Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 604/QĐ-UBND 2018 quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Kiên Giang

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "16/03/2018", "sign_number": "604/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Vũ Hồng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "16/03/2018", "sign_number": "604/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Vũ Hồng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "16/03/2018", "sign_number": "604/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Vũ Hồng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "16/03/2018", "sign_number": "604/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Vũ Hồng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "16/03/2018", "sign_number": "604/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Vũ Hồng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 604/QĐ-UBND 2018 quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Kiên Giang

Điều 1. Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp tỉnh Kiên Giang đến năm 2025, có xét đến năm 2030, với các nội dung chính như sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 62.050, tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 đạt 12,00 đến 12,15 %/năm; đến năm 2025 đạt 118.443,7 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 đạt 13,80 %/năm và đến năm 2030 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 221.362,3 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2026 - 2030 đạt 12,28 %/năm.
- Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 21.634,1 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 đạt 10,86 đến 11,02 %/năm; đến năm 2025 đạt 38.604,1 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 đạt 12,28 %/năm và đến năm 2030 đạt 63.947,6 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2026 - 2030 đạt 10,62%/năm.
III. ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
1. Định hướng phát triển công nghiệp
- Chủ động hợp tác và tích cực tham gia vào chuỗi giá trị, mạng lưới sản xuất công nghiệp của vùng, miền cả nước, khu vực và quốc tế; đầu tư chiều sâu, hướng vào xuất khẩu đối với các nhóm ngành, lĩnh vực công nghiệp trên địa bàn có lợi thế về tài nguyên như sản xuất xi măng, chế biến nông - thủy sản; về nhân lực như dệt may - da giày.
- Phát triển mạnh, đầu tư có trọng điểm đối với nhóm công nghiệp hạ tầng (điện, nước, môi trường), công nghiệp cơ khí (đóng mới và sửa chữa tàu); thu hút đầu tư xây dựng một số cơ sở công nghiệp thuộc các ngành, lĩnh vực công nghiệp hầu như chưa có trên địa bàn như hóa dược, hóa dầu (gắn với các dự án phát triển khí tự nhiên và điện khí tại Khu công nghiệp Xẻo Rô)...
- Phát triển các khu, cụm công nghiệp và làng nghề tiểu thủ công nghiệp phù hợp với thế mạnh của mỗi tiểu vùng. Coi trọng xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư kinh doanh hạ tầng công nghiệp, từng bước hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật của các khu, cụm công nghiệp làm nền tảng cho công nghiệp tỉnh phát triển theo hướng hiện đại.
- Định hướng phát triển theo các tiểu vùng lãnh thổ
+ Tiểu vùng Tứ giác Long Xuyên: Phát triển công nghiệp khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí phục vụ các ngành nông và ngư nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp chế biến tinh nông - thủy sản theo hướng xuất khẩu, sản xuất điện đồng phát.
+ Tiểu vùng Tây Sông Hậu: Phát triển công nghiệp chế biến nông - thủy sản, ưu tiên thu hút công nghiệp sử dụng nhiều lao động (dệt may, da giày, lắp ráp cơ - điện tử).
+ Tiểu vùng U Minh Thượng: Phát triển công nghiệp phục vụ nghề cá, công nghiệp chế biến nông – lâm - thủy sản, ưu tiên phát triển công nghiệp sử dụng nhiều lao động và các dự án điện khí và khí áp thấp.
+ Tiểu vùng hải đảo: Ưu tiên phát triển công nghiệp gắn với kinh tế biển và du lịch, trọng tâm là công nghiệp chế biến hải sản và tương lai xa là ngành nghề hỗ trợ (hậu cần) ngành dầu khí.
2. Quy hoạch phát triển một số nhóm ngành công nghiệp chủ yếu
a) Ngành công nghiệp khai thác khoáng sản
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 806,6 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 là 12,49 %/năm; năm 2025 đạt 1.601,3 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 là 14,70 %/năm.
- Chú trọng đầu tư, đảm bảo điều tra, đánh giá và thăm dò khoáng sản đi trước khai thác một bước; đặc biệt là thăm dò (bổ sung phần sâu) các mỏ đá vôi xi măng và/hoặc xây dựng núi Túc Khối, núi Lò Vôi (Lớn và Nhỏ), Khoe Lá (khu Bắc và khu Nam).
- Đẩy mạnh áp dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên khoáng sản; kết hợp hài hòa giữa khai thác quy mô vừa và lớn với quy mô nhỏ phù hợp với mỗi đối tượng khoáng sản. Đầu tư mới, mở rộng và duy trì năng lực khai thác các mỏ núi Lò Vôi, núi Túc Khối, núi Nai, Hòn Sóc, Sơn Trà, núi Trầu, núi Còm, Bãi Voi, Cây Xoài, Khoe Lá...
b) Ngành công nghiệp chế biến nông - thủy sản
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 46.640,8 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 là 13,11 %/năm; năm 2025 đạt 84.007,3 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 là 12,49 %/năm.
- Xây dựng và phát triển nhóm ngành công nghiệp chế biến nông - thủy sản gắn với các vùng nguyên liệu sẵn có và quy hoạch của hai ngành nông nghiệp và ngư nghiệp theo hướng tăng cường chế biến tinh; ưu tiên phát triển một vài tổ hợp (khép kín) nuôi trồng - chế biến - xuất khẩu thủy hải sản công nghệ cao.
- Tạo lập và giữ vững mối liên kết chặt chẽ giữa nuôi trồng, khai thác, bảo quản, sơ chế, chế biến trong chuỗi giá trị ngành hàng, cũng như trong hệ thống quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm với lực lượng nòng cốt là các doanh nghiệp chế biến quy mô công nghiệp được đầu tư chiều sâu về mọi mặt và chú trọng phát triển các cơ sở sản xuất vệ tinh ở nông thôn.
- Khuyến khích các cơ sở công nghiệp cá thể trong nhóm ngành tham gia các chương trình sản xuất sạch hơn, hữu cơ an toàn, hệ thống quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
c) Ngành công nghiệp dệt may - da giày
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 1.676,0 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 là 22,82 %/năm; năm 2025 đạt 3.143,2 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 là 13,40 %/năm.
- Phấn đấu trở thành nhóm ngành công nghiệp mũi nhọn về xuất khẩu của tỉnh, có khả năng cạnh tranh và hội nhập với công nghiệp dệt may - da giày của cả nước, khu vực và thế giới trên cơ sở sử dụng công nghệ tiên tiến, máy móc thiết bị hiện đại cùng hệ thống quản lý chất lượng, lao động và môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế.
- Trước mắt, trong các công đoạn gia công, thu hút đầu tư sản xuất hàng may mặc, giày, dép..., quy mô vừa đến lớn gắn với các khu vực nông thôn có giao thông thuận tiện và lực lượng lao động dồi dào; lâu dài, hướng dần tới các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị của nhóm ngành.
- Nghiên cứu cách thức thu gom và công nghệ bảo quản da tươi đơn giản có hiệu quả để bán cho các cơ sở thuộc da công nghiệp trong nước, xuất khẩu.
d) Ngành công nghiệp chế biến lâm sản
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 1.380,5 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 là 14,32 %/năm; năm 2025 đạt 2.445,1 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 là 12,11 %/năm.
- Chú trọng phát triển nguồn nguyên liệu để khai thác tối đa công suất Nhà máy gỗ MDF VRG - Kiên Giang, các dự án sản xuất bột và giấy, bìa khác.
- Đẩy mạnh đầu tư sản xuất sản phẩm bao bì giấy, bìa phục vụ các ngành hàng xuất khẩu của tỉnh.
- Khuyến khích đầu tư sản xuất bìa (các-tông, kraft, bìa cứng/chipboard) không tẩy sử dụng phế thải nông nghiệp (rơm rạ, xơ dừa...) và giấy phế liệu với công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường.
đ) Ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 6.697,1 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 là 5,40 %/năm; năm 2025 đạt 9.393,0 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 là 7,00 %/năm.
- Phát triển đa dạng chủng loại vật liệu xây dựng với quy mô phù hợp, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ tốt môi trường, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao; tích cực đầu tư đổi mới, ứng dụng công nghệ tiên tiến hợp lý, thiết bị hiện đại hơn để nâng cao chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh.
- Đẩy mạnh phát triển sản xuất xi măng, vật liệu xây lợp và ốp lát không nung, vật liệu trang trí giá trị cao, vật liệu tổng hợp khác thân thiện môi trường.
- Tiếp tục phát triển sản xuất vật liệu xây dựng giá trị thấp gắn liền với các khu vực có khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường nhằm đáp ứng nhu cầu tại chỗ của hoạt động xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, xây dựng nông thôn mới...
e) Ngành công nghiệp cơ khí
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 1.792,7 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 là 14,79 %/năm; năm 2025 đạt 2.936,6 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 là 10,37 %/năm.
- Khuyến khích các doanh nghiệp cơ khí quy mô vừa đang hoạt động trên địa bàn thực hiện đổi mới, đầu tư tăng năng lực sản xuất và chuyên môn hóa cao trong các lĩnh vực cơ khí: Phục vụ khai thác mỏ và sản xuất vật liệu xây dựng; đóng mới và sửa chữa tàu, xuồng; máy và thiết bị chế biến nông - thủy sản; máy và thiết bị phục vụ nông nghiệp.
- Đẩy mạnh thu hút đầu tư trong các lĩnh vực: Gia công kim loại, nhất là sản xuất loạt lớn chi tiết, phụ tùng, phụ kiện kim loại; sản xuất, lắp ráp thiết bị và cụm linh kiện điện, điện cơ, cơ điện tử.
g) Ngành công nghiệp điện, nước và môi trường
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 2.208,6 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 là 12,27 %/năm; năm 2025 đạt 13.538,6 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 là 43,71 %/năm.
- Đẩy mạnh đầu tư xây dựng các nhà máy nhiệt điện; khuyến khích phát triển, sử dụng năng lượng tái tạo và nhiệt dư (điện đồng phát); không ngừng nâng cao chất lượng, diện phủ rộng và độ an toàn hệ thống điện của tỉnh.
- Cung cấp đủ nhu cầu và đảm bảo chất lượng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, giảm tối đa tổn thất nước sạch, tăng tỷ lệ tái sử dụng nước sản xuất công nghiệp.
- Đẩy mạnh phát triển các khu xử lý chất thải tập trung với công nghệ tiên tiến, đảm bảo đạt quy chuẩn trước khi xả thải vào nguồn tiếp nhận; xã hội hóa cao trong thu gom, tập kết rác thải sinh hoạt, đặc biệt ở khu vực nông thôn.
h) Các ngành, lĩnh vực công nghiệp khác
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 847,7 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 là 9,85 %/năm; năm 2025 đạt 1.378,7 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 là 10,22 %/năm.
- Thu hút đầu tư phát triển một số lĩnh vực công nghiệp hóa chất thứ sinh; đổi mới phạm vi, đầu tư chiều sâu, tăng quy mô sản xuất của các cơ sở hiện có theo hướng chuyên môn hóa, chuyên biệt hóa sản phẩm.

Content:
Mục tiêu cụ thể
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 62.050, tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 đạt 12,00 đến 12,15 %/năm; đến năm 2025 đạt 118.443,7 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 đạt 13,80 %/năm và đến năm 2030 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 221.362,3 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2026 - 2030 đạt 12,28 %/năm.
- Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 21.634,1 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 đạt 10,86 đến 11,02 %/năm; đến năm 2025 đạt 38.604,1 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 đạt 12,28 %/năm và đến năm 2030 đạt 63.947,6 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2026 - 2030 đạt 10,62%/năm.
III. ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
1. Định hướng phát triển công nghiệp
- Chủ động hợp tác và tích cực tham gia vào chuỗi giá trị, mạng lưới sản xuất công nghiệp của vùng, miền cả nước, khu vực và quốc tế; đầu tư chiều sâu, hướng vào xuất khẩu đối với các nhóm ngành, lĩnh vực công nghiệp trên địa bàn có lợi thế về tài nguyên như sản xuất xi măng, chế biến nông - thủy sản; về nhân lực như dệt may - da giày.
- Phát triển mạnh, đầu tư có trọng điểm đối với nhóm công nghiệp hạ tầng (điện, nước, môi trường), công nghiệp cơ khí (đóng mới và sửa chữa tàu); thu hút đầu tư xây dựng một số cơ sở công nghiệp thuộc các ngành, lĩnh vực công nghiệp hầu như chưa có trên địa bàn như hóa dược, hóa dầu (gắn với các dự án phát triển khí tự nhiên và điện khí tại Khu công nghiệp Xẻo Rô)...
- Phát triển các khu, cụm công nghiệp và làng nghề tiểu thủ công nghiệp phù hợp với thế mạnh của mỗi tiểu vùng. Coi trọng xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư kinh doanh hạ tầng công nghiệp, từng bước hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật của các khu, cụm công nghiệp làm nền tảng cho công nghiệp tỉnh phát triển theo hướng hiện đại.
- Định hướng phát triển theo các tiểu vùng lãnh thổ
+ Tiểu vùng Tứ giác Long Xuyên: Phát triển công nghiệp khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí phục vụ các ngành nông và ngư nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp chế biến tinh nông - thủy sản theo hướng xuất khẩu, sản xuất điện đồng phát.
+ Tiểu vùng Tây Sông Hậu: Phát triển công nghiệp chế biến nông - thủy sản, ưu tiên thu hút công nghiệp sử dụng nhiều lao động (dệt may, da giày, lắp ráp cơ - điện tử).
+ Tiểu vùng U Minh Thượng: Phát triển công nghiệp phục vụ nghề cá, công nghiệp chế biến nông – lâm - thủy sản, ưu tiên phát triển công nghiệp sử dụng nhiều lao động và các dự án điện khí và khí áp thấp.
+ Tiểu vùng hải đảo: Ưu tiên phát triển công nghiệp gắn với kinh tế biển và du lịch, trọng tâm là công nghiệp chế biến hải sản và tương lai xa là ngành nghề hỗ trợ (hậu cần) ngành dầu khí.
Quy hoạch phát triển một số nhóm ngành công nghiệp chủ yếu
a) Ngành công nghiệp khai thác khoáng sản
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 806,6 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 là 12,49 %/năm; năm 2025 đạt 1.601,3 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 là 14,70 %/năm.
- Chú trọng đầu tư, đảm bảo điều tra, đánh giá và thăm dò khoáng sản đi trước khai thác một bước; đặc biệt là thăm dò (bổ sung phần sâu) các mỏ đá vôi xi măng và/hoặc xây dựng núi Túc Khối, núi Lò Vôi (Lớn và Nhỏ), Khoe Lá (khu Bắc và khu Nam).
- Đẩy mạnh áp dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên khoáng sản; kết hợp hài hòa giữa khai thác quy mô vừa và lớn với quy mô nhỏ phù hợp với mỗi đối tượng khoáng sản. Đầu tư mới, mở rộng và duy trì năng lực khai thác các mỏ núi Lò Vôi, núi Túc Khối, núi Nai, Hòn Sóc, Sơn Trà, núi Trầu, núi Còm, Bãi Voi, Cây Xoài, Khoe Lá...
b) Ngành công nghiệp chế biến nông - thủy sản
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 46.640,8 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 là 13,11 %/năm; năm 2025 đạt 84.007,3 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 là 12,49 %/năm.
- Xây dựng và phát triển nhóm ngành công nghiệp chế biến nông - thủy sản gắn với các vùng nguyên liệu sẵn có và quy hoạch của hai ngành nông nghiệp và ngư nghiệp theo hướng tăng cường chế biến tinh; ưu tiên phát triển một vài tổ hợp (khép kín) nuôi trồng - chế biến - xuất khẩu thủy hải sản công nghệ cao.
- Tạo lập và giữ vững mối liên kết chặt chẽ giữa nuôi trồng, khai thác, bảo quản, sơ chế, chế biến trong chuỗi giá trị ngành hàng, cũng như trong hệ thống quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm với lực lượng nòng cốt là các doanh nghiệp chế biến quy mô công nghiệp được đầu tư chiều sâu về mọi mặt và chú trọng phát triển các cơ sở sản xuất vệ tinh ở nông thôn.
- Khuyến khích các cơ sở công nghiệp cá thể trong nhóm ngành tham gia các chương trình sản xuất sạch hơn, hữu cơ an toàn, hệ thống quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
c) Ngành công nghiệp dệt may - da giày
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 1.676,0 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 là 22,82 %/năm; năm 2025 đạt 3.143,2 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 là 13,40 %/năm.
- Phấn đấu trở thành nhóm ngành công nghiệp mũi nhọn về xuất khẩu của tỉnh, có khả năng cạnh tranh và hội nhập với công nghiệp dệt may - da giày của cả nước, khu vực và thế giới trên cơ sở sử dụng công nghệ tiên tiến, máy móc thiết bị hiện đại cùng hệ thống quản lý chất lượng, lao động và môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế.
- Trước mắt, trong các công đoạn gia công, thu hút đầu tư sản xuất hàng may mặc, giày, dép..., quy mô vừa đến lớn gắn với các khu vực nông thôn có giao thông thuận tiện và lực lượng lao động dồi dào; lâu dài, hướng dần tới các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị của nhóm ngành.
- Nghiên cứu cách thức thu gom và công nghệ bảo quản da tươi đơn giản có hiệu quả để bán cho các cơ sở thuộc da công nghiệp trong nước, xuất khẩu.
d) Ngành công nghiệp chế biến lâm sản
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 1.380,5 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 là 14,32 %/năm; năm 2025 đạt 2.445,1 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 là 12,11 %/năm.
- Chú trọng phát triển nguồn nguyên liệu để khai thác tối đa công suất Nhà máy gỗ MDF VRG - Kiên Giang, các dự án sản xuất bột và giấy, bìa khác.
- Đẩy mạnh đầu tư sản xuất sản phẩm bao bì giấy, bìa phục vụ các ngành hàng xuất khẩu của tỉnh.
- Khuyến khích đầu tư sản xuất bìa (các-tông, kraft, bìa cứng/chipboard) không tẩy sử dụng phế thải nông nghiệp (rơm rạ, xơ dừa...) và giấy phế liệu với công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường.
đ) Ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 6.697,1 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 là 5,40 %/năm; năm 2025 đạt 9.393,0 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 là 7,00 %/năm.
- Phát triển đa dạng chủng loại vật liệu xây dựng với quy mô phù hợp, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ tốt môi trường, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao; tích cực đầu tư đổi mới, ứng dụng công nghệ tiên tiến hợp lý, thiết bị hiện đại hơn để nâng cao chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh.
- Đẩy mạnh phát triển sản xuất xi măng, vật liệu xây lợp và ốp lát không nung, vật liệu trang trí giá trị cao, vật liệu tổng hợp khác thân thiện môi trường.
- Tiếp tục phát triển sản xuất vật liệu xây dựng giá trị thấp gắn liền với các khu vực có khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường nhằm đáp ứng nhu cầu tại chỗ của hoạt động xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, xây dựng nông thôn mới...
e) Ngành công nghiệp cơ khí
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 1.792,7 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 là 14,79 %/năm; năm 2025 đạt 2.936,6 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 là 10,37 %/năm.
- Khuyến khích các doanh nghiệp cơ khí quy mô vừa đang hoạt động trên địa bàn thực hiện đổi mới, đầu tư tăng năng lực sản xuất và chuyên môn hóa cao trong các lĩnh vực cơ khí: Phục vụ khai thác mỏ và sản xuất vật liệu xây dựng; đóng mới và sửa chữa tàu, xuồng; máy và thiết bị chế biến nông - thủy sản; máy và thiết bị phục vụ nông nghiệp.
- Đẩy mạnh thu hút đầu tư trong các lĩnh vực: Gia công kim loại, nhất là sản xuất loạt lớn chi tiết, phụ tùng, phụ kiện kim loại; sản xuất, lắp ráp thiết bị và cụm linh kiện điện, điện cơ, cơ điện tử.
g) Ngành công nghiệp điện, nước và môi trường
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 2.208,6 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 là 12,27 %/năm; năm 2025 đạt 13.538,6 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 là 43,71 %/năm.
- Đẩy mạnh đầu tư xây dựng các nhà máy nhiệt điện; khuyến khích phát triển, sử dụng năng lượng tái tạo và nhiệt dư (điện đồng phát); không ngừng nâng cao chất lượng, diện phủ rộng và độ an toàn hệ thống điện của tỉnh.
- Cung cấp đủ nhu cầu và đảm bảo chất lượng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, giảm tối đa tổn thất nước sạch, tăng tỷ lệ tái sử dụng nước sản xuất công nghiệp.
- Đẩy mạnh phát triển các khu xử lý chất thải tập trung với công nghệ tiên tiến, đảm bảo đạt quy chuẩn trước khi xả thải vào nguồn tiếp nhận; xã hội hóa cao trong thu gom, tập kết rác thải sinh hoạt, đặc biệt ở khu vực nông thôn.
h) Các ngành, lĩnh vực công nghiệp khác
- Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2020 (theo giá 2010) đạt 847,7 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2020 là 9,85 %/năm; năm 2025 đạt 1.378,7 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 là 10,22 %/năm.
- Thu hút đầu tư phát triển một số lĩnh vực công nghiệp hóa chất thứ sinh; đổi mới phạm vi, đầu tư chiều sâu, tăng quy mô sản xuất của các cơ sở hiện có theo hướng chuyên môn hóa, chuyên biệt hóa sản phẩm.