Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 3924/QĐ-BTP phê duyệt Đề án Cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch phân cấp việc in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch

Type: {"issuing_agency": "Bộ Tư pháp", "promulgation_date": "18/12/2009", "sign_number": "3924/QĐ-BTP", "signer": "Hà Hùng Cường", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Tư pháp", "promulgation_date": "18/12/2009", "sign_number": "3924/QĐ-BTP", "signer": "Hà Hùng Cường", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Tư pháp", "promulgation_date": "18/12/2009", "sign_number": "3924/QĐ-BTP", "signer": "Hà Hùng Cường", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Tư pháp", "promulgation_date": "18/12/2009", "sign_number": "3924/QĐ-BTP", "signer": "Hà Hùng Cường", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Tư pháp", "promulgation_date": "18/12/2009", "sign_number": "3924/QĐ-BTP", "signer": "Hà Hùng Cường", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 3924/QĐ-BTP phê duyệt Đề án Cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch phân cấp việc in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch

Điều 1. Phê duyệt Đề án "Cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch và phân cấp việc in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch" với những nội dung chính sau:
...
3. Phân cấp việc in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch
3.1. Các sổ, biểu mẫu hộ tịch do Bộ Tư pháp in, phát hành
3.1.1. Bộ Tư pháp in, phát hành 05 sổ hộ tịch
05 sổ hộ tịch được dùng chung cho đăng ký các sự kiện hộ tịch theo quy định tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP và Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, theo Mục I Danh mục I kèm theo.
Lý do Bộ Tư pháp thống nhất in, phát hành sổ hộ tịch là: trên cơ sở xác định tầm quan trọng của sổ đăng ký hộ tịch là hồ sơ gốc, là căn cứ để cấp lại bản chính, cấp bản sao từ sổ hộ tịch và cấp xác nhận về hộ tịch; do đó, yêu cầu về chất lượng của sổ hộ tịch phải được đặt lên hàng đầu để bảo đảm cho việc lưu trữ và sử dụng lâu dài. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, đa số các địa phương chưa có cơ sở in, đáp ứng yêu cầu về quy cách, chất lượng sổ hộ tịch; mặt khác in số lượng ít, giá thành cao, nên mặc dù hiện tại Bộ đã phân cấp cho Sở Tư pháp tự in các loại sổ hộ tịch để sử dụng tại địa phương, nhưng đa số Sở Tư pháp (61/63 Sở Tư pháp tỉnh, thành phố, trong đó có cả các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng...) đã hợp đồng lại với Nhà xuất bản Tư pháp in sổ hộ tịch. Để khắc phục khó khăn của địa phương trong việc in sổ hộ tịch như đã nêu ở trên, đồng thời bảo đảm chất lượng sổ hộ tịch, Bộ Tư pháp sẽ in và phát hành các loại sổ hộ tịch để sử dụng thống nhất tại các cơ quan đăng ký hộ tịch.
3.1.2. Bộ Tư pháp in, phát hành 05 biểu mẫu bản chính
05 biểu mẫu bản chính bao gồm:
- 03 biểu mẫu bản chính (Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy chứng tử), sử dụng để đăng ký các sự kiện hộ tịch theo quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, theo Mục II Danh mục I kèm theo.
- 02 biểu mẫu bản chính (Giấy chứng nhận kết hôn; Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con), sử dụng để đăng ký việc kết hôn; nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài theo quy định tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, theo Mục III Danh mục I kèm theo.
Lý do Bộ Tư pháp thống nhất in, phát hành 05 biểu mẫu bản chính là: các bản chính giấy tờ hộ tịch chỉ được cấp một lần khi đăng ký (trừ bản chính Giấy khai sinh được cấp lại). Bản chính giấy tờ hộ tịch được các cơ quan tiếp nhận hồ sơ cá nhân dùng để đối chiếu khi có nghi ngờ về tính xác thực của bản sao, bản chính còn được sử dụng để sao theo thủ tục chứng thực; vì vậy, bản chính giấy tờ hộ tịch phải in bằng giấy tốt để sử dụng lâu dài. Tuy nhiên, xét trong số các bản chính, thì có 03 loại bản chính: Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy chứng tử là các loại giấy tờ hộ tịch quan trọng, gắn liền với nhiều quyền dân sự của mỗi cá nhân và được sử dụng nhiều nhất (không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài), nên Bộ Tư pháp cần thống nhất in và phát hành. Đối với 02 bản chính (Giấy chứng nhận kết hôn; Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con) dùng để đăng ký việc kết hôn; nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài theo quy định tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, do được sử dụng chủ yếu ở nước ngoài, số lượng ít nên tiếp tục được Bộ Tư pháp in và phát hành.
3.2. Các biểu mẫu được đăng tải trên trang “Thủ tục hành chính” Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp
46 biểu mẫu hộ tịch đen trắng, không có hoa văn (bao gồm các biểu mẫu bản chính còn lại và tất cả các biểu mẫu bản sao) được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn), cơ quan đăng ký hộ tịch và người có yêu cầu đăng ký hộ tịch được quyền tự truy cập để in và sử dụng miễn phí; cụ thể là:
- 40 biểu mẫu hộ tịch sử dụng để đăng ký các sự kiện hộ tịch theo quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, theo Mục I Danh mục II kèm theo.
- 06 biểu mẫu hộ tịch sử dụng để đăng ký các sự kiện hộ tịch theo quy định tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, theo Mục II Danh mục II kèm theo.
Trong trường hợp người có yêu cầu đăng ký hộ tịch không có điều kiện tự in các biểu mẫu hộ tịch nêu trên, thì cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm cung cấp miễn phí cho người đó.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1. Cơ chế bảo đảm thực hiện Đề án
1.1. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp
1.1.1. Trách nhiệm của Vụ Hành chính tư pháp
- Thiết kế lại nội dung của các sổ, biểu mẫu hộ tịch cho phù hợp với yêu cầu của việc gộp chung sổ, biểu mẫu hộ tịch;
- Bảo đảm nội dung sổ, biểu mẫu hộ tịch trước khi in, phát hành;
- Chủ trì, phối hợp với Nhà Xuất bản Tư pháp, Cục Công nghệ thông tin đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp các loại biểu mẫu hộ tịch đen trắng, không có hoa văn, để các cơ quan đăng ký hộ tịch, người có yêu cầu đăng ký hộ tịch tự truy cập để in và sử dụng miễn phí;
- Kiểm tra, giám sát việc in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch tại Nhà Xuất bản Tư pháp và việc phát hành, sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch tại các địa phương;
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan, phát hiện và khắc phục kịp thời những hạn chế, vướng mắc phát sinh trong quá trình in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch;
- Kịp thời giải quyết những vấn đề vướng mắc phát sinh liên quan đến việc in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch thuộc chức năng quản lý của đơn vị trong quá trình tổ chức thực hiện.
1.1.2. Trách nhiệm của Nhà Xuất bản Tư pháp
- Tổ chức in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch thuộc trách nhiệm in, phát hành của Bộ Tư pháp theo đúng các quy định hiện hành. Bảo đảm đáp ứng đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của địa phương về số lượng, chất lượng sổ, biểu mẫu hộ tịch;
- Phối hợp với Vụ Hành chính tư pháp, Cục Công nghệ thông tin thiết kế chuẩn các biểu mẫu hộ tịch đen trắng, không có hoa văn, đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp để các cơ quan đăng ký hộ tịch, người có yêu cầu đăng ký hộ tịch tự truy cập để in và sử dụng miễn phí;
- Định kỳ báo cáo tình hình hoạt động in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch trước các cơ quan chức năng theo quy định;
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan phát hiện và khắc phục kịp thời những hạn chế, vướng mắc phát sinh trong quá trình in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch.
1.1.3. Trách nhiệm của Cục Công nghệ thông tin
Bảo đảm đăng tải đầy đủ trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp các biểu mẫu hộ tịch để các cơ quan, tổ chức và cá nhân thuận tiện trong việc truy cập khi có yêu cầu. Tạo điều kiện thuận tiện để các cơ quan đăng ký hộ tịch, người có yêu cầu đăng ký hộ tịch có thể tự truy cập để in và sử dụng miễn phí các biểu mẫu hộ tịch đen trắng, không có hoa văn.
1.2. Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao
- Dự báo kịp thời nhu cầu sử dụng (05 sổ và 05 biểu mẫu bản chính hộ tịch thuộc trách nhiệm in, phát hành của Bộ Tư pháp) của các Cơ quan đại diện Việt Nam gửi Nhà Xuất bản Tư pháp; bảo đảm cung cấp kịp thời, đầy đủ yêu cầu sử dung sổ, biểu mẫu hộ tịch của các Cơ quan đại diện Việt Nam;
- Kiểm tra việc phát hành, sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch tại các Cơ quan đại diện Việt Nam; kịp thời giải quyết vướng mắc và uốn nắn những thiếu sót (nếu có) trong quá trình thực hiện.
1.3. Trách nhiệm của Ủy ban nhân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
1.3.1. Bố trí đủ kinh phí cho việc mua sổ, biểu mẫu hộ tịch. Đối với những địa phương chưa có điều kiện sử dụng Internet, thì bố trí kinh phí để in các biểu mẫu hộ tịch đen trắng, không có hoa văn, đáp ứng đầy đủ yêu cầu sử dụng biểu mẫu hộ tịch của địa phương;
1.3.2. Chỉ đạo Sở Tư pháp rà soát và nắm rõ tình hình sử dung internet trong phạm vi địa phương. Đối với những địa phương đã có điều kiện sử dụng internet, thì hướng dẫn chung Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã trong địa phương cách thức truy cập mạng internet để in và sử dụng các biểu mẫu hộ tịch đen trắng, không có hoa văn; đối với những địa phương chưa có điều kiện sử dụng internet, thì Sở Tư pháp chủ động tổ chức in, phát hành các biểu mẫu hộ tịch này, đáp ứng đầy đủ yêu cầu sử dụng biểu mẫu hộ tịch trong địa phương;
1.3.3. Dự báo kịp thời nhu cầu sử dụng (05 sổ và 05 biểu mẫu bản chính hộ tịch thuộc trách nhiệm in, phát hành của Bộ Tư pháp) của các cơ quan đăng ký hộ tịch địa phương gửi Nhà Xuất bản Tư pháp; bảo đảm cung cấp kịp thời, đầy đủ yêu cầu sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch của các cơ quan đăng ký hộ tịch trong địa phương;
1.3.4. Bảo đảm sử dụng đúng mục đích khoản kinh phí được cấp cho việc mua sổ, biểu mẫu hộ tịch để cấp phát cho các cơ quan đăng ký hộ tịch trong địa phương; hướng dẫn thống nhất việc cấp miễn phí (không thu tiền) cho người dân các giấy tờ hộ tịch, kể cả các việc hộ tịch có thu lệ phí (lệ phí bao gồm tiền mua biểu mẫu hộ tịch);
1.3.5. Bảo đảm thanh toán kịp thời tiền mua sổ, biểu mẫu hộ tịch từ Nhà Xuất bản Tư pháp;
1.3.6. Kiểm tra việc phát hành, sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Uỷ ban nhân dân cấp xã trong địa phương; kịp thời giải quyết vướng mắc và uốn nắn những thiếu sót (nếu có) trong quá trình thực hiện.
Sở Tư pháp có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện các nhiệm vụ 1.3.3, 1.3.4, 1.3.5, 1.3.6 nói tại điểm này.
2. Lộ trình thực hiện
- Giai đoạn 1 (từ năm 2010 đến hết năm 2011)
+ Từ Quý I/2010, Bộ Tư pháp thực hiện in 05 sổ hộ tịch theo mẫu sổ mới. Đối với những nơi (kể cả cơ quan đăng ký hộ tịch trong nước hay các Cơ quan đại diện Việt Nam) đã sử dụng hết sổ cũ, thì sẽ mua sổ mới để sử dụng; trường hợp đã mua sổ hộ tịch (theo mẫu cũ) mà chưa sử dụng hết, thì tiếp tục sử dụng cho đến hết.
+ Đối với các biểu mẫu hộ tịch: Để thống nhất thời hạn chấm dứt việc sử dụng các biểu mẫu hộ tịch cũ (bao gồm cả bản chính và bản sao), các Sở Tư pháp và các Cơ quan đại diện Việt Nam có trách nhiệm rà soát số biểu mẫu hiện còn (đã mua từ Nhà Xuất bản tư pháp), báo cáo Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp có trách nhiệm thực hiện việc điều chuyển và in bổ sung, đáp ứng đủ yêu cầu sử dụng các biểu mẫu hộ tịch cũ trong quý I và Quý II năm 2010; bắt đầu từ quý III năm 2010 (ngày 01/7/2010), các cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ thống nhất sử dụng biểu mẫu mới (thay thế các biểu mẫu hộ tịch hiện hành).
- Giai đoạn 2 (từ năm 2012 đến hết năm 2014)
+ Năm 2012: Xây dựng Đề án triển khai việc ứng dụng phần mềm cơ sở dữ liệu về hộ tịch trên cơ sở phần mềm do Dự án hỗ trợ thể chế cho Việt Nam (ISP) tài trợ đã được triển khai tại 18 phường thuộc quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, cung cấp trang thiết bị và triển khai ở các quận nội thành thuộc 05 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng).
+ Năm 2013 đền hết năm 2014: Vận hành thí điểm đăng ký hộ tịch qua mạng Internet tại một số tỉnh, thành phố, cấp bản sao giấy tờ hộ tịch qua mạng ở các địa phương đã triển khai nối mạng; theo đó, cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ lưu trữ hồ sơ gốc (qua hệ thống mạng và hệ thống sổ hộ tịch); sau khi đăng ký hộ tịch, người dân chỉ nhận bản sao các giấy tờ hộ tịch (bỏ việc cấp bản chính). Kết nối thông tin giữa các trung tâm đăng ký hộ tịch, người dân có thể yêu cầu cấp bản sao ở bất kỳ trung tâm đăng ký hộ tịch nào trong số các địa phương đã thực hiện kết nối.
- Giai đoạn 3 (từ năm 2015 trở đi)
Đánh giá và mở rộng đăng ký hộ tịch qua mạng Internet tới các tỉnh, thành phố khác và tiến tới thống nhất chuyển hướng quản lý hộ tịch bằng dữ liệu điện tử thay cho sổ, biểu mẫu hộ tịch như hiện nay, người dân sẽ được hưởng dịch vụ đăng ký hộ tịch qua mạng Internet.

Content:
Phân cấp việc in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch
3.1. Các sổ, biểu mẫu hộ tịch do Bộ Tư pháp in, phát hành
3.1.1. Bộ Tư pháp in, phát hành 05 sổ hộ tịch
05 sổ hộ tịch được dùng chung cho đăng ký các sự kiện hộ tịch theo quy định tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP và Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, theo Mục I Danh mục I kèm theo.
Lý do Bộ Tư pháp thống nhất in, phát hành sổ hộ tịch là: trên cơ sở xác định tầm quan trọng của sổ đăng ký hộ tịch là hồ sơ gốc, là căn cứ để cấp lại bản chính, cấp bản sao từ sổ hộ tịch và cấp xác nhận về hộ tịch; do đó, yêu cầu về chất lượng của sổ hộ tịch phải được đặt lên hàng đầu để bảo đảm cho việc lưu trữ và sử dụng lâu dài. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, đa số các địa phương chưa có cơ sở in, đáp ứng yêu cầu về quy cách, chất lượng sổ hộ tịch; mặt khác in số lượng ít, giá thành cao, nên mặc dù hiện tại Bộ đã phân cấp cho Sở Tư pháp tự in các loại sổ hộ tịch để sử dụng tại địa phương, nhưng đa số Sở Tư pháp (61/63 Sở Tư pháp tỉnh, thành phố, trong đó có cả các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng...) đã hợp đồng lại với Nhà xuất bản Tư pháp in sổ hộ tịch. Để khắc phục khó khăn của địa phương trong việc in sổ hộ tịch như đã nêu ở trên, đồng thời bảo đảm chất lượng sổ hộ tịch, Bộ Tư pháp sẽ in và phát hành các loại sổ hộ tịch để sử dụng thống nhất tại các cơ quan đăng ký hộ tịch.
3.1.2. Bộ Tư pháp in, phát hành 05 biểu mẫu bản chính
05 biểu mẫu bản chính bao gồm:
- 03 biểu mẫu bản chính (Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy chứng tử), sử dụng để đăng ký các sự kiện hộ tịch theo quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, theo Mục II Danh mục I kèm theo.
- 02 biểu mẫu bản chính (Giấy chứng nhận kết hôn; Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con), sử dụng để đăng ký việc kết hôn; nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài theo quy định tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, theo Mục III Danh mục I kèm theo.
Lý do Bộ Tư pháp thống nhất in, phát hành 05 biểu mẫu bản chính là: các bản chính giấy tờ hộ tịch chỉ được cấp một lần khi đăng ký (trừ bản chính Giấy khai sinh được cấp lại). Bản chính giấy tờ hộ tịch được các cơ quan tiếp nhận hồ sơ cá nhân dùng để đối chiếu khi có nghi ngờ về tính xác thực của bản sao, bản chính còn được sử dụng để sao theo thủ tục chứng thực; vì vậy, bản chính giấy tờ hộ tịch phải in bằng giấy tốt để sử dụng lâu dài. Tuy nhiên, xét trong số các bản chính, thì có 03 loại bản chính: Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy chứng tử là các loại giấy tờ hộ tịch quan trọng, gắn liền với nhiều quyền dân sự của mỗi cá nhân và được sử dụng nhiều nhất (không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài), nên Bộ Tư pháp cần thống nhất in và phát hành. Đối với 02 bản chính (Giấy chứng nhận kết hôn; Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con) dùng để đăng ký việc kết hôn; nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài theo quy định tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, do được sử dụng chủ yếu ở nước ngoài, số lượng ít nên tiếp tục được Bộ Tư pháp in và phát hành.
3.2. Các biểu mẫu được đăng tải trên trang “Thủ tục hành chính” Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp
46 biểu mẫu hộ tịch đen trắng, không có hoa văn (bao gồm các biểu mẫu bản chính còn lại và tất cả các biểu mẫu bản sao) được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn), cơ quan đăng ký hộ tịch và người có yêu cầu đăng ký hộ tịch được quyền tự truy cập để in và sử dụng miễn phí; cụ thể là:
- 40 biểu mẫu hộ tịch sử dụng để đăng ký các sự kiện hộ tịch theo quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, theo Mục I Danh mục II kèm theo.
- 06 biểu mẫu hộ tịch sử dụng để đăng ký các sự kiện hộ tịch theo quy định tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, theo Mục II Danh mục II kèm theo.
Trong trường hợp người có yêu cầu đăng ký hộ tịch không có điều kiện tự in các biểu mẫu hộ tịch nêu trên, thì cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm cung cấp miễn phí cho người đó.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1. Cơ chế bảo đảm thực hiện Đề án
1.1. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp
1.1.1. Trách nhiệm của Vụ Hành chính tư pháp
- Thiết kế lại nội dung của các sổ, biểu mẫu hộ tịch cho phù hợp với yêu cầu của việc gộp chung sổ, biểu mẫu hộ tịch;
- Bảo đảm nội dung sổ, biểu mẫu hộ tịch trước khi in, phát hành;
- Chủ trì, phối hợp với Nhà Xuất bản Tư pháp, Cục Công nghệ thông tin đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp các loại biểu mẫu hộ tịch đen trắng, không có hoa văn, để các cơ quan đăng ký hộ tịch, người có yêu cầu đăng ký hộ tịch tự truy cập để in và sử dụng miễn phí;
- Kiểm tra, giám sát việc in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch tại Nhà Xuất bản Tư pháp và việc phát hành, sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch tại các địa phương;
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan, phát hiện và khắc phục kịp thời những hạn chế, vướng mắc phát sinh trong quá trình in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch;
- Kịp thời giải quyết những vấn đề vướng mắc phát sinh liên quan đến việc in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch thuộc chức năng quản lý của đơn vị trong quá trình tổ chức thực hiện.
1.1.2. Trách nhiệm của Nhà Xuất bản Tư pháp
- Tổ chức in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch thuộc trách nhiệm in, phát hành của Bộ Tư pháp theo đúng các quy định hiện hành. Bảo đảm đáp ứng đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của địa phương về số lượng, chất lượng sổ, biểu mẫu hộ tịch;
- Phối hợp với Vụ Hành chính tư pháp, Cục Công nghệ thông tin thiết kế chuẩn các biểu mẫu hộ tịch đen trắng, không có hoa văn, đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp để các cơ quan đăng ký hộ tịch, người có yêu cầu đăng ký hộ tịch tự truy cập để in và sử dụng miễn phí;
- Định kỳ báo cáo tình hình hoạt động in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch trước các cơ quan chức năng theo quy định;
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan phát hiện và khắc phục kịp thời những hạn chế, vướng mắc phát sinh trong quá trình in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch.
1.1.Trách nhiệm của Cục Công nghệ thông tin
Bảo đảm đăng tải đầy đủ trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp các biểu mẫu hộ tịch để các cơ quan, tổ chức và cá nhân thuận tiện trong việc truy cập khi có yêu cầu. Tạo điều kiện thuận tiện để các cơ quan đăng ký hộ tịch, người có yêu cầu đăng ký hộ tịch có thể tự truy cập để in và sử dụng miễn phí các biểu mẫu hộ tịch đen trắng, không có hoa văn.
1.2. Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao
- Dự báo kịp thời nhu cầu sử dụng (05 sổ và 05 biểu mẫu bản chính hộ tịch thuộc trách nhiệm in, phát hành của Bộ Tư pháp) của các Cơ quan đại diện Việt Nam gửi Nhà Xuất bản Tư pháp; bảo đảm cung cấp kịp thời, đầy đủ yêu cầu sử dung sổ, biểu mẫu hộ tịch của các Cơ quan đại diện Việt Nam;
- Kiểm tra việc phát hành, sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch tại các Cơ quan đại diện Việt Nam; kịp thời giải quyết vướng mắc và uốn nắn những thiếu sót (nếu có) trong quá trình thực hiện.
1.Trách nhiệm của Ủy ban nhân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
1.3.1. Bố trí đủ kinh phí cho việc mua sổ, biểu mẫu hộ tịch. Đối với những địa phương chưa có điều kiện sử dụng Internet, thì bố trí kinh phí để in các biểu mẫu hộ tịch đen trắng, không có hoa văn, đáp ứng đầy đủ yêu cầu sử dụng biểu mẫu hộ tịch của địa phương;
1.3.2. Chỉ đạo Sở Tư pháp rà soát và nắm rõ tình hình sử dung internet trong phạm vi địa phương. Đối với những địa phương đã có điều kiện sử dụng internet, thì hướng dẫn chung Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã trong địa phương cách thức truy cập mạng internet để in và sử dụng các biểu mẫu hộ tịch đen trắng, không có hoa văn; đối với những địa phương chưa có điều kiện sử dụng internet, thì Sở Tư pháp chủ động tổ chức in, phát hành các biểu mẫu hộ tịch này, đáp ứng đầy đủ yêu cầu sử dụng biểu mẫu hộ tịch trong địa phương;
1.3.Dự báo kịp thời nhu cầu sử dụng (05 sổ và 05 biểu mẫu bản chính hộ tịch thuộc trách nhiệm in, phát hành của Bộ Tư pháp) của các cơ quan đăng ký hộ tịch địa phương gửi Nhà Xuất bản Tư pháp; bảo đảm cung cấp kịp thời, đầy đủ yêu cầu sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch của các cơ quan đăng ký hộ tịch trong địa phương;
1.3.4. Bảo đảm sử dụng đúng mục đích khoản kinh phí được cấp cho việc mua sổ, biểu mẫu hộ tịch để cấp phát cho các cơ quan đăng ký hộ tịch trong địa phương; hướng dẫn thống nhất việc cấp miễn phí (không thu tiền) cho người dân các giấy tờ hộ tịch, kể cả các việc hộ tịch có thu lệ phí (lệ phí bao gồm tiền mua biểu mẫu hộ tịch);
1.3.5. Bảo đảm thanh toán kịp thời tiền mua sổ, biểu mẫu hộ tịch từ Nhà Xuất bản Tư pháp;
1.3.6. Kiểm tra việc phát hành, sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Uỷ ban nhân dân cấp xã trong địa phương; kịp thời giải quyết vướng mắc và uốn nắn những thiếu sót (nếu có) trong quá trình thực hiện.
Sở Tư pháp có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện các nhiệm vụ 1.3.3, 1.3.4, 1.3.5, 1.3.6 nói tại điểm này.
2. Lộ trình thực hiện
- Giai đoạn 1 (từ năm 2010 đến hết năm 2011)
+ Từ Quý I/2010, Bộ Tư pháp thực hiện in 05 sổ hộ tịch theo mẫu sổ mới. Đối với những nơi (kể cả cơ quan đăng ký hộ tịch trong nước hay các Cơ quan đại diện Việt Nam) đã sử dụng hết sổ cũ, thì sẽ mua sổ mới để sử dụng; trường hợp đã mua sổ hộ tịch (theo mẫu cũ) mà chưa sử dụng hết, thì tiếp tục sử dụng cho đến hết.
+ Đối với các biểu mẫu hộ tịch: Để thống nhất thời hạn chấm dứt việc sử dụng các biểu mẫu hộ tịch cũ (bao gồm cả bản chính và bản sao), các Sở Tư pháp và các Cơ quan đại diện Việt Nam có trách nhiệm rà soát số biểu mẫu hiện còn (đã mua từ Nhà Xuất bản tư pháp), báo cáo Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp có trách nhiệm thực hiện việc điều chuyển và in bổ sung, đáp ứng đủ yêu cầu sử dụng các biểu mẫu hộ tịch cũ trong quý I và Quý II năm 2010; bắt đầu từ quý III năm 2010 (ngày 01/7/2010), các cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ thống nhất sử dụng biểu mẫu mới (thay thế các biểu mẫu hộ tịch hiện hành).
- Giai đoạn 2 (từ năm 2012 đến hết năm 2014)
+ Năm 2012: Xây dựng Đề án triển khai việc ứng dụng phần mềm cơ sở dữ liệu về hộ tịch trên cơ sở phần mềm do Dự án hỗ trợ thể chế cho Việt Nam (ISP) tài trợ đã được triển khai tại 18 phường thuộc quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, cung cấp trang thiết bị và triển khai ở các quận nội thành thuộc 05 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng).
+ Năm 2013 đền hết năm 2014: Vận hành thí điểm đăng ký hộ tịch qua mạng Internet tại một số tỉnh, thành phố, cấp bản sao giấy tờ hộ tịch qua mạng ở các địa phương đã triển khai nối mạng; theo đó, cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ lưu trữ hồ sơ gốc (qua hệ thống mạng và hệ thống sổ hộ tịch); sau khi đăng ký hộ tịch, người dân chỉ nhận bản sao các giấy tờ hộ tịch (bỏ việc cấp bản chính). Kết nối thông tin giữa các trung tâm đăng ký hộ tịch, người dân có thể yêu cầu cấp bản sao ở bất kỳ trung tâm đăng ký hộ tịch nào trong số các địa phương đã thực hiện kết nối.
- Giai đoạn 3 (từ năm 2015 trở đi)
Đánh giá và mở rộng đăng ký hộ tịch qua mạng Internet tới các tỉnh, thành phố khác và tiến tới thống nhất chuyển hướng quản lý hộ tịch bằng dữ liệu điện tử thay cho sổ, biểu mẫu hộ tịch như hiện nay, người dân sẽ được hưởng dịch vụ đăng ký hộ tịch qua mạng Internet.