Document: Điểm b Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1316/QĐ-TTg 2015 phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn phát huy giá trị di tích Thành Nhà Hồ

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "12/08/2015", "sign_number": "1316/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "12/08/2015", "sign_number": "1316/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "12/08/2015", "sign_number": "1316/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "12/08/2015", "sign_number": "1316/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "12/08/2015", "sign_number": "1316/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1316/QĐ-TTg 2015 phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn phát huy giá trị di tích Thành Nhà Hồ

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn, phát huy giá trị di tích Thành Nhà Hồ và vùng phụ cận gắn với phát triển du lịch với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
3. Mục tiêu quy hoạch
- Bảo tồn, phát huy các giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ và bảo vệ cảnh quan, môi trường khu di sản.
- Kết nối các điểm tham quan di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh để xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử đặc biệt của khu vực Bắc Trung bộ.
- Xác định chức năng và diện tích đất sử dụng cho khu vực di tích, khu dân cư, khu vực bảo vệ môi trường sinh thái. Tổ chức không gian và bố trí hệ thống hạ tầng trong từng giai đoạn bảo tồn và phát huy giá trị di tích.
- Định hướng kế hoạch, lộ trình và các nhóm giải pháp tổng thể quản lý, đầu tư xây dựng, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích Thành Nhà Hồ.
- Tạo căn cứ pháp lý cho công tác quản lý và triển khai các dự án bảo tồn, tôn tạo, chỉnh trang tổng thể khu di tích theo đồ án Quy hoạch được duyệt. Xây dựng quy định quản lý kiểm soát không gian quy hoạch kiến trúc cảnh quan khu di tích, các biện pháp khuyến khích bảo vệ di tích, kiểm soát sự thay đổi dân số.
II. NỘI DUNG QUY HOẠCH CHỦ YẾU
1. Quy hoạch không gian bảo tồn, phát huy giá trị di tích Thành Nhà Hồ và vùng phụ cận gắn với phát triển du lịch.
...
b) Quy hoạch không gian, kiến trúc cảnh quan
- Hình thành 02 trục di sản quan trọng:
+ Trục dọc, nối Thành Nhà Hồ từ cửa Nam đến núi Đún và di tích Đàn Tế Nam Giao: Căn cứ sử liệu và kết quả khai quật khảo cổ để xác định đường Hòe Nhai. Đồng thời trên trục này tại ngã ba đi Kim Tân sẽ xây dựng khu vực đón tiếp, nơi tổ chức các hoạt động văn hóa và lễ hội, trưng bày và quản lý di sản. Tuyến đến núi Đún tổ chức không gian lưu trú, dịch vụ du lịch, văn hóa truyền thống.
+ Trục ngang, nối sông Mã với khu quảng trường (khu vực đón tiếp, tổ chức các hoạt động văn hóa và lễ hội, trưng bày và quản lý di sản). Trục này đồng thời kết nối với La Thành phía Tây.
- Đối với không gian vùng lõi:
+ Thành Nội:
Đối với cổng và tường thành: Bảo tồn nguyên trạng các đoạn thành, cổng thành còn tốt, tu bổ các đoạn thành, công bị hư hỏng theo nguyên gốc.
Đối với hào nước: Phục hồi phần hào nước chạy xung quanh thành dựa trên dấu vết hào nước hiện còn và kết quả khai quật khảo cổ.
Đối với khu vực bên trong tường thành (Thành Nội): Tiến hành khai quật khảo cổ một cách toàn diện để phát hiện vị trí, quy mô và chức năng phế tích các công trình kiến trúc đã mất. Phục dựng Đông Thái Miếu, Tây Thái Miếu và các công trình khác khi có đủ cơ sở khoa học nhằm giới thiệu Thành Nội. Các công trình chưa đủ cơ sở khoa học để phục dựng thì sử dụng giải pháp trồng cây cắt tỉa để đánh dấu vị trí, hoặc tổ chức trưng bày khảo cổ nhằm giúp cho khách tham quan hình dung không gian lịch sử của di tích.
Đối với sân, đường nội bộ: Tôn tạo hệ thống đường đi trên cơ sở kết quả khảo cổ và nghiên cứu lịch sử. Khôi phục cốt đường ban đầu cho đoạn đường xung quanh thành dựa vào phần chân thành băng đá đã bị vùi lấp. Mặt đường là lớp bê tông giả đất.
+ La Thành: Bảo tồn các đoạn La Thành hiện còn và trồng tre gai bên ngoài La Thành. Khôi phục đoạn đê (La Thành) nối từ La Thành hiện nay đến khúc đê vòng ra theo bờ sông Bưởi.
+ Đàn tế Nam Giao: Tiến hành khai quật khảo cổ các khu còn lại của Đàn Nam Giao. Xây dựng cơ sở dữ liệu để phục vụ tái hiện lễ tế. Tôn tạo khu vực nền 1 (Viên đàn), xây dựng hàng rào có hình thức phù hợp với cảnh quan di tích và trồng bổ sung các loại cây rừng để tạo cảnh quan cho khu vực tế lễ. Xây dựng Nhà quản lý di tích khu vực trung tâm phía trước Đàn Nam Giao.
Bảo vệ nghiêm ngặt, nghiêm cấm bất cứ hoạt động khai thác tài nguyên gây ảnh hưởng làm biến dạng cảnh quan tự nhiên núi Thổ Tượng, núi Đún, núi Hắc Khuyển, núi Ngưu Ngọa, sông Mã, sông Bưởi bao quanh Thành Nhà Hồ và núi Đún, núi Tụng, núi Dọc, núi Liều... xung quanh Đàn tế Nam Giao.
Đối với không gian vùng đệm:
+ Thị trấn Vĩnh Lộc:
Cấu trúc không gian lấy di tích làm tâm; di tích liên thông qua không gian xanh làm trục bố cục.
Bổ sung thêm tuyến đường dọc (song song đường Hòe Nhai, về phía Đông) nhằm giảm bớt lưu lượng giao thông trên trục dọc, đặc biệt khi tổ chức hành lễ từ Cung điện đến Đàn tế Nam Giao.
Bổ sung các tuyến đường ngang, bên cạnh di tích hiện có, theo hướng Đông - Tây để kết nối sông Mã với thị trấn và trục di sản (đường Hòe Nhai). Chỉ giới xây dựng thay đổi chiều ngang và chiều cao (từ 3m - 6m) tạo ra những không gian đóng, mở cho di tích hiện có. Trong những không gian này, cây xanh được bố cục thành hàng, dãy, cụm, mảng….
Không xây dựng công trình với mật độ cao (mật độ xây dựng 30% - 45%), nhiều tầng (không quá 03 tầng) và hiện đại ở thị trấn Vĩnh Lộc.
Hạn chế xây dựng trên tuyến đường Hòe Nhai, khống chế mật độ xây dựng (tối đa 35%), chiều cao công trình từ khu vực Trung tâm quản lý đón tiếp đến núi Đún (không quá 12m). Phong cách kiến trúc phải trên cơ sở khai thác yếu tố truyền thống.
Tạo nét đặc trưng đô thị cổ ven sông: Khu trung tâm thị trấn bố trí theo dạng phân tán. Các công trình hành chính sẽ được bố trí tại vị trí như hiện nay, bố trí khu đô thị hướng ra sông và dải đất ven bờ sông Mã được cải tạo thành một không gian xanh.
+ Tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan làng truyền thống:
Làng Xuân Giai: Lấy không gian, kiến trúc cảnh quan của công trình tôn giáo, tín ngưỡng làm hạt nhân bố cục. Hai bên đường Hòe Nhai được cải tạo, chỉnh trang mặt đứng (không có vỉa hè) tạo phong cách kiến trúc truyền thống. Mặt đường Hòe Nhai lát đá trên cơ sở kết quả khảo cổ học, một số chỗ trên mặt đường được xây dựng các hố trưng bày khảo cổ;
Làng Đông Môn và làng Tây Giai: Lấy đình Đông Môn, đình Tây Giai và nhà cổ ông Phạm Ngọc Tùng (làng Tây Giai) làm hạt nhân;
Bảo tồn kiến trúc nhà ở trong làng theo hình thức nhà ở truyền thống nông thôn vùng đồng bằng Bắc Trung bộ; với bố cục chung có cổng, nhà trên, nhà dưới, sân, giếng nước, tường rào xây gạch hoặc trồng cây, chiều cao nhà không quá 7m, mái dốc. Không gian đường làng, xóm hình tự do với giới hạn dưới là mặt đường lát gạch chỉ nghiêng; hệ thống hạ tầng kỹ thuật (điện, cấp thoát nước, thông tin, internet...) được đặt ngầm dưới mặt đường.
Cánh đồng Xuân Giai và cánh đồng Nam Giao: Bảo tồn nguyên trạng là cánh đồng trồng lúa truyền thống, khai thác phục vụ du lịch.

Content:
Quy hoạch không gian, kiến trúc cảnh quan
- Hình thành 02 trục di sản quan trọng:
+ Trục dọc, nối Thành Nhà Hồ từ cửa Nam đến núi Đún và di tích Đàn Tế Nam Giao: Căn cứ sử liệu và kết quả khai quật khảo cổ để xác định đường Hòe Nhai. Đồng thời trên trục này tại ngã ba đi Kim Tân sẽ xây dựng khu vực đón tiếp, nơi tổ chức các hoạt động văn hóa và lễ hội, trưng bày và quản lý di sản. Tuyến đến núi Đún tổ chức không gian lưu trú, dịch vụ du lịch, văn hóa truyền thống.
+ Trục ngang, nối sông Mã với khu quảng trường (khu vực đón tiếp, tổ chức các hoạt động văn hóa và lễ hội, trưng bày và quản lý di sản). Trục này đồng thời kết nối với La Thành phía Tây.
- Đối với không gian vùng lõi:
+ Thành Nội:
Đối với cổng và tường thành: Bảo tồn nguyên trạng các đoạn thành, cổng thành còn tốt, tu bổ các đoạn thành, công bị hư hỏng theo nguyên gốc.
Đối với hào nước: Phục hồi phần hào nước chạy xung quanh thành dựa trên dấu vết hào nước hiện còn và kết quả khai quật khảo cổ.
Đối với khu vực bên trong tường thành (Thành Nội): Tiến hành khai quật khảo cổ một cách toàn diện để phát hiện vị trí, quy mô và chức năng phế tích các công trình kiến trúc đã mất. Phục dựng Đông Thái Miếu, Tây Thái Miếu và các công trình khác khi có đủ cơ sở khoa học nhằm giới thiệu Thành Nội. Các công trình chưa đủ cơ sở khoa học để phục dựng thì sử dụng giải pháp trồng cây cắt tỉa để đánh dấu vị trí, hoặc tổ chức trưng bày khảo cổ nhằm giúp cho khách tham quan hình dung không gian lịch sử của di tích.
Đối với sân, đường nội bộ: Tôn tạo hệ thống đường đi trên cơ sở kết quả khảo cổ và nghiên cứu lịch sử. Khôi phục cốt đường ban đầu cho đoạn đường xung quanh thành dựa vào phần chân thành băng đá đã bị vùi lấp. Mặt đường là lớp bê tông giả đất.
+ La Thành: Bảo tồn các đoạn La Thành hiện còn và trồng tre gai bên ngoài La Thành. Khôi phục đoạn đê (La Thành) nối từ La Thành hiện nay đến khúc đê vòng ra theo bờ sông Bưởi.
+ Đàn tế Nam Giao: Tiến hành khai quật khảo cổ các khu còn lại của Đàn Nam Giao. Xây dựng cơ sở dữ liệu để phục vụ tái hiện lễ tế. Tôn tạo khu vực nền 1 (Viên đàn), xây dựng hàng rào có hình thức phù hợp với cảnh quan di tích và trồng bổ sung các loại cây rừng để tạo cảnh quan cho khu vực tế lễ. Xây dựng Nhà quản lý di tích khu vực trung tâm phía trước Đàn Nam Giao.
Bảo vệ nghiêm ngặt, nghiêm cấm bất cứ hoạt động khai thác tài nguyên gây ảnh hưởng làm biến dạng cảnh quan tự nhiên núi Thổ Tượng, núi Đún, núi Hắc Khuyển, núi Ngưu Ngọa, sông Mã, sông Bưởi bao quanh Thành Nhà Hồ và núi Đún, núi Tụng, núi Dọc, núi Liều... xung quanh Đàn tế Nam Giao.
Đối với không gian vùng đệm:
+ Thị trấn Vĩnh Lộc:
Cấu trúc không gian lấy di tích làm tâm; di tích liên thông qua không gian xanh làm trục bố cục.
Bổ sung thêm tuyến đường dọc (song song đường Hòe Nhai, về phía Đông) nhằm giảm bớt lưu lượng giao thông trên trục dọc, đặc biệt khi tổ chức hành lễ từ Cung điện đến Đàn tế Nam Giao.
Bổ sung các tuyến đường ngang, bên cạnh di tích hiện có, theo hướng Đông - Tây để kết nối sông Mã với thị trấn và trục di sản (đường Hòe Nhai). Chỉ giới xây dựng thay đổi chiều ngang và chiều cao (từ 3m - 6m) tạo ra những không gian đóng, mở cho di tích hiện có. Trong những không gian này, cây xanh được bố cục thành hàng, dãy, cụm, mảng….
Không xây dựng công trình với mật độ cao (mật độ xây dựng 30% - 45%), nhiều tầng (không quá 03 tầng) và hiện đại ở thị trấn Vĩnh Lộc.
Hạn chế xây dựng trên tuyến đường Hòe Nhai, khống chế mật độ xây dựng (tối đa 35%), chiều cao công trình từ khu vực Trung tâm quản lý đón tiếp đến núi Đún (không quá 12m). Phong cách kiến trúc phải trên cơ sở khai thác yếu tố truyền thống.
Tạo nét đặc trưng đô thị cổ ven sông: Khu trung tâm thị trấn bố trí theo dạng phân tán. Các công trình hành chính sẽ được bố trí tại vị trí như hiện nay, bố trí khu đô thị hướng ra sông và dải đất ven bờ sông Mã được cải tạo thành một không gian xanh.
+ Tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan làng truyền thống:
Làng Xuân Giai: Lấy không gian, kiến trúc cảnh quan của công trình tôn giáo, tín ngưỡng làm hạt nhân bố cục. Hai bên đường Hòe Nhai được cải tạo, chỉnh trang mặt đứng (không có vỉa hè) tạo phong cách kiến trúc truyền thống. Mặt đường Hòe Nhai lát đá trên cơ sở kết quả khảo cổ học, một số chỗ trên mặt đường được xây dựng các hố trưng bày khảo cổ;
Làng Đông Môn và làng Tây Giai: Lấy đình Đông Môn, đình Tây Giai và nhà cổ ông Phạm Ngọc Tùng (làng Tây Giai) làm hạt nhân;
Bảo tồn kiến trúc nhà ở trong làng theo hình thức nhà ở truyền thống nông thôn vùng đồng bằng Bắc Trung bộ; với bố cục chung có cổng, nhà trên, nhà dưới, sân, giếng nước, tường rào xây gạch hoặc trồng cây, chiều cao nhà không quá 7m, mái dốc. Không gian đường làng, xóm hình tự do với giới hạn dưới là mặt đường lát gạch chỉ nghiêng; hệ thống hạ tầng kỹ thuật (điện, cấp thoát nước, thông tin, internet...) được đặt ngầm dưới mặt đường.
Cánh đồng Xuân Giai và cánh đồng Nam Giao: Bảo tồn nguyên trạng là cánh đồng trồng lúa truyền thống, khai thác phục vụ du lịch.