Document: Điểm a Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2532/QĐ-TTg Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Thuận 2020 2030 2016

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/12/2016", "sign_number": "2532/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Xuân Phúc", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/12/2016", "sign_number": "2532/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Xuân Phúc", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/12/2016", "sign_number": "2532/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Xuân Phúc", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/12/2016", "sign_number": "2532/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Xuân Phúc", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/12/2016", "sign_number": "2532/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Xuân Phúc", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm a Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2532/QĐ-TTg Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Thuận 2020 2030 2016

Điều 1. Phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Thuận đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 gồm những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Nội dung quy hoạch:
a) Phương hướng phát triển các ngành, lĩnh vực:
- Khu vực nông - lâm - ngư nghiệp, nông thôn:
+ Nông nghiệp:
Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới. Tập trung phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại; phát triển nông thôn gắn với đô thị, công nghiệp - dịch vụ. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn đi đôi với bảo vệ môi trường.
Cụ thể hóa và triển khai thực hiện tốt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10 tháng 6 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ; tập trung phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, chất lượng cao, không ngừng nâng cao giá trị gia tăng trên cơ sở khai thác tối đa lợi thế của địa phương. Cơ cấu lại ngành trồng trọt theo hướng phát triển sản xuất quy mô lớn, tập trung; phát triển vững chắc các loại cây trồng chủ lực, lợi thế như cây thanh long, cao su, Điều và các loại cây trồng phù hợp với lợi thế và Điều kiện thổ nhưỡng và khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu của từng vùng. Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương sử dụng linh hoạt, có hiệu quả diện tích đất lúa. Chuyển mạnh chăn nuôi sang hình thức trang trại, gia trại theo hướng công nghiệp và bán công nghiệp có kiểm soát an toàn dịch bệnh và môi trường; gắn quy hoạch phát triển chăn nuôi với hệ thống giết mổ, chế biến, bảo quản và tiêu thụ.
Hết sức coi trọng ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, bảo quản, chế biến các loại nông sản; tập trung cải tiến giống cây trồng và vật nuôi đi đôi với tăng cường công tác an toàn vệ sinh thực phẩm; từng bước hình thành mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; gắn chặt sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị đối với các sản phẩm lợi thế và có khả năng cạnh tranh cao; chú ý nâng cao chất lượng quả thanh long; nhân rộng mô hình cánh đồng mẫu lớn, cánh đồng lúa chất lượng cao. Tổ chức lại sản xuất trong nông nghiệp, cùng với việc khuyến khích phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã và các hình thức hợp tác khác, cần quan tâm phát triển các hình thức liên kết theo chuỗi giá trị.
Phấn đấu đến năm 2020: Sản lượng lương thực đạt 811.000 tấn (trong đó: thóc đạt 616.000 tấn, bắp 195.000 tấn); sản lượng mủ cao su đạt 65.000 tấn; sản lượng thanh long đạt 750.000 tấn; Điều đạt 14.000 tấn; sản lượng thịt hơi các loại sản xuất đạt 40.000 tấn.
+ Lâm nghiệp:
Tăng cường các hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, ngăn chặn và đẩy lùi nạn phá rừng; đặc biệt chú ý rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, vùng giáp ranh với các tỉnh lân cận. Khuyến khích thực hiện thuê, nhận khoán bảo vệ rừng, trồng rừng kết hợp chăn nuôi, phát triển lâm sản ngoài gỗ để tăng thu nhập, phát triển rừng bền vững.
Đối với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng phải tổ chức bảo vệ nghiêm ngặt, tăng quyền hạn cho người bảo vệ, tăng quyền lợi cho họ nhiều hơn. Đối với rừng sản xuất, mạnh dạn xem xét giao rừng cho tổ chức, cá nhân có đủ Điều kiện và có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả để thực hiện giữ rừng và kinh doanh, không nhất thiết phải là lâm trường, công ty nhà nước.
Phát triển mạnh trồng rừng sản xuất trên cơ sở tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật, nhất là giống, đầu tư thâm canh để tăng năng suất, chất lượng rừng phù hợp với Điều kiện cụ thể từng vùng sinh thái. Song song với phát triển trồng rừng nguyên liệu gỗ nhỏ, phục vụ nguyên liệu cho chế biến trong ngắn hạn phải ưu tiên nghiên cứu xây dựng các mô hình trồng rừng kinh tế với các loài cây gỗ lớn có mức độ gia tăng sinh khối nhanh, sản lượng khai thác cao, chu kỳ khai thác được rút ngắn, tạo nguồn cho công nghiệp chế biến lâm sản ổn định về lâu dài; thực hiện tốt việc trồng rừng thay thế khi chuyển đổi mục đích sử dụng.
Phát triển công nghiệp chế biến lâm sản theo quy hoạch, đa dạng về quy mô, loại hình sản phẩm, thị trường tiêu thụ. Gắn quy hoạch vùng trồng rừng nguyên liệu với quy hoạch chế biến lâm sản; hỗ trợ các công ty lâm nghiệp, các doanh nghiệp đầu tư phát triển cơ sở chế biến lâm sản có công nghệ hiện đại sử dụng nguyên liệu tại chỗ, chế biến các mặt hàng xuất khẩu theo mô hình quản lý, sử dụng rừng bền vững (FSC); đồng thời, sắp xếp các cơ sở chế biến đồ gỗ nội thất, gia dụng các địa bàn nông thôn phục vụ nhu cầu tại chỗ trên cơ sở quản lý chặt chẽ nguyên liệu đầu vào.
Phấn đấu trong giai đoạn 2016 - 2020, trồng mới rừng tập trung 44.440 ha; trồng cây phân tán 3.540 ha; chăm sóc rừng trồng 14.410 ha; giao khoán bảo vệ rừng 159.880 ha; khoanh nuôi rừng tái sinh 6.730 ha.
+ Thủy sản:
Quan tâm chỉ đạo đúng mức đối với kinh tế biển. Đồng thời với phát triển công nghiệp, du lịch biển, khuyến khích ngư dân đầu tư đóng thuyền công suất lớn, phát huy mô hình đội tàu khai thác xa bờ, gắn với dịch vụ hậu cần, chế biến trên biển và góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản theo Điều kiện từng vùng. Tập trung phát triển sản xuất giống có lợi thế; duy trì ổn định diện tích nuôi nước lợ, nuôi trên biển; khuyến khích phát triển một số vùng nuôi thủy sản nước ngọt tập trung theo quy hoạch. Tăng cường các biện pháp bảo vệ ngư trường.
Đẩy mạnh phát triển thủy sản theo hướng toàn diện, nâng cao hiệu quả khai thác, nuôi trồng, chế biến, dịch vụ gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Triển khai thực hiện tốt các chính sách ưu đãi của Chính phủ để đẩy mạnh phát triển năng lực tàu thuyền công suất lớn; tiếp tục nhân rộng và phát huy mô hình Tổ Đoàn kết sản xuất, Nghiệp đoàn nghề cá. Hạn chế tối đa phát triển thuyền công suất nhỏ, khai thác ven bờ; xử lý nghiêm mọi hoạt động làm cạn kiệt, hủy hoại môi trường. Huy động tối đa các nguồn vốn, tăng cường đầu tư, cải tạo, duy tu, bảo dưỡng hệ thống hạ tầng kỹ thuật nghề cá. Khuyến khích đầu tư thiết bị, công nghệ nuôi trồng, bảo quản, chế biến thủy sản; nhất là sản xuất tôm giống, chế biến thủy sản xuất khẩu để giảm tỷ lệ tổn thất, nâng cao chất lượng, giá trị, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Xây dựng đảo Phú Quý trở thành trung tâm dịch vụ hậu cần cho khai thác hải sản xa bờ; chú trọng phát triển hợp lý về quy mô của từng lĩnh vực, trong đó tập trung chủ yếu vào các khâu khai thác, bảo quản, sơ chế và các dịch vụ hậu cần nghề cá.
Phấn đấu trong giai đoạn 2016 - 2020 giá trị gia tăng ngành thủy sản tăng bình quân 10%/năm, chiếm tỷ trọng khoảng 35% GRDP khu vực nông lâm thủy sản vào năm 2020; đến năm 2020 sản lượng hải sản khai thác đạt 200.000 tấn, sản lượng thủy sản nuôi đạt 16.000 tấn, tôm giống đạt 28,0 tỷ post.
+ Diêm nghiệp:
Ổn định diện tích vùng sản xuất muối theo quy hoạch đạt 990 ha; tăng cường ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất, phát triển công nghiệp sau muối để đa dạng hóa sản phẩm, tăng chất lượng muối, nâng cao hiệu quả đầu tư. Ngăn ngừa, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong sản xuất và chế biến muối.
+ Phát triển nông thôn mới:
Phấn đấu đến năm 2020, hầu hết diện tích canh tác lúa được tưới chủ động, năng lực khai thác từ các công trình thủy lợi đạt 80%; có trên 60% hộ nông dân sử dụng nước sạch; tất cả các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, các thôn đều có đường ô tô thông suốt đến trung tâm; đáp ứng nhu cầu về điện cho sản xuất và sinh hoạt của 100% hộ dân ở các khu dân cư tập trung. Đến năm 2020 có 50% số xã (48 xã) đạt tiêu chuẩn nông thôn mới; đến năm 2030 đạt 100% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới.
- Khu vực công nghiệp - xây dựng:
+ Thúc đẩy mạnh mẽ phát triển công nghiệp, chú trọng đúng mức phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản; tập trung phát triển công nghiệp điện năng, công nghiệp chế biến sâu quặng sa khoáng titan. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị gia tăng ngành công nghiệp (giá so sánh 2010) trong giai đoạn 2016 - 2020 là 10%/năm, giai đoạn 2021 - 2030 là 13%/năm. Đến năm 2020, có tỷ trọng công nghiệp chiếm 70% tổng giá trị gia tăng khu vực công nghiệp - xây dựng, đến năm 2030 chiếm khoảng 80%.
Cơ cấu công nghiệp chuyển dịch theo hướng tập trung phát triển mạnh các nhóm ngành sản phẩm: Năng lượng, chế biến nông - lâm - thủy sản; chế biến sâu sa khoáng; cơ khí, điện tử, đóng - sửa chữa tàu, thuyền đánh bắt hải sản; sản xuất nước khoáng, nước giải khát, sợi, dệt, may, giày dép; các ngành công nghiệp hỗ trợ cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa gắn với đầu tư đổi mới công nghệ tạo bước tiến rõ rệt về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm; tăng cường công tác xúc tiến thương mại, hợp tác kinh tế quốc tế nhằm củng cố thị trường truyền thống, tìm kiếm thị trường mới phục vụ xuất khẩu.
Tạo Điều kiện thuận lợi và tích cực đôn đốc triển khai các dự án năng lượng (nhiệt điện, phong điện, điện mặt trời, khí điện) để Bình Thuận trở thành Trung tâm năng lượng mang tầm quốc gia. Phát huy hiệu quả, đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; thu hút đầu tư hình thành Trung tâm chế biến quặng sa khoáng titan, gắn chặt với bảo vệ môi trường, cảnh quan. Khuyến khích đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến phục vụ tiêu thụ nội địa và xuất khẩu; giảm tỷ trọng và tiến tới chấm dứt xuất khẩu các sản phẩm thô, không qua chế biến, tăng sản phẩm có hàm lượng khoa học - công nghệ cao; bên cạnh chế biến các loại thủy sản, lâm sản, chú trọng chế biến các sản phẩm từ quả thanh long, mủ trôm, mủ cao su, viên tảo,... Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp đóng, sửa tàu thuyền; ưu tiên thu hút các dự án đầu tư các cơ sở dịch vụ phục vụ đánh bắt xa bờ. Thực hiện tốt chính sách khuyến công và biện pháp hỗ trợ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp về ưu đãi tín dụng, mặt bằng sản xuất, thông tin thị trường, tư vấn về kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực; hỗ trợ và tạo Điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động đạt hiệu quả cao.
Đẩy mạnh chế biến các loại thủy sản, nông sản (cao su, thanh long,...), tảo phục vụ tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, đồng thời thúc đẩy triển khai các dự án nhiệt điện Vĩnh Tân, điện khí Sơn Mỹ, các dự án điện gió và khuyến khích thu hút đầu tư phát triển điện sử dụng năng lượng mặt trời.
Triển khai thực hiện tốt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng titan giai đoạn đến năm 2020, có xét tới năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Gắn khai thác với chế biến sâu theo kế hoạch, lộ trình phù hợp, gắn hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, bảo vệ môi trường,... Thăm dò, khai thác quy mô lớn nguyên liệu quặng titan - zircon tập trung tại khu vực Lương Sơn, Bắc Bình để cung cấp cho các dự án nhà máy chế biến sâu tại khu vực. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy chế biến sâu quặng titan (rutil nhân tạo, pigmen, titan xốp, titan kim loại) theo hướng công nghệ tiên tiến, không gây ô nhiễm môi trường. Hình thành ngành công nghiệp khai khoáng titan - zircon tương xứng với tiềm năng tài nguyên. Từng bước xây dựng Bình Thuận trở thành Trung tâm năng lượng và Trung tâm chế biến sa khoáng titan lớn của cả nước.
Trong giai đoạn 2016 - 2020, tập trung nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp đảm bảo đồng bộ; hoàn chỉnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp và thu hút đầu tư lấp đầy tối thiểu 80% diện tích cho thuê các khu công nghiệp: Phan Thiết giai đoạn 2, Hàm Kiệm I, Sông Bình; lấp đầy 50% diện tích Khu công nghiệp Hàm Kiệm II, Tuy Phong. Khởi công xây dựng Khu công nghiệp Sơn Mỹ I và II. Đến năm 2020 mỗi huyện, thị xã, thành phố có từ 1 - 2 cụm công nghiệp đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng. Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư để thu hút những dự án mới theo hướng ưu tiên những nhà đầu tư có năng lực mạnh, suất đầu tư cao, công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường, tạo được nhiều việc làm.
Đến năm 2020 quy hoạch trên địa bàn tỉnh có 32 cụm công nghiệp với tổng diện tích là 996,7 ha, ngoài mục đích thu hút đầu tư còn làm nhiệm vụ di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm khu dân cư vào cụm, trong đó: Thành phố Phan Thiết 3 cụm 48,1 ha, thị xã La Gi 4 cụm 180 ha, huyện Đức Linh 5 cụm 140,3 ha, Tánh Linh 4 cụm 97,5 ha, Hàm Tân 4 cụm 155 ha, Hàm Thuận Nam 1 cụm 30 ha, Hàm Thuận Bắc 4 cụm 101,2 ha, Bắc Bình 3 cụm 122 ha, Tuy Phong 3 cụm 77,56 ha, Phú Quý 1 cụm 25 ha.
+ Trong giai đoạn 2016 - 2020 ngành công nghiệp của tỉnh tập trung vào sản xuất các sản phẩm lợi thế mang tính cạnh tranh. Sau năm 2020 - 2030 phát huy hết tiềm năng của các sản phẩm lợi thế này:
. Công nghiệp sản xuất điện năng: Tập trung phát triển nhiệt điện, điện gió và điện mặt trời. Sản lượng điện phấn đấu đến năm 2020 đạt khoảng 14 tỷ kWh, đến năm 2030 đạt khoảng 60 tỷ kWh. Điện năng sẽ là sản phẩm mang tính đột phá cao của ngành công nghiệp tỉnh từ nay đến năm 2030.
. Công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản:
Tiếp tục phát triển công nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh, thủy sản khô, nước mắm.
Tập trung kêu gọi đầu tư công nghiệp chế biến sâu thanh long, cao su, Điều.
. Công nghiệp khai thác và chế biến sâu sa khoáng titan: Đến 2020 từng bước hình thành ngành công nghiệp titan với các sản phẩm chế biến sâu từ xỉ titan trở lên. Đến năm 2030 phát triển ngành công nghiệp titan ổn định và bền vững với Trung tâm khai thác, chế biến quặng titan quy mô lớn công nghệ tiên tiến; tập trung ưu tiên phát triển các sản phẩm pigment, titan xốp, titan kim loại và titan hợp kim phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
. Tiếp tục mở rộng và phát triển ngành công nghiệp may mặc.
. Nước khoáng Vĩnh Hảo: Giữ vững thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
+ Xây dựng: Nâng cao năng lực xây dựng, tăng dần quy mô, chất lượng; tập trung vào các công trình trọng điểm trên địa bàn; tiếp tục chỉnh trang đô thị theo hướng văn minh, hiện đại phù hợp với yêu cầu trong từng giai đoạn phát triển.
- Khu vực dịch vụ:
Đa dạng hóa loại hình dịch vụ và nâng cao trình độ phát triển của các ngành và sản phẩm dịch vụ; tập trung phát triển các ngành, sản phẩm dịch vụ: Dịch vụ thương mại, du lịch, dịch vụ xây dựng, khách sạn, nhà hàng, tài chính - ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, thông tin truyền thông, dịch vụ logistics, giáo dục và đào tạo, y tế, dịch vụ cung cấp điện, nước sinh hoạt, các loại dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, thủy sản.
Phấn đấu giá trị gia tăng dịch vụ giai đoạn 2016 - 2020 tăng 8,4% và giai đoạn 2021 - 2030 tăng 6,2%. Đến năm 2020 có tỷ trọng dịch vụ chiếm 46,8% tổng giá trị gia tăng (VA) của tỉnh và đến năm 2030 chiếm khoảng 42,5%.
+ Thương mại:
. Tiếp tục phát triển thị trường tiêu thụ nội địa thông qua việc tổ chức tốt các kênh phân phối vật tư, hàng tiêu dùng và tiêu thụ sản phẩm lợi thế của địa phương. Tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Phấn đấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội đến năm 2020 đạt khoảng 72.000 tỷ đồng, tăng bình quân giai đoạn 2016 - 2020 là 14,6% và đến năm 2030 đạt khoảng 200.000 tỷ đồng, tăng bình quân giai đoạn 2021 - 2030 là 10,7%.
. Củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu theo hướng đa dạng hóa thị trường, sản phẩm; ưu tiên khai thác và tận dụng tối đa các cơ hội từ các thị trường xuất khẩu trọng điểm, chiến lược; khai thác hiệu quả các thị trường truyền thống. Tập trung thực hiện các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm lợi thế và chủ lực của tỉnh, trọng tâm là các mặt hàng thủy sản, cao su, thanh long, đồ gỗ gia dụng, may mặc và mỹ nghệ. Tăng kim ngạch xuất khẩu trực tiếp và sản phẩm xuất khẩu đã qua chế biến, hạn chế dần ủy thác xuất khẩu, sản phẩm sơ chế, gia công. Phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu đến năm 2020 đạt khoảng 600 triệu USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt khoảng 380 triệu USD. Đến năm 2030, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 1,5 tỷ USD, trong đó xuất khẩu hàng hóa đạt khoảng 1 tỷ USD.
+ Dịch vụ tín dụng ngân hàng, thu chi ngân sách:
. Triển khai kịp thời các cơ chế, chính sách tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng, tạo Điều kiện cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn ngân hàng và thụ hưởng được chính sách của Nhà nước. Thực hiện tốt các giải pháp xử lý nợ xấu; đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt và phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Phấn đấu trong giai đoạn 2016 - 2020, huy động vốn tín dụng tăng bình quân 17% - 25%/năm, dư nợ cho vay tăng bình quân 15% - 22%/năm.
. Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách, tăng cường công tác thu ngân sách đi đôi với bồi dưỡng nguồn thu, tạo Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nhằm khai thác tốt các nguồn thu nội địa; tăng cường công tác quản lý thuế, công tác thanh tra, kiểm tra, chống thất thu ngân sách. Tăng cường lãnh đạo công tác thu thuế, chống thất thu và lạm thu; chú ý quản lý, khai thác tốt các nguồn thu ngân sách trên địa bàn tỉnh, nhất là nguồn thu từ quỹ đất; phấn đấu trong giai đoạn 2016 - 2020 thực hiện tổng thu ngân sách nội địa đạt khoảng 34.150 tỷ đồng, chiếm 9,78% so GRDP.
. Bố trí chi ngân sách tích cực, tiếp tục thực hiện tốt tái cơ cấu đầu tư công; ưu tiên cho các nhiệm vụ trọng yếu, những công trình trọng điểm. Quản lý chặt chẽ các khoản chi, bảo đảm đúng dự toán, đúng chế độ quy định, triệt để tiết kiệm chi cho bộ máy quản lý nhà nước, sự nghiệp công, tăng cường kỷ Luật, kỷ cương tài chính.
+ Dịch vụ du lịch:
Xây dựng ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng lượng khách du lịch giai đoạn 2016 - 2020 là 8,07%/năm; giai đoạn 2021 - 2030 là 08 - 10%/năm. Phấn đấu doanh thu du lịch tăng trung bình giai đoạn 2016 - 2020 là 19,3%/năm, 2021 - 2025 là 15,35%/năm, 2026 - 2030 là 17,05%/năm.
Khai thác tiềm năng, lợi thế về biển, đảo, núi, đồi và những giá trị văn hóa của địa phương để phát triển mạnh loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch khám phá, du lịch sinh thái, du lịch gắn với các môn thể thao trên biển; đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, tăng cường liên kết với các địa phương trong tỉnh và các tỉnh lân cận để hình thành các tour, tuyến du lịch nhằm thu hút mạnh du khách.
Chú trọng bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội để phát triển du lịch bền vững. Trong đó tập trung công tác khắc phục ô nhiễm, tôn tạo và bảo vệ cảnh quan môi trường; bảo đảm trật tự xã hội và an toàn vệ sinh thực phẩm.

Content:
Phương hướng phát triển các ngành, lĩnh vực:
- Khu vực nông - lâm - ngư nghiệp, nông thôn:
+ Nông nghiệp:
Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới. Tập trung phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại; phát triển nông thôn gắn với đô thị, công nghiệp - dịch vụ. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn đi đôi với bảo vệ môi trường.
Cụ thể hóa và triển khai thực hiện tốt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10 tháng 6 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ; tập trung phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, chất lượng cao, không ngừng nâng cao giá trị gia tăng trên cơ sở khai thác tối đa lợi thế của địa phương. Cơ cấu lại ngành trồng trọt theo hướng phát triển sản xuất quy mô lớn, tập trung; phát triển vững chắc các loại cây trồng chủ lực, lợi thế như cây thanh long, cao su, Điều và các loại cây trồng phù hợp với lợi thế và Điều kiện thổ nhưỡng và khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu của từng vùng. Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương sử dụng linh hoạt, có hiệu quả diện tích đất lúa. Chuyển mạnh chăn nuôi sang hình thức trang trại, gia trại theo hướng công nghiệp và bán công nghiệp có kiểm soát an toàn dịch bệnh và môi trường; gắn quy hoạch phát triển chăn nuôi với hệ thống giết mổ, chế biến, bảo quản và tiêu thụ.
Hết sức coi trọng ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, bảo quản, chế biến các loại nông sản; tập trung cải tiến giống cây trồng và vật nuôi đi đôi với tăng cường công tác an toàn vệ sinh thực phẩm; từng bước hình thành mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; gắn chặt sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị đối với các sản phẩm lợi thế và có khả năng cạnh tranh cao; chú ý nâng cao chất lượng quả thanh long; nhân rộng mô hình cánh đồng mẫu lớn, cánh đồng lúa chất lượng cao. Tổ chức lại sản xuất trong nông nghiệp, cùng với việc khuyến khích phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã và các hình thức hợp tác khác, cần quan tâm phát triển các hình thức liên kết theo chuỗi giá trị.
Phấn đấu đến năm 2020: Sản lượng lương thực đạt 811.000 tấn (trong đó: thóc đạt 616.000 tấn, bắp 195.000 tấn); sản lượng mủ cao su đạt 65.000 tấn; sản lượng thanh long đạt 750.000 tấn; Điều đạt 14.000 tấn; sản lượng thịt hơi các loại sản xuất đạt 40.000 tấn.
+ Lâm nghiệp:
Tăng cường các hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, ngăn chặn và đẩy lùi nạn phá rừng; đặc biệt chú ý rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, vùng giáp ranh với các tỉnh lân cận. Khuyến khích thực hiện thuê, nhận khoán bảo vệ rừng, trồng rừng kết hợp chăn nuôi, phát triển lâm sản ngoài gỗ để tăng thu nhập, phát triển rừng bền vững.
Đối với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng phải tổ chức bảo vệ nghiêm ngặt, tăng quyền hạn cho người bảo vệ, tăng quyền lợi cho họ nhiều hơn. Đối với rừng sản xuất, mạnh dạn xem xét giao rừng cho tổ chức, cá nhân có đủ Điều kiện và có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả để thực hiện giữ rừng và kinh doanh, không nhất thiết phải là lâm trường, công ty nhà nước.
Phát triển mạnh trồng rừng sản xuất trên cơ sở tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật, nhất là giống, đầu tư thâm canh để tăng năng suất, chất lượng rừng phù hợp với Điều kiện cụ thể từng vùng sinh thái. Song song với phát triển trồng rừng nguyên liệu gỗ nhỏ, phục vụ nguyên liệu cho chế biến trong ngắn hạn phải ưu tiên nghiên cứu xây dựng các mô hình trồng rừng kinh tế với các loài cây gỗ lớn có mức độ gia tăng sinh khối nhanh, sản lượng khai thác cao, chu kỳ khai thác được rút ngắn, tạo nguồn cho công nghiệp chế biến lâm sản ổn định về lâu dài; thực hiện tốt việc trồng rừng thay thế khi chuyển đổi mục đích sử dụng.
Phát triển công nghiệp chế biến lâm sản theo quy hoạch, đa dạng về quy mô, loại hình sản phẩm, thị trường tiêu thụ. Gắn quy hoạch vùng trồng rừng nguyên liệu với quy hoạch chế biến lâm sản; hỗ trợ các công ty lâm nghiệp, các doanh nghiệp đầu tư phát triển cơ sở chế biến lâm sản có công nghệ hiện đại sử dụng nguyên liệu tại chỗ, chế biến các mặt hàng xuất khẩu theo mô hình quản lý, sử dụng rừng bền vững (FSC); đồng thời, sắp xếp các cơ sở chế biến đồ gỗ nội thất, gia dụng các địa bàn nông thôn phục vụ nhu cầu tại chỗ trên cơ sở quản lý chặt chẽ nguyên liệu đầu vào.
Phấn đấu trong giai đoạn 2016 - 2020, trồng mới rừng tập trung 44.440 ha; trồng cây phân tán 3.540 ha; chăm sóc rừng trồng 14.410 ha; giao khoán bảo vệ rừng 159.880 ha; khoanh nuôi rừng tái sinh 6.730 ha.
+ Thủy sản:
Quan tâm chỉ đạo đúng mức đối với kinh tế biển. Đồng thời với phát triển công nghiệp, du lịch biển, khuyến khích ngư dân đầu tư đóng thuyền công suất lớn, phát huy mô hình đội tàu khai thác xa bờ, gắn với dịch vụ hậu cần, chế biến trên biển và góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản theo Điều kiện từng vùng. Tập trung phát triển sản xuất giống có lợi thế; duy trì ổn định diện tích nuôi nước lợ, nuôi trên biển; khuyến khích phát triển một số vùng nuôi thủy sản nước ngọt tập trung theo quy hoạch. Tăng cường các biện pháp bảo vệ ngư trường.
Đẩy mạnh phát triển thủy sản theo hướng toàn diện, nâng cao hiệu quả khai thác, nuôi trồng, chế biến, dịch vụ gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Triển khai thực hiện tốt các chính sách ưu đãi của Chính phủ để đẩy mạnh phát triển năng lực tàu thuyền công suất lớn; tiếp tục nhân rộng và phát huy mô hình Tổ Đoàn kết sản xuất, Nghiệp đoàn nghề cá. Hạn chế tối đa phát triển thuyền công suất nhỏ, khai thác ven bờ; xử lý nghiêm mọi hoạt động làm cạn kiệt, hủy hoại môi trường. Huy động tối đa các nguồn vốn, tăng cường đầu tư, cải tạo, duy tu, bảo dưỡng hệ thống hạ tầng kỹ thuật nghề cá. Khuyến khích đầu tư thiết bị, công nghệ nuôi trồng, bảo quản, chế biến thủy sản; nhất là sản xuất tôm giống, chế biến thủy sản xuất khẩu để giảm tỷ lệ tổn thất, nâng cao chất lượng, giá trị, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Xây dựng đảo Phú Quý trở thành trung tâm dịch vụ hậu cần cho khai thác hải sản xa bờ; chú trọng phát triển hợp lý về quy mô của từng lĩnh vực, trong đó tập trung chủ yếu vào các khâu khai thác, bảo quản, sơ chế và các dịch vụ hậu cần nghề cá.
Phấn đấu trong giai đoạn 2016 - 2020 giá trị gia tăng ngành thủy sản tăng bình quân 10%/năm, chiếm tỷ trọng khoảng 35% GRDP khu vực nông lâm thủy sản vào năm 2020; đến năm 2020 sản lượng hải sản khai thác đạt 200.000 tấn, sản lượng thủy sản nuôi đạt 16.000 tấn, tôm giống đạt 28,0 tỷ post.
+ Diêm nghiệp:
Ổn định diện tích vùng sản xuất muối theo quy hoạch đạt 990 ha; tăng cường ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất, phát triển công nghiệp sau muối để đa dạng hóa sản phẩm, tăng chất lượng muối, nâng cao hiệu quả đầu tư. Ngăn ngừa, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong sản xuất và chế biến muối.
+ Phát triển nông thôn mới:
Phấn đấu đến năm 2020, hầu hết diện tích canh tác lúa được tưới chủ động, năng lực khai thác từ các công trình thủy lợi đạt 80%; có trên 60% hộ nông dân sử dụng nước sạch; tất cả các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, các thôn đều có đường ô tô thông suốt đến trung tâm; đáp ứng nhu cầu về điện cho sản xuất và sinh hoạt của 100% hộ dân ở các khu dân cư tập trung. Đến năm 2020 có 50% số xã (48 xã) đạt tiêu chuẩn nông thôn mới; đến năm 2030 đạt 100% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới.
- Khu vực công nghiệp - xây dựng:
+ Thúc đẩy mạnh mẽ phát triển công nghiệp, chú trọng đúng mức phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản; tập trung phát triển công nghiệp điện năng, công nghiệp chế biến sâu quặng sa khoáng titan. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị gia tăng ngành công nghiệp (giá so sánh 2010) trong giai đoạn 2016 - 2020 là 10%/năm, giai đoạn 2021 - 2030 là 13%/năm. Đến năm 2020, có tỷ trọng công nghiệp chiếm 70% tổng giá trị gia tăng khu vực công nghiệp - xây dựng, đến năm 2030 chiếm khoảng 80%.
Cơ cấu công nghiệp chuyển dịch theo hướng tập trung phát triển mạnh các nhóm ngành sản phẩm: Năng lượng, chế biến nông - lâm - thủy sản; chế biến sâu sa khoáng; cơ khí, điện tử, đóng - sửa chữa tàu, thuyền đánh bắt hải sản; sản xuất nước khoáng, nước giải khát, sợi, dệt, may, giày dép; các ngành công nghiệp hỗ trợ cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa gắn với đầu tư đổi mới công nghệ tạo bước tiến rõ rệt về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm; tăng cường công tác xúc tiến thương mại, hợp tác kinh tế quốc tế nhằm củng cố thị trường truyền thống, tìm kiếm thị trường mới phục vụ xuất khẩu.
Tạo Điều kiện thuận lợi và tích cực đôn đốc triển khai các dự án năng lượng (nhiệt điện, phong điện, điện mặt trời, khí điện) để Bình Thuận trở thành Trung tâm năng lượng mang tầm quốc gia. Phát huy hiệu quả, đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; thu hút đầu tư hình thành Trung tâm chế biến quặng sa khoáng titan, gắn chặt với bảo vệ môi trường, cảnh quan. Khuyến khích đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến phục vụ tiêu thụ nội địa và xuất khẩu; giảm tỷ trọng và tiến tới chấm dứt xuất khẩu các sản phẩm thô, không qua chế biến, tăng sản phẩm có hàm lượng khoa học - công nghệ cao; bên cạnh chế biến các loại thủy sản, lâm sản, chú trọng chế biến các sản phẩm từ quả thanh long, mủ trôm, mủ cao su, viên tảo,... Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp đóng, sửa tàu thuyền; ưu tiên thu hút các dự án đầu tư các cơ sở dịch vụ phục vụ đánh bắt xa bờ. Thực hiện tốt chính sách khuyến công và biện pháp hỗ trợ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp về ưu đãi tín dụng, mặt bằng sản xuất, thông tin thị trường, tư vấn về kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực; hỗ trợ và tạo Điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động đạt hiệu quả cao.
Đẩy mạnh chế biến các loại thủy sản, nông sản (cao su, thanh long,...), tảo phục vụ tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, đồng thời thúc đẩy triển khai các dự án nhiệt điện Vĩnh Tân, điện khí Sơn Mỹ, các dự án điện gió và khuyến khích thu hút đầu tư phát triển điện sử dụng năng lượng mặt trời.
Triển khai thực hiện tốt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng titan giai đoạn đến năm 2020, có xét tới năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Gắn khai thác với chế biến sâu theo kế hoạch, lộ trình phù hợp, gắn hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, bảo vệ môi trường,... Thăm dò, khai thác quy mô lớn nguyên liệu quặng titan - zircon tập trung tại khu vực Lương Sơn, Bắc Bình để cung cấp cho các dự án nhà máy chế biến sâu tại khu vực. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy chế biến sâu quặng titan (rutil nhân tạo, pigmen, titan xốp, titan kim loại) theo hướng công nghệ tiên tiến, không gây ô nhiễm môi trường. Hình thành ngành công nghiệp khai khoáng titan - zircon tương xứng với tiềm năng tài nguyên. Từng bước xây dựng Bình Thuận trở thành Trung tâm năng lượng và Trung tâm chế biến sa khoáng titan lớn của cả nước.
Trong giai đoạn 2016 - 2020, tập trung nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp đảm bảo đồng bộ; hoàn chỉnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp và thu hút đầu tư lấp đầy tối thiểu 80% diện tích cho thuê các khu công nghiệp: Phan Thiết giai đoạn 2, Hàm Kiệm I, Sông Bình; lấp đầy 50% diện tích Khu công nghiệp Hàm Kiệm II, Tuy Phong. Khởi công xây dựng Khu công nghiệp Sơn Mỹ I và II. Đến năm 2020 mỗi huyện, thị xã, thành phố có từ 1 - 2 cụm công nghiệp đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng. Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư để thu hút những dự án mới theo hướng ưu tiên những nhà đầu tư có năng lực mạnh, suất đầu tư cao, công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường, tạo được nhiều việc làm.
Đến năm 2020 quy hoạch trên địa bàn tỉnh có 32 cụm công nghiệp với tổng diện tích là 996,7 ha, ngoài mục đích thu hút đầu tư còn làm nhiệm vụ di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm khu dân cư vào cụm, trong đó: Thành phố Phan Thiết 3 cụm 48,1 ha, thị xã La Gi 4 cụm 180 ha, huyện Đức Linh 5 cụm 140,3 ha, Tánh Linh 4 cụm 97,5 ha, Hàm Tân 4 cụm 155 ha, Hàm Thuận Nam 1 cụm 30 ha, Hàm Thuận Bắc 4 cụm 101,2 ha, Bắc Bình 3 cụm 122 ha, Tuy Phong 3 cụm 77,56 ha, Phú Quý 1 cụm 25 ha.
+ Trong giai đoạn 2016 - 2020 ngành công nghiệp của tỉnh tập trung vào sản xuất các sản phẩm lợi thế mang tính cạnh tranh. Sau năm 2020 - 2030 phát huy hết tiềm năng của các sản phẩm lợi thế này:
. Công nghiệp sản xuất điện năng: Tập trung phát triển nhiệt điện, điện gió và điện mặt trời. Sản lượng điện phấn đấu đến năm 2020 đạt khoảng 14 tỷ kWh, đến năm 2030 đạt khoảng 60 tỷ kWh. Điện năng sẽ là sản phẩm mang tính đột phá cao của ngành công nghiệp tỉnh từ nay đến năm 2030.
. Công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản:
Tiếp tục phát triển công nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh, thủy sản khô, nước mắm.
Tập trung kêu gọi đầu tư công nghiệp chế biến sâu thanh long, cao su, Điều.
. Công nghiệp khai thác và chế biến sâu sa khoáng titan: Đến 2020 từng bước hình thành ngành công nghiệp titan với các sản phẩm chế biến sâu từ xỉ titan trở lên. Đến năm 2030 phát triển ngành công nghiệp titan ổn định và bền vững với Trung tâm khai thác, chế biến quặng titan quy mô lớn công nghệ tiên tiến; tập trung ưu tiên phát triển các sản phẩm pigment, titan xốp, titan kim loại và titan hợp kim phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
. Tiếp tục mở rộng và phát triển ngành công nghiệp may mặc.
. Nước khoáng Vĩnh Hảo: Giữ vững thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
+ Xây dựng: Nâng cao năng lực xây dựng, tăng dần quy mô, chất lượng; tập trung vào các công trình trọng điểm trên địa bàn; tiếp tục chỉnh trang đô thị theo hướng văn minh, hiện đại phù hợp với yêu cầu trong từng giai đoạn phát triển.
- Khu vực dịch vụ:
Đa dạng hóa loại hình dịch vụ và nâng cao trình độ phát triển của các ngành và sản phẩm dịch vụ; tập trung phát triển các ngành, sản phẩm dịch vụ: Dịch vụ thương mại, du lịch, dịch vụ xây dựng, khách sạn, nhà hàng, tài chính - ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, thông tin truyền thông, dịch vụ logistics, giáo dục và đào tạo, y tế, dịch vụ cung cấp điện, nước sinh hoạt, các loại dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, thủy sản.
Phấn đấu giá trị gia tăng dịch vụ giai đoạn 2016 - 2020 tăng 8,4% và giai đoạn 2021 - 2030 tăng 6,2%. Đến năm 2020 có tỷ trọng dịch vụ chiếm 46,8% tổng giá trị gia tăng (VA) của tỉnh và đến năm 2030 chiếm khoảng 42,5%.
+ Thương mại:
. Tiếp tục phát triển thị trường tiêu thụ nội địa thông qua việc tổ chức tốt các kênh phân phối vật tư, hàng tiêu dùng và tiêu thụ sản phẩm lợi thế của địa phương. Tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Phấn đấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội đến năm 2020 đạt khoảng 72.000 tỷ đồng, tăng bình quân giai đoạn 2016 - 2020 là 14,6% và đến năm 2030 đạt khoảng 200.000 tỷ đồng, tăng bình quân giai đoạn 2021 - 2030 là 10,7%.
. Củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu theo hướng đa dạng hóa thị trường, sản phẩm; ưu tiên khai thác và tận dụng tối đa các cơ hội từ các thị trường xuất khẩu trọng điểm, chiến lược; khai thác hiệu quả các thị trường truyền thống. Tập trung thực hiện các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm lợi thế và chủ lực của tỉnh, trọng tâm là các mặt hàng thủy sản, cao su, thanh long, đồ gỗ gia dụng, may mặc và mỹ nghệ. Tăng kim ngạch xuất khẩu trực tiếp và sản phẩm xuất khẩu đã qua chế biến, hạn chế dần ủy thác xuất khẩu, sản phẩm sơ chế, gia công. Phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu đến năm 2020 đạt khoảng 600 triệu USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt khoảng 380 triệu USD. Đến năm 2030, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 1,5 tỷ USD, trong đó xuất khẩu hàng hóa đạt khoảng 1 tỷ USD.
+ Dịch vụ tín dụng ngân hàng, thu chi ngân sách:
. Triển khai kịp thời các cơ chế, chính sách tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng, tạo Điều kiện cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn ngân hàng và thụ hưởng được chính sách của Nhà nước. Thực hiện tốt các giải pháp xử lý nợ xấu; đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt và phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Phấn đấu trong giai đoạn 2016 - 2020, huy động vốn tín dụng tăng bình quân 17% - 25%/năm, dư nợ cho vay tăng bình quân 15% - 22%/năm.
. Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách, tăng cường công tác thu ngân sách đi đôi với bồi dưỡng nguồn thu, tạo Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nhằm khai thác tốt các nguồn thu nội địa; tăng cường công tác quản lý thuế, công tác thanh tra, kiểm tra, chống thất thu ngân sách. Tăng cường lãnh đạo công tác thu thuế, chống thất thu và lạm thu; chú ý quản lý, khai thác tốt các nguồn thu ngân sách trên địa bàn tỉnh, nhất là nguồn thu từ quỹ đất; phấn đấu trong giai đoạn 2016 - 2020 thực hiện tổng thu ngân sách nội địa đạt khoảng 34.150 tỷ đồng, chiếm 9,78% so GRDP.
. Bố trí chi ngân sách tích cực, tiếp tục thực hiện tốt tái cơ cấu đầu tư công; ưu tiên cho các nhiệm vụ trọng yếu, những công trình trọng điểm. Quản lý chặt chẽ các khoản chi, bảo đảm đúng dự toán, đúng chế độ quy định, triệt để tiết kiệm chi cho bộ máy quản lý nhà nước, sự nghiệp công, tăng cường kỷ Luật, kỷ cương tài chính.
+ Dịch vụ du lịch:
Xây dựng ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng lượng khách du lịch giai đoạn 2016 - 2020 là 8,07%/năm; giai đoạn 2021 - 2030 là 08 - 10%/năm. Phấn đấu doanh thu du lịch tăng trung bình giai đoạn 2016 - 2020 là 19,3%/năm, 2021 - 2025 là 15,35%/năm, 2026 - 2030 là 17,05%/năm.
Khai thác tiềm năng, lợi thế về biển, đảo, núi, đồi và những giá trị văn hóa của địa phương để phát triển mạnh loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch khám phá, du lịch sinh thái, du lịch gắn với các môn thể thao trên biển; đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, tăng cường liên kết với các địa phương trong tỉnh và các tỉnh lân cận để hình thành các tour, tuyến du lịch nhằm thu hút mạnh du khách.
Chú trọng bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội để phát triển du lịch bền vững. Trong đó tập trung công tác khắc phục ô nhiễm, tôn tạo và bảo vệ cảnh quan môi trường; bảo đảm trật tự xã hội và an toàn vệ sinh thực phẩm.