Document: Điều 26 Thông tư 22/2009/TT-BTNMT quy định  thăm dò phân cấp trữ lượng tài nguyên các mỏ đá sét mới nhất

Type: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "11/11/2009", "sign_number": "22/2009/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "11/11/2009", "sign_number": "22/2009/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "11/11/2009", "sign_number": "22/2009/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "11/11/2009", "sign_number": "22/2009/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "11/11/2009", "sign_number": "22/2009/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 26 Thông tư 22/2009/TT-BTNMT quy định  thăm dò phân cấp trữ lượng tài nguyên các mỏ đá sét mới nhất có nội dung như sau:

Điều 26. Công tác tính trữ lượng và tài nguyên đá sét
1. Việc tính trữ lượng, tài nguyên đá sét phải căn cứ vào chỉ tiêu tính trữ lượng do Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản công nhận cho từng mỏ cụ thể hoặc trên cơ sở yêu cầu của chủ đầu tư nhưng phải bảo đảm phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật. Trong chỉ tiêu tính trữ lượng phải quy định rõ phạm vi lĩnh vực sử dụng, những yêu cầu cơ bản về chất lượng nguyên liệu và điều kiện kỹ thuật khai thác mỏ.
2. Trữ lượng được tính là trữ lượng hiện có trong lòng đất không tính đến tổn thất khi khai thác. Đơn vị tính trữ lượng: nghìn m3 đối với đá sét nguyên liệu gạch ngói và nghìn tấn đối với đá sét nguyên liệu ximăng và đá sét sử dụng cho các lĩnh vực khác.
3. Ngoài trữ lượng, tài nguyên đá sét, phải tính cả thể tích đá bóc và thể tích các đá không đạt chỉ tiêu có mặt trong phạm vi tính trữ lượng.
4. Trữ lượng và tài nguyên đá sét tùy theo quy mô và đặc điểm về mặt địa hình được tính trên nền bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 1 000 – 1: 5 000. Tùy thuộc vào đặc điểm địa chất cụ thể của mỏ, có thể sử dụng phương pháp mặt cắt song song thẳng đứng, phương pháp khối địa chất, phương pháp đa giác và các phương pháp khác để tính trữ lượng và tài nguyên.

Content:
Điều 26. Công tác tính trữ lượng và tài nguyên đá sét
1. Việc tính trữ lượng, tài nguyên đá sét phải căn cứ vào chỉ tiêu tính trữ lượng do Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản công nhận cho từng mỏ cụ thể hoặc trên cơ sở yêu cầu của chủ đầu tư nhưng phải bảo đảm phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật. Trong chỉ tiêu tính trữ lượng phải quy định rõ phạm vi lĩnh vực sử dụng, những yêu cầu cơ bản về chất lượng nguyên liệu và điều kiện kỹ thuật khai thác mỏ.
2. Trữ lượng được tính là trữ lượng hiện có trong lòng đất không tính đến tổn thất khi khai thác. Đơn vị tính trữ lượng: nghìn m3 đối với đá sét nguyên liệu gạch ngói và nghìn tấn đối với đá sét nguyên liệu ximăng và đá sét sử dụng cho các lĩnh vực khác.
3. Ngoài trữ lượng, tài nguyên đá sét, phải tính cả thể tích đá bóc và thể tích các đá không đạt chỉ tiêu có mặt trong phạm vi tính trữ lượng.
4. Trữ lượng và tài nguyên đá sét tùy theo quy mô và đặc điểm về mặt địa hình được tính trên nền bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 1 000 – 1: 5 000. Tùy thuộc vào đặc điểm địa chất cụ thể của mỏ, có thể sử dụng phương pháp mặt cắt song song thẳng đứng, phương pháp khối địa chất, phương pháp đa giác và các phương pháp khác để tính trữ lượng và tài nguyên.