Document: Điểm b Khoản 7 Điều 1 Quyết định 41/2008/QĐ-BCT phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng nhóm khoáng chất công nghiệp

Type: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "17/11/2008", "sign_number": "41/2008/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "17/11/2008", "sign_number": "41/2008/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "17/11/2008", "sign_number": "41/2008/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "17/11/2008", "sign_number": "41/2008/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "17/11/2008", "sign_number": "41/2008/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 7 Điều 1 Quyết định 41/2008/QĐ-BCT phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng nhóm khoáng chất công nghiệp

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng nhóm khoáng chất công nghiệp (serpentin, barit, grafit, fluorit, bentonit, diatomit và talc) đến năm 2015, có xét đến năm 2025 với các nội dung chính sau:
...
7. Thăm dò quặng talc
Trữ lượng quặng tals đã xác định và dự báo khoảng 4,6 triệu tấn;
Giai đoạn đến năm 2015: tiến hành thăm dò quặng talc mỏ Tân Minh (Phú Thọ) với mục tiêu trữ lượng 0,5 triệu tấn cấp C1 và 1 triệu tấn cấp C2; thăm dò mỏ Mỹ Thuận (Phú Thọ) với mục tiêu trữ lượng đạt 0,5 triệu tấn cấp C1 và 1 triệu tấn cấp C2;
Dự kiến vốn đầu tư cho công tác thăm dò talc khoảng 30 đến 40 tỷ VNĐ.
Thống kê trữ lượng và tài nguyên dự báo và danh mục các dự án thăm dò quặng talc nêu ở Phụ lục số 19, 20.
V. QUY HOẠCH KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN
1. Khai thác, chế biến quặng serpentin
Quặng serpentin được khai thác và chế biến thành bột serpentin có hàm lượng MgO ≥30%, SiO2≤ 42% để phục vụ cho sản xuất phân bón NPK và phân lân nung chảy.
- Giai đoạn đến năm 2015: Khai thác và nâng công suất khai thác mỏ serpentin Bãi Áng lên 300-350.000 tấn/năm, đầu tư nâng cấp xưởng nghiền lên công suất 80.000-100.000 tấn/năm. Đầu tư khai thác và chế biến mỏ Thượng Hà công suất 200.000-250.000 tấn/năm.
- Giai đoạn 2016-2025: Duy trì sản lượng khai thác mỏ Bãi Áng và mỏ Thượng Hà. Các mỏ serpentin mới vùng Lào Cai, Phú Thọ được đầu tư khai thác và chế biến khi có nhu cầu thị trường .
- Tổng vốn đầu tư cho khai thác và chế biến quặng serpentin trong giai đoạn quy hoạch đến năm 2015 dự kiến khoảng 110 đến 135 tỷ VNĐ.
Danh mục các dự án đầu tư khai thác, chế biến quặng serpentin quy mô công nghiệp nêu ở Phụ lục số 3.
2. Khai thác, chế biến quặng barit
- Sản phẩm từ quặng barit được sản xuất và chế biến để phục vụ cho ngành dầu khí và hoá chất.
+ Barit bột nghiền dùng trong lĩnh vực làm dung dịch khoan dầu khí, sản xuất xi măng và xuất khẩu: hàm lượng BaSO4: 75-85%
+ Barit chất lượng cao phục vụ cho ngành hoá học, thuỷ tinh, sơn…thay thế sản phẩm nhập khẩu hiện nay (hàm lượng BaSO4 ≥ 95% với tỷ trọng đạt 4,3g/cm3).
- Giai đoạn đến năm 2015:
+ Đầu tư mở rộng xưởng sản xuất barit Bắc Giang, khai thác mỏ barit Làng Cao (Núi Am, Núi cả, Núi Hin, Núi Chúa) với sản lượng 10.000 tấn/năm;
+ Duy trì các mỏ và cơ sở chế biến hiện có; xây dựng mới Xưởng sản xuất barit chất lượng cao Tuyên Quang công suất từ 1.500 đến 2.500 tấn/năm với nguồn cung cấp quặng barit từ các mỏ thuộc tỉnh Tuyên Quang và các vùng lân cận;
+ Xây dựng Xưởng sản xuất barit Cao Bằng, công suất 50.000 tấn/năm với nguồn cung cấp quặng barit ở các mỏ Chè Pẻn, Nàke, Bản Vai - Bản Ran;
+ Đầu tư xây dựng cải tạo và mở rộng mỏ Bao Tre (Thanh Hoá) và mỏ Sơn Thành (Nghệ An), công suất mỗi mỏ từ 1.500 đến 2.500 tấn/năm;
+ Đầu tư xây dựng xưởng tuyển Đông Pao và Nà Cưa (Lai Châu) khi dự án khai thác và chế biến mỏ đất hiếm-barit-fluorit thực hiện với tổng công suất quặng tinh barit khoảng 41.500 đến 42.000 tấn/năm.
- Giai đoạn 2016-2025:
+ Đẩy mạnh công tác khai thác với sản lượng lên 300.000-350.000 tấn/năm;
+ Đầu tư xây dựng xưởng sản xuất barit chất lượng cao ở Lai Châu với công suât từ 5.000-10.000 tấn/năm.
- Tổng mức đầu tư cho các dự án khai thác quặng và xưởng chế biến barit trong giai đoạn quy hoạch dự kiến khoảng 190-220 tỷ VNĐ.
Danh mục các dự án đầu tư khai thác, chế biến quặng barit quy mô công nghiệp nêu ở Phụ lục số 6.
3. Khai thác, chế biến quặng grafit
Dự kiến sản phẩm grafit sản xuất gồm 2 loại chủ yếu sau phục vụ cho ngành luyện kim, sản xuất gạch chịu lửa, điện cực, bút chì v.v. :
- Bột graphit không kết tinh 80%-85% cacbon;
- Grafit chất lượng cao: loại kết tinh có hàm lượng từ 94% đến 97% carbon, kích cỡ: +80 mesh-100 mesh;
- Giai đoạn đến năm 2015:
+ Vùng Yên Bái: Đầu tư xây dựng nâng cấp nhà máy tuyển Cổ Phúc lên công suất 5.000-10.000 tấn/năm. Ưu tiên đầu tư dây chuyền hoá tuyển có sản phẩm quặng tinh đạt hàm lượng Các bon C ≥ 94%. Quặng được khai thác từ các mỏ grafit thuộc tỉnh Yên Bái;
+ Vùng Bắc Trung Bộ: Đầu tư khai thác và tuyển mỏ Hưng Nhượng (Quảng Ngãi) công suất 10.000-13.000 tấn/năm quặng tinh C ≥ 80%;
+ Vùng Lào Cai: Khai thác mỏ graphit Nậm Thi và nhà máy tuyển với công suất 5.000-10.000 tấn/năm. Nhà máy tuyển đặt tại Lào Cai, sản phẩm chủ yếu là tinh quặng có hàm lượng C > 80%.
- Giai đoạn 2016 -2025:
Nâng công suất khai thác mỏ và nhà máy tuyển grafit Cổ Phúc (Yên Bái) lên 15.000-20.000 tấn/năm quặng tinh có hàm lượng C ≥ 90% đảm bảo nhu cầu sử dụng trong nước. Duy trì sản xuất vùng khác và nâng công suất nếu có thị trường tiêu thụ;
- Tổng mức đầu tư cho các dự án khai thác quặng và xưởng chế biến grafit trong giai đoạn quy hoạch dự kiến khoảng 150-180 tỷ VNĐ.
Danh mục các dự án đầu tư khai thác, chế biến quặng grafit quy mô công nghiệp nêu ở Phụ lục số 9.
4. Khai thác, chế biến quặng fluorit
Dự kiến chủng loại sản phẩm:
- Sản phẩm fluorit chất lượng thấp: phục vụ cho ngành xi măng, luyện kim: hàm lượng CaF2=80-85%;
- Sản phẩm fluorit chất lượng cao: dùng trong các ngành hoá chất, thuỷ tinh, mạ điện v.v., hàm lượng CaF2=90-98%.
- Giai đoạn đến năm 2015:
+ Vùng Phú Yên: Đầu tư xây dựng xưởng tuyển fluorit Phú Yên công suất 5.000-6.000 tấn/năm, sản phẩm đạt hàm lượng CaF2=80-85%. Nguồn quặng fluorit khai thác ở mỏ Xuân Lãnh.
+ Vùng Thái Nguyên: Liên doanh đầu tư mới khai thác và chế biến fluorit mỏ Núi Pháo với công suất 196.000 tấn/năm;
+ Vùng Lai Châu: Fluorit là sản phẩm đi kèm khi khai thác mỏ đất hiếm Đông Pao (thân quặng F3), chế biến sản phẩm fluorit với công suất 1.300 tấn/năm và khai thác, chế biến fluorit mỏ Nà Cưa (thân quặng 9, 16) với công suất fluorit khoảng 1.500 tấn/năm, sản phẩm đạt hàm lượng CaF2=90-98%
- Giai đoạn 2016 - 2025: Duy trì sản xuất fluorit ở các cơ sở trên và gia tăng sản lượng tuỳ theo nhu cầu thị trường.
- Tổng mức đầu tư cho các dự án khai thác quặng và xưởng chế biến fluorit trong giai đoạn quy hoạch đến năm 2015 dự kiến khoảng 35-40 tỷ VNĐ (chưa tính đầu tư của mỏ Núi Pháo, mỏ đất hiếm-barit-fluorit Nà Cưa và mỏ Đông Pao).
Danh mục các dự án đầu tư khai thác, chế biến quặng fluorit quy mô công nghiệp nêu ở Phụ lục số 12.
5. Khai thác, chế biến quặng bentonit
Bentonit sản xuất theo tiêu chuẩn API SPEC 13A và TC 01:2001/DMC.
- Giai đoạn đến năm 2015:
+ Tỉnh Thanh Hoá: Duy trì khai thác và chế biến mỏ Cổ Định với công suất 20.000 tấn/năm.
+ Tỉnh Lâm Đồng: Đầu tư Nhà máy chế biến tại khu vực huyện Di Linh, công suất 25.000-30.000 tấn/năm, nguồn nguyên liệu được cấp từ mỏ Tam Bố;
+ Tỉnh Bình Thuận: Đầu tư Nhà máy chế biến tại khu vực huyện Tuy Phong, công suất 30.000-35.000 tấn/năm, nguồn nguyên liệu được cấp từ mỏ Nha Mé. Theo nhu cầu thị trường, đầu tư cơ sở chế biến bentonit thứ 2 với công suất 15.000-20.000 tấn/năm, nguồn nguyên liệu từ mỏ Sông Lòng Sông;
- Giai đoạn 2016-2025:
+ Vùng Lâm Đồng: Dự kiến nâng công suất Nhà máy chế biến bentonit Di Linh lên 50.000-60.000 tấn/năm;
+ Vùng Bình Thuận: Tuỳ theo nhu cầu thị trường, dự kiến nâng công suất Nhà máy chế biến tại huyện Tuy Phong lên 60.000-70.000 tấn/năm và cơ sở sản xuất Sông Lòng Sông lên 70.000-80.000 tấn/năm.
- Vùng Thanh Hoá: Nâng công suất khai thác và chế biến bentonit tại Cổ Định lên 50.000-60.000 tấn/năm.
- Tổng mức đầu tư cho các dự án khai thác quặng và xưởng chế biến bentonit trong giai đoạn quy hoạch dự kiến khoảng 335 đến 390 tỷ VNĐ.
Danh mục các dự án đầu tư khai thác, chế biến quặng bentonit quy mô công nghiệp nêu ở Phụ lục số 15.
6. Khai thác, chế biến quặng diatomit
Dự kiến sản phẩm chế biến diatomit gồm bột nghiền diatomit làm chất hấp thụ dùng để xử lý môi trường trong ngành nuôi tôm nước lợ, sản phẩm diatomit chất lượng cao (bột trợ lọc) dùng cho ngành rượu-bia-nước giải khát và các ngành khác;
- Giai đoạn đến năm 2015: Đầu tư khai thác và chế biến diatomit làm chất hấp thụ, xử lý môi trường cho ngành nuôi tôm nước lợ và bột trợ lọc (hàm lượng SiO2 ≥ 85%) để cung cấp cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu, bao gồm các Mỏ Tuỳ Dương, Hoà Lộc (Phú Yên) và Đại Lào (Lâm Đồng). Công suất chế biến chất hấp thụ, xử lý môi trường dự kiến khoảng 90.000-100.000 tấn/năm tại Phú Yên và 70.000-80.000 tấn/năm tại Lâm Đồng. Công suất chế biến bột trợ lọc dự kiến 30.000-45.000 tấn/năm tại Phú Yên;
- Giai đoạn 2016-2025: Tuỳ theo nhu cầu thị trường, đầu tư mở rộng gia tăng công suất chế biến diatomit làm chất hấp thụ, xử lý môi trường cho ngành nuôi tôm nước nợ lên 200.000-280.000 tấn/năm; gia tăng công suất chế biến bột trợ lọc lên khoảng 250.000 tấn/năm phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu;
- Tổng mức đầu tư cho các dự án khai thác quặng và xưởng chế biến diatomit trong giai đoạn quy hoạch dự kiến khoảng 545 đến 605 tỷ VNĐ.
Danh mục các dự án đầu tư khai thác, chế biến quặng diatomit quy mô công nghiệp nêu ở Phụ lục số 18 kèm theo Quyết định này.
7. Khai thác, chế biến quặng talc
Sản phẩm bột tals hàm lượng MgO ≥ 24%, SiO2 ≥ 60% được sử dụng cho ngành dược phẩm, cao su, gạch gốm-sứ v.v.
- Giai đoạn đến năm 2015:
+ Vùng Phú Thọ: Mở rộng xưởng nghiền bột talc công suất 10.000 tấn/năm bột nghiền. Quặng được khai thác ở các mỏ Thu Ngạc và Ngọc Lập. Xây dựng xưởng chế biến sản xuất bột talc siêu min công suất 20.000 tấn/năm, khai thác quặng ở mỏ Tân Minh và Mỹ Thuận;
+ Vùng Sơn La: Xây dựng xưởng nghiền bột talc tại khu vực Tà Phù công suất 10.000-20.000 tấn/năm, nguồn nguyên liệu từ mỏ Tà Phù-Chanh Kế; Tuỳ theo khả năng thị trường mở rộng nâng công suất lên 40.000 tấn/năm.
- Giai đoạn 2016 - 2025:
Vùng Phú Thọ: Tuỳ theo nhu cầu thị trường, mở rộng xưởng bột nghiền Thu Ngạc lên 50.000 tấn/năm; mở rộng hoặc xây dựng thêm xưởng sản xuất quặng talc siêu mịn khu vực mỏ Tân Minh và Mỹ thuận lên 50.000 tấn/năm.
- Tổng mức đầu tư cho các dự án khai thác quặng và xưởng chế biến quặng talc trong giai đoạn quy hoạch dự kiến khoảng 740 đến 830 tỷ VNĐ.
Danh mục các dự án đầu tư khai thác, chế biến quặng talc quy mô công nghiệp nêu ở Phụ lục số 21 kèm theo Quyết định này.
VI. VỐN ĐẦU TƯ
Ước tính vốn đầu tư cho công tác thăm dò, khai thác và chế biến quặng serpentin, barit, grafit, fluorit, bentonit, diatomit và talc trong giai đoạn quy hoạch khoảng 2.498 đến 2.885 tỷ VNĐ.
Trong đó: Giai đoạn đến năm 2015 khoảng 1.083 đến 1.295 tỷ VNĐ; giai đoạn 2016 - 2025 khoảng 1.415 đến 1.590 tỷ VNĐ.
Nguồn vốn đầu tư: Gồm vốn tự thu xếp của doanh nghiệp, vốn vay đầu tư phát triển của Nhà nước và vay thương mại, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài v.v.
VII. CÁC GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH CHỦ YẾU
1. Nhóm giải pháp, chính sách tổng thể
- Chế biến khoáng sản nhóm khoáng chất công nghiệp (serpentin, barit, grafit, fluorit, bentonit, diatomit và talc) để có các sản phẩm, chế phẩm chất lượng cao phục vụ nhu cầu trong nước là chính và có một phần hợp lý sản phẩm chế biến sâu để xuất khẩu;
- Tăng cường phân cấp quản lý tài nguyên, hoàn thiện quy chế và tăng cường đấu thầu hoạt động khoáng sản; thành lập các Công ty cổ phần với sự tham gia của các tổ chức, cá nhân có kinh nghiệm, năng lực khai khoáng, có năng lực tài chính để đầu tư vào công tác thăm dò, khai thác và chế biến sâu khoáng sản. Khuyến khích đa dạng loại hình sở hữu, thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước tham gia phát triển công nghiệp khai thác, chế biến quặng serpentin, barit, grafit, fluorit, bentonit, diatomit và talc theo định hướng ưu tiên các doanh nghiệp có năng lực trong nước; liên doanh liên kết với nước ngoài trong lĩnh vực chế biến đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ cao như chế biến diatomit, grafit và talc;
- Nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong hoạt động khoáng sản serpentin, barit, grafit, fluorit, bentonit, diatomit và talc như đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng; Thu hút đào tạo và sử dụng lao động địa phương; có biện pháp chủ động bảo vệ môi trường sinh thái và tích cực tham gia cải thiện môi trường xã hội.
2. Nhóm giải pháp, chính sách cụ thể
...
b) Nghiên cứu, chuyển giao và tiếp nhận khoa học-công nghệ:
- Chú trọng nghiên cứu và áp dụng các công nghệ khai thác tiên tiến. Hoàn thiện, nâng cấp dây chuyền công nghệ khai thác, chế biến quặng hiện có. Nghiên cứu và xây dựng quy trình công nghệ khai thác và chế biến sản phẩm chất lượng cao theo phương thức kết hợp giữa Nhà nước - Doanh nghiệp khoa học công nghệ – Doanh nghiệp khai thác chế biến khoáng sản thuộc các thành phần kinh tế;
- Hợp tác với nước ngoài nghiên cứu, sản xuất grafit hàm lượng C ≥ 95%; barit, bột trợ lọc diatomit và talc chất lượng cao.

Content:
Nghiên cứu, chuyển giao và tiếp nhận khoa học-công nghệ:
- Chú trọng nghiên cứu và áp dụng các công nghệ khai thác tiên tiến. Hoàn thiện, nâng cấp dây chuyền công nghệ khai thác, chế biến quặng hiện có. Nghiên cứu và xây dựng quy trình công nghệ khai thác và chế biến sản phẩm chất lượng cao theo phương thức kết hợp giữa Nhà nước - Doanh nghiệp khoa học công nghệ – Doanh nghiệp khai thác chế biến khoáng sản thuộc các thành phần kinh tế;
- Hợp tác với nước ngoài nghiên cứu, sản xuất grafit hàm lượng C ≥ 95%; barit, bột trợ lọc diatomit và talc chất lượng cao.