Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 368/QĐ-TTg 2024 Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021-2030

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "04/05/2024", "sign_number": "368/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Minh Chính", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "04/05/2024", "sign_number": "368/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Minh Chính", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "04/05/2024", "sign_number": "368/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Minh Chính", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "04/05/2024", "sign_number": "368/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Minh Chính", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "04/05/2024", "sign_number": "368/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Minh Chính", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 368/QĐ-TTg 2024 Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021-2030

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với những nội dung sau:
...
5. Phương hướng phát triển hệ thống đê điều, kết cấu hạ tầng phòng, chống thiên tai
Cải tạo, nâng cấp hệ thống thủy lợi, đê sông, đê biển, nhất là các tuyến đê từ cấp III đến cấp đặc biệt thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình; chú trọng đầu tư các công trình phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong đó:
- Củng cố, nâng cấp hệ thống đê sông bảo đảm chống được lũ thiết kế trên các tuyến sông. Xây dựng công trình chỉnh trị, điều tiết đoạn cửa vào sông Đuống để khống chế, ổn định tỷ lệ phân lưu mùa lũ từ sông Hồng sang sông Đuống ở mức từ 30 - 32%. Không nâng cao các tuyến đê bối hiện có, không xây dựng đê bối mới. Khi dự báo xuất hiện trận lũ lớn hơn lũ 500 năm xuất hiện một lần trên hệ thống sông Hồng (vượt lũ thiết kế) hoặc xảy ra sự cố nghiêm trọng đối với hệ thống đê điều khu vực nội thành Hà Nội, thực hiện chuyển lũ từ sông Hồng vào sông Đáy với lưu lượng tối đa là 2.500 m3/s.
- Củng cố hệ thống đê biển chống nước biển dâng, xâm nhập mặn và công trình cung cấp nước ngọt cho vùng ven biển. Hoàn chỉnh mặt cắt và cao trình đê biển từ Quảng Ninh đến Ninh Bình bảo đảm tiêu chuẩn an toàn đối với các tuyến đê theo cấp đê, với chu kỳ lặp lại từ 100 năm đến 10 năm (tương ứng đê từ cấp II đến cấp V).
- Tu bổ, nâng cấp hệ thống kè chống sạt lở, ưu tiên xử lý các khu vực sạt lở đe dọa trực tiếp đến an toàn đê điều; kết hợp hài hòa giữa giải pháp công trình và phi công trình trong xử lý sạt lở bờ biển. Ưu tiên khôi phục, trồng phát triển rừng ngập mặn chắn sóng phía trước đê, rừng phòng hộ ổn định các khu vực cồn cát có nhiệm vụ như đê biển.
- Chủ động xây dựng phương án ứng phó với kịch bản cực đoan; sử dụng dung tích phòng lũ của các hồ trên hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình để điều tiết, cắt giảm lũ cho hạ du; vận hành điều tiết liên hồ khi xuất hiện lũ có chu kỳ lặp 500 năm, bảo đảm lưu lượng lũ trên sông Hồng tại trạm thủy văn Sơn Tây nhỏ hơn hoặc bằng 28.000 m3/s; tại trạm thủy văn Hà Nội nhỏ hơn hoặc bằng 20.000 m3/s và mực nước sông Hồng tại trạm thủy văn Hà Nội không vượt quá 13,40 m.
- Rà soát, hoàn thiện quy trình vận hành liên hồ chứa, bảo đảm hài hòa các lợi ích về phòng chống lũ, an ninh năng lượng (sản xuất điện năng) và cấp nước mùa kiệt. Tăng cường quản lý, sử dụng bãi sông bảo đảm không gian thoát lũ; có biện pháp cụ thể đối với các khu vực dân cư tập trung hiện có nằm ngoài bãi sông.
- Bảo vệ không gian thoát lũ; cải tạo lòng dẫn, giải phóng các vật cản ở bãi sông, lòng sông; ngăn chặn và xử lý kịp thời vi phạm pháp luật về đê điều. Xây dựng công trình chỉnh trị để bảo đảm yêu cầu thoát lũ thuận lợi, bảo đảm tỷ lệ lưu lượng tại các phân lưu, hợp lưu. Xây dựng phương án chỉnh trị và phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển bảo đảm ổn định lòng dẫn, đường bờ biển, nâng cao khả năng thoát lũ nhất là các sông chính thuộc hệ thống sông Hồng - Thái Bình.
- Khơi thông dòng chảy tập trung nước thượng lưu và hạ lưu các khu vực dân cư tập trung. Xây dựng, củng cố các công trình ổn định sườn dốc, đập ngăn bùn đá, tường chống sạt lở... bảo vệ dân cư, hạ tầng và sản xuất tại các khu vực có nguy cơ cao.

Content:
Phương hướng phát triển hệ thống đê điều, kết cấu hạ tầng phòng, chống thiên tai
Cải tạo, nâng cấp hệ thống thủy lợi, đê sông, đê biển, nhất là các tuyến đê từ cấp III đến cấp đặc biệt thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình; chú trọng đầu tư các công trình phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong đó:
- Củng cố, nâng cấp hệ thống đê sông bảo đảm chống được lũ thiết kế trên các tuyến sông. Xây dựng công trình chỉnh trị, điều tiết đoạn cửa vào sông Đuống để khống chế, ổn định tỷ lệ phân lưu mùa lũ từ sông Hồng sang sông Đuống ở mức từ 30 - 32%. Không nâng cao các tuyến đê bối hiện có, không xây dựng đê bối mới. Khi dự báo xuất hiện trận lũ lớn hơn lũ 500 năm xuất hiện một lần trên hệ thống sông Hồng (vượt lũ thiết kế) hoặc xảy ra sự cố nghiêm trọng đối với hệ thống đê điều khu vực nội thành Hà Nội, thực hiện chuyển lũ từ sông Hồng vào sông Đáy với lưu lượng tối đa là 2.500 m3/s.
- Củng cố hệ thống đê biển chống nước biển dâng, xâm nhập mặn và công trình cung cấp nước ngọt cho vùng ven biển. Hoàn chỉnh mặt cắt và cao trình đê biển từ Quảng Ninh đến Ninh Bình bảo đảm tiêu chuẩn an toàn đối với các tuyến đê theo cấp đê, với chu kỳ lặp lại từ 100 năm đến 10 năm (tương ứng đê từ cấp II đến cấp V).
- Tu bổ, nâng cấp hệ thống kè chống sạt lở, ưu tiên xử lý các khu vực sạt lở đe dọa trực tiếp đến an toàn đê điều; kết hợp hài hòa giữa giải pháp công trình và phi công trình trong xử lý sạt lở bờ biển. Ưu tiên khôi phục, trồng phát triển rừng ngập mặn chắn sóng phía trước đê, rừng phòng hộ ổn định các khu vực cồn cát có nhiệm vụ như đê biển.
- Chủ động xây dựng phương án ứng phó với kịch bản cực đoan; sử dụng dung tích phòng lũ của các hồ trên hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình để điều tiết, cắt giảm lũ cho hạ du; vận hành điều tiết liên hồ khi xuất hiện lũ có chu kỳ lặp 500 năm, bảo đảm lưu lượng lũ trên sông Hồng tại trạm thủy văn Sơn Tây nhỏ hơn hoặc bằng 28.000 m3/s; tại trạm thủy văn Hà Nội nhỏ hơn hoặc bằng 20.000 m3/s và mực nước sông Hồng tại trạm thủy văn Hà Nội không vượt quá 13,40 m.
- Rà soát, hoàn thiện quy trình vận hành liên hồ chứa, bảo đảm hài hòa các lợi ích về phòng chống lũ, an ninh năng lượng (sản xuất điện năng) và cấp nước mùa kiệt. Tăng cường quản lý, sử dụng bãi sông bảo đảm không gian thoát lũ; có biện pháp cụ thể đối với các khu vực dân cư tập trung hiện có nằm ngoài bãi sông.
- Bảo vệ không gian thoát lũ; cải tạo lòng dẫn, giải phóng các vật cản ở bãi sông, lòng sông; ngăn chặn và xử lý kịp thời vi phạm pháp luật về đê điều. Xây dựng công trình chỉnh trị để bảo đảm yêu cầu thoát lũ thuận lợi, bảo đảm tỷ lệ lưu lượng tại các phân lưu, hợp lưu. Xây dựng phương án chỉnh trị và phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển bảo đảm ổn định lòng dẫn, đường bờ biển, nâng cao khả năng thoát lũ nhất là các sông chính thuộc hệ thống sông Hồng - Thái Bình.
- Khơi thông dòng chảy tập trung nước thượng lưu và hạ lưu các khu vực dân cư tập trung. Xây dựng, củng cố các công trình ổn định sườn dốc, đập ngăn bùn đá, tường chống sạt lở... bảo vệ dân cư, hạ tầng và sản xuất tại các khu vực có nguy cơ cao.