Document: Khoản 1 Điều 1 Quyết định 251/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch tổng thể sử dụng tài nguyên nước

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "17/02/2011", "sign_number": "251/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Trúc", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "17/02/2011", "sign_number": "251/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Trúc", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "17/02/2011", "sign_number": "251/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Trúc", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "17/02/2011", "sign_number": "251/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Trúc", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "17/02/2011", "sign_number": "251/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Trúc", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 1 Quyết định 251/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch tổng thể sử dụng tài nguyên nước

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể sử dụng tài nguyên nước tỉnh Phú Yên đến năm 2015 và dự báo đến năm 2020, với các nội dung sau:
1. Phân vùng quy hoạch
Địa bàn tỉnh Phú Yên được chia thành 4 vùng quy hoạch tổng thể sử dụng tài nguyên nước: Vùng thuận lợi, vùng tương đối thuận lợi, vùng khó khăn và vùng rất khó khăn; với vị trí cụ thể các vùng như sau:
- Vùng I: Vùng thuận lợi cho quy hoạch khai thác, sử dụng các nguồn nước, bao gồm 12 phường (từ phường 1 đến phường 9 và phường Phú Lâm, Phú Đông, Phú Thạnh) của thành phố Tuy Hòa; và 5 xã: Hòa Tân Đông, Hòa Thành, Hòa Xuân Đông, Hòa Xuân Nam, Hòa Xuân Tây của huyện Đông Hòa. Vùng này gồm 17 xã, phường có địa hình bằng phẳng, có nguồn nước ngầm và nước mặt phong phú, nước mưa tương đối phong phú nhưng không đều theo thời gian. Nguồn nước mặt chủ yếu là nước của hạ lưu sông Ba hiện đang khai thác cung cấp nước cho nhu cầu tưới và ăn uống sinh hoạt. Nguồn nước ngầm ở vùng này chủ yếu trong tầng chứa nước Holocen, Pleistocen nguồn gốc sông phân bố hai bên bờ sông Ba thuộc loại giàu nước, có thể khai thác bằng các lỗ khoan sâu 40 - 50m với trữ lượng khoảng 250 - 400m3/ng cho mỗi lỗ khoan, cung cấp cho sinh hoạt và công nghiệp. Ngoài ra, có thể khai thác nước ngầm trong tầng chứa nước Holocen nguồn gốc biển và biển - gió bằng các lỗ khoan sâu từ 25 - 35m, hoặc giếng đào sâu 8 - 15m, thì vẫn đảm bảo khai thác cung cấp nước cho các thị tứ hoặc cụm dân cư tập trung tại các xã.
- Vùng II: Vùng tương đối thuận lợi cho quy hoạch khai thác, sử dụng các nguồn nước, bao gồm các xã: Bình Ngọc, Bình Kiến, Hòa Kiến, An Phú của thành phố Tuy Hòa; các xã Xuân Hòa, Xuân Hải và Xuân Lộc của thị xã Sông Cầu; các xã Xuân Lãnh và Đa Lộc của huyện Đồng Xuân; các xã: Hòa Trị, Hòa Quang Bắc, Hòa Quang Nam, Hòa Thắng, Hòa Hội, Hòa An, Hòa Định Đông và Hòa Định Tây, thị trấn Phú Hòa của huyện Phú Hòa; thị trấn Hòa Vinh và các xã: Hòa Hiệp Bắc, Hòa Hiệp Nam, Hòa Hiệp Trung, Hòa Tâm của huyện Đông Hòa; các xã Hòa Tân Tây, Hòa Đồng, Hòa Mỹ Đông, Hòa Mỹ Tây, Hòa Thịnh, Sơn Thành Đông, Sơn Thành Tây của huyện Tây Hòa. Vùng này gồm 31 xã, thị trấn thuộc địa hình đồng bằng, cồn cát ven biển có nguồn nước mặt, nước mưa phong phú và nước ngầm ở mức chứa nước trung bình. Nước ngầm ở vùng này vẫn trong các tầng chứa nước Holocen, Pleistocen gồm trầm tích sông, biển-gió, với bề dày tầng chứa nước nhỏ, diện phân bố hạn chế hơn, các lỗ khoan cấp nước có thể khoan sâu 50 - 70m, lưu lượng khai thác khoảng 100 - 250m3/ng, cung cấp cho các nhu cầu ở quy mô vừa và nhỏ, nếu với quy mô cấp nước lớn cho công nghiệp hoặc tưới thì có thể sử dụng nước mặt bằng hệ thống đập dâng, hồ chứa nhưng phải chú ý xử lý chất lượng nước, nhất là cho sản xuất công nghiệp. Để cấp nước cho các cụm dân cư với quy mô nhỏ trong vùng này vẫn sử dụng các lỗ khoan nông đường kính nhỏ, hoặc giếng đào đường kính lớn trên các khu cồn cát ven biển hoặc đồng bằng.
- Vùng III: Vùng khó khăn cho quy hoạch khai thác, sử dụng các nguồn nước, bao gồm các xã: Xuân Lâm, Xuân Thọ 1, Xuân Thọ 2, Xuân Phương, Xuân Thịnh, Xuân Cảnh và Xuân Bình của thị xã Sông Cầu; thị trấn La Hai, các xã: Xuân Quang 1, Xuân Quang 2, Xuân Quang 3, Xuân Phước, Xuân Long, Xuân Sơn Bắc, Xuân Sơn Nam, Phú Mỡ của huyện Đồng Xuân; thị trấn Chí Thạnh, các xã An Ninh Đông, An Ninh Tây, An Hiệp, An Chấn, An Mỹ, An Xuân, An Thọ, An Lĩnh, An Hòa của huyện Tuy An; thị trấn Củng Sơn, các xã Sơn Long, Sơn Xuân, Sơn Định, Sơn Nguyên, Sơn Hà, Suối Bạc, Suối Trai, Phước Tân của huyện Sơn Hòa; các xã Hòa Bình 1, Hòa Bình 2, Hòa Phong, Hòa Phú của huyện Tây Hòa; thị trấn Hai Riêng, các xã Đức Bình Đông, Đức Bình Tây, Sơn Giang, Sông Hinh, Ea Trol, Ea Bia của huyện Sông Hinh. Vùng này gồm 46 xã, thị trấn, đây là vùng địa hình đồi, núi thấp không thuận lợi cho quy hoạch cấp nước tập trung. Tiềm năng nguồn nước chỉ có nước mưa, nước mặt khá phong phú, nước ngầm trong các thành tạo bãi bồi ven sông suối, vỏ phong hóa các đá biến chất, xâm nhập thuộc loại chứa nước nghèo. Để cấp nước tập trung với quy mô vừa và lớn chỉ có thể sử dụng nước mặt bằng hệ thống đập dâng, hồ chứa; với quy mô cấp nước cho các cụm dân cư, thị tứ, các cơ quan công sở thì bằng các lỗ khoan vào các bãi bồi ven sông suối, hoặc vào hệ thống đứt gãy kiến tạo. Đối với các xã có dân cư phân bố thưa thì có thể cấp nước bằng các giếng đào vào thành tạo vỏ phong hóa, hệ thống nước tự chảy, hoặc các điểm lộ nước ngầm.
- Vùng IV: Vùng rất khó khăn cho quy hoạch khai thác, sử dụng các nguồn nước, bao gồm: Các xã An Dân, An Thạch, An Hải, An Cư, An Định, An Nghiệp của huyện Tuy An; các xã Sơn Phước, Sơn Hội, Cà Lúi, Krông Pa, Ea Cha Rang của huyện Sơn Hòa; các xã Ea Lâm, Ea Bar, Ea Ly, Ea Bá của huyện Sông Hinh. Vùng IV gồm 16 xã, đây là vùng địa hình đồi, núi cao, sườn dốc, giao thông khó khăn, không thuận lợi cho quy hoạch cấp nước tập trung. Tiềm năng nguồn nước chỉ có nước mưa phong phú, nước mặt hạn chế, nước ngầm thì rất nghèo. Để cấp nước tập trung với quy mô nhỏ cho các nhu cầu cần sử dụng nước mặt với hệ thống đập dâng, hồ chứa. Đối với dân cư các xã vùng sâu, vùng xa cần xây dựng các bể chứa nước mưa, hệ thống nước tự chảy cho ăn uống sinh hoạt, hoặc những vị trí thích hợp có thể sử dụng giếng đào đường kính lớn, hành lang thu nước trong thành tạo vỏ phong hóa. Hoặc điều tra tìm kiếm nguồn nước ngầm trong hệ thống đứt gãy kiến tạo.

Content:
Phân vùng quy hoạch
Địa bàn tỉnh Phú Yên được chia thành 4 vùng quy hoạch tổng thể sử dụng tài nguyên nước: Vùng thuận lợi, vùng tương đối thuận lợi, vùng khó khăn và vùng rất khó khăn; với vị trí cụ thể các vùng như sau:
- Vùng I: Vùng thuận lợi cho quy hoạch khai thác, sử dụng các nguồn nước, bao gồm 12 phường (từ phường 1 đến phường 9 và phường Phú Lâm, Phú Đông, Phú Thạnh) của thành phố Tuy Hòa; và 5 xã: Hòa Tân Đông, Hòa Thành, Hòa Xuân Đông, Hòa Xuân Nam, Hòa Xuân Tây của huyện Đông Hòa. Vùng này gồm 17 xã, phường có địa hình bằng phẳng, có nguồn nước ngầm và nước mặt phong phú, nước mưa tương đối phong phú nhưng không đều theo thời gian. Nguồn nước mặt chủ yếu là nước của hạ lưu sông Ba hiện đang khai thác cung cấp nước cho nhu cầu tưới và ăn uống sinh hoạt. Nguồn nước ngầm ở vùng này chủ yếu trong tầng chứa nước Holocen, Pleistocen nguồn gốc sông phân bố hai bên bờ sông Ba thuộc loại giàu nước, có thể khai thác bằng các lỗ khoan sâu 40 - 50m với trữ lượng khoảng 250 - 400m3/ng cho mỗi lỗ khoan, cung cấp cho sinh hoạt và công nghiệp. Ngoài ra, có thể khai thác nước ngầm trong tầng chứa nước Holocen nguồn gốc biển và biển - gió bằng các lỗ khoan sâu từ 25 - 35m, hoặc giếng đào sâu 8 - 15m, thì vẫn đảm bảo khai thác cung cấp nước cho các thị tứ hoặc cụm dân cư tập trung tại các xã.
- Vùng II: Vùng tương đối thuận lợi cho quy hoạch khai thác, sử dụng các nguồn nước, bao gồm các xã: Bình Ngọc, Bình Kiến, Hòa Kiến, An Phú của thành phố Tuy Hòa; các xã Xuân Hòa, Xuân Hải và Xuân Lộc của thị xã Sông Cầu; các xã Xuân Lãnh và Đa Lộc của huyện Đồng Xuân; các xã: Hòa Trị, Hòa Quang Bắc, Hòa Quang Nam, Hòa Thắng, Hòa Hội, Hòa An, Hòa Định Đông và Hòa Định Tây, thị trấn Phú Hòa của huyện Phú Hòa; thị trấn Hòa Vinh và các xã: Hòa Hiệp Bắc, Hòa Hiệp Nam, Hòa Hiệp Trung, Hòa Tâm của huyện Đông Hòa; các xã Hòa Tân Tây, Hòa Đồng, Hòa Mỹ Đông, Hòa Mỹ Tây, Hòa Thịnh, Sơn Thành Đông, Sơn Thành Tây của huyện Tây Hòa. Vùng này gồm 31 xã, thị trấn thuộc địa hình đồng bằng, cồn cát ven biển có nguồn nước mặt, nước mưa phong phú và nước ngầm ở mức chứa nước trung bình. Nước ngầm ở vùng này vẫn trong các tầng chứa nước Holocen, Pleistocen gồm trầm tích sông, biển-gió, với bề dày tầng chứa nước nhỏ, diện phân bố hạn chế hơn, các lỗ khoan cấp nước có thể khoan sâu 50 - 70m, lưu lượng khai thác khoảng 100 - 250m3/ng, cung cấp cho các nhu cầu ở quy mô vừa và nhỏ, nếu với quy mô cấp nước lớn cho công nghiệp hoặc tưới thì có thể sử dụng nước mặt bằng hệ thống đập dâng, hồ chứa nhưng phải chú ý xử lý chất lượng nước, nhất là cho sản xuất công nghiệp. Để cấp nước cho các cụm dân cư với quy mô nhỏ trong vùng này vẫn sử dụng các lỗ khoan nông đường kính nhỏ, hoặc giếng đào đường kính lớn trên các khu cồn cát ven biển hoặc đồng bằng.
- Vùng III: Vùng khó khăn cho quy hoạch khai thác, sử dụng các nguồn nước, bao gồm các xã: Xuân Lâm, Xuân Thọ 1, Xuân Thọ 2, Xuân Phương, Xuân Thịnh, Xuân Cảnh và Xuân Bình của thị xã Sông Cầu; thị trấn La Hai, các xã: Xuân Quang 1, Xuân Quang 2, Xuân Quang 3, Xuân Phước, Xuân Long, Xuân Sơn Bắc, Xuân Sơn Nam, Phú Mỡ của huyện Đồng Xuân; thị trấn Chí Thạnh, các xã An Ninh Đông, An Ninh Tây, An Hiệp, An Chấn, An Mỹ, An Xuân, An Thọ, An Lĩnh, An Hòa của huyện Tuy An; thị trấn Củng Sơn, các xã Sơn Long, Sơn Xuân, Sơn Định, Sơn Nguyên, Sơn Hà, Suối Bạc, Suối Trai, Phước Tân của huyện Sơn Hòa; các xã Hòa Bình 1, Hòa Bình 2, Hòa Phong, Hòa Phú của huyện Tây Hòa; thị trấn Hai Riêng, các xã Đức Bình Đông, Đức Bình Tây, Sơn Giang, Sông Hinh, Ea Trol, Ea Bia của huyện Sông Hinh. Vùng này gồm 46 xã, thị trấn, đây là vùng địa hình đồi, núi thấp không thuận lợi cho quy hoạch cấp nước tập trung. Tiềm năng nguồn nước chỉ có nước mưa, nước mặt khá phong phú, nước ngầm trong các thành tạo bãi bồi ven sông suối, vỏ phong hóa các đá biến chất, xâm nhập thuộc loại chứa nước nghèo. Để cấp nước tập trung với quy mô vừa và lớn chỉ có thể sử dụng nước mặt bằng hệ thống đập dâng, hồ chứa; với quy mô cấp nước cho các cụm dân cư, thị tứ, các cơ quan công sở thì bằng các lỗ khoan vào các bãi bồi ven sông suối, hoặc vào hệ thống đứt gãy kiến tạo. Đối với các xã có dân cư phân bố thưa thì có thể cấp nước bằng các giếng đào vào thành tạo vỏ phong hóa, hệ thống nước tự chảy, hoặc các điểm lộ nước ngầm.
- Vùng IV: Vùng rất khó khăn cho quy hoạch khai thác, sử dụng các nguồn nước, bao gồm: Các xã An Dân, An Thạch, An Hải, An Cư, An Định, An Nghiệp của huyện Tuy An; các xã Sơn Phước, Sơn Hội, Cà Lúi, Krông Pa, Ea Cha Rang của huyện Sơn Hòa; các xã Ea Lâm, Ea Bar, Ea Ly, Ea Bá của huyện Sông Hinh. Vùng IV gồm 16 xã, đây là vùng địa hình đồi, núi cao, sườn dốc, giao thông khó khăn, không thuận lợi cho quy hoạch cấp nước tập trung. Tiềm năng nguồn nước chỉ có nước mưa phong phú, nước mặt hạn chế, nước ngầm thì rất nghèo. Để cấp nước tập trung với quy mô nhỏ cho các nhu cầu cần sử dụng nước mặt với hệ thống đập dâng, hồ chứa. Đối với dân cư các xã vùng sâu, vùng xa cần xây dựng các bể chứa nước mưa, hệ thống nước tự chảy cho ăn uống sinh hoạt, hoặc những vị trí thích hợp có thể sử dụng giếng đào đường kính lớn, hành lang thu nước trong thành tạo vỏ phong hóa. Hoặc điều tra tìm kiếm nguồn nước ngầm trong hệ thống đứt gãy kiến tạo.