Document: Điều 3 Quyết định 4444/2009/QĐ-UBND kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Phú Thọ 2010

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "16/12/2009", "sign_number": "4444/2009/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Doãn Khánh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "16/12/2009", "sign_number": "4444/2009/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Doãn Khánh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "16/12/2009", "sign_number": "4444/2009/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Doãn Khánh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "16/12/2009", "sign_number": "4444/2009/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Doãn Khánh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "16/12/2009", "sign_number": "4444/2009/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Doãn Khánh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 3 Quyết định 4444/2009/QĐ-UBND kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Phú Thọ 2010 có nội dung như sau:

Điều 3. Nguyên tắc bố trí vốn đầu tư và quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng.
1. Về nguyên tắc, bố trí vốn:
a) Đối với vốn đầu tư XDCB tập trung: (i) ưu tiên bố trí vốn đối ứng cho các dự án ODA và các dự án của bộ, ngành theo cam kết; (ii) bố trí trả nợ các khoản vay đến hạn; (iii) bố trí trả nợ khối lượng XDCB hoàn thành, công trình chuyển tiếp có khả năng hoàn thành trong năm 2010, đảm bảo mức vốn bố trí cho giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ; (iv) hỗ trợ các dự án trọng điểm và quỹ hỗ trợ đầu tư; (v) bố trí cho công tác quy hoạch, chuẩn bị đầu tư. Riêng đối với các dự án đầu tư mới, chỉ bố trí các dự án ưu tiên, cấp bách và có đủ thủ tục đầu tư.
Đối với nguồn vốn đầu tư từ thu tiền sử dụng đất: Phần vốn thuộc ngân sách tỉnh ưu tiên hỗ trợ các dự án trọng điểm và lập quỹ hỗ trợ đầu tư theo Nghị định 69 của Chính phủ. Phần vốn thuộc ngân sách huyện xã phải đảm bảo theo định hướng của tỉnh, trong đó: ưu tiên bố trí thanh toán cho các công trình, dự án hoàn thành, các công trình trọng điểm do huyện được giao làm chủ đầu tư; đối ứng vốn các dự án ODA và bố trí đủ nguồn cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo.
b) Đối với vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương: Thực hiện theo các mục tiêu, nhiệm vụ được giao, đảm bảo đúng cơ cấu danh mục, mức vốn theo hướng dẫn của các Bộ, ngành Trung ương.
c) Đối với vốn chương trình mục tiêu và các chương trình dự án khác: Các chương trình, dự án có vốn đầu tư phát triển và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư phát triển: Việc quản lý, điều hành và phân bổ vốn phải đảm bảo theo đúng mục tiêu, nhiệm vụ chương trình theo hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương và đảm bảo nguyên tắc bố trí vốn tập trung, ưu tiên bố trí các dự án trọng điểm phải hoàn thành trong năm 2010. Hạn chế khởi công mới, chỉ bố trí xây dựng mới những công trình cấp thiết, phù hợp với hướng dẫn của bộ, ngành chủ quản chương trình.
Đối với chương trình 135: Tiếp tục thực hiện cho 43 xã và 190 thôn, bản ĐBKK theo Quyết định 164/QĐ-TTg ngày 1/7/2006; Quyết định 113/2007/QĐ- TTg ngày 20/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ và hỗ trợ thôn bản, các xã vùng CT229. Việc phân bổ vốn phản thực hiện theo Quyết định 101/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định 1278/2008/QĐ-UBND ngày 13/5/2008 của ủy ban nhân dân tỉnh.
Đối với chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng: Rà soát mục tiêu nhiệm vụ trồng rừng năm 2009 và khả năng thực hiện năm 2010 để bố trí vốn cho từng chương trình, dự án. Việc bố trí vốn thực hiện theo Quyết định 100/QĐ-TTg ngày 06/7/2007 của Quyết định 147/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
d) Đối với vốn tín dụng, vốn vay: Tiếp tục triển khai Chương trình đầu tư từ nguồn vốn vay lãi suất thấp theo Nghị quyết của HĐND tỉnh để đầu tư một số dự án trọng điểm trên cơ sở tính toán hiệu quả và phù hợp với khả năng thu hồi vốn của dự án. Giao Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định.
2. Về quản lý, điều hành vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước:
Việc quản lý, điều hành vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. Căn cứ mức vốn được thông báo, các sở, ban, ngành, UBND huyện, thành, thị phối hợp Kho bạc Nhà nước đôn đốc các chủ đầu tư hoàn tất thủ tục, gửi hồ sơ thanh toán vốn đầu tư, kịp thời giải ngân theo tiến độ.
