Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 4292/QĐ-UBND 2014 Đề án tái cơ cấu kinh tế Thanh Hóa

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "05/12/2014", "sign_number": "4292/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "05/12/2014", "sign_number": "4292/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "05/12/2014", "sign_number": "4292/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "05/12/2014", "sign_number": "4292/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "05/12/2014", "sign_number": "4292/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 4292/QĐ-UBND 2014 Đề án tái cơ cấu kinh tế Thanh Hóa

Điều 1. Phê duyệt Đề án tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 (sau đây gọi tắt là đề án) với các nội dung chủ yếu sau:
...
2. Mục tiêu tái cơ cấu kinh tế
2.1. Mục tiêu tổng quát
Tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kết hợp chiều rộng và chiều sâu, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng theo chiều sâu, tạo tiền đề để sau năm 2020 cơ bản phát triển theo chiều sâu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Ưu tiên phát triển mạnh các ngành, sản phẩm công nghiệp, dịch vụ có hàm lượng khoa học công nghệ, giá trị gia tăng cao; phát triển kinh tế biển, các vùng kinh tế động lực; phấn đấu đến năm 2020 có sản phẩm, lĩnh vực sản xuất đạt trình độ quốc gia và khu vực. Phấn đấu đến năm 2025, xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh có nền công nghiệp; dịch vụ hiện đại với tốc độ đô thị hóa cao và trở thành một trong những tỉnh có nền kinh tế nằm trong tốp đầu của cả nước.
2.2. Mục tiêu cụ thể
a) Về tái cơ cấu ngành kinh tế
- Về tốc độ tăng trưởng (%):
Giai đoạn 2014 - 2015: tăng trưởng kinh tế đạt 11,4%, trong đó: nông, lâm, thủy sản tăng 3,1%; công nghiệp - xây dựng tăng 13,9%; dịch vụ tăng 12,9%.
Giai đoạn 2016 - 2020: tăng trưởng kinh tế đạt 14,7%, trong đó: nông, lâm, thủy săn tăng 4%; công nghiệp - xây dựng tăng 18,2%; dịch vụ tăng 14,8%.
Giai đoạn 2021 - 2025: tăng trưởng kinh tế đạt 12%, trong đó: nông, lâm, thủy sản tăng 3,5%; công nghiệp - xây dựng tăng 12,5%; dịch vụ tăng 13,1%.
- Về cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP (%)
Năm 2015: Nông, lâm, thủy sản chiếm 16,5%; công nghiệp - xây dựng chiếm 43%; dịch vụ chiếm 40,5%.
Năm 2020: Nông, lâm, thủy sản chiếm 9,5%; công nghiệp - xây dựng chiếm 48%; dịch vụ chiếm 42,5%.
Năm 2025: Nông, lâm, thủy sản chiếm 7%; công nghiệp - xây dựng chiếm 48,5%; dịch vụ chiếm 44,5%.
b) Về tái cơ cấu kinh tế vùng
- Về tốc độ tăng trưởng:
Giai đoạn 2014 - 2015: Vùng đồng bằng tăng trưởng 10,9%; vùng ven biển 12,6%; vùng miền núi 12%;
Giai đoạn 2016 - 2020: Vùng đồng bằng tăng trưởng 12,7%; vùng ven biển 19%; vùng miền núi 13,5%;
Giai đoạn 2021 - 2025: Vùng đồng bằng tăng trưởng 10,8%; vùng ven biển 13,9%; vùng miền núi 11,6%;
- Cơ cấu các vùng kinh tế trong tổng GDP toàn tỉnh
Năm 2015: Vùng đồng bằng chiếm 60%, vùng ven biển chiếm 26%, vùng miền núi chiếm 14%;
Năm 2020: Vùng đồng bằng chiếm 46,5%, vùng ven biển chiếm 39%, vùng miền núi chiếm 14,5%;
Năm 2025: Vùng đồng bằng chiếm 44%, vùng ven biển chiếm 41%, vùng miền núi chiếm 15%;
c) Về tái cơ cấu đầu tư
- Giai đoạn 2014 - 2015: Tổng vốn đầu tư đạt 165.000 tỷ đồng; trong đó cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực: nông, lâm, thủy sản chiếm 9%, công nghiệp - xây dựng chiếm 63,1%, dịch vụ chiếm 27,9%; cơ cấu đầu tư theo địa bàn: vùng đồng bằng chiếm 35,2%, vùng ven biển chiếm 51,5%, vùng miền núi chiếm 13,3%.
- Giai đoạn 2016 - 2020: Tổng vốn đầu tư đạt 600.000 tỷ đồng; trong đó cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực: nông, lâm, thủy sản chiếm 11,2%, công nghiệp - xây dựng chiếm 59,6%, dịch vụ chiếm 29,2%; cơ cấu đầu tư theo địa bàn: vùng đồng bằng chiếm 32%, vùng ven biển chiếm 56%, vùng miền núi chiếm 12%.
- Giai đoạn 2021 - 2025: Tổng vốn đầu tư đạt 750.000 tỷ đồng; trong đó cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực: nông, lâm, thủy sản chiếm 18%, công nghiệp - xây dựng chiếm 47%, dịch vụ chiếm 35%; cơ cấu đầu tư theo địa bàn: vùng đồng bằng chiếm 38%, vùng ven biển chiếm 42%, vùng miền núi chiếm 20%.
II. ĐỊNH HƯỚNG TÁI CƠ CẤU KINH TẾ
1. Định hướng tái cơ cấu các ngành kinh tế
1.1. Tái cơ cấu ngành nông, lâm, thủy sản
a) Về nông nghiệp
- Trên cơ sở phát huy lợi thế của từng vùng, địa phương, đẩy mạnh phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng; giảm dần diện tích gieo trồng cây hàng năm có hiệu quả thấp sang trồng các loại cây công nghiệp, nguyên liệu phục vụ chế biến, thức ăn chăn nuôi; từ nay đến năm 2020, chuyển 32.000 ha đất lúa sang trồng cỏ, thức ăn gia súc, ngô và nuôi trồng thủy sản.
- Xây dựng cơ chế chính sách và lộ trình để hỗ trợ phát triển các sản phẩm nông nghiệp có khả năng cạnh tranh tốt và sản phẩm nông nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ cao.
- Đẩy mạnh cơ giới hóa trên tất cả các khâu từ trồng trọt, thu hoạch, chế biến, bảo quản. Đến năm 2020, tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất đạt 95%; tỷ lệ cơ giới hóa của khâu gieo trồng, chăm bón 70%, khâu thu hoạch là 70%, khâu chế biến 80%. Nghiên cứu, xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách thu hút doanh nghiệp, các hợp tác xã, cũng như tạo điều kiện cho nông dân đầu tư trang thiết bị phục vụ cơ giới hóa trong nông nghiệp. Trước mắt, ưu tiên đầu tư hệ thống thủy nông đảm bảo nguồn nước tưới; xây dựng lộ trình chuyển đổi máy bơm trục ngang sang trục đứng để tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí sản xuất, phấn đấu diện tích được tưới, phun bằng máy bơm nước từ giếng khoan hoặc tưới tiết kiệm nước năm 2015 đạt 50%, năm 2020 đạt 70%. Cơ giới hóa khâu gieo trồng và chăm sóc theo hướng công nghiệp, sử dụng máy cấy lúa, hàng tra hạt (ngô, đậu đỗ, lúa nương…), đào hố trồng cây; tăng cường đầu tư máy phun thuốc trừ sâu chạy bằng động cơ để bảo đảm năng suất, chất lượng phun thuốc, giảm sức lao động và độc hại cho nông dân; cơ giới hóa khâu thu hoạch, làm khô, bảo quản theo hướng trang bị các loại máy gặt lúa, máy đập lúa, máy gặt đập liên hợp... Trong bảo quản, chế biến, tập trung hỗ trợ đầu tư xây dựng kho lạnh để bảo quản giống và sản phẩm cây màu, cây vụ đông, lúa giống.
- Chuyển đổi mô hình chăn nuôi theo hướng tăng chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, sức cạnh tranh, hiệu quả, đảm bảo an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi trang trại tập trung, công nghệ cao, đồng bộ, theo chuỗi giá trị (từ giống, thức ăn, thú y... đến giết mổ, chế biến, tiêu thụ) gắn với thị trường, song song với con nuôi có giá trị cao; bố trí các trang trại chăn nuôi ở vùng bán sơn địa, khu vực xa khu dân cư nhằm hạn chế tác động của ô nhiễm môi trường. Giảm dần mô hình chăn nuôi nông hộ; song, sẽ tập trung công tác khuyến nông để giúp các hộ chăn nuôi chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, kiểm soát dịch bệnh và an toàn vệ sinh thực phẩm.
- Đẩy mạnh cơ cấu các vật nuôi theo hướng tăng quy mô đàn: gia cầm, bò sữa, bò thịt; khuyến khích chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm đặc sản, như: dê, lợn đen, gà thả vườn, nhím, thỏ... Khai thác thế mạnh về đất đai và đồng cỏ để phát triển đàn bò sữa, bò thịt; đối với chăn nuôi bò thịt chất lượng cao: bố trí ở vùng trung du và một số nơi vùng đồng bằng để phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Đối với đàn bò sữa, trọng tâm là phát triển các trang trại bò sữa theo quy mô, tập trung ở các huyện: Thọ Xuân, Như Thanh, Triệu Sơn, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Hà Trung, Yên Định, Như Xuân, Nông Cống; hình thành vùng chăn nuôi bò sữa tập trung do Công ty TNHH Bò sữa Thống Nhất Thanh Hóa và Công ty Cổ phần ứng dụng công nghệ cao nông nghiệp và thực phẩm sữa TH đầu tư theo phương thức mới, áp dụng kỹ thuật công nghệ cao đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, quy mô lớn. Đồng thời, xây dựng các mô hình trình diễn quy mô nhỏ trong dân để làm nòng cốt phát triển nhân rộng ra toàn tỉnh.
b) Về lâm nghiệp
Phát triển lâm nghiệp bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng theo hướng tăng diện tích rừng kinh tế; chú trọng nâng cao chất lượng rừng, sớm hình thành vùng sản xuất rừng gỗ lớn, vùng luồng, quế thâm canh tập trung, gắn với chế biến sâu theo hướng công nghiệp hiện đại, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao để xuất khẩu, thay thế dần các sản phẩm thô (dăm gỗ, nhựa thông, nứa thanh) như hiện nay. Tăng cường quản lý bảo vệ, phát triển và sử dụng hợp lý đất lâm nghiệp, nhằm bảo vệ môi trường, sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học.
Đẩy mạnh công tác trồng rừng, bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh, chăm sóc và quản lý rừng; khai thác có hiệu quả lâm đặc sản (nhựa thông, cánh kiến, cao su trên đất lâm nghiệp, sở, trẩu,...); mở rộng diện tích rừng kinh tế để trồng các cây gỗ lớn (Lát hoa, Xoan, Keo tai tượng, Sao đen...) ở những nơi có điều kiện, tạo nguồn cung để phát triển các sản phẩm và thị trường đồ mộc cao cấp; giảm diện tích trồng rừng kinh doanh gỗ nhỏ. Chú trọng thâm canh, tăng năng suất, đảm bảo nguyên liệu cho các cơ sở đã đi vào hoạt động, trong đó ưu tiên nguyên liệu cho các cơ sở chế biến sâu, các cơ sở chế biến gắn với đầu tư và thu mua nguyên liệu theo hợp đồng với nông dân; hạn chế sản xuất dăm gỗ.
c) Về thủy sản
- Tổ chức lại sản xuất ngành thủy sản ở tất cả các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng, hậu cần dịch vụ và chế biến thủy sản theo chuỗi giá trị sản phẩm từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến tiêu thụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả. Giảm dần đánh bắt gần bờ, tăng đánh bắt xa bờ; giảm tỷ trọng khai thác, tăng tỷ trọng nuôi trồng, trong đó giảm diện tích nuôi trồng quảng canh cải tiến, tăng diện tích nuôi trồng công nghiệp chất lượng cao.
+ Về khai thác: Chuyển đổi mạnh cơ cấu khai thác thủy sản ven bờ sang khai thác xa bờ để nâng cao giá trị kinh tế gắn với bảo vệ nguồn lợi tài nguyên biển. Chú trọng cải hoán, đóng mới tàu cá công suất từ 90 CV trở lên. Hiện đại hóa công tác quản lý nghề cá trên biển, đặc biệt sớm hoàn thiện hệ thống thông tin tàu cá nhằm chủ động cảnh báo, kịp thời ứng phó với các tai nạn, rủi ro trên biển, cứu hộ cứu nạn.
+ Về nuôi trồng thủy sản: Phát triển toàn diện nuôi trồng thủy sản cả 3 loại hình: nước mặn, nước lợ và nước ngọt theo hướng chuyển đổi cơ cấu sản xuất hiệu quả, bền vững, trong đó chú trọng đầu tư phát triển 4 loại chủ lực là tôm sú, tôm chân trắng, ngao Bến Tre và cua. Xây dựng chính sách hỗ trợ nông dân chuyển một số diện tích đất lúa, cói sang nuôi trồng thủy sản.
* Đối với nuôi thủy sản nước lợ, mặn: Cơ cấu đối tượng nuôi chủ yếu của vụ 1 (xuân hè) là: tôm sú, tôm he chân trắng; vụ 2 là: cua, tôm he chân trắng, tôm sú. Ngoài các đối tượng nuôi chủ lực có thể phát triển nuôi tôm rảo, cá vược, bống bớp, cá rô phi đơn tính, trồng rau câu... ở những nơi có điều kiện.
* Đối với nuôi thủy sản nước ngọt: Đa dạng hóa các đối tượng và hình thức nuôi trồng phù hợp với trình độ, điều kiện tự nhiên của từng vùng miền. Tiếp tục chuyển dịch diện tích ruộng trũng năng suất thấp sang nuôi thủy sản, nuôi trồng thủy sản kết hợp trồng trọt, chăn nuôi phát triển trang trại tổng hợp.
- Về chế biến và dịch vụ hậu cần thủy sản: Phát triển và hoàn thiện các dịch vụ hậu cần thủy sản như: các cảng cá, bến cá, Hòn Mê, Lạch Hới, Hòa Lộc, Hải Châu, Lạch Trường, Hoằng Trường, Quảng Nham, Hoằng Phụ, Nga Bạch, Nghi Sơn, các khu neo đậu nghề cá Lạch Trường, Sông Lý, kênh Sao Sa; Phát triển các khu dịch vụ - đô thị nghề cá ở Ngư Lộc, Hòa Lộc (Hậu Lộc), Hoằng Trường (Hoằng Hóa), Ghép (Quảng Xương), Lạch Bạng (Tĩnh Gia), Lạch Hới (Sầm Sơn). Đầu tư nâng cấp hệ thống chợ đầu mối tiêu thụ sản phẩm tại Tĩnh Gia, Sầm Sơn, Hậu Lộc; xây dựng mới chợ chuyên doanh hải sản Nga Tiến, Hoằng Trường, Quảng Nham, Hải Nhân, Quảng Tiến. Khuyến khích phát triển các đội tàu hậu cần dịch vụ hoạt động trên biển, tạo điều kiện cho tàu hoạt động dài ngày trên biển, nâng cao hiệu quả khai thác hải sản.
d) Về đẩy mạnh liên kết, hình thành các chuỗi giá trị sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm
Phát triển các HTX sản xuất nông nghiệp kiểu mới để đẩy mạnh cung ứng các dịch vụ nông nghiệp, làm đầu mối đón nhận và triển khai dịch vụ công ở cộng đồng, như khuyến nông, tín dụng, hỗ trợ marketing, quản lý chất lượng, kiểm soát bảo vệ thực vật, bảo vệ rừng, quản lý mặt nước... Khuyến khích và thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Nghiên cứu hỗ trợ các HTX, các doanh nghiệp xây dựng nhà kho, kho trữ lạnh, sân phơi, xưởng sơ chế, chế biến... để bảo quản sau thu hoạch theo hướng hiện đại, nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao giá trị của sản phẩm. Khuyến khích các HTX, các doanh nghiệp liên kết, ký kết hợp đồng sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản với nông dân, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa các chủ thể tham gia; phát triển các nhóm nông dân hợp tác tự nguyện, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.
Tạo điều kiện và xây dựng chính sách hỗ trợ để doanh nghiệp và các thành phần kinh tế đầu tư, nâng cấp toàn diện về công nghệ, máy móc thiết bị, nhân lực, mở rộng sản xuất... để chế biến sâu đối với các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu; phấn đấu đến năm 2020, có trên 15 nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu; xây dựng 9 cụm công nghiệp (CCN) và điểm công nghiệp CBTS có quy mô từ 1-3 ha, phục vụ cho các cơ sở thu mua, CBTS và dịch vụ hậu cần nghề cá. Xây dựng mới 1 nhà máy thức ăn gia súc phục vụ phát triển chăn nuôi bò sữa, công suất 100 tấn/ngày, tương ứng khoảng 350 nghìn tấn/năm. Đầu tư xây dựng mới các cơ sở chế biến thức ăn gia súc có công suất 50-100 tấn ngày/cơ sở tại các huyện như Nông Cống, Triệu Sơn, Ngọc Lặc, Thiệu Hóa, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Thọ Xuân, Đông Sơn, Yên Định, Thạch Thành, Quan Hóa với tổng công suất khoảng 300 nghìn tấn/năm. Kêu gọi đầu tư mới 2 nhà máy chế biến thịt lợn, thịt gà, cho tiêu dùng và xuất khẩu. Cải tạo và mở rộng Nhà máy sữa Lam Sơn giai đoạn 1, nâng công suất từ 22,5 triệu lít sữa/năm lên công suất: 60 triệu lít sữa/năm (tương ứng 200.000 lít sữa/ngày). Đầu tư nâng cấp 04 cơ sở chế biến rau quả hiện có, để nâng công suất lên 34 ngàn tấn/năm (XN chế biến rau quả Hoằng Hóa, NM chế biến rau quả Hà Trung, NM chế biến măng Bá Thước, NM chế biến rau quả Thống Nhất); xây dựng mới 2 NM tai Bỉm Sơn và Thạch Thành để nâng công suất chế biến lên 54.000 tấn/năm; xây dựng mới 04 cơ sở chế biến lúa gạo với quy mô tối thiểu 80.000 tấn lúa/1 cơ sở/năm và 1 cơ sở chế biến ngô với quy mô tối thiểu 50.000 tấn ngô/năm gắn với vùng sản xuất lúa, ngô hàng hóa chất lượng cao.
1.2. Tái cơ cấu ngành công nghiệp - xây dựng
a) Về công nghiệp
- Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, sử dụng công nghệ hiện đại, thay thế dần công nghệ cũ, lạc hậu; ưu tiên các ngành, sản phẩm công nghiệp có lợi thế so sánh; nâng cao chất lượng lao động, kỹ năng quản lý, tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
- Đối với nhóm sản phẩm có khả năng cạnh tranh tốt (xi măng, gạch xây, bia, sữa, súc sản, thủy sản, điện sản xuất, sản phẩm gỗ...): tiếp tục phát triển theo hướng cải tạo, nâng cấp dây chuyền công nghệ, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm để giữ vững thị trường, tăng sản lượng.
- Đối với nhóm sản phẩm có hàm lượng khoa học công nghệ cao (dầu mỏ tinh chế (xăng, dầu và các sản phẩm sau dầu), ngành sản xuất điện năng, sản xuất ô tô, kim loại, sản xuất thiết bị điện; linh kiện và thiết bị điện tử...): sẽ được ưu tiên thu hút đầu tư và mở rộng sản xuất trong giai đoạn từ nay đến năm 2025. Trước mắt, đẩy nhanh tiến độ thi công sớm đưa vào hoạt động các dự án công nghiệp có quy mô lớn như: Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn, Nhà máy Thép Nghi Sơn, Nhiệt điện Nghi Sơn II, các Nhà máy thủy điện Bá Thước I, Trung Sơn, Hồi Xuân, các Nhà máy ferocrom. Tăng cường xúc tiến đầu tư các dự án sản xuất các sản phẩm sau lọc hóa dầu, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học, cao su, plastic; cơ khí, thiết bị điện; linh kiện và thiết bị điện tử, tin học, phần mềm tin học...
- Đối với nhóm sản phẩm công nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ không cao nhưng tạo ra nhiều việc làm (dệt may, da giày), xác định giai đoạn từ nay đến năm 2020 vẫn tiếp tục mở rộng sản xuất nhằm giải quyết việc làm, đóng góp vào tăng trưởng và xuất khẩu; giai đoạn sau năm 2020, sẽ không mở rộng và nâng quy mô cho ngành này (các nhà máy may gia công) để ưu tiên các nguồn lực (lao động, đất đai,...) cho phát triển các ngành công nghiệp khác có giá trị gia tăng cao hơn.
- Đối với nhóm sản phẩm hạn chế phát triển (thuốc lá bao, đá khai thác, đá ốp lát xây dựng, quặng secpentine): chỉ duy trì quy mô hiện có, gắn với tăng cường đầu tư đổi mới máy móc thiết bị để nâng cao hiệu quả, bảo đảm môi trường và an toàn lao động.
- Xác định 2 điểm đột phá trong phát triển công nghiệp của tỉnh:
+ Tại Khu kinh tế Nghi Sơn phát triển các ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh như: lọc hóa dầu, hóa chất (lọc dầu, polypropylen, sợi tổng hợp, chất dẻo, phân bón tổng hợp, chất tẩy rửa tổng hợp); luyện kim, cơ khí, trong đó đặc biệt chú trọng thu hút để sản xuất thép cao cấp phục vụ công nghiệp chế biến, chế tạo; sản xuất thiết bị phục vụ vận chuyển, bốc xếp hàng hóa ở các cảng biển (cầu, xe nâng hàng,...).
+ Tại khu công nghiệp công nghệ cao Lam Sơn - Sao Vàng: phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, công nghiệp điện tử, công nghiệp thông tin, viễn thông, sản xuất hàng tiêu dùng, dược phẩm.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN tập trung, sớm hoàn thành các hạ tầng thiết yếu (giao thông, cấp thoát nước, cấp điện, xử lý nước thải...) để đẩy mạnh thu hút các doanh nghiệp thuê đất phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao tỷ lệ lấp đầy các KCN.
- Đẩy mạnh quá trình hình thành các cụm công nghiệp theo quy hoạch, tạo điều kiện phát triển các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa với ngành nghề đa dạng, nhất là ở nông thôn; khôi phục và phát triển một số làng nghề truyền thống, làng nghề mới gắn với việc du nhập, nhân rộng nghề phù hợp nhằm thu hút lực lượng lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
b) Về xây dựng
- Tăng cường công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản; tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng; nhất là trong việc đấu thầu các dự án từ nguồn vốn ngân sách nhà nước để các doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng cạnh tranh lành mạnh.
- Tạo điều kiện để hình thành các doanh nghiệp mạnh trong ngành xây dựng với trang thiết bị tiên tiến, tiếp cận và từng bước làm chủ các công nghệ hiện đại trong thi công xây lắp, đảm bảo thực hiện được các dự án quy mô lớn, yêu cầu kỹ thuật phức tạp; nâng cao chất lượng, thẩm mỹ các công trình kiến trúc. Tiến tới có các doanh nghiệp mạnh trong ngành xây dựng có thể vươn ra hoạt động ở trong và ngoài nước.
- Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế đầu tư phát triển mạnh mẽ thị trường bất động sản, trước hết là thị trường nhà ở xã hội, văn phòng cho thuê, các cao ốc hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và phát triển đô thị.
1.3. Tái cơ cấu ngành dịch vụ
- Ưu tiên phát triển 6 loại hình dịch vụ là: du lịch, vận tải, thông tin và truyền thông, kinh doanh bất động sản, giáo dục, y tế:
+ Về phát triển dịch vụ du lịch: Xây dựng cơ chế khuyến khích để thu hút các nhà đầu tư xây dựng khách sạn 5 sao, resort, nhà hàng có quy mô lớn, sân golf…; đồng thời, thu hút có chọn lọc các công ty lữ hành có danh tiếng thiết lập hiện diện thương mại trên địa bàn Thanh Hóa. Đẩy mạnh thông tin, quảng bá, xúc tiến du lịch, xây dựng thương hiệu du lịch Thanh Hóa; xây dựng Sầm Sơn trở thành đô thị du lịch biển quốc gia. Xây dựng, hoàn thiện các khu, điểm thuộc địa bàn du lịch trọng điểm gồm: Sầm Sơn, Hàm Rồng, Bến En, Lam Kinh, Thành nhà Hồ, Suối cá Cẩm Lương, Hồ Cửa Đạt, Nghi Sơn; chuẩn bị và tổ chức thành công năm du lịch quốc gia 2015 tại Thanh Hóa. Ban hành nghị quyết của BCH Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch, để thúc đẩy ngành dịch vụ quan trọng này phát triển nhanh và sớm đưa Thanh Hóa trở thành trọng điểm du lịch trong hệ thống du lịch quốc gia.
+ Về phát triển dịch vụ vận tải, kho bãi: Phát triển đa dạng các loại hình vận tải; kết hợp phát triển đồng bộ, hợp lý giữa vận tải đường bộ với đường sắt và đường thủy; khai thác thế mạnh cụm cảng nước sâu Nghi Sơn và các cảng sông để mở rộng vận tải biển và vận tải thủy nội địa; phát triển các tuyến vận tải hành khách kết hợp với phát triển du lịch; mở rộng và phát triển vận tải công cộng bằng xe buýt trên địa bàn tỉnh, mở thêm các tuyến bay nội địa mới đi Đà Nẵng, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt; tuyến bay quốc tế đi Viêng Chăn (Lào) tại sân bay Thọ Xuân. Khuyến khích và tạo điều kiện cho các hãng vận tải biển lớn thiết lập trụ sở, chi nhánh tại tỉnh.
+ Về phát triển thông tin và truyền thông: tập trung phát triển nhanh dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin với công nghệ hiện đại, chất lượng cao. Ưu tiên phát triển sản phẩm dịch vụ phần mềm công nghệ thông tin và nội dung số (chứng thực chữ ký số cho các doanh nghiệp, tổ chức...). Mở rộng phủ sóng mạng thông tin di động 3G, internet băng thông rộng đến khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng - an ninh.
+ Phát triển dịch vụ kinh doanh bất động sản: rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, đảm bảo dành đủ quỹ đất cho xây dựng và phát triển nhà ở, nhất là khu vực đô thị. Quan tâm phát triển nhà ở xã hội, đáp ứng nhu cầu nhà ở cho đối tượng học sinh, sinh viên, công nhân làm việc trong khu kinh tế và các KCN. Khuyến khích, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản xây dựng và phát triển đa dạng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của nhân dân địa phương.
+ Về phát triển dịch vụ y tế, giáo dục: ưu tiên nguồn lực nhà nước, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ y tế, giáo dục; xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích tư nhân đầu tư các dịch vụ y tế, giáo dục chất lượng cao; tiến tới có một số trường học, bệnh viện đạt tiêu chuẩn quốc tế và xây dựng Thanh Hóa thành trung tâm dịch vụ y tế, khám chữa bệnh chất lượng cao của khu vực. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa, đồng thời đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị công lập cung ứng dịch vụ công cộng theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạch toán thu - chi không vì lợi nhuận.
- Tiếp tục duy trì và phát triển các ngành dịch vụ khác, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, trong đó: xác định đi tắt đón đầu đối với dịch vụ logistic; ứng dụng công nghệ thông tin kỹ thuật số trong các dịch vụ logistics theo hướng đồng bộ, hiện đại tiến tới phát triển thương mại điện tử và logistics điện tử (e-logistics). Thu hút các doanh nghiệp logistics có thương hiệu nước ngoài đầu tư vào tỉnh. Đẩy mạnh phát triển viễn thông và công nghệ thông tin, nhất là ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Khuyến khích phát triển mạnh các siêu thị, trung tâm thương mại tại thành phố Thanh Hóa, Khu kinh tế Nghi Sơn, các thị xã, đô thị Ngọc Lặc và một số đô thị có sức lan tỏa rộng; tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia vào tỉnh như: Metro, Daiso, Lottemart, Familymart, E-mart... Xúc tiến việc hình thành Khu kinh tế cửa khẩu Na Mèo làm trung tâm giao thương hàng hóa với nước bạn Lào. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cửa khẩu Tén Tằn, cửa khẩu Khẹo; nâng cấp, cải tạo hệ thống chợ đảm bảo đạt tiêu chuẩn theo quy định. Tiến hành đổi mới tổ chức, cơ chế quản lý chợ theo hướng chuyển sang mô hình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã quản lý, kinh doanh chợ.
Đẩy mạnh xuất khẩu theo hướng hình thành các nguồn hàng có quy mô lớn, ổn định, chất lượng cao, có thương hiệu; tăng tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng cao, sản phẩm chế biến, giảm dần tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm thô, sơ chế. Khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất hàng hóa xuất khẩu, thay thế nhập khẩu; đầu tư ứng dụng công nghệ hiện đại; đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu; đầu tư phát triển các hoạt động xuất khẩu dịch vụ, xuất khẩu tại chỗ.
2. Định hướng tái cơ cấu kinh tế vùng
2.1. Đối với vùng đồng bằng
- Tập trung phát triển các ngành công nghiệp: lắp ráp ô tô, xi măng, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hàng tiêu dùng, công nghiệp dệt may, da giày, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn. Từng bước ưu tiên thu hút và tạo điều kiện phát triển các ngành, sản phẩm công nghiệp công nghệ cao như: công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp và y tế; công nghệ vi điện tử, cơ điện tử và quang điện tử; công nghệ tự động hóa và cơ khí chính xác; công nghệ vật liệu mới, năng lượng mới; công nghệ thông tin, truyền thông và công nghệ phần mềm tin học; công nghệ phục vụ hóa dầu.
- Tạo điều kiện thuận lợi về đất đai, vị trí và các điều kiện cần thiết khác để thu hút và phát triển mạnh các ngành dịch vụ cơ bản như: thương mại, du lịch, tài chính, ngân hàng, vận tải, bưu chính, viễn thông; dịch vụ đào tạo, dạy nghề, y tế kỹ thuật cao...
- Ưu tiên nguồn lực phát triển các trọng điểm kinh tế của vùng đồng bằng, gồm: TP. Thanh Hóa, TX. Bỉm Sơn, khu vực Lam Sơn - Sao Vàng và hệ thống các đô thị, nâng cao tỷ lệ đô thị hóa. Đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng các KCN để đẩy mạnh thu hút đầu tư, tăng tỷ lệ lấp đầy các KCN như: KCN Lam Sơn - Sao Vàng, KCN Hoàng Long, KCN Nam TP. Thanh Hóa, KCN Đình Hương - Tây Bắc Ga, KCN Đông Nam TP. Thanh Hóa, KCN Bỉm Sơn.
- Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Tăng ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp để có khối lượng nông sản hàng hóa lớn, chất lượng cao phục vụ cho các khu đô thị, khu du lịch và xuất khẩu. Xây dựng và phát triển các vùng chuyên canh cây lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm và các vùng chăn nuôi tập trung như: vùng chuyên canh lúa năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; vùng ngô trọng điểm, vùng chuyên canh cây mía, sắn; vùng chăn nuôi bò sữa; chăn nuôi lợn, gia cầm... tạo nguyên liệu ổn định cung cấp cho các nhà máy chế biến và xuất khẩu.
2.2. Đối với vùng ven biển
- Phát triển mạnh kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tập trung nguồn lực để phát triển vùng này thành khu vực phát triển năng động, làm động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của cả tỉnh, trong đó hạt nhân phát triển là KKT Nghi Sơn, TX. Sầm Sơn.
- Phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế, gồm: công nghiệp lọc hóa dầu và sau lọc hóa dầu, công nghiệp xi măng, nhiệt điện, luyện thép, ferocrom; công nghiệp chế biến thủy, hải sản.
- Tăng cường thu hút đầu tư, xây dựng cụm cảng nước sâu Nghi Sơn để khai thác lợi thế về dịch vụ cảng, vận tải biển và các dịch vụ có liên quan. Khai thác có hiệu quả thế mạnh của các đảo, bờ biển để phát triển du lịch biển như: Sầm Sơn, Nghi Sơn, Hải Tiến…; trong đó tập trung xây dựng TX Sầm Sơn là trọng điểm du lịch quốc gia.
- Phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ, nhất là dịch vụ vận tải biển, hàng hải, logistics, thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xuất nhập khẩu. Xây dựng các khu phi thuế quan trong KKT Nghi Sơn theo quy hoạch, làm trung tâm giao lưu và hội nhập quốc tế của cả tỉnh và khu vực Bắc Trung Bộ.
- Phát triển thủy sản cả về đánh bắt và nuôi trồng, gắn với phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá; duy trì nghề muối ở những nơi có điều kiện gắn với nâng cao hiệu quả nghề muối, bảo đảm đời sống cho diêm dân. Xây dựng và phát triển các vùng chuyên canh lúa, cói, lạc, đậu tương, rau đậu, hoa, cây cảnh phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng huyện trong vùng; Phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại và công nghiệp, gắn với chế biến.
2.3. Đối với vùng miền núi
- Ưu tiên nguồn lực đầu tư để phát triển các trọng điểm kinh tế, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả vùng như: Bá Thước, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Bãi Trành - Như Xuân và hình thành 3 trục phát triển dọc các tuyến quốc lộ: đường Hồ Chí Minh; đường Thường Xuân - Bót Mọt - cửa khẩu Khẹo thông thương với tỉnh Hủa Phăn (Lào); Quốc lộ 217.
- Nâng cao hiệu quả kinh tế rừng; tiếp tục bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng hiện có; đẩy mạnh phát triển rừng sản xuất theo hướng thâm canh, nâng cao chất lượng các vùng nguyên liệu luồng, gỗ, mây, cao su, mía, sắn, dứa.
- Phát triển các vùng chăn nuôi tập trung, nhất là chăn nuôi bò sữa, bò thịt chất lượng cao gắn với chế biến. Duy trì và phát triển hợp lý mô hình chăn nuôi nông hộ để tận dụng diện tích đất vườn đồi.
- Phát triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, thủy điện phù hợp với quy hoạch và bảo đảm môi trường; công nghiệp chế biến nông, lâm sản và thực phẩm gắn với vùng nguyên liệu. Xây dựng một số cụm công nghiệp làng nghề gắn với bố trí lại dân cư và các điểm đô thị. Đẩy mạnh thu hút các dự án may mặc, da giày để tạo việc làm cho người lao động tại chỗ.
- Phát triển kinh tế cửa khẩu, trước mắt đẩy mạnh giao thương, buôn bán qua các cửa khẩu: cửa khẩu Na mèo, Tén Tần, Khẹo, Méng... để tiến tới hình thành và phát triển các đô thị, khu kinh tế cửa khẩu.
- Khai thác tiềm năng, lợi thế Vườn quốc gia Bến En, các khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Pù Hu - Pù Luông, Hồ Yên Mỹ, Hồ Cửa Đạt, Suối cá Cẩm Lương để phát triển mạnh du lịch sinh thái, du lịch văn hóa.

Content:
Mục tiêu tái cơ cấu kinh tế
2.1. Mục tiêu tổng quát
Tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kết hợp chiều rộng và chiều sâu, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng theo chiều sâu, tạo tiền đề để sau năm 2020 cơ bản phát triển theo chiều sâu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Ưu tiên phát triển mạnh các ngành, sản phẩm công nghiệp, dịch vụ có hàm lượng khoa học công nghệ, giá trị gia tăng cao; phát triển kinh tế biển, các vùng kinh tế động lực; phấn đấu đến năm 2020 có sản phẩm, lĩnh vực sản xuất đạt trình độ quốc gia và khu vực. Phấn đấu đến năm 2025, xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh có nền công nghiệp; dịch vụ hiện đại với tốc độ đô thị hóa cao và trở thành một trong những tỉnh có nền kinh tế nằm trong tốp đầu của cả nước.
2.Mục tiêu cụ thể
a) Về tái cơ cấu ngành kinh tế
- Về tốc độ tăng trưởng (%):
Giai đoạn 2014 - 2015: tăng trưởng kinh tế đạt 11,4%, trong đó: nông, lâm, thủy sản tăng 3,1%; công nghiệp - xây dựng tăng 13,9%; dịch vụ tăng 12,9%.
Giai đoạn 2016 - 2020: tăng trưởng kinh tế đạt 14,7%, trong đó: nông, lâm, thủy săn tăng 4%; công nghiệp - xây dựng tăng 18,2%; dịch vụ tăng 14,8%.
Giai đoạn 2021 - 2025: tăng trưởng kinh tế đạt 12%, trong đó: nông, lâm, thủy sản tăng 3,5%; công nghiệp - xây dựng tăng 12,5%; dịch vụ tăng 13,1%.
- Về cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP (%)
Năm 2015: Nông, lâm, thủy sản chiếm 16,5%; công nghiệp - xây dựng chiếm 43%; dịch vụ chiếm 40,5%.
Năm 2020: Nông, lâm, thủy sản chiếm 9,5%; công nghiệp - xây dựng chiếm 48%; dịch vụ chiếm 42,5%.
Năm 2025: Nông, lâm, thủy sản chiếm 7%; công nghiệp - xây dựng chiếm 48,5%; dịch vụ chiếm 44,5%.
b) Về tái cơ cấu kinh tế vùng
- Về tốc độ tăng trưởng:
Giai đoạn 2014 - 2015: Vùng đồng bằng tăng trưởng 10,9%; vùng ven biển 12,6%; vùng miền núi 12%;
Giai đoạn 2016 - 2020: Vùng đồng bằng tăng trưởng 12,7%; vùng ven biển 19%; vùng miền núi 13,5%;
Giai đoạn 2021 - 2025: Vùng đồng bằng tăng trưởng 10,8%; vùng ven biển 13,9%; vùng miền núi 11,6%;
- Cơ cấu các vùng kinh tế trong tổng GDP toàn tỉnh
Năm 2015: Vùng đồng bằng chiếm 60%, vùng ven biển chiếm 26%, vùng miền núi chiếm 14%;
Năm 2020: Vùng đồng bằng chiếm 46,5%, vùng ven biển chiếm 39%, vùng miền núi chiếm 14,5%;
Năm 2025: Vùng đồng bằng chiếm 44%, vùng ven biển chiếm 41%, vùng miền núi chiếm 15%;
c) Về tái cơ cấu đầu tư
- Giai đoạn 2014 - 2015: Tổng vốn đầu tư đạt 165.000 tỷ đồng; trong đó cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực: nông, lâm, thủy sản chiếm 9%, công nghiệp - xây dựng chiếm 63,1%, dịch vụ chiếm 27,9%; cơ cấu đầu tư theo địa bàn: vùng đồng bằng chiếm 35,2%, vùng ven biển chiếm 51,5%, vùng miền núi chiếm 13,3%.
- Giai đoạn 2016 - 2020: Tổng vốn đầu tư đạt 600.000 tỷ đồng; trong đó cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực: nông, lâm, thủy sản chiếm 11,2%, công nghiệp - xây dựng chiếm 59,6%, dịch vụ chiếm 29,2%; cơ cấu đầu tư theo địa bàn: vùng đồng bằng chiếm 32%, vùng ven biển chiếm 56%, vùng miền núi chiếm 12%.
- Giai đoạn 2021 - 2025: Tổng vốn đầu tư đạt 750.000 tỷ đồng; trong đó cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực: nông, lâm, thủy sản chiếm 18%, công nghiệp - xây dựng chiếm 47%, dịch vụ chiếm 35%; cơ cấu đầu tư theo địa bàn: vùng đồng bằng chiếm 38%, vùng ven biển chiếm 42%, vùng miền núi chiếm 20%.
II. ĐỊNH HƯỚNG TÁI CƠ CẤU KINH TẾ
1. Định hướng tái cơ cấu các ngành kinh tế
1.1. Tái cơ cấu ngành nông, lâm, thủy sản
a) Về nông nghiệp
- Trên cơ sở phát huy lợi thế của từng vùng, địa phương, đẩy mạnh phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng; giảm dần diện tích gieo trồng cây hàng năm có hiệu quả thấp sang trồng các loại cây công nghiệp, nguyên liệu phục vụ chế biến, thức ăn chăn nuôi; từ nay đến năm 2020, chuyển 32.000 ha đất lúa sang trồng cỏ, thức ăn gia súc, ngô và nuôi trồng thủy sản.
- Xây dựng cơ chế chính sách và lộ trình để hỗ trợ phát triển các sản phẩm nông nghiệp có khả năng cạnh tranh tốt và sản phẩm nông nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ cao.
- Đẩy mạnh cơ giới hóa trên tất cả các khâu từ trồng trọt, thu hoạch, chế biến, bảo quản. Đến năm 2020, tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất đạt 95%; tỷ lệ cơ giới hóa của khâu gieo trồng, chăm bón 70%, khâu thu hoạch là 70%, khâu chế biến 80%. Nghiên cứu, xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách thu hút doanh nghiệp, các hợp tác xã, cũng như tạo điều kiện cho nông dân đầu tư trang thiết bị phục vụ cơ giới hóa trong nông nghiệp. Trước mắt, ưu tiên đầu tư hệ thống thủy nông đảm bảo nguồn nước tưới; xây dựng lộ trình chuyển đổi máy bơm trục ngang sang trục đứng để tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí sản xuất, phấn đấu diện tích được tưới, phun bằng máy bơm nước từ giếng khoan hoặc tưới tiết kiệm nước năm 2015 đạt 50%, năm 2020 đạt 70%. Cơ giới hóa khâu gieo trồng và chăm sóc theo hướng công nghiệp, sử dụng máy cấy lúa, hàng tra hạt (ngô, đậu đỗ, lúa nương…), đào hố trồng cây; tăng cường đầu tư máy phun thuốc trừ sâu chạy bằng động cơ để bảo đảm năng suất, chất lượng phun thuốc, giảm sức lao động và độc hại cho nông dân; cơ giới hóa khâu thu hoạch, làm khô, bảo quản theo hướng trang bị các loại máy gặt lúa, máy đập lúa, máy gặt đập liên hợp... Trong bảo quản, chế biến, tập trung hỗ trợ đầu tư xây dựng kho lạnh để bảo quản giống và sản phẩm cây màu, cây vụ đông, lúa giống.
- Chuyển đổi mô hình chăn nuôi theo hướng tăng chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, sức cạnh tranh, hiệu quả, đảm bảo an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi trang trại tập trung, công nghệ cao, đồng bộ, theo chuỗi giá trị (từ giống, thức ăn, thú y... đến giết mổ, chế biến, tiêu thụ) gắn với thị trường, song song với con nuôi có giá trị cao; bố trí các trang trại chăn nuôi ở vùng bán sơn địa, khu vực xa khu dân cư nhằm hạn chế tác động của ô nhiễm môi trường. Giảm dần mô hình chăn nuôi nông hộ; song, sẽ tập trung công tác khuyến nông để giúp các hộ chăn nuôi chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, kiểm soát dịch bệnh và an toàn vệ sinh thực phẩm.
- Đẩy mạnh cơ cấu các vật nuôi theo hướng tăng quy mô đàn: gia cầm, bò sữa, bò thịt; khuyến khích chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm đặc sản, như: dê, lợn đen, gà thả vườn, nhím, thỏ... Khai thác thế mạnh về đất đai và đồng cỏ để phát triển đàn bò sữa, bò thịt; đối với chăn nuôi bò thịt chất lượng cao: bố trí ở vùng trung du và một số nơi vùng đồng bằng để phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Đối với đàn bò sữa, trọng tâm là phát triển các trang trại bò sữa theo quy mô, tập trung ở các huyện: Thọ Xuân, Như Thanh, Triệu Sơn, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Hà Trung, Yên Định, Như Xuân, Nông Cống; hình thành vùng chăn nuôi bò sữa tập trung do Công ty TNHH Bò sữa Thống Nhất Thanh Hóa và Công ty Cổ phần ứng dụng công nghệ cao nông nghiệp và thực phẩm sữa TH đầu tư theo phương thức mới, áp dụng kỹ thuật công nghệ cao đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, quy mô lớn. Đồng thời, xây dựng các mô hình trình diễn quy mô nhỏ trong dân để làm nòng cốt phát triển nhân rộng ra toàn tỉnh.
b) Về lâm nghiệp
Phát triển lâm nghiệp bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng theo hướng tăng diện tích rừng kinh tế; chú trọng nâng cao chất lượng rừng, sớm hình thành vùng sản xuất rừng gỗ lớn, vùng luồng, quế thâm canh tập trung, gắn với chế biến sâu theo hướng công nghiệp hiện đại, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao để xuất khẩu, thay thế dần các sản phẩm thô (dăm gỗ, nhựa thông, nứa thanh) như hiện nay. Tăng cường quản lý bảo vệ, phát triển và sử dụng hợp lý đất lâm nghiệp, nhằm bảo vệ môi trường, sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học.
Đẩy mạnh công tác trồng rừng, bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh, chăm sóc và quản lý rừng; khai thác có hiệu quả lâm đặc sản (nhựa thông, cánh kiến, cao su trên đất lâm nghiệp, sở, trẩu,...); mở rộng diện tích rừng kinh tế để trồng các cây gỗ lớn (Lát hoa, Xoan, Keo tai tượng, Sao đen...) ở những nơi có điều kiện, tạo nguồn cung để phát triển các sản phẩm và thị trường đồ mộc cao cấp; giảm diện tích trồng rừng kinh doanh gỗ nhỏ. Chú trọng thâm canh, tăng năng suất, đảm bảo nguyên liệu cho các cơ sở đã đi vào hoạt động, trong đó ưu tiên nguyên liệu cho các cơ sở chế biến sâu, các cơ sở chế biến gắn với đầu tư và thu mua nguyên liệu theo hợp đồng với nông dân; hạn chế sản xuất dăm gỗ.
c) Về thủy sản
- Tổ chức lại sản xuất ngành thủy sản ở tất cả các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng, hậu cần dịch vụ và chế biến thủy sản theo chuỗi giá trị sản phẩm từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến tiêu thụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả. Giảm dần đánh bắt gần bờ, tăng đánh bắt xa bờ; giảm tỷ trọng khai thác, tăng tỷ trọng nuôi trồng, trong đó giảm diện tích nuôi trồng quảng canh cải tiến, tăng diện tích nuôi trồng công nghiệp chất lượng cao.
+ Về khai thác: Chuyển đổi mạnh cơ cấu khai thác thủy sản ven bờ sang khai thác xa bờ để nâng cao giá trị kinh tế gắn với bảo vệ nguồn lợi tài nguyên biển. Chú trọng cải hoán, đóng mới tàu cá công suất từ 90 CV trở lên. Hiện đại hóa công tác quản lý nghề cá trên biển, đặc biệt sớm hoàn thiện hệ thống thông tin tàu cá nhằm chủ động cảnh báo, kịp thời ứng phó với các tai nạn, rủi ro trên biển, cứu hộ cứu nạn.
+ Về nuôi trồng thủy sản: Phát triển toàn diện nuôi trồng thủy sản cả 3 loại hình: nước mặn, nước lợ và nước ngọt theo hướng chuyển đổi cơ cấu sản xuất hiệu quả, bền vững, trong đó chú trọng đầu tư phát triển 4 loại chủ lực là tôm sú, tôm chân trắng, ngao Bến Tre và cua. Xây dựng chính sách hỗ trợ nông dân chuyển một số diện tích đất lúa, cói sang nuôi trồng thủy sản.
* Đối với nuôi thủy sản nước lợ, mặn: Cơ cấu đối tượng nuôi chủ yếu của vụ 1 (xuân hè) là: tôm sú, tôm he chân trắng; vụ 2 là: cua, tôm he chân trắng, tôm sú. Ngoài các đối tượng nuôi chủ lực có thể phát triển nuôi tôm rảo, cá vược, bống bớp, cá rô phi đơn tính, trồng rau câu... ở những nơi có điều kiện.
* Đối với nuôi thủy sản nước ngọt: Đa dạng hóa các đối tượng và hình thức nuôi trồng phù hợp với trình độ, điều kiện tự nhiên của từng vùng miền. Tiếp tục chuyển dịch diện tích ruộng trũng năng suất thấp sang nuôi thủy sản, nuôi trồng thủy sản kết hợp trồng trọt, chăn nuôi phát triển trang trại tổng hợp.
- Về chế biến và dịch vụ hậu cần thủy sản: Phát triển và hoàn thiện các dịch vụ hậu cần thủy sản như: các cảng cá, bến cá, Hòn Mê, Lạch Hới, Hòa Lộc, Hải Châu, Lạch Trường, Hoằng Trường, Quảng Nham, Hoằng Phụ, Nga Bạch, Nghi Sơn, các khu neo đậu nghề cá Lạch Trường, Sông Lý, kênh Sao Sa; Phát triển các khu dịch vụ - đô thị nghề cá ở Ngư Lộc, Hòa Lộc (Hậu Lộc), Hoằng Trường (Hoằng Hóa), Ghép (Quảng Xương), Lạch Bạng (Tĩnh Gia), Lạch Hới (Sầm Sơn). Đầu tư nâng cấp hệ thống chợ đầu mối tiêu thụ sản phẩm tại Tĩnh Gia, Sầm Sơn, Hậu Lộc; xây dựng mới chợ chuyên doanh hải sản Nga Tiến, Hoằng Trường, Quảng Nham, Hải Nhân, Quảng Tiến. Khuyến khích phát triển các đội tàu hậu cần dịch vụ hoạt động trên biển, tạo điều kiện cho tàu hoạt động dài ngày trên biển, nâng cao hiệu quả khai thác hải sản.
d) Về đẩy mạnh liên kết, hình thành các chuỗi giá trị sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm
Phát triển các HTX sản xuất nông nghiệp kiểu mới để đẩy mạnh cung ứng các dịch vụ nông nghiệp, làm đầu mối đón nhận và triển khai dịch vụ công ở cộng đồng, như khuyến nông, tín dụng, hỗ trợ marketing, quản lý chất lượng, kiểm soát bảo vệ thực vật, bảo vệ rừng, quản lý mặt nước... Khuyến khích và thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Nghiên cứu hỗ trợ các HTX, các doanh nghiệp xây dựng nhà kho, kho trữ lạnh, sân phơi, xưởng sơ chế, chế biến... để bảo quản sau thu hoạch theo hướng hiện đại, nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao giá trị của sản phẩm. Khuyến khích các HTX, các doanh nghiệp liên kết, ký kết hợp đồng sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản với nông dân, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa các chủ thể tham gia; phát triển các nhóm nông dân hợp tác tự nguyện, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.
Tạo điều kiện và xây dựng chính sách hỗ trợ để doanh nghiệp và các thành phần kinh tế đầu tư, nâng cấp toàn diện về công nghệ, máy móc thiết bị, nhân lực, mở rộng sản xuất... để chế biến sâu đối với các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu; phấn đấu đến năm 2020, có trên 15 nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu; xây dựng 9 cụm công nghiệp (CCN) và điểm công nghiệp CBTS có quy mô từ 1-3 ha, phục vụ cho các cơ sở thu mua, CBTS và dịch vụ hậu cần nghề cá. Xây dựng mới 1 nhà máy thức ăn gia súc phục vụ phát triển chăn nuôi bò sữa, công suất 100 tấn/ngày, tương ứng khoảng 350 nghìn tấn/năm. Đầu tư xây dựng mới các cơ sở chế biến thức ăn gia súc có công suất 50-100 tấn ngày/cơ sở tại các huyện như Nông Cống, Triệu Sơn, Ngọc Lặc, Thiệu Hóa, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Thọ Xuân, Đông Sơn, Yên Định, Thạch Thành, Quan Hóa với tổng công suất khoảng 300 nghìn tấn/năm. Kêu gọi đầu tư mới 2 nhà máy chế biến thịt lợn, thịt gà, cho tiêu dùng và xuất khẩu. Cải tạo và mở rộng Nhà máy sữa Lam Sơn giai đoạn 1, nâng công suất từ 22,5 triệu lít sữa/năm lên công suất: 60 triệu lít sữa/năm (tương ứng 200.000 lít sữa/ngày). Đầu tư nâng cấp 04 cơ sở chế biến rau quả hiện có, để nâng công suất lên 34 ngàn tấn/năm (XN chế biến rau quả Hoằng Hóa, NM chế biến rau quả Hà Trung, NM chế biến măng Bá Thước, NM chế biến rau quả Thống Nhất); xây dựng mới 2 NM tai Bỉm Sơn và Thạch Thành để nâng công suất chế biến lên 54.000 tấn/năm; xây dựng mới 04 cơ sở chế biến lúa gạo với quy mô tối thiểu 80.000 tấn lúa/1 cơ sở/năm và 1 cơ sở chế biến ngô với quy mô tối thiểu 50.000 tấn ngô/năm gắn với vùng sản xuất lúa, ngô hàng hóa chất lượng cao.
1.Tái cơ cấu ngành công nghiệp - xây dựng
a) Về công nghiệp
- Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, sử dụng công nghệ hiện đại, thay thế dần công nghệ cũ, lạc hậu; ưu tiên các ngành, sản phẩm công nghiệp có lợi thế so sánh; nâng cao chất lượng lao động, kỹ năng quản lý, tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
- Đối với nhóm sản phẩm có khả năng cạnh tranh tốt (xi măng, gạch xây, bia, sữa, súc sản, thủy sản, điện sản xuất, sản phẩm gỗ...): tiếp tục phát triển theo hướng cải tạo, nâng cấp dây chuyền công nghệ, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm để giữ vững thị trường, tăng sản lượng.
- Đối với nhóm sản phẩm có hàm lượng khoa học công nghệ cao (dầu mỏ tinh chế (xăng, dầu và các sản phẩm sau dầu), ngành sản xuất điện năng, sản xuất ô tô, kim loại, sản xuất thiết bị điện; linh kiện và thiết bị điện tử...): sẽ được ưu tiên thu hút đầu tư và mở rộng sản xuất trong giai đoạn từ nay đến năm 2025. Trước mắt, đẩy nhanh tiến độ thi công sớm đưa vào hoạt động các dự án công nghiệp có quy mô lớn như: Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn, Nhà máy Thép Nghi Sơn, Nhiệt điện Nghi Sơn II, các Nhà máy thủy điện Bá Thước I, Trung Sơn, Hồi Xuân, các Nhà máy ferocrom. Tăng cường xúc tiến đầu tư các dự án sản xuất các sản phẩm sau lọc hóa dầu, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học, cao su, plastic; cơ khí, thiết bị điện; linh kiện và thiết bị điện tử, tin học, phần mềm tin học...
- Đối với nhóm sản phẩm công nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ không cao nhưng tạo ra nhiều việc làm (dệt may, da giày), xác định giai đoạn từ nay đến năm 2020 vẫn tiếp tục mở rộng sản xuất nhằm giải quyết việc làm, đóng góp vào tăng trưởng và xuất khẩu; giai đoạn sau năm 2020, sẽ không mở rộng và nâng quy mô cho ngành này (các nhà máy may gia công) để ưu tiên các nguồn lực (lao động, đất đai,...) cho phát triển các ngành công nghiệp khác có giá trị gia tăng cao hơn.
- Đối với nhóm sản phẩm hạn chế phát triển (thuốc lá bao, đá khai thác, đá ốp lát xây dựng, quặng secpentine): chỉ duy trì quy mô hiện có, gắn với tăng cường đầu tư đổi mới máy móc thiết bị để nâng cao hiệu quả, bảo đảm môi trường và an toàn lao động.
- Xác định 2 điểm đột phá trong phát triển công nghiệp của tỉnh:
+ Tại Khu kinh tế Nghi Sơn phát triển các ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh như: lọc hóa dầu, hóa chất (lọc dầu, polypropylen, sợi tổng hợp, chất dẻo, phân bón tổng hợp, chất tẩy rửa tổng hợp); luyện kim, cơ khí, trong đó đặc biệt chú trọng thu hút để sản xuất thép cao cấp phục vụ công nghiệp chế biến, chế tạo; sản xuất thiết bị phục vụ vận chuyển, bốc xếp hàng hóa ở các cảng biển (cầu, xe nâng hàng,...).
+ Tại khu công nghiệp công nghệ cao Lam Sơn - Sao Vàng: phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, công nghiệp điện tử, công nghiệp thông tin, viễn thông, sản xuất hàng tiêu dùng, dược phẩm.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN tập trung, sớm hoàn thành các hạ tầng thiết yếu (giao thông, cấp thoát nước, cấp điện, xử lý nước thải...) để đẩy mạnh thu hút các doanh nghiệp thuê đất phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao tỷ lệ lấp đầy các KCN.
- Đẩy mạnh quá trình hình thành các cụm công nghiệp theo quy hoạch, tạo điều kiện phát triển các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa với ngành nghề đa dạng, nhất là ở nông thôn; khôi phục và phát triển một số làng nghề truyền thống, làng nghề mới gắn với việc du nhập, nhân rộng nghề phù hợp nhằm thu hút lực lượng lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
b) Về xây dựng
- Tăng cường công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản; tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng; nhất là trong việc đấu thầu các dự án từ nguồn vốn ngân sách nhà nước để các doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng cạnh tranh lành mạnh.
- Tạo điều kiện để hình thành các doanh nghiệp mạnh trong ngành xây dựng với trang thiết bị tiên tiến, tiếp cận và từng bước làm chủ các công nghệ hiện đại trong thi công xây lắp, đảm bảo thực hiện được các dự án quy mô lớn, yêu cầu kỹ thuật phức tạp; nâng cao chất lượng, thẩm mỹ các công trình kiến trúc. Tiến tới có các doanh nghiệp mạnh trong ngành xây dựng có thể vươn ra hoạt động ở trong và ngoài nước.
- Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế đầu tư phát triển mạnh mẽ thị trường bất động sản, trước hết là thị trường nhà ở xã hội, văn phòng cho thuê, các cao ốc hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và phát triển đô thị.
1.3. Tái cơ cấu ngành dịch vụ
- Ưu tiên phát triển 6 loại hình dịch vụ là: du lịch, vận tải, thông tin và truyền thông, kinh doanh bất động sản, giáo dục, y tế:
+ Về phát triển dịch vụ du lịch: Xây dựng cơ chế khuyến khích để thu hút các nhà đầu tư xây dựng khách sạn 5 sao, resort, nhà hàng có quy mô lớn, sân golf…; đồng thời, thu hút có chọn lọc các công ty lữ hành có danh tiếng thiết lập hiện diện thương mại trên địa bàn Thanh Hóa. Đẩy mạnh thông tin, quảng bá, xúc tiến du lịch, xây dựng thương hiệu du lịch Thanh Hóa; xây dựng Sầm Sơn trở thành đô thị du lịch biển quốc gia. Xây dựng, hoàn thiện các khu, điểm thuộc địa bàn du lịch trọng điểm gồm: Sầm Sơn, Hàm Rồng, Bến En, Lam Kinh, Thành nhà Hồ, Suối cá Cẩm Lương, Hồ Cửa Đạt, Nghi Sơn; chuẩn bị và tổ chức thành công năm du lịch quốc gia 2015 tại Thanh Hóa. Ban hành nghị quyết của BCH Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch, để thúc đẩy ngành dịch vụ quan trọng này phát triển nhanh và sớm đưa Thanh Hóa trở thành trọng điểm du lịch trong hệ thống du lịch quốc gia.
+ Về phát triển dịch vụ vận tải, kho bãi: Phát triển đa dạng các loại hình vận tải; kết hợp phát triển đồng bộ, hợp lý giữa vận tải đường bộ với đường sắt và đường thủy; khai thác thế mạnh cụm cảng nước sâu Nghi Sơn và các cảng sông để mở rộng vận tải biển và vận tải thủy nội địa; phát triển các tuyến vận tải hành khách kết hợp với phát triển du lịch; mở rộng và phát triển vận tải công cộng bằng xe buýt trên địa bàn tỉnh, mở thêm các tuyến bay nội địa mới đi Đà Nẵng, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt; tuyến bay quốc tế đi Viêng Chăn (Lào) tại sân bay Thọ Xuân. Khuyến khích và tạo điều kiện cho các hãng vận tải biển lớn thiết lập trụ sở, chi nhánh tại tỉnh.
+ Về phát triển thông tin và truyền thông: tập trung phát triển nhanh dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin với công nghệ hiện đại, chất lượng cao. Ưu tiên phát triển sản phẩm dịch vụ phần mềm công nghệ thông tin và nội dung số (chứng thực chữ ký số cho các doanh nghiệp, tổ chức...). Mở rộng phủ sóng mạng thông tin di động 3G, internet băng thông rộng đến khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng - an ninh.
+ Phát triển dịch vụ kinh doanh bất động sản: rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, đảm bảo dành đủ quỹ đất cho xây dựng và phát triển nhà ở, nhất là khu vực đô thị. Quan tâm phát triển nhà ở xã hội, đáp ứng nhu cầu nhà ở cho đối tượng học sinh, sinh viên, công nhân làm việc trong khu kinh tế và các KCN. Khuyến khích, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản xây dựng và phát triển đa dạng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của nhân dân địa phương.
+ Về phát triển dịch vụ y tế, giáo dục: ưu tiên nguồn lực nhà nước, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ y tế, giáo dục; xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích tư nhân đầu tư các dịch vụ y tế, giáo dục chất lượng cao; tiến tới có một số trường học, bệnh viện đạt tiêu chuẩn quốc tế và xây dựng Thanh Hóa thành trung tâm dịch vụ y tế, khám chữa bệnh chất lượng cao của khu vực. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa, đồng thời đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị công lập cung ứng dịch vụ công cộng theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạch toán thu - chi không vì lợi nhuận.
- Tiếp tục duy trì và phát triển các ngành dịch vụ khác, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, trong đó: xác định đi tắt đón đầu đối với dịch vụ logistic; ứng dụng công nghệ thông tin kỹ thuật số trong các dịch vụ logistics theo hướng đồng bộ, hiện đại tiến tới phát triển thương mại điện tử và logistics điện tử (e-logistics). Thu hút các doanh nghiệp logistics có thương hiệu nước ngoài đầu tư vào tỉnh. Đẩy mạnh phát triển viễn thông và công nghệ thông tin, nhất là ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Khuyến khích phát triển mạnh các siêu thị, trung tâm thương mại tại thành phố Thanh Hóa, Khu kinh tế Nghi Sơn, các thị xã, đô thị Ngọc Lặc và một số đô thị có sức lan tỏa rộng; tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia vào tỉnh như: Metro, Daiso, Lottemart, Familymart, E-mart... Xúc tiến việc hình thành Khu kinh tế cửa khẩu Na Mèo làm trung tâm giao thương hàng hóa với nước bạn Lào. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cửa khẩu Tén Tằn, cửa khẩu Khẹo; nâng cấp, cải tạo hệ thống chợ đảm bảo đạt tiêu chuẩn theo quy định. Tiến hành đổi mới tổ chức, cơ chế quản lý chợ theo hướng chuyển sang mô hình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã quản lý, kinh doanh chợ.
Đẩy mạnh xuất khẩu theo hướng hình thành các nguồn hàng có quy mô lớn, ổn định, chất lượng cao, có thương hiệu; tăng tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng cao, sản phẩm chế biến, giảm dần tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm thô, sơ chế. Khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất hàng hóa xuất khẩu, thay thế nhập khẩu; đầu tư ứng dụng công nghệ hiện đại; đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu; đầu tư phát triển các hoạt động xuất khẩu dịch vụ, xuất khẩu tại chỗ.
Định hướng tái cơ cấu kinh tế vùng
2.1. Đối với vùng đồng bằng
- Tập trung phát triển các ngành công nghiệp: lắp ráp ô tô, xi măng, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hàng tiêu dùng, công nghiệp dệt may, da giày, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn. Từng bước ưu tiên thu hút và tạo điều kiện phát triển các ngành, sản phẩm công nghiệp công nghệ cao như: công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp và y tế; công nghệ vi điện tử, cơ điện tử và quang điện tử; công nghệ tự động hóa và cơ khí chính xác; công nghệ vật liệu mới, năng lượng mới; công nghệ thông tin, truyền thông và công nghệ phần mềm tin học; công nghệ phục vụ hóa dầu.
- Tạo điều kiện thuận lợi về đất đai, vị trí và các điều kiện cần thiết khác để thu hút và phát triển mạnh các ngành dịch vụ cơ bản như: thương mại, du lịch, tài chính, ngân hàng, vận tải, bưu chính, viễn thông; dịch vụ đào tạo, dạy nghề, y tế kỹ thuật cao...
- Ưu tiên nguồn lực phát triển các trọng điểm kinh tế của vùng đồng bằng, gồm: TP. Thanh Hóa, TX. Bỉm Sơn, khu vực Lam Sơn - Sao Vàng và hệ thống các đô thị, nâng cao tỷ lệ đô thị hóa. Đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng các KCN để đẩy mạnh thu hút đầu tư, tăng tỷ lệ lấp đầy các KCN như: KCN Lam Sơn - Sao Vàng, KCN Hoàng Long, KCN Nam TP. Thanh Hóa, KCN Đình Hương - Tây Bắc Ga, KCN Đông Nam TP. Thanh Hóa, KCN Bỉm Sơn.
- Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Tăng ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp để có khối lượng nông sản hàng hóa lớn, chất lượng cao phục vụ cho các khu đô thị, khu du lịch và xuất khẩu. Xây dựng và phát triển các vùng chuyên canh cây lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm và các vùng chăn nuôi tập trung như: vùng chuyên canh lúa năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; vùng ngô trọng điểm, vùng chuyên canh cây mía, sắn; vùng chăn nuôi bò sữa; chăn nuôi lợn, gia cầm... tạo nguyên liệu ổn định cung cấp cho các nhà máy chế biến và xuất khẩu.
2.Đối với vùng ven biển
- Phát triển mạnh kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tập trung nguồn lực để phát triển vùng này thành khu vực phát triển năng động, làm động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của cả tỉnh, trong đó hạt nhân phát triển là KKT Nghi Sơn, TX. Sầm Sơn.
- Phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế, gồm: công nghiệp lọc hóa dầu và sau lọc hóa dầu, công nghiệp xi măng, nhiệt điện, luyện thép, ferocrom; công nghiệp chế biến thủy, hải sản.
- Tăng cường thu hút đầu tư, xây dựng cụm cảng nước sâu Nghi Sơn để khai thác lợi thế về dịch vụ cảng, vận tải biển và các dịch vụ có liên quan. Khai thác có hiệu quả thế mạnh của các đảo, bờ biển để phát triển du lịch biển như: Sầm Sơn, Nghi Sơn, Hải Tiến…; trong đó tập trung xây dựng TX Sầm Sơn là trọng điểm du lịch quốc gia.
- Phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ, nhất là dịch vụ vận tải biển, hàng hải, logistics, thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xuất nhập khẩu. Xây dựng các khu phi thuế quan trong KKT Nghi Sơn theo quy hoạch, làm trung tâm giao lưu và hội nhập quốc tế của cả tỉnh và khu vực Bắc Trung Bộ.
- Phát triển thủy sản cả về đánh bắt và nuôi trồng, gắn với phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá; duy trì nghề muối ở những nơi có điều kiện gắn với nâng cao hiệu quả nghề muối, bảo đảm đời sống cho diêm dân. Xây dựng và phát triển các vùng chuyên canh lúa, cói, lạc, đậu tương, rau đậu, hoa, cây cảnh phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng huyện trong vùng; Phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại và công nghiệp, gắn với chế biến.
2.3. Đối với vùng miền núi
- Ưu tiên nguồn lực đầu tư để phát triển các trọng điểm kinh tế, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả vùng như: Bá Thước, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Bãi Trành - Như Xuân và hình thành 3 trục phát triển dọc các tuyến quốc lộ: đường Hồ Chí Minh; đường Thường Xuân - Bót Mọt - cửa khẩu Khẹo thông thương với tỉnh Hủa Phăn (Lào); Quốc lộ 217.
- Nâng cao hiệu quả kinh tế rừng; tiếp tục bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng hiện có; đẩy mạnh phát triển rừng sản xuất theo hướng thâm canh, nâng cao chất lượng các vùng nguyên liệu luồng, gỗ, mây, cao su, mía, sắn, dứa.
- Phát triển các vùng chăn nuôi tập trung, nhất là chăn nuôi bò sữa, bò thịt chất lượng cao gắn với chế biến. Duy trì và phát triển hợp lý mô hình chăn nuôi nông hộ để tận dụng diện tích đất vườn đồi.
- Phát triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, thủy điện phù hợp với quy hoạch và bảo đảm môi trường; công nghiệp chế biến nông, lâm sản và thực phẩm gắn với vùng nguyên liệu. Xây dựng một số cụm công nghiệp làng nghề gắn với bố trí lại dân cư và các điểm đô thị. Đẩy mạnh thu hút các dự án may mặc, da giày để tạo việc làm cho người lao động tại chỗ.
- Phát triển kinh tế cửa khẩu, trước mắt đẩy mạnh giao thương, buôn bán qua các cửa khẩu: cửa khẩu Na mèo, Tén Tần, Khẹo, Méng... để tiến tới hình thành và phát triển các đô thị, khu kinh tế cửa khẩu.
- Khai thác tiềm năng, lợi thế Vườn quốc gia Bến En, các khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Pù Hu - Pù Luông, Hồ Yên Mỹ, Hồ Cửa Đạt, Suối cá Cẩm Lương để phát triển mạnh du lịch sinh thái, du lịch văn hóa.