Document: Điểm d Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2561/QĐ-UBND 2012 phê duyệt quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Ninh Sơn Ninh Thuận

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "19/12/2012", "sign_number": "2561/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Thanh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "19/12/2012", "sign_number": "2561/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Thanh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "19/12/2012", "sign_number": "2561/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Thanh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "19/12/2012", "sign_number": "2561/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Thanh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "19/12/2012", "sign_number": "2561/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Thanh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2561/QĐ-UBND 2012 phê duyệt quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Ninh Sơn Ninh Thuận

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Ninh Sơn đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau:
...
5. Phát triển bền vững, hài hòa về kinh tế - văn hóa xã hội - quốc phòng an ninh gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, phòng chống biến đổi khí hậu, phòng chống giảm nhẹ thiên tai.
II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
1. Mục tiêu tổng quát: Khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của huyện để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế-xã hội nhanh và bền vững, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp, dịch vụ. Xây dựng Ninh Sơn trở thành vùng trọng điểm về phát triển nông, lâm nghiệp phía Tây của tỉnh; phát triển nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của huyện; đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân không ngừng được nâng cao; quốc phòng - an ninh vững mạnh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
2. Mục tiêu cụ thể:
...
d) Về an ninh- quốc phòng: Quốc phòng an ninh được giữ vững; gắn quốc phòng an ninh với phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh từ cơ sở; đảm bảo vững chắc an ninh chính trị, góp phần giữ vững ổn định chính trị trật tự xã hội từ thôn đến xã. Giữ vững tỷ lệ phát triển dân quân tự vệ từ 1,3-1,5% so với dân số, trưởng phó công an, xã đội là đảng viên 100%; hoàn thành tốt giao quân hàng năm và tổ chức đăng ký sắp xếp quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương vào các đơn vị quân dự bị động viên đạt 100% và bố trí việc làm cho số quân nhân xuất ngũ.
III. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC
Tập trung ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực có lợi thế của huyện, nhất là tiềm năng và thế mạnh về sản xuất nông-lâm nghiệp; chế biến nông-lâm sản, năng lượng và du lịch nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội.
1. Các ngành kinh tế:
a) Ngành nông, lâm, thủy sản: Phát triển nông, lâm nghiệp và thuỷ sản toàn diện theo hướng hiệu quả, bền vững, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, nâng cao năng suất, chất lượng, năng lực cạnh tranh sản phẩm và gắn với thị trường. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông lâm, thuỷ sản giai đoạn 2011-2015 tăng bình quân 8-9%/năm và giai đoạn 2016-2020 tăng bình quân 21-22%/năm.
- Nông nghiệp: Đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật-công nghệ mới, tăng cường thâm canh, tăng năng suất cây trồng, chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi, nâng cao chất lượng, nâng cao giá trị sử dụng đất; tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 13-14%/năm.
+ Ưu tiên phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có thế mạnh như: mía đường, thuốc lá, mì, điều, cao su, cây ăn quả đặc sản (sầu riêng, măng cụt), bò, heo; xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung theo hướng ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; xây dựng các mô hình sản xuất có hiệu quả cao, bền vững; đến năm 2015 giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha đạt từ 65-70 triệu/năm và trên 100 triệu/năm vào năm 2020; phấn đấu đến năm 2020 có từ 1-2 sản phẩm mang thương hiệu địa phương.
+ Nâng cao tỷ trọng giá trị sản phẩm ngành chăn nuôi thông qua cải tạo đàn giống, nâng cao chất lượng đàn gia súc, phát triển chăn nuôi theo mô hình trang trại tập trung theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp gắn với đầu tư của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, đáp ứng được nhu cầu thị trường; nâng tỷ lệ sind hóa đàn bò đến năm 2015 đạt 32%, năm 2020 đạt 65%.
