Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2187/QĐ-UBND năm 2013 phát triển thông tin truyền thông tỉnh An Giang đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "23/10/2013", "sign_number": "2187/QĐ-UBND", "signer": "Hồ Việt Hiệp", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "23/10/2013", "sign_number": "2187/QĐ-UBND", "signer": "Hồ Việt Hiệp", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "23/10/2013", "sign_number": "2187/QĐ-UBND", "signer": "Hồ Việt Hiệp", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "23/10/2013", "sign_number": "2187/QĐ-UBND", "signer": "Hồ Việt Hiệp", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "23/10/2013", "sign_number": "2187/QĐ-UBND", "signer": "Hồ Việt Hiệp", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2187/QĐ-UBND năm 2013 phát triển thông tin truyền thông tỉnh An Giang đến 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển thông tin và truyền thông tỉnh An Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, với các nội dung chủ yếu sau:
...
4. Báo chí
4.1. Báo chí in
Đến năm 2015 số lượng cơ quan báo chí in là 5 cơ quan bao gồm: 1 cơ quan báo và 3 tạp chí cũ, phát triển thêm 1 tạp chí.
Đến năm số lượng cơ quan báo chí in là 6 cơ quan bao gồm: 1 cơ quan báo, 4 tạp chí (3 tạp chí cũ và phát triển mới 1 tạp chí), phát triển thêm 1 tạp chí.
Phát triển mới 3 đặc san: Đặc san Tư pháp An Giang; Đặc san Giáo dục và Đào tạo An Giang; Đặc san Kinh tế, Công nghiệp và Thương mại An Giang.
4.2 Phát thanh
Thời lượng chương trình:
Đối với phát thanh tỉnh: Đến năm 2015: Thời lượng chương trình tiếp sóng là 10h/ngày; thời lượng chương trình phát sóng là 5h/ngày. Đến năm 2020: Thời lượng chương trình tiếp sóng là 10h/ngày; thời lượng chương trình phát sóng là 8h/ngày.
Đối với phát thanh đài huyện: Đến năm 2015: Thời lượng tiếp, phát sóng chương trình phát thanh của Đài tỉnh và Đài truyền hình Việt Nam đạt trên 08 giờ/ngày trong đó thời lượng chương trình tự sản xuất đạt 30 phút - đến 1 giờ/ngày. Đến năm 2020, tổng thời lượng phát sóng chương trình phát thanh đạt trên 12 giờ/ngày trong đó thời lượng chương trình tự sản xuất đạt 01 giờ - 02 giờ/ngày.
Truyền dẫn và phát sóng:
Giai đoạn đến 2015: Thực hiện lộ trình số hóa phát thanh.
Đối tượng số hóa: chương trình phát thanh của đài tỉnh.
Giai đoạn 2016 - 2020:
Số hóa phát thanh trên phạm vi toàn tỉnh. Chú trọng phương thức phát sóng phát thanh trên Internet, mở rộng phạm vi đối tượng nghe đài An Giang.
Truyền thanh cơ sở
Giai đoạn đến 2015: 95% hộ dân trong toàn tỉnh được nghe loa truyền thanh, có 20% đài truyền thanh cơ sở sử dụng truyền thanh không dây. Đến năm 2020 đạt 100%.
4.3. Truyền hình
Thời lượng chương trình: Năm 2015: Giữ nguyên thời lượng phát sóng chương trình 24h/ngày (tăng thời lượng chương trình tự sản xuất từ hơn 3,5h/ngày lên 6 - 8h/ngày). Đến năm 2020: Giữ nguyên thời lượng phát sóng chương trình là 24h/ngày; tăng thời lượng chương trình tự sản xuất lên hơn 8-12 h/ngày; tăng thêm 1 kênh truyền hình số; thời lượng chương trình đạt từ 18 - 24h/ngày.
Truyền dẫn và phát sóng: Duy trì phương thức phát sóng đa dạng: truyền dẫn phát sóng analog, truyền dẫn phát sóng trên mạng lưới truyền hình cáp, truyền dẫn phát sóng trên mạng Internet, truyền dẫn phát sóng trên vệ tinh.
Nâng công suất máy phát nhằm nâng cao chất lượng thu phát sóng trên địa phương và các hộ gia đình.
Đối với phương thức truyền dẫn phát sóng analog: giai đoạn đến 2015 duy trì phương thức truyền dẫn phát sóng analog. Đài sẽ phát sóng trực tiếp các chương trình của mình trên mạng Internet trước năm 2015.
Dần dần hạ ngầm cáp truyền hình, tránh để tình trạng cáp treo nhiều, gây ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và mỹ quan đô thị.
Phát triển dịch vụ: Cần thay đổi trong phương thức thu hút quảng cáo như đa dạng phương thức truyền dẫn phát sóng, truyền hình tương tự, truyền hình công nghệ số, truyền hình Internet để mở rộng vùng phủ; Đối với quảng cáo trực tiếp, cần đi vào khai thác doanh thu từ các gameshow. Đầu tư phát triển truyền hình Internet một cách chuyên nghiệp.
4.4. Báo điện tử
Nội dung: Trang tin điện tử của các cơ quan báo An Giang cập nhật các tác phẩm một cách liên tục.
Sản xuất chương trình: Đối với các trang tin điện tử của các cơ quan báo, cần thiết phải nghiên cứu và ứng dụng một mô hình tòa soạn điện tử, coi đó là một ấn phẩm hỗ trợ cho ấn phẩm báo giấy đang sụt giảm về sản lượng.
Dịch vụ: Xu hướng trong thời gian tới, các tờ báo điện tử sẽ đầu tư và phát triển mạnh các dịch vụ về nội dung, khi đó là lúc trang tin điện tử thu được doanh thu từ rất nhiều cách như: doanh thu từ quảng cáo trực tiếp, doanh thu tài trợ thực hiện chương trình đăng tải trên báo điện tử, doanh thu từ phía bạn đọc trả cho thông tin thụ hưởng…
4.5. Định hướng phát triển báo chí đến năm 2030
An Giang có hệ thống các cơ quan báo chí có tiềm lực tài chính, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, cung cấp đa dạng các loại hình thông tin, phạm vi hoạt động phủ khắp cả nước, vươn ra phạm vi khu vực và quốc.
Không còn sự phân biệt giữa các cơ quan báo theo loại hình báo chí, các cơ quan báo chí An Giang đều phát hành nhiều ấn phẩm báo chí trên nhiều loại hình như báo in, phát thanh, truyền hình và báo điện tử.
Các ấn phẩm báo in vẫn tồn tại 2 loại hình là báo in và báo in xuất bản trên môi trường điện tử, trong đó báo in giấy chiếm tỷ trọng nhỏ và tồn tại gắn liền với người dân An Giang như một loại hình văn hóa.
Truyền hình sẽ tách biệt giữa sản xuất nội dung, cung cấp dịch vụ và phát triển hạ tầng. Người dân sẽ thụ hưởng các loại hình truyền hình theo yêu cầu (TvoD) thông qua đường cáp quang hoặc truyền hình vệ tinh. Người dân có thể thụ hưởng nhiều loại hình dịch vụ như Internet, truyền hình, phát thanh... của nhiều nhà cung cấp khác nhau trên cùng 1 đường truyền.
Các chương trình truyền hình được phát bằng các chuẩn có chất lượng cao.
Báo điện tử An Giang sẽ phát triển mạnh mẽ, hội tụ được tất cả các loại hình báo chí trên báo điện tử.
Người dân An Giang được thụ hưởng thông tin mọi lúc, mọi nơi, theo nhu cầu, theo đối tượng. Mức độ chênh lệch trong thụ hưởng thông tin của người dân thành thị và nông thôn gần như không còn.

Content:
Báo chí
4.1. Báo chí in
Đến năm 2015 số lượng cơ quan báo chí in là 5 cơ quan bao gồm: 1 cơ quan báo và 3 tạp chí cũ, phát triển thêm 1 tạp chí.
Đến năm số lượng cơ quan báo chí in là 6 cơ quan bao gồm: 1 cơ quan báo, 4 tạp chí (3 tạp chí cũ và phát triển mới 1 tạp chí), phát triển thêm 1 tạp chí.
Phát triển mới 3 đặc san: Đặc san Tư pháp An Giang; Đặc san Giáo dục và Đào tạo An Giang; Đặc san Kinh tế, Công nghiệp và Thương mại An Giang.
4.2 Phát thanh
Thời lượng chương trình:
Đối với phát thanh tỉnh: Đến năm 2015: Thời lượng chương trình tiếp sóng là 10h/ngày; thời lượng chương trình phát sóng là 5h/ngày. Đến năm 2020: Thời lượng chương trình tiếp sóng là 10h/ngày; thời lượng chương trình phát sóng là 8h/ngày.
Đối với phát thanh đài huyện: Đến năm 2015: Thời lượng tiếp, phát sóng chương trình phát thanh của Đài tỉnh và Đài truyền hình Việt Nam đạt trên 08 giờ/ngày trong đó thời lượng chương trình tự sản xuất đạt 30 phút - đến 1 giờ/ngày. Đến năm 2020, tổng thời lượng phát sóng chương trình phát thanh đạt trên 12 giờ/ngày trong đó thời lượng chương trình tự sản xuất đạt 01 giờ - 02 giờ/ngày.
Truyền dẫn và phát sóng:
Giai đoạn đến 2015: Thực hiện lộ trình số hóa phát thanh.
Đối tượng số hóa: chương trình phát thanh của đài tỉnh.
Giai đoạn 2016 - 2020:
Số hóa phát thanh trên phạm vi toàn tỉnh. Chú trọng phương thức phát sóng phát thanh trên Internet, mở rộng phạm vi đối tượng nghe đài An Giang.
Truyền thanh cơ sở
Giai đoạn đến 2015: 95% hộ dân trong toàn tỉnh được nghe loa truyền thanh, có 20% đài truyền thanh cơ sở sử dụng truyền thanh không dây. Đến năm 2020 đạt 100%.
4.3. Truyền hình
Thời lượng chương trình: Năm 2015: Giữ nguyên thời lượng phát sóng chương trình 24h/ngày (tăng thời lượng chương trình tự sản xuất từ hơn 3,5h/ngày lên 6 - 8h/ngày). Đến năm 2020: Giữ nguyên thời lượng phát sóng chương trình là 24h/ngày; tăng thời lượng chương trình tự sản xuất lên hơn 8-12 h/ngày; tăng thêm 1 kênh truyền hình số; thời lượng chương trình đạt từ 18 - 24h/ngày.
Truyền dẫn và phát sóng: Duy trì phương thức phát sóng đa dạng: truyền dẫn phát sóng analog, truyền dẫn phát sóng trên mạng lưới truyền hình cáp, truyền dẫn phát sóng trên mạng Internet, truyền dẫn phát sóng trên vệ tinh.
Nâng công suất máy phát nhằm nâng cao chất lượng thu phát sóng trên địa phương và các hộ gia đình.
Đối với phương thức truyền dẫn phát sóng analog: giai đoạn đến 2015 duy trì phương thức truyền dẫn phát sóng analog. Đài sẽ phát sóng trực tiếp các chương trình của mình trên mạng Internet trước năm 2015.
Dần dần hạ ngầm cáp truyền hình, tránh để tình trạng cáp treo nhiều, gây ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và mỹ quan đô thị.
Phát triển dịch vụ: Cần thay đổi trong phương thức thu hút quảng cáo như đa dạng phương thức truyền dẫn phát sóng, truyền hình tương tự, truyền hình công nghệ số, truyền hình Internet để mở rộng vùng phủ; Đối với quảng cáo trực tiếp, cần đi vào khai thác doanh thu từ các gameshow. Đầu tư phát triển truyền hình Internet một cách chuyên nghiệp.
4.Báo điện tử
Nội dung: Trang tin điện tử của các cơ quan báo An Giang cập nhật các tác phẩm một cách liên tục.
Sản xuất chương trình: Đối với các trang tin điện tử của các cơ quan báo, cần thiết phải nghiên cứu và ứng dụng một mô hình tòa soạn điện tử, coi đó là một ấn phẩm hỗ trợ cho ấn phẩm báo giấy đang sụt giảm về sản lượng.
Dịch vụ: Xu hướng trong thời gian tới, các tờ báo điện tử sẽ đầu tư và phát triển mạnh các dịch vụ về nội dung, khi đó là lúc trang tin điện tử thu được doanh thu từ rất nhiều cách như: doanh thu từ quảng cáo trực tiếp, doanh thu tài trợ thực hiện chương trình đăng tải trên báo điện tử, doanh thu từ phía bạn đọc trả cho thông tin thụ hưởng…
4.5. Định hướng phát triển báo chí đến năm 2030
An Giang có hệ thống các cơ quan báo chí có tiềm lực tài chính, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, cung cấp đa dạng các loại hình thông tin, phạm vi hoạt động phủ khắp cả nước, vươn ra phạm vi khu vực và quốc.
Không còn sự phân biệt giữa các cơ quan báo theo loại hình báo chí, các cơ quan báo chí An Giang đều phát hành nhiều ấn phẩm báo chí trên nhiều loại hình như báo in, phát thanh, truyền hình và báo điện tử.
Các ấn phẩm báo in vẫn tồn tại 2 loại hình là báo in và báo in xuất bản trên môi trường điện tử, trong đó báo in giấy chiếm tỷ trọng nhỏ và tồn tại gắn liền với người dân An Giang như một loại hình văn hóa.
Truyền hình sẽ tách biệt giữa sản xuất nội dung, cung cấp dịch vụ và phát triển hạ tầng. Người dân sẽ thụ hưởng các loại hình truyền hình theo yêu cầu (TvoD) thông qua đường cáp quang hoặc truyền hình vệ tinh. Người dân có thể thụ hưởng nhiều loại hình dịch vụ như Internet, truyền hình, phát thanh... của nhiều nhà cung cấp khác nhau trên cùng 1 đường truyền.
Các chương trình truyền hình được phát bằng các chuẩn có chất lượng cao.
Báo điện tử An Giang sẽ phát triển mạnh mẽ, hội tụ được tất cả các loại hình báo chí trên báo điện tử.
Người dân An Giang được thụ hưởng thông tin mọi lúc, mọi nơi, theo nhu cầu, theo đối tượng. Mức độ chênh lệch trong thụ hưởng thông tin của người dân thành thị và nông thôn gần như không còn.