Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 446/QĐ-UBND năm 2011 Chương trình ứng dụng phát triển công nghệ sinh

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "27/01/2011", "sign_number": "446/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trung Tín", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "27/01/2011", "sign_number": "446/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trung Tín", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "27/01/2011", "sign_number": "446/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trung Tín", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "27/01/2011", "sign_number": "446/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trung Tín", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "27/01/2011", "sign_number": "446/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trung Tín", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 446/QĐ-UBND năm 2011 Chương trình ứng dụng phát triển công nghệ sinh

Điều 1. Phê duyệt “Chương trình ứng dụng và phát triển công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp - nông thôn trên địa bàn tại thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025” (sau đây gọi tắt là Chương trình) với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
3. Một số giải pháp chính:
3.1. Triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, sản xuất thử sản phẩm, chuyển giao công nghệ và ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp.
- Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (R-D); các dự án sản xuất thử sản phẩm; dự án sản xuất sản phẩm hàng hóa chủ lực ở quy mô công nghiệp và các dự án hợp tác quốc tế về công nghệ sinh học nông nghiệp.
- Thúc đẩy việc tạo lập hình thành và phát triển ngành công nghiệp sinh học nông nghiệp phục vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ các sản phẩm hàng hóa chủ lực ở quy mô công nghiệp, có chất lượng và sức cạnh tranh cao trên thị trường, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.
- Khuyến khích và tạo điều kiện để thành lập, phát triển các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực chuyển giao, tiếp nhận và nhập khẩu các công nghệ mới, có hiệu quả kinh tế, ứng dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực công nghệ sinh học nông nghiệp vào sản xuất và đời sống.
3.2. Xây dựng và phát triển cơ sở, vật chất kỹ thuật trong lĩnh vực công nghiệp sinh học nông nghiệp:
- Hoàn thiện và đưa vào sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị các phòng thí nghiệm của Trung tâm Công nghệ Sinh học thành phố Hồ Chí Minh để phục vụ cho những nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học trong các lĩnh vực: nông nghiệp, thủy sản, môi trường, y dược và chế biến thực phẩm.
- Hỗ trợ, đầu tư tăng cường năng lực trang thiết bị cho một số đơn vị liên quan đến công nghệ sinh học để triển khai và ứng dụng các công nghệ, sản phẩm công nghệ sinh học như Trung tâm Quản lý kiểm định giống cây trồng, vật nuôi; Phòng kiểm nghiệm phân tích của Chi cục Thú y,…
- Phát triển một số Khu Nông nghiệp Công nghệ cao, nhằm ứng dụng và triển khai tốt nhất các kết quả nghiên cứu về công nghệ cao trong nông nghiệp, trong đó ưu tiên cho công nghệ sinh học.
3.3. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực về công nghệ sinh học:
- Nghiên cứu, trình thành phố ban hành cơ chế, chính sách ưu đãi để nhanh chóng phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp, thu hút nhân tài và các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ sinh học.
- Phối hợp với các trường Đại học để đào tạo cử nhân công nghệ sinh học, cán bộ khoa học đã có học vị tiến sĩ, thạc sĩ được gửi đến các nước có nền công nghệ sinh học phát triển để tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn (3 - 6 tháng) nhằm cập nhật và nâng cao năng lực chuyên môn; gửi nghiên cứu sinh đến các nước có nền công nghệ sinh học phát triển để đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ theo các nội dung nghiên cứu của Chương trình.
- Ngoài đội ngũ cán bộ làm nghiên cứu, thành phố cần phát triển đào tạo đội ngũ kỹ thuật viên về công nghệ sinh học. Đây là lực lượng cán bộ kỹ thuật của các cơ quan quản lý chuyên ngành, các đơn vị chuyển giao, các doanh nghiệp liên quan đến nông nghiệp, công nghệ sinh học nông nghiệp…
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển ứng dụng công nghệ sinh học nông nghiệp.
- Thực thi đầy đủ và nghiêm túc các quy định về sở hữu trí tuệ trong việc bảo hộ quyền tác giả và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (bản quyền giống cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật, quy trình công nghệ…) đối với lĩnh vực công nghệ sinh học nông nghiệp.
