Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2897/QĐ-UBND 2014 quy hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn Lâm Đồng đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "31/12/2014", "sign_number": "2897/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "31/12/2014", "sign_number": "2897/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "31/12/2014", "sign_number": "2897/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "31/12/2014", "sign_number": "2897/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "31/12/2014", "sign_number": "2897/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2897/QĐ-UBND 2014 quy hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn Lâm Đồng đến 2020

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu như sau:
...
4. Quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản:
a) Trồng trọt: Bố trí lại cơ cấu cây trồng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, ổn định vùng cây công nghiệp dài ngày và cây lương thực với quy mô hợp lý, hình thành các vùng nguyên liệu an toàn phục vụ công nghiệp chế biến. Định hướng phát triển một số cây trồng như sau:
- Cà phê: Tập trung thâm canh, thay đổi cơ cấu giống và áp dụng kỹ thuật ghép cà phê để nâng cao năng suất và chất lượng; chuyển đổi một phần diện tích cà phê Robusta sang trồng cà phê chè ở những vùng có điều kiện thích hợp; phát triển bền vững vùng trồng cà phê công nghệ cao, từng bước đạt tiêu chuẩn 4C và UTZ. Đến năm 2015 ổn định diện tích cà phê khoảng 150-152.000 ha, năng suất bình quân đạt khoảng 3,0 tấn/ha, sản lượng đạt khoảng 430.000 tấn/năm; đến năm 2020 ổn định diện tích cà phê khoảng 150.000 ha, trong đó khoảng 20% diện tích cà phê chè, tập trung phát triển cà phê vối tại địa bàn các huyện Di Linh, Bảo Lâm, Lâm Hà, Đức Trọng, thành phố Bảo Lộc, cà phê chè tại huyện Lạc Dương, Đam Rông, Lâm Hà, thành phố Đà Lạt; năng suất bình quân đạt 3,1-3,2 tấn/ha, sản lượng khoảng 460.000-480.000 tấn/năm.
- Cây chè: Chuyển đổi chè hạt, tăng dần diện tích chè cành cao sản và các giống chè chất lượng cao; đến năm 2015 ổn định diện tích chè khoảng 24.000 ha, trong đó 6.200-6.500 ha chè chất lượng cao. Năng suất bình quân toàn tỉnh trên 9,5 tấn búp tươi/ha, sản lượng 220.000-230.000 tấn chè búp tươi/năm; đến năm 2020 diện tích chè khoảng 26.000 ha trong đó khoảng 8.000 ha chè chất lượng cao, tập trung tại thành phố Bảo Lộc, Đà Lạt, huyện Bảo Lâm, Di Linh, Lâm Hà, áp dụng cơ giới hóa khâu thu hái và canh tác chè an toàn đưa năng suất bình quân trên 11 tấn búp tươi/ha, sản lượng 280.000 - 300.000 tấn chè búp tươi/năm.
- Cao su: Rà soát, xem xét diện tích đất rừng sản xuất đã cho khai thác gỗ để trồng cao su ở 03 huyện phía Nam; đến năm 2015 diện tích khoảng 11.800 ha, diện tích thu hoạch 2.000 ha, sản lượng 3.400 tấn; đến năm 2020 diện tích 16.000-17.000 ha, diện tích thu hoạch 10.000-11.000 ha, sản lượng 13.000-14.000 tấn.
- Cây điều: Chuyển đổi diện tích điều có hiệu quả thấp sang các loại cây trồng khác; đến năm 2015 giảm diện tích điều còn khoảng 14.000 ha; sản lượng khoảng 14.000 tấn/năm; đến năm 2020 ổn định diện tích khoảng 9.000-10.000 ha tại 03 huyện phía Nam và huyện Đam Rông, trong đó khoảng 50% diện tích điều ghép cao sản; sản lượng 12.000-13.000 tấn/năm.
- Rau, hoa: Phấn đấu đưa Lâm Đồng trở thành trung tâm sản xuất rau hoa của cả nước và khu vực, phát triển mạnh sản xuất rau, hoa ôn đới chất lượng cao tại thành phố Đà Lạt và các huyện Đơn Dương, Đức Trọng, Lạc Dương và Lâm Hà; đến năm 2015 diện tích gieo trồng rau đạt khoảng 53.000 ha, sản lượng đạt 1,9 - 2,0 triệu tấn, diện tích gieo trồng hoa 7.200 ha, sản lượng đạt 2,4 tỷ cành; đến năm 2020, diện tích rau khoảng 55.000 ha, sản lượng rau đạt 2,2 - 2,3 triệu tấn; diện tích hoa 7.800 ha, sản lượng đạt 2,6 tỷ cành, trong đó xuất khẩu khoảng 20-30%. Ứng dụng công nghệ cao để sản xuất nấm thực phẩm cao cấp và nấm dược liệu với quy mô công nghiệp. Phát triển cây dược liệu tại địa bàn phù hợp.
- Dâu tằm: Chuyển địa bàn trồng dâu xuống các vùng đất thấp ven sông suối không bị ngập lũ, ổn định diện tích trồng dâu khoảng 3.500 ha vào năm 2015 và mở rộng lên khoảng 4.500 - 5.000 ha vào năm 2020, chuyển đổi giống mới đạt 80%. Tập trung tại các huyện Lâm Hà, Cát Tiên, Đạ Tẻh, thành phố Bảo Lộc.
- Lúa gạo: Tăng cường các biện pháp thủy lợi để ổn định diện tích lúa nước 2-3 vụ lúa, chuyển diện tích lúa 1 vụ sang trồng 2-3 vụ lúa - màu; ứng dụng công nghệ cao trong các khâu giống, làm đất, gieo sạ, quy trình canh tác. Đến năm 2015, diện tích trồng lúa khoảng 21.000 ha, trong đó lúa 02 vụ trở lên đạt 13.300 ha, lúa chất lượng cao 5.700 ha, sản lượng lúa khoảng 180.000 tấn/năm; đến năm 2020, diện tích trồng lúa ổn định khoảng 20.200 ha, trong đó lúa 02 vụ trở lên đạt 15.000 ha, lúa chất lượng cao khoảng 7.700 ha; sản lượng lúa khoảng 200.000 tấn/năm. Tập trung tại các huyện Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đức Trọng, Di Linh, Đơn Dương, Lâm Hà.
- Cây mắc ca: Phát triển cây mắc ca trồng xen trong vườn cà phê để thực hiện che bóng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cà phê đồng thời cải thiện thu nhập cho hộ nông dân. Việc phát triển cây mắc ca trong các hộ dân phải gắn kết với các doanh nghiệp thu mua, chế biến sản phẩm mắc ca. Thực hiện trồng mắc ca tập trung trên quỹ đất trống hiện có. Đến năm 2020, phát triển diện tích cây mắc ca lên khoảng 22.000 ha, trong đó trồng xen trong vườn cà phê khoảng 20.000 ha, trồng tập trung khoảng 2.000 ha, chủ yếu trên địa bàn các huyện Di Linh, Lâm Hà, Bảo Lâm, Đức Trọng, Đơn Dương, Đam Rông, Bảo Lộc.
b) Chăn nuôi: Thu hút đầu tư chăn nuôi công nghiệp tại các điểm quy hoạch chăn nuôi tập trung, hình thành các khu chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô lớn, các trang trại chăn nuôi bò sữa, bò thịt chất lượng cao, đến năm 2015 tỷ trọng chăn nuôi chiếm khoảng 16% trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, giá trị sản phẩm chăn nuôi tập trung chiếm 35% tổng giá trị ngành chăn nuôi; đến năm 2020 tỷ trọng ngành chăn nuôi chiếm 18-22% trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, giá trị sản phẩm chăn nuôi tập trung chiếm 40% tổng giá trị ngành chăn nuôi.
- Đàn bò: Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển chăn nuôi bò sữa, bò thịt chất lượng cao tại các huyện Đức Trọng, Đơn Dương, Bảo Lâm và Lâm Hà theo hình thức chăn nuôi tập trung. Áp dụng các biện pháp cải tạo giống, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để cải thiện chất lượng đàn bò và tăng năng suất thịt; đến năm 2015 có 76 ngàn con (trong đó 12 ngàn con bò sữa); đến năm 2020 đạt 110 ngàn con (trong đó có trên 20 ngàn bò sữa; trên 50% đàn bò thịt là bò lai Zebu).
- Đàn heo và gia cầm: Cải tạo giống heo theo hướng nạc hóa; khôi phục và phát triển chăn nuôi heo hàng hóa chất lượng cao theo quy mô tập trung và khép kín. Đến năm 2015 đàn heo đạt 420 ngàn con, đàn gia cầm 4,2 triệu con; năm 2020 đàn heo đạt 800 ngàn con, đàn gia cầm 5,3 triệu con, tập trung phát triển các mô hình hợp đồng nuôi gia công cho các công ty chăn nuôi tại 03 huyện phía Nam, Đức Trọng, Lâm Hà, Di Linh.
Chú trọng nâng cao chất lượng đàn gia súc, gia cầm và công tác phòng chống, kiểm soát dịch bệnh, nhất là những bệnh nguy hiểm. Đến năm 2020 sản lượng thịt hơi các loại đạt trên 150 ngàn tấn, trứng gia cầm 150 triệu quả, sữa tươi 35 - 40 nghìn tấn.
c) Lâm nghiệp:
- Ổn định lâm phần, quy hoạch cơ cấu 3 loại rừng nhằm bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng; đến năm 2020, ổn định 84.153 ha rừng đặc dụng với tính đa dạng sinh học cao; bảo vệ và nâng cao chất lượng 172.800 ha rừng phòng hộ; nâng cao chất lượng 334.523 ha rừng sản xuất
- Giao khoán quản lý bảo vệ rừng hàng năm 428.800 ha; khoanh nuôi tái sinh tự nhiên 2.800 ha/năm; cải tạo rừng nghèo kiệt để trồng rừng kinh tế và cao su khoảng 30.000 ha (giai đoạn 2011-2015) và khoảng 43.000 ha (giai đoạn 2016-2020); trồng cây phân tán 920.000 cây/năm.
Tổ chức tỉa thưa, khai thác rừng trồng và tận thu lâm sản khoảng 50.000m3 gỗ/năm và 68.000 tấn lâm sản ngoài gỗ (giai đoạn 2013-2015) và 140.000m3/năm và 68.000 tấn lâm sản ngoài gỗ (giai đoạn 2016-2020) để phục vụ nhu cầu chế biến lâm sản tại địa phương.
d) Thủy sản: Thu hút đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản, gắn với chế biến, tiêu thụ, trọng tâm là cá nước lạnh, gồm cá hồi ở khu vực huyện Lạc Dương, Đam Rông, Đà Lạt; cá tầm ở các huyện Lạc Dương, Đức Trọng, Đơn Dương, Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lâm, thành phố Đà Lạt, Bảo Lộc. Đến năm 2015 diện tích nuôi thủy sản khoảng 3.000 ha, sản lượng đạt 9.000 tấn (trong đó nuôi cá nước lạnh 30 ha và khoảng 100 lồng bè, sản lượng 500 tấn); đến năm 2020 diện tích nuôi thủy sản khoảng 3.100 ha, sản lượng khoảng 14.000 tấn (trong đó nuôi cá nước lạnh 100 ha và khoảng 400-450 lồng bè, sản lượng 2.000 tấn).

Content:
Quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản:
a) Trồng trọt: Bố trí lại cơ cấu cây trồng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, ổn định vùng cây công nghiệp dài ngày và cây lương thực với quy mô hợp lý, hình thành các vùng nguyên liệu an toàn phục vụ công nghiệp chế biến. Định hướng phát triển một số cây trồng như sau:
- Cà phê: Tập trung thâm canh, thay đổi cơ cấu giống và áp dụng kỹ thuật ghép cà phê để nâng cao năng suất và chất lượng; chuyển đổi một phần diện tích cà phê Robusta sang trồng cà phê chè ở những vùng có điều kiện thích hợp; phát triển bền vững vùng trồng cà phê công nghệ cao, từng bước đạt tiêu chuẩn 4C và UTZ. Đến năm 2015 ổn định diện tích cà phê khoảng 150-152.000 ha, năng suất bình quân đạt khoảng 3,0 tấn/ha, sản lượng đạt khoảng 430.000 tấn/năm; đến năm 2020 ổn định diện tích cà phê khoảng 150.000 ha, trong đó khoảng 20% diện tích cà phê chè, tập trung phát triển cà phê vối tại địa bàn các huyện Di Linh, Bảo Lâm, Lâm Hà, Đức Trọng, thành phố Bảo Lộc, cà phê chè tại huyện Lạc Dương, Đam Rông, Lâm Hà, thành phố Đà Lạt; năng suất bình quân đạt 3,1-3,2 tấn/ha, sản lượng khoảng 460.000-480.000 tấn/năm.
- Cây chè: Chuyển đổi chè hạt, tăng dần diện tích chè cành cao sản và các giống chè chất lượng cao; đến năm 2015 ổn định diện tích chè khoảng 24.000 ha, trong đó 6.200-6.500 ha chè chất lượng cao. Năng suất bình quân toàn tỉnh trên 9,5 tấn búp tươi/ha, sản lượng 220.000-230.000 tấn chè búp tươi/năm; đến năm 2020 diện tích chè khoảng 26.000 ha trong đó khoảng 8.000 ha chè chất lượng cao, tập trung tại thành phố Bảo Lộc, Đà Lạt, huyện Bảo Lâm, Di Linh, Lâm Hà, áp dụng cơ giới hóa khâu thu hái và canh tác chè an toàn đưa năng suất bình quân trên 11 tấn búp tươi/ha, sản lượng 280.000 - 300.000 tấn chè búp tươi/năm.
- Cao su: Rà soát, xem xét diện tích đất rừng sản xuất đã cho khai thác gỗ để trồng cao su ở 03 huyện phía Nam; đến năm 2015 diện tích khoảng 11.800 ha, diện tích thu hoạch 2.000 ha, sản lượng 3.400 tấn; đến năm 2020 diện tích 16.000-17.000 ha, diện tích thu hoạch 10.000-11.000 ha, sản lượng 13.000-14.000 tấn.
- Cây điều: Chuyển đổi diện tích điều có hiệu quả thấp sang các loại cây trồng khác; đến năm 2015 giảm diện tích điều còn khoảng 14.000 ha; sản lượng khoảng 14.000 tấn/năm; đến năm 2020 ổn định diện tích khoảng 9.000-10.000 ha tại 03 huyện phía Nam và huyện Đam Rông, trong đó khoảng 50% diện tích điều ghép cao sản; sản lượng 12.000-13.000 tấn/năm.
- Rau, hoa: Phấn đấu đưa Lâm Đồng trở thành trung tâm sản xuất rau hoa của cả nước và khu vực, phát triển mạnh sản xuất rau, hoa ôn đới chất lượng cao tại thành phố Đà Lạt và các huyện Đơn Dương, Đức Trọng, Lạc Dương và Lâm Hà; đến năm 2015 diện tích gieo trồng rau đạt khoảng 53.000 ha, sản lượng đạt 1,9 - 2,0 triệu tấn, diện tích gieo trồng hoa 7.200 ha, sản lượng đạt 2,4 tỷ cành; đến năm 2020, diện tích rau khoảng 55.000 ha, sản lượng rau đạt 2,2 - 2,3 triệu tấn; diện tích hoa 7.800 ha, sản lượng đạt 2,6 tỷ cành, trong đó xuất khẩu khoảng 20-30%. Ứng dụng công nghệ cao để sản xuất nấm thực phẩm cao cấp và nấm dược liệu với quy mô công nghiệp. Phát triển cây dược liệu tại địa bàn phù hợp.
- Dâu tằm: Chuyển địa bàn trồng dâu xuống các vùng đất thấp ven sông suối không bị ngập lũ, ổn định diện tích trồng dâu khoảng 3.500 ha vào năm 2015 và mở rộng lên khoảng 4.500 - 5.000 ha vào năm 2020, chuyển đổi giống mới đạt 80%. Tập trung tại các huyện Lâm Hà, Cát Tiên, Đạ Tẻh, thành phố Bảo Lộc.
- Lúa gạo: Tăng cường các biện pháp thủy lợi để ổn định diện tích lúa nước 2-3 vụ lúa, chuyển diện tích lúa 1 vụ sang trồng 2-3 vụ lúa - màu; ứng dụng công nghệ cao trong các khâu giống, làm đất, gieo sạ, quy trình canh tác. Đến năm 2015, diện tích trồng lúa khoảng 21.000 ha, trong đó lúa 02 vụ trở lên đạt 13.300 ha, lúa chất lượng cao 5.700 ha, sản lượng lúa khoảng 180.000 tấn/năm; đến năm 2020, diện tích trồng lúa ổn định khoảng 20.200 ha, trong đó lúa 02 vụ trở lên đạt 15.000 ha, lúa chất lượng cao khoảng 7.700 ha; sản lượng lúa khoảng 200.000 tấn/năm. Tập trung tại các huyện Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đức Trọng, Di Linh, Đơn Dương, Lâm Hà.
- Cây mắc ca: Phát triển cây mắc ca trồng xen trong vườn cà phê để thực hiện che bóng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cà phê đồng thời cải thiện thu nhập cho hộ nông dân. Việc phát triển cây mắc ca trong các hộ dân phải gắn kết với các doanh nghiệp thu mua, chế biến sản phẩm mắc ca. Thực hiện trồng mắc ca tập trung trên quỹ đất trống hiện có. Đến năm 2020, phát triển diện tích cây mắc ca lên khoảng 22.000 ha, trong đó trồng xen trong vườn cà phê khoảng 20.000 ha, trồng tập trung khoảng 2.000 ha, chủ yếu trên địa bàn các huyện Di Linh, Lâm Hà, Bảo Lâm, Đức Trọng, Đơn Dương, Đam Rông, Bảo Lộc.
b) Chăn nuôi: Thu hút đầu tư chăn nuôi công nghiệp tại các điểm quy hoạch chăn nuôi tập trung, hình thành các khu chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô lớn, các trang trại chăn nuôi bò sữa, bò thịt chất lượng cao, đến năm 2015 tỷ trọng chăn nuôi chiếm khoảng 16% trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, giá trị sản phẩm chăn nuôi tập trung chiếm 35% tổng giá trị ngành chăn nuôi; đến năm 2020 tỷ trọng ngành chăn nuôi chiếm 18-22% trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, giá trị sản phẩm chăn nuôi tập trung chiếm 40% tổng giá trị ngành chăn nuôi.
- Đàn bò: Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển chăn nuôi bò sữa, bò thịt chất lượng cao tại các huyện Đức Trọng, Đơn Dương, Bảo Lâm và Lâm Hà theo hình thức chăn nuôi tập trung. Áp dụng các biện pháp cải tạo giống, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để cải thiện chất lượng đàn bò và tăng năng suất thịt; đến năm 2015 có 76 ngàn con (trong đó 12 ngàn con bò sữa); đến năm 2020 đạt 110 ngàn con (trong đó có trên 20 ngàn bò sữa; trên 50% đàn bò thịt là bò lai Zebu).
- Đàn heo và gia cầm: Cải tạo giống heo theo hướng nạc hóa; khôi phục và phát triển chăn nuôi heo hàng hóa chất lượng cao theo quy mô tập trung và khép kín. Đến năm 2015 đàn heo đạt 420 ngàn con, đàn gia cầm 4,2 triệu con; năm 2020 đàn heo đạt 800 ngàn con, đàn gia cầm 5,3 triệu con, tập trung phát triển các mô hình hợp đồng nuôi gia công cho các công ty chăn nuôi tại 03 huyện phía Nam, Đức Trọng, Lâm Hà, Di Linh.
Chú trọng nâng cao chất lượng đàn gia súc, gia cầm và công tác phòng chống, kiểm soát dịch bệnh, nhất là những bệnh nguy hiểm. Đến năm 2020 sản lượng thịt hơi các loại đạt trên 150 ngàn tấn, trứng gia cầm 150 triệu quả, sữa tươi 35 - 40 nghìn tấn.
c) Lâm nghiệp:
- Ổn định lâm phần, quy hoạch cơ cấu 3 loại rừng nhằm bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng; đến năm 2020, ổn định 84.153 ha rừng đặc dụng với tính đa dạng sinh học cao; bảo vệ và nâng cao chất lượng 172.800 ha rừng phòng hộ; nâng cao chất lượng 334.523 ha rừng sản xuất
- Giao khoán quản lý bảo vệ rừng hàng năm 428.800 ha; khoanh nuôi tái sinh tự nhiên 2.800 ha/năm; cải tạo rừng nghèo kiệt để trồng rừng kinh tế và cao su khoảng 30.000 ha (giai đoạn 2011-2015) và khoảng 43.000 ha (giai đoạn 2016-2020); trồng cây phân tán 920.000 cây/năm.
Tổ chức tỉa thưa, khai thác rừng trồng và tận thu lâm sản khoảng 50.000m3 gỗ/năm và 68.000 tấn lâm sản ngoài gỗ (giai đoạn 2013-2015) và 140.000m3/năm và 68.000 tấn lâm sản ngoài gỗ (giai đoạn 2016-2020) để phục vụ nhu cầu chế biến lâm sản tại địa phương.
d) Thủy sản: Thu hút đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản, gắn với chế biến, tiêu thụ, trọng tâm là cá nước lạnh, gồm cá hồi ở khu vực huyện Lạc Dương, Đam Rông, Đà Lạt; cá tầm ở các huyện Lạc Dương, Đức Trọng, Đơn Dương, Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lâm, thành phố Đà Lạt, Bảo Lộc. Đến năm 2015 diện tích nuôi thủy sản khoảng 3.000 ha, sản lượng đạt 9.000 tấn (trong đó nuôi cá nước lạnh 30 ha và khoảng 100 lồng bè, sản lượng 500 tấn); đến năm 2020 diện tích nuôi thủy sản khoảng 3.100 ha, sản lượng khoảng 14.000 tấn (trong đó nuôi cá nước lạnh 100 ha và khoảng 400-450 lồng bè, sản lượng 2.000 tấn).