Document: Điểm a Khoản 6 Điều 1 Quyết định 2992/QĐ-BCT phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Nhựa

Type: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "17/06/2011", "sign_number": "2992/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "17/06/2011", "sign_number": "2992/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "17/06/2011", "sign_number": "2992/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "17/06/2011", "sign_number": "2992/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "17/06/2011", "sign_number": "2992/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm a Khoản 6 Điều 1 Quyết định 2992/QĐ-BCT phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Nhựa

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Nhựa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 với các nội dung chủ yếu sau:
...
6. Các giải pháp và chính sách
a) Những giải pháp chủ yếu
Giải pháp về vốn:
- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư như: vốn tự có của doanh nghiệp, vốn vay tín dụng trong nước, vốn liên doanh liên kết, vốn vay ưu đãi của Chính phủ và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Nguồn vốn tích lũy của doanh nghiệp dự kiến đáp ứng được khoảng 28 - 30% nhu cầu về vốn (49.148 tỷ đồng), tập trung cho đầu tư xây dựng mới hoặc mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực cho ngành.
Vốn vay tín dụng trong nước dự kiến khoảng 24.574 tỷ đồng (12 - 14%).
Kêu gọi nguồn vốn liên doanh, liên kết (với các Tập đoàn, Tổng Công ty) dự kiến khoảng 31.595 tỷ đồng (18-20%) và nguồn vốn kêu gọi được từ đầu tư nước ngoài dự kiến khoảng 52.659 tỷ đồng (30 - 32%), tập trung cho việc xây dựng mới các dự án sản xuất các sản phẩm cần chuyển dịch đầu tư phục vụ công nghiệp và xây dựng (như nhựa xây dựng và nhựa kỹ thuật), các dự án sản xuất nguyên liệu nhựa, cơ khí chế tạo thiết bị và khuôn mẫu, các dự án tái chế phế liệu nhựa.
Vốn vay ưu đãi của Chính phủ dự kiến huy động khoảng 17.553 tỷ đồng (10 - 12%), tập trung đầu tư chủ yếu vào các dự án phát triển nguồn nguyên liệu nhựa (từ các nhà máy lọc hóa dầu) …
- Khuyến khích các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đầu tư tài chính, chất xám vào sản xuất các phụ tùng thay thế cho phụ tùng, linh kiện còn phải nhập ngoại của các nhà máy đã đi vào hoạt động hay đang có kế hoạch đầu tư.
- Nghiên cứu lập quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển để điều phối và cung ứng nguồn tài chính cho các dự án ưu tiên.
Giải pháp về thị trường:
Đối với thị trường trong nước:
- Tăng cường kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu và lưu thông trên thị trường trong nước để chống hàng lậu, hàng kém chất lượng, nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Thực hiện cuộc vận động “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, đẩy mạnh tuyên truyền và hướng dẫn người tiêu dùng đánh giá chất lượng và lựa chọn sản phẩm nhựa Việt Nam khi mua hàng. Khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng hệ thống phân phối sản phẩm về các địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
- Tăng cường đầu tư cho công tác điều tra, nghiên cứu, dự báo thị trường và xúc tiến thương mại để có các dữ liệu đầy đủ, chính xác và kịp thời về thị trường, mục tiêu của các doanh nghiệp sản xuất. Từ đó hỗ trợ cho doanh nghiệp trong ngành thu thập, xử lý các thông tin về thị trường thông qua các cổng thông tin điện tử và các phương tiện thông tin khác.
- Tăng cường và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia các chương trình xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm trong nước, các chương trình tuyên truyền quảng cáo để các doanh nghiệp giới thiệu, quảng bá sản phẩm.
- Có chiến lược cụ thể để mở rộng và làm chủ thị trường trong nước. Trước mắt tập trung cho thị trường có sức mua lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và Vùng Đồng bằng sông Cửu Long ….
- Xây dựng các hàng rào kỹ thuật như áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật về chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu, các loại thuế nhập khẩu, kiện chống bán phá giá, đánh thuế môi trường … để bảo vệ nền sản xuất trong nước.
Đối với thị trường xuất khẩu:
- Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại ở nước ngoài, đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường xuất khẩu, bao gồm cả các thị trường truyền thống và các thị trường tiềm năng, tạo cơ sở cho việc phát huy các lợi thế so sánh của ngành Nhựa phù hợp với nhu cầu của các thị trường chủ chốt. Tăng cường tiếp cận với các bạn hàng trực tiếp, giảm dần các khâu trung gian.
- Liên kết chặt chẽ với các hiệp hội nhựa các khu vực, các hiệp hội nhựa các nước trên thế giới qua các kỳ triển lãm, diễn đàn, hội nghị để hợp tác, phát triển thị trường.
- Thiết lập các chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài để bán sản phẩm, nghiên cứu thị trường. Thiết lập hệ thống thông tin trong khu vực và toàn cầu bằng nhiều hình thức (trung tâm thông tin, mạng thông tin máy tính …) để có thể cập nhật thường xuyên và nhanh chóng nhu cầu thị trường trong khu vực và trên thế giới.
- Tổ chức những trung tâm tư vấn đầu tư về đầu tư sản phẩm, kỹ thuật công nghệ có khả năng phân tích tốt và dự báo chính xác các vấn đề mà các nhà sản xuất quan tâm.
Đối với doanh nghiệp:
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác thị trường, thực hiện thương mại điện tử: quảng cáo trên Website, gửi thư tín điện tử (email), giao dịch điện tử ….
- Xây dựng chiến lược thị trường của doanh nghiệp cho từng chủng loại sản phẩm, đảm bảo phù hợp với nội dung các hiệp định, các cam kết quốc tế để tận dụng tối đa ưu thế của Việt Nam đồng thời không vi phạm các cam kết. Đẩy mạnh nghiên cứu đưa ra thị trường sản phẩm mới, đa dạng hóa các sản phẩm và nâng cao chất lượng để tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp.
- Chú trọng xây dựng và phát triển rộng khắp hệ thống đại lý và tiêu thụ sản phẩm, phát huy vai trò của các chi nhánh nhằm tăng tính chủ động trong kinh doanh.
- Các doanh nghiệp chủ động phát hiện những hành vi gian lận và cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường, kết hợp với các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng các biện pháp ngăn chặn. Với hoạt động xuất khẩu, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong nội bộ ngành dẫn đến thiệt hại chung.
Giải pháp xây dựng thương hiệu sản phẩm:
- Các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển thương hiệu sản phẩm của mình dựa trên cơ sở truyền thống, thói quen tiêu dùng của người Việt Nam.
- Có chiến lược phát triển lâu dài đối với các thương hiệu Việt đã nổi tiếng, có uy tín trong nước trên cơ sở mở rộng sản xuất để giữ vững và phát triển thị phần, nâng cao chất lượng sản phẩm, không ngừng cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm, củng cố và phát triển hệ thống tiêu thụ sản phẩm bảo đảm tin cậy, thuận lợi, uy tín với khách hàng.
- Chú trọng xây dựng các tiêu chuẩn sản phẩm như: mã vạch, tem sản phẩm … để chống hàng nhái, hàng gian lận thương mại, hàng nhập lậu.
- Tăng cường giám sát bảo hộ thương hiệu, nhãn mác, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm, đấu tranh chống hàng lậu, hàng kém chất lượng để bảo đảm quyền lợi cho doanh nghiệp và người tiêu dùng.
- Nghiên cứu tổ chức bình chọn và công bố danh hiệu thương hiệu “Nhựa Việt Nam tiêu biểu” hàng năm theo tiêu chí thống nhất để khuyến khích doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu.
Giải pháp về đầu tư
- Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách liên quan đến thu hút FDI theo hướng thông thoáng, hấp dẫn nhưng vẫn đảm bảo tính chặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tế. Tạo điều kiện cho các nhà đầu tư quan tâm đầu tư vào ngành nhựa được tìm hiểu, xúc tiến và ký kết các hợp đồng đầu tư với những điều kiện thuận lợi nhất.
- Ban hành Danh mục những chủng loại sản phẩm nhựa khuyến khích đầu tư nhằm định hướng và tạo thông tin minh bạch cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
- Không cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án đầu tư có công nghệ, thiết bị lạc lậu.
- Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kết hợp đổi mới công nghệ, thiết bị, áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng.
- Nghiên cứu xây dựng chính sách triển khai các giải pháp khuyến khích đầu tư sản xuất các sản phẩm nhựa kỹ thuật cao nhằm thỏa mãn nhu cầu các lĩnh vực công nghệ cao của nền kinh tế quốc dân.
- Nghiên cứu xây dựng chính sách, triển khai các giải pháp phát triển công nghiệp xử lý phế liệu nhựa.
- Định hướng và kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các lĩnh vực công nghệ cao của ngành Nhựa, đạt trình độ tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu.
Giải pháp về quản lý ngành
- Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn sản xuất đối với các sản phẩm nhựa theo thông lệ quốc tế để làm cơ sở cho việc giám sát, kiểm tra các sản phẩm của ngành.
- Xây dựng bộ tiêu chuẩn về an toàn đối với các sản phẩm nhựa gia dụng để đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng.
- Đẩy mạnh hơn nữa vai trò của hiệp hội nhựa trong việc tham mưu cho Bộ Công Thương xây dựng chính sách phát triển ngành và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Tăng cường vai trò của Hiệp hội Nhựa Việt Nam trong các lĩnh vực: nghiên cứu thị trường, xây dựng thương hiệu sản phẩm, xúc tiến đầu tư, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực.
- Thiết lập và duy trì quan hệ tương tác giữa các cơ quan nhà nước với doanh nghiệp và hiệp hội nhựa chặt chẽ và chủ động hơn để tạo lập môi trường thể chế, chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh trong những lĩnh vực phát triển trọng tâm của ngành Nhựa Việt Nam trong từng giai đoạn cụ thể.
- Thành lập trung tâm kiểm định chất lượng sản phẩm với trang thiết bị tiên tiến, đảm bảo kiểm định chất lượng sản phẩm nhựa theo tiêu chuẩn quốc tế, phù hợp với việc hội nhập khu vực và thế giới.
- Nghiên cứu thành lập trung tâm đào tạo, tư vấn kỹ thuật và thông tin tiếp thị chuyên ngành.
Giải pháp về nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và bảo vệ môi trường
- Khuyến khích các doanh nghiệp nhựa đầu tư nghiên cứu khoa học và áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất; mua công nghệ, thiết bị tiên tiến của các nước phát triển, nhận chuyển giao công nghệ của các công ty hàng đầu thế giới để sản xuất các sản phẩm nhựa chất lượng cao, chất phụ gia cho ngành nhựa, các loại nguyên liệu nhựa trong nước còn chưa sản xuất được.
- Khuyến khích các doanh nghiệp thông qua liên doanh, liên kết thực hiện chuyển giao công nghệ sản xuất thiết bị trong nước cho ngành Nhựa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật hiện đại.
- Khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh các hoạt động sáng kiến trong ngành để tạo ra các giải pháp công nghệ, bí quyết sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, tạo ra mặt hàng có giá trị cạnh tranh cao.
- Tăng cường năng lực nghiên cứu cho một số Viện nghiên cứu để có khả năng tập trung nghiên cứu các vấn đề khoa học công nghệ phục vụ ngành Nhựa, nghiên cứu, thiết kế các sản phẩm nhựa phù hợp với nhu cầu nội địa và xuất khẩu.
- Khuyến khích sử dụng và sản xuất nhựa tái sinh, quy định những sản phẩm nào đã qua sử dụng phải được tái sinh, cập nhật những thành tựu của thế giới về các loại vật liệu nhựa mới có khả năng tự phân hủy, các loại nhựa sinh học, nhằm hạn chế tối đa ô nhiễm môi trường như các loại bao bì trên cơ sở tinh bột hoặc màng từ polyninylalcol.
- Khuyến khích tổ chức hệ thống thu gom và đầu tư các cơ sở sản xuất hiện đại chế biến nhựa phế liệu để tăng nguồn nguyên liệu cho ngành nhựa và giảm thiểu vấn đề môi trường.
- Xây dựng các cụm công nghiệp chuyên tái chế phế liệu nhựa để đảm bảo môi trường.
- Xây dựng những quy định cụ thể về môi trường cho việc nhập khẩu nhựa phế liệu và chế biến nhựa phế liệu.
- Xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển công nghệ để hỗ trợ cho các doanh nghiệp đầu tư vào ngành nhựa nhằm đổi mới công nghệ, áp dụng các hình thức quản lý sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm tiên tiến nhằm hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh.
- Thiết lập trung tâm cung cấp thông tin chuyển giao công nghệ, tạo lập và phát triển thị trường khoa học công nghệ; Các chi phí cho các hoạt động tìm kiếm nguồn công nghệ phù hợp nhằm thúc đẩy sản xuất, thay đổi công nghệ được tính vào chi phí thực tế của doanh nghiệp.
Giải pháp về phát triển sản xuất nguyên liệu cho ngành:
- Có chính sách khuyến khích đầu tư sản xuất nguyên liệu nhựa, nhằm thỏa mãn nhu cầu nguyên liệu nhựa trong nước và một phần xuất khẩu.
- Gắn kết sản xuất nguyên liệu nhựa với công nghiệp hóa dầu. Đẩy nhanh tiến độ các dự án lọc hóa dầu tạo ra sản phẩm hóa dầu thượng nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành nhựa.
- Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia sản xuất nguyên liệu nhựa ở Việt Nam trên cơ sở sử dụng nguồn nguyên liệu dầu khí trong nước.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư của ngành hóa dầu, hóa chất và ngành nhựa trong nước liên doanh nhằm tận dụng thế mạnh trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu (dầu khí), khả năng vốn và bao tiêu sản phẩm.
Giải pháp về phát triển khuôn mẫu cho ngành Nhựa:
- Đầu tư thiết bị chế tạo khuôn mẫu để sản xuất các sản phẩm kỹ thuật phục vụ công nghiệp, nông nghiệp nhằm thay thế vật liệu tự nhiên.
- Xây dựng chương trình khoa học công nghệ để tạo ra các sản phẩm khuôn mẫu quốc gia là những sản phẩm đạt trình độ quốc tế và có khả năng xuất khẩu. Chương trình này phải xuất phát từ những sản phẩm có tiềm năng của doanh nghiệp và có sự hợp tác chặt chẽ với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo trong và ngoài nước để hoàn thiện công nghệ, sản phẩm công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh của công nghệ, sản phẩm công nghệ.
- Nghiên cứu, sản xuất, chế tạo những khuôn mẫu từ vật liệu mới, chất lượng cao mà Việt Nam chưa có để thay thế hàng nhập khẩu.
Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực:
- Song song với việc đào tạo tập trung tại các trường chuyên nghiệp, các doanh nghiệp cần có tỷ lệ chi phí thỏa đáng cho đào tạo lại đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật, cần thiết có thể đào tạo ở nước ngoài để sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết bị, công nghệ sản xuất tiên tiến với chất lượng sản phẩm cao và chi phí sản xuất thấp.
- Xây dựng chương trình và kế hoạch đồng bộ mang tầm chiến lược trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và thợ lành nghề. Việc đào tạo phải tiến hành theo phương châm vừa phát triển chiều rộng nhằm đáp ứng yêu cầu trước mắt, nhưng đồng thời cũng vừa phải có kế hoạch đào tạo đội ngũ thợ lành nghề bậc cao để phát triển ngành trong tương lai.
- Tăng cường năng lực đào tạo cho các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề để đào tạo cán bộ quản lý giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề, đáp ứng nhu cầu lao động ngày càng cao của ngành Nhựa.
- Xây dựng Trung tâm bồi dưỡng, đào tạo nghề cho ngành Nhựa. Trung tâm hoạt động có sự tài trợ của các doanh nghiệp, các tổ chức trong và ngoài nước và có nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị có khả năng chuyên môn xây dựng các chương trình đào tạo dài hạn, ngắn hạn, theo chuyên đề để cập nhật kiến thức và phổ biến thông tin mới nhất trong và ngoài nước cho các học viên.

Content:
Những giải pháp chủ yếu
Giải pháp về vốn:
- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư như: vốn tự có của doanh nghiệp, vốn vay tín dụng trong nước, vốn liên doanh liên kết, vốn vay ưu đãi của Chính phủ và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Nguồn vốn tích lũy của doanh nghiệp dự kiến đáp ứng được khoảng 28 - 30% nhu cầu về vốn (49.148 tỷ đồng), tập trung cho đầu tư xây dựng mới hoặc mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực cho ngành.
Vốn vay tín dụng trong nước dự kiến khoảng 24.574 tỷ đồng (12 - 14%).
Kêu gọi nguồn vốn liên doanh, liên kết (với các Tập đoàn, Tổng Công ty) dự kiến khoảng 31.595 tỷ đồng (18-20%) và nguồn vốn kêu gọi được từ đầu tư nước ngoài dự kiến khoảng 52.659 tỷ đồng (30 - 32%), tập trung cho việc xây dựng mới các dự án sản xuất các sản phẩm cần chuyển dịch đầu tư phục vụ công nghiệp và xây dựng (như nhựa xây dựng và nhựa kỹ thuật), các dự án sản xuất nguyên liệu nhựa, cơ khí chế tạo thiết bị và khuôn mẫu, các dự án tái chế phế liệu nhựa.
Vốn vay ưu đãi của Chính phủ dự kiến huy động khoảng 17.553 tỷ đồng (10 - 12%), tập trung đầu tư chủ yếu vào các dự án phát triển nguồn nguyên liệu nhựa (từ các nhà máy lọc hóa dầu) …
- Khuyến khích các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đầu tư tài chính, chất xám vào sản xuất các phụ tùng thay thế cho phụ tùng, linh kiện còn phải nhập ngoại của các nhà máy đã đi vào hoạt động hay đang có kế hoạch đầu tư.
- Nghiên cứu lập quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển để điều phối và cung ứng nguồn tài chính cho các dự án ưu tiên.
Giải pháp về thị trường:
Đối với thị trường trong nước:
- Tăng cường kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu và lưu thông trên thị trường trong nước để chống hàng lậu, hàng kém chất lượng, nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Thực hiện cuộc vận động “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, đẩy mạnh tuyên truyền và hướng dẫn người tiêu dùng đánh giá chất lượng và lựa chọn sản phẩm nhựa Việt Nam khi mua hàng. Khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng hệ thống phân phối sản phẩm về các địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
- Tăng cường đầu tư cho công tác điều tra, nghiên cứu, dự báo thị trường và xúc tiến thương mại để có các dữ liệu đầy đủ, chính xác và kịp thời về thị trường, mục tiêu của các doanh nghiệp sản xuất. Từ đó hỗ trợ cho doanh nghiệp trong ngành thu thập, xử lý các thông tin về thị trường thông qua các cổng thông tin điện tử và các phương tiện thông tin khác.
- Tăng cường và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia các chương trình xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm trong nước, các chương trình tuyên truyền quảng cáo để các doanh nghiệp giới thiệu, quảng bá sản phẩm.
- Có chiến lược cụ thể để mở rộng và làm chủ thị trường trong nước. Trước mắt tập trung cho thị trường có sức mua lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và Vùng Đồng bằng sông Cửu Long ….
- Xây dựng các hàng rào kỹ thuật như áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật về chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu, các loại thuế nhập khẩu, kiện chống bán phá giá, đánh thuế môi trường … để bảo vệ nền sản xuất trong nước.
Đối với thị trường xuất khẩu:
- Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại ở nước ngoài, đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường xuất khẩu, bao gồm cả các thị trường truyền thống và các thị trường tiềm năng, tạo cơ sở cho việc phát huy các lợi thế so sánh của ngành Nhựa phù hợp với nhu cầu của các thị trường chủ chốt. Tăng cường tiếp cận với các bạn hàng trực tiếp, giảm dần các khâu trung gian.
- Liên kết chặt chẽ với các hiệp hội nhựa các khu vực, các hiệp hội nhựa các nước trên thế giới qua các kỳ triển lãm, diễn đàn, hội nghị để hợp tác, phát triển thị trường.
- Thiết lập các chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài để bán sản phẩm, nghiên cứu thị trường. Thiết lập hệ thống thông tin trong khu vực và toàn cầu bằng nhiều hình thức (trung tâm thông tin, mạng thông tin máy tính …) để có thể cập nhật thường xuyên và nhanh chóng nhu cầu thị trường trong khu vực và trên thế giới.
- Tổ chức những trung tâm tư vấn đầu tư về đầu tư sản phẩm, kỹ thuật công nghệ có khả năng phân tích tốt và dự báo chính xác các vấn đề mà các nhà sản xuất quan tâm.
Đối với doanh nghiệp:
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác thị trường, thực hiện thương mại điện tử: quảng cáo trên Website, gửi thư tín điện tử (email), giao dịch điện tử ….
- Xây dựng chiến lược thị trường của doanh nghiệp cho từng chủng loại sản phẩm, đảm bảo phù hợp với nội dung các hiệp định, các cam kết quốc tế để tận dụng tối đa ưu thế của Việt Nam đồng thời không vi phạm các cam kết. Đẩy mạnh nghiên cứu đưa ra thị trường sản phẩm mới, đa dạng hóa các sản phẩm và nâng cao chất lượng để tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp.
- Chú trọng xây dựng và phát triển rộng khắp hệ thống đại lý và tiêu thụ sản phẩm, phát huy vai trò của các chi nhánh nhằm tăng tính chủ động trong kinh doanh.
- Các doanh nghiệp chủ động phát hiện những hành vi gian lận và cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường, kết hợp với các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng các biện pháp ngăn chặn. Với hoạt động xuất khẩu, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong nội bộ ngành dẫn đến thiệt hại chung.
Giải pháp xây dựng thương hiệu sản phẩm:
- Các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển thương hiệu sản phẩm của mình dựa trên cơ sở truyền thống, thói quen tiêu dùng của người Việt Nam.
- Có chiến lược phát triển lâu dài đối với các thương hiệu Việt đã nổi tiếng, có uy tín trong nước trên cơ sở mở rộng sản xuất để giữ vững và phát triển thị phần, nâng cao chất lượng sản phẩm, không ngừng cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm, củng cố và phát triển hệ thống tiêu thụ sản phẩm bảo đảm tin cậy, thuận lợi, uy tín với khách hàng.
- Chú trọng xây dựng các tiêu chuẩn sản phẩm như: mã vạch, tem sản phẩm … để chống hàng nhái, hàng gian lận thương mại, hàng nhập lậu.
- Tăng cường giám sát bảo hộ thương hiệu, nhãn mác, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm, đấu tranh chống hàng lậu, hàng kém chất lượng để bảo đảm quyền lợi cho doanh nghiệp và người tiêu dùng.
- Nghiên cứu tổ chức bình chọn và công bố danh hiệu thương hiệu “Nhựa Việt Nam tiêu biểu” hàng năm theo tiêu chí thống nhất để khuyến khích doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu.
Giải pháp về đầu tư
- Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách liên quan đến thu hút FDI theo hướng thông thoáng, hấp dẫn nhưng vẫn đảm bảo tính chặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tế. Tạo điều kiện cho các nhà đầu tư quan tâm đầu tư vào ngành nhựa được tìm hiểu, xúc tiến và ký kết các hợp đồng đầu tư với những điều kiện thuận lợi nhất.
- Ban hành Danh mục những chủng loại sản phẩm nhựa khuyến khích đầu tư nhằm định hướng và tạo thông tin minh bạch cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
- Không cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án đầu tư có công nghệ, thiết bị lạc lậu.
- Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kết hợp đổi mới công nghệ, thiết bị, áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng.
- Nghiên cứu xây dựng chính sách triển khai các giải pháp khuyến khích đầu tư sản xuất các sản phẩm nhựa kỹ thuật cao nhằm thỏa mãn nhu cầu các lĩnh vực công nghệ cao của nền kinh tế quốc dân.
- Nghiên cứu xây dựng chính sách, triển khai các giải pháp phát triển công nghiệp xử lý phế liệu nhựa.
- Định hướng và kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các lĩnh vực công nghệ cao của ngành Nhựa, đạt trình độ tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu.
Giải pháp về quản lý ngành
- Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn sản xuất đối với các sản phẩm nhựa theo thông lệ quốc tế để làm cơ sở cho việc giám sát, kiểm tra các sản phẩm của ngành.
- Xây dựng bộ tiêu chuẩn về an toàn đối với các sản phẩm nhựa gia dụng để đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng.
- Đẩy mạnh hơn nữa vai trò của hiệp hội nhựa trong việc tham mưu cho Bộ Công Thương xây dựng chính sách phát triển ngành và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Tăng cường vai trò của Hiệp hội Nhựa Việt Nam trong các lĩnh vực: nghiên cứu thị trường, xây dựng thương hiệu sản phẩm, xúc tiến đầu tư, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực.
- Thiết lập và duy trì quan hệ tương tác giữa các cơ quan nhà nước với doanh nghiệp và hiệp hội nhựa chặt chẽ và chủ động hơn để tạo lập môi trường thể chế, chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh trong những lĩnh vực phát triển trọng tâm của ngành Nhựa Việt Nam trong từng giai đoạn cụ thể.
- Thành lập trung tâm kiểm định chất lượng sản phẩm với trang thiết bị tiên tiến, đảm bảo kiểm định chất lượng sản phẩm nhựa theo tiêu chuẩn quốc tế, phù hợp với việc hội nhập khu vực và thế giới.
- Nghiên cứu thành lập trung tâm đào tạo, tư vấn kỹ thuật và thông tin tiếp thị chuyên ngành.
Giải pháp về nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và bảo vệ môi trường
- Khuyến khích các doanh nghiệp nhựa đầu tư nghiên cứu khoa học và áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất; mua công nghệ, thiết bị tiên tiến của các nước phát triển, nhận chuyển giao công nghệ của các công ty hàng đầu thế giới để sản xuất các sản phẩm nhựa chất lượng cao, chất phụ gia cho ngành nhựa, các loại nguyên liệu nhựa trong nước còn chưa sản xuất được.
- Khuyến khích các doanh nghiệp thông qua liên doanh, liên kết thực hiện chuyển giao công nghệ sản xuất thiết bị trong nước cho ngành Nhựa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật hiện đại.
- Khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh các hoạt động sáng kiến trong ngành để tạo ra các giải pháp công nghệ, bí quyết sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, tạo ra mặt hàng có giá trị cạnh tranh cao.
- Tăng cường năng lực nghiên cứu cho một số Viện nghiên cứu để có khả năng tập trung nghiên cứu các vấn đề khoa học công nghệ phục vụ ngành Nhựa, nghiên cứu, thiết kế các sản phẩm nhựa phù hợp với nhu cầu nội địa và xuất khẩu.
- Khuyến khích sử dụng và sản xuất nhựa tái sinh, quy định những sản phẩm nào đã qua sử dụng phải được tái sinh, cập nhật những thành tựu của thế giới về các loại vật liệu nhựa mới có khả năng tự phân hủy, các loại nhựa sinh học, nhằm hạn chế tối đa ô nhiễm môi trường như các loại bao bì trên cơ sở tinh bột hoặc màng từ polyninylalcol.
- Khuyến khích tổ chức hệ thống thu gom và đầu tư các cơ sở sản xuất hiện đại chế biến nhựa phế liệu để tăng nguồn nguyên liệu cho ngành nhựa và giảm thiểu vấn đề môi trường.
- Xây dựng các cụm công nghiệp chuyên tái chế phế liệu nhựa để đảm bảo môi trường.
- Xây dựng những quy định cụ thể về môi trường cho việc nhập khẩu nhựa phế liệu và chế biến nhựa phế liệu.
- Xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển công nghệ để hỗ trợ cho các doanh nghiệp đầu tư vào ngành nhựa nhằm đổi mới công nghệ, áp dụng các hình thức quản lý sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm tiên tiến nhằm hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh.
- Thiết lập trung tâm cung cấp thông tin chuyển giao công nghệ, tạo lập và phát triển thị trường khoa học công nghệ; Các chi phí cho các hoạt động tìm kiếm nguồn công nghệ phù hợp nhằm thúc đẩy sản xuất, thay đổi công nghệ được tính vào chi phí thực tế của doanh nghiệp.
Giải pháp về phát triển sản xuất nguyên liệu cho ngành:
- Có chính sách khuyến khích đầu tư sản xuất nguyên liệu nhựa, nhằm thỏa mãn nhu cầu nguyên liệu nhựa trong nước và một phần xuất khẩu.
- Gắn kết sản xuất nguyên liệu nhựa với công nghiệp hóa dầu. Đẩy nhanh tiến độ các dự án lọc hóa dầu tạo ra sản phẩm hóa dầu thượng nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành nhựa.
- Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia sản xuất nguyên liệu nhựa ở Việt Nam trên cơ sở sử dụng nguồn nguyên liệu dầu khí trong nước.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư của ngành hóa dầu, hóa chất và ngành nhựa trong nước liên doanh nhằm tận dụng thế mạnh trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu (dầu khí), khả năng vốn và bao tiêu sản phẩm.
Giải pháp về phát triển khuôn mẫu cho ngành Nhựa:
- Đầu tư thiết bị chế tạo khuôn mẫu để sản xuất các sản phẩm kỹ thuật phục vụ công nghiệp, nông nghiệp nhằm thay thế vật liệu tự nhiên.
- Xây dựng chương trình khoa học công nghệ để tạo ra các sản phẩm khuôn mẫu quốc gia là những sản phẩm đạt trình độ quốc tế và có khả năng xuất khẩu. Chương trình này phải xuất phát từ những sản phẩm có tiềm năng của doanh nghiệp và có sự hợp tác chặt chẽ với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo trong và ngoài nước để hoàn thiện công nghệ, sản phẩm công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh của công nghệ, sản phẩm công nghệ.
- Nghiên cứu, sản xuất, chế tạo những khuôn mẫu từ vật liệu mới, chất lượng cao mà Việt Nam chưa có để thay thế hàng nhập khẩu.
Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực:
- Song song với việc đào tạo tập trung tại các trường chuyên nghiệp, các doanh nghiệp cần có tỷ lệ chi phí thỏa đáng cho đào tạo lại đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật, cần thiết có thể đào tạo ở nước ngoài để sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết bị, công nghệ sản xuất tiên tiến với chất lượng sản phẩm cao và chi phí sản xuất thấp.
- Xây dựng chương trình và kế hoạch đồng bộ mang tầm chiến lược trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và thợ lành nghề. Việc đào tạo phải tiến hành theo phương châm vừa phát triển chiều rộng nhằm đáp ứng yêu cầu trước mắt, nhưng đồng thời cũng vừa phải có kế hoạch đào tạo đội ngũ thợ lành nghề bậc cao để phát triển ngành trong tương lai.
- Tăng cường năng lực đào tạo cho các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề để đào tạo cán bộ quản lý giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề, đáp ứng nhu cầu lao động ngày càng cao của ngành Nhựa.
- Xây dựng Trung tâm bồi dưỡng, đào tạo nghề cho ngành Nhựa. Trung tâm hoạt động có sự tài trợ của các doanh nghiệp, các tổ chức trong và ngoài nước và có nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị có khả năng chuyên môn xây dựng các chương trình đào tạo dài hạn, ngắn hạn, theo chuyên đề để cập nhật kiến thức và phổ biến thông tin mới nhất trong và ngoài nước cho các học viên.