Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2483/QĐ-UBND 2007 quy hoạch phát triển thủy sản Cần Thơ

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "31/10/2007", "sign_number": "2483/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "31/10/2007", "sign_number": "2483/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "31/10/2007", "sign_number": "2483/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "31/10/2007", "sign_number": "2483/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "31/10/2007", "sign_number": "2483/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2483/QĐ-UBND 2007 quy hoạch phát triển thủy sản Cần Thơ

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản thành phố Cần Thơ đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
4. Về xây dựng kết cấu hạ tầng thủy sản
- Đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng đồng bộ; gắn phát triển kết cấu hạ tầng thủy sản với phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bền vững;
- Bảo đảm hậu cần dịch vụ một cách kịp thời, đồng bộ với phát triển nghề cá của thành phố và một phần của vùng đồng bằng sông Cửu Long; hoàn thiện hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi thủy sản và phát triển hoàn thiện hệ thống thủy lợi đa mục tiêu (tưới tiêu, thoát lũ, nước sinh hoạt,…); gắn dịch vụ tiêu thụ thủy sản trong phát triển thương mại, du lịch.
III. Mục tiêu
1. Mục tiêu chung
- Xây dựng và phát triển ngành thủy sản thành phố thành một ngành sản xuất hàng hóa lớn, có sức cạnh tranh cao, có kim ngạch xuất lớn, có khả năng tự đầu tư phát triển, góp phần đáng kể phát triển kinh tế - xã hội của vùng đồng bằng sông Cửu Long, cả nước nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng;
- Phát triển thủy sản được bố trí sản xuất hợp lý (khai thác luôn gắn với các hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản, không ảnh hưởng xấu đến khả năng phục hồi và phát triển nguồn lợi thủy sản,...); tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân có hoạt động trong lĩnh vực thủy sản,... phát triển phải đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội, bền vững, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và công bằng xã hội;
- Chú trọng phát triển nuôi trồng, khai thác, chế biến và xuất khẩu thủy sản,...; phát triển cơ khí đóng sửa tàu thuyền gắn với phát triển công nghiệp, giao thông; dịch vụ tiêu thụ thủy sản với phát triển thương mại, du lịch.
2. Mục tiêu cụ thể
2.1 Đối với nuôi thủy sản
- Tốc độ tăng trưởng bình quân diện tích: giai đoạn 2006 - 2010 từ 6,38 -11,80%/năm, giai đoạn 2011 - 2015 từ 3,58 - 4,48%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 từ 2,94 - 3,40%/năm và tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2020 từ 4,29 - 6,39%/năm;
- Sản lượng tăng trưởng bình quân: giai đoạn 2006 - 2010 từ 18,62 - 25,61%/năm; giai đoạn 2011 - 2015 từ 2,65 - 7,99%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 từ 2,67 - 6,79%/năm và tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2020 từ 7,73 - 13,15%/năm;
- Sản lượng giống đến giai đoạn 2006 - 2010 cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu số lượng cũng như chất lượng giống nuôi cho toàn thành phố, giai đoạn 2010 - 2020 đáp ứng nhu cầu giống tôm cá nuôi cho thành phố và cung ứng một phần giống nuôi cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long; sản lượng giống sản xuất tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2020 từ 5,12 - 7,06%/năm và đến năm 2020 sản lượng sản xuất giống tôm, cá đạt từ 2,4 - 3,8 tỷ con giống các loại;
- Giá trị sản xuất nuôi trồng và sản xuất giống thủy sản tăng bình quân: giai đoạn 2006 - 2010 từ 19,66 - 27,33%/năm; giai đoạn từ 2010 - 2020 từ 3,03 - 8,07%/năm; tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2020 từ 8,30 - 14,14%/năm;
- Đến năm 2020 nhu cầu lao động trong hoạt động nuôi trồng thủy sản tăng từ 3,92 - 5,83%/năm, trong giai đoạn 2006 - 2020 thu hút từ 60.000 - 80.000 lao động chuyên nghiệp và kết hợp; trong đó, lao động chuyên nuôi thủy sản từ 15.200 - 19.900 người.
2.2 Đối với khai thác thủy sản
- Năm 2005 sản lượng khai thác thủy sản là 6.454 tấn, đến năm 2010 sản lượng khai thác thủy sản giảm từ 6.454 tấn/năm xuống 5.000 tấn/năm, trong đó có 4.338 tấn cá, 50 tấn tôm, 612 tấn thủy sản khác và bình quân giảm 5%/năm;
- Đến năm 2015 tiếp tục giảm sản lượng khai thác thủy sản từ 5.000 tấn/năm xuống 4.000 tấn/năm, trong đó có 3.338 tấn cá, 50 tấn tôm, 612 tấn thủy sản khác và bình quân giảm khoảng 4%/năm;
- Đến năm 2020 duy trì và ổn định sản lượng khai thác thủy sản là 4.000 tấn/năm, trong đó có 3.338 tấn cá, 50 tấn tôm, 612 tấn thủy sản khác;
- Đồng bộ phát triển và duy trì cơ khí, đóng sửa tàu thuyền, dịch vụ tiêu thụ thủy sản với mục tiêu cụ thể của khai thác trong từng thời kỳ;
- Số lao động tham gia hoạt động khai thác thủy sản và dịch vụ hậu cần thủy sản: vào năm 2010 khoảng 1.000 lao động khai thác thủy sản và 100 lao động dịch vụ hậu cần thủy sản; giai đoạn 2015 - 2020 khoảng 700 lao động khai thác thủy sản và 70 lao động dịch vụ hậu cần thủy sản; tương ứng với 730 hộ năm 2010 và 530 hộ giai đoạn 2015 - 2020 tham gia hoạt động khai thác thủy sản và dịch vụ hậu cần thủy sản.
2.3 Đối với chế biến và dịch vụ thương mại thủy sản
- Đến năm 2010: tổng sản lượng thủy sản chế biến xuất khẩu đạt từ 68.000 - 90.000 tấn, sản lượng chế biến đông lạnh cho tiêu thụ nội địa đạt từ 1.500 - 2.000 tấn, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt từ 272 - 400 triệu USD, giải quyết việc làm từ 11.600 - 14.830 lao động (cả lao động chế biến xuất khẩu và chế biến nội địa) và phấn đấu toàn bộ nhà máy chế biến thủy sản đủ điều kiện xuất khẩu vào thị trường Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản.
+ Phấn đấu toàn bộ nhà máy chế biến thủy sản có hệ thống xử lý nước thải đảm bảo công suất và đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam;
+ Chú trọng nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, nhà xưởng, thiết bị máy móc đã cũ, lạc hậu; nâng cao hiệu quả sử dụng công suất thiết kế từ 29% hiện nay lên 58 - 61% năm 2010;
+ Thay đổi cơ cấu sản phẩm và mặt hàng theo hướng tăng tỷ trọng các sản phẩm thủy sản nước ngọt, đảm bảo tỷ trọng hợp lý hải sản biển, tăng tỷ trọng hàng giá trị gia tăng từ 20% hiện nay lên 40 - 45% năm 2010;
+ Tăng tỷ trọng xuất khẩu thủy sản trong tổng giá trị xuất khẩu toàn thành phố từ 42,17% năm 2004 lên 50% năm 2010;
+ Áp dụng các tiêu chuẩn HACCP, SQF 2000CM, ISO 9002:2000 tại các nhà máy chế biến;
+ Hoàn thành các dự án, công trình đã được đầu tư đặc biệt trong lĩnh vực hậu cần dịch vụ cho chế biến thủy sản, tạo điều kiện về hạ tầng cho giai đoạn phát triển tiếp theo (2011 - 2015); xây dựng chợ cá đầu mối tại quận Cái Răng, huyện Thốt Nốt và huyện Cờ Đỏ có khả năng tiếp nhận và phân phối nguyên liệu thủy sản cho nhà máy chế biến thủy sản, cho các chợ và khu vực lân cận; thiết lập thêm nhiều kho đông lạnh thương mại tại một số thành phố lớn và vùng biên giới để thuận tiện lưu thông tiêu thụ hàng hóa;
- Đến năm 2015: tổng sản lượng thủy sản chế biến xuất khẩu đạt từ 95.000 - 130.000 tấn, sản lượng chế biến đông lạnh cho tiêu thụ nội địa đạt từ 2.000 - 2.800 tấn, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt từ 425 - 700 triệu USD chiếm khoảng 50% trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn thành phố và giải quyết việc làm từ 14.930 - 18.250 lao động (cả lao động chế biến xuất khẩu và chế biến nội địa);
+ Không ngừng mở rộng thị trường, duy trì uy tín sản phẩm tại các thị trường xuất khẩu đặc biệt tại các thị trường lớn như Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản;
+ Thường xuyên duy tu nâng cấp các hệ thống xử lý nước thải trong lĩnh vực thủy sản và xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam;
+ Tiếp tục nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, nhà xưởng, thay thế thiết bị máy móc đã cũ, lạc hậu; nâng cao hiệu quả sử dụng công suất thiết kế lên 72 - 80% năm 2015.
+ Tiếp tục hoàn thành các dự án, công trình đã được đầu tư trong giai đoạn 2005 - 2010, tạo điều kiện về hạ tầng cho phát triển giai đoạn 2016 - 2020 và tỷ trọng hàng giá trị gia tăng chiếm 60%.
- Đến năm 2020: ngành chế biến thủy sản vẫn tiếp tục là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố, là động lực lớn cho sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản và khai thác thủy sản; duy trì tỷ trọng trọng 50% xuất khẩu thủy sản trong tổng giá trị xuất khẩu toàn thành phố; tổng sản lượng thủy sản chế biến xuất khẩu đạt từ 140.000 - 180.000 tấn; tỷ trọng hàng giá trị gia tăng chiếm trên 70%; tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt từ 750 - 1.000 triệu USD và giải quyết việc làm cho 18.770 - 21.750 lao động (cả lao động chế biến xuất khẩu và chế biến nội địa).
+ Không ngừng mở rộng thị trường, tiếp tục phát huy các lợi thế cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường đặc biệt tại các thị trường lớn như Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản;
+ Tiếp tục đổi mới và nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, phát huy tối đa công suất thiết kế từ 80 - 85%;
+ Thường xuyên duy tu nâng cấp các hệ thống xử lý nước thải trong lĩnh vực thủy sản và xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam;
+ Tiếp tục hoàn thành các dự án, công trình đã được đầu tư trong giai đoạn 2011 - 2015 để cơ bản đến năm 2020 ngành chế biến thủy sản của thành phố có cơ sở hạ tầng hiện đại và đồng bộ, đạt các tiêu chuẩn quốc tế, tạo thế thuận lợi cho sự phát triển giai đoạn tiếp theo.
IV. Định hướng phát triển thủy sản đến năm 2020
1. Định hướng phát triển
Duy trì và ổn định nghề khai thác thủy sản có hiệu quả, không xâm hại đến khả năng tái tạo, phục hồi nguồn lợi thủy sản; không phá vỡ sinh thái, cảnh quan môi trường các thủy vực, đảm bảo chất lượng nguồn nước. Tiếp tục phát huy lợi thế về tiềm năng phát triển mạnh nuôi thủy sản, đa dạng hóa hình thức nuôi và cơ cấu giống nuôi; chế biến và dịch vụ thương mại thủy sản theo hướng sản xuất sản phẩm sạch, hiệu quả, bền vững. Hình thành các vùng thâm canh, nuôi tập trung gắn với công nghiệp chế biến và dịch vụ thủy sản,... phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thủy sản, gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; giải quyết việc làm lao động nông thôn, có thu nhập ổn định, góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven sông Hậu, Cái Sắn, Xà No; vùng ruộng trũng, vùng ngập lụt mùa nước lũ, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững. Phát triển kết cấu hạ tầng thủy sản gắn kết trong các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn thành phố Cần Thơ phục vụ kịp thời khai thác thủy sản, nuôi thủy sản, chế biến và dịch vụ thương mại thủy sản.
2. Cụ thể
- Duy trì, ổn định sản lượng thủy sản khai thác 4.000 tấn (3.338 tấn cá, 50 tấn tôm, 612 tấn thủy sản khác) vào năm 2020 và các năm tiếp sau; bảo quản chống thất thoát, lãng phí sản lượng thủy sản sau khai thác;
- Phát triển diện tích nuôi thủy sản đến năm 2020 là 26.000 ha để đạt sản lượng 418.100 tấn, gấp 1,34 lần (tăng 65.740 tấn) so với năm 2015 (311.700 tấn); giá trị là 3.687.480 triệu đồng, gấp 1,38 lần so năm 2015;
- Tiếp tục phát triển và dịch vụ thương mại thủy sản để đạt tổng sản lượng chế biến xuất khẩu lên 163.200 tấn (gấp 5,3 lần so năm 2005), giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 864 triệu USD (gấp 6,28 lần năm 2005),…;
- Chuyển dịch sản xuất: thực hiện chuyển dịch trong nội bộ ngành thủy sản, nâng cao giá trị của chế biến và dịch vụ thương mại thủy sản; nuôi và duy trì ổn định khai thác thủy sản; cơ cấu kinh tế của ngành (chế biến và dịch vụ thương mại thủy sản chiếm 59%; nuôi thủy sản chiếm 39% và khai thác thủy sản chiếm 2%);
- Nhu cầu lao động đến năm 2020 thu hút được 40.731 lao động, tăng 5.888 người so năm 2015, tăng thêm 17%; 100% lao động được tập huấn, đào tạo kỹ thuật nghề và công tác bảo vệ môi trường sinh thái;
- Duy trì và hoàn thiện các khu vực bảo tồn thiên nhiên các loài thủy sản quý hiếm bản địa. Hoàn thiện hệ thống sản xuất sạch hơn, đảm bảo vệ sinh an toàn thủy sản cho thị trường tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
V. Quy hoạch phát triển thủy sản
1. Nuôi thủy sản
- Diện tích nuôi thủy sản: đến năm 2010 đạt 17.800 ha, giai đoạn 2015 - 2020 đạt từ 22.000 - 26.000 ha; bình quân diện tích tăng trong giai đoạn 2006 - 2020 là 5,62%/năm và giảm dần số lượng lồng bè nuôi cá;
- Sản lượng và giá trị sản lượng: đến năm 2010 sản lượng đạt 223.150 tấn, gấp 2,72 lần (tăng 140.970 tấn) so với năm 2005; giá trị 1.852.760 triệu đồng, gấp 2,81 lần so với năm 2005; đến năm 2015, sản lượng đạt 311.700 tấn, gấp 1,41 lần (tăng 88.550 tấn) so với năm 2010; giá trị 2.677.320 triệu đồng, gấp 1,38 lần so với năm 2010; đến năm 2020, sản lượng đạt 418.100 tấn, gấp 1,34 lần (tăng 106.400 tấn) so với năm 2015; giá trị 3.687.480 triệu đồng, gấp 1,38 lần so với năm 2015;
- Nhu cầu giống nuôi thủy sản: đến năm 2010 và định hướng năm 2020, nhu cầu giống tăng bình quân 5,92%/năm chiếm khoảng 2,3 tỷ con giống các loại, trong đó giống tôm càng xanh nhu cầu tăng từ 14,87%/năm chiếm khoảng 240 triệu giống tôm càng xanh; đến năm 2010, có 85 - 95 trại tôm cá giống và 100 - 116 trại tôm cá giống và vào năm 2020 có khoảng 48 trại tôm và 68 trại cá giống; đặc biệt từ nay, đến năm 2010 sẽ hoàn thành trại giống thủy sản cấp I của thành phố, nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển giống cho toàn thành phố và khu vực;
- Nhu cầu lao động nuôi thủy sản: đến năm 2010 cần 12.820 người, gấp 1,50 lần so với năm 2005; năm 2015 cần 15.306 người, gấp 1,79 lần so với năm 2005 và năm 2020 gấp 2,08 lần so với năm 2005;
- Nhu cầu thức ăn phục vụ nuôi thủy sản: đến năm 2010 cần 341.200 tấn, năm 2015 tăng lên 478.800 tấn và năm 2020 tăng lên 644.700 tấn.
2. Khai thác thủy sản
- Sản lượng và cơ cấu sản lượng thủy sản khai thác: đến năm 2010, sản lượng là 5.000 tấn (100,0%); trong đó cá 4.338 tấn chiếm 86,6%, tôm 50 tấn chiếm 1%, thủy sản khác 612 tấn chiếm 12,2%; đến năm 2015, sản lượng là 4.000 tấn chiếm 100%); trong đó cá 3.338 tấn chiếm 85,3%, giảm thêm 1.000 tấn cá so với năm 2010, duy trì ổn định tôm 50 tấn chiếm 1,3% và thủy sản khác 612 tấn chiếm 13,5%; đến năm 2020, duy trì và ổn định sản lượng là 4.000 tấn/năm chiếm 100%; trong đó cá 3.338 tấn chiếm 85,3%, tôm 50 tấn chiếm 1,3% và thủy sản khác 612 tấn chiếm 13,5%;
- Giá trị sản lượng khai thác thủy sản theo giá so sánh 1994: năm 2005 đạt 61.754 triệu (quy ra tỷ lệ chiếm 100%), năm 2010 giảm xuống 46.720 triệu đồng chiếm 75,66% so với năm 2005, giai đoạn 2015 - 2020 giảm xuống 38.720 triệu đồng chiếm 62,70% so với năm 2005 và tỷ trọng của giá trị sản lượng cá giảm dần trong cơ cấu (77,53% - 74,28% - 68,97%).
3. Chế biến và dịch vụ thương mại thủy sản
- Tổng sản lượng chế biến xuất khẩu đến năm 2010 đạt 80.000 tấn; năm 2015 đạt 120.000 tấn và đến năm 2020 đạt 160.000 tấn;
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 350 triệu USD (chỉ số phát triển so năm mốc 254%); năm 2015 đạt 550 triệu USD (chỉ số phát triển so năm mốc 400%) và đến năm 2020 đạt 864 triệu USD (chỉ số phát triển so năm mốc 628%);
- Các dạng sản phẩm chủ yếu từ tôm: tăng tỷ trọng sản phẩm tôm đông IQF, các dạng sản phẩm HLSO, HOSO, PUD, PD, giảm dạng đông Block, phát triển các mặt hàng giá trị gia tăng và ăn liền như Sushi, Nobashi, tôm tẩm bột chiên, tôm bao bột, há cảo, chả giò, tôm thịt cuộn bắp cải đông lạnh, tôm thịt bao mía, Seafoodmix (tôm, mực, nghêu); các dạng sản phẩm chủ yếu từ cá: cá dạng thỏi đông IQF, cá xẻ bướm đông IQF, cá viên đông IQF, cá fillet dán bột IQF, cá fillet tẩm bột IQF, khô cá tra phồng, phát triển thêm các dạng sản phẩm từ cá nước ngọt khác như rô phi, thát lát và các loại thủy đặc sản cao cấp khác;
- Lao động chế biến thủy sản xuất khẩu: đến năm 2010, nhu cầu lao động cần 11.400 lao động; đến năm 2015 là 15.300 lao động; đến năm 2020 sẽ giải quyết việc làm cho khoảng 18.200 lao động;
- Năng lực chế biến xuất khẩu: đến năm 2010, số nhà máy chế biến là 21 với tổng công suất thiết kế 140.550 tấn/năm; đến năm 2015, số nhà máy chế biến là 26 với tổng công suất thiết kế đạt 233.500; đến năm 2020, số nhà máy chế biến là 32 với tổng công suất thiết kế đạt 296.500 tấn/năm; các nhà máy chế biến xuất khẩu sẽ được quy hoạch vào khu công nghiệp phù hợp quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
4. Nguồn nhân lực: đến năm 2010 thu hút được 28.698 lao động, tăng 12.025 người so với năm 2005 (16.673 người), tăng 72%; đến năm 2015 thu hút được 34.843 lao động, tăng 6.145 người so với năm 2010, tăng 21%. Trong đó, lao động chế biến và dịch vụ thương mại chiếm 50,48% (17.590 người), lao động nuôi thủy sản chiếm 47,28% (16.473 người), lao động khai thác thủy sản và dịch vụ hậu cần thủy sản chiếm 2,01% (7000 người) và lao động quản lý, sự nghiệp chiếm 0,23% (80 người); đến năm 2020 thu hút được 40.731 lao động, tăng 5.888 người so vớiz năm 2015, tăng 17% và chất lượng lao động ngày càng được nâng cao thông qua quá trình đào tạo, tập huấn,...dự kiến giai đoạn 2010 - 2020 tập huấn khoảng 80 - 100% đội ngũ lao động.

Content:
Về xây dựng kết cấu hạ tầng thủy sản
- Đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng đồng bộ; gắn phát triển kết cấu hạ tầng thủy sản với phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bền vững;
- Bảo đảm hậu cần dịch vụ một cách kịp thời, đồng bộ với phát triển nghề cá của thành phố và một phần của vùng đồng bằng sông Cửu Long; hoàn thiện hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi thủy sản và phát triển hoàn thiện hệ thống thủy lợi đa mục tiêu (tưới tiêu, thoát lũ, nước sinh hoạt,…); gắn dịch vụ tiêu thụ thủy sản trong phát triển thương mại, du lịch.
III. Mục tiêu
1. Mục tiêu chung
- Xây dựng và phát triển ngành thủy sản thành phố thành một ngành sản xuất hàng hóa lớn, có sức cạnh tranh cao, có kim ngạch xuất lớn, có khả năng tự đầu tư phát triển, góp phần đáng kể phát triển kinh tế - xã hội của vùng đồng bằng sông Cửu Long, cả nước nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng;
- Phát triển thủy sản được bố trí sản xuất hợp lý (khai thác luôn gắn với các hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản, không ảnh hưởng xấu đến khả năng phục hồi và phát triển nguồn lợi thủy sản,...); tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân có hoạt động trong lĩnh vực thủy sản,... phát triển phải đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội, bền vững, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và công bằng xã hội;
- Chú trọng phát triển nuôi trồng, khai thác, chế biến và xuất khẩu thủy sản,...; phát triển cơ khí đóng sửa tàu thuyền gắn với phát triển công nghiệp, giao thông; dịch vụ tiêu thụ thủy sản với phát triển thương mại, du lịch.
2. Mục tiêu cụ thể
2.1 Đối với nuôi thủy sản
- Tốc độ tăng trưởng bình quân diện tích: giai đoạn 2006 - 2010 từ 6,38 -11,80%/năm, giai đoạn 2011 - 2015 từ 3,58 - 4,48%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 từ 2,94 - 3,40%/năm và tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2020 từ 4,29 - 6,39%/năm;
- Sản lượng tăng trưởng bình quân: giai đoạn 2006 - 2010 từ 18,62 - 25,61%/năm; giai đoạn 2011 - 2015 từ 2,65 - 7,99%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 từ 2,67 - 6,79%/năm và tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2020 từ 7,73 - 13,15%/năm;
- Sản lượng giống đến giai đoạn 2006 - 2010 cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu số lượng cũng như chất lượng giống nuôi cho toàn thành phố, giai đoạn 2010 - 2020 đáp ứng nhu cầu giống tôm cá nuôi cho thành phố và cung ứng một phần giống nuôi cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long; sản lượng giống sản xuất tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2020 từ 5,12 - 7,06%/năm và đến năm 2020 sản lượng sản xuất giống tôm, cá đạt từ 2,4 - 3,8 tỷ con giống các loại;
- Giá trị sản xuất nuôi trồng và sản xuất giống thủy sản tăng bình quân: giai đoạn 2006 - 2010 từ 19,66 - 27,33%/năm; giai đoạn từ 2010 - 2020 từ 3,03 - 8,07%/năm; tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2020 từ 8,30 - 14,14%/năm;
- Đến năm 2020 nhu cầu lao động trong hoạt động nuôi trồng thủy sản tăng từ 3,92 - 5,83%/năm, trong giai đoạn 2006 - 2020 thu hút từ 60.000 - 80.000 lao động chuyên nghiệp và kết hợp; trong đó, lao động chuyên nuôi thủy sản từ 15.200 - 19.900 người.
2.2 Đối với khai thác thủy sản
- Năm 2005 sản lượng khai thác thủy sản là 6.454 tấn, đến năm 2010 sản lượng khai thác thủy sản giảm từ 6.454 tấn/năm xuống 5.000 tấn/năm, trong đó có 4.338 tấn cá, 50 tấn tôm, 612 tấn thủy sản khác và bình quân giảm 5%/năm;
- Đến năm 2015 tiếp tục giảm sản lượng khai thác thủy sản từ 5.000 tấn/năm xuống 4.000 tấn/năm, trong đó có 3.338 tấn cá, 50 tấn tôm, 612 tấn thủy sản khác và bình quân giảm khoảng 4%/năm;
- Đến năm 2020 duy trì và ổn định sản lượng khai thác thủy sản là 4.000 tấn/năm, trong đó có 3.338 tấn cá, 50 tấn tôm, 612 tấn thủy sản khác;
- Đồng bộ phát triển và duy trì cơ khí, đóng sửa tàu thuyền, dịch vụ tiêu thụ thủy sản với mục tiêu cụ thể của khai thác trong từng thời kỳ;
- Số lao động tham gia hoạt động khai thác thủy sản và dịch vụ hậu cần thủy sản: vào năm 2010 khoảng 1.000 lao động khai thác thủy sản và 100 lao động dịch vụ hậu cần thủy sản; giai đoạn 2015 - 2020 khoảng 700 lao động khai thác thủy sản và 70 lao động dịch vụ hậu cần thủy sản; tương ứng với 730 hộ năm 2010 và 530 hộ giai đoạn 2015 - 2020 tham gia hoạt động khai thác thủy sản và dịch vụ hậu cần thủy sản.
2.3 Đối với chế biến và dịch vụ thương mại thủy sản
- Đến năm 2010: tổng sản lượng thủy sản chế biến xuất khẩu đạt từ 68.000 - 90.000 tấn, sản lượng chế biến đông lạnh cho tiêu thụ nội địa đạt từ 1.500 - 2.000 tấn, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt từ 272 - 400 triệu USD, giải quyết việc làm từ 11.600 - 14.830 lao động (cả lao động chế biến xuất khẩu và chế biến nội địa) và phấn đấu toàn bộ nhà máy chế biến thủy sản đủ điều kiện xuất khẩu vào thị trường Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản.
+ Phấn đấu toàn bộ nhà máy chế biến thủy sản có hệ thống xử lý nước thải đảm bảo công suất và đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam;
+ Chú trọng nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, nhà xưởng, thiết bị máy móc đã cũ, lạc hậu; nâng cao hiệu quả sử dụng công suất thiết kế từ 29% hiện nay lên 58 - 61% năm 2010;
+ Thay đổi cơ cấu sản phẩm và mặt hàng theo hướng tăng tỷ trọng các sản phẩm thủy sản nước ngọt, đảm bảo tỷ trọng hợp lý hải sản biển, tăng tỷ trọng hàng giá trị gia tăng từ 20% hiện nay lên 40 - 45% năm 2010;
+ Tăng tỷ trọng xuất khẩu thủy sản trong tổng giá trị xuất khẩu toàn thành phố từ 42,17% năm 2004 lên 50% năm 2010;
+ Áp dụng các tiêu chuẩn HACCP, SQF 2000CM, ISO 9002:2000 tại các nhà máy chế biến;
+ Hoàn thành các dự án, công trình đã được đầu tư đặc biệt trong lĩnh vực hậu cần dịch vụ cho chế biến thủy sản, tạo điều kiện về hạ tầng cho giai đoạn phát triển tiếp theo (2011 - 2015); xây dựng chợ cá đầu mối tại quận Cái Răng, huyện Thốt Nốt và huyện Cờ Đỏ có khả năng tiếp nhận và phân phối nguyên liệu thủy sản cho nhà máy chế biến thủy sản, cho các chợ và khu vực lân cận; thiết lập thêm nhiều kho đông lạnh thương mại tại một số thành phố lớn và vùng biên giới để thuận tiện lưu thông tiêu thụ hàng hóa;
- Đến năm 2015: tổng sản lượng thủy sản chế biến xuất khẩu đạt từ 95.000 - 130.000 tấn, sản lượng chế biến đông lạnh cho tiêu thụ nội địa đạt từ 2.000 - 2.800 tấn, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt từ 425 - 700 triệu USD chiếm khoảng 50% trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn thành phố và giải quyết việc làm từ 14.930 - 18.250 lao động (cả lao động chế biến xuất khẩu và chế biến nội địa);
+ Không ngừng mở rộng thị trường, duy trì uy tín sản phẩm tại các thị trường xuất khẩu đặc biệt tại các thị trường lớn như Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản;
+ Thường xuyên duy tu nâng cấp các hệ thống xử lý nước thải trong lĩnh vực thủy sản và xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam;
+ Tiếp tục nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, nhà xưởng, thay thế thiết bị máy móc đã cũ, lạc hậu; nâng cao hiệu quả sử dụng công suất thiết kế lên 72 - 80% năm 2015.
+ Tiếp tục hoàn thành các dự án, công trình đã được đầu tư trong giai đoạn 2005 - 2010, tạo điều kiện về hạ tầng cho phát triển giai đoạn 2016 - 2020 và tỷ trọng hàng giá trị gia tăng chiếm 60%.
- Đến năm 2020: ngành chế biến thủy sản vẫn tiếp tục là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố, là động lực lớn cho sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản và khai thác thủy sản; duy trì tỷ trọng trọng 50% xuất khẩu thủy sản trong tổng giá trị xuất khẩu toàn thành phố; tổng sản lượng thủy sản chế biến xuất khẩu đạt từ 140.000 - 180.000 tấn; tỷ trọng hàng giá trị gia tăng chiếm trên 70%; tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt từ 750 - 1.000 triệu USD và giải quyết việc làm cho 18.770 - 21.750 lao động (cả lao động chế biến xuất khẩu và chế biến nội địa).
+ Không ngừng mở rộng thị trường, tiếp tục phát huy các lợi thế cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường đặc biệt tại các thị trường lớn như Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản;
+ Tiếp tục đổi mới và nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, phát huy tối đa công suất thiết kế từ 80 - 85%;
+ Thường xuyên duy tu nâng cấp các hệ thống xử lý nước thải trong lĩnh vực thủy sản và xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam;
+ Tiếp tục hoàn thành các dự án, công trình đã được đầu tư trong giai đoạn 2011 - 2015 để cơ bản đến năm 2020 ngành chế biến thủy sản của thành phố có cơ sở hạ tầng hiện đại và đồng bộ, đạt các tiêu chuẩn quốc tế, tạo thế thuận lợi cho sự phát triển giai đoạn tiếp theo.
IV. Định hướng phát triển thủy sản đến năm 2020
1. Định hướng phát triển
Duy trì và ổn định nghề khai thác thủy sản có hiệu quả, không xâm hại đến khả năng tái tạo, phục hồi nguồn lợi thủy sản; không phá vỡ sinh thái, cảnh quan môi trường các thủy vực, đảm bảo chất lượng nguồn nước. Tiếp tục phát huy lợi thế về tiềm năng phát triển mạnh nuôi thủy sản, đa dạng hóa hình thức nuôi và cơ cấu giống nuôi; chế biến và dịch vụ thương mại thủy sản theo hướng sản xuất sản phẩm sạch, hiệu quả, bền vững. Hình thành các vùng thâm canh, nuôi tập trung gắn với công nghiệp chế biến và dịch vụ thủy sản,... phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thủy sản, gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; giải quyết việc làm lao động nông thôn, có thu nhập ổn định, góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven sông Hậu, Cái Sắn, Xà No; vùng ruộng trũng, vùng ngập lụt mùa nước lũ, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững. Phát triển kết cấu hạ tầng thủy sản gắn kết trong các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn thành phố Cần Thơ phục vụ kịp thời khai thác thủy sản, nuôi thủy sản, chế biến và dịch vụ thương mại thủy sản.
2. Cụ thể
- Duy trì, ổn định sản lượng thủy sản khai thác 4.000 tấn (3.338 tấn cá, 50 tấn tôm, 612 tấn thủy sản khác) vào năm 2020 và các năm tiếp sau; bảo quản chống thất thoát, lãng phí sản lượng thủy sản sau khai thác;
- Phát triển diện tích nuôi thủy sản đến năm 2020 là 26.000 ha để đạt sản lượng 418.100 tấn, gấp 1,34 lần (tăng 65.740 tấn) so với năm 2015 (311.700 tấn); giá trị là 3.687.480 triệu đồng, gấp 1,38 lần so năm 2015;
- Tiếp tục phát triển và dịch vụ thương mại thủy sản để đạt tổng sản lượng chế biến xuất khẩu lên 163.200 tấn (gấp 5,3 lần so năm 2005), giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 864 triệu USD (gấp 6,28 lần năm 2005),…;
- Chuyển dịch sản xuất: thực hiện chuyển dịch trong nội bộ ngành thủy sản, nâng cao giá trị của chế biến và dịch vụ thương mại thủy sản; nuôi và duy trì ổn định khai thác thủy sản; cơ cấu kinh tế của ngành (chế biến và dịch vụ thương mại thủy sản chiếm 59%; nuôi thủy sản chiếm 39% và khai thác thủy sản chiếm 2%);
- Nhu cầu lao động đến năm 2020 thu hút được 40.731 lao động, tăng 5.888 người so năm 2015, tăng thêm 17%; 100% lao động được tập huấn, đào tạo kỹ thuật nghề và công tác bảo vệ môi trường sinh thái;
- Duy trì và hoàn thiện các khu vực bảo tồn thiên nhiên các loài thủy sản quý hiếm bản địa. Hoàn thiện hệ thống sản xuất sạch hơn, đảm bảo vệ sinh an toàn thủy sản cho thị trường tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
V. Quy hoạch phát triển thủy sản
1. Nuôi thủy sản
- Diện tích nuôi thủy sản: đến năm 2010 đạt 17.800 ha, giai đoạn 2015 - 2020 đạt từ 22.000 - 26.000 ha; bình quân diện tích tăng trong giai đoạn 2006 - 2020 là 5,62%/năm và giảm dần số lượng lồng bè nuôi cá;
- Sản lượng và giá trị sản lượng: đến năm 2010 sản lượng đạt 223.150 tấn, gấp 2,72 lần (tăng 140.970 tấn) so với năm 2005; giá trị 1.852.760 triệu đồng, gấp 2,81 lần so với năm 2005; đến năm 2015, sản lượng đạt 311.700 tấn, gấp 1,41 lần (tăng 88.550 tấn) so với năm 2010; giá trị 2.677.320 triệu đồng, gấp 1,38 lần so với năm 2010; đến năm 2020, sản lượng đạt 418.100 tấn, gấp 1,34 lần (tăng 106.400 tấn) so với năm 2015; giá trị 3.687.480 triệu đồng, gấp 1,38 lần so với năm 2015;
- Nhu cầu giống nuôi thủy sản: đến năm 2010 và định hướng năm 2020, nhu cầu giống tăng bình quân 5,92%/năm chiếm khoảng 2,3 tỷ con giống các loại, trong đó giống tôm càng xanh nhu cầu tăng từ 14,87%/năm chiếm khoảng 240 triệu giống tôm càng xanh; đến năm 2010, có 85 - 95 trại tôm cá giống và 100 - 116 trại tôm cá giống và vào năm 2020 có khoảng 48 trại tôm và 68 trại cá giống; đặc biệt từ nay, đến năm 2010 sẽ hoàn thành trại giống thủy sản cấp I của thành phố, nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển giống cho toàn thành phố và khu vực;
- Nhu cầu lao động nuôi thủy sản: đến năm 2010 cần 12.820 người, gấp 1,50 lần so với năm 2005; năm 2015 cần 15.306 người, gấp 1,79 lần so với năm 2005 và năm 2020 gấp 2,08 lần so với năm 2005;
- Nhu cầu thức ăn phục vụ nuôi thủy sản: đến năm 2010 cần 341.200 tấn, năm 2015 tăng lên 478.800 tấn và năm 2020 tăng lên 644.700 tấn.
2. Khai thác thủy sản
- Sản lượng và cơ cấu sản lượng thủy sản khai thác: đến năm 2010, sản lượng là 5.000 tấn (100,0%); trong đó cá 4.338 tấn chiếm 86,6%, tôm 50 tấn chiếm 1%, thủy sản khác 612 tấn chiếm 12,2%; đến năm 2015, sản lượng là 4.000 tấn chiếm 100%); trong đó cá 3.338 tấn chiếm 85,3%, giảm thêm 1.000 tấn cá so với năm 2010, duy trì ổn định tôm 50 tấn chiếm 1,3% và thủy sản khác 612 tấn chiếm 13,5%; đến năm 2020, duy trì và ổn định sản lượng là 4.000 tấn/năm chiếm 100%; trong đó cá 3.338 tấn chiếm 85,3%, tôm 50 tấn chiếm 1,3% và thủy sản khác 612 tấn chiếm 13,5%;
- Giá trị sản lượng khai thác thủy sản theo giá so sánh 1994: năm 2005 đạt 61.754 triệu (quy ra tỷ lệ chiếm 100%), năm 2010 giảm xuống 46.720 triệu đồng chiếm 75,66% so với năm 2005, giai đoạn 2015 - 2020 giảm xuống 38.720 triệu đồng chiếm 62,70% so với năm 2005 và tỷ trọng của giá trị sản lượng cá giảm dần trong cơ cấu (77,53% - 74,28% - 68,97%).
3. Chế biến và dịch vụ thương mại thủy sản
- Tổng sản lượng chế biến xuất khẩu đến năm 2010 đạt 80.000 tấn; năm 2015 đạt 120.000 tấn và đến năm 2020 đạt 160.000 tấn;
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 350 triệu USD (chỉ số phát triển so năm mốc 254%); năm 2015 đạt 550 triệu USD (chỉ số phát triển so năm mốc 400%) và đến năm 2020 đạt 864 triệu USD (chỉ số phát triển so năm mốc 628%);
- Các dạng sản phẩm chủ yếu từ tôm: tăng tỷ trọng sản phẩm tôm đông IQF, các dạng sản phẩm HLSO, HOSO, PUD, PD, giảm dạng đông Block, phát triển các mặt hàng giá trị gia tăng và ăn liền như Sushi, Nobashi, tôm tẩm bột chiên, tôm bao bột, há cảo, chả giò, tôm thịt cuộn bắp cải đông lạnh, tôm thịt bao mía, Seafoodmix (tôm, mực, nghêu); các dạng sản phẩm chủ yếu từ cá: cá dạng thỏi đông IQF, cá xẻ bướm đông IQF, cá viên đông IQF, cá fillet dán bột IQF, cá fillet tẩm bột IQF, khô cá tra phồng, phát triển thêm các dạng sản phẩm từ cá nước ngọt khác như rô phi, thát lát và các loại thủy đặc sản cao cấp khác;
- Lao động chế biến thủy sản xuất khẩu: đến năm 2010, nhu cầu lao động cần 11.400 lao động; đến năm 2015 là 15.300 lao động; đến năm 2020 sẽ giải quyết việc làm cho khoảng 18.200 lao động;
- Năng lực chế biến xuất khẩu: đến năm 2010, số nhà máy chế biến là 21 với tổng công suất thiết kế 140.550 tấn/năm; đến năm 2015, số nhà máy chế biến là 26 với tổng công suất thiết kế đạt 233.500; đến năm 2020, số nhà máy chế biến là 32 với tổng công suất thiết kế đạt 296.500 tấn/năm; các nhà máy chế biến xuất khẩu sẽ được quy hoạch vào khu công nghiệp phù hợp quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Nguồn nhân lực: đến năm 2010 thu hút được 28.698 lao động, tăng 12.025 người so với năm 2005 (16.673 người), tăng 72%; đến năm 2015 thu hút được 34.843 lao động, tăng 6.145 người so với năm 2010, tăng 21%. Trong đó, lao động chế biến và dịch vụ thương mại chiếm 50,48% (17.590 người), lao động nuôi thủy sản chiếm 47,28% (16.473 người), lao động khai thác thủy sản và dịch vụ hậu cần thủy sản chiếm 2,01% (7000 người) và lao động quản lý, sự nghiệp chiếm 0,23% (80 người); đến năm 2020 thu hút được 40.731 lao động, tăng 5.888 người so vớiz năm 2015, tăng 17% và chất lượng lao động ngày càng được nâng cao thông qua quá trình đào tạo, tập huấn,...dự kiến giai đoạn 2010 - 2020 tập huấn khoảng 80 - 100% đội ngũ lao động.