Document: Điều 3 Quyết định109-CT chính sách kinh tế tài chính trước mắt của 6 tỉnh biên giới phía Bắc

Type: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "29/03/1985", "sign_number": "109-CT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "29/03/1985", "sign_number": "109-CT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "29/03/1985", "sign_number": "109-CT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "29/03/1985", "sign_number": "109-CT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "29/03/1985", "sign_number": "109-CT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 3 Quyết định109-CT chính sách kinh tế tài chính trước mắt của 6 tỉnh biên giới phía Bắc có nội dung như sau:

Điều 3. - Về chính sách thu mua, giá cả, quản lý thị trường.
a) Về lương thực. Ngoài các khoản thu thuế nông nghiệp, công dịch vụ, phí thuỷ lợi (nếu có), Nhà nước mua lương thực ở các tỉnh biên giới vẫn bằng hai cách là thông qua hợp đồng hai chiều và mua theo giá thoả thuận, nhưng với chính sách ưu đãi cụ thể như sau:
- Đối với các xã giáp biên. Nhà nước ưu tiên cung ứng phân hoá học, thuốc trừ sâu, giống tốt (nếu cần) theo giá chỉ đạo ổn định, người sản xuất không phải bán lại lương thực cho Nhà nước. Nơi nào có khả năng bán lại lương thực thì theo tỷ lệ mua 1 kilôgam u-rê bán lại 1 kilôgam thóc (hoặc 1 ngô, 1 sắn lát khô). Trường hợp cá biệt ở những nơi vì điều kiện chiến sự, sản xuất và đời sống quá khó khăn, Uỷ ban nhân dân huyện xét, đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định dành một số vật tư giúp nhân dân sản xuất không lấy tiền.
Đối với các xã khác. Để khuyến khích đẩy mạnh thâm canh tăng vụ ở các vùng miền núi phía Bắc, tăng thêm sản lượng lương thực để đáp ứng nhu cầu tại chỗ, tỷ lệ trao đổi trong hợp đồng hai chiều quy định như sau: ở các xã vùng thấp hoặc trung du, điều kiện sản xuất tương đối thuận lợi, mua 1 kilôgam u-rê thì bán lại 2 kilôgam thóc (hoặc ngô, sắn lát khô); ở các xã vùng giữa và vùng cao, điều kiện sản xuất khó khăn hơn, mua 1 kilôgam u-rê thì bán lại 1,5 kilôgam thóc (hoặc ngô, sẵn lát khô).
Mức giá mua thoả thuận cũng được định cao hơn các tỉnh đồng bằng sông Hồng, tối đa có thể bằng giá mua ở đồng bằng cộng với phí vận chuyển lên miền núi và một tỷ lệ hao hụt hợp lý, nhưng nói chung không được vượt quá mức giá đã hình thành thực tế ở thị trường địa phương. Dựa vào nguyên tắc trên đây, Uỷ ban Vật giá Nhà nước cùng các Bộ có liên quan (lương thực, nông nghiệp, tài chính) công bố khung giá mua thoả thuận ở từng vùng miền núi biên giới và chỉ đạo hướng dẫn các điạ phương thực hiện.
b) Đối với sản phẩm chăn nuôi.
Nhà nước hết sức khuyến khích các đơn vị kinh tế quốc doanh, các hợp tác xã nông nghiệp, các gia đình, các đơn vị lực lượng vũ trang phát triển chăn nuôi lợn, trâu, bò, ngựa, dê, thỏ, cá và các loại gia cầm để đáp ứng nhu cầu thực phẩm của nhân dân và các lực lượng vũ trang.
- Giúp đỡ các cơ sở sản xuất về vốn, vật tư để phát triển sản xuất các đàn con giống, cung ứng thuốc thú y và tinh động viên giống tốt theo giá rẻ (do Bộ Nông nghiệp phối hợp với Uỷ ban Vật giá Nhà nước quyết định).
- Những đơn vị sản xuất có quan hệ hợp đồng hai chiều với Nhà nước được cung ứng giống, vật liệu xây dựng, một phần thức ăn, thuốc thú y theo giá chỉ đạo ổn định, đồng thời có nghĩa vụ bán lại sản phẩm cho Nhà nước cũng theo giá chỉ đạo ổn định.
Những nơi không có điều kiện ký kết hợp đồng thì Nhà nước mua sản phẩm chăn nuôi theo giá thoả thuận. Giá mua lợn ở 6 tỉnh biên giới có thể định cao hơn giá mua ở các tỉnh khác, tối đa có thể bằng giá mua ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng cộng với phí vận chuyển lên miền núi và một tỷ lệ hao hụt hợp lý, nhưng không được vượt quá mức giá đã hình thành thực tế ở thị trường địa phương. Giá mua trâu, bò được quy định trên tinh thần khuyến khích sản xuất và tiêu thụ thịt trâu, bò hay thịt lợn, khuyến khích tăng đàn trâu, bò cày đáp ứng nhu cầu tại chỗ và của các tỉnh miền xuôi. Giá mua ngựa phải có tác dụng khuyến khích đẩy mạnh chăn nuôi để có thêm sức vận tải ở miền núi. Uỷ ban Vật giá Nhà nước dựa vào tinh thần trên đây bàn thống nhất với các Bộ có liên quan để quy định và công bố khung giá mua thoả thuận về các sản phẩm chăn nuôi chủ yếu và hướng dẫn các địa phương thi hành.
c) Đối với các vùng trồng cây công nghiệp tập trung, trồng và khai thác lâm sản theo quy hoạch và kế hoạch Nhà nước.
- Nhà nước ưu tiên đầu tư vốn, cấp tín dụng, cung ứng tư liệu sản xuất, hướng dẫn giúp đỡ về kỹ thuật, tạo điều kiện cho các đơn vị sản xuất hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất hàng năm và từng vụ. Mặt khác, bảo đảm cung ứng đủ lương thực cho các hợp tác xã nông nghiệp thiếu hoặc không có lương thực theo phương thức cung ứng lương thực theo đầu tấn sản phẩm bán cho Nhà nước.
Dưới sự chỉ đạo của các Bộ chủ quản và Uỷ ban nhân dân các tỉnh biên giới, các liên hiệp xí nghiệp và công ty (của Trung ương và địa phương) được phân công thu mua các loại nông sản, lâm sản trên địa bàn huyện nào phải chịu sự quản lý thống nhất của Uỷ ban nhân dân huyện đó; phải xúc tiến việc ký kết hợp đồng hai chiều với các đơn vị sản xuất cho kịp các thời vụ sản xuất trong năm 1985 và phải phối hợp với các ngành cung ứng vật tư, hành hoá, giao thông vận tải, ngân hàng bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh các hợp đồng đó.
- Về giá cả, trong khi chờ đợi Hội đồng Bộ trưởng giải quyết vấn đề này một cách đồng bộ, Uỷ ban Vật giá Nhà nước cần cùng các Bộ có liên quan và Uỷ ban nhân dân các tỉnh biên giới rà soát lại giá mua các loại cây công nghiệp và lâm sản; nếu xét thấy giá nào chưa hợp lý thì kịp thời đề nghị Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng điều chỉnh.
Để khuyến khích các đơn vị sản xuất làm ra nhiều nguyên liệu cho công nghiệp, tuỳ theo mức độ quan trọng và điều kiện sản xuất thực tế của từng loại sản phẩm, các Bộ chủ quản (Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Công nghiệp thực phẩm, Công nghiệp nhẹ...) phối hợp với Bộ Tài chính và Uỷ ban Vật giá Nhà nước thông qua việc quy định giá mua sản phẩm, định mức thu quốc doanh và mức lợi nhuận để lại cho xí nghiệp mà giải quyết một cách thoả đáng 3 mặt lợi ích là lợi ích của các đơn vị sản xuất ra nguyên liệu, lợi ích của các đơn vị công nghiệp chế biến nguyên liệu đó ra sản phẩm, và lợi ích của Nhà nước (bao gồm cả phần tập trung vào ngân sách Trung ương và phần để lại cho ngân sách địa phương).
- Để khuyến khích các đơn vị sản xuất và các địa phương ra sức đẩy mạnh sản xuất và cung cấp nhiều hàng xuất khẩu có chất lượng tốt, có giá trị kinh tế cao cho Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng giao cho Bộ Ngoại thương cùng Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Uỷ ban Vật giá Nhà nước quy định cụ thể chính sách ưu đãi về lãi suất và ưu đãi về quyền sử dụng ngoại tệ để tạo điều kiện cho các địa phương và cơ sở tăng thêm khả năng cung ứng cho mình vật tư, thiết bị, năng lượng, thậm chí cả lương thực cần thiết cho việc phát triển kinh tế, trước nhất là mở rộng nguồn hàng xuất khẩu.
d) Về thương nghiệp. Cần phát triển mạnh mạng lưới thu mua, bán buôn, bán lẻ và dịch vụ của thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán trên các địa phương miền núi, bảo đảm việc mua bán của dân được thuận tiện hơn. Bộ Nội thương cần phối hợp chặt chẽ với các tỉnh điều tra nắm sát nhu cầu thực tế của các tầng lớp dân cư trên các tỉnh biên giới, trên cơ sở đó, bố trí hàng hoá cần thiết cho các tỉnh và huyện, nhất là về những mặt hàng thiết yếu (muối, vải, dầu, pin đèn, chỉ thêu, v.v...) phù hợp với tập quán và nhu cầu tiêu dùng của đồng bào các dân tộc, và có chính sách ưu tiên phân phối hàng cho các xã giáp biên giới.
đ) Để phục vụ tốt cho sản xuất và lưu thông hàng hoá ở các tỉnh biên giới, Ngân hàng Nhà nước cần tăng cường công tác tín dụng phục vụ cho sản xuất và xây dựng kinh tế, thu mua, vận chuyển hàng hoá; nghiên cứu ban hành chính sách ưu đãi về sản xuất đối với miền núi. Mặt khác, cần mau chóng cải tiến công tác quản lý tiền mặt cho thích hợp với điều kiện thực tế của miền núi, giao thông đi lại khó khăn.

Content:
Điều 3. - Về chính sách thu mua, giá cả, quản lý thị trường.
a) Về lương thực. Ngoài các khoản thu thuế nông nghiệp, công dịch vụ, phí thuỷ lợi (nếu có), Nhà nước mua lương thực ở các tỉnh biên giới vẫn bằng hai cách là thông qua hợp đồng hai chiều và mua theo giá thoả thuận, nhưng với chính sách ưu đãi cụ thể như sau:
- Đối với các xã giáp biên. Nhà nước ưu tiên cung ứng phân hoá học, thuốc trừ sâu, giống tốt (nếu cần) theo giá chỉ đạo ổn định, người sản xuất không phải bán lại lương thực cho Nhà nước. Nơi nào có khả năng bán lại lương thực thì theo tỷ lệ mua 1 kilôgam u-rê bán lại 1 kilôgam thóc (hoặc 1 ngô, 1 sắn lát khô). Trường hợp cá biệt ở những nơi vì điều kiện chiến sự, sản xuất và đời sống quá khó khăn, Uỷ ban nhân dân huyện xét, đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định dành một số vật tư giúp nhân dân sản xuất không lấy tiền.
Đối với các xã khác. Để khuyến khích đẩy mạnh thâm canh tăng vụ ở các vùng miền núi phía Bắc, tăng thêm sản lượng lương thực để đáp ứng nhu cầu tại chỗ, tỷ lệ trao đổi trong hợp đồng hai chiều quy định như sau: ở các xã vùng thấp hoặc trung du, điều kiện sản xuất tương đối thuận lợi, mua 1 kilôgam u-rê thì bán lại 2 kilôgam thóc (hoặc ngô, sắn lát khô); ở các xã vùng giữa và vùng cao, điều kiện sản xuất khó khăn hơn, mua 1 kilôgam u-rê thì bán lại 1,5 kilôgam thóc (hoặc ngô, sẵn lát khô).
Mức giá mua thoả thuận cũng được định cao hơn các tỉnh đồng bằng sông Hồng, tối đa có thể bằng giá mua ở đồng bằng cộng với phí vận chuyển lên miền núi và một tỷ lệ hao hụt hợp lý, nhưng nói chung không được vượt quá mức giá đã hình thành thực tế ở thị trường địa phương. Dựa vào nguyên tắc trên đây, Uỷ ban Vật giá Nhà nước cùng các Bộ có liên quan (lương thực, nông nghiệp, tài chính) công bố khung giá mua thoả thuận ở từng vùng miền núi biên giới và chỉ đạo hướng dẫn các điạ phương thực hiện.
b) Đối với sản phẩm chăn nuôi.
Nhà nước hết sức khuyến khích các đơn vị kinh tế quốc doanh, các hợp tác xã nông nghiệp, các gia đình, các đơn vị lực lượng vũ trang phát triển chăn nuôi lợn, trâu, bò, ngựa, dê, thỏ, cá và các loại gia cầm để đáp ứng nhu cầu thực phẩm của nhân dân và các lực lượng vũ trang.
- Giúp đỡ các cơ sở sản xuất về vốn, vật tư để phát triển sản xuất các đàn con giống, cung ứng thuốc thú y và tinh động viên giống tốt theo giá rẻ (do Bộ Nông nghiệp phối hợp với Uỷ ban Vật giá Nhà nước quyết định).
- Những đơn vị sản xuất có quan hệ hợp đồng hai chiều với Nhà nước được cung ứng giống, vật liệu xây dựng, một phần thức ăn, thuốc thú y theo giá chỉ đạo ổn định, đồng thời có nghĩa vụ bán lại sản phẩm cho Nhà nước cũng theo giá chỉ đạo ổn định.
Những nơi không có điều kiện ký kết hợp đồng thì Nhà nước mua sản phẩm chăn nuôi theo giá thoả thuận. Giá mua lợn ở 6 tỉnh biên giới có thể định cao hơn giá mua ở các tỉnh khác, tối đa có thể bằng giá mua ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng cộng với phí vận chuyển lên miền núi và một tỷ lệ hao hụt hợp lý, nhưng không được vượt quá mức giá đã hình thành thực tế ở thị trường địa phương. Giá mua trâu, bò được quy định trên tinh thần khuyến khích sản xuất và tiêu thụ thịt trâu, bò hay thịt lợn, khuyến khích tăng đàn trâu, bò cày đáp ứng nhu cầu tại chỗ và của các tỉnh miền xuôi. Giá mua ngựa phải có tác dụng khuyến khích đẩy mạnh chăn nuôi để có thêm sức vận tải ở miền núi. Uỷ ban Vật giá Nhà nước dựa vào tinh thần trên đây bàn thống nhất với các Bộ có liên quan để quy định và công bố khung giá mua thoả thuận về các sản phẩm chăn nuôi chủ yếu và hướng dẫn các địa phương thi hành.
c) Đối với các vùng trồng cây công nghiệp tập trung, trồng và khai thác lâm sản theo quy hoạch và kế hoạch Nhà nước.
- Nhà nước ưu tiên đầu tư vốn, cấp tín dụng, cung ứng tư liệu sản xuất, hướng dẫn giúp đỡ về kỹ thuật, tạo điều kiện cho các đơn vị sản xuất hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất hàng năm và từng vụ. Mặt khác, bảo đảm cung ứng đủ lương thực cho các hợp tác xã nông nghiệp thiếu hoặc không có lương thực theo phương thức cung ứng lương thực theo đầu tấn sản phẩm bán cho Nhà nước.
Dưới sự chỉ đạo của các Bộ chủ quản và Uỷ ban nhân dân các tỉnh biên giới, các liên hiệp xí nghiệp và công ty (của Trung ương và địa phương) được phân công thu mua các loại nông sản, lâm sản trên địa bàn huyện nào phải chịu sự quản lý thống nhất của Uỷ ban nhân dân huyện đó; phải xúc tiến việc ký kết hợp đồng hai chiều với các đơn vị sản xuất cho kịp các thời vụ sản xuất trong năm 1985 và phải phối hợp với các ngành cung ứng vật tư, hành hoá, giao thông vận tải, ngân hàng bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh các hợp đồng đó.
- Về giá cả, trong khi chờ đợi Hội đồng Bộ trưởng giải quyết vấn đề này một cách đồng bộ, Uỷ ban Vật giá Nhà nước cần cùng các Bộ có liên quan và Uỷ ban nhân dân các tỉnh biên giới rà soát lại giá mua các loại cây công nghiệp và lâm sản; nếu xét thấy giá nào chưa hợp lý thì kịp thời đề nghị Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng điều chỉnh.
Để khuyến khích các đơn vị sản xuất làm ra nhiều nguyên liệu cho công nghiệp, tuỳ theo mức độ quan trọng và điều kiện sản xuất thực tế của từng loại sản phẩm, các Bộ chủ quản (Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Công nghiệp thực phẩm, Công nghiệp nhẹ...) phối hợp với Bộ Tài chính và Uỷ ban Vật giá Nhà nước thông qua việc quy định giá mua sản phẩm, định mức thu quốc doanh và mức lợi nhuận để lại cho xí nghiệp mà giải quyết một cách thoả đáng 3 mặt lợi ích là lợi ích của các đơn vị sản xuất ra nguyên liệu, lợi ích của các đơn vị công nghiệp chế biến nguyên liệu đó ra sản phẩm, và lợi ích của Nhà nước (bao gồm cả phần tập trung vào ngân sách Trung ương và phần để lại cho ngân sách địa phương).
- Để khuyến khích các đơn vị sản xuất và các địa phương ra sức đẩy mạnh sản xuất và cung cấp nhiều hàng xuất khẩu có chất lượng tốt, có giá trị kinh tế cao cho Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng giao cho Bộ Ngoại thương cùng Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Uỷ ban Vật giá Nhà nước quy định cụ thể chính sách ưu đãi về lãi suất và ưu đãi về quyền sử dụng ngoại tệ để tạo điều kiện cho các địa phương và cơ sở tăng thêm khả năng cung ứng cho mình vật tư, thiết bị, năng lượng, thậm chí cả lương thực cần thiết cho việc phát triển kinh tế, trước nhất là mở rộng nguồn hàng xuất khẩu.
d) Về thương nghiệp. Cần phát triển mạnh mạng lưới thu mua, bán buôn, bán lẻ và dịch vụ của thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán trên các địa phương miền núi, bảo đảm việc mua bán của dân được thuận tiện hơn. Bộ Nội thương cần phối hợp chặt chẽ với các tỉnh điều tra nắm sát nhu cầu thực tế của các tầng lớp dân cư trên các tỉnh biên giới, trên cơ sở đó, bố trí hàng hoá cần thiết cho các tỉnh và huyện, nhất là về những mặt hàng thiết yếu (muối, vải, dầu, pin đèn, chỉ thêu, v.v...) phù hợp với tập quán và nhu cầu tiêu dùng của đồng bào các dân tộc, và có chính sách ưu tiên phân phối hàng cho các xã giáp biên giới.
đ) Để phục vụ tốt cho sản xuất và lưu thông hàng hoá ở các tỉnh biên giới, Ngân hàng Nhà nước cần tăng cường công tác tín dụng phục vụ cho sản xuất và xây dựng kinh tế, thu mua, vận chuyển hàng hoá; nghiên cứu ban hành chính sách ưu đãi về sản xuất đối với miền núi. Mặt khác, cần mau chóng cải tiến công tác quản lý tiền mặt cho thích hợp với điều kiện thực tế của miền núi, giao thông đi lại khó khăn.