Document: Điểm c Khoản 9 Điều 1 Quyết định 3123/QĐ-UBND 2015 thu thập số liệu thống kê nghề khai thác hải sản Nghệ An

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "22/07/2015", "sign_number": "3123/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Viết Hồng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "22/07/2015", "sign_number": "3123/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Viết Hồng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "22/07/2015", "sign_number": "3123/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Viết Hồng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "22/07/2015", "sign_number": "3123/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Viết Hồng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "22/07/2015", "sign_number": "3123/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Viết Hồng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 9 Điều 1 Quyết định 3123/QĐ-UBND 2015 thu thập số liệu thống kê nghề khai thác hải sản Nghệ An

Điều 1. Phê duyệt Đề án Triển khai nhiệm vụ thu thập số liệu thống kê nghề khai thác hải sản tỉnh Nghệ An đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu như sau:
...
9.900

7.000

2.900

- Đội tàu rê thu, ngừ:
Đối tượng khai thác là nhóm cá thu, cá ngừ có giá trị kinh tế cao. Ngư trường khai thác chủ yếu trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ. Mỗi chuyến biển thường kéo dài trung bình khoảng từ 7 - 10 ngày. Trung bình mỗi tháng hoạt động từ 16 - 18 ngày, Lao động bình quân từ 6 - 7 lao động/tàu. Doanh thu, chi phí và lợi nhuận theo ngày được thể hiện ở Bảng 7.
Bảng 7: Doanh thu, chi phí và lợi nhuận ngày
ĐVT: 1000 Đồng

TT

Đội tàu

Doanh thu

Chi phí

Lợi nhuận

1

90 - 250 CV

3.917

1.000

2.917

2

250 - 400 CV

4.672

1.681

2.991

- Đội tàu rê trôi:
Đối tượng khai thác là nhóm cá nổi. Ngư trường khai thác chủ yếu trong vùng biển ven bờ Thanh Hóa - Hà Tĩnh. Mỗi chuyến biển thường hoạt động trong ngày hay kéo dài khoảng từ 4 - 6 ngày. Trung bình mỗi tháng, thường hoạt động trong khoảng từ 16 - 18 ngày. Số lao động trên tàu ổn định qua các năm, thường phổ biến nhất ở mức 3 lao động/tàu.
Nghề lưới rê trôi phù hợp với nghề cá quy mô nhỏ, kinh phí đầu tư thấp, ổn định sinh kế.... Doanh thu, chi phí và lợi nhuận theo ngày được thể hiện ở Bảng 8.
Bảng 8: Doanh thu, chi phí và lợi nhuận ngày
ĐVT: 1000 Đồng

TT

Đội tàu

Doanh thu

Chi phí

Lợi nhuận

1

20 - 50 CV

2.500

763

1.737

2

50 - 90 CV

3.875

900

2.975

- Đội tàu rê trôi đáy (rê Quét):
Đối tượng khai thác chủ yếu là nhóm cá đáy như cá Lượng, cá Mối, cá Thừng, cá Lượng Rìu.... Hoạt động khai thác xa bờ là chủ yếu, sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Mỗi chuyến biển thường kéo dài trung bình khoảng từ 7 - 10 ngày. Trung bình mỗi tháng, thường hoạt động trong khoảng từ 16 - 18 ngày, mức 7 lao động/tàu. Doanh thu, chi phí và lợi nhuận theo ngày được thể hiện ở Bảng 9.
Bảng 9: Doanh thu, chi phí và lợi nhuận ngày
ĐVT: 1000 Đồng

TT

Đội tàu

Doanh thu

Chi phí

Lợi nhuận

1

90 - 250 CV

3.910

1.832

2.078

2

250 - 400 CV

4.547

1.842

2.705

- Đội tàu rê đáy:
Đối tượng khai thác chủ yếu là nhóm cá đáy và nhóm giáp xác. Ngư trường khai thác vùng biển ven bờ. Chuyến biển thông thường là 01 ngày, số ngày hoạt động trong tháng 12 - 18 ngày, phổ biến 02 lao động/tàu. Doanh thu, chi phí và lợi nhuận theo ngày được thể hiện ở Bảng 10.
Bảng 10: Doanh thu, chi phí và lợi nhuận ngày
ĐVT: 1000 Đồng

TT

Đội tàu

Doanh thu

Chi phí

Lợi nhuận

1

20 - 90 CV

732

176

556

- Đội tàu giã đôi 20 - 48CV:
Đội tàu giã đôi 20 - 48 CV tập trung ở huyện Diễn Châu, thường hoạt động vùng ven bờ tỉnh Nghệ An và một số tỉnh lân cận như Thanh Hóa, Hà Tĩnh. Trung bình mỗi tháng đội tàu này hoạt động từ 16 - 20 ngày, mỗi chuyến biển thường đi trong ngày hoặc 4 - 5 ngày. Số lao động trong mỗi chuyến biển thường là từ 3 - 4 người. Đối tượng khai thác chủ yếu của đội tàu này là tôm, cá Đù, cá Xóc, cá tạp, Mực, Ghẹ,... Doanh thu, chi phí và lợi nhuận theo ngày được thể hiện ở Bảng 11.
Bảng 11: Doanh thu, chi phí và lợi nhuận ngày
ĐVT: 1000 Đồng

TT

Đội tàu

Doanh thu

Chi phí

Lợi nhuận

1

20 - 90 CV

3.320

2.200

1.120

- Đội tàu giã đơn:
Đội tàu giã đơn có công suất máy thường từ 20 - 90 CV tập trung chủ yếu ở huyện Diễn Châu, khai thác chủ yếu các loại tôm, moi, ốc, thường hoạt động vùng ven bờ tỉnh Nghệ An và một số tỉnh lân cận như Thanh Hóa, Hà Tĩnh. Trung bình mỗi tháng đội tàu này hoạt động từ 16 - 18 ngày, mỗi chuyến biển thường đi trong 3 - 4 ngày. Số lao động trong mỗi chuyến biển là từ 3 - 5 người, phổ biến nhất là 4 người. Doanh thu, chi phí và lợi nhuận theo ngày được thể hiện ở Bảng 12.
Bảng 12: Doanh thu, chi phí và lợi nhuận ngày
ĐVT: 1000 Đồng

TT

Đội tàu

Doanh thu

Chi phí

Lợi nhuận

1

20 - 90 CV

1.722

872

850

- Đội tàu xăm:
Đối tượng khai thác chủ yếu là moi và nhóm cá nổi nhỏ như cá cơm.... hoạt động khai thác ven bờ. Mỗi chuyến biển thường kéo dài trung bình khoảng từ 1 - 2 ngày. Trung bình mỗi tháng, thường hoạt động trong khoảng từ 12 - 18 ngày, lao động trên tàu dao động mức 10 - 12 lao động/tàu. Doanh thu, chi phí và lợi nhuận theo ngày được thể hiện ở Bảng 13.
Bảng 13: Doanh thu, chi phí và lợi nhuận ngày
ĐVT: 1000 Đồng

TT

Đội tàu

Doanh thu

Chi phí

Lợi nhuận

1

< 20 CV

2.200

400

1.800

2

50 - 90 CV

3.463

1.150

2.313

3

90 - 400 CV

3.775

2.105

1.670

1.2. Đánh giá chung
...
c) Nguyên nhân:
- Do nguồn kinh phí cấp cho hằng năm không đủ theo dự toán được duyệt nên công tác thống kê không được thường xuyên, liên tục.
- Trong giai đoạn thực hiện Đề án thì phần mềm CSDL Vnfishbase chưa được đưa vào hoạt động được nên số liệu cũng như các báo cáo đang còn gặp nhiều khó khăn.
2. Mục tiêu, nội dung và các giải pháp thực hiện.
2.1. Mục tiêu
a) Mục tiêu chung
Nâng cao năng lực quản lý và phát triển ngành khai thác hải sản Nghệ An hiệu quả và bền vững.
b) Mục tiêu cụ thể
- Thiết lập và triển khai hệ thống thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản tỉnh Nghệ An phù hợp với kế hoạch chung của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Cung cấp số liệu thống kê tổng hợp của nghề khai thác, đánh bắt hải sản cho các cơ quan quản lý.
- Đánh giá nghề cá phục vụ việc lập quy hoạch, kế hoạch phát triển nghề cá hiệu quả và bền vững ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
2.2. Nội dung
a) Nội dung 1: Thiết lập hệ thống thu thập số liệu nghề cá
* Xây dựng văn bản điều hành:
Căn cứ vào các văn bản qui phạm có liên quan ở cấp trên, xây dựng văn bản cụ thể hóa ở cấp địa phương nhằm hướng tới xây dựng một hệ thống thống kê chuyên ngành nghề khai thác hải sản và duy trì hệ thống đó theo hướng bền vững.
* Củng cố và Xây dựng tổ chức hệ thống thu thập:
Căn cứ vào cơ cấu và tập quán của các đội tàu khai thác ở địa phương, xây dựng hệ thống thu thập số liệu cho phù hợp với hoàn cảnh của từng địa phương cụ thể nhưng phải gọn nhẹ, hiệu quả và có thể duy trì bền vững.
* Biện pháp thực hiện:
- Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Nghệ An sẽ thành lập tổ công tác phụ trách hoạt động giám sát hoạt động khai thác của địa phương có chức năng và nhiệm vụ riêng do Chi cục trưởng quyết định. Tổ công tác sẽ rà soát tất cả văn bản qui phạm và công văn có liên quan hiện hành để soạn thảo văn bản riêng nhằm cụ thể hóa công tác giám sát hoạt động khai thác hải sản ở địa phương.
- Thiết lập mạng lưới thu thập số liệu tại các cảng cá, bến cá và các địa phương có nghề khai thác hải sản trong toàn tỉnh. Phân công các tổ/nhóm/cá nhân điều hành, quản lý hoạt động thu thập, xử lý, phân tích số liệu và xây dựng báo cáo theo yêu cầu quản lý nghề cá của tỉnh.
- Cán bộ thu thập số liệu tại hiện trường: Bao gồm cán bộ Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, cán bộ quản lý thủy sản hoặc cán bộ có chuyên môn tương đương làm việc tại các huyện, thành, thị, cán bộ quản lý nghề cá tại các xã, phường ven biển.
- Cán bộ quản lý và tổng hợp: Cán bộ Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Khai thác thủy sản hoặc tương đương.
- Nhiệm vụ: Thu thập số liệu, xử lý số liệu điều tra, nhập số liệu vào cơ sở dữ liệu đảm bảo chất lượng số liệu điều tra.
b) Nội dung 2: Hoạt động điều tra thu thập số liệu:
* Điều tra thống kê về cường lực khai thác:
Cường lực khai thác là khả năng huy động thực tế các tàu tham gia hoạt động khai thác trong một thời gian nhất định thường được tính theo tháng. Đối với tàu là tổng số ngày mà tàu đó đi biển trong tháng (đơn vị tính là ngày/tàu), đối với đội tàu là tổng số ngày đi biển của tất cả các tàu trong đội tàu.
Để tính toán được cường lực khai thác chúng ta cần phải điều tra hoạt động của đội tàu. Điều tra hoạt động của tàu là cuộc điều tra ngẫu nhiên và cố định, mục tiêu của nó nhằm tính toán hệ số hoạt động của tàu (BAC). Tổng thể nghiên cứu của điều tra hoạt động tàu là trạng thái hoạt động của tất cả các tàu thuyền trong đội tàu đang hoạt động vào tất cả các ngày trong tháng.
Điều tra cường lực khai thác thực hiện những nội dung như sau:
- Xác định quy mô mẫu: Việc xác định mẫu căn cứ theo hướng dẫn của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc (FAO) và trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) đã nghiên cứu và xây dựng tài liệu hướng dẫn về thu mẫu ở lĩnh vực này (Phụ lục I).
- Lập biểu điều tra: Căn cứ vào số mẫu cần thu, xác định chu kỳ thu mẫu trong tháng, đảm bảo sao cho những ngày thu mẫu phải có những ngày đầu tháng, giữa tháng và cuối tháng. Việc thu mẫu được thực hiện theo chu kỳ 03 ngày, tức là mỗi tháng chỉ thu mẫu 10 ngày. Chọn ngẫu nhiên một số tàu trong một đội tàu, lập danh sách để tiến hành điều tra cố định.
- Triển khai điều tra: Phương pháp điều tra hiệu quả nhất hiện nay là điều tra qua điện thoại, căn cứ theo kế hoạch về thời gian và danh sách tàu trong bảng, điều tra, cán bộ thống kê chỉ cần hỏi xem tại thời điểm đó tàu cá có đi hoạt động khai thác ngoài biển hay không, và làm thao tác đánh dấu theo quy định vào phiếu điều tra.
* Điều tra thống kê về nghề khai thác:
Nghề khai thác được điều tra thống kê nghề đánh bắt chính theo từng nhóm công suất tàu và số lượng mẫu của các đội tàu cần thu theo hàng tháng (Phụ lục II).
* Điều tra thống kê về sản lượng khai thác:
Đối với điều tra sản lượng khai thác có thể sử dụng nhiều cách chọn mẫu kết hợp như: Chọn mẫu phân nhóm theo còng suất và nghề khai thác; chọn mẫu theo khối đối với địa bàn các huyện, thị, cảng cá, bến cá hay chọn mẫu theo phân cấp; mẫu cấp một là cảng cá, bến cá, mẫu cấp hai là chọn mẫu ngẫu nhiên để điều tra.
Điều tra sản lượng khai thác là điều tra mẫu để ước tính sản lượng trên một đơn vị cường lực khai thác. Tổng thể điều tra là tập hợp tất cả các lần sản phẩm khai thác được của tất cả các tàu cá tại địa phương trong một tháng. Cuộc điều tra này được tiến hành tại các điểm lên cá như: Cảng cá, bến cá, hay các nơi tàu thuyền khai thác thường đưa cá lên bờ.
Theo hướng dẫn của tổ chức FAO về lĩnh vực này, quy mô mẫu điều tra sản lượng khai thác người ta thường sử dụng độ tin cậy tối thiểu 90% tương ứng với 32 mẫu đối với một đội tàu (căn cứ theo bảng tra cứu Quy mô mẫu điều tra sản lượng khai thác của FAO - Phụ lục III).
* Biện pháp thực hiện:
Với cách điều tra thống kê nghề khai thác như trên và hiện trạng nguồn nhân lực hiện nay, cách tốt nhất là xây dựng hệ thống cộng tác viên ở các điểm lên cá làm nhiệm vụ thu thập số liệu và thông tin hàng ngày. Để xây dựng đội ngũ cộng tác viên, cần phải có sự lựa chọn những người có trình độ cần thiết và am hiểu nghề cá địa phương. Họ cũng cần phải được tập huấn cách thức thu thập số liệu sao cho đảm bảo được tính đại diện, sát với tình hình thực tế của nghề cá địa phương và cách viết báo cáo hàng tháng về tình hình thu thập số liệu, những vấn đề tác động tốt, xấu đến hoạt động nghề cá. Như vậy ít nhất mỗi xã/phường trọng điểm nghề cá phải có 01 cộng tác viên phụ trách.
Chi Cục cần thiết lập một nhóm cán bộ (3 người) chịu trách nhiệm về hệ thống này và làm báo cáo khi cần thiết. Họ cũng phải là những người có đủ am hiểu để có thể kiểm tra, giám sát hoạt động của hệ thống.
Cần thống nhất với Cục thống kê tỉnh về phương pháp, cách thức thực hiện để tránh tình trạng thu thập số liệu chồng chéo, phương pháp khác nhau và kết quả khác nhau.
c) Nội dung 3: Xử lý số liệu và xây dựng báo cáo.
* Xử lý, tổng hợp số liệu thu thập thống kê:
Số liệu thu thập được tổng hợp tính toán theo công thức tính của FAO (Phụ lục II)
* Xây dựng báo cáo đánh giá số liệu:
Làm cơ sở tư vấn cho các chương trình, dự án, các chính sách phát triển nghề cá và công tác quy hoạch nghề cá phát triển bền vững
* Biện pháp thực hiện:
Sử dụng công thức tính sản lượng đánh bắt theo tài liệu hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn/FAO. Phối hợp các cơ quan chức năng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan liên quan trong tỉnh xây dựng các báo cáo tư vấn và lập kế hoạch quản lý nghề cá hàng năm của tỉnh.
Nhóm cán bộ phụ trách là những người chịu trách nhiệm về việc xây dựng các báo cáo định kỳ hay đột xuất theo yêu cầu của Chi cục Trưởng hay Lãnh đạo Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn.
* Đánh giá tác động của Đề án:
- Dữ liệu về nghề khai thác hải sản được thu thập, cập nhật thường xuyên đảm bảo tính kịp thời, chính xác và có độ tin cậy cao.
- Số liệu đầu ra của chương trình sẽ là những con số thống nhất và sử dụng chung trong toàn tỉnh (bao gồm cả Cục Thống kê).
- Đội ngũ cán bộ tham gia sẽ được trang bị các kiến thức chuyên sâu về giám sát, thu thập số liệu và đánh giá nghề cá, nâng cao năng lực tư vấn cho quản lý nghề cá.
- Những kết quả đánh giá, tư vấn sẽ là thông tin đầu vào cho việc quy hoạch, quản lý và phát triển nghề địa phương.
3. Tổ chức thực hiện
3.1. Nguồn kinh phí thực hiện
a) Dự toán nguồn kinh phí hằng năm: 300.000.000 đồng/năm.
b) Nguồn kinh phí: Nguồn kinh phí chi thường xuyên của ngân sách tỉnh (chi sự nghiệp thủy sản) bố trí cho Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản (phụ lục IV).
3.2. Phân công nhiệm vụ
a) Sở Nông nghiệp và PTNT:
Là cơ quan chỉ đạo, giám sát thực hiện Đề án; chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về hiệu quả thực hiện Đề án. Hàng năm xây dựng báo cáo đánh giá nghề cá, quy hoạch và kế hoạch quản lý, phát triển nghề cá dựa trên số liệu thu thập được
b) Cục Thống kê:
- Phối hợp với Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong việc thống nhất các chỉ tiêu thống kê lĩnh vực thủy sản.
- Thiết lập mạng lưới cán bộ thống kê và sử dụng chung số liệu từ nhiệm vụ này.
c) Sở Kế hoạch đầu tư:
Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu UBND tỉnh về các chính sách, kế hoạch phát triển ngành khai thác hải sản của tỉnh.

Content:
Nguyên nhân:
- Do nguồn kinh phí cấp cho hằng năm không đủ theo dự toán được duyệt nên công tác thống kê không được thường xuyên, liên tục.
- Trong giai đoạn thực hiện Đề án thì phần mềm CSDL Vnfishbase chưa được đưa vào hoạt động được nên số liệu cũng như các báo cáo đang còn gặp nhiều khó khăn.
2. Mục tiêu, nội dung và các giải pháp thực hiện.
2.1. Mục tiêu
a) Mục tiêu chung
Nâng cao năng lực quản lý và phát triển ngành khai thác hải sản Nghệ An hiệu quả và bền vững.
b) Mục tiêu cụ thể
- Thiết lập và triển khai hệ thống thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản tỉnh Nghệ An phù hợp với kế hoạch chung của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Cung cấp số liệu thống kê tổng hợp của nghề khai thác, đánh bắt hải sản cho các cơ quan quản lý.
- Đánh giá nghề cá phục vụ việc lập quy hoạch, kế hoạch phát triển nghề cá hiệu quả và bền vững ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
2.2. Nội dung
a) Nội dung 1: Thiết lập hệ thống thu thập số liệu nghề cá
* Xây dựng văn bản điều hành:
Căn cứ vào các văn bản qui phạm có liên quan ở cấp trên, xây dựng văn bản cụ thể hóa ở cấp địa phương nhằm hướng tới xây dựng một hệ thống thống kê chuyên ngành nghề khai thác hải sản và duy trì hệ thống đó theo hướng bền vững.
* Củng cố và Xây dựng tổ chức hệ thống thu thập:
Căn cứ vào cơ cấu và tập quán của các đội tàu khai thác ở địa phương, xây dựng hệ thống thu thập số liệu cho phù hợp với hoàn cảnh của từng địa phương cụ thể nhưng phải gọn nhẹ, hiệu quả và có thể duy trì bền vững.
* Biện pháp thực hiện:
- Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Nghệ An sẽ thành lập tổ công tác phụ trách hoạt động giám sát hoạt động khai thác của địa phương có chức năng và nhiệm vụ riêng do Chi cục trưởng quyết định. Tổ công tác sẽ rà soát tất cả văn bản qui phạm và công văn có liên quan hiện hành để soạn thảo văn bản riêng nhằm cụ thể hóa công tác giám sát hoạt động khai thác hải sản ở địa phương.
- Thiết lập mạng lưới thu thập số liệu tại các cảng cá, bến cá và các địa phương có nghề khai thác hải sản trong toàn tỉnh. Phân công các tổ/nhóm/cá nhân điều hành, quản lý hoạt động thu thập, xử lý, phân tích số liệu và xây dựng báo cáo theo yêu cầu quản lý nghề cá của tỉnh.
- Cán bộ thu thập số liệu tại hiện trường: Bao gồm cán bộ Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, cán bộ quản lý thủy sản hoặc cán bộ có chuyên môn tương đương làm việc tại các huyện, thành, thị, cán bộ quản lý nghề cá tại các xã, phường ven biển.
- Cán bộ quản lý và tổng hợp: Cán bộ Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Khai thác thủy sản hoặc tương đương.
- Nhiệm vụ: Thu thập số liệu, xử lý số liệu điều tra, nhập số liệu vào cơ sở dữ liệu đảm bảo chất lượng số liệu điều tra.
b) Nội dung 2: Hoạt động điều tra thu thập số liệu:
* Điều tra thống kê về cường lực khai thác:
Cường lực khai thác là khả năng huy động thực tế các tàu tham gia hoạt động khai thác trong một thời gian nhất định thường được tính theo tháng. Đối với tàu là tổng số ngày mà tàu đó đi biển trong tháng (đơn vị tính là ngày/tàu), đối với đội tàu là tổng số ngày đi biển của tất cả các tàu trong đội tàu.
Để tính toán được cường lực khai thác chúng ta cần phải điều tra hoạt động của đội tàu. Điều tra hoạt động của tàu là cuộc điều tra ngẫu nhiên và cố định, mục tiêu của nó nhằm tính toán hệ số hoạt động của tàu (BAC). Tổng thể nghiên cứu của điều tra hoạt động tàu là trạng thái hoạt động của tất cả các tàu thuyền trong đội tàu đang hoạt động vào tất cả các ngày trong tháng.
Điều tra cường lực khai thác thực hiện những nội dung như sau:
- Xác định quy mô mẫu: Việc xác định mẫu căn cứ theo hướng dẫn của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc (FAO) và trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) đã nghiên cứu và xây dựng tài liệu hướng dẫn về thu mẫu ở lĩnh vực này (Phụ lục I).
- Lập biểu điều tra: Căn cứ vào số mẫu cần thu, xác định chu kỳ thu mẫu trong tháng, đảm bảo sao cho những ngày thu mẫu phải có những ngày đầu tháng, giữa tháng và cuối tháng. Việc thu mẫu được thực hiện theo chu kỳ 03 ngày, tức là mỗi tháng chỉ thu mẫu 10 ngày. Chọn ngẫu nhiên một số tàu trong một đội tàu, lập danh sách để tiến hành điều tra cố định.
- Triển khai điều tra: Phương pháp điều tra hiệu quả nhất hiện nay là điều tra qua điện thoại, căn cứ theo kế hoạch về thời gian và danh sách tàu trong bảng, điều tra, cán bộ thống kê chỉ cần hỏi xem tại thời điểm đó tàu cá có đi hoạt động khai thác ngoài biển hay không, và làm thao tác đánh dấu theo quy định vào phiếu điều tra.
* Điều tra thống kê về nghề khai thác:
Nghề khai thác được điều tra thống kê nghề đánh bắt chính theo từng nhóm công suất tàu và số lượng mẫu của các đội tàu cần thu theo hàng tháng (Phụ lục II).
* Điều tra thống kê về sản lượng khai thác:
Đối với điều tra sản lượng khai thác có thể sử dụng nhiều cách chọn mẫu kết hợp như: Chọn mẫu phân nhóm theo còng suất và nghề khai thác; chọn mẫu theo khối đối với địa bàn các huyện, thị, cảng cá, bến cá hay chọn mẫu theo phân cấp; mẫu cấp một là cảng cá, bến cá, mẫu cấp hai là chọn mẫu ngẫu nhiên để điều tra.
Điều tra sản lượng khai thác là điều tra mẫu để ước tính sản lượng trên một đơn vị cường lực khai thác. Tổng thể điều tra là tập hợp tất cả các lần sản phẩm khai thác được của tất cả các tàu cá tại địa phương trong một tháng. Cuộc điều tra này được tiến hành tại các điểm lên cá như: Cảng cá, bến cá, hay các nơi tàu thuyền khai thác thường đưa cá lên bờ.
Theo hướng dẫn của tổ chức FAO về lĩnh vực này, quy mô mẫu điều tra sản lượng khai thác người ta thường sử dụng độ tin cậy tối thiểu 90% tương ứng với 32 mẫu đối với một đội tàu (căn cứ theo bảng tra cứu Quy mô mẫu điều tra sản lượng khai thác của FAO - Phụ lục III).
* Biện pháp thực hiện:
Với cách điều tra thống kê nghề khai thác như trên và hiện trạng nguồn nhân lực hiện nay, cách tốt nhất là xây dựng hệ thống cộng tác viên ở các điểm lên cá làm nhiệm vụ thu thập số liệu và thông tin hàng ngày. Để xây dựng đội ngũ cộng tác viên, cần phải có sự lựa chọn những người có trình độ cần thiết và am hiểu nghề cá địa phương. Họ cũng cần phải được tập huấn cách thức thu thập số liệu sao cho đảm bảo được tính đại diện, sát với tình hình thực tế của nghề cá địa phương và cách viết báo cáo hàng tháng về tình hình thu thập số liệu, những vấn đề tác động tốt, xấu đến hoạt động nghề cá. Như vậy ít nhất mỗi xã/phường trọng điểm nghề cá phải có 01 cộng tác viên phụ trách.
Chi Cục cần thiết lập một nhóm cán bộ (3 người) chịu trách nhiệm về hệ thống này và làm báo cáo khi cần thiết. Họ cũng phải là những người có đủ am hiểu để có thể kiểm tra, giám sát hoạt động của hệ thống.
Cần thống nhất với Cục thống kê tỉnh về phương pháp, cách thức thực hiện để tránh tình trạng thu thập số liệu chồng chéo, phương pháp khác nhau và kết quả khác nhau.
Nội dung 3: Xử lý số liệu và xây dựng báo cáo.
* Xử lý, tổng hợp số liệu thu thập thống kê:
Số liệu thu thập được tổng hợp tính toán theo công thức tính của FAO (Phụ lục II)
* Xây dựng báo cáo đánh giá số liệu:
Làm cơ sở tư vấn cho các chương trình, dự án, các chính sách phát triển nghề cá và công tác quy hoạch nghề cá phát triển bền vững
* Biện pháp thực hiện:
Sử dụng công thức tính sản lượng đánh bắt theo tài liệu hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn/FAO. Phối hợp các cơ quan chức năng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan liên quan trong tỉnh xây dựng các báo cáo tư vấn và lập kế hoạch quản lý nghề cá hàng năm của tỉnh.
Nhóm cán bộ phụ trách là những người chịu trách nhiệm về việc xây dựng các báo cáo định kỳ hay đột xuất theo yêu cầu của Chi cục Trưởng hay Lãnh đạo Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn.
* Đánh giá tác động của Đề án:
- Dữ liệu về nghề khai thác hải sản được thu thập, cập nhật thường xuyên đảm bảo tính kịp thời, chính xác và có độ tin cậy cao.
- Số liệu đầu ra của chương trình sẽ là những con số thống nhất và sử dụng chung trong toàn tỉnh (bao gồm cả Cục Thống kê).
- Đội ngũ cán bộ tham gia sẽ được trang bị các kiến thức chuyên sâu về giám sát, thu thập số liệu và đánh giá nghề cá, nâng cao năng lực tư vấn cho quản lý nghề cá.
- Những kết quả đánh giá, tư vấn sẽ là thông tin đầu vào cho việc quy hoạch, quản lý và phát triển nghề địa phương.
3. Tổ chức thực hiện
3.1. Nguồn kinh phí thực hiện
a) Dự toán nguồn kinh phí hằng năm: 300.000.000 đồng/năm.
b) Nguồn kinh phí: Nguồn kinh phí chi thường xuyên của ngân sách tỉnh (chi sự nghiệp thủy sản) bố trí cho Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản (phụ lục IV).
3.2. Phân công nhiệm vụ
a) Sở Nông nghiệp và PTNT:
Là cơ quan chỉ đạo, giám sát thực hiện Đề án; chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về hiệu quả thực hiện Đề án. Hàng năm xây dựng báo cáo đánh giá nghề cá, quy hoạch và kế hoạch quản lý, phát triển nghề cá dựa trên số liệu thu thập được
b) Cục Thống kê:
- Phối hợp với Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong việc thống nhất các chỉ tiêu thống kê lĩnh vực thủy sản.
- Thiết lập mạng lưới cán bộ thống kê và sử dụng chung số liệu từ nhiệm vụ này.
Sở Kế hoạch đầu tư:
Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu UBND tỉnh về các chính sách, kế hoạch phát triển ngành khai thác hải sản của tỉnh.