Document: Điều 1 Quyết định 2282/QĐ-UBND 2017 phê duyệt Quy hoạch nuôi thủy sản trên tuyến sông An Giang

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "28/07/2017", "sign_number": "2282/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "28/07/2017", "sign_number": "2282/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "28/07/2017", "sign_number": "2282/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "28/07/2017", "sign_number": "2282/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "28/07/2017", "sign_number": "2282/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 2282/QĐ-UBND 2017 phê duyệt Quy hoạch nuôi thủy sản trên tuyến sông An Giang có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt “Quy hoạch nuôi thủy sản trên các tuyến sông đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025”, với những nội dung chủ yếu sau:
1. Quan điểm
1.1. Phát triển nuôi thuỷ sản trên sông phải trên cơ sở quán triệt các chủ trương, định hướng của Trung ương, của tỉnh, phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của các địa phương và quy hoạch các ngành. Phát triển nuôi thuỷ sản trên sông theo định hướng thị trường, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ theo hướng hiện đại hóa tạo sản phẩm có khả năng cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.
1.2. Phát triển nuôi thuỷ sản trên sông phải gắn kết với việc thực hiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn về điều kiện cơ sở nuôi, chất lượng và an toàn sinh học, bảo vệ môi trường, đảm bảo hài hòa lợi ích của người tiêu dùng, cá nhân, tổ chức nuôi cá, doanh nghiệp chế biến xuất khẩu và Nhà nước. Phát triển nuôi thuỷ sản trên sông hướng đến áp dụng công nghệ cao theo các quy trình quốc tế công nhận, tạo ra sản phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh, hạn chế ô nhiễm môi trường, không gây cản trở giao thông luồng lạch.
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu chung: Khai thác và sử dụng hiệu quả diện tích mặt nước trên các tuyến sông thuộc địa bàn tỉnh để phát triển nuôi thuỷ sản thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, theo hướng tập trung, đảm bảo tính hiệu quả và bền vững, góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động địa phương.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Số lượng lồng bè giảm còn 3.220 chiếc năm 2020 và tăng lên 3.870 chiếc năm 2025.
- Sản lượng nuôi đạt 57.220 tấn năm 2020 và tăng lên 67.360 tấn năm 2025.
- Giá trị sản xuất nuôi thủy sản lồng bè (giá hiện hành) đạt 1.943 tỷ đồng năm 2020 và đạt 2.512 tỷ đồng năm 2025.
- Lao động nuôi thủy sản lồng bè đạt 5.990 người năm 2020 và 6.990 người năm 2025.
3. Định hướng phát triển
3.1. Định hướng quy hoạch vùng nuôi thủy sản lồng bè:
a) Định hướng đối tượng nuôi lồng bè:
Định hướng phát triển trong giai đoạn tới các đối tượng thủy sản nuôi lồng bè trên địa bàn tỉnh như sau: cá Basa, cá Điêu hồng/Rô phi, cá Chim trắng và các đối tượng nuôi truyền thống khác: cá He, cá Hú, cá Lóc bông,... Đây là các đối tượng tiêu thụ nội địa có rất nhiều tiềm năng, cần ưu tiên phát triển nâng cao năng suất, chất lượng con giống, tăng sản lượng tạo hiệu quả kinh tế cho người nuôi, hoàn thiện quy trình kỹ thuật trước khi tăng trưởng về số lượng lồng bè nuôi nhằm tạo sự ổn định trong sản xuất, giảm thiểu thiệt hại.
b) Số lượng, thể tích, sản lượng và giá trị sản lượng nuôi lồng bè:
- Số lượng: Lồng bè nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh được quy hoạch đến năm 2020 đạt 3.220 lồng bè và tăng lên đạt 3.870 lồng bè vào năm 2025, tập trung tại 8 huyện/thị/thành gồm: Long Xuyên, Châu Đốc, An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Châu Phú, Châu Thành và Chợ Mới; không quy hoạch nuôi thủy sản trên sông tại các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn và Thoại Sơn do nằm cách xa tuyến sông Tiền, sông Hậu, sức tải môi trường kém, dễ gây ô nhiễm môi trường và tác động đến dân sinh trong khu vực.
- Diện tích chiếm nước, thể tích: Tổng diện tích chiếm nước (bao gồm cả diện tích lồng bè và khoảng cách giữa các lồng bè) nuôi thủy sản lồng bè đến năm 2020 là 201,9 ha và đến năm 2025 là 240,7 ha nhằm để tạo độ thông thoáng và dòng chảy phù hợp cho nuôi lồng bè. Thể tích nuôi thủy sản lồng bè cũng tăng từ 879.000 m3 năm 2020 tăng lên đạt 1.057.000 m3 vào năm 2025.
- Sản lượng: Với chỉ tiêu số lượng lồng bè đạt 3.220 lồng bè vào năm 2020 và tăng lên 3.870 lồng bè vào năm 2025, chỉ tiêu về sản lượng thủy sản nuôi lồng bè tương ứng trên địa bàn tỉnh An Giang lần lượt đạt 57.220 tấn vào năm 2020 và tăng đạt 67.360 tấn vào năm 2025.
- Giá trị sản lượng: Giá trị sản xuất thủy sản nuôi lồng bè trên sông tỉnh An Giang theo giá hiện hành đến năm 2020 đạt 1.943 tỷ đồng và đạt 2.512 tỷ đồng vào năm 2025 với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5,27% (giai đoạn 2021 - 2025). Trong khi đó, theo giá so sánh năm 2010, giá trị sản xuất thủy sản trên sông của tỉnh đạt 1.410 tỷ đồng vào năm 2020 và tăng lên đạt 1.660 tỷ đồng vào năm 2025, tăng trưởng bình quân 3,32%/năm trong giai đoạn 2021 - 2025.
3.2. Định hướng nhu cầu lao động nuôi thủy sản lồng bè:
Nhu cầu lao động phổ thông đáp ứng cho nuôi trồng thủy sản trên sông tỉnh An Giang đến năm 2020 là 6.000 người, và tăng lên cần 7.000 người vào năm 2025. Ngoài ra, cần đào tạo lao động kỹ thuật có trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học cho nuôi trồng thủy sản. Đến năm 2020 cứ khoảng 100 lồng bè nuôi thủy sản cần 01 kỹ sư nuôi trồng thủy sản quản lý thì con số này đến năm 2020 cần khoảng 33 kỹ sư nuôi trồng thủy sản và tăng lên 39 kỹ sư vào năm 2025.
3.3. Định hướng cơ sở hạ tầng và dịch vụ phục vụ nuôi lồng bè
a) Cơ sở hạ tầng
- Điện: Theo phương án quy hoạch nhu cầu thức ăn tự chế năm 2020 khoảng 64.150 tấn, năm 2025 khoảng 65.830 tấn tương ứng với nhu cầu điện năm 2020 khoảng 3.849 MWh và năm 2025 khoảng 3.949 MWh.
- Giao thông, bến hàng: Gia cố cầu bến, xây dựng cầu bến bêtông, có các trụ neo vũng chắc và kè chống xói lở; Làm đường lên xuống bến an toàn và đúng kỹ thuật để đảm bảo việc vận chuyển hàng hóa có tải trọng nặng.
- Hệ thống phao tiêu, biển báo: Thiết kế hệ thống phao và biển báo theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường thủy nội địa Việt Nam. Việc thiết kế hệ thống phao tiêu để báo hiệu giới hạn vị trí nuôi thủy sản lồng bè dọc theo tuyến luồng giao thông nhằm xác định cụ thể vùng quy hoạch, hướng dẫn giao thông cho các phương tiện thủy, đồng thời giúp cho người nuôi lồng bè biết giới hạn tuyến luồng giao thông và cơ quan chức năng kiểm tra được vị trí bè của các hộ/doanh nghiệp nuôi được thuận tiện. Cách lắp đặt phải đảm bảo quy định về hành lang an toàn luồng (cách 10 m so với phao báo hiệu luồng theo quy định tại Thông tư số 23/2011/TT-BGTVT ngày 31/3/2011 của Bộ Giao thông vận tải quy định về quản lý đường thủy nội địa).
b) Dịch vụ hậu cần
- Hệ thống cung ứng con giống: Đến năm 2020, nhu cầu giống cần khoảng 166 triệu con và tăng lên cần 207 triệu con đến năm 2025.
- Dịch vụ cung ứng thức ăn thủy sản: Tổng nhu cầu thức ăn công nghiệp cho nuôi cá lồng bè tỉnh An Giang đến năm 2020 cần khoảng 133.280 tấn (với lượng thức ăn viên cần 63.350 tấn và thức ăn tự chế cần 69.930 tấn), tăng lên 153.250 tấn vào năm 2025 (với lượng thức ăn viên cần 81.780 tấn và thức ăn tự chế cần 71.470 tấn).
- Dịch vụ cung ứng thuốc thú y thủy sản:Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư, cơ quan thú y tăng cường tư vấn hướng dẫn nông dân trong việc lựa chọn và sử dụng các loại thuốc thú y nhằm hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc không đúng công dụng, gây thiệt hại về kinh tế cho người sản xuất. Bên cạnh đó, việc tập huấn, chuyển giao kỹ thuật nuôi thủy sản lồng bè cần kết hợp với việc hướng dẫn kỹ thuật và các thông tin về phòng trị bệnh nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đối với các sản phẩm thủy sản nuôi lồng bè, đồng thời, tạo tiền đề hướng đến phát triển nuôi chuyên sâu, có hiệu quả và thân thiện với môi trường.
4. Các giải pháp thực hiện quy hoạch:
4.1. Giải pháp cơ chế chính sách và vốn đầu tư
Tiếp tục và tăng cường triển khai, thực hiện các chính sách hỗ trợ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh An Giang; Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh An Giang đến năm 2020 để có thể hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hoặc chuyển đổi nghề phù hợp; Chương trình tín dụng ưu đãi phục vụ “Nông nghiệp sạch”; Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2016-2020 và các quy định khác có liên quan.
Vận dụng tốt các cơ chế chính sách đã ban hành để thu hút vốn đầu tư, đồng thời, tỉnh tạo cơ chế thu hút nông dân tham gia vào các mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm như ngân hàng sẽ tăng định mức cho hợp tác xã vay với lãi suất ưu đãi; hợp tác xã thực hiện bảo hiểm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; liên minh hợp tác xã đầu tư hỗ trợ các dịch vụ công cho vùng nuôi trồng thủy sản và triển khai các khóa đào tạo cho các thành viên tham gia mô hình.
4.2. Giải pháp thị trường tiêu thụ
- Tăng cường củng cố, xây dựng mối liên kết chuỗi trong sản xuất và tiêu thụ, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm trong việc định hướng thị trường và sản phẩm tiêu thụ. Trước hết phải xây dựng cơ chế liên kết giữa các thành viên trong chuỗi và kế hoạch sản xuất, nguyên tắc giao nhận sản phẩm, hài hòa lợi ích và chia sẻ rủi ro, nâng cao uy tín thương hiệu. Đặc biệt là khâu tiêu thụ hàng hóa trong chuỗi liên kết, đảm bảo ổn định việc tiêu thụ sản phẩm và cung ứng vật tư phục vụ sản xuất.
- Tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm đạt được chứng nhận VietGap và các chứng chỉ quốc tế khác; tăng cường các kênh thông tin về giá cả thị trường; hỗ trợ đào tạo lao động và đẩy mạnh liên kết hợp tác với các tỉnh, thành khác trong cân đối cung cầu một số đối tượng chủ lực, ổn định giá cả vật tư đầu vào.
- Đẩy mạnh tiêu thụ nội địa bằng việc hỗ trợ doanh nghiệp, người sản xuất đưa các sản phẩm đạt tiêu chuẩn đến các bếp ăn tập thể như trường học, bệnh viện, nhà hàng, siêu thị trong tỉnh, trong vùng và cả nước. Xây dựng và nâng cấp hệ thống chợ trên địa bàn theo hướng văn minh thương nghiệp, các chợ phải đảm bảo diện tích phân khu thủy sản theo nhu cầu của tiểu thương; sớm hoàn thành chợ đầu mối thủy sản tại thành phố Long Xuyên giúp tiểu thương ổn định buôn bán, trong đó có buôn bán các mặt hàng thủy sản.
4.3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực
Tăng cường đầu tư, liên kết, mở rộng quy mô các cơ sở đào tạo nghề về lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. Đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho Trường dạy nghề. Các cơ sở đào tạo nghề phải có hướng giải quyết việc làm thì mới có thể thu hút người học. Đào tạo đội ngũ kỹ thuật viên rộng khắp trên địa bàn tỉnh tạo cơ sở cho công tác tập huấn cũng như chuyển giao khoa học công nghệ thuận tiện và dễ dàng. Tuy nhiên, cần tập trung đào tạo cán bộ có trình độ chuyên môn sâu về kỹ thuật nuôi thủy sản lồng bè, môi trường, dịch bệnh và an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản.
4.4. Giải pháp khoa học công nghệ
Phối hợp với các Viện, Trường đẩy mạnh công tác nghiên cứu, hoàn thiện các quy trình sản xuất giống, nuôi thương phẩm các đối tượng có giá trị kinh tế, công nghệ sản xuất các sản phẩm nuôi trồng hữu cơ, sản phẩm sạch; tăng cường nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học và các hệ thống nuôi an toàn môi trường - sinh thái. Tăng cường quảng bá và phát triển thương hiệu cho một số sản phẩm thủy sản lồng bè có giá trị kinh tế cao và được thị trường ưa chuộng. Gắn phát triển nuôi thủy sản lồng bè với phát triển dịch vụ du lịch sinh thái trải nghiệm.
Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ phải đi đôi với xây dựng vùng nuôi an toàn theo các tiêu chuẩn quốc tế, trước hết là ứng dụng VietGAP cho vùng nuôi cá rô phi, điêu hồng, cá lóc, cá chim trắng và một số đối tượng khác.Tăng cường phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ phục vụ nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nâng cao trình độ lao động khuyến ngư để có thể khuyến cáo cho người nuôi các giải pháp về kỹ thuật nuôi và phòng trị dịch bệnh hiệu quả.
4.5. Giải pháp hạ tầng và dịch vụ hậu cần
a) Đầu tư cơ sở hạ tầng
- Điện: Có chính sách quan tâm đến các hộ nuôi thủy sản lồng bè để giúp họ có thể đăng ký mua điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Đồng thời, ngành điện phải tạo thuận lợi và linh hoạt cho người nuôi cá bè dễ dàng tiếp cận và đăng ký mua điện.
- Giao thông: Rà soát lại cơ sở hạ tầng của các bến cá, bến thủy nội địa trên địa bàn để đưa công tác quản lý các bến thủy nội địa vào hệ thống quy hoạch giao thông thủy nhằm tạo điều kiện hỗ trợ thông qua việc xây dựng, nâng cấp các bến cá hoặc bến đò hiện hữu để người dân bốc dỡ hàng hóa lên xuống tàu, thuyền được thuận lợi hơn.
b) Dịch vụ hậu cần
- Con giống: Tập trung triển khai Quy hoạch vùng sản xuất thủy sản ứng dụng công nghệ cao với định hướng phát triển vùng sản xuất giống thủy sản tập trung, và các cơ sở sản xuất ứng dụng công nghệ cao nhằm cung cấp con giống chất lượng và nguồn gốc đảm bảo cho người nuôi, đồng thời thực hiện dự án xã hội hóa sản xuất giống cá basa chuyển giao công nghệ sản xuất giống cho các cơ sở sản xuất cá basa giống đáp ứng nhu cầu cá giống phục vụ cho nuôi thương phẩm.
- Thức ăn, thuốc hóa chất: Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà máy chế biến thức ăn thủy sản chủ động cung cấp thức ăn trong chuỗi liên kết tiêu thụ, giảm chi phí vận chuyển, chi phí trung gian đồng thời cũng giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Quản lý chặt chẽ các cơ sở sản xuất và các nguồn nhập vào tỉnh để thức ăn, thuốc, hóa chất đưa vào sản xuất nằm trong danh mục cho phép, đảm bảo chất lượng ghi trên nhãn hàng hóa và không quá hạn sử dụng.
4.6. Giải pháp bảo vệ môi trường
Sử dụng thức ăn công nghiệp với hệ số FCR thấp, hạn chế lượng thức ăn dư thừa và thức ăn tươi sống để giảm thiểu ô nhiễm môi trường khu nuôi lồng bè. Thường xuyên duy tu các trang thiết bị máy móc phục vụ nuôi lồng bè như máy trộn cám, ghe thuyền hạn chế để dầu nhớt rơi vãi xuống sông. Thu gom rác thải sinh hoạt cho các hộ nuôi bè, nghiên cứu xây dựng mô hình nhà vệ sinh tự hoại góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước và phát sinh mầm bệnh ảnh hưởng đến các đối tượng thủy sản nuôi bè.
Tăng cường năng lực giám sát môi trường cũng như dự báo các yếu tố môi trường, biến đổi khí hậu tác động đến vùng nuôi thủy sản lồng bè cũng như tác động của nghề nuôi thủy sản lồng bè đến môi trường kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh; Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho các chủ đầu tư và các chủ doanh nghiệp, người dân đối với các cơ sở nuôi cá.
5. Danh mục các dự án ưu tiên đầu tư (Phu lục kèm theo)

Content:
Điều 1. Phê duyệt “Quy hoạch nuôi thủy sản trên các tuyến sông đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025”, với những nội dung chủ yếu sau:
1. Quan điểm
1.1. Phát triển nuôi thuỷ sản trên sông phải trên cơ sở quán triệt các chủ trương, định hướng của Trung ương, của tỉnh, phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của các địa phương và quy hoạch các ngành. Phát triển nuôi thuỷ sản trên sông theo định hướng thị trường, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ theo hướng hiện đại hóa tạo sản phẩm có khả năng cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.
1.2. Phát triển nuôi thuỷ sản trên sông phải gắn kết với việc thực hiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn về điều kiện cơ sở nuôi, chất lượng và an toàn sinh học, bảo vệ môi trường, đảm bảo hài hòa lợi ích của người tiêu dùng, cá nhân, tổ chức nuôi cá, doanh nghiệp chế biến xuất khẩu và Nhà nước. Phát triển nuôi thuỷ sản trên sông hướng đến áp dụng công nghệ cao theo các quy trình quốc tế công nhận, tạo ra sản phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh, hạn chế ô nhiễm môi trường, không gây cản trở giao thông luồng lạch.
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu chung: Khai thác và sử dụng hiệu quả diện tích mặt nước trên các tuyến sông thuộc địa bàn tỉnh để phát triển nuôi thuỷ sản thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, theo hướng tập trung, đảm bảo tính hiệu quả và bền vững, góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động địa phương.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Số lượng lồng bè giảm còn 3.220 chiếc năm 2020 và tăng lên 3.870 chiếc năm 2025.
- Sản lượng nuôi đạt 57.220 tấn năm 2020 và tăng lên 67.360 tấn năm 2025.
- Giá trị sản xuất nuôi thủy sản lồng bè (giá hiện hành) đạt 1.943 tỷ đồng năm 2020 và đạt 2.512 tỷ đồng năm 2025.
- Lao động nuôi thủy sản lồng bè đạt 5.990 người năm 2020 và 6.990 người năm 2025.
3. Định hướng phát triển
3.1. Định hướng quy hoạch vùng nuôi thủy sản lồng bè:
a) Định hướng đối tượng nuôi lồng bè:
Định hướng phát triển trong giai đoạn tới các đối tượng thủy sản nuôi lồng bè trên địa bàn tỉnh như sau: cá Basa, cá Điêu hồng/Rô phi, cá Chim trắng và các đối tượng nuôi truyền thống khác: cá He, cá Hú, cá Lóc bông,... Đây là các đối tượng tiêu thụ nội địa có rất nhiều tiềm năng, cần ưu tiên phát triển nâng cao năng suất, chất lượng con giống, tăng sản lượng tạo hiệu quả kinh tế cho người nuôi, hoàn thiện quy trình kỹ thuật trước khi tăng trưởng về số lượng lồng bè nuôi nhằm tạo sự ổn định trong sản xuất, giảm thiểu thiệt hại.
b) Số lượng, thể tích, sản lượng và giá trị sản lượng nuôi lồng bè:
- Số lượng: Lồng bè nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh được quy hoạch đến năm 2020 đạt 3.220 lồng bè và tăng lên đạt 3.870 lồng bè vào năm 2025, tập trung tại 8 huyện/thị/thành gồm: Long Xuyên, Châu Đốc, An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Châu Phú, Châu Thành và Chợ Mới; không quy hoạch nuôi thủy sản trên sông tại các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn và Thoại Sơn do nằm cách xa tuyến sông Tiền, sông Hậu, sức tải môi trường kém, dễ gây ô nhiễm môi trường và tác động đến dân sinh trong khu vực.
- Diện tích chiếm nước, thể tích: Tổng diện tích chiếm nước (bao gồm cả diện tích lồng bè và khoảng cách giữa các lồng bè) nuôi thủy sản lồng bè đến năm 2020 là 201,9 ha và đến năm 2025 là 240,7 ha nhằm để tạo độ thông thoáng và dòng chảy phù hợp cho nuôi lồng bè. Thể tích nuôi thủy sản lồng bè cũng tăng từ 879.000 m3 năm 2020 tăng lên đạt 1.057.000 m3 vào năm 2025.
- Sản lượng: Với chỉ tiêu số lượng lồng bè đạt 3.220 lồng bè vào năm 2020 và tăng lên 3.870 lồng bè vào năm 2025, chỉ tiêu về sản lượng thủy sản nuôi lồng bè tương ứng trên địa bàn tỉnh An Giang lần lượt đạt 57.220 tấn vào năm 2020 và tăng đạt 67.360 tấn vào năm 2025.
- Giá trị sản lượng: Giá trị sản xuất thủy sản nuôi lồng bè trên sông tỉnh An Giang theo giá hiện hành đến năm 2020 đạt 1.943 tỷ đồng và đạt 2.512 tỷ đồng vào năm 2025 với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5,27% (giai đoạn 2021 - 2025). Trong khi đó, theo giá so sánh năm 2010, giá trị sản xuất thủy sản trên sông của tỉnh đạt 1.410 tỷ đồng vào năm 2020 và tăng lên đạt 1.660 tỷ đồng vào năm 2025, tăng trưởng bình quân 3,32%/năm trong giai đoạn 2021 - 2025.
3.2. Định hướng nhu cầu lao động nuôi thủy sản lồng bè:
Nhu cầu lao động phổ thông đáp ứng cho nuôi trồng thủy sản trên sông tỉnh An Giang đến năm 2020 là 6.000 người, và tăng lên cần 7.000 người vào năm 2025. Ngoài ra, cần đào tạo lao động kỹ thuật có trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học cho nuôi trồng thủy sản. Đến năm 2020 cứ khoảng 100 lồng bè nuôi thủy sản cần 01 kỹ sư nuôi trồng thủy sản quản lý thì con số này đến năm 2020 cần khoảng 33 kỹ sư nuôi trồng thủy sản và tăng lên 39 kỹ sư vào năm 2025.
3.3. Định hướng cơ sở hạ tầng và dịch vụ phục vụ nuôi lồng bè
a) Cơ sở hạ tầng
- Điện: Theo phương án quy hoạch nhu cầu thức ăn tự chế năm 2020 khoảng 64.150 tấn, năm 2025 khoảng 65.830 tấn tương ứng với nhu cầu điện năm 2020 khoảng 3.849 MWh và năm 2025 khoảng 3.949 MWh.
- Giao thông, bến hàng: Gia cố cầu bến, xây dựng cầu bến bêtông, có các trụ neo vũng chắc và kè chống xói lở; Làm đường lên xuống bến an toàn và đúng kỹ thuật để đảm bảo việc vận chuyển hàng hóa có tải trọng nặng.
- Hệ thống phao tiêu, biển báo: Thiết kế hệ thống phao và biển báo theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường thủy nội địa Việt Nam. Việc thiết kế hệ thống phao tiêu để báo hiệu giới hạn vị trí nuôi thủy sản lồng bè dọc theo tuyến luồng giao thông nhằm xác định cụ thể vùng quy hoạch, hướng dẫn giao thông cho các phương tiện thủy, đồng thời giúp cho người nuôi lồng bè biết giới hạn tuyến luồng giao thông và cơ quan chức năng kiểm tra được vị trí bè của các hộ/doanh nghiệp nuôi được thuận tiện. Cách lắp đặt phải đảm bảo quy định về hành lang an toàn luồng (cách 10 m so với phao báo hiệu luồng theo quy định tại Thông tư số 23/2011/TT-BGTVT ngày 31/3/2011 của Bộ Giao thông vận tải quy định về quản lý đường thủy nội địa).
b) Dịch vụ hậu cần
- Hệ thống cung ứng con giống: Đến năm 2020, nhu cầu giống cần khoảng 166 triệu con và tăng lên cần 207 triệu con đến năm 2025.
- Dịch vụ cung ứng thức ăn thủy sản: Tổng nhu cầu thức ăn công nghiệp cho nuôi cá lồng bè tỉnh An Giang đến năm 2020 cần khoảng 133.280 tấn (với lượng thức ăn viên cần 63.350 tấn và thức ăn tự chế cần 69.930 tấn), tăng lên 153.250 tấn vào năm 2025 (với lượng thức ăn viên cần 81.780 tấn và thức ăn tự chế cần 71.470 tấn).
- Dịch vụ cung ứng thuốc thú y thủy sản:Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư, cơ quan thú y tăng cường tư vấn hướng dẫn nông dân trong việc lựa chọn và sử dụng các loại thuốc thú y nhằm hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc không đúng công dụng, gây thiệt hại về kinh tế cho người sản xuất. Bên cạnh đó, việc tập huấn, chuyển giao kỹ thuật nuôi thủy sản lồng bè cần kết hợp với việc hướng dẫn kỹ thuật và các thông tin về phòng trị bệnh nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đối với các sản phẩm thủy sản nuôi lồng bè, đồng thời, tạo tiền đề hướng đến phát triển nuôi chuyên sâu, có hiệu quả và thân thiện với môi trường.
4. Các giải pháp thực hiện quy hoạch:
4.1. Giải pháp cơ chế chính sách và vốn đầu tư
Tiếp tục và tăng cường triển khai, thực hiện các chính sách hỗ trợ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh An Giang; Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh An Giang đến năm 2020 để có thể hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hoặc chuyển đổi nghề phù hợp; Chương trình tín dụng ưu đãi phục vụ “Nông nghiệp sạch”; Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2016-2020 và các quy định khác có liên quan.
Vận dụng tốt các cơ chế chính sách đã ban hành để thu hút vốn đầu tư, đồng thời, tỉnh tạo cơ chế thu hút nông dân tham gia vào các mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm như ngân hàng sẽ tăng định mức cho hợp tác xã vay với lãi suất ưu đãi; hợp tác xã thực hiện bảo hiểm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; liên minh hợp tác xã đầu tư hỗ trợ các dịch vụ công cho vùng nuôi trồng thủy sản và triển khai các khóa đào tạo cho các thành viên tham gia mô hình.
4.2. Giải pháp thị trường tiêu thụ
- Tăng cường củng cố, xây dựng mối liên kết chuỗi trong sản xuất và tiêu thụ, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm trong việc định hướng thị trường và sản phẩm tiêu thụ. Trước hết phải xây dựng cơ chế liên kết giữa các thành viên trong chuỗi và kế hoạch sản xuất, nguyên tắc giao nhận sản phẩm, hài hòa lợi ích và chia sẻ rủi ro, nâng cao uy tín thương hiệu. Đặc biệt là khâu tiêu thụ hàng hóa trong chuỗi liên kết, đảm bảo ổn định việc tiêu thụ sản phẩm và cung ứng vật tư phục vụ sản xuất.
- Tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm đạt được chứng nhận VietGap và các chứng chỉ quốc tế khác; tăng cường các kênh thông tin về giá cả thị trường; hỗ trợ đào tạo lao động và đẩy mạnh liên kết hợp tác với các tỉnh, thành khác trong cân đối cung cầu một số đối tượng chủ lực, ổn định giá cả vật tư đầu vào.
- Đẩy mạnh tiêu thụ nội địa bằng việc hỗ trợ doanh nghiệp, người sản xuất đưa các sản phẩm đạt tiêu chuẩn đến các bếp ăn tập thể như trường học, bệnh viện, nhà hàng, siêu thị trong tỉnh, trong vùng và cả nước. Xây dựng và nâng cấp hệ thống chợ trên địa bàn theo hướng văn minh thương nghiệp, các chợ phải đảm bảo diện tích phân khu thủy sản theo nhu cầu của tiểu thương; sớm hoàn thành chợ đầu mối thủy sản tại thành phố Long Xuyên giúp tiểu thương ổn định buôn bán, trong đó có buôn bán các mặt hàng thủy sản.
4.3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực
Tăng cường đầu tư, liên kết, mở rộng quy mô các cơ sở đào tạo nghề về lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. Đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho Trường dạy nghề. Các cơ sở đào tạo nghề phải có hướng giải quyết việc làm thì mới có thể thu hút người học. Đào tạo đội ngũ kỹ thuật viên rộng khắp trên địa bàn tỉnh tạo cơ sở cho công tác tập huấn cũng như chuyển giao khoa học công nghệ thuận tiện và dễ dàng. Tuy nhiên, cần tập trung đào tạo cán bộ có trình độ chuyên môn sâu về kỹ thuật nuôi thủy sản lồng bè, môi trường, dịch bệnh và an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản.
4.4. Giải pháp khoa học công nghệ
Phối hợp với các Viện, Trường đẩy mạnh công tác nghiên cứu, hoàn thiện các quy trình sản xuất giống, nuôi thương phẩm các đối tượng có giá trị kinh tế, công nghệ sản xuất các sản phẩm nuôi trồng hữu cơ, sản phẩm sạch; tăng cường nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học và các hệ thống nuôi an toàn môi trường - sinh thái. Tăng cường quảng bá và phát triển thương hiệu cho một số sản phẩm thủy sản lồng bè có giá trị kinh tế cao và được thị trường ưa chuộng. Gắn phát triển nuôi thủy sản lồng bè với phát triển dịch vụ du lịch sinh thái trải nghiệm.
Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ phải đi đôi với xây dựng vùng nuôi an toàn theo các tiêu chuẩn quốc tế, trước hết là ứng dụng VietGAP cho vùng nuôi cá rô phi, điêu hồng, cá lóc, cá chim trắng và một số đối tượng khác.Tăng cường phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ phục vụ nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nâng cao trình độ lao động khuyến ngư để có thể khuyến cáo cho người nuôi các giải pháp về kỹ thuật nuôi và phòng trị dịch bệnh hiệu quả.
4.5. Giải pháp hạ tầng và dịch vụ hậu cần
a) Đầu tư cơ sở hạ tầng
- Điện: Có chính sách quan tâm đến các hộ nuôi thủy sản lồng bè để giúp họ có thể đăng ký mua điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Đồng thời, ngành điện phải tạo thuận lợi và linh hoạt cho người nuôi cá bè dễ dàng tiếp cận và đăng ký mua điện.
- Giao thông: Rà soát lại cơ sở hạ tầng của các bến cá, bến thủy nội địa trên địa bàn để đưa công tác quản lý các bến thủy nội địa vào hệ thống quy hoạch giao thông thủy nhằm tạo điều kiện hỗ trợ thông qua việc xây dựng, nâng cấp các bến cá hoặc bến đò hiện hữu để người dân bốc dỡ hàng hóa lên xuống tàu, thuyền được thuận lợi hơn.
b) Dịch vụ hậu cần
- Con giống: Tập trung triển khai Quy hoạch vùng sản xuất thủy sản ứng dụng công nghệ cao với định hướng phát triển vùng sản xuất giống thủy sản tập trung, và các cơ sở sản xuất ứng dụng công nghệ cao nhằm cung cấp con giống chất lượng và nguồn gốc đảm bảo cho người nuôi, đồng thời thực hiện dự án xã hội hóa sản xuất giống cá basa chuyển giao công nghệ sản xuất giống cho các cơ sở sản xuất cá basa giống đáp ứng nhu cầu cá giống phục vụ cho nuôi thương phẩm.
- Thức ăn, thuốc hóa chất: Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà máy chế biến thức ăn thủy sản chủ động cung cấp thức ăn trong chuỗi liên kết tiêu thụ, giảm chi phí vận chuyển, chi phí trung gian đồng thời cũng giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Quản lý chặt chẽ các cơ sở sản xuất và các nguồn nhập vào tỉnh để thức ăn, thuốc, hóa chất đưa vào sản xuất nằm trong danh mục cho phép, đảm bảo chất lượng ghi trên nhãn hàng hóa và không quá hạn sử dụng.
4.6. Giải pháp bảo vệ môi trường
Sử dụng thức ăn công nghiệp với hệ số FCR thấp, hạn chế lượng thức ăn dư thừa và thức ăn tươi sống để giảm thiểu ô nhiễm môi trường khu nuôi lồng bè. Thường xuyên duy tu các trang thiết bị máy móc phục vụ nuôi lồng bè như máy trộn cám, ghe thuyền hạn chế để dầu nhớt rơi vãi xuống sông. Thu gom rác thải sinh hoạt cho các hộ nuôi bè, nghiên cứu xây dựng mô hình nhà vệ sinh tự hoại góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước và phát sinh mầm bệnh ảnh hưởng đến các đối tượng thủy sản nuôi bè.
Tăng cường năng lực giám sát môi trường cũng như dự báo các yếu tố môi trường, biến đổi khí hậu tác động đến vùng nuôi thủy sản lồng bè cũng như tác động của nghề nuôi thủy sản lồng bè đến môi trường kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh; Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho các chủ đầu tư và các chủ doanh nghiệp, người dân đối với các cơ sở nuôi cá.
5. Danh mục các dự án ưu tiên đầu tư (Phu lục kèm theo)