Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1263/2010/QĐ-UBND sửa đổi Quy định về chính sách bồi thường hỗ trợ v

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hải Phòng", "promulgation_date": "30/07/2010", "sign_number": "1263/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Thành", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hải Phòng", "promulgation_date": "30/07/2010", "sign_number": "1263/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Thành", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hải Phòng", "promulgation_date": "30/07/2010", "sign_number": "1263/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Thành", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hải Phòng", "promulgation_date": "30/07/2010", "sign_number": "1263/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Thành", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hải Phòng", "promulgation_date": "30/07/2010", "sign_number": "1263/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Thành", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1263/2010/QĐ-UBND sửa đổi Quy định về chính sách bồi thường hỗ trợ v

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều của Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng ban hành kèm theo Quyết định số 130/2010/QĐ-UBND ngày 22/01/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố như sau:
...
3. Sửa đổi điểm 6.1, điểm 6.2 khoản 6 và khoản 7, Điều 5:
6.1. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng một thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông, có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định, khi Nhà nước thu hồi đất thì toàn bộ diện tích đất thu hồi được bồi thường theo giá đất vườn, ao quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm. Ngoài ra, còn được hỗ trợ bằng 50% mức giá đất ở của thửa đất đó; diện tích hỗ trợ tính theo diện tích thực tế bị thu hồi nhưng không quá 02 lần hạn mức giao đất ở mới.
6.2. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư thuộc thị trấn, trong khu dân cư nông thôn được xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của làng, thôn, xóm và các điểm dân cư riêng lẻ; trong địa giới hành chính phường; thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư có đủ điều kiện bồi thường thì được bồi thường theo giá đất trồng cây lâu năm của vị trí I, ngoài ra còn được hỗ trừ bằng 20% giá đất ở trung bình của khu vực. Diện tích được tính hỗ trợ không quá 05 lần hạn mức giao đất ở mới tại địa phương.
Việc xác định giá đất ở trung bình của khu vực có đất bị thu hồi để tính hỗ trợ cho đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, trong khu dân cư nông thôn được xác định theo nguyên tắc trung bình cộng các mức giá đất ở trong chỉ giới khu vực đất thu hồi hoặc các mức giá của thửa đất ở liền kề theo quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm. Trường hợp trong chỉ giới khu vực đất thu hồi không có thửa đất ở hoặc không có đất ở liền kề thì giá đất ở trung bình được xác định theo nguyên tắc trung bình cộng các mức giá đất ở trong bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành năm của tuyến đường, phố hoặc các thửa đất ở trong khu đất có mức giá khác nhau có khoảng cách gần nhất với khu đất bị thu hồi
Người sử dụng đất nông nghiệp đất vườn, ao đã được hỗ trợ theo quy định này thì không được hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm theo quy định tại điểm 2.1 khoản 2 Điều 12 Quy định này.
7. Trường hợp thu hồi đất thuộc quỹ đất công ích 5% và diện tích ngoài hạn mức đất nông nghiệp được giao lâu dài mà chính quyền địa phương cấp xã đã tạm giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng thì bồi thường chi phí đầu tư vào đất cho người sử dụng đất bằng 50% mức giá đất nông nghiệp theo vị trí thửa đất; hỗ trợ 50% mức giá đất nông nghiệp theo vị trí thửa đất cho ngân sách cấp xã, tiền hỗ trợ được sử dụng theo quy định tại Điều 31 Nghị định 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ.

Content:
Sửa đổi điểm 6.1, điểm 6.2 khoản 6 và khoản 7, Điều 5:
6.1. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng một thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông, có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định, khi Nhà nước thu hồi đất thì toàn bộ diện tích đất thu hồi được bồi thường theo giá đất vườn, ao quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm. Ngoài ra, còn được hỗ trợ bằng 50% mức giá đất ở của thửa đất đó; diện tích hỗ trợ tính theo diện tích thực tế bị thu hồi nhưng không quá 02 lần hạn mức giao đất ở mới.
6.2. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư thuộc thị trấn, trong khu dân cư nông thôn được xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của làng, thôn, xóm và các điểm dân cư riêng lẻ; trong địa giới hành chính phường; thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư có đủ điều kiện bồi thường thì được bồi thường theo giá đất trồng cây lâu năm của vị trí I, ngoài ra còn được hỗ trừ bằng 20% giá đất ở trung bình của khu vực. Diện tích được tính hỗ trợ không quá 05 lần hạn mức giao đất ở mới tại địa phương.
Việc xác định giá đất ở trung bình của khu vực có đất bị thu hồi để tính hỗ trợ cho đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, trong khu dân cư nông thôn được xác định theo nguyên tắc trung bình cộng các mức giá đất ở trong chỉ giới khu vực đất thu hồi hoặc các mức giá của thửa đất ở liền kề theo quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm. Trường hợp trong chỉ giới khu vực đất thu hồi không có thửa đất ở hoặc không có đất ở liền kề thì giá đất ở trung bình được xác định theo nguyên tắc trung bình cộng các mức giá đất ở trong bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành năm của tuyến đường, phố hoặc các thửa đất ở trong khu đất có mức giá khác nhau có khoảng cách gần nhất với khu đất bị thu hồi
Người sử dụng đất nông nghiệp đất vườn, ao đã được hỗ trợ theo quy định này thì không được hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm theo quy định tại điểm 2.1 khoản 2 Điều 12 Quy định này.
7. Trường hợp thu hồi đất thuộc quỹ đất công ích 5% và diện tích ngoài hạn mức đất nông nghiệp được giao lâu dài mà chính quyền địa phương cấp xã đã tạm giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng thì bồi thường chi phí đầu tư vào đất cho người sử dụng đất bằng 50% mức giá đất nông nghiệp theo vị trí thửa đất; hỗ trợ 50% mức giá đất nông nghiệp theo vị trí thửa đất cho ngân sách cấp xã, tiền hỗ trợ được sử dụng theo quy định tại Điều 31 Nghị định 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ.