Document: Điểm c Khoản 6 Điều 1 Quyết định 1431/QĐ-TTg 2018 mạng lưới đơn vị sự nghiệp lĩnh vực thông tin và truyền thông

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/10/2018", "sign_number": "1431/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/10/2018", "sign_number": "1431/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/10/2018", "sign_number": "1431/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/10/2018", "sign_number": "1431/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/10/2018", "sign_number": "1431/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 6 Điều 1 Quyết định 1431/QĐ-TTg 2018 mạng lưới đơn vị sự nghiệp lĩnh vực thông tin và truyền thông

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực thông tin và truyền thông đến năm 2021, định hướng đến năm 2030 với một số nội dung chủ yếu sau đây:
...
6. Đẩy mạnh chuyển đổi cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tự chủ, tự bảo đảm chi thường xuyên, chi thường xuyên và chi đầu tư trên cơ sở đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, nhân sự.
III. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
...
c) Bảo đảm cung cấp các sản phẩm, dịch vụ công có chất lượng theo tiêu chí, tiêu chuẩn do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, đặc biệt tập trung vào các khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
2. Mục tiêu cụ thể
a) Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực thông tin và truyền thông (không bao gồm các cơ quan báo chí):
- Giai đoạn đến năm 2021:
+ Về mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực thông tin và truyền thông:
Thực hiện rà soát, sắp xếp, kiện toàn các đơn vị sự nghiệp bảo đảm phù hợp với danh mục dịch vụ sự nghiệp công ngành thông tin và truyền thông, bảo đảm tinh gọn, đồng bộ, thống nhất; thực hiện tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng cung cấp dịch vụ công.
Giảm tối thiểu 10% đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực thông tin và truyền thông và 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 19-NQ/TW).
+ Về thực hiện cơ chế tự chủ:
Các đơn vị tăng dần mức độ tự chủ về tài chính hàng năm phù hợp với lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công. Phấn đấu đến năm 2021 có tối thiểu 10% đơn vị tự chủ về chi thường xuyên, chi thường xuyên và chi đầu tư, giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2011 - 2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
Hoàn thành cơ bản việc chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp công lập có đủ điều kiện thành công ty cổ phần; cho phép các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.
- Giai đoạn 2021 - 2030:
Tiếp tục thực hiện rà soát, sắp xếp, kiện toàn các đơn vị sự nghiệp bảo đảm phù hợp với tình hình phát triển ngành thông tin và truyền thông.
+ Đến năm 2025:
Tiếp tục giảm tối thiểu 10% đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực thông tin và truyền thông và 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2021;
Phấn đấu có tối thiểu 20% đơn vị tự chủ chi thường xuyên, chi thường xuyên và chi đầu tư; tiếp tục giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2016 - 2020.
+ Đến năm 2030:
Tiếp tục thực hiện việc giảm đầu mối, phấn đấu chỉ còn các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị, phục vụ quản lý nhà nước và các đơn vị cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu; giảm 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2025.
Giảm bình quân 15% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2021 - 2025.
b) Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực báo chí:
Thực hiện sắp xếp theo lộ trình của Đề án Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 đã được Bộ Chính trị thông qua.
Phấn đấu đến năm 2021 có tối thiểu 10% đơn vị tự chủ về chi thường xuyên, chi thường xuyên và chi đầu tư; đến năm 2025, phấn đấu có tối thiểu 20% đơn vị tự chủ chi thường xuyên, chi thường xuyên và chi đầu tư.
Nhà nước chỉ đầu tư, bảo đảm cho một số báo thực hiện nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền; có hỗ trợ ngân sách (theo hình thức đặt hàng) đối với những ấn phẩm, chuyên mục, chương trình phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị cụ thể trong từng giai đoạn, khu vực.
IV. NỘI DUNG QUY HOẠCH
1. Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực báo chí (bao gồm: báo và tạp chí in; phát thanh, truyền hình; báo và tạp chí điện tử) được thực hiện như sau:
a) Về sắp xếp cơ quan báo chí:
- Ban Chấp hành Trung ương có Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản; mỗi ban của Đảng có 01 cơ quan tạp chí in. Báo Nhân dân thực hiện theo mô hình cơ quan truyền thông đa phương tiện.
- Văn phòng Quốc hội có 01 cơ quan báo in, 01 cơ quan tạp chí in và cơ quan Truyền hình Quốc hội Việt Nam.
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước có 01 cơ quan báo in và 01 cơ quan tạp chí in.
- Bộ, cơ quan ngang bộ có 01 cơ quan báo in và 01 cơ quan tạp chí in; Bộ Quốc phòng có thêm Trung tâm Phát thanh, truyền hình Quân đội; Bộ Công an có thêm Trung tâm Phát thanh, truyền hình, điện ảnh Công an nhân dân. Báo điện tử Chính phủ, Báo Quân đội Nhân dân và Báo Công an Nhân dân thực hiện theo mô hình cơ quan truyền thông đa phương tiện.
- Cơ quan thuộc Chính phủ (trừ Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt nam) có 01 cơ quan tạp chí in. Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam thực hiện theo mô hình cơ quan truyền thông đa phương tiện.
- Quân khu, quân chủng có 01 cơ quan báo in hoặc 01 cơ quan tạp chí in.
- Tổng cục và tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có 01 cơ quan tạp chí in.
- Học viện, viện nghiên cứu, các trường đại học, bệnh viện là đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện theo quy định được có 01 cơ quan tạp chí in khoa học chuyên ngành.
- Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có 01 cơ quan báo in, 01 cơ quan tạp chí in và 01 đài phát thanh và truyền hình (đài); riêng Thành phố Hồ Chí Minh có 01 đài phát thanh, 01 đài truyền hình. Một số tỉnh, thành phố là địa bàn trọng điểm về kinh tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, du lịch được có cơ quan tạp chí in chuyên ngành. Mỗi đài chỉ có 01 kênh phát thanh, 01 kênh truyền hình; Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có cơ chế đặc thù về mô hình tổ chức và phạm vi thông tin, mỗi đài có tối đa 02 kênh phát thanh, 02 kênh truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu.
- Cơ quan, tổ chức được có cơ quan báo, tạp chí in thì được xuất bản báo, tạp chí điện tử.
- Lộ trình thực hiện: Thực hiện theo quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc.
b) Về thực hiện cơ chế tài chính:
- Giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2015 và giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp báo chí so với giai đoạn 2011 - 2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực báo chí tăng dần mức độ tự chủ hàng năm. Đến năm 2025, tiếp tục giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2015 và giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước so với giai đoạn 2016 - 2020;
Giai đoạn 2025 - 2030:
Tiếp tục giảm 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước và giảm bình quân 15% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực báo chí so với giai đoạn 2021 - 2025 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
2. Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện
a) Giai đoạn đến năm 2021:
- Sắp xếp, giảm tối thiểu 10% số lượng đơn vị sự nghiệp công lập và giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện hoạt động theo cơ chế tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư.
b) Giai đoạn 2021 - 2025:
- Rà soát, nghiên cứu tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện, có chức năng, nhiệm vụ tương đồng để hình thành 01 đơn vị sự nghiệp thống nhất thực hiện chức năng cung cấp các dịch vụ chứng nhận, kiểm định trong lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện.
- Sắp xếp, giảm tối thiểu 10% số lượng đơn vị sự nghiệp công lập và 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2021 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện hoạt động theo cơ chế tự bảo đảm về chi thường xuyên, chi thường xuyên và chi đầu tư.
c) Giai đoạn 2025 - 2030:
- Tiếp tục sắp xếp, giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2025 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện hoạt động theo cơ chế tự bảo đảm chi thường xuyên, chi thường xuyên và chi đầu tư.
3. Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực công nghệ thông tin
a) Giai đoạn đến năm 2021:
- Kiện toàn đơn vị thực hiện nhiệm vụ về công nghệ thông tin tại các cơ quan; thực hiện rà soát chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp cơ cấu bên trong của từng đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng thu gọn các đầu mối trực thuộc, đẩy mạnh cơ chế tự chủ về tài chính.
- Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Kiểm toán Nhà nước, các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tổng cục thuộc Bộ có một (01) đơn vị sự nghiệp (nếu đã có Cục chuyên trách về công nghệ thông tin thì không tổ chức thêm đơn vị sự nghiệp) thực hiện các nhiệm vụ chuyên trách về công nghệ thông tin.
- Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ yêu cầu quản lý thực tiễn, kết quả hoạt động, quy mô của các đơn vị sự nghiệp phân công đơn vị thực hiện nhiệm vụ về công nghệ thông tin, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu quả; sắp xếp, giảm tối thiểu 10% số lượng đơn vị sự nghiệp công lập và giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực công nghệ thông tin so với năm 2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
- Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và các trường đại học công lập khác: Theo điều kiện thực tiễn có thể được tổ chức 01 đơn vị sự nghiệp thực hiện nhiệm vụ công nghệ thông tin. Đơn vị sự nghiệp này phải tự bảo đảm chi thường xuyên.
- Sắp xếp, giảm tối thiểu 10% số lượng đơn vị sự nghiệp công lập và 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
- Phấn đấu có 70% đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực công nghệ thông tin hoạt động theo cơ chế tự bảo đảm chi thường xuyên. Giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2011 -2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
b) Giai đoạn 2021 - 2025:
- Tiếp tục rà soát, tinh gọn hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện giảm tối thiểu 10% số lượng đơn vị sự nghiệp công lập và giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực công nghệ thông tin so với năm 2021 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
c) Giai đoạn 2025 - 2030
- Tiếp tục thực hiện việc giảm đầu mối. Giảm 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2025, giảm bình quân 15% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2021 -2025.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực công nghệ thông tin tăng dần mức độ tự chủ về tài chính hàng năm. Đến năm 2030, phấn đấu có 100% đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực công nghệ thông tin hoạt động theo cơ chế tự bảo đảm về chi thường xuyên. Cho phép các đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.
4. Các đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực thông tin, thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại:
a) Giai đoạn đến năm 2021:
- Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ yêu cầu công tác quản lý, giao nhiệm vụ làm công tác thông tin, thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại đảm bảo tinh gọn, hoạt động hiệu quả.
- Các đơn vị sự nghiệp tăng dần mức độ tự chủ về tài chính theo từng năm. Giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2011 -2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
- Sắp xếp, giảm tối thiểu 10% số lượng đơn vị sự nghiệp công lập và giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thông tin, thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại so với năm 2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
b) Giai đoạn từ 2021 - 2025
- Tiếp tục rà soát, tinh gọn hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện giảm tối thiểu 10% số lượng đơn vị sự nghiệp công lập và giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thông tin, thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại so với năm 2021 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
Trung tâm Thông tin trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện chức năng thông tin, tư liệu trong lĩnh vực thông tin và truyền thông, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước của Bộ. Cục Thông tin đối ngoại, Cục Thông tin cơ sở được tổ chức 01 đơn vị sự nghiệp trực thuộc để hỗ trợ công tác quản lý nhà nước trên từng lĩnh vực.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực thông tin, thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại tăng dần mức độ tự chủ hàng năm. Đến năm 2025, tiếp tục giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2021 và giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước so với năm giai đoạn 2016 - 2020.
c) Giai đoạn 2025 - 2030
Tiếp tục giảm 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2025 và giảm bình quân 15% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2021 - 2025 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW. Cho phép các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực thông tin, thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.
V. GIẢI PHÁP
1. Nhóm giải pháp quản lý nhà nước
a) Ban hành các cơ chế, chính sách đồng bộ để hỗ trợ sự phát triển của đơn vị sự nghiệp công lập.
b) Tăng cường phân cấp quản lý, tăng quyền chủ động và trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập; thực hiện giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập đồng bộ cả về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân lực, tài chính nhằm phát triển ổn định, bền vững, bảo đảm lợi ích của cá nhân, tập thể và của nhà nước.
c) Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật; phát huy dân chủ ở cơ sở, vai trò của các đoàn thể, tổ chức quần chúng trong việc giám sát hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.
2. Nhóm giải pháp về tài chính
a) Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực thông tin và truyền thông, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin. Hỗ trợ các đơn vị trong việc tìm nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế đầu tư cho các đơn vị sự nghiệp.
b) Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo kinh phí cho các dịch vụ có trong danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
c) Các đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư - được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định, kiên quyết chuyển sang cơ chế tự bảo đảm hoàn toàn về tài chính đối với nhóm các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công có khả năng xã hội hóa cao trên cơ sở nhà nước thực hiện lộ trình bảo đảm kinh phí hoạt động có thời hạn.

Content:
Bảo đảm cung cấp các sản phẩm, dịch vụ công có chất lượng theo tiêu chí, tiêu chuẩn do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, đặc biệt tập trung vào các khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
2. Mục tiêu cụ thể
a) Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực thông tin và truyền thông (không bao gồm các cơ quan báo chí):
- Giai đoạn đến năm 2021:
+ Về mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực thông tin và truyền thông:
Thực hiện rà soát, sắp xếp, kiện toàn các đơn vị sự nghiệp bảo đảm phù hợp với danh mục dịch vụ sự nghiệp công ngành thông tin và truyền thông, bảo đảm tinh gọn, đồng bộ, thống nhất; thực hiện tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng cung cấp dịch vụ công.
Giảm tối thiểu 10% đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực thông tin và truyền thông và 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 19-NQ/TW).
+ Về thực hiện cơ chế tự chủ:
Các đơn vị tăng dần mức độ tự chủ về tài chính hàng năm phù hợp với lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công. Phấn đấu đến năm 2021 có tối thiểu 10% đơn vị tự chủ về chi thường xuyên, chi thường xuyên và chi đầu tư, giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2011 - 2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
Hoàn thành cơ bản việc chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp công lập có đủ điều kiện thành công ty cổ phần; cho phép các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.
- Giai đoạn 2021 - 2030:
Tiếp tục thực hiện rà soát, sắp xếp, kiện toàn các đơn vị sự nghiệp bảo đảm phù hợp với tình hình phát triển ngành thông tin và truyền thông.
+ Đến năm 2025:
Tiếp tục giảm tối thiểu 10% đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực thông tin và truyền thông và 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2021;
Phấn đấu có tối thiểu 20% đơn vị tự chủ chi thường xuyên, chi thường xuyên và chi đầu tư; tiếp tục giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2016 - 2020.
+ Đến năm 2030:
Tiếp tục thực hiện việc giảm đầu mối, phấn đấu chỉ còn các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị, phục vụ quản lý nhà nước và các đơn vị cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu; giảm 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2025.
Giảm bình quân 15% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2021 - 2025.
b) Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực báo chí:
Thực hiện sắp xếp theo lộ trình của Đề án Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 đã được Bộ Chính trị thông qua.
Phấn đấu đến năm 2021 có tối thiểu 10% đơn vị tự chủ về chi thường xuyên, chi thường xuyên và chi đầu tư; đến năm 2025, phấn đấu có tối thiểu 20% đơn vị tự chủ chi thường xuyên, chi thường xuyên và chi đầu tư.
Nhà nước chỉ đầu tư, bảo đảm cho một số báo thực hiện nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền; có hỗ trợ ngân sách (theo hình thức đặt hàng) đối với những ấn phẩm, chuyên mục, chương trình phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị cụ thể trong từng giai đoạn, khu vực.
IV. NỘI DUNG QUY HOẠCH
1. Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực báo chí (bao gồm: báo và tạp chí in; phát thanh, truyền hình; báo và tạp chí điện tử) được thực hiện như sau:
a) Về sắp xếp cơ quan báo chí:
- Ban Chấp hành Trung ương có Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản; mỗi ban của Đảng có 01 cơ quan tạp chí in. Báo Nhân dân thực hiện theo mô hình cơ quan truyền thông đa phương tiện.
- Văn phòng Quốc hội có 01 cơ quan báo in, 01 cơ quan tạp chí in và cơ quan Truyền hình Quốc hội Việt Nam.
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước có 01 cơ quan báo in và 01 cơ quan tạp chí in.
- Bộ, cơ quan ngang bộ có 01 cơ quan báo in và 01 cơ quan tạp chí in; Bộ Quốc phòng có thêm Trung tâm Phát thanh, truyền hình Quân đội; Bộ Công an có thêm Trung tâm Phát thanh, truyền hình, điện ảnh Công an nhân dân. Báo điện tử Chính phủ, Báo Quân đội Nhân dân và Báo Công an Nhân dân thực hiện theo mô hình cơ quan truyền thông đa phương tiện.
- Cơ quan thuộc Chính phủ (trừ Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt nam) có 01 cơ quan tạp chí in. Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam thực hiện theo mô hình cơ quan truyền thông đa phương tiện.
- Quân khu, quân chủng có 01 cơ quan báo in hoặc 01 cơ quan tạp chí in.
- Tổng cục và tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có 01 cơ quan tạp chí in.
- Học viện, viện nghiên cứu, các trường đại học, bệnh viện là đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện theo quy định được có 01 cơ quan tạp chí in khoa học chuyên ngành.
- Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có 01 cơ quan báo in, 01 cơ quan tạp chí in và 01 đài phát thanh và truyền hình (đài); riêng Thành phố Hồ Chí Minh có 01 đài phát thanh, 01 đài truyền hình. Một số tỉnh, thành phố là địa bàn trọng điểm về kinh tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, du lịch được có cơ quan tạp chí in chuyên ngành. Mỗi đài chỉ có 01 kênh phát thanh, 01 kênh truyền hình; Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có cơ chế đặc thù về mô hình tổ chức và phạm vi thông tin, mỗi đài có tối đa 02 kênh phát thanh, 02 kênh truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu.
- Cơ quan, tổ chức được có cơ quan báo, tạp chí in thì được xuất bản báo, tạp chí điện tử.
- Lộ trình thực hiện: Thực hiện theo quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc.
b) Về thực hiện cơ chế tài chính:
- Giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2015 và giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp báo chí so với giai đoạn 2011 - 2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực báo chí tăng dần mức độ tự chủ hàng năm. Đến năm 2025, tiếp tục giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2015 và giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước so với giai đoạn 2016 - 2020;
Giai đoạn 2025 - 2030:
Tiếp tục giảm 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước và giảm bình quân 15% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực báo chí so với giai đoạn 2021 - 2025 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
2. Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện
a) Giai đoạn đến năm 2021:
- Sắp xếp, giảm tối thiểu 10% số lượng đơn vị sự nghiệp công lập và giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện hoạt động theo cơ chế tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư.
b) Giai đoạn 2021 - 2025:
- Rà soát, nghiên cứu tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện, có chức năng, nhiệm vụ tương đồng để hình thành 01 đơn vị sự nghiệp thống nhất thực hiện chức năng cung cấp các dịch vụ chứng nhận, kiểm định trong lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện.
- Sắp xếp, giảm tối thiểu 10% số lượng đơn vị sự nghiệp công lập và 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2021 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện hoạt động theo cơ chế tự bảo đảm về chi thường xuyên, chi thường xuyên và chi đầu tư.
Giai đoạn 2025 - 2030:
- Tiếp tục sắp xếp, giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2025 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện hoạt động theo cơ chế tự bảo đảm chi thường xuyên, chi thường xuyên và chi đầu tư.
3. Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực công nghệ thông tin
a) Giai đoạn đến năm 2021:
- Kiện toàn đơn vị thực hiện nhiệm vụ về công nghệ thông tin tại các cơ quan; thực hiện rà soát chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp cơ cấu bên trong của từng đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng thu gọn các đầu mối trực thuộc, đẩy mạnh cơ chế tự chủ về tài chính.
- Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Kiểm toán Nhà nước, các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tổng cục thuộc Bộ có một (01) đơn vị sự nghiệp (nếu đã có Cục chuyên trách về công nghệ thông tin thì không tổ chức thêm đơn vị sự nghiệp) thực hiện các nhiệm vụ chuyên trách về công nghệ thông tin.
- Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ yêu cầu quản lý thực tiễn, kết quả hoạt động, quy mô của các đơn vị sự nghiệp phân công đơn vị thực hiện nhiệm vụ về công nghệ thông tin, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu quả; sắp xếp, giảm tối thiểu 10% số lượng đơn vị sự nghiệp công lập và giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực công nghệ thông tin so với năm 2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
- Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và các trường đại học công lập khác: Theo điều kiện thực tiễn có thể được tổ chức 01 đơn vị sự nghiệp thực hiện nhiệm vụ công nghệ thông tin. Đơn vị sự nghiệp này phải tự bảo đảm chi thường xuyên.
- Sắp xếp, giảm tối thiểu 10% số lượng đơn vị sự nghiệp công lập và 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
- Phấn đấu có 70% đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực công nghệ thông tin hoạt động theo cơ chế tự bảo đảm chi thường xuyên. Giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2011 -2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
b) Giai đoạn 2021 - 2025:
- Tiếp tục rà soát, tinh gọn hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện giảm tối thiểu 10% số lượng đơn vị sự nghiệp công lập và giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực công nghệ thông tin so với năm 2021 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
Giai đoạn 2025 - 2030
- Tiếp tục thực hiện việc giảm đầu mối. Giảm 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2025, giảm bình quân 15% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2021 -2025.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực công nghệ thông tin tăng dần mức độ tự chủ về tài chính hàng năm. Đến năm 2030, phấn đấu có 100% đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực công nghệ thông tin hoạt động theo cơ chế tự bảo đảm về chi thường xuyên. Cho phép các đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.
4. Các đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực thông tin, thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại:
a) Giai đoạn đến năm 2021:
- Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ yêu cầu công tác quản lý, giao nhiệm vụ làm công tác thông tin, thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại đảm bảo tinh gọn, hoạt động hiệu quả.
- Các đơn vị sự nghiệp tăng dần mức độ tự chủ về tài chính theo từng năm. Giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2011 -2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
- Sắp xếp, giảm tối thiểu 10% số lượng đơn vị sự nghiệp công lập và giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thông tin, thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại so với năm 2015 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
b) Giai đoạn từ 2021 - 2025
- Tiếp tục rà soát, tinh gọn hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện giảm tối thiểu 10% số lượng đơn vị sự nghiệp công lập và giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thông tin, thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại so với năm 2021 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.
Trung tâm Thông tin trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện chức năng thông tin, tư liệu trong lĩnh vực thông tin và truyền thông, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước của Bộ. Cục Thông tin đối ngoại, Cục Thông tin cơ sở được tổ chức 01 đơn vị sự nghiệp trực thuộc để hỗ trợ công tác quản lý nhà nước trên từng lĩnh vực.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực thông tin, thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại tăng dần mức độ tự chủ hàng năm. Đến năm 2025, tiếp tục giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2021 và giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước so với năm giai đoạn 2016 - 2020.
Giai đoạn 2025 - 2030
Tiếp tục giảm 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2025 và giảm bình quân 15% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2021 - 2025 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW. Cho phép các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực thông tin, thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.
V. GIẢI PHÁP
1. Nhóm giải pháp quản lý nhà nước
a) Ban hành các cơ chế, chính sách đồng bộ để hỗ trợ sự phát triển của đơn vị sự nghiệp công lập.
b) Tăng cường phân cấp quản lý, tăng quyền chủ động và trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập; thực hiện giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập đồng bộ cả về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân lực, tài chính nhằm phát triển ổn định, bền vững, bảo đảm lợi ích của cá nhân, tập thể và của nhà nước.
Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật; phát huy dân chủ ở cơ sở, vai trò của các đoàn thể, tổ chức quần chúng trong việc giám sát hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.
2. Nhóm giải pháp về tài chính
a) Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực thông tin và truyền thông, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin. Hỗ trợ các đơn vị trong việc tìm nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế đầu tư cho các đơn vị sự nghiệp.
b) Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo kinh phí cho các dịch vụ có trong danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Các đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư - được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định, kiên quyết chuyển sang cơ chế tự bảo đảm hoàn toàn về tài chính đối với nhóm các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công có khả năng xã hội hóa cao trên cơ sở nhà nước thực hiện lộ trình bảo đảm kinh phí hoạt động có thời hạn.