Document: Điểm d Khoản 4 Điều 1 Quyết định 1826/QĐ-TTg năm 2012 phê duyệt Đề án Tái cấu trúc thị trường

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "06/12/2012", "sign_number": "1826/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "06/12/2012", "sign_number": "1826/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "06/12/2012", "sign_number": "1826/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "06/12/2012", "sign_number": "1826/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "06/12/2012", "sign_number": "1826/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 4 Điều 1 Quyết định 1826/QĐ-TTg năm 2012 phê duyệt Đề án Tái cấu trúc thị trường

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và các doanh nghiệp bảo hiểm (sau đây gọi tắt là Đề án)” với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
4. Tái cấu trúc tổ chức thị trường theo hướng chuyên biệt hóa các sản phẩm và dịch vụ cung cấp với cơ cấu quản trị điều hành thống nhất, minh bạch, chuyên nghiệp bảo đảm thị trường hoạt động lành mạnh, ổn định, vững chắc trong sự quản lý giám sát chặt chẽ của nhà nước.
II. QUAN ĐIỂM
1. Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và các doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định của pháp luật và trên cơ sở tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế, phù hợp với kế hoạch tái cơ cấu hệ thống tài chính ngân hàng, nền kinh tế và điều kiện thực tế ở nước ta.
2. Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và các doanh nghiệp bảo hiểm một cách đồng bộ, toàn diện, bao gồm: (i) tái cấu trúc cơ sở hàng hóa và sản phẩm dịch vụ; (ii) tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư; (iii) tái cấu trúc hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm và (iv) tái cấu trúc tổ chức thị trường.
3. Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và các doanh nghiệp bảo hiểm theo lộ trình cụ thể, thận trọng, chắc chắn, không làm xáo trộn hoạt động của thị trường, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, khách hàng và sự an toàn của cả hệ thống; tiết giảm chi phí xã hội.
4. Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và các doanh nghiệp bảo hiểm theo nguyên tắc thị trường trên cơ sở doanh nghịệp tự nguyện, tự chịu trách nhiệm; cơ quan quản lý nhà nước chỉ thực hiện vai trò quản lý, giám sát, không làm thay doanh nghiệp.
III. GIẢI PHÁP
1. Tái cấu trúc cơ sở hàng hóa trên thị trường chứng khoán
...
d) Đẩy mạnh công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với các hoạt động liên quan đến phát hành, niêm yết, công bố thông tin, quản trị công ty trên thị trường chứng khoán.
2. Tái cấu trúc thị trường trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp
a) Thúc đẩy sự phát triển của thị trường trái phiếu Chính phủ:
- Hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu được chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu doanh nghiệp;
- Cải tiến phương thức, lịch biểu, kỳ hạn phát hành và áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng quy mô niêm yết của các loại trái phiếu Chính phủ;
- Nâng cấp hệ thống giao dịch trái phiếu Chính phủ chuyên biệt theo hướng gắn kết thị trường đấu thầu sơ cấp với thị trường giao dịch thứ cấp; tổ chức thực hiện giao dịch tín phiếu Kho bạc Nhà nước trên hệ thống giao dịch trái phiếu Chính phủ; bổ sung các giải pháp kỹ thuật hỗ trợ giao dịch Repo và các sản phẩm, tiện ích dịch vụ khác; hoàn thiện hệ thống thanh toán hiện đại nhằm giảm rủi ro; nghiên cứu xây dựng đường cong lãi suất chuẩn.
b) Từng bước phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp:
- Hoàn thiện khung pháp lý về phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo nguyên tắc doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm trong việc huy động vốn trên cơ sở đảm bảo hiệu quả và khả năng trả nợ; chuẩn hóa thủ tục hành chính liên quan đến phát hành và giao dịch trái phiếu doanh nghiệp; đa dạng hóa các sản phẩm trái phiếu doanh nghiệp theo lộ trình phù hợp;
- Nghiên cứu, xây dựng khuôn khổ pháp lý về việc thành lập và hoạt động tổ chức định mức tín nhiệm tại Việt Nam;
- Xây dựng trung tâm dữ liệu thống nhất về giao dịch thứ cấp trái phiếu doanh nghiệp
3. Tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư
a) Đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, tập trung phát triển nhà đầu tư tổ chức, chuyên nghiệp, nhằm tạo sức cầu ổn định, giúp thị trường phát triển lành mạnh, bền vững; củng cố lòng tin và khuyến khích nhà đầu tư cá nhân tích cực tham gia thị trường, tăng thanh khoản cho thị trường:
- Hoàn thiện khung pháp lý hướng dẫn đồng bộ các sản phẩm quỹ đầu tư chứng khoán dành cho các loại hình nhà đầu tư khác nhau, các quỹ đầu tư đa mục tiêu kết nối với thị trường trái phiếu/thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản;
- Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách để triển khai thí điểm quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ hưu trí bổ sung;
- Nghiên cứu cơ chế, chính sách thuế nhằm khuyến khích hoạt động của các loại hình quỹ đầu tư, khuyến khích đầu tư vào các sản phẩm quỹ mới; nghiên cứu chính sách về thuế thu nhập từ hoạt động đầu tư chứng khoán căn cứ trên thời hạn đầu tư, hình thức đầu tư, sản phẩm đầu tư;
- Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật thị trường bao gồm hệ thống giao dịch, hệ thống đăng ký lưu ký, thanh toán bù trừ, hệ thống công bố thông tin, hệ thống giám sát tạo sự tiện lợi trong hoạt động giao dịch, thanh toán của nhà đầu tư;
- Triển khai thực hiện các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế công bố thông tin, nâng cao chất lượng thông tin công bố, tăng cường tính minh bạch trên thị trường chứng khoán, kiên quyết xử lý nghiêm các hiện tượng thao túng, gian lận, lừa đảo, tạo dựng và công bố thông tin sai lệch trên thị trường chứng khoán;
- Đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn, phổ cập kiến thức và thông tin tuyên truyền cho công chúng đầu tư, nâng cao nhận thức xã hội về chứng khoán và thị trường chứng khoán;
- Đẩy mạnh công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với các hành vi vi phạm pháp luật trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là hành vi giao dịch nội bộ, lừa đảo, tạo dựng và công bố thông tin sai sự thật, thao túng giá.
b) Thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trung và dài hạn, góp phần phát triển thị trường chứng khoán, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, bổ sung nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước; nâng cao năng lực, khả năng cạnh tranh và quản trị rủi ro của hệ thống tài chính ngân hàng và nền kinh tế, tăng cường công tác quản lý, giám sát và có giải pháp phù hợp, kịp thời để chủ động đối phó với biến động của dòng vốn này:
- Nghiên cứu điều chỉnh quy định về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp Việt Nam; mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán theo các cam kết quốc tế, phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta và lộ trình phát triển thị trường chứng khoán;
- Phân định rõ hoạt động đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp; giải quyết mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp nước ngoài, trong đó có cơ chế chuyển đổi từ doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sang công ty cổ phần để niêm yết;
- Xây dựng cơ chế, chính sách, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài dễ tiếp cận thị trường chứng khoán Việt Nam;
- Áp dụng các giải pháp kỹ thuật nhằm thu hút dòng vốn đầu tư trung và dài hạn, kiểm soát dòng vốn ngắn hạn; giám sát và chủ động có giải pháp xử lý tình huống đối với dòng lưu chuyển vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài theo Đề án quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Tái cấu trúc tổ chức kinh doanh chứng khoán
a) Phân loại các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo bốn (04) nhóm trên cơ sở mức độ rủi ro đối với thị trường để có biện pháp xử lý thích hợp:
(i) Nhóm hoạt động lành mạnh, gồm các tổ chức có tỷ lệ vốn khả dụng trên 180%;
(ii) Nhóm hoạt động bình thường gồm các tổ chức có tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ 150% tới 180%;
(iii) Nhóm bị kiểm soát gồm các tổ chức có tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ 120% tới 150%;
(iv) Nhóm bị kiểm soát đặc biệt gồm các tổ chức hoạt động kinh doanh thua lỗ làm cho tỷ lệ vốn khả dụng dưới 120%.
b) Giải pháp xử lý:
(i) Giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoạt động lành mạnh:
- Duy trì, ổn định và từng bước nâng cao năng lực tài chính: Tổ chức kinh doanh chứng khoán xây dựng và triển khai phương án tự củng cố nhằm bảo toàn vốn, lành mạnh hóa và từng bước nâng cao năng lực tài chính;
- Cơ cấu lại hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh; từng bước chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa các dịch vụ cung cấp theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế; mở rộng quy mô, phạm vi và địa bàn hoạt động, khuyến khích việc cung cấp các dịch vụ chứng khoán cho các thị trường quốc tế trong khu vực và trên thế giới; sử dụng công nghệ và hạ tầng kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho nhà đầu tư;
- Nâng cao năng lực kiểm soát và quản trị rủi ro; áp dụng các nguyên tắc quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế; cơ cấu lại danh mục đầu tư, chấn chỉnh lại các hoạt động kinh doanh nhằm hạn chế rủi ro; tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chính là cung cấp các dịch vụ chứng khoán;
- Nâng cao năng lực quản trị và điều hành công ty; cơ cấu lại hệ thống quản trị, tổ chức lại bộ máy, nhân sự; áp dụng các nguyên tắc và chuẩn mực cao nhất về đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ nhân viên, cán bộ của các tổ chức này; có giải pháp hiệu quả nhằm ngăn ngừa xung đột lợi ích;
- Tạo điều kiện các tổ chức kinh doanh chứng khoán hợp nhất, sáp nhập, mua lại theo nguyên tắc tự nguyện nhằm tích tụ vốn, công nghệ, mở rộng địa bàn hoạt động, tận dụng kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm để tạo đà phát triển nhanh về quy mô và hoạt động nghiệp vụ; khuyến khích các tổ chức này tham gia xử lý các tổ chức kinh doanh chứng khoán bị kiểm soát, kiểm soát đặc biệt.
(ii) Giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoạt động bình thường:
- Tổ chức kinh doanh chứng khoán: Xây dựng, tổ chức thực hiện phương án khắc phục; cơ cấu lại danh mục đầu tư, thu hồi nợ, hạn chế các hoạt động đầu tư và dịch vụ chứng khoán tiềm ẩn rủi ro; tinh giản tổ chức nhân sự, cắt giảm chi phí hoạt động; củng cố năng lực và lành mạnh hóa tài chính, tăng vốn, bán nợ hoặc chuyển vốn nợ thành vốn chủ sở hữu, hạn chế phân phối lợi nhuận cho cổ đông, thành viên góp vốn, chi thưởng...;
- Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện:
+ Giám sát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức này; tăng tần suất báo cáo về tình hình tài chính; phối hợp với các Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Lưu ký chứng khoán kiểm soát chặt chẽ hoạt động thanh toán giao dịch của các tổ chức này;
+ Tùy theo tính chất, mức độ rủi ro, hạn chế hoặc không chấp thuận cho các tổ chức này mở rộng địa bàn, phạm vi hoạt động, bổ sung nghiệp vụ, phân phối lợi nhuận bằng tiền; hạn chế các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, đầu tư vào tài sản tiềm ẩn nhiều rủi ro;
+ Khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh doanh chứng khoán thuộc nhóm này sáp nhập, hợp nhất với nhau, hoặc với các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoạt động lành mạnh; khuyến khích hoạt động chuyển nhượng vốn cổ phần, phần vốn góp của cổ đông lớn, thành viên góp vốn cho các tổ chức tài chính ngân hàng, kể cả việc chuyển nhượng cho các tổ chức nước ngoài theo cam kết WTO;
- Khuyến khích các tổ chức tín dụng, tập đoàn có tình hình tài chính lành mạnh là công ty mẹ, chủ nợ, hay đối tác hỗ trợ việc lành mạnh hóa tình hình tài chính của tổ chức kinh doanh chứng khoán như cấp vốn, bổ sung vốn, xóa nợ hoặc chuyển vốn nợ thành vốn chủ sở hữu, khoanh nợ...;
(iii) Giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán bị kiểm soát:
Ngoài áp dụng các giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoạt động bình thường, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xây dựng quy trình chi tiết để quá trình tái cơ cấu các tổ chức thuộc nhóm này diễn ra theo lộ trình trật tự, bảo đảm an toàn tài sản của khách hàng:
- Yêu cầu các tổ chức thuộc nhóm này lành mạnh hóa và củng cố năng lực tài chính: Tăng vốn, không phân phối lợi nhuận, không mua cổ phiếu quỹ; tái cơ cấu danh mục đầu tư và hoạt động kinh doanh theo hướng giảm dần các hạng mục đầu tư và dịch vụ có hệ số rủi ro cao; thu hẹp địa bàn hoạt động, cắt giảm nhân sự...;
- Yêu cầu các tổ chức này tự nguyện hoặc thực hiện rút bớt các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán theo quy định của pháp luật. Khi rút nghiệp vụ môi giới chứng khoán, chủ động có lộ trình thực hiện, các biện pháp kỹ thuật, xử lý tình huống nhằm bảo đảm an toàn tài sản của khách hàng.
(iv) Giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán bị kiểm soát đặc biệt:
Sau thời gian bị kiểm soát đặc biệt, nếu không bảo đảm được các quy định về an toàn tài chính và tiếp tục thua lỗ (lỗ lũy kế đạt trên 50% vốn điều lệ), thì đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động; giải thể hoặc phá sản theo quy định của pháp luật. Trường hợp không khắc phục được và lỗ lũy kế đạt dưới 50% vốn điều lệ, thì chấm dứt mọi hoạt động chứng khoán, duy trì tư cách pháp nhân để thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với khách hàng, chủ nợ; hoặc giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật.
c) Các giải pháp hỗ trợ:
- Nghiên cứu xây dựng, ban hành các chính sách, quy định về miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các tổ chức kinh doanh chứng khoán sau khi hợp nhất, sáp nhập; tạo điều kiện hỗ trợ các tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài mua lại các tổ chức kinh doanh chứng khoán trong nước theo cam kết WTO;
- Nghiên cứu xây dựng cơ chế cho phép các tổ chức kinh doanh chứng khoán khi bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, được chuyển đổi thành công ty đầu tư chứng khoán hoạt động theo pháp luật chứng khoán hoặc đăng ký kinh doanh hoạt động theo pháp luật doanh nghiệp để tiếp tục xử lý các tồn đọng, nghĩa vụ tài chính đối với khách hàng;
- Các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước không hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm chủ động xây dựng phương án, kế hoạch hợp lý nhằm thoái vốn đầu tư tại các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 ban hành kèm theo Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17 tháng 7 năm 2012.
d) Đổi mới hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, nâng cao năng lực tài chính, quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế và khả năng cạnh tranh:
- Nâng cao điều kiện thành lập tổ chức kinh doanh chứng khoán, hạn chế việc thành lập mới, bảo đảm chỉ duy trì số lượng các tổ chức kinh doanh chứng khoán phù hợp với nhu cầu của thị trường; khuyến khích các hoạt động chuyển nhượng, các ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm có tình hình tài chính lành mạnh nắm giữ cổ phần chi phối, kiểm soát hoạt động các tổ chức kinh doanh chứng khoán, từng bước hình thành các tập đoàn tài chính đa năng theo thông lệ quốc tế;
- Hoàn thiện mô hình tổ chức và củng cố hoạt động các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo thông lệ quốc tế:
+ Chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa dịch vu chứng khoán theo thông lệ quốc tế, tập trung vào ba lĩnh vực chính: (i) môi giới chứng khoán và các dịch vụ hỗ trợ bao gồm tư vấn đầu tư, quản lý tài khoản, cho vay mua ký quỹ...; tư vấn tài chính doanh nghiệp, bảo lãnh phát hành và các dịch vụ hỗ trợ bao gồm tự doanh, tạo lập thị trường; (iii) quản lý tài sản và các dịch vụ hỗ trợ bao gồm tư vấn đầu tư, quản trị rủi ro;
+ Xây dựng kế hoạch, chiến lược kinh doanh mới. Tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ chứng khoán, hạn chế các hoạt động tự doanh, tự đầu tư và cung cấp các dịch vụ tài chính tiềm ẩn rủi ro; chuyển dịch mô hình kinh doanh theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào dòng vốn từ khu vực ngân hàng, chủ động thu hút các nguồn vốn trung và dài hạn từ các nhà đầu tư khác ở trong và ngoài nước; tạo cơ chế khuyến khích các tổ chức kinh doanh chứng khoán mở rộng địa bàn hoạt động, cung cấp dịch vụ chứng khoán trong khu vực và trên các thị trường quốc tế;
+ Đổi mới và nâng cao hiệu quả, năng lực quản trị công ty, hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ; cơ cấu, sắp xếp lại các bộ phận nghiệp vụ theo thông lệ quốc tế nhằm ngăn ngừa xung đột lợi ích; quản lý tách biệt tài sản của khách hàng và tài sản của công ty nhằm tránh hiện tượng lạm dụng tài sản khách hàng; tăng cường tính minh bạch trong hoạt động quản lý, điều hành và tình hình tài chính của các tổ chức kinh doanh chứng khoán;
+ Xây dựng và áp dụng các quy trình nội bộ, quy trình nghiệp vụ, chính sách và quy trình về kiểm soát và quản trị rủi ro phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế, trong đó tập trung vào quản trị rủi ro thị trường, rủi ro thanh toán, rủi ro nghiệp vụ; thực hiện việc phân loại nợ và tài sản, trích lập dự phòng đầy đủ theo các mức độ rủi ro. Nâng cao năng lực đánh giá, định lượng, kiểm soát rủi ro theo nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tế của thị trường;
+ Xây dựng và áp dụng bộ đạo đức nghề nghiệp theo thông lệ quốc tế, nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân viên hành nghề; tích cực đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ người hành nghề kinh doanh chứng khoán;
+ Giám sát hoạt động các tổ chức kinh doanh chứng khoán dựa trên rủi ro: (i) ban hành quy định hướng dẫn hoạt động quản trị rủi ro tại các tổ chức này; (ii) ban hành hệ thống thẻ điểm về mức độ rủi ro, đánh giá xếp hạng, phân loại các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo các tiêu chí về vốn, tài sản, quản trị doanh nghiệp, lợi nhuận, khả năng thanh toán và rủi ro; (iii) từng bước triển khai cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động dựa trên mức độ rủi ro;
- Mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán theo cam kết quốc tế; khuyến khích các tập đoàn tài chính, ngân hàng lớn, có uy tín tham gia hoạt động tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán; cho phép các tổ chức này mua để sở hữu toàn bộ tổ chức kinh doanh chứng khoán theo cam kết WTO.

Content:
Đẩy mạnh công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với các hoạt động liên quan đến phát hành, niêm yết, công bố thông tin, quản trị công ty trên thị trường chứng khoán.
2. Tái cấu trúc thị trường trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp
a) Thúc đẩy sự phát triển của thị trường trái phiếu Chính phủ:
- Hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu được chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu doanh nghiệp;
- Cải tiến phương thức, lịch biểu, kỳ hạn phát hành và áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng quy mô niêm yết của các loại trái phiếu Chính phủ;
- Nâng cấp hệ thống giao dịch trái phiếu Chính phủ chuyên biệt theo hướng gắn kết thị trường đấu thầu sơ cấp với thị trường giao dịch thứ cấp; tổ chức thực hiện giao dịch tín phiếu Kho bạc Nhà nước trên hệ thống giao dịch trái phiếu Chính phủ; bổ sung các giải pháp kỹ thuật hỗ trợ giao dịch Repo và các sản phẩm, tiện ích dịch vụ khác; hoàn thiện hệ thống thanh toán hiện đại nhằm giảm rủi ro; nghiên cứu xây dựng đường cong lãi suất chuẩn.
b) Từng bước phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp:
- Hoàn thiện khung pháp lý về phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo nguyên tắc doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm trong việc huy động vốn trên cơ sở đảm bảo hiệu quả và khả năng trả nợ; chuẩn hóa thủ tục hành chính liên quan đến phát hành và giao dịch trái phiếu doanh nghiệp; đa dạng hóa các sản phẩm trái phiếu doanh nghiệp theo lộ trình phù hợp;
- Nghiên cứu, xây dựng khuôn khổ pháp lý về việc thành lập và hoạt động tổ chức định mức tín nhiệm tại Việt Nam;
- Xây dựng trung tâm dữ liệu thống nhất về giao dịch thứ cấp trái phiếu doanh nghiệp
3. Tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư
a) Đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, tập trung phát triển nhà đầu tư tổ chức, chuyên nghiệp, nhằm tạo sức cầu ổn định, giúp thị trường phát triển lành mạnh, bền vững; củng cố lòng tin và khuyến khích nhà đầu tư cá nhân tích cực tham gia thị trường, tăng thanh khoản cho thị trường:
- Hoàn thiện khung pháp lý hướng dẫn đồng bộ các sản phẩm quỹ đầu tư chứng khoán dành cho các loại hình nhà đầu tư khác nhau, các quỹ đầu tư đa mục tiêu kết nối với thị trường trái phiếu/thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản;
- Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách để triển khai thí điểm quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ hưu trí bổ sung;
- Nghiên cứu cơ chế, chính sách thuế nhằm khuyến khích hoạt động của các loại hình quỹ đầu tư, khuyến khích đầu tư vào các sản phẩm quỹ mới; nghiên cứu chính sách về thuế thu nhập từ hoạt động đầu tư chứng khoán căn cứ trên thời hạn đầu tư, hình thức đầu tư, sản phẩm đầu tư;
- Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật thị trường bao gồm hệ thống giao dịch, hệ thống đăng ký lưu ký, thanh toán bù trừ, hệ thống công bố thông tin, hệ thống giám sát tạo sự tiện lợi trong hoạt động giao dịch, thanh toán của nhà đầu tư;
- Triển khai thực hiện các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế công bố thông tin, nâng cao chất lượng thông tin công bố, tăng cường tính minh bạch trên thị trường chứng khoán, kiên quyết xử lý nghiêm các hiện tượng thao túng, gian lận, lừa đảo, tạo dựng và công bố thông tin sai lệch trên thị trường chứng khoán;
- Đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn, phổ cập kiến thức và thông tin tuyên truyền cho công chúng đầu tư, nâng cao nhận thức xã hội về chứng khoán và thị trường chứng khoán;
- Đẩy mạnh công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với các hành vi vi phạm pháp luật trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là hành vi giao dịch nội bộ, lừa đảo, tạo dựng và công bố thông tin sai sự thật, thao túng giá.
b) Thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trung và dài hạn, góp phần phát triển thị trường chứng khoán, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, bổ sung nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước; nâng cao năng lực, khả năng cạnh tranh và quản trị rủi ro của hệ thống tài chính ngân hàng và nền kinh tế, tăng cường công tác quản lý, giám sát và có giải pháp phù hợp, kịp thời để chủ động đối phó với biến động của dòng vốn này:
- Nghiên cứu điều chỉnh quy định về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp Việt Nam; mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán theo các cam kết quốc tế, phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta và lộ trình phát triển thị trường chứng khoán;
- Phân định rõ hoạt động đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp; giải quyết mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp nước ngoài, trong đó có cơ chế chuyển đổi từ doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sang công ty cổ phần để niêm yết;
- Xây dựng cơ chế, chính sách, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài dễ tiếp cận thị trường chứng khoán Việt Nam;
- Áp dụng các giải pháp kỹ thuật nhằm thu hút dòng vốn đầu tư trung và dài hạn, kiểm soát dòng vốn ngắn hạn; giám sát và chủ động có giải pháp xử lý tình huống đối với dòng lưu chuyển vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài theo Đề án quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Tái cấu trúc tổ chức kinh doanh chứng khoán
a) Phân loại các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo bốn (04) nhóm trên cơ sở mức độ rủi ro đối với thị trường để có biện pháp xử lý thích hợp:
(i) Nhóm hoạt động lành mạnh, gồm các tổ chức có tỷ lệ vốn khả dụng trên 180%;
(ii) Nhóm hoạt động bình thường gồm các tổ chức có tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ 150% tới 180%;
(iii) Nhóm bị kiểm soát gồm các tổ chức có tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ 120% tới 150%;
(iv) Nhóm bị kiểm soát đặc biệt gồm các tổ chức hoạt động kinh doanh thua lỗ làm cho tỷ lệ vốn khả dụng dưới 120%.
b) Giải pháp xử lý:
(i) Giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoạt động lành mạnh:
- Duy trì, ổn định và từng bước nâng cao năng lực tài chính: Tổ chức kinh doanh chứng khoán xây dựng và triển khai phương án tự củng cố nhằm bảo toàn vốn, lành mạnh hóa và từng bước nâng cao năng lực tài chính;
- Cơ cấu lại hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh; từng bước chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa các dịch vụ cung cấp theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế; mở rộng quy mô, phạm vi và địa bàn hoạt động, khuyến khích việc cung cấp các dịch vụ chứng khoán cho các thị trường quốc tế trong khu vực và trên thế giới; sử dụng công nghệ và hạ tầng kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho nhà đầu tư;
- Nâng cao năng lực kiểm soát và quản trị rủi ro; áp dụng các nguyên tắc quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế; cơ cấu lại danh mục đầu tư, chấn chỉnh lại các hoạt động kinh doanh nhằm hạn chế rủi ro; tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chính là cung cấp các dịch vụ chứng khoán;
- Nâng cao năng lực quản trị và điều hành công ty; cơ cấu lại hệ thống quản trị, tổ chức lại bộ máy, nhân sự; áp dụng các nguyên tắc và chuẩn mực cao nhất về đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ nhân viên, cán bộ của các tổ chức này; có giải pháp hiệu quả nhằm ngăn ngừa xung đột lợi ích;
- Tạo điều kiện các tổ chức kinh doanh chứng khoán hợp nhất, sáp nhập, mua lại theo nguyên tắc tự nguyện nhằm tích tụ vốn, công nghệ, mở rộng địa bàn hoạt động, tận dụng kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm để tạo đà phát triển nhanh về quy mô và hoạt động nghiệp vụ; khuyến khích các tổ chức này tham gia xử lý các tổ chức kinh doanh chứng khoán bị kiểm soát, kiểm soát đặc biệt.
(ii) Giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoạt động bình thường:
- Tổ chức kinh doanh chứng khoán: Xây dựng, tổ chức thực hiện phương án khắc phục; cơ cấu lại danh mục đầu tư, thu hồi nợ, hạn chế các hoạt động đầu tư và dịch vụ chứng khoán tiềm ẩn rủi ro; tinh giản tổ chức nhân sự, cắt giảm chi phí hoạt động; củng cố năng lực và lành mạnh hóa tài chính, tăng vốn, bán nợ hoặc chuyển vốn nợ thành vốn chủ sở hữu, hạn chế phân phối lợi nhuận cho cổ đông, thành viên góp vốn, chi thưởng...;
- Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện:
+ Giám sát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức này; tăng tần suất báo cáo về tình hình tài chính; phối hợp với các Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Lưu ký chứng khoán kiểm soát chặt chẽ hoạt động thanh toán giao dịch của các tổ chức này;
+ Tùy theo tính chất, mức độ rủi ro, hạn chế hoặc không chấp thuận cho các tổ chức này mở rộng địa bàn, phạm vi hoạt động, bổ sung nghiệp vụ, phân phối lợi nhuận bằng tiền; hạn chế các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, đầu tư vào tài sản tiềm ẩn nhiều rủi ro;
+ Khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh doanh chứng khoán thuộc nhóm này sáp nhập, hợp nhất với nhau, hoặc với các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoạt động lành mạnh; khuyến khích hoạt động chuyển nhượng vốn cổ phần, phần vốn góp của cổ đông lớn, thành viên góp vốn cho các tổ chức tài chính ngân hàng, kể cả việc chuyển nhượng cho các tổ chức nước ngoài theo cam kết WTO;
- Khuyến khích các tổ chức tín dụng, tập đoàn có tình hình tài chính lành mạnh là công ty mẹ, chủ nợ, hay đối tác hỗ trợ việc lành mạnh hóa tình hình tài chính của tổ chức kinh doanh chứng khoán như cấp vốn, bổ sung vốn, xóa nợ hoặc chuyển vốn nợ thành vốn chủ sở hữu, khoanh nợ...;
(iii) Giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán bị kiểm soát:
Ngoài áp dụng các giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoạt động bình thường, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xây dựng quy trình chi tiết để quá trình tái cơ cấu các tổ chức thuộc nhóm này diễn ra theo lộ trình trật tự, bảo đảm an toàn tài sản của khách hàng:
- Yêu cầu các tổ chức thuộc nhóm này lành mạnh hóa và củng cố năng lực tài chính: Tăng vốn, không phân phối lợi nhuận, không mua cổ phiếu quỹ; tái cơ cấu danh mục đầu tư và hoạt động kinh doanh theo hướng giảm dần các hạng mục đầu tư và dịch vụ có hệ số rủi ro cao; thu hẹp địa bàn hoạt động, cắt giảm nhân sự...;
- Yêu cầu các tổ chức này tự nguyện hoặc thực hiện rút bớt các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán theo quy định của pháp luật. Khi rút nghiệp vụ môi giới chứng khoán, chủ động có lộ trình thực hiện, các biện pháp kỹ thuật, xử lý tình huống nhằm bảo đảm an toàn tài sản của khách hàng.
(iv) Giải pháp đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán bị kiểm soát đặc biệt:
Sau thời gian bị kiểm soát đặc biệt, nếu không bảo đảm được các quy định về an toàn tài chính và tiếp tục thua lỗ (lỗ lũy kế đạt trên 50% vốn điều lệ), thì đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động; giải thể hoặc phá sản theo quy định của pháp luật. Trường hợp không khắc phục được và lỗ lũy kế đạt dưới 50% vốn điều lệ, thì chấm dứt mọi hoạt động chứng khoán, duy trì tư cách pháp nhân để thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với khách hàng, chủ nợ; hoặc giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật.
c) Các giải pháp hỗ trợ:
- Nghiên cứu xây dựng, ban hành các chính sách, quy định về miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các tổ chức kinh doanh chứng khoán sau khi hợp nhất, sáp nhập; tạo điều kiện hỗ trợ các tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài mua lại các tổ chức kinh doanh chứng khoán trong nước theo cam kết WTO;
- Nghiên cứu xây dựng cơ chế cho phép các tổ chức kinh doanh chứng khoán khi bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, được chuyển đổi thành công ty đầu tư chứng khoán hoạt động theo pháp luật chứng khoán hoặc đăng ký kinh doanh hoạt động theo pháp luật doanh nghiệp để tiếp tục xử lý các tồn đọng, nghĩa vụ tài chính đối với khách hàng;
- Các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước không hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm chủ động xây dựng phương án, kế hoạch hợp lý nhằm thoái vốn đầu tư tại các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 ban hành kèm theo Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17 tháng 7 năm 2012.
Đổi mới hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, nâng cao năng lực tài chính, quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế và khả năng cạnh tranh:
- Nâng cao điều kiện thành lập tổ chức kinh doanh chứng khoán, hạn chế việc thành lập mới, bảo đảm chỉ duy trì số lượng các tổ chức kinh doanh chứng khoán phù hợp với nhu cầu của thị trường; khuyến khích các hoạt động chuyển nhượng, các ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm có tình hình tài chính lành mạnh nắm giữ cổ phần chi phối, kiểm soát hoạt động các tổ chức kinh doanh chứng khoán, từng bước hình thành các tập đoàn tài chính đa năng theo thông lệ quốc tế;
- Hoàn thiện mô hình tổ chức và củng cố hoạt động các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo thông lệ quốc tế:
+ Chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa dịch vu chứng khoán theo thông lệ quốc tế, tập trung vào ba lĩnh vực chính: (i) môi giới chứng khoán và các dịch vụ hỗ trợ bao gồm tư vấn đầu tư, quản lý tài khoản, cho vay mua ký quỹ...; tư vấn tài chính doanh nghiệp, bảo lãnh phát hành và các dịch vụ hỗ trợ bao gồm tự doanh, tạo lập thị trường; (iii) quản lý tài sản và các dịch vụ hỗ trợ bao gồm tư vấn đầu tư, quản trị rủi ro;
+ Xây dựng kế hoạch, chiến lược kinh doanh mới. Tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ chứng khoán, hạn chế các hoạt động tự doanh, tự đầu tư và cung cấp các dịch vụ tài chính tiềm ẩn rủi ro; chuyển dịch mô hình kinh doanh theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào dòng vốn từ khu vực ngân hàng, chủ động thu hút các nguồn vốn trung và dài hạn từ các nhà đầu tư khác ở trong và ngoài nước; tạo cơ chế khuyến khích các tổ chức kinh doanh chứng khoán mở rộng địa bàn hoạt động, cung cấp dịch vụ chứng khoán trong khu vực và trên các thị trường quốc tế;
+ Đổi mới và nâng cao hiệu quả, năng lực quản trị công ty, hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ; cơ cấu, sắp xếp lại các bộ phận nghiệp vụ theo thông lệ quốc tế nhằm ngăn ngừa xung đột lợi ích; quản lý tách biệt tài sản của khách hàng và tài sản của công ty nhằm tránh hiện tượng lạm dụng tài sản khách hàng; tăng cường tính minh bạch trong hoạt động quản lý, điều hành và tình hình tài chính của các tổ chức kinh doanh chứng khoán;
+ Xây dựng và áp dụng các quy trình nội bộ, quy trình nghiệp vụ, chính sách và quy trình về kiểm soát và quản trị rủi ro phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế, trong đó tập trung vào quản trị rủi ro thị trường, rủi ro thanh toán, rủi ro nghiệp vụ; thực hiện việc phân loại nợ và tài sản, trích lập dự phòng đầy đủ theo các mức độ rủi ro. Nâng cao năng lực đánh giá, định lượng, kiểm soát rủi ro theo nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tế của thị trường;
+ Xây dựng và áp dụng bộ đạo đức nghề nghiệp theo thông lệ quốc tế, nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân viên hành nghề; tích cực đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ người hành nghề kinh doanh chứng khoán;
+ Giám sát hoạt động các tổ chức kinh doanh chứng khoán dựa trên rủi ro: (i) ban hành quy định hướng dẫn hoạt động quản trị rủi ro tại các tổ chức này; (ii) ban hành hệ thống thẻ điểm về mức độ rủi ro, đánh giá xếp hạng, phân loại các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo các tiêu chí về vốn, tài sản, quản trị doanh nghiệp, lợi nhuận, khả năng thanh toán và rủi ro; (iii) từng bước triển khai cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động dựa trên mức độ rủi ro;
- Mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán theo cam kết quốc tế; khuyến khích các tập đoàn tài chính, ngân hàng lớn, có uy tín tham gia hoạt động tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán; cho phép các tổ chức này mua để sở hữu toàn bộ tổ chức kinh doanh chứng khoán theo cam kết WTO.