Document: Điểm c Khoản 9 Điều 2 Thông tư 31-TL hướng dẫn Nghị định 141-CP Điều lệ quản lý khai thác bảo vệ công trình thủy nông

Type: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "08/10/1963", "sign_number": "31-TL", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "08/10/1963", "sign_number": "31-TL", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "08/10/1963", "sign_number": "31-TL", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "08/10/1963", "sign_number": "31-TL", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "08/10/1963", "sign_number": "31-TL", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điểm c Khoản 9 Điều 2 Thông tư 31-TL hướng dẫn Nghị định 141-CP Điều lệ quản lý khai thác bảo vệ công trình thủy nông

Điều 2. quy định rõ: “Điều lệ này áp dụng cho tất cả các loại hệ thống thủy nông có liên quan đến nhiều địa phương hay nhiều hợp tác xã, bao gồm từ công trình đầu mối như cống, đập, hồ nước, trạm bơm, v.v… đến màng lưới kênh mương và công trình phụ thuộc”.
...
9. Một việc nữa cần chú ý là: xây dựng các quy định kỹ thuật về quản lý và khai thác là việc rất cần thiết, nhưng nếu không thường xuyên kiểm tra thực hiện, uốn nắn kịp thời các thiếu sót thì kết quả của việc xây dựng quy định kỹ thuật không thể gọi là tốt được. Việc kiểm tra này cần chủ yếu phải do trưởng, phó ty thủy lợi, trưởng phó ban quản trị nông giang trực tiếp phụ trách, mỗi lần kiểm tra phải có nhận xét ghi vào sổ theo dõi công trình.
d) Ngoài việc thường xuyên theo dõi và tu bổ công trình, hàng năm phải tiến hành 2 đợt kiểm tra trước và sau mùa lũ, kịp thời đặt kế hoạch bảo quản sửa chữa.
1. Nội dung và yêu cầu là kiểm tra toàn bộ hệ thống (công trình kênh mương). Kiểm tra tất cả các bộ phận héton, bằng đá, bằng đất, các cánh cống, các thiết bị máy móc của công trình v.v…, các đoạn đê xung quanh công trình, các kênh chính, kênh nhánh v.v… trong hệ thống.
2. Thời gian tiến hành kiểm tra quy định cụ thể như sau:
- Kiểm tra trước mùa lũ: đối với các hệ thống và công trình thuộc các tỉnh ở Bắc bộ; từ 16-04 đến 15-05; đối với các hệ thống và công trình thuộc các tỉnh ở liên khu 4 cũ từ 01-05-đến 31-05 hàng năm.
- Kiểm tra sau mùa lũ: Đối với các hệ thống và công trình thuộc các tỉnh ở Bắc bộ: từ 01-10 đến 30-10; đối với các hệ thống và công trình thuộc các tỉnh ở liên khu 4 cũ: từ 16-10 đến 15-11 hàng năm.
3. Trưởng đoàn kiểm tra là đại diện Hội đồng quản trị đối với các hệ thống nông giang liên tỉnh; hoặc là đại diện của Ủy ban hành chính tỉnh đối với các hệ thống đại thủy nông nằm trong một tỉnh.
Tham gia đoàn kiểm tra còn có các cán bộ và nhân viên kỹ thuật sau này: Trưởng ban quản trị nông giang, cán bộ kỹ thuật chủ chốt về công tác quản lý công trình ở ban quản trị và khi tới một địa phương, mỗi công trình, các trưởng hạt; các cán bộ và công nhân kỹ thuật phụ trách quản lý công trình.
4. Ngoài các thành phần trên, và tùy yêu cầu của từng đợt kiểm tra, bộ Thủy lợi sẽ cử thêm đại diện của cục Thủy nông và của viện Thiết kế tham gia kiểm tra các công trình mấu chốt quan trọng, thuộc các hệ thống đại thủy nông lớn, bị hư hỏng tương đối nặng, cần theo dõi thật sát các biến chuyển, để kịp thời đề ra các biện pháp quan trắc, xử lý.
5. Để các đoàn kiểm tra có tài liệu chính xác nhận xét công trình, các công tác quan trắc lún, xê dịch, nghiêng, quan trắc bồi lấp, xói lở v.v… phải làm xong trước khi đoàn kiểm tra tới.
Sau khi kiểm tra mỗi công trình, ty thủy lợi hoặc ban quản trị nông giang sở quan cần lập ngay biên bản có ghi rõ những nhận xét và đề nghị của đoàn, có kèm theo các bản quan trắc; các bản đồ, bản vẽ, bản sơ họa cần thiết.
C. QUẢN LÝ NƯỚC
...
c) “Đối với các hệ thống trung thủy nông loại nhỏ và tiểu thủy nông có liên quan đến nhiều hợp tác xã trở lên, các chi phí về quản lý, tu bổ, khai thác đều do các hợp tác xã và nông dân có ruộng hưởng nước cùng nhau thỏa thuận đóng góp”.
Sự đóng góp này cũng phải dựa trên cơ sở các yêu cầu về chi phí cần thiết về lương hay thù lao cho nhân viên quản lý, về tu sửa và phát triển công trình, để việc khai thác các công trình được tốt, việc tưới tiêu đồng ruộc được bảo đảm; việc phân bổ các khoản đóng góp cho mỗi đơn vị hoặc cá nhân được hưởng lợi cũng phải được công bằng hợp lý; hưởng nhiều, đóng nhiều, hưởng ít, đóng ít, tránh suy bì mất đoàn kết.
Còn đối với công trình tiểu thủy nông chỉ liên quan đến một hợp tác xã, thì các khoản chi phí sẽ do hợp tác xã đó đảm nhiệm.

Content:
“Đối với các hệ thống trung thủy nông loại nhỏ và tiểu thủy nông có liên quan đến nhiều hợp tác xã trở lên, các chi phí về quản lý, tu bổ, khai thác đều do các hợp tác xã và nông dân có ruộng hưởng nước cùng nhau thỏa thuận đóng góp”.
Sự đóng góp này cũng phải dựa trên cơ sở các yêu cầu về chi phí cần thiết về lương hay thù lao cho nhân viên quản lý, về tu sửa và phát triển công trình, để việc khai thác các công trình được tốt, việc tưới tiêu đồng ruộc được bảo đảm; việc phân bổ các khoản đóng góp cho mỗi đơn vị hoặc cá nhân được hưởng lợi cũng phải được công bằng hợp lý; hưởng nhiều, đóng nhiều, hưởng ít, đóng ít, tránh suy bì mất đoàn kết.
Còn đối với công trình tiểu thủy nông chỉ liên quan đến một hợp tác xã, thì các khoản chi phí sẽ do hợp tác xã đó đảm nhiệm.