Document: Điều 3 Nghị định 301-TTg hướng dẫn thi hành Luật bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/07/1957", "sign_number": "301-TTg", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/07/1957", "sign_number": "301-TTg", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/07/1957", "sign_number": "301-TTg", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/07/1957", "sign_number": "301-TTg", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/07/1957", "sign_number": "301-TTg", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 3 Nghị định 301-TTg hướng dẫn thi hành Luật bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân có nội dung như sau:

Điều 3. : Trong các trường hợp khẩn cấp, nếu cán bộ công an nói ở Điều 2 trên đây không có mặt tại chỗ xảy ra vụ phạm pháp thì những cán bộ sau đây thuộc bộ đội bảo vệ và bộ đội quốc phòng có quyền bắt giữ người phạm pháp luật Nhà nước:
a) Đội trưởng đang chỉ huy đội tuần tra kiểm soát của bộ đội bảo vệ;
b) Đội trưởng đang chỉ huy đội tuần tra biên phòng;
c) Ban chỉ huy đồn biên phòng;
d) Thủ trưởng đơn vị bộ đội bảo vệ từ cấp đại đội trở lên;
đ) Thủ trưởng đơn vị bộ đội quốc phòng từ cấp đại đội trở lên trong khi đơn vị ấy làm nhiệm vụ cuả bộ đội bảo vệ;
e) Thủ trưởng các cơ quan và đơn vị bộ đội quốc phòng từ cấp trung đoàn trở lên, hoặc tiểu đoàn độc lập, đại đội độc lập khi vụ phạm pháp xảy ra trong khu vực đóng quân hoặc trong phạm vi doanh trại quân đội.
Đối với các vụ phạm pháp thuộc thẩm quyền Toà án nhân dân thì trong hạn hai mươi bốn giờ phải giải can phạm lên cơ quan công an nơi gần nhất để tiếp tục điều tra.
Đối với các vụ phạm pháp thuộc thẩm quyền Toà án binh, thì trong hạn hai mươi bốn giờ phải giải can phạm lên Toà án binh nơi gần nhất.

Content:
Điều 3. : Trong các trường hợp khẩn cấp, nếu cán bộ công an nói ở Điều 2 trên đây không có mặt tại chỗ xảy ra vụ phạm pháp thì những cán bộ sau đây thuộc bộ đội bảo vệ và bộ đội quốc phòng có quyền bắt giữ người phạm pháp luật Nhà nước:
a) Đội trưởng đang chỉ huy đội tuần tra kiểm soát của bộ đội bảo vệ;
b) Đội trưởng đang chỉ huy đội tuần tra biên phòng;
c) Ban chỉ huy đồn biên phòng;
d) Thủ trưởng đơn vị bộ đội bảo vệ từ cấp đại đội trở lên;
đ) Thủ trưởng đơn vị bộ đội quốc phòng từ cấp đại đội trở lên trong khi đơn vị ấy làm nhiệm vụ cuả bộ đội bảo vệ;
e) Thủ trưởng các cơ quan và đơn vị bộ đội quốc phòng từ cấp trung đoàn trở lên, hoặc tiểu đoàn độc lập, đại đội độc lập khi vụ phạm pháp xảy ra trong khu vực đóng quân hoặc trong phạm vi doanh trại quân đội.
Đối với các vụ phạm pháp thuộc thẩm quyền Toà án nhân dân thì trong hạn hai mươi bốn giờ phải giải can phạm lên cơ quan công an nơi gần nhất để tiếp tục điều tra.
Đối với các vụ phạm pháp thuộc thẩm quyền Toà án binh, thì trong hạn hai mươi bốn giờ phải giải can phạm lên Toà án binh nơi gần nhất.