Document: Khoản 6 Điều 1 Quyết định 196/QĐ-UBND 2017 giải pháp đưa xã thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn Quảng Ninh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "17/01/2017", "sign_number": "196/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Long", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "17/01/2017", "sign_number": "196/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Long", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "17/01/2017", "sign_number": "196/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Long", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "17/01/2017", "sign_number": "196/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Long", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "17/01/2017", "sign_number": "196/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Long", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 6 Điều 1 Quyết định 196/QĐ-UBND 2017 giải pháp đưa xã thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn Quảng Ninh

Điều 1. Phê duyệt Đề án nhiệm vụ và giải pháp đưa các xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn (ĐBKK), hoàn thành mục tiêu chương trình 135 giai đoạn 2017 - 2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (có Đề án kèm theo) với các nội dung sau:
...
6. Nhiệm vụ, giải pháp
6.1. Đưa các xã, thôn ra khỏi diện ĐBKK, hoàn thành mục tiêu Chương trình 135 là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, trong đó người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trước cấp trên; thực hiện phân công cụ thể trong tổ chức triển khai thực hiện Đề án. Với quan điểm cấp huyện trực tiếp chỉ đạo, cấp xã trực tiếp thực hiện, thôn bản đoàn kết, đồng lòng, người dân tích cực sản xuất và chủ động thoát nghèo. Lấy phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân là trung tâm; hỗ trợ đầu tư hạ tầng thiết yếu là cần thiết. Các nội dung đầu tư, hỗ trợ phải lấy ý kiến và được sự thống nhất của người dân theo đúng quy định.
6.2. Tuyên truyền, vận động tạo sự chuyển biến về tư tưởng, nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức từ xã, thôn đến người dân không bằng lòng với thực tại hiện có; trước hết là sự chuyển dịch nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức xã, cán bộ thôn đến người dân, để có sự đồng thuận, quyết tâm đưa xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn theo lộ trình đề ra. Chống tư tưởng cục bộ, trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước và bên ngoài.
Đầu tư hỗ trợ và phát huy hiệu quả hoạt động của các cụm loa truyền thanh thôn, bản và xã. Xây dựng đề án hỗ trợ việc thu sóng để người dân vùng ĐBKK được xem các kênh truyền hình quốc gia và phát thanh truyền hình Quảng Ninh.
6.3. Thực hiện chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ lý luận chính trị. Coi trọng việc nâng cao năng lực thực tiễn và thực thi công vụ, rèn luyện thái độ tác phong của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
Luân chuyển, biệt phái công chức có năng lực của các phòng, ban chuyên môn cấp huyện và các sở, ngành của tỉnh đến làm việc ở cấp xã và ngược lại;
Thực hiện biện pháp bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ các xã, thôn. Quan tâm việc bồi dưỡng, tham quan học tập thực tiễn trong và ngoài tỉnh để áp dụng tại địa phương.
6.4. Hoàn thành các tiêu chí, chỉ tiêu cụ thể về đời sống, thu nhập; văn hóa - xã hội và hạ tầng kinh tế - xã hội để các xã ra khỏi diện ĐBKK, hoàn thành Chương trình 135. Các xã thực hiện hỗ trợ phát triển sản xuất trên cơ sở xã xây dựng đề án, Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt. Khuyến khích việc hỗ trợ phát triển sản xuất cho hộ nghèo và cận nghèo thông qua nhóm hộ, trong đó có không quá 20% hộ không thuộc hộ nghèo và cận nghèo, tạo nền tảng cho việc hình thành hợp tác xã, tổ hợp tác.
6.5. Phân tích, xác định rõ nguyên nhân nghèo, sự thiếu hụt các chỉ số đo lượng (chiều nghèo) của từng hộ, để có giải pháp trợ giúp cho phù hợp; phương châm hộ nghèo phải chuyển dịch được nhận thức để chủ động thực hiện thoát nghèo, cộng đồng giúp đỡ, Nhà nước chỉ hỗ trợ. Hạn chế thấp nhất hình thức hỗ trợ trực tiếp bằng tiền đối với người dân, thực hiện biểu dương, khen thưởng hộ thoát nghèo, các xã, thôn ra khỏi diện ĐBKK, hoàn thành mục tiêu Chương trình 135.
Thực hiện tốt công tác đào tạo nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm, hỗ trợ chuyển đổi nghề cho người lao động tại các xã, thôn ĐBKK. Các địa phương thực hiện tốt việc tuyên truyền vận động lao động trẻ, có trình độ học vấn, nghiệp vụ phù hợp theo yêu cầu của doanh nghiệp sử dụng lao động; tư vấn, động viên vào lao động tại các doanh nghiệp, nhất là các khu công nghiệp trong tỉnh. Phối hợp với các doanh nghiệp xây dựng cơ chế, biện pháp hỗ trợ đi lại của công nhân ở vùng dân tộc và miền núi, từ các địa bàn vệ tinh quanh các khu công nghiệp.
Các sở ngành liên quan tham mưu chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ các địa phương triển khai nhanh việc tiếp nhận, bàn giao đất và rừng từ Đoàn kinh tế Quốc phòng 327, các Công ty lâm nghiệp; thu hồi đất từ các doanh nghiệp được giao đất nhưng làm ăn kém hiệu quả, lãng phí đất... để có thêm quỹ đất, rừng giao cho người dân, trước hết ưu tiên hỗ trợ cho đối tượng thiếu đất ở, đất sản xuất theo Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 và Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, hướng dẫn người dân xây dựng phương án cụ thể, sử dụng có hiệu quả, đúng quy định diện tích đất, rừng được giao. Đẩy mạnh việc giao cộng đồng dân cư ở thôn, bản nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn.
6.6. Đầu tư xây dựng, nâng cấp hạ tầng thiết yếu: Giao thông, thủy lợi, hệ thống điện, trường học, trạm y tế, nước sinh hoạt và công trình hạ tầng khác phù hợp quy hoạch nông thôn mới.
Thực hiện cơ chế đặc thù trong quản lý đầu tư xây dựng đối với một số dự án thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 theo Nghị định số 161/2016/NĐ-CP ngày 02/12/2016 của Chính phủ. Thực hiện phân cấp, trao quyền cho cấp xã; tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án. Khuyến khích hoạt động tạo việc làm cho lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và người dân trên địa bàn thông qua một số dự án xây dựng kết cấu hạ tầng, dự án hỗ trợ phát triển sản xuất. Vận động người dân đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng bằng việc hiến đất, tự giải phóng mặt bằng, đóng góp công lao động, vật liệu, máy móc thiết bị...
Các huyện cần có chỉ đạo thống nhất, cùng điều kiện cơ bản như nhau, những công trình nào, ở thôn nào đảm bảo điều kiện đầu tư, hỗ trợ, người dân có sự đồng thuận tham gia đảm nhận công trình cao hơn, tự hiến đất và giải quyết tốt về mặt bằng... sẽ ưu tiên bố trí vốn hỗ trợ trước.
6.7. Các địa phương chủ động tạo quỹ đất và mặt bằng để thu hút đầu tư vào các xã ĐBKK. Tỉnh xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ riêng đối với từng dự án cụ thể khi các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư vào xã, thôn ĐBKK.
6.8. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội vào cuộc ngay từ khâu đầu tiên để tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện và giám sát cộng đồng trong thực hiện các chính sách hỗ trợ và đầu tư. Thông qua các tổ, hội ở thôn, xã và hệ thống tổ chức của mình có biện pháp tác động, phân công giúp đỡ thành viên của tổ chức mình tích cực vươn lên thoát nghèo. Kêu gọi các tổ chức, cá nhân, cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục ủng hộ các xã, thôn ĐBKK.
6.9. Bố trí đủ ngân sách, lồng ghép các nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ các xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, hoàn thành mục tiêu Chương trình 135, trong đó ngân sách Nhà nước là chủ yếu. Nguồn vốn ngân sách tỉnh được bố trí thông qua dự án II Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 -2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh theo Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016, Quyết định số 41/2016/QĐ-TTg ngày 10/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Content:
Nhiệm vụ, giải pháp
6.1. Đưa các xã, thôn ra khỏi diện ĐBKK, hoàn thành mục tiêu Chương trình 135 là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, trong đó người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trước cấp trên; thực hiện phân công cụ thể trong tổ chức triển khai thực hiện Đề án. Với quan điểm cấp huyện trực tiếp chỉ đạo, cấp xã trực tiếp thực hiện, thôn bản đoàn kết, đồng lòng, người dân tích cực sản xuất và chủ động thoát nghèo. Lấy phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân là trung tâm; hỗ trợ đầu tư hạ tầng thiết yếu là cần thiết. Các nội dung đầu tư, hỗ trợ phải lấy ý kiến và được sự thống nhất của người dân theo đúng quy định.
6.2. Tuyên truyền, vận động tạo sự chuyển biến về tư tưởng, nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức từ xã, thôn đến người dân không bằng lòng với thực tại hiện có; trước hết là sự chuyển dịch nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức xã, cán bộ thôn đến người dân, để có sự đồng thuận, quyết tâm đưa xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn theo lộ trình đề ra. Chống tư tưởng cục bộ, trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước và bên ngoài.
Đầu tư hỗ trợ và phát huy hiệu quả hoạt động của các cụm loa truyền thanh thôn, bản và xã. Xây dựng đề án hỗ trợ việc thu sóng để người dân vùng ĐBKK được xem các kênh truyền hình quốc gia và phát thanh truyền hình Quảng Ninh.
6.3. Thực hiện chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ lý luận chính trị. Coi trọng việc nâng cao năng lực thực tiễn và thực thi công vụ, rèn luyện thái độ tác phong của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
Luân chuyển, biệt phái công chức có năng lực của các phòng, ban chuyên môn cấp huyện và các sở, ngành của tỉnh đến làm việc ở cấp xã và ngược lại;
Thực hiện biện pháp bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ các xã, thôn. Quan tâm việc bồi dưỡng, tham quan học tập thực tiễn trong và ngoài tỉnh để áp dụng tại địa phương.
6.4. Hoàn thành các tiêu chí, chỉ tiêu cụ thể về đời sống, thu nhập; văn hóa - xã hội và hạ tầng kinh tế - xã hội để các xã ra khỏi diện ĐBKK, hoàn thành Chương trình 135. Các xã thực hiện hỗ trợ phát triển sản xuất trên cơ sở xã xây dựng đề án, Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt. Khuyến khích việc hỗ trợ phát triển sản xuất cho hộ nghèo và cận nghèo thông qua nhóm hộ, trong đó có không quá 20% hộ không thuộc hộ nghèo và cận nghèo, tạo nền tảng cho việc hình thành hợp tác xã, tổ hợp tác.
6.5. Phân tích, xác định rõ nguyên nhân nghèo, sự thiếu hụt các chỉ số đo lượng (chiều nghèo) của từng hộ, để có giải pháp trợ giúp cho phù hợp; phương châm hộ nghèo phải chuyển dịch được nhận thức để chủ động thực hiện thoát nghèo, cộng đồng giúp đỡ, Nhà nước chỉ hỗ trợ. Hạn chế thấp nhất hình thức hỗ trợ trực tiếp bằng tiền đối với người dân, thực hiện biểu dương, khen thưởng hộ thoát nghèo, các xã, thôn ra khỏi diện ĐBKK, hoàn thành mục tiêu Chương trình 135.
Thực hiện tốt công tác đào tạo nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm, hỗ trợ chuyển đổi nghề cho người lao động tại các xã, thôn ĐBKK. Các địa phương thực hiện tốt việc tuyên truyền vận động lao động trẻ, có trình độ học vấn, nghiệp vụ phù hợp theo yêu cầu của doanh nghiệp sử dụng lao động; tư vấn, động viên vào lao động tại các doanh nghiệp, nhất là các khu công nghiệp trong tỉnh. Phối hợp với các doanh nghiệp xây dựng cơ chế, biện pháp hỗ trợ đi lại của công nhân ở vùng dân tộc và miền núi, từ các địa bàn vệ tinh quanh các khu công nghiệp.
Các sở ngành liên quan tham mưu chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ các địa phương triển khai nhanh việc tiếp nhận, bàn giao đất và rừng từ Đoàn kinh tế Quốc phòng 327, các Công ty lâm nghiệp; thu hồi đất từ các doanh nghiệp được giao đất nhưng làm ăn kém hiệu quả, lãng phí đất... để có thêm quỹ đất, rừng giao cho người dân, trước hết ưu tiên hỗ trợ cho đối tượng thiếu đất ở, đất sản xuất theo Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 và Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, hướng dẫn người dân xây dựng phương án cụ thể, sử dụng có hiệu quả, đúng quy định diện tích đất, rừng được giao. Đẩy mạnh việc giao cộng đồng dân cư ở thôn, bản nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn.
6.Đầu tư xây dựng, nâng cấp hạ tầng thiết yếu: Giao thông, thủy lợi, hệ thống điện, trường học, trạm y tế, nước sinh hoạt và công trình hạ tầng khác phù hợp quy hoạch nông thôn mới.
Thực hiện cơ chế đặc thù trong quản lý đầu tư xây dựng đối với một số dự án thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 theo Nghị định số 161/2016/NĐ-CP ngày 02/12/2016 của Chính phủ. Thực hiện phân cấp, trao quyền cho cấp xã; tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án. Khuyến khích hoạt động tạo việc làm cho lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và người dân trên địa bàn thông qua một số dự án xây dựng kết cấu hạ tầng, dự án hỗ trợ phát triển sản xuất. Vận động người dân đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng bằng việc hiến đất, tự giải phóng mặt bằng, đóng góp công lao động, vật liệu, máy móc thiết bị...
Các huyện cần có chỉ đạo thống nhất, cùng điều kiện cơ bản như nhau, những công trình nào, ở thôn nào đảm bảo điều kiện đầu tư, hỗ trợ, người dân có sự đồng thuận tham gia đảm nhận công trình cao hơn, tự hiến đất và giải quyết tốt về mặt bằng... sẽ ưu tiên bố trí vốn hỗ trợ trước.
6.7. Các địa phương chủ động tạo quỹ đất và mặt bằng để thu hút đầu tư vào các xã ĐBKK. Tỉnh xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ riêng đối với từng dự án cụ thể khi các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư vào xã, thôn ĐBKK.
6.8. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội vào cuộc ngay từ khâu đầu tiên để tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện và giám sát cộng đồng trong thực hiện các chính sách hỗ trợ và đầu tư. Thông qua các tổ, hội ở thôn, xã và hệ thống tổ chức của mình có biện pháp tác động, phân công giúp đỡ thành viên của tổ chức mình tích cực vươn lên thoát nghèo. Kêu gọi các tổ chức, cá nhân, cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục ủng hộ các xã, thôn ĐBKK.
6.9. Bố trí đủ ngân sách, lồng ghép các nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ các xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, hoàn thành mục tiêu Chương trình 135, trong đó ngân sách Nhà nước là chủ yếu. Nguồn vốn ngân sách tỉnh được bố trí thông qua dự án II Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 -2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh theo Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016, Quyết định số 41/2016/QĐ-TTg ngày 10/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ.