Document: Điểm c Khoản 3 Điều 1 Quyết định 9726/QĐ-BCT năm 2013 Quy hoạch mạng lưới mua bán thuốc lá 2020 2025

Type: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "19/12/2013", "sign_number": "9726/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "19/12/2013", "sign_number": "9726/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "19/12/2013", "sign_number": "9726/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "19/12/2013", "sign_number": "9726/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "19/12/2013", "sign_number": "9726/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 3 Điều 1 Quyết định 9726/QĐ-BCT năm 2013 Quy hoạch mạng lưới mua bán thuốc lá 2020 2025

Điều 1. Phê duyệt “Quy hoạch mạng lưới mua bán sản phẩm thuốc lá giai đoạn đến năm 2020, có xét đến năm 2025” với những nội dung chủ yếu như sau:
...
3. Phát triển lực lượng thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá có năng lực, đáp ứng và luôn tuân thủ các điều kiện, quy định của nhà nước về kinh doanh sản phẩm thuốc lá.
II. MỤC TIÊU QUY HOẠCH
1. Mục tiêu chung
Từng bước xây dựng, sắp xếp lại mạng lưới thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá theo hướng xây dựng một cấu trúc hợp lý với sự tham gia của các thành phần kinh tế và loại hình tổ chức nhằm hình thành một hệ thống các thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá chuyên nghiệp, có năng lực, có khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng (bao gồm các sản phẩm thuốc lá sản xuất trong nước và sản phẩm thuốc lá nhập khẩu) theo từng khu vực địa bàn trong phạm vi cả nước, nâng cao khả năng cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và hội nhập kinh tế quốc tế; hạn chế kinh doanh tự phát, kinh doanh không có giấy phép; kiểm soát được chất lượng sản phẩm, giá cả hàng hóa; kiểm soát và hạn chế việc kinh doanh thuốc lá nhập lậu, tiến tới xóa bỏ thuốc lá bất hợp pháp trên thị trường; góp phần tích cực vào việc phòng, chống tác hại của thuốc lá và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
2. Mục tiêu cụ thể
Tổ chức, sắp xếp lại các thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá trên địa bàn các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh) trên cơ sở mạng lưới mua bán sản phẩm thuốc lá hiện có theo hướng:
...
c) Giai đoạn 2021 - 2025
Tiếp tục sắp xếp lại số thương nhân đã tham gia phân phối, bán buôn, bán lẻ sản phẩm thuốc lá trong giai đoạn trước để điều chỉnh phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội và yêu cầu quản lý đặt ra trong thời kỳ này.
Trong giai đoạn này với dân số cả nước khoảng 97.000.000 người sẽ dự kiến có tối đa khoảng 325.661 thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá (trong đó có khoảng 388 thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá, khoảng 1.940 thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá, khoảng 323.333 thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá), trong đó miền Bắc chiếm khoảng 36%; miền Trung, Tây Nguyên chiếm khoảng 28% và miền Nam chiếm khoảng 37%.
III. QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI MUA BÁN SẢN PHẨM THUỐC LÁ
1. Căn cứ xác định quy hoạch
Quy hoạch mạng lưới mua bán sản phẩm thuốc lá trên phạm vi toàn quốc được xác định theo những căn cứ sau:
a) Căn cứ lựa chọn và kiểm soát các thương nhân:
- Tại mỗi tỉnh/thành phố lựa chọn một số thương nhân kinh doanh sản phẩm thuốc lá dựa trên căn cứ về dân số, diện tích điểm bán, khả năng tài chính, khả năng vận tải, hệ thống kho bãi, loại đô thị, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu của thị trường, thị hiếu người tiêu dùng và kinh nghiệm kinh doanh của thương nhân.
- Đối với các tỉnh/thành phố có lượng lượt khách du lịch lớn, Bộ Công Thương sẽ xem xét và quyết định việc bổ sung thương nhân kinh doanh bán buôn, bán lẻ sản phẩm thuốc lá trên cơ sở đề nghị của Sở Công Thương các tỉnh/thành phố kèm theo thống kê lượt khách du lịch.
b) Căn cứ lựa chọn thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá:
- Căn cứ lựa chọn thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá:
+ Có địa điểm kinh doanh cố định, địa chỉ rõ ràng, đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật, trang thiết bị theo quy định.
+ Thương nhân kinh doanh phân phối sản phẩm thuốc lá trên địa bàn từ hai (2) tỉnh trở lên được xác định theo số dân trên cả nước theo nguyên tắc không quá một (1) thương nhân kinh doanh phân phối sản phẩm thuốc lá trên hai trăm năm mươi nghìn (250.000) dân.
+ Có kho hàng (hoặc hệ thống kho hàng) thuộc sở hữu hoặc đồng sở hữu theo hợp đồng liên doanh, liên kết góp vốn hoặc có hợp đồng thuê kho hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của doanh nghiệp (tối thiểu tổng diện tích phải từ 100 m2 trở lên) đáp ứng yêu cầu bảo quản được chất lượng của sản phẩm thuốc lá trong thời gian lưu kho.
+ Có phương tiện vận tải thuộc sở hữu hoặc đồng sở hữu theo hợp đồng liên doanh, liên kết góp vốn hoặc có hợp đồng thuê phương tiện vận tải phù hợp với quy mô kinh doanh của doanh nghiệp (tối thiểu phải có hai (2) xe có tải trọng từ 500kg trở lên) đáp ứng yêu cầu bảo quản được chất lượng của sản phẩm thuốc lá trong thời gian vận chuyển.
+ Có năng lực tài chính bảo đảm cho toàn bộ hệ thống phân phối của doanh nghiệp hoạt động bình thường (có Giấy xác nhận của ngân hàng tối thiểu hai (2) tỷ Việt Nam đồng trở lên).
+ Có hệ thống phân phối sản phẩm thuốc lá trên địa bàn từ hai (2) tỉnh trở lên (tại địa bàn mỗi tỉnh phải có tối thiểu từ hai (2) thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá trở lên).
+ Có kinh nghiệm, khả năng xâm nhập thị trường để kinh doanh mặt hàng thuốc lá (thường là các thương nhân đã kinh doanh sản phẩm thuốc lá hoặc các mặt hàng tiêu dùng khác).
- Căn cứ lựa chọn thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá:
+ Có địa điểm kinh doanh cố định, địa chỉ rõ ràng, đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật, trang thiết bị theo quy định.
+ Thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá trên địa bàn một (1) tỉnh được xác định trên địa bàn tỉnh theo nguyên tắc không quá một (1) thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá trên năm mươi nghìn (50.000) dân.
+ Có kho hàng (hoặc hệ thống kho hàng) thuộc sở hữu hoặc đồng sở hữu theo hợp đồng liên doanh, liên kết góp vốn hoặc có hợp đồng thuê kho hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của doanh nghiệp (tối thiểu tổng diện tích phải từ 50 m2 trở lên) đáp ứng yêu cầu bảo quản được chất lượng của sản phẩm thuốc lá trong thời gian lưu kho.
+ Có phương tiện vận tải thuộc sở hữu hoặc đồng sở hữu theo hợp đồng liên doanh, liên kết góp vốn hoặc có hợp đồng thuê phương tiện vận tải phù hợp với quy mô kinh doanh của doanh nghiệp (tối thiểu phải có một (1) xe có tải trọng từ 500kg trở lên) đáp ứng yêu cầu bảo quản được chất lượng của sản phẩm thuốc lá trong thời gian vận chuyển.
+ Có năng lực tài chính bảo đảm cho toàn bộ hệ thống phân phối của doanh nghiệp hoạt động bình thường (có Giấy xác nhận của ngân hàng tối thiểu một (1) tỷ Việt Nam đồng trở lên).
+ Có hệ thống bán buôn sản phẩm thuốc lá trên địa bàn tỉnh nơi thương nhân đặt trụ sở chính (phải có tối thiểu từ hai (2) thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá trở lên).
+ Có kinh nghiệm, khả năng xâm nhập thị trường để kinh doanh mặt hàng thuốc lá (thường là các thương nhân đã kinh doanh sản phẩm thuốc lá hoặc các mặt hàng tiêu dùng khác).
- Căn cứ lựa chọn thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá:
+ Thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá trên địa bàn huyện được xác định theo nguyên tắc không quá một (1) thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá trên ba trăm (300) dân.
+ Có địa điểm kinh doanh cố định, địa chỉ rõ ràng;
+ Diện tích điểm kinh doanh tối thiểu phải từ 3m2 trở lên (đối với điểm chuyên kinh doanh thuốc lá có diện tích tối thiểu phải từ 3m2 trở lên; đối với điểm kinh doanh tổng hợp trong đó phải có diện tích tối thiểu dành riêng cho thuốc lá từ 0,5m2 trở lên).
2. Quy hoạch mạng lưới mua bán sản phẩm thuốc lá
a) Giai đoạn đến năm 2015
Dự kiến đến năm 2015 với dân số cả nước khoảng 91.000.000 người sẽ có tối đa khoảng 305.517 thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá (trong đó có khoảng 364 thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá, khoảng 1.820 thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá, khoảng 303.333 thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá), trong đó miền Bắc (Đồng bằng sông Hồng, Trung du và miền núi phía Bắc) chiếm khoảng 36%; miền Trung (Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên) chiếm khoảng 28% và miền Nam (Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long) chiếm khoảng 37%.
Trong giai đoạn này dự kiến cần phải có kho hàng, phương tiện vận tải và năng lực tài chính, cụ thể như sau:
- Kho hàng trong giai đoạn này cần phải có diện tích tối thiểu khoảng 1.037.400 m2 trở lên, trong đó:
+ Thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá cần phải có diện tích tối thiểu khoảng 36.400 m2 trở lên;
+ Thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá cần phải có diện tích tối thiểu khoảng 91.000 m2 trở lên;
+ Thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá cần phải có diện tích tối thiểu khoảng 910.000 m2 trở lên;
- Phương tiện vận tải trong giai đoạn này cần phải có tối thiểu khoảng 2.548 chiếc xe có tải trọng từ 500kg trở lên, trong đó:
+ Thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá cần phải có phương tiện vận tải tối thiểu khoảng 728 xe trở lên;
+ Thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá cần phải có phương tiện vận tải tối thiểu khoảng 1.820 xe trở lên.
- Năng lực tài chính trong giai đoạn này cần phải có tối thiểu khoảng 2.548 tỷ Việt Nam đồng trở lên, trong đó:
+ Thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá cần phải có năng lực tài chính tối thiểu khoảng 728 tỷ Việt Nam đồng trở lên;
+ Thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá cần phải có năng lực tài chính khoảng 1.820 tỷ Việt Nam đồng trở lên.
b) Giai đoạn 2016-2020
Đến năm 2020 với dân số cả nước khoảng 94.000.000 người sẽ có tối đa khoảng 315.589 thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá (trong đó có khoảng 376 thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá, khoảng 1.880 thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá, khoảng 313.333 thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá), trong đó miền Bắc chiếm khoảng 36%; miền Trung chiếm khoảng 28% và miền Nam chiếm khoảng 37%.
Trong giai đoạn này dự kiến cần phải có kho hàng, phương tiện vận tải và năng lực tài chính, cụ thể như sau:
- Kho hàng trong giai đoạn này cần phải có diện tích tối thiểu khoảng 1.071.600m2 trở lên, trong đó:
+ Thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá cần phải có diện tích tối thiểu khoảng 37.600m2 trở lên;
+ Thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá cần phải có diện tích tối thiểu khoảng 94.000m2 trở lên;
+ Thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá cần phải có diện tích tối thiểu khoảng 940.000m2 trở lên;
- Phương tiện vận tải trong giai đoạn này cần phải có tối thiểu khoảng 2.632 chiếc xe có tải trọng từ 500kg trở lên, trong đó:
+ Thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá cần phải có phương tiện vận tải tối thiểu khoảng 752 xe trở lên;
+ Thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá cần phải có phương tiện vận tải tối thiểu khoảng 1.880 xe trở lên.
- Năng lực tài chính trong giai đoạn này cần phải có tối thiểu khoảng 2.632 tỷ Việt Nam đồng trở lên, trong đó:
+ Thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá cần phải có năng lực tài chính tối thiểu khoảng 752 tỷ Việt Nam đồng trở lên;
+ Thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá cần phải có năng lực tài chính khoảng 1.880 tỷ Việt Nam đồng trở lên.
c) Giai đoạn 2021 - 2025
Sắp xếp lại số thương nhân phân phối, bán buôn, bán lẻ đã kinh doanh sản phẩm thuốc lá để điều chỉnh trong giai đoạn này với dân số cả nước khoảng 97.000.000 người, dự kiến có tối đa khoảng 325.661 thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá (trong đó có khoảng 388 thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá, khoảng 1.940 thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá, khoảng 323.333 thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá), trong đó miền Bắc chiếm khoảng 36%; miền Trung, Tây Nguyên chiếm khoảng 28% và miền Nam chiếm khoảng 37% theo nguyên tắc:
- Xem xét, sắp xếp, điều chỉnh lại thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá hợp lý theo đề nghị của các nhà cung cấp, nhu cầu của thị trường, thị hiếu người tiêu dùng và tuân thủ các nguyên tắc đặt ra trong giai đoạn này.
- Quản lý được hệ thống bán lẻ sản phẩm thuốc lá chặt chẽ hơn theo quy hoạch của địa phương, phân cấp quản lý xuống cấp xã, phường.
IV. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Đối với nhà nước
a) Hàng năm tiến hành rà soát để sửa đổi, bổ sung (nếu có) các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá và Nghị định số 67/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá về kinh doanh thuốc lá cho phù hợp với thực tế.
b) Tăng cường các biện pháp kiểm tra, kiểm soát việc tuân thủ các điều kiện kinh doanh, các quy định của pháp luật về kinh doanh sản phẩm thuốc lá đối với các thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá nhằm tạo một hệ thống kinh doanh ổn định để chống hàng lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng lưu thông trên thị trường.
c) Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định hiện hành của pháp luật về kinh doanh sản phẩm thuốc lá tới các thương nhân kinh doanh sản phẩm thuốc lá và tới các cơ quan chức năng có liên quan.

Content:
Giai đoạn 2021 - 2025
Tiếp tục sắp xếp lại số thương nhân đã tham gia phân phối, bán buôn, bán lẻ sản phẩm thuốc lá trong giai đoạn trước để điều chỉnh phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội và yêu cầu quản lý đặt ra trong thời kỳ này.
Trong giai đoạn này với dân số cả nước khoảng 97.000.000 người sẽ dự kiến có tối đa khoảng 325.661 thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá (trong đó có khoảng 388 thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá, khoảng 1.940 thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá, khoảng 323.333 thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá), trong đó miền Bắc chiếm khoảng 36%; miền Trung, Tây Nguyên chiếm khoảng 28% và miền Nam chiếm khoảng 37%.
III. QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI MUA BÁN SẢN PHẨM THUỐC LÁ
1. Căn cứ xác định quy hoạch
Quy hoạch mạng lưới mua bán sản phẩm thuốc lá trên phạm vi toàn quốc được xác định theo những căn cứ sau:
a) Căn cứ lựa chọn và kiểm soát các thương nhân:
- Tại mỗi tỉnh/thành phố lựa chọn một số thương nhân kinh doanh sản phẩm thuốc lá dựa trên căn cứ về dân số, diện tích điểm bán, khả năng tài chính, khả năng vận tải, hệ thống kho bãi, loại đô thị, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu của thị trường, thị hiếu người tiêu dùng và kinh nghiệm kinh doanh của thương nhân.
- Đối với các tỉnh/thành phố có lượng lượt khách du lịch lớn, Bộ Công Thương sẽ xem xét và quyết định việc bổ sung thương nhân kinh doanh bán buôn, bán lẻ sản phẩm thuốc lá trên cơ sở đề nghị của Sở Công Thương các tỉnh/thành phố kèm theo thống kê lượt khách du lịch.
b) Căn cứ lựa chọn thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá:
- Căn cứ lựa chọn thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá:
+ Có địa điểm kinh doanh cố định, địa chỉ rõ ràng, đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật, trang thiết bị theo quy định.
+ Thương nhân kinh doanh phân phối sản phẩm thuốc lá trên địa bàn từ hai (2) tỉnh trở lên được xác định theo số dân trên cả nước theo nguyên tắc không quá một (1) thương nhân kinh doanh phân phối sản phẩm thuốc lá trên hai trăm năm mươi nghìn (250.000) dân.
+ Có kho hàng (hoặc hệ thống kho hàng) thuộc sở hữu hoặc đồng sở hữu theo hợp đồng liên doanh, liên kết góp vốn hoặc có hợp đồng thuê kho hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của doanh nghiệp (tối thiểu tổng diện tích phải từ 100 m2 trở lên) đáp ứng yêu cầu bảo quản được chất lượng của sản phẩm thuốc lá trong thời gian lưu kho.
+ Có phương tiện vận tải thuộc sở hữu hoặc đồng sở hữu theo hợp đồng liên doanh, liên kết góp vốn hoặc có hợp đồng thuê phương tiện vận tải phù hợp với quy mô kinh doanh của doanh nghiệp (tối thiểu phải có hai (2) xe có tải trọng từ 500kg trở lên) đáp ứng yêu cầu bảo quản được chất lượng của sản phẩm thuốc lá trong thời gian vận chuyển.
