Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 8989/QĐ-BCT Tái cơ cấu ngành hóa chất công nghiệp hóa hiện đại hóa phát triển bền vững

Type: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "25/08/2015", "sign_number": "8989/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "25/08/2015", "sign_number": "8989/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "25/08/2015", "sign_number": "8989/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "25/08/2015", "sign_number": "8989/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "25/08/2015", "sign_number": "8989/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 8989/QĐ-BCT Tái cơ cấu ngành hóa chất công nghiệp hóa hiện đại hóa phát triển bền vững

Điều 1. Phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành hóa chất Việt Nam phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (sau đây gọi tắt là Đề án) với các nội dung chủ yếu sau:
...
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu tổng quát
- Phát triển sản xuất dựa trên việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên; ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm gia tăng giá trị tăng thêm của sản phẩm ngành, sản xuất các mặt hàng thiết yếu đáp ứng nhu cầu trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu đối với các sản phẩm như: phân bón, sản phẩm cao su, hóa chất cơ bản, hóa dầu, hóa chất tinh khiết, hóa dược và hóa chất phục vụ tiêu dùng;
- Phân bố hợp lý lực lượng sản xuất theo vùng lãnh thổ, tạo nên sự phát triển cân đối; hình thành và phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp tập trung, các tổ hợp sản xuất hóa chất có quy mô lớn. Xây dựng kế hoạch di dời, tập trung các nhà máy sản xuất hóa chất vào khu, cụm công nghiệp nhằm quản lý tập trung;
- Đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành hóa chất, đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nước, khắc phục đầu tư phân tán, không hiệu quả, đẩy nhanh việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành tại các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước nắm quyền chi phối;
- Xây dựng ngành hóa chất có cơ cấu tương đối hoàn chỉnh, bao gồm sản xuất tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, phục vụ cho nhiều ngành công nghiệp khác, tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất, cung ứng; chú trọng ưu tiên phát triển một số phân ngành trọng điểm như hóa dầu, hóa dược, sản phẩm cao su, hóa chất cơ bản…, thúc đẩy tích tụ vốn của các tập đoàn kinh tế hoạt động trong lĩnh vực hóa chất.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp hóa chất đạt bình quân từ 14% đến 16% và tỷ trọng ngành nông nghiệp hóa chất so với toàn ngành công nghiệp đạt đến 14% vào năm 2020 và đạt khoảng 15% vào năm 2030.
II. NỘI DUNG TÁI CƠ CẤU
Các lĩnh vực tái cơ cấu thuộc ngành hóa chất bao gồm:
1. Phân bón
- Đầu tư nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng các loại phân bón hiện có làm tăng giá trị sử dụng, giá trị gia tăng cao đối với các phân đơn, phân hỗn hợp đa lượng, trung lượng, vi lượng; các loại phân bón chứa các chất điều hòa sinh trưởng, chất làm tăng khả năng miễn dịch cho cây trồng, phù hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao;
- Tăng cường nghiên cứu tuyển và sử dụng quặng apatit nghèo (quặng 2 và quặng 4) để sản xuất phân bón và các hóa chất khác, tận thu các hợp chất chứa flo trong quá trình chế biến apatit để phục vụ cho các ngành công nghiệp khác, đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên quặng apatit;
- Đối với phân đạm urê: Năng lực sản xuất phân urê đã vượt nhu cầu trong nước, cần phát triển thị trường xuất khẩu và xây dựng phương án cân đối tỷ lệ ammoniac/urê thương thẩm phù hợp nhu cầu của thị trường; sản xuất và sử dụng urê có chứa chất ổn định đạm;
- Đối với DAP và phân lân: Chuyển dần các cơ sở sản xuất phân supe lân đơn sang sản xuất supe lân giàu chứa khoảng 24 ¸ 28% P2O5. Cải tạo các cơ sở sản xuất phân lân hiện có nhằm giảm tiêu hao nguyên nhiên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đầu tư xây dựng Nhà máy DAP số 3 để đáp ứng nhu cầu trong nước;
- Phân hỗn hợp: Sản xuất phân đa thành phần NPK trung, vi lượng có tổng hàm lượng chất dinh dưỡng đa lượng khoảng 30 ¸ 45%. Đầu tư sản xuất phân bón lá chứa các chất dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng; các loại phân bón hỗn hợp chứa các chất điều hòa sinh trưởng, chất làm tăng khả năng miễn dịch cho cây trong, chất tăng hiệu suất sử dụng;
- Trên cơ sở sản lượng của các dự án sản xuất và tận thu amoniac cũng như axít sunfuric, nghiên cứu tiến hành đầu tư các nhà máy sunfat amon. Chú trọng đầu tư sản xuất phân bón kali nhằm đáp ứng đủ nhu cầu về phân bón các loại cho sản xuất nông nghiệp;
- Đẩy mạnh việc nghiên cứu, phát triển sản xuất các sản phẩm phân bón hữu cơ, sinh học, vi sinh đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các loại cây có giá trị kinh tế cao, xuất khẩu;
- Về sắp xếp doanh nghiệp: Tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nước sản xuất phân hỗn hợp theo hướng tập trung, quy mô. Mở rộng quy mô hoặc xây mới các nhà máy phân bón hỗn hợp nâng tổng công suất từ 3,5 đến 4,0 triệu tấn/năm. Duy trì và phát triển các nhà máy sản xuất phân bón có công nghệ tiên tiến, từng bước loại bỏ những cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, sử dụng công nghệ lạc hậu, chất lượng sản phẩm kém...;
- Cơ cấu vùng miền: Hiện nay, các cơ sở sản xuất phân bón được phân bố tương đối hợp lý, gần các nguồn nguyên liệu hoặc cân đối với nhu cầu của từng vùng, do đó có thể giữ cơ cấu vùng miền như hiện trạng.
2. Hóa chất bảo vệ thực vật
- Đầu tư sản xuất một số hoạt chất có hiệu quả phòng trừ sâu bệnh, thân môi trường như hoạt chất gốc cacbamat, hoạt chất họ azole và dẫn xuất, hoạt chất nhóm pyrethroide, validamycin;
- Đầu tư chiều sâu các cơ sở sản xuất, gia công thuốc bảo vệ thực vật, áp dụng công nghệ tiên tiến, thay thế các hóa chất, dung môi hữu cơ độc hại; phát triển hoạt chất mới từ vi sinh vật và các hoạt chất được chiết tách từ thực vật, tạo ra những sản phẩm dễ sử dụng, có khả năng phân hủy và thân thiện với môi trường;
- Đối với các cơ sở sản xuất, gia công hóa chất bảo vệ thực vật ưu tiên phát triển sản phẩm dạng gia công mới, phân bố hợp lý ở 3 miền Bắc, Trung, Nam để giảm chi phí vận chuyển nguyên liệu, thành phẩm và phù hợp với đặc điểm cây trồng, khí hậu, thổ nhưỡng;
- Định hướng di dời các cơ sở sản xuất hóa chất bảo vệ thực vật vào các khu công nghiệp tập trung để dễ quản lý, kiểm soát ô nhiễm.

Content:
Mục tiêu
2.1. Mục tiêu tổng quát
- Phát triển sản xuất dựa trên việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên; ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm gia tăng giá trị tăng thêm của sản phẩm ngành, sản xuất các mặt hàng thiết yếu đáp ứng nhu cầu trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu đối với các sản phẩm như: phân bón, sản phẩm cao su, hóa chất cơ bản, hóa dầu, hóa chất tinh khiết, hóa dược và hóa chất phục vụ tiêu dùng;
- Phân bố hợp lý lực lượng sản xuất theo vùng lãnh thổ, tạo nên sự phát triển cân đối; hình thành và phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp tập trung, các tổ hợp sản xuất hóa chất có quy mô lớn. Xây dựng kế hoạch di dời, tập trung các nhà máy sản xuất hóa chất vào khu, cụm công nghiệp nhằm quản lý tập trung;
- Đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành hóa chất, đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nước, khắc phục đầu tư phân tán, không hiệu quả, đẩy nhanh việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành tại các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước nắm quyền chi phối;
- Xây dựng ngành hóa chất có cơ cấu tương đối hoàn chỉnh, bao gồm sản xuất tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, phục vụ cho nhiều ngành công nghiệp khác, tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất, cung ứng; chú trọng ưu tiên phát triển một số phân ngành trọng điểm như hóa dầu, hóa dược, sản phẩm cao su, hóa chất cơ bản…, thúc đẩy tích tụ vốn của các tập đoàn kinh tế hoạt động trong lĩnh vực hóa chất.
2.Mục tiêu cụ thể
Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp hóa chất đạt bình quân từ 14% đến 16% và tỷ trọng ngành nông nghiệp hóa chất so với toàn ngành công nghiệp đạt đến 14% vào năm 2020 và đạt khoảng 15% vào năm 2030.
II. NỘI DUNG TÁI CƠ CẤU
Các lĩnh vực tái cơ cấu thuộc ngành hóa chất bao gồm:
1. Phân bón
- Đầu tư nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng các loại phân bón hiện có làm tăng giá trị sử dụng, giá trị gia tăng cao đối với các phân đơn, phân hỗn hợp đa lượng, trung lượng, vi lượng; các loại phân bón chứa các chất điều hòa sinh trưởng, chất làm tăng khả năng miễn dịch cho cây trồng, phù hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao;
- Tăng cường nghiên cứu tuyển và sử dụng quặng apatit nghèo (quặng 2 và quặng 4) để sản xuất phân bón và các hóa chất khác, tận thu các hợp chất chứa flo trong quá trình chế biến apatit để phục vụ cho các ngành công nghiệp khác, đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên quặng apatit;
- Đối với phân đạm urê: Năng lực sản xuất phân urê đã vượt nhu cầu trong nước, cần phát triển thị trường xuất khẩu và xây dựng phương án cân đối tỷ lệ ammoniac/urê thương thẩm phù hợp nhu cầu của thị trường; sản xuất và sử dụng urê có chứa chất ổn định đạm;
- Đối với DAP và phân lân: Chuyển dần các cơ sở sản xuất phân supe lân đơn sang sản xuất supe lân giàu chứa khoảng 24 ¸ 28% P2O5. Cải tạo các cơ sở sản xuất phân lân hiện có nhằm giảm tiêu hao nguyên nhiên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đầu tư xây dựng Nhà máy DAP số 3 để đáp ứng nhu cầu trong nước;
- Phân hỗn hợp: Sản xuất phân đa thành phần NPK trung, vi lượng có tổng hàm lượng chất dinh dưỡng đa lượng khoảng 30 ¸ 45%. Đầu tư sản xuất phân bón lá chứa các chất dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng; các loại phân bón hỗn hợp chứa các chất điều hòa sinh trưởng, chất làm tăng khả năng miễn dịch cho cây trong, chất tăng hiệu suất sử dụng;
- Trên cơ sở sản lượng của các dự án sản xuất và tận thu amoniac cũng như axít sunfuric, nghiên cứu tiến hành đầu tư các nhà máy sunfat amon. Chú trọng đầu tư sản xuất phân bón kali nhằm đáp ứng đủ nhu cầu về phân bón các loại cho sản xuất nông nghiệp;
- Đẩy mạnh việc nghiên cứu, phát triển sản xuất các sản phẩm phân bón hữu cơ, sinh học, vi sinh đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các loại cây có giá trị kinh tế cao, xuất khẩu;
- Về sắp xếp doanh nghiệp: Tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nước sản xuất phân hỗn hợp theo hướng tập trung, quy mô. Mở rộng quy mô hoặc xây mới các nhà máy phân bón hỗn hợp nâng tổng công suất từ 3,5 đến 4,0 triệu tấn/năm. Duy trì và phát triển các nhà máy sản xuất phân bón có công nghệ tiên tiến, từng bước loại bỏ những cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, sử dụng công nghệ lạc hậu, chất lượng sản phẩm kém...;
- Cơ cấu vùng miền: Hiện nay, các cơ sở sản xuất phân bón được phân bố tương đối hợp lý, gần các nguồn nguyên liệu hoặc cân đối với nhu cầu của từng vùng, do đó có thể giữ cơ cấu vùng miền như hiện trạng.
Hóa chất bảo vệ thực vật
- Đầu tư sản xuất một số hoạt chất có hiệu quả phòng trừ sâu bệnh, thân môi trường như hoạt chất gốc cacbamat, hoạt chất họ azole và dẫn xuất, hoạt chất nhóm pyrethroide, validamycin;
- Đầu tư chiều sâu các cơ sở sản xuất, gia công thuốc bảo vệ thực vật, áp dụng công nghệ tiên tiến, thay thế các hóa chất, dung môi hữu cơ độc hại; phát triển hoạt chất mới từ vi sinh vật và các hoạt chất được chiết tách từ thực vật, tạo ra những sản phẩm dễ sử dụng, có khả năng phân hủy và thân thiện với môi trường;
- Đối với các cơ sở sản xuất, gia công hóa chất bảo vệ thực vật ưu tiên phát triển sản phẩm dạng gia công mới, phân bố hợp lý ở 3 miền Bắc, Trung, Nam để giảm chi phí vận chuyển nguyên liệu, thành phẩm và phù hợp với đặc điểm cây trồng, khí hậu, thổ nhưỡng;
- Định hướng di dời các cơ sở sản xuất hóa chất bảo vệ thực vật vào các khu công nghiệp tập trung để dễ quản lý, kiểm soát ô nhiễm.