Document: Điều 6 Thông tư 57/2010/TT-BTC lập dự toán, sử dụng quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Type: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "16/04/2010", "sign_number": "57/2010/TT-BTC", "signer": "Nguyễn Hữu Chí", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "16/04/2010", "sign_number": "57/2010/TT-BTC", "signer": "Nguyễn Hữu Chí", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "16/04/2010", "sign_number": "57/2010/TT-BTC", "signer": "Nguyễn Hữu Chí", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "16/04/2010", "sign_number": "57/2010/TT-BTC", "signer": "Nguyễn Hữu Chí", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "16/04/2010", "sign_number": "57/2010/TT-BTC", "signer": "Nguyễn Hữu Chí", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 6 Thông tư 57/2010/TT-BTC lập dự toán, sử dụng quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có nội dung như sau:

Điều 6. Lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1. Việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (trừ các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này) được thực hiện như sau:
a) Cùng với việc lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư căn cứ vào nội dung chi và mức chi quy định tại Điều 4, Điều 5 trong này và khối lượng công việc dự kiến phát sinh để lập dự toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư gửi Sở Tài chính thẩm định (đối với dự án, tiểu dự án do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư), gửi Phòng Tài chính – Kế hoạch thẩm định (đối với dự án, tiểu dự án do Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư) để trình Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt.
Trường hợp phải triển khai thực hiện ngay các công việc về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư mà dự toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án, tiểu dự án chưa được phê duyệt, Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được phép tạm ứng kinh phí từ chủ đầu tư dự án, tiểu dự án để chi cho các công việc phải thực hiện.
b) Sau khi dự toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được duyệt, Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chuyển một (01) bản cho chủ đầu tư dự án, tiểu dự án để phối hợp thực hiện.
Căn cứ dự toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được duyệt; chủ đầu tư dự án, tiểu dự án chuyển toàn bộ kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án, tiểu dự án theo dự toán được duyệt cho Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để chi cho các nội dung quy định tại Điều 4 Thông tư này.
c) Người đứng đầu Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm quản lý, sử dụng kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án, tiểu dự án theo đúng nội dung và mức chi trong dự toán được phê duyệt.
Trường hợp dự toán đã được phê duyệt nhưng không đủ để chi theo thực tế thì Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư lập dự toán kinh phí bổ sung, gửi cơ quan tài chính quy định tại điểm a khoản này thẩm định trình Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét phê duyệt bổ sung dự toán; đồng thời thông báo cho chủ đầu tư dự án, tiểu dự án để phối hợp thực hiện.
Việc sử dụng, hạch toán khoản kinh phí này thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước.
d) Chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày hoàn thành công tác thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án, tiểu dự án, Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm báo cáo quyết toán toàn bộ khoản kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án, tiểu dự án đã được nhận và sử dụng với cơ quan tài chính quy định tại điểm a khoản này để phê duyệt quyết toán theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước. Trường hợp số chi thực tế theo quyết toán được duyệt ít hơn số kinh phí đã nhận thì phần chênh lệch được xử lý như sau:
- Đối với dự án, tiểu dự án do Tổ chức phát triển quỹ đất tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư mà Tổ chức phát triển quỹ đất đã được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của Chính phủ thì phần chênh lệch được hạch toán kết quả hoạt động của đơn vị;
- Đối với dự án, tiểu dự án do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất chưa được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của Chính phủ tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì phần chênh lệch được chuyển trả chủ đầu tư và chủ đầu tư phải điều chỉnh quyết toán kinh phí tổ chức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo số chi thực tế.
đ) Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm quản lý hồ sơ quyết toán gồm: bản quyết toán đã được phê duyệt và chứng từ liên quan đến báo cáo quyết toán kinh phí thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án, tiểu dự án.
2. Đối với trường hợp ứng vốn từ Quỹ phát triển đất hoặc từ Kho bạc nhà nước để tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:
a) Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư căn cứ vào nội dung chi và mức chi quy định tại Điều 4, Điều 5 Thông tư này và khối lượng công việc dự kiến phát sinh để lập dự toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư gửi Sở Tài chính thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.
b) Căn cứ dự toán được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt, Quỹ phát triển đất, Kho bạc nhà nước có trách nhiệm chuyển vốn ứng, vốn tạm ứng cho Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để chi cho các nội dung quy định tại Điều 4 Thông tư này.
c) Người đứng đầu Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm quản lý, sử dụng kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo đúng nội dung và mức chi trong dự toán được phê duyệt.
Trường hợp dự toán đã được phê duyệt nhưng không đủ để chi theo thực tế thì Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư lập dự toán kinh phí bổ sung, gửi Sở Tài chính thẩm định trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt bổ sung; đồng thời thông báo cho Quỹ phát triển đất hoặc Kho bạc nhà nước để phối hợp thực hiện.
Việc sử dụng, hạch toán khoản kinh phí này thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước.
d) Việc quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án, tiểu dự án và xử lý trường hợp số chi thực tế theo quyết toán được duyệt ít hơn số kinh phí đã nhận thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều này. Riêng đối với dự án, tiểu dự án do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất chưa được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của Chính phủ tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì phần chênh lệch giữa số chi thực tế theo quyết toán được duyệt và số kinh phí đã nhận được hoàn trả Quỹ phát triển đất, Kho bạc nhà nước theo quy định.
đ) Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm hoàn trả phần vốn ứng và phí ứng vốn cho Quỹ phát triển đất hoặc Kho bạc nhà nước theo quy định.
e) Việc quản lý hồ sơ quyết toán thực hiện theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này.
3. Trường hợp thuê doanh nghiệp thực hiện các dịch vụ về bồi thường, giải phóng mặt bằng thì căn cứ dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt và tiến độ thực hiện, Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chuyển kinh phí cho doanh nghiệp để thực hiện các nội dung công việc thuê dịch vụ theo đúng dự toán chi đã được phê duyệt và hợp đồng đã ký kết.
4. Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm lập dự toán và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo đúng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Đối với các chi phí thuê dịch vụ được quyết toán theo số tiền đã chi trả cho doanh nghiệp trên cơ sở dự toán được duyệt và hợp đồng đã ký kết để thanh lý hợp đồng.

Content:
Điều 6. Lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1. Việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (trừ các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này) được thực hiện như sau:
a) Cùng với việc lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư căn cứ vào nội dung chi và mức chi quy định tại Điều 4, Điều 5 trong này và khối lượng công việc dự kiến phát sinh để lập dự toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư gửi Sở Tài chính thẩm định (đối với dự án, tiểu dự án do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư), gửi Phòng Tài chính – Kế hoạch thẩm định (đối với dự án, tiểu dự án do Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư) để trình Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt.
Trường hợp phải triển khai thực hiện ngay các công việc về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư mà dự toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án, tiểu dự án chưa được phê duyệt, Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được phép tạm ứng kinh phí từ chủ đầu tư dự án, tiểu dự án để chi cho các công việc phải thực hiện.
b) Sau khi dự toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được duyệt, Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chuyển một (01) bản cho chủ đầu tư dự án, tiểu dự án để phối hợp thực hiện.
Căn cứ dự toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được duyệt; chủ đầu tư dự án, tiểu dự án chuyển toàn bộ kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án, tiểu dự án theo dự toán được duyệt cho Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để chi cho các nội dung quy định tại Điều 4 Thông tư này.
c) Người đứng đầu Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm quản lý, sử dụng kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án, tiểu dự án theo đúng nội dung và mức chi trong dự toán được phê duyệt.
Trường hợp dự toán đã được phê duyệt nhưng không đủ để chi theo thực tế thì Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư lập dự toán kinh phí bổ sung, gửi cơ quan tài chính quy định tại điểm a khoản này thẩm định trình Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét phê duyệt bổ sung dự toán; đồng thời thông báo cho chủ đầu tư dự án, tiểu dự án để phối hợp thực hiện.
Việc sử dụng, hạch toán khoản kinh phí này thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước.
d) Chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày hoàn thành công tác thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án, tiểu dự án, Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm báo cáo quyết toán toàn bộ khoản kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án, tiểu dự án đã được nhận và sử dụng với cơ quan tài chính quy định tại điểm a khoản này để phê duyệt quyết toán theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước. Trường hợp số chi thực tế theo quyết toán được duyệt ít hơn số kinh phí đã nhận thì phần chênh lệch được xử lý như sau:
- Đối với dự án, tiểu dự án do Tổ chức phát triển quỹ đất tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư mà Tổ chức phát triển quỹ đất đã được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của Chính phủ thì phần chênh lệch được hạch toán kết quả hoạt động của đơn vị;
- Đối với dự án, tiểu dự án do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất chưa được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của Chính phủ tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì phần chênh lệch được chuyển trả chủ đầu tư và chủ đầu tư phải điều chỉnh quyết toán kinh phí tổ chức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo số chi thực tế.
đ) Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm quản lý hồ sơ quyết toán gồm: bản quyết toán đã được phê duyệt và chứng từ liên quan đến báo cáo quyết toán kinh phí thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án, tiểu dự án.
2. Đối với trường hợp ứng vốn từ Quỹ phát triển đất hoặc từ Kho bạc nhà nước để tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:
a) Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư căn cứ vào nội dung chi và mức chi quy định tại Điều 4, Điều 5 Thông tư này và khối lượng công việc dự kiến phát sinh để lập dự toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư gửi Sở Tài chính thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.
b) Căn cứ dự toán được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt, Quỹ phát triển đất, Kho bạc nhà nước có trách nhiệm chuyển vốn ứng, vốn tạm ứng cho Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để chi cho các nội dung quy định tại Điều 4 Thông tư này.
c) Người đứng đầu Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm quản lý, sử dụng kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo đúng nội dung và mức chi trong dự toán được phê duyệt.
Trường hợp dự toán đã được phê duyệt nhưng không đủ để chi theo thực tế thì Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư lập dự toán kinh phí bổ sung, gửi Sở Tài chính thẩm định trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt bổ sung; đồng thời thông báo cho Quỹ phát triển đất hoặc Kho bạc nhà nước để phối hợp thực hiện.
Việc sử dụng, hạch toán khoản kinh phí này thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước.
d) Việc quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án, tiểu dự án và xử lý trường hợp số chi thực tế theo quyết toán được duyệt ít hơn số kinh phí đã nhận thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều này. Riêng đối với dự án, tiểu dự án do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất chưa được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của Chính phủ tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì phần chênh lệch giữa số chi thực tế theo quyết toán được duyệt và số kinh phí đã nhận được hoàn trả Quỹ phát triển đất, Kho bạc nhà nước theo quy định.
đ) Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm hoàn trả phần vốn ứng và phí ứng vốn cho Quỹ phát triển đất hoặc Kho bạc nhà nước theo quy định.
e) Việc quản lý hồ sơ quyết toán thực hiện theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này.
3. Trường hợp thuê doanh nghiệp thực hiện các dịch vụ về bồi thường, giải phóng mặt bằng thì căn cứ dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt và tiến độ thực hiện, Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chuyển kinh phí cho doanh nghiệp để thực hiện các nội dung công việc thuê dịch vụ theo đúng dự toán chi đã được phê duyệt và hợp đồng đã ký kết.
4. Tổ chức được giao thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm lập dự toán và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo đúng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Đối với các chi phí thuê dịch vụ được quyết toán theo số tiền đã chi trả cho doanh nghiệp trên cơ sở dự toán được duyệt và hợp đồng đã ký kết để thanh lý hợp đồng.