Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1055/QĐ-TTg 2002 quy hoạch phát triển công nghiệp tàu thủy Việt Nam 2010

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "11/11/2002", "sign_number": "1055/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "11/11/2002", "sign_number": "1055/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "11/11/2002", "sign_number": "1055/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "11/11/2002", "sign_number": "1055/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "11/11/2002", "sign_number": "1055/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1055/QĐ-TTg 2002 quy hoạch phát triển công nghiệp tàu thủy Việt Nam 2010

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam đến năm 2010 với các nội dung chủ yếu sau:
...
3. Nội dung quy hoạch:
a) Mạng lưới các cơ sở đóng và sửa chữa tàu thủy:
Đến năm 2010 mạng lưới công nghiệp tàu thủy Việt Nam có 36 nhà máy đóng và sửa chữa tàu, 6 cơ sở công nghiệp phục vụ và 8 nhà máy đóng, sửa chữa tàu quân đội, bảo đảm việc đóng tàu và sửa chữa tàu thủy toàn quốc, trong đó các nhà máy thuộc Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam giữ vai trò chủ lực, nòng cốt trong quy hoạch; các nhà máy đóng, sửa chữa tàu thuộc các ngành khác và địa phương quản lý có chức năng chủ yếu là sửa chữa, đóng mới các tàu thủy sản, tàu khách, tàu công trình, các phương tiện-thủy nội địa và tàu vận tải đến 3.500 DWT; mạng lưới các nhà máy đóng tàu quân đội chủ yếu được cải tạo, nâng cấp trên cơ sở hiện có với chức năng chính là đóng mới, sửa chữa các tàu quân sự và kết hợp tham gia đóng tàu vận tải có trọng tải đến 10.000DWT.
Mạng lưới các nhà máy đóng và sửa chữa tàu thủy được phân bố như sau:
Khu vực phía Bắc có 20 nhà máy, trong đó Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam quản lý 10 nhà máy, các ngành khác và địa phương quản lý 6 nhà máy và các đơn vị thuộc Bộ Quốc Phòng quản lý 4 nhà máy.
Khu vực miền Trung có 9 nhà máy, trong đó Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam quản lý 6 nhà máy, các ngành khác và địa phương quản lý 1 nhà máy và các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng quản lý 2 nhà máy. Khu vực miền Trung sẽ triển khai xây dựng mới Nhà máy liên hợp công nghiệp tàu thủy Dung Quất để đóng tàu chở dầu thô tới 100.000 tấn.
Khu vực miền Nam có 15 nhà máy, trong đó Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam quản lý 6 nhà máy, các ngành khác và địa phương quản lý 7 nhà máy và các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng quản lý 2 nhà máy. Khu vực miền Nam có 2 nhà máy được xây dựng mới (Đồng Nai, Cà Mau).
Danh mục các cơ sở đóng và sửa chữa tàu trong mạng lưới được nêu tại phụ lục kèm theo Quyết định này.
b) Mạng lưới các nhà máy công nghiệp phục vụ đóng tàu:
Để đạt được mục tiêu tỷ lệ nội địa hóa 60% trong sản phẩm đóng mới tàu thủy, đến năm 2010 phát triển các khu công nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam như sau:
- Xây dựng mới khu công nghiệp tàu thuỷ tại Cái Lân (Quảng Ninh): sản xuất thép tấm đóng đóng tàu 250.000T/năm, sản xuất thép cường độ cao, đúc sản phẩm gang cầu.
- Xây dựng mới khu công nghiệp tàu thủy tại An Hồng (Hải phòng): lắp ráp động cơ diezen có công suất tới 6.000CV; chế tạo một số thiết bị chuyên dùng trong công nghiệp đóng tàu.
- Duy trì năng lực 2 cơ sở sản xuất của Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam tại thành phố Hải Phòng để sản xuất khí công nghiệp, vật liệu chống cháy nổ, sửa chữa, đóng mới container, phá dỡ tàu cũ và tái chế nguyên liệu sau phá dỡ, sau năm 2010 sẽ di dời 2 cơ sở này ra khỏi khu vực thành phố.
- Sau năm 2010 sẽ xây dựng mới khu công nghiệp tàu thủy tại Bình Chánh (thành phố Hồ Chí Minh) hoặc tại Long Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu) để lắp rắp động cơ diezen, sản xuất các trang thiết bị phục vụ đóng tàu.
c) Lực lượng lao động và công tác đào tạo, nghiên cứu thiết kế và đăng kiểm:
- Lực lượng lao động và đào tạo.
Dự kiến lực lượng lao động toàn ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam đến năm 2010 có khoảng 36.000 người, trong đó trình độ đại học và trên đại học chiếm 16%; trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật chiếm 74%; lao động đào tạo ngắn hạn, công nhân phổ thông chiếm 10%.
- Công tác nghiên cứu, thiết kế tàu thủy:
Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho 2 trung tâm nghiên cứu thiết kế: Viện Khoa học công nghệ tàu thuỷ Hà Nội và Công ty Thiết kế công nghiệp giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua chương trình trọng điểm quốc gia, đầu tư nâng cấp hoàn thiện bể thử mô hình tàu thủy đạt tiêu chuẩn quốc tế tại Viện Khoa học công nghệ tàu thuỷ Hà Nội.
- Công tác đăng kiểm:
Hoàn thiện hệ thống quy phạm đóng tàu để phù hợp với các yêu cầu của Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, phấn đấu đổi mới và tăng cường công tác đăng kiểm để đến năm 2010 Đăng kiểm Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức phân cấp tàu biển quốc tế IACS.
d) Quy mô và năng lực sản xuất:
Về đóng mới:
Đóng mới hầu hết các phương tiện thuỷ nội địa, tàu công trình, tàu hải sản, tàu biển trọng tải đến 15.000 DWT; phấn đấu đảm nhận 70-75% nhu cầu đóng tàu hàng tổng hợp loại từ 20.000 DWT đến 50.000 DWT và tàu chở dầu thô 100.000 DWT, trong đó giai đoạn 2001-2005 tập trung đáp ứng chương trình đóng 32 tàu cho Tổng công ty Hàng hải Việt Nam và các chương trình đóng tàu của Tổng công ty Nhà nước khác.
Đến năm 2010, đạt tỷ lệ nội địa hoá tới 60% đối với các sản phẩm tàu biển đóng mới.
Về sửa chữa:
Sửa chữa đồng bộ tất cả các cấp đội tàu quốc gia có trọng tải đến 100.000 DWT tại các nhà máy đóng tàu trong nước và đến 400.000 DWT tại các nhà máy liên doanh với nước ngoài.
đ) Tiến độ thực hiện:
Giai đoạn 2002-2005:
- Tập trung hoàn thiện cơ sở vật chất, đổi mới công nghệ của các nhà máy hiện có, trong đó ưu tiên các nhà máy: Hạ Long, Nam Triệu, Bến Kiền, Bạch Đằng, Phà Rừng, Công nghiệp tàu thuỷ Sài Gòn, Đóng tàu và Công nghiệp hàng hải Sài Gòn, theo hướng chuyên môn hoá cao để phấn đấu đóng các loại tàu: phương tiện thuỷ nội địa, tàu khách, tàu công trình, tàu thuỷ sản, tàu hàng tổng hợp, tàu container, tàu chở dầu trọng tải đến 12.000 DWT; sửa chữa tàu đến 20.000 DWT tại các nhà máy trong nước và sửa chữa tàu 400.000 DWT tại Liên doanh Hyundai - Vinashin.
- Chuẩn bị cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ đóng mới tàu hàng tổng hợp, tàu container có trọng tải từ 30.000 DWT đến 50.000 DWT, tàu chở dầu thô 100.000 DWT.
- Liên kết với các ngành thép, cơ khí trong nước, liên doanh hợp tác với nước ngoài đầu tư xây dựng các khu công nghiệp phụ trợ để đến năm 2005 có thể sản xuất các loại thép tấm đóng tàu thông dụng, lắp ráp động cơ diezen đến 6.000 CV cùng các trang thiết bị trên boong, thiết bị điện, điện tử, nghi khí hàng hải tại khu công nghiệp Cái Lân (Quảng Ninh) và An Hồng (Hải Phòng).
- Đầu tư, xây dựng hoàn chỉnh bể thử mô hình tàu thuỷ tại Viện Nghiên cứu khoa học công nghệ tàu thuỷ Hà Nội để phục vụ công tác thiết kế.
Giai đoạn 2006-2010:
- Tiếp tục đầu tư mở rộng nhà máy đóng tàu thuộc Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Nam Triệu để đóng và sửa chữa tàu container đến 50.000DWT.
- Tập trung xây dựng có trọng điểm một số nhà máy mới tại các khu vực có tiềm năng như Dung Quất, Đồng Nai, Cà Mau, trong đó tại Dung Quất để đóng và sửa chữa tàu dầu đến 100.000 DWT; tại Đồng Nai để đóng và sửa chữa tàu hàng tổng hợp, tàu container đến 30.000 DWT; tại Cà Mau để đóng tàu phục vụ khai thác kinh tế biển phía Vịnh Thái Lan.
- Mở rộng các khu công nghiệp phụ trợ để nâng dần tỷ lệ nội địa hoá lên 60% cho các sản phẩm đóng tàu trong nước.
Giai đoạn sau năm 2010 đến 2020:
Di chuyển dần một số nhà máy ở trung tâm đô thị (khu vực Hải phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng) ra các khu công nghiệp tập trung của thành phố. Tiếp tục mở rộng và đầu tư chiều sâu (bao gồm cả thiết bị nâng chuyển cỡ lớn để phục vụ đóng các tàu trọng tải từ 50.000 DWT đến 100.000 DWT); nâng cao trình độ công nghệ của các cơ sở đóng mới và sửa chữa phương tiện thuỷ đạt mức tiên tiến trong khu vực.

Content:
Nội dung quy hoạch:
a) Mạng lưới các cơ sở đóng và sửa chữa tàu thủy:
Đến năm 2010 mạng lưới công nghiệp tàu thủy Việt Nam có 36 nhà máy đóng và sửa chữa tàu, 6 cơ sở công nghiệp phục vụ và 8 nhà máy đóng, sửa chữa tàu quân đội, bảo đảm việc đóng tàu và sửa chữa tàu thủy toàn quốc, trong đó các nhà máy thuộc Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam giữ vai trò chủ lực, nòng cốt trong quy hoạch; các nhà máy đóng, sửa chữa tàu thuộc các ngành khác và địa phương quản lý có chức năng chủ yếu là sửa chữa, đóng mới các tàu thủy sản, tàu khách, tàu công trình, các phương tiện-thủy nội địa và tàu vận tải đến 3.500 DWT; mạng lưới các nhà máy đóng tàu quân đội chủ yếu được cải tạo, nâng cấp trên cơ sở hiện có với chức năng chính là đóng mới, sửa chữa các tàu quân sự và kết hợp tham gia đóng tàu vận tải có trọng tải đến 10.000DWT.
Mạng lưới các nhà máy đóng và sửa chữa tàu thủy được phân bố như sau:
Khu vực phía Bắc có 20 nhà máy, trong đó Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam quản lý 10 nhà máy, các ngành khác và địa phương quản lý 6 nhà máy và các đơn vị thuộc Bộ Quốc Phòng quản lý 4 nhà máy.
Khu vực miền Trung có 9 nhà máy, trong đó Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam quản lý 6 nhà máy, các ngành khác và địa phương quản lý 1 nhà máy và các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng quản lý 2 nhà máy. Khu vực miền Trung sẽ triển khai xây dựng mới Nhà máy liên hợp công nghiệp tàu thủy Dung Quất để đóng tàu chở dầu thô tới 100.000 tấn.
Khu vực miền Nam có 15 nhà máy, trong đó Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam quản lý 6 nhà máy, các ngành khác và địa phương quản lý 7 nhà máy và các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng quản lý 2 nhà máy. Khu vực miền Nam có 2 nhà máy được xây dựng mới (Đồng Nai, Cà Mau).
Danh mục các cơ sở đóng và sửa chữa tàu trong mạng lưới được nêu tại phụ lục kèm theo Quyết định này.
b) Mạng lưới các nhà máy công nghiệp phục vụ đóng tàu:
Để đạt được mục tiêu tỷ lệ nội địa hóa 60% trong sản phẩm đóng mới tàu thủy, đến năm 2010 phát triển các khu công nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam như sau:
- Xây dựng mới khu công nghiệp tàu thuỷ tại Cái Lân (Quảng Ninh): sản xuất thép tấm đóng đóng tàu 250.000T/năm, sản xuất thép cường độ cao, đúc sản phẩm gang cầu.
- Xây dựng mới khu công nghiệp tàu thủy tại An Hồng (Hải phòng): lắp ráp động cơ diezen có công suất tới 6.000CV; chế tạo một số thiết bị chuyên dùng trong công nghiệp đóng tàu.
- Duy trì năng lực 2 cơ sở sản xuất của Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam tại thành phố Hải Phòng để sản xuất khí công nghiệp, vật liệu chống cháy nổ, sửa chữa, đóng mới container, phá dỡ tàu cũ và tái chế nguyên liệu sau phá dỡ, sau năm 2010 sẽ di dời 2 cơ sở này ra khỏi khu vực thành phố.
- Sau năm 2010 sẽ xây dựng mới khu công nghiệp tàu thủy tại Bình Chánh (thành phố Hồ Chí Minh) hoặc tại Long Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu) để lắp rắp động cơ diezen, sản xuất các trang thiết bị phục vụ đóng tàu.
c) Lực lượng lao động và công tác đào tạo, nghiên cứu thiết kế và đăng kiểm:
- Lực lượng lao động và đào tạo.
Dự kiến lực lượng lao động toàn ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam đến năm 2010 có khoảng 36.000 người, trong đó trình độ đại học và trên đại học chiếm 16%; trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật chiếm 74%; lao động đào tạo ngắn hạn, công nhân phổ thông chiếm 10%.
- Công tác nghiên cứu, thiết kế tàu thủy:
Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho 2 trung tâm nghiên cứu thiết kế: Viện Khoa học công nghệ tàu thuỷ Hà Nội và Công ty Thiết kế công nghiệp giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua chương trình trọng điểm quốc gia, đầu tư nâng cấp hoàn thiện bể thử mô hình tàu thủy đạt tiêu chuẩn quốc tế tại Viện Khoa học công nghệ tàu thuỷ Hà Nội.
- Công tác đăng kiểm:
Hoàn thiện hệ thống quy phạm đóng tàu để phù hợp với các yêu cầu của Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, phấn đấu đổi mới và tăng cường công tác đăng kiểm để đến năm 2010 Đăng kiểm Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức phân cấp tàu biển quốc tế IACS.
d) Quy mô và năng lực sản xuất:
Về đóng mới:
Đóng mới hầu hết các phương tiện thuỷ nội địa, tàu công trình, tàu hải sản, tàu biển trọng tải đến 15.000 DWT; phấn đấu đảm nhận 70-75% nhu cầu đóng tàu hàng tổng hợp loại từ 20.000 DWT đến 50.000 DWT và tàu chở dầu thô 100.000 DWT, trong đó giai đoạn 2001-2005 tập trung đáp ứng chương trình đóng 32 tàu cho Tổng công ty Hàng hải Việt Nam và các chương trình đóng tàu của Tổng công ty Nhà nước khác.
Đến năm 2010, đạt tỷ lệ nội địa hoá tới 60% đối với các sản phẩm tàu biển đóng mới.
Về sửa chữa:
Sửa chữa đồng bộ tất cả các cấp đội tàu quốc gia có trọng tải đến 100.000 DWT tại các nhà máy đóng tàu trong nước và đến 400.000 DWT tại các nhà máy liên doanh với nước ngoài.
đ) Tiến độ thực hiện:
Giai đoạn 2002-2005:
- Tập trung hoàn thiện cơ sở vật chất, đổi mới công nghệ của các nhà máy hiện có, trong đó ưu tiên các nhà máy: Hạ Long, Nam Triệu, Bến Kiền, Bạch Đằng, Phà Rừng, Công nghiệp tàu thuỷ Sài Gòn, Đóng tàu và Công nghiệp hàng hải Sài Gòn, theo hướng chuyên môn hoá cao để phấn đấu đóng các loại tàu: phương tiện thuỷ nội địa, tàu khách, tàu công trình, tàu thuỷ sản, tàu hàng tổng hợp, tàu container, tàu chở dầu trọng tải đến 12.000 DWT; sửa chữa tàu đến 20.000 DWT tại các nhà máy trong nước và sửa chữa tàu 400.000 DWT tại Liên doanh Hyundai - Vinashin.
- Chuẩn bị cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ đóng mới tàu hàng tổng hợp, tàu container có trọng tải từ 30.000 DWT đến 50.000 DWT, tàu chở dầu thô 100.000 DWT.
- Liên kết với các ngành thép, cơ khí trong nước, liên doanh hợp tác với nước ngoài đầu tư xây dựng các khu công nghiệp phụ trợ để đến năm 2005 có thể sản xuất các loại thép tấm đóng tàu thông dụng, lắp ráp động cơ diezen đến 6.000 CV cùng các trang thiết bị trên boong, thiết bị điện, điện tử, nghi khí hàng hải tại khu công nghiệp Cái Lân (Quảng Ninh) và An Hồng (Hải Phòng).
- Đầu tư, xây dựng hoàn chỉnh bể thử mô hình tàu thuỷ tại Viện Nghiên cứu khoa học công nghệ tàu thuỷ Hà Nội để phục vụ công tác thiết kế.
Giai đoạn 2006-2010:
- Tiếp tục đầu tư mở rộng nhà máy đóng tàu thuộc Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Nam Triệu để đóng và sửa chữa tàu container đến 50.000DWT.
- Tập trung xây dựng có trọng điểm một số nhà máy mới tại các khu vực có tiềm năng như Dung Quất, Đồng Nai, Cà Mau, trong đó tại Dung Quất để đóng và sửa chữa tàu dầu đến 100.000 DWT; tại Đồng Nai để đóng và sửa chữa tàu hàng tổng hợp, tàu container đến 30.000 DWT; tại Cà Mau để đóng tàu phục vụ khai thác kinh tế biển phía Vịnh Thái Lan.
- Mở rộng các khu công nghiệp phụ trợ để nâng dần tỷ lệ nội địa hoá lên 60% cho các sản phẩm đóng tàu trong nước.
Giai đoạn sau năm 2010 đến 2020:
Di chuyển dần một số nhà máy ở trung tâm đô thị (khu vực Hải phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng) ra các khu công nghiệp tập trung của thành phố. Tiếp tục mở rộng và đầu tư chiều sâu (bao gồm cả thiết bị nâng chuyển cỡ lớn để phục vụ đóng các tàu trọng tải từ 50.000 DWT đến 100.000 DWT); nâng cao trình độ công nghệ của các cơ sở đóng mới và sửa chữa phương tiện thuỷ đạt mức tiên tiến trong khu vực.