Document: Điều 2 Quyết định 26/2008/QĐ-TTg  cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển KTXH các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "05/02/2008", "sign_number": "26/2008/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "05/02/2008", "sign_number": "26/2008/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "05/02/2008", "sign_number": "26/2008/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "05/02/2008", "sign_number": "26/2008/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "05/02/2008", "sign_number": "26/2008/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định 26/2008/QĐ-TTg  cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển KTXH các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010 có nội dung như sau:

Điều 2. Tiếp tục thực hiện và bổ sung một số cơ chế, chính sách và giải pháp để phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh của Vùng.
1. Cơ chế, chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn:
- Các đối tượng hộ gia đình thuộc diện phải bố trí, sắp xếp lại dân cư ở các nơi xung yếu, rất xung yếu, bảo vệ nghiêm ngặt của rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trong vùng đồng bằng sông Cửu Long được hưởng chính sách theo Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Tất cả các đối tượng di dân trong vùng dự án, các hộ sống ở vùng thiên tai, ngập lũ được chuyển vào cụm tuyến dân cư vượt lũ, không có đất để khai hoang, mở rộng diện tích sản xuất nông, lâm nghiệp, di dân nội vùng… đều được hưởng chính sách hỗ trợ từ ngân sách trung ương theo Quyết định số 190/2003/QĐ-TTg ngày 16 tháng 9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ.
- Cho phép áp dụng những cơ chế, chính sách hiện hành nêu tại các quyết định sau đây cho vùng đồng bằng sông Cửu Long:
+ Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg ngày 23 tháng 7 năm 2005 về việc thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng;
+ Quyết định số 231/2005/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2005 về hỗ trợ doanh nghiệp nông, lâm nghiệp nhà nước, Ban Quản lý rừng đặc dụng, Ban Quản lý rừng phòng hộ sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số.
2. Về chính sách đất đai cho nông dân không có đất, thiếu đất sản xuất:
- Tạo thêm quỹ đất bằng cách khai hoang; rà soát lại quỹ đất của các tổ chức nông, lâm trường quốc doanh không sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả để thu hồi, giao lại cho địa phương để giao cho các hộ nông dân chưa có đất sản xuất.
- Ở những nơi không còn quỹ đất công, chính quyền địa phương tổ chức cho người lao động chuyển đổi ngành nghề bằng cách đào tạo nghề, thu hút lao động vào các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ tại địa phương hoặc cung cấp lao động cho các khu công nghiệp ở các vùng khác.
- Tạo điều kiện để một bộ phận nông dân thiếu đất hoặc không có đất được đến lập nghiệp ở các vùng kinh tế mới hoặc mở rộng ngành nghề dưới nhiều hình thức khác nhau, tạo việc làm cho nông dân không có đất sản xuất. Tăng cường giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn thông qua xuất khẩu lao động.
3. Cơ chế, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số:
- Tập trung thực hiện tốt Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2004 về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; đồng thời thực hiện tốt các chính sách xã hội khác của Nhà nước phù hợp với điều kiện và tập quán của đồng bào.
- Thực hiện chính sách hỗ trợ vốn ngân sách nhà nước để: xây dựng trường lớp riêng cho trẻ em Khmer và sư sãi Nam Tông, xây dựng các lò hỏa táng theo tập tục ở vùng đồng bào dân tộc, hỗ trợ đối với giáo viên (kể cả nhà sư) dạy bổ túc chữ Khmer ở các chùa.
- Ưu tiên giải quyết nâng mức đầu tư cho vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội và các nguồn vốn khác. Thực hiện tốt công tác khuyến nông, khuyến công và tăng cường hướng dẫn cách làm ăn cho đồng bào.
- Đối với các gia đình đồng bào dân tộc nghèo, ngoài việc được miễn đóng góp các khoản tiền cho học tập, khám chữa bệnh, từng địa phương cần có những quy định cụ thể miễn giảm các khoản đóng góp khác trong phạm vi thẩm quyền.
- Tiếp tục thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, đối với các đối tượng chính sách khác, các hộ sản xuất, kinh doanh ở Vùng khó khăn do Ngân hàng chính sách xã hội và Ngân hàng phát triển thực tiễn theo Quyết định của Chính phủ.
- Mở rộng diện cử tuyển cho học sinh người dân tộc thiểu số. Đối với học sinh là người dân tộc thiểu số nghèo thuộc diện học ở các trường nội trú nhưng lại học ở các trường công lập, bán công được hưởng học bổng bằng 50% mức học bổng nội trú như quy định hiện hành. Ưu tiên giải quyết việc làm cho con em đồng bào dân tộc thiểu số đã qua đào tạo.
- Xây dựng chính sách ưu đãi cụ thể đối với những doanh nghiệp đầu tư vào vùng dân tộc Khmer và những dự án sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số.
- Mở rộng chương trình và tăng thời lượng phát sóng bằng tiếng dân tộc Khmer, cải tạo và xây dựng các trạm truyền thanh ở cơ sở. Có kế hoạch bảo tồn, khai thác và phát huy vốn văn hóa của các dân tộc thiểu số trong Vùng.
- Tiếp tục thực hiện Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về khám, chữa bệnh cho người nghèo và đối tượng thuộc diện chính sách xã hội.
- Điều chỉnh định mức tiền thuốc và tiêu hao vật tư y tế thông dụng cho các tramh y tế xã, tăng mức phụ cấp cho giáo viên mầm non, mẫu giáo và cán bộ y tế thêm bằng 50% so với mức lương cơ bản tại các xã Vùng khó khăn theo Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 3 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ.
4. Cơ chế, chính sách về huy động nguồn lực cho phát triển:
- Huy động tối đa các nguồn lực, trong đó đặc biệt là nguồn lực từ khai thác quỹ đất, tài sản công, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Tiếp tục thực hiện chính sách xã hội hóa theo Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP của Chính phủ, phù hợp với đặc điểm kinh tế và điều kiện xã hội ở mỗi địa phương. Ngân sách nhà nước dành kinh phí ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng chủ yếu.
- Khuyến khích mở rộng các hình thức dịch vụ về vốn cho người sản xuất, đặc biệt khuyến khích các doanh nghiệp giải quyết vốn cho dân dưới hình thức ứng vốn trước cho người sản xuất và thu hồi lại bằng sản phẩm.
- Tổ chức các cuộc xúc tiến giới thiệu thế mạnh và các lĩnh vực được ưu đãi để kêu gọi vốn FDI đầu tư vào địa phương. Đồng thời, cần ban hành những quy định cụ thể để giúp các doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, tiếp cận các nguồn vốn; hỗ trợ doanh nghiệp thông qua việc giải phóng mặt bằng, đào tạo nguồn nhân lực; thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng.
5. Cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách nhà nước:
Hàng năm, ngân sách trung ương hỗ trợ cho các địa phương trong Vùng qua các chương trình, dự án do Bộ, ngành quản lý; hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu cho các địa phương.
Nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương được ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội. Các công trình, dự án do địa phương quản lý chủ yếu do ngân sách địa phương bố trí, ngân sách trung ương hỗ trợ một phần vốn cho địa phương căn cứ vào khả năng cân đối ngân sách nhà nước hàng năm được Quốc hội phê duyệt.
- Từ nay đến 2010 tập trung vận động và dành ưu tiên nguồn vốn ODA cho vùng đồng bằng sông Cửu Long để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội, nhằm phát triển toàn diện nông thôn, xóa đói, giảm nghèo; phát triển mạng lưới giao thông, thủy lợi, đầu tư mới và nâng cấp các hệ thống cấp, thoát nước; hỗ trợ phát triển giáo dục và đào tạo; phát triển hệ thống y tế, phòng, chống dịch bệnh.
Các địa phương xây dựng kế hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA từ nay đến năm 2010 để làm căn cứ cho việc vận động, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các Bộ, ngành trong quá trình lồng ghép các chương trình, dự án ODA lớn, thiết lập mối quan hệ với các nhà tài trợ để tiếp cận tốt hơn nguồn vốn ODA và NGO, tổ chức hội nghị điều phối ODA cho cả Vùng.
- Nâng mức hỗ trợ vốn ngân sách trung ương tối đa không quá 70 tỷ đồng cho việc đầu tư khu công nghiệp đối với các địa phương đáp ứng tiêu chí của Quyết định số 183/2004/QĐ-TTg ngày 19 tháng 10 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ (bao gồm cả đường gom hoặc đường, cầu vào khu công nghiệp).
- Hỗ trợ vốn ngân sách trung ương cho việc xây dựng hạ tầng khu công nghiệp thứ 2 do địa phương lựa chọn, tối đa không quá 70 tỷ đồng, đối với các địa phương đáp ứng tiêu chí của Quyết định số 183/2004/QĐ-TTg .
- Hỗ trợ 100% vốn đối ứng các dự án ODA do địa phương quản lý đối với các dự án đáp ứng điều kiện hỗ trợ của Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg ngày 12 tháng 9 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ.
- Tiếp tục bố trí vốn để thực hiện các Quyết định số 84/2006/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 344/2005/QĐ-TTg ngày 26 tháng 12 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 78/2004/QĐ-TTg ngày 07 tháng 5 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh bổ sung một số cơ chế, chính sách để đẩy nhanh tốc độ xây dựng cụm tuyến dân cư và nhà ở tại các tỉnh thường xuyên ngập lũ vùng đồng bằng sông Cửu Long và phối hợp, lồng ghép các chương trình, mục tiêu trên địa bàn; đặc biệt ưu tiên và tập trung bố trí vốn từ các chương trình: nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn, xây dựng nâng cấp trường học, chương trình y tế và các chương trình khác để hoàn thiện đồng bộ cơ sở hạ tầng trong cụm, tuyến dân cư.

Content:
Điều 2. Tiếp tục thực hiện và bổ sung một số cơ chế, chính sách và giải pháp để phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh của Vùng.
1. Cơ chế, chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn:
- Các đối tượng hộ gia đình thuộc diện phải bố trí, sắp xếp lại dân cư ở các nơi xung yếu, rất xung yếu, bảo vệ nghiêm ngặt của rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trong vùng đồng bằng sông Cửu Long được hưởng chính sách theo Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Tất cả các đối tượng di dân trong vùng dự án, các hộ sống ở vùng thiên tai, ngập lũ được chuyển vào cụm tuyến dân cư vượt lũ, không có đất để khai hoang, mở rộng diện tích sản xuất nông, lâm nghiệp, di dân nội vùng… đều được hưởng chính sách hỗ trợ từ ngân sách trung ương theo Quyết định số 190/2003/QĐ-TTg ngày 16 tháng 9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ.
- Cho phép áp dụng những cơ chế, chính sách hiện hành nêu tại các quyết định sau đây cho vùng đồng bằng sông Cửu Long:
+ Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg ngày 23 tháng 7 năm 2005 về việc thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng;
+ Quyết định số 231/2005/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2005 về hỗ trợ doanh nghiệp nông, lâm nghiệp nhà nước, Ban Quản lý rừng đặc dụng, Ban Quản lý rừng phòng hộ sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số.
2. Về chính sách đất đai cho nông dân không có đất, thiếu đất sản xuất:
- Tạo thêm quỹ đất bằng cách khai hoang; rà soát lại quỹ đất của các tổ chức nông, lâm trường quốc doanh không sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả để thu hồi, giao lại cho địa phương để giao cho các hộ nông dân chưa có đất sản xuất.
- Ở những nơi không còn quỹ đất công, chính quyền địa phương tổ chức cho người lao động chuyển đổi ngành nghề bằng cách đào tạo nghề, thu hút lao động vào các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ tại địa phương hoặc cung cấp lao động cho các khu công nghiệp ở các vùng khác.
- Tạo điều kiện để một bộ phận nông dân thiếu đất hoặc không có đất được đến lập nghiệp ở các vùng kinh tế mới hoặc mở rộng ngành nghề dưới nhiều hình thức khác nhau, tạo việc làm cho nông dân không có đất sản xuất. Tăng cường giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn thông qua xuất khẩu lao động.
3. Cơ chế, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số:
- Tập trung thực hiện tốt Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2004 về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; đồng thời thực hiện tốt các chính sách xã hội khác của Nhà nước phù hợp với điều kiện và tập quán của đồng bào.
- Thực hiện chính sách hỗ trợ vốn ngân sách nhà nước để: xây dựng trường lớp riêng cho trẻ em Khmer và sư sãi Nam Tông, xây dựng các lò hỏa táng theo tập tục ở vùng đồng bào dân tộc, hỗ trợ đối với giáo viên (kể cả nhà sư) dạy bổ túc chữ Khmer ở các chùa.
- Ưu tiên giải quyết nâng mức đầu tư cho vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội và các nguồn vốn khác. Thực hiện tốt công tác khuyến nông, khuyến công và tăng cường hướng dẫn cách làm ăn cho đồng bào.
- Đối với các gia đình đồng bào dân tộc nghèo, ngoài việc được miễn đóng góp các khoản tiền cho học tập, khám chữa bệnh, từng địa phương cần có những quy định cụ thể miễn giảm các khoản đóng góp khác trong phạm vi thẩm quyền.
- Tiếp tục thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, đối với các đối tượng chính sách khác, các hộ sản xuất, kinh doanh ở Vùng khó khăn do Ngân hàng chính sách xã hội và Ngân hàng phát triển thực tiễn theo Quyết định của Chính phủ.
- Mở rộng diện cử tuyển cho học sinh người dân tộc thiểu số. Đối với học sinh là người dân tộc thiểu số nghèo thuộc diện học ở các trường nội trú nhưng lại học ở các trường công lập, bán công được hưởng học bổng bằng 50% mức học bổng nội trú như quy định hiện hành. Ưu tiên giải quyết việc làm cho con em đồng bào dân tộc thiểu số đã qua đào tạo.
- Xây dựng chính sách ưu đãi cụ thể đối với những doanh nghiệp đầu tư vào vùng dân tộc Khmer và những dự án sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số.
- Mở rộng chương trình và tăng thời lượng phát sóng bằng tiếng dân tộc Khmer, cải tạo và xây dựng các trạm truyền thanh ở cơ sở. Có kế hoạch bảo tồn, khai thác và phát huy vốn văn hóa của các dân tộc thiểu số trong Vùng.
- Tiếp tục thực hiện Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về khám, chữa bệnh cho người nghèo và đối tượng thuộc diện chính sách xã hội.
- Điều chỉnh định mức tiền thuốc và tiêu hao vật tư y tế thông dụng cho các tramh y tế xã, tăng mức phụ cấp cho giáo viên mầm non, mẫu giáo và cán bộ y tế thêm bằng 50% so với mức lương cơ bản tại các xã Vùng khó khăn theo Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 3 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ.
4. Cơ chế, chính sách về huy động nguồn lực cho phát triển:
- Huy động tối đa các nguồn lực, trong đó đặc biệt là nguồn lực từ khai thác quỹ đất, tài sản công, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Tiếp tục thực hiện chính sách xã hội hóa theo Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP của Chính phủ, phù hợp với đặc điểm kinh tế và điều kiện xã hội ở mỗi địa phương. Ngân sách nhà nước dành kinh phí ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng chủ yếu.
- Khuyến khích mở rộng các hình thức dịch vụ về vốn cho người sản xuất, đặc biệt khuyến khích các doanh nghiệp giải quyết vốn cho dân dưới hình thức ứng vốn trước cho người sản xuất và thu hồi lại bằng sản phẩm.
- Tổ chức các cuộc xúc tiến giới thiệu thế mạnh và các lĩnh vực được ưu đãi để kêu gọi vốn FDI đầu tư vào địa phương. Đồng thời, cần ban hành những quy định cụ thể để giúp các doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, tiếp cận các nguồn vốn; hỗ trợ doanh nghiệp thông qua việc giải phóng mặt bằng, đào tạo nguồn nhân lực; thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng.
5. Cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách nhà nước:
Hàng năm, ngân sách trung ương hỗ trợ cho các địa phương trong Vùng qua các chương trình, dự án do Bộ, ngành quản lý; hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu cho các địa phương.
Nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương được ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội. Các công trình, dự án do địa phương quản lý chủ yếu do ngân sách địa phương bố trí, ngân sách trung ương hỗ trợ một phần vốn cho địa phương căn cứ vào khả năng cân đối ngân sách nhà nước hàng năm được Quốc hội phê duyệt.
- Từ nay đến 2010 tập trung vận động và dành ưu tiên nguồn vốn ODA cho vùng đồng bằng sông Cửu Long để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội, nhằm phát triển toàn diện nông thôn, xóa đói, giảm nghèo; phát triển mạng lưới giao thông, thủy lợi, đầu tư mới và nâng cấp các hệ thống cấp, thoát nước; hỗ trợ phát triển giáo dục và đào tạo; phát triển hệ thống y tế, phòng, chống dịch bệnh.
Các địa phương xây dựng kế hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA từ nay đến năm 2010 để làm căn cứ cho việc vận động, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các Bộ, ngành trong quá trình lồng ghép các chương trình, dự án ODA lớn, thiết lập mối quan hệ với các nhà tài trợ để tiếp cận tốt hơn nguồn vốn ODA và NGO, tổ chức hội nghị điều phối ODA cho cả Vùng.
- Nâng mức hỗ trợ vốn ngân sách trung ương tối đa không quá 70 tỷ đồng cho việc đầu tư khu công nghiệp đối với các địa phương đáp ứng tiêu chí của Quyết định số 183/2004/QĐ-TTg ngày 19 tháng 10 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ (bao gồm cả đường gom hoặc đường, cầu vào khu công nghiệp).
- Hỗ trợ vốn ngân sách trung ương cho việc xây dựng hạ tầng khu công nghiệp thứ 2 do địa phương lựa chọn, tối đa không quá 70 tỷ đồng, đối với các địa phương đáp ứng tiêu chí của Quyết định số 183/2004/QĐ-TTg .
- Hỗ trợ 100% vốn đối ứng các dự án ODA do địa phương quản lý đối với các dự án đáp ứng điều kiện hỗ trợ của Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg ngày 12 tháng 9 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ.
- Tiếp tục bố trí vốn để thực hiện các Quyết định số 84/2006/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 344/2005/QĐ-TTg ngày 26 tháng 12 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 78/2004/QĐ-TTg ngày 07 tháng 5 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh bổ sung một số cơ chế, chính sách để đẩy nhanh tốc độ xây dựng cụm tuyến dân cư và nhà ở tại các tỉnh thường xuyên ngập lũ vùng đồng bằng sông Cửu Long và phối hợp, lồng ghép các chương trình, mục tiêu trên địa bàn; đặc biệt ưu tiên và tập trung bố trí vốn từ các chương trình: nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn, xây dựng nâng cấp trường học, chương trình y tế và các chương trình khác để hoàn thiện đồng bộ cơ sở hạ tầng trong cụm, tuyến dân cư.