Document: Điều 1 Quyết định 4137/QĐ-UBND 2018 Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới Đồng Nai 2016 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "21/11/2018", "sign_number": "4137/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hòa Hiệp", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "21/11/2018", "sign_number": "4137/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hòa Hiệp", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "21/11/2018", "sign_number": "4137/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hòa Hiệp", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "21/11/2018", "sign_number": "4137/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hòa Hiệp", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "21/11/2018", "sign_number": "4137/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hòa Hiệp", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 4137/QĐ-UBND 2018 Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới Đồng Nai 2016 2020 có nội dung như sau:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Kế hoạch số 1134/KH-UBND ngày 18/02/2016 của UBND tỉnh thực hiện Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016 - 2020, như sau:
1. Sửa đổi gạch đầu dòng thứ nhất (-), Điểm c, Khoản 2 Mục II như sau:
“- Vào năm 2020, tỷ lệ biết chữ của nữ trong độ tuổi từ 15 đến 60 đạt ngang bằng với nam (trên 99%), trong đó tỷ lệ người dân tộc thiểu số biết chữ đạt trên 94%”.
2. Sửa đổi Điểm đ, Khoản 2 Mục II như sau:
“đ) Mục tiêu 5: Bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa thông tin.
Phấn đấu hàng tháng có ít nhất 02 chuyên mục tuyên truyền về bình đẳng giới trên sóng Đài Phát thanh - Truyền hình Đồng Nai và 02 chuyên trang trên Báo Đồng Nai và 02 chuyên mục trên hệ thống thông tin cơ sở tại các xã, phường, thị trấn vào năm 2020”.
3. Sửa đổi Điểm a, Khoản 1 Mục III như sau:
“a) Tiếp tục rà soát các quy định của Đảng và Nhà nước trong công tác cán bộ, nhất là độ tuổi đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, nghỉ hưu. Xác định những bất hợp lý và bất lợi đối với phụ nữ khi thực hiện những quy định này để kiến nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Luật Bình đẳng giới. Phát huy vai trò và tăng cường trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng cán bộ, công chức, viên chức trong việc bố trí, phân công công tác đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức bảo đảm đúng quy định về bình đẳng giới; ưu tiên lựa chọn nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định trong quy hoạch và bổ nhiệm vào chức danh, chức vụ để đảm bảo tỷ lệ nữ nhằm thực hiện các mục tiêu Quốc gia về bình đẳng giới”.
4. Sửa đổi Điểm b, Khoản 1 Mục III như sau:
“b) Xây dựng, phê duyệt và triển khai thực hiện công tác quy hoạch gắn với công tác bố trí, sử dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nữ cán bộ, công chức, viên chức vào các chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp tại các cơ quan, tổ chức nhà nước với các chỉ tiêu cụ thể và giải pháp khả thi; định kỳ hàng năm tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch”.
5. Sửa đổi Điểm e, Khoản 1 Mục III như sau:
“e) Hỗ trợ việc nâng cao năng lực cho đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo và các cơ quan dân cử, đặc biệt đối với nữ lãnh đạo trẻ, nữ lãnh đạo là người dân tộc thiểu số”.
6. Sửa đổi Điểm đ, Khoản 2 Mục III như sau:
“đ) Bảo đảm các hoạt động khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm sử dụng ngân sách nhà nước thu hút nhiều học viên nữ. Xác định và bảo đảm thực hiện các chỉ tiêu về nữ trong việc bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo cho người dân ở khu vực nông thôn, vùng dân tộc thiểu số, hỗ trợ nông dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp và chế biến. Phát triển các mô hình cung cấp dịch vụ bình đẳng giới, trong đó tập trung tăng cường cơ hội có việc làm, bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững cho người lao động yếu thế, thúc đẩy sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong phát triển kinh tế”.
7. Bổ sung thêm Điểm d vào Khoản 3 Mục III như sau:
“d) Thực hiện lồng ghép giới trong các chính sách, chương trình, kế hoạch về giáo dục, đào tạo và giáo dục nghề nghiệp; xây dựng cơ sở dữ liệu có tách biệt theo giới tính, độ tuổi, dân tộc ở các cấp học, bậc học”.
8. Bổ sung thêm Điểm đ vào Khoản 4 Mục III như sau:
“đ) Tổ chức thực hiện có hiệu quả việc kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh”.
9. Sửa đổi Điểm b, Khoản 5 Mục III như sau:
“b) Tăng cường tuyên truyền, giáo dục về giới trên các phương tiện thông tin đại chúng với các hình thức đa dạng, linh hoạt, phù hợp với từng nhóm đối tượng, khu vực, vùng miền. Đẩy mạnh truyền thông về bình đẳng giới thông qua mạng lưới thông tin cơ sở”.
10. Sửa đổi Khoản 10 Mục VI như sau:
“10. Công an tỉnh chủ trì, phối hợp các sở, ban, ngành liên quan xây dựng và triển khai thực hiện các hoạt động phòng, chống tội phạm buôn bán người, phòng, chống các hành vi bạo lực gia đình, các hành vi bạo lực, xâm hại đối với phụ nữ và trẻ em. Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền bình đẳng giới trong lực lượng công an nhân dân. Quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, đề bạt cán bộ nữ có năng lực vào các vị trí lãnh đạo của đơn vị, đảm bảo chỉ tiêu đề ra”.

Content:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Kế hoạch số 1134/KH-UBND ngày 18/02/2016 của UBND tỉnh thực hiện Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016 - 2020, như sau:
1. Sửa đổi gạch đầu dòng thứ nhất (-), Điểm c, Khoản 2 Mục II như sau:
“- Vào năm 2020, tỷ lệ biết chữ của nữ trong độ tuổi từ 15 đến 60 đạt ngang bằng với nam (trên 99%), trong đó tỷ lệ người dân tộc thiểu số biết chữ đạt trên 94%”.
2. Sửa đổi Điểm đ, Khoản 2 Mục II như sau:
“đ) Mục tiêu 5: Bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa thông tin.
Phấn đấu hàng tháng có ít nhất 02 chuyên mục tuyên truyền về bình đẳng giới trên sóng Đài Phát thanh - Truyền hình Đồng Nai và 02 chuyên trang trên Báo Đồng Nai và 02 chuyên mục trên hệ thống thông tin cơ sở tại các xã, phường, thị trấn vào năm 2020”.
3. Sửa đổi Điểm a, Khoản 1 Mục III như sau:
“a) Tiếp tục rà soát các quy định của Đảng và Nhà nước trong công tác cán bộ, nhất là độ tuổi đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, nghỉ hưu. Xác định những bất hợp lý và bất lợi đối với phụ nữ khi thực hiện những quy định này để kiến nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Luật Bình đẳng giới. Phát huy vai trò và tăng cường trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng cán bộ, công chức, viên chức trong việc bố trí, phân công công tác đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức bảo đảm đúng quy định về bình đẳng giới; ưu tiên lựa chọn nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định trong quy hoạch và bổ nhiệm vào chức danh, chức vụ để đảm bảo tỷ lệ nữ nhằm thực hiện các mục tiêu Quốc gia về bình đẳng giới”.
4. Sửa đổi Điểm b, Khoản 1 Mục III như sau:
“b) Xây dựng, phê duyệt và triển khai thực hiện công tác quy hoạch gắn với công tác bố trí, sử dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nữ cán bộ, công chức, viên chức vào các chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp tại các cơ quan, tổ chức nhà nước với các chỉ tiêu cụ thể và giải pháp khả thi; định kỳ hàng năm tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch”.
5. Sửa đổi Điểm e, Khoản 1 Mục III như sau:
“e) Hỗ trợ việc nâng cao năng lực cho đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo và các cơ quan dân cử, đặc biệt đối với nữ lãnh đạo trẻ, nữ lãnh đạo là người dân tộc thiểu số”.
6. Sửa đổi Điểm đ, Khoản 2 Mục III như sau:
“đ) Bảo đảm các hoạt động khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm sử dụng ngân sách nhà nước thu hút nhiều học viên nữ. Xác định và bảo đảm thực hiện các chỉ tiêu về nữ trong việc bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo cho người dân ở khu vực nông thôn, vùng dân tộc thiểu số, hỗ trợ nông dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp và chế biến. Phát triển các mô hình cung cấp dịch vụ bình đẳng giới, trong đó tập trung tăng cường cơ hội có việc làm, bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững cho người lao động yếu thế, thúc đẩy sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong phát triển kinh tế”.
7. Bổ sung thêm Điểm d vào Khoản 3 Mục III như sau:
“d) Thực hiện lồng ghép giới trong các chính sách, chương trình, kế hoạch về giáo dục, đào tạo và giáo dục nghề nghiệp; xây dựng cơ sở dữ liệu có tách biệt theo giới tính, độ tuổi, dân tộc ở các cấp học, bậc học”.
8. Bổ sung thêm Điểm đ vào Khoản 4 Mục III như sau:
“đ) Tổ chức thực hiện có hiệu quả việc kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh”.
9. Sửa đổi Điểm b, Khoản 5 Mục III như sau:
“b) Tăng cường tuyên truyền, giáo dục về giới trên các phương tiện thông tin đại chúng với các hình thức đa dạng, linh hoạt, phù hợp với từng nhóm đối tượng, khu vực, vùng miền. Đẩy mạnh truyền thông về bình đẳng giới thông qua mạng lưới thông tin cơ sở”.
10. Sửa đổi Khoản 10 Mục VI như sau:
“10. Công an tỉnh chủ trì, phối hợp các sở, ban, ngành liên quan xây dựng và triển khai thực hiện các hoạt động phòng, chống tội phạm buôn bán người, phòng, chống các hành vi bạo lực gia đình, các hành vi bạo lực, xâm hại đối với phụ nữ và trẻ em. Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền bình đẳng giới trong lực lượng công an nhân dân. Quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, đề bạt cán bộ nữ có năng lực vào các vị trí lãnh đạo của đơn vị, đảm bảo chỉ tiêu đề ra”.