Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 86/QĐ-UBND 2023 Phát triển kinh tế xã hội đồng bào dân tộc Mông Yên Sơn Tuyên Quang

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "03/03/2023", "sign_number": "86/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Việt Phương", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "03/03/2023", "sign_number": "86/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Việt Phương", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "03/03/2023", "sign_number": "86/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Việt Phương", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "03/03/2023", "sign_number": "86/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Việt Phương", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "03/03/2023", "sign_number": "86/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Việt Phương", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 86/QĐ-UBND 2023 Phát triển kinh tế xã hội đồng bào dân tộc Mông Yên Sơn Tuyên Quang

Điều 1. Phê duyệt Đề án Phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị ở vùng có đông đồng bào dân tộc Mông trên địa bàn huyện Yên Sơn, với nội dung chủ yếu sau:
...
2. Đối tượng
Hệ thống chính trị, các hộ đồng bào dân tộc Mông tại 02 xã trong phạm vi của Đề án.
II. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU
1. Quan điểm
- Huy động nguồn lực, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc Mông là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của cấp ủy, quản lý, điều hành tập trung, trực tiếp của chính quyền; tham gia phối hợp chặt chẽ của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, cấp ủy, chính quyền cơ sở.
- Việc triển khai thực hiện đề án bảo đảm đồng bộ, chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật; xây dựng lộ trình thực hiện phù hợp; quá trình thực hiện đảm bảo nguyên tắc công bằng, công khai minh bạch trong thực hiện.
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu chung
Phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; quy hoạch, sắp xếp ổn định dân cư, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ; phát triển toàn diện giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa; cải thiện rõ rệt đời sống của nhân dân; giảm nghèo nhanh, bền vững, thu hẹp khoảng cách về mức sống, thu nhập của đồng bào dân tộc Mông so với bình quân chung của huyện Yên Sơn. Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, nâng cao niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước.
2.2. Mục tiêu cụ thể
a) Mục tiêu năm 2023: Hoàn thành việc củng cố hệ thống chính trị cơ sở tại các thôn tại xã Trung Minh và xã Hùng Lợi. Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, bố trí đảm bảo đất ở, đất sản xuất đối với số hộ gia đình không đảm bảo đất ở, đất sản xuất phục vụ phương án di dân, ổn định sản xuất, ưu tiên các dự án trọng điểm, nâng cao đời sống người dân tộc thiểu số, thực hiện có hiệu quả chính sách y tế, giáo dục. Tuyên truyền, vận động và xóa bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của tổ chức tôn giáo bất hợp pháp trên địa bàn. Đồng thời, tiếp tục nâng cao chất lượng đời sống, phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa, hướng dẫn, định hướng nghề nghiệp, giáo dục đào tạo nhằm phát triển toàn diện tư duy, nhận thức, nâng cao trình độ dân trí đối với đồng bào dân tộc Mông trên địa bàn 02 xã.
- Phấn đấu thu nhập bình quân của người dân tộc trong vùng dân tộc Mông đạt trên 28 triệu đồng/người/năm.
- Trên 50% thôn có đường ô tô đến trung tâm được nhựa hóa và bê tông hóa; 50% số trường, lớp học được xây dựng kiên cố; 50% số thôn, bản được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện khác phù hợp; trên 80% số công trình thủy lợi được đầu tư kiên cố, nâng tỷ lệ tưới chắc lên 90% cơ bản đáp ứng nhu cầu cần tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp; 90% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 100% đồng bào dân tộc thiểu số được xem truyền hình và nghe đài phát thanh.
- Về ổn định dân cư: Sắp xếp ổn định dân cư cho các hộ hiện đang cư trú trong rừng phòng hộ theo hướng ổn định tại chỗ và xen ghép đối với các vị trí ít xung yếu. Rà soát đề nghị bổ sung, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2030 trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; sắp xếp, ổn định dân cư cho các hộ đang cư trú phân tán, rải rác trong rừng phòng hộ, nơi có nguy cơ xảy ra lũ quét, lũ ống, sạt lở đất.
- Về văn hóa: Bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Mông; 50% thôn có nhà văn hóa phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng; ít nhất 50% thôn có đội văn hóa, văn nghệ (câu lạc bộ văn nghệ) hoạt động thường xuyên, có chất lượng.
- Xóa nhà ở tạm, dột nát cho 265 hộ; chuẩn bị các điều kiện cần thiết hình thành điểm du lịch sinh thái thôn Vàng On, xã Trung Minh.
- Giữ vững kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở. Không còn tình trạng học sinh bỏ học.
- Duy trì tỷ lệ 100% đồng bào người Mông tham gia bảo hiểm y tế, được tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Vận động nhân dân thực hiện vệ sinh môi trường; xây dựng 03 công trình vệ sinh.
- Lao động việc làm, giảm nghèo: 50% lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề hoặc được tập huấn kỹ thuật sản xuất. Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc Mông trên địa bàn 02 xã trên tổng số hộ đồng bào dân tộc Mông giảm xuống dưới 54,0%.
b) Mục tiêu giai đoạn 2024-2026:
Củng cố hệ thống chính trị tất cả các thôn; đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc Mông, đấu tranh, xử lý dứt điểm các tổ chức bất hợp pháp, phần tử xấu lợi dụng truyền đạo trái phép vùng đồng bào dân tộc. Phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống người dân tộc thiểu số, thực hiện có hiệu quả các chính sách y tế, giáo dục, tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm trung bình giảm trên 16%; giảm hộ nghèo đồng bào dân tộc Mông xuống dưới 10%, phấn đấu cơ bản đạt các tiêu chí nông thôn mới, đạt tiêu chí số 19 về an ninh, trật tự đối với 02 xã Trung Minh, Hùng Lợi.
- Phấn đấu thu nhập bình quân của người dân tộc trong vùng dân tộc Mông gấp 02 lần năm 2020 (khoảng 40,0 triệu đồng/người/năm).
- Tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, tận dụng tối đa các thế mạnh của địa phương như về khí hậu, tiềm năng đất lâm nghiệp. Trên cơ sở giữ nguyên diện tích đất lúa, ngô đảm bảo an ninh lương thực. Tổng sản lượng lương thực quy thóc hằng năm luôn duy trên 2.293 tấn, bình quân lương thực đạt trên 300 kg/người/năm.
Tập trung phát triển chăn nuôi trâu, bò thương phẩm theo hướng bán chăn thả. Đảm bảo duy trì trên 2.000 con trâu, trên 600 con bò, phát triển vùng trồng cây thức ăn có giá trị dinh dưỡng và năng suất cao.
- Quản lý, bảo vệ chặt chẽ diện tích rừng tự nhiên hiện có, tiếp tục thực hiện việc giao khoán bảo vệ rừng (xã Hùng Lợi: 709,38 ha/39 hộ, xã Trung Minh: 320,06 ha/17 hộ), hỗ trợ bảo vệ rừng (xã Trung Minh 56,05 ha/18 hộ). Phấn đấu đạt năng suất bình quân 22m3/ha/năm; đẩy mạnh việc rà soát, xây dựng và thực hiện quản lý rừng bền vững theo chứng chỉ rừng FSC trên diện tích trên 2.500 ha (Hùng Lợi 2.400 ha, Trung Minh 115 ha).
Hỗ trợ nhân dân trồng rừng bằng cây giống chất lượng cao theo Nghị quyết số 03/2021/NQ-HĐND ngày 16/7/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tuyên Quang. Xây dựng dự án trồng cây dược liệu dưới tán rừng tại thôn Phan xã Hùng Lợi; thôn Khuân Nà, Vàng On xã Trung Minh, trồng rừng sản xuất bằng giống cây keo chất lượng cao.
- Trên 100% thôn có đường ô tô đến trung tâm được nhựa hóa và bê tông hóa; 100% số trường, lớp học được xây dựng kiên cố; 100% số thôn, bản được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện phù hợp khác; trên 90% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.
- Hoàn thành cơ bản sắp xếp ổn định các hộ di cư không theo quy hoạch, số hộ đang cư trú phân tán, rải rác trong rừng phòng hộ theo hướng ổn định tại chỗ, xen ghép đối với vị trí ít xung yếu, di chuyển, quy hoạch, sắp xếp, bố trí ổn định dân cư cho số hộ hiện đang cư trú tại nơi có nguy cơ xảy ra lũ quét, lũ ống, sạt lở đất; giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất.
- Bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Mông; 100% thôn có nhà văn hóa phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng; ít nhất 70% thôn có đội văn hóa, văn nghệ (câu lạc bộ văn nghệ) hoạt động thường xuyên, có chất lượng.
- Cơ bản hoàn thành xóa nhà ở tạm, dột nát; Hoàn thành và đi vào khai thác điểm du lịch sinh thái thôn Vàng On, xã Trung Minh.
- Lao động việc làm: 50% lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề hoặc được tập huấn kỹ thuật sản xuất.
III. NHIỆM VỤ CỤ THỂ
1. Giải quyết tình trạng thiếu nhà ở, đất ở, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, giải quyết việc làm gắn với giảm nghèo bền vững
1.1. Về đất ở
- Quy hoạch và sắp xếp ổn định đất ở cho 76 hộ/426 khẩu (Hùng Lợi 60 hộ/336 khẩu, Trung Minh 16 hộ/90 khẩu, diện tích cần quy hoạch 400,0 m2/hộ để xây dựng nhà ở, các công trình phụ trợ) hiện đang cư trú trong rừng phòng hộ theo hướng ổn định tại chỗ đối với các vị trí ít xung yếu.
- Hỗ trợ tạo đất ở từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 kết hợp vốn vay Ngân hàng chính sách xã hội và vốn người dân tự vận động cho 12 hộ tại Hùng Lợi, 08 hộ tại Trung Minh; Hỗ trợ ổn định dân cư cho 20 hộ tại Hùng Lợi, 10 hộ tại Trung Minh.
- Có chính sách ổn định dân cư thực hiện quy hoạch đất ở để giao đất cho nhân dân sử dụng ổn định cuộc sống, tránh các nguy cơ sạt lở đất và lũ quét, thuận lợi trong việc quản lý và đầu tư cơ sở hạ tầng các điểm dân cư tập trung ở những nơi có đủ điều kiện, nhằm tạo quỹ đất ở cho nhân dân chuyển mục đích sử dụng đất phù hợp với quy hoạch.
1.2. Hỗ trợ về nhà ở
- Hỗ trợ làm mới và sửa chữa nhà ở cho 511 hộ dân tộc Mông (trong đó Hùng Lợi 410 hộ, Trung Minh 101 hộ) chưa có nhà ở hoặc nhà ở tạm, dột nát có nhu cầu làm mới và sửa chữa theo định mức tại Đề án 308/QĐ-MTTQ-BTT: hỗ trợ làm nhà mới là 50 triệu/nhà; sửa chữa 25 triệu/nhà.
- Hỗ trợ 116 hộ (Hùng Lợi 77 hộ, Trung Minh 39 hộ) làm nhà mới theo định mức hỗ trợ từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025; vốn vay ngân hàng Chính sách xã hội và vốn dân tự vận động.
- Hỗ trợ thực hiện 395 nhà (Trong đó: Hùng Lợi làm mới 225 nhà, sửa chữa 108 nhà; Trung Minh làm mới 32 nhà, sửa chữa 30 nhà) từ nguồn huy động theo Đề án 308/QĐ-MTTQ-BTT.
- Hỗ trợ phục dựng 02 nhà trình tường tại thôn Vàng On, xã Trung Minh theo định hướng phát triển du lịch cộng đồng từ doanh nghiệp.
1.3. Quy hoạch sắp xếp ổn định dân cư
- Quy hoạch, sắp xếp ổn định dân cư cho: 52 hộ với 225 khẩu dân tộc Mông tại thôn Khuổi Ma, xã Hùng Lợi; 02 hộ với 12 khẩu tại thôn Vàng On, xã Trung Minh, trong đó ưu tiên hỗ trợ phát triển sản xuất, ổn định đời sống, nâng cao thu nhập cho hộ nghèo, cận nghèo, đảm bảo thoát nghèo bền vững.
- Quy hoạch sắp xếp tại chỗ, tái định cư 02 điểm dân cư Đèo Ải và Trà Lỳ thôn Vàng On, xã Trung Minh với diện tích khoảng 4.000 m2 (02 điểm quy hoạch khu tái định cư chưa có trong quy hoạch sử dụng đất, nay đề nghị đưa vào quy hoạch sử dụng đất bổ sung giai đoạn 2025 - 2030). Theo hướng định hình rõ hệ thống giao thông nội khu, thủy lợi, khu sản xuất, khu nhà ở, khu sinh hoạt cộng đồng, khu nghĩa trang.., gắn với mục tiêu xây dựng điểm du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm, phù hợp và phát huy bản sắc văn hóa đồng bào dân tộc Mông.
1.4. Về đất sản xuất
- Đối với các hộ đang sử dụng đất trong khu vực rừng phòng hộ tại các thôn: Tấu Lìn, Khuổi Ma, xã Hùng Lợi và thôn Khuổi Bốc, thôn Vàng On, xã Trung Minh nghiên cứu thực hiện chính sách giao đất rừng phòng hộ cho nhân dân để bảo vệ, phát triển rừng theo Luật Lâm nghiệp và phù hợp với quy định tại khoản 3, Điều 136 Luật Đất đai năm 2013.
- Về hạn mức giao đất: áp dụng theo Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh.
- Sắp xếp bố trí cho số hộ thiếu đất nông nghiệp, thực hiện các chính sách hỗ trợ, vay vốn tạo quỹ đất, nhận chuyển nhượng lại các diện tích đất nông nghiệp hợp pháp của các hộ dân trên địa bàn xã; lập phương án giao đất cho các hộ đồng bào dân tộc Mông.
1.5. Về nước sạch, vệ sinh môi trường
- Hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 721 hộ nghèo thuộc địa bàn 2 xã (Hùng Lợi 530 hộ; Trung Minh 191 hộ bao gồm các hộ dân tộc Mông) từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025.
- Đầu tư xây dựng mới 03 công trình nước tập trung (thôn Khuổi Ma, thôn Chương xã Hùng Lợi, thôn Vàng On, xã Trung Minh) từ nguồn Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025.
- Hỗ trợ xây dựng nhà tắm, nhà vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh các hộ có nhu cầu hỗ trợ: Hùng Lợi cần xây dựng 627/1.518 nhà tiêu, 649/1.078 nhà tắm bể nước, 56 chuồng trại chăn nuôi; Trung Minh cần xây dựng 155/167 nhà tiêu, 158/167 nhà tắm bể nước, 18 chuồng trại chăn nuôi.
- Thành lập tổ tuyên truyền, vận động do Chi hội phụ nữ làm tổ trưởng để thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân vệ sinh môi trường đường làng, ngõ xóm; đưa chuồng trại chăn nuôi gia súc xa khu nhà ở; hỗ trợ xây dựng hầm Biogas để xử lý chất thải chăn nuôi, tạo nguồn khí sinh học sạch phục vụ sinh hoạt, bảo vệ môi trường.
1.6. Về chuyển đổi nghề, giải quyết việc làm, gắn với mục tiêu giảm nghèo bền vững
- Mở từ 6 đến 8 lớp đào tạo nghề với trên 200 lao động trong độ tuổi lao động trên địa bàn; giới thiệu việc làm, tạo thu nhập ổn định cho 1.068 lao động, trong đó giải quyết việc làm trong các ngành kinh tế của tỉnh 794 lao động; 254 lao động làm việc tại các tỉnh thành phố trong nước; xuất khẩu 20 lao động (Hùng Lợi 10 người, Trung Minh 10 người).
- Hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 725 hộ, cho vay hỗ trợ phát triển sản xuất đồng bào dân tộc Mông để tạo sinh kế, tăng thu nhập, giảm nghèo.
2. Phát triển sản xuất, tạo sinh kế bền vững
- Tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, tận dụng tối đa các thế mạnh của địa phương như về khí hậu, tiềm năng đất lâm nghiệp. Trên cơ sở giữ nguyên diện tích đất lúa, ngô đảm bảo an ninh lương thực.
- Lồng ghép các Chương trình, đề án, dự án: Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững và các chương trình khác để làm động lực thúc đẩy 02 xã Trung Minh, Hùng Lợi và các xã vùng ATK phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
- Tạo điều kiện cho các hộ cá nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp vay vốn phát triển sản xuất, triển khai các dự án từ nguồn vốn Ngân hàng chính sách - xã hội; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tạo việc làm tăng thu nhập cho đồng bào.
- Đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách huyện đối với các Đề án đã được Uỷ ban nhân dân huyện phê duyệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (Đề án phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực gắn với phát triển du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm trên địa bàn huyện giai đoạn 2021-2025; Đề án nâng cao giá trị chất lượng rừng trồng gắn với phát triển rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC giai đoạn 2021-2025; Đề án chăn nuôi trâu, bò theo chuỗi liên kết trên địa bàn huyện giai đoạn 2021-2025).
- Thực hiện tốt Dự án 3 Chương trình mục tiêu Quốc gia phát triển bền vững kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2021-2030 về phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân.
- Cơ cấu sản xuất theo từng lĩnh vực:
+ Lĩnh vực trồng trọt: Ổn định diện tích đất sản xuất lúa, ngô với diện tích hiện có, trên cơ sở tập huấn áp dụng khoa học, kỹ thuật như đưa giống lúa chất lượng cao, ngô lai năng suất, chất lượng cao; đồng thời kết hợp với biện pháp canh tác phân viên nén dúi sâu, bón phân cân đối vào sản xuất cho cây lúa, đảm bảo năng suất (lúa đạt trên 60,2 tạ/ha, ngô đạt trên 44,6 tạ/ha), tổng sản lượng lương thực quy thóc hàng năm luôn duy trì trên 2.293 tấn, bình quân lương thực đạt trên 300 kg/người/năm. Ưu tiên thực hiện các dự án: Dự án trồng cây ăn quả (cây cam, bưởi) thôn Đồng Trang, Tấu Lìn xã Hùng Lợi; thôn Khuôn Nà, Minh Lợi xã Trung Minh; Dự án trồng rau ăn lá, rau củ, quả xã Trung Minh, Hùng Lợi; Dự án liên kết sản xuất ngô sinh khối tại xã Hùng Lợi; Dự án trồng Mận, đào tại Đèo Ải, thôn Vàng On xã Trung Minh kết hợp làm du lịch; Dự án trồng tre lấy măng trên địa bàn 2 xã Trung Minh, Hùng Lợi.
+ Lĩnh vực chăn nuôi: Dựa vào tiềm năng đất đai, số đại gia súc hiện có, phong tục, tập quán và kinh nghiệm của các hộ chăn nuôi đại gia súc. Tập trung phát triển chăn nuôi trâu, bò thương phẩm theo hướng bán chăn thả. Đến năm 2026 đảm bảo duy trì trên 2.000 con trâu, trên 600 con bò, phát triển vùng trồng cây thức ăn có giá trị dinh dưỡng và năng suất cao. Xây dựng và phát triển hình thức chăn nuôi tuần hoàn: Tận dụng nguồn thức ăn từ phế phụ phẩm trong nông nghiệp, thực hiện các biện pháp xử lý chất thải để giảm thiểu ô nhiễm trong chăn nuôi, số hóa và truy xuất sản phẩm chăn nuôi, đưa các sản phẩm chăn nuôi lên sàn thương mại điện tử, phát triển các thương hiệu từ thịt trâu bò và quảng bá, xúc tiến thương mại trong và ngoài tỉnh.
+ Lĩnh vực Lâm nghiệp: Quản lý, bảo vệ chặt chẽ diện tích rừng tự nhiên hiện có, tiếp tục thực hiện việc giao khoán bảo vệ rừng (xã Hùng Lợi: 709,38ha/39 hộ, xã Trung Minh: 320,06 ha/17 hộ), hỗ trợ bảo vệ rừng (xã Trung Minh: 56,05ha/18 hộ) theo Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025. Tiếp tục thực hiện tốt công tác phát triển rừng, đảm bảo hằng năm hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch; thâm canh rừng trồng, áp dụng tiến bộ, khoa học kỹ thuật trong việc nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, phấn đấu đạt năng suất bình quân 22m3/ha/năm vào năm 2025; đẩy mạnh việc rà soát, xây dựng và thực hiện quản lý rừng bền vững theo chứng chỉ rừng FSC trên diện tích trên 2.500ha (Hùng Lợi 2.400ha, Trung Minh 115ha). Hỗ trợ nhân dân trồng rừng bằng cây giống chất lượng cao theo Nghị quyết số 03/2021/NQ-HĐND ngày 16/7/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tuyên Quang: Xây dựng dự án trồng cây dược liệu dưới tán rừng thôn Phan xã Hùng Lợi; thôn Khuân Nà, Vàng On xã Trung Minh, trồng rừng sản xuất bằng giống cây keo chất lượng cao.
- Các hình thức tổ chức sản xuất:
+ Tập trung đổi mới hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị; thành lập các tổ hợp tác, nhóm sở thích mỗi nhóm từ 10-15 người lựa chọn tổ trưởng, tổ phó là người có uy tín trong cộng đồng, người thích làm giàu và đổi mới để duy trì, thực hiện các dự án; phát triển mạnh các mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng kinh tế giữa nông dân với doanh nghiệp, hợp tác xã; đẩy mạnh phát triển kinh tế hợp tác, trang trại và kinh tế hộ gia đình. Hỗ trợ, thúc đẩy hợp tác xã nông nghiệp mở rộng các ngành nghề dịch vụ gắn với chuỗi cung ứng sản phẩm hàng hóa. Hỗ trợ, hướng dẫn tổ chức tốt sản xuất sản xuất các sản phẩm sạch, sản phẩm hữu cơ theo tiêu chuẩn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gắn với thị trường, ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ cao, đăng ký nhãn hiệu sản phẩm hàng hoá, sử dụng tem truy xuất nguồn gốc. Tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực, trình độ đội ngũ quản lý, thành viên Hợp tác xã nông nghiệp. Thực hiện có hiệu quả cơ chế chính sách đối với Hợp tác xã nông nghiệp: Xây dựng chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thịt trâu, bò.
+ Duy trì và phát triển tổ hợp tác và Hợp tác xã: Tạo ra vùng sản xuất hàng hóa tập trung đối với cây trồng, vật nuôi mang tính bền vững, tạo nguồn lực để hình thành chuỗi tiêu thụ các sản phẩm nông lâm sản. Liên kết với Công ty Cổ phần Woodsland Tuyên Quang, Tập đoàn An Việt Phát để rà soát, khảo sát cấp chứng chỉ rừng FSC đối với diện tích rừng sản xuất có đủ điều kiện, xây dựng xưởng sơ chế gỗ nguyên liệu tại khu vực xã Hùng Lợi, Trung Minh hoặc các xã lân cận để phục vụ cho nhà máy.
+ Tạo môi trường thuận lợi để thu hút mọi nguồn lực vào phát triển nông nghiệp, nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp thu hút nhiều lao động, doanh nghiệp sẽ thực hiện đầu tư, chuyển giao công nghệ sản xuất và bao tiêu sản phẩm đầu ra cho nông dân.
- Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP): Tuyên truyền về Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn nhận biết, hiểu được mục đích, ý nghĩa, nội dung và yêu cầu của Chương trình OCOP. Hỗ trợ tư vấn lập hồ sơ và tổ chức đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP năm 2022 cho các sản phẩm: Măng khô xã Trung Minh; thịt trâu khô, rượu men lá Tiến Huy xã Hùng Lợi.

Content:
Đối tượng
Hệ thống chính trị, các hộ đồng bào dân tộc Mông tại 02 xã trong phạm vi của Đề án.
II. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU
1. Quan điểm
- Huy động nguồn lực, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc Mông là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của cấp ủy, quản lý, điều hành tập trung, trực tiếp của chính quyền; tham gia phối hợp chặt chẽ của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, cấp ủy, chính quyền cơ sở.
- Việc triển khai thực hiện đề án bảo đảm đồng bộ, chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật; xây dựng lộ trình thực hiện phù hợp; quá trình thực hiện đảm bảo nguyên tắc công bằng, công khai minh bạch trong thực hiện.
Mục tiêu
2.1. Mục tiêu chung
Phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; quy hoạch, sắp xếp ổn định dân cư, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ; phát triển toàn diện giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa; cải thiện rõ rệt đời sống của nhân dân; giảm nghèo nhanh, bền vững, thu hẹp khoảng cách về mức sống, thu nhập của đồng bào dân tộc Mông so với bình quân chung của huyện Yên Sơn. Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, nâng cao niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước.
2.Mục tiêu cụ thể
a) Mục tiêu năm 2023: Hoàn thành việc củng cố hệ thống chính trị cơ sở tại các thôn tại xã Trung Minh và xã Hùng Lợi. Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, bố trí đảm bảo đất ở, đất sản xuất đối với số hộ gia đình không đảm bảo đất ở, đất sản xuất phục vụ phương án di dân, ổn định sản xuất, ưu tiên các dự án trọng điểm, nâng cao đời sống người dân tộc thiểu số, thực hiện có hiệu quả chính sách y tế, giáo dục. Tuyên truyền, vận động và xóa bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của tổ chức tôn giáo bất hợp pháp trên địa bàn. Đồng thời, tiếp tục nâng cao chất lượng đời sống, phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa, hướng dẫn, định hướng nghề nghiệp, giáo dục đào tạo nhằm phát triển toàn diện tư duy, nhận thức, nâng cao trình độ dân trí đối với đồng bào dân tộc Mông trên địa bàn 02 xã.
- Phấn đấu thu nhập bình quân của người dân tộc trong vùng dân tộc Mông đạt trên 28 triệu đồng/người/năm.
- Trên 50% thôn có đường ô tô đến trung tâm được nhựa hóa và bê tông hóa; 50% số trường, lớp học được xây dựng kiên cố; 50% số thôn, bản được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện khác phù hợp; trên 80% số công trình thủy lợi được đầu tư kiên cố, nâng tỷ lệ tưới chắc lên 90% cơ bản đáp ứng nhu cầu cần tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp; 90% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 100% đồng bào dân tộc thiểu số được xem truyền hình và nghe đài phát thanh.
- Về ổn định dân cư: Sắp xếp ổn định dân cư cho các hộ hiện đang cư trú trong rừng phòng hộ theo hướng ổn định tại chỗ và xen ghép đối với các vị trí ít xung yếu. Rà soát đề nghị bổ sung, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2030 trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; sắp xếp, ổn định dân cư cho các hộ đang cư trú phân tán, rải rác trong rừng phòng hộ, nơi có nguy cơ xảy ra lũ quét, lũ ống, sạt lở đất.
- Về văn hóa: Bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Mông; 50% thôn có nhà văn hóa phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng; ít nhất 50% thôn có đội văn hóa, văn nghệ (câu lạc bộ văn nghệ) hoạt động thường xuyên, có chất lượng.
- Xóa nhà ở tạm, dột nát cho 265 hộ; chuẩn bị các điều kiện cần thiết hình thành điểm du lịch sinh thái thôn Vàng On, xã Trung Minh.
- Giữ vững kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở. Không còn tình trạng học sinh bỏ học.
- Duy trì tỷ lệ 100% đồng bào người Mông tham gia bảo hiểm y tế, được tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Vận động nhân dân thực hiện vệ sinh môi trường; xây dựng 03 công trình vệ sinh.
- Lao động việc làm, giảm nghèo: 50% lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề hoặc được tập huấn kỹ thuật sản xuất. Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc Mông trên địa bàn 02 xã trên tổng số hộ đồng bào dân tộc Mông giảm xuống dưới 54,0%.
b) Mục tiêu giai đoạn 2024-2026:
Củng cố hệ thống chính trị tất cả các thôn; đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc Mông, đấu tranh, xử lý dứt điểm các tổ chức bất hợp pháp, phần tử xấu lợi dụng truyền đạo trái phép vùng đồng bào dân tộc. Phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống người dân tộc thiểu số, thực hiện có hiệu quả các chính sách y tế, giáo dục, tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm trung bình giảm trên 16%; giảm hộ nghèo đồng bào dân tộc Mông xuống dưới 10%, phấn đấu cơ bản đạt các tiêu chí nông thôn mới, đạt tiêu chí số 19 về an ninh, trật tự đối với 02 xã Trung Minh, Hùng Lợi.
- Phấn đấu thu nhập bình quân của người dân tộc trong vùng dân tộc Mông gấp 02 lần năm 2020 (khoảng 40,0 triệu đồng/người/năm).
- Tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, tận dụng tối đa các thế mạnh của địa phương như về khí hậu, tiềm năng đất lâm nghiệp. Trên cơ sở giữ nguyên diện tích đất lúa, ngô đảm bảo an ninh lương thực. Tổng sản lượng lương thực quy thóc hằng năm luôn duy trên 2.293 tấn, bình quân lương thực đạt trên 300 kg/người/năm.
Tập trung phát triển chăn nuôi trâu, bò thương phẩm theo hướng bán chăn thả. Đảm bảo duy trì trên 2.000 con trâu, trên 600 con bò, phát triển vùng trồng cây thức ăn có giá trị dinh dưỡng và năng suất cao.
- Quản lý, bảo vệ chặt chẽ diện tích rừng tự nhiên hiện có, tiếp tục thực hiện việc giao khoán bảo vệ rừng (xã Hùng Lợi: 709,38 ha/39 hộ, xã Trung Minh: 320,06 ha/17 hộ), hỗ trợ bảo vệ rừng (xã Trung Minh 56,05 ha/18 hộ). Phấn đấu đạt năng suất bình quân 22m3/ha/năm; đẩy mạnh việc rà soát, xây dựng và thực hiện quản lý rừng bền vững theo chứng chỉ rừng FSC trên diện tích trên 2.500 ha (Hùng Lợi 2.400 ha, Trung Minh 115 ha).
Hỗ trợ nhân dân trồng rừng bằng cây giống chất lượng cao theo Nghị quyết số 03/2021/NQ-HĐND ngày 16/7/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tuyên Quang. Xây dựng dự án trồng cây dược liệu dưới tán rừng tại thôn Phan xã Hùng Lợi; thôn Khuân Nà, Vàng On xã Trung Minh, trồng rừng sản xuất bằng giống cây keo chất lượng cao.
- Trên 100% thôn có đường ô tô đến trung tâm được nhựa hóa và bê tông hóa; 100% số trường, lớp học được xây dựng kiên cố; 100% số thôn, bản được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện phù hợp khác; trên 90% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.
- Hoàn thành cơ bản sắp xếp ổn định các hộ di cư không theo quy hoạch, số hộ đang cư trú phân tán, rải rác trong rừng phòng hộ theo hướng ổn định tại chỗ, xen ghép đối với vị trí ít xung yếu, di chuyển, quy hoạch, sắp xếp, bố trí ổn định dân cư cho số hộ hiện đang cư trú tại nơi có nguy cơ xảy ra lũ quét, lũ ống, sạt lở đất; giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất.
- Bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Mông; 100% thôn có nhà văn hóa phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng; ít nhất 70% thôn có đội văn hóa, văn nghệ (câu lạc bộ văn nghệ) hoạt động thường xuyên, có chất lượng.
- Cơ bản hoàn thành xóa nhà ở tạm, dột nát; Hoàn thành và đi vào khai thác điểm du lịch sinh thái thôn Vàng On, xã Trung Minh.
- Lao động việc làm: 50% lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề hoặc được tập huấn kỹ thuật sản xuất.
III. NHIỆM VỤ CỤ THỂ
1. Giải quyết tình trạng thiếu nhà ở, đất ở, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, giải quyết việc làm gắn với giảm nghèo bền vững
1.1. Về đất ở
- Quy hoạch và sắp xếp ổn định đất ở cho 76 hộ/426 khẩu (Hùng Lợi 60 hộ/336 khẩu, Trung Minh 16 hộ/90 khẩu, diện tích cần quy hoạch 400,0 m2/hộ để xây dựng nhà ở, các công trình phụ trợ) hiện đang cư trú trong rừng phòng hộ theo hướng ổn định tại chỗ đối với các vị trí ít xung yếu.
- Hỗ trợ tạo đất ở từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 kết hợp vốn vay Ngân hàng chính sách xã hội và vốn người dân tự vận động cho 12 hộ tại Hùng Lợi, 08 hộ tại Trung Minh; Hỗ trợ ổn định dân cư cho 20 hộ tại Hùng Lợi, 10 hộ tại Trung Minh.
- Có chính sách ổn định dân cư thực hiện quy hoạch đất ở để giao đất cho nhân dân sử dụng ổn định cuộc sống, tránh các nguy cơ sạt lở đất và lũ quét, thuận lợi trong việc quản lý và đầu tư cơ sở hạ tầng các điểm dân cư tập trung ở những nơi có đủ điều kiện, nhằm tạo quỹ đất ở cho nhân dân chuyển mục đích sử dụng đất phù hợp với quy hoạch.
1.Hỗ trợ về nhà ở
- Hỗ trợ làm mới và sửa chữa nhà ở cho 511 hộ dân tộc Mông (trong đó Hùng Lợi 410 hộ, Trung Minh 101 hộ) chưa có nhà ở hoặc nhà ở tạm, dột nát có nhu cầu làm mới và sửa chữa theo định mức tại Đề án 308/QĐ-MTTQ-BTT: hỗ trợ làm nhà mới là 50 triệu/nhà; sửa chữa 25 triệu/nhà.
- Hỗ trợ 116 hộ (Hùng Lợi 77 hộ, Trung Minh 39 hộ) làm nhà mới theo định mức hỗ trợ từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025; vốn vay ngân hàng Chính sách xã hội và vốn dân tự vận động.
- Hỗ trợ thực hiện 395 nhà (Trong đó: Hùng Lợi làm mới 225 nhà, sửa chữa 108 nhà; Trung Minh làm mới 32 nhà, sửa chữa 30 nhà) từ nguồn huy động theo Đề án 308/QĐ-MTTQ-BTT.
- Hỗ trợ phục dựng 02 nhà trình tường tại thôn Vàng On, xã Trung Minh theo định hướng phát triển du lịch cộng đồng từ doanh nghiệp.
1.3. Quy hoạch sắp xếp ổn định dân cư
- Quy hoạch, sắp xếp ổn định dân cư cho: 52 hộ với 225 khẩu dân tộc Mông tại thôn Khuổi Ma, xã Hùng Lợi; 02 hộ với 12 khẩu tại thôn Vàng On, xã Trung Minh, trong đó ưu tiên hỗ trợ phát triển sản xuất, ổn định đời sống, nâng cao thu nhập cho hộ nghèo, cận nghèo, đảm bảo thoát nghèo bền vững.
- Quy hoạch sắp xếp tại chỗ, tái định cư 02 điểm dân cư Đèo Ải và Trà Lỳ thôn Vàng On, xã Trung Minh với diện tích khoảng 4.000 m2 (02 điểm quy hoạch khu tái định cư chưa có trong quy hoạch sử dụng đất, nay đề nghị đưa vào quy hoạch sử dụng đất bổ sung giai đoạn 2025 - 2030). Theo hướng định hình rõ hệ thống giao thông nội khu, thủy lợi, khu sản xuất, khu nhà ở, khu sinh hoạt cộng đồng, khu nghĩa trang.., gắn với mục tiêu xây dựng điểm du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm, phù hợp và phát huy bản sắc văn hóa đồng bào dân tộc Mông.
1.4. Về đất sản xuất
- Đối với các hộ đang sử dụng đất trong khu vực rừng phòng hộ tại các thôn: Tấu Lìn, Khuổi Ma, xã Hùng Lợi và thôn Khuổi Bốc, thôn Vàng On, xã Trung Minh nghiên cứu thực hiện chính sách giao đất rừng phòng hộ cho nhân dân để bảo vệ, phát triển rừng theo Luật Lâm nghiệp và phù hợp với quy định tại khoản 3, Điều 136 Luật Đất đai năm 2013.
- Về hạn mức giao đất: áp dụng theo Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh.
- Sắp xếp bố trí cho số hộ thiếu đất nông nghiệp, thực hiện các chính sách hỗ trợ, vay vốn tạo quỹ đất, nhận chuyển nhượng lại các diện tích đất nông nghiệp hợp pháp của các hộ dân trên địa bàn xã; lập phương án giao đất cho các hộ đồng bào dân tộc Mông.
1.5. Về nước sạch, vệ sinh môi trường
- Hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 721 hộ nghèo thuộc địa bàn 2 xã (Hùng Lợi 530 hộ; Trung Minh 191 hộ bao gồm các hộ dân tộc Mông) từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025.
- Đầu tư xây dựng mới 03 công trình nước tập trung (thôn Khuổi Ma, thôn Chương xã Hùng Lợi, thôn Vàng On, xã Trung Minh) từ nguồn Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025.
- Hỗ trợ xây dựng nhà tắm, nhà vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh các hộ có nhu cầu hỗ trợ: Hùng Lợi cần xây dựng 627/1.518 nhà tiêu, 649/1.078 nhà tắm bể nước, 56 chuồng trại chăn nuôi; Trung Minh cần xây dựng 155/167 nhà tiêu, 158/167 nhà tắm bể nước, 18 chuồng trại chăn nuôi.
- Thành lập tổ tuyên truyền, vận động do Chi hội phụ nữ làm tổ trưởng để thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân vệ sinh môi trường đường làng, ngõ xóm; đưa chuồng trại chăn nuôi gia súc xa khu nhà ở; hỗ trợ xây dựng hầm Biogas để xử lý chất thải chăn nuôi, tạo nguồn khí sinh học sạch phục vụ sinh hoạt, bảo vệ môi trường.
1.6. Về chuyển đổi nghề, giải quyết việc làm, gắn với mục tiêu giảm nghèo bền vững
- Mở từ 6 đến 8 lớp đào tạo nghề với trên 200 lao động trong độ tuổi lao động trên địa bàn; giới thiệu việc làm, tạo thu nhập ổn định cho 1.068 lao động, trong đó giải quyết việc làm trong các ngành kinh tế của tỉnh 794 lao động; 254 lao động làm việc tại các tỉnh thành phố trong nước; xuất khẩu 20 lao động (Hùng Lợi 10 người, Trung Minh 10 người).
- Hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 725 hộ, cho vay hỗ trợ phát triển sản xuất đồng bào dân tộc Mông để tạo sinh kế, tăng thu nhập, giảm nghèo.
Phát triển sản xuất, tạo sinh kế bền vững
- Tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, tận dụng tối đa các thế mạnh của địa phương như về khí hậu, tiềm năng đất lâm nghiệp. Trên cơ sở giữ nguyên diện tích đất lúa, ngô đảm bảo an ninh lương thực.
- Lồng ghép các Chương trình, đề án, dự án: Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững và các chương trình khác để làm động lực thúc đẩy 02 xã Trung Minh, Hùng Lợi và các xã vùng ATK phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
- Tạo điều kiện cho các hộ cá nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp vay vốn phát triển sản xuất, triển khai các dự án từ nguồn vốn Ngân hàng chính sách - xã hội; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tạo việc làm tăng thu nhập cho đồng bào.
- Đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách huyện đối với các Đề án đã được Uỷ ban nhân dân huyện phê duyệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (Đề án phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực gắn với phát triển du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm trên địa bàn huyện giai đoạn 2021-2025; Đề án nâng cao giá trị chất lượng rừng trồng gắn với phát triển rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC giai đoạn 2021-2025; Đề án chăn nuôi trâu, bò theo chuỗi liên kết trên địa bàn huyện giai đoạn 2021-2025).
- Thực hiện tốt Dự án 3 Chương trình mục tiêu Quốc gia phát triển bền vững kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2021-2030 về phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân.
- Cơ cấu sản xuất theo từng lĩnh vực:
+ Lĩnh vực trồng trọt: Ổn định diện tích đất sản xuất lúa, ngô với diện tích hiện có, trên cơ sở tập huấn áp dụng khoa học, kỹ thuật như đưa giống lúa chất lượng cao, ngô lai năng suất, chất lượng cao; đồng thời kết hợp với biện pháp canh tác phân viên nén dúi sâu, bón phân cân đối vào sản xuất cho cây lúa, đảm bảo năng suất (lúa đạt trên 60,2 tạ/ha, ngô đạt trên 44,6 tạ/ha), tổng sản lượng lương thực quy thóc hàng năm luôn duy trì trên 2.293 tấn, bình quân lương thực đạt trên 300 kg/người/năm. Ưu tiên thực hiện các dự án: Dự án trồng cây ăn quả (cây cam, bưởi) thôn Đồng Trang, Tấu Lìn xã Hùng Lợi; thôn Khuôn Nà, Minh Lợi xã Trung Minh; Dự án trồng rau ăn lá, rau củ, quả xã Trung Minh, Hùng Lợi; Dự án liên kết sản xuất ngô sinh khối tại xã Hùng Lợi; Dự án trồng Mận, đào tại Đèo Ải, thôn Vàng On xã Trung Minh kết hợp làm du lịch; Dự án trồng tre lấy măng trên địa bàn 2 xã Trung Minh, Hùng Lợi.
+ Lĩnh vực chăn nuôi: Dựa vào tiềm năng đất đai, số đại gia súc hiện có, phong tục, tập quán và kinh nghiệm của các hộ chăn nuôi đại gia súc. Tập trung phát triển chăn nuôi trâu, bò thương phẩm theo hướng bán chăn thả. Đến năm 2026 đảm bảo duy trì trên 2.000 con trâu, trên 600 con bò, phát triển vùng trồng cây thức ăn có giá trị dinh dưỡng và năng suất cao. Xây dựng và phát triển hình thức chăn nuôi tuần hoàn: Tận dụng nguồn thức ăn từ phế phụ phẩm trong nông nghiệp, thực hiện các biện pháp xử lý chất thải để giảm thiểu ô nhiễm trong chăn nuôi, số hóa và truy xuất sản phẩm chăn nuôi, đưa các sản phẩm chăn nuôi lên sàn thương mại điện tử, phát triển các thương hiệu từ thịt trâu bò và quảng bá, xúc tiến thương mại trong và ngoài tỉnh.
+ Lĩnh vực Lâm nghiệp: Quản lý, bảo vệ chặt chẽ diện tích rừng tự nhiên hiện có, tiếp tục thực hiện việc giao khoán bảo vệ rừng (xã Hùng Lợi: 709,38ha/39 hộ, xã Trung Minh: 320,06 ha/17 hộ), hỗ trợ bảo vệ rừng (xã Trung Minh: 56,05ha/18 hộ) theo Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025. Tiếp tục thực hiện tốt công tác phát triển rừng, đảm bảo hằng năm hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch; thâm canh rừng trồng, áp dụng tiến bộ, khoa học kỹ thuật trong việc nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, phấn đấu đạt năng suất bình quân 22m3/ha/năm vào năm 2025; đẩy mạnh việc rà soát, xây dựng và thực hiện quản lý rừng bền vững theo chứng chỉ rừng FSC trên diện tích trên 2.500ha (Hùng Lợi 2.400ha, Trung Minh 115ha). Hỗ trợ nhân dân trồng rừng bằng cây giống chất lượng cao theo Nghị quyết số 03/2021/NQ-HĐND ngày 16/7/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tuyên Quang: Xây dựng dự án trồng cây dược liệu dưới tán rừng thôn Phan xã Hùng Lợi; thôn Khuân Nà, Vàng On xã Trung Minh, trồng rừng sản xuất bằng giống cây keo chất lượng cao.
- Các hình thức tổ chức sản xuất:
+ Tập trung đổi mới hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị; thành lập các tổ hợp tác, nhóm sở thích mỗi nhóm từ 10-15 người lựa chọn tổ trưởng, tổ phó là người có uy tín trong cộng đồng, người thích làm giàu và đổi mới để duy trì, thực hiện các dự án; phát triển mạnh các mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng kinh tế giữa nông dân với doanh nghiệp, hợp tác xã; đẩy mạnh phát triển kinh tế hợp tác, trang trại và kinh tế hộ gia đình. Hỗ trợ, thúc đẩy hợp tác xã nông nghiệp mở rộng các ngành nghề dịch vụ gắn với chuỗi cung ứng sản phẩm hàng hóa. Hỗ trợ, hướng dẫn tổ chức tốt sản xuất sản xuất các sản phẩm sạch, sản phẩm hữu cơ theo tiêu chuẩn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gắn với thị trường, ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ cao, đăng ký nhãn hiệu sản phẩm hàng hoá, sử dụng tem truy xuất nguồn gốc. Tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực, trình độ đội ngũ quản lý, thành viên Hợp tác xã nông nghiệp. Thực hiện có hiệu quả cơ chế chính sách đối với Hợp tác xã nông nghiệp: Xây dựng chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thịt trâu, bò.
+ Duy trì và phát triển tổ hợp tác và Hợp tác xã: Tạo ra vùng sản xuất hàng hóa tập trung đối với cây trồng, vật nuôi mang tính bền vững, tạo nguồn lực để hình thành chuỗi tiêu thụ các sản phẩm nông lâm sản. Liên kết với Công ty Cổ phần Woodsland Tuyên Quang, Tập đoàn An Việt Phát để rà soát, khảo sát cấp chứng chỉ rừng FSC đối với diện tích rừng sản xuất có đủ điều kiện, xây dựng xưởng sơ chế gỗ nguyên liệu tại khu vực xã Hùng Lợi, Trung Minh hoặc các xã lân cận để phục vụ cho nhà máy.
+ Tạo môi trường thuận lợi để thu hút mọi nguồn lực vào phát triển nông nghiệp, nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp thu hút nhiều lao động, doanh nghiệp sẽ thực hiện đầu tư, chuyển giao công nghệ sản xuất và bao tiêu sản phẩm đầu ra cho nông dân.
- Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP): Tuyên truyền về Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn nhận biết, hiểu được mục đích, ý nghĩa, nội dung và yêu cầu của Chương trình OCOP. Hỗ trợ tư vấn lập hồ sơ và tổ chức đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP năm 2022 cho các sản phẩm: Măng khô xã Trung Minh; thịt trâu khô, rượu men lá Tiến Huy xã Hùng Lợi.