Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 286/QĐ-UBND năm 2012 phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Hòa Bình", "promulgation_date": "20/03/2012", "sign_number": "286/QĐ-UBND", "signer": "Trần Đăng Ninh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Hòa Bình", "promulgation_date": "20/03/2012", "sign_number": "286/QĐ-UBND", "signer": "Trần Đăng Ninh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Hòa Bình", "promulgation_date": "20/03/2012", "sign_number": "286/QĐ-UBND", "signer": "Trần Đăng Ninh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Hòa Bình", "promulgation_date": "20/03/2012", "sign_number": "286/QĐ-UBND", "signer": "Trần Đăng Ninh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Hòa Bình", "promulgation_date": "20/03/2012", "sign_number": "286/QĐ-UBND", "signer": "Trần Đăng Ninh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 286/QĐ-UBND năm 2012 phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Hòa Bình đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
4. Phương án quy hoạch phát triển Vật liệu xây dựng đến 2020
a) Xi măng:
Đầu tư xây dựng mới các nhà máy xi măng lò quay dọc tuyến đường Hồ Chí Minh để chủ động giải quyết nhu cầu xi măng cho xây dựng của tỉnh và cung ứng cho các tỉnh bạn, đặc biệt là thủ đô Hà Nội. Nhà máy xi măng Sông Đà sẽ ngừng sản xuất để đảm bảo vệ sinh môi trường cho thành phố Hoà Bình, có thể chuyển sang sản xuất gạch bê tông nhẹ để thay thế gạch nung theo chủ trương của nhà nước về phát triển vật liệu không nung. Các dây chuyền xi măng chuyển đổi công nghệ vẫn duy trì năng lực nghiền hiện có để góp phần nâng cao sản lượng xi măng của tỉnh. Đưa năng lực sản xuất xi măng của tỉnh đạt 2,173 triệu tấn vào năm 2015 và 3,083 triệu tấn vào năm 2020.
b) Đá xây dựng:
- Đầu tư mở rộng các cơ sở khai thác hiện có và đầu tư xây dựng mới các cơ sở khai thác đá xây dựng để đáp ứng nhu cầu xây dựng ở tỉnh và cung ứng cho Hà Nội.
- Các cơ sở khai thác phải được bố trí vào các khu vực đã được xác định trong qui hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm VLXD trên địa bàn tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2008 – 2010 có xét đến 2020 đã được HĐND tỉnh thông qua tại Nghị quyết số 123/NQ-HĐND ngày 10/12/2008 và Nghị quyết số 130/2009/NQ-HĐND ngày 29/7/2009.
- Thực hiện Chỉ thị số 18/2008/CT-TTg ngày 06/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý, chấn chỉnh hoạt động khai thác đá nhằm đảm bảo an toàn trong khai thác. Hạn chế qui mô công suất khai thác dưới 100.000 m3/năm.
- Các đơn vị khai thác đá làm VLXD phải tiến hành lập đề án thăm dò mỏ đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật để xác định trữ lượng, chất lượng trình thẩm định và cấp có thẩm quyền phê duyệt; Lâp thiết kế cơ sở dự án đầu tư xây dựng, khai thác mỏ và báo cáo đánh giá tác động môi trường, dự án cải tạo phục hồi môi trường; hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đầu tư; phải bổ nhiệm giám đốc điều hành mỏ đủ tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn và năng lực quản lý; thông báo hoạt động xây dựng, khai thác mỏ vơí chính quyền địa phương, các cơ quan có liên quan và tổ chức thi công theo đúng các qui định. Nhằm đưa năng lực khai thác đá làm VLXD của tỉnh hơn 10,96 triệu m3 đến năm 2015 và 14,98 triệu m3 đến năm 2020.
