Document: Điều 1 Quyết định 2641/QĐ-UBND 2012 Quy hoạch chế biến tiêu thụ thủy sản 2020 Bà Rịa Vũng Tàu

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "05/12/2012", "sign_number": "2641/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "05/12/2012", "sign_number": "2641/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "05/12/2012", "sign_number": "2641/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "05/12/2012", "sign_number": "2641/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "05/12/2012", "sign_number": "2641/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 2641/QĐ-UBND 2012 Quy hoạch chế biến tiêu thụ thủy sản 2020 Bà Rịa Vũng Tàu có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển chế biến và tiêu thụ thủy sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau:
I. Quan điểm phát triển:
1. Phát triển chế biến và tiêu thụ thủy sản trên cơ sở phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển chế biến thủy sản cả nước đến năm 2020, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm 2020.
2. Phát triển chế biến thủy sản gắn với vùng sản xuất nguyên liệu. Xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa người nuôi, khai thác, thu mua sơ chế và chế biến thủy sản trên cơ sở áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại, giảm dần chế biến thô, tăng chế biến tinh, đảm bảo nghiêm ngặt các tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế và các yêu cầu của các thị trường nhập khẩu về điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, truy nguyên nguồn gốc sản phẩm. Phát triển chế biến thủy sản phải đi đôi với bảo vệ môi trường, gắn với trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp.
3. Phát triển và nâng cao năng lực chế biến theo chiều sâu trên cơ sở đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm, tăng tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng và sản phẩm sử dụng ít nguyên liệu thủy sản. Từng bước hiện đại hóa công nghiệp chế biến thủy sản trên cơ sở cơ giới hóa, tự động hóa các công đoạn cần nhiều lao động và lao động nặng nhọc; thay thế dần các thiết bị lạc hậu, công nghệ cũ có mức tiêu hao nguyên liệu cao và sử dụng nhiều năng lượng.
4. Phát triển chế biến tiêu thụ thủy sản theo hướng thị trường, trên cơ sở phát huy lợi thế từ các nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực có thị phần lớn và có lợi thế cạnh tranh cao. Chú trọng cả thị trường tiêu thụ nội địa, không ngừng mở rộng và đổi mới phương thức phân phối, quảng bá, tiếp thị sản phẩm, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng.
II. Mục tiêu phát triển:
1. Mục tiêu tổng quát:
Xây dựng hệ thống chế biến thủy sản phát triển bền vững theo hướng hiện đại, tập trung, đồng bộ từ sản xuất, cung ứng nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm với khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong nước, đến năm 2020 công nghiệp chế biến thủy sản của tỉnh đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới.
2. Mục tiêu cụ thể:
- Tổng sản lượng thủy sản chế biến đến năm 2015 đạt 175.000 tấn, năm 2020 đạt 200.000 tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 2,1%/năm trong giai đoạn 2011-2015 và đạt 2,7%/năm trong giai đoạn 2016-2020.
- Sản lượng chế biến xuất khẩu đến năm 2015 đạt 125.000 tấn (tổng 5 năm từ 2011-2015 đạt 600.000 tấn) với giá trị kim ngạch xuất khẩu là 400 triệu USD (tổng 5 năm từ 2011-2015 đạt 1 tỷ 750 triệu USD); đến năm 2020 sản lượng chế biến xuất khẩu đạt 150.000 tấn với giá trị 600 triệu USD.
- Sản lượng chế biến tiêu thụ nội địa đến năm 2020 khoảng 50.000 tấn/năm với giá trị khoảng 1.500 tỷ đồng/năm.
- Giá trị sản xuất chế biến thủy sản (cả nội địa và xuất khẩu) theo giá hiện hành đến năm 2015 đạt 11.471 tỷ đồng, năm 2020 đạt 13.471 tỷ đồng. Giá trị tăng thêm chế biến thủy sản năm 2015 đạt 3.441 tỷ đồng và năm 2020 đạt 4.041 tỷ đồng.
- Đảm bảo số lượng lao động chế biến thủy sản đến năm 2015 là 65.000 lao động và con số này năm 2020 khoảng 70.000 lao động.
III. Quy hoạch phát triển chế biến và tiêu thụ thủy sản đến năm 2020:
1. Nhiệm vụ chung:
- Sớm hình thành các khu chế biến thủy sản tập trung trên địa bàn tỉnh để thực hiện di dời toàn bộ các nhà máy nằm gần các khu dân cư, khu đô thị, khu du lịch ở các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh vào khu chế biến, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi thu hút các dự án đầu tư vào lĩnh vực chế biến thủy sản, đổi mới dây chuyền công nghệ, thay thế dần công nghệ cũ bằng công nghệ mới hiện đại để tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng hàng hóa, đa dạng hóa mặt hàng, cải tiến mẫu mã bao bì gắn với việc xây dựng và quảng bá thương hiệu các nhóm sản phẩm thủy sản chủ lực của tỉnh.
- Khuyến khích và hỗ trợ cho các tổ chức cá nhân hoạt động trong lĩnh vực chế biến, xuất khẩu thủy sản áp dụng các chương trình quản lý chất lượng theo các tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế và các nước nhập khẩu, như: HACCP, ISO; đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải, khí thải đạt tiêu chuẩn môi trường theo quy chuẩn quốc gia, tiến tới xây dựng hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000. Không cho phép đầu tư xây dựng mới các nhà máy chế biến bột cá trên địa bàn tỉnh.
- Chủ động tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước, nắm bắt các thông tin về nhu cầu, luật lệ, đối thủ cạnh tranh; làm tốt công tác thu thập, phân tích, dự báo thị trường... Tiếp tục duy trì các thị trường xuất khẩu truyền thống như Nhật, Mỹ, Hàn Quốc, EU..., tăng cường mở rộng thị trường mới như Bắc Âu, Đông Âu, Châu Úc, Châu Phi. Chú trọng thị trường nội địa, xây dựng mối liên kết, hợp tác kinh doanh với các nhà phân phối lớn, các hệ thống siêu thị và các tổ chức dịch vụ theo hướng tiện lợi cho người sử dụng, đảm bảo chất lượng và giá thành cạnh tranh.
- Quản lý chặt chẽ hệ thống nậu vựa, tiến tới xây dựng chợ đầu mối gắn với hình thành sàn đấu giá để quản lý tốt thị trường nguyên liệu phục vụ cho chế biến thủy sản, chú trọng nhập khẩu nguyên liệu để chế biến tái xuất khẩu. Tăng cường công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là việc kiểm tra, kiểm soát sử dụng hóa chất kháng sinh trong bảo quản, sơ chế thủy sản tại các cơ sở nuôi, tàu cá, cơ sở thu mua, sơ chế nguyên liệu thủy sản, để đến năm 2020 có trên 90% sản phẩm thủy hải sản được quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn HACCP.
2. Nhiệm vụ cụ thể:
2.1. Về sản lượng chế biến và cơ cấu mặt hàng:
Đến năm 2015, tổng sản lượng chế biến đạt 175.000 tấn, trong đó xuất khẩu 125.000 tấn, nội địa 50.000 tấn. Đến năm 2020, tổng sản lượng chế biến đạt 200.000 tấn, trong đó xuất khẩu chiếm 75%, còn lại là tiêu thụ nội địa. Phát triển các nhóm sản phẩm chủ lực sau:
- Nhóm hàng đông lạnh và đồ hộp: đây vẫn sẽ là nhóm hàng xuất khẩu chính của tỉnh trong thời gian tới, với tổng sản lượng đạt 118.120 tấn vào năm 2015 và đạt 137.600 tấn vào năm 2020. Trong nhóm này, ngoài mực và bạch tuộc hiện là mặt hàng chủ lực, cần chú trọng tăng tỷ trọng sản phẩm từ cá để tận dụng triệt để nguồn cá biển khai thác được, trong đó phát triển sản phẩm Surimi để tận dụng các loài cá kém chất lượng và có giá trị kinh tế không cao để chế biến thành các sản phẩm mô phỏng có giá trị gia tăng cao.
- Nhóm hàng khô: sản lượng chế biến khô đạt 26.880 tấn năm 2015, tăng lên 25.400 tấn năm 2020. Đây là nhóm hàng tiềm năng của tỉnh, cần chú trọng xây dựng thương hiệu cho tôm khô, mực khô và một số sản phẩm cá khô khác cho Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Bột cá: đây là nhóm hàng không khuyến khích phát triển sản xuất, do vậy chỉ duy trì ổn định ở mức sản lượng đạt 30.000 tấn năm 2015. Đến năm 2020 đạt sản lượng bột cá lên 35.000 tấn.
- Nước mắm: duy trì sản lượng nước mắm khoảng 12 triệu lít/năm trong giai đoạn 2015-2020. Cần nâng cao chất lượng nước mắm của tỉnh để có thể cạnh tranh với các thương hiệu nước mắm khác có uy tín trên thị trường, tiến tới xuất khẩu nước mắm vào thị trường nước ngoài.
2.2. Về cơ cấu thị trường và kim ngạch xuất khẩu:
Đa dạng hóa thị trường, duy trì và củng cố vị trí ở các thị trường truyền thống, mở rộng thị trường mới, giảm bớt thị trường trung gian. Thường xuyên điều chỉnh không lệ thuộc hoặc tập trung quá mức vào một thị trường. Chọn lọc thị trường trọng điểm trên hai tiêu chuẩn cơ bản: có nhu cầu nhập khẩu thủy sản nhiều, có nền công nghệ cao. Các thị trường trọng điểm là: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, EU, Mỹ và Úc. Hướng chuyển đổi cơ cấu thị trường: tất cả các thị trường đều tăng nhưng thay đổi về cơ cấu, giảm dần ở Châu Á, Châu Mỹ, tăng dần ở Châu Âu, Úc và các nước khác.
Nâng tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tỉnh đến năm 2015 đạt 400 triệu USD, năm 2020 đạt 600 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 9,0%.
2.3. Về cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần phục vụ chế biến và tiêu thụ thủy sản:
a) Hệ thống cảng cá, bến cá:
Nâng cấp và hiện đại hóa các cảng cá, bến cá gắn với đầu tư xây dựng các khu tránh trú bão cho tàu cá là yêu cầu cấp thiết. Hệ thống cảng, bến cá phải đảm bảo tập kết lưu thông không chỉ sản phẩm cho đội tàu cá trong tỉnh mà đảm bảo tiêu thụ sản phẩm và đáp ứng các nhu cầu về nguyên nhiên vật liệu cho tàu đánh bắt xa bờ của các tỉnh trong khu vực.
Tiếp tục đầu tư nâng cấp và mở rộng quy mô đối với các cảng và cụm cảng gồm: cụm cảng Bến Đình, Cát Lở (Tp. Vũng Tàu), Tân Phước (Long Điền), Bến Lội (H. Xuyên Mộc), Bến Đầm và bến Cầu Tàu (Côn Đảo). Nâng cấp và nạo vét luồng lạch thường xuyên đối với: Cảng và bến cá Lộc An (H. Đất Đỏ), cụm cảng Phước Tỉnh (H. Long Điền), Bến Phước Hải (H. Đất Đỏ), Bến Lội (H. Xuyên Mộc).
b) Chợ đầu mối thủy sản:
Xây dựng 2 chợ đầu mối thủy sản tại cảng cá Cát Lở và cảng cá Phước Tỉnh, tiến tới hình thành sàn giao dịch thủy sản tại 2 chợ đầu mối này. Ngoài ra, các chợ cá tại các cảng cá, bến cá và điểm mua bán cá ở các chợ trong dân cũng cần được bố trí sắp xếp lại theo quy hoạch dân cư và đô thị của tỉnh và các địa phương nhằm đảm bảo vệ sinh, mỹ quan, khoa học, thuận tiện cho người mua, người bán. Chú ý đến các chợ cá ở vùng nông thôn xa trung tâm để xóa dần sự cách biệt chênh lệch khả năng tiêu dùng thủy sản giữa các địa phương trong tỉnh.
c) Các khu chế biến tập trung:
Triển khai lập quy hoạch chi tiết 03 khu chế biến thủy sản tập trung trên địa bàn tỉnh tạo điều kiện thuận lợi thu hút các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để sớm thực hiện di dời toàn bộ các cơ sở chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh vào các khu vực này, nhằm ổn định sản xuất và kiểm soát tốt ô nhiễm môi trường. Cụ thể:
- Khu chế biến tập trung tại Thành phố Vũng Tàu: địa điểm tại khu vực gò Ông Sầm, thuộc hợp phần Dự án rừng ngập mặn Phước Cơ, phường 12, với tổng diện tích khoảng 340 ha.
- Khu chế biến tập trung huyện Đất Đỏ: địa điểm tại khu vực nhà máy bột cá Tân Tiến, xã Lộc An, thuộc khu quy hoạch phát triển tiểu thủ công nghiệp huyện Đất Đỏ, với tổng diện tích khoảng 29 ha.
- Khu chế biến tập trung huyện Xuyên Mộc: địa điểm tại khu vực ấp Thèo Lèo, xã Bình Châu, thuộc khu quy hoạch phát triển tiểu thủ công nghiệp huyện Xuyên Mộc, với tổng diện tích khoảng 20 ha.
d) Hệ thống kho lạnh thủy sản:
Để đáp ứng nhu cầu lưu trữ hàng hóa cần thiết phải tăng thêm số lượng và công suất kho lạnh. Đối với hệ thống kho thương mại cần tăng mạnh cả về số lượng và công suất kho để đến năm 2020 đạt tổng số kho là 9 kho với tổng công suất 29.000 m3/tấn/palet; đối với kho lạnh nằm trong các xí nghiệp chế biến cần phát triển thêm 4.000 m3/tấn/palet để đưa tổng công suất lên 14.610 m3/tấn/palet; xây mới khoảng 4 kho lạnh ngoại quan, công suất 8.000 m3/tấn/palet dùng cho tập kết, lưu trữ hàng hóa xuất nhập khẩu.
Vị trí xây dựng các kho lạnh thương mại tại 03 khu chế biến thủy sản tập trung của tỉnh, khu CN Phú Mỹ I và chợ cá đầu mối Phước Tỉnh; đối với kho lạnh ngoại quan bố trí tại các cảng thương mại: Bà Rịa Serece; cảng Interflour, cảng quốc tế Thị Vải, cảng Containner Cái Mép.
2.4. Về nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến và tiêu thụ:
Dự tính tổng nhu cầu nguyên liệu phục vụ chế biến đến năm 2015 khoảng 480.884 tấn, trong đó cá các loại 353.200 tấn, tôm các loại 11.564 tấn, mực và bạch tuộc 43.170 tấn và thủy sản khác 72.950 tấn. Năm 2020 tổng nhu cầu nguyên liệu khoảng 542.220 tấn, trong đó cá các loại 384.850 tấn, tôm 16.020 tấn, mực và bạch tuộc 50.100 tấn và thủy sản khác 91.250 tấn.
Tăng cường công tác bảo quản sản phẩm từ khai thác và nuôi trồng để nâng tỷ trọng nguyên liệu của tỉnh có thể đưa vào chế biến đạt khoảng 60% năm 2015 và khoảng 70% vào năm 2020.
Các doanh nghiệp cần chủ động mở rộng kênh thu hút nguyên liệu từ ngoài tỉnh (chiếm khoảng 40% tổng nhu cầu), trong đó Tỉnh sẽ tiếp tục thực hiện cơ chế khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu (khoảng 20%) nguyên liệu từ nước ngoài để chế biến tái xuất khẩu theo các chủ trương và hướng dẫn của Bộ chuyên ngành.
2.5. Nhu cầu và nguồn vốn đầu tư:
Nhu cầu vốn thực hiện Quy hoạch ngành chế biến và tiêu thụ thủy sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thời kỳ 2011-2020 và cơ cấu nguồn vốn thực hiện như sau:

Danh mục

ĐVT

Giai đoạn 2011-2015

Giai đoạn 2016-2020

Thời kỳ 2011-2020

I. Tổng nhu cầu vốn đầu tư

Tỷ đồng

2.090

3.000

5.090

1. Vốn ngân sách

Tỷ đồng

627

373

1.000

- Trung ương

nt

63

30

93

- Địa phương

nt

564

343

908

2. Huy động các thành phần KT

Tỷ đồng

1.463

2.627

4.090

II. Cơ cấu nguồn vốn

%

100%

100%

100%

1. Vốn ngân sách

%

30%

12%

20%

- Trung ương

nt

10%

8%

9%

- Địa phương

nt

90%

92%

91%

2. Huy động các thành phần KT

%

70%

88%

80%

- Vốn ngân sách (vốn Trung ương hỗ trợ và ngân sách tỉnh): tăng cường công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong chế biến, khuyến công, xúc tiến thương mại mở rộng thị trường; quy hoạch chi tiết và xây dựng cơ sở hạ tầng 3 khu chế biến tập trung, đền bù giải phóng mặt bằng và hỗ trợ cho công tác giải tỏa, di dời các cơ sở về các khu chế biến tập trung.
- Vốn huy động từ các thành phần kinh tế (các doanh nghiệp và nhà đầu tư) đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh; đổi mới, nâng cấp thiết bị, công nghệ; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở các khu chế biến tập trung.
IV. Các giải pháp thực hiện quy hoạch:
1. Giải pháp cơ chế và chính sách:
Triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách của Nhà nước đã ban hành như: Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ, về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản; Nghị định số 61/2010/NĐ-CP, ngày 04/06/2010 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12/04/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông thôn.
Triển khai thực hiện tốt Quyết định số 57/2010/QĐ-TTg, ngày 17/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ về miễn tiền thuê đất đối với các dự án xây dựng kho dự trữ 4 triệu tấn lúa, ngô, kho lạnh bảo quản thủy sản, rau quả và kho tạm trữ cà phê theo quy hoạch.
Ưu tiên thực hiện Nghị định số 151/2006/NĐ-CP, ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và Nghị định số 106/2008/NĐ-CP, ngày 19/09/2008 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 151/2006/NĐ-CP đối với việc đầu tư mới và đầu tư nâng cấp các cơ sở chế biến thủy sản đủ điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo qui chuẩn kỹ thuật quốc gia và cơ sở áp dụng công nghệ chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng đạt trình độ tiên tiến.
Ưu tiên thực hiện quyết định 2072/QĐ-TTg, ngày 11/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ (về việc hỗ trợ lãi suất cho các khoản vay trung và dài hạn ngân hàng bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân thuộc một số lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và lâm nghiệp; thủy sản; công nghiệp chế biến; hoạt động khoa học công nghệ; hoạt động thu mua và kinh doanh các mặt hàng nông sản, lâm sản, thủy sản, và nghề muối).
Xây dựng chính sách ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp chế biến thủy sản đầu tư công nghệ mới với trang thiết bị hiện đại để chế biến sản phẩm giá trị gia tăng.
Xây dựng chính sách riêng hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ gia đình, các làng nghề truyền thống chế biến thủy sản trong việc phát triển sản phẩm, tìm kiếm khách hàng, quảng bá sản phẩm thông qua các chương trình xúc tiến thương mại thủy sản.
2. Giải pháp về vốn đầu tư:
* Nguồn vốn Trung ương:
Tranh thủ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ cho phát triển chế biến và tiêu thụ thủy sản của tỉnh tại các Quyết định số 279/QĐ-TTg, ngày 07/03/2012 của Thủ tướng Chính phủ v/v phê duyệt Chương trình phát triển xuất khẩu thủy sản đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; QĐ số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010; NĐ số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/06/2010; QĐ số 2072/QĐ-TTg ngày 11/12/2009; QĐ số 57/2010/QĐ-TTg ngày 17/09/2010; nguồn vốn từ các chương trình xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm,...
* Nguồn vốn địa phương:
Vốn ngân sách địa phương sẽ ưu tiên bố trí để thực hiện các đề án quy hoạch, các dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật khu chế biến tập trung, cảng cá, bến cá, chợ đầu mối thủy sản,...
* Nguồn vốn huy động từ các thành phần kinh tế:
Để có đủ vốn đáp ứng cho nhu cầu phát triển thủy sản đến năm 2020 cần phải huy động vốn đầu tư theo hướng xã hội hóa, tận dụng tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân và các loại tín dụng đầu tư phát triển.
Tận dụng vốn vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất của Nhà nước và tạo điều kiện tín dụng thuận lợi cho ngư dân, tư nhân vay vốn đóng tàu khai thác vùng khơi, phát triển nuôi trồng, chế biến thủy sản xuất khẩu và cung ứng vật tư, hàng hóa cần thiết.
Tiếp nhận nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các nguồn vốn vay dài hạn, ngắn hạn của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), vốn ODA và vốn của các tổ chức phi Chính phủ, để phát triển chế biến, nuôi trồng, các hạ tầng kỹ thuật nghề cá, đào tạo nguồn nhân lực, xóa đói, giảm nghèo,...
3. Giải pháp nguồn nguyên liệu:
- Cần đẩy mạnh hợp tác mở rộng ngư trường khai thác cho ngư dân, hỗ trợ cho ngư dân về kỹ thuật bảo quản nguyên liệu; tăng cường các biện pháp hạn chế các loại nghề khai thác làm tổn hại đến ngư trường; đồng thời cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án nuôi tập trung đang xây dựng, có kế hoạch cụ thể nâng cấp cơ sở hạ tầng vùng nuôi.
- Tăng cường xây dựng, nâng cấp cảng cá, bến cá, chợ đầu mối, sàn đấu giá thủy sản để tạo điều kiện thuận lợi thu hút tàu thuyền từ các tỉnh khác cập bến trên địa bàn nhằm thu hút nguồn nguyên liệu từ ngoài tỉnh.
- Cần sớm hình thành mối liên kết giữa các doanh nghiệp với ngư dân và người nuôi trồng thủy sản bằng cách triển khai hình thức bao tiêu sản phẩm trong và ngoài tỉnh cho ngư dân; đa dạng hóa sản phẩm theo hướng tăng các mặt hàng tinh chế, sử dụng ít nguyên liệu và ngày càng có giá trị gia tăng cao,...
- Bên cạnh khai thác chọn lọc, cần phải tăng cường bảo quản chất lượng sản phẩm khai thác. Để thực hiện được việc này, các doanh nghiệp chế biến và ngư dân khai thác cần có “tiếng nói chung”. Điều cần làm là giúp ngư dân biết được nhà máy chế biến đang cần nguyên liệu gì, chất lượng ra sao, kích cỡ như thế nào, thời điểm thu mua,... Việc nắm bắt thông tin sẽ giúp ngư dân khai thác có chọn lọc, vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ nguồn lợi hải sản, chất lượng nguyên liệu cung ứng cho nhà máy,...
- Nhập khẩu nguyên liệu: cần đẩy mạnh vai trò quản lý của các ngành chức năng, thiết lập các khuôn khổ pháp chế đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập khẩu nguyên liệu phục vụ chế biến.
4. Giải pháp thị trường:
- Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, tăng cường liên hệ với các đối tác tại các thị trường lớn để đàm phán và chuẩn bị tốt nguồn cung, không ngừng củng cố và nâng cao uy tín trong làm ăn đối với khách hàng. Giữ vững và mở rộng xuất khẩu tại các thị trường truyền thống: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Mỹ, EU và Ôxtrâylia; đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước khác, đặc biệt là các thị trường còn nhiều tiềm năng như: các nước Châu Á khác, Đông Âu, Châu Phi, Nam Mỹ,...
- Đổi mới hoạt động xúc tiến thương mại, đa dạng hóa hình thức tiếp cận thị trường và giới thiệu sản phẩm. Tiếp tục xây dựng và phát triển năng lực dự báo về thị trường thủy sản thế giới trên các mặt: giá cả và chủng loại sản phẩm, nhu cầu và xu hướng tiêu thụ, biến động thị trường và yêu cầu chất lượng sản phẩm để kịp thời cung cấp cho doanh nghiệp và người sản xuất.
- Nghiên cứu chuyển hướng từ xuất khẩu cho các nhà nhập khẩu sang xuất khẩu trực tiếp cho hệ thống phân phối, các chuỗi siêu thị. Đồng thời chuyển hướng từ xuất khẩu mặt hàng nguyên liệu thủy sản đông lạnh sang xuất khẩu mặt hàng chế biến sâu, có giá trị gia tăng cao.
- Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc đăng ký thương hiệu sản phẩm hàng hóa và quảng bá sản phẩm gắn với việc xây dựng và quảng bá thương hiệu của tỉnh cho các nhóm sản phẩm chủ lực như mực, bạch tuộc, cá, ghẹ...
- Mở rộng thị trường nội địa thông qua việc đa dạng các loại sản phẩm có chất lượng, giá cả hợp lý, phù hợp khẩu vị, chú trọng xây dựng mối liên kết, hợp tác kinh doanh với các nhà phân phối lớn, các hệ thống siêu thị và các tổ chức dịch vụ ở thị trường trong nước. Đẩy mạnh “xuất khẩu tại chỗ” thông qua khách du lịch đến tỉnh.
5. Giải pháp khoa học, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực:
* Về khoa học và công nghệ: Khoa học công nghệ chế biến thủy sản của tỉnh trong thời gian tới cần tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Tăng cường nghiên cứu hoặc liên kết với các Viện nghiên cứu, Trường Đại học để nhận chuyển giao công nghệ chế biến các sản phẩm mới, có giá trị gia tăng cao, đặc biệt là công nghệ chế biến surimi để từ các loài cá giá trị thấp chế biến thành sản phẩm giá trị gia tăng (sản phẩm giả tôm, cua,...); Nghiên cứu tận dụng phế thải từ chế biến thủy sản để chế biến thành các sản phẩm có ích (như sản xuất chitin, chitozan từ vỏ tôm, cua; chiết rút dầu cá từ nội tạng cá; chế biến bột đạm cô đặc từ đầu, vây, vảy, nội tạng của các loài thủy sản,..).
- Tăng cường xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo HACCP, SQF, ISO và quản lý môi trường ISO 14000 trong chế biến thủy sản.
- Quan tâm tăng kinh phí ngân sách hàng năm cho việc thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ cấp tỉnh trong lĩnh vực chế biến thủy sản.
* Phát triển nguồn nhân lực: nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu cần được quan tâm phát triển hơn nữa trong thời gian tới.
- Xây dựng chiến lược đào tạo dài hạn và đào tạo lại để có được một lực lượng lao động và cán bộ quản lý có trình độ thích ứng với đòi hỏi của hội nhập. Có chính sách trọng dụng nhân tài, đãi ngộ hợp lý đối với người lao động.
- Phát huy mọi tiềm năng để đào tạo đồng bộ nguồn nhân lực theo một cơ cấu tương quan hợp lý giữa đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và thợ lành nghề; chú trọng đội ngũ cán bộ chuyên sâu, cán bộ nghiên cứu khoa học đầu ngành để tiếp cận nền kinh tế tri thức phục vụ cho việc phát triển có hiệu quả ngành chế biến thủy sản.
- Đẩy mạnh công tác đào tạo và đào tạo lại lực lượng cán bộ, công nhân kỹ thuật. Nâng cao hợp tác giữa doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo, trường học để phối hợp nhịp nhàng giữa năng lực đào tạo và nhu cầu nhân lực sản xuất, giảm tình trạng dư thừa lao động giản đơn, thiếu lao động kỹ thuật. Nâng cao trình độ và tính năng động của cán bộ các cấp, các ngành.
6. Giải pháp bảo vệ môi trường:
- Nhanh chóng xây dựng hạ tầng cơ sở cho 03 khu chế biến, mỗi khu phải có hệ thống xử lý chất thải tập trung để kiểm soát và xử lý đạt tiêu chuẩn xả thải mới cho phép xả ra môi trường.
- Xây dựng các chính sách khuyến khích và hỗ trợ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn từ Quỹ bảo vệ môi trường để đầu tư xây dựng hệ thống xử lý môi trường đạt chuẩn và vận hành có hiệu quả đặc biệt là khí thải. Bắt buộc các doanh nghiệp có các giải pháp giảm thiểu và xử lý triệt để các chất gây ô nhiễm môi trường, đồng thời phải có chế tài, các chế độ thưởng phạt nghiêm minh.
- Tăng cường năng lực, trình độ công nghệ, trình độ quản lý sản xuất, đặc biệt tăng cường quản lý nguồn nguyên liệu, tiếp tục hỗ trợ, đào tạo cán bộ cho các doanh nghiệp CBTS áp dụng sâu rộng sản xuất sạch hơn, giảm thiểu chất thải, nước thải, tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng và xử lý có hiệu quả các nguồn gây ô nhiễm.
- Tổ chức nghiên cứu, học tập kinh nghiệm các địa phương khác trong nước có các nhà máy chế biến hải sản áp dụng công nghệ tiên tiến xử lý khí thải, nước thải không gây ô nhiễm môi trường, trên cơ sở đó xây dựng các qui định, tiêu chí, quy trình công nghệ bắt buộc các nhà máy phải áp dụng khi di dời vào các khu chế biến hải sản nêu trên; đảm bảo không phát sinh khí thải, nước thải gây ô nhiễm môi trường cho các khu vực xung quanh.
V. Tổ chức thực hiện:
1. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm:
a) Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tổ chức triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển chế biến và tiêu thụ thủy sản tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020 đạt mục tiêu đề ra; theo dõi, tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá tình hình thực hiện, đề xuất điều chỉnh, bổ sung cơ chế chính sách thúc đẩy thực hiện Quy hoạch đạt hiệu quả cao.
b) Chỉ đạo các đơn vị chức năng tăng cường kiểm tra, kiểm soát các cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện các quy định pháp luật về kiểm soát chất lượng sản phẩm, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
2. Các Sở, ngành liên quan:
Theo chức năng, nhiệm vụ của mình, phối hợp chặt chẽ với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc thực hiện các giải pháp của Quy hoạch đã đề ra.
3. Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố Vũng Tàu, Bà Rịa:
Chỉ đạo các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng của địa phương hướng dẫn các tổ chức cá nhân hoạt động sản xuất chế biến thủy sản trên địa bàn theo hướng tiếp cận quản lý hệ thống theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ, trước mắt là đối với những sản phẩm xuất khẩu chủ lực; Vận động các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu tích cực tham gia các hình thức tổ chức sản xuất theo hướng liên kết chặt chẽ, chia sẻ lợi ích với cộng đồng và người sản xuất.
4. Hội nghề cá tỉnh:
Tổ chức vận động, tuyên truyền, giáo dục các thành viên và cộng đồng làm nghề thủy sản xây dựng mối liên kết và giám sát chặt chẽ để thực hiện quản lý chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng và cho xuất khẩu, nhất là các sản phẩm xuất khẩu chủ lực, giữ vững uy tín của sản phẩm thủy sản trên thị trường quốc tế.

Content:
Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển chế biến và tiêu thụ thủy sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau:
I. Quan điểm phát triển:
1. Phát triển chế biến và tiêu thụ thủy sản trên cơ sở phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển chế biến thủy sản cả nước đến năm 2020, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm 2020.
2. Phát triển chế biến thủy sản gắn với vùng sản xuất nguyên liệu. Xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa người nuôi, khai thác, thu mua sơ chế và chế biến thủy sản trên cơ sở áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại, giảm dần chế biến thô, tăng chế biến tinh, đảm bảo nghiêm ngặt các tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế và các yêu cầu của các thị trường nhập khẩu về điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, truy nguyên nguồn gốc sản phẩm. Phát triển chế biến thủy sản phải đi đôi với bảo vệ môi trường, gắn với trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp.
3. Phát triển và nâng cao năng lực chế biến theo chiều sâu trên cơ sở đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm, tăng tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng và sản phẩm sử dụng ít nguyên liệu thủy sản. Từng bước hiện đại hóa công nghiệp chế biến thủy sản trên cơ sở cơ giới hóa, tự động hóa các công đoạn cần nhiều lao động và lao động nặng nhọc; thay thế dần các thiết bị lạc hậu, công nghệ cũ có mức tiêu hao nguyên liệu cao và sử dụng nhiều năng lượng.
4. Phát triển chế biến tiêu thụ thủy sản theo hướng thị trường, trên cơ sở phát huy lợi thế từ các nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực có thị phần lớn và có lợi thế cạnh tranh cao. Chú trọng cả thị trường tiêu thụ nội địa, không ngừng mở rộng và đổi mới phương thức phân phối, quảng bá, tiếp thị sản phẩm, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng.
II. Mục tiêu phát triển:
1. Mục tiêu tổng quát:
Xây dựng hệ thống chế biến thủy sản phát triển bền vững theo hướng hiện đại, tập trung, đồng bộ từ sản xuất, cung ứng nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm với khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong nước, đến năm 2020 công nghiệp chế biến thủy sản của tỉnh đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới.
2. Mục tiêu cụ thể:
- Tổng sản lượng thủy sản chế biến đến năm 2015 đạt 175.000 tấn, năm 2020 đạt 200.000 tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 2,1%/năm trong giai đoạn 2011-2015 và đạt 2,7%/năm trong giai đoạn 2016-2020.
- Sản lượng chế biến xuất khẩu đến năm 2015 đạt 125.000 tấn (tổng 5 năm từ 2011-2015 đạt 600.000 tấn) với giá trị kim ngạch xuất khẩu là 400 triệu USD (tổng 5 năm từ 2011-2015 đạt 1 tỷ 750 triệu USD); đến năm 2020 sản lượng chế biến xuất khẩu đạt 150.000 tấn với giá trị 600 triệu USD.
- Sản lượng chế biến tiêu thụ nội địa đến năm 2020 khoảng 50.000 tấn/năm với giá trị khoảng 1.500 tỷ đồng/năm.
- Giá trị sản xuất chế biến thủy sản (cả nội địa và xuất khẩu) theo giá hiện hành đến năm 2015 đạt 11.471 tỷ đồng, năm 2020 đạt 13.471 tỷ đồng. Giá trị tăng thêm chế biến thủy sản năm 2015 đạt 3.441 tỷ đồng và năm 2020 đạt 4.041 tỷ đồng.
- Đảm bảo số lượng lao động chế biến thủy sản đến năm 2015 là 65.000 lao động và con số này năm 2020 khoảng 70.000 lao động.
III. Quy hoạch phát triển chế biến và tiêu thụ thủy sản đến năm 2020:
1. Nhiệm vụ chung:
- Sớm hình thành các khu chế biến thủy sản tập trung trên địa bàn tỉnh để thực hiện di dời toàn bộ các nhà máy nằm gần các khu dân cư, khu đô thị, khu du lịch ở các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh vào khu chế biến, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi thu hút các dự án đầu tư vào lĩnh vực chế biến thủy sản, đổi mới dây chuyền công nghệ, thay thế dần công nghệ cũ bằng công nghệ mới hiện đại để tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng hàng hóa, đa dạng hóa mặt hàng, cải tiến mẫu mã bao bì gắn với việc xây dựng và quảng bá thương hiệu các nhóm sản phẩm thủy sản chủ lực của tỉnh.
- Khuyến khích và hỗ trợ cho các tổ chức cá nhân hoạt động trong lĩnh vực chế biến, xuất khẩu thủy sản áp dụng các chương trình quản lý chất lượng theo các tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế và các nước nhập khẩu, như: HACCP, ISO; đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải, khí thải đạt tiêu chuẩn môi trường theo quy chuẩn quốc gia, tiến tới xây dựng hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000. Không cho phép đầu tư xây dựng mới các nhà máy chế biến bột cá trên địa bàn tỉnh.
- Chủ động tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước, nắm bắt các thông tin về nhu cầu, luật lệ, đối thủ cạnh tranh; làm tốt công tác thu thập, phân tích, dự báo thị trường... Tiếp tục duy trì các thị trường xuất khẩu truyền thống như Nhật, Mỹ, Hàn Quốc, EU..., tăng cường mở rộng thị trường mới như Bắc Âu, Đông Âu, Châu Úc, Châu Phi. Chú trọng thị trường nội địa, xây dựng mối liên kết, hợp tác kinh doanh với các nhà phân phối lớn, các hệ thống siêu thị và các tổ chức dịch vụ theo hướng tiện lợi cho người sử dụng, đảm bảo chất lượng và giá thành cạnh tranh.
- Quản lý chặt chẽ hệ thống nậu vựa, tiến tới xây dựng chợ đầu mối gắn với hình thành sàn đấu giá để quản lý tốt thị trường nguyên liệu phục vụ cho chế biến thủy sản, chú trọng nhập khẩu nguyên liệu để chế biến tái xuất khẩu. Tăng cường công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là việc kiểm tra, kiểm soát sử dụng hóa chất kháng sinh trong bảo quản, sơ chế thủy sản tại các cơ sở nuôi, tàu cá, cơ sở thu mua, sơ chế nguyên liệu thủy sản, để đến năm 2020 có trên 90% sản phẩm thủy hải sản được quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn HACCP.
2. Nhiệm vụ cụ thể:
2.1. Về sản lượng chế biến và cơ cấu mặt hàng:
Đến năm 2015, tổng sản lượng chế biến đạt 175.000 tấn, trong đó xuất khẩu 125.000 tấn, nội địa 50.000 tấn. Đến năm 2020, tổng sản lượng chế biến đạt 200.000 tấn, trong đó xuất khẩu chiếm 75%, còn lại là tiêu thụ nội địa. Phát triển các nhóm sản phẩm chủ lực sau:
- Nhóm hàng đông lạnh và đồ hộp: đây vẫn sẽ là nhóm hàng xuất khẩu chính của tỉnh trong thời gian tới, với tổng sản lượng đạt 118.120 tấn vào năm 2015 và đạt 137.600 tấn vào năm 2020. Trong nhóm này, ngoài mực và bạch tuộc hiện là mặt hàng chủ lực, cần chú trọng tăng tỷ trọng sản phẩm từ cá để tận dụng triệt để nguồn cá biển khai thác được, trong đó phát triển sản phẩm Surimi để tận dụng các loài cá kém chất lượng và có giá trị kinh tế không cao để chế biến thành các sản phẩm mô phỏng có giá trị gia tăng cao.
- Nhóm hàng khô: sản lượng chế biến khô đạt 26.880 tấn năm 2015, tăng lên 25.400 tấn năm 2020. Đây là nhóm hàng tiềm năng của tỉnh, cần chú trọng xây dựng thương hiệu cho tôm khô, mực khô và một số sản phẩm cá khô khác cho Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Bột cá: đây là nhóm hàng không khuyến khích phát triển sản xuất, do vậy chỉ duy trì ổn định ở mức sản lượng đạt 30.000 tấn năm 2015. Đến năm 2020 đạt sản lượng bột cá lên 35.000 tấn.
- Nước mắm: duy trì sản lượng nước mắm khoảng 12 triệu lít/năm trong giai đoạn 2015-2020. Cần nâng cao chất lượng nước mắm của tỉnh để có thể cạnh tranh với các thương hiệu nước mắm khác có uy tín trên thị trường, tiến tới xuất khẩu nước mắm vào thị trường nước ngoài.
2.2. Về cơ cấu thị trường và kim ngạch xuất khẩu:
Đa dạng hóa thị trường, duy trì và củng cố vị trí ở các thị trường truyền thống, mở rộng thị trường mới, giảm bớt thị trường trung gian. Thường xuyên điều chỉnh không lệ thuộc hoặc tập trung quá mức vào một thị trường. Chọn lọc thị trường trọng điểm trên hai tiêu chuẩn cơ bản: có nhu cầu nhập khẩu thủy sản nhiều, có nền công nghệ cao. Các thị trường trọng điểm là: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, EU, Mỹ và Úc. Hướng chuyển đổi cơ cấu thị trường: tất cả các thị trường đều tăng nhưng thay đổi về cơ cấu, giảm dần ở Châu Á, Châu Mỹ, tăng dần ở Châu Âu, Úc và các nước khác.
Nâng tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tỉnh đến năm 2015 đạt 400 triệu USD, năm 2020 đạt 600 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 9,0%.
2.3. Về cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần phục vụ chế biến và tiêu thụ thủy sản:
a) Hệ thống cảng cá, bến cá:
Nâng cấp và hiện đại hóa các cảng cá, bến cá gắn với đầu tư xây dựng các khu tránh trú bão cho tàu cá là yêu cầu cấp thiết. Hệ thống cảng, bến cá phải đảm bảo tập kết lưu thông không chỉ sản phẩm cho đội tàu cá trong tỉnh mà đảm bảo tiêu thụ sản phẩm và đáp ứng các nhu cầu về nguyên nhiên vật liệu cho tàu đánh bắt xa bờ của các tỉnh trong khu vực.
Tiếp tục đầu tư nâng cấp và mở rộng quy mô đối với các cảng và cụm cảng gồm: cụm cảng Bến Đình, Cát Lở (Tp. Vũng Tàu), Tân Phước (Long Điền), Bến Lội (H. Xuyên Mộc), Bến Đầm và bến Cầu Tàu (Côn Đảo). Nâng cấp và nạo vét luồng lạch thường xuyên đối với: Cảng và bến cá Lộc An (H. Đất Đỏ), cụm cảng Phước Tỉnh (H. Long Điền), Bến Phước Hải (H. Đất Đỏ), Bến Lội (H. Xuyên Mộc).
b) Chợ đầu mối thủy sản:
Xây dựng 2 chợ đầu mối thủy sản tại cảng cá Cát Lở và cảng cá Phước Tỉnh, tiến tới hình thành sàn giao dịch thủy sản tại 2 chợ đầu mối này. Ngoài ra, các chợ cá tại các cảng cá, bến cá và điểm mua bán cá ở các chợ trong dân cũng cần được bố trí sắp xếp lại theo quy hoạch dân cư và đô thị của tỉnh và các địa phương nhằm đảm bảo vệ sinh, mỹ quan, khoa học, thuận tiện cho người mua, người bán. Chú ý đến các chợ cá ở vùng nông thôn xa trung tâm để xóa dần sự cách biệt chênh lệch khả năng tiêu dùng thủy sản giữa các địa phương trong tỉnh.
c) Các khu chế biến tập trung:
Triển khai lập quy hoạch chi tiết 03 khu chế biến thủy sản tập trung trên địa bàn tỉnh tạo điều kiện thuận lợi thu hút các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để sớm thực hiện di dời toàn bộ các cơ sở chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh vào các khu vực này, nhằm ổn định sản xuất và kiểm soát tốt ô nhiễm môi trường. Cụ thể:
- Khu chế biến tập trung tại Thành phố Vũng Tàu: địa điểm tại khu vực gò Ông Sầm, thuộc hợp phần Dự án rừng ngập mặn Phước Cơ, phường 12, với tổng diện tích khoảng 340 ha.
- Khu chế biến tập trung huyện Đất Đỏ: địa điểm tại khu vực nhà máy bột cá Tân Tiến, xã Lộc An, thuộc khu quy hoạch phát triển tiểu thủ công nghiệp huyện Đất Đỏ, với tổng diện tích khoảng 29 ha.
- Khu chế biến tập trung huyện Xuyên Mộc: địa điểm tại khu vực ấp Thèo Lèo, xã Bình Châu, thuộc khu quy hoạch phát triển tiểu thủ công nghiệp huyện Xuyên Mộc, với tổng diện tích khoảng 20 ha.
d) Hệ thống kho lạnh thủy sản:
Để đáp ứng nhu cầu lưu trữ hàng hóa cần thiết phải tăng thêm số lượng và công suất kho lạnh. Đối với hệ thống kho thương mại cần tăng mạnh cả về số lượng và công suất kho để đến năm 2020 đạt tổng số kho là 9 kho với tổng công suất 29.000 m3/tấn/palet; đối với kho lạnh nằm trong các xí nghiệp chế biến cần phát triển thêm 4.000 m3/tấn/palet để đưa tổng công suất lên 14.610 m3/tấn/palet; xây mới khoảng 4 kho lạnh ngoại quan, công suất 8.000 m3/tấn/palet dùng cho tập kết, lưu trữ hàng hóa xuất nhập khẩu.
Vị trí xây dựng các kho lạnh thương mại tại 03 khu chế biến thủy sản tập trung của tỉnh, khu CN Phú Mỹ I và chợ cá đầu mối Phước Tỉnh; đối với kho lạnh ngoại quan bố trí tại các cảng thương mại: Bà Rịa Serece; cảng Interflour, cảng quốc tế Thị Vải, cảng Containner Cái Mép.
2.4. Về nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến và tiêu thụ:
Dự tính tổng nhu cầu nguyên liệu phục vụ chế biến đến năm 2015 khoảng 480.884 tấn, trong đó cá các loại 353.200 tấn, tôm các loại 11.564 tấn, mực và bạch tuộc 43.170 tấn và thủy sản khác 72.950 tấn. Năm 2020 tổng nhu cầu nguyên liệu khoảng 542.220 tấn, trong đó cá các loại 384.850 tấn, tôm 16.020 tấn, mực và bạch tuộc 50.100 tấn và thủy sản khác 91.250 tấn.
Tăng cường công tác bảo quản sản phẩm từ khai thác và nuôi trồng để nâng tỷ trọng nguyên liệu của tỉnh có thể đưa vào chế biến đạt khoảng 60% năm 2015 và khoảng 70% vào năm 2020.
Các doanh nghiệp cần chủ động mở rộng kênh thu hút nguyên liệu từ ngoài tỉnh (chiếm khoảng 40% tổng nhu cầu), trong đó Tỉnh sẽ tiếp tục thực hiện cơ chế khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu (khoảng 20%) nguyên liệu từ nước ngoài để chế biến tái xuất khẩu theo các chủ trương và hướng dẫn của Bộ chuyên ngành.
2.5. Nhu cầu và nguồn vốn đầu tư:
Nhu cầu vốn thực hiện Quy hoạch ngành chế biến và tiêu thụ thủy sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thời kỳ 2011-2020 và cơ cấu nguồn vốn thực hiện như sau:

Danh mục

ĐVT

Giai đoạn 2011-2015

Giai đoạn 2016-2020

Thời kỳ 2011-2020

I. Tổng nhu cầu vốn đầu tư

Tỷ đồng

2.090

3.000

5.090

1. Vốn ngân sách

Tỷ đồng

627

373

1.000

- Trung ương

nt

63

30

93

- Địa phương

nt

564

343

908

2. Huy động các thành phần KT

Tỷ đồng

1.463

2.627

4.090

II. Cơ cấu nguồn vốn

%

100%

100%

100%

1. Vốn ngân sách

%

30%

12%

20%

- Trung ương

nt

10%

8%

9%

- Địa phương

nt

90%

92%

91%

2. Huy động các thành phần KT

%

70%

88%

80%

- Vốn ngân sách (vốn Trung ương hỗ trợ và ngân sách tỉnh): tăng cường công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong chế biến, khuyến công, xúc tiến thương mại mở rộng thị trường; quy hoạch chi tiết và xây dựng cơ sở hạ tầng 3 khu chế biến tập trung, đền bù giải phóng mặt bằng và hỗ trợ cho công tác giải tỏa, di dời các cơ sở về các khu chế biến tập trung.
- Vốn huy động từ các thành phần kinh tế (các doanh nghiệp và nhà đầu tư) đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh; đổi mới, nâng cấp thiết bị, công nghệ; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở các khu chế biến tập trung.
IV. Các giải pháp thực hiện quy hoạch:
1. Giải pháp cơ chế và chính sách:
Triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách của Nhà nước đã ban hành như: Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ, về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản; Nghị định số 61/2010/NĐ-CP, ngày 04/06/2010 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12/04/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông thôn.
Triển khai thực hiện tốt Quyết định số 57/2010/QĐ-TTg, ngày 17/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ về miễn tiền thuê đất đối với các dự án xây dựng kho dự trữ 4 triệu tấn lúa, ngô, kho lạnh bảo quản thủy sản, rau quả và kho tạm trữ cà phê theo quy hoạch.
Ưu tiên thực hiện Nghị định số 151/2006/NĐ-CP, ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và Nghị định số 106/2008/NĐ-CP, ngày 19/09/2008 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 151/2006/NĐ-CP đối với việc đầu tư mới và đầu tư nâng cấp các cơ sở chế biến thủy sản đủ điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo qui chuẩn kỹ thuật quốc gia và cơ sở áp dụng công nghệ chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng đạt trình độ tiên tiến.
Ưu tiên thực hiện quyết định 2072/QĐ-TTg, ngày 11/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ (về việc hỗ trợ lãi suất cho các khoản vay trung và dài hạn ngân hàng bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân thuộc một số lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và lâm nghiệp; thủy sản; công nghiệp chế biến; hoạt động khoa học công nghệ; hoạt động thu mua và kinh doanh các mặt hàng nông sản, lâm sản, thủy sản, và nghề muối).
Xây dựng chính sách ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp chế biến thủy sản đầu tư công nghệ mới với trang thiết bị hiện đại để chế biến sản phẩm giá trị gia tăng.
Xây dựng chính sách riêng hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ gia đình, các làng nghề truyền thống chế biến thủy sản trong việc phát triển sản phẩm, tìm kiếm khách hàng, quảng bá sản phẩm thông qua các chương trình xúc tiến thương mại thủy sản.
2. Giải pháp về vốn đầu tư:
* Nguồn vốn Trung ương:
Tranh thủ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ cho phát triển chế biến và tiêu thụ thủy sản của tỉnh tại các Quyết định số 279/QĐ-TTg, ngày 07/03/2012 của Thủ tướng Chính phủ v/v phê duyệt Chương trình phát triển xuất khẩu thủy sản đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; QĐ số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010; NĐ số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/06/2010; QĐ số 2072/QĐ-TTg ngày 11/12/2009; QĐ số 57/2010/QĐ-TTg ngày 17/09/2010; nguồn vốn từ các chương trình xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm,...
* Nguồn vốn địa phương:
Vốn ngân sách địa phương sẽ ưu tiên bố trí để thực hiện các đề án quy hoạch, các dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật khu chế biến tập trung, cảng cá, bến cá, chợ đầu mối thủy sản,...
* Nguồn vốn huy động từ các thành phần kinh tế:
Để có đủ vốn đáp ứng cho nhu cầu phát triển thủy sản đến năm 2020 cần phải huy động vốn đầu tư theo hướng xã hội hóa, tận dụng tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân và các loại tín dụng đầu tư phát triển.
Tận dụng vốn vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất của Nhà nước và tạo điều kiện tín dụng thuận lợi cho ngư dân, tư nhân vay vốn đóng tàu khai thác vùng khơi, phát triển nuôi trồng, chế biến thủy sản xuất khẩu và cung ứng vật tư, hàng hóa cần thiết.
Tiếp nhận nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các nguồn vốn vay dài hạn, ngắn hạn của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), vốn ODA và vốn của các tổ chức phi Chính phủ, để phát triển chế biến, nuôi trồng, các hạ tầng kỹ thuật nghề cá, đào tạo nguồn nhân lực, xóa đói, giảm nghèo,...
3. Giải pháp nguồn nguyên liệu:
- Cần đẩy mạnh hợp tác mở rộng ngư trường khai thác cho ngư dân, hỗ trợ cho ngư dân về kỹ thuật bảo quản nguyên liệu; tăng cường các biện pháp hạn chế các loại nghề khai thác làm tổn hại đến ngư trường; đồng thời cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án nuôi tập trung đang xây dựng, có kế hoạch cụ thể nâng cấp cơ sở hạ tầng vùng nuôi.
- Tăng cường xây dựng, nâng cấp cảng cá, bến cá, chợ đầu mối, sàn đấu giá thủy sản để tạo điều kiện thuận lợi thu hút tàu thuyền từ các tỉnh khác cập bến trên địa bàn nhằm thu hút nguồn nguyên liệu từ ngoài tỉnh.
- Cần sớm hình thành mối liên kết giữa các doanh nghiệp với ngư dân và người nuôi trồng thủy sản bằng cách triển khai hình thức bao tiêu sản phẩm trong và ngoài tỉnh cho ngư dân; đa dạng hóa sản phẩm theo hướng tăng các mặt hàng tinh chế, sử dụng ít nguyên liệu và ngày càng có giá trị gia tăng cao,...
- Bên cạnh khai thác chọn lọc, cần phải tăng cường bảo quản chất lượng sản phẩm khai thác. Để thực hiện được việc này, các doanh nghiệp chế biến và ngư dân khai thác cần có “tiếng nói chung”. Điều cần làm là giúp ngư dân biết được nhà máy chế biến đang cần nguyên liệu gì, chất lượng ra sao, kích cỡ như thế nào, thời điểm thu mua,... Việc nắm bắt thông tin sẽ giúp ngư dân khai thác có chọn lọc, vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ nguồn lợi hải sản, chất lượng nguyên liệu cung ứng cho nhà máy,...
- Nhập khẩu nguyên liệu: cần đẩy mạnh vai trò quản lý của các ngành chức năng, thiết lập các khuôn khổ pháp chế đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập khẩu nguyên liệu phục vụ chế biến.
4. Giải pháp thị trường:
- Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, tăng cường liên hệ với các đối tác tại các thị trường lớn để đàm phán và chuẩn bị tốt nguồn cung, không ngừng củng cố và nâng cao uy tín trong làm ăn đối với khách hàng. Giữ vững và mở rộng xuất khẩu tại các thị trường truyền thống: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Mỹ, EU và Ôxtrâylia; đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước khác, đặc biệt là các thị trường còn nhiều tiềm năng như: các nước Châu Á khác, Đông Âu, Châu Phi, Nam Mỹ,...
- Đổi mới hoạt động xúc tiến thương mại, đa dạng hóa hình thức tiếp cận thị trường và giới thiệu sản phẩm. Tiếp tục xây dựng và phát triển năng lực dự báo về thị trường thủy sản thế giới trên các mặt: giá cả và chủng loại sản phẩm, nhu cầu và xu hướng tiêu thụ, biến động thị trường và yêu cầu chất lượng sản phẩm để kịp thời cung cấp cho doanh nghiệp và người sản xuất.
- Nghiên cứu chuyển hướng từ xuất khẩu cho các nhà nhập khẩu sang xuất khẩu trực tiếp cho hệ thống phân phối, các chuỗi siêu thị. Đồng thời chuyển hướng từ xuất khẩu mặt hàng nguyên liệu thủy sản đông lạnh sang xuất khẩu mặt hàng chế biến sâu, có giá trị gia tăng cao.
- Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc đăng ký thương hiệu sản phẩm hàng hóa và quảng bá sản phẩm gắn với việc xây dựng và quảng bá thương hiệu của tỉnh cho các nhóm sản phẩm chủ lực như mực, bạch tuộc, cá, ghẹ...
- Mở rộng thị trường nội địa thông qua việc đa dạng các loại sản phẩm có chất lượng, giá cả hợp lý, phù hợp khẩu vị, chú trọng xây dựng mối liên kết, hợp tác kinh doanh với các nhà phân phối lớn, các hệ thống siêu thị và các tổ chức dịch vụ ở thị trường trong nước. Đẩy mạnh “xuất khẩu tại chỗ” thông qua khách du lịch đến tỉnh.
5. Giải pháp khoa học, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực:
* Về khoa học và công nghệ: Khoa học công nghệ chế biến thủy sản của tỉnh trong thời gian tới cần tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Tăng cường nghiên cứu hoặc liên kết với các Viện nghiên cứu, Trường Đại học để nhận chuyển giao công nghệ chế biến các sản phẩm mới, có giá trị gia tăng cao, đặc biệt là công nghệ chế biến surimi để từ các loài cá giá trị thấp chế biến thành sản phẩm giá trị gia tăng (sản phẩm giả tôm, cua,...); Nghiên cứu tận dụng phế thải từ chế biến thủy sản để chế biến thành các sản phẩm có ích (như sản xuất chitin, chitozan từ vỏ tôm, cua; chiết rút dầu cá từ nội tạng cá; chế biến bột đạm cô đặc từ đầu, vây, vảy, nội tạng của các loài thủy sản,..).
- Tăng cường xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo HACCP, SQF, ISO và quản lý môi trường ISO 14000 trong chế biến thủy sản.
- Quan tâm tăng kinh phí ngân sách hàng năm cho việc thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ cấp tỉnh trong lĩnh vực chế biến thủy sản.
* Phát triển nguồn nhân lực: nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu cần được quan tâm phát triển hơn nữa trong thời gian tới.
- Xây dựng chiến lược đào tạo dài hạn và đào tạo lại để có được một lực lượng lao động và cán bộ quản lý có trình độ thích ứng với đòi hỏi của hội nhập. Có chính sách trọng dụng nhân tài, đãi ngộ hợp lý đối với người lao động.
- Phát huy mọi tiềm năng để đào tạo đồng bộ nguồn nhân lực theo một cơ cấu tương quan hợp lý giữa đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và thợ lành nghề; chú trọng đội ngũ cán bộ chuyên sâu, cán bộ nghiên cứu khoa học đầu ngành để tiếp cận nền kinh tế tri thức phục vụ cho việc phát triển có hiệu quả ngành chế biến thủy sản.
- Đẩy mạnh công tác đào tạo và đào tạo lại lực lượng cán bộ, công nhân kỹ thuật. Nâng cao hợp tác giữa doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo, trường học để phối hợp nhịp nhàng giữa năng lực đào tạo và nhu cầu nhân lực sản xuất, giảm tình trạng dư thừa lao động giản đơn, thiếu lao động kỹ thuật. Nâng cao trình độ và tính năng động của cán bộ các cấp, các ngành.
6. Giải pháp bảo vệ môi trường:
- Nhanh chóng xây dựng hạ tầng cơ sở cho 03 khu chế biến, mỗi khu phải có hệ thống xử lý chất thải tập trung để kiểm soát và xử lý đạt tiêu chuẩn xả thải mới cho phép xả ra môi trường.
- Xây dựng các chính sách khuyến khích và hỗ trợ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn từ Quỹ bảo vệ môi trường để đầu tư xây dựng hệ thống xử lý môi trường đạt chuẩn và vận hành có hiệu quả đặc biệt là khí thải. Bắt buộc các doanh nghiệp có các giải pháp giảm thiểu và xử lý triệt để các chất gây ô nhiễm môi trường, đồng thời phải có chế tài, các chế độ thưởng phạt nghiêm minh.
- Tăng cường năng lực, trình độ công nghệ, trình độ quản lý sản xuất, đặc biệt tăng cường quản lý nguồn nguyên liệu, tiếp tục hỗ trợ, đào tạo cán bộ cho các doanh nghiệp CBTS áp dụng sâu rộng sản xuất sạch hơn, giảm thiểu chất thải, nước thải, tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng và xử lý có hiệu quả các nguồn gây ô nhiễm.
- Tổ chức nghiên cứu, học tập kinh nghiệm các địa phương khác trong nước có các nhà máy chế biến hải sản áp dụng công nghệ tiên tiến xử lý khí thải, nước thải không gây ô nhiễm môi trường, trên cơ sở đó xây dựng các qui định, tiêu chí, quy trình công nghệ bắt buộc các nhà máy phải áp dụng khi di dời vào các khu chế biến hải sản nêu trên; đảm bảo không phát sinh khí thải, nước thải gây ô nhiễm môi trường cho các khu vực xung quanh.
V. Tổ chức thực hiện:
1. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm:
a) Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tổ chức triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển chế biến và tiêu thụ thủy sản tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020 đạt mục tiêu đề ra; theo dõi, tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá tình hình thực hiện, đề xuất điều chỉnh, bổ sung cơ chế chính sách thúc đẩy thực hiện Quy hoạch đạt hiệu quả cao.
b) Chỉ đạo các đơn vị chức năng tăng cường kiểm tra, kiểm soát các cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện các quy định pháp luật về kiểm soát chất lượng sản phẩm, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
2. Các Sở, ngành liên quan:
Theo chức năng, nhiệm vụ của mình, phối hợp chặt chẽ với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc thực hiện các giải pháp của Quy hoạch đã đề ra.
3. Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố Vũng Tàu, Bà Rịa:
Chỉ đạo các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng của địa phương hướng dẫn các tổ chức cá nhân hoạt động sản xuất chế biến thủy sản trên địa bàn theo hướng tiếp cận quản lý hệ thống theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ, trước mắt là đối với những sản phẩm xuất khẩu chủ lực; Vận động các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu tích cực tham gia các hình thức tổ chức sản xuất theo hướng liên kết chặt chẽ, chia sẻ lợi ích với cộng đồng và người sản xuất.
4. Hội nghề cá tỉnh:
Tổ chức vận động, tuyên truyền, giáo dục các thành viên và cộng đồng làm nghề thủy sản xây dựng mối liên kết và giám sát chặt chẽ để thực hiện quản lý chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng và cho xuất khẩu, nhất là các sản phẩm xuất khẩu chủ lực, giữ vững uy tín của sản phẩm thủy sản trên thị trường quốc tế.