Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 358/QĐ-UBND 2019 Kế hoạch ứng phó khẩn cấp với bệnh Dịch tả heo Châu Phi An Giang

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "01/03/2019", "sign_number": "358/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Thư", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "01/03/2019", "sign_number": "358/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Thư", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "01/03/2019", "sign_number": "358/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Thư", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "01/03/2019", "sign_number": "358/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Thư", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "01/03/2019", "sign_number": "358/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Thư", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 358/QĐ-UBND 2019 Kế hoạch ứng phó khẩn cấp với bệnh Dịch tả heo Châu Phi An Giang

Điều 1. : Phê duyệt Kế hoạch hành động ứng phó khẩn cấp với bệnh Dịch tả heo Châu Phi năm 2019 trên địa bàn tỉnh An Giang, với các nội dung như sau:
...
5. Giải pháp về quản lý chăn nuôi an toàn sinh học
- Tăng cường chỉ đạo áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học, thực hành chăn nuôi tốt; Xây dựng cơ sở, chuỗi cơ sở an toàn dịch bệnh.
- Định kỳ tổ chức vệ sinh, khử trùng, tiêu độc tại các khu vực chăn nuôi, các chợ, điểm buôn bán, giết mổ heo và sản phẩm từ heo bằng các loại hóa chất được phép sử dụng; vệ sinh, khử trùng, tiêu độc đối với người, phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi theo đúng quy trình kỹ thuật chăn nuôi, vệ sinh phòng dịch.
B. Trường hợp xảy ra bệnh Dịch tả heo Châu Phi
Khi có heo bệnh chết nghi mắc bệnh Dịch tả heo Châu Phi, phải báo ngay cơ quan chuyên môn gần nhất cụ thể Trạm Chăn nuôi và Thú y tại địa phương hoặc báo ngay đến Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh An Giang và tiến hành lấy mẫu xét nghiệm. Báo cáo Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Thú y vùng 7, Cục Thú y. Phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện tiêu hủy heo, sản phẩm từ heo có mẫu xét nghiệm dương tính với vi rút Dịch tả heo Châu Phi.
Phối hợp với Chi cục Thú y vùng 7 tổ chức điều tra ổ dịch để xác định nguồn gốc, nguyên nhân heo, sản phâm từ heo dương tính với vi rút Dịch tả heo Châu Phi. Triển khai các biện pháp phòng, chống theo quy định của Luật Thú y và Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn, nhằm khống chế không để dịch bệnh lây lan; Công bố dịch.
1. Lấy mẫu giám sát
Hiện nay, chưa có vắc xin và thuốc điều trị được Dịch tả heo Châu Phi, vì vậy giải pháp phòng bệnh là chính. Nếu phát hiện cần xử lý triệt để ổ dịch càng sớm càng tốt, ngay từ khi ở phạm vi nhỏ và chưa lây lan.
Tăng cường theo dõi, giám sát lâm sàng đối với đàn heo, kịp thời phát hiện, cách ly và lấy mẫu xét nghiệm đối với heo bị bệnh hoặc nghi mắc bệnh. Tuy nhiên, công tác giám sát chủ động có thể dẫn đến cái nhìn sai về an toàn dịch bệnh. Vì vậy, đối với bệnh Dịch tả heo Châu Phi thì giám sát bị động tức khi có heo mắc bệnh hoặc nghi mắc bệnh mới lấy mẫu giám sát.
Đường lây truyền chủ yếu là do vận chuyển nên dự kiến nếu có dịch bệnh xảy ra thì khả năng xảy ra chiếm tỷ lệ cao là 05 huyện biên giới và 02 huyện có trục giao thông chính gồm các huyện Chợ Mới, Tri Tôn, Tịnh Biên, An Phú, TX Tân Châu, TP Châu Đốc và TP Long Xuyên. Với khả năng lây lan chậm nên dự kiến khả năng xảy ra dịch bệnh là 20% cụ thể:
Bảng 1: Dự trù số lượng heo bị bệnh và lượng mẫu cần lấy

TT

Huyện, thị, thành

Tổng đàn
(con)

Số heo bị bệnh
(10% tổng đàn)

Số hộ
(8 con/hộ)

Số lượng mẫu
(1 mẫu/hộ)

1

Long Xuyên

11,226

1,123

140

140

2

Châu Đốc

2,812

281

35

35

3

An Phú

3,085

309

39

39

4

Tân Châu

3,498

350

44

44

5

Tịnh Biên

8,734

873

110

110

6

Tri Tôn

26,550

2,655

332

332

7

Chợ Mới

18,663

1,866

233

233

Tổng cộng:

74,568

7,457

934

934

(Tổng đàn heo theo số liệu thống kê thời điểm tháng 10/2018)
2. Giải pháp tiêu hủy heo, các sản phẩm từ heo bệnh hoặc nghi mắc bệnh Dịch tả heo Châu Phi
Tuyệt đối không điều trị heo bị bệnh hoặc heo nghi mắc bệnh Dịch tả heo Châu Phi . Trường hợp 01 ổ dịch là cơ sở chăn nuôi nhỏ lẻ, gia trại không có dãy chuồng riêng biệt: buộc phải tiêu hủy toàn đàn heo trong vòng 24 giờ kể từ khi có kết quả xét nghiệm khẳng định dương tính với bệnh Dịch tả heo Châu Phi. Việc tiêu hủy cũng được áp dụng đối với các đàn heo liền kề với đàn heo dương tính nhưng chưa được lấy mẫu xét nghiệm.
Trong vùng dịch, vùng bị dịch uy hiếp, trong vòng 48 giờ việc tiêu hủy được áp dụng với đàn heo bị bệnh có triệu chứng lâm sàng của Dịch tả heo Châu Phi mà không nhất thiết phải chờ cho đến khi có kết quả xét nghiệm nhằm ngăn chặn dịch bệnh phát tán, lây lan diện rộng.
Đối với chăn nuôi trang trại số lượng lớn có nhiều dãy chuồng riêng biệt thì tiêu hủy toàn bộ heo trong chuồng bị bệnh; các dãy chuồng còn lại áp dụng các biện pháp an toàn sinh học và lấy mẫu giám sát định kỳ. Nếu có nguy cơ lây nhiễm cao thì tiêu hủy toàn trang trại.
Thực hiện việc tiêu hủy heo bị bệnh theo quy định của pháp luật. Hỗ trợ tài chính cho người chăn nuôi có heo buộc phải tiêu hủy theo quy định tại Nghị định số 02/2017/NĐ-CP ngày 09/01/2017 của Chính phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh.
3. Giải pháp khoanh vùng ổ dịch
- Ổ dịch là trại, các trại chăn nuôi heo hoặc hộ gia đình chăn nuôi heo trong 01 đơn vị cấp xã nơi phát hiện vi rút Dịch tả heo Châu Phi.
- Vùng bị dịch uy hiếp: Trong phạm vi 03 km xung quanh ổ dịch, thực hiện việc tổng vệ sinh, khử trùng tiêu độc liên tục 01 lần/ngày trong vòng 01 tuần đầu tiên; 03 lần/tuần trong 2 – 3 tuần tiếp theo; đồng thời theo dõi lâm sàng và lấy mẫu xét nghiệm bất kỳ con heo nào có biểu hiện bị bệnh, nghi bị bệnh để xác định vi rút Dịch tả heo Châu Phi.
- Vùng giám sát dịch bệnh: Trong phạm vi 10 km xung quanh ổ dịch, thực hiện việc tổng vệ sinh, khử trùng tiêu độc với tần suất 01 lần/tuần liên tục trong vòng 01 tháng kể từ khi có ổ dịch; đồng thời thực hiện việc theo dõi lâm sàng và lấy mẫu xét nghiệm bất kỳ con heo nào có biểu hiện bị bệnh, nghi bị bệnh để xác định vi rút Dịch tả heo Châu Phi.
4. Giải pháp về vận chuyển, giết mổ
- Truy xuất nguồn gốc đối với mẫu bệnh phẩm dương tính với vi rút Dịch tả heo Châu Phi để xử lý kịp thời.
- Nghiêm cấm mọi hình thức vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ heo, các sản phẩm heo ra vào vùng dịch, vùng bị dịch uy hiếp. Cơ sở chăn nuôi trong vùng dịch, vùng bị dịch uy hiếp đã được cấp “Giấy chứng nhận an toàn dịch bệnh động vật” đối với các bệnh khác, có thể được phép vận chuyển ra ngoài dưới sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền của địa phương sau khi đã lấy mẫu xét nghiệm âm tính với bệnh Dịch tả heo Châu Phi. Căn cứ tình hình thực tế, Chi cục Chăn nuôi và Thú y có thể điều chỉnh, xác định vùng bị dịch uy hiếp phù hợp để áp dụng giải pháp dừng vận chuyển.
- Đối với heo trưởng thành hoặc trường hợp chủ cơ sở nuôi có nhu cầu giết mổ thì được phép giết mổ dưới sự giám sát của cán bộ thú y với điều kiện kết quả xét nghiệm âm tính với vi rút Dịch tả heo Châu Phi. Thịt heo và sản phẩm từ heo chỉ được phép tiêu thụ trong phạm vi vùng bị dịch uy hiếp hoặc vùng giám sát.
5. Giải pháp an toàn sinh học và tái đàn sau khi hết dịch
- Tăng cường công tác chỉ đạo, tích cực thực hiện các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, thực hành chăn nuôi tốt.
- Tổ chức vệ sinh, tiêu độc khử trùng tại khu vực chăn nuôi, buôn bán, giết mổ gia súc, phương tiện vận chuyển tại nơi xảy ra dịch và vùng đệm theo quy định vệ sinh phòng dịch.
- Thời điểm tái đàn sau dịch: 30 ngày kể từ khi tiêu hủy đàn heo hoặc sản phẩm heo bị nhiễm bệnh và đã thực hiện các biện pháp phòng chống dịch theo quy định, cơ sở từng bước nuôi tái đàn với số lượng khoảng 10% tổng số heo có thể nuôi tại cơ sở. Sau khi nuôi tái đàn được 30 ngày, thực hiện việc lấy mẫu xét nghiệm, nếu tất cả các mẫu xét nghiệm đều âm tính với vi rút Dịch tả heo Châu Phi, khi đó mới nuôi tái đàn với số lượng có thể lên đến 100% tổng số heo có thể nuôi tại cơ sở/ hộ gia đình.

Content:
Giải pháp về quản lý chăn nuôi an toàn sinh học
- Tăng cường chỉ đạo áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học, thực hành chăn nuôi tốt; Xây dựng cơ sở, chuỗi cơ sở an toàn dịch bệnh.
- Định kỳ tổ chức vệ sinh, khử trùng, tiêu độc tại các khu vực chăn nuôi, các chợ, điểm buôn bán, giết mổ heo và sản phẩm từ heo bằng các loại hóa chất được phép sử dụng; vệ sinh, khử trùng, tiêu độc đối với người, phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi theo đúng quy trình kỹ thuật chăn nuôi, vệ sinh phòng dịch.
B. Trường hợp xảy ra bệnh Dịch tả heo Châu Phi
Khi có heo bệnh chết nghi mắc bệnh Dịch tả heo Châu Phi, phải báo ngay cơ quan chuyên môn gần nhất cụ thể Trạm Chăn nuôi và Thú y tại địa phương hoặc báo ngay đến Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh An Giang và tiến hành lấy mẫu xét nghiệm. Báo cáo Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Thú y vùng 7, Cục Thú y. Phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện tiêu hủy heo, sản phẩm từ heo có mẫu xét nghiệm dương tính với vi rút Dịch tả heo Châu Phi.
Phối hợp với Chi cục Thú y vùng 7 tổ chức điều tra ổ dịch để xác định nguồn gốc, nguyên nhân heo, sản phâm từ heo dương tính với vi rút Dịch tả heo Châu Phi. Triển khai các biện pháp phòng, chống theo quy định của Luật Thú y và Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn, nhằm khống chế không để dịch bệnh lây lan; Công bố dịch.
1. Lấy mẫu giám sát
Hiện nay, chưa có vắc xin và thuốc điều trị được Dịch tả heo Châu Phi, vì vậy giải pháp phòng bệnh là chính. Nếu phát hiện cần xử lý triệt để ổ dịch càng sớm càng tốt, ngay từ khi ở phạm vi nhỏ và chưa lây lan.
Tăng cường theo dõi, giám sát lâm sàng đối với đàn heo, kịp thời phát hiện, cách ly và lấy mẫu xét nghiệm đối với heo bị bệnh hoặc nghi mắc bệnh. Tuy nhiên, công tác giám sát chủ động có thể dẫn đến cái nhìn sai về an toàn dịch bệnh. Vì vậy, đối với bệnh Dịch tả heo Châu Phi thì giám sát bị động tức khi có heo mắc bệnh hoặc nghi mắc bệnh mới lấy mẫu giám sát.
Đường lây truyền chủ yếu là do vận chuyển nên dự kiến nếu có dịch bệnh xảy ra thì khả năng xảy ra chiếm tỷ lệ cao là 05 huyện biên giới và 02 huyện có trục giao thông chính gồm các huyện Chợ Mới, Tri Tôn, Tịnh Biên, An Phú, TX Tân Châu, TP Châu Đốc và TP Long Xuyên. Với khả năng lây lan chậm nên dự kiến khả năng xảy ra dịch bệnh là 20% cụ thể:
Bảng 1: Dự trù số lượng heo bị bệnh và lượng mẫu cần lấy

TT

Huyện, thị, thành

Tổng đàn
(con)

Số heo bị bệnh
(10% tổng đàn)

Số hộ
(8 con/hộ)

Số lượng mẫu
(1 mẫu/hộ)

1

Long Xuyên

11,226

1,123

140

140

2

Châu Đốc

2,812

281

35

35

3

An Phú

3,085

309

39

39

4

Tân Châu

3,498

350

44

44

5

Tịnh Biên

8,734

873

110

110

6

Tri Tôn

26,550

2,655

332

332

7

Chợ Mới

18,663

1,866

233

233

Tổng cộng:

74,568

7,457

934

934

(Tổng đàn heo theo số liệu thống kê thời điểm tháng 10/2018)
2. Giải pháp tiêu hủy heo, các sản phẩm từ heo bệnh hoặc nghi mắc bệnh Dịch tả heo Châu Phi
Tuyệt đối không điều trị heo bị bệnh hoặc heo nghi mắc bệnh Dịch tả heo Châu Phi . Trường hợp 01 ổ dịch là cơ sở chăn nuôi nhỏ lẻ, gia trại không có dãy chuồng riêng biệt: buộc phải tiêu hủy toàn đàn heo trong vòng 24 giờ kể từ khi có kết quả xét nghiệm khẳng định dương tính với bệnh Dịch tả heo Châu Phi. Việc tiêu hủy cũng được áp dụng đối với các đàn heo liền kề với đàn heo dương tính nhưng chưa được lấy mẫu xét nghiệm.
Trong vùng dịch, vùng bị dịch uy hiếp, trong vòng 48 giờ việc tiêu hủy được áp dụng với đàn heo bị bệnh có triệu chứng lâm sàng của Dịch tả heo Châu Phi mà không nhất thiết phải chờ cho đến khi có kết quả xét nghiệm nhằm ngăn chặn dịch bệnh phát tán, lây lan diện rộng.
Đối với chăn nuôi trang trại số lượng lớn có nhiều dãy chuồng riêng biệt thì tiêu hủy toàn bộ heo trong chuồng bị bệnh; các dãy chuồng còn lại áp dụng các biện pháp an toàn sinh học và lấy mẫu giám sát định kỳ. Nếu có nguy cơ lây nhiễm cao thì tiêu hủy toàn trang trại.
Thực hiện việc tiêu hủy heo bị bệnh theo quy định của pháp luật. Hỗ trợ tài chính cho người chăn nuôi có heo buộc phải tiêu hủy theo quy định tại Nghị định số 02/2017/NĐ-CP ngày 09/01/2017 của Chính phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh.
3. Giải pháp khoanh vùng ổ dịch
- Ổ dịch là trại, các trại chăn nuôi heo hoặc hộ gia đình chăn nuôi heo trong 01 đơn vị cấp xã nơi phát hiện vi rút Dịch tả heo Châu Phi.
- Vùng bị dịch uy hiếp: Trong phạm vi 03 km xung quanh ổ dịch, thực hiện việc tổng vệ sinh, khử trùng tiêu độc liên tục 01 lần/ngày trong vòng 01 tuần đầu tiên; 03 lần/tuần trong 2 – 3 tuần tiếp theo; đồng thời theo dõi lâm sàng và lấy mẫu xét nghiệm bất kỳ con heo nào có biểu hiện bị bệnh, nghi bị bệnh để xác định vi rút Dịch tả heo Châu Phi.
- Vùng giám sát dịch bệnh: Trong phạm vi 10 km xung quanh ổ dịch, thực hiện việc tổng vệ sinh, khử trùng tiêu độc với tần suất 01 lần/tuần liên tục trong vòng 01 tháng kể từ khi có ổ dịch; đồng thời thực hiện việc theo dõi lâm sàng và lấy mẫu xét nghiệm bất kỳ con heo nào có biểu hiện bị bệnh, nghi bị bệnh để xác định vi rút Dịch tả heo Châu Phi.
4. Giải pháp về vận chuyển, giết mổ
- Truy xuất nguồn gốc đối với mẫu bệnh phẩm dương tính với vi rút Dịch tả heo Châu Phi để xử lý kịp thời.
- Nghiêm cấm mọi hình thức vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ heo, các sản phẩm heo ra vào vùng dịch, vùng bị dịch uy hiếp. Cơ sở chăn nuôi trong vùng dịch, vùng bị dịch uy hiếp đã được cấp “Giấy chứng nhận an toàn dịch bệnh động vật” đối với các bệnh khác, có thể được phép vận chuyển ra ngoài dưới sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền của địa phương sau khi đã lấy mẫu xét nghiệm âm tính với bệnh Dịch tả heo Châu Phi. Căn cứ tình hình thực tế, Chi cục Chăn nuôi và Thú y có thể điều chỉnh, xác định vùng bị dịch uy hiếp phù hợp để áp dụng giải pháp dừng vận chuyển.
- Đối với heo trưởng thành hoặc trường hợp chủ cơ sở nuôi có nhu cầu giết mổ thì được phép giết mổ dưới sự giám sát của cán bộ thú y với điều kiện kết quả xét nghiệm âm tính với vi rút Dịch tả heo Châu Phi. Thịt heo và sản phẩm từ heo chỉ được phép tiêu thụ trong phạm vi vùng bị dịch uy hiếp hoặc vùng giám sát.
Giải pháp an toàn sinh học và tái đàn sau khi hết dịch
- Tăng cường công tác chỉ đạo, tích cực thực hiện các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, thực hành chăn nuôi tốt.
- Tổ chức vệ sinh, tiêu độc khử trùng tại khu vực chăn nuôi, buôn bán, giết mổ gia súc, phương tiện vận chuyển tại nơi xảy ra dịch và vùng đệm theo quy định vệ sinh phòng dịch.
- Thời điểm tái đàn sau dịch: 30 ngày kể từ khi tiêu hủy đàn heo hoặc sản phẩm heo bị nhiễm bệnh và đã thực hiện các biện pháp phòng chống dịch theo quy định, cơ sở từng bước nuôi tái đàn với số lượng khoảng 10% tổng số heo có thể nuôi tại cơ sở. Sau khi nuôi tái đàn được 30 ngày, thực hiện việc lấy mẫu xét nghiệm, nếu tất cả các mẫu xét nghiệm đều âm tính với vi rút Dịch tả heo Châu Phi, khi đó mới nuôi tái đàn với số lượng có thể lên đến 100% tổng số heo có thể nuôi tại cơ sở/ hộ gia đình.