Document: Điều 1 Quyết định 1508/QĐ-UBND năm 2009 Quy hoạch phát triển mạng lưới giáo dục Quảng Bình

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "26/06/2009", "sign_number": "1508/QĐ-UBND", "signer": "Trần Công Thuật", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "26/06/2009", "sign_number": "1508/QĐ-UBND", "signer": "Trần Công Thuật", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "26/06/2009", "sign_number": "1508/QĐ-UBND", "signer": "Trần Công Thuật", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "26/06/2009", "sign_number": "1508/QĐ-UBND", "signer": "Trần Công Thuật", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "26/06/2009", "sign_number": "1508/QĐ-UBND", "signer": "Trần Công Thuật", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 1508/QĐ-UBND năm 2009 Quy hoạch phát triển mạng lưới giáo dục Quảng Bình có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển mạng lưới giáo dục trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đến năm 2015 với những nội dung chính sau đây:
1. Quan điểm
Quy hoạch phát triển mạng lưới giáo dục trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đến năm 2015, phục vụ mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Việc quy hoạch phát triển mạng lưới giáo dục trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên phải đảm bảo:
- Mạng lưới phù hợp với sự phân bố dân cư trên địa bàn các vùng miền;
- Đảm bảo phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh trên tất cả các vùng miền;
- Đáp ứng mục tiêu xây dựng trường THPT đạt chuẩn và mục tiêu phổ cập giáo dục trung học của tỉnh, mục tiêu phân luồng học sinh sau THCS;
- Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục.
2. Mục tiêu
Từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống mạng lưới giáo dục trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên trên địa bàn toàn tỉnh đồng bộ, có cơ sở hạ tầng phù hợp, có môi trường và chất lượng giáo dục tốt, đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, công bằng trong giáo dục.
3. Các chỉ tiêu
a) Tỷ lệ tuyển sinh vào lớp 10 THPT:
Đối với các huyện miền núi Tuyên Hóa, Minh Hóa: Chủ yếu là học sinh công lập; tỷ lệ tuyển sinh vào lớp 10 THPT công lập đạt bình quân hàng năm từ 70 - 75 %;
- Đối với các huyện chưa có trường tư thục: Tỷ lệ tuyển sinh vào lớp 10 công lập đạt bình quân từ 60 - 65 %;
- Đối với các huyện, thành phố có trường tư thục: Tỷ lệ tuyển sinh vào lớp 10 công lập đạt bình quân từ 60 - 65 %; tỷ lệ vào tư thục đạt bình quân từ 10 - 15 %.
b) Tỷ lệ tuyển sinh vào bổ túc THPT và bổ túc THPT có nghề:
Đảm bảo tỷ lệ học sinh học bổ túc THPT, bổ túc THPT có nghề, học nghề tại các trung tâm, trường nghề huyện, thành phố và trung cấp chuyên nghiệp, bình quân đạt từ 25 - 30% so với số học sinh tốt nghiệp THCS hàng năm, nhằm thực hiện phân luồng và tạo tiền đề thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục trung học toàn tỉnh vào năm 2015.
4. Định hướng phát triển
4.1. Định hướng chung:
Hệ thống mạng lưới giáo dục trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên định hướng đến 2015, phải đảm bảo sự kế thừa các ưu điểm của định hướng ''Quy hoạch tổng thể phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng 2015'' đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 50/2006/QĐ-UBND ngày 17 tháng 11 năm 2006.
Định hướng chung phải đảm bảo theo hướng phát triển hợp lý giữa các vùng miền: Thành phố, thị trấn, đồng bằng, vùng miền núi khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, vùng bãi ngang; gắn với việc phát triển dân số, nhu cầu học tập và thu nhập của các tầng lớp dân cư trong từng vùng miền, địa bàn.
Từ nay đến năm 2015, ưu tiên phát triển các trường công lập tại các vùng đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang, vùng nhân dân có thu nhập thấp, đồng thời phát triển các trường tư thục ở các khu trung tâm đô thị (thành phố, thị xã, thị trấn), nhằm đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và không ngừng đáp ứng nhu cầu học tập của người học theo dịch vụ chất lượng cao.
4.2. Định hướng tổ chức không gian hệ thống giáo dục trung học phổ thông và giáo dục thường xuyên:
4.2.1. Mạng lưới giáo dục các trường trung học phổ thông:
4.2.1.1. Huyện Minh Hóa:
Hiện nay có 3 trường THPT, THCS và THPT công lập. Hệ thống mạng lưới hiện tại là tương đối hợp lý.
Thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ, dự kiến năm học 2010 - 2011 sẽ nâng cấp Trường THCS Dân tộc nội trú Minh Hóa, thành Trường THCS và THPT Dân tộc nội trú huyện, nhằm tăng tỷ lệ huy động học sinh dân tộc ở huyện Minh Hóa vào học THCS và THPT, tạo điều kiện thuận lợi cho việc củng cố phổ cập giáo dục THCS, thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục trung học vào năm 2015.
4.2.1.2. Huyện Tuyên Hóa:
Có 4 trường THPT, THCS và THPT công lập. Việc phân bố hệ thống các trường THPT hiện nay là tương đối hợp lý. Vì vậy, giữ nguyên hiện trạng vị trí, loại hình các trường trên địa bàn theo quy hoạch cũ.
4.2.1.3. Huyện Quảng Trạch:
Có 3 trường THPT công lập và 3 trường THPT bán công. Với hệ thống mạng lưới hiện tại, cần có sự sắp xếp lại để có sự phù hợp hơn.
Hướng quy hoạch như sau:
+ Vùng Nam Quảng Trạch: Có 5 xã thuộc bãi ngang, vùng công giáo (Quảng Minh, Quảng Lộc, Quảng Hải, Quảng Minh, Quảng Văn), thu nhập người dân thấp. Do đó, hệ thống giáo dục trung học phổ thông ở đây giữ nguyên quy hoạch cũ là 2 trường, với loại hình công lập.
+ Vùng Bắc Quảng Trạch: Có 9 xã, trong đó 2 xã thuộc vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (Quảng Hợp, Quảng Châu) và 3 xã thuộc bãi ngang (Quảng Đông, Quảng Hưng, Quảng Phú); đa số người dân có thu nhập thấp, nên sẽ sáp nhập Trường THPT Bán công Bắc Quảng Trạch vào Trường THPT số 3 Quảng Trạch.
+ Vùng trung tâm huyện Quảng Trạch: Giữ nguyên hệ thống 2 trường THPT. Tuy nhiên, thị trấn Ba Đồn trong tương lai sẽ nâng cấp thành thị xã. Do đó, sẽ chuyển Trường THPT Bán công Quảng Trạch sang tư thục, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của các gia đình có thu nhập khá trong vùng và huyện;
4.2.1.4. Huyện Bố Trạch:
Có 6 trường THPT, THCS và THPT (với 5 công lập, 01 bán công).
Hướng quy hoạch: Sẽ chuyển Trường THPT Bán công Bố Trạch sang tư thục, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của con em các gia đình có thu nhập khá trong thị trấn Hoàn Lão và huyện. Các trường THPT, THCS và THPT còn lại giữ nguyên theo quy hoạch cũ. Trong tương lai (dự kiến sau 2015), khi Khu du lịch Phong Nha - Kẻ Bàng phát triển, sẽ thành lập 01 trường THPT tư thục tại khu vực này.
4.2.1.5. Thành phố Đồng Hới:
Có 5 trường THPT (04 công lập, 01 bán công, trong đó có 01 trường chuyên và 01 trường PTDTNT tỉnh tuyển học sinh trên địa bàn toàn tỉnh).
Hướng quy hoạch: Chuyển Trường Bán công Đồng Hới sang tư thục. Hệ thống trường còn lại là công lập và giữ theo quy hoạch cũ.
4.2.1.6. Huyện Quảng Ninh:
Có 3 trường THPT (01 bán công, 02 công lập).
Hướng quy hoạch: Chuyển Trường THPT Bán công Quảng Ninh sang công lập, toàn huyện sẽ có 3 trường công lập. Trong tương lai (sau 2015), dự kiến sẽ có trường tư thục tại thị trấn Quán Hàu, nhằm đáp ứng nhu cầu của các gia đình có thu nhập khá; khi đó sẽ điều chỉnh, sắp xếp lại hệ thống trường THPT trên địa bàn của huyện.
4.2.1.7. Huyện Lệ Thủy:
Có 6 trường (05 công lập, 01 bán công).
Hướng quy hoạch: Chuyển Trường THPT Bán công Lệ Thủy sang tư thục; chia tách Trường THCS và THPT Dương Văn An thành Trường THPT Dương Văn An và THCS Thanh Thủy, kết hợp với việc điều chỉnh quy mô lớp ở mỗi trường phù hợp với từng địa bàn, khu vực. Hệ thống các trường còn lại (Trần Hưng Đạo, Lệ Thủy, Kỹ thuật Lệ Thủy, Hoàng Hoa Thám giữ nguyên theo quy hoạch cũ).
4.2.3. Mạng lưới các trung tâm GDTX và KTTH - HN huyện, thành phố:
4.2.3.1. Trung tâm GDTX huyện, thành phố
Trong thời gian qua, các trung tâm GDTX huyện, thành phố cơ bản thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ theo Quyết định số 01/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02 tháng 01 năm 2007 của Bộ GD và ĐT, về ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm GDTX huyện, thành phố; đã tổ chức các lớp xóa mù chữ và sau xóa mù chữ cho hàng ngàn lượt người; dạy bổ túc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông cho hàng ngàn học sinh không có cơ hội học tập phổ thông, góp phần củng cố, duy trì phổ cập tiểu học - chống mù chữ, phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập THCS và từng bước thực hiện phổ cập giáo dục trung học trên địa bàn toàn tỉnh. Ngoài ra, các trung tâm GDTX còn tổ chức được các lớp liên kết đào tạo vừa làm vừa học, góp phần tham gia đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cho các huyện, thành phố.
4.2.3.2. Trung tâm KTTH - HN các huyện, thành phố:
Thời gian qua đã tập trung vào các nhiệm vụ hướng nghiệp dạy nghề phổ thông, liên kết đào tạo và đào tạo chứng chỉ; riêng Trung tâm KTTH - HN Đồng Hới, đã mở bổ túc THPT kết hợp liên kết đào tạo với trường nghề của tỉnh, để dạy nghề dài hạn cho hàng trăm học sinh. Đây là một mô hình cần được mở rộng, phát triển, nhằm đáp ứng thiết thực nhu cầu phân luồng học sinh sau THCS và nhu cầu đào tạo nghề cho lực lượng trong độ tuổi lao động.
4.2.3.3. Hướng quy hoạch:
a) Hiện nay 2 trung tâm này có nhiều điểm trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ; mặt khác nhiệm vụ XMC và duy trì phổ cập tiểu học - chống mù chữ, không còn bức bách như thời gian trước đây; quy mô đào tạo, nhất là đào tạo bổ túc THPT có xu hướng giảm; trong khi đó, mô hình bổ túc THPT kết hợp với dạy nghề dài hạn là xu thế, nguyện vọng của nhiều học sinh hệ bổ túc THPT, đồng thời là điều kiện tốt nhất để thực hiện phân luồng sau THCS, thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục trung học, nâng tỷ lệ người lao động qua đào tạo;
Trong khi đó, tại các trung tâm KTTH - HN, công tác hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông chủ yếu dựa vào giáo viên các trường phổ thông, đội ngũ giáo viên trung tâm KTTH - HN chủ yếu tập trung làm nhiệm vụ tư vấn, giám sát việc hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông. Với thực tế đó, nhiều trung tâm KTTH - HN các huyện, thành phố gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nếu không có sự liên kết với các trung tâm GDTX.
Vì vậy, sắp xếp hệ thống các trung tâm GDTX, KTTH - HN huyện, thành phố trong xu thế phát triển của sự nghiệp giáo dục hiện nay là cần thiết, nhằm:
- Đáp ứng nhu cầu của xã hội về mô hình học bổ túc THPT kết hợp dạy nghề dài hạn, phục vụ yêu cầu cấp bách hiện nay về đào tạo nghề, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà, góp phần nâng cao tỷ lệ người lao động qua đào tạo nghề.
- Giảm đầu mối và giảm biên chế quản lý, nhưng không ảnh hưởng đến nhiệm vụ và chức năng hoạt động theo quy định của 2 trung tâm;
- Tạo sức mạnh tổng hợp, khắc phục tình trạng nhỏ lẻ, manh mún về đội ngũ, cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đào tạo.
b) Hướng quy hoạch: Sáp nhập hai trung tâm GDTX và KTTH - HN của các huyện, thành phố thành trung tâm GDTX - HN. Cụ thể, sau khi sáp nhập sẽ có các trung tâm GDTX - HN sau:
- Trung tâm GDTX - HN Minh Hóa;
- Trung tâm GDTX - HN Tuyên Hóa;
- Trung tâm GDTX - HN Quảng Trạch;
- Trung tâm GDTX - HN Bố Trạch;
- Trung tâm GDTX - HN Đồng Hới;
- Trung tâm GDTX - HN Quảng Ninh;
- Trung tâm GDTX - HN Lệ Thủy.
Khi sáp nhập, sẽ chọn địa điểm thuận lợi làm địa điểm của trung tâm GDTX - HN, các địa điểm còn lại của các trung tâm GDTX, KTTH - HN không được chọn làm địa điểm trung tâm mới, sẽ là cơ sở 2 thực hiện nhiệm vụ theo chức năng của trung tâm mới (GDTX - HN) hoặc sẽ bàn giao cho Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chuyển giao cho các cơ sở giáo dục khác trên địa bàn sử dụng.
5. Lộ trình thực hiện
5.l. Giai đoạn 2009 - 2010:
a) Giáo dục THPT:
- Chuyển các đơn vị sau đây sang công lập: Sáp nhập Trường THPT Bán công Bắc Quảng Trạch vào Trường THPT số 3 Quảng Trạch;
- Chuyển Trường THPT Bán công Đồng Hới sang trường tư thục.
b) Giáo dục thường xuyên và KTTH - HN:
- Sáp nhập các trung tâm KTTH - HN huyện Lệ Thủy, Minh Hóa vào Trung tâm GDTX huyện Lệ Thủy, Minh Hóa, thành Trung tâm GDTX - HN Lệ Thủy, Minh Hóa.
5.2. Giai đoạn 2011 - 2015:
a) Giáo dục THPT:
- Chuyển Trường THPT Bán công Nam Quảng Trạch, Bán công Quảng Ninh sang công lập;
- Chuyển các Trường THPT Bán công Quảng Trạch, Bán công Bố Trạch, Bán công Lệ Thủy sang tư thục.
b) Giáo dục thường xuyên và KTTH - HN:
- Sáp nhập các trung tâm KTTH - HN vào TTGDTX của các huyện, thành phố còn lại.
6. Các giải pháp, cơ chế chính sách chủ yếu
6.1. Giải pháp về tổ chức thực hiện:
- Trên cơ sở các cơ chế, chính sách của Nhà nước, các sở, ban ngành cụ thể hóa cơ chế, chính sách liên quan trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước, quản lý quy hoạch, quản lý đất đai... tạo thuận lợi cơ bản cho việc thực hiện quy hoạch theo lộ trình;
- Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về quy hoạch; công tác quản lý quy hoạch tỉnh, huyện cần phải được phân cấp cụ thể từ bước xây dựng đến bước thực hiện quy hoạch, kể cả phân cấp xây dựng và triển khai các dự án theo chức năng quản lý ngành của các sở, ban, ngành trong tỉnh.
- Công khai hóa quy hoạch đã phê duyệt; tổ chức tuyên truyền, quảng cáo, thu hút sự chú ý của toàn dân, của các nhà đầu tư trong và ngoài nước để huy động tham gia thực hiện quy hoạch. Đồng thời thường xuyên nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế.
- Triển khai quy hoạch vào các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm. Kế hoạch hàng năm phải bám vào các mục tiêu quy hoạch đã được duyệt và tiến độ phải thực hiện trong từng thời kỳ.
- Giám sát việc thực hiện đầu tư phát triển theo quy hoạch. Cuối mỗi kỳ quy hoạch cần tổ chức đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch của từng thời kỳ, điều chỉnh và bổ sung lại mục tiêu cho phù hợp với tình hình thực tế.
6.2. Giải pháp về huy động vốn đầu tư:
Xây dựng hệ thống quỹ đầu tư phát triển quy hoạch phát triển giáo dục trung học và GDTX; xây dựng cơ chế phát triển quy hoạch bằng nhiều nguồn vốn theo hướng khuyến khích sự tham gia của khu vực ngoài Nhà nước (các nguồn đầu tư của các nhà tài trợ, doanh nghiệp, tổ chức tập thể, cá nhân...).

Content:
Điều 1. Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển mạng lưới giáo dục trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đến năm 2015 với những nội dung chính sau đây:
1. Quan điểm
Quy hoạch phát triển mạng lưới giáo dục trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đến năm 2015, phục vụ mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Việc quy hoạch phát triển mạng lưới giáo dục trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên phải đảm bảo:
- Mạng lưới phù hợp với sự phân bố dân cư trên địa bàn các vùng miền;
- Đảm bảo phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh trên tất cả các vùng miền;
- Đáp ứng mục tiêu xây dựng trường THPT đạt chuẩn và mục tiêu phổ cập giáo dục trung học của tỉnh, mục tiêu phân luồng học sinh sau THCS;
- Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục.
2. Mục tiêu
Từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống mạng lưới giáo dục trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên trên địa bàn toàn tỉnh đồng bộ, có cơ sở hạ tầng phù hợp, có môi trường và chất lượng giáo dục tốt, đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, công bằng trong giáo dục.
3. Các chỉ tiêu
a) Tỷ lệ tuyển sinh vào lớp 10 THPT:
Đối với các huyện miền núi Tuyên Hóa, Minh Hóa: Chủ yếu là học sinh công lập; tỷ lệ tuyển sinh vào lớp 10 THPT công lập đạt bình quân hàng năm từ 70 - 75 %;
- Đối với các huyện chưa có trường tư thục: Tỷ lệ tuyển sinh vào lớp 10 công lập đạt bình quân từ 60 - 65 %;
- Đối với các huyện, thành phố có trường tư thục: Tỷ lệ tuyển sinh vào lớp 10 công lập đạt bình quân từ 60 - 65 %; tỷ lệ vào tư thục đạt bình quân từ 10 - 15 %.
b) Tỷ lệ tuyển sinh vào bổ túc THPT và bổ túc THPT có nghề:
Đảm bảo tỷ lệ học sinh học bổ túc THPT, bổ túc THPT có nghề, học nghề tại các trung tâm, trường nghề huyện, thành phố và trung cấp chuyên nghiệp, bình quân đạt từ 25 - 30% so với số học sinh tốt nghiệp THCS hàng năm, nhằm thực hiện phân luồng và tạo tiền đề thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục trung học toàn tỉnh vào năm 2015.
4. Định hướng phát triển
4.1. Định hướng chung:
Hệ thống mạng lưới giáo dục trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên định hướng đến 2015, phải đảm bảo sự kế thừa các ưu điểm của định hướng ''Quy hoạch tổng thể phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng 2015'' đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 50/2006/QĐ-UBND ngày 17 tháng 11 năm 2006.
Định hướng chung phải đảm bảo theo hướng phát triển hợp lý giữa các vùng miền: Thành phố, thị trấn, đồng bằng, vùng miền núi khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, vùng bãi ngang; gắn với việc phát triển dân số, nhu cầu học tập và thu nhập của các tầng lớp dân cư trong từng vùng miền, địa bàn.
Từ nay đến năm 2015, ưu tiên phát triển các trường công lập tại các vùng đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang, vùng nhân dân có thu nhập thấp, đồng thời phát triển các trường tư thục ở các khu trung tâm đô thị (thành phố, thị xã, thị trấn), nhằm đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và không ngừng đáp ứng nhu cầu học tập của người học theo dịch vụ chất lượng cao.
4.2. Định hướng tổ chức không gian hệ thống giáo dục trung học phổ thông và giáo dục thường xuyên:
4.2.1. Mạng lưới giáo dục các trường trung học phổ thông:
4.2.1.1. Huyện Minh Hóa:
Hiện nay có 3 trường THPT, THCS và THPT công lập. Hệ thống mạng lưới hiện tại là tương đối hợp lý.
Thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ, dự kiến năm học 2010 - 2011 sẽ nâng cấp Trường THCS Dân tộc nội trú Minh Hóa, thành Trường THCS và THPT Dân tộc nội trú huyện, nhằm tăng tỷ lệ huy động học sinh dân tộc ở huyện Minh Hóa vào học THCS và THPT, tạo điều kiện thuận lợi cho việc củng cố phổ cập giáo dục THCS, thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục trung học vào năm 2015.
4.2.1.2. Huyện Tuyên Hóa:
Có 4 trường THPT, THCS và THPT công lập. Việc phân bố hệ thống các trường THPT hiện nay là tương đối hợp lý. Vì vậy, giữ nguyên hiện trạng vị trí, loại hình các trường trên địa bàn theo quy hoạch cũ.
4.2.1.3. Huyện Quảng Trạch:
Có 3 trường THPT công lập và 3 trường THPT bán công. Với hệ thống mạng lưới hiện tại, cần có sự sắp xếp lại để có sự phù hợp hơn.
Hướng quy hoạch như sau:
+ Vùng Nam Quảng Trạch: Có 5 xã thuộc bãi ngang, vùng công giáo (Quảng Minh, Quảng Lộc, Quảng Hải, Quảng Minh, Quảng Văn), thu nhập người dân thấp. Do đó, hệ thống giáo dục trung học phổ thông ở đây giữ nguyên quy hoạch cũ là 2 trường, với loại hình công lập.
+ Vùng Bắc Quảng Trạch: Có 9 xã, trong đó 2 xã thuộc vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (Quảng Hợp, Quảng Châu) và 3 xã thuộc bãi ngang (Quảng Đông, Quảng Hưng, Quảng Phú); đa số người dân có thu nhập thấp, nên sẽ sáp nhập Trường THPT Bán công Bắc Quảng Trạch vào Trường THPT số 3 Quảng Trạch.
+ Vùng trung tâm huyện Quảng Trạch: Giữ nguyên hệ thống 2 trường THPT. Tuy nhiên, thị trấn Ba Đồn trong tương lai sẽ nâng cấp thành thị xã. Do đó, sẽ chuyển Trường THPT Bán công Quảng Trạch sang tư thục, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của các gia đình có thu nhập khá trong vùng và huyện;
4.2.1.4. Huyện Bố Trạch:
Có 6 trường THPT, THCS và THPT (với 5 công lập, 01 bán công).
Hướng quy hoạch: Sẽ chuyển Trường THPT Bán công Bố Trạch sang tư thục, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của con em các gia đình có thu nhập khá trong thị trấn Hoàn Lão và huyện. Các trường THPT, THCS và THPT còn lại giữ nguyên theo quy hoạch cũ. Trong tương lai (dự kiến sau 2015), khi Khu du lịch Phong Nha - Kẻ Bàng phát triển, sẽ thành lập 01 trường THPT tư thục tại khu vực này.
4.2.1.5. Thành phố Đồng Hới:
Có 5 trường THPT (04 công lập, 01 bán công, trong đó có 01 trường chuyên và 01 trường PTDTNT tỉnh tuyển học sinh trên địa bàn toàn tỉnh).
Hướng quy hoạch: Chuyển Trường Bán công Đồng Hới sang tư thục. Hệ thống trường còn lại là công lập và giữ theo quy hoạch cũ.
4.2.1.6. Huyện Quảng Ninh:
Có 3 trường THPT (01 bán công, 02 công lập).
Hướng quy hoạch: Chuyển Trường THPT Bán công Quảng Ninh sang công lập, toàn huyện sẽ có 3 trường công lập. Trong tương lai (sau 2015), dự kiến sẽ có trường tư thục tại thị trấn Quán Hàu, nhằm đáp ứng nhu cầu của các gia đình có thu nhập khá; khi đó sẽ điều chỉnh, sắp xếp lại hệ thống trường THPT trên địa bàn của huyện.
4.2.1.7. Huyện Lệ Thủy:
Có 6 trường (05 công lập, 01 bán công).
Hướng quy hoạch: Chuyển Trường THPT Bán công Lệ Thủy sang tư thục; chia tách Trường THCS và THPT Dương Văn An thành Trường THPT Dương Văn An và THCS Thanh Thủy, kết hợp với việc điều chỉnh quy mô lớp ở mỗi trường phù hợp với từng địa bàn, khu vực. Hệ thống các trường còn lại (Trần Hưng Đạo, Lệ Thủy, Kỹ thuật Lệ Thủy, Hoàng Hoa Thám giữ nguyên theo quy hoạch cũ).
4.2.3. Mạng lưới các trung tâm GDTX và KTTH - HN huyện, thành phố:
4.2.3.1. Trung tâm GDTX huyện, thành phố
Trong thời gian qua, các trung tâm GDTX huyện, thành phố cơ bản thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ theo Quyết định số 01/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02 tháng 01 năm 2007 của Bộ GD và ĐT, về ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm GDTX huyện, thành phố; đã tổ chức các lớp xóa mù chữ và sau xóa mù chữ cho hàng ngàn lượt người; dạy bổ túc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông cho hàng ngàn học sinh không có cơ hội học tập phổ thông, góp phần củng cố, duy trì phổ cập tiểu học - chống mù chữ, phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập THCS và từng bước thực hiện phổ cập giáo dục trung học trên địa bàn toàn tỉnh. Ngoài ra, các trung tâm GDTX còn tổ chức được các lớp liên kết đào tạo vừa làm vừa học, góp phần tham gia đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cho các huyện, thành phố.
4.2.3.2. Trung tâm KTTH - HN các huyện, thành phố:
Thời gian qua đã tập trung vào các nhiệm vụ hướng nghiệp dạy nghề phổ thông, liên kết đào tạo và đào tạo chứng chỉ; riêng Trung tâm KTTH - HN Đồng Hới, đã mở bổ túc THPT kết hợp liên kết đào tạo với trường nghề của tỉnh, để dạy nghề dài hạn cho hàng trăm học sinh. Đây là một mô hình cần được mở rộng, phát triển, nhằm đáp ứng thiết thực nhu cầu phân luồng học sinh sau THCS và nhu cầu đào tạo nghề cho lực lượng trong độ tuổi lao động.
4.2.3.3. Hướng quy hoạch:
a) Hiện nay 2 trung tâm này có nhiều điểm trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ; mặt khác nhiệm vụ XMC và duy trì phổ cập tiểu học - chống mù chữ, không còn bức bách như thời gian trước đây; quy mô đào tạo, nhất là đào tạo bổ túc THPT có xu hướng giảm; trong khi đó, mô hình bổ túc THPT kết hợp với dạy nghề dài hạn là xu thế, nguyện vọng của nhiều học sinh hệ bổ túc THPT, đồng thời là điều kiện tốt nhất để thực hiện phân luồng sau THCS, thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục trung học, nâng tỷ lệ người lao động qua đào tạo;
Trong khi đó, tại các trung tâm KTTH - HN, công tác hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông chủ yếu dựa vào giáo viên các trường phổ thông, đội ngũ giáo viên trung tâm KTTH - HN chủ yếu tập trung làm nhiệm vụ tư vấn, giám sát việc hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông. Với thực tế đó, nhiều trung tâm KTTH - HN các huyện, thành phố gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nếu không có sự liên kết với các trung tâm GDTX.
Vì vậy, sắp xếp hệ thống các trung tâm GDTX, KTTH - HN huyện, thành phố trong xu thế phát triển của sự nghiệp giáo dục hiện nay là cần thiết, nhằm:
- Đáp ứng nhu cầu của xã hội về mô hình học bổ túc THPT kết hợp dạy nghề dài hạn, phục vụ yêu cầu cấp bách hiện nay về đào tạo nghề, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà, góp phần nâng cao tỷ lệ người lao động qua đào tạo nghề.
- Giảm đầu mối và giảm biên chế quản lý, nhưng không ảnh hưởng đến nhiệm vụ và chức năng hoạt động theo quy định của 2 trung tâm;
- Tạo sức mạnh tổng hợp, khắc phục tình trạng nhỏ lẻ, manh mún về đội ngũ, cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đào tạo.
b) Hướng quy hoạch: Sáp nhập hai trung tâm GDTX và KTTH - HN của các huyện, thành phố thành trung tâm GDTX - HN. Cụ thể, sau khi sáp nhập sẽ có các trung tâm GDTX - HN sau:
- Trung tâm GDTX - HN Minh Hóa;
- Trung tâm GDTX - HN Tuyên Hóa;
- Trung tâm GDTX - HN Quảng Trạch;
- Trung tâm GDTX - HN Bố Trạch;
- Trung tâm GDTX - HN Đồng Hới;
- Trung tâm GDTX - HN Quảng Ninh;
- Trung tâm GDTX - HN Lệ Thủy.
Khi sáp nhập, sẽ chọn địa điểm thuận lợi làm địa điểm của trung tâm GDTX - HN, các địa điểm còn lại của các trung tâm GDTX, KTTH - HN không được chọn làm địa điểm trung tâm mới, sẽ là cơ sở 2 thực hiện nhiệm vụ theo chức năng của trung tâm mới (GDTX - HN) hoặc sẽ bàn giao cho Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chuyển giao cho các cơ sở giáo dục khác trên địa bàn sử dụng.
5. Lộ trình thực hiện
5.l. Giai đoạn 2009 - 2010:
a) Giáo dục THPT:
- Chuyển các đơn vị sau đây sang công lập: Sáp nhập Trường THPT Bán công Bắc Quảng Trạch vào Trường THPT số 3 Quảng Trạch;
- Chuyển Trường THPT Bán công Đồng Hới sang trường tư thục.
b) Giáo dục thường xuyên và KTTH - HN:
- Sáp nhập các trung tâm KTTH - HN huyện Lệ Thủy, Minh Hóa vào Trung tâm GDTX huyện Lệ Thủy, Minh Hóa, thành Trung tâm GDTX - HN Lệ Thủy, Minh Hóa.
5.2. Giai đoạn 2011 - 2015:
a) Giáo dục THPT:
- Chuyển Trường THPT Bán công Nam Quảng Trạch, Bán công Quảng Ninh sang công lập;
- Chuyển các Trường THPT Bán công Quảng Trạch, Bán công Bố Trạch, Bán công Lệ Thủy sang tư thục.
b) Giáo dục thường xuyên và KTTH - HN:
- Sáp nhập các trung tâm KTTH - HN vào TTGDTX của các huyện, thành phố còn lại.
6. Các giải pháp, cơ chế chính sách chủ yếu
6.1. Giải pháp về tổ chức thực hiện:
- Trên cơ sở các cơ chế, chính sách của Nhà nước, các sở, ban ngành cụ thể hóa cơ chế, chính sách liên quan trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước, quản lý quy hoạch, quản lý đất đai... tạo thuận lợi cơ bản cho việc thực hiện quy hoạch theo lộ trình;
- Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về quy hoạch; công tác quản lý quy hoạch tỉnh, huyện cần phải được phân cấp cụ thể từ bước xây dựng đến bước thực hiện quy hoạch, kể cả phân cấp xây dựng và triển khai các dự án theo chức năng quản lý ngành của các sở, ban, ngành trong tỉnh.
- Công khai hóa quy hoạch đã phê duyệt; tổ chức tuyên truyền, quảng cáo, thu hút sự chú ý của toàn dân, của các nhà đầu tư trong và ngoài nước để huy động tham gia thực hiện quy hoạch. Đồng thời thường xuyên nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế.
- Triển khai quy hoạch vào các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm. Kế hoạch hàng năm phải bám vào các mục tiêu quy hoạch đã được duyệt và tiến độ phải thực hiện trong từng thời kỳ.
- Giám sát việc thực hiện đầu tư phát triển theo quy hoạch. Cuối mỗi kỳ quy hoạch cần tổ chức đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch của từng thời kỳ, điều chỉnh và bổ sung lại mục tiêu cho phù hợp với tình hình thực tế.
6.2. Giải pháp về huy động vốn đầu tư:
Xây dựng hệ thống quỹ đầu tư phát triển quy hoạch phát triển giáo dục trung học và GDTX; xây dựng cơ chế phát triển quy hoạch bằng nhiều nguồn vốn theo hướng khuyến khích sự tham gia của khu vực ngoài Nhà nước (các nguồn đầu tư của các nhà tài trợ, doanh nghiệp, tổ chức tập thể, cá nhân...).