Document: Điều 2 Quyết định 13-HĐBT  giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "01/02/1989", "sign_number": "13-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "01/02/1989", "sign_number": "13-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "01/02/1989", "sign_number": "13-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "01/02/1989", "sign_number": "13-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "01/02/1989", "sign_number": "13-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định 13-HĐBT  giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất có nội dung như sau:

Điều 2. Chủ trương biện pháp giải quyết các tranh chấp đất đai:
1. Ruộng đất do xoá bỏ bóc lột địa chủ, phú nông, tịch thu trưng mua và đất hiến của địa chủ tiến bộ, đất của tư sản, đất truất hữu, ruộng đất do tịch thu, trưng thu của các phần tử phản động, tay sai ác ôn trong ngụỵ quân, ngụỵ quyền đã chia cấp cho nông dân không có hoặc thiếu đất thì người được chia cấp tiếp tục sử dụng, chủ cũ không được đòi lại.
2. Ruộng đất đã chia cấp cho thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ, bộ đội tại ngũ, cán bộ hưu trí, gia đình có công với cách mạng... thì được tiếp tục sử dụng không thu hồi, chủ cũ không được đòi lại.
3. Những hộ nông dân trước có đất đã điều chỉnh chia cho người khác, nhưng hiện nay vẫn có ruộng để làm bằng hoặc nhiều hơn so với mức bình quân ở địa phương thì không được đòi lại diện tích đã điều chỉnh cho người khác.
4. Những hộ nông dân trước đây, có nhiều đất đã điều chỉnh chia cho người khác, nay do nhân khẩu tăng lên, bình quân ruộng đất thấp đời sống thực sự có khó khăn, thì chính quyền địa phương, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp tìm cách giúp đỡ khắc phục khó khăn, phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm; trường hợp địa phương còn đất thì căn cứ vào điều kiện sản xuất của từng gia đình có thể giải quyết cho họ được nhận thêm một số diện tích để làm.
5. Đối với những hộ nông dân không có ruộng hoặc ít ruộng nhưng có vườn có ngành nghề, đời sống được bảo đảm thì không giao thêm ruộng đất nữa.
6. Những hộ hiện nay sống bằng các nghề buôn bán, lao động tự do, tiểu thủ công nghiệp, thủ công nghiệp hoặc dịch vụ, trước đây đã được chia ruộng đất, song sử dụng kém hiệu quả hoặc không đủ lao động làm ruộng mà thuê người làm thì thu hồi giao cho hộ sản xuất nông nghiệp còn thiếu ruộng. Riêng đối với một số đồng bào Khơme thực sự có khó khăn, những người neo đơn, già yếu, thương bệnh binh có ruộng nhưng thiếu lao động để làm thì tạm thời được thuê lao động để sản xuất bảo đảm đời sống.
7. Những người trước đây có ruộng đất đã chia cấp cho nông dân mà nay đã làm các nghề khác hoặc công tác trong cơ quan Nhà nước thì không được đòi lại.
8. Những nông dân ở nơi cư trú không có ruộng đất phải đi nơi khác sản xuất thì được tiếp tục sử dụng ruộng đất đó để sản xuất.
9. Những người bị cắt đất xâm canh nơi khác, nhưng đã có ruộng đất nơi cư trú hoặc có ngành nghề khác sinh sống thì không được đòi lại đất cũ. Người được cấp đất xâm canh đúng đối tượng và sản xuất đã ổn định thì giữ nguyên hiện trạng. Người bị cắt ruộng đất xâm canh, nếu thiếu đất và đời sống thực sự khó khăn thì cấp đất mới (nếu địa phương còn quỹ đất) hoặc giúp họ phát triển ngành nghề giải quyết đời sống.
10. Những vụ tranh chấp ruộng đất giữa đồng bào đến xây dựng vùng kinh tế mới với đồng bào địa phương thì căn cứ quy hoạch từng vùng để giải quyết trên cơ sở bảo đảm cho những người nông dân sống bằng ruộng đất cả hai bên đều có ruộng đất (kể cả đồi, rừng) để sản xuất. Riêng việc tranh chấp ruộng đất giữa đồng bào đến xây dựng kinh tế mới với đồng bào dân tộc địa phương thì trước hết cần ưu tiên cho đồng bào dân tộc có đủ đất (kể cả đất rừng) để làm và định canh, định cư; đồng bào đến xây dựng kinh tế mới không đủ đất, thì nông trường, lâm trường giao bớt đất ruộng, đất rừng không sử dụng hết cho đồng bào sản xuất hoặc thu hút họ vào sản xuất trong nông trường, lâm trường hoặc giúp đồng bào phát triển ngành nghề, làm dịch vụ.
11. Các nông trường, lâm trường, cơ sở quốc doanh sản xuất thuỷ sản, cơ quan, đơn vị quân đội sử dụng ruộng đất kém hiệu quả hoặc còn để đất đai hoang hoá thì phải quy hoạch, tổ chức lại sản xuất cho phù hợp; diện tích đất dôi ra phải trả lại cho địa phương để giao cho nông dân sản xuất. Toàn bộ vấn đề này phải thực hiện xong trong 6 tháng đầu năm 1989.
12. Đất đai của các cơ sở thực nghiệm khoa học kỹ thuật của Nhà nước, các cơ sở nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, hợp tác, liên doanh với nước ngoài đã được xác định đúng pháp luật và đang sử dụng có hiệu quả phải được bảo vệ và ngăn chặn mọi hành động lấn chiếm.
13. Những hộ trước đây được giao đất nay tự nguyện trả lại hoặc do chính quyền địa phương thu hồi để giao cho người khác thì được đền bù những sản phẩm đang gieo trồng trên diện tích đó và công sức đã bỏ ra để làm tăng mầu mỡ và giá trị sử dụng của đất. Việc đền bù do Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương căn cứ theo các điều 46, 49 của Luật đất đai và tình hình của địa phương để quy định cụ thể.

Content:
Điều 2. Chủ trương biện pháp giải quyết các tranh chấp đất đai:
1. Ruộng đất do xoá bỏ bóc lột địa chủ, phú nông, tịch thu trưng mua và đất hiến của địa chủ tiến bộ, đất của tư sản, đất truất hữu, ruộng đất do tịch thu, trưng thu của các phần tử phản động, tay sai ác ôn trong ngụỵ quân, ngụỵ quyền đã chia cấp cho nông dân không có hoặc thiếu đất thì người được chia cấp tiếp tục sử dụng, chủ cũ không được đòi lại.
2. Ruộng đất đã chia cấp cho thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ, bộ đội tại ngũ, cán bộ hưu trí, gia đình có công với cách mạng... thì được tiếp tục sử dụng không thu hồi, chủ cũ không được đòi lại.
3. Những hộ nông dân trước có đất đã điều chỉnh chia cho người khác, nhưng hiện nay vẫn có ruộng để làm bằng hoặc nhiều hơn so với mức bình quân ở địa phương thì không được đòi lại diện tích đã điều chỉnh cho người khác.
4. Những hộ nông dân trước đây, có nhiều đất đã điều chỉnh chia cho người khác, nay do nhân khẩu tăng lên, bình quân ruộng đất thấp đời sống thực sự có khó khăn, thì chính quyền địa phương, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp tìm cách giúp đỡ khắc phục khó khăn, phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm; trường hợp địa phương còn đất thì căn cứ vào điều kiện sản xuất của từng gia đình có thể giải quyết cho họ được nhận thêm một số diện tích để làm.
5. Đối với những hộ nông dân không có ruộng hoặc ít ruộng nhưng có vườn có ngành nghề, đời sống được bảo đảm thì không giao thêm ruộng đất nữa.
6. Những hộ hiện nay sống bằng các nghề buôn bán, lao động tự do, tiểu thủ công nghiệp, thủ công nghiệp hoặc dịch vụ, trước đây đã được chia ruộng đất, song sử dụng kém hiệu quả hoặc không đủ lao động làm ruộng mà thuê người làm thì thu hồi giao cho hộ sản xuất nông nghiệp còn thiếu ruộng. Riêng đối với một số đồng bào Khơme thực sự có khó khăn, những người neo đơn, già yếu, thương bệnh binh có ruộng nhưng thiếu lao động để làm thì tạm thời được thuê lao động để sản xuất bảo đảm đời sống.
7. Những người trước đây có ruộng đất đã chia cấp cho nông dân mà nay đã làm các nghề khác hoặc công tác trong cơ quan Nhà nước thì không được đòi lại.
8. Những nông dân ở nơi cư trú không có ruộng đất phải đi nơi khác sản xuất thì được tiếp tục sử dụng ruộng đất đó để sản xuất.
9. Những người bị cắt đất xâm canh nơi khác, nhưng đã có ruộng đất nơi cư trú hoặc có ngành nghề khác sinh sống thì không được đòi lại đất cũ. Người được cấp đất xâm canh đúng đối tượng và sản xuất đã ổn định thì giữ nguyên hiện trạng. Người bị cắt ruộng đất xâm canh, nếu thiếu đất và đời sống thực sự khó khăn thì cấp đất mới (nếu địa phương còn quỹ đất) hoặc giúp họ phát triển ngành nghề giải quyết đời sống.
10. Những vụ tranh chấp ruộng đất giữa đồng bào đến xây dựng vùng kinh tế mới với đồng bào địa phương thì căn cứ quy hoạch từng vùng để giải quyết trên cơ sở bảo đảm cho những người nông dân sống bằng ruộng đất cả hai bên đều có ruộng đất (kể cả đồi, rừng) để sản xuất. Riêng việc tranh chấp ruộng đất giữa đồng bào đến xây dựng kinh tế mới với đồng bào dân tộc địa phương thì trước hết cần ưu tiên cho đồng bào dân tộc có đủ đất (kể cả đất rừng) để làm và định canh, định cư; đồng bào đến xây dựng kinh tế mới không đủ đất, thì nông trường, lâm trường giao bớt đất ruộng, đất rừng không sử dụng hết cho đồng bào sản xuất hoặc thu hút họ vào sản xuất trong nông trường, lâm trường hoặc giúp đồng bào phát triển ngành nghề, làm dịch vụ.
11. Các nông trường, lâm trường, cơ sở quốc doanh sản xuất thuỷ sản, cơ quan, đơn vị quân đội sử dụng ruộng đất kém hiệu quả hoặc còn để đất đai hoang hoá thì phải quy hoạch, tổ chức lại sản xuất cho phù hợp; diện tích đất dôi ra phải trả lại cho địa phương để giao cho nông dân sản xuất. Toàn bộ vấn đề này phải thực hiện xong trong 6 tháng đầu năm 1989.
12. Đất đai của các cơ sở thực nghiệm khoa học kỹ thuật của Nhà nước, các cơ sở nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, hợp tác, liên doanh với nước ngoài đã được xác định đúng pháp luật và đang sử dụng có hiệu quả phải được bảo vệ và ngăn chặn mọi hành động lấn chiếm.
13. Những hộ trước đây được giao đất nay tự nguyện trả lại hoặc do chính quyền địa phương thu hồi để giao cho người khác thì được đền bù những sản phẩm đang gieo trồng trên diện tích đó và công sức đã bỏ ra để làm tăng mầu mỡ và giá trị sử dụng của đất. Việc đền bù do Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương căn cứ theo các điều 46, 49 của Luật đất đai và tình hình của địa phương để quy định cụ thể.