Document: Điều 4 Quyết định 264/2003/QĐ-TTg giải pháp quản lý, sử dụng đất trong nông, lâm trường quốc doanh

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "16/12/2003", "sign_number": "264/2003/QĐ-TTG", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "16/12/2003", "sign_number": "264/2003/QĐ-TTG", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "16/12/2003", "sign_number": "264/2003/QĐ-TTG", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "16/12/2003", "sign_number": "264/2003/QĐ-TTG", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "16/12/2003", "sign_number": "264/2003/QĐ-TTG", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 4 Quyết định 264/2003/QĐ-TTg giải pháp quản lý, sử dụng đất trong nông, lâm trường quốc doanh có nội dung như sau:

Điều 4. Giải pháp xử lý quỹ đất không nằm trong quy hoạch sử dụng đất của nông, lâm trường sau khi đã được sắp xếp lại, bao gồm:
1. Đối với diện tích đất nông, lâm trường không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, sử dụng không có hiệu quả; diện tích đất đã cho thuê, đã chuyển nhượng, đã cho mượn; diện tích đất đã bán vườn cây; diện tích đất của các nông, lâm trường phải giải thể; diện tích đất phải điều chỉnh do thu hẹp nhiệm vụ đã được cấp có thẩm quyền xét duyệt thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thu hồi để quản lý, sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương.
Các nông, lâm trường có diện tích đất bị thu hồi phải bàn giao toàn bộ hồ sơ về quỹ đất bị thu hồi cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có đất.
2. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải có kế hoạch đưa đất đã thu hồi vào sử dụng, không được bỏ hoang hóa và tổ chức chỉ đạo Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền thực hiện giao đất, cho thuê đất theo quy định sau:
a. Ưu tiên việc giao đất để sử dụng ổn định vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản cho các hộ gia đình, cá nhân là cán bộ công nhân viên không còn việc làm ở nông, lâm trường do thực hiện việc sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh và đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nông dân đang sinh sống tại địa phương hiện không có hoặc thiếu đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản;
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nguồn sống chủ yếu không dựa vào thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản nếu có nhu cầu thì được xem xét cho thuê đất để sản xuất;
Trường hợp tổ chức kinh tế có nhu cầu thì được xem xét giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh.
b. Mức đất giao cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản phải phù hợp với mức đất giao cho hộ gia đình nông dân tại địa phương.
3. Đối với diện tích đất nông, lâm trường đã giao khoán cho hộ gia đình, cá nhân là công nhân nông, lâm trường và hộ nông dân tại địa phương, nếu không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương (được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận) thì người đang sử dụng đất được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất hoặc cho thuê đất để tiếp tục sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai;
Trường hợp diện tích đất đã nhận khoán nhiều hơn so với mức đất giao cho hộ nông dân ở địa phương thì phần diện tích đất vượt mức đất giao phải chuyển sang thuê đất.
4. Đối với diện tích đất nông, lâm trường đã cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê, nếu đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền tiếp tục cho thuê đất để sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai; thời hạn sử dụng đất được tính từ ngày thuê đất của nông, lâm trường.
5. Đối với diện tích đất nông, lâm trường đã liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác thì Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền thực hiện việc giao đất có thu tiền hoặc cho thuê đất cho thành phần kinh tế đã liên doanh, liên kết với nông, lâm trường; thời hạn sử dụng đất được xác định theo hợp đồng liên doanh, liên kết đã ký kết với nông, lâm trường.
6. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã mua vườn cây của nông, lâm trường để tiếp tục phát triển sản xuất theo quy định tại Nghị định số 12/CP ngày 02 tháng 3 năm 1993 của Chính phủ, nếu không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương thì Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền làm thủ tục cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất; thời hạn sử dụng đất được tính từ ngày mua vườn cây.
7. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử đụng đất quy định tại điều này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi đã hoàn thành các thủ tục về giao đất cho thuê đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

Content:
Điều 4. Giải pháp xử lý quỹ đất không nằm trong quy hoạch sử dụng đất của nông, lâm trường sau khi đã được sắp xếp lại, bao gồm:
1. Đối với diện tích đất nông, lâm trường không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, sử dụng không có hiệu quả; diện tích đất đã cho thuê, đã chuyển nhượng, đã cho mượn; diện tích đất đã bán vườn cây; diện tích đất của các nông, lâm trường phải giải thể; diện tích đất phải điều chỉnh do thu hẹp nhiệm vụ đã được cấp có thẩm quyền xét duyệt thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thu hồi để quản lý, sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương.
Các nông, lâm trường có diện tích đất bị thu hồi phải bàn giao toàn bộ hồ sơ về quỹ đất bị thu hồi cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có đất.
2. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải có kế hoạch đưa đất đã thu hồi vào sử dụng, không được bỏ hoang hóa và tổ chức chỉ đạo Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền thực hiện giao đất, cho thuê đất theo quy định sau:
a. Ưu tiên việc giao đất để sử dụng ổn định vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản cho các hộ gia đình, cá nhân là cán bộ công nhân viên không còn việc làm ở nông, lâm trường do thực hiện việc sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh và đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nông dân đang sinh sống tại địa phương hiện không có hoặc thiếu đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản;
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nguồn sống chủ yếu không dựa vào thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản nếu có nhu cầu thì được xem xét cho thuê đất để sản xuất;
Trường hợp tổ chức kinh tế có nhu cầu thì được xem xét giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh.
b. Mức đất giao cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản phải phù hợp với mức đất giao cho hộ gia đình nông dân tại địa phương.
3. Đối với diện tích đất nông, lâm trường đã giao khoán cho hộ gia đình, cá nhân là công nhân nông, lâm trường và hộ nông dân tại địa phương, nếu không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương (được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận) thì người đang sử dụng đất được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất hoặc cho thuê đất để tiếp tục sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai;
Trường hợp diện tích đất đã nhận khoán nhiều hơn so với mức đất giao cho hộ nông dân ở địa phương thì phần diện tích đất vượt mức đất giao phải chuyển sang thuê đất.
4. Đối với diện tích đất nông, lâm trường đã cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê, nếu đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền tiếp tục cho thuê đất để sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai; thời hạn sử dụng đất được tính từ ngày thuê đất của nông, lâm trường.
5. Đối với diện tích đất nông, lâm trường đã liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác thì Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền thực hiện việc giao đất có thu tiền hoặc cho thuê đất cho thành phần kinh tế đã liên doanh, liên kết với nông, lâm trường; thời hạn sử dụng đất được xác định theo hợp đồng liên doanh, liên kết đã ký kết với nông, lâm trường.
6. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã mua vườn cây của nông, lâm trường để tiếp tục phát triển sản xuất theo quy định tại Nghị định số 12/CP ngày 02 tháng 3 năm 1993 của Chính phủ, nếu không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương thì Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền làm thủ tục cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất; thời hạn sử dụng đất được tính từ ngày mua vườn cây.
7. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử đụng đất quy định tại điều này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi đã hoàn thành các thủ tục về giao đất cho thuê đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.