Document: Điều 7 Quyết định 226/QĐ-UBND 2023 cơ chế và biện pháp điều hành ngân sách địa phương Quảng Ninh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/01/2023", "sign_number": "226/QĐ-UBND", "signer": "Cao Tường Huy", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/01/2023", "sign_number": "226/QĐ-UBND", "signer": "Cao Tường Huy", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/01/2023", "sign_number": "226/QĐ-UBND", "signer": "Cao Tường Huy", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/01/2023", "sign_number": "226/QĐ-UBND", "signer": "Cao Tường Huy", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/01/2023", "sign_number": "226/QĐ-UBND", "signer": "Cao Tường Huy", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 7 Quyết định 226/QĐ-UBND 2023 cơ chế và biện pháp điều hành ngân sách địa phương Quảng Ninh có nội dung như sau:

Điều 7. Tổ chức điều hành dự toán chi ngân sách nhà nước
Các địa phương và đơn vị sử dụng ngân sách chủ động thực hiện chi ngân sách trong phạm vi dự toán ngân sách được giao; kết hợp đồng bộ giải pháp quản lý, điều hành ngân sách nhà nước, đầu tư công với quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính, tài sản công ở tất cả các cấp ngân sách. Cơ quan Tài chính, Kho bạc nhà nước tổ chức điều hành ngân sách trong phạm vi dự toán được duyệt, thực hiện kiểm soát chặt chẽ các khoản chi bảo đảm theo đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ quy định, trong đó cần lưu ý một số nội dung cụ thể sau:
1. Đối với nguồn vốn vay ODA và vay ưu đãi:
a) Đối với vốn cấp phát từ ngân sách Trung ương: Trường hợp trong năm có nhu cầu giải ngân vượt dự toán giao, Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (đối với chi đầu tư phát triển) và Bộ Tài chính (đối với chi thường xuyên) để tổng hợp trình Chính phủ báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định trong phạm vi tổng mức vay và bội chi ngân sách nhà nước được Quốc hội quyết định;
b) Đối với vốn Chính phủ vay về cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vay lại, thực hiện giải ngân trong phạm vi dự toán tổng mức vay và bội chi ngân sách của địa phương đã được Quốc hội quyết định. Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán ngân sách, trường hợp địa phương phát sinh nhu cầu vay vượt dự toán, Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu báo cáo địa phương báo cáo Bộ Tài chính để tổng hợp trình Chính phủ trình Quốc hội xem xét quyết định trong phạm vi tổng mức vay của ngân sách nhà nước, tổng mức bội chi ngân sách các địa phương và bội chi ngân sách nhà nước.
2. Đối với nguồn vốn viện trợ không hoàn lại:
a) Căn cứ dự toán Thủ tướng Chính phủ giao, Ủy ban nhân dân tỉnh giao chi tiết theo danh mục và mức vốn cụ thể cho từng chương trình, dự án trong tổng mức được giao theo các quyết định tiếp nhận và văn kiện viện trợ đã ký kết.
b) Trong quá trình tổ chức thực hiện phát sinh nhu cầu chi (đầu tư phát triển, thường xuyên) vượt dự toán Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã giao hoặc phát sinh khoản viện trợ mới: Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (đối với các chi từ nguồn vốn viện trợ không hoàn lại cho chương trình, dự án thuộc nhiệm vụ chi đầu tư phát triển), báo cáo Bộ trưởng Bộ Tài chính (đối với các khoản chi từ nguồn vốn viện trợ không hoàn lại hỗ trợ trực tiếp ngân sách nhà nước, hỗ trợ vốn cho chương trình, dự án thuộc nhiệm vụ chi thường xuyên, hỗ trợ phi dự án) báo cáo Chính phủ để trình cấp có thẩm quyền bổ sung dự toán năm 2023 từ nguồn vốn viện trợ này.
3. Cơ quan, đơn vị có liên quan được phân công, chủ động phối hợp với Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Phòng Tài chính - Kế hoạch các địa phương bố trí vốn ngay từ đầu năm cho các dự án, công trình quan trọng theo chế độ quy định, nhất là các dự án xây dựng tu bổ các công trình đê điều, thủy lợi, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, chống biến đổi khí hậu, khắc phục hậu quả lũ lụt, dự án di dân ra khỏi vùng sạt lở nguy hiểm đã được cấp có thẩm quyền quyết định.
4. Căn cứ dự toán đã được cấp có thẩm quyền giao và tiến độ thu thực tế, trường hợp dự kiến giảm nguồn thu cân đối so với dự toán đã được giao, khi ngân sách các cấp không thể bù đắp từ các khoản tăng thu khác thì Ủy ban nhân dân các cấp cần phải chủ động rà soát, sử dụng các nguồn lực hợp pháp của mình để sắp xếp, cắt giảm các nhiệm vụ chi, giãn tiến độ thực hiện các công trình, dự án tương ứng để đảm bảo cân đối theo dự toán đã được cấp có thẩm quyền giao. Trường hợp phát sinh nhiệm vụ chi thường xuyên ngoài dự toán, thì phải tự sắp xếp lại các khoản chi đã xác định hết nhiệm vụ chi (nếu có) hoặc bố trí từ chi khác ngân sách để giải quyết theo quy định.
Thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện các dự án, công trình; đối với những dự án, công trình thực hiện không đúng tiến độ phải kịp thời quyết định hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền quyết định để điều chuyển nguồn vốn cho những dự án có tiến độ triển khai nhanh, có khả năng hoàn thành trong năm 2023 nhưng chưa được bố trí đủ vốn từ đầu năm.
Về giải ngân kế hoạch vốn chi đầu tư phát triển, kế hoạch phân bổ chi thường xuyên (sự nghiệp và kinh phí không tự chủ) năm 2023: Đến ngày 30/9/2023 giải ngân đạt tối thiểu 80% và phấn đấu đến ngày 31/12/2023 giải ngân 100% kế hoạch vốn bố trí dự toán đầu năm. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính căn cứ tiến độ giải ngân nêu trên, để kịp thời tham mưu, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh điều chỉnh kế hoạch/dự toán theo trình tự, thủ tục quy định.
Đối với các dự án khởi công mới: Yêu cầu hoàn thành phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu trong quý I/2023; triển khai các thủ tục lựa chọn nhà thầu, ký hợp hợp đồng thi công chậm nhất trong quý II/2023. Về lựa chọn nhà thầu: Kiên quyết không chấp nhận các nhà thầu yếu kém, không đảm bảo năng lực, nhất là các nhà thầu chậm tiến độ các dự án đã và đang triển khai trên địa bàn tỉnh tham gia đấu thầu theo đúng quy định của pháp luật.
5. Các Sở, ngành, địa phương thường xuyên kiểm tra việc tổ chức triển khai thực hiện các chế độ, chính sách ở các đơn vị trực thuộc, ngân sách cấp dưới; quản lý chặt chẽ các khoản chi ngân sách nhà nước theo đúng chế độ, chính sách và dự toán được giao, giải ngân vốn trong phạm vi kế hoạch, vay nợ trong hạn mức được giao; kịp thời đề xuất tạm dừng việc ứng trước dự toán, các trường hợp phải ứng thực hiện theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước và chỉ đạo của Tỉnh (nếu có).
6. Thực hiện tiết kiệm triệt để các khoản chi thường xuyên, đặc biệt là các khoản chi tổ chức hội nghị, hội thảo, khánh tiết, đi nghiên cứu, khảo sát nước ngoài; quản lý các khoản chi đầu tư, xây dựng cơ bản mua sắm, sửa chữa chặt chẽ, đúng quy định; không bố trí dự toán chi cho các chính sách khi chưa có chủ trương ban hành; chỉ ban hành chính sách làm tăng chi ngân sách nhà nước khi thật sự cần thiết và có nguồn ngân sách bảo đảm. Ngân sách các cấp chủ động bố trí kinh phí cho công tác phòng chống dịch bệnh, thiên tai; trong quá trình điều hành, xem xét thực hiện phấn đấu tiết kiệm chi thường xuyên để chủ động xử lý các phát sinh đột xuất chưa có trong dự toán đầu năm.
Trên cơ sở danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước tại Nghị quyết số 61/NQ-HĐND ngày 09/12/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh, các Sở chuyên ngành thực hiện rà soát, điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng giá dịch vụ công đảm bảo đúng quy định, phù hợp với thực tiễn và khả năng cân đối ngân sách, nhất là lĩnh vực dịch vụ công Nhà nước đặt hàng (nông nghiệp, văn hóa, thể thao, giáo dục - đào tạo, lao động - thương binh và xã hội...).
Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin, bảo đảm xây dựng nền hành chính quốc gia hiện đại, kết nối thông suốt, đi đôi với tăng cường giám sát trong quản lý chi ngân sách nhà nước. Chủ động sắp xếp chi thường xuyên, ưu tiên các nhiệm vụ quan trọng và các nhiệm vụ mới tăng thêm trong năm 2023, bảo đảm nguồn lực thực hiện các chính sách an sinh xã hội và tiền lương, không để xảy ra tình trạng nợ lương, phụ cấp của cán bộ, công chức, viên chức, các khoản chi cho con người và chính sách đảm bảo xã hội theo chế độ.
Trường hợp phát hiện các cấp, đơn vị sử dụng ngân sách tổ chức thực hiện thanh toán, chi trả không đúng chính sách, chế độ, nhất là liên quan đến mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo,... cần có biện pháp xử lý kịp thời để đảm bảo chính sách, chế độ được thực hiện đúng và có hiệu quả.
Kết thúc thời gian chỉnh lý ngân sách năm 2022 (31/01/2023), Ủy ban nhân dân các địa phương có trách nhiệm tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện các chính sách an sinh xã hội do trung ương, tỉnh ban hành; trong đó, chi tiết kết quả đối với từng chính sách, chế độ an sinh xã hội, gửi Sở Tài chính trước ngày 01/4/2023. Căn cứ kết quả thực hiện của các địa phương báo cáo, Sở Tài chính tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, xử lý kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội do Trung ương, Tỉnh ban hành để báo cáo Bộ Tài chính theo quy định.
7. Ngân sách nhà nước không hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; trên cơ sở khả năng cân đối ngân sách, chỉ hỗ trợ vốn điều lệ khi có nguồn thu, nhiệm vụ chi của Quỹ không trùng với nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước theo đúng quy định tại Điều 12 Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước.

Content:
Điều 7. Tổ chức điều hành dự toán chi ngân sách nhà nước
Các địa phương và đơn vị sử dụng ngân sách chủ động thực hiện chi ngân sách trong phạm vi dự toán ngân sách được giao; kết hợp đồng bộ giải pháp quản lý, điều hành ngân sách nhà nước, đầu tư công với quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính, tài sản công ở tất cả các cấp ngân sách. Cơ quan Tài chính, Kho bạc nhà nước tổ chức điều hành ngân sách trong phạm vi dự toán được duyệt, thực hiện kiểm soát chặt chẽ các khoản chi bảo đảm theo đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ quy định, trong đó cần lưu ý một số nội dung cụ thể sau:
1. Đối với nguồn vốn vay ODA và vay ưu đãi:
a) Đối với vốn cấp phát từ ngân sách Trung ương: Trường hợp trong năm có nhu cầu giải ngân vượt dự toán giao, Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (đối với chi đầu tư phát triển) và Bộ Tài chính (đối với chi thường xuyên) để tổng hợp trình Chính phủ báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định trong phạm vi tổng mức vay và bội chi ngân sách nhà nước được Quốc hội quyết định;
b) Đối với vốn Chính phủ vay về cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vay lại, thực hiện giải ngân trong phạm vi dự toán tổng mức vay và bội chi ngân sách của địa phương đã được Quốc hội quyết định. Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán ngân sách, trường hợp địa phương phát sinh nhu cầu vay vượt dự toán, Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu báo cáo địa phương báo cáo Bộ Tài chính để tổng hợp trình Chính phủ trình Quốc hội xem xét quyết định trong phạm vi tổng mức vay của ngân sách nhà nước, tổng mức bội chi ngân sách các địa phương và bội chi ngân sách nhà nước.
2. Đối với nguồn vốn viện trợ không hoàn lại:
a) Căn cứ dự toán Thủ tướng Chính phủ giao, Ủy ban nhân dân tỉnh giao chi tiết theo danh mục và mức vốn cụ thể cho từng chương trình, dự án trong tổng mức được giao theo các quyết định tiếp nhận và văn kiện viện trợ đã ký kết.
b) Trong quá trình tổ chức thực hiện phát sinh nhu cầu chi (đầu tư phát triển, thường xuyên) vượt dự toán Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã giao hoặc phát sinh khoản viện trợ mới: Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (đối với các chi từ nguồn vốn viện trợ không hoàn lại cho chương trình, dự án thuộc nhiệm vụ chi đầu tư phát triển), báo cáo Bộ trưởng Bộ Tài chính (đối với các khoản chi từ nguồn vốn viện trợ không hoàn lại hỗ trợ trực tiếp ngân sách nhà nước, hỗ trợ vốn cho chương trình, dự án thuộc nhiệm vụ chi thường xuyên, hỗ trợ phi dự án) báo cáo Chính phủ để trình cấp có thẩm quyền bổ sung dự toán năm 2023 từ nguồn vốn viện trợ này.
3. Cơ quan, đơn vị có liên quan được phân công, chủ động phối hợp với Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Phòng Tài chính - Kế hoạch các địa phương bố trí vốn ngay từ đầu năm cho các dự án, công trình quan trọng theo chế độ quy định, nhất là các dự án xây dựng tu bổ các công trình đê điều, thủy lợi, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, chống biến đổi khí hậu, khắc phục hậu quả lũ lụt, dự án di dân ra khỏi vùng sạt lở nguy hiểm đã được cấp có thẩm quyền quyết định.
4. Căn cứ dự toán đã được cấp có thẩm quyền giao và tiến độ thu thực tế, trường hợp dự kiến giảm nguồn thu cân đối so với dự toán đã được giao, khi ngân sách các cấp không thể bù đắp từ các khoản tăng thu khác thì Ủy ban nhân dân các cấp cần phải chủ động rà soát, sử dụng các nguồn lực hợp pháp của mình để sắp xếp, cắt giảm các nhiệm vụ chi, giãn tiến độ thực hiện các công trình, dự án tương ứng để đảm bảo cân đối theo dự toán đã được cấp có thẩm quyền giao. Trường hợp phát sinh nhiệm vụ chi thường xuyên ngoài dự toán, thì phải tự sắp xếp lại các khoản chi đã xác định hết nhiệm vụ chi (nếu có) hoặc bố trí từ chi khác ngân sách để giải quyết theo quy định.
Thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện các dự án, công trình; đối với những dự án, công trình thực hiện không đúng tiến độ phải kịp thời quyết định hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền quyết định để điều chuyển nguồn vốn cho những dự án có tiến độ triển khai nhanh, có khả năng hoàn thành trong năm 2023 nhưng chưa được bố trí đủ vốn từ đầu năm.
Về giải ngân kế hoạch vốn chi đầu tư phát triển, kế hoạch phân bổ chi thường xuyên (sự nghiệp và kinh phí không tự chủ) năm 2023: Đến ngày 30/9/2023 giải ngân đạt tối thiểu 80% và phấn đấu đến ngày 31/12/2023 giải ngân 100% kế hoạch vốn bố trí dự toán đầu năm. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính căn cứ tiến độ giải ngân nêu trên, để kịp thời tham mưu, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh điều chỉnh kế hoạch/dự toán theo trình tự, thủ tục quy định.
Đối với các dự án khởi công mới: Yêu cầu hoàn thành phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu trong quý I/2023; triển khai các thủ tục lựa chọn nhà thầu, ký hợp hợp đồng thi công chậm nhất trong quý II/2023. Về lựa chọn nhà thầu: Kiên quyết không chấp nhận các nhà thầu yếu kém, không đảm bảo năng lực, nhất là các nhà thầu chậm tiến độ các dự án đã và đang triển khai trên địa bàn tỉnh tham gia đấu thầu theo đúng quy định của pháp luật.
5. Các Sở, ngành, địa phương thường xuyên kiểm tra việc tổ chức triển khai thực hiện các chế độ, chính sách ở các đơn vị trực thuộc, ngân sách cấp dưới; quản lý chặt chẽ các khoản chi ngân sách nhà nước theo đúng chế độ, chính sách và dự toán được giao, giải ngân vốn trong phạm vi kế hoạch, vay nợ trong hạn mức được giao; kịp thời đề xuất tạm dừng việc ứng trước dự toán, các trường hợp phải ứng thực hiện theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước và chỉ đạo của Tỉnh (nếu có).
6. Thực hiện tiết kiệm triệt để các khoản chi thường xuyên, đặc biệt là các khoản chi tổ chức hội nghị, hội thảo, khánh tiết, đi nghiên cứu, khảo sát nước ngoài; quản lý các khoản chi đầu tư, xây dựng cơ bản mua sắm, sửa chữa chặt chẽ, đúng quy định; không bố trí dự toán chi cho các chính sách khi chưa có chủ trương ban hành; chỉ ban hành chính sách làm tăng chi ngân sách nhà nước khi thật sự cần thiết và có nguồn ngân sách bảo đảm. Ngân sách các cấp chủ động bố trí kinh phí cho công tác phòng chống dịch bệnh, thiên tai; trong quá trình điều hành, xem xét thực hiện phấn đấu tiết kiệm chi thường xuyên để chủ động xử lý các phát sinh đột xuất chưa có trong dự toán đầu năm.
Trên cơ sở danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước tại Nghị quyết số 61/NQ-HĐND ngày 09/12/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh, các Sở chuyên ngành thực hiện rà soát, điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng giá dịch vụ công đảm bảo đúng quy định, phù hợp với thực tiễn và khả năng cân đối ngân sách, nhất là lĩnh vực dịch vụ công Nhà nước đặt hàng (nông nghiệp, văn hóa, thể thao, giáo dục - đào tạo, lao động - thương binh và xã hội...).
Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin, bảo đảm xây dựng nền hành chính quốc gia hiện đại, kết nối thông suốt, đi đôi với tăng cường giám sát trong quản lý chi ngân sách nhà nước. Chủ động sắp xếp chi thường xuyên, ưu tiên các nhiệm vụ quan trọng và các nhiệm vụ mới tăng thêm trong năm 2023, bảo đảm nguồn lực thực hiện các chính sách an sinh xã hội và tiền lương, không để xảy ra tình trạng nợ lương, phụ cấp của cán bộ, công chức, viên chức, các khoản chi cho con người và chính sách đảm bảo xã hội theo chế độ.
Trường hợp phát hiện các cấp, đơn vị sử dụng ngân sách tổ chức thực hiện thanh toán, chi trả không đúng chính sách, chế độ, nhất là liên quan đến mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo,... cần có biện pháp xử lý kịp thời để đảm bảo chính sách, chế độ được thực hiện đúng và có hiệu quả.
Kết thúc thời gian chỉnh lý ngân sách năm 2022 (31/01/2023), Ủy ban nhân dân các địa phương có trách nhiệm tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện các chính sách an sinh xã hội do trung ương, tỉnh ban hành; trong đó, chi tiết kết quả đối với từng chính sách, chế độ an sinh xã hội, gửi Sở Tài chính trước ngày 01/4/2023. Căn cứ kết quả thực hiện của các địa phương báo cáo, Sở Tài chính tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, xử lý kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội do Trung ương, Tỉnh ban hành để báo cáo Bộ Tài chính theo quy định.
7. Ngân sách nhà nước không hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; trên cơ sở khả năng cân đối ngân sách, chỉ hỗ trợ vốn điều lệ khi có nguồn thu, nhiệm vụ chi của Quỹ không trùng với nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước theo đúng quy định tại Điều 12 Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước.