Document: Khoản 8 Điều 1 Quyết định 3276/QĐ-UBND 2014 Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Hải Hà Quảng Ninh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/12/2014", "sign_number": "3276/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đọc", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/12/2014", "sign_number": "3276/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đọc", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/12/2014", "sign_number": "3276/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đọc", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/12/2014", "sign_number": "3276/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đọc", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/12/2014", "sign_number": "3276/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đọc", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 8 Điều 1 Quyết định 3276/QĐ-UBND 2014 Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Hải Hà Quảng Ninh

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Hải Hà đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (sau đây gọi tắt và Quy hoạch) với những nội dung chủ yếu sau:
...
8. Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm an ninh quốc phòng:
Tổ chức tốt phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, nhất là phong trào tự quản vùng biên giới, vùng biển; tự quản về an ninh trật tự trong các doanh nghiệp, các khu phố và thôn, bản. Di dãn dân ra khu vực biên giới, khu kinh tế quốc phòng, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời xây dựng vành đai biên giới vững chắc về quốc phòng, an ninh. Từng bước củng cố mối quan hệ hữu nghị với Thành phố Cảng Phòng Thành - Quảng Tây - Trung Quốc trong phát triển kinh tế - xã hội, quản lý và bảo vệ đường biên giới, phối hợp phòng chống tội phạm, vừa đảm bảo vững chắc chủ quyền lãnh thổ, vừa tạo môi trường thuận lợi để tăng cường hợp tác phát triển.
Chăm lo xây dựng lực lượng Công an, Quân đội vững mạnh, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới, đồng thời thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. Củng cố lực lượng, đảm bảo quốc phòng an ninh khu vực biển đảo. Tổ chức phối hợp thống nhất các lực lượng để kiểm soát vùng biển, chống lại các âm mưu lấn chiếm lãnh thổ, lấn chiếm ngư trường và ngăn chặn buôn bán bất hợp pháp trên biển đảo.
IV. Tổ chức không gian kinh tế - xã hội:
1. Vùng kinh tế:
a. Vùng kinh tế phía Bắc: gồm 6 xã trong đó có 2 xã miền núi (Quảng Đức, Quảng Sơn) và 4 xã trung du (Đường Hoa, Quảng Long, Quảng Thịnh, Quảng Chính). Vùng này có thể chia thành 2 tiểu vùng nhỏ:
- Tiểu vùng cao: Phát triển mạnh kinh tế đồi rừng, đẩy mạnh khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng rừng kết hợp trồng cây ăn quả và cây dược liệu như ba kích, phát triển chăn nuôi trâu bò. Khu kinh tế cửa khẩu Bắc Phong Sinh phát triển dịch vụ xuất - nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, vận tải và các ngành công nghiệp hỗ trợ, phụ trợ cho kinh tế biển, phát triển đô thị.
- Tiểu vùng trung du: vùng sản xuất nông sản hàng hóa như chè, cây ăn quả, trong vùng sẽ xây dựng một số trung tâm cụm xã làm điểm hội tụ về văn hóa, trao đổi khoa học kỹ thuật, cầu nối với vùng ven biển, thúc đẩy kinh tế phát triển.
b. Vùng kinh tế phía Nam: gồm 9 địa phương nằm trong Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái: Khu Công nghiệp - Cảng biển Hải Hà (bao gồm 4 đơn vị hành chính là các xã: Quảng Điền, Quảng Phong, Phú Hải và Cái Chiên); thị trấn Quảng Hà và các xã: Quảng Thắng, Quảng Thành, Quảng Minh, Quảng Trung và Tiến Tới.
- Phát triển Khu Công nghiệp - Cảng biển Hải Hà để đáp ứng nhu cầu cụ thể của nhà đầu tư trong sản xuất công nghiệp công nghệ cao.
- Phát triển dịch vụ: Khai thác có hiệu quả dịch vụ trung tâm thị trấn Quảng Hà gắn chặt với sự phát triển Khu Công nghiệp - Cảng biển Hải Hà.
- Phát triển kinh tế biển và hải đảo: Hướng phát triển chính là khai thác hải sản, tận dụng bãi triều để nuôi trồng thủy hải sản theo phương thức thâm canh hoặc bán thâm canh kết hợp trồng rừng ngập mặn.
- Tập trung sản xuất lương thực, thực phẩm, phát triển chăn nuôi lợn, nuôi trồng thủy sản ven biển.
2. Không gian đô thị:
- Xây dựng đô thị Quảng Hà là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của huyện Hải Hà, có chức năng tổng hợp tạo động lực phát triển các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng Đông Bắc Tỉnh Quảng Ninh, là đầu mối giao thông quan trọng của khu kinh tế Móng Cái - Hải Hà và các khu lân cận. Định hướng trong giai đoạn 2016 - 2020 xây dựng thị trấn Quảng Hà đạt đô thị loại IV; đến năm 2030 đạt đô thị loại III; Sau năm 2020, xây dựng thêm 01 đô thị loại V là: Khu kinh tế cửa khẩu Bắc Phong Sinh.
- Phát triển thêm các trung tâm cụm xã nằm trên trục Quốc lộ 18A, đường liên huyện và một số trung tâm cụm xã nằm trên các trục đầu mối đường liên xã. Phát triển đô thị trên quan điểm bền vững, cần tập trung xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật khu vực đô thị trung tâm huyện - đô thị Quảng Hà, xây dựng mới 1 đô thị loại V, các thị tứ, tạo mối liên kết chặt chẽ với các trục kinh tế động lực của tỉnh Quảng Ninh, các trục hành lang kinh tế vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Đối với các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, ưu tiên xây dựng các khu nhà ở, khu dịch vụ - đô thị đáp ứng nhu cầu nhà ở của người lao động.
- Phát triển hệ thống đô thị và phân bố dân cư Khu Công nghiệp - Cảng biển. Xây dựng khu đô thị mới ở khu vực Bắc Nam - là nơi sinh sống của những người lao động làm việc ở khu vực khu công nghiệp, từ đó hình thành khu vực sản xuất có nhà ở và nơi làm việc tiếp giáp nhau.
VI. Danh mục các dự án ưu tiên:
Danh mục các chương trình, dự án đầu tư trọng điểm được trình bày trong phụ lục kèm theo.
VII. Các giải pháp thực hiện quy hoạch:
1. Giải pháp về nguồn lực:
a) Huy động các nguồn đầu tư:
- Tổng nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2012 - 2020 dự kiến khoảng 46.500 tỷ đồng. Để thu hút đủ nguồn vốn đáp ứng nhu cầu này, cần tập trung huy động và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư từ: ngân sách Nhà nước; vốn nước ngoài (FDI); vốn doanh nghiệp và tín dụng; vốn trong dân và các nguồn vốn khác (khai thác quỹ đất...), trong đó:
+ Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước chủ yếu dành cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội. Căn cứ vào khả năng cân đối ngân sách hàng năm, chủ động xây dựng kế hoạch, phân kỳ đầu tư phù hợp để đảm bảo vốn cho các công trình, các dự án trọng điểm.
+ Thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đáp ứng 53-61% tổng nhu cầu còn lại thông qua các biện pháp xúc tiến đầu đầu tư; cần xác định rõ nhà đầu tư chiến lược, nhà đầu tư tiềm năng để tăng cường tiếp cận; Thực hiện cải cách hành chính, tạo thông thoáng trong lĩnh vực đầu tư; tạo thuận lợi trong đăng ký kinh doanh, giao đất, cho thuê đất, thuê mặt bằng, miễn giảm thuế và tiền thuê đất, tiền sử dụng đất...
- Thực hiện sâu rộng và triệt để cải cách hành chính, đơn giản hoá các thủ tục hành chính, tập trung huy động vốn đầu tư từ bên ngoài theo hình thức liên doanh, liên kết như BOT, BT, BTO, hợp tác công - tư theo các mô hình “lãnh đạo công - quản trị tư” “đầu tư công - quản lý tư” “đầu tư tư - sử dụng công”.
- Đẩy mạnh tuyên truyền và quảng bá thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp và du lịch; Chủ động phối hợp với Ban xúc tiến và hỗ trợ đầu tư của Tỉnh nâng cao năng lực hoạt động xúc tiến đầu tư của huyện.
b) Phát triển nguồn nhân lực:
- Phấn đấu đáp ứng đủ nhu cầu nhân lực cho việc chuyển dịch cơ cấu việc làm từ các hoạt động nông nghiệp sang các ngành dịch vụ và công nghiệp; trong giai đoạn đến năm 2020, tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp sẽ giảm từ khoảng 78,6% xuống còn 30%, tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp tăng từ 5,2% lên 38% và tỷ lệ lao động trong ngành dịch vụ sẽ tăng từ 16,2% lên 32% trong tổng lực lượng lao động.
- Xác định các chương trình trọng điểm đào tạo phát triển nguồn nhân lực. Tập trung chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; coi trọng đào tạo các chuyên ngành công nghiệp: Đào tạo công nhân kỹ thuật phục vụ các ngành công nghiệp phục vụ các khu công nghiệp và một số lĩnh vực kinh tế chủ đạo của huyện, bao gồm các ngành như sau: (i) Ngành công nghiệp dệt may; (ii) Ngành chế biến nông sản - thực phẩm; (iii) Ngành công nghiệp chế biến khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng.
- Nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục, đặc biệt là hệ thống giáo dục đào tạo chính quy cho các thế hệ tương lai, từ giáo dục mẫu giáo, mầm non đến giáo dục phổ thông và đào tạo chuyên nghiệp dạy nghề gắn với các chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của huyện và của Tỉnh.
- Nâng cao tay nghề của đội ngũ lao động cho các công việc hiện tại thông qua tăng năng suất lao động và năng lực. Nghiên cứu các chính sách đặc thù nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về làm việc tại huyện.
2. Nhóm giải pháp về liên kết vùng và phát triển thị trường:
- Về liên kết vùng: Xây dựng các chương trình hợp tác với các huyện, thành phố trong Tỉnh; đặc biệt là sự hợp tác giữa Khu tế cửa khẩu Móng Cái; Khu kinh tế cửa khẩu Bắc Phong Sinh với khu Phòng Thành Cảng - Trung Quốc.
- Về phát triển thị trường:
+ Đối với thị trường trong nước: Nghiên cứu nhu cầu của các thành phố lớn trong vùng như: Hà Nội, Hải Phòng; thị trường lớn trong Tỉnh như Hạ Long, Cẩm Phả, Vân Đồn, Móng Cái... đồng thời quan tâm đặc biệt đến sức mua của thị trường nông thôn rộng lớn để tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh về giá cả, chất lượng, mẫu mã, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng đối với từng khu vực nông thôn và thành thị.
+ Đối với thị trường quốc tế: Nghiên cứu thị trường quốc tế và khu vực, trước hết là thị trường Trung Quốc để có thể phát triển các sản phẩm mới, sản phẩm truyền thống và sản phẩm nông sản sạch thông qua các dự án liên kết sản xuất và chế biến; rau thực phẩm; chè và phát triển khu chăn nuôi công nghiệp (chăn nuôi lợn, gia súc...).
3. Nhóm giải pháp về phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh:
- Chủ động tiếp cận với 3 nhóm doanh nghiệp chính đó là: Doanh nghiệp đầu tư tại Khu Công nghiệp - Cảng biển; Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, biên mậu tại Khu kinh tế cửa khẩu Bắc Phong Sinh; Doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề truyền thống và lĩnh vực nông nghiệp.
- Đổi mới môi trường chính sách quản lý và phát triển doanh nghiệp, bổ sung chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp nông thôn. Ngoài ra, cần có cơ chế tích cực kêu gọi các nhà đầu tư vào sản xuất chè sạch, sản xuất rau an toàn; đầu tư xây dựng khu chăn nuôi tập trung; phát triển nông nghiệp công nghệ cao; đầu tư xây dựng Khu Công nghiệp - Cảng biển Hải Hà và xây dựng cơ sở hạ tầng thương mại - dịch vụ khu kinh tế cửa khấu Bắc Phong Sinh....
- Đối với việc thu hút các doanh nghiệp FDI: Phối hợp với các huyện bạn để tổ chức các chương trình vận động chung, tránh các xung đột, cạnh tranh giữa các địa phương, tiến dần bãi bỏ những ưu đãi đối với các nhà đầu tư thông thường để tăng khả năng thu hút những đối tác lớn và làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các nhà đầu tư lớn, các nhà đầu tư thuộc các nước phát triển OECD (Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu).
4. Nhóm giải pháp về ứng dụng tiến bộ, khoa học công nghệ:
- Tập trung vào sản xuất sản phẩm mới và các hoạt động trao đổi, chuyển giao các tiến bộ công nghệ sản xuất trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp và dịch vụ, nông nghiệp nhằm cải thiện chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững.
- Hình thành mạng lưới các tổ chức khoa học công nghệ trên địa bàn: trung tâm ứng dụng, chuyển giao công nghệ; phát triển các doanh nghiệp khoa học công nghệ, đồng thời, phòng nông nghiệp của huyện, thông qua hệ thống ngành dọc, thông qua hoạt động khuyến nông, hoạt động của các hiệp hội, tổ chức đoàn thể phổ biến thông tin về thị trường; về mô hình sản xuất; kỹ thuật nuôi trồng; về giống cây trồng vật nuôi mới, hiệu quả, phù hợp với điều kiện sản xuất của Tỉnh tới nông dân.
- Chú trọng việc quản lý các doanh nghiệp trên địa bàn trong việc sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường, tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, sinh thái cho sự phát triển bền vững của huyện.
5. Nhóm giải pháp về quy hoạch phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
- Tiếp tục phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa để nâng cao thu nhập cho người nông dân như: Quy hoạch và đi vào thực hiện vùng sản xuất tập trung, tiếp tục đầu tư thâm canh nuôi trồng thủy sản tại các xã ven biển, thực hiện phát triển các vùng chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung theo quy hoạch.
- Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ nông thôn như: dịch vụ cơ giới hóa, dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm,...
VII. Tổ chức và giám sát thực hiện quy hoạch:
1. Sau khi Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Hải Hà đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được phê duyệt, Huyện cần tổ chức công bố, phổ biến đến các cấp ủy Đảng và chính quyền, các ngành, đoàn thể, các doanh nghiệp và nhân dân. Căn cứ nội dung của Quy hoạch, tiến hành xây dựng chương trình hành động cụ thể để thực hiện và giám sát, kiểm tra đạt kết quả.
2. Cụ thể hóa các mục tiêu Quy hoạch bàng các kế hoạch 5 năm, hàng năm để thực hiện và có đánh giá kết quả đạt được. Trên cơ sở đó, tiến hành rà soát lại quy hoạch và trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung kịp thời đảm bảo phù hợp với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương từng thời kỳ. Các cấp, các ngành, các địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân có trách nhiệm kiểm tra, giám sát trong việc thực hiện Quy hoạch.
3. Công tác tổ chức triển khai thực hiện Quy hoạch cần được đổi mới phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Bố trí bộ máy lãnh đạo tâm huyết, cán bộ đủ năng lực với cơ chế quản lý mạnh và độc lập để triển khai thực hiện thành công công cuộc đổi mới của huyện Hải Hà và của tỉnh Quảng Ninh.

Content:
Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm an ninh quốc phòng:
Tổ chức tốt phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, nhất là phong trào tự quản vùng biên giới, vùng biển; tự quản về an ninh trật tự trong các doanh nghiệp, các khu phố và thôn, bản. Di dãn dân ra khu vực biên giới, khu kinh tế quốc phòng, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời xây dựng vành đai biên giới vững chắc về quốc phòng, an ninh. Từng bước củng cố mối quan hệ hữu nghị với Thành phố Cảng Phòng Thành - Quảng Tây - Trung Quốc trong phát triển kinh tế - xã hội, quản lý và bảo vệ đường biên giới, phối hợp phòng chống tội phạm, vừa đảm bảo vững chắc chủ quyền lãnh thổ, vừa tạo môi trường thuận lợi để tăng cường hợp tác phát triển.
Chăm lo xây dựng lực lượng Công an, Quân đội vững mạnh, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới, đồng thời thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. Củng cố lực lượng, đảm bảo quốc phòng an ninh khu vực biển đảo. Tổ chức phối hợp thống nhất các lực lượng để kiểm soát vùng biển, chống lại các âm mưu lấn chiếm lãnh thổ, lấn chiếm ngư trường và ngăn chặn buôn bán bất hợp pháp trên biển đảo.
IV. Tổ chức không gian kinh tế - xã hội:
1. Vùng kinh tế:
a. Vùng kinh tế phía Bắc: gồm 6 xã trong đó có 2 xã miền núi (Quảng Đức, Quảng Sơn) và 4 xã trung du (Đường Hoa, Quảng Long, Quảng Thịnh, Quảng Chính). Vùng này có thể chia thành 2 tiểu vùng nhỏ:
- Tiểu vùng cao: Phát triển mạnh kinh tế đồi rừng, đẩy mạnh khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng rừng kết hợp trồng cây ăn quả và cây dược liệu như ba kích, phát triển chăn nuôi trâu bò. Khu kinh tế cửa khẩu Bắc Phong Sinh phát triển dịch vụ xuất - nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, vận tải và các ngành công nghiệp hỗ trợ, phụ trợ cho kinh tế biển, phát triển đô thị.
- Tiểu vùng trung du: vùng sản xuất nông sản hàng hóa như chè, cây ăn quả, trong vùng sẽ xây dựng một số trung tâm cụm xã làm điểm hội tụ về văn hóa, trao đổi khoa học kỹ thuật, cầu nối với vùng ven biển, thúc đẩy kinh tế phát triển.
b. Vùng kinh tế phía Nam: gồm 9 địa phương nằm trong Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái: Khu Công nghiệp - Cảng biển Hải Hà (bao gồm 4 đơn vị hành chính là các xã: Quảng Điền, Quảng Phong, Phú Hải và Cái Chiên); thị trấn Quảng Hà và các xã: Quảng Thắng, Quảng Thành, Quảng Minh, Quảng Trung và Tiến Tới.
- Phát triển Khu Công nghiệp - Cảng biển Hải Hà để đáp ứng nhu cầu cụ thể của nhà đầu tư trong sản xuất công nghiệp công nghệ cao.
- Phát triển dịch vụ: Khai thác có hiệu quả dịch vụ trung tâm thị trấn Quảng Hà gắn chặt với sự phát triển Khu Công nghiệp - Cảng biển Hải Hà.
- Phát triển kinh tế biển và hải đảo: Hướng phát triển chính là khai thác hải sản, tận dụng bãi triều để nuôi trồng thủy hải sản theo phương thức thâm canh hoặc bán thâm canh kết hợp trồng rừng ngập mặn.
- Tập trung sản xuất lương thực, thực phẩm, phát triển chăn nuôi lợn, nuôi trồng thủy sản ven biển.
2. Không gian đô thị:
- Xây dựng đô thị Quảng Hà là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của huyện Hải Hà, có chức năng tổng hợp tạo động lực phát triển các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng Đông Bắc Tỉnh Quảng Ninh, là đầu mối giao thông quan trọng của khu kinh tế Móng Cái - Hải Hà và các khu lân cận. Định hướng trong giai đoạn 2016 - 2020 xây dựng thị trấn Quảng Hà đạt đô thị loại IV; đến năm 2030 đạt đô thị loại III; Sau năm 2020, xây dựng thêm 01 đô thị loại V là: Khu kinh tế cửa khẩu Bắc Phong Sinh.
- Phát triển thêm các trung tâm cụm xã nằm trên trục Quốc lộ 18A, đường liên huyện và một số trung tâm cụm xã nằm trên các trục đầu mối đường liên xã. Phát triển đô thị trên quan điểm bền vững, cần tập trung xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật khu vực đô thị trung tâm huyện - đô thị Quảng Hà, xây dựng mới 1 đô thị loại V, các thị tứ, tạo mối liên kết chặt chẽ với các trục kinh tế động lực của tỉnh Quảng Ninh, các trục hành lang kinh tế vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Đối với các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, ưu tiên xây dựng các khu nhà ở, khu dịch vụ - đô thị đáp ứng nhu cầu nhà ở của người lao động.
- Phát triển hệ thống đô thị và phân bố dân cư Khu Công nghiệp - Cảng biển. Xây dựng khu đô thị mới ở khu vực Bắc Nam - là nơi sinh sống của những người lao động làm việc ở khu vực khu công nghiệp, từ đó hình thành khu vực sản xuất có nhà ở và nơi làm việc tiếp giáp nhau.
VI. Danh mục các dự án ưu tiên:
Danh mục các chương trình, dự án đầu tư trọng điểm được trình bày trong phụ lục kèm theo.
VII. Các giải pháp thực hiện quy hoạch:
1. Giải pháp về nguồn lực:
a) Huy động các nguồn đầu tư:
- Tổng nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2012 - 2020 dự kiến khoảng 46.500 tỷ đồng. Để thu hút đủ nguồn vốn đáp ứng nhu cầu này, cần tập trung huy động và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư từ: ngân sách Nhà nước; vốn nước ngoài (FDI); vốn doanh nghiệp và tín dụng; vốn trong dân và các nguồn vốn khác (khai thác quỹ đất...), trong đó:
+ Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước chủ yếu dành cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội. Căn cứ vào khả năng cân đối ngân sách hàng năm, chủ động xây dựng kế hoạch, phân kỳ đầu tư phù hợp để đảm bảo vốn cho các công trình, các dự án trọng điểm.
+ Thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đáp ứng 53-61% tổng nhu cầu còn lại thông qua các biện pháp xúc tiến đầu đầu tư; cần xác định rõ nhà đầu tư chiến lược, nhà đầu tư tiềm năng để tăng cường tiếp cận; Thực hiện cải cách hành chính, tạo thông thoáng trong lĩnh vực đầu tư; tạo thuận lợi trong đăng ký kinh doanh, giao đất, cho thuê đất, thuê mặt bằng, miễn giảm thuế và tiền thuê đất, tiền sử dụng đất...
- Thực hiện sâu rộng và triệt để cải cách hành chính, đơn giản hoá các thủ tục hành chính, tập trung huy động vốn đầu tư từ bên ngoài theo hình thức liên doanh, liên kết như BOT, BT, BTO, hợp tác công - tư theo các mô hình “lãnh đạo công - quản trị tư” “đầu tư công - quản lý tư” “đầu tư tư - sử dụng công”.
- Đẩy mạnh tuyên truyền và quảng bá thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp và du lịch; Chủ động phối hợp với Ban xúc tiến và hỗ trợ đầu tư của Tỉnh nâng cao năng lực hoạt động xúc tiến đầu tư của huyện.
b) Phát triển nguồn nhân lực:
- Phấn đấu đáp ứng đủ nhu cầu nhân lực cho việc chuyển dịch cơ cấu việc làm từ các hoạt động nông nghiệp sang các ngành dịch vụ và công nghiệp; trong giai đoạn đến năm 2020, tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp sẽ giảm từ khoảng 78,6% xuống còn 30%, tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp tăng từ 5,2% lên 38% và tỷ lệ lao động trong ngành dịch vụ sẽ tăng từ 16,2% lên 32% trong tổng lực lượng lao động.
- Xác định các chương trình trọng điểm đào tạo phát triển nguồn nhân lực. Tập trung chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; coi trọng đào tạo các chuyên ngành công nghiệp: Đào tạo công nhân kỹ thuật phục vụ các ngành công nghiệp phục vụ các khu công nghiệp và một số lĩnh vực kinh tế chủ đạo của huyện, bao gồm các ngành như sau: (i) Ngành công nghiệp dệt may; (ii) Ngành chế biến nông sản - thực phẩm; (iii) Ngành công nghiệp chế biến khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng.
- Nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục, đặc biệt là hệ thống giáo dục đào tạo chính quy cho các thế hệ tương lai, từ giáo dục mẫu giáo, mầm non đến giáo dục phổ thông và đào tạo chuyên nghiệp dạy nghề gắn với các chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của huyện và của Tỉnh.
- Nâng cao tay nghề của đội ngũ lao động cho các công việc hiện tại thông qua tăng năng suất lao động và năng lực. Nghiên cứu các chính sách đặc thù nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về làm việc tại huyện.
2. Nhóm giải pháp về liên kết vùng và phát triển thị trường:
- Về liên kết vùng: Xây dựng các chương trình hợp tác với các huyện, thành phố trong Tỉnh; đặc biệt là sự hợp tác giữa Khu tế cửa khẩu Móng Cái; Khu kinh tế cửa khẩu Bắc Phong Sinh với khu Phòng Thành Cảng - Trung Quốc.
- Về phát triển thị trường:
+ Đối với thị trường trong nước: Nghiên cứu nhu cầu của các thành phố lớn trong vùng như: Hà Nội, Hải Phòng; thị trường lớn trong Tỉnh như Hạ Long, Cẩm Phả, Vân Đồn, Móng Cái... đồng thời quan tâm đặc biệt đến sức mua của thị trường nông thôn rộng lớn để tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh về giá cả, chất lượng, mẫu mã, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng đối với từng khu vực nông thôn và thành thị.
+ Đối với thị trường quốc tế: Nghiên cứu thị trường quốc tế và khu vực, trước hết là thị trường Trung Quốc để có thể phát triển các sản phẩm mới, sản phẩm truyền thống và sản phẩm nông sản sạch thông qua các dự án liên kết sản xuất và chế biến; rau thực phẩm; chè và phát triển khu chăn nuôi công nghiệp (chăn nuôi lợn, gia súc...).
3. Nhóm giải pháp về phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh:
- Chủ động tiếp cận với 3 nhóm doanh nghiệp chính đó là: Doanh nghiệp đầu tư tại Khu Công nghiệp - Cảng biển; Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, biên mậu tại Khu kinh tế cửa khẩu Bắc Phong Sinh; Doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề truyền thống và lĩnh vực nông nghiệp.
- Đổi mới môi trường chính sách quản lý và phát triển doanh nghiệp, bổ sung chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp nông thôn. Ngoài ra, cần có cơ chế tích cực kêu gọi các nhà đầu tư vào sản xuất chè sạch, sản xuất rau an toàn; đầu tư xây dựng khu chăn nuôi tập trung; phát triển nông nghiệp công nghệ cao; đầu tư xây dựng Khu Công nghiệp - Cảng biển Hải Hà và xây dựng cơ sở hạ tầng thương mại - dịch vụ khu kinh tế cửa khấu Bắc Phong Sinh....
- Đối với việc thu hút các doanh nghiệp FDI: Phối hợp với các huyện bạn để tổ chức các chương trình vận động chung, tránh các xung đột, cạnh tranh giữa các địa phương, tiến dần bãi bỏ những ưu đãi đối với các nhà đầu tư thông thường để tăng khả năng thu hút những đối tác lớn và làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các nhà đầu tư lớn, các nhà đầu tư thuộc các nước phát triển OECD (Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu).
4. Nhóm giải pháp về ứng dụng tiến bộ, khoa học công nghệ:
- Tập trung vào sản xuất sản phẩm mới và các hoạt động trao đổi, chuyển giao các tiến bộ công nghệ sản xuất trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp và dịch vụ, nông nghiệp nhằm cải thiện chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững.
- Hình thành mạng lưới các tổ chức khoa học công nghệ trên địa bàn: trung tâm ứng dụng, chuyển giao công nghệ; phát triển các doanh nghiệp khoa học công nghệ, đồng thời, phòng nông nghiệp của huyện, thông qua hệ thống ngành dọc, thông qua hoạt động khuyến nông, hoạt động của các hiệp hội, tổ chức đoàn thể phổ biến thông tin về thị trường; về mô hình sản xuất; kỹ thuật nuôi trồng; về giống cây trồng vật nuôi mới, hiệu quả, phù hợp với điều kiện sản xuất của Tỉnh tới nông dân.
- Chú trọng việc quản lý các doanh nghiệp trên địa bàn trong việc sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường, tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, sinh thái cho sự phát triển bền vững của huyện.
5. Nhóm giải pháp về quy hoạch phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
- Tiếp tục phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa để nâng cao thu nhập cho người nông dân như: Quy hoạch và đi vào thực hiện vùng sản xuất tập trung, tiếp tục đầu tư thâm canh nuôi trồng thủy sản tại các xã ven biển, thực hiện phát triển các vùng chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung theo quy hoạch.
- Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ nông thôn như: dịch vụ cơ giới hóa, dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm,...
VII. Tổ chức và giám sát thực hiện quy hoạch:
1. Sau khi Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Hải Hà đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được phê duyệt, Huyện cần tổ chức công bố, phổ biến đến các cấp ủy Đảng và chính quyền, các ngành, đoàn thể, các doanh nghiệp và nhân dân. Căn cứ nội dung của Quy hoạch, tiến hành xây dựng chương trình hành động cụ thể để thực hiện và giám sát, kiểm tra đạt kết quả.
2. Cụ thể hóa các mục tiêu Quy hoạch bàng các kế hoạch 5 năm, hàng năm để thực hiện và có đánh giá kết quả đạt được. Trên cơ sở đó, tiến hành rà soát lại quy hoạch và trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung kịp thời đảm bảo phù hợp với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương từng thời kỳ. Các cấp, các ngành, các địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân có trách nhiệm kiểm tra, giám sát trong việc thực hiện Quy hoạch.
3. Công tác tổ chức triển khai thực hiện Quy hoạch cần được đổi mới phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Bố trí bộ máy lãnh đạo tâm huyết, cán bộ đủ năng lực với cơ chế quản lý mạnh và độc lập để triển khai thực hiện thành công công cuộc đổi mới của huyện Hải Hà và của tỉnh Quảng Ninh.