Document: Điểm d Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1771/QĐ-BNN-TCTS năm 2012 phê duyệt quy hoạch hệ thống nghiên cứu

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "27/07/2012", "sign_number": "1771/QĐ-BNN-TCTS", "signer": "Vũ Văn Tám", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "27/07/2012", "sign_number": "1771/QĐ-BNN-TCTS", "signer": "Vũ Văn Tám", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "27/07/2012", "sign_number": "1771/QĐ-BNN-TCTS", "signer": "Vũ Văn Tám", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "27/07/2012", "sign_number": "1771/QĐ-BNN-TCTS", "signer": "Vũ Văn Tám", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "27/07/2012", "sign_number": "1771/QĐ-BNN-TCTS", "signer": "Vũ Văn Tám", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1771/QĐ-BNN-TCTS năm 2012 phê duyệt quy hoạch hệ thống nghiên cứu

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch hệ thống nghiên cứu, sản xuất và cung ứng giống thủy sản đến năm 2020 với nội dung sau:
...
3.000

3.500

4

Cá rô phi

tr. Con

350

400

5

Tôm càng xanh

tr. Con

1.500

2.000

6

Nhuyễn thể

tr. Con

50.000

60.000

7

Cá nước ngọt truyền thống

tr. Con

15.000

19.000

8

Cá biển

tr. Con

190

300

9

Rong biển, tảo

Tấn

10.000

15.000

10

Tôm hùm

tr. Con

10

15

11

Giống khác nuôi lợ, mặn

tr. Con

300

550

12

Thủy đặc sản nước ngọt

tr. Con

350

500

III. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN GIỐNG THỦY SẢN
1. Hệ thống nghiên cứu phát triển giống thủy sản
1.1. Hệ thống nghiên cứu phát triển giống thủy sản bao gồm:
...
d) Các tổ chức, cơ quan có năng lực nghiên cứu:
Thực hiện các dự án, đề tài nghiên cứu phát triển giống theo kế hoạch của đơn vị; tham gia các dự án ứng dụng, chuyển giao công nghệ, xây dựng mô hình về giống thủy sản; tham gia các hoạt động khảo nghiệm, kiểm định, đánh giá tác động rủi ro của giống mới.
2. Hệ thống sản xuất, cung ứng giống thủy sản
2.1. Quy hoạch sản xuất và cung ứng giống tôm nước lợ:
- Phát huy năng lực của các cơ sở sản xuất giống hiện có, đồng thời phát triển mới các vùng sản xuất giống tập trung ở các tỉnh ven biển Nam Trung bộ và ven biển Đồng bằng Sông Cửu Long, trong đó:
Ven biển Nam Trung bộ (có điều kiện tự nhiên thích hợp nhất cho sản xuất giống tôm sú, tôm thẻ chân trắng): hoàn thiện và mở rộng các khu sản xuất giống tập trung quy mô lớn trên 50 ha đã hình thành từ trước 2010 tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa và Quảng Nam; hình thành các khu sản xuất tập trung quy mô nhỏ 20-40 ở các tỉnh Phú Yên, Quảng Ngãi.
Ven biển Đồng bằng Sông Cửu Long: sản xuất giống tôm sú và tôm thẻ chân trắng, hoàn thiện và xây dựng mới các khu sản xuất giống tập trung tại các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau đáp ứng chủ yếu phục vụ nhu cầu giống nuôi thương phẩm trong vùng.
Ven biển phía Bắc (điều kiện sản xuất giống khó khăn): hình thành một số vùng sản xuất tập trung quy mô nhỏ 10-30 ha tại các tỉnh Nghệ An, Quảng Ninh nhằm đáp ứng một phần nhu cầu thả nuôi của vùng, số giống còn thiếu được cung cấp chủ yếu từ các tỉnh Nam Trung bộ.
- Sản lượng tôm giống:
Đến năm 2015, sản xuất giống tôm sú đạt 30 tỷ PL15/năm, công suất tối thiểu 25 triệu con/trại/năm; và sản xuất giống tôm thẻ chân trắng đạt 33 tỷ PL12/năm, công suất tối thiểu 100 triệu con/trại/năm.
Đến năm 2020, sản xuất giống tôm sú đạt 29 tỷ PL15/năm, công suất tối thiểu 30 triệu con/trại/năm; và sản xuất giống tôm thẻ chân trắng đạt 57 tỷ PL12/năm, công suất tối thiểu 150 triệu con/trại/năm.
2.2. Quy hoạch sản xuất, cung ứng giống cá tra:
Sản xuất giống cá tra ở các tỉnh nuôi trọng điểm vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, đến năm 2015 sản xuất 3,0 tỷ con giống, đến năm 2020 sản xuất 3,5 tỷ con giống, trong đó:
- Cung cấp đàn cá hậu bị chọn giống cho các trại sản xuất giống do Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt Nam bộ và Trung tâm giống thủy sản các tỉnh An Giang, Đồng Tháp.
- Sản xuất cá bột nòng cốt là Trung tâm giống thủy sản của tỉnh và các trại sản xuất giống cá tra ở Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long, Tiền Giang.
- Ương giống ở 3 vùng: Vùng 1 gồm các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long; Vùng 2 gồm các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang; Vùng 3 gồm các tỉnh Tiền Giang Bến Tre, Trà Vinh.
2.Quy hoạch sản xuất, cung ứng giống cá rô phi:
Đến năm 2015, sản xuất 250 triệu con giống, công suất tối thiểu 3-5 triệu con/trại/năm. Đến năm 2020, công suất tối thiểu 5-10 triệu con/trại/năm, sản xuất 300 triệu con giống, trong đó:
- Cung cấp đàn bố mẹ chọn giống, công nghệ sản xuất giống cho các địa phương do Trung tâm nghiên cứu chọn giống và sản xuất giống rô phi tại Quảng Nam và Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt Nam bộ đảm nhiệm.
- Sản xuất cá rô phi giống nòng cốt là Trung tâm giống thủy sản của tỉnh và các trại sản xuất cá rô phi giống ở Tiền Giang, Đồng Tháp và Hà Nội.
2.4. Quy hoạch sản xuất và cung ứng giống nhuyễn thể:
Sản xuất giống nhuyển thể tập trung tại các tỉnh ven biển thuộc vùng Đồns bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long, trong đó:
a) Sản xuất, cung ứng nghêu giống:
Hình thành các khu sản xuất nghêu giống tập trung quy mô 10-30 ha và tổ chức quản lý các bãi giống tự nhiên ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Cà Mau, Bạc Liêu, Nam Định, Thái Bình,... Đến năm 2015, công suất tối thiểu một trại đạt 500 triệu/trại/năm, sản xuất được 14-15 tỷ nghêu cám, khai thác tự nhiên 46-50 tỷ nghêu cám, ương được 20 tỷ giống lớn. Đến năm 2020, công suất tối thiểu một trại đạt 1 tỷ/trại/năm, sản xuất 25-35 tỷ nghêu cám, khai thác tự nhiên được 50-60 tỷ nghêu cám, ương được 25 tỷ giống lớn.
b) Sản xuất giống một số nhuyễn thể khác:
Vùng sản xuất giống tu hài, hầu chủ yếu ở Vân Đồn (Quảng Ninh) và Vạn Ninh (Khánh Hòa).
Vùng sản xuất giống ốc hương, điệp chủ yếu ở huyện Vạn Ninh, Thành phố Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa và một số huyện ở tỉnh Phú Yên.
Vùng sản xuất giống bào ngư chủ yếu ở đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng).
Vùng sản xuất giống sò huyết và bảo vệ bãi giống tự nhiên để khai thác giống cho nuôi ở Kiên Giang, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận.
2.5. Quy hoạch sản xuất, cung ứng giống cá truyền thống:
Việc sản xuất cá giống nuôi truyền thống tập trung vào nâng cao chất lượng giống và bổ sung giống mới làm phong phú cơ cấu đàn giống để sản xuất được nhiều đối tượng, chất lượng cao, sạch bệnh cung cấp đủ cho nuôi trồng.
Hệ thống trại sản xuất cá giống được phân tán theo các vùng nuôi chủ yếu ở Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long. Đối với những vùng có ít tiềm năng nuôi cá nước ngọt như khu vực miền Trung, miền núi hình thành một số điểm ương cá giống để phục vụ cho nhu cầu nuôi trong vùng.
Đến năm 2015, có 460 trại sinh sản nhân tạo, quy mô mỗi trại tối thiểu sản xuất 50 triệu cá bột/năm; đến năm 2020 có 400 trại sinh sản nhân tạo, quy mô mỗi trại tối thiểu 60 triệu cá bột/năm.
Ương cá giống ở các vùng nuôi để đáp ứng nhu cầu giống tại chỗ, trọng tâm là Đồng Tháp, cần Thơ, Đồng Nai, Bắc Giang, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nam, Nghệ An, Quảng Bình. Đến năm 2015, sản xuất được 15 tỷ cá giống; đến năm 2020, sản xuất được 17 tỷ cá giống.
2.6. Quy hoạch sản xuất và cung ứng giống tôm càng xanh;
Tổng số cơ sở sản xuất giống tôm càng xanh đến năm 2015 là sản xuất được 1,5 tỷ giống, công suất tối thiểu một trại là 20 triệu con/trại; đến năm 2020, công suất tối thiểu một trại là 25 triệu con/trại sản xuất được 2 tỷ con.
Vùng sản xuất giống tôm càng xanh chủ yếu là các tỉnh nội đồng vùng ĐBSCL: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long.
2.7. Quy hoạch sản xuất và cung ứng giống cá biển:
Sản xuất trứng cá thụ tinh, cá bột do Trung tâm quốc gia giống hải sản. Trung tâm giống của tỉnh có nghề nuôi cá biển phát triển là Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Khánh Hòa, Bà Rịa Vũng Tàu, Kiên Giang, Trường Đại học Nha Trang, Cao đẳng Thủy sản, các doanh nghiệp lớn làm chủ công nghệ.
Ương nuôi cá giống từ trứng cá thụ tinh và cá bột do các trại giống thủy sản của doanh nghiệp ở các tỉnh, thành ven biển, trong đó tập trung ở Quảng Ninh, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu.
Hình thành Trạm nghiên cứu, sản xuất giống cá ngừ đại dương và cá biển thuộc Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Trung nghiên cứu công nghệ sản xuất giống nhằm chủ động cung cấp giống cá ngừ.
2.8. Quy hoạch sản xuất, cung ứng giống thủy sản mặn, lợ khác:
- Giống tôm hùm:
Khoanh vùng bảo vệ bãi giống tôm hùm trên vùng biển các tỉnh Nam Trung Bộ (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa), ổn định khai thác tôm hùm giống tự nhiên từ 600.000 - 700.000 con/năm.
Hình thành Trạm nghiên cứu, sản xuất giống tôm hùm tại Khánh Hòa thuộc Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Trung để nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và sản xuất giống cho nuôi thương phẩm và tái tạo nguồn lợi.
- Giống cua, ghẹ:
Sản xuất giống cua, ghẹ đến năm 2015 đạt 1,5 tỷ con với 300 trại giống, đến năm 2020 đạt 2 tỷ con với 400 trại giống, công suất 5 triệu con/trại/năm. Vùng sản xuất giống tại các địa phương có nhiều đầm phá ven biển (Cà Mau, Kiên Giang, Thừa Thiên Huế, Thanh Hóa, Nam Định, Quảng Ninh,...).
2.9. Quy hoạch sản xuất và cung ứng giống rong biển:
Vùng giữ giống, nhân giống rong biển (rong sụn, rong câu, rong mơ) ở vùng biển Cam Ranh, Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa và vùng Ninh Phước, Ninh Hải (Cà Ná, Đầm Nại, Đầm Sơn Hải) tỉnh Ninh Thuận.
Hình thành Trạm nghiên cứu sản xuất giống rong biển (Cam Ranh) thuộc Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Trung và nâng cấp cơ sở Quý Kim thuộc Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Bắc để lưu giữ giống, nghiên cứu nhân giống, phòng trị bệnh, chiết xuất sản phẩm và sản xuất giống rong biển kinh tế.
2.10. Quy hoạch sản xuất và cung ứng giống cá nước lạnh
Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống, sản xuất trứng cá thụ tinh, cá bột cung cấp cho các cơ sở ương giống là Trung tâm nghiên cứu cá nước lạnh miền Bắc (Lào Cai) thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I và Trung tâm nghiên cứu cá nước lạnh Tây Nguyên (Lâm Đồng) thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III.
Ương giống, cung ứng giống tại chỗ là các cơ sở nuôi cá nước lạnh ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.
IV. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Giải pháp về đầu tư
1.1. Xây dựng vùng (khu) sản xuất giống thủy sản tập trung
Xây dựng các vùng sản xuất giống tập trung ở nơi có điều kiện thuận lợi đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn dịch bệnh, vệ sinh môi trường để tạo được số lượng lớn và kiểm soát tốt chất lượng giống. Các vùng sản xuất giống tập trung được xây dựng theo Tiêu chuẩn Việt Nam và có thỏa thuận về chuyên môn với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước khi phê duyệt.
a) Xây dựng vùng (khu) sản xuất giống thủy sản nước lợ tập trung
- Các vùng sản xuất giống tập trung trọng điểm có quy mô trên 50 ha theo hướng công nghiệp, áp dụng công nghệ tiên tiến nhằm sản xuất giống hàng hóa số lượng lớn và chất lượng cao, bao gồm: Thăng Bình (Quảng Nam), Hiệp Thành (Bạc Liêu), Tân Ân (Ngọc Hiển, Cà Mau), Kiên Giang, Chí Công (Tuy Phong, Bình Thuận), Đông Hải (Bạc Liêu), Nhơn Hải (Ninh Hải, Ninh Thuận), Ninh Vân (Ninh Hòa, Khánh Hòa). Ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng, bao gồm: hệ thống giao thông, hệ thống cấp, thoát nước, hệ thống xử lý nước cấp và nước thải, hệ thống cấp điện sản xuất và sinh hoạt, trạm kiểm định chất lượng con giống, nhà quản lý điều hành, hạ tầng kỹ thuật... mức tối đa không quá 50% tổng mức đầu tư toàn dự án.
- Các vùng sản xuất giống tập trung quy mô 10 đến 30 ha: Hình thành các khu sản xuất giống tập trung quy mô từ 10 đến 30 ha ở các địa phương ven biển để đưa tất cả các trại giống phân tán nhằm sản xuất giống đảm bảo kỹ thuật, an toàn dịch bệnh và vệ sinh môi trường. Trại giống sản xuất kết hợp các đối tượng tôm, nhuyễn thể, cua, ương cá giống để duy trì hoạt động quanh năm. Ngân sách trung ương hỗ trợ trực tiếp cho địa phương đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng, bao gồm: hệ thống giao thông, hệ thống cấp, thoát nước, hệ thống xử lý nước cấp và nước thải, hệ thống cấp điện, trạm kiểm định chất lượng con giống,... mức tối đa không quá 50% tổng mức đầu tư toàn dự án.
- Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng trại giống quy mô lớn, áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại sản xuất giống sạch bệnh trong khu sản xuất giống tập trung.
b) Xây dựng vùng (khu) sản xuất giống tập trung cá tra và cá rô phi
- Hình thành các vùng ương giống cá tra tập trung có cơ sở hạ tầng đảm bảo điều kiện sản xuất kinh doanh giống để tạo con giống số lượng lớn, sạch bệnh tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long và Tiền Giang.
- Hình thành các vùng sản xuất giống cá rô phi tập trung tại các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, Đông Nam bộ. Chủ yếu tập trung tại các tỉnh Tiền Giang (Cai Lậy), Đồng Tháp (Hồng Ngự), Hà Nội (Ba Vì) để cung cấp giống số lượng lớn, chất lượng và sạch bệnh cho các vùng nuôi.
1.2. Xây dựng các trung tâm giống thủy sản
Nâng cấp và phát triển các trung tâm giống thủy sản nhằm hình thành hệ thống nghiên cứu thực nghiệm và cung cấp đàn bố mẹ, đàn hậu bị cho các cơ sở sản xuất giống, tập huấn chuyển giao kỹ thuật sản xuất giống, tham gia cung cấp giống thủy sản kinh tế cho nhu cầu nuôi.
a) Các trung tâm giống quốc gia:
Ngân sách Trung ương đầu tư thực hiện các nội dung theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm:
Chi phí đầu tư cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu, lưu giữ, quản lý, sản xuất, chế biến bảo quản giống.
Nghiên cứu chọn tạo, sản xuất thử nghiệm, khảo nghiệm và khu vực hóa các giống mới; phục tráng, gia hóa đối với thủy sản những giống có đặc tính tốt; nghiên cứu quy trình sản xuất, chế biến và bảo quản giống.
Nhập nội nguồn gen, thu thập, lưu trữ nguồn gen thủy sản. Mở rộng, khai thác quỹ gen phục vụ cho công tác nghiên cứu và sản xuất giống theo từng dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Duy trì giống gốc đã được đầu tư từ giai đoạn trước phục vụ cho sản xuất các cấp giống giai đoạn sau; Nhập nội giống gốc, giống bố mẹ (hoặc mua trong nước) những giống trong nước chưa có hoặc còn thiếu đối với giống thủy sản ngắn ngày; Nhập công nghệ sản xuất giống; Mua bản quyền tác giả đối với những giống mới trong nước chưa có; Hoàn thiện quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản giống; Xây dựng mô hình trình diễn công nghệ sản xuất giống đã được cấp thẩm quyền công nhận; Thuê chuyên gia nước ngoài trong trường hợp công nghệ phức tạp đòi hỏi trình độ cao mà các chuyên gia trong nước chưa thể đảm nhận được; Đào tạo ngắn hạn cho cán bộ nghiên cứu và người sản xuất giống trong và ngoài nước theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
b) Các trung tâm giống cấp tỉnh:
Nâng cấp hoặc xây dựng mới trung tâm giống cấp I, trung tâm giống của tỉnh, xây dựng các cơ sở vệ tinh của trung tâm ở huyện nơi có điều kiện giao thông, nguồn cấp điện thuận lợi, nguồn nước tốt và chủ động để đảm bảo mỗi tỉnh có một trung tâm giống thủy sản thực hiện sự nghiệp phát triển giống và tham gia sản xuất giống chủ lực phục vụ cho nuôi trồng. Đối với các tỉnh ven biển có diện tích nuôi trồng mặn lợ từ 20.000 ha trở lên trung tâm có thể gồm 2 cơ sở giống thủy sản nước ngọt và giống hải sản.
Nâng cấp, xây dựng một số trạm sản xuất giống thủy sản cấp huyện ở những địa phương còn thiếu giống (miền núi) để tham gia hoạt động khuyến ngư chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về thủy sản và trực tiếp sản xuất giống thủy sản phục vụ cho nuôi trồng ở địa phương.
- Ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư các nội dung sau:
Nghiên cứu chọn tạo; sản xuất thử nghiệm, khảo nghiệm, kiểm nghiệm, và khu vực hóa các giống mới; phục tráng, gia hóa những giống có đặc tính tốt; nghiên cứu quy trình sản xuất, chế biến và bảo quản giống;
Nhập nội nguồn gen. thu thập, lưu trữ nguồn gen.
Duy trì giống gốc đã được đầu tư từ giai đoạn trước phục vụ sản xuất các cấp giống giai đoạn sau.
Hoàn thiện quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản giống; Xây dựng mô hình trình diễn công nghệ sản xuất giống đã được cấp thẩm quyền công nhận; Đào tạo ngắn hạn cho cán bộ nghiên cứu, sản xuất giống trong và ngoài nước theo từng dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư:
Đối với các tỉnh, thành phố có điều tiết về ngân sách trung ương, mức hỗ trợ tối đa không quá 30% trên một dự án.
Đối với các tỉnh nhận bổ sung trong cân đối từ ngân sách trung ương, mức hỗ trợ tối đa không quá 90% tổng mức đầu tư trên một dự án.
- Các dự án trung tâm giống cấp tỉnh được duyệt theo tiêu chuẩn trung tâm giống của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
1.Xây dựng các trung tâm khảo nghiệm, kiểm nghiệm và kiểm định giống thủy sản
Đầu tư xây dựng ba trung tâm khảo nghiệm, kiểm nghiệm và kiểm định nuôi trồng thủy sản tại ba miền: miền Nam (Cần Thơ, Sóc Trăng), miền Trung (Khánh Hòa) và miền Bắc (Hải Phòng), hình thành hệ thống khảo nghiệm, kiểm nghiệm và kiểm định giống thủy sản trên toàn quốc.
1.4. Xây dựng, nâng cấp các trạm trại thực nghiệm về giống thủy sản của các trường đào tạo
Hỗ trợ đầu tư nâng cấp các trạm trại thực nghiệm về giống thủy sản của Trường Cao đẳng thủy sản và các trường đại học đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT đầu tư giai đoạn 2000-2010 để tạo hạ tầng kỹ thuật cho đào tạo cán bộ kỹ thuật ngành thủy sản và tham gia nghiên cứu phát triển giống thủy sản.
1.5. Hỗ trợ hoạt động sản xuất giống
Hỗ trợ tối đa 50% chi phí sản xuất giống bố mẹ tôm sú, tôm chân trắng sạch bệnh, giống cá tra và một số giống thủy hải sản chủ lực khác. Hỗ trợ tối đa 30% chi phí sản xuất giống lai đối với một số loại giống cần khuyến khích phát triển do cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2. Giải pháp về cơ chế chính sách khuyến khích phát triển
Các tổ chức, cá nhân đầu tư để nghiên cứu và sản xuất giống thủy sản được hưởng các chính sách (về đất đai và đầu tư) khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn theo Nghị đinh số 61/2010/NĐ-CP ngày 4/6/2010; Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 và Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/08/2011 của Chính phủ; Chính sách ưu đãi về thủy lợi phí theo Nghị định số 115/2008/NĐ-CP của Chính phủ.
Các địa phương căn cứ điều kiện cụ thể có cơ chế, chính sách của địa phương hỗ trợ và khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu về giống thủy sản và sản xuất giống thủy sản.
Về khoa học công nghệ và khuyến ngư
3.1. Về khoa học công nghệ
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống tốt, giống sạch bệnh các đối tượng có nhu cầu cao đã sản xuất được giống để tạo được số lượng lớn (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, nghêu, tôm càng xanh..
Xây dựng quy trình sản xuất giống của một số đối tượng chưa chủ động được giống như tôm hùm, cá bản địa có giá trị cao (cá dầm xanh, lươn, cá ngát, cá hô, cá chia vôi, cá tra dầu, cá bông lau, cá bống kèo....).
Chọn tạo nâng cao chất lượng giống một số đối tượng nuôi chủ lực (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra, tôm càng xanh, rô phi..
Xây dựng các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn về giống thủy sản làm cơ sở cho công tác quản lý.
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ địa phương dành kinh phí cho các dự án thử nghiệm sản xuất giống, ưu tiên cho áp dụng công nghệ tiến bộ giống của các thành phần kinh tế.
3.2. Về công tác khuyến ngư:
Chuyển giao công nghệ sản xuất giống đã thành công trong nước về kỹ thuật ương giống cá biển, sản xuất giống rô phi đơn tính đực, sản xuất giống nhuyễn thể, giáp xác...
Xây dựng các mô hình sản xuất giống sạch bệnh để nhân rộng.
Tổng kết và nhân rộng các mô hình tiên tiến sản xuất giống chủ lực để phổ biến nhân rộng nhằm sản xuất được giống tốt, giá thành hạ.
b) Các trung tâm giống cấp tỉnh:
Nâng cấp hoặc xây dựng mới trung tâm giống cấp I, trung tâm giống của tỉnh, xây dựng các cơ sở vệ tinh của trung tâm ở huyện nơi có điều kiện giao thông, nguồn cấp điện thuận lợi, nguồn nước tốt và chủ động để đảm bảo mỗi tỉnh có một trung tâm giống thủy sản thực hiện sự nghiệp phát triển giống và tham gia sản xuất giống chủ lực phục vụ cho nuôi trồng. Đối với các tỉnh ven biển có diện tích nuôi trồng mặn lợ từ 20.000 ha trở lên trung tâm có thể gồm 2 cơ sở giống thủy sản nước ngọt và giống hải sản.
Nâng cấp, xây dựng một số trạm sản xuất giống thủy sản cấp huyện ở những địa phương còn thiếu giống (miền núi) để tham gia hoạt động khuyến ngư chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về thủy sản và trực tiếp sản xuất giống thủy sản phục vụ cho nuôi trồng ở địa phương.
- Ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư các nội dung sau:
Nghiên cứu chọn tạo; sản xuất thử nghiệm, khảo nghiệm, kiểm nghiệm, và khu vực hóa các giống mới; phục tráng, gia hóa những giống có đặc tính tốt; nghiện cứu quy trình sản xuất, chế biến và bảo quản giống;
Nhập nội nguồn gen, thu thập, lưu trữ nguồn gen.
Duy trì giống gốc đã được đầu tư từ giai đoạn trước phục vụ sản xuất các cấp giống giai đoạn sau.
Hoàn thiện quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản giống; Xây dựng mô hình trình diễn công nghệ sản xuất giống đã được cấp thẩm quyền công nhận; Đào tạo ngắn hạn cho cán bộ nghiên cứu, sản xuất giống trong và ngoài nước theo từng dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư:
Đối với các tỉnh, thành phố có điều tiết về ngân sách trung ương, mức hỗ trợ tối đa không quá 30% trên một dự án.
Đối với các tỉnh nhận bổ sung trong cân đối từ ngân sách trung ương, mức hỗ trợ tối đa không quá 90% tổng mức đầu tư trên một dự án.
- Các dự án trung tâm giống cấp tỉnh được duyệt theo tiêu chuẩn trung tâm giống của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
1.Xây dựng các trung tâm khảo nghiệm, kiểm nghiệm và kiểm định giống thủy sản
Đầu tư xây dựng ba trung tâm khảo nghiệm, kiểm nghiệm và kiểm định nuôi trồng thủy sản tại ba miền: miền Nam (Cần Thơ, Sóc Trăng), miền Trung (Khánh Hòa) và miền Bắc (Hải Phòng), hình thành hệ thống khảo nghiệm, kiểm nghiệm và kiểm định giống thủy sản trên toàn quốc.
1.4. Xây dựng, nâng cấp các trạm trại thực nghiệm về giống thủy sản của các trường đào tạo
Hỗ trợ đầu tư nâng cấp các trạm trại thực nghiệm về giống thủy sản của Trường Cao đẳng thủy sản và các trường đại học đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT đầu tư giai đoạn 2000-2010 để tạo hạ tầng kỹ thuật cho đào tạo cán bộ kỹ thuật ngành thủy sản và tham gia nghiên cứu phát triển giống thủy sản.
1.5. Hỗ trợ hoạt động sản xuất giống
Hỗ trợ tối đa 50% chi phí sản xuất giống bố mẹ tôm sú, tôm chân trắng sạch bệnh, giống cá tra và một số giống thủy hải sản chủ lực khác. Hỗ trợ tối đa 30% chi phí sản xuất giống lai đối với một số loại giống cần khuyến khích phát triển do cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2. Giải pháp về cơ chế chính sách khuyến khích phát triển
Các tổ chức, cá nhân đầu tư để nghiên cứu và sản xuất giống thủy sản được hưởng các chính sách (về đất đai và đầu tư) khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 4/6/2010; Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 và Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/08/2011 của Chính phủ; Chính sách ưu đãi về thủy lợi phí theo Nghị định số 115/2008/NĐ-CP của Chính phủ.
Các địa phương căn cứ điều kiện cụ thể có cơ chế, chính sách của địa phương hỗ trợ và khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu về giống thủy sản và sản xuất giống thủy sản.
Về khoa học công nghệ và khuyến ngư
3.1. Về khoa học công nghệ:
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống tốt, giống sạch bệnh các đối tượng có nhu cầu cao đã sản xuất được giống để tạo được số lượng lớn (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, nghêu, tôm càng xanh…).
Xây dựng quy trình sản xuất giống của một số đối tượng chưa chủ động được giống như tôm hùm, cá bản địa có giá trị cao (cá dầm xanh, lươn, cá ngát, cá hô, cá chia vôi, cá tra dầu, cá bông lau, cá bống kèo....).
Chọn tạo nâng cao chất lượng giống một số đối tượng nuôi chủ lực (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra, tôm càng xanh, rô phi..
Xây dựng các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn về giống thủy sản làm cơ sở cho công tác quản lý.
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ địa phương dành kinh phí cho các dự án thử nghiệm sản xuất giống, ưu tiên cho áp dụng công nghệ tiến bộ giống của các thành phần kinh tế.
3.2. Về công tác khuyến ngư:
Chuyển giao công nghệ sản xuất giống đã thành công trong nước về kỹ thuật ương giống cá biển, sản xuất giống rô phi đơn tính đực, sản xuất giống nhuyễn thể, giáp xác...
Xây dựng các mô hình sản xuất giống sạch bệnh để nhân rộng.
Tổng kết và nhân rộng các mô hình tiên tiến sản xuất giống chủ lực để phổ biến nhân rộng nhằm sản xuất được giống tốt, giá thành hạ.
Tăng cường tập huấn về kỹ thuật sản xuất giống, phát hành ấn phẩm tuyên truyền, phổ biến trao đổi kinh nghiệm rộng rãi cho nông, ngư dân.

Content:
Các tổ chức, cơ quan có năng lực nghiên cứu:
Thực hiện các dự án, đề tài nghiên cứu phát triển giống theo kế hoạch của đơn vị; tham gia các dự án ứng dụng, chuyển giao công nghệ, xây dựng mô hình về giống thủy sản; tham gia các hoạt động khảo nghiệm, kiểm định, đánh giá tác động rủi ro của giống mới.
2. Hệ thống sản xuất, cung ứng giống thủy sản
2.1. Quy hoạch sản xuất và cung ứng giống tôm nước lợ:
- Phát huy năng lực của các cơ sở sản xuất giống hiện có, đồng thời phát triển mới các vùng sản xuất giống tập trung ở các tỉnh ven biển Nam Trung bộ và ven biển Đồng bằng Sông Cửu Long, trong đó:
Ven biển Nam Trung bộ (có điều kiện tự nhiên thích hợp nhất cho sản xuất giống tôm sú, tôm thẻ chân trắng): hoàn thiện và mở rộng các khu sản xuất giống tập trung quy mô lớn trên 50 ha đã hình thành từ trước 2010 tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa và Quảng Nam; hình thành các khu sản xuất tập trung quy mô nhỏ 20-40 ở các tỉnh Phú Yên, Quảng Ngãi.
Ven biển Đồng bằng Sông Cửu Long: sản xuất giống tôm sú và tôm thẻ chân trắng, hoàn thiện và xây dựng mới các khu sản xuất giống tập trung tại các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau đáp ứng chủ yếu phục vụ nhu cầu giống nuôi thương phẩm trong vùng.
Ven biển phía Bắc (điều kiện sản xuất giống khó khăn): hình thành một số vùng sản xuất tập trung quy mô nhỏ 10-30 ha tại các tỉnh Nghệ An, Quảng Ninh nhằm đáp ứng một phần nhu cầu thả nuôi của vùng, số giống còn thiếu được cung cấp chủ yếu từ các tỉnh Nam Trung bộ.
- Sản lượng tôm giống:
Đến năm 2015, sản xuất giống tôm sú đạt 30 tỷ PL15/năm, công suất tối thiểu 25 triệu con/trại/năm; và sản xuất giống tôm thẻ chân trắng đạt 33 tỷ PL12/năm, công suất tối thiểu 100 triệu con/trại/năm.
Đến năm 2020, sản xuất giống tôm sú đạt 29 tỷ PL15/năm, công suất tối thiểu 30 triệu con/trại/năm; và sản xuất giống tôm thẻ chân trắng đạt 57 tỷ PL12/năm, công suất tối thiểu 150 triệu con/trại/năm.
2.2. Quy hoạch sản xuất, cung ứng giống cá tra:
Sản xuất giống cá tra ở các tỉnh nuôi trọng điểm vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, đến năm 2015 sản xuất 3,0 tỷ con giống, đến năm 2020 sản xuất 3,5 tỷ con giống, trong đó:
- Cung cấp đàn cá hậu bị chọn giống cho các trại sản xuất giống do Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt Nam bộ và Trung tâm giống thủy sản các tỉnh An Giang, Đồng Tháp.
- Sản xuất cá bột nòng cốt là Trung tâm giống thủy sản của tỉnh và các trại sản xuất giống cá tra ở Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long, Tiền Giang.
- Ương giống ở 3 vùng: Vùng 1 gồm các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long; Vùng 2 gồm các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang; Vùng 3 gồm các tỉnh Tiền Giang Bến Tre, Trà Vinh.
2.Quy hoạch sản xuất, cung ứng giống cá rô phi:
Đến năm 2015, sản xuất 250 triệu con giống, công suất tối thiểu 3-5 triệu con/trại/năm. Đến năm 2020, công suất tối thiểu 5-10 triệu con/trại/năm, sản xuất 300 triệu con giống, trong đó:
- Cung cấp đàn bố mẹ chọn giống, công nghệ sản xuất giống cho các địa phương do Trung tâm nghiên cứu chọn giống và sản xuất giống rô phi tại Quảng Nam và Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt Nam bộ đảm nhiệm.
- Sản xuất cá rô phi giống nòng cốt là Trung tâm giống thủy sản của tỉnh và các trại sản xuất cá rô phi giống ở Tiền Giang, Đồng Tháp và Hà Nội.
2.4. Quy hoạch sản xuất và cung ứng giống nhuyễn thể:
Sản xuất giống nhuyển thể tập trung tại các tỉnh ven biển thuộc vùng Đồns bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long, trong đó:
a) Sản xuất, cung ứng nghêu giống:
Hình thành các khu sản xuất nghêu giống tập trung quy mô 10-30 ha và tổ chức quản lý các bãi giống tự nhiên ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Cà Mau, Bạc Liêu, Nam Định, Thái Bình,... Đến năm 2015, công suất tối thiểu một trại đạt 500 triệu/trại/năm, sản xuất được 14-15 tỷ nghêu cám, khai thác tự nhiên 46-50 tỷ nghêu cám, ương được 20 tỷ giống lớn. Đến năm 2020, công suất tối thiểu một trại đạt 1 tỷ/trại/năm, sản xuất 25-35 tỷ nghêu cám, khai thác tự nhiên được 50-60 tỷ nghêu cám, ương được 25 tỷ giống lớn.
b) Sản xuất giống một số nhuyễn thể khác:
Vùng sản xuất giống tu hài, hầu chủ yếu ở Vân Đồn (Quảng Ninh) và Vạn Ninh (Khánh Hòa).
Vùng sản xuất giống ốc hương, điệp chủ yếu ở huyện Vạn Ninh, Thành phố Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa và một số huyện ở tỉnh Phú Yên.
Vùng sản xuất giống bào ngư chủ yếu ở đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng).
Vùng sản xuất giống sò huyết và bảo vệ bãi giống tự nhiên để khai thác giống cho nuôi ở Kiên Giang, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận.
2.5. Quy hoạch sản xuất, cung ứng giống cá truyền thống:
Việc sản xuất cá giống nuôi truyền thống tập trung vào nâng cao chất lượng giống và bổ sung giống mới làm phong phú cơ cấu đàn giống để sản xuất được nhiều đối tượng, chất lượng cao, sạch bệnh cung cấp đủ cho nuôi trồng.
Hệ thống trại sản xuất cá giống được phân tán theo các vùng nuôi chủ yếu ở Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long. Đối với những vùng có ít tiềm năng nuôi cá nước ngọt như khu vực miền Trung, miền núi hình thành một số điểm ương cá giống để phục vụ cho nhu cầu nuôi trong vùng.
Đến năm 2015, có 460 trại sinh sản nhân tạo, quy mô mỗi trại tối thiểu sản xuất 50 triệu cá bột/năm; đến năm 2020 có 400 trại sinh sản nhân tạo, quy mô mỗi trại tối thiểu 60 triệu cá bột/năm.
Ương cá giống ở các vùng nuôi để đáp ứng nhu cầu giống tại chỗ, trọng tâm là Đồng Tháp, cần Thơ, Đồng Nai, Bắc Giang, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nam, Nghệ An, Quảng Bình. Đến năm 2015, sản xuất được 15 tỷ cá giống; đến năm 2020, sản xuất được 17 tỷ cá giống.
2.6. Quy hoạch sản xuất và cung ứng giống tôm càng xanh;
Tổng số cơ sở sản xuất giống tôm càng xanh đến năm 2015 là sản xuất được 1,5 tỷ giống, công suất tối thiểu một trại là 20 triệu con/trại; đến năm 2020, công suất tối thiểu một trại là 25 triệu con/trại sản xuất được 2 tỷ con.
Vùng sản xuất giống tôm càng xanh chủ yếu là các tỉnh nội đồng vùng ĐBSCL: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long.
2.7. Quy hoạch sản xuất và cung ứng giống cá biển:
Sản xuất trứng cá thụ tinh, cá bột do Trung tâm quốc gia giống hải sản. Trung tâm giống của tỉnh có nghề nuôi cá biển phát triển là Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Khánh Hòa, Bà Rịa Vũng Tàu, Kiên Giang, Trường Đại học Nha Trang, Cao đẳng Thủy sản, các doanh nghiệp lớn làm chủ công nghệ.
Ương nuôi cá giống từ trứng cá thụ tinh và cá bột do các trại giống thủy sản của doanh nghiệp ở các tỉnh, thành ven biển, trong đó tập trung ở Quảng Ninh, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu.
Hình thành Trạm nghiên cứu, sản xuất giống cá ngừ đại dương và cá biển thuộc Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Trung nghiên cứu công nghệ sản xuất giống nhằm chủ động cung cấp giống cá ngừ.
2.8. Quy hoạch sản xuất, cung ứng giống thủy sản mặn, lợ khác:
- Giống tôm hùm:
Khoanh vùng bảo vệ bãi giống tôm hùm trên vùng biển các tỉnh Nam Trung Bộ (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa), ổn định khai thác tôm hùm giống tự nhiên từ 600.000 - 700.000 con/năm.
Hình thành Trạm nghiên cứu, sản xuất giống tôm hùm tại Khánh Hòa thuộc Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Trung để nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và sản xuất giống cho nuôi thương phẩm và tái tạo nguồn lợi.
- Giống cua, ghẹ:
Sản xuất giống cua, ghẹ đến năm 2015 đạt 1,5 tỷ con với 300 trại giống, đến năm 2020 đạt 2 tỷ con với 400 trại giống, công suất 5 triệu con/trại/năm. Vùng sản xuất giống tại các địa phương có nhiều đầm phá ven biển (Cà Mau, Kiên Giang, Thừa Thiên Huế, Thanh Hóa, Nam Định, Quảng Ninh,...).
2.9. Quy hoạch sản xuất và cung ứng giống rong biển:
Vùng giữ giống, nhân giống rong biển (rong sụn, rong câu, rong mơ) ở vùng biển Cam Ranh, Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa và vùng Ninh Phước, Ninh Hải (Cà Ná, Đầm Nại, Đầm Sơn Hải) tỉnh Ninh Thuận.
Hình thành Trạm nghiên cứu sản xuất giống rong biển (Cam Ranh) thuộc Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Trung và nâng cấp cơ sở Quý Kim thuộc Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Bắc để lưu giữ giống, nghiên cứu nhân giống, phòng trị bệnh, chiết xuất sản phẩm và sản xuất giống rong biển kinh tế.
2.10. Quy hoạch sản xuất và cung ứng giống cá nước lạnh
Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống, sản xuất trứng cá thụ tinh, cá bột cung cấp cho các cơ sở ương giống là Trung tâm nghiên cứu cá nước lạnh miền Bắc (Lào Cai) thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I và Trung tâm nghiên cứu cá nước lạnh Tây Nguyên (Lâm Đồng) thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III.
Ương giống, cung ứng giống tại chỗ là các cơ sở nuôi cá nước lạnh ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.
IV. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Giải pháp về đầu tư
1.1. Xây dựng vùng (khu) sản xuất giống thủy sản tập trung
Xây dựng các vùng sản xuất giống tập trung ở nơi có điều kiện thuận lợi đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn dịch bệnh, vệ sinh môi trường để tạo được số lượng lớn và kiểm soát tốt chất lượng giống. Các vùng sản xuất giống tập trung được xây dựng theo Tiêu chuẩn Việt Nam và có thỏa thuận về chuyên môn với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước khi phê duyệt.
a) Xây dựng vùng (khu) sản xuất giống thủy sản nước lợ tập trung
- Các vùng sản xuất giống tập trung trọng điểm có quy mô trên 50 ha theo hướng công nghiệp, áp dụng công nghệ tiên tiến nhằm sản xuất giống hàng hóa số lượng lớn và chất lượng cao, bao gồm: Thăng Bình (Quảng Nam), Hiệp Thành (Bạc Liêu), Tân Ân (Ngọc Hiển, Cà Mau), Kiên Giang, Chí Công (Tuy Phong, Bình Thuận), Đông Hải (Bạc Liêu), Nhơn Hải (Ninh Hải, Ninh Thuận), Ninh Vân (Ninh Hòa, Khánh Hòa). Ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng, bao gồm: hệ thống giao thông, hệ thống cấp, thoát nước, hệ thống xử lý nước cấp và nước thải, hệ thống cấp điện sản xuất và sinh hoạt, trạm kiểm định chất lượng con giống, nhà quản lý điều hành, hạ tầng kỹ thuật... mức tối đa không quá 50% tổng mức đầu tư toàn dự án.
- Các vùng sản xuất giống tập trung quy mô 10 đến 30 ha: Hình thành các khu sản xuất giống tập trung quy mô từ 10 đến 30 ha ở các địa phương ven biển để đưa tất cả các trại giống phân tán nhằm sản xuất giống đảm bảo kỹ thuật, an toàn dịch bệnh và vệ sinh môi trường. Trại giống sản xuất kết hợp các đối tượng tôm, nhuyễn thể, cua, ương cá giống để duy trì hoạt động quanh năm. Ngân sách trung ương hỗ trợ trực tiếp cho địa phương đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng, bao gồm: hệ thống giao thông, hệ thống cấp, thoát nước, hệ thống xử lý nước cấp và nước thải, hệ thống cấp điện, trạm kiểm định chất lượng con giống,... mức tối đa không quá 50% tổng mức đầu tư toàn dự án.
- Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng trại giống quy mô lớn, áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại sản xuất giống sạch bệnh trong khu sản xuất giống tập trung.
b) Xây dựng vùng (khu) sản xuất giống tập trung cá tra và cá rô phi
- Hình thành các vùng ương giống cá tra tập trung có cơ sở hạ tầng đảm bảo điều kiện sản xuất kinh doanh giống để tạo con giống số lượng lớn, sạch bệnh tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long và Tiền Giang.
- Hình thành các vùng sản xuất giống cá rô phi tập trung tại các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, Đông Nam bộ. Chủ yếu tập trung tại các tỉnh Tiền Giang (Cai Lậy), Đồng Tháp (Hồng Ngự), Hà Nội (Ba Vì) để cung cấp giống số lượng lớn, chất lượng và sạch bệnh cho các vùng nuôi.
1.2. Xây dựng các trung tâm giống thủy sản
Nâng cấp và phát triển các trung tâm giống thủy sản nhằm hình thành hệ thống nghiên cứu thực nghiệm và cung cấp đàn bố mẹ, đàn hậu bị cho các cơ sở sản xuất giống, tập huấn chuyển giao kỹ thuật sản xuất giống, tham gia cung cấp giống thủy sản kinh tế cho nhu cầu nuôi.
a) Các trung tâm giống quốc gia:
Ngân sách Trung ương đầu tư thực hiện các nội dung theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm:
Chi phí đầu tư cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu, lưu giữ, quản lý, sản xuất, chế biến bảo quản giống.
Nghiên cứu chọn tạo, sản xuất thử nghiệm, khảo nghiệm và khu vực hóa các giống mới; phục tráng, gia hóa đối với thủy sản những giống có đặc tính tốt; nghiên cứu quy trình sản xuất, chế biến và bảo quản giống.
Nhập nội nguồn gen, thu thập, lưu trữ nguồn gen thủy sản. Mở rộng, khai thác quỹ gen phục vụ cho công tác nghiên cứu và sản xuất giống theo từng dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Duy trì giống gốc đã được đầu tư từ giai đoạn trước phục vụ cho sản xuất các cấp giống giai đoạn sau; Nhập nội giống gốc, giống bố mẹ (hoặc mua trong nước) những giống trong nước chưa có hoặc còn thiếu đối với giống thủy sản ngắn ngày; Nhập công nghệ sản xuất giống; Mua bản quyền tác giả đối với những giống mới trong nước chưa có; Hoàn thiện quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản giống; Xây dựng mô hình trình diễn công nghệ sản xuất giống đã được cấp thẩm quyền công nhận; Thuê chuyên gia nước ngoài trong trường hợp công nghệ phức tạp đòi hỏi trình độ cao mà các chuyên gia trong nước chưa thể đảm nhận được; Đào tạo ngắn hạn cho cán bộ nghiên cứu và người sản xuất giống trong và ngoài nước theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
b) Các trung tâm giống cấp tỉnh:
Nâng cấp hoặc xây dựng mới trung tâm giống cấp I, trung tâm giống của tỉnh, xây dựng các cơ sở vệ tinh của trung tâm ở huyện nơi có điều kiện giao thông, nguồn cấp điện thuận lợi, nguồn nước tốt và chủ động để đảm bảo mỗi tỉnh có một trung tâm giống thủy sản thực hiện sự nghiệp phát triển giống và tham gia sản xuất giống chủ lực phục vụ cho nuôi trồng. Đối với các tỉnh ven biển có diện tích nuôi trồng mặn lợ từ 20.000 ha trở lên trung tâm có thể gồm 2 cơ sở giống thủy sản nước ngọt và giống hải sản.
Nâng cấp, xây dựng một số trạm sản xuất giống thủy sản cấp huyện ở những địa phương còn thiếu giống (miền núi) để tham gia hoạt động khuyến ngư chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về thủy sản và trực tiếp sản xuất giống thủy sản phục vụ cho nuôi trồng ở địa phương.
- Ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư các nội dung sau:
Nghiên cứu chọn tạo; sản xuất thử nghiệm, khảo nghiệm, kiểm nghiệm, và khu vực hóa các giống mới; phục tráng, gia hóa những giống có đặc tính tốt; nghiên cứu quy trình sản xuất, chế biến và bảo quản giống;
Nhập nội nguồn gen. thu thập, lưu trữ nguồn gen.
Duy trì giống gốc đã được đầu tư từ giai đoạn trước phục vụ sản xuất các cấp giống giai đoạn sau.
Hoàn thiện quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản giống; Xây dựng mô hình trình diễn công nghệ sản xuất giống đã được cấp thẩm quyền công nhận; Đào tạo ngắn hạn cho cán bộ nghiên cứu, sản xuất giống trong và ngoài nước theo từng dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư:
Đối với các tỉnh, thành phố có điều tiết về ngân sách trung ương, mức hỗ trợ tối đa không quá 30% trên một dự án.
Đối với các tỉnh nhận bổ sung trong cân đối từ ngân sách trung ương, mức hỗ trợ tối đa không quá 90% tổng mức đầu tư trên một dự án.
- Các dự án trung tâm giống cấp tỉnh được duyệt theo tiêu chuẩn trung tâm giống của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
1.Xây dựng các trung tâm khảo nghiệm, kiểm nghiệm và kiểm định giống thủy sản
Đầu tư xây dựng ba trung tâm khảo nghiệm, kiểm nghiệm và kiểm định nuôi trồng thủy sản tại ba miền: miền Nam (Cần Thơ, Sóc Trăng), miền Trung (Khánh Hòa) và miền Bắc (Hải Phòng), hình thành hệ thống khảo nghiệm, kiểm nghiệm và kiểm định giống thủy sản trên toàn quốc.
1.4. Xây dựng, nâng cấp các trạm trại thực nghiệm về giống thủy sản của các trường đào tạo
Hỗ trợ đầu tư nâng cấp các trạm trại thực nghiệm về giống thủy sản của Trường Cao đẳng thủy sản và các trường đại học đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT đầu tư giai đoạn 2000-2010 để tạo hạ tầng kỹ thuật cho đào tạo cán bộ kỹ thuật ngành thủy sản và tham gia nghiên cứu phát triển giống thủy sản.
1.5. Hỗ trợ hoạt động sản xuất giống
Hỗ trợ tối đa 50% chi phí sản xuất giống bố mẹ tôm sú, tôm chân trắng sạch bệnh, giống cá tra và một số giống thủy hải sản chủ lực khác. Hỗ trợ tối đa 30% chi phí sản xuất giống lai đối với một số loại giống cần khuyến khích phát triển do cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2. Giải pháp về cơ chế chính sách khuyến khích phát triển
Các tổ chức, cá nhân đầu tư để nghiên cứu và sản xuất giống thủy sản được hưởng các chính sách (về đất đai và đầu tư) khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn theo Nghị đinh số 61/2010/NĐ-CP ngày 4/6/2010; Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 và Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/08/2011 của Chính phủ; Chính sách ưu đãi về thủy lợi phí theo Nghị định số 115/2008/NĐ-CP của Chính phủ.
Các địa phương căn cứ điều kiện cụ thể có cơ chế, chính sách của địa phương hỗ trợ và khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu về giống thủy sản và sản xuất giống thủy sản.
Về khoa học công nghệ và khuyến ngư
3.1. Về khoa học công nghệ
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống tốt, giống sạch bệnh các đối tượng có nhu cầu cao đã sản xuất được giống để tạo được số lượng lớn (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, nghêu, tôm càng xanh..
Xây dựng quy trình sản xuất giống của một số đối tượng chưa chủ động được giống như tôm hùm, cá bản địa có giá trị cao (cá dầm xanh, lươn, cá ngát, cá hô, cá chia vôi, cá tra dầu, cá bông lau, cá bống kèo....).
Chọn tạo nâng cao chất lượng giống một số đối tượng nuôi chủ lực (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra, tôm càng xanh, rô phi..
Xây dựng các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn về giống thủy sản làm cơ sở cho công tác quản lý.
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ địa phương dành kinh phí cho các dự án thử nghiệm sản xuất giống, ưu tiên cho áp dụng công nghệ tiến bộ giống của các thành phần kinh tế.
3.2. Về công tác khuyến ngư:
Chuyển giao công nghệ sản xuất giống đã thành công trong nước về kỹ thuật ương giống cá biển, sản xuất giống rô phi đơn tính đực, sản xuất giống nhuyễn thể, giáp xác...
Xây dựng các mô hình sản xuất giống sạch bệnh để nhân rộng.
Tổng kết và nhân rộng các mô hình tiên tiến sản xuất giống chủ lực để phổ biến nhân rộng nhằm sản xuất được giống tốt, giá thành hạ.
b) Các trung tâm giống cấp tỉnh:
Nâng cấp hoặc xây dựng mới trung tâm giống cấp I, trung tâm giống của tỉnh, xây dựng các cơ sở vệ tinh của trung tâm ở huyện nơi có điều kiện giao thông, nguồn cấp điện thuận lợi, nguồn nước tốt và chủ động để đảm bảo mỗi tỉnh có một trung tâm giống thủy sản thực hiện sự nghiệp phát triển giống và tham gia sản xuất giống chủ lực phục vụ cho nuôi trồng. Đối với các tỉnh ven biển có diện tích nuôi trồng mặn lợ từ 20.000 ha trở lên trung tâm có thể gồm 2 cơ sở giống thủy sản nước ngọt và giống hải sản.
Nâng cấp, xây dựng một số trạm sản xuất giống thủy sản cấp huyện ở những địa phương còn thiếu giống (miền núi) để tham gia hoạt động khuyến ngư chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về thủy sản và trực tiếp sản xuất giống thủy sản phục vụ cho nuôi trồng ở địa phương.
- Ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư các nội dung sau:
Nghiên cứu chọn tạo; sản xuất thử nghiệm, khảo nghiệm, kiểm nghiệm, và khu vực hóa các giống mới; phục tráng, gia hóa những giống có đặc tính tốt; nghiện cứu quy trình sản xuất, chế biến và bảo quản giống;
Nhập nội nguồn gen, thu thập, lưu trữ nguồn gen.
Duy trì giống gốc đã được đầu tư từ giai đoạn trước phục vụ sản xuất các cấp giống giai đoạn sau.
Hoàn thiện quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản giống; Xây dựng mô hình trình diễn công nghệ sản xuất giống đã được cấp thẩm quyền công nhận; Đào tạo ngắn hạn cho cán bộ nghiên cứu, sản xuất giống trong và ngoài nước theo từng dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư:
Đối với các tỉnh, thành phố có điều tiết về ngân sách trung ương, mức hỗ trợ tối đa không quá 30% trên một dự án.
Đối với các tỉnh nhận bổ sung trong cân đối từ ngân sách trung ương, mức hỗ trợ tối đa không quá 90% tổng mức đầu tư trên một dự án.
- Các dự án trung tâm giống cấp tỉnh được duyệt theo tiêu chuẩn trung tâm giống của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
1.Xây dựng các trung tâm khảo nghiệm, kiểm nghiệm và kiểm định giống thủy sản
Đầu tư xây dựng ba trung tâm khảo nghiệm, kiểm nghiệm và kiểm định nuôi trồng thủy sản tại ba miền: miền Nam (Cần Thơ, Sóc Trăng), miền Trung (Khánh Hòa) và miền Bắc (Hải Phòng), hình thành hệ thống khảo nghiệm, kiểm nghiệm và kiểm định giống thủy sản trên toàn quốc.
1.4. Xây dựng, nâng cấp các trạm trại thực nghiệm về giống thủy sản của các trường đào tạo
Hỗ trợ đầu tư nâng cấp các trạm trại thực nghiệm về giống thủy sản của Trường Cao đẳng thủy sản và các trường đại học đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT đầu tư giai đoạn 2000-2010 để tạo hạ tầng kỹ thuật cho đào tạo cán bộ kỹ thuật ngành thủy sản và tham gia nghiên cứu phát triển giống thủy sản.
1.5. Hỗ trợ hoạt động sản xuất giống
Hỗ trợ tối đa 50% chi phí sản xuất giống bố mẹ tôm sú, tôm chân trắng sạch bệnh, giống cá tra và một số giống thủy hải sản chủ lực khác. Hỗ trợ tối đa 30% chi phí sản xuất giống lai đối với một số loại giống cần khuyến khích phát triển do cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2. Giải pháp về cơ chế chính sách khuyến khích phát triển
Các tổ chức, cá nhân đầu tư để nghiên cứu và sản xuất giống thủy sản được hưởng các chính sách (về đất đai và đầu tư) khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 4/6/2010; Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 và Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/08/2011 của Chính phủ; Chính sách ưu đãi về thủy lợi phí theo Nghị định số 115/2008/NĐ-CP của Chính phủ.
Các địa phương căn cứ điều kiện cụ thể có cơ chế, chính sách của địa phương hỗ trợ và khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu về giống thủy sản và sản xuất giống thủy sản.
Về khoa học công nghệ và khuyến ngư
3.1. Về khoa học công nghệ:
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống tốt, giống sạch bệnh các đối tượng có nhu cầu cao đã sản xuất được giống để tạo được số lượng lớn (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, nghêu, tôm càng xanh…).
Xây dựng quy trình sản xuất giống của một số đối tượng chưa chủ động được giống như tôm hùm, cá bản địa có giá trị cao (cá dầm xanh, lươn, cá ngát, cá hô, cá chia vôi, cá tra dầu, cá bông lau, cá bống kèo....).
Chọn tạo nâng cao chất lượng giống một số đối tượng nuôi chủ lực (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra, tôm càng xanh, rô phi..
Xây dựng các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn về giống thủy sản làm cơ sở cho công tác quản lý.
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ địa phương dành kinh phí cho các dự án thử nghiệm sản xuất giống, ưu tiên cho áp dụng công nghệ tiến bộ giống của các thành phần kinh tế.
3.2. Về công tác khuyến ngư:
Chuyển giao công nghệ sản xuất giống đã thành công trong nước về kỹ thuật ương giống cá biển, sản xuất giống rô phi đơn tính đực, sản xuất giống nhuyễn thể, giáp xác...
Xây dựng các mô hình sản xuất giống sạch bệnh để nhân rộng.
Tổng kết và nhân rộng các mô hình tiên tiến sản xuất giống chủ lực để phổ biến nhân rộng nhằm sản xuất được giống tốt, giá thành hạ.
Tăng cường tập huấn về kỹ thuật sản xuất giống, phát hành ấn phẩm tuyên truyền, phổ biến trao đổi kinh nghiệm rộng rãi cho nông, ngư dân.