Document: Khoản 11 Điều 1 Quyết định 3023/2006/QĐ-UBND quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị Thanh Hoá

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "24/10/2006", "sign_number": "3023/2006/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Lợi", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "24/10/2006", "sign_number": "3023/2006/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Lợi", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "24/10/2006", "sign_number": "3023/2006/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Lợi", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "24/10/2006", "sign_number": "3023/2006/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Lợi", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "24/10/2006", "sign_number": "3023/2006/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Lợi", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 11 Điều 1 Quyết định 3023/2006/QĐ-UBND quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị Thanh Hoá

Điều 1. Phê duyệt Đề án rà soát, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị tỉnh Thanh Hoá đến năm 2020, với các nội dung chủ yếu sau đây:
...
11. Các chương trình và dự án ưu tiên đầu tư.
11.1. Chương trình phát triển kinh tế đô thị.
Các ngành trong tỉnh và chính quyền đô thị phải coi đây là nhiệm vụ trọng tâm để tìm biện pháp xây dựng và phát triển kinh tế của từng đô thị.
Hướng phát triển chính của kinh tế thuộc 5 cụm đô thị động lực là tập trung đầu tư xây dựng công nghiệp có qui mô lớn, kĩ nghệ cao, có tác động mạnh đến phát triển kinh tế của tỉnh và cả nước. Chú trọng sản xuất hàng xuất khẩu, phát triển mạnh dịch vụ - du lịch và thương mại.
Đối với các đô thị khác chủ yếu phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản, vật liệu xây dựng, phát triển công nghiệp nhẹ, TTCN từ nguồn vật liệu của địa phương để sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu. Phát triển dịch vụ - thương mại - du lịch, chú trọng đến nông thôn và tạo điều kiện cho nông nghiệp nông thôn phát triển.
11.2. Chương trình phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị một cách đồng bộ.
- Khẩn trương cải tạo nâng cấp các hệ thống giao thông trong tỉnh để tạo ra mối quan hệ giao lưu giữa các đô thị thuận lợi, rút ngắn khoảng cách giữa các đô thị bao gồm cả đường bộ, đường thuỷ và đường biển;
- Cải tạo nâng cấp các tuyến đường nội thị, xây dựng các tuyến đường mới theo qui hoạch để tạo sự phát triển cho đô thị;
- Năm 2000 tất cả các đô thị trong tỉnh đều đã có điện lưới quốc gia. Phấn đấu các đô thị mới khi đề nghị được công nhận xếp loại đều có điện lưới quốc gia;
- Hiện đại hoá nhanh chóng mạng thông tin liên lạc từ các đô thị đến các nơi trong nước và quốc tế, tăng bình quân máy điện thoại theo đầu người đến 2020 bình quân 50 máy/100 dân đô thị.
- Đến năm 2015 tất cả các đô thị đều có nước sạch, 100% dân số đô thị được dùng nước sạch;
- Đảm bảo môi trường đô thị trong lành, không bị ô nhiễm.
11.3. Xây dựng chương trình Phát triển nhà ở và công trình hạ tầng xã hội.
Khẩn trương xây dựng chương trình Phát triển nhà ở và công trình hạ tầng xã hội cho từng đô thị trong tỉnh và xác lập cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp.
11.4. Cải tạo, chỉnh trang, nâng cấp, mở rộng các đô thị hiện có.
Các đô thị hiện có cần triển khai những mặt công tác sau:
- Điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng, xác định tiềm năng, lợi thế, động lực phát triển;
- Lập quy hoạch xây dựng cho 15-20 năm tới, xác định dự án ưu tiên đầu tư;
- Xác lập cơ chế chính sách, giải pháp tổ chức triển khai thực hiện, kế hoạch đầu tư xây dựng dài hạn, 5 năm và hàng năm;
- Phân công trách nhiệm, phân cấp quản lý, có qui chế quản lý, giám sát từng đô thị.
11.5. Thành lập các đô thị mới trên cơ sở đổi tên và chức năng của các xã.
Hiện nay trong tỉnh có những xã hoạt động kinh tế, sản xuất phi nông nghiệp là chính, theo qui định của Nghị định 72/2001/NĐ-CP về Phân loại và cấp quản lí đô thị thì dân số phi nông nghiệp chính là thành phần dân đô thị. Như vậy các xã: Nga Liên (Nga Sơn), Ngư Lộc (Hậu Lộc), Quãng Tiến (Sầm Sơn), Nghi Sơn, Hải Bình, Hải Thanh, Hải Ninh (Tĩnh Gia), Đông Hương, Quãng Hưng (T.P Thanh Hoá)… v. v. đã có điều kiện cơ bản thuận lợi để phát triển thành đô thị; Cần tiến hành lập quy hoạch xây dựng, tích cực đầu tư phát triển để trở thành đô thị, khi đủ tiêu chí sẽ lập hồ sơ công nhận đô thị.
11.6. Xây dựng chương trình quản lý đô thị bao gồm.
- Nghiên cứu lập quy hoạch chung, qui hoạch chi tiết tất cả các đô thị trình cấp có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ quản lý và chỉ đạo xây dựng;
- Xử lý các tồn đọng và vi phạm, lập lại trật tự kỷ cương trong xây dựng và quản lý đô thị;
- Xác định rõ chức năng nhiệm vụ của chính quyền đô thị và các ngành trong việc xây dựng, quản lý đô thị, xây dựng cơ chế chính sách phát triển đô thị;
- Đẩy mạnh công tác quản lí đô thị, tích cực chuẩn bị điều kiện về qui hoạch phát triển đô thị mới như lập qui hoạch xây dựng, lập hồ sơ thủ tục nâng cấp và chuyển loại đô thị để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Phấn đấu trong giai đoạn 2005-2010 toàn tỉnh công nhận thêm 15 đô thị mới (loại V) và giai đoạn 2010 – 2020 có thêm 15-20 đô thị mới, đồng thời chuyển lên loại I được 01 đô thị, lên loại II được 02 đô thị, lên loại III được 03 đô thị. Đến 2020 số đô thị loại IV,V toàn tỉnh có từ 60- 65 đô thị;
- Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý đô thị có trình độ chuyên môn phù hợp để thực thi nhiệm vụ.

Content:
Các chương trình và dự án ưu tiên đầu tư.
11.1. Chương trình phát triển kinh tế đô thị.
Các ngành trong tỉnh và chính quyền đô thị phải coi đây là nhiệm vụ trọng tâm để tìm biện pháp xây dựng và phát triển kinh tế của từng đô thị.
Hướng phát triển chính của kinh tế thuộc 5 cụm đô thị động lực là tập trung đầu tư xây dựng công nghiệp có qui mô lớn, kĩ nghệ cao, có tác động mạnh đến phát triển kinh tế của tỉnh và cả nước. Chú trọng sản xuất hàng xuất khẩu, phát triển mạnh dịch vụ - du lịch và thương mại.
Đối với các đô thị khác chủ yếu phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản, vật liệu xây dựng, phát triển công nghiệp nhẹ, TTCN từ nguồn vật liệu của địa phương để sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu. Phát triển dịch vụ - thương mại - du lịch, chú trọng đến nông thôn và tạo điều kiện cho nông nghiệp nông thôn phát triển.
11.2. Chương trình phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị một cách đồng bộ.
- Khẩn trương cải tạo nâng cấp các hệ thống giao thông trong tỉnh để tạo ra mối quan hệ giao lưu giữa các đô thị thuận lợi, rút ngắn khoảng cách giữa các đô thị bao gồm cả đường bộ, đường thuỷ và đường biển;
- Cải tạo nâng cấp các tuyến đường nội thị, xây dựng các tuyến đường mới theo qui hoạch để tạo sự phát triển cho đô thị;
- Năm 2000 tất cả các đô thị trong tỉnh đều đã có điện lưới quốc gia. Phấn đấu các đô thị mới khi đề nghị được công nhận xếp loại đều có điện lưới quốc gia;
- Hiện đại hoá nhanh chóng mạng thông tin liên lạc từ các đô thị đến các nơi trong nước và quốc tế, tăng bình quân máy điện thoại theo đầu người đến 2020 bình quân 50 máy/100 dân đô thị.
- Đến năm 2015 tất cả các đô thị đều có nước sạch, 100% dân số đô thị được dùng nước sạch;
- Đảm bảo môi trường đô thị trong lành, không bị ô nhiễm.
11.3. Xây dựng chương trình Phát triển nhà ở và công trình hạ tầng xã hội.
Khẩn trương xây dựng chương trình Phát triển nhà ở và công trình hạ tầng xã hội cho từng đô thị trong tỉnh và xác lập cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp.
11.4. Cải tạo, chỉnh trang, nâng cấp, mở rộng các đô thị hiện có.
Các đô thị hiện có cần triển khai những mặt công tác sau:
- Điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng, xác định tiềm năng, lợi thế, động lực phát triển;
- Lập quy hoạch xây dựng cho 15-20 năm tới, xác định dự án ưu tiên đầu tư;
- Xác lập cơ chế chính sách, giải pháp tổ chức triển khai thực hiện, kế hoạch đầu tư xây dựng dài hạn, 5 năm và hàng năm;
- Phân công trách nhiệm, phân cấp quản lý, có qui chế quản lý, giám sát từng đô thị.
11.5. Thành lập các đô thị mới trên cơ sở đổi tên và chức năng của các xã.
Hiện nay trong tỉnh có những xã hoạt động kinh tế, sản xuất phi nông nghiệp là chính, theo qui định của Nghị định 72/2001/NĐ-CP về Phân loại và cấp quản lí đô thị thì dân số phi nông nghiệp chính là thành phần dân đô thị. Như vậy các xã: Nga Liên (Nga Sơn), Ngư Lộc (Hậu Lộc), Quãng Tiến (Sầm Sơn), Nghi Sơn, Hải Bình, Hải Thanh, Hải Ninh (Tĩnh Gia), Đông Hương, Quãng Hưng (T.P Thanh Hoá)… v. v. đã có điều kiện cơ bản thuận lợi để phát triển thành đô thị; Cần tiến hành lập quy hoạch xây dựng, tích cực đầu tư phát triển để trở thành đô thị, khi đủ tiêu chí sẽ lập hồ sơ công nhận đô thị.
11.6. Xây dựng chương trình quản lý đô thị bao gồm.
- Nghiên cứu lập quy hoạch chung, qui hoạch chi tiết tất cả các đô thị trình cấp có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ quản lý và chỉ đạo xây dựng;
- Xử lý các tồn đọng và vi phạm, lập lại trật tự kỷ cương trong xây dựng và quản lý đô thị;
- Xác định rõ chức năng nhiệm vụ của chính quyền đô thị và các ngành trong việc xây dựng, quản lý đô thị, xây dựng cơ chế chính sách phát triển đô thị;
- Đẩy mạnh công tác quản lí đô thị, tích cực chuẩn bị điều kiện về qui hoạch phát triển đô thị mới như lập qui hoạch xây dựng, lập hồ sơ thủ tục nâng cấp và chuyển loại đô thị để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Phấn đấu trong giai đoạn 2005-2010 toàn tỉnh công nhận thêm 15 đô thị mới (loại V) và giai đoạn 2010 – 2020 có thêm 15-20 đô thị mới, đồng thời chuyển lên loại I được 01 đô thị, lên loại II được 02 đô thị, lên loại III được 03 đô thị. Đến 2020 số đô thị loại IV,V toàn tỉnh có từ 60- 65 đô thị;
- Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý đô thị có trình độ chuyên môn phù hợp để thực thi nhiệm vụ.