Document: Điều 1 Quyết định 49/2017/QĐ-UBND phối hợp lập hồ sơ và tổ chức cai nghiện ma túy Đồng Nai

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "29/12/2017", "sign_number": "49/2017/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hòa Hiệp", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "29/12/2017", "sign_number": "49/2017/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hòa Hiệp", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "29/12/2017", "sign_number": "49/2017/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hòa Hiệp", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "29/12/2017", "sign_number": "49/2017/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hòa Hiệp", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "29/12/2017", "sign_number": "49/2017/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hòa Hiệp", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 49/2017/QĐ-UBND phối hợp lập hồ sơ và tổ chức cai nghiện ma túy Đồng Nai có nội dung như sau:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế phối hợp lập hồ sơ và tổ chức cai nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh Đồng Nai ban hành kèm theo Quyết định số 08/2016/QĐ-UBND ngày 04/02/2016 của UBND tỉnh
1. Sửa đổi Điều 2 như sau:
“Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
a) Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định:
- Trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.
- Bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do tái nghiện ma túy.
- Người nghiện ma túy đang tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế khi xét nghiệm dương tính với chất ma túy khác ngoài chất dạng thuốc phiện và bị chấm dứt tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện theo quyết định của Giám đốc cơ sở điều trị Methadone.
b) Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định.
2. Gia đình người nghiện ma túy, các tổ chức, cá nhân có liên quan.
3. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia lập hồ sơ áp dụng các biện pháp cai nghiện ma túy và tổ chức quản lý, cai nghiện, phục hồi”.
2. Sửa đổi Khoản 1, Điều 4 như sau:
“1. Người không nơi cư trú ổn định là người:
a) Không xác định được nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi đăng ký tạm trú.
b) Người có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi đang sống tạm trú nhưng không sinh sống mà thường xuyên vắng mặt không có lý do có xác nhận của gia đình và chính quyền địa phương nơi đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú.
c) Không có nơi ở cố định”.
3. Sửa đổi Khoản 2, Điều 7 như sau:
“2. Thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy
Người có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy là bác sỹ, y sỹ, được cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ tập huấn về chẩn đoán, điều trị cắt cơn nghiện ma túy do các cơ quan, tổ chức được Bộ Y tế giao tổ chức tập huấn và cấp chứng chỉ, đang làm việc tại: Các cơ sở y tế quân y, y tế quân dân y; các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của ngành công an; phòng y tế của Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai; phòng y tế của các cơ sở có chức năng tiếp nhận, quản lý người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định, trong thời gian lập hồ sơ để Tòa án nhân dân xem xét quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; trạm y tế xã, phường, thị trấn; phòng khám đa khoa khu vực; trung tâm y tế cấp huyện trở lên và bệnh viện thuộc các bộ, ngành khác”.
4. Sửa đổi gạch đầu dòng (-) thứ nhất Điểm a, Khoản 1, Điều 16 như sau:
“- Thời hạn người nghiện ma túy không nơi cư trú ổn định vào Khu xã hội thuộc Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai theo quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã trong thời gian xác minh làm thủ tục đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xét đưa vào cai nghiện bắt buộc là 30 ngày kể từ ngày bàn giao cho Khu xã hội. Hết thời gian lưu trú nói trên mà hồ sơ chưa được Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý thì Giám đốc Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai thông báo bằng văn bản cho UBND cấp xã nơi đưa đối tượng vào cơ sở có trách nhiệm đón về”.
5. Sửa đổi tiêu đề Khoản 2, Điều 16 như sau:
“2. Xác minh, thu thập tài liệu lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (thời gian thực hiện là 15 ngày)”.
6. Sửa đổi gạch đầu dòng (-) thứ nhất Điểm a, Khoản 2, Điều 16 như sau:
“- Sau khi bàn giao người và hồ sơ cho Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, trong thời gian 15 ngày, cơ quan Công an lập hồ sơ tiếp tục hoàn thiện hồ sơ. Đồng thời thông báo cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện của họ (nếu có) về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”.
7. Sửa đổi Khoản 3, Điều 16 như sau:
“3. Kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (thời gian thực hiện là 10 ngày). Trong thời gian 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của cơ quan lập hồ sơ, các đơn vị có liên quan thực hiện nhiệm vụ sau:
a) Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện: Trong thời gian 05 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ. Kết quả kiểm tra phải được thực hiện bằng văn bản và gửi Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng cấp.
b) Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện: Trong thời gian 05 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của Trưởng phòng Tư pháp cùng cấp, sẽ tiến hành đối chiếu hồ sơ đề nghị theo quy định tại Khoản 2, Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ (hoặc triệu tập và chủ trì họp Tổ tư vấn nếu thấy cần thiết).
- Trường hợp hồ sơ đầy đủ thì đánh bút lục và lập thành 03 bản, bản gốc chuyển Tòa án nhân dân cấp huyện đính kèm công văn đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy đang được quản lý tại Khu xã hội, 01 bản sao gửi Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp, 01 bản sao lưu tại Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật lưu trữ.
- Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì có văn bản đề nghị cơ quan lập hồ sơ bổ sung, trong đó nêu rõ lý do và các tài liệu cần bổ sung vào hồ sơ. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ký văn bản, yêu cầu cơ quan lập hồ sơ phải bổ sung các tài liệu theo yêu cầu để Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội hoàn chỉnh hồ sơ chuyển Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định. Các cơ quan có liên quan thực hiện việc bổ sung theo yêu cầu, sau thời hạn trên nếu hồ sơ không được bổ sung, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội trả lại hồ sơ cho cơ quan lập hồ sơ đồng thời thông báo bằng văn bản cho Trưởng phòng Tư pháp và người bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”.
8. Sửa đổi Điểm c, Khoản 5, Điều 16 như sau:
“c) Trường hợp người nghiện ma túy tại Khu xã hội khi chưa có quyết định của Tòa án mà bỏ trốn, Giám đốc Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai thông báo bằng văn bản cho cơ quan lập hồ sơ để tổ chức truy tìm. Trường hợp người nghiện ma túy tại Khu xã hội đã có quyết định của Tòa án mà bỏ trốn thì Giám đốc Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai ra quyết định truy tìm đối tượng. Cơ quan Công an có trách nhiệm phối hợp với Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai trong việc truy tìm để đưa người đó trở lại”.
9. Bổ sung Khoản 6 vào Điều 16 như sau:
“6. Kinh phí thực hiện việc đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai.
a) Kinh phí đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai được áp dụng chi theo Thông tư Liên tịch số 148/2014/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 08/10/2014 của Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định về quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; chế độ đối với người chưa thành niên, người tự nguyện chữa trị, cai nghiện tại trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội và tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng và các quy định của UBND tỉnh.
b) Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện tổng hợp hồ sơ, thủ tục và thanh quyết toán với cơ quan tài chính cùng cấp theo quy định”.

Content:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế phối hợp lập hồ sơ và tổ chức cai nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh Đồng Nai ban hành kèm theo Quyết định số 08/2016/QĐ-UBND ngày 04/02/2016 của UBND tỉnh
1. Sửa đổi Điều 2 như sau:
“Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
a) Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định:
- Trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.
- Bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do tái nghiện ma túy.
- Người nghiện ma túy đang tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế khi xét nghiệm dương tính với chất ma túy khác ngoài chất dạng thuốc phiện và bị chấm dứt tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện theo quyết định của Giám đốc cơ sở điều trị Methadone.
b) Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định.
2. Gia đình người nghiện ma túy, các tổ chức, cá nhân có liên quan.
3. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia lập hồ sơ áp dụng các biện pháp cai nghiện ma túy và tổ chức quản lý, cai nghiện, phục hồi”.
2. Sửa đổi Khoản 1, Điều 4 như sau:
“1. Người không nơi cư trú ổn định là người:
a) Không xác định được nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi đăng ký tạm trú.
b) Người có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi đang sống tạm trú nhưng không sinh sống mà thường xuyên vắng mặt không có lý do có xác nhận của gia đình và chính quyền địa phương nơi đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú.
c) Không có nơi ở cố định”.
3. Sửa đổi Khoản 2, Điều 7 như sau:
“2. Thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy
Người có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy là bác sỹ, y sỹ, được cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ tập huấn về chẩn đoán, điều trị cắt cơn nghiện ma túy do các cơ quan, tổ chức được Bộ Y tế giao tổ chức tập huấn và cấp chứng chỉ, đang làm việc tại: Các cơ sở y tế quân y, y tế quân dân y; các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của ngành công an; phòng y tế của Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai; phòng y tế của các cơ sở có chức năng tiếp nhận, quản lý người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định, trong thời gian lập hồ sơ để Tòa án nhân dân xem xét quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; trạm y tế xã, phường, thị trấn; phòng khám đa khoa khu vực; trung tâm y tế cấp huyện trở lên và bệnh viện thuộc các bộ, ngành khác”.
4. Sửa đổi gạch đầu dòng (-) thứ nhất Điểm a, Khoản 1, Điều 16 như sau:
“- Thời hạn người nghiện ma túy không nơi cư trú ổn định vào Khu xã hội thuộc Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai theo quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã trong thời gian xác minh làm thủ tục đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xét đưa vào cai nghiện bắt buộc là 30 ngày kể từ ngày bàn giao cho Khu xã hội. Hết thời gian lưu trú nói trên mà hồ sơ chưa được Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý thì Giám đốc Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai thông báo bằng văn bản cho UBND cấp xã nơi đưa đối tượng vào cơ sở có trách nhiệm đón về”.
5. Sửa đổi tiêu đề Khoản 2, Điều 16 như sau:
“2. Xác minh, thu thập tài liệu lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (thời gian thực hiện là 15 ngày)”.
6. Sửa đổi gạch đầu dòng (-) thứ nhất Điểm a, Khoản 2, Điều 16 như sau:
“- Sau khi bàn giao người và hồ sơ cho Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, trong thời gian 15 ngày, cơ quan Công an lập hồ sơ tiếp tục hoàn thiện hồ sơ. Đồng thời thông báo cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện của họ (nếu có) về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”.
7. Sửa đổi Khoản 3, Điều 16 như sau:
“3. Kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (thời gian thực hiện là 10 ngày). Trong thời gian 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của cơ quan lập hồ sơ, các đơn vị có liên quan thực hiện nhiệm vụ sau:
a) Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện: Trong thời gian 05 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ. Kết quả kiểm tra phải được thực hiện bằng văn bản và gửi Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng cấp.
b) Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện: Trong thời gian 05 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của Trưởng phòng Tư pháp cùng cấp, sẽ tiến hành đối chiếu hồ sơ đề nghị theo quy định tại Khoản 2, Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ (hoặc triệu tập và chủ trì họp Tổ tư vấn nếu thấy cần thiết).
- Trường hợp hồ sơ đầy đủ thì đánh bút lục và lập thành 03 bản, bản gốc chuyển Tòa án nhân dân cấp huyện đính kèm công văn đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy đang được quản lý tại Khu xã hội, 01 bản sao gửi Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp, 01 bản sao lưu tại Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật lưu trữ.
- Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì có văn bản đề nghị cơ quan lập hồ sơ bổ sung, trong đó nêu rõ lý do và các tài liệu cần bổ sung vào hồ sơ. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ký văn bản, yêu cầu cơ quan lập hồ sơ phải bổ sung các tài liệu theo yêu cầu để Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội hoàn chỉnh hồ sơ chuyển Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định. Các cơ quan có liên quan thực hiện việc bổ sung theo yêu cầu, sau thời hạn trên nếu hồ sơ không được bổ sung, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội trả lại hồ sơ cho cơ quan lập hồ sơ đồng thời thông báo bằng văn bản cho Trưởng phòng Tư pháp và người bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”.
8. Sửa đổi Điểm c, Khoản 5, Điều 16 như sau:
“c) Trường hợp người nghiện ma túy tại Khu xã hội khi chưa có quyết định của Tòa án mà bỏ trốn, Giám đốc Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai thông báo bằng văn bản cho cơ quan lập hồ sơ để tổ chức truy tìm. Trường hợp người nghiện ma túy tại Khu xã hội đã có quyết định của Tòa án mà bỏ trốn thì Giám đốc Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai ra quyết định truy tìm đối tượng. Cơ quan Công an có trách nhiệm phối hợp với Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai trong việc truy tìm để đưa người đó trở lại”.
9. Bổ sung Khoản 6 vào Điều 16 như sau:
“6. Kinh phí thực hiện việc đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai.
a) Kinh phí đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai được áp dụng chi theo Thông tư Liên tịch số 148/2014/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 08/10/2014 của Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định về quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; chế độ đối với người chưa thành niên, người tự nguyện chữa trị, cai nghiện tại trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội và tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng và các quy định của UBND tỉnh.
b) Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện tổng hợp hồ sơ, thủ tục và thanh quyết toán với cơ quan tài chính cùng cấp theo quy định”.