Document: Điều 4 Quyết định 36/2013/QĐ-UBND kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 Phú Thọ

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "16/12/2013", "sign_number": "36/2013/QĐ-UBND", "signer": "Chu Ngọc Anh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "16/12/2013", "sign_number": "36/2013/QĐ-UBND", "signer": "Chu Ngọc Anh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "16/12/2013", "sign_number": "36/2013/QĐ-UBND", "signer": "Chu Ngọc Anh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "16/12/2013", "sign_number": "36/2013/QĐ-UBND", "signer": "Chu Ngọc Anh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "16/12/2013", "sign_number": "36/2013/QĐ-UBND", "signer": "Chu Ngọc Anh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 4 Quyết định 36/2013/QĐ-UBND kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 Phú Thọ có nội dung như sau:

Điều 4. Về bố trí, điều hành vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2014
1. Nguyên tắc chung bố trí kế hoạch nguồn vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ
Việc bố trí kế hoạch vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2014 thực hiện theo đúng quy định tại các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ: số 1792/CT-TTg ngày 15/01/2011, số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012, số 14/CT-TTg ngày 18/6/2013 về tăng cường quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng XDCB nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong kế hoạch 5 năm (2011-2015) đã được HĐND tỉnh thông qua, phù hợp với kế hoạch đầu tư trung hạn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Nguồn vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2014 thực hiện cân đối, bố trí cho các dự án theo thứ tự ưu tiên như sau:
(1) Ưu tiên trả nợ vốn vay ngân hàng phát triển, vốn vay kho bạc nhà nước, hoàn ứng ngân sách Trung ương và ngân sách tỉnh;
(2) Bố trí vốn cho các chương trình, dự án theo chỉ đạo của Trung ương; bố trí vốn đối ứng cho các dự án ODA và dự án bộ, ngành đầu tư;
(3) Bố trí vốn cho các dự án đã được phê duyệt quyết toán;
(4) Bố trí vốn cho các công trình cấp bách trọng điểm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của tỉnh;
(5) Bố trí vốn cho một số công trình cấp bách góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương, của các ngành hoàn thành 31/12/2013;
(6) Bố trí vốn cho một số công trình hoàn thành 31/12/2014;
(7) Bố trí vốn cho một số công trình khởi công mới cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, có đủ các điều kiện theo quy định và hoàn thành thủ tục đầu tư trước ngày 31/10/2013, đã được Chính phủ và các bộ, ngành định hướng.
* Đối với nguồn thu sử dụng đất ngân sách huyện, xã được hưởng theo tỷ lệ điều tiết: Các huyện, thành thị phải tập trung bố trí để xử lý nợ đọng XDCB theo lộ trình quy định tại Chỉ thị 27/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ (kể cả các dự án do UBND tỉnh phê duyệt, giao UBND các huyện, thành thị làm chủ đầu tư). UBND các huyện, thành, thị phải phân bổ riêng từng nguồn để thuận lợi cho công tác quản lý, thanh quyết toán từng nguồn vốn theo quy định; gửi kết quả phân bổ vốn về UBND tỉnh (qua Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính) để quản lý, giám sát trước ngày 30/01/2014.
2. Về thực hiện Nghị quyết 01/NQ-TU ngày 10/3/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển giao thông nông thôn giai đoạn 2011-2015
- Sở Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với UBND các huyện rà soát công trình giao thông nông thôn theo Nghị quyết 01-NQ/TU chưa triển khai xây dựng, xác định các công trình ưu tiên xây dựng trong năm 2014; đề xuất với UBND tỉnh điều chỉnh cơ chế hỗ trợ phát triển giao thông nông thôn.
- UBND tỉnh bố trí 30% vốn tín dụng đầu tư; vốn đầu tư XDCB tập trung, vốn vượt thu ngân sách tỉnh để xây dựng đường giao thông nông thôn.
- Đối với các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, an toàn khu và các xã, khu dân cư có tỷ lệ hộ nghèo cao thực hiện phương thức hỗ trợ riêng: Nhà nước hỗ trợ xi măng, cát, sỏi; nhân dân đóng góp công lao động và giải phóng mặt bằng để xây dựng công trình.
3. Về cơ chế quản lý, điều hành vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ năm 2014:
- Các cấp, các ngành phải tuân thủ đúng quy định hiện hành về thẩm quyền quyết định phê duyệt dự án đầu tư (kể cả dự án mới và dự án điều chỉnh, bổ sung). Việc thẩm định nguồn vốn đầu tư ở các cấp ngân sách theo quy định tại Chỉ thị 1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ là nội dung bắt buộc phải thực hiện trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư.
- Chủ tịch UBND cấp huyện (theo phân cấp đầu tư) có trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ phạm vi, quy mô của từng dự án đầu tư theo đúng mục tiêu, lĩnh vực, chương trình đã phê duyệt; chỉ được quyết định đầu tư dự án mới khi đã xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn để hoàn thành dự án trong thời gian theo quy định, không phát sinh thêm nợ đọng XDCB và phải đảm bảo hoàn thành xử lý nợ đọng XDCB vào năm 2015.
- Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư thẩm định nguồn vốn các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND tỉnh và các dự án phân cấp thẩm quyền quyết định đầu tư cho Chủ tịch UBND các huyện, thành, thị sử dụng vốn hỗ trợ từ ngân sách cấp trên. Đối với dự án sử dụng vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, vốn trái phiếu Chính phủ, trình Chủ tịch UBND tỉnh báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính thẩm định nguồn vốn và phần vốn Trung ương đầu tư theo quy định.
- Căn cứ kết quả thẩm định nguồn vốn, phần vốn được hỗ trợ từ ngân sách cấp trên, Chủ tịch UBND các huyện, thành, thị (theo phân cấp) quyết định đầu tư dự án theo thẩm quyền.
- Tất cả dự án do UBND các huyện, thành, thị phê duyệt mới và phê duyệt điều chỉnh, bổ sung trong năm 2014 (đối với mọi nguồn vốn) phải gửi quyết định phê duyệt dự án kèm theo văn bản thẩm định nguồn vốn về Sở kế hoạch và Đầu tư để theo dõi, giám sát trong vòng 10 ngày kể từ ngày phê duyệt. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đầu tư của UBND các huyện, thành, thị gửi đến và trong quá trình kiểm tra việc thực hiện dự án, nếu phát hiện quyết định đầu tư hoặc việc triển khai thực hiện dự án chưa tuân thủ đúng các quy định tại Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011, Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012, Chỉ thị 14/CT-TTg ngày 28/6/2013, Quyết định số 04/2013/QĐ-UBND ngày 23/4/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh thì Sở Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến bằng văn bản để UBND các huyện, thành, thị điều chỉnh, sửa đổi. Trường hợp không điều chỉnh, sửa đổi thì Sở Kế hoạch và Đầu tư báo cáo, kiến nghị với UBND tỉnh biện pháp xử lý.
- Căn cứ mức vốn được thông báo, các sở, ngành chủ quản chương trình, UBND huyện, thành, thị phối hợp Kho bạc Nhà nước đôn đốc các chủ đầu tư thực hiện dự án, hoàn tất thủ tục, hồ sơ thanh toán, kịp thời giải ngân theo tiến độ.
- Các công trình, dự án được bố trí vốn đầu tư từ NSNN, TPCP năm 2014 phải thực hiện giải ngân trước ngày 30/3/2014 và thanh toán hết vốn trong niên hạn kế hoạch; xây dựng công trình theo đúng mức vốn được giao để không phát sinh thêm nợ đọng XDCB. UBND các huyện, thành, thị có trách nhiệm cân đối các nguồn vốn để xử lý tối thiểu 50% khối lượng nợ XDCB còn lại từ năm 2014 thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách huyện, xã.
- Mọi trường hợp điều chỉnh kế hoạch vốn, bổ sung vốn, điều chuyển vốn đầu tư thuộc phạm vi ngân sách tỉnh, chủ đầu tư phải báo cáo UBND tỉnh xem xét, quyết định.
- Việc tạm ứng, cấp phát vốn đầu tư, thu hồi vốn tạm ứng từ nguồn NSNN, vốn trái phiếu Chính phủ phải tuân thủ các quy định hiện hành về đầu tư xây dựng. Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước theo dõi tình hình huy động, phân bổ, thanh toán các nguồn vốn đầu tư từ NSNN, trái phiếu Chính phủ báo cáo UBND tỉnh theo định kỳ hàng quý, 6 tháng, năm. Giao Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư thông báo danh mục, mức vốn các dự án thuộc Chương trình CT229.
- Các cấp, các ngành tăng cường công tác phổ biến, quán triệt và thực hiện nghiêm túc Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu và các Nghị định, Chỉ thị, văn bản hướng dẫn có liên quan về đầu tư xây dựng. Tổ chức thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo giám sát đánh giá đầu tư theo Nghị định số 113/2009/NĐ-CP ngày 15/12/2009 của Chính phủ và thực hiện Quy chế giám sát đầu tư cộng đồng theo Quyết định 80/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư Liên tịch số 04/2006/TTLT ngày 04/12/2006 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.
- Các cấp, các ngành đẩy mạnh cải cách hành chính, tổ chức thực hiện tốt cơ chế "một cửa" và "một cửa liên thông" trong quản lý đầu tư. Định kỳ hàng quý, 6 tháng tổ chức giao ban giữa các ngành và các chủ đầu tư để kịp thời tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ và giải ngân vốn đầu tư, thực hiện đúng tiến độ hoàn thành đưa công trình vào sử dụng, phát huy hiệu quả.
- Giao Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các ngành có liên quan tổ chức kiểm tra, đôn đốc các chủ đầu tư thực hiện công tác quyết toán các công trình, dự án hoàn thành theo đúng quy định; kiên quyết xử lý các chủ đầu tư chậm trễ, vi phạm các quy định về quyết toán các công trình, dự án hoàn thành.
- Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan, UBND các huyện, thành, thị: Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xử lý tồn tại đối với 59 dự án đầu tư chậm tiến độ; kiên quyết thu hồi dự án không đầu tư, đầu tư không đúng mục đích hoặc không có hiệu quả. Tiếp tục rà soát, thu hồi giấy chứng nhận đầu tư các dự án quá thời hạn quy định nhưng không thực hiện đầu tư.
- Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan rà soát các chủ đầu tư năng lực yếu kém, xây dựng nhiều công trình chậm tiến độ, chất lượng thấp, phải điều chỉnh bổ sung dự án nhiều lần, báo cáo UBND tỉnh xem xét, điều chuyển dự án cho đơn vị khác thực hiện và không giao làm chủ đầu tư các dự án mới; công bố công khai danh sách nhà thầu yếu kém (thực hiện chậm tiến độ, chất lượng thấp, chậm quyết toán từ 3 công trình trở lên,...) làm cơ sở để các chủ đầu tư đánh giá, loại bỏ các nhà thầu này trong quá trình tổ chức đấu thầu các dự án trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật về đấu thầu.

Content:
Điều 4. Về bố trí, điều hành vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2014
1. Nguyên tắc chung bố trí kế hoạch nguồn vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ
Việc bố trí kế hoạch vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2014 thực hiện theo đúng quy định tại các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ: số 1792/CT-TTg ngày 15/01/2011, số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012, số 14/CT-TTg ngày 18/6/2013 về tăng cường quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng XDCB nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong kế hoạch 5 năm (2011-2015) đã được HĐND tỉnh thông qua, phù hợp với kế hoạch đầu tư trung hạn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Nguồn vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2014 thực hiện cân đối, bố trí cho các dự án theo thứ tự ưu tiên như sau:
(1) Ưu tiên trả nợ vốn vay ngân hàng phát triển, vốn vay kho bạc nhà nước, hoàn ứng ngân sách Trung ương và ngân sách tỉnh;
(2) Bố trí vốn cho các chương trình, dự án theo chỉ đạo của Trung ương; bố trí vốn đối ứng cho các dự án ODA và dự án bộ, ngành đầu tư;
(3) Bố trí vốn cho các dự án đã được phê duyệt quyết toán;
(4) Bố trí vốn cho các công trình cấp bách trọng điểm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của tỉnh;
(5) Bố trí vốn cho một số công trình cấp bách góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương, của các ngành hoàn thành 31/12/2013;
(6) Bố trí vốn cho một số công trình hoàn thành 31/12/2014;
(7) Bố trí vốn cho một số công trình khởi công mới cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, có đủ các điều kiện theo quy định và hoàn thành thủ tục đầu tư trước ngày 31/10/2013, đã được Chính phủ và các bộ, ngành định hướng.
* Đối với nguồn thu sử dụng đất ngân sách huyện, xã được hưởng theo tỷ lệ điều tiết: Các huyện, thành thị phải tập trung bố trí để xử lý nợ đọng XDCB theo lộ trình quy định tại Chỉ thị 27/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ (kể cả các dự án do UBND tỉnh phê duyệt, giao UBND các huyện, thành thị làm chủ đầu tư). UBND các huyện, thành, thị phải phân bổ riêng từng nguồn để thuận lợi cho công tác quản lý, thanh quyết toán từng nguồn vốn theo quy định; gửi kết quả phân bổ vốn về UBND tỉnh (qua Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính) để quản lý, giám sát trước ngày 30/01/2014.
2. Về thực hiện Nghị quyết 01/NQ-TU ngày 10/3/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển giao thông nông thôn giai đoạn 2011-2015
- Sở Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với UBND các huyện rà soát công trình giao thông nông thôn theo Nghị quyết 01-NQ/TU chưa triển khai xây dựng, xác định các công trình ưu tiên xây dựng trong năm 2014; đề xuất với UBND tỉnh điều chỉnh cơ chế hỗ trợ phát triển giao thông nông thôn.
- UBND tỉnh bố trí 30% vốn tín dụng đầu tư; vốn đầu tư XDCB tập trung, vốn vượt thu ngân sách tỉnh để xây dựng đường giao thông nông thôn.
- Đối với các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, an toàn khu và các xã, khu dân cư có tỷ lệ hộ nghèo cao thực hiện phương thức hỗ trợ riêng: Nhà nước hỗ trợ xi măng, cát, sỏi; nhân dân đóng góp công lao động và giải phóng mặt bằng để xây dựng công trình.
3. Về cơ chế quản lý, điều hành vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ năm 2014:
- Các cấp, các ngành phải tuân thủ đúng quy định hiện hành về thẩm quyền quyết định phê duyệt dự án đầu tư (kể cả dự án mới và dự án điều chỉnh, bổ sung). Việc thẩm định nguồn vốn đầu tư ở các cấp ngân sách theo quy định tại Chỉ thị 1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ là nội dung bắt buộc phải thực hiện trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư.
- Chủ tịch UBND cấp huyện (theo phân cấp đầu tư) có trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ phạm vi, quy mô của từng dự án đầu tư theo đúng mục tiêu, lĩnh vực, chương trình đã phê duyệt; chỉ được quyết định đầu tư dự án mới khi đã xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn để hoàn thành dự án trong thời gian theo quy định, không phát sinh thêm nợ đọng XDCB và phải đảm bảo hoàn thành xử lý nợ đọng XDCB vào năm 2015.
- Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư thẩm định nguồn vốn các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND tỉnh và các dự án phân cấp thẩm quyền quyết định đầu tư cho Chủ tịch UBND các huyện, thành, thị sử dụng vốn hỗ trợ từ ngân sách cấp trên. Đối với dự án sử dụng vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, vốn trái phiếu Chính phủ, trình Chủ tịch UBND tỉnh báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính thẩm định nguồn vốn và phần vốn Trung ương đầu tư theo quy định.
- Căn cứ kết quả thẩm định nguồn vốn, phần vốn được hỗ trợ từ ngân sách cấp trên, Chủ tịch UBND các huyện, thành, thị (theo phân cấp) quyết định đầu tư dự án theo thẩm quyền.
- Tất cả dự án do UBND các huyện, thành, thị phê duyệt mới và phê duyệt điều chỉnh, bổ sung trong năm 2014 (đối với mọi nguồn vốn) phải gửi quyết định phê duyệt dự án kèm theo văn bản thẩm định nguồn vốn về Sở kế hoạch và Đầu tư để theo dõi, giám sát trong vòng 10 ngày kể từ ngày phê duyệt. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đầu tư của UBND các huyện, thành, thị gửi đến và trong quá trình kiểm tra việc thực hiện dự án, nếu phát hiện quyết định đầu tư hoặc việc triển khai thực hiện dự án chưa tuân thủ đúng các quy định tại Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011, Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012, Chỉ thị 14/CT-TTg ngày 28/6/2013, Quyết định số 04/2013/QĐ-UBND ngày 23/4/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh thì Sở Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến bằng văn bản để UBND các huyện, thành, thị điều chỉnh, sửa đổi. Trường hợp không điều chỉnh, sửa đổi thì Sở Kế hoạch và Đầu tư báo cáo, kiến nghị với UBND tỉnh biện pháp xử lý.
- Căn cứ mức vốn được thông báo, các sở, ngành chủ quản chương trình, UBND huyện, thành, thị phối hợp Kho bạc Nhà nước đôn đốc các chủ đầu tư thực hiện dự án, hoàn tất thủ tục, hồ sơ thanh toán, kịp thời giải ngân theo tiến độ.
- Các công trình, dự án được bố trí vốn đầu tư từ NSNN, TPCP năm 2014 phải thực hiện giải ngân trước ngày 30/3/2014 và thanh toán hết vốn trong niên hạn kế hoạch; xây dựng công trình theo đúng mức vốn được giao để không phát sinh thêm nợ đọng XDCB. UBND các huyện, thành, thị có trách nhiệm cân đối các nguồn vốn để xử lý tối thiểu 50% khối lượng nợ XDCB còn lại từ năm 2014 thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách huyện, xã.
- Mọi trường hợp điều chỉnh kế hoạch vốn, bổ sung vốn, điều chuyển vốn đầu tư thuộc phạm vi ngân sách tỉnh, chủ đầu tư phải báo cáo UBND tỉnh xem xét, quyết định.
- Việc tạm ứng, cấp phát vốn đầu tư, thu hồi vốn tạm ứng từ nguồn NSNN, vốn trái phiếu Chính phủ phải tuân thủ các quy định hiện hành về đầu tư xây dựng. Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước theo dõi tình hình huy động, phân bổ, thanh toán các nguồn vốn đầu tư từ NSNN, trái phiếu Chính phủ báo cáo UBND tỉnh theo định kỳ hàng quý, 6 tháng, năm. Giao Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư thông báo danh mục, mức vốn các dự án thuộc Chương trình CT229.
- Các cấp, các ngành tăng cường công tác phổ biến, quán triệt và thực hiện nghiêm túc Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu và các Nghị định, Chỉ thị, văn bản hướng dẫn có liên quan về đầu tư xây dựng. Tổ chức thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo giám sát đánh giá đầu tư theo Nghị định số 113/2009/NĐ-CP ngày 15/12/2009 của Chính phủ và thực hiện Quy chế giám sát đầu tư cộng đồng theo Quyết định 80/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư Liên tịch số 04/2006/TTLT ngày 04/12/2006 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.
- Các cấp, các ngành đẩy mạnh cải cách hành chính, tổ chức thực hiện tốt cơ chế "một cửa" và "một cửa liên thông" trong quản lý đầu tư. Định kỳ hàng quý, 6 tháng tổ chức giao ban giữa các ngành và các chủ đầu tư để kịp thời tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ và giải ngân vốn đầu tư, thực hiện đúng tiến độ hoàn thành đưa công trình vào sử dụng, phát huy hiệu quả.
- Giao Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các ngành có liên quan tổ chức kiểm tra, đôn đốc các chủ đầu tư thực hiện công tác quyết toán các công trình, dự án hoàn thành theo đúng quy định; kiên quyết xử lý các chủ đầu tư chậm trễ, vi phạm các quy định về quyết toán các công trình, dự án hoàn thành.
- Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan, UBND các huyện, thành, thị: Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xử lý tồn tại đối với 59 dự án đầu tư chậm tiến độ; kiên quyết thu hồi dự án không đầu tư, đầu tư không đúng mục đích hoặc không có hiệu quả. Tiếp tục rà soát, thu hồi giấy chứng nhận đầu tư các dự án quá thời hạn quy định nhưng không thực hiện đầu tư.
- Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan rà soát các chủ đầu tư năng lực yếu kém, xây dựng nhiều công trình chậm tiến độ, chất lượng thấp, phải điều chỉnh bổ sung dự án nhiều lần, báo cáo UBND tỉnh xem xét, điều chuyển dự án cho đơn vị khác thực hiện và không giao làm chủ đầu tư các dự án mới; công bố công khai danh sách nhà thầu yếu kém (thực hiện chậm tiến độ, chất lượng thấp, chậm quyết toán từ 3 công trình trở lên,...) làm cơ sở để các chủ đầu tư đánh giá, loại bỏ các nhà thầu này trong quá trình tổ chức đấu thầu các dự án trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật về đấu thầu.