Document: Điều 14 Luật Công đoàn 1957 108-SL/L.10

Type: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "05/11/1957", "sign_number": "108-SL/L.10", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Luật"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "05/11/1957", "sign_number": "108-SL/L.10", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Luật"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "05/11/1957", "sign_number": "108-SL/L.10", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Luật"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "05/11/1957", "sign_number": "108-SL/L.10", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Luật"}
Signer: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "05/11/1957", "sign_number": "108-SL/L.10", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Luật"}

Full Text:
Điều 14 Luật Công đoàn 1957 108-SL/L.10 có nội dung như sau:

Điều 14. Căn cứ theo số lượng công nhân, viên chức nhiều hay ít và yêu cầu công tác của Công đoàn cơ sở, Tổng Liên đoàn đề nghị Chính phủ ấn định số cán bộ chuyên trách làm công tác công đoàn hoặc ấn định số thì giờ để làm công tác công đoàn trong giờ làm việc cho những uỷ viên Ban Chấp hành Công đoàn.

Content:
Điều 14. Căn cứ theo số lượng công nhân, viên chức nhiều hay ít và yêu cầu công tác của Công đoàn cơ sở, Tổng Liên đoàn đề nghị Chính phủ ấn định số cán bộ chuyên trách làm công tác công đoàn hoặc ấn định số thì giờ để làm công tác công đoàn trong giờ làm việc cho những uỷ viên Ban Chấp hành Công đoàn.