Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2310/QĐ-BNN-CB phê duyệt Quy hoạch phát triển chế biến thuỷ sản

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "04/10/2011", "sign_number": "2310/QĐ-BNN-CB", "signer": "Vũ Văn Tám", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "04/10/2011", "sign_number": "2310/QĐ-BNN-CB", "signer": "Vũ Văn Tám", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "04/10/2011", "sign_number": "2310/QĐ-BNN-CB", "signer": "Vũ Văn Tám", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "04/10/2011", "sign_number": "2310/QĐ-BNN-CB", "signer": "Vũ Văn Tám", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "04/10/2011", "sign_number": "2310/QĐ-BNN-CB", "signer": "Vũ Văn Tám", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2310/QĐ-BNN-CB phê duyệt Quy hoạch phát triển chế biến thuỷ sản

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển chế biến thuỷ sản toàn quốc đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu sau đây:
...
3. Nội dung quy hoạch phát triển chế biến thủy sản đến năm 2020
Quy hoạch phát triển chế biến thủy sản đến năm 2020 được xây dựng theo định hướng phát triển sản phẩm gắn với thị trường; phát triển năng lực chế biến thủy sản gắn với khả năng cung cấp nguyên liệu theo vùng lãnh thổ.
3.1. Quy hoạch sản phẩm theo định hướng thị trường
a) Quy hoạch phát triển chế biến thủy sản theo nhóm sản phẩm xuất khẩu
Trong thời kỳ quy hoạch 2011 - 2020, tôm, cá tra và nhuyễn thể chân đầu (mực, bạch tuộc) đông lạnh vẫn là nhóm sản phẩm quan trọng, chiếm trên 70 % sản lượng thủy sản xuất khẩu (phụ lục I.a kèm theo Quyết định này), cụ thể như sau:
- Sản phẩm cá đông lạnh: đến năm 2015 đạt sản lượng 1,05 triệu tấn với giá trị 3,31 tỷ USD; đến năm 2020 đạt sản lượng 1,22 triệu tấn với giá trị 4,39 tỷ USD. Trong đó riêng sản phẩm cá tra đến năm 2015 đạt sản lượng 760 nghìn tấn với giá trị 2,3 tỷ USD; đến năm 2020 đạt sản lượng 850 nghìn tấn với giá trị 3,0 tỷ USD chiếm 70 % về khối lượng và giá trị của nhóm cá đông lạnh. Thị trường chủ yếu là EU, Mỹ, Nhật Bản và các nước Trung Đông, Brazin và phần còn lại của châu Âu.
- Sản phẩm tôm đông lạnh: đến năm 2015 đạt sản lượng 270 nghìn tấn với giá trị 2,54 tỷ USD; đến năm 2020 đạt sản lượng 330 nghìn tấn với giá trị 3,3 tỷ USD. Thị trường chủ yếu là Nhật Bản, Mỹ và EU tiếp tục mở rộng thị trường các nước châu Á như Hàn quốc, Trung Quốc.
- Sản phẩm mực, bạch tuộc đông lạnh: đến năm 2015 đạt sản lượng 110 nghìn tấn với giá trị 490 triệu USD; đến năm 2020 đạt sản lượng 120 nghìn tấn với giá trị 650 triệu USD. Thị trường chủ yếu là Nhật Bản, EU và Hàn Quốc.
- Sản phẩm thuỷ sản khác đông lạnh: đến năm 2015 đạt sản lượng 130 nghìn tấn và giá trị 910 triệu USD; đến năm 2020 đạt sản lượng 150 nghìn tấn và giá trị 1,26 tỷ USD. Thị trường chủ yếu là EU, Nhật Bản, các nước châu Á và Ôxtrâylia.
- Sản phẩm thủy sản khô: đến năm 2015 đạt sản lượng 60 nghìn tấn với giá trị 250 triệu USD; đến năm 2020 đạt sản lượng 80 nghìn tấn với giá trị 400 triệu USD.
Thị trường chủ yếu là Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga và Ucraina.
b) Quy hoạch phát triển chế biến thủy sản theo nhóm sản phẩm tiêu thụ nội địa
Thủy sản tiêu thụ nội địa sẽ được quy hoạch cho các nhóm sản phẩm chủ yếu: thủy sản đông lạnh, hàng khô, nước mắm, mắm các loại, đồ hộp, bột cá nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân trong nước (phụ lục I.b kèm theo Quyết định này).
3.2. Quy hoạch hệ thống chế biến thủy sản theo vùng lãnh thổ
Năng lực chế biến được phân bố theo vùng lãnh thổ trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế của từng vùng về nguồn cung cấp nguyên liệu, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực.
Phân bố năng lực chế biến thủy sản theo 4 vùng lãnh thổ (Phụ lục II kèm theo Quyết định này), cụ thể như sau:
a) Vùng Đồng bằng sông Hồng:
- Giai đoạn 2011 - 2015, về cơ bản không đầu tư thêm cơ sở chế biến đông lạnh mới mà tập trung nâng cao hiệu suất sử dụng công suất các thiết bị của các cơ sở chế biến hiện có và đầu tư nâng cấp nhà xưởng, dây chuyền thiết bị chế biến sản phẩm giá trị gia tăng. Hiệu suất sử dụng công suất thiết bị đạt 60 %; tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 50 - 60 %.
- Giai đoạn 2016 - 2020, căn cứ nhu cầu thị trường và khả năng cung cấp nguyên liệu của vùng có thể phát triển thêm cơ sở chế biến đông lạnh với công suất khoảng 10 nghìn tấn sản phẩm/năm, nâng hiệu suất sử dụng thiết bị đạt 90%, tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 60 - 70 %.
- Xây dựng Hải Phòng thành Trung tâm chế biến thủy sản của vùng.
b) Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
- Giai đoạn 2011 - 2015, cơ bản không đầu tư thêm cơ sở chế biến đông lạnh ở Bắc Trung Bộ. Riêng tại Nam Trung Bộ có thể phát triển thêm cơ sở chế biến thủy sản đông lạnh với công suất khoảng 30 nghìn tấn sản phẩm/năm và cơ sở chế biến thủy sản khô có công suất khoảng 5 nghìn tấn sản phẩm/năm, tập trung đầu tư dây chuyền thiết bị chế biến sản phẩm giá trị gia tăng. Hiệu suất sử dụng công suất thiết bị đạt 80 %; tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 50 - 60 %.
- Giai đoạn 2016 - 2020, đầu tư thêm cơ sở chế biến đông lạnh với công suất khoảng 20 nghìn tấn sản phẩm/năm và cơ sở chế biến thủy sản khô công suất khoảng 5 nghìn tấn sản phẩm/năm, tập trung đầu tư dây chuyền thiết bị chế biến sản phẩm giá trị gia tăng. Hiệu suất sử dụng công suất thiết bị tăng lên 90 %; tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 60 - 70 %.
- Xây dựng Đà Nẵng và Khánh Hòa thành hai trung tâm chế biến thủy sản của vùng.
c) Vùng Đông Nam Bộ
- Giai đoạn 2011 - 2015, đầu tư thêm cơ sở chế biến đông lạnh khoảng 50 nghìn tấn sản phẩm/năm và cơ sở chế biến thủy sản khô có công suất 2 nghìn tấn sản phẩm/năm, tập trung đầu tư dây chuyền thiết bị chế biến sản phẩm giá trị gia tăng.
Hiệu suất sử dụng công suất thiết bị đạt xấp xỉ 90 %; tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 60 - 70 %.
- Giai đoạn 2016 - 2020, đầu tư thêm cơ sở chế biến đông lạnh khoảng 50 nghìn tấn sản phẩm/năm và cơ sở chế biến thủy sản khô với công suất 2 nghìn tấn sản phẩm/năm, tập trung đầu tư dây chuyền thiết bị chế biến sản phẩm giá trị gia tăng.
Hiệu suất sử dụng công suất thiết bị duy trì 90 %; tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 70 - 80 %.
- Tp. Hồ Chí Minh và Bà Rịa-Vũng Tàu là hai trung tâm chế biến thủy sản của vùng.
d) Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
- Giai đoạn 2011 - 2015, hạn chế việc đầu tư mới cơ sở chế biến đông lạnh, chỉ đầu tư nâng cấp nhà xưởng, đổi mới dây chuyền thiết bị đối với các nhà máy hiện có đã lạc hậu để sản xuất sản phẩm giá trị gia tăng. Phát triển chế biến thủy sản khô, sản phẩm mới, sản phẩm chế biến từ phụ phẩm thủy sản. Hiệu suất sử dụng công suất thiết bị đạt 85 %; tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 50 - 60 %.
- Giai đoạn 2016 - 2020, căn cứ vào tín hiệu thị trường và khả năng sản xuất thủy sản nguyên liệu, có thể đầu tư thêm cơ sở chế biến cá tra đông lạnh với công suất 45 nghìn tấn sản phẩm/năm và cơ sở chế biến tôm đông lạnh với công suất khoảng 15 nghìn tấn sản phẩm/năm, tập trung đầu tư công nghệ chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng và các sản phẩm phụ cho các cơ sở này. Hiệu suất sử dụng thiết bị đạt 90 %; tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 60 - 70 %.
- Xây dựng Cần Thơ thành trung tâm thủy sản vùng với các khu chế biến sâu, công nghệ cao và kết nối với các trung tâm chế biến vệ tinh khác trong vùng như: hải sản ở Kiên Giang; cá tra ở An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ; tôm ở Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre.
3.3. Quy hoạch hệ thống kho lạnh thuỷ sản
Quy hoạch kho lạnh thuỷ sản theo định hướng phân bố phù hợp với nhu cầu phát triển của từng vùng để phục vụ việc bảo quản, vận chuyển, chế biến, dự trữ và phân phối lưu thông thuỷ sản ngày một tăng (phụ lục III kèm theo Quyết định này).
Định hướng đầu tư phát triển kho lạnh thuỷ sản như sau:
- Hầm (kho) lạnh trang bị trên tàu cá: được phát triển đảm bảo đến năm 2020 cơ bản tàu cá đánh bắt xa bờ đều có hầm (kho) lạnh bảo quản hải sản đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Kho lạnh phục vụ thu mua thủy sản và phân phối lưu thông nội địa: được tập trung xây dựng tại các cảng cá, bến cá, chợ cá, chợ đầu mối nông thủy sản, khu neo đậu tàu cá, khu nuôi trồng thủy sản tập trung và các đô thị trên cả nước.
- Kho lạnh sản xuất: được xây dựng theo nhu cầu phát triển của doanh nghiệp chế biến thủy sản.
- Kho lạnh thương mại: được tập trung xây dựng ở vùng Đông Nam Bộ, vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Khánh Hòa, các thành phố Đà Nẵng và Hải Phòng.
- Kho lạnh ngoại quan: được tập trung xây dựng ở các cảng xuất nhập khẩu như: cụm cảng Sài Gòn, Đồng Nai, Vũng Tàu, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng và các cửa khẩu biên giới.

Content:
Nội dung quy hoạch phát triển chế biến thủy sản đến năm 2020
Quy hoạch phát triển chế biến thủy sản đến năm 2020 được xây dựng theo định hướng phát triển sản phẩm gắn với thị trường; phát triển năng lực chế biến thủy sản gắn với khả năng cung cấp nguyên liệu theo vùng lãnh thổ.
3.1. Quy hoạch sản phẩm theo định hướng thị trường
a) Quy hoạch phát triển chế biến thủy sản theo nhóm sản phẩm xuất khẩu
Trong thời kỳ quy hoạch 2011 - 2020, tôm, cá tra và nhuyễn thể chân đầu (mực, bạch tuộc) đông lạnh vẫn là nhóm sản phẩm quan trọng, chiếm trên 70 % sản lượng thủy sản xuất khẩu (phụ lục I.a kèm theo Quyết định này), cụ thể như sau:
- Sản phẩm cá đông lạnh: đến năm 2015 đạt sản lượng 1,05 triệu tấn với giá trị 3,31 tỷ USD; đến năm 2020 đạt sản lượng 1,22 triệu tấn với giá trị 4,39 tỷ USD. Trong đó riêng sản phẩm cá tra đến năm 2015 đạt sản lượng 760 nghìn tấn với giá trị 2,3 tỷ USD; đến năm 2020 đạt sản lượng 850 nghìn tấn với giá trị 3,0 tỷ USD chiếm 70 % về khối lượng và giá trị của nhóm cá đông lạnh. Thị trường chủ yếu là EU, Mỹ, Nhật Bản và các nước Trung Đông, Brazin và phần còn lại của châu Âu.
- Sản phẩm tôm đông lạnh: đến năm 2015 đạt sản lượng 270 nghìn tấn với giá trị 2,54 tỷ USD; đến năm 2020 đạt sản lượng 330 nghìn tấn với giá trị 3,3 tỷ USD. Thị trường chủ yếu là Nhật Bản, Mỹ và EU tiếp tục mở rộng thị trường các nước châu Á như Hàn quốc, Trung Quốc.
- Sản phẩm mực, bạch tuộc đông lạnh: đến năm 2015 đạt sản lượng 110 nghìn tấn với giá trị 490 triệu USD; đến năm 2020 đạt sản lượng 120 nghìn tấn với giá trị 650 triệu USD. Thị trường chủ yếu là Nhật Bản, EU và Hàn Quốc.
- Sản phẩm thuỷ sản khác đông lạnh: đến năm 2015 đạt sản lượng 130 nghìn tấn và giá trị 910 triệu USD; đến năm 2020 đạt sản lượng 150 nghìn tấn và giá trị 1,26 tỷ USD. Thị trường chủ yếu là EU, Nhật Bản, các nước châu Á và Ôxtrâylia.
- Sản phẩm thủy sản khô: đến năm 2015 đạt sản lượng 60 nghìn tấn với giá trị 250 triệu USD; đến năm 2020 đạt sản lượng 80 nghìn tấn với giá trị 400 triệu USD.
Thị trường chủ yếu là Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga và Ucraina.
b) Quy hoạch phát triển chế biến thủy sản theo nhóm sản phẩm tiêu thụ nội địa
Thủy sản tiêu thụ nội địa sẽ được quy hoạch cho các nhóm sản phẩm chủ yếu: thủy sản đông lạnh, hàng khô, nước mắm, mắm các loại, đồ hộp, bột cá nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân trong nước (phụ lục I.b kèm theo Quyết định này).
3.2. Quy hoạch hệ thống chế biến thủy sản theo vùng lãnh thổ
Năng lực chế biến được phân bố theo vùng lãnh thổ trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế của từng vùng về nguồn cung cấp nguyên liệu, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực.
Phân bố năng lực chế biến thủy sản theo 4 vùng lãnh thổ (Phụ lục II kèm theo Quyết định này), cụ thể như sau:
a) Vùng Đồng bằng sông Hồng:
- Giai đoạn 2011 - 2015, về cơ bản không đầu tư thêm cơ sở chế biến đông lạnh mới mà tập trung nâng cao hiệu suất sử dụng công suất các thiết bị của các cơ sở chế biến hiện có và đầu tư nâng cấp nhà xưởng, dây chuyền thiết bị chế biến sản phẩm giá trị gia tăng. Hiệu suất sử dụng công suất thiết bị đạt 60 %; tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 50 - 60 %.
- Giai đoạn 2016 - 2020, căn cứ nhu cầu thị trường và khả năng cung cấp nguyên liệu của vùng có thể phát triển thêm cơ sở chế biến đông lạnh với công suất khoảng 10 nghìn tấn sản phẩm/năm, nâng hiệu suất sử dụng thiết bị đạt 90%, tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 60 - 70 %.
- Xây dựng Hải Phòng thành Trung tâm chế biến thủy sản của vùng.
b) Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
- Giai đoạn 2011 - 2015, cơ bản không đầu tư thêm cơ sở chế biến đông lạnh ở Bắc Trung Bộ. Riêng tại Nam Trung Bộ có thể phát triển thêm cơ sở chế biến thủy sản đông lạnh với công suất khoảng 30 nghìn tấn sản phẩm/năm và cơ sở chế biến thủy sản khô có công suất khoảng 5 nghìn tấn sản phẩm/năm, tập trung đầu tư dây chuyền thiết bị chế biến sản phẩm giá trị gia tăng. Hiệu suất sử dụng công suất thiết bị đạt 80 %; tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 50 - 60 %.
- Giai đoạn 2016 - 2020, đầu tư thêm cơ sở chế biến đông lạnh với công suất khoảng 20 nghìn tấn sản phẩm/năm và cơ sở chế biến thủy sản khô công suất khoảng 5 nghìn tấn sản phẩm/năm, tập trung đầu tư dây chuyền thiết bị chế biến sản phẩm giá trị gia tăng. Hiệu suất sử dụng công suất thiết bị tăng lên 90 %; tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 60 - 70 %.
- Xây dựng Đà Nẵng và Khánh Hòa thành hai trung tâm chế biến thủy sản của vùng.
c) Vùng Đông Nam Bộ
- Giai đoạn 2011 - 2015, đầu tư thêm cơ sở chế biến đông lạnh khoảng 50 nghìn tấn sản phẩm/năm và cơ sở chế biến thủy sản khô có công suất 2 nghìn tấn sản phẩm/năm, tập trung đầu tư dây chuyền thiết bị chế biến sản phẩm giá trị gia tăng.
Hiệu suất sử dụng công suất thiết bị đạt xấp xỉ 90 %; tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 60 - 70 %.
- Giai đoạn 2016 - 2020, đầu tư thêm cơ sở chế biến đông lạnh khoảng 50 nghìn tấn sản phẩm/năm và cơ sở chế biến thủy sản khô với công suất 2 nghìn tấn sản phẩm/năm, tập trung đầu tư dây chuyền thiết bị chế biến sản phẩm giá trị gia tăng.
Hiệu suất sử dụng công suất thiết bị duy trì 90 %; tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 70 - 80 %.
- Tp. Hồ Chí Minh và Bà Rịa-Vũng Tàu là hai trung tâm chế biến thủy sản của vùng.
d) Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
- Giai đoạn 2011 - 2015, hạn chế việc đầu tư mới cơ sở chế biến đông lạnh, chỉ đầu tư nâng cấp nhà xưởng, đổi mới dây chuyền thiết bị đối với các nhà máy hiện có đã lạc hậu để sản xuất sản phẩm giá trị gia tăng. Phát triển chế biến thủy sản khô, sản phẩm mới, sản phẩm chế biến từ phụ phẩm thủy sản. Hiệu suất sử dụng công suất thiết bị đạt 85 %; tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 50 - 60 %.
- Giai đoạn 2016 - 2020, căn cứ vào tín hiệu thị trường và khả năng sản xuất thủy sản nguyên liệu, có thể đầu tư thêm cơ sở chế biến cá tra đông lạnh với công suất 45 nghìn tấn sản phẩm/năm và cơ sở chế biến tôm đông lạnh với công suất khoảng 15 nghìn tấn sản phẩm/năm, tập trung đầu tư công nghệ chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng và các sản phẩm phụ cho các cơ sở này. Hiệu suất sử dụng thiết bị đạt 90 %; tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 60 - 70 %.
- Xây dựng Cần Thơ thành trung tâm thủy sản vùng với các khu chế biến sâu, công nghệ cao và kết nối với các trung tâm chế biến vệ tinh khác trong vùng như: hải sản ở Kiên Giang; cá tra ở An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ; tôm ở Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre.
3.Quy hoạch hệ thống kho lạnh thuỷ sản
Quy hoạch kho lạnh thuỷ sản theo định hướng phân bố phù hợp với nhu cầu phát triển của từng vùng để phục vụ việc bảo quản, vận chuyển, chế biến, dự trữ và phân phối lưu thông thuỷ sản ngày một tăng (phụ lục III kèm theo Quyết định này).
Định hướng đầu tư phát triển kho lạnh thuỷ sản như sau:
- Hầm (kho) lạnh trang bị trên tàu cá: được phát triển đảm bảo đến năm 2020 cơ bản tàu cá đánh bắt xa bờ đều có hầm (kho) lạnh bảo quản hải sản đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Kho lạnh phục vụ thu mua thủy sản và phân phối lưu thông nội địa: được tập trung xây dựng tại các cảng cá, bến cá, chợ cá, chợ đầu mối nông thủy sản, khu neo đậu tàu cá, khu nuôi trồng thủy sản tập trung và các đô thị trên cả nước.
- Kho lạnh sản xuất: được xây dựng theo nhu cầu phát triển của doanh nghiệp chế biến thủy sản.
- Kho lạnh thương mại: được tập trung xây dựng ở vùng Đông Nam Bộ, vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Khánh Hòa, các thành phố Đà Nẵng và Hải Phòng.
- Kho lạnh ngoại quan: được tập trung xây dựng ở các cảng xuất nhập khẩu như: cụm cảng Sài Gòn, Đồng Nai, Vũng Tàu, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng và các cửa khẩu biên giới.