Document: Điểm a Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1349/QĐ-UBND năm 2012 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Hưng Yên", "promulgation_date": "25/07/2012", "sign_number": "1349/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Minh Ngọc", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Hưng Yên", "promulgation_date": "25/07/2012", "sign_number": "1349/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Minh Ngọc", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Hưng Yên", "promulgation_date": "25/07/2012", "sign_number": "1349/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Minh Ngọc", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Hưng Yên", "promulgation_date": "25/07/2012", "sign_number": "1349/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Minh Ngọc", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Hưng Yên", "promulgation_date": "25/07/2012", "sign_number": "1349/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Minh Ngọc", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm a Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1349/QĐ-UBND năm 2012 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển

Điều 1. Phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020 với các nội dung chính sau:
...
3. Quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn:
3.1. Quy hoạch phát triển nông nghiệp - thủy sản:
3.1.1. Quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp:
a) Trồng trọt: Xây dựng và hình thành các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh, ứng dụng công nghệ biến đổi gen để nâng cao năng suất, chất lượng hàng nông sản, hiệu quả sản xuất trên 1 đơn vị diện tích đất nông nghiệp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Xây dựng và nhân rộng các mô hình khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có hiệu quả.
- Cây lúa: Ổn định diện tích canh tác lúa 35.000ha để bảo đảm an ninh lương thực, phát huy lợi thế về nguồn nước thủy lợi để xây dựng các vùng chuyên canh lúa có năng suất, chất lượng cao, bố trí gọn vùng thuận lợi cho việc cơ giới hóa các khâu canh tác, thu hoạch và ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật mới. Bố trí cơ cấu giống, thời vụ hợp lý, khoa học để tránh né thiên tai, hạn chế sâu bệnh. Tỷ lệ lúa chất lượng cao ổn định 55%, tỷ lệ lúa lai chiếm 30% năm 2015 và 35% vào năm 2020, tập trung chủ yếu ở các huyện Ân Thi, Tiên Lữ, Phù Cừ, Khoái Châu.
- Cây ngô: Tập trung đầu tư thâm canh (đưa các giống ngô lai vào sản xuất đại trà, thực hiện bón phân cân đối) để tăng năng suất và sản lượng. Phấn đấu đến năm 2015 năng suất ngô bình quân đạt 60tạ/ha để có sản lượng 42.000 tấn/năm. Đến năm 2020 năng suất ngô đạt 63tạ/ha, sản lượng 53.550 tấn/năm. Phấn đấu diện tích giống ngô lai có năng suất cao chiếm 80% diện tích gieo trồng, ngoài ra còn 20% giống ngô nếp, ngô ngọt, ngô bao tử. Trọng điểm là các huyện Khoái Châu, Kim Động, Tiên Lữ, Yên Mỹ.
- Cây thực phẩm: Dự kiến bố trí đến năm 2015 diện tích rau toàn tỉnh đạt 15.000 ha sản lượng 363.510 tấn/năm; năm 2020 đạt 16.000 ha, sản lượng đạt 435.500 tấn. Phát huy lợi thế gần các thành phố lớn phát triển mạnh cây thực phẩm cung cấp cho thị trường tiêu thụ cũng như chế biến và xuất khẩu. Áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao tại các vùng chuyên canh rau. Đẩy mạnh sản xuất rau vụ đông với nhiều chủng loại đa dạng, phong phú. Mở rộng sản xuất rau ở những nơi có điều kiện, cung cấp đầy đủ nhu cầu của nhân dân và dành một phần cho xuất khẩu. Diện tích rau chiếm 50% diện tích gieo trồng cây vụ đông. Tăng diện tích các loại rau ăn quả, giảm diện tích các loại rau ăn lá.
- Cây công nghiệp ngắn ngày: Chú trọng cây đậu tương, cây lạc để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tại chỗ của nhân dân và cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, chế biến thực phẩm (ép dầu, nước chấm...) ngoài ra còn có tác dụng cải tạo đất.
+ Đỗ tương: Dự kiến ổn định 4.000 ha; sản lượng 8.240 tấn đến năm 2015; năm 2020 đạt 6.000 ha; sản lượng 13.780 tấn. Tăng diện tích đậu tương đông, tập trung chủ yếu ở các huyện: Khoái Châu, Yên Mỹ. Ngoài ra còn phát triển ở các huyện Kim Động, Phù Cừ, Tiên Lữ.
+ Cây lạc: Đến năm 2015 ổn định 1.000 ha; năm 2020 là 4.840 ha trên đất bãi và màu vụ xuân, tập trung chủ yếu ở các huyện: Khoái Châu, Kim Động, Yên Mỹ, Tiên Lữ. Đầu tư thâm canh đưa các giống mới năng suất cao thích hợp với điều kiện canh tác vào sản xuất trên diện rộng. Thực hiện các quy trình công nghệ mới vào sản xuất; sử dụng phân vi lượng, kỹ thuật trồng lạc bằng phủ ni lông v.v... Mở rộng diện tích lạc xuân.
- Cây dược liệu: Diện tích gieo trồng cây dược liệu bố trí ổn định khoảng 100-150 ha vào năm 2020; vùng cây dược liệu vẫn tập trung chủ yếu trên những địa bàn truyền thống ở các huyện: Văn Giang (10ha), Khoái Châu (130 ha), Văn Lâm (30 ha). Các sản phẩm chủ yếu là bạch chỉ, địa liền, bạc hà, tam thất, hoa cúc, gừng ... Sản lượng bình quân dự kiến 150 tấn/năm.
- Hoa, cây cảnh: Dự kiến đến năm 2015 diện tích hoa, cây cảnh của toàn tỉnh là 1.300 ha (trong đó có 1000 ha hoa). Giải quyết việc làm cho 11.000 lao động có thu nhập ổn định từ 800.000 đồng - 1.000.000 đồng/người/tháng, góp phần tạo sự ổn định xã hội. Đến năm 2020 diện tích 1.650 ha (trong đó có 1.300 ha hoa). Ngoài việc đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước, Hưng Yên có thể tham gia trong lĩnh vực xuất khẩu hoa, cây cảnh sang các nước trong khu vực để tăng hiệu quả sản xuất/1ha đất sản xuất nông nghiệp.
- Cây ăn quả: Đến năm 2015, diện tích cây ăn quả phấn đấu khoảng 9.000 ha. Giữ ổn định 3.000 ha trồng nhãn, trong đó xây dựng vùng sản xuất nhãn hàng hóa tập trung có chất lượng và hiệu quả kinh tế cao với diện tích 1.000 ha, trên cơ sở cải tạo vùng nhãn gốc hiện có và một số vùng phụ cận có thể phát triển được, địa bàn phát triển tập trung chủ yếu ở một số xã của thành phố Hư­ng Yên, các huyện: Tiên Lữ, Khoái Châu, Kim Động, Phù Cừ, Ân Thi, nhất là vùng nhãn gốc ở xã Hồng Nam, xã Hồng Châu và xã Quảng Châu (TP Hưng Yên); nhãn muộn ở xã Hàm Tử, xã Binh Minh (Khoái Châu); phát triển vải lai ở huyện Phù Cừ với diện tích khoảng 800-1000 ha; xây dựng vùng sản xuất chuối tây, chuối tiêu Hồng tập trung quy mô khoảng 1000-1.500 ha trên đất bãi sông Hồng, sông Luộc ở một số xã của các huyện: Khoái Châu, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ, thành phố Hưng Yên; phát triển cây cam, quất, quýt, bưởi diện tích khoảng 3.000 ha, tập trung phát triển ở một số xã của các huyện: Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, thành phố Hưng Yên, tập trung xây dựng thương hiệu cây cam đã được trồng ở một số xã của các huyện Khoái Châu, Văn Giang; hình thành các vùng trồng cây ăn quả tập trung, xây dựng và bảo vệ thương hiệu một số sản phẩm chính.

Content:
Trồng trọt: Xây dựng và hình thành các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh, ứng dụng công nghệ biến đổi gen để nâng cao năng suất, chất lượng hàng nông sản, hiệu quả sản xuất trên 1 đơn vị diện tích đất nông nghiệp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Xây dựng và nhân rộng các mô hình khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có hiệu quả.
- Cây lúa: Ổn định diện tích canh tác lúa 35.000ha để bảo đảm an ninh lương thực, phát huy lợi thế về nguồn nước thủy lợi để xây dựng các vùng chuyên canh lúa có năng suất, chất lượng cao, bố trí gọn vùng thuận lợi cho việc cơ giới hóa các khâu canh tác, thu hoạch và ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật mới. Bố trí cơ cấu giống, thời vụ hợp lý, khoa học để tránh né thiên tai, hạn chế sâu bệnh. Tỷ lệ lúa chất lượng cao ổn định 55%, tỷ lệ lúa lai chiếm 30% năm 2015 và 35% vào năm 2020, tập trung chủ yếu ở các huyện Ân Thi, Tiên Lữ, Phù Cừ, Khoái Châu.
- Cây ngô: Tập trung đầu tư thâm canh (đưa các giống ngô lai vào sản xuất đại trà, thực hiện bón phân cân đối) để tăng năng suất và sản lượng. Phấn đấu đến năm 2015 năng suất ngô bình quân đạt 60tạ/ha để có sản lượng 42.000 tấn/năm. Đến năm 2020 năng suất ngô đạt 63tạ/ha, sản lượng 53.550 tấn/năm. Phấn đấu diện tích giống ngô lai có năng suất cao chiếm 80% diện tích gieo trồng, ngoài ra còn 20% giống ngô nếp, ngô ngọt, ngô bao tử. Trọng điểm là các huyện Khoái Châu, Kim Động, Tiên Lữ, Yên Mỹ.
- Cây thực phẩm: Dự kiến bố trí đến năm 2015 diện tích rau toàn tỉnh đạt 15.000 ha sản lượng 363.510 tấn/năm; năm 2020 đạt 16.000 ha, sản lượng đạt 435.500 tấn. Phát huy lợi thế gần các thành phố lớn phát triển mạnh cây thực phẩm cung cấp cho thị trường tiêu thụ cũng như chế biến và xuất khẩu. Áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao tại các vùng chuyên canh rau. Đẩy mạnh sản xuất rau vụ đông với nhiều chủng loại đa dạng, phong phú. Mở rộng sản xuất rau ở những nơi có điều kiện, cung cấp đầy đủ nhu cầu của nhân dân và dành một phần cho xuất khẩu. Diện tích rau chiếm 50% diện tích gieo trồng cây vụ đông. Tăng diện tích các loại rau ăn quả, giảm diện tích các loại rau ăn lá.
- Cây công nghiệp ngắn ngày: Chú trọng cây đậu tương, cây lạc để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tại chỗ của nhân dân và cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, chế biến thực phẩm (ép dầu, nước chấm...) ngoài ra còn có tác dụng cải tạo đất.
+ Đỗ tương: Dự kiến ổn định 4.000 ha; sản lượng 8.240 tấn đến năm 2015; năm 2020 đạt 6.000 ha; sản lượng 13.780 tấn. Tăng diện tích đậu tương đông, tập trung chủ yếu ở các huyện: Khoái Châu, Yên Mỹ. Ngoài ra còn phát triển ở các huyện Kim Động, Phù Cừ, Tiên Lữ.
+ Cây lạc: Đến năm 2015 ổn định 1.000 ha; năm 2020 là 4.840 ha trên đất bãi và màu vụ xuân, tập trung chủ yếu ở các huyện: Khoái Châu, Kim Động, Yên Mỹ, Tiên Lữ. Đầu tư thâm canh đưa các giống mới năng suất cao thích hợp với điều kiện canh tác vào sản xuất trên diện rộng. Thực hiện các quy trình công nghệ mới vào sản xuất; sử dụng phân vi lượng, kỹ thuật trồng lạc bằng phủ ni lông v.v... Mở rộng diện tích lạc xuân.
- Cây dược liệu: Diện tích gieo trồng cây dược liệu bố trí ổn định khoảng 100-150 ha vào năm 2020; vùng cây dược liệu vẫn tập trung chủ yếu trên những địa bàn truyền thống ở các huyện: Văn Giang (10ha), Khoái Châu (130 ha), Văn Lâm (30 ha). Các sản phẩm chủ yếu là bạch chỉ, địa liền, bạc hà, tam thất, hoa cúc, gừng ... Sản lượng bình quân dự kiến 150 tấn/năm.
- Hoa, cây cảnh: Dự kiến đến năm 2015 diện tích hoa, cây cảnh của toàn tỉnh là 1.300 ha (trong đó có 1000 ha hoa). Giải quyết việc làm cho 11.000 lao động có thu nhập ổn định từ 800.000 đồng - 1.000.000 đồng/người/tháng, góp phần tạo sự ổn định xã hội. Đến năm 2020 diện tích 1.650 ha (trong đó có 1.300 ha hoa). Ngoài việc đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước, Hưng Yên có thể tham gia trong lĩnh vực xuất khẩu hoa, cây cảnh sang các nước trong khu vực để tăng hiệu quả sản xuất/1ha đất sản xuất nông nghiệp.
- Cây ăn quả: Đến năm 2015, diện tích cây ăn quả phấn đấu khoảng 9.000 ha. Giữ ổn định 3.000 ha trồng nhãn, trong đó xây dựng vùng sản xuất nhãn hàng hóa tập trung có chất lượng và hiệu quả kinh tế cao với diện tích 1.000 ha, trên cơ sở cải tạo vùng nhãn gốc hiện có và một số vùng phụ cận có thể phát triển được, địa bàn phát triển tập trung chủ yếu ở một số xã của thành phố Hư­ng Yên, các huyện: Tiên Lữ, Khoái Châu, Kim Động, Phù Cừ, Ân Thi, nhất là vùng nhãn gốc ở xã Hồng Nam, xã Hồng Châu và xã Quảng Châu (TP Hưng Yên); nhãn muộn ở xã Hàm Tử, xã Binh Minh (Khoái Châu); phát triển vải lai ở huyện Phù Cừ với diện tích khoảng 800-1000 ha; xây dựng vùng sản xuất chuối tây, chuối tiêu Hồng tập trung quy mô khoảng 1000-1.500 ha trên đất bãi sông Hồng, sông Luộc ở một số xã của các huyện: Khoái Châu, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ, thành phố Hưng Yên; phát triển cây cam, quất, quýt, bưởi diện tích khoảng 3.000 ha, tập trung phát triển ở một số xã của các huyện: Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, thành phố Hưng Yên, tập trung xây dựng thương hiệu cây cam đã được trồng ở một số xã của các huyện Khoái Châu, Văn Giang; hình thành các vùng trồng cây ăn quả tập trung, xây dựng và bảo vệ thương hiệu một số sản phẩm chính.