Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1523/QĐ-BNN-TCTS năm 2011 Quy hoạch phát triển nuôi cá biển đến 2015

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "08/07/2011", "sign_number": "1523/QĐ-BNN-TCTS", "signer": "Vũ Văn Tám", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "08/07/2011", "sign_number": "1523/QĐ-BNN-TCTS", "signer": "Vũ Văn Tám", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "08/07/2011", "sign_number": "1523/QĐ-BNN-TCTS", "signer": "Vũ Văn Tám", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "08/07/2011", "sign_number": "1523/QĐ-BNN-TCTS", "signer": "Vũ Văn Tám", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "08/07/2011", "sign_number": "1523/QĐ-BNN-TCTS", "signer": "Vũ Văn Tám", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1523/QĐ-BNN-TCTS năm 2011 Quy hoạch phát triển nuôi cá biển đến 2015

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển nuôi cá biển đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 với nội dung sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể:
a) Đến năm 2015:
- Nuôi cá biển trong ao nước mặn, nước lợ, ao nuôi tôm chuyển đổi hoặc luân canh đến năm 2015 đạt 61.000 tấn.
- Nuôi cá biển trong hệ thống lồng nhỏ 44.000 tấn.
- Nuôi công nghiệp tập trung 55.000 tấn.
Tổng sản lượng cá biển nuôi năm 2015 đạt 160.000 tấn, giá trị tương đương 1,04 tỷ USD.
b) Đến năm 2020
- Nuôi cá biển trong ao nước mặn, nước lợ, ao nuôi tôm chuyển đổi hoặc luân canh đến năm 2020 đạt khoảng 98.000 tấn.
- Nuôi cá biển trong hệ thống lồng nhỏ 51.000 tấn.
- Nuôi công nghiệp tập trung 111.000 tấn.
Tổng sản lượng cá biển nuôi năm 2020 đạt 200.000 - 260.000 tấn, giá trị tương đương 1,80 tỷ USD.
III. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Về quy hoạch
1.1. Quy hoạch nuôi cá biển bằng lồng nhỏ đơn giản:
Loại lồng có kích thước nhỏ (3x3x3 hoặc 3x6x3...) đặt trong các eo vịnh kín, cửa sông rạch có độ sâu lúc nước thủy triều thấp nhất 5m. Độ sâu cột nước trong lồng khoảng 2,2m-2,4m. Phát triển hình thức nuôi này ở các vịnh của tỉnh Quảng Ninh, Phú Yên, Khánh Hòa, Kiên Giang với các đối tượng nuôi như cá song, cá giò, cá hồng, cá chép biển, cá chim vây vàng... và có thể phát triển nuôi ở các cửa sông rạch của các tỉnh Nam Bộ: Cà Mau, Bạc Liêu, Tiền Giang... nuôi các đối tượng chịu đựng được sự biến động lớn của độ mặn: cá vược (chẽm), cá hồng Mỹ, cá rô phi nước lợ...
1.2. Quy hoạch nuôi cá biển trong ao đất:
Bao gồm các ao nước mặn nước lợ ven biển, trên các ao nuôi tôm bị thoái hóa hoặc các ao nuôi tôm cần nuôi luân canh nhằm cải tạo môi trường. Đối tượng nuôi trong ao đất là các loài chịu được sự biến động lớn của độ mặn: cá Vược (chẽm), cá Song, cá Hồng Bạc, cá Hồng Mỹ, cá Tráp, cá Bớp, cá Nhụ... Quy hoạch hình thức nuôi này tập trung chủ yếu ở các vùng có diện tích nuôi lớn ở Nam Bộ, Trung Bộ và một số tỉnh ven biển Bắc Bộ như Quảng Ninh, Nam Định...
1.3. Quy hoạch nuôi lồng bè qui mô công nghiệp.
Sử dụng các lồng có kích thước 1.000m3/lồng, chịu được sóng gió cấp 11-12 hoặc có thể đánh chìm. Lồng 1.200m3 có đường kính 15m, độ sâu nước trong lồng 8-10m, mỗi ha có 50 lồng. Từ năm 2010 đến 2015 tập trung tại các vịnh lớn, bán kín, sóng gió không quá lớn nhưng có độ sâu lớn >10m ở Đà Nẵng (vịnh Đà Nẵng), Phú Yên (vịnh Xuân Đài, Vũng Rô); Khánh Hòa (vịnh Bình Ba - Cam Ranh) và Kiên Giang (Phú Quốc, Thổ Chu). Thí điểm nuôi lồng ở một số đảo ở quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa). Vùng vịnh Bái Tử Long (Quảng Ninh) và vịnh Cát Bà (Hải Phòng) chỉ nuôi ở một số vùng không nuôi hàu, chủ yếu là tập hợp, nuôi vỗ đàn cá bố mẹ để cung cấp cá bố mẹ, trứng thụ tinh, cá bột cho miền Bắc và cả nước. Đối tượng nuôi của hình thức này là những loài có giá trị kinh tế cao, sản phẩm có thể đông tươi nguyên con hoặc chế biến đồ hộp: cá Giò, cá Song Vua, cá Chim Vây Vàng, cá Hồng Bạc, Hồng Mỹ cá Cam...
1.4. Sản xuất giống:
Đầu tư hoàn thiện 3 Trung tâm Quốc gia giống Hải sản ở 3 vùng sinh thái, triển khai xây dựng Trung tâm giống cấp I và các trại vệ tinh ở các tỉnh sau:
- Tại Miền Bắc: Xây dựng các trại giống cá biển và các hải sản khác ở đảo Cát Bà, đảo Cái Rồng và một số hòn đảo trên vịnh Bái Tử Long như Cống Đông, Cống Tây. Ưu tiên xây dựng khu lưu giữ tuyển chọn, cá bố mẹ tại vùng biển Cát Bà, Quảng Ninh để cung cấp cá bố mẹ, trứng thụ tinh, cá bột cho cả nước. Trung tâm Quốc gia giống hải sản miền Bắc cung cấp cá hương, trứng thụ tinh, cá bột cho các trạm trại ở Quảng Ninh, Hải Phòng và các địa phương khác.
- Tại Miền Trung: Trung tâm Quốc gia giống hải sản miền Trung đóng ở Vạn Ninh, Khánh Hòa. Các Trung tâm cấp I tại Cam Ranh (Khánh Hòa), Bình Kiến, Xuân Hải (Phú Yên). Tận dụng các cơ sở sản xuất tôm giống để ương cá biển nhằm tăng sản lượng mới đáp ứng đủ nhu cầu. Phú Yên, Khánh Hòa sẽ được quy hoạch là trung tâm giống cá biển cung cấp cho các tỉnh miền Trung.
- Tại Nam Bộ: Trung tâm Quốc gia giống Hải sản Nam Bộ cùng các Trung tâm cấp tỉnh và các trại tôm giống của các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ ương giống cung cấp cho toàn khu vực. Tại Phú Quốc xây dựng cơ sở sản xuất giống lớn để cung cấp cho nhu cầu nuôi tại chỗ và các vùng lân cận.
1.5. Chế biến thức ăn
Đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp cải tạo 7-8 nhà máy chế biến thức ăn đạt công suất 50 tấn/ngày hoặc 4 nhà máy có công suất 100 tấn ngày. Các nhà máy sản xuất bột cá, vitamin, khoáng và các chất phụ gia khác cần được xây dựng hoặc nâng cấp cải tạo đáp ứng nguyên liệu cho các nhà máy thức ăn.
Các nhà máy chế biến đông lạnh sử dụng các sản phẩm phụ, cá tạp để chế biến 90-100 ngàn tấn (60%) bột cá cung cấp cho các nhà máy chế biến thức ăn.
- Tại Miền Bắc: Nâng cấp 3 cơ sở chế biến thức ăn nuôi tôm công nghiệp với qui mô 10-20 tấn/ngày hiện có ở Hải Phòng công suất 50-100 tấn/ngày. Xây dựng 1 nhà máy lớn chuyên chế biến thức ăn cho cá có thể đặt ở Hải Phòng với công suất khoảng 50-80 ngàn tấn/năm với hình thức liên doanh với nước ngoài. Các nhà máy chế biến ở Hải Phòng Quảng Ninh có thể cung cấp một lượng lớn bột cá hay nhập ngoại đến cảng Hải Phòng để sản xuất thức ăn và cung cấp cho các nhà máy khác.
- Tại Miền Trung: Xây dựng Nhà máy chế biến thức ăn tại Đà Nẵng hay Khánh Hòa. Nâng cấp nhà máy thức ăn tôm (KP) tăng thêm công suất để sản xuất thức ăn cho cá biển. Các nhà máy chế biến, cảng cá cung cấp đủ nguyên liệu (bột cá) làm thức ăn đáp ứng cho các vùng nuôi cá biển của khu vực.
- Tại Nam Bộ: Xây dựng hoặc nâng cấp một số Nhà máy chế biến thức ăn tại Vũng Tàu, Kiên Giang cung cấp cho các vùng nuôi cá biển ở khu vực.
2. Về khoa học công nghệ
Nghiên cứu có trọng tâm, trọng điểm từng nghề, từng đối tượng nuôi phục vụ kịp thời cho sản xuất:
- Nghiên cứu thu gom, thuần dưỡng và nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ.
- Nghiên cứu công nghệ cho đẻ và vận chuyển ấu trùng, cá giống.
- Nghiên cứu công nghệ sản xuất thức ăn, kể cả tươi sống cho ấu trùng.
- Nghiên cứu công nghệ nuôi ấu trùng lên cá hương, ương cá hương lên cá giống.
- Lai tạo, gia hóa và nâng cao chất lượng di truyền cho các đối tượng nuôi chủ yếu.
- Nghiên cứu công nghệ nuôi đặc biệt là nuôi quy mô công nghiệp, nuôi công nghệ cao.
- Các loại bệnh đối với ấu trùng, cá hương, cá giống, cá bố mẹ và biện pháp phòng trị đặc biệt công nghệ sản xuất các loại Vacxin.
- Nghiên cứu và hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất các loại thuốc hóa chất dễ sử dụng, thân thiện với môi trường, hiệu quả và an toàn vệ sinh thực phẩm.

Content:
Mục tiêu cụ thể:
a) Đến năm 2015:
- Nuôi cá biển trong ao nước mặn, nước lợ, ao nuôi tôm chuyển đổi hoặc luân canh đến năm 2015 đạt 61.000 tấn.
- Nuôi cá biển trong hệ thống lồng nhỏ 44.000 tấn.
- Nuôi công nghiệp tập trung 55.000 tấn.
Tổng sản lượng cá biển nuôi năm 2015 đạt 160.000 tấn, giá trị tương đương 1,04 tỷ USD.
b) Đến năm 2020
- Nuôi cá biển trong ao nước mặn, nước lợ, ao nuôi tôm chuyển đổi hoặc luân canh đến năm 2020 đạt khoảng 98.000 tấn.
- Nuôi cá biển trong hệ thống lồng nhỏ 51.000 tấn.
- Nuôi công nghiệp tập trung 111.000 tấn.
Tổng sản lượng cá biển nuôi năm 2020 đạt 200.000 - 260.000 tấn, giá trị tương đương 1,80 tỷ USD.
III. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Về quy hoạch
1.1. Quy hoạch nuôi cá biển bằng lồng nhỏ đơn giản:
Loại lồng có kích thước nhỏ (3x3x3 hoặc 3x6x3...) đặt trong các eo vịnh kín, cửa sông rạch có độ sâu lúc nước thủy triều thấp nhất 5m. Độ sâu cột nước trong lồng khoảng 2,2m-2,4m. Phát triển hình thức nuôi này ở các vịnh của tỉnh Quảng Ninh, Phú Yên, Khánh Hòa, Kiên Giang với các đối tượng nuôi như cá song, cá giò, cá hồng, cá chép biển, cá chim vây vàng... và có thể phát triển nuôi ở các cửa sông rạch của các tỉnh Nam Bộ: Cà Mau, Bạc Liêu, Tiền Giang... nuôi các đối tượng chịu đựng được sự biến động lớn của độ mặn: cá vược (chẽm), cá hồng Mỹ, cá rô phi nước lợ...
1.Quy hoạch nuôi cá biển trong ao đất:
Bao gồm các ao nước mặn nước lợ ven biển, trên các ao nuôi tôm bị thoái hóa hoặc các ao nuôi tôm cần nuôi luân canh nhằm cải tạo môi trường. Đối tượng nuôi trong ao đất là các loài chịu được sự biến động lớn của độ mặn: cá Vược (chẽm), cá Song, cá Hồng Bạc, cá Hồng Mỹ, cá Tráp, cá Bớp, cá Nhụ... Quy hoạch hình thức nuôi này tập trung chủ yếu ở các vùng có diện tích nuôi lớn ở Nam Bộ, Trung Bộ và một số tỉnh ven biển Bắc Bộ như Quảng Ninh, Nam Định...
1.3. Quy hoạch nuôi lồng bè qui mô công nghiệp.
Sử dụng các lồng có kích thước 1.000m3/lồng, chịu được sóng gió cấp 11-12 hoặc có thể đánh chìm. Lồng 1.200m3 có đường kính 15m, độ sâu nước trong lồng 8-10m, mỗi ha có 50 lồng. Từ năm 2010 đến 2015 tập trung tại các vịnh lớn, bán kín, sóng gió không quá lớn nhưng có độ sâu lớn >10m ở Đà Nẵng (vịnh Đà Nẵng), Phú Yên (vịnh Xuân Đài, Vũng Rô); Khánh Hòa (vịnh Bình Ba - Cam Ranh) và Kiên Giang (Phú Quốc, Thổ Chu). Thí điểm nuôi lồng ở một số đảo ở quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa). Vùng vịnh Bái Tử Long (Quảng Ninh) và vịnh Cát Bà (Hải Phòng) chỉ nuôi ở một số vùng không nuôi hàu, chủ yếu là tập hợp, nuôi vỗ đàn cá bố mẹ để cung cấp cá bố mẹ, trứng thụ tinh, cá bột cho miền Bắc và cả nước. Đối tượng nuôi của hình thức này là những loài có giá trị kinh tế cao, sản phẩm có thể đông tươi nguyên con hoặc chế biến đồ hộp: cá Giò, cá Song Vua, cá Chim Vây Vàng, cá Hồng Bạc, Hồng Mỹ cá Cam...
1.4. Sản xuất giống:
Đầu tư hoàn thiện 3 Trung tâm Quốc gia giống Hải sản ở 3 vùng sinh thái, triển khai xây dựng Trung tâm giống cấp I và các trại vệ tinh ở các tỉnh sau:
- Tại Miền Bắc: Xây dựng các trại giống cá biển và các hải sản khác ở đảo Cát Bà, đảo Cái Rồng và một số hòn đảo trên vịnh Bái Tử Long như Cống Đông, Cống Tây. Ưu tiên xây dựng khu lưu giữ tuyển chọn, cá bố mẹ tại vùng biển Cát Bà, Quảng Ninh để cung cấp cá bố mẹ, trứng thụ tinh, cá bột cho cả nước. Trung tâm Quốc gia giống hải sản miền Bắc cung cấp cá hương, trứng thụ tinh, cá bột cho các trạm trại ở Quảng Ninh, Hải Phòng và các địa phương khác.
- Tại Miền Trung: Trung tâm Quốc gia giống hải sản miền Trung đóng ở Vạn Ninh, Khánh Hòa. Các Trung tâm cấp I tại Cam Ranh (Khánh Hòa), Bình Kiến, Xuân Hải (Phú Yên). Tận dụng các cơ sở sản xuất tôm giống để ương cá biển nhằm tăng sản lượng mới đáp ứng đủ nhu cầu. Phú Yên, Khánh Hòa sẽ được quy hoạch là trung tâm giống cá biển cung cấp cho các tỉnh miền Trung.
- Tại Nam Bộ: Trung tâm Quốc gia giống Hải sản Nam Bộ cùng các Trung tâm cấp tỉnh và các trại tôm giống của các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ ương giống cung cấp cho toàn khu vực. Tại Phú Quốc xây dựng cơ sở sản xuất giống lớn để cung cấp cho nhu cầu nuôi tại chỗ và các vùng lân cận.
1.5. Chế biến thức ăn
Đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp cải tạo 7-8 nhà máy chế biến thức ăn đạt công suất 50 tấn/ngày hoặc 4 nhà máy có công suất 100 tấn ngày. Các nhà máy sản xuất bột cá, vitamin, khoáng và các chất phụ gia khác cần được xây dựng hoặc nâng cấp cải tạo đáp ứng nguyên liệu cho các nhà máy thức ăn.
Các nhà máy chế biến đông lạnh sử dụng các sản phẩm phụ, cá tạp để chế biến 90-100 ngàn tấn (60%) bột cá cung cấp cho các nhà máy chế biến thức ăn.
- Tại Miền Bắc: Nâng cấp 3 cơ sở chế biến thức ăn nuôi tôm công nghiệp với qui mô 10-20 tấn/ngày hiện có ở Hải Phòng công suất 50-100 tấn/ngày. Xây dựng 1 nhà máy lớn chuyên chế biến thức ăn cho cá có thể đặt ở Hải Phòng với công suất khoảng 50-80 ngàn tấn/năm với hình thức liên doanh với nước ngoài. Các nhà máy chế biến ở Hải Phòng Quảng Ninh có thể cung cấp một lượng lớn bột cá hay nhập ngoại đến cảng Hải Phòng để sản xuất thức ăn và cung cấp cho các nhà máy khác.
- Tại Miền Trung: Xây dựng Nhà máy chế biến thức ăn tại Đà Nẵng hay Khánh Hòa. Nâng cấp nhà máy thức ăn tôm (KP) tăng thêm công suất để sản xuất thức ăn cho cá biển. Các nhà máy chế biến, cảng cá cung cấp đủ nguyên liệu (bột cá) làm thức ăn đáp ứng cho các vùng nuôi cá biển của khu vực.
- Tại Nam Bộ: Xây dựng hoặc nâng cấp một số Nhà máy chế biến thức ăn tại Vũng Tàu, Kiên Giang cung cấp cho các vùng nuôi cá biển ở khu vực.
Về khoa học công nghệ
Nghiên cứu có trọng tâm, trọng điểm từng nghề, từng đối tượng nuôi phục vụ kịp thời cho sản xuất:
- Nghiên cứu thu gom, thuần dưỡng và nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ.
- Nghiên cứu công nghệ cho đẻ và vận chuyển ấu trùng, cá giống.
- Nghiên cứu công nghệ sản xuất thức ăn, kể cả tươi sống cho ấu trùng.
- Nghiên cứu công nghệ nuôi ấu trùng lên cá hương, ương cá hương lên cá giống.
- Lai tạo, gia hóa và nâng cao chất lượng di truyền cho các đối tượng nuôi chủ yếu.
- Nghiên cứu công nghệ nuôi đặc biệt là nuôi quy mô công nghiệp, nuôi công nghệ cao.
- Các loại bệnh đối với ấu trùng, cá hương, cá giống, cá bố mẹ và biện pháp phòng trị đặc biệt công nghệ sản xuất các loại Vacxin.
- Nghiên cứu và hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất các loại thuốc hóa chất dễ sử dụng, thân thiện với môi trường, hiệu quả và an toàn vệ sinh thực phẩm.