Document: Điểm c Khoản 7 Điều 1 Quyết định 27/2011/QĐ-UBND Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "28/12/2011", "sign_number": "27/2011/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Dân Mạc", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "28/12/2011", "sign_number": "27/2011/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Dân Mạc", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "28/12/2011", "sign_number": "27/2011/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Dân Mạc", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "28/12/2011", "sign_number": "27/2011/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Dân Mạc", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "28/12/2011", "sign_number": "27/2011/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Dân Mạc", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 7 Điều 1 Quyết định 27/2011/QĐ-UBND Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực

Điều 1. Phê duyêt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 - 2020 với những nội dung sau:
...
7. Các chương trình, dự án ưu tiên.
...
c) Hợp tác quốc tế về đào tạo và xuất khẩu lao động.
Cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài. Mời chuyên gia, giảng viên nước ngoài tham gia đào tạo ở trong nước. Thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài (ODA, FDI…) xây dựng cơ sở đào tạo ở Phú Thọ; tranh thủ các nguồn vốn từ nước ngoài để nâng cao năng lực các trường nghề hiện có đảm bảo chất lượng đào tạo. Đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu lao động và cung cấp nhân lực chất lượng cao cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh và các khu chế xuất, khu công nghệ cao của Hà Nội và các tỉnh lân cận.
III - GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Đổi mới và nâng cao nhận thức về vai trò của phát triển nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Các cấp chính quyền từ tỉnh đến cơ sở, nhất là người đứng đầu phải thường xuyên quan tâm chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển nguồn nhân lực; xác định phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nhiệm vụ mang tính chiến lược đảm bảo cho kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững.
Các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân phát huy tính chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động cán bộ, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực; tạo sự chuyển biến trong nhận thức, hành động, phát huy vai trò, trách nhiệm đối với phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh.
2. Phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo của hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề
a) Phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề:
- Tiếp tục đẩy mạnh phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề: Tổ chức hợp lý hệ thống các bậc học giáo dục và đào tạo từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và đào tạo chuyên nghiệp dạy nghề. Điều chỉnh quy hoạch, sắp xếp và phát triển hợp lý các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, các cơ sở dạy nghề.
- Xây dựng kế hoạch đào tạo theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cho từng giai đoạn của tỉnh, huyện và của mỗi cơ sở đào tạo và dạy nghề. Thực hiện liên thông trong giáo dục phổ thông với đào tạo nghề. Đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại, phù hợp với điều kiện của tỉnh.
- Xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp; đảm bảo chế độ chính sách cho đội ngũ giáo viên và người học học theo quy định của Nhà nước.
- Thường xuyên đánh giá chất lượng đào tạo, dạy nghề bằng hệ thống tiêu chí quốc gia.
b) Nâng cao thể lực và tầm vóc của nhân lực:
- Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, đặc biệt là người lao động; cần làm tốt công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe ban đầu, nâng cao thể lực toàn dân, thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em, chăm sóc sức khỏe học đường cho học sinh.
- Hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của các Trung tâm y tế dự phòng, các bệnh viện đa khoa tuyến huyện; thành lập Trung tâm y tế hoặc bệnh xá, phòng khám đa khoa tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
- Chú trọng công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, quan tâm cải thiện điều kiện làm việc, vui chơi giải trí, đi đôi với bảo đảm đầy đủ các chế độ cho người lao động theo quy định của Nhà nước.
- Thường xuyên cải thiện điều kiện lao động. Nâng cao chất lượng các phong trào rèo luyện thân thể, tập thể dục, nâng cao thể lực… xây dựng đời sống lành mạnh trong nhân dân, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong lối sống xã hội.
c) Đào tạo, nâng cao trình độ, kiến thức và kỹ năng lao động:
Xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực 5 năm và hàng năm phải đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, lao động được đào tạo với ngành nghề phù hợp, có kỹ năng đáp ứng yêu cầu thực tế. Thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng tại chỗ để theo kịp sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ mới và phù hợp với đường lối, chính sách, luật pháp về phát triển kinh tế - xã hội, phát triển doanh nghiệp của Đảng của Nhà nước.
Nâng cao nhận thức của nhân lực về ý thức, tác phong, kỷ luật trong lao động nhằm hạn chế, đẩy lùi các mặt yếu, tồn tại của đội ngũ nhân lực hiện nay. Tổ chức công đoàn và các đoàn thể chính trị, các cơ quan quản lý lao động cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để người lao động có nhận thức đầy đủ về sự phối hợp tập thể, kỷ luật của doanh nghiệp, tính hợp lý, khoa học của quy trình lao động, sản xuất và những yêu cầu của người sử dụng lao động, của doanh nghiệp mà người lao động phải đáp ứng.
3. Tập trung huy động các nguồn lực đầu tư cho đào tạo phát triển nhân lực.
a) Nhu cầu vốn, kinh phí phát triển nhân lực:
Tổng nhu cầu vốn cho phát triển nhân lực (bao gồm vốn đầu tư phát triển và kinh phí đào tạo) của giai đọan 2011 - 2020 khoảng 11.897 tỷ đồng, trong đó thời kỳ 2011 - 2015 khoảng 4.911,5 tỷ đồng (bình quân 982,3 tỷ đồng/năm); thời kỳ 2016 – 2020 khoảng 6.985,5 tỷ đồng (bình quân 1.397,1 tỷ đồng/năm).
- Nhu cầu vốn đầu tư phát triển hệ thống đào tạo và dạy nghề (tỉnh quản lý) giai đoạn 2011 - 2020 khoảng 9.130 tỷ đồng, trong đó thời kỳ (2011 - 2015) khoảng 3.750 tỷ đồng (bình quân 946 tỷ đồng/năm); thời kỳ (2016 - 2020) khoảng 5.380 tỷ đồng (bình quân 1.076 tỷ đồng/năm).
- Nhu cầu kinh phí chi cho các hoạt động đào tạo, dạy nghề giai đoạn 2011 - 2020 khoảng 2.767 tỷ đồng, trong đó thời kỳ (2011 - 2015) khoảng 1.161,5 tỷ đồng (bình quân 232,3 tỷ đồng/năm); thời kỳ 2016 - 2020) khoảng 1.605,5 tỷ đồng (bình quân 321,1 tỷ đồng/năm).
b) Huy đồng các nguồn vốn đảm bảo cho phát triển nhân lực:
- Tăng mức đầu tư từ các nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho các cơ sở đào tạo và dạy nghề do tỉnh quản lý, ưu tiên bố trí vốn cho các cơ sở đào tạo, cơ sở dạy nghề trọng điểm; các cơ sở đào tạo được quy hoạch được nâng cấp từ cao đẳng lên đại học và từ trung cấp lên cao đẳng và từ trung tâm dạy nghề lên trường trung cấp nghề. Hàng năm, dành một phần vốn ngân sách để thực hiện chính sách khuyến khích phát triển cơ sở xã hội hóa, hỗ trợ đầu tư các cơ sở đào tạo, dạy nghề ngoài công lập theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.
- Xây dựng kế hoạch dự toán ngân sách nhà nước theo hướng tập trung cho các nhóm ngành nghề đào tạo, dạy nghề ưu tiên, thực hiện bình đẳng giữa các cơ sở đào tạo, chú trọng các hoạt động đào tạo, dạy nghề trên địa bàn miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và đối tượng là người dân tộc thiểu số, hộ nghèo, hộ gia đình chính sách…
- Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động trong giáo dục đào tạo, dạy nghề để huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực. Tạo mối quan hệ tương hỗ và chia sẻ kinh phí đào tạo giữa nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và người lao động.
4. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực.
4.1. Xây dựng, ban hành cơ chế chính sách khuyến khích phát triển nhân lực:
a) Chính sách đầu tư và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, có mức ưu đãi cao trong khung pháp lý chung của nhà nước, chú trọng các hình thức đầu tư mới gắn quyền lợi với trách nhiệm của nhà đầu tư và thu hút nhiều lao động.
b) Chính sách tài chính, sử dụng ngân sách cho phát triển nhân lực: Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước, huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển nhân lực; đổi mới cơ chế quản lý tài chính. Ngân sách nhà nước là nguồn tài chính chủ yếu của giáo dục, đào tạo. Nhà nước ưu tiên đầu tư cho phát triển nhân lực trong tương quan với các ngành khác.
c) Chính sách việc làm, bảo hiển, bảo trợ xã hội: Để đảm bảo an sinh xã hội, Nhà nước có chính sách hỗ trợ tạo việc làm, hỗ trợ đối tượng nghèo khi tham gia các loại hình bảo hiểm, đây là hình thức thiết thực để hỗ trợ những người lao động thuộc đối tượng yếu thế trong xã hội.

Content:
Hợp tác quốc tế về đào tạo và xuất khẩu lao động.
Cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài. Mời chuyên gia, giảng viên nước ngoài tham gia đào tạo ở trong nước. Thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài (ODA, FDI…) xây dựng cơ sở đào tạo ở Phú Thọ; tranh thủ các nguồn vốn từ nước ngoài để nâng cao năng lực các trường nghề hiện có đảm bảo chất lượng đào tạo. Đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu lao động và cung cấp nhân lực chất lượng cao cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh và các khu chế xuất, khu công nghệ cao của Hà Nội và các tỉnh lân cận.
III - GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Đổi mới và nâng cao nhận thức về vai trò của phát triển nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Các cấp chính quyền từ tỉnh đến cơ sở, nhất là người đứng đầu phải thường xuyên quan tâm chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển nguồn nhân lực; xác định phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nhiệm vụ mang tính chiến lược đảm bảo cho kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững.
Các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân phát huy tính chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động cán bộ, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực; tạo sự chuyển biến trong nhận thức, hành động, phát huy vai trò, trách nhiệm đối với phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh.
2. Phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo của hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề
a) Phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề:
- Tiếp tục đẩy mạnh phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề: Tổ chức hợp lý hệ thống các bậc học giáo dục và đào tạo từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và đào tạo chuyên nghiệp dạy nghề. Điều chỉnh quy hoạch, sắp xếp và phát triển hợp lý các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, các cơ sở dạy nghề.
- Xây dựng kế hoạch đào tạo theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cho từng giai đoạn của tỉnh, huyện và của mỗi cơ sở đào tạo và dạy nghề. Thực hiện liên thông trong giáo dục phổ thông với đào tạo nghề. Đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại, phù hợp với điều kiện của tỉnh.
- Xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp; đảm bảo chế độ chính sách cho đội ngũ giáo viên và người học học theo quy định của Nhà nước.
- Thường xuyên đánh giá chất lượng đào tạo, dạy nghề bằng hệ thống tiêu chí quốc gia.
b) Nâng cao thể lực và tầm vóc của nhân lực:
- Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, đặc biệt là người lao động; cần làm tốt công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe ban đầu, nâng cao thể lực toàn dân, thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em, chăm sóc sức khỏe học đường cho học sinh.
- Hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của các Trung tâm y tế dự phòng, các bệnh viện đa khoa tuyến huyện; thành lập Trung tâm y tế hoặc bệnh xá, phòng khám đa khoa tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
- Chú trọng công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, quan tâm cải thiện điều kiện làm việc, vui chơi giải trí, đi đôi với bảo đảm đầy đủ các chế độ cho người lao động theo quy định của Nhà nước.
- Thường xuyên cải thiện điều kiện lao động. Nâng cao chất lượng các phong trào rèo luyện thân thể, tập thể dục, nâng cao thể lực… xây dựng đời sống lành mạnh trong nhân dân, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong lối sống xã hội.
Đào tạo, nâng cao trình độ, kiến thức và kỹ năng lao động:
Xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực 5 năm và hàng năm phải đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, lao động được đào tạo với ngành nghề phù hợp, có kỹ năng đáp ứng yêu cầu thực tế. Thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng tại chỗ để theo kịp sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ mới và phù hợp với đường lối, chính sách, luật pháp về phát triển kinh tế - xã hội, phát triển doanh nghiệp của Đảng của Nhà nước.
Nâng cao nhận thức của nhân lực về ý thức, tác phong, kỷ luật trong lao động nhằm hạn chế, đẩy lùi các mặt yếu, tồn tại của đội ngũ nhân lực hiện nay. Tổ chức công đoàn và các đoàn thể chính trị, các cơ quan quản lý lao động cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để người lao động có nhận thức đầy đủ về sự phối hợp tập thể, kỷ luật của doanh nghiệp, tính hợp lý, khoa học của quy trình lao động, sản xuất và những yêu cầu của người sử dụng lao động, của doanh nghiệp mà người lao động phải đáp ứng.
3. Tập trung huy động các nguồn lực đầu tư cho đào tạo phát triển nhân lực.
a) Nhu cầu vốn, kinh phí phát triển nhân lực:
Tổng nhu cầu vốn cho phát triển nhân lực (bao gồm vốn đầu tư phát triển và kinh phí đào tạo) của giai đọan 2011 - 2020 khoảng 11.897 tỷ đồng, trong đó thời kỳ 2011 - 2015 khoảng 4.911,5 tỷ đồng (bình quân 982,3 tỷ đồng/năm); thời kỳ 2016 – 2020 khoảng 6.985,5 tỷ đồng (bình quân 1.397,1 tỷ đồng/năm).
- Nhu cầu vốn đầu tư phát triển hệ thống đào tạo và dạy nghề (tỉnh quản lý) giai đoạn 2011 - 2020 khoảng 9.130 tỷ đồng, trong đó thời kỳ (2011 - 2015) khoảng 3.750 tỷ đồng (bình quân 946 tỷ đồng/năm); thời kỳ (2016 - 2020) khoảng 5.380 tỷ đồng (bình quân 1.076 tỷ đồng/năm).
- Nhu cầu kinh phí chi cho các hoạt động đào tạo, dạy nghề giai đoạn 2011 - 2020 khoảng 2.767 tỷ đồng, trong đó thời kỳ (2011 - 2015) khoảng 1.161,5 tỷ đồng (bình quân 232,3 tỷ đồng/năm); thời kỳ 2016 - 2020) khoảng 1.605,5 tỷ đồng (bình quân 321,1 tỷ đồng/năm).
b) Huy đồng các nguồn vốn đảm bảo cho phát triển nhân lực:
- Tăng mức đầu tư từ các nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho các cơ sở đào tạo và dạy nghề do tỉnh quản lý, ưu tiên bố trí vốn cho các cơ sở đào tạo, cơ sở dạy nghề trọng điểm; các cơ sở đào tạo được quy hoạch được nâng cấp từ cao đẳng lên đại học và từ trung cấp lên cao đẳng và từ trung tâm dạy nghề lên trường trung cấp nghề. Hàng năm, dành một phần vốn ngân sách để thực hiện chính sách khuyến khích phát triển cơ sở xã hội hóa, hỗ trợ đầu tư các cơ sở đào tạo, dạy nghề ngoài công lập theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.
- Xây dựng kế hoạch dự toán ngân sách nhà nước theo hướng tập trung cho các nhóm ngành nghề đào tạo, dạy nghề ưu tiên, thực hiện bình đẳng giữa các cơ sở đào tạo, chú trọng các hoạt động đào tạo, dạy nghề trên địa bàn miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và đối tượng là người dân tộc thiểu số, hộ nghèo, hộ gia đình chính sách…
- Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động trong giáo dục đào tạo, dạy nghề để huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực. Tạo mối quan hệ tương hỗ và chia sẻ kinh phí đào tạo giữa nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và người lao động.
4. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực.
4.1. Xây dựng, ban hành cơ chế chính sách khuyến khích phát triển nhân lực:
a) Chính sách đầu tư và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, có mức ưu đãi cao trong khung pháp lý chung của nhà nước, chú trọng các hình thức đầu tư mới gắn quyền lợi với trách nhiệm của nhà đầu tư và thu hút nhiều lao động.
b) Chính sách tài chính, sử dụng ngân sách cho phát triển nhân lực: Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước, huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển nhân lực; đổi mới cơ chế quản lý tài chính. Ngân sách nhà nước là nguồn tài chính chủ yếu của giáo dục, đào tạo. Nhà nước ưu tiên đầu tư cho phát triển nhân lực trong tương quan với các ngành khác.
Chính sách việc làm, bảo hiển, bảo trợ xã hội: Để đảm bảo an sinh xã hội, Nhà nước có chính sách hỗ trợ tạo việc làm, hỗ trợ đối tượng nghèo khi tham gia các loại hình bảo hiểm, đây là hình thức thiết thực để hỗ trợ những người lao động thuộc đối tượng yếu thế trong xã hội.