Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 12/2011/QĐ-UBND sửa đổi Quyết định 13/2009/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạc

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "06/08/2011", "sign_number": "12/2011/QĐ-UBND", "signer": "Chẩu Văn Lâm", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "06/08/2011", "sign_number": "12/2011/QĐ-UBND", "signer": "Chẩu Văn Lâm", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "06/08/2011", "sign_number": "12/2011/QĐ-UBND", "signer": "Chẩu Văn Lâm", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "06/08/2011", "sign_number": "12/2011/QĐ-UBND", "signer": "Chẩu Văn Lâm", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "06/08/2011", "sign_number": "12/2011/QĐ-UBND", "signer": "Chẩu Văn Lâm", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 12/2011/QĐ-UBND sửa đổi Quyết định 13/2009/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạc

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Quyết định số 13/2009/QĐ-UBND ngày 15/9/2009 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2020 của tỉnh Tuyên Quang, cụ thể như sau:
...
2. Bổ sung điểm a, sửa đổi các điểm b, d, e, h khoản 3 Điều 1
"3. Định hướng quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2020:
a) Xi măng:
- Ổn định và phát huy tối đa công suất các nhà máy xi măng đã đầu tư.
- Triển khai xây dựng nhà máy xi măng Sơn Dương công suất 350 nghìn tấn/năm tại xã Phức Ứng, huyện Sơn Dương vào năm 2011 theo lộ trình theo quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp xi măng của Chính phủ. Trong giai đoạn 2016 - 2020 đề nghị Chính phủ cho phép bổ sung vào quy hoạch, mở rộng công suất nhà máy lên gấp đôi.
- Trình Chính phủ cho bổ sung vào quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng 01 cơ sở sản xuất xi măng tại huyện Sơn Dương công suất 1,5 triệu tấn/năm trong giai đoạn 2016 - 2020.
b) Vật liệu xây:
- Ổn định và phát huy tối đa công suất.các nhà máy gạch tuynel đã đầu tư. Đầu tư chiều sâu cải tiến công nghệ sản xuất, phát triển các loại gạch có kích thước lớn, độ rỗng cao từ 40% trở lên nhằm giảm tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.
- Đầu tư mới cơ sở sản xuất gạch tuynel công suất 60 triệu viên/năm của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Viên Châu tại cụm các khu Công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị Long Bình An. Tiến tới di chuyển nhà máy gạch tuynel Viên Châu hiện nay ra khỏi thành phố Tuyên Quang sau năm 2020.
- Đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất gạch công nghệ lò tuynel, hoặc sản xuất theo các công nghệ tiên tiến khác với quy mô thích hợp ở những huyện có tiềm năng về nguồn nguyên liệu đất sét. Khuyến khích phát triển sản xuất gạch nung bằng nguyên liệu đất đồi và các loại đất ít hiệu quả trong nông nghiệp.
- Rà soát và tổ chức sắp xếp lại các cơ sở sản xuất gạch thủ công để chuyển sang sản xuất theo công nghệ tiên tiến (công nghệ lò tuynel, lò đứng liên tục hoặc các công nghệ khác) và phải đảm bảo tiêu chuẩn về chất lượng và môi trường của Việt Nam. Tiến tới xóa bỏ hoàn toàn các cơ sở sản xuất gạch đất sét nung bằng lò thủ công năm 2015 tại các khu đô thị và khu dân cư và trên địa bàn tỉnh vào năm 2020.
- Phát triển sản xuất vật liệu xây không nung để thay thế gạch đất sét nung, tiết kiệm đất nông nghiệp, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, giảm thiểu khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính và ô nhiễm môi trường, giảm chi phí xử lý phế thải của các ngành công nghiệp, tiết kiệm nhiên liệu than, đem lại hiệu quả kinh tế chung cho toàn xã hội. Phát triển các cơ sở sản xuất với quy mô hợp lý, phù hợp với từng vùng, từng khu vực, sử dụng công nghệ tiên tiến, tận dụng tối đa các nguồn phế thải của các ngành công nghiệp khác, đa dạng hóa sản phẩm phù hợp với thực tế thi công các công trình xây dựng và đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Phát triển sử dụng gạch không nung thay thế gạch đất sét nung đạt tỷ lệ 20-25% vào năm 2015, 30-40% vào năm 2020.
Khuyến khích các công trình xây dựng sử dụng vật liệu nhẹ, vật liệu xây không nung có độ rỗng 30% trở lên.
- Ưu tiên phát triển sản xuất và sử dụng các chủng loại sản phẩm gạch không nung gồm: gạch xi măng - cốt liệu, dự kiến đạt tỷ lệ khoảng 74% trên tổng số vật liệu xây không nung vào năm 2015 và 70% vào năm 2020; gạch nhẹ dự kiến đạt tỷ lệ khoảng 21% trên tổng số vật liệu xây không nung vào năm 2015 và 25% vào năm 2020; gạch không nung từ đất đồi, phế thải xây dựng, phế thải công nghiệp..., dự kiến đạt tỷ lệ khoảng 5% trên tổng số vật liệu xây không nung từ năm 2015.
d) Đá xây dựng:
- Tiếp tục đầu tư chiều sâu, cải tiến công nghệ khai thác đá xây dựng ở tất cả các cơ sở sản xuất hiện có, nhằm giảm tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.
- Phát triển các cơ sở sản xuất đá xây dựng với quy mô công suất phù hợp với từng vùng, từng khu vực. Khuyến khích các cơ sở sản xuất với quy mô công suất lớn, đầu tư dây chuyền nghiền sàng hiện đại, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm. Ưu tiên trong việc cấp, gia hạn giấy phép khai thác với thời gian dài hạn cho các cơ sở khai thác đá đáp ứng yêu cầu công suất từ 50 nghìn m3/năm trở lên. Đối với các cơ sở khai thác đá có công suất nhỏ hơn 50 nghìn m3/năm chỉ được cấp phép khai thác tại những khu vực thuộc vùng sâu, vùng xa, khu vực có nhu cầu tiêu thụ thấp và chỉ được hoạt động trong thời gian ngắn (2-4 năm).
- Thu hồi giấy phép khai thác đối với các cơ sở khai thác kém hiệu quả, không đảm bảo điệu kiện năng lực và không đảm bảo các quy định về môi trường và bảo vệ tài nguyên.
- Về sản lượng: Đầu tư nâng năng lực khai thác đá của thành phố Tuyên Quang và các huyện theo nhu cầu đá ở từng giai đoạn cụ thể.
e) Cát, sỏi xây dựng:
- Đẩy mạnh khai thác cát, sỏi trên các tuyến sông, suối trên địa bàn tỉnh để đáp ứng nhu cầu cát, sỏi cho xây dựng trong và ngoài tỉnh, trên cơ sở quản lý chặt chẽ việc thực hiện các quy định về khai thác cát, sỏi lòng sông, đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Thu hồi giấy phép khai thác đối với các cơ sở khai thác không đảm bảo điều kiện năng lực, vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường và khai thác khoáng sản.
- Xây dựng kế hoạch khảo sát thăm dò cát, sỏi và quy hoạch cấp mỏ cho những tổ chức cá nhân có năng lực khai thác, không cấp mỏ cho các tổ chức, cá nhân khai thác nhỏ lẻ.
- Không cấp giấy phép khai thác cát, sỏi tại các khu vực nằm trong hành lang bảo vệ an toàn đê điều, đường bờ, đất nông nghiệp ở bãi bồi trên sông, hành lang bảo vệ các công trình thủy lợi, các cầu, cống bắc qua sông, kè bờ sông xung yếu, các khu vực nằm trong phạm vi hoạt động của các bến đò, bến cảng, bến phà, các khu vực có các điểm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh hoặc các khu vực cơ nguy cơ sạt sở cao.
- Về sản lượng: Đầu tư phương tiện và thiết bị khai thác, nâng năng lực khai thác cát, sỏi của các doanh nghiệp trong tỉnh theo nhu cầu dự kiến đối với từng giai đoạn cụ thể.
h) Bê tông:
Công nghệ xây lắp trong giai đoạn tới sẽ ưu tiên sử dụng bê tông thương phẩm để đảm bảo chất lượng bê tông và vệ sinh môi trường, làm chủ công nghệ xây dựng nhà cao tầng, các công trình xây dựng có quy mô và sử dụng khối lượng bê tông lớn, công trình ngầm, công trình có khẩu độ lớn, để đáp ứng nhu cầu sử dụng khuyến khích phát triển một số cơ sở sản xuất bê tông tươi.
Tiếp tục phát triển sản xuất bê tông cấu kiện đúc sẵn dự ứng lực đáp ứng cho nhu cầu xây dựng khu nhà cao tầng, giao thông và công nghiệp. Phát triển đa dạng các loại bê tông đặc biệt khác đáp ứng ngày càng cao trong xây dựng như: bê tông nhẹ, bê tông nhẹ cường độ cao, bê tông chịu nhiệt, bê tông cách âm, cách nhiệt, bê tông tự đầm, bê tông tự chèn."

Content:
Bổ sung điểm a, sửa đổi các điểm b, d, e, h khoản 3 Điều 1
"3. Định hướng quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2020:
a) Xi măng:
- Ổn định và phát huy tối đa công suất các nhà máy xi măng đã đầu tư.
- Triển khai xây dựng nhà máy xi măng Sơn Dương công suất 350 nghìn tấn/năm tại xã Phức Ứng, huyện Sơn Dương vào năm 2011 theo lộ trình theo quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp xi măng của Chính phủ. Trong giai đoạn 2016 - 2020 đề nghị Chính phủ cho phép bổ sung vào quy hoạch, mở rộng công suất nhà máy lên gấp đôi.
- Trình Chính phủ cho bổ sung vào quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng 01 cơ sở sản xuất xi măng tại huyện Sơn Dương công suất 1,5 triệu tấn/năm trong giai đoạn 2016 - 2020.
b) Vật liệu xây:
- Ổn định và phát huy tối đa công suất.các nhà máy gạch tuynel đã đầu tư. Đầu tư chiều sâu cải tiến công nghệ sản xuất, phát triển các loại gạch có kích thước lớn, độ rỗng cao từ 40% trở lên nhằm giảm tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.
- Đầu tư mới cơ sở sản xuất gạch tuynel công suất 60 triệu viên/năm của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Viên Châu tại cụm các khu Công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị Long Bình An. Tiến tới di chuyển nhà máy gạch tuynel Viên Châu hiện nay ra khỏi thành phố Tuyên Quang sau năm 2020.
- Đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất gạch công nghệ lò tuynel, hoặc sản xuất theo các công nghệ tiên tiến khác với quy mô thích hợp ở những huyện có tiềm năng về nguồn nguyên liệu đất sét. Khuyến khích phát triển sản xuất gạch nung bằng nguyên liệu đất đồi và các loại đất ít hiệu quả trong nông nghiệp.
- Rà soát và tổ chức sắp xếp lại các cơ sở sản xuất gạch thủ công để chuyển sang sản xuất theo công nghệ tiên tiến (công nghệ lò tuynel, lò đứng liên tục hoặc các công nghệ khác) và phải đảm bảo tiêu chuẩn về chất lượng và môi trường của Việt Nam. Tiến tới xóa bỏ hoàn toàn các cơ sở sản xuất gạch đất sét nung bằng lò thủ công năm 2015 tại các khu đô thị và khu dân cư và trên địa bàn tỉnh vào năm 2020.
- Phát triển sản xuất vật liệu xây không nung để thay thế gạch đất sét nung, tiết kiệm đất nông nghiệp, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, giảm thiểu khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính và ô nhiễm môi trường, giảm chi phí xử lý phế thải của các ngành công nghiệp, tiết kiệm nhiên liệu than, đem lại hiệu quả kinh tế chung cho toàn xã hội. Phát triển các cơ sở sản xuất với quy mô hợp lý, phù hợp với từng vùng, từng khu vực, sử dụng công nghệ tiên tiến, tận dụng tối đa các nguồn phế thải của các ngành công nghiệp khác, đa dạng hóa sản phẩm phù hợp với thực tế thi công các công trình xây dựng và đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Phát triển sử dụng gạch không nung thay thế gạch đất sét nung đạt tỷ lệ 20-25% vào năm 2015, 30-40% vào năm 2020.
Khuyến khích các công trình xây dựng sử dụng vật liệu nhẹ, vật liệu xây không nung có độ rỗng 30% trở lên.
- Ưu tiên phát triển sản xuất và sử dụng các chủng loại sản phẩm gạch không nung gồm: gạch xi măng - cốt liệu, dự kiến đạt tỷ lệ khoảng 74% trên tổng số vật liệu xây không nung vào năm 2015 và 70% vào năm 2020; gạch nhẹ dự kiến đạt tỷ lệ khoảng 21% trên tổng số vật liệu xây không nung vào năm 2015 và 25% vào năm 2020; gạch không nung từ đất đồi, phế thải xây dựng, phế thải công nghiệp..., dự kiến đạt tỷ lệ khoảng 5% trên tổng số vật liệu xây không nung từ năm 2015.
d) Đá xây dựng:
- Tiếp tục đầu tư chiều sâu, cải tiến công nghệ khai thác đá xây dựng ở tất cả các cơ sở sản xuất hiện có, nhằm giảm tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.
- Phát triển các cơ sở sản xuất đá xây dựng với quy mô công suất phù hợp với từng vùng, từng khu vực. Khuyến khích các cơ sở sản xuất với quy mô công suất lớn, đầu tư dây chuyền nghiền sàng hiện đại, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm. Ưu tiên trong việc cấp, gia hạn giấy phép khai thác với thời gian dài hạn cho các cơ sở khai thác đá đáp ứng yêu cầu công suất từ 50 nghìn m3/năm trở lên. Đối với các cơ sở khai thác đá có công suất nhỏ hơn 50 nghìn m3/năm chỉ được cấp phép khai thác tại những khu vực thuộc vùng sâu, vùng xa, khu vực có nhu cầu tiêu thụ thấp và chỉ được hoạt động trong thời gian ngắn (2-4 năm).
- Thu hồi giấy phép khai thác đối với các cơ sở khai thác kém hiệu quả, không đảm bảo điệu kiện năng lực và không đảm bảo các quy định về môi trường và bảo vệ tài nguyên.
- Về sản lượng: Đầu tư nâng năng lực khai thác đá của thành phố Tuyên Quang và các huyện theo nhu cầu đá ở từng giai đoạn cụ thể.
e) Cát, sỏi xây dựng:
- Đẩy mạnh khai thác cát, sỏi trên các tuyến sông, suối trên địa bàn tỉnh để đáp ứng nhu cầu cát, sỏi cho xây dựng trong và ngoài tỉnh, trên cơ sở quản lý chặt chẽ việc thực hiện các quy định về khai thác cát, sỏi lòng sông, đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Thu hồi giấy phép khai thác đối với các cơ sở khai thác không đảm bảo điều kiện năng lực, vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường và khai thác khoáng sản.
- Xây dựng kế hoạch khảo sát thăm dò cát, sỏi và quy hoạch cấp mỏ cho những tổ chức cá nhân có năng lực khai thác, không cấp mỏ cho các tổ chức, cá nhân khai thác nhỏ lẻ.
- Không cấp giấy phép khai thác cát, sỏi tại các khu vực nằm trong hành lang bảo vệ an toàn đê điều, đường bờ, đất nông nghiệp ở bãi bồi trên sông, hành lang bảo vệ các công trình thủy lợi, các cầu, cống bắc qua sông, kè bờ sông xung yếu, các khu vực nằm trong phạm vi hoạt động của các bến đò, bến cảng, bến phà, các khu vực có các điểm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh hoặc các khu vực cơ nguy cơ sạt sở cao.
- Về sản lượng: Đầu tư phương tiện và thiết bị khai thác, nâng năng lực khai thác cát, sỏi của các doanh nghiệp trong tỉnh theo nhu cầu dự kiến đối với từng giai đoạn cụ thể.
h) Bê tông:
Công nghệ xây lắp trong giai đoạn tới sẽ ưu tiên sử dụng bê tông thương phẩm để đảm bảo chất lượng bê tông và vệ sinh môi trường, làm chủ công nghệ xây dựng nhà cao tầng, các công trình xây dựng có quy mô và sử dụng khối lượng bê tông lớn, công trình ngầm, công trình có khẩu độ lớn, để đáp ứng nhu cầu sử dụng khuyến khích phát triển một số cơ sở sản xuất bê tông tươi.
Tiếp tục phát triển sản xuất bê tông cấu kiện đúc sẵn dự ứng lực đáp ứng cho nhu cầu xây dựng khu nhà cao tầng, giao thông và công nghiệp. Phát triển đa dạng các loại bê tông đặc biệt khác đáp ứng ngày càng cao trong xây dựng như: bê tông nhẹ, bê tông nhẹ cường độ cao, bê tông chịu nhiệt, bê tông cách âm, cách nhiệt, bê tông tự đầm, bê tông tự chèn."