Document: Điều 11 Nghị định 69/2002/NĐ-CP quản xử lý nợ tồn đọng đối với doanh nghiệp nhà nước

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "12/07/2002", "sign_number": "69/2002/NĐ-CP", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "12/07/2002", "sign_number": "69/2002/NĐ-CP", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "12/07/2002", "sign_number": "69/2002/NĐ-CP", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "12/07/2002", "sign_number": "69/2002/NĐ-CP", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "12/07/2002", "sign_number": "69/2002/NĐ-CP", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 11 Nghị định 69/2002/NĐ-CP quản xử lý nợ tồn đọng đối với doanh nghiệp nhà nước có nội dung như sau:

Điều 11. Các khoản nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước
1. Doanh nghiệp nhà nước thực hiện dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, nhưng do thiếu vốn nên đã chiếm dụng tiền thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước từ ngày 31 tháng 12 năm 1999 trở về trước để thực hiện dự án đầu tư, đến nay vẫn không có khả năng thanh toán, nếu công trình đầu tư đã hoàn thành đưa vào sử dụng thì số thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước mà doanh nghiệp đã sử dụng vào các công trình đó được bổ sung vốn đầu tư của doanh nghiệp.
2. Doanh nghiệp nhà nước thuộc đối tượng giao, bán theo Nghị định số 103/1999/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 1999 và Nghị định số 49/2002/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2002 của Chính phủ mà các khoản phải trả lớn hơn giá trị tài sản của doanh nghiệp hoặc lớn hơn số tiền thu từ bán doanh nghiệp thì được xem xét xoá nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách.
3. Doanh nghiệp nhà nước sáp nhập vào doanh nghiệp nhà nước khác theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, sau khi áp dụng các biện pháp hỗ trợ về tài chính, tín dụng mà doanh nghiệp nhận sáp nhập vẫn không có khả năng thanh toán nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước thì được xoá số nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước tối đa bằng số lỗ của doanh nghiệp sáp nhập.
4. Doanh nghiệp nhà nước sản xuất kinh doanh bị lỗ, còn nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước từ ngày 31 tháng 12 năm 1998 trở về trước do các nguyên nhân thay đổi cơ chế chính sách, do thiên tai gây thiệt hại, do thiếu vốn đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc, thiết bị, do khó khăn về giải quyết sắp xếp lao động, nếu doanh nghiệp không thuộc loại phải giải thể, phá sản, sáp nhập, sau khi đã áp dụng các biện pháp miễn thuế, giảm thuế, hỗ trợ về tài chính, tín dụng và các biện pháp khác mà doanh nghiệp vẫn còn lỗ và không có khả năng thanh toán nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước khác thì được xoá số nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước tối đa bằng số lỗ của doanh nghiệp tính đến thời điểm xử lý xoá nợ.
5. Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu bị truy thu tiền thuế, tiền phạt về thuế đối với hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu do nguyên nhân khách quan thì được xem xét xoá nợ tiền thuế, tiền phạt bị truy thu cho từng trường hợp cụ thể.

6. Đối với những doanh nghiệp đã có quyết định thực hiện chuyển đổi còn nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước, sau khi đã xử lý nợ phải thu mà doanh nghiệp vẫn không có khả năng thanh toán nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách do bị thua lỗ thì được xem xét xoá nợ cho doanh nghiệp tối đa bằng số lỗ phát sinh đến thời điểm có quyết định chuyển đổi.
7. Trường hợp doanh nghiệp ứng tiền của ngân sách để mua hàng xuất khẩu trả nợ nước ngoài, xuất khẩu lấy ngoại tệ lập quỹ dự trữ Nhà nước, hoặc để mua hàng hóa dự trữ lưu thông, nhưng do biến động giá cả, doanh nghiệp không mua đủ quỹ hàng hóa theo quy định, đến thời điểm ban hành Nghị định này mà đang ghi nợ phải trả ngân sách số nợ đó, đã kê khai và được Ban Thanh toán nợ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc Bộ, ngành quản lý xác nhận thì được xóa nợ.
8. Trường hợp doanh nghiệp nợ ngân sách nhà nước tiền hàng nhập khẩu theo Nghị định thư của Chính phủ do bán hàng chưa thu được tiền, hoặc đã thu được tiền nhưng chưa nộp đủ vào ngân sách thì được xử lý như sau:
a) Trường hợp doanh nghiệp đã bán trả chậm hàng hoá cho các đơn vị theo chỉ đạo và quy định của nhà nước đến nay không thu được tiền thì xem xét cho xoá nợ.
b) Trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa theo Nghị định thư không phù hợp với yêu cầu thị trường, phải giảm giá bán thấp hơn so với giá đã nhận của Nhà nước mà bị lỗ nhưng chưa được xử lý thì được xem xét xóa nợ tương đương với chênh lệch do giá bán thấp hơn so với giá đã nhận với nhà nước nhưng không vượt quá số lỗ phát sinh chưa được xử lý.
9. Đối với các khoản vay của ngân sách nhà nước, doanh nghiệp có trách nhiệm trả nợ cho ngân sách nhà nước theo quy định. Nếu không trả được nợ do nguyên nhân khách quan doanh nghiệp báo cáo cơ quan có thẩm quyền để giải quyết từng trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật.

Content:
Điều 11. Các khoản nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước
1. Doanh nghiệp nhà nước thực hiện dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, nhưng do thiếu vốn nên đã chiếm dụng tiền thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước từ ngày 31 tháng 12 năm 1999 trở về trước để thực hiện dự án đầu tư, đến nay vẫn không có khả năng thanh toán, nếu công trình đầu tư đã hoàn thành đưa vào sử dụng thì số thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước mà doanh nghiệp đã sử dụng vào các công trình đó được bổ sung vốn đầu tư của doanh nghiệp.
2. Doanh nghiệp nhà nước thuộc đối tượng giao, bán theo Nghị định số 103/1999/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 1999 và Nghị định số 49/2002/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2002 của Chính phủ mà các khoản phải trả lớn hơn giá trị tài sản của doanh nghiệp hoặc lớn hơn số tiền thu từ bán doanh nghiệp thì được xem xét xoá nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách.
3. Doanh nghiệp nhà nước sáp nhập vào doanh nghiệp nhà nước khác theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, sau khi áp dụng các biện pháp hỗ trợ về tài chính, tín dụng mà doanh nghiệp nhận sáp nhập vẫn không có khả năng thanh toán nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước thì được xoá số nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước tối đa bằng số lỗ của doanh nghiệp sáp nhập.
4. Doanh nghiệp nhà nước sản xuất kinh doanh bị lỗ, còn nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước từ ngày 31 tháng 12 năm 1998 trở về trước do các nguyên nhân thay đổi cơ chế chính sách, do thiên tai gây thiệt hại, do thiếu vốn đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc, thiết bị, do khó khăn về giải quyết sắp xếp lao động, nếu doanh nghiệp không thuộc loại phải giải thể, phá sản, sáp nhập, sau khi đã áp dụng các biện pháp miễn thuế, giảm thuế, hỗ trợ về tài chính, tín dụng và các biện pháp khác mà doanh nghiệp vẫn còn lỗ và không có khả năng thanh toán nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước khác thì được xoá số nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước tối đa bằng số lỗ của doanh nghiệp tính đến thời điểm xử lý xoá nợ.
5. Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu bị truy thu tiền thuế, tiền phạt về thuế đối với hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu do nguyên nhân khách quan thì được xem xét xoá nợ tiền thuế, tiền phạt bị truy thu cho từng trường hợp cụ thể.

6. Đối với những doanh nghiệp đã có quyết định thực hiện chuyển đổi còn nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước, sau khi đã xử lý nợ phải thu mà doanh nghiệp vẫn không có khả năng thanh toán nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách do bị thua lỗ thì được xem xét xoá nợ cho doanh nghiệp tối đa bằng số lỗ phát sinh đến thời điểm có quyết định chuyển đổi.
7. Trường hợp doanh nghiệp ứng tiền của ngân sách để mua hàng xuất khẩu trả nợ nước ngoài, xuất khẩu lấy ngoại tệ lập quỹ dự trữ Nhà nước, hoặc để mua hàng hóa dự trữ lưu thông, nhưng do biến động giá cả, doanh nghiệp không mua đủ quỹ hàng hóa theo quy định, đến thời điểm ban hành Nghị định này mà đang ghi nợ phải trả ngân sách số nợ đó, đã kê khai và được Ban Thanh toán nợ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc Bộ, ngành quản lý xác nhận thì được xóa nợ.
8. Trường hợp doanh nghiệp nợ ngân sách nhà nước tiền hàng nhập khẩu theo Nghị định thư của Chính phủ do bán hàng chưa thu được tiền, hoặc đã thu được tiền nhưng chưa nộp đủ vào ngân sách thì được xử lý như sau:
a) Trường hợp doanh nghiệp đã bán trả chậm hàng hoá cho các đơn vị theo chỉ đạo và quy định của nhà nước đến nay không thu được tiền thì xem xét cho xoá nợ.
b) Trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa theo Nghị định thư không phù hợp với yêu cầu thị trường, phải giảm giá bán thấp hơn so với giá đã nhận của Nhà nước mà bị lỗ nhưng chưa được xử lý thì được xem xét xóa nợ tương đương với chênh lệch do giá bán thấp hơn so với giá đã nhận với nhà nước nhưng không vượt quá số lỗ phát sinh chưa được xử lý.
9. Đối với các khoản vay của ngân sách nhà nước, doanh nghiệp có trách nhiệm trả nợ cho ngân sách nhà nước theo quy định. Nếu không trả được nợ do nguyên nhân khách quan doanh nghiệp báo cáo cơ quan có thẩm quyền để giải quyết từng trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật.