Document: Điều 1 Quyết định 33/2002/QĐ-TTg  kế hoạch phát triển Internet Việt Nam 2001-2005

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "08/02/2002", "sign_number": "33/2002/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Gia Khiêm", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "08/02/2002", "sign_number": "33/2002/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Gia Khiêm", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "08/02/2002", "sign_number": "33/2002/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Gia Khiêm", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "08/02/2002", "sign_number": "33/2002/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Gia Khiêm", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "08/02/2002", "sign_number": "33/2002/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Gia Khiêm", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 33/2002/QĐ-TTg  kế hoạch phát triển Internet Việt Nam 2001-2005 có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch phát triển Internet Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005 với những nội dung chủ yếu sau đây:
I. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN

1. Mục tiêu tổng quát:
- Đẩy nhanh việc phổ cập Internet trong mọi hoạt động của nền kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng với chất lượng tốt, giá cả thấp hơn hoặc tương đương các nước trong khu vực.
- Phát triển hạ tầng Internet thành môi trường ứng dụng thuận lợi cho các loại hình dịch vụ điện tử về thương mại, hành chính, báo chí, bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng, giáo dục đào tạo từ xa, y tế qua mạng... phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Tạo lập môi trường cạnh tranh với nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối (IXP), dịch vụ truy nhập (ISP), dịch vụ ứng dụng (OSP).
2. Các chỉ tiêu phát triển cụ thể
a) Về phổ cập Internet :
Năm 2002-2003: tất cả các viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng, trung học dạy nghề được kết nối Internet;
Đến năm 2005: đạt mật độ bình quân 1,3-1,5 thuê bao/100 dân, tỷ lệ số dân sử dụng Internet là 4-5%, tiến tới đạt tỷ lệ này ở mức trung bình khu vực vào năm 2010; khoảng 50% số trường phổ thông trung học, 100% số bệnh viện trung ương và trên 50% số bệnh viện tỉnh được kết nối Internet; tất cả các Bộ, ngành, cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền cấp tỉnh và huyện được kết nối Internet và mạng diện rộng của Chính phủ; hầu hết cán bộ, công chức được sử dụng Internet phục vụ công tác chuyên môn và hành chính công điện tử.
Đảm bảo các dịch vụ trong môi trường Internet cho phát triển thương mại điện tử, dịch vụ ngân hàng, tài chính, hải quan v.v...
b) Mở rộng thị trường có cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà cung cấp dịch vụ Internet: đến năm 2005 có từ 3 đến 5 IXP, 30 đến 40 ISP và nhiều OSP được cấp giấy phép hoạt động.
II. CÁC BIỆN PHÁP CHỦ YẾU
1. Hoàn chỉnh hệ thống pháp lý, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về Internet
a) Tổ chức thực hiện tốt Nghị định 55/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet:
- Công khai hoá chính sách, đơn giản hoá thủ tục cấp phép trong lĩnh vực Internet: năm 2002 công bố điều kiện, qui trình cấp phép, số lượng giấy phép các dịch vụ kết nối, truy cập, ứng dụng Internet; quy định pháp lý cho các dịch vụ điện tử quan trọng về thanh toán, chứng thực trên Internet...
- Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng công nghệ thông tin, mạng lưới và dịch vụ Internet; chuẩn hoá tiếng Việt trên mạng máy tính và phần mềm hiển thị, trang Web tiếng Việt.
- Hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật đảm bảo an ninh, an toàn thông tin, phòng chống tin tặc, vi rút nhằm đảm bảo chất lượng mạng lưới và dịch vụ Internet, hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ kết nối vào mạng Internet; xây dựng cơ chế mã hoá và giải mã thông tin; hoàn thiện các quy định pháp lý xử phạt các hành vi phạm tội liên quan đến máy tính, Internet.
b) Quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên Internet: Nâng cao năng lực của Trung tâm thông tin mạng Internet Việt Nam (VNNIC); hiện đại hoá các hệ thống quản trị tài nguyên, máy chủ tên miền quốc gia (DNS); đảm bảo chủ quyền, sử dụng hiệu quả tài nguyên tên miền, địa chỉ Internet Việt Nam.
c) Thực hiện chính sách giá cước phù hợp, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm:
- Từ năm 2002, giảm giá, cước truy cập Internet tới mức bình quân của khu vực; giảm cước viễn thông phục vụ phát triển Internet tới mức giá thành; đổi mới chính sách quản lý giá, cước theo cơ chế thị trường; thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao chất lượng, giảm giá thành các dịch vụ Internet.
- Xây dựng cơ chế hỗ trợ công nghiệp điện tử, tin học, viễn thông; khuyến khích lắp ráp, sản xuất trong nước các thiết bị đầu cuối truy nhập Internet (như: máy tính, Web TV, Palm...) giá rẻ, chất lượng phù hợp; khuyến khích các cơ quan, tổ chức nghiên cứu khoa học, giáo dục, đào tạo, y tế phát triển công nghiệp phần mềm; hỗ trợ các cơ quan nhà nước, cơ quan của Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội sử dụng Internet, thụ hưởng lợi ích của công nghệ thông tin; thực hiện chương trình tiết kiệm, thu gom máy cũ cung cấp miễn phí cho các trung tâm giáo dục cộng đồng, cho người dân có thu nhập thấp tái sử dụng.
2. Phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông phục vụ phát triển Internet
- Đầu tư phát triển hợp lý và sử dụng có hiệu quả mạng lưới viễn thông; đạt mức trung bình của khu vực về dung lượng cổng kết nối Internet quốc tế; đáp ứng đủ số lượng, chất lượng đường truyền, kênh thuê riêng phục vụ Internet cho toàn xã hội với độ tin cậy, an toàn cao, đặc biệt các mạng cộng đồng như: giáo dục, y tế, ngân hàng, tài chính, hải quan...; phục vụ sử dụng hiệu quả mạng tin học diện rộng của Chính phủ (CP.net).
- Đến năm 2005, phát triển mạng điện thoại công cộng có khả năng truy nhập Internet tới tất cả các xã; mở rộng các điểm truy nhập Internet trực tiếp (POP) ở tất cả các tỉnh, thành phố; áp dụng công nghệ mới để nâng dung lượng mạng cáp đồng, cáp quang hoá từng phần để truy cập Internet tốc độ cao tại các thành phố lớn, khu công nghiệp tập trung; mở rộng khả năng truy cập Internet ngoài mạng viễn thông (như: truyền hình cáp, điện lực...); phát triển dịch vụ Internet trong thông tin di động, các điểm truy cập Internet công cộng, đại lý Internet với giá cả phù hợp.
3. Phát triển các dịch vụ ứng dụng truy nhập Internet
a) Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, nội dung thông tin điện tử tiếng Việt:
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành phục vụ tin học hoá quản lý, điều hành của Chính phủ theo Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ; từng bước điện tử hoá các thư viện nghiên cứu, các cơ sở đào tạo, hình thành các kho thông tin điện tử công cộng của quốc gia.
- Ưu tiên tạo lập nguồn thông tin điện tử nội dung tiếng Việt phong phú, phục vụ nhu cầu trong nước truy nhập Internet; khuyến khích các cơ quan, doanh nghiệp, nhà cung cấp dịch vụ Internet tổ chức nguồn cơ sở dữ liệu thông tin điện tử đa dạng; từng bước xã hội hoá việc cung cấp nội dung thông tin lên mạng, chú trọng thông tin phục vụ hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, phổ biến kiến thức cho nông dân.
b) Đầu tư phát triển các dịch vụ ứng dụng Internet:
- Ứng dụng qui trình công nghệ thông tin và Internet phục vụ "nền hành chính công điện tử", trước tiên là các dịch vụ về cấp phép, quản lý nhân khẩu, đất đai, đăng ký ô tô, xe máy, hải quan, thuế v.v...
- ứng dụng trong môi trường Internet các dịch vụ điện tử về báo chí, bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng, giáo dục và đào tạo trên mạng, y tế qua mạng; từng bước phát triển thương mại điện tử, hình thành thói quen hoạt động mua, bán trên Internet giữa các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân, tiến tới điện tử hoá rộng rãi mọi hoạt động thương mại.
4. Nâng cao nhận thức, thói quen sử dụng công nghệ thông tin và Internet
- Đưa công nghệ thông tin và Internet thành chương trình bắt buộc tại các cấp học, tạo cơ sở tri thức cần thiết cho xã hội; xây dựng các trung tâm đào tạo công nghệ thông tin, các cơ sở Internet cộng đồng.
- Thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao kiến thức về công nghệ thông tin và sử dụng dịch vụ Internet cho cán bộ quản lý các cấp, các ngành, các doanh nghiệp; nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp về ứng dụng công nghệ thông tin và Internet trong môi trường cạnh tranh quốc tế.
III. HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC
- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển các dịch vụ ứng dụng, truy nhập Internet, đại lý Internet công cộng. Các doanh nghiệp viễn thông đầu tư hợp lý phát triển mạng viễn thông phục vụ phổ cập Internet (có sự hỗ trợ cần thiết của Nhà nước cho những vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn).
- Đầu tư theo tỷ lệ thích hợp từ các nguồn vốn ngân sách, ODA, vốn của doanh nghiệp cho các mạng truy nhập Internet phục vụ cộng đồng như: giáo dục và đào tạo (Edu.net), y tế (Health.net); mạng tin học hoá quản lý hành chính Nhà nước trong đó ưu tiên bố trí nguồn ngân sách cho đề án về xây dựng thể chế, cơ sở dữ liệu điện tử phục vụ giáo dục đào tạo...

Content:
Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch phát triển Internet Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005 với những nội dung chủ yếu sau đây:
I. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN

1. Mục tiêu tổng quát:
- Đẩy nhanh việc phổ cập Internet trong mọi hoạt động của nền kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng với chất lượng tốt, giá cả thấp hơn hoặc tương đương các nước trong khu vực.
- Phát triển hạ tầng Internet thành môi trường ứng dụng thuận lợi cho các loại hình dịch vụ điện tử về thương mại, hành chính, báo chí, bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng, giáo dục đào tạo từ xa, y tế qua mạng... phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Tạo lập môi trường cạnh tranh với nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối (IXP), dịch vụ truy nhập (ISP), dịch vụ ứng dụng (OSP).
2. Các chỉ tiêu phát triển cụ thể
a) Về phổ cập Internet :
Năm 2002-2003: tất cả các viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng, trung học dạy nghề được kết nối Internet;
Đến năm 2005: đạt mật độ bình quân 1,3-1,5 thuê bao/100 dân, tỷ lệ số dân sử dụng Internet là 4-5%, tiến tới đạt tỷ lệ này ở mức trung bình khu vực vào năm 2010; khoảng 50% số trường phổ thông trung học, 100% số bệnh viện trung ương và trên 50% số bệnh viện tỉnh được kết nối Internet; tất cả các Bộ, ngành, cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền cấp tỉnh và huyện được kết nối Internet và mạng diện rộng của Chính phủ; hầu hết cán bộ, công chức được sử dụng Internet phục vụ công tác chuyên môn và hành chính công điện tử.
Đảm bảo các dịch vụ trong môi trường Internet cho phát triển thương mại điện tử, dịch vụ ngân hàng, tài chính, hải quan v.v...
b) Mở rộng thị trường có cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà cung cấp dịch vụ Internet: đến năm 2005 có từ 3 đến 5 IXP, 30 đến 40 ISP và nhiều OSP được cấp giấy phép hoạt động.
II. CÁC BIỆN PHÁP CHỦ YẾU
1. Hoàn chỉnh hệ thống pháp lý, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về Internet
a) Tổ chức thực hiện tốt Nghị định 55/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet:
- Công khai hoá chính sách, đơn giản hoá thủ tục cấp phép trong lĩnh vực Internet: năm 2002 công bố điều kiện, qui trình cấp phép, số lượng giấy phép các dịch vụ kết nối, truy cập, ứng dụng Internet; quy định pháp lý cho các dịch vụ điện tử quan trọng về thanh toán, chứng thực trên Internet...
- Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng công nghệ thông tin, mạng lưới và dịch vụ Internet; chuẩn hoá tiếng Việt trên mạng máy tính và phần mềm hiển thị, trang Web tiếng Việt.
- Hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật đảm bảo an ninh, an toàn thông tin, phòng chống tin tặc, vi rút nhằm đảm bảo chất lượng mạng lưới và dịch vụ Internet, hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ kết nối vào mạng Internet; xây dựng cơ chế mã hoá và giải mã thông tin; hoàn thiện các quy định pháp lý xử phạt các hành vi phạm tội liên quan đến máy tính, Internet.
b) Quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên Internet: Nâng cao năng lực của Trung tâm thông tin mạng Internet Việt Nam (VNNIC); hiện đại hoá các hệ thống quản trị tài nguyên, máy chủ tên miền quốc gia (DNS); đảm bảo chủ quyền, sử dụng hiệu quả tài nguyên tên miền, địa chỉ Internet Việt Nam.
c) Thực hiện chính sách giá cước phù hợp, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm:
- Từ năm 2002, giảm giá, cước truy cập Internet tới mức bình quân của khu vực; giảm cước viễn thông phục vụ phát triển Internet tới mức giá thành; đổi mới chính sách quản lý giá, cước theo cơ chế thị trường; thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao chất lượng, giảm giá thành các dịch vụ Internet.
- Xây dựng cơ chế hỗ trợ công nghiệp điện tử, tin học, viễn thông; khuyến khích lắp ráp, sản xuất trong nước các thiết bị đầu cuối truy nhập Internet (như: máy tính, Web TV, Palm...) giá rẻ, chất lượng phù hợp; khuyến khích các cơ quan, tổ chức nghiên cứu khoa học, giáo dục, đào tạo, y tế phát triển công nghiệp phần mềm; hỗ trợ các cơ quan nhà nước, cơ quan của Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội sử dụng Internet, thụ hưởng lợi ích của công nghệ thông tin; thực hiện chương trình tiết kiệm, thu gom máy cũ cung cấp miễn phí cho các trung tâm giáo dục cộng đồng, cho người dân có thu nhập thấp tái sử dụng.
2. Phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông phục vụ phát triển Internet
- Đầu tư phát triển hợp lý và sử dụng có hiệu quả mạng lưới viễn thông; đạt mức trung bình của khu vực về dung lượng cổng kết nối Internet quốc tế; đáp ứng đủ số lượng, chất lượng đường truyền, kênh thuê riêng phục vụ Internet cho toàn xã hội với độ tin cậy, an toàn cao, đặc biệt các mạng cộng đồng như: giáo dục, y tế, ngân hàng, tài chính, hải quan...; phục vụ sử dụng hiệu quả mạng tin học diện rộng của Chính phủ (CP.net).
- Đến năm 2005, phát triển mạng điện thoại công cộng có khả năng truy nhập Internet tới tất cả các xã; mở rộng các điểm truy nhập Internet trực tiếp (POP) ở tất cả các tỉnh, thành phố; áp dụng công nghệ mới để nâng dung lượng mạng cáp đồng, cáp quang hoá từng phần để truy cập Internet tốc độ cao tại các thành phố lớn, khu công nghiệp tập trung; mở rộng khả năng truy cập Internet ngoài mạng viễn thông (như: truyền hình cáp, điện lực...); phát triển dịch vụ Internet trong thông tin di động, các điểm truy cập Internet công cộng, đại lý Internet với giá cả phù hợp.
3. Phát triển các dịch vụ ứng dụng truy nhập Internet
a) Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, nội dung thông tin điện tử tiếng Việt:
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành phục vụ tin học hoá quản lý, điều hành của Chính phủ theo Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ; từng bước điện tử hoá các thư viện nghiên cứu, các cơ sở đào tạo, hình thành các kho thông tin điện tử công cộng của quốc gia.
- Ưu tiên tạo lập nguồn thông tin điện tử nội dung tiếng Việt phong phú, phục vụ nhu cầu trong nước truy nhập Internet; khuyến khích các cơ quan, doanh nghiệp, nhà cung cấp dịch vụ Internet tổ chức nguồn cơ sở dữ liệu thông tin điện tử đa dạng; từng bước xã hội hoá việc cung cấp nội dung thông tin lên mạng, chú trọng thông tin phục vụ hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, phổ biến kiến thức cho nông dân.
b) Đầu tư phát triển các dịch vụ ứng dụng Internet:
- Ứng dụng qui trình công nghệ thông tin và Internet phục vụ "nền hành chính công điện tử", trước tiên là các dịch vụ về cấp phép, quản lý nhân khẩu, đất đai, đăng ký ô tô, xe máy, hải quan, thuế v.v...
- ứng dụng trong môi trường Internet các dịch vụ điện tử về báo chí, bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng, giáo dục và đào tạo trên mạng, y tế qua mạng; từng bước phát triển thương mại điện tử, hình thành thói quen hoạt động mua, bán trên Internet giữa các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân, tiến tới điện tử hoá rộng rãi mọi hoạt động thương mại.
4. Nâng cao nhận thức, thói quen sử dụng công nghệ thông tin và Internet
- Đưa công nghệ thông tin và Internet thành chương trình bắt buộc tại các cấp học, tạo cơ sở tri thức cần thiết cho xã hội; xây dựng các trung tâm đào tạo công nghệ thông tin, các cơ sở Internet cộng đồng.
- Thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao kiến thức về công nghệ thông tin và sử dụng dịch vụ Internet cho cán bộ quản lý các cấp, các ngành, các doanh nghiệp; nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp về ứng dụng công nghệ thông tin và Internet trong môi trường cạnh tranh quốc tế.
III. HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC
- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển các dịch vụ ứng dụng, truy nhập Internet, đại lý Internet công cộng. Các doanh nghiệp viễn thông đầu tư hợp lý phát triển mạng viễn thông phục vụ phổ cập Internet (có sự hỗ trợ cần thiết của Nhà nước cho những vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn).
- Đầu tư theo tỷ lệ thích hợp từ các nguồn vốn ngân sách, ODA, vốn của doanh nghiệp cho các mạng truy nhập Internet phục vụ cộng đồng như: giáo dục và đào tạo (Edu.net), y tế (Health.net); mạng tin học hoá quản lý hành chính Nhà nước trong đó ưu tiên bố trí nguồn ngân sách cho đề án về xây dựng thể chế, cơ sở dữ liệu điện tử phục vụ giáo dục đào tạo...