Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 2302/QĐ-UBND 2018 Đề án Ứng phó tình hình sạt lở bờ sông bờ biển Quảng Trị

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "05/10/2018", "sign_number": "2302/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Chính", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "05/10/2018", "sign_number": "2302/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Chính", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "05/10/2018", "sign_number": "2302/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Chính", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "05/10/2018", "sign_number": "2302/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Chính", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "05/10/2018", "sign_number": "2302/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Chính", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 2302/QĐ-UBND 2018 Đề án Ứng phó tình hình sạt lở bờ sông bờ biển Quảng Trị

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Ứng phó tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2030” với các nội dung như sau:
...
2. Phạm vi
Đề án được triển khai trên địa bàn 09 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Quảng Trị (không bao gồm huyện đảo Cồn Cỏ), thực hiện trong giai đoạn từ năm 2018-2020 và định hướng đến năm 2030.
II. Thực trạng sạt lở và nguyên nhân
1. Thực trạng
Hiện tượng sạt lở bờ sông, bờ biển trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong những năm qua có những diễn biến hết sức phức tạp, tốc độ xói lở nhanh hơn và hướng sạt lở thường xuyên thay đổi. Dưới tác động của thiên tai, tình trạng sạt lở càng trở nên nghiêm trọng và khó lường.
Tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển đã uy hiếp đến tính mạng người dân, tài sản, các công trình cơ sở hạ tầng, di tích văn hóa lịch sử và đất đai sản xuất. Sạt lở bờ sông, bờ biển đã ảnh hưởng đến đời sống nhân dân tại các khu dân cư của 86 thôn, khu phố thuộc 37 xã, phường, thị trấn của các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh. Qua rà soát, đánh giá, tổng chiều dài sạt lở bờ sông, bờ biển trên địa bàn toàn tỉnh hiện nay là 124,59 km, bao gồm:
- Sạt lở bờ sông: 118,59 km, trong đó:
+ Sạt lở đặc biệt nguy hiểm: 19,25km;
+ Sạt lở nguy hiểm: 63,65 km;
+ Sạt lở bình thường: 35,69 km;
- Sạt lở bờ biển nguy hiểm: 6,0 km
Hiện trạng, diễn biến sạt lở cụ thể tại các khu vực như sau:
1.1. Sạt lở bờ sông
Hiện tượng sạt lở hầu như phát triển liên tục hai bên bờ các sông chính, xâm thực sâu vào đất thổ cư và đất canh tác, Một số nơi do mất đất thổ cư phải di dời. Sạt lở bờ sông đã ảnh hưởng đến đời sống nhân dân tại các khu dân cư của 81 thôn, khu phố của 34 xã, phường, thị trấn thuộc 09 huyện, thị xã, thành phố có nhân dân sinh sống hai bên bờ sông với tổng số hộ sống trong vùng bị ảnh hưởng là 2.364 hộ. Trong đó, số hộ hiện đang sống trong vùng thực sự nguy hiểm, cách mép sông <20m: 597 hộ.
Qua thống kê, hàng năm trung bình dọc bờ sông trên địa bàn tỉnh có khoảng 35ha diện tích đất sản xuất bị cuốn trôi. Tổng diện tích đất sản xuất bị cuốn trôi từ năm 2010 đến năm 2017 khoảng 250ha. Nhiều khu vực sạt lở ảnh hưởng trực tiếp và gây mất an toàn đến hệ thống cơ sở hạ tầng, trong đó có các tuyến đường giao thông (49,12km), công trình đê điều (74,8km) và nhiều loại công trình khác.
Ngoài ra, hiện tượng bồi lấp, ách tắc dòng chảy diễn ra trên hầu hết hệ thống sông Ô Lâu - Ô Giang như: Tân Vĩnh Định, Cựu Vĩnh Định, Mai Lĩnh, Thác Ma, sông Nhùng và một số đoạn sông thuộc suối Sòng (sông Hiếu), thượng nguồn sông Hồ Xá đoạn qua xã Vĩnh Chấp, Vĩnh Long. Mặt cắt lòng sông tại các khu vực bị bồi lấp ngày càng bị thu hẹp, không đủ khả năng tiêu thoát lũ, dẫn đến hiện tượng sạt lở bờ sông lấn sâu vào các khu dân cư ngày càng nghiêm trọng.
1.2. Sạt lở bờ biển
Hiện tượng sạt lở, xâm thực xảy ra hầu hết ở các khu vực ven biển trên địa bàn tỉnh, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều khu dân cư và một số cơ sở hạ tầng quan trọng.
(Chi tiết có phụ lục 01 kèm theo)
2. Nguyên nhân
2.1. Nguyên nhân khách quan
Với những đặc điểm bất lợi về điều kiện tự nhiên (địa hình chủ yếu là đồi núi, mật độ sông suối cao, độ dốc và hệ số uốn cong lớn, lòng sông hẹp, vùng cửa sông chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều...) kết hợp với yếu tố thủy văn phân bố không đều theo không gian và thời gian (lượng mưa và các cơn bão tập trung chủ yếu vào tháng 9 đến tháng 12) đã làm tăng nguy cơ gây lũ lụt và ảnh hưởng đến khả năng tiêu thoát lũ của các lưu vực. Vì vậy, vào mùa mưa thường xuyên xảy ra các trận lũ lớn, tốc độ lũ lên nhanh gây ra hiện tượng sạt lở bờ sông trên địa bàn tỉnh.
Bờ biển tỉnh có chiều dài lớn, bãi biển hẹp, hàng năm thường xuyên chịu tác động của các cơn bão và ATNĐ tạo ra các con sóng có chiều cao lớn, tốc độ cao làm xói lở bờ biển. Đồng thời dòng hải văn dọc bờ biển thay đổi theo mùa làm gia tăng hiện tượng xâm thực bờ biển, bồi lấp cửa sông.
2.2. Nguyên nhân chủ quan
- Việc lồng ghép các nội dung phòng chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, phát triển ngành còn rất nhiều hạn chế. Vì vậy, nhiều công trình được đầu tư xây dựng chưa gắn với quy hoạch phòng chống thiên tai, đặc biệt là quy hoạch phòng chống lũ của các dòng sông làm ảnh hưởng tới khả năng tiêu thoát lũ của lưu vực và gây ra ngập lụt, sạt lở đất;
- Các hoạt động trái phép hoặc thiếu kiểm soát trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đã làm tăng nguy cơ gây lũ lụt, xói lở bờ sông. Trong đó, đáng chú ý là vấn đề chặt phá rừng, khai thác tài nguyên vùng đầu nguồn làm suy giảm tầng phủ thực vật, mất khả năng giữ nước và điều tiết của rừng;
- Sự mất cân bằng bùn cát do việc xây dựng các hồ chứa ở thượng nguồn và khai thác cát, sói ở lòng sông, ven biển đã làm giảm đáng kể lượng bùn cát; Tỷ lệ phân bổ dòng chảy giữa các sông chính thời gian gần đây có diễn biến rất phức tạp nhất là tại các khu vực phân lưu, hợp lưu;
- Việc lấn chiếm bờ sông, xây dựng công trình, đắp bờ bao, xả rác thải sinh hoạt... đã làm ách tắc và thay đổi dòng chảy chính của sông.
- Việc áp dụng khoa học công nghệ để xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển còn nhiều tồn tại, chưa chú trọng đến việc sử dụng vật liệu địa phương, thân thiện với môi trường; Công tác phân loại, sắp xếp thứ tự ưu tiên xử lý sạt lở chưa hợp lý, dẫn đến nhiều công trình được đầu tư không đúng mục đích, chưa bám sát các tiêu chí theo quy định tại Quy chế xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển;
- Công tác duy tu bảo dưỡng, xử lý hư hỏng cục bộ công trình, quản lý tổng thể bờ sông, bờ biển chưa được chú trọng làm gia tăng nguy cơ sạt lở; Việc bố trí kinh phí xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển chưa đúng trọng tâm, trọng điểm nên hiệu quả đầu tư thấp, công tác duy tu bảo dưỡng công trình chưa được quan tâm đúng mức; chưa có chính sách hợp lý để huy động các nguồn lực, trong đó có huy động từ các doanh nghiệp hưởng lợi và từ người dân;
- Việc quản lý sạt lở bờ sông, bờ biển chưa gắn với công tác quản lý quy hoạch lưu vực sông, quản lý đường bờ biển; các chương trình, kế hoạch tổng thể chưa được tổ chức xây dựng đồng bộ và thống nhất.
III. Giải pháp
1. Nhóm giải pháp phi công trình
- Tập huấn tuyên truyền, nâng cao tính chủ động cho chính quyền các cấp và cộng đồng dân cư về ý thức, trách nhiệm trong việc phòng ngừa, xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển; tổ chức diễn tập ứng phó với các tình huống thiên tai, nâng cao năng lực phòng chống thiên tai cho cộng đồng;
- Nghiên cứu, quan trắc, thông báo diễn biến, cảnh báo vùng có nguy cơ cao xảy ra sạt lở để có các biện pháp phòng tránh hoặc giảm thiểu thiệt hại;
- Điều tra xây dựng bản đồ cảnh báo vùng, địa bàn có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất để tổ chức di dời nhà cửa, công trình ra khỏi khu vực đang xảy ra sạt lở nguy hiểm, hoặc có nguy cơ sạt lở nguy hiểm; làm cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương;
- Nghiên cứu diễn biến và xác định nguyên nhân gây mất ổn định đường bờ biển; đề xuất giải pháp tổng thể ổn định bờ biển, cửa sông phục vụ đời sống dân sinh, phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện BĐKH;
- Điều chỉnh quy hoạch khai thác cát, sỏi lòng sông, quy hoạch sử dụng đất, các bãi vật liệu xây dựng dọc bãi sông đảm bảo yêu cầu tiêu thoát lũ và phòng chống sạt lở;
- Tăng cường công tác quản lý quy hoạch, sắp xếp bố trí lại khu dân cư, lồng ghép nhiệm vụ phòng chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và các chương trình, dự án khác trên địa bàn tỉnh (chương trình xây dựng nông thôn mới, chương trình sắp xếp bố trí dân cư,...);
- Tăng cường kiểm tra, ngăn chặn, xử lý việc khai thác cát, sỏi, khoáng sản, xây dựng công trình, nhà cửa hoặc thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh trái phép, sai phép làm ảnh hưởng hoặc gây sạt lở bờ sông, bờ biển;
- Thành lập và duy trì hoạt động của lực lượng quản lý để nhân dân dễ quản lý các tuyến đê, kè, sạt lở bờ sông, bờ biển tại các địa phương;
- Trồng cây truyền thống bảo vệ bờ (190 ha);
- Nghiên cứu các mô hình thực nghiệm, áp dụng công nghệ mới xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển.
2. Nhóm giải pháp công trình
- Lập dự án và triển khai các giải pháp đầu tư xây dựng công trình bảo vệ bờ sông, bờ biển. Căn cứ tình hình thực tế và đặc thù của các khu vực để triển khai giải pháp đầu tư hệ thống công trình khả thi, phù hợp, thân thiện môi trường và phát huy tối đa hiệu quả đầu tư, đảm bảo tuân thủ nguyên tắc sau:
+ Đối với các tuyến kè sông qua vùng nông thôn: Ưu tiên giữ lại hệ thống thảm phủ thực vật dọc mái kè (tre, nứa, cây bụi...); gia cố hộ chân kè bằng lăng thể đá đổ; gia cố mái kè, đỉnh kè và bố trí hệ thống thoát nước tại các khu vực đi qua khu dân cư;
+ Đối với các tuyến kè sông qua khu đô thị: Có thể giữ lại hệ thống thảm phủ thực vật hoặc cắt bỏ tùy vào địa hình. Hộ chân kè bằng lăng thể đá đổ hoặc kè tường đứng; gia cố mái kè, đỉnh kè bằng đá lát và bê tông;
+ Đối với các tuyến kè biển: Tùy vào đặc điểm từng khu vực để triển khai cứng hóa chân kè, mái kè, đỉnh kè bằng các giải pháp khác nhau (khối bê tông, cấu kiện, cừ bê tông...);
+ Đối với các khu vực sạt lở đi qua các khu du lịch, di tích lịch sử, văn hóa: Áp dụng các giải pháp công trình phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu phòng, chống sạt lở và không làm ảnh hưởng đến kiến trúc, hiện trạng vùng dự án;
+ Đối với các vị trí sạt lở ở miền núi: Chi đầu tư xây dựng công trình phòng, chống sạt lở ở các khu vực qua khu dân cư tập trung hoặc một số địa bàn không thể thực hiện di dời, khu vực có các cơ sở hạ tầng quan trọng;
- Ưu tiên xử lý các khu vực sạt lở đặc biệt nguy hiểm và nguy hiểm, đồng thời hàng năm tiếp tục rà soát, đánh giá cập nhật tình hình để điều chỉnh, bổ sung danh mục ưu tiên cho phù hợp. Xây dựng công trình tại các khu vực sạt lở và nạo vét dọc các tuyến sông bị bồi lấp, chỉnh trị dòng chủ lưu của các dòng sông nhằm đảm bảo tiêu thoát lũ theo các giai đoạn, cụ thể như sau:
+ Giai đoạn 2018-2020: Xây dựng 15,6km kè tại các khu vực cấp bách, nguy hiểm, bao gồm 11,1km kè sông, 4,5km kè biển và nạo vét 24km trục tiêu;
+ Dự kiến giai đoạn 2021-2025: Xây dựng 40,54 km kè, bao gồm 39,04km kè sông 1,5km kè biển tại các khu vực nguy hiểm và nạo vét 24km trục tiêu;
+ Dự kiến giai đoạn 2026-2030: Xây dựng 30,94km kè sông và nạo vét 14km trục tiêu còn lại.

Content:
Phạm vi
Đề án được triển khai trên địa bàn 09 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Quảng Trị (không bao gồm huyện đảo Cồn Cỏ), thực hiện trong giai đoạn từ năm 2018-2020 và định hướng đến năm 2030.
II. Thực trạng sạt lở và nguyên nhân
1. Thực trạng
Hiện tượng sạt lở bờ sông, bờ biển trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong những năm qua có những diễn biến hết sức phức tạp, tốc độ xói lở nhanh hơn và hướng sạt lở thường xuyên thay đổi. Dưới tác động của thiên tai, tình trạng sạt lở càng trở nên nghiêm trọng và khó lường.
Tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển đã uy hiếp đến tính mạng người dân, tài sản, các công trình cơ sở hạ tầng, di tích văn hóa lịch sử và đất đai sản xuất. Sạt lở bờ sông, bờ biển đã ảnh hưởng đến đời sống nhân dân tại các khu dân cư của 86 thôn, khu phố thuộc 37 xã, phường, thị trấn của các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh. Qua rà soát, đánh giá, tổng chiều dài sạt lở bờ sông, bờ biển trên địa bàn toàn tỉnh hiện nay là 124,59 km, bao gồm:
- Sạt lở bờ sông: 118,59 km, trong đó:
+ Sạt lở đặc biệt nguy hiểm: 19,25km;
+ Sạt lở nguy hiểm: 63,65 km;
+ Sạt lở bình thường: 35,69 km;
- Sạt lở bờ biển nguy hiểm: 6,0 km
Hiện trạng, diễn biến sạt lở cụ thể tại các khu vực như sau:
1.1. Sạt lở bờ sông
Hiện tượng sạt lở hầu như phát triển liên tục hai bên bờ các sông chính, xâm thực sâu vào đất thổ cư và đất canh tác, Một số nơi do mất đất thổ cư phải di dời. Sạt lở bờ sông đã ảnh hưởng đến đời sống nhân dân tại các khu dân cư của 81 thôn, khu phố của 34 xã, phường, thị trấn thuộc 09 huyện, thị xã, thành phố có nhân dân sinh sống hai bên bờ sông với tổng số hộ sống trong vùng bị ảnh hưởng là 2.364 hộ. Trong đó, số hộ hiện đang sống trong vùng thực sự nguy hiểm, cách mép sông <20m: 597 hộ.
Qua thống kê, hàng năm trung bình dọc bờ sông trên địa bàn tỉnh có khoảng 35ha diện tích đất sản xuất bị cuốn trôi. Tổng diện tích đất sản xuất bị cuốn trôi từ năm 2010 đến năm 2017 khoảng 250ha. Nhiều khu vực sạt lở ảnh hưởng trực tiếp và gây mất an toàn đến hệ thống cơ sở hạ tầng, trong đó có các tuyến đường giao thông (49,12km), công trình đê điều (74,8km) và nhiều loại công trình khác.
Ngoài ra, hiện tượng bồi lấp, ách tắc dòng chảy diễn ra trên hầu hết hệ thống sông Ô Lâu - Ô Giang như: Tân Vĩnh Định, Cựu Vĩnh Định, Mai Lĩnh, Thác Ma, sông Nhùng và một số đoạn sông thuộc suối Sòng (sông Hiếu), thượng nguồn sông Hồ Xá đoạn qua xã Vĩnh Chấp, Vĩnh Long. Mặt cắt lòng sông tại các khu vực bị bồi lấp ngày càng bị thu hẹp, không đủ khả năng tiêu thoát lũ, dẫn đến hiện tượng sạt lở bờ sông lấn sâu vào các khu dân cư ngày càng nghiêm trọng.
1.Sạt lở bờ biển
Hiện tượng sạt lở, xâm thực xảy ra hầu hết ở các khu vực ven biển trên địa bàn tỉnh, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều khu dân cư và một số cơ sở hạ tầng quan trọng.
(Chi tiết có phụ lục 01 kèm theo)
Nguyên nhân
2.1. Nguyên nhân khách quan
Với những đặc điểm bất lợi về điều kiện tự nhiên (địa hình chủ yếu là đồi núi, mật độ sông suối cao, độ dốc và hệ số uốn cong lớn, lòng sông hẹp, vùng cửa sông chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều...) kết hợp với yếu tố thủy văn phân bố không đều theo không gian và thời gian (lượng mưa và các cơn bão tập trung chủ yếu vào tháng 9 đến tháng 12) đã làm tăng nguy cơ gây lũ lụt và ảnh hưởng đến khả năng tiêu thoát lũ của các lưu vực. Vì vậy, vào mùa mưa thường xuyên xảy ra các trận lũ lớn, tốc độ lũ lên nhanh gây ra hiện tượng sạt lở bờ sông trên địa bàn tỉnh.
Bờ biển tỉnh có chiều dài lớn, bãi biển hẹp, hàng năm thường xuyên chịu tác động của các cơn bão và ATNĐ tạo ra các con sóng có chiều cao lớn, tốc độ cao làm xói lở bờ biển. Đồng thời dòng hải văn dọc bờ biển thay đổi theo mùa làm gia tăng hiện tượng xâm thực bờ biển, bồi lấp cửa sông.
2.Nguyên nhân chủ quan
- Việc lồng ghép các nội dung phòng chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, phát triển ngành còn rất nhiều hạn chế. Vì vậy, nhiều công trình được đầu tư xây dựng chưa gắn với quy hoạch phòng chống thiên tai, đặc biệt là quy hoạch phòng chống lũ của các dòng sông làm ảnh hưởng tới khả năng tiêu thoát lũ của lưu vực và gây ra ngập lụt, sạt lở đất;
- Các hoạt động trái phép hoặc thiếu kiểm soát trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đã làm tăng nguy cơ gây lũ lụt, xói lở bờ sông. Trong đó, đáng chú ý là vấn đề chặt phá rừng, khai thác tài nguyên vùng đầu nguồn làm suy giảm tầng phủ thực vật, mất khả năng giữ nước và điều tiết của rừng;
- Sự mất cân bằng bùn cát do việc xây dựng các hồ chứa ở thượng nguồn và khai thác cát, sói ở lòng sông, ven biển đã làm giảm đáng kể lượng bùn cát; Tỷ lệ phân bổ dòng chảy giữa các sông chính thời gian gần đây có diễn biến rất phức tạp nhất là tại các khu vực phân lưu, hợp lưu;
- Việc lấn chiếm bờ sông, xây dựng công trình, đắp bờ bao, xả rác thải sinh hoạt... đã làm ách tắc và thay đổi dòng chảy chính của sông.
- Việc áp dụng khoa học công nghệ để xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển còn nhiều tồn tại, chưa chú trọng đến việc sử dụng vật liệu địa phương, thân thiện với môi trường; Công tác phân loại, sắp xếp thứ tự ưu tiên xử lý sạt lở chưa hợp lý, dẫn đến nhiều công trình được đầu tư không đúng mục đích, chưa bám sát các tiêu chí theo quy định tại Quy chế xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển;
- Công tác duy tu bảo dưỡng, xử lý hư hỏng cục bộ công trình, quản lý tổng thể bờ sông, bờ biển chưa được chú trọng làm gia tăng nguy cơ sạt lở; Việc bố trí kinh phí xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển chưa đúng trọng tâm, trọng điểm nên hiệu quả đầu tư thấp, công tác duy tu bảo dưỡng công trình chưa được quan tâm đúng mức; chưa có chính sách hợp lý để huy động các nguồn lực, trong đó có huy động từ các doanh nghiệp hưởng lợi và từ người dân;
- Việc quản lý sạt lở bờ sông, bờ biển chưa gắn với công tác quản lý quy hoạch lưu vực sông, quản lý đường bờ biển; các chương trình, kế hoạch tổng thể chưa được tổ chức xây dựng đồng bộ và thống nhất.
III. Giải pháp
1. Nhóm giải pháp phi công trình
- Tập huấn tuyên truyền, nâng cao tính chủ động cho chính quyền các cấp và cộng đồng dân cư về ý thức, trách nhiệm trong việc phòng ngừa, xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển; tổ chức diễn tập ứng phó với các tình huống thiên tai, nâng cao năng lực phòng chống thiên tai cho cộng đồng;
- Nghiên cứu, quan trắc, thông báo diễn biến, cảnh báo vùng có nguy cơ cao xảy ra sạt lở để có các biện pháp phòng tránh hoặc giảm thiểu thiệt hại;
- Điều tra xây dựng bản đồ cảnh báo vùng, địa bàn có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất để tổ chức di dời nhà cửa, công trình ra khỏi khu vực đang xảy ra sạt lở nguy hiểm, hoặc có nguy cơ sạt lở nguy hiểm; làm cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương;
- Nghiên cứu diễn biến và xác định nguyên nhân gây mất ổn định đường bờ biển; đề xuất giải pháp tổng thể ổn định bờ biển, cửa sông phục vụ đời sống dân sinh, phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện BĐKH;
- Điều chỉnh quy hoạch khai thác cát, sỏi lòng sông, quy hoạch sử dụng đất, các bãi vật liệu xây dựng dọc bãi sông đảm bảo yêu cầu tiêu thoát lũ và phòng chống sạt lở;
- Tăng cường công tác quản lý quy hoạch, sắp xếp bố trí lại khu dân cư, lồng ghép nhiệm vụ phòng chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và các chương trình, dự án khác trên địa bàn tỉnh (chương trình xây dựng nông thôn mới, chương trình sắp xếp bố trí dân cư,...);
- Tăng cường kiểm tra, ngăn chặn, xử lý việc khai thác cát, sỏi, khoáng sản, xây dựng công trình, nhà cửa hoặc thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh trái phép, sai phép làm ảnh hưởng hoặc gây sạt lở bờ sông, bờ biển;
- Thành lập và duy trì hoạt động của lực lượng quản lý để nhân dân dễ quản lý các tuyến đê, kè, sạt lở bờ sông, bờ biển tại các địa phương;
- Trồng cây truyền thống bảo vệ bờ (190 ha);
- Nghiên cứu các mô hình thực nghiệm, áp dụng công nghệ mới xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển.
Nhóm giải pháp công trình
- Lập dự án và triển khai các giải pháp đầu tư xây dựng công trình bảo vệ bờ sông, bờ biển. Căn cứ tình hình thực tế và đặc thù của các khu vực để triển khai giải pháp đầu tư hệ thống công trình khả thi, phù hợp, thân thiện môi trường và phát huy tối đa hiệu quả đầu tư, đảm bảo tuân thủ nguyên tắc sau:
+ Đối với các tuyến kè sông qua vùng nông thôn: Ưu tiên giữ lại hệ thống thảm phủ thực vật dọc mái kè (tre, nứa, cây bụi...); gia cố hộ chân kè bằng lăng thể đá đổ; gia cố mái kè, đỉnh kè và bố trí hệ thống thoát nước tại các khu vực đi qua khu dân cư;
+ Đối với các tuyến kè sông qua khu đô thị: Có thể giữ lại hệ thống thảm phủ thực vật hoặc cắt bỏ tùy vào địa hình. Hộ chân kè bằng lăng thể đá đổ hoặc kè tường đứng; gia cố mái kè, đỉnh kè bằng đá lát và bê tông;
+ Đối với các tuyến kè biển: Tùy vào đặc điểm từng khu vực để triển khai cứng hóa chân kè, mái kè, đỉnh kè bằng các giải pháp khác nhau (khối bê tông, cấu kiện, cừ bê tông...);
+ Đối với các khu vực sạt lở đi qua các khu du lịch, di tích lịch sử, văn hóa: Áp dụng các giải pháp công trình phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu phòng, chống sạt lở và không làm ảnh hưởng đến kiến trúc, hiện trạng vùng dự án;
+ Đối với các vị trí sạt lở ở miền núi: Chi đầu tư xây dựng công trình phòng, chống sạt lở ở các khu vực qua khu dân cư tập trung hoặc một số địa bàn không thể thực hiện di dời, khu vực có các cơ sở hạ tầng quan trọng;
- Ưu tiên xử lý các khu vực sạt lở đặc biệt nguy hiểm và nguy hiểm, đồng thời hàng năm tiếp tục rà soát, đánh giá cập nhật tình hình để điều chỉnh, bổ sung danh mục ưu tiên cho phù hợp. Xây dựng công trình tại các khu vực sạt lở và nạo vét dọc các tuyến sông bị bồi lấp, chỉnh trị dòng chủ lưu của các dòng sông nhằm đảm bảo tiêu thoát lũ theo các giai đoạn, cụ thể như sau:
+ Giai đoạn 2018-2020: Xây dựng 15,6km kè tại các khu vực cấp bách, nguy hiểm, bao gồm 11,1km kè sông, 4,5km kè biển và nạo vét 24km trục tiêu;
+ Dự kiến giai đoạn 2021-2025: Xây dựng 40,54 km kè, bao gồm 39,04km kè sông 1,5km kè biển tại các khu vực nguy hiểm và nạo vét 24km trục tiêu;
+ Dự kiến giai đoạn 2026-2030: Xây dựng 30,94km kè sông và nạo vét 14km trục tiêu còn lại.