Document: Khoản 13 Điều 1 Quyết định 1988/QĐ-UBND 2018 phê duyệt Quy hoạch phát triển y tế Cần Thơ 2020 2030

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "08/08/2018", "sign_number": "1988/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Tâm", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "08/08/2018", "sign_number": "1988/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Tâm", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "08/08/2018", "sign_number": "1988/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Tâm", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "08/08/2018", "sign_number": "1988/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Tâm", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "08/08/2018", "sign_number": "1988/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Tâm", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 13 Điều 1 Quyết định 1988/QĐ-UBND 2018 phê duyệt Quy hoạch phát triển y tế Cần Thơ 2020 2030

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển y tế thành phố Cần Thơ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, với những nội dung chủ yếu như sau:
...
13. Về tài chính y tế
a) Tăng tỷ trọng các nguồn tài chính công cho y tế
- Thực hiện các chính sách ưu đãi thu hút về tiền lương và phụ cấp đặc thù đối với nhân viên y tế làm việc trong các lĩnh vực khó khăn (y tế dự phòng, các chuyên khoa đặc thù…). Bảo đảm mức chi thường xuyên của Trạm y tế đạt mức tối thiểu 25 triệu đồng/năm vào năm 2020, 30 triệu đồng/năm vào năm 2025. Thực hiện lộ trình tự chủ tài chính về chi thường xuyên tại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Y tế, cụ thể: đến năm 2020 là 12 đơn vị, đến năm 2025 là 18 đơn vị (tăng thêm 06 đơn vị), đến năm 2030 là 22 đơn vị (tăng thêm 04 đơn vị). Giai đoạn 2026 - 2030, đơn vị tự chủ tài chính đảm bảo chi thường xuyên 09 đơn vị.
- Đơn vị tự chủ tài chính tự đảm bảo một phần về chi thường xuyên đến năm 2030 gồm: Bệnh viện Lao và Bệnh phổi, Bệnh viện Tâm thần, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (từ năm 2018, gồm: Trung tâm Y tế dự phòng thành phố và Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe; năm 2019: Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản; năm 2020: Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS và Trung tâm Bảo vệ sức khỏe lao động và Môi trường), năm 2022: Trung tâm Pháp y.
- Tiếp tục tăng chi từ ngân sách nhà nước cho y tế theo quy định tại Nghị quyết 18-NQ/QH, trong đó ưu tiên chi cho y tế dự phòng đạt tối thiểu 30% trong tổng chi cho y tế. Tăng cường cam kết chính trị và huy động sự tham gia của các ngành, các đoàn thể tổ chức xã hội và cộng đồng trong duy trì Bảo hiểm y tế toàn dân. Tuân thủ thực hiện đầy đủ các chính sách hỗ trợ tài chính cho người nghèo, cận nghèo, trẻ em <6 tuổi, người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách xã hội, góp phần đảm bảo công bằng trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tăng cường vận động, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn viện trợ quốc tế.
b) Nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn tài chính y tế: thử nghiệm và ứng dụng phương thức phân bổ ngân sách nhà nước cho các cơ sở y tế trên địa bàn theo chỉ tiêu kết quả và hiệu quả hoạt động đối với cả lĩnh vực dự phòng và khám chữa bệnh. Đảm bảo tỷ lệ đầu tư cân đối, hài hòa giữa các yếu tố cấu thành nên dịch vụ y tế: 10% - 15% đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực; 35% - 40% đầu tư cho nâng cấp về trang thiết bị y tế; số còn lại đầu tư cho nâng cấp về cơ sở vật chất…Củng cố hệ thống báo cáo và phân tích số liệu quyết toán ngân sách nhà nước chi cho y tế để có bằng chứng chính xác cho việc lập kế hoạch tài chính y tế hàng năm. Thiết lập và vận hành hệ thống báo cáo về chi tiêu ngân sách nhà nước cho y tế theo ngành dọc trên địa bàn, thiết lập và duy trì thường xuyên cơ chế giám sát tính hiệu quả, công bằng trong phân bổ sử dụng nguồn ngân sách cho y tế.
c) Tăng cường kiểm soát chi phí y tế: thực hiện các biện pháp tăng cường kiểm soát chi phí y tế, đặc biệt là chi phí cho dịch vụ bệnh viện, giảm thiểu tình trạng lạm dụng dịch vụ y tế nhất là các dịch vụ kỹ thuật cao, dịch vụ được đầu tư từ nguồn xã hội hóa. Ban hành và thực hiện các quy định về minh bạch hóa và chuẩn hóa việc xác định chi phí và giá thành dịch vụ y tế tại từng tuyến, từng hạng đơn vị. Tính chi phí cho dịch vụ khám chữa bệnh, y tế dự phòng để có cơ sở tính chi phí hiệu quả và ước tính nguồn lực cần thiết làm cơ sở cho phân bổ ngân sách y tế hàng năm. Tăng cường kiểm tra giám sát, đánh giá việc thực hiện các dự án đầu tư nhất là các dự án có sự tham gia góp vốn của tư nhân trong các cơ sở y tế công lập để điều chỉnh các biện pháp quản lý cho phù hợp…

