Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 1632/QĐ-UBND quy hoạch phát triển công nghiệp nông thôn Bắc Ninh 2011 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Ninh", "promulgation_date": "20/12/2011", "sign_number": "1632/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Tiến Nhường", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Ninh", "promulgation_date": "20/12/2011", "sign_number": "1632/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Tiến Nhường", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Ninh", "promulgation_date": "20/12/2011", "sign_number": "1632/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Tiến Nhường", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Ninh", "promulgation_date": "20/12/2011", "sign_number": "1632/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Tiến Nhường", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Ninh", "promulgation_date": "20/12/2011", "sign_number": "1632/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Tiến Nhường", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 1632/QĐ-UBND quy hoạch phát triển công nghiệp nông thôn Bắc Ninh 2011 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011-2020 với các nội dung chủ yếu sau:
...
4. Quy hoạch phát triển một số phân ngành công nghiệp chủ yếu
4.1. Ngành công nghiệp sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, mộc dân dụng
- Khuyến khích đầu tư máy móc, thiết bị (thiết bị chạm khắc tự động, máy định hình, máy bào 4 mặt, lò sấy hơi đốt, thiết bị tẩm sấy bằng áp lực chân không...), đổi mới công nghệ sản xuất để tiếp tục phát triển các cơ sở sản xuất gỗ mỹ nghệ, dân dụng ở các xã Hương Mạc, Phù Khê, Tam Sơn ( thị xã Từ Sơn).
- Khuyến khích đầu tư, hình thành trung tâm cung ứng gỗ nguyên liệu phục vụ cho sản xuất tại xã Phù Khê với diện tích khoảng 10-15 ha.
- Di chuyển các doanh nghiệp sản xuất có quy mô lớn, gây ô nhiễm môi trường tại các xã Hương mạc, Phù Khê, Tam Sơn vào các cụm công nghiệp đã có trên địa bàn.
- Thực hiện đào tạo nghề, nhân cấy nghề mới để phát triển sản xuất gỗ mỹ nghệ, mộc dân dụng tại các huyện Yên Phong, Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài.
4.2. Ngành chế biến nông, lâm sản, thực phẩm và đồ uống
- Tập trung sản xuất các sản phẩm truyền thống, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có giá trị gia tăng cao, trong đó: Đối với các nghề đã có như: sản xuất rượu ở Tam Đa, (Yên Phong), sản xuất mỳ, bún, bánh ở Khắc Niệm, (thành phố Bắc Ninh), sản xuất đậu ở Trí Quả, sản xuất nem ở Ninh Xá (Thuận Thành) và các địa phương khác cần đầu tư máy móc, thiết bị, đổi mới quy trình công nghệ để sản xuất các sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, gắn việc phát triển sản xuất với xử lý môi trường.
- Tập trung đầu tư phát triển mạnh năng lực chế biến, thực hiện điều chỉnh, sắp xếp lại các cơ sở chế biến quy mô nhỏ. Quy mô cơ sở chế biến phải phù hợp với tiềm năng nguồn nguyên liệu, cần lựa chọn thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến để có sản phẩm chất lượng cao phục vụ xuất khẩu.
- Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm hiện có như bia, nước giải khát, thức ăn gia súc, giấy, mây tre đan, hàng thủ công xuất khẩu,... phát triển sản xuất các sản phẩm mới có giá trị cao.
- Phát triển công nghiệp chế biến gắn với phát triển vùng nguyên liệu. Xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, thâm canh, xây dựng các cơ sở chế biến tập trung tại các vùng nguyên liệu lớn. Đầu tư xây dựng và hình thành các vùng, tiểu vùng chuyên canh sản xuất nông sản cung cấp cho công nghiệp chế biến. Đầu tư đưa giống mới vào sản xuất, thâm canh để nâng cao năng suất và chất lượng nông sản.
- Phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung và an toàn; hình thành các khu chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung, quy mô hiện đại, đảm bảo chất lượng về vệ sinh an toàn thực phẩm. Kết hợp giữa chăn nuôi và chế biến một cách hài hòa và hiệu quả.
- Xây dựng quan hệ tương hỗ giữa các cơ sở chế biến với nông dân để có nguồn nguyên liệu dồi dào, ổn định, chất lượng cao,... tạo điều kiện cho các cơ sở chế biến phát huy hết công suất thiết kế và có cơ hội mở rộng sản xuất.
- Tiếp tục đào tạo nghề và nhân cấy nghề mây tre đan tại các vùng thuần nông ở các huyện Gia Bình, Quế Võ, Thuận Thành, Lương Tài.
- Di dời các cơ sở chế biến gây ô nhiễm vào khu, cụm công nghiệp. Tập trung xử lý môi trường ở làng nghề tre trúc Xuân Lai ( Gia Bình).
4.3. Ngành sản xuất giấy
Về cơ bản, các cơ sở sản xuất giấy hiện nay tại Bắc Ninh vẫn nằm trong khu dân cư, gây ô nhiễm môi trường một cách nghiêm trọng, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân địa bàn tỉnh và những khu vực xung quanh. Do vậy cần dừng cấp giấy phép kinh doanh và chứng nhận đầu tư cho các cơ sở sản xuất giấy tái sinh trong khi dân cư (trong đó có hộ cá thể), giai đoạn 2011- 2015 tiến hành di dời cơ sở sản xuất trong khu dân cư vào các cụm công nghiệp làng nghề, song song với việc yêu cầu các cơ sở sản xuất xây dựng kế hoạch, lộ trình đổi mới công nghệ. Định hướng các cơ sở sản xuất lựa chọn công nghệ hiện đại, ít gây ô nhiễm môi trường, và tiêu hao năng lượng thấp.
Đến năm 2015, về cơ bản các cơ sở sản xuất đã thay đổi xong dây chuyền cũ bằng các dây chuyền hiện đại. Giai đoạn 2016-2020 sẽ tiến hành dừng hoạt động đối với các cơ sở sản xuất không hoặc chưa chuyển đổi công nghệ, gây ô nhiễm môi trường. Từ năm 2020, không cấp thêm giấy phép đầu mới cho các dự án sản xuất giấy, trường hợp đặc biệt cần đánh giá hiệu quả đầu tư, và tác động môi trường một cách kỹ lưỡng. Theo đó công nghệ phải hướng tới công nghệ tiên tiến, hiện đại và sử dụng năng lượng hiệu quả. Đồng thời hướng vào các công nghệ tuần hoàn để có thể tái sử dụng nguồn nước sản xuất nhằm giảm thiểu chất thải, nước thải. Tận dụng tối đa và sử dụng hợp lý diện tích các cụm công nghiệp sản xuất giấy hiện có, không mở rộng và bổ sung thêm các cụm công nghiệp sản xuất giấy tái sinh.
4.4. Ngành dệt, may
- Duy trì và nâng cao năng lực sản xuất của cơ sở may hiện có để đáp ứng nhu cầu của nhân dân trên địa bàn tỉnh. Phát triển các sản phẩm may mặc phù hợp với thị hiếu và thu nhập của người tiêu dùng.
- Đầu tư cơ sở may công nghiệp có thiết bị tiên tiến để may các sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
- Đầu tư phát triển sản xuất nguyên phụ liệu của ngành.
- Hỗ trợ phát triển các làng nghề Dệt ở Tương Giang, thị xã Từ Sơn); Hoài Thượng, huyện Thuận Thành.
4.5. Ngành sản xuất vật liệu xây dựng và gốm sứ
- Phát triển sản xuất vật liệu xây dựng phải đi đôi với công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng để đảm bảo phát triển bền vững, gắn hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan và an ninh quốc phòng.
- Sản xuất được các sản phẩm vật liệu xây dựng có chất lượng tốt đạt tiêu chuẩn quốc tế. Xây dựng lộ trình đến năm 2020 chấp dứt việc sản xuất các loại vật liệu xây dựng bằng công nghệ lạc hậu, tiêu tốn nguồn nguyên liệu, năng lượng, phá vỡ, hủy hoại cảnh quan, môi trường sinh thái như sản xuất gạch, ngói bằng lò tuy nen, lò vòng hay các công nghệ tương tự.
- Quy mô, phân bố các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng phải phù hợp với nguồn tài nguyên, thị trường tiêu thụ. Bên cạnh việc đầu tư công nghệ thiết bị tiên tiến, hiện đại để có thể nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hiệu quả đầu tư, tăng sức cạnh tranh cần quan tâm đúng mức đến việc phát triển các chủng loại.
- Đối với vật liệu nung, giai đoạn 2011- 2020 vẫn tiếp tục sản xuất. Tuy nhiên do nguồn nguyên liệu không ổn định nên cần có lộ trình để doanh nghiệp sản xuất vật liệu nung chuyển sang sản xuất vật liệu không nung theo chương trình phát triển vật liệu xây dựng không nung đến năm 2020. Năm 2012 tiến hành rà soát và xem xét các dự án sản xuất vật liệu nung một cách cụ thể để ra quyết định về thời gian hoạt động của từng nhà máy và xây dựng lộ trình chuyển đổi sản xuất vật liệu nung sang sản xuất vật liệu không nung một cách phù hợp.
Song song với việc chuyển đổi các cơ sở sản xuất vật liệu nung sang sản xuất vật liệu không nung là không cấp phép cho các dự án đầu tư mới trong lĩnh vực sản xuất vật liệu nung. Với những dự án đã được cấp phép, cần rà soát lại nếu đến hết năm 2011 chưa triển khai giải phóng mặt bằng, hoặc chưa triển khai xây dựng thì sẽ thực hiện thu hồi giấy phép đầu tư.
- Đối với sản xuất gốm: Tiếp tục khuyến khích, tạo điều kiện cho ngành gốm mỹ nghệ phát triển qua các chính sách hỗ trợ phát triển thị trường, tạo mặt bằng cho sản xuất, hỗ trợ đào tạo nhân lực tay nghề cao... cho các làng nghề gốm Phù Lãng (Quế Võ), Luy Lâu (Thuận Thành) phát triển.
- Khuyến khích đầu tư, phát triển cơ sở sản xuất sứ công nghiệp tại Quế Võ.

Content:
Quy hoạch phát triển một số phân ngành công nghiệp chủ yếu
4.1. Ngành công nghiệp sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, mộc dân dụng
- Khuyến khích đầu tư máy móc, thiết bị (thiết bị chạm khắc tự động, máy định hình, máy bào 4 mặt, lò sấy hơi đốt, thiết bị tẩm sấy bằng áp lực chân không...), đổi mới công nghệ sản xuất để tiếp tục phát triển các cơ sở sản xuất gỗ mỹ nghệ, dân dụng ở các xã Hương Mạc, Phù Khê, Tam Sơn ( thị xã Từ Sơn).
- Khuyến khích đầu tư, hình thành trung tâm cung ứng gỗ nguyên liệu phục vụ cho sản xuất tại xã Phù Khê với diện tích khoảng 10-15 ha.
- Di chuyển các doanh nghiệp sản xuất có quy mô lớn, gây ô nhiễm môi trường tại các xã Hương mạc, Phù Khê, Tam Sơn vào các cụm công nghiệp đã có trên địa bàn.
- Thực hiện đào tạo nghề, nhân cấy nghề mới để phát triển sản xuất gỗ mỹ nghệ, mộc dân dụng tại các huyện Yên Phong, Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài.
4.2. Ngành chế biến nông, lâm sản, thực phẩm và đồ uống
- Tập trung sản xuất các sản phẩm truyền thống, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có giá trị gia tăng cao, trong đó: Đối với các nghề đã có như: sản xuất rượu ở Tam Đa, (Yên Phong), sản xuất mỳ, bún, bánh ở Khắc Niệm, (thành phố Bắc Ninh), sản xuất đậu ở Trí Quả, sản xuất nem ở Ninh Xá (Thuận Thành) và các địa phương khác cần đầu tư máy móc, thiết bị, đổi mới quy trình công nghệ để sản xuất các sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, gắn việc phát triển sản xuất với xử lý môi trường.
- Tập trung đầu tư phát triển mạnh năng lực chế biến, thực hiện điều chỉnh, sắp xếp lại các cơ sở chế biến quy mô nhỏ. Quy mô cơ sở chế biến phải phù hợp với tiềm năng nguồn nguyên liệu, cần lựa chọn thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến để có sản phẩm chất lượng cao phục vụ xuất khẩu.
- Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm hiện có như bia, nước giải khát, thức ăn gia súc, giấy, mây tre đan, hàng thủ công xuất khẩu,... phát triển sản xuất các sản phẩm mới có giá trị cao.
- Phát triển công nghiệp chế biến gắn với phát triển vùng nguyên liệu. Xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, thâm canh, xây dựng các cơ sở chế biến tập trung tại các vùng nguyên liệu lớn. Đầu tư xây dựng và hình thành các vùng, tiểu vùng chuyên canh sản xuất nông sản cung cấp cho công nghiệp chế biến. Đầu tư đưa giống mới vào sản xuất, thâm canh để nâng cao năng suất và chất lượng nông sản.
- Phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung và an toàn; hình thành các khu chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung, quy mô hiện đại, đảm bảo chất lượng về vệ sinh an toàn thực phẩm. Kết hợp giữa chăn nuôi và chế biến một cách hài hòa và hiệu quả.
- Xây dựng quan hệ tương hỗ giữa các cơ sở chế biến với nông dân để có nguồn nguyên liệu dồi dào, ổn định, chất lượng cao,... tạo điều kiện cho các cơ sở chế biến phát huy hết công suất thiết kế và có cơ hội mở rộng sản xuất.
- Tiếp tục đào tạo nghề và nhân cấy nghề mây tre đan tại các vùng thuần nông ở các huyện Gia Bình, Quế Võ, Thuận Thành, Lương Tài.
- Di dời các cơ sở chế biến gây ô nhiễm vào khu, cụm công nghiệp. Tập trung xử lý môi trường ở làng nghề tre trúc Xuân Lai ( Gia Bình).
4.3. Ngành sản xuất giấy
Về cơ bản, các cơ sở sản xuất giấy hiện nay tại Bắc Ninh vẫn nằm trong khu dân cư, gây ô nhiễm môi trường một cách nghiêm trọng, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân địa bàn tỉnh và những khu vực xung quanh. Do vậy cần dừng cấp giấy phép kinh doanh và chứng nhận đầu tư cho các cơ sở sản xuất giấy tái sinh trong khi dân cư (trong đó có hộ cá thể), giai đoạn 2011- 2015 tiến hành di dời cơ sở sản xuất trong khu dân cư vào các cụm công nghiệp làng nghề, song song với việc yêu cầu các cơ sở sản xuất xây dựng kế hoạch, lộ trình đổi mới công nghệ. Định hướng các cơ sở sản xuất lựa chọn công nghệ hiện đại, ít gây ô nhiễm môi trường, và tiêu hao năng lượng thấp.
Đến năm 2015, về cơ bản các cơ sở sản xuất đã thay đổi xong dây chuyền cũ bằng các dây chuyền hiện đại. Giai đoạn 2016-2020 sẽ tiến hành dừng hoạt động đối với các cơ sở sản xuất không hoặc chưa chuyển đổi công nghệ, gây ô nhiễm môi trường. Từ năm 2020, không cấp thêm giấy phép đầu mới cho các dự án sản xuất giấy, trường hợp đặc biệt cần đánh giá hiệu quả đầu tư, và tác động môi trường một cách kỹ lưỡng. Theo đó công nghệ phải hướng tới công nghệ tiên tiến, hiện đại và sử dụng năng lượng hiệu quả. Đồng thời hướng vào các công nghệ tuần hoàn để có thể tái sử dụng nguồn nước sản xuất nhằm giảm thiểu chất thải, nước thải. Tận dụng tối đa và sử dụng hợp lý diện tích các cụm công nghiệp sản xuất giấy hiện có, không mở rộng và bổ sung thêm các cụm công nghiệp sản xuất giấy tái sinh.
4.Ngành dệt, may
- Duy trì và nâng cao năng lực sản xuất của cơ sở may hiện có để đáp ứng nhu cầu của nhân dân trên địa bàn tỉnh. Phát triển các sản phẩm may mặc phù hợp với thị hiếu và thu nhập của người tiêu dùng.
- Đầu tư cơ sở may công nghiệp có thiết bị tiên tiến để may các sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
- Đầu tư phát triển sản xuất nguyên phụ liệu của ngành.
- Hỗ trợ phát triển các làng nghề Dệt ở Tương Giang, thị xã Từ Sơn); Hoài Thượng, huyện Thuận Thành.
4.5. Ngành sản xuất vật liệu xây dựng và gốm sứ
- Phát triển sản xuất vật liệu xây dựng phải đi đôi với công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng để đảm bảo phát triển bền vững, gắn hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan và an ninh quốc phòng.
- Sản xuất được các sản phẩm vật liệu xây dựng có chất lượng tốt đạt tiêu chuẩn quốc tế. Xây dựng lộ trình đến năm 2020 chấp dứt việc sản xuất các loại vật liệu xây dựng bằng công nghệ lạc hậu, tiêu tốn nguồn nguyên liệu, năng lượng, phá vỡ, hủy hoại cảnh quan, môi trường sinh thái như sản xuất gạch, ngói bằng lò tuy nen, lò vòng hay các công nghệ tương tự.
- Quy mô, phân bố các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng phải phù hợp với nguồn tài nguyên, thị trường tiêu thụ. Bên cạnh việc đầu tư công nghệ thiết bị tiên tiến, hiện đại để có thể nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hiệu quả đầu tư, tăng sức cạnh tranh cần quan tâm đúng mức đến việc phát triển các chủng loại.
- Đối với vật liệu nung, giai đoạn 2011- 2020 vẫn tiếp tục sản xuất. Tuy nhiên do nguồn nguyên liệu không ổn định nên cần có lộ trình để doanh nghiệp sản xuất vật liệu nung chuyển sang sản xuất vật liệu không nung theo chương trình phát triển vật liệu xây dựng không nung đến năm 2020. Năm 2012 tiến hành rà soát và xem xét các dự án sản xuất vật liệu nung một cách cụ thể để ra quyết định về thời gian hoạt động của từng nhà máy và xây dựng lộ trình chuyển đổi sản xuất vật liệu nung sang sản xuất vật liệu không nung một cách phù hợp.
Song song với việc chuyển đổi các cơ sở sản xuất vật liệu nung sang sản xuất vật liệu không nung là không cấp phép cho các dự án đầu tư mới trong lĩnh vực sản xuất vật liệu nung. Với những dự án đã được cấp phép, cần rà soát lại nếu đến hết năm 2011 chưa triển khai giải phóng mặt bằng, hoặc chưa triển khai xây dựng thì sẽ thực hiện thu hồi giấy phép đầu tư.
- Đối với sản xuất gốm: Tiếp tục khuyến khích, tạo điều kiện cho ngành gốm mỹ nghệ phát triển qua các chính sách hỗ trợ phát triển thị trường, tạo mặt bằng cho sản xuất, hỗ trợ đào tạo nhân lực tay nghề cao... cho các làng nghề gốm Phù Lãng (Quế Võ), Luy Lâu (Thuận Thành) phát triển.
- Khuyến khích đầu tư, phát triển cơ sở sản xuất sứ công nghiệp tại Quế Võ.