Document: Điều 9 Thông tư 20/2015/TT-BKHCN hướng dẫn Nghị định 93/2014/NĐ-CP phạt vi phạm hành chính khoa học công nghệ

Type: {"issuing_agency": "Bộ Khoa học và Công nghệ", "promulgation_date": "05/11/2015", "sign_number": "20/2015/TT-BKHCN", "signer": "Nguyễn Quân", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Khoa học và Công nghệ", "promulgation_date": "05/11/2015", "sign_number": "20/2015/TT-BKHCN", "signer": "Nguyễn Quân", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Khoa học và Công nghệ", "promulgation_date": "05/11/2015", "sign_number": "20/2015/TT-BKHCN", "signer": "Nguyễn Quân", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Khoa học và Công nghệ", "promulgation_date": "05/11/2015", "sign_number": "20/2015/TT-BKHCN", "signer": "Nguyễn Quân", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Khoa học và Công nghệ", "promulgation_date": "05/11/2015", "sign_number": "20/2015/TT-BKHCN", "signer": "Nguyễn Quân", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 9 Thông tư 20/2015/TT-BKHCN hướng dẫn Nghị định 93/2014/NĐ-CP phạt vi phạm hành chính khoa học công nghệ có nội dung như sau:

Điều 9. Hành vi vi phạm về sở hữu, sử dụng kết quả hoạt động khoa học và công nghệ quy định tại Khoản 7 Điều 1 Nghị định số 93/2014/NĐ-CP
1. Hành vi không báo cáo đại diện chủ sở hữu nhà nước về kết quả khai thác, chuyển giao hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là một trong các hành vi sau đây:
a) Không gửi báo cáo định kỳ kết quả khai thác, chuyển giao, chuyển nhượng tới đại diện chủ sở hữu nhà nước.
b) Không báo cáo, cung cấp tài liệu, giải thích các vấn đề liên quan đến kết quả khai thác, chuyển giao, chuyển nhượng khi đại diện chủ sở hữu nhà nước yêu cầu.
2. Hành vi không thông báo với đại diện chủ sở hữu nhà nước khi không còn khả năng khai thác quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là việc tổ chức được giao toàn bộ hoặc một phần quyền sử dụng kết quả nghiên cứu, không thông báo với đại diện chủ sở hữu nhà nước khi không còn đáp ứng được điều kiện trong thỏa thuận giao quyền giữa chủ sở hữu nhà nước với tổ chức đó.
3. Hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyết định giao quyền là việc tổ chức được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu đó quy định tại Khoản 4 Điều 41 Luật Khoa học và Công nghệ.
4. Đại diện chủ sở hữu nhà nước các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều này là người có thẩm quyền gồm:
a) Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ là đại diện chủ sở hữu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia;
b) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan nhà nước khác ở trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp bộ, cấp tỉnh hoặc cấp cơ sở do mình phê duyệt;
c) Thủ trưởng cơ quan, tổ chức không thuộc quy định tại Điểm a và Điểm b của Khoản này là đại diện chủ sở hữu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do mình quyết định phê duyệt.
5. Khi xác định hành vi tại Điểm a Khoản 1 Điều này thì thời điểm phải gửi báo cáo định kỳ do cơ quan quản lý có thẩm quyền hoặc đại diện chủ sở hữu nhà nước quy định. Trường hợp chưa có quy định thì thời điểm phải gửi báo cáo định kỳ, làm căn cứ xác định hành vi vi phạm được xác định là ngày 31 tháng 12 hằng năm.

Content:
Điều 9. Hành vi vi phạm về sở hữu, sử dụng kết quả hoạt động khoa học và công nghệ quy định tại Khoản 7 Điều 1 Nghị định số 93/2014/NĐ-CP
1. Hành vi không báo cáo đại diện chủ sở hữu nhà nước về kết quả khai thác, chuyển giao hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là một trong các hành vi sau đây:
a) Không gửi báo cáo định kỳ kết quả khai thác, chuyển giao, chuyển nhượng tới đại diện chủ sở hữu nhà nước.
b) Không báo cáo, cung cấp tài liệu, giải thích các vấn đề liên quan đến kết quả khai thác, chuyển giao, chuyển nhượng khi đại diện chủ sở hữu nhà nước yêu cầu.
2. Hành vi không thông báo với đại diện chủ sở hữu nhà nước khi không còn khả năng khai thác quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là việc tổ chức được giao toàn bộ hoặc một phần quyền sử dụng kết quả nghiên cứu, không thông báo với đại diện chủ sở hữu nhà nước khi không còn đáp ứng được điều kiện trong thỏa thuận giao quyền giữa chủ sở hữu nhà nước với tổ chức đó.
3. Hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyết định giao quyền là việc tổ chức được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu đó quy định tại Khoản 4 Điều 41 Luật Khoa học và Công nghệ.
4. Đại diện chủ sở hữu nhà nước các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều này là người có thẩm quyền gồm:
a) Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ là đại diện chủ sở hữu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia;
b) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan nhà nước khác ở trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp bộ, cấp tỉnh hoặc cấp cơ sở do mình phê duyệt;
c) Thủ trưởng cơ quan, tổ chức không thuộc quy định tại Điểm a và Điểm b của Khoản này là đại diện chủ sở hữu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do mình quyết định phê duyệt.
5. Khi xác định hành vi tại Điểm a Khoản 1 Điều này thì thời điểm phải gửi báo cáo định kỳ do cơ quan quản lý có thẩm quyền hoặc đại diện chủ sở hữu nhà nước quy định. Trường hợp chưa có quy định thì thời điểm phải gửi báo cáo định kỳ, làm căn cứ xác định hành vi vi phạm được xác định là ngày 31 tháng 12 hằng năm.