Document: Khoản 3 Điều 14 Thông tư 14/2023/TT-BCA quy trình công nhận chế độ ưu đãi người có công với cách mạng mới nhất

Type: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "20/04/2023", "sign_number": "14/2023/TT-BCA", "signer": "Tô Lâm", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "20/04/2023", "sign_number": "14/2023/TT-BCA", "signer": "Tô Lâm", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "20/04/2023", "sign_number": "14/2023/TT-BCA", "signer": "Tô Lâm", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "20/04/2023", "sign_number": "14/2023/TT-BCA", "signer": "Tô Lâm", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "20/04/2023", "sign_number": "14/2023/TT-BCA", "signer": "Tô Lâm", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 14 Thông tư 14/2023/TT-BCA quy trình công nhận chế độ ưu đãi người có công với cách mạng mới nhất

Điều 14. Quy trình tiếp nhận hồ sơ, đề nghị công nhận thương binh đối với người bị thương trong chiến tranh đang công tác trong Công an nhân dân
...
3. Công an đơn vị, địa phương trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ do Công an cấp huyện hoặc tương đương chuyển đến, có trách nhiệm kiểm tra, xét duyệt hồ sơ. Trường hợp khi bị thương, người bị thương công tác ở Công an đơn vị, địa phương khác thì phối hợp xác minh, thu thập tài liệu, giấy tờ có liên quan đến trường hợp bị thương của người bị thương (nếu cần thiết). Tổ chức họp xem xét đề nghị công nhận thương binh do lãnh đạo Công an đơn vị, địa phương chủ trì, các thành viên gồm: Đại diện đơn vị tổ chức cán bộ, y tế (nếu có), Công an đơn vị, địa phương nơi cán bộ, chiến sĩ công tác khi bị thương; lập biên bản cuộc họp. Trường hợp có căn cứ đề nghị công nhận thương binh thì cấp giấy chứng nhận bị thương theo Mẫu số 35 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP và có văn bản kèm hồ sơ đề nghị gửi đến Cục Tổ chức cán bộ để thẩm định.
Đối với trường hợp các giấy tờ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 76 Nghị định số 131/2021/NĐ-CP không ghi nhận các vết thương cụ thể hoặc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 76 Nghị định số 131/2021/NĐ-CP có khai thêm các vết thương khác, Công an cấp tỉnh nơi quản lý người bị thương phối hợp, chỉ đạo cơ quan y tế (bệnh viện, bệnh xá thuộc Công an cấp tỉnh) thành lập Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể để kiểm tra và lập biên bản kiểm tra vết thương thực thể theo Mẫu số 46 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP trước khi cấp giấy chứng nhận bị thương. Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể do Giám đốc Bệnh viện Công an cấp tỉnh (hoặc Trưởng phòng Hậu cần nếu Công an cấp tỉnh không có bệnh viện) làm Chủ tịch Hội đồng, các thành viên gồm: lãnh đạo Phòng Tổ chức cán bộ; bác sĩ chuyên khoa I thuộc Bệnh viện Công an cấp tỉnh hoặc Bệnh xá trưởng; lãnh đạo Đội Chính sách, Phòng Tổ chức cán bộ; Giám định viên pháp y (nếu thấy cần thiết). Trường hợp người bị thương đang công tác tại đơn vị thuộc cơ quan Bộ thì đơn vị có văn bản đề nghị bệnh viện thuộc Bộ Công an và Hội đồng giám định y khoa Bộ Công an phối hợp thành lập Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể để kiểm tra và lập biên bản kiểm tra vết thương thực thể. Chủ tịch Hội đồng giám định y khoa Bộ Công an làm Chủ tịch Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể. Các thành viên Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể do Chủ tịch hội đồng quyết định.

Content:
Công an đơn vị, địa phương trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ do Công an cấp huyện hoặc tương đương chuyển đến, có trách nhiệm kiểm tra, xét duyệt hồ sơ. Trường hợp khi bị thương, người bị thương công tác ở Công an đơn vị, địa phương khác thì phối hợp xác minh, thu thập tài liệu, giấy tờ có liên quan đến trường hợp bị thương của người bị thương (nếu cần thiết). Tổ chức họp xem xét đề nghị công nhận thương binh do lãnh đạo Công an đơn vị, địa phương chủ trì, các thành viên gồm: Đại diện đơn vị tổ chức cán bộ, y tế (nếu có), Công an đơn vị, địa phương nơi cán bộ, chiến sĩ công tác khi bị thương; lập biên bản cuộc họp. Trường hợp có căn cứ đề nghị công nhận thương binh thì cấp giấy chứng nhận bị thương theo Mẫu số 35 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP và có văn bản kèm hồ sơ đề nghị gửi đến Cục Tổ chức cán bộ để thẩm định.
Đối với trường hợp các giấy tờ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 76 Nghị định số 131/2021/NĐ-CP không ghi nhận các vết thương cụ thể hoặc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 76 Nghị định số 131/2021/NĐ-CP có khai thêm các vết thương khác, Công an cấp tỉnh nơi quản lý người bị thương phối hợp, chỉ đạo cơ quan y tế (bệnh viện, bệnh xá thuộc Công an cấp tỉnh) thành lập Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể để kiểm tra và lập biên bản kiểm tra vết thương thực thể theo Mẫu số 46 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP trước khi cấp giấy chứng nhận bị thương. Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể do Giám đốc Bệnh viện Công an cấp tỉnh (hoặc Trưởng phòng Hậu cần nếu Công an cấp tỉnh không có bệnh viện) làm Chủ tịch Hội đồng, các thành viên gồm: lãnh đạo Phòng Tổ chức cán bộ; bác sĩ chuyên khoa I thuộc Bệnh viện Công an cấp tỉnh hoặc Bệnh xá trưởng; lãnh đạo Đội Chính sách, Phòng Tổ chức cán bộ; Giám định viên pháp y (nếu thấy cần thiết). Trường hợp người bị thương đang công tác tại đơn vị thuộc cơ quan Bộ thì đơn vị có văn bản đề nghị bệnh viện thuộc Bộ Công an và Hội đồng giám định y khoa Bộ Công an phối hợp thành lập Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể để kiểm tra và lập biên bản kiểm tra vết thương thực thể. Chủ tịch Hội đồng giám định y khoa Bộ Công an làm Chủ tịch Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể. Các thành viên Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể do Chủ tịch hội đồng quyết định.