Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1065/QĐ-UBND 2022 Chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững Lâm Đồng

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "15/06/2022", "sign_number": "1065/QĐ-UBND", "signer": "Trần Văn Hiệp", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "15/06/2022", "sign_number": "1065/QĐ-UBND", "signer": "Trần Văn Hiệp", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "15/06/2022", "sign_number": "1065/QĐ-UBND", "signer": "Trần Văn Hiệp", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "15/06/2022", "sign_number": "1065/QĐ-UBND", "signer": "Trần Văn Hiệp", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "15/06/2022", "sign_number": "1065/QĐ-UBND", "signer": "Trần Văn Hiệp", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1065/QĐ-UBND 2022 Chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững Lâm Đồng

Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2022-2030, tầm nhìn đến năm 2050, với các nội dung chính như sau:
...
3. Tầm nhìn đến 2050: Phát triển nền nông nghiệp bền vững, hiện đại có giá trị gia tăng cao, có năng lực cạnh tranh quốc tế; Đời sống văn hóa, xã hội và thu nhập của người dân nông thôn tiệm cận với đô thị; nông thôn thịnh vượng và có kết cấu hạ tầng phù hợp, cảnh quan môi trường sạch đẹp, xã hội văn minh.
II. Nhiệm vụ, giải pháp
1. Cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp: Thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng tiếp cận đa ngành, bền vững, hiện đại có cơ sở hạ tầng tương đối hoàn thiện, thích ứng với biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế; có các điều kiện tiệm cận với các nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới, có giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cao; hình thành hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững, hiệu quả, linh hoạt đảm bảo an ninh lương thực.
1.1. Định hướng theo nhóm sản phẩm:
a) Nhóm sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, nhu cầu thị trường cao:
- Triển khai đồng bộ các giải pháp hình thành chuỗi ngành hàng quy mô lớn, chất lượng, hiệu quả trên các sản phẩm có lợi thế, gồm: cà phê, rau, hoa, dược liệu, sầu riêng, mắc ca, tơ tằm, bò sữa, cá nước lạnh và giống cây trồng nuôi cấy mô.
- Thực hiện các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện pháp lý và huy động vốn hỗ trợ các doanh nghiệp, người sản xuất hoàn thiện hệ thống sản xuất, cung ứng giống; tiếp tục đổi mới, ứng dụng đồng bộ khoa học công nghệ vào từng khâu của quá trình sản xuất; phát triển các vùng nguyên liệu quy mô lớn được số hóa, kiểm soát theo quy chuẩn, chất lượng gắn với phát triển công nghiệp chế biến; mục tiêu đến 2030 trên 40% sản phẩm được cung ứng cho thị trường đã chế biến với giá trị gấp 1,5 lần hiện nay.
- Hỗ trợ hình thành và phát triển các chuỗi liên kết khép kín, đồng bộ từ đầu vào đến thị trường bán lẻ; nâng cấp hệ thống logistics, kết nối bền vững với hệ thống phân phối nông sản trong nước, quốc tế. Ưu tiên quảng bá, phát triển nhận diện thương hiệu và thực hiện đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại các thị trường xuất khẩu. Nâng tỷ lệ sản phẩm tiêu thụ qua chuỗi đạt trên 65%, giá trị xuất khẩu tăng 8-10%/năm.
b) Nhóm sản phẩm chủ lực địa phương:
- Tập trung thực hiện tốt chính sách chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi và chuyển giao khoa học kỹ thuật; đổi mới hệ thống, quy trình canh tác để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; góp phần giảm diện tích sản xuất kém hiệu quả.
- Đa dạng hóa và phát triển các sản phẩm đặc thù, đặc trưng của địa phương gắn với việc triển khai chương trình Mỗi xã một sản phẩm, hỗ trợ người dân doanh nghiệp giải quyết các vấn đề khó khăn, tồn tại trong quá trình sản xuất tiêu thụ sản phẩm. Phấn đấu đến 2030 có trên 330 sản phẩm được công nhận sản phẩm OCOP, trong đó có khoảng 50 sản phẩm OCOP quốc gia.
1.2. Định hướng phát triển theo từng lĩnh vực sản xuất:
a) Trồng trọt: Phát triển sản xuất theo quy mô lớn, ứng dụng hiệu quả khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ số, quản lý nông nghiệp sinh thái, hữu cơ. Thực hiện cơ cấu lại các sản phẩm theo hướng ưu tiên các sản phẩm chủ lực có giá trị kinh tế cao gắn với công nghiệp sơ chế, chế biến và phát triển các chuỗi giá trị; hướng đến xuất khẩu; đồng thời phát triển các sản phẩm đặc thù của địa phương gắn với du lịch canh nông, làng nghề; định hướng phát triển một số cây trồng chủ lực như sau:
- Rau: Tiếp tục mở rộng diện tích canh tác thêm khoảng 2.500-3.000 ha, trên cơ sở chuyển đổi diện tích canh tác cà phê kém hiệu quả, diện tích đất lúa 1 vụ; nâng tổng diện tích đất canh tác rau toàn tỉnh đến năm 2030 lên 26.500 ha, sản lượng 2,8 triệu tấn; tập trung vào các sản phẩm cho hiệu quả kinh tế cao, lợi thế cạnh tranh của tỉnh.
- Hoa: Duy trì và phát triển diện tích canh tác hoa đến năm 2030 khoảng 4.000 ha, diện tích gieo trồng đạt 11.000 ha; sản lượng khoảng 4 tỷ cành và 500 triệu chậu hoa các loại; đẩy mạnh phát triển các diện tích sản xuất hoa giá trị cao, giống mới phù hợp với điều kiện từng khu vực; từng bước chuyển sang sử dụng giống có bản quyền phù hợp với các quy định để phát triển thị trường xuất khẩu.
- Cây dược liệu: Phát triển ngành dược liệu tương xứng với tiềm năng của tỉnh để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Mở rộng quy mô, diện tích vùng trồng cây dược liệu theo 2 hướng trồng dưới tán rừng và trồng tập trung trên đất nông nghiệp, gắn với đẩy mạnh chế biến dược phẩm, thực phẩm chức năng. Đến năm 2030, toàn tỉnh có trên 2.500 ha sản xuất dược liệu (dưới tán rừng 1.000 ha, trên đất nông nghiệp 1.500 ha).
- Cây ăn quả: Tiếp tục rà soát, chuyển đổi hoặc trồng xen cây ăn quả trên các diện tích sản xuất cây công nghiệp kém hiệu quả; xây dựng và triển khai kế hoạch sản xuất cây ăn quả chủ lực thích ứng với biến đổi khí hậu, linh hoạt với thị trường đặc biệt là các giống trái vụ; xây dựng các vùng trồng cây ăn quả chất lượng cao được cấp mã số vùng trồng phục vụ nhu cầu xuất khẩu. Đến năm 2030, diện tích đạt khoảng 50.000 ha, sản lượng đạt khoảng 600.000 tấn.
- Mắc ca: Mở rộng diện tích mắc ca bằng hình thức trồng xen trong vườn cà phê, trên các diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm sản xuất nông nghiệp lâu năm, đến năm 2030 diện tích toàn tỉnh đạt trên 15.000 ha sản lượng trên 22.000 tấn.
- Cà phê: Rà soát chuyển đổi khoảng 25.000 ha cà phê kém hiệu quả sang các hình thức sản xuất khác; tiếp tục thực hiện tái canh, ghép cải tạo 55.000-60.000 ha; nhân rộng các mô hình sản xuất cà phê cảnh quan bền vững. Đến năm 2030 duy trì diện tích khoảng 150.000 ha, sản lượng đạt 510.000 tấn; trong đó phấn đấu ổn định diện tích cà phê Arabica đạt khoảng 15.000 ha, sản lượng đạt 45.000 tấn. Nâng cao chất lượng cà phê bằng cải tạo giống cà phê, đặc biệt là cà phê Arabica thay thế các giống cũ sang các giống mới; đồng thời khuyến khích phát triển các giống cà phê chất lượng cao như Typica, Bourbon,..tại thành phố Đà Lạt và huyện Lạc Dương.
- Chè: Duy trì ổn định diện tích chè đến năm 2030 khoảng 10.000 ha, tập trung chuyển đổi khoảng 2.000 ha chè hạt, chè già cỗi năng suất thấp tại huyện Bảo Lâm và thành phố Bảo Lộc sang chè cành (1.500 ha) và chè Oolong (500 ha); nâng tỷ lệ diện tích chè chất lượng cao lên 50% diện tích toàn tỉnh, sản lượng 150.000 tấn/năm. Đẩy mạnh phát triển các vùng sản xuất chè tập trung, quy mô lớn hiện có để đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định, đạt chất lượng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
b) Chăn nuôi: Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo quy mô công nghiệp, chăn nuôi khép kín, ứng dụng công nghệ cao, chủ động phòng chống dịch bệnh; bò sữa, bò thịt, lợn, gia cầm, tằm tiếp tục là các đối tượng vật nuôi chính, chuyển dịch cơ cấu đàn vật nuôi theo hướng tăng tỷ trọng trang trại chăn nuôi quy mô lớn theo hướng an toàn sinh học, hữu cơ; thực hiện di dời, hoặc ngừng hoạt động, chuyển đổi ngành nghề đối với các cơ sở chăn nuôi trong khu vực không được phép chăn nuôi theo quy định.
- Đàn bò:
+ Bò sữa: Phấn đấu đến năm 2030, đàn bò sữa toàn tỉnh đạt 48.000 con. Tiếp tục sử dụng tinh bò sữa cao sản và tinh phân biệt giới tính nhằm cải tạo giống, nâng cao năng suất, chất lượng sữa, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, nâng công suất các nhà máy chế biến, trạm thu mua sữa, thu hút doanh nghiệp xây dựng nhà máy chế biến sữa để tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm nguyên liệu sữa tươi.
+ Bò thịt: Phấn đấu đến năm 2030 nâng đàn bò thịt lên khoảng 130.000 con. Tiếp tục cải tạo đàn bò theo hướng Zêbu, nâng cao tầm vóc, năng suất, chất lượng sản phẩm bò thịt để tăng khả năng cạnh tranh với các sản phẩm nhập nội trên thị trường.
- Đàn lợn: Đến năm 2030 đạt khoảng 840.000 con bằng các giống lợn ngoại thuần có năng suất, chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường; phát triển chăn nuôi trang trại quy mô lớn theo hướng công nghiệp, hiện đại; hạn chế phát triển chăn nuôi quy mô nông hộ. Khuyến khích ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ vào phát triển chăn nuôi nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường.
- Gia cầm: Đến năm 2030 đàn gia cầm đạt 15 triệu con với các giống gà thịt lông trắng, lông màu và gà chuyên trứng. Khuyến khích chăn nuôi trang trại quy mô lớn và vừa theo hướng an toàn sinh học, hữu cơ đảm bảo an toàn thực phẩm gắn với bảo vệ môi trường; thu hút xây dựng nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi và cơ sở giết mổ quy mô lớn gắn với sơ chế, chế biến để ổn định thị trường đầu ra cho sản phẩm.
- Dâu tằm: Phát triển diện tích trồng dâu đạt khoảng 15.000 ha, sản lượng kén khoảng 18.000 tấn; nâng cao năng lực nghiên cứu, sản xuất trứng giống tằm đảm bảo chất lượng để chủ động nguồn giống phục vụ sản xuất; hình thành vùng nguyên liệu dâu tằm ổn định; khuyến khích hình thành liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất dâu tằm; chủ động xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu, hợp tác phát triển sản phẩm ở thị trường trong và ngoài nước.
c) Thủy sản: Tận dụng, khai thác hiệu quả, bền vững các diện tích mặt nước hồ chứa thủy lợi, mặt nước khác để duy trì các đối tượng thủy sản truyền thống và mở rộng đối tượng thủy sản nước lạnh. Đến năm 2030, diện tích nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 2.650 ha (trong đó diện tích nuôi cá nước lạnh đạt 60 ha) tập trung phát triển cá nước lạnh tại địa bàn các huyện Lạc Dương, Đam Rông, Di Linh và thành phố Đà Lạt; nâng cao năng lực nghiên cứu sản xuất giống thủy sản, áp dụng công nghệ nuôi Biofloc, hệ thống nuôi tuần hoàn (RAS) trong nuôi thâm canh, tăng hiệu quả kinh tế, phòng chống dịch bệnh, giảm ô nhiễm môi trường. Tăng cường bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản nhằm phục hồi các loài thủy sản có giá trị kinh tế, duy trì đa dạng sinh học tại các hồ chứa, đập thủy lợi và hệ thống sông Đồng Nai.
d) Lâm nghiệp:
- Phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững, bảo vệ và phát triển hiệu quả diện tích rừng hiện có và rừng được tạo mới; đổi mới mô hình tăng trưởng từ mở rộng diện tích và khối lượng sang tập trung vào nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm lâm nghiệp.
- Phát triển vùng trồng rừng tập trung, các loại cây nguyên liệu gỗ và lâm sản ngoài gỗ có thế mạnh của tỉnh; các loài cây gỗ lớn bản địa; hình thành các vùng nguyên liệu, phục hồi và phát triển công nghiệp chế biến gỗ.
- Phát triển sản xuất nông lâm kết hợp, lâm sản ngoài gỗ; lâm nghiệp đô thị, cảnh quan và các loại hình du lịch bền vững gắn với rừng (thuê môi trường rừng để kinh doanh du lịch sinh thái). Nghiên cứu phát triển, mở rộng một số dịch vụ khác từ rừng đặc biệt là dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; thực hiện có hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; phấn đấu đến năm 2030 nguồn thu từ rừng đủ bù đắp kinh phí cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng.
2. Quản lý, nâng cao chất lượng vật tư đầu vào phục vụ sản xuất
- Xây dựng, triển khai các cơ chế chính sách phù hợp để thu hút đầu tư và hỗ trợ các đơn vị nghiên cứu, sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp; khuyến khích, thu hút đầu tư phát triển công nghiệp chế tạo trang thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp; công nghệ chế biến, bảo quản nông sản; đặc biệt ưu tiên các công nghệ tiên tiến, sinh học, công nghệ thân thiện với môi trường; sản xuất phân bón sinh học, hữu cơ.
- Đổi mới phương thức quản lý, cung ứng vật tư nông nghiệp qua các chuỗi liên kết giữa tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, giảm chi phí trung gian (các chủ trì liên kết cung cấp các loại vật tư đầu vào có chất lượng cho các thành viên liên kết), hướng tới nền sản xuất nông nghiệp chuyên nghiệp, có trách nhiệm.
- Hỗ trợ, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân khai thác và sử dụng giống phù hợp với Luật Sở hữu trí tuệ và Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng, đảm bảo nguồn nguyên liệu xuất khẩu nông sản.
- Rà soát, phân công phân cấp trong quản lý vật tư nông nghiệp; đảm bảo các cơ sở, sản xuất kinh doanh giống cây trồng, vật nuôi và vật tư nông nghiệp phải đảm bảo các điều kiện theo quy định pháp luật; tăng cường hoạt động kiểm tra, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm cung ứng nguồn vật tư đầu vào đảm bảo kịp thời về số lượng và chất lượng.
3. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số vào sản xuất có hiệu quả
- Thực hiện thí điểm và nhân rộng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất có hiệu quả, gồm: nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp xanh, tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải; nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp kết hợp du lịch, vườn mẫu, trang trại mẫu.
- Tăng cường áp dụng các quy trình kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất, đặc biệt là tại vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; chọn lựa, ứng dụng phù hợp các loại công nghệ mới hiệu quả, thân thiện với môi trường; nâng cao trình độ cơ giới hóa, tự động hóa, tiến tới công nghệ thông minh từ sản xuất đến thu hoạch bảo quản, chế biến theo chuỗi giá trị. Đến 2030 diện tích sản xuất đạt tiêu chí nông nghiệp công nghệ cao chiếm 30% diện tích canh tác toàn tỉnh; tiếp tục phát triển và hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh theo ngành hàng trên các cây trồng, vật nuôi có lợi thế cạnh tranh với tổng diện tích khoảng 30.000 ha cây trồng và 15.000 con vật nuôi.
- Phát triển các mô hình nông nghiệp thông minh ứng dụng công nghệ số trong nông nghiệp nông thôn; quản lý chuỗi cung ứng nông sản ứng dụng blockchain; tạo sự minh bạch thông tin, đảm bảo truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Xây dựng và nhân rộng các mô hình làng thông minh, làng nông thuận thiên ứng dụng công nghệ số.
- Phát triển và đồng bộ các công cụ phục vụ chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, gồm: phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, xây dựng nền tảng số dùng chung; xây dựng Chính phủ số tại các cơ quan quản lý nhà nước ngành nông nghiệp, nông thôn; phát triển kinh tế số nông nghiệp; xây dựng nông thôn số, nông dân số; chuyển đổi số các lĩnh vực chuyên ngành, tin học hóa các quy trình nghiệp vụ quản lý, sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, phòng chống thiên tai, nông thôn đảm bảo liên thông, chia sẻ thông tin dữ liệu theo Đề án chuyển đổi số ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
- Thay đổi hình thức chuyển giao khoa học kỹ thuật từ đầu tư các mô hình cho các nông hộ nhỏ lẻ bằng đầu tư vào các liên kết, hợp tác xã, tổ hợp tác để tạo hiệu quả nhân rộng; đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin để thay đổi hình thức tuyên truyền, phổ biến, nhân rộng các tiến bộ kỹ thuật.

