Document: Điều 1 Quyết định 32/2007/QĐ-UBND sửa đổi và bãi bỏ quy chế đấu giá

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "23/08/2007", "sign_number": "32/2007/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "23/08/2007", "sign_number": "32/2007/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "23/08/2007", "sign_number": "32/2007/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "23/08/2007", "sign_number": "32/2007/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "23/08/2007", "sign_number": "32/2007/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 32/2007/QĐ-UBND sửa đổi và bãi bỏ quy chế đấu giá có nội dung như sau:

Điều 1. Nay sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều của Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ban hành kèm theo Quyết định số 17/2007/QĐ-UBND ngày 27/6/2007 của UBND tỉnh Quảng Nam, với một số nội dung chính như sau:
1. Bổ sung điểm 1.2, khoản 1, Điều 3 như sau:
“1.2. Phương án, kế hoạch đấu giá đất và giá khởi điểm: đối với các dự án đất phân lô làm nhà ở (cho hộ gia đình, cá nhân) do các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức phát triển quỹ đất của nhà nước hoặc doanh nghiệp được UBND tỉnh giao làm Chủ đầu tư và các dự án khai thác quỹ đất để tạo vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng có diện tích đất trên 1.500m2 do UBND huyện, thị xã, thành phố (gọi tắt là UBND cấp huyện) làm Chủ đầu tư”.
2. Bổ sung điểm 2.2, khoản 2, Điều 6 như sau:
2.2. Hội đồng đấu giá đất cấp huyện do UBND cấp huyện quyết định thành lập, với thành phần:
- Đại diện UBND cấp huyện: Chủ tịch Hội đồng.
- Lãnh đạo Ban quản lý dự án: Phó Chủ tịch Thường trực.
- Các thành viên là đại diện lãnh đạo các phòng: Tài chính - Kế hoạch, Tài nguyên và Môi trường, Quản lý đô thị (nếu có), Chi cục thuế, đại diện UBND xã, phường, thị trấn (nơi thực hiện dự án).
Trường hợp các huyện, thị, thành phố không có Ban Quản lý dự án (Ban quản lý các dự án khai thác quỹ đất, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng) thì Phó Chủ tịch Hội đồng đấu giá đất là lãnh đạo phòng Tài chính - Kế hoạch (hoặc lãnh đạo đơn vị có liên quan do UBND cấp huyện quyết định)
3. Sửa đổi điểm 2.3, khoản 2, Điều 6 thành khoản 3, Điều 6 và bổ sung khoản 3, Điều 6 như sau:
“3. Tùy theo từng loại đất tổ chức đấu giá, UBND cấp huyện mời các đơn vị có liên quan tham gia thành viên Hội đồng. Chủ tịch Hội đồng đấu giá đất quyết định thành lập Tổ công tác giúp việc (nếu thấy cần thiết). Hội đồng đấu giá đất được phép sử dụng con dấu và tài khoản của đơn vị được giao làm Chủ tịch Hội đồng để quan hệ giao dịch. Trường hợp Chủ tịch Hội đồng đấu giá đất uỷ quyền bằng văn bản cho Phó Chủ tịch Hội đồng trực tiếp chỉ đạo, điều hành trong việc tổ chức bán đấu giá quyền sử dụng đất, thì Hội đồng đấu giá đất được phép sử dụng con dấu và tài khoản của đơn vị được giao làm Phó Chủ tịch Hội đồng để quan hệ giao dịch.”
4. Bổ sung và sửa đổi điểm 4.2, khoản 4, Điều 9 như sau:
“4.2. Trường hợp người trả giá cao nhất từ chối không nhận quyền sử dụng đất hoặc rút lại giá đã trả thì người trả giá cao liền kề được Hội đồng đấu giá xem xét phê duyệt trúng giá bổ sung, nhưng với điều kiện chênh lệch giữa hai mức giá của người trả giá cao nhất và người trả giá liền kề phải thấp hơn ít nhất bằng 1/3 tiền đặt cọc (tiền đặt trước, tiền bảo lãnh). Nếu người trúng đấu giá đất bổ sung từ chối nhận quyền sử dụng đất thì Hội đồng đấu giá đất ra văn bản hủy bỏ kết quả trúng đấu giá và xem xét tổ chức đấu giá lại vào một thời điểm khác. Giá khởi điểm được xác định để đấu giá là giá của người trả giá cao liền kề với người đã trúng đấu giá nhưng từ chối nhận quyền sử dụng đất”.
5. Bãi bỏ toàn bộ nội dung tại khoản 3, Điều 11.
6. Bổ sung khoản 3 và khoản 4 vào Điều 16 như sau:
“3. Những dự án sử dụng quỹ đất để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thực hiện theo Quyết định số 85/2004/QĐ-UB ngày 03/11/2004 của UBND tỉnh về việc ban hành cơ chế tài chính thực hiện dự án sử dụng quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt kết quả trúng đấu giá đất hoặc trúng thầu xây dựng công trình, được thanh toán bằng quỹ đất đang thực hiện dỡ dang, thì tiếp tục thực hiện theo quyết định đó”.
“4. Những dự án sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng kết cấu hạ tầng đã phê duyệt, nhưng chưa triển khai thực hiện, thì nay thực hiện theo Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ban hành theo Quyết định số 17/2007/QĐ-UBND ngày 27/6/2007 của UBND tỉnh, theo một trong các hình thức sau thức sau”:
4.1. Đấu giá quyền sử dụng đất tạo nguồn vốn bằng tiền để sử dụng trực tiếp cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, được thực hiện theo nguyên tắc sau: đấu giá quyền sử dụng đất và đấu thầu xây dựng công trình được tiến hành độc lập.
4.2. Đấu thầu xây dựng công trình và đấu giá quyền sử dụng đất để tạo vốn xây dựng công trình trong một gói thầu, được thực hiện theo nguyên tắc sau: xây dựng thang điểm để chấm thầu xây dựng công trình và thang điểm để chấm đấu giá quyền sử dụng đất được xây dựng riêng.

Content:
Điều 1. Nay sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều của Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ban hành kèm theo Quyết định số 17/2007/QĐ-UBND ngày 27/6/2007 của UBND tỉnh Quảng Nam, với một số nội dung chính như sau:
1. Bổ sung điểm 1.2, khoản 1, Điều 3 như sau:
“1.2. Phương án, kế hoạch đấu giá đất và giá khởi điểm: đối với các dự án đất phân lô làm nhà ở (cho hộ gia đình, cá nhân) do các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức phát triển quỹ đất của nhà nước hoặc doanh nghiệp được UBND tỉnh giao làm Chủ đầu tư và các dự án khai thác quỹ đất để tạo vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng có diện tích đất trên 1.500m2 do UBND huyện, thị xã, thành phố (gọi tắt là UBND cấp huyện) làm Chủ đầu tư”.
2. Bổ sung điểm 2.2, khoản 2, Điều 6 như sau:
2.2. Hội đồng đấu giá đất cấp huyện do UBND cấp huyện quyết định thành lập, với thành phần:
- Đại diện UBND cấp huyện: Chủ tịch Hội đồng.
- Lãnh đạo Ban quản lý dự án: Phó Chủ tịch Thường trực.
- Các thành viên là đại diện lãnh đạo các phòng: Tài chính - Kế hoạch, Tài nguyên và Môi trường, Quản lý đô thị (nếu có), Chi cục thuế, đại diện UBND xã, phường, thị trấn (nơi thực hiện dự án).
Trường hợp các huyện, thị, thành phố không có Ban Quản lý dự án (Ban quản lý các dự án khai thác quỹ đất, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng) thì Phó Chủ tịch Hội đồng đấu giá đất là lãnh đạo phòng Tài chính - Kế hoạch (hoặc lãnh đạo đơn vị có liên quan do UBND cấp huyện quyết định)
3. Sửa đổi điểm 2.3, khoản 2, Điều 6 thành khoản 3, Điều 6 và bổ sung khoản 3, Điều 6 như sau:
“3. Tùy theo từng loại đất tổ chức đấu giá, UBND cấp huyện mời các đơn vị có liên quan tham gia thành viên Hội đồng. Chủ tịch Hội đồng đấu giá đất quyết định thành lập Tổ công tác giúp việc (nếu thấy cần thiết). Hội đồng đấu giá đất được phép sử dụng con dấu và tài khoản của đơn vị được giao làm Chủ tịch Hội đồng để quan hệ giao dịch. Trường hợp Chủ tịch Hội đồng đấu giá đất uỷ quyền bằng văn bản cho Phó Chủ tịch Hội đồng trực tiếp chỉ đạo, điều hành trong việc tổ chức bán đấu giá quyền sử dụng đất, thì Hội đồng đấu giá đất được phép sử dụng con dấu và tài khoản của đơn vị được giao làm Phó Chủ tịch Hội đồng để quan hệ giao dịch.”
4. Bổ sung và sửa đổi điểm 4.2, khoản 4, Điều 9 như sau:
“4.2. Trường hợp người trả giá cao nhất từ chối không nhận quyền sử dụng đất hoặc rút lại giá đã trả thì người trả giá cao liền kề được Hội đồng đấu giá xem xét phê duyệt trúng giá bổ sung, nhưng với điều kiện chênh lệch giữa hai mức giá của người trả giá cao nhất và người trả giá liền kề phải thấp hơn ít nhất bằng 1/3 tiền đặt cọc (tiền đặt trước, tiền bảo lãnh). Nếu người trúng đấu giá đất bổ sung từ chối nhận quyền sử dụng đất thì Hội đồng đấu giá đất ra văn bản hủy bỏ kết quả trúng đấu giá và xem xét tổ chức đấu giá lại vào một thời điểm khác. Giá khởi điểm được xác định để đấu giá là giá của người trả giá cao liền kề với người đã trúng đấu giá nhưng từ chối nhận quyền sử dụng đất”.
5. Bãi bỏ toàn bộ nội dung tại khoản 3, Điều 11.
6. Bổ sung khoản 3 và khoản 4 vào Điều 16 như sau:
“3. Những dự án sử dụng quỹ đất để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thực hiện theo Quyết định số 85/2004/QĐ-UB ngày 03/11/2004 của UBND tỉnh về việc ban hành cơ chế tài chính thực hiện dự án sử dụng quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt kết quả trúng đấu giá đất hoặc trúng thầu xây dựng công trình, được thanh toán bằng quỹ đất đang thực hiện dỡ dang, thì tiếp tục thực hiện theo quyết định đó”.
“4. Những dự án sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng kết cấu hạ tầng đã phê duyệt, nhưng chưa triển khai thực hiện, thì nay thực hiện theo Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ban hành theo Quyết định số 17/2007/QĐ-UBND ngày 27/6/2007 của UBND tỉnh, theo một trong các hình thức sau thức sau”:
4.1. Đấu giá quyền sử dụng đất tạo nguồn vốn bằng tiền để sử dụng trực tiếp cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, được thực hiện theo nguyên tắc sau: đấu giá quyền sử dụng đất và đấu thầu xây dựng công trình được tiến hành độc lập.
4.2. Đấu thầu xây dựng công trình và đấu giá quyền sử dụng đất để tạo vốn xây dựng công trình trong một gói thầu, được thực hiện theo nguyên tắc sau: xây dựng thang điểm để chấm thầu xây dựng công trình và thang điểm để chấm đấu giá quyền sử dụng đất được xây dựng riêng.