Document: Khoản 7 Điều 1 Quyết định 1379/QĐ-UBND 2021 phê duyệt Đề án sản xuất lâm sản bền vững tỉnh Đồng Nai

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "26/04/2021", "sign_number": "1379/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Phi", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "26/04/2021", "sign_number": "1379/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Phi", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "26/04/2021", "sign_number": "1379/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Phi", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "26/04/2021", "sign_number": "1379/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Phi", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "26/04/2021", "sign_number": "1379/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Phi", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 7 Điều 1 Quyết định 1379/QĐ-UBND 2021 phê duyệt Đề án sản xuất lâm sản bền vững tỉnh Đồng Nai

Điều 1. Phê duyệt Đề án sản xuất, chế biến lâm sản bền vững đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 tỉnh Đồng Nai (kèm theo Đề án), với các nội dung chủ yếu sau:
...
7. Các giải pháp thực hiện
a) Giải pháp về đổi mới công nghệ
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ ứng dụng vật liệu mới, gia công tiên tiến, biến tính gỗ, công nghệ nano, công nghệ sấy sinh thái, công nghệ sản xuất chất phủ bề mặt, keo dán. Công nghệ thông tin, công nghệ tự động hóa trong chế biến và bảo quản lâm sản, sử dụng phế liệu, phụ phẩm trong lâm nghiệp, ứng dụng công nghệ vật liệu mới, tạo các sản phẩm gỗ composite chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu gỗ cho xây dựng và chế biến.
- Hình thành cơ sở dữ liệu thông tin về công nghệ để hỗ trợ, cung cấp thông tin, tư vấn cho các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ trong việc tìm kiếm thị trường công nghệ, lựa chọn công nghệ phù hợp nhằm giúp các doanh nghiệp đưa ra quyết định đầu tư, đổi mới công nghệ và hỗ trợ đàm phán các hợp đồng chuyển giao công nghệ.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí hàng rào kỹ thuật về yêu cầu đổi mới công nghệ tiên tiến, hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đối với các nhà đầu tư nước ngoài (FDI) khi đầu tư phát triển ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tỉnh Đồng Nai.
- Thu hút nhà đầu tư, tranh thủ các kênh chuyển giao, hợp tác khoa học - công nghệ, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) để nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ. Hình thành một số sản phẩm từ gỗ công nghệ cao.
- Khuyến khích các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý tiêu chuẩn quốc tế (ISO), hệ thống quản lý chất lượng toàn diện (TQM), hệ thống tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội (SA8000)... thực hiện đăng ký bảo hộ thương hiệu, nhãn mác sản phẩm và quyền sở hữu công nghiệp.
- Hỗ trợ các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ kết nối với các viện nghiên cứu, trường đại học trong cả nước để triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ; hỗ trợ tập huấn về công nghệ thông tin, xây dựng và áp dụng chứng chỉ FSC, COC, ISO,... cho doanh nghiệp chế biến và người trồng rừng.
- Xây dựng các Vườn ươm cây giống áp dụng công nghệ cao từ việc chọn tạo giống và nhân giống như công nghệ tế bào, công nghệ gen, công nghệ sử dụng vật liệu mới ở vườn ươm, công nghệ tưới phun.
b) Giải pháp đảm bảo nguồn nguyên liệu hợp pháp
- Phát triển, hình thành mối liên kết phát triển vùng nguyên liệu gỗ giữa tỉnh Đồng Nai và các tỉnh Vùng Đông Nam bộ, Tây Nguyên ổn định, có nguồn gốc hợp pháp. Ưu tiên nhập khẩu gỗ từ các nước trong nội bộ khối CPTPP; tăng cường nhập khẩu gỗ nguyên liệu có xuất xứ, nguồn gốc hợp pháp từ Mỹ để đảm bảo cán cân thương mại hai chiều.
- Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp liên kết nhằm tạo khu vực cung ứng nguồn nguyên liệu chế biến gỗ tập trung, xây dựng chợ đầu mối gỗ nguyên liệu gắn kết với các khu, cụm công nghiệp chế biến gỗ.
c) Giải pháp về thị trường
- Đẩy mạnh và đa dạng hóa các hoạt động xúc tiến thương mại, hội thảo, hội chợ trong nước, quốc tế để quảng bá các sản phẩm gỗ đến tận tay người tiêu dùng; chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu.
- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung chính sách xúc tiến thương mại theo hướng tập trung hỗ trợ phát triển thị trường đối với các sản phẩm ưu tiên phát triển sản xuất như gỗ nội thất, gỗ ngoài trời, các mặt hàng đồ thủ công mỹ nghệ, ván gỗ...
- Xây dựng và phát triển thương hiệu nổi tiếng, có uy tín trong khu vực Đông Nam Á cho một số doanh nghiệp quy mô lớn về vốn, lao động, công nghệ hiện đại. Các Doanh nghiệp này sẽ giữ vai trò đầu tàu, dẫn dắt những doanh nghiệp ngành chế biến gỗ của tỉnh cùng phát triển.
- Tăng cường mối liên kết của Hiệp hội gỗ và Thủ công mỹ nghệ Đồng Nai với các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ̀ gỗ và các tổ chức, tham tán thương mại của các nước trong việc duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
- Xây dựng Đồng Nai trở thành điểm đến thu hút các đơn vị kinh doanh đồ gỗ thế giới đến Việt Nam, tỉnh cần hỗ trợ phát triển các trung tâm giao dịch, trung tâm triển lãm hội chợ đủ tầm, tạo cơ hội, lợi thế cho các DN sản xuất, tiếp thị sản phẩm với khách hàng hiệu quả.
d) Giải pháp bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo hành lang pháp lý để hỗ trợ các doanh nghiệp tổ chức sản xuất, kinh doanh hiệu quả:
- Hạn chế xuất khẩu nguyên liệu gỗ thô để đảm bảo nguồn nguyên liệu trong tỉnh thông qua chính sách thuế và kiểm soát việc thực hiện; phát triển ít nhất 02 vùng nguyên liệu gỗ lớn, đạt chất lượng, có chứng chỉ rừng bền vững được quốc tế công nhận để phục vụ nhu cầu của ngành công nghiệp sản xuất, chế biến và thương mại lâm sản.
- Có chính sách thuế cho các doanh nghiệp nhập khẩu thiết bị, nguyên liệu để sản xuất vật liệu phụ trợ trong tỉnh; áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp với ngành lâm nghiệp tương tự như ngành khách; ổn định chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu nguyên liệu; mở rộng mạng lưới phân phối và giới thiệu sản phẩm trên thị trường thế giới và phát triển thương hiệu lâm sản Việt.
đ) Giải pháp về tài chính, đầu tư
- Tiếp tục triển khai chính sách khuyến công, xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, áp dụng tự động hóa để giảm chi phí, hạ giá thành sản xuất, nâng cao năng suất lao động, nâng cao được chất lượng sản phẩm, tạo ra các sản phẩm chủ lực, có thương hiệu, tạo được thế cạnh tranh; chính sách khuyến khích các doanh nghiệp chế biến theo chuỗi giá trị, tổ chức sản xuất theo hình thức liên kết, hợp tác chặt chẽ với các tổ chức, cá nhân trồng rừng và để sản xuất nguyên liệu cho nhu cầu chế biến và xuất khẩu gỗ.
- Đa dạng hóa các hình thức thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư các dự án trọng điểm phát triển ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ.
- Không thu hút dự án đầu tư có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường để đầu tư phát triển ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ̀ gỗ. Quản lý và sử dụng có hiệu quả các dự án đầu tư trọng điểm của ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ để nhanh chóng đưa vào hoạt động.
e) Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực
- Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao cho ngành chế biến gỗ. Tăng cường liên kết, phối hợp giữa doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo nghề nghiệp, chú trọng đào tạo đồng bộ và kết hợp hài hòa giữa các nhóm nhân lực thuộc các trình độ đào tạo đáp ứng với yêu cầu thực tế phát triển và công nghệ của ngành chế biến gỗ.
- Mở rộng mạng lưới đào tạo nghề và thay đổi cơ cấu đào tạo nghề theo nhu cầu của thị trường lao động. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề theo hướng xã hội hóa, đa dạng hóa hình thức đào tạo, linh hoạt và thiết thực. Tăng cường gắn kết giữa cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, thực hiện đào tạo theo yêu cầu và địa chỉ nhằm đảm bảo cho lao động sau đào tạo được sử dụng đúng với chương trình đào tạo. Khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức đào tạo lao động tại chỗ, xây dựng trường đào tạo công nhân kỹ thuật.
- Hình thành cơ chế các doanh nghiệp đặt hàng đào tạo lao động chuyên ngành chế biến gỗ cho các cơ sở đào tạo của tỉnh và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Mở rộng các hình thức hợp tác quốc tế về đào tạo công nhân kỹ thuật trong khối ASEAN và các nước khác. Tranh thủ các nguồn tài trợ của nước ngoài về vốn, chuyên gia kỹ thuật để đào tạo thợ bậc cao, đặc biệt là nguồn lực từ các doanh nghiệp, công ty mẹ, công ty khách hàng.
g) Giải pháp về bảo vệ môi trường
- Khuyến khích các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp. Các khu, cụm công nghiệp phải được xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng và hệ thống xử lý nước thải trước khi thu hút bố trí các dự án.
- Hoàn thiện danh mục các ngành nghề hạn chế đầu tư sản xuất ngoài khu công nghiệp, các ngành nghề hạn chế đầu tư sản xuất trong khu dân cư và công khai danh mục cho các nhà đầu tư.
- Thiết kế, đầu tư xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo về ô nhiễm môi trường đối với hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ.
- Thông qua Quỹ bảo vệ môi trường của tỉnh và chính sách hỗ trợ lãi vay giúp các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ hoạt động bên ngoài các khu, cụm công nghiệp vay vốn đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải công nghiệp.
h) Giải pháp về phát triển công nghiệp hỗ trợ
- Hình thành chuỗi liên kết sản xuất theo hướng chuyên môn hóa giữa các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tỉnh Đồng Nai từ khâu khai thác gỗ, sơ chế, sản xuất sản phẩm từ gỗ như chân bàn, chân ghế, mặt bàn, tựa ngồi… đến khâu sơn, dán keo, lắp ráp, đóng gói sản phẩm hoàn chỉnh.
- Khuyến khích ưu đãi các dự án đầu tư quy mô lớn, công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại thuộc ngành công nghiệp hỗ trợ phục vụ phát triển ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ.
- Đối với các doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ phục vụ phát triển ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ đã đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi về pháp lý cho các doanh nghiệp khai thác hết công suất và mở rộng thêm nhà xưởng sản xuất để liên kết chuỗi sản phẩm trong dây chuyền sản xuất tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
- Lập ngân hàng dữ liệu, thống kê các nhà sản xuất công nghiệp hỗ trợ nhằm thông tin cho các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ nơi cung cấp gỗ nguyên liệu, linh kiện, thiết bị trong nước sản xuất thông qua các Trang thông tin điện tử của các Bộ, ngành, địa phương... để tạo cầu nối, liên kết các doanh nghiệp đầu tư trong nước và ngoài nước.
- Để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ cần phải thực hiện Nghị định 111/2015/NĐ-CP ngày 03/11/2015 của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ và Thông tư 29/2018/TT-BTC ngày 28/3/2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn lập, quản lý và sử dụng kinh phí phát triển công nghiệp hỗ trợ và Quyết định số 10/2017/QĐ-TTg ngày 03/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và thực hiện chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ có quy định nội dung và mức hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp hỗ trợ.
j) Giải pháp về phát triển hạ tầng, giao thông, logistic
- Hình thành cảng trung chuyển các sản phẩm đồ gỗ thông qua đường thủy hoặc đường sắt trên địa bàn tỉnh Đồng Nai để giảm chi phí logictics cho các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ.
- Xây dựng các chương trình đầu tư cụ thể nhằm nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các tuyến giao thông quan trọng bao gồm các tuyến đường kết nối, đường giao thông trong các khu, cụm công nghiệp.
- Phát triển hệ thống dịch vụ đại lý vận tải biển gắn liền với dịch vụ bến cảng sông, hệ thống kho bãi đủ lớn phục vụ nhu cầu của các doanh nghiệp.
k) Giải pháp bảo vệ, phát triển rừng, đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng
- Tăng cường các biện pháp hữu hiệu nhằm chủ động phát hiện, ngăn chặn, xử lý vi phạm về quản lý bảo vệ rừng, khai thác chế biến lâm sản, giữ vững ổn định tình hình lâm phận, không để xảy ra các điểm nóng phức tạp; tổ chức các biện pháp phòng chống cháy rừng, lấy phòng cháy là trọng tâm theo phương châm 4 tại chỗ.
- Tập trung bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có, khai thác hợp lý lâm sản ngoài gỗ, tạo điều kiện cho các cộng đồng dân cư địa phương tham gia bảo vệ rừng. Nâng cao chất lượng, trữ lượng rừng tự nhiên thông qua các biện pháp nuôi dưỡng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, làm giàu rừng và cải tạo rừng nghèo kiệt; khai thác hợp lý các nguồn lâm sản ngoài gỗ từ rừng tự nhiên.
- Tăng cường công tác quản lý chuỗi hành trình giống cây lâm nghiệp; rà soát phân loại đánh giá các cơ sở cung ứng giống cây lâm nghiệp nhằm sử dụng giống tốt, bảo đảm có chất lượng; cây giống trồng rừng phải đảm bảo chất lượng có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, có hồ sơ quản lý theo đúng quy định.
m) Giải pháp thu hút đầu tư vào khu, cụm công nghiệp
- Tập trung phát triển hạ tầng kết hợp với chuyển dịch cơ cấu ngành, có cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng đối với các cụm công nghiệp để thu hút các dự án đầu tư mới, đầu tư mở rộng sản xuất. Tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính.
- Hỗ trợ các cụm công nghiệp hoàn thiện nhanh cơ sở hạ tầng nhằm tạo mặt bằng thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp thuộc diện di dời khỏi các khu đô thị các khu dân cư tập trung, giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường theo các chính sách của Chính phủ và của tỉnh Đồng Nai.
- Thực hiện chính sách ưu đãi, khuyến khích thu hút đầu tư vào sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ… theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày 12/6/2017 và các Nghị định của Chính phủ.
- Tổ chức rà soát ngành nghề thu hút đầu tư đối với những khu công nghiệp, cụm công nghiệp chưa lắp đầy, tiếp tục thu hút đầu tư có chọn lọc đối với các dự án đầu tư mới theo hướng ưu tiên thu hút các dự án đầu tư sản xuất các sản phẩm giá trị gia tăng cao.
- Tăng cường sự phối hợp giữa chính quyền địa phương với các công ty phát triển hạ tầng khu, cụm công nghiệp đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, chuẩn bị sẵn sàng quỹ đất để giới thiệu cho các nhà đầu tư tiềm năng.
n) Giải pháp di dời cơ sở sản xuất vào khu, cụm công nghiệp
- Áp dụng chính sách hỗ trợ lãi vay đầu tư thay đổi, nâng cấp công nghệ, xây dựng cơ sở mới tại địa điểm mới trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp được chọn di dời đến.
- Áp dụng chính sách hỗ trợ về giá thuê lại mặt bằng trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; hỗ trợ cho việc tháo dỡ thiết bị, nhà xưởng, vận chuyển, lắp đặt thiết bị trong quá trình di dời; hỗ trợ đầu tư xây dựng nhà ở phục vụ cho người lao động; hỗ trợ đối với người lao động mất việc làm tạm thời.
- Áp dụng các chính sách để di dời các cơ sở sản xuất vào khu, cụm công nghiệp theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ; Nghị định 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ; Quyết định số 48/2019/QĐ-UBND ngày 30/12/2019 của UBND tỉnh Đồng Nai.

Content:
Các giải pháp thực hiện
a) Giải pháp về đổi mới công nghệ
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ ứng dụng vật liệu mới, gia công tiên tiến, biến tính gỗ, công nghệ nano, công nghệ sấy sinh thái, công nghệ sản xuất chất phủ bề mặt, keo dán. Công nghệ thông tin, công nghệ tự động hóa trong chế biến và bảo quản lâm sản, sử dụng phế liệu, phụ phẩm trong lâm nghiệp, ứng dụng công nghệ vật liệu mới, tạo các sản phẩm gỗ composite chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu gỗ cho xây dựng và chế biến.
- Hình thành cơ sở dữ liệu thông tin về công nghệ để hỗ trợ, cung cấp thông tin, tư vấn cho các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ trong việc tìm kiếm thị trường công nghệ, lựa chọn công nghệ phù hợp nhằm giúp các doanh nghiệp đưa ra quyết định đầu tư, đổi mới công nghệ và hỗ trợ đàm phán các hợp đồng chuyển giao công nghệ.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí hàng rào kỹ thuật về yêu cầu đổi mới công nghệ tiên tiến, hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đối với các nhà đầu tư nước ngoài (FDI) khi đầu tư phát triển ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tỉnh Đồng Nai.
- Thu hút nhà đầu tư, tranh thủ các kênh chuyển giao, hợp tác khoa học - công nghệ, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) để nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ. Hình thành một số sản phẩm từ gỗ công nghệ cao.
- Khuyến khích các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý tiêu chuẩn quốc tế (ISO), hệ thống quản lý chất lượng toàn diện (TQM), hệ thống tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội (SA8000)... thực hiện đăng ký bảo hộ thương hiệu, nhãn mác sản phẩm và quyền sở hữu công nghiệp.
- Hỗ trợ các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ kết nối với các viện nghiên cứu, trường đại học trong cả nước để triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ; hỗ trợ tập huấn về công nghệ thông tin, xây dựng và áp dụng chứng chỉ FSC, COC, ISO,... cho doanh nghiệp chế biến và người trồng rừng.
- Xây dựng các Vườn ươm cây giống áp dụng công nghệ cao từ việc chọn tạo giống và nhân giống như công nghệ tế bào, công nghệ gen, công nghệ sử dụng vật liệu mới ở vườn ươm, công nghệ tưới phun.
b) Giải pháp đảm bảo nguồn nguyên liệu hợp pháp
- Phát triển, hình thành mối liên kết phát triển vùng nguyên liệu gỗ giữa tỉnh Đồng Nai và các tỉnh Vùng Đông Nam bộ, Tây Nguyên ổn định, có nguồn gốc hợp pháp. Ưu tiên nhập khẩu gỗ từ các nước trong nội bộ khối CPTPP; tăng cường nhập khẩu gỗ nguyên liệu có xuất xứ, nguồn gốc hợp pháp từ Mỹ để đảm bảo cán cân thương mại hai chiều.
- Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp liên kết nhằm tạo khu vực cung ứng nguồn nguyên liệu chế biến gỗ tập trung, xây dựng chợ đầu mối gỗ nguyên liệu gắn kết với các khu, cụm công nghiệp chế biến gỗ.
c) Giải pháp về thị trường
- Đẩy mạnh và đa dạng hóa các hoạt động xúc tiến thương mại, hội thảo, hội chợ trong nước, quốc tế để quảng bá các sản phẩm gỗ đến tận tay người tiêu dùng; chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu.
- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung chính sách xúc tiến thương mại theo hướng tập trung hỗ trợ phát triển thị trường đối với các sản phẩm ưu tiên phát triển sản xuất như gỗ nội thất, gỗ ngoài trời, các mặt hàng đồ thủ công mỹ nghệ, ván gỗ...
- Xây dựng và phát triển thương hiệu nổi tiếng, có uy tín trong khu vực Đông Nam Á cho một số doanh nghiệp quy mô lớn về vốn, lao động, công nghệ hiện đại. Các Doanh nghiệp này sẽ giữ vai trò đầu tàu, dẫn dắt những doanh nghiệp ngành chế biến gỗ của tỉnh cùng phát triển.
- Tăng cường mối liên kết của Hiệp hội gỗ và Thủ công mỹ nghệ Đồng Nai với các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ̀ gỗ và các tổ chức, tham tán thương mại của các nước trong việc duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
- Xây dựng Đồng Nai trở thành điểm đến thu hút các đơn vị kinh doanh đồ gỗ thế giới đến Việt Nam, tỉnh cần hỗ trợ phát triển các trung tâm giao dịch, trung tâm triển lãm hội chợ đủ tầm, tạo cơ hội, lợi thế cho các DN sản xuất, tiếp thị sản phẩm với khách hàng hiệu quả.
d) Giải pháp bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo hành lang pháp lý để hỗ trợ các doanh nghiệp tổ chức sản xuất, kinh doanh hiệu quả:
- Hạn chế xuất khẩu nguyên liệu gỗ thô để đảm bảo nguồn nguyên liệu trong tỉnh thông qua chính sách thuế và kiểm soát việc thực hiện; phát triển ít nhất 02 vùng nguyên liệu gỗ lớn, đạt chất lượng, có chứng chỉ rừng bền vững được quốc tế công nhận để phục vụ nhu cầu của ngành công nghiệp sản xuất, chế biến và thương mại lâm sản.
- Có chính sách thuế cho các doanh nghiệp nhập khẩu thiết bị, nguyên liệu để sản xuất vật liệu phụ trợ trong tỉnh; áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp với ngành lâm nghiệp tương tự như ngành khách; ổn định chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu nguyên liệu; mở rộng mạng lưới phân phối và giới thiệu sản phẩm trên thị trường thế giới và phát triển thương hiệu lâm sản Việt.
đ) Giải pháp về tài chính, đầu tư
- Tiếp tục triển khai chính sách khuyến công, xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, áp dụng tự động hóa để giảm chi phí, hạ giá thành sản xuất, nâng cao năng suất lao động, nâng cao được chất lượng sản phẩm, tạo ra các sản phẩm chủ lực, có thương hiệu, tạo được thế cạnh tranh; chính sách khuyến khích các doanh nghiệp chế biến theo chuỗi giá trị, tổ chức sản xuất theo hình thức liên kết, hợp tác chặt chẽ với các tổ chức, cá nhân trồng rừng và để sản xuất nguyên liệu cho nhu cầu chế biến và xuất khẩu gỗ.
- Đa dạng hóa các hình thức thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư các dự án trọng điểm phát triển ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ.
- Không thu hút dự án đầu tư có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường để đầu tư phát triển ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ̀ gỗ. Quản lý và sử dụng có hiệu quả các dự án đầu tư trọng điểm của ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ để nhanh chóng đưa vào hoạt động.
e) Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực
- Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao cho ngành chế biến gỗ. Tăng cường liên kết, phối hợp giữa doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo nghề nghiệp, chú trọng đào tạo đồng bộ và kết hợp hài hòa giữa các nhóm nhân lực thuộc các trình độ đào tạo đáp ứng với yêu cầu thực tế phát triển và công nghệ của ngành chế biến gỗ.
- Mở rộng mạng lưới đào tạo nghề và thay đổi cơ cấu đào tạo nghề theo nhu cầu của thị trường lao động. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề theo hướng xã hội hóa, đa dạng hóa hình thức đào tạo, linh hoạt và thiết thực. Tăng cường gắn kết giữa cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, thực hiện đào tạo theo yêu cầu và địa chỉ nhằm đảm bảo cho lao động sau đào tạo được sử dụng đúng với chương trình đào tạo. Khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức đào tạo lao động tại chỗ, xây dựng trường đào tạo công nhân kỹ thuật.
- Hình thành cơ chế các doanh nghiệp đặt hàng đào tạo lao động chuyên ngành chế biến gỗ cho các cơ sở đào tạo của tỉnh và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Mở rộng các hình thức hợp tác quốc tế về đào tạo công nhân kỹ thuật trong khối ASEAN và các nước khác. Tranh thủ các nguồn tài trợ của nước ngoài về vốn, chuyên gia kỹ thuật để đào tạo thợ bậc cao, đặc biệt là nguồn lực từ các doanh nghiệp, công ty mẹ, công ty khách hàng.
g) Giải pháp về bảo vệ môi trường
- Khuyến khích các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp. Các khu, cụm công nghiệp phải được xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng và hệ thống xử lý nước thải trước khi thu hút bố trí các dự án.
- Hoàn thiện danh mục các ngành nghề hạn chế đầu tư sản xuất ngoài khu công nghiệp, các ngành nghề hạn chế đầu tư sản xuất trong khu dân cư và công khai danh mục cho các nhà đầu tư.
- Thiết kế, đầu tư xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo về ô nhiễm môi trường đối với hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ.
- Thông qua Quỹ bảo vệ môi trường của tỉnh và chính sách hỗ trợ lãi vay giúp các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ hoạt động bên ngoài các khu, cụm công nghiệp vay vốn đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải công nghiệp.
h) Giải pháp về phát triển công nghiệp hỗ trợ
- Hình thành chuỗi liên kết sản xuất theo hướng chuyên môn hóa giữa các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tỉnh Đồng Nai từ khâu khai thác gỗ, sơ chế, sản xuất sản phẩm từ gỗ như chân bàn, chân ghế, mặt bàn, tựa ngồi… đến khâu sơn, dán keo, lắp ráp, đóng gói sản phẩm hoàn chỉnh.
- Khuyến khích ưu đãi các dự án đầu tư quy mô lớn, công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại thuộc ngành công nghiệp hỗ trợ phục vụ phát triển ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ.
- Đối với các doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ phục vụ phát triển ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ đã đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi về pháp lý cho các doanh nghiệp khai thác hết công suất và mở rộng thêm nhà xưởng sản xuất để liên kết chuỗi sản phẩm trong dây chuyền sản xuất tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
- Lập ngân hàng dữ liệu, thống kê các nhà sản xuất công nghiệp hỗ trợ nhằm thông tin cho các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ nơi cung cấp gỗ nguyên liệu, linh kiện, thiết bị trong nước sản xuất thông qua các Trang thông tin điện tử của các Bộ, ngành, địa phương... để tạo cầu nối, liên kết các doanh nghiệp đầu tư trong nước và ngoài nước.
- Để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ cần phải thực hiện Nghị định 111/2015/NĐ-CP ngày 03/11/2015 của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ và Thông tư 29/2018/TT-BTC ngày 28/3/2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn lập, quản lý và sử dụng kinh phí phát triển công nghiệp hỗ trợ và Quyết định số 10/2017/QĐ-TTg ngày 03/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và thực hiện chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ có quy định nội dung và mức hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp hỗ trợ.
j) Giải pháp về phát triển hạ tầng, giao thông, logistic
- Hình thành cảng trung chuyển các sản phẩm đồ gỗ thông qua đường thủy hoặc đường sắt trên địa bàn tỉnh Đồng Nai để giảm chi phí logictics cho các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ.
- Xây dựng các chương trình đầu tư cụ thể nhằm nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các tuyến giao thông quan trọng bao gồm các tuyến đường kết nối, đường giao thông trong các khu, cụm công nghiệp.
- Phát triển hệ thống dịch vụ đại lý vận tải biển gắn liền với dịch vụ bến cảng sông, hệ thống kho bãi đủ lớn phục vụ nhu cầu của các doanh nghiệp.
k) Giải pháp bảo vệ, phát triển rừng, đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng
- Tăng cường các biện pháp hữu hiệu nhằm chủ động phát hiện, ngăn chặn, xử lý vi phạm về quản lý bảo vệ rừng, khai thác chế biến lâm sản, giữ vững ổn định tình hình lâm phận, không để xảy ra các điểm nóng phức tạp; tổ chức các biện pháp phòng chống cháy rừng, lấy phòng cháy là trọng tâm theo phương châm 4 tại chỗ.
- Tập trung bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có, khai thác hợp lý lâm sản ngoài gỗ, tạo điều kiện cho các cộng đồng dân cư địa phương tham gia bảo vệ rừng. Nâng cao chất lượng, trữ lượng rừng tự nhiên thông qua các biện pháp nuôi dưỡng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, làm giàu rừng và cải tạo rừng nghèo kiệt; khai thác hợp lý các nguồn lâm sản ngoài gỗ từ rừng tự nhiên.
- Tăng cường công tác quản lý chuỗi hành trình giống cây lâm nghiệp; rà soát phân loại đánh giá các cơ sở cung ứng giống cây lâm nghiệp nhằm sử dụng giống tốt, bảo đảm có chất lượng; cây giống trồng rừng phải đảm bảo chất lượng có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, có hồ sơ quản lý theo đúng quy định.
m) Giải pháp thu hút đầu tư vào khu, cụm công nghiệp
- Tập trung phát triển hạ tầng kết hợp với chuyển dịch cơ cấu ngành, có cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng đối với các cụm công nghiệp để thu hút các dự án đầu tư mới, đầu tư mở rộng sản xuất. Tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính.
- Hỗ trợ các cụm công nghiệp hoàn thiện nhanh cơ sở hạ tầng nhằm tạo mặt bằng thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp thuộc diện di dời khỏi các khu đô thị các khu dân cư tập trung, giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường theo các chính sách của Chính phủ và của tỉnh Đồng Nai.
- Thực hiện chính sách ưu đãi, khuyến khích thu hút đầu tư vào sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ… theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày 12/6/2017 và các Nghị định của Chính phủ.
- Tổ chức rà soát ngành nghề thu hút đầu tư đối với những khu công nghiệp, cụm công nghiệp chưa lắp đầy, tiếp tục thu hút đầu tư có chọn lọc đối với các dự án đầu tư mới theo hướng ưu tiên thu hút các dự án đầu tư sản xuất các sản phẩm giá trị gia tăng cao.
- Tăng cường sự phối hợp giữa chính quyền địa phương với các công ty phát triển hạ tầng khu, cụm công nghiệp đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, chuẩn bị sẵn sàng quỹ đất để giới thiệu cho các nhà đầu tư tiềm năng.
n) Giải pháp di dời cơ sở sản xuất vào khu, cụm công nghiệp
- Áp dụng chính sách hỗ trợ lãi vay đầu tư thay đổi, nâng cấp công nghệ, xây dựng cơ sở mới tại địa điểm mới trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp được chọn di dời đến.
- Áp dụng chính sách hỗ trợ về giá thuê lại mặt bằng trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; hỗ trợ cho việc tháo dỡ thiết bị, nhà xưởng, vận chuyển, lắp đặt thiết bị trong quá trình di dời; hỗ trợ đầu tư xây dựng nhà ở phục vụ cho người lao động; hỗ trợ đối với người lao động mất việc làm tạm thời.
- Áp dụng các chính sách để di dời các cơ sở sản xuất vào khu, cụm công nghiệp theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ; Nghị định 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ; Quyết định số 48/2019/QĐ-UBND ngày 30/12/2019 của UBND tỉnh Đồng Nai.