Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 2226/QĐ-BNN-KH 2021 Phát triển nông nghiệp một số tỉnh phía Tây vùng Trung du

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "21/05/2021", "sign_number": "2226/QĐ-BNN-KH", "signer": "Lê Quốc Doanh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "21/05/2021", "sign_number": "2226/QĐ-BNN-KH", "signer": "Lê Quốc Doanh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "21/05/2021", "sign_number": "2226/QĐ-BNN-KH", "signer": "Lê Quốc Doanh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "21/05/2021", "sign_number": "2226/QĐ-BNN-KH", "signer": "Lê Quốc Doanh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "21/05/2021", "sign_number": "2226/QĐ-BNN-KH", "signer": "Lê Quốc Doanh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 2226/QĐ-BNN-KH 2021 Phát triển nông nghiệp một số tỉnh phía Tây vùng Trung du

Điều 1. Phê duyệt đề án “Phát triển nông nghiệp một số tỉnh phía Tây vùng Trung du và miền núi phía Bắc theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” (gồm các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ) với các nội dung chủ yếu sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể
- Tốc độ tăng trưởng GRDP nông lâm thủy sản bình quân của vùng giai đoạn 2021 - 2025 đạt khoảng 4,0% - 4,5%/năm, giai đoạn 2026 - 2030 từ 3,5% - 4%/năm.
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất (GO) nông lâm thủy sản bình quân của vùng giai đoạn 2021 - 2025 đạt khoảng 4,5% - 4,8%/năm; giai đoạn 2026 - 2030 từ 4,0% - 4,5%/năm.
- Tỷ lệ che phủ rừng toàn vùng đến năm 2025 đạt khoảng 51,0%, năm 2030 đạt khoảng 54% - 55%.
- Giá trị sản lượng bình quân/1 ha đất trồng trọt đến năm 2025 đạt khoảng 120 - 180 triệu đồng, đến năm 2030 đạt khoảng 200 - 250 triệu đồng.
- Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng chế biến nông sản đạt bình quân 7% - 8%/năm, giá trị hàng nông sản qua chế biến sâu tăng 5% - 7%/năm; tỷ trọng nông sản chế biến trong tổng giá trị hàng nông sản xuất khẩu đạt 50% - 60%; 50% số cơ sở chế biến hàng nông sản xuất khẩu chủ lực đạt trình độ công nghệ sản xuất tiên tiến.
- Tỷ lệ giá trị sản phẩm nông lâm thủy sản được sản xuất dưới các hình thức hợp tác, liên kết đến năm 2025 đạt khoảng 30% - 40% và đến năm 2030 đạt trên 50%.
III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Khuyến khích và ưu tiên hỗ trợ phát triển các mô hình hợp tác, liên kết sản xuất tại 07 tỉnh phía Tây vùng Trung du và miền núi phía Bắc đến năm 2025 và 2030 đối với những sản phẩm như: lúa gạo chất lượng cao, rau các loại, ngô, sắn, khoai, chè, cà phê, quả các loại, cây dược liệu, hoa, cây cảnh, gỗ và lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm chăn nuôi (trâu, bò, lợn, gia cầm, ong), sản phẩm thủy sản (cá nước lạnh, cá và thủy sản nuôi lồng…). Đến năm 2025 và năm 2030, phần lớn diện tích đất chưa sử dụng của các địa phương sẽ được khai thác, đưa vào sử dụng để phát triển sản xuất, từng địa phương tập trung phát triển các sản phẩm chủ lực đặc trưng.
1. Trồng trọt
a) Cây lúa: Đến năm 2025, duy trì diện tích gieo trồng lúa khoảng 309 nghìn ha với sản lượng khoảng 1,5 triệu tấn; đến năm 2030, diện tích gieo trồng lúa khoảng 318 nghìn ha với sản lượng khoảng 1,65 triệu tấn. Duy trì một phần diện tích đất trồng lúa nương trên cơ sở canh tác bền vững để đáp ứng nhu cầu lương thực tại chỗ cho một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số. Chuyển đổi một phần diện tích gieo trồng lúa bấp bênh, năng suất thấp sang cây trồng khác.
b) Cây ngô: Đến năm 2025, duy trì diện tích gieo trồng ngô khoảng 222 nghìn ha với sản lượng khoảng 943 nghìn tấn; đến năm 2030, diện tích gieo trồng ngô khoảng 228 nghìn ha với sản lượng khoảng 1,06 triệu tấn; tập trung ở những vùng đất cát, đất phù sa... hoặc luân canh, xen canh với những cây trồng khác. Hình thành các vùng sản xuất ngô hàng hóa; vùng sản xuất ngô ngọt, ngô nếp phục vụ chế biến; vùng ngô sinh khối phục vụ chăn nuôi gia súc.
c) Cây sắn: Đến năm 2025, duy trì diện tích gieo trồng khoảng 88 nghìn ha với sản lượng khoảng 1,2 triệu tấn; đến năm 2030, diện tích gieo trồng khoảng 94 nghìn ha với sản lượng khoảng 1,44 triệu tấn. Trồng các giống mới kết hợp các biện pháp thâm canh tốt để nâng cao năng suất. Đầu tư công nghệ cho thu hoạch, chế biến và sản phẩm chế biến sâu sau tinh bột; phối hợp tổ chức nguyên liệu và công nghệ cho sản xuất ethanol... để giảm và tiến tới không xuất khẩu sắn lát.
d) Cây có củ khác: Duy trì và phát triển một số cây có củ khác phù hợp và cho hiệu quả như khoai sọ, dong riềng và các loại cây chất bột khác, ổn định diện tích khoai sọ khoảng 3 - 4 nghìn ha, sản lượng 25 - 27 nghìn tấn; dong riềng khoảng 8 - 9 nghìn ha, sản lượng 120 - 140 nghìn tấn.
đ) Cây rau đậu: Định hướng đến năm 2025, duy trì diện tích gieo trồng khoảng 91 nghìn ha với sản lượng khoảng 1,4 triệu tấn; đến năm 2030, diện tích gieo trồng khoảng 117 nghìn ha với sản lượng khoảng 1,75 triệu tấn; Các tỉnh tập trung khai thác thế mạnh của vùng để phát triển rau hàng hóa quy mô lớn cung cấp cho thị trường trong vùng và Hà Nội. Tập trung phát triển rau trái vụ, rau ôn đới ở những nơi có thế mạnh tại một số địa phương của tỉnh Lào Cai, Sơn La.
e) Cây đậu tương: Tập trung đầu tư, thâm canh đưa khoảng 70% - 80% giống mới vào sản xuất kết hợp với áp dụng quy trình chăm sóc phù hợp. Phấn đấu đến năm 2025, năng suất bình quân đạt 15 tạ/ha/vụ, sản lượng khoảng 20 nghìn tấn; đến năm 2030, năng suất bình quân đạt 20 tạ/ha/vụ, sản lượng trên 30 nghìn tấn. Phát triển các vùng chuyên canh đậu tương ở tỉnh Lào Cai, Điện Biên, sử dụng các giống mới để đạt năng suất cao.
g) Cây lạc: Định hướng đến năm 2025, ổn định diện tích trồng lạc khoảng 20 nghìn ha, năng suất 20 tạ/ha, sản lượng khoảng 40 nghìn tấn; đến năm 2030, ổn định diện tích gieo trồng, năng suất 25 tạ/ha, sản lượng khoảng 50 nghìn tấn, tập trung ở các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ. Tập trung tuyển chọn các giống lạc cho năng suất, phẩm chất tốt, đầu tư thâm canh để bảo đảm năng suất và chất lượng lạc ổn định, đưa diện tích lạc sử dụng giống mới lên 75 - 85%.
h) Cây mía: Ổn định diện tích các vùng nguyên liệu mía tập trung 20 - 30 nghìn ha, sản lượng khoảng 1,6 - 2,5 triệu tấn, cung cấp nguyên liệu cho nhà máy đường Tô Hiệu (tỉnh Sơn La); nhà máy đường Hòa Bình (tỉnh Hòa Bình),... Ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh mía; phục tráng và chọn lọc để nâng cao chất lượng giống mía tím tại Hòa Bình.
i) Cây chè: Đến năm 2030, trồng mới khoảng 3,1 nghìn ha để ổn định diện tích khoảng 45 - 50 nghìn ha, sản lượng 450 - 500 nghìn tấn; trong đó, phát triển vùng chè chất lượng cao, chè hữu cơ hàng hóa, diện tích chè được áp dụng quy trình sản xuất tốt, an toàn (VietGAP, Global GAP, hữu cơ...) chiếm trên 70%. Phát triển và bảo tồn chè cổ thụ gắn với chế biến và du lịch sinh thái.
k) Cây cà phê: Giai đoạn từ năm 2021 - 2030, ổn định diện tích 20 - 25 nghìn ha, có khoảng 80% diện tích cà phê được áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (có chứng nhận UTZ Certify, 4C, Raiforest Alian, VietGAP...) và 80 - 90% sản lượng cà phê quả tươi đạt tiêu chuẩn quốc gia. Xây dựng vùng sản xuất cà phê liên doanh liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) và các hộ dân theo tiêu chuẩn VietGAP, UTZ, hữu cơ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.
l) Cây cao su: Đến năm 2025 - 2030, ổn định 30 nghìn ha. Phát triển cao su theo mô hình đại điền là chủ đạo, theo hình thức liên kết sản xuất với các Công ty, doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất theo chuỗi giá trị, giảm rủi ro cho hộ dân.
m) Cây ăn quả: Định hướng đến năm 2025, diện tích khoảng 127 nghìn ha; đến năm 2030, diện tích khoảng 150 nghìn ha, bao gồm cả diện tích trồng xen; diện tích được chứng nhận VietGAP, GAP khác khoảng 30 - 40%; sản lượng quả các loại khoảng 1,2 - 1,3 triệu tấn (trong đó riêng Sơn La khoảng hơn 1 triệu tấn). Các cây ăn quả chủ lực trong vùng gồm nhóm cây ăn quả có nguồn gốc ôn đới (mơ, mận, lê, đào); nhóm cây ăn quả có nguồn gốc á nhiệt đới (cam, quýt, bưởi, nhãn, vải, hồng); nhóm sản phẩm có nguồn gốc nhiệt đới (chuối, na, xoài…).
n) Cây dược liệu: Phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, gắn liên kết sản xuất với tiêu thụ. Diện tích các loại dược liệu khoảng 85 - 90 nghìn ha với các loại cây như quế, sơn tra, sâm Lai Châu, bảy lá 1 hoa, lan kim tuyến, đương quy…
o) Hoa, cây cảnh: Định hướng đến năm 2025, ổn định diện tích khoảng 200 ha hoa cây cảnh các loại, phát triển một số loại cây hoa (hoa Hồng, hoa Lan, Ly ly…) tại những tỉnh có tiểu vùng khí hậu ôn đới.
2. Chăn nuôi
a) Chăn nuôi trâu: Đến năm 2025, ổn định đàn trâu khoảng 800 nghìn con, sản lượng thịt hơi trên 23,3 nghìn tấn; năm 2030, khoảng 870 nghìn con, sản lượng thịt hơi 26,3 nghìn tấn. Duy trì ổn định đàn trâu, nâng cao tầm vóc, chất lượng đàn trâu.
b) Chăn nuôi bò thịt: Duy trì tốc độ tăng đàn trung bình 2 - 3%/năm và sản lượng thịt tăng trung bình 4 - 5%/năm, nâng cao tỷ lệ đàn bò lai các giống chuyên thịt. Đến năm 2025, tổng đàn bò khoảng 644 nghìn con, sản lượng thịt hơi khoảng 21 nghìn tấn; năm 2030, đàn bò khoảng 723 nghìn con, sản lượng thịt hơi khoảng 24,1 nghìn tấn. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò thịt theo hướng sản xuất hàng hóa; tập trung cải tạo nâng cao tầm vóc, chất lượng bò thịt.
c) Chăn nuôi bò sữa: Đến năm 2025, đàn bò sữa đạt khoảng 35 - 40 nghìn con, sản lượng sữa khoảng 150 nghìn tấn; đến năm 2030, đạt khoảng 40 - 45 nghìn con, sản lượng sữa gần 220 nghìn tấn; chất lượng đàn bò sữa được cải thiện. Đàn bò sữa đạt tốc độ tăng bình quân 4 - 6%/năm, sản lượng sữa bò tăng bình quân 7 - 8%/năm. Năng suất sữa/bò của một chu kỳ khai thác sữa đạt 6 tấn sữa/bò/chu kỳ; 90% sữa được tiêu thụ thông qua hợp đồng liên kết với doanh nghiệp.
d) Chăn nuôi lợn: Định hướng đến năm 2025, tổng đàn lợn của vùng khoảng 3,57 triệu con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt khoảng 285,3 nghìn tấn; đến năm 2030, đạt 3,8 triệu con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt khoảng 302,6 nghìn tấn; 70 - 80% đàn lợn nái là các giống cao sản, còn lại là các giống lai, phát huy lợi thế các giống bản địa đặc sản. Chọn tạo các giống có năng suất cao, tính kháng bệnh tốt, giảm đàn nái của vùng xuống 10 - 12%. Phát triển đàn lợn theo hướng đặc sản sử dụng các giống lợn đen địa phương, lợn rừng lai… chăn nuôi theo phương thức bán công nghiệp gắn với chăn nuôi truyền thống và chăn nuôi hữu cơ.
đ) Chăn nuôi gia cầm: Đến năm 2025, tổng đàn gia cầm của vùng dự kiến 46,7 triệu con, sản lượng thịt khoảng 101,5 nghìn tấn, trứng đạt 800 - 900 triệu quả; đến năm 2030, đàn gia cầm đạt khoảng 55 triệu con, sản lượng thịt khoảng 118,3 nghìn tấn và trứng đạt 1,1 - 1,2 tỷ quả; sản lượng thịt, trứng từ chăn nuôi tập trung chiếm 30% năm 2025 và trên 50% đến năm 2030. Phát triển đàn gà lông màu, chăn nuôi gia cầm bản địa như gà xương đen, thịt đen…
e) Chăn nuôi dê: Tốc độ tăng trưởng đàn dê bình quân đạt 4% - 5%/năm; định hướng đến năm 2025, đạt khoảng 800 nghìn con, sản lượng thịt hơi 4 - 4,5 nghìn tấn; đến năm 2030, ổn định 800 nghìn con, sản lượng thịt hơi khoảng 5,5 - 6 nghìn tấn. Phát triển chăn nuôi dê theo hướng trang trại kết hợp nuôi nhốt và bán chăn thả ở một số địa phương có điều kiện sinh thái phù hợp, tỷ lệ dê lai các loại lên 60 - 65% vào năm 2025.
g) Chăn nuôi ong: Định hướng đến năm 2025, đạt khoảng 250 - 300 nghìn tổ ong với sản lượng mật khoảng 2,2 - 2,6 nghìn tấn; đến năm 2030, đạt trên 350 nghìn tổ ong và trên 3,2 nghìn tấn mật; phấn đấu khoảng 90% sản lượng mật ong và sản phẩm từ ong dành cho xuất khẩu.
h) Nuôi tằm: Duy trì và phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm ở các tỉnh Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình với sản lượng kén tằm khoảng 800 - 900 tấn.

Content:
Mục tiêu cụ thể
- Tốc độ tăng trưởng GRDP nông lâm thủy sản bình quân của vùng giai đoạn 2021 - 2025 đạt khoảng 4,0% - 4,5%/năm, giai đoạn 2026 - 2030 từ 3,5% - 4%/năm.
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất (GO) nông lâm thủy sản bình quân của vùng giai đoạn 2021 - 2025 đạt khoảng 4,5% - 4,8%/năm; giai đoạn 2026 - 2030 từ 4,0% - 4,5%/năm.
- Tỷ lệ che phủ rừng toàn vùng đến năm 2025 đạt khoảng 51,0%, năm 2030 đạt khoảng 54% - 55%.
- Giá trị sản lượng bình quân/1 ha đất trồng trọt đến năm 2025 đạt khoảng 120 - 180 triệu đồng, đến năm 2030 đạt khoảng 200 - 250 triệu đồng.
- Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng chế biến nông sản đạt bình quân 7% - 8%/năm, giá trị hàng nông sản qua chế biến sâu tăng 5% - 7%/năm; tỷ trọng nông sản chế biến trong tổng giá trị hàng nông sản xuất khẩu đạt 50% - 60%; 50% số cơ sở chế biến hàng nông sản xuất khẩu chủ lực đạt trình độ công nghệ sản xuất tiên tiến.
- Tỷ lệ giá trị sản phẩm nông lâm thủy sản được sản xuất dưới các hình thức hợp tác, liên kết đến năm 2025 đạt khoảng 30% - 40% và đến năm 2030 đạt trên 50%.
III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Khuyến khích và ưu tiên hỗ trợ phát triển các mô hình hợp tác, liên kết sản xuất tại 07 tỉnh phía Tây vùng Trung du và miền núi phía Bắc đến năm 2025 và 2030 đối với những sản phẩm như: lúa gạo chất lượng cao, rau các loại, ngô, sắn, khoai, chè, cà phê, quả các loại, cây dược liệu, hoa, cây cảnh, gỗ và lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm chăn nuôi (trâu, bò, lợn, gia cầm, ong), sản phẩm thủy sản (cá nước lạnh, cá và thủy sản nuôi lồng…). Đến năm 2025 và năm 2030, phần lớn diện tích đất chưa sử dụng của các địa phương sẽ được khai thác, đưa vào sử dụng để phát triển sản xuất, từng địa phương tập trung phát triển các sản phẩm chủ lực đặc trưng.
1. Trồng trọt
a) Cây lúa: Đến năm 2025, duy trì diện tích gieo trồng lúa khoảng 309 nghìn ha với sản lượng khoảng 1,5 triệu tấn; đến năm 2030, diện tích gieo trồng lúa khoảng 318 nghìn ha với sản lượng khoảng 1,65 triệu tấn. Duy trì một phần diện tích đất trồng lúa nương trên cơ sở canh tác bền vững để đáp ứng nhu cầu lương thực tại chỗ cho một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số. Chuyển đổi một phần diện tích gieo trồng lúa bấp bênh, năng suất thấp sang cây trồng khác.
b) Cây ngô: Đến năm 2025, duy trì diện tích gieo trồng ngô khoảng 222 nghìn ha với sản lượng khoảng 943 nghìn tấn; đến năm 2030, diện tích gieo trồng ngô khoảng 228 nghìn ha với sản lượng khoảng 1,06 triệu tấn; tập trung ở những vùng đất cát, đất phù sa... hoặc luân canh, xen canh với những cây trồng khác. Hình thành các vùng sản xuất ngô hàng hóa; vùng sản xuất ngô ngọt, ngô nếp phục vụ chế biến; vùng ngô sinh khối phục vụ chăn nuôi gia súc.
c) Cây sắn: Đến năm 2025, duy trì diện tích gieo trồng khoảng 88 nghìn ha với sản lượng khoảng 1,2 triệu tấn; đến năm 2030, diện tích gieo trồng khoảng 94 nghìn ha với sản lượng khoảng 1,44 triệu tấn. Trồng các giống mới kết hợp các biện pháp thâm canh tốt để nâng cao năng suất. Đầu tư công nghệ cho thu hoạch, chế biến và sản phẩm chế biến sâu sau tinh bột; phối hợp tổ chức nguyên liệu và công nghệ cho sản xuất ethanol... để giảm và tiến tới không xuất khẩu sắn lát.
d) Cây có củ khác: Duy trì và phát triển một số cây có củ khác phù hợp và cho hiệu quả như khoai sọ, dong riềng và các loại cây chất bột khác, ổn định diện tích khoai sọ khoảng 3 - 4 nghìn ha, sản lượng 25 - 27 nghìn tấn; dong riềng khoảng 8 - 9 nghìn ha, sản lượng 120 - 140 nghìn tấn.
đ) Cây rau đậu: Định hướng đến năm 2025, duy trì diện tích gieo trồng khoảng 91 nghìn ha với sản lượng khoảng 1,4 triệu tấn; đến năm 2030, diện tích gieo trồng khoảng 117 nghìn ha với sản lượng khoảng 1,75 triệu tấn; Các tỉnh tập trung khai thác thế mạnh của vùng để phát triển rau hàng hóa quy mô lớn cung cấp cho thị trường trong vùng và Hà Nội. Tập trung phát triển rau trái vụ, rau ôn đới ở những nơi có thế mạnh tại một số địa phương của tỉnh Lào Cai, Sơn La.
e) Cây đậu tương: Tập trung đầu tư, thâm canh đưa khoảng 70% - 80% giống mới vào sản xuất kết hợp với áp dụng quy trình chăm sóc phù hợp. Phấn đấu đến năm 2025, năng suất bình quân đạt 15 tạ/ha/vụ, sản lượng khoảng 20 nghìn tấn; đến năm 2030, năng suất bình quân đạt 20 tạ/ha/vụ, sản lượng trên 30 nghìn tấn. Phát triển các vùng chuyên canh đậu tương ở tỉnh Lào Cai, Điện Biên, sử dụng các giống mới để đạt năng suất cao.
g) Cây lạc: Định hướng đến năm 2025, ổn định diện tích trồng lạc khoảng 20 nghìn ha, năng suất 20 tạ/ha, sản lượng khoảng 40 nghìn tấn; đến năm 2030, ổn định diện tích gieo trồng, năng suất 25 tạ/ha, sản lượng khoảng 50 nghìn tấn, tập trung ở các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ. Tập trung tuyển chọn các giống lạc cho năng suất, phẩm chất tốt, đầu tư thâm canh để bảo đảm năng suất và chất lượng lạc ổn định, đưa diện tích lạc sử dụng giống mới lên 75 - 85%.
h) Cây mía: Ổn định diện tích các vùng nguyên liệu mía tập trung 20 - 30 nghìn ha, sản lượng khoảng 1,6 - 2,5 triệu tấn, cung cấp nguyên liệu cho nhà máy đường Tô Hiệu (tỉnh Sơn La); nhà máy đường Hòa Bình (tỉnh Hòa Bình),... Ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh mía; phục tráng và chọn lọc để nâng cao chất lượng giống mía tím tại Hòa Bình.
i) Cây chè: Đến năm 2030, trồng mới khoảng 3,1 nghìn ha để ổn định diện tích khoảng 45 - 50 nghìn ha, sản lượng 450 - 500 nghìn tấn; trong đó, phát triển vùng chè chất lượng cao, chè hữu cơ hàng hóa, diện tích chè được áp dụng quy trình sản xuất tốt, an toàn (VietGAP, Global GAP, hữu cơ...) chiếm trên 70%. Phát triển và bảo tồn chè cổ thụ gắn với chế biến và du lịch sinh thái.
k) Cây cà phê: Giai đoạn từ năm 2021 - 2030, ổn định diện tích 20 - 25 nghìn ha, có khoảng 80% diện tích cà phê được áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (có chứng nhận UTZ Certify, 4C, Raiforest Alian, VietGAP...) và 80 - 90% sản lượng cà phê quả tươi đạt tiêu chuẩn quốc gia. Xây dựng vùng sản xuất cà phê liên doanh liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) và các hộ dân theo tiêu chuẩn VietGAP, UTZ, hữu cơ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.
l) Cây cao su: Đến năm 2025 - 2030, ổn định 30 nghìn ha. Phát triển cao su theo mô hình đại điền là chủ đạo, theo hình thức liên kết sản xuất với các Công ty, doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất theo chuỗi giá trị, giảm rủi ro cho hộ dân.
m) Cây ăn quả: Định hướng đến năm 2025, diện tích khoảng 127 nghìn ha; đến năm 2030, diện tích khoảng 150 nghìn ha, bao gồm cả diện tích trồng xen; diện tích được chứng nhận VietGAP, GAP khác khoảng 30 - 40%; sản lượng quả các loại khoảng 1,2 - 1,3 triệu tấn (trong đó riêng Sơn La khoảng hơn 1 triệu tấn). Các cây ăn quả chủ lực trong vùng gồm nhóm cây ăn quả có nguồn gốc ôn đới (mơ, mận, lê, đào); nhóm cây ăn quả có nguồn gốc á nhiệt đới (cam, quýt, bưởi, nhãn, vải, hồng); nhóm sản phẩm có nguồn gốc nhiệt đới (chuối, na, xoài…).
n) Cây dược liệu: Phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, gắn liên kết sản xuất với tiêu thụ. Diện tích các loại dược liệu khoảng 85 - 90 nghìn ha với các loại cây như quế, sơn tra, sâm Lai Châu, bảy lá 1 hoa, lan kim tuyến, đương quy…
o) Hoa, cây cảnh: Định hướng đến năm 2025, ổn định diện tích khoảng 200 ha hoa cây cảnh các loại, phát triển một số loại cây hoa (hoa Hồng, hoa Lan, Ly ly…) tại những tỉnh có tiểu vùng khí hậu ôn đới.
Chăn nuôi
a) Chăn nuôi trâu: Đến năm 2025, ổn định đàn trâu khoảng 800 nghìn con, sản lượng thịt hơi trên 23,3 nghìn tấn; năm 2030, khoảng 870 nghìn con, sản lượng thịt hơi 26,3 nghìn tấn. Duy trì ổn định đàn trâu, nâng cao tầm vóc, chất lượng đàn trâu.
b) Chăn nuôi bò thịt: Duy trì tốc độ tăng đàn trung bình 2 - 3%/năm và sản lượng thịt tăng trung bình 4 - 5%/năm, nâng cao tỷ lệ đàn bò lai các giống chuyên thịt. Đến năm 2025, tổng đàn bò khoảng 644 nghìn con, sản lượng thịt hơi khoảng 21 nghìn tấn; năm 2030, đàn bò khoảng 723 nghìn con, sản lượng thịt hơi khoảng 24,1 nghìn tấn. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò thịt theo hướng sản xuất hàng hóa; tập trung cải tạo nâng cao tầm vóc, chất lượng bò thịt.
c) Chăn nuôi bò sữa: Đến năm 2025, đàn bò sữa đạt khoảng 35 - 40 nghìn con, sản lượng sữa khoảng 150 nghìn tấn; đến năm 2030, đạt khoảng 40 - 45 nghìn con, sản lượng sữa gần 220 nghìn tấn; chất lượng đàn bò sữa được cải thiện. Đàn bò sữa đạt tốc độ tăng bình quân 4 - 6%/năm, sản lượng sữa bò tăng bình quân 7 - 8%/năm. Năng suất sữa/bò của một chu kỳ khai thác sữa đạt 6 tấn sữa/bò/chu kỳ; 90% sữa được tiêu thụ thông qua hợp đồng liên kết với doanh nghiệp.
d) Chăn nuôi lợn: Định hướng đến năm 2025, tổng đàn lợn của vùng khoảng 3,57 triệu con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt khoảng 285,3 nghìn tấn; đến năm 2030, đạt 3,8 triệu con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt khoảng 302,6 nghìn tấn; 70 - 80% đàn lợn nái là các giống cao sản, còn lại là các giống lai, phát huy lợi thế các giống bản địa đặc sản. Chọn tạo các giống có năng suất cao, tính kháng bệnh tốt, giảm đàn nái của vùng xuống 10 - 12%. Phát triển đàn lợn theo hướng đặc sản sử dụng các giống lợn đen địa phương, lợn rừng lai… chăn nuôi theo phương thức bán công nghiệp gắn với chăn nuôi truyền thống và chăn nuôi hữu cơ.
đ) Chăn nuôi gia cầm: Đến năm 2025, tổng đàn gia cầm của vùng dự kiến 46,7 triệu con, sản lượng thịt khoảng 101,5 nghìn tấn, trứng đạt 800 - 900 triệu quả; đến năm 2030, đàn gia cầm đạt khoảng 55 triệu con, sản lượng thịt khoảng 118,3 nghìn tấn và trứng đạt 1,1 - 1,2 tỷ quả; sản lượng thịt, trứng từ chăn nuôi tập trung chiếm 30% năm 2025 và trên 50% đến năm 2030. Phát triển đàn gà lông màu, chăn nuôi gia cầm bản địa như gà xương đen, thịt đen…
e) Chăn nuôi dê: Tốc độ tăng trưởng đàn dê bình quân đạt 4% - 5%/năm; định hướng đến năm 2025, đạt khoảng 800 nghìn con, sản lượng thịt hơi 4 - 4,5 nghìn tấn; đến năm 2030, ổn định 800 nghìn con, sản lượng thịt hơi khoảng 5,5 - 6 nghìn tấn. Phát triển chăn nuôi dê theo hướng trang trại kết hợp nuôi nhốt và bán chăn thả ở một số địa phương có điều kiện sinh thái phù hợp, tỷ lệ dê lai các loại lên 60 - 65% vào năm 2025.
g) Chăn nuôi ong: Định hướng đến năm 2025, đạt khoảng 250 - 300 nghìn tổ ong với sản lượng mật khoảng 2,2 - 2,6 nghìn tấn; đến năm 2030, đạt trên 350 nghìn tổ ong và trên 3,2 nghìn tấn mật; phấn đấu khoảng 90% sản lượng mật ong và sản phẩm từ ong dành cho xuất khẩu.
h) Nuôi tằm: Duy trì và phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm ở các tỉnh Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình với sản lượng kén tằm khoảng 800 - 900 tấn.