Document: Điều 10 Nghị định 1056-TTg quy định những nguyên tắc thu thuế nông nghiệp ở miền núi

Type: {"issuing_agency": "Phủ Thủ tướng", "promulgation_date": "22/09/1956", "sign_number": "1056-TTg", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Phủ Thủ tướng", "promulgation_date": "22/09/1956", "sign_number": "1056-TTg", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Phủ Thủ tướng", "promulgation_date": "22/09/1956", "sign_number": "1056-TTg", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Phủ Thủ tướng", "promulgation_date": "22/09/1956", "sign_number": "1056-TTg", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Phủ Thủ tướng", "promulgation_date": "22/09/1956", "sign_number": "1056-TTg", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 10 Nghị định 1056-TTg quy định những nguyên tắc thu thuế nông nghiệp ở miền núi có nội dung như sau:

Điều 10. – Đối với ruộng đất tôn giáo (ruộng đất nhà chùa, nhà chung v.v…) thuế 8% sản lượng thường năm. Trường hợp phát canh, lĩnh canh, thuế cũng chỉ thu 8% sản lượng thường năm. Số thuế trên do người chủ ruộng nộp cả, hay người cày cấy nộp cả, hai bên thương lượng rồi báo cáo với Ủy ban Hành chính xã trước khi lập sổ thuế.

Content:
Điều 10. – Đối với ruộng đất tôn giáo (ruộng đất nhà chùa, nhà chung v.v…) thuế 8% sản lượng thường năm. Trường hợp phát canh, lĩnh canh, thuế cũng chỉ thu 8% sản lượng thường năm. Số thuế trên do người chủ ruộng nộp cả, hay người cày cấy nộp cả, hai bên thương lượng rồi báo cáo với Ủy ban Hành chính xã trước khi lập sổ thuế.