Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 4524/QĐ-UBND phê duyệt dự án Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "29/09/2011", "sign_number": "4524/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Khôi", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "29/09/2011", "sign_number": "4524/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Khôi", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "29/09/2011", "sign_number": "4524/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Khôi", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "29/09/2011", "sign_number": "4524/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Khôi", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "29/09/2011", "sign_number": "4524/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Khôi", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 4524/QĐ-UBND phê duyệt dự án Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng

Điều 1. Phê duyệt dự án Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
4. Phương án quy hoạch vật liệu xây dựng đến năm 2020:
4.1. Xi măng:
- Tiếp tục đầu tư phát huy công suất các cơ sở xi măng lò quay đã được quy hoạch trong giai đoạn trước năm 2010.
- Phát huy tối đa năng lực các cơ sở nghiền xi măng hiện có, đồng thời đầu tư chiều sâu công nghệ giải quyết ô nhiễm môi trường.
- Ngừng sản xuất xi măng công nghệ lò đứng vào năm 2015 và các trạm nghiền xi măng công suất nhỏ vào năm 2020 để đảm bảo môi trường, mang lại hiệu quả sản xuất.
Đến năm 2015, năng lực sản xuất xi măng của Thành phố đạt 2.550 ngàn tấn/năm, năm 2020 là 2.800 ngàn tấn/năm.
4.2. Vật liệu xây:
- Về công nghệ: Đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất gạch công nghệ lò tuy nen hoặc sản xuất theo công nghệ tiên tiến khác với quy mô thích hợp ở những huyện có nguồn nguyên liệu đất sét bãi bồi ven sông. Tùy thuộc vào trữ lượng nguyên liệu và nhu cầu thị trường từng khu vực có thể lựa chọn công suất lớn từ 30 - 40 triệu viên/năm hoặc công suất trung bình từ 10-20 triệu viên/năm.
Đầu tư chiều sâu cải tiến công nghệ sản xuất gạch đất sét nung ở tất cả các cơ sở hiện có trên địa bàn.
- Về nguyên liệu: Khuyến khích việc sử dụng nguyên liệu là đất đồi và các loại đất ít hiệu quả trong nông nghiệp, phế thải xây dựng.
- Tổ chức sắp xếp lại các cơ sở sản xuất gạch lò đứng thủ công, chuyển sang sản xuất theo công nghệ tiên tiến như công nghệ lò tuynen, lò cải tiến có hệ thống xử lý khói thải hoặc các công nghệ khác tương đương và phải đảm bảo tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, môi trường. Quy mô mỗi cơ sở khoảng 4 triệu viên/năm.
- Không đầu tư mới sản xuất gạch nung vào giai đoạn 2016-2020.
- Ngừng sản xuất gạch thủ công vào năm 2012. Riêng đối với vùng ven trung tâm thành phố phải ngừng sản xuất gạch thủ công vào năm 2011.
- Đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất gạch không nung theo công nghệ tiên tiến từ nguyên liệu xi măng, đá mạt, cát, đất đồi, phế thải xây dựng; đồng thời phát triển sản xuất các loại vật liệu nhẹ theo tinh thần của Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển vật liệu xây dựng không nung đến năm 2020. Đưa tỷ lệ gạch không nung lên khoảng 40% vào năm 2015 và 60% vào năm 2020 trong tổng sản lượng vật liệu xây.
Đến năm 2015, năng lực sản xuất vật liệu xây của Thành phố đạt 2.108 triệu viên/năm, năm 2020 đạt 3.038 triệu viên/năm.
4.3. Vật liệu lợp:
- Phát triển các loại ngói tráng men, ngói trang trí chất lượng cao có giá trị kinh tế, ngói cổ phục vụ cho xây dựng các công trình đặc thù.
- Tiếp tục phát triển sản xuất các loại ngói không nung có màu, sản xuất trên dây chuyền công nghệ, thiết bị hiện đại. Mỗi cơ sở có công suất nhỏ 0,2 triệu m2/năm, cơ sở lớn 1,5 triệu m2/năm.
- Không phát triển sản xuất tấm lợp amiăng - xi măng, các cơ sở sản xuất hiện có chuyển đổi sang sử dụng nguyên liệu không amiăng.
