Document: Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1780/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch cấp nước sạch và vệ sinh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "27/10/2011", "sign_number": "1780/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Đình Cự", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "27/10/2011", "sign_number": "1780/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Đình Cự", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "27/10/2011", "sign_number": "1780/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Đình Cự", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "27/10/2011", "sign_number": "1780/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Đình Cự", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "27/10/2011", "sign_number": "1780/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Đình Cự", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1780/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch cấp nước sạch và vệ sinh

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Phú Yên giai đoạn 2011-2020, với các nội dung chính như sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể
...
b) Đối với vệ sinh môi trường nông thôn:
- Đến năm 2015 có trên 95% gia đình nông thôn có hố xí hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân; 90% số hộ nông dân có chuồng trại hợp vệ sinh;
- Đến năm 2020, hầu hết dân cư nông thôn thực hành tốt vệ sinh cá nhân và giữ sạch vệ sinh môi trường làng xã nhờ các hoạt động thông tin - giáo dục - truyền thông;
- Thu gom và xử lý được trên 90% chất thải sinh hoạt và xử lý về cơ bản chất thải nguy hại, các vùng nông thôn đều có cơ sở hạ tầng đạt tiêu chuẩn môi trường.
IV. NỘI DUNG QUY HOẠCH
1. Quy hoạch cấp nước sạch nông thôn
a) Phân vùng cấp nước sạch, hợp vệ sinh nông thôn:
* Vùng có khả năng cấp nước rất thuận lợi (Vùng I):
- Gồm các xã đồng bằng, có địa hình bằng phẳng, có nguồn nước mặt, nước ngầm rất dồi dào. Vùng có các công trình thủy lợi lớn, chủ động nước tưới cho cây trồng và bổ sung nước ngầm. Sử dụng được cả 02 nguồn nước mặt và nước ngầm thuận lợi cho sinh hoạt của người dân. Tổng số dân cư nông thôn trong vùng năm 2015: 266,4 nghìn người và năm 2020: 246,6 nghìn người.
- Giải pháp khai thác nước hợp vệ sinh hợp lý nhất là xây dựng hệ thống cấp nước tập trung quy mô lớn, vừa và nhỏ khai thác bằng nguồn nước ngầm, nước mặt. Ngoài ra còn sử dụng các loại hình như giếng khoan, giếng đào...
* Vùng có khả năng cấp nước tương đối thuận lợi (Vùng II):
- Gồm các xã thuộc vùng đồng bằng ven biển và vùng trung du, có địa hình đồi núi thấp, có tài nguyên nước mặt, nước ngầm tương đối phong phú. Vùng có các công trình thủy lợi vừa và nhỏ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và bổ sung lượng nước ngầm. Tổng số dân cư nông thôn trong vùng năm 2015: 161,3 nghìn người và năm 2020: 147,4 nghìn người.
- Giải pháp khai thác nước hợp vệ sinh hợp lý nhất là xây dựng hệ thống cấp nước tập trung quy mô vừa và nhỏ dùng nước mặt, nước ngầm, bên cạnh đó có thể sử dụng các loại hình: giếng khoan đường kính nhỏ, giếng đào.
* Vùng có điều kiện cấp nước khó khăn (Vùng III):
- Thuộc các xã vùng đồng bằng ven biển và vùng trung du có địa hình đồi núi trung bình. Đây là vùng có khả năng xuất hiện các đơn vị chứa nước ngầm có triển vọng nhưng trữ lượng rất hạn chế, trữ lượng nước mặt thấp. Trong vùng chỉ có các công trình thủy lợi nhỏ khả năng bổ sung lượng nước ngầm tại chỗ hạn chế. Vùng ven biển nước ngầm thường bị nhiễm mặn, phèn. Tổng số dân nông thôn trong vùng này vào năm 2015: 167 nghìn người và năm 2020: 152 nghìn người.
- Giải pháp khai thác nước sạch hợp lý là giếng khoan, giếng đào sử dụng chung cho nhiều hộ, hệ thống cấp nước tập trung quy mô vừa và nhỏ, hệ tự chảy.
* Vùng điều kiện cấp nước rất khó khăn (Vùng IV):
- Đây là vùng thuộc phía Tây các huyện miền núi, có nguồn nước ngầm, nước mặt rất khan hiếm vào mùa khô, kinh tế vùng này kém phát triển, mật độ dân cư thấp nhất trong tỉnh. Trong vùng rải rác có một vài công trình thủy lợi nhỏ, bổ sung lượng nước ngầm tại chỗ rất hạn chế (hầu như không có). Tổng số dân nông thôn trong vùng này đến năm 2015: 31,3 nghìn người và năm 2020: 30 nghìn người.
- Giải pháp khai thác nước sạch hợp lý nhất là cấp nước tập trung quy mô nhỏ và hệ tự chảy. Nơi có điều kiện, xây dựng một số giếng khoan, giếng đào sử dụng chung cho nhiều hộ.
b) Các giải pháp công nghệ cấp nước sạch, hợp vệ sinh nông thôn:
* Cấp nước tập trung:
- Hệ thống cấp nước tự chảy: Đây là một trong những các loại hình cấp nước tập trung dẫn nước nhờ trọng lực từ nơi có độ cao lớn hơn về nơi có độ cao nhỏ hơn. Nước từ mạch lộ (hoặc sông, suối) ở vị trí cao hơn khu vực sử dụng nước, được dẫn qua hệ thống xử lý, đưa đến bể chứa nước và cuối cùng đến điểm sử dụng.
- Hệ thống cấp nước bơm dẫn:
+ Sử dụng nguồn nước mặt: Hệ thống cấp nước cho nhiều hộ gia đình, nước được bơm từ sông, suối, hồ qua khâu xử lý chất lượng nước và được chứa trong bể có dung tích lớn. Sau đó nước được bơm lên tháp cao hoặc trực tiếp đẩy thẳng vào hệ thống đường ống dẫn đến các hộ sử dụng (trường hợp không cần tháp chứa). Thường được áp dụng ở vùng dân cư tập trung và có nguồn nước ngầm hạn chế hoặc không sử dụng được cho mục đích ăn uống và sinh hoạt.
+ Sử dụng nguồn nước ngầm: Hệ thống cấp nước cho nhiều hộ gia đình; nước được bơm từ giếng khoan qua khâu xử lý chất lượng nước rồi được chứa trong bể có dung tích lớn. Sau đó nước được bơm lên tháp cao hoặc trực tiếp đẩy thẳng vào đường ống đến các hộ sử dụng (trường hợp không cần tháp chứa). Loại hình cấp nước này giảm được nguy cơ ô nhiễm nguồn nước và thích hợp vùng đồng bằng đông dân cư có nguồn nước ngầm dồi dào.
- Hệ thống cấp tập trung quy mô nhỏ: Tận dụng giếng khoan đường kính nhỏ, giếng đào, thay bơm tay bằng lắp bơm điện đưa lên tháp nước có thể tích nhỏ, độ cao từ 5 - 7 m, dùng đường ống dẫn đến hộ gia đình, có lắp đồng hồ đo nước phục vụ khoảng 50 - 100 hộ. Loại hình cấp nước này giảm được nguy cơ ô nhiễm nguồn nước có thể áp dụng vùng đồng bằng, vùng núi.
* Cấp nước đơn lẻ:
- Giếng khoan lắp bơm tay: Được áp dụng cho những vùng có tầng chứa nước ngọt. Là giếng thu nước ngầm tầng nông hoặc tầng sâu thường được khoan bằng tay hoặc bằng máy, đường kính nhỏ (thường nhỏ hơn 150 mm).
- Giếng đào: Giếng thu nước ngầm tầng nông thường được gọi là giếng đào hay giếng khơi. Phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện ở nhiều vùng nông thôn.
Áp dụng rộng rãi ở vùng đồng bằng, bán sơn địa.

Content:
Đối với vệ sinh môi trường nông thôn:
- Đến năm 2015 có trên 95% gia đình nông thôn có hố xí hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân; 90% số hộ nông dân có chuồng trại hợp vệ sinh;
- Đến năm 2020, hầu hết dân cư nông thôn thực hành tốt vệ sinh cá nhân và giữ sạch vệ sinh môi trường làng xã nhờ các hoạt động thông tin - giáo dục - truyền thông;
- Thu gom và xử lý được trên 90% chất thải sinh hoạt và xử lý về cơ bản chất thải nguy hại, các vùng nông thôn đều có cơ sở hạ tầng đạt tiêu chuẩn môi trường.
IV. NỘI DUNG QUY HOẠCH
1. Quy hoạch cấp nước sạch nông thôn
a) Phân vùng cấp nước sạch, hợp vệ sinh nông thôn:
* Vùng có khả năng cấp nước rất thuận lợi (Vùng I):
- Gồm các xã đồng bằng, có địa hình bằng phẳng, có nguồn nước mặt, nước ngầm rất dồi dào. Vùng có các công trình thủy lợi lớn, chủ động nước tưới cho cây trồng và bổ sung nước ngầm. Sử dụng được cả 02 nguồn nước mặt và nước ngầm thuận lợi cho sinh hoạt của người dân. Tổng số dân cư nông thôn trong vùng năm 2015: 266,4 nghìn người và năm 2020: 246,6 nghìn người.
- Giải pháp khai thác nước hợp vệ sinh hợp lý nhất là xây dựng hệ thống cấp nước tập trung quy mô lớn, vừa và nhỏ khai thác bằng nguồn nước ngầm, nước mặt. Ngoài ra còn sử dụng các loại hình như giếng khoan, giếng đào...
* Vùng có khả năng cấp nước tương đối thuận lợi (Vùng II):
- Gồm các xã thuộc vùng đồng bằng ven biển và vùng trung du, có địa hình đồi núi thấp, có tài nguyên nước mặt, nước ngầm tương đối phong phú. Vùng có các công trình thủy lợi vừa và nhỏ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và bổ sung lượng nước ngầm. Tổng số dân cư nông thôn trong vùng năm 2015: 161,3 nghìn người và năm 2020: 147,4 nghìn người.