Content:
Về tài chính y tế
a) Tăng tỷ trọng các nguồn tài chính công cho y tế
- Thực hiện các chính sách ưu đãi thu hút về tiền lương và phụ cấp đặc thù đối với nhân viên y tế làm việc trong các lĩnh vực khó khăn (y tế dự phòng, các chuyên khoa đặc thù…). Bảo đảm mức chi thường xuyên của Trạm y tế đạt mức tối thiểu 25 triệu đồng/năm vào năm 2020, 30 triệu đồng/năm vào năm 2025. Thực hiện lộ trình tự chủ tài chính về chi thường xuyên tại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Y tế, cụ thể: đến năm 2020 là 12 đơn vị, đến năm 2025 là 18 đơn vị (tăng thêm 06 đơn vị), đến năm 2030 là 22 đơn vị (tăng thêm 04 đơn vị). Giai đoạn 2026 - 2030, đơn vị tự chủ tài chính đảm bảo chi thường xuyên 09 đơn vị.
- Đơn vị tự chủ tài chính tự đảm bảo một phần về chi thường xuyên đến năm 2030 gồm: Bệnh viện Lao và Bệnh phổi, Bệnh viện Tâm thần, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (từ năm 2018, gồm: Trung tâm Y tế dự phòng thành phố và Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe; năm 2019: Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản; năm 2020: Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS và Trung tâm Bảo vệ sức khỏe lao động và Môi trường), năm 2022: Trung tâm Pháp y.
- Tiếp tục tăng chi từ ngân sách nhà nước cho y tế theo quy định tại Nghị quyết 18-NQ/QH, trong đó ưu tiên chi cho y tế dự phòng đạt tối thiểu 30% trong tổng chi cho y tế. Tăng cường cam kết chính trị và huy động sự tham gia của các ngành, các đoàn thể tổ chức xã hội và cộng đồng trong duy trì Bảo hiểm y tế toàn dân. Tuân thủ thực hiện đầy đủ các chính sách hỗ trợ tài chính cho người nghèo, cận nghèo, trẻ em <6 tuổi, người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách xã hội, góp phần đảm bảo công bằng trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tăng cường vận động, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn viện trợ quốc tế.
b) Nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn tài chính y tế: thử nghiệm và ứng dụng phương thức phân bổ ngân sách nhà nước cho các cơ sở y tế trên địa bàn theo chỉ tiêu kết quả và hiệu quả hoạt động đối với cả lĩnh vực dự phòng và khám chữa bệnh. Đảm bảo tỷ lệ đầu tư cân đối, hài hòa giữa các yếu tố cấu thành nên dịch vụ y tế: 10% - 15% đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực; 35% - 40% đầu tư cho nâng cấp về trang thiết bị y tế; số còn lại đầu tư cho nâng cấp về cơ sở vật chất…Củng cố hệ thống báo cáo và phân tích số liệu quyết toán ngân sách nhà nước chi cho y tế để có bằng chứng chính xác cho việc lập kế hoạch tài chính y tế hàng năm. Thiết lập và vận hành hệ thống báo cáo về chi tiêu ngân sách nhà nước cho y tế theo ngành dọc trên địa bàn, thiết lập và duy trì thường xuyên cơ chế giám sát tính hiệu quả, công bằng trong phân bổ sử dụng nguồn ngân sách cho y tế.
c) Tăng cường kiểm soát chi phí y tế: thực hiện các biện pháp tăng cường kiểm soát chi phí y tế, đặc biệt là chi phí cho dịch vụ bệnh viện, giảm thiểu tình trạng lạm dụng dịch vụ y tế nhất là các dịch vụ kỹ thuật cao, dịch vụ được đầu tư từ nguồn xã hội hóa. Ban hành và thực hiện các quy định về minh bạch hóa và chuẩn hóa việc xác định chi phí và giá thành dịch vụ y tế tại từng tuyến, từng hạng đơn vị. Tính chi phí cho dịch vụ khám chữa bệnh, y tế dự phòng để có cơ sở tính chi phí hiệu quả và ước tính nguồn lực cần thiết làm cơ sở cho phân bổ ngân sách y tế hàng năm. Tăng cường kiểm tra giám sát, đánh giá việc thực hiện các dự án đầu tư nhất là các dự án có sự tham gia góp vốn của tư nhân trong các cơ sở y tế công lập để điều chỉnh các biện pháp quản lý cho phù hợp…