và công nghệ tại sàn giao dịch của Trung tâm để tạo sự giao lưu trực tiếp giữa cung, cầu công nghệ; đồng thời tạo lập chợ thiết bị, công nghệ trên mạng để quảng bá các thiết bị công nghệ đến doanh nghiệp. Ngoài ra Trung tâm còn có đội ngũ cán bộ KHKT đủ năng lực và kinh nghiệm, xứng đáng là địa chỉ đáng tin cậy khi doanh nghiệp cần tư vấn về đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ;
- Thúc đẩy phát triển thị trường SHTT nhằm khuyến khích các nhà sáng tạo công nghệ đăng ký bảo hộ được quyền SHTT để tham gia chuyển nhượng lixăng/patăng hoặc góp vốn liên doanh.
6.2. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai (R-D):
- Phát triển cơ sở vật chất cho R-D: triển khai các dự án phát triển cơ sở vật chất như được trình bày trong kế hoạch;
- Nâng mức đầu tư cho R-D: phấn đấu đạt mức 2% ngân sách địa phương chi cho hoạt động KH-CN, đồng thời phải huy động vốn từ mọi nguồn, nhất là tranh thủ sự hỗ trợ vốn của Trung ương, sử dụng vốn vay ODA và huy động vốn từ khu vực kinh tế tư nhân là vô cùng quan trọng và được xem là giải pháp hàng đầu để nâng mức đầu tư cho R-D trong bối cảnh ngân sách tỉnh còn hạn hẹp;
- Ban hành Quy chế liên kết giữa các đơn vị R-D và giữa R-D với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh:
+ Xây dựng mạng lưới nối kết thông qua việc thành lập các Hội đồng KH-CN chuyên ngành, Hội đồng tư vấn chuyển giao thiết bị - công nghệ,... do Sở Khoa học và Công nghệ quản lý, trong đó tập hợp được các nhà KH-CN thuộc các ngành khác nhau tham gia vào chương trình, dự án phát triển KH-CN của tỉnh.
+ Xây dựng Quy chế liên kết các phòng thí nghiệm để sử dụng chung các trang thiết bị phục vụ nghiên cứu và triển khai.
+ Xây dựng Quy chế liên kết giữa cơ quan R-D với doanh nghiệp thông qua các hình thức hợp đồng hợp tác KHKT; thành lập câu lạc bộ KH-CN, doanh nghiệp làm diễn đàn tiếp xúc, trao đổi thường xuyên giữa doanh nghiệp với cán bộ KH-CN; Quy chế trợ giúp kỹ thuật của bên cung công nghệ (cơ quan R-D) cho bên cầu công nghệ (doanh nghiệp). Triển khai chương trình xã hội hóa hoạt động R-D nhằm đáp ứng 5 mục tiêu như kế hoạch đặt ra.
6.3. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý KH-CN:
- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và nâng cao năng lực quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về KH-CN.
Tiếp tục sắp xếp và tăng cường nhân sự cho hệ thống cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) về KH-CN từ tỉnh xuống huyện, thị. Đồng thời nâng cao năng lực QLNN về KH-CN theo hai hướng sau:
+ Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý KH-CN cấp tỉnh, sở, ngành, huyện, thị, thành phố, cơ sở;
+ Phối hợp với Trường Nghiệp vụ quản lý KH-CN (Bộ KH&CN) mở các lớp bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng quản lý KH-CN theo nội dung kế hoạch đã được xây dựng, tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương hoặc của quốc tế để tăng cường đào tạo và tham quan học tập về quản lý KH-CN ở nước ngoài.
