Document: Điều 6 Nghị định 15/2001/NĐ-CP Giáo dục quốc phòng

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "01/05/2001", "sign_number": "15/2001/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "01/05/2001", "sign_number": "15/2001/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "01/05/2001", "sign_number": "15/2001/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "01/05/2001", "sign_number": "15/2001/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "01/05/2001", "sign_number": "15/2001/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 6 Nghị định 15/2001/NĐ-CP Giáo dục quốc phòng có nội dung như sau:

Điều 6. Đối tượng, nội dung Giáo dục quốc phòng
1. Học sinh trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, sinh viên cao đẳng, đại học thuộc các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục; nội dung Giáo dục quốc phòng gồm một số kiến thức cơ bản, cần thiết về: kỹ thuật, chiến thuật quân sự, phòng thủ dân sự; một số hiểu biết về Quân đội nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân, nghĩa vụ quân sự; Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; quan điểm đường lối quốc phòng, công tác quốc phòng của Đảng, Nhà nước; tác động của các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại trong lĩnh vực hoạt động quân sự; nghệ thuật quân sự Việt Nam; phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam. Nội dung chương trình cụ thể cho từng đối tượng do Bộ Quốc phòng thống nhất với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.
2. Học viên đào tạo trong các trường chính trị, hành chính, đoàn thể các cấp và các lớp đào tạo tại chức do các Bộ, các địa phương tổ chức. Nội dung Giáo dục quốc phòng gồm một số kiến thức cơ bản về đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước về quốc phòng; quản lý nhà nước về quốc phòng; sự hình thành, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam; chiến lược an ninh - quốc phòng một số nước liên quan đến an ninh, quốc phòng Việt Nam; phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam; công tác tham mưu quân sự ở các Bộ, ngành và địa phương. Nội dung, chương trình cụ thể cho từng đối tượng do Bộ Quốc phòng phối hợp với các học viện, các trường chính trị, hành chính, đoàn thể Trung ương thống nhất quy định.
3. Cán bộ, công chức lãnh đạo chủ chốt các cấp của Đảng, Nhà nước.
Cán bộ, công chức của Đảng, Nhà nước giữ các chức vụ chủ chốt ở các cấp, được bồi dưỡng kiến thức quốc phòng tại Học viện Quốc phòng hoặc ở trường Quân sự quân khu, trường Quân sự tỉnh theo phân cấp cho từng đối tượng. Nội dung, thời gian, chương trình cụ thể do Bộ Quốc phòng thống nhất với các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước để quy định phù hợp với sự phát triển của tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội và quốc phòng - an ninh của đất nước trong từng thời gian.
4. Giáo dục quốc phòng cho các đối tượng không thuộc quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 6.
a) Học sinh Trung học cơ sở: Giáo dục quốc phòng được thực hiện ngoại khoá, vận dụng lồng ghép vào các môn học khác có nội dung gần với hoạt động quốc phòng như thể dục, giáo dục công dân, lịch sử; tổ chức tham quan các di tích lịch sử, Bảo tàng Quân đội, tổ chức hội thi, hội khoẻ Phù Đổng....
b) Thanh, thiếu niên nếu có điều kiện về trình độ, sức khoẻ và tự nguyện, được giáo dục hướng nghiệp quốc phòng thông qua hình thức câu lạc bộ thể thao hướng nghiệp quốc phòng và kỹ thuật quân sự.
c) Đối với các tầng lớp quần chúng nhân dân, thực hiện việc tuyên truyền, Giáo dục quốc phòng thường xuyên, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và sinh hoạt của các tổ chức, đoàn thể, quần chúng ở cơ sở.

Content:
Điều 6. Đối tượng, nội dung Giáo dục quốc phòng
1. Học sinh trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, sinh viên cao đẳng, đại học thuộc các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục; nội dung Giáo dục quốc phòng gồm một số kiến thức cơ bản, cần thiết về: kỹ thuật, chiến thuật quân sự, phòng thủ dân sự; một số hiểu biết về Quân đội nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân, nghĩa vụ quân sự; Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; quan điểm đường lối quốc phòng, công tác quốc phòng của Đảng, Nhà nước; tác động của các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại trong lĩnh vực hoạt động quân sự; nghệ thuật quân sự Việt Nam; phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam. Nội dung chương trình cụ thể cho từng đối tượng do Bộ Quốc phòng thống nhất với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.
2. Học viên đào tạo trong các trường chính trị, hành chính, đoàn thể các cấp và các lớp đào tạo tại chức do các Bộ, các địa phương tổ chức. Nội dung Giáo dục quốc phòng gồm một số kiến thức cơ bản về đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước về quốc phòng; quản lý nhà nước về quốc phòng; sự hình thành, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam; chiến lược an ninh - quốc phòng một số nước liên quan đến an ninh, quốc phòng Việt Nam; phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam; công tác tham mưu quân sự ở các Bộ, ngành và địa phương. Nội dung, chương trình cụ thể cho từng đối tượng do Bộ Quốc phòng phối hợp với các học viện, các trường chính trị, hành chính, đoàn thể Trung ương thống nhất quy định.
3. Cán bộ, công chức lãnh đạo chủ chốt các cấp của Đảng, Nhà nước.
Cán bộ, công chức của Đảng, Nhà nước giữ các chức vụ chủ chốt ở các cấp, được bồi dưỡng kiến thức quốc phòng tại Học viện Quốc phòng hoặc ở trường Quân sự quân khu, trường Quân sự tỉnh theo phân cấp cho từng đối tượng. Nội dung, thời gian, chương trình cụ thể do Bộ Quốc phòng thống nhất với các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước để quy định phù hợp với sự phát triển của tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội và quốc phòng - an ninh của đất nước trong từng thời gian.
4. Giáo dục quốc phòng cho các đối tượng không thuộc quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 6.
a) Học sinh Trung học cơ sở: Giáo dục quốc phòng được thực hiện ngoại khoá, vận dụng lồng ghép vào các môn học khác có nội dung gần với hoạt động quốc phòng như thể dục, giáo dục công dân, lịch sử; tổ chức tham quan các di tích lịch sử, Bảo tàng Quân đội, tổ chức hội thi, hội khoẻ Phù Đổng....
b) Thanh, thiếu niên nếu có điều kiện về trình độ, sức khoẻ và tự nguyện, được giáo dục hướng nghiệp quốc phòng thông qua hình thức câu lạc bộ thể thao hướng nghiệp quốc phòng và kỹ thuật quân sự.
c) Đối với các tầng lớp quần chúng nhân dân, thực hiện việc tuyên truyền, Giáo dục quốc phòng thường xuyên, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và sinh hoạt của các tổ chức, đoàn thể, quần chúng ở cơ sở.