Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 316/QĐ-UBND Xây dựng huyện đảo Lý Sơn kinh tế vững chắc quốc phòng an ninh Quảng Ngãi 2015

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "24/09/2015", "sign_number": "316/QĐ-UBND", "signer": "Lê Viết Chữ", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "24/09/2015", "sign_number": "316/QĐ-UBND", "signer": "Lê Viết Chữ", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "24/09/2015", "sign_number": "316/QĐ-UBND", "signer": "Lê Viết Chữ", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "24/09/2015", "sign_number": "316/QĐ-UBND", "signer": "Lê Viết Chữ", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "24/09/2015", "sign_number": "316/QĐ-UBND", "signer": "Lê Viết Chữ", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 316/QĐ-UBND Xây dựng huyện đảo Lý Sơn kinh tế vững chắc quốc phòng an ninh Quảng Ngãi 2015

Điều 1. :
...
3. Một số mục tiêu chủ yếu
a) Về phát triển kinh tế
- Đến năm 2015, tổng giá trị sản xuất đạt 900,63 tỷ đồng (giá CĐ 1994), tăng 17,7% so với 2014. Trong đó, giá trị sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 330,84 tỷ đồng, tăng 8,5%; công nghiệp – xây dựng đạt 73,44 tỷ đồng, tăng 24,62%; dịch vụ đạt 496,35 tỷ đồng, tăng 23,61%. Riêng thủy sản đạt 298,545 tỷ đồng, tăng 7,8%; nông nghiệp đạt 32,29 tỷ đồng, tăng 15,4% so với năm 2014.
Cơ cấu kinh tế năm 2015 (tính theo giá hiện hành) như sau: Nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 63,89%; công nghiệp – xây dựng chiếm 10,03%; dịch vụ chiếm 26,08%, trong đó: Thủy sản 51,65%, nông nghiệp 12,24% so với toàn nền kinh tế.
Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 21,0 triệu đồng/người/năm.
- Giai đoạn 2016 – 2020, tổng giá trị sản xuất tăng bình quân 10%/năm, trong đó: giá trị sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân là 4,31% (thủy sản tăng 3,34%/năm, nông nghiệp tăng 2,85%/năm); công nghiệp – xây dựng tăng 22,31%/năm; dịch vụ tăng 23,31%/năm. Đến năm 2020, tổng giá trị sản xuất đạt 2.101.35 tỷ đồng (giá CĐ 2010). Trong đó, Nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 1.133,01 tỷ đồng; công nghiệp – xây dựng đạt 222,63 tỷ đồng; dịch vụ đạt 847,71 tỷ đồng.
Cơ cấu kinh tế năm 2020 như sau: Nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 51%; công nghiệp – xây dựng chiếm 13%; dịch vụ chiếm 36%. Trong đó: Thủy sản 40,86%, nông nghiệp 10,13% so với toàn nền kinh tế.
Thu nhập bình quân đầu người năm 2020 đạt 38 triệu đồng/người/năm.
b) Về xã hội
- Đến năm 2015, lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản còn khoảng 65-70%. Chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp. Phấn đấu 1 - 2 trường đạt chuẩn quốc gia. Hạ tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 20%. Tỷ lệ hộ nghèo còn 14,31%.
- Giai đoạn 2016-2020: Giải quyết việc làm bình quân hàng năm khoảng 400 - 500 lao động; đến năm 2020 lao động trong khu vực nông nghiệp, thủy sản còn khoảng 55%. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/năm.
Đến năm 2020 hoàn thiện mạng lưới trường học từ Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT và các trung tâm học tập cộng đồng; có 100% số trường được kiên cố hóa và mỗi cấp có ít nhất 50% số trường đạt chuẩn quốc gia. Hạ tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 15%. 03/03 xã có trạm y tế và có bác sỹ; có 08 bác sĩ/vạn dân.
c) Về bảo vệ môi trường
- Đến năm 2015, có 75 - 90% chất thải được thu gom và xử lý; đến năm 2020 có 95% rác thải, chất thải rắn trong sản xuất và sinh hoạt được thu gom và xử lý bằng công nghệ phù hợp.
- Phấn đấu xây dựng 01 trạm quan trắc về môi trường; 100% hộ gia đình trong khu dân cư của huyện thực hiện nội quy, cam kết bảo vệ môi trường, tài nguyên.
- Xây dựng, bảo vệ và phát triển khu bảo tồn biển Lý Sơn. Bảo tồn và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn và tôn tạo.
- Phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn nói riêng và kết cấu hạ tầng nói chung của huyện đảm bảo yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
- Phát triển diện tích đất trồng rừng, cây chắn sóng, cây bóng mát, cây lâm nghiệp. Phát triển kinh tế kết hợp chặt chẽ với khai thác tài nguyên thiên nhiên hợp lý, khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững và cảnh quan cho phát triển du lịch.
d) Về Quốc phòng - An ninh
- Đến năm 2015, có 2/3 xã vững mạnh toàn diện về an ninh quốc phòng, 1/3 xã vững mạnh về an ninh quốc phòng và đến năm 2020 có 3/3 xã, thị trấn vững mạnh toàn diện về quốc phòng an ninh, xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ.
- Đạt 100% chỉ tiêu về tuyển quân hàng năm.
VI. Định hướng phát triển các ngành kinh tế
1. Ngành thủy sản
- Xác định thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện. Huy động mọi nguồn lực để đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng ngành thuỷ sản. Đổi mới phương thức tổ chức, công nghệ đánh bắt và hình thành đội ngũ lao động thủy sản có tay nghề cao; đội ngũ cán bộ quản lý được đào tạo, học tập các mô hình phát triển thủy sản tiên tiến.
- Phát triển số lượng tàu thuyền theo hướng nâng cao công suất gắn với đầu tư trang thiết bị hiện đại. Đưa công tác quản lý tàu thuyền đi vào nề nếp; đầu tư và nâng cấp hạ tầng kỹ thuật hệ thống thông tin phòng chống thiên tai trên biển, kịp thời cập nhật, thông tin cho các tàu thuyền khi có diễn biến thời tiết bất thường; tổ chức đào tạo, tập huấn vận hành phương tiện khai thác đúng chuẩn, đặc biệt đối với tàu vỏ thép, tàu vỏ vật liệu mới; hướng dẫn kỹ thuật khai thác, bảo quản sản phẩm theo công nghệ mới; đảm bảo an toàn cho người và phương tiện trên biển. Triển khai kịp thời, nhanh chóng các chính sách hỗ trợ của Chính phủ tại Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ quy định một số chính sách phát triển thủy sản.
Quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc nuôi trồng, chế biến, vận chuyển thủy sản, chú trọng nuôi trồng các sản phẩm đặc sản có giá trị cao. Nghiên cứu, ứng dụng các mô hình nuôi trồng tôm hùm, hàu, cá... ; đẩy mạnh công tác khuyến ngư, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để tăng năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm.
Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành dự án Vũng neo đậu tàu thuyền đảo Lý Sơn giai đoạn II trước năm 2017 nhằm phục vụ neo đậu, tránh, trú cho tàu thuyền của ngư dân. Hiện đại hóa cảng cá Lý Sơn; đầu tư xây dựng cảng Bến Đình phục vụ vận chuyển hàng hóa, hành khách và hạ tầng Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá, thu hút các doanh nghiệp đầu tư các dự án chế biến thủy sản với công nghệ tiên tiến, định hướng xuất khẩu một số sản phẩm có giá trị cao. Đầu tư và tổ chức tốt các dịch vụ trên biển (cung cấp nước ngọt, nước đá, thực phẩm, xăng dầu, cung cấp phụ tùng sửa chữa tàu và thu mua sản phẩm); có chính sách ưu đãi hợp lý để kêu gọi đầu tư các dự án chế biến thủy sản với công nghệ tiên tiến, giá trị sản xuất cao.
2. Ngành nông nghiệp
Quy hoạch và phát triển ngành nông nghiệp toàn diện theo hướng tạo ra giá trị gia tăng cao, bền vững và bảo vệ môi trường. Ổn định diện tích cây hành, tỏi theo hướng sản xuất hàng hóa. Chú trọng áp dụng các công nghệ tiên tiến trong các khâu sản xuất, thu hoạch, bảo quản và chế biến để xây dựng thương hiệu bền vững cho cây hành, tỏi, đồng thời tích cực quảng bá sản phẩm hành tỏi của Lý Sơn trên thị trường trong nước cũng như quốc tế. Giảm dần chăn nuôi gia súc, gia cầm ở hộ gia đình, tận dụng không gian phát triển nuôi các con đặc sản có giá trị kinh tế cao.
Tăng cường công tác nghiên cứu tìm biện pháp thâm canh cây hành, tỏi trên cơ sở ứng dụng công nghệ sinh học trong các khâu giống, làm đất, tưới tiêu và bảo quản, thay thế dần kỹ thuật canh tác truyền thống để vừa đảm bảo được năng suất chất lượng của cây hành, tỏi không ngừng tăng lên, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học tạo các sản phẩm có giá trị gia tăng cao như chế biến tỏi đen, rượu tỏi,… Có chiến lược xây dựng chỉ dẫn địa lý Tỏi Lý Sơn, trong quá trình hoạch định, quy hoạch, xây dựng hình ảnh của Lý Sơn. Tuyên truyền nhân dân hạn chế dần việc chăn nuôi bò, lợn, gia cầm trong hộ gia đình để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
3. Ngành lâm nghiệp
Định hướng phát triển huyện Lý Sơn trở thành đảo xanh. Quy hoạch và phân bổ diện tích đất trồng cây chắn sóng, cây bóng mát, cây lâm nghiệp hợp lý; xây dựng quy trình trồng, chăm sóc rừng trồng phù hợp với điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng của huyện đảo.
Đẩy nhanh tiến độ dự án trồng 130 ha cây xanh, trong đó có 118 ha rừng và cây cảnh quan trên huyện đảo bằng nguồn vốn của Trung ương. Tiếp tục triển khai trồng thêm 106 ha đồi trọc, phấn đấu đến năm 2020 độ che phủ rừng đạt khoảng 26,5% diện tích đảo. Huy động vốn từ nguồn ngân sách nhà nước, vận động tài trợ vốn của các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân vào “Dự án xây dựng đảo xanh”.

Content:
Một số mục tiêu chủ yếu
a) Về phát triển kinh tế
- Đến năm 2015, tổng giá trị sản xuất đạt 900,63 tỷ đồng (giá CĐ 1994), tăng 17,7% so với 2014. Trong đó, giá trị sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 330,84 tỷ đồng, tăng 8,5%; công nghiệp – xây dựng đạt 73,44 tỷ đồng, tăng 24,62%; dịch vụ đạt 496,35 tỷ đồng, tăng 23,61%. Riêng thủy sản đạt 298,545 tỷ đồng, tăng 7,8%; nông nghiệp đạt 32,29 tỷ đồng, tăng 15,4% so với năm 2014.
Cơ cấu kinh tế năm 2015 (tính theo giá hiện hành) như sau: Nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 63,89%; công nghiệp – xây dựng chiếm 10,03%; dịch vụ chiếm 26,08%, trong đó: Thủy sản 51,65%, nông nghiệp 12,24% so với toàn nền kinh tế.
Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 21,0 triệu đồng/người/năm.
- Giai đoạn 2016 – 2020, tổng giá trị sản xuất tăng bình quân 10%/năm, trong đó: giá trị sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân là 4,31% (thủy sản tăng 3,34%/năm, nông nghiệp tăng 2,85%/năm); công nghiệp – xây dựng tăng 22,31%/năm; dịch vụ tăng 23,31%/năm. Đến năm 2020, tổng giá trị sản xuất đạt 2.101.35 tỷ đồng (giá CĐ 2010). Trong đó, Nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 1.133,01 tỷ đồng; công nghiệp – xây dựng đạt 222,63 tỷ đồng; dịch vụ đạt 847,71 tỷ đồng.
Cơ cấu kinh tế năm 2020 như sau: Nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 51%; công nghiệp – xây dựng chiếm 13%; dịch vụ chiếm 36%. Trong đó: Thủy sản 40,86%, nông nghiệp 10,13% so với toàn nền kinh tế.
Thu nhập bình quân đầu người năm 2020 đạt 38 triệu đồng/người/năm.
b) Về xã hội
- Đến năm 2015, lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản còn khoảng 65-70%. Chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp. Phấn đấu 1 - 2 trường đạt chuẩn quốc gia. Hạ tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 20%. Tỷ lệ hộ nghèo còn 14,31%.
- Giai đoạn 2016-2020: Giải quyết việc làm bình quân hàng năm khoảng 400 - 500 lao động; đến năm 2020 lao động trong khu vực nông nghiệp, thủy sản còn khoảng 55%. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/năm.
Đến năm 2020 hoàn thiện mạng lưới trường học từ Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT và các trung tâm học tập cộng đồng; có 100% số trường được kiên cố hóa và mỗi cấp có ít nhất 50% số trường đạt chuẩn quốc gia. Hạ tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 15%. 03/03 xã có trạm y tế và có bác sỹ; có 08 bác sĩ/vạn dân.
c) Về bảo vệ môi trường
- Đến năm 2015, có 75 - 90% chất thải được thu gom và xử lý; đến năm 2020 có 95% rác thải, chất thải rắn trong sản xuất và sinh hoạt được thu gom và xử lý bằng công nghệ phù hợp.
- Phấn đấu xây dựng 01 trạm quan trắc về môi trường; 100% hộ gia đình trong khu dân cư của huyện thực hiện nội quy, cam kết bảo vệ môi trường, tài nguyên.
- Xây dựng, bảo vệ và phát triển khu bảo tồn biển Lý Sơn. Bảo tồn và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn và tôn tạo.
- Phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn nói riêng và kết cấu hạ tầng nói chung của huyện đảm bảo yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
- Phát triển diện tích đất trồng rừng, cây chắn sóng, cây bóng mát, cây lâm nghiệp. Phát triển kinh tế kết hợp chặt chẽ với khai thác tài nguyên thiên nhiên hợp lý, khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững và cảnh quan cho phát triển du lịch.
d) Về Quốc phòng - An ninh
- Đến năm 2015, có 2/3 xã vững mạnh toàn diện về an ninh quốc phòng, 1/3 xã vững mạnh về an ninh quốc phòng và đến năm 2020 có 3/3 xã, thị trấn vững mạnh toàn diện về quốc phòng an ninh, xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ.
- Đạt 100% chỉ tiêu về tuyển quân hàng năm.
VI. Định hướng phát triển các ngành kinh tế
1. Ngành thủy sản
- Xác định thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện. Huy động mọi nguồn lực để đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng ngành thuỷ sản. Đổi mới phương thức tổ chức, công nghệ đánh bắt và hình thành đội ngũ lao động thủy sản có tay nghề cao; đội ngũ cán bộ quản lý được đào tạo, học tập các mô hình phát triển thủy sản tiên tiến.
- Phát triển số lượng tàu thuyền theo hướng nâng cao công suất gắn với đầu tư trang thiết bị hiện đại. Đưa công tác quản lý tàu thuyền đi vào nề nếp; đầu tư và nâng cấp hạ tầng kỹ thuật hệ thống thông tin phòng chống thiên tai trên biển, kịp thời cập nhật, thông tin cho các tàu thuyền khi có diễn biến thời tiết bất thường; tổ chức đào tạo, tập huấn vận hành phương tiện khai thác đúng chuẩn, đặc biệt đối với tàu vỏ thép, tàu vỏ vật liệu mới; hướng dẫn kỹ thuật khai thác, bảo quản sản phẩm theo công nghệ mới; đảm bảo an toàn cho người và phương tiện trên biển. Triển khai kịp thời, nhanh chóng các chính sách hỗ trợ của Chính phủ tại Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ quy định một số chính sách phát triển thủy sản.
Quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc nuôi trồng, chế biến, vận chuyển thủy sản, chú trọng nuôi trồng các sản phẩm đặc sản có giá trị cao. Nghiên cứu, ứng dụng các mô hình nuôi trồng tôm hùm, hàu, cá... ; đẩy mạnh công tác khuyến ngư, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để tăng năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm.
Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành dự án Vũng neo đậu tàu thuyền đảo Lý Sơn giai đoạn II trước năm 2017 nhằm phục vụ neo đậu, tránh, trú cho tàu thuyền của ngư dân. Hiện đại hóa cảng cá Lý Sơn; đầu tư xây dựng cảng Bến Đình phục vụ vận chuyển hàng hóa, hành khách và hạ tầng Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá, thu hút các doanh nghiệp đầu tư các dự án chế biến thủy sản với công nghệ tiên tiến, định hướng xuất khẩu một số sản phẩm có giá trị cao. Đầu tư và tổ chức tốt các dịch vụ trên biển (cung cấp nước ngọt, nước đá, thực phẩm, xăng dầu, cung cấp phụ tùng sửa chữa tàu và thu mua sản phẩm); có chính sách ưu đãi hợp lý để kêu gọi đầu tư các dự án chế biến thủy sản với công nghệ tiên tiến, giá trị sản xuất cao.
2. Ngành nông nghiệp
Quy hoạch và phát triển ngành nông nghiệp toàn diện theo hướng tạo ra giá trị gia tăng cao, bền vững và bảo vệ môi trường. Ổn định diện tích cây hành, tỏi theo hướng sản xuất hàng hóa. Chú trọng áp dụng các công nghệ tiên tiến trong các khâu sản xuất, thu hoạch, bảo quản và chế biến để xây dựng thương hiệu bền vững cho cây hành, tỏi, đồng thời tích cực quảng bá sản phẩm hành tỏi của Lý Sơn trên thị trường trong nước cũng như quốc tế. Giảm dần chăn nuôi gia súc, gia cầm ở hộ gia đình, tận dụng không gian phát triển nuôi các con đặc sản có giá trị kinh tế cao.
Tăng cường công tác nghiên cứu tìm biện pháp thâm canh cây hành, tỏi trên cơ sở ứng dụng công nghệ sinh học trong các khâu giống, làm đất, tưới tiêu và bảo quản, thay thế dần kỹ thuật canh tác truyền thống để vừa đảm bảo được năng suất chất lượng của cây hành, tỏi không ngừng tăng lên, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học tạo các sản phẩm có giá trị gia tăng cao như chế biến tỏi đen, rượu tỏi,… Có chiến lược xây dựng chỉ dẫn địa lý Tỏi Lý Sơn, trong quá trình hoạch định, quy hoạch, xây dựng hình ảnh của Lý Sơn. Tuyên truyền nhân dân hạn chế dần việc chăn nuôi bò, lợn, gia cầm trong hộ gia đình để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Ngành lâm nghiệp
Định hướng phát triển huyện Lý Sơn trở thành đảo xanh. Quy hoạch và phân bổ diện tích đất trồng cây chắn sóng, cây bóng mát, cây lâm nghiệp hợp lý; xây dựng quy trình trồng, chăm sóc rừng trồng phù hợp với điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng của huyện đảo.
Đẩy nhanh tiến độ dự án trồng 130 ha cây xanh, trong đó có 118 ha rừng và cây cảnh quan trên huyện đảo bằng nguồn vốn của Trung ương. Tiếp tục triển khai trồng thêm 106 ha đồi trọc, phấn đấu đến năm 2020 độ che phủ rừng đạt khoảng 26,5% diện tích đảo. Huy động vốn từ nguồn ngân sách nhà nước, vận động tài trợ vốn của các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân vào “Dự án xây dựng đảo xanh”.