Document: Điểm c Khoản 3 Điều 1 Quyết định 81/2007/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh bình dương đến năm 2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "05/06/2007", "sign_number": "81/2007/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "05/06/2007", "sign_number": "81/2007/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "05/06/2007", "sign_number": "81/2007/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "05/06/2007", "sign_number": "81/2007/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "05/06/2007", "sign_number": "81/2007/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 3 Điều 1 Quyết định 81/2007/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh bình dương đến năm 2020

Điều 1. Phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020" (sau đây gọi tắt là Quy hoạch) với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Phương hướng phát triển chủ yếu
...
c) Phát triển các ngành văn hoá - xã hội:
- Dân số:
Dân số tăng bình quân 4,2%/năm giai đoạn 2006 - 2010, tăng 5,9%/năm giai đoạn 2011 - 2015 và 4,6%/năm giai đoạn 2015 - 2020; trong đó, tốc độ tăng dân số tự nhiên giảm, tốc độ tăng cơ học được duy trì ở mức hợp lý. Dự báo dân số đạt 1,2 triệu người năm 2010; đạt 1,6 triệu người năm 2015 và khoảng 2 triệu người năm 2020 (quy mô dân số đạt mức đô thị loại I).
- Giáo dục - đào tạo:
Phát triển giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ chiến lược nhằm nâng cao nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu phát triển mạnh mẽ của sản xuất. Phát triển giáo dục phải đồng bộ ở tất cả các cấp học từ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Tiếp tục xây dựng các trường mầm non và tiểu học ở những xã, phường, thị trấn chưa có. Tách hệ trung học cơ sở và hệ trung học phổ thông theo mô hình thống nhất của cả nước vào cuối 2007. Năm 2010, bảo đảm mỗi xã, phường có ít nhất một trường trung học cơ sở. Tiếp tục kiên cố hoá hệ thống trường học, phấn đấu đạt chuẩn quốc gia về thiết bị dạy học trong tất cả các trường của Tỉnh.
Phát triển trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và đại học hợp lý trên cơ sở quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trên địa bàn Tỉnh. Quán triệt phương châm xã hội hoá công tác đào tạo, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tích cực tham gia đào tạo phát triển nguồn nhân lực theo các mô hình đào tạo khác nhau: công lập, tư thục và dân lập. Chú trọng đào tạo lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật cao cho các ngành công nghệ cao.
Phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu các khu công nghiệp của Tỉnh và các tỉnh khác trong Vùng, tiến tới đào tạo lao động cho xuất khẩu.
- Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân:
Phát triển đồng bộ và hoàn thiện mạng lưới y tế từ tỉnh xuống cơ sở, bảo đảm thực hiện đầy đủ các chương trình, chính sách y tế của Nhà nước. Không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cộng đồng, giải quyết tốt vấn đề chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Củng cố và phát triển hệ thống y tế dự phòng. Coi trọng việc phát triển nguồn dược liệu đặc hữu tại địa phương để phục vụ cho công tác chữa bệnh, nhất là trong lĩnh vực y học cổ truyền. Phấn đấu đến năm 2010 tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn dưới 10%; đến năm 2020 cơ bản không còn trẻ em suy dinh dưỡng. Tuổi thọ trung bình đạt 75 tuổi vào năm 2010; 77 tuổi vào năm 2015 và 80 tuổi vào năm 2020.
Đẩy mạnh công tác xã hội hoá y tế. Tăng cường đầu tư phát triển toàn diện ngành y tế cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực. Từng bước hiện đại hoá thiết bị chẩn đoán, điều trị cho bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế. Đầu tư xây dựng mới một số bệnh viện đa khoa khu vực phục vụ cho chuyên gia và các khu công nghiệp. Khuyến khích đầu tư một số bệnh viện ngoài công lập theo hình thức xã hội hóa nhằm thu hút nguồn lực từ các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển y tế, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của nhân dân trong tỉnh, trong vùng và người nước ngoài. Số cán bộ y tế (CBYT) 27 CBYT/vạn dân vào năm 2010, trong đó có 8 bác sĩ/vạn dân; tăng lên 38 CBYT/vạn dân, trong đó có 15 bác sĩ/vạn dân vào năm 2015. Đến năm 2020, đạt 55CBYT/vạn dân, trong đó có 30 bác sĩ/vạn dân.
