Document: Điểm b Khoản 3 Điều 1 Quyết định 3472/QĐ-UBND năm 2008 Bảo vệ Phát triển Lâm nghiệp Lâm Đồng đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "24/12/2008", "sign_number": "3472/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Đức Hòa", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "24/12/2008", "sign_number": "3472/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Đức Hòa", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "24/12/2008", "sign_number": "3472/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Đức Hòa", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "24/12/2008", "sign_number": "3472/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Đức Hòa", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "24/12/2008", "sign_number": "3472/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Đức Hòa", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 3 Điều 1 Quyết định 3472/QĐ-UBND năm 2008 Bảo vệ Phát triển Lâm nghiệp Lâm Đồng đến 2020

Điều 1. Phê duyệt Đề án Bảo vệ và Phát triển Lâm nghiệp tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Các giải pháp phát triển rừng bền vững, giai đoạn 2009-2020:
...
b) Giải pháp về cơ chế chính sách:
- Chính sách thu hút đầu tư:
+ Nhà nước cho tổ chức kinh tế thuê môi trường rừng phòng hộ để kết hợp kinh doanh cảnh quan nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường thời hạn không quá 50 năm (năm mươi); không thu hồi diện tích rừng và đất rừng phòng hộ của các Ban Quản lý rừng phòng hộ để cho các tổ chức, doanh nghiệp thuê thực hiện dự án đầu tư, chỉ cho thuê môi trường rừng (đối với đất có rừng) và hợp tác, liên doanh liên kết với Ban Quản lý rừng để đầu tư trồng rừng trên diện tích đất không có rừng thuộc rừng sản xuất.
+ Chủ rừng Nhà nước được tự tổ chức hoạt động kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái trong rừng hoặc cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê rừng, nhận khoán rừng và môi trường rừng để kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái rừng trong rừng.
+ Chủ rừng Nhà nước được ủy quyền giám sát các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, sử dụng rừng đối với các doanh nghiệp thuê rừng và đất rừng trong quy hoạch 3 loại rừng thuộc phạm vi lâm phần mình đã quản lý, phản ảnh kịp thời với các cơ quan chức năng khi chủ dự án không thực hiện đúng theo giấy Giấy chứng nhận đầu tư được cấp.
- Chính sách liên quan đến việc sử dụng đất, quản lý bảo vệ sử dụng rừng, bảo vệ cảnh quan môi trường, sinh thái:
+ Đối với rừng đặc dụng Vườn Quốc gia:
Trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: Được lập các tuyến đường mòn, lều trú chân, cắm biển chỉ dẫn để tuần tra kết hợp du lịch sinh thái. Tuyến đường mòn quy định có chiều rộng tối đa không quá 1,5m.
Trong phân khu phục hồi sinh thái: Được mở các đường trục chính, xây dựng công trình để bảo vệ và phát triển rừng kết hợp phục vụ các hoạt động dịch vụ - du lịch. Mức độ tác động của các công trình hạ tầng phục vụ cho hoạt động du lịch sinh thái tối đa là 20% tổng diện tích được thuê môi trường rừng đặc dụng đối với diện tích thuê từ 50 ha trở xuống, trong đó cho phép sử dụng 5% diện tích được thuê để xây dựng các công trình kiến trúc cơ sở hạ tầng, 15% diện tích còn lại được làm đường mòn, điểm dừng chân, bãi đỗ xe; Đối với diện tích thuê lớn hơn 50 hecta, mức độ tác động tối đa là 15% tổng diện tích được thuê, trong đó cho phép sử dụng 5% diện tích được thuê để xây dựng các công trình kiến trúc cơ sở hạ tầng, 10% diện tích còn lại được làm đường mòn, điểm dừng chân, bãi đỗ xe. Phần diện tích được thuê các công trình hạ tầng phải được xác định rõ trên bản đồ và phân định rõ ngoài thực địa, thông qua hệ thống biển báo.
+ Đối với rừng phòng hộ:
Những dự án du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư, thỏa thuận địa điểm đầu tư trong rừng phòng hộ, cảnh quan môi trường tiếp tục thực hiện dự án đã được phê duyệt.
Đối với những dự án mới đầu tư về sau vào các khu vực thuộc địa bàn thành phố Đà Lạt, huyện Lạc Dương và một phần của huyện Đức Trọng giáp ranh với thành phố Đà Lạt, chỉ được thực hiện các công trình kiến trúc có mái che ở khu quản lý trung tâm dự án trên diện tích đất không có rừng (trừ Khu du lịch hồ Tuyền Lâm và Khu du lịch Đan Kia - Suối Vàng), không được xây dựng biệt thự, nhà nghỉ biệt thự; chỉ được làm đường mòn, lều trú chân, nhà tạm bằng vật liệu lắp ghép;
Không xem xét thỏa thuận địa điểm đầu tư đối với các dự án thuê đất lâm nghiệp thuộc đất đã quy hoạch cho rừng phòng hộ, rừng đặc dụng để trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, sản xuất nông lâm kết hợp; không xem xét thỏa thuận địa điểm đầu tư đối với các dự án thuê đất thuộc rừng sản xuất (kể cả đất đã có rừng, đất chưa có rừng và đất đang sản xuất nông nghiệp trên đất lâm nghiệp) để sản xuất nông lâm kết hợp; hạn chế tối đa việc cấp phép khai thác khoáng sản trên diện tích rừng phòng hộ môi trường cảnh quan thành phố Đà Lạt.
Nhà đầu tư muốn đầu tư vào lĩnh vực du lịch sinh thái ở rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thì thực hiện việc hợp tác, liên kết đầu tư với các Ban Quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng (Nhà nước không cho thuê đất lâm nghiệp thuộc quy hoạch rừng phòng hộ, rừng đặc dụng); hoặc thuê môi trường rừng của Nhà nước để đầu tư du lịch sinh thái. Mức độ tác động của các công trình hạ tầng phục vụ cho hoạt động du lịch sinh thái tối đa là 20% tổng diện tích được thuê môi trường rừng phòng hộ đối với diện tích thuê từ 50 ha trở xuống, trong đó cho phép sử dụng 5% diện tích được thuê để xây dựng các công trình kiến trúc cơ sở hạ tầng, 15% diện tích còn lại được làm đường mòn, điểm dừng chân, bãi đỗ xe; Đối với diện tích thuê lớn hơn 50 hecta, mức độ tác động tối đa là 15% tổng diện tích được thuê, trong đó cho phép sử dụng 5% diện tích được thuê để xây dựng các công trình kiến trúc cơ sở hạ tầng, 10% diện tích còn lại được làm đường mòn, điểm dừng chân, bãi đỗ xe. Phần diện tích được thuê các công trình hạ tầng phải được xác định rõ trên bản đồ và phân định rõ ngoài thực địa, thông qua hệ thống biển báo.
+ Đối với rừng sản xuất:
Để ổn định tình hình quản lý bảo vệ rừng trên diện tích thu hút đầu tư, gắn trách nhiệm đến đời sống cộng đồng tại địa phương các doanh nghiệp thuê đất đầu tư tiếp tục duy trì hợp đồng giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho các hộ dân, đồng thời thanh toán chi phí chi trả tiền công nhận khoán không thấp hơn theo quy định hiện hành. Doanh nghiệp thuê đất rừng phải cam kết sử dụng lao động tại địa phương. Chủ rừng không thực hiện thủ tục lập hồ sơ hoán đổi diện tích giao khoán QLBV rừng.
Từng huyện xây dựng Đề án Bảo vệ và Phát triển rừng sản xuất trong đó: Quy hoạch diện tích rừng sản xuất tập trung có trữ lượng do Công ty Lâm nghiệp quản lý, sản xuất kinh doanh; quy hoạch diện tích rừng thu hút các nhà đầu tư trồng rừng, trồng cao su,…, nên lựa chọn nhà đầu tư có quy mô vốn lớn; diện tích rừng nghèo nhỏ lẻ, phân tán Huyện giao cho dân sản xuất kinh tế hộ, trồng cao su tiểu điền,…
Diện tích đất rừng phòng hộ, sản xuất cho các doanh nghiệp thuê quản lý bảo vệ rừng phải tiến hành định giá rừng và lập hồ sơ thuê rừng theo quy định của pháp luật hiện hành; mọi tác động vào tài nguyên rừng phải được cấp có thẩm quyền cho phép và đúng quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Những vùng đã quy hoạch sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông - lâm - ngư nghiệp kết hợp thì thực hiện theo quy hoạch được duyệt, còn lại đất quy hoạch lâm nghiệp thì chủ yếu trồng rừng kinh tế, rừng nguyên liệu tập trung, không sản xuất nông lâm kết hợp. Việc sản xuất nông nghiệp chỉ thực hiện trên diện tích đã quy hoạch cho nông nghiệp.
- Chính sách về đất đai: Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất để trồng rừng nguyên liệu công nghiệp gắn với xây dựng nhà máy chế biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ; giá thuê đất được áp dụng giá thấp nhất trong khung giá các loại đất theo quy định.
- Chính sách về giao rừng, khoán bảo vệ rừng:
+ Người được giao, khoán rừng được hưởng các quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định của Chính phủ. Ngoài các quyền lợi trên còn được hỗ trợ khi chưa có thu nhập từ rừng.
+ Đối với rừng phòng hộ và đặc dụng (chủ rừng Nhà nước):
Người nhận khoán bảo vệ rừng: Các hộ gia đình, cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài sẽ được hưởng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; được hưởng các sản phẩm từ rừng, sản xuất nông lâm kết hợp; tham gia các họat động dịch vụ du lịch; được tận thu tận dụng gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ theo qui định để giảm dần và thay thế các hình thức khoán bằng tiền từ ngân sách Nhà nước cấp như hiện nay.
Người nhận khoán trồng rừng:
Được hưởng tiền công, tiền hỗ trợ đầu tư, cây giống theo quy định, được tiếp tục nhận quản lý bảo vệ rừng và được chia sản phẩm khi tỉa thưa nuôi dưỡng và khai thác chính.
Ưu tiên giao khoán cho hộ đồng bào thiểu số tại chỗ. Tùy theo điều kiện của mỗi địa phương vận dụng các hình thức giao khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng thôn, bản, nhóm hộ, hộ gia đình. Khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác trong sản xuất lâm - nông, khoán bảo vệ rừng.
+ Đối với rừng sản xuất:
Đối với đồng bào dân tộc thuộc diện nghèo thiếu đất sản xuất, đồng bào dân tộc sống gắn liền với rừng ở các vùng sâu, vùng xa được giao mỗi hộ dưới 30 ha rừng sản xuất là rừng nghèo kiệt để trồng rừng. Thời hạn trồng rừng trong 3 năm, Nhà nước có chính sách hỗ trợ một phần vốn, kỹ thuật để trồng rừng. Khuyến khích các hộ đồng bào dân tộc thiểu số và người dân sống ở ven rừng tham gia trồng rừng sản xuất theo kế hoạch của địa phương. Cộng đồng thôn buôn, hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số nhận khoán quản lý bảo vệ rừng được sử dụng 5% (hoặc 10%) đất không có rừng thuộc quy hoạch đất rừng sản xuất để sản xuất nông nghiệp kết hợp.
Những diện tích rừng sau khi khai thác trắng chủ rừng Nhà nước đầu tư trồng lại rừng bằng hình thức hợp đồng khoán cho hộ gia đình, cá nhân trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng. Ưu tiên cho hộ nghèo thiếu đất sản xuất, đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, đời sống còn khó khăn.
Người nhận khoán bảo vệ rừng hình thức khoán bằng tiền từ ngân sách Nhà nước cấp sẽ chuyển sang thực hiện khoán theo Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 28/2/2005 của Chính phủ, hình thức hưởng lợi trực tiếp từ các giá trị tăng lên của rừng; lộ trình thực hiện đối với rừng sản xuất của các Ban Quản lý rừng, Công ty Lâm nghiệp đến hết năm 2015.
Trồng rừng: Đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, có sản xuất nương rẫy trong rừng sản xuất; được giao, khoán đất lâm nghiệp không có rừng được hỗ trợ đầu tư cây giống theo quy định, công tác khuyến lâm; hỗ trợ gạo trong thời gian chưa có thu nhập từ rừng.
- Các chính sách liên quan đến tài chính, thuế, lệ phí:
+ Chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng: Rừng đặc dụng và phòng hộ: cần ưu tiên xúc tiến mô hình “Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES)” thực hiện cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, thu phí môi trường rừng phòng hộ đầu nguồn đối với các công trình thủy điện, công trình nước sạch, dịch vụ du lịch.
+ Thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng: Nguồn thu của quỹ này được huy động từ nguồn tài trợ của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế cũng như thu tiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng đối với tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ và có trách nhiệm thanh toán trực tiếp cho đối tượng được chi trả.
+ Chính sách về thuê đất, thuê rừng: Nhà đầu tư thuê rừng để sản xuất kinh doanh, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng tiến hành ký hợp đồng thuê đất với Sở Tài nguyên và Môi trường và ký hợp đồng thuê rừng với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Các đơn vị chủ rừng Nhà nước (Công ty Lâm nghiệp, Ban Quản lý rừng...) được ủy quyền giám sát hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, sử dụng rừng đối với các doanh nghiệp thuê rừng trong lâm phần do mình quản lý trước khi thu hồi rừng và đất lâm nghiệp để cho nhà đầu tư thuê.
+ Chính sách tài chính, thuế:
Thuế: Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất, giao đất để thực hiện trồng rừng nguyên liệu được miễn, giảm thuế sử dụng đất theo quy định hiện hành.
Cơ chế tài chính: Bổ sung định mức về trồng rừng theo hướng thâm canh.

Content:
Giải pháp về cơ chế chính sách:
- Chính sách thu hút đầu tư:
+ Nhà nước cho tổ chức kinh tế thuê môi trường rừng phòng hộ để kết hợp kinh doanh cảnh quan nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường thời hạn không quá 50 năm (năm mươi); không thu hồi diện tích rừng và đất rừng phòng hộ của các Ban Quản lý rừng phòng hộ để cho các tổ chức, doanh nghiệp thuê thực hiện dự án đầu tư, chỉ cho thuê môi trường rừng (đối với đất có rừng) và hợp tác, liên doanh liên kết với Ban Quản lý rừng để đầu tư trồng rừng trên diện tích đất không có rừng thuộc rừng sản xuất.
+ Chủ rừng Nhà nước được tự tổ chức hoạt động kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái trong rừng hoặc cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê rừng, nhận khoán rừng và môi trường rừng để kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái rừng trong rừng.
+ Chủ rừng Nhà nước được ủy quyền giám sát các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, sử dụng rừng đối với các doanh nghiệp thuê rừng và đất rừng trong quy hoạch 3 loại rừng thuộc phạm vi lâm phần mình đã quản lý, phản ảnh kịp thời với các cơ quan chức năng khi chủ dự án không thực hiện đúng theo giấy Giấy chứng nhận đầu tư được cấp.
- Chính sách liên quan đến việc sử dụng đất, quản lý bảo vệ sử dụng rừng, bảo vệ cảnh quan môi trường, sinh thái:
+ Đối với rừng đặc dụng Vườn Quốc gia:
Trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: Được lập các tuyến đường mòn, lều trú chân, cắm biển chỉ dẫn để tuần tra kết hợp du lịch sinh thái. Tuyến đường mòn quy định có chiều rộng tối đa không quá 1,5m.
Trong phân khu phục hồi sinh thái: Được mở các đường trục chính, xây dựng công trình để bảo vệ và phát triển rừng kết hợp phục vụ các hoạt động dịch vụ - du lịch. Mức độ tác động của các công trình hạ tầng phục vụ cho hoạt động du lịch sinh thái tối đa là 20% tổng diện tích được thuê môi trường rừng đặc dụng đối với diện tích thuê từ 50 ha trở xuống, trong đó cho phép sử dụng 5% diện tích được thuê để xây dựng các công trình kiến trúc cơ sở hạ tầng, 15% diện tích còn lại được làm đường mòn, điểm dừng chân, bãi đỗ xe; Đối với diện tích thuê lớn hơn 50 hecta, mức độ tác động tối đa là 15% tổng diện tích được thuê, trong đó cho phép sử dụng 5% diện tích được thuê để xây dựng các công trình kiến trúc cơ sở hạ tầng, 10% diện tích còn lại được làm đường mòn, điểm dừng chân, bãi đỗ xe. Phần diện tích được thuê các công trình hạ tầng phải được xác định rõ trên bản đồ và phân định rõ ngoài thực địa, thông qua hệ thống biển báo.
+ Đối với rừng phòng hộ:
Những dự án du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư, thỏa thuận địa điểm đầu tư trong rừng phòng hộ, cảnh quan môi trường tiếp tục thực hiện dự án đã được phê duyệt.
Đối với những dự án mới đầu tư về sau vào các khu vực thuộc địa bàn thành phố Đà Lạt, huyện Lạc Dương và một phần của huyện Đức Trọng giáp ranh với thành phố Đà Lạt, chỉ được thực hiện các công trình kiến trúc có mái che ở khu quản lý trung tâm dự án trên diện tích đất không có rừng (trừ Khu du lịch hồ Tuyền Lâm và Khu du lịch Đan Kia - Suối Vàng), không được xây dựng biệt thự, nhà nghỉ biệt thự; chỉ được làm đường mòn, lều trú chân, nhà tạm bằng vật liệu lắp ghép;
Không xem xét thỏa thuận địa điểm đầu tư đối với các dự án thuê đất lâm nghiệp thuộc đất đã quy hoạch cho rừng phòng hộ, rừng đặc dụng để trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, sản xuất nông lâm kết hợp; không xem xét thỏa thuận địa điểm đầu tư đối với các dự án thuê đất thuộc rừng sản xuất (kể cả đất đã có rừng, đất chưa có rừng và đất đang sản xuất nông nghiệp trên đất lâm nghiệp) để sản xuất nông lâm kết hợp; hạn chế tối đa việc cấp phép khai thác khoáng sản trên diện tích rừng phòng hộ môi trường cảnh quan thành phố Đà Lạt.
Nhà đầu tư muốn đầu tư vào lĩnh vực du lịch sinh thái ở rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thì thực hiện việc hợp tác, liên kết đầu tư với các Ban Quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng (Nhà nước không cho thuê đất lâm nghiệp thuộc quy hoạch rừng phòng hộ, rừng đặc dụng); hoặc thuê môi trường rừng của Nhà nước để đầu tư du lịch sinh thái. Mức độ tác động của các công trình hạ tầng phục vụ cho hoạt động du lịch sinh thái tối đa là 20% tổng diện tích được thuê môi trường rừng phòng hộ đối với diện tích thuê từ 50 ha trở xuống, trong đó cho phép sử dụng 5% diện tích được thuê để xây dựng các công trình kiến trúc cơ sở hạ tầng, 15% diện tích còn lại được làm đường mòn, điểm dừng chân, bãi đỗ xe; Đối với diện tích thuê lớn hơn 50 hecta, mức độ tác động tối đa là 15% tổng diện tích được thuê, trong đó cho phép sử dụng 5% diện tích được thuê để xây dựng các công trình kiến trúc cơ sở hạ tầng, 10% diện tích còn lại được làm đường mòn, điểm dừng chân, bãi đỗ xe. Phần diện tích được thuê các công trình hạ tầng phải được xác định rõ trên bản đồ và phân định rõ ngoài thực địa, thông qua hệ thống biển báo.
+ Đối với rừng sản xuất:
Để ổn định tình hình quản lý bảo vệ rừng trên diện tích thu hút đầu tư, gắn trách nhiệm đến đời sống cộng đồng tại địa phương các doanh nghiệp thuê đất đầu tư tiếp tục duy trì hợp đồng giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho các hộ dân, đồng thời thanh toán chi phí chi trả tiền công nhận khoán không thấp hơn theo quy định hiện hành. Doanh nghiệp thuê đất rừng phải cam kết sử dụng lao động tại địa phương. Chủ rừng không thực hiện thủ tục lập hồ sơ hoán đổi diện tích giao khoán QLBV rừng.
Từng huyện xây dựng Đề án Bảo vệ và Phát triển rừng sản xuất trong đó: Quy hoạch diện tích rừng sản xuất tập trung có trữ lượng do Công ty Lâm nghiệp quản lý, sản xuất kinh doanh; quy hoạch diện tích rừng thu hút các nhà đầu tư trồng rừng, trồng cao su,…, nên lựa chọn nhà đầu tư có quy mô vốn lớn; diện tích rừng nghèo nhỏ lẻ, phân tán Huyện giao cho dân sản xuất kinh tế hộ, trồng cao su tiểu điền,…
Diện tích đất rừng phòng hộ, sản xuất cho các doanh nghiệp thuê quản lý bảo vệ rừng phải tiến hành định giá rừng và lập hồ sơ thuê rừng theo quy định của pháp luật hiện hành; mọi tác động vào tài nguyên rừng phải được cấp có thẩm quyền cho phép và đúng quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Những vùng đã quy hoạch sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông - lâm - ngư nghiệp kết hợp thì thực hiện theo quy hoạch được duyệt, còn lại đất quy hoạch lâm nghiệp thì chủ yếu trồng rừng kinh tế, rừng nguyên liệu tập trung, không sản xuất nông lâm kết hợp. Việc sản xuất nông nghiệp chỉ thực hiện trên diện tích đã quy hoạch cho nông nghiệp.
- Chính sách về đất đai: Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất để trồng rừng nguyên liệu công nghiệp gắn với xây dựng nhà máy chế biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ; giá thuê đất được áp dụng giá thấp nhất trong khung giá các loại đất theo quy định.
- Chính sách về giao rừng, khoán bảo vệ rừng:
+ Người được giao, khoán rừng được hưởng các quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định của Chính phủ. Ngoài các quyền lợi trên còn được hỗ trợ khi chưa có thu nhập từ rừng.
+ Đối với rừng phòng hộ và đặc dụng (chủ rừng Nhà nước):
Người nhận khoán bảo vệ rừng: Các hộ gia đình, cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài sẽ được hưởng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; được hưởng các sản phẩm từ rừng, sản xuất nông lâm kết hợp; tham gia các họat động dịch vụ du lịch; được tận thu tận dụng gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ theo qui định để giảm dần và thay thế các hình thức khoán bằng tiền từ ngân sách Nhà nước cấp như hiện nay.
Người nhận khoán trồng rừng:
Được hưởng tiền công, tiền hỗ trợ đầu tư, cây giống theo quy định, được tiếp tục nhận quản lý bảo vệ rừng và được chia sản phẩm khi tỉa thưa nuôi dưỡng và khai thác chính.
Ưu tiên giao khoán cho hộ đồng bào thiểu số tại chỗ. Tùy theo điều kiện của mỗi địa phương vận dụng các hình thức giao khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng thôn, bản, nhóm hộ, hộ gia đình. Khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác trong sản xuất lâm - nông, khoán bảo vệ rừng.
+ Đối với rừng sản xuất:
Đối với đồng bào dân tộc thuộc diện nghèo thiếu đất sản xuất, đồng bào dân tộc sống gắn liền với rừng ở các vùng sâu, vùng xa được giao mỗi hộ dưới 30 ha rừng sản xuất là rừng nghèo kiệt để trồng rừng. Thời hạn trồng rừng trong 3 năm, Nhà nước có chính sách hỗ trợ một phần vốn, kỹ thuật để trồng rừng. Khuyến khích các hộ đồng bào dân tộc thiểu số và người dân sống ở ven rừng tham gia trồng rừng sản xuất theo kế hoạch của địa phương. Cộng đồng thôn buôn, hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số nhận khoán quản lý bảo vệ rừng được sử dụng 5% (hoặc 10%) đất không có rừng thuộc quy hoạch đất rừng sản xuất để sản xuất nông nghiệp kết hợp.
Những diện tích rừng sau khi khai thác trắng chủ rừng Nhà nước đầu tư trồng lại rừng bằng hình thức hợp đồng khoán cho hộ gia đình, cá nhân trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng. Ưu tiên cho hộ nghèo thiếu đất sản xuất, đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, đời sống còn khó khăn.
Người nhận khoán bảo vệ rừng hình thức khoán bằng tiền từ ngân sách Nhà nước cấp sẽ chuyển sang thực hiện khoán theo Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 28/2/2005 của Chính phủ, hình thức hưởng lợi trực tiếp từ các giá trị tăng lên của rừng; lộ trình thực hiện đối với rừng sản xuất của các Ban Quản lý rừng, Công ty Lâm nghiệp đến hết năm 2015.
Trồng rừng: Đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, có sản xuất nương rẫy trong rừng sản xuất; được giao, khoán đất lâm nghiệp không có rừng được hỗ trợ đầu tư cây giống theo quy định, công tác khuyến lâm; hỗ trợ gạo trong thời gian chưa có thu nhập từ rừng.
- Các chính sách liên quan đến tài chính, thuế, lệ phí:
+ Chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng: Rừng đặc dụng và phòng hộ: cần ưu tiên xúc tiến mô hình “Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES)” thực hiện cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, thu phí môi trường rừng phòng hộ đầu nguồn đối với các công trình thủy điện, công trình nước sạch, dịch vụ du lịch.
+ Thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng: Nguồn thu của quỹ này được huy động từ nguồn tài trợ của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế cũng như thu tiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng đối với tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ và có trách nhiệm thanh toán trực tiếp cho đối tượng được chi trả.
+ Chính sách về thuê đất, thuê rừng: Nhà đầu tư thuê rừng để sản xuất kinh doanh, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng tiến hành ký hợp đồng thuê đất với Sở Tài nguyên và Môi trường và ký hợp đồng thuê rừng với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Các đơn vị chủ rừng Nhà nước (Công ty Lâm nghiệp, Ban Quản lý rừng...) được ủy quyền giám sát hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, sử dụng rừng đối với các doanh nghiệp thuê rừng trong lâm phần do mình quản lý trước khi thu hồi rừng và đất lâm nghiệp để cho nhà đầu tư thuê.
+ Chính sách tài chính, thuế:
Thuế: Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất, giao đất để thực hiện trồng rừng nguyên liệu được miễn, giảm thuế sử dụng đất theo quy định hiện hành.
Cơ chế tài chính: Bổ sung định mức về trồng rừng theo hướng thâm canh.