Document: Điều 20 Thông tư 33/2010/TT-BTNMT thăm dò phân cấp trữ lượng tài nguyên mới nhất

Type: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "09/12/2010", "sign_number": "33/2010/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "09/12/2010", "sign_number": "33/2010/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "09/12/2010", "sign_number": "33/2010/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "09/12/2010", "sign_number": "33/2010/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "09/12/2010", "sign_number": "33/2010/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 20 Thông tư 33/2010/TT-BTNMT thăm dò phân cấp trữ lượng tài nguyên mới nhất có nội dung như sau:

Điều 20. Yêu cầu về công tác phân tích và kiểm tra mẫu
1. Công tác phân tích mẫu
a) Thành phần hóa học của quặng sắt phải được nghiên cứu đầy đủ, bảo đảm đánh giá tin cậy chất lượng quặng, làm rõ các tạp chất có hại và các thành phần có ích đi kèm. Hàm lượng của chúng trong quặng được xác định bằng phân tích mẫu theo phương pháp hóa học, vật lý và các phương pháp khác do tiêu chuẩn nhà nước quy định;
b) Công tác nghiên cứu các thành phần đi kèm trong quặng được thực hiện theo quy định riêng;
c) Các mẫu hóa cơ bản của quặng không đòi hỏi làm giàu phải phân tích T.Fe, Mn và thành phần có hại ảnh hưởng đến yêu cầu chất lượng của quặng hàng hóa; các thành phần khác xác định theo mẫu nhóm;
d) Các mẫu hóa cơ bản của quặng làm giàu ngoài yêu cầu phải xác định các thành phần như quặng không phải làm giàu quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều này, cần xác định các thành phần có lợi và có hại trong tinh quặng.
đ) Các mẫu nhóm phải đại diện cho tất cả các dạng tự nhiên của quặng hoặc các kiểu, hạng công nghệ của chúng;
Trình tự gộp các mẫu hóa cơ bản vào mẫu nhóm, sự phân phối các mẫu và trọng lượng chung phải đảm bảo lấy đồng đều cho các dạng cơ bản của quặng về thành phần đi kèm, tạp chất có hại và làm rõ quy luật biến đổi của chúng theo đường phương và hướng cắm thân quặng;
Để làm rõ mức độ oxy hóa của quặng nguyên sinh và xác định ranh giới đới oxy hóa phải thực hiện phân tích pha;
e) Thành phần khoáng vật, các đặc điểm về cấu tạo, kiến trúc và các tính chất vật lý khác của quặng phải được nghiên cứu bằng các phương pháp thạch học, khoáng vật, vật lý, hóa học và các dạng phân tích khác.
2. Công tác nghiên cứu mẫu công nghệ
a) Các tính chất công nghệ của quặng được nghiên cứu ở quy mô phòng thí nghiệm và bán công nghiệp. Đối với quặng dễ làm giàu khi đã có kinh nghiệm chế biến công nghiệp, cho phép sử dụng tương tự có xác nhận bằng kết quả thí nghiệm mẫu phòng thí nghiệm;
b) Các mẫu công nghệ phải lấy đặc trưng cho tất cả các dạng quặng đã phát hiện ở mỏ;
Phải nghiên cứu các tính chất công nghệ của các kiểu quặng công nghiệp đã phân chia ở mức độ cần thiết cho việc lựa chọn sơ đồ công nghệ chế biến hợp lý và xác định các chỉ tiêu làm giàu quặng;
c) Thử nghiệm công nghệ bán công nghiệp do tổ chức đầu tư khai thác mỏ thực hiện có sự thỏa thuận với tổ chức thiết kế khai thác mỏ;
d) Phải nghiên cứu khả năng sử dụng nước thải và quặng đuôi thu được trong sơ đồ chế biến quặng sắt, đưa ra các kiến nghị về làm sạch các dòng nước công nghiệp.
