Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 97/2010/QĐ-UBND Phê duyệt Quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "06/12/2010", "sign_number": "97/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Đường", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "06/12/2010", "sign_number": "97/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Đường", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "06/12/2010", "sign_number": "97/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Đường", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "06/12/2010", "sign_number": "97/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Đường", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "06/12/2010", "sign_number": "97/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Đường", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 97/2010/QĐ-UBND Phê duyệt Quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An giai đoạn năm 2011 đến 2020, nội dung như sau:
...
3. Nội dung quy hoạch
3.1. Tổ chức mạng lưới khám chữa bệnh theo các tuyến kỹ thuật
a) Tuyến xã:
- Mỗi xã, phường, thị trấn theo đơn vị hành chính có một Trạm Y tế.
- Đối với các khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp, các doanh nghiệp hoặc nhà máy có trên 500 công nhân thì thành lập Trạm y tế có 3 - 4 cán bộ y tế, trong đó có bác sỹ phục vụ.
b) Tuyến huyện: Mỗi huyện, thành, thị theo đơn vị hành chính có một bệnh viện đa khoa với đầy đủ các khoa, phòng theo Quy định của Bộ Y tế hoặc Trung tâm Y tế có giường bệnh (cho các huyện, thị xã mới thành lập) và 22 Phòng khám đa khoa khu vực. Quy mô giường bệnh được xây dựng tương ứng với quy mô dân số từng vùng, tối thiểu là 50 giường và tối đa không quá 250 giường (trung bình 1 giường bệnh tuyến huyện phục vụ từ 1.400 đến 1.500 người dân).
c) Tuyến tỉnh: Gồm các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tỉnh, bệnh viện đa khoa khu vực (gọi chung là BV tuyến tỉnh).
d) Đẩy mạnh hoạt động xã hội hoá công tác khám bệnh, chữa bệnh để đến năm 2015, đạt tỷ lệ tối thiểu có 4 giường bệnh tư nhân/vạn dân và đến năm 2020 đạt tỷ lệ tối thiểu là 6 giường bệnh tư nhân/vạn dân.
3.2. Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh đến năm 2020
3.2.1. Cơ sở khám chữa bệnh và giường bệnh đến năm 2020 (không bao gồm giường bệnh thuộc Trạm Y tế và các bệnh viện thuộc Bộ, ngành đóng trên địa bàn).
Đến năm 2015, trên địa bàn tỉnh 50 bệnh viện và trung tâm y tế, trung tâm chuyên khoa có giường bệnh với tổng số giường bệnh là 7.620 giường. Đến năm 2020, có 54 bệnh viện và trung tâm y tế, trung tâm chuyên khoa có giường bệnh với tổng số giường bệnh là 9.930 giường (hiện tại 37 Bệnh viện và Trung tâm với 5.104 giường bệnh).
3.2.2. Tuyến tỉnh:
a) Tiếp tục củng cố và phát triển các bệnh viện hiện có:
- Bệnh viện HNĐK tỉnh, đến cuối năm 2012, hoàn thành đầu tư xây dựng bệnh viện 700 giường tại xã Nghi Phú - TP Vinh, đến 2015 phát triển đầy đủ các khoa, phòng và thực hiện đầy đủ chức năng bệnh viện hạng I.
- Bệnh viện Tâm thần, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi: đến hết năm 2012, hoàn thành việc nâng cấp sửa chữa bệnh viện theo Quyết định số 930/2009/QĐ-TTg ngày 30/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ, từng bước lựa chọn ưu tiên phát triển kỹ thuật chuyên khoa, thực hiện chăm sóc, điều trị bệnh nhân với các kỹ thuật mang tính chuyên khoa sâu để làm nhiệm vụ bệnh viện vệ tinh cho khu vực Bắc Trung bộ. Hình thành Phòng chỉ đạo tuyến gắn với các hoạt động của bệnh viện (thay thế Trạm Tâm thần, Trạm Chống Lao hiện nay).
- Bệnh viện Nội Tiết: đến năm 2015, hoàn thành bệnh viện 150 giường tại địa điểm số 11, đường Mai Hắc Đế - TP Vinh, phát triển đầy đủ chuyên môn của bệnh viện hạng II chuyên khoa.
- Bệnh viện Y học cổ truyền: tiếp tục đầu tư nâng cấp, sửa chữa cải tạo bệnh viện tại địa điểm: số 1, đường Tuệ Tĩnh - TP Vinh, phát triển chuyên môn đạt tiêu chuẩn kỹ thuật bệnh viện hạng I, thực hiện chức năng bệnh viện đầu ngành về Y Dược học cổ truyền, hỗ trợ về chuyên môn kỹ thuật cho sự phát triển y học cổ truyền tuyến dưới, đồng thời là cơ sở thực hành về YHCT cho các cơ sở đào tạo trong tỉnh. Đến năm 2015, hoàn thành đề án xây dựng Bệnh viện Đông y hoàn chỉnh với đầy đủ chức năng khám bệnh, chữa bệnh và nghỉ dưỡng tại địa điểm mới.
- Bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Cửa Lò: Từng bước lựa chọn ưu tiên phát triển kỹ thuật điều trị phục hồi chức năng, các phương pháp trị liệu nâng cao sức khỏe không phải dùng thuốc.
- Các trung tâm chuyên khoa có giường bệnh: Trung tâm Chăm sóc Sức khoẻ sinh sản 30 giường, Trung tâm Mắt 20 giường bệnh, Trung tâm Phòng chống Sốt rét - Ký sinh trùng và Côn trùng 5 giường bệnh, tiếp tục củng cố và phát triển theo hướng sáp nhập hình thành các bệnh viện chuyên khoa.
b) Thành lập mới các bệnh viện và trung tâm có giường bệnh:
- Bệnh viện Sản Nhi: trên cơ sở sáp nhập bệnh viện Nhi và Khoa sản bệnh viện HNĐK tỉnh: Giai đoạn 2010 - 2011, xây dựng và phê duyệt đề án thành lập Bệnh viện Sản Nhi. Đến hết năm 2012 tiếp quản cơ sở vật chất của Bệnh viện HNĐK tỉnh hiện nay và phát triển thành Bệnh viện Sản Nhi hoàn chỉnh đạt tiêu chuẩn kỹ thuật bệnh viện hạng I với quy mô 600 giường bệnh.
- Bệnh viện đa khoa Trường Đại học Y khoa Vinh: Triển khai thực hiện Đề án thành lập bệnh viện đa khoa thực hành (theo Quyết định số 2505/QĐ-UBND ngày 11/6/2010) trên cơ sở nâng cấp, mở rộng Phòng khám đa khoa của trường hiện nay thành bệnh viện thực hành với quy mô 100 giường vào năm 2015 và 200 giường vào năm 2020.
- Bệnh viện Ung Bướu (đã được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt Đề án thành lập tại Quyết định số 3825/QĐ-UBND ngày 27/8/2010): Triển khai thực hiện các thủ tục pháp lý đầu tư xây dựng Bệnh viện Ung bướu Nghệ An (Địa điểm: Tại xã Nghi Đức, trên trục đường Vinh - Cửa Hội). Giai đoạn từ 2010 - 2015, thành lập Bệnh viện Ung bướu Nghệ An, triển khai hoạt động trong khuôn viên Bệnh viện HNĐK tỉnh với quy mô 50 giường, vừa thu dung điều trị bệnh nhân vừa tuyển chọn cán bộ đi đào tạo. Đến hết năm 2015 chuyển ra tiếp quản cơ sở Bệnh viện Ung bướu mới, với quy mô 500 giường.
- Bệnh viện Mắt Nghệ An 100 giường tại địa điểm mới xã Nghi Phú (sau bệnh viện Đa khoa 115) trên cơ sở nâng cấp, mở rộng Trung tâm Mắt và sáp nhập Khoa mắt Bệnh viện HNĐK tỉnh.
- Trung tâm Huyết học - Truyền máu 50 giường (đã phê duyệt Đề án thành lập tại Quyết định số 39/2010/QĐ-UBND ngày 05/7/2010 của UBND tỉnh): Đầu tư phát triển kỹ thuật chuyên sâu (gắn với Bệnh viện HNĐK tỉnh) làm nhiệm vụ hỗ trợ lĩnh vực huyết học và truyền máu cho các đơn vị khám, chữa bệnh trong tỉnh.
- Thành lập Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình 200 giường và Trung tâm Vận chuyển cấp cứu bệnh nhân trên cơ sở nâng cấp, mở rộng khoa Chấn thương Bệnh viện HNĐK tỉnh. Sau năm 2012, tiếp quản cơ sở vật chất của Bệnh viện Nhi hiện nay.
- Thành lập Trung tâm Tim mạch 100 giường gắn với Bệnh viện HNĐK tỉnh trên cơ sở nâng cấp, mở rộng Khoa Tim mạch Bệnh viện HNĐK tỉnh.
- Đối với Bệnh viện Đa khoa Khu vực (Tây Bắc tại Nghĩa Đàn và Tây Nam tại Con Cuông): Đang đầu tư xây dựng mới (dự kiến hoàn thành vào năm 2013). Trong lúc chờ hoàn thiện, cần tiếp tục đào tạo phát triển nguồn nhân lực, phát triển kỹ thuật nâng cao chất lượng khám và điều trị. Từng bước hoàn chỉnh các khoa, phòng tương đương bệnh viện hạng II,
3.2.3. Tuyến huyện:
a) Địa bàn các huyện, thị xã:
- Đến hết năm 2012 hoàn thành việc đầu tư, cải tạo nâng cấp bệnh viện theo Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg ngày 24/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ. Tập trung đầu tư phát triển mọi mặt cho bệnh viện huyện: Diễn Châu, Nghi Lộc, Thanh Chương, Đô Lương, Quỳnh Lưu và Yên Thành đảm bảo các dịch vụ kỹ thuật bệnh viện hạng II. Các huyện còn lại phát triển dịch vụ kỹ thuật đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng III vào năm 2015, và hạng II vào năm 2020.
- Đối với các huyện, thị xã mới chia tách thì thành lập Trung tâm Y tế có giường bệnh, thực hiện cả chức năng phòng bệnh và chữa bệnh:
+ Trung tâm Y tế huyện Nghĩa Đàn 80 giường bệnh, hiện đang xây dựng mới tại xã Nghĩa Bình (nơi xây dựng trung tâm hành chính của huyện Nghĩa Đàn).
+ Thành lập Trung tâm Y tế thị xã Thái Hoà 50 giường bệnh, sau năm 2013 tiếp quản cơ sở vật chất của Bệnh viện đa khoa Tây Bắc hiện nay.
+ Thành lập Trung tâm Y tế thị xã Con Cuông 50 giường bệnh, sau năm 2013 tiếp quản cơ sở vật chất Bệnh viện đa khoa khu vực Tây Nam hiện nay;
+ Thành lập Trung tâm Y tế thị xã Hoàng Mai 80 giường bệnh, trên cơ sở tiếp quản cơ sở vật chất Phòng khám đa khoa Khu vực Hoàng Mai.
+ Thành lập Trung tâm Y tế huyện Con Cuông 50 giường bệnh, sau năm 2015, đầu tư xây dựng tại Khe Choăng (TT hành chính mới của huyện Con Cuông).
- Củng cố và duy trì ổn định phát triển 22 phòng khám đa khoa khu vực (thuộc sự quản lý của bệnh viện đa khoa huyện), để có đủ khả năng thực hiện được các kỹ thuật, dịch vụ khám chữa bệnh thông thường. Quy mô phòng khám đa khoa ở huyện miền núi là 15 giường và ở huyện đồng bằng là 20 giường.
b) Địa bàn thành phố Vinh:
- Đến hết năm 2012 hoàn thành việc đầu tư, cải tạo nâng cấp Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh theo Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ưu tiên phát triển dịch vụ kỹ thuật của bệnh viện hạng II, đảm bảo các điều kiện về xử lý chất thải y tế theo quy định của Bộ Y tế.
- Bắt đầu từ năm 2016, gắn liền sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Vinh với nhu cầu phát triển kỹ thuật và quy mô giường bệnh của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, lập phương án di chuyển Bệnh viện đến địa điểm mới (hoặc mở rộng diện tích) để có đủ quỹ đất đầu tư xây dựng, phát triển và hoàn thành đưa vào sử dụng trước năm 2020.
3.2.4. Tuyến xã: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các Trạm Y tế xã theo quy hoạch và thiết kế mẫu được duyệt. Đảm bảo mỗi Trạm Y tế có đủ các phòng chức năng và trang thiết bị thiết yếu và bố trí đủ cán bộ y tế theo chức danh do Bộ Y tế quy định (theo Thông tư liên tịch số 08/TTLT-BNV-BYT ngày 05/6/2007 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ về việc Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước), đạt Chuẩn Quốc gia về y tế để làm nhiệm vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.
3.2.5. Phát triển hệ thống khám, chữa bệnh ngoài công lập:
Tiếp tục duy trì, nâng cao và phát triển các dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu, mở rộng quy mô giường bệnh các bệnh viện hiện có, gồm 08 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa: Bệnh viện 115, Thái An, Thành An, Cửa Đông, Đông Âu, Phủ Diễn, Minh Hồng và Bệnh viện Mắt Sài Gòn (với tổng số 539 giường bệnh). Từ nay đến năm 2020, khuyến khích xã hội hóa đầu tư xây dựng một số bệnh viện chuyên khoa, đa khoa tư nhân theo quy hoạch được duyệt.
a) Địa bàn các huyện, thị:
- Từ nay đến năm 2015, phát triển một số bệnh viện tư nhân sau:
+ Bệnh viện Đa khoa tư nhân Phủ Quỳ tại Quỳ Hợp, quy mô 150 giường.
+ Bệnh viện ĐK tư nhân Hoàng Mai tại Quỳnh Lưu, quy mô 100 giường.
+ Bệnh viện ĐK tư nhân Thịnh Sơn tại Đô Lương, quy mô 100 giường.
- Từ năm 2016 - 2020, căn cứ vào tình hình thực tế cần phát triển một số bệnh viện đa khoa tư nhân tại các huyện có dân số đông như: Thanh Chương, Yên Thành,... Phát triển Bệnh viện đa khoa Quốc tế quy mô 500 giường, Bệnh viện phục hồi chức năng quy mô 300 giường (tại thị xã Cửa Lò).
b) Địa bàn thành phố Vinh:
- Từ nay đến năm 2015, Ưu tiên đầu tư và khuyến khích các thành phần kinh tế có năng lực tài chính đầu tư xây dựng một số bệnh viện ngoài công lập, gồm:
+ Bệnh viện Phụ sản Quốc tế Vinh (đang xây dựng), quy mô 300 giường.
+ Bệnh viện Răng Hàm Mặt, quy mô 50 giường.
+ Bệnh viện Đông y (hoàn chỉnh cao cấp), quy mô 300 giường.
+ Bệnh viện Tai Mũi Họng, quy mô 50 giường.
+ Bệnh viện Da liễu, quy mô 50 giường.
- Từ năm 2016 - 2020, phát triển một số bệnh viện chuyên khoa khi có nhu cầu và có đối tác đầu tư, mở rộng quy mô bệnh viện hiện có theo đề án được duyệt. Những bệnh viện công lập và ngoài công lập xây mới, từ nay đến năm 2020, phải định vị tại vùng quy hoạch được duyệt và phải đảm bảo các điều kiện tối ưu về xử lý chất thải.
3.2.6. Phát triển mạng lưới cấp cứu và vận chuyển cấp cứu:
a) Thiết lập lại hệ thống dịch vụ vận chuyển cấp cứu 115 (tiền thân trước đây là đội cấp cứu 05 đã giải thể). Trước mắt giao cho Bệnh viện HNĐK tỉnh quản lý và thực hiện, sau này khi thành lập Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình thì gắn với Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình và hình thành Trung tâm vận chuyển cấp cứu, thực hiện chức năng, nhiệm vụ vận chuyển cấp cứu bệnh nhân 24/24 giờ.
b) Khuyến khích y tế tư nhân phát triển 03 cơ sở vận chuyển cấp cứu tư nhân tại huyện Nghĩa Đàn, Con Cuông và Thanh Chương.

Content:
Nội dung quy hoạch
3.1. Tổ chức mạng lưới khám chữa bệnh theo các tuyến kỹ thuật
a) Tuyến xã:
- Mỗi xã, phường, thị trấn theo đơn vị hành chính có một Trạm Y tế.
- Đối với các khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp, các doanh nghiệp hoặc nhà máy có trên 500 công nhân thì thành lập Trạm y tế có 3 - 4 cán bộ y tế, trong đó có bác sỹ phục vụ.
b) Tuyến huyện: Mỗi huyện, thành, thị theo đơn vị hành chính có một bệnh viện đa khoa với đầy đủ các khoa, phòng theo Quy định của Bộ Y tế hoặc Trung tâm Y tế có giường bệnh (cho các huyện, thị xã mới thành lập) và 22 Phòng khám đa khoa khu vực. Quy mô giường bệnh được xây dựng tương ứng với quy mô dân số từng vùng, tối thiểu là 50 giường và tối đa không quá 250 giường (trung bình 1 giường bệnh tuyến huyện phục vụ từ 1.400 đến 1.500 người dân).
c) Tuyến tỉnh: Gồm các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tỉnh, bệnh viện đa khoa khu vực (gọi chung là BV tuyến tỉnh).
d) Đẩy mạnh hoạt động xã hội hoá công tác khám bệnh, chữa bệnh để đến năm 2015, đạt tỷ lệ tối thiểu có 4 giường bệnh tư nhân/vạn dân và đến năm 2020 đạt tỷ lệ tối thiểu là 6 giường bệnh tư nhân/vạn dân.
3.2. Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh đến năm 2020
3.2.1. Cơ sở khám chữa bệnh và giường bệnh đến năm 2020 (không bao gồm giường bệnh thuộc Trạm Y tế và các bệnh viện thuộc Bộ, ngành đóng trên địa bàn).
Đến năm 2015, trên địa bàn tỉnh 50 bệnh viện và trung tâm y tế, trung tâm chuyên khoa có giường bệnh với tổng số giường bệnh là 7.620 giường. Đến năm 2020, có 54 bệnh viện và trung tâm y tế, trung tâm chuyên khoa có giường bệnh với tổng số giường bệnh là 9.930 giường (hiện tại 37 Bệnh viện và Trung tâm với 5.104 giường bệnh).
3.2.2. Tuyến tỉnh:
a) Tiếp tục củng cố và phát triển các bệnh viện hiện có:
- Bệnh viện HNĐK tỉnh, đến cuối năm 2012, hoàn thành đầu tư xây dựng bệnh viện 700 giường tại xã Nghi Phú - TP Vinh, đến 2015 phát triển đầy đủ các khoa, phòng và thực hiện đầy đủ chức năng bệnh viện hạng I.
- Bệnh viện Tâm thần, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi: đến hết năm 2012, hoàn thành việc nâng cấp sửa chữa bệnh viện theo Quyết định số 930/2009/QĐ-TTg ngày 30/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ, từng bước lựa chọn ưu tiên phát triển kỹ thuật chuyên khoa, thực hiện chăm sóc, điều trị bệnh nhân với các kỹ thuật mang tính chuyên khoa sâu để làm nhiệm vụ bệnh viện vệ tinh cho khu vực Bắc Trung bộ. Hình thành Phòng chỉ đạo tuyến gắn với các hoạt động của bệnh viện (thay thế Trạm Tâm thần, Trạm Chống Lao hiện nay).
- Bệnh viện Nội Tiết: đến năm 2015, hoàn thành bệnh viện 150 giường tại địa điểm số 11, đường Mai Hắc Đế - TP Vinh, phát triển đầy đủ chuyên môn của bệnh viện hạng II chuyên khoa.
- Bệnh viện Y học cổ truyền: tiếp tục đầu tư nâng cấp, sửa chữa cải tạo bệnh viện tại địa điểm: số 1, đường Tuệ Tĩnh - TP Vinh, phát triển chuyên môn đạt tiêu chuẩn kỹ thuật bệnh viện hạng I, thực hiện chức năng bệnh viện đầu ngành về Y Dược học cổ truyền, hỗ trợ về chuyên môn kỹ thuật cho sự phát triển y học cổ truyền tuyến dưới, đồng thời là cơ sở thực hành về YHCT cho các cơ sở đào tạo trong tỉnh. Đến năm 2015, hoàn thành đề án xây dựng Bệnh viện Đông y hoàn chỉnh với đầy đủ chức năng khám bệnh, chữa bệnh và nghỉ dưỡng tại địa điểm mới.
- Bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Cửa Lò: Từng bước lựa chọn ưu tiên phát triển kỹ thuật điều trị phục hồi chức năng, các phương pháp trị liệu nâng cao sức khỏe không phải dùng thuốc.
- Các trung tâm chuyên khoa có giường bệnh: Trung tâm Chăm sóc Sức khoẻ sinh sản 30 giường, Trung tâm Mắt 20 giường bệnh, Trung tâm Phòng chống Sốt rét - Ký sinh trùng và Côn trùng 5 giường bệnh, tiếp tục củng cố và phát triển theo hướng sáp nhập hình thành các bệnh viện chuyên khoa.
b) Thành lập mới các bệnh viện và trung tâm có giường bệnh:
- Bệnh viện Sản Nhi: trên cơ sở sáp nhập bệnh viện Nhi và Khoa sản bệnh viện HNĐK tỉnh: Giai đoạn 2010 - 2011, xây dựng và phê duyệt đề án thành lập Bệnh viện Sản Nhi. Đến hết năm 2012 tiếp quản cơ sở vật chất của Bệnh viện HNĐK tỉnh hiện nay và phát triển thành Bệnh viện Sản Nhi hoàn chỉnh đạt tiêu chuẩn kỹ thuật bệnh viện hạng I với quy mô 600 giường bệnh.
- Bệnh viện đa khoa Trường Đại học Y khoa Vinh: Triển khai thực hiện Đề án thành lập bệnh viện đa khoa thực hành (theo Quyết định số 2505/QĐ-UBND ngày 11/6/2010) trên cơ sở nâng cấp, mở rộng Phòng khám đa khoa của trường hiện nay thành bệnh viện thực hành với quy mô 100 giường vào năm 2015 và 200 giường vào năm 2020.
- Bệnh viện Ung Bướu (đã được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt Đề án thành lập tại Quyết định số 3825/QĐ-UBND ngày 27/8/2010): Triển khai thực hiện các thủ tục pháp lý đầu tư xây dựng Bệnh viện Ung bướu Nghệ An (Địa điểm: Tại xã Nghi Đức, trên trục đường Vinh - Cửa Hội). Giai đoạn từ 2010 - 2015, thành lập Bệnh viện Ung bướu Nghệ An, triển khai hoạt động trong khuôn viên Bệnh viện HNĐK tỉnh với quy mô 50 giường, vừa thu dung điều trị bệnh nhân vừa tuyển chọn cán bộ đi đào tạo. Đến hết năm 2015 chuyển ra tiếp quản cơ sở Bệnh viện Ung bướu mới, với quy mô 500 giường.
- Bệnh viện Mắt Nghệ An 100 giường tại địa điểm mới xã Nghi Phú (sau bệnh viện Đa khoa 115) trên cơ sở nâng cấp, mở rộng Trung tâm Mắt và sáp nhập Khoa mắt Bệnh viện HNĐK tỉnh.
- Trung tâm Huyết học - Truyền máu 50 giường (đã phê duyệt Đề án thành lập tại Quyết định số 39/2010/QĐ-UBND ngày 05/7/2010 của UBND tỉnh): Đầu tư phát triển kỹ thuật chuyên sâu (gắn với Bệnh viện HNĐK tỉnh) làm nhiệm vụ hỗ trợ lĩnh vực huyết học và truyền máu cho các đơn vị khám, chữa bệnh trong tỉnh.
- Thành lập Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình 200 giường và Trung tâm Vận chuyển cấp cứu bệnh nhân trên cơ sở nâng cấp, mở rộng khoa Chấn thương Bệnh viện HNĐK tỉnh. Sau năm 2012, tiếp quản cơ sở vật chất của Bệnh viện Nhi hiện nay.
- Thành lập Trung tâm Tim mạch 100 giường gắn với Bệnh viện HNĐK tỉnh trên cơ sở nâng cấp, mở rộng Khoa Tim mạch Bệnh viện HNĐK tỉnh.
- Đối với Bệnh viện Đa khoa Khu vực (Tây Bắc tại Nghĩa Đàn và Tây Nam tại Con Cuông): Đang đầu tư xây dựng mới (dự kiến hoàn thành vào năm 2013). Trong lúc chờ hoàn thiện, cần tiếp tục đào tạo phát triển nguồn nhân lực, phát triển kỹ thuật nâng cao chất lượng khám và điều trị. Từng bước hoàn chỉnh các khoa, phòng tương đương bệnh viện hạng II,
3.2.Tuyến huyện:
a) Địa bàn các huyện, thị xã:
- Đến hết năm 2012 hoàn thành việc đầu tư, cải tạo nâng cấp bệnh viện theo Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg ngày 24/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ. Tập trung đầu tư phát triển mọi mặt cho bệnh viện huyện: Diễn Châu, Nghi Lộc, Thanh Chương, Đô Lương, Quỳnh Lưu và Yên Thành đảm bảo các dịch vụ kỹ thuật bệnh viện hạng II. Các huyện còn lại phát triển dịch vụ kỹ thuật đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng III vào năm 2015, và hạng II vào năm 2020.
- Đối với các huyện, thị xã mới chia tách thì thành lập Trung tâm Y tế có giường bệnh, thực hiện cả chức năng phòng bệnh và chữa bệnh:
+ Trung tâm Y tế huyện Nghĩa Đàn 80 giường bệnh, hiện đang xây dựng mới tại xã Nghĩa Bình (nơi xây dựng trung tâm hành chính của huyện Nghĩa Đàn).
+ Thành lập Trung tâm Y tế thị xã Thái Hoà 50 giường bệnh, sau năm 2013 tiếp quản cơ sở vật chất của Bệnh viện đa khoa Tây Bắc hiện nay.
+ Thành lập Trung tâm Y tế thị xã Con Cuông 50 giường bệnh, sau năm 2013 tiếp quản cơ sở vật chất Bệnh viện đa khoa khu vực Tây Nam hiện nay;
+ Thành lập Trung tâm Y tế thị xã Hoàng Mai 80 giường bệnh, trên cơ sở tiếp quản cơ sở vật chất Phòng khám đa khoa Khu vực Hoàng Mai.
+ Thành lập Trung tâm Y tế huyện Con Cuông 50 giường bệnh, sau năm 2015, đầu tư xây dựng tại Khe Choăng (TT hành chính mới của huyện Con Cuông).
- Củng cố và duy trì ổn định phát triển 22 phòng khám đa khoa khu vực (thuộc sự quản lý của bệnh viện đa khoa huyện), để có đủ khả năng thực hiện được các kỹ thuật, dịch vụ khám chữa bệnh thông thường. Quy mô phòng khám đa khoa ở huyện miền núi là 15 giường và ở huyện đồng bằng là 20 giường.
b) Địa bàn thành phố Vinh:
- Đến hết năm 2012 hoàn thành việc đầu tư, cải tạo nâng cấp Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh theo Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ưu tiên phát triển dịch vụ kỹ thuật của bệnh viện hạng II, đảm bảo các điều kiện về xử lý chất thải y tế theo quy định của Bộ Y tế.
- Bắt đầu từ năm 2016, gắn liền sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Vinh với nhu cầu phát triển kỹ thuật và quy mô giường bệnh của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, lập phương án di chuyển Bệnh viện đến địa điểm mới (hoặc mở rộng diện tích) để có đủ quỹ đất đầu tư xây dựng, phát triển và hoàn thành đưa vào sử dụng trước năm 2020.
3.2.4. Tuyến xã: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các Trạm Y tế xã theo quy hoạch và thiết kế mẫu được duyệt. Đảm bảo mỗi Trạm Y tế có đủ các phòng chức năng và trang thiết bị thiết yếu và bố trí đủ cán bộ y tế theo chức danh do Bộ Y tế quy định (theo Thông tư liên tịch số 08/TTLT-BNV-BYT ngày 05/6/2007 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ về việc Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước), đạt Chuẩn Quốc gia về y tế để làm nhiệm vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.
3.2.5. Phát triển hệ thống khám, chữa bệnh ngoài công lập:
Tiếp tục duy trì, nâng cao và phát triển các dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu, mở rộng quy mô giường bệnh các bệnh viện hiện có, gồm 08 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa: Bệnh viện 115, Thái An, Thành An, Cửa Đông, Đông Âu, Phủ Diễn, Minh Hồng và Bệnh viện Mắt Sài Gòn (với tổng số 539 giường bệnh). Từ nay đến năm 2020, khuyến khích xã hội hóa đầu tư xây dựng một số bệnh viện chuyên khoa, đa khoa tư nhân theo quy hoạch được duyệt.
a) Địa bàn các huyện, thị:
- Từ nay đến năm 2015, phát triển một số bệnh viện tư nhân sau:
+ Bệnh viện Đa khoa tư nhân Phủ Quỳ tại Quỳ Hợp, quy mô 150 giường.
+ Bệnh viện ĐK tư nhân Hoàng Mai tại Quỳnh Lưu, quy mô 100 giường.
+ Bệnh viện ĐK tư nhân Thịnh Sơn tại Đô Lương, quy mô 100 giường.
- Từ năm 2016 - 2020, căn cứ vào tình hình thực tế cần phát triển một số bệnh viện đa khoa tư nhân tại các huyện có dân số đông như: Thanh Chương, Yên Thành,... Phát triển Bệnh viện đa khoa Quốc tế quy mô 500 giường, Bệnh viện phục hồi chức năng quy mô 300 giường (tại thị xã Cửa Lò).
b) Địa bàn thành phố Vinh:
- Từ nay đến năm 2015, Ưu tiên đầu tư và khuyến khích các thành phần kinh tế có năng lực tài chính đầu tư xây dựng một số bệnh viện ngoài công lập, gồm:
+ Bệnh viện Phụ sản Quốc tế Vinh (đang xây dựng), quy mô 300 giường.
+ Bệnh viện Răng Hàm Mặt, quy mô 50 giường.
+ Bệnh viện Đông y (hoàn chỉnh cao cấp), quy mô 300 giường.
+ Bệnh viện Tai Mũi Họng, quy mô 50 giường.
+ Bệnh viện Da liễu, quy mô 50 giường.
- Từ năm 2016 - 2020, phát triển một số bệnh viện chuyên khoa khi có nhu cầu và có đối tác đầu tư, mở rộng quy mô bệnh viện hiện có theo đề án được duyệt. Những bệnh viện công lập và ngoài công lập xây mới, từ nay đến năm 2020, phải định vị tại vùng quy hoạch được duyệt và phải đảm bảo các điều kiện tối ưu về xử lý chất thải.
3.2.6. Phát triển mạng lưới cấp cứu và vận chuyển cấp cứu:
a) Thiết lập lại hệ thống dịch vụ vận chuyển cấp cứu 115 (tiền thân trước đây là đội cấp cứu 05 đã giải thể). Trước mắt giao cho Bệnh viện HNĐK tỉnh quản lý và thực hiện, sau này khi thành lập Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình thì gắn với Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình và hình thành Trung tâm vận chuyển cấp cứu, thực hiện chức năng, nhiệm vụ vận chuyển cấp cứu bệnh nhân 24/24 giờ.
b) Khuyến khích y tế tư nhân phát triển 03 cơ sở vận chuyển cấp cứu tư nhân tại huyện Nghĩa Đàn, Con Cuông và Thanh Chương.