Document: Khoản 12 Điều 1 Quyết định 170-VH/QĐ  chế độ nhuận bút sách và nhuận bút ngành sân khấu, múa, xiếc, điện ảnh, âm nhạc, hội họa, điêu khắc,mỹ nghệ, nhiếp ảnh,báo chí

Type: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá", "promulgation_date": "20/04/1961", "sign_number": "170-VH/QĐ", "signer": "Hoàng Minh Giám", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá", "promulgation_date": "20/04/1961", "sign_number": "170-VH/QĐ", "signer": "Hoàng Minh Giám", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá", "promulgation_date": "20/04/1961", "sign_number": "170-VH/QĐ", "signer": "Hoàng Minh Giám", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá", "promulgation_date": "20/04/1961", "sign_number": "170-VH/QĐ", "signer": "Hoàng Minh Giám", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá", "promulgation_date": "20/04/1961", "sign_number": "170-VH/QĐ", "signer": "Hoàng Minh Giám", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 12 Điều 1 Quyết định 170-VH/QĐ  chế độ nhuận bút sách và nhuận bút ngành sân khấu, múa, xiếc, điện ảnh, âm nhạc, hội họa, điêu khắc,mỹ nghệ, nhiếp ảnh,báo chí

Điều 1. – Ban hành chế độ nhuận bút sách và nhuận bút của các ngành sân khấu, múa, xiếc, điện ảnh, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, mỹ nghệ, nhiếp ảnh, báo chí như quy định ở dưới đây:
...
12. Căn cứ vào quy định trả nhuận bút sách (và nhuận bút đối với từng ngành âm nhạc, hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh, v.v… thuộc về hình thức nhuận bút sách) các nhà xuất bản sẽ dựa vào những quy định đó mà có thể quy định chi tiết để áp dụng cho từng nhà xuất bản được thích hợp, sau khi đã được Bộ Văn hóa thông qua.
II. NHUẬN BÚT KỊCH BẢN CỦA NGÀNH SÂN KHẤU
1. Kịch bản gồm : kịch nói, kịch hát v.v…Đối với các kịch bản ấy thuộc loại: sáng tác, cải tiến, phóng tác, chỉnh lý, chuyển thể, dịch (kể cả các kịch bản do những con rối biểu diễn) diễn trọn 1 tối (trên dưới hai tiếng) được các đoàn kịch quốc doanh và dân doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận thì tùy theo chất lượng một kịch bản mà trả tiền nhuận bút cơ bản từ 400đ đến 2.000đ và chia làm 2 loại như dưới đây:
Loại sáng tác kịch nói, kịch hát được trả tiền nhuận bút cơ bản làm 6 mức:
800đ, 1.000đ, 1.300đ, 1.500đ, 1.800đ, 2.000 đồng.
Loại cải biên, phóng tác, chỉnh lý, chuyển thể, dịch được trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 6 mức:
400đ, 550đ, 750đ, 900đ, 1.100đ, 1.300 đồng.
- Đối với các loại kịch bản nói trên không diễn trọn 1 tối (mà chỉ diễn khoảng trên dưới một tiếng) thì Vụ Nghệ thuật căn cứ, vào chất lượng kịch bản là chủ yếu và thời gian biểu diễn của mỗi kịch bản mà trả nhuận bút bằng 20% đến 80% số tiền nhuận bút cơ bản của các loại kịch bản diễn trọn một tối như đã quy định ở trên.
2. Đối với kịch bản như sáng tác, cải biên, phóng tác, chỉnh lý, chuyển thể, dịch được các đoàn kịch quốc doanh và dân doanh ở địa phương biểu diễn có doanh thu và được Sở hoặc Ty Văn hóa địa phương công nhận thì tùy theo chất lượng của kịch bản là chủ yếu và thời gian biểu diễn mà trả tiền thù lao bằng từ 30% đến 80% số tiền nhuận bút cơ bản của các loại kịch bản được biểu diễn trên sân khấu như điểm 1 đã quy định ở trên.
Nếu kịch bản nào đã diễn cho công chúng xem ở địa phương có giá trị và có thể phổ biến chung được thì các Sở hoặc Ty Văn hóa sẽ gửi kịch bản đó cho Vụ Nghệ thuật. Khi được Vụ Nghệ thuật công nhận và trả tiền nhuận bút cơ bản cho kịch bản đó như điểm 1 đã quy định ở trên thì sẽ trừ số tiền thù lao mà các Sở hoặc Ty Văn hóa đã trả cho tác giả trước đây.
3. Thành lập một quỹ trả nhận bút của ngành sân khấu: sẽ do các đoàn văn công trung ương trích đồng loạt một tỷ lệ là 8% số tiền doanh thu biểu diễn còn các đội văn công và các đoàn kịch dân doanh sẽ tùy khả năng tài chính của từng địa phương mà trích 5%, hoặc 6%, hoặc 7% số tiền doanh thu biểu diễn để thành lập một quỹ trả nhuận bút cho ngành sân khấu.
Số quỹ nói trên hiện nay tạm thời chia làm 2 phần. Một phần giao cho Vụ Nghệ thuật quản lý gọi là quỹ của trung ương; còn một phần quỹ giao cho Sở hoặc Ty Văn hóa quản lý gọi là quỹ của địa phương.
Cụ thể là: các đoàn văn công trung ương trích đồng loạt 8% số tiền doanh thu biểu diễn chuyển lên Vụ Nghệ thuật để làm quỹ của trung ương.
- Các đội văn công và các đoàn kịch dân doanh địa hương nếu diễn kịch bản do địa phương mình công nhận và đã trả tiền thù lao cho kịch bản đó rồi, thì sẽ tùy theo khả năng tài chính của từng địa phương mà trích 5% hoặc 6% hoặc 7% số tiền doanh thu biểu diễn chuyển lên Sở hoặc Ty Văn hóa trực tiếp phụ trách quản lý để làm quỹ của địa phương. Sở hoặc Ty Văn hóa đó sẽ trả tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn cho tác giả có kịch bản đó và báo cho Vụ Nghệ thuật biết.
- Các đội văn công và các đoàn kịch dân doanh địa phương nếu diễn kịch bản mà không thuộc địa phương mình công nhận và không phải trả thù lao cho kịch bản đó, thì vẫn phải trích 5% hoặc 6% hoặc 7% số tiền doanh thu biểu diễn để góp vào quỹ trả nhuận bút của ngành sân khấu, nhưng cần khuyến khích việc sử dụng kịch bản được rộng rãi nên được giữ lại 1% số tiền doanh thu biểu diễn đó để nhập vào quỹ trả nhuận bút của địa phương mình. Còn lại 4%, hoặc 5% hoặc 6% số tiền doanh thu biểu diễn đó, các Sở hoặc Ty Văn hóa địa phương sẽ chuyển cho Vụ Nghệ thuật. Vụ Nghệ thuật có trách nhiệm chuyển số tiền trả nhuận bút về số lượt biểu diễn cho tác giả theo như điều 4 đã quy định dưới đây. Còn tất cả số tiền còn lại Vụ Nghệ thuật sẽ chuyển cho nơi đã công nhận và đã trả thù lao cho kịch bản đó.
4. Đối với các kịch bản được Vụ Nghệ thuật hoặc được các Sở, Ty Văn hóa công nhận và đã được trả đủ mức nhuận bút cơ bản hoặc đã trả đủ mức thù lao cho kịch bản đó như điểm 1 và 2 đã quy định ở trên, còn được trả nhuận bút về số lượt biểu diễn bằng cách trích một tỷ lệ % (phần trăm) số tiền doanh thu biểu diễn của kịch bản đó (chưa trừ chi phí biểu diễn) để trả nhuận bút cho tác giả.
Cụ thể là: Kịch bản thuộc loại sáng tác được trích 1% số tiền doanh thu biểu diễn nhưng khi kịch bản đó đã hưởng nhuận bút vể số lượt biểu diễn tới 50% số tiền nhuận bút cơ bản rồi thì bắt đầu giảm xuống chỉ còn được hưởng 0,6% số tiền doanh thu biểu diễn.
Kịch bản thuộc loại cải biên, phóng tác, chỉnh lý, chuyển thể, dịch được trích 0,6% số tiền doanh thu biểu diễn, nhưng khi kịch bản đó đã hưởng nhuận bút về số lượt biểu diễn tới 50% số tiền nhuận bút cơ bản thì bắt đầu giảm xuống chỉ còn được hưởng 0,3% số tiền doanh thu biểu diễn.
5. Đối với các kịch bản, đã công diễn trước ngày 01-03-1959 và đã được hưởng tỷ lệ % (phần trăm) tiền doanh thu biểu diễn thì không được hưởng nhuận bút cơ bản nữa, nhưng vẫn được hưởng nhuận bút về số lượt biểu diễn như điểm 4 đã quy định ở trên.
6. a) Đối với các kịch bản, công diễn sau ngày 01-03-1959 thì được tính bắt đầu từ ngày chính thức công diễn đầu tiên ở một đoàn kịch quốc doanh hoặc dân doanh ở trung ương cũng như ở địa phương cho hết thời hạn là 2 năm thì bắt đầu hưởng nhuận bút về số lượt biểu diễn như điểm 4 đã quy định ở trên ví dụ: 1 kịch bản công diễn từ 01-05-1959 thì đến ngày 01-05-1961 mới hết thời hạn.
b) Vì tình hình đặt biệt của ngành sân khấu nên sau ngày 01-03-1959 việc trả nhuận bút cho tác giả có kịch bản đang công diễn quy định như dưới đây:
- Kịch bản thuộc loại sáng tác diễn ở các đoàn văn công trung ương trích 6% số tiền doanh thu biểu diễn, diễn ở các đội văn công và các đoàn kịch dân doanh địa phương thì sẽ tùy theo khả năng tài chính của từng địa phương mà trích 4% hoặc 5% hoặc 6% số tiền doanh thu biểu diễn (chưa trừ chi phí biểu diễn) để trả nhuận bút cho tác giả có kịch bản đó.
- Kịch bản thuộc loại cải biên, phóng tác, chỉnh lý, chuyển thể, dịch diễn ở các đoàn văn công trung ương trích 4% số tiền doanh thu biểu diễn, diễn ở các đội văn công và đoàn kịch dân doanh địa phương thì sẽ tùy theo khả năng tài chính của từng địa phương mà trích 2% hoặc 3% hoặc 4% số tiền doanh thu biểu diễn (chưa trừ chi phí biểu diễn) để trả nhuận bút cho tác giả có kịch bản đó.
c) Đối với một số vở kịch có giá trị, công diễn sau ngày 01-03-1959 thì tính bắt đầu từ ngày chính thức công diễn cho đến hết thời hạn là 2 năm, nếu chưa được hưởng đủ mức nhuận bút cơ bản hoặc mức thù lao như điểm 1 và 2 đã quy định ở trên thì có thể giải quyết bằng hai cách: một là, ngoài thời hạn 2 năm nói trên, sẽ ra hạn thêm 6 tháng nữa để tác giả có kịch bản đó được tiếp tục hưởng tỷ lệ % (phần trăm) số tiền doanh thu biểu diễn như mục b ở điểm 6 nói trên đã quy định; hai là, xét một số vỡ hiện nay vẫn công diễn mà trả nhuận bút cơ bản hoặc trả thù lao cho tương xứng với giá trị của kịch bản đó. Khi trả nhuận bút cơ bản theo mức ở trung ương, hoặc trả thù lao theo mức ở địa phương thì sẽ trừ số tiền nhuận bút theo chế độ cũ mà trước đây tác giả có kịch bản đó đã hưởng.
7. Đối với các loại kịch, bắt đầu chính thức công diễn từ ngày 01-03-1961 trở đi sẽ thực hiện đúng như bản quy định trả nhuận bút kịch bản của ngành sân khấu.
8. Đối với các loại kịch bản văn học sân khấu sau khi đã được Vụ Nghệ thuật hoặc được các Sở, Ty Văn hóa địa phương công nhận thì sẽ căn cứ vào chất lượng mà sơ bộ định giá trả 50% số tiền nhuận bút cơ bản, hoặc 50% số tiền thù lao cho tác giả, đồng thời đặt trách nhiệm cho tác giả sửa chữa kịch bản đó cho tới khi được chính thức công diễn sẽ định giá chính thức và trả nốt. Nhưng nếu vì một lý do chính đáng nào đó, kịch bản đã được công nhận mà không biểu diễn được, hoặc có biểu diễn mà không doanh thu, thì tác giả đó vẫn được hưởng tối thiểu là 50% số tiền nhuận bút cơ bản, hoặc 50% số tiền thù lao, và nơi sử dụng kịch bản đó có trách nhiệm thương lượng với tác giả, nếu sau này kịch bản đó được công diễn, thì sẽ tính trả thêm cho đủ mức tiền nhuận bút cơ bản đã quy định.
Trường hợp kịch bản được công nhận và đã chính thức diễn cho nhân dân xem mà nơi sử dụng kịch bản đó lại yêu cầu tác giả chỉnh lý cho kịch bản đó được tốt hơn, thì sẽ căn cứ vào công phu và chất lượng của kịch bản đó được nâng cao hơn trước nhiều hay ít, mà nơi sử dụng trả thêm cho tác giả tiền thù lao bằng từ 5% đến 20% số tiền nhuận bút cơ bản hoặc số tiền thù lao nói trên.
9. Đối với những kịch bản sáng tác chưa được công nhận mà được Vụ Nghệ thuật in Ronéo phổ biến xuống các Sở, Ty Văn hóa hoặc được các Sở Ty Văn hóa in Ronéo hoặc Litho phổ biến xuống các xí nghiệp, công trường khu phố, xã v.v…thì căn cứ vào chất lượng là chủ yếu và thời gian biểu diễn dài hay ngắn mà trả tiền thù lao cho một kịch bản chia làm 4 mức: 10đ, 20đ, 30đ, 40đ. Nếu chỉ là cải biên, phóng tác, chỉnh lý, chuyển thể, dịch, thì được trả 40% đến 60% của thù lao sáng tác. Trường hợp kịch bản nào đã trả tiền nhuận bút cơ bản hoặc được trả tiền thù lao rồi mà in Litho hoặc Ronéo để phổ biến thì không phải trả khoản thù lao nói trên nữa.
10. Đối với các kịch bản sân khấu truyền thanh như: kịch, tuồng, chèo, cải lương, v.v… do Đài phát thanh Tiếng nói Việt- Nam yêu cầu tác giả sáng tác thì tùy theo chất lượng của kịch bản đó là chủ yếu và thời gian biểu diễn mà Đài trả tiền nhuận bút cơ bản cho mỗi kịch bản từ 10đ đến 200 đồng.
Cụ thể là :
Kịch bản từ 5 đến 15 phút được trả nhuận bút cơ bản từ 10 đồng đến 30 đồng.
Kịch bản từ 15 đến 30 phút được trả nhuận bút cơ bản từ 20 đồng đến 50 đồng.
Kịch bản từ 30 đến 60 phút được trả nhuận bút cơ bản từ 40 đồng đến 80 đồng.
Kịch bản từ 60 đến 120 phút được trả nhuận bút cơ bản từ 60 đồng đến 200 đồng.
Trường hợp các kịch bản nói trên thuộc loại cải biên, phóng tác, chỉnh lý, chuyển thể, dịch, thì Đài sẽ trả nhuận bút bằng từ 20% đến 50% số tiền nhuận bút cơ bản của kịch bản sáng tác.
11. Tất cả các khoản tiền trả nhuận bút hoặc thù lao nói trên trả cho kịch bản, múa, xiếc, nhạc sử dụng bằng hình thức sân khấu đều trích vào quỹ trả nhuận bút của ngành sân khấu, ở trung ương hoặc ở địa phương. Riêng những tác phẩm sử dụng bằng hình thức phát thanh thì sẽ do Đài phát thanh tiếng nói Việt-Nam trích vào quỹ sự nghiệp phí của mình mà trả nhuận bút.
12. Thành lập một quỹ cho vay để trả nhuận bút của ngành sân khấu ở trung ương cũng như ở địa phương để giúp cho thực hiện chế độ nhuận bút của ngành sân khấu được tốt (Bộ Văn hóa và Bộ Tài chính sẽ có văn bản hướng dẫn về việc thành lập quỹ đó).
III. NHUẬN BÚT CỦA NGÀNH MÚA
1. Đối với các điệu múa, múa trong kịch hoặc trong kịch hát, v.v… được các đoàn văn công trung ương biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận thì tùy theo chất lượng là chủ yếu mà trả tiền nhuận bút cơ bản theo những điểm quy định dưới đây:
2. a) Sáng tác tiết mục múa từ 4 đến 8 người ví dụ: như điệu múa Chuông thời gian biểu diễn dưới 10 phút tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức: 70đ, 100đ, 120đ, 150đ.
b) Sáng tác tiết mục múa từ 9 đến 16 người ví dụ như điệu múa Rông chiêng, ô và sáng tác múa đơn (solo) múa đôi (Duo) (ví dụ như múa Lào, múa dưới trăng) thời gian biểu diễn từ 4 đến 15 phút tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức: 100đ, 155đ, 195đ, 250đ.
3. a) Sáng tác tiết mục múa trên 17 người (ví dụ như múa Sạp) thời gian biểu diễn từ 7 đến 15 phút tùy theo chất lượng làm chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức: 120đ, 185đ, 235đ, 300đ.
Trường hợp tiết mục đông người có thêm nội dung kịch được trả thêm 20% nhuận bút cơ bản.
b) Thơ vũ đạo (nội dung câu chuyện có kịch tính như chim Gâu, Phan đình Giót) từ 12 người trở lên thời gian biểu diễn từ 10 đến 15 phút tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức: 200đ, 165đ, 335đ, 400đ, nếu có từ 2 cảnh trở lên được trả thêm 20% đến 40% nhuận bút cơ bản.
4. Tổ Khúc múa (suite) là hình thức gồm nhiều điệu múa nối tiếp nhau mà dựng lên, vì vậy sẽ cộng từng điệu múa một trong tổ khúc múa mà trả nhuận bút cơ bản.
5. Đối với kịch múa diễn trọn một tối (trên dưới 2 tiếng) ví dụ: Tấm, Cám thì tùy theo chất lượng của một kịch múa mà trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 6 mức: 800đ, 1.000đ, 1.300đ, 1.500đ, 1.800đ, 2.000đ.
Nếu kịch múa chỉ diễn trên dưới một tiếng thì Vụ Nghệ thuật căn cứ vào chất lượng của kịch múa đó là chủ yếu và thời gian biểu diễn mà trả nhuận bút bằng từ 20% đến 80% số tiền nhuận bút cơ bản của kịch múa diễn trọn một tối như đã quy định ở trên.
6. Đối với các điệu múa nói trên ngoài việc được trả tiền nhuận bút cơ bản rồi còn được trả tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn. Vụ Nghệ thuật sẽ căn cứ vào số lượng vào số lượt biểu diễn nhiều hay ít mà hàng năm trả thêm tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn cho tác giả, chia làm 3 mức tính theo tỷ lệ % (phần trăm) của nhuận bút cơ bản và giảm dần xuống.
Cụ thể từng năm được trả tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn như dưới đây:

Năm thứ nhất

Năm thứ hai

Năm thứ ba trở đi

Nhuận bút cơ bản

Số lượt điệu múa biểu diễn nhiều được trả thêm
Số lượt điệu múa biểu diễn trung bình được trả thêm
Số lượt điệu múa biểu diễn ít được trả thêm

50%

40%

30%

40%

30%

20%

30%

20%

10%

của nhuận bút cơ bản
nt

nt

Trường hợp năm thứ nhất cũng như những năm sau mà những điệu múa nói trên được sử dụng biểu diễn quá ít thì nơi sử dụng không phải trả nhuận bút về số lượt biểu diễn như đã quy định ở trên.
7. Múa trong kịch hát nếu là điệu múa hoàn toàn độc lập thì người sáng tác núa được trả đủ tiền nhuận bút cơ bản như những đểim đã quy định ở trên, nếu múa chỉ là phụ họa thêm cho phần hát thì tùy theo sự đóng góp của nó mà trả tiền nhuận bút bằng từ 30% đến 60% số tiền nhuận bút cơ bản.
Trong kịch hát có từng đoạn múa thì tính từng đoạn múa ấy tùy theo chất lượng của nó mà cộng lại để trả nhuận bút cơ bản.
8. Một tiết mục vừa hát vừa múa, nếu múa thì là chủ đạo, hát là phụ (ví dụ như: điệu múa lên núi hái chè của Quảng tây) thì người sáng tác được trả đủ mức tiền nhuận bút cơ bản theo những điểm đã quy định ở trên. Nếu hát là chủ đạo, múa là phụ thì người sáng tác múa được trả nhuận bút bằng từ 30% đến 60% tiền nhuận bút cơ bản về múa.
9. Sáng tác kịch bản trong tiết mục múa đông người, thợ vũ đạo, tổ khúc múa, kịch múa được trả nhuận bút bằng 40% tiền nhuận bút cơ bản của sáng tác múa, nhưng nếu chỉ là cải biên, chỉnh lý, kịch bản hóa các chuyện cổ tích, truyền thuyết thì được trả nhuận bút bằng từ 40% đến 60% số tiền nhuận bút cơ bản của sáng tác kịch bản cho múa.
10. Sáng tác các điệu múa được xưởng phim Việt nam công nhận và cho quay thành phim thì các điệu múa đó được trả tiền nhuận bút cơ bản như những điểm đã quy định ở trên. Ngoài ra còn được trả thêm tiền nhuận bút về số lượng phát hành như đã nói ở điểm 4 trong quy định trả nhuận bút kịch bản của ngành điện ảnh.
11. Các tiết mục múa thuộc loại phóng tác, cải biên, chỉnh lý (kể cả các điệu múa cổ điển) thì tùy theo chất lượng cao hay thấp là chủ yếu và công phu nhiều hay ít mà trả nhuận bút bằng từ 40% đến 60% số tiền nhuận bút cơ bản của sáng tác múa.
12. Sáng tác nhạc cho múa (kể cả phối âm phối khí) được trả tiền nhuận bút cơ bản bằng mức tiền nhuận bút cơ bản của sáng tác tiết mục múa như những điểm đã quy định ở trên. Nhưng chủ yếu là dựa vào chất lượng nhạc mà định mức tiền nhuận bút cho hợp lý, chứ không lệ thuộc vào tiết mục múa mà trả tiền nhuận bút cho nhạc.
Nếu tác giả sáng tác nhạc kiêm phối âm phối khí thì tác giả đó được hưởng đủ 100% tiền nhuận bút cơ bản. Nhưng nếu người khác phối âm, phối khí thì người ấy được hưởng 30% còn người sáng tác nhạc được hưởng 70% số tiền nhuận bút cơ bản.

Content:
Căn cứ vào quy định trả nhuận bút sách (và nhuận bút đối với từng ngành âm nhạc, hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh, v.v… thuộc về hình thức nhuận bút sách) các nhà xuất bản sẽ dựa vào những quy định đó mà có thể quy định chi tiết để áp dụng cho từng nhà xuất bản được thích hợp, sau khi đã được Bộ Văn hóa thông qua.
II. NHUẬN BÚT KỊCH BẢN CỦA NGÀNH SÂN KHẤU
1. Kịch bản gồm : kịch nói, kịch hát v.v…Đối với các kịch bản ấy thuộc loại: sáng tác, cải tiến, phóng tác, chỉnh lý, chuyển thể, dịch (kể cả các kịch bản do những con rối biểu diễn) diễn trọn 1 tối (trên dưới hai tiếng) được các đoàn kịch quốc doanh và dân doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận thì tùy theo chất lượng một kịch bản mà trả tiền nhuận bút cơ bản từ 400đ đến 2.000đ và chia làm 2 loại như dưới đây:
Loại sáng tác kịch nói, kịch hát được trả tiền nhuận bút cơ bản làm 6 mức:
800đ, 1.000đ, 1.300đ, 1.500đ, 1.800đ, 2.000 đồng.
Loại cải biên, phóng tác, chỉnh lý, chuyển thể, dịch được trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 6 mức:
400đ, 550đ, 750đ, 900đ, 1.100đ, 1.300 đồng.
- Đối với các loại kịch bản nói trên không diễn trọn 1 tối (mà chỉ diễn khoảng trên dưới một tiếng) thì Vụ Nghệ thuật căn cứ, vào chất lượng kịch bản là chủ yếu và thời gian biểu diễn của mỗi kịch bản mà trả nhuận bút bằng 20% đến 80% số tiền nhuận bút cơ bản của các loại kịch bản diễn trọn một tối như đã quy định ở trên.
2. Đối với kịch bản như sáng tác, cải biên, phóng tác, chỉnh lý, chuyển thể, dịch được các đoàn kịch quốc doanh và dân doanh ở địa phương biểu diễn có doanh thu và được Sở hoặc Ty Văn hóa địa phương công nhận thì tùy theo chất lượng của kịch bản là chủ yếu và thời gian biểu diễn mà trả tiền thù lao bằng từ 30% đến 80% số tiền nhuận bút cơ bản của các loại kịch bản được biểu diễn trên sân khấu như điểm 1 đã quy định ở trên.
Nếu kịch bản nào đã diễn cho công chúng xem ở địa phương có giá trị và có thể phổ biến chung được thì các Sở hoặc Ty Văn hóa sẽ gửi kịch bản đó cho Vụ Nghệ thuật. Khi được Vụ Nghệ thuật công nhận và trả tiền nhuận bút cơ bản cho kịch bản đó như điểm 1 đã quy định ở trên thì sẽ trừ số tiền thù lao mà các Sở hoặc Ty Văn hóa đã trả cho tác giả trước đây.
3. Thành lập một quỹ trả nhận bút của ngành sân khấu: sẽ do các đoàn văn công trung ương trích đồng loạt một tỷ lệ là 8% số tiền doanh thu biểu diễn còn các đội văn công và các đoàn kịch dân doanh sẽ tùy khả năng tài chính của từng địa phương mà trích 5%, hoặc 6%, hoặc 7% số tiền doanh thu biểu diễn để thành lập một quỹ trả nhuận bút cho ngành sân khấu.
Số quỹ nói trên hiện nay tạm thời chia làm 2 phần. Một phần giao cho Vụ Nghệ thuật quản lý gọi là quỹ của trung ương; còn một phần quỹ giao cho Sở hoặc Ty Văn hóa quản lý gọi là quỹ của địa phương.
Cụ thể là: các đoàn văn công trung ương trích đồng loạt 8% số tiền doanh thu biểu diễn chuyển lên Vụ Nghệ thuật để làm quỹ của trung ương.
- Các đội văn công và các đoàn kịch dân doanh địa hương nếu diễn kịch bản do địa phương mình công nhận và đã trả tiền thù lao cho kịch bản đó rồi, thì sẽ tùy theo khả năng tài chính của từng địa phương mà trích 5% hoặc 6% hoặc 7% số tiền doanh thu biểu diễn chuyển lên Sở hoặc Ty Văn hóa trực tiếp phụ trách quản lý để làm quỹ của địa phương. Sở hoặc Ty Văn hóa đó sẽ trả tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn cho tác giả có kịch bản đó và báo cho Vụ Nghệ thuật biết.
- Các đội văn công và các đoàn kịch dân doanh địa phương nếu diễn kịch bản mà không thuộc địa phương mình công nhận và không phải trả thù lao cho kịch bản đó, thì vẫn phải trích 5% hoặc 6% hoặc 7% số tiền doanh thu biểu diễn để góp vào quỹ trả nhuận bút của ngành sân khấu, nhưng cần khuyến khích việc sử dụng kịch bản được rộng rãi nên được giữ lại 1% số tiền doanh thu biểu diễn đó để nhập vào quỹ trả nhuận bút của địa phương mình. Còn lại 4%, hoặc 5% hoặc 6% số tiền doanh thu biểu diễn đó, các Sở hoặc Ty Văn hóa địa phương sẽ chuyển cho Vụ Nghệ thuật. Vụ Nghệ thuật có trách nhiệm chuyển số tiền trả nhuận bút về số lượt biểu diễn cho tác giả theo như điều 4 đã quy định dưới đây. Còn tất cả số tiền còn lại Vụ Nghệ thuật sẽ chuyển cho nơi đã công nhận và đã trả thù lao cho kịch bản đó.
4. Đối với các kịch bản được Vụ Nghệ thuật hoặc được các Sở, Ty Văn hóa công nhận và đã được trả đủ mức nhuận bút cơ bản hoặc đã trả đủ mức thù lao cho kịch bản đó như điểm 1 và 2 đã quy định ở trên, còn được trả nhuận bút về số lượt biểu diễn bằng cách trích một tỷ lệ % (phần trăm) số tiền doanh thu biểu diễn của kịch bản đó (chưa trừ chi phí biểu diễn) để trả nhuận bút cho tác giả.
Cụ thể là: Kịch bản thuộc loại sáng tác được trích 1% số tiền doanh thu biểu diễn nhưng khi kịch bản đó đã hưởng nhuận bút vể số lượt biểu diễn tới 50% số tiền nhuận bút cơ bản rồi thì bắt đầu giảm xuống chỉ còn được hưởng 0,6% số tiền doanh thu biểu diễn.
Kịch bản thuộc loại cải biên, phóng tác, chỉnh lý, chuyển thể, dịch được trích 0,6% số tiền doanh thu biểu diễn, nhưng khi kịch bản đó đã hưởng nhuận bút về số lượt biểu diễn tới 50% số tiền nhuận bút cơ bản thì bắt đầu giảm xuống chỉ còn được hưởng 0,3% số tiền doanh thu biểu diễn.
5. Đối với các kịch bản, đã công diễn trước ngày 01-03-1959 và đã được hưởng tỷ lệ % (phần trăm) tiền doanh thu biểu diễn thì không được hưởng nhuận bút cơ bản nữa, nhưng vẫn được hưởng nhuận bút về số lượt biểu diễn như điểm 4 đã quy định ở trên.
6. a) Đối với các kịch bản, công diễn sau ngày 01-03-1959 thì được tính bắt đầu từ ngày chính thức công diễn đầu tiên ở một đoàn kịch quốc doanh hoặc dân doanh ở trung ương cũng như ở địa phương cho hết thời hạn là 2 năm thì bắt đầu hưởng nhuận bút về số lượt biểu diễn như điểm 4 đã quy định ở trên ví dụ: 1 kịch bản công diễn từ 01-05-1959 thì đến ngày 01-05-1961 mới hết thời hạn.
b) Vì tình hình đặt biệt của ngành sân khấu nên sau ngày 01-03-1959 việc trả nhuận bút cho tác giả có kịch bản đang công diễn quy định như dưới đây:
- Kịch bản thuộc loại sáng tác diễn ở các đoàn văn công trung ương trích 6% số tiền doanh thu biểu diễn, diễn ở các đội văn công và các đoàn kịch dân doanh địa phương thì sẽ tùy theo khả năng tài chính của từng địa phương mà trích 4% hoặc 5% hoặc 6% số tiền doanh thu biểu diễn (chưa trừ chi phí biểu diễn) để trả nhuận bút cho tác giả có kịch bản đó.
- Kịch bản thuộc loại cải biên, phóng tác, chỉnh lý, chuyển thể, dịch diễn ở các đoàn văn công trung ương trích 4% số tiền doanh thu biểu diễn, diễn ở các đội văn công và đoàn kịch dân doanh địa phương thì sẽ tùy theo khả năng tài chính của từng địa phương mà trích 2% hoặc 3% hoặc 4% số tiền doanh thu biểu diễn (chưa trừ chi phí biểu diễn) để trả nhuận bút cho tác giả có kịch bản đó.
c) Đối với một số vở kịch có giá trị, công diễn sau ngày 01-03-1959 thì tính bắt đầu từ ngày chính thức công diễn cho đến hết thời hạn là 2 năm, nếu chưa được hưởng đủ mức nhuận bút cơ bản hoặc mức thù lao như điểm 1 và 2 đã quy định ở trên thì có thể giải quyết bằng hai cách: một là, ngoài thời hạn 2 năm nói trên, sẽ ra hạn thêm 6 tháng nữa để tác giả có kịch bản đó được tiếp tục hưởng tỷ lệ % (phần trăm) số tiền doanh thu biểu diễn như mục b ở điểm 6 nói trên đã quy định; hai là, xét một số vỡ hiện nay vẫn công diễn mà trả nhuận bút cơ bản hoặc trả thù lao cho tương xứng với giá trị của kịch bản đó. Khi trả nhuận bút cơ bản theo mức ở trung ương, hoặc trả thù lao theo mức ở địa phương thì sẽ trừ số tiền nhuận bút theo chế độ cũ mà trước đây tác giả có kịch bản đó đã hưởng.
7. Đối với các loại kịch, bắt đầu chính thức công diễn từ ngày 01-03-1961 trở đi sẽ thực hiện đúng như bản quy định trả nhuận bút kịch bản của ngành sân khấu.
8. Đối với các loại kịch bản văn học sân khấu sau khi đã được Vụ Nghệ thuật hoặc được các Sở, Ty Văn hóa địa phương công nhận thì sẽ căn cứ vào chất lượng mà sơ bộ định giá trả 50% số tiền nhuận bút cơ bản, hoặc 50% số tiền thù lao cho tác giả, đồng thời đặt trách nhiệm cho tác giả sửa chữa kịch bản đó cho tới khi được chính thức công diễn sẽ định giá chính thức và trả nốt. Nhưng nếu vì một lý do chính đáng nào đó, kịch bản đã được công nhận mà không biểu diễn được, hoặc có biểu diễn mà không doanh thu, thì tác giả đó vẫn được hưởng tối thiểu là 50% số tiền nhuận bút cơ bản, hoặc 50% số tiền thù lao, và nơi sử dụng kịch bản đó có trách nhiệm thương lượng với tác giả, nếu sau này kịch bản đó được công diễn, thì sẽ tính trả thêm cho đủ mức tiền nhuận bút cơ bản đã quy định.
Trường hợp kịch bản được công nhận và đã chính thức diễn cho nhân dân xem mà nơi sử dụng kịch bản đó lại yêu cầu tác giả chỉnh lý cho kịch bản đó được tốt hơn, thì sẽ căn cứ vào công phu và chất lượng của kịch bản đó được nâng cao hơn trước nhiều hay ít, mà nơi sử dụng trả thêm cho tác giả tiền thù lao bằng từ 5% đến 20% số tiền nhuận bút cơ bản hoặc số tiền thù lao nói trên.
9. Đối với những kịch bản sáng tác chưa được công nhận mà được Vụ Nghệ thuật in Ronéo phổ biến xuống các Sở, Ty Văn hóa hoặc được các Sở Ty Văn hóa in Ronéo hoặc Litho phổ biến xuống các xí nghiệp, công trường khu phố, xã v.v…thì căn cứ vào chất lượng là chủ yếu và thời gian biểu diễn dài hay ngắn mà trả tiền thù lao cho một kịch bản chia làm 4 mức: 10đ, 20đ, 30đ, 40đ. Nếu chỉ là cải biên, phóng tác, chỉnh lý, chuyển thể, dịch, thì được trả 40% đến 60% của thù lao sáng tác. Trường hợp kịch bản nào đã trả tiền nhuận bút cơ bản hoặc được trả tiền thù lao rồi mà in Litho hoặc Ronéo để phổ biến thì không phải trả khoản thù lao nói trên nữa.
10. Đối với các kịch bản sân khấu truyền thanh như: kịch, tuồng, chèo, cải lương, v.v… do Đài phát thanh Tiếng nói Việt- Nam yêu cầu tác giả sáng tác thì tùy theo chất lượng của kịch bản đó là chủ yếu và thời gian biểu diễn mà Đài trả tiền nhuận bút cơ bản cho mỗi kịch bản từ 10đ đến 200 đồng.
Cụ thể là :
Kịch bản từ 5 đến 15 phút được trả nhuận bút cơ bản từ 10 đồng đến 30 đồng.
Kịch bản từ 15 đến 30 phút được trả nhuận bút cơ bản từ 20 đồng đến 50 đồng.
Kịch bản từ 30 đến 60 phút được trả nhuận bút cơ bản từ 40 đồng đến 80 đồng.
Kịch bản từ 60 đến 120 phút được trả nhuận bút cơ bản từ 60 đồng đến 200 đồng.
Trường hợp các kịch bản nói trên thuộc loại cải biên, phóng tác, chỉnh lý, chuyển thể, dịch, thì Đài sẽ trả nhuận bút bằng từ 20% đến 50% số tiền nhuận bút cơ bản của kịch bản sáng tác.
11. Tất cả các khoản tiền trả nhuận bút hoặc thù lao nói trên trả cho kịch bản, múa, xiếc, nhạc sử dụng bằng hình thức sân khấu đều trích vào quỹ trả nhuận bút của ngành sân khấu, ở trung ương hoặc ở địa phương. Riêng những tác phẩm sử dụng bằng hình thức phát thanh thì sẽ do Đài phát thanh tiếng nói Việt-Nam trích vào quỹ sự nghiệp phí của mình mà trả nhuận bút.
Thành lập một quỹ cho vay để trả nhuận bút của ngành sân khấu ở trung ương cũng như ở địa phương để giúp cho thực hiện chế độ nhuận bút của ngành sân khấu được tốt (Bộ Văn hóa và Bộ Tài chính sẽ có văn bản hướng dẫn về việc thành lập quỹ đó).
III. NHUẬN BÚT CỦA NGÀNH MÚA
1. Đối với các điệu múa, múa trong kịch hoặc trong kịch hát, v.v… được các đoàn văn công trung ương biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận thì tùy theo chất lượng là chủ yếu mà trả tiền nhuận bút cơ bản theo những điểm quy định dưới đây:
2. a) Sáng tác tiết mục múa từ 4 đến 8 người ví dụ: như điệu múa Chuông thời gian biểu diễn dưới 10 phút tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức: 70đ, 100đ, 120đ, 150đ.
b) Sáng tác tiết mục múa từ 9 đến 16 người ví dụ như điệu múa Rông chiêng, ô và sáng tác múa đơn (solo) múa đôi (Duo) (ví dụ như múa Lào, múa dưới trăng) thời gian biểu diễn từ 4 đến 15 phút tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức: 100đ, 155đ, 195đ, 250đ.
3. a) Sáng tác tiết mục múa trên 17 người (ví dụ như múa Sạp) thời gian biểu diễn từ 7 đến 15 phút tùy theo chất lượng làm chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức: 120đ, 185đ, 235đ, 300đ.
Trường hợp tiết mục đông người có thêm nội dung kịch được trả thêm 20% nhuận bút cơ bản.
b) Thơ vũ đạo (nội dung câu chuyện có kịch tính như chim Gâu, Phan đình Giót) từ 12 người trở lên thời gian biểu diễn từ 10 đến 15 phút tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức: 200đ, 165đ, 335đ, 400đ, nếu có từ 2 cảnh trở lên được trả thêm 20% đến 40% nhuận bút cơ bản.
4. Tổ Khúc múa (suite) là hình thức gồm nhiều điệu múa nối tiếp nhau mà dựng lên, vì vậy sẽ cộng từng điệu múa một trong tổ khúc múa mà trả nhuận bút cơ bản.
5. Đối với kịch múa diễn trọn một tối (trên dưới 2 tiếng) ví dụ: Tấm, Cám thì tùy theo chất lượng của một kịch múa mà trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 6 mức: 800đ, 1.000đ, 1.300đ, 1.500đ, 1.800đ, 2.000đ.
Nếu kịch múa chỉ diễn trên dưới một tiếng thì Vụ Nghệ thuật căn cứ vào chất lượng của kịch múa đó là chủ yếu và thời gian biểu diễn mà trả nhuận bút bằng từ 20% đến 80% số tiền nhuận bút cơ bản của kịch múa diễn trọn một tối như đã quy định ở trên.
6. Đối với các điệu múa nói trên ngoài việc được trả tiền nhuận bút cơ bản rồi còn được trả tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn. Vụ Nghệ thuật sẽ căn cứ vào số lượng vào số lượt biểu diễn nhiều hay ít mà hàng năm trả thêm tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn cho tác giả, chia làm 3 mức tính theo tỷ lệ % (phần trăm) của nhuận bút cơ bản và giảm dần xuống.
Cụ thể từng năm được trả tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn như dưới đây:

Năm thứ nhất

Năm thứ hai

Năm thứ ba trở đi

Nhuận bút cơ bản

Số lượt điệu múa biểu diễn nhiều được trả thêm
Số lượt điệu múa biểu diễn trung bình được trả thêm
Số lượt điệu múa biểu diễn ít được trả thêm

50%

40%

30%

40%

30%

20%

30%

20%

10%

của nhuận bút cơ bản
nt

nt

Trường hợp năm thứ nhất cũng như những năm sau mà những điệu múa nói trên được sử dụng biểu diễn quá ít thì nơi sử dụng không phải trả nhuận bút về số lượt biểu diễn như đã quy định ở trên.
7. Múa trong kịch hát nếu là điệu múa hoàn toàn độc lập thì người sáng tác núa được trả đủ tiền nhuận bút cơ bản như những đểim đã quy định ở trên, nếu múa chỉ là phụ họa thêm cho phần hát thì tùy theo sự đóng góp của nó mà trả tiền nhuận bút bằng từ 30% đến 60% số tiền nhuận bút cơ bản.
Trong kịch hát có từng đoạn múa thì tính từng đoạn múa ấy tùy theo chất lượng của nó mà cộng lại để trả nhuận bút cơ bản.
8. Một tiết mục vừa hát vừa múa, nếu múa thì là chủ đạo, hát là phụ (ví dụ như: điệu múa lên núi hái chè của Quảng tây) thì người sáng tác được trả đủ mức tiền nhuận bút cơ bản theo những điểm đã quy định ở trên. Nếu hát là chủ đạo, múa là phụ thì người sáng tác múa được trả nhuận bút bằng từ 30% đến 60% tiền nhuận bút cơ bản về múa.
9. Sáng tác kịch bản trong tiết mục múa đông người, thợ vũ đạo, tổ khúc múa, kịch múa được trả nhuận bút bằng 40% tiền nhuận bút cơ bản của sáng tác múa, nhưng nếu chỉ là cải biên, chỉnh lý, kịch bản hóa các chuyện cổ tích, truyền thuyết thì được trả nhuận bút bằng từ 40% đến 60% số tiền nhuận bút cơ bản của sáng tác kịch bản cho múa.
10. Sáng tác các điệu múa được xưởng phim Việt nam công nhận và cho quay thành phim thì các điệu múa đó được trả tiền nhuận bút cơ bản như những điểm đã quy định ở trên. Ngoài ra còn được trả thêm tiền nhuận bút về số lượng phát hành như đã nói ở điểm 4 trong quy định trả nhuận bút kịch bản của ngành điện ảnh.
11. Các tiết mục múa thuộc loại phóng tác, cải biên, chỉnh lý (kể cả các điệu múa cổ điển) thì tùy theo chất lượng cao hay thấp là chủ yếu và công phu nhiều hay ít mà trả nhuận bút bằng từ 40% đến 60% số tiền nhuận bút cơ bản của sáng tác múa.
Sáng tác nhạc cho múa (kể cả phối âm phối khí) được trả tiền nhuận bút cơ bản bằng mức tiền nhuận bút cơ bản của sáng tác tiết mục múa như những điểm đã quy định ở trên. Nhưng chủ yếu là dựa vào chất lượng nhạc mà định mức tiền nhuận bút cho hợp lý, chứ không lệ thuộc vào tiết mục múa mà trả tiền nhuận bút cho nhạc.
Nếu tác giả sáng tác nhạc kiêm phối âm phối khí thì tác giả đó được hưởng đủ 100% tiền nhuận bút cơ bản. Nhưng nếu người khác phối âm, phối khí thì người ấy được hưởng 30% còn người sáng tác nhạc được hưởng 70% số tiền nhuận bút cơ bản.