- Phát triển đa dạng các loại tấm lợp composite, tấm lợp polycarbonate, tấm lợp polycarbonate hợp kim nhôm, tấm lợp từ sợi hữu cơ và bi tum, tấm lợp acrylic, … Công suất mỗi cơ sở 0,5 triệu m2/năm.
- Đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất tấm lợp kim loại, tấm lợp cách âm, cách nhiệt phục vụ cho xây dựng nhà ở, nhà xưởng và chống thấm cho nhà mái bằng. Công suất mỗi cơ sở 2 triệu m2/năm.
Đến năm 2015, năng lực sản xuất vật liệu lợp của Thành phố đạt 32,4 triệu m2/năm, năm 2020 là 26,7 triệu m2/năm.
4.4. Đá xây dựng:
- Tập trung khai thác đá xây dựng tại các mỏ đá thuộc các huyện: Ba Vì, Thạch Thất, Mỹ Đức và Quốc Oai. Công suất mỗi cơ sở trên 100.000 m3/năm.
- Các cơ sở khai thác cần đầu tư dây chuyền chế biến hiện đại; có phương án sử dụng mạt đá để sản xuất các loại vật liệu khác, tận dụng tài nguyên, giảm ô nhiễm môi trường.
Năng lực khai thác đá xây dựng đến năm 2015 là 3.695.000 m3/năm; năm 2020 là 4.695.000 m3/năm.
4.5. Cát xây dựng:
- Tổ chức sắp xếp lại sản xuất để hình thành các cơ sở khai thác cát trên sông Hồng, sông Đà, sông Cà Lồ, sông Công, sông Cầu, … nhằm giải quyết nhu cầu cát xây trát và san lấp cho Thành phố.
- Xây dựng kế hoạch thăm dò và quy hoạch mỏ khai thác cho các đơn vị có năng lực để đảm bảo khai thác có hiệu quả.
- Khai thác cát phải đảm bảo hành lang an toàn đối với luồng tàu và công trình báo hiệu đường thủy, công trình chỉnh trị đê điều.
- Đầu tư các cơ sở khai thác cát có quy mô công suất trên 200.000 m3/năm tại các huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Đan Phượng, Thường Tín, Phú Xuyên, Mê Linh, Thanh Trì, Đông Anh, Từ Liêm, Sóc Sơn.
Đưa năng lực khai thác cát xây dựng của Thành phố đến năm 2015 lên 7,6 triệu m3/năm và 10,8 triệu m3/năm vào năm 2020.
4.6. Đá ốp lát:
- Đầu tư nâng công suất đá ốp lát nhân tạo lên 5 triệu m2/năm.
- Đầu tư chiều sâu công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa chủng loại, phát huy hết công suất của các cơ sở gia công và chế biến đá ốp lát hiện có.
4.7. Gạch ốp lát và sứ vệ sinh:
- Đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên nhiên liệu, hạ giá thành sản phẩm và đảm bảo tiêu chuẩn môi trường. Nghiên cứu và đưa vào thực tế sản xuất công nghệ mới, công nghệ nanô trong sản xuất sản phẩm.
Năng lực sản xuất năm 2020 đối với gạch gốm ốp lát là 5.500.000 m2/năm và sứ vệ sinh là 2.250.000 sản phẩm/năm;
4.8. Bê tông:
- Đầu tư chiều sâu để nâng cao năng lực sản xuất và đa dạng hóa sản phẩm đối với các nhà máy bê tông hiện có.
- Bố trí các cơ sở sản xuất cấu kiện bê tông và bê tông thương phẩm vào khu công nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung ứng, đảm bảo môi trường đô thị.
Đến năm 2015, năng lực sản xuất bê tông cấu kiện là 320.000 m3/năm và năm 2020 là 570.000 m3/năm; bê tông tươi là 3,5 - 4,5 triệu m3/năm.
4.9. Gạch lát bê tông:
Đầu tư mới các cơ sở gạch lát bê tông tự chèn và terrazzo với công suất 150 ngàn m2/năm mỗi cơ sở, tại các khu đô thị, khu công nghiệp. Năng lực sản xuất gạch lát bê tông của Thành phố năm 2015 là 12.350.000 m2/năm và vào năm 2020 là 13.100.000 m2/năm.
4.10. Kính an toàn:
Đầu tư công nghệ sản xuất khung nhôm, kính hộp cách âm và cách nhiệt công suất tăng thêm là 500.000 m2/năm vào năm 2020.
4.11. Vữa trộn sẵn:
Đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất vữa trộn sẵn với quy mô 50.000 tấn/năm trong giai đoạn 2010 - 2015 và mở rộng sản xuất trong giai đoạn 2016 - 2020. Năng lực sản xuất vữa khô trộn sẵn năm 2015 là 280.000 tấn/năm, năm 2020 là 580.000 tấn/năm.
4.12. Tấm ốp nhôm nhựa:
Đầu tư mới cơ sở sản xuất tấm ốp nhôm nhựa công suất 2 triệu m2/năm. Năng công suất tấm ốp nhôm nhựa trên 6 triệu m2/năm vào năm 2020.
4.13. Tấm tường và vách ngăn thạch cao:
Đầu tư xây dựng một cơ sở sản xuất tấm tường và vách ngăn thạch cao chịu nước, cách âm, cách nhiệt để phục vụ cho nhu cầu xây dựng với công suất 5 triệu m2/năm trong giai đoạn 2011 - 2015. Năng lực sản xuất tấm trần vách ngăn thạch cao của Thành phố đến năm 2015 là 10 triệu m2/năm và năm 2020 là 20 triệu m2/năm.
4.14. Tấm trần, tấm sàn, vách ngăn sợi xenlulô:
Đầu tư xây dựng một cơ sở tấm sợi xenlulô công suất 3 triệu m2/năm vào giai đoạn 2011 - 2015 và nâng công suất lên 6 triệu m2/năm vào năm 2020.
4.15. Sợi thủy tinh:
Đầu tư xây dựng một cơ sở sản xuất sợi thủy tinh công suất 6.000 tấn/năm vào giai đoạn 2011 - 2015 và nâng công suất lên 12.000 tấn/năm vào năm 2020.
4.16. Khai thác và chế biến cao lanh, đất sét trắng:
Đầu tư khai thác và chế biến cao lanh, đất sét trắng tại huyện Sóc Sơn. Năng lực khai thác cao lanh và đất sét trắng năm 2015 là 120.000 tấn/năm, năm 2020 là 170.000 tấn/năm.

Content:
Phương án quy hoạch vật liệu xây dựng đến năm 2020:
4.1. Xi măng:
- Tiếp tục đầu tư phát huy công suất các cơ sở xi măng lò quay đã được quy hoạch trong giai đoạn trước năm 2010.
- Phát huy tối đa năng lực các cơ sở nghiền xi măng hiện có, đồng thời đầu tư chiều sâu công nghệ giải quyết ô nhiễm môi trường.
- Ngừng sản xuất xi măng công nghệ lò đứng vào năm 2015 và các trạm nghiền xi măng công suất nhỏ vào năm 2020 để đảm bảo môi trường, mang lại hiệu quả sản xuất.
Đến năm 2015, năng lực sản xuất xi măng của Thành phố đạt 2.550 ngàn tấn/năm, năm 2020 là 2.800 ngàn tấn/năm.
4.2. Vật liệu xây:
- Về công nghệ: Đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất gạch công nghệ lò tuy nen hoặc sản xuất theo công nghệ tiên tiến khác với quy mô thích hợp ở những huyện có nguồn nguyên liệu đất sét bãi bồi ven sông. Tùy thuộc vào trữ lượng nguyên liệu và nhu cầu thị trường từng khu vực có thể lựa chọn công suất lớn từ 30 - 40 triệu viên/năm hoặc công suất trung bình từ 10-20 triệu viên/năm.
Đầu tư chiều sâu cải tiến công nghệ sản xuất gạch đất sét nung ở tất cả các cơ sở hiện có trên địa bàn.
- Về nguyên liệu: Khuyến khích việc sử dụng nguyên liệu là đất đồi và các loại đất ít hiệu quả trong nông nghiệp, phế thải xây dựng.
- Tổ chức sắp xếp lại các cơ sở sản xuất gạch lò đứng thủ công, chuyển sang sản xuất theo công nghệ tiên tiến như công nghệ lò tuynen, lò cải tiến có hệ thống xử lý khói thải hoặc các công nghệ khác tương đương và phải đảm bảo tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, môi trường. Quy mô mỗi cơ sở khoảng 4 triệu viên/năm.
- Không đầu tư mới sản xuất gạch nung vào giai đoạn 2016-2020.
- Ngừng sản xuất gạch thủ công vào năm 2012. Riêng đối với vùng ven trung tâm thành phố phải ngừng sản xuất gạch thủ công vào năm 2011.
- Đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất gạch không nung theo công nghệ tiên tiến từ nguyên liệu xi măng, đá mạt, cát, đất đồi, phế thải xây dựng; đồng thời phát triển sản xuất các loại vật liệu nhẹ theo tinh thần của Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển vật liệu xây dựng không nung đến năm 2020. Đưa tỷ lệ gạch không nung lên khoảng 40% vào năm 2015 và 60% vào năm 2020 trong tổng sản lượng vật liệu xây.
Đến năm 2015, năng lực sản xuất vật liệu xây của Thành phố đạt 2.108 triệu viên/năm, năm 2020 đạt 3.038 triệu viên/năm.
4.3. Vật liệu lợp:
- Phát triển các loại ngói tráng men, ngói trang trí chất lượng cao có giá trị kinh tế, ngói cổ phục vụ cho xây dựng các công trình đặc thù.
- Tiếp tục phát triển sản xuất các loại ngói không nung có màu, sản xuất trên dây chuyền công nghệ, thiết bị hiện đại. Mỗi cơ sở có công suất nhỏ 0,2 triệu m2/năm, cơ sở lớn 1,5 triệu m2/năm.
- Không phát triển sản xuất tấm lợp amiăng - xi măng, các cơ sở sản xuất hiện có chuyển đổi sang sử dụng nguyên liệu không amiăng.
- Phát triển đa dạng các loại tấm lợp composite, tấm lợp polycarbonate, tấm lợp polycarbonate hợp kim nhôm, tấm lợp từ sợi hữu cơ và bi tum, tấm lợp acrylic, … Công suất mỗi cơ sở 0,5 triệu m2/năm.
- Đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất tấm lợp kim loại, tấm lợp cách âm, cách nhiệt phục vụ cho xây dựng nhà ở, nhà xưởng và chống thấm cho nhà mái bằng. Công suất mỗi cơ sở 2 triệu m2/năm.
Đến năm 2015, năng lực sản xuất vật liệu lợp của Thành phố đạt 32,4 triệu m2/năm, năm 2020 là 26,7 triệu m2/năm.
4.Đá xây dựng:
- Tập trung khai thác đá xây dựng tại các mỏ đá thuộc các huyện: Ba Vì, Thạch Thất, Mỹ Đức và Quốc Oai. Công suất mỗi cơ sở trên 100.000 m3/năm.
- Các cơ sở khai thác cần đầu tư dây chuyền chế biến hiện đại; có phương án sử dụng mạt đá để sản xuất các loại vật liệu khác, tận dụng tài nguyên, giảm ô nhiễm môi trường.
Năng lực khai thác đá xây dựng đến năm 2015 là 3.695.000 m3/năm; năm 2020 là 4.695.000 m3/năm.
4.5. Cát xây dựng:
- Tổ chức sắp xếp lại sản xuất để hình thành các cơ sở khai thác cát trên sông Hồng, sông Đà, sông Cà Lồ, sông Công, sông Cầu, … nhằm giải quyết nhu cầu cát xây trát và san lấp cho Thành phố.
- Xây dựng kế hoạch thăm dò và quy hoạch mỏ khai thác cho các đơn vị có năng lực để đảm bảo khai thác có hiệu quả.
- Khai thác cát phải đảm bảo hành lang an toàn đối với luồng tàu và công trình báo hiệu đường thủy, công trình chỉnh trị đê điều.
- Đầu tư các cơ sở khai thác cát có quy mô công suất trên 200.000 m3/năm tại các huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Đan Phượng, Thường Tín, Phú Xuyên, Mê Linh, Thanh Trì, Đông Anh, Từ Liêm, Sóc Sơn.
Đưa năng lực khai thác cát xây dựng của Thành phố đến năm 2015 lên 7,6 triệu m3/năm và 10,8 triệu m3/năm vào năm 2020.
4.6. Đá ốp lát:
- Đầu tư nâng công suất đá ốp lát nhân tạo lên 5 triệu m2/năm.
- Đầu tư chiều sâu công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa chủng loại, phát huy hết công suất của các cơ sở gia công và chế biến đá ốp lát hiện có.
4.7. Gạch ốp lát và sứ vệ sinh:
- Đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên nhiên liệu, hạ giá thành sản phẩm và đảm bảo tiêu chuẩn môi trường. Nghiên cứu và đưa vào thực tế sản xuất công nghệ mới, công nghệ nanô trong sản xuất sản phẩm.
Năng lực sản xuất năm 2020 đối với gạch gốm ốp lát là 5.500.000 m2/năm và sứ vệ sinh là 2.250.000 sản phẩm/năm;
4.8. Bê tông:
- Đầu tư chiều sâu để nâng cao năng lực sản xuất và đa dạng hóa sản phẩm đối với các nhà máy bê tông hiện có.
- Bố trí các cơ sở sản xuất cấu kiện bê tông và bê tông thương phẩm vào khu công nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung ứng, đảm bảo môi trường đô thị.
Đến năm 2015, năng lực sản xuất bê tông cấu kiện là 320.000 m3/năm và năm 2020 là 570.000 m3/năm; bê tông tươi là 3,5 - 4,5 triệu m3/năm.
4.9. Gạch lát bê tông:
Đầu tư mới các cơ sở gạch lát bê tông tự chèn và terrazzo với công suất 150 ngàn m2/năm mỗi cơ sở, tại các khu đô thị, khu công nghiệp. Năng lực sản xuất gạch lát bê tông của Thành phố năm 2015 là 12.350.000 m2/năm và vào năm 2020 là 13.100.000 m2/năm.
4.10. Kính an toàn:
Đầu tư công nghệ sản xuất khung nhôm, kính hộp cách âm và cách nhiệt công suất tăng thêm là 500.000 m2/năm vào năm 2020.
4.11. Vữa trộn sẵn:
Đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất vữa trộn sẵn với quy mô 50.000 tấn/năm trong giai đoạn 2010 - 2015 và mở rộng sản xuất trong giai đoạn 2016 - 2020. Năng lực sản xuất vữa khô trộn sẵn năm 2015 là 280.000 tấn/năm, năm 2020 là 580.000 tấn/năm.
4.12. Tấm ốp nhôm nhựa:
Đầu tư mới cơ sở sản xuất tấm ốp nhôm nhựa công suất 2 triệu m2/năm. Năng công suất tấm ốp nhôm nhựa trên 6 triệu m2/năm vào năm 2020.
4.13. Tấm tường và vách ngăn thạch cao:
Đầu tư xây dựng một cơ sở sản xuất tấm tường và vách ngăn thạch cao chịu nước, cách âm, cách nhiệt để phục vụ cho nhu cầu xây dựng với công suất 5 triệu m2/năm trong giai đoạn 2011 - 2015. Năng lực sản xuất tấm trần vách ngăn thạch cao của Thành phố đến năm 2015 là 10 triệu m2/năm và năm 2020 là 20 triệu m2/năm.
4.1Tấm trần, tấm sàn, vách ngăn sợi xenlulô:
Đầu tư xây dựng một cơ sở tấm sợi xenlulô công suất 3 triệu m2/năm vào giai đoạn 2011 - 2015 và nâng công suất lên 6 triệu m2/năm vào năm 2020.
4.15. Sợi thủy tinh:
Đầu tư xây dựng một cơ sở sản xuất sợi thủy tinh công suất 6.000 tấn/năm vào giai đoạn 2011 - 2015 và nâng công suất lên 12.000 tấn/năm vào năm 2020.
4.16. Khai thác và chế biến cao lanh, đất sét trắng:
Đầu tư khai thác và chế biến cao lanh, đất sét trắng tại huyện Sóc Sơn. Năng lực khai thác cao lanh và đất sét trắng năm 2015 là 120.000 tấn/năm, năm 2020 là 170.000 tấn/năm.