Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 09/2024/QĐ-UBND sửa đổi Quy định bồi thường tái định cư khi thu hồi đất Quảng Ninh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "19/02/2024", "sign_number": "09/2024/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Văn Diện", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "19/02/2024", "sign_number": "09/2024/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Văn Diện", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "19/02/2024", "sign_number": "09/2024/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Văn Diện", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "19/02/2024", "sign_number": "09/2024/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Văn Diện", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "19/02/2024", "sign_number": "09/2024/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Văn Diện", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 09/2024/QĐ-UBND sửa đổi Quy định bồi thường tái định cư khi thu hồi đất Quảng Ninh

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ban hành kèm theo Quyết định số 3000/2017/QĐ-UBND ngày 02/8/2017 của UBND tỉnh
...
5. Trường hợp việc sử dụng đất, công trình trên đất gây ảnh hưởng đến việc bảo vệ an toàn công trình, thì Tổ chức trực tiếp quản lý công trình có hành lang bảo vệ an toàn có trách nhiệm chủ trì phối hợp với UBND cấp xã và Phòng Tài nguyên và Môi trường nơi có công trình rà soát hiện trạng sử dụng đất trong phạm vi hành lang bảo vệ an toàn công trình để kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 4 Điều 56 Nghị định 43/2014/NĐ-CP .”
5. Bổ sung Điều 1 la như sau:
“Điều 11a. Xác định phần diện tích đất còn lại của thửa đất đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sau thu hồi không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng: Thực hiện theo khoản 1 Điều 6a Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT , được sửa đổi bổ sung tại khoản 3 Điều 8 Thông tư số 09/2021/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phần diện tích đất còn lại của thửa đất sau thu hồi thuộc một trong các trường hợp sau mà người sử dụng đất có đơn đề nghị thu hồi đất thì UBND cấp huyện xem xét quyết định thu hồi:
a) Đối với đất nông nghiệp:
- Phần diện tích còn lại của thửa đất sau khi thu hồi bị mất đường vào thửa đất hoặc còn đường vào nhưng không đảm bảo việc đi lại sản xuất của người dân (bị chia tách bởi đường cao tốc, khó khăn trong việc đi lại sản xuất).
- Không còn hệ thống tưới tiêu hoặc không thể khắc phục được hệ thống tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp mà thửa đất không đủ điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất sang mục đích khác.
- Diện tích còn lại nhỏ không đủ điều kiện canh tác hoặc việc tiếp tục canh tác không có hiệu quả mà thửa đất không đủ điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất sang mục đích khác.
b) Đối với đất phi nông nghiệp không phải đất ở:
- Diện tích còn lại nhỏ hơn diện tích tối thiểu để tách thửa theo quy định của UBND tỉnh.
- Diện tích còn lại lớn hơn diện tích tối thiểu để tách thửa theo quy định của UBND tỉnh nhưng các công trình chính để phục vụ sản xuất, kinh doanh đã bị thu hồi đất và không đủ điều kiện chuyển sang mục đích sử dụng đất khác.
2. Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ tình hình thực tế, đánh giá các tiêu chí không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng tại khoản 1 Điều này, quyết định các trường hợp thu hồi đất.”

Content:
Trường hợp việc sử dụng đất, công trình trên đất gây ảnh hưởng đến việc bảo vệ an toàn công trình, thì Tổ chức trực tiếp quản lý công trình có hành lang bảo vệ an toàn có trách nhiệm chủ trì phối hợp với UBND cấp xã và Phòng Tài nguyên và Môi trường nơi có công trình rà soát hiện trạng sử dụng đất trong phạm vi hành lang bảo vệ an toàn công trình để kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 4 Điều 56 Nghị định 43/2014/NĐ-CP .”
Bổ sung Điều 1 la như sau:
“Điều 11a. Xác định phần diện tích đất còn lại của thửa đất đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sau thu hồi không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng: Thực hiện theo khoản 1 Điều 6a Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT , được sửa đổi bổ sung tại khoản 3 Điều 8 Thông tư số 09/2021/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phần diện tích đất còn lại của thửa đất sau thu hồi thuộc một trong các trường hợp sau mà người sử dụng đất có đơn đề nghị thu hồi đất thì UBND cấp huyện xem xét quyết định thu hồi:
a) Đối với đất nông nghiệp:
- Phần diện tích còn lại của thửa đất sau khi thu hồi bị mất đường vào thửa đất hoặc còn đường vào nhưng không đảm bảo việc đi lại sản xuất của người dân (bị chia tách bởi đường cao tốc, khó khăn trong việc đi lại sản xuất).
- Không còn hệ thống tưới tiêu hoặc không thể khắc phục được hệ thống tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp mà thửa đất không đủ điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất sang mục đích khác.
- Diện tích còn lại nhỏ không đủ điều kiện canh tác hoặc việc tiếp tục canh tác không có hiệu quả mà thửa đất không đủ điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất sang mục đích khác.
b) Đối với đất phi nông nghiệp không phải đất ở:
- Diện tích còn lại nhỏ hơn diện tích tối thiểu để tách thửa theo quy định của UBND tỉnh.
- Diện tích còn lại lớn hơn diện tích tối thiểu để tách thửa theo quy định của UBND tỉnh nhưng các công trình chính để phục vụ sản xuất, kinh doanh đã bị thu hồi đất và không đủ điều kiện chuyển sang mục đích sử dụng đất khác.
2. Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ tình hình thực tế, đánh giá các tiêu chí không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng tại khoản 1 Điều này, quyết định các trường hợp thu hồi đất.”