Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 195/2006/QĐ-UBND xã hội hóa Giáo dục 2010 Bình Dương

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Dương", "promulgation_date": "08/08/2006", "sign_number": "195/2006/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Hiệp", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Dương", "promulgation_date": "08/08/2006", "sign_number": "195/2006/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Hiệp", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Dương", "promulgation_date": "08/08/2006", "sign_number": "195/2006/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Hiệp", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Dương", "promulgation_date": "08/08/2006", "sign_number": "195/2006/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Hiệp", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Dương", "promulgation_date": "08/08/2006", "sign_number": "195/2006/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Hiệp", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 195/2006/QĐ-UBND xã hội hóa Giáo dục 2010 Bình Dương

Điều 1. Phê duyệt Đề án xã hội hóa Giáo dục đến năm 2010 của tỉnh Bình Dương gồm những nội dung sau đây:
...
2. Định hướng:
Thực hiện Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/04/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, Nhà nước tiếp tục tăng tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục. Bảo đảm kinh phí cho công tác phổ cập; tập trung đầu tư các vùng trọng điểm, đào tạo nguồn nhân lực, các vùng kinh tế khó khăn. Huy động nguồn lực của các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế - xã hội và cá nhân để phát triển giáo dục - đào tạo. Tăng cường mối quan hệ của nhà trường với gia đình và xã hội, huy động nguồn lực trong toàn ngành, toàn xã hội vào việc giáo dục toàn diện. Có cơ chế chính sách cụ thể khuyến khích và quy định trách nhiệm của các ngành, các địa phương, các tổ chức kinh tế - xã hội và người sử dụng lao động tham gia xây dựng trường, hỗ trợ kinh phí cho người học, thu hút nguồn nhân lực đã được đào tạo và giám sát các hoạt động giáo dục.
Có chính sách trợ cấp học phí hoặc học bổng cho học sinh giáo dục phổ cập, cho người học là đối tượng chính sách, những người ở vùng khó khăn, những người nghèo và những người học xuất sắc không phân biệt học ở trường công lập hay ngoài công lập.
Khuyến khích thành lập các cơ sở giáo dục, đào tạo ngoài công lập, chuyển một số cơ sở công lập sang loại hình ngoài công lập. Hạn chế mở thêm các cơ sở công lập ở những vùng kinh tế phát triển. Không duy trì cơ sở bán công, từng bước chuyển sang tư thục hoặc dân lập ở các nơi có điều kiện.
Khuyến khích việc hợp tác, liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục - đào tạo có chất lượng cao, có uy tín. Củng cố, phát triển và nâng cao chất lượng các cơ sở Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên của mọi người, mọi nơi, mọi trình độ và mọi lứa tuổi.
Từng bước chuyển các cơ sở giáo dục công lập và các trường ở thị xã, thị trấn có điều kiện cơ sở vật chất thuận lợi sang thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên.
Khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, xã hội và nhân dân đóng góp kinh phí, đất đai để xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia.
III. NỘI DUNG VÀ TIẾN ĐỘ CỦA XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC:
1. Đối với giáo dục Mầm non:
* Kế hoạch phát triển đến 2010:
- Số trẻ Mẫu giáo: 34.000 cháu
- Số trẻ Nhà trẻ: 7.000 cháu
* Chỉ tiêu định hướng đến năm 2010:
80% cháu nhà trẻ ra lớp loại hình ngoài công lập (khoảng 6.359 cháu). Hiện nay, số trẻ nhà trẻ ngoài công lập là 2.108 cháu. Như vậy số cháu thu nhận thêm ngoài công lập đến 2010 khoảng 4.251 cháu.
70% cháu mẫu giáo học ở các trường ngoài công lập (khoảng 23.275 cháu). Hiện nay số trẻ mẫu giáo ngoài công lập là 6.073 cháu. Như vậy số cháu thu nhận thêm ngoài công lập đến năm 2010 khoảng 17.202 cháu.
Lộ trình phát triển trường Tư thục và tự chủ tài chính (xem phụ lục số 01 đính kèm)
2. Đối với Giáo dục Phổ thông
a) Tiểu học:
Năm học 2006 - 2007: Chuyển Trường Tiểu học dân lập Trí Nhân (thị xã) thành trường tư thục, với quy mô 220 học sinh.
Năm học 2007 - 2008: Chuyển hoặc phát triển thêm 01 trường tiểu học tư thục ở thị xã và phát triển quy mô Trường Tiểu học tư thục Trí Nhân, tổng số học sinh 550/71.570 học sinh (kế hoạch), chiếm tỷ lệ 0,77%.
Năm học 2008 - 2009: Chuyển hoặc phát triển thêm 01 trường tiểu học tư thục huyện Dĩ An. Nâng tổng số lên 03 trường tư thục với số lượng học sinh 900/73.243 học sinh (kế hoạch), chiếm tỷ lệ 1,23%.
Năm học 2009 - 2010: Chuyển hoặc thêm trường tư thục ở huyện Thuận An. Nâng tổng số lên 04 trường tư thục, với số lượng học sinh 1.200/74.657 học sinh (kế hoạch), chiếm tỷ lệ 1,6%.
Lộ trình phát triển đến năm 2010 (xem phụ lục số 02 đính kèm)
b) Trung học cơ sở:
- Năm học 2008 - 2009: dự kiến chuyển 02 trường trên địa bàn thị xã Thủ Dầu Một và huyện Dĩ An, thành trường Trung học cơ sở tự chủ tài chính một phần với 1.800 /55.565 học sinh, chiếm tỷ lệ: 3,2%.
- Năm 2009 - 2010: tiếp tục phát triển 02 trường Trung học cơ sở tự chủ tài chính, với số học sinh dự kiến tăng lên 2.100 /51.786 học sinh, chiếm tỷ lệ: 4,0%.
c) Trung học phổ thông:
- Năm học 2006 - 2007:
Tiếp tục duy trì 02 trường Trung học phổ thông bán công Nguyễn Đình Chiểu và bán công Dĩ An với số học sinh 2.600 /29.634 học sinh, tỷ lệ: 8,8%.
- Năm học 2007 - 2008:
+ Chuyển 02 trường Trung học phổ thông bán công Nguyễn Đình Chiểu và bán công Dĩ An sang loại hình trường công lập tự chủ tài chính một phần, phần kinh phí thiếu được nhà nước hỗ trợ.
+ Tiếp tục chuyển thêm 02 trường công lập ở huyện Thuận An và thị xã Thủ Dầu Một sang loại hình trường tự chủ tài chính một phần, tổng số học sinh 4.500 /29.518 học sinh, tỷ lệ: 15,24%.
- Năm học 2008 - 2009:
+ Tiếp tục phát triển 02 trường tự chủ tài chính một phần ở năm học trước và chuyển 01 trường ở huyện Thuận An sang loại hình tự chủ tài chính (hoặc tư thục).
+ Kêu gọi đầu tư để chuyển 02 trường tự chủ tài chính ở thị xã Thủ Dầu Một và Dĩ An sang trường tư thục, với tổng số học sinh sẽ tăng lên là: 7.200 /28.092 học sinh, tỷ lệ: 25,63%.
- Năm học 2009 - 2010:
+ Tiếp tục duy trì 03 trường tự chủ tài chính ở năm học trước và 02 trường tư thục ở năm học trước.
+ Tiếp tục kêu gọi đầu tư thêm 03 trường tư thục ở thị xã Thủ Dầu Một, huyện Thuận An và huyện Bến Cát, và 01 trường Trung học quốc tế trong khu Liên hợp - Công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị. Đến năm 2010 sẽ có 03 trường tự chủ tài chính và 06 trường Trung học phổ thông tư thục, với số học sinh là 10.750 học sinh/26.829, tỷ lệ 40,1%.
Lộ trình phát triển đến năm 2010 (xem phụ lục số 03 đính kèm)

Content:
Định hướng:
Thực hiện Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/04/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, Nhà nước tiếp tục tăng tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục. Bảo đảm kinh phí cho công tác phổ cập; tập trung đầu tư các vùng trọng điểm, đào tạo nguồn nhân lực, các vùng kinh tế khó khăn. Huy động nguồn lực của các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế - xã hội và cá nhân để phát triển giáo dục - đào tạo. Tăng cường mối quan hệ của nhà trường với gia đình và xã hội, huy động nguồn lực trong toàn ngành, toàn xã hội vào việc giáo dục toàn diện. Có cơ chế chính sách cụ thể khuyến khích và quy định trách nhiệm của các ngành, các địa phương, các tổ chức kinh tế - xã hội và người sử dụng lao động tham gia xây dựng trường, hỗ trợ kinh phí cho người học, thu hút nguồn nhân lực đã được đào tạo và giám sát các hoạt động giáo dục.
Có chính sách trợ cấp học phí hoặc học bổng cho học sinh giáo dục phổ cập, cho người học là đối tượng chính sách, những người ở vùng khó khăn, những người nghèo và những người học xuất sắc không phân biệt học ở trường công lập hay ngoài công lập.
Khuyến khích thành lập các cơ sở giáo dục, đào tạo ngoài công lập, chuyển một số cơ sở công lập sang loại hình ngoài công lập. Hạn chế mở thêm các cơ sở công lập ở những vùng kinh tế phát triển. Không duy trì cơ sở bán công, từng bước chuyển sang tư thục hoặc dân lập ở các nơi có điều kiện.
Khuyến khích việc hợp tác, liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục - đào tạo có chất lượng cao, có uy tín. Củng cố, phát triển và nâng cao chất lượng các cơ sở Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên của mọi người, mọi nơi, mọi trình độ và mọi lứa tuổi.
Từng bước chuyển các cơ sở giáo dục công lập và các trường ở thị xã, thị trấn có điều kiện cơ sở vật chất thuận lợi sang thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên.
Khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, xã hội và nhân dân đóng góp kinh phí, đất đai để xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia.
III. NỘI DUNG VÀ TIẾN ĐỘ CỦA XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC:
1. Đối với giáo dục Mầm non:
* Kế hoạch phát triển đến 2010:
- Số trẻ Mẫu giáo: 34.000 cháu
- Số trẻ Nhà trẻ: 7.000 cháu
* Chỉ tiêu định hướng đến năm 2010:
80% cháu nhà trẻ ra lớp loại hình ngoài công lập (khoảng 6.359 cháu). Hiện nay, số trẻ nhà trẻ ngoài công lập là 2.108 cháu. Như vậy số cháu thu nhận thêm ngoài công lập đến 2010 khoảng 4.251 cháu.
70% cháu mẫu giáo học ở các trường ngoài công lập (khoảng 23.275 cháu). Hiện nay số trẻ mẫu giáo ngoài công lập là 6.073 cháu. Như vậy số cháu thu nhận thêm ngoài công lập đến năm 2010 khoảng 17.202 cháu.
Lộ trình phát triển trường Tư thục và tự chủ tài chính (xem phụ lục số 01 đính kèm)
Đối với Giáo dục Phổ thông
a) Tiểu học:
Năm học 2006 - 2007: Chuyển Trường Tiểu học dân lập Trí Nhân (thị xã) thành trường tư thục, với quy mô 220 học sinh.
Năm học 2007 - 2008: Chuyển hoặc phát triển thêm 01 trường tiểu học tư thục ở thị xã và phát triển quy mô Trường Tiểu học tư thục Trí Nhân, tổng số học sinh 550/71.570 học sinh (kế hoạch), chiếm tỷ lệ 0,77%.
Năm học 2008 - 2009: Chuyển hoặc phát triển thêm 01 trường tiểu học tư thục huyện Dĩ An. Nâng tổng số lên 03 trường tư thục với số lượng học sinh 900/73.243 học sinh (kế hoạch), chiếm tỷ lệ 1,23%.
Năm học 2009 - 2010: Chuyển hoặc thêm trường tư thục ở huyện Thuận An. Nâng tổng số lên 04 trường tư thục, với số lượng học sinh 1.200/74.657 học sinh (kế hoạch), chiếm tỷ lệ 1,6%.
Lộ trình phát triển đến năm 2010 (xem phụ lục số 02 đính kèm)
b) Trung học cơ sở:
- Năm học 2008 - 2009: dự kiến chuyển 02 trường trên địa bàn thị xã Thủ Dầu Một và huyện Dĩ An, thành trường Trung học cơ sở tự chủ tài chính một phần với 1.800 /55.565 học sinh, chiếm tỷ lệ: 3,2%.
- Năm 2009 - 2010: tiếp tục phát triển 02 trường Trung học cơ sở tự chủ tài chính, với số học sinh dự kiến tăng lên 2.100 /51.786 học sinh, chiếm tỷ lệ: 4,0%.
c) Trung học phổ thông:
- Năm học 2006 - 2007:
Tiếp tục duy trì 02 trường Trung học phổ thông bán công Nguyễn Đình Chiểu và bán công Dĩ An với số học sinh 2.600 /29.634 học sinh, tỷ lệ: 8,8%.
- Năm học 2007 - 2008:
+ Chuyển 02 trường Trung học phổ thông bán công Nguyễn Đình Chiểu và bán công Dĩ An sang loại hình trường công lập tự chủ tài chính một phần, phần kinh phí thiếu được nhà nước hỗ trợ.
+ Tiếp tục chuyển thêm 02 trường công lập ở huyện Thuận An và thị xã Thủ Dầu Một sang loại hình trường tự chủ tài chính một phần, tổng số học sinh 4.500 /29.518 học sinh, tỷ lệ: 15,24%.
- Năm học 2008 - 2009:
+ Tiếp tục phát triển 02 trường tự chủ tài chính một phần ở năm học trước và chuyển 01 trường ở huyện Thuận An sang loại hình tự chủ tài chính (hoặc tư thục).
+ Kêu gọi đầu tư để chuyển 02 trường tự chủ tài chính ở thị xã Thủ Dầu Một và Dĩ An sang trường tư thục, với tổng số học sinh sẽ tăng lên là: 7.200 /28.092 học sinh, tỷ lệ: 25,63%.
- Năm học 2009 - 2010:
+ Tiếp tục duy trì 03 trường tự chủ tài chính ở năm học trước và 02 trường tư thục ở năm học trước.
+ Tiếp tục kêu gọi đầu tư thêm 03 trường tư thục ở thị xã Thủ Dầu Một, huyện Thuận An và huyện Bến Cát, và 01 trường Trung học quốc tế trong khu Liên hợp - Công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị. Đến năm 2010 sẽ có 03 trường tự chủ tài chính và 06 trường Trung học phổ thông tư thục, với số học sinh là 10.750 học sinh/26.829, tỷ lệ 40,1%.
Lộ trình phát triển đến năm 2010 (xem phụ lục số 03 đính kèm)