Document: Khoản 6 Điều 1 Quyết định 2659/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Bến Tre

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 6 Điều 1 Quyết định 2659/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Bến Tre

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Bến Tre đến năm 2020 với nội dung chính sau:
...
6. Hiệu quả của dự án quy hoạch:
Quy hoạch thuỷ lợi giai đoạn 2011-2020 được phê duyệt và triển khai sẽ mang lại hiệu quả thiết thực về kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng trên địa bàn tỉnh trên một số lĩnh vực chủ yếu sau:
a) Hiệu ích ngăn mặn:
Hệ thống kênh các cấp trong quá trình xây dựng và tu bổ đã hình thành nên các ô nội đồng có tác dụng ngăn mặn trữ ngọt cho từng thửa, các ô nội đồng vùng ngọt hầu hết không bị ảnh hưởng mặn. Bốn cửa chính An Hoá, Bến Tre, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam đã được kiểm soát bằng cống âu cùng với hệ thống đê dọc sông Mỹ Tho, Hàm Luông và Cổ Chiên, tuy nhiên mặn trên các sông này vẫn dâng cao (trên sông Mỹ Tho ranh mặn 4g/l vào sâu hơn khoảng 8km, sông Hàm Luông khoảng 2km và sông Cổ Chiên khoảng 1km).
b) Hiệu ích kiểm soát ngập lũ và ngập úng:
Với hệ thống sông lớn và kênh rạch mật độ cao, biên độ thuỷ triều lớn, Bến Tre có nhiều thuận lợi trong tưới tiêu tự chảy. Phương án quy hoạch đưa ra thuận lợi trong tiêu úng và tiêu lũ, lưu lượng tiêu trung bình lớn hơn hiện trạng. Nhiều ô đồng trước đây còn ngập úng 30cm, nay có thể gạn tháo tiêu triệt để. Khi có hệ thống cống ngăn triều dọc sông lớn tạo khả năng tiêu thoát tốt hơn.
c) Hiệu ích cấp nước tưới và sinh hoạt:
Khi bố trí công trình theo phương án chọn khả năng cấp nước phục vụ tưới và sinh hoạt đều tốt hơn hiện trạng, lúc đó toàn bộ vùng Bắc Bến Tre (cù lao Ba Lai) vào hơn 2/3 vùng Nam Bến Tre được khép kín, kết hợp việc vận hành các cống điều tiết nhồi nước, sẽ làm tăng mực nước nội đồng dẫn đến khả năng tưới tự chảy sẽ có hiệu quả cao hơn.
d) Hiệu ích tạo lập khu dân cư và phát triển giao thông:
Khi thực hiện quy hoạch hệ thống kênh trục kênh cấp I và cấp II được nạo vét làm tăng khả năng chuyển tải nước, kết hợp lấy đất xây dựng hệ thống bờ bao, đường giao thông và tạo lập khu dân cư. Các công trình cống đều kết hợp cầu lợi ích về giao thông bộ đều tăng lên rõ rệt. Việc giao thông thuỷ có khó khăn hơn, tuy nhiên nếu bố trí đầu tư xây dựng và vận hành hợp lý theo phương án quy hoạch thì giao thông thuỷ trên địa bàn vẫn đảm bảo.
đ) Hiệu quả về kinh tế:
Với giả thiết đời sống kinh tế dự án xác định là 50 năm, hệ số chiết khấu chuẩn {i} =12%. Tổng hợp các dữ kiện về chi phí đầu tư và lợi nhuận đưa vào mô hình tính toán, kết quả các chỉ tiêu kinh tế đạt như sau: NPV = 15.235 tỷ đồng (>0), IRR= 15, 01 (>12%), B/C = 1,4 (>1) và NPV/C>0,1.
Từ kết quả tính toán trên cho thấy: Với hệ số chiết khấu chuẩn {i} =12%, nguồn vốn đầu tư như tính toán, giả thiết các nguồn lợi ích như trên, các phương án thuỷ lợi đã đề xuất đều khả thi về mặt kinh tế.
e) Các hiệu ích khác:
Ngoài các hiệu ích kể trên, khi xây dựng các công trình thuỷ lợi theo các phương án quy hoạch còn mang lại các hiệu ích khác như: Cho phép tăng cường thâm canh tăng vụ, phát triển các công trình hạ tầng cơ sở tạo điều kiện phát triển văn hoá, xã hội, nâng cao dân trí, phát triển du lịch, cải thiện môi trường sinh thái, tránh sự ô nhiễm khi có quy trình vận hành hợp lý….
Với tập quán sinh hoạt của người dân Nam bộ, giao thông bằng đường thuỷ với phương tiện thô sơ, sản xuất mang tính cá thể dần chuyển sang phát triển liên hộ, hiện đại hoá giao thông đường bộ, thì quy mô công trình bố trí theo phương án chọn là phù hợp cho vùng Bến Tre.
g) Hiệu quả xã hội - môi trường:
Khi quy hoạch được thực hiện sẽ tạo điều kiện cho các ngành đạt mục tiêu phát triển, tạo thêm công ăn việc làm của người dân sở tại, đời sống vật chất, tinh thần của người dân tăng lên, an ninh quốc phòng, xã hội được củng cố và ổn định.
Môi trường sinh thái được cải thiện tốt, độ ẩm không khí gia tăng, tạo cảnh quan môi trường đẹp thu hút nhiều khách du lịch tạo điều kiện cho ngành dịch vụ và các ngành kinh tế khác phát triển.

Content:
Hiệu quả của dự án quy hoạch:
Quy hoạch thuỷ lợi giai đoạn 2011-2020 được phê duyệt và triển khai sẽ mang lại hiệu quả thiết thực về kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng trên địa bàn tỉnh trên một số lĩnh vực chủ yếu sau:
a) Hiệu ích ngăn mặn:
Hệ thống kênh các cấp trong quá trình xây dựng và tu bổ đã hình thành nên các ô nội đồng có tác dụng ngăn mặn trữ ngọt cho từng thửa, các ô nội đồng vùng ngọt hầu hết không bị ảnh hưởng mặn. Bốn cửa chính An Hoá, Bến Tre, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam đã được kiểm soát bằng cống âu cùng với hệ thống đê dọc sông Mỹ Tho, Hàm Luông và Cổ Chiên, tuy nhiên mặn trên các sông này vẫn dâng cao (trên sông Mỹ Tho ranh mặn 4g/l vào sâu hơn khoảng 8km, sông Hàm Luông khoảng 2km và sông Cổ Chiên khoảng 1km).
b) Hiệu ích kiểm soát ngập lũ và ngập úng:
Với hệ thống sông lớn và kênh rạch mật độ cao, biên độ thuỷ triều lớn, Bến Tre có nhiều thuận lợi trong tưới tiêu tự chảy. Phương án quy hoạch đưa ra thuận lợi trong tiêu úng và tiêu lũ, lưu lượng tiêu trung bình lớn hơn hiện trạng. Nhiều ô đồng trước đây còn ngập úng 30cm, nay có thể gạn tháo tiêu triệt để. Khi có hệ thống cống ngăn triều dọc sông lớn tạo khả năng tiêu thoát tốt hơn.
c) Hiệu ích cấp nước tưới và sinh hoạt:
Khi bố trí công trình theo phương án chọn khả năng cấp nước phục vụ tưới và sinh hoạt đều tốt hơn hiện trạng, lúc đó toàn bộ vùng Bắc Bến Tre (cù lao Ba Lai) vào hơn 2/3 vùng Nam Bến Tre được khép kín, kết hợp việc vận hành các cống điều tiết nhồi nước, sẽ làm tăng mực nước nội đồng dẫn đến khả năng tưới tự chảy sẽ có hiệu quả cao hơn.
d) Hiệu ích tạo lập khu dân cư và phát triển giao thông:
Khi thực hiện quy hoạch hệ thống kênh trục kênh cấp I và cấp II được nạo vét làm tăng khả năng chuyển tải nước, kết hợp lấy đất xây dựng hệ thống bờ bao, đường giao thông và tạo lập khu dân cư. Các công trình cống đều kết hợp cầu lợi ích về giao thông bộ đều tăng lên rõ rệt. Việc giao thông thuỷ có khó khăn hơn, tuy nhiên nếu bố trí đầu tư xây dựng và vận hành hợp lý theo phương án quy hoạch thì giao thông thuỷ trên địa bàn vẫn đảm bảo.
đ) Hiệu quả về kinh tế:
Với giả thiết đời sống kinh tế dự án xác định là 50 năm, hệ số chiết khấu chuẩn {i} =12%. Tổng hợp các dữ kiện về chi phí đầu tư và lợi nhuận đưa vào mô hình tính toán, kết quả các chỉ tiêu kinh tế đạt như sau: NPV = 15.235 tỷ đồng (>0), IRR= 15, 01 (>12%), B/C = 1,4 (>1) và NPV/C>0,1.
Từ kết quả tính toán trên cho thấy: Với hệ số chiết khấu chuẩn {i} =12%, nguồn vốn đầu tư như tính toán, giả thiết các nguồn lợi ích như trên, các phương án thuỷ lợi đã đề xuất đều khả thi về mặt kinh tế.
e) Các hiệu ích khác:
Ngoài các hiệu ích kể trên, khi xây dựng các công trình thuỷ lợi theo các phương án quy hoạch còn mang lại các hiệu ích khác như: Cho phép tăng cường thâm canh tăng vụ, phát triển các công trình hạ tầng cơ sở tạo điều kiện phát triển văn hoá, xã hội, nâng cao dân trí, phát triển du lịch, cải thiện môi trường sinh thái, tránh sự ô nhiễm khi có quy trình vận hành hợp lý….
Với tập quán sinh hoạt của người dân Nam bộ, giao thông bằng đường thuỷ với phương tiện thô sơ, sản xuất mang tính cá thể dần chuyển sang phát triển liên hộ, hiện đại hoá giao thông đường bộ, thì quy mô công trình bố trí theo phương án chọn là phù hợp cho vùng Bến Tre.
g) Hiệu quả xã hội - môi trường:
Khi quy hoạch được thực hiện sẽ tạo điều kiện cho các ngành đạt mục tiêu phát triển, tạo thêm công ăn việc làm của người dân sở tại, đời sống vật chất, tinh thần của người dân tăng lên, an ninh quốc phòng, xã hội được củng cố và ổn định.
Môi trường sinh thái được cải thiện tốt, độ ẩm không khí gia tăng, tạo cảnh quan môi trường đẹp thu hút nhiều khách du lịch tạo điều kiện cho ngành dịch vụ và các ngành kinh tế khác phát triển.