Document: Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1686/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "20/11/2008", "sign_number": "1686/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "20/11/2008", "sign_number": "1686/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "20/11/2008", "sign_number": "1686/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "20/11/2008", "sign_number": "1686/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "20/11/2008", "sign_number": "1686/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1686/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050

Điều 1. Phê duyệt Chiến lược phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 với các nội dung chính sau đây:
...
2. Chiến lược phát triển
...
b) Các mục tiêu cụ thể
Đảm bảo sự cân đối, phù hợp với từng mốc thời gian; xác định thứ tự mục tiêu ưu tiên hợp lý để tập trung nguồn lực cho đầu tư phát triển. Trong đó, cần ưu tiên xây dựng hệ thống đường sắt đô thị ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai, đường sắt cao tốc Bắc – Nam.
- Giai đoạn đến năm 2020
+ Đáp ứng tối thiểu 13% nhu cầu về lượng luân chuyển hành khách và 14% nhu cầu về lượng luân chuyển hàng hóa. Trong đó, trên các hành lang chính như hành lang Bắc – Nam là 37% về hành khách, hành lang Đông – Tây là 40% về hành khách và hơn 45% về hàng hóa; đáp ứng được 20% nhu cầu về vận chuyển hành khách đô thị.
+ Ưu tiên thực hiện các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh để đưa vào khai thác; phấn đấu hoàn thành và đưa vào khai thác tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và Hà Nội – Đồng Đăng (thuộc chương trình hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt – Trung); đầu tư xây dựng xong và đưa vào khai thác đường sắt cao tốc Bắc – Nam tốc độ 350 km/h, ưu tiên hoàn thành sớm đoạn Hà Nội – Huế hoặc Hà Nội – Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh – Nha Trang; hoàn thành và đưa vào khai thác tuyến đường sắt Yên Viên – Phả Lại – Hạ Long – Cái Lân, đường sắt nối đến các cảng biển lớn, các khu công nghiệp, khu du lịch …. Đồng thời cải tạo nâng cấp các tuyến đường sắt quốc gia hiện có vào đúng cấp kỹ thuật đạt tốc độ 120 km/h phục vụ vận tải liên tỉnh, vận tải hàng hóa và kết nối với đường sắt các nước ASEAN, nghiên cứu để phát triển mạng lưới đường sắt ở phía Tây của đất nước.
+ Mạng đường sắt Việt Nam phải đạt mật độ 15 ÷ 17 km/1.000 km2 và khoảng 50 – 70 km/1 triệu dân, đường đôi đạt tỷ lệ 35 ÷ 39% và đường điện khí hóa đạt tỷ lệ 40 ÷ 44% trong đó chủ yếu là tuyến đường sắt cao tốc Bắc – Nam; đường sắt cận cao tốc trên hành lang Đông – Tây và các tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.
+ Cải tạo, xây dựng cơ sở chế tạo lắp ráp đầu máy, toa xe, sản xuất phụ tùng thay thế với tỷ lệ nội địa hóa đạt từ 50 – 60%; đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất để đóng mới khoảng 5.000 – 9.000 toa xe khách và 50.000 – 53.000 toa xe hàng với chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu.
- Tầm nhìn đến năm 2050
+ Đáp ứng tối thiểu 20% nhu cầu về lượng luân chuyển hành khách và hàng hóa. Trong đó, trên các hành lang chính như hàng lang Bắc – Nam là 40% về hành khách, hàng lang Đông – Tây là 45% về hành khách và hơn 50% về hàng hóa; đáp ứng tối thiểu 25% nhu cầu về vận chuyển hành khách đô thị.
+ Hoàn thành đường sắt cao tốc Bắc – Nam với các đoạn tuyến nối Hà Nội – Lạng Sơn, thành phố Hồ Chí Minh – Cần Thơ – Cà Mau; hoàn thành xây dựng đường sắt Tây Nguyên, đường sắt xuyên Á, đường sắt ven biển đồng bằng Bắc Bộ; bên cạnh việc hoàn chỉnh mạng đường sắt đô thị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với các giải pháp công nghệ phù hợp như đi ngầm hoặc đi trên cao để giải quyết cơ bản tình trạng ùn tắc giao thông cần phải tập trung đầu tư phát triển hệ thống đường sắt đô thị (metro và đường sắt trên cao) tại các thành phố lớn khác.
+ Mạng đường sắt Việt Nam phải đạt mật độ 18 ÷ 21 km/1.000 km2 và khoảng 60 – 80 km/1 triệu dân, đường đôi đạt tỷ lệ trên 50% và đường điện khí hóa đạt tỷ lệ trên 50%.
+ Phát triển và hiện đại hóa các cơ sở công nghiệp chuyên ngành phấn đấu đáp ứng 100% nhu cầu trong nước và hướng tới xuất khẩu.

Content:
Các mục tiêu cụ thể
Đảm bảo sự cân đối, phù hợp với từng mốc thời gian; xác định thứ tự mục tiêu ưu tiên hợp lý để tập trung nguồn lực cho đầu tư phát triển. Trong đó, cần ưu tiên xây dựng hệ thống đường sắt đô thị ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai, đường sắt cao tốc Bắc – Nam.
- Giai đoạn đến năm 2020
+ Đáp ứng tối thiểu 13% nhu cầu về lượng luân chuyển hành khách và 14% nhu cầu về lượng luân chuyển hàng hóa. Trong đó, trên các hành lang chính như hành lang Bắc – Nam là 37% về hành khách, hành lang Đông – Tây là 40% về hành khách và hơn 45% về hàng hóa; đáp ứng được 20% nhu cầu về vận chuyển hành khách đô thị.
+ Ưu tiên thực hiện các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh để đưa vào khai thác; phấn đấu hoàn thành và đưa vào khai thác tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và Hà Nội – Đồng Đăng (thuộc chương trình hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt – Trung); đầu tư xây dựng xong và đưa vào khai thác đường sắt cao tốc Bắc – Nam tốc độ 350 km/h, ưu tiên hoàn thành sớm đoạn Hà Nội – Huế hoặc Hà Nội – Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh – Nha Trang; hoàn thành và đưa vào khai thác tuyến đường sắt Yên Viên – Phả Lại – Hạ Long – Cái Lân, đường sắt nối đến các cảng biển lớn, các khu công nghiệp, khu du lịch …. Đồng thời cải tạo nâng cấp các tuyến đường sắt quốc gia hiện có vào đúng cấp kỹ thuật đạt tốc độ 120 km/h phục vụ vận tải liên tỉnh, vận tải hàng hóa và kết nối với đường sắt các nước ASEAN, nghiên cứu để phát triển mạng lưới đường sắt ở phía Tây của đất nước.
+ Mạng đường sắt Việt Nam phải đạt mật độ 15 ÷ 17 km/1.000 km2 và khoảng 50 – 70 km/1 triệu dân, đường đôi đạt tỷ lệ 35 ÷ 39% và đường điện khí hóa đạt tỷ lệ 40 ÷ 44% trong đó chủ yếu là tuyến đường sắt cao tốc Bắc – Nam; đường sắt cận cao tốc trên hành lang Đông – Tây và các tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.
+ Cải tạo, xây dựng cơ sở chế tạo lắp ráp đầu máy, toa xe, sản xuất phụ tùng thay thế với tỷ lệ nội địa hóa đạt từ 50 – 60%; đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất để đóng mới khoảng 5.000 – 9.000 toa xe khách và 50.000 – 53.000 toa xe hàng với chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu.
- Tầm nhìn đến năm 2050
+ Đáp ứng tối thiểu 20% nhu cầu về lượng luân chuyển hành khách và hàng hóa. Trong đó, trên các hành lang chính như hàng lang Bắc – Nam là 40% về hành khách, hàng lang Đông – Tây là 45% về hành khách và hơn 50% về hàng hóa; đáp ứng tối thiểu 25% nhu cầu về vận chuyển hành khách đô thị.
+ Hoàn thành đường sắt cao tốc Bắc – Nam với các đoạn tuyến nối Hà Nội – Lạng Sơn, thành phố Hồ Chí Minh – Cần Thơ – Cà Mau; hoàn thành xây dựng đường sắt Tây Nguyên, đường sắt xuyên Á, đường sắt ven biển đồng bằng Bắc Bộ; bên cạnh việc hoàn chỉnh mạng đường sắt đô thị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với các giải pháp công nghệ phù hợp như đi ngầm hoặc đi trên cao để giải quyết cơ bản tình trạng ùn tắc giao thông cần phải tập trung đầu tư phát triển hệ thống đường sắt đô thị (metro và đường sắt trên cao) tại các thành phố lớn khác.
+ Mạng đường sắt Việt Nam phải đạt mật độ 18 ÷ 21 km/1.000 km2 và khoảng 60 – 80 km/1 triệu dân, đường đôi đạt tỷ lệ trên 50% và đường điện khí hóa đạt tỷ lệ trên 50%.
+ Phát triển và hiện đại hóa các cơ sở công nghiệp chuyên ngành phấn đấu đáp ứng 100% nhu cầu trong nước và hướng tới xuất khẩu.