Document: Khoản 1 Điều 1 Quyết định 4306/QĐ-UBND 2019 phê duyệt Kế hoạch hành động REDD tỉnh Đồng Nai

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "30/12/2019", "sign_number": "4306/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Chánh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "30/12/2019", "sign_number": "4306/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Chánh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "30/12/2019", "sign_number": "4306/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Chánh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "30/12/2019", "sign_number": "4306/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Chánh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "30/12/2019", "sign_number": "4306/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Chánh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 1 Quyết định 4306/QĐ-UBND 2019 phê duyệt Kế hoạch hành động REDD tỉnh Đồng Nai

Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch hành động REDD+ tỉnh Đồng Nai (PRAP), giai đoạn 2020 - 2030 (kèm theo Kế hoạch hành động REDD+) với các nội dung chủ yếu sau:
1. Mục tiêu
1.1. Mục tiêu chung
- Góp phần giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao trữ lượng các bon rừng, qua đó hỗ trợ đạt được mục tiêu của Chương trình hành động Quốc gia về giảm thiểu biến đổi khí hậu, kế hoạch hành động REDD+ Quốc gia và các mục tiêu có liên quan khác.
- Góp phần bảo vệ và phát triển rừng bền vững nhằm nâng cao chất lượng rừng tự nhiên, mở rộng diện tích và nâng cao chất lượng rừng trồng thông qua việc cải tiến các vấn đề liên quan đến kỹ thuật lâm sinh, phục hồi rừng; thu hút sự hỗ trợ của quốc tế, tiến tới tiếp cận thị trường tính chỉ các bon, đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp và hướng tới xã hội hóa ngành lâm nghiệp.
- Hỗ trợ tái cơ cấu ngành lâm nghiệp thông qua việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn và phát huy giá trị đa dạng sinh học và chức năng của hệ sinh thái, bảo tồn nguồn gen quý hiếm, nâng cao giá trị lâm sản, nâng cao giá trị phòng hộ của rừng, giảm nhẹ thiên tai, chống xói mòn sạt lở đất, bảo vệ nguồn nước…
- Thúc đẩy sự phối hợp đa ngành trong việc đảm bảo hài hòa công tác bảo vệ và phát triển rừng với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát triển nông nghiệp và cơ sở hạ tầng; xây dựng, phát triển rừng phải gắn liền với khai thác sử dụng, hưởng lợi từ rừng, kinh doanh, chế biến, tiêu thụ lâm sản nhằm phát triển thị trường lâm sản hàng hóa thúc đẩy kinh tế rừng phát triển bền vững.
1.2. Mục tiêu cụ thể
1.2.1. Giai đoạn đến 2020 - 2025
- Tiếp tục quản lý, bảo vệ chặt chẽ diện tích rừng hiện có và diện tích rừng khoanh nuôi, trồng mới tăng thêm hàng năm;
- Trồng rừng đặc dụng đạt 70 ha;
- Trồng bổ sung cây gỗ lớn nâng cao chất lượng rừng phòng hộ đạt: 897 ha;
- Trồng lại rừng sau khai thác rừng trồng sản xuất đạt 16.784 ha;
- Trồng cây phân tán đạt 1,2 triệu cây, bình quân 200.000 cây/năm;
- Khoanh nuôi phục hồi rừng đạt 1.700 ha;
- Nuôi dưỡng rừng đạt 4.806 ha;
- Quản lý chặt chẽ diện tích đất lâm nghiệp chuyển đổi sang mục đích khác theo đúng quy hoạch;
- Thông qua các hoạt động của REDD+ tỷ lệ che phủ rừng bình quân ở mức 28,7%, trong đó tỷ lệ che phủ của rừng thuộc đất quy hoạch lâm nghiệp 27,67% (tương ứng với diện tích 163.204 ha rừng) và ngoài quy hoạch 03 loại rừng là 1,03% (tương ứng với diện tích 6.000 ha rừng);
- Giảm được khoảng 50% số vụ lấn chiếm đất rừng, phá rừng làm rẫy so giai đoạn 2007 - 2018;
- Giảm số vụ khai thác gỗ và lâm sản trái phép bình quân/năm xuống dưới 50%;
- Khoảng 15% diện tích bị cây Mai Dương xâm lấn ở các vùng có cây gỗ tái sinh được kiểm soát sự lây lan và phát triển;
- Hệ thống theo dõi diễn biến tài nguyên rừng của tỉnh được cải tiến và vận hành ở toàn bộ các huyện mục tiêu;
- Cán bộ cấp tỉnh và các huyện được tham gia các khóa đào tạo và hội thảo nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu và REDD+;
- Tối thiểu 23 xã mục tiêu được tuyên truyền nâng cao nhận thức về REDD+;
- Tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, giảm nghèo, cải thiện đời sống người dân, đặc biệt là người dân tộc thiểu số và các hộ nghèo.
1.2.2. Giai đoạn đến 2026 - 2030
- Tiếp tục quản lý, bảo vệ chặt chẽ diện tích rừng hiện có và diện tích khoanh nuôi, trồng mới tăng thêm hàng năm;
- Trồng mới rừng trồng tập trung đạt 50 ha rừng phòng hộ;
- Trồng bổ sung cây gỗ lớn nâng cao chất lượng rừng phòng hộ đạt: 750 ha;
- Trồng lại rừng sau khai thác rừng trồng sản xuất đạt 13.798 ha;
- Trồng cây phân tán đạt 1,0 triệu cây, bình quân 200.000 cây/năm;
- Nuôi dưỡng rừng đạt 2.500 ha;
- Quản lý chặt chẽ diện tích đất lâm nghiệp chuyển đổi sang mục đích khác theo đúng quy hoạch;
- Thông qua các hoạt động của REDD+ tỷ lệ che phủ rừng bình quân ở mức 28,52%, trong đó tỷ lệ che phủ của rừng thuộc đất quy hoạch lâm nghiệp 27,67% (tương ứng với diện tích 163.204 ha rừng) và ngoài quy hoạch 03 loại rừng là 0,85% (tương ứng với diện tích 5.000 ha rừng);
- Giảm được khoảng 70% số vụ lấn chiếm đất rừng, phá rừng làm rẫy so với giai đoạn 2007 - 2018;
- Giảm số vụ khai thác gỗ và lâm sản trái phép bình quân/năm xuống dưới 50%;
- Khoảng 30% diện tích bị cây Mai Dương xâm lấn ở các vùng có cây gỗ tái sinh được kiểm soát sự lây lan và phát triển;
- Hệ thống theo dõi diễn biến tài nguyên rừng của tỉnh được cải tiến và vận hành ở toàn bộ các huyện mục tiêu;
- Cán bộ cấp tỉnh và các huyện được tham gia các khóa đào tạo và hội thảo nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu và REDD+;
- Tối tiểu có 23 xã mục tiêu được tuyên truyền nâng cao nhận thức về REDD+;
- Tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, giảm nghèo, cải thiện đời sống người dân, đặc biệt là người dân tộc thiểu số và các hộ nghèo.

Content:
Mục tiêu
1.Mục tiêu chung
- Góp phần giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao trữ lượng các bon rừng, qua đó hỗ trợ đạt được mục tiêu của Chương trình hành động Quốc gia về giảm thiểu biến đổi khí hậu, kế hoạch hành động REDD+ Quốc gia và các mục tiêu có liên quan khác.
- Góp phần bảo vệ và phát triển rừng bền vững nhằm nâng cao chất lượng rừng tự nhiên, mở rộng diện tích và nâng cao chất lượng rừng trồng thông qua việc cải tiến các vấn đề liên quan đến kỹ thuật lâm sinh, phục hồi rừng; thu hút sự hỗ trợ của quốc tế, tiến tới tiếp cận thị trường tính chỉ các bon, đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp và hướng tới xã hội hóa ngành lâm nghiệp.
- Hỗ trợ tái cơ cấu ngành lâm nghiệp thông qua việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn và phát huy giá trị đa dạng sinh học và chức năng của hệ sinh thái, bảo tồn nguồn gen quý hiếm, nâng cao giá trị lâm sản, nâng cao giá trị phòng hộ của rừng, giảm nhẹ thiên tai, chống xói mòn sạt lở đất, bảo vệ nguồn nước…
- Thúc đẩy sự phối hợp đa ngành trong việc đảm bảo hài hòa công tác bảo vệ và phát triển rừng với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát triển nông nghiệp và cơ sở hạ tầng; xây dựng, phát triển rừng phải gắn liền với khai thác sử dụng, hưởng lợi từ rừng, kinh doanh, chế biến, tiêu thụ lâm sản nhằm phát triển thị trường lâm sản hàng hóa thúc đẩy kinh tế rừng phát triển bền vững.
1.2. Mục tiêu cụ thể
1.2.Giai đoạn đến 2020 - 2025
- Tiếp tục quản lý, bảo vệ chặt chẽ diện tích rừng hiện có và diện tích rừng khoanh nuôi, trồng mới tăng thêm hàng năm;
- Trồng rừng đặc dụng đạt 70 ha;
- Trồng bổ sung cây gỗ lớn nâng cao chất lượng rừng phòng hộ đạt: 897 ha;
- Trồng lại rừng sau khai thác rừng trồng sản xuất đạt 16.784 ha;
- Trồng cây phân tán đạt 1,2 triệu cây, bình quân 200.000 cây/năm;
- Khoanh nuôi phục hồi rừng đạt 1.700 ha;
- Nuôi dưỡng rừng đạt 4.806 ha;
- Quản lý chặt chẽ diện tích đất lâm nghiệp chuyển đổi sang mục đích khác theo đúng quy hoạch;
- Thông qua các hoạt động của REDD+ tỷ lệ che phủ rừng bình quân ở mức 28,7%, trong đó tỷ lệ che phủ của rừng thuộc đất quy hoạch lâm nghiệp 27,67% (tương ứng với diện tích 163.204 ha rừng) và ngoài quy hoạch 03 loại rừng là 1,03% (tương ứng với diện tích 6.000 ha rừng);
- Giảm được khoảng 50% số vụ lấn chiếm đất rừng, phá rừng làm rẫy so giai đoạn 2007 - 2018;
- Giảm số vụ khai thác gỗ và lâm sản trái phép bình quân/năm xuống dưới 50%;
- Khoảng 15% diện tích bị cây Mai Dương xâm lấn ở các vùng có cây gỗ tái sinh được kiểm soát sự lây lan và phát triển;
- Hệ thống theo dõi diễn biến tài nguyên rừng của tỉnh được cải tiến và vận hành ở toàn bộ các huyện mục tiêu;
- Cán bộ cấp tỉnh và các huyện được tham gia các khóa đào tạo và hội thảo nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu và REDD+;
- Tối thiểu 23 xã mục tiêu được tuyên truyền nâng cao nhận thức về REDD+;
- Tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, giảm nghèo, cải thiện đời sống người dân, đặc biệt là người dân tộc thiểu số và các hộ nghèo.
1.2.2. Giai đoạn đến 2026 - 2030
- Tiếp tục quản lý, bảo vệ chặt chẽ diện tích rừng hiện có và diện tích khoanh nuôi, trồng mới tăng thêm hàng năm;
- Trồng mới rừng trồng tập trung đạt 50 ha rừng phòng hộ;
- Trồng bổ sung cây gỗ lớn nâng cao chất lượng rừng phòng hộ đạt: 750 ha;
- Trồng lại rừng sau khai thác rừng trồng sản xuất đạt 13.798 ha;
- Trồng cây phân tán đạt 1,0 triệu cây, bình quân 200.000 cây/năm;
- Nuôi dưỡng rừng đạt 2.500 ha;
- Quản lý chặt chẽ diện tích đất lâm nghiệp chuyển đổi sang mục đích khác theo đúng quy hoạch;
- Thông qua các hoạt động của REDD+ tỷ lệ che phủ rừng bình quân ở mức 28,52%, trong đó tỷ lệ che phủ của rừng thuộc đất quy hoạch lâm nghiệp 27,67% (tương ứng với diện tích 163.204 ha rừng) và ngoài quy hoạch 03 loại rừng là 0,85% (tương ứng với diện tích 5.000 ha rừng);
- Giảm được khoảng 70% số vụ lấn chiếm đất rừng, phá rừng làm rẫy so với giai đoạn 2007 - 2018;
- Giảm số vụ khai thác gỗ và lâm sản trái phép bình quân/năm xuống dưới 50%;
- Khoảng 30% diện tích bị cây Mai Dương xâm lấn ở các vùng có cây gỗ tái sinh được kiểm soát sự lây lan và phát triển;
- Hệ thống theo dõi diễn biến tài nguyên rừng của tỉnh được cải tiến và vận hành ở toàn bộ các huyện mục tiêu;
- Cán bộ cấp tỉnh và các huyện được tham gia các khóa đào tạo và hội thảo nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu và REDD+;
- Tối tiểu có 23 xã mục tiêu được tuyên truyền nâng cao nhận thức về REDD+;
- Tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, giảm nghèo, cải thiện đời sống người dân, đặc biệt là người dân tộc thiểu số và các hộ nghèo.