Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2541/2008/QĐ-UBND Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "05/12/2008", "sign_number": "2541/2008/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Thị Tảo", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "05/12/2008", "sign_number": "2541/2008/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Thị Tảo", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "05/12/2008", "sign_number": "2541/2008/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Thị Tảo", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "05/12/2008", "sign_number": "2541/2008/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Thị Tảo", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "05/12/2008", "sign_number": "2541/2008/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Thị Tảo", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2541/2008/QĐ-UBND Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế tỉnh Bắc Kạn giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 với nội dung chủ yếu sau:
...
4. Nội dung phát triển hệ thống y tế tỉnh Bắc Kạn:
4.1. Phát triển mạng lưới y tế dự phòng.
4.1.1. Tuyến tỉnh.
- Từng bước phát triển và nâng cao chất lượng y tế dự phòng theo hướng tập trung cao, tinh giản biên chế, đa chức năng trong một tổ chức thống nhất, đủ sức phát hiện, giám sát, kiểm soát, hướng dẫn xử lý giáo dục truyền thông để giải quyết tốt các bệnh xã hội, bệnh truyền nhiễm, vác xin, sinh phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, y tế trường học và bệnh nghề nghiệp.
- Đầu tư xây dựng Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe cả về cơ sở, trang thiết bị, nhân lực nhằm nâng cao năng lực công tác truyền thông. Từng bước xã hội hóa công tác truyền thông giáo dục sức khỏe.
- Tiếp tục đầu tư phát triển Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản về mọi mặt để đảm bảo cung cấp các dịch vụ cho các bà mẹ có thai, nuôi con nhỏ, thực hiện dự phòng và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục. Phát hiện sớm các ung thư đường sinh dục, điều trị vô sinh, nạo phá thai toàn…và thực hiện các dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình.
- Đầu tư xây dựng, củng cố và hoàn thiện Trung tâm Kiểm nghiệm, trang bị các thiết bị hiện đại đủ khả năng thực hiện kiểm nghiệm, phân tích hóa, hóa lý, vi sinh... thuộc các lĩnh vực về thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm và có thể thêm các lĩnh vực khác về nước, môi trường, miễn dịch....để phát huy và tận dụng công suất hoạt động của thiết bị. Định hướng về lâu dài là thành lập Trung tâm LABO từ Trung tâm Kiểm nghiệm để phục vụ nhiệm vụ của ngành cũng như phục vụ một số nghiên cứu khoa học của tỉnh.
- Từng bước đầu tư cho các hoạt động về công tác vệ sinh lao động, vệ sinh môi trường, y tế trường học và bệnh nghề nghiệp.
4.1.2. Tuyến huyện.
- Từ năm 2008 đến 2010 nâng cao năng lực hoạt động Đội y tế dự phòng các huyện, thị xã để thực hiện các nhiệm vụ: Vệ sinh phòng bệnh, giám sát, phát hiện và phòng chống dịch, kiểm soát và phòng chống HIV/AIDS, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, chăm sóc sức khỏe sinh sản, quản lý và điều trị các bệnh xã hội… Củng cố, nâng cấp phòng xét nghiệm để phát hiện, chẩn đoán bệnh Lao, Sốt rét, HIV.
- Sau năm 2010 xây dựng Trung tâm y tế dự phòng tuyến huyện để đảm bảo hệ thống giám sát dịch bệnh và phòng chống dịch.
4.2. Phát triển mạng lưới khám chữa bệnh, điều dưỡng và phục hồi chức năng.
4.2.1. Phát triển mạng lưới khám chữa bệnh đảm bảo tính hệ thống và theo cụm dân cư.
a, Tuyến tỉnh:
Xây dựng mới Bệnh viện khu vực Bắc Kạn làm khâu đột phá đủ sức làm nhiệm vụ đầu tàu trong hệ thống điều trị. Sử dụng bệnh viện 300 giường hiện tại để thành lập các bệnh viện chuyên khoa: Bệnh viện Đông Y, bệnh viện Lao và Bệnh phổi, bệnh viện Tâm thần, bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng và bệnh viện Phụ sản.
b, Tuyến huyện: Các huyện, thị xã phải có bệnh viện quy mô từ 50-100 giường.
- Hoàn chỉnh bệnh viện huyện Ba Bể 60 giường bệnh, bệnh viện huyện Bạch Thông 50 giường bệnh, bệnh viện Ngân Sơn huyện 50 giường bệnh, bệnh viện huyện Pác Nặm 50 giường bệnh, bệnh viện huyện Chợ Mới 50 giường bệnh.
- Xây mới bệnh viện huyện Na Rì 100 giường, Bệnh viện huyện Chợ Đồn 70 giường và Bệnh viện thị xã Bắc Kạn 50 giường (khi đưa Bệnh viện khu vực Bắc Kạn vào sử dụng sẽ chuyển Bệnh viện thị xã Bắc Kạn thành Phòng khám đa khoa thị xã Bắc Kạn).
- Sáp nhập các Phòng khám đa khoa cụm xã Quảng Khê, Khang Ninh, Lục Bình, Bình Trung, Đồng Lạc, Lạng San, Hảo Nghĩa vào trạm y tế thành trạm y tế. Từng bước nâng cấp Phòng khám đa khoa Yên Cư, Nà Phặc thành bệnh viện khu vực cụm dân cư liên huyện Nà Phặc, Yên Cư.
- Đầu tư trang thiết bị y tế cho các bệnh viện tuyến huyện.
c, Tuyến xã, phường:
Các trạm y tế xã chỉ có 2-3 giường lưu không có giường điều trị. Trạm y tế thực hiện công tác khám bệnh, kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại nhà; thực hiện đỡ đẻ thường và xử lý các cấp cứu thông thường…
4.2.2. Củng cố sắp xếp lại các tuyến điều trị theo cấp độ từ thấp đến cao.
a, Tuyến 1:
Mỗi xã, phường có 01 trạm y tế biên chế đủ bác sĩ. Trạm y tế và phòng khám đa khoa khu vực cụm xã là đơn vị tiếp nhận bệnh nhân từ cộng đồng, thực hiện khám chữa bệnh và cấp cứu ban đầu.
- Phấn đấu đến năm 2015 tất cả các xã đều đạt Chuẩn Quốc gia về y tế xã. Các trạm y tế có ít nhất 02 giường lưu bệnh nhân.
- Đầu tư các dụng cụ y tế và trang thiết bị y tế đơn giản để phục vụ cho công tác chẩn đoán và điều trị.
- Các phòng khám đa khoa khu vực cụm xã (Nà Phặc, Yên Cư) mỗi phòng khám có từ 10-15 giường bệnh và được bổ sung nhân lực, kinh phí, trang thiết bị cho hoạt động.
b, Tuyến 2.
- Là bệnh viện đa khoa tuyến huyện, thị xã và bệnh viện khu vực liên huyện, quy mô từ 50 đến 100 giường bệnh thực hiện các kỹ thuật cơ bản mang tính đa khoa và tiếp nhận bệnh nhân từ cộng đồng hay từ các trạm y tế.
- Mỗi huyện, thị xã có 01 bệnh viện đạt Tiêu chuẩn hạng III với các khoa chính là: Phòng khám, Nội, Ngoại, Sản phụ, Nhi, Truyền nhiễm, liên khoa Tai Mũi Họng- Răng hàm mặt- Mắt, Liên khoa Xét nghiệm - Chẩn đoán hình ảnh.
c, Tuyến 3. gồm:
- Bệnh viện đa khoa tỉnh làm cả nhiệm vụ khu vực có tính chất làm một bệnh viện đa khoa, chuyên khoa sâu, tổ chức theo mô hình Viện –Trường đủ sức triển khai các kỹ thuật mới, kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị, làm tròn chức năng huấn luyện, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến và hợp tác quốc tế. Là tuyến sau của các bệnh viện huyện và khu vực. Tuyến cao nhất của hệ thống điều trị của toàn tỉnh. Là cơ sở chỉ đạo và thực hành của trường Trung học y tế, bổ túc sau đại học, bổ túc nâng cao tay nghề về Y-Dược-Trang thiết bị y tế cho hệ thống y tế toàn tỉnh.
- Thành lập các bệnh viện chuyên khoa: Bệnh viện Đông Y, bệnh viện Lao và Bệnh phổi, bệnh viện Tâm thần, bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng và bệnh viện Phụ sản (Dự kiến cải tạo bệnh viện đa khoa cũ, sau khi đưa vào sử dụng bệnh viện đa khoa mới).
