Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 877/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Gia Lai", "promulgation_date": "26/12/2011", "sign_number": "877/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Thế Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Gia Lai", "promulgation_date": "26/12/2011", "sign_number": "877/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Thế Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Gia Lai", "promulgation_date": "26/12/2011", "sign_number": "877/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Thế Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Gia Lai", "promulgation_date": "26/12/2011", "sign_number": "877/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Thế Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Gia Lai", "promulgation_date": "26/12/2011", "sign_number": "877/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Thế Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 877/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Gia Lai giai đoạn 2011-2020 với các nội dung chủ yếu như sau:
...
5. Nhu cầu lao động theo các nhóm nhân lực đặc biệt
+ Tổng nhu cầu cán bộ, công chức, viên chức có xu hướng tăng lên về số lượng nhưng về cơ cấu sẽ giảm, đến năm 2015 là gần 39.582 người, chiếm trên 11,5% tổng lao động được đào tạo; đến năm 2020 gần 53.568 người, chiếm trên 10,2% tổng lao động được đào tạo.
+ Nhân lực khu vực sự nghiệp (khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, y tế, dịch vụ tài chính ngân hàng, bảo hiểm...) được xây dựng tương xứng với yêu cầu và khả năng cho phép, nhân lực khu vực này chiếm khoảng trên 5,6% tổng lao động toàn tỉnh và là khu vực được xác định là có tỷ lệ lao động trình độ cao trong tổng lao động cả tỉnh. Dự kiến lao động được đào tạo trong khu vực này tăng từ 28.568 người năm 2015 đến 43.589 người năm 2020 và luôn duy trì ở mức ổn định khoảng 8,3% so với lao động được đào tạo trong giai đoạn 2011-2020.
+ Nhân lực khu vực sản xuất (doanh nhân, công nhân kỹ thuật, kỹ sư có trình độ cao) được duy trì với tỷ lệ đào tạo trên 80% tổng nhu cầu lao động và trình độ lao động trong khu vực này được nâng lên khoảng 45% vào năm 2020.
+ Trong giai đoạn 2011-2015 tỉnh sẽ đào tạo 50 thạc sỹ, tiến sỹ ở nước ngoài cho khu vực công tập trung chủ yếu vào ngành giáo dục (70% số thạc sỹ, tiến sỹ nước ngoài), còn lại là ngành y tế, tài chính, quản lý nhà nước, quản lý đô thị, luật…
+ Trong giai đoạn 2015-2020 tỉnh sẽ đào tạo 100 thạc sỹ, tiến sỹ ở nước ngoài trong đó vẫn tập trung chủ yếu vào ngành giáo dục đặc biệt là giảng viên các trường đại học (60% số thạc sỹ, tiến sỹ nước ngoài), ngành điện tử viễn thông, y tế, tài chính, quản lý, kinh tế đối ngoại...
II . GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC
1. Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn thể xã hội về phát triển nhân lực
Thực hiện các biện pháp nâng cao nhận thức về vai trò của phát triển nhân lực. Tăng cường sự chỉ đạo thường xuyên của các cấp ủy Đảng. Chú trọng công tác phát triển nhân lực trong từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp; tăng cường sự chủ động, sáng tạo, tránh dựa hoàn toàn vào các cơ quan quản lý nhà nước. Thực hiện các biện pháp tác động đến nhận thức của các tầng lớp nhân dân về hướng nghiệp và dạy nghề, nhằm giúp người dân nhận thức được học nghề là cơ hội để tìm kiếm việc làm cho bản thân, ổn định thu nhập gia đình và nâng cao chất lượng cuộc sống. Phát triển đội ngũ chuyên gia am hiểu về tâm lý học nghề nghiệp, thông tin thị trường lao động, am hiểu về thực tế ngành nghề xã hội, kinh tế học lao động để thực hiện công tác hướng nghiệp.
Mỗi cấp, mỗi ngành, tổ chức và cá nhân cần nhận thức sâu rộng về phát triển nhân lực cho tương lai để phục vụ cho quá trình phát triển đất nước vì con người là nhân tố quan trọng hàng đầu để phát triển đất nước. Từng cấp, ngành cần có kế hoạch, chương trình cụ thể để có giải pháp cụ thể, tích cực phát triển nhân lực của ngành, cấp mình.
Đặc biệt, đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo và cơ hội việc làm từ các doanh nghiệp. Phối hợp các hoạt động tư vấn nghề nghiệp tại cơ sở đào tạo, dạy nghề và tại doanh nghiệp, tạo điều kiện cho sinh viên, học viên, người lao động lựa chọn ngành nghề phù hợp ngay từ khi vào trường, đồng thời có nhiều thông tin cần thiết về việc làm để khi tốt nghiệp có việc làm ngay.
2. Đổi mới quản lý nhà nước về phát triển nhân lực
2.1. Hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực, đổi mới phương pháp quản lý, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động bộ máy quản lý
Phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm quản lý của UBND các cấp, các Sở, Ban, Ngành trong việc theo dõi, dự báo, xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực. Giám đốc các Sở, Ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo trực tiếp và chịu trách nhiệm trước cấp trên về kết quả phát triển nguồn nhân lực ở địa phương, đơn vị.
Rà soát, đánh giá, quy hoạch đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý phát triển nhân lực của ngành Giáo dục - Đào tạo, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, ngành Nội vụ; kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực cán bộ theo hướng chuyên nghiệp hóa; giao nhiệm vụ đầu mối quản lý thông tin về các cơ sở giáo dục - đào tạo ở mọi cấp, ngành cho Sở Giáo dục - Đào tạo. Khuyến khích xã hội hóa công tác phát triển nhân lực. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động giáo dục, đào tạo để đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực.
2.2. Cải tiến và tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các chủ thể tham gia phát triển nhân lực trên địa bàn.
Xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị sử dụng lao động với các cơ sở đào tạo, phát triển nhân lực (giữa các đơn vị hành chính, sự nghiệp với Sở Nội vụ, giữa doanh nghiệp với các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, cơ sở dạy nghề…) để tìm sự thống nhất giữa cung và cầu lao động trong thời gian đến, hạn chế đến mức thấp nhất sự lãng phí trong phát triển nhân lực của cá nhân, tổ chức và xã hội. Đồng thời, tăng cường sự chủ động, sáng tạo của từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong công tác phát triển nhân lực.
Tăng cường hơn nữa sự phối hợp khép kín và hoàn chỉnh việc đào tạo, góp phần đảm bảo cân đối quan hệ cung-cầu về nhân lực; theo đó các ngành, đơn vị có chương trình cụ thể để đào tạo nâng cao chất lượng nhân lực theo mối quan hệ sau: [Thông tin dự báo]-[Doanh nghiệp, người sử dụng lao động]-[Các cấp chính quyền]-[Các sở, ban, ngành]-[Cơ sở đào tạo]-[Người lao động].
2.3. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, công cụ khuyến khích và thúc đẩy phát triển nhân lực tỉnh Gia Lai
2.3.1. Chính sách đầu tư và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thu hút đầu tư trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, đặc biệt là giáo dục – đào tạo chất lượng cao, nghiên cứu vận dụng các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ về đất đai, thủ tục hành chính, thông tin thị trường cho nhà đầu tư. Tỉnh cần tiếp tục ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực đào tạo nghề, đặc biệt là đào tạo nghề cho đối tượng yếu thế trong xã hội.
Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp-dịch vụ-nông lâm nghiệp, trong nội bộ từng nhóm ngành cũng cần chuyển dịch sâu như: đối với nhóm ngành công nghiệp, cần phát triển các ngành ứng dụng công nghệ cao, thân thiện môi trường, sử dụng lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa, công nghệ vật liệu. Trong lĩnh vực dịch vụ, ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ hiện đại, có giá trị lớn là du lịch, vận tải - kho bãi, bưu chính- viễn thông, thương mại, tài chính - ngân hàng; có chính sách ưu đãi để khuyến khích phát triển các ngành dịch vụ vừa là động lực vừa là đầu vào của các ngành khác là giáo dục – đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế.
2.3.2. Chính sách tài chính và sử dụng ngân sách cho phát triển nhân lực
- Nhà nước ưu tiên đầu tư ngân sách cho phát triển nhân lực thông qua các chương trình, dự án của Quy hoạch này và thông qua các kế hoạch, đề án phát triển nhân lực khác.
- Tăng định mức chi ngân sách tỉnh và ngân sách trung ương cho ngành giáo dục –đào tạo, khoa học - công nghệ và công tác phát triển nhân lực của tỉnh.
- Khuyến khích các cơ sở đào tạo đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên, giáo viên để cải thiện chất lượng đào tạo.
3. Giải pháp về đào tạo và bồi dưỡng nhân lực
3.1. Quy hoạch lại mạng lưới đào tạo nhân lực
Sở Giáo dục – Đào tạo, sở Lao động Thương binh và Xã hội rà soát lại quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng ,THCN và dạy nghề. Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động giáo dục đào tạo; trong đó chú trọng đến chất lượng dạy học của các cơ sở đào tạo ngoài công lập và các hình thức liên kết đào tạo.
Phát triển nguồn nhân lực là vấn đề lớn và thực hiện trong thời gian dài, các Sở, Ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố; các doanh nghiệp phải xây dựng quy hoạch và kế hoạch cụ thể; bố trí cán bộ có trình độ và năng lực thực hiện công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực thuộc lĩnh vực ngành, địa phương quản lý.
3.2. Thực hiện phổ cập trung học cơ sở và phát triển giáo dục trung học phổ thông
Phổ cập THCS và phát triển THPT là cơ sở tạo nguồn cho đào đạo phát triển nguồn nhân lực, giảp pháp này hướng vào:
Nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền, ngành liên quan, gia đình, cá nhân và xã hội về tầm quan trọng của phổ cập THCS và phát triển giáo dục THPT.
Phát triển mạng lưới trường THCS, THPT. Đa dạng hoá các loại chương trình giáo dục, tạo điều kiện cho mọi đối tượng trong tỉnh đạt được trình độ học vấn THCS và tiến tới đa số đạt THPT.
Có các chính sách hiệu quả hỗ trợ các xã, huyện có khó khăn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa để hoàn thành tiêu chuẩn phổ cập THCS và phát triển THPT. Tập trung nguồn lực phát triển đội ngũ giáo viên THCS, THPT cho những vùng thiếu giáo viên.
3.3. Tiếp tục củng cố và hoàn thiện trường phổ thông dân tộc nội trú
Quan tâm hơn nữa đến vấn đề tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị trường học cho hệ thống các trường dân tộc nội trú cấp tỉnh và huyện, tăng quy mô các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện lên 300 HS/trường và mở rộng diện học sinh dân tộc được học nội trú. Xây dựng mới 01 trường PTDTNT tại khu vực phía Đông tại TX An Khê, quy mô 400 học sinh.
Cùng với việc dạy tiếng phổ thông cho học sinh các trường dân tộc nội trú, tỉnh cần có quy định cụ thể để giáo viên học tiếng dân tộc thiểu số. Bên cạnh việc quy định tiêu chuẩn sư phạm chung đối với giáo viên, cần có những tiêu chuẩn cụ thể đối với giáo viên các trường dân tộc nội trú. Một trong những tiêu chuẩn đó là phải biết và sử dụng thành thạo tiếng dân tộc trong giảng dạy, trong quản lý học sinh.
3.4. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
Cùng với việc củng cố và hoàn thiện hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, cần phát triển mạnh mẽ hệ thống các trường phổ thông công lập và dân lập phục vụ cho việc phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số.
Tỉnh cần có các biện pháp tích cực hơn nữa nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước đưa chương trình hướng nghiệp vào các trường phổ thông dân tộc nội trú, các trường phổ thông trung học.
Cần xác định rõ những nghề cần đào tạo phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng vùng, từ đó thực hiện kế hoạch tuyển sinh phù hợp. Trong những năm trước mắt, đối với các trường trung cấp hiện có, cần thực hiện tốt chế độ cử tuyển ở từng địa phương để kịp thời đáp ứng yêu cầu. Đồng thời, thành lập thêm các trường trung cấp chuyên nghiệp và trung tâm dạy nghề phù hợp để đào tạo nguồn nhân lực và phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở tỉnh.
3.5. Nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trong các trường Trung học phổ thông
Tỉnh cần đưa ra các giải pháp nâng cao trình độ ngoại ngữ cho học sinh phổ thông, phấn đấu đến năm 2020 đa số học sinh tốt nghiệp có khả năng sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp, học tập ở bậc cao hơn, phục vụ công tác và việc làm, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh trong thời kỳ hội nhập.
Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của ngoại ngữ trong cuộc sống, học tập và lao động, công tác trong thời kỳ hội nhập. Triển khai chương trình dạy và học môn tiếng Anh bắt buộc cho học sinh từ lớp 3 liên thông đến lớp 12, dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng và đặc thù (nghe, nói, đọc, viết) theo khung tham chiếu năng lực ngôn ngữ chung Châu Âu. Đồng thời, tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học chương trình ngoại ngữ hiện nay tại các trường phổ thông.
3.6. Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực nông thôn
Phát triển việc làm, nâng cao thu nhập để tạo khả năng cải thiện dinh dưỡng, nhà ở, môi trường sống cho dân cư và người lao động nông thôn.
Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2020 có khoảng trên 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
Tăng cường cơ sở hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ giới thiệu việc làm để đảm bảo các điều kiện để thị trường lao động phát triển những thông tin thị trường được công khai giúp cho người lao động có thể nhận biết được đâu là cơ hội và khả năng có thể đáp ứng công việc của mình. Nâng cao năng lực và các loại hình dịch vụ đối với lao động xuất khẩu có nguồn gốc từ nông thôn có chính sách hỗ trợ và đảm bảo về tài chính và các thủ tục xuất khẩu lao động đảm bảo cho người lao động được làm việc đúng ngành nghề được đào tạo và tạo điều kiện cải thiện cuộc sống cho lao động xuất khẩu.
Các cấp, các ngành của tỉnh và các doanh nghiệp cần phối hợp tốt hơn trong việc phát triển các chương trình nhà ở và cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản khác đối với người lao động có thu nhập thấp, lao động nhập cư đặc biệt là tại các khu cụm công nghiệp.
3.7. Đồng bộ hoá hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển nguồn nhân lực theo hướng hiện đại, đổi mới nội dung, phương pháp và quy trình đào tạo
- Đổi mới nội dung, phương pháp và quy trình đào tạo: Cơ cấu lại khung chương trình; bảo đảm sự liên thông của các cấp học; giải quyết tốt mối quan hệ về khối lượng kiến thức và thời lượng học tập giữa các môn giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp, nâng cao hiệu quả đào tạo của từng môn học.
- Đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhà giáo và cán bộ quản lý: Xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học, bảo đảm đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học.
Đổi mới phương thức tuyển dụng theo hướng khách quan, công bằng và có yếu tố cạnh tranh. Bảo đảm sự bình đẳng giữa giảng viên biên chế và hợp đồng, giữa giảng viên ở cơ sở giáo dục công lập và ở cơ sở giáo dục ngoài công lập.
- Đổi mới công tác tuyển sinh, chính sách đào tạo, sử dụng đối với sinh viên sư phạm của tỉnh: Hoàn thiện chính sách tuyển chọn sinh viên từ khâu tuyển sinh đến suốt quá trình đào tạo nhằm đào tạo những người có đức, có tài, sẵn sàng và toàn tâm, toàn ý phục vụ sự nghiệp giáo dục.
Đối với các vùng khó khăn, hoàn thiện chính sách tạo nguồn tuyển sinh sư phạm cho người dân tộc thiểu số và ở vùng sâu, vùng xa. Giao chỉ tiêu đào tạo theo địa chỉ, đào tạo dự bị, cử tuyển đại học. Nâng cao hiệu quả chế độ cử tuyển để tăng nhanh số lượng giáo sinh là người dân tộc trong các trường đại học và cao đẳng sư phạm, từ đó tăng số lượng giáo viên là người dân tộc thiểu số. Ban hành và triển khai quy định về nghĩa vụ của giáo sinh sau khi ra trường phải tuân theo sự điều động của Tỉnh để góp phần khắc phục sự thiếu hụt giáo viên ở các vùng khó khăn.
3.8. Đào tạo, bồi dưỡng gắn với nhu cầu thực tiễn công việc
- Xác định rõ đối tượng cần được đào tạo.
- Xác định rõ kế hoạch đào tạo bao gồm: loại hình, chương trình, tổ chức tiến hành (nội bộ doanh nghiệp, cơ quan hoặc thuê ngoài) và kinh phí thực hiện.
Trên thực tế hình thức đào tạo được nhiều đơn vị, doanh nghiệp lựa chọn là đào tạo qua công việc. Hình thức này giúp học viên được tiếp cận và học hỏi trên công việc thực tế, giúp họ tích lũy kinh nghiệm làm việc ngay trong quá trình đào tạo.
Tổ chức các hội thảo, các diễn đàn công nghệ để các doanh nghiệp trao đổi và cập nhật thông tin về các công trình nghiên cứu khoa học, các sáng kiến, giải pháp kỹ thuật mới trên thế giới.
4. Giải pháp huy động nguồn lực
Tổng nhu cầu vốn để đầu tư phát triển nhân lực tỉnh Gia Lai giai đoạn 2011-2020 vào khoảng 6.505,9 tỷ đồng, trong đó vốn để đầu tư cho đào tạo nhân lực là 2.714,6 tỷ đồng; vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất là 3.791,3 tỷ đồng.
- Để thực hiện quy hoạch nhân lực theo đúng mục tiêu, định hướng đặt ra, các cơ sở đào tạo nghề, các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh cần sự hỗ trợ của ngân sách Trung ương, các nguồn vốn huy động hợp pháp khác, nhằm huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc các thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Cụ thể:
+ Đối với các trường đào tạo nghề, đại học, cao đẳng công lập, nguồn vốn cho việc đào tạo nhân lực được trích từ nguồn chi thường xuyên của ngân sách nhà nước, nguồn thu của người học và nguồn vốn huy động hợp pháp khác.
+ Đối với các đào tạo nghề ngoài công lập, nguồn vốn cho việc đào tạo nhân lực được hỗ trợ một phần từ ngân sách nhà nước và chủ yếu từ nguồn thu của người học, nguồn vốn huy động từ nguồn xã hội hóa.
- Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư như các nguồn vốn để triển khai thực hiện các dự án liên quan đến Đại học nông lâm TP. Hồ Chí Minh được cấp từ ngân sách Nhà nước, vốn huy động từ các tổ chức hữu quan, các dự án tài trợ quốc tế và các nguồn thu hợp pháp của trường.
- Các trường trung cấp chuyên nghiệp và các cơ sở đào tạo nghề chủ động hợp tác với các doanh nghiệp nhằm huy động nguồn vốn của các doanh nghiệp vào cơ sở vật chất của trường.
- Khuyến khích các tổ chức tín dụng tạo điều kiện thuận lợi để các trường ngoài công lập vay vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đổi mới trang thiết bị dạy học và nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là nguồn vốn ưu đãi đầu tư vào phát triển ngành giáo dục đào tạo trên địa bàn tỉnh.
5. Giải pháp về việc làm, thị trường lao động, điều kiện làm việc
Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Bộ Luật lao động đã được sửa đổi, bổ sung; Luật Bảo hiểm xã hội; chế độ bảo hiểm thất nghiệp và các chế độ chính sách tại các cơ sở sản xuất kinh doanh và các doanh nghiệp. Các ngành, các cấp chủ động giải quyết các tranh chấp lao động trong doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi cho người lao động;
Tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chính sách đảm bảo an sinh xã hội, tạo việc làm, hỗ trợ đối tượng gia đình chính sách, người nghèo và yếu thế trong xã hội; chính sách hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài; chính sách hỗ trợ đào tạo lao động. Hình thành Quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động;
Từng bước thực hiện đầy đủ các loại hình bảo hiểm, nhất là bảo hiểm thất nghiệp và các chính sách hỗ trợ cho người lao động khi bị mất việc làm có thể đảm bảo cuộc sống tối thiểu.
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của thị trường lao động:
+Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động của tỉnh và các địa phương xung quanh, kết nối với hệ thống thông tin thị trường lao động quốc gia và quốc tế.
+ Đa dạng hóa các kênh giao dịch việc làm, tạo điều kiện thuận lợi phát triển các giao dịch trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động.

Content:
Nhu cầu lao động theo các nhóm nhân lực đặc biệt
+ Tổng nhu cầu cán bộ, công chức, viên chức có xu hướng tăng lên về số lượng nhưng về cơ cấu sẽ giảm, đến năm 2015 là gần 39.582 người, chiếm trên 11,5% tổng lao động được đào tạo; đến năm 2020 gần 53.568 người, chiếm trên 10,2% tổng lao động được đào tạo.
+ Nhân lực khu vực sự nghiệp (khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, y tế, dịch vụ tài chính ngân hàng, bảo hiểm...) được xây dựng tương xứng với yêu cầu và khả năng cho phép, nhân lực khu vực này chiếm khoảng trên 5,6% tổng lao động toàn tỉnh và là khu vực được xác định là có tỷ lệ lao động trình độ cao trong tổng lao động cả tỉnh. Dự kiến lao động được đào tạo trong khu vực này tăng từ 28.568 người năm 2015 đến 43.589 người năm 2020 và luôn duy trì ở mức ổn định khoảng 8,3% so với lao động được đào tạo trong giai đoạn 2011-2020.
+ Nhân lực khu vực sản xuất (doanh nhân, công nhân kỹ thuật, kỹ sư có trình độ cao) được duy trì với tỷ lệ đào tạo trên 80% tổng nhu cầu lao động và trình độ lao động trong khu vực này được nâng lên khoảng 45% vào năm 2020.
+ Trong giai đoạn 2011-2015 tỉnh sẽ đào tạo 50 thạc sỹ, tiến sỹ ở nước ngoài cho khu vực công tập trung chủ yếu vào ngành giáo dục (70% số thạc sỹ, tiến sỹ nước ngoài), còn lại là ngành y tế, tài chính, quản lý nhà nước, quản lý đô thị, luật…
+ Trong giai đoạn 2015-2020 tỉnh sẽ đào tạo 100 thạc sỹ, tiến sỹ ở nước ngoài trong đó vẫn tập trung chủ yếu vào ngành giáo dục đặc biệt là giảng viên các trường đại học (60% số thạc sỹ, tiến sỹ nước ngoài), ngành điện tử viễn thông, y tế, tài chính, quản lý, kinh tế đối ngoại...
II . GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC
1. Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn thể xã hội về phát triển nhân lực
Thực hiện các biện pháp nâng cao nhận thức về vai trò của phát triển nhân lực. Tăng cường sự chỉ đạo thường xuyên của các cấp ủy Đảng. Chú trọng công tác phát triển nhân lực trong từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp; tăng cường sự chủ động, sáng tạo, tránh dựa hoàn toàn vào các cơ quan quản lý nhà nước. Thực hiện các biện pháp tác động đến nhận thức của các tầng lớp nhân dân về hướng nghiệp và dạy nghề, nhằm giúp người dân nhận thức được học nghề là cơ hội để tìm kiếm việc làm cho bản thân, ổn định thu nhập gia đình và nâng cao chất lượng cuộc sống. Phát triển đội ngũ chuyên gia am hiểu về tâm lý học nghề nghiệp, thông tin thị trường lao động, am hiểu về thực tế ngành nghề xã hội, kinh tế học lao động để thực hiện công tác hướng nghiệp.
Mỗi cấp, mỗi ngành, tổ chức và cá nhân cần nhận thức sâu rộng về phát triển nhân lực cho tương lai để phục vụ cho quá trình phát triển đất nước vì con người là nhân tố quan trọng hàng đầu để phát triển đất nước. Từng cấp, ngành cần có kế hoạch, chương trình cụ thể để có giải pháp cụ thể, tích cực phát triển nhân lực của ngành, cấp mình.
Đặc biệt, đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo và cơ hội việc làm từ các doanh nghiệp. Phối hợp các hoạt động tư vấn nghề nghiệp tại cơ sở đào tạo, dạy nghề và tại doanh nghiệp, tạo điều kiện cho sinh viên, học viên, người lao động lựa chọn ngành nghề phù hợp ngay từ khi vào trường, đồng thời có nhiều thông tin cần thiết về việc làm để khi tốt nghiệp có việc làm ngay.
2. Đổi mới quản lý nhà nước về phát triển nhân lực
2.1. Hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực, đổi mới phương pháp quản lý, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động bộ máy quản lý
Phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm quản lý của UBND các cấp, các Sở, Ban, Ngành trong việc theo dõi, dự báo, xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực. Giám đốc các Sở, Ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo trực tiếp và chịu trách nhiệm trước cấp trên về kết quả phát triển nguồn nhân lực ở địa phương, đơn vị.
Rà soát, đánh giá, quy hoạch đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý phát triển nhân lực của ngành Giáo dục - Đào tạo, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, ngành Nội vụ; kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực cán bộ theo hướng chuyên nghiệp hóa; giao nhiệm vụ đầu mối quản lý thông tin về các cơ sở giáo dục - đào tạo ở mọi cấp, ngành cho Sở Giáo dục - Đào tạo. Khuyến khích xã hội hóa công tác phát triển nhân lực. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động giáo dục, đào tạo để đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực.
2.2. Cải tiến và tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các chủ thể tham gia phát triển nhân lực trên địa bàn.
Xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị sử dụng lao động với các cơ sở đào tạo, phát triển nhân lực (giữa các đơn vị hành chính, sự nghiệp với Sở Nội vụ, giữa doanh nghiệp với các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, cơ sở dạy nghề…) để tìm sự thống nhất giữa cung và cầu lao động trong thời gian đến, hạn chế đến mức thấp nhất sự lãng phí trong phát triển nhân lực của cá nhân, tổ chức và xã hội. Đồng thời, tăng cường sự chủ động, sáng tạo của từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong công tác phát triển nhân lực.
Tăng cường hơn nữa sự phối hợp khép kín và hoàn chỉnh việc đào tạo, góp phần đảm bảo cân đối quan hệ cung-cầu về nhân lực; theo đó các ngành, đơn vị có chương trình cụ thể để đào tạo nâng cao chất lượng nhân lực theo mối quan hệ sau: [Thông tin dự báo]-[Doanh nghiệp, người sử dụng lao động]-[Các cấp chính quyền]-[Các sở, ban, ngành]-[Cơ sở đào tạo]-[Người lao động].
2.3. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, công cụ khuyến khích và thúc đẩy phát triển nhân lực tỉnh Gia Lai
2.3.1. Chính sách đầu tư và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thu hút đầu tư trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, đặc biệt là giáo dục – đào tạo chất lượng cao, nghiên cứu vận dụng các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ về đất đai, thủ tục hành chính, thông tin thị trường cho nhà đầu tư. Tỉnh cần tiếp tục ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực đào tạo nghề, đặc biệt là đào tạo nghề cho đối tượng yếu thế trong xã hội.
Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp-dịch vụ-nông lâm nghiệp, trong nội bộ từng nhóm ngành cũng cần chuyển dịch sâu như: đối với nhóm ngành công nghiệp, cần phát triển các ngành ứng dụng công nghệ cao, thân thiện môi trường, sử dụng lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa, công nghệ vật liệu. Trong lĩnh vực dịch vụ, ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ hiện đại, có giá trị lớn là du lịch, vận tải - kho bãi, bưu chính- viễn thông, thương mại, tài chính - ngân hàng; có chính sách ưu đãi để khuyến khích phát triển các ngành dịch vụ vừa là động lực vừa là đầu vào của các ngành khác là giáo dục – đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế.
2.3.2. Chính sách tài chính và sử dụng ngân sách cho phát triển nhân lực
- Nhà nước ưu tiên đầu tư ngân sách cho phát triển nhân lực thông qua các chương trình, dự án của Quy hoạch này và thông qua các kế hoạch, đề án phát triển nhân lực khác.
- Tăng định mức chi ngân sách tỉnh và ngân sách trung ương cho ngành giáo dục –đào tạo, khoa học - công nghệ và công tác phát triển nhân lực của tỉnh.
- Khuyến khích các cơ sở đào tạo đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên, giáo viên để cải thiện chất lượng đào tạo.
3. Giải pháp về đào tạo và bồi dưỡng nhân lực
3.1. Quy hoạch lại mạng lưới đào tạo nhân lực
Sở Giáo dục – Đào tạo, sở Lao động Thương binh và Xã hội rà soát lại quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng ,THCN và dạy nghề. Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động giáo dục đào tạo; trong đó chú trọng đến chất lượng dạy học của các cơ sở đào tạo ngoài công lập và các hình thức liên kết đào tạo.
Phát triển nguồn nhân lực là vấn đề lớn và thực hiện trong thời gian dài, các Sở, Ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố; các doanh nghiệp phải xây dựng quy hoạch và kế hoạch cụ thể; bố trí cán bộ có trình độ và năng lực thực hiện công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực thuộc lĩnh vực ngành, địa phương quản lý.
3.2. Thực hiện phổ cập trung học cơ sở và phát triển giáo dục trung học phổ thông
Phổ cập THCS và phát triển THPT là cơ sở tạo nguồn cho đào đạo phát triển nguồn nhân lực, giảp pháp này hướng vào:
Nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền, ngành liên quan, gia đình, cá nhân và xã hội về tầm quan trọng của phổ cập THCS và phát triển giáo dục THPT.
Phát triển mạng lưới trường THCS, THPT. Đa dạng hoá các loại chương trình giáo dục, tạo điều kiện cho mọi đối tượng trong tỉnh đạt được trình độ học vấn THCS và tiến tới đa số đạt THPT.
Có các chính sách hiệu quả hỗ trợ các xã, huyện có khó khăn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa để hoàn thành tiêu chuẩn phổ cập THCS và phát triển THPT. Tập trung nguồn lực phát triển đội ngũ giáo viên THCS, THPT cho những vùng thiếu giáo viên.
3.3. Tiếp tục củng cố và hoàn thiện trường phổ thông dân tộc nội trú
Quan tâm hơn nữa đến vấn đề tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị trường học cho hệ thống các trường dân tộc nội trú cấp tỉnh và huyện, tăng quy mô các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện lên 300 HS/trường và mở rộng diện học sinh dân tộc được học nội trú. Xây dựng mới 01 trường PTDTNT tại khu vực phía Đông tại TX An Khê, quy mô 400 học sinh.
Cùng với việc dạy tiếng phổ thông cho học sinh các trường dân tộc nội trú, tỉnh cần có quy định cụ thể để giáo viên học tiếng dân tộc thiểu số. Bên cạnh việc quy định tiêu chuẩn sư phạm chung đối với giáo viên, cần có những tiêu chuẩn cụ thể đối với giáo viên các trường dân tộc nội trú. Một trong những tiêu chuẩn đó là phải biết và sử dụng thành thạo tiếng dân tộc trong giảng dạy, trong quản lý học sinh.
3.4. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
Cùng với việc củng cố và hoàn thiện hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, cần phát triển mạnh mẽ hệ thống các trường phổ thông công lập và dân lập phục vụ cho việc phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số.
Tỉnh cần có các biện pháp tích cực hơn nữa nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước đưa chương trình hướng nghiệp vào các trường phổ thông dân tộc nội trú, các trường phổ thông trung học.
Cần xác định rõ những nghề cần đào tạo phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng vùng, từ đó thực hiện kế hoạch tuyển sinh phù hợp. Trong những năm trước mắt, đối với các trường trung cấp hiện có, cần thực hiện tốt chế độ cử tuyển ở từng địa phương để kịp thời đáp ứng yêu cầu. Đồng thời, thành lập thêm các trường trung cấp chuyên nghiệp và trung tâm dạy nghề phù hợp để đào tạo nguồn nhân lực và phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở tỉnh.
3.Nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trong các trường Trung học phổ thông
Tỉnh cần đưa ra các giải pháp nâng cao trình độ ngoại ngữ cho học sinh phổ thông, phấn đấu đến năm 2020 đa số học sinh tốt nghiệp có khả năng sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp, học tập ở bậc cao hơn, phục vụ công tác và việc làm, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh trong thời kỳ hội nhập.
Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của ngoại ngữ trong cuộc sống, học tập và lao động, công tác trong thời kỳ hội nhập. Triển khai chương trình dạy và học môn tiếng Anh bắt buộc cho học sinh từ lớp 3 liên thông đến lớp 12, dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng và đặc thù (nghe, nói, đọc, viết) theo khung tham chiếu năng lực ngôn ngữ chung Châu Âu. Đồng thời, tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học chương trình ngoại ngữ hiện nay tại các trường phổ thông.
3.6. Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực nông thôn
Phát triển việc làm, nâng cao thu nhập để tạo khả năng cải thiện dinh dưỡng, nhà ở, môi trường sống cho dân cư và người lao động nông thôn.
Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2020 có khoảng trên 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
Tăng cường cơ sở hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ giới thiệu việc làm để đảm bảo các điều kiện để thị trường lao động phát triển những thông tin thị trường được công khai giúp cho người lao động có thể nhận biết được đâu là cơ hội và khả năng có thể đáp ứng công việc của mình. Nâng cao năng lực và các loại hình dịch vụ đối với lao động xuất khẩu có nguồn gốc từ nông thôn có chính sách hỗ trợ và đảm bảo về tài chính và các thủ tục xuất khẩu lao động đảm bảo cho người lao động được làm việc đúng ngành nghề được đào tạo và tạo điều kiện cải thiện cuộc sống cho lao động xuất khẩu.
Các cấp, các ngành của tỉnh và các doanh nghiệp cần phối hợp tốt hơn trong việc phát triển các chương trình nhà ở và cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản khác đối với người lao động có thu nhập thấp, lao động nhập cư đặc biệt là tại các khu cụm công nghiệp.
3.7. Đồng bộ hoá hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển nguồn nhân lực theo hướng hiện đại, đổi mới nội dung, phương pháp và quy trình đào tạo
- Đổi mới nội dung, phương pháp và quy trình đào tạo: Cơ cấu lại khung chương trình; bảo đảm sự liên thông của các cấp học; giải quyết tốt mối quan hệ về khối lượng kiến thức và thời lượng học tập giữa các môn giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp, nâng cao hiệu quả đào tạo của từng môn học.
- Đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhà giáo và cán bộ quản lý: Xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học, bảo đảm đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học.
Đổi mới phương thức tuyển dụng theo hướng khách quan, công bằng và có yếu tố cạnh tranh. Bảo đảm sự bình đẳng giữa giảng viên biên chế và hợp đồng, giữa giảng viên ở cơ sở giáo dục công lập và ở cơ sở giáo dục ngoài công lập.
- Đổi mới công tác tuyển sinh, chính sách đào tạo, sử dụng đối với sinh viên sư phạm của tỉnh: Hoàn thiện chính sách tuyển chọn sinh viên từ khâu tuyển sinh đến suốt quá trình đào tạo nhằm đào tạo những người có đức, có tài, sẵn sàng và toàn tâm, toàn ý phục vụ sự nghiệp giáo dục.
Đối với các vùng khó khăn, hoàn thiện chính sách tạo nguồn tuyển sinh sư phạm cho người dân tộc thiểu số và ở vùng sâu, vùng xa. Giao chỉ tiêu đào tạo theo địa chỉ, đào tạo dự bị, cử tuyển đại học. Nâng cao hiệu quả chế độ cử tuyển để tăng nhanh số lượng giáo sinh là người dân tộc trong các trường đại học và cao đẳng sư phạm, từ đó tăng số lượng giáo viên là người dân tộc thiểu số. Ban hành và triển khai quy định về nghĩa vụ của giáo sinh sau khi ra trường phải tuân theo sự điều động của Tỉnh để góp phần khắc phục sự thiếu hụt giáo viên ở các vùng khó khăn.
3.8. Đào tạo, bồi dưỡng gắn với nhu cầu thực tiễn công việc
- Xác định rõ đối tượng cần được đào tạo.
- Xác định rõ kế hoạch đào tạo bao gồm: loại hình, chương trình, tổ chức tiến hành (nội bộ doanh nghiệp, cơ quan hoặc thuê ngoài) và kinh phí thực hiện.
Trên thực tế hình thức đào tạo được nhiều đơn vị, doanh nghiệp lựa chọn là đào tạo qua công việc. Hình thức này giúp học viên được tiếp cận và học hỏi trên công việc thực tế, giúp họ tích lũy kinh nghiệm làm việc ngay trong quá trình đào tạo.
Tổ chức các hội thảo, các diễn đàn công nghệ để các doanh nghiệp trao đổi và cập nhật thông tin về các công trình nghiên cứu khoa học, các sáng kiến, giải pháp kỹ thuật mới trên thế giới.
4. Giải pháp huy động nguồn lực
Tổng nhu cầu vốn để đầu tư phát triển nhân lực tỉnh Gia Lai giai đoạn 2011-2020 vào khoảng 6.505,9 tỷ đồng, trong đó vốn để đầu tư cho đào tạo nhân lực là 2.714,6 tỷ đồng; vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất là 3.791,3 tỷ đồng.
- Để thực hiện quy hoạch nhân lực theo đúng mục tiêu, định hướng đặt ra, các cơ sở đào tạo nghề, các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh cần sự hỗ trợ của ngân sách Trung ương, các nguồn vốn huy động hợp pháp khác, nhằm huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc các thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Cụ thể:
+ Đối với các trường đào tạo nghề, đại học, cao đẳng công lập, nguồn vốn cho việc đào tạo nhân lực được trích từ nguồn chi thường xuyên của ngân sách nhà nước, nguồn thu của người học và nguồn vốn huy động hợp pháp khác.
+ Đối với các đào tạo nghề ngoài công lập, nguồn vốn cho việc đào tạo nhân lực được hỗ trợ một phần từ ngân sách nhà nước và chủ yếu từ nguồn thu của người học, nguồn vốn huy động từ nguồn xã hội hóa.
- Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư như các nguồn vốn để triển khai thực hiện các dự án liên quan đến Đại học nông lâm TP. Hồ Chí Minh được cấp từ ngân sách Nhà nước, vốn huy động từ các tổ chức hữu quan, các dự án tài trợ quốc tế và các nguồn thu hợp pháp của trường.
- Các trường trung cấp chuyên nghiệp và các cơ sở đào tạo nghề chủ động hợp tác với các doanh nghiệp nhằm huy động nguồn vốn của các doanh nghiệp vào cơ sở vật chất của trường.
- Khuyến khích các tổ chức tín dụng tạo điều kiện thuận lợi để các trường ngoài công lập vay vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đổi mới trang thiết bị dạy học và nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là nguồn vốn ưu đãi đầu tư vào phát triển ngành giáo dục đào tạo trên địa bàn tỉnh.
Giải pháp về việc làm, thị trường lao động, điều kiện làm việc
Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Bộ Luật lao động đã được sửa đổi, bổ sung; Luật Bảo hiểm xã hội; chế độ bảo hiểm thất nghiệp và các chế độ chính sách tại các cơ sở sản xuất kinh doanh và các doanh nghiệp. Các ngành, các cấp chủ động giải quyết các tranh chấp lao động trong doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi cho người lao động;
Tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chính sách đảm bảo an sinh xã hội, tạo việc làm, hỗ trợ đối tượng gia đình chính sách, người nghèo và yếu thế trong xã hội; chính sách hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài; chính sách hỗ trợ đào tạo lao động. Hình thành Quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động;
Từng bước thực hiện đầy đủ các loại hình bảo hiểm, nhất là bảo hiểm thất nghiệp và các chính sách hỗ trợ cho người lao động khi bị mất việc làm có thể đảm bảo cuộc sống tối thiểu.
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của thị trường lao động:
+Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động của tỉnh và các địa phương xung quanh, kết nối với hệ thống thông tin thị trường lao động quốc gia và quốc tế.
+ Đa dạng hóa các kênh giao dịch việc làm, tạo điều kiện thuận lợi phát triển các giao dịch trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động.