Document: Điểm d Khoản 5 Điều 1 Quyết định 1368/QĐ-UBND 2013 Quy hoạch phát triển giáo dục đào tạo Cao Bằng đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Cao Bằng", "promulgation_date": "04/09/2013", "sign_number": "1368/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hoàng Anh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Cao Bằng", "promulgation_date": "04/09/2013", "sign_number": "1368/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hoàng Anh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Cao Bằng", "promulgation_date": "04/09/2013", "sign_number": "1368/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hoàng Anh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Cao Bằng", "promulgation_date": "04/09/2013", "sign_number": "1368/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hoàng Anh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Cao Bằng", "promulgation_date": "04/09/2013", "sign_number": "1368/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hoàng Anh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 5 Điều 1 Quyết định 1368/QĐ-UBND 2013 Quy hoạch phát triển giáo dục đào tạo Cao Bằng đến 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo Cao Bằng đến năm 2020, với các nội dung chính như sau:
...
5. Đào tạo nhân lực
...
d) Đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy
Từ những yêu cầu của phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự phát triển khoa học-công nghệ, sự mở rộng giao lưu trong tiến trình hội nhập quốc tế, đòi hỏi nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy cần được đổi mới. Vì vậy để đảm bảo tính thống nhất của chương trình giáo dục, nội dung kiến thức, chuẩn kỹ năng, phương pháp dạy và học, cần vận dụng linh hoạt trong việc giảng dạy theo chương trình phù hợp với đặc điểm của tỉnh và từng địa phương.
Đổi mới toàn diện hơn các bộ môn học, nhất là khoa học xã hội - nhân văn, đặc biệt có liên quan đến lịch sử, văn hóa dân tộc địa phương. Tăng cường giáo dục bảo vệ môi trường bền vững, kết hợp với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào nội dung các môn học phù hợp với từng cấp học.
Xây dựng chương trình ngoại ngữ phổ thông 10 năm, từ lớp 3 đến lớp 12, biên soạn tài liệu học tập phù hợp với quy định về năng lực trình độ của mỗi cấp, lớp học. Đưa việc dạy ngoại ngữ vào các bậc học phổ thông thành nền nếp nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập trong tiến trình chung của cả nước. Chương trình mới đào tạo ngoại ngữ ở cấp học phổ thông đạt các bậc trình độ: tốt nghiệp tiểu học đạt trình độ bậc 1/6; THCS đạt trình độ bậc 2/6 và THPT đạt trình độ bậc 3/6. Học sinh được học ổn định và liên thông ít nhất một ngoại ngữ để có thể sử dụng được khi tốt nghiệp phổ thông.
Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đáp ứng yêu cầu trang bị về kiến thức tiếp cận chuẩn chung của cả nước (phần nội dung cứng) và phù hợp với, đặc điểm thực tế của từng vùng, từng địa phương (phần nội dung mềm).
Tăng cường giáo dục kỹ năng và năng lực thực hành ở bậc phổ thông, kỹ năng thực hành nghề nghiệp ở bậc đào tạo, năng lực thích ứng với những thay đổi của công nghệ và thực tiễn sản xuất, năng lực tự tạo việc làm.
Giáo dục toàn diện đạo đức, nhân cách, ý thức công dân, sức khỏe và thẩm mỹ cho học sinh phù hợp với từng lứa tuổi, từng cấp học.
Một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình, nội dung là đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, thông qua hoạt động giảng dạy tích cực, các phương pháp tiên tiến vào quá trình dạy và học. Đồng thời phải đầu tư trang thiết bị đồng bộ, các phương tiện, học liệu và giáo viên phải biết kết hợp để hỗ trợ cho phương pháp giảng dạy.
Đổi mới cách tiếp cận để xây dựng nền giáo dục-đào tạo phục vụ nhu cầu xã hội: Xây dựng kế hoạch đào tạo theo nhu cầu xã hội toàn tỉnh và từng địa phương, đồng thời gắn trách nhiệm của doanh nghiệp với việc đào tạo nhân lực để phục vụ chính mình.
e) Tăng cường cơ sở vật chất cho giáo dục-đào tạo
Trên cơ sở quy hoạch mạng lưới trường, lớp và tạo thuận lợi cho sự tiếp cận của người dân tới hệ thống này, đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, cần có các chương trình, đề án cụ thể xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục-đào tạo, đầu tư xây dựng trường chuẩn quốc gia, đảm bảo đủ phòng học kiên cố, chuẩn hóa và phòng chức năng, tăng dần tỷ lệ học sinh được học 2 buổi/ngày.
f) Đảm bảo quỹ đất cho xây dựng cơ sở giáo dục-đào tạo
Các ngành, các cấp địa phương (huyện, thành phố) dành đủ quỹ đất cần thiết, phù hợp với tiêu chuẩn của ngành GD-ĐT cho xây dựng mới, mở rộng và cải tạo các cơ sở giáo dục-đào tạo đến năm 2020.
Ngành Giáo dục-Đào tạo phối hợp với các cơ quan chức năng tiếp tục rà soát quỹ đất cơ sở trường học. Báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét những quỹ đất phù hợp cho phát triển cơ sở giáo dục.
Quy hoạch sử dụng đất cần ưu tiên quỹ đất ở những vị trí thuận tiện và cấp đất theo quy chuẩn về diện tích mặt bằng của từng loại cơ sở. Quỹ đất dành cho các cơ sở giáo dục-đào tạo (trường học) cần được tuân thủ theo các quy chuẩn về trường học của Bộ GD-ĐT theo nguyên tắc gắn với phân bố các điểm dân cư, thuận tiện về giao thông cho học sinh đến trường và đảm bảo cảnh quan sư phạm và các quy định về an toàn và vệ sinh môi trường.
Ưu tiên dành quỹ đất để tạo lập khu tập trung cho các cơ sở đào tạo (đại học đa ngành, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, trường nghề...) dự kiến xây dựng mới, cải tạo nâng cấp trong giai đoạn quy hoạch.
g) Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo
Tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” để mỗi người dân, cộng đồng và toàn xã hội có trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi về giáo dục - đào tạo. Tạo điều kiện cho mọi người dân, các tổ chức xã hội và doanh nhân tham gia đóng góp, xây dựng cộng đồng trách nhiệm và cùng hưởng thụ nền giáo dục tiên tiến.
Phát triển hợp lý các loại hình giáo dục công lập và ngoài công lập, nhất ở thành phố, các thị trấn, khu vực đô thị có đủ điều kiện thích hợp và tập trung chủ yếu ở các cấp học mầm non, THPT và các trường thuộc khối đào tạo, dạy nghề. Ưu tiên đầu tư phát triển cho các cấp giáo dục cơ bản, cho các vùng sâu/cao, vùng khó khăn. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ về đất đai, tín dụng xây dựng trường, lớp,... cho các cơ sở giáo dục ngoài công lập.
Mở rộng quỹ khuyến học, bảo trợ giáo dục, khuyến khích các doanh nhân và tổ chức xã hội đóng góp vào giáo dục bằng nhiều hình thức khác nhau.
Lồng ghép các chương trình dự án đầu tư trên cùng một địa bàn và huy động nguồn lực hợp lý của nhân dân để thực hiện phổ cập giáo dục mầm non và phổ thông. Cha mẹ, gia đình học sinh có trách nhiệm cùng phối hợp với nhà trường, các tổ chức xã hội để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Khuyến khích, tạo điều kiện để các cá nhân, doanh nhân, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp đầu tư phát triển trường, lớp ngoài công lập.
Tại các vùng sâu/xa, vùng khó khăn có giải pháp thích hợp huy động sự đóng góp công sức lao động của người dân cùng với ngân sách nhà nước để xây dựng trường, lớp; kết hợp chính sách của địa phương với chính sách hỗ trợ của Nhà nước để tổ chức ăn bán trú hoặc thực hiện chương trình bữa ăn học đường tại lớp nhằm tạo điều kiện thuận lợi để dạy tiếng Việt cho trẻ.
Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo, mở rộng liên kết đào tạo đa phương gắn với quản lý Nhà nước, hợp tác quốc tế về đào tạo nhân lực có chất lượng cao cho các ngành mũi nhọn của tỉnh. Có cơ chế, chính sách phù hợp, tranh thủ sự giúp đỡ tài trợ của các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ để thu hút các dự án đầu tư phát triển cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên, nhằm thực hiện PCGD mầm non 5 tuổi, PCGD tiểu học đúng độ tuổi, PCGD phổ thông 9 năm đúng độ tuổi,...
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Sở Giáo dục và Đào tạo: là cơ quan thường trực giúp UBND tỉnh chỉ đạo, công bố và tổ chức thực hiện Quy hoạch. Chủ trì, phối hợp với các cấp, các ngành và cơ quan liên quan xây dựng kế hoạch, giải pháp cụ thể cho từng năm và giai đoạn để chỉ đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ Quy hoạch. Tổ chức thanh tra, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện Quy hoạch để bổ sung, điều chỉnh cũng như đề ra giải pháp, chính sách đồng bộ, đảm bảo thực hiện tốt Quy hoạch, Kế hoạch, phù hợp với thực tiễn địa phương; định kỳ tổng hợp kết quả thực hiện Quy hoạch báo cáo UBND tỉnh.
2. Sở Kế hoạch và Đầu tư: phối hợp với các ngành và các địa phương bố trí lồng ghép các nguồn vốn để thực hiện kế hoạch hằng năm và cho từng giai đoạn của Quy hoạch; chủ trì phối hợp với Sở Tài chính, Sở Giáo dục và Đào tạo huy động các nguồn tài trợ của Trung ương, các doanh nghiệp và các tổ chức Quốc tế đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo của tỉnh.
3. Sở Tài chính: chủ trì phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội xác định tỷ lệ hợp lý ngân sách hàng năm chi cho giáo dục và đào tạo theo các mục tiêu đã xác định.
Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tham mưu cho Ủy ban Nhân dân tỉnh thực hiện chính sách xã hội hóa đối với hoạt động giáo dục và đào tạo.
4. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội: có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện nội dung Quy hoạch hệ thống đào tạo nghề có liên quan, xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích và thu hút thanh niên đã tốt nghiệp THCS và THPT vào các trường đào tạo nghề, góp phần phân luồng học sinh sau THCS và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Sở Nội vụ: chủ trì, phối hợp với sở Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban Nhân dân các huyện, thành phố trong quản lý biên chế; tham mưu các chính sách đối với học sinh, sinh viên, cán bộ giáo viên ngành giáo dục; chính sách đối với nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển giáo dục và đào tạo. Xây dựng kế hoạch tuyển dụng, đào tạo và bồi dưỡng, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục theo Quy hoạch; xây dựng các chính sách phù hợp với giáo viên vùng sâu/cao, vùng đặc biệt khó khăn; tham mưu phân cấp quản lý giáo dục toàn diện, tiếp tục kiện toàn bộ máy tổ chức cơ sở Giáo dục và Đào tạo.

Content:
Đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy
Từ những yêu cầu của phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự phát triển khoa học-công nghệ, sự mở rộng giao lưu trong tiến trình hội nhập quốc tế, đòi hỏi nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy cần được đổi mới. Vì vậy để đảm bảo tính thống nhất của chương trình giáo dục, nội dung kiến thức, chuẩn kỹ năng, phương pháp dạy và học, cần vận dụng linh hoạt trong việc giảng dạy theo chương trình phù hợp với đặc điểm của tỉnh và từng địa phương.
Đổi mới toàn diện hơn các bộ môn học, nhất là khoa học xã hội - nhân văn, đặc biệt có liên quan đến lịch sử, văn hóa dân tộc địa phương. Tăng cường giáo dục bảo vệ môi trường bền vững, kết hợp với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào nội dung các môn học phù hợp với từng cấp học.
Xây dựng chương trình ngoại ngữ phổ thông 10 năm, từ lớp 3 đến lớp 12, biên soạn tài liệu học tập phù hợp với quy định về năng lực trình độ của mỗi cấp, lớp học. Đưa việc dạy ngoại ngữ vào các bậc học phổ thông thành nền nếp nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập trong tiến trình chung của cả nước. Chương trình mới đào tạo ngoại ngữ ở cấp học phổ thông đạt các bậc trình độ: tốt nghiệp tiểu học đạt trình độ bậc 1/6; THCS đạt trình độ bậc 2/6 và THPT đạt trình độ bậc 3/6. Học sinh được học ổn định và liên thông ít nhất một ngoại ngữ để có thể sử dụng được khi tốt nghiệp phổ thông.
Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đáp ứng yêu cầu trang bị về kiến thức tiếp cận chuẩn chung của cả nước (phần nội dung cứng) và phù hợp với, đặc điểm thực tế của từng vùng, từng địa phương (phần nội dung mềm).
Tăng cường giáo dục kỹ năng và năng lực thực hành ở bậc phổ thông, kỹ năng thực hành nghề nghiệp ở bậc đào tạo, năng lực thích ứng với những thay đổi của công nghệ và thực tiễn sản xuất, năng lực tự tạo việc làm.
Giáo dục toàn diện đạo đức, nhân cách, ý thức công dân, sức khỏe và thẩm mỹ cho học sinh phù hợp với từng lứa tuổi, từng cấp học.
Một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình, nội dung là đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, thông qua hoạt động giảng dạy tích cực, các phương pháp tiên tiến vào quá trình dạy và học. Đồng thời phải đầu tư trang thiết bị đồng bộ, các phương tiện, học liệu và giáo viên phải biết kết hợp để hỗ trợ cho phương pháp giảng dạy.
Đổi mới cách tiếp cận để xây dựng nền giáo dục-đào tạo phục vụ nhu cầu xã hội: Xây dựng kế hoạch đào tạo theo nhu cầu xã hội toàn tỉnh và từng địa phương, đồng thời gắn trách nhiệm của doanh nghiệp với việc đào tạo nhân lực để phục vụ chính mình.
e) Tăng cường cơ sở vật chất cho giáo dục-đào tạo
Trên cơ sở quy hoạch mạng lưới trường, lớp và tạo thuận lợi cho sự tiếp cận của người dân tới hệ thống này, đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, cần có các chương trình, đề án cụ thể xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục-đào tạo, đầu tư xây dựng trường chuẩn quốc gia, đảm bảo đủ phòng học kiên cố, chuẩn hóa và phòng chức năng, tăng dần tỷ lệ học sinh được học 2 buổi/ngày.
f) Đảm bảo quỹ đất cho xây dựng cơ sở giáo dục-đào tạo
Các ngành, các cấp địa phương (huyện, thành phố) dành đủ quỹ đất cần thiết, phù hợp với tiêu chuẩn của ngành GD-ĐT cho xây dựng mới, mở rộng và cải tạo các cơ sở giáo dục-đào tạo đến năm 2020.
Ngành Giáo dục-Đào tạo phối hợp với các cơ quan chức năng tiếp tục rà soát quỹ đất cơ sở trường học. Báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét những quỹ đất phù hợp cho phát triển cơ sở giáo dục.
Quy hoạch sử dụng đất cần ưu tiên quỹ đất ở những vị trí thuận tiện và cấp đất theo quy chuẩn về diện tích mặt bằng của từng loại cơ sở. Quỹ đất dành cho các cơ sở giáo dục-đào tạo (trường học) cần được tuân thủ theo các quy chuẩn về trường học của Bộ GD-ĐT theo nguyên tắc gắn với phân bố các điểm dân cư, thuận tiện về giao thông cho học sinh đến trường và đảm bảo cảnh quan sư phạm và các quy định về an toàn và vệ sinh môi trường.
Ưu tiên dành quỹ đất để tạo lập khu tập trung cho các cơ sở đào tạo (đại học đa ngành, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, trường nghề...) dự kiến xây dựng mới, cải tạo nâng cấp trong giai đoạn quy hoạch.
g) Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo
Tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” để mỗi người dân, cộng đồng và toàn xã hội có trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi về giáo dục - đào tạo. Tạo điều kiện cho mọi người dân, các tổ chức xã hội và doanh nhân tham gia đóng góp, xây dựng cộng đồng trách nhiệm và cùng hưởng thụ nền giáo dục tiên tiến.
Phát triển hợp lý các loại hình giáo dục công lập và ngoài công lập, nhất ở thành phố, các thị trấn, khu vực đô thị có đủ điều kiện thích hợp và tập trung chủ yếu ở các cấp học mầm non, THPT và các trường thuộc khối đào tạo, dạy nghề. Ưu tiên đầu tư phát triển cho các cấp giáo dục cơ bản, cho các vùng sâu/cao, vùng khó khăn. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ về đất đai, tín dụng xây dựng trường, lớp,... cho các cơ sở giáo dục ngoài công lập.
Mở rộng quỹ khuyến học, bảo trợ giáo dục, khuyến khích các doanh nhân và tổ chức xã hội đóng góp vào giáo dục bằng nhiều hình thức khác nhau.
Lồng ghép các chương trình dự án đầu tư trên cùng một địa bàn và huy động nguồn lực hợp lý của nhân dân để thực hiện phổ cập giáo dục mầm non và phổ thông. Cha mẹ, gia đình học sinh có trách nhiệm cùng phối hợp với nhà trường, các tổ chức xã hội để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Khuyến khích, tạo điều kiện để các cá nhân, doanh nhân, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp đầu tư phát triển trường, lớp ngoài công lập.
Tại các vùng sâu/xa, vùng khó khăn có giải pháp thích hợp huy động sự đóng góp công sức lao động của người dân cùng với ngân sách nhà nước để xây dựng trường, lớp; kết hợp chính sách của địa phương với chính sách hỗ trợ của Nhà nước để tổ chức ăn bán trú hoặc thực hiện chương trình bữa ăn học đường tại lớp nhằm tạo điều kiện thuận lợi để dạy tiếng Việt cho trẻ.
Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo, mở rộng liên kết đào tạo đa phương gắn với quản lý Nhà nước, hợp tác quốc tế về đào tạo nhân lực có chất lượng cao cho các ngành mũi nhọn của tỉnh. Có cơ chế, chính sách phù hợp, tranh thủ sự giúp đỡ tài trợ của các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ để thu hút các dự án đầu tư phát triển cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên, nhằm thực hiện PCGD mầm non 5 tuổi, PCGD tiểu học đúng độ tuổi, PCGD phổ thông 9 năm đúng độ tuổi,...
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Sở Giáo dục và Đào tạo: là cơ quan thường trực giúp UBND tỉnh chỉ đạo, công bố và tổ chức thực hiện Quy hoạch. Chủ trì, phối hợp với các cấp, các ngành và cơ quan liên quan xây dựng kế hoạch, giải pháp cụ thể cho từng năm và giai đoạn để chỉ đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ Quy hoạch. Tổ chức thanh tra, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện Quy hoạch để bổ sung, điều chỉnh cũng như đề ra giải pháp, chính sách đồng bộ, đảm bảo thực hiện tốt Quy hoạch, Kế hoạch, phù hợp với thực tiễn địa phương; định kỳ tổng hợp kết quả thực hiện Quy hoạch báo cáo UBND tỉnh.
2. Sở Kế hoạch và Đầu tư: phối hợp với các ngành và các địa phương bố trí lồng ghép các nguồn vốn để thực hiện kế hoạch hằng năm và cho từng giai đoạn của Quy hoạch; chủ trì phối hợp với Sở Tài chính, Sở Giáo dục và Đào tạo huy động các nguồn tài trợ của Trung ương, các doanh nghiệp và các tổ chức Quốc tế đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo của tỉnh.
3. Sở Tài chính: chủ trì phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội xác định tỷ lệ hợp lý ngân sách hàng năm chi cho giáo dục và đào tạo theo các mục tiêu đã xác định.
Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tham mưu cho Ủy ban Nhân dân tỉnh thực hiện chính sách xã hội hóa đối với hoạt động giáo dục và đào tạo.
4. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội: có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện nội dung Quy hoạch hệ thống đào tạo nghề có liên quan, xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích và thu hút thanh niên đã tốt nghiệp THCS và THPT vào các trường đào tạo nghề, góp phần phân luồng học sinh sau THCS và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Sở Nội vụ: chủ trì, phối hợp với sở Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban Nhân dân các huyện, thành phố trong quản lý biên chế; tham mưu các chính sách đối với học sinh, sinh viên, cán bộ giáo viên ngành giáo dục; chính sách đối với nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển giáo dục và đào tạo. Xây dựng kế hoạch tuyển dụng, đào tạo và bồi dưỡng, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục theo Quy hoạch; xây dựng các chính sách phù hợp với giáo viên vùng sâu/cao, vùng đặc biệt khó khăn; tham mưu phân cấp quản lý giáo dục toàn diện, tiếp tục kiện toàn bộ máy tổ chức cơ sở Giáo dục và Đào tạo.