Document: Điều 9 Nghị định 25-HĐBT quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế nông nghiệp

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "30/03/1983", "sign_number": "25-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "30/03/1983", "sign_number": "25-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "30/03/1983", "sign_number": "25-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "30/03/1983", "sign_number": "25-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "30/03/1983", "sign_number": "25-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 9 Nghị định 25-HĐBT quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế nông nghiệp có nội dung như sau:

Điều 9. - Sổ thuế nông nghiệp lập hàng năm theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. Đất thuộc phạm vi quản lý hành chính của xã, phường, thị trấn nào thì đăng ký vào sổ địa chính và sổ thuế nông nghiệp của xã, phường, thị trấn đó, tính thuế và nộp thuế tại xã, phường thị trấn đó. Trường hợp sử dụng đất trồng cây hàng năm trên địa bàn xã, phường, thị trấn khác (xâm canh) thì người chịu thuế phải khai với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi mình cư trú về diện tích, hạng đất và số thuế phải nộp ở các xã, phường, thị trấn kia để Uỷ ban nhân dân xã, phường thị trấn nơi mình cư trú tính phụ theo điều 12 của Pháp lệnh (nếu tổng số diện tích sử dụng đến mức phải nộp phụ thu). Phụ thu nộp tại xã, phường, thị trấn nơi cư trú.
Tổ chức hoặc cá nhân nào sử dụng đất mà không khai báo hoặc không nộp thuế theo quy định trên thì coi là có hành vi gian lận trong việc tính thuế, nộp thuế và bị xử phát theo điều 25 của Pháp lệnh.
Đứng tên trong sổ thuế nông nghiệp là tổ chức hoặc cá nhân được giao đất để sử dụng. Trường hợp tổ chức (nông trường, trạm, trại, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất...) giao lại một phần đất cho công nhân, viên chức, xã viên. .. để làm kinh tế phụ gia đình hoặc giao lại cho tổ chức và cá nhân khác để sản xuất tự túc, thì tổ chức có nhiệm vụ tính thuế và thu thuế của những người nhận đất để nộp cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, nơi tổ chức đóng trụ sở.

Content:
Điều 9. - Sổ thuế nông nghiệp lập hàng năm theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. Đất thuộc phạm vi quản lý hành chính của xã, phường, thị trấn nào thì đăng ký vào sổ địa chính và sổ thuế nông nghiệp của xã, phường, thị trấn đó, tính thuế và nộp thuế tại xã, phường thị trấn đó. Trường hợp sử dụng đất trồng cây hàng năm trên địa bàn xã, phường, thị trấn khác (xâm canh) thì người chịu thuế phải khai với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi mình cư trú về diện tích, hạng đất và số thuế phải nộp ở các xã, phường, thị trấn kia để Uỷ ban nhân dân xã, phường thị trấn nơi mình cư trú tính phụ theo điều 12 của Pháp lệnh (nếu tổng số diện tích sử dụng đến mức phải nộp phụ thu). Phụ thu nộp tại xã, phường, thị trấn nơi cư trú.
Tổ chức hoặc cá nhân nào sử dụng đất mà không khai báo hoặc không nộp thuế theo quy định trên thì coi là có hành vi gian lận trong việc tính thuế, nộp thuế và bị xử phát theo điều 25 của Pháp lệnh.
Đứng tên trong sổ thuế nông nghiệp là tổ chức hoặc cá nhân được giao đất để sử dụng. Trường hợp tổ chức (nông trường, trạm, trại, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất...) giao lại một phần đất cho công nhân, viên chức, xã viên. .. để làm kinh tế phụ gia đình hoặc giao lại cho tổ chức và cá nhân khác để sản xuất tự túc, thì tổ chức có nhiệm vụ tính thuế và thu thuế của những người nhận đất để nộp cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, nơi tổ chức đóng trụ sở.