Document: Điểm c Khoản 5 Điều 1 Quyết định 149/QĐ-UBND phê duyệt dự án điều tra đánh giá tài nguyên nước Lâm Đồng 2016

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "21/01/2016", "sign_number": "149/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Yên", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "21/01/2016", "sign_number": "149/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Yên", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "21/01/2016", "sign_number": "149/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Yên", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "21/01/2016", "sign_number": "149/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Yên", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "21/01/2016", "sign_number": "149/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Yên", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 5 Điều 1 Quyết định 149/QĐ-UBND phê duyệt dự án điều tra đánh giá tài nguyên nước Lâm Đồng 2016

Điều 1. Phê duyệt dự án điều tra, đánh giá tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, với các nội dung chủ yếu như sau:
...
5. Nội dung khối lượng hoàn thành
...
c) Tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát thu thập:
- Nước mặt:
Tổng lượng nước mưa rơi thẳng đứng trên toàn tỉnh khoảng 19,5 tỷ m³ chỉ sản sinh ra dòng chảy mặt khoảng 11 tỉ m³ nước mỗi năm (còn lại 8,5 tỷ m³ là lượng bốc hơi và tổn thất thấm).
Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có 7 hệ thống sông chính bao gồm: sông Cam Ly, sông Đa Nhim, sông Đạ Huoai, sông Đa Dâng, sông chính Đồng Nai, sông La Ngà, sông Krông Nô.
Về chất lượng nước: đa số các chỉ tiêu nằm trong giới hạn quy chuẩn cho phép; tuy nhiên, tại các khu vực có hoạt động sản xuất nông nghiệp quy mô lớn hoặc khai khoáng thì một số chỉ tiêu đến ngưỡng và vượt giới hạn gây ô nhiễm như TSS, coliform, COD, Amoni (NH4+), Fe tổng. Nhìn chung, chất lượng nước bị tác động bởi các thông số hóa, lý, vi sinh như BOD5, COD, TSS, Amoni (NH4+), NO2-, coliform đang có chiều hướng tăng dần và nguy cơ ô nhiễm cao. Nguồn gây ô nhiễm chủ yếu do chịu tác động bởi hoạt động sản xuất nông nghiệp, các hoạt động sinh hoạt của người dân sống xung quanh khu vực các hồ và chất thải đô thị.
- Nước dưới đất:
Trữ lượng nước dưới đất được đánh giá ở mức sơ bộ theo trữ lượng khai thác tiềm năng xác định của modun dòng ngầm khoảng 2.955.400 m3/ngày.
Một số tầng chứa nước tại các xã Liên Hiệp, Liên Nghĩa, Tân Hội, Phú Hội - huyện Đức Trọng; Tân Văn, Tân Hà, Hoài Đức, Đinh Văn - huyện Lâm Hà; Lộc An, Lộc Ngãi, Lộc Phú, Lộc Quảng, Lộc Thành - huyện Bảo Lâm; Đạm B’ri, Lộc Châu, Lộc Phát - thành phố Bảo Lộc; Đinh Trang Thượng, Hòa Bắc, Sơn Điền và tại một số khu vực của xã Bảo Thuận, Liên Đầm, Tân Châu, thị trấn Di Linh - huyện Di Linh hiện đang khai thác sử dụng với mức độ gần đạt tới trữ lượng có thể khai thác, do đó cần hạn chế khai thác. Việc khai thác sử dụng các công trình có lưu lượng lớn ở các khu vực này cần được thăm dò đánh giá nhằm bảo đảm nguồn nước dưới đất không bị suy thoái cạn kiệt.
Chất lượng nước dưới đất: đa số các chỉ tiêu đều năm trong giới hạn quy chuẩn cho phép; tuy nhiên, một số chỉ tiêu như Amoni (tính theo N), Coliform tại một số khu vực đã vượt giới hạn cho phép.

Content:
Tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát thu thập:
- Nước mặt:
Tổng lượng nước mưa rơi thẳng đứng trên toàn tỉnh khoảng 19,5 tỷ m³ chỉ sản sinh ra dòng chảy mặt khoảng 11 tỉ m³ nước mỗi năm (còn lại 8,5 tỷ m³ là lượng bốc hơi và tổn thất thấm).
Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có 7 hệ thống sông chính bao gồm: sông Cam Ly, sông Đa Nhim, sông Đạ Huoai, sông Đa Dâng, sông chính Đồng Nai, sông La Ngà, sông Krông Nô.
Về chất lượng nước: đa số các chỉ tiêu nằm trong giới hạn quy chuẩn cho phép; tuy nhiên, tại các khu vực có hoạt động sản xuất nông nghiệp quy mô lớn hoặc khai khoáng thì một số chỉ tiêu đến ngưỡng và vượt giới hạn gây ô nhiễm như TSS, coliform, COD, Amoni (NH4+), Fe tổng. Nhìn chung, chất lượng nước bị tác động bởi các thông số hóa, lý, vi sinh như BOD5, COD, TSS, Amoni (NH4+), NO2-, coliform đang có chiều hướng tăng dần và nguy cơ ô nhiễm cao. Nguồn gây ô nhiễm chủ yếu do chịu tác động bởi hoạt động sản xuất nông nghiệp, các hoạt động sinh hoạt của người dân sống xung quanh khu vực các hồ và chất thải đô thị.
- Nước dưới đất:
Trữ lượng nước dưới đất được đánh giá ở mức sơ bộ theo trữ lượng khai thác tiềm năng xác định của modun dòng ngầm khoảng 2.955.400 m3/ngày.
Một số tầng chứa nước tại các xã Liên Hiệp, Liên Nghĩa, Tân Hội, Phú Hội - huyện Đức Trọng; Tân Văn, Tân Hà, Hoài Đức, Đinh Văn - huyện Lâm Hà; Lộc An, Lộc Ngãi, Lộc Phú, Lộc Quảng, Lộc Thành - huyện Bảo Lâm; Đạm B’ri, Lộc Châu, Lộc Phát - thành phố Bảo Lộc; Đinh Trang Thượng, Hòa Bắc, Sơn Điền và tại một số khu vực của xã Bảo Thuận, Liên Đầm, Tân Châu, thị trấn Di Linh - huyện Di Linh hiện đang khai thác sử dụng với mức độ gần đạt tới trữ lượng có thể khai thác, do đó cần hạn chế khai thác. Việc khai thác sử dụng các công trình có lưu lượng lớn ở các khu vực này cần được thăm dò đánh giá nhằm bảo đảm nguồn nước dưới đất không bị suy thoái cạn kiệt.
Chất lượng nước dưới đất: đa số các chỉ tiêu đều năm trong giới hạn quy chuẩn cho phép; tuy nhiên, một số chỉ tiêu như Amoni (tính theo N), Coliform tại một số khu vực đã vượt giới hạn cho phép.