- Lâm nghiệp: Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ vững chắc các khu vực rừng đầu nguồn, phát triển nâng cao diện tích rừng, từng bước nâng cao giá trị sản phẩm từ nghề rừng; xây dựng các vùng nguyên liệu (keo) và chuyển đổi các loại đất rừng nghèo kiệt, đất trống đồi trọc sang phát triển cây cao su, cây jatropha; phát triển theo hướng đa dạng sinh học, gắn lâm nghiệp với nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch sinh thái,… góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho nhân dân các dân tộc miền núi. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng ngành lâm nghiệp giai đoạn 2011-2020 tăng bình quân 37%/năm.
- Nuôi trồng thủy sản: Phát triển nghề nuôi cá nước ngọt theo hướng thâm canh kết hợp với sản xuất nông nghiệp ở các vùng đất trũng, các khu vực ven các kênh thủy lợi, ao hồ nhỏ trong các hộ gia đình; tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành thủy sản giai đoạn 2011-2020 tăng bình quân 22%/năm.
- Tổ chức sản xuất: Phát triển theo các mô hình liên kết thông qua các tổ chức hợp tác xã kiểu mới, tổ sản xuất liên kết, liên doanh với các doanh nghiệp.
- Xây dựng nông thôn mới: Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, dự kiến đến năm 2020 có 4 xã đạt tiêu chí nông thôn mới (Hòa Sơn; Nhơn Sơn; Quảng Sơn và Ma Nới) trong đó giai đoạn 2011-2015 có 2 xã Hòa Sơn, Nhơn Sơn đạt tiêu chí nông thôn mới.
b) Phát triển ngành công nghiệp-xây dựng: Phát triển công nghiệp-xây dựng tập trung vào 3 nhóm ngành sản phẩm có tiềm năng và lợi thế của huyện như: (1) phát triển thuỷ điện, năng lượng tái tạo; (2) chế biến nông, lâm sản; (3) khai thác chế biến khoáng sản-sản xuất vật liệu xây dựng. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành công nghiệp-xây dựng giai đoạn 2011-2015 tăng bình quân 16-17%/năm, giai đoạn 2016-2020 tăng bình quân 27-28%/năm.
- Công nghiệp điện năng (thủy điện và năng lượng tái tạo): Đến năm 2020 tổng công suất đạt 231,6 MW (trong đó giai đoạn 2011-2015 đạt khoảng 31 MW).
+ Thủy điện: Phát huy các lợi thế đặc thù từ địa hình để phát triển thủy điện nhỏ và vừa với quy mô phù hợp. Dự kiến giai đoạn 2011-2015: Tiếp tục đầu tư xây dựng các nhà máy hạ sông Pha 1, hạ sông Pha 2 và nhà máy thủy điện Thượng sông Ông với quy mô công suất 15,3MW và giai đoạn 2016-2020: Kết hợp với các Bộ, ngành Trung ương nâng công suất nhà máy thủy điện Đa Nhim.
+ Năng lượng tái tạo: Xúc tiến đầu tư các dự án điện gió tại Quảng Sơn-Tân Sơn, Mỹ Sơn và tiếp tục kêu gọi đầu tư cho các khu vực tiềm năng khác của huyện với quy mô công suất đến năm 2020 khoảng 200MW.
- Chế biến nông, lâm sản: Tập trung vào các lĩnh vực chế biến mỳ, mía, thuốc lá, súc sản và các loại sản phẩm từ nguyên liệu rừng trồng. Phấn đấu đến năm 2020, tinh bột mỳ đạt 10.000 tấn, chế biến thức ăn gia súc 12.000 tấn, ván ép 20.000m3, đũa gỗ các loại 30 triệu đôi,…
- Khai thác chế biến khoáng sản: Tập trung sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nước khoáng và vật liệu san lấp; phấn đấu đến năm 2020 khai thác đá xây dựng đạt 80.000m3, gạch nung 100 triệu viên, bê tông nhựa 30.000 tấn, nước khoáng 35 triệu lít, cát-sỏi xây dựng 150.000m3,…
- Phát triển làng nghề và xây dựng thương hiệu sản phẩm: Phát triển 02 làng nghề: làng nghề chổi (Lâm Hòa-Lâm Sơn) và đũa gỗ Lâm Sơn; xây dựng thương hiệu cho 02 loại sản phẩm là đũa gỗ và trái cây Sông Pha. Xây dựng cơ sở hạ tầng cụm công nghiệp Quảng Sơn.
c) Phát triển du lịch, thương mại và dịch vụ: Tập trung phát triển các lĩnh vực du lịch, dịch vụ phục vụ sản xuất-tiêu dùng, thương mại, kinh doanh xuất nhập khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế bền vững của huyện. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2011-2015 tăng 15-16%/năm và giai đoạn 2016-2020 tăng 17-18%/năm.
- Du lịch: Phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, hình thành các khu, điểm du lịch có chất lượng cao:
+ Giai đoạn 2011-2015: Đầu tư xây dựng khu vực thác Sakai trở thành khu du lịch sinh thái rừng-đèo-thác (Lâm Sơn); khu du lịch nghỉ dưỡng Sông Ông-Suối Thương; phát triển du lịch nhà vườn, rừng vườn kết hợp du lịch sinh thái tại Lâm Sơn; phục hồi các lễ hội văn hóa dân gian (đặc biệt là văn hoá dân tộc Raglai) ở các thôn bản kết hợp du lịch với kinh tế; nâng cấp, mở rộng khu du lịch suối khoáng nóng Krôngpha; kết hợp khai thác du lịch các nhà máy thuỷ điện.
+ Giai đoạn 2016-2020: Tiếp tục đầu tư xây dựng các khu du lịch khác như: điểm dừng chân đèo Ngoạn Mục, khu du lịch thác Tiên, du lịch sinh thái khu vực Ma Nới và các cảnh quan lưu vực Sông Than, hồ thuỷ lợi Tân Mỹ,…
- Dịch vụ thương mại: Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ, thương mại theo hướng văn minh, hiện đại với sự tham gia của các thành phần kinh tế và đa dạng hóa các loại hình tổ chức phân phối góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, hội nhập kinh tế, thương mại của tỉnh và vùng.
+ Xây dựng trung tâm thương mại - dịch vụ tại thị trấn Tân Sơn; phát triển rộng mạng lưới thương nghiệp nông thôn, đảm bảo cung cấp kịp thời các công cụ và vật tư thiết yếu phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
+ Phát triển nhanh các dịch vụ công cộng, dịch vụ sản xuất như tài chính- ngân hàng, vận tải, bưu điện-viễn thông, tư vấn, khoa học công nghệ, giáo dục, y tế, văn hóa-thể thao.
- Hình thành thị trường bất động sản: Quy hoạch chi tiết các khu vực có tính thương mại cao theo mục đích sử dụng ở khu trung tâm thị trấn (thương mại dịch vụ), khu vực hai bên sông Dinh (nhà vườn, biệt thự, khách sạn, thương mại,...), các khu vực có tiềm năng du lịch, ven các trục đường chính ở thị trấn, các xã.
2. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật:
a) Giao thông: Tiếp tục cải tạo nâng cấp tuyến Quốc lộ 27; nâng cấp tỉnh lộ ĐT-709, đoạn từ Ma Nới (Ninh Sơn) đi Phước Hà (Thuận Nam); các tuyến đường trục liên vùng phục vụ cho sản xuất và dân sinh; đường nội thị thị trấn Tân Sơn.
b) Thuỷ lợi: Hoàn thiện hệ thống kênh nội đồng hồ Cho Mo, bê tông hóa kênh cấp II, III và kênh nội đồng. Xây dựng mới hồ chứa Sông Than, mở rộng diện tích tưới đập 19/5.
c) Điện, nước:
- Điện: Xây dựng mới 30 km đường dây trung thế 22kV và các trạm biến áp 22-15/0,4kV tổng dung lượng 7.500 kVA.
- Cấp, thoát nước: Cải tạo hệ thống đường ống nhà máy nước Tân Sơn bảo đảm cung cấp đủ nước cho thị trấn Tân Sơn, xã Quảng Sơn và một phần xã Lương Sơn; tiếp tục hoàn thiện hệ thống cấp nước tại Lâm Sơn; xây dựng hệ thống cấp nước cho khu vực Tà Nôi, Gia Rớt (Ma Nới); xây dựng hệ thống thoát nước cho đô thị Tân Sơn.
d) Bưu chính-viễn thông: Phấn đấu đến năm 2015 có 100% số xã có điểm phục vụ bưu chính hoạt động, cung cấp hầu hết các dịch vụ bưu chính mà bưu cục huyện cung cấp. Dự kiến đến năm 2015 sẽ tăng dung lượng tổng đài Bưu điện huyện Ninh Sơn; 100% số xã có trạm truyền thanh. Tỷ lệ hộ gia đình có điện thoại cố định là 80%, số xã có điểm truy cập Internet công cộng là 100% và tỷ lệ người sử dụng Internet đạt 50%. Đẩy nhanh việc ứng dụng rộng rãi CNTT trong hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội ở địa phương.
3. Phát triển nguồn nhân lực và lĩnh vực văn hóa-xã hội:
a) Phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo và đào tạo lại nguồn lao động có tay nghề, có trình độ khoa học kỹ thuật và quản lý để tiếp cận nhanh với kinh tế thị trường, chú trọng lực lượng lao động kỹ thuật trong tất cả các ngành kinh tế - xã hội, nhất là lao động công nghiệp, dịch vụ.
- Giai đoạn 2011-2015: Lao động qua đào tạo chiếm 45% so với tổng số lao động đang làm việc của huyện, trong đó lao động qua đào tạo nghề chiếm 25%; bình quân mỗi năm đào tạo nghề cho 400 lao động và giải quyết việc làm cho 1.900 lao động; đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã, thị trấn.
- Giai đoạn 2016-2020: Lao động qua đào tạo chiếm 60% so với tổng số lao động đang làm việc của huyện, trong đó lao động qua đào tạo nghề chiếm 38%; bình quân mỗi năm đào tạo nghề cho 500 lao động và giải quyết việc làm cho 2.500-3.000 lao động.
b) Phát triển giáo dục-đào tạo: Từng bước xã hội hóa công tác giáo dục- đào tạo, nâng cao dân trí, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Coi trọng cả 3 mặt: Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục; phát triển mạng lưới trường, lớp học ở các cấp học đạt chuẩn quốc gia; duy trì phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS.
Đến năm 2015 tỷ lệ học sinh trong độ tuổi lớp 1 đến trường đạt 98% và đến năm 2020 đạt 100%. Năm 2015 tỷ lệ giáo viên các cấp đạt chuẩn đào tạo 100%, trong đó giáo viên đạt trên chuẩn đào tạo đối với Tiểu học 87%, THCS 55%; tỷ lệ trường đạt chuấn Quốc gia đạt trên 41% và năm 2020 đạt 60%; chuyển đổi Trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp thành Trung tâm giáo dục thường xuyên- Hướng nghiệp-Dạy nghề, đến năm 2020 cơ bản hoàn thành kiên cố hóa trường lớp.
c) Phát triển ngành y tế, chăm sóc sức khỏe: Nâng cấp cơ sở vật chất hệ thống bệnh viện, trạm y tế xã, bổ sung và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ y tế.
Đến năm 2015 bình quân 1 vạn dân có 24 giường bệnh, trên 5 bác sỹ và năm 2020 có 24,7 giường bệnh và 7 bác sỹ; tiếp tục bổ sung trang thiết bị y tế cho Bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Sơn, nâng số giường bệnh bệnh viện đa khoa từ 130 giường lên 150 giường; xây dựng trung tâm an toàn vệ sinh thực phẩm và trung tâm y tế dự phòng huyện. Kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại để tăng tính hiệu quả trong khám và chữa bệnh cho nhân dân
d) Phát triển ngành văn hoá - thông tin - thể thao: Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, thực hiện tốt phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa trong khu dân cư; đến năm 2015 có 70-75% số thôn, khu phố đạt danh hiệu thôn, khu phố văn hóa và đến năm 2020 là 100%.
Xây dựng đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, thông tin từ cấp huyện đến cấp xã, thôn; đến năm 2020 có 100% xã-thị trấn có Trung tâm Văn hoá-Thể thao. Đào tạo nguồn nhân lực cho ngành văn hóa thông tin, đặc biệt chú ý đến đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số. Tăng cường quản lý nhà nước trên các lĩnh vực hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa. Bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc và phát triển các giá trị văn hóa mới.

Content:
Về an ninh- quốc phòng: Quốc phòng an ninh được giữ vững; gắn quốc phòng an ninh với phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh từ cơ sở; đảm bảo vững chắc an ninh chính trị, góp phần giữ vững ổn định chính trị trật tự xã hội từ thôn đến xã. Giữ vững tỷ lệ phát triển dân quân tự vệ từ 1,3-1,5% so với dân số, trưởng phó công an, xã đội là đảng viên 100%; hoàn thành tốt giao quân hàng năm và tổ chức đăng ký sắp xếp quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương vào các đơn vị quân dự bị động viên đạt 100% và bố trí việc làm cho số quân nhân xuất ngũ.
III. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC
Tập trung ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực có lợi thế của huyện, nhất là tiềm năng và thế mạnh về sản xuất nông-lâm nghiệp; chế biến nông-lâm sản, năng lượng và du lịch nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội.
1. Các ngành kinh tế:
a) Ngành nông, lâm, thủy sản: Phát triển nông, lâm nghiệp và thuỷ sản toàn diện theo hướng hiệu quả, bền vững, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, nâng cao năng suất, chất lượng, năng lực cạnh tranh sản phẩm và gắn với thị trường. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông lâm, thuỷ sản giai đoạn 2011-2015 tăng bình quân 8-9%/năm và giai đoạn 2016-2020 tăng bình quân 21-22%/năm.
- Nông nghiệp: Đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật-công nghệ mới, tăng cường thâm canh, tăng năng suất cây trồng, chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi, nâng cao chất lượng, nâng cao giá trị sử dụng đất; tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 13-14%/năm.
+ Ưu tiên phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có thế mạnh như: mía đường, thuốc lá, mì, điều, cao su, cây ăn quả đặc sản (sầu riêng, măng cụt), bò, heo; xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung theo hướng ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; xây dựng các mô hình sản xuất có hiệu quả cao, bền vững; đến năm 2015 giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha đạt từ 65-70 triệu/năm và trên 100 triệu/năm vào năm 2020; phấn đấu đến năm 2020 có từ 1-2 sản phẩm mang thương hiệu địa phương.
+ Nâng cao tỷ trọng giá trị sản phẩm ngành chăn nuôi thông qua cải tạo đàn giống, nâng cao chất lượng đàn gia súc, phát triển chăn nuôi theo mô hình trang trại tập trung theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp gắn với đầu tư của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, đáp ứng được nhu cầu thị trường; nâng tỷ lệ sind hóa đàn bò đến năm 2015 đạt 32%, năm 2020 đạt 65%.
- Lâm nghiệp: Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ vững chắc các khu vực rừng đầu nguồn, phát triển nâng cao diện tích rừng, từng bước nâng cao giá trị sản phẩm từ nghề rừng; xây dựng các vùng nguyên liệu (keo) và chuyển đổi các loại đất rừng nghèo kiệt, đất trống đồi trọc sang phát triển cây cao su, cây jatropha; phát triển theo hướng đa dạng sinh học, gắn lâm nghiệp với nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch sinh thái,… góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho nhân dân các dân tộc miền núi. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng ngành lâm nghiệp giai đoạn 2011-2020 tăng bình quân 37%/năm.
- Nuôi trồng thủy sản: Phát triển nghề nuôi cá nước ngọt theo hướng thâm canh kết hợp với sản xuất nông nghiệp ở các vùng đất trũng, các khu vực ven các kênh thủy lợi, ao hồ nhỏ trong các hộ gia đình; tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành thủy sản giai đoạn 2011-2020 tăng bình quân 22%/năm.
- Tổ chức sản xuất: Phát triển theo các mô hình liên kết thông qua các tổ chức hợp tác xã kiểu mới, tổ sản xuất liên kết, liên doanh với các doanh nghiệp.
- Xây dựng nông thôn mới: Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, dự kiến đến năm 2020 có 4 xã đạt tiêu chí nông thôn mới (Hòa Sơn; Nhơn Sơn; Quảng Sơn và Ma Nới) trong đó giai đoạn 2011-2015 có 2 xã Hòa Sơn, Nhơn Sơn đạt tiêu chí nông thôn mới.
b) Phát triển ngành công nghiệp-xây dựng: Phát triển công nghiệp-xây dựng tập trung vào 3 nhóm ngành sản phẩm có tiềm năng và lợi thế của huyện như: (1) phát triển thuỷ điện, năng lượng tái tạo; (2) chế biến nông, lâm sản; (3) khai thác chế biến khoáng sản-sản xuất vật liệu xây dựng. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành công nghiệp-xây dựng giai đoạn 2011-2015 tăng bình quân 16-17%/năm, giai đoạn 2016-2020 tăng bình quân 27-28%/năm.
- Công nghiệp điện năng (thủy điện và năng lượng tái tạo): Đến năm 2020 tổng công suất đạt 231,6 MW (trong đó giai đoạn 2011-2015 đạt khoảng 31 MW).
+ Thủy điện: Phát huy các lợi thế đặc thù từ địa hình để phát triển thủy điện nhỏ và vừa với quy mô phù hợp. Dự kiến giai đoạn 2011-2015: Tiếp tục đầu tư xây dựng các nhà máy hạ sông Pha 1, hạ sông Pha 2 và nhà máy thủy điện Thượng sông Ông với quy mô công suất 15,3MW và giai đoạn 2016-2020: Kết hợp với các Bộ, ngành Trung ương nâng công suất nhà máy thủy điện Đa Nhim.
+ Năng lượng tái tạo: Xúc tiến đầu tư các dự án điện gió tại Quảng Sơn-Tân Sơn, Mỹ Sơn và tiếp tục kêu gọi đầu tư cho các khu vực tiềm năng khác của huyện với quy mô công suất đến năm 2020 khoảng 200MW.
- Chế biến nông, lâm sản: Tập trung vào các lĩnh vực chế biến mỳ, mía, thuốc lá, súc sản và các loại sản phẩm từ nguyên liệu rừng trồng. Phấn đấu đến năm 2020, tinh bột mỳ đạt 10.000 tấn, chế biến thức ăn gia súc 12.000 tấn, ván ép 20.000m3, đũa gỗ các loại 30 triệu đôi,…
- Khai thác chế biến khoáng sản: Tập trung sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nước khoáng và vật liệu san lấp; phấn đấu đến năm 2020 khai thác đá xây dựng đạt 80.000m3, gạch nung 100 triệu viên, bê tông nhựa 30.000 tấn, nước khoáng 35 triệu lít, cát-sỏi xây dựng 150.000m3,…
- Phát triển làng nghề và xây dựng thương hiệu sản phẩm: Phát triển 02 làng nghề: làng nghề chổi (Lâm Hòa-Lâm Sơn) và đũa gỗ Lâm Sơn; xây dựng thương hiệu cho 02 loại sản phẩm là đũa gỗ và trái cây Sông Pha. Xây dựng cơ sở hạ tầng cụm công nghiệp Quảng Sơn.
c) Phát triển du lịch, thương mại và dịch vụ: Tập trung phát triển các lĩnh vực du lịch, dịch vụ phục vụ sản xuất-tiêu dùng, thương mại, kinh doanh xuất nhập khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế bền vững của huyện. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2011-2015 tăng 15-16%/năm và giai đoạn 2016-2020 tăng 17-18%/năm.
- Du lịch: Phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, hình thành các khu, điểm du lịch có chất lượng cao:
+ Giai đoạn 2011-2015: Đầu tư xây dựng khu vực thác Sakai trở thành khu du lịch sinh thái rừng-đèo-thác (Lâm Sơn); khu du lịch nghỉ dưỡng Sông Ông-Suối Thương; phát triển du lịch nhà vườn, rừng vườn kết hợp du lịch sinh thái tại Lâm Sơn; phục hồi các lễ hội văn hóa dân gian (đặc biệt là văn hoá dân tộc Raglai) ở các thôn bản kết hợp du lịch với kinh tế; nâng cấp, mở rộng khu du lịch suối khoáng nóng Krôngpha; kết hợp khai thác du lịch các nhà máy thuỷ điện.
+ Giai đoạn 2016-2020: Tiếp tục đầu tư xây dựng các khu du lịch khác như: điểm dừng chân đèo Ngoạn Mục, khu du lịch thác Tiên, du lịch sinh thái khu vực Ma Nới và các cảnh quan lưu vực Sông Than, hồ thuỷ lợi Tân Mỹ,…
- Dịch vụ thương mại: Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ, thương mại theo hướng văn minh, hiện đại với sự tham gia của các thành phần kinh tế và đa dạng hóa các loại hình tổ chức phân phối góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, hội nhập kinh tế, thương mại của tỉnh và vùng.
+ Xây dựng trung tâm thương mại - dịch vụ tại thị trấn Tân Sơn; phát triển rộng mạng lưới thương nghiệp nông thôn, đảm bảo cung cấp kịp thời các công cụ và vật tư thiết yếu phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
+ Phát triển nhanh các dịch vụ công cộng, dịch vụ sản xuất như tài chính- ngân hàng, vận tải, bưu điện-viễn thông, tư vấn, khoa học công nghệ, giáo dục, y tế, văn hóa-thể thao.
- Hình thành thị trường bất động sản: Quy hoạch chi tiết các khu vực có tính thương mại cao theo mục đích sử dụng ở khu trung tâm thị trấn (thương mại dịch vụ), khu vực hai bên sông Dinh (nhà vườn, biệt thự, khách sạn, thương mại,...), các khu vực có tiềm năng du lịch, ven các trục đường chính ở thị trấn, các xã.
2. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật:
a) Giao thông: Tiếp tục cải tạo nâng cấp tuyến Quốc lộ 27; nâng cấp tỉnh lộ ĐT-709, đoạn từ Ma Nới (Ninh Sơn) đi Phước Hà (Thuận Nam); các tuyến đường trục liên vùng phục vụ cho sản xuất và dân sinh; đường nội thị thị trấn Tân Sơn.
b) Thuỷ lợi: Hoàn thiện hệ thống kênh nội đồng hồ Cho Mo, bê tông hóa kênh cấp II, III và kênh nội đồng. Xây dựng mới hồ chứa Sông Than, mở rộng diện tích tưới đập 19/5.
c) Điện, nước:
- Điện: Xây dựng mới 30 km đường dây trung thế 22kV và các trạm biến áp 22-15/0,4kV tổng dung lượng 7.500 kVA.
- Cấp, thoát nước: Cải tạo hệ thống đường ống nhà máy nước Tân Sơn bảo đảm cung cấp đủ nước cho thị trấn Tân Sơn, xã Quảng Sơn và một phần xã Lương Sơn; tiếp tục hoàn thiện hệ thống cấp nước tại Lâm Sơn; xây dựng hệ thống cấp nước cho khu vực Tà Nôi, Gia Rớt (Ma Nới); xây dựng hệ thống thoát nước cho đô thị Tân Sơn.
Bưu chính-viễn thông: Phấn đấu đến năm 2015 có 100% số xã có điểm phục vụ bưu chính hoạt động, cung cấp hầu hết các dịch vụ bưu chính mà bưu cục huyện cung cấp. Dự kiến đến năm 2015 sẽ tăng dung lượng tổng đài Bưu điện huyện Ninh Sơn; 100% số xã có trạm truyền thanh. Tỷ lệ hộ gia đình có điện thoại cố định là 80%, số xã có điểm truy cập Internet công cộng là 100% và tỷ lệ người sử dụng Internet đạt 50%. Đẩy nhanh việc ứng dụng rộng rãi CNTT trong hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội ở địa phương.
3. Phát triển nguồn nhân lực và lĩnh vực văn hóa-xã hội:
a) Phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo và đào tạo lại nguồn lao động có tay nghề, có trình độ khoa học kỹ thuật và quản lý để tiếp cận nhanh với kinh tế thị trường, chú trọng lực lượng lao động kỹ thuật trong tất cả các ngành kinh tế - xã hội, nhất là lao động công nghiệp, dịch vụ.
- Giai đoạn 2011-2015: Lao động qua đào tạo chiếm 45% so với tổng số lao động đang làm việc của huyện, trong đó lao động qua đào tạo nghề chiếm 25%; bình quân mỗi năm đào tạo nghề cho 400 lao động và giải quyết việc làm cho 1.900 lao động; đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã, thị trấn.
- Giai đoạn 2016-2020: Lao động qua đào tạo chiếm 60% so với tổng số lao động đang làm việc của huyện, trong đó lao động qua đào tạo nghề chiếm 38%; bình quân mỗi năm đào tạo nghề cho 500 lao động và giải quyết việc làm cho 2.500-3.000 lao động.
b) Phát triển giáo dục-đào tạo: Từng bước xã hội hóa công tác giáo dục- đào tạo, nâng cao dân trí, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Coi trọng cả 3 mặt: Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục; phát triển mạng lưới trường, lớp học ở các cấp học đạt chuẩn quốc gia; duy trì phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS.
Đến năm 2015 tỷ lệ học sinh trong độ tuổi lớp 1 đến trường đạt 98% và đến năm 2020 đạt 100%. Năm 2015 tỷ lệ giáo viên các cấp đạt chuẩn đào tạo 100%, trong đó giáo viên đạt trên chuẩn đào tạo đối với Tiểu học 87%, THCS 55%; tỷ lệ trường đạt chuấn Quốc gia đạt trên 41% và năm 2020 đạt 60%; chuyển đổi Trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp thành Trung tâm giáo dục thường xuyên- Hướng nghiệp-Dạy nghề, đến năm 2020 cơ bản hoàn thành kiên cố hóa trường lớp.
c) Phát triển ngành y tế, chăm sóc sức khỏe: Nâng cấp cơ sở vật chất hệ thống bệnh viện, trạm y tế xã, bổ sung và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ y tế.
Đến năm 2015 bình quân 1 vạn dân có 24 giường bệnh, trên 5 bác sỹ và năm 2020 có 24,7 giường bệnh và 7 bác sỹ; tiếp tục bổ sung trang thiết bị y tế cho Bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Sơn, nâng số giường bệnh bệnh viện đa khoa từ 130 giường lên 150 giường; xây dựng trung tâm an toàn vệ sinh thực phẩm và trung tâm y tế dự phòng huyện. Kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại để tăng tính hiệu quả trong khám và chữa bệnh cho nhân dân
Phát triển ngành văn hoá - thông tin - thể thao: Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, thực hiện tốt phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa trong khu dân cư; đến năm 2015 có 70-75% số thôn, khu phố đạt danh hiệu thôn, khu phố văn hóa và đến năm 2020 là 100%.
Xây dựng đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, thông tin từ cấp huyện đến cấp xã, thôn; đến năm 2020 có 100% xã-thị trấn có Trung tâm Văn hoá-Thể thao. Đào tạo nguồn nhân lực cho ngành văn hóa thông tin, đặc biệt chú ý đến đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số. Tăng cường quản lý nhà nước trên các lĩnh vực hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa. Bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc và phát triển các giá trị văn hóa mới.