Document: Điều 3 Nghị định 44-NĐ Sửa đổi Luật đi đường bộ Nghị định 48-NĐ ngày 03-12-1955

Type: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông và Bưu điện", "promulgation_date": "27/05/1958", "sign_number": "44-NĐ", "signer": "Nguyễn Hữu Mai", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông và Bưu điện", "promulgation_date": "27/05/1958", "sign_number": "44-NĐ", "signer": "Nguyễn Hữu Mai", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông và Bưu điện", "promulgation_date": "27/05/1958", "sign_number": "44-NĐ", "signer": "Nguyễn Hữu Mai", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông và Bưu điện", "promulgation_date": "27/05/1958", "sign_number": "44-NĐ", "signer": "Nguyễn Hữu Mai", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông và Bưu điện", "promulgation_date": "27/05/1958", "sign_number": "44-NĐ", "signer": "Nguyễn Hữu Mai", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 3 Nghị định 44-NĐ Sửa đổi Luật đi đường bộ Nghị định 48-NĐ ngày 03-12-1955 có nội dung như sau:

Điều 3. – Nay sửa đổi như sau các điều 6, 8, 10, 19, 20, 21, 32 và 41 trong Luật đi đường bộ:
Điều 6 mới. – “Tốc độ - Người lái xe lúc nào cũng phải làm chủ được tốc độ của xe. Trong những trường hợp dưới đây, tốc độ xe phải giảm đến mức không nguy hiểm để có thể tránh được tai nạn và nếu cần, xe phải đỗ hẳn lại:
- Qua các thành phố, thị xã, thị trấn, các quãng đường có nhà làm sát lề đường, những nơi có đông người tụ họp;
- Qua cầu, qua giữa quãng đường xấu, đường hẹp, đường ngoặt, vv…
- Khi không trông rõ đường vì trời có sương mù hay mưa to, lúc trời đã sầm tối hay chưa sáng tỏ, xe không đi đèn;
- Khi tránh hay vượt các xe khác, khi tránh các chướng ngại vật trên đường;
- Ban đêm khi tắt đèn pha đi đèn cốt.”
Điều 8 mới. – “Bánh xe – Xe trâu, xe bò, xe ngựa bánh bằng sắt phải bảo đảm tiêu chuẩn.
60kg (trọng lượng xe và hàng hóa xếp trên xe)
1cm (bề rộng tổng cộng của các bánh xe)
và bề rộng tối thiểu của bánh xe phải là 6cm.
Những xe đang dùng bề rộng của bánh xe không đủ 6cm vẫn được phép dùng cho đến khi hỏng bánh.
Xe cơ giới bánh bằng xích (Chenille) không được chạy trên đường ô tô trừ trường hợp đặc biệt được cơ quan giao thông cho phép”.
Điều 10 mới. – “Đỗ xe - Nếu không có lý do chính đáng, xe không được đỗ ở đường.
Xe đỗ ở đường phải hết sức tránh làm cản trở sự đi lại trên đường và không được cản lối ra vào của các nhà ở ven đường.
Trong các đường phố, xe không được đỗ sát bờ hè nhưng không được đỗ cách bờ hè quá 20cm.
Trên đường trường nếu lề đường rộng, xe phải đỗ hẳn ra lề đường.
Trong các thành phố, thị xã và thị trấn, cấm xe cộ các loại đỗ:
- Cách đầu ngã ba, ngã tư dưới 5cm;
- Ở những chỗ đường ngoặt;
- Trong các hàng đanh;
- Gần những địa điểm đỗ của các tàu điện và xe buýt.
Trên đường trường, xe cộ không được đỗ:
- Cách gần ngã ba, ngã tư dưới 10mét;
- Trong cầu và gần đầu cầu;
- Gần đầu dốc và gần chỗ đường cong nếu tầm nhìn cả hai phía bị che khuất trong vòng 50mét.
Khi xe đỗ, người lái xe không được bỏ xe đi chỗ khác trước khi thi hành những biện pháp cần thiết để ngăn ngừa tai nạn. Nếu vì bị hư hỏng hay vì tai nạn mà xe phải nằm đường, hàng hóa dỡ xuống chưa kịp mang đi thì người lái xe phải thu xếp, bố trí để sự đi lại không bị cản trở và nếu trời tối thì phải có đèn báo hiệu.”
Điều 19 mới. – “Tốc độ tối đa - Trừ các xe chữa cháy, xe hộ đê, xe cứu thương, xe công an và xe quân sự khi những xe đó thực sự có việc khẩn cấp, tất cả các loại xe cơ giới không được chạy quá tốc độ quy định như sau:
a) Đường đồng bằng.
- Xe ô tô hạng nặng 40km 1 giờ
- Xe ô tô con và mô tô 50km
- Xích lô máy và xe đạp máy 25km
b) Đường đồi núi.
- Xe ô tô hạng nặng 20km 1 giờ
- Xe ô tô con và mô tô 35km
- Xích lô máy và xe đạp máy 15km
c) Trong các thành phố, thị xã và thị trấn.
- Xe ô tô hạng nặng 15km 1 giờ
- Xe ô tô con và mô tô 30km
- Xích lô máy và xe đạp máy 12km
Ở các thành phố và thị xã, tùy theo tình hình đường phố, Ủy ban hành chính có thể ấn định những tốc độ tối đa thấp hơn mức trên để đảm bảo an toàn giao thông.
Trong các thành phố, thị xã và thị trấn cũng như trên đường trường ở những nơi nào có biển hạn chế tốc độ thì các xe phải tuyệt đối tuân theo.
Những xe không bị hạn chế tốc độ nói ở trên phải mang dấu hiệu thống nhất cho mỗi loại để tiện việc kiểm soát.”.
Điều 20 mới. – “Tránh xe – Khi hai xe tránh nhau ở những quãng đường hẹp hay nguy hiểm thì cả hai xe đều phải giảm tốc độ và nếu cần thì một xe phải đỗ hẳn lại cho xe kia đi. Xe nào muốn đi trước thì phải làm hiệu xin đường (giơ tay lên hoặc nhấp nháy đèn) và phải chờ cho xe kia ra hiệu bằng lòng nhường đường và đỗ lại rồi mới được đi.
Nếu đường hẹp chỉ đủ cho một xe đi và có bố trí chỗ tránh thì xe nào gần chỗ tránh hơn phải lui về chỗ tránh để nhường đường cho xe kia.
Tránh nhau ở giữa dốc hẹp thì xe ở trên dốc xuống phải đỗ lại cho xe ở dưới dốc tiến lên.
Hai xe gặp nhau, xe nào thấy bên đường đi của mình bị vướng thì phải đỗ lại nhường cho xe kia đi.
Ban đêm xe ô tô và mô tô gặp các xe cộ khác đi ngược đường phải tắt đèn pha để đi đèn cốt”.
Điều 21 mới. – “Vượt - Muốn vượt xe phải báo hiệu bằng còi. Ban đêm trong các thành phố, có thể báo hiệu bằng cách nhấp nháy đèn pha. Xe đi trước nghe thấy còi hay thấy hiệu đèn đòi vượt phải để cho xe sau vượt nếu không có gì trở ngại và nguy hiểm.
Nếu có thể cho vượt được, xe đi trước từ từ lái sang bên phải và phải ra hiệu (tay đưa ngang) cho xe sau vượt. Trong khi xe sau đang vượt, xe trước vẫn phải đi sát lề bên phải và tuyệt đối không được tăng tốc độ.
Nếu không thể để cho vượt vì phía trước có chướng ngại vật hay xe cộ đi lại hoặc vì bất cứ lý do gì khác thì xe đi trước phải ra hiệu cho xe sau biết (tay đưa xuống theo chiều dọc).
Xe đi sau chỉ được vượt khi đã thấy xe trước ra hiệu cho vượt nhưng phải chắc chắn phía trước không có chướng ngại vật hay xe đi lại. Khi đã vượt được rồi, người lái xe phải từ từ lái sang bên phải sau khi biết chắc chắn không nguy hiểm cho xe vừa bị vượt.
Tuyệt đối cấm xe vượt ở ngã ba, ngã tư đường ở đầu dốc, chỗ đường cong, hẹp, nguy hiểm, ở trên cầu (trừ cầu có chỗ dành riêng để vượt) và những khi không trông thấy rõ đường vì có sương mù hay mưa to.
Trái với điều 3, khi vượt xe điện đi ở giữa đường thì vượt bên phải. Nếu xe đang đỗ, có người lên xuống thì không được vượt.”.
Điều 32 mới. – “Trọng tải - Xếp hàng - Đối với xe trâu, xe bò, xe ngựa kể cả các xe bề rộng của bánh không đủ 6cm và được phép sử dụng cho tới khi hỏng bánh, hàng hóa xếp trên xe không được quá tiêu chuẩn 60kg/1cm quy định ở điều 8 trên.
Xe xích lô chở hàng hóa không được chở nặng quá 150kg. Nếu chở người chỉ được chở nhiều nhất là 2 người lớn. Trường hợp chở cả người và hàng hóa thì mức tối đa là 1 người lớn + 100kg hàng.
Hàng hóa không được xếp chờm ra ngoài thùng xe và phải chằng buộc cẩn thận để tránh rơi vãi trong khi đi đường. Xe trâu, xe bò, xe ngựa không được xếp hàng dài quá 10m và cao quá 2m tính từ mặt đất.”.

Content:
Điều 3. – Nay sửa đổi như sau các điều 6, 8, 10, 19, 20, 21, 32 và 41 trong Luật đi đường bộ:
Điều 6 mới. – “Tốc độ - Người lái xe lúc nào cũng phải làm chủ được tốc độ của xe. Trong những trường hợp dưới đây, tốc độ xe phải giảm đến mức không nguy hiểm để có thể tránh được tai nạn và nếu cần, xe phải đỗ hẳn lại:
- Qua các thành phố, thị xã, thị trấn, các quãng đường có nhà làm sát lề đường, những nơi có đông người tụ họp;
- Qua cầu, qua giữa quãng đường xấu, đường hẹp, đường ngoặt, vv…
- Khi không trông rõ đường vì trời có sương mù hay mưa to, lúc trời đã sầm tối hay chưa sáng tỏ, xe không đi đèn;
- Khi tránh hay vượt các xe khác, khi tránh các chướng ngại vật trên đường;
- Ban đêm khi tắt đèn pha đi đèn cốt.”
Điều 8 mới. – “Bánh xe – Xe trâu, xe bò, xe ngựa bánh bằng sắt phải bảo đảm tiêu chuẩn.
60kg (trọng lượng xe và hàng hóa xếp trên xe)
1cm (bề rộng tổng cộng của các bánh xe)
và bề rộng tối thiểu của bánh xe phải là 6cm.
Những xe đang dùng bề rộng của bánh xe không đủ 6cm vẫn được phép dùng cho đến khi hỏng bánh.
Xe cơ giới bánh bằng xích (Chenille) không được chạy trên đường ô tô trừ trường hợp đặc biệt được cơ quan giao thông cho phép”.
Điều 10 mới. – “Đỗ xe - Nếu không có lý do chính đáng, xe không được đỗ ở đường.
Xe đỗ ở đường phải hết sức tránh làm cản trở sự đi lại trên đường và không được cản lối ra vào của các nhà ở ven đường.
Trong các đường phố, xe không được đỗ sát bờ hè nhưng không được đỗ cách bờ hè quá 20cm.
Trên đường trường nếu lề đường rộng, xe phải đỗ hẳn ra lề đường.
Trong các thành phố, thị xã và thị trấn, cấm xe cộ các loại đỗ:
- Cách đầu ngã ba, ngã tư dưới 5cm;
- Ở những chỗ đường ngoặt;
- Trong các hàng đanh;
- Gần những địa điểm đỗ của các tàu điện và xe buýt.
Trên đường trường, xe cộ không được đỗ:
- Cách gần ngã ba, ngã tư dưới 10mét;
- Trong cầu và gần đầu cầu;
- Gần đầu dốc và gần chỗ đường cong nếu tầm nhìn cả hai phía bị che khuất trong vòng 50mét.
Khi xe đỗ, người lái xe không được bỏ xe đi chỗ khác trước khi thi hành những biện pháp cần thiết để ngăn ngừa tai nạn. Nếu vì bị hư hỏng hay vì tai nạn mà xe phải nằm đường, hàng hóa dỡ xuống chưa kịp mang đi thì người lái xe phải thu xếp, bố trí để sự đi lại không bị cản trở và nếu trời tối thì phải có đèn báo hiệu.”
Điều 19 mới. – “Tốc độ tối đa - Trừ các xe chữa cháy, xe hộ đê, xe cứu thương, xe công an và xe quân sự khi những xe đó thực sự có việc khẩn cấp, tất cả các loại xe cơ giới không được chạy quá tốc độ quy định như sau:
a) Đường đồng bằng.
- Xe ô tô hạng nặng 40km 1 giờ
- Xe ô tô con và mô tô 50km
- Xích lô máy và xe đạp máy 25km
b) Đường đồi núi.
- Xe ô tô hạng nặng 20km 1 giờ
- Xe ô tô con và mô tô 35km
- Xích lô máy và xe đạp máy 15km
c) Trong các thành phố, thị xã và thị trấn.
- Xe ô tô hạng nặng 15km 1 giờ
- Xe ô tô con và mô tô 30km
- Xích lô máy và xe đạp máy 12km
Ở các thành phố và thị xã, tùy theo tình hình đường phố, Ủy ban hành chính có thể ấn định những tốc độ tối đa thấp hơn mức trên để đảm bảo an toàn giao thông.
Trong các thành phố, thị xã và thị trấn cũng như trên đường trường ở những nơi nào có biển hạn chế tốc độ thì các xe phải tuyệt đối tuân theo.
Những xe không bị hạn chế tốc độ nói ở trên phải mang dấu hiệu thống nhất cho mỗi loại để tiện việc kiểm soát.”.
Điều 20 mới. – “Tránh xe – Khi hai xe tránh nhau ở những quãng đường hẹp hay nguy hiểm thì cả hai xe đều phải giảm tốc độ và nếu cần thì một xe phải đỗ hẳn lại cho xe kia đi. Xe nào muốn đi trước thì phải làm hiệu xin đường (giơ tay lên hoặc nhấp nháy đèn) và phải chờ cho xe kia ra hiệu bằng lòng nhường đường và đỗ lại rồi mới được đi.
Nếu đường hẹp chỉ đủ cho một xe đi và có bố trí chỗ tránh thì xe nào gần chỗ tránh hơn phải lui về chỗ tránh để nhường đường cho xe kia.
Tránh nhau ở giữa dốc hẹp thì xe ở trên dốc xuống phải đỗ lại cho xe ở dưới dốc tiến lên.
Hai xe gặp nhau, xe nào thấy bên đường đi của mình bị vướng thì phải đỗ lại nhường cho xe kia đi.
Ban đêm xe ô tô và mô tô gặp các xe cộ khác đi ngược đường phải tắt đèn pha để đi đèn cốt”.
Điều 21 mới. – “Vượt - Muốn vượt xe phải báo hiệu bằng còi. Ban đêm trong các thành phố, có thể báo hiệu bằng cách nhấp nháy đèn pha. Xe đi trước nghe thấy còi hay thấy hiệu đèn đòi vượt phải để cho xe sau vượt nếu không có gì trở ngại và nguy hiểm.
Nếu có thể cho vượt được, xe đi trước từ từ lái sang bên phải và phải ra hiệu (tay đưa ngang) cho xe sau vượt. Trong khi xe sau đang vượt, xe trước vẫn phải đi sát lề bên phải và tuyệt đối không được tăng tốc độ.
Nếu không thể để cho vượt vì phía trước có chướng ngại vật hay xe cộ đi lại hoặc vì bất cứ lý do gì khác thì xe đi trước phải ra hiệu cho xe sau biết (tay đưa xuống theo chiều dọc).
Xe đi sau chỉ được vượt khi đã thấy xe trước ra hiệu cho vượt nhưng phải chắc chắn phía trước không có chướng ngại vật hay xe đi lại. Khi đã vượt được rồi, người lái xe phải từ từ lái sang bên phải sau khi biết chắc chắn không nguy hiểm cho xe vừa bị vượt.
Tuyệt đối cấm xe vượt ở ngã ba, ngã tư đường ở đầu dốc, chỗ đường cong, hẹp, nguy hiểm, ở trên cầu (trừ cầu có chỗ dành riêng để vượt) và những khi không trông thấy rõ đường vì có sương mù hay mưa to.
Trái với điều 3, khi vượt xe điện đi ở giữa đường thì vượt bên phải. Nếu xe đang đỗ, có người lên xuống thì không được vượt.”.
Điều 32 mới. – “Trọng tải - Xếp hàng - Đối với xe trâu, xe bò, xe ngựa kể cả các xe bề rộng của bánh không đủ 6cm và được phép sử dụng cho tới khi hỏng bánh, hàng hóa xếp trên xe không được quá tiêu chuẩn 60kg/1cm quy định ở điều 8 trên.
Xe xích lô chở hàng hóa không được chở nặng quá 150kg. Nếu chở người chỉ được chở nhiều nhất là 2 người lớn. Trường hợp chở cả người và hàng hóa thì mức tối đa là 1 người lớn + 100kg hàng.
Hàng hóa không được xếp chờm ra ngoài thùng xe và phải chằng buộc cẩn thận để tránh rơi vãi trong khi đi đường. Xe trâu, xe bò, xe ngựa không được xếp hàng dài quá 10m và cao quá 2m tính từ mặt đất.”.