Document: Điều 2 Quyết định 3332/QĐ-UB-NC thành lập Ban chỉ đạo tổng rà soát hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "01/07/1997", "sign_number": "3332/QĐ-UB-NC", "signer": "Võ Viết Thanh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "01/07/1997", "sign_number": "3332/QĐ-UB-NC", "signer": "Võ Viết Thanh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "01/07/1997", "sign_number": "3332/QĐ-UB-NC", "signer": "Võ Viết Thanh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "01/07/1997", "sign_number": "3332/QĐ-UB-NC", "signer": "Võ Viết Thanh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "01/07/1997", "sign_number": "3332/QĐ-UB-NC", "signer": "Võ Viết Thanh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định 3332/QĐ-UB-NC thành lập Ban chỉ đạo tổng rà soát hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật có nội dung như sau:

Điều 2. - Ban Chỉ đạo về tổng rà soát hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thành phố có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
1/ Xây dựng kế hoạch tổng rà soát các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành từ ngày 02/7/1976 đến ngày 31/12/1996.
2/ Lập danh mục các văn bản quy phạm pháp luật cúa Hội đồng nhân dân thành phố và Ủy ban nhân dân thành phố ban hành còn hìệu lực.
3/ Lập danh mục các văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực và đã bị bãi bỏ hoặc đã được thay thế của Hội đồng nhân dân thành phố và Ủy ban nhân dân thành phố.
4/Lập danh mục các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà n­ước cấp trên (Quốc hội, Ủy ban Thư­ờng vụ Quốc hội, Chủ tịch nư­ớc, Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ) mà qua thực tiễn thi hành tại thành phố thấy không còn phù hợp, cần được kiến nghị để sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ. Về nội dung này, Ban chỉ đạo phải thông báo trước cho các quận, huyện, sở, ngành và một số tổ chức doanh nghiệp lớn trên địa bàn thành phố (bao gồm doanh nghiệp quốc doanh, liên doanh, ngoài quốc doanh, Hội luật gia, Đoàn luật sư­) Văn phòng đại diện một số tổ chức kinh tế) tham gia góp ý kiến.
5/Lập danh mục các văn bản của Hội đồng nhân dân thành phố và Ủy ban nhân dân thành phố ban hành sai thẩm quyền, trái pháp luật (nếu có) để kiến nghị hủy bỏ toàn bộ hoặc điều chỉnh, bổ sung một số nội dung cho phù hợp với pháp luật hiện hành.
6/Sau khi rà soát xong, hệ thống lại toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân thành phố và Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành (kể cả văn bản đ­ược đìêu chỉnh, bổ sung) còn phù hợp với pháp luật hiện hành, in thành tập phát hành trong toàn thành phố.
7/ Tổ chức tập huấn, h­ướng dẫn nghiệp vụ rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật do các Sở, ngành, quận, huyện đã ban hành.
8/ Báo cáo lên Chính phủ và Ban Chỉ đạo của Chính phủ kết quả việc rà soát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền của Hội đồng nhân dân thành phố và Ủy ban nhân dân thành phố.

Content:
Điều 2. - Ban Chỉ đạo về tổng rà soát hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thành phố có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
1/ Xây dựng kế hoạch tổng rà soát các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành từ ngày 02/7/1976 đến ngày 31/12/1996.
2/ Lập danh mục các văn bản quy phạm pháp luật cúa Hội đồng nhân dân thành phố và Ủy ban nhân dân thành phố ban hành còn hìệu lực.
3/ Lập danh mục các văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực và đã bị bãi bỏ hoặc đã được thay thế của Hội đồng nhân dân thành phố và Ủy ban nhân dân thành phố.
4/Lập danh mục các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà n­ước cấp trên (Quốc hội, Ủy ban Thư­ờng vụ Quốc hội, Chủ tịch nư­ớc, Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ) mà qua thực tiễn thi hành tại thành phố thấy không còn phù hợp, cần được kiến nghị để sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ. Về nội dung này, Ban chỉ đạo phải thông báo trước cho các quận, huyện, sở, ngành và một số tổ chức doanh nghiệp lớn trên địa bàn thành phố (bao gồm doanh nghiệp quốc doanh, liên doanh, ngoài quốc doanh, Hội luật gia, Đoàn luật sư­) Văn phòng đại diện một số tổ chức kinh tế) tham gia góp ý kiến.
5/Lập danh mục các văn bản của Hội đồng nhân dân thành phố và Ủy ban nhân dân thành phố ban hành sai thẩm quyền, trái pháp luật (nếu có) để kiến nghị hủy bỏ toàn bộ hoặc điều chỉnh, bổ sung một số nội dung cho phù hợp với pháp luật hiện hành.
6/Sau khi rà soát xong, hệ thống lại toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân thành phố và Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành (kể cả văn bản đ­ược đìêu chỉnh, bổ sung) còn phù hợp với pháp luật hiện hành, in thành tập phát hành trong toàn thành phố.
7/ Tổ chức tập huấn, h­ướng dẫn nghiệp vụ rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật do các Sở, ngành, quận, huyện đã ban hành.
8/ Báo cáo lên Chính phủ và Ban Chỉ đạo của Chính phủ kết quả việc rà soát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền của Hội đồng nhân dân thành phố và Ủy ban nhân dân thành phố.