Document: Khoản 7 Điều 1 Quyết định 2659/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Bến Tre

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 7 Điều 1 Quyết định 2659/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Bến Tre

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Bến Tre đến năm 2020 với nội dung chính sau:
...
7. Các giải pháp phi công trình kết hợp chủ yếu thực hiện quy hoạch:
Cần xem công tác kế hoạch là khâu trung tâm của quản lý nhà nước trong việc định hướng sự phát triển theo mục tiêu quy hoạch. Cần đổi mới công tác kế hoạch của tỉnh theo các nội dung chính tăng cường công tác chuẩn bị đầu tư, bao gồm từ khâu lập chương trình, dự án theo mục tiêu quy hoạch đến tổ chức thực hiện các dự án đầu tư và giám sát thực hiện. Tăng cường năng lực của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về chức năng chủ trì, điều phối và tổ chức triển khai các hoạt động đầu tư, xét duyệt các dự án ưu đãi đầu tư.
Tăng cường công tác thống kê, dự báo và thông tin chính xác, kịp thời, không chỉ cho công tác quản lý nhà nước mà còn đối với các thành phần kinh tế liên quan. Công tác này cũng bao gồm việc công khai hoá, phổ biến rộng rãi các dự án quy hoạch, dự án đầu tư đã chắc chắn thành lập nhằm tạo ra một bầu không khí đồng thuận, hợp tác của toàn xã hội.
Hoàn chỉnh các quy hoạch chi tiết (quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch cơ sở hạ tầng…) và công khai cho toàn thể dân chúng biết để các nhà đầu tư và nhân dân yên tâm bỏ vốn sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng triển khai các dự án sản xuất với các quy mô thích hợp.
Chuẩn bị tốt các dự án phát triển, các chương trình đầu tư và danh mục công trình cụ thể để tranh thủ các nguồn tín dụng nước ngoài: ODA, vay với lãi suất ưu đãi của các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF, ADB… cũng như nhằm tích cực vận động kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cải thiện môi trường đầu tư, đơn giản hoá thủ tục hành chính trong việc thẩm định xét duyệt các dự án đầu tư nước ngoài nhằm rút ngắn thời gian cấp phép.
Xây dựng cơ chế tiết kiệm trong tiêu dùng để đầu tư cho sản xuất. Tăng dần tỷ lệ tích luỹ từ ngân sách để đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Nâng dần tỷ trọng đầu tư cho cơ sở hạ tầng trong cơ cấu chi ngân sách nhà nước. Có cơ chế khuyến khích mạnh các thành phần kinh tế đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật dưới dạng BOT trong nước hay tham gia góp vốn vào các dự án mà Nhà nước chủ trì. Tranh thủ các nguồn tín dụng quốc tế cho việc đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật.
Nhanh chóng cải tiến, đổi mới quản lý khoa học công nghệ từ việc tăng cường hệ thống tổ chức bộ máy đến quản lý hoạt động khoa học công nghệ theo Luật Khoa học công nghệ và theo sự hướng dẫn của Bộ. Đẩy mạnh các hoạt động thông tin tuyên truyền phổ cập kiến thức khoa học công nghệ rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân.
Có chính sách đãi ngộ cán bộ khoa học công nghệ kể cả người nước ngoài chuyển giao công nghệ hoặc về làm việc trong tỉnh. Đặc biệt khuyến khích cán bộ khoa học công nghệ về công tác ở vùng sâu, vùng xa. Mặt khác, tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ khoa học công nghệ, cán bộ quản lý để có được đội ngũ chuyên gia đầu đàn trong các ngành đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Công tác tuyên truyền, thông báo tình hình lũ lụt trên các phương tiện thông tin đại chúng (phát thanh, truyền hình, Internet...) cần phải được đẩy mạnh. Đặc biệt, cần phải đẩy mạnh công nghệ thông tin trong công tác phòng tránh thiên tai.
Chuyển đổi cơ cấu cây con để thích nghi với tình hình mặn ở những vùng khan hiếm nguồn nước. Vấn đề này đã được người dân ở nơi đây thực hiện trong thời gian vừa qua như thực hiện một vụ lúa, hoặc 1 lúa kết hợp với thuỷ sản. Tìm những loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, hay thích nghi với hoàn cảnh một mùa nước trời, một mùa mặn. Như vậy áp lực khan hiếm nước ngọt không còn là nỗi lo lớn.
Cần có sự thống nhất cao trong tổ chức, quản lý. Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện xây dựng kế hoạch đầu tư, giám sát xây dựng. Công tác thuỷ lợi cho Bến Tre phải phối hợp chặt chẽ với công tác thuỷ lợi của toàn đồng bằng sông Cửu Long, nếu có sự hợp tác của các nước thượng lưu thì vấn đề chia sẻ nguồn nước sẽ trở lên đơn giản và hữu hiệu. Do vậy, trong vấn đề sử dụng nguồn nước chúng ta cần phải tăng cường hợp tác với các tỉnh lân cận và nước thượng lưu thông qua Uỷ ban sông Mekong Việt Nam và Uỷ hội quốc tế sông Mekong.

Content:
Các giải pháp phi công trình kết hợp chủ yếu thực hiện quy hoạch:
Cần xem công tác kế hoạch là khâu trung tâm của quản lý nhà nước trong việc định hướng sự phát triển theo mục tiêu quy hoạch. Cần đổi mới công tác kế hoạch của tỉnh theo các nội dung chính tăng cường công tác chuẩn bị đầu tư, bao gồm từ khâu lập chương trình, dự án theo mục tiêu quy hoạch đến tổ chức thực hiện các dự án đầu tư và giám sát thực hiện. Tăng cường năng lực của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về chức năng chủ trì, điều phối và tổ chức triển khai các hoạt động đầu tư, xét duyệt các dự án ưu đãi đầu tư.
Tăng cường công tác thống kê, dự báo và thông tin chính xác, kịp thời, không chỉ cho công tác quản lý nhà nước mà còn đối với các thành phần kinh tế liên quan. Công tác này cũng bao gồm việc công khai hoá, phổ biến rộng rãi các dự án quy hoạch, dự án đầu tư đã chắc chắn thành lập nhằm tạo ra một bầu không khí đồng thuận, hợp tác của toàn xã hội.
Hoàn chỉnh các quy hoạch chi tiết (quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch cơ sở hạ tầng…) và công khai cho toàn thể dân chúng biết để các nhà đầu tư và nhân dân yên tâm bỏ vốn sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng triển khai các dự án sản xuất với các quy mô thích hợp.
Chuẩn bị tốt các dự án phát triển, các chương trình đầu tư và danh mục công trình cụ thể để tranh thủ các nguồn tín dụng nước ngoài: ODA, vay với lãi suất ưu đãi của các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF, ADB… cũng như nhằm tích cực vận động kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cải thiện môi trường đầu tư, đơn giản hoá thủ tục hành chính trong việc thẩm định xét duyệt các dự án đầu tư nước ngoài nhằm rút ngắn thời gian cấp phép.
Xây dựng cơ chế tiết kiệm trong tiêu dùng để đầu tư cho sản xuất. Tăng dần tỷ lệ tích luỹ từ ngân sách để đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Nâng dần tỷ trọng đầu tư cho cơ sở hạ tầng trong cơ cấu chi ngân sách nhà nước. Có cơ chế khuyến khích mạnh các thành phần kinh tế đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật dưới dạng BOT trong nước hay tham gia góp vốn vào các dự án mà Nhà nước chủ trì. Tranh thủ các nguồn tín dụng quốc tế cho việc đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật.
Nhanh chóng cải tiến, đổi mới quản lý khoa học công nghệ từ việc tăng cường hệ thống tổ chức bộ máy đến quản lý hoạt động khoa học công nghệ theo Luật Khoa học công nghệ và theo sự hướng dẫn của Bộ. Đẩy mạnh các hoạt động thông tin tuyên truyền phổ cập kiến thức khoa học công nghệ rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân.
Có chính sách đãi ngộ cán bộ khoa học công nghệ kể cả người nước ngoài chuyển giao công nghệ hoặc về làm việc trong tỉnh. Đặc biệt khuyến khích cán bộ khoa học công nghệ về công tác ở vùng sâu, vùng xa. Mặt khác, tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ khoa học công nghệ, cán bộ quản lý để có được đội ngũ chuyên gia đầu đàn trong các ngành đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Công tác tuyên truyền, thông báo tình hình lũ lụt trên các phương tiện thông tin đại chúng (phát thanh, truyền hình, Internet...) cần phải được đẩy mạnh. Đặc biệt, cần phải đẩy mạnh công nghệ thông tin trong công tác phòng tránh thiên tai.
Chuyển đổi cơ cấu cây con để thích nghi với tình hình mặn ở những vùng khan hiếm nguồn nước. Vấn đề này đã được người dân ở nơi đây thực hiện trong thời gian vừa qua như thực hiện một vụ lúa, hoặc 1 lúa kết hợp với thuỷ sản. Tìm những loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, hay thích nghi với hoàn cảnh một mùa nước trời, một mùa mặn. Như vậy áp lực khan hiếm nước ngọt không còn là nỗi lo lớn.
Cần có sự thống nhất cao trong tổ chức, quản lý. Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện xây dựng kế hoạch đầu tư, giám sát xây dựng. Công tác thuỷ lợi cho Bến Tre phải phối hợp chặt chẽ với công tác thuỷ lợi của toàn đồng bằng sông Cửu Long, nếu có sự hợp tác của các nước thượng lưu thì vấn đề chia sẻ nguồn nước sẽ trở lên đơn giản và hữu hiệu. Do vậy, trong vấn đề sử dụng nguồn nước chúng ta cần phải tăng cường hợp tác với các tỉnh lân cận và nước thượng lưu thông qua Uỷ ban sông Mekong Việt Nam và Uỷ hội quốc tế sông Mekong.