Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 646/QĐ-UBND 2014 quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Mang Thít Vĩnh Long đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Long", "promulgation_date": "29/04/2014", "sign_number": "646/QĐ-UBND", "signer": "Trương Văn Sáu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Long", "promulgation_date": "29/04/2014", "sign_number": "646/QĐ-UBND", "signer": "Trương Văn Sáu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Long", "promulgation_date": "29/04/2014", "sign_number": "646/QĐ-UBND", "signer": "Trương Văn Sáu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Long", "promulgation_date": "29/04/2014", "sign_number": "646/QĐ-UBND", "signer": "Trương Văn Sáu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Long", "promulgation_date": "29/04/2014", "sign_number": "646/QĐ-UBND", "signer": "Trương Văn Sáu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 646/QĐ-UBND 2014 quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Mang Thít Vĩnh Long đến 2020

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Mang Thít đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu như sau:
...
3. Phát triển các ngành và lĩnh vực:
a) Nông nghiệp, thuỷ sản:
Tiếp tục định hướng đầu tư cho phát triển nông nghiệp toàn diện, tổ chức sản xuất theo hướng chuyên canh, thâm canh tăng năng suất, tăng chất lượng sản phẩm, an toàn dịch bệnh; phát huy những vùng sản suất nguyên liệu phục vụ chế biến đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, nguồn nước và nguồn nhân lực. Tăng cường công tác phòng trừ dịch bệnh trên cây trồng; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao, phù hợp với nhu cầu của thị trường. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân hàng năm (giá cố định 1994) ngành nông - lâm nghiệp - thuỷ sản giai đoạn 2011 - 2015 là 4,00%, giai đoạn 2016 - 2020 tăng 4,50%; cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp - thuỷ sản chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng thuỷ sản.
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ nhất là công nghệ cao nhằm tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành sản phẩm và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tập trung đầu tư cơ giới hoá trong các khâu làm đất, thu hoạch, phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản sau thu hoạch nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm.
Phát triển các vùng chuyên canh lúa và cây ăn trái đặc sản của huyện, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng từ 17.090 ha năm 2010 lên 19.032 ha năm 2015 và 18.785 ha năm 2020. Diện tích gieo trồng lúa cả năm ổn định ở mức 16.286 ha, sản lượng lúa ổn định ở mức 85.000 - 87.000 tấn; diện tích gieo trồng rau, đậu thực phẩm các loại tăng từ 1.407 ha năm 2010 lên 2.584 ha năm 2015 và 3.000 ha năm 2020; diện tích trồng cây lâu năm tăng từ 3.857 ha năm 2010 lên 4.387 ha năm 2015 và 4.749 ha năm 2020. Trong đó, một số vùng trồng cây ăn trái tập trung kết hợp với phát triển du lịch sinh thái miệt vườn khoảng 2.500 ha, chủ yếu ở các xã ven sông Cổ chiên, Măng Thít.
Phát triển các hình thức chăn nuôi theo mô hình sinh học với quy mô trang trại vừa và lớn, từng bước chăn nuôi nhỏ lẻ lại theo hướng chuyên nghiệp, có kiểm soát, đảm bảo vệ sinh thú y, không gây ô nhiễm môi trường. Coi trọng công tác đầu tư nâng cao chất lượng con giống nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Tăng cường công tác thú y, phòng trừ dịch bệnh. Đầu tư xây dựng các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung đảm bảo cung cấp nguồn thực phẩm sạch, chất lượng cao, giá thành hợp lý, tăng tính cạnh tranh trên thị trường.
Phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản theo hướng tập trung, liên kết sản xuất theo hướng nuôi công nghiệp, áp dụng các quy trình nuôi công nghệ cao, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đa dạng các đối tượng và hình thức nuôi phù hợp với điều kiện của huyện như nuôi trong ao, mương vườn, nuôi xen lúa…; chú trọng các loại thuỷ sản mới có giá trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ ổn định như cá lóc, rô phi, thát lát cườm, v.v… Tổng sản lượng thuỷ sản nuôi trồng và khai thác đạt 32.479 tấn năm 2015 và 43.645 tấn năm 2020.
b) Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên cơ sở phát huy các nguồn lực của mọi thành phần kinh tế; ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông thuỷ sản, đóng tàu, cơ khí chế tạo, may mặc, giày da, chế biến thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng gia dụng, bao bì các loại, vật liệu trang trí nội thất, dịch vụ trung chuyển và vận chuyển kho bãi, cảng, v.v…
Tổ chức lại và tiếp tục phát huy thế mạnh ngành sản xuất gạch, gốm mỹ nghệ xuất khẩu trên cơ sở quy hoạch, theo hướng áp dụng công nghệ mới, ít ô nhiễm môi trường và xác định đây vẫn là sản phẩm chủ lực của huyện trong thời gian tới. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển ngành nghề ở nông thôn, gắn với sử dụng nguyên liệu và thu hút nhiều lao động tại chỗ; ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm; duy trì và phát triển, nâng chất lượng hoạt động các làng nghề thủ công truyền thống; khai thác tốt lợi thế của các làng nghề, tuyến công nghiệp để phát triển kinh tế.
Duy trì, củng cố và phát triển các làng nghề đã được công nhận như các làng nghề sản xuất gạch ngói ở xã An Phước, Mỹ Phước, Chánh An, Nhơn Phú, v.v… Ứng dụng những công nghệ mới sản xuất để tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.
Tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện (giá cố định 1994) từ 550 tỷ đồng năm 2010, tăng lên 950 tỷ đồng năm 2015 và 1.700 tỷ đồng năm 2020. Tốc độ gia tăng bình quân giai đoạn 2011- 2015 là 11,5%/năm và giai đoạn 2016 - 2020 là 12,5%/năm.
c) Phát triển các ngành dịch vụ:
c.1) Thương mại du lịch:
c.1.1) Phát triển thương mại:
Phát triển đa dạng các loại hình kinh doanh thương mại dịch vụ, phù hợp với mức thu nhập của nhiều đối tượng, nhiều tầng lớp dân cư, trong đó chú trọng phục vụ các vùng dân cư nông thôn, có mức thu nhập thấp, đồng thời đáp ứng nhu cầu của một bộ phận dân cư có mức thu nhập cao. Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá địa phương, đảm bảo lưu thông hàng hoá đến các vùng nông thôn, đáp ứng yêu cầu cung ứng vật tư thiết bị phục vụ sản xuất và tiêu dùng của dân cư.
Tranh thủ các nguồn vốn đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại và siêu thị tại thị trấn Cái Nhum, hoàn chỉnh hạ tầng các chợ xã nông thôn phù hợp với quy hoạch phát triển ngành thương mại. Phát triển các chợ nông thôn, điểm bán hàng tổng hợp phục vụ nhu cầu của người lao động tại tuyến công nghiệp Cổ Chiên và các cụm công nghiệp, làng nghề sản xuất gạch, gốm, v.v… Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực thương mại, nhằm ổn định thị trường, giá cả, phát triển nhanh các hình thức kinh doanh văn minh, hiện đại.
c.1.2) Phát triển du lịch:
Tập trung phát triển các loại hình du lịch phù hợp với điều kiện phát triển của huyện như du lịch sinh thái miệt vườn, du lịch tham quan vùng sông nước kết hợp với tham quan di tích lịch sử và làng nghề. Tăng cường đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng du lịch trên địa bàn. Gắn kết chặt chẽ giữa phát triển du lịch của huyện Mang Thít với các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh và các tuyến du lịch liên tỉnh. Đào tạo đội ngũ những người làm công tác du lịch có tác phong cung cách phục vụ tốt, lành nghề và mang nét đặc trưng của địa phương. Chú trọng phát triển các dịch vụ phục vụ du lịch như nhà hàng, cửa hàng buôn bán trái cây, hàng lưu niệm, hoạt động văn nghệ đờn ca tài tử, v.v...
Tổng số lượt khách du lịch tăng từ 12.736 lượt người năm 2015 lên 26.732 lượt người năm 2020, tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2016 - 2020 là 16,0%; khách lưu trú tăng từ 8.215 lượt người năm 2015 và 18.347 lượt người năm 2020, tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2016 - 2020 là 17,4%.
c.2) Dịch vụ vận tải:
Phát triển dịch vụ vận tải hành khách và hàng hoá cả đường bộ và đường thuỷ theo hướng nâng cao chất lượng, an toàn, đáp ứng nhu cầu vận chuyển ngày càng cao của địa phương, tham gia vào các tuyến vận tải liên huyện, liên tỉnh; coi trọng phát triển phương tiện vận chuyển hành khách công cộng.
Đa dạng hoá các hình thức vận tải trên địa bàn huyện, phát huy lợi thế tuyến vận tải đường sông, đường bộ, các bến bãi hiện có để phát triển du lịch; tăng cường phát triển các dịch vụ vận chuyển đường sông kết hợp với xây dựng hệ thống kho bãi, bến cảng đường thuỷ.
Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư mở rộng quy mô kinh doanh, phát triển số lượng phương tiện vận tải, bao gồm cả đường bộ và đường thuỷ, tăng nhanh khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá, phục vụ tốt cho sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và nâng cao đời sống nhân dân, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thêm nguồn thu cho ngân sách.
c.3) Dịch vụ bưu chính viễn thông:
Đảm bảo thông tin thông suốt, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thông tin liên lạc, phục vụ tốt cho phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an toàn hệ thống thông tin. Nâng cấp dung lượng tổng đài ở bưu cục trung tâm và các bưu cục khu vực nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và yêu cầu công nghệ thông tin ngày càng hiện đại, phủ sóng di động đều khắp toàn phạm vi huyện. Gắn tin học hoá quản lý hành chính nhà nước với xây dựng nền hành chính điện tử; đẩy mạnh đào tạo, phổ cập kiến thức tin học và internet cho người dân, tạo điều kiện thuận lợi cho họ có cơ hội khai thác thông tin điện tử trên mạng internet phục vụ cho sản xuất và đời sống.
Giai đoạn 2011 - 2015: Phát triển hệ thống cáp quang, tăng công suất tổng đài cho bưu điện trung tâm huyện, kết hợp với hệ thống vi ba số, phủ sóng di động đều khắp 100% các xã trong huyện; nâng tần suất các tuyến đường cấp III nội huyện lên 2 chuyến/ngày. Bảo đảm 100% cơ quan cấp huyện sử dụng dịch vụ ADSL và kết nối mạng LAN, kết nối WAN; 70% doanh nghiệp kết nối internet và từng bước phát triển thương mại điện tử.
Giai đoạn 2016 - 2020: Phát triển mạng di động theo công nghệ Wimax và phủ sóng toàn huyện, lắp đặt mạng Wifi trong các trường học và cơ quan; tất cả các xã đều sử dụng mạng LAN, kết nối WAN ; 100% doanh nghiệp sử dụng internet và phát triển kinh doanh thương mại qua mạng; 80% hộ gia đình có thể truy cập internet và 70% giao dịch tín dụng, thuế và hành chính thông qua mạng internet.
c.4) Tài chính - ngân hàng:
Nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính, tín dụng theo hướng văn minh, hiện đại và đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh và hội nhập quốc tế.
c.5) Các lĩnh vực dịch vụ khác:
Phát triển mạnh các lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm, tư vấn pháp lý, thông tin thị trường, v.v... Đặc biệt, coi trọng phát triển dịch vụ kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản, chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; mở rộng các hình thức tư vấn kinh tế, kỹ thuật và chuyển giao công nghệ.
d) Giáo dục và đào tạo:
d.1) Giáo dục:
Giáo dục mầm non: Định hướng mỗi xã có 1-2 trường mẫu giáo và bố trí thành nhiều điểm thuận lợi cho trẻ đi học, khuyến khích phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập phù hợp với yêu cầu và điều kiện phát triển của địa phương. Tỷ lệ trẻ em dưới 3 tuổi đến nhóm, lớp mầm non đạt 6,05% năm 2015 và 6,15% năm 2020. Phấn đấu huy động số trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo đến lớp đạt 80% vào năm 2015 và 85% năm 2020. Bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên mầm non đảm bảo đủ về số lượng và có 30-35% đạt chuẩn trong giai đoạn 2011 - 2015; tỷ lệ giáo viên mầm non có trình độ từ cao đẳng trở lên đạt 45-50% vào năm 2020.
Giáo dục tiểu học: Duy trì thường xuyên tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi học tiểu học đến trường đạt 100%. Tăng số lớp học 2 buổi chiếm từ 18 - 20% so với tổng số lớp tiểu học năm 2010 lên 30 - 35% năm 2015 và 50 - 60% năm 2020. Tỷ lệ học sinh hoàn thành tiểu học ở độ tuổi 11 tăng từ 90% năm 2010 lên 92,0% năm 2015 và trên 95% năm 2020. Tiếp tục đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy, đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, phấn đấu đến năm 2015 có 25-30% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn, năm 2020 là 45-50%.
Trung học cơ sở: Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị, đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, tăng tỷ lệ giáo viên trên chuẩn. Tỷ lệ giáo viên trên chuẩn tăng từ 15% năm 2010 lên 25 - 30% năm 2015 và 45 - 50% năm 2020. Năm 2015 huy động 85% số em đến tuổi đi học đến trường và năm 2020 là 90%; tỷ lệ tốt nghiệp đạt 85 - 95%.
Trung học phổ thông: Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị, đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, tăng tỷ lệ giáo viên trên chuẩn, giáo viên sử dụng thành thạo công nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học; áp dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học mới. Tăng cường quản lý chất lượng giáo dục trung học phổ thông, thực hiện tốt việc phân luồng học sinh từ trung học cơ sở vào trung học phổ thông. Phấn đấu năm 2015 số học sinh trong độ tuổi đến trường là 75% và năm 2020 là 80%.
Giáo dục thường xuyên: Phát triển đa dạng các hình thức giáo dục và đào tạo, xây dựng mô hình mẫu về xã hội học tập, đảm bảo cho số học sinh không đủ điều kiện học phổ thông và người lớn tuổi được tiếp tục đi học, được nâng cao kiến thức, kỹ năng thiết thực để có thể tiếp tục tham gia các chương trình giáo dục liên thông, đa dạng và đáp ứng được yêu cầu của công việc.
d.2) Đào tạo và dạy nghề:
Tăng cường tuyển sinh đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn lao động theo nhu cầu của xã hội, nhu cầu của doanh nghiệp đáp ứng không chỉ của địa phương mà còn cho các địa phương khác. Kết hợp chặt chẽ nhiều hình thức đào tạo, coi trọng đào tạo tập trung chính quy, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển đào tạo nghề ngắn hạn, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng nông thôn mới. Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn, đảm bảo lao động có tay nghề qua đào tạo đến năm 2015 là 40% và năm 2020 là 50%.
e) Y tế và chăm sóc sức khoẻ:
Thực hiện tốt chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế, nâng cao sức khoẻ công đồng, chất lượng dân số theo quan điểm dự phòng tích cực, giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh phòng bệnh, rèn luyện thân thể, nâng cao hiệu quả điều trị bệnh.
Duy trì kết quả thanh toán bại liệt, phòng chống sốt rét, sốt xuất huyết, loại trừ uốn ván sơ sinh, hạn chế tốc độ lây nhiễm HIV/AIDS. Tăng cường công tác phòng chống dịch, kiểm soát chặt chẽ các dịch bệnh nguy hiểm, nhất là các loại dịch bệnh mới phát sinh. Nâng cao hiệu quả hoạt động của chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình, công tác vệ sinh an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh phát triển và nâng cao chất lượng bảo hiểm y tế tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân. Đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hoá ngành y tế, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ y tế; thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế tham gia nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
Đầu tư xây dựng bệnh viện đa khoa huyện, trung tâm y tế huyện. Coi trọng công tác tuyển dụng đưa đi đào tạo đội ngũ cán bộ y tế, nâng cao trình độ sử dụng các thiết bị và công nghệ hiện đại trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh. Từng bước đầu tư hiện đại hoá trang thiết bị y tế ở cả tuyến huyện và xã. Tiếp tục duy trì 100% trạm y tế xã có bác sĩ, y sĩ sản, nhi và thầy thuốc đông y. Đến năm 2015, các ấp có nhân viên y tế cộng đồng, các trường phổ thông có 1 - 2 cán bộ y tế.
Tổng số cán bộ y tế và dược tăng từ 202 người năm 2010 lên 225 người năm 2015 và 259 người năm 2020; trong đó, số bác sĩ và trình độ cao hơn tăng từ 35 người năm 2010 lên 45 người năm 2015 và 70 người năm 2020. Số bác sĩ bình quân trên 1 vạn dân tăng từ 4 người năm 2010 lên 7 người năm 2015 và 12 người năm 2020.
f) Văn hoá, thông tin, thể dục - thể thao:
f.1) Văn hoá, thông tin:
Phát triển hệ thống thiết chế văn hoá, thông tin cơ sở; nâng cấp, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá đã được công nhận, đa dạng các hoạt động về cội nguồn gắn với các hoạt động du lịch, vui chơi giải trí, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá tinh thần cho người dân và giáo dục ý thức bảo vệ nền văn hoá dân tộc; xây dựng và nâng cao chất lượng gia đình văn hoá, đưa cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và “xây dựng nếp sống văn minh nơi công cộng” đi vào chiều sâu. Đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hoá mới ở nông thôn, góp phần đẩy nhanh việc hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Phấn đấu đến năm 2015, mỗi xã, thị trấn có ít nhất 90% số ấp, khóm được huyện công nhận đạt văn hoá, có 25% số xã được công nhận xã văn hoá nông thôn mới và năm 2020, có 50% số xã được công nhận là xã văn hoá nông thôn mới.
Nâng cao chất lượng và hình thức tuyên truyền các hoạt động văn hoá, thông tin. Đẩy mạnh hoạt động thông tin tuyên truyền, cổ động trực quan theo hướng hiện đại, văn minh, phù hợp; thông tin đầy đủ, kịp thời các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước đến mọi người dân. Nâng cấp và đảm bảo hoạt động tốt đài truyền thanh huyện, nội dung chương trình của đài truyền thanh địa phương sát với yêu cầu nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền gương người tốt việc tốt và thực hiện tốt việc tiếp âm đài tiếng nói Việt Nam, đài phát thanh tỉnh, phát chương trình địa phương. Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các đội thông tin lưu động, đảm bảo đưa các nội dung thông tin, tuyên truyền cổ động đến với nhân dân kịp thời, chính xác và hiệu quả.
f.2) Thể dục - thể thao:
Tiếp tục thực hiện và đẩy mạnh cuộc vận động “toàn dân rèn luyện thể dục thể thao theo gương Bác Hồ vĩ đại” với tiêu chí, nội dung và phương thức tổ chức mới phù hợp với điều kiện về kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên của huyện. Phát triển mạnh phong trào thể dục - thể thao trong lực lượng cán bộ công chức, lực lượng vũ trang, trong trường học làm hạt nhân thúc đẩy phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển.
Phấn đấu số người thường xuyên luyện tập thể dục thể thao khoảng 35 - 40% dân số năm 2015 và 50% vào năm 2020; số học sinh tham gia rèn luyện thể chất 100%, xây dựng trường chuẩn có đầy đủ sân thể dục thể thao cho học sinh. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị thể dục thể thao đồng bộ và theo hướng hiện đại.
g) Các vấn đề xã hội khác:
Đẩy mạnh sản xuất, phấn đấu đạt các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đi đôi với phân bố lại dân cư hợp lý trên địa bàn, nhất là các xã vùng sâu. Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ nhu cầu sản xuất và đời sống của người dân bằng việc xây dựng các cụm, tuyến dân cư tập trung, ổn định để có điều kiện cải thiện cơ sở vật chất, phát triển trí lực, thể lực và đào tạo dạy nghề cho lao động trẻ, cung cấp lao động cho các ngành kinh tế.
Chú trọng công tác giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ, điều chuyển lao động trong nội bộ huyện bằng cách phân bố lại dân cư hợp lý theo lãnh thổ. Thông qua các dự án đầu tư về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp để giải quyết việc làm.
Phấn đấu đến năm 2015 giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 3%, đến năm 2020 tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 2% (theo tiêu chí mới). Đến năm 2015 có 99,5% số hộ sử dụng điện, có 98,5% số hộ dân đô thị và 60% số hộ nông thôn sử dụng nước sạch; đến năm 2020 có 100% số hộ sử dụng điện, có 100% số hộ dân đô thị và 80% số hộ nông thôn sử dụng nước sạch.

Content:
Phát triển các ngành và lĩnh vực:
a) Nông nghiệp, thuỷ sản:
Tiếp tục định hướng đầu tư cho phát triển nông nghiệp toàn diện, tổ chức sản xuất theo hướng chuyên canh, thâm canh tăng năng suất, tăng chất lượng sản phẩm, an toàn dịch bệnh; phát huy những vùng sản suất nguyên liệu phục vụ chế biến đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, nguồn nước và nguồn nhân lực. Tăng cường công tác phòng trừ dịch bệnh trên cây trồng; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao, phù hợp với nhu cầu của thị trường. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân hàng năm (giá cố định 1994) ngành nông - lâm nghiệp - thuỷ sản giai đoạn 2011 - 2015 là 4,00%, giai đoạn 2016 - 2020 tăng 4,50%; cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp - thuỷ sản chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng thuỷ sản.
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ nhất là công nghệ cao nhằm tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành sản phẩm và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tập trung đầu tư cơ giới hoá trong các khâu làm đất, thu hoạch, phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản sau thu hoạch nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm.
Phát triển các vùng chuyên canh lúa và cây ăn trái đặc sản của huyện, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng từ 17.090 ha năm 2010 lên 19.032 ha năm 2015 và 18.785 ha năm 2020. Diện tích gieo trồng lúa cả năm ổn định ở mức 16.286 ha, sản lượng lúa ổn định ở mức 85.000 - 87.000 tấn; diện tích gieo trồng rau, đậu thực phẩm các loại tăng từ 1.407 ha năm 2010 lên 2.584 ha năm 2015 và 3.000 ha năm 2020; diện tích trồng cây lâu năm tăng từ 3.857 ha năm 2010 lên 4.387 ha năm 2015 và 4.749 ha năm 2020. Trong đó, một số vùng trồng cây ăn trái tập trung kết hợp với phát triển du lịch sinh thái miệt vườn khoảng 2.500 ha, chủ yếu ở các xã ven sông Cổ chiên, Măng Thít.
Phát triển các hình thức chăn nuôi theo mô hình sinh học với quy mô trang trại vừa và lớn, từng bước chăn nuôi nhỏ lẻ lại theo hướng chuyên nghiệp, có kiểm soát, đảm bảo vệ sinh thú y, không gây ô nhiễm môi trường. Coi trọng công tác đầu tư nâng cao chất lượng con giống nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Tăng cường công tác thú y, phòng trừ dịch bệnh. Đầu tư xây dựng các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung đảm bảo cung cấp nguồn thực phẩm sạch, chất lượng cao, giá thành hợp lý, tăng tính cạnh tranh trên thị trường.
Phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản theo hướng tập trung, liên kết sản xuất theo hướng nuôi công nghiệp, áp dụng các quy trình nuôi công nghệ cao, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đa dạng các đối tượng và hình thức nuôi phù hợp với điều kiện của huyện như nuôi trong ao, mương vườn, nuôi xen lúa…; chú trọng các loại thuỷ sản mới có giá trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ ổn định như cá lóc, rô phi, thát lát cườm, v.v… Tổng sản lượng thuỷ sản nuôi trồng và khai thác đạt 32.479 tấn năm 2015 và 43.645 tấn năm 2020.
b) Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên cơ sở phát huy các nguồn lực của mọi thành phần kinh tế; ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông thuỷ sản, đóng tàu, cơ khí chế tạo, may mặc, giày da, chế biến thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng gia dụng, bao bì các loại, vật liệu trang trí nội thất, dịch vụ trung chuyển và vận chuyển kho bãi, cảng, v.v…
Tổ chức lại và tiếp tục phát huy thế mạnh ngành sản xuất gạch, gốm mỹ nghệ xuất khẩu trên cơ sở quy hoạch, theo hướng áp dụng công nghệ mới, ít ô nhiễm môi trường và xác định đây vẫn là sản phẩm chủ lực của huyện trong thời gian tới. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển ngành nghề ở nông thôn, gắn với sử dụng nguyên liệu và thu hút nhiều lao động tại chỗ; ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm; duy trì và phát triển, nâng chất lượng hoạt động các làng nghề thủ công truyền thống; khai thác tốt lợi thế của các làng nghề, tuyến công nghiệp để phát triển kinh tế.
Duy trì, củng cố và phát triển các làng nghề đã được công nhận như các làng nghề sản xuất gạch ngói ở xã An Phước, Mỹ Phước, Chánh An, Nhơn Phú, v.v… Ứng dụng những công nghệ mới sản xuất để tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.
Tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện (giá cố định 1994) từ 550 tỷ đồng năm 2010, tăng lên 950 tỷ đồng năm 2015 và 1.700 tỷ đồng năm 2020. Tốc độ gia tăng bình quân giai đoạn 2011- 2015 là 11,5%/năm và giai đoạn 2016 - 2020 là 12,5%/năm.
c) Phát triển các ngành dịch vụ:
c.1) Thương mại du lịch:
c.1.1) Phát triển thương mại:
Phát triển đa dạng các loại hình kinh doanh thương mại dịch vụ, phù hợp với mức thu nhập của nhiều đối tượng, nhiều tầng lớp dân cư, trong đó chú trọng phục vụ các vùng dân cư nông thôn, có mức thu nhập thấp, đồng thời đáp ứng nhu cầu của một bộ phận dân cư có mức thu nhập cao. Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá địa phương, đảm bảo lưu thông hàng hoá đến các vùng nông thôn, đáp ứng yêu cầu cung ứng vật tư thiết bị phục vụ sản xuất và tiêu dùng của dân cư.
Tranh thủ các nguồn vốn đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại và siêu thị tại thị trấn Cái Nhum, hoàn chỉnh hạ tầng các chợ xã nông thôn phù hợp với quy hoạch phát triển ngành thương mại. Phát triển các chợ nông thôn, điểm bán hàng tổng hợp phục vụ nhu cầu của người lao động tại tuyến công nghiệp Cổ Chiên và các cụm công nghiệp, làng nghề sản xuất gạch, gốm, v.v… Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực thương mại, nhằm ổn định thị trường, giá cả, phát triển nhanh các hình thức kinh doanh văn minh, hiện đại.
c.1.2) Phát triển du lịch:
Tập trung phát triển các loại hình du lịch phù hợp với điều kiện phát triển của huyện như du lịch sinh thái miệt vườn, du lịch tham quan vùng sông nước kết hợp với tham quan di tích lịch sử và làng nghề. Tăng cường đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng du lịch trên địa bàn. Gắn kết chặt chẽ giữa phát triển du lịch của huyện Mang Thít với các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh và các tuyến du lịch liên tỉnh. Đào tạo đội ngũ những người làm công tác du lịch có tác phong cung cách phục vụ tốt, lành nghề và mang nét đặc trưng của địa phương. Chú trọng phát triển các dịch vụ phục vụ du lịch như nhà hàng, cửa hàng buôn bán trái cây, hàng lưu niệm, hoạt động văn nghệ đờn ca tài tử, v.v...
Tổng số lượt khách du lịch tăng từ 12.736 lượt người năm 2015 lên 26.732 lượt người năm 2020, tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2016 - 2020 là 16,0%; khách lưu trú tăng từ 8.215 lượt người năm 2015 và 18.347 lượt người năm 2020, tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2016 - 2020 là 17,4%.
c.2) Dịch vụ vận tải:
Phát triển dịch vụ vận tải hành khách và hàng hoá cả đường bộ và đường thuỷ theo hướng nâng cao chất lượng, an toàn, đáp ứng nhu cầu vận chuyển ngày càng cao của địa phương, tham gia vào các tuyến vận tải liên huyện, liên tỉnh; coi trọng phát triển phương tiện vận chuyển hành khách công cộng.
Đa dạng hoá các hình thức vận tải trên địa bàn huyện, phát huy lợi thế tuyến vận tải đường sông, đường bộ, các bến bãi hiện có để phát triển du lịch; tăng cường phát triển các dịch vụ vận chuyển đường sông kết hợp với xây dựng hệ thống kho bãi, bến cảng đường thuỷ.
Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư mở rộng quy mô kinh doanh, phát triển số lượng phương tiện vận tải, bao gồm cả đường bộ và đường thuỷ, tăng nhanh khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá, phục vụ tốt cho sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và nâng cao đời sống nhân dân, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thêm nguồn thu cho ngân sách.
c.3) Dịch vụ bưu chính viễn thông:
Đảm bảo thông tin thông suốt, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thông tin liên lạc, phục vụ tốt cho phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an toàn hệ thống thông tin. Nâng cấp dung lượng tổng đài ở bưu cục trung tâm và các bưu cục khu vực nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và yêu cầu công nghệ thông tin ngày càng hiện đại, phủ sóng di động đều khắp toàn phạm vi huyện. Gắn tin học hoá quản lý hành chính nhà nước với xây dựng nền hành chính điện tử; đẩy mạnh đào tạo, phổ cập kiến thức tin học và internet cho người dân, tạo điều kiện thuận lợi cho họ có cơ hội khai thác thông tin điện tử trên mạng internet phục vụ cho sản xuất và đời sống.
Giai đoạn 2011 - 2015: Phát triển hệ thống cáp quang, tăng công suất tổng đài cho bưu điện trung tâm huyện, kết hợp với hệ thống vi ba số, phủ sóng di động đều khắp 100% các xã trong huyện; nâng tần suất các tuyến đường cấp III nội huyện lên 2 chuyến/ngày. Bảo đảm 100% cơ quan cấp huyện sử dụng dịch vụ ADSL và kết nối mạng LAN, kết nối WAN; 70% doanh nghiệp kết nối internet và từng bước phát triển thương mại điện tử.
Giai đoạn 2016 - 2020: Phát triển mạng di động theo công nghệ Wimax và phủ sóng toàn huyện, lắp đặt mạng Wifi trong các trường học và cơ quan; tất cả các xã đều sử dụng mạng LAN, kết nối WAN ; 100% doanh nghiệp sử dụng internet và phát triển kinh doanh thương mại qua mạng; 80% hộ gia đình có thể truy cập internet và 70% giao dịch tín dụng, thuế và hành chính thông qua mạng internet.
c.4) Tài chính - ngân hàng:
Nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính, tín dụng theo hướng văn minh, hiện đại và đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh và hội nhập quốc tế.
c.5) Các lĩnh vực dịch vụ khác:
Phát triển mạnh các lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm, tư vấn pháp lý, thông tin thị trường, v.v... Đặc biệt, coi trọng phát triển dịch vụ kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản, chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; mở rộng các hình thức tư vấn kinh tế, kỹ thuật và chuyển giao công nghệ.
d) Giáo dục và đào tạo:
d.1) Giáo dục:
Giáo dục mầm non: Định hướng mỗi xã có 1-2 trường mẫu giáo và bố trí thành nhiều điểm thuận lợi cho trẻ đi học, khuyến khích phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập phù hợp với yêu cầu và điều kiện phát triển của địa phương. Tỷ lệ trẻ em dưới 3 tuổi đến nhóm, lớp mầm non đạt 6,05% năm 2015 và 6,15% năm 2020. Phấn đấu huy động số trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo đến lớp đạt 80% vào năm 2015 và 85% năm 2020. Bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên mầm non đảm bảo đủ về số lượng và có 30-35% đạt chuẩn trong giai đoạn 2011 - 2015; tỷ lệ giáo viên mầm non có trình độ từ cao đẳng trở lên đạt 45-50% vào năm 2020.
Giáo dục tiểu học: Duy trì thường xuyên tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi học tiểu học đến trường đạt 100%. Tăng số lớp học 2 buổi chiếm từ 18 - 20% so với tổng số lớp tiểu học năm 2010 lên 30 - 35% năm 2015 và 50 - 60% năm 2020. Tỷ lệ học sinh hoàn thành tiểu học ở độ tuổi 11 tăng từ 90% năm 2010 lên 92,0% năm 2015 và trên 95% năm 2020. Tiếp tục đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy, đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, phấn đấu đến năm 2015 có 25-30% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn, năm 2020 là 45-50%.
Trung học cơ sở: Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị, đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, tăng tỷ lệ giáo viên trên chuẩn. Tỷ lệ giáo viên trên chuẩn tăng từ 15% năm 2010 lên 25 - 30% năm 2015 và 45 - 50% năm 2020. Năm 2015 huy động 85% số em đến tuổi đi học đến trường và năm 2020 là 90%; tỷ lệ tốt nghiệp đạt 85 - 95%.
Trung học phổ thông: Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị, đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, tăng tỷ lệ giáo viên trên chuẩn, giáo viên sử dụng thành thạo công nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học; áp dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học mới. Tăng cường quản lý chất lượng giáo dục trung học phổ thông, thực hiện tốt việc phân luồng học sinh từ trung học cơ sở vào trung học phổ thông. Phấn đấu năm 2015 số học sinh trong độ tuổi đến trường là 75% và năm 2020 là 80%.
Giáo dục thường xuyên: Phát triển đa dạng các hình thức giáo dục và đào tạo, xây dựng mô hình mẫu về xã hội học tập, đảm bảo cho số học sinh không đủ điều kiện học phổ thông và người lớn tuổi được tiếp tục đi học, được nâng cao kiến thức, kỹ năng thiết thực để có thể tiếp tục tham gia các chương trình giáo dục liên thông, đa dạng và đáp ứng được yêu cầu của công việc.
d.2) Đào tạo và dạy nghề:
Tăng cường tuyển sinh đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn lao động theo nhu cầu của xã hội, nhu cầu của doanh nghiệp đáp ứng không chỉ của địa phương mà còn cho các địa phương khác. Kết hợp chặt chẽ nhiều hình thức đào tạo, coi trọng đào tạo tập trung chính quy, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển đào tạo nghề ngắn hạn, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng nông thôn mới. Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn, đảm bảo lao động có tay nghề qua đào tạo đến năm 2015 là 40% và năm 2020 là 50%.
e) Y tế và chăm sóc sức khoẻ:
Thực hiện tốt chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế, nâng cao sức khoẻ công đồng, chất lượng dân số theo quan điểm dự phòng tích cực, giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh phòng bệnh, rèn luyện thân thể, nâng cao hiệu quả điều trị bệnh.
Duy trì kết quả thanh toán bại liệt, phòng chống sốt rét, sốt xuất huyết, loại trừ uốn ván sơ sinh, hạn chế tốc độ lây nhiễm HIV/AIDS. Tăng cường công tác phòng chống dịch, kiểm soát chặt chẽ các dịch bệnh nguy hiểm, nhất là các loại dịch bệnh mới phát sinh. Nâng cao hiệu quả hoạt động của chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình, công tác vệ sinh an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh phát triển và nâng cao chất lượng bảo hiểm y tế tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân. Đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hoá ngành y tế, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ y tế; thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế tham gia nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
Đầu tư xây dựng bệnh viện đa khoa huyện, trung tâm y tế huyện. Coi trọng công tác tuyển dụng đưa đi đào tạo đội ngũ cán bộ y tế, nâng cao trình độ sử dụng các thiết bị và công nghệ hiện đại trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh. Từng bước đầu tư hiện đại hoá trang thiết bị y tế ở cả tuyến huyện và xã. Tiếp tục duy trì 100% trạm y tế xã có bác sĩ, y sĩ sản, nhi và thầy thuốc đông y. Đến năm 2015, các ấp có nhân viên y tế cộng đồng, các trường phổ thông có 1 - 2 cán bộ y tế.
Tổng số cán bộ y tế và dược tăng từ 202 người năm 2010 lên 225 người năm 2015 và 259 người năm 2020; trong đó, số bác sĩ và trình độ cao hơn tăng từ 35 người năm 2010 lên 45 người năm 2015 và 70 người năm 2020. Số bác sĩ bình quân trên 1 vạn dân tăng từ 4 người năm 2010 lên 7 người năm 2015 và 12 người năm 2020.
f) Văn hoá, thông tin, thể dục - thể thao:
f.1) Văn hoá, thông tin:
Phát triển hệ thống thiết chế văn hoá, thông tin cơ sở; nâng cấp, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá đã được công nhận, đa dạng các hoạt động về cội nguồn gắn với các hoạt động du lịch, vui chơi giải trí, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá tinh thần cho người dân và giáo dục ý thức bảo vệ nền văn hoá dân tộc; xây dựng và nâng cao chất lượng gia đình văn hoá, đưa cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và “xây dựng nếp sống văn minh nơi công cộng” đi vào chiều sâu. Đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hoá mới ở nông thôn, góp phần đẩy nhanh việc hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Phấn đấu đến năm 2015, mỗi xã, thị trấn có ít nhất 90% số ấp, khóm được huyện công nhận đạt văn hoá, có 25% số xã được công nhận xã văn hoá nông thôn mới và năm 2020, có 50% số xã được công nhận là xã văn hoá nông thôn mới.
Nâng cao chất lượng và hình thức tuyên truyền các hoạt động văn hoá, thông tin. Đẩy mạnh hoạt động thông tin tuyên truyền, cổ động trực quan theo hướng hiện đại, văn minh, phù hợp; thông tin đầy đủ, kịp thời các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước đến mọi người dân. Nâng cấp và đảm bảo hoạt động tốt đài truyền thanh huyện, nội dung chương trình của đài truyền thanh địa phương sát với yêu cầu nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền gương người tốt việc tốt và thực hiện tốt việc tiếp âm đài tiếng nói Việt Nam, đài phát thanh tỉnh, phát chương trình địa phương. Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các đội thông tin lưu động, đảm bảo đưa các nội dung thông tin, tuyên truyền cổ động đến với nhân dân kịp thời, chính xác và hiệu quả.
f.2) Thể dục - thể thao:
Tiếp tục thực hiện và đẩy mạnh cuộc vận động “toàn dân rèn luyện thể dục thể thao theo gương Bác Hồ vĩ đại” với tiêu chí, nội dung và phương thức tổ chức mới phù hợp với điều kiện về kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên của huyện. Phát triển mạnh phong trào thể dục - thể thao trong lực lượng cán bộ công chức, lực lượng vũ trang, trong trường học làm hạt nhân thúc đẩy phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển.
Phấn đấu số người thường xuyên luyện tập thể dục thể thao khoảng 35 - 40% dân số năm 2015 và 50% vào năm 2020; số học sinh tham gia rèn luyện thể chất 100%, xây dựng trường chuẩn có đầy đủ sân thể dục thể thao cho học sinh. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị thể dục thể thao đồng bộ và theo hướng hiện đại.
g) Các vấn đề xã hội khác:
Đẩy mạnh sản xuất, phấn đấu đạt các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đi đôi với phân bố lại dân cư hợp lý trên địa bàn, nhất là các xã vùng sâu. Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ nhu cầu sản xuất và đời sống của người dân bằng việc xây dựng các cụm, tuyến dân cư tập trung, ổn định để có điều kiện cải thiện cơ sở vật chất, phát triển trí lực, thể lực và đào tạo dạy nghề cho lao động trẻ, cung cấp lao động cho các ngành kinh tế.
Chú trọng công tác giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ, điều chuyển lao động trong nội bộ huyện bằng cách phân bố lại dân cư hợp lý theo lãnh thổ. Thông qua các dự án đầu tư về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp để giải quyết việc làm.
Phấn đấu đến năm 2015 giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 3%, đến năm 2020 tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 2% (theo tiêu chí mới). Đến năm 2015 có 99,5% số hộ sử dụng điện, có 98,5% số hộ dân đô thị và 60% số hộ nông thôn sử dụng nước sạch; đến năm 2020 có 100% số hộ sử dụng điện, có 100% số hộ dân đô thị và 80% số hộ nông thôn sử dụng nước sạch.