Document: Điều 2 Quyết định 3422/QĐ-UBND Phê duyệt Chương trình bảo vệ trẻ em

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "02/11/2011", "sign_number": "3422/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Thị Thu Thuỷ", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "02/11/2011", "sign_number": "3422/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Thị Thu Thuỷ", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "02/11/2011", "sign_number": "3422/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Thị Thu Thuỷ", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "02/11/2011", "sign_number": "3422/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Thị Thu Thuỷ", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "02/11/2011", "sign_number": "3422/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Thị Thu Thuỷ", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định 3422/QĐ-UBND Phê duyệt Chương trình bảo vệ trẻ em có nội dung như sau:

Điều 2. Tổ chức thực hiện Chương trình
1. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội:
- Là cơ quan đầu mối chủ trì và điều phối các hoạt động của Chương trình. Chủ trì xây dựng các Dự án, mô hình cụ thể trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện. Tham mưu, đề xuất với cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình. Phối hợp với các Sở, ngành, các địa phương tổ chức nắm tình hình, thống kê số liệu về trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em có nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tỉnh và xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo vệ, chăm sóc trẻ em.
- Tham mưu, đề xuất cơ chế, chính sách để đảm bảo xây dựng môi trường an toàn, lành mạnh cho trẻ em và chăm sóc, hỗ trợ trẻ em nhằm giảm trừ nguy cơ gây tổn hại, nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em hoàn cảnh khó khăn. Xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em có nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ kiện toàn, củng cố đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp đáp ứng nhiệm vụ được giao; đề xuất điều chỉnh chính sách phụ cấp đối với cộng tác viên thôn bản cho phù hợp với từng thời kỳ; kiện toàn đội ngũ cộng tác viên, xây dựng đội ngũ tình nguyện viên bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở khu phố, thôn, bản; đề xuất xây dựng và phát triển hệ thống dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em; điều phối hoạt động của mạng lưới cung cấp các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em; nâng cao năng lực cho đội cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp và đội ngũ cộng tác viên thôn bản.
- Hướng dẫn, theo dõi, giám sát, tổng hợp kết quả thực hiện Chương trình của các ngành, các địa phương; thực hiện báo cáo định kỳ, đột xuất theo yêu cầu. Tham mưu việc sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Chương trình.
2. Sở Giáo dục và Đào tạo:
- Chỉ đạo xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, thân thiện, không có bạo lực; tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, chú trọng việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng giao tiếp, ứng xử cho học sinh trong nhà trường.
Tăng cường công tác truyền thông, giáo dục về bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong nhà trường, đưa nội dung giáo dục pháp luật về bảo vệ chăm sóc trẻ em vào chương trình giáo dục pháp luật trong hệ thống giáo dục phổ thông; đưa các nội dung tuyên truyền kiến thức phòng ngừa và bảo vệ trẻ em vào chương trình giáo dục ngoại khoá, xây dựng chương trình dạy bơi cho trẻ em trong trường học. Duy trì hoạt động đội tuyên truyền viên măng non. Chỉ đạo các trường xây dựng và duy trì hoạt động có hiệu quả Văn phòng tham vấn học đường, điểm tư vấn trong các trường học nhằm hỗ trợ trẻ em độ tuổi vị thành niên giải toả tâm lý, giảm thiểu suy nghĩ và hành vi tiêu cực của trẻ em, xây dựng môi trường thân thiện với trẻ em.
- Chủ trì phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nghiên cứu, đề xuất xây dựng mô hình giáo dục chuyên biệt cho trẻ em khuyết tật không có khả năng học hoà nhập; Phát động phong trào "Giáo viên tình nguyện" dạy tại nhà cho trẻ em tàn tật không có khả năng học hoà nhập. Phối hợp với các ngành, các địa phương xây dựng biện pháp giảm tình trạng học sinh bỏ học, đồng thời vận động, giúp đỡ trẻ em bỏ học, thất học trở lại trường. Thực hiện đầy đủ chính sách hỗ trợ giáo dục của Nhà nước cho trẻ em.
- Tiếp tục phát động phong trào phòng chống tội phạm, phòng chống ma tuý, phòng chống bạo lực trong nhà trường; xây dựng hòm thư tố giác tội phạm, đẩy mạnh phong trào vì bạn nghèo, thành lập câu lạc bộ bảo vệ trẻ em, ngăn chặn hành vi bạo lực, vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội trong các nhà trường.
3. Sở Y tế:
- Thực hiện các nội dung trong kế hoạch hành động vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, kế hoạch phòng chống tai nạn thương tích trẻ em của tỉnh.
- Thiết lập hệ thống theo dõi, phân tích tình hình trẻ em bị tai nạn thương tích, trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh. Phối hợp với các ngành liên quan tổ chức khám sàng lọc, phân loại trẻ bị dị tật và triển khai các chương trình phẫu thuật nhân đạo cho trẻ em, chăm sóc, hỗ trợ trẻ em nhiễm HIV/AIDS.
- Nghiên cứu xây dựng và triển khai mô hình xây dựng cộng đồng an toàn phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em, mô hình phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật dựa vào cộng đồng; mô hình chăm sóc, hỗ trợ trẻ em bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; mô hình trị liệu cho trẻ em bị rối nhiễu tâm trí; mô hình công tác xã hội trẻ em tại bệnh viện. Đề xuất cơ chế, chính sách hỗ trợ khám chữa bệnh đối với trẻ em bị tai nạn thương tích nặng, trẻ em là nạn nhân bị buôn bán, trẻ em bị xâm hại tình dục, bạo lực; đề xuất chính sách đối với trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo có chi phí phẫu thuật, điều trị cao.
4. Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch:
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra và quản lý chặt chẽ các sản phẩm văn hóa, dịch vụ vui chơi, giải trí dành cho trẻ em. Phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nghiên cứu, đề xuất việc xây dựng và phát triển hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em trong gia đình nhằm tăng cường năng lực bảo vệ trẻ em cho các thành viên trong gia đình; hướng dẫn lồng ghép việc thực hiện các nhu cầu vui chơi, văn hoá, văn nghệ, thể thao của trẻ em vào trong các thiết chế văn hoá tại cơ sở, xây dựng và thực hiện chương trình phổ cập bơi cứu đuối cho trẻ em ở cộng đồng.
- Tổ chức các hoạt động truyền thông trong cộng đồng, các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, vui chơi giải trí, thể thao phục vụ trẻ em và thu hút trẻ em tham gia, nhất là trong dịp hè.
- Triển khai hiệu quả phong trào “Xây dựng gia đình văn hoá”. Ngăn chặn ảnh hưởng của các loại văn hoá phẩm thiếu lành mạnh đối với trẻ em, kiểm tra phát hiện và xử lý các cơ sở vi phạm lưu hành văn hoá phẩm độc hại, các dịch vụ văn hoá thiếu lành mạnh, đặc biệt là khu vực xung quanh các trường học.
5. Sở Nội vụ:
Chủ trì, phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và các Sở, ngành liên quan lập kế hoạch hằng năm về biên chế công chức, viên chức làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em; thực hiện giao biên chế công chức, viên chức làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em sau khi được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; hướng dẫn các huyện, thị xã, thành phố bố trí người làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em ở xã, phường, thị trấn; đề xuất điều chỉnh chính sách phụ cấp đối với cộng tác viên thôn, bản, khu phố cho phù hợp với từng thời kỳ; đề xuất khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em.
6. Sở Thông tin và Truyền thông:
Chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí trên địa bàn, nhất là Đài phát thanh truyền hình tỉnh, Báo Quảng Ninh: xây dựng “Chuyên mục Vì trẻ em”, thường xuyên đưa tin tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em; thông tin kịp thời những kinh nghiệm hay, việc làm tốt và biểu dương các điển hình tiên tiến thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; phản ánh và lên án các vụ việc xâm phạm quyền trẻ em. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động về thông tin, báo chí, xuất bản, các thông tin trên Internet dành cho trẻ em và các dịch vụ Internet xung quanh trường học.
7. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính:
Hằng năm, tham mưu cho tỉnh bố trí kinh phí để đảm bảo các hoạt động của Chương trình; hướng dẫn các ngành liên quan, Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố xây dựng dự toán kinh phí thực hiện; kiểm tra việc quản lý, sử dụng kinh phí đảm bảo đúng quy định.
8. Sở Tư pháp:
Phối hợp với các cơ quan liên quan thường xuyên tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật phòng, chống bạo lực gia đình. Đảm bảo thực hiện khai sinh đầy đủ, kịp thời cho trẻ em. Thực hiện các chương trình trợ giúp pháp lý cho trẻ em; miễn phí trợ giúp pháp lý đối với trẻ em vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Kiểm soát chặt chẽ việc nuôi con nuôi đảm đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo tính nhân đạo của hoạt động này, tránh lợi dụng việc nuôi con nuôi vào mục đích thương mại và mục đích khác có hại cho trẻ em. Phối hợp tốt với các địa phương nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác hoà giải ở cơ sở nhằm hạn chế tình trạng bạo lực, ly hôn trong gia đình, hỗ trợ pháp lý bảo vệ quyền lợi của trẻ em sau ly hôn.
9. Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh:
Tuyên truyền pháp luật, chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em cho nhân dân trên địa bàn các xã biên giới. Phát hiện, ngăn chặn các thủ đoạn, hành vi của tội phạm buôn bán trẻ em; giúp đỡ trẻ em khó khăn trên địa bàn xã biên giới, trẻ em bị buôn bán trở về gia đình. Phối hợp với các ngành liên quan điều tra, triệt phá các vụ buôn bán trẻ em.
10. Công an tỉnh:
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, triệt phá các vụ việc vi phạm quyền trẻ em, buôn bán trẻ em; xử lý nghiêm minh các hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em. Ngăn ngừa, quản lý, giáo dục trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ em mắc các tệ nạn xã hội; thí điểm thực hiện mô hình “Điều tra thân thiện” đối với trẻ em vi phạm pháp luật, phối hợp với Trường Giáo dưỡng thực hiện mô hình cộng quản trong việc quản lý, giáo dục, giúp đỡ trẻ em vi phạm pháp luật.
11. Ban xây dựng Nông thôn mới:
Hướng dẫn các địa phương triển khai chương trình "Nông thôn mới" trong việc xây dựng Nhà văn hoá thể thao cấp thôn phục vụ cho các đối tượng trong cộng đồng nói chung cần phải bố trí một phần diện tích, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho đối tượng trẻ em phù hợp với nhu cầu và độ tuổi của trẻ em theo quy định. Đề xuất các mô hình, biện pháp chăm sóc, hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nhất là trẻ em mồ côi, khuyết tật trên địa bàn xây dựng Nông thôn mới.
12. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố:
- Xây dựng kế hoạch 5 năm (2011-2015) và kế hoạch hằng năm thực hiện Chương trình; cụ thể hoá Chương trình bảo vệ trẻ em trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; lồng ghép việc thực hiện có hiệu quả Chương trình này với các Chương trình khác có liên quan trên địa bàn; tiếp tục xây dựng xã phường phù hợp với trẻ em.
- Chủ động bố trí nhân lực, cơ sở vật chất thực hiện Chương trình. Hằng năm cân đối kinh phí từ ngân sách địa phương để hỗ trợ thực hiện Chương trình bảo vệ trẻ em. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện các mục tiêu của chương trình phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương; quản lý chặt chẽ nhân khẩu, tạm trú, tạm vắng và những đối tượng có tiền án, tiền sự trên địa bàn nhằm ngăn chặn tình trạng xâm hại, lôi kéo trẻ em. Thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách của nhà nước dành cho trẻ em và dành cho cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
13. Đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Toà án nhân dân tỉnh:
Thông tin kịp thời với cơ quan thường trực Chương trình về kết quả thụ lý hồ sơ, xét xử các vụ việc liên quan đến trẻ em; xét xử nghiêm minh các hành vi xâm hại trẻ em, trẻ em vi phạm pháp luật và các vi phạm quyền trẻ em. Có hình thức xét xử điểm, lưu động các vụ việc vi phạm nghiêm trọng đến tính mạng, thân thể và nhân phẩm của trẻ em. Đánh giá, rút kinh nghiệm công tác xét xử các vụ việc liên quan đến trẻ em trong hệ thống của ngành hằng năm và từng giai đoạn.
14. Đề nghị Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh:
Phối hợp với các cơ quan chức năng và địa phương tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận động tham gia giúp đỡ, đỡ đầu trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Tăng cường tổ chức các hoạt động đoàn, đội phát huy quyền tham gia và sáng kiến của trẻ em trong trường học, cộng đồng; tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí phù hợp để thu hút trẻ em tham gia; chủ trì hướng dẫn và tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ em tại các Trung tâm vui chơi thanh thiếu nhi, Điểm vui chơi trẻ em cấp xã và Nhà văn hoá thôn, khu.
15. Đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Tỉnh và các tổ chức thành viên, Hội bảo trợ người tàn tật và trẻ em mồ côi Tỉnh:
Chỉ đạo hệ thống ngành dọc phối hợp với ngành Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành tham gia thực hiện tốt các hoạt động của Chương trình ở địa phương; Lồng ghép thực hiện mục tiêu của chương trình với nhiệm vụ thường xuyên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên. Tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội tham gia chấp hành tốt pháp luật, chính sách về bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Giám sát việc chấp hành pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em; đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm thực hiện tốt các mục tiêu của Chương trình; vận động đoàn viên, hội viên tham gia các hoạt động nhân đạo, từ thiện, nhận đỡ đầu, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, ủng hộ Quỹ Bảo trợ trẻ em, tích cực tố giác các hành vi vi phạm quyền trẻ em.

Content:
Điều 2. Tổ chức thực hiện Chương trình
1. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội:
- Là cơ quan đầu mối chủ trì và điều phối các hoạt động của Chương trình. Chủ trì xây dựng các Dự án, mô hình cụ thể trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện. Tham mưu, đề xuất với cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình. Phối hợp với các Sở, ngành, các địa phương tổ chức nắm tình hình, thống kê số liệu về trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em có nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tỉnh và xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo vệ, chăm sóc trẻ em.
- Tham mưu, đề xuất cơ chế, chính sách để đảm bảo xây dựng môi trường an toàn, lành mạnh cho trẻ em và chăm sóc, hỗ trợ trẻ em nhằm giảm trừ nguy cơ gây tổn hại, nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em hoàn cảnh khó khăn. Xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em có nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ kiện toàn, củng cố đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp đáp ứng nhiệm vụ được giao; đề xuất điều chỉnh chính sách phụ cấp đối với cộng tác viên thôn bản cho phù hợp với từng thời kỳ; kiện toàn đội ngũ cộng tác viên, xây dựng đội ngũ tình nguyện viên bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở khu phố, thôn, bản; đề xuất xây dựng và phát triển hệ thống dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em; điều phối hoạt động của mạng lưới cung cấp các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em; nâng cao năng lực cho đội cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp và đội ngũ cộng tác viên thôn bản.
- Hướng dẫn, theo dõi, giám sát, tổng hợp kết quả thực hiện Chương trình của các ngành, các địa phương; thực hiện báo cáo định kỳ, đột xuất theo yêu cầu. Tham mưu việc sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Chương trình.
2. Sở Giáo dục và Đào tạo:
- Chỉ đạo xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, thân thiện, không có bạo lực; tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, chú trọng việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng giao tiếp, ứng xử cho học sinh trong nhà trường.
Tăng cường công tác truyền thông, giáo dục về bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong nhà trường, đưa nội dung giáo dục pháp luật về bảo vệ chăm sóc trẻ em vào chương trình giáo dục pháp luật trong hệ thống giáo dục phổ thông; đưa các nội dung tuyên truyền kiến thức phòng ngừa và bảo vệ trẻ em vào chương trình giáo dục ngoại khoá, xây dựng chương trình dạy bơi cho trẻ em trong trường học. Duy trì hoạt động đội tuyên truyền viên măng non. Chỉ đạo các trường xây dựng và duy trì hoạt động có hiệu quả Văn phòng tham vấn học đường, điểm tư vấn trong các trường học nhằm hỗ trợ trẻ em độ tuổi vị thành niên giải toả tâm lý, giảm thiểu suy nghĩ và hành vi tiêu cực của trẻ em, xây dựng môi trường thân thiện với trẻ em.
- Chủ trì phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nghiên cứu, đề xuất xây dựng mô hình giáo dục chuyên biệt cho trẻ em khuyết tật không có khả năng học hoà nhập; Phát động phong trào "Giáo viên tình nguyện" dạy tại nhà cho trẻ em tàn tật không có khả năng học hoà nhập. Phối hợp với các ngành, các địa phương xây dựng biện pháp giảm tình trạng học sinh bỏ học, đồng thời vận động, giúp đỡ trẻ em bỏ học, thất học trở lại trường. Thực hiện đầy đủ chính sách hỗ trợ giáo dục của Nhà nước cho trẻ em.
- Tiếp tục phát động phong trào phòng chống tội phạm, phòng chống ma tuý, phòng chống bạo lực trong nhà trường; xây dựng hòm thư tố giác tội phạm, đẩy mạnh phong trào vì bạn nghèo, thành lập câu lạc bộ bảo vệ trẻ em, ngăn chặn hành vi bạo lực, vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội trong các nhà trường.
3. Sở Y tế:
- Thực hiện các nội dung trong kế hoạch hành động vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, kế hoạch phòng chống tai nạn thương tích trẻ em của tỉnh.
- Thiết lập hệ thống theo dõi, phân tích tình hình trẻ em bị tai nạn thương tích, trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh. Phối hợp với các ngành liên quan tổ chức khám sàng lọc, phân loại trẻ bị dị tật và triển khai các chương trình phẫu thuật nhân đạo cho trẻ em, chăm sóc, hỗ trợ trẻ em nhiễm HIV/AIDS.
- Nghiên cứu xây dựng và triển khai mô hình xây dựng cộng đồng an toàn phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em, mô hình phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật dựa vào cộng đồng; mô hình chăm sóc, hỗ trợ trẻ em bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; mô hình trị liệu cho trẻ em bị rối nhiễu tâm trí; mô hình công tác xã hội trẻ em tại bệnh viện. Đề xuất cơ chế, chính sách hỗ trợ khám chữa bệnh đối với trẻ em bị tai nạn thương tích nặng, trẻ em là nạn nhân bị buôn bán, trẻ em bị xâm hại tình dục, bạo lực; đề xuất chính sách đối với trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo có chi phí phẫu thuật, điều trị cao.
4. Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch:
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra và quản lý chặt chẽ các sản phẩm văn hóa, dịch vụ vui chơi, giải trí dành cho trẻ em. Phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nghiên cứu, đề xuất việc xây dựng và phát triển hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em trong gia đình nhằm tăng cường năng lực bảo vệ trẻ em cho các thành viên trong gia đình; hướng dẫn lồng ghép việc thực hiện các nhu cầu vui chơi, văn hoá, văn nghệ, thể thao của trẻ em vào trong các thiết chế văn hoá tại cơ sở, xây dựng và thực hiện chương trình phổ cập bơi cứu đuối cho trẻ em ở cộng đồng.
- Tổ chức các hoạt động truyền thông trong cộng đồng, các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, vui chơi giải trí, thể thao phục vụ trẻ em và thu hút trẻ em tham gia, nhất là trong dịp hè.
- Triển khai hiệu quả phong trào “Xây dựng gia đình văn hoá”. Ngăn chặn ảnh hưởng của các loại văn hoá phẩm thiếu lành mạnh đối với trẻ em, kiểm tra phát hiện và xử lý các cơ sở vi phạm lưu hành văn hoá phẩm độc hại, các dịch vụ văn hoá thiếu lành mạnh, đặc biệt là khu vực xung quanh các trường học.
5. Sở Nội vụ:
Chủ trì, phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và các Sở, ngành liên quan lập kế hoạch hằng năm về biên chế công chức, viên chức làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em; thực hiện giao biên chế công chức, viên chức làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em sau khi được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; hướng dẫn các huyện, thị xã, thành phố bố trí người làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em ở xã, phường, thị trấn; đề xuất điều chỉnh chính sách phụ cấp đối với cộng tác viên thôn, bản, khu phố cho phù hợp với từng thời kỳ; đề xuất khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em.
6. Sở Thông tin và Truyền thông:
Chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí trên địa bàn, nhất là Đài phát thanh truyền hình tỉnh, Báo Quảng Ninh: xây dựng “Chuyên mục Vì trẻ em”, thường xuyên đưa tin tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em; thông tin kịp thời những kinh nghiệm hay, việc làm tốt và biểu dương các điển hình tiên tiến thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; phản ánh và lên án các vụ việc xâm phạm quyền trẻ em. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động về thông tin, báo chí, xuất bản, các thông tin trên Internet dành cho trẻ em và các dịch vụ Internet xung quanh trường học.
7. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính:
Hằng năm, tham mưu cho tỉnh bố trí kinh phí để đảm bảo các hoạt động của Chương trình; hướng dẫn các ngành liên quan, Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố xây dựng dự toán kinh phí thực hiện; kiểm tra việc quản lý, sử dụng kinh phí đảm bảo đúng quy định.
8. Sở Tư pháp:
Phối hợp với các cơ quan liên quan thường xuyên tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật phòng, chống bạo lực gia đình. Đảm bảo thực hiện khai sinh đầy đủ, kịp thời cho trẻ em. Thực hiện các chương trình trợ giúp pháp lý cho trẻ em; miễn phí trợ giúp pháp lý đối với trẻ em vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Kiểm soát chặt chẽ việc nuôi con nuôi đảm đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo tính nhân đạo của hoạt động này, tránh lợi dụng việc nuôi con nuôi vào mục đích thương mại và mục đích khác có hại cho trẻ em. Phối hợp tốt với các địa phương nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác hoà giải ở cơ sở nhằm hạn chế tình trạng bạo lực, ly hôn trong gia đình, hỗ trợ pháp lý bảo vệ quyền lợi của trẻ em sau ly hôn.
9. Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh:
Tuyên truyền pháp luật, chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em cho nhân dân trên địa bàn các xã biên giới. Phát hiện, ngăn chặn các thủ đoạn, hành vi của tội phạm buôn bán trẻ em; giúp đỡ trẻ em khó khăn trên địa bàn xã biên giới, trẻ em bị buôn bán trở về gia đình. Phối hợp với các ngành liên quan điều tra, triệt phá các vụ buôn bán trẻ em.
10. Công an tỉnh:
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, triệt phá các vụ việc vi phạm quyền trẻ em, buôn bán trẻ em; xử lý nghiêm minh các hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em. Ngăn ngừa, quản lý, giáo dục trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ em mắc các tệ nạn xã hội; thí điểm thực hiện mô hình “Điều tra thân thiện” đối với trẻ em vi phạm pháp luật, phối hợp với Trường Giáo dưỡng thực hiện mô hình cộng quản trong việc quản lý, giáo dục, giúp đỡ trẻ em vi phạm pháp luật.
11. Ban xây dựng Nông thôn mới:
Hướng dẫn các địa phương triển khai chương trình "Nông thôn mới" trong việc xây dựng Nhà văn hoá thể thao cấp thôn phục vụ cho các đối tượng trong cộng đồng nói chung cần phải bố trí một phần diện tích, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho đối tượng trẻ em phù hợp với nhu cầu và độ tuổi của trẻ em theo quy định. Đề xuất các mô hình, biện pháp chăm sóc, hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nhất là trẻ em mồ côi, khuyết tật trên địa bàn xây dựng Nông thôn mới.
12. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố:
- Xây dựng kế hoạch 5 năm (2011-2015) và kế hoạch hằng năm thực hiện Chương trình; cụ thể hoá Chương trình bảo vệ trẻ em trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; lồng ghép việc thực hiện có hiệu quả Chương trình này với các Chương trình khác có liên quan trên địa bàn; tiếp tục xây dựng xã phường phù hợp với trẻ em.
- Chủ động bố trí nhân lực, cơ sở vật chất thực hiện Chương trình. Hằng năm cân đối kinh phí từ ngân sách địa phương để hỗ trợ thực hiện Chương trình bảo vệ trẻ em. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện các mục tiêu của chương trình phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương; quản lý chặt chẽ nhân khẩu, tạm trú, tạm vắng và những đối tượng có tiền án, tiền sự trên địa bàn nhằm ngăn chặn tình trạng xâm hại, lôi kéo trẻ em. Thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách của nhà nước dành cho trẻ em và dành cho cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
13. Đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Toà án nhân dân tỉnh:
Thông tin kịp thời với cơ quan thường trực Chương trình về kết quả thụ lý hồ sơ, xét xử các vụ việc liên quan đến trẻ em; xét xử nghiêm minh các hành vi xâm hại trẻ em, trẻ em vi phạm pháp luật và các vi phạm quyền trẻ em. Có hình thức xét xử điểm, lưu động các vụ việc vi phạm nghiêm trọng đến tính mạng, thân thể và nhân phẩm của trẻ em. Đánh giá, rút kinh nghiệm công tác xét xử các vụ việc liên quan đến trẻ em trong hệ thống của ngành hằng năm và từng giai đoạn.
14. Đề nghị Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh:
Phối hợp với các cơ quan chức năng và địa phương tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận động tham gia giúp đỡ, đỡ đầu trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Tăng cường tổ chức các hoạt động đoàn, đội phát huy quyền tham gia và sáng kiến của trẻ em trong trường học, cộng đồng; tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí phù hợp để thu hút trẻ em tham gia; chủ trì hướng dẫn và tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ em tại các Trung tâm vui chơi thanh thiếu nhi, Điểm vui chơi trẻ em cấp xã và Nhà văn hoá thôn, khu.
15. Đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Tỉnh và các tổ chức thành viên, Hội bảo trợ người tàn tật và trẻ em mồ côi Tỉnh:
Chỉ đạo hệ thống ngành dọc phối hợp với ngành Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành tham gia thực hiện tốt các hoạt động của Chương trình ở địa phương; Lồng ghép thực hiện mục tiêu của chương trình với nhiệm vụ thường xuyên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên. Tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội tham gia chấp hành tốt pháp luật, chính sách về bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Giám sát việc chấp hành pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em; đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm thực hiện tốt các mục tiêu của Chương trình; vận động đoàn viên, hội viên tham gia các hoạt động nhân đạo, từ thiện, nhận đỡ đầu, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, ủng hộ Quỹ Bảo trợ trẻ em, tích cực tố giác các hành vi vi phạm quyền trẻ em.