Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 34/2009/QĐ-UBND sửa đổi Quyết định 29/2008/QĐ-UBND

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "19/10/2009", "sign_number": "34/2009/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "19/10/2009", "sign_number": "34/2009/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "19/10/2009", "sign_number": "34/2009/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "19/10/2009", "sign_number": "34/2009/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "19/10/2009", "sign_number": "34/2009/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 34/2009/QĐ-UBND sửa đổi Quyết định 29/2008/QĐ-UBND

Điều 1. Sửa đổi và bãi bỏ một số nội dung tại quy định ban hành kèm theo Quyết định số 29/2008/QĐ-UBND ngày 26/8/2008 (dưới đây gọi tắt là Quyết định số 29/2008/QĐ-UBND) và Quyết định số 03/2009/QĐ-UBND ngày 16/01/2009 (dưới đây gọi tắt là Quyết định số 03/2009/QĐ-UBND) của UBND tỉnh Quảng Nam, như sau:
...
2. Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở
2.1. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm của từng vị trí theo quyết định giá do UBND tỉnh công bố hàng năm còn được hỗ trợ thêm bằng 50% giá đất ở của thửa đất đó, nhưng không vượt quá giá đất ở của cùng thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ theo diện tích đất thực tế bị thu hồi nhưng không vượt quá 05 lần (năm lần) hạn mức giao đất ở theo qui định của UBND tỉnh.
2.2. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn; thửa đất tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp còn được hỗ trợ bằng 40% giá đất ở trung bình tại khu vực dự án có đất thu hồi theo quyết định giá đất do UBND tỉnh công bố hàng năm; diện tích đất được hỗ trợ theo diện tích đất thực tế bị thu hồi nhưng không vượt quá 05 lần (năm lần) hạn mức giao đất ở theo quy định của UBND tỉnh.
Giá đất ở trung bình áp dụng cho trường hợp này là giá đất ở trung bình của tất cả các thửa đất ở có trong cùng 01 dự án có đất bị thu hồi.
Trường hợp dự án thu hồi không có đất ở hoặc có một thửa đất ở thì mức hỗ trợ được tính theo mức giá đất ở bình quân của 05 thửa đất ở gần nhất ở thửa đất nông nghiệp bị thu hồi.
2.3. Khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn quy định tại tiết 2.2 nêu trên được xác định theo ranh giới của các thửa đất có nhà ở ngoài cùng của làng, bản, thôn và các điểm dân cư tương tự.
Việc xác định ranh giới khu dân cư nông thôn, khu dân cư thuộc thị trấn căn cứ vào thực tế tồn tại, hồ sơ địa chính Nhà nước được lưu giữ và quy hoạch chi tiết được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trường hợp đặc biệt, khó xác định, giao UBND cấp huyện căn cứ vào thực tế quá trình hình thành, phong tục tập quán của vùng, địa phương cấp xã để quyết định.
2.4. Đối với diện tích đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở, nhưng không được công nhận là đất ở quy định tại tiết 2.1 nêu trên, bị thu hồi từ 02 lần (hai lần) hạn mức giao đất ở trở lên (theo quy định của UBND tỉnh về hạn mức giao đất ở) mà hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu giao lại đất ở, thì UBND cấp huyện căn cứ vào diện tích đất vườn, ao bị thu hồi và quỹ đất ở hiện có tại địa phương để xem xét giao lại 01 lô đất ở theo quy hoạch tại các khu tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt, người được giao đất phải nộp 100% tiền sử dụng đất theo giá ở khu tái định cư và không cho nợ tiền sử dụng đất.
2. Sửa đổi khoản 8, Điều 13
8. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định tại Điều 70, Luật Đất đai; khoản 1, Điều 69, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ (không thuộc trường hợp qui định tại Khoản 1 Điều 13 của Quyết định số 29/2008/QĐ-UBND) thì không được bồi thường về đất, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có).

Content:
Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở
2.1. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm của từng vị trí theo quyết định giá do UBND tỉnh công bố hàng năm còn được hỗ trợ thêm bằng 50% giá đất ở của thửa đất đó, nhưng không vượt quá giá đất ở của cùng thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ theo diện tích đất thực tế bị thu hồi nhưng không vượt quá 05 lần (năm lần) hạn mức giao đất ở theo qui định của UBND tỉnh.
2.Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn; thửa đất tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp còn được hỗ trợ bằng 40% giá đất ở trung bình tại khu vực dự án có đất thu hồi theo quyết định giá đất do UBND tỉnh công bố hàng năm; diện tích đất được hỗ trợ theo diện tích đất thực tế bị thu hồi nhưng không vượt quá 05 lần (năm lần) hạn mức giao đất ở theo quy định của UBND tỉnh.
Giá đất ở trung bình áp dụng cho trường hợp này là giá đất ở trung bình của tất cả các thửa đất ở có trong cùng 01 dự án có đất bị thu hồi.
Trường hợp dự án thu hồi không có đất ở hoặc có một thửa đất ở thì mức hỗ trợ được tính theo mức giá đất ở bình quân của 05 thửa đất ở gần nhất ở thửa đất nông nghiệp bị thu hồi.
2.3. Khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn quy định tại tiết 2.2 nêu trên được xác định theo ranh giới của các thửa đất có nhà ở ngoài cùng của làng, bản, thôn và các điểm dân cư tương tự.
Việc xác định ranh giới khu dân cư nông thôn, khu dân cư thuộc thị trấn căn cứ vào thực tế tồn tại, hồ sơ địa chính Nhà nước được lưu giữ và quy hoạch chi tiết được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trường hợp đặc biệt, khó xác định, giao UBND cấp huyện căn cứ vào thực tế quá trình hình thành, phong tục tập quán của vùng, địa phương cấp xã để quyết định.
2.4. Đối với diện tích đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở, nhưng không được công nhận là đất ở quy định tại tiết 2.1 nêu trên, bị thu hồi từ 02 lần (hai lần) hạn mức giao đất ở trở lên (theo quy định của UBND tỉnh về hạn mức giao đất ở) mà hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu giao lại đất ở, thì UBND cấp huyện căn cứ vào diện tích đất vườn, ao bị thu hồi và quỹ đất ở hiện có tại địa phương để xem xét giao lại 01 lô đất ở theo quy hoạch tại các khu tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt, người được giao đất phải nộp 100% tiền sử dụng đất theo giá ở khu tái định cư và không cho nợ tiền sử dụng đất.
Sửa đổi khoản 8, Điều 13
8. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định tại Điều 70, Luật Đất đai; khoản 1, Điều 69, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ (không thuộc trường hợp qui định tại Khoản 1 Điều 13 của Quyết định số 29/2008/QĐ-UBND) thì không được bồi thường về đất, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có).