Content:
Tầm nhìn đến 2050: Phát triển nền nông nghiệp bền vững, hiện đại có giá trị gia tăng cao, có năng lực cạnh tranh quốc tế; Đời sống văn hóa, xã hội và thu nhập của người dân nông thôn tiệm cận với đô thị; nông thôn thịnh vượng và có kết cấu hạ tầng phù hợp, cảnh quan môi trường sạch đẹp, xã hội văn minh.
II. Nhiệm vụ, giải pháp
1. Cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp: Thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng tiếp cận đa ngành, bền vững, hiện đại có cơ sở hạ tầng tương đối hoàn thiện, thích ứng với biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế; có các điều kiện tiệm cận với các nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới, có giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cao; hình thành hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững, hiệu quả, linh hoạt đảm bảo an ninh lương thực.
1.1. Định hướng theo nhóm sản phẩm:
a) Nhóm sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, nhu cầu thị trường cao:
- Triển khai đồng bộ các giải pháp hình thành chuỗi ngành hàng quy mô lớn, chất lượng, hiệu quả trên các sản phẩm có lợi thế, gồm: cà phê, rau, hoa, dược liệu, sầu riêng, mắc ca, tơ tằm, bò sữa, cá nước lạnh và giống cây trồng nuôi cấy mô.
- Thực hiện các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện pháp lý và huy động vốn hỗ trợ các doanh nghiệp, người sản xuất hoàn thiện hệ thống sản xuất, cung ứng giống; tiếp tục đổi mới, ứng dụng đồng bộ khoa học công nghệ vào từng khâu của quá trình sản xuất; phát triển các vùng nguyên liệu quy mô lớn được số hóa, kiểm soát theo quy chuẩn, chất lượng gắn với phát triển công nghiệp chế biến; mục tiêu đến 2030 trên 40% sản phẩm được cung ứng cho thị trường đã chế biến với giá trị gấp 1,5 lần hiện nay.
- Hỗ trợ hình thành và phát triển các chuỗi liên kết khép kín, đồng bộ từ đầu vào đến thị trường bán lẻ; nâng cấp hệ thống logistics, kết nối bền vững với hệ thống phân phối nông sản trong nước, quốc tế. Ưu tiên quảng bá, phát triển nhận diện thương hiệu và thực hiện đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại các thị trường xuất khẩu. Nâng tỷ lệ sản phẩm tiêu thụ qua chuỗi đạt trên 65%, giá trị xuất khẩu tăng 8-10%/năm.
b) Nhóm sản phẩm chủ lực địa phương:
- Tập trung thực hiện tốt chính sách chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi và chuyển giao khoa học kỹ thuật; đổi mới hệ thống, quy trình canh tác để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; góp phần giảm diện tích sản xuất kém hiệu quả.
- Đa dạng hóa và phát triển các sản phẩm đặc thù, đặc trưng của địa phương gắn với việc triển khai chương trình Mỗi xã một sản phẩm, hỗ trợ người dân doanh nghiệp giải quyết các vấn đề khó khăn, tồn tại trong quá trình sản xuất tiêu thụ sản phẩm. Phấn đấu đến 2030 có trên 330 sản phẩm được công nhận sản phẩm OCOP, trong đó có khoảng 50 sản phẩm OCOP quốc gia.
1.2. Định hướng phát triển theo từng lĩnh vực sản xuất:
a) Trồng trọt: Phát triển sản xuất theo quy mô lớn, ứng dụng hiệu quả khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ số, quản lý nông nghiệp sinh thái, hữu cơ. Thực hiện cơ cấu lại các sản phẩm theo hướng ưu tiên các sản phẩm chủ lực có giá trị kinh tế cao gắn với công nghiệp sơ chế, chế biến và phát triển các chuỗi giá trị; hướng đến xuất khẩu; đồng thời phát triển các sản phẩm đặc thù của địa phương gắn với du lịch canh nông, làng nghề; định hướng phát triển một số cây trồng chủ lực như sau:
- Rau: Tiếp tục mở rộng diện tích canh tác thêm khoảng 2.500-3.000 ha, trên cơ sở chuyển đổi diện tích canh tác cà phê kém hiệu quả, diện tích đất lúa 1 vụ; nâng tổng diện tích đất canh tác rau toàn tỉnh đến năm 2030 lên 26.500 ha, sản lượng 2,8 triệu tấn; tập trung vào các sản phẩm cho hiệu quả kinh tế cao, lợi thế cạnh tranh của tỉnh.
- Hoa: Duy trì và phát triển diện tích canh tác hoa đến năm 2030 khoảng 4.000 ha, diện tích gieo trồng đạt 11.000 ha; sản lượng khoảng 4 tỷ cành và 500 triệu chậu hoa các loại; đẩy mạnh phát triển các diện tích sản xuất hoa giá trị cao, giống mới phù hợp với điều kiện từng khu vực; từng bước chuyển sang sử dụng giống có bản quyền phù hợp với các quy định để phát triển thị trường xuất khẩu.
- Cây dược liệu: Phát triển ngành dược liệu tương xứng với tiềm năng của tỉnh để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Mở rộng quy mô, diện tích vùng trồng cây dược liệu theo 2 hướng trồng dưới tán rừng và trồng tập trung trên đất nông nghiệp, gắn với đẩy mạnh chế biến dược phẩm, thực phẩm chức năng. Đến năm 2030, toàn tỉnh có trên 2.500 ha sản xuất dược liệu (dưới tán rừng 1.000 ha, trên đất nông nghiệp 1.500 ha).
- Cây ăn quả: Tiếp tục rà soát, chuyển đổi hoặc trồng xen cây ăn quả trên các diện tích sản xuất cây công nghiệp kém hiệu quả; xây dựng và triển khai kế hoạch sản xuất cây ăn quả chủ lực thích ứng với biến đổi khí hậu, linh hoạt với thị trường đặc biệt là các giống trái vụ; xây dựng các vùng trồng cây ăn quả chất lượng cao được cấp mã số vùng trồng phục vụ nhu cầu xuất khẩu. Đến năm 2030, diện tích đạt khoảng 50.000 ha, sản lượng đạt khoảng 600.000 tấn.
- Mắc ca: Mở rộng diện tích mắc ca bằng hình thức trồng xen trong vườn cà phê, trên các diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm sản xuất nông nghiệp lâu năm, đến năm 2030 diện tích toàn tỉnh đạt trên 15.000 ha sản lượng trên 22.000 tấn.
- Cà phê: Rà soát chuyển đổi khoảng 25.000 ha cà phê kém hiệu quả sang các hình thức sản xuất khác; tiếp tục thực hiện tái canh, ghép cải tạo 55.000-60.000 ha; nhân rộng các mô hình sản xuất cà phê cảnh quan bền vững. Đến năm 2030 duy trì diện tích khoảng 150.000 ha, sản lượng đạt 510.000 tấn; trong đó phấn đấu ổn định diện tích cà phê Arabica đạt khoảng 15.000 ha, sản lượng đạt 45.000 tấn. Nâng cao chất lượng cà phê bằng cải tạo giống cà phê, đặc biệt là cà phê Arabica thay thế các giống cũ sang các giống mới; đồng thời khuyến khích phát triển các giống cà phê chất lượng cao như Typica, Bourbon,..tại thành phố Đà Lạt và huyện Lạc Dương.
- Chè: Duy trì ổn định diện tích chè đến năm 2030 khoảng 10.000 ha, tập trung chuyển đổi khoảng 2.000 ha chè hạt, chè già cỗi năng suất thấp tại huyện Bảo Lâm và thành phố Bảo Lộc sang chè cành (1.500 ha) và chè Oolong (500 ha); nâng tỷ lệ diện tích chè chất lượng cao lên 50% diện tích toàn tỉnh, sản lượng 150.000 tấn/năm. Đẩy mạnh phát triển các vùng sản xuất chè tập trung, quy mô lớn hiện có để đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định, đạt chất lượng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
b) Chăn nuôi: Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo quy mô công nghiệp, chăn nuôi khép kín, ứng dụng công nghệ cao, chủ động phòng chống dịch bệnh; bò sữa, bò thịt, lợn, gia cầm, tằm tiếp tục là các đối tượng vật nuôi chính, chuyển dịch cơ cấu đàn vật nuôi theo hướng tăng tỷ trọng trang trại chăn nuôi quy mô lớn theo hướng an toàn sinh học, hữu cơ; thực hiện di dời, hoặc ngừng hoạt động, chuyển đổi ngành nghề đối với các cơ sở chăn nuôi trong khu vực không được phép chăn nuôi theo quy định.
- Đàn bò:
+ Bò sữa: Phấn đấu đến năm 2030, đàn bò sữa toàn tỉnh đạt 48.000 con. Tiếp tục sử dụng tinh bò sữa cao sản và tinh phân biệt giới tính nhằm cải tạo giống, nâng cao năng suất, chất lượng sữa, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, nâng công suất các nhà máy chế biến, trạm thu mua sữa, thu hút doanh nghiệp xây dựng nhà máy chế biến sữa để tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm nguyên liệu sữa tươi.
+ Bò thịt: Phấn đấu đến năm 2030 nâng đàn bò thịt lên khoảng 130.000 con. Tiếp tục cải tạo đàn bò theo hướng Zêbu, nâng cao tầm vóc, năng suất, chất lượng sản phẩm bò thịt để tăng khả năng cạnh tranh với các sản phẩm nhập nội trên thị trường.
- Đàn lợn: Đến năm 2030 đạt khoảng 840.000 con bằng các giống lợn ngoại thuần có năng suất, chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường; phát triển chăn nuôi trang trại quy mô lớn theo hướng công nghiệp, hiện đại; hạn chế phát triển chăn nuôi quy mô nông hộ. Khuyến khích ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ vào phát triển chăn nuôi nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường.
- Gia cầm: Đến năm 2030 đàn gia cầm đạt 15 triệu con với các giống gà thịt lông trắng, lông màu và gà chuyên trứng. Khuyến khích chăn nuôi trang trại quy mô lớn và vừa theo hướng an toàn sinh học, hữu cơ đảm bảo an toàn thực phẩm gắn với bảo vệ môi trường; thu hút xây dựng nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi và cơ sở giết mổ quy mô lớn gắn với sơ chế, chế biến để ổn định thị trường đầu ra cho sản phẩm.
- Dâu tằm: Phát triển diện tích trồng dâu đạt khoảng 15.000 ha, sản lượng kén khoảng 18.000 tấn; nâng cao năng lực nghiên cứu, sản xuất trứng giống tằm đảm bảo chất lượng để chủ động nguồn giống phục vụ sản xuất; hình thành vùng nguyên liệu dâu tằm ổn định; khuyến khích hình thành liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất dâu tằm; chủ động xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu, hợp tác phát triển sản phẩm ở thị trường trong và ngoài nước.
c) Thủy sản: Tận dụng, khai thác hiệu quả, bền vững các diện tích mặt nước hồ chứa thủy lợi, mặt nước khác để duy trì các đối tượng thủy sản truyền thống và mở rộng đối tượng thủy sản nước lạnh. Đến năm 2030, diện tích nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 2.650 ha (trong đó diện tích nuôi cá nước lạnh đạt 60 ha) tập trung phát triển cá nước lạnh tại địa bàn các huyện Lạc Dương, Đam Rông, Di Linh và thành phố Đà Lạt; nâng cao năng lực nghiên cứu sản xuất giống thủy sản, áp dụng công nghệ nuôi Biofloc, hệ thống nuôi tuần hoàn (RAS) trong nuôi thâm canh, tăng hiệu quả kinh tế, phòng chống dịch bệnh, giảm ô nhiễm môi trường. Tăng cường bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản nhằm phục hồi các loài thủy sản có giá trị kinh tế, duy trì đa dạng sinh học tại các hồ chứa, đập thủy lợi và hệ thống sông Đồng Nai.
d) Lâm nghiệp:
- Phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững, bảo vệ và phát triển hiệu quả diện tích rừng hiện có và rừng được tạo mới; đổi mới mô hình tăng trưởng từ mở rộng diện tích và khối lượng sang tập trung vào nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm lâm nghiệp.
- Phát triển vùng trồng rừng tập trung, các loại cây nguyên liệu gỗ và lâm sản ngoài gỗ có thế mạnh của tỉnh; các loài cây gỗ lớn bản địa; hình thành các vùng nguyên liệu, phục hồi và phát triển công nghiệp chế biến gỗ.