3. Công tác kiểm tra mẫu
a) Phải đánh giá độ tin cậy của các kết quả phân tích hóa bằng phân tích kiểm tra nội bộ, ngoại bộ và trọng tài, hoặc mẫu chuẩn;
b) Công tác phân tích kiểm tra phải được thực hiện định kỳ và có hệ thống. Việc kiểm tra được thực hiện với các thành phần hóa học chính quy định trong chỉ tiêu tính trữ lượng;
c) Mẫu sử dụng để phân tích kiểm tra ngoại bộ là phần lưu của mẫu đã được phân tích kiểm tra nội bộ. Mẫu kiểm tra ngoại bộ và nội bộ phải đại diện cho tất cả các loại quặng và các cấp hàm lượng theo từng đợt phân tích cơ bản;
d) Khi phân chia cấp hàm lượng phải chú ý đến các cấp hàm lượng của chỉ tiêu tính trữ lượng. Số lượng mẫu kiểm tra bằng 5% tổng số mẫu cơ bản. Trong trường hợp mẫu cơ bản ít, yêu cầu số lượng mẫu kiểm tra không nhỏ hơn 30 mẫu cho mỗi cấp hàm lượng hoặc phân tích kiểm tra 100% mẫu cơ bản;
đ) Trường hợp phân tích kiểm tra ngoại bộ phát hiện phân tích cơ bản có sai số hệ thống phải tiến hành kiểm tra phân tích trọng tài tại phòng thí nghiệm có trình độ phân tích cao hơn. Mẫu gửi phân tích trọng tài là mẫu lưu của mẫu phân tích cơ bản, ngoại lệ có thể dùng phần còn lại của mẫu đã phân tích. Mẫu phân tích trọng tài phải là mẫu đã được phân tích kiểm tra ngoại bộ. Số lượng mẫu kiểm tra trọng tài là 30-40 mẫu cho mỗi cấp hàm lượng có sai số hệ thống. Trường hợp phân tích trọng tài phát hiện phân tích cơ bản có sai số hệ thống cần làm rõ nguyên nhân và có biện pháp khắc phục, quyết định phân tích lại cấp hàm lượng có sai số hệ thống hoặc cho phép sử dụng hệ số điều chỉnh. Mẫu kiểm tra được thực hiện theo quy trình khác thì phải được Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản chấp nhận;
e) Quy trình lấy mẫu kiểm tra, số lượng mẫu kiểm tra, cách thức phân tích kiểm tra và việc xử lý các số liệu phân tích kiểm tra phải tuân thủ theo các quy định hiện hành.

Content:
Điều 20. Yêu cầu về công tác phân tích và kiểm tra mẫu
1. Công tác phân tích mẫu
a) Thành phần hóa học của quặng sắt phải được nghiên cứu đầy đủ, bảo đảm đánh giá tin cậy chất lượng quặng, làm rõ các tạp chất có hại và các thành phần có ích đi kèm. Hàm lượng của chúng trong quặng được xác định bằng phân tích mẫu theo phương pháp hóa học, vật lý và các phương pháp khác do tiêu chuẩn nhà nước quy định;
b) Công tác nghiên cứu các thành phần đi kèm trong quặng được thực hiện theo quy định riêng;
c) Các mẫu hóa cơ bản của quặng không đòi hỏi làm giàu phải phân tích T.Fe, Mn và thành phần có hại ảnh hưởng đến yêu cầu chất lượng của quặng hàng hóa; các thành phần khác xác định theo mẫu nhóm;
d) Các mẫu hóa cơ bản của quặng làm giàu ngoài yêu cầu phải xác định các thành phần như quặng không phải làm giàu quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều này, cần xác định các thành phần có lợi và có hại trong tinh quặng.
đ) Các mẫu nhóm phải đại diện cho tất cả các dạng tự nhiên của quặng hoặc các kiểu, hạng công nghệ của chúng;
Trình tự gộp các mẫu hóa cơ bản vào mẫu nhóm, sự phân phối các mẫu và trọng lượng chung phải đảm bảo lấy đồng đều cho các dạng cơ bản của quặng về thành phần đi kèm, tạp chất có hại và làm rõ quy luật biến đổi của chúng theo đường phương và hướng cắm thân quặng;
Để làm rõ mức độ oxy hóa của quặng nguyên sinh và xác định ranh giới đới oxy hóa phải thực hiện phân tích pha;
e) Thành phần khoáng vật, các đặc điểm về cấu tạo, kiến trúc và các tính chất vật lý khác của quặng phải được nghiên cứu bằng các phương pháp thạch học, khoáng vật, vật lý, hóa học và các dạng phân tích khác.
2. Công tác nghiên cứu mẫu công nghệ
a) Các tính chất công nghệ của quặng được nghiên cứu ở quy mô phòng thí nghiệm và bán công nghiệp. Đối với quặng dễ làm giàu khi đã có kinh nghiệm chế biến công nghiệp, cho phép sử dụng tương tự có xác nhận bằng kết quả thí nghiệm mẫu phòng thí nghiệm;
b) Các mẫu công nghệ phải lấy đặc trưng cho tất cả các dạng quặng đã phát hiện ở mỏ;
Phải nghiên cứu các tính chất công nghệ của các kiểu quặng công nghiệp đã phân chia ở mức độ cần thiết cho việc lựa chọn sơ đồ công nghệ chế biến hợp lý và xác định các chỉ tiêu làm giàu quặng;
c) Thử nghiệm công nghệ bán công nghiệp do tổ chức đầu tư khai thác mỏ thực hiện có sự thỏa thuận với tổ chức thiết kế khai thác mỏ;
d) Phải nghiên cứu khả năng sử dụng nước thải và quặng đuôi thu được trong sơ đồ chế biến quặng sắt, đưa ra các kiến nghị về làm sạch các dòng nước công nghiệp.
3. Công tác kiểm tra mẫu
a) Phải đánh giá độ tin cậy của các kết quả phân tích hóa bằng phân tích kiểm tra nội bộ, ngoại bộ và trọng tài, hoặc mẫu chuẩn;
b) Công tác phân tích kiểm tra phải được thực hiện định kỳ và có hệ thống. Việc kiểm tra được thực hiện với các thành phần hóa học chính quy định trong chỉ tiêu tính trữ lượng;
c) Mẫu sử dụng để phân tích kiểm tra ngoại bộ là phần lưu của mẫu đã được phân tích kiểm tra nội bộ. Mẫu kiểm tra ngoại bộ và nội bộ phải đại diện cho tất cả các loại quặng và các cấp hàm lượng theo từng đợt phân tích cơ bản;
d) Khi phân chia cấp hàm lượng phải chú ý đến các cấp hàm lượng của chỉ tiêu tính trữ lượng. Số lượng mẫu kiểm tra bằng 5% tổng số mẫu cơ bản. Trong trường hợp mẫu cơ bản ít, yêu cầu số lượng mẫu kiểm tra không nhỏ hơn 30 mẫu cho mỗi cấp hàm lượng hoặc phân tích kiểm tra 100% mẫu cơ bản;
đ) Trường hợp phân tích kiểm tra ngoại bộ phát hiện phân tích cơ bản có sai số hệ thống phải tiến hành kiểm tra phân tích trọng tài tại phòng thí nghiệm có trình độ phân tích cao hơn. Mẫu gửi phân tích trọng tài là mẫu lưu của mẫu phân tích cơ bản, ngoại lệ có thể dùng phần còn lại của mẫu đã phân tích. Mẫu phân tích trọng tài phải là mẫu đã được phân tích kiểm tra ngoại bộ. Số lượng mẫu kiểm tra trọng tài là 30-40 mẫu cho mỗi cấp hàm lượng có sai số hệ thống. Trường hợp phân tích trọng tài phát hiện phân tích cơ bản có sai số hệ thống cần làm rõ nguyên nhân và có biện pháp khắc phục, quyết định phân tích lại cấp hàm lượng có sai số hệ thống hoặc cho phép sử dụng hệ số điều chỉnh. Mẫu kiểm tra được thực hiện theo quy trình khác thì phải được Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản chấp nhận;
e) Quy trình lấy mẫu kiểm tra, số lượng mẫu kiểm tra, cách thức phân tích kiểm tra và việc xử lý các số liệu phân tích kiểm tra phải tuân thủ theo các quy định hiện hành.