Document: Khoản 8 Điều 1 Quyết định 68/QĐ-TTg 2018 Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/01/2018", "sign_number": "68/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/01/2018", "sign_number": "68/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/01/2018", "sign_number": "68/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/01/2018", "sign_number": "68/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/01/2018", "sign_number": "68/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 8 Điều 1 Quyết định 68/QĐ-TTg 2018 Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long

Điều 1. Phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 với những nội dung chủ yếu sau:
...
8. Định hướng phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác:
a) Định hướng cao độ nền và thoát nước mặt
- Phân vùng các khu vực chịu ảnh hưởng ngập lụt:
+ Khu vực 1: Là khu vực bị ngập sâu do tác động của lũ sông Mêkông với chiều sâu ngập lũ trung bình từ 2 m trở lên, nằm ở phía Bắc dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia, gồm phần lớn diện tích của vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên, thuộc các khu vực thuộc các tỉnh: Long An, Đồng Tháp, An Giang.
+ Khu vực 2: Là khu vực bị ngập trung bình do tác động của lũ sông Mêkông với chiều sâu ngập lũ trung bình khoảng 1 m - 2 m, trên địa bàn các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ.
+ Khu vực 3: Là khu vực bị ngập nông do tác động của cả lũ và triều cường, gồm các khu vực thuộc các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ và Hậu Giang.
+ Khu vực 4: Là khu vực ven biển chịu ảnh hưởng của thủy triều.
- Cao độ nền đất xây dựng:
+ Đối với các đô thị tại khu vực 1, 2: Hạn chế san lấp, phát triển đô thị tập trung với quy mô diện tích lớn, khuyến khích phát triển theo tuyến song song với hướng thoát lũ nhằm giảm tác động của lũ đến đô thị. Tại các khu vực đô thị xây dựng mật độ cao, san đắp tập trung toàn bộ khu vực xây dựng kết hợp đê bao chống lũ; tại các khu vực nông thôn, xây dựng mật độ thấp, san đắp cục bộ theo vị trí từng công trình, dành quỹ đất đào hồ, kết nối kênh rạch để đảm bảo tiêu thoát nước.
+ Đối với các đô thị tại khu vực 3: Các đô thị khuyến khích phát triển tập trung theo hình thái đô thị nén; dành quỹ đất đào hồ, kết nối kênh rạch để đảm bảo tiêu thoát nước.
+ Đối với các đô thị tại khu vực 4: Phát triển đô thị tại các khu vực đất giồng, bãi bồi cao ở ven sông, ven biển. Tại các khu vực đô thị xây dựng mật độ cao, san đắp tập trung toàn bộ khu vực xây dựng; các khu vực nông thôn, xây dựng mật độ thấp, san đắp cục bộ theo vị trí từng công trình, dành quỹ đất đào hồ, kết nối kênh rạch, đảm bảo tiêu thoát nước.
+ Đối với các khu cây xanh, khu ở mật độ thấp, tính toán tần suất cho phép ngập phù hợp theo quy phạm nhằm giảm khối lượng, diện tích đào đắp, đảm bảo tiêu thoát nước hiệu quả.
- Thoát nước mặt:
+ Đối với các khu đô thị mới xây dựng hệ thống thoát nước riêng nhằm tái sử dụng nước mưa, tiết kiệm trong đầu tư xử lý nước thải. Đối với đô thị cũ, cải tạo xây dựng hệ thống thoát nước chung và chọn giải pháp cống bao có hố tách dòng để thu gom nước thải dẫn tới trạm xử lý nước thải tập trung của đô thị, từng bước tách dần hệ thống thoát nước thải riêng biệt với nước mưa.
+ Cải tạo, mở rộng kênh rạch và xây dựng hồ điều hòa trong khu vực nội thành, bảo vệ khôi phục các không gian xanh ven các kênh, rạch, sông suối hiện hữu.
- Phòng chống lũ, ngập úng:
Thực hiện việc phòng chống lũ theo quy hoạch chuyên ngành và quy hoạch chống ngập của từng địa phương. Xây dựng các công trình kiểm soát dòng chảy lũ, các tuyến đê bao chống lũ, hệ thống hồ chứa trạm bơm và cống ngăn triều.
- Phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển:
+ Tổ chức quan trắc, cảnh báo vùng có nguy cơ xảy ra sạt lở cao. Kiểm soát, hạn chế việc khai thác cát trên sông; nạo vét lòng sông để điều tiết dòng chảy của lũ để đảm bảo không bị ảnh hưởng tới lòng sông.
+ Có biện pháp bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn dọc biên giới Việt Nam - Campuchia để giữ nước, giảm tốc độ dòng chảy, phòng chống lũ gây xói lở phá hủy mặt phủ tự nhiên.
b) Cấp nước
- Tổ chức hệ thống cấp nước đảm bảo đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất trong vùng theo quy chuẩn hiện hành. Đảm bảo an toàn cấp nước, phù hợp với điều kiện hiện tại và tương lai, giảm tối đa thất thoát nước.
- Nguồn nước cấp trong vùng chủ yếu sử dụng nước mặt từ hệ thống sông Tiền, sông Hậu. Hạn chế sử dụng nguồn nước ngầm để cấp nước, chỉ sử dụng nước ngầm để cấp nước cho những khu vực phân tán có khó khăn về nguồn nước mặt, những khu dân cư nông thôn với quy mô nhỏ xa mạng lưới cấp nước của vùng.
- Nhu cầu dùng nước: Tổng nhu cầu dùng nước tới năm 2030 khoảng 3.270.000 m3/ngày đêm, trong đó: Nhu cầu dùng nước khu vực đô thị khoảng 1.890.000 m3/ngày đêm; nhu cầu dùng nước khu vực nông thôn tập trung khoảng 750.000 m3/ngày đêm; nhu cầu dùng nước công nghiệp khoảng 630.000 m3/ngày đêm.
- Mạng lưới cấp nước được xác định trên cơ sở nâng cấp các nhà máy nước hiện hữu, xây dựng mới nhà máy nước nhằm đáp ứng nhu cầu cấp nước tại các đô thị có thuận lợi về nguồn nước. Tại các khu vực ven biển không có khả năng khai thác nước mặt như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh,... xây dựng nhà máy nước cấp vùng với quy mô hợp lý trên biên mặn. Tại các khu vực đã đầu tư xây dựng nhà máy nước công suất lớn cho đô thị, có hồ chứa nước như Kiên Giang, Long An,... xây dựng tuyến ống dẫn nước thô hoặc dẫn nước theo hệ thống kênh mương thủy lợi nhằm giảm việc tập trung xây dựng nhà máy nước lớn dọc hai bên sông Tiền và Sông Hậu. Bổ sung thêm nước sạch từ nhà máy nước cấp vùng cho các khu vực có nhu cầu tiêu thụ nước lớn. Những khu vực nhà máy nước tại các đô thị lớn bị nhiễm mặn vào mùa khô cần xác định vị trí đặt trạm bơm trên biên mặn theo từng kịch bản biến đổi khí hậu.
- Các nhà máy nước cấp vùng gồm: Sông Tiền I (Tiền Giang) công suất 300.000 m3/ngày đêm; Sông Tiền II (Vĩnh Long) công suất 300.000 m3/ngày đêm; cụm nhà máy nước sông Hậu 1 (Cần Thơ) và nhà máy nước Sông Hậu (Hậu Giang) công suất 600.000 m3/ngày đêm; Sông Hậu II (An Giang) công suất 300.000 m3/ngày đêm; Sông Hậu III (An Giang) công suất 150.000 m3/ngày đêm;
c) Cấp điện
- Xây dựng mới và cải tạo mạng lưới điện trong vùng hòa với mạng lưới điện quốc gia đảm bảo đáp ứng cung cấp điện cho sinh hoạt, sản xuất của vùng theo quy hoạch phát triển điện của ngành (tổng sơ đồ VII) và quy hoạch phát triển của các địa phương trong vùng. Đảm bảo cung cấp điện đầy đủ, liên tục, an toàn trong hiện tại và tương lai. Chú trọng phát triển nguồn năng lượng tự nhiên, năng lượng tái tạo thân thiện với môi trường.
- Tổng nhu cầu cấp điện toàn vùng đến năm 2030 khoảng 9.681 MW (trong đó: Khu vực đô thị khoảng 7.019 MW; công nghiệp khoảng 3.504 MW).
- Nguồn điện:
+ Các nhà máy hiện hữu: Trà Nóc (193,5 MW), Ô Môn (600 MW), Cà Mau (1,500 MW), điện gió Bạc Liêu (99 MW).
+ Các nhà máy điện dự kiến: Duyên Hải (4.400 MW), Hậu Giang (5.200 MW), Long Phú (3.600 MW), Kiên Giang (4.400 MW), Long An (1.200 MW), An Giang (2.000 MW).
+ Các khu điện gió tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre.
- Lưới điện:
+ Lưới điện 500 kV:
. Cải tạo nâng công suất các trạm 500 kV hiện hữu: Ô Môn, Mỹ Tho, Trà Vinh. Xây dựng mới các trạm 500 kV: Đức Hòa, Thốt Nốt, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang.
. Các tuyến 500 kV hiện hữu: Phú Lâm - Mỹ Tho - Ô Môn, Nhà Bè - Mỹ Tho - nhiệt điện Duyên Hải. Xây dựng mới các tuyến 500 kV: Đức Hòa - Thốt Nốt, Thốt Nốt - Kiên Giang, Thốt Nốt - Ô Môn - Sóc Trăng, Đức Hòa - Mỹ Tho, Mỹ Tho - Hậu Giang.
+ Các loại năng lượng tái tạo: Phát triển năng lượng gió tại khu vực ven biển Đông; phát triển hệ thống năng lượng mặt trời, năng lượng sinh khối trên toàn vùng.
d) Thông tin liên lạc:
- Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc hiện đại, an toàn có dung lượng lớn, tốc độ cao, vùng phủ sóng rộng, xây dựng thành phố Cần Thơ trở thành trung tâm dịch vụ viễn thông chất lượng cao của toàn vùng.
- Dịch vụ thông tin liên lạc có chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người sử dụng dịch vụ.
- Từng bước thực hiện cáp quang hóa toàn vùng với công nghệ hiện đại, công nghệ truyền dẫn tiên tiến đối với mạng truyền dẫn liên tỉnh, nội tỉnh, nội hạt. Phát triển thông tin di động theo hướng tăng dung lượng, mở rộng và nâng cao chất lượng vùng phủ sóng.
- Ứng dụng rộng rãi và hiệu quả công nghệ thông tin trong quản lý Nhà nước, các ngành kinh tế, các lĩnh vực xã hội, văn hóa và an ninh quốc phòng.
đ) Thoát nước và xử lý nước thải:
- Tổng lượng nước thải toàn vùng đến năm 2030 là 1.735.243 m3/ngày trong đó: Nước thải tại các đô thị khoảng 968.823 m3/ngày; nước thải tại các khu công nghiệp khoảng 460.800 m3/ngày.
- Tất cả các đô thị loại V trở lên và các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ở khu vực thượng nguồn sông Tiền, Sông Hậu, từ biên mặn trở lên phải xây dựng khu xử lý nước thải đạt theo tiêu chuẩn hiện hành cho nước thải sinh hoạt và theo tiêu chuẩn hiện hành đối với nước thải công nghiệp trước khi xả ra sông. Các đô thị nằm ngoài khu vực bảo vệ nguồn nước mặt sông Tiền Sông Hậu phải xây dựng khu xử lý nước thải đạt theo tiêu chuẩn hiện hành đối với nước thải sinh hoạt và theo tiêu chuẩn hiện hành đối với nước thải công nghiệp trước khi xả ra sông. Các bãi chôn lấp rác, các khu liên hiệp xử lý rác nằm ở khu vực thượng nguồn sông Hậu, sông Tiền (từ biên mặn trở lên) phải xây dựng khu xử lý nước rỉ rác đạt theo tiêu chuẩn hiện hành.
- Giải pháp quy hoạch:
+ Các đô thị: Áp dụng công nghệ xử lý nước thải hiện đại cho các đô thị, đặc biệt là các đô thị tỉnh lỵ và thành phố Cần Thơ. Các khu đô thị hiện hữu giữ hệ thống cống chung, xây dựng các tuyến cống bao tách dòng để thu nước thải về trạm xử lý, từng bước xây dựng hệ thống thoát nước thải riêng. Các khu vực xây dựng mới phải xây dựng hệ thống thoát nước thải riêng.
+ Khu vực nông thôn: Các thị tứ, cụm dân cư nông thôn tập trung xây dựng hệ thống thoát nước chung (nước mưa và nước thải). Xử lý nước thải bằng sinh học tự nhiên tại các hồ, kênh rạch.
+ Khu, cụm công nghiệp: Hệ thống thoát nước mưa và nước thải riêng, xây dựng trạm xử lý nước thải và làm sạch đạt tiêu chuẩn theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN40/2011 trước khi xả ra môi trường.
e) Xử lý chất thải rắn và nghĩa trang
- Xử lý chất thải rắn
+ Tổng lượng chất thải rắn toàn vùng đến năm 2030 khoảng 19.424 tấn/ngày, trong đó: Chất thải rắn sinh hoạt đô thị khoảng 7.076 tấn/ngày; chất thải rắn công nghiệp 4.800 tấn/ngày.
+ Việc thu gom và xử lý chất thải rắn thực hiện theo quy mô vùng tỉnh. Xây dựng khu xử lý chất thải rắn phục vụ trong phạm vi vùng tỉnh với cự ly vận chuyển < 40 km; quy mô 40 - 50 ha để thu gom và xử lý chất thải rắn cho các thành phố, thị xã. Trong khu xử lý chất thải rắn của các tỉnh cần quy hoạch các ô chôn lấp chất thải rắn độc hại theo quy chế quản lý chất thải nguy hại. Tại các huyện, xây dựng khu xử lý chất thải rắn phục vụ trong phạm vi vùng huyện, cự ly vận chuyển < 20 km, quy mô 10 - 20 ha để thu gom và xử lý rác cho các thị trấn và khu vực nông thôn.
- Nghĩa trang: Xây dựng nghĩa trang theo quy mô vùng tỉnh, vùng huyện phù hợp với phong tục, tập quán địa phương.

Content:
Định hướng phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác:
a) Định hướng cao độ nền và thoát nước mặt
- Phân vùng các khu vực chịu ảnh hưởng ngập lụt:
+ Khu vực 1: Là khu vực bị ngập sâu do tác động của lũ sông Mêkông với chiều sâu ngập lũ trung bình từ 2 m trở lên, nằm ở phía Bắc dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia, gồm phần lớn diện tích của vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên, thuộc các khu vực thuộc các tỉnh: Long An, Đồng Tháp, An Giang.
+ Khu vực 2: Là khu vực bị ngập trung bình do tác động của lũ sông Mêkông với chiều sâu ngập lũ trung bình khoảng 1 m - 2 m, trên địa bàn các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ.
+ Khu vực 3: Là khu vực bị ngập nông do tác động của cả lũ và triều cường, gồm các khu vực thuộc các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ và Hậu Giang.
+ Khu vực 4: Là khu vực ven biển chịu ảnh hưởng của thủy triều.
- Cao độ nền đất xây dựng:
+ Đối với các đô thị tại khu vực 1, 2: Hạn chế san lấp, phát triển đô thị tập trung với quy mô diện tích lớn, khuyến khích phát triển theo tuyến song song với hướng thoát lũ nhằm giảm tác động của lũ đến đô thị. Tại các khu vực đô thị xây dựng mật độ cao, san đắp tập trung toàn bộ khu vực xây dựng kết hợp đê bao chống lũ; tại các khu vực nông thôn, xây dựng mật độ thấp, san đắp cục bộ theo vị trí từng công trình, dành quỹ đất đào hồ, kết nối kênh rạch để đảm bảo tiêu thoát nước.
+ Đối với các đô thị tại khu vực 3: Các đô thị khuyến khích phát triển tập trung theo hình thái đô thị nén; dành quỹ đất đào hồ, kết nối kênh rạch để đảm bảo tiêu thoát nước.
+ Đối với các đô thị tại khu vực 4: Phát triển đô thị tại các khu vực đất giồng, bãi bồi cao ở ven sông, ven biển. Tại các khu vực đô thị xây dựng mật độ cao, san đắp tập trung toàn bộ khu vực xây dựng; các khu vực nông thôn, xây dựng mật độ thấp, san đắp cục bộ theo vị trí từng công trình, dành quỹ đất đào hồ, kết nối kênh rạch, đảm bảo tiêu thoát nước.
+ Đối với các khu cây xanh, khu ở mật độ thấp, tính toán tần suất cho phép ngập phù hợp theo quy phạm nhằm giảm khối lượng, diện tích đào đắp, đảm bảo tiêu thoát nước hiệu quả.
- Thoát nước mặt:
+ Đối với các khu đô thị mới xây dựng hệ thống thoát nước riêng nhằm tái sử dụng nước mưa, tiết kiệm trong đầu tư xử lý nước thải. Đối với đô thị cũ, cải tạo xây dựng hệ thống thoát nước chung và chọn giải pháp cống bao có hố tách dòng để thu gom nước thải dẫn tới trạm xử lý nước thải tập trung của đô thị, từng bước tách dần hệ thống thoát nước thải riêng biệt với nước mưa.
+ Cải tạo, mở rộng kênh rạch và xây dựng hồ điều hòa trong khu vực nội thành, bảo vệ khôi phục các không gian xanh ven các kênh, rạch, sông suối hiện hữu.
- Phòng chống lũ, ngập úng:
Thực hiện việc phòng chống lũ theo quy hoạch chuyên ngành và quy hoạch chống ngập của từng địa phương. Xây dựng các công trình kiểm soát dòng chảy lũ, các tuyến đê bao chống lũ, hệ thống hồ chứa trạm bơm và cống ngăn triều.
- Phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển:
+ Tổ chức quan trắc, cảnh báo vùng có nguy cơ xảy ra sạt lở cao. Kiểm soát, hạn chế việc khai thác cát trên sông; nạo vét lòng sông để điều tiết dòng chảy của lũ để đảm bảo không bị ảnh hưởng tới lòng sông.
+ Có biện pháp bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn dọc biên giới Việt Nam - Campuchia để giữ nước, giảm tốc độ dòng chảy, phòng chống lũ gây xói lở phá hủy mặt phủ tự nhiên.
b) Cấp nước
- Tổ chức hệ thống cấp nước đảm bảo đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất trong vùng theo quy chuẩn hiện hành. Đảm bảo an toàn cấp nước, phù hợp với điều kiện hiện tại và tương lai, giảm tối đa thất thoát nước.
- Nguồn nước cấp trong vùng chủ yếu sử dụng nước mặt từ hệ thống sông Tiền, sông Hậu. Hạn chế sử dụng nguồn nước ngầm để cấp nước, chỉ sử dụng nước ngầm để cấp nước cho những khu vực phân tán có khó khăn về nguồn nước mặt, những khu dân cư nông thôn với quy mô nhỏ xa mạng lưới cấp nước của vùng.
- Nhu cầu dùng nước: Tổng nhu cầu dùng nước tới năm 2030 khoảng 3.270.000 m3/ngày đêm, trong đó: Nhu cầu dùng nước khu vực đô thị khoảng 1.890.000 m3/ngày đêm; nhu cầu dùng nước khu vực nông thôn tập trung khoảng 750.000 m3/ngày đêm; nhu cầu dùng nước công nghiệp khoảng 630.000 m3/ngày đêm.
- Mạng lưới cấp nước được xác định trên cơ sở nâng cấp các nhà máy nước hiện hữu, xây dựng mới nhà máy nước nhằm đáp ứng nhu cầu cấp nước tại các đô thị có thuận lợi về nguồn nước. Tại các khu vực ven biển không có khả năng khai thác nước mặt như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh,... xây dựng nhà máy nước cấp vùng với quy mô hợp lý trên biên mặn. Tại các khu vực đã đầu tư xây dựng nhà máy nước công suất lớn cho đô thị, có hồ chứa nước như Kiên Giang, Long An,... xây dựng tuyến ống dẫn nước thô hoặc dẫn nước theo hệ thống kênh mương thủy lợi nhằm giảm việc tập trung xây dựng nhà máy nước lớn dọc hai bên sông Tiền và Sông Hậu. Bổ sung thêm nước sạch từ nhà máy nước cấp vùng cho các khu vực có nhu cầu tiêu thụ nước lớn. Những khu vực nhà máy nước tại các đô thị lớn bị nhiễm mặn vào mùa khô cần xác định vị trí đặt trạm bơm trên biên mặn theo từng kịch bản biến đổi khí hậu.
- Các nhà máy nước cấp vùng gồm: Sông Tiền I (Tiền Giang) công suất 300.000 m3/ngày đêm; Sông Tiền II (Vĩnh Long) công suất 300.000 m3/ngày đêm; cụm nhà máy nước sông Hậu 1 (Cần Thơ) và nhà máy nước Sông Hậu (Hậu Giang) công suất 600.000 m3/ngày đêm; Sông Hậu II (An Giang) công suất 300.000 m3/ngày đêm; Sông Hậu III (An Giang) công suất 150.000 m3/ngày đêm;
c) Cấp điện
- Xây dựng mới và cải tạo mạng lưới điện trong vùng hòa với mạng lưới điện quốc gia đảm bảo đáp ứng cung cấp điện cho sinh hoạt, sản xuất của vùng theo quy hoạch phát triển điện của ngành (tổng sơ đồ VII) và quy hoạch phát triển của các địa phương trong vùng. Đảm bảo cung cấp điện đầy đủ, liên tục, an toàn trong hiện tại và tương lai. Chú trọng phát triển nguồn năng lượng tự nhiên, năng lượng tái tạo thân thiện với môi trường.
- Tổng nhu cầu cấp điện toàn vùng đến năm 2030 khoảng 9.681 MW (trong đó: Khu vực đô thị khoảng 7.019 MW; công nghiệp khoảng 3.504 MW).
- Nguồn điện:
+ Các nhà máy hiện hữu: Trà Nóc (193,5 MW), Ô Môn (600 MW), Cà Mau (1,500 MW), điện gió Bạc Liêu (99 MW).
+ Các nhà máy điện dự kiến: Duyên Hải (4.400 MW), Hậu Giang (5.200 MW), Long Phú (3.600 MW), Kiên Giang (4.400 MW), Long An (1.200 MW), An Giang (2.000 MW).
+ Các khu điện gió tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre.
- Lưới điện:
+ Lưới điện 500 kV:
. Cải tạo nâng công suất các trạm 500 kV hiện hữu: Ô Môn, Mỹ Tho, Trà Vinh. Xây dựng mới các trạm 500 kV: Đức Hòa, Thốt Nốt, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang.
. Các tuyến 500 kV hiện hữu: Phú Lâm - Mỹ Tho - Ô Môn, Nhà Bè - Mỹ Tho - nhiệt điện Duyên Hải. Xây dựng mới các tuyến 500 kV: Đức Hòa - Thốt Nốt, Thốt Nốt - Kiên Giang, Thốt Nốt - Ô Môn - Sóc Trăng, Đức Hòa - Mỹ Tho, Mỹ Tho - Hậu Giang.
+ Các loại năng lượng tái tạo: Phát triển năng lượng gió tại khu vực ven biển Đông; phát triển hệ thống năng lượng mặt trời, năng lượng sinh khối trên toàn vùng.
d) Thông tin liên lạc:
- Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc hiện đại, an toàn có dung lượng lớn, tốc độ cao, vùng phủ sóng rộng, xây dựng thành phố Cần Thơ trở thành trung tâm dịch vụ viễn thông chất lượng cao của toàn vùng.
- Dịch vụ thông tin liên lạc có chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người sử dụng dịch vụ.
- Từng bước thực hiện cáp quang hóa toàn vùng với công nghệ hiện đại, công nghệ truyền dẫn tiên tiến đối với mạng truyền dẫn liên tỉnh, nội tỉnh, nội hạt. Phát triển thông tin di động theo hướng tăng dung lượng, mở rộng và nâng cao chất lượng vùng phủ sóng.
- Ứng dụng rộng rãi và hiệu quả công nghệ thông tin trong quản lý Nhà nước, các ngành kinh tế, các lĩnh vực xã hội, văn hóa và an ninh quốc phòng.
đ) Thoát nước và xử lý nước thải:
- Tổng lượng nước thải toàn vùng đến năm 2030 là 1.735.243 m3/ngày trong đó: Nước thải tại các đô thị khoảng 968.823 m3/ngày; nước thải tại các khu công nghiệp khoảng 460.800 m3/ngày.
- Tất cả các đô thị loại V trở lên và các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ở khu vực thượng nguồn sông Tiền, Sông Hậu, từ biên mặn trở lên phải xây dựng khu xử lý nước thải đạt theo tiêu chuẩn hiện hành cho nước thải sinh hoạt và theo tiêu chuẩn hiện hành đối với nước thải công nghiệp trước khi xả ra sông. Các đô thị nằm ngoài khu vực bảo vệ nguồn nước mặt sông Tiền Sông Hậu phải xây dựng khu xử lý nước thải đạt theo tiêu chuẩn hiện hành đối với nước thải sinh hoạt và theo tiêu chuẩn hiện hành đối với nước thải công nghiệp trước khi xả ra sông. Các bãi chôn lấp rác, các khu liên hiệp xử lý rác nằm ở khu vực thượng nguồn sông Hậu, sông Tiền (từ biên mặn trở lên) phải xây dựng khu xử lý nước rỉ rác đạt theo tiêu chuẩn hiện hành.
- Giải pháp quy hoạch:
+ Các đô thị: Áp dụng công nghệ xử lý nước thải hiện đại cho các đô thị, đặc biệt là các đô thị tỉnh lỵ và thành phố Cần Thơ. Các khu đô thị hiện hữu giữ hệ thống cống chung, xây dựng các tuyến cống bao tách dòng để thu nước thải về trạm xử lý, từng bước xây dựng hệ thống thoát nước thải riêng. Các khu vực xây dựng mới phải xây dựng hệ thống thoát nước thải riêng.
+ Khu vực nông thôn: Các thị tứ, cụm dân cư nông thôn tập trung xây dựng hệ thống thoát nước chung (nước mưa và nước thải). Xử lý nước thải bằng sinh học tự nhiên tại các hồ, kênh rạch.
+ Khu, cụm công nghiệp: Hệ thống thoát nước mưa và nước thải riêng, xây dựng trạm xử lý nước thải và làm sạch đạt tiêu chuẩn theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN40/2011 trước khi xả ra môi trường.
e) Xử lý chất thải rắn và nghĩa trang
- Xử lý chất thải rắn
+ Tổng lượng chất thải rắn toàn vùng đến năm 2030 khoảng 19.424 tấn/ngày, trong đó: Chất thải rắn sinh hoạt đô thị khoảng 7.076 tấn/ngày; chất thải rắn công nghiệp 4.800 tấn/ngày.
+ Việc thu gom và xử lý chất thải rắn thực hiện theo quy mô vùng tỉnh. Xây dựng khu xử lý chất thải rắn phục vụ trong phạm vi vùng tỉnh với cự ly vận chuyển < 40 km; quy mô 40 - 50 ha để thu gom và xử lý chất thải rắn cho các thành phố, thị xã. Trong khu xử lý chất thải rắn của các tỉnh cần quy hoạch các ô chôn lấp chất thải rắn độc hại theo quy chế quản lý chất thải nguy hại. Tại các huyện, xây dựng khu xử lý chất thải rắn phục vụ trong phạm vi vùng huyện, cự ly vận chuyển < 20 km, quy mô 10 - 20 ha để thu gom và xử lý rác cho các thị trấn và khu vực nông thôn.
- Nghĩa trang: Xây dựng nghĩa trang theo quy mô vùng tỉnh, vùng huyện phù hợp với phong tục, tập quán địa phương.