- Phát triển sản xuất nông lâm kết hợp, lâm sản ngoài gỗ; lâm nghiệp đô thị, cảnh quan và các loại hình du lịch bền vững gắn với rừng (thuê môi trường rừng để kinh doanh du lịch sinh thái). Nghiên cứu phát triển, mở rộng một số dịch vụ khác từ rừng đặc biệt là dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; thực hiện có hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; phấn đấu đến năm 2030 nguồn thu từ rừng đủ bù đắp kinh phí cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng.
2. Quản lý, nâng cao chất lượng vật tư đầu vào phục vụ sản xuất
- Xây dựng, triển khai các cơ chế chính sách phù hợp để thu hút đầu tư và hỗ trợ các đơn vị nghiên cứu, sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp; khuyến khích, thu hút đầu tư phát triển công nghiệp chế tạo trang thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp; công nghệ chế biến, bảo quản nông sản; đặc biệt ưu tiên các công nghệ tiên tiến, sinh học, công nghệ thân thiện với môi trường; sản xuất phân bón sinh học, hữu cơ.
- Đổi mới phương thức quản lý, cung ứng vật tư nông nghiệp qua các chuỗi liên kết giữa tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, giảm chi phí trung gian (các chủ trì liên kết cung cấp các loại vật tư đầu vào có chất lượng cho các thành viên liên kết), hướng tới nền sản xuất nông nghiệp chuyên nghiệp, có trách nhiệm.
- Hỗ trợ, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân khai thác và sử dụng giống phù hợp với Luật Sở hữu trí tuệ và Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng, đảm bảo nguồn nguyên liệu xuất khẩu nông sản.
- Rà soát, phân công phân cấp trong quản lý vật tư nông nghiệp; đảm bảo các cơ sở, sản xuất kinh doanh giống cây trồng, vật nuôi và vật tư nông nghiệp phải đảm bảo các điều kiện theo quy định pháp luật; tăng cường hoạt động kiểm tra, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm cung ứng nguồn vật tư đầu vào đảm bảo kịp thời về số lượng và chất lượng.
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số vào sản xuất có hiệu quả
- Thực hiện thí điểm và nhân rộng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất có hiệu quả, gồm: nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp xanh, tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải; nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp kết hợp du lịch, vườn mẫu, trang trại mẫu.
- Tăng cường áp dụng các quy trình kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất, đặc biệt là tại vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; chọn lựa, ứng dụng phù hợp các loại công nghệ mới hiệu quả, thân thiện với môi trường; nâng cao trình độ cơ giới hóa, tự động hóa, tiến tới công nghệ thông minh từ sản xuất đến thu hoạch bảo quản, chế biến theo chuỗi giá trị. Đến 2030 diện tích sản xuất đạt tiêu chí nông nghiệp công nghệ cao chiếm 30% diện tích canh tác toàn tỉnh; tiếp tục phát triển và hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh theo ngành hàng trên các cây trồng, vật nuôi có lợi thế cạnh tranh với tổng diện tích khoảng 30.000 ha cây trồng và 15.000 con vật nuôi.
- Phát triển các mô hình nông nghiệp thông minh ứng dụng công nghệ số trong nông nghiệp nông thôn; quản lý chuỗi cung ứng nông sản ứng dụng blockchain; tạo sự minh bạch thông tin, đảm bảo truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Xây dựng và nhân rộng các mô hình làng thông minh, làng nông thuận thiên ứng dụng công nghệ số.
- Phát triển và đồng bộ các công cụ phục vụ chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, gồm: phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, xây dựng nền tảng số dùng chung; xây dựng Chính phủ số tại các cơ quan quản lý nhà nước ngành nông nghiệp, nông thôn; phát triển kinh tế số nông nghiệp; xây dựng nông thôn số, nông dân số; chuyển đổi số các lĩnh vực chuyên ngành, tin học hóa các quy trình nghiệp vụ quản lý, sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, phòng chống thiên tai, nông thôn đảm bảo liên thông, chia sẻ thông tin dữ liệu theo Đề án chuyển đổi số ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
- Thay đổi hình thức chuyển giao khoa học kỹ thuật từ đầu tư các mô hình cho các nông hộ nhỏ lẻ bằng đầu tư vào các liên kết, hợp tác xã, tổ hợp tác để tạo hiệu quả nhân rộng; đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin để thay đổi hình thức tuyên truyền, phổ biến, nhân rộng các tiến bộ kỹ thuật.