- Hoàn thiện môi trường pháp lý vĩ mô về phát triển KH-CN:
Ban hành các quy chế đẩy mạnh hợp tác quốc tế về KH-CN để nhằm khuyến khích các cơ quan quốc tế mở rộng hợp tác KH-CN tại địa bàn tỉnh; khuyến khích các đơn vị R-D, các doanh nghiệp tổ chức tham quan, khảo sát, học tập ở nước ngoài; khuyến khích hợp tác trao đổi cán bộ KH-CN thực hiện các chương trình dự án phát triển KH-CN; khuyến khích doanh nghiệp trong tỉnh liên doanh với nước ngoài góp vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất…
- Phát huy vai trò xúc tác của các dịch vụ hỗ trợ:
+ Đầu tư mua sách báo để phổ biến nguồn tri thức KH-CN, trung bình bổ sung hàng năm: 30 đầu sách, 30 loại tạp chí, 20 loại tư liệu khác, 40 đĩa từ, quản lý cơ sở dữ liệu về KH-CN;
+ Phổ biến thông tin KH-CN trên Báo Kiên Giang; bản tin điện tử về nông nghiệp nông thôn, thủy sản, y tế, tin học,… thông tin chuyên đề; phát thanh, truyền hình; phát hành phim KH-CN; trên mạng internet nối mạng thông tin KH-CN giữa các thư viện, cơ quan R-D trên địa bàn tỉnh và trong nước, đảm bảo mọi người đều có thể tiếp cận được các nguồn thông tin KH-CN hiện có;
+ Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền các văn bản pháp quy về tiêu chuẩn hóa, quản lý chất lượng, đo lường; các tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) nhất là các tiêu chuẩn quốc tế, TCVN bắt buộc áp dụng đối với sản phẩm hàng hóa có liên quan đến an toàn vệ sinh, môi trường; về Hiệp định rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT); phong trào năng suất và chất lượng trong hoạt động sản xuất kinh doanh;
+ Hướng dẫn doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn; thực hiện việc công bố phù hợp tiêu chuẩn; chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn bắt buộc đối với sản phẩm, hàng hóa thuộc danh mục phải áp dụng tiêu chuẩn; khuyến khích chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn đối với những sản phẩm khác;
+ Tăng cường hệ thống kiểm định phương tiện đo, đào tạo nâng cao trình độ kiểm định viên đo lường, đảm bảo năng lực kiểm định các phương tiện đo thiết yếu thuộc diện phải kiểm định trên địa bàn. Hoàn thiện và tăng cường mạng lưới kiểm định một số phương tiện đo thông dụng cấp huyện, thị. Phối hợp triển khai chương trình quản lý đo lường giao nhận xăng dầu, khí đốt;
+ Đầu tư năng lực kỹ thuật, tăng cường các thiết bị kiểm định, các chuẩn đo lường đáp ứng nhu cầu của địa phương như điện kế, chuẩn khối lượng, đồng hồ nước,… Mở rộng khả năng kiểm định một số lĩnh vực như đồng hồ xăng dầu, nhiệt, xitec ô tô, máy đo tốc độ xe cơ giới,...;
+ Hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến thích hợp với mỗi loại hình doanh nghiệp như ISO 9000, ISO 14000, HACCP, GMP…; tham gia giải thưởng chất lượng VN; các chương trình của thập niên chất lượng 2006 - 2010; hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm;
+ Phối hợp thực hiện các chương trình trọng điểm về quản lý chất lượng hàng hóa; bao gồm chương trình quản lý chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường; chương trình quản lý chất lượng sản phẩm điện, điện tử; triển khai thực hiện các nhiệm vụ thuộc đề án triển khai thực hiện Hiệp định rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT); mạng lưới thông báo hỏi đáp về TBT tại địa phương và phối hợp với Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (Tổng cục TCĐLCL), các ban ngành liên quan thực hiện các đợt thanh kiểm tra về chất lượng sản phẩm hàng hóa, về đo lường (sử dụng phương tiện đo, các hàng đóng gói sẵn) đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, nâng cao uy tín doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng;
+ Tuyên truyền, phổ biến kiến thức, chính sách, pháp luật về SHTT: tăng cường công tác tập huấn, tuyên truyền phổ biến kiến thức cơ bản về SHTT và giới thiệu, hướng dẫn thi hành các quy định của pháp luật liên quan đến SHTT như Luật SHTT, các điều ước quốc tế liên quan đến SHTT cho các đối tượng lãnh đạo, cán bộ QLNN, doanh nghiệp, cán bộ lãnh đạo đoàn thể, hiệp hội,… bằng các hình thức: hội nghị, tập huấn mỗi năm 2 - 3 cuộc và định kỳ, thường xuyên thông tin trên báo, đài và trang web của tỉnh;
+ Phối hợp với một số trường phổ thông, Cao đẳng Cộng đồng, Cao đẳng Sư phạm xây dựng chương trình giáo dục về SHTT cho các đối tượng là học sinh, sinh viên. Tổ chức và phát động phong trào thi đua sáng tạo kỹ thuật và hoạt động SHTT: tổ chức và duy trì hàng năm Hội thi sáng tạo kỹ thuật trong toàn tỉnh, hướng dẫn và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đạt giải trong Hội thi sáng tạo kỹ thuật làm thủ tục bảo hộ quyền SHTT nếu sản phẩm sáng tạo đạt tiêu chuẩn bảo hộ;
+ Hỗ trợ các tổ chức, cá nhân xác lập quyền SHTT và phát triển tài sản trí tuệ: tư vấn thủ tục cho các tổ chức, cá nhân khi đăng ký xác lập quyền các đối tượng SHCN, NHHH, KDCN, SC/GPHI, TGXXHH, CDĐL; xây dựng và thực hiện chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp; thực hiện Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp phát triển tài sản trí tuệ và triển khai Đề án “Hỗ trợ doanh nghiệp bảo hộ quyền SHTT và xây dựng thương hiệu” đã được UBND tỉnh phê duyệt, trang bị phương tiện tra cứu, cung cấp thông tin và tổ chức dịch vụ tra cứu thông tin về SHTT;
+ Xây dựng cơ chế phối hợp đảm bảo thực thi quyền SHTT: phối hợp với Thanh tra Sở và các cơ quan Thanh tra tỉnh, Hải quan, Tòa án, Quản lý thị trường, Công an tiến hành xây dựng cơ chế phối hợp đảm bảo quyền SHTT của các tổ chức, cá nhân đươc thực thi, phối hợp với Thanh tra Sở tăng cường kiểm tra, phát hiện và xử lý các vi phạm về SHTT theo kế hoạch hàng năm của Thanh tra Sở;
+ Củng cố các hoạt động của các định chế tài chính, tín dụng ngân hàng thông qua các nỗ lực áp dụng các chính sách tín dụng, chính sách thuê khoán, giải pháp thích hợp về thủ tục thế chấp, bảo lãnh trong việc vay vốn cho các dự án đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ; đồng thời áp dụng các biện pháp tuyên truyền, cổ động, khuyến khích tiết kiệm và khuyến khích đến mức cao nhất để các doanh nghiệp và nhân dân yên tâm bỏ vốn, vay vốn đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ, sản xuất hàng công nghiệp xuất khẩu, ứng dụng các tiến bộ KH-CN vào sản xuất và đời sống,... đảm bảo mọi dự án khả thi đều có đủ vốn để triển khai.
6.4. Nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực KH-CN:
- Tăng cường giáo dục đào tạo gắn kết với phát triển KH-CN:
+ Triển khai Chương trình phát triển nguồn nhân lực tỉnh Kiên Giang đến năm 2020 đã được UBND tỉnh phê duyệt với các nội dung được trình bày trong phần Phụ lục;
+ Mở rộng phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm” trong việc đào tạo nguồn nhân lực KH-CN, gửi cán bộ KH-CN đi học ở nước ngoài, có chế độ khuyến khích và có chính sách “Chiêu hiền đãi sĩ” đối với chương trình du học tự túc ở nước ngoài nhằm đảm bảo du học sinh tự túc khi tốt nghiệp về nước sẽ được trọng dụng;
+ Tạo môi trường thuận lợi cho các nhà KH-CN tự mình tiếp tục học hỏi thông qua việc tham gia vào các Hội thi sáng tạo KHKT hoặc tham dự vào các chương trình, dự án nghiên cứu, triển khai có tầm cỡ và chuyên sâu với các nội dung nghiên cứu các giải pháp công nghệ hoặc sáng tạo công nghệ phục vụ cho việc phát triển tiềm năng, thế mạnh của tỉnh về nông lâm nghiệp và kinh tế biển…;
+ Chú ý đến các biện pháp thu hút trí thức Việt kiều về nước làm việc thông qua việc giao cho họ thực hiện những chương trình dự án quan trọng trong phát triển KH-CN. Chính lực lượng này sẽ mang về cho tỉnh nhà những tri thức KH-CN hiện đại thúc đẩy phát triển trình độ công nghệ của các doanh nghiệp. Nhưng vấn đề quan trọng là phải đầu tư cơ sở vật chất cho R-D đáp ứng yêu cầu triển khai các công nghệ hiện đại.
- Phát huy vai trò và năng lực sáng tạo của đội ngũ KH-CN:
+ Ban hành chính sách đãi ngộ đối với trí thức Việt kiều, chính sách thuê cán bộ KH-CN đầu đàn trong và ngoài nước đến làm việc tại tỉnh Kiên Giang và chính sách lưu dụng cán bộ KH-CN đầu đàn tuổi nghỉ hưu nhằm tạo môi trường thông thoáng cho đội ngũ trí thức này cống hiến cho sự nghiệp phát triển KH-CN của địa phương nói riêng và cả nước nói chung;
+ Ban hành Quy chế tuyển dụng; chế độ đãi ngộ về phụ cấp chất xám, nhà ở, đi lại đối với cán bộ KH-CN hoạt động trong các cơ quan R-D của Nhà nước nhằm tôn vinh vai trò và địa vị của họ trong xã hội. Bởi họ là nguồn sáng tạo ra tri thức khoa học và các giải pháp công nghệ góp phần tăng trưởng kinh tế và đưa nền sản xuất hội nhập được với các nước trên thế giới.

Content:
Giải pháp phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2010 và định hướng đến 2015:
6.1. Nhóm giải pháp thúc đẩy đổi mới công nghệ:
* Đối với kích cầu công nghệ:
- Thành lập Quỹ phát triển KH-CN (Quỹ KH-CN), ban hành Quy chế điều hành và sử dụng hiệu quả Quỹ KH-CN; cùng các định chế tài chính cho phép Quỹ KH-CN hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới thiết bị - công nghệ;
- Thành lập Quỹ hỗ trợ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao để nhằm hình thành và phát triển doanh nghiệp công nghệ cao;
- Tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng và hội nhập để giúp doanh nghiệp có được chỗ dựa vững chắc trong đầu tư đổi mới thiết bị - công nghệ;
- Phân tích, đánh giá, phổ biến kinh nghiệm các mô hình hiện đại hóa thành công cũng như các bài học rút ra từ thất bại làm nền tảng giúp doanh nghiệp vững tin trong đầu tư đổi mới thiết bị - công nghệ.
* Đối với thúc đẩy cung công nghệ:
- Để đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, các khu chế xuất, khu công nghiệp tỉnh phải tạo ra môi trường pháp lý thông thoáng để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài;
- Để đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ trong nước, đòi hỏi các đề tài nghiên cứu - triển khai nhất thiết phải có địa chỉ áp dụng (đơn vị đặt hàng phải vừa là đơn vị ứng dụng);
- Để xứng đáng là chỗ dựa vững chắc cho các doanh nghiệp trong đầu tư đổi mới thiết bị - công nghệ, đòi hỏi phải nâng cao khả năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ KH-CN, để tạo ra các giải pháp công nghệ phù hợp, đáp ứng cho yêu cầu hiện đại hóa với chi phí thấp. Ban hành Quy chế cho phép tính chi phí chất xám, chi phí chuyển giao CN vào giá thành đối với các hợp đồng tư vấn và chuyển giao công nghệ nhằm giúp cho các đơn vị hoạt động KH-CN giảm được thuế thu nhập doanh nghiệp.
* Đối với liên kết cung - cầu công nghệ:
- Giải pháp cho vấn đề này nhằm tạo nên kênh thông tin làm cầu nối giữa nghiên cứu và triển khai với doanh nghiệp. Thông qua dự án đầu tư xây dựng Trung tâm giao dịch và tư vấn chuyển giao thiết bị, công nghệ (Trung tâm). Trung tâm sẽ tổ chức chợ thiết bị và công nghệ tại sàn giao dịch của Trung tâm để tạo sự giao lưu trực tiếp giữa cung, cầu công nghệ; đồng thời tạo lập chợ thiết bị, công nghệ trên mạng để quảng bá các thiết bị công nghệ đến doanh nghiệp. Ngoài ra Trung tâm còn có đội ngũ cán bộ KHKT đủ năng lực và kinh nghiệm, xứng đáng là địa chỉ đáng tin cậy khi doanh nghiệp cần tư vấn về đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ;
- Thúc đẩy phát triển thị trường SHTT nhằm khuyến khích các nhà sáng tạo công nghệ đăng ký bảo hộ được quyền SHTT để tham gia chuyển nhượng lixăng/patăng hoặc góp vốn liên doanh.
6.2. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai (R-D):
- Phát triển cơ sở vật chất cho R-D: triển khai các dự án phát triển cơ sở vật chất như được trình bày trong kế hoạch;
- Nâng mức đầu tư cho R-D: phấn đấu đạt mức 2% ngân sách địa phương chi cho hoạt động KH-CN, đồng thời phải huy động vốn từ mọi nguồn, nhất là tranh thủ sự hỗ trợ vốn của Trung ương, sử dụng vốn vay ODA và huy động vốn từ khu vực kinh tế tư nhân là vô cùng quan trọng và được xem là giải pháp hàng đầu để nâng mức đầu tư cho R-D trong bối cảnh ngân sách tỉnh còn hạn hẹp;
- Ban hành Quy chế liên kết giữa các đơn vị R-D và giữa R-D với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh:
+ Xây dựng mạng lưới nối kết thông qua việc thành lập các Hội đồng KH-CN chuyên ngành, Hội đồng tư vấn chuyển giao thiết bị - công nghệ,... do Sở Khoa học và Công nghệ quản lý, trong đó tập hợp được các nhà KH-CN thuộc các ngành khác nhau tham gia vào chương trình, dự án phát triển KH-CN của tỉnh.
+ Xây dựng Quy chế liên kết các phòng thí nghiệm để sử dụng chung các trang thiết bị phục vụ nghiên cứu và triển khai.
+ Xây dựng Quy chế liên kết giữa cơ quan R-D với doanh nghiệp thông qua các hình thức hợp đồng hợp tác KHKT; thành lập câu lạc bộ KH-CN, doanh nghiệp làm diễn đàn tiếp xúc, trao đổi thường xuyên giữa doanh nghiệp với cán bộ KH-CN; Quy chế trợ giúp kỹ thuật của bên cung công nghệ (cơ quan R-D) cho bên cầu công nghệ (doanh nghiệp). Triển khai chương trình xã hội hóa hoạt động R-D nhằm đáp ứng 5 mục tiêu như kế hoạch đặt ra.
6.3. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý KH-CN:
- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và nâng cao năng lực quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về KH-CN.
Tiếp tục sắp xếp và tăng cường nhân sự cho hệ thống cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) về KH-CN từ tỉnh xuống huyện, thị. Đồng thời nâng cao năng lực QLNN về KH-CN theo hai hướng sau:
+ Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý KH-CN cấp tỉnh, sở, ngành, huyện, thị, thành phố, cơ sở;
+ Phối hợp với Trường Nghiệp vụ quản lý KH-CN (Bộ KH&CN) mở các lớp bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng quản lý KH-CN theo nội dung kế hoạch đã được xây dựng, tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương hoặc của quốc tế để tăng cường đào tạo và tham quan học tập về quản lý KH-CN ở nước ngoài.
- Hoàn thiện môi trường pháp lý vĩ mô về phát triển KH-CN:
Ban hành các quy chế đẩy mạnh hợp tác quốc tế về KH-CN để nhằm khuyến khích các cơ quan quốc tế mở rộng hợp tác KH-CN tại địa bàn tỉnh; khuyến khích các đơn vị R-D, các doanh nghiệp tổ chức tham quan, khảo sát, học tập ở nước ngoài; khuyến khích hợp tác trao đổi cán bộ KH-CN thực hiện các chương trình dự án phát triển KH-CN; khuyến khích doanh nghiệp trong tỉnh liên doanh với nước ngoài góp vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất…
- Phát huy vai trò xúc tác của các dịch vụ hỗ trợ:
+ Đầu tư mua sách báo để phổ biến nguồn tri thức KH-CN, trung bình bổ sung hàng năm: 30 đầu sách, 30 loại tạp chí, 20 loại tư liệu khác, 40 đĩa từ, quản lý cơ sở dữ liệu về KH-CN;
+ Phổ biến thông tin KH-CN trên Báo Kiên Giang; bản tin điện tử về nông nghiệp nông thôn, thủy sản, y tế, tin học,… thông tin chuyên đề; phát thanh, truyền hình; phát hành phim KH-CN; trên mạng internet nối mạng thông tin KH-CN giữa các thư viện, cơ quan R-D trên địa bàn tỉnh và trong nước, đảm bảo mọi người đều có thể tiếp cận được các nguồn thông tin KH-CN hiện có;
+ Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền các văn bản pháp quy về tiêu chuẩn hóa, quản lý chất lượng, đo lường; các tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) nhất là các tiêu chuẩn quốc tế, TCVN bắt buộc áp dụng đối với sản phẩm hàng hóa có liên quan đến an toàn vệ sinh, môi trường; về Hiệp định rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT); phong trào năng suất và chất lượng trong hoạt động sản xuất kinh doanh;
+ Hướng dẫn doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn; thực hiện việc công bố phù hợp tiêu chuẩn; chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn bắt buộc đối với sản phẩm, hàng hóa thuộc danh mục phải áp dụng tiêu chuẩn; khuyến khích chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn đối với những sản phẩm khác;
+ Tăng cường hệ thống kiểm định phương tiện đo, đào tạo nâng cao trình độ kiểm định viên đo lường, đảm bảo năng lực kiểm định các phương tiện đo thiết yếu thuộc diện phải kiểm định trên địa bàn. Hoàn thiện và tăng cường mạng lưới kiểm định một số phương tiện đo thông dụng cấp huyện, thị. Phối hợp triển khai chương trình quản lý đo lường giao nhận xăng dầu, khí đốt;
+ Đầu tư năng lực kỹ thuật, tăng cường các thiết bị kiểm định, các chuẩn đo lường đáp ứng nhu cầu của địa phương như điện kế, chuẩn khối lượng, đồng hồ nước,… Mở rộng khả năng kiểm định một số lĩnh vực như đồng hồ xăng dầu, nhiệt, xitec ô tô, máy đo tốc độ xe cơ giới,...;
+ Hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến thích hợp với mỗi loại hình doanh nghiệp như ISO 9000, ISO 14000, HACCP, GMP…; tham gia giải thưởng chất lượng VN; các chương trình của thập niên chất lượng 2006 - 2010; hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm;
+ Phối hợp thực hiện các chương trình trọng điểm về quản lý chất lượng hàng hóa; bao gồm chương trình quản lý chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường; chương trình quản lý chất lượng sản phẩm điện, điện tử; triển khai thực hiện các nhiệm vụ thuộc đề án triển khai thực hiện Hiệp định rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT); mạng lưới thông báo hỏi đáp về TBT tại địa phương và phối hợp với Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (Tổng cục TCĐLCL), các ban ngành liên quan thực hiện các đợt thanh kiểm tra về chất lượng sản phẩm hàng hóa, về đo lường (sử dụng phương tiện đo, các hàng đóng gói sẵn) đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, nâng cao uy tín doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng;
+ Tuyên truyền, phổ biến kiến thức, chính sách, pháp luật về SHTT: tăng cường công tác tập huấn, tuyên truyền phổ biến kiến thức cơ bản về SHTT và giới thiệu, hướng dẫn thi hành các quy định của pháp luật liên quan đến SHTT như Luật SHTT, các điều ước quốc tế liên quan đến SHTT cho các đối tượng lãnh đạo, cán bộ QLNN, doanh nghiệp, cán bộ lãnh đạo đoàn thể, hiệp hội,… bằng các hình thức: hội nghị, tập huấn mỗi năm 2 - 3 cuộc và định kỳ, thường xuyên thông tin trên báo, đài và trang web của tỉnh;
+ Phối hợp với một số trường phổ thông, Cao đẳng Cộng đồng, Cao đẳng Sư phạm xây dựng chương trình giáo dục về SHTT cho các đối tượng là học sinh, sinh viên. Tổ chức và phát động phong trào thi đua sáng tạo kỹ thuật và hoạt động SHTT: tổ chức và duy trì hàng năm Hội thi sáng tạo kỹ thuật trong toàn tỉnh, hướng dẫn và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đạt giải trong Hội thi sáng tạo kỹ thuật làm thủ tục bảo hộ quyền SHTT nếu sản phẩm sáng tạo đạt tiêu chuẩn bảo hộ;
+ Hỗ trợ các tổ chức, cá nhân xác lập quyền SHTT và phát triển tài sản trí tuệ: tư vấn thủ tục cho các tổ chức, cá nhân khi đăng ký xác lập quyền các đối tượng SHCN, NHHH, KDCN, SC/GPHI, TGXXHH, CDĐL; xây dựng và thực hiện chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp; thực hiện Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp phát triển tài sản trí tuệ và triển khai Đề án “Hỗ trợ doanh nghiệp bảo hộ quyền SHTT và xây dựng thương hiệu” đã được UBND tỉnh phê duyệt, trang bị phương tiện tra cứu, cung cấp thông tin và tổ chức dịch vụ tra cứu thông tin về SHTT;
+ Xây dựng cơ chế phối hợp đảm bảo thực thi quyền SHTT: phối hợp với Thanh tra Sở và các cơ quan Thanh tra tỉnh, Hải quan, Tòa án, Quản lý thị trường, Công an tiến hành xây dựng cơ chế phối hợp đảm bảo quyền SHTT của các tổ chức, cá nhân đươc thực thi, phối hợp với Thanh tra Sở tăng cường kiểm tra, phát hiện và xử lý các vi phạm về SHTT theo kế hoạch hàng năm của Thanh tra Sở;
+ Củng cố các hoạt động của các định chế tài chính, tín dụng ngân hàng thông qua các nỗ lực áp dụng các chính sách tín dụng, chính sách thuê khoán, giải pháp thích hợp về thủ tục thế chấp, bảo lãnh trong việc vay vốn cho các dự án đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ; đồng thời áp dụng các biện pháp tuyên truyền, cổ động, khuyến khích tiết kiệm và khuyến khích đến mức cao nhất để các doanh nghiệp và nhân dân yên tâm bỏ vốn, vay vốn đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ, sản xuất hàng công nghiệp xuất khẩu, ứng dụng các tiến bộ KH-CN vào sản xuất và đời sống,... đảm bảo mọi dự án khả thi đều có đủ vốn để triển khai.
6.4. Nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực KH-CN:
- Tăng cường giáo dục đào tạo gắn kết với phát triển KH-CN:
+ Triển khai Chương trình phát triển nguồn nhân lực tỉnh Kiên Giang đến năm 2020 đã được UBND tỉnh phê duyệt với các nội dung được trình bày trong phần Phụ lục;
+ Mở rộng phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm” trong việc đào tạo nguồn nhân lực KH-CN, gửi cán bộ KH-CN đi học ở nước ngoài, có chế độ khuyến khích và có chính sách “Chiêu hiền đãi sĩ” đối với chương trình du học tự túc ở nước ngoài nhằm đảm bảo du học sinh tự túc khi tốt nghiệp về nước sẽ được trọng dụng;
+ Tạo môi trường thuận lợi cho các nhà KH-CN tự mình tiếp tục học hỏi thông qua việc tham gia vào các Hội thi sáng tạo KHKT hoặc tham dự vào các chương trình, dự án nghiên cứu, triển khai có tầm cỡ và chuyên sâu với các nội dung nghiên cứu các giải pháp công nghệ hoặc sáng tạo công nghệ phục vụ cho việc phát triển tiềm năng, thế mạnh của tỉnh về nông lâm nghiệp và kinh tế biển…;
+ Chú ý đến các biện pháp thu hút trí thức Việt kiều về nước làm việc thông qua việc giao cho họ thực hiện những chương trình dự án quan trọng trong phát triển KH-CN. Chính lực lượng này sẽ mang về cho tỉnh nhà những tri thức KH-CN hiện đại thúc đẩy phát triển trình độ công nghệ của các doanh nghiệp. Nhưng vấn đề quan trọng là phải đầu tư cơ sở vật chất cho R-D đáp ứng yêu cầu triển khai các công nghệ hiện đại.
- Phát huy vai trò và năng lực sáng tạo của đội ngũ KH-CN:
+ Ban hành chính sách đãi ngộ đối với trí thức Việt kiều, chính sách thuê cán bộ KH-CN đầu đàn trong và ngoài nước đến làm việc tại tỉnh Kiên Giang và chính sách lưu dụng cán bộ KH-CN đầu đàn tuổi nghỉ hưu nhằm tạo môi trường thông thoáng cho đội ngũ trí thức này cống hiến cho sự nghiệp phát triển KH-CN của địa phương nói riêng và cả nước nói chung;
+ Ban hành Quy chế tuyển dụng; chế độ đãi ngộ về phụ cấp chất xám, nhà ở, đi lại đối với cán bộ KH-CN hoạt động trong các cơ quan R-D của Nhà nước nhằm tôn vinh vai trò và địa vị của họ trong xã hội. Bởi họ là nguồn sáng tạo ra tri thức khoa học và các giải pháp công nghệ góp phần tăng trưởng kinh tế và đưa nền sản xuất hội nhập được với các nước trên thế giới.