4.2.3. Mạng lưới vận chuyển cấp cứu.
- Từ nay đến năm 2010 tổ chức tốt Đội vận chuyển cấp cứu thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh. Đội vận chuyển cấp cứu được trang bị các phương tiện cấp cứu, vận chuyển cấp cứu, tổ chức đào tạo chuyên môn, kỹ thuật trong công tác vận chuyển và cấp cứu bệnh nhân. Từ năm 2011 thành lập Trung tâm vận chuyển cấp cứu bệnh nhân của tỉnh, có thể thành lập các chốt, trạm cấp cứu tại các các địa điểm, trục đường hay xảy ra tai nạn nếu cần thiết.
- Khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức, tư nhân đủ điều kiện tham gia hành nghề, phát triển dịch vụ vận chuyển cấp cứu bệnh nhân.
4.2.4. Phát triển y tế tư nhân.
- Y tế tư nhân bao gồm các bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa, phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa, các trung tâm tư vấn về sức khỏe, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuốc, trang thiết bị y tế, vác xin, sinh phẩm… chịu sự quản lý của Sở Y tế và sự giám sát của Phòng y tế các huyện, thị xã.
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân phát triển các bệnh viện, các phòng khám bệnh tại các địa phương trong tỉnh. Khuyến khích phát triển các nhà điều dưỡng tư, các trung tâm tư vấn sức khỏe, các mô hình chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng nhằm chia sẻ gánh nặng bệnh tật tại cộng đồng, tạo sự cạch tranh lành mạnh giữa các cơ sở y tế Công - Tư trong khu vực phục vụ.
- Từng bước thực hiện khám chữa bệnh tư theo bảo hiểm y tế để thuận tiện cho người dân trước hết là khám chữa bệnh cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi theo thẻ BHYT.
4.3. Phát triển mạng lưới y dược học cổ truyền.
- Thành lập Bệnh viện Y học cổ truyền (Bệnh viện Đông Y) tuyến tỉnh.
- Thành lập Tổ y học cổ truyền lồng ghép trong khoa nội tổng hợp bệnh viện đa khoa huyện.
- Bố trí cán bộ làm công tác y học cổ truyền tại trạm y tế xã.
- Xây dựng vườn thuốc nam tại các cơ sở điều trị.
- Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cán bộ y học cổ truyền.
4.4. Củng cố hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở.
- Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở (xã, thôn bản) để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu đáp ứng nhu cầu các dịch vụ y tế cơ bản, có chất lượng cho mọi người dân nhất là người nghèo, người dân tộc, vùng sâu, vùng xa thực hiện công bằng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
- Nâng cấp và mở rộng trạm y tế cả về cơ sở, trang thiết bị và dụng cụ y tế.
- Bố trí nhân lực cho trạm y tế từ 4-6 cán bộ, đảm bảo cơ cấu trong đó có bác sĩ, điều dưỡng viên, Nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi, cán bộ y học cổ truyền và cán bộ kiêm nhiệm dược tá.
- Các trạm y tế xã, phường đảm bảo đủ khả năng thực hiện các nhiệm vụ trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, chẩn đoán điều trị các bệnh thường gặp, thực hành cấp cứu ban đầu, sơ cứu các tai nạn, thương tích và thực hiện quản lý các bệnh xã hội theo phân công và quản lý thuốc chữa bệnh trên địa bàn.
- Mỗi thôn bản, tổ phố có một nhân viên y tế có trình độ Sơ học.
- Phấn đấu đến năm 2015 tất cả các xã, phường trên địa bàn đạt Chuẩn Quốc gia về y tế xã.
4.5. Củng cố hệ thống Dân số- Kế hoạch hoá gia đình.
- Củng cố tổ chức bộ máy quản lý Chi cục Dân số Kế hoạch hoá gia đình.
- Thành lập Trung tâm dân số Kế hoạch hoá gia đình huyện, thị xã và đi vào hoạt động từ tháng 01/2009. Phát huy hoạt động quản lý dữ liệu Dân số huyện, thị (trung tâm dữ liệu dân số huyện, thị cũ).
- Rà soát lại trình độ, bằng cấp của đội ngũ chuyên trách Dân số- Kế hoạch hoá gia đình các xã, phường. Tuyển chọn cán bộ chuyên trách có đủ điều kiện theo qui định của Nhà nước vào làm chuyên trách dân số (biên chế trạm y tế xã, phường). Xây dựng kế hoạch cụ thể giải quyết hợp lý các trường hợp không đủ điều kiện xét chuyển vào biên chế.
- Duy trì đội ngũ cộng tác viên Dân số do nhân viên y tế thôn bản đảm nhiệm tại các thôn bản, tổ phố.

Content:
Nội dung phát triển hệ thống y tế tỉnh Bắc Kạn:
4.1. Phát triển mạng lưới y tế dự phòng.
4.1.1. Tuyến tỉnh.
- Từng bước phát triển và nâng cao chất lượng y tế dự phòng theo hướng tập trung cao, tinh giản biên chế, đa chức năng trong một tổ chức thống nhất, đủ sức phát hiện, giám sát, kiểm soát, hướng dẫn xử lý giáo dục truyền thông để giải quyết tốt các bệnh xã hội, bệnh truyền nhiễm, vác xin, sinh phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, y tế trường học và bệnh nghề nghiệp.
- Đầu tư xây dựng Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe cả về cơ sở, trang thiết bị, nhân lực nhằm nâng cao năng lực công tác truyền thông. Từng bước xã hội hóa công tác truyền thông giáo dục sức khỏe.
- Tiếp tục đầu tư phát triển Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản về mọi mặt để đảm bảo cung cấp các dịch vụ cho các bà mẹ có thai, nuôi con nhỏ, thực hiện dự phòng và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục. Phát hiện sớm các ung thư đường sinh dục, điều trị vô sinh, nạo phá thai toàn…và thực hiện các dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình.
- Đầu tư xây dựng, củng cố và hoàn thiện Trung tâm Kiểm nghiệm, trang bị các thiết bị hiện đại đủ khả năng thực hiện kiểm nghiệm, phân tích hóa, hóa lý, vi sinh... thuộc các lĩnh vực về thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm và có thể thêm các lĩnh vực khác về nước, môi trường, miễn dịch....để phát huy và tận dụng công suất hoạt động của thiết bị. Định hướng về lâu dài là thành lập Trung tâm LABO từ Trung tâm Kiểm nghiệm để phục vụ nhiệm vụ của ngành cũng như phục vụ một số nghiên cứu khoa học của tỉnh.
- Từng bước đầu tư cho các hoạt động về công tác vệ sinh lao động, vệ sinh môi trường, y tế trường học và bệnh nghề nghiệp.
4.1.2. Tuyến huyện.
- Từ năm 2008 đến 2010 nâng cao năng lực hoạt động Đội y tế dự phòng các huyện, thị xã để thực hiện các nhiệm vụ: Vệ sinh phòng bệnh, giám sát, phát hiện và phòng chống dịch, kiểm soát và phòng chống HIV/AIDS, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, chăm sóc sức khỏe sinh sản, quản lý và điều trị các bệnh xã hội… Củng cố, nâng cấp phòng xét nghiệm để phát hiện, chẩn đoán bệnh Lao, Sốt rét, HIV.
- Sau năm 2010 xây dựng Trung tâm y tế dự phòng tuyến huyện để đảm bảo hệ thống giám sát dịch bệnh và phòng chống dịch.
4.2. Phát triển mạng lưới khám chữa bệnh, điều dưỡng và phục hồi chức năng.
4.2.1. Phát triển mạng lưới khám chữa bệnh đảm bảo tính hệ thống và theo cụm dân cư.
a, Tuyến tỉnh:
Xây dựng mới Bệnh viện khu vực Bắc Kạn làm khâu đột phá đủ sức làm nhiệm vụ đầu tàu trong hệ thống điều trị. Sử dụng bệnh viện 300 giường hiện tại để thành lập các bệnh viện chuyên khoa: Bệnh viện Đông Y, bệnh viện Lao và Bệnh phổi, bệnh viện Tâm thần, bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng và bệnh viện Phụ sản.
b, Tuyến huyện: Các huyện, thị xã phải có bệnh viện quy mô từ 50-100 giường.
- Hoàn chỉnh bệnh viện huyện Ba Bể 60 giường bệnh, bệnh viện huyện Bạch Thông 50 giường bệnh, bệnh viện Ngân Sơn huyện 50 giường bệnh, bệnh viện huyện Pác Nặm 50 giường bệnh, bệnh viện huyện Chợ Mới 50 giường bệnh.
- Xây mới bệnh viện huyện Na Rì 100 giường, Bệnh viện huyện Chợ Đồn 70 giường và Bệnh viện thị xã Bắc Kạn 50 giường (khi đưa Bệnh viện khu vực Bắc Kạn vào sử dụng sẽ chuyển Bệnh viện thị xã Bắc Kạn thành Phòng khám đa khoa thị xã Bắc Kạn).
- Sáp nhập các Phòng khám đa khoa cụm xã Quảng Khê, Khang Ninh, Lục Bình, Bình Trung, Đồng Lạc, Lạng San, Hảo Nghĩa vào trạm y tế thành trạm y tế. Từng bước nâng cấp Phòng khám đa khoa Yên Cư, Nà Phặc thành bệnh viện khu vực cụm dân cư liên huyện Nà Phặc, Yên Cư.
- Đầu tư trang thiết bị y tế cho các bệnh viện tuyến huyện.
c, Tuyến xã, phường:
Các trạm y tế xã chỉ có 2-3 giường lưu không có giường điều trị. Trạm y tế thực hiện công tác khám bệnh, kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại nhà; thực hiện đỡ đẻ thường và xử lý các cấp cứu thông thường…
4.2.2. Củng cố sắp xếp lại các tuyến điều trị theo cấp độ từ thấp đến cao.
a, Tuyến 1:
Mỗi xã, phường có 01 trạm y tế biên chế đủ bác sĩ. Trạm y tế và phòng khám đa khoa khu vực cụm xã là đơn vị tiếp nhận bệnh nhân từ cộng đồng, thực hiện khám chữa bệnh và cấp cứu ban đầu.
- Phấn đấu đến năm 2015 tất cả các xã đều đạt Chuẩn Quốc gia về y tế xã. Các trạm y tế có ít nhất 02 giường lưu bệnh nhân.
- Đầu tư các dụng cụ y tế và trang thiết bị y tế đơn giản để phục vụ cho công tác chẩn đoán và điều trị.
- Các phòng khám đa khoa khu vực cụm xã (Nà Phặc, Yên Cư) mỗi phòng khám có từ 10-15 giường bệnh và được bổ sung nhân lực, kinh phí, trang thiết bị cho hoạt động.
b, Tuyến 2.
- Là bệnh viện đa khoa tuyến huyện, thị xã và bệnh viện khu vực liên huyện, quy mô từ 50 đến 100 giường bệnh thực hiện các kỹ thuật cơ bản mang tính đa khoa và tiếp nhận bệnh nhân từ cộng đồng hay từ các trạm y tế.
- Mỗi huyện, thị xã có 01 bệnh viện đạt Tiêu chuẩn hạng III với các khoa chính là: Phòng khám, Nội, Ngoại, Sản phụ, Nhi, Truyền nhiễm, liên khoa Tai Mũi Họng- Răng hàm mặt- Mắt, Liên khoa Xét nghiệm - Chẩn đoán hình ảnh.
c, Tuyến 3. gồm:
- Bệnh viện đa khoa tỉnh làm cả nhiệm vụ khu vực có tính chất làm một bệnh viện đa khoa, chuyên khoa sâu, tổ chức theo mô hình Viện –Trường đủ sức triển khai các kỹ thuật mới, kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị, làm tròn chức năng huấn luyện, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến và hợp tác quốc tế. Là tuyến sau của các bệnh viện huyện và khu vực. Tuyến cao nhất của hệ thống điều trị của toàn tỉnh. Là cơ sở chỉ đạo và thực hành của trường Trung học y tế, bổ túc sau đại học, bổ túc nâng cao tay nghề về Y-Dược-Trang thiết bị y tế cho hệ thống y tế toàn tỉnh.
- Thành lập các bệnh viện chuyên khoa: Bệnh viện Đông Y, bệnh viện Lao và Bệnh phổi, bệnh viện Tâm thần, bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng và bệnh viện Phụ sản (Dự kiến cải tạo bệnh viện đa khoa cũ, sau khi đưa vào sử dụng bệnh viện đa khoa mới).
4.2.3. Mạng lưới vận chuyển cấp cứu.
- Từ nay đến năm 2010 tổ chức tốt Đội vận chuyển cấp cứu thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh. Đội vận chuyển cấp cứu được trang bị các phương tiện cấp cứu, vận chuyển cấp cứu, tổ chức đào tạo chuyên môn, kỹ thuật trong công tác vận chuyển và cấp cứu bệnh nhân. Từ năm 2011 thành lập Trung tâm vận chuyển cấp cứu bệnh nhân của tỉnh, có thể thành lập các chốt, trạm cấp cứu tại các các địa điểm, trục đường hay xảy ra tai nạn nếu cần thiết.
- Khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức, tư nhân đủ điều kiện tham gia hành nghề, phát triển dịch vụ vận chuyển cấp cứu bệnh nhân.
4.2.Phát triển y tế tư nhân.
- Y tế tư nhân bao gồm các bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa, phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa, các trung tâm tư vấn về sức khỏe, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuốc, trang thiết bị y tế, vác xin, sinh phẩm… chịu sự quản lý của Sở Y tế và sự giám sát của Phòng y tế các huyện, thị xã.
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân phát triển các bệnh viện, các phòng khám bệnh tại các địa phương trong tỉnh. Khuyến khích phát triển các nhà điều dưỡng tư, các trung tâm tư vấn sức khỏe, các mô hình chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng nhằm chia sẻ gánh nặng bệnh tật tại cộng đồng, tạo sự cạch tranh lành mạnh giữa các cơ sở y tế Công - Tư trong khu vực phục vụ.
- Từng bước thực hiện khám chữa bệnh tư theo bảo hiểm y tế để thuận tiện cho người dân trước hết là khám chữa bệnh cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi theo thẻ BHYT.
4.3. Phát triển mạng lưới y dược học cổ truyền.
- Thành lập Bệnh viện Y học cổ truyền (Bệnh viện Đông Y) tuyến tỉnh.
- Thành lập Tổ y học cổ truyền lồng ghép trong khoa nội tổng hợp bệnh viện đa khoa huyện.
- Bố trí cán bộ làm công tác y học cổ truyền tại trạm y tế xã.
- Xây dựng vườn thuốc nam tại các cơ sở điều trị.
- Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cán bộ y học cổ truyền.
4.Củng cố hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở.
- Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở (xã, thôn bản) để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu đáp ứng nhu cầu các dịch vụ y tế cơ bản, có chất lượng cho mọi người dân nhất là người nghèo, người dân tộc, vùng sâu, vùng xa thực hiện công bằng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
- Nâng cấp và mở rộng trạm y tế cả về cơ sở, trang thiết bị và dụng cụ y tế.
- Bố trí nhân lực cho trạm y tế từ 4-6 cán bộ, đảm bảo cơ cấu trong đó có bác sĩ, điều dưỡng viên, Nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi, cán bộ y học cổ truyền và cán bộ kiêm nhiệm dược tá.
- Các trạm y tế xã, phường đảm bảo đủ khả năng thực hiện các nhiệm vụ trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, chẩn đoán điều trị các bệnh thường gặp, thực hành cấp cứu ban đầu, sơ cứu các tai nạn, thương tích và thực hiện quản lý các bệnh xã hội theo phân công và quản lý thuốc chữa bệnh trên địa bàn.
- Mỗi thôn bản, tổ phố có một nhân viên y tế có trình độ Sơ học.
- Phấn đấu đến năm 2015 tất cả các xã, phường trên địa bàn đạt Chuẩn Quốc gia về y tế xã.
4.5. Củng cố hệ thống Dân số- Kế hoạch hoá gia đình.
- Củng cố tổ chức bộ máy quản lý Chi cục Dân số Kế hoạch hoá gia đình.
- Thành lập Trung tâm dân số Kế hoạch hoá gia đình huyện, thị xã và đi vào hoạt động từ tháng 01/2009. Phát huy hoạt động quản lý dữ liệu Dân số huyện, thị (trung tâm dữ liệu dân số huyện, thị cũ).
- Rà soát lại trình độ, bằng cấp của đội ngũ chuyên trách Dân số- Kế hoạch hoá gia đình các xã, phường. Tuyển chọn cán bộ chuyên trách có đủ điều kiện theo qui định của Nhà nước vào làm chuyên trách dân số (biên chế trạm y tế xã, phường). Xây dựng kế hoạch cụ thể giải quyết hợp lý các trường hợp không đủ điều kiện xét chuyển vào biên chế.
- Duy trì đội ngũ cộng tác viên Dân số do nhân viên y tế thôn bản đảm nhiệm tại các thôn bản, tổ phố.