Document: Điều 2 Quyết định 1026/QĐ-UBND Đề án quy hoạch tổng thể phát triển ngành nghề nông thôn Hà Giang 2012

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Giang", "promulgation_date": "01/06/2012", "sign_number": "1026/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Minh Tiến", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Giang", "promulgation_date": "01/06/2012", "sign_number": "1026/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Minh Tiến", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Giang", "promulgation_date": "01/06/2012", "sign_number": "1026/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Minh Tiến", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Giang", "promulgation_date": "01/06/2012", "sign_number": "1026/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Minh Tiến", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Giang", "promulgation_date": "01/06/2012", "sign_number": "1026/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Minh Tiến", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định 1026/QĐ-UBND Đề án quy hoạch tổng thể phát triển ngành nghề nông thôn Hà Giang 2012 có nội dung như sau:

Điều 2. Trách nhiệm trong tổ chức thực hiện:
1. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Là cơ quan thường trực giúp UBND tỉnh tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện quy hoạch này. Sở có trách nhiệm xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm theo tiến độ thực hiện với từng ngành nghề, cụ thể hóa chỉ tiêu kế hoạch cho các huyện, thành phố.
Tiến hành xây dựng và đề xuất với UBND tỉnh việc áp dụng chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP và Thông tư 113/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính sát với thực tế ngành nghề nông thôn tỉnh Hà Giang; chính sách được UBND tỉnh ban hành tạo cơ sở pháp lý tổ chức thực hiện đạt kết quả.
Chủ động phối hợp với Sở Công thương, UBND các huyện, thành phố lập, trình duyệt và tổ chức thực hiện các dự án ưu tiên đầu tư kịp thời, đúng tiến độ. Phối hợp chặt chẽ với Sở Tài nguyên - Môi trường lập kế hoạch và quy hoạch sử dụng đất dành cho hoạt động ngành nghề nông thôn;
Xây dựng kế hoạch chi tiết về: truyền nghề, dạy nghề, bồi dưỡng đào tạo cán bộ quản lý ngành nghề nông thôn cho các cơ sở và HTX, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng là ngành nghề nông thôn ưu tiên phát triển ở tỉnh Hà Giang. Hướng dẫn cơ sở ngành nghề đăng ký nguồn gốc xuất xứ hàng hóa và nhãn hiệu hàng hóa, tổ chức tham gia hội chợ triển lãm và các hoạt động xúc tiến thương mại khác.
Phối hợp với UBND các huyện, thành phố xây dựng các vùng nguyên liệu cung cấp cho ngành nghề nông thôn.
Cập nhật các thông tin và kết quả thực hiện quy hoạch, kịp thời đề xuất với UBND tỉnh những vấn đề cần điều chỉnh bổ sung cho sát với thực tế.
2. Sở Công thương
Phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT trong việc thực hiện quy hoạch. Quy hoạch phát triển các cụm tiểu thủ công nghiệp - làng nghề hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn. Triển khai các hợp phần khuyến công theo Quyết định số 136/2007/QĐ-TTg ngày 20/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Hỗ trợ tìm kiếm thị trường, dự báo thị trường trong và ngoài nước, triển khai các chương trình xúc tiến thương mại. Hướng dẫn, khuyến cáo các cơ sở sản xuất ra những sản phẩm hợp với thị hiếu tiêu dùng. Hình thành những trung tâm giới thiệu sản phẩm ngành nghề nông thôn, xây dựng trang Web giới thiệu sản phẩm. Đề nghị công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống và thực hiện các chính sách có liên quan đến phát triển ngành nghề nông thôn.
3. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính
Căn cứ vào quy hoạch ngành nghề nông thôn đã được UBND tỉnh phê duyệt, tính toán cân đối, huy động các nguồn lực, xây dựng các kế hoạch ngắn hạn, dài hạn để thực hiện. Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Sở Tài chính, Sở NN&PTNT tranh thủ các nguồn tài trợ của Trung ương, các doanh nghiệp và các tổ chức Quốc tế cho đầu tư cơ bản vào các cơ sở ngành nghề nông thôn.
4. Các sở, ngành liên quan
a) Sở Tài nguyên và Môi trường: Phối hợp chặt chẽ với Sở NN&PTNT lập kế hoạch và quy hoạch sử dụng đất dành cho hoạt động ngành nghề nông thôn. Bố trí đủ quỹ đất cho phát triển ngành nghề nông thôn; hướng dẫn và giám sát việc xây dựng hệ thống công trình xử lý môi trường. Tiến hành những biện pháp cần thiết khi phát hiện vi phạm nhằm thực hiện phát triển ngành nghề nông thôn một cách bền vững. Chỉ đạo, hỗ trợ cơ sở sản xuất kinh doanh ngành nghề nông thôn lập hồ sơ để được hưởng chính sách hỗ trợ từ phía nhà nước đối với một số mô hình xử lý môi trường theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và UBND tỉnh Hà Giang.
b) Sở Lao động và Thương binh xã hội: Phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch đào tạo nghề và chỉ đạo các cơ sở dạy nghề do Sở quản lý tiếp nhận đào tạo nghề cho số lao động cần được đào tạo theo các dự án với chất lượng cao.
c) Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT thực hiện dự án tập hợp tư liệu về nghề truyền thống, làng nghề truyền thống. Xây dựng dự án bảo tồn giá trị văn hóa làng nghề truyền thống. Phát triển làng nghề gắn với du lịch. Nghiên cứu về lịch sử phát triển của các làng nghề, ngành nghề, xuất bản sách và tổ chức triển lãm, hội thảo. Phát triển các tour, tuyến du lịch gắn với các làng nghề.
5. Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp
a) Liên minh hợp tác xã: Tuyên truyền, vận động các cơ sở kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất nhỏ và vừa phát triển hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Tổng kết và phổ biến kinh nghiệm của các hợp tác xã điển hình tiên tiến, tổ chức các phong trào thi đua giữa các hợp tác xã, các làng nghề; Tổ chức các hoạt động hỗ trợ, tư vấn, cung cấp dịch vụ cho các thành viên về pháp lý, đầu tư, khoa học công nghệ, thông tin, tài chính, tín dụng, thị trường và các lĩnh vực khác trong quá trình phát triển ngành nghề; Tham gia các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, phát triển quan hệ hợp tác với các tổ chức ở các nước; tiếp nhận và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ, các khoản viện trợ để phát triển hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã;
b) Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của phát triển ngành nghề nông thôn và vận động người dân tham gia thực hiện; Tổ chức những hoạt động cụ thể phù hợp với nội dung hoạt động của dự án. Phối hợp, hợp tác các thành viên trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
6. UBND các huyện, thành phố: Căn cứ vào quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn giai đoạn 2011 - 2020 đã được phê duyệt để xây dựng kế hoạch phát triển ngành nghề nông thôn ở huyện, thành phố; xây dựng - triển khai thực hiện các dự án về ngành nghề nông thôn. Chỉ đạo các phòng, ban tham mưu và các xã, thị trấn đề ra các chỉ tiêu và giải pháp cụ thể giúp các hộ ngành nghề, các cơ sở sản xuất khai thác hợp lý, hiệu quả mọi nguồn tiềm năng sẵn có ở địa phương vào sản xuất.
Có kế hoạch cụ thể khôi phục và phát triển nghề - nghề truyền thống, làng nghề - làng nghề truyền thống.
Lồng ghép các chương trình triển khai thực hiện trên địa bàn (huyện - xã,..) nhằm hỗ trợ cho phát triển ngành nghề nông thôn như: xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đào tạo nhân lực và tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo,...
Tăng cường tuyên truyền, vận động nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế, tham gia sản xuất ngành nghề nông thôn. Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn chuyên trách về phát triển ngành nghề nông thôn ở huyện. Tăng cường đội ngũ cán bộ chuyên môn bám sát địa bàn để hỗ trợ kịp thời các cơ sở sản xuất hiểu và thực hiện đúng các quy trình kỹ thuật, xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.
Thực hiện tốt cơ chế dân chủ để người dân có cơ hội cùng tham gia kể từ khi lập kế hoạch, cùng chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các đề án phát triển ngành nghề nông thôn.

Content:
Điều 2. Trách nhiệm trong tổ chức thực hiện:
1. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Là cơ quan thường trực giúp UBND tỉnh tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện quy hoạch này. Sở có trách nhiệm xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm theo tiến độ thực hiện với từng ngành nghề, cụ thể hóa chỉ tiêu kế hoạch cho các huyện, thành phố.
Tiến hành xây dựng và đề xuất với UBND tỉnh việc áp dụng chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP và Thông tư 113/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính sát với thực tế ngành nghề nông thôn tỉnh Hà Giang; chính sách được UBND tỉnh ban hành tạo cơ sở pháp lý tổ chức thực hiện đạt kết quả.
Chủ động phối hợp với Sở Công thương, UBND các huyện, thành phố lập, trình duyệt và tổ chức thực hiện các dự án ưu tiên đầu tư kịp thời, đúng tiến độ. Phối hợp chặt chẽ với Sở Tài nguyên - Môi trường lập kế hoạch và quy hoạch sử dụng đất dành cho hoạt động ngành nghề nông thôn;
Xây dựng kế hoạch chi tiết về: truyền nghề, dạy nghề, bồi dưỡng đào tạo cán bộ quản lý ngành nghề nông thôn cho các cơ sở và HTX, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng là ngành nghề nông thôn ưu tiên phát triển ở tỉnh Hà Giang. Hướng dẫn cơ sở ngành nghề đăng ký nguồn gốc xuất xứ hàng hóa và nhãn hiệu hàng hóa, tổ chức tham gia hội chợ triển lãm và các hoạt động xúc tiến thương mại khác.
Phối hợp với UBND các huyện, thành phố xây dựng các vùng nguyên liệu cung cấp cho ngành nghề nông thôn.
Cập nhật các thông tin và kết quả thực hiện quy hoạch, kịp thời đề xuất với UBND tỉnh những vấn đề cần điều chỉnh bổ sung cho sát với thực tế.
2. Sở Công thương
Phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT trong việc thực hiện quy hoạch. Quy hoạch phát triển các cụm tiểu thủ công nghiệp - làng nghề hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn. Triển khai các hợp phần khuyến công theo Quyết định số 136/2007/QĐ-TTg ngày 20/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Hỗ trợ tìm kiếm thị trường, dự báo thị trường trong và ngoài nước, triển khai các chương trình xúc tiến thương mại. Hướng dẫn, khuyến cáo các cơ sở sản xuất ra những sản phẩm hợp với thị hiếu tiêu dùng. Hình thành những trung tâm giới thiệu sản phẩm ngành nghề nông thôn, xây dựng trang Web giới thiệu sản phẩm. Đề nghị công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống và thực hiện các chính sách có liên quan đến phát triển ngành nghề nông thôn.
3. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính
Căn cứ vào quy hoạch ngành nghề nông thôn đã được UBND tỉnh phê duyệt, tính toán cân đối, huy động các nguồn lực, xây dựng các kế hoạch ngắn hạn, dài hạn để thực hiện. Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Sở Tài chính, Sở NN&PTNT tranh thủ các nguồn tài trợ của Trung ương, các doanh nghiệp và các tổ chức Quốc tế cho đầu tư cơ bản vào các cơ sở ngành nghề nông thôn.
4. Các sở, ngành liên quan
a) Sở Tài nguyên và Môi trường: Phối hợp chặt chẽ với Sở NN&PTNT lập kế hoạch và quy hoạch sử dụng đất dành cho hoạt động ngành nghề nông thôn. Bố trí đủ quỹ đất cho phát triển ngành nghề nông thôn; hướng dẫn và giám sát việc xây dựng hệ thống công trình xử lý môi trường. Tiến hành những biện pháp cần thiết khi phát hiện vi phạm nhằm thực hiện phát triển ngành nghề nông thôn một cách bền vững. Chỉ đạo, hỗ trợ cơ sở sản xuất kinh doanh ngành nghề nông thôn lập hồ sơ để được hưởng chính sách hỗ trợ từ phía nhà nước đối với một số mô hình xử lý môi trường theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và UBND tỉnh Hà Giang.
b) Sở Lao động và Thương binh xã hội: Phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch đào tạo nghề và chỉ đạo các cơ sở dạy nghề do Sở quản lý tiếp nhận đào tạo nghề cho số lao động cần được đào tạo theo các dự án với chất lượng cao.
c) Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT thực hiện dự án tập hợp tư liệu về nghề truyền thống, làng nghề truyền thống. Xây dựng dự án bảo tồn giá trị văn hóa làng nghề truyền thống. Phát triển làng nghề gắn với du lịch. Nghiên cứu về lịch sử phát triển của các làng nghề, ngành nghề, xuất bản sách và tổ chức triển lãm, hội thảo. Phát triển các tour, tuyến du lịch gắn với các làng nghề.
5. Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp
a) Liên minh hợp tác xã: Tuyên truyền, vận động các cơ sở kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất nhỏ và vừa phát triển hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Tổng kết và phổ biến kinh nghiệm của các hợp tác xã điển hình tiên tiến, tổ chức các phong trào thi đua giữa các hợp tác xã, các làng nghề; Tổ chức các hoạt động hỗ trợ, tư vấn, cung cấp dịch vụ cho các thành viên về pháp lý, đầu tư, khoa học công nghệ, thông tin, tài chính, tín dụng, thị trường và các lĩnh vực khác trong quá trình phát triển ngành nghề; Tham gia các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, phát triển quan hệ hợp tác với các tổ chức ở các nước; tiếp nhận và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ, các khoản viện trợ để phát triển hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã;
b) Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của phát triển ngành nghề nông thôn và vận động người dân tham gia thực hiện; Tổ chức những hoạt động cụ thể phù hợp với nội dung hoạt động của dự án. Phối hợp, hợp tác các thành viên trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
6. UBND các huyện, thành phố: Căn cứ vào quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn giai đoạn 2011 - 2020 đã được phê duyệt để xây dựng kế hoạch phát triển ngành nghề nông thôn ở huyện, thành phố; xây dựng - triển khai thực hiện các dự án về ngành nghề nông thôn. Chỉ đạo các phòng, ban tham mưu và các xã, thị trấn đề ra các chỉ tiêu và giải pháp cụ thể giúp các hộ ngành nghề, các cơ sở sản xuất khai thác hợp lý, hiệu quả mọi nguồn tiềm năng sẵn có ở địa phương vào sản xuất.
Có kế hoạch cụ thể khôi phục và phát triển nghề - nghề truyền thống, làng nghề - làng nghề truyền thống.
Lồng ghép các chương trình triển khai thực hiện trên địa bàn (huyện - xã,..) nhằm hỗ trợ cho phát triển ngành nghề nông thôn như: xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đào tạo nhân lực và tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo,...
Tăng cường tuyên truyền, vận động nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế, tham gia sản xuất ngành nghề nông thôn. Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn chuyên trách về phát triển ngành nghề nông thôn ở huyện. Tăng cường đội ngũ cán bộ chuyên môn bám sát địa bàn để hỗ trợ kịp thời các cơ sở sản xuất hiểu và thực hiện đúng các quy trình kỹ thuật, xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.
Thực hiện tốt cơ chế dân chủ để người dân có cơ hội cùng tham gia kể từ khi lập kế hoạch, cùng chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các đề án phát triển ngành nghề nông thôn.