Document: Điều 1 Thông tư 12/VGNN-PPCĐ hướng dẫn Điều lệ quản lý giá hướng dẫn Nghị định 33-HĐBT

Type: {"issuing_agency": "Uỷ ban Vật giá Nhà nước", "promulgation_date": "06/05/1985", "sign_number": "12/VGNN-PPCĐ", "signer": "Phan Văn Tiệm", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Uỷ ban Vật giá Nhà nước", "promulgation_date": "06/05/1985", "sign_number": "12/VGNN-PPCĐ", "signer": "Phan Văn Tiệm", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Uỷ ban Vật giá Nhà nước", "promulgation_date": "06/05/1985", "sign_number": "12/VGNN-PPCĐ", "signer": "Phan Văn Tiệm", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Uỷ ban Vật giá Nhà nước", "promulgation_date": "06/05/1985", "sign_number": "12/VGNN-PPCĐ", "signer": "Phan Văn Tiệm", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Uỷ ban Vật giá Nhà nước", "promulgation_date": "06/05/1985", "sign_number": "12/VGNN-PPCĐ", "signer": "Phan Văn Tiệm", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 1 Thông tư 12/VGNN-PPCĐ hướng dẫn Điều lệ quản lý giá hướng dẫn Nghị định 33-HĐBT có nội dung như sau:

Điều 1. 2 của Điều lệ quản lý giá có quy định: "kể từ khi nhận được phương án giá đúng thể thức và nội dung quy định, cơ quan có thẩm quyền quyết định giá phải duyệt giá trong thời hạn:
- Không quá 30 ngày đối với những sản phẩm và dịch vụ thuộc các danh mục số 1 và số 2.
Không quá 15 ngày đối với những sản phẩm và dịch vụ thuộc các danh mục số 3 và số 4".
Uỷ ban Vật giá Nhà nước hướng dẫn rõ thêm như sau:
a) Các cơ quan có nhiệm vụ thẩm tra các phương án giá do các đơn vị sản xuất kinh doanh xây dựng trước khi trình lên cơ quan có thẩm quyền quyết định giá thì sau 7 ngày kể từ khi nhận được phương án giá đúng thể thức và nội dung quy định phải có ý kiến chính thức của mình gửi lên cơ quan có thẩm quyền xét duyệt giá.
b) Đối với phương án giá sản phẩm có tính chất thời vụ cơ quan lập phương án giá phải gửi trước thời vụ thu mua là 30 ngày. Cơ quan có thẩm quyền quyết định giá phải duyệt giá sau 15 ngày kể từ khi nhận được phương án giá đúng thể thức và nội dung quy định.
c) Thời hạn xét duyệt giá quy định trên đây, được tính bắt đầu từ ngày cơ quan có thẩm quyền xét duyệt giá nhận được phương án giá do cơ quan có trách nhiệm trình.
Thí dụ: Phương án giá bán buôn xí nghiệp vải do Nhà máy dệt 8/3 xây dựng gửi Uỷ ban Vật giá Nhà nước, Bộ Công nghiệp nhẹ ngày 1-2-1985, nhưng đến ngày 8-2-1985 Bộ Công nghiệp nhẹ mới có ý kiến chính thức gửi tới Uỷ ban Vật giá Nhà nước thì thời hạn xét duyệt giá được tính bắt đầu từ ngày 9-2-1985.
d) Nếu quá thời hạn quy định mà cơ quan có thẩm quyền quyết định giá chưa xét duỵệt xong thì cơ quan trình phưong án giá có quyền tạm thời cho thực hiện mức giá đã kiến nghị trong phương án. Khi có quyết định chính thức đơn vị sản xuất kinh doanh không phải thanh toán lại.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xét duyệt các phương án giá đúng thời hạn quy định, các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng năm cần xây dựng giá thành kế hoạch đơn vị sản phẩm (hoặc chi phí lưu thông) trình Bộ chủ quản (đối với cơ sở Trung ương quản lý), Uỷ ban nhân dân tỉnh (đối với cơ sở địa phương quản lý) xét duyệt. Cuối năm hạch toán giá thành thực tế đơn vị sản phẩm (hoặc chi phí lưu thông) gửi Bộ (tỉnh) chủ quản đồng thời gửi cho cơ quan giá cả, tài chính biết để theo dõi.
4. Quyết định và công bố giá: Điều 13 của Điều lệ quản lý giá có quy định: "tất cả các quyết định giá của các Bộ, của Uỷ ban nhân dân các tỉnh đều phải gửi Uỷ ban Vật giá Nhà nước để lập các bảng giá hiện hành của Nhà nước", Uỷ ban Vật giá Nhà nước đề nghị khi các Bộ, các tỉnh gửi cho Uỷ ban Vật giá Nhà nước các quyết định giá, cần gửi kèm theo phương án giá hoặc bản tóm tắt nội dung phương án giá để tạo điều kiện thuận lợi cho Uỷ ban Vật giá Nhà nước kiểm tra lại các quyết định giá và giải quyết những khiếu nại khi cần thiết.
