Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định số 637/QĐ-UBND năm 2009 Quy hoạch quản lý chất thải rắn đô thị KCN

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "27/08/2009", "sign_number": "637/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Thiện", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "27/08/2009", "sign_number": "637/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Thiện", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "27/08/2009", "sign_number": "637/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Thiện", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "27/08/2009", "sign_number": "637/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Thiện", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "27/08/2009", "sign_number": "637/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Thiện", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định số 637/QĐ-UBND năm 2009 Quy hoạch quản lý chất thải rắn đô thị KCN

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể quản lý chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2020, với các nội dung chủ yếu như sau:
...
4. Nội dung quy hoạch tổng thể quản lý CTR tỉnh Bình Định đến năm 2020:
a) Hiện trạng quản lý chất thải rắn:
* Chất thải rắn sinh hoạt:
Khối lượng chất thải rắn (CTR) sinh hoạt đô thị phát sinh trên địa bàn tỉnh hiện trạng khoảng 306,6 tấn/ngày.
- Việc phân loại CTR chưa thực hiện phân loại tại nguồn. Tại bãi chôn lấp, hoạt động phân loại diễn ra tự phát.
- Việc thu gom, vận chuyển CTR: Tại thành phố Quy Nhơn tỷ lệ thu gom trung bình khoảng 85%; tại các huyện khác trong tỉnh, công tác thu gom CTR hầu hết mới chỉ thực hiện được tại các thị trấn và một số xã xung quanh thị trấn, tỷ lệ đạt khoảng 15-30%.
- Việc xử lý CTR: Công nghệ xử lý chủ yếu là chôn lấp. Trong toàn tỉnh hiện có 9 bãi chôn lấp nhưng chỉ có 1 bãi chôn lấp có ô chôn lấp hợp vệ sinh tại Long Mỹ. Các bãi chôn lấp CTR hiện đang sử dụng tại các huyện đều mang tính chất tạm thời, không hợp vệ sinh, không có hình thức xử lý nước rỉ rác, nhiều bãi còn không có tường bao, diện tích nhỏ từ 0,5-1ha, không đáp ứng được nhu cầu xử lý CTR phát sinh trong tương lai.
* Chất thải rắn công nghiệp:
- Chất thải rắn công nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa được tổ chức thu gom tập trung theo hệ thống nên chưa có số liệu thống kê cụ thể về tổng lượng CTR công nghiệp phát sinh.
- Việc phân loại CTR công nghiệp chưa được thực hiện triệt để, hầu hết các cơ sở sản xuất chỉ thực hiện việc phân loại CTR đối với các chất thải mang lại giá trị kinh tế. Còn lại các chất thải không có giá trị kinh tế, bao gồm cả chất thải nguy hại được thu gom và đổ thải lẫn lộn cùng với chất thải sinh hoạt.
- Việc thu gom, vận chuyển CTR công nghiệp do các cơ sở sản xuất tự chịu trách nhiệm.
- Việc xử lý CTR công nghiệp: Các loại chất thải công nghiệp có thể tái chế sẽ được bán cho các đơn vị thu mua phế liệu hoặc đơn vị tái chế; CTR công nghiệp nguy hại chưa được phân loại và xử lý tập trung theo quy định.
* Chất thải rắn Y tế:
- Chất thải rắn y tế gồm 2 loại: CTR nguy hại và CTR không nguy hại.
- Hiện nay, trong toàn tỉnh tổng số cơ sở giường bệnh điều trị khoảng hơn 2.500 giường. Ước tính tổng lượng CTR bệnh viện phát sinh trong toàn tỉnh Bình Định khoảng hơn 700 tấn/năm, trong đó CTR y tế nguy hại khoảng hơn 100 tấn/năm.
- Tất cả các bệnh viện trong tỉnh đều thực hiện phân loại CTR tại nguồn và xử lý tương đối tốt bằng các lò đốt đối với CTR y tế nguy hại. Tuy nhiên một số cơ sở y tế khác vẫn chưa thực hiện phân loại tại nguồn, CTR y tế được thu gom cùng với CTR sinh hoạt và chuyển tới bãi chôn lấp hoặc chôn lấp tại địa điểm không phù hợp dễ gây ô nhiễm môi trường.
b)
Dự báo lượng Chất thải rắn phát sinh đến năm 2020:
Tổng lượng CTR phát sinh trong phạm vi toàn tỉnh là 8.073 tấn/ngày, trong đó:
- CTR sinh hoạt: 1.176 tấn/ngày.
- CTR công nghiệp: 6.724 tấn/ngày.
- CTR y tế: 8,5 tấn/ngày.
(Các phế thải xây dựng trong đô thị không là đối tượng quy hoạch này)
c) Quy hoạch hệ thống phân loại – thu gom – vận chuyển CTR:
* CTR sinh hoạt:
- Phân loại tại nguồn: CTR sinh hoạt cần được phân loại tại nguồn (các hộ gia đình, tổ chức,..) thành 03 loại gồm: chất thải hữu cơ, chất thải có thể tái chế và không tái chế.
- Quy trình thu gom:
+ Ở đô thị (thị trấn, thành phố): Phân loại rác tại nguồn đối với các tất cả các hộ có CTR sinh hoạt. Thu gom thủ công hàng ngày đến điểm trung chuyển. Vận chuyển cơ giới đến khu phân loại và xử lý tập trung.
+ Ở khu dân cư nông thôn: Thu gom thủ công hàng ngày hoặc cách ngày đến điểm tập kết, trung chuyển. Vận chuyển cơ giới đến bãi chôn lấp trong cự ly 20km.
* CTR công nghiệp:
- Phân loại CTR: CTR công nghiệp phải được phân loại tại xí nghiệp hoặc KCN, cụm CN, được phân loại thành CTR có thể tái chế, tái sử dụng, CTR có thể chế biến phân vi sinh, CTR chôn lấp và CTR nguy hại. Việc phân loại CTR tại khu phân loại tập trung của khu CN nhằm tập trung một lượng lớn CTR của cùng nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp.
- Thu gom, vận chuyển: Đối với các KCN/CCN: Việc thu gom, vận chuyển tuân theo quy chế quản lý CTR của KCN/CCN; đối với các cơ sở sản xuất ngoài KCN/CCN: tự tổ chức phân loại, thu gom, vận chuyển bằng cách ký kết hợp đồng với đơn vị được cấp phép thu gom, vận chuyển CTR.
* CTR y tế:
- CTR tại các cơ sở y tế bao gồm: Chất thải sinh hoạt tại bệnh viện và chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế tại các cơ sở y tế khác.
- CTR y tế tại tất cả cơ sở y tế đều thực hiện phân loại tại nguồn, sau khi phân loại được thu gom và chuyển tới khu vực lưu chứa chất thải của bệnh viện, hoặc khu xử lý. Quy trình cụ thể như sau:
+ CTR sinh hoạt tại cơ sở y tế sau khi phân loại tại nguồn được thu gom và chuyển tới khu chôn lấp, xử lý cùng với CTR sinh hoạt đô thị.
+ CTR y tế nguy hại: Đối với các bệnh viện lớn cần xây dựng lò đốt riêng để xử lý chất thải nguy hại. Đối với các cơ sở y tế riêng lẻ thu gom bằng phương tiện chuyên dùng chuyển tới lò đốt chất thải y tế đặt tại các bãi xử lý chất thải tập trung.
- Thực hiện việc quản lý chất thải y tế theo Quy chế quản lý chất thải y tế được ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế.
d) Quy hoạch hệ thống xử lý CTR đến năm 2020:
- Tại mỗi huyện, thành phố, thị xã có 01 khu xử lý CTR hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn để phục vụ địa phương mình. Bán kính phục vụ của khu xử lý CTR trong khoảng 20km. Mỗi khu xử lý CTR được tiếp nhận và xử lý CTR sinh hoạt của các đô thị - khu dân cư nông thôn thuộc địa bàn hành chính khác, trong phạm vi bán kính phục vụ của mình.
- CTR sinh hoạt đô thị, điểm dân cư nông thôn; CTR công nghiệp không nguy hại; CTR y tế không nguy hại được xử lý theo địa bàn hành chính của huyện (trừ huyện Tuy Phước được sử dụng tại Bãi xử lý Long Mỹ).
* Quy hoạch các khu xử lý CTR đến năm 2020:
- 01 khu liên hợp xử lý CTR tại xã Cát Nhơn, Phù Cát, quy mô 70 ha (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1440/QĐ-TTg ngày06/10/2008 về việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng khu xử lý chất thải rắn 3 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, miền Trung và phía Nam đến năm 2020).
- 14 khu xử lý CTR tại các huyện, thành phố trong tỉnh.
- 11 lò đốt CTR y tế nguy hại, phục vụ cho cơ sở y tế các huyện được bố trí tại các khu xử lý CTR. Bố trí 04 lò đốt chất thải y tế nguy hại tại các bệnh viện lớn: Bệnh viện đa khoa tỉnh, bệnh viện lao và bệnh phổi, bệnh viện đa khoa Bồng Sơn và bệnh viện đa khoa Phú Phong.
- Địa điểm xây dựng các khu xử lý CTR phải đảm bảo các tiêu chí về xây dựng khu xử lý CTR theo quy định hiện hành, trong đó tập trung rà soát các tiêu chí về địa chất, thủy văn, xa dòng sông lớn, nguồn cấp nước sạch, xa khu dân cư tập trung, đảm bảo môi trường sinh thái.
* Định hướng công nghệ xử lý CTR:
Áp dụng các công nghệ xử lý hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam, giảm thiểu tối đa lượng CTR cần chôn lấp. Các công nghệ có thể áp dụng là: Tái chế, tái sử dụng – Chế biến – Đốt – Chôn lấp hợp vệ sinh.
- Tăng cường tái chế, tái sử dụng chất thải, đặc biệt đối với chất thải công nghiệp.
- Đối với CTR hữu cơ, áp dụng phương pháp chế biến thành phân vi sinh phục vụ nông nghiệp bằng dây chuyền công nghệ hiện đại, đồng bộ.
- Đối với chất thải công nghiệp nguy hại và chất thải y tế, xử lý bằng phương pháp đốt với các lò đốt hiện đại.
- Chỉ chôn lấp các chất trơ không thể tái chế, tái sử dụng và phần tro, xỉ còn lại của quá trình đốt chất thải nguy hại. Các ô chôn lấp phải đạt tiêu chuẩn chôn lấp hợp vệ sinh theo Tiêu chuẩn Việt Nam.

Content:
Nội dung quy hoạch tổng thể quản lý CTR tỉnh Bình Định đến năm 2020:
a) Hiện trạng quản lý chất thải rắn:
* Chất thải rắn sinh hoạt:
Khối lượng chất thải rắn (CTR) sinh hoạt đô thị phát sinh trên địa bàn tỉnh hiện trạng khoảng 306,6 tấn/ngày.
- Việc phân loại CTR chưa thực hiện phân loại tại nguồn. Tại bãi chôn lấp, hoạt động phân loại diễn ra tự phát.
- Việc thu gom, vận chuyển CTR: Tại thành phố Quy Nhơn tỷ lệ thu gom trung bình khoảng 85%; tại các huyện khác trong tỉnh, công tác thu gom CTR hầu hết mới chỉ thực hiện được tại các thị trấn và một số xã xung quanh thị trấn, tỷ lệ đạt khoảng 15-30%.
- Việc xử lý CTR: Công nghệ xử lý chủ yếu là chôn lấp. Trong toàn tỉnh hiện có 9 bãi chôn lấp nhưng chỉ có 1 bãi chôn lấp có ô chôn lấp hợp vệ sinh tại Long Mỹ. Các bãi chôn lấp CTR hiện đang sử dụng tại các huyện đều mang tính chất tạm thời, không hợp vệ sinh, không có hình thức xử lý nước rỉ rác, nhiều bãi còn không có tường bao, diện tích nhỏ từ 0,5-1ha, không đáp ứng được nhu cầu xử lý CTR phát sinh trong tương lai.
* Chất thải rắn công nghiệp:
- Chất thải rắn công nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa được tổ chức thu gom tập trung theo hệ thống nên chưa có số liệu thống kê cụ thể về tổng lượng CTR công nghiệp phát sinh.
- Việc phân loại CTR công nghiệp chưa được thực hiện triệt để, hầu hết các cơ sở sản xuất chỉ thực hiện việc phân loại CTR đối với các chất thải mang lại giá trị kinh tế. Còn lại các chất thải không có giá trị kinh tế, bao gồm cả chất thải nguy hại được thu gom và đổ thải lẫn lộn cùng với chất thải sinh hoạt.
- Việc thu gom, vận chuyển CTR công nghiệp do các cơ sở sản xuất tự chịu trách nhiệm.
- Việc xử lý CTR công nghiệp: Các loại chất thải công nghiệp có thể tái chế sẽ được bán cho các đơn vị thu mua phế liệu hoặc đơn vị tái chế; CTR công nghiệp nguy hại chưa được phân loại và xử lý tập trung theo quy định.
* Chất thải rắn Y tế:
- Chất thải rắn y tế gồm 2 loại: CTR nguy hại và CTR không nguy hại.
- Hiện nay, trong toàn tỉnh tổng số cơ sở giường bệnh điều trị khoảng hơn 2.500 giường. Ước tính tổng lượng CTR bệnh viện phát sinh trong toàn tỉnh Bình Định khoảng hơn 700 tấn/năm, trong đó CTR y tế nguy hại khoảng hơn 100 tấn/năm.
- Tất cả các bệnh viện trong tỉnh đều thực hiện phân loại CTR tại nguồn và xử lý tương đối tốt bằng các lò đốt đối với CTR y tế nguy hại. Tuy nhiên một số cơ sở y tế khác vẫn chưa thực hiện phân loại tại nguồn, CTR y tế được thu gom cùng với CTR sinh hoạt và chuyển tới bãi chôn lấp hoặc chôn lấp tại địa điểm không phù hợp dễ gây ô nhiễm môi trường.
b)
Dự báo lượng Chất thải rắn phát sinh đến năm 2020:
Tổng lượng CTR phát sinh trong phạm vi toàn tỉnh là 8.073 tấn/ngày, trong đó:
- CTR sinh hoạt: 1.176 tấn/ngày.
- CTR công nghiệp: 6.724 tấn/ngày.
- CTR y tế: 8,5 tấn/ngày.
(Các phế thải xây dựng trong đô thị không là đối tượng quy hoạch này)
c) Quy hoạch hệ thống phân loại – thu gom – vận chuyển CTR:
* CTR sinh hoạt:
- Phân loại tại nguồn: CTR sinh hoạt cần được phân loại tại nguồn (các hộ gia đình, tổ chức,..) thành 03 loại gồm: chất thải hữu cơ, chất thải có thể tái chế và không tái chế.
- Quy trình thu gom:
+ Ở đô thị (thị trấn, thành phố): Phân loại rác tại nguồn đối với các tất cả các hộ có CTR sinh hoạt. Thu gom thủ công hàng ngày đến điểm trung chuyển. Vận chuyển cơ giới đến khu phân loại và xử lý tập trung.
+ Ở khu dân cư nông thôn: Thu gom thủ công hàng ngày hoặc cách ngày đến điểm tập kết, trung chuyển. Vận chuyển cơ giới đến bãi chôn lấp trong cự ly 20km.
* CTR công nghiệp:
- Phân loại CTR: CTR công nghiệp phải được phân loại tại xí nghiệp hoặc KCN, cụm CN, được phân loại thành CTR có thể tái chế, tái sử dụng, CTR có thể chế biến phân vi sinh, CTR chôn lấp và CTR nguy hại. Việc phân loại CTR tại khu phân loại tập trung của khu CN nhằm tập trung một lượng lớn CTR của cùng nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp.
- Thu gom, vận chuyển: Đối với các KCN/CCN: Việc thu gom, vận chuyển tuân theo quy chế quản lý CTR của KCN/CCN; đối với các cơ sở sản xuất ngoài KCN/CCN: tự tổ chức phân loại, thu gom, vận chuyển bằng cách ký kết hợp đồng với đơn vị được cấp phép thu gom, vận chuyển CTR.
* CTR y tế:
- CTR tại các cơ sở y tế bao gồm: Chất thải sinh hoạt tại bệnh viện và chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế tại các cơ sở y tế khác.
- CTR y tế tại tất cả cơ sở y tế đều thực hiện phân loại tại nguồn, sau khi phân loại được thu gom và chuyển tới khu vực lưu chứa chất thải của bệnh viện, hoặc khu xử lý. Quy trình cụ thể như sau:
+ CTR sinh hoạt tại cơ sở y tế sau khi phân loại tại nguồn được thu gom và chuyển tới khu chôn lấp, xử lý cùng với CTR sinh hoạt đô thị.
+ CTR y tế nguy hại: Đối với các bệnh viện lớn cần xây dựng lò đốt riêng để xử lý chất thải nguy hại. Đối với các cơ sở y tế riêng lẻ thu gom bằng phương tiện chuyên dùng chuyển tới lò đốt chất thải y tế đặt tại các bãi xử lý chất thải tập trung.
- Thực hiện việc quản lý chất thải y tế theo Quy chế quản lý chất thải y tế được ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế.
d) Quy hoạch hệ thống xử lý CTR đến năm 2020:
- Tại mỗi huyện, thành phố, thị xã có 01 khu xử lý CTR hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn để phục vụ địa phương mình. Bán kính phục vụ của khu xử lý CTR trong khoảng 20km. Mỗi khu xử lý CTR được tiếp nhận và xử lý CTR sinh hoạt của các đô thị - khu dân cư nông thôn thuộc địa bàn hành chính khác, trong phạm vi bán kính phục vụ của mình.
- CTR sinh hoạt đô thị, điểm dân cư nông thôn; CTR công nghiệp không nguy hại; CTR y tế không nguy hại được xử lý theo địa bàn hành chính của huyện (trừ huyện Tuy Phước được sử dụng tại Bãi xử lý Long Mỹ).
* Quy hoạch các khu xử lý CTR đến năm 2020:
- 01 khu liên hợp xử lý CTR tại xã Cát Nhơn, Phù Cát, quy mô 70 ha (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1440/QĐ-TTg ngày06/10/2008 về việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng khu xử lý chất thải rắn 3 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, miền Trung và phía Nam đến năm 2020).
- 14 khu xử lý CTR tại các huyện, thành phố trong tỉnh.
- 11 lò đốt CTR y tế nguy hại, phục vụ cho cơ sở y tế các huyện được bố trí tại các khu xử lý CTR. Bố trí 04 lò đốt chất thải y tế nguy hại tại các bệnh viện lớn: Bệnh viện đa khoa tỉnh, bệnh viện lao và bệnh phổi, bệnh viện đa khoa Bồng Sơn và bệnh viện đa khoa Phú Phong.
- Địa điểm xây dựng các khu xử lý CTR phải đảm bảo các tiêu chí về xây dựng khu xử lý CTR theo quy định hiện hành, trong đó tập trung rà soát các tiêu chí về địa chất, thủy văn, xa dòng sông lớn, nguồn cấp nước sạch, xa khu dân cư tập trung, đảm bảo môi trường sinh thái.
* Định hướng công nghệ xử lý CTR:
Áp dụng các công nghệ xử lý hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam, giảm thiểu tối đa lượng CTR cần chôn lấp. Các công nghệ có thể áp dụng là: Tái chế, tái sử dụng – Chế biến – Đốt – Chôn lấp hợp vệ sinh.
- Tăng cường tái chế, tái sử dụng chất thải, đặc biệt đối với chất thải công nghiệp.
- Đối với CTR hữu cơ, áp dụng phương pháp chế biến thành phân vi sinh phục vụ nông nghiệp bằng dây chuyền công nghệ hiện đại, đồng bộ.
- Đối với chất thải công nghiệp nguy hại và chất thải y tế, xử lý bằng phương pháp đốt với các lò đốt hiện đại.
- Chỉ chôn lấp các chất trơ không thể tái chế, tái sử dụng và phần tro, xỉ còn lại của quá trình đốt chất thải nguy hại. Các ô chôn lấp phải đạt tiêu chuẩn chôn lấp hợp vệ sinh theo Tiêu chuẩn Việt Nam.