Document: Khoản 1 Điều 9 Thông tư 12/2011/TT-BXD hướng dẫn Nghị định 74/2005/NĐ-CP phòng, chống rửa tiền

Type: {"issuing_agency": "Bộ Xây dựng", "promulgation_date": "01/09/2011", "sign_number": "12/2011/TT-BXD", "signer": "Nguyễn Trần Nam", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Xây dựng", "promulgation_date": "01/09/2011", "sign_number": "12/2011/TT-BXD", "signer": "Nguyễn Trần Nam", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Xây dựng", "promulgation_date": "01/09/2011", "sign_number": "12/2011/TT-BXD", "signer": "Nguyễn Trần Nam", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Xây dựng", "promulgation_date": "01/09/2011", "sign_number": "12/2011/TT-BXD", "signer": "Nguyễn Trần Nam", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Xây dựng", "promulgation_date": "01/09/2011", "sign_number": "12/2011/TT-BXD", "signer": "Nguyễn Trần Nam", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 9 Thông tư 12/2011/TT-BXD hướng dẫn Nghị định 74/2005/NĐ-CP phòng, chống rửa tiền

Điều 9. Giao dịch đáng ngờ và báo cáo giao dịch đáng ngờ
1. Những dấu hiệu giao dịch đáng ngờ:
Ngoài các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ được quy định tại khoản 1 Điều 10 của Nghị định số 74/2005/NĐ-CP, bổ sung thêm các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ trong lĩnh vực bất động sản như sau:
a) Không thể xác định được khách hàng theo thông tin khách hàng cung cấp hoặc một giao dịch liên quan đến một bên không xác định được danh tính;
b) Doanh số giao dịch trên tài khoản không phù hợp với tình trạng tài chính hoặc với thông tin và hoạt động kinh doanh thông thường của khách hàng hoặc có sự thay đổi đột biến trong doanh số giao dịch trên tài khoản của khách hàng;
c) Giao dịch được tiến hành bởi một khách hàng có liên quan đến các hoạt động bất hợp pháp đã đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng mà tổ chức báo cáo biết hoặc có trong danh sách cảnh báo do Bộ Công an và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp;
d) Hồ sơ giao dịch hoặc hồ sơ về bất động sản có dấu hiệu giả mạo (ví dụ: con dấu giả, chữ ký giả, giấy chứng minh nhân dân giả, hộ chiếu giả, địa chỉ bất động sản không đúng thực tế...);
e) Các giao dịch bất động sản là giao dịch ủy quyền nhưng không có cơ sở pháp lý;
f) Địa chỉ của các bên tham gia giao dịch không chính xác (ví dụ như: ghi địa chỉ tại quận B, tỉnh A nhưng trên thực tế tỉnh A không có quận B...) và có thay đổi địa chỉ so với những lần giao dịch trước. Thông tin về cùng một khách hàng được khai báo khác nhau trong các lần giao dịch khác nhau;
g) Khách hàng tỏ ra không quan tâm đến giá cả bất động sản, phí giao dịch phải trả;
h) Khách hàng giao dịch không có ủy quyền nhưng không cung cấp được các thông tin liên quan tới bất động sản, không muốn cung cấp bổ sung thông tin về nhân thân;
i) Giá cả thỏa thuận giữa các bên giao dịch không phù hợp giá cả thị trường.
Tổ chức báo cáo có thể tự bổ sung thêm các dấu hiệu đáng ngờ khác trong giao dịch bất động sản.

Content:
Những dấu hiệu giao dịch đáng ngờ:
Ngoài các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ được quy định tại khoản 1 Điều 10 của Nghị định số 74/2005/NĐ-CP, bổ sung thêm các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ trong lĩnh vực bất động sản như sau:
a) Không thể xác định được khách hàng theo thông tin khách hàng cung cấp hoặc một giao dịch liên quan đến một bên không xác định được danh tính;
b) Doanh số giao dịch trên tài khoản không phù hợp với tình trạng tài chính hoặc với thông tin và hoạt động kinh doanh thông thường của khách hàng hoặc có sự thay đổi đột biến trong doanh số giao dịch trên tài khoản của khách hàng;
c) Giao dịch được tiến hành bởi một khách hàng có liên quan đến các hoạt động bất hợp pháp đã đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng mà tổ chức báo cáo biết hoặc có trong danh sách cảnh báo do Bộ Công an và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp;
d) Hồ sơ giao dịch hoặc hồ sơ về bất động sản có dấu hiệu giả mạo (ví dụ: con dấu giả, chữ ký giả, giấy chứng minh nhân dân giả, hộ chiếu giả, địa chỉ bất động sản không đúng thực tế...);
e) Các giao dịch bất động sản là giao dịch ủy quyền nhưng không có cơ sở pháp lý;
f) Địa chỉ của các bên tham gia giao dịch không chính xác (ví dụ như: ghi địa chỉ tại quận B, tỉnh A nhưng trên thực tế tỉnh A không có quận B...) và có thay đổi địa chỉ so với những lần giao dịch trước. Thông tin về cùng một khách hàng được khai báo khác nhau trong các lần giao dịch khác nhau;
g) Khách hàng tỏ ra không quan tâm đến giá cả bất động sản, phí giao dịch phải trả;
h) Khách hàng giao dịch không có ủy quyền nhưng không cung cấp được các thông tin liên quan tới bất động sản, không muốn cung cấp bổ sung thông tin về nhân thân;
i) Giá cả thỏa thuận giữa các bên giao dịch không phù hợp giá cả thị trường.
Tổ chức báo cáo có thể tự bổ sung thêm các dấu hiệu đáng ngờ khác trong giao dịch bất động sản.