Document: Điều 1 Quyết định 1291/QĐ-UBND năm 2008 mức hỗ trợ phòng chống dịch bệnh hội chứng

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "20/08/2008", "sign_number": "1291/QĐ-UBND", "signer": "Trần Thị Hà", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "20/08/2008", "sign_number": "1291/QĐ-UBND", "signer": "Trần Thị Hà", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "20/08/2008", "sign_number": "1291/QĐ-UBND", "signer": "Trần Thị Hà", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "20/08/2008", "sign_number": "1291/QĐ-UBND", "signer": "Trần Thị Hà", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "20/08/2008", "sign_number": "1291/QĐ-UBND", "signer": "Trần Thị Hà", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 1291/QĐ-UBND năm 2008 mức hỗ trợ phòng chống dịch bệnh hội chứng có nội dung như sau:

Điều 1. Ngân sách nhà nước thực hiện hỗ trợ kinh phí phòng, chống dịch bệnh tai xanh ở lợn với mức hỗ trợ như sau:
1. Hỗ trợ trực tiếp cho các chủ chăn nuôi (bao gồm hộ gia đình, cá nhân, trang trại, hợp tác xã, cơ sở chăn nuôi lợn của địa phương và các đơn vị quân đội) có lợn phải tiêu hủy bắt buộc do mắc dịch bệnh tai xanh hoặc trong vùng có dịch bệnh tai xanh bắt buộc phải tiêu hủy theo quyết định tiêu huỷ của Ủy ban nhân dân huyện, thành phố với mức tương đương 70% giá trị lợn thương phẩm
của người sản xuất bán trên thị trường. Mức hỗ trợ cụ thể là 25.000 đồng/1kg lợn hơi.
2. Hỗ trợ cho
công tác phòng, chống dịch như sau:
a) Hỗ trợ cho người trực tiếp tham gia tiêm phòng vắc xin với mức bình quân cho
một lần tiêm: 1.000 đồng/01 con lợn. Trường hợp mức bồi dưỡng theo lần tiêm dưới 50.000 đồng/người/ngày thì được thanh toán bằng mức 50.000 đồng/người/ngày;
b) Hỗ trợ cho cán bộ thú y và những người trực tiếp tham gia làm nhiệm vụ phòng, chống dịch để thực hiện tiêu hủy lợn (kể cả lợn, sản phẩm từ lợn do các lực lượng phòng, chống buôn lậu, trạm và chốt kiểm dịch động vật bắt buộc phải tiêu hủy); phun hóa chất khử trùng tiêu độc và phục vụ tại các chốt kiểm dịch. Mức chi 50.000 đồng/người/ngày đối với ngày làm việc và 100.000 đồng/người/ngày đối với ngày nghỉ, ngày lễ, tết;
c) Chi phí thực tế tiêu hủy lợn mắc bệnh hoặc trong vùng dịch bắt buộc phải tiêu hủy; lợn và sản phẩm từ lợn do các lực lượng phòng, chống buôn lậu, trạm và chốt kiểm dịch động vật bắt buộc phải tiêu hủy theo quy định của pháp luật về thú y;
d) Chi phí hóa chất các loại để khử trùng, tiêu độc, vệ sinh chuồng trại, môi trường; mua trang phục phòng hộ cho người tham gia phòng, chống dịch;
đ) Kinh phí tuyên truyền, kiểm tra, chỉ đạo phòng, chống dịch; mua sắm thiết bị, vật dụng cho kiểm tra phát hiện chẩn đoán bệnh dịch và phòng, chống dịch theo quy
định và hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
3. Nguyên tắc hỗ trợ và nguồn kinh phí phòng, chống dịch:
a) Ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí phòng chống dịch kể từ ngày có quyết định công bố
dịch đến khi có quyết định công bố
hết dịch của Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Hỗ trợ từ ngân sách tỉnh cho các huyện, thành phố để thực hiện hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh như sau:
- Đối với các huyện, thành phố có chi phí phát sinh cho công tác phòng, chống dịch bệnh không lớn (dưới 200 triệu đồng) thì các huyện, thành phố chủ động sử dụng ngân sách địa phương để thực hiện;
- Trường hợp các huyện, thành phố chi phí phát sinh cho công tác phòng, chống dịch bệnh trên 200 triệu đồng, thì mức hỗ trợ từ ngân sách tỉnh cho các huyện, thành phố phần chênh lệch (lớn hơn 200 triệu đồng) như sau:
+ Đối với các huyện miền núi: Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh hỗ trợ 70% kinh phí phòng, chống dịch;
+ Đối với thành phố Tuy Hòa hỗ trợ 50% kinh phí phòng, chống dịch;
+ Đối với các huyện còn lại hỗ trợ 60% kinh phí phòng, chống dịch;
- Ngoài kinh phí hỗ trợ từ ngân sách tỉnh, phần còn lại các huyện, thành phố phải chủ động bố
trí từ ngân sách huyện, thành phố để thực hiện;
- Đối với các huyện, thành phố có số lượng gia súc, gia cầm tiêu hủy lớn, nếu phần ngân sách huyện, thành phố bảo đảm vượt quá 50% nguồn dự phòng ngân sách huyện, thành phố được giao, ngân sách tỉnh sẽ bổ sung thêm phần chênh lệch vượt quá 50% dự phòng ngân sách huyện, thành phố để các huyện, thành phố có đủ nguồn kinh phí thực hiện;
c) Chi phí phục vụ cho công tác phòng, chống dịch của lực lượng thú y tỉnh được sử dụng từ nguồn kinh phí phòng chống dịch của tỉnh. Nội dung chi bao gồm: chi vận chuyển vắcxin đến huyện, thành phố; chi mua hóa chất, dụng cụ, trang bị phòng hộ phục vụ công tác phòng, chống dịch; chi hỗ trợ lực lượng cấp tỉnh, lực lượng thú y của Chi cục Thú y (trừ thú y cấp xã) tham gia chống dịch; chi in ấn, tập huấn, thông tin tuyên truyền cấp tỉnh.

Content:
Điều 1. Ngân sách nhà nước thực hiện hỗ trợ kinh phí phòng, chống dịch bệnh tai xanh ở lợn với mức hỗ trợ như sau:
1. Hỗ trợ trực tiếp cho các chủ chăn nuôi (bao gồm hộ gia đình, cá nhân, trang trại, hợp tác xã, cơ sở chăn nuôi lợn của địa phương và các đơn vị quân đội) có lợn phải tiêu hủy bắt buộc do mắc dịch bệnh tai xanh hoặc trong vùng có dịch bệnh tai xanh bắt buộc phải tiêu hủy theo quyết định tiêu huỷ của Ủy ban nhân dân huyện, thành phố với mức tương đương 70% giá trị lợn thương phẩm
của người sản xuất bán trên thị trường. Mức hỗ trợ cụ thể là 25.000 đồng/1kg lợn hơi.
2. Hỗ trợ cho
công tác phòng, chống dịch như sau:
a) Hỗ trợ cho người trực tiếp tham gia tiêm phòng vắc xin với mức bình quân cho
một lần tiêm: 1.000 đồng/01 con lợn. Trường hợp mức bồi dưỡng theo lần tiêm dưới 50.000 đồng/người/ngày thì được thanh toán bằng mức 50.000 đồng/người/ngày;
b) Hỗ trợ cho cán bộ thú y và những người trực tiếp tham gia làm nhiệm vụ phòng, chống dịch để thực hiện tiêu hủy lợn (kể cả lợn, sản phẩm từ lợn do các lực lượng phòng, chống buôn lậu, trạm và chốt kiểm dịch động vật bắt buộc phải tiêu hủy); phun hóa chất khử trùng tiêu độc và phục vụ tại các chốt kiểm dịch. Mức chi 50.000 đồng/người/ngày đối với ngày làm việc và 100.000 đồng/người/ngày đối với ngày nghỉ, ngày lễ, tết;
c) Chi phí thực tế tiêu hủy lợn mắc bệnh hoặc trong vùng dịch bắt buộc phải tiêu hủy; lợn và sản phẩm từ lợn do các lực lượng phòng, chống buôn lậu, trạm và chốt kiểm dịch động vật bắt buộc phải tiêu hủy theo quy định của pháp luật về thú y;
d) Chi phí hóa chất các loại để khử trùng, tiêu độc, vệ sinh chuồng trại, môi trường; mua trang phục phòng hộ cho người tham gia phòng, chống dịch;
đ) Kinh phí tuyên truyền, kiểm tra, chỉ đạo phòng, chống dịch; mua sắm thiết bị, vật dụng cho kiểm tra phát hiện chẩn đoán bệnh dịch và phòng, chống dịch theo quy
định và hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
3. Nguyên tắc hỗ trợ và nguồn kinh phí phòng, chống dịch:
a) Ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí phòng chống dịch kể từ ngày có quyết định công bố
dịch đến khi có quyết định công bố
hết dịch của Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Hỗ trợ từ ngân sách tỉnh cho các huyện, thành phố để thực hiện hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh như sau:
- Đối với các huyện, thành phố có chi phí phát sinh cho công tác phòng, chống dịch bệnh không lớn (dưới 200 triệu đồng) thì các huyện, thành phố chủ động sử dụng ngân sách địa phương để thực hiện;
- Trường hợp các huyện, thành phố chi phí phát sinh cho công tác phòng, chống dịch bệnh trên 200 triệu đồng, thì mức hỗ trợ từ ngân sách tỉnh cho các huyện, thành phố phần chênh lệch (lớn hơn 200 triệu đồng) như sau:
+ Đối với các huyện miền núi: Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh hỗ trợ 70% kinh phí phòng, chống dịch;
+ Đối với thành phố Tuy Hòa hỗ trợ 50% kinh phí phòng, chống dịch;
+ Đối với các huyện còn lại hỗ trợ 60% kinh phí phòng, chống dịch;
- Ngoài kinh phí hỗ trợ từ ngân sách tỉnh, phần còn lại các huyện, thành phố phải chủ động bố
trí từ ngân sách huyện, thành phố để thực hiện;
- Đối với các huyện, thành phố có số lượng gia súc, gia cầm tiêu hủy lớn, nếu phần ngân sách huyện, thành phố bảo đảm vượt quá 50% nguồn dự phòng ngân sách huyện, thành phố được giao, ngân sách tỉnh sẽ bổ sung thêm phần chênh lệch vượt quá 50% dự phòng ngân sách huyện, thành phố để các huyện, thành phố có đủ nguồn kinh phí thực hiện;
c) Chi phí phục vụ cho công tác phòng, chống dịch của lực lượng thú y tỉnh được sử dụng từ nguồn kinh phí phòng chống dịch của tỉnh. Nội dung chi bao gồm: chi vận chuyển vắcxin đến huyện, thành phố; chi mua hóa chất, dụng cụ, trang bị phòng hộ phục vụ công tác phòng, chống dịch; chi hỗ trợ lực lượng cấp tỉnh, lực lượng thú y của Chi cục Thú y (trừ thú y cấp xã) tham gia chống dịch; chi in ấn, tập huấn, thông tin tuyên truyền cấp tỉnh.