Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 774/QĐ-UBND 2015 phát triển công nghiệp chế biến nông sản Lâm Đồng 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "30/03/2015", "sign_number": "774/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "30/03/2015", "sign_number": "774/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "30/03/2015", "sign_number": "774/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "30/03/2015", "sign_number": "774/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "30/03/2015", "sign_number": "774/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 774/QĐ-UBND 2015 phát triển công nghiệp chế biến nông sản Lâm Đồng 2020

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến nông sản tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu như sau:
...
3. Nội dung quy hoạch:
a) Chế biến chè:
- Nâng sản lượng chè chế biến đến năm 2020 đạt khoảng 70.000 tấn thành phẩm (20-25% chè Oolong, 40-45% chè xanh; 30-35% chè đen); tăng tỷ lệ chè chế biến công nghiệp đến năm 2020 đạt 95% tổng sản lượng chè búp tươi.
- Hạn chế việc phát triển các cơ sở chế biến chè thủ công, giảm sản lượng chế biến chè đen để chuyển sang chuyển sang chế biến chè xanh với công nghệ phù hợp để nâng cao giá trị và cơ cấu xuất khẩu trong ngành chè. Đối với các nhà máy chế biến chè đen hiện có, khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị, nâng cấp các nhà máy chế biến chè để tăng phẩm cấp chè hoặc chuyển sang sản xuất các sản phẩm có giá trị cao như chè Oolong và chè xanh phục vụ thị trường xuất khẩu.
- Thu hút các doanh nghiệp đầu tư xây dựng mới các nhà máy chế biến chè Oolong, chè xanh chất lượng cao tại thành phố Bảo Lộc, Đà Lạt, huyện Bảo Lâm, Lâm Hà; nhà máy chế biến chè xanh, chè ướp hương ở Bảo Lâm, Di Linh, Lâm Hà. Việc đầu tư mới các nhà máy chế biến chè phải đảm bảo các tiêu chuẩn, quy chuẩn về trang thiết bị, công nghệ và đảm bảo vùng nguyên liệu.
- Gắn đầu tư cơ sở chế biến với phát triển vùng nguyên liệu chất lượng cao, đảm bảo đồng bộ và hợp lý giữa năng lực chế biến của nhà máy và khả năng cung ứng của vùng nguyên liệu.
b) Chế biến cà phê:
- Nâng cao năng lực chế biến cà phê nhân của các cơ sở, doanh nghiệp trên địa bàn, đến năm 2020 năng lực chế biến cà phê nhân đạt 445.000-450.000 tấn (chiếm 90-95% sản lượng cà phê của toàn tỉnh), trong đó 70% sản lượng được chế biến theo quy mô công nghiệp và 40% được chế biến theo công nghệ chế biến ướt.
- Khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị (phân loại, đánh bóng cà phê xuất khẩu) và nâng công suất các cơ sở chế biến cà phê hiện có tại thành phố Bảo Lộc, huyện Đức Trọng, Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lâm.
- Thu hút đầu tư, xây dựng mới các cơ sở chế biến cà phê nhân xuất khẩu với công suất 5.000 - 20.000 tấn/nhà máy/năm tại thành phố Bảo Lộc, huyện Bảo Lâm, Di Linh, Lâm Hà, nhà máy chế biến cà phê chè theo công nghệ chế biến ướt với công suất từ 2.000-3.000 tấn/nhà máy/năm tại cụm công nghiệp Phát Chi, thành phố Đà Lạt và các nhà máy tinh chế cà phê với công nghệ hiện đại để tạo ra sản phẩm đa dạng và có chất lượng cao, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng trong và ngoài nước gồm một số nhà máy chế biến cà phê hòa tan tổng công suất 4.000 tấn/năm tại khu công nghiệp Phú Hội, huyện Đức Trọng và huyện Lâm Hà; 01 nhà máy chế biến cà phê bột công suất 2.000 tấn/năm tại thành phố Bảo Lộc.
- Khuyến khích áp dụng hệ thống quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, các công nghệ tiên tiến trong xử lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường (nhất là chế biến cà phê ướt) trong quá trình sản xuất.
- Xây dựng vùng nguyên liệu chất lượng cao, an toàn phục vụ công nghiệp chế biến; vận động nhân dân không thu hái quả xanh, khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ sơ chế, bảo quản, sân phơi, nhà kho để hạn chế tối đa tỷ lệ nhiễm achrotoxin A.
c) Chế biến rau:
- Tăng sản lượng rau, quả được sơ chế, chế biến, bảo quản đến năm 2020 đạt 900.000 tấn rau nguyên liệu (chiếm 40% tổng sản lượng rau quả toàn tỉnh), trong đó có 80% được chế biến theo quy mô công nghiệp, 20% chế biến theo quy mô hộ gia đình.
- Tập trung phát triển các sản phẩm rau đông lạnh (khoảng 160-170.000 tấn thành phẩm), rau sấy khô (7.000 tấn thành phẩm), có 50% cơ sở chế biến áp dụng hệ thống tiêu chuẩn quản lý chất lượng (HACCP, ISO);
- Khuyến khích doanh nghiệp nâng công suất và hiện đại hóa các cơ sở chế biến rau hiện có tại thành phố Đà Lạt, huyện Đức Trọng, Đơn Dương; thu hút đầu tư xây dựng nhà máy chế biến rau, quả có công nghệ tiên tiến (cấp đông, sấy khô, chế biến, đóng hộp) gắn với phát triển vùng nguyên liệu an toàn tại Đức Trọng, Lâm Hà, Đơn Dương và các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn; đặc biệt là nhà máy chế biến cà chua tại Đơn Dương với công suất 50-100 ngàn tấn/năm.
- Kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước (ưu tiên các doanh nghiệp Nhật Bản) xây dựng các Trung tâm sau thu hoạch tại huyện Đức Trọng và thành phố Đà Lạt để thu gom, phân loại, đóng gói và xuất khẩu rau sang các thị trường cao cấp; xây dựng các Khu công nghiệp - nông nghiệp tại huyện Đức Trọng, huyện Đơn Dương, thành phố Đà Lạt hoạt động theo mô hình khép kín từ nghiên cứu, sản xuất, chế biến và xuất khẩu rau chất lượng cao với quy mô từ 100 ha trở lên.
- Cải tiến phương tiện thu hái và ứng dụng công nghệ xử lý sau thu hoạch để nâng cao chất lượng nguyên liệu; xây dựng các điểm sơ chế, thu gom, kho bảo quản và phương tiện vận chuyển để giảm tổn thất sau thu hoạch xuống dưới 10%.
d) Chế biến hoa:
- Nâng tỷ lệ hoa cắt cành được sơ chế, xử lý, đóng gói và bảo quản đảm bảo yêu cầu tiêu thụ tại thị trường trong nước đạt trên 80% sản lượng hoa của toàn tỉnh, trong đó có sản lượng hoa cắt cành được xử lý đáp ứng yêu cầu xuất khẩu đạt khoảng 01 tỷ cành (chiếm 30% sản lượng hoa của toàn tỉnh);
- Thu hút các nhà đầu tư xây nhà máy chế biến, bảo quản, xuất khẩu hoa tại thành phố Đà Lạt và huyện Đức Trọng với tổng công suất 600 triệu cành hoa/năm. Ưu tiên đầu tư Chợ đầu mối hoa tại thành phố Đà Lạt để thu gom, phân loại, sơ chế, đóng gói, bảo quản và tổ chức các giao dịch mua bán hoa tại Lâm Đồng.
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tại thành phố Đà Lạt, huyện Đức Trọng, Đơn Dương đầu tư hệ thống dây chuyền sơ chế, phân loại, đóng gói và bảo quản hoa để nâng cao chất lượng hoa thương phẩm, sử dụng hệ thống kho lạnh và phương tiện vận chuyển phù hợp để rút ngắn thời gian lưu giữ, vận chuyển, giảm tổn thất sau thu hoạch xuống dưới 5%.
đ) Chế biến sữa, thịt:
- Thu hút các doanh nghiệp lớn có tiềm lực kinh tế, công nghệ và thị trường tiêu thụ như Vinamilk, TH, Dutch Lady... đầu tư xây dựng 1-2 nhà máy chế biến sữa và các chế phẩm từ sữa với tổng công suất 100.000-120.000 tấn/năm tại huyện Đức Trọng và Đơn Dương, nâng cấp nhà máy chế biến sữa hiện có tại huyện Đơn Dương đa dạng hóa sản phẩm để sản xuất hết công suất thiết kế (đạt khoảng 10-12.000 tấn/năm), đến năm 2020 chế biến được 70% sản lượng sữa tươi nguyên liệu. Tiếp tục đầu tư, phát triển các trạm thu mua, thiết bị, phương tiện theo tiêu chuẩn kỹ thuật để vận chuyển sữa tươi về chế biến tại nhà máy lớn trong cả nước. Phát triển đàn bò sữa theo quy mô trang trại và hộ gia đình, tổ chức tốt mạng lưới thu mua sữa tươi và xây dựng mối liên kết giữa nhà máy với người nuôi bò sữa.
- Thu hút đầu tư, xây dựng mới các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung gắn với các khu chăn nuôi tập trung nhằm đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm, bảo đảm vệ sinh môi trường; tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm, hạn chế phát triển các cơ sở giết mổ thủ công, nhỏ lẻ nằm trong khu dân cư. Đến năm 2020 tỷ lệ giết mổ công nghiệp đạt 40%, chuẩn bị điều kiện để thu hút đầu tư xây dựng nhà máy chế biến, đóng hộp thịt xuất khẩu sau năm 2020.
e) Chế biến các loại nông sản khác:
- Chế biến trái cây, cây đặc sản: thu hút đầu tư, xây dựng mới 01-02 các nhà máy chế biến rau, quả đặc sản (dâu tây, atisô, hồng khô...) với công suất từ 3.000-4.000 tấn nguyên liệu/năm tại thành phố Đà Lạt, huyện Đơn Dương; nhà máy chế biến tại Đạ Huoai với công suất khoảng 5.000 tấn/năm, cơ sở chế biến nấm xuất khẩu công suất 1.500-3.000 tấn/cơ sở/năm tại Bảo Lộc và Đơn Dương. Khuyến khích phát triển các cơ sở chế biến rau, quả sử dụng nguyên liệu tại chỗ theo quy mô gia đình tại khu vực nông thôn.
- Sản xuất đồ uống: Nâng công suất và hiện đại hóa dây chuyền công nghệ các nhà máy chế biến rượu vang, rượu mùi, nước ép hiện có; thu hút đầu tư xây dựng nhà máy chế biến rượu vang tại Đức Trọng, Đà Lạt công suất từ 3-5 triệu lít/năm, nhà máy sản xuất nước ép trái cây và rượu mùi tại Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Đơn Dương, nhà máy sản xuất rượu trắng tại Đức Trọng công suất 03 triệu lít/năm. Đến năm 2020, sản lượng rượu vang, rượu mùi đạt 12 triệu lít/năm, rượu trắng đạt khoảng 06 triệu lít/năm; các loại nước ép trái cây, nước giải khát đạt 5 triệu lít/năm. Khuyến khích sử dụng trái cây đặc sản của địa phương để sản xuất đồ uống, đa dạng hóa sản phẩm và mẫu mã, nâng cao chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm; mở rộng thị trường cho thương hiệu các sản phẩm rượu vang.
- Chế biến tơ tằm: Khôi phục lại các cơ sở ươm tơ công nghiệp tại Bảo Lộc, từng bước chuyển từ ươm tơ thủ công sang ươm tơ cơ khí và tự động để nâng cao chất lượng tơ hướng tới thị trường cao cấp như Nhật Bản, Châu Âu, Châu Mỹ. Thu hút đầu tư mới 01 nhà máy chế biến tơ tằm tại thành phố Bảo Lộc với công suất 2.000 tấn/năm.
- Chế biến thức ăn chăn nuôi: Thu hút đầu tư xây dựng nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi tại Đức Trọng, công suất 20.000 - 30.000 tấn/năm (về lâu dài có thể nâng công suất lên 40.000 - 50.000 tấn/năm), nhà máy chế biến thức ăn gia súc công suất 20.000 tấn/năm tại Đạ Tẻh. Ưu tiên sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ để sản xuất thức ăn gia súc.
- Chế biến điều: Cơ giới hóa khâu bóc vỏ lụa và vỏ cứng, hiện đại hóa thiết bị cho nhà máy tại huyện Đạ Huoai, đến năm 2020 năng lực chế biến đạt 12.000 tấn nguyên liệu/năm.
- Chế biến cao su: Thu hút đầu tư xây dựng nhà máy sơ chế mủ cao su gắn với vùng nguyên liệu tại các huyện: Đạ Tẻh, Bảo Lâm, Đạ Huoai, công suất 2.500-3.000 tấn/nhà máy/năm, sản lượng chế biến đến năm 2020 khoảng 12.000 - 13.000 tấn nguyên liệu/năm. Tập trung sơ chế mủ cao su để cung cấp bán thành phẩm cho ngành công nghiệp chế biến cao su trong nước và xuất khẩu; sản phẩm sơ chế chủ yếu là mủ tời và mủ khối với chủng loại sản phẩm: RSS 1 - RSS 6, SVR 10, SVR 20.
- Chế biến ca cao: Thu hút đầu tư các cơ sở sơ chế ca cao tại địa bàn huyện Cát Tiên, Đạ Huoai, Đạ Tẻh để nâng cao chất lượng ca cao nguyên liệu; đến năm 2020 sản lượng sơ chế hạt ca cao đạt 4.000 - 5.000 tấn/năm.
- Chế biến lúa gạo: Thu hút đầu tư các cơ sở sấy và xay xát lúa gạo tại các huyện Đạ Tẻh, Cát Tiên, Đức Trọng, Lâm Hà, Đam Rông, Đơn Dương; khuyến khích đầu tư các dây chuyền chế biến tiên tiến; Tăng tỷ lệ lúa gạo chế biến công nghiệp, đến năm 2020 đạt khoảng 70% tổng sản lượng lúa, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sấy, bảo quản, xay xát, dự trữ để tăng chất lượng lúa, gạo.
Chi tiết tại Phụ lục I kèm theo

Content:
Nội dung quy hoạch:
a) Chế biến chè:
- Nâng sản lượng chè chế biến đến năm 2020 đạt khoảng 70.000 tấn thành phẩm (20-25% chè Oolong, 40-45% chè xanh; 30-35% chè đen); tăng tỷ lệ chè chế biến công nghiệp đến năm 2020 đạt 95% tổng sản lượng chè búp tươi.
- Hạn chế việc phát triển các cơ sở chế biến chè thủ công, giảm sản lượng chế biến chè đen để chuyển sang chuyển sang chế biến chè xanh với công nghệ phù hợp để nâng cao giá trị và cơ cấu xuất khẩu trong ngành chè. Đối với các nhà máy chế biến chè đen hiện có, khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị, nâng cấp các nhà máy chế biến chè để tăng phẩm cấp chè hoặc chuyển sang sản xuất các sản phẩm có giá trị cao như chè Oolong và chè xanh phục vụ thị trường xuất khẩu.
- Thu hút các doanh nghiệp đầu tư xây dựng mới các nhà máy chế biến chè Oolong, chè xanh chất lượng cao tại thành phố Bảo Lộc, Đà Lạt, huyện Bảo Lâm, Lâm Hà; nhà máy chế biến chè xanh, chè ướp hương ở Bảo Lâm, Di Linh, Lâm Hà. Việc đầu tư mới các nhà máy chế biến chè phải đảm bảo các tiêu chuẩn, quy chuẩn về trang thiết bị, công nghệ và đảm bảo vùng nguyên liệu.
- Gắn đầu tư cơ sở chế biến với phát triển vùng nguyên liệu chất lượng cao, đảm bảo đồng bộ và hợp lý giữa năng lực chế biến của nhà máy và khả năng cung ứng của vùng nguyên liệu.
b) Chế biến cà phê:
- Nâng cao năng lực chế biến cà phê nhân của các cơ sở, doanh nghiệp trên địa bàn, đến năm 2020 năng lực chế biến cà phê nhân đạt 445.000-450.000 tấn (chiếm 90-95% sản lượng cà phê của toàn tỉnh), trong đó 70% sản lượng được chế biến theo quy mô công nghiệp và 40% được chế biến theo công nghệ chế biến ướt.
- Khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị (phân loại, đánh bóng cà phê xuất khẩu) và nâng công suất các cơ sở chế biến cà phê hiện có tại thành phố Bảo Lộc, huyện Đức Trọng, Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lâm.
- Thu hút đầu tư, xây dựng mới các cơ sở chế biến cà phê nhân xuất khẩu với công suất 5.000 - 20.000 tấn/nhà máy/năm tại thành phố Bảo Lộc, huyện Bảo Lâm, Di Linh, Lâm Hà, nhà máy chế biến cà phê chè theo công nghệ chế biến ướt với công suất từ 2.000-3.000 tấn/nhà máy/năm tại cụm công nghiệp Phát Chi, thành phố Đà Lạt và các nhà máy tinh chế cà phê với công nghệ hiện đại để tạo ra sản phẩm đa dạng và có chất lượng cao, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng trong và ngoài nước gồm một số nhà máy chế biến cà phê hòa tan tổng công suất 4.000 tấn/năm tại khu công nghiệp Phú Hội, huyện Đức Trọng và huyện Lâm Hà; 01 nhà máy chế biến cà phê bột công suất 2.000 tấn/năm tại thành phố Bảo Lộc.
- Khuyến khích áp dụng hệ thống quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, các công nghệ tiên tiến trong xử lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường (nhất là chế biến cà phê ướt) trong quá trình sản xuất.
- Xây dựng vùng nguyên liệu chất lượng cao, an toàn phục vụ công nghiệp chế biến; vận động nhân dân không thu hái quả xanh, khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ sơ chế, bảo quản, sân phơi, nhà kho để hạn chế tối đa tỷ lệ nhiễm achrotoxin A.
c) Chế biến rau:
- Tăng sản lượng rau, quả được sơ chế, chế biến, bảo quản đến năm 2020 đạt 900.000 tấn rau nguyên liệu (chiếm 40% tổng sản lượng rau quả toàn tỉnh), trong đó có 80% được chế biến theo quy mô công nghiệp, 20% chế biến theo quy mô hộ gia đình.
- Tập trung phát triển các sản phẩm rau đông lạnh (khoảng 160-170.000 tấn thành phẩm), rau sấy khô (7.000 tấn thành phẩm), có 50% cơ sở chế biến áp dụng hệ thống tiêu chuẩn quản lý chất lượng (HACCP, ISO);
- Khuyến khích doanh nghiệp nâng công suất và hiện đại hóa các cơ sở chế biến rau hiện có tại thành phố Đà Lạt, huyện Đức Trọng, Đơn Dương; thu hút đầu tư xây dựng nhà máy chế biến rau, quả có công nghệ tiên tiến (cấp đông, sấy khô, chế biến, đóng hộp) gắn với phát triển vùng nguyên liệu an toàn tại Đức Trọng, Lâm Hà, Đơn Dương và các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn; đặc biệt là nhà máy chế biến cà chua tại Đơn Dương với công suất 50-100 ngàn tấn/năm.
- Kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước (ưu tiên các doanh nghiệp Nhật Bản) xây dựng các Trung tâm sau thu hoạch tại huyện Đức Trọng và thành phố Đà Lạt để thu gom, phân loại, đóng gói và xuất khẩu rau sang các thị trường cao cấp; xây dựng các Khu công nghiệp - nông nghiệp tại huyện Đức Trọng, huyện Đơn Dương, thành phố Đà Lạt hoạt động theo mô hình khép kín từ nghiên cứu, sản xuất, chế biến và xuất khẩu rau chất lượng cao với quy mô từ 100 ha trở lên.
- Cải tiến phương tiện thu hái và ứng dụng công nghệ xử lý sau thu hoạch để nâng cao chất lượng nguyên liệu; xây dựng các điểm sơ chế, thu gom, kho bảo quản và phương tiện vận chuyển để giảm tổn thất sau thu hoạch xuống dưới 10%.
d) Chế biến hoa:
- Nâng tỷ lệ hoa cắt cành được sơ chế, xử lý, đóng gói và bảo quản đảm bảo yêu cầu tiêu thụ tại thị trường trong nước đạt trên 80% sản lượng hoa của toàn tỉnh, trong đó có sản lượng hoa cắt cành được xử lý đáp ứng yêu cầu xuất khẩu đạt khoảng 01 tỷ cành (chiếm 30% sản lượng hoa của toàn tỉnh);
- Thu hút các nhà đầu tư xây nhà máy chế biến, bảo quản, xuất khẩu hoa tại thành phố Đà Lạt và huyện Đức Trọng với tổng công suất 600 triệu cành hoa/năm. Ưu tiên đầu tư Chợ đầu mối hoa tại thành phố Đà Lạt để thu gom, phân loại, sơ chế, đóng gói, bảo quản và tổ chức các giao dịch mua bán hoa tại Lâm Đồng.
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tại thành phố Đà Lạt, huyện Đức Trọng, Đơn Dương đầu tư hệ thống dây chuyền sơ chế, phân loại, đóng gói và bảo quản hoa để nâng cao chất lượng hoa thương phẩm, sử dụng hệ thống kho lạnh và phương tiện vận chuyển phù hợp để rút ngắn thời gian lưu giữ, vận chuyển, giảm tổn thất sau thu hoạch xuống dưới 5%.
đ) Chế biến sữa, thịt:
- Thu hút các doanh nghiệp lớn có tiềm lực kinh tế, công nghệ và thị trường tiêu thụ như Vinamilk, TH, Dutch Lady... đầu tư xây dựng 1-2 nhà máy chế biến sữa và các chế phẩm từ sữa với tổng công suất 100.000-120.000 tấn/năm tại huyện Đức Trọng và Đơn Dương, nâng cấp nhà máy chế biến sữa hiện có tại huyện Đơn Dương đa dạng hóa sản phẩm để sản xuất hết công suất thiết kế (đạt khoảng 10-12.000 tấn/năm), đến năm 2020 chế biến được 70% sản lượng sữa tươi nguyên liệu. Tiếp tục đầu tư, phát triển các trạm thu mua, thiết bị, phương tiện theo tiêu chuẩn kỹ thuật để vận chuyển sữa tươi về chế biến tại nhà máy lớn trong cả nước. Phát triển đàn bò sữa theo quy mô trang trại và hộ gia đình, tổ chức tốt mạng lưới thu mua sữa tươi và xây dựng mối liên kết giữa nhà máy với người nuôi bò sữa.
- Thu hút đầu tư, xây dựng mới các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung gắn với các khu chăn nuôi tập trung nhằm đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm, bảo đảm vệ sinh môi trường; tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm, hạn chế phát triển các cơ sở giết mổ thủ công, nhỏ lẻ nằm trong khu dân cư. Đến năm 2020 tỷ lệ giết mổ công nghiệp đạt 40%, chuẩn bị điều kiện để thu hút đầu tư xây dựng nhà máy chế biến, đóng hộp thịt xuất khẩu sau năm 2020.
e) Chế biến các loại nông sản khác:
- Chế biến trái cây, cây đặc sản: thu hút đầu tư, xây dựng mới 01-02 các nhà máy chế biến rau, quả đặc sản (dâu tây, atisô, hồng khô...) với công suất từ 3.000-4.000 tấn nguyên liệu/năm tại thành phố Đà Lạt, huyện Đơn Dương; nhà máy chế biến tại Đạ Huoai với công suất khoảng 5.000 tấn/năm, cơ sở chế biến nấm xuất khẩu công suất 1.500-3.000 tấn/cơ sở/năm tại Bảo Lộc và Đơn Dương. Khuyến khích phát triển các cơ sở chế biến rau, quả sử dụng nguyên liệu tại chỗ theo quy mô gia đình tại khu vực nông thôn.
- Sản xuất đồ uống: Nâng công suất và hiện đại hóa dây chuyền công nghệ các nhà máy chế biến rượu vang, rượu mùi, nước ép hiện có; thu hút đầu tư xây dựng nhà máy chế biến rượu vang tại Đức Trọng, Đà Lạt công suất từ 3-5 triệu lít/năm, nhà máy sản xuất nước ép trái cây và rượu mùi tại Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Đơn Dương, nhà máy sản xuất rượu trắng tại Đức Trọng công suất 03 triệu lít/năm. Đến năm 2020, sản lượng rượu vang, rượu mùi đạt 12 triệu lít/năm, rượu trắng đạt khoảng 06 triệu lít/năm; các loại nước ép trái cây, nước giải khát đạt 5 triệu lít/năm. Khuyến khích sử dụng trái cây đặc sản của địa phương để sản xuất đồ uống, đa dạng hóa sản phẩm và mẫu mã, nâng cao chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm; mở rộng thị trường cho thương hiệu các sản phẩm rượu vang.
- Chế biến tơ tằm: Khôi phục lại các cơ sở ươm tơ công nghiệp tại Bảo Lộc, từng bước chuyển từ ươm tơ thủ công sang ươm tơ cơ khí và tự động để nâng cao chất lượng tơ hướng tới thị trường cao cấp như Nhật Bản, Châu Âu, Châu Mỹ. Thu hút đầu tư mới 01 nhà máy chế biến tơ tằm tại thành phố Bảo Lộc với công suất 2.000 tấn/năm.
- Chế biến thức ăn chăn nuôi: Thu hút đầu tư xây dựng nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi tại Đức Trọng, công suất 20.000 - 30.000 tấn/năm (về lâu dài có thể nâng công suất lên 40.000 - 50.000 tấn/năm), nhà máy chế biến thức ăn gia súc công suất 20.000 tấn/năm tại Đạ Tẻh. Ưu tiên sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ để sản xuất thức ăn gia súc.
- Chế biến điều: Cơ giới hóa khâu bóc vỏ lụa và vỏ cứng, hiện đại hóa thiết bị cho nhà máy tại huyện Đạ Huoai, đến năm 2020 năng lực chế biến đạt 12.000 tấn nguyên liệu/năm.
- Chế biến cao su: Thu hút đầu tư xây dựng nhà máy sơ chế mủ cao su gắn với vùng nguyên liệu tại các huyện: Đạ Tẻh, Bảo Lâm, Đạ Huoai, công suất 2.500-3.000 tấn/nhà máy/năm, sản lượng chế biến đến năm 2020 khoảng 12.000 - 13.000 tấn nguyên liệu/năm. Tập trung sơ chế mủ cao su để cung cấp bán thành phẩm cho ngành công nghiệp chế biến cao su trong nước và xuất khẩu; sản phẩm sơ chế chủ yếu là mủ tời và mủ khối với chủng loại sản phẩm: RSS 1 - RSS 6, SVR 10, SVR 20.
- Chế biến ca cao: Thu hút đầu tư các cơ sở sơ chế ca cao tại địa bàn huyện Cát Tiên, Đạ Huoai, Đạ Tẻh để nâng cao chất lượng ca cao nguyên liệu; đến năm 2020 sản lượng sơ chế hạt ca cao đạt 4.000 - 5.000 tấn/năm.
- Chế biến lúa gạo: Thu hút đầu tư các cơ sở sấy và xay xát lúa gạo tại các huyện Đạ Tẻh, Cát Tiên, Đức Trọng, Lâm Hà, Đam Rông, Đơn Dương; khuyến khích đầu tư các dây chuyền chế biến tiên tiến; Tăng tỷ lệ lúa gạo chế biến công nghiệp, đến năm 2020 đạt khoảng 70% tổng sản lượng lúa, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sấy, bảo quản, xay xát, dự trữ để tăng chất lượng lúa, gạo.
Chi tiết tại Phụ lục I kèm theo