Document: Khoản 4 Điều 6 Thông tư 02-BCNN/KH chế độ quản lý hàng thiếu tiêu chuẩn phế phẩm phế liệu hướng dẫn Quyết định 63-CP

Type: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 6 Thông tư 02-BCNN/KH chế độ quản lý hàng thiếu tiêu chuẩn phế phẩm phế liệu hướng dẫn Quyết định 63-CP

Điều 6. – Các xí nghiệp, công trường thuộc Bộ phải triệt để ngăn cấm những hành động giấu phế phẩm, phế liệu và hàng thiếu tiêu chuẩn.
...
4. Hoặc không thể sửa chữa được thì loại ra là phế phẩm.

1. Chưa đạt
– quy cách
– phẩm chất
tức là căn bản đạt được các tiêu chuẩn sản phẩm quy định cho mặt hàng đó, nhưng chưa đạt đầy đủ hoàn toàn cả 100% tiêu chuẩn sản phẩm quy định.
2. Vẫn còn có giá trị sử dụng của sản phẩm thương phẩm theo đúng công dụng chính của sản phẩm đó.

Nói một cách khác, phế phẩm là những sản phẩm khi sản xuất ra kiểm nghiệm thấy không đúng quy cách, phẩm chất và không có giá trị sử dụng của thương phẩm.
Có thể hiểu đơn giản “phế phẩm là sản phẩm hư hỏng do sản xuất loại ra. Có thứ phế phẩm có thể sửa chữa được thành thành phẩm. Có thứ phế phẩm không thể sửa chữa được”. Thí dụ: bát bị lồi lõm, vỡ một vài quãng men của nhà máy sắt tráng men. Bút máy bị vỡ cổ, bị nứt rạn của nhà máy Văn phòng phẩm Hồng Hà, Xà phòng bị rỗng giữa, thiếu acide béo của nhà máy Xà phòng, v.v…
- Những phế phẩm có thể sửa chữa được thành hàng đủ tiêu chuẩn thì phải cố gắng sửa chữa để đưa đi tiêu thụ. Thí dụ: Lốp xe đạp của nhà máy cao su, nếu chỉ cần đắp thêm một ít cao su vào thì lốp đó trở thành hàng đủ tiêu chuẩn và có thể bán được nguyên giá của nó (từ trước đến nay có tình trạng bán ra những hàng thiếu tiêu chuẩn về lốp xe đạp với quan niệm hễ không đủ quy cách một chút thì coi ngay là phế phẩm và bán hạ giá 75% như là 1 lốp xe đạp thành phẩm bán 16 đồng, nhưng khi là phế phẩm thì chỉ bán có 4 đồng).
- Về phế liệu: Thông tư 63-CP định nghĩa: “Phế liệu là những nguyên liệu vật liệu, loại ra trong quá trình sản xuất, nhưng vì đã mất hoàn toàn hoặc một phần phẩm chất ban đầu của nó, nên hoàn toàn không thể sử dụng đúng với giá trị sử dụng ban đầu của nguyên vật liệu đó”.
Nói một cách khác, phế liệu là những nguyên vật liệu đã mất hoàn toàn phẩm chất, hoặc đã mất một phần phẩm chất ban đầu của nó, cho nên nó không thể sử dụng được hoàn toàn đúng với giá trị sử dụng ban đầu như khi mới mua về còn nguyên chất.
Thí dụ: Sợi rối, tơ rối, bông cán, bông quét nhà do sản xuất loại ra của nhà máy dệt và nhà máy tơ Nam Định. Các đầu mẫu gỗ (bìa, bắp, đầu thừa, đuôi thẹo), bao, thùng, hòm, đai sắt, tài sản cố định sa thải hoàn toàn và đưa ra thanh toán hoặc sa thải từng bộ phận hư hỏng loại ra, huỷ bỏ để lấy đồng, gang, sắt, v.v… (máy móc già cỗi và hư hỏng toàn bộ, bánh xe mòn hết răng khế, những dụng cụ không dùng được nữa).
Phế liệu gồm có nhiều loại khác nhau:
- Nguyên liệu và vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu loại ra trong quá trình sản xuất.
- Vật dụng đóng bao và đóng gói sau khi đã bốc dỡ hết hàng (vật bao bì).
- Dụng cụ đồ nghề và những bộ phận hoặc toàn bộ tài sản cố định sa thải, không thể sử dụng được nữa.
- Những thứ linh tinh thu nhặt được (như sắt vụn, đồng vụn, v.v…).
Nguyên tắc sử dụng phế phẩm phế liệu:
- Tất cả những phế phẩm, phế liệu đều phải được sử dụng hợp lý và có lợi về mặt kinh tế cũng như về mặt tài chính, nghĩa là phải tận dụng đến mức tối đa vào sản xuất để có thể sản xuất ra những mặt hàng chính, hoặc để sản xuất ra các mặt hàng phụ theo yêu cầu của kế hoạch Nhà nước.
- Khi dùng phế phẩm và phế liệu để sản xuất ra những mặt hàng phụ, cần phải chú ý sử dụng phế phẩm và phế liệu một cách hợp lý nhất.
Phạm vi sử dụng:
- Bộ và các Cục quản lý sản xuất và xây dựng cơ bản có thể phân phối thẳng phế phẩm, phế liệu của xí nghiệp này cho xí nghiệp khác, hay của công trường này cho công trường khác (trừ những loại thuộc về vật tự do nhà nước quản lý).
- Các xí nghiệp, công trường cũng có thể giao thẳng phế phẩm, phế liệu của xí nghiệp, công trường mình cho xí nghiệp công trường khác để dùng vào sản xuất và xây dựng cơ bản. Nhưng theo kế hoạch của Bộ.
- Nguyên tắc giao dịch theo chế độ hợp đồng: nhất là đối với những phế phẩm phế liệu thường xuyên.
- Ngoài trường hợp sử dụng vào sản xuất và xây dựng cơ bản, tất cả những phế phẩm và phế liệu còn có giá trị một phần nào đều phải giao cho ngành Mậu dịch quốc doanh tiêu thụ hoặc xử lý việc tiêu thụ.
b) Nguyên tắc định giá:
Việc định giá cần nhằm khuyến khích nâng cao chất lượng sản phẩm, hạn chế việc phát sinh ra hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu và tận dụng vào sản xuất.
Hội đồng Chính phủ quy định nguyên tắc định giá theo Thông tư số 63-CP ngày 14-11-1960 như sau:
1. Đối với hàng thiếu tiêu chuẩn nguyên tắc định giá là để cho xí nghiệp có thể được hưởng một mức lãi nhỏ nhất định hoặc không có lãi.
2. Đối với phế phẩm và phế liệu thì nguyên tắc định giá là xí nghiệp không được tính lãi.
Nhà nước sẽ ấn định giá thu mua thích đáng cho xí nghiệp.
3. Đối với phế liệu là tài sản cố định sa thải đưa ra thanh toán thì nguyên tắc định giá là căn cứ vào giá trị đào thải của tài sản cố định sa thải đó và chi phí thanh toán mà định giá thu mua.
4. Đối với một số phế phẩm coi như sản phẩm phụ thì nguyên tắc định giá là sẽ để cho xí nghiệp được hưởng một mức lãi nhất định.

Content:
Hoặc không thể sửa chữa được thì loại ra là phế phẩm.

1. Chưa đạt
– quy cách
– phẩm chất
tức là căn bản đạt được các tiêu chuẩn sản phẩm quy định cho mặt hàng đó, nhưng chưa đạt đầy đủ hoàn toàn cả 100% tiêu chuẩn sản phẩm quy định.
2. Vẫn còn có giá trị sử dụng của sản phẩm thương phẩm theo đúng công dụng chính của sản phẩm đó.

Nói một cách khác, phế phẩm là những sản phẩm khi sản xuất ra kiểm nghiệm thấy không đúng quy cách, phẩm chất và không có giá trị sử dụng của thương phẩm.
Có thể hiểu đơn giản “phế phẩm là sản phẩm hư hỏng do sản xuất loại ra. Có thứ phế phẩm có thể sửa chữa được thành thành phẩm. Có thứ phế phẩm không thể sửa chữa được”. Thí dụ: bát bị lồi lõm, vỡ một vài quãng men của nhà máy sắt tráng men. Bút máy bị vỡ cổ, bị nứt rạn của nhà máy Văn phòng phẩm Hồng Hà, Xà phòng bị rỗng giữa, thiếu acide béo của nhà máy Xà phòng, v.v…
- Những phế phẩm có thể sửa chữa được thành hàng đủ tiêu chuẩn thì phải cố gắng sửa chữa để đưa đi tiêu thụ. Thí dụ: Lốp xe đạp của nhà máy cao su, nếu chỉ cần đắp thêm một ít cao su vào thì lốp đó trở thành hàng đủ tiêu chuẩn và có thể bán được nguyên giá của nó (từ trước đến nay có tình trạng bán ra những hàng thiếu tiêu chuẩn về lốp xe đạp với quan niệm hễ không đủ quy cách một chút thì coi ngay là phế phẩm và bán hạ giá 75% như là 1 lốp xe đạp thành phẩm bán 16 đồng, nhưng khi là phế phẩm thì chỉ bán có 4 đồng).
- Về phế liệu: Thông tư 63-CP định nghĩa: “Phế liệu là những nguyên liệu vật liệu, loại ra trong quá trình sản xuất, nhưng vì đã mất hoàn toàn hoặc một phần phẩm chất ban đầu của nó, nên hoàn toàn không thể sử dụng đúng với giá trị sử dụng ban đầu của nguyên vật liệu đó”.
Nói một cách khác, phế liệu là những nguyên vật liệu đã mất hoàn toàn phẩm chất, hoặc đã mất một phần phẩm chất ban đầu của nó, cho nên nó không thể sử dụng được hoàn toàn đúng với giá trị sử dụng ban đầu như khi mới mua về còn nguyên chất.
Thí dụ: Sợi rối, tơ rối, bông cán, bông quét nhà do sản xuất loại ra của nhà máy dệt và nhà máy tơ Nam Định. Các đầu mẫu gỗ (bìa, bắp, đầu thừa, đuôi thẹo), bao, thùng, hòm, đai sắt, tài sản cố định sa thải hoàn toàn và đưa ra thanh toán hoặc sa thải từng bộ phận hư hỏng loại ra, huỷ bỏ để lấy đồng, gang, sắt, v.v… (máy móc già cỗi và hư hỏng toàn bộ, bánh xe mòn hết răng khế, những dụng cụ không dùng được nữa).
Phế liệu gồm có nhiều loại khác nhau:
- Nguyên liệu và vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu loại ra trong quá trình sản xuất.
- Vật dụng đóng bao và đóng gói sau khi đã bốc dỡ hết hàng (vật bao bì).
- Dụng cụ đồ nghề và những bộ phận hoặc toàn bộ tài sản cố định sa thải, không thể sử dụng được nữa.
- Những thứ linh tinh thu nhặt được (như sắt vụn, đồng vụn, v.v…).
Nguyên tắc sử dụng phế phẩm phế liệu:
- Tất cả những phế phẩm, phế liệu đều phải được sử dụng hợp lý và có lợi về mặt kinh tế cũng như về mặt tài chính, nghĩa là phải tận dụng đến mức tối đa vào sản xuất để có thể sản xuất ra những mặt hàng chính, hoặc để sản xuất ra các mặt hàng phụ theo yêu cầu của kế hoạch Nhà nước.
- Khi dùng phế phẩm và phế liệu để sản xuất ra những mặt hàng phụ, cần phải chú ý sử dụng phế phẩm và phế liệu một cách hợp lý nhất.
Phạm vi sử dụng:
- Bộ và các Cục quản lý sản xuất và xây dựng cơ bản có thể phân phối thẳng phế phẩm, phế liệu của xí nghiệp này cho xí nghiệp khác, hay của công trường này cho công trường khác (trừ những loại thuộc về vật tự do nhà nước quản lý).
- Các xí nghiệp, công trường cũng có thể giao thẳng phế phẩm, phế liệu của xí nghiệp, công trường mình cho xí nghiệp công trường khác để dùng vào sản xuất và xây dựng cơ bản. Nhưng theo kế hoạch của Bộ.
- Nguyên tắc giao dịch theo chế độ hợp đồng: nhất là đối với những phế phẩm phế liệu thường xuyên.
- Ngoài trường hợp sử dụng vào sản xuất và xây dựng cơ bản, tất cả những phế phẩm và phế liệu còn có giá trị một phần nào đều phải giao cho ngành Mậu dịch quốc doanh tiêu thụ hoặc xử lý việc tiêu thụ.
b) Nguyên tắc định giá:
Việc định giá cần nhằm khuyến khích nâng cao chất lượng sản phẩm, hạn chế việc phát sinh ra hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu và tận dụng vào sản xuất.
Hội đồng Chính phủ quy định nguyên tắc định giá theo Thông tư số 63-CP ngày 14-11-1960 như sau:
1. Đối với hàng thiếu tiêu chuẩn nguyên tắc định giá là để cho xí nghiệp có thể được hưởng một mức lãi nhỏ nhất định hoặc không có lãi.
2. Đối với phế phẩm và phế liệu thì nguyên tắc định giá là xí nghiệp không được tính lãi.
Nhà nước sẽ ấn định giá thu mua thích đáng cho xí nghiệp.
3. Đối với phế liệu là tài sản cố định sa thải đưa ra thanh toán thì nguyên tắc định giá là căn cứ vào giá trị đào thải của tài sản cố định sa thải đó và chi phí thanh toán mà định giá thu mua.
Đối với một số phế phẩm coi như sản phẩm phụ thì nguyên tắc định giá là sẽ để cho xí nghiệp được hưởng một mức lãi nhất định.