Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 578/QĐ-UBND 2007 phát triển công nghệ thông tin truyền thông Cần Thơ

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "09/03/2007", "sign_number": "578/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "09/03/2007", "sign_number": "578/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "09/03/2007", "sign_number": "578/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "09/03/2007", "sign_number": "578/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "09/03/2007", "sign_number": "578/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 578/QĐ-UBND 2007 phát triển công nghệ thông tin truyền thông Cần Thơ

Điều 1. Phê duyệt Chương trình tổng thể phát triển công nghệ thông tin và truyền thông thành phố Cần Thơ giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
5. Cơ chế chính sách và giải pháp
5.1. Cơ chế, chính sách:
- Xây dựng cơ chế, chính sách đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông thuộc mọi thành phần kinh tế; tạo điều kiện và môi trường kinh doanh tốt, hấp dẫn nhằm thu hút các công ty, nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước;
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật là hành lang về thể chế, pháp lý cho việc hỗ trợ ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông trong lĩnh vực: chữ ký điện tử, chứng thực điện tử, hội họp trực tuyến đồng bộ hoặc không đồng bộ; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; cải tiến thủ tục đầu tư,...;
- Thực hiện nghiêm cơ chế quản lý và giám sát đầu tư nhằm tăng hiệu quả đầu tư, chất lượng cơ sở hạ tầng của viễn thông và hệ thống thông tin;
- Nghiên cứu đề xuất hình thành cơ quan chuyên trách về lĩnh vực giám định chất lượng đào tạo nghề, đào tạo các chứng chỉ, bằng cấp về công nghệ thông tin và truyền thông nhằm đảm bảo chất lượng và mức độ lành nghề trong lĩnh vực này;
- Đảm bảo cơ hội giáo dục có chất lượng cho mọi người và quyền được chia sẻ thông tin. Xây dựng cơ chế công khai chất lượng giáo dục, cơ chế bình đẳng nhưng cũng tạo cơ hội được giáo dục chất lượng cao, cơ chế được chia sẻ thông tin;
- Xây dựng khung pháp lý về đầu tư, thay đổi công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông đúng quy luật (vòng quay của phần cứng khoảng 3 - 5 năm; phần mềm khoảng 4 - 6 năm) để tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông của thành phố.
5.2. Giải pháp chủ yếu
5.2.1. Giải pháp về tổ chức:
- Xây dựng hành lang pháp lý, các văn bản pháp quy đối với chữ ký điện tử và dấu điện tử;
- Mở rộng các phương pháp giao tiếp chính thức thông qua các dịch vụ điện tử: email, diễn đàn, giao tiếp trực tuyến thay cho hình thức hội họp tập trung;
- Triển khai Luật Sở hữu trí tuệ, các văn bản dưới Luật về quyền sở hữu trí tuệ; xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ,...;
- Quy định chính thức về sử dụng các phần mềm nguồn mở;
- Quy định chính thức vai trò tư vấn như là một dịch vụ của các Hiệp hội Khoa học kỹ thuật, trong đó có Hội Tin học;
- Quy định chính thức về đăng ký kinh doanh dưới dạng dịch vụ điện tử song song với các dịch vụ thông thường.
5.2.2. Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực:
- Để đáp ứng triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trên địa bàn thành phố, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực là một trong những lĩnh vực ưu tiên hàng đầu. Cần quy hoạch, nâng cấp các trường, các trung tâm đào tạo công nghệ thông tin vừa đáp ứng phổ cập, vừa đẩy mạnh đào tạo chuyên sâu và hướng tới đào tạo chuyên gia;
- Chú ý đào tạo cán bộ lãnh đạo công nghệ thông tin (CIO) để giúp thành phố thực hiện tốt chiến lược phát triển Chính phủ điện tử và các dự án công nghệ thông tin trong giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng lâu dài;
- Rà soát và chuẩn hóa các chương trình đào tạo phổ cập công nghệ thông tin tại các cơ sở đào tạo công lập, đảm bảo tính cập nhật, tính chuyên nghiệp; đồng thời, có cơ chế chính sách tích cực cho xã hội hóa phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin nhằm thu hút mọi thành phần kinh tế, mọi tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin;
- Xây dựng, phát triển các chương trình đào tạo công nghệ thông tin chất lượng cao theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu đạt tiêu chuẩn quốc gia đẩy mạnh hợp tác, liên kết trong và ngoài nước về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực;
- Các trường đại học, cao đẳng, các cơ sở đào tạo có tiềm năng cần được khuyến khích và chủ động liên kết, hợp tác mở ra các chương trình đào tạo, đặc biệt là đào tạo chuyên gia công nghệ thông tin với các trường đại học lớn, các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước để tranh thủ thu hút trí tuệ và nguồn lực một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất.
