Document: Điều 2 Quyết định 158-TTg biện pháp xử lý vi phạm Pháp lệnh đê điều ở Hà Nội

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "16/03/1995", "sign_number": "158-TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "16/03/1995", "sign_number": "158-TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "16/03/1995", "sign_number": "158-TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "16/03/1995", "sign_number": "158-TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "16/03/1995", "sign_number": "158-TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định 158-TTg biện pháp xử lý vi phạm Pháp lệnh đê điều ở Hà Nội có nội dung như sau:

Điều 2. -Thực hiện phương án xử lý bước 1 các vi phạm Pháp lệnh đê điều ở Hà Nội do Bộ Thuỷ lợi, Bộ Nội vụ, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà nội và các ngành có liên quan đề nghị, bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:
1/ Phương án xử lý kỹ thuật:
Trả lại mặt đê, mái đê và lưu không ở hai bên thân đê, cụ thể là giữ nguyên mặt đê theo kích thước trung bình hiện có, mái đê đảm bảo độ dốc trung bình hiện tại (m = 1,5 - 2), đảm bảo phạm vi lưu thông từ chân đê ra tối thiểu 5 mét (năm mét) ở cả hai bên chân đê; tiến hành xử lý bằng các biện pháp kỹ thuật để gia cố, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho đê trong mùa mưa lũ năm 1995; hình thành đường quản lý hai bên chân đê, tạo điều kiện cho việc kiểm tra đê và tổ chức ứng cứu kịp thời khi đê có sự cố.
Bộ Thuỷ lợi chịu trách nhiệm phê duyệt thiết kế kỹ thuật cụ thể, chủ trì cùng Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội và các ngành có liên quan xác định mốc giới chân đê, phạm vi lưu không tối thiểu cho đê như đã nêu trên và tiến hành xử lý kỹ thuật gia cố đê xong trước ngày 30/6/1995.
2/ Phương án di chuyển:
Tất cả nhà ở và các công trình hiện có ở mặt đê, mái đê và phạm vi lưu không từ chân đê ra tối thiểu 5 mét (năm mét) đều phải di chuyển đi nới khác, tạo mặt bằng thông thoáng cho việc xử lý kỹ thuật, gia cố đê, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho đê và kiểm tra, tổ chức ứng cứu khi đê có sự cố.
Việc di chuyển các hộ gia đình và tháo rỡ các công trình phải kịp với tiến độ gia cố đê. Tập trung giải toả các khu vực xung yếu trước; đối với các công trình thấy có ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn của đê thì phải xử lý ngay. Đối với di tích lịch sử, văn hoá..., thực hiện theo Điều 19 của Pháp lệnh về đê điều, công bố ngày 16/11/1989 của Hội đồng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Khi di chuyển các hộ dân cư ở trong phạm vi trên đây, phải có kế hoạch và phương án chi tiết đến từng nhà, xem xét từng trường hợp cụ thể để có chính sách hỗ trợ công bằng và thoả đáng. Cụ thể là:
a) Đối với hộ dân cư ở lâu đời, hộ sử dụng đất hợp pháp trước ngày ban hành Nghị định số 429/HĐBT ngày 15/12/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) thì được Nhà nước xét hỗ trợ một phần kinh phí cho việc di chuyển và được chính quyền địa phương bố trí đất ở ngoài phạm vi bảo vệ đê điều.
b) Đối với những người lấn chiếm đất, sử dụng đất trái phép, xây dựng nhà không được phép hoặc sai phép, phải có hình thức xử lý kiên quyết, buộc trở về nơi ở cũ hoặc rời đi nơi khác, không có hỗ trợ.
Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội chịu trách nhiệm lập phương án chi tiết và tổ chức thực hiện. Phải tiến hành khẩn trương, kiên quyết, sử dụng tổng hợp các biện pháp, giáo dục, tuyên truyền, giải thích để mọi người hiểu và làm theo pháp luật, vì lợi ích chung mà tự rỡ bỏ, di chuyển đi nơi khác. Đi đôi với biện pháp tuyên truyền, giáo dục phải áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với những người cố tình không tuân theo pháp luật.
3/ Phương án xử lý theo pháp luật:
Bộ Nội vụ chủ trì cùng các ngành có liên quan thực hiện phương án xử lý theo pháp luật. Những người xây dựng, mở rộng nhà và các công trình trái phép trong phạm vi bảo vệ đê kể từ sau ngày công bố Nghị định 429/HĐBT ngày 15/12/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ); người cấp phép sai thẩm quyền, người quyết định phạt rồi cho công trình tồn tại, người có trách nhiệm trực tiếp quản lý mà thiếu trách nhiệm đều phải xem xét, xử lý, tuỳ theo mức độ sai phạm.
Để đảm bảo xử lý được nhanh chóng, nghiêm minh, đúng người, đúng pháp luật, giữ nghiêm kỷ cương phép nước, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội, Bộ Thuỷ lợi và các ngành có liên quan ở Trung ương xem xét và quyết định xử lý hành chính theo thẩm quyền đối với những trường hợp vi phạm hành chính. Các trường hợp vi phạm tới mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì Bộ Nội vụ điều tra để xử lý theo quy định của Pháp luật.
4/ Việc thực hiện phương án xử lý bước 1 các vi phạm Pháp lệnh về đê điều nêu trên là biện pháp cấp bách, Bộ Tài chính và Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước có biện pháp cấp đủ và kịp thời vốn theo dự toán của Bộ Thuỷ lợi (trong kế hoạch vốn đã ghi năm 1995).
Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội làm việc với Bộ Tài chính để tạm giải quyết một phần kinh phí hỗ trợ cho việc tháo rỡ công trình và di chuyển dân.
5/ Bộ Thuỷ lợi và Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội có trách nhiệm phối hợp với các ngành mở đợt tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân về Pháp lệnh đê điều và chủ trương, biện pháp giải quyết các vi phạm, để mọi người dân hiểu rõ và cùng thực hiện bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Content:
Điều 2. -Thực hiện phương án xử lý bước 1 các vi phạm Pháp lệnh đê điều ở Hà Nội do Bộ Thuỷ lợi, Bộ Nội vụ, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà nội và các ngành có liên quan đề nghị, bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:
1/ Phương án xử lý kỹ thuật:
Trả lại mặt đê, mái đê và lưu không ở hai bên thân đê, cụ thể là giữ nguyên mặt đê theo kích thước trung bình hiện có, mái đê đảm bảo độ dốc trung bình hiện tại (m = 1,5 - 2), đảm bảo phạm vi lưu thông từ chân đê ra tối thiểu 5 mét (năm mét) ở cả hai bên chân đê; tiến hành xử lý bằng các biện pháp kỹ thuật để gia cố, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho đê trong mùa mưa lũ năm 1995; hình thành đường quản lý hai bên chân đê, tạo điều kiện cho việc kiểm tra đê và tổ chức ứng cứu kịp thời khi đê có sự cố.
Bộ Thuỷ lợi chịu trách nhiệm phê duyệt thiết kế kỹ thuật cụ thể, chủ trì cùng Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội và các ngành có liên quan xác định mốc giới chân đê, phạm vi lưu không tối thiểu cho đê như đã nêu trên và tiến hành xử lý kỹ thuật gia cố đê xong trước ngày 30/6/1995.
2/ Phương án di chuyển:
Tất cả nhà ở và các công trình hiện có ở mặt đê, mái đê và phạm vi lưu không từ chân đê ra tối thiểu 5 mét (năm mét) đều phải di chuyển đi nới khác, tạo mặt bằng thông thoáng cho việc xử lý kỹ thuật, gia cố đê, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho đê và kiểm tra, tổ chức ứng cứu khi đê có sự cố.
Việc di chuyển các hộ gia đình và tháo rỡ các công trình phải kịp với tiến độ gia cố đê. Tập trung giải toả các khu vực xung yếu trước; đối với các công trình thấy có ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn của đê thì phải xử lý ngay. Đối với di tích lịch sử, văn hoá..., thực hiện theo Điều 19 của Pháp lệnh về đê điều, công bố ngày 16/11/1989 của Hội đồng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Khi di chuyển các hộ dân cư ở trong phạm vi trên đây, phải có kế hoạch và phương án chi tiết đến từng nhà, xem xét từng trường hợp cụ thể để có chính sách hỗ trợ công bằng và thoả đáng. Cụ thể là:
a) Đối với hộ dân cư ở lâu đời, hộ sử dụng đất hợp pháp trước ngày ban hành Nghị định số 429/HĐBT ngày 15/12/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) thì được Nhà nước xét hỗ trợ một phần kinh phí cho việc di chuyển và được chính quyền địa phương bố trí đất ở ngoài phạm vi bảo vệ đê điều.
b) Đối với những người lấn chiếm đất, sử dụng đất trái phép, xây dựng nhà không được phép hoặc sai phép, phải có hình thức xử lý kiên quyết, buộc trở về nơi ở cũ hoặc rời đi nơi khác, không có hỗ trợ.
Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội chịu trách nhiệm lập phương án chi tiết và tổ chức thực hiện. Phải tiến hành khẩn trương, kiên quyết, sử dụng tổng hợp các biện pháp, giáo dục, tuyên truyền, giải thích để mọi người hiểu và làm theo pháp luật, vì lợi ích chung mà tự rỡ bỏ, di chuyển đi nơi khác. Đi đôi với biện pháp tuyên truyền, giáo dục phải áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với những người cố tình không tuân theo pháp luật.
3/ Phương án xử lý theo pháp luật:
Bộ Nội vụ chủ trì cùng các ngành có liên quan thực hiện phương án xử lý theo pháp luật. Những người xây dựng, mở rộng nhà và các công trình trái phép trong phạm vi bảo vệ đê kể từ sau ngày công bố Nghị định 429/HĐBT ngày 15/12/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ); người cấp phép sai thẩm quyền, người quyết định phạt rồi cho công trình tồn tại, người có trách nhiệm trực tiếp quản lý mà thiếu trách nhiệm đều phải xem xét, xử lý, tuỳ theo mức độ sai phạm.
Để đảm bảo xử lý được nhanh chóng, nghiêm minh, đúng người, đúng pháp luật, giữ nghiêm kỷ cương phép nước, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội, Bộ Thuỷ lợi và các ngành có liên quan ở Trung ương xem xét và quyết định xử lý hành chính theo thẩm quyền đối với những trường hợp vi phạm hành chính. Các trường hợp vi phạm tới mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì Bộ Nội vụ điều tra để xử lý theo quy định của Pháp luật.
4/ Việc thực hiện phương án xử lý bước 1 các vi phạm Pháp lệnh về đê điều nêu trên là biện pháp cấp bách, Bộ Tài chính và Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước có biện pháp cấp đủ và kịp thời vốn theo dự toán của Bộ Thuỷ lợi (trong kế hoạch vốn đã ghi năm 1995).
Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội làm việc với Bộ Tài chính để tạm giải quyết một phần kinh phí hỗ trợ cho việc tháo rỡ công trình và di chuyển dân.
5/ Bộ Thuỷ lợi và Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội có trách nhiệm phối hợp với các ngành mở đợt tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân về Pháp lệnh đê điều và chủ trương, biện pháp giải quyết các vi phạm, để mọi người dân hiểu rõ và cùng thực hiện bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.