Document: Điểm c Khoản 6 Điều 1 Quyết định 3828/QĐ-UBND duyệt quy hoạch phát triển ngành văn hóa Quảng Bình 2015

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "29/12/2015", "sign_number": "3828/QĐ-UBND", "signer": "Trần Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "29/12/2015", "sign_number": "3828/QĐ-UBND", "signer": "Trần Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "29/12/2015", "sign_number": "3828/QĐ-UBND", "signer": "Trần Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "29/12/2015", "sign_number": "3828/QĐ-UBND", "signer": "Trần Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "29/12/2015", "sign_number": "3828/QĐ-UBND", "signer": "Trần Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 6 Điều 1 Quyết định 3828/QĐ-UBND duyệt quy hoạch phát triển ngành văn hóa Quảng Bình 2015

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Văn hóa tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 với những nội dung chính như sau:
...
6. Nội dung quy hoạch
6.1. Định hướng không gian phát triển ngành Văn hóa tỉnh Quảng Bình
6.1.1. Khu vực đồng bằng, ven biển
Phát triển sự nghiệp văn hóa vùng đồng bằng ven biển phù hợp với mức độ phát triển kinh tế, xã hội. Tập trung khai thác thế mạnh di sản văn hóa ở khu vực đồng bằng ven biển, kết hợp với phát triển ngành du lịch và dịch vụ văn hóa. Phát triển đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở vùng đồng bằng ven biển nhằm nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của người dân.
Xây dựng thành phố Đồng Hới thành trung tâm văn hóa lớn của tỉnh. Khuyến khích phát triển thị trường sản phẩm văn hóa, hoạt động sáng tạo văn học nghệ thuật, hoạt động biểu diễn nghệ thuật, các hoạt động văn hóa nghệ thuật mới. Xây dựng đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa ở các khu công nghiệp, khu kinh tế.
Tiếp tục đầu tư xây dựng mới, cải tạo và nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa cấp huyện như Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao huyện, Thư viện huyện, Rạp chiếu phim và các công trình văn hóa khác đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
6.1.2.
Khu vực miền núi
Vận động nhân dân xây dựng đời sống văn hóa làm cơ sở xây dựng, phát triển khối đại đoàn kết dân tộc. Nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, thu hẹp mức chênh lệch về hưởng thụ văn hóa với khu vực đồng bằng, ven biển. Bảo tồn và phát huy các giá trị, các di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số. Xây dựng và sử dụng hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa các cấp.
6.2. Tổ chức bộ máy
Xem xét sắp xếp lại mạng lưới các đơn vị sự nghiệp văn hóa cấp tỉnh, cấp huyện để phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Trong đó, xem xét hợp nhất, giải thể một số đơn vị đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ hoặc hoạt động kém hiệu quả.
6.3. Phát triển nguồn nhân lực
Xây dựng và triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Văn hóa, nhất là đội ngũ cán bộ thuộc diện quy hoạch về tư tưởng chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức lối sống. Tạo điều kiện cho công chức, viên chức ngành Văn hóa học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị.
Tăng cường về số lượng đội ngũ cán bộ ngành Văn hóa, nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở, ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cán bộ ngành là người dân tộc thiểu số. Có chính sách đảm bảo sự ổn định trong công tác của đội ngũ cán bộ văn hóa, nhất là cán bộ cơ sở.
Đến năm 2020, số lượng cán bộ ngành Văn hóa ở cấp tỉnh, cấp huyện cơ bản giữ nguyên số lượng như hiện nay. Tại các xã, phường, thị trấn đảm bảo có ít nhất 01 công chức xã chuyên trách về công tác văn hóa và 01 cán bộ bán chuyên trách phụ trách Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã, Trạm truyền thanh xã.
Về trình độ chuyên môn, 100% số cán bộ ngành văn hóa ở cấp tỉnh có trình độ đào tạo đại học, cao đẳng trở lên, trong đó có trên 10% số cán bộ có trình độ đào tạo sau đại học. Đối với các huyện, thành phố vùng đồng bằng, ven biển, có trên 80% số cán bộ có trình độ đào tạo đại học, cao đẳng; đối với các huyện miền núi, có trên 70% số cán bộ ngành có trình độ đào tạo đại học, cao đẳng. Có 80%-90% số cán bộ văn hóa xã (chuyên trách) xã, phường, thị trấn có trình độ đào tạo cao đẳng chuyên ngành trở lên. Phấn đấu có 50%-60% số cán bộ phụ trách Nhà văn hóa-Khu thể thao thôn, bản, khu phố được tham gia các lớp, khóa tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên ngành Văn hóa.
Về cơ cấu cán bộ nghiệp vụ ngành Văn hóa đảm bảo 10% số cán bộ làm quản lý, 75% cán bộ chuyên môn nghiệp vụ và 15% cán bộ nghệ thuật. Cơ cấu cán bộ ngành văn hóa theo địa bàn đảm bảo: 20% cán bộ cấp tỉnh, 40% cán bộ cấp huyện và 40% cán bộ cấp xã, cơ sở.
Việc đảm bảo số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ ngành Văn hóa là yếu tố cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển; để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn và đa dạng của xã hội, cần đẩy mạnh công tác xã hội hóa, khuyến khích sự tham gia của xã hội trong việc quản lý, tổ chức các hoạt động văn hóa, nhất là đối với các thiết chế xã hội hóa như các di tích lịch sử văn hóa, các khu vui chơi, giải trí, nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng thôn, bản, khu phố.
Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc ngành Văn hoá phải căn cứ vào tiêu chuẩn của từng ngạch, chức danh cán bộ, công chức, quy hoạch, kế hoạch xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức của cơ quan, đơn vị và nhu cầu đào tạo bồi dưỡng của cán bộ, công chức, viên chức phục vụ cho thực hiện công vụ và nhiệm vụ được giao.
Triển khai rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, đảm bảo tổ chức bộ máy ngành tinh gọn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương; phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
6.4. Phát triển hệ thống thiết chế văn hoá
6.4.1. Hệ thống thiết chế văn hoá
Quá trình xây dựng, củng cố, nâng cấp hệ thống thiết chế văn hoá trong những năm tới cần bám sát các quy chuẩn do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành; bám sát kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hàng năm, từng giai đoạn phát triển của địa phương; các công trình văn hoá ở từng địa phương phải tiêu biểu cho bản sắc văn hoá từng vùng và thuận tiện cho nhân dân tham gia các hoạt động văn hoá; có trang thiết bị chuyên dùng đồng bộ, phù hợp yêu cầu phục vụ cho các hoạt động tại chỗ và lưu động.
Đối với các thiết chế văn hóa cấp tỉnh, xây dựng theo hướng chuyên môn hóa (Thư viện, Bảo tàng, Trung tâm Văn hóa, Nhà hát Nghệ thuật truyền thống); đối với các thiết chế văn hóa cấp huyện xây dựng theo hướng đa năng, tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, thư viện, phòng truyền thống,...
Thực hiện xã hội hóa trong xây dựng và phát triển hệ thống thiết chế văn hóa.
Đối với các thiết chế văn hóa ở địa bàn đặc biệt khó khăn, Nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí xây dựng cơ bản, đầu tư trang thiết bị.
...
c) Đối với hệ thống cơ sở vật chất văn hoá cấp xã
Thiết chế Văn hóa cấp xã chủ yếu là Trung tâm Văn hóa-Thể thao cấp xã do UBND xã, phường, thị trấn thành lập trên cơ sở hợp nhất các cơ sở hiện có, hoặc xây mới. Trong đó, trạm truyền thanh xã có thể lập cơ sở riêng trực thuộc UBND xã, phường, thị trấn.
Hệ thống Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã, phường, thị trấn cần xây dựng theo chuẩn do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định, tại vị trí trung tâm của địa phương để thuận lợi cho các hoạt động. Cơ sở vật chất bao gồm hội trường đa năng từ 200 chỗ ngồi đến 300 chỗ ngồi, có sân khấu sử dụng cho hội họp, biểu diễn nghệ thuật, tổ chức sinh hoạt văn hoá quần chúng thường niên (2 huyện miền núi Tuyên Hoá và Minh Hoá có thể có quy mô nhỏ hơn); khu vui chơi giải trí ngoài trời phục vụ nhiều đối tượng.
Trong những năm tới, về cơ bản cần sử dụng hội trường của UBND cấp xã làm hội trường đa năng của Nhà Văn hóa xã; sử dụng tối đa cơ sở vật chất hiện có để cấu thành Trung tâm Văn hóa, Thể thao xã theo nguyên tắc tiết kiệm kinh phí đầu tư mới, tránh lãng phí các cơ sở vật chất hiện có.

Content:
Đối với hệ thống cơ sở vật chất văn hoá cấp xã
Thiết chế Văn hóa cấp xã chủ yếu là Trung tâm Văn hóa-Thể thao cấp xã do UBND xã, phường, thị trấn thành lập trên cơ sở hợp nhất các cơ sở hiện có, hoặc xây mới. Trong đó, trạm truyền thanh xã có thể lập cơ sở riêng trực thuộc UBND xã, phường, thị trấn.
Hệ thống Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã, phường, thị trấn cần xây dựng theo chuẩn do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định, tại vị trí trung tâm của địa phương để thuận lợi cho các hoạt động. Cơ sở vật chất bao gồm hội trường đa năng từ 200 chỗ ngồi đến 300 chỗ ngồi, có sân khấu sử dụng cho hội họp, biểu diễn nghệ thuật, tổ chức sinh hoạt văn hoá quần chúng thường niên (2 huyện miền núi Tuyên Hoá và Minh Hoá có thể có quy mô nhỏ hơn); khu vui chơi giải trí ngoài trời phục vụ nhiều đối tượng.
Trong những năm tới, về cơ bản cần sử dụng hội trường của UBND cấp xã làm hội trường đa năng của Nhà Văn hóa xã; sử dụng tối đa cơ sở vật chất hiện có để cấu thành Trung tâm Văn hóa, Thể thao xã theo nguyên tắc tiết kiệm kinh phí đầu tư mới, tránh lãng phí các cơ sở vật chất hiện có.