Document: Điều 26 Nghị định 90/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "11/07/2005", "sign_number": "90/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "11/07/2005", "sign_number": "90/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "11/07/2005", "sign_number": "90/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "11/07/2005", "sign_number": "90/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "11/07/2005", "sign_number": "90/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 26 Nghị định 90/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam có nội dung như sau:

Điều 26. Xác định giá thông thường, giá xuất khẩu

1. Giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được xác định theo quy định tại khoản 2 và 3 Điều 3 Pháp lệnh Chống bán phá giá.

2. Trường hợp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam thông qua một nước, vùng lãnh thổ trung gian thứ 3, giá thông thường sẽ được xác định là mức giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự tại nước, vùng lãnh thổ xuất khẩu.

3. Trường hợp hàng hóa chỉ đơn thuần chuyển qua cảng của nước, vùng lãnh thổ thứ 3, hoặc không tồn tại mức giá nào có thể so sánh được đối với các hàng hóa này tại nước, vùng lãnh thổ trung gian thứ 3, giá thông thường được xác định là mức giá có thể so sánh được của hàng hóa liên quan tại nước, vùng lãnh thổ xuất xứ.

4. Giá xuất khẩu của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được tính bằng giá bán hàng hóa của nhà sản xuất hoặc nhà xuất khẩu nước ngoài bán cho nhà nhập khẩu tại Việt Nam, xác định thông qua các chứng từ giao dịch hợp pháp.

5. Trường hợp không tồn tại giá xuất khẩu hoặc có căn cứ rõ ràng để cho rằng giá xuất khẩu nêu tại khoản 4 Điều này là không đáng tin cậy, Cơ quan điều tra sẽ xác định giá xuất khẩu theo một trong hai phương pháp sau đây:

a) Giá được xây dựng trên cơ sở giá của hàng hóa nhập khẩu bán cho người mua độc lập đầu tiên tại Việt Nam;

b) Giá được tính toán dựa trên các cơ sở hợp lý theo quyết định của Cơ quan điều tra.

Content:
Điều 26. Xác định giá thông thường, giá xuất khẩu

1. Giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được xác định theo quy định tại khoản 2 và 3 Điều 3 Pháp lệnh Chống bán phá giá.

2. Trường hợp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam thông qua một nước, vùng lãnh thổ trung gian thứ 3, giá thông thường sẽ được xác định là mức giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự tại nước, vùng lãnh thổ xuất khẩu.

3. Trường hợp hàng hóa chỉ đơn thuần chuyển qua cảng của nước, vùng lãnh thổ thứ 3, hoặc không tồn tại mức giá nào có thể so sánh được đối với các hàng hóa này tại nước, vùng lãnh thổ trung gian thứ 3, giá thông thường được xác định là mức giá có thể so sánh được của hàng hóa liên quan tại nước, vùng lãnh thổ xuất xứ.

4. Giá xuất khẩu của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được tính bằng giá bán hàng hóa của nhà sản xuất hoặc nhà xuất khẩu nước ngoài bán cho nhà nhập khẩu tại Việt Nam, xác định thông qua các chứng từ giao dịch hợp pháp.

5. Trường hợp không tồn tại giá xuất khẩu hoặc có căn cứ rõ ràng để cho rằng giá xuất khẩu nêu tại khoản 4 Điều này là không đáng tin cậy, Cơ quan điều tra sẽ xác định giá xuất khẩu theo một trong hai phương pháp sau đây:

a) Giá được xây dựng trên cơ sở giá của hàng hóa nhập khẩu bán cho người mua độc lập đầu tiên tại Việt Nam;

b) Giá được tính toán dựa trên các cơ sở hợp lý theo quyết định của Cơ quan điều tra.