Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2896/QĐ-UBND 2018 phát triển kinh tế thủy sản bảo vệ nguồn lợi thủy sản Nam Định

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "19/12/2018", "sign_number": "2896/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Phùng Hoan", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "19/12/2018", "sign_number": "2896/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Phùng Hoan", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "19/12/2018", "sign_number": "2896/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Phùng Hoan", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "19/12/2018", "sign_number": "2896/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Phùng Hoan", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "19/12/2018", "sign_number": "2896/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Phùng Hoan", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2896/QĐ-UBND 2018 phát triển kinh tế thủy sản bảo vệ nguồn lợi thủy sản Nam Định

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển kinh tế thủy sản và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Nam Định đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 với nội dung chủ yếu sau:
...
4. Nội dung chủ yếu Quy hoạch phát triển kinh tế thủy sản và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Nam Định đến năm 2025, định hướng đến năm 2030
4.1. Quy hoạch về nuôi trồng thủy sản
4.1.1. Quy hoạch diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản: Đến năm 2025 đạt từ 17.814 ha trở lên, tăng bình quân 1,7%/năm; Sản lượng 124.900 tấn, tăng bình quân 4,2%/năm (giai đoạn 2018-2025). Đến năm 2030 diện tích nuôi trồng thủy sản 19.799 ha, tăng bình quân 2,1%/ năm; Sản lượng 150.700 tấn, tăng bình quân 3,8%/năm (giai đoạn 2026-2030).
Diện tích quy hoạch tăng thêm được chuyển đổi từ các vùng đất trồng lúa kém hiệu quả và các vùng đất khác sang nuôi trồng thủy sản. Trong đó giai đoạn 2018-2025 chuyển đổi khoảng 2.705 ha; Giai đoạn 2025-2030 chuyển đổi khoảng 2.669 ha.
4.1.2. Quy hoạch nuôi tôm nước lợ: Phát triển nuôi tôm nước lợ (tôm sú, tôm thẻ chân trắng) theo hướng phát triển bền vững VietGAP và phát triển theo mô hình sản xuất hàng hóa, đảm bảo an toàn thực phẩm. Đến năm 2025, diện tích nuôi tôm nước lợ 4.175 ha; Sản lượng 9.700 tấn. Đến năm 2030, diện tích giảm còn 3.680 ha (do vùng nuôi trồng thủy sản tập trung tại huyện Nghĩa Hưng được chuyển đổi sang đất công nghiệp, dịch vụ thương mại và du lịch Rạng Đông); Sản lượng 11.250 tấn.
4.1.3. Quy hoạch nuôi cá biển: Phát triển nuôi cá biển theo hướng phát triển bền vững và theo quy mô sản xuất hàng hóa, đảm bảo an toàn thực phẩm. Tập trung chủ yếu tại 3 huyện ven biển là huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thủy và một phần diện tích ở huyện Xuân Trường. Đến năm 2025, diện tích nuôi cá biển 214 ha; Sản lượng 1.965 tấn. Đến năm 2030, diện tích giảm còn 184 ha; Sản lượng 1.760 tấn.
4.1.4. Quy hoạch nuôi Ngao: Phát triển nuôi Ngao theo hướng đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, đạt tiêu chuẩn vùng nuôi an toàn thực phẩm cấp độ B do Liên minh Châu Âu (EU) công nhận, phát triển theo quy mô sản xuất hàng hóa để phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Đến năm 2025, diện tích nuôi Ngao 1.930 ha; Sản lượng 39.050 tấn. Đến năm 2030, diện tích giảm còn 1.855 ha; Sản lượng 39.750 tấn.
4.1.5. Quy hoạch nuôi cá ao, hồ nước ngọt: Phát triển nuôi cá nước ngọt ao, hồ theo hướng phát triển bền vững và định hướng phát triển theo quy mô sản xuất hàng hóa, đảm bảo an toàn thực phẩm. Đến năm 2025, diện tích nuôi cá nước ngọt 11.390 ha; Sản lượng 70.520 tấn. Đến năm 2030, diện tích 14.009 ha; Sản lượng 94.900 tấn.
4.1.6 Quy hoạch sản xuất giống thủy sản các loại: Phát triển sản xuất giống thủy sản theo hướng tập trung nâng cao năng lực các cơ sở sản xuất giống nhằm đảm bảo cung ứng đủ số lượng và chất lượng con giống cho người nuôi. Khuyến khích các cơ sở sản xuất giống áp dụng các tiến bộ khoa học, tiếp nhận công nghệ sản xuất tiên tiến trong sản xuất giống nhằm cung cấp cho thị trường đàn giống đảm bảo chất lượng, an toàn dịch bệnh, nhất là đối với một số đối tượng nuôi chưa sản xuất được tại địa phương như giống tôm thẻ chân trắng, cá song, cá vược, cá diêu hồng,... Đến năm 2025, có 105 cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản đáp ứng đủ điều kiện sản xuất; Sản lượng giống thủy sản 17.726 triệu con. Đến năm 2030, tiếp tục duy trì 105 cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản; Sản lượng giống thủy sản 21.700 triệu con.
4.1.7. Quy hoạch phương thức nuôi thủy sản: Tăng diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh, bán thâm canh ở những vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, kiểm soát được các yếu tố môi trường, phát triển nuôi theo hướng an toàn sinh học và giảm diện tích nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến. Đến năm 2025, diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh 2.883 ha, nuôi bán thâm canh 4.191 ha, nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến 10.740 ha; Đến năm 2030, diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh 3.730 ha, nuôi bán thâm canh 7.040 ha, nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến 9.029 ha.
4.1.8. Phương án hệ thống thủy lợi về kênh cấp, thoát nước cho vùng nuôi trồng thủy sản tập trung nước mặn, lợ thuộc 4 huyện trọng điểm: huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng và Xuân Trường (phương án quy hoạch cụ thể cho từng vùng nuôi trồng thủy sản trong quy hoạch chi tiết).
4.2. Quy hoạch về khai thác thủy sản
4.2.1. Dự kiến sản lượng khai thác thủy sản: Tập trung phát triển khai thác thủy sản biển trên cơ sở từng bước nâng cao sản lượng và năng suất, đánh bắt có chọn lọc các đối tượng có giá trị kinh tế cao, sản lượng khai thác chủ yếu từ khai khác xa bờ để bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven bờ và tăng hiệu quả kinh tế. Đến năm 2025, tổng sản lượng khai thác thủy sản 54.400 tấn, tăng bình quân 1,5%/năm (giai đoạn 2018- 2025), trong đó sản lượng khai thác thủy sản biển 52.490 tấn. Đến năm 2030 là 59.400 tấn, tăng bình quân 1,8%/năm (giai đoạn 2026 - 2030), trong đó sản lượng khai thác thủy sản biển 58.050 tấn.
4.2.2. Quy hoạch về tàu thuyền khai thác thủy sản: Tập trung nâng số lượng các tàu cá có công suất lớn, có khả năng vươn khơi xa đánh bắt ở nước ngoài và hướng tới giảm số tàu thuyền nhỏ đánh bắt ven bờ để bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Đến năm 2025 tổng số tàu thuyền 2.050 chiếc, giảm bình quân 0,12%/năm, trong đó tàu cá khai thác vùng khơi (loại tàu có chiều dài Lmax ≥15m) là 700 chiếc tăng bình quân 8,3%/năm (giai đoạn 2018-2025). Đến năm 2030 tổng số tàu giảm còn 1.950 chiếc, giảm bình quân 1%/năm, trong đó tàu cá khai thác vùng khơi (loại tàu có chiều dài Lmax ≥15m) là 900 chiếc tăng bình quân 5,15%/năm (giai đoạn 2025-2030).
4.2.3. Cơ cấu nghề khai thác thủy sản: Cơ cấu nghề khai thác thủy sản được phát triển theo hướng giảm dần hoặc loại bỏ các nghề khai thác gây tác động xấu đến nguồn lợi thủy sản và môi trường biển, duy trì và phát triển nghề khai thác đem lại hiệu quả kinh tế cao, thân thiện với môi trường. Tập trung phát triển các nghề khai thác có tính chọn lọc cao như nghề lưới rê xa bờ và nghề chụp mực; giảm dần các nghề khai thác ở vùng lộng đánh bắt tôm, cá nhỏ chưa trưởng thành như nghề lưới kéo; phát triển thêm các nghề mới như nghề lưới vây, nghề câu xa bờ và xóa bỏ các nghề khai thác ven bờ mang tính hủy diệt, sử dụng xung điện, vật liệu nổ. Đến năm 2025, cơ cấu nghề lưới kéo chiếm 16%, nghề lưới rê chiếm 73%, nghề lưới chụp chiếm 3% và các nghề khai thác khác chiếm 8%; Đến năm 2030 cơ cấu nghề lưới kéo chiếm 12%, nghề lưới rê chiếm 71%, nghề lưới chụp chiếm 5% và các nghề khai thác khác chiếm 12% tổng số đơn vị nghề khai thác thủy sản toàn tỉnh.
4.2.4. Phân vùng và phân tuyến khai thác thủy sản
a) Phân vùng hoạt động khai thác thủy sản
- Tàu cá có chiều dài từ 15m trở lên khai thác thủy sản tại vùng khơi và vùng biển quốc tế, không được khai thác thủy sản tại vùng ven bờ và vùng lộng.
- Tàu cá có chiều dài từ 12m đến dưới 15m khai thác thủy sản tại vùng lộng và không được khai thác thủy sản tại vùng khơi, vùng biển ven bờ và vùng biển quốc tế.
- Tàu cá có chiều dài nhỏ hơn 12m khai thác thủy sản trong vùng ven bờ, không được khai thác thủy sản tại vùng lộng, vùng khơi và vùng biển quốc tế.
- Tàu cá có chiều dài nhỏ hơn 6m hoặc không lắp máy đăng ký thì chỉ được khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ của tỉnh. Trừ trường hợp Ủy ban nhân dân của hai tỉnh có biển liền kề có thỏa thuận riêng về việc cho phép tàu cá tỉnh bạn vào khai thác thủy sản trong vùng biển ven bờ của tỉnh mình.
- Các nghề và loại tàu khai thác thủy sản bị cấm hoạt động trong một số vùng khai thác theo quy định của Luật Thủy sản năm 2017.
b) Phân tuyến hoạt động khai thác thủy sản
- Tuyến bờ tỉnh Nam Định được giới hạn bởi đoạn thẳng nối liền 2 điểm: từ điểm 03 tọa độ 20° 36' 52" vĩ độ Bắc, 107° 12' 25" kinh độ Đông đến điểm 04 tọa độ 19° 20' 51" vĩ độ Bắc, 105° 56' 02" kinh độ Đông.
- Tuyến lộng tỉnh Nam Định được giới hạn bởi đoạn thẳng nối liền 2 điểm: từ điểm 02’ tọa độ 20° 0' 0" vĩ độ Bắc, 107° 07' 41" kinh độ Đông đến điểm 03’ tọa độ 19° 33' 07" vĩ độ Bắc, 106° 37' 17" kinh độ Đông.
4.2.5. Quy hoạch dịch vụ hậu cần nghề cá cho khai thác thủy sản
a) Cảng cá, Khu neo đậu tàu cá: Đến năm 2025, quy hoạch 09 cảng cá (trong đó 01 cảng cá loại I, 03 cảng cá loại II và 05 cảng cá loại III); 04 khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão (trong đó 01 khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão cấp vùng, 03 khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão cấp tỉnh). Đến năm 2030, duy trì 09 cảng cá; 05 khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão (trong đó 01 khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão cấp vùng, 04 khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão cấp tỉnh).
b) Cơ sở đóng, sửa chữa tàu thuyền nghề cá: Đến năm 2025 có 20 cơ sở; đến năm 2030 là 22 cơ sở.
c) Đội tàu dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển: Phát triển đội tàu dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển của tỉnh đến năm 2025 có khoảng 10 chiếc (mỗi chiếc công suất trên 850 CV, chiều dài từ 15m trở lên, tải trọng trên 500 tấn); đến năm 2030 có khoảng 12 chiếc.
4.2.6. Tổ chức sản xuất trong khai thác thủy sản
- Tổ chức rà soát số lượng tàu thuyền khai thác hải sản làm cơ sở xây dựng định hướng phát triển các loại nghề phù hợp với trữ lượng và khả năng cho phép của vùng biển; điều tra nguồn lợi thủy sản; tổ chức công tác kiểm tra, kiểm soát các hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn toàn tỉnh.
- Tổ chức lựa chọn và xây dựng các mô hình đồng quản lý nghề cá tại các vùng biển ven bờ. Xây dựng các mô hình chuyển đổi nghề, tạo sinh kế thay thế cho các nghề khai thác hải sản ảnh hưởng đến nguồn lợi và môi trường, nhất là vùng ven biển, nhằm từng bước tạo việc làm ổn định, nâng cao mức sống ngư dân và bảo vệ môi trường sinh thái vùng ven biển.
- Xây dựng, phát triển các mô hình liên kết, liên doanh gắn với các khâu trong quá trình sản xuất, từ khai thác, bảo quản đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm phù hợp với các nghề cá của địa phương.
- Củng cố, xây dựng các làng nghề truyền thống, gắn với xây dựng nông thôn mới ở vùng ven biển.
- Củng cố, phát triển các mô hình sản xuất khai thác thủy sản ở vùng biển khơi theo nhóm nghề, đối tượng khai thác dựa trên quy hoạch chung của cả ngành.
- Tổ chức xây dựng và thực hiện phát triển các mô hình tổ chức sản xuất như hợp tác xã, tổ ngư dân đoàn kết sản xuất trên biển; mô hình liên kết giữa ngư dân với các tổ chức, doanh nghiệp thu mua, chế biến tiêu thụ sản phẩm.
4.3. Quy hoạch về bảo vệ nguồn lợi thủy sản
4.3.1. Quy hoạch khu bảo tồn và khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản: Giữ nguyên khu bảo tồn thiên nhiên vùng đất ngập nước thuộc Vườn Quốc gia Xuân Thủy. Đến năm 2025, thành lập khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven biển huyện Giao Thủy. Đến năm 2030, thành lập khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven biển huyện Nghĩa Hưng.
4.3.2. Quản lý nguồn lợi và tái tạo nguồn lợi thủy sản: Đến năm 2025, thành lập 03 tổ chức quản lý cộng đồng về bảo vệ nguồn lợi thủy sản; Đến năm 2030 thành lập 04 tổ chức quản lý cộng đồng về bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Khoanh vùng bảo vệ bãi sinh sản, bãi giống thủy sản tự nhiên; bảo vệ các loài thủy sản bản địa, quý hiếm, có giá trị kinh tế cao như ngao dầu, trùng trục, móng tay, sò huyết, giá biển, cá bống bớp, cua rèm. Nghiên cứu sinh sản nhân tạo thành công một số đối tượng thủy sản bản địa quý hiếm như con phi, ngao dầu,.... phục vụ công tác thả giống tái tạo nguồn lợi thủy sản. Hàng năm duy trì hoạt động thả giống tái tạo nguồn lợi thủy sản vào các vùng nước tự nhiên.
4.4. Quy hoạch về chế biến và thương mại thủy sản
4.4.1. Nguồn nguyên liệu sản xuất: Nguồn nguyên liệu cung cấp cho ngành chế biến và thương mại thủy sản của tỉnh được duy trì ổn định, chủ yếu từ nguồn nguyên liệu nuôi trồng và khai thác thủy sản trong tỉnh. Dự tính đến năm 2025 lượng nguyên liệu có thể đưa vào chế biến chiếm khoảng 20%; đến năm 2030 là 30% tổng sản lượng sản xuất thủy sản của toàn tỉnh.
4.4.2. Sản phẩm chế biến và thương mại thủy sản
Sản phẩm cho chế biến và thương mại thủy sản của tỉnh được đa dạng hóa và nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong và ngoài nước. Quy hoạch phát triển theo từng nhóm ngành hàng sau:
(1) Nhóm sản phẩm tươi sống: Là mặt hàng được sản xuất và tiêu thụ nhiều nhất của tỉnh với tổng sản lượng khoảng 100.790 tấn vào năm 2025 và 107.730 tấn vào năm 2030.
(2) Nhóm sản phẩm tươi, ướp nước đá: Là các sản phẩm khai thác vùng khơi, có giá trị cao và có khả năng xuất khẩu. Đến năm 2025, sản lượng khoảng 42.785 tấn; đến năm 2030 là 49.510 tấn.
(3) Nhóm sản phẩm đông lạnh: Giai đoạn 2018-2025, duy trì sản lượng mỗi năm sản xuất từ 3.000 đến 4.000 tấn; đến năm 2030 tăng lên 15.000 tấn. Các sản phẩm này chủ yếu hướng đến thị trường xuất khẩu nên cần được kiểm soát chất lượng và an toàn thực phẩm chặt chẽ.
(4) Nhóm sản phẩm khô: Đến năm 2025, sản lượng khoảng 7.000 tấn; đến năm 2030 tăng lên 10.000 tấn. Cần chú trọng xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng moi khô, tôm biển khô, cá mai khô, gắn với thương hiệu của tỉnh.
(5) Nhóm sản phẩm dạng mắm: Nâng sản lượng lên khoảng 6 triệu lít vào năm 2025 và 7 triệu lít vào năm 2030. Sản phẩm nước nắm cần được nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu để có thể cạnh tranh với các thương hiệu nước mắm nổi tiếng khác.
4.4.3. Định hướng phát triển các cơ sở chế biến thủy sản
- Để đảm bảo khả năng chế biến nguồn cung nguyên liệu thủy sản, đến năm 2025 dự kiến sẽ nâng số lượng cơ sở kinh doanh, thu mua, sơ chế và chế biến thủy sản từ 153 cơ sở như hiện nay lên 165 cơ sở (trong đó có 15 cơ sở quy mô công nghiệp); Đến năm 2030 là 175 cơ sở (trong đó có 25 cơ sở quy mô công nghiệp). Tạo điều kiện cho từ 15 đến 25 cơ sở được chứng nhận HACCP và ít nhất 02 cơ sở có khả năng xuất khẩu hàng hóa đi các thị trường yêu cầu khắt khe về chất lượng là EU, Mỹ và Nhật.
- Khuyến khích tạo điều kiện để thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực chế biến thủy sản; ưu tiên bố trí mặt bằng cho việc xây dựng các cơ sở kinh doanh, thu mua, sơ chế và chế biến ở các địa phương có lợi thế nguồn nguyên liệu như huyện Hải Hậu, Nghĩa Hưng và Giao Thủy, nhằm gắn kết chặt chẽ các cơ sở chế biến với vùng sản xuất nguyên liệu, người nuôi trồng, ngư dân và các cơ sở dịch vụ hậu cần (các cảng cá), hướng tới hình thành chuỗi liên kết giá trị sản xuất, quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm theo hệ thống và thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
- Khuyến khích các Hợp tác xã, Tổ hợp tác, doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, dây chuyền sản xuất và công nghệ bảo quản; góp phần nâng cao năng suất và giá trị sản phẩm, đảm bảo an toàn thực phẩm và không gây ô nhiễm môi trường.
- Hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại các sản phẩm thủy sản của tỉnh, tập trung vào các đối tượng chủ lực, các sản phẩm truyền thống, đặc trưng của tỉnh như ngao, sứa, nước nắm,...
4.4.4. Định hướng phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Thị trường xuất khẩu chủ lực vẫn là Trung Quốc và EU với các mặt hàng truyền thống như ngao, cá bống bớp, cua, mực tươi sống hoặc cấp đông; hướng tới mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước là Hàn Quốc, Mỹ, Nhật và các nước ASEAN.
- Thị trường nội địa được phát triển theo hướng gắn với ngành du lịch và dịch vụ của tỉnh, với các sản phẩm chế biến được tiêu thụ nhiều như chả cá, sứa, nước mắm, thủy sản tươi sống, đông lạnh, hàng khô.

Content:
Nội dung chủ yếu Quy hoạch phát triển kinh tế thủy sản và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Nam Định đến năm 2025, định hướng đến năm 2030
4.1. Quy hoạch về nuôi trồng thủy sản
4.1.1. Quy hoạch diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản: Đến năm 2025 đạt từ 17.814 ha trở lên, tăng bình quân 1,7%/năm; Sản lượng 124.900 tấn, tăng bình quân 4,2%/năm (giai đoạn 2018-2025). Đến năm 2030 diện tích nuôi trồng thủy sản 19.799 ha, tăng bình quân 2,1%/ năm; Sản lượng 150.700 tấn, tăng bình quân 3,8%/năm (giai đoạn 2026-2030).
Diện tích quy hoạch tăng thêm được chuyển đổi từ các vùng đất trồng lúa kém hiệu quả và các vùng đất khác sang nuôi trồng thủy sản. Trong đó giai đoạn 2018-2025 chuyển đổi khoảng 2.705 ha; Giai đoạn 2025-2030 chuyển đổi khoảng 2.669 ha.
4.1.2. Quy hoạch nuôi tôm nước lợ: Phát triển nuôi tôm nước lợ (tôm sú, tôm thẻ chân trắng) theo hướng phát triển bền vững VietGAP và phát triển theo mô hình sản xuất hàng hóa, đảm bảo an toàn thực phẩm. Đến năm 2025, diện tích nuôi tôm nước lợ 4.175 ha; Sản lượng 9.700 tấn. Đến năm 2030, diện tích giảm còn 3.680 ha (do vùng nuôi trồng thủy sản tập trung tại huyện Nghĩa Hưng được chuyển đổi sang đất công nghiệp, dịch vụ thương mại và du lịch Rạng Đông); Sản lượng 11.250 tấn.
4.1.3. Quy hoạch nuôi cá biển: Phát triển nuôi cá biển theo hướng phát triển bền vững và theo quy mô sản xuất hàng hóa, đảm bảo an toàn thực phẩm. Tập trung chủ yếu tại 3 huyện ven biển là huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thủy và một phần diện tích ở huyện Xuân Trường. Đến năm 2025, diện tích nuôi cá biển 214 ha; Sản lượng 1.965 tấn. Đến năm 2030, diện tích giảm còn 184 ha; Sản lượng 1.760 tấn.
4.1.Quy hoạch nuôi Ngao: Phát triển nuôi Ngao theo hướng đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, đạt tiêu chuẩn vùng nuôi an toàn thực phẩm cấp độ B do Liên minh Châu Âu (EU) công nhận, phát triển theo quy mô sản xuất hàng hóa để phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Đến năm 2025, diện tích nuôi Ngao 1.930 ha; Sản lượng 39.050 tấn. Đến năm 2030, diện tích giảm còn 1.855 ha; Sản lượng 39.750 tấn.
4.1.5. Quy hoạch nuôi cá ao, hồ nước ngọt: Phát triển nuôi cá nước ngọt ao, hồ theo hướng phát triển bền vững và định hướng phát triển theo quy mô sản xuất hàng hóa, đảm bảo an toàn thực phẩm. Đến năm 2025, diện tích nuôi cá nước ngọt 11.390 ha; Sản lượng 70.520 tấn. Đến năm 2030, diện tích 14.009 ha; Sản lượng 94.900 tấn.
4.1.6 Quy hoạch sản xuất giống thủy sản các loại: Phát triển sản xuất giống thủy sản theo hướng tập trung nâng cao năng lực các cơ sở sản xuất giống nhằm đảm bảo cung ứng đủ số lượng và chất lượng con giống cho người nuôi. Khuyến khích các cơ sở sản xuất giống áp dụng các tiến bộ khoa học, tiếp nhận công nghệ sản xuất tiên tiến trong sản xuất giống nhằm cung cấp cho thị trường đàn giống đảm bảo chất lượng, an toàn dịch bệnh, nhất là đối với một số đối tượng nuôi chưa sản xuất được tại địa phương như giống tôm thẻ chân trắng, cá song, cá vược, cá diêu hồng,... Đến năm 2025, có 105 cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản đáp ứng đủ điều kiện sản xuất; Sản lượng giống thủy sản 17.726 triệu con. Đến năm 2030, tiếp tục duy trì 105 cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản; Sản lượng giống thủy sản 21.700 triệu con.
4.1.7. Quy hoạch phương thức nuôi thủy sản: Tăng diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh, bán thâm canh ở những vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, kiểm soát được các yếu tố môi trường, phát triển nuôi theo hướng an toàn sinh học và giảm diện tích nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến. Đến năm 2025, diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh 2.883 ha, nuôi bán thâm canh 4.191 ha, nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến 10.740 ha; Đến năm 2030, diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh 3.730 ha, nuôi bán thâm canh 7.040 ha, nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến 9.029 ha.
4.1.8. Phương án hệ thống thủy lợi về kênh cấp, thoát nước cho vùng nuôi trồng thủy sản tập trung nước mặn, lợ thuộc 4 huyện trọng điểm: huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng và Xuân Trường (phương án quy hoạch cụ thể cho từng vùng nuôi trồng thủy sản trong quy hoạch chi tiết).
4.2. Quy hoạch về khai thác thủy sản
4.2.1. Dự kiến sản lượng khai thác thủy sản: Tập trung phát triển khai thác thủy sản biển trên cơ sở từng bước nâng cao sản lượng và năng suất, đánh bắt có chọn lọc các đối tượng có giá trị kinh tế cao, sản lượng khai thác chủ yếu từ khai khác xa bờ để bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven bờ và tăng hiệu quả kinh tế. Đến năm 2025, tổng sản lượng khai thác thủy sản 54.400 tấn, tăng bình quân 1,5%/năm (giai đoạn 2018- 2025), trong đó sản lượng khai thác thủy sản biển 52.490 tấn. Đến năm 2030 là 59.400 tấn, tăng bình quân 1,8%/năm (giai đoạn 2026 - 2030), trong đó sản lượng khai thác thủy sản biển 58.050 tấn.
4.2.2. Quy hoạch về tàu thuyền khai thác thủy sản: Tập trung nâng số lượng các tàu cá có công suất lớn, có khả năng vươn khơi xa đánh bắt ở nước ngoài và hướng tới giảm số tàu thuyền nhỏ đánh bắt ven bờ để bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Đến năm 2025 tổng số tàu thuyền 2.050 chiếc, giảm bình quân 0,12%/năm, trong đó tàu cá khai thác vùng khơi (loại tàu có chiều dài Lmax ≥15m) là 700 chiếc tăng bình quân 8,3%/năm (giai đoạn 2018-2025). Đến năm 2030 tổng số tàu giảm còn 1.950 chiếc, giảm bình quân 1%/năm, trong đó tàu cá khai thác vùng khơi (loại tàu có chiều dài Lmax ≥15m) là 900 chiếc tăng bình quân 5,15%/năm (giai đoạn 2025-2030).
4.2.3. Cơ cấu nghề khai thác thủy sản: Cơ cấu nghề khai thác thủy sản được phát triển theo hướng giảm dần hoặc loại bỏ các nghề khai thác gây tác động xấu đến nguồn lợi thủy sản và môi trường biển, duy trì và phát triển nghề khai thác đem lại hiệu quả kinh tế cao, thân thiện với môi trường. Tập trung phát triển các nghề khai thác có tính chọn lọc cao như nghề lưới rê xa bờ và nghề chụp mực; giảm dần các nghề khai thác ở vùng lộng đánh bắt tôm, cá nhỏ chưa trưởng thành như nghề lưới kéo; phát triển thêm các nghề mới như nghề lưới vây, nghề câu xa bờ và xóa bỏ các nghề khai thác ven bờ mang tính hủy diệt, sử dụng xung điện, vật liệu nổ. Đến năm 2025, cơ cấu nghề lưới kéo chiếm 16%, nghề lưới rê chiếm 73%, nghề lưới chụp chiếm 3% và các nghề khai thác khác chiếm 8%; Đến năm 2030 cơ cấu nghề lưới kéo chiếm 12%, nghề lưới rê chiếm 71%, nghề lưới chụp chiếm 5% và các nghề khai thác khác chiếm 12% tổng số đơn vị nghề khai thác thủy sản toàn tỉnh.
4.2.Phân vùng và phân tuyến khai thác thủy sản
a) Phân vùng hoạt động khai thác thủy sản
- Tàu cá có chiều dài từ 15m trở lên khai thác thủy sản tại vùng khơi và vùng biển quốc tế, không được khai thác thủy sản tại vùng ven bờ và vùng lộng.
- Tàu cá có chiều dài từ 12m đến dưới 15m khai thác thủy sản tại vùng lộng và không được khai thác thủy sản tại vùng khơi, vùng biển ven bờ và vùng biển quốc tế.
- Tàu cá có chiều dài nhỏ hơn 12m khai thác thủy sản trong vùng ven bờ, không được khai thác thủy sản tại vùng lộng, vùng khơi và vùng biển quốc tế.
- Tàu cá có chiều dài nhỏ hơn 6m hoặc không lắp máy đăng ký thì chỉ được khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ của tỉnh. Trừ trường hợp Ủy ban nhân dân của hai tỉnh có biển liền kề có thỏa thuận riêng về việc cho phép tàu cá tỉnh bạn vào khai thác thủy sản trong vùng biển ven bờ của tỉnh mình.
- Các nghề và loại tàu khai thác thủy sản bị cấm hoạt động trong một số vùng khai thác theo quy định của Luật Thủy sản năm 2017.
b) Phân tuyến hoạt động khai thác thủy sản
- Tuyến bờ tỉnh Nam Định được giới hạn bởi đoạn thẳng nối liền 2 điểm: từ điểm 03 tọa độ 20° 36' 52" vĩ độ Bắc, 107° 12' 25" kinh độ Đông đến điểm 04 tọa độ 19° 20' 51" vĩ độ Bắc, 105° 56' 02" kinh độ Đông.
- Tuyến lộng tỉnh Nam Định được giới hạn bởi đoạn thẳng nối liền 2 điểm: từ điểm 02’ tọa độ 20° 0' 0" vĩ độ Bắc, 107° 07' 41" kinh độ Đông đến điểm 03’ tọa độ 19° 33' 07" vĩ độ Bắc, 106° 37' 17" kinh độ Đông.
4.2.5. Quy hoạch dịch vụ hậu cần nghề cá cho khai thác thủy sản
a) Cảng cá, Khu neo đậu tàu cá: Đến năm 2025, quy hoạch 09 cảng cá (trong đó 01 cảng cá loại I, 03 cảng cá loại II và 05 cảng cá loại III); 04 khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão (trong đó 01 khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão cấp vùng, 03 khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão cấp tỉnh). Đến năm 2030, duy trì 09 cảng cá; 05 khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão (trong đó 01 khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão cấp vùng, 04 khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão cấp tỉnh).
b) Cơ sở đóng, sửa chữa tàu thuyền nghề cá: Đến năm 2025 có 20 cơ sở; đến năm 2030 là 22 cơ sở.
c) Đội tàu dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển: Phát triển đội tàu dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển của tỉnh đến năm 2025 có khoảng 10 chiếc (mỗi chiếc công suất trên 850 CV, chiều dài từ 15m trở lên, tải trọng trên 500 tấn); đến năm 2030 có khoảng 12 chiếc.
4.2.6. Tổ chức sản xuất trong khai thác thủy sản
- Tổ chức rà soát số lượng tàu thuyền khai thác hải sản làm cơ sở xây dựng định hướng phát triển các loại nghề phù hợp với trữ lượng và khả năng cho phép của vùng biển; điều tra nguồn lợi thủy sản; tổ chức công tác kiểm tra, kiểm soát các hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn toàn tỉnh.
- Tổ chức lựa chọn và xây dựng các mô hình đồng quản lý nghề cá tại các vùng biển ven bờ. Xây dựng các mô hình chuyển đổi nghề, tạo sinh kế thay thế cho các nghề khai thác hải sản ảnh hưởng đến nguồn lợi và môi trường, nhất là vùng ven biển, nhằm từng bước tạo việc làm ổn định, nâng cao mức sống ngư dân và bảo vệ môi trường sinh thái vùng ven biển.
- Xây dựng, phát triển các mô hình liên kết, liên doanh gắn với các khâu trong quá trình sản xuất, từ khai thác, bảo quản đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm phù hợp với các nghề cá của địa phương.
- Củng cố, xây dựng các làng nghề truyền thống, gắn với xây dựng nông thôn mới ở vùng ven biển.
- Củng cố, phát triển các mô hình sản xuất khai thác thủy sản ở vùng biển khơi theo nhóm nghề, đối tượng khai thác dựa trên quy hoạch chung của cả ngành.
- Tổ chức xây dựng và thực hiện phát triển các mô hình tổ chức sản xuất như hợp tác xã, tổ ngư dân đoàn kết sản xuất trên biển; mô hình liên kết giữa ngư dân với các tổ chức, doanh nghiệp thu mua, chế biến tiêu thụ sản phẩm.
4.3. Quy hoạch về bảo vệ nguồn lợi thủy sản
4.3.1. Quy hoạch khu bảo tồn và khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản: Giữ nguyên khu bảo tồn thiên nhiên vùng đất ngập nước thuộc Vườn Quốc gia Xuân Thủy. Đến năm 2025, thành lập khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven biển huyện Giao Thủy. Đến năm 2030, thành lập khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven biển huyện Nghĩa Hưng.
4.3.2. Quản lý nguồn lợi và tái tạo nguồn lợi thủy sản: Đến năm 2025, thành lập 03 tổ chức quản lý cộng đồng về bảo vệ nguồn lợi thủy sản; Đến năm 2030 thành lập 04 tổ chức quản lý cộng đồng về bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Khoanh vùng bảo vệ bãi sinh sản, bãi giống thủy sản tự nhiên; bảo vệ các loài thủy sản bản địa, quý hiếm, có giá trị kinh tế cao như ngao dầu, trùng trục, móng tay, sò huyết, giá biển, cá bống bớp, cua rèm. Nghiên cứu sinh sản nhân tạo thành công một số đối tượng thủy sản bản địa quý hiếm như con phi, ngao dầu,.... phục vụ công tác thả giống tái tạo nguồn lợi thủy sản. Hàng năm duy trì hoạt động thả giống tái tạo nguồn lợi thủy sản vào các vùng nước tự nhiên.
4.Quy hoạch về chế biến và thương mại thủy sản
4.4.1. Nguồn nguyên liệu sản xuất: Nguồn nguyên liệu cung cấp cho ngành chế biến và thương mại thủy sản của tỉnh được duy trì ổn định, chủ yếu từ nguồn nguyên liệu nuôi trồng và khai thác thủy sản trong tỉnh. Dự tính đến năm 2025 lượng nguyên liệu có thể đưa vào chế biến chiếm khoảng 20%; đến năm 2030 là 30% tổng sản lượng sản xuất thủy sản của toàn tỉnh.
4.4.2. Sản phẩm chế biến và thương mại thủy sản
Sản phẩm cho chế biến và thương mại thủy sản của tỉnh được đa dạng hóa và nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong và ngoài nước. Quy hoạch phát triển theo từng nhóm ngành hàng sau:
(1) Nhóm sản phẩm tươi sống: Là mặt hàng được sản xuất và tiêu thụ nhiều nhất của tỉnh với tổng sản lượng khoảng 100.790 tấn vào năm 2025 và 107.730 tấn vào năm 2030.
(2) Nhóm sản phẩm tươi, ướp nước đá: Là các sản phẩm khai thác vùng khơi, có giá trị cao và có khả năng xuất khẩu. Đến năm 2025, sản lượng khoảng 42.785 tấn; đến năm 2030 là 49.510 tấn.
(3) Nhóm sản phẩm đông lạnh: Giai đoạn 2018-2025, duy trì sản lượng mỗi năm sản xuất từ 3.000 đến 4.000 tấn; đến năm 2030 tăng lên 15.000 tấn. Các sản phẩm này chủ yếu hướng đến thị trường xuất khẩu nên cần được kiểm soát chất lượng và an toàn thực phẩm chặt chẽ.
(4) Nhóm sản phẩm khô: Đến năm 2025, sản lượng khoảng 7.000 tấn; đến năm 2030 tăng lên 10.000 tấn. Cần chú trọng xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng moi khô, tôm biển khô, cá mai khô, gắn với thương hiệu của tỉnh.
(5) Nhóm sản phẩm dạng mắm: Nâng sản lượng lên khoảng 6 triệu lít vào năm 2025 và 7 triệu lít vào năm 2030. Sản phẩm nước nắm cần được nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu để có thể cạnh tranh với các thương hiệu nước mắm nổi tiếng khác.
4.4.3. Định hướng phát triển các cơ sở chế biến thủy sản
- Để đảm bảo khả năng chế biến nguồn cung nguyên liệu thủy sản, đến năm 2025 dự kiến sẽ nâng số lượng cơ sở kinh doanh, thu mua, sơ chế và chế biến thủy sản từ 153 cơ sở như hiện nay lên 165 cơ sở (trong đó có 15 cơ sở quy mô công nghiệp); Đến năm 2030 là 175 cơ sở (trong đó có 25 cơ sở quy mô công nghiệp). Tạo điều kiện cho từ 15 đến 25 cơ sở được chứng nhận HACCP và ít nhất 02 cơ sở có khả năng xuất khẩu hàng hóa đi các thị trường yêu cầu khắt khe về chất lượng là EU, Mỹ và Nhật.
- Khuyến khích tạo điều kiện để thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực chế biến thủy sản; ưu tiên bố trí mặt bằng cho việc xây dựng các cơ sở kinh doanh, thu mua, sơ chế và chế biến ở các địa phương có lợi thế nguồn nguyên liệu như huyện Hải Hậu, Nghĩa Hưng và Giao Thủy, nhằm gắn kết chặt chẽ các cơ sở chế biến với vùng sản xuất nguyên liệu, người nuôi trồng, ngư dân và các cơ sở dịch vụ hậu cần (các cảng cá), hướng tới hình thành chuỗi liên kết giá trị sản xuất, quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm theo hệ thống và thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
- Khuyến khích các Hợp tác xã, Tổ hợp tác, doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, dây chuyền sản xuất và công nghệ bảo quản; góp phần nâng cao năng suất và giá trị sản phẩm, đảm bảo an toàn thực phẩm và không gây ô nhiễm môi trường.
- Hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại các sản phẩm thủy sản của tỉnh, tập trung vào các đối tượng chủ lực, các sản phẩm truyền thống, đặc trưng của tỉnh như ngao, sứa, nước nắm,...
4.4.Định hướng phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Thị trường xuất khẩu chủ lực vẫn là Trung Quốc và EU với các mặt hàng truyền thống như ngao, cá bống bớp, cua, mực tươi sống hoặc cấp đông; hướng tới mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước là Hàn Quốc, Mỹ, Nhật và các nước ASEAN.
- Thị trường nội địa được phát triển theo hướng gắn với ngành du lịch và dịch vụ của tỉnh, với các sản phẩm chế biến được tiêu thụ nhiều như chả cá, sứa, nước mắm, thủy sản tươi sống, đông lạnh, hàng khô.