Document: Điểm a Khoản 8 Điều 1 Quyết định 68/QĐ-TTg 2018 Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/01/2018", "sign_number": "68/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/01/2018", "sign_number": "68/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/01/2018", "sign_number": "68/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/01/2018", "sign_number": "68/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/01/2018", "sign_number": "68/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm a Khoản 8 Điều 1 Quyết định 68/QĐ-TTg 2018 Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long

Điều 1. Phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 với những nội dung chủ yếu sau:
...
8. Định hướng phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác:
a) Định hướng cao độ nền và thoát nước mặt
- Phân vùng các khu vực chịu ảnh hưởng ngập lụt:
+ Khu vực 1: Là khu vực bị ngập sâu do tác động của lũ sông Mêkông với chiều sâu ngập lũ trung bình từ 2 m trở lên, nằm ở phía Bắc dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia, gồm phần lớn diện tích của vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên, thuộc các khu vực thuộc các tỉnh: Long An, Đồng Tháp, An Giang.
+ Khu vực 2: Là khu vực bị ngập trung bình do tác động của lũ sông Mêkông với chiều sâu ngập lũ trung bình khoảng 1 m - 2 m, trên địa bàn các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ.
+ Khu vực 3: Là khu vực bị ngập nông do tác động của cả lũ và triều cường, gồm các khu vực thuộc các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ và Hậu Giang.
+ Khu vực 4: Là khu vực ven biển chịu ảnh hưởng của thủy triều.
- Cao độ nền đất xây dựng:
+ Đối với các đô thị tại khu vực 1, 2: Hạn chế san lấp, phát triển đô thị tập trung với quy mô diện tích lớn, khuyến khích phát triển theo tuyến song song với hướng thoát lũ nhằm giảm tác động của lũ đến đô thị. Tại các khu vực đô thị xây dựng mật độ cao, san đắp tập trung toàn bộ khu vực xây dựng kết hợp đê bao chống lũ; tại các khu vực nông thôn, xây dựng mật độ thấp, san đắp cục bộ theo vị trí từng công trình, dành quỹ đất đào hồ, kết nối kênh rạch để đảm bảo tiêu thoát nước.
+ Đối với các đô thị tại khu vực 3: Các đô thị khuyến khích phát triển tập trung theo hình thái đô thị nén; dành quỹ đất đào hồ, kết nối kênh rạch để đảm bảo tiêu thoát nước.
+ Đối với các đô thị tại khu vực 4: Phát triển đô thị tại các khu vực đất giồng, bãi bồi cao ở ven sông, ven biển. Tại các khu vực đô thị xây dựng mật độ cao, san đắp tập trung toàn bộ khu vực xây dựng; các khu vực nông thôn, xây dựng mật độ thấp, san đắp cục bộ theo vị trí từng công trình, dành quỹ đất đào hồ, kết nối kênh rạch, đảm bảo tiêu thoát nước.
+ Đối với các khu cây xanh, khu ở mật độ thấp, tính toán tần suất cho phép ngập phù hợp theo quy phạm nhằm giảm khối lượng, diện tích đào đắp, đảm bảo tiêu thoát nước hiệu quả.
- Thoát nước mặt:
+ Đối với các khu đô thị mới xây dựng hệ thống thoát nước riêng nhằm tái sử dụng nước mưa, tiết kiệm trong đầu tư xử lý nước thải. Đối với đô thị cũ, cải tạo xây dựng hệ thống thoát nước chung và chọn giải pháp cống bao có hố tách dòng để thu gom nước thải dẫn tới trạm xử lý nước thải tập trung của đô thị, từng bước tách dần hệ thống thoát nước thải riêng biệt với nước mưa.
+ Cải tạo, mở rộng kênh rạch và xây dựng hồ điều hòa trong khu vực nội thành, bảo vệ khôi phục các không gian xanh ven các kênh, rạch, sông suối hiện hữu.
- Phòng chống lũ, ngập úng:
Thực hiện việc phòng chống lũ theo quy hoạch chuyên ngành và quy hoạch chống ngập của từng địa phương. Xây dựng các công trình kiểm soát dòng chảy lũ, các tuyến đê bao chống lũ, hệ thống hồ chứa trạm bơm và cống ngăn triều.
- Phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển:
+ Tổ chức quan trắc, cảnh báo vùng có nguy cơ xảy ra sạt lở cao. Kiểm soát, hạn chế việc khai thác cát trên sông; nạo vét lòng sông để điều tiết dòng chảy của lũ để đảm bảo không bị ảnh hưởng tới lòng sông.
+ Có biện pháp bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn dọc biên giới Việt Nam - Campuchia để giữ nước, giảm tốc độ dòng chảy, phòng chống lũ gây xói lở phá hủy mặt phủ tự nhiên.

Content:
Định hướng cao độ nền và thoát nước mặt
- Phân vùng các khu vực chịu ảnh hưởng ngập lụt:
+ Khu vực 1: Là khu vực bị ngập sâu do tác động của lũ sông Mêkông với chiều sâu ngập lũ trung bình từ 2 m trở lên, nằm ở phía Bắc dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia, gồm phần lớn diện tích của vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên, thuộc các khu vực thuộc các tỉnh: Long An, Đồng Tháp, An Giang.
+ Khu vực 2: Là khu vực bị ngập trung bình do tác động của lũ sông Mêkông với chiều sâu ngập lũ trung bình khoảng 1 m - 2 m, trên địa bàn các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ.
+ Khu vực 3: Là khu vực bị ngập nông do tác động của cả lũ và triều cường, gồm các khu vực thuộc các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ và Hậu Giang.
+ Khu vực 4: Là khu vực ven biển chịu ảnh hưởng của thủy triều.
- Cao độ nền đất xây dựng:
+ Đối với các đô thị tại khu vực 1, 2: Hạn chế san lấp, phát triển đô thị tập trung với quy mô diện tích lớn, khuyến khích phát triển theo tuyến song song với hướng thoát lũ nhằm giảm tác động của lũ đến đô thị. Tại các khu vực đô thị xây dựng mật độ cao, san đắp tập trung toàn bộ khu vực xây dựng kết hợp đê bao chống lũ; tại các khu vực nông thôn, xây dựng mật độ thấp, san đắp cục bộ theo vị trí từng công trình, dành quỹ đất đào hồ, kết nối kênh rạch để đảm bảo tiêu thoát nước.
+ Đối với các đô thị tại khu vực 3: Các đô thị khuyến khích phát triển tập trung theo hình thái đô thị nén; dành quỹ đất đào hồ, kết nối kênh rạch để đảm bảo tiêu thoát nước.
+ Đối với các đô thị tại khu vực 4: Phát triển đô thị tại các khu vực đất giồng, bãi bồi cao ở ven sông, ven biển. Tại các khu vực đô thị xây dựng mật độ cao, san đắp tập trung toàn bộ khu vực xây dựng; các khu vực nông thôn, xây dựng mật độ thấp, san đắp cục bộ theo vị trí từng công trình, dành quỹ đất đào hồ, kết nối kênh rạch, đảm bảo tiêu thoát nước.
+ Đối với các khu cây xanh, khu ở mật độ thấp, tính toán tần suất cho phép ngập phù hợp theo quy phạm nhằm giảm khối lượng, diện tích đào đắp, đảm bảo tiêu thoát nước hiệu quả.
- Thoát nước mặt:
+ Đối với các khu đô thị mới xây dựng hệ thống thoát nước riêng nhằm tái sử dụng nước mưa, tiết kiệm trong đầu tư xử lý nước thải. Đối với đô thị cũ, cải tạo xây dựng hệ thống thoát nước chung và chọn giải pháp cống bao có hố tách dòng để thu gom nước thải dẫn tới trạm xử lý nước thải tập trung của đô thị, từng bước tách dần hệ thống thoát nước thải riêng biệt với nước mưa.
+ Cải tạo, mở rộng kênh rạch và xây dựng hồ điều hòa trong khu vực nội thành, bảo vệ khôi phục các không gian xanh ven các kênh, rạch, sông suối hiện hữu.
- Phòng chống lũ, ngập úng:
Thực hiện việc phòng chống lũ theo quy hoạch chuyên ngành và quy hoạch chống ngập của từng địa phương. Xây dựng các công trình kiểm soát dòng chảy lũ, các tuyến đê bao chống lũ, hệ thống hồ chứa trạm bơm và cống ngăn triều.
- Phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển:
+ Tổ chức quan trắc, cảnh báo vùng có nguy cơ xảy ra sạt lở cao. Kiểm soát, hạn chế việc khai thác cát trên sông; nạo vét lòng sông để điều tiết dòng chảy của lũ để đảm bảo không bị ảnh hưởng tới lòng sông.
+ Có biện pháp bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn dọc biên giới Việt Nam - Campuchia để giữ nước, giảm tốc độ dòng chảy, phòng chống lũ gây xói lở phá hủy mặt phủ tự nhiên.