Document: Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 18/2009/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thời kỳ đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/2009", "sign_number": "18/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/2009", "sign_number": "18/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/2009", "sign_number": "18/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/2009", "sign_number": "18/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/2009", "sign_number": "18/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 18/2009/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thời kỳ đến 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thời kỳ đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau:
...
2. Phương hướng phát triển các ngành, lĩnh vực
...
b) Phát triển các ngành kinh tế ven biển
- Phát triển mạnh công nghiệp ven biển, tạo sự vượt trội của công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của Vùng, đồng thời làm nền tảng cho tăng trưởng nhanh và hiệu quả. Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế, công nghiệp cơ bản, then chốt như chế biến khí, công nghiệp điện, công nghiệp đóng tầu, sản xuất xi măng, chế biến thủy sản công nghệ cao... để đến năm 2020 cơ bản vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan có một nền công nghiệp vững chắc với cơ cấu hiện đại.
Tập trung xây dựng hoàn chỉnh nhà máy điện Cà Mau 1 (750 MW); đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà máy điện Cà Mau 2 (750 MW) để đưa vào hoạt động theo kế hoạch. Xây dựng nhà máy phân đạm Cà Mau (800.000 tấn/năm) để đưa vào hoạt động sau năm 2010. Triển khai đầu tư xây dựng Trung tâm nhiệt điện Kiên Lương quy mô 4.400 MW (giai đoạn I khoảng 1.200 MW). Xây dựng nhà máy điện diezen tại Phú Quốc đạt công suất 21,5 MW vào năm 2010, đáp ứng yêu cầu phát triển của Đảo. Phát triển năng lượng gió, năng lượng mặt trời tại vùng ven biển và trên các đảo.
Nâng cấp mở rộng các cơ sở sản xuất xi măng hiện có; lắp đặt thêm một số dây chuyền mới, nâng năng lực sản xuất trong vùng lên 4,1 triệu tấn xi măng và 4,4 triệu tấn clinker vào năm 2010 và tiếp tục mở rộng công suất sau năm 2010. Phát triển sản xuất các loại vật liệu xây dựng khác. Xây dựng trạm nghiền clinker và nhà máy gạch tuynen tại Phú Quốc để chủ động nguồn vật liệu xây dựng cho xây dựng Đảo.
Tiếp tục đầu tư nâng cao năng lực các cơ sở đóng mới và sữa chữa tầu cá hiện có. Xây dựng một số cơ sở sửa chữa và đóng mới tầu cá, chủ yếu đóng tầu công suất lớn phục vụ đánh bắt xa bờ tại Sông Đốc, Năm Căn, Hòn Khoai (Cà Mau), Rạch Giá, An Thới (Kiên Giang)... Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà máy đóng tầu Năm Căn (Cà Mau); thu hút đầu tư xây dựng nhà máy đóng tầu Hòn Chông (Kiên Giang), hình thành Trung tâm đóng tầu biển quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu đóng mới và sửa chữa các loại tầu trong Vùng.
Phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản chất lượng cao phục vụ xuất khẩu và du lịch. Đầu tư đổi mới thiết bị các cơ sở chế biến gạo xuất khẩu hiện có; xây dựng mới một số cơ sở xay xát, đánh bóng gạo xuất khẩu quy mô từ 20.000 - 40.000 tấn/năm tại các khu vực trọng điểm như Trần Văn Thời (Cà Mau), Rạch Giá, Hòn Đất (Kiên Giang)... nâng công suất chế biến gạo toàn Vùng lên 2,7 - 2,8 triệu tấn vào năm 2010 và trên 3,5 triệu tấn vào năm 2020.
Phát triển các ngành công nghiệp khác như may mặc, da giầy, chế biến gỗ, điện tử, điện gia dụng, cơ khí sửa chữa, mộc gia dụng... phù hợp với Điều kiện của từng địa phương. Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và khai thác thuỷ sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ven biển.
Về phát triển các khu công nghiệp: tập trung xây dựng hoàn chỉnh khu công nghiệp khí - điện - đạm Cà Mau. Phát triển nhanh khu vực tập trung công nghiệp nặng Bình An - Kiên Lương, từng bước hình thành 2 trung tâm công nghiệp lớn và hiện đại, tạo sự đột phá trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp của Vùng. Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp hiện có, đẩy mạnh thu hút đầu tư để nâng cao tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp. Xúc tiến thành lập một số khu công nghiệp mới như Thạnh Lộc, U Minh, Thuận Yên (Kiên Giang); Hòa Trung, Sông Đốc, Năm Căn (Cà Mau)... đáp ứng yêu cầu phát triển của Vùng.
- Phát triển đa dạng các ngành dịch vụ để thúc đẩy các ngành sản xuất phát triển và phục vụ đời sống nhân dân. Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ biển và các ngành có giá trị gia tăng cao như dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu, dịch vụ du lịch, dịch vụ nghề cá, dịch vụ dầu khí, dịch vụ vận tải, tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông..., đưa dịch vụ thực sự trở thành khu vực kinh tế năng động, tạo nhiều việc làm và đóng góp lớn cho nền kinh tế của Vùng.
- Phát triển đồng bộ hệ thống thương mại trong vùng theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Hình thành 2 trung tâm thương mại đầu mối của Vùng ở thành phố Cà Mau và thành phố Rạch Giá. Xây dựng một số trung tâm thương mại hiện đại tại Phú Quốc và Khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên gắn với phát triển du lịch. Xây dựng các trung tâm thương mại khác tại các thị xã, các trung tâm huyện lỵ, các cụm kinh tế ven biển... làm chức năng đầu mối cho từng khu vực. Cải tạo, nâng cấp và xây dựng hệ thống các chợ, các điểm thương mại ở các thị tứ và các vùng nông thôn... từng bước hình thành thị trường thông suốt, lưu thông hàng hóa thuận tiện trong toàn Vùng.
Đẩy mạnh các hoạt động xuất nhập khẩu. Xây dựng hoàn chỉnh Khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên gắn với đầu tư cửa khẩu quốc tế Xà Xía; nâng cấp cửa khẩu Giang Thành để mở rộng giao thương hàng hóa giữa vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan với Campuchia và các nước trong khu vực.
Phát triển dịch vụ tài chính, ngân hàng. Tạo Điều kiện thuận lợi để thu hút các Công ty tài chính lớn đầu tư tài chính và mở chi nhánh hoạt động trong Vùng, nhất là ở Phú Quốc. Vận động các nước quanh Vịnh Thái Lan và các tổ chức quốc tế xây dựng Quỹ phát triển vùng Vịnh Thái Lan để phát triển nhanh, gắn kết với các hành lang kinh tế, các trục kinh tế trong khu vực.
Phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải, dịch vụ cảng, dịch vụ hàng không, dịch vụ nghề cá, dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin và các dịch vụ khác. Hình thành một số ngành dịch vụ mới như dịch vụ dầu khí, dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ ... tạo Điều kiện thúc đẩy kinh tế biển trong Vùng.
- Phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp sinh thái ven biển theo hướng năng suất, chất lượng cao và bền vững. Đầu tư phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, hình hành các vùng sản xuất tập trung thâm canh cao gắn với chế biến, tạo bước chuyển dịch có hiệu quả cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Phát triển các vùng lúa cao sản, lúa đặc sản phục vụ xuất khẩu. Chuyển một phần diện tích trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản và cây công nghiệp, cây ăn trái, cây thực phẩm... phù hợp với quy hoạch sử dụng đất ở từng địa phương để nâng cao hiệu quả sản xuất. Mở rộng các mô hình sản xuất hiện đại, hiệu quả như kinh tế trang trại, Khu nông nghiệp công nghệ cao... để tạo ra các sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao phục vụ du lịch và xuất khẩu. Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với 6 tiểu vùng nông nghiệp sinh thái ven biển của Vùng, từng bước xây dựng nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững.
Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn, nâng tỷ lệ che phủ của rừng lên 20 - 21% bảo đảm yêu cầu phòng hộ ven biển kết hợp với phát triển du lịch. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng. Đẩy mạnh khoanh nuôi, tái sinh rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, đặc biệt là các vườn quốc gia Phú Quốc, U Minh Thượng, U Minh Hạ, Mũi Cà Mau, các khu bảo tồn thiên nhiên và rừng trên các đảo. Phát triển trồng rừng sản xuất, khuyến khích đầu tư trồng rừng theo hướng thâm canh năng suất cao, gắn với chế biến lâm sản và kinh doanh du lịch.

Content:
Phát triển các ngành kinh tế ven biển
- Phát triển mạnh công nghiệp ven biển, tạo sự vượt trội của công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của Vùng, đồng thời làm nền tảng cho tăng trưởng nhanh và hiệu quả. Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế, công nghiệp cơ bản, then chốt như chế biến khí, công nghiệp điện, công nghiệp đóng tầu, sản xuất xi măng, chế biến thủy sản công nghệ cao... để đến năm 2020 cơ bản vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan có một nền công nghiệp vững chắc với cơ cấu hiện đại.
Tập trung xây dựng hoàn chỉnh nhà máy điện Cà Mau 1 (750 MW); đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà máy điện Cà Mau 2 (750 MW) để đưa vào hoạt động theo kế hoạch. Xây dựng nhà máy phân đạm Cà Mau (800.000 tấn/năm) để đưa vào hoạt động sau năm 2010. Triển khai đầu tư xây dựng Trung tâm nhiệt điện Kiên Lương quy mô 4.400 MW (giai đoạn I khoảng 1.200 MW). Xây dựng nhà máy điện diezen tại Phú Quốc đạt công suất 21,5 MW vào năm 2010, đáp ứng yêu cầu phát triển của Đảo. Phát triển năng lượng gió, năng lượng mặt trời tại vùng ven biển và trên các đảo.
Nâng cấp mở rộng các cơ sở sản xuất xi măng hiện có; lắp đặt thêm một số dây chuyền mới, nâng năng lực sản xuất trong vùng lên 4,1 triệu tấn xi măng và 4,4 triệu tấn clinker vào năm 2010 và tiếp tục mở rộng công suất sau năm 2010. Phát triển sản xuất các loại vật liệu xây dựng khác. Xây dựng trạm nghiền clinker và nhà máy gạch tuynen tại Phú Quốc để chủ động nguồn vật liệu xây dựng cho xây dựng Đảo.
Tiếp tục đầu tư nâng cao năng lực các cơ sở đóng mới và sữa chữa tầu cá hiện có. Xây dựng một số cơ sở sửa chữa và đóng mới tầu cá, chủ yếu đóng tầu công suất lớn phục vụ đánh bắt xa bờ tại Sông Đốc, Năm Căn, Hòn Khoai (Cà Mau), Rạch Giá, An Thới (Kiên Giang)... Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà máy đóng tầu Năm Căn (Cà Mau); thu hút đầu tư xây dựng nhà máy đóng tầu Hòn Chông (Kiên Giang), hình thành Trung tâm đóng tầu biển quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu đóng mới và sửa chữa các loại tầu trong Vùng.
Phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản chất lượng cao phục vụ xuất khẩu và du lịch. Đầu tư đổi mới thiết bị các cơ sở chế biến gạo xuất khẩu hiện có; xây dựng mới một số cơ sở xay xát, đánh bóng gạo xuất khẩu quy mô từ 20.000 - 40.000 tấn/năm tại các khu vực trọng điểm như Trần Văn Thời (Cà Mau), Rạch Giá, Hòn Đất (Kiên Giang)... nâng công suất chế biến gạo toàn Vùng lên 2,7 - 2,8 triệu tấn vào năm 2010 và trên 3,5 triệu tấn vào năm 2020.
Phát triển các ngành công nghiệp khác như may mặc, da giầy, chế biến gỗ, điện tử, điện gia dụng, cơ khí sửa chữa, mộc gia dụng... phù hợp với Điều kiện của từng địa phương. Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và khai thác thuỷ sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ven biển.
Về phát triển các khu công nghiệp: tập trung xây dựng hoàn chỉnh khu công nghiệp khí - điện - đạm Cà Mau. Phát triển nhanh khu vực tập trung công nghiệp nặng Bình An - Kiên Lương, từng bước hình thành 2 trung tâm công nghiệp lớn và hiện đại, tạo sự đột phá trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp của Vùng. Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp hiện có, đẩy mạnh thu hút đầu tư để nâng cao tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp. Xúc tiến thành lập một số khu công nghiệp mới như Thạnh Lộc, U Minh, Thuận Yên (Kiên Giang); Hòa Trung, Sông Đốc, Năm Căn (Cà Mau)... đáp ứng yêu cầu phát triển của Vùng.
- Phát triển đa dạng các ngành dịch vụ để thúc đẩy các ngành sản xuất phát triển và phục vụ đời sống nhân dân. Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ biển và các ngành có giá trị gia tăng cao như dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu, dịch vụ du lịch, dịch vụ nghề cá, dịch vụ dầu khí, dịch vụ vận tải, tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông..., đưa dịch vụ thực sự trở thành khu vực kinh tế năng động, tạo nhiều việc làm và đóng góp lớn cho nền kinh tế của Vùng.
- Phát triển đồng bộ hệ thống thương mại trong vùng theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Hình thành 2 trung tâm thương mại đầu mối của Vùng ở thành phố Cà Mau và thành phố Rạch Giá. Xây dựng một số trung tâm thương mại hiện đại tại Phú Quốc và Khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên gắn với phát triển du lịch. Xây dựng các trung tâm thương mại khác tại các thị xã, các trung tâm huyện lỵ, các cụm kinh tế ven biển... làm chức năng đầu mối cho từng khu vực. Cải tạo, nâng cấp và xây dựng hệ thống các chợ, các điểm thương mại ở các thị tứ và các vùng nông thôn... từng bước hình thành thị trường thông suốt, lưu thông hàng hóa thuận tiện trong toàn Vùng.
Đẩy mạnh các hoạt động xuất nhập khẩu. Xây dựng hoàn chỉnh Khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên gắn với đầu tư cửa khẩu quốc tế Xà Xía; nâng cấp cửa khẩu Giang Thành để mở rộng giao thương hàng hóa giữa vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan với Campuchia và các nước trong khu vực.
Phát triển dịch vụ tài chính, ngân hàng. Tạo Điều kiện thuận lợi để thu hút các Công ty tài chính lớn đầu tư tài chính và mở chi nhánh hoạt động trong Vùng, nhất là ở Phú Quốc. Vận động các nước quanh Vịnh Thái Lan và các tổ chức quốc tế xây dựng Quỹ phát triển vùng Vịnh Thái Lan để phát triển nhanh, gắn kết với các hành lang kinh tế, các trục kinh tế trong khu vực.
Phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải, dịch vụ cảng, dịch vụ hàng không, dịch vụ nghề cá, dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin và các dịch vụ khác. Hình thành một số ngành dịch vụ mới như dịch vụ dầu khí, dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ ... tạo Điều kiện thúc đẩy kinh tế biển trong Vùng.
- Phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp sinh thái ven biển theo hướng năng suất, chất lượng cao và bền vững. Đầu tư phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, hình hành các vùng sản xuất tập trung thâm canh cao gắn với chế biến, tạo bước chuyển dịch có hiệu quả cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Phát triển các vùng lúa cao sản, lúa đặc sản phục vụ xuất khẩu. Chuyển một phần diện tích trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản và cây công nghiệp, cây ăn trái, cây thực phẩm... phù hợp với quy hoạch sử dụng đất ở từng địa phương để nâng cao hiệu quả sản xuất. Mở rộng các mô hình sản xuất hiện đại, hiệu quả như kinh tế trang trại, Khu nông nghiệp công nghệ cao... để tạo ra các sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao phục vụ du lịch và xuất khẩu. Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với 6 tiểu vùng nông nghiệp sinh thái ven biển của Vùng, từng bước xây dựng nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững.
Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn, nâng tỷ lệ che phủ của rừng lên 20 - 21% bảo đảm yêu cầu phòng hộ ven biển kết hợp với phát triển du lịch. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng. Đẩy mạnh khoanh nuôi, tái sinh rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, đặc biệt là các vườn quốc gia Phú Quốc, U Minh Thượng, U Minh Hạ, Mũi Cà Mau, các khu bảo tồn thiên nhiên và rừng trên các đảo. Phát triển trồng rừng sản xuất, khuyến khích đầu tư trồng rừng theo hướng thâm canh năng suất cao, gắn với chế biến lâm sản và kinh doanh du lịch.