Các công trình, dự án được đầu tư từ ngân sách Nhà nước năm 2010 phải giải ngân thanh toán hết mức vốn được giao. Trường hợp cần thiết sẽ thực hiện việc điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư, chuyển vốn và chủ đầu tư từ các dự án không có khả năng thực hiện sang các dự án và chủ đầu tư khác. Đối với các dự án do ngành, địa phương là chủ đầu tư, khi điều chỉnh vốn phải có kế hoạch điều chỉnh, báo cáo UBND tỉnh qua sở Kế hoạch và Đầu tư trình UBND tỉnh quyết định.
Trước khi gửi kế hoạch điều chỉnh vốn đầu tư từng dự án, các cấp, các chủ đầu tư làm việc với Kho bạc nhà nước để xác định số vốn thuộc năm kế hoạch đã thanh toán, số vốn còn thừa do không thực hiện được của dự án, đảm bảo cho kế hoạch của dự án sau khi điều chỉnh không thấp hơn số vốn Kho bạc nhà nước đã thanh toán.
Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước theo dõi tình hình huy động, phân bổ, thanh toán các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước; thông báo danh mục, mức vốn các dự án chương trình 229 và báo cáo UBND tỉnh theo định kỳ quý, 6 tháng, năm.
3. Quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Luật Đầu tư. Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật số 38 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản; Nghị định 83/2009/NĐ-CP, Nghị định 85/2009/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng, về đấu thầu.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư; công tác chuẩn bị đầu tư, chấn chỉnh công tác lập dự án, thiết kế kỹ thuật, dự toán công trình đảm bảo theo đúng quy định, đảm bảo có đủ hồ sơ thủ tục trước khi khởi công xây dựng công trình. Kiên quyết thực hiện điều chuyển vốn, chủ đầu tư đối với các dự án không đảm bảo các yêu cầu về tiến độ giải ngân, chất lượng công trình, tính hiệu quả thấp.
Tăng cường công tác thẩm tra quyết toán, xác định rõ trách nhiệm của các chủ đầu tư trong việc chậm chễ quyết toán công trình hoàn thành theo chỉ đạo của Chính phủ tại Văn bản số 921/TTg-KTTH ngày 20/6/2008.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, tổ chức thực hiện tốt cơ chế “một cửa liên thông” trên địa bàn. Tăng cường hoạt động thanh tra, công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí. Định kỳ quý, 6 tháng tổ chức giao ban giữa các ngành, các chủ đầu tư để có giải pháp kịp thời đẩy nhanh tiến độ và giải ngân thanh toán vốn đầu tư.

Content:
Điều 3. Nguyên tắc bố trí vốn đầu tư và quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng.
1. Về nguyên tắc, bố trí vốn:
a) Đối với vốn đầu tư XDCB tập trung: (i) ưu tiên bố trí vốn đối ứng cho các dự án ODA và các dự án của bộ, ngành theo cam kết; (ii) bố trí trả nợ các khoản vay đến hạn; (iii) bố trí trả nợ khối lượng XDCB hoàn thành, công trình chuyển tiếp có khả năng hoàn thành trong năm 2010, đảm bảo mức vốn bố trí cho giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ; (iv) hỗ trợ các dự án trọng điểm và quỹ hỗ trợ đầu tư; (v) bố trí cho công tác quy hoạch, chuẩn bị đầu tư. Riêng đối với các dự án đầu tư mới, chỉ bố trí các dự án ưu tiên, cấp bách và có đủ thủ tục đầu tư.
Đối với nguồn vốn đầu tư từ thu tiền sử dụng đất: Phần vốn thuộc ngân sách tỉnh ưu tiên hỗ trợ các dự án trọng điểm và lập quỹ hỗ trợ đầu tư theo Nghị định 69 của Chính phủ. Phần vốn thuộc ngân sách huyện xã phải đảm bảo theo định hướng của tỉnh, trong đó: ưu tiên bố trí thanh toán cho các công trình, dự án hoàn thành, các công trình trọng điểm do huyện được giao làm chủ đầu tư; đối ứng vốn các dự án ODA và bố trí đủ nguồn cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo.
b) Đối với vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương: Thực hiện theo các mục tiêu, nhiệm vụ được giao, đảm bảo đúng cơ cấu danh mục, mức vốn theo hướng dẫn của các Bộ, ngành Trung ương.
c) Đối với vốn chương trình mục tiêu và các chương trình dự án khác: Các chương trình, dự án có vốn đầu tư phát triển và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư phát triển: Việc quản lý, điều hành và phân bổ vốn phải đảm bảo theo đúng mục tiêu, nhiệm vụ chương trình theo hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương và đảm bảo nguyên tắc bố trí vốn tập trung, ưu tiên bố trí các dự án trọng điểm phải hoàn thành trong năm 2010. Hạn chế khởi công mới, chỉ bố trí xây dựng mới những công trình cấp thiết, phù hợp với hướng dẫn của bộ, ngành chủ quản chương trình.
Đối với chương trình 135: Tiếp tục thực hiện cho 43 xã và 190 thôn, bản ĐBKK theo Quyết định 164/QĐ-TTg ngày 1/7/2006; Quyết định 113/2007/QĐ- TTg ngày 20/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ và hỗ trợ thôn bản, các xã vùng CT229. Việc phân bổ vốn phản thực hiện theo Quyết định 101/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định 1278/2008/QĐ-UBND ngày 13/5/2008 của ủy ban nhân dân tỉnh.
Đối với chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng: Rà soát mục tiêu nhiệm vụ trồng rừng năm 2009 và khả năng thực hiện năm 2010 để bố trí vốn cho từng chương trình, dự án. Việc bố trí vốn thực hiện theo Quyết định 100/QĐ-TTg ngày 06/7/2007 của Quyết định 147/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
d) Đối với vốn tín dụng, vốn vay: Tiếp tục triển khai Chương trình đầu tư từ nguồn vốn vay lãi suất thấp theo Nghị quyết của HĐND tỉnh để đầu tư một số dự án trọng điểm trên cơ sở tính toán hiệu quả và phù hợp với khả năng thu hồi vốn của dự án. Giao Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định.
2. Về quản lý, điều hành vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước:
Việc quản lý, điều hành vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. Căn cứ mức vốn được thông báo, các sở, ban, ngành, UBND huyện, thành, thị phối hợp Kho bạc Nhà nước đôn đốc các chủ đầu tư hoàn tất thủ tục, gửi hồ sơ thanh toán vốn đầu tư, kịp thời giải ngân theo tiến độ.
Các công trình, dự án được đầu tư từ ngân sách Nhà nước năm 2010 phải giải ngân thanh toán hết mức vốn được giao. Trường hợp cần thiết sẽ thực hiện việc điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư, chuyển vốn và chủ đầu tư từ các dự án không có khả năng thực hiện sang các dự án và chủ đầu tư khác. Đối với các dự án do ngành, địa phương là chủ đầu tư, khi điều chỉnh vốn phải có kế hoạch điều chỉnh, báo cáo UBND tỉnh qua sở Kế hoạch và Đầu tư trình UBND tỉnh quyết định.
Trước khi gửi kế hoạch điều chỉnh vốn đầu tư từng dự án, các cấp, các chủ đầu tư làm việc với Kho bạc nhà nước để xác định số vốn thuộc năm kế hoạch đã thanh toán, số vốn còn thừa do không thực hiện được của dự án, đảm bảo cho kế hoạch của dự án sau khi điều chỉnh không thấp hơn số vốn Kho bạc nhà nước đã thanh toán.
Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước theo dõi tình hình huy động, phân bổ, thanh toán các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước; thông báo danh mục, mức vốn các dự án chương trình 229 và báo cáo UBND tỉnh theo định kỳ quý, 6 tháng, năm.
3. Quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Luật Đầu tư. Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật số 38 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản; Nghị định 83/2009/NĐ-CP, Nghị định 85/2009/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng, về đấu thầu.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư; công tác chuẩn bị đầu tư, chấn chỉnh công tác lập dự án, thiết kế kỹ thuật, dự toán công trình đảm bảo theo đúng quy định, đảm bảo có đủ hồ sơ thủ tục trước khi khởi công xây dựng công trình. Kiên quyết thực hiện điều chuyển vốn, chủ đầu tư đối với các dự án không đảm bảo các yêu cầu về tiến độ giải ngân, chất lượng công trình, tính hiệu quả thấp.
Tăng cường công tác thẩm tra quyết toán, xác định rõ trách nhiệm của các chủ đầu tư trong việc chậm chễ quyết toán công trình hoàn thành theo chỉ đạo của Chính phủ tại Văn bản số 921/TTg-KTTH ngày 20/6/2008.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, tổ chức thực hiện tốt cơ chế “một cửa liên thông” trên địa bàn. Tăng cường hoạt động thanh tra, công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí. Định kỳ quý, 6 tháng tổ chức giao ban giữa các ngành, các chủ đầu tư để có giải pháp kịp thời đẩy nhanh tiến độ và giải ngân thanh toán vốn đầu tư.