Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2282/QĐ-UBND 2017 phê duyệt Quy hoạch nuôi thủy sản trên tuyến sông An Giang

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "28/07/2017", "sign_number": "2282/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "28/07/2017", "sign_number": "2282/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "28/07/2017", "sign_number": "2282/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "28/07/2017", "sign_number": "2282/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "28/07/2017", "sign_number": "2282/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2282/QĐ-UBND 2017 phê duyệt Quy hoạch nuôi thủy sản trên tuyến sông An Giang

Điều 1. Phê duyệt “Quy hoạch nuôi thủy sản trên các tuyến sông đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025”, với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Định hướng phát triển
3.1. Định hướng quy hoạch vùng nuôi thủy sản lồng bè:
a) Định hướng đối tượng nuôi lồng bè:
Định hướng phát triển trong giai đoạn tới các đối tượng thủy sản nuôi lồng bè trên địa bàn tỉnh như sau: cá Basa, cá Điêu hồng/Rô phi, cá Chim trắng và các đối tượng nuôi truyền thống khác: cá He, cá Hú, cá Lóc bông,... Đây là các đối tượng tiêu thụ nội địa có rất nhiều tiềm năng, cần ưu tiên phát triển nâng cao năng suất, chất lượng con giống, tăng sản lượng tạo hiệu quả kinh tế cho người nuôi, hoàn thiện quy trình kỹ thuật trước khi tăng trưởng về số lượng lồng bè nuôi nhằm tạo sự ổn định trong sản xuất, giảm thiểu thiệt hại.
b) Số lượng, thể tích, sản lượng và giá trị sản lượng nuôi lồng bè:
- Số lượng: Lồng bè nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh được quy hoạch đến năm 2020 đạt 3.220 lồng bè và tăng lên đạt 3.870 lồng bè vào năm 2025, tập trung tại 8 huyện/thị/thành gồm: Long Xuyên, Châu Đốc, An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Châu Phú, Châu Thành và Chợ Mới; không quy hoạch nuôi thủy sản trên sông tại các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn và Thoại Sơn do nằm cách xa tuyến sông Tiền, sông Hậu, sức tải môi trường kém, dễ gây ô nhiễm môi trường và tác động đến dân sinh trong khu vực.
- Diện tích chiếm nước, thể tích: Tổng diện tích chiếm nước (bao gồm cả diện tích lồng bè và khoảng cách giữa các lồng bè) nuôi thủy sản lồng bè đến năm 2020 là 201,9 ha và đến năm 2025 là 240,7 ha nhằm để tạo độ thông thoáng và dòng chảy phù hợp cho nuôi lồng bè. Thể tích nuôi thủy sản lồng bè cũng tăng từ 879.000 m3 năm 2020 tăng lên đạt 1.057.000 m3 vào năm 2025.
- Sản lượng: Với chỉ tiêu số lượng lồng bè đạt 3.220 lồng bè vào năm 2020 và tăng lên 3.870 lồng bè vào năm 2025, chỉ tiêu về sản lượng thủy sản nuôi lồng bè tương ứng trên địa bàn tỉnh An Giang lần lượt đạt 57.220 tấn vào năm 2020 và tăng đạt 67.360 tấn vào năm 2025.
- Giá trị sản lượng: Giá trị sản xuất thủy sản nuôi lồng bè trên sông tỉnh An Giang theo giá hiện hành đến năm 2020 đạt 1.943 tỷ đồng và đạt 2.512 tỷ đồng vào năm 2025 với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5,27% (giai đoạn 2021 - 2025). Trong khi đó, theo giá so sánh năm 2010, giá trị sản xuất thủy sản trên sông của tỉnh đạt 1.410 tỷ đồng vào năm 2020 và tăng lên đạt 1.660 tỷ đồng vào năm 2025, tăng trưởng bình quân 3,32%/năm trong giai đoạn 2021 - 2025.
3.2. Định hướng nhu cầu lao động nuôi thủy sản lồng bè:
Nhu cầu lao động phổ thông đáp ứng cho nuôi trồng thủy sản trên sông tỉnh An Giang đến năm 2020 là 6.000 người, và tăng lên cần 7.000 người vào năm 2025. Ngoài ra, cần đào tạo lao động kỹ thuật có trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học cho nuôi trồng thủy sản. Đến năm 2020 cứ khoảng 100 lồng bè nuôi thủy sản cần 01 kỹ sư nuôi trồng thủy sản quản lý thì con số này đến năm 2020 cần khoảng 33 kỹ sư nuôi trồng thủy sản và tăng lên 39 kỹ sư vào năm 2025.
3.3. Định hướng cơ sở hạ tầng và dịch vụ phục vụ nuôi lồng bè
a) Cơ sở hạ tầng
- Điện: Theo phương án quy hoạch nhu cầu thức ăn tự chế năm 2020 khoảng 64.150 tấn, năm 2025 khoảng 65.830 tấn tương ứng với nhu cầu điện năm 2020 khoảng 3.849 MWh và năm 2025 khoảng 3.949 MWh.
- Giao thông, bến hàng: Gia cố cầu bến, xây dựng cầu bến bêtông, có các trụ neo vũng chắc và kè chống xói lở; Làm đường lên xuống bến an toàn và đúng kỹ thuật để đảm bảo việc vận chuyển hàng hóa có tải trọng nặng.
- Hệ thống phao tiêu, biển báo: Thiết kế hệ thống phao và biển báo theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường thủy nội địa Việt Nam. Việc thiết kế hệ thống phao tiêu để báo hiệu giới hạn vị trí nuôi thủy sản lồng bè dọc theo tuyến luồng giao thông nhằm xác định cụ thể vùng quy hoạch, hướng dẫn giao thông cho các phương tiện thủy, đồng thời giúp cho người nuôi lồng bè biết giới hạn tuyến luồng giao thông và cơ quan chức năng kiểm tra được vị trí bè của các hộ/doanh nghiệp nuôi được thuận tiện. Cách lắp đặt phải đảm bảo quy định về hành lang an toàn luồng (cách 10 m so với phao báo hiệu luồng theo quy định tại Thông tư số 23/2011/TT-BGTVT ngày 31/3/2011 của Bộ Giao thông vận tải quy định về quản lý đường thủy nội địa).
b) Dịch vụ hậu cần
- Hệ thống cung ứng con giống: Đến năm 2020, nhu cầu giống cần khoảng 166 triệu con và tăng lên cần 207 triệu con đến năm 2025.
- Dịch vụ cung ứng thức ăn thủy sản: Tổng nhu cầu thức ăn công nghiệp cho nuôi cá lồng bè tỉnh An Giang đến năm 2020 cần khoảng 133.280 tấn (với lượng thức ăn viên cần 63.350 tấn và thức ăn tự chế cần 69.930 tấn), tăng lên 153.250 tấn vào năm 2025 (với lượng thức ăn viên cần 81.780 tấn và thức ăn tự chế cần 71.470 tấn).
- Dịch vụ cung ứng thuốc thú y thủy sản:Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư, cơ quan thú y tăng cường tư vấn hướng dẫn nông dân trong việc lựa chọn và sử dụng các loại thuốc thú y nhằm hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc không đúng công dụng, gây thiệt hại về kinh tế cho người sản xuất. Bên cạnh đó, việc tập huấn, chuyển giao kỹ thuật nuôi thủy sản lồng bè cần kết hợp với việc hướng dẫn kỹ thuật và các thông tin về phòng trị bệnh nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đối với các sản phẩm thủy sản nuôi lồng bè, đồng thời, tạo tiền đề hướng đến phát triển nuôi chuyên sâu, có hiệu quả và thân thiện với môi trường.

Content:
Định hướng phát triển
3.1. Định hướng quy hoạch vùng nuôi thủy sản lồng bè:
a) Định hướng đối tượng nuôi lồng bè:
Định hướng phát triển trong giai đoạn tới các đối tượng thủy sản nuôi lồng bè trên địa bàn tỉnh như sau: cá Basa, cá Điêu hồng/Rô phi, cá Chim trắng và các đối tượng nuôi truyền thống khác: cá He, cá Hú, cá Lóc bông,... Đây là các đối tượng tiêu thụ nội địa có rất nhiều tiềm năng, cần ưu tiên phát triển nâng cao năng suất, chất lượng con giống, tăng sản lượng tạo hiệu quả kinh tế cho người nuôi, hoàn thiện quy trình kỹ thuật trước khi tăng trưởng về số lượng lồng bè nuôi nhằm tạo sự ổn định trong sản xuất, giảm thiểu thiệt hại.
b) Số lượng, thể tích, sản lượng và giá trị sản lượng nuôi lồng bè:
- Số lượng: Lồng bè nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh được quy hoạch đến năm 2020 đạt 3.220 lồng bè và tăng lên đạt 3.870 lồng bè vào năm 2025, tập trung tại 8 huyện/thị/thành gồm: Long Xuyên, Châu Đốc, An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Châu Phú, Châu Thành và Chợ Mới; không quy hoạch nuôi thủy sản trên sông tại các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn và Thoại Sơn do nằm cách xa tuyến sông Tiền, sông Hậu, sức tải môi trường kém, dễ gây ô nhiễm môi trường và tác động đến dân sinh trong khu vực.
- Diện tích chiếm nước, thể tích: Tổng diện tích chiếm nước (bao gồm cả diện tích lồng bè và khoảng cách giữa các lồng bè) nuôi thủy sản lồng bè đến năm 2020 là 201,9 ha và đến năm 2025 là 240,7 ha nhằm để tạo độ thông thoáng và dòng chảy phù hợp cho nuôi lồng bè. Thể tích nuôi thủy sản lồng bè cũng tăng từ 879.000 m3 năm 2020 tăng lên đạt 1.057.000 m3 vào năm 2025.
- Sản lượng: Với chỉ tiêu số lượng lồng bè đạt 3.220 lồng bè vào năm 2020 và tăng lên 3.870 lồng bè vào năm 2025, chỉ tiêu về sản lượng thủy sản nuôi lồng bè tương ứng trên địa bàn tỉnh An Giang lần lượt đạt 57.220 tấn vào năm 2020 và tăng đạt 67.360 tấn vào năm 2025.
- Giá trị sản lượng: Giá trị sản xuất thủy sản nuôi lồng bè trên sông tỉnh An Giang theo giá hiện hành đến năm 2020 đạt 1.943 tỷ đồng và đạt 2.512 tỷ đồng vào năm 2025 với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5,27% (giai đoạn 2021 - 2025). Trong khi đó, theo giá so sánh năm 2010, giá trị sản xuất thủy sản trên sông của tỉnh đạt 1.410 tỷ đồng vào năm 2020 và tăng lên đạt 1.660 tỷ đồng vào năm 2025, tăng trưởng bình quân 3,32%/năm trong giai đoạn 2021 - 2025.
3.2. Định hướng nhu cầu lao động nuôi thủy sản lồng bè:
Nhu cầu lao động phổ thông đáp ứng cho nuôi trồng thủy sản trên sông tỉnh An Giang đến năm 2020 là 6.000 người, và tăng lên cần 7.000 người vào năm 2025. Ngoài ra, cần đào tạo lao động kỹ thuật có trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học cho nuôi trồng thủy sản. Đến năm 2020 cứ khoảng 100 lồng bè nuôi thủy sản cần 01 kỹ sư nuôi trồng thủy sản quản lý thì con số này đến năm 2020 cần khoảng 33 kỹ sư nuôi trồng thủy sản và tăng lên 39 kỹ sư vào năm 2025.
3.Định hướng cơ sở hạ tầng và dịch vụ phục vụ nuôi lồng bè
a) Cơ sở hạ tầng
- Điện: Theo phương án quy hoạch nhu cầu thức ăn tự chế năm 2020 khoảng 64.150 tấn, năm 2025 khoảng 65.830 tấn tương ứng với nhu cầu điện năm 2020 khoảng 3.849 MWh và năm 2025 khoảng 3.949 MWh.
- Giao thông, bến hàng: Gia cố cầu bến, xây dựng cầu bến bêtông, có các trụ neo vũng chắc và kè chống xói lở; Làm đường lên xuống bến an toàn và đúng kỹ thuật để đảm bảo việc vận chuyển hàng hóa có tải trọng nặng.
- Hệ thống phao tiêu, biển báo: Thiết kế hệ thống phao và biển báo theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường thủy nội địa Việt Nam. Việc thiết kế hệ thống phao tiêu để báo hiệu giới hạn vị trí nuôi thủy sản lồng bè dọc theo tuyến luồng giao thông nhằm xác định cụ thể vùng quy hoạch, hướng dẫn giao thông cho các phương tiện thủy, đồng thời giúp cho người nuôi lồng bè biết giới hạn tuyến luồng giao thông và cơ quan chức năng kiểm tra được vị trí bè của các hộ/doanh nghiệp nuôi được thuận tiện. Cách lắp đặt phải đảm bảo quy định về hành lang an toàn luồng (cách 10 m so với phao báo hiệu luồng theo quy định tại Thông tư số 23/2011/TT-BGTVT ngày 31/3/2011 của Bộ Giao thông vận tải quy định về quản lý đường thủy nội địa).
b) Dịch vụ hậu cần
- Hệ thống cung ứng con giống: Đến năm 2020, nhu cầu giống cần khoảng 166 triệu con và tăng lên cần 207 triệu con đến năm 2025.
- Dịch vụ cung ứng thức ăn thủy sản: Tổng nhu cầu thức ăn công nghiệp cho nuôi cá lồng bè tỉnh An Giang đến năm 2020 cần khoảng 133.280 tấn (với lượng thức ăn viên cần 63.350 tấn và thức ăn tự chế cần 69.930 tấn), tăng lên 153.250 tấn vào năm 2025 (với lượng thức ăn viên cần 81.780 tấn và thức ăn tự chế cần 71.470 tấn).
- Dịch vụ cung ứng thuốc thú y thủy sản:Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư, cơ quan thú y tăng cường tư vấn hướng dẫn nông dân trong việc lựa chọn và sử dụng các loại thuốc thú y nhằm hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc không đúng công dụng, gây thiệt hại về kinh tế cho người sản xuất. Bên cạnh đó, việc tập huấn, chuyển giao kỹ thuật nuôi thủy sản lồng bè cần kết hợp với việc hướng dẫn kỹ thuật và các thông tin về phòng trị bệnh nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đối với các sản phẩm thủy sản nuôi lồng bè, đồng thời, tạo tiền đề hướng đến phát triển nuôi chuyên sâu, có hiệu quả và thân thiện với môi trường.