Đối với các điểm khác trong Điều 13, đề nghị các đơn vị sản xuất, kinh doanh, các ngành, các cấp thực hiện nghiêm chỉnh.
5. Phân công trách nhiệm lập phương án giá: căn cứ vào điểm 2 Điều 3, điểm 1 Điều 4, điểm 2 Điều 7... thì Uỷ ban Vật giá Nhà nước, các Bộ, các cơ sở sản xuất kinh doanh... đều có trách nhiệm lập phương án giá, Uỷ ban Vật giá Nhà nước hướng dẫn việc thực hiện như sau:
a) Uỷ ban Vật giá Nhà nước chủ trì cùng các Bộ, các tỉnh lập các phương án giá:
- Khi cải cách giá, tổng điều chỉnh giá hoặc điều chỉnh nhiều loại giá (giá bán buôn, giá thu mua, giá bán lẻ...) và giá nhiều loại sản phẩm trong cùng 1 đợt nằm trong dự kiến kế hoạch Nhà nước. Các Bộ sản xuất kinh doanh và các tỉnh có trách nhiệm dự kiến mức giá của những sản phẩm do Bộ hoặc tỉnh quản lý gửi Uỷ ban Vật giá Nhà nước xem xét đưa vào phương án giá chung.
- Khi điều chỉnh cá biệt từng sản phẩm theo chỉ thị của Hội đồng Bộ trưởng.
b) Các Bộ, chủ trì cùng các ngành có liên quan lập phương án giá những sản phẩm mới sản xuất hoặc nhập khẩu lần đầu trong các danh mục số 1 và số 2 do Bộ quản lý sản xuất kinh doanh và phương án xin điều chỉnh, giá những sản phẩm trong các danh mục trên khi điều kiện sản xuất kinh doanh thay đổi.
Đối với phương án giá thu mua (bao gồm giá thu mua theo hợp đồng kinh tế 2 chiều và giá thu mua thỏa thuận) các loại nông sản, hải sản... do Bộ quản lý sản xuất chủ trì cùng Bộ thu mua và các tỉnh lập.
Đối với phương án giá bán lẻ do Bộ lưu thông chủ trì cùng với Bộ sản xuất lập và trình, có sự tham gia của Bộ Lao động và Tổng Công đoàn Việt Nam.
Đối với phương án giá bán buôn hàng nhập (bao gồm cả tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng) do cơ quan làm nhiệm vụ nhập khẩu cùng Bộ hoặc tỉnh được giao nhiệm vụ nhập khẩu lập.
c) Uỷ ban nhân dân các tỉnh lập phương án giá những sản phẩm do địa phương sản xuất, kinh doanh và nhập khẩu thuộc thẩm quyền quyết định giá của Trung ương khi thấy cần xin duyệt giá hoặc điều chỉnh giá cho phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của địa phương.
Uỷ ban Vật giá tỉnh có trách nhiệm thẩm tra phương án giá của các cơ sở lập, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh hoàn chỉnh phương án giá trước khi tỉnh trình lên Trung ương xét duyệt.
d) Các đơn vị sản xuất kinh doanh quốc doanh, công tư hợp doanh (hạch toán kinh tế độc lập):
- Đối với xí nghiệp, nông trường, lâm trường, xí nghiệp liên hợp, liên hiệp các xí nghiệp... lập phương án giá bán buôn xí nghiệp của các sản phẩm do đơn vị sản xuất để trình các cơ quan có thẩm quyền quyết định giá và phương án giá do xí nghiệp quyết định giá để làm căn cứ xuất trình trong trường hợp cơ quan thanh tra Nhà nước về giá cần kiểm tra.
- Đối với công ty, xí nghiệp (cơ quan gia công thu mua) chịu trách nhiệm lập phương án giá thu mua, giá gia công sản phẩm tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp. Đối với những sản phẩm thuộc thẩm quyền quyết định, giá thu mua, giá gia công của các Bộ thì cơ quan gia công phải phối hợp với Uỷ ban Vật giá tỉnh, Liên hiệp xã tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp tỉnh lập và trình.
6. Trách nhiệm của xí nghiệp, Bộ (tỉnh) chủ quản và cơ quan Vật giá trong việc lập phương án giá, thẩm tra, trình và xét duyệt giá.
- Giám đốc xí nghiệp, thủ trưởng các đơn vị kinh doanh chịu trách nhiệm trước Nhà nước về tính đúng đắn của phương án giá do đơn vị xây dựng.
- Bộ chủ quản, Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm trước Nhà nước về những phương án giá do Bộ hoặc tỉnh thẩm tra, trình Hội đồng Bộ trưởng hoặc Uỷ ban Vật giá Nhà nước được Hội đồng Bộ trưởng uỷ quyền quyết định giá.
- Cơ quan Vật giá và cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm trước Nhà nước về những quyết định giá do mình phê chuẩn.
IV. KIỂM TRA, THANH TRA, KỶ LUẬT NHÀ NƯỚC VỀ GIÁ

Content:
Điều 1. 2 của Điều lệ quản lý giá có quy định: "kể từ khi nhận được phương án giá đúng thể thức và nội dung quy định, cơ quan có thẩm quyền quyết định giá phải duyệt giá trong thời hạn:
- Không quá 30 ngày đối với những sản phẩm và dịch vụ thuộc các danh mục số 1 và số 2.
Không quá 15 ngày đối với những sản phẩm và dịch vụ thuộc các danh mục số 3 và số 4".
Uỷ ban Vật giá Nhà nước hướng dẫn rõ thêm như sau:
a) Các cơ quan có nhiệm vụ thẩm tra các phương án giá do các đơn vị sản xuất kinh doanh xây dựng trước khi trình lên cơ quan có thẩm quyền quyết định giá thì sau 7 ngày kể từ khi nhận được phương án giá đúng thể thức và nội dung quy định phải có ý kiến chính thức của mình gửi lên cơ quan có thẩm quyền xét duyệt giá.
b) Đối với phương án giá sản phẩm có tính chất thời vụ cơ quan lập phương án giá phải gửi trước thời vụ thu mua là 30 ngày. Cơ quan có thẩm quyền quyết định giá phải duyệt giá sau 15 ngày kể từ khi nhận được phương án giá đúng thể thức và nội dung quy định.
c) Thời hạn xét duyệt giá quy định trên đây, được tính bắt đầu từ ngày cơ quan có thẩm quyền xét duyệt giá nhận được phương án giá do cơ quan có trách nhiệm trình.
Thí dụ: Phương án giá bán buôn xí nghiệp vải do Nhà máy dệt 8/3 xây dựng gửi Uỷ ban Vật giá Nhà nước, Bộ Công nghiệp nhẹ ngày 1-2-1985, nhưng đến ngày 8-2-1985 Bộ Công nghiệp nhẹ mới có ý kiến chính thức gửi tới Uỷ ban Vật giá Nhà nước thì thời hạn xét duyệt giá được tính bắt đầu từ ngày 9-2-1985.
d) Nếu quá thời hạn quy định mà cơ quan có thẩm quyền quyết định giá chưa xét duỵệt xong thì cơ quan trình phưong án giá có quyền tạm thời cho thực hiện mức giá đã kiến nghị trong phương án. Khi có quyết định chính thức đơn vị sản xuất kinh doanh không phải thanh toán lại.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xét duyệt các phương án giá đúng thời hạn quy định, các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng năm cần xây dựng giá thành kế hoạch đơn vị sản phẩm (hoặc chi phí lưu thông) trình Bộ chủ quản (đối với cơ sở Trung ương quản lý), Uỷ ban nhân dân tỉnh (đối với cơ sở địa phương quản lý) xét duyệt. Cuối năm hạch toán giá thành thực tế đơn vị sản phẩm (hoặc chi phí lưu thông) gửi Bộ (tỉnh) chủ quản đồng thời gửi cho cơ quan giá cả, tài chính biết để theo dõi.
4. Quyết định và công bố giá: Điều 13 của Điều lệ quản lý giá có quy định: "tất cả các quyết định giá của các Bộ, của Uỷ ban nhân dân các tỉnh đều phải gửi Uỷ ban Vật giá Nhà nước để lập các bảng giá hiện hành của Nhà nước", Uỷ ban Vật giá Nhà nước đề nghị khi các Bộ, các tỉnh gửi cho Uỷ ban Vật giá Nhà nước các quyết định giá, cần gửi kèm theo phương án giá hoặc bản tóm tắt nội dung phương án giá để tạo điều kiện thuận lợi cho Uỷ ban Vật giá Nhà nước kiểm tra lại các quyết định giá và giải quyết những khiếu nại khi cần thiết.
Đối với các điểm khác trong Điều 13, đề nghị các đơn vị sản xuất, kinh doanh, các ngành, các cấp thực hiện nghiêm chỉnh.
5. Phân công trách nhiệm lập phương án giá: căn cứ vào điểm 2 Điều 3, điểm 1 Điều 4, điểm 2 Điều 7... thì Uỷ ban Vật giá Nhà nước, các Bộ, các cơ sở sản xuất kinh doanh... đều có trách nhiệm lập phương án giá, Uỷ ban Vật giá Nhà nước hướng dẫn việc thực hiện như sau:
a) Uỷ ban Vật giá Nhà nước chủ trì cùng các Bộ, các tỉnh lập các phương án giá:
- Khi cải cách giá, tổng điều chỉnh giá hoặc điều chỉnh nhiều loại giá (giá bán buôn, giá thu mua, giá bán lẻ...) và giá nhiều loại sản phẩm trong cùng 1 đợt nằm trong dự kiến kế hoạch Nhà nước. Các Bộ sản xuất kinh doanh và các tỉnh có trách nhiệm dự kiến mức giá của những sản phẩm do Bộ hoặc tỉnh quản lý gửi Uỷ ban Vật giá Nhà nước xem xét đưa vào phương án giá chung.
- Khi điều chỉnh cá biệt từng sản phẩm theo chỉ thị của Hội đồng Bộ trưởng.
b) Các Bộ, chủ trì cùng các ngành có liên quan lập phương án giá những sản phẩm mới sản xuất hoặc nhập khẩu lần đầu trong các danh mục số 1 và số 2 do Bộ quản lý sản xuất kinh doanh và phương án xin điều chỉnh, giá những sản phẩm trong các danh mục trên khi điều kiện sản xuất kinh doanh thay đổi.
Đối với phương án giá thu mua (bao gồm giá thu mua theo hợp đồng kinh tế 2 chiều và giá thu mua thỏa thuận) các loại nông sản, hải sản... do Bộ quản lý sản xuất chủ trì cùng Bộ thu mua và các tỉnh lập.
Đối với phương án giá bán lẻ do Bộ lưu thông chủ trì cùng với Bộ sản xuất lập và trình, có sự tham gia của Bộ Lao động và Tổng Công đoàn Việt Nam.
Đối với phương án giá bán buôn hàng nhập (bao gồm cả tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng) do cơ quan làm nhiệm vụ nhập khẩu cùng Bộ hoặc tỉnh được giao nhiệm vụ nhập khẩu lập.
c) Uỷ ban nhân dân các tỉnh lập phương án giá những sản phẩm do địa phương sản xuất, kinh doanh và nhập khẩu thuộc thẩm quyền quyết định giá của Trung ương khi thấy cần xin duyệt giá hoặc điều chỉnh giá cho phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của địa phương.
Uỷ ban Vật giá tỉnh có trách nhiệm thẩm tra phương án giá của các cơ sở lập, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh hoàn chỉnh phương án giá trước khi tỉnh trình lên Trung ương xét duyệt.
d) Các đơn vị sản xuất kinh doanh quốc doanh, công tư hợp doanh (hạch toán kinh tế độc lập):
- Đối với xí nghiệp, nông trường, lâm trường, xí nghiệp liên hợp, liên hiệp các xí nghiệp... lập phương án giá bán buôn xí nghiệp của các sản phẩm do đơn vị sản xuất để trình các cơ quan có thẩm quyền quyết định giá và phương án giá do xí nghiệp quyết định giá để làm căn cứ xuất trình trong trường hợp cơ quan thanh tra Nhà nước về giá cần kiểm tra.
- Đối với công ty, xí nghiệp (cơ quan gia công thu mua) chịu trách nhiệm lập phương án giá thu mua, giá gia công sản phẩm tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp. Đối với những sản phẩm thuộc thẩm quyền quyết định, giá thu mua, giá gia công của các Bộ thì cơ quan gia công phải phối hợp với Uỷ ban Vật giá tỉnh, Liên hiệp xã tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp tỉnh lập và trình.
6. Trách nhiệm của xí nghiệp, Bộ (tỉnh) chủ quản và cơ quan Vật giá trong việc lập phương án giá, thẩm tra, trình và xét duyệt giá.
- Giám đốc xí nghiệp, thủ trưởng các đơn vị kinh doanh chịu trách nhiệm trước Nhà nước về tính đúng đắn của phương án giá do đơn vị xây dựng.
- Bộ chủ quản, Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm trước Nhà nước về những phương án giá do Bộ hoặc tỉnh thẩm tra, trình Hội đồng Bộ trưởng hoặc Uỷ ban Vật giá Nhà nước được Hội đồng Bộ trưởng uỷ quyền quyết định giá.
- Cơ quan Vật giá và cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm trước Nhà nước về những quyết định giá do mình phê chuẩn.
IV. KIỂM TRA, THANH TRA, KỶ LUẬT NHÀ NƯỚC VỀ GIÁ