Document: Điểm e Khoản 6 Điều 1 Quyết định 568/QĐ-TTg  Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/04/2010", "sign_number": "568/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/04/2010", "sign_number": "568/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/04/2010", "sign_number": "568/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/04/2010", "sign_number": "568/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/04/2010", "sign_number": "568/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm e Khoản 6 Điều 1 Quyết định 568/QĐ-TTg  Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau:
...
6. Định hướng về công tác bảo đảm quốc phòng, an ninh
...
e) Xây dựng và cụ thể hóa các cơ chế chính sách đặc thù riêng, phù hợp với vị trí, chức năng của từng đảo, cụm đảo. Đối với các đảo trọng điểm về phương thức kinh tế tiếp tục cụ thể hóa chính sách ưu đãi thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước để phát triển nhanh trong thời gian tới. Đối với các đảo có chức năng phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng an ninh, cần nghiên cứu áp dụng các chính sách khuyến khích, ưu đãi cao hơn chính sách đang thực hiện cho vùng đặc biệt khó khăn. Đối với các đảo nhỏ khác, ngoài những chính sách chung, cần có những chính sách đặc thù để tăng cường tiềm lực chính sách chung, cần có những chính sách đặc thù để tăng cường tiềm lực cho bảo đảm quốc phòng an ninh và thực hiện việc dân sự hóa các đảo.
2. Phát triển nguồn nhân lực
a) Phát triển hệ thống giáo dục chính quy từ giáo dục mầm nón đến trung học phổ thông. Đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề tại các trường phổ thông. Sớm hình thành hệ thống các cơ sở đào tạo, các Trung tâm dạy nghề trên các đảo để đào tạo nghề cho con em vùng đảo.
b) Tăng cường năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo, dạy nghề hiện có trên các đảo. Xây dựng cơ sở đào tạo, dạy nghề mới trên các đảo lớn, đông dân cư. Mở phân hiệu cao đẳng hoặc đại học trên một số đảo quan trọng (Vân Đồn, Phú Quốc …), đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các đảo.
c) Đẩy mạnh phối hợp, liên kết giữa các huyện đảo, xã đảo với các cơ sở đào tạo trong tỉnh, thành phố mà huyện đảo, xã đảo trực tiếp để mở rộng quy mô và hình thức đào tạo cho lực lượng lao động trên các đảo. Tổ chức các chương trình đào tạo từ xa cho vùng đảo, kể cả đào tạo cao đẳng, đại học.
d) Thường xuyên mở các lớp tập huấn, phổ biến kiến thức, kinh nghiệm và chuyển giao công nghệ cho người dân vùng đảo trong các lĩnh vực: sản xuất nông nghiệp; nuôi trồng thủy sản, bảo vệ tài nguyên, môi trường…. Tăng cường phổ biến các kiến thức về biển, về pháp luật và các phương pháp khai thác tiên tiến cho bà con ngư dân, kể cả ngư dân trên đảo và ngư dân của các địa phương khác hoạt động khai thác thường xuyên tại vùng biển quanh các đảo.
đ) Ban hành các chính sách ưu đãi đặc biệt về tiền lương, phụ cấp, về nhà ở và các chế độ đãi ngộ khác … để thu hút đội ngũ giáo viên trong đất liền ra công tác tại vùng đảo. Áp dụng chính sách cử tuyển và trợ cấp học phí cho con em vùng đảo đi học tại các trường đại học, cao đẳng, trung học … trên đất liền để trở về công tác tại đảo.
e) Đẩy mạnh đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công chức các cấp cho các huyện đảo, xã đảo. Áp dụng chính sách luân chuyển cán bộ, hợp đồng lao động có thời hạn đối với các chuyên gia, các nhà quản lý ra công tác tại đảo.
3. Đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật.
a) Thực hiện các chính sách khuyến khích, hỗ trợ của Nhà nước để các doanh nghiệp đầu tư cải tiến kỹ thuật và áp dụng công nghệ mới, công nghệ sạch vào sản xuất. Khuyến khích các thành phần kinh tế áp dụng công nghệ tiên tiến để giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm năng lượng, nhiên liệu, điện năng, nước sạch … và bảo vệ môi trường biển, đảo.
b) Tăng cường ứng dụng công nghệ tiên tiến trong khai thác, nuôi trồng, bảo quản, sơ chế và chế biến hải sản … Đưa nhanh các phương tiện vận tải có chất lượng cao vào hoạt động trên các tuyến vận tải giữa vùng đảo với đất liền. Áp dụng các công nghệ mới, vật liệu mới trong đóng mới và sửa chữa tàu thuyền nhằm sử dụng tiết kiệm nhiên liệu. Đẩy mạnh sử dụng năng lượng gió, năng lượng mặt trời, biogaz, năng lượng thủy triều … trên các đảo, nhất là trên các đảo lẻ và các khu vực xa trung tâm, xa nguồn cấp điện.
c) Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản và nghiên cứu khoa học, trong đó tập trung vào một số lĩnh vực:
- Điều tra cơ bản về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, điều kiện khí tượng thủy văn, điều kiện địa chất … của toàn bộ hệ thống đảo và một số đảo, cụm đảo quan trọng, xây dựng bộ dữ liệu cơ bản, đủ tin cậy phục vụ xây dựng các kế hoạch, chính sách lâu dài.
- Điều tra, đánh giá đầy đủ khả năng khai thác các nguồn lợi chính của các đảo, nhất là khả năng về đất đai, nguồn nước ngọt (kể cả nước dưới đất) để có kế hoạch khai thác phục vụ kinh tế, quốc phòng và tổ chức di dân ra đảo.
- Nghiên cứu áp dụng các công nghệ tiên tiến trong việc khai thác, sử dụng các nguồn năng lượng mới (năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sóng, thủy triều …), công nghệ ngọt hóa nước biển … trên các đảo.
4. Cơ chế huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư
Sơ bộ dự tính tổng nhu cầu vốn đầu tư cho hệ thống đảo từ nay đến năm 2020 khoảng 162,5 ngàn tỷ đồng, trong đó giai đoạn 2010 - 2015 cần khoảng 51,8 ngàn tỷ đồng.
Để đáp ứng nguồn vốn đầu tư phát triển cho các đảo từ nay đến năm 2020, cần có cơ chế huy động tích cực, khuyến khích mạnh mẽ nhằm thu hút mọi nguồn vốn có thể (cả trong và ngoài nước) dưới mọi hình thức.
a) Đối với nguồn vốn ngân sách (ngân sách trung ương và ngân sách địa phương) chiếm tỷ lệ khá lớn (gần 60%): trên cơ sở xác định rõ các chương trình, dự án lớn, có tính chiến lược, dài hạn của từng đảo, cụm đảo, cần có các chính sách đầu tư tập trung, có trọng điểm, coi trọng việc đầu tư vào các lĩnh vực, khu vực mang tính đột phá và cấp thiết, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng an ninh. Sử dụng có hiệu quả các nguồn hỗ trợ từ Trung ương, nhất là vốn của Chương trình Biển Đông – Hải đảo và các Chương trình mục tiêu của Chính phủ để thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW 4 (Khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Ưu tiên dành nguồn vốn ngân sách cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông kết nối các đảo với đất liền, các công trình cấp điện, cấp nước ngọt … tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh trên các đảo. Lồng ghép có hiệu quả các chương trình, dự án đang triển khai thực hiện trên vùng đảo để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Tiếp tục có chính sách về tín dụng ưu đãi cho các tổ chức, cá nhân trên các đảo vay vốn ưu đãi đóng mới tàu thuyền lớn để phát triển nghề cá xa bờ, nuôi trồng hải sản và trang bị các phương tiện hiện đại, chất lượng cao phục vụ trên các tuyến vận tải chính kết nối các đảo với đất liền.
b) Đối với nguồn vốn ngoài ngân sách: xác định rõ các đảo, cụm đảo ưu tiên và các lĩnh vực ưu tiên để kêu gọi vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước, nhất là các doanh nghiệp lớn (kể cả các Tập đoàn, các doanh nghiệp kinh tế của quân đội) đầu tư phát triển sản xuất trên vùng đảo. Áp dụng các chính sách ưu đãi như miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu; miễn, giảm tiền thuê, tiền sử dụng đất, mặt nước; hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư … cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư trên vùng đảo. Tăng cường xúc tiến đầu tư vào các lĩnh vực du lịch, dịch vụ biển, nuôi trồng, chế biến hải sản…. Khuyến khích nhân dân trên các đảo đẩy mạnh sản xuất kinh doanh. Chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong mọi lĩnh vực.
c) Đối với nguồn vốn nước ngoài: tăng cường nguồn vốn ODA cho đầu tư phát triển kinh tế hệ thống đảo. Các tỉnh, thành phố có đảo phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành Trung ương để vận động nguồn vốn ODA, đồng thời chỉ đạo xây dựng các dự án cụ thể để kêu gọi nguồn hỗ trợ của các Tổ chức quốc tế, các Tổ chức phi chính phủ cho hệ thống đảo. Đổi mới cơ chế thu hút FDI, xây dựng cơ chế, chính sách đồng bộ tạo môi trường thuận lợi để thu hút nguồn vốn FDI vào phát triển kinh tế đảo. Điều chỉnh cơ cấu thu hút đầu tư FDI phù hợp với các lĩnh vực ưu tiên của từng đảo, cụm đảo. Khuyến khích và hỗ trợ các dự án lớn trên một số đảo như: dự án sân bay Vân Đồn, dự án Khu du lịch Phú Quốc, dự án sân golf Phú Quốc … cũng như các dự án đã được cấp giấy phép triển khai thuận lợi và có hiệu quả để kêu gọi các nhà đầu tư mới. Kết hợp nhiều hình thức liên doanh liên kết, kể cả hình thức 100% vốn nước ngoài đối với các dự án lớn, quan trọng như xây dựng sân bay, các khu du lịch, khu vui chơi giải trí cao cấp …. Mở rộng các hình thức đầu tư BOT, BT và các hình thức khác để thu hút nhiều nguồn vốn tập trung đầu tư phát triển các đảo trong thời gian ngắn.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư: chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành liên quan và các tỉnh, thành phố có đảo căn cứ quy hoạch này định hướng cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch và các dự án phát triển của các Bộ, ngành liên quan và các địa phương có đảo; lồng ghép các mục tiêu, định hướng và nhiệm vụ, giải pháp phát triển của quy hoạch này vào Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước thời kỳ 2011 – 2020 và các kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàng năm để thực hiện; phối hợp với Bộ Tài chính để cân đối và huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế đảo.
2. Bộ Tài chính: chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt về tài chính (hỗ trợ vốn, miễn, giảm thuế, hỗ trợ tín dụng ưu đãi …) để thu hút đầu tư phát triển kinh tế đảo; phối hợp với Bộ, ngành liên quan cân đối, bố trí vốn hàng năm cho đầu tư phát triển kinh tế đảo.
3. Các Bộ, ngành liên quan khác: lồng ghép các mục tiêu, định hướng và nhiệm vụ, giải pháp phát triển của quy hoạch này vào Chương trình hành động của Bộ, ngành thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (Khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và quy hoạch, kế hoạch 5 năm của ngành trên phạm vi cả nước; xác định các dự án đầu tư trọng điểm trên các đảo từ nay đến năm 2020 và bố trí vốn trong các kế hoạch hàng năm để thực hiện; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, các tỉnh, thành phố có đảo rà soát, bổ sung và xây dựng các chính sách khuyến khích, ưu đãi đặc thù (thuộc các lĩnh vực do ngành quản lý) cho phát triển kinh tế đảo; hướng dẫn, giúp đỡ các địa phương trong việc lập quy hoạch chi tiết cho một số đảo cụ thể; xác định các công trình trọng điểm trên các đảo, triển khai xây dựng Khu kinh tế - quốc phòng trên một số đảo quan trọng và tiến hành quy hoạch một số đảo dành riêng cho nhiệm vụ quốc phòng an ninh.
4. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có đảo: lồng ghép các mục tiêu, định hướng và nhiệm vụ, giải pháp phát triển của quy hoạch này vào Chương trình hành động của tỉnh, thành phố thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (Khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 vào quy hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để thực hiện quy hoạch; rà soát, bổ sung quy hoạch tổng thể của các huyện đảo; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan lập quy hoạch chi tiết cho các đảo, cụm đảo quan trọng thuộc địa phận hành chính của địa phương phù hợp với quy hoạch này.
Định kỳ hàng năm các Bộ, ngành và địa phương tổ chức tổng kết, đánh giá việc thực hiện quy hoạch gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền kịp thời điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới.

Content:
Xây dựng và cụ thể hóa các cơ chế chính sách đặc thù riêng, phù hợp với vị trí, chức năng của từng đảo, cụm đảo. Đối với các đảo trọng điểm về phương thức kinh tế tiếp tục cụ thể hóa chính sách ưu đãi thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước để phát triển nhanh trong thời gian tới. Đối với các đảo có chức năng phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng an ninh, cần nghiên cứu áp dụng các chính sách khuyến khích, ưu đãi cao hơn chính sách đang thực hiện cho vùng đặc biệt khó khăn. Đối với các đảo nhỏ khác, ngoài những chính sách chung, cần có những chính sách đặc thù để tăng cường tiềm lực chính sách chung, cần có những chính sách đặc thù để tăng cường tiềm lực cho bảo đảm quốc phòng an ninh và thực hiện việc dân sự hóa các đảo.
2. Phát triển nguồn nhân lực
a) Phát triển hệ thống giáo dục chính quy từ giáo dục mầm nón đến trung học phổ thông. Đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề tại các trường phổ thông. Sớm hình thành hệ thống các cơ sở đào tạo, các Trung tâm dạy nghề trên các đảo để đào tạo nghề cho con em vùng đảo.
b) Tăng cường năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo, dạy nghề hiện có trên các đảo. Xây dựng cơ sở đào tạo, dạy nghề mới trên các đảo lớn, đông dân cư. Mở phân hiệu cao đẳng hoặc đại học trên một số đảo quan trọng (Vân Đồn, Phú Quốc …), đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các đảo.
c) Đẩy mạnh phối hợp, liên kết giữa các huyện đảo, xã đảo với các cơ sở đào tạo trong tỉnh, thành phố mà huyện đảo, xã đảo trực tiếp để mở rộng quy mô và hình thức đào tạo cho lực lượng lao động trên các đảo. Tổ chức các chương trình đào tạo từ xa cho vùng đảo, kể cả đào tạo cao đẳng, đại học.
d) Thường xuyên mở các lớp tập huấn, phổ biến kiến thức, kinh nghiệm và chuyển giao công nghệ cho người dân vùng đảo trong các lĩnh vực: sản xuất nông nghiệp; nuôi trồng thủy sản, bảo vệ tài nguyên, môi trường…. Tăng cường phổ biến các kiến thức về biển, về pháp luật và các phương pháp khai thác tiên tiến cho bà con ngư dân, kể cả ngư dân trên đảo và ngư dân của các địa phương khác hoạt động khai thác thường xuyên tại vùng biển quanh các đảo.
đ) Ban hành các chính sách ưu đãi đặc biệt về tiền lương, phụ cấp, về nhà ở và các chế độ đãi ngộ khác … để thu hút đội ngũ giáo viên trong đất liền ra công tác tại vùng đảo. Áp dụng chính sách cử tuyển và trợ cấp học phí cho con em vùng đảo đi học tại các trường đại học, cao đẳng, trung học … trên đất liền để trở về công tác tại đảo.
Đẩy mạnh đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công chức các cấp cho các huyện đảo, xã đảo. Áp dụng chính sách luân chuyển cán bộ, hợp đồng lao động có thời hạn đối với các chuyên gia, các nhà quản lý ra công tác tại đảo.
3. Đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật.
a) Thực hiện các chính sách khuyến khích, hỗ trợ của Nhà nước để các doanh nghiệp đầu tư cải tiến kỹ thuật và áp dụng công nghệ mới, công nghệ sạch vào sản xuất. Khuyến khích các thành phần kinh tế áp dụng công nghệ tiên tiến để giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm năng lượng, nhiên liệu, điện năng, nước sạch … và bảo vệ môi trường biển, đảo.
b) Tăng cường ứng dụng công nghệ tiên tiến trong khai thác, nuôi trồng, bảo quản, sơ chế và chế biến hải sản … Đưa nhanh các phương tiện vận tải có chất lượng cao vào hoạt động trên các tuyến vận tải giữa vùng đảo với đất liền. Áp dụng các công nghệ mới, vật liệu mới trong đóng mới và sửa chữa tàu thuyền nhằm sử dụng tiết kiệm nhiên liệu. Đẩy mạnh sử dụng năng lượng gió, năng lượng mặt trời, biogaz, năng lượng thủy triều … trên các đảo, nhất là trên các đảo lẻ và các khu vực xa trung tâm, xa nguồn cấp điện.
c) Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản và nghiên cứu khoa học, trong đó tập trung vào một số lĩnh vực:
- Điều tra cơ bản về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, điều kiện khí tượng thủy văn, điều kiện địa chất … của toàn bộ hệ thống đảo và một số đảo, cụm đảo quan trọng, xây dựng bộ dữ liệu cơ bản, đủ tin cậy phục vụ xây dựng các kế hoạch, chính sách lâu dài.
- Điều tra, đánh giá đầy đủ khả năng khai thác các nguồn lợi chính của các đảo, nhất là khả năng về đất đai, nguồn nước ngọt (kể cả nước dưới đất) để có kế hoạch khai thác phục vụ kinh tế, quốc phòng và tổ chức di dân ra đảo.
- Nghiên cứu áp dụng các công nghệ tiên tiến trong việc khai thác, sử dụng các nguồn năng lượng mới (năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sóng, thủy triều …), công nghệ ngọt hóa nước biển … trên các đảo.
4. Cơ chế huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư
Sơ bộ dự tính tổng nhu cầu vốn đầu tư cho hệ thống đảo từ nay đến năm 2020 khoảng 162,5 ngàn tỷ đồng, trong đó giai đoạn 2010 - 2015 cần khoảng 51,8 ngàn tỷ đồng.
Để đáp ứng nguồn vốn đầu tư phát triển cho các đảo từ nay đến năm 2020, cần có cơ chế huy động tích cực, khuyến khích mạnh mẽ nhằm thu hút mọi nguồn vốn có thể (cả trong và ngoài nước) dưới mọi hình thức.
a) Đối với nguồn vốn ngân sách (ngân sách trung ương và ngân sách địa phương) chiếm tỷ lệ khá lớn (gần 60%): trên cơ sở xác định rõ các chương trình, dự án lớn, có tính chiến lược, dài hạn của từng đảo, cụm đảo, cần có các chính sách đầu tư tập trung, có trọng điểm, coi trọng việc đầu tư vào các lĩnh vực, khu vực mang tính đột phá và cấp thiết, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng an ninh. Sử dụng có hiệu quả các nguồn hỗ trợ từ Trung ương, nhất là vốn của Chương trình Biển Đông – Hải đảo và các Chương trình mục tiêu của Chính phủ để thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW 4 (Khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Ưu tiên dành nguồn vốn ngân sách cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông kết nối các đảo với đất liền, các công trình cấp điện, cấp nước ngọt … tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh trên các đảo. Lồng ghép có hiệu quả các chương trình, dự án đang triển khai thực hiện trên vùng đảo để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Tiếp tục có chính sách về tín dụng ưu đãi cho các tổ chức, cá nhân trên các đảo vay vốn ưu đãi đóng mới tàu thuyền lớn để phát triển nghề cá xa bờ, nuôi trồng hải sản và trang bị các phương tiện hiện đại, chất lượng cao phục vụ trên các tuyến vận tải chính kết nối các đảo với đất liền.
b) Đối với nguồn vốn ngoài ngân sách: xác định rõ các đảo, cụm đảo ưu tiên và các lĩnh vực ưu tiên để kêu gọi vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước, nhất là các doanh nghiệp lớn (kể cả các Tập đoàn, các doanh nghiệp kinh tế của quân đội) đầu tư phát triển sản xuất trên vùng đảo. Áp dụng các chính sách ưu đãi như miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu; miễn, giảm tiền thuê, tiền sử dụng đất, mặt nước; hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư … cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư trên vùng đảo. Tăng cường xúc tiến đầu tư vào các lĩnh vực du lịch, dịch vụ biển, nuôi trồng, chế biến hải sản…. Khuyến khích nhân dân trên các đảo đẩy mạnh sản xuất kinh doanh. Chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong mọi lĩnh vực.
c) Đối với nguồn vốn nước ngoài: tăng cường nguồn vốn ODA cho đầu tư phát triển kinh tế hệ thống đảo. Các tỉnh, thành phố có đảo phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành Trung ương để vận động nguồn vốn ODA, đồng thời chỉ đạo xây dựng các dự án cụ thể để kêu gọi nguồn hỗ trợ của các Tổ chức quốc tế, các Tổ chức phi chính phủ cho hệ thống đảo. Đổi mới cơ chế thu hút FDI, xây dựng cơ chế, chính sách đồng bộ tạo môi trường thuận lợi để thu hút nguồn vốn FDI vào phát triển kinh tế đảo. Điều chỉnh cơ cấu thu hút đầu tư FDI phù hợp với các lĩnh vực ưu tiên của từng đảo, cụm đảo. Khuyến khích và hỗ trợ các dự án lớn trên một số đảo như: dự án sân bay Vân Đồn, dự án Khu du lịch Phú Quốc, dự án sân golf Phú Quốc … cũng như các dự án đã được cấp giấy phép triển khai thuận lợi và có hiệu quả để kêu gọi các nhà đầu tư mới. Kết hợp nhiều hình thức liên doanh liên kết, kể cả hình thức 100% vốn nước ngoài đối với các dự án lớn, quan trọng như xây dựng sân bay, các khu du lịch, khu vui chơi giải trí cao cấp …. Mở rộng các hình thức đầu tư BOT, BT và các hình thức khác để thu hút nhiều nguồn vốn tập trung đầu tư phát triển các đảo trong thời gian ngắn.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư: chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành liên quan và các tỉnh, thành phố có đảo căn cứ quy hoạch này định hướng cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch và các dự án phát triển của các Bộ, ngành liên quan và các địa phương có đảo; lồng ghép các mục tiêu, định hướng và nhiệm vụ, giải pháp phát triển của quy hoạch này vào Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước thời kỳ 2011 – 2020 và các kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàng năm để thực hiện; phối hợp với Bộ Tài chính để cân đối và huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế đảo.
2. Bộ Tài chính: chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt về tài chính (hỗ trợ vốn, miễn, giảm thuế, hỗ trợ tín dụng ưu đãi …) để thu hút đầu tư phát triển kinh tế đảo; phối hợp với Bộ, ngành liên quan cân đối, bố trí vốn hàng năm cho đầu tư phát triển kinh tế đảo.
3. Các Bộ, ngành liên quan khác: lồng ghép các mục tiêu, định hướng và nhiệm vụ, giải pháp phát triển của quy hoạch này vào Chương trình hành động của Bộ, ngành thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (Khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và quy hoạch, kế hoạch 5 năm của ngành trên phạm vi cả nước; xác định các dự án đầu tư trọng điểm trên các đảo từ nay đến năm 2020 và bố trí vốn trong các kế hoạch hàng năm để thực hiện; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, các tỉnh, thành phố có đảo rà soát, bổ sung và xây dựng các chính sách khuyến khích, ưu đãi đặc thù (thuộc các lĩnh vực do ngành quản lý) cho phát triển kinh tế đảo; hướng dẫn, giúp đỡ các địa phương trong việc lập quy hoạch chi tiết cho một số đảo cụ thể; xác định các công trình trọng điểm trên các đảo, triển khai xây dựng Khu kinh tế - quốc phòng trên một số đảo quan trọng và tiến hành quy hoạch một số đảo dành riêng cho nhiệm vụ quốc phòng an ninh.
4. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có đảo: lồng ghép các mục tiêu, định hướng và nhiệm vụ, giải pháp phát triển của quy hoạch này vào Chương trình hành động của tỉnh, thành phố thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (Khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 vào quy hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để thực hiện quy hoạch; rà soát, bổ sung quy hoạch tổng thể của các huyện đảo; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan lập quy hoạch chi tiết cho các đảo, cụm đảo quan trọng thuộc địa phận hành chính của địa phương phù hợp với quy hoạch này.
Định kỳ hàng năm các Bộ, ngành và địa phương tổ chức tổng kết, đánh giá việc thực hiện quy hoạch gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền kịp thời điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới.