Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2596/QĐ-UBND 2011 phê duyệt Đề án Phát triển chăn nuôi lợn Hà Tĩnh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "08/08/2011", "sign_number": "2596/QĐ-UBND", "signer": "Võ Kim Cự", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "08/08/2011", "sign_number": "2596/QĐ-UBND", "signer": "Võ Kim Cự", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "08/08/2011", "sign_number": "2596/QĐ-UBND", "signer": "Võ Kim Cự", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "08/08/2011", "sign_number": "2596/QĐ-UBND", "signer": "Võ Kim Cự", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "08/08/2011", "sign_number": "2596/QĐ-UBND", "signer": "Võ Kim Cự", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2596/QĐ-UBND 2011 phê duyệt Đề án Phát triển chăn nuôi lợn Hà Tĩnh

Điều 1. Phê duyệt Đề án phát triển chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu sau:
...
5. Chăn nuôi tại địa phương tái định cư cho các dự án trọng điểm:
Yêu cầu: Số hộ chăn nuôi lợn (tại gia đình) nhỏ hơn 10% tổng số hộ trong vùng tái định cư; quy mô từ 15 - 20 con/hộ; có quy trình chăn nuôi, thú y chặt chẽ, xử lý chất thải bằng bể Biogas, các chế phẩm sinh học để bảo vệ môi trường. Đồng thời, phải quy hoạch vùng chăn nuôi tách khỏi khu vực dân cư (tối thiểu 2 vùng/1 xã tái định cư với diện tích 5 - 10 ha/vùng), có hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi đảm bảo theo quy định; phát triển chăn nuôi lợn như tại vùng chăn nuôi tập trung ở các xã xây dựng nông thôn mới. Hình thức tổ chức sản xuất theo hướng hợp tác xã liên doanh, liên kết với doanh nghiệp.
III. Một số giải pháp.
1. Quy hoạch và đất đai:
a) Quy hoạch: Năm 2011, hoàn thành quy hoạch phát triển chăn nuôi và vùng chăn nuôi tập trung giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh, từ đó Ủy ban nhân dân cấp huyện quy hoạch phát triển chăn nuôi và vùng chăn nuôi tập trung của địa phương. Quy hoạch chăn nuôi lợn tập trung ở các vùng trà sơn, ven biển nơi có lợi thế về đất đai, dễ xử lý môi trường.
- Quy hoạch cơ sở sản xuất lợn giống:
+ Tập trung đầu tư Công ty Cổ phần chăn nuôi Mitraco thành đơn vị lớn nhất, cung cấp hơn 2/3 số lượng lợn giống ngoại cho toàn tỉnh.
+ Tổ chức lại hệ thống sản xuất giống theo hướng tập trung, quy mô lớn để tập trung đầu tư các nguồn lực.
+ Cơ sở nuôi lợn ông bà: Trước mắt nâng cấp Trạm lợn ngoại của Trung tâm Giống chăn nuôi đủ điều kiện để nuôi 200 nái; khuyến khích các tổ chức, cá nhân xây dựng cơ sở nuôi giống ông bà có quy mô trên 500 nái.
+ Xây dựng các cơ sở nuôi lợn bố mẹ để sản xuất giống lợn thương phẩm có quy mô trên 1.200 nái, các cơ sở chăn nuôi liên doanh, liên kết có quy mô trên 120 nái.
- Quy hoạch các cơ sở thụ tinh nhân tạo: Trước mắt nâng cấp Trạm truyền giống Đức Long đủ tiêu chuẩn để sản xuất và cung ứng liều tinh chất lượng cao với quy mô 40 đực giống. Về lâu dài cần phải xây dựng 01 cơ sở truyền tinh nhân tạo có quy mô 100 lợn đực giống, áp dụng công nghệ cao.
- Quy hoạch các cơ sở giết mổ tập trung, chế biến công nghiệp: Ở thành phố, thị xã có từ 1 - 2 cơ sở, ở thị trấn, thị tứ và khu vực đông dân có ít nhất 1 cơ sở, hình thành các cơ sở giết mổ tập trung liên xã. Xây dựng nhà máy sản xuất thịt hộp, dăm bông, xúc xích (trước mắt xây dựng 2 nhà máy chế biến súc sản ở khu kinh tế Vũng Áng và thành phố Hà Tĩnh).
b) Về Đất đai:
- Thực hiện theo các quy định của Luật Đất đai năm 2003, Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 24/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; tổ chức, cá nhân được thuê đất trong khoảng thời gian 50 năm để phát triển trang trại chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp.
- Tại khu tái định cư, các xã xây dựng nông thôn mới, chính quyền cấp huyện và cấp xã bảo đảm việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng vùng chăn nuôi tập trung theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Tạo điều kiện thuận lợi nhất về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để các tổ chức, cá nhân có điều kiện pháp lý vay vốn phát triển chăn nuôi ở các ngân hàng.
- Tổ chức, cá nhân thuê đất phát triển chăn nuôi lợn được giảm 70% tiền thuê đất 05 năm đầu và 50% trong 05 năm tiếp theo.
2. Giống:
Đến năm 2015 toàn tỉnh có khoảng 80.000 nái, trong đó có 20.000 nái ngoại, 36.000 nái lai; năm 2020 có 104.000 nái, trong đó có 31.000 nái ngoại, 57.000 nái lai. Quản lý giống theo mô hình hình tháp, gắn với từng phương thức sản xuất, vùng sản xuất.
a) Nái ngoại: Sử dụng các giống lợn năng suất cao như Landrace, Yorkshire, Pietrain, Duroc.
- Cấp ông bà: Xây dựng cơ sở nuôi lợn giống cấp ông bà có quy mô trên 200 nái; phấn đấu đến năm 2015 có khoảng 2.000 con; năm 2020: 3.200 con nái ngoại cấp ông bà trên địa bàn tỉnh.
- Cấp bố mẹ: Xây dựng các cơ sở quy mô trên 1.500 - 2.000 nái ngoại (mô hình Công ty Cổ phần chăn nuôi Mitraco), các cơ sở có quy mô từ 100 nái trở lên và trang trại nuôi khép kín có quy mô từ 50 - 99 nái để sản xuất lợn thương phẩm. Đến năm 2015 trên địa bàn tỉnh có: 12.000 con; năm 2020: 20.000 nái ngoại cấp bố mẹ.
b) Nái lai: Chọn lọc những con lai F1 giữa các đực Landrace, Yorkshire và nái Móng Cái đủ tiêu chuẩn làm giống. Giống thương phẩm: Sử dụng nái lai phối với đực cuối là Duroc hoặc PiDu. Chăn nuôi lợn nái lai tại các gia trại và chăn nuôi truyền thống trong nông hộ; đến năm 2015 có 36.000 con và đạt 57.000 con nái lai vào năm 2020.
c) Đối với lợn đực giống: Đàn lợn đực giống dùng để thụ tinh nhân tạo: Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng, tiến hành chọn lọc, bình tuyển, mua bổ sung đủ quy mô đực giống chất lượng cao (tổng số khoảng 300 đực giống). Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo đội ngũ dẫn tinh, kiện toàn lại mạng lưới cung ứng tinh, truyền tinh đảm bảo hoạt động có hiệu quả theo hướng tập trung, không phân tán.
Đàn lợn sử dụng phối giống trực tiếp: Triển khai công tác đăng ký, bình tuyển, xếp cấp, loại thải, thay thế những lợn giống không đạt phẩm cấp.
3. Kỹ thuật:
a) Chuồng trại: Áp dụng các kiểu chuồng có khả năng chống nóng, chống rét, chống ẩm, chống lũ lụt. Với chăn nuôi lợn truyền thống trong nông hộ, phải đảm bảo điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng nuôi, có hệ thống xử lý phân nước thải bằng hầm Biogas hoặc hố xử lý phân, rác thải.
b) Thức ăn: Mở rộng diện tích thâm canh, sử dụng giống ngô mới, sắn cao sản có năng suất cao làm thức ăn chăn nuôi. Tăng sản lượng sản xuất thức ăn của nhà máy thức ăn gia súc Thiên Lộc, đảm bảo cung ứng trên 75% thức ăn công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tăng tỷ lệ sử dụng thức ăn công nghiệp từ 37% năm 2010 lên khoảng 55 - 60% năm 2015 và 70 - 75% vào năm 2020.
c) Kỹ thuật nuôi dưỡng: Các trang trại chăn nuôi, vùng chăn nuôi tập trung áp dụng quy trình chăn nuôi khép kín. Hướng dẫn cho người chăn nuôi theo quy trình công nghệ phù hợp với giai đoạn sinh trưởng của vật nuôi, để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và giảm chi phí thức ăn/kg tăng trọng, phấn đấu giảm từ 0,2 - 0,3 kg thức ăn/kg tăng trọng.
d) Về thông tin tuyên truyền, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật: Thường xuyên tuyên truyền phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng các nội dung của Pháp lệnh Giống vật nuôi, Pháp lệnh Thú y, các quy định, hướng dẫn về quản lý giống vật nuôi và phòng chống dịch bệnh cho động vật, các chính sách của nhà nước về phát triển chăn nuôi. Xây dựng các mô hình trình diễn chăn nuôi lợn sử dụng các giống có năng suất, chất lượng cao theo hướng trang trại, tách khỏi khu dân cư, đảm bảo an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường và có hiệu quả kinh tế cao.
đ) Đào tạo nguồn nhân lực: Tổ chức tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn cho Ban chăn nuôi - thú y xã, phường, thị trấn. Xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo kiến thức chăn nuôi, thú y cho người nông dân để họ chuyển đổi nghề, phát triển chăn nuôi ở vùng tái định cư, vùng xây dựng nông thôn mới.
4. Thú y:
- Tăng cường cơ sở vật chất cho ngành thú y, thống nhất hoạt động của ban Chăn nuôi - Thú y cấp xã, trưởng ban hưởng chế độ bán chuyên trách theo Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh; đồng thời nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ cán bộ thú y các cấp, nhất là thú y xã, phường, thị trấn.
- Đẩy mạnh công tác tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm bắt buộc cho đàn lợn, phấn đấu tỷ lệ tiêm phòng định kỳ đạt trên 85% tổng đàn nhằm tạo ra miễn dịch quần thể, tiêm bổ sung cho số mới nhập đàn.
- Tổ chức hệ thống kiểm dịch tận cơ sở, kiểm soát chặt chẽ số lượng lợn giống đưa về nuôi trên địa bàn tỉnh; thực hiện kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y động vật và các sản phẩm động vật lưu thông trên địa bàn.
- Giám sát dịch chặt chẽ đến tận thôn, xóm, phát hiện sớm bao vây kịp thời, khống chế dịch có hiệu quả, không để dịch lan rộng; xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền vùng, cơ sở an toàn dịch theo Quyết định số 66/2008/QĐ-BNN ngày 26/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
5. Tổ chức sản xuất và thị trường tiêu thụ:
Nhà nước hỗ trợ nuôi giữ giống gốc, nuôi đực giống có chất lượng cao để các tổ chức, doanh nghiệp, các nhân sản xuất giống và cung ứng liều tinh cho công tác cải tiến và nâng cao chất lượng đàn lợn. Tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn kết các khâu từ sản xuất đến chế biến tiêu thụ sản phẩm. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi hình thành hiệp hội chăn nuôi, thành lập các Hợp tác xã, tổ hợp tác chăn nuôi lợn, câu lạc bộ chăn nuôi thôn xóm; phát triển các hình thức liên kết chăn nuôi với doanh nghiệp. Hình thành quỹ phục vụ công tác phòng chống dịch bệnh và hỗ trợ rủi ro do thiên tai dịch bệnh, tiến tới thực hiện bảo hiểm vật nuôi.

Content:
Chăn nuôi tại địa phương tái định cư cho các dự án trọng điểm:
Yêu cầu: Số hộ chăn nuôi lợn (tại gia đình) nhỏ hơn 10% tổng số hộ trong vùng tái định cư; quy mô từ 15 - 20 con/hộ; có quy trình chăn nuôi, thú y chặt chẽ, xử lý chất thải bằng bể Biogas, các chế phẩm sinh học để bảo vệ môi trường. Đồng thời, phải quy hoạch vùng chăn nuôi tách khỏi khu vực dân cư (tối thiểu 2 vùng/1 xã tái định cư với diện tích 5 - 10 ha/vùng), có hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi đảm bảo theo quy định; phát triển chăn nuôi lợn như tại vùng chăn nuôi tập trung ở các xã xây dựng nông thôn mới. Hình thức tổ chức sản xuất theo hướng hợp tác xã liên doanh, liên kết với doanh nghiệp.
III. Một số giải pháp.
1. Quy hoạch và đất đai:
a) Quy hoạch: Năm 2011, hoàn thành quy hoạch phát triển chăn nuôi và vùng chăn nuôi tập trung giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh, từ đó Ủy ban nhân dân cấp huyện quy hoạch phát triển chăn nuôi và vùng chăn nuôi tập trung của địa phương. Quy hoạch chăn nuôi lợn tập trung ở các vùng trà sơn, ven biển nơi có lợi thế về đất đai, dễ xử lý môi trường.
- Quy hoạch cơ sở sản xuất lợn giống:
+ Tập trung đầu tư Công ty Cổ phần chăn nuôi Mitraco thành đơn vị lớn nhất, cung cấp hơn 2/3 số lượng lợn giống ngoại cho toàn tỉnh.
+ Tổ chức lại hệ thống sản xuất giống theo hướng tập trung, quy mô lớn để tập trung đầu tư các nguồn lực.
+ Cơ sở nuôi lợn ông bà: Trước mắt nâng cấp Trạm lợn ngoại của Trung tâm Giống chăn nuôi đủ điều kiện để nuôi 200 nái; khuyến khích các tổ chức, cá nhân xây dựng cơ sở nuôi giống ông bà có quy mô trên 500 nái.
+ Xây dựng các cơ sở nuôi lợn bố mẹ để sản xuất giống lợn thương phẩm có quy mô trên 1.200 nái, các cơ sở chăn nuôi liên doanh, liên kết có quy mô trên 120 nái.
- Quy hoạch các cơ sở thụ tinh nhân tạo: Trước mắt nâng cấp Trạm truyền giống Đức Long đủ tiêu chuẩn để sản xuất và cung ứng liều tinh chất lượng cao với quy mô 40 đực giống. Về lâu dài cần phải xây dựng 01 cơ sở truyền tinh nhân tạo có quy mô 100 lợn đực giống, áp dụng công nghệ cao.
- Quy hoạch các cơ sở giết mổ tập trung, chế biến công nghiệp: Ở thành phố, thị xã có từ 1 - 2 cơ sở, ở thị trấn, thị tứ và khu vực đông dân có ít nhất 1 cơ sở, hình thành các cơ sở giết mổ tập trung liên xã. Xây dựng nhà máy sản xuất thịt hộp, dăm bông, xúc xích (trước mắt xây dựng 2 nhà máy chế biến súc sản ở khu kinh tế Vũng Áng và thành phố Hà Tĩnh).
b) Về Đất đai:
- Thực hiện theo các quy định của Luật Đất đai năm 2003, Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 24/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; tổ chức, cá nhân được thuê đất trong khoảng thời gian 50 năm để phát triển trang trại chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp.
- Tại khu tái định cư, các xã xây dựng nông thôn mới, chính quyền cấp huyện và cấp xã bảo đảm việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng vùng chăn nuôi tập trung theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Tạo điều kiện thuận lợi nhất về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để các tổ chức, cá nhân có điều kiện pháp lý vay vốn phát triển chăn nuôi ở các ngân hàng.
- Tổ chức, cá nhân thuê đất phát triển chăn nuôi lợn được giảm 70% tiền thuê đất 05 năm đầu và 50% trong 05 năm tiếp theo.
2. Giống:
Đến năm 2015 toàn tỉnh có khoảng 80.000 nái, trong đó có 20.000 nái ngoại, 36.000 nái lai; năm 2020 có 104.000 nái, trong đó có 31.000 nái ngoại, 57.000 nái lai. Quản lý giống theo mô hình hình tháp, gắn với từng phương thức sản xuất, vùng sản xuất.
a) Nái ngoại: Sử dụng các giống lợn năng suất cao như Landrace, Yorkshire, Pietrain, Duroc.
- Cấp ông bà: Xây dựng cơ sở nuôi lợn giống cấp ông bà có quy mô trên 200 nái; phấn đấu đến năm 2015 có khoảng 2.000 con; năm 2020: 3.200 con nái ngoại cấp ông bà trên địa bàn tỉnh.
- Cấp bố mẹ: Xây dựng các cơ sở quy mô trên 1.500 - 2.000 nái ngoại (mô hình Công ty Cổ phần chăn nuôi Mitraco), các cơ sở có quy mô từ 100 nái trở lên và trang trại nuôi khép kín có quy mô từ 50 - 99 nái để sản xuất lợn thương phẩm. Đến năm 2015 trên địa bàn tỉnh có: 12.000 con; năm 2020: 20.000 nái ngoại cấp bố mẹ.
b) Nái lai: Chọn lọc những con lai F1 giữa các đực Landrace, Yorkshire và nái Móng Cái đủ tiêu chuẩn làm giống. Giống thương phẩm: Sử dụng nái lai phối với đực cuối là Duroc hoặc PiDu. Chăn nuôi lợn nái lai tại các gia trại và chăn nuôi truyền thống trong nông hộ; đến năm 2015 có 36.000 con và đạt 57.000 con nái lai vào năm 2020.
c) Đối với lợn đực giống: Đàn lợn đực giống dùng để thụ tinh nhân tạo: Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng, tiến hành chọn lọc, bình tuyển, mua bổ sung đủ quy mô đực giống chất lượng cao (tổng số khoảng 300 đực giống). Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo đội ngũ dẫn tinh, kiện toàn lại mạng lưới cung ứng tinh, truyền tinh đảm bảo hoạt động có hiệu quả theo hướng tập trung, không phân tán.
Đàn lợn sử dụng phối giống trực tiếp: Triển khai công tác đăng ký, bình tuyển, xếp cấp, loại thải, thay thế những lợn giống không đạt phẩm cấp.
3. Kỹ thuật:
a) Chuồng trại: Áp dụng các kiểu chuồng có khả năng chống nóng, chống rét, chống ẩm, chống lũ lụt. Với chăn nuôi lợn truyền thống trong nông hộ, phải đảm bảo điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng nuôi, có hệ thống xử lý phân nước thải bằng hầm Biogas hoặc hố xử lý phân, rác thải.
b) Thức ăn: Mở rộng diện tích thâm canh, sử dụng giống ngô mới, sắn cao sản có năng suất cao làm thức ăn chăn nuôi. Tăng sản lượng sản xuất thức ăn của nhà máy thức ăn gia súc Thiên Lộc, đảm bảo cung ứng trên 75% thức ăn công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tăng tỷ lệ sử dụng thức ăn công nghiệp từ 37% năm 2010 lên khoảng 55 - 60% năm 2015 và 70 - 75% vào năm 2020.
c) Kỹ thuật nuôi dưỡng: Các trang trại chăn nuôi, vùng chăn nuôi tập trung áp dụng quy trình chăn nuôi khép kín. Hướng dẫn cho người chăn nuôi theo quy trình công nghệ phù hợp với giai đoạn sinh trưởng của vật nuôi, để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và giảm chi phí thức ăn/kg tăng trọng, phấn đấu giảm từ 0,2 - 0,3 kg thức ăn/kg tăng trọng.
d) Về thông tin tuyên truyền, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật: Thường xuyên tuyên truyền phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng các nội dung của Pháp lệnh Giống vật nuôi, Pháp lệnh Thú y, các quy định, hướng dẫn về quản lý giống vật nuôi và phòng chống dịch bệnh cho động vật, các chính sách của nhà nước về phát triển chăn nuôi. Xây dựng các mô hình trình diễn chăn nuôi lợn sử dụng các giống có năng suất, chất lượng cao theo hướng trang trại, tách khỏi khu dân cư, đảm bảo an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường và có hiệu quả kinh tế cao.
đ) Đào tạo nguồn nhân lực: Tổ chức tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn cho Ban chăn nuôi - thú y xã, phường, thị trấn. Xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo kiến thức chăn nuôi, thú y cho người nông dân để họ chuyển đổi nghề, phát triển chăn nuôi ở vùng tái định cư, vùng xây dựng nông thôn mới.
4. Thú y:
- Tăng cường cơ sở vật chất cho ngành thú y, thống nhất hoạt động của ban Chăn nuôi - Thú y cấp xã, trưởng ban hưởng chế độ bán chuyên trách theo Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh; đồng thời nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ cán bộ thú y các cấp, nhất là thú y xã, phường, thị trấn.
- Đẩy mạnh công tác tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm bắt buộc cho đàn lợn, phấn đấu tỷ lệ tiêm phòng định kỳ đạt trên 85% tổng đàn nhằm tạo ra miễn dịch quần thể, tiêm bổ sung cho số mới nhập đàn.
- Tổ chức hệ thống kiểm dịch tận cơ sở, kiểm soát chặt chẽ số lượng lợn giống đưa về nuôi trên địa bàn tỉnh; thực hiện kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y động vật và các sản phẩm động vật lưu thông trên địa bàn.
- Giám sát dịch chặt chẽ đến tận thôn, xóm, phát hiện sớm bao vây kịp thời, khống chế dịch có hiệu quả, không để dịch lan rộng; xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền vùng, cơ sở an toàn dịch theo Quyết định số 66/2008/QĐ-BNN ngày 26/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Tổ chức sản xuất và thị trường tiêu thụ:
Nhà nước hỗ trợ nuôi giữ giống gốc, nuôi đực giống có chất lượng cao để các tổ chức, doanh nghiệp, các nhân sản xuất giống và cung ứng liều tinh cho công tác cải tiến và nâng cao chất lượng đàn lợn. Tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn kết các khâu từ sản xuất đến chế biến tiêu thụ sản phẩm. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi hình thành hiệp hội chăn nuôi, thành lập các Hợp tác xã, tổ hợp tác chăn nuôi lợn, câu lạc bộ chăn nuôi thôn xóm; phát triển các hình thức liên kết chăn nuôi với doanh nghiệp. Hình thành quỹ phục vụ công tác phòng chống dịch bệnh và hỗ trợ rủi ro do thiên tai dịch bệnh, tiến tới thực hiện bảo hiểm vật nuôi.