Document: Khoản 1 Điều 1 Quyết định 2311/QĐ-UBND 2020 tăng cường năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt tỉnh Yên Bái

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Yên Bái", "promulgation_date": "01/10/2020", "sign_number": "2311/QĐ-UBND", "signer": "Đỗ Đức Duy", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Yên Bái", "promulgation_date": "01/10/2020", "sign_number": "2311/QĐ-UBND", "signer": "Đỗ Đức Duy", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Yên Bái", "promulgation_date": "01/10/2020", "sign_number": "2311/QĐ-UBND", "signer": "Đỗ Đức Duy", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Yên Bái", "promulgation_date": "01/10/2020", "sign_number": "2311/QĐ-UBND", "signer": "Đỗ Đức Duy", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Yên Bái", "promulgation_date": "01/10/2020", "sign_number": "2311/QĐ-UBND", "signer": "Đỗ Đức Duy", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 1 Quyết định 2311/QĐ-UBND 2020 tăng cường năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt tỉnh Yên Bái

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án tăng cường năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn 2020 - 2025, định hướng đến năm 2030 (sau đây viết tắt là Đề án), với các nội dung chủ yếu sau đây:
1. Về quan điểm
Đề án được xây dựng phù hợp với Quyết định số 491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và dự thảo Đề án tăng cường năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại Việt Nam (đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường trình Thủ tướng Chính phủ xem xét ban hành tại Tờ trình số 100/TTr-BTNMT ngày 25/12/2019), cụ thể:
Một là: Quản lý chất thải rắn sinh hoạt là quản lý chất thải từ khi phát sinh đến khi xử lý cuối cùng, bao gồm giảm thiểu, phân loại, thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý cuối cùng nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên và hướng tới sự phát triển bền vững;
Hai là: Quản lý chất thải rắn sinh hoạt là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó Nhà nước có vai trò chủ đạo, được thực hiện trên cơ sở tăng cường đầu tư, đẩy mạnh xã hội hóa, huy động tối đa mọi nguồn lực, đáp ứng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, theo đó các tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải rắn sinh hoạt có trách nhiệm đóng góp kinh phí theo quy định của pháp luật;
Ba là: Quản lý chất thải rắn sinh hoạt được thực hiện liên vùng, liên ngành; đảm bảo sự tối ưu về kinh tế, kỹ thuật, an toàn về xã hội và môi trường; phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và gắn với các quy hoạch của tỉnh;
Bốn là: Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh phải được quản lý theo hướng coi là tài nguyên, được phân loại, thu gom phù hợp với công nghệ xử lý được lựa chọn; khuyến khích xử lý chất thải thành nguyên liệu, nhiên liệu, các sản phẩm thân thiện môi trường, tiết kiệm đất đai và phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh;
Năm là: Đầu tư hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt đồng bộ, bao gồm xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt; công tác thu gom, vận chuyển trên cơ sở công nghệ phù hợp. Thực hiện đầu tư cho quản lý chất thải rắn sinh hoạt phải có trọng tâm, trọng điểm và theo lộ trình phù hợp.

Content:
Về quan điểm
Đề án được xây dựng phù hợp với Quyết định số 491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và dự thảo Đề án tăng cường năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại Việt Nam (đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường trình Thủ tướng Chính phủ xem xét ban hành tại Tờ trình số 100/TTr-BTNMT ngày 25/12/2019), cụ thể:
Một là: Quản lý chất thải rắn sinh hoạt là quản lý chất thải từ khi phát sinh đến khi xử lý cuối cùng, bao gồm giảm thiểu, phân loại, thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý cuối cùng nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên và hướng tới sự phát triển bền vững;
Hai là: Quản lý chất thải rắn sinh hoạt là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó Nhà nước có vai trò chủ đạo, được thực hiện trên cơ sở tăng cường đầu tư, đẩy mạnh xã hội hóa, huy động tối đa mọi nguồn lực, đáp ứng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, theo đó các tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải rắn sinh hoạt có trách nhiệm đóng góp kinh phí theo quy định của pháp luật;
Ba là: Quản lý chất thải rắn sinh hoạt được thực hiện liên vùng, liên ngành; đảm bảo sự tối ưu về kinh tế, kỹ thuật, an toàn về xã hội và môi trường; phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và gắn với các quy hoạch của tỉnh;
Bốn là: Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh phải được quản lý theo hướng coi là tài nguyên, được phân loại, thu gom phù hợp với công nghệ xử lý được lựa chọn; khuyến khích xử lý chất thải thành nguyên liệu, nhiên liệu, các sản phẩm thân thiện môi trường, tiết kiệm đất đai và phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh;
Năm là: Đầu tư hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt đồng bộ, bao gồm xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt; công tác thu gom, vận chuyển trên cơ sở công nghệ phù hợp. Thực hiện đầu tư cho quản lý chất thải rắn sinh hoạt phải có trọng tâm, trọng điểm và theo lộ trình phù hợp.