5.2.3. Nhóm giải pháp về đầu tư cơ sở vật chất:
Về cơ sở vật chất cần được đầu tư theo các cấp độ:
- Cấp độ thứ nhất thuộc về hạ tầng cơ sở viễn thông. Ở cấp độ này, kiến nghị Bộ Bưu chính, Viễn thông sớm chỉ đạo các tập đoàn, các tổng công ty đầu tư xây dựng theo nhu cầu phát triển của thành phố;
- Cấp độ thứ 2 là xây dựng các mạng nội bộ và quản lý theo mạng Intranet. Các mạng nội bộ lưu trữ và xử lý các thông tin nội bộ. Các chương trình của thành phố được xây dựng dựa trên cơ sở vật chất của cấp độ thứ 2 này;
- Cấp độ thứ 3 là các máy tính cá nhân độc lập;
Toàn bộ các cấp độ nêu trên đều có thể kết nối và chia sẻ thông tin thông qua mạng Internet toàn cầu, thông qua các cổng ra, vào và thông qua các trung tâm lưu trữ dữ liệu;
Như vậy, các chương trình công nghệ thông tin và truyền thông cần được tính toán sao cho đáp ứng nhu cầu về cơ sở vật chất; đồng thời, khai thác được hết chức năng ở từng cấp độ.
5.2.4. Nhóm giải pháp về tài chính:
- Nguồn tài chính từ các nguồn sau:
+ Nguồn ngân sách từ 02 nguồn: ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương;
+ Nguồn huy động từ các nguồn: vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn FDI, hợp tác quốc tế, vốn vay, vốn của các doanh nghiệp đóng góp, vốn trong dân thông qua việc xã hội hóa,...
- Nguồn ngân sách nhà nước chiếm vai trò chủ đạo, vì đây là bước khởi động có quy hoạch và tập trung vào xây dựng hạ tầng về cơ sở vật chất cũng như về tài nguyên thông tin;
- Nguồn ngân sách phải chiếm tỷ lệ cao trong tổng kinh phí, trong đó gồm: nguồn từ ngân sách Trung ương và nguồn đối ứng của ngân sách địa phương. Tính trên tổng thể thì ngân sách Trung ương chiếm 35% và ngân sách thành phố chiếm 37%;
- Nguồn vốn vay tập trung vào 2 Dự án là: Dự án "Quy hoạch và chuẩn hóa đội ngũ chuyên nghiệp về công nghệ thông tin và truyền thông" và Dự án "Phổ cập tin học", do khả năng hoàn vốn kéo dài. Trong các năm tới nguồn vay từ Nhật (ODA) và Ngân hàng Thế giới (WB) sẽ tăng mạnh, chúng ta cần tận dụng để tranh thủ nguồn vốn này để đạt tỷ lệ đầu tư cao;
- Nguồn vốn huy động tập trung vào các quỹ phục vụ cộng đồng và đóng góp của các nhà tài trợ. Chương trình "Phát triển ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông" và Dự án "Phổ biến và khuyến khích phần mềm nguồn mở trong cộng đồng" có nhiều khả năng huy động được vốn như vậy.
5.2.5. Tăng cường hợp tác, liên kết trong nước và quốc tế
Tranh thủ sự hỗ trợ, chia sẻ thông tin và tri thức, kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ trên các lĩnh vực nghiên cứu, quản lý, sản xuất, kinh doanh, đào tạo của các tổ chức quốc tế, các công ty đa quốc gia, các cơ sở nghiên cứu, các trung tâm tư vấn, các chuyên gia, đặc biệt là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Phát huy vai trò của các Hiệp hội nghề nghiệp về công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông.

Content:
Cơ chế chính sách và giải pháp
5.1. Cơ chế, chính sách:
- Xây dựng cơ chế, chính sách đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông thuộc mọi thành phần kinh tế; tạo điều kiện và môi trường kinh doanh tốt, hấp dẫn nhằm thu hút các công ty, nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước;
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật là hành lang về thể chế, pháp lý cho việc hỗ trợ ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông trong lĩnh vực: chữ ký điện tử, chứng thực điện tử, hội họp trực tuyến đồng bộ hoặc không đồng bộ; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; cải tiến thủ tục đầu tư,...;
- Thực hiện nghiêm cơ chế quản lý và giám sát đầu tư nhằm tăng hiệu quả đầu tư, chất lượng cơ sở hạ tầng của viễn thông và hệ thống thông tin;
- Nghiên cứu đề xuất hình thành cơ quan chuyên trách về lĩnh vực giám định chất lượng đào tạo nghề, đào tạo các chứng chỉ, bằng cấp về công nghệ thông tin và truyền thông nhằm đảm bảo chất lượng và mức độ lành nghề trong lĩnh vực này;
- Đảm bảo cơ hội giáo dục có chất lượng cho mọi người và quyền được chia sẻ thông tin. Xây dựng cơ chế công khai chất lượng giáo dục, cơ chế bình đẳng nhưng cũng tạo cơ hội được giáo dục chất lượng cao, cơ chế được chia sẻ thông tin;
- Xây dựng khung pháp lý về đầu tư, thay đổi công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông đúng quy luật (vòng quay của phần cứng khoảng 3 - 5 năm; phần mềm khoảng 4 - 6 năm) để tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông của thành phố.
5.2. Giải pháp chủ yếu
5.2.1. Giải pháp về tổ chức:
- Xây dựng hành lang pháp lý, các văn bản pháp quy đối với chữ ký điện tử và dấu điện tử;
- Mở rộng các phương pháp giao tiếp chính thức thông qua các dịch vụ điện tử: email, diễn đàn, giao tiếp trực tuyến thay cho hình thức hội họp tập trung;
- Triển khai Luật Sở hữu trí tuệ, các văn bản dưới Luật về quyền sở hữu trí tuệ; xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ,...;
- Quy định chính thức về sử dụng các phần mềm nguồn mở;
- Quy định chính thức vai trò tư vấn như là một dịch vụ của các Hiệp hội Khoa học kỹ thuật, trong đó có Hội Tin học;
- Quy định chính thức về đăng ký kinh doanh dưới dạng dịch vụ điện tử song song với các dịch vụ thông thường.
5.2.2. Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực:
- Để đáp ứng triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trên địa bàn thành phố, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực là một trong những lĩnh vực ưu tiên hàng đầu. Cần quy hoạch, nâng cấp các trường, các trung tâm đào tạo công nghệ thông tin vừa đáp ứng phổ cập, vừa đẩy mạnh đào tạo chuyên sâu và hướng tới đào tạo chuyên gia;
- Chú ý đào tạo cán bộ lãnh đạo công nghệ thông tin (CIO) để giúp thành phố thực hiện tốt chiến lược phát triển Chính phủ điện tử và các dự án công nghệ thông tin trong giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng lâu dài;
- Rà soát và chuẩn hóa các chương trình đào tạo phổ cập công nghệ thông tin tại các cơ sở đào tạo công lập, đảm bảo tính cập nhật, tính chuyên nghiệp; đồng thời, có cơ chế chính sách tích cực cho xã hội hóa phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin nhằm thu hút mọi thành phần kinh tế, mọi tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin;
- Xây dựng, phát triển các chương trình đào tạo công nghệ thông tin chất lượng cao theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu đạt tiêu chuẩn quốc gia đẩy mạnh hợp tác, liên kết trong và ngoài nước về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực;
- Các trường đại học, cao đẳng, các cơ sở đào tạo có tiềm năng cần được khuyến khích và chủ động liên kết, hợp tác mở ra các chương trình đào tạo, đặc biệt là đào tạo chuyên gia công nghệ thông tin với các trường đại học lớn, các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước để tranh thủ thu hút trí tuệ và nguồn lực một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất.
