Document: Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 144/QĐ-UBND 2022 Đề án phát triển lâm nghiệp bền vững Kon Tum đến 2050

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Kon Tum", "promulgation_date": "28/03/2022", "sign_number": "144/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hữu Tháp", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Kon Tum", "promulgation_date": "28/03/2022", "sign_number": "144/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hữu Tháp", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Kon Tum", "promulgation_date": "28/03/2022", "sign_number": "144/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hữu Tháp", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Kon Tum", "promulgation_date": "28/03/2022", "sign_number": "144/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hữu Tháp", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Kon Tum", "promulgation_date": "28/03/2022", "sign_number": "144/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hữu Tháp", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 144/QĐ-UBND 2022 Đề án phát triển lâm nghiệp bền vững Kon Tum đến 2050

Điều 1. Phê duyệt Đề án phát triển lâm nghiệp bền vững đến năm 2025, định hướng đến 2030 trên địa bàn tỉnh Kon Tum, với nội dung chủ yếu như sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể:
...
b) Mục tiêu đến năm 2030
Độ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh đến 2030 tiếp tục duy trì đạt 64%, tập trung nâng cao chất lượng rừng. Phấn đấu đến năm 2030 hình thành vùng rừng trồng nguyên liệu tập trung có chất lượng đáp ứng nhu cầu cho công nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh. Công nghiệp chế biến gỗ trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn, đến năm 2030 có ít nhất 03 nhà máy chế biến gỗ với công suất 200.000 m3/năm, khai thác, chế biến khoảng 1 triệu m3 gỗ rừng trồng. Phấn đấu đóng góp của ngành lâm nghiệp vào tổng giá trị GRDP của tỉnh đến năm 2030 đạt khoảng 10% (tương ứng 5.000 tỷ đồng).
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Tuyên truyền, vận động thực hiện chủ trương phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững
- Quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và Nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Trung ương, của tỉnh về công tác quản lý, bảo vệ rừng, phát triển lâm nghiệp bền vững bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, tạo sự thống nhất, đồng thuận cao trong quá trình triển khai thực hiện.
- Thường xuyên xây dựng các phóng sự, bài viết, tin đăng tải lên các phương tiện thông tin đại chúng về kết quả thực hiện chủ trương phát triển lâm nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh, gắn với tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
- Tiếp tục tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, thực hiện có hiệu quả Chỉ theo Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 2017 của Ban Bí thư Trung ương "về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng" trên địa bàn tỉnh. Các cấp ủy đảng từ tỉnh đến cơ sở tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo; quán triệt, giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên nêu gương; công tác kiểm tra, giám sát và xử lý đảng viên vi phạm...
- Các cơ quan tiến hành tố tụng tăng cường công tác điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh các vụ án liên quan đến vi phạm Luật Lâm nghiệp. Mọi hành vi vi phạm Luật Lâm nghiệp đều phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
- Xác định công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, địa phương chịu trách nhiệm chính đối với các vụ phá rừng, cháy rừng, mất rừng thuộc phạm vi lĩnh vực, địa bàn mình quản lý hoặc để xảy ra việc các tổ chức, cá nhân cấp dưới vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm tổ chức đảng, đảng viên vi phạm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
- Tiếp tục rà soát diện tích 3 loại rừng cho phù hợp với phát triển kinh tế xã hội ở địa phương; rà soát lại hiện trạng rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp cho đúng với thực trạng trên địa bàn toàn tỉnh để tích hợp vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và quy hoạch lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Xác định rõ lâm phần quản lý, xây dựng phương án thay thế chủ thể quản lý lâm phần cho phù hợp. Hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp, các Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng theo quy định trước năm 2030; tổ chức quản lý sử dụng có hiệu quả diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý ngành lâm nghiệp tinh gọn, thống nhất, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, chuyên nghiệp. Nâng cao năng lực cho lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách đảm bảo thực hiện nhiệm vụ.
- Tập trung giải quyết dứt điểm diện tích đất chồng lấn, lấn chiếm nằm trong lâm phần của các đơn vị chủ rừng trước năm 2025, không để phát sinh diện tích lấn chiếm mới; giải quyết đất ở và sản xuất cho người dân; tạo sinh kế cho người dân sống gần rừng, trong đó có tạo việc làm phi nông nghiệp cho người đồng bào dân tộc thiểu số như như đan lát, sản xuất đồ gỗ, buôn bán lâm sản ngoài gỗ, cơ khí nhỏ, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống... để hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng phá rừng làm nương rẫy.
- Tiếp tục nghiên cứu sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh phù hợp với thực tế và Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2014 của Bộ Chính trị (khóa XI) và các văn bản liên quan. Đẩy mạnh việc liên doanh, kiên kết với các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh phát triển kinh tế lâm nghiệp.
- Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các cấp chính quyền địa phương, chủ rừng, lực lượng Kiểm lâm, cộng đồng dân cư thôn, làng và các cơ quan chức năng để ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật Lâm nghiệp. Đẩy mạnh việc giao khoán quản lý bảo vệ rừng theo cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng.
- Thực hiện nghiêm chủ trương dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên và không chuyển diện tích rừng tự nhiên sang mục đích sử dụng khác theo Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 2017 của Ban Bí thư Trung ương và các văn bản liên quan. Theo dõi, giám sát, quản lý chặt chẽ các dự án đầu tư có chuyển mục đích sử dụng rừng, giao rừng, cho thuê rừng; xử lý nghiêm các trường hợp có vi phạm và thu hồi chủ trương đầu tư đối với các dự án chậm tiến độ, có biểu hiện đầu cơ, chiếm dụng rừng và đất lâm nghiệp.
- Thường xuyên rà soát, nắm chắc thông tin và xử lý dứt điểm các “điểm nóng” và đối tượng phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật. Quản lý chặt chẽ các cơ sở chế biến gỗ, kiên quyết đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép các cơ sở vi phạm theo quy định của pháp luật. Rà soát, xử lý dứt điểm các loại phương tiện dùng để khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật trên địa bàn tỉnh.
- Nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng tiến bộ, khoa học công nghệ, công nghệ thông tin trong tất cả các khâu của chuỗi giá trị ngành lâm nghiệp đáp ứng yêu cầu của sản xuất và thị trường. Đến năm 2025, hình thành được Trung tâm nghiên cứu khoa học và ứng dụng nông lâm nghiệp trên cơ sở bộ máy hiện có để phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trồng thử nghiệm, xác định được danh mục các loài cây trồng rừng mới phù hợp trên địa bàn tỉnh phục vụ cho trồng rừng sản xuất. Quản lý chặt chẽ nguồn giống trong trồng rừng, giám sát chặt chẽ từ khi trồng đến khi thu hoạch để đảm bảo trồng rừng có hiệu quả, tránh thất thoát vốn trồng rừng.

Content:
Mục tiêu đến năm 2030
Độ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh đến 2030 tiếp tục duy trì đạt 64%, tập trung nâng cao chất lượng rừng. Phấn đấu đến năm 2030 hình thành vùng rừng trồng nguyên liệu tập trung có chất lượng đáp ứng nhu cầu cho công nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh. Công nghiệp chế biến gỗ trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn, đến năm 2030 có ít nhất 03 nhà máy chế biến gỗ với công suất 200.000 m3/năm, khai thác, chế biến khoảng 1 triệu m3 gỗ rừng trồng. Phấn đấu đóng góp của ngành lâm nghiệp vào tổng giá trị GRDP của tỉnh đến năm 2030 đạt khoảng 10% (tương ứng 5.000 tỷ đồng).
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Tuyên truyền, vận động thực hiện chủ trương phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững
- Quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và Nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Trung ương, của tỉnh về công tác quản lý, bảo vệ rừng, phát triển lâm nghiệp bền vững bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, tạo sự thống nhất, đồng thuận cao trong quá trình triển khai thực hiện.
- Thường xuyên xây dựng các phóng sự, bài viết, tin đăng tải lên các phương tiện thông tin đại chúng về kết quả thực hiện chủ trương phát triển lâm nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh, gắn với tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
- Tiếp tục tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, thực hiện có hiệu quả Chỉ theo Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 2017 của Ban Bí thư Trung ương "về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng" trên địa bàn tỉnh. Các cấp ủy đảng từ tỉnh đến cơ sở tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo; quán triệt, giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên nêu gương; công tác kiểm tra, giám sát và xử lý đảng viên vi phạm...
- Các cơ quan tiến hành tố tụng tăng cường công tác điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh các vụ án liên quan đến vi phạm Luật Lâm nghiệp. Mọi hành vi vi phạm Luật Lâm nghiệp đều phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
- Xác định công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, địa phương chịu trách nhiệm chính đối với các vụ phá rừng, cháy rừng, mất rừng thuộc phạm vi lĩnh vực, địa bàn mình quản lý hoặc để xảy ra việc các tổ chức, cá nhân cấp dưới vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm tổ chức đảng, đảng viên vi phạm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
- Tiếp tục rà soát diện tích 3 loại rừng cho phù hợp với phát triển kinh tế xã hội ở địa phương; rà soát lại hiện trạng rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp cho đúng với thực trạng trên địa bàn toàn tỉnh để tích hợp vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và quy hoạch lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Xác định rõ lâm phần quản lý, xây dựng phương án thay thế chủ thể quản lý lâm phần cho phù hợp. Hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp, các Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng theo quy định trước năm 2030; tổ chức quản lý sử dụng có hiệu quả diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý ngành lâm nghiệp tinh gọn, thống nhất, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, chuyên nghiệp. Nâng cao năng lực cho lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách đảm bảo thực hiện nhiệm vụ.
- Tập trung giải quyết dứt điểm diện tích đất chồng lấn, lấn chiếm nằm trong lâm phần của các đơn vị chủ rừng trước năm 2025, không để phát sinh diện tích lấn chiếm mới; giải quyết đất ở và sản xuất cho người dân; tạo sinh kế cho người dân sống gần rừng, trong đó có tạo việc làm phi nông nghiệp cho người đồng bào dân tộc thiểu số như như đan lát, sản xuất đồ gỗ, buôn bán lâm sản ngoài gỗ, cơ khí nhỏ, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống... để hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng phá rừng làm nương rẫy.
- Tiếp tục nghiên cứu sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh phù hợp với thực tế và Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2014 của Bộ Chính trị (khóa XI) và các văn bản liên quan. Đẩy mạnh việc liên doanh, kiên kết với các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh phát triển kinh tế lâm nghiệp.
- Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các cấp chính quyền địa phương, chủ rừng, lực lượng Kiểm lâm, cộng đồng dân cư thôn, làng và các cơ quan chức năng để ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật Lâm nghiệp. Đẩy mạnh việc giao khoán quản lý bảo vệ rừng theo cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng.
- Thực hiện nghiêm chủ trương dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên và không chuyển diện tích rừng tự nhiên sang mục đích sử dụng khác theo Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 2017 của Ban Bí thư Trung ương và các văn bản liên quan. Theo dõi, giám sát, quản lý chặt chẽ các dự án đầu tư có chuyển mục đích sử dụng rừng, giao rừng, cho thuê rừng; xử lý nghiêm các trường hợp có vi phạm và thu hồi chủ trương đầu tư đối với các dự án chậm tiến độ, có biểu hiện đầu cơ, chiếm dụng rừng và đất lâm nghiệp.
- Thường xuyên rà soát, nắm chắc thông tin và xử lý dứt điểm các “điểm nóng” và đối tượng phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật. Quản lý chặt chẽ các cơ sở chế biến gỗ, kiên quyết đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép các cơ sở vi phạm theo quy định của pháp luật. Rà soát, xử lý dứt điểm các loại phương tiện dùng để khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật trên địa bàn tỉnh.
- Nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng tiến bộ, khoa học công nghệ, công nghệ thông tin trong tất cả các khâu của chuỗi giá trị ngành lâm nghiệp đáp ứng yêu cầu của sản xuất và thị trường. Đến năm 2025, hình thành được Trung tâm nghiên cứu khoa học và ứng dụng nông lâm nghiệp trên cơ sở bộ máy hiện có để phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trồng thử nghiệm, xác định được danh mục các loài cây trồng rừng mới phù hợp trên địa bàn tỉnh phục vụ cho trồng rừng sản xuất. Quản lý chặt chẽ nguồn giống trong trồng rừng, giám sát chặt chẽ từ khi trồng đến khi thu hoạch để đảm bảo trồng rừng có hiệu quả, tránh thất thoát vốn trồng rừng.