c) Cát xây dựng:
- Tận dụng nguồn cát phân bố trên địa bàn tỉnh để hình thành các cơ sở khai thác cát bê tông trên sông Bôi (huyện Lạc Thủy), sông Bưởi (huyện Lạc Sơn), Kim Tiến (huyện Kim Bôi) và cát xây trát tại khu vực Hợp Thành, Hợp Thịnh (huyện Kỳ Sơn) nhằm giải quyết nhu cầu xây dựng tại chỗ. Đưa các hộ tư nhân vào sản xuất có tổ chức các cơ sở khai thác cát xây dựng theo hình thức hợp tác xã hoặc doanh nghiệp để quản lý tốt sản phẩm, giá cả, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản, đảm bảo các qui định về an toàn khai thác cát trên sông. Từng bước có kế hoạch đưa năng lực khai thác cát bê tông của tỉnh lên 45 ngàn m3 ; cát xây trát, san lấp lên 300 ngàn m3 đến năm 2015 và cát bê tông lên 60 ngàn m3 ; cát xây trát, san lấp lên 500 ngàn m3 đến năm 2020
- Tổ chức thanh tra, kiểm tra thường xuyên để ngăn chặn các hoạt động khai thác cát trái phép, đảm bảo tiết kiệm tài nguyên, đem lại lợi ích kinh tế cao cho trước mắt cũng như lâu dài.
Đưa năng lực khai thác cát bê tông của tỉnh lên 45 ngàn m3 ; cát xây trát, san lấp lên 300 ngàn m3 đến năm 2015 và cát bê tông lên 60 ngàn m3 ; cát xây trát, san lấp lên 500 ngàn m3 đến năm 2020.
d) Vật liệu xây:
- Các nhà máy sản xuất gạch ngói nung tuy nen đang hoạt động hiện nay chưa phát huy đầy đủ năng lực sản xuất đã đầu tư, cần tìm nguồn cung ứng nguyên liệu ổn định cho sản xuất, phát huy hết công suất thiết kế và đa dạng hoá sản phẩm để mở rộng thị trường tiêu thụ.
- Tiếp tục đầu tư sản xuất gạch ngói nung bằng lò tuy nen với qui mô hợp lý tại các địa bàn trong tỉnh, riêng các huyện có khả năng cung ứng cho Hà Nội như Lương Sơn, Lạc Thủy, Kỳ Sơn đầu tư các nhà máy sản xuất gạch, ngói với qui mô lớn để mở rộng thị trường. Chú trọng đầu tư tại các địa bàn có nguồn nguyên liệu tập trung, phù hợp với qui hoạch thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản của tỉnh. Tuỳ thuộc vào trữ lượng nguyên liệu và nhu cầu thị trường từng khu vực có thể lựa chọn qui mô sản xuất lớn từ 30 – 40 triệu viên/năm hoặc qui mô trung bình từ 15 – 20 triệu viên/năm.
- Đầu tư chuyển đổi cải thiện thiết bị, dây chuyền sản xuất gạch bằng việc xoá bỏ các lò đứng thủ công chuyển sang lò kiểu mới nung gạch liên tục tại các xã vùng sâu, vùng có khó khăn về giao thông, có nhu cầu nhỏ chủ yếu phục vụ xây dựng tại chỗ, trên cơ sở liên doanh liên kết giữa các cơ sở để huy động nguồn vốn và thực hiện theo kế hoạch để chủ động cung ứng vật liệu xây cho nhu cầu của địa phương từng giai đoạn. Qui mô mỗi khu vực cần đạt khoảng 4 triệu viên/năm, đến 8 – 10 triệu viên/năm.
- Khuyến khích các doanh nghiệp có năng lực tài chính, các cơ sở khai thác đá, cát xây dựng, các cơ sở sản xuất xi măng cũng như các hộ tư nhân... đầu tư vào sản xuất gạch không nung tận dụng các sản phẩm phụ của sản xuất đá xây dựng, sản xuất xi măng, khuyến khích dùng nguyên liệu từ đất đồi áp dụng công nghệ tiên tiến, sản xuất gạch bê tông khí, gạch bê tông bọt, gạch bloc để giải quyết nhu cầu về vật liệu xây tại chỗ và cung ứng cho xây dựng nhà xưởng, các hạng mục công trình phụ trợ tại các khu, cụm công nghiệp.
- Đầu tư khai thác đá ong tại huyện Kỳ sơn có nguồn nguyên liệu để làm gạch không nung , phục vụ cho việc xây dựng nhà ở, các công trình phúc lợi công cộng cần sự trang trí mang dáng vẻ tự nhiên.
Đưa năng lực sản xuất vật liệu xây các loại của tỉnh lên 1.130 triệu viên đến năm 2015 (trong đó vật liệu không nung chiếm 20%) và 1.210 triệu viên đến năm 2020 (trong đó vật liệu không nung chiếm 24%).
đ) Vật liệu lợp:
- Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất gạch tuy nen có điều kiện về nguyên liệu giành một tỷ lệ thích hợp cho sản xuất sản phẩm ngói nung, phấn đấu mỗi cơ sở đạt sản lượng khoảng 0,8 triệu m2/năm tương đương 36 ngàn m2 đến năm 2015 và 1,0 triệu m2/năm tương đương 45 ngàn m2 đến năm 2020. Đưa tổng sản lượng ngói nung của tỉnh đạt 1,1 triệu m2/năm đến năm 2015 và 1,5 triệu m2/năm đến năm 2020.
- Ổn định sản xuất các cơ sở sản xuất tấm lợp kim loại hiện có để có sản lượng đạt 0,5 triệu m2/năm.
Đưa năng lực sản xuất vật liệu lợp các loại của tỉnh lên 1,6 triệu m2 đến năm 2015 và 2,0 triệu m2 đến năm 2020.
e) Vật liệu ốp lát:
- Đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất gạch ốp lát gồm: Gạch ceramic, gạch cotto, gạch terrazzo và gạch lát không nung tự chèn để đáp ứng nhu cầu gạch ốp lát trong và ngoài nhà; lát sân, đường, các công trình văn hoá, du lịch, quảng trường, bãi đỗ xe, lát hè phố v.v…
- Đầu tư cơ sở sản xuất đá ốp lát tại huyện Kim Bôi, công suất: 30 ngàn m2/năm (giai đoạn đến 2015) và 50 ngàn m2/năm (giai đoạn 2016 – 2020); sử dụng đá granit Kim Bình, xã Kim Tiến và đá gabrô Làng Củ xã Tú Sơn. Chú trọng khâu thiết kế mẫu mã các mặt hàng ốp lát sản xuất từ đá và đẩy mạnh công tác tiếp thị, mở rộng thị trường ở trong nước và tìm thị trường để xuất khẩu. Đưa năng lực sản xuất vật liệu ốp lát các loại của tỉnh lên 3,33 triệu m2 đến năm 2015 và đạt sản lượng 4,65 triệu m2 đến năm 2020.
g) Ván sàn tre:
Ổn định các cơ sở sản xuất ván sàn tre và giải quyết triệt để các phế thải trong sản xuất, phấn đấu đạt sản lượng là 80.000 m2/năm đến năm 2015; đến năm 2020 đạt sản lượng 100.000m2/năm, đồng thời tiếp tục đưa sản phẩm ra các thị trường truyền thống để tiêu thụ nhằm ổn định sản xuất và giải quyết việc làm cho người lao động.
h) Bê tông:
- Các đơn vị sản xuất bê tông cấu kiện hiện có cần đầu tư mở rộng nâng cao năng lực sản xuất, đồng thời đa dạng hoá các mặt hàng đúc sẵn, như: Cột, dầm, sàn, tấm bó vỉa hè, tấm bê tông lắp ghép cho các công trình ngầm, cho kênh mương thủy lợi v.v…, để phục vụ cho nhu cầu sử dụng rộng rãi của xã hội.
- Đầu tư xây dựng các trạm trộn bê tông thương phẩm tại các khu vực có nhu cầu xây dựng tập trung, tại huyện Kỳ Sơn, huyện Lương Sơn, huyện Kim Bôi. Tập trung đầu tư đồng bộ cả xe vận chuyển chuyên dùng kết hợp máy bơm hút bê tông để đáp ứng nhu cầu xây dựng trên cao, các công trình xây dựng khó khăn về đường vận chuyển tiếp cận.
i) Khai thác và chế biến nguyên liệu:
Đầu tư mở rộng sản xuất cho Công ty cổ phần sản xuất vật liệu xây dựng và khoáng sản Hoà Bình và Công ty cổ phần đầu tư phát triển Nam Cường khai thác cao lanh tại xã Cuối Hạ để có sản lượng 200 ngàn tấn đến năm 2015 và 300 ngàn tấn đến năm 2020.
(Phương án qui hoạch phát triển sản xuất đối với từng chủng loại vật liệu xây dựng cụ thể được trình bày tại phụ lục kèm theo Quyết định này).

Content:
Phương án quy hoạch phát triển Vật liệu xây dựng đến 2020
a) Xi măng:
Đầu tư xây dựng mới các nhà máy xi măng lò quay dọc tuyến đường Hồ Chí Minh để chủ động giải quyết nhu cầu xi măng cho xây dựng của tỉnh và cung ứng cho các tỉnh bạn, đặc biệt là thủ đô Hà Nội. Nhà máy xi măng Sông Đà sẽ ngừng sản xuất để đảm bảo vệ sinh môi trường cho thành phố Hoà Bình, có thể chuyển sang sản xuất gạch bê tông nhẹ để thay thế gạch nung theo chủ trương của nhà nước về phát triển vật liệu không nung. Các dây chuyền xi măng chuyển đổi công nghệ vẫn duy trì năng lực nghiền hiện có để góp phần nâng cao sản lượng xi măng của tỉnh. Đưa năng lực sản xuất xi măng của tỉnh đạt 2,173 triệu tấn vào năm 2015 và 3,083 triệu tấn vào năm 2020.
b) Đá xây dựng:
- Đầu tư mở rộng các cơ sở khai thác hiện có và đầu tư xây dựng mới các cơ sở khai thác đá xây dựng để đáp ứng nhu cầu xây dựng ở tỉnh và cung ứng cho Hà Nội.
- Các cơ sở khai thác phải được bố trí vào các khu vực đã được xác định trong qui hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm VLXD trên địa bàn tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2008 – 2010 có xét đến 2020 đã được HĐND tỉnh thông qua tại Nghị quyết số 123/NQ-HĐND ngày 10/12/2008 và Nghị quyết số 130/2009/NQ-HĐND ngày 29/7/2009.
- Thực hiện Chỉ thị số 18/2008/CT-TTg ngày 06/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý, chấn chỉnh hoạt động khai thác đá nhằm đảm bảo an toàn trong khai thác. Hạn chế qui mô công suất khai thác dưới 100.000 m3/năm.
- Các đơn vị khai thác đá làm VLXD phải tiến hành lập đề án thăm dò mỏ đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật để xác định trữ lượng, chất lượng trình thẩm định và cấp có thẩm quyền phê duyệt; Lâp thiết kế cơ sở dự án đầu tư xây dựng, khai thác mỏ và báo cáo đánh giá tác động môi trường, dự án cải tạo phục hồi môi trường; hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đầu tư; phải bổ nhiệm giám đốc điều hành mỏ đủ tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn và năng lực quản lý; thông báo hoạt động xây dựng, khai thác mỏ vơí chính quyền địa phương, các cơ quan có liên quan và tổ chức thi công theo đúng các qui định. Nhằm đưa năng lực khai thác đá làm VLXD của tỉnh hơn 10,96 triệu m3 đến năm 2015 và 14,98 triệu m3 đến năm 2020.
c) Cát xây dựng:
- Tận dụng nguồn cát phân bố trên địa bàn tỉnh để hình thành các cơ sở khai thác cát bê tông trên sông Bôi (huyện Lạc Thủy), sông Bưởi (huyện Lạc Sơn), Kim Tiến (huyện Kim Bôi) và cát xây trát tại khu vực Hợp Thành, Hợp Thịnh (huyện Kỳ Sơn) nhằm giải quyết nhu cầu xây dựng tại chỗ. Đưa các hộ tư nhân vào sản xuất có tổ chức các cơ sở khai thác cát xây dựng theo hình thức hợp tác xã hoặc doanh nghiệp để quản lý tốt sản phẩm, giá cả, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản, đảm bảo các qui định về an toàn khai thác cát trên sông. Từng bước có kế hoạch đưa năng lực khai thác cát bê tông của tỉnh lên 45 ngàn m3 ; cát xây trát, san lấp lên 300 ngàn m3 đến năm 2015 và cát bê tông lên 60 ngàn m3 ; cát xây trát, san lấp lên 500 ngàn m3 đến năm 2020
- Tổ chức thanh tra, kiểm tra thường xuyên để ngăn chặn các hoạt động khai thác cát trái phép, đảm bảo tiết kiệm tài nguyên, đem lại lợi ích kinh tế cao cho trước mắt cũng như lâu dài.
Đưa năng lực khai thác cát bê tông của tỉnh lên 45 ngàn m3 ; cát xây trát, san lấp lên 300 ngàn m3 đến năm 2015 và cát bê tông lên 60 ngàn m3 ; cát xây trát, san lấp lên 500 ngàn m3 đến năm 2020.
d) Vật liệu xây:
- Các nhà máy sản xuất gạch ngói nung tuy nen đang hoạt động hiện nay chưa phát huy đầy đủ năng lực sản xuất đã đầu tư, cần tìm nguồn cung ứng nguyên liệu ổn định cho sản xuất, phát huy hết công suất thiết kế và đa dạng hoá sản phẩm để mở rộng thị trường tiêu thụ.
- Tiếp tục đầu tư sản xuất gạch ngói nung bằng lò tuy nen với qui mô hợp lý tại các địa bàn trong tỉnh, riêng các huyện có khả năng cung ứng cho Hà Nội như Lương Sơn, Lạc Thủy, Kỳ Sơn đầu tư các nhà máy sản xuất gạch, ngói với qui mô lớn để mở rộng thị trường. Chú trọng đầu tư tại các địa bàn có nguồn nguyên liệu tập trung, phù hợp với qui hoạch thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản của tỉnh. Tuỳ thuộc vào trữ lượng nguyên liệu và nhu cầu thị trường từng khu vực có thể lựa chọn qui mô sản xuất lớn từ 30 – 40 triệu viên/năm hoặc qui mô trung bình từ 15 – 20 triệu viên/năm.
- Đầu tư chuyển đổi cải thiện thiết bị, dây chuyền sản xuất gạch bằng việc xoá bỏ các lò đứng thủ công chuyển sang lò kiểu mới nung gạch liên tục tại các xã vùng sâu, vùng có khó khăn về giao thông, có nhu cầu nhỏ chủ yếu phục vụ xây dựng tại chỗ, trên cơ sở liên doanh liên kết giữa các cơ sở để huy động nguồn vốn và thực hiện theo kế hoạch để chủ động cung ứng vật liệu xây cho nhu cầu của địa phương từng giai đoạn. Qui mô mỗi khu vực cần đạt khoảng 4 triệu viên/năm, đến 8 – 10 triệu viên/năm.
- Khuyến khích các doanh nghiệp có năng lực tài chính, các cơ sở khai thác đá, cát xây dựng, các cơ sở sản xuất xi măng cũng như các hộ tư nhân... đầu tư vào sản xuất gạch không nung tận dụng các sản phẩm phụ của sản xuất đá xây dựng, sản xuất xi măng, khuyến khích dùng nguyên liệu từ đất đồi áp dụng công nghệ tiên tiến, sản xuất gạch bê tông khí, gạch bê tông bọt, gạch bloc để giải quyết nhu cầu về vật liệu xây tại chỗ và cung ứng cho xây dựng nhà xưởng, các hạng mục công trình phụ trợ tại các khu, cụm công nghiệp.
- Đầu tư khai thác đá ong tại huyện Kỳ sơn có nguồn nguyên liệu để làm gạch không nung , phục vụ cho việc xây dựng nhà ở, các công trình phúc lợi công cộng cần sự trang trí mang dáng vẻ tự nhiên.
Đưa năng lực sản xuất vật liệu xây các loại của tỉnh lên 1.130 triệu viên đến năm 2015 (trong đó vật liệu không nung chiếm 20%) và 1.210 triệu viên đến năm 2020 (trong đó vật liệu không nung chiếm 24%).
đ) Vật liệu lợp:
- Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất gạch tuy nen có điều kiện về nguyên liệu giành một tỷ lệ thích hợp cho sản xuất sản phẩm ngói nung, phấn đấu mỗi cơ sở đạt sản lượng khoảng 0,8 triệu m2/năm tương đương 36 ngàn m2 đến năm 2015 và 1,0 triệu m2/năm tương đương 45 ngàn m2 đến năm 2020. Đưa tổng sản lượng ngói nung của tỉnh đạt 1,1 triệu m2/năm đến năm 2015 và 1,5 triệu m2/năm đến năm 2020.
- Ổn định sản xuất các cơ sở sản xuất tấm lợp kim loại hiện có để có sản lượng đạt 0,5 triệu m2/năm.
Đưa năng lực sản xuất vật liệu lợp các loại của tỉnh lên 1,6 triệu m2 đến năm 2015 và 2,0 triệu m2 đến năm 2020.
e) Vật liệu ốp lát:
- Đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất gạch ốp lát gồm: Gạch ceramic, gạch cotto, gạch terrazzo và gạch lát không nung tự chèn để đáp ứng nhu cầu gạch ốp lát trong và ngoài nhà; lát sân, đường, các công trình văn hoá, du lịch, quảng trường, bãi đỗ xe, lát hè phố v.v…
- Đầu tư cơ sở sản xuất đá ốp lát tại huyện Kim Bôi, công suất: 30 ngàn m2/năm (giai đoạn đến 2015) và 50 ngàn m2/năm (giai đoạn 2016 – 2020); sử dụng đá granit Kim Bình, xã Kim Tiến và đá gabrô Làng Củ xã Tú Sơn. Chú trọng khâu thiết kế mẫu mã các mặt hàng ốp lát sản xuất từ đá và đẩy mạnh công tác tiếp thị, mở rộng thị trường ở trong nước và tìm thị trường để xuất khẩu. Đưa năng lực sản xuất vật liệu ốp lát các loại của tỉnh lên 3,33 triệu m2 đến năm 2015 và đạt sản lượng 4,65 triệu m2 đến năm 2020.
g) Ván sàn tre:
Ổn định các cơ sở sản xuất ván sàn tre và giải quyết triệt để các phế thải trong sản xuất, phấn đấu đạt sản lượng là 80.000 m2/năm đến năm 2015; đến năm 2020 đạt sản lượng 100.000m2/năm, đồng thời tiếp tục đưa sản phẩm ra các thị trường truyền thống để tiêu thụ nhằm ổn định sản xuất và giải quyết việc làm cho người lao động.
h) Bê tông:
- Các đơn vị sản xuất bê tông cấu kiện hiện có cần đầu tư mở rộng nâng cao năng lực sản xuất, đồng thời đa dạng hoá các mặt hàng đúc sẵn, như: Cột, dầm, sàn, tấm bó vỉa hè, tấm bê tông lắp ghép cho các công trình ngầm, cho kênh mương thủy lợi v.v…, để phục vụ cho nhu cầu sử dụng rộng rãi của xã hội.
- Đầu tư xây dựng các trạm trộn bê tông thương phẩm tại các khu vực có nhu cầu xây dựng tập trung, tại huyện Kỳ Sơn, huyện Lương Sơn, huyện Kim Bôi. Tập trung đầu tư đồng bộ cả xe vận chuyển chuyên dùng kết hợp máy bơm hút bê tông để đáp ứng nhu cầu xây dựng trên cao, các công trình xây dựng khó khăn về đường vận chuyển tiếp cận.
i) Khai thác và chế biến nguyên liệu:
Đầu tư mở rộng sản xuất cho Công ty cổ phần sản xuất vật liệu xây dựng và khoáng sản Hoà Bình và Công ty cổ phần đầu tư phát triển Nam Cường khai thác cao lanh tại xã Cuối Hạ để có sản lượng 200 ngàn tấn đến năm 2015 và 300 ngàn tấn đến năm 2020.
(Phương án qui hoạch phát triển sản xuất đối với từng chủng loại vật liệu xây dựng cụ thể được trình bày tại phụ lục kèm theo Quyết định này).