Document: Điều 1 Quyết định 62/QĐ-UBND 2020 phê duyệt Đề án phát triển lâm nghiệp bền vững Quảng Ninh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "10/01/2020", "sign_number": "62/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "10/01/2020", "sign_number": "62/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "10/01/2020", "sign_number": "62/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "10/01/2020", "sign_number": "62/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "10/01/2020", "sign_number": "62/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 62/QĐ-UBND 2020 phê duyệt Đề án phát triển lâm nghiệp bền vững Quảng Ninh có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Đề án Phát triển Lâm nghiệp bền vững tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030, gồm những nội dung chính như sau (có Đề án kèm theo):
1. Quan điểm, mục tiêu phát triển
1.1. Quan điểm
Phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững là phát triển toàn diện và đồng bộ các hoạt động quản lý, bảo vệ, trồng rừng, cải tạo rừng, khai thác, chế biến lâm sản, dịch vụ môi trường rừng, phát triển du lịch sinh thái... Trên cơ sở huy động mọi nguồn lực xã hội để đầu tư, bảo vệ, phát triển và khai thác, hưởng lợi từ rừng, góp phần tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, giảm nghèo và bảo vệ môi trường, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương, cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân và của toàn xã hội; tăng cường sự giám sát của người dân, cộng đồng dân cư, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
1.2. Mục tiêu
a) Mục tiêu chung
- Tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền, hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội về vai trò quan trọng của rừng và đất lâm nghiệp.
- Nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường của từng loại rừng, tăng giá trị rừng sản xuất trên đơn vị diện tích; góp phần đáp ứng các yêu cầu về kiểm soát ô nhiễm môi trường, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học; ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; tạo tiền đề phát triển bền vững du lịch sinh thái; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; chuyển dịch và tăng tốc độ phát triển kinh tế theo hướng “công nghiệp xanh”; thu hút các doanh nghiệp lớn đầu tư theo chu trình khép kín, bền vững; tạo các sản phẩm theo chuỗi có giá trị kinh tế cao nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần xoá đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân làm nghề rừng, gắn với tiến trình xây dựng nông thôn mới, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.
b) Mục tiêu cụ thể
- Về môi trường:
+ Nâng độ che phủ của rừng lên 55% vào năm 2020 và duy trì ổn định tỷ lệ che phủ, nâng cao chất lượng rừng ở giai đoạn tiếp theo. Bảo vệ tốt diện tích trên 370.381 ha rừng hiện có (bao gồm cả diện tích rừng trồng chưa thành rừng), đặc biệt quan tâm bảo vệ rừng đặc dụng: 22.061 ha, rừng phòng hộ: 106.230 ha;
+ Có lộ trình hạn chế, tiến tới dừng khai thác đối với loài cây Thông Mã vĩ ở các khu vực rừng vành đai biên giới, khu vực xung yếu để đảm bảo phát triển rừng bền vững;
+ Góp phần bảo vệ môi trường sinh thái; hạn chế xói mòn đất; tăng cường khả năng chắn sóng, chắn gió từng bước ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; góp phần bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái;
+ Đối với khu vực Vườn Quốc gia Bái Tử Long cần tập trung giữ gìn, bảo tồn và phát triển, đảm bảo môi trường sống bền vững, chất lượng cao trên cơ sở khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên, khai thác tiềm năng du lịch, không làm tổn hại đến môi trường;
+ Cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững 15.000 ha rừng trồng sản xuất trong giai đoạn đến năm 2025; Cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững thêm 15.000 ha rừng trồng sản xuất trong giai đoạn 2025-2030;
- Về kinh tế:
+ Đến năm 2025, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp bình quân đạt 5,5 - 6,0%/năm, tương ứng với giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp năm 2025 là 914.462 triệu đồng (theo giá so sánh 2010) và 1.247.717 triệu đồng (theo giá hiện hành);
+ Giai đoạn 2025 - 2030, tốc độ tăng trưởng đạt 4,0 - 5,0%/năm, tương ứng với giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp năm 2030 là 1.112.583 triệu đồng (theo giá so sánh năm 2010) và 1.592.438 triệu đồng (theo giá hiện hành);
+ Tăng năng suất rừng trồng lên 15 - 20 m3/ha/năm, giai đoạn đến năm 2025 đạt sản lượng khai thác 350.000 - 400.000 m3/năm; đạt 600.000 - 700.000 m3/năm giai đoạn 2025 - 2030;
+ Giai đoạn đến năm 2025 khai thác Nhựa thông đạt sản lượng từ 2.500 - 3.000 tấn/năm; giai đoạn 2025 - 2030 đạt từ 3.000 - 3.500 tấn/năm;
+ Khai thác nguyên liệu dược liệu dự kiến đạt 4.200 tấn/năm giai đoạn đến năm 2025, đạt 5.000 tấn/năm giai đoạn 2025 - 2030;
+ Đến năm 2025, giảm cơ sở chế biến lâm sản hiện đang sản xuất thô, nhỏ lẻ không phù hợp quy hoạch xuống còn dưới 250 cơ sở; xây dựng mới tối thiểu 01 nhà máy chế biến lâm sản tổng hợp khép kín công suất 400.000 m3/năm. Đến năm 2030 chuyển khoảng 65% các cơ sở chế biến vào các khu, cụm công nghiệp, chỉ còn lại 170 cơ sở.
+ Tập trung phát triển lâm nghiệp bền vững huyện Vân Đồn theo hướng giữ lại tối đa diện tích rừng hiện có, từng bước chuyển dịch các khu rừng sản xuất sang quy hoạch rừng phòng hộ, đặc dụng nhằm tạo cảnh quan, môi trường, phát triển du lịch, dịch vụ, văn hóa cảnh quan phục vụ cho phát triển kinh tế theo định hướng, quy hoạch.
- Về xã hội:
+ Nâng cao nhận thức, hành động của doanh nghiệp, người dân trong công tác bảo vệ, phát triển rừng đặc biệt ở các vùng biên giới, hải đảo;
+ Duy trì, ổn định cho khoảng 60.000 - 70.000 việc làm, đảm bảo mức thu nhập từ các hoạt động lâm nghiệp bình quân 5 triệu đồng/lao động/tháng đến năm 2025; đạt 6 - 7 triệu đồng/lao động/tháng đến năm 2030;
+ Từng bước tạo môi trường thuận lợi thu hút du khách tham gia các loại hình phát triển các loại hình du lịch; góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;
+ Hoàn thành sắp xếp đổi mới các công ty lâm nghiệp Nhà nước theo Phương án đã được phê duyệt;
+ Đẩy mạnh công tác xã hội hoá ngành lâm nghiệp thông qua hoàn thiện môi trường thu hút các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước để phát triển lâm nghiệp bền vững.
2. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu
2.1. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, hiệu lực; hiệu quả quản lý nhà nước của các cấp chính quyền góp phần bảo vệ, phát huy hiệu quả tiềm năng lợi thế rừng và đất lâm nghiệp
- Nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác phát triển lâm nghiệp bền vững gắn với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn.
- Tiếp tục rà soát và kiên quyết xử lý tình trạng lấn chiếm, xâm canh đất rừng trái pháp luật và các tồn đọng trong giao đất, giao rừng tại một số địa phương.
- Phối hợp tốt với các tỉnh giáp ranh trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Tiếp tục chỉ đạo, đẩy mạnh và hoàn thành giao đất, giao rừng trên 09 huyện, thị xã, thành phố đã được UBND tỉnh phê duyệt đề án giao đất, giao rừng và các địa phương còn lại. Chỉ đạo xử lý kịp thời các hành vi phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác rừng trái pháp luật và mua bán vận chuyển lâm sản, động vật hoang dã trái pháp luật, chống người thi hành công vụ.
- Hoàn thành cắm bổ sung mốc ranh giới 3 loại rừng trên cơ sở kết quả rà soát ba loại rừng theo Quyết định số 3722/QĐ-UBND ngày 19/9/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Giải quyết dứt điểm tình trạng xung đột, mâu thuẫn lợi ích trong việc thực hiện quy hoạch ba loại rừng đặc biệt là chuyển loại rừng từ rừng sản xuất sang rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
- Tiếp tục đào tạo nâng cao năng lực vận hành và sử dụng các phần mềm, thiết bị chuyên dụng, hệ thống thông tin chuyên ngành trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng.
- Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng phải được chú trọng, thường xuyên với quan điểm phòng là chính theo phương châm 4 tại chỗ; phân công, phân nhiệm rõ việc đối với các cơ quan, đơn vị, chính quyền địa phương để nâng cao trách nhiệm, tính chủ động trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; hạn chế tối đa những thiệt hại do cháy rừng gây nên. Đầu tư trang thiết bị hiện đại để ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, theo dõi, giám sát tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp.
2.2. Bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên, phát triển bền vững rừng và đất lâm nghiệp
- Bảo vệ và phát triển bền vững tối đa 122.748,8 ha rừng tự nhiên (20.460,9 ha rừng đặc dụng, 64.122,5 ha rừng phòng hộ và rừng cảnh quan; 36.986,9 ha rừng sản xuất; 1.178,5 ha rừng tự nhiên ngoài quy hoạch lâm nghiệp) và 4.703 ha đất trống núi đá có cây gỗ tái sinh; bảo tồn có hiệu quả các hệ sinh thái rừng, trong đó có hệ thống các khu rừng đặc dụng, giảm căn bản tình trạng suy giảm đa dạng sinh học trong các khu rừng đặc dụng, trong đó có các loài động vật hoang dã sinh sống tự nhiên. Quản lý, bảo vệ chặt chẽ 19.740,7 ha rừng ngập mặn, hạn chế tối đa việc chuyển đổi rừng ngập mặn sang nuôi trồng thủy sản và các mục đích phi lâm nghiệp khác; xây dựng dự án chuyển đổi diện tích rừng phòng hộ là rừng ngập mặn tự nhiên sang rừng đặc dụng, rừng sản xuất sang rừng phòng hộ, rừng ngoài quy hoạch 3 loại rừng vào quy hoạch 3 loại rừng; triển khai mô hình giao đất rừng ngập mặn cho cộng đồng, cụm dân cư để người dân trực tiếp quản lý, bảo vệ; chú trọng bảo vệ, phục hồi và phát triển rừng phòng hộ ven biển; nghiên cứu lựa chọn các loại cây trồng phù hợp để hình thành các đai rừng phòng hộ bền vững; phát triển hệ thống rừng cảnh quan du lịch biển.
- Tích cực triển khai xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững; triển khai việc tạo lập các vùng sản xuất tập trung tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong các công đoạn sản xuất kinh doanh.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; hạn chế tối đa những thiệt hại do cháy rừng gây nên.
- Đầu tư trang thiết bị hiện đại để ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác theo dõi, giám sát tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp.
- Chú trọng bảo vệ, phục hồi và phát triển rừng phòng hộ ven biển; nghiên cứu lựa chọn các loại cây trồng phù hợp để hình thành các đai rừng phòng hộ bền vững; phát triển hệ thống rừng cảnh quan du lịch biển.
- Đối với huyện Vân Đồn: Thực hiện phân vùng bảo vệ môi trường theo từng khu vực, nhằm kiểm soát có hiệu quả ở mức ô nhiễm môi trường. Thẩm định đánh giá tác động môi trường đối với tất cả các chương trình, dự án đầu tư trong khu kinh tế theo quy định của pháp luật về Môi trường; tăng cường giám sát các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.
2.3. Phát triển và nâng cao năng suất, chất lượng rừng
- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học trong việc lai tạo, chọn lọc giống cây trồng lâm nghiệp theo hướng cải thiện từng bước về năng suất, chất lượng, chủng loại và cung cấp đủ nhu cầu về giống cây phục vụ trồng rừng thâm canh; xây dựng, nâng cấp hệ thống vườn ươm ứng dụng công nghệ cao.
- Ưu tiên các nhà đầu tư có tiềm lực về kinh tế, có khả năng đáp ứng yêu cầu về khoa học và công nghệ tiên tiến trong xây dựng nguồn giống, cơ sở sản xuất giống có quy mô lớn, cung ứng ổn định, lâu dài theo yêu cầu chuỗi sản phẩm.
- Nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trồng rừng theo hướng lựa chọn các loài cây bản địa gỗ lớn, có giá trị kinh tế cao; xây dựng vùng trồng tập trung các loài cây lâm sản ngoài gỗ thế mạnh của tỉnh; xây dựng lộ trình chuyển hóa dần rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn.
- Hiện nay, trên địa bàn tỉnh còn 23.698 ha đất trống chưa có rừng (rừng đặc dụng: 868 ha; rừng phòng hộ: 9.348 ha; rừng sản xuất: 13.482 ha), trong đó tiến hành điều tra, phân loại các diện tích có khả năng trồng rừng để lựa chọn loài cây trồng, áp dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp nhằm phủ xanh các diện tích này. Trước mắt, lựa chọn giải pháp kỹ thuật lâm sinh phủ xanh cho 100 ha đất rừng đặc dụng, 1.000 ha đất rừng phòng hộ, ưu tiên các loài cây gỗ lớn, cây đa tác dụng, cây có giá trị kinh tế trong danh mục đề xuất các loài cây trồng chính cho địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
- Điều tra, xây dựng bản đồ lập địa cho diện tích đất lâm nghiệp trên toàn tỉnh phục vụ trồng rừng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển rừng bằng các loài cây gỗ lớn, các loài cây bản địa, cây đa tác dụng, phát triển cây lâm sản ngoài gỗ.
- Quan tâm đầu tư hệ thống cây phân tán, cây đô thị, đai rừng ven các đô thị, tạo cảnh quan, bảo vệ môi trường sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới, phát triển đô thị văn minh trên địa bàn toàn tỉnh.
2.4. Nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm lâm nghiệp
- Chuyển đổi dần tập đoàn cây trồng nhằm mục tiêu xây dựng rừng trồng gỗ lớn, tạo điều kiện để các doanh nghiệp liên kết, hợp tác phát triển vùng nguyên liệu gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Hỗ trợ cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững, đảm bảo sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ của tỉnh Quảng Ninh đủ điều kiện đáp ứng được yêu cầu quốc tế khi tham gia các hiệp định thương mại tự do.
- Xây dựng các phương án cụ thể, phù hợp tình hình để thực hiện lộ trình sớm hoàn thành dứt điểm việc sắp xếp, đổi mới hoạt động các công ty lâm nghiệp theo Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị và Nghị định số 118/2014/NĐ-CP, ngày 17/12/2014 của Chính phủ, đảm bảo tối đa hóa lợi ích về kinh tế - xã hội - môi trường, hài hòa lợi ích nhà nước - người dân - doanh nghiệp, đảm bảo an ninh nguồn nước, an sinh xã hội và an ninh môi trường lâu dài.
- Phát triển công nghiệp chế biến gỗ thông qua việc xây dựng và hỗ trợ xây dựng các cơ sở chế biến lâm sản; đầu tư xây dựng các khu chế biến công nghệ cao, hình thành các làng nghề sản xuất, kinh doanh lâm sản ngoài gỗ, tạo ra sản phẩm có thương hiệu; quản lý chất lượng hàng hóa, vệ sinh, an toàn thực phẩm tạo niềm tin cho người tiêu dùng đối với sản phẩm lâm sản của tỉnh. Đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ trong chế biến; có cơ chế, chính sách thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực bảo quản, chế biến nhằm nâng cao giá trị gia tăng và ổn định đầu ra cho các sản phẩm lâm sản trên địa bàn.
- Hướng dẫn các chủ rừng xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, tiến tới triển khai cho thuê môi trường rừng, phát triển du lịch sinh thái; lượng hóa giá trị dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ môi trường rừng; rà soát, bổ sung loại hình chi trả dịch vụ môi trường rừng.
2.5. Củng cố tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hoạt động của các doanh nghiệp lâm nghiệp, ban quản lý rừng
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quản lý, bảo vệ, phát triển và khai thác rừng, đất lâm nghiệp. Củng cố tổ chức, bộ máy nhà nước các cấp và nâng cao năng lực hoạt động của các Ban Quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng.
- Hỗ trợ các hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị sản phẩm, có sự kiểm soát chặt chẽ quy trình sản xuất, khuyến khích sản xuất theo hướng hữu cơ, tiến tới đảm bảo sản phẩm sạch, tạo niềm tin cho người tiêu dùng, phát huy vai trò của các doanh nghiệp làm động lực trong sản xuất, chế biến, bao tiêu sản phẩm.
- Tăng cường phối hợp giữa các sở, ban, ngành và địa phương để thực hiện có hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm trong lĩnh vực lâm nghiệp.
- Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố đẩy nhanh tiến độ giao đất, giao rừng; tập trung rà soát những diện tích rừng và đất rừng chưa giao hoặc cho thuê (Ủy ban nhân dân cấp xã đang quản lý), trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp quản lý, sử dụng có hiệu quả theo quy định của Luật Lâm nghiệp và các văn bản hướng dẫn khác.
2.6. Bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách để khuyến khích, hỗ trợ các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, quản lý, khai thác tiềm năng, lợi thế rừng và đất lâm nghiệp
- Tiếp tục hoàn thiện, bổ sung cơ chế, chính sách đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng; quy định thống nhất trách nhiệm của các bên liên quan trong quản lý bảo vệ rừng để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư kinh doanh du lịch sinh thái; đảm bảo kinh phí cho ngân sách xã để thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng theo quy định.
- Nghiên cứu, ban hành chính sách theo hướng khuyến khích công tác bảo vệ rừng tự nhiên cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sau khi được giao đất giao rừng; hỗ trợ giống, liên kết sản xuất, cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững cho trồng rừng nguyên liệu tập trung; hỗ trợ đầu tư phát triển lâm sản ngoài gỗ, bảo tồn, trồng mới các loại cây đặc sản, cây dược liệu có giá trị; xem xét hỗ trợ lãi suất vay các tổ chức tín dụng trung hạn, dài hạn đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng rừng sản xuất.
- Thực hiện có hiệu quả các cơ chế chính sách của trung ương và của tỉnh về đầu tư, hỗ trợ đầu tư, tín dụng, đất đai và thuế nhằm thu hút các doanh nghiệp, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp. Nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung cơ chế chính sách hỗ trợ cho phát triển giống cây lâm nghiệp chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thực tế trên địa bàn tỉnh và các khu vực lân cận.
- Có cơ chế, chính sách liên kết các hộ gia đình với doanh nghiệp trong việc tích tụ đất đai tạo ra vùng trồng nguyên liệu đủ lớn có thể áp dụng được khoa học kỹ thuật tiên tiến tham gia vào chuỗi cung ứng ổn định, bền vững.
- Bổ sung và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ nhằm phát huy tiềm lực về đất đai, tài chính, khoa học kỹ thuật, phát triển thị trường, nguồn nhân lực, thúc đẩy sự liên kết phối hợp giữa nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân để tham gia chặt chẽ, hiệu quả vào lộ trình xây dựng thương hiệu.
2.7. Hợp tác quốc tế và xúc tiến thương mại
- Ưu tiên các nhà đầu tư có tiềm lực về kinh tế, có khả năng đáp ứng yêu cầu về khoa học và công nghệ tiên tiến trong xây dựng nguồn giống, cơ sở sản xuất giống có quy mô lớn, cung ứng ổn định, lâu dài theo yêu cầu chuỗi sản phẩm; đẩy mạnh công tác xây dựng hệ thống rừng giống chất lượng cao trên cơ sở chọn lọc cây trội;
- Xây dựng hình ảnh cho doanh nghiệp, cũng như giúp doanh nghiệp thêm kênh marketing sản phẩm, thêm công cụ trợ giúp giao dịch trực tuyến nhằm giảm bớt chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế;
- Tận dụng lợi thế về đặc thù sản phẩm, điểm khác biệt của sản phẩm gắn với đặc thù tự nhiên, kinh tế - xã hội của của địa phương trong việc giải pháp triển khai xây dựng thương hiệu, phát triển giá trị thương hiệu các sản phẩm đặc sản nông nghiệp của tỉnh gắn với niềm tin cho người tiêu dùng là nhiệm vụ mang tính chiến lược để giữ vững thị trường nội địa và tiến đến xuất khẩu ra ngoài nước; Hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu cho một số loài cho sản phẩm ngoài gỗ và dược liệu chưa có thương hiệu như Quế, Hồi, Cà Gai leo, Đinh lăng,... Mục tiêu phấn đấu có từ 5 - 7 thương hiệu được xây dựng trong giai đoạn 2020 - 2030.
- Xây dựng chương trình tổng thể về phát triển thương hiệu lâm sản Quảng Ninh, trong đó có bao gồm đầy đủ các hướng dẫn thực hiện về lộ trình, các công cụ tài chính, kỹ thuật, thị trường, cơ chế phối hợp, hệ thống chia sẻ, xác định thị trường, ngành hàng tập trung xây dựng thương hiệu một cách khả thi áp dụng thực tiễn để các địa phương có căn cứ triển khai thực hiện.
2.8. Nguồn lực tài chính
- Nguồn ngân sách Trung ương ưu tiên hỗ trợ bảo vệ rừng, trồng rừng ở địa bàn các huyện theo cơ chế, chính sách hiện hành.
- Vốn từ các chương trình, dự án khác như: Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững; Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh; các Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; Dự án rừng và đồng bằng và các nguồn vốn bổ sung khác.
- Hàng năm, bố trí tối thiểu 3% tổng chi ngân sách thường xuyên để chi cho phát triển lâm nghiệp bền vững. Đồng thời, bố trí một phần kinh phí từ nguồn vốn bảo vệ môi trường, nguồn vốn đầu tư hàng năm để đầu tư bảo vệ, phát triển rừng.
- Huy động nguồn vốn hợp pháp khác trên địa bàn theo hướng xã hội hóa (kinh phí trồng rừng hàng năm của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình; kinh phí đầu tư các dự án trồng rừng; sản xuất, chế biến các sản phẩm gỗ, lâm sản ngoài gỗ; huy động các thành phần kinh tế trong nước theo cơ chế liên danh, liên kết giữa hộ nông dân và doanh nghiệp cùng góp vốn để phát triển rừng, hình thành vùng nguyên liệu cho chế biến gỗ; phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo vệ rừng, các nguồn vốn hỗ trợ ODA...); khuyến khích phát triển nông lâm kết hợp, trang trại lâm nghiệp theo quy định tại Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng, giao nhiệm vụ công ích đối với các công ty nông, lâm nghiệp.
- Huy động nguồn vốn của các tổ chức cá nhân trong việc trồng cây phân tán, nguồn vốn của doanh nghiệp khai thác than/khoáng sản trong việc phục hồi môi trường rừng trên đất bãi thải sau khai thác than/khoáng sản.
- Nguồn vốn hỗ trợ chủ rừng đầu tư phát triển lâm nghiệp theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 và Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn song song với việc kêu gọi các nguồn vốn ODA và sử dụng hợp lý nguồn vốn chi trả dịch vụ môi trường rừng vào mục tiêu bảo vệ, phát triển rừng và sử dụng rừng bền vững.
- Đẩy mạnh hợp tác với các cơ quan du lịch của các nước ASEAN để thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái tại khu kinh tế Vân Đồn và khu vực vịnh Bái Tử Long, Vườn Quốc gia Bái Tử Long. Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư nhằm thu hút các nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước.
3. Kinh phí và nguồn kinh phí thực hiện
Tổng kinh phí thực hiện đề án, dự án đến năm 2030 là 12.411.408 triệu đồng; trong đó vốn ngân sách địa phương là 3.398.817 triệu đồng (chiếm 27,38%), vốn ngân sách Trung ương 583.670 triệu đồng (chiếm 4,70%), vốn xã hội hóa 8.428.921 triệu đồng (chiếm 67,92%).

Content:
Điều 1. Phê duyệt Đề án Phát triển Lâm nghiệp bền vững tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030, gồm những nội dung chính như sau (có Đề án kèm theo):
1. Quan điểm, mục tiêu phát triển
1.1. Quan điểm
Phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững là phát triển toàn diện và đồng bộ các hoạt động quản lý, bảo vệ, trồng rừng, cải tạo rừng, khai thác, chế biến lâm sản, dịch vụ môi trường rừng, phát triển du lịch sinh thái... Trên cơ sở huy động mọi nguồn lực xã hội để đầu tư, bảo vệ, phát triển và khai thác, hưởng lợi từ rừng, góp phần tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, giảm nghèo và bảo vệ môi trường, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương, cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân và của toàn xã hội; tăng cường sự giám sát của người dân, cộng đồng dân cư, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
1.2. Mục tiêu
a) Mục tiêu chung
- Tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền, hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội về vai trò quan trọng của rừng và đất lâm nghiệp.
- Nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường của từng loại rừng, tăng giá trị rừng sản xuất trên đơn vị diện tích; góp phần đáp ứng các yêu cầu về kiểm soát ô nhiễm môi trường, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học; ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; tạo tiền đề phát triển bền vững du lịch sinh thái; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; chuyển dịch và tăng tốc độ phát triển kinh tế theo hướng “công nghiệp xanh”; thu hút các doanh nghiệp lớn đầu tư theo chu trình khép kín, bền vững; tạo các sản phẩm theo chuỗi có giá trị kinh tế cao nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần xoá đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân làm nghề rừng, gắn với tiến trình xây dựng nông thôn mới, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.
b) Mục tiêu cụ thể
- Về môi trường:
+ Nâng độ che phủ của rừng lên 55% vào năm 2020 và duy trì ổn định tỷ lệ che phủ, nâng cao chất lượng rừng ở giai đoạn tiếp theo. Bảo vệ tốt diện tích trên 370.381 ha rừng hiện có (bao gồm cả diện tích rừng trồng chưa thành rừng), đặc biệt quan tâm bảo vệ rừng đặc dụng: 22.061 ha, rừng phòng hộ: 106.230 ha;
+ Có lộ trình hạn chế, tiến tới dừng khai thác đối với loài cây Thông Mã vĩ ở các khu vực rừng vành đai biên giới, khu vực xung yếu để đảm bảo phát triển rừng bền vững;
+ Góp phần bảo vệ môi trường sinh thái; hạn chế xói mòn đất; tăng cường khả năng chắn sóng, chắn gió từng bước ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; góp phần bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái;
+ Đối với khu vực Vườn Quốc gia Bái Tử Long cần tập trung giữ gìn, bảo tồn và phát triển, đảm bảo môi trường sống bền vững, chất lượng cao trên cơ sở khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên, khai thác tiềm năng du lịch, không làm tổn hại đến môi trường;
+ Cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững 15.000 ha rừng trồng sản xuất trong giai đoạn đến năm 2025; Cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững thêm 15.000 ha rừng trồng sản xuất trong giai đoạn 2025-2030;
- Về kinh tế:
+ Đến năm 2025, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp bình quân đạt 5,5 - 6,0%/năm, tương ứng với giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp năm 2025 là 914.462 triệu đồng (theo giá so sánh 2010) và 1.247.717 triệu đồng (theo giá hiện hành);
+ Giai đoạn 2025 - 2030, tốc độ tăng trưởng đạt 4,0 - 5,0%/năm, tương ứng với giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp năm 2030 là 1.112.583 triệu đồng (theo giá so sánh năm 2010) và 1.592.438 triệu đồng (theo giá hiện hành);
+ Tăng năng suất rừng trồng lên 15 - 20 m3/ha/năm, giai đoạn đến năm 2025 đạt sản lượng khai thác 350.000 - 400.000 m3/năm; đạt 600.000 - 700.000 m3/năm giai đoạn 2025 - 2030;
+ Giai đoạn đến năm 2025 khai thác Nhựa thông đạt sản lượng từ 2.500 - 3.000 tấn/năm; giai đoạn 2025 - 2030 đạt từ 3.000 - 3.500 tấn/năm;
+ Khai thác nguyên liệu dược liệu dự kiến đạt 4.200 tấn/năm giai đoạn đến năm 2025, đạt 5.000 tấn/năm giai đoạn 2025 - 2030;
+ Đến năm 2025, giảm cơ sở chế biến lâm sản hiện đang sản xuất thô, nhỏ lẻ không phù hợp quy hoạch xuống còn dưới 250 cơ sở; xây dựng mới tối thiểu 01 nhà máy chế biến lâm sản tổng hợp khép kín công suất 400.000 m3/năm. Đến năm 2030 chuyển khoảng 65% các cơ sở chế biến vào các khu, cụm công nghiệp, chỉ còn lại 170 cơ sở.
+ Tập trung phát triển lâm nghiệp bền vững huyện Vân Đồn theo hướng giữ lại tối đa diện tích rừng hiện có, từng bước chuyển dịch các khu rừng sản xuất sang quy hoạch rừng phòng hộ, đặc dụng nhằm tạo cảnh quan, môi trường, phát triển du lịch, dịch vụ, văn hóa cảnh quan phục vụ cho phát triển kinh tế theo định hướng, quy hoạch.
- Về xã hội:
+ Nâng cao nhận thức, hành động của doanh nghiệp, người dân trong công tác bảo vệ, phát triển rừng đặc biệt ở các vùng biên giới, hải đảo;
+ Duy trì, ổn định cho khoảng 60.000 - 70.000 việc làm, đảm bảo mức thu nhập từ các hoạt động lâm nghiệp bình quân 5 triệu đồng/lao động/tháng đến năm 2025; đạt 6 - 7 triệu đồng/lao động/tháng đến năm 2030;
+ Từng bước tạo môi trường thuận lợi thu hút du khách tham gia các loại hình phát triển các loại hình du lịch; góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;
+ Hoàn thành sắp xếp đổi mới các công ty lâm nghiệp Nhà nước theo Phương án đã được phê duyệt;
+ Đẩy mạnh công tác xã hội hoá ngành lâm nghiệp thông qua hoàn thiện môi trường thu hút các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước để phát triển lâm nghiệp bền vững.
2. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu
2.1. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, hiệu lực; hiệu quả quản lý nhà nước của các cấp chính quyền góp phần bảo vệ, phát huy hiệu quả tiềm năng lợi thế rừng và đất lâm nghiệp
- Nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác phát triển lâm nghiệp bền vững gắn với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn.
- Tiếp tục rà soát và kiên quyết xử lý tình trạng lấn chiếm, xâm canh đất rừng trái pháp luật và các tồn đọng trong giao đất, giao rừng tại một số địa phương.
- Phối hợp tốt với các tỉnh giáp ranh trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Tiếp tục chỉ đạo, đẩy mạnh và hoàn thành giao đất, giao rừng trên 09 huyện, thị xã, thành phố đã được UBND tỉnh phê duyệt đề án giao đất, giao rừng và các địa phương còn lại. Chỉ đạo xử lý kịp thời các hành vi phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác rừng trái pháp luật và mua bán vận chuyển lâm sản, động vật hoang dã trái pháp luật, chống người thi hành công vụ.
- Hoàn thành cắm bổ sung mốc ranh giới 3 loại rừng trên cơ sở kết quả rà soát ba loại rừng theo Quyết định số 3722/QĐ-UBND ngày 19/9/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Giải quyết dứt điểm tình trạng xung đột, mâu thuẫn lợi ích trong việc thực hiện quy hoạch ba loại rừng đặc biệt là chuyển loại rừng từ rừng sản xuất sang rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
- Tiếp tục đào tạo nâng cao năng lực vận hành và sử dụng các phần mềm, thiết bị chuyên dụng, hệ thống thông tin chuyên ngành trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng.
- Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng phải được chú trọng, thường xuyên với quan điểm phòng là chính theo phương châm 4 tại chỗ; phân công, phân nhiệm rõ việc đối với các cơ quan, đơn vị, chính quyền địa phương để nâng cao trách nhiệm, tính chủ động trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; hạn chế tối đa những thiệt hại do cháy rừng gây nên. Đầu tư trang thiết bị hiện đại để ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, theo dõi, giám sát tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp.
2.2. Bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên, phát triển bền vững rừng và đất lâm nghiệp
- Bảo vệ và phát triển bền vững tối đa 122.748,8 ha rừng tự nhiên (20.460,9 ha rừng đặc dụng, 64.122,5 ha rừng phòng hộ và rừng cảnh quan; 36.986,9 ha rừng sản xuất; 1.178,5 ha rừng tự nhiên ngoài quy hoạch lâm nghiệp) và 4.703 ha đất trống núi đá có cây gỗ tái sinh; bảo tồn có hiệu quả các hệ sinh thái rừng, trong đó có hệ thống các khu rừng đặc dụng, giảm căn bản tình trạng suy giảm đa dạng sinh học trong các khu rừng đặc dụng, trong đó có các loài động vật hoang dã sinh sống tự nhiên. Quản lý, bảo vệ chặt chẽ 19.740,7 ha rừng ngập mặn, hạn chế tối đa việc chuyển đổi rừng ngập mặn sang nuôi trồng thủy sản và các mục đích phi lâm nghiệp khác; xây dựng dự án chuyển đổi diện tích rừng phòng hộ là rừng ngập mặn tự nhiên sang rừng đặc dụng, rừng sản xuất sang rừng phòng hộ, rừng ngoài quy hoạch 3 loại rừng vào quy hoạch 3 loại rừng; triển khai mô hình giao đất rừng ngập mặn cho cộng đồng, cụm dân cư để người dân trực tiếp quản lý, bảo vệ; chú trọng bảo vệ, phục hồi và phát triển rừng phòng hộ ven biển; nghiên cứu lựa chọn các loại cây trồng phù hợp để hình thành các đai rừng phòng hộ bền vững; phát triển hệ thống rừng cảnh quan du lịch biển.
- Tích cực triển khai xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững; triển khai việc tạo lập các vùng sản xuất tập trung tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong các công đoạn sản xuất kinh doanh.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; hạn chế tối đa những thiệt hại do cháy rừng gây nên.
- Đầu tư trang thiết bị hiện đại để ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác theo dõi, giám sát tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp.
- Chú trọng bảo vệ, phục hồi và phát triển rừng phòng hộ ven biển; nghiên cứu lựa chọn các loại cây trồng phù hợp để hình thành các đai rừng phòng hộ bền vững; phát triển hệ thống rừng cảnh quan du lịch biển.
- Đối với huyện Vân Đồn: Thực hiện phân vùng bảo vệ môi trường theo từng khu vực, nhằm kiểm soát có hiệu quả ở mức ô nhiễm môi trường. Thẩm định đánh giá tác động môi trường đối với tất cả các chương trình, dự án đầu tư trong khu kinh tế theo quy định của pháp luật về Môi trường; tăng cường giám sát các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.
2.3. Phát triển và nâng cao năng suất, chất lượng rừng
- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học trong việc lai tạo, chọn lọc giống cây trồng lâm nghiệp theo hướng cải thiện từng bước về năng suất, chất lượng, chủng loại và cung cấp đủ nhu cầu về giống cây phục vụ trồng rừng thâm canh; xây dựng, nâng cấp hệ thống vườn ươm ứng dụng công nghệ cao.
- Ưu tiên các nhà đầu tư có tiềm lực về kinh tế, có khả năng đáp ứng yêu cầu về khoa học và công nghệ tiên tiến trong xây dựng nguồn giống, cơ sở sản xuất giống có quy mô lớn, cung ứng ổn định, lâu dài theo yêu cầu chuỗi sản phẩm.
- Nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trồng rừng theo hướng lựa chọn các loài cây bản địa gỗ lớn, có giá trị kinh tế cao; xây dựng vùng trồng tập trung các loài cây lâm sản ngoài gỗ thế mạnh của tỉnh; xây dựng lộ trình chuyển hóa dần rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn.
- Hiện nay, trên địa bàn tỉnh còn 23.698 ha đất trống chưa có rừng (rừng đặc dụng: 868 ha; rừng phòng hộ: 9.348 ha; rừng sản xuất: 13.482 ha), trong đó tiến hành điều tra, phân loại các diện tích có khả năng trồng rừng để lựa chọn loài cây trồng, áp dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp nhằm phủ xanh các diện tích này. Trước mắt, lựa chọn giải pháp kỹ thuật lâm sinh phủ xanh cho 100 ha đất rừng đặc dụng, 1.000 ha đất rừng phòng hộ, ưu tiên các loài cây gỗ lớn, cây đa tác dụng, cây có giá trị kinh tế trong danh mục đề xuất các loài cây trồng chính cho địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
- Điều tra, xây dựng bản đồ lập địa cho diện tích đất lâm nghiệp trên toàn tỉnh phục vụ trồng rừng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển rừng bằng các loài cây gỗ lớn, các loài cây bản địa, cây đa tác dụng, phát triển cây lâm sản ngoài gỗ.
- Quan tâm đầu tư hệ thống cây phân tán, cây đô thị, đai rừng ven các đô thị, tạo cảnh quan, bảo vệ môi trường sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới, phát triển đô thị văn minh trên địa bàn toàn tỉnh.
2.4. Nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm lâm nghiệp
- Chuyển đổi dần tập đoàn cây trồng nhằm mục tiêu xây dựng rừng trồng gỗ lớn, tạo điều kiện để các doanh nghiệp liên kết, hợp tác phát triển vùng nguyên liệu gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Hỗ trợ cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững, đảm bảo sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ của tỉnh Quảng Ninh đủ điều kiện đáp ứng được yêu cầu quốc tế khi tham gia các hiệp định thương mại tự do.
- Xây dựng các phương án cụ thể, phù hợp tình hình để thực hiện lộ trình sớm hoàn thành dứt điểm việc sắp xếp, đổi mới hoạt động các công ty lâm nghiệp theo Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị và Nghị định số 118/2014/NĐ-CP, ngày 17/12/2014 của Chính phủ, đảm bảo tối đa hóa lợi ích về kinh tế - xã hội - môi trường, hài hòa lợi ích nhà nước - người dân - doanh nghiệp, đảm bảo an ninh nguồn nước, an sinh xã hội và an ninh môi trường lâu dài.
- Phát triển công nghiệp chế biến gỗ thông qua việc xây dựng và hỗ trợ xây dựng các cơ sở chế biến lâm sản; đầu tư xây dựng các khu chế biến công nghệ cao, hình thành các làng nghề sản xuất, kinh doanh lâm sản ngoài gỗ, tạo ra sản phẩm có thương hiệu; quản lý chất lượng hàng hóa, vệ sinh, an toàn thực phẩm tạo niềm tin cho người tiêu dùng đối với sản phẩm lâm sản của tỉnh. Đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ trong chế biến; có cơ chế, chính sách thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực bảo quản, chế biến nhằm nâng cao giá trị gia tăng và ổn định đầu ra cho các sản phẩm lâm sản trên địa bàn.
- Hướng dẫn các chủ rừng xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, tiến tới triển khai cho thuê môi trường rừng, phát triển du lịch sinh thái; lượng hóa giá trị dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ môi trường rừng; rà soát, bổ sung loại hình chi trả dịch vụ môi trường rừng.
2.5. Củng cố tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hoạt động của các doanh nghiệp lâm nghiệp, ban quản lý rừng
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quản lý, bảo vệ, phát triển và khai thác rừng, đất lâm nghiệp. Củng cố tổ chức, bộ máy nhà nước các cấp và nâng cao năng lực hoạt động của các Ban Quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng.
- Hỗ trợ các hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị sản phẩm, có sự kiểm soát chặt chẽ quy trình sản xuất, khuyến khích sản xuất theo hướng hữu cơ, tiến tới đảm bảo sản phẩm sạch, tạo niềm tin cho người tiêu dùng, phát huy vai trò của các doanh nghiệp làm động lực trong sản xuất, chế biến, bao tiêu sản phẩm.
- Tăng cường phối hợp giữa các sở, ban, ngành và địa phương để thực hiện có hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm trong lĩnh vực lâm nghiệp.
- Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố đẩy nhanh tiến độ giao đất, giao rừng; tập trung rà soát những diện tích rừng và đất rừng chưa giao hoặc cho thuê (Ủy ban nhân dân cấp xã đang quản lý), trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp quản lý, sử dụng có hiệu quả theo quy định của Luật Lâm nghiệp và các văn bản hướng dẫn khác.
2.6. Bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách để khuyến khích, hỗ trợ các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, quản lý, khai thác tiềm năng, lợi thế rừng và đất lâm nghiệp
- Tiếp tục hoàn thiện, bổ sung cơ chế, chính sách đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng; quy định thống nhất trách nhiệm của các bên liên quan trong quản lý bảo vệ rừng để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư kinh doanh du lịch sinh thái; đảm bảo kinh phí cho ngân sách xã để thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng theo quy định.
- Nghiên cứu, ban hành chính sách theo hướng khuyến khích công tác bảo vệ rừng tự nhiên cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sau khi được giao đất giao rừng; hỗ trợ giống, liên kết sản xuất, cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững cho trồng rừng nguyên liệu tập trung; hỗ trợ đầu tư phát triển lâm sản ngoài gỗ, bảo tồn, trồng mới các loại cây đặc sản, cây dược liệu có giá trị; xem xét hỗ trợ lãi suất vay các tổ chức tín dụng trung hạn, dài hạn đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng rừng sản xuất.
- Thực hiện có hiệu quả các cơ chế chính sách của trung ương và của tỉnh về đầu tư, hỗ trợ đầu tư, tín dụng, đất đai và thuế nhằm thu hút các doanh nghiệp, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp. Nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung cơ chế chính sách hỗ trợ cho phát triển giống cây lâm nghiệp chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thực tế trên địa bàn tỉnh và các khu vực lân cận.
- Có cơ chế, chính sách liên kết các hộ gia đình với doanh nghiệp trong việc tích tụ đất đai tạo ra vùng trồng nguyên liệu đủ lớn có thể áp dụng được khoa học kỹ thuật tiên tiến tham gia vào chuỗi cung ứng ổn định, bền vững.
- Bổ sung và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ nhằm phát huy tiềm lực về đất đai, tài chính, khoa học kỹ thuật, phát triển thị trường, nguồn nhân lực, thúc đẩy sự liên kết phối hợp giữa nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân để tham gia chặt chẽ, hiệu quả vào lộ trình xây dựng thương hiệu.
2.7. Hợp tác quốc tế và xúc tiến thương mại
- Ưu tiên các nhà đầu tư có tiềm lực về kinh tế, có khả năng đáp ứng yêu cầu về khoa học và công nghệ tiên tiến trong xây dựng nguồn giống, cơ sở sản xuất giống có quy mô lớn, cung ứng ổn định, lâu dài theo yêu cầu chuỗi sản phẩm; đẩy mạnh công tác xây dựng hệ thống rừng giống chất lượng cao trên cơ sở chọn lọc cây trội;
- Xây dựng hình ảnh cho doanh nghiệp, cũng như giúp doanh nghiệp thêm kênh marketing sản phẩm, thêm công cụ trợ giúp giao dịch trực tuyến nhằm giảm bớt chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế;
- Tận dụng lợi thế về đặc thù sản phẩm, điểm khác biệt của sản phẩm gắn với đặc thù tự nhiên, kinh tế - xã hội của của địa phương trong việc giải pháp triển khai xây dựng thương hiệu, phát triển giá trị thương hiệu các sản phẩm đặc sản nông nghiệp của tỉnh gắn với niềm tin cho người tiêu dùng là nhiệm vụ mang tính chiến lược để giữ vững thị trường nội địa và tiến đến xuất khẩu ra ngoài nước; Hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu cho một số loài cho sản phẩm ngoài gỗ và dược liệu chưa có thương hiệu như Quế, Hồi, Cà Gai leo, Đinh lăng,... Mục tiêu phấn đấu có từ 5 - 7 thương hiệu được xây dựng trong giai đoạn 2020 - 2030.
- Xây dựng chương trình tổng thể về phát triển thương hiệu lâm sản Quảng Ninh, trong đó có bao gồm đầy đủ các hướng dẫn thực hiện về lộ trình, các công cụ tài chính, kỹ thuật, thị trường, cơ chế phối hợp, hệ thống chia sẻ, xác định thị trường, ngành hàng tập trung xây dựng thương hiệu một cách khả thi áp dụng thực tiễn để các địa phương có căn cứ triển khai thực hiện.
2.8. Nguồn lực tài chính
- Nguồn ngân sách Trung ương ưu tiên hỗ trợ bảo vệ rừng, trồng rừng ở địa bàn các huyện theo cơ chế, chính sách hiện hành.
- Vốn từ các chương trình, dự án khác như: Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững; Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh; các Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; Dự án rừng và đồng bằng và các nguồn vốn bổ sung khác.
- Hàng năm, bố trí tối thiểu 3% tổng chi ngân sách thường xuyên để chi cho phát triển lâm nghiệp bền vững. Đồng thời, bố trí một phần kinh phí từ nguồn vốn bảo vệ môi trường, nguồn vốn đầu tư hàng năm để đầu tư bảo vệ, phát triển rừng.
- Huy động nguồn vốn hợp pháp khác trên địa bàn theo hướng xã hội hóa (kinh phí trồng rừng hàng năm của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình; kinh phí đầu tư các dự án trồng rừng; sản xuất, chế biến các sản phẩm gỗ, lâm sản ngoài gỗ; huy động các thành phần kinh tế trong nước theo cơ chế liên danh, liên kết giữa hộ nông dân và doanh nghiệp cùng góp vốn để phát triển rừng, hình thành vùng nguyên liệu cho chế biến gỗ; phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo vệ rừng, các nguồn vốn hỗ trợ ODA...); khuyến khích phát triển nông lâm kết hợp, trang trại lâm nghiệp theo quy định tại Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng, giao nhiệm vụ công ích đối với các công ty nông, lâm nghiệp.
- Huy động nguồn vốn của các tổ chức cá nhân trong việc trồng cây phân tán, nguồn vốn của doanh nghiệp khai thác than/khoáng sản trong việc phục hồi môi trường rừng trên đất bãi thải sau khai thác than/khoáng sản.
- Nguồn vốn hỗ trợ chủ rừng đầu tư phát triển lâm nghiệp theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 và Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn song song với việc kêu gọi các nguồn vốn ODA và sử dụng hợp lý nguồn vốn chi trả dịch vụ môi trường rừng vào mục tiêu bảo vệ, phát triển rừng và sử dụng rừng bền vững.
- Đẩy mạnh hợp tác với các cơ quan du lịch của các nước ASEAN để thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái tại khu kinh tế Vân Đồn và khu vực vịnh Bái Tử Long, Vườn Quốc gia Bái Tử Long. Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư nhằm thu hút các nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước.
3. Kinh phí và nguồn kinh phí thực hiện
Tổng kinh phí thực hiện đề án, dự án đến năm 2030 là 12.411.408 triệu đồng; trong đó vốn ngân sách địa phương là 3.398.817 triệu đồng (chiếm 27,38%), vốn ngân sách Trung ương 583.670 triệu đồng (chiếm 4,70%), vốn xã hội hóa 8.428.921 triệu đồng (chiếm 67,92%).