Document: Điều 5 Nghị định 190-HĐBT cải tiến công tác quản lý vật tư

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "27/06/1985", "sign_number": "190-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "27/06/1985", "sign_number": "190-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "27/06/1985", "sign_number": "190-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "27/06/1985", "sign_number": "190-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "27/06/1985", "sign_number": "190-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 5 Nghị định 190-HĐBT cải tiến công tác quản lý vật tư có nội dung như sau:

Điều 5. - Sản xuất và quản lý nguồn vật tư trong nước:
1. Đẩy mạnh khai thác nguồn vật tư có khả năng sản xuất trong nước nhằm từng bước thay thế vật tư nhập khẩu. Chú trọng sản xuất các loại khoáng sản, kim loại, hoá chất cơ bản, thiết bị, phụ tùng, vật liệu xây dựng... với quy mô thích hợp.
Ưu tiên cung ứng các điều kiện thiết yếu cho các cơ sở sản xuất vật tư như năng lượng, thiết bị, vận tải... vốn và cho hưởng tỷ suất lợi nhuận cao hơn sản xuất hàng tiêu dùng để khuyến khích sản xuất.
Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước cùng Bộ Vật tư và các ngành cần có quy hoạch và kế hoạch phát triển sản xuất vật tư ngay trong kế hoạch nhà nước 5 năm (1986-1990) và kế hoạch dài hạn đến năm 2000.
Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước đưa vào chương trình nghiên cứu của Nhà nước các đề tài sản xuất một số loại vật tư quan trọng thay thế vật tư nhập khẩu.
2. Tận dụng các nguồn thứ liệu, phế liệu.
Đối với các loại vật tư quan trọng, như máy tổng thành, săm lốp ôtô, dầu thải, bình điện, bao bì,v.v... khi cung ứng vật tư mới cần thu hồi lại vật tư cũ và được thanh toán theo giá trị sử dụng còn lại, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước quy định mức thu hồi trong kế hoạch phân phối vật tư hàng năm cho các đơn vị sản xuất - kinh doanh.
Các Bộ sản xuất, kinh doanh và các địa phương có trách nhiệm tổ chức thu hồi và sử dụng lại các thứ liệu, phế liệu quan trọng theo kế hoạch của Nhà nước. Đối với những thứ liệu, phế liệu mà cả địa phương và Trung ương đều cần thì khi Trung ương điều đi, cần dành một tỷ lệ hợp lý cho nhu cầu của địa phương (hoặc đổi lại một phần sản phẩm).
Các xí nghiệp muốn giữ lại một phần thứ liệu, phế liệu để tổ chức sản xuất phụ phải được cơ quan quản lý cấp trên cho phép.
Để khuyến khích việc thu hồi và sử dụng thứ liệu, phế liệu nay quy định:
Bộ Vật tư cùng Uỷ ban Vật giá Nhà nước nghiên cứu điều chỉnh lại giá thu mua thứ liệu, phế liệu cho thoả đáng.
Tiền thu về thứ liệu, phế liệu được phân phối như sau:
Đối với nguồn phế liệu thuộc tài sản quốc gia như: đường ray hỏng, toa xe hư nát, cầu đổ, phế liệu chiến tranh,v.v... thì sau khi trừ chi phí thu hồi và tuỳ theo giá trị của phế liệu mà dành từ 30% đến 50% số tiền thu được cho đơn vị có phế liệu thu hồi để đưa vào các quỹ của đơn vị, số còn lại nộp vào Ngân sách Nhà nước (không áp dụng với việc trục vớt tàu đắm, thu hồi xác máy bay).
Đối với các thứ liệu, phế liệu phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh thì dành 50% cho cơ sở có thứ liệu, phế liệu thu hồi để đưa vào các quỹ của cơ sở, 50% trừ vào giá thành sản xuất.
Nghiêm cấm các cơ sở sản xuất - kinh doanh biến vật tư nguyên liệu chính thành thứ liệu, phế liệu để tăng thu nhập bất chính.
3. Những loại vật tư ứ đọng (kể cả thiết bị toàn bộ) từ ngày 31-12-1984 trở về trước thì xử lý theo Chỉ thị 316-TTg ngày 19-9-1979 của Thủ tướng Chính phủ; Bộ Tài chính, Bộ Vật tư và Uỷ ban Vật giá Nhà nước soát xét lại và trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định những sửa đổi, bổ sung cần thiết cho phù hợp với tình hình mới.
Đối với các loại vật tư, thiết bị không rõ chủ quản thì giao cho Bộ Vật tư để có kế hoạch sử dụng hợp lý.
Kể từ ngày 1-1-1985 nếu xí nghiệp sản xuất và tổ chức cung ứng để vật tư, nguyên liệu, thiết bị, phụ tùng tồn đọng vượt quá định mức quy định (trừ một số loại được Bộ Tài chính cho phép) thì phải vay vốn của ngân hàng với lãi suất lũy tiến.

Content:
Điều 5. - Sản xuất và quản lý nguồn vật tư trong nước:
1. Đẩy mạnh khai thác nguồn vật tư có khả năng sản xuất trong nước nhằm từng bước thay thế vật tư nhập khẩu. Chú trọng sản xuất các loại khoáng sản, kim loại, hoá chất cơ bản, thiết bị, phụ tùng, vật liệu xây dựng... với quy mô thích hợp.
Ưu tiên cung ứng các điều kiện thiết yếu cho các cơ sở sản xuất vật tư như năng lượng, thiết bị, vận tải... vốn và cho hưởng tỷ suất lợi nhuận cao hơn sản xuất hàng tiêu dùng để khuyến khích sản xuất.
Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước cùng Bộ Vật tư và các ngành cần có quy hoạch và kế hoạch phát triển sản xuất vật tư ngay trong kế hoạch nhà nước 5 năm (1986-1990) và kế hoạch dài hạn đến năm 2000.
Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước đưa vào chương trình nghiên cứu của Nhà nước các đề tài sản xuất một số loại vật tư quan trọng thay thế vật tư nhập khẩu.
2. Tận dụng các nguồn thứ liệu, phế liệu.
Đối với các loại vật tư quan trọng, như máy tổng thành, săm lốp ôtô, dầu thải, bình điện, bao bì,v.v... khi cung ứng vật tư mới cần thu hồi lại vật tư cũ và được thanh toán theo giá trị sử dụng còn lại, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước quy định mức thu hồi trong kế hoạch phân phối vật tư hàng năm cho các đơn vị sản xuất - kinh doanh.
Các Bộ sản xuất, kinh doanh và các địa phương có trách nhiệm tổ chức thu hồi và sử dụng lại các thứ liệu, phế liệu quan trọng theo kế hoạch của Nhà nước. Đối với những thứ liệu, phế liệu mà cả địa phương và Trung ương đều cần thì khi Trung ương điều đi, cần dành một tỷ lệ hợp lý cho nhu cầu của địa phương (hoặc đổi lại một phần sản phẩm).
Các xí nghiệp muốn giữ lại một phần thứ liệu, phế liệu để tổ chức sản xuất phụ phải được cơ quan quản lý cấp trên cho phép.
Để khuyến khích việc thu hồi và sử dụng thứ liệu, phế liệu nay quy định:
Bộ Vật tư cùng Uỷ ban Vật giá Nhà nước nghiên cứu điều chỉnh lại giá thu mua thứ liệu, phế liệu cho thoả đáng.
Tiền thu về thứ liệu, phế liệu được phân phối như sau:
Đối với nguồn phế liệu thuộc tài sản quốc gia như: đường ray hỏng, toa xe hư nát, cầu đổ, phế liệu chiến tranh,v.v... thì sau khi trừ chi phí thu hồi và tuỳ theo giá trị của phế liệu mà dành từ 30% đến 50% số tiền thu được cho đơn vị có phế liệu thu hồi để đưa vào các quỹ của đơn vị, số còn lại nộp vào Ngân sách Nhà nước (không áp dụng với việc trục vớt tàu đắm, thu hồi xác máy bay).
Đối với các thứ liệu, phế liệu phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh thì dành 50% cho cơ sở có thứ liệu, phế liệu thu hồi để đưa vào các quỹ của cơ sở, 50% trừ vào giá thành sản xuất.
Nghiêm cấm các cơ sở sản xuất - kinh doanh biến vật tư nguyên liệu chính thành thứ liệu, phế liệu để tăng thu nhập bất chính.
3. Những loại vật tư ứ đọng (kể cả thiết bị toàn bộ) từ ngày 31-12-1984 trở về trước thì xử lý theo Chỉ thị 316-TTg ngày 19-9-1979 của Thủ tướng Chính phủ; Bộ Tài chính, Bộ Vật tư và Uỷ ban Vật giá Nhà nước soát xét lại và trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định những sửa đổi, bổ sung cần thiết cho phù hợp với tình hình mới.
Đối với các loại vật tư, thiết bị không rõ chủ quản thì giao cho Bộ Vật tư để có kế hoạch sử dụng hợp lý.
Kể từ ngày 1-1-1985 nếu xí nghiệp sản xuất và tổ chức cung ứng để vật tư, nguyên liệu, thiết bị, phụ tùng tồn đọng vượt quá định mức quy định (trừ một số loại được Bộ Tài chính cho phép) thì phải vay vốn của ngân hàng với lãi suất lũy tiến.