Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 74/QĐ-TANDTC năm 2012 phê duyệt Đề án Phát triển án lệ

Type: {"issuing_agency": "Tòa án nhân dân tối cao", "promulgation_date": "31/10/2012", "sign_number": "74/QĐ-TANDTC", "signer": "Nguyễn Sơn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tòa án nhân dân tối cao", "promulgation_date": "31/10/2012", "sign_number": "74/QĐ-TANDTC", "signer": "Nguyễn Sơn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tòa án nhân dân tối cao", "promulgation_date": "31/10/2012", "sign_number": "74/QĐ-TANDTC", "signer": "Nguyễn Sơn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tòa án nhân dân tối cao", "promulgation_date": "31/10/2012", "sign_number": "74/QĐ-TANDTC", "signer": "Nguyễn Sơn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tòa án nhân dân tối cao", "promulgation_date": "31/10/2012", "sign_number": "74/QĐ-TANDTC", "signer": "Nguyễn Sơn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 74/QĐ-TANDTC năm 2012 phê duyệt Đề án Phát triển án lệ

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Phát triển án lệ của Toà án nhân dân tối cao” với các nội dung sau:
...
3. Định hướng phát triển án lệ gồm các nội dung như sau:
a) Việc sử dụng án lệ chỉ coi là thứ yếu, sau văn bản quy phạm pháp luật và không phải là Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, án lệ được ban hành khi chưa có Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thông qua việc xét xử vụ án cụ thể, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lập luận về một vấn đề chưa được hướng dẫn và đưa ra cách giải quyết về vụ án và là nguồn cung cấp để pháp điển hóa thành văn bản hướng dẫn hoặc có thể là nguồn để đề nghị sửa đổi về một quy phạm pháp luật cụ thể có liên quan, có giá trị tham khảo đối với Thẩm phán khi giải quyết các vụ việc cụ thể. Tuy nhiên, khi xét xử, các Tòa án được khuyến khích viện dẫn án lệ của Tòa án nhân dân tối cao. Việc viện dẫn án lệ vào một quyết định của Tòa án không có nghĩa án lệ là cơ sở pháp lý cho quyết định của vụ án mà Tòa án xét xử. Cơ sở cho quyết định của Tòa án phải dựa trên cơ cở pháp luật trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật. Viện dẫn án lệ là cách bày tỏ quan điểm về sự tôn trọng tính thống nhất trong áp dụng pháp luật của Thẩm phán, đảm bảo tính chặt chẽ và tính có căn cứ trong quyết định của mình, Thẩm phán tự mình quyết định có theo đường lối xét xử trong án lệ viện dẫn hay không.
b) Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật:
- Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thực hiện chức năng hướng dẫn áp dụng thống nhất thông qua cách giải thích, lập luận đường lối cách thức áp dụng pháp luật trong những vụ án cụ thể;
- Toà án nhân dân tối cao ban hành các “Tuyển tập án lệ” (các án lệ của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; các Quyết định giám đốc thẩm của Toà chuyên trách Toà án nhân dân tối cao được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua, trở thành án lệ và đưa vào “Tuyển tập án lệ”);
- Toà án nhân dân tối cao giám sát các Tòa án cấp dưới trong áp dụng án lệ để đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Khi xét xử các vụ việc liên quan đến quyết định đã trở thành án lệ, các Thẩm phán phải có trách nhiệm viện dẫn án lệ, áp dụng án lệ đó nếu nhận thấy vụ việc đang xét xử có tính tương tự. Nếu không áp dụng án lệ thì phải chỉ ra lý do trong trường hợp không áp dụng án lệ đó và tự chịu trách nhiệm trong trường hợp không viện dẫn án lệ liên quan đến vụ việc mình đang xét xử, có nghĩa là Thẩm phán phải nêu ra lý do chính đáng trong việc không áp dụng án lệ đã có.
c) Án lệ có thể thay đổi nếu thấy cần thiết. Bãi bỏ án lệ chính là sự thay đổi mang tính phủ định đường lối xét xử của án lệ cũ trên cơ sở Tòa án thiết lập một án lệ mới. Án lệ bị bãi bỏ trong một số trường hợp sau đây:
- Án lệ bị bãi bỏ khi văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành, thay đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật cũ hoặc quy định những vấn đề pháp lý mà án lệ đề cập đến.
- Án lệ có thể bị bãi bỏ bởi chính Tòa án đã thiết lập ra án lệ, việc bãi bỏ án lệ của Toà án nhân dân tối cao do chính Toà án nhân dân tối cao thực hiện.
d) Quyết định trở thành án lệ là Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Quyết định giám đốc thẩm của Toà chuyên trách Toà án nhân dân tối cao được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua khi hội đủ ba điều kiện sau:
- Là quyết định chứa đựng sự giải thích, lập luận cho một hoặc một số các văn bản quy phạm pháp luật (Văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật) về một vấn đề pháp lý đặt ra chưa được văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật đề cập hoặc đề cập còn chung chung, thiếu tính cụ thể hoặc có mâu thuẫn;
- Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc các Thẩm phán viện dẫn làm căn cứ trong phần lập luận, quyết định của bản án, quyết định về vụ án cụ thể;
- Là Quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao sau cùng về vấn đề pháp lý đó mà được các Toà án khác vận dụng giải quyết vụ việc có nội dung tương tự.
đ) Án lệ và văn bản quy phạm pháp luật:
- Án lệ bổ trợ cho các văn bản quy phạm pháp luật: các quy phạm pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng khi xét xử và án lệ là để định hướng cho Tòa án các cấp áp dụng pháp luật thống nhất, chính xác, giải quyết vụ việc khi không có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật điều chỉnh;
- Mối quan hệ tương hỗ: án lệ là sự bổ sung cho sự thiếu hụt của các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật khi chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật điều chỉnh. Khi các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề được án lệ giải quyết trước đó thì án lệ không được áp dụng nữa mà Thẩm phán phải áp dụng văn bản quy phạm pháp luật mà cơ sở hình thành từ những cách ứng xử pháp lý của các vụ án cụ thể trước đó.
e) Án lệ và vấn đề giải thích pháp luật:
Việc phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao cũng như việc thừa nhận thẩm quyền ban hành án lệ của Tòa án nhân dân tối cao không xâm phạm đến thẩm quyền giải thích pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bởi vì, quyết định của Tòa án nhân dân tối cao trái với giải thích pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội (hoặc Hội đồng Hiến pháp) thì không thể trở thành án lệ, không được áp dụng với tư cách là án lệ.
II. Một số giải pháp
1. Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc phát triển án lệ
Trên cơ sở Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Về chiến lược cải cách tư pháp, Toà án nhân dân tối cao kiến nghị Quốc hội:
- Sửa đổi, bổ sung Hiến Pháp Việt Nam năm 1992. Điều 134 của Hiến pháp năm 1992 nên được sửa đổi theo hướng “Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật và ban hành án lệ”.
- Sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, cụ thể quy định tại Điều 19 về chức năng “ban hành án lệ” trong nhiệm vụ và quyền hạn của Tòa án nhân dân tối cao và cần bổ sung nguyên tắc này vào trong văn bản pháp luật về tố tụng hình sự, dân sự, hành chính.
- Sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân về quy định Thẩm phán có nghĩa vụ áp dụng án lệ khi xét xử vụ việc trong trường hợp pháp luật quy định không rõ ràng về vấn đề pháp lý đặt ra trong vụ việc đó.
2. Thiết lập án lệ của Tòa án nhân dân tối cao
a) Xác định các Quyết định giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao là các án lệ của Toà án nhân dân tối cao phát hành “Tuyển tập án lệ” đến Tòa án các cấp:
- Toà án nhân dân tối cao lựa chọn những Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Quyết định giám đốc thẩm của các Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành có giá trị án lệ trình Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua. Những quyết định được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua là án lệ, được đưa vào Tuyển tập án lệ để phát hành.
- Toà án nhân dân tối cao lập kế hoạch xây dựng các Quyết định giám đốc thẩm sẽ có giá trị án lệ, trước khi xét xử giao cho một bộ phận lựa chọn, đề xuất những vụ án điển hình có những vấn đề phức tạp cần giải quyết về pháp luật trình Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Khi Quyết định giám đốc thẩm được ban hành về những vụ án đó, đương nhiên quyết định trở thành án lệ và được đưa vào “Tuyển tập án lệ” để phát hành.
b) Công bố các Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao theo hai hình thức:
- Toà án nhân dân tối cao công bố toàn bộ các Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trên mạng internet qua website của Tòa án nhân dân tối cao (http://www.toaan.gov.vn), lập kế hoạch để tiến tới công bố tất cả các bản án, quyết định của Toà án nhân dân tối cao
- Tòa án nhân dân tối cao thành lập một bộ phận có trách nhiệm chọn lọc, tập hợp các Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao theo từng lĩnh vực pháp luật trình Hội đồng Thẩm phán thông qua và công bố trong những ấn phẩm riêng là “Tuyển tập án lệ” của Toà án nhân dân tối cao.
Tòa án nhân dân tối cao giao cho các toà chuyên trách Toà án nhân dân tối cao chọn lọc những Quyết định giám đốc thẩm chứa đựng đường lối xét xử mới mà chưa được đề cập trong Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét và khi quyết định được ban hành thì được đưa vào “Tuyển tập án lệ”.
3. Cải tiến cách viết và thông qua các bản án, quyết định của Toà án đặc biệt là quyết định giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao.
Cải tiến cách viết các bản án, quyết định của Toà án theo hướng làm rõ lập luận của Hội đồng Thẩm phán, từng thành viên Hội đồng Thẩm phán, làm rõ hơn căn cứ để ra quyết định, ngoài các nội dung thể hiện trong phần xét thấy đã được hướng dẫn phải bổ sung việc viện dẫn án lệ liên quan làm căn cứ cho việc đưa ra quyết định của Hội đồng Thẩm phán.
Cải tiến cách viết các quyết định giám đốc thẩm đặc biệt là Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao theo hướng viết chi tiết phần “Xét thấy” phân tích rõ những sai lầm trong áp dụng pháp luật của tòa án cấp dưới. Các vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau thì cần nêu rõ lập luận về ý kiến khác nhau đó và Hội đồng kết luận, lý do đưa ra kết luận. Trong trường hợp có ý kiến bảo lưu cũng cần đề cập đến nhưng nêu rõ ý kiến này không được Hội đồng chấp thuận. Giải thích rõ việc giải quyết vụ án như thế nào là đúng pháp luật để các tòa án cấp dưới biết đường lối xét xử trong phần “quyết định” của mỗi quyết định giám đốc thẩm. Trong những Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải có thêm những phần lập luận và viện dẫn đến các quyết định trước (những án lệ). Điều này đặc biệt quan trọng khi Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thiết lập án lệ mới so với những án lệ đã từng tồn tại trước đây, tránh được việc các vụ án tương tự như nhau có đường lối xét xử khác nhau. Việc viện dẫn tới các quyết định đã xét xử không có nghĩa là Toà án Việt Nam xét xử dựa trên căn cứ án lệ. Án lệ sẽ chỉ đóng vai trò là khuôn mẫu, nguồn bổ trợ làm tăng tính thuyết phục và rõ ràng trong các quyết định của tòa án.

Content:
Định hướng phát triển án lệ gồm các nội dung như sau:
a) Việc sử dụng án lệ chỉ coi là thứ yếu, sau văn bản quy phạm pháp luật và không phải là Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, án lệ được ban hành khi chưa có Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thông qua việc xét xử vụ án cụ thể, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lập luận về một vấn đề chưa được hướng dẫn và đưa ra cách giải quyết về vụ án và là nguồn cung cấp để pháp điển hóa thành văn bản hướng dẫn hoặc có thể là nguồn để đề nghị sửa đổi về một quy phạm pháp luật cụ thể có liên quan, có giá trị tham khảo đối với Thẩm phán khi giải quyết các vụ việc cụ thể. Tuy nhiên, khi xét xử, các Tòa án được khuyến khích viện dẫn án lệ của Tòa án nhân dân tối cao. Việc viện dẫn án lệ vào một quyết định của Tòa án không có nghĩa án lệ là cơ sở pháp lý cho quyết định của vụ án mà Tòa án xét xử. Cơ sở cho quyết định của Tòa án phải dựa trên cơ cở pháp luật trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật. Viện dẫn án lệ là cách bày tỏ quan điểm về sự tôn trọng tính thống nhất trong áp dụng pháp luật của Thẩm phán, đảm bảo tính chặt chẽ và tính có căn cứ trong quyết định của mình, Thẩm phán tự mình quyết định có theo đường lối xét xử trong án lệ viện dẫn hay không.
b) Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật:
- Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thực hiện chức năng hướng dẫn áp dụng thống nhất thông qua cách giải thích, lập luận đường lối cách thức áp dụng pháp luật trong những vụ án cụ thể;
- Toà án nhân dân tối cao ban hành các “Tuyển tập án lệ” (các án lệ của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; các Quyết định giám đốc thẩm của Toà chuyên trách Toà án nhân dân tối cao được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua, trở thành án lệ và đưa vào “Tuyển tập án lệ”);
- Toà án nhân dân tối cao giám sát các Tòa án cấp dưới trong áp dụng án lệ để đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Khi xét xử các vụ việc liên quan đến quyết định đã trở thành án lệ, các Thẩm phán phải có trách nhiệm viện dẫn án lệ, áp dụng án lệ đó nếu nhận thấy vụ việc đang xét xử có tính tương tự. Nếu không áp dụng án lệ thì phải chỉ ra lý do trong trường hợp không áp dụng án lệ đó và tự chịu trách nhiệm trong trường hợp không viện dẫn án lệ liên quan đến vụ việc mình đang xét xử, có nghĩa là Thẩm phán phải nêu ra lý do chính đáng trong việc không áp dụng án lệ đã có.
c) Án lệ có thể thay đổi nếu thấy cần thiết. Bãi bỏ án lệ chính là sự thay đổi mang tính phủ định đường lối xét xử của án lệ cũ trên cơ sở Tòa án thiết lập một án lệ mới. Án lệ bị bãi bỏ trong một số trường hợp sau đây:
- Án lệ bị bãi bỏ khi văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành, thay đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật cũ hoặc quy định những vấn đề pháp lý mà án lệ đề cập đến.
- Án lệ có thể bị bãi bỏ bởi chính Tòa án đã thiết lập ra án lệ, việc bãi bỏ án lệ của Toà án nhân dân tối cao do chính Toà án nhân dân tối cao thực hiện.
d) Quyết định trở thành án lệ là Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Quyết định giám đốc thẩm của Toà chuyên trách Toà án nhân dân tối cao được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua khi hội đủ ba điều kiện sau:
- Là quyết định chứa đựng sự giải thích, lập luận cho một hoặc một số các văn bản quy phạm pháp luật (Văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật) về một vấn đề pháp lý đặt ra chưa được văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật đề cập hoặc đề cập còn chung chung, thiếu tính cụ thể hoặc có mâu thuẫn;
- Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc các Thẩm phán viện dẫn làm căn cứ trong phần lập luận, quyết định của bản án, quyết định về vụ án cụ thể;
- Là Quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao sau cùng về vấn đề pháp lý đó mà được các Toà án khác vận dụng giải quyết vụ việc có nội dung tương tự.
đ) Án lệ và văn bản quy phạm pháp luật:
- Án lệ bổ trợ cho các văn bản quy phạm pháp luật: các quy phạm pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng khi xét xử và án lệ là để định hướng cho Tòa án các cấp áp dụng pháp luật thống nhất, chính xác, giải quyết vụ việc khi không có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật điều chỉnh;
- Mối quan hệ tương hỗ: án lệ là sự bổ sung cho sự thiếu hụt của các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật khi chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật điều chỉnh. Khi các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề được án lệ giải quyết trước đó thì án lệ không được áp dụng nữa mà Thẩm phán phải áp dụng văn bản quy phạm pháp luật mà cơ sở hình thành từ những cách ứng xử pháp lý của các vụ án cụ thể trước đó.
e) Án lệ và vấn đề giải thích pháp luật:
Việc phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao cũng như việc thừa nhận thẩm quyền ban hành án lệ của Tòa án nhân dân tối cao không xâm phạm đến thẩm quyền giải thích pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bởi vì, quyết định của Tòa án nhân dân tối cao trái với giải thích pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội (hoặc Hội đồng Hiến pháp) thì không thể trở thành án lệ, không được áp dụng với tư cách là án lệ.
II. Một số giải pháp
1. Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc phát triển án lệ
Trên cơ sở Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Về chiến lược cải cách tư pháp, Toà án nhân dân tối cao kiến nghị Quốc hội:
- Sửa đổi, bổ sung Hiến Pháp Việt Nam năm 1992. Điều 134 của Hiến pháp năm 1992 nên được sửa đổi theo hướng “Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật và ban hành án lệ”.
- Sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, cụ thể quy định tại Điều 19 về chức năng “ban hành án lệ” trong nhiệm vụ và quyền hạn của Tòa án nhân dân tối cao và cần bổ sung nguyên tắc này vào trong văn bản pháp luật về tố tụng hình sự, dân sự, hành chính.
- Sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân về quy định Thẩm phán có nghĩa vụ áp dụng án lệ khi xét xử vụ việc trong trường hợp pháp luật quy định không rõ ràng về vấn đề pháp lý đặt ra trong vụ việc đó.
2. Thiết lập án lệ của Tòa án nhân dân tối cao
a) Xác định các Quyết định giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao là các án lệ của Toà án nhân dân tối cao phát hành “Tuyển tập án lệ” đến Tòa án các cấp:
- Toà án nhân dân tối cao lựa chọn những Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Quyết định giám đốc thẩm của các Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành có giá trị án lệ trình Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua. Những quyết định được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua là án lệ, được đưa vào Tuyển tập án lệ để phát hành.
- Toà án nhân dân tối cao lập kế hoạch xây dựng các Quyết định giám đốc thẩm sẽ có giá trị án lệ, trước khi xét xử giao cho một bộ phận lựa chọn, đề xuất những vụ án điển hình có những vấn đề phức tạp cần giải quyết về pháp luật trình Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Khi Quyết định giám đốc thẩm được ban hành về những vụ án đó, đương nhiên quyết định trở thành án lệ và được đưa vào “Tuyển tập án lệ” để phát hành.
b) Công bố các Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao theo hai hình thức:
- Toà án nhân dân tối cao công bố toàn bộ các Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trên mạng internet qua website của Tòa án nhân dân tối cao (http://www.toaan.gov.vn), lập kế hoạch để tiến tới công bố tất cả các bản án, quyết định của Toà án nhân dân tối cao
- Tòa án nhân dân tối cao thành lập một bộ phận có trách nhiệm chọn lọc, tập hợp các Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao theo từng lĩnh vực pháp luật trình Hội đồng Thẩm phán thông qua và công bố trong những ấn phẩm riêng là “Tuyển tập án lệ” của Toà án nhân dân tối cao.
Tòa án nhân dân tối cao giao cho các toà chuyên trách Toà án nhân dân tối cao chọn lọc những Quyết định giám đốc thẩm chứa đựng đường lối xét xử mới mà chưa được đề cập trong Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét và khi quyết định được ban hành thì được đưa vào “Tuyển tập án lệ”.
Cải tiến cách viết và thông qua các bản án, quyết định của Toà án đặc biệt là quyết định giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao.
Cải tiến cách viết các bản án, quyết định của Toà án theo hướng làm rõ lập luận của Hội đồng Thẩm phán, từng thành viên Hội đồng Thẩm phán, làm rõ hơn căn cứ để ra quyết định, ngoài các nội dung thể hiện trong phần xét thấy đã được hướng dẫn phải bổ sung việc viện dẫn án lệ liên quan làm căn cứ cho việc đưa ra quyết định của Hội đồng Thẩm phán.
Cải tiến cách viết các quyết định giám đốc thẩm đặc biệt là Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao theo hướng viết chi tiết phần “Xét thấy” phân tích rõ những sai lầm trong áp dụng pháp luật của tòa án cấp dưới. Các vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau thì cần nêu rõ lập luận về ý kiến khác nhau đó và Hội đồng kết luận, lý do đưa ra kết luận. Trong trường hợp có ý kiến bảo lưu cũng cần đề cập đến nhưng nêu rõ ý kiến này không được Hội đồng chấp thuận. Giải thích rõ việc giải quyết vụ án như thế nào là đúng pháp luật để các tòa án cấp dưới biết đường lối xét xử trong phần “quyết định” của mỗi quyết định giám đốc thẩm. Trong những Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải có thêm những phần lập luận và viện dẫn đến các quyết định trước (những án lệ). Điều này đặc biệt quan trọng khi Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thiết lập án lệ mới so với những án lệ đã từng tồn tại trước đây, tránh được việc các vụ án tương tự như nhau có đường lối xét xử khác nhau. Việc viện dẫn tới các quyết định đã xét xử không có nghĩa là Toà án Việt Nam xét xử dựa trên căn cứ án lệ. Án lệ sẽ chỉ đóng vai trò là khuôn mẫu, nguồn bổ trợ làm tăng tính thuyết phục và rõ ràng trong các quyết định của tòa án.