Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 148/2005/QĐ-TTg Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam đến năm 2015

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "17/06/2005", "sign_number": "148/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "17/06/2005", "sign_number": "148/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "17/06/2005", "sign_number": "148/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "17/06/2005", "sign_number": "148/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "17/06/2005", "sign_number": "148/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 148/2005/QĐ-TTg Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam đến năm 2015

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam đến năm 2015 với những nội dung chủ yếu sau:
...
4. Phương hướng phát triển các ngành và lĩnh vực xã hội:
a) Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Xây dựng các khu công nghiệp: Điện Nam - Điện Ngọc (430 ha), An Hoà - Nông Sơn (600 ha), Thuận Yên (225 ha); các cụm công nghiệp như: Đại Hiệp (40 ha), Đông Thăng Bình (150 ha), Trảng Nhật (60 ha), Đông Quế Sơn (250 ha).
Phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu :
- Công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản đạt tốc độ tăng trưởng 25%/năm. Chú trọng phát triển công nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm; sản xuất đồ uống, như : bia, nước giải khát, nước khoáng.
- Công nghiệp chế biến và khai thác khoảng sản đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 15 - 16,5%/năm với các loại sản phẩm chủ yếu như đá xây dựng, than, bột thạch anh, cát khuôn đúc, Felspat. Nghiên cứu, khai thác, sử dụng nguồn khoáng sản phóng xạ (Uranium) tại Quảng Nam.
- Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đạt nhịp độ tăng trưởng khoảng 19 - 25%/năm với các loại sản phẩm chủ yếu như: xi măng, gạch, ngói, đá ốp lát, kính tấm xây dựng.
Các ngành công nghiệp khác:
- Ngành dệt - may - da - giày: dệt vải đạt từ 10 - 15 triệu mét/năm; ươm tơ dệt lụa quy mô 5 - 10 triệu mét/năm. Mục tiêu trước mắt đến năm 2010 ngành giày - da Quảng Nam đạt 4 triệu đôi giày vải, 0,3 - 1,5 triệu đôi giày da và 0,6 - 0,8 triệu sản phẩm da hàng năm.
- Ngành cơ khí, điện tử: lắp ráp và sản xuất ô tô công suất 25.000 xe/năm và 5.000 xe tải nặng/năm, máy móc, công cụ phục vụ nông nghiệp, sản xuất khung nhà thép, container, khuôn mẫu bằng kim loại; sản xuất thiết bị điện, vật liệu điện, lắp ráp thiết bị điện tử và sản xuất các linh kiện điện tử dân dụng.
- Phát triển làng nghề và các ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp: tập trung phục hồi, nâng cao khả năng sản xuất của các ngành nghề thủ công truyền thống như ươm tơ dệt lụa ở Duy Trinh (Duy Xuyên), các xã ven sông Thu Bồn, một số điểm ở Điện Bàn, Đại Lộc; đúc đồng, nhôm ở Điện Bàn; sành sứ La Tháp; gốm Thanh Hà; các làng nghề dệt may, sản xuất gạch ngói, gia công đồ gỗ, ...
b) Các ngành dịch vụ:
- Thương mại: tập trung phát triển các ngành dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu, dịch vụ thương mại; dịch vụ cung ứng vật tư, kỹ thuật; dịch vụ cung ứng giống cây trồng, vật nuôi; dịch vụ cung ứng tàu biển; dịch vụ vận tải và các loại hình dịch vụ công cộng khác. Chuẩn bị điều kiện để phát triển mạnh dịch vụ thông tin, viễn thông, dịch vụ tài chính, ngân hàng v.v...
+ Phát triển các chợ và hợp tác xã thương mại - dịch vụ theo hướng cải tạo và nâng cấp các chợ hiện có ở các đô thị, thị trấn, thị tứ; đầu tư xây dựng các chợ ở nông thôn, miền núi theo cụm, vùng. Tiếp tục củng cố, sắp xếp, nâng cao hoạt động của các hợp tác xã thương mại, dịch vụ.
+ Hình thành một số trung tâm thương mại với các chức năng sau: cảng thương mại tự do ở Kỳ Hà, Trung tâm Thương mại - Du lịch Hội An, Trung tâm Thương mại Tam Kỳ, Khu kinh tế cửa khẩu Nam Giang.
- Về xuất khẩu: tích cực khai thác nguồn hàng xuất khẩu, phấn đấu đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu khoảng 240 triệu USD vào năm 2010 và khoảng 350 triệu USD vào năm 2015.
- Du lịch: phát triển và phối hợp hợp lý trong khai thác các loại hình du lịch: du lịch biển, thắng cảnh, du lịch văn hóa (đặc biệt là du lịch văn hóa Chàm), du lịch nghỉ ngơi giải trí. Có kế hoạch đầu tư tôn tạo, quản lý, bảo vệ và khai thác các di sản văn hóa, kiến trúc: đô thị cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn; các di sản thiên nhiên: Cù Lao Chàm, hồ Phú Ninh, hồ Khe Tân, khu rừng nguyên sinh ...
+ Xây dựng thị xã Hội An trở thành Trung tâm du lịch.
+ Mở thêm nhiều tuyến du lịch gắn kết các di sản văn hóa thế giới, di tích lịch sử cách mạng, các thắng cảnh văn hóa như: tuyến Hội An - Tam Kỳ - Mỹ Sơn, tuyến du lịch ven biển Kỳ Hà - Chu Lai. Xây dựng các điểm du lịch ở các hồ khu vực phía Tây như Phú Ninh, Khe Tân ... các điểm du lịch ở khu vực rừng nguyên sinh thuộc các huyện Phước Sơn và Nam Giang.
- Dịch vụ tài chính, ngân hàng: hình thành thị trường vốn nhằm thu hút vốn nhàm rỗi trong dân, các tổ chức kinh tế trong và ngoài Tỉnh.
c) Phương hướng phát triển nông - lâm - ngư nghiệp:
- Nông nghiệp: tập trung chuyển mạnh nền nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa, trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, đưa tỷ trọng chăn nuôi chiếm từ 50 - 55% giá trị sản phẩm nông nghiệp. Phát triển khoảng từ 10.000 - 15.000 ha ngô, từ 6.000 - 8.000 ha mía, từ 4.000 - 4.500 ha dứa, 10.000 ha lạc, 5.000 ha điều, 1.000 ha chè, 8.000 ha cà phê chè, 10.000 ha bông, vùng nguyên liệu giấy với quy mô khoảng 25.000 - 30.000 ha. Hình thành vùng rau sạch tại các khu vực đô thị Tam Kỳ, Hội An, Núi Thành và một số nơi ở vùng Đông Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, phát triển nghề trồng hoa và sinh vật cảnh.
- Thuỷ sản: phát triển các đội tàu có công suất lớn hơn 90 CV, số lượng trên 500 chiếc để đánh bắt xa bờ. Sản lượng hải sản đánh bắt đạt 49.500 tấn - 50.000 tấn vào năm 2005, 65.000 tấn vào năm 2010 và 70.000 tấn năm 2015. Phấn đấu đưa diện tích nuôi thủy sản đạt 10.000 ha, trong đó diện tích nuôi tôm là 5.000 ha. Xây dựng 2 trung tâm nghề cá lớn ở Cửa Đại (Hội An) và Tam Quang (Núi Thành); xây dựng mới và nâng cấp các cơ sở đóng, sửa chữa tàu thuyền, cơ khí, cơ điện lạnh, đảm bảo dịch vụ hậu cần nghề cá.
- Lâm nghiệp: tiếp tục thực hiện mục tiêu tăng cường vốn rừng, tăng độ che phủ từ 42% lên 48% vào năm 2015. Triển khai trồng mới và khoanh nuôi tái sinh hàng năm là 22.000 ha (trong đó nuôi trồng 10.000 ha). Chú trọng các loại cây quế, cao su, ca cao, chè, cung cấp nguyên liệu giấy, sợi và các loại cây lấy gỗ có nguồn gốc bản địa. Thực hiện đóng cửa rừng ở một số vùng phía Tây để bảo vệ môi trường và hệ thống giao thông miền núi. Bảo vệ các rừng đặc dụng, rừng nguyên sinh và rừng phòng hộ đầu nguồn.
d) Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng:
- Giao thông:
+ Đường bộ: phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương đẩy mạnh tiến độ thi công tuyến quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, 14B, 14D và 14E, đường Tam Kỳ - Đắk Tô (Nam Quảng Nam); triển khai xây dựng đường cao tốc Liên Chiểu - Dung Quất. Nâng cấp và xây dựng các tuyến ĐT 611, 611B, 607B, đường Thanh niên ven biển, cầu Cửa Đại và các tuyến đường tỉnh khác. Hoàn thành cơ bản hệ thống mạng đường nội bộ trong thị xã Tam Kỳ, đô thị trung tâm các huyện lỵ, đô thị mới Điện Nam - Điện Ngọc ... kết hợp kinh tế với quốc phòng, hình thành các tuyến phòng thủ dọc ven biển Hội An - Điện Bàn, tuyến Tam An - Cẩm Khê, khai thông đường dọc theo các xã biên giới. Xây dựng các tuyến đường đến trung tâm 34 xã chưa có đường ô tô (19 xã đi được một mùa và 15 xã không đi được cả hai mùa). Xây dựng hành lang phía Tây nối các huyện miền núi từ Ch'ôm - Dakpre, Phước Thành - Trà Bui.
+ Đường biển: ưu tiên xây dựng cảng Kỳ Hà, trong đó hoàn chỉnh xây dựng cầu cảng số 2 và trong giai đoạn đến năm 2010 nghiên cứu xây dựng thêm một bến theo tiêu chuẩn (350m) tương đương tàu 12.000 tấn. Tiếp tục thực hiện việc nạo vét luồng bảo đảm cho tầu có trọng tải trên 20.000 tấn vào làm hàng, cùng với xây dựng hoàn chỉnh hệ thống dịch vụ hậu cần cảng tạo điều kiện để hình thành cảng thương mại tổng hợp Kỳ Hà làm tiền đề phát triển Khu kinh tế mở Chu Lai.
+ Đường hàng không: tập trung đầu tư nâng cấp, mở rộng sân bay Chu Lai đảm bảo tiếp nhận máy bay B 747 - 400 hoặc tương đương, quy mô công suất phục vụ khoảng 500.000 hành khách/năm và 500.000 tấn hàng/năm vào năm 2010 và đạt 1 triệu lượt khách/năm, 1 triệu tấn hàng/năm vào năm 2020. Về lâu dài xây dựng sân bay Chu Lai thành Trung tâm trung chuyển hàng hóa quốc tế của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và của khu vực.
+ Đường sắt: nâng cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng đường sắt theo quy hoạch tổng thể phát triển ngành vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 06/2002/QĐ-TTg ngày 01 tháng 01 năm 2002. Tiến hành nâng cấp Nhà ga Tam Kỳ, Nông Sơn, Núi Thành; hiện đại hóa hệ thống thông tin tín hiệu.
+ Đường sông: tập trung đầu tư nâng cấp, cải tạo một số tuyến sông chính: Trường Giang, Thu Bồn, Tam Kỳ, Vu Gia, Bà Rén, Quảng Huế, Vĩnh Diện. ưu tiên chỉnh lưu sông Vu Gia, Thu Bồn để phục vụ dân sinh.
- Hệ thống cấp điện: phối hợp với các Bộ, ngành liên quan ở Trung ương thực hiện việc đầu tư xây dựng theo nhiệm vụ được giao đối với các dự án điện bao gồm cả nguồn và lưới điện theo quy hoạch ngành được Bộ Công nghiệp phê duyệt như: các tuyến đường dây cao thế 110 KV, 220 KV Đà Nẵng - Dung Quất, Đà Nẵng - Thành Mỹ, đường dây 500 KV Đà Nẵng - Dung Quất - Plâyku. Hoàn chỉnh mạng lưới đường dây 20 KV trên địa bàn Tỉnh bằng các nguồn vốn ODA. Nâng cấp trạm điện Tam Hiệp và Tam Kỳ từ 40 MVA lên 50 MVA 2 x 25, khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc 2 x 25 MVA. Bổ sung trạm biến áp 110 MVA tại Thăng Bình, các dự án xây dựng 08 nhà máy thuỷ điện theo quy hoạch hệ thống thuỷ điện bậc thang Vu Gia - Thu Bồn đã được phê duyệt; thông qua kêu gọi đầu tư nước ngoài (BOT) xây dựng nhà máy điện 60 MW tại Núi Thành. Phấn đấu đến năm 2005 đưa điện lưới đến 100% huyện lỵ và 90% hộ dân sử dụng điện, đến năm 2015 đạt 100% hộ được sử dụng điện.
- Quản lý và sử dụng tổng hợp nguồn nước: tiếp tục đầu tư mở rộng hệ thống các công trình thuỷ lợi như: Việt An, đập dâng An Trạch, kênh Thái Xuân, kiên cố hoá hệ thống kênh mương và nghiên cứu đầu tư hỗ trợ xây dựng các công trình kè chống xói lở bờ sông Thu Bồn, Vu Gia ở Đại Lộc, Điện Bàn, Hội An, Duy Xuyên và Trà My; đập ngăn mặn Duy Thành (Duy Xuyên), xây dựng hồ chứa nước Đông Tiễn (Bình Trị - Thăng Bình) và một số công trình thuỷ lợi nhỏ ở các huyện trung du, miền núi. Quy hoạch và chỉnh trị hệ thống sông Thu Bồn, Vu Gia. Cân bằng nguồn nước trên địa bàn Tỉnh để phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh. Sử dụng các nguồn nước để phát triển thuỷ điện và điều tiết lũ trên các hệ thống sông lớn Thu Bồn, Vu Gia, A Vương. Xây dựng các công trình ngăn mặn, giải quyết nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân vùng cát.
Nâng cấp mở rộng hệ thống cấp nước tại các khu công nghiệp và thị xã, thị trấn, tiếp tục đầu tư công trình nước sạch tại các trung tâm huyện lỵ.
- Xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng xã hội gắn với phòng tránh lũ lụt:
+ Đầu tư xây dựng mới một số trạm xá khu vực tại các trung tâm cụm xã vùng cao. Kiên cố hóa một số cơ sở y tế ở vùng ngập lụt.
+ Kiên cố và xây cao tầng một số cơ sở trường học ở khu vực 40 xã vùng ngập lụt để khi có lũ lụt sẽ được sử dụng làm địa điểm tập kết hậu cần, cư trú tạm thời cho nhân dân.
+ Cải tạo nâng cấp hồ chứa nước như Phú Ninh, Đông Tiễn, Cây Sanh, Suối Tiên, Bàu Vang, hoàn thành xây dựng hồ Việt An.
+ Xây dựng hệ thống kè chống sạt lở các sông Thu Bồn, Vu Gia, Trường Giang.
+ Xây dựng Trung tâm phòng tránh rủi ro và giảm nhẹ thiên tai của khu vực biển Đông (dự kiến ở Kỳ Hà, Cù Lao Chàm).
- Bưu chính - Viễn thông: tiếp tục hiện đại hóa mạng bưu chính, viễn thông toàn Tỉnh, điện thoại từ tỉnh đến các xã, đồng bằng, trung du và các trung tâm cụm xã vùng cao đến năm 2010 đạt 100% số xã có điện thoại, 100% xã có điểm bưu điện văn hóa xã, 100% số xã được nhận báo trong ngày. Đầu tư theo quy hoạch phát thanh quốc gia, bảo đảm đến năm 2015 có 100% dân số được phủ sóng phát thanh và 95% được phủ sóng truyền hình.
- Y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng:
+ Thực hiện tốt các chương trình y tế của quốc gia, quan tâm chăm lo sức khoẻ cho toàn dân. Thanh toán cơ bản các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng sốt rét, tả, bệnh lao, da liễu, 6 bệnh truyền nhiễm của trẻ em. Kiện toàn, tăng cường đội ngũ cán bộ y tế cơ sở, bảo đảm 100% số trạm y tế xã có bác sĩ, 100% xã có nữ hộ sinh. Đầu tư, xây dựng hoàn chỉnh các bệnh viện tuyến huyện (đảm bảo 8 huyện đồng bằng đạt bệnh viện hạng III, huyện miền núi đạt bệnh viện hạng IV). Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên khoa đầu ngành của Tỉnh, đến năm 2007 có ít nhất từ 1 - 2 tiến sĩ, thạc sĩ ở các khoa lâm sàng, bảo đảm đáp ứng yêu cầu cho tuyến điều trị cao nhất của Tỉnh.
+ Về cơ sở vật chất: đến năm 2006 kiên cố hóa 100% trạm y tế cấp xã, xây cao tầng các trạm y tế vùng lụt, bảo đảm đầy đủ trang thiết bị y tế theo danh mục tiêu chuẩn trạm y tế. Nâng cấp, xây dựng các trung tâm y tế huyện bảo đảm quy mô bệnh viện từ 100 - 120 giường đối với các huyện có dân số trên 100.000 dân và 50 - 80 giường đối với các huyện có dân số dưới 100.000 dân. Đầu tư xây dựng 02 (hai) phòng khám, điều trị chất lượng cao tại khu vực Điện Nam - Điện Ngọc và Chu Lai - Kỳ Hà, để phục vụ nhu cầu của các nhà đầu tư.
- Giáo dục và đào tạo:
+ Thực hiện cơ bản phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2007 và trung học phổ thông vào năm 2012. Phát triển hệ thống mạng lưới trường mầm non và phổ thông rộng khắp bằng nhiều loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục, nâng cao hiệu suất đào tạo để huy động được một tỷ lệ cao thanh, thiếu niên trong độ tuổi đi học. Nâng cao hiệu quả đào tạo lên 90% đối với trung học cơ sở và 87% đối với trung học phổ thông. Phấn đấu 40% giáo viên tiểu học có trình độ cao đẳng, 80% giáo viên trung học cơ sở có trình độ đại học, 10% giáo viên trung học phổ thông có trình độ thạc sĩ. Từng bước hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất nhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển ngành giáo dục, phấn đấu 100% số phòng học được kiên cố vào năm 2010.
+ Đa dạng hóa loại hình đào tạo, chú trọng công tác đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao cho đội ngũ lao động hiện có để theo kịp với yêu cầu của công nghệ mới, sản xuất, kinh doanh và quản lý nhà nước, quản lý xã hội (phấn đấu đến năm 2010 đạt 25 - 26% lao động qua đào tạo nghề, nâng tổng số lao động qua đào tạo nghề đến năm 2015 lên 35 - 40% và qua đào tạo chung là 45 - 50%).
+ Quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề: nâng cấp trường Cao đẳng Sư phạm thành trường Đại học Cộng đồng; xúc tiến xây dựng trường Đại học Công nghệ bán công; thành lập trường dạy nghề trình độ cao, chất lượng cao của Tỉnh phục vụ cho các khu chế xuất, khu công nghiệp trong khu vực với quy mô đào tạo hàng năm từ 2.000 đến 3.000 học sinh tốt nghiệp. Giai đoạn 2006 - 2010 xây dựng thêm 01 trường công nhân kỹ thuật quy mô đào tạo 1.000 - 1.500 học sinh/năm và 04 trung tâm dạy nghề ở các huyện, thị còn lại.
- Quy hoạch phát triển ngành văn hóa - thông tin, thể dục thể thao:
+ Về văn hóa - thông tin:
Phấn đấu 90% các hộ đồng bào miền núi được xem, nghe chương trình phát thanh, truyền hình, mỗi xã có 01 cán bộ chuyên trách về phát thanh truyền hình để quản lý, sử dụng các trang thiết bị đầu tư tại xã phục vụ công tác tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ văn hóa - thông tin vào năm 2005 đạt 50% cán bộ các huyện, xã miền núi có trình độ trung cấp. Phấn đấu đến năm 2010 đạt 65 - 70% thôn bản văn hóa, 85 - 90% gia đình văn hóa. Xây dựng thị xã Hội An trở thành thị xã văn hóa vào năm 2005. Đến năm 2010 bảo đảm mỗi huyện có một trung tâm văn hóa, 80% xã, phường, thị trấn có nhà văn hóa - thông tin, 75% làng bản có thiết chế sinh hoạt văn hóa, xây dựng các điểm bưu điện văn hóa xã. Đến năm 2010 đảm bảo 80% số huyện có thư viện và đến năm 2015 là 100%. Số bản sách bình quân đầu người đạt 05 bản năm 2010 và 07 bản năm 2015. Trong công tác trùng tu bảo tồn các di sản văn hóa, ưu tiên đầu tư cho các dự án:
. Khảo sát, nghiên cứu, trùng tu, tu bổ các công trình cấp thiết tại khu di tích Mỹ Sơn.
. Trùng tu, sửa chữa các nhà cổ tại khu đô thị cổ Hội An.
. Khảo sát, tu bổ các di tích văn hóa Chăm (phật điện Đồng Dương, Tháp Chiên Đàn ...).
- Về thể dục thể thao:
+ Thực hiện giáo dục thể chất trong nhà trường bảo đảm 70 - 80% học sinh và 90 - 95% sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể. Đối với lực lượng vũ trang 100% cán bộ, chiến sĩ tham gia luyện tập thường xuyên và đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi. Đến năm 2012 bảo đảm đáp ứng 100% nhu cầu giáo viên thể dục thể thao cho các trường và các cấp học.
+ Từng bước nâng tổng số nội dung tham gia các giải thể thao của khu vực cũng như cả nước từ 09 nội dung năm 2001 lên 20 - 25 nội dung vào năm 2010 và 100% số nội dung vào 2015 (chú trọng tập trung đầu tư trọng điểm vào các nội dung có thế mạnh như điền kinh, bóng đá, các môn võ, bơi lội, bóng chuyền ...).
+ Bảo đảm đến năm 2010, ở mỗi xã, phường có quỹ đất, địa điểm làm cơ sở tập luyện thể dục thể thao; đầu tư nâng cấp các trung tâm thể dục thể thao cấp huyện. Hoàn thành xây dựng cơ bản các hạng mục chính công trình trung tâm thi đấu của Tỉnh (sân vận động, nhà thi đấu, bể bơi, nhà tập vận động viên).

Content:
Phương hướng phát triển các ngành và lĩnh vực xã hội:
a) Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Xây dựng các khu công nghiệp: Điện Nam - Điện Ngọc (430 ha), An Hoà - Nông Sơn (600 ha), Thuận Yên (225 ha); các cụm công nghiệp như: Đại Hiệp (40 ha), Đông Thăng Bình (150 ha), Trảng Nhật (60 ha), Đông Quế Sơn (250 ha).
Phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu :
- Công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản đạt tốc độ tăng trưởng 25%/năm. Chú trọng phát triển công nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm; sản xuất đồ uống, như : bia, nước giải khát, nước khoáng.
- Công nghiệp chế biến và khai thác khoảng sản đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 15 - 16,5%/năm với các loại sản phẩm chủ yếu như đá xây dựng, than, bột thạch anh, cát khuôn đúc, Felspat. Nghiên cứu, khai thác, sử dụng nguồn khoáng sản phóng xạ (Uranium) tại Quảng Nam.
- Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đạt nhịp độ tăng trưởng khoảng 19 - 25%/năm với các loại sản phẩm chủ yếu như: xi măng, gạch, ngói, đá ốp lát, kính tấm xây dựng.
Các ngành công nghiệp khác:
- Ngành dệt - may - da - giày: dệt vải đạt từ 10 - 15 triệu mét/năm; ươm tơ dệt lụa quy mô 5 - 10 triệu mét/năm. Mục tiêu trước mắt đến năm 2010 ngành giày - da Quảng Nam đạt 4 triệu đôi giày vải, 0,3 - 1,5 triệu đôi giày da và 0,6 - 0,8 triệu sản phẩm da hàng năm.
- Ngành cơ khí, điện tử: lắp ráp và sản xuất ô tô công suất 25.000 xe/năm và 5.000 xe tải nặng/năm, máy móc, công cụ phục vụ nông nghiệp, sản xuất khung nhà thép, container, khuôn mẫu bằng kim loại; sản xuất thiết bị điện, vật liệu điện, lắp ráp thiết bị điện tử và sản xuất các linh kiện điện tử dân dụng.
- Phát triển làng nghề và các ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp: tập trung phục hồi, nâng cao khả năng sản xuất của các ngành nghề thủ công truyền thống như ươm tơ dệt lụa ở Duy Trinh (Duy Xuyên), các xã ven sông Thu Bồn, một số điểm ở Điện Bàn, Đại Lộc; đúc đồng, nhôm ở Điện Bàn; sành sứ La Tháp; gốm Thanh Hà; các làng nghề dệt may, sản xuất gạch ngói, gia công đồ gỗ, ...
b) Các ngành dịch vụ:
- Thương mại: tập trung phát triển các ngành dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu, dịch vụ thương mại; dịch vụ cung ứng vật tư, kỹ thuật; dịch vụ cung ứng giống cây trồng, vật nuôi; dịch vụ cung ứng tàu biển; dịch vụ vận tải và các loại hình dịch vụ công cộng khác. Chuẩn bị điều kiện để phát triển mạnh dịch vụ thông tin, viễn thông, dịch vụ tài chính, ngân hàng v.v...
+ Phát triển các chợ và hợp tác xã thương mại - dịch vụ theo hướng cải tạo và nâng cấp các chợ hiện có ở các đô thị, thị trấn, thị tứ; đầu tư xây dựng các chợ ở nông thôn, miền núi theo cụm, vùng. Tiếp tục củng cố, sắp xếp, nâng cao hoạt động của các hợp tác xã thương mại, dịch vụ.
+ Hình thành một số trung tâm thương mại với các chức năng sau: cảng thương mại tự do ở Kỳ Hà, Trung tâm Thương mại - Du lịch Hội An, Trung tâm Thương mại Tam Kỳ, Khu kinh tế cửa khẩu Nam Giang.
- Về xuất khẩu: tích cực khai thác nguồn hàng xuất khẩu, phấn đấu đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu khoảng 240 triệu USD vào năm 2010 và khoảng 350 triệu USD vào năm 2015.
- Du lịch: phát triển và phối hợp hợp lý trong khai thác các loại hình du lịch: du lịch biển, thắng cảnh, du lịch văn hóa (đặc biệt là du lịch văn hóa Chàm), du lịch nghỉ ngơi giải trí. Có kế hoạch đầu tư tôn tạo, quản lý, bảo vệ và khai thác các di sản văn hóa, kiến trúc: đô thị cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn; các di sản thiên nhiên: Cù Lao Chàm, hồ Phú Ninh, hồ Khe Tân, khu rừng nguyên sinh ...
+ Xây dựng thị xã Hội An trở thành Trung tâm du lịch.
+ Mở thêm nhiều tuyến du lịch gắn kết các di sản văn hóa thế giới, di tích lịch sử cách mạng, các thắng cảnh văn hóa như: tuyến Hội An - Tam Kỳ - Mỹ Sơn, tuyến du lịch ven biển Kỳ Hà - Chu Lai. Xây dựng các điểm du lịch ở các hồ khu vực phía Tây như Phú Ninh, Khe Tân ... các điểm du lịch ở khu vực rừng nguyên sinh thuộc các huyện Phước Sơn và Nam Giang.
- Dịch vụ tài chính, ngân hàng: hình thành thị trường vốn nhằm thu hút vốn nhàm rỗi trong dân, các tổ chức kinh tế trong và ngoài Tỉnh.
c) Phương hướng phát triển nông - lâm - ngư nghiệp:
- Nông nghiệp: tập trung chuyển mạnh nền nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa, trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, đưa tỷ trọng chăn nuôi chiếm từ 50 - 55% giá trị sản phẩm nông nghiệp. Phát triển khoảng từ 10.000 - 15.000 ha ngô, từ 6.000 - 8.000 ha mía, từ 4.000 - 4.500 ha dứa, 10.000 ha lạc, 5.000 ha điều, 1.000 ha chè, 8.000 ha cà phê chè, 10.000 ha bông, vùng nguyên liệu giấy với quy mô khoảng 25.000 - 30.000 ha. Hình thành vùng rau sạch tại các khu vực đô thị Tam Kỳ, Hội An, Núi Thành và một số nơi ở vùng Đông Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, phát triển nghề trồng hoa và sinh vật cảnh.
- Thuỷ sản: phát triển các đội tàu có công suất lớn hơn 90 CV, số lượng trên 500 chiếc để đánh bắt xa bờ. Sản lượng hải sản đánh bắt đạt 49.500 tấn - 50.000 tấn vào năm 2005, 65.000 tấn vào năm 2010 và 70.000 tấn năm 2015. Phấn đấu đưa diện tích nuôi thủy sản đạt 10.000 ha, trong đó diện tích nuôi tôm là 5.000 ha. Xây dựng 2 trung tâm nghề cá lớn ở Cửa Đại (Hội An) và Tam Quang (Núi Thành); xây dựng mới và nâng cấp các cơ sở đóng, sửa chữa tàu thuyền, cơ khí, cơ điện lạnh, đảm bảo dịch vụ hậu cần nghề cá.
- Lâm nghiệp: tiếp tục thực hiện mục tiêu tăng cường vốn rừng, tăng độ che phủ từ 42% lên 48% vào năm 2015. Triển khai trồng mới và khoanh nuôi tái sinh hàng năm là 22.000 ha (trong đó nuôi trồng 10.000 ha). Chú trọng các loại cây quế, cao su, ca cao, chè, cung cấp nguyên liệu giấy, sợi và các loại cây lấy gỗ có nguồn gốc bản địa. Thực hiện đóng cửa rừng ở một số vùng phía Tây để bảo vệ môi trường và hệ thống giao thông miền núi. Bảo vệ các rừng đặc dụng, rừng nguyên sinh và rừng phòng hộ đầu nguồn.
d) Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng:
- Giao thông:
+ Đường bộ: phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương đẩy mạnh tiến độ thi công tuyến quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, 14B, 14D và 14E, đường Tam Kỳ - Đắk Tô (Nam Quảng Nam); triển khai xây dựng đường cao tốc Liên Chiểu - Dung Quất. Nâng cấp và xây dựng các tuyến ĐT 611, 611B, 607B, đường Thanh niên ven biển, cầu Cửa Đại và các tuyến đường tỉnh khác. Hoàn thành cơ bản hệ thống mạng đường nội bộ trong thị xã Tam Kỳ, đô thị trung tâm các huyện lỵ, đô thị mới Điện Nam - Điện Ngọc ... kết hợp kinh tế với quốc phòng, hình thành các tuyến phòng thủ dọc ven biển Hội An - Điện Bàn, tuyến Tam An - Cẩm Khê, khai thông đường dọc theo các xã biên giới. Xây dựng các tuyến đường đến trung tâm 34 xã chưa có đường ô tô (19 xã đi được một mùa và 15 xã không đi được cả hai mùa). Xây dựng hành lang phía Tây nối các huyện miền núi từ Ch'ôm - Dakpre, Phước Thành - Trà Bui.
+ Đường biển: ưu tiên xây dựng cảng Kỳ Hà, trong đó hoàn chỉnh xây dựng cầu cảng số 2 và trong giai đoạn đến năm 2010 nghiên cứu xây dựng thêm một bến theo tiêu chuẩn (350m) tương đương tàu 12.000 tấn. Tiếp tục thực hiện việc nạo vét luồng bảo đảm cho tầu có trọng tải trên 20.000 tấn vào làm hàng, cùng với xây dựng hoàn chỉnh hệ thống dịch vụ hậu cần cảng tạo điều kiện để hình thành cảng thương mại tổng hợp Kỳ Hà làm tiền đề phát triển Khu kinh tế mở Chu Lai.
+ Đường hàng không: tập trung đầu tư nâng cấp, mở rộng sân bay Chu Lai đảm bảo tiếp nhận máy bay B 747 - 400 hoặc tương đương, quy mô công suất phục vụ khoảng 500.000 hành khách/năm và 500.000 tấn hàng/năm vào năm 2010 và đạt 1 triệu lượt khách/năm, 1 triệu tấn hàng/năm vào năm 2020. Về lâu dài xây dựng sân bay Chu Lai thành Trung tâm trung chuyển hàng hóa quốc tế của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và của khu vực.
+ Đường sắt: nâng cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng đường sắt theo quy hoạch tổng thể phát triển ngành vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 06/2002/QĐ-TTg ngày 01 tháng 01 năm 2002. Tiến hành nâng cấp Nhà ga Tam Kỳ, Nông Sơn, Núi Thành; hiện đại hóa hệ thống thông tin tín hiệu.
+ Đường sông: tập trung đầu tư nâng cấp, cải tạo một số tuyến sông chính: Trường Giang, Thu Bồn, Tam Kỳ, Vu Gia, Bà Rén, Quảng Huế, Vĩnh Diện. ưu tiên chỉnh lưu sông Vu Gia, Thu Bồn để phục vụ dân sinh.
- Hệ thống cấp điện: phối hợp với các Bộ, ngành liên quan ở Trung ương thực hiện việc đầu tư xây dựng theo nhiệm vụ được giao đối với các dự án điện bao gồm cả nguồn và lưới điện theo quy hoạch ngành được Bộ Công nghiệp phê duyệt như: các tuyến đường dây cao thế 110 KV, 220 KV Đà Nẵng - Dung Quất, Đà Nẵng - Thành Mỹ, đường dây 500 KV Đà Nẵng - Dung Quất - Plâyku. Hoàn chỉnh mạng lưới đường dây 20 KV trên địa bàn Tỉnh bằng các nguồn vốn ODA. Nâng cấp trạm điện Tam Hiệp và Tam Kỳ từ 40 MVA lên 50 MVA 2 x 25, khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc 2 x 25 MVA. Bổ sung trạm biến áp 110 MVA tại Thăng Bình, các dự án xây dựng 08 nhà máy thuỷ điện theo quy hoạch hệ thống thuỷ điện bậc thang Vu Gia - Thu Bồn đã được phê duyệt; thông qua kêu gọi đầu tư nước ngoài (BOT) xây dựng nhà máy điện 60 MW tại Núi Thành. Phấn đấu đến năm 2005 đưa điện lưới đến 100% huyện lỵ và 90% hộ dân sử dụng điện, đến năm 2015 đạt 100% hộ được sử dụng điện.
- Quản lý và sử dụng tổng hợp nguồn nước: tiếp tục đầu tư mở rộng hệ thống các công trình thuỷ lợi như: Việt An, đập dâng An Trạch, kênh Thái Xuân, kiên cố hoá hệ thống kênh mương và nghiên cứu đầu tư hỗ trợ xây dựng các công trình kè chống xói lở bờ sông Thu Bồn, Vu Gia ở Đại Lộc, Điện Bàn, Hội An, Duy Xuyên và Trà My; đập ngăn mặn Duy Thành (Duy Xuyên), xây dựng hồ chứa nước Đông Tiễn (Bình Trị - Thăng Bình) và một số công trình thuỷ lợi nhỏ ở các huyện trung du, miền núi. Quy hoạch và chỉnh trị hệ thống sông Thu Bồn, Vu Gia. Cân bằng nguồn nước trên địa bàn Tỉnh để phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh. Sử dụng các nguồn nước để phát triển thuỷ điện và điều tiết lũ trên các hệ thống sông lớn Thu Bồn, Vu Gia, A Vương. Xây dựng các công trình ngăn mặn, giải quyết nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân vùng cát.
Nâng cấp mở rộng hệ thống cấp nước tại các khu công nghiệp và thị xã, thị trấn, tiếp tục đầu tư công trình nước sạch tại các trung tâm huyện lỵ.
- Xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng xã hội gắn với phòng tránh lũ lụt:
+ Đầu tư xây dựng mới một số trạm xá khu vực tại các trung tâm cụm xã vùng cao. Kiên cố hóa một số cơ sở y tế ở vùng ngập lụt.
+ Kiên cố và xây cao tầng một số cơ sở trường học ở khu vực 40 xã vùng ngập lụt để khi có lũ lụt sẽ được sử dụng làm địa điểm tập kết hậu cần, cư trú tạm thời cho nhân dân.
+ Cải tạo nâng cấp hồ chứa nước như Phú Ninh, Đông Tiễn, Cây Sanh, Suối Tiên, Bàu Vang, hoàn thành xây dựng hồ Việt An.
+ Xây dựng hệ thống kè chống sạt lở các sông Thu Bồn, Vu Gia, Trường Giang.
+ Xây dựng Trung tâm phòng tránh rủi ro và giảm nhẹ thiên tai của khu vực biển Đông (dự kiến ở Kỳ Hà, Cù Lao Chàm).
- Bưu chính - Viễn thông: tiếp tục hiện đại hóa mạng bưu chính, viễn thông toàn Tỉnh, điện thoại từ tỉnh đến các xã, đồng bằng, trung du và các trung tâm cụm xã vùng cao đến năm 2010 đạt 100% số xã có điện thoại, 100% xã có điểm bưu điện văn hóa xã, 100% số xã được nhận báo trong ngày. Đầu tư theo quy hoạch phát thanh quốc gia, bảo đảm đến năm 2015 có 100% dân số được phủ sóng phát thanh và 95% được phủ sóng truyền hình.
- Y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng:
+ Thực hiện tốt các chương trình y tế của quốc gia, quan tâm chăm lo sức khoẻ cho toàn dân. Thanh toán cơ bản các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng sốt rét, tả, bệnh lao, da liễu, 6 bệnh truyền nhiễm của trẻ em. Kiện toàn, tăng cường đội ngũ cán bộ y tế cơ sở, bảo đảm 100% số trạm y tế xã có bác sĩ, 100% xã có nữ hộ sinh. Đầu tư, xây dựng hoàn chỉnh các bệnh viện tuyến huyện (đảm bảo 8 huyện đồng bằng đạt bệnh viện hạng III, huyện miền núi đạt bệnh viện hạng IV). Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên khoa đầu ngành của Tỉnh, đến năm 2007 có ít nhất từ 1 - 2 tiến sĩ, thạc sĩ ở các khoa lâm sàng, bảo đảm đáp ứng yêu cầu cho tuyến điều trị cao nhất của Tỉnh.
+ Về cơ sở vật chất: đến năm 2006 kiên cố hóa 100% trạm y tế cấp xã, xây cao tầng các trạm y tế vùng lụt, bảo đảm đầy đủ trang thiết bị y tế theo danh mục tiêu chuẩn trạm y tế. Nâng cấp, xây dựng các trung tâm y tế huyện bảo đảm quy mô bệnh viện từ 100 - 120 giường đối với các huyện có dân số trên 100.000 dân và 50 - 80 giường đối với các huyện có dân số dưới 100.000 dân. Đầu tư xây dựng 02 (hai) phòng khám, điều trị chất lượng cao tại khu vực Điện Nam - Điện Ngọc và Chu Lai - Kỳ Hà, để phục vụ nhu cầu của các nhà đầu tư.
- Giáo dục và đào tạo:
+ Thực hiện cơ bản phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2007 và trung học phổ thông vào năm 2012. Phát triển hệ thống mạng lưới trường mầm non và phổ thông rộng khắp bằng nhiều loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục, nâng cao hiệu suất đào tạo để huy động được một tỷ lệ cao thanh, thiếu niên trong độ tuổi đi học. Nâng cao hiệu quả đào tạo lên 90% đối với trung học cơ sở và 87% đối với trung học phổ thông. Phấn đấu 40% giáo viên tiểu học có trình độ cao đẳng, 80% giáo viên trung học cơ sở có trình độ đại học, 10% giáo viên trung học phổ thông có trình độ thạc sĩ. Từng bước hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất nhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển ngành giáo dục, phấn đấu 100% số phòng học được kiên cố vào năm 2010.
+ Đa dạng hóa loại hình đào tạo, chú trọng công tác đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao cho đội ngũ lao động hiện có để theo kịp với yêu cầu của công nghệ mới, sản xuất, kinh doanh và quản lý nhà nước, quản lý xã hội (phấn đấu đến năm 2010 đạt 25 - 26% lao động qua đào tạo nghề, nâng tổng số lao động qua đào tạo nghề đến năm 2015 lên 35 - 40% và qua đào tạo chung là 45 - 50%).
+ Quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề: nâng cấp trường Cao đẳng Sư phạm thành trường Đại học Cộng đồng; xúc tiến xây dựng trường Đại học Công nghệ bán công; thành lập trường dạy nghề trình độ cao, chất lượng cao của Tỉnh phục vụ cho các khu chế xuất, khu công nghiệp trong khu vực với quy mô đào tạo hàng năm từ 2.000 đến 3.000 học sinh tốt nghiệp. Giai đoạn 2006 - 2010 xây dựng thêm 01 trường công nhân kỹ thuật quy mô đào tạo 1.000 - 1.500 học sinh/năm và 04 trung tâm dạy nghề ở các huyện, thị còn lại.
- Quy hoạch phát triển ngành văn hóa - thông tin, thể dục thể thao:
+ Về văn hóa - thông tin:
Phấn đấu 90% các hộ đồng bào miền núi được xem, nghe chương trình phát thanh, truyền hình, mỗi xã có 01 cán bộ chuyên trách về phát thanh truyền hình để quản lý, sử dụng các trang thiết bị đầu tư tại xã phục vụ công tác tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ văn hóa - thông tin vào năm 2005 đạt 50% cán bộ các huyện, xã miền núi có trình độ trung cấp. Phấn đấu đến năm 2010 đạt 65 - 70% thôn bản văn hóa, 85 - 90% gia đình văn hóa. Xây dựng thị xã Hội An trở thành thị xã văn hóa vào năm 2005. Đến năm 2010 bảo đảm mỗi huyện có một trung tâm văn hóa, 80% xã, phường, thị trấn có nhà văn hóa - thông tin, 75% làng bản có thiết chế sinh hoạt văn hóa, xây dựng các điểm bưu điện văn hóa xã. Đến năm 2010 đảm bảo 80% số huyện có thư viện và đến năm 2015 là 100%. Số bản sách bình quân đầu người đạt 05 bản năm 2010 và 07 bản năm 2015. Trong công tác trùng tu bảo tồn các di sản văn hóa, ưu tiên đầu tư cho các dự án:
. Khảo sát, nghiên cứu, trùng tu, tu bổ các công trình cấp thiết tại khu di tích Mỹ Sơn.
. Trùng tu, sửa chữa các nhà cổ tại khu đô thị cổ Hội An.
. Khảo sát, tu bổ các di tích văn hóa Chăm (phật điện Đồng Dương, Tháp Chiên Đàn ...).
- Về thể dục thể thao:
+ Thực hiện giáo dục thể chất trong nhà trường bảo đảm 70 - 80% học sinh và 90 - 95% sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể. Đối với lực lượng vũ trang 100% cán bộ, chiến sĩ tham gia luyện tập thường xuyên và đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi. Đến năm 2012 bảo đảm đáp ứng 100% nhu cầu giáo viên thể dục thể thao cho các trường và các cấp học.
+ Từng bước nâng tổng số nội dung tham gia các giải thể thao của khu vực cũng như cả nước từ 09 nội dung năm 2001 lên 20 - 25 nội dung vào năm 2010 và 100% số nội dung vào 2015 (chú trọng tập trung đầu tư trọng điểm vào các nội dung có thế mạnh như điền kinh, bóng đá, các môn võ, bơi lội, bóng chuyền ...).
+ Bảo đảm đến năm 2010, ở mỗi xã, phường có quỹ đất, địa điểm làm cơ sở tập luyện thể dục thể thao; đầu tư nâng cấp các trung tâm thể dục thể thao cấp huyện. Hoàn thành xây dựng cơ bản các hạng mục chính công trình trung tâm thi đấu của Tỉnh (sân vận động, nhà thi đấu, bể bơi, nhà tập vận động viên).