Document: Điều 2 Quyết định 159/QĐ-UB năm 1994 giao đất cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Phú", "promulgation_date": "08/02/1994", "sign_number": "159/QĐ-UB", "signer": "Nguyễn Văn Lâm", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Phú", "promulgation_date": "08/02/1994", "sign_number": "159/QĐ-UB", "signer": "Nguyễn Văn Lâm", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Phú", "promulgation_date": "08/02/1994", "sign_number": "159/QĐ-UB", "signer": "Nguyễn Văn Lâm", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Phú", "promulgation_date": "08/02/1994", "sign_number": "159/QĐ-UB", "signer": "Nguyễn Văn Lâm", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Phú", "promulgation_date": "08/02/1994", "sign_number": "159/QĐ-UB", "signer": "Nguyễn Văn Lâm", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định 159/QĐ-UB năm 1994 giao đất cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định có nội dung như sau:

Điều 2. : Quy định cụ thể hóa một số điểm và sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong Quyết định 450/QĐ-UB ngày 19/5/1992 của UBND tỉnh để thực hiện Nghị định 64/CP của Chính phủ như sau:
1- Đất giành cho nhu cầu công ích được để lại UBND xã quản lý thống nhất toàn tỉnh là 5% diện tích đất nông nghiệp của từng xã. Những xã có nhiều loại đất trong quỹ đất nông nghiệp (như đất cây lâu năm, đất màu đồi...) khi trích lập để quỹ đất công ích thì tính tỷ lệ % theo từng loại đất đó. Ngoài ra những đầm hồ không chia được cũng được đưa vào quỹ công ích.
Ủy ban nhân dân xã được phép cho thuê, thầu quỹ đất 5% sử dụng vào sản xuất nông nghiệp (Bao gồm cả nuôi trồng thủy sản) Nguồn lợi thu được từ việc cho thuê, thầu, khoán đất này nộp vào ngân sách xã để chi cho các nhu cầu công ích và trích 50% làm quỹ khuyến nông.
Đối với đất trồng cây lâu năm, đất hồ ao, hoặc ruộng đất (thùng đào, thùng đấu) mà HTX trước đây đầu tư bằng vốn quỹ chung của HTX để trồng trọt, cải tạo,... sau khi đã trừ 5% đất giành cho quỹ công ích, phần đất còn lại về nguyên tắc đều giao cho hộ quản lý sử dụng, nhưng HTX phải giải quyết những tồn tại về vốn đầu tư, sản phẩm trên đất đó khi giao cho các hộ (thông qua đại hội xã viên hoặc đại hội đại biểu xã viên). Trường hợp cá biệt vườn cây, ao cá đó xét thấy HTX quản lý tập trung có hiệu quả hơn thì HTX báo cáo UBND xã đề nghị UBND huyện xem xét quyết định (coi HTX là 1 chủ sử dụng đất và HTX phải có quy chế về việc sử dụng quỹ đất này).
2. Thời điểm tính số nhân khẩu để giao đất:
a. Đối với những xã chưa thực hiện quyết định 450/QĐ-UB ngày 19/5/1992 của UBND tỉnh thì tính số nhân khẩu tại thời điểm 15/10/1993 và thực hiện chia đất theo Nghị định 64/CP.
b. Đối với những xã đã thực hiện Quyết định 450/QĐ-UB thì thực hiện theo những điểm bổ sung sửa đổi như sau:
Diện tích đất giao theo số nhân khẩu tại thời điểm 1/4/1992 thì giữ ổn định. Số nhân khẩu phát sinh từ sau 1/4/1992 đến 15/10/1993 (kể cả khẩu tăng thêm thuộc các đối tượng quy định trong Nghị định 64/CP) thì sau khi trừ quỹ đất công 5%, số đất khoán thầu còn lại (theo Quyết định 450) chia cho số nhân khẩu phát sinh này. Được bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu (nếu nhỏ hơn mức bình quân thời điểm 1/4/1992), nếu còn thừa so với mức bình quân thời điểm 1/4/1992 thì chia đều cho tổng số nhân khẩu. (Trường hợp còn thừa quá ít thì có thể nhập vào quỹ công ích của xã).
Trường hợp người được chia theo quyết định 450, nay đã chết thì giữ ổn định, không thu lại.
Về mức giao đất được điều chỉnh lại thống nhất theo Nghị định 64/CP. Thời điểm, thời hạn giao đất được tính thống nhất từ ngày 15/10/1993.
3. Tiến độ giao đất:
Sau khi giao đất 1 năm mà chủ hộ không tổ chức sản xuất, thì thu lại giao cho hộ khác sử dụng. Trường hợp trước đây đã giao vượt mức quy định và các hộ đó đã sản xuất kinh doanh hết số diện tích được giao thì không thu lại.
Khi giao đất phải chỉ đạo giao gọn khoảnh, gọn thửa, vận động các hộ thương lượng trao đổi với nhau để có thửa đất thuận tiện cho sản xuất, đầu tư thâm canh.
Từ nay đến 30/6/1994, tất cả các xã, phường, thị trấn trong tỉnh phải hoàn thành việc giao đất cho các hộ; đồng thời khẩn trương hoàn chỉnh hồ sơ địa chính đến các hộ để tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Content:
Điều 2. : Quy định cụ thể hóa một số điểm và sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong Quyết định 450/QĐ-UB ngày 19/5/1992 của UBND tỉnh để thực hiện Nghị định 64/CP của Chính phủ như sau:
1- Đất giành cho nhu cầu công ích được để lại UBND xã quản lý thống nhất toàn tỉnh là 5% diện tích đất nông nghiệp của từng xã. Những xã có nhiều loại đất trong quỹ đất nông nghiệp (như đất cây lâu năm, đất màu đồi...) khi trích lập để quỹ đất công ích thì tính tỷ lệ % theo từng loại đất đó. Ngoài ra những đầm hồ không chia được cũng được đưa vào quỹ công ích.
Ủy ban nhân dân xã được phép cho thuê, thầu quỹ đất 5% sử dụng vào sản xuất nông nghiệp (Bao gồm cả nuôi trồng thủy sản) Nguồn lợi thu được từ việc cho thuê, thầu, khoán đất này nộp vào ngân sách xã để chi cho các nhu cầu công ích và trích 50% làm quỹ khuyến nông.
Đối với đất trồng cây lâu năm, đất hồ ao, hoặc ruộng đất (thùng đào, thùng đấu) mà HTX trước đây đầu tư bằng vốn quỹ chung của HTX để trồng trọt, cải tạo,... sau khi đã trừ 5% đất giành cho quỹ công ích, phần đất còn lại về nguyên tắc đều giao cho hộ quản lý sử dụng, nhưng HTX phải giải quyết những tồn tại về vốn đầu tư, sản phẩm trên đất đó khi giao cho các hộ (thông qua đại hội xã viên hoặc đại hội đại biểu xã viên). Trường hợp cá biệt vườn cây, ao cá đó xét thấy HTX quản lý tập trung có hiệu quả hơn thì HTX báo cáo UBND xã đề nghị UBND huyện xem xét quyết định (coi HTX là 1 chủ sử dụng đất và HTX phải có quy chế về việc sử dụng quỹ đất này).
2. Thời điểm tính số nhân khẩu để giao đất:
a. Đối với những xã chưa thực hiện quyết định 450/QĐ-UB ngày 19/5/1992 của UBND tỉnh thì tính số nhân khẩu tại thời điểm 15/10/1993 và thực hiện chia đất theo Nghị định 64/CP.
b. Đối với những xã đã thực hiện Quyết định 450/QĐ-UB thì thực hiện theo những điểm bổ sung sửa đổi như sau:
Diện tích đất giao theo số nhân khẩu tại thời điểm 1/4/1992 thì giữ ổn định. Số nhân khẩu phát sinh từ sau 1/4/1992 đến 15/10/1993 (kể cả khẩu tăng thêm thuộc các đối tượng quy định trong Nghị định 64/CP) thì sau khi trừ quỹ đất công 5%, số đất khoán thầu còn lại (theo Quyết định 450) chia cho số nhân khẩu phát sinh này. Được bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu (nếu nhỏ hơn mức bình quân thời điểm 1/4/1992), nếu còn thừa so với mức bình quân thời điểm 1/4/1992 thì chia đều cho tổng số nhân khẩu. (Trường hợp còn thừa quá ít thì có thể nhập vào quỹ công ích của xã).
Trường hợp người được chia theo quyết định 450, nay đã chết thì giữ ổn định, không thu lại.
Về mức giao đất được điều chỉnh lại thống nhất theo Nghị định 64/CP. Thời điểm, thời hạn giao đất được tính thống nhất từ ngày 15/10/1993.
3. Tiến độ giao đất:
Sau khi giao đất 1 năm mà chủ hộ không tổ chức sản xuất, thì thu lại giao cho hộ khác sử dụng. Trường hợp trước đây đã giao vượt mức quy định và các hộ đó đã sản xuất kinh doanh hết số diện tích được giao thì không thu lại.
Khi giao đất phải chỉ đạo giao gọn khoảnh, gọn thửa, vận động các hộ thương lượng trao đổi với nhau để có thửa đất thuận tiện cho sản xuất, đầu tư thâm canh.
Từ nay đến 30/6/1994, tất cả các xã, phường, thị trấn trong tỉnh phải hoàn thành việc giao đất cho các hộ; đồng thời khẩn trương hoàn chỉnh hồ sơ địa chính đến các hộ để tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.