Document: Điều 1 Quyết định 1608/QĐ-UBND 2018 phê duyệt Kế hoạch hoạt động khoa học công nghệ An Giang 2019

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "10/07/2018", "sign_number": "1608/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "10/07/2018", "sign_number": "1608/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "10/07/2018", "sign_number": "1608/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "10/07/2018", "sign_number": "1608/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "10/07/2018", "sign_number": "1608/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 1608/QĐ-UBND 2018 phê duyệt Kế hoạch hoạt động khoa học công nghệ An Giang 2019 có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch hoạt động khoa học và công nghệ tỉnh An Giang năm 2019, với các nội dung cụ thể như sau:
A. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH VÀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
I. Tình hình thực hiện cơ chế, chính sách về khoa học và công nghệ:
Năm 2017, tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 27/6/2012 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, Quyết định số 2163/QĐ-UBND ngày 29/11/2012 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang giai đoạn 2012 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Quyết định số 2532/QĐ-UBND ngày 05/12/2013 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 18-CTr/TU ngày 28/02/2013 của Tỉnh ủy về phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Hoạt động tổ chức hội đồng xác định danh mục, nội dung nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh đã hoàn thành theo đúng kế hoạch, đến ngày 31/12/ 2017 cơ bản các đề tài, dự án cấp tỉnh được xét duyệt nội dung đạt 100% (ngoài 06 chương trình trọng điểm theo Quyết định số 2532/QĐ-UBND ngày 05/12/2013 của UBND tỉnh An Giang đã phê duyệt), tỉnh cũng đã phê duyệt chương trình thứ 7: “Định hướng nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang theo hướng là một trong những trung tâm về nông nghiệp, giáo dục đào tạo, y tế và du lịch đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”. Danh mục nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh năm 2017 - 2018 được xây dựng đúng hạn, góp phần đảm bảo quy trình quản lý nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh năm 2017-2018 đúng tiến độ. Các đề tài, dự án được chọn mang tính cấp thiết cao, có khả năng áp dụng vào thực tế, tập trung vào các vấn đề trọng tâm của Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 27/6/2012 và Chương trình hành động số 18-CTr/TU ngày 28/02/2013 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh.
Kết quả: Tỉnh An Giang đã triển khai thực hiện 188 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (95 nhiệm vụ cấp tỉnh[1], 93 nhiệm vụ cấp cơ sở[2]) nhằm tăng cường ứng dụng các mô hình dịch vụ và công nghệ sản xuất liên quan đến cơ giới hóa, tự động hóa, trong sản xuất nông nghiệp giúp giảm tiêu hao nguyên vật liệu, năng lượng đầu vào, giảm thất thoát sau thu hoạch, giảm sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu bệnh hóa học, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và tạo sản phẩm an toàn, chất lượng, sản xuất hiệu quả hơn và tăng thu nhập cho nông dân. Một số kết quả các nhiệm vụ KH&CN nổi bật là cơ sở để người dân tiếp cận, ứng dụng các tiến bộ KH&CN vào sản xuất góp phần tăng hiệu quả sản xuất của người dân như:
1. Lĩnh vực nông nghiệp: Xây dựng các giải pháp chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp thị xã Tân Châu và huyện Tịnh Biên; chọn tạo thành công 02 dòng lúa nếp có khả năng chống chịu đổ ngã, ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt cho huyện Phú Tân; xây dựng thành công mô hình mẫu về giải pháp kỹ thuật hồ chứa nước thủy lợi vùng cao cho 02 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên; lắp đặt thành công hệ thống cảm biến cảnh báo môi trường nước cho vùng nuôi tôm xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn; tuyển chọn cây đầu dòng các giống cây ăn quả: chúc, xoài thanh ca đen và mãng cầu ta, cây giống nhãn Mỹ Đức tốt và sầu riêng Núi Cấm; tạo ra cây giống rau sạch bệnh, giảm lượng hao hụt cây con từ 10% xuống còn 3% tại khâu gieo ươm, hạ giá thành sản xuất giống do cơ giới hóa, tự động hóa, trồng thử nghiệm thành công cây dưa leo bằng hệ thống tưới nhỏ giọt kết hợp nuôi ong thụ phấn trong nhà lưới tại xã Bình Thạnh (huyện Châu Thành) cho năng suất cao gấp hai lần trồng trong nhà lưới không có nuôi ong, góp phần bảo vệ thiên địch, hạn chế sử dụng thuốc BVTV; nghiên cứu sử dụng thành công chế phẩm EM bổ sung vào đệm lót hoặc bổ sung vào thức ăn cho gà giúp gia tăng tỷ lệ sống, tăng hiệu quả trong quá trình nuôi của người dân;…
2. Lĩnh vực du lịch: Đã xây dựng mô hình du lịch sinh thái cho khu vực lòng hồ Tân Trung - Vàm Nao huyện Phú Tân; mô hình bảo tồn đa dạng thực vật tại xã Mỹ Hòa Hưng. TP. Long Xuyên; mô hình du lịch homestay trong cộng đồng người Khmer kết hợp làng nghề cho huyện Tri Tôn và Tịnh Biên; các mô hình cây ăn quả phục vụ du lịch tại Núi Cấm, Núi Sam và Núi Sập; tour du lịch mùa nước nổi kết hợp văn hóa Chăm tại Búng Bình Thiên huyện An Phú;…
3. Phát triển dược liệu: Định danh được các loài cây dược liệu như ngải trắng, ngải bún, sầu đâu, cà gai leo; tìm được công thức ly trích tinh dầu tối ưu từ lá và vỏ quả chúc; xác định tính kháng viêm từ tinh dầu chúc; hạ đường huyết từ cao chiết lá sầu đâu có tác dụng bảo vệ gan, tăng lực, ổn định đường huyết, hạ lipid máu và năng nội tiết tố sinh dục nữ từ cao và viên nang lá cây chùm ngây; sưu tập 80 giống và chọn lọc 10 giống dược liệu có tiềm năng ở An Giang để phục vụ công tác bảo tồn và nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật, giâm cành, khí canh, xây dựng 01 vườn ươm trồng thử nghiệm các giống dược liệu tại huyện Tịnh Biên diện tích 1.000 m2; …
4. Khoa học môi trường và kỹ thuật công nghệ: Đã xây dựng thành công hệ thống cảnh báo khí tượng thủy văn tỉnh An Giang, hệ thống dự báo nhu cầu giáo viên phổ thông và đào tạo nghề cho tỉnh; sản xuất máy cấy lúa hoạt động đạt công suất 0,35 ha/giờ (03 ha/ngày), chi phí cấy máy giảm ít nhất 40% so với cấy lúa bằng tay (tính trên ha), lượng giống cấy máy giảm ít nhất 25% so với cấy tay và sạ hàng, ruộng cấy máy có tỷ lệ mạ sống đạt ít nhất 95% và năng suất lúa cao hơn hoặc bằng năng suất trung bình của địa bàn cấp xã sử dụng mạ cấy bằng tay,..
Tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế Một số kết quả nghiên cứu và hướng phát triển dược liệu tỉnh An Giang (90 đại biểu trong tỉnh, các Viện, Trường, Trung tâm nghiên cứu và 02 chuyên gia Trường Đại học RMIT-Úc tham dự). Hội thảo có 25 bài tham luận của các chuyên gia, các chuyên gia chỉ ra một số hạn chế và đề xuất hướng phát triển của cây dược liệu tỉnh An Giang.
Thực hiện Kế hoạch nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh An Giang đã dần thu hút sự quan tâm đặc biệt của các doanh nghiệp; phong trào năng suất chất lượng ở tỉnh An Giang đã được thúc đẩy hình thành và phát triển. Thông qua các hoạt động tuyên truyền, tập huấn, nhiều doanh nghiệp đã có sự nhận thức cơ bản về hoạt động nâng cao năng suất chất lượng của đơn vị mình. Một số doanh nghiệp được hưởng lợi trực tiếp từ Chương trình như: hỗ trợ kinh phí tham gia xây dựng áp dụng HTQLCL và công cụ cải tiến năng suất. Điều này đã khích lệ động viên doanh nghiệp mạnh dạn áp dụng các giải pháp để nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm dịch vụ của đơn vị.

Content:
Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch hoạt động khoa học và công nghệ tỉnh An Giang năm 2019, với các nội dung cụ thể như sau:
A. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH VÀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
I. Tình hình thực hiện cơ chế, chính sách về khoa học và công nghệ:
Năm 2017, tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 27/6/2012 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, Quyết định số 2163/QĐ-UBND ngày 29/11/2012 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang giai đoạn 2012 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Quyết định số 2532/QĐ-UBND ngày 05/12/2013 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 18-CTr/TU ngày 28/02/2013 của Tỉnh ủy về phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Hoạt động tổ chức hội đồng xác định danh mục, nội dung nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh đã hoàn thành theo đúng kế hoạch, đến ngày 31/12/ 2017 cơ bản các đề tài, dự án cấp tỉnh được xét duyệt nội dung đạt 100% (ngoài 06 chương trình trọng điểm theo Quyết định số 2532/QĐ-UBND ngày 05/12/2013 của UBND tỉnh An Giang đã phê duyệt), tỉnh cũng đã phê duyệt chương trình thứ 7: “Định hướng nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang theo hướng là một trong những trung tâm về nông nghiệp, giáo dục đào tạo, y tế và du lịch đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”. Danh mục nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh năm 2017 - 2018 được xây dựng đúng hạn, góp phần đảm bảo quy trình quản lý nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh năm 2017-2018 đúng tiến độ. Các đề tài, dự án được chọn mang tính cấp thiết cao, có khả năng áp dụng vào thực tế, tập trung vào các vấn đề trọng tâm của Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 27/6/2012 và Chương trình hành động số 18-CTr/TU ngày 28/02/2013 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh.
Kết quả: Tỉnh An Giang đã triển khai thực hiện 188 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (95 nhiệm vụ cấp tỉnh[1], 93 nhiệm vụ cấp cơ sở[2]) nhằm tăng cường ứng dụng các mô hình dịch vụ và công nghệ sản xuất liên quan đến cơ giới hóa, tự động hóa, trong sản xuất nông nghiệp giúp giảm tiêu hao nguyên vật liệu, năng lượng đầu vào, giảm thất thoát sau thu hoạch, giảm sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu bệnh hóa học, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và tạo sản phẩm an toàn, chất lượng, sản xuất hiệu quả hơn và tăng thu nhập cho nông dân. Một số kết quả các nhiệm vụ KH&CN nổi bật là cơ sở để người dân tiếp cận, ứng dụng các tiến bộ KH&CN vào sản xuất góp phần tăng hiệu quả sản xuất của người dân như:
1. Lĩnh vực nông nghiệp: Xây dựng các giải pháp chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp thị xã Tân Châu và huyện Tịnh Biên; chọn tạo thành công 02 dòng lúa nếp có khả năng chống chịu đổ ngã, ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt cho huyện Phú Tân; xây dựng thành công mô hình mẫu về giải pháp kỹ thuật hồ chứa nước thủy lợi vùng cao cho 02 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên; lắp đặt thành công hệ thống cảm biến cảnh báo môi trường nước cho vùng nuôi tôm xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn; tuyển chọn cây đầu dòng các giống cây ăn quả: chúc, xoài thanh ca đen và mãng cầu ta, cây giống nhãn Mỹ Đức tốt và sầu riêng Núi Cấm; tạo ra cây giống rau sạch bệnh, giảm lượng hao hụt cây con từ 10% xuống còn 3% tại khâu gieo ươm, hạ giá thành sản xuất giống do cơ giới hóa, tự động hóa, trồng thử nghiệm thành công cây dưa leo bằng hệ thống tưới nhỏ giọt kết hợp nuôi ong thụ phấn trong nhà lưới tại xã Bình Thạnh (huyện Châu Thành) cho năng suất cao gấp hai lần trồng trong nhà lưới không có nuôi ong, góp phần bảo vệ thiên địch, hạn chế sử dụng thuốc BVTV; nghiên cứu sử dụng thành công chế phẩm EM bổ sung vào đệm lót hoặc bổ sung vào thức ăn cho gà giúp gia tăng tỷ lệ sống, tăng hiệu quả trong quá trình nuôi của người dân;…
2. Lĩnh vực du lịch: Đã xây dựng mô hình du lịch sinh thái cho khu vực lòng hồ Tân Trung - Vàm Nao huyện Phú Tân; mô hình bảo tồn đa dạng thực vật tại xã Mỹ Hòa Hưng. TP. Long Xuyên; mô hình du lịch homestay trong cộng đồng người Khmer kết hợp làng nghề cho huyện Tri Tôn và Tịnh Biên; các mô hình cây ăn quả phục vụ du lịch tại Núi Cấm, Núi Sam và Núi Sập; tour du lịch mùa nước nổi kết hợp văn hóa Chăm tại Búng Bình Thiên huyện An Phú;…
3. Phát triển dược liệu: Định danh được các loài cây dược liệu như ngải trắng, ngải bún, sầu đâu, cà gai leo; tìm được công thức ly trích tinh dầu tối ưu từ lá và vỏ quả chúc; xác định tính kháng viêm từ tinh dầu chúc; hạ đường huyết từ cao chiết lá sầu đâu có tác dụng bảo vệ gan, tăng lực, ổn định đường huyết, hạ lipid máu và năng nội tiết tố sinh dục nữ từ cao và viên nang lá cây chùm ngây; sưu tập 80 giống và chọn lọc 10 giống dược liệu có tiềm năng ở An Giang để phục vụ công tác bảo tồn và nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật, giâm cành, khí canh, xây dựng 01 vườn ươm trồng thử nghiệm các giống dược liệu tại huyện Tịnh Biên diện tích 1.000 m2; …
4. Khoa học môi trường và kỹ thuật công nghệ: Đã xây dựng thành công hệ thống cảnh báo khí tượng thủy văn tỉnh An Giang, hệ thống dự báo nhu cầu giáo viên phổ thông và đào tạo nghề cho tỉnh; sản xuất máy cấy lúa hoạt động đạt công suất 0,35 ha/giờ (03 ha/ngày), chi phí cấy máy giảm ít nhất 40% so với cấy lúa bằng tay (tính trên ha), lượng giống cấy máy giảm ít nhất 25% so với cấy tay và sạ hàng, ruộng cấy máy có tỷ lệ mạ sống đạt ít nhất 95% và năng suất lúa cao hơn hoặc bằng năng suất trung bình của địa bàn cấp xã sử dụng mạ cấy bằng tay,..
Tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế Một số kết quả nghiên cứu và hướng phát triển dược liệu tỉnh An Giang (90 đại biểu trong tỉnh, các Viện, Trường, Trung tâm nghiên cứu và 02 chuyên gia Trường Đại học RMIT-Úc tham dự). Hội thảo có 25 bài tham luận của các chuyên gia, các chuyên gia chỉ ra một số hạn chế và đề xuất hướng phát triển của cây dược liệu tỉnh An Giang.
Thực hiện Kế hoạch nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh An Giang đã dần thu hút sự quan tâm đặc biệt của các doanh nghiệp; phong trào năng suất chất lượng ở tỉnh An Giang đã được thúc đẩy hình thành và phát triển. Thông qua các hoạt động tuyên truyền, tập huấn, nhiều doanh nghiệp đã có sự nhận thức cơ bản về hoạt động nâng cao năng suất chất lượng của đơn vị mình. Một số doanh nghiệp được hưởng lợi trực tiếp từ Chương trình như: hỗ trợ kinh phí tham gia xây dựng áp dụng HTQLCL và công cụ cải tiến năng suất. Điều này đã khích lệ động viên doanh nghiệp mạnh dạn áp dụng các giải pháp để nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm dịch vụ của đơn vị.