5.2.3. Nhóm giải pháp về đầu tư cơ sở vật chất:
Về cơ sở vật chất cần được đầu tư theo các cấp độ:
- Cấp độ thứ nhất thuộc về hạ tầng cơ sở viễn thông. Ở cấp độ này, kiến nghị Bộ Bưu chính, Viễn thông sớm chỉ đạo các tập đoàn, các tổng công ty đầu tư xây dựng theo nhu cầu phát triển của thành phố;
- Cấp độ thứ 2 là xây dựng các mạng nội bộ và quản lý theo mạng Intranet. Các mạng nội bộ lưu trữ và xử lý các thông tin nội bộ. Các chương trình của thành phố được xây dựng dựa trên cơ sở vật chất của cấp độ thứ 2 này;
- Cấp độ thứ 3 là các máy tính cá nhân độc lập;
Toàn bộ các cấp độ nêu trên đều có thể kết nối và chia sẻ thông tin thông qua mạng Internet toàn cầu, thông qua các cổng ra, vào và thông qua các trung tâm lưu trữ dữ liệu;
Như vậy, các chương trình công nghệ thông tin và truyền thông cần được tính toán sao cho đáp ứng nhu cầu về cơ sở vật chất; đồng thời, khai thác được hết chức năng ở từng cấp độ.
5.2.4. Nhóm giải pháp về tài chính:
- Nguồn tài chính từ các nguồn sau:
+ Nguồn ngân sách từ 02 nguồn: ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương;
+ Nguồn huy động từ các nguồn: vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn FDI, hợp tác quốc tế, vốn vay, vốn của các doanh nghiệp đóng góp, vốn trong dân thông qua việc xã hội hóa,...
- Nguồn ngân sách nhà nước chiếm vai trò chủ đạo, vì đây là bước khởi động có quy hoạch và tập trung vào xây dựng hạ tầng về cơ sở vật chất cũng như về tài nguyên thông tin;
- Nguồn ngân sách phải chiếm tỷ lệ cao trong tổng kinh phí, trong đó gồm: nguồn từ ngân sách Trung ương và nguồn đối ứng của ngân sách địa phương. Tính trên tổng thể thì ngân sách Trung ương chiếm 35% và ngân sách thành phố chiếm 37%;
- Nguồn vốn vay tập trung vào 2 Dự án là: Dự án "Quy hoạch và chuẩn hóa đội ngũ chuyên nghiệp về công nghệ thông tin và truyền thông" và Dự án "Phổ cập tin học", do khả năng hoàn vốn kéo dài. Trong các năm tới nguồn vay từ Nhật (ODA) và Ngân hàng Thế giới (WB) sẽ tăng mạnh, chúng ta cần tận dụng để tranh thủ nguồn vốn này để đạt tỷ lệ đầu tư cao;
- Nguồn vốn huy động tập trung vào các quỹ phục vụ cộng đồng và đóng góp của các nhà tài trợ. Chương trình "Phát triển ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông" và Dự án "Phổ biến và khuyến khích phần mềm nguồn mở trong cộng đồng" có nhiều khả năng huy động được vốn như vậy.
5.2.Tăng cường hợp tác, liên kết trong nước và quốc tế
Tranh thủ sự hỗ trợ, chia sẻ thông tin và tri thức, kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ trên các lĩnh vực nghiên cứu, quản lý, sản xuất, kinh doanh, đào tạo của các tổ chức quốc tế, các công ty đa quốc gia, các cơ sở nghiên cứu, các trung tâm tư vấn, các chuyên gia, đặc biệt là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Phát huy vai trò của các Hiệp hội nghề nghiệp về công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông.