Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 60/2002/QĐ-TTg quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thủ đô Hà Nội 2001-2010

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "13/05/2002", "sign_number": "60/2002/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "13/05/2002", "sign_number": "60/2002/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "13/05/2002", "sign_number": "60/2002/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "13/05/2002", "sign_number": "60/2002/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "13/05/2002", "sign_number": "60/2002/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 60/2002/QĐ-TTg quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thủ đô Hà Nội 2001-2010

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2001- 2010 với những nội dung chủ yếu như sau:
...
4. Những nhiệm vụ chủ yếu phát triển các ngành, lĩnh vực và xây dựng Thủ đô Hà Nội:
4.1. Phát triển, hiện đại hoá các ngành, lĩnh vực dịch vụ then chốt như thương mại, xuất nhập khẩu, du lịch, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thông tin viễn thông, khoa học- công nghệ và các dịch vụ khác phục vụ cho sản xuất, kinh doanh cũng như các mặt hoạt động đa dạng khác của Thủ đô, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước.
Xây dựng Hà Nội trở thành Trung tâm hàng đầu về thương mại, du lịch, tài chính, ngân hàng của phía Bắc, cả nước và của khu vực Đông Nam á.
4.2. Xây dựng Hà Nội thành Trung tâm công nghiệp lớn:
Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có sử dụng công nghệ cao, chú trọng những ngành sản xuất ra các sản phẩm cao cấp, các ngành công nghiệp chủ lực như điện- điện tử - công nghệ thông tin; cơ - kim khí; dệt - may - da giầy; chế biến thực phẩm; vật liệu mới và những ngành sử dụng nhiều lao động . Đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại, trang bị kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Phát triển các khu, cụm công nghiệp bao gồm cả các khu công nghiệp vừa và nhỏ, các làng nghề truyền thống phù hợp với quy hoạch mở rộng thành phố, với toàn vùng; có mối quan hệ phân công - hợp tác với các tỉnh, thành phố lân cận trong tổng thể thống nhất. Từng bước di rời các cơ sở không còn thích hợp ở nội thành ra các khu công nghiệp tập trung, đảm bảo môi trường bền vững.
4.3. Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng chuyển dịch cơ cấu, cao cấp hoá các sản phẩm nông nghiệp đô thị, sinh thái, làng nghề; hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá nông phẩm đặc sản như rau sạch, hoa, cây cảnh, cây ăn quả và chăn nuôi gắn với công nghiệp chế biến, đa dạng sản phẩm nhằm đạt mục tiêu chất lượng, sản phẩm sạch, hiệu quả, môi trường bền vững. Phát triển nông nghiệp đi đôi với xây dựng nông thôn mới ngoại thành, tạo môi trường trong lành cho Hà Nội.
4.4. Phát triển các lĩnh vực văn hoá- xã hội tương xứng với phát triển kinh tế. Xây dựng người Hà Nội vững vàng về chính trị, tư tưởng, có lòng tự hào dân tộc, tâm huyết, trách nhiệm với đất nước, với Thủ đô; có khả năng tiếp thu, làm chủ công nghệ hiện đại, nhanh nhạy, sáng tạo, có năng lực sản xuất kinh doanh; có lối sống văn minh, thanh lịch, hiện đại, tiêu biểu cho con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xây dựng Hà Nội thành một Trung tâm kiểu mẫu về giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá - thông tin, thể dục, thể thao của cả nước.
4.5. Phát triển kết cấu hạ tầng then chốt, đầu tư đi trước một bước, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của Thủ đô và cả nước.
- Cần có các giải pháp hữu hiệu để cải thiện, nâng cấp và hiện đại hoá đồng bộ cơ sở hạ tầng nhằm nhanh chóng khắc phục tình trạng quá tải, bất cập hiện nay; phát triển theo quy hoạch dài hạn ngang tầm trình độ của các đô thị văn minh, tiên tiến trong khu vực và thế giới.
- Đầu tư mở rộng, nâng cấp, hoàn thiện, mở các tuyến đường hướng tâm nối với các quốc lộ xuất phát từ Thủ đô Hà Nội, phát triển hoàn chỉnh các tuyến đường vành đai I, II, III và có kế hoạch xây dựng vành đai IV; xây dựng hoàn chỉnh, xử lý triệt để các nút giao thông nội thành, cửa ô, xây dựng hoàn chỉnh hệ thống giao thông tĩnh, cải tạo cầu Long Biên, xây mới 2 cầu qua sông Hồng. Nâng cấp và bổ sung hệ thống giao thông đô thị và nông thôn, tập trung đầu tư phát triển giao thông công cộng chủ yếu bằng phương tiện xe buýt, xe điện; giải quyết hệ thống các phương tiện giao thông gây ra ách tắc, ô nhiễm môi trường, đảm bảo giao thông thuận lợi của Hà Nội, giữa Hà Nội với các tỉnh phía Bắc, với cả nước và giao thông xuyên á.
- Xây dựng thêm các trạm truyền tải 500 KV, 200 KV, 110 KV, ngầm hoá mạng lưới điện trung thế; bỏ dần cấp điện áp 35 KV, 10 KV, 6 KV, chỉ còn một cấp 22 KV/ 0,4 KV. Xây dựng trung tâm điều độ lưới điện Thành phố, tổng đài báo sửa chữa điện.
- Đầu tư phát triển mạng viễn thông hiện đại ngang tầm quốc tế, sử dụng công nghệ hiện đại, tăng dung lượng các tổng đài hiện có. Cải tạo, xây mới hệ thống cống bể, cáp đồng và cáp quang hoá mạng truyền dẫn nội thành; đầu tư cơ giới hoá, tự động hoá mạng lưới bưu chính.
- Duy tu, bảo dưỡng, cải tạo, nâng cấp, mở rộng các nhà máy nước hiện có, hoàn chỉnh mạng đường cấp nước. Xây dựng nhà máy nước Bắc Thăng Long, nhà máy sử dụng nguồn nước mặt, 60 trạm cấp nước nông thôn, mở rộng diện cấp nước cho toàn Thành phố; đầu tư cải tạo và lắp đặt mới hệ thống đường ống truyền dẫn, mạng lưới phân phối và mạng dẫn nước sạch, hợp vệ sinh tới hộ gia đình. Giảm tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch dưới 30%, đạt tiêu chuẩn cấp nước 170 lít/ người/ ngày vào năm 2010.
- Đến năm 2005 giải quyết cơ bản tình trạng úng ngập. Chú trọng cải tạo các sông, mương thoát nước, các hồ điều hoà, các trạm bơm thoát nước; cải tạo và xây dựng mới các công trình thoát nước và xử lý nước thải tập trung cho các khu vực còn thiếu và yếu của Thành phố, phối hợp có hiệu quả việc xử lý nước thải của Thành phố với các tỉnh lân cận trong vùng.
- Phấn đấu đạt 8m2 nhà ở/ người vào năm 2010. Giải quyết cơ bản những trường hợp nhà ở dưới 3m2/ người, giảm dần các khu nhà hư hỏng, nguy hiểm trong nội thành và ven đô. Thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm cơ hội tạo lập nơi ở và quyền có nhà trong các tầng lớp dân cư, chú trọng các đối tượng chính sách, người có thu nhập thấp.
- Phấn đấu đến năm 2005, đạt bình quân 5,0 đến 5,5 m2 cây xanh/ người; năm 2010 đạt 7,0 đến 7,5 m2/ người.
4.6. Củng cố, phát huy vai trò và tác dụng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng. Đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp Nhà nước, thúc đẩy nền cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi, hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hình thức kinh tế hợp tác và hợp tác xã; tiếp tục đổi mới quản lý, ứng dụng công nghệ mới, mở rộng thị trường; nâng cao quyền tự chủ của các doanh nghiệp trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật.
4.7. Tăng cường quốc phòng an ninh, đảm bảo ổn định vững chắc về chính trị và trật tự an toàn xã hội của Thủ đô trong mọi tình huống; phục vụ có hiệu quả các hoạt động của Đảng, Nhà nước và hoạt động đối ngoại. Kết hợp chặt chẽ chiến lược, các chương trình bảo vệ quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội với các chương trình phát triển kinh tế- xã hội .

Content:
Những nhiệm vụ chủ yếu phát triển các ngành, lĩnh vực và xây dựng Thủ đô Hà Nội:
4.1. Phát triển, hiện đại hoá các ngành, lĩnh vực dịch vụ then chốt như thương mại, xuất nhập khẩu, du lịch, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thông tin viễn thông, khoa học- công nghệ và các dịch vụ khác phục vụ cho sản xuất, kinh doanh cũng như các mặt hoạt động đa dạng khác của Thủ đô, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước.
Xây dựng Hà Nội trở thành Trung tâm hàng đầu về thương mại, du lịch, tài chính, ngân hàng của phía Bắc, cả nước và của khu vực Đông Nam á.
4.2. Xây dựng Hà Nội thành Trung tâm công nghiệp lớn:
Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có sử dụng công nghệ cao, chú trọng những ngành sản xuất ra các sản phẩm cao cấp, các ngành công nghiệp chủ lực như điện- điện tử - công nghệ thông tin; cơ - kim khí; dệt - may - da giầy; chế biến thực phẩm; vật liệu mới và những ngành sử dụng nhiều lao động . Đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại, trang bị kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Phát triển các khu, cụm công nghiệp bao gồm cả các khu công nghiệp vừa và nhỏ, các làng nghề truyền thống phù hợp với quy hoạch mở rộng thành phố, với toàn vùng; có mối quan hệ phân công - hợp tác với các tỉnh, thành phố lân cận trong tổng thể thống nhất. Từng bước di rời các cơ sở không còn thích hợp ở nội thành ra các khu công nghiệp tập trung, đảm bảo môi trường bền vững.
4.3. Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng chuyển dịch cơ cấu, cao cấp hoá các sản phẩm nông nghiệp đô thị, sinh thái, làng nghề; hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá nông phẩm đặc sản như rau sạch, hoa, cây cảnh, cây ăn quả và chăn nuôi gắn với công nghiệp chế biến, đa dạng sản phẩm nhằm đạt mục tiêu chất lượng, sản phẩm sạch, hiệu quả, môi trường bền vững. Phát triển nông nghiệp đi đôi với xây dựng nông thôn mới ngoại thành, tạo môi trường trong lành cho Hà Nội.
4.Phát triển các lĩnh vực văn hoá- xã hội tương xứng với phát triển kinh tế. Xây dựng người Hà Nội vững vàng về chính trị, tư tưởng, có lòng tự hào dân tộc, tâm huyết, trách nhiệm với đất nước, với Thủ đô; có khả năng tiếp thu, làm chủ công nghệ hiện đại, nhanh nhạy, sáng tạo, có năng lực sản xuất kinh doanh; có lối sống văn minh, thanh lịch, hiện đại, tiêu biểu cho con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xây dựng Hà Nội thành một Trung tâm kiểu mẫu về giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá - thông tin, thể dục, thể thao của cả nước.
4.5. Phát triển kết cấu hạ tầng then chốt, đầu tư đi trước một bước, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của Thủ đô và cả nước.
- Cần có các giải pháp hữu hiệu để cải thiện, nâng cấp và hiện đại hoá đồng bộ cơ sở hạ tầng nhằm nhanh chóng khắc phục tình trạng quá tải, bất cập hiện nay; phát triển theo quy hoạch dài hạn ngang tầm trình độ của các đô thị văn minh, tiên tiến trong khu vực và thế giới.
- Đầu tư mở rộng, nâng cấp, hoàn thiện, mở các tuyến đường hướng tâm nối với các quốc lộ xuất phát từ Thủ đô Hà Nội, phát triển hoàn chỉnh các tuyến đường vành đai I, II, III và có kế hoạch xây dựng vành đai IV; xây dựng hoàn chỉnh, xử lý triệt để các nút giao thông nội thành, cửa ô, xây dựng hoàn chỉnh hệ thống giao thông tĩnh, cải tạo cầu Long Biên, xây mới 2 cầu qua sông Hồng. Nâng cấp và bổ sung hệ thống giao thông đô thị và nông thôn, tập trung đầu tư phát triển giao thông công cộng chủ yếu bằng phương tiện xe buýt, xe điện; giải quyết hệ thống các phương tiện giao thông gây ra ách tắc, ô nhiễm môi trường, đảm bảo giao thông thuận lợi của Hà Nội, giữa Hà Nội với các tỉnh phía Bắc, với cả nước và giao thông xuyên á.
- Xây dựng thêm các trạm truyền tải 500 KV, 200 KV, 110 KV, ngầm hoá mạng lưới điện trung thế; bỏ dần cấp điện áp 35 KV, 10 KV, 6 KV, chỉ còn một cấp 22 KV/ 0,4 KV. Xây dựng trung tâm điều độ lưới điện Thành phố, tổng đài báo sửa chữa điện.
- Đầu tư phát triển mạng viễn thông hiện đại ngang tầm quốc tế, sử dụng công nghệ hiện đại, tăng dung lượng các tổng đài hiện có. Cải tạo, xây mới hệ thống cống bể, cáp đồng và cáp quang hoá mạng truyền dẫn nội thành; đầu tư cơ giới hoá, tự động hoá mạng lưới bưu chính.
- Duy tu, bảo dưỡng, cải tạo, nâng cấp, mở rộng các nhà máy nước hiện có, hoàn chỉnh mạng đường cấp nước. Xây dựng nhà máy nước Bắc Thăng Long, nhà máy sử dụng nguồn nước mặt, 60 trạm cấp nước nông thôn, mở rộng diện cấp nước cho toàn Thành phố; đầu tư cải tạo và lắp đặt mới hệ thống đường ống truyền dẫn, mạng lưới phân phối và mạng dẫn nước sạch, hợp vệ sinh tới hộ gia đình. Giảm tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch dưới 30%, đạt tiêu chuẩn cấp nước 170 lít/ người/ ngày vào năm 2010.
- Đến năm 2005 giải quyết cơ bản tình trạng úng ngập. Chú trọng cải tạo các sông, mương thoát nước, các hồ điều hoà, các trạm bơm thoát nước; cải tạo và xây dựng mới các công trình thoát nước và xử lý nước thải tập trung cho các khu vực còn thiếu và yếu của Thành phố, phối hợp có hiệu quả việc xử lý nước thải của Thành phố với các tỉnh lân cận trong vùng.
- Phấn đấu đạt 8m2 nhà ở/ người vào năm 2010. Giải quyết cơ bản những trường hợp nhà ở dưới 3m2/ người, giảm dần các khu nhà hư hỏng, nguy hiểm trong nội thành và ven đô. Thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm cơ hội tạo lập nơi ở và quyền có nhà trong các tầng lớp dân cư, chú trọng các đối tượng chính sách, người có thu nhập thấp.
- Phấn đấu đến năm 2005, đạt bình quân 5,0 đến 5,5 m2 cây xanh/ người; năm 2010 đạt 7,0 đến 7,5 m2/ người.
4.6. Củng cố, phát huy vai trò và tác dụng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng. Đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp Nhà nước, thúc đẩy nền cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi, hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hình thức kinh tế hợp tác và hợp tác xã; tiếp tục đổi mới quản lý, ứng dụng công nghệ mới, mở rộng thị trường; nâng cao quyền tự chủ của các doanh nghiệp trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật.
4.7. Tăng cường quốc phòng an ninh, đảm bảo ổn định vững chắc về chính trị và trật tự an toàn xã hội của Thủ đô trong mọi tình huống; phục vụ có hiệu quả các hoạt động của Đảng, Nhà nước và hoạt động đối ngoại. Kết hợp chặt chẽ chiến lược, các chương trình bảo vệ quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội với các chương trình phát triển kinh tế- xã hội .