Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 1053/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Điện Biên", "promulgation_date": "31/08/2010", "sign_number": "1053/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Văn Nhân", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Điện Biên", "promulgation_date": "31/08/2010", "sign_number": "1053/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Văn Nhân", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Điện Biên", "promulgation_date": "31/08/2010", "sign_number": "1053/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Văn Nhân", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Điện Biên", "promulgation_date": "31/08/2010", "sign_number": "1053/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Văn Nhân", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Điện Biên", "promulgation_date": "31/08/2010", "sign_number": "1053/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Văn Nhân", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 1053/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh Điện Biên giai đoạn đến năm 2015, có xét đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau:
...
5. Quy hoạch nhóm khoáng sản làm vật liệu xây dựng.
Khoáng sản làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Điện Biên khá đa dạng và có tiềm năng đáng kể, trong đó có những loại đủ đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội trong thời gian rất dài. Các khoáng sản làm vật liệu xây dựng trên địa bàn gồm: đá ốp lát và đá vôi trắng/đá hoa, đá vôi xi măng; đá lợp; sét xi măng; sét gạch ngói; cát cuội sỏi và đá xây dựng thông thường. Định hướng quy hoạch thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản vật liệu xây dựng giai đoạn đến năm 2020 cụ thể như sau:
* Đối với vôi trắng, đá ốp lát: Toàn tỉnh hiện ghi nhận 5 điểm đá vôi trắng và đá ốp lát, trong đó điểm đá ốp lát Lay Nưa thuộc khu vực cấm khai thác, điểm đá vôi trắng Ka La Vô và đá ốp lát Tả Sìn Thàng thuộc dự trữ khoáng sản quốc gia, còn lại điểm đá ốp lát Quyết Tiến -Tuần Giáo và đá granit Nà Nhạn - Điện Biên cần đánh giá trữ lượng, chất lượng để có biện pháp quản lý, sử dụng hiệu quả. Vì vậy, giai đoạn đến năm 2015 sẽ tập trung đầu tư đánh giá triển vọng và thăm dò để xác định trữ lượng và tài nguyên dự báo, đánh giá chất lượng của đá ốp lát Quyết Tiến và đá granit ốp lát Nà Nhạn, trên cơ sở kết quả đánh giá trữ lượng, chất lượng của các điểm mỏ và nhu cầu của thị trường để khai thác, dự kiến hoạt động khai thác được tiến hành trong giai đoạn 2016-2020.
* Đá vôi và sét xi măng: Điện Biên có 3 điểm mỏ đá vôi xi măng (Trung Thu, Pú Nhung, Tây Trang) và 5 điểm mỏ sét xi măng (Na Lôm, Bản Kéo, Pe Luông, Chiềng Đông và Na Hai), trong đó ngoài mỏ sét Na Hai thì toàn bộ các điểm mỏ đá vôi xi măng, sét xi măng còn lại thuộc diện dự trữ khoáng sản quốc gia quy định tại Quyết định số: 105/2008/QĐ-TTg ngày 21/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ. Hiện theo tài liệu điều tra, đánh giá trữ lượng mỏ sét xi măng Na Hai (cấp C1+C2 khoảng 4,8 triệu tấn) và mỏ đá Tây Trang có khả năng cung cấp nguồn nguyên liệu ổn định cho hoạt động của Nhà máy xi măng Điện Biên giai đoạn ngoài 2030. Do đó, trong giai đoạn đến năm 2020, tập trung khai thác điểm mỏ đá vôi Tây Trang và sét Na Hai để cung cấp nguyên liệu cho sản xuất của Nhà máy xi măng Điện Biên.
* Đá lợp: Hiện trên địa bàn có 02 điểm mỏ đá phiến làm vật liệu lợp và trang trí, trong đó: điểm mỏ Hang Tôm được đánh giá và xác định tài nguyên dự báo vào khoảng 1,2 triệu m3; điểm mỏ Huổi Mút được điều tra trong lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1/50.000 và thuộc khu vực cấm hoạt động khoáng sản. Với tính chất cơ lý kém nên độ thu hồi thành phẩm rất thấp cùng với nhu cầu sử dụng và xuất khẩu không cao, do đó trong giai đoạn đến năm 2020 sẽ không thực hiện đầu tư đánh giá, thăm dò mà thực hiện khai thác theo nhu cầu thị trường tại điểm mỏ Hang Tôm.
* Sét gạch ngói, cát sỏi: Hiện tại 5 điểm sét gạch ngói và 6 điểm mỏ cát cuội sỏi trên địa bàn tỉnh được phân bố chủ yếu dọc hệ thống sông suối trên địa bàn; hoạt động khai thác chủ yếu với quy mô hộ gia đình và phục vụ nhu cầu về vật liệu xây dựng trên địa bàn. Để khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường, bảo vệ an toàn các công trình hạ tầng trong khu vực, trong giai đoạn đến năm 2015 cần quản quản lý khai thác theo hướng:
- Ưu tiên cấp phép khai thác sét gạch ngói trung và dài hạn cho các tổ chức để đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất gạch, ngói bằng lò nung tuynen, từng bước thực hiện mục tiêu xóa lò gạch ngói thủ công trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Chính phủ.
- Khai thác cát sỏi ở quy mô hộ gia đình ngoài khu vực hành lang bảo vệ công trình cơ sở hạ tầng, khu vực có dòng chảy phức tạp, dễ biến đổi theo mùa, cấp phép trong thời hạn không quá 6 tháng và không thuộc những tháng mùa mưa.
- Đầu tư đánh giá trữ lượng mỏ đá cát kết Phi Lĩnh để tổ chức khai thác, xay nghiền với công suất khoảng 50.000m3 cát thành phẩm/năm.
* Đá xây dựng thông thường
Hiện có 60 mỏ, điểm, diện tích đá xây dựng thông thường đang và sẽ khai thác, trên cơ sở mức độ tập trung của các điểm mỏ, trong giai đoạn đến năm 2020 quy hoạch hình thành 9 vùng (Chi tiết các điểm mỏ thuộc các vùng có phụ lục 4 kèm theo) khai thác, chế biến khoáng sản phục vụ nhu cầu của thị trường. Cụ thể:
- Vùng 1 (gồm 7 diện tích đang khai thác): Phục vụ nhu cầu của toàn bộ huyện Mường Nhé và phần phía Tây huyện Mường Chà với tổng công suất khai thác tăng dần trong giai đoạn 2010-2015 và ổn định ở mức 80.000m3/năm trong giai đoạn 2016-2020.
- Vùng 2 (gồm 3 diện tích đang khai thác): Phục vụ nhu cầu của thị xã Mường Lay với tổng công suất khai thác đạt 30.000m3/năm trong giai đoạn 2010-2015.
- Vùng 3 (gồm 1 diện tích đang khai thác): Phục vụ nhu cầu tại chỗ của huyện Mường Chà, trong giai đoạn 2010-2020 đầu tư khai thác, chế biến với tổng công suất khoảng 40.000m3/năm.
- Vùng 4 (gồm 7 diện tích đang khai thác): Phục vụ nhu cầu thị trường trung tâm tỉnh (phía Nam huyện Mường Chà, phía Bắc huyện Điện Biên và thành phố Điện Biên Phủ) với tổng công suất giai đoạn 2010-2015 từ 40.000 đến 80.000m3/năm và đạt 100.000m3 cho đến năm 2020.
- Vùng 5 (gồm 8 diện tích đang khai thác): Phục vụ nhu cầu thị trường huyện Tủa Chùa và Tuần Giáo, một phần Thị xã Mường Lay và huyện Mường Chà với tổng công suất 90.000m3 vào năm 2015, giai đoạn 2016-2020 thực hiện đầu tư mở rộng diện tích khai thác để đảm bảo ổn định tổng công suất khai thác đạt 160.000 m3/năm.
- Vùng 6 (gồm 3 diện tích đang khai thác): Phục vụ một phần nhu cầu thị trường huyện Tuần Giáo với tổng công suất duy trì cho giai đoạn 2010-2020 là 60.000m3/năm.
- Vùng 7 (gồm 9 diện tích đang khai thác): Phục vụ nhu cầu thị trường các huyện: Mường Ẳng, Tuần Giáo, phần phía Bắc huyện Điện Biên và Điện Biên Đông, Thành phố Điện Biên Phủ với tổng công suất giai đoạn 2010-2015 từ 80.000 - 100.000m3/năm, giai đoạn 2016-2020 đạt 120.000m3/năm.
- Vùng 8 (gồm 8 diện tích đang khai thác): Phục vụ nhu cầu thị trường huyện Điện Biên, thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên Đông) với tổng công suất giai đoạn 2010-2015 từ 80.000 - 100.000m3/năm, giai đoạn 2016-2020 đạt 110.000m3/năm.
- Vùng 9 (gồm 2 diện tích đang khai thác): Phục vụ nhu cầu thị trường phía Nam huyện Điện Biên Đông với tổng công suất khai thác đến năm 2015 đạt 15.000m3/năm và đến năm 2020 đạt khoảng 20.000m3/năm.
Ngoài 9 vùng khai thác tập trung nêu trên, một số điểm mỏ nhỏ lẻ phân bố tương đối đơn lẻ trên địa bàn tỉnh như mỏ Hang Tôm, Nà Ri, Na Son... trong giai đoạn đến năm 2020, đầu tư duy trì tổng công suất khai thác, chế biến khoảng 25-30 ngàn m3/năm; đồng thời tổ chức khai thác tận thu các điểm khoáng sản mới phát hiện và phát hiện trong quá trình thi công xây dựng các công trình nhằm giảm giá thành và phục vụ nhu cầu tại chỗ.

Content:
Quy hoạch nhóm khoáng sản làm vật liệu xây dựng.
Khoáng sản làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Điện Biên khá đa dạng và có tiềm năng đáng kể, trong đó có những loại đủ đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội trong thời gian rất dài. Các khoáng sản làm vật liệu xây dựng trên địa bàn gồm: đá ốp lát và đá vôi trắng/đá hoa, đá vôi xi măng; đá lợp; sét xi măng; sét gạch ngói; cát cuội sỏi và đá xây dựng thông thường. Định hướng quy hoạch thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản vật liệu xây dựng giai đoạn đến năm 2020 cụ thể như sau:
* Đối với vôi trắng, đá ốp lát: Toàn tỉnh hiện ghi nhận 5 điểm đá vôi trắng và đá ốp lát, trong đó điểm đá ốp lát Lay Nưa thuộc khu vực cấm khai thác, điểm đá vôi trắng Ka La Vô và đá ốp lát Tả Sìn Thàng thuộc dự trữ khoáng sản quốc gia, còn lại điểm đá ốp lát Quyết Tiến -Tuần Giáo và đá granit Nà Nhạn - Điện Biên cần đánh giá trữ lượng, chất lượng để có biện pháp quản lý, sử dụng hiệu quả. Vì vậy, giai đoạn đến năm 2015 sẽ tập trung đầu tư đánh giá triển vọng và thăm dò để xác định trữ lượng và tài nguyên dự báo, đánh giá chất lượng của đá ốp lát Quyết Tiến và đá granit ốp lát Nà Nhạn, trên cơ sở kết quả đánh giá trữ lượng, chất lượng của các điểm mỏ và nhu cầu của thị trường để khai thác, dự kiến hoạt động khai thác được tiến hành trong giai đoạn 2016-2020.
* Đá vôi và sét xi măng: Điện Biên có 3 điểm mỏ đá vôi xi măng (Trung Thu, Pú Nhung, Tây Trang) và 5 điểm mỏ sét xi măng (Na Lôm, Bản Kéo, Pe Luông, Chiềng Đông và Na Hai), trong đó ngoài mỏ sét Na Hai thì toàn bộ các điểm mỏ đá vôi xi măng, sét xi măng còn lại thuộc diện dự trữ khoáng sản quốc gia quy định tại Quyết định số: 105/2008/QĐ-TTg ngày 21/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ. Hiện theo tài liệu điều tra, đánh giá trữ lượng mỏ sét xi măng Na Hai (cấp C1+C2 khoảng 4,8 triệu tấn) và mỏ đá Tây Trang có khả năng cung cấp nguồn nguyên liệu ổn định cho hoạt động của Nhà máy xi măng Điện Biên giai đoạn ngoài 2030. Do đó, trong giai đoạn đến năm 2020, tập trung khai thác điểm mỏ đá vôi Tây Trang và sét Na Hai để cung cấp nguyên liệu cho sản xuất của Nhà máy xi măng Điện Biên.
* Đá lợp: Hiện trên địa bàn có 02 điểm mỏ đá phiến làm vật liệu lợp và trang trí, trong đó: điểm mỏ Hang Tôm được đánh giá và xác định tài nguyên dự báo vào khoảng 1,2 triệu m3; điểm mỏ Huổi Mút được điều tra trong lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1/50.000 và thuộc khu vực cấm hoạt động khoáng sản. Với tính chất cơ lý kém nên độ thu hồi thành phẩm rất thấp cùng với nhu cầu sử dụng và xuất khẩu không cao, do đó trong giai đoạn đến năm 2020 sẽ không thực hiện đầu tư đánh giá, thăm dò mà thực hiện khai thác theo nhu cầu thị trường tại điểm mỏ Hang Tôm.
* Sét gạch ngói, cát sỏi: Hiện tại 5 điểm sét gạch ngói và 6 điểm mỏ cát cuội sỏi trên địa bàn tỉnh được phân bố chủ yếu dọc hệ thống sông suối trên địa bàn; hoạt động khai thác chủ yếu với quy mô hộ gia đình và phục vụ nhu cầu về vật liệu xây dựng trên địa bàn. Để khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường, bảo vệ an toàn các công trình hạ tầng trong khu vực, trong giai đoạn đến năm 2015 cần quản quản lý khai thác theo hướng:
- Ưu tiên cấp phép khai thác sét gạch ngói trung và dài hạn cho các tổ chức để đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất gạch, ngói bằng lò nung tuynen, từng bước thực hiện mục tiêu xóa lò gạch ngói thủ công trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Chính phủ.
- Khai thác cát sỏi ở quy mô hộ gia đình ngoài khu vực hành lang bảo vệ công trình cơ sở hạ tầng, khu vực có dòng chảy phức tạp, dễ biến đổi theo mùa, cấp phép trong thời hạn không quá 6 tháng và không thuộc những tháng mùa mưa.
- Đầu tư đánh giá trữ lượng mỏ đá cát kết Phi Lĩnh để tổ chức khai thác, xay nghiền với công suất khoảng 50.000m3 cát thành phẩm/năm.
* Đá xây dựng thông thường
Hiện có 60 mỏ, điểm, diện tích đá xây dựng thông thường đang và sẽ khai thác, trên cơ sở mức độ tập trung của các điểm mỏ, trong giai đoạn đến năm 2020 quy hoạch hình thành 9 vùng (Chi tiết các điểm mỏ thuộc các vùng có phụ lục 4 kèm theo) khai thác, chế biến khoáng sản phục vụ nhu cầu của thị trường. Cụ thể:
- Vùng 1 (gồm 7 diện tích đang khai thác): Phục vụ nhu cầu của toàn bộ huyện Mường Nhé và phần phía Tây huyện Mường Chà với tổng công suất khai thác tăng dần trong giai đoạn 2010-2015 và ổn định ở mức 80.000m3/năm trong giai đoạn 2016-2020.
- Vùng 2 (gồm 3 diện tích đang khai thác): Phục vụ nhu cầu của thị xã Mường Lay với tổng công suất khai thác đạt 30.000m3/năm trong giai đoạn 2010-2015.
- Vùng 3 (gồm 1 diện tích đang khai thác): Phục vụ nhu cầu tại chỗ của huyện Mường Chà, trong giai đoạn 2010-2020 đầu tư khai thác, chế biến với tổng công suất khoảng 40.000m3/năm.
- Vùng 4 (gồm 7 diện tích đang khai thác): Phục vụ nhu cầu thị trường trung tâm tỉnh (phía Nam huyện Mường Chà, phía Bắc huyện Điện Biên và thành phố Điện Biên Phủ) với tổng công suất giai đoạn 2010-2015 từ 40.000 đến 80.000m3/năm và đạt 100.000m3 cho đến năm 2020.
- Vùng 5 (gồm 8 diện tích đang khai thác): Phục vụ nhu cầu thị trường huyện Tủa Chùa và Tuần Giáo, một phần Thị xã Mường Lay và huyện Mường Chà với tổng công suất 90.000m3 vào năm 2015, giai đoạn 2016-2020 thực hiện đầu tư mở rộng diện tích khai thác để đảm bảo ổn định tổng công suất khai thác đạt 160.000 m3/năm.
- Vùng 6 (gồm 3 diện tích đang khai thác): Phục vụ một phần nhu cầu thị trường huyện Tuần Giáo với tổng công suất duy trì cho giai đoạn 2010-2020 là 60.000m3/năm.
- Vùng 7 (gồm 9 diện tích đang khai thác): Phục vụ nhu cầu thị trường các huyện: Mường Ẳng, Tuần Giáo, phần phía Bắc huyện Điện Biên và Điện Biên Đông, Thành phố Điện Biên Phủ với tổng công suất giai đoạn 2010-2015 từ 80.000 - 100.000m3/năm, giai đoạn 2016-2020 đạt 120.000m3/năm.
- Vùng 8 (gồm 8 diện tích đang khai thác): Phục vụ nhu cầu thị trường huyện Điện Biên, thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên Đông) với tổng công suất giai đoạn 2010-2015 từ 80.000 - 100.000m3/năm, giai đoạn 2016-2020 đạt 110.000m3/năm.
- Vùng 9 (gồm 2 diện tích đang khai thác): Phục vụ nhu cầu thị trường phía Nam huyện Điện Biên Đông với tổng công suất khai thác đến năm 2015 đạt 15.000m3/năm và đến năm 2020 đạt khoảng 20.000m3/năm.
Ngoài 9 vùng khai thác tập trung nêu trên, một số điểm mỏ nhỏ lẻ phân bố tương đối đơn lẻ trên địa bàn tỉnh như mỏ Hang Tôm, Nà Ri, Na Son... trong giai đoạn đến năm 2020, đầu tư duy trì tổng công suất khai thác, chế biến khoảng 25-30 ngàn m3/năm; đồng thời tổ chức khai thác tận thu các điểm khoáng sản mới phát hiện và phát hiện trong quá trình thi công xây dựng các công trình nhằm giảm giá thành và phục vụ nhu cầu tại chỗ.