Document: Khoản 6 Điều 1 Quyết định 68/QĐ-TTg 2018 Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/01/2018", "sign_number": "68/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/01/2018", "sign_number": "68/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/01/2018", "sign_number": "68/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/01/2018", "sign_number": "68/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/01/2018", "sign_number": "68/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 6 Điều 1 Quyết định 68/QĐ-TTg 2018 Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long

Điều 1. Phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 với những nội dung chủ yếu sau:
...
6. Định hướng phát triển không gian vùng:
a) Định hướng phát triển các tiểu vùng:
- Tiểu vùng ngập sâu: Diện tích chiếm khoảng 15% diện tích tự nhiên của vùng, gồm các huyện, thị xã ở phía Tây tỉnh Long An; phía Bắc các tỉnh: Đồng Tháp, An Giang và phía Tây Bắc tỉnh Tiền Giang.
Các đô thị trọng điểm gồm: Châu Đốc, Tân Châu (An Giang); Hồng Ngự, Mỹ An (Đồng Tháp); Kiến Tường (Long An).
Trên cơ sở điều kiện địa hình tự nhiên, tính toán để trữ nước ngọt tại vùng ngập sâu, hình thành các khu vực ngập nước theo mùa nhằm chủ động về nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần đẩy mặn, giảm ngập lụt tại vùng ngập nông và các đô thị tại tiểu vùng giữa đồng bằng. Tạo lập một số khu vực giữ nước thường xuyên cùng với chuyển đổi sản xuất sang nuôi trồng thủy sản nước ngọt, trồng tràm,... Hạn chế mở rộng, phát triển đô thị với quy mô lớn, từng bước chuyển đổi hình thái đô thị thích ứng với điều kiện ngập mới.
- Tiểu vùng giữa đồng bằng: Diện tích chiếm khoảng 38% diện tích tự nhiên của vùng, gồm thành phố Cần Thơ và các huyện, thị xã ở phía Bắc các tỉnh: An Giang, Kiên Giang và Sóc Trăng; phía Tây các tỉnh: Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh (một phần các huyện Càng Long, Cầu Kè); phía Đông Nam tỉnh Long An; phía Tây Nam tỉnh Tiền Giang; phía Nam tỉnh Đồng Tháp và phía Đông Bắc tỉnh Hậu Giang.
Các đô thị trọng điểm gồm: Cần Thơ; Vĩnh Long, Long Xuyên, Bình Minh (Vĩnh Long), Tịnh Biên (An Giang), Ngã Bảy (Hậu Giang), Cao Lãnh, thành phố Sa Đéc (Đồng Tháp), Bến Tre (Bến Tre), Mỹ Tho, Cai Lậy (Tiền Giang), Tân An, Bến Lức, Đức Hòa (Long An).
Là vùng ngập nông, có điều kiện thổ nhưỡng thuận lợi để phát triển nông nghiệp đa dạng và chuyên sâu, do đó cần tiết kiệm đất đai trong xây dựng đô thị; phát triển đô thị theo mô hình đô thị nén, hạn chế mở rộng dàn trải, tránh hình thành các vùng đô thị hóa, dải đô thị hóa liên tục, giành quỹ đất để phát triển nông nghiệp. Tổ chức không gian đô thị trong vùng cần thiết lập các không gian dành cho nước (trữ nước, điều tiết nước và thấm nước); cân bằng đào đắp trong xây dựng phát triển đô thị nhằm hạn chế ngập lụt, thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Tiểu vùng ven biển và hải đảo: Diện tích chiếm khoảng 47% diện tích tự nhiên của vùng, gồm các tỉnh: Cà Mau, Bạc Liêu và các huyện, thành phố, thị xã ở phía Tây Nam các tỉnh: Kiên Giang, Hậu Giang; phía Nam các tỉnh: Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang và Long An.
Các đô thị trọng điểm gồm: Rạch Giá, Phú Quốc, Hà Tiên (Kiên Giang); Cà Mau, Sông Đốc, Năm Căn (Cà Mau); Bạc Liêu, Giá Rai (Bạc Liêu); Sóc Trăng, Vĩnh Châu, Ngã Năm (Sóc Trăng); Vị Thanh, Long Mỹ (Hậu Giang); Trà Vinh, Duyên Hải (Trà Vinh); Gò Công (Tiền Giang), Cần Giuộc (Long An).
Tại khu vực ven biển chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn, cần chuyển đổi sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản theo hướng bền vững, gắn với trồng rừng ngập mặn ven biển, khôi phục các hệ sinh thái rừng ở bán đảo Cà Mau, thúc đẩy quá trình bồi lắng và lấn biển tự nhiên. Phát triển đô thị, dân cư tập trung theo hình thái lãnh thổ (giồng cát, bãi bồi) tại vùng ven biển Đông, bán đảo Cà Mau và khu vực ven biển thuộc Tứ giác Long Xuyên.
Tại khu vực hải đảo, xây dựng và phát triển đô thị bền vững, hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa và bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng và quốc gia. Từng bước xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng, hướng tới hình thành các trung tâm du lịch và dịch vụ cao cấp của quốc gia và khu vực Đông Nam Á.
b) Định hướng phát triển hệ thống đô thị:
Tập trung nâng cao chất lượng đô thị, đáp ứng xu hướng gia tăng dân số tại tiểu vùng giữa đồng bằng; hạn chế quy mô phát triển đô thị tương ứng với giảm dần quy mô dân số tại các tiểu vùng ngập sâu và tiểu vùng ven biển. Phát triển đô thị với quy mô vừa và nhỏ phù hợp với điều kiện tự nhiên và đặc thù kinh tế xã hội của vùng để có các giải pháp thích ứng với các tác động biến đổi khí hậu và tác động của thượng nguồn sông Mê kông.
Mạng lưới đô thị được điều chỉnh về tầng bậc để hình thành các trung tâm đô thị của các vùng sinh thái nông nghiệp, nhằm thúc đẩy chuyên môn hóa và đa dạng hóa nền kinh tế, hiện đại hóa nông nghiệp theo đặc trưng và lợi thế của từng vùng sinh thái nông nghiệp. Tổ chức mạng lưới gồm 37 đô thị trọng điểm có vai trò cấp vùng và tiểu vùng, trong đó 14 đô thị phân bố tại tiểu vùng giữa đồng bằng, 18 đô thị tại tiểu vùng ven biển và 5 đô thị tại tiểu vùng ngập sâu. Cụ thể:
- Thành phố Cần Thơ là đô thị loại I trực thuộc trung ương, có vai trò là trung tâm dịch vụ thương mại, y tế, nghiên cứu đào tạo, văn hóa, du lịch, công nghiệp chế biến của toàn vùng và tiểu vùng giữa đồng bằng.
- Các đô thị loại I có vai trò cấp vùng bao gồm 06 đô thị tỉnh lỵ: Mỹ Tho (Tiền Giang), Tân An (Long An), Long Xuyên (An Giang), Rạch Giá (Kiên Giang), Cà Mau (Cà Mau) và Bạc Liêu (Bạc Liêu). Trong đó:
+ Thành phố Mỹ Tho có vai trò là một trong những trung tâm dịch vụ thương mại, du lịch của tiểu vùng giữa đồng bằng tại khu vực phía Bắc sông Tiền; một cực phát triển phía Tây Nam của vùng thành phố Hồ Chí Minh; đô thị cửa ngõ giữa vùng Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long; trung tâm nông nghiệp công nghệ cao về cây ăn trái và trung tâm dịch vụ du lịch miệt vườn.
+ Thành phố Tân An có vai trò như một cực phát triển phía Đông Bắc của vùng đồng bằng sông Cửu Long, đô thị cửa ngõ giữa vùng Thành phố Hồ Chí Minh và vùng đồng bằng sông Cửu Long; là trung tâm thương mại dịch vụ cấp vùng.
+ Thành phố Long Xuyên có vai trò là một trong những trung tâm thương mại dịch vụ của tiểu vùng giữa đồng bằng tại khu vực phía Nam sông Hậu; là trung tâm chuyển giao công nghệ về nông nghiệp công nghệ cao, đặc biệt là lúa gạo và thủy sản nước ngọt.
+ Thành phố Rạch Giá có vai trò là trung tâm tiểu vùng ven biển tại khu vực phía Tây sông Hậu; là trung tâm kinh tế biển, thương mại dịch vụ của hành lang ven biển Tây.
+ Thành phố Cà Mau có vai trò là trung tâm tiểu vùng ven biển tại khu vực bán đảo Cà Mau; là trung tâm năng lượng và dịch vụ dầu khí quốc gia, trung tâm dịch vụ du lịch sinh thái, trung tâm chế biến thủy sản của vùng.
+ Thành phố Bạc Liêu có vai trò là trung tâm tiểu vùng ven biển tại khu vực ven biển Đông; là trung tâm văn hóa, du lịch, trung tâm kinh tế biển, nuôi trồng thủy sản nước lợ, năng lượng sạch.
- Các đô thị loại II có 09 đô thị, gồm 07 đô thị là các trung tâm tỉnh lỵ, trung tâm kinh tế xã hội của các tỉnh, gồm: Gò Công (Tiền Giang), Bến Tre (Bến Tre), Vĩnh Long (Vĩnh Long), Cao Lãnh (Đồng Tháp), Trà Vinh (Trà Vinh), Sóc Trăng (Sóc Trăng), Vị Thanh (Hậu Giang) và 02 đô thị du lịch: Phú Quốc (Kiên Giang) và Châu Đốc (An Giang).
- Đô thị loại III và IV có 21 thành phố/thị xã, là các đô thị trực thuộc tỉnh có vai trò trung tâm tiểu vùng thuộc tỉnh, gồm:
+ Các đô thị Sa Đéc (Đồng Tháp), Ngã Bảy (Hậu Giang), Tịnh Biên (An Giang), Bình Minh (Vĩnh Long), Cai Lậy (Tiền Giang), Đức Hòa, Bến Lức (Long An) thuộc vùng giữa đồng bằng.
+ Các đô thị Hà Tiên, Kiên Lương (Kiên Giang), Sông Đốc, Năm Căn (Cà Mau), Giá Rai (Bạc Liêu), Vĩnh Châu, Ngã Năm (Sóc Trăng), Long Mỹ (Hậu Giang), Duyên Hải (Trà Vinh) và Cần Giuộc (Long An) thuộc tiểu vùng ven biển.
+ Các đô thị Tân Châu (An Giang), Hồng Ngự, Mỹ An (Đồng Tháp), Kiến Tường (Long An) thuộc vùng ngập sâu.
c) Định hướng phát triển khu dân cư nông thôn:
- Tập trung nguồn lực để xây dựng nông thôn mới; xây dựng nông thôn theo hướng kết hợp cải tạo không gian cũ với phát triển mới tại các điểm dân cư nông thôn gắn với mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Phát triển hình thái không gian dân cư nông thôn theo đặc trưng của từng tiểu vùng: Tại tiểu vùng ngập sâu, hình thành các cụm dân cư tập trung với hình thái nhà trên cọc; tại tiểu vùng giữa đồng bằng phát triển các khu dân cư tập trung theo hướng hiện đại hóa và tăng mật độ; tại tiểu vùng ven biển hình thành các khu dân cư tập trung theo hình thức các cụm công trình nổi gắn kết với cảnh quan rừng ngập mặn và không gian nuôi trồng thủy hải sản.
- Định hướng phát triển nông thôn thích ứng với biến đổi khí hậu như: Sử dụng các biện pháp tự nhiên như trồng rừng, mở rộng không gian để trữ, điều tiết và thấm nước; tăng cường giao thông thủy; xây dựng hình thái nhà ở và công trình thích ứng với lũ lụt, cải thiện không gian ở, không gian sinh hoạt cộng đồng truyền thống gắn với các không gian cảnh quan sản xuất đặc thù của địa phương tại khu dân cư vượt lũ; tập trung nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội nhằm đảm bảo chất lượng sống và điều kiện sản xuất cho người dân. Bảo tồn các làng nghề truyền thống, làng văn hóa, các cộng đồng thiểu số, kết hợp phát triển du lịch.
d) Định hướng phát triển công nghiệp:
- Tập trung phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản và thực phẩm theo hướng gắn với vùng sản xuất nguyên liệu, đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ. Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ nông nghiệp như sản phẩm hóa chất, cơ khí phục vụ nông nghiệp, thủy sản. Khuyến khích, thúc đẩy phát triển công nghiệp năng lượng sạch, năng lượng tái tạo được như năng lượng gió, mặt trời và sinh khối.
- Ưu tiên đầu tư phát triển và khai thác tối đa các khu công nghiệp đã được thành lập đến năm 2030, trong đó tăng cường các ngành công nghiệp chế biến và công nghiệp phụ trợ nông nghiệp, với tổng diện tích các khu công nghiệp tập trung là 15.000 - 17.000 ha, có thể đạt đến 20.000 - 24.000 ha sau năm 2030. Hạn chế mở rộng phát triển thêm các khu công nghiệp khi chưa đạt tỷ lệ lấp đầy cao tại các khu công nghiệp hiện hữu. Rà soát, đánh giá lại các khu công nghiệp đã thành lập nhưng chưa được đầu tư xây dựng để có kế hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đảm bảo sử dụng đất hiệu quả. Hạn chế các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường.
- Phân bố khu công nghiệp theo các khu vực trọng điểm cụ thể như sau:
+ Các khu công nghiệp đa ngành của vùng chủ yếu phân bổ tại các tỉnh Long An và Tiền Giang, thuộc khu vực tiếp giáp thành phố Hồ Chí Minh, với tổng diện tích khoảng 10.000 ha.
+ Trung tâm công nghiệp chế biến nông - thủy sản và năng lượng của vùng bố trí tại thành phố Cần Thơ với tổng diện tích các khu công nghiệp khoảng 1.500 - 1.800 ha, bao gồm các khu công nghiệp tại Trà Nóc, Ô Môn, Thốt Nốt.
+ Các trung tâm năng lượng, công nghiệp chế biến thủy hải sản với quy mô khoảng 2.000 - 2.400 ha phân bố chủ yếu tại tỉnh Cà Mau, Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang và Bạc Liêu được phát triển gắn với các trung tâm điện lực, điện gió và khu kinh tế biển.
+ Tại các tỉnh còn lại chủ yếu phát triển công nghiệp chế biến các sản phẩm nông - ngư nghiệp, công nghiệp phụ trợ nông nghiệp phục vụ địa phương.
- Các cụm công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ phục vụ nông nghiệp và các ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống, làng nghề, phát triển cân bằng dựa trên thế mạnh của địa phương về nông - lâm - ngư nghiệp, bảo vệ môi trường và sinh thái. Giữ gìn và gắn kết các làng nghề truyền thống với phát triển du lịch. Xây dựng hình thái không gian cụm công nghiệp và làng nghề thích ứng với các vùng sinh thái, đặc điểm cảnh quan và biến đổi khí hậu.
đ) Định hướng phát triển du lịch vùng:
Vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm du lịch quốc gia với các sản phẩm du lịch đa dạng, đặc thù của vùng sinh thái sông nước, biển đảo.
- Phát triển các khu du lịch, điểm du lịch cấp quốc gia, cấp vùng gắn với việc bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên (đồi núi, rừng, sông hồ...) và bảo tồn các giá trị văn hóa - lịch sử gồm: Khu du lịch quốc gia Phú Quốc, Năm Căn - Mũi Cà Mau, Tràm Chim - Láng Sen, Núi Sam, Thới Sơn; điểm du lịch quốc gia: Cù lao Ông Hổ, Khu lưu niệm Cao Văn Lầu, bến Ninh Kiều, Ao Bà Om, Hà Tiên, Văn Thánh Miếu...
- Các đô thị Cần Thơ, Phú Quốc và Mỹ Tho là trung tâm du lịch của toàn vùng, trong đó:
+ Thành phố Cần Thơ là trung tâm của không gian du lịch phía Tây, gồm các tỉnh, thành phố: An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Cần Thơ. Phát triển du lịch tham quan đất Mũi, Tây Đô; nghỉ dưỡng biển đảo; du lịch sinh thái; nghiên cứu tìm hiểu văn hóa, di tí lịch sử và lễ hội.
+ Thành phố Mỹ Tho là trung tâm của không gian du lịch phía Đông gồm các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh. Phát triển du lịch sông nước, miệt vườn; tham quan làng nghề, di tích lịch sử, cách mạng; du lịch cộng đồng.
- Thiết lập các tuyến du lịch cấp vùng trên cơ sở kết nối các di sản tự nhiên và văn hóa.
- Đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, đảm bảo liên kết giữa các vùng, khu và điểm du lịch trên địa bàn vùng...; hoàn thiện các trung tâm dịch vụ, cơ sở lưu trú, lữ hành kết nối với các vùng, khu, điểm du lịch trong vùng và các vùng lân cận khác, phát huy thế mạnh các sản phẩm đặc trưng của vùng.
e) Định hướng phát triển thương mại và dịch vụ:
- Phát triển trung tâm thương mại - dịch vụ - tài chính cấp vùng tại thành phố Cần Thơ trở thành đầu mối phân phối lưu thông hàng hóa giữa vùng đồng bằng sông Cửu Long với Thành phố Hồ Chí Minh và Vương quốc Campuchia, về hàng hóa nông sản như: Lúa gạo, thủy sản, trái cây,... Các trung tâm dịch vụ thương mại cấp tiểu vùng nằm tại các đô thị trọng điểm của tiểu vùng, các khu kinh tế biển và các khu kinh tế cửa khẩu.
- Các trung tâm dịch vụ nằm tại các đô thị trung tâm của các tiểu vùng như: Cần Thơ, Rạch Giá, Cà Mau, Bạc Liêu, Hồng Ngự, Hà Tiên,.., bao gồm các trung tâm nghiên cứu và phát triển sản phẩm nông nghiệp, các trung tâm dịch vụ hàng hóa, hỗ trợ sản xuất, xúc tiến thương mại gắn với các vùng sinh thái nông nghiệp.
- Phát triển các trung tâm dịch vụ kho vận cấp vùng tại thành phố Cần Thơ, phục vụ các tỉnh, thành phố Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau; tại Long An phục vụ các tỉnh Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre. Ngoài ra, hình thành các trung tâm dịch vụ kho vận gắn với cảng biển nước sâu của vùng.
- Các trung tâm thương mại chợ đầu mối: Tập trung phát triển tại các vùng sản xuất nông nghiệp - công nghiệp chế biến có quy mô - sản lượng lớn, thuận lợi trong kết nối với hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ; kết cấu gồm: Trung tâm giao dịch hàng hóa, trung tâm bán buôn, trung tâm phân phối, tổng kho đầu mối.
- Trung tâm của các khu kinh tế trong vùng gắn với các đô thị trọng điểm tại các tiểu vùng, gồm: Phú Quốc (đặc khu kinh tế Phú Quốc), Duyên Hải (khu kinh tế Định An), Năm Căn (khu kinh tế Năm Căn), Tân Châu, Tịnh Biên (khu kinh tế cửa khẩu An Giang), Hà Tiên (khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên), Hồng Ngự (khu kinh tế cửa khẩu Đồng Tháp) và Kiến Tường (khu kinh tế cửa khẩu Long An).
g) Định hướng phát triển nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo
- Hình thành các khu đại học tập trung với kết cấu hạ tầng đồng bộ. Ưu tiên dành quỹ đất mở rộng các trường theo tiêu chí trường chuẩn quốc gia và quốc tế. Các trường đại học có các ngành trọng điểm cho toàn vùng và cả nước như nông nghiệp, công nghệ thực phẩm và sinh học, kinh tế - kỹ thuật.
- Thành phố Cần Thơ là trung tâm đào tạo cấp quốc gia và vùng đồng bằng sông Cửu Long với Đại học Cần Thơ là đại học đa ngành trọng điểm cấp quốc gia và các trường đại học gắn với các ngành y tế, văn hóa, xã hội nhân văn, y tế, kỹ thuật - công nghệ. Tại các tiểu vùng, mạng lưới trường đại học được phân bố tại đô thị tỉnh lỵ của các tỉnh: Vĩnh Long, Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang và Bạc Liêu.
- Tập trung phát triển các trường cao đẳng cộng đồng, dạy nghề, y tế, sư phạm, kinh tế - kỹ thuật, kỹ thuật xây dựng được phân bố tại thành phố Cần Thơ và 12 tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long.
- Tiếp tục hình thành và phát triển các trung tâm nghiên cứu khoa học chuyên sâu cấp vùng và quốc gia tại thành phố Cần Thơ, tập trung vào các lĩnh vực nông nghiệp (cây ăn trái, lúa gạo, thủy sản), công nghệ sinh học, môi trường và biến đổi khí hậu. Hình thành trung tâm nghiên cứu đa dạng sinh học tại Phú Quốc hướng tới nghiên cứu bảo vệ các hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển đảo gắn với các hoạt động du lịch và giáo dục cộng đồng.
h) Định hướng phát triển y tế và văn hóa, thể dục thể thao
- Y tế:
+ Thành phố Cần Thơ có vai trò trung tâm y tế của vùng đồng bằng sông Cửu Long với sự tập trung của các bệnh viện đa khoa và bệnh viện chuyên khoa cấp vùng.
+ Các bệnh viện đa khoa tại các đô thị tỉnh lỵ tạo nên mạng lưới các trung tâm y tế tại địa phương, hỗ trợ cho trung tâm y tế cấp vùng tại thành phố Cần Thơ.
- Văn hóa, thể dục thể thao:
Thành phố Cần Thơ và các tỉnh trong vùng với nhiều nét văn hóa, lịch sử đặc trưng; tập trung nhiều công trình văn hóa, thể dục thể thao tầm cỡ vùng và quốc gia. Phát triển văn hóa, thể dục - thể thao theo hướng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc trở thành thương hiệu văn hóa - nghệ thuật của vùng. Hình thành các trung tâm thể dục thể thao cấp vùng tại thành phố Cần Thơ, Cao Lãnh, Tân An; các trung tâm văn hóa gắn với các di sản văn hóa nghệ thuật của vùng tại thành phố Cần Thơ, Bạc Liêu, Trà Vinh. Xây dựng và phát triển trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế tại thành phố Cần Thơ.
i) Định hướng phát triển nông, lâm nghiệp:
- Các vùng sản xuất chính phân bố theo ba vùng hình thái phát triển thích ứng biến đổi khí hậu - nước biển dâng:
+ Thủy sản nước ngọt và rừng tràm phân bố tại vùng ngập sâu (diện tích tự nhiên khoảng 600.000 ha), trên cơ sở hình thành các khu vực kiểm soát ngập và trữ nước ngọt bằng hệ thống đê:
+ Lúa gạo, rau và trái cây tại vùng giữa đồng bằng (diện tích tự nhiên khoảng 1,5 triệu ha);
+ Nuôi trồng thủy - hải sản kết hợp với phát triển rừng ngập mặn được tập trung tại vùng ven biển (diện tích tự nhiên khoảng 1,9 triệu ha).
- Các vùng rừng và bảo tồn cảnh quan sinh thái: Phục hồi và phát triển hệ thống rừng ngập mặn tại bán đảo Cà Mau, hành lang ven biển Đông và hành lang ven biển Tây, kết nối và gắn liền trong các khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang và Cà Mau; các khu vực rừng tràm tại Tây - Bắc bán đảo Cà Mau (khu vực U Minh Thượng - U Minh Hạ), vùng Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên; rừng sản xuất tại vùng Tây sông Hậu và Bắc Long An. Hình thành các hành lang sinh thái ven sông, kênh, kết nối bảo vệ các khu vực rừng tràm.
- Bảo tồn và phát triển Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang và Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau.
- Bảo tồn nghiêm ngặt hệ thống rừng đặc dụng (tổng diện tích 95.000 ha) theo Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
- Bảo tồn, phát triển và kết nối các vùng cây ăn trái khu vực sông Tiền sông Hậu, từ phía thượng nguồn đến giáp tiểu vùng ven biển Đông, đặc biệt thuộc các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang.

Content:
Định hướng phát triển không gian vùng:
a) Định hướng phát triển các tiểu vùng:
- Tiểu vùng ngập sâu: Diện tích chiếm khoảng 15% diện tích tự nhiên của vùng, gồm các huyện, thị xã ở phía Tây tỉnh Long An; phía Bắc các tỉnh: Đồng Tháp, An Giang và phía Tây Bắc tỉnh Tiền Giang.
Các đô thị trọng điểm gồm: Châu Đốc, Tân Châu (An Giang); Hồng Ngự, Mỹ An (Đồng Tháp); Kiến Tường (Long An).
Trên cơ sở điều kiện địa hình tự nhiên, tính toán để trữ nước ngọt tại vùng ngập sâu, hình thành các khu vực ngập nước theo mùa nhằm chủ động về nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần đẩy mặn, giảm ngập lụt tại vùng ngập nông và các đô thị tại tiểu vùng giữa đồng bằng. Tạo lập một số khu vực giữ nước thường xuyên cùng với chuyển đổi sản xuất sang nuôi trồng thủy sản nước ngọt, trồng tràm,... Hạn chế mở rộng, phát triển đô thị với quy mô lớn, từng bước chuyển đổi hình thái đô thị thích ứng với điều kiện ngập mới.
- Tiểu vùng giữa đồng bằng: Diện tích chiếm khoảng 38% diện tích tự nhiên của vùng, gồm thành phố Cần Thơ và các huyện, thị xã ở phía Bắc các tỉnh: An Giang, Kiên Giang và Sóc Trăng; phía Tây các tỉnh: Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh (một phần các huyện Càng Long, Cầu Kè); phía Đông Nam tỉnh Long An; phía Tây Nam tỉnh Tiền Giang; phía Nam tỉnh Đồng Tháp và phía Đông Bắc tỉnh Hậu Giang.
Các đô thị trọng điểm gồm: Cần Thơ; Vĩnh Long, Long Xuyên, Bình Minh (Vĩnh Long), Tịnh Biên (An Giang), Ngã Bảy (Hậu Giang), Cao Lãnh, thành phố Sa Đéc (Đồng Tháp), Bến Tre (Bến Tre), Mỹ Tho, Cai Lậy (Tiền Giang), Tân An, Bến Lức, Đức Hòa (Long An).
Là vùng ngập nông, có điều kiện thổ nhưỡng thuận lợi để phát triển nông nghiệp đa dạng và chuyên sâu, do đó cần tiết kiệm đất đai trong xây dựng đô thị; phát triển đô thị theo mô hình đô thị nén, hạn chế mở rộng dàn trải, tránh hình thành các vùng đô thị hóa, dải đô thị hóa liên tục, giành quỹ đất để phát triển nông nghiệp. Tổ chức không gian đô thị trong vùng cần thiết lập các không gian dành cho nước (trữ nước, điều tiết nước và thấm nước); cân bằng đào đắp trong xây dựng phát triển đô thị nhằm hạn chế ngập lụt, thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Tiểu vùng ven biển và hải đảo: Diện tích chiếm khoảng 47% diện tích tự nhiên của vùng, gồm các tỉnh: Cà Mau, Bạc Liêu và các huyện, thành phố, thị xã ở phía Tây Nam các tỉnh: Kiên Giang, Hậu Giang; phía Nam các tỉnh: Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang và Long An.
Các đô thị trọng điểm gồm: Rạch Giá, Phú Quốc, Hà Tiên (Kiên Giang); Cà Mau, Sông Đốc, Năm Căn (Cà Mau); Bạc Liêu, Giá Rai (Bạc Liêu); Sóc Trăng, Vĩnh Châu, Ngã Năm (Sóc Trăng); Vị Thanh, Long Mỹ (Hậu Giang); Trà Vinh, Duyên Hải (Trà Vinh); Gò Công (Tiền Giang), Cần Giuộc (Long An).
Tại khu vực ven biển chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn, cần chuyển đổi sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản theo hướng bền vững, gắn với trồng rừng ngập mặn ven biển, khôi phục các hệ sinh thái rừng ở bán đảo Cà Mau, thúc đẩy quá trình bồi lắng và lấn biển tự nhiên. Phát triển đô thị, dân cư tập trung theo hình thái lãnh thổ (giồng cát, bãi bồi) tại vùng ven biển Đông, bán đảo Cà Mau và khu vực ven biển thuộc Tứ giác Long Xuyên.
Tại khu vực hải đảo, xây dựng và phát triển đô thị bền vững, hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa và bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng và quốc gia. Từng bước xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng, hướng tới hình thành các trung tâm du lịch và dịch vụ cao cấp của quốc gia và khu vực Đông Nam Á.
b) Định hướng phát triển hệ thống đô thị:
Tập trung nâng cao chất lượng đô thị, đáp ứng xu hướng gia tăng dân số tại tiểu vùng giữa đồng bằng; hạn chế quy mô phát triển đô thị tương ứng với giảm dần quy mô dân số tại các tiểu vùng ngập sâu và tiểu vùng ven biển. Phát triển đô thị với quy mô vừa và nhỏ phù hợp với điều kiện tự nhiên và đặc thù kinh tế xã hội của vùng để có các giải pháp thích ứng với các tác động biến đổi khí hậu và tác động của thượng nguồn sông Mê kông.
Mạng lưới đô thị được điều chỉnh về tầng bậc để hình thành các trung tâm đô thị của các vùng sinh thái nông nghiệp, nhằm thúc đẩy chuyên môn hóa và đa dạng hóa nền kinh tế, hiện đại hóa nông nghiệp theo đặc trưng và lợi thế của từng vùng sinh thái nông nghiệp. Tổ chức mạng lưới gồm 37 đô thị trọng điểm có vai trò cấp vùng và tiểu vùng, trong đó 14 đô thị phân bố tại tiểu vùng giữa đồng bằng, 18 đô thị tại tiểu vùng ven biển và 5 đô thị tại tiểu vùng ngập sâu. Cụ thể:
- Thành phố Cần Thơ là đô thị loại I trực thuộc trung ương, có vai trò là trung tâm dịch vụ thương mại, y tế, nghiên cứu đào tạo, văn hóa, du lịch, công nghiệp chế biến của toàn vùng và tiểu vùng giữa đồng bằng.
- Các đô thị loại I có vai trò cấp vùng bao gồm 06 đô thị tỉnh lỵ: Mỹ Tho (Tiền Giang), Tân An (Long An), Long Xuyên (An Giang), Rạch Giá (Kiên Giang), Cà Mau (Cà Mau) và Bạc Liêu (Bạc Liêu). Trong đó:
+ Thành phố Mỹ Tho có vai trò là một trong những trung tâm dịch vụ thương mại, du lịch của tiểu vùng giữa đồng bằng tại khu vực phía Bắc sông Tiền; một cực phát triển phía Tây Nam của vùng thành phố Hồ Chí Minh; đô thị cửa ngõ giữa vùng Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long; trung tâm nông nghiệp công nghệ cao về cây ăn trái và trung tâm dịch vụ du lịch miệt vườn.
+ Thành phố Tân An có vai trò như một cực phát triển phía Đông Bắc của vùng đồng bằng sông Cửu Long, đô thị cửa ngõ giữa vùng Thành phố Hồ Chí Minh và vùng đồng bằng sông Cửu Long; là trung tâm thương mại dịch vụ cấp vùng.
+ Thành phố Long Xuyên có vai trò là một trong những trung tâm thương mại dịch vụ của tiểu vùng giữa đồng bằng tại khu vực phía Nam sông Hậu; là trung tâm chuyển giao công nghệ về nông nghiệp công nghệ cao, đặc biệt là lúa gạo và thủy sản nước ngọt.
+ Thành phố Rạch Giá có vai trò là trung tâm tiểu vùng ven biển tại khu vực phía Tây sông Hậu; là trung tâm kinh tế biển, thương mại dịch vụ của hành lang ven biển Tây.
+ Thành phố Cà Mau có vai trò là trung tâm tiểu vùng ven biển tại khu vực bán đảo Cà Mau; là trung tâm năng lượng và dịch vụ dầu khí quốc gia, trung tâm dịch vụ du lịch sinh thái, trung tâm chế biến thủy sản của vùng.
+ Thành phố Bạc Liêu có vai trò là trung tâm tiểu vùng ven biển tại khu vực ven biển Đông; là trung tâm văn hóa, du lịch, trung tâm kinh tế biển, nuôi trồng thủy sản nước lợ, năng lượng sạch.
- Các đô thị loại II có 09 đô thị, gồm 07 đô thị là các trung tâm tỉnh lỵ, trung tâm kinh tế xã hội của các tỉnh, gồm: Gò Công (Tiền Giang), Bến Tre (Bến Tre), Vĩnh Long (Vĩnh Long), Cao Lãnh (Đồng Tháp), Trà Vinh (Trà Vinh), Sóc Trăng (Sóc Trăng), Vị Thanh (Hậu Giang) và 02 đô thị du lịch: Phú Quốc (Kiên Giang) và Châu Đốc (An Giang).
- Đô thị loại III và IV có 21 thành phố/thị xã, là các đô thị trực thuộc tỉnh có vai trò trung tâm tiểu vùng thuộc tỉnh, gồm:
+ Các đô thị Sa Đéc (Đồng Tháp), Ngã Bảy (Hậu Giang), Tịnh Biên (An Giang), Bình Minh (Vĩnh Long), Cai Lậy (Tiền Giang), Đức Hòa, Bến Lức (Long An) thuộc vùng giữa đồng bằng.
+ Các đô thị Hà Tiên, Kiên Lương (Kiên Giang), Sông Đốc, Năm Căn (Cà Mau), Giá Rai (Bạc Liêu), Vĩnh Châu, Ngã Năm (Sóc Trăng), Long Mỹ (Hậu Giang), Duyên Hải (Trà Vinh) và Cần Giuộc (Long An) thuộc tiểu vùng ven biển.
+ Các đô thị Tân Châu (An Giang), Hồng Ngự, Mỹ An (Đồng Tháp), Kiến Tường (Long An) thuộc vùng ngập sâu.
c) Định hướng phát triển khu dân cư nông thôn:
- Tập trung nguồn lực để xây dựng nông thôn mới; xây dựng nông thôn theo hướng kết hợp cải tạo không gian cũ với phát triển mới tại các điểm dân cư nông thôn gắn với mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Phát triển hình thái không gian dân cư nông thôn theo đặc trưng của từng tiểu vùng: Tại tiểu vùng ngập sâu, hình thành các cụm dân cư tập trung với hình thái nhà trên cọc; tại tiểu vùng giữa đồng bằng phát triển các khu dân cư tập trung theo hướng hiện đại hóa và tăng mật độ; tại tiểu vùng ven biển hình thành các khu dân cư tập trung theo hình thức các cụm công trình nổi gắn kết với cảnh quan rừng ngập mặn và không gian nuôi trồng thủy hải sản.
- Định hướng phát triển nông thôn thích ứng với biến đổi khí hậu như: Sử dụng các biện pháp tự nhiên như trồng rừng, mở rộng không gian để trữ, điều tiết và thấm nước; tăng cường giao thông thủy; xây dựng hình thái nhà ở và công trình thích ứng với lũ lụt, cải thiện không gian ở, không gian sinh hoạt cộng đồng truyền thống gắn với các không gian cảnh quan sản xuất đặc thù của địa phương tại khu dân cư vượt lũ; tập trung nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội nhằm đảm bảo chất lượng sống và điều kiện sản xuất cho người dân. Bảo tồn các làng nghề truyền thống, làng văn hóa, các cộng đồng thiểu số, kết hợp phát triển du lịch.
d) Định hướng phát triển công nghiệp:
- Tập trung phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản và thực phẩm theo hướng gắn với vùng sản xuất nguyên liệu, đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ. Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ nông nghiệp như sản phẩm hóa chất, cơ khí phục vụ nông nghiệp, thủy sản. Khuyến khích, thúc đẩy phát triển công nghiệp năng lượng sạch, năng lượng tái tạo được như năng lượng gió, mặt trời và sinh khối.
- Ưu tiên đầu tư phát triển và khai thác tối đa các khu công nghiệp đã được thành lập đến năm 2030, trong đó tăng cường các ngành công nghiệp chế biến và công nghiệp phụ trợ nông nghiệp, với tổng diện tích các khu công nghiệp tập trung là 15.000 - 17.000 ha, có thể đạt đến 20.000 - 24.000 ha sau năm 2030. Hạn chế mở rộng phát triển thêm các khu công nghiệp khi chưa đạt tỷ lệ lấp đầy cao tại các khu công nghiệp hiện hữu. Rà soát, đánh giá lại các khu công nghiệp đã thành lập nhưng chưa được đầu tư xây dựng để có kế hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đảm bảo sử dụng đất hiệu quả. Hạn chế các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường.
- Phân bố khu công nghiệp theo các khu vực trọng điểm cụ thể như sau:
+ Các khu công nghiệp đa ngành của vùng chủ yếu phân bổ tại các tỉnh Long An và Tiền Giang, thuộc khu vực tiếp giáp thành phố Hồ Chí Minh, với tổng diện tích khoảng 10.000 ha.
+ Trung tâm công nghiệp chế biến nông - thủy sản và năng lượng của vùng bố trí tại thành phố Cần Thơ với tổng diện tích các khu công nghiệp khoảng 1.500 - 1.800 ha, bao gồm các khu công nghiệp tại Trà Nóc, Ô Môn, Thốt Nốt.
+ Các trung tâm năng lượng, công nghiệp chế biến thủy hải sản với quy mô khoảng 2.000 - 2.400 ha phân bố chủ yếu tại tỉnh Cà Mau, Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang và Bạc Liêu được phát triển gắn với các trung tâm điện lực, điện gió và khu kinh tế biển.
+ Tại các tỉnh còn lại chủ yếu phát triển công nghiệp chế biến các sản phẩm nông - ngư nghiệp, công nghiệp phụ trợ nông nghiệp phục vụ địa phương.
- Các cụm công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ phục vụ nông nghiệp và các ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống, làng nghề, phát triển cân bằng dựa trên thế mạnh của địa phương về nông - lâm - ngư nghiệp, bảo vệ môi trường và sinh thái. Giữ gìn và gắn kết các làng nghề truyền thống với phát triển du lịch. Xây dựng hình thái không gian cụm công nghiệp và làng nghề thích ứng với các vùng sinh thái, đặc điểm cảnh quan và biến đổi khí hậu.
đ) Định hướng phát triển du lịch vùng:
Vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm du lịch quốc gia với các sản phẩm du lịch đa dạng, đặc thù của vùng sinh thái sông nước, biển đảo.
- Phát triển các khu du lịch, điểm du lịch cấp quốc gia, cấp vùng gắn với việc bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên (đồi núi, rừng, sông hồ...) và bảo tồn các giá trị văn hóa - lịch sử gồm: Khu du lịch quốc gia Phú Quốc, Năm Căn - Mũi Cà Mau, Tràm Chim - Láng Sen, Núi Sam, Thới Sơn; điểm du lịch quốc gia: Cù lao Ông Hổ, Khu lưu niệm Cao Văn Lầu, bến Ninh Kiều, Ao Bà Om, Hà Tiên, Văn Thánh Miếu...
- Các đô thị Cần Thơ, Phú Quốc và Mỹ Tho là trung tâm du lịch của toàn vùng, trong đó:
+ Thành phố Cần Thơ là trung tâm của không gian du lịch phía Tây, gồm các tỉnh, thành phố: An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Cần Thơ. Phát triển du lịch tham quan đất Mũi, Tây Đô; nghỉ dưỡng biển đảo; du lịch sinh thái; nghiên cứu tìm hiểu văn hóa, di tí lịch sử và lễ hội.
+ Thành phố Mỹ Tho là trung tâm của không gian du lịch phía Đông gồm các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh. Phát triển du lịch sông nước, miệt vườn; tham quan làng nghề, di tích lịch sử, cách mạng; du lịch cộng đồng.
- Thiết lập các tuyến du lịch cấp vùng trên cơ sở kết nối các di sản tự nhiên và văn hóa.
- Đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, đảm bảo liên kết giữa các vùng, khu và điểm du lịch trên địa bàn vùng...; hoàn thiện các trung tâm dịch vụ, cơ sở lưu trú, lữ hành kết nối với các vùng, khu, điểm du lịch trong vùng và các vùng lân cận khác, phát huy thế mạnh các sản phẩm đặc trưng của vùng.
e) Định hướng phát triển thương mại và dịch vụ:
- Phát triển trung tâm thương mại - dịch vụ - tài chính cấp vùng tại thành phố Cần Thơ trở thành đầu mối phân phối lưu thông hàng hóa giữa vùng đồng bằng sông Cửu Long với Thành phố Hồ Chí Minh và Vương quốc Campuchia, về hàng hóa nông sản như: Lúa gạo, thủy sản, trái cây,... Các trung tâm dịch vụ thương mại cấp tiểu vùng nằm tại các đô thị trọng điểm của tiểu vùng, các khu kinh tế biển và các khu kinh tế cửa khẩu.
- Các trung tâm dịch vụ nằm tại các đô thị trung tâm của các tiểu vùng như: Cần Thơ, Rạch Giá, Cà Mau, Bạc Liêu, Hồng Ngự, Hà Tiên,.., bao gồm các trung tâm nghiên cứu và phát triển sản phẩm nông nghiệp, các trung tâm dịch vụ hàng hóa, hỗ trợ sản xuất, xúc tiến thương mại gắn với các vùng sinh thái nông nghiệp.
- Phát triển các trung tâm dịch vụ kho vận cấp vùng tại thành phố Cần Thơ, phục vụ các tỉnh, thành phố Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau; tại Long An phục vụ các tỉnh Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre. Ngoài ra, hình thành các trung tâm dịch vụ kho vận gắn với cảng biển nước sâu của vùng.
- Các trung tâm thương mại chợ đầu mối: Tập trung phát triển tại các vùng sản xuất nông nghiệp - công nghiệp chế biến có quy mô - sản lượng lớn, thuận lợi trong kết nối với hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ; kết cấu gồm: Trung tâm giao dịch hàng hóa, trung tâm bán buôn, trung tâm phân phối, tổng kho đầu mối.
- Trung tâm của các khu kinh tế trong vùng gắn với các đô thị trọng điểm tại các tiểu vùng, gồm: Phú Quốc (đặc khu kinh tế Phú Quốc), Duyên Hải (khu kinh tế Định An), Năm Căn (khu kinh tế Năm Căn), Tân Châu, Tịnh Biên (khu kinh tế cửa khẩu An Giang), Hà Tiên (khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên), Hồng Ngự (khu kinh tế cửa khẩu Đồng Tháp) và Kiến Tường (khu kinh tế cửa khẩu Long An).
g) Định hướng phát triển nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo
- Hình thành các khu đại học tập trung với kết cấu hạ tầng đồng bộ. Ưu tiên dành quỹ đất mở rộng các trường theo tiêu chí trường chuẩn quốc gia và quốc tế. Các trường đại học có các ngành trọng điểm cho toàn vùng và cả nước như nông nghiệp, công nghệ thực phẩm và sinh học, kinh tế - kỹ thuật.
- Thành phố Cần Thơ là trung tâm đào tạo cấp quốc gia và vùng đồng bằng sông Cửu Long với Đại học Cần Thơ là đại học đa ngành trọng điểm cấp quốc gia và các trường đại học gắn với các ngành y tế, văn hóa, xã hội nhân văn, y tế, kỹ thuật - công nghệ. Tại các tiểu vùng, mạng lưới trường đại học được phân bố tại đô thị tỉnh lỵ của các tỉnh: Vĩnh Long, Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang và Bạc Liêu.
- Tập trung phát triển các trường cao đẳng cộng đồng, dạy nghề, y tế, sư phạm, kinh tế - kỹ thuật, kỹ thuật xây dựng được phân bố tại thành phố Cần Thơ và 12 tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long.
- Tiếp tục hình thành và phát triển các trung tâm nghiên cứu khoa học chuyên sâu cấp vùng và quốc gia tại thành phố Cần Thơ, tập trung vào các lĩnh vực nông nghiệp (cây ăn trái, lúa gạo, thủy sản), công nghệ sinh học, môi trường và biến đổi khí hậu. Hình thành trung tâm nghiên cứu đa dạng sinh học tại Phú Quốc hướng tới nghiên cứu bảo vệ các hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển đảo gắn với các hoạt động du lịch và giáo dục cộng đồng.
h) Định hướng phát triển y tế và văn hóa, thể dục thể thao
- Y tế:
+ Thành phố Cần Thơ có vai trò trung tâm y tế của vùng đồng bằng sông Cửu Long với sự tập trung của các bệnh viện đa khoa và bệnh viện chuyên khoa cấp vùng.
+ Các bệnh viện đa khoa tại các đô thị tỉnh lỵ tạo nên mạng lưới các trung tâm y tế tại địa phương, hỗ trợ cho trung tâm y tế cấp vùng tại thành phố Cần Thơ.
- Văn hóa, thể dục thể thao:
Thành phố Cần Thơ và các tỉnh trong vùng với nhiều nét văn hóa, lịch sử đặc trưng; tập trung nhiều công trình văn hóa, thể dục thể thao tầm cỡ vùng và quốc gia. Phát triển văn hóa, thể dục - thể thao theo hướng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc trở thành thương hiệu văn hóa - nghệ thuật của vùng. Hình thành các trung tâm thể dục thể thao cấp vùng tại thành phố Cần Thơ, Cao Lãnh, Tân An; các trung tâm văn hóa gắn với các di sản văn hóa nghệ thuật của vùng tại thành phố Cần Thơ, Bạc Liêu, Trà Vinh. Xây dựng và phát triển trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế tại thành phố Cần Thơ.
i) Định hướng phát triển nông, lâm nghiệp:
- Các vùng sản xuất chính phân bố theo ba vùng hình thái phát triển thích ứng biến đổi khí hậu - nước biển dâng:
+ Thủy sản nước ngọt và rừng tràm phân bố tại vùng ngập sâu (diện tích tự nhiên khoảng 600.000 ha), trên cơ sở hình thành các khu vực kiểm soát ngập và trữ nước ngọt bằng hệ thống đê:
+ Lúa gạo, rau và trái cây tại vùng giữa đồng bằng (diện tích tự nhiên khoảng 1,5 triệu ha);
+ Nuôi trồng thủy - hải sản kết hợp với phát triển rừng ngập mặn được tập trung tại vùng ven biển (diện tích tự nhiên khoảng 1,9 triệu ha).
- Các vùng rừng và bảo tồn cảnh quan sinh thái: Phục hồi và phát triển hệ thống rừng ngập mặn tại bán đảo Cà Mau, hành lang ven biển Đông và hành lang ven biển Tây, kết nối và gắn liền trong các khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang và Cà Mau; các khu vực rừng tràm tại Tây - Bắc bán đảo Cà Mau (khu vực U Minh Thượng - U Minh Hạ), vùng Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên; rừng sản xuất tại vùng Tây sông Hậu và Bắc Long An. Hình thành các hành lang sinh thái ven sông, kênh, kết nối bảo vệ các khu vực rừng tràm.
- Bảo tồn và phát triển Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang và Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau.
- Bảo tồn nghiêm ngặt hệ thống rừng đặc dụng (tổng diện tích 95.000 ha) theo Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
- Bảo tồn, phát triển và kết nối các vùng cây ăn trái khu vực sông Tiền sông Hậu, từ phía thượng nguồn đến giáp tiểu vùng ven biển Đông, đặc biệt thuộc các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang.