Document: Khoản 8 Điều 1 Quyết định 3965/QĐ-BVHTTDL Chương trình lễ hội biểu diễn văn hóa nghệ thuật dân tộc 2015 2020 2016

Type: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch", "promulgation_date": "16/11/2015", "sign_number": "3965/QĐ-BVHTTDL", "signer": "Huỳnh Vĩnh Ái", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch", "promulgation_date": "16/11/2015", "sign_number": "3965/QĐ-BVHTTDL", "signer": "Huỳnh Vĩnh Ái", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch", "promulgation_date": "16/11/2015", "sign_number": "3965/QĐ-BVHTTDL", "signer": "Huỳnh Vĩnh Ái", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch", "promulgation_date": "16/11/2015", "sign_number": "3965/QĐ-BVHTTDL", "signer": "Huỳnh Vĩnh Ái", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch", "promulgation_date": "16/11/2015", "sign_number": "3965/QĐ-BVHTTDL", "signer": "Huỳnh Vĩnh Ái", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 8 Điều 1 Quyết định 3965/QĐ-BVHTTDL Chương trình lễ hội biểu diễn văn hóa nghệ thuật dân tộc 2015 2020 2016

Điều 1. Phê duyệt Dự án “Chương trình hoạt động lễ hội và biểu diễn văn hóa nghệ thuật các dân tộc cấp tỉnh, vùng và quốc gia giai đoạn 2015-2020” thuộc Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” theo Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ với những nội dung sau:
...
8. Giải pháp thực hiện Dự án:
a) Về chính sách
- Xây dựng cơ chế chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn và phát triển các giá trị của di tích, lễ hội và hoạt động văn hóa nghệ thuật truyền thống, phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước, phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của người dân.
b) Về tổ chức quản lý
- Thực hiện tốt công tác kiểm kê, lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương một cách khoa học và có hệ thống thông qua việc tư liệu hóa, vật thể hóa hệ thống di sản văn hóa nhằm nhận diện và xác định mức độ tồn tại, giá trị và sức sống của từng loại di sản văn hóa trong cộng đồng trên cơ sở đó đề xuất phương án bảo tồn, phát huy một cách hiệu quả.
- Nâng cao vai trò quản lý, định hướng của nhà nước, đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia bảo vệ di sản văn hóa, gắn hoạt động văn hóa dân tộc trong công tác, xây dựng đời sống văn hóa. Trong đó cần chú trọng đến nguyên tắc “bảo tồn sống” tức là bảo tồn các loại hình văn hóa phi vật thể ngay chính trong đời sống cộng đồng. Có chính sách, chế độ thích đáng cho các nghệ nhân tài giỏi, những cá nhân và gia đình có công sức giữ gìn tài sản văn hóa dân tộc.
- Nghiên cứu, sưu tầm, phục hội nâng cao các làn điệu dân ca, dân vũ của đồng bào các dân tộc để đáp ứng nhu cầu thực tế; xây dựng các tổ, đội văn nghệ truyền thống, nhân rộng các mô hình điểm và tiến tới hướng dẫn con em người dân tộc biết sử dụng các nhạc cụ cổ truyền dân tộc. Phát động việc sáng tác các bài hát, điệu múa cho đồng bào sử dụng trong các buổi lễ, ngày hội, mừng được mùa nhằm từng bước thay thế những phong tục tập quán lạc hậu.
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ở địa phương, có kế hoạch sử dụng các học sinh, sinh viên dân tộc được đào tạo cơ bản ở các trường chuyên nghiệp đã tốt nghiệp ra trường để họ được về phục địa phương và dân tộc mình.
- Ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, giao lưu, hợp tác với các địa phương trong và ngoài nước trong hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.
c) Nghiên cứu khoa học, tư liệu hóa, xuất bản ấn phẩm
- Nghiên cứu khoa học để bổ sung tư liệu, sưu tầm những tư liệu quý hiếm về lễ hội, các làn điệu dân ca, dân vũ hiện đang còn nằm trong đời sống nhân dân các dân tộc và đang đứng trước nguy cơ mai một, thất truyền, những tư liệu này cần được bảo tồn.
d) Giải pháp về tài chính
- Sử dụng ngân sách nhà nước:
Thứ nhất, đầu tư kinh phí tu bổ cải tạo quần thể khu di tích cả về không gian thiêng của khu di tích, khu trung tâm lễ hội, đường hành lễ, các Đền thờ, chùa và nội tự các đồ thờ tự bên trong của khu di tích và khu dịch vụ phục vụ du khách.
Thứ hai, đầu tư kinh phí phục dựng bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội. Đầu tư bảo tồn nghi thức trình thức tổ chức lễ hội như lễ dâng hương tưởng niệm, đầu tư phục dựng và bảo tồn những tín ngưỡng dân gian gắn với nhân vật thờ tự...các lễ hội và các trò chơi, trò diễn dân gian liên quan đến giá trị văn hóa truyền thống cả về nội dung và hình thức tạo thêm kho tàng phong phú cho lễ hội.
Thứ ba, đầu tư các cơ sở hạ tầng du lịch phục vụ du khách trong và ngoài nước thăm quan lễ hội, biểu diễn văn hóa, văn nghệ.
Thứ tư, đầu tư khôi phục các hoạt động văn hóa nghệ thuật truyền thống; có chính sách đối với nghệ nhân để truyền dạy cho các thế hệ trẻ.
- Ngân sách từ nguồn xã hội hóa:
Phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong tổ chức lễ hội, khuyến khích sự tham gia đóng góp về vật chất cũng như những sáng tạo văn hóa, văn nghệ quần chúng trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương, của từng vùng miền và của cả nước.
- Tạo nguồn thu về phát triển du lịch:
Giải quyết tốt mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế trong tổ chức lễ hội, không vì khai thác nguồn lợi kinh tế mà làm sai lệch bản chất và nội dung của lễ hội.
- Nâng cao đời sống kinh tế cho cộng đồng cư dân vùng có lễ hội:
Đảm bảo lợi ích cá nhân gắn với lợi ích cộng đồng trong việc tham gia các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa tại lễ hội.
đ) Về cơ sở vật chất phục vụ lễ hội
Bảo tồn, tôn tạo các nơi thờ tự, khu di tích danh thắng tương xứng với quy mô phù hợp sự phát triển của mỗi lễ hội.
Mở rộng không gian lễ hội, xây dựng những công trình gắn với niềm tin và truyền thuyết của cộng đồng. Các công trình phải có kiến trúc hài hòa, tôn nghiêm, bề thế, không manh mún, lạc lõng với không gian thiêng của lễ hội.
Đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ khách du lịch trong nước và Quốc tế, cải tạo nâng cấp các công trình đã có, xây mới những công trình đáp ứng nhu cầu dịch vụ chất lượng cao và lượng du khách ngày càng tăng.
e) Khai thác các trò chơi, trò diễn, văn hóa nghệ thuật truyền thống kết hợp bổ sung các hoạt động văn hóa mới, hình thành tập quán mới làm phong phú nội dung
- Tập trung nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa nghệ thuật theo định hướng: Bảo tồn có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống, loại bỏ dần các yếu tố lạc hậu, xây dựng bổ sung thêm các yếu tố mới phù hợp. Nghiên cứu đưa vào lễ hội một số trò chơi, trò diễn dân gian phù hợp nhằm tạo nên sức sống mới cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật.
Tùy thuộc vào không gian khu vực tổ chức và điều kiện kinh phí và nhu cầu của nhân dân địa phương tổ chức một số chương trình hoạt động như: Biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp và nghệ thuật quần chúng, tổ chức các hoạt động thể dục thể thao truyền thống và hiện đại, tổ chức các hội thi, hội diễn, hội trại... Trong phần hội nên chú trọng tổ chức các hoạt động văn hóa dân gian truyền thống đặc trưng, chú trọng khai thác các hoạt động dân gian, trò diễn và các hoạt động văn hóa truyền thống đặc trưng mang đậm bản sắc văn hóa của từng địa phương, vùng miền, khu vực, qua đó truyền dạy cho các thế hệ trẻ hôm nay niềm tự hào, lòng biết ơn đối với những lớp người đi trước. Các hoạt động văn hóa tham gia lễ hội phải được chuẩn bị chu đáo, nội dung chương trình hấp dẫn, văn minh lịch sự, lành mạnh có khả năng thu hút công chúng.
g) Nâng cao năng lực tổ chức hoạt động biểu diễn văn hóa, nghệ thuật cho cán bộ làm công tác văn hóa ở cơ sở
- Kỹ năng xây dựng chương trình biểu diễn văn nghệ.
Tổ chức hội thi, hội diễn dân ca các dân tộc thiểu số cấp tỉnh, vùng miền và cấp quốc gia.
- Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và có chuyên môn, có kinh nghiệm thực tiễn, hiểu về quản lý tổ chức hoạt động lễ hội, dần tạo phong cách chuyên nghiệp trong trình diễn các sinh hoạt văn hóa dân gian cho các chuyên gia và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ. Có kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về các văn bản luật, pháp lệnh và văn bản dưới luật về hoạt động lễ hội và nâng cao trình độ tổ chức quản lý điều hành tổ chức lễ hội cho đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở đặc biệt là cán bộ trực tiếp quản lý di tích và tổ chức lễ hội.

Content:
Giải pháp thực hiện Dự án:
a) Về chính sách
- Xây dựng cơ chế chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn và phát triển các giá trị của di tích, lễ hội và hoạt động văn hóa nghệ thuật truyền thống, phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước, phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của người dân.
b) Về tổ chức quản lý
- Thực hiện tốt công tác kiểm kê, lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương một cách khoa học và có hệ thống thông qua việc tư liệu hóa, vật thể hóa hệ thống di sản văn hóa nhằm nhận diện và xác định mức độ tồn tại, giá trị và sức sống của từng loại di sản văn hóa trong cộng đồng trên cơ sở đó đề xuất phương án bảo tồn, phát huy một cách hiệu quả.
- Nâng cao vai trò quản lý, định hướng của nhà nước, đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia bảo vệ di sản văn hóa, gắn hoạt động văn hóa dân tộc trong công tác, xây dựng đời sống văn hóa. Trong đó cần chú trọng đến nguyên tắc “bảo tồn sống” tức là bảo tồn các loại hình văn hóa phi vật thể ngay chính trong đời sống cộng đồng. Có chính sách, chế độ thích đáng cho các nghệ nhân tài giỏi, những cá nhân và gia đình có công sức giữ gìn tài sản văn hóa dân tộc.
- Nghiên cứu, sưu tầm, phục hội nâng cao các làn điệu dân ca, dân vũ của đồng bào các dân tộc để đáp ứng nhu cầu thực tế; xây dựng các tổ, đội văn nghệ truyền thống, nhân rộng các mô hình điểm và tiến tới hướng dẫn con em người dân tộc biết sử dụng các nhạc cụ cổ truyền dân tộc. Phát động việc sáng tác các bài hát, điệu múa cho đồng bào sử dụng trong các buổi lễ, ngày hội, mừng được mùa nhằm từng bước thay thế những phong tục tập quán lạc hậu.
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ở địa phương, có kế hoạch sử dụng các học sinh, sinh viên dân tộc được đào tạo cơ bản ở các trường chuyên nghiệp đã tốt nghiệp ra trường để họ được về phục địa phương và dân tộc mình.
- Ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, giao lưu, hợp tác với các địa phương trong và ngoài nước trong hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.
c) Nghiên cứu khoa học, tư liệu hóa, xuất bản ấn phẩm
- Nghiên cứu khoa học để bổ sung tư liệu, sưu tầm những tư liệu quý hiếm về lễ hội, các làn điệu dân ca, dân vũ hiện đang còn nằm trong đời sống nhân dân các dân tộc và đang đứng trước nguy cơ mai một, thất truyền, những tư liệu này cần được bảo tồn.
d) Giải pháp về tài chính
- Sử dụng ngân sách nhà nước:
Thứ nhất, đầu tư kinh phí tu bổ cải tạo quần thể khu di tích cả về không gian thiêng của khu di tích, khu trung tâm lễ hội, đường hành lễ, các Đền thờ, chùa và nội tự các đồ thờ tự bên trong của khu di tích và khu dịch vụ phục vụ du khách.
Thứ hai, đầu tư kinh phí phục dựng bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội. Đầu tư bảo tồn nghi thức trình thức tổ chức lễ hội như lễ dâng hương tưởng niệm, đầu tư phục dựng và bảo tồn những tín ngưỡng dân gian gắn với nhân vật thờ tự...các lễ hội và các trò chơi, trò diễn dân gian liên quan đến giá trị văn hóa truyền thống cả về nội dung và hình thức tạo thêm kho tàng phong phú cho lễ hội.
Thứ ba, đầu tư các cơ sở hạ tầng du lịch phục vụ du khách trong và ngoài nước thăm quan lễ hội, biểu diễn văn hóa, văn nghệ.
Thứ tư, đầu tư khôi phục các hoạt động văn hóa nghệ thuật truyền thống; có chính sách đối với nghệ nhân để truyền dạy cho các thế hệ trẻ.
- Ngân sách từ nguồn xã hội hóa:
Phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong tổ chức lễ hội, khuyến khích sự tham gia đóng góp về vật chất cũng như những sáng tạo văn hóa, văn nghệ quần chúng trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương, của từng vùng miền và của cả nước.
- Tạo nguồn thu về phát triển du lịch:
Giải quyết tốt mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế trong tổ chức lễ hội, không vì khai thác nguồn lợi kinh tế mà làm sai lệch bản chất và nội dung của lễ hội.
- Nâng cao đời sống kinh tế cho cộng đồng cư dân vùng có lễ hội:
Đảm bảo lợi ích cá nhân gắn với lợi ích cộng đồng trong việc tham gia các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa tại lễ hội.
đ) Về cơ sở vật chất phục vụ lễ hội
Bảo tồn, tôn tạo các nơi thờ tự, khu di tích danh thắng tương xứng với quy mô phù hợp sự phát triển của mỗi lễ hội.
Mở rộng không gian lễ hội, xây dựng những công trình gắn với niềm tin và truyền thuyết của cộng đồng. Các công trình phải có kiến trúc hài hòa, tôn nghiêm, bề thế, không manh mún, lạc lõng với không gian thiêng của lễ hội.
Đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ khách du lịch trong nước và Quốc tế, cải tạo nâng cấp các công trình đã có, xây mới những công trình đáp ứng nhu cầu dịch vụ chất lượng cao và lượng du khách ngày càng tăng.
e) Khai thác các trò chơi, trò diễn, văn hóa nghệ thuật truyền thống kết hợp bổ sung các hoạt động văn hóa mới