3.4. Tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền:
- Thực hiện các dự án hợp tác với các tổ chức và cá nhân các nhà khoa học trong và ngoài nước nhằm tận dụng kiến thức, công nghệ, máy móc, thiết bị tiên tiến và các sự giúp đỡ khác của thế giới để phát triển nhanh, mạnh và giải quyết được một số vấn đề quan trọng, bức xúc của công nghệ sinh học nông nghiệp tại thành phố.
- Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành và mọi người dân về vai trò quan trọng của công nghệ sinh học đối với sự phát triển của nhân loại nói chung và của ngành nông nghiệp nói riêng.
3.5. Huy động các nguồn nhân lực để đầu tư, phát triển công nghệ sinh học thành phố:
- Tăng cường và đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư để thực hiện có hiệu quả và đúng tiến độ các nội dung của Chương trình.
- Dự kiến tổng nhu cầu vốn đầu tư cho Chương trình (đã bao gồm Dự án đầu tư xây dựng Trung tâm Công nghệ Sinh học thành phố Hồ Chí Minh) là 2.474 tỷ đồng. Trong đó vốn từ nguồn ngân sách nhà nước chiếm 75%, từ nguồn đầu tư của các doanh nghiệp là 15% và 10% còn lại là từ các nguồn khác, cụ thể như sau:
+ Giai đoạn 2010 - 2015: dự kiến khoảng 1.337 tỷ đồng, bao gồm nghiên cứu khoa học chiếm 30 tỷ đồng; đào tạo nhân lực là 45,5 tỷ đồng; xây dựng vật chất, trang thiết bị phòng thí nghiệm là 1.100 tỷ đồng; hợp tác quốc tế là 30 tỷ đồng; dự án sản xuất thử là 25 tỷ đồng; phát triển doanh nghiệp công nghệ sinh học là 100 tỷ đồng; xây dựng cơ sở pháp lý là 2 tỷ đồng; công tác thông tin, tuyên truyền là 2,5 tỷ đồng và công quản lý, điều hành chương trình là 2 tỷ đồng.
……………
- Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nông nghiệp: tổ chức hợp tác, chuyển giao, tiếp nhận và ứng dụng các công nghệ vào thực tiễn sản xuất.
- Các tổ chức, cá nhân khác liên quan có nhu cầu tham gia thực hiện các nội dung, nhiệm vụ, đề tài và dự án của Chương trình này, đăng ký với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ để được xem xét, giải quyết theo quy định.

Content:
Một số giải pháp chính:
3.1. Triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, sản xuất thử sản phẩm, chuyển giao công nghệ và ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp.
- Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (R-D); các dự án sản xuất thử sản phẩm; dự án sản xuất sản phẩm hàng hóa chủ lực ở quy mô công nghiệp và các dự án hợp tác quốc tế về công nghệ sinh học nông nghiệp.
- Thúc đẩy việc tạo lập hình thành và phát triển ngành công nghiệp sinh học nông nghiệp phục vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ các sản phẩm hàng hóa chủ lực ở quy mô công nghiệp, có chất lượng và sức cạnh tranh cao trên thị trường, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.
- Khuyến khích và tạo điều kiện để thành lập, phát triển các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực chuyển giao, tiếp nhận và nhập khẩu các công nghệ mới, có hiệu quả kinh tế, ứng dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực công nghệ sinh học nông nghiệp vào sản xuất và đời sống.
3.2. Xây dựng và phát triển cơ sở, vật chất kỹ thuật trong lĩnh vực công nghiệp sinh học nông nghiệp:
- Hoàn thiện và đưa vào sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị các phòng thí nghiệm của Trung tâm Công nghệ Sinh học thành phố Hồ Chí Minh để phục vụ cho những nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học trong các lĩnh vực: nông nghiệp, thủy sản, môi trường, y dược và chế biến thực phẩm.
- Hỗ trợ, đầu tư tăng cường năng lực trang thiết bị cho một số đơn vị liên quan đến công nghệ sinh học để triển khai và ứng dụng các công nghệ, sản phẩm công nghệ sinh học như Trung tâm Quản lý kiểm định giống cây trồng, vật nuôi; Phòng kiểm nghiệm phân tích của Chi cục Thú y,…
- Phát triển một số Khu Nông nghiệp Công nghệ cao, nhằm ứng dụng và triển khai tốt nhất các kết quả nghiên cứu về công nghệ cao trong nông nghiệp, trong đó ưu tiên cho công nghệ sinh học.
3.Đào tạo phát triển nguồn nhân lực về công nghệ sinh học:
- Nghiên cứu, trình thành phố ban hành cơ chế, chính sách ưu đãi để nhanh chóng phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp, thu hút nhân tài và các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ sinh học.
- Phối hợp với các trường Đại học để đào tạo cử nhân công nghệ sinh học, cán bộ khoa học đã có học vị tiến sĩ, thạc sĩ được gửi đến các nước có nền công nghệ sinh học phát triển để tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn (3 - 6 tháng) nhằm cập nhật và nâng cao năng lực chuyên môn; gửi nghiên cứu sinh đến các nước có nền công nghệ sinh học phát triển để đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ theo các nội dung nghiên cứu của Chương trình.
- Ngoài đội ngũ cán bộ làm nghiên cứu, thành phố cần phát triển đào tạo đội ngũ kỹ thuật viên về công nghệ sinh học. Đây là lực lượng cán bộ kỹ thuật của các cơ quan quản lý chuyên ngành, các đơn vị chuyển giao, các doanh nghiệp liên quan đến nông nghiệp, công nghệ sinh học nông nghiệp…
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển ứng dụng công nghệ sinh học nông nghiệp.
- Thực thi đầy đủ và nghiêm túc các quy định về sở hữu trí tuệ trong việc bảo hộ quyền tác giả và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (bản quyền giống cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật, quy trình công nghệ…) đối với lĩnh vực công nghệ sinh học nông nghiệp.
3.4. Tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền:
- Thực hiện các dự án hợp tác với các tổ chức và cá nhân các nhà khoa học trong và ngoài nước nhằm tận dụng kiến thức, công nghệ, máy móc, thiết bị tiên tiến và các sự giúp đỡ khác của thế giới để phát triển nhanh, mạnh và giải quyết được một số vấn đề quan trọng, bức xúc của công nghệ sinh học nông nghiệp tại thành phố.
- Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành và mọi người dân về vai trò quan trọng của công nghệ sinh học đối với sự phát triển của nhân loại nói chung và của ngành nông nghiệp nói riêng.
3.5. Huy động các nguồn nhân lực để đầu tư, phát triển công nghệ sinh học thành phố:
- Tăng cường và đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư để thực hiện có hiệu quả và đúng tiến độ các nội dung của Chương trình.
- Dự kiến tổng nhu cầu vốn đầu tư cho Chương trình (đã bao gồm Dự án đầu tư xây dựng Trung tâm Công nghệ Sinh học thành phố Hồ Chí Minh) là 2.474 tỷ đồng. Trong đó vốn từ nguồn ngân sách nhà nước chiếm 75%, từ nguồn đầu tư của các doanh nghiệp là 15% và 10% còn lại là từ các nguồn khác, cụ thể như sau:
+ Giai đoạn 2010 - 2015: dự kiến khoảng 1.337 tỷ đồng, bao gồm nghiên cứu khoa học chiếm 30 tỷ đồng; đào tạo nhân lực là 45,5 tỷ đồng; xây dựng vật chất, trang thiết bị phòng thí nghiệm là 1.100 tỷ đồng; hợp tác quốc tế là 30 tỷ đồng; dự án sản xuất thử là 25 tỷ đồng; phát triển doanh nghiệp công nghệ sinh học là 100 tỷ đồng; xây dựng cơ sở pháp lý là 2 tỷ đồng; công tác thông tin, tuyên truyền là 2,5 tỷ đồng và công quản lý, điều hành chương trình là 2 tỷ đồng.
……………
- Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nông nghiệp: tổ chức hợp tác, chuyển giao, tiếp nhận và ứng dụng các công nghệ vào thực tiễn sản xuất.
- Các tổ chức, cá nhân khác liên quan có nhu cầu tham gia thực hiện các nội dung, nhiệm vụ, đề tài và dự án của Chương trình này, đăng ký với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ để được xem xét, giải quyết theo quy định.