- Giải pháp khai thác nước hợp vệ sinh hợp lý nhất là xây dựng hệ thống cấp nước tập trung quy mô vừa và nhỏ dùng nước mặt, nước ngầm, bên cạnh đó có thể sử dụng các loại hình: giếng khoan đường kính nhỏ, giếng đào.
* Vùng có điều kiện cấp nước khó khăn (Vùng III):
- Thuộc các xã vùng đồng bằng ven biển và vùng trung du có địa hình đồi núi trung bình. Đây là vùng có khả năng xuất hiện các đơn vị chứa nước ngầm có triển vọng nhưng trữ lượng rất hạn chế, trữ lượng nước mặt thấp. Trong vùng chỉ có các công trình thủy lợi nhỏ khả năng bổ sung lượng nước ngầm tại chỗ hạn chế. Vùng ven biển nước ngầm thường bị nhiễm mặn, phèn. Tổng số dân nông thôn trong vùng này vào năm 2015: 167 nghìn người và năm 2020: 152 nghìn người.
- Giải pháp khai thác nước sạch hợp lý là giếng khoan, giếng đào sử dụng chung cho nhiều hộ, hệ thống cấp nước tập trung quy mô vừa và nhỏ, hệ tự chảy.
* Vùng điều kiện cấp nước rất khó khăn (Vùng IV):
- Đây là vùng thuộc phía Tây các huyện miền núi, có nguồn nước ngầm, nước mặt rất khan hiếm vào mùa khô, kinh tế vùng này kém phát triển, mật độ dân cư thấp nhất trong tỉnh. Trong vùng rải rác có một vài công trình thủy lợi nhỏ, bổ sung lượng nước ngầm tại chỗ rất hạn chế (hầu như không có). Tổng số dân nông thôn trong vùng này đến năm 2015: 31,3 nghìn người và năm 2020: 30 nghìn người.
- Giải pháp khai thác nước sạch hợp lý nhất là cấp nước tập trung quy mô nhỏ và hệ tự chảy. Nơi có điều kiện, xây dựng một số giếng khoan, giếng đào sử dụng chung cho nhiều hộ.
Các giải pháp công nghệ cấp nước sạch, hợp vệ sinh nông thôn:
* Cấp nước tập trung:
- Hệ thống cấp nước tự chảy: Đây là một trong những các loại hình cấp nước tập trung dẫn nước nhờ trọng lực từ nơi có độ cao lớn hơn về nơi có độ cao nhỏ hơn. Nước từ mạch lộ (hoặc sông, suối) ở vị trí cao hơn khu vực sử dụng nước, được dẫn qua hệ thống xử lý, đưa đến bể chứa nước và cuối cùng đến điểm sử dụng.
- Hệ thống cấp nước bơm dẫn:
+ Sử dụng nguồn nước mặt: Hệ thống cấp nước cho nhiều hộ gia đình, nước được bơm từ sông, suối, hồ qua khâu xử lý chất lượng nước và được chứa trong bể có dung tích lớn. Sau đó nước được bơm lên tháp cao hoặc trực tiếp đẩy thẳng vào hệ thống đường ống dẫn đến các hộ sử dụng (trường hợp không cần tháp chứa). Thường được áp dụng ở vùng dân cư tập trung và có nguồn nước ngầm hạn chế hoặc không sử dụng được cho mục đích ăn uống và sinh hoạt.
+ Sử dụng nguồn nước ngầm: Hệ thống cấp nước cho nhiều hộ gia đình; nước được bơm từ giếng khoan qua khâu xử lý chất lượng nước rồi được chứa trong bể có dung tích lớn. Sau đó nước được bơm lên tháp cao hoặc trực tiếp đẩy thẳng vào đường ống đến các hộ sử dụng (trường hợp không cần tháp chứa). Loại hình cấp nước này giảm được nguy cơ ô nhiễm nguồn nước và thích hợp vùng đồng bằng đông dân cư có nguồn nước ngầm dồi dào.
- Hệ thống cấp tập trung quy mô nhỏ: Tận dụng giếng khoan đường kính nhỏ, giếng đào, thay bơm tay bằng lắp bơm điện đưa lên tháp nước có thể tích nhỏ, độ cao từ 5 - 7 m, dùng đường ống dẫn đến hộ gia đình, có lắp đồng hồ đo nước phục vụ khoảng 50 - 100 hộ. Loại hình cấp nước này giảm được nguy cơ ô nhiễm nguồn nước có thể áp dụng vùng đồng bằng, vùng núi.
* Cấp nước đơn lẻ:
- Giếng khoan lắp bơm tay: Được áp dụng cho những vùng có tầng chứa nước ngọt. Là giếng thu nước ngầm tầng nông hoặc tầng sâu thường được khoan bằng tay hoặc bằng máy, đường kính nhỏ (thường nhỏ hơn 150 mm).
- Giếng đào: Giếng thu nước ngầm tầng nông thường được gọi là giếng đào hay giếng khơi. Phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện ở nhiều vùng nông thôn.
Áp dụng rộng rãi ở vùng đồng bằng, bán sơn địa.