Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 111/QĐ-UBND Quy hoạch phát triển chế biến lâm sản Hà Tĩnh 2012 2020 2030 2013

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "09/01/2013", "sign_number": "111/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đình Sơn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "09/01/2013", "sign_number": "111/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đình Sơn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "09/01/2013", "sign_number": "111/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đình Sơn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "09/01/2013", "sign_number": "111/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đình Sơn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "09/01/2013", "sign_number": "111/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đình Sơn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 111/QĐ-UBND Quy hoạch phát triển chế biến lâm sản Hà Tĩnh 2012 2020 2030 2013

Điều 1. : Phê duyệt Quy hoạch phát triển chế biến lâm sản tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2012-2020, định hướng đến năm 2030, với các nội dung chủ yếu sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể.
2.1. Đến năm 2020:
- Giá trị sản xuất chế biến lâm sản toàn tỉnh đạt khoảng 4.000 tỷ đồng, sản phẩm sản xuất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Tốc độ tăng trưởng bình quân 12,5%/năm;
- Giá trị xuất khẩu đạt 70 triệu USD;
- Giải quyết việc làm cho khoảng 6.700 lao động, thu nhập bình quân đạt 5 - 6 triệu đồng/tháng;
- Kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện các quy định về kinh doanh và chế biến lâm sản; chấm dứt tình trạng chế biến, tiêu thụ lâm sản trái phép;
- Các sản phẩm chế biến lâm sản đạt tiêu chuẩn trong nước và quốc tế;
- Đảm bảo vệ sinh môi trường theo luật định.
2.2. Định hướng đến 2030:
Tiếp tục củng cố các thành tựu đã đạt được của giai đoạn 2012-2020 đảm bảo phát triển ngành chế biến lâm sản của tỉnh bền vững, thân thiện môi trường. Xây dựng và phát triển các vùng nguyên liệu gỗ và lâm sản ngoài gỗ ổn định gắn với công nghiệp chế biến để hình thành các cụm công nghiệp chế biến lâm sản, ứng dụng công nghệ hiện đại, tự động hóa, hóa lâm sản, phù hợp với tiềm năng và thị trường. Đẩy mạnh chế biến đồ mộc, đồ gỗ cao cấp, gỗ ghép, ván sàn, bàn ghế, các sản phẩm hoàn thiện bằng gỗ... và phát triển các làng nghề nông thôn, chú ý chế biến lâm sản ngoài gỗ.
III. Phương án quy hoạch.
1. Tiêu chí quy hoạch.
Các cơ sở chế biến lâm sản ở Hà Tĩnh được phép hoạt động sản xuất kinh doanh khi đạt các tiêu chí sau;
- Địa điểm đặt nhà máy, cơ sở chế biến phải phù hợp với các quy hoạch khác liên quan và phải cách ranh giới rừng tự nhiên tối thiểu là 3km;
- Đảm bảo có nguồn nguyên liệu ổn định, nguồn gốc hợp pháp;
- Có phương án sản xuất kinh doanh phù hợp với công suất thiết kế, cơ cấu sản phẩm, nguồn nguyên liệu và sản lượng sản phẩm sản xuất;
- Đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường;
- Các cơ sở quy hoạch mới phải sử dụng công nghệ hiện đại, sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng cao;
- Có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chế biến gỗ;
- Có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh (trong đó có ngành nghề kinh doanh chế biến lâm sản).
2. Quy hoạch chế biến gỗ.
Tổ chức sắp xếp, củng cố lại các cơ sở hiện có, chỉ để lại các cơ sở đảm bảo tiêu chí hoặc cam kết sẽ đảm bảo các tiêu chí trong vòng 6 tháng kể từ ngày được kiểm tra. Kêu gọi, khuyến khích đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất với công nghệ hiện đại, tạo sản phẩm có giá trị gia tăng cao theo chuỗi khép kín. Hình thành các khu chế biến gỗ tập trung tại các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề.
Đến năm 2020 toàn tỉnh quy hoạch khoảng 365 cơ sở chế biến gỗ (trong đó có 63 cơ sở quy hoạch mới), với tổng công suất 801.160m3 nguyên liệu/năm, sản phẩm sản xuất dự kiến 577.780m3/năm, thu hút khoảng 6.700 lao động. Đình chỉ hoạt động, tháo dỡ các cơ sở không đảm bảo tiêu chí, không đủ điều kiện kinh doanh chế biến lâm sản (dự kiến khoảng 275 cơ sở).
Định hướng sản phẩm, sản lượng sản xuất

TT

Sản phẩm

Sản lượng (m3/năm)

Giai đoạn 2012-2015

Giai đoạn 2016-2020

1

Gỗ xẻ các loại

27.630

27.630

2

Hàng mộc dân dụng

22.080

22.080

3

Ván nhân tạo

55.350

80.200

4

Bột giấy

0

268.670

5

Hàng mộc tinh chế

126.700

179.200

6

Dăm gỗ

345.000

0

Tổng

576.760

577.780

Định hướng nguồn nguyên liệu cung cấp

TT

Nguồn nguyên liệu cung cấp

Giai đoạn 2012-2020 (m3/năm )

I

Nguồn nguyên liệu cung cấp trong tỉnh

720.000

1

Khai thác từ rừng tự nhiên

10.000

2

Khai thác từ rừng trồng

700.000

3

Khai thác từ gỗ vườn

10.000

II

Nguồn cung cấp nguyên liệu ngoài tỉnh

23.000

III

Nguồn nhập khẩu

58.160

Tổng

801.160

Cụ thể phương án quy hoạch theo từng nhóm sản phẩm như sau:
2.1. Cơ sở cưa xẻ.
Giảm tối đa các cơ sở cưa xẻ hiện có, quy hoạch đến năm 2020 toàn tỉnh có khoảng 174 cơ sở (huyện Vũ Quang 10 cơ sở, Đức Thọ 17 cơ sở, Can Lộc 13 cơ sở, Thạch Hà 9 cơ sở, TP Hà Tĩnh 2 cơ sở, Cẩm Xuyên 11 cơ sở, Lộc Hà 6 cơ sở, Nghi Xuân 8 cơ sở, Hương Sơn 34 cơ sở, Hương Khê 43 cơ sở và Kỳ Anh 21 cơ sở ) với tổng công suất dự kiến 44.210 m3 nguyên liệu/năm, sản phẩm sản xuất dự kiến 27.630 m3/năm, thu hút khoảng 1.180 lao động (trong đó tiếp tục duy trì, củng cố 173 cơ sở hiện có và quy hoạch bổ sung một cơ sở tại xã Cẩm Lĩnh, huyện Cẩm Xuyên). Kiểm tra, soát xét, đình chỉ hoạt động, tháo dỡ các cơ sở xẻ không đảm bảo điều kiện kinh doanh, không đảm bảo tiêu chí (khoảng 236 cơ sở).
Các cơ sở cưa xẻ không thuộc diện đình chỉ, tháo dỡ thì trước mắt vẫn giữ nguyên vị trí đã có, từ năm 2013 các địa phương phải có kế hoạch từng bước chuyển dần các cơ sở cưa xẻ thuộc hộ gia đình, cá nhân vào các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề theo quy hoạch nông thôn mới của các xã. Riêng đối với các cơ sở thuộc doanh nghiệp đã được cấp, thuê đất, có nhà xưởng tương đối cố định trở lên, sản xuất ổn định và không gây ô nhiễm môi trường thì giữ nguyên vị trí đã có.
Tiếp tục sử dụng công nghệ hiện có, từng bước áp dụng công nghệ, dây chuyền sản xuất tiên tiến, nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và đảm bảo môi trường.
2.2. Cơ sở chế biến dăm gỗ
Không xây dựng mới, hạn chế dần việc sản xuất của 04 nhà máy dăm gỗ xuất khẩu (huyện Nghi Xuân 1 cơ sở và Kỳ Anh 3 cơ sở) với tổng công suất dự kiến 380.000m3 nguyên liệu/năm, sản phẩm sản xuất dự kiến 345.000m3/năm, thu hút khoảng 370 lao động và kết thúc vào năm 2015. Kiểm tra lại giấy chứng nhận đầu tư, soát xét, đình chỉ các cơ sở sản xuất dăm gỗ không phù hợp quy hoạch, không đảm bảo tiêu chí theo quy định. Từ năm 2015 trở đi, tỉnh sẽ chấm dứt xuất khẩu dăm mảnh, do đó các doanh nghiệp, nhà máy cần có kế hoạch chuyển hướng sản xuất, điều chỉnh công suất phù hợp, liên kết vào chuỗi sản xuất của các nhà máy MDF, hoặc chấm dứt hoạt động nếu không hiệu quả.
2.3. Cơ sở chế biến bột giấy
Quy hoạch mới 2 cơ sở chế biến bột giấy, 1 nhà máy ở Khu công nghiệp Vũng Áng - Kỳ Anh và 1 Nhà máy trên tuyến đường Hồ chí Minh. Tổng công suất dự kiến 403.000m3 nguyên liệu/năm, sản phẩm sản xuất dự kiến 268.670m3/năm, thu hút khoảng 1.000 lao động. Các nhà máy này được đầu tư xây dựng sau năm 2015, khi không còn xuất khẩu dăm mảnh thô.
Ưu tiên lựa chọn các công nghệ, thiết bị tiên tiến của các nước châu âu với công suất thiết bị đủ lớn, không ô nhiễm môi trường để đầu tự xây dựng.
2.4. Cơ sở chế biến ván bóc, ván ép, ván sàn, ghép thanh
Không quy hoạch, xây dựng mới, tiếp tục duy trì 11 nhà máy hiện có (không mở rộng thêm; huyện Đức Thọ 3 cơ sở, thị xã Hông Lĩnh 1 cơ sở, Nghi Xuân 2 cơ sở, Hương Sơn 1 cơ sở và Hương Khê 4 cơ sở) với tổng công suất dự kiến 13.700m3 nguyên liệu/năm, sản phẩm sản xuất dự kiến 5.200m3/năm, thu hút khoảng 380 lao động. Sau năm 2015 các cơ sở ván bóc, ván ép, ván sàn, ghép thanh cần có kế hoạch chuyển hướng sản xuất để kết nối, tham gia vào chuỗi sản xuất của các cơ sở lớn.
Tiếp tục sử dụng công nghệ hiện có, cần có kế hoạch đổi mới công nghệ để tham gia vào chuỗi sản xuất của các cơ sở lớn.
2.5. Cơ sở chế biến ván MDF
Nhanh chóng kêu gọi, xúc tiến, ưu đãi đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất ván MDF gắn với cơ sở sản xuất đồ mộc cao cấp, tạo chuỗi sản xuất khép kín từ nguyên liệu rừng trồng đến đồ gỗ cao cấp và tiêu thụ. Đây là động lực chủ yếu để chuyển nhanh chế biến thô sang tinh, sâu, nên ngay từ đầu năm 2013 phải quan tâm để ra đời nhà máy MDF. Quy hoạch mới 1 nhà máy trên tuyến đường Hồ Chí Minh và 1 nhà máy ở Khu kinh tế Vũng Áng, huyện Kỳ Anh với tổng công suất dự kiến 150.000m3 nguyên liệu/năm, sản phẩm sản xuất dự kiến 75.000m3/năm, thu hút khoảng 750 lao động.
Ưu tiên lựa chọn các công nghệ, thiết bị tiên tiến của các nước châu âu, với công suất thiết bị đủ lớn, không ô nhiễm môi trường để đầu tư xây dựng.
2.6. Mộc dân dụng, văn phòng, đồ gỗ nội thất và gia công các sản phẩm từ gỗ
Tiếp tục duy trì, củng cố 114 cơ sở hiện có, quy hoạch mới thêm 57 cơ sở (huyện Cẩm Xuyên 1 cơ sở, huyện Hương Khê 2 cơ sở, huyên Can Lộc 3 cơ sở, Hương Sơn 51 cơ sở ), đưa tổng số lên 171 cơ sở (huyện Vũ Quang 7 cơ sở, Đức Thọ 14 cơ sở, Can Lộc 9 cơ sở, Thạch Hà 4 cơ sở, TP Hà Tĩnh 4 cơ sở, Cẩm Xuyên 6 cơ sở, Lộc Hà 8 cơ sở, Nghi Xuân 10 cơ sở, Hương Sơn 69 cơ sở, Hương Khê 14 cơ sở và Kỳ Anh 26 cơ sở ) với tổng công suất dự kiến 33.250m3 nguyên liệu/năm, sản phẩm sản xuất dự kiến 22.080m3/năm, thu hút khoảng 1.500 lao động. Kiểm tra, soát xét, đình chỉ hoạt động, tháo dỡ các cơ sở mộc không đảm bảo điều kiện kinh doanh, không đảm bảo tiêu chí (khoảng 38 cơ sở).
Các cơ sở mộc cần nhanh chóng đổi mới công nghệ, quan tâm thiết kế, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Trước mắt tiếp tục giữ nguyên vị trí hiện nay, từ năm 2013 các địa phương có kế hoạch từng bước chuyển dần các cơ sở mộc thuộc hộ gia đình, cá nhân vào các khu tiểu thủ công nghiệp, làng nghề theo quy hoạch nông thôn mới của các xã để đảm bảo đầu tư đồng bộ và bảo vệ môi trường; riêng đối với các cơ sở thuộc doanh nghiệp đã được cấp, thuê đất, có nhà xuởng tương đối cố định trở lên, sản xuất ổn định và không gây ô nhiễm môi trường thì giữ nguyên vị trí đã có. Thực hiện kiểm soát tốt nguyên liệu đầu vào của các cơ sở, quan tâm ưu tiên gỗ nguyên liệu trong tỉnh cung ứng cho các cơ sở.
2.7. Cơ sở chế biến tổng hợp
Xây dựng 1 nhà máy chế biến gỗ tổng hợp tại khu kinh tế Vũng Áng, huyện Kỳ Anh với công suất dự kiến 180.000m3/năm, sản phẩm sản xuất dự kiến 126.700m3 /năm, thu hút khoảng 1.500 lao động. Sản phẩm gồm: Gỗ ghép, ván sàn, bàn ghế và các sản phẩm hoàn thiện bằng gỗ,
Ưu tiên công nghệ, thiết bị tiên tiến của các nước phát triển với công suất thiết bị đủ lớn, không ô nhiễm môi trường để đầu tư xây dựng.
2.8. Làng nghề mộc gia dụng và mỹ nghệ
Tiếp tục duy trì, củng cố, hỗ trợ phát triển 06 làng nghề hiện có gồm: Cụm làng nghề truyền thống Thái Yên, xã Thái Yên, huyện Đức Thọ; cụm làng nghề truyền thống Trường Sơn, xã Trường Sơn, huyện Đức Thọ; làng Vinh Thành, xã Đức Đồng, huyện Đức Thọ; làng Yên Lộc, xã Yên Lộc, huyện Can Lộc; làng Bình Sơn, thị trấn Hương Khê, huyện Hương Khê và làng Thượng Long, xã Sơn Long, huyện Hương Sơn. Quan tâm công tác truyền nghề dạy nghề, áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả, hạn chế ô nhiễm môi trường. Tiếp tục nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, đẩy mạnh sản xuất mộc mỹ nghệ với độ tinh xảo cao. Có kế hoạch cân đối nguồn nguyên liệu để cung ứng cho các làng nghề đảm bảo hoạt động.

Content:
Mục tiêu cụ thể.
2.1. Đến năm 2020:
- Giá trị sản xuất chế biến lâm sản toàn tỉnh đạt khoảng 4.000 tỷ đồng, sản phẩm sản xuất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Tốc độ tăng trưởng bình quân 12,5%/năm;
- Giá trị xuất khẩu đạt 70 triệu USD;
- Giải quyết việc làm cho khoảng 6.700 lao động, thu nhập bình quân đạt 5 - 6 triệu đồng/tháng;
- Kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện các quy định về kinh doanh và chế biến lâm sản; chấm dứt tình trạng chế biến, tiêu thụ lâm sản trái phép;
- Các sản phẩm chế biến lâm sản đạt tiêu chuẩn trong nước và quốc tế;
- Đảm bảo vệ sinh môi trường theo luật định.
2.Định hướng đến 2030:
Tiếp tục củng cố các thành tựu đã đạt được của giai đoạn 2012-2020 đảm bảo phát triển ngành chế biến lâm sản của tỉnh bền vững, thân thiện môi trường. Xây dựng và phát triển các vùng nguyên liệu gỗ và lâm sản ngoài gỗ ổn định gắn với công nghiệp chế biến để hình thành các cụm công nghiệp chế biến lâm sản, ứng dụng công nghệ hiện đại, tự động hóa, hóa lâm sản, phù hợp với tiềm năng và thị trường. Đẩy mạnh chế biến đồ mộc, đồ gỗ cao cấp, gỗ ghép, ván sàn, bàn ghế, các sản phẩm hoàn thiện bằng gỗ... và phát triển các làng nghề nông thôn, chú ý chế biến lâm sản ngoài gỗ.
III. Phương án quy hoạch.
1. Tiêu chí quy hoạch.
Các cơ sở chế biến lâm sản ở Hà Tĩnh được phép hoạt động sản xuất kinh doanh khi đạt các tiêu chí sau;
- Địa điểm đặt nhà máy, cơ sở chế biến phải phù hợp với các quy hoạch khác liên quan và phải cách ranh giới rừng tự nhiên tối thiểu là 3km;
- Đảm bảo có nguồn nguyên liệu ổn định, nguồn gốc hợp pháp;
- Có phương án sản xuất kinh doanh phù hợp với công suất thiết kế, cơ cấu sản phẩm, nguồn nguyên liệu và sản lượng sản phẩm sản xuất;
- Đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường;
- Các cơ sở quy hoạch mới phải sử dụng công nghệ hiện đại, sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng cao;
- Có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chế biến gỗ;
- Có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh (trong đó có ngành nghề kinh doanh chế biến lâm sản).
Quy hoạch chế biến gỗ.
Tổ chức sắp xếp, củng cố lại các cơ sở hiện có, chỉ để lại các cơ sở đảm bảo tiêu chí hoặc cam kết sẽ đảm bảo các tiêu chí trong vòng 6 tháng kể từ ngày được kiểm tra. Kêu gọi, khuyến khích đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất với công nghệ hiện đại, tạo sản phẩm có giá trị gia tăng cao theo chuỗi khép kín. Hình thành các khu chế biến gỗ tập trung tại các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề.
Đến năm 2020 toàn tỉnh quy hoạch khoảng 365 cơ sở chế biến gỗ (trong đó có 63 cơ sở quy hoạch mới), với tổng công suất 801.160m3 nguyên liệu/năm, sản phẩm sản xuất dự kiến 577.780m3/năm, thu hút khoảng 6.700 lao động. Đình chỉ hoạt động, tháo dỡ các cơ sở không đảm bảo tiêu chí, không đủ điều kiện kinh doanh chế biến lâm sản (dự kiến khoảng 275 cơ sở).
Định hướng sản phẩm, sản lượng sản xuất

TT

Sản phẩm

Sản lượng (m3/năm)

Giai đoạn 2012-2015

Giai đoạn 2016-2020

1

Gỗ xẻ các loại

27.630

27.630

2

Hàng mộc dân dụng

22.080

22.080

3

Ván nhân tạo

55.350

80.200

4

Bột giấy

0

268.670

5

Hàng mộc tinh chế

126.700

179.200

6

Dăm gỗ

345.000

0

Tổng

576.760

577.780

Định hướng nguồn nguyên liệu cung cấp

TT

Nguồn nguyên liệu cung cấp

Giai đoạn 2012-2020 (m3/năm )

I

Nguồn nguyên liệu cung cấp trong tỉnh

720.000

1

Khai thác từ rừng tự nhiên

10.000

2

Khai thác từ rừng trồng

700.000

3

Khai thác từ gỗ vườn

10.000

II

Nguồn cung cấp nguyên liệu ngoài tỉnh

23.000

III

Nguồn nhập khẩu

58.160

Tổng

801.160

Cụ thể phương án quy hoạch theo từng nhóm sản phẩm như sau:
2.1. Cơ sở cưa xẻ.
Giảm tối đa các cơ sở cưa xẻ hiện có, quy hoạch đến năm 2020 toàn tỉnh có khoảng 174 cơ sở (huyện Vũ Quang 10 cơ sở, Đức Thọ 17 cơ sở, Can Lộc 13 cơ sở, Thạch Hà 9 cơ sở, TP Hà Tĩnh 2 cơ sở, Cẩm Xuyên 11 cơ sở, Lộc Hà 6 cơ sở, Nghi Xuân 8 cơ sở, Hương Sơn 34 cơ sở, Hương Khê 43 cơ sở và Kỳ Anh 21 cơ sở ) với tổng công suất dự kiến 44.210 m3 nguyên liệu/năm, sản phẩm sản xuất dự kiến 27.630 m3/năm, thu hút khoảng 1.180 lao động (trong đó tiếp tục duy trì, củng cố 173 cơ sở hiện có và quy hoạch bổ sung một cơ sở tại xã Cẩm Lĩnh, huyện Cẩm Xuyên). Kiểm tra, soát xét, đình chỉ hoạt động, tháo dỡ các cơ sở xẻ không đảm bảo điều kiện kinh doanh, không đảm bảo tiêu chí (khoảng 236 cơ sở).
Các cơ sở cưa xẻ không thuộc diện đình chỉ, tháo dỡ thì trước mắt vẫn giữ nguyên vị trí đã có, từ năm 2013 các địa phương phải có kế hoạch từng bước chuyển dần các cơ sở cưa xẻ thuộc hộ gia đình, cá nhân vào các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề theo quy hoạch nông thôn mới của các xã. Riêng đối với các cơ sở thuộc doanh nghiệp đã được cấp, thuê đất, có nhà xưởng tương đối cố định trở lên, sản xuất ổn định và không gây ô nhiễm môi trường thì giữ nguyên vị trí đã có.
Tiếp tục sử dụng công nghệ hiện có, từng bước áp dụng công nghệ, dây chuyền sản xuất tiên tiến, nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và đảm bảo môi trường.
2.Cơ sở chế biến dăm gỗ
Không xây dựng mới, hạn chế dần việc sản xuất của 04 nhà máy dăm gỗ xuất khẩu (huyện Nghi Xuân 1 cơ sở và Kỳ Anh 3 cơ sở) với tổng công suất dự kiến 380.000m3 nguyên liệu/năm, sản phẩm sản xuất dự kiến 345.000m3/năm, thu hút khoảng 370 lao động và kết thúc vào năm 2015. Kiểm tra lại giấy chứng nhận đầu tư, soát xét, đình chỉ các cơ sở sản xuất dăm gỗ không phù hợp quy hoạch, không đảm bảo tiêu chí theo quy định. Từ năm 2015 trở đi, tỉnh sẽ chấm dứt xuất khẩu dăm mảnh, do đó các doanh nghiệp, nhà máy cần có kế hoạch chuyển hướng sản xuất, điều chỉnh công suất phù hợp, liên kết vào chuỗi sản xuất của các nhà máy MDF, hoặc chấm dứt hoạt động nếu không hiệu quả.
2.3. Cơ sở chế biến bột giấy
Quy hoạch mới 2 cơ sở chế biến bột giấy, 1 nhà máy ở Khu công nghiệp Vũng Áng - Kỳ Anh và 1 Nhà máy trên tuyến đường Hồ chí Minh. Tổng công suất dự kiến 403.000m3 nguyên liệu/năm, sản phẩm sản xuất dự kiến 268.670m3/năm, thu hút khoảng 1.000 lao động. Các nhà máy này được đầu tư xây dựng sau năm 2015, khi không còn xuất khẩu dăm mảnh thô.
Ưu tiên lựa chọn các công nghệ, thiết bị tiên tiến của các nước châu âu với công suất thiết bị đủ lớn, không ô nhiễm môi trường để đầu tự xây dựng.
2.4. Cơ sở chế biến ván bóc, ván ép, ván sàn, ghép thanh
Không quy hoạch, xây dựng mới, tiếp tục duy trì 11 nhà máy hiện có (không mở rộng thêm; huyện Đức Thọ 3 cơ sở, thị xã Hông Lĩnh 1 cơ sở, Nghi Xuân 2 cơ sở, Hương Sơn 1 cơ sở và Hương Khê 4 cơ sở) với tổng công suất dự kiến 13.700m3 nguyên liệu/năm, sản phẩm sản xuất dự kiến 5.200m3/năm, thu hút khoảng 380 lao động. Sau năm 2015 các cơ sở ván bóc, ván ép, ván sàn, ghép thanh cần có kế hoạch chuyển hướng sản xuất để kết nối, tham gia vào chuỗi sản xuất của các cơ sở lớn.
Tiếp tục sử dụng công nghệ hiện có, cần có kế hoạch đổi mới công nghệ để tham gia vào chuỗi sản xuất của các cơ sở lớn.
2.5. Cơ sở chế biến ván MDF
Nhanh chóng kêu gọi, xúc tiến, ưu đãi đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất ván MDF gắn với cơ sở sản xuất đồ mộc cao cấp, tạo chuỗi sản xuất khép kín từ nguyên liệu rừng trồng đến đồ gỗ cao cấp và tiêu thụ. Đây là động lực chủ yếu để chuyển nhanh chế biến thô sang tinh, sâu, nên ngay từ đầu năm 2013 phải quan tâm để ra đời nhà máy MDF. Quy hoạch mới 1 nhà máy trên tuyến đường Hồ Chí Minh và 1 nhà máy ở Khu kinh tế Vũng Áng, huyện Kỳ Anh với tổng công suất dự kiến 150.000m3 nguyên liệu/năm, sản phẩm sản xuất dự kiến 75.000m3/năm, thu hút khoảng 750 lao động.
Ưu tiên lựa chọn các công nghệ, thiết bị tiên tiến của các nước châu âu, với công suất thiết bị đủ lớn, không ô nhiễm môi trường để đầu tư xây dựng.
2.6. Mộc dân dụng, văn phòng, đồ gỗ nội thất và gia công các sản phẩm từ gỗ
Tiếp tục duy trì, củng cố 114 cơ sở hiện có, quy hoạch mới thêm 57 cơ sở (huyện Cẩm Xuyên 1 cơ sở, huyện Hương Khê 2 cơ sở, huyên Can Lộc 3 cơ sở, Hương Sơn 51 cơ sở ), đưa tổng số lên 171 cơ sở (huyện Vũ Quang 7 cơ sở, Đức Thọ 14 cơ sở, Can Lộc 9 cơ sở, Thạch Hà 4 cơ sở, TP Hà Tĩnh 4 cơ sở, Cẩm Xuyên 6 cơ sở, Lộc Hà 8 cơ sở, Nghi Xuân 10 cơ sở, Hương Sơn 69 cơ sở, Hương Khê 14 cơ sở và Kỳ Anh 26 cơ sở ) với tổng công suất dự kiến 33.250m3 nguyên liệu/năm, sản phẩm sản xuất dự kiến 22.080m3/năm, thu hút khoảng 1.500 lao động. Kiểm tra, soát xét, đình chỉ hoạt động, tháo dỡ các cơ sở mộc không đảm bảo điều kiện kinh doanh, không đảm bảo tiêu chí (khoảng 38 cơ sở).
Các cơ sở mộc cần nhanh chóng đổi mới công nghệ, quan tâm thiết kế, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Trước mắt tiếp tục giữ nguyên vị trí hiện nay, từ năm 2013 các địa phương có kế hoạch từng bước chuyển dần các cơ sở mộc thuộc hộ gia đình, cá nhân vào các khu tiểu thủ công nghiệp, làng nghề theo quy hoạch nông thôn mới của các xã để đảm bảo đầu tư đồng bộ và bảo vệ môi trường; riêng đối với các cơ sở thuộc doanh nghiệp đã được cấp, thuê đất, có nhà xuởng tương đối cố định trở lên, sản xuất ổn định và không gây ô nhiễm môi trường thì giữ nguyên vị trí đã có. Thực hiện kiểm soát tốt nguyên liệu đầu vào của các cơ sở, quan tâm ưu tiên gỗ nguyên liệu trong tỉnh cung ứng cho các cơ sở.
2.7. Cơ sở chế biến tổng hợp
Xây dựng 1 nhà máy chế biến gỗ tổng hợp tại khu kinh tế Vũng Áng, huyện Kỳ Anh với công suất dự kiến 180.000m3/năm, sản phẩm sản xuất dự kiến 126.700m3 /năm, thu hút khoảng 1.500 lao động. Sản phẩm gồm: Gỗ ghép, ván sàn, bàn ghế và các sản phẩm hoàn thiện bằng gỗ,
Ưu tiên công nghệ, thiết bị tiên tiến của các nước phát triển với công suất thiết bị đủ lớn, không ô nhiễm môi trường để đầu tư xây dựng.
2.8. Làng nghề mộc gia dụng và mỹ nghệ
Tiếp tục duy trì, củng cố, hỗ trợ phát triển 06 làng nghề hiện có gồm: Cụm làng nghề truyền thống Thái Yên, xã Thái Yên, huyện Đức Thọ; cụm làng nghề truyền thống Trường Sơn, xã Trường Sơn, huyện Đức Thọ; làng Vinh Thành, xã Đức Đồng, huyện Đức Thọ; làng Yên Lộc, xã Yên Lộc, huyện Can Lộc; làng Bình Sơn, thị trấn Hương Khê, huyện Hương Khê và làng Thượng Long, xã Sơn Long, huyện Hương Sơn. Quan tâm công tác truyền nghề dạy nghề, áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả, hạn chế ô nhiễm môi trường. Tiếp tục nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, đẩy mạnh sản xuất mộc mỹ nghệ với độ tinh xảo cao. Có kế hoạch cân đối nguồn nguyên liệu để cung ứng cho các làng nghề đảm bảo hoạt động.