Document: Điều 3 Nghị định 78-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Ban thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "31/05/1963", "sign_number": "78-CP", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "31/05/1963", "sign_number": "78-CP", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "31/05/1963", "sign_number": "78-CP", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "31/05/1963", "sign_number": "78-CP", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "31/05/1963", "sign_number": "78-CP", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 3 Nghị định 78-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Ban thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nội dung như sau:

Điều 3. – Ban Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quyền hạn như sau:
1. Khi thanh tra việc chấp hành những chủ trương, chính sách, chế độ nào đó trong một cơ quan, đơn vị sự nghiệp, xí nghiệp, hoặc khi trực tiếp xét một việc khiếu tố, Ban Thanh tra nhận xét, kết luận về ưu, khuyết điểm trong công tác của cơ quan, đơn vị hữu quan về việc ấy, đề ra kiến nghị để cơ quan, đơn vị đó sửa chữa khuyết điểm, đồng thời báo cho cấp trên của cơ quan, đơn vị đó biết.
Cơ quan, đơn vị được thanh tra có trách nhiệm nghiên cứu những kiến nghị của Ban Thanh tra, thi hành các biện pháp để sửa chữa khuyết điểm của mình và báo cáo kết quả việc sửa chữa cho Ban Thanh tra theo thời gian mà Ban Thanh tra đề ra trong kiến nghị; nếu không đồng ý với những kiến nghị ấy, thì phải báo ngay cho Ban Thanh tra biết để trình lên cấp trên có thẩm quyền giải quyết.
2. Khi cần thiết, Ban Thanh tra có thể tổ chức thẩm tra lại nhằm đôn đốc cơ quan, đơn vị được thanh tra thi hành tốt các kiến nghị đã đề ra.
3. Đối với những tổ chức hay cá nhân có thành tích, gương mẫu trong việc chấp hành chủ trương, chính sách, chế độ của Nhà nước, đáng được khen thưởng, cũng như đối với những tổ chức hay cá nhân phạm lỗi hoặc vi phạm pháp luật Nhà nước cần xử lý, Ban Thanh tra đề nghị lên cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
4. Trong khi thanh tra các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, xí nghiệp do chính quyền địa phương quản lý, Ban Thanh tra có quyền tạm thời đình chỉ những việc đang gây, hoặc sắp gây thiệt hại lớn cho tài sản Nhà nước và quyền lợi của nhân dân; tạm thời đình chỉ công tác của cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước phạm lỗi nặng thuộc phạm vi quản lý của địa phương đồng thời báo cáo ngay với Ủy ban hành chính.
5. Trong khi thanh tra, Ban Thanh tra có quyền yêu cầu các cán bộ, công nhân; viên chức của cơ quan, đơn vị được thanh tra báo tình hình, cung cấp tài liệu, sổ sách cần thiết cho công tác thanh tra; yêu cầu cơ quan; đơn vị đó hoặc cơ quan hữu quan khác cử cán bộ tham gia công tác thanh tra. Trong thời gian thanh tra, số cán bộ này thuộc sự chỉ đạo của Ban Thanh tra.
Ban Thanh tra có quyền triệu tập hoặc đề nghị Ủy ban hành chính triệu tập các cuộc hội nghị cần thiết cho công tác thanh tra; có quyền tham dự các cuộc hội nghị có liên quan đến công tác thanh tra.

Content:
Điều 3. – Ban Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quyền hạn như sau:
1. Khi thanh tra việc chấp hành những chủ trương, chính sách, chế độ nào đó trong một cơ quan, đơn vị sự nghiệp, xí nghiệp, hoặc khi trực tiếp xét một việc khiếu tố, Ban Thanh tra nhận xét, kết luận về ưu, khuyết điểm trong công tác của cơ quan, đơn vị hữu quan về việc ấy, đề ra kiến nghị để cơ quan, đơn vị đó sửa chữa khuyết điểm, đồng thời báo cho cấp trên của cơ quan, đơn vị đó biết.
Cơ quan, đơn vị được thanh tra có trách nhiệm nghiên cứu những kiến nghị của Ban Thanh tra, thi hành các biện pháp để sửa chữa khuyết điểm của mình và báo cáo kết quả việc sửa chữa cho Ban Thanh tra theo thời gian mà Ban Thanh tra đề ra trong kiến nghị; nếu không đồng ý với những kiến nghị ấy, thì phải báo ngay cho Ban Thanh tra biết để trình lên cấp trên có thẩm quyền giải quyết.
2. Khi cần thiết, Ban Thanh tra có thể tổ chức thẩm tra lại nhằm đôn đốc cơ quan, đơn vị được thanh tra thi hành tốt các kiến nghị đã đề ra.
3. Đối với những tổ chức hay cá nhân có thành tích, gương mẫu trong việc chấp hành chủ trương, chính sách, chế độ của Nhà nước, đáng được khen thưởng, cũng như đối với những tổ chức hay cá nhân phạm lỗi hoặc vi phạm pháp luật Nhà nước cần xử lý, Ban Thanh tra đề nghị lên cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
4. Trong khi thanh tra các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, xí nghiệp do chính quyền địa phương quản lý, Ban Thanh tra có quyền tạm thời đình chỉ những việc đang gây, hoặc sắp gây thiệt hại lớn cho tài sản Nhà nước và quyền lợi của nhân dân; tạm thời đình chỉ công tác của cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước phạm lỗi nặng thuộc phạm vi quản lý của địa phương đồng thời báo cáo ngay với Ủy ban hành chính.
5. Trong khi thanh tra, Ban Thanh tra có quyền yêu cầu các cán bộ, công nhân; viên chức của cơ quan, đơn vị được thanh tra báo tình hình, cung cấp tài liệu, sổ sách cần thiết cho công tác thanh tra; yêu cầu cơ quan; đơn vị đó hoặc cơ quan hữu quan khác cử cán bộ tham gia công tác thanh tra. Trong thời gian thanh tra, số cán bộ này thuộc sự chỉ đạo của Ban Thanh tra.
Ban Thanh tra có quyền triệu tập hoặc đề nghị Ủy ban hành chính triệu tập các cuộc hội nghị cần thiết cho công tác thanh tra; có quyền tham dự các cuộc hội nghị có liên quan đến công tác thanh tra.