Document: Điều 7 Thông tư 13/2011/TT-BVHTTDL trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn văn bản

Type: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch", "promulgation_date": "07/11/2011", "sign_number": "13/2011/TT-BVHTTDL", "signer": "Hoàng Tuấn Anh", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch", "promulgation_date": "07/11/2011", "sign_number": "13/2011/TT-BVHTTDL", "signer": "Hoàng Tuấn Anh", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch", "promulgation_date": "07/11/2011", "sign_number": "13/2011/TT-BVHTTDL", "signer": "Hoàng Tuấn Anh", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch", "promulgation_date": "07/11/2011", "sign_number": "13/2011/TT-BVHTTDL", "signer": "Hoàng Tuấn Anh", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch", "promulgation_date": "07/11/2011", "sign_number": "13/2011/TT-BVHTTDL", "signer": "Hoàng Tuấn Anh", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 7 Thông tư 13/2011/TT-BVHTTDL trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn văn bản có nội dung như sau:

Điều 7. Trình tự soạn thảo Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định
1. Đối với những văn bản do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch được giao chủ trì soạn thảo, phải thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập theo quy định tại các Điều 20 và 25 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP. Tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo thực hiện theo quy định tại các Điều 21, 22, 23 và 24 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP.
2. Cơ quan chủ trì soạn thảo là đầu mối giúp Bộ trưởng thực hiện các nhiệm vụ sau:
a) Bảo đảm các điều kiện hoạt động của Ban soạn thảo và Tổ biên tập;
b) Phối hợp và tạo điều kiện cho Ban soạn thảo tổng kết tình hình thi hành pháp luật; đánh giá tác động khi soạn thảo Luật, Pháp lệnh, Nghị định; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung dự thảo; tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có liên quan đến dự thảo; chuẩn bị đề cương, biên soạn, tổ chức lấy ý kiến và chỉnh lý dự thảo trước khi gửi thẩm định.
Khi soạn thảo văn bản có nội dung quy định về thủ tục hành chính, ngoài việc thực hiện các quy định trên, cơ quan chủ trì soạn thảo còn phải đánh giá tác động đối với thủ tục hành chính theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính (sau đây gọi tắt là Nghị định số 63/2010/NĐ-CP);
c) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan chuẩn bị dự thảo các văn bản quy định chi tiết thi hành.
3. Tổ chức lấy ý kiến trong quá trình soạn thảo:
a) Tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, bằng các hình thức: lấy ý kiến trực tiếp; gửi dự thảo để góp ý; tổ chức hội thảo; thông qua trang thông tin điện tử của Chính phủ, của Bộ hoặc các phương tiện thông tin đại chúng;
b) Cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi dự thảo văn bản đến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để lấy ý kiến, trong đó phải lấy ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ nếu có quy định liên quan đến nguồn tài chính và nguồn nhân lực. Trường hợp văn bản có quy định về thủ tục hành chính, trước khi gửi thẩm định, cơ quan chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng Chính phủ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP. Hồ sơ gửi xin ý kiến thực hiện theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP.
Văn bản lấy ý kiến phải quy định thời hạn trả lời chậm nhất là 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ văn bản và hồ sơ đề nghị góp ý kiến;
c) Việc đăng tải nội dung dự thảo trên trang thông tin điện tử của Bộ để lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cá nhân thực hiện như sau:
- Cơ quan chủ trì soạn thảo có văn bản đề nghị đăng tải thông tin gửi về Trung tâm Công nghệ thông tin của Bộ;
- Gửi kèm theo văn bản đề nghị 01 bản ghi điện tử nội dung dự thảo lần thứ 2 của văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP (dự thảo có chữ ký xác nhận của Thủ trưởng và dấu treo của cơ quan chủ trì soạn thảo đối với cơ quan có con dấu riêng);
- Gửi 01 bản mềm nội dung dự thảo lần thứ 2 của văn bản qua hòm thư điện tử của Trung tâm Công nghệ thông tin;
- Trung tâm Công nghệ thông tin có trách nhiệm đăng toàn bộ nội dung dự thảo trong vòng 01 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ yêu cầu tại điểm này;
d) Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trường hợp không tiếp thu ý kiến góp ý, cơ quan chủ trì soạn thảo phải giải trình cụ thể bằng văn bản.

Content:
Điều 7. Trình tự soạn thảo Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định
1. Đối với những văn bản do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch được giao chủ trì soạn thảo, phải thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập theo quy định tại các Điều 20 và 25 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP. Tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo thực hiện theo quy định tại các Điều 21, 22, 23 và 24 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP.
2. Cơ quan chủ trì soạn thảo là đầu mối giúp Bộ trưởng thực hiện các nhiệm vụ sau:
a) Bảo đảm các điều kiện hoạt động của Ban soạn thảo và Tổ biên tập;
b) Phối hợp và tạo điều kiện cho Ban soạn thảo tổng kết tình hình thi hành pháp luật; đánh giá tác động khi soạn thảo Luật, Pháp lệnh, Nghị định; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung dự thảo; tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có liên quan đến dự thảo; chuẩn bị đề cương, biên soạn, tổ chức lấy ý kiến và chỉnh lý dự thảo trước khi gửi thẩm định.
Khi soạn thảo văn bản có nội dung quy định về thủ tục hành chính, ngoài việc thực hiện các quy định trên, cơ quan chủ trì soạn thảo còn phải đánh giá tác động đối với thủ tục hành chính theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính (sau đây gọi tắt là Nghị định số 63/2010/NĐ-CP);
c) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan chuẩn bị dự thảo các văn bản quy định chi tiết thi hành.
3. Tổ chức lấy ý kiến trong quá trình soạn thảo:
a) Tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, bằng các hình thức: lấy ý kiến trực tiếp; gửi dự thảo để góp ý; tổ chức hội thảo; thông qua trang thông tin điện tử của Chính phủ, của Bộ hoặc các phương tiện thông tin đại chúng;
b) Cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi dự thảo văn bản đến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để lấy ý kiến, trong đó phải lấy ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ nếu có quy định liên quan đến nguồn tài chính và nguồn nhân lực. Trường hợp văn bản có quy định về thủ tục hành chính, trước khi gửi thẩm định, cơ quan chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng Chính phủ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP. Hồ sơ gửi xin ý kiến thực hiện theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP.
Văn bản lấy ý kiến phải quy định thời hạn trả lời chậm nhất là 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ văn bản và hồ sơ đề nghị góp ý kiến;
c) Việc đăng tải nội dung dự thảo trên trang thông tin điện tử của Bộ để lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cá nhân thực hiện như sau:
- Cơ quan chủ trì soạn thảo có văn bản đề nghị đăng tải thông tin gửi về Trung tâm Công nghệ thông tin của Bộ;
- Gửi kèm theo văn bản đề nghị 01 bản ghi điện tử nội dung dự thảo lần thứ 2 của văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP (dự thảo có chữ ký xác nhận của Thủ trưởng và dấu treo của cơ quan chủ trì soạn thảo đối với cơ quan có con dấu riêng);
- Gửi 01 bản mềm nội dung dự thảo lần thứ 2 của văn bản qua hòm thư điện tử của Trung tâm Công nghệ thông tin;
- Trung tâm Công nghệ thông tin có trách nhiệm đăng toàn bộ nội dung dự thảo trong vòng 01 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ yêu cầu tại điểm này;
d) Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trường hợp không tiếp thu ý kiến góp ý, cơ quan chủ trì soạn thảo phải giải trình cụ thể bằng văn bản.