Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1622/QĐ-TTg 2022 phê duyệt Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021 2030

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "27/12/2022", "sign_number": "1622/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "27/12/2022", "sign_number": "1622/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "27/12/2022", "sign_number": "1622/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "27/12/2022", "sign_number": "1622/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "27/12/2022", "sign_number": "1622/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1622/QĐ-TTg 2022 phê duyệt Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021 2030

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Bảo vệ tài nguyên nước cả về số lượng và chất lượng, kết hợp hài hòa giữa bảo vệ với duy trì, phát triển nguồn sinh thủy, nâng cao khả năng tích trữ nước, phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; hợp tác, chia sẻ công bằng và hợp lý tài nguyên nước xuyên biên giới. Phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra với phương châm phòng ngừa là chính, giảm thiểu tối đa tổn thất.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
Đảm bảo an ninh nguồn nước quốc gia. Quản lý, bảo vệ, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước; điều hòa, phân phối, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra đảm bảo cân bằng giữa nhu cầu cho dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, giảm thiểu tối đa thiệt hại tính mạng và tài sản của nhân dân; kiểm soát chất lượng, trữ lượng các nguồn nước, nâng cao khả năng tích trữ nước trên các lưu vực sông, vùng kinh tế, địa phương, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phù hợp với chức năng và khả năng đáp ứng của nguồn nước trong điều kiện biến đổi khí hậu. Hướng tới quản trị tổng hợp ngành nước trên nền tảng công nghệ số; quản lý, sử dụng tài nguyên nước theo chu trình tuần hoàn, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, phục vụ đa mục tiêu, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững.
2. Mục tiêu đến năm 2030
- Điều hòa, phân phối tài nguyên nước công bằng, hợp lý giữa các ngành, địa phương, các đối tượng khai thác, sử dụng nước theo quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh, đảm bảo chiến lược phát triển kinh tế, an sinh xã hội.
- Đến năm 2025, 100% lưu vực sông lớn, quan trọng có quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh.
- Đảm bảo nguồn nước góp phần nâng tỷ lệ sử dụng nước sạch cho mục đích sinh hoạt của dân cư đô thị đạt 95% - 100% và 65% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch.
- Kiểm soát cơ bản 90% các hoạt động khai thác, sử dụng nước; nâng cao hiệu quả, năng lực khai thác, sử dụng nước và giảm tối đa thất thoát nước trong hệ thống các công trình thủy lợi; giảm tỷ lệ thất thoát nước trong hoạt động cấp nước xuống 10%.
- Khắc phục hiệu quả tình trạng hạn hán, thiếu nước vào mùa khô ở các lưu vực sông, các vùng khó tiếp cận nguồn nước, đặc biệt là các vùng Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, vùng sâu, vùng xa và các đảo.
- Bảo vệ, kiểm soát, ngăn chặn và giảm thiểu tối đa tình trạng gia tăng suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước, phấn đấu đến năm 2030 thu gom, xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trước khi xả ra môi trường đạt từ 30% tổng lượng nước thải tại các đô thị loại II trở lên và 10% tại các đô thị từ loại V trở lên.
- Cải thiện, phục hồi các nguồn nước quan trọng bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm, ưu tiên các đoạn sông chảy qua khu vực dân cư tập trung, các nguồn nước có vai trò quan trọng cho cấp nước sinh hoạt, các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội theo hướng xã hội hóa, đặc biệt là trên dòng chính sông Hồng, sông Cả, sông Vu Gia - Thu Bồn và sông Ba.
- Hoàn thành việc khoanh định, công bố vùng hạn chế khai thác nước dưới đất; các ao, hồ, đầm, phá không được san lấp; phòng, chống sụt, lún do khai thác nước dưới đất.
- Hoàn thành việc lập, công bố hành lang bảo vệ nguồn nước, đảm bảo lưu thông dòng chảy, phòng, chống sạt, lở bờ, bãi sông, giảm thiểu tác hại do nước gây ra.
- Bảo vệ các nguồn nước liên quan đến hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, có giá trị cao về đa dạng sinh học, bảo tồn văn hóa.
- Nâng cao mức đảm bảo an ninh nguồn nước quốc gia lên nhóm các quốc gia đảm bảo an ninh tài nguyên nước hiệu quả trong khu vực Đông Nam Á.
- Quản trị ngành nước trên nền tảng công nghệ số, đáp ứng yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông và thích ứng với biến đổi khí hậu.
3. Tầm nhìn đến năm 2050
Nâng chỉ số an ninh nguồn nước quốc gia lên nhóm các quốc gia đảm bảo an ninh nguồn nước hiệu quả trên thế giới. Hướng tới chủ động về nguồn nước trong mọi tình huống, dự báo, điều tiết nước, phòng ngừa lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, ứng phó với biến đổi khí hậu.
III. PHẠM VI QUY HOẠCH
Quy hoạch tài nguyên nước định hướng quản lý, điều hòa, phân phối, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra trên phạm vi toàn quốc, theo các vùng phát triển kinh tế - xã hội, theo các lưu vực sông, cụ thể như sau:
1. Các vùng phát triển kinh tế - xã hội
a) Vùng trung du, miền núi Bắc bộ: gồm 14 tỉnh (Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái) thuộc thượng, trung lưu lưu vực sông Hồng - Thái Bình (khoảng 79% diện tích vùng), lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng (khoảng 12% diện tích vùng) và một phần thượng lưu lưu vực sông Mã (khoảng 9% diện tích vùng).
b) Vùng đồng bằng sông Hồng: gồm 11 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh), thuộc hạ lưu của lưu vực sông Hồng - Thái Bình (khoảng 86% diện tích vùng) và thuộc các sông độc lập ven biển Quảng Ninh (khoảng 14% diện tích vùng).
c) Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung: gồm 14 tỉnh, thành phố (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận) thuộc lưu vực sông Mã, sông Cả, sông Hương, Vu Gia - Thu Bồn, sông Trà Khúc, Kôn - Hà Thanh, các sông ven biển từ Quảng Bình đến Bình Thuận (khoảng 86% diện tích vùng), một phần hạ lưu lưu vực sông Ba và sông Đồng Nai (khoảng 14% diện tích vùng).
d) Vùng Tây Nguyên: gồm 5 tỉnh (Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng) thuộc lưu vực sông Sê San, sông Srêpốk (khoảng 57% diện tích vùng), một phần thượng lưu lưu vực sông Đồng Nai (khoảng 21% diện tích vùng) và phần thượng lưu lưu vực sông Ba (khoảng 22% diện tích vùng).
đ) Vùng Đông Nam Bộ: gồm 6 tỉnh, thành phố (Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh) chủ yếu thuộc lưu vực sông Đồng Nai (khoảng 92% diện tích vùng) và nhóm lưu vực sông Ray và phụ cận thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (chiếm 8% diện tích vùng).
e) Vùng đồng bằng sông Cửu Long: gồm 13 tỉnh, thành phố (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau) phần lớn thuộc lưu vực sông Cửu Long (khoảng 93% diện tích vùng), một phần thuộc lưu vực sông Đồng Nai (khoảng 7% diện tích vùng).
2. Các lưu vực sông gồm: 13 lưu vực sông lớn (Bằng Giang - Kỳ Cùng, Hồng - Thái Bình, Mã, Cả, Hương, Vu Gia - Thu Bồn, Trà Khúc, Kôn - Hà Thanh, Ba, Sê San, Srêpok, Đồng Nai, Cửu Long), nhóm lưu vực sông ven biển trên lãnh thổ Việt Nam.
3. Các đảo: Vân Đồn, Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc. Đối với quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và các đảo nhỏ khác được nghiên cứu thực hiện trong các quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành và quy hoạch tỉnh.
IV. QUẢN LÝ, ĐIỀU HÒA, PHÂN PHỐI, KHAI THÁC, SỬ DỤNG, BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC, PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI DO NƯỚC GÂY RA
1. Về tài nguyên nước
a) Tổng lượng nước trung bình nhiều năm trên phạm vi toàn quốc khoảng 935,9 tỷ m3/năm, trong đó:
- Nguồn nước mặt: khoảng 844,4 tỷ m3/năm (mùa lũ: 3 - 5 tháng, chiếm khoảng 72%; mùa cạn: 7-9 tháng, chiếm khoảng 28%), lượng nước nội sinh khoảng 340 tỷ m3/năm (chiếm khoảng 40%), lượng nước ngoại sinh khoảng 504,4 tỷ m3/năm (chiếm khoảng 60%); tổng dung tích trữ của các hồ chứa (thủy lợi, thủy điện) có quy mô từ 0,05 triệu m3 trở lên khoảng 68,7 tỷ m3.
- Nguồn nước dưới đất: khoảng 91,5 tỷ m3/năm (trong đó nước mặn khoảng 22,4 tỷ m3/năm, nước nhạt khoảng 69,1 tỷ m3/năm).
b) Về phân bố tài nguyên nước:
- Nước mặt: phân bố ở lưu vực sông Cửu Long 474,1 tỷ m3/năm (chiếm khoảng 56,2%), Hồng - Thái Bình khoảng 148,3 tỷ m3/năm (chiếm khoảng 18%), Đồng Nai khoảng 40 tỷ m3/năm (chiếm khoảng 4,7%), 10 lưu vực sông lớn còn lại và các lưu vực sông ven biển chiếm khoảng 21,1% tổng lượng nước.
- Nước dưới đất: phân bố ở lưu vực sông Cửu Long 25,8 tỷ m3/năm (chiếm khoảng 28,2%), Hồng - Thái Bình khoảng 22,1 tỷ m3/năm (chiếm 24,1%), Đồng Nai khoảng 11,6 tỷ m3/năm (chiếm 12,7%), các lưu vực sông còn lại chiếm 35% tổng lượng nước.
(Tài nguyên nước theo các vùng, lưu vực sông, theo mùa chi tiết được thể hiện tại Phụ lục I kèm theo Quyết định này).
c) Tổng lượng nước bình quân trên đầu người khoảng 9.589 m3/người/năm, trong đó lượng nước nội sinh khoảng 4.421 m3/người/năm.
d) Nguồn nước mặt vẫn là nguồn cung cấp chủ yếu cho các nhu cầu nước của các ngành và cho phát triển kinh tế - xã hội trên hầu hết các vùng, các lưu vực sông trong thời kỳ quy hoạch.
Đối với các vùng thường xuyên bị xâm nhập mặn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo, vùng khan hiếm nước, khó tiếp cận nguồn nước mặt, cần tăng cường tìm kiếm, sử dụng nguồn nước dưới đất, khuyến khích khai thác, sử dụng nguồn nước mưa, các giải pháp trữ nước mưa, nước mặt phục vụ cấp nước sinh hoạt, sản xuất, đặc biệt là các vùng Tây Nguyên thuộc các lưu vực sông Sê San, SrêPốk và thượng lưu sông Đồng Nai; vùng trung du và miền núi phía Bắc, vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long.
2. Phân phối nguồn nước theo các vùng, các lưu vực sông
a) Việc phân phối nguồn nước phải bảo đảm linh hoạt, công bằng, hiệu quả, hợp lý giữa các đối tượng khai thác, sử dụng nước trên các vùng, các lưu vực sông trên cơ sở hiện trạng, chức năng nguồn nước, yêu cầu duy trì dòng chảy tối thiểu, ngưỡng khai thác nước dưới đất và khả năng đáp ứng của nguồn nước nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước đến năm 2030 khoảng 122,5 tỷ m3/năm, đến năm 2050 khoảng 131,7 tỷ m3/năm (chi tiết tại Phụ lục II kèm theo Quyết định này) và đảm bảo nguyên tắc sau:
- Trong mọi trường hợp, ưu tiên đảm bảo cấp nước cho sinh hoạt.
- Trong điều kiện bình thường thực hiện phân phối đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho các ngành theo nhu cầu đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước. Thứ tự ưu tiên thay đổi theo vùng, lưu vực sông, theo mùa và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
- Trong trường hợp hạn hán thiếu nước phải hạn chế phân phối nguồn nước cho các hoạt động sử dụng nhiều nước, chưa cấp thiết để ưu tiên cho mục đích sinh hoạt và các hoạt động sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả. Phương án phân bổ phải căn cứ trên cơ sở mức độ hạn hán thiếu nước và quy định rõ trách nhiệm cụ thể của các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương để triển khai các giải pháp ứng phó đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, hiệu quả.
- Hạn chế phân phối nguồn nước cho các đối tượng sử dụng nước không hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí, đặc biệt các khu vực khan hiếm nước, thường xuyên xảy ra hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn.
- Có giải pháp kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng nước của các ngành, trong đó rà soát, xem xét giảm tỷ trọng cấp nước các ngành sử dụng nước không tiết kiệm, không hiệu quả. Ưu tiên cấp nước cho các nhu cầu thiết yếu, các ngành sử dụng nước đem lại hiệu quả kinh tế cao.
b) Kiểm soát, điều hòa, phân phối với lưu lượng phù hợp tại các công trình chuyển nước trong lưu vực sông có quy mô lớn, để bảo đảm không làm suy thoái, cạn kiệt dòng chảy hạ du, nâng cao hiệu quả cấp nước trên dòng chính các sông lớn, quan trọng thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung và vùng đồng bằng sông Cửu Long như: cống Xuân Quan (Hồng - Thái Bình), đập Bái Thượng (Mã), đập Đô Lương và Cống Nam Đàn (Cả), hệ thống đập An Trạch, Hà Thanh, Thanh Quýt, Bàu Nít (Vu Gia - Thu Bồn), đập Thạch Nham (Trà Khúc), đập Đồng Cam (Ba), đập Văn Phong và hệ thống đập dâng ở hạ lưu (Kôn - Hà Thanh) và hệ thống công trình (cống) phân ranh vùng sản xuất theo vùng sinh thái nước ngọt, vùng sinh thái nước lợ, vùng sinh thái nước mặn lưu vực sông Cửu Long,...
c) Chuyển nước giữa các lưu vực sông:
- Trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 hạn chế việc bổ sung các công trình chuyển nước giữa các lưu vực sông lớn. Trường hợp cần thiết phải thực hiện chuyển nước giữa các lưu vực sông lớn thì căn cứ vào kết quả đánh giá chi tiết về các tác động đến kinh tế, xã hội, môi trường của lưu vực sông chuyển nước và lưu vực sông được chuyển nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương có liên quan tổng hợp báo cáo, đề xuất Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo hoặc quyết định điều chỉnh bổ sung theo thẩm quyền nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển kinh tế - xã hội.
Nâng cao hiệu quả các công trình chuyển nước liên lưu vực hiện có (sông Vu Gia sang sông Thu Bồn, sông Ba sang sông Kôn, sông Sê San sang sông Trà Khúc, sông Đồng Nai sang các sông ven biển Ninh Thuận, Bình Thuận,...), nhằm đảm bảo giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực đến hạ du lưu vực sông chuyển nước, tăng cường hiệu quả sử dụng nước, đảm bảo công bằng hợp lý đối với các lưu vực sông được chuyển nước.
- Đối với việc chuyển nước giữa các tiểu lưu vực sông phải đảm bảo tuân thủ theo quy hoạch tỉnh, quy hoạch tổng hợp lưu vực sông đã được phê duyệt. Trường hợp quy hoạch tỉnh, quy hoạch tổng hợp lưu vực sông không quy định cụ thể hoặc chưa phê duyệt thì cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước theo thẩm quyền căn cứ vào kết quả đánh giá chi tiết về các tác động kinh tế - xã hội, môi trường của lưu vực sông chuyển và lưu vực sông được chuyển xem xét quyết định việc chuyển nước.
d) Huy động tối đa, nâng cao hiệu quả vai trò điều tiết các hồ thủy điện, thủy lợi lớn quan trọng hiện có trên 11 lưu vực sông lớn (Hồng, Mã, Cả, Hương, Vu Gia - Thu Bồn, Trà Khúc, Ba, Kôn - Hà Thanh, Sê San, SrêPốk, Đồng Nai) và các hồ chứa vừa và lớn trên các lưu vực sông độc lập ven biển trong việc điều hòa, cấp nước cho hạ du, bảo đảm phù hợp với điều kiện nguồn lực, nhu cầu khai thác và khả năng đáp ứng nguồn nước.
Rà soát, nâng cao năng lực, hiệu quả các công trình lấy nước phù hợp với điều kiện nguồn nước, đặc biệt là các công trình, hệ thống thủy lợi lớn ở hạ lưu các lưu vực sông để bảo đảm sử dụng nước hiệu quả, giảm thiểu tối đa thất thoát, lãng phí nước.
đ) Công trình điều tiết, khai thác, sử dụng nước quy mô lớn:
Các công trình điều tiết, khai thác, sử dụng nước quy mô lớn như hồ chứa, đập dâng và các công trình khác có vai trò quan trọng trong điều tiết, cấp nước trên các lưu vực sông được thể hiện tại Phụ lục số V kèm theo Quyết định này.
- Trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 hạn chế việc bổ sung công trình điều tiết, khai thác, sử dụng nước quy mô lớn trên sông Thao và ở hạ du trên dòng chính các lưu vực sông lớn, lưu vực sông độc lập ven biển. Trường hợp cần thiết phải bổ sung, căn cứ vào đề xuất của các cơ quan, đơn vị liên quan, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương có liên quan xem xét, thẩm định nội dung liên quan đến nguồn nước, tổng hợp báo cáo, đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
- Nghiên cứu bổ sung công trình phát triển nguồn nước có quy mô lớn trên các dòng nhánh theo hướng sử dụng nước đa mục tiêu (xây mới hồ chứa, xem xét điều chỉnh tăng khả năng tích, trữ nước và sử dụng phần dung tích chết của các hồ chứa hiện có) trên một số lưu vực sông như sông Mã, sông Cả, sông Vu Gia - Thu Bồn, sông Ba, sông Sê San, sông SrêPốk và sông Đồng Nai.
- Việc đầu tư, xây mới các công trình khai thác tài nguyên nước phải bảo đảm đa mục tiêu, tiết kiệm, hiệu quả. Việc đề xuất, điều chỉnh, bổ sung được thực hiện theo quy hoạch tổng hợp lưu vực sông nơi dự kiến xây dựng công trình.
Trường hợp quy hoạch tổng hợp lưu vực sông chưa thể hiện cụ thể hoặc chưa phê duyệt, căn cứ khả năng nguồn nước, hiện trạng khai thác, mục đích khai thác, hiệu quả kinh tế - xã hội của công trình, yêu cầu về bảo vệ môi trường, phòng chống tác hại do nước gây ra,... Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương có liên quan xem xét, thẩm định nội dung liên quan đến nguồn nước và tổng hợp báo cáo, đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Đối với các công trình thuộc các lưu vực sông không phải lập quy hoạch tổng hợp lưu vực sông, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi xây dựng công trình hoặc Bộ chủ trì xây dựng quy hoạch, lấy ý kiến Bộ Tài nguyên và Môi trường trước khi bổ sung công trình vào quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch tỉnh, quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành quy định của pháp luật về quy hoạch.
3. Bảo vệ tài nguyên nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra
a) Các nguồn nước phải được phân vùng chức năng làm cơ sở để thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ, phát triển tài nguyên nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra.
b) Phát triển nguồn sinh thủy: duy trì, bảo vệ diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng và khôi phục diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn bị suy thoái để bảo vệ nguồn sinh thủy trên các vùng, các lưu vực sông trên toàn quốc, đặc biệt là các vùng trung du miền núi phía Bắc, vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên; bảo vệ miền cấp nước dưới đất, đặc biệt là miền cấp cho nước dưới đất vùng đồng bằng sông Hồng, vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng Đông Nam Bộ và các khu vực đồng bằng ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung.
c) Tăng cường bảo vệ nguồn nước có chức năng cấp nước sinh hoạt và một số chức năng quan trọng khác:
- Bảo đảm nguồn nước cho cấp nước sinh hoạt trên các lưu vực sông, đặc biệt cho các đô thị lớn ở hạ lưu các lưu vực sông như thành phố Hà Nội thuộc lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình; thành phố Đà Nẵng thuộc lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn; tỉnh Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh thuộc lưu vực sông Đồng Nai.
- Bảo vệ, duy trì nguồn nước cho đa dạng sinh học, hệ sinh thái thủy sinh và các hoạt động du lịch, lễ hội văn hóa gắn với nguồn nước đối với các lưu vực sông, đặc biệt các lưu vực sông Hương, Vu Gia - Thu Bồn, Sê San, SrêPốk, Đồng Nai và lưu vực sông Cửu Long.
d) Cải thiện, phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm:
- Cải thiện, phục hồi các dòng sông, đoạn sông bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm có vai trò quan trọng trong việc cấp nước, duy trì bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh. Ưu tiên thực hiện đối với sông cầu, sông Ngũ Huyện Khê, sông Nhuệ, sông Đáy, sông Bắc Hưng Hải thuộc vùng đồng bằng sông Hồng; sông Vu Gia, hạ lưu sông Trà Khúc sau đập Thạch Nham thuộc vùng duyên hải miền Trung; thượng lưu sông Ba sau đập An Khê thuộc vùng Tây Nguyên và khu vực hạ lưu sông Đồng Nai thuộc vùng Đông Nam Bộ.
- Phục hồi các tầng chứa nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; tăng cường bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất, đặc biệt là việc bổ sung nhân tạo từ nguồn nước mưa tại các khu vực đô thị, ưu tiên thực hiện đối với thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long.
đ) Phòng, chống suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước:
- Hạn chế gia tăng lưu lượng khai thác nước dưới đất hoặc có các giải pháp khai thác hợp lý ở khu vực đô thị có nguy cơ hạ thấp mực nước quá mức, sụt lún đất để đảm bảo không vượt ngưỡng giới hạn về mực nước, lưu lượng. Có kế hoạch, lộ trình điều chỉnh việc khai thác nước dưới đất hợp lý tại những khu vực có nguy cơ hạ thấp mực nước quá mức, ô nhiễm, xâm nhập mặn hoặc có nguy cơ sụt, lún đất.
Điều chỉnh lưu lượng khai thác hợp lý ở các khu vực đã bị khai thác quá mức phù hợp với điều kiện thực tế, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và một số địa phương khác như Đồng Nai và Bình Dương ở lưu vực sông Đồng Nai thuộc vùng Đông Nam Bộ.
- Xây dựng và thực hiện lộ trình, phương án khai thác luân phiên giữa nguồn nước mặt trong mùa mưa, nước dưới đất trong mùa khô tại những khu vực nguồn nước mặt thường xuyên bị nhiễm mặn vào mùa khô. Có các giải pháp bổ cập từ nguồn nước mưa, nước mặt trong mùa mưa cho nước dưới đất, đặc biệt đối với các khu vực khan hiếm nước mặt và các khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất.
- Giảm thiểu tối đa tình trạng suy giảm mực nước trên các sông, bảo đảm các yêu cầu về mực nước cho các hoạt động khai thác nước trên sông, hoạt động giao thông thủy, bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt hạ lưu lưu vực sông Hồng - Thái Bình thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, hạ lưu lưu vực sông Mã, sông Cả... thuộc vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung.
- Kiểm soát chặt chẽ hoạt động xả nước thải từ các cơ sở sản xuất, khu đô thị, khu dân cư tập trung để bảo đảm chức năng nguồn nước theo quy định.
e) Phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra:
- Quy hoạch xây dựng các khu đô thị, khu dân cư, công trình giao thông, các hoạt động sản xuất ven sông không được gây cản trở dòng chảy, không gây ngập úng nhân tạo, đảm bảo khả năng tiêu thoát nước; tăng cường biện pháp quản lý không được san lấp các hồ, ao trong khu dân cư có chức năng phòng chống ngập úng.
- Tăng cường quản lý các hoạt động khai thác cát, sỏi và khoáng sản khác, hoạt động giao thông thủy trên sông; các hoạt động ven sông như xây dựng khu đô thị, khu dân cư, các hoạt động sản xuất khác có tác động đến gia tăng sạt lở lòng, bờ bãi sông, đặc biệt là các dòng sông có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho các công trình lấy nước quy mô lớn, các hoạt động giao thông thủy quan trọng.

Content:
Bảo vệ tài nguyên nước cả về số lượng và chất lượng, kết hợp hài hòa giữa bảo vệ với duy trì, phát triển nguồn sinh thủy, nâng cao khả năng tích trữ nước, phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; hợp tác, chia sẻ công bằng và hợp lý tài nguyên nước xuyên biên giới. Phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra với phương châm phòng ngừa là chính, giảm thiểu tối đa tổn thất.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
Đảm bảo an ninh nguồn nước quốc gia. Quản lý, bảo vệ, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước; điều hòa, phân phối, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra đảm bảo cân bằng giữa nhu cầu cho dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, giảm thiểu tối đa thiệt hại tính mạng và tài sản của nhân dân; kiểm soát chất lượng, trữ lượng các nguồn nước, nâng cao khả năng tích trữ nước trên các lưu vực sông, vùng kinh tế, địa phương, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phù hợp với chức năng và khả năng đáp ứng của nguồn nước trong điều kiện biến đổi khí hậu. Hướng tới quản trị tổng hợp ngành nước trên nền tảng công nghệ số; quản lý, sử dụng tài nguyên nước theo chu trình tuần hoàn, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, phục vụ đa mục tiêu, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững.
2. Mục tiêu đến năm 2030
- Điều hòa, phân phối tài nguyên nước công bằng, hợp lý giữa các ngành, địa phương, các đối tượng khai thác, sử dụng nước theo quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh, đảm bảo chiến lược phát triển kinh tế, an sinh xã hội.
- Đến năm 2025, 100% lưu vực sông lớn, quan trọng có quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh.
- Đảm bảo nguồn nước góp phần nâng tỷ lệ sử dụng nước sạch cho mục đích sinh hoạt của dân cư đô thị đạt 95% - 100% và 65% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch.
- Kiểm soát cơ bản 90% các hoạt động khai thác, sử dụng nước; nâng cao hiệu quả, năng lực khai thác, sử dụng nước và giảm tối đa thất thoát nước trong hệ thống các công trình thủy lợi; giảm tỷ lệ thất thoát nước trong hoạt động cấp nước xuống 10%.
- Khắc phục hiệu quả tình trạng hạn hán, thiếu nước vào mùa khô ở các lưu vực sông, các vùng khó tiếp cận nguồn nước, đặc biệt là các vùng Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, vùng sâu, vùng xa và các đảo.
- Bảo vệ, kiểm soát, ngăn chặn và giảm thiểu tối đa tình trạng gia tăng suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước, phấn đấu đến năm 2030 thu gom, xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trước khi xả ra môi trường đạt từ 30% tổng lượng nước thải tại các đô thị loại II trở lên và 10% tại các đô thị từ loại V trở lên.
- Cải thiện, phục hồi các nguồn nước quan trọng bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm, ưu tiên các đoạn sông chảy qua khu vực dân cư tập trung, các nguồn nước có vai trò quan trọng cho cấp nước sinh hoạt, các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội theo hướng xã hội hóa, đặc biệt là trên dòng chính sông Hồng, sông Cả, sông Vu Gia - Thu Bồn và sông Ba.
- Hoàn thành việc khoanh định, công bố vùng hạn chế khai thác nước dưới đất; các ao, hồ, đầm, phá không được san lấp; phòng, chống sụt, lún do khai thác nước dưới đất.
- Hoàn thành việc lập, công bố hành lang bảo vệ nguồn nước, đảm bảo lưu thông dòng chảy, phòng, chống sạt, lở bờ, bãi sông, giảm thiểu tác hại do nước gây ra.
- Bảo vệ các nguồn nước liên quan đến hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, có giá trị cao về đa dạng sinh học, bảo tồn văn hóa.
- Nâng cao mức đảm bảo an ninh nguồn nước quốc gia lên nhóm các quốc gia đảm bảo an ninh tài nguyên nước hiệu quả trong khu vực Đông Nam Á.
- Quản trị ngành nước trên nền tảng công nghệ số, đáp ứng yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Tầm nhìn đến năm 2050
Nâng chỉ số an ninh nguồn nước quốc gia lên nhóm các quốc gia đảm bảo an ninh nguồn nước hiệu quả trên thế giới. Hướng tới chủ động về nguồn nước trong mọi tình huống, dự báo, điều tiết nước, phòng ngừa lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, ứng phó với biến đổi khí hậu.
III. PHẠM VI QUY HOẠCH
Quy hoạch tài nguyên nước định hướng quản lý, điều hòa, phân phối, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra trên phạm vi toàn quốc, theo các vùng phát triển kinh tế - xã hội, theo các lưu vực sông, cụ thể như sau:
1. Các vùng phát triển kinh tế - xã hội
a) Vùng trung du, miền núi Bắc bộ: gồm 14 tỉnh (Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái) thuộc thượng, trung lưu lưu vực sông Hồng - Thái Bình (khoảng 79% diện tích vùng), lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng (khoảng 12% diện tích vùng) và một phần thượng lưu lưu vực sông Mã (khoảng 9% diện tích vùng).
b) Vùng đồng bằng sông Hồng: gồm 11 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh), thuộc hạ lưu của lưu vực sông Hồng - Thái Bình (khoảng 86% diện tích vùng) và thuộc các sông độc lập ven biển Quảng Ninh (khoảng 14% diện tích vùng).
c) Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung: gồm 14 tỉnh, thành phố (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận) thuộc lưu vực sông Mã, sông Cả, sông Hương, Vu Gia - Thu Bồn, sông Trà Khúc, Kôn - Hà Thanh, các sông ven biển từ Quảng Bình đến Bình Thuận (khoảng 86% diện tích vùng), một phần hạ lưu lưu vực sông Ba và sông Đồng Nai (khoảng 14% diện tích vùng).
d) Vùng Tây Nguyên: gồm 5 tỉnh (Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng) thuộc lưu vực sông Sê San, sông Srêpốk (khoảng 57% diện tích vùng), một phần thượng lưu lưu vực sông Đồng Nai (khoảng 21% diện tích vùng) và phần thượng lưu lưu vực sông Ba (khoảng 22% diện tích vùng).
đ) Vùng Đông Nam Bộ: gồm 6 tỉnh, thành phố (Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh) chủ yếu thuộc lưu vực sông Đồng Nai (khoảng 92% diện tích vùng) và nhóm lưu vực sông Ray và phụ cận thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (chiếm 8% diện tích vùng).
e) Vùng đồng bằng sông Cửu Long: gồm 13 tỉnh, thành phố (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau) phần lớn thuộc lưu vực sông Cửu Long (khoảng 93% diện tích vùng), một phần thuộc lưu vực sông Đồng Nai (khoảng 7% diện tích vùng).
2. Các lưu vực sông gồm: 13 lưu vực sông lớn (Bằng Giang - Kỳ Cùng, Hồng - Thái Bình, Mã, Cả, Hương, Vu Gia - Thu Bồn, Trà Khúc, Kôn - Hà Thanh, Ba, Sê San, Srêpok, Đồng Nai, Cửu Long), nhóm lưu vực sông ven biển trên lãnh thổ Việt Nam.
Các đảo: Vân Đồn, Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc. Đối với quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và các đảo nhỏ khác được nghiên cứu thực hiện trong các quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành và quy hoạch tỉnh.
IV. QUẢN LÝ, ĐIỀU HÒA, PHÂN PHỐI, KHAI THÁC, SỬ DỤNG, BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC, PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI DO NƯỚC GÂY RA
1. Về tài nguyên nước
a) Tổng lượng nước trung bình nhiều năm trên phạm vi toàn quốc khoảng 935,9 tỷ m3/năm, trong đó:
- Nguồn nước mặt: khoảng 844,4 tỷ m3/năm (mùa lũ: 3 - 5 tháng, chiếm khoảng 72%; mùa cạn: 7-9 tháng, chiếm khoảng 28%), lượng nước nội sinh khoảng 340 tỷ m3/năm (chiếm khoảng 40%), lượng nước ngoại sinh khoảng 504,4 tỷ m3/năm (chiếm khoảng 60%); tổng dung tích trữ của các hồ chứa (thủy lợi, thủy điện) có quy mô từ 0,05 triệu m3 trở lên khoảng 68,7 tỷ m3.
- Nguồn nước dưới đất: khoảng 91,5 tỷ m3/năm (trong đó nước mặn khoảng 22,4 tỷ m3/năm, nước nhạt khoảng 69,1 tỷ m3/năm).
b) Về phân bố tài nguyên nước:
- Nước mặt: phân bố ở lưu vực sông Cửu Long 474,1 tỷ m3/năm (chiếm khoảng 56,2%), Hồng - Thái Bình khoảng 148,3 tỷ m3/năm (chiếm khoảng 18%), Đồng Nai khoảng 40 tỷ m3/năm (chiếm khoảng 4,7%), 10 lưu vực sông lớn còn lại và các lưu vực sông ven biển chiếm khoảng 21,1% tổng lượng nước.
- Nước dưới đất: phân bố ở lưu vực sông Cửu Long 25,8 tỷ m3/năm (chiếm khoảng 28,2%), Hồng - Thái Bình khoảng 22,1 tỷ m3/năm (chiếm 24,1%), Đồng Nai khoảng 11,6 tỷ m3/năm (chiếm 12,7%), các lưu vực sông còn lại chiếm 35% tổng lượng nước.
(Tài nguyên nước theo các vùng, lưu vực sông, theo mùa chi tiết được thể hiện tại Phụ lục I kèm theo Quyết định này).
c) Tổng lượng nước bình quân trên đầu người khoảng 9.589 m3/người/năm, trong đó lượng nước nội sinh khoảng 4.421 m3/người/năm.
d) Nguồn nước mặt vẫn là nguồn cung cấp chủ yếu cho các nhu cầu nước của các ngành và cho phát triển kinh tế - xã hội trên hầu hết các vùng, các lưu vực sông trong thời kỳ quy hoạch.
Đối với các vùng thường xuyên bị xâm nhập mặn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo, vùng khan hiếm nước, khó tiếp cận nguồn nước mặt, cần tăng cường tìm kiếm, sử dụng nguồn nước dưới đất, khuyến khích khai thác, sử dụng nguồn nước mưa, các giải pháp trữ nước mưa, nước mặt phục vụ cấp nước sinh hoạt, sản xuất, đặc biệt là các vùng Tây Nguyên thuộc các lưu vực sông Sê San, SrêPốk và thượng lưu sông Đồng Nai; vùng trung du và miền núi phía Bắc, vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long.
2. Phân phối nguồn nước theo các vùng, các lưu vực sông
a) Việc phân phối nguồn nước phải bảo đảm linh hoạt, công bằng, hiệu quả, hợp lý giữa các đối tượng khai thác, sử dụng nước trên các vùng, các lưu vực sông trên cơ sở hiện trạng, chức năng nguồn nước, yêu cầu duy trì dòng chảy tối thiểu, ngưỡng khai thác nước dưới đất và khả năng đáp ứng của nguồn nước nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước đến năm 2030 khoảng 122,5 tỷ m3/năm, đến năm 2050 khoảng 131,7 tỷ m3/năm (chi tiết tại Phụ lục II kèm theo Quyết định này) và đảm bảo nguyên tắc sau:
- Trong mọi trường hợp, ưu tiên đảm bảo cấp nước cho sinh hoạt.
- Trong điều kiện bình thường thực hiện phân phối đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho các ngành theo nhu cầu đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước. Thứ tự ưu tiên thay đổi theo vùng, lưu vực sông, theo mùa và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
- Trong trường hợp hạn hán thiếu nước phải hạn chế phân phối nguồn nước cho các hoạt động sử dụng nhiều nước, chưa cấp thiết để ưu tiên cho mục đích sinh hoạt và các hoạt động sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả. Phương án phân bổ phải căn cứ trên cơ sở mức độ hạn hán thiếu nước và quy định rõ trách nhiệm cụ thể của các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương để triển khai các giải pháp ứng phó đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, hiệu quả.
- Hạn chế phân phối nguồn nước cho các đối tượng sử dụng nước không hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí, đặc biệt các khu vực khan hiếm nước, thường xuyên xảy ra hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn.
- Có giải pháp kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng nước của các ngành, trong đó rà soát, xem xét giảm tỷ trọng cấp nước các ngành sử dụng nước không tiết kiệm, không hiệu quả. Ưu tiên cấp nước cho các nhu cầu thiết yếu, các ngành sử dụng nước đem lại hiệu quả kinh tế cao.
b) Kiểm soát, điều hòa, phân phối với lưu lượng phù hợp tại các công trình chuyển nước trong lưu vực sông có quy mô lớn, để bảo đảm không làm suy thoái, cạn kiệt dòng chảy hạ du, nâng cao hiệu quả cấp nước trên dòng chính các sông lớn, quan trọng thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung và vùng đồng bằng sông Cửu Long như: cống Xuân Quan (Hồng - Thái Bình), đập Bái Thượng (Mã), đập Đô Lương và Cống Nam Đàn (Cả), hệ thống đập An Trạch, Hà Thanh, Thanh Quýt, Bàu Nít (Vu Gia - Thu Bồn), đập Thạch Nham (Trà Khúc), đập Đồng Cam (Ba), đập Văn Phong và hệ thống đập dâng ở hạ lưu (Kôn - Hà Thanh) và hệ thống công trình (cống) phân ranh vùng sản xuất theo vùng sinh thái nước ngọt, vùng sinh thái nước lợ, vùng sinh thái nước mặn lưu vực sông Cửu Long,...
c) Chuyển nước giữa các lưu vực sông:
- Trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 hạn chế việc bổ sung các công trình chuyển nước giữa các lưu vực sông lớn. Trường hợp cần thiết phải thực hiện chuyển nước giữa các lưu vực sông lớn thì căn cứ vào kết quả đánh giá chi tiết về các tác động đến kinh tế, xã hội, môi trường của lưu vực sông chuyển nước và lưu vực sông được chuyển nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương có liên quan tổng hợp báo cáo, đề xuất Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo hoặc quyết định điều chỉnh bổ sung theo thẩm quyền nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển kinh tế - xã hội.
Nâng cao hiệu quả các công trình chuyển nước liên lưu vực hiện có (sông Vu Gia sang sông Thu Bồn, sông Ba sang sông Kôn, sông Sê San sang sông Trà Khúc, sông Đồng Nai sang các sông ven biển Ninh Thuận, Bình Thuận,...), nhằm đảm bảo giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực đến hạ du lưu vực sông chuyển nước, tăng cường hiệu quả sử dụng nước, đảm bảo công bằng hợp lý đối với các lưu vực sông được chuyển nước.
- Đối với việc chuyển nước giữa các tiểu lưu vực sông phải đảm bảo tuân thủ theo quy hoạch tỉnh, quy hoạch tổng hợp lưu vực sông đã được phê duyệt. Trường hợp quy hoạch tỉnh, quy hoạch tổng hợp lưu vực sông không quy định cụ thể hoặc chưa phê duyệt thì cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước theo thẩm quyền căn cứ vào kết quả đánh giá chi tiết về các tác động kinh tế - xã hội, môi trường của lưu vực sông chuyển và lưu vực sông được chuyển xem xét quyết định việc chuyển nước.
d) Huy động tối đa, nâng cao hiệu quả vai trò điều tiết các hồ thủy điện, thủy lợi lớn quan trọng hiện có trên 11 lưu vực sông lớn (Hồng, Mã, Cả, Hương, Vu Gia - Thu Bồn, Trà Khúc, Ba, Kôn - Hà Thanh, Sê San, SrêPốk, Đồng Nai) và các hồ chứa vừa và lớn trên các lưu vực sông độc lập ven biển trong việc điều hòa, cấp nước cho hạ du, bảo đảm phù hợp với điều kiện nguồn lực, nhu cầu khai thác và khả năng đáp ứng nguồn nước.
Rà soát, nâng cao năng lực, hiệu quả các công trình lấy nước phù hợp với điều kiện nguồn nước, đặc biệt là các công trình, hệ thống thủy lợi lớn ở hạ lưu các lưu vực sông để bảo đảm sử dụng nước hiệu quả, giảm thiểu tối đa thất thoát, lãng phí nước.
đ) Công trình điều tiết, khai thác, sử dụng nước quy mô lớn:
Các công trình điều tiết, khai thác, sử dụng nước quy mô lớn như hồ chứa, đập dâng và các công trình khác có vai trò quan trọng trong điều tiết, cấp nước trên các lưu vực sông được thể hiện tại Phụ lục số V kèm theo Quyết định này.
- Trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 hạn chế việc bổ sung công trình điều tiết, khai thác, sử dụng nước quy mô lớn trên sông Thao và ở hạ du trên dòng chính các lưu vực sông lớn, lưu vực sông độc lập ven biển. Trường hợp cần thiết phải bổ sung, căn cứ vào đề xuất của các cơ quan, đơn vị liên quan, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương có liên quan xem xét, thẩm định nội dung liên quan đến nguồn nước, tổng hợp báo cáo, đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
- Nghiên cứu bổ sung công trình phát triển nguồn nước có quy mô lớn trên các dòng nhánh theo hướng sử dụng nước đa mục tiêu (xây mới hồ chứa, xem xét điều chỉnh tăng khả năng tích, trữ nước và sử dụng phần dung tích chết của các hồ chứa hiện có) trên một số lưu vực sông như sông Mã, sông Cả, sông Vu Gia - Thu Bồn, sông Ba, sông Sê San, sông SrêPốk và sông Đồng Nai.
- Việc đầu tư, xây mới các công trình khai thác tài nguyên nước phải bảo đảm đa mục tiêu, tiết kiệm, hiệu quả. Việc đề xuất, điều chỉnh, bổ sung được thực hiện theo quy hoạch tổng hợp lưu vực sông nơi dự kiến xây dựng công trình.
Trường hợp quy hoạch tổng hợp lưu vực sông chưa thể hiện cụ thể hoặc chưa phê duyệt, căn cứ khả năng nguồn nước, hiện trạng khai thác, mục đích khai thác, hiệu quả kinh tế - xã hội của công trình, yêu cầu về bảo vệ môi trường, phòng chống tác hại do nước gây ra,... Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương có liên quan xem xét, thẩm định nội dung liên quan đến nguồn nước và tổng hợp báo cáo, đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Đối với các công trình thuộc các lưu vực sông không phải lập quy hoạch tổng hợp lưu vực sông, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi xây dựng công trình hoặc Bộ chủ trì xây dựng quy hoạch, lấy ý kiến Bộ Tài nguyên và Môi trường trước khi bổ sung công trình vào quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch tỉnh, quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành quy định của pháp luật về quy hoạch.
Bảo vệ tài nguyên nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra
a) Các nguồn nước phải được phân vùng chức năng làm cơ sở để thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ, phát triển tài nguyên nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra.
b) Phát triển nguồn sinh thủy: duy trì, bảo vệ diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng và khôi phục diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn bị suy thoái để bảo vệ nguồn sinh thủy trên các vùng, các lưu vực sông trên toàn quốc, đặc biệt là các vùng trung du miền núi phía Bắc, vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên; bảo vệ miền cấp nước dưới đất, đặc biệt là miền cấp cho nước dưới đất vùng đồng bằng sông Hồng, vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng Đông Nam Bộ và các khu vực đồng bằng ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung.
c) Tăng cường bảo vệ nguồn nước có chức năng cấp nước sinh hoạt và một số chức năng quan trọng khác:
- Bảo đảm nguồn nước cho cấp nước sinh hoạt trên các lưu vực sông, đặc biệt cho các đô thị lớn ở hạ lưu các lưu vực sông như thành phố Hà Nội thuộc lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình; thành phố Đà Nẵng thuộc lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn; tỉnh Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh thuộc lưu vực sông Đồng Nai.
- Bảo vệ, duy trì nguồn nước cho đa dạng sinh học, hệ sinh thái thủy sinh và các hoạt động du lịch, lễ hội văn hóa gắn với nguồn nước đối với các lưu vực sông, đặc biệt các lưu vực sông Hương, Vu Gia - Thu Bồn, Sê San, SrêPốk, Đồng Nai và lưu vực sông Cửu Long.
d) Cải thiện, phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm:
- Cải thiện, phục hồi các dòng sông, đoạn sông bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm có vai trò quan trọng trong việc cấp nước, duy trì bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh. Ưu tiên thực hiện đối với sông cầu, sông Ngũ Huyện Khê, sông Nhuệ, sông Đáy, sông Bắc Hưng Hải thuộc vùng đồng bằng sông Hồng; sông Vu Gia, hạ lưu sông Trà Khúc sau đập Thạch Nham thuộc vùng duyên hải miền Trung; thượng lưu sông Ba sau đập An Khê thuộc vùng Tây Nguyên và khu vực hạ lưu sông Đồng Nai thuộc vùng Đông Nam Bộ.
- Phục hồi các tầng chứa nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; tăng cường bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất, đặc biệt là việc bổ sung nhân tạo từ nguồn nước mưa tại các khu vực đô thị, ưu tiên thực hiện đối với thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long.
đ) Phòng, chống suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước:
- Hạn chế gia tăng lưu lượng khai thác nước dưới đất hoặc có các giải pháp khai thác hợp lý ở khu vực đô thị có nguy cơ hạ thấp mực nước quá mức, sụt lún đất để đảm bảo không vượt ngưỡng giới hạn về mực nước, lưu lượng. Có kế hoạch, lộ trình điều chỉnh việc khai thác nước dưới đất hợp lý tại những khu vực có nguy cơ hạ thấp mực nước quá mức, ô nhiễm, xâm nhập mặn hoặc có nguy cơ sụt, lún đất.
Điều chỉnh lưu lượng khai thác hợp lý ở các khu vực đã bị khai thác quá mức phù hợp với điều kiện thực tế, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và một số địa phương khác như Đồng Nai và Bình Dương ở lưu vực sông Đồng Nai thuộc vùng Đông Nam Bộ.
- Xây dựng và thực hiện lộ trình, phương án khai thác luân phiên giữa nguồn nước mặt trong mùa mưa, nước dưới đất trong mùa khô tại những khu vực nguồn nước mặt thường xuyên bị nhiễm mặn vào mùa khô. Có các giải pháp bổ cập từ nguồn nước mưa, nước mặt trong mùa mưa cho nước dưới đất, đặc biệt đối với các khu vực khan hiếm nước mặt và các khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất.
- Giảm thiểu tối đa tình trạng suy giảm mực nước trên các sông, bảo đảm các yêu cầu về mực nước cho các hoạt động khai thác nước trên sông, hoạt động giao thông thủy, bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt hạ lưu lưu vực sông Hồng - Thái Bình thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, hạ lưu lưu vực sông Mã, sông Cả... thuộc vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung.
- Kiểm soát chặt chẽ hoạt động xả nước thải từ các cơ sở sản xuất, khu đô thị, khu dân cư tập trung để bảo đảm chức năng nguồn nước theo quy định.
e) Phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra:
- Quy hoạch xây dựng các khu đô thị, khu dân cư, công trình giao thông, các hoạt động sản xuất ven sông không được gây cản trở dòng chảy, không gây ngập úng nhân tạo, đảm bảo khả năng tiêu thoát nước; tăng cường biện pháp quản lý không được san lấp các hồ, ao trong khu dân cư có chức năng phòng chống ngập úng.
- Tăng cường quản lý các hoạt động khai thác cát, sỏi và khoáng sản khác, hoạt động giao thông thủy trên sông; các hoạt động ven sông như xây dựng khu đô thị, khu dân cư, các hoạt động sản xuất khác có tác động đến gia tăng sạt lở lòng, bờ bãi sông, đặc biệt là các dòng sông có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho các công trình lấy nước quy mô lớn, các hoạt động giao thông thủy quan trọng.