Document: Điều 30 Nghị định 139/2004/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý bảo vệ rừng lâm sản

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "25/06/2004", "sign_number": "139/2004/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "25/06/2004", "sign_number": "139/2004/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "25/06/2004", "sign_number": "139/2004/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "25/06/2004", "sign_number": "139/2004/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "25/06/2004", "sign_number": "139/2004/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 30 Nghị định 139/2004/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý bảo vệ rừng lâm sản có nội dung như sau:

Điều 30. Quyết định xử phạt:
1. Sau khi xác định hành vi, mức độ vi phạm, người có thẩm quyền xử phạt phải căn cứ vào các yếu tố quy định tại các khoản 1, 3 Điều 3 của Nghị định này để xem xét, quyết định hình thức và mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm.
2. Cách xác định mức tiền phạt.
a. Mức tiền phạt trung bình là trường hợp vi phạm hành chính không có tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng; được xác định bằng cách lấy mức cao nhất cộng với mức thấp nhất đối với mỗi hành vi vi phạm rồi chia đôi.
b. Trường hợp vi phạm hành chính mà mức tiền phạt quy định theo m2, m3, cây, 100.000 đồng giá trị lâm sản thì cách tính như mục a khoản 2 của Điều này, sau đó nhân với diện tích hoặc khối lượng hoặc số cây hoặc giá trị lâm sản vi phạm.
Trường hợp người vi phạm có tình tiết giảm nhẹ hoặc tình tiết tăng nặng thì tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà giảm hoặc tăng so với mức trung bình nêu trên nhưng không được giảm thấp hơn mức thấp nhất của khung tiền phạt nhân với diện tích hoặc khối lượng hoặc số cây hoặc giá trị lâm sản vi phạm hoặc không được tăng quá mức cao nhất của khung tiền phạt nhân với diện tích hoặc khối lượng hoặc số cây hoặc giá trị lâm sản vi phạm.
3. Việc quyết định xử phạt, áp dụng các thủ tục xử phạt quy định tại các Điều 56, 57 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
Thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày, kể từ ngày lập biên bản về vi phạm hành chính; đối với vụ vi phạm hành chính có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn ra quyết định xử phạt không quá 30 ngày. Trong trường hợp xét thấy cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải làm văn bản báo cáo lên Thủ trưởng trực tiếp của mình để xin gia hạn; thời hạn gia hạn không quá 30 ngày. Việc gia hạn quy định như sau:
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm gia hạn đề nghị của Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm thuộc Hạt.
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm gia hạn đề nghị của Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, Hạt trưởng Hạt Phúc kiểm lâm sản, Trạm trưởng Trạm Phúc kiểm lâm sản trực thuộc Chi cục Kiểm lâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện gia hạn đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh gia hạn đề nghị của Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn gia hạn đề nghị của Cục trưởng Cục Kiểm lâm.
Thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa không quá 60 ngày. Quá thời hạn trên thì người có thẩm quyền xử phạt không được ra quyết định xử phạt nhưng vẫn có thể áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 3 Điều 5 của Nghị định này.
4. Trường hợp biện pháp xử phạt bổ sung (tước các loại giấy phép như: Giấy phép lái xe, Giấy phép sử dụng súng săn, thu hồi đăng ký kinh doanh...) thuộc thẩm quyền của cơ quan khác, thì trong thời hạn 10 ngày (kể từ ngày quyết định xử phạt), người có thẩm quyền xử phạt hành chính phải chuyển cho cơ quan có thẩm quyền bản sao y biên bản vi phạm, quyết định xử phạt vi phạm hành chính cùng bản chính các loại giấy phép trên kèm theo văn bản đề nghị để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử lý. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị và giấy tờ kèm theo, cơ quan có thẩm quyền tước hoặc thu hồi các giấy phép trên phải ra quyết định xử lý và thông báo cho cơ quan chuyển giao hồ sơ, cơ quan cấp các loại giấy phép đó biết.

Content:
Điều 30. Quyết định xử phạt:
1. Sau khi xác định hành vi, mức độ vi phạm, người có thẩm quyền xử phạt phải căn cứ vào các yếu tố quy định tại các khoản 1, 3 Điều 3 của Nghị định này để xem xét, quyết định hình thức và mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm.
2. Cách xác định mức tiền phạt.
a. Mức tiền phạt trung bình là trường hợp vi phạm hành chính không có tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng; được xác định bằng cách lấy mức cao nhất cộng với mức thấp nhất đối với mỗi hành vi vi phạm rồi chia đôi.
b. Trường hợp vi phạm hành chính mà mức tiền phạt quy định theo m2, m3, cây, 100.000 đồng giá trị lâm sản thì cách tính như mục a khoản 2 của Điều này, sau đó nhân với diện tích hoặc khối lượng hoặc số cây hoặc giá trị lâm sản vi phạm.
Trường hợp người vi phạm có tình tiết giảm nhẹ hoặc tình tiết tăng nặng thì tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà giảm hoặc tăng so với mức trung bình nêu trên nhưng không được giảm thấp hơn mức thấp nhất của khung tiền phạt nhân với diện tích hoặc khối lượng hoặc số cây hoặc giá trị lâm sản vi phạm hoặc không được tăng quá mức cao nhất của khung tiền phạt nhân với diện tích hoặc khối lượng hoặc số cây hoặc giá trị lâm sản vi phạm.
3. Việc quyết định xử phạt, áp dụng các thủ tục xử phạt quy định tại các Điều 56, 57 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
Thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày, kể từ ngày lập biên bản về vi phạm hành chính; đối với vụ vi phạm hành chính có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn ra quyết định xử phạt không quá 30 ngày. Trong trường hợp xét thấy cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải làm văn bản báo cáo lên Thủ trưởng trực tiếp của mình để xin gia hạn; thời hạn gia hạn không quá 30 ngày. Việc gia hạn quy định như sau:
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm gia hạn đề nghị của Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm thuộc Hạt.
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm gia hạn đề nghị của Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, Hạt trưởng Hạt Phúc kiểm lâm sản, Trạm trưởng Trạm Phúc kiểm lâm sản trực thuộc Chi cục Kiểm lâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện gia hạn đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh gia hạn đề nghị của Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn gia hạn đề nghị của Cục trưởng Cục Kiểm lâm.
Thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa không quá 60 ngày. Quá thời hạn trên thì người có thẩm quyền xử phạt không được ra quyết định xử phạt nhưng vẫn có thể áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 3 Điều 5 của Nghị định này.
4. Trường hợp biện pháp xử phạt bổ sung (tước các loại giấy phép như: Giấy phép lái xe, Giấy phép sử dụng súng săn, thu hồi đăng ký kinh doanh...) thuộc thẩm quyền của cơ quan khác, thì trong thời hạn 10 ngày (kể từ ngày quyết định xử phạt), người có thẩm quyền xử phạt hành chính phải chuyển cho cơ quan có thẩm quyền bản sao y biên bản vi phạm, quyết định xử phạt vi phạm hành chính cùng bản chính các loại giấy phép trên kèm theo văn bản đề nghị để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử lý. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị và giấy tờ kèm theo, cơ quan có thẩm quyền tước hoặc thu hồi các giấy phép trên phải ra quyết định xử lý và thông báo cho cơ quan chuyển giao hồ sơ, cơ quan cấp các loại giấy phép đó biết.