Document: Điểm c Khoản 1 Điều 1 Quyết định 853/QĐ-UBND sửa đổi đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn Điện Biên 2016

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Điện Biên", "promulgation_date": "01/07/2016", "sign_number": "853/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Quý", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Điện Biên", "promulgation_date": "01/07/2016", "sign_number": "853/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Quý", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Điện Biên", "promulgation_date": "01/07/2016", "sign_number": "853/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Quý", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Điện Biên", "promulgation_date": "01/07/2016", "sign_number": "853/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Quý", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Điện Biên", "promulgation_date": "01/07/2016", "sign_number": "853/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Quý", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 1 Điều 1 Quyết định 853/QĐ-UBND sửa đổi đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn Điện Biên 2016

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Điện Biên đến năm 2020" ban hành kèm theo Quyết định số 1409/QĐ-UBND ngày 25/11/2010 của UBND tỉnh Điện Biên như sau:
1. Sửa đổi, bổ sung điểm 3 mục III phần I "Dự báo về lao động - việc làm và đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” như sau:
"3.1. Dự báo về lao động - việc làm
Theo thống kê, tốc độ tăng dân số giai đoạn 2011-2015 bình quân tăng 8.776 người/năm (phụ lục số 01); dự báo giai đoạn 2016-2020, dân số tăng bình quân là 1,63%/năm, lực lượng lao động trong độ tuổi cũng có biến động tương ứng, cụ thể như sau:
Đơn vị tính: người

TT

Chỉ tiêu

Năm 2011

Năm 2015

Năm 2020

1

Dân số trung bình

512.268

547.378

594.366

2

Lực lượng lao động

285.230

302.203

325.997

3

Lực lượng lao động là nữ

139.763

144.926

153.218

Tỷ lệ so với lực lượng LĐ (%)

49

48

47

4

Cơ cấu lao động (%)

- Nông, lâm nghiệp và thủy sản

71,91

65,89

58,7

- Công nghiệp và xây dựng

10,01

12,40

15,6

- Dịch vụ

18,08

21,71

25,7

Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp đã và đang có chiều hướng giảm, song vẫn chiếm tỷ lệ cao; dự kiến nguồn nhân lực sẽ tăng nhanh trong các lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, thương mại, dịch vụ, nên việc đào tạo và đào tạo lại cho lực lượng lao động nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong thời gian tới là rất cần thiết.
Đánh giá về thực trạng lao động việc làm - đào tạo nghề (phụ lục số 02); Dự báo nhu cầu đào tạo cho lực lượng lao động nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế giai đoạn 2016-2020 (phụ lục số 03);
3.2. Dự báo nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Năm 2015, lao động qua đào tạo 132.274 người, chiếm tỷ lệ 43,77% so với tổng số lực lượng lao động; trong đó: lao động qua đào tạo nghề là 73.647 người, chiếm tỷ lệ 24,37%, lao động qua đào tạo chuyên nghiệp là 58.627 người, chiếm tỷ lệ 19,4%.
Dự báo đến năm 2020 số lao động qua đào tạo là 191.034 người, chiếm tỷ lệ 58,6% so với lực lượng lao động trong độ tuổi; trong đó: Lao động qua đào tạo nghề là 111.947 người, chiếm tỷ lệ 34,34%, lao động qua đào tạo chuyên nghiệp 79.087 người, chiếm tỷ lệ 24,26%.
Để đảm bảo mục tiêu đạt tỷ lệ 34,34% lao động qua đào tạo nghề vào năm 2020, trong giai đoạn 2016-2020 số lao động cần phải đào tạo là 38.300 người. Theo thống kê trung bình hàng năm có khoảng 800 người đã qua đào tạo nghề bước ra khỏi độ tuổi lao động, từ năm 2016 đến năm 2020 cần đào tạo bổ sung 4.000 người. Như vậy, giai đoạn 2016-2020 số lao động cần phải đào tạo nghề là 42.300 người; trong đó đào tạo nghề cho lao động nông thôn là 37.000 người, cụ thể:
...
c) Theo lộ trình
- Năm 2016: Đào tạo nghề 8.000 người; trong đó: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn 6.200 người; theo trình độ đào tạo: Cao đẳng và trung cấp 450 người, sơ cấp và đào tạo nghề dưới 3 tháng 7.550 người.
- Từ năm 2017 đến năm 2020, mỗi năm đào tạo nghề 8.575 người; trong đó: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn 7.700 người.
Cụ thể nhu cầu đào tạo nghề (phụ lục số 04).
3.3. Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
Qua đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã đến 30/6/2015 cho thấy chất lượng cán bộ, công chức xã của tỉnh còn thấp so với yêu cầu tiêu chuẩn quy định, còn tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã chưa đạt chuẩn, cụ thể:
- Cán bộ xã, trình độ văn hóa còn 40,4% chưa đạt chuẩn, trình độ chuyên môn 42,6% chưa đạt chuẩn; trình độ lý luận chính trị 39% chưa đạt chuẩn; quản lý nhà nước 34,6% chưa qua bồi dưỡng.
- Công chức cấp xã, trình độ văn hóa còn 37,6% chưa đạt chuẩn; trình độ chuyên môn 3,3% chưa đạt chuẩn; bồi dưỡng lý luận chính trị 85,5% chưa đạt chuẩn; quản lý nhà nước 80,1% chưa qua bồi dưỡng; bồi dưỡng tin học 28,9% chưa đạt chuẩn; 30% công chức cấp xã chưa đảm bảo thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hàng năm.
Việc bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực quản lý hành chính, quản lý kinh tế - xã hội theo chức danh, vị trí làm việc đáp ứng yêu cầu của công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành và thực thi công vụ cho cán bộ, công chức xã còn hạn chế.
Từ thực trạng trên, xác định giai đoạn 2016-2020; cần đào tạo, bồi dưỡng cho 16.550 lượt người cán bộ, công chức cấp xã, trong đó tập trung đào tạo, bồi dưỡng trình độ đạt chuẩn, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và thực hiện chương trình bồi dưỡng khác theo chức danh, vị trí việc làm và kiến thức bắt buộc theo yêu cầu.
Kết quả đào tạo cán bộ công chức xã giai đoạn 2011-2015 (phụ lục số 05, 06).

Content:
Theo lộ trình
- Năm 2016: Đào tạo nghề 8.000 người; trong đó: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn 6.200 người; theo trình độ đào tạo: Cao đẳng và trung cấp 450 người, sơ cấp và đào tạo nghề dưới 3 tháng 7.550 người.
- Từ năm 2017 đến năm 2020, mỗi năm đào tạo nghề 8.575 người; trong đó: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn 7.700 người.
Cụ thể nhu cầu đào tạo nghề (phụ lục số 04).
3.3. Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
Qua đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã đến 30/6/2015 cho thấy chất lượng cán bộ, công chức xã của tỉnh còn thấp so với yêu cầu tiêu chuẩn quy định, còn tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã chưa đạt chuẩn, cụ thể:
- Cán bộ xã, trình độ văn hóa còn 40,4% chưa đạt chuẩn, trình độ chuyên môn 42,6% chưa đạt chuẩn; trình độ lý luận chính trị 39% chưa đạt chuẩn; quản lý nhà nước 34,6% chưa qua bồi dưỡng.
- Công chức cấp xã, trình độ văn hóa còn 37,6% chưa đạt chuẩn; trình độ chuyên môn 3,3% chưa đạt chuẩn; bồi dưỡng lý luận chính trị 85,5% chưa đạt chuẩn; quản lý nhà nước 80,1% chưa qua bồi dưỡng; bồi dưỡng tin học 28,9% chưa đạt chuẩn; 30% công chức cấp xã chưa đảm bảo thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hàng năm.
Việc bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực quản lý hành chính, quản lý kinh tế - xã hội theo chức danh, vị trí làm việc đáp ứng yêu cầu của công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành và thực thi công vụ cho cán bộ, công chức xã còn hạn chế.
Từ thực trạng trên, xác định giai đoạn 2016-2020; cần đào tạo, bồi dưỡng cho 16.550 lượt người cán bộ, công chức cấp xã, trong đó tập trung đào tạo, bồi dưỡng trình độ đạt chuẩn, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và thực hiện chương trình bồi dưỡng khác theo chức danh, vị trí việc làm và kiến thức bắt buộc theo yêu cầu.
Kết quả đào tạo cán bộ công chức xã giai đoạn 2011-2015 (phụ lục số 05, 06).