Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1662/QĐ-UBND phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "11/11/2011", "sign_number": "1662/QĐ-UBND", "signer": "Cao Khoa", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "11/11/2011", "sign_number": "1662/QĐ-UBND", "signer": "Cao Khoa", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "11/11/2011", "sign_number": "1662/QĐ-UBND", "signer": "Cao Khoa", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "11/11/2011", "sign_number": "1662/QĐ-UBND", "signer": "Cao Khoa", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "11/11/2011", "sign_number": "1662/QĐ-UBND", "signer": "Cao Khoa", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1662/QĐ-UBND phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” của tỉnh Quảng Ngãi với các nội dung chủ yếu như sau:
...
3. Kinh phí theo nội dung các hoạt động của Đề án giai đoạn 2011 - 2020
a) Hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn
- Tuyên truyền, tư vấn, khảo sát, tập huấn cán bộ: 1.200 triệu đồng;
- Thí điểm mô hình dạy nghề: 875 triệu đồng;
- Điều tra khảo sát, dự báo nhu cầu dạy nghề cho lao động nông thôn: 1.260 triệu đồng;
- Đầu tư cơ sở vật chất và thiết bị dạy nghề: 63.090 triệu đồng;
- Phát triển chương trình, giáo trình: 1.550 triệu đồng;
- Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề: 2.600 triệu đồng;
- Hỗ trợ dạy nghề cho LĐNT: 201.588 triệu đồng.
- Giám sát đánh giá: 3.052 triệu đồng.
b) Đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức xã: 30.000 triệu đồng.
V- CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1. Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và xã hội về vai trò của đào tạo nghề đối với việc tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn.
a) Ủy ban nhân dân các cấp xây dựng Đề án, kế hoạch để tổ chức thực hiện Nghị quyết về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn của cấp ủy Đảng cấp trên và cấp ủy Đảng cùng cấp.
b) Đề nghị các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp tăng cường tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn; tư vấn học nghề, việc làm miễn phí và vận động các thành viên của mình tham gia học nghề;
c) Tăng cường tuyên truyền sâu rộng trên phương tiện thông tin đại chúng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đào tạo nghề, về vai trò, vị trí của đào tạo nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm, nâng cao thu nhập để người lao động nông thôn biết và tích cực tham gia học nghề;
d) Đổi mới chương trình và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông để học sinh có thái độ đúng đắn về học nghề và chủ động lựa chọn các loại hình học nghề phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mình.
2. Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo nghề
a) Đối với dạy nghề cho lao động nông thôn
Quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề của tỉnh, trong đó chú trọng đầu tư phát triển các cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn ở vùng nông thôn, miền núi (cơ sở dạy nghề công lập, tư thục, cơ sở dạy nghề tại các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các cơ sở dạy nghề tiểu thủ công mỹ nghệ) theo nghề và cấp trình độ đào tạo đến năm 2020. Hoàn thành việc thành lập mới một số trung tâm dạy nghề ở cấp huyện chưa có trung tâm dạy nghề vào năm 2011, 2012 và hoàn thành việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thiết bị vào năm 2013, 2014.
Đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề theo hướng khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư thành lập cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn. Khảo sát, lựa chọn các trường: đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng nghề, trung cấp nghề của Bộ, ngành TW trên địa bàn và các cơ sở khác có đủ điều kiện tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
b) Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
Kiện toàn tổ chức, biên chế của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, đặc biệt là Trường Chính trị của tỉnh và Trung tâm Bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố. Phối hợp với trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của các Bộ, ngành, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã theo hướng xã hội hóa có sự hỗ trợ của nhà nước (đặt hàng đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu).
3. Phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý
Điều tra, khảo sát, đánh giá đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề trên địa bàn tỉnh để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và tuyển dụng đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề. Ban hành chính sách đào tạo, bồi dưỡng, thu hút cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề của tỉnh giai đoạn 2011 - 2020. Huy động các nhà khoa học, nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, các trung tâm khuyến nông - lâm - ngư nghiệp, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn. Bố trí mỗi huyện có 01 biên chế chuyên trách về công tác dạy nghề thuộc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội; đối với trung tâm dạy nghề: mỗi nghề có tối thiểu có 01 giáo viên cơ hữu.
Đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên, giảng viên của Trường chính trị tỉnh, các Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện đáp ứng yêu cầu chương trình, nội dung giảng dạy. Xây dựng cơ chế chính sách phù hợp để thu hút những người giỏi, có năng lực giảng dạy tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; những người có năng lực đang công tác tại các cơ quan, đơn vị tham gia giảng dạy theo chế độ thỉnh giảng. Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung chương trình đào tạo, bồi dưỡng giảng viên đáp ứng được yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã.

Content:
Kinh phí theo nội dung các hoạt động của Đề án giai đoạn 2011 - 2020
a) Hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn
- Tuyên truyền, tư vấn, khảo sát, tập huấn cán bộ: 1.200 triệu đồng;
- Thí điểm mô hình dạy nghề: 875 triệu đồng;
- Điều tra khảo sát, dự báo nhu cầu dạy nghề cho lao động nông thôn: 1.260 triệu đồng;
- Đầu tư cơ sở vật chất và thiết bị dạy nghề: 63.090 triệu đồng;
- Phát triển chương trình, giáo trình: 1.550 triệu đồng;
- Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề: 2.600 triệu đồng;
- Hỗ trợ dạy nghề cho LĐNT: 201.588 triệu đồng.
- Giám sát đánh giá: 3.052 triệu đồng.
b) Đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức xã: 30.000 triệu đồng.
V- CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1. Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và xã hội về vai trò của đào tạo nghề đối với việc tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn.
a) Ủy ban nhân dân các cấp xây dựng Đề án, kế hoạch để tổ chức thực hiện Nghị quyết về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn của cấp ủy Đảng cấp trên và cấp ủy Đảng cùng cấp.
b) Đề nghị các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp tăng cường tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn; tư vấn học nghề, việc làm miễn phí và vận động các thành viên của mình tham gia học nghề;
c) Tăng cường tuyên truyền sâu rộng trên phương tiện thông tin đại chúng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đào tạo nghề, về vai trò, vị trí của đào tạo nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm, nâng cao thu nhập để người lao động nông thôn biết và tích cực tham gia học nghề;
d) Đổi mới chương trình và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông để học sinh có thái độ đúng đắn về học nghề và chủ động lựa chọn các loại hình học nghề phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mình.
2. Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo nghề
a) Đối với dạy nghề cho lao động nông thôn
Quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề của tỉnh, trong đó chú trọng đầu tư phát triển các cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn ở vùng nông thôn, miền núi (cơ sở dạy nghề công lập, tư thục, cơ sở dạy nghề tại các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các cơ sở dạy nghề tiểu thủ công mỹ nghệ) theo nghề và cấp trình độ đào tạo đến năm 2020. Hoàn thành việc thành lập mới một số trung tâm dạy nghề ở cấp huyện chưa có trung tâm dạy nghề vào năm 2011, 2012 và hoàn thành việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thiết bị vào năm 2013, 2014.
Đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề theo hướng khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư thành lập cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn. Khảo sát, lựa chọn các trường: đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng nghề, trung cấp nghề của Bộ, ngành TW trên địa bàn và các cơ sở khác có đủ điều kiện tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
b) Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
Kiện toàn tổ chức, biên chế của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, đặc biệt là Trường Chính trị của tỉnh và Trung tâm Bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố. Phối hợp với trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của các Bộ, ngành, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã theo hướng xã hội hóa có sự hỗ trợ của nhà nước (đặt hàng đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu).
Phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý
Điều tra, khảo sát, đánh giá đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề trên địa bàn tỉnh để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và tuyển dụng đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề. Ban hành chính sách đào tạo, bồi dưỡng, thu hút cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề của tỉnh giai đoạn 2011 - 2020. Huy động các nhà khoa học, nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, các trung tâm khuyến nông - lâm - ngư nghiệp, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn. Bố trí mỗi huyện có 01 biên chế chuyên trách về công tác dạy nghề thuộc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội; đối với trung tâm dạy nghề: mỗi nghề có tối thiểu có 01 giáo viên cơ hữu.
Đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên, giảng viên của Trường chính trị tỉnh, các Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện đáp ứng yêu cầu chương trình, nội dung giảng dạy. Xây dựng cơ chế chính sách phù hợp để thu hút những người giỏi, có năng lực giảng dạy tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; những người có năng lực đang công tác tại các cơ quan, đơn vị tham gia giảng dạy theo chế độ thỉnh giảng. Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung chương trình đào tạo, bồi dưỡng giảng viên đáp ứng được yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã.