Document: Điểm b Khoản 3 Điều 1 Thông tư 3-TS/TT sửa đổi điều lệ hợp tác xã thuỷ sản

Type: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ sản", "promulgation_date": "19/03/1987", "sign_number": "3-TS/TT", "signer": "Võ Văn Trác", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ sản", "promulgation_date": "19/03/1987", "sign_number": "3-TS/TT", "signer": "Võ Văn Trác", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ sản", "promulgation_date": "19/03/1987", "sign_number": "3-TS/TT", "signer": "Võ Văn Trác", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ sản", "promulgation_date": "19/03/1987", "sign_number": "3-TS/TT", "signer": "Võ Văn Trác", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ sản", "promulgation_date": "19/03/1987", "sign_number": "3-TS/TT", "signer": "Võ Văn Trác", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điểm b Khoản 3 Điều 1 Thông tư 3-TS/TT sửa đổi điều lệ hợp tác xã thuỷ sản

Điều 1. 9 mới chương 4 của Điều lệ Hợp tác xã Thuỷ sản: "Mọi người khi vào hợp tác xã có tư liệu sản xuất cần thiết cho nghề cá đều được định giá thành tiền và được tập thể hoá.
...
3. Huy động xã viên đóng thêm cổ phần định mức.
Việc xác định mức cổ phần trong các hợp tác xã nghề cá trước đây nói chung quá thấp so với yêu cầu sản xuất. Mấy năm gần đây nhiều hợp tác xã đã huy động xã viên đóng thêm cổ phần, nhưng do tình hình biến động về giá cả, tiền tệ nên giá trị cổ phần hiện có không đáng kể.
Vì vậy mỗi hợp tác xã cần phải xem xét động viên xã viên đóng thêm cổ phần. Mức độ đóng thêm bao nhiêu là căn cứ vào yêu cầu sản xuất của từng hợp tác xã kết hợp với khả năng đóng góp của số đông xã viên, do đại hội xã viên quyết định.
- Đối với những hợp tác xã có giá trị tài sản cố định thấp hơn dư nợ dài hạn.
Đây là những hợp tác xã làm ăn thua lỗ, ăn thâm vào vốn cổ phần và vốn vay của Ngân hàng. Do đó một mặt phải chia lỗ cho xã viên gánh chịu, mỗi xã viên phải nộp cho hợp tác xã một số tiền chia lỗ bằng một lần hay vài lần trong một thời gian nhất định do đại hội xã viên quyết định. Đồng thời phải huy động xã viên đóng thêm cổ phần định mức, thực chất là đóng lại cổ phần mới (cách xác định cổ phần mới như đã hướng dẫn ở mục II).
Nếu việc nộp tiền chia lỗ, góp cổ phần mới trong cùng một lúc có nhiều khó khăn thì nên tập trung vào việc thu cổ phần mới.
- Đối với những hợp tác xã có giá trị tài sản cố định tương đương với dư nợ dài hạn (không còn vốn cổ phần). Trường hợp này không phải chia lỗ, nhưng cần thiết phải huy động xã viên đóng thêm cổ phần định mức, thực chất cũng là đóng lại cổ phần mới.
- Đối với hợp tác xã kinh doanh có lãi cần căn cứ vào yêu cầu sản xuất để xác định mức cổ phần cụ thể cho phù hợp và do đại hội xã viên quyết định.
III. HUY ĐỘNG XÃ VIÊN VÀ NGƯỜI NGOÀI HỢP TÁC XÃ HÙN VỐN KINH DOANH CHIA LÃI.

Ngoài việc huy động xã viên đóng đủ 2 loại cổ phần định mức, các hợp tác xã có thể huy động xã viên và người ngoài hợp tác xã góp cổ phần hùn để mở rộng sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm cho lao động. Mỗi cổ phần hùn bao nhiêu do ban quản lý hợp tác xã quy định, ai góp nhiều cổ phần hùn được chia lãi nhiều, ai góp ít cổ phần hùn được chia lãi ít. Thời gian hoàn vốn và cách chia lãi do tập thể hợp tác xã và những người hùn vốn bàn bạc quyết định. Người hùn vốn có quyền tham gia giám sát, quản lý sản xuất kinh doanh trong phạm vi hùn vốn.
Về chia lãi có thể vận dụng hai cách:
...
b) Chia lãi theo kết quả sản xuất kinh doanh:
Nếu lãi nhiều thì được chia lãi nhiều, lãi ít được chia lãi ít hoặc nếu thua lỗ thì người hùn vốn phải chịu bù lỗ.
Có thể lấy tổng doanh thu trừ đi các khoản hao phí vật chất, tiền công lao động, số còn lại chia theo giá trị vốn đã góp. Hoặc lấy tổng doanh thu trừ đi hao phí vật chất, số còn lại chia cho lao động và giá trị vốn đã góp, tỷ lệ ăn chia giữa lao động và vốn góp do các bên bàn bạc thoả thuận. Hoặc có thể vận dụng hình thức chia lãi khác do hợp tác xã và người hùn vốn bàn bạc thoả thuận.
Để bảo đảm giá trị vốn của người góp vào hợp tác xã, cổ phần hùn cũng được quy đổi thành số lượng sản phẩm trên cơ sở giá cả thoả thuận.
IV. XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH XÃ VIÊN.
Tất cả các hợp tác xã khi tiến hành học tập thực hiện Điều lệ hợp tác xã và vào dịp tổng kết hàng năm đều phải căn cứ vào quy định của Điều lệ để phân loại những người còn đủ tư cách xã viên và những người không đủ tư cách xã viên cần xem xét quyết định đưa ra khỏi hợp tác xã, không kể là cán bộ hay xã viên.
Những người được công nhận đủ tư cách xã viên phải có 2 tiêu chuẩn:
- Chấp hành đúng chính sách, luật pháp của Nhà nước điều lệ, nội quy hợp tác xã.
- Đóng đủ 2 loại cổ phần (cổ phần tập thể hoá và cổ phần chi phí sản xuất). Trường hợp còn thiếu cũng không kéo dài quá thời hạn 3 năm. Những xã viên dây dưa kéo dài không đóng đủ cổ phần xem như không đủ tư cách và cần đưa ra khỏi hợp tác xã.
Việc soát xét phân loại xã viên phải được tiến hành từ đơn vị sản xuất. Những người không đủ tư cách xã viên phải đưa ra khỏi hợp tác xã do đại hội xã viên xem xét và quyết định.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN.

Quyết định số 31 - HĐBT ngày 14 - 2-1987 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi điều 19 của Điều lệ Hợp tác xã thuỷ sản có ý nghĩa lớn đối với việc xây dựng, củng cố và phát triển hợp tác xã nghề cá. Vì vậy việc chỉ đạo thực hiện phải được tiến hành chặt chẽ và nghiêm túc.
1. Theo Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng. Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương cần có chủ trương, biện pháp chỉ đạo việc thực hiện quyết định này ở địa phương.
Các Sở Thuỷ sản cần giúp Uỷ ban Nhân dân tỉnh chỉ đạo triển khai thực hiện Quyết định số 31 - HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng và Thông tư hướng dẫn của Bộ.
2. Nhân dịp này tất cả các hợp tác xã, đặc biệt các hợp tác xã có vướng mắc trong việc giải quyết tiền thừa cổ phần hoặc những hợp tác xã có giá trị cổ phần còn thấp, xã viên còn nợ cổ phần v.v... cần liên hệ đối chiếu với Điều lệ hợp tác xã, Quyết định số 31 - HĐBT và Thông tư hướng dẫn của Bộ để có biện pháp điều chỉnh, giải quyết phù hợp, đúng đắn.
Mỗi tỉnh cần chỉ đạo một số hợp tác xã làm trước để rút kinh nghiệm chung. Trong quá trình chỉ đạo thực hiện nếu có vấn đề gì vướng mắc cần báo về Bộ để kịp thời nghiên cứu hướng dẫn bổ sung.
Thông tư này cần được tổ chức phổ biến đến các hợp tác xã và xã viên.

Content:
Chia lãi theo kết quả sản xuất kinh doanh:
Nếu lãi nhiều thì được chia lãi nhiều, lãi ít được chia lãi ít hoặc nếu thua lỗ thì người hùn vốn phải chịu bù lỗ.
Có thể lấy tổng doanh thu trừ đi các khoản hao phí vật chất, tiền công lao động, số còn lại chia theo giá trị vốn đã góp. Hoặc lấy tổng doanh thu trừ đi hao phí vật chất, số còn lại chia cho lao động và giá trị vốn đã góp, tỷ lệ ăn chia giữa lao động và vốn góp do các bên bàn bạc thoả thuận. Hoặc có thể vận dụng hình thức chia lãi khác do hợp tác xã và người hùn vốn bàn bạc thoả thuận.
Để bảo đảm giá trị vốn của người góp vào hợp tác xã, cổ phần hùn cũng được quy đổi thành số lượng sản phẩm trên cơ sở giá cả thoả thuận.
IV. XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH XÃ VIÊN.
Tất cả các hợp tác xã khi tiến hành học tập thực hiện Điều lệ hợp tác xã và vào dịp tổng kết hàng năm đều phải căn cứ vào quy định của Điều lệ để phân loại những người còn đủ tư cách xã viên và những người không đủ tư cách xã viên cần xem xét quyết định đưa ra khỏi hợp tác xã, không kể là cán bộ hay xã viên.
Những người được công nhận đủ tư cách xã viên phải có 2 tiêu chuẩn:
- Chấp hành đúng chính sách, luật pháp của Nhà nước điều lệ, nội quy hợp tác xã.
- Đóng đủ 2 loại cổ phần (cổ phần tập thể hoá và cổ phần chi phí sản xuất). Trường hợp còn thiếu cũng không kéo dài quá thời hạn 3 năm. Những xã viên dây dưa kéo dài không đóng đủ cổ phần xem như không đủ tư cách và cần đưa ra khỏi hợp tác xã.
Việc soát xét phân loại xã viên phải được tiến hành từ đơn vị sản xuất. Những người không đủ tư cách xã viên phải đưa ra khỏi hợp tác xã do đại hội xã viên xem xét và quyết định.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN.

Quyết định số 31 - HĐBT ngày 14 - 2-1987 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi điều 19 của Điều lệ Hợp tác xã thuỷ sản có ý nghĩa lớn đối với việc xây dựng, củng cố và phát triển hợp tác xã nghề cá. Vì vậy việc chỉ đạo thực hiện phải được tiến hành chặt chẽ và nghiêm túc.
1. Theo Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng. Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương cần có chủ trương, biện pháp chỉ đạo việc thực hiện quyết định này ở địa phương.
Các Sở Thuỷ sản cần giúp Uỷ ban Nhân dân tỉnh chỉ đạo triển khai thực hiện Quyết định số 31 - HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng và Thông tư hướng dẫn của Bộ.
2. Nhân dịp này tất cả các hợp tác xã, đặc biệt các hợp tác xã có vướng mắc trong việc giải quyết tiền thừa cổ phần hoặc những hợp tác xã có giá trị cổ phần còn thấp, xã viên còn nợ cổ phần v.v... cần liên hệ đối chiếu với Điều lệ hợp tác xã, Quyết định số 31 - HĐBT và Thông tư hướng dẫn của Bộ để có biện pháp điều chỉnh, giải quyết phù hợp, đúng đắn.
Mỗi tỉnh cần chỉ đạo một số hợp tác xã làm trước để rút kinh nghiệm chung. Trong quá trình chỉ đạo thực hiện nếu có vấn đề gì vướng mắc cần báo về Bộ để kịp thời nghiên cứu hướng dẫn bổ sung.
Thông tư này cần được tổ chức phổ biến đến các hợp tác xã và xã viên.