+ Có năng lực tài chính bảo đảm cho toàn bộ hệ thống phân phối của doanh nghiệp hoạt động bình thường (có Giấy xác nhận của ngân hàng tối thiểu hai (2) tỷ Việt Nam đồng trở lên).
+ Có hệ thống phân phối sản phẩm thuốc lá trên địa bàn từ hai (2) tỉnh trở lên (tại địa bàn mỗi tỉnh phải có tối thiểu từ hai (2) thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá trở lên).
+ Có kinh nghiệm, khả năng xâm nhập thị trường để kinh doanh mặt hàng thuốc lá (thường là các thương nhân đã kinh doanh sản phẩm thuốc lá hoặc các mặt hàng tiêu dùng khác).
- Căn cứ lựa chọn thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá:
+ Có địa điểm kinh doanh cố định, địa chỉ rõ ràng, đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật, trang thiết bị theo quy định.
+ Thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá trên địa bàn một (1) tỉnh được xác định trên địa bàn tỉnh theo nguyên tắc không quá một (1) thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá trên năm mươi nghìn (50.000) dân.
+ Có kho hàng (hoặc hệ thống kho hàng) thuộc sở hữu hoặc đồng sở hữu theo hợp đồng liên doanh, liên kết góp vốn hoặc có hợp đồng thuê kho hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của doanh nghiệp (tối thiểu tổng diện tích phải từ 50 m2 trở lên) đáp ứng yêu cầu bảo quản được chất lượng của sản phẩm thuốc lá trong thời gian lưu kho.
+ Có phương tiện vận tải thuộc sở hữu hoặc đồng sở hữu theo hợp đồng liên doanh, liên kết góp vốn hoặc có hợp đồng thuê phương tiện vận tải phù hợp với quy mô kinh doanh của doanh nghiệp (tối thiểu phải có một (1) xe có tải trọng từ 500kg trở lên) đáp ứng yêu cầu bảo quản được chất lượng của sản phẩm thuốc lá trong thời gian vận chuyển.
+ Có năng lực tài chính bảo đảm cho toàn bộ hệ thống phân phối của doanh nghiệp hoạt động bình thường (có Giấy xác nhận của ngân hàng tối thiểu một (1) tỷ Việt Nam đồng trở lên).
+ Có hệ thống bán buôn sản phẩm thuốc lá trên địa bàn tỉnh nơi thương nhân đặt trụ sở chính (phải có tối thiểu từ hai (2) thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá trở lên).
+ Có kinh nghiệm, khả năng xâm nhập thị trường để kinh doanh mặt hàng thuốc lá (thường là các thương nhân đã kinh doanh sản phẩm thuốc lá hoặc các mặt hàng tiêu dùng khác).
- Căn cứ lựa chọn thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá:
+ Thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá trên địa bàn huyện được xác định theo nguyên tắc không quá một (1) thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá trên ba trăm (300) dân.
+ Có địa điểm kinh doanh cố định, địa chỉ rõ ràng;
+ Diện tích điểm kinh doanh tối thiểu phải từ 3m2 trở lên (đối với điểm chuyên kinh doanh thuốc lá có diện tích tối thiểu phải từ 3m2 trở lên; đối với điểm kinh doanh tổng hợp trong đó phải có diện tích tối thiểu dành riêng cho thuốc lá từ 0,5m2 trở lên).
2. Quy hoạch mạng lưới mua bán sản phẩm thuốc lá
a) Giai đoạn đến năm 2015
Dự kiến đến năm 2015 với dân số cả nước khoảng 91.000.000 người sẽ có tối đa khoảng 305.517 thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá (trong đó có khoảng 364 thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá, khoảng 1.820 thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá, khoảng 303.333 thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá), trong đó miền Bắc (Đồng bằng sông Hồng, Trung du và miền núi phía Bắchiếm khoảng 36%; miền Trung (Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên) chiếm khoảng 28% và miền Nam (Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long) chiếm khoảng 37%.
Trong giai đoạn này dự kiến cần phải có kho hàng, phương tiện vận tải và năng lực tài chính, cụ thể như sau:
- Kho hàng trong giai đoạn này cần phải có diện tích tối thiểu khoảng 1.037.400 m2 trở lên, trong đó:
+ Thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá cần phải có diện tích tối thiểu khoảng 36.400 m2 trở lên;
+ Thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá cần phải có diện tích tối thiểu khoảng 91.000 m2 trở lên;
+ Thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá cần phải có diện tích tối thiểu khoảng 910.000 m2 trở lên;
- Phương tiện vận tải trong giai đoạn này cần phải có tối thiểu khoảng 2.548 chiếc xe có tải trọng từ 500kg trở lên, trong đó:
+ Thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá cần phải có phương tiện vận tải tối thiểu khoảng 728 xe trở lên;
+ Thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá cần phải có phương tiện vận tải tối thiểu khoảng 1.820 xe trở lên.
- Năng lực tài chính trong giai đoạn này cần phải có tối thiểu khoảng 2.548 tỷ Việt Nam đồng trở lên, trong đó:
+ Thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá cần phải có năng lực tài chính tối thiểu khoảng 728 tỷ Việt Nam đồng trở lên;
+ Thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá cần phải có năng lực tài chính khoảng 1.820 tỷ Việt Nam đồng trở lên.
b) Giai đoạn 2016-2020
Đến năm 2020 với dân số cả nước khoảng 94.000.000 người sẽ có tối đa khoảng 315.589 thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá (trong đó có khoảng 376 thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá, khoảng 1.880 thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá, khoảng 313.333 thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá), trong đó miền Bắc chiếm khoảng 36%; miền Trung chiếm khoảng 28% và miền Nam chiếm khoảng 37%.
Trong giai đoạn này dự kiến cần phải có kho hàng, phương tiện vận tải và năng lực tài chính, cụ thể như sau:
- Kho hàng trong giai đoạn này cần phải có diện tích tối thiểu khoảng 1.071.600m2 trở lên, trong đó:
+ Thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá cần phải có diện tích tối thiểu khoảng 37.600m2 trở lên;
+ Thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá cần phải có diện tích tối thiểu khoảng 94.000m2 trở lên;
+ Thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá cần phải có diện tích tối thiểu khoảng 940.000m2 trở lên;
- Phương tiện vận tải trong giai đoạn này cần phải có tối thiểu khoảng 2.632 chiếc xe có tải trọng từ 500kg trở lên, trong đó:
+ Thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá cần phải có phương tiện vận tải tối thiểu khoảng 752 xe trở lên;
+ Thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá cần phải có phương tiện vận tải tối thiểu khoảng 1.880 xe trở lên.
- Năng lực tài chính trong giai đoạn này cần phải có tối thiểu khoảng 2.632 tỷ Việt Nam đồng trở lên, trong đó:
+ Thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá cần phải có năng lực tài chính tối thiểu khoảng 752 tỷ Việt Nam đồng trở lên;
+ Thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá cần phải có năng lực tài chính khoảng 1.880 tỷ Việt Nam đồng trở lên.
Giai đoạn 2021 - 2025
Sắp xếp lại số thương nhân phân phối, bán buôn, bán lẻ đã kinh doanh sản phẩm thuốc lá để điều chỉnh trong giai đoạn này với dân số cả nước khoảng 97.000.000 người, dự kiến có tối đa khoảng 325.661 thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá (trong đó có khoảng 388 thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá, khoảng 1.940 thương nhân bán buôn sản phẩm thuốc lá, khoảng 323.333 thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá), trong đó miền Bắc chiếm khoảng 36%; miền Trung, Tây Nguyên chiếm khoảng 28% và miền Nam chiếm khoảng 37% theo nguyên tắc:
- Xem xét, sắp xếp, điều chỉnh lại thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá hợp lý theo đề nghị của các nhà cung cấp, nhu cầu của thị trường, thị hiếu người tiêu dùng và tuân thủ các nguyên tắc đặt ra trong giai đoạn này.
- Quản lý được hệ thống bán lẻ sản phẩm thuốc lá chặt chẽ hơn theo quy hoạch của địa phương, phân cấp quản lý xuống cấp xã, phường.
IV. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Đối với nhà nước
a) Hàng năm tiến hành rà soát để sửa đổi, bổ sung (nếu có) các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá và Nghị định số 67/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá về kinh doanh thuốc lá cho phù hợp với thực tế.
b) Tăng cường các biện pháp kiểm tra, kiểm soát việc tuân thủ các điều kiện kinh doanh, các quy định của pháp luật về kinh doanh sản phẩm thuốc lá đối với các thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá nhằm tạo một hệ thống kinh doanh ổn định để chống hàng lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng lưu thông trên thị trường.
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định hiện hành của pháp luật về kinh doanh sản phẩm thuốc lá tới các thương nhân kinh doanh sản phẩm thuốc lá và tới các cơ quan chức năng có liên quan.