Document: Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1045/QĐ-UBND 2021 Đề án phát triển mạng lưới chế biến nông lâm sản Lào Cai

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "01/04/2021", "sign_number": "1045/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Quốc Khánh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "01/04/2021", "sign_number": "1045/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Quốc Khánh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "01/04/2021", "sign_number": "1045/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Quốc Khánh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "01/04/2021", "sign_number": "1045/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Quốc Khánh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "01/04/2021", "sign_number": "1045/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Quốc Khánh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1045/QĐ-UBND 2021 Đề án phát triển mạng lưới chế biến nông lâm sản Lào Cai

Điều 1. Phê duyệt Đề án phát triển mạng lưới chế biến nông, lâm sản trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2021 - 2025, với một số nội dung chính như sau:
...
2. Mục tiêu
...
b) Mục tiêu cụ thể:
Đến năm 2025, Số cơ sở chế biến nông, lâm sản toàn tỉnh có 1.292 cơ sở chế biến nông lâm sản, trong đó doanh nghiệp/HTX 127 cơ sở chiếm 9,8%. Hộ cá thể và nhóm hộ 1.165 cơ sở chiếm 90,2 %. Thu hút 14.000 lao động nông thôn tham gia thường xuyên. Trong đó:
- Đối với sản phẩm trồng trọt: Giá trị sản xuất thu được khoảng 5.817 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho khoảng 7.500 lao động thường xuyên, cho thu nhập khoảng 4 -5 triệu đồng/ tháng; phát triển 27 cơ sở sở chế, chế biến nông sản, dược liệu. Trong đó có ít nhất 01 nhà máy chế biến nông sản; 01 nhà máy chế biến dược liệu được đầu tư nâng cấp, sử dụng máy móc trang thiết bị hiện đại, áp dụng công nghệ cao, tiên tiến trong chế biến và bảo quản sản phẩm nông sản và dược liệu trồng;
- Đối với chế biến sản phẩm chăn nuôi và thủy sản: Giá trị sản xuất thu được khoảng 3.341 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho khoảng 3.000 lao động thường xuyên, cho thu nhập khoảng 5-6 triệu đồng/ tháng; phát triển 07 cơ sở chế biến sản phẩm chăn nuôi, thủy sản. Trong đó xây dựng 01 cơ sở giết mổ động vật tập trung với công nghệ giết mổ hiện đại gắn với sơ chế, pha lóc, bảo quản thịt và chế biến thịt thành các dạng sản phẩm như: thịt hộp, thịt xông khói, giò, chả, xúc xích, lạp sườn... và 01 nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi;
- Đối với chế biến lâm sản: Giá trị sản xuất thu được khoảng 3.670,5 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho khoảng 3.500 lao động thường xuyên, cho thu nhập khoảng 6 - 6,5 triệu đồng/ tháng; thu hút 7 doanh nghiệp/HTX đầu tư xây dựng nhà máy chế biến lâm sản gắn với vùng nguyên liệu; phấn đấu đến năm 2025 trên 80% lâm sản khai thác trong tỉnh được qua chế biến;
100% sản phẩm của chuỗi sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông, lâm sản và thủy sản an toàn trên địa bàn tỉnh sử dụng mã QR trên Hệ thống minh bạch thông tin truy xuất nguồn gốc nông lâm sản thủy sản thực phẩm trên địa bàn tỉnh do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh quản lý;
80% cơ sở sơ chế, chế biến sâu các sản phẩm như rau, củ, quả, các sản phẩm chế biến từ thịt, trứng được sử dụng máy móc trang thiết bị hiện đại, áp dụng công nghệ cao, tiên tiến trong chế biến và bảo quản sản phẩm, được xây dựng và áp dụng chương trình quản lý chất lượng tiên tiến theo tiêu chuẩn HACCP.
II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
1. Nhiệm vụ chủ yếu
1.1. Đối với ngành hàng chế biến sản phẩm trồng trọt
1.1.1. Chế biến chè
a) Về phát triển vùng nguyên liệu
Tổng diện tích chè tỉnh Lào Cai đến năm 2025 đạt khoảng 7.000 ha, trong đó tập trung tại một số huyện: Mường Khương 4.000 ha, Bát Xát 600 ha, Sa Pa 40ha, Bắc Hà 650 ha, Bảo Thắng 850 ha, Bảo Yên 800 ha, TP. Lào Cai 60 ha. Sản lượng chè tươi các loại ước đạt trên 60.000 tấn/năm.
b) Phát triển mạng lưới cơ sở chế biến chè
Tổng số cơ sở chế biến chè toàn tỉnh đến năm 2025 là 16 cơ sở (trong đó: 13 cơ sở quy mô doanh nghiệp/HTX, 03 cơ sở là các tổ hợp tác) tăng so với năm 2020 03 cơ sở (quy mô Doanh nghiệp) tại huyện Mường Khương với tổng công suất thiết kế của các nhà máy chế biến đạt 94.000 tấn/ năm (tăng 34000 tấn/năm so với năm 2020).
Lượng chè chế biến tại các nhà máy ước đạt 100% sản lượng, tăng 33.000 tấn/năm so với năm 2020 (27.000 tấn/năm). Đối với chế biến chè quy mô hộ gia đình không khuyến khích phát triển, lực lượng lao động trong các hộ này sẽ chuyển vào các doanh nghiệp chế biến hoặc tham gia vào các ngành nghề khác.

Content:
Mục tiêu cụ thể:
Đến năm 2025, Số cơ sở chế biến nông, lâm sản toàn tỉnh có 1.292 cơ sở chế biến nông lâm sản, trong đó doanh nghiệp/HTX 127 cơ sở chiếm 9,8%. Hộ cá thể và nhóm hộ 1.165 cơ sở chiếm 90,2 %. Thu hút 14.000 lao động nông thôn tham gia thường xuyên. Trong đó:
- Đối với sản phẩm trồng trọt: Giá trị sản xuất thu được khoảng 5.817 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho khoảng 7.500 lao động thường xuyên, cho thu nhập khoảng 4 -5 triệu đồng/ tháng; phát triển 27 cơ sở sở chế, chế biến nông sản, dược liệu. Trong đó có ít nhất 01 nhà máy chế biến nông sản; 01 nhà máy chế biến dược liệu được đầu tư nâng cấp, sử dụng máy móc trang thiết bị hiện đại, áp dụng công nghệ cao, tiên tiến trong chế biến và bảo quản sản phẩm nông sản và dược liệu trồng;
- Đối với chế biến sản phẩm chăn nuôi và thủy sản: Giá trị sản xuất thu được khoảng 3.341 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho khoảng 3.000 lao động thường xuyên, cho thu nhập khoảng 5-6 triệu đồng/ tháng; phát triển 07 cơ sở chế biến sản phẩm chăn nuôi, thủy sản. Trong đó xây dựng 01 cơ sở giết mổ động vật tập trung với công nghệ giết mổ hiện đại gắn với sơ chế, pha lóc, bảo quản thịt và chế biến thịt thành các dạng sản phẩm như: thịt hộp, thịt xông khói, giò, chả, xúc xích, lạp sườn... và 01 nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi;
- Đối với chế biến lâm sản: Giá trị sản xuất thu được khoảng 3.670,5 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho khoảng 3.500 lao động thường xuyên, cho thu nhập khoảng 6 - 6,5 triệu đồng/ tháng; thu hút 7 doanh nghiệp/HTX đầu tư xây dựng nhà máy chế biến lâm sản gắn với vùng nguyên liệu; phấn đấu đến năm 2025 trên 80% lâm sản khai thác trong tỉnh được qua chế biến;
100% sản phẩm của chuỗi sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông, lâm sản và thủy sản an toàn trên địa bàn tỉnh sử dụng mã QR trên Hệ thống minh bạch thông tin truy xuất nguồn gốc nông lâm sản thủy sản thực phẩm trên địa bàn tỉnh do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh quản lý;
80% cơ sở sơ chế, chế biến sâu các sản phẩm như rau, củ, quả, các sản phẩm chế biến từ thịt, trứng được sử dụng máy móc trang thiết bị hiện đại, áp dụng công nghệ cao, tiên tiến trong chế biến và bảo quản sản phẩm, được xây dựng và áp dụng chương trình quản lý chất lượng tiên tiến theo tiêu chuẩn HACCP.
II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
1. Nhiệm vụ chủ yếu
1.1. Đối với ngành hàng chế biến sản phẩm trồng trọt
1.1.1. Chế biến chè
a) Về phát triển vùng nguyên liệu
Tổng diện tích chè tỉnh Lào Cai đến năm 2025 đạt khoảng 7.000 ha, trong đó tập trung tại một số huyện: Mường Khương 4.000 ha, Bát Xát 600 ha, Sa Pa 40ha, Bắc Hà 650 ha, Bảo Thắng 850 ha, Bảo Yên 800 ha, TP. Lào Cai 60 ha. Sản lượng chè tươi các loại ước đạt trên 60.000 tấn/năm.
Phát triển mạng lưới cơ sở chế biến chè
Tổng số cơ sở chế biến chè toàn tỉnh đến năm 2025 là 16 cơ sở (trong đó: 13 cơ sở quy mô doanh nghiệp/HTX, 03 cơ sở là các tổ hợp tác) tăng so với năm 2020 03 cơ sở (quy mô Doanh nghiệp) tại huyện Mường Khương với tổng công suất thiết kế của các nhà máy chế biến đạt 94.000 tấn/ năm (tăng 34000 tấn/năm so với năm 2020).
Lượng chè chế biến tại các nhà máy ước đạt 100% sản lượng, tăng 33.000 tấn/năm so với năm 2020 (27.000 tấn/năm). Đối với chế biến chè quy mô hộ gia đình không khuyến khích phát triển, lực lượng lao động trong các hộ này sẽ chuyển vào các doanh nghiệp chế biến hoặc tham gia vào các ngành nghề khác.