Document: Khoản 1 Điều 36 Luật Quốc phòng 2005 số 39/2005/QH11

Type: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "14/06/2005", "sign_number": "39/2005/QH11", "signer": "Nguyễn Văn An", "type": "Luật"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "14/06/2005", "sign_number": "39/2005/QH11", "signer": "Nguyễn Văn An", "type": "Luật"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "14/06/2005", "sign_number": "39/2005/QH11", "signer": "Nguyễn Văn An", "type": "Luật"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "14/06/2005", "sign_number": "39/2005/QH11", "signer": "Nguyễn Văn An", "type": "Luật"}
Signer: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "14/06/2005", "sign_number": "39/2005/QH11", "signer": "Nguyễn Văn An", "type": "Luật"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 36 Luật Quốc phòng 2005 số 39/2005/QH11

Điều 36. Bãi bỏ lệnh tuyên bố tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ
1. Khi không còn tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định bãi bỏ tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, việc tổng động viên, động viên cục bộ.

Content:
Khi không còn tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định bãi bỏ tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, việc tổng động viên, động viên cục bộ.