Phát triển mạnh mẽ các cơ sở cung ứng dịch vụ chất lượng cao để chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng tốt hơn. Đặc biệt chú trọng việc xây dựng bệnh viện đa khoa và bệnh viện phụ sản đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm giảm tải cho các bệnh viện lớn ở thành phố Hồ Chí Minh, góp phần tăng nhanh cơ cấu cung ứng dịch vụ an sinh xã hội của Tỉnh thời kỳ sau năm 2015.
- Văn hóa thông tin, thể dục - thể thao:
Phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa thông tin, thể dục - thể thao. Chú trọng phát triển các hoạt động này ở vùng nông thôn. Củng cố và phát triển thư viện ở các cấp, từ đô thị đến nông thôn. Nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình; xây dựng Đài phát thanh truyền hình tỉnh và các trạm cơ sở với quy mô phù hợp điều kiện thực tế và theo đúng quy hoạch chung hệ thống phát thanh, truyền hình trong cả nước. Phát triển, củng cố hoạt động bảo tồn, bảo tàng nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị di sản văn hoá, di tích lịch sử và phát huy bản sắc dân tộc.
Phấn đấu đến năm 2010 có 91% gia đình văn hóa, 73% số ấp, khu phố đạt danh hiệu và tiêu chuẩn văn hóa; năm 2020 tỷ lệ tương ứng là 96% và 85%.
- Giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và chính sách đối với người có công:
Cơ cấu lao động chuyển dịch phù hợp với cơ cấu kinh tế theo hướng giảm lao động làm việc trong các ngành có năng suất thấp sang các ngành có năng suất, hiệu quả cao hơn. Hàng năm, tạo thêm việc làm cho lực lượng lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 4,4% năm 2010; 4,2% năm 2015; 4% vào năm 2020 và trên 70% lao động qua đào tạo vào năm 2020.
Nâng cao thu nhập của người lao động trên cơ sở tăng nhanh tốc độ phát triển đạt mức bình quân của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vào năm 2015 và vượt mức bình quân của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vào năm 2020. Thực hiện đồng bộ các chương trình, dự án xoá đói, giảm nghèo, tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận với các chính sách trợ giúp về tín dụng, việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản. Đồng thời, nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm, tinh thần tự lực vươn lên thoát nghèo; quan tâm, giúp đỡ các hộ diện chính sách, các đối tượng có công với cách mạng.

Content:
Phát triển các ngành văn hoá - xã hội:
- Dân số:
Dân số tăng bình quân 4,2%/năm giai đoạn 2006 - 2010, tăng 5,9%/năm giai đoạn 2011 - 2015 và 4,6%/năm giai đoạn 2015 - 2020; trong đó, tốc độ tăng dân số tự nhiên giảm, tốc độ tăng cơ học được duy trì ở mức hợp lý. Dự báo dân số đạt 1,2 triệu người năm 2010; đạt 1,6 triệu người năm 2015 và khoảng 2 triệu người năm 2020 (quy mô dân số đạt mức đô thị loại I).
- Giáo dục - đào tạo:
Phát triển giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ chiến lược nhằm nâng cao nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu phát triển mạnh mẽ của sản xuất. Phát triển giáo dục phải đồng bộ ở tất cả các cấp học từ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Tiếp tục xây dựng các trường mầm non và tiểu học ở những xã, phường, thị trấn chưa có. Tách hệ trung học cơ sở và hệ trung học phổ thông theo mô hình thống nhất của cả nước vào cuối 2007. Năm 2010, bảo đảm mỗi xã, phường có ít nhất một trường trung học cơ sở. Tiếp tục kiên cố hoá hệ thống trường học, phấn đấu đạt chuẩn quốc gia về thiết bị dạy học trong tất cả các trường của Tỉnh.
Phát triển trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và đại học hợp lý trên cơ sở quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trên địa bàn Tỉnh. Quán triệt phương châm xã hội hoá công tác đào tạo, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tích cực tham gia đào tạo phát triển nguồn nhân lực theo các mô hình đào tạo khác nhau: công lập, tư thục và dân lập. Chú trọng đào tạo lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật cao cho các ngành công nghệ cao.
Phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu các khu công nghiệp của Tỉnh và các tỉnh khác trong Vùng, tiến tới đào tạo lao động cho xuất khẩu.
- Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân:
Phát triển đồng bộ và hoàn thiện mạng lưới y tế từ tỉnh xuống cơ sở, bảo đảm thực hiện đầy đủ các chương trình, chính sách y tế của Nhà nước. Không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cộng đồng, giải quyết tốt vấn đề chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Củng cố và phát triển hệ thống y tế dự phòng. Coi trọng việc phát triển nguồn dược liệu đặc hữu tại địa phương để phục vụ cho công tác chữa bệnh, nhất là trong lĩnh vực y học cổ truyền. Phấn đấu đến năm 2010 tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn dưới 10%; đến năm 2020 cơ bản không còn trẻ em suy dinh dưỡng. Tuổi thọ trung bình đạt 75 tuổi vào năm 2010; 77 tuổi vào năm 2015 và 80 tuổi vào năm 2020.
Đẩy mạnh công tác xã hội hoá y tế. Tăng cường đầu tư phát triển toàn diện ngành y tế cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực. Từng bước hiện đại hoá thiết bị chẩn đoán, điều trị cho bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế. Đầu tư xây dựng mới một số bệnh viện đa khoa khu vực phục vụ cho chuyên gia và các khu công nghiệp. Khuyến khích đầu tư một số bệnh viện ngoài công lập theo hình thức xã hội hóa nhằm thu hút nguồn lực từ các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển y tế, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của nhân dân trong tỉnh, trong vùng và người nước ngoài. Số cán bộ y tế (CBYT) 27 CBYT/vạn dân vào năm 2010, trong đó có 8 bác sĩ/vạn dân; tăng lên 38 CBYT/vạn dân, trong đó có 15 bác sĩ/vạn dân vào năm 2015. Đến năm 2020, đạt 55CBYT/vạn dân, trong đó có 30 bác sĩ/vạn dân.
Phát triển mạnh mẽ các cơ sở cung ứng dịch vụ chất lượng cao để chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng tốt hơn. Đặc biệt chú trọng việc xây dựng bệnh viện đa khoa và bệnh viện phụ sản đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm giảm tải cho các bệnh viện lớn ở thành phố Hồ Chí Minh, góp phần tăng nhanh cơ cấu cung ứng dịch vụ an sinh xã hội của Tỉnh thời kỳ sau năm 2015.
- Văn hóa thông tin, thể dục - thể thao:
Phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa thông tin, thể dục - thể thao. Chú trọng phát triển các hoạt động này ở vùng nông thôn. Củng cố và phát triển thư viện ở các cấp, từ đô thị đến nông thôn. Nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình; xây dựng Đài phát thanh truyền hình tỉnh và các trạm cơ sở với quy mô phù hợp điều kiện thực tế và theo đúng quy hoạch chung hệ thống phát thanh, truyền hình trong cả nước. Phát triển, củng cố hoạt động bảo tồn, bảo tàng nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị di sản văn hoá, di tích lịch sử và phát huy bản sắc dân tộc.
Phấn đấu đến năm 2010 có 91% gia đình văn hóa, 73% số ấp, khu phố đạt danh hiệu và tiêu chuẩn văn hóa; năm 2020 tỷ lệ tương ứng là 96% và 85%.
- Giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và chính sách đối với người có công:
Cơ cấu lao động chuyển dịch phù hợp với cơ cấu kinh tế theo hướng giảm lao động làm việc trong các ngành có năng suất thấp sang các ngành có năng suất, hiệu quả cao hơn. Hàng năm, tạo thêm việc làm cho lực lượng lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 4,4% năm 2010; 4,2% năm 2015; 4% vào năm 2020 và trên 70% lao động qua đào tạo vào năm 2020.
Nâng cao thu nhập của người lao động trên cơ sở tăng nhanh tốc độ phát triển đạt mức bình quân của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vào năm 2015 và vượt mức bình quân của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vào năm 2020. Thực hiện đồng bộ các chương trình, dự án xoá đói, giảm nghèo, tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận với các chính sách trợ giúp về tín dụng, việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản. Đồng thời, nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm, tinh thần tự lực vươn lên thoát nghèo; quan tâm, giúp đỡ các hộ diện chính sách, các đối tượng có công với cách mạng.