Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 139/2007/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2010 định hướng 2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/08/2007", "sign_number": "139/2007/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/08/2007", "sign_number": "139/2007/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/08/2007", "sign_number": "139/2007/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/08/2007", "sign_number": "139/2007/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/08/2007", "sign_number": "139/2007/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 139/2007/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2010 định hướng 2020

Điều 1. Phê duyệt ''Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2020'', với nội dung chủ yếu sau:
...
5. Phát triển công nghệ thông tin phục vụ dự trữ quốc gia:
Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ dự trữ quốc gia thống nhất trong toàn quốc, bảo đảm tin học hoá toàn bộ quy trình nghiệp vụ và các hoạt động của ngành dự trữ quốc gia. Hệ thống công nghệ thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách dự trữ quốc gia, bảo đảm cung cấp thông tin dự trữ quốc gia nhanh chóng, chính xác, kịp thời.
III. Định hướng đến năm 2020
1. Tiếp tục điều chỉnh, bổ sung danh mục hàng dữ trữ quốc gia và mức dự trữ quốc gia những mặt hàng thiết yếu, quan trọng phù hợp với tình hình mới. Chuyển sang cơ chế dự trữ thường xuyên những mặt hàng có thời hạn bảo quản ngắn, thường xuyên xuất luân phiên đổi hàng.
2. Tăng tỷ lệ dự trữ quốc gia bằng tiền trong tổng mức dự trữ quốc gia để chủ động xử lý những trường hợp đột xuất, nhập ngay những mặt hàng cần thiết không phải tổ chức bảo quản bằng hiện vật trong kho hoặc những mặt hàng đặc chủng, kỹ thuật cao.
3. Tiếp tục triển khai quy hoạch mạng lưới kho và đầu tư xây dựng theo hướng tập trung, hiện đại với công nghệ bảo quản tiên tiến phù hợp với trình độ thế giới.
4. Xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách quản lý, điều hành hoạt động dự trữ quốc gia theo hướng tăng cường huy động các nguồn tài chính hợp pháp cho dự trữ quốc gia.
IV. Các giải pháp thực hiện
1. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dự trữ quốc gia phù hợp yêu cầu, điều kiện của tình hình mới. Xây dựng Luật Dự trữ quốc gia.
2. Đổi mới việc lập và giao kế hoạch, tăng mức dự trữ hàng năm; thực hiện nguyên tắc quản lý dự trữ quốc gia tập trung, thống nhất, phân cấp nhằm nâng cao trách nhiệm và chủ động cho các cấp quản lý trong việc thực hiện các quyết định cụ thể của cấp có thẩm quyền.
Nghiên cứu áp dụng các phương thức mua, bán hàng dự trữ quốc gia phù hợp với điều kiện thực tế, tính chất từng mặt hàng và những quy định hiện hành của Nhà nước. Cải cách thủ tục hành chính về xuất cấp hàng dữ trữ quốc gia không thu tiền, cứu trợ, viện trợ.
3. Sử dụng hiệu quả nguồn vốn dự trữ quốc gia trong các khâu mua, bán, bảo quản, quản lý hành chính. Áp dụng các công nghệ, quy trình, quy phạm bảo quản tiên tiến để giảm chi phí, hạ tỷ lệ hao hụt.
Thực hiện cơ chế bảo toàn vốn, khoán hao hụt trong thời gian lưu kho đối với một số mặt hàng như: xăng dầu, lương thực. Kinh phí hoạt động thực hiện theo cơ chế tự chủ tài chính và khoán chi phí nhập, xuất, bảo quản. Quy định giá mua tối đa, giá bán tối thiểu ngay từ đầu năm kế hoạch để các đơn vị dự trữ quốc gia chủ động triển khai nhiệm vụ được giao.
Từng bước chuyển sang cơ chế dự trữ thường xuyên các mặt hàng: thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng.
4. Từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật, hệ thống kho dự trữ quốc gia; chú trọng công tác quy hoạch hệ thống kho dự trữ quốc gia, bảo đảm hình thành các vùng, tuyến chiến lược phù hợp với điều kiện về kinh tế - quốc phòng của vùng, lãnh thổ. Phấn đấu đến năm 2020 xây dựng hoàn chỉnh được hệ thống kho, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, đủ điều kiện để thực hiện hiện đại hoá công tác bảo quản hàng dự trữ quốc gia.
5. Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dự trữ quốc gia; tham gia Quỹ lương thực ASEAN, Quỹ gạo Đông Á.

Content:
Phát triển công nghệ thông tin phục vụ dự trữ quốc gia:
Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ dự trữ quốc gia thống nhất trong toàn quốc, bảo đảm tin học hoá toàn bộ quy trình nghiệp vụ và các hoạt động của ngành dự trữ quốc gia. Hệ thống công nghệ thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách dự trữ quốc gia, bảo đảm cung cấp thông tin dự trữ quốc gia nhanh chóng, chính xác, kịp thời.
III. Định hướng đến năm 2020
1. Tiếp tục điều chỉnh, bổ sung danh mục hàng dữ trữ quốc gia và mức dự trữ quốc gia những mặt hàng thiết yếu, quan trọng phù hợp với tình hình mới. Chuyển sang cơ chế dự trữ thường xuyên những mặt hàng có thời hạn bảo quản ngắn, thường xuyên xuất luân phiên đổi hàng.
2. Tăng tỷ lệ dự trữ quốc gia bằng tiền trong tổng mức dự trữ quốc gia để chủ động xử lý những trường hợp đột xuất, nhập ngay những mặt hàng cần thiết không phải tổ chức bảo quản bằng hiện vật trong kho hoặc những mặt hàng đặc chủng, kỹ thuật cao.
3. Tiếp tục triển khai quy hoạch mạng lưới kho và đầu tư xây dựng theo hướng tập trung, hiện đại với công nghệ bảo quản tiên tiến phù hợp với trình độ thế giới.
4. Xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách quản lý, điều hành hoạt động dự trữ quốc gia theo hướng tăng cường huy động các nguồn tài chính hợp pháp cho dự trữ quốc gia.
IV. Các giải pháp thực hiện
1. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dự trữ quốc gia phù hợp yêu cầu, điều kiện của tình hình mới. Xây dựng Luật Dự trữ quốc gia.
2. Đổi mới việc lập và giao kế hoạch, tăng mức dự trữ hàng năm; thực hiện nguyên tắc quản lý dự trữ quốc gia tập trung, thống nhất, phân cấp nhằm nâng cao trách nhiệm và chủ động cho các cấp quản lý trong việc thực hiện các quyết định cụ thể của cấp có thẩm quyền.
Nghiên cứu áp dụng các phương thức mua, bán hàng dự trữ quốc gia phù hợp với điều kiện thực tế, tính chất từng mặt hàng và những quy định hiện hành của Nhà nước. Cải cách thủ tục hành chính về xuất cấp hàng dữ trữ quốc gia không thu tiền, cứu trợ, viện trợ.
3. Sử dụng hiệu quả nguồn vốn dự trữ quốc gia trong các khâu mua, bán, bảo quản, quản lý hành chính. Áp dụng các công nghệ, quy trình, quy phạm bảo quản tiên tiến để giảm chi phí, hạ tỷ lệ hao hụt.
Thực hiện cơ chế bảo toàn vốn, khoán hao hụt trong thời gian lưu kho đối với một số mặt hàng như: xăng dầu, lương thực. Kinh phí hoạt động thực hiện theo cơ chế tự chủ tài chính và khoán chi phí nhập, xuất, bảo quản. Quy định giá mua tối đa, giá bán tối thiểu ngay từ đầu năm kế hoạch để các đơn vị dự trữ quốc gia chủ động triển khai nhiệm vụ được giao.
Từng bước chuyển sang cơ chế dự trữ thường xuyên các mặt hàng: thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng.
4. Từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật, hệ thống kho dự trữ quốc gia; chú trọng công tác quy hoạch hệ thống kho dự trữ quốc gia, bảo đảm hình thành các vùng, tuyến chiến lược phù hợp với điều kiện về kinh tế - quốc phòng của vùng, lãnh thổ. Phấn đấu đến năm 2020 xây dựng hoàn chỉnh được hệ thống kho, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, đủ điều kiện để thực hiện hiện đại hoá công tác bảo quản hàng dự trữ quốc gia.
Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dự trữ quốc gia; tham gia Quỹ lương thực ASEAN, Quỹ gạo Đông Á.