Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 339/QĐ-TTg năm 2013 phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "19/02/2013", "sign_number": "339/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "19/02/2013", "sign_number": "339/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "19/02/2013", "sign_number": "339/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "19/02/2013", "sign_number": "339/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "19/02/2013", "sign_number": "339/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 339/QĐ-TTg năm 2013 phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế

Điều 1. Phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 - 2020 (sau đây gọi tắt là Đề án) với các nội dung chủ yếu như sau:
...
4. Định hướng tái cơ cấu một số lĩnh vực chủ yếu
a) Duy trì môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi, ổn định
- Thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng, hiệu quả; sử dụng linh hoạt, hiệu quả các công cụ của chính sách tiền tệ; gắn kết chặt chẽ, đồng bộ với chính sách tài khóa nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô và bảo đảm tăng trưởng hợp lý, phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội đất nước trong từng thời kỳ.
- Thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, hiệu quả, triệt để tiết kiệm. Tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp thu, chi ngân sách nhà nước theo hướng tăng tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình; bảo đảm cân đối ngân sách nhà nước theo kế hoạch ngân sách nhà nước trung hạn, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội đất nước; giảm dần bội chi ngân sách nhà nước, duy trì tỷ lệ nợ công ở mức hợp lý, bảo đảm lành mạnh hóa tài chính quốc gia.
- Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ các mặt hàng nhập khẩu không khuyến khích, các mặt hàng trong nước đã sản xuất được. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng trong nước.
- Tăng cường huy động nguồn lực phục vụ cho mục tiêu đầu tư phát triển; các ngành, các cấp chủ động xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các cơ chế, chính sách, giải pháp tạo môi trường thuận lợi để tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư.
- Tăng cường kiểm soát giá cả, thị trường; bảo đảm cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu; theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường trong và ngoài nước, kịp thời áp dụng các biện pháp điều tiết cung cầu, bình ổn thị trường. Thực hiện nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với điện, than, xăng dầu, dịch vụ công theo lộ trình với mức độ và thời gian điều chỉnh phù hợp để bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát.
b) Thực hiện quyết liệt, hiệu quả các trọng tâm tái cơ cấu kinh tế
- Về tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu tư công:
+ Huy động hợp lý các nguồn lực cho đầu tư phát triển, bảo đảm tổng đầu tư xã hội khoảng 30% - 35% GDP, duy trì ở mức hợp lý các cân đối lớn của nền kinh tế như: tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, ngân sách nhà nước, cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế, nợ công và nợ nước ngoài quốc gia,…
+ Duy trì tỷ trọng đầu tư nhà nước hợp lý, khoảng 35% - 40% tổng đầu tư xã hội; hàng năm tăng dần tiết kiệm từ ngân sách nhà nước cho đầu tư; dành khoảng 20% - 25% tổng chi ngân sách cho đầu tư phát triển. Đổi mới cơ bản cơ chế phân bố và quản lý sử dụng vốn, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán và lãng phí, nâng cao hiệu quả đầu tư nhà nước.
+ Mở rộng tối đa phạm vi và cơ hội cho đầu tư tư nhân, nhất là tư nhân trong nước. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư tư nhân vào phát triển hạ tầng, phát triển các ngành, các sản phẩm có lợi thế, có tiềm năng phát triển và các vùng kinh tế động lực.
- Về tái cơ cấu hệ thống tài chính - ngân hàng, trọng tâm là các tổ chức tín dụng
+ Trong giai đoạn 2013 - 2015, tập trung lành mạnh hóa tình trạng tài chính của các tổ chức tín dụng, trước hết tập trung xử lý nợ xấu của cả hệ thống các tổ chức tín dụng và từng tổ chức tín dụng, tập trung phát triển các hoạt động kinh doanh chính, bảo đảm khả năng thanh toán, chi trả và phát triển ổn định, bền vững, tập trung xử lý tình trạng sở hữu chéo và tăng tính minh bạch trong hoạt động của các tổ chức tín dụng.
+ Cơ cấu lại căn bản, triệt để và toàn diện hệ thống các tổ chức tín dụng để đến năm 2020 phát triển được hệ thống các tổ chức tín dụng đa năng theo hướng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả vững chắc với cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô và loại hình, có khả năng cạnh tranh cao hơn và dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị ngân hàng tiên tiến phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu về các dịch vụ tài chính, ngân hàng của nền kinh tế. Không để xảy ra đổ vỡ và mất an toàn hoạt động tín dụng, ngân hàng; đảm bảo chi trả đầy đủ và kịp thời cho người gửi tiền; giảm thiểu tổn thất, chi phí xử lý những vấn đề rủi ro phát sinh của hệ thống các tổ chức tín dụng.
+ Nâng cao vai trò, vị trí chi phối, dẫn dắt thị trường của các tổ chức tín dụng Việt Nam, bảo đảm các ngân hàng thương mại nhà nước và các ngân hàng thương mại có cổ phần chi phối của Nhà nước thực sự là lực lượng chủ lực, chủ đạo của hệ thống các tổ chức tín dụng. Phấn đấu đến cuối năm 2015 hình thành được ít nhất từ một đến hai ngân hàng thương mại nhà nước hoặc ngân hàng thương mại có cổ phần chi phối của Nhà nước chi phối đạt trình độ khu vực về quy mô, quản trị, công nghệ và năng lực cạnh tranh.
+ Rà soát, đánh giá, phân loại để có phương án xử lý thích hợp đối với các ngân hàng thương mại cổ phần, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng khác, tập trung trước hết vào các tổ chức tín dụng yếu kém hoặc vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật; giám sát chặt chẽ quá trình xây dựng và triển khai thực hiện phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt tại các tổ chức tín dụng. Tăng cường các thiết chế an toàn; chấn chỉnh hoạt động quỹ tín dụng nhân dân và các tổ chức tín dụng vi mô, củng cố và xử lý các tổ chức yếu kém; tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức này hoạt động bình thường, tiếp tục phát triển về quy mô, năng lực quản trị điều hành và an toàn thanh khoản. Tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức tín dụng nước ngoài hoạt động và cạnh tranh bình đẳng tại Việt Nam; khuyến khích việc hợp tác, liên kết với các tổ chức tín dụng Việt Nam trong phát triển sản phẩm, đổi mới quản trị, hiện đại hóa ngân hàng và đặc biệt trong việc xử lý những vấn đề khó khăn của các tổ chức tín dụng Việt Nam trong quá trình tái cơ cấu.
- Về tái cơ cấu doanh nghiệp, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước
+ Thực hiện phân loại, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, tập trung vào các lĩnh vực chính gồm công nghiệp quốc phòng, các ngành, lĩnh vực công nghiệp độc quyền tự nhiên hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ thiết yếu và một số ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao có sức lan tỏa lớn; Đẩy mạnh cổ phần hóa, đa dạng hóa sở hữu các doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% sở hữu. Đối với từng tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, thực hiện cơ cấu lại danh mục đầu tư và ngành nghề kinh doanh, tập trung vào các ngành nghề kinh doanh chính; đẩy nhanh thực hiện theo nguyên tắc thị trường việc thoái vốn nhà nước đã đầu tư vào các ngành không phải kinh doanh chính hoặc không trực tiếp liên quan đến ngành kinh doanh chính và vốn nhà nước ở các công ty cổ phần mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối.
+ Đổi mới, phát triển và tiến tới áp dụng đầy đủ khung quản trị hiện đại theo thông lệ tốt của kinh tế thị trường đối với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Thực hiện nghiêm pháp luật, kỷ cương hành chính nhà nước và kỷ luật thị trường, đổi mới hệ thống đòn bẩy khuyến khích bảo đảm doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thị trường và cạnh tranh bình đẳng như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
+ Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu, nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tư nhân; khuyến khích hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân có tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
c) Đẩy mạnh tái cơ cấu các ngành sản xuất, dịch vụ, điều chỉnh chiến lược thị trường, tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của nền kinh tế
- Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trong nội bộ từng ngành thực hiện chuyển dần từ tiểu ngành, sản phẩm hoặc công đoạn sản xuất sử dụng công nghệ thấp, năng suất thấp và giá trị gia tăng thấp sang tiểu ngành, sản phẩm hoặc công đoạn sản xuất có hàm lượng khoa học công nghệ cao, sử dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường, có năng suất và giá trị gia tăng cao.
- Khai thác và tận dụng tốt lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới; xây dựng và phát triển các vùng chuyên canh quy mô lớn theo hình thức trang trại, gia trại, khu nông nghiệp công nghệ cao đạt các tiêu chuẩn quốc tế phổ biến về an toàn vệ sinh thực phẩm; kết nối sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến, bảo quản và xuất khẩu, tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, với chuỗi giá trị toàn cầu đối với các sản phẩm có lợi thế và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới như: cà phê, cao su, lúa gạo, cá da trơn, tôm, hạt tiêu, hạt điều, các loại hải sản khác, các loại rau, quả nhiệt đới,... Duy trì quy mô và phương thức sản xuất đa dạng, phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng đối với các sản phẩm, nhóm sản phẩm có nhu cầu nội địa lớn nhưng khả năng cạnh tranh trung bình như các sản phẩm chăn nuôi, đường,...
- Thực hiện tái cơ cấu sản xuất công nghiệp cả theo ngành kinh tế kỹ thuật, vùng và giá trị mới, tăng hàm lượng khoa học công nghệ và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm; chuyển mạnh từ gia công, lắp ráp là chủ yếu sang chế tạo và chế tác, kết nối với mạng sản xuất và chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu đối với các ngành, sản phẩm hiện có lợi thế cạnh tranh như chế biến lương thực, thực phẩm, thủy và hải sản, nước giải khát, may mặc, giày da và các sản phẩm da,... Tập trung phát triển một số ngành ưu tiên và công nghiệp hỗ trợ như hóa dầu, điện tử và công nghiệp công nghệ thông tin, luyện kim, cơ khí chế tạo, công nghiệp xanh và năng lượng tái tạo, phụ tùng ô tô, máy nông nghiệp,... để cải thiện và nâng cấp trình độ phát triển của nền kinh tế.
- Đa dạng hóa loại hình dịch vụ và nâng cao trình độ phát triển của các ngành dịch vụ; tập trung phát triển các ngành, sản phẩm dịch vụ có lợi thế cạnh tranh như: dịch vụ thương mại, dịch vụ xây dựng, khách sạn, nhà hàng, du lịch, viễn thông, tài chính - ngân hàng, dịch vụ logistics, giáo dục và đào tạo, chăm sóc y tế, các loại dịch vụ sản xuất nông nghiệp; đồng thời, hình thành một số trung tâm dịch vụ du lịch với sản phẩm du lịch chất lượng cao, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, có năng lực cạnh tranh tầm khu vực và quốc tế.
- Tiếp tục đa dạng hóa thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước; coi trọng và phát triển mạnh thị trường trong nước kết hợp với tăng cường xúc tiến thương mại, mở các thị trường mới (Ấn Độ, các nước Nam Á khác, châu Phi và Trung Đông, Mỹ La-tinh); ưu tiên khai thác và tận dụng tối đa các cơ hội từ các thị trường xuất khẩu trọng điểm, chiến lược (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU, ASEAN, Úc); tập trung khai thác hiệu quả các thị trường truyền thống (Nga, Đông Âu).
d) Tiếp tục tái cơ cấu, xây dựng và phát triển cơ cấu vùng kinh tế hợp lý
- Phát huy tiềm năng và lợi thế của từng vùng với tầm nhìn dài hạn để thực hiện phân bổ lại các ngành sản xuất, dịch vụ hợp lý, tạo sự khác biệt về cơ cấu kinh tế giữa các địa phương và giữa các vùng.
- Tăng cường phối hợp, bổ sung và kết nối giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng để cùng phát triển khắc phục tình trạng đầu tư trùng lặp, thiếu liên kết giữa các địa phương trong vùng.
- Tiếp tục ưu tiên phát triển vùng kinh tế trọng điểm, tạo động lực lôi kéo và lan tỏa phát triển đến các địa phương trong vùng, đến các vùng khác và cho cả nền kinh tế; lựa chọn và huy động nguồn lực để tập trung phát triển một số khu kinh tế, khu công nghiệp tạo thành các trung tâm kinh tế mạnh về kinh tế biển.
II. GIẢI PHÁP
1. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh của môi trường kinh doanh quốc gia
a) Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:
- Rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến các lĩnh vực đột phá chiến lược, bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới kết hợp với tăng cường hiệu quả, hiệu lực tổ chức triển khai thực hiện.
- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở pháp lý vững chắc thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế; nghiên cứu xây dựng các dự án Bộ luật dân sự (sửa đổi), Bộ luật hình sự (sửa đổi), Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (hợp nhất).
- Nâng cao chất lượng xây dựng các dự án Luật, Pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật. Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác thẩm định đối với các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Kiểm soát chặt chẽ và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của các văn bản quy phạm pháp luật.
- Triển khai đồng bộ cơ chế theo dõi thi hành pháp luật, trong đó đề cao trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
b) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách về môi trường kinh doanh theo hướng:
- Tháo bỏ rào cản, bãi bỏ hoặc bổ sung, sửa đổi các quy định lạc hậu, không phù hợp với cơ chế thị trường, với hội nhập kinh tế quốc tế; tạo cơ chế khuyến khích đầu tư đủ hấp dẫn và khả thi, trước hết là các ưu đãi về thuế và các biện pháp khuyến khích đầu tư khác để mở rộng và tăng thêm cơ hội đầu tư và kinh doanh cho khu vực kinh tế tư nhân; nâng cao hiệu lực và chất lượng quản trị quốc gia để cải thiện và nâng cấp chất lượng môi trường kinh doanh.
- Tiếp tục đơn giản hóa, giảm thủ tục hành chính; giảm chi phí thực thi thủ tục hành chính và pháp luật đối với nhân dân và doanh nghiệp.
- Không xây dựng, ban hành các quy định cấm hoặc hạn chế quyền kinh doanh của người dân và doanh nghiệp vì lý do yếu kém về năng lực và trình độ quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước liên quan; các quy định không phù hợp với điều kiện và cuộc sống thực tế của đa số nhân dân và doanh nghiệp; khắc phục tình trạng ban hành quy định mới không bảo đảm tính khả thi, không thực hiện được hoặc thực hiện không hiệu quả, gây tổn hại đến lợi ích chính đáng của nhân dân và doanh nghiệp.
c) Các Bộ: Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan thực hiện rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển lành mạnh, bền vững thị trường bất động sản theo hướng:
- Bảo đảm phát triển các khu đô thị, các dự án kinh doanh bất động sản phù hợp với quy hoạch được duyệt và nhu cầu của thị trường; có cơ chế, chính sách phù hợp khuyến khích phát triển nhà ở xã hội, cải thiện điều kiện nhà ở cho nhân dân, trước hết là người nghèo, đối tượng chính sách ở các đô thị.
- Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, chỉnh trang đô thị, thực hiện quy hoạch cả phần diện tích đất bên cạnh công trình kết cấu hạ tầng, vùng phụ cận để thu hồi đất, tạo nguồn lực từ đất đai đầu tư cho các công trình này, hỗ trợ hợp lý người có đất bị thu hồi và tăng thu ngân sách nhà nước. Ưu tiên cho người bị thu hồi đất ở được giao đất hoặc mua nhà trên diện tích đất đã thu hồi mở rộng theo quy định của pháp luật.
- Rà soát, kiểm soát chặt chẽ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp; thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý quy hoạch, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với quy hoạch sử dụng đất; nghiên cứu và có giải pháp phù hợp để thúc đẩy phát triển thị trường bất động sản, tạo thuận lợi cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Trong giai đoạn 2013 - 2015, tập trung xử lý tồn kho về bất động sản, điều chỉnh cơ cấu nguồn cung phù hợp với nhu cầu thực tế của nhân dân về nhà ở, nhất là phân khúc thị trường nhà ở xã hội; rà soát, đánh giá và phân loại các dự án đô thị và nhà ở; đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian hoàn thành thủ tục chuyển đổi, điều chỉnh cơ cấu dự án, quy mô căn hộ; tạo điều kiện hạ giá thành sản phẩm xây dựng phù hợp với nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư, nhất là các nhu cầu về nhà ở xã hội.
d) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan:
- Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách quản lý ngoại tệ và vàng; triển khai đồng bộ các giải pháp khắc phục tình trạng đô-la hóa nền kinh tế, giảm dần và tiến tới xóa bỏ việc sử dụng ngoại tệ, vàng làm phương tiện thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam, tập trung ngoại tệ vào hệ thống các tổ chức tín dụng.
- Từng bước tự do hóa thận trọng các giao dịch vốn phù hợp với cam kết quốc tế, đồng thời bảo đảm kiểm soát có hiệu quả luồng chu chuyển ngoại tệ trong nền kinh tế và qua biên giới và các rủi ro liên quan đến các luồng vốn vào - ra.
- Tổ chức quản lý chặt chẽ, đồng bộ và có hiệu quả các thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường phái sinh tiền tệ, thị trường ngoại tệ và thị trường vàng để huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển; bảo đảm các hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng được thực hiện một cách an toàn, lành mạnh và đúng pháp luật.
- Đổi mới cơ chế phân bổ tín dụng đầu tư của Nhà nước theo hướng đảm bảo tiếp cận công bằng, bình đẳng và minh bạch đối với các nhà đầu tư, các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế.
đ) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan:
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định pháp lý về tài chính, ngân sách nhà nước, bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các ngành, các cấp, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước.
- Nghiên cứu, xây dựng và thực hiện lộ trình cải cách phù hợp về chính sách phí sử dụng kết cấu hạ tầng theo hướng bảo đảm khả năng thu hồi chi phí đầu tư để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho việc huy động vốn đầu tư từ khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài vào các dự án cơ sở hạ tầng.
- Tái cơ cấu thị trường chứng khoán và các định chế tài chính liên quan theo hướng: cơ cấu lại, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các loại hàng hóa trên thị trường chứng khoán; cơ cấu lại cơ sở các nhà đầu tư theo hướng đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, mở rộng cơ sở nhà đầu tư có tổ chức, chuyên nghiệp; sắp xếp lại các tổ chức kinh doanh chứng khoán và kinh doanh bảo hiểm theo hướng nâng cao năng lực tài chính, chất lượng dịch vụ và phòng ngừa rủi ro; phát triển thị trường chứng khoán với tiêu chí niêm yết, giao dịch, công bố thông tin, hệ thống quản trị điều hành, quản trị rủi ro theo chuẩn mực chung và phù hợp với thông lệ quốc tế.
e) Các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
- Tiếp tục mở cửa thị trường các ngành, lĩnh vực kinh doanh độc quyền tự nhiên hoặc do các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thống lĩnh hoặc giữ thị phần chi phối; hạn chế dần và kiểm soát có hiệu quả vị thế độc quyền hoặc thống lĩnh thị trường của các doanh nghiệp trong các ngành, lĩnh vực này; xem xét, theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô, đẩy nhanh thực hiện lộ trình áp dụng cơ chế giá thị trường trong cung ứng các dịch vụ công, dịch vụ hạ tầng.
- Tiếp tục kế thừa và phát huy kết quả Đề án 30 về đơn giản hóa thủ tục hành chính; tiếp tục đột phá về đơn giản hóa và hợp lý hóa hệ thống thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực quản lý nhà nước như quản lý và sử dụng đất, đầu tư và xây dựng, hải quan, thuế, quảng cáo, vận tải hàng hóa và xuất nhập khẩu, vệ sinh, an toàn thực phẩm,...
- Tiếp tục hoàn thiện và nâng cấp hệ thống thông tin quốc gia về doanh nghiệp, tiếp tục nâng cao chất lượng, đơn giản hóa thủ tục và giảm chi phí đăng ký doanh nghiệp.
g) Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trực tiếp chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về cải cách và chất lượng thể chế trong phạm vi ngành, lĩnh vực và địa phương thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được giao.
2. Nâng cao chất lượng quy hoạch, gắn chiến lược với quy hoạch, kế hoạch, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với quy hoạch
a) Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan quản lý ngành theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan và các địa phương:
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp lý về quy hoạch; khẩn trương xây dựng trình Quốc hội ban hành Luật quy hoạch. Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới quy trình và phương pháp lập quy hoạch, bảo đảm phù hợp với thực tế.
- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và liên kết giữa các loại quy hoạch; bảo đảm cụ thể hóa những mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và tính gắn kết hệ thống giữa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả nước, quy hoạch ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương phù hợp với tình hình và yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
- Đổi mới, nâng cao tính liên kết, đồng bộ giữa các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng, quy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất theo hướng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải tổng hợp, cân đối, phân bổ hợp lý, sử dụng hiệu quả đất đai cho các ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ và đơn vị hành chính; quy hoạch xây dựng và quy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất phải phù hợp với các chỉ tiêu, tiến độ sử dụng đất được phân bổ trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thực hiện lồng ghép; quản lý chặt chẽ yêu cầu bảo vệ môi trường vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội.
- Thực hiện các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, bảo đảm chế tài thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực, vùng, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch đô thị; tăng cường tính công khai, minh bạch đối với các loại quy hoạch.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ quy hoạch ở các Bộ, cơ quan, địa phương, nhất là sự kết hợp giữa quy hoạch vùng với quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; giảm thiểu tình trạng điều chỉnh sớm và với tần suất cao các quy hoạch đã được duyệt, nhất là quy hoạch cơ sở hạ tầng đô thị; thực hiện đúng trình tự, thủ tục về xây dựng, thẩm định và phê duyệt theo quy định đối với các trường hợp sửa đổi, bổ sung quy hoạch.
- Tổng hợp, báo cáo về công tác quy hoạch, tình hình triển khai các quy hoạch và kịp thời đề xuất với cấp có thẩm quyền xử lý những tồn tại trong công tác quản lý và thực hiện quy hoạch.
b) Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương rà soát, đánh giá, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền đối với quy hoạch phát triển hạ tầng giao thông phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã được Đại hội Đảng XI thông qua, Nghị quyết số 13-NQ/TW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
c) Các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm, quy hoạch vùng, địa phương và các quy hoạch khác để thực hiện các nội dung, định hướng tái cơ cấu kinh tế, nhất là tái cơ cấu ngành, lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, bảo đảm phù hợp với từng vùng, phát huy tiềm năng lợi thế của địa phương, gắn kết sản xuất với tiêu thụ sản phẩm và đảm bảo phát triển bền vững.
- Rà soát, cập nhật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp theo hướng sử dụng hiệu quả nhất nguồn đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Rà soát việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư đã được giao đất, có biện pháp xử lý phù hợp đối với các dự án sai quy hoạch; kiên quyết thu hồi hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền thu hồi đất đối với những dự án đầu tư không triển khai hoặc triển khai chậm so với quy định của pháp luật đất đai, bất động sản.
- Trong giai đoạn 2013 - 2015, tập trung hoàn thiện và công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, quy hoạch đô thị, khu công nghiệp, quy hoạch ngành, lĩnh vực và sản phẩm quan trọng thuộc diện ưu tiên phát triển; xóa bỏ tình trạng quy hoạch treo trước năm 2015.
- Hàng năm, xây dựng báo cáo về thực trạng công tác quy hoạch, công khai, minh bạch hóa quy hoạch, kết quả thực hiện quy hoạch và các vấn đề liên quan gửi Bộ kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
d) Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch và các cơ quan liên quan theo nhiệm vụ được phân công:
- Chịu trách nhiệm về chất lượng quy hoạch, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện quy hoạch và đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch theo quy định.
- Đình chỉ ngay các hành vi vi phạm quy hoạch đã được phê duyệt, thực hiện các biện pháp xử lý hoặc đề xuất biện pháp xử lý với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
3. Đổi mới cơ chế, chính sách huy động, phân bổ, sử dụng vốn đầu tư
a) Thực hiện quyết liệt, hiệu quả tái cơ cấu đầu tư công:
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
+ Tiếp tục rà soát, hoàn thiện pháp luật, cơ chế chính sách phân cấp, quản lý đầu tư công. Xây dựng, trình ban hành Luật đầu tư công theo hướng thống nhất quản lý các loại vốn đầu tư nhà nước, bao gồm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, tín dụng đầu tư của Nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp; tăng cường kỷ luật, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong sử dụng vốn đầu tư nhà nước, bảo đảm kiểm soát chặt chẽ nợ công, bảo đảm trong giới hạn an toàn và giữ vững an ninh tài chính quốc gia.
+ Thực hiện quyết liệt, nhất quán, hiệu quả kế hoạch đầu tư trung hạn; trong đó tập trung vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các dự án, công trình trọng điểm, quan trọng quốc gia; dành một phần thỏa đáng vốn ngân sách nhà nước để tham gia các dự án hợp tác công - tư, vốn đối ứng ODA và kinh phí giải phóng mặt bằng. Đối với những dự án quan trọng quốc gia có hiệu quả cao và tác động lan tỏa lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội trong vùng, liên vùng, khuyến khích thực hiện theo các hình thức đầu tư kết hợp công - tư (PPP, BOT, BT, BO,...) hoặc phát hành trái phiếu, tăng cường huy động và bảo đảm cân đối đủ vốn để triển khai thực hiện.
+ Không phân bổ và thực hiện đầu tư mới vào các ngành, lĩnh vực mà khu vực tư nhân có khả năng và sẵn sàng đầu tư kinh doanh như các dịch vụ thương mại, khách sạn, nhà hàng, kinh doanh bất động sản, lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng và một số ngành, lĩnh vực khác.
+ Xây dựng và áp dụng quy trình hợp lý, chặt chẽ và có hiệu quả về xác định, thẩm định, lựa chọn, phân bổ vốn đầu tư và thực hiện dự án đầu tư nhà nước; chỉ lựa chọn những dự án đáp ứng tiêu chí về hiệu quả kinh tế - xã hội; tập trung bố trí đủ vốn đầu tư thực hiện các dự án quan trọng, cấp bách; khắc phục hiệu quả tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ và kém hiệu quả.
+ Thực hiện công khai hóa, minh bạch hóa thông tin về đầu tư; tăng cường thẩm quyền và năng lực của hệ thống giám sát đối với đầu tư công, khuyến khích và tạo điều kiện cho hoạt động giám sát của cộng đồng đối với các dự án đầu tư công, hoạt động đầu tư công. Tăng cường chấp hành pháp luật, cơ chế chính sách, nâng cao trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát trong đầu tư công.
- Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương thực hiện rà soát và lựa chọn các dự án giao thông quan trọng quốc gia ưu tiên đầu tư và bố trí đủ vốn đảm bảo hoàn thành trong thời hạn sớm nhất; trường hợp cân đối không đủ số vốn cần thiết, thì nghiên cứu áp dụng các hình thức đầu tư kết hợp công - tư (PPP, BT, BOT, BO,...) hoặc phát hành trái phiếu để huy động vốn đầu tư; rà soát, cắt giảm, đình hoãn các dự án chưa bố trí được vốn hoặc không chuyển đổi để thực hiện đầu tư theo các hình thức khác.
- Các Bộ, cơ quan, địa phương theo trách nhiệm, thẩm quyền chịu trách nhiệm rà soát lại tất cả các dự án đầu tư thuộc phạm vi quản lý, kiểm soát chặt chẽ phạm vi, quy mô của từng dự án đầu tư theo đúng mục tiêu, lĩnh vực và chương trình đã được phê duyệt; chỉ được quyết định đầu tư khi dự án đã được lựa chọn theo đúng quy trình và thứ tự ưu tiên, đã xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối, bố trí đủ vốn hoàn thành dự án đầu tư ở từng cấp ngân sách.
b) Đổi mới cơ chế huy động nguồn lực, chế độ ưu đãi, khuyến khích đầu tư, cơ chế quản lý đầu tư, mở rộng cơ hội thu hút đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư nước ngoài
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ quản lý ngành theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan và các địa phương:
- Xác định và công bố danh mục các dự án hạ tầng khả thi, có khả năng thu hồi vốn, xác định cơ chế chính sách đặc thù cho từng dự án cho giai đoạn 2013 - 2015 và các năm tiếp theo để thu hút, huy động tư nhân đầu tư phát triển hạ tầng theo các hình thức đầu tư kết hợp công - tư thích hợp (PPP, BT, BOT, BO,...).
- Ban hành cơ chế đấu thầu quyền thăm dò và khai thác các loại khoáng sản, đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất để giao đất, cho thuê đất đối với các dự án phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo sử dụng khoáng sản, đất đai, tài nguyên một cách tiết kiệm, hiệu quả và bền vững.
- Quy định cụ thể điều kiện để nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án phát triển kinh tế, xã hội; có chế tài đồng bộ, cụ thể để xử lý nghiêm, dứt điểm các trường hợp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhưng sử dụng lãng phí, không đúng mục đích, đầu cơ đất, chậm đưa đất vào sử dụng; không bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất, giá trị đã đầu tư vào đất đối với các trường hợp bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai.
- Bổ sung, thay đổi danh mục ngành, nghề khuyến khích đầu tư theo hướng chỉ bao gồm các ngành nghề ưu tiên phát triển đã được xác định phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu nội bộ ngành kinh tế - kỹ thuật; thực hiện ưu đãi đầu tư như nhau đối với dự án đầu tư mới và đầu tư mở rộng, đầu tư nâng cấp trong các ngành, nghề khuyến khích đầu tư.
- Thực hiện chế độ ưu đãi và khuyến khích đầu tư đủ lớn về quy mô, đa dạng về công cụ và hình thức để thúc đẩy, hỗ trợ và thu hút các nhà đầu tư có chất lượng cao, đảm bảo phát triển các ngành ưu tiên phát triển; các biện pháp ưu đãi đầu tư đều phải có mục tiêu, thời hạn và điều kiện ràng buộc, chế tài cụ thể, rõ ràng.
c) Tăng cường quản lý nhà nước về đầu tư
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
- Chỉ chấp thuận đầu tư và cấp phép xây dựng công trình đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình có đủ các điều kiện theo quy định (địa điểm đầu tư và quy mô sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị, quy hoạch phát triển hạ tầng kỹ thuật; đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật; có hiệu quả kinh tế - xã hội đáp ứng các yêu cầu theo quy định của pháp luật,...). Trường hợp diện tích đất quy hoạch để đầu tư phát triển công nghiệp có hạn, không đáp ứng đủ nhu cầu của nhà đầu tư, thì ưu tiên giao đất, cho thuê đất đối với dự án thuộc ngành, nghề ưu tiên phát triển.
- Xây dựng quy trình hợp lý, liên thông giải quyết các thủ tục hành chính về đầu tư - xây dựng từ chấp thuận chủ trương đầu tư, đánh giá tác động môi trường, thẩm định và chấp thuận dự án đầu tư, thỏa thuận về giao đất, cho thuê đất,... đến cấp giấy phép xây dựng; thực hiện cơ chế dịch vụ một cửa liên thông trong việc thực hiện các thủ tục hành chính.
- Nâng cao thẩm quyền, tăng cường năng lực và thực hiện có hiệu quả giám sát của các Bộ, cơ quan Trung ương liên quan về quản lý đầu tư xây dựng công trình, bảo đảm dự án đầu tư được chấp thuận đáp ứng đầy đủ tiêu chí, thực hiện đúng tiến độ, có hiệu quả kinh tế - xã hội; tăng cường công khai hóa thông tin và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước hữu quan về đầu tư và các vấn đề có liên quan.
d) Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và bảo đảm chất lượng các dự án đầu tư nước ngoài
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
- Xây dựng và thực hiện chiến lược vận động và xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển các ngành, nghề ưu tiên phát triển, đẩy nhanh tốc độ tái cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Xây dựng tiêu chí cụ thể đánh giá, thẩm định và lựa chọn nhà đầu tư và dự án đầu tư nước ngoài nhằm đạt được các mục tiêu: thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ; có khả năng tạo ra ngoại tệ đủ bù đắp nhu cầu chi ngoại tệ của dự án, bao gồm cả chuyển vốn và lợi nhuận ra nước ngoài, góp phần giảm thâm hụt và tiến tới cân bằng cán cân thương mại; sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; tăng tỷ trọng giá trị gia tăng nội địa,...
- Xây dựng và thực hiện các gói giải pháp ưu đãi và hỗ trợ cụ thể, linh hoạt trên cơ sở đàm phán, thỏa thuận với các tập đoàn đa quốc gia để thu hút đầu tư của các tập đoàn này vào các ngành công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, xây dựng mạng sản xuất và chuỗi cung ứng nội địa liên kết với hoạt động sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia.
- Đổi mới hệ thống quản lý, vận động và xúc tiến đầu tư nước ngoài; tăng cường năng lực và hiệu lực giám sát thực hiện đầu tư sau đăng ký hoặc đã được chấp thuận. Củng cố công tác giám sát, theo dõi và quản lý thực hiện đầu tư đối với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng các giải pháp:
+ Duy trì mối liên hệ thường xuyên với các nhà đầu tư để kịp thời nắm bắt các vướng mắc, khó khăn gặp phải trong quá trình đầu tư. Cơ quan xúc tiến đầu tư phải là đầu mối một cửa, chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan khác đề xuất các giải pháp tháo gỡ hoặc hỗ trợ kịp thời đối với các khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư.
+ Tăng cường năng lực, xây dựng hệ thống thông tin quốc gia, thống nhất toàn quốc về đầu tư nước ngoài.
+ Giám sát thường xuyên và kịp thời phát hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả các ưu đãi đầu tư, nhất là đất đai và cơ sở hạ tầng; kịp thời thu hồi và chuyển giao các nguồn lực cho những dự án hiệu quả hơn; định kỳ đánh giá kết quả thu hút và hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư nước ngoài.
+ Nâng cao năng lực quản lý và thực hiện các giải pháp chống chuyển giá ngay từ khi triển khai các công trình, dự án.
4. Tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng, trọng tâm là các ngân hàng thương mại
a) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:
- Thực hiện đầy đủ, nhất quán và có hiệu quả các giải pháp theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015”.
- Chỉ đạo và thực hiện các giải pháp thuộc thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp luật để ngăn chặn gia tăng và giảm dần nợ xấu như yêu cầu và giám sát hiệu quả việc trích lập đầy đủ quỹ dự phòng, sử dụng quỹ dự phòng, lợi nhuận và vốn chủ sở hữu để xử lý nợ xấu đối với từng tổ chức tín dụng,...
- Yêu cầu các tổ chức tín dụng khẩn trương xây dựng, trình phương án tái cơ cấu phù hợp với thực trạng cụ thể của từng tổ chức tín dụng; chỉ đạo và giám sát các tổ chức tín dụng triển khai thực hiện có hiệu quả phương án tái cơ cấu, đảm bảo đạt được các mục tiêu và định hướng tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng theo Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015” nói trên.
- Từng bước áp dụng các nguyên tắc và tiêu chí đánh giá ngân hàng theo thông lệ quốc tế. Tập trung xử lý nợ xấu, tăng cường kiểm tra, kiểm soát để nâng cao chất lượng, giảm thiểu rủi ro tín dụng. Đánh giá, xác định đúng thực trạng nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng và của từng tổ chức tín dụng; trên cơ sở đó xây dựng phương án tổng thể xử lý nợ xấu nhằm làm sạch và cơ cấu lại hoạt động của các tổ chức tín dụng theo hướng lành mạnh, hiệu quả. Phấn đấu đến năm 2015 giảm nợ xấu của ngân hàng thương mại nhà nước xuống dưới 3% tổng dư nợ tín dụng (theo chuẩn phân loại nợ và chuẩn mực kế toán của Việt Nam).
- Đánh giá và xác định đầy đủ thực trạng sở hữu chéo hiện nay trong hệ thống các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính; thực hiện các giải pháp ngăn chặn và loại trừ ảnh hưởng chi phối tiêu cực và vi phạm pháp luật của các cổ đông, nhóm cổ đông chi phối trong huy động, phân bổ và sử dụng vốn tín dụng ngân hàng; hạn chế các hành vi thâu tóm, lũng đoạn và chi phối các ngân hàng thương mại cổ phần gây rủi ro đối với từng ngân hàng và toàn hệ thống ngân hàng.
- Tăng cường công tác quản lý, cấp phép hoạt động và mở rộng mạng lưới của các ngân hàng thương mại; tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách về quản lý, thanh tra, giám sát đối với hoạt động ngân hàng.
- Khuyến khích, tạo điều kiện và bảo đảm việc theo đuổi và thực hành các chuẩn mực về quản trị ngân hàng, đặc biệt là quản trị rủi ro tại các tổ chức tín dụng, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tế của Việt Nam.
b) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan:
- Đẩy mạnh tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm thông qua cơ cấu lại, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm trên thị trường; cơ cấu lại các nhà đầu tư; sắp xếp lại và nâng cao năng lực tổ chức kinh doanh trên thị trường; bảo đảm chuẩn mực công bố và minh bạch hóa thông tin.
- Thực hiện các giải pháp phù hợp tháo gỡ khó khăn và để đẩy mạnh huy động vốn qua thị trường vốn, thị trường chứng khoán.
- Thực hiện giải pháp bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ cùng với việc tăng cường hiệu lực, chế tài thực thi quy định pháp luật trên thị trường chứng khoán.

Content:
Định hướng tái cơ cấu một số lĩnh vực chủ yếu
a) Duy trì môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi, ổn định
- Thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng, hiệu quả; sử dụng linh hoạt, hiệu quả các công cụ của chính sách tiền tệ; gắn kết chặt chẽ, đồng bộ với chính sách tài khóa nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô và bảo đảm tăng trưởng hợp lý, phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội đất nước trong từng thời kỳ.
- Thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, hiệu quả, triệt để tiết kiệm. Tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp thu, chi ngân sách nhà nước theo hướng tăng tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình; bảo đảm cân đối ngân sách nhà nước theo kế hoạch ngân sách nhà nước trung hạn, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội đất nước; giảm dần bội chi ngân sách nhà nước, duy trì tỷ lệ nợ công ở mức hợp lý, bảo đảm lành mạnh hóa tài chính quốc gia.
- Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ các mặt hàng nhập khẩu không khuyến khích, các mặt hàng trong nước đã sản xuất được. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng trong nước.
- Tăng cường huy động nguồn lực phục vụ cho mục tiêu đầu tư phát triển; các ngành, các cấp chủ động xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các cơ chế, chính sách, giải pháp tạo môi trường thuận lợi để tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư.
- Tăng cường kiểm soát giá cả, thị trường; bảo đảm cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu; theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường trong và ngoài nước, kịp thời áp dụng các biện pháp điều tiết cung cầu, bình ổn thị trường. Thực hiện nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với điện, than, xăng dầu, dịch vụ công theo lộ trình với mức độ và thời gian điều chỉnh phù hợp để bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát.
b) Thực hiện quyết liệt, hiệu quả các trọng tâm tái cơ cấu kinh tế
- Về tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu tư công:
+ Huy động hợp lý các nguồn lực cho đầu tư phát triển, bảo đảm tổng đầu tư xã hội khoảng 30% - 35% GDP, duy trì ở mức hợp lý các cân đối lớn của nền kinh tế như: tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, ngân sách nhà nước, cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế, nợ công và nợ nước ngoài quốc gia,…
+ Duy trì tỷ trọng đầu tư nhà nước hợp lý, khoảng 35% - 40% tổng đầu tư xã hội; hàng năm tăng dần tiết kiệm từ ngân sách nhà nước cho đầu tư; dành khoảng 20% - 25% tổng chi ngân sách cho đầu tư phát triển. Đổi mới cơ bản cơ chế phân bố và quản lý sử dụng vốn, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán và lãng phí, nâng cao hiệu quả đầu tư nhà nước.
+ Mở rộng tối đa phạm vi và cơ hội cho đầu tư tư nhân, nhất là tư nhân trong nước. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư tư nhân vào phát triển hạ tầng, phát triển các ngành, các sản phẩm có lợi thế, có tiềm năng phát triển và các vùng kinh tế động lực.
- Về tái cơ cấu hệ thống tài chính - ngân hàng, trọng tâm là các tổ chức tín dụng
+ Trong giai đoạn 2013 - 2015, tập trung lành mạnh hóa tình trạng tài chính của các tổ chức tín dụng, trước hết tập trung xử lý nợ xấu của cả hệ thống các tổ chức tín dụng và từng tổ chức tín dụng, tập trung phát triển các hoạt động kinh doanh chính, bảo đảm khả năng thanh toán, chi trả và phát triển ổn định, bền vững, tập trung xử lý tình trạng sở hữu chéo và tăng tính minh bạch trong hoạt động của các tổ chức tín dụng.
+ Cơ cấu lại căn bản, triệt để và toàn diện hệ thống các tổ chức tín dụng để đến năm 2020 phát triển được hệ thống các tổ chức tín dụng đa năng theo hướng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả vững chắc với cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô và loại hình, có khả năng cạnh tranh cao hơn và dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị ngân hàng tiên tiến phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu về các dịch vụ tài chính, ngân hàng của nền kinh tế. Không để xảy ra đổ vỡ và mất an toàn hoạt động tín dụng, ngân hàng; đảm bảo chi trả đầy đủ và kịp thời cho người gửi tiền; giảm thiểu tổn thất, chi phí xử lý những vấn đề rủi ro phát sinh của hệ thống các tổ chức tín dụng.
+ Nâng cao vai trò, vị trí chi phối, dẫn dắt thị trường của các tổ chức tín dụng Việt Nam, bảo đảm các ngân hàng thương mại nhà nước và các ngân hàng thương mại có cổ phần chi phối của Nhà nước thực sự là lực lượng chủ lực, chủ đạo của hệ thống các tổ chức tín dụng. Phấn đấu đến cuối năm 2015 hình thành được ít nhất từ một đến hai ngân hàng thương mại nhà nước hoặc ngân hàng thương mại có cổ phần chi phối của Nhà nước chi phối đạt trình độ khu vực về quy mô, quản trị, công nghệ và năng lực cạnh tranh.
+ Rà soát, đánh giá, phân loại để có phương án xử lý thích hợp đối với các ngân hàng thương mại cổ phần, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng khác, tập trung trước hết vào các tổ chức tín dụng yếu kém hoặc vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật; giám sát chặt chẽ quá trình xây dựng và triển khai thực hiện phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt tại các tổ chức tín dụng. Tăng cường các thiết chế an toàn; chấn chỉnh hoạt động quỹ tín dụng nhân dân và các tổ chức tín dụng vi mô, củng cố và xử lý các tổ chức yếu kém; tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức này hoạt động bình thường, tiếp tục phát triển về quy mô, năng lực quản trị điều hành và an toàn thanh khoản. Tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức tín dụng nước ngoài hoạt động và cạnh tranh bình đẳng tại Việt Nam; khuyến khích việc hợp tác, liên kết với các tổ chức tín dụng Việt Nam trong phát triển sản phẩm, đổi mới quản trị, hiện đại hóa ngân hàng và đặc biệt trong việc xử lý những vấn đề khó khăn của các tổ chức tín dụng Việt Nam trong quá trình tái cơ cấu.
- Về tái cơ cấu doanh nghiệp, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước
+ Thực hiện phân loại, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, tập trung vào các lĩnh vực chính gồm công nghiệp quốc phòng, các ngành, lĩnh vực công nghiệp độc quyền tự nhiên hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ thiết yếu và một số ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao có sức lan tỏa lớn; Đẩy mạnh cổ phần hóa, đa dạng hóa sở hữu các doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% sở hữu. Đối với từng tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, thực hiện cơ cấu lại danh mục đầu tư và ngành nghề kinh doanh, tập trung vào các ngành nghề kinh doanh chính; đẩy nhanh thực hiện theo nguyên tắc thị trường việc thoái vốn nhà nước đã đầu tư vào các ngành không phải kinh doanh chính hoặc không trực tiếp liên quan đến ngành kinh doanh chính và vốn nhà nước ở các công ty cổ phần mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối.
+ Đổi mới, phát triển và tiến tới áp dụng đầy đủ khung quản trị hiện đại theo thông lệ tốt của kinh tế thị trường đối với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Thực hiện nghiêm pháp luật, kỷ cương hành chính nhà nước và kỷ luật thị trường, đổi mới hệ thống đòn bẩy khuyến khích bảo đảm doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thị trường và cạnh tranh bình đẳng như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
+ Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu, nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tư nhân; khuyến khích hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân có tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
c) Đẩy mạnh tái cơ cấu các ngành sản xuất, dịch vụ, điều chỉnh chiến lược thị trường, tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của nền kinh tế
- Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trong nội bộ từng ngành thực hiện chuyển dần từ tiểu ngành, sản phẩm hoặc công đoạn sản xuất sử dụng công nghệ thấp, năng suất thấp và giá trị gia tăng thấp sang tiểu ngành, sản phẩm hoặc công đoạn sản xuất có hàm lượng khoa học công nghệ cao, sử dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường, có năng suất và giá trị gia tăng cao.
- Khai thác và tận dụng tốt lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới; xây dựng và phát triển các vùng chuyên canh quy mô lớn theo hình thức trang trại, gia trại, khu nông nghiệp công nghệ cao đạt các tiêu chuẩn quốc tế phổ biến về an toàn vệ sinh thực phẩm; kết nối sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến, bảo quản và xuất khẩu, tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, với chuỗi giá trị toàn cầu đối với các sản phẩm có lợi thế và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới như: cà phê, cao su, lúa gạo, cá da trơn, tôm, hạt tiêu, hạt điều, các loại hải sản khác, các loại rau, quả nhiệt đới,... Duy trì quy mô và phương thức sản xuất đa dạng, phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng đối với các sản phẩm, nhóm sản phẩm có nhu cầu nội địa lớn nhưng khả năng cạnh tranh trung bình như các sản phẩm chăn nuôi, đường,...
- Thực hiện tái cơ cấu sản xuất công nghiệp cả theo ngành kinh tế kỹ thuật, vùng và giá trị mới, tăng hàm lượng khoa học công nghệ và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm; chuyển mạnh từ gia công, lắp ráp là chủ yếu sang chế tạo và chế tác, kết nối với mạng sản xuất và chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu đối với các ngành, sản phẩm hiện có lợi thế cạnh tranh như chế biến lương thực, thực phẩm, thủy và hải sản, nước giải khát, may mặc, giày da và các sản phẩm da,... Tập trung phát triển một số ngành ưu tiên và công nghiệp hỗ trợ như hóa dầu, điện tử và công nghiệp công nghệ thông tin, luyện kim, cơ khí chế tạo, công nghiệp xanh và năng lượng tái tạo, phụ tùng ô tô, máy nông nghiệp,... để cải thiện và nâng cấp trình độ phát triển của nền kinh tế.
- Đa dạng hóa loại hình dịch vụ và nâng cao trình độ phát triển của các ngành dịch vụ; tập trung phát triển các ngành, sản phẩm dịch vụ có lợi thế cạnh tranh như: dịch vụ thương mại, dịch vụ xây dựng, khách sạn, nhà hàng, du lịch, viễn thông, tài chính - ngân hàng, dịch vụ logistics, giáo dục và đào tạo, chăm sóc y tế, các loại dịch vụ sản xuất nông nghiệp; đồng thời, hình thành một số trung tâm dịch vụ du lịch với sản phẩm du lịch chất lượng cao, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, có năng lực cạnh tranh tầm khu vực và quốc tế.
- Tiếp tục đa dạng hóa thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước; coi trọng và phát triển mạnh thị trường trong nước kết hợp với tăng cường xúc tiến thương mại, mở các thị trường mới (Ấn Độ, các nước Nam Á khác, châu Phi và Trung Đông, Mỹ La-tinh); ưu tiên khai thác và tận dụng tối đa các cơ hội từ các thị trường xuất khẩu trọng điểm, chiến lược (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU, ASEAN, Úc); tập trung khai thác hiệu quả các thị trường truyền thống (Nga, Đông Âu).
d) Tiếp tục tái cơ cấu, xây dựng và phát triển cơ cấu vùng kinh tế hợp lý
- Phát huy tiềm năng và lợi thế của từng vùng với tầm nhìn dài hạn để thực hiện phân bổ lại các ngành sản xuất, dịch vụ hợp lý, tạo sự khác biệt về cơ cấu kinh tế giữa các địa phương và giữa các vùng.
- Tăng cường phối hợp, bổ sung và kết nối giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng để cùng phát triển khắc phục tình trạng đầu tư trùng lặp, thiếu liên kết giữa các địa phương trong vùng.
- Tiếp tục ưu tiên phát triển vùng kinh tế trọng điểm, tạo động lực lôi kéo và lan tỏa phát triển đến các địa phương trong vùng, đến các vùng khác và cho cả nền kinh tế; lựa chọn và huy động nguồn lực để tập trung phát triển một số khu kinh tế, khu công nghiệp tạo thành các trung tâm kinh tế mạnh về kinh tế biển.
II. GIẢI PHÁP
1. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh của môi trường kinh doanh quốc gia
a) Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:
- Rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến các lĩnh vực đột phá chiến lược, bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới kết hợp với tăng cường hiệu quả, hiệu lực tổ chức triển khai thực hiện.
- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở pháp lý vững chắc thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế; nghiên cứu xây dựng các dự án Bộ luật dân sự (sửa đổi), Bộ luật hình sự (sửa đổi), Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (hợp nhất).
- Nâng cao chất lượng xây dựng các dự án Luật, Pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật. Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác thẩm định đối với các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Kiểm soát chặt chẽ và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của các văn bản quy phạm pháp luật.
- Triển khai đồng bộ cơ chế theo dõi thi hành pháp luật, trong đó đề cao trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
b) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách về môi trường kinh doanh theo hướng:
- Tháo bỏ rào cản, bãi bỏ hoặc bổ sung, sửa đổi các quy định lạc hậu, không phù hợp với cơ chế thị trường, với hội nhập kinh tế quốc tế; tạo cơ chế khuyến khích đầu tư đủ hấp dẫn và khả thi, trước hết là các ưu đãi về thuế và các biện pháp khuyến khích đầu tư khác để mở rộng và tăng thêm cơ hội đầu tư và kinh doanh cho khu vực kinh tế tư nhân; nâng cao hiệu lực và chất lượng quản trị quốc gia để cải thiện và nâng cấp chất lượng môi trường kinh doanh.
- Tiếp tục đơn giản hóa, giảm thủ tục hành chính; giảm chi phí thực thi thủ tục hành chính và pháp luật đối với nhân dân và doanh nghiệp.
- Không xây dựng, ban hành các quy định cấm hoặc hạn chế quyền kinh doanh của người dân và doanh nghiệp vì lý do yếu kém về năng lực và trình độ quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước liên quan; các quy định không phù hợp với điều kiện và cuộc sống thực tế của đa số nhân dân và doanh nghiệp; khắc phục tình trạng ban hành quy định mới không bảo đảm tính khả thi, không thực hiện được hoặc thực hiện không hiệu quả, gây tổn hại đến lợi ích chính đáng của nhân dân và doanh nghiệp.
c) Các Bộ: Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan thực hiện rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển lành mạnh, bền vững thị trường bất động sản theo hướng:
- Bảo đảm phát triển các khu đô thị, các dự án kinh doanh bất động sản phù hợp với quy hoạch được duyệt và nhu cầu của thị trường; có cơ chế, chính sách phù hợp khuyến khích phát triển nhà ở xã hội, cải thiện điều kiện nhà ở cho nhân dân, trước hết là người nghèo, đối tượng chính sách ở các đô thị.
- Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, chỉnh trang đô thị, thực hiện quy hoạch cả phần diện tích đất bên cạnh công trình kết cấu hạ tầng, vùng phụ cận để thu hồi đất, tạo nguồn lực từ đất đai đầu tư cho các công trình này, hỗ trợ hợp lý người có đất bị thu hồi và tăng thu ngân sách nhà nước. Ưu tiên cho người bị thu hồi đất ở được giao đất hoặc mua nhà trên diện tích đất đã thu hồi mở rộng theo quy định của pháp luật.
- Rà soát, kiểm soát chặt chẽ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp; thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý quy hoạch, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với quy hoạch sử dụng đất; nghiên cứu và có giải pháp phù hợp để thúc đẩy phát triển thị trường bất động sản, tạo thuận lợi cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Trong giai đoạn 2013 - 2015, tập trung xử lý tồn kho về bất động sản, điều chỉnh cơ cấu nguồn cung phù hợp với nhu cầu thực tế của nhân dân về nhà ở, nhất là phân khúc thị trường nhà ở xã hội; rà soát, đánh giá và phân loại các dự án đô thị và nhà ở; đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian hoàn thành thủ tục chuyển đổi, điều chỉnh cơ cấu dự án, quy mô căn hộ; tạo điều kiện hạ giá thành sản phẩm xây dựng phù hợp với nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư, nhất là các nhu cầu về nhà ở xã hội.
d) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan:
- Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách quản lý ngoại tệ và vàng; triển khai đồng bộ các giải pháp khắc phục tình trạng đô-la hóa nền kinh tế, giảm dần và tiến tới xóa bỏ việc sử dụng ngoại tệ, vàng làm phương tiện thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam, tập trung ngoại tệ vào hệ thống các tổ chức tín dụng.
- Từng bước tự do hóa thận trọng các giao dịch vốn phù hợp với cam kết quốc tế, đồng thời bảo đảm kiểm soát có hiệu quả luồng chu chuyển ngoại tệ trong nền kinh tế và qua biên giới và các rủi ro liên quan đến các luồng vốn vào - ra.
- Tổ chức quản lý chặt chẽ, đồng bộ và có hiệu quả các thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường phái sinh tiền tệ, thị trường ngoại tệ và thị trường vàng để huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển; bảo đảm các hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng được thực hiện một cách an toàn, lành mạnh và đúng pháp luật.
- Đổi mới cơ chế phân bổ tín dụng đầu tư của Nhà nước theo hướng đảm bảo tiếp cận công bằng, bình đẳng và minh bạch đối với các nhà đầu tư, các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế.
đ) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan:
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định pháp lý về tài chính, ngân sách nhà nước, bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các ngành, các cấp, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước.
- Nghiên cứu, xây dựng và thực hiện lộ trình cải cách phù hợp về chính sách phí sử dụng kết cấu hạ tầng theo hướng bảo đảm khả năng thu hồi chi phí đầu tư để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho việc huy động vốn đầu tư từ khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài vào các dự án cơ sở hạ tầng.
- Tái cơ cấu thị trường chứng khoán và các định chế tài chính liên quan theo hướng: cơ cấu lại, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các loại hàng hóa trên thị trường chứng khoán; cơ cấu lại cơ sở các nhà đầu tư theo hướng đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, mở rộng cơ sở nhà đầu tư có tổ chức, chuyên nghiệp; sắp xếp lại các tổ chức kinh doanh chứng khoán và kinh doanh bảo hiểm theo hướng nâng cao năng lực tài chính, chất lượng dịch vụ và phòng ngừa rủi ro; phát triển thị trường chứng khoán với tiêu chí niêm yết, giao dịch, công bố thông tin, hệ thống quản trị điều hành, quản trị rủi ro theo chuẩn mực chung và phù hợp với thông lệ quốc tế.
e) Các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
- Tiếp tục mở cửa thị trường các ngành, lĩnh vực kinh doanh độc quyền tự nhiên hoặc do các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thống lĩnh hoặc giữ thị phần chi phối; hạn chế dần và kiểm soát có hiệu quả vị thế độc quyền hoặc thống lĩnh thị trường của các doanh nghiệp trong các ngành, lĩnh vực này; xem xét, theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô, đẩy nhanh thực hiện lộ trình áp dụng cơ chế giá thị trường trong cung ứng các dịch vụ công, dịch vụ hạ tầng.
- Tiếp tục kế thừa và phát huy kết quả Đề án 30 về đơn giản hóa thủ tục hành chính; tiếp tục đột phá về đơn giản hóa và hợp lý hóa hệ thống thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực quản lý nhà nước như quản lý và sử dụng đất, đầu tư và xây dựng, hải quan, thuế, quảng cáo, vận tải hàng hóa và xuất nhập khẩu, vệ sinh, an toàn thực phẩm,...
- Tiếp tục hoàn thiện và nâng cấp hệ thống thông tin quốc gia về doanh nghiệp, tiếp tục nâng cao chất lượng, đơn giản hóa thủ tục và giảm chi phí đăng ký doanh nghiệp.
g) Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trực tiếp chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về cải cách và chất lượng thể chế trong phạm vi ngành, lĩnh vực và địa phương thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được giao.
2. Nâng cao chất lượng quy hoạch, gắn chiến lược với quy hoạch, kế hoạch, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với quy hoạch
a) Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan quản lý ngành theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan và các địa phương:
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp lý về quy hoạch; khẩn trương xây dựng trình Quốc hội ban hành Luật quy hoạch. Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới quy trình và phương pháp lập quy hoạch, bảo đảm phù hợp với thực tế.
- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và liên kết giữa các loại quy hoạch; bảo đảm cụ thể hóa những mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và tính gắn kết hệ thống giữa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả nước, quy hoạch ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương phù hợp với tình hình và yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
- Đổi mới, nâng cao tính liên kết, đồng bộ giữa các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng, quy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất theo hướng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải tổng hợp, cân đối, phân bổ hợp lý, sử dụng hiệu quả đất đai cho các ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ và đơn vị hành chính; quy hoạch xây dựng và quy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất phải phù hợp với các chỉ tiêu, tiến độ sử dụng đất được phân bổ trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thực hiện lồng ghép; quản lý chặt chẽ yêu cầu bảo vệ môi trường vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội.
- Thực hiện các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, bảo đảm chế tài thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực, vùng, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch đô thị; tăng cường tính công khai, minh bạch đối với các loại quy hoạch.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ quy hoạch ở các Bộ, cơ quan, địa phương, nhất là sự kết hợp giữa quy hoạch vùng với quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; giảm thiểu tình trạng điều chỉnh sớm và với tần suất cao các quy hoạch đã được duyệt, nhất là quy hoạch cơ sở hạ tầng đô thị; thực hiện đúng trình tự, thủ tục về xây dựng, thẩm định và phê duyệt theo quy định đối với các trường hợp sửa đổi, bổ sung quy hoạch.
- Tổng hợp, báo cáo về công tác quy hoạch, tình hình triển khai các quy hoạch và kịp thời đề xuất với cấp có thẩm quyền xử lý những tồn tại trong công tác quản lý và thực hiện quy hoạch.
b) Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương rà soát, đánh giá, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền đối với quy hoạch phát triển hạ tầng giao thông phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã được Đại hội Đảng XI thông qua, Nghị quyết số 13-NQ/TW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
c) Các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm, quy hoạch vùng, địa phương và các quy hoạch khác để thực hiện các nội dung, định hướng tái cơ cấu kinh tế, nhất là tái cơ cấu ngành, lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, bảo đảm phù hợp với từng vùng, phát huy tiềm năng lợi thế của địa phương, gắn kết sản xuất với tiêu thụ sản phẩm và đảm bảo phát triển bền vững.
- Rà soát, cập nhật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp theo hướng sử dụng hiệu quả nhất nguồn đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Rà soát việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư đã được giao đất, có biện pháp xử lý phù hợp đối với các dự án sai quy hoạch; kiên quyết thu hồi hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền thu hồi đất đối với những dự án đầu tư không triển khai hoặc triển khai chậm so với quy định của pháp luật đất đai, bất động sản.
- Trong giai đoạn 2013 - 2015, tập trung hoàn thiện và công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, quy hoạch đô thị, khu công nghiệp, quy hoạch ngành, lĩnh vực và sản phẩm quan trọng thuộc diện ưu tiên phát triển; xóa bỏ tình trạng quy hoạch treo trước năm 2015.
- Hàng năm, xây dựng báo cáo về thực trạng công tác quy hoạch, công khai, minh bạch hóa quy hoạch, kết quả thực hiện quy hoạch và các vấn đề liên quan gửi Bộ kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
d) Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch và các cơ quan liên quan theo nhiệm vụ được phân công:
- Chịu trách nhiệm về chất lượng quy hoạch, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện quy hoạch và đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch theo quy định.
- Đình chỉ ngay các hành vi vi phạm quy hoạch đã được phê duyệt, thực hiện các biện pháp xử lý hoặc đề xuất biện pháp xử lý với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
3. Đổi mới cơ chế, chính sách huy động, phân bổ, sử dụng vốn đầu tư
a) Thực hiện quyết liệt, hiệu quả tái cơ cấu đầu tư công:
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
+ Tiếp tục rà soát, hoàn thiện pháp luật, cơ chế chính sách phân cấp, quản lý đầu tư công. Xây dựng, trình ban hành Luật đầu tư công theo hướng thống nhất quản lý các loại vốn đầu tư nhà nước, bao gồm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, tín dụng đầu tư của Nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp; tăng cường kỷ luật, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong sử dụng vốn đầu tư nhà nước, bảo đảm kiểm soát chặt chẽ nợ công, bảo đảm trong giới hạn an toàn và giữ vững an ninh tài chính quốc gia.
+ Thực hiện quyết liệt, nhất quán, hiệu quả kế hoạch đầu tư trung hạn; trong đó tập trung vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các dự án, công trình trọng điểm, quan trọng quốc gia; dành một phần thỏa đáng vốn ngân sách nhà nước để tham gia các dự án hợp tác công - tư, vốn đối ứng ODA và kinh phí giải phóng mặt bằng. Đối với những dự án quan trọng quốc gia có hiệu quả cao và tác động lan tỏa lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội trong vùng, liên vùng, khuyến khích thực hiện theo các hình thức đầu tư kết hợp công - tư (PPP, BOT, BT, BO,...) hoặc phát hành trái phiếu, tăng cường huy động và bảo đảm cân đối đủ vốn để triển khai thực hiện.
+ Không phân bổ và thực hiện đầu tư mới vào các ngành, lĩnh vực mà khu vực tư nhân có khả năng và sẵn sàng đầu tư kinh doanh như các dịch vụ thương mại, khách sạn, nhà hàng, kinh doanh bất động sản, lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng và một số ngành, lĩnh vực khác.
+ Xây dựng và áp dụng quy trình hợp lý, chặt chẽ và có hiệu quả về xác định, thẩm định, lựa chọn, phân bổ vốn đầu tư và thực hiện dự án đầu tư nhà nước; chỉ lựa chọn những dự án đáp ứng tiêu chí về hiệu quả kinh tế - xã hội; tập trung bố trí đủ vốn đầu tư thực hiện các dự án quan trọng, cấp bách; khắc phục hiệu quả tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ và kém hiệu quả.
+ Thực hiện công khai hóa, minh bạch hóa thông tin về đầu tư; tăng cường thẩm quyền và năng lực của hệ thống giám sát đối với đầu tư công, khuyến khích và tạo điều kiện cho hoạt động giám sát của cộng đồng đối với các dự án đầu tư công, hoạt động đầu tư công. Tăng cường chấp hành pháp luật, cơ chế chính sách, nâng cao trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát trong đầu tư công.
- Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương thực hiện rà soát và lựa chọn các dự án giao thông quan trọng quốc gia ưu tiên đầu tư và bố trí đủ vốn đảm bảo hoàn thành trong thời hạn sớm nhất; trường hợp cân đối không đủ số vốn cần thiết, thì nghiên cứu áp dụng các hình thức đầu tư kết hợp công - tư (PPP, BT, BOT, BO,...) hoặc phát hành trái phiếu để huy động vốn đầu tư; rà soát, cắt giảm, đình hoãn các dự án chưa bố trí được vốn hoặc không chuyển đổi để thực hiện đầu tư theo các hình thức khác.
- Các Bộ, cơ quan, địa phương theo trách nhiệm, thẩm quyền chịu trách nhiệm rà soát lại tất cả các dự án đầu tư thuộc phạm vi quản lý, kiểm soát chặt chẽ phạm vi, quy mô của từng dự án đầu tư theo đúng mục tiêu, lĩnh vực và chương trình đã được phê duyệt; chỉ được quyết định đầu tư khi dự án đã được lựa chọn theo đúng quy trình và thứ tự ưu tiên, đã xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối, bố trí đủ vốn hoàn thành dự án đầu tư ở từng cấp ngân sách.
b) Đổi mới cơ chế huy động nguồn lực, chế độ ưu đãi, khuyến khích đầu tư, cơ chế quản lý đầu tư, mở rộng cơ hội thu hút đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư nước ngoài
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ quản lý ngành theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan và các địa phương:
- Xác định và công bố danh mục các dự án hạ tầng khả thi, có khả năng thu hồi vốn, xác định cơ chế chính sách đặc thù cho từng dự án cho giai đoạn 2013 - 2015 và các năm tiếp theo để thu hút, huy động tư nhân đầu tư phát triển hạ tầng theo các hình thức đầu tư kết hợp công - tư thích hợp (PPP, BT, BOT, BO,...).
- Ban hành cơ chế đấu thầu quyền thăm dò và khai thác các loại khoáng sản, đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất để giao đất, cho thuê đất đối với các dự án phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo sử dụng khoáng sản, đất đai, tài nguyên một cách tiết kiệm, hiệu quả và bền vững.
- Quy định cụ thể điều kiện để nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án phát triển kinh tế, xã hội; có chế tài đồng bộ, cụ thể để xử lý nghiêm, dứt điểm các trường hợp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhưng sử dụng lãng phí, không đúng mục đích, đầu cơ đất, chậm đưa đất vào sử dụng; không bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất, giá trị đã đầu tư vào đất đối với các trường hợp bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai.
- Bổ sung, thay đổi danh mục ngành, nghề khuyến khích đầu tư theo hướng chỉ bao gồm các ngành nghề ưu tiên phát triển đã được xác định phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu nội bộ ngành kinh tế - kỹ thuật; thực hiện ưu đãi đầu tư như nhau đối với dự án đầu tư mới và đầu tư mở rộng, đầu tư nâng cấp trong các ngành, nghề khuyến khích đầu tư.
- Thực hiện chế độ ưu đãi và khuyến khích đầu tư đủ lớn về quy mô, đa dạng về công cụ và hình thức để thúc đẩy, hỗ trợ và thu hút các nhà đầu tư có chất lượng cao, đảm bảo phát triển các ngành ưu tiên phát triển; các biện pháp ưu đãi đầu tư đều phải có mục tiêu, thời hạn và điều kiện ràng buộc, chế tài cụ thể, rõ ràng.
c) Tăng cường quản lý nhà nước về đầu tư
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
- Chỉ chấp thuận đầu tư và cấp phép xây dựng công trình đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình có đủ các điều kiện theo quy định (địa điểm đầu tư và quy mô sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị, quy hoạch phát triển hạ tầng kỹ thuật; đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật; có hiệu quả kinh tế - xã hội đáp ứng các yêu cầu theo quy định của pháp luật,...). Trường hợp diện tích đất quy hoạch để đầu tư phát triển công nghiệp có hạn, không đáp ứng đủ nhu cầu của nhà đầu tư, thì ưu tiên giao đất, cho thuê đất đối với dự án thuộc ngành, nghề ưu tiên phát triển.
- Xây dựng quy trình hợp lý, liên thông giải quyết các thủ tục hành chính về đầu tư - xây dựng từ chấp thuận chủ trương đầu tư, đánh giá tác động môi trường, thẩm định và chấp thuận dự án đầu tư, thỏa thuận về giao đất, cho thuê đất,... đến cấp giấy phép xây dựng; thực hiện cơ chế dịch vụ một cửa liên thông trong việc thực hiện các thủ tục hành chính.
- Nâng cao thẩm quyền, tăng cường năng lực và thực hiện có hiệu quả giám sát của các Bộ, cơ quan Trung ương liên quan về quản lý đầu tư xây dựng công trình, bảo đảm dự án đầu tư được chấp thuận đáp ứng đầy đủ tiêu chí, thực hiện đúng tiến độ, có hiệu quả kinh tế - xã hội; tăng cường công khai hóa thông tin và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước hữu quan về đầu tư và các vấn đề có liên quan.
d) Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và bảo đảm chất lượng các dự án đầu tư nước ngoài
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
- Xây dựng và thực hiện chiến lược vận động và xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển các ngành, nghề ưu tiên phát triển, đẩy nhanh tốc độ tái cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Xây dựng tiêu chí cụ thể đánh giá, thẩm định và lựa chọn nhà đầu tư và dự án đầu tư nước ngoài nhằm đạt được các mục tiêu: thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ; có khả năng tạo ra ngoại tệ đủ bù đắp nhu cầu chi ngoại tệ của dự án, bao gồm cả chuyển vốn và lợi nhuận ra nước ngoài, góp phần giảm thâm hụt và tiến tới cân bằng cán cân thương mại; sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; tăng tỷ trọng giá trị gia tăng nội địa,...
- Xây dựng và thực hiện các gói giải pháp ưu đãi và hỗ trợ cụ thể, linh hoạt trên cơ sở đàm phán, thỏa thuận với các tập đoàn đa quốc gia để thu hút đầu tư của các tập đoàn này vào các ngành công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, xây dựng mạng sản xuất và chuỗi cung ứng nội địa liên kết với hoạt động sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia.
- Đổi mới hệ thống quản lý, vận động và xúc tiến đầu tư nước ngoài; tăng cường năng lực và hiệu lực giám sát thực hiện đầu tư sau đăng ký hoặc đã được chấp thuận. Củng cố công tác giám sát, theo dõi và quản lý thực hiện đầu tư đối với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng các giải pháp:
+ Duy trì mối liên hệ thường xuyên với các nhà đầu tư để kịp thời nắm bắt các vướng mắc, khó khăn gặp phải trong quá trình đầu tư. Cơ quan xúc tiến đầu tư phải là đầu mối một cửa, chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan khác đề xuất các giải pháp tháo gỡ hoặc hỗ trợ kịp thời đối với các khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư.
+ Tăng cường năng lực, xây dựng hệ thống thông tin quốc gia, thống nhất toàn quốc về đầu tư nước ngoài.
+ Giám sát thường xuyên và kịp thời phát hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả các ưu đãi đầu tư, nhất là đất đai và cơ sở hạ tầng; kịp thời thu hồi và chuyển giao các nguồn lực cho những dự án hiệu quả hơn; định kỳ đánh giá kết quả thu hút và hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư nước ngoài.
+ Nâng cao năng lực quản lý và thực hiện các giải pháp chống chuyển giá ngay từ khi triển khai các công trình, dự án.
Tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng, trọng tâm là các ngân hàng thương mại
a) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:
- Thực hiện đầy đủ, nhất quán và có hiệu quả các giải pháp theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015”.
- Chỉ đạo và thực hiện các giải pháp thuộc thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp luật để ngăn chặn gia tăng và giảm dần nợ xấu như yêu cầu và giám sát hiệu quả việc trích lập đầy đủ quỹ dự phòng, sử dụng quỹ dự phòng, lợi nhuận và vốn chủ sở hữu để xử lý nợ xấu đối với từng tổ chức tín dụng,...
- Yêu cầu các tổ chức tín dụng khẩn trương xây dựng, trình phương án tái cơ cấu phù hợp với thực trạng cụ thể của từng tổ chức tín dụng; chỉ đạo và giám sát các tổ chức tín dụng triển khai thực hiện có hiệu quả phương án tái cơ cấu, đảm bảo đạt được các mục tiêu và định hướng tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng theo Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015” nói trên.
- Từng bước áp dụng các nguyên tắc và tiêu chí đánh giá ngân hàng theo thông lệ quốc tế. Tập trung xử lý nợ xấu, tăng cường kiểm tra, kiểm soát để nâng cao chất lượng, giảm thiểu rủi ro tín dụng. Đánh giá, xác định đúng thực trạng nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng và của từng tổ chức tín dụng; trên cơ sở đó xây dựng phương án tổng thể xử lý nợ xấu nhằm làm sạch và cơ cấu lại hoạt động của các tổ chức tín dụng theo hướng lành mạnh, hiệu quả. Phấn đấu đến năm 2015 giảm nợ xấu của ngân hàng thương mại nhà nước xuống dưới 3% tổng dư nợ tín dụng (theo chuẩn phân loại nợ và chuẩn mực kế toán của Việt Nam).
- Đánh giá và xác định đầy đủ thực trạng sở hữu chéo hiện nay trong hệ thống các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính; thực hiện các giải pháp ngăn chặn và loại trừ ảnh hưởng chi phối tiêu cực và vi phạm pháp luật của các cổ đông, nhóm cổ đông chi phối trong huy động, phân bổ và sử dụng vốn tín dụng ngân hàng; hạn chế các hành vi thâu tóm, lũng đoạn và chi phối các ngân hàng thương mại cổ phần gây rủi ro đối với từng ngân hàng và toàn hệ thống ngân hàng.
- Tăng cường công tác quản lý, cấp phép hoạt động và mở rộng mạng lưới của các ngân hàng thương mại; tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách về quản lý, thanh tra, giám sát đối với hoạt động ngân hàng.
- Khuyến khích, tạo điều kiện và bảo đảm việc theo đuổi và thực hành các chuẩn mực về quản trị ngân hàng, đặc biệt là quản trị rủi ro tại các tổ chức tín dụng, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tế của Việt Nam.
b) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan:
- Đẩy mạnh tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm thông qua cơ cấu lại, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm trên thị trường; cơ cấu lại các nhà đầu tư; sắp xếp lại và nâng cao năng lực tổ chức kinh doanh trên thị trường; bảo đảm chuẩn mực công bố và minh bạch hóa thông tin.
- Thực hiện các giải pháp phù hợp tháo gỡ khó khăn và để đẩy mạnh huy động vốn qua thị trường vốn, thị trường chứng khoán.
- Thực hiện giải pháp bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ cùng với việc tăng cường hiệu lực, chế tài thực thi quy định pháp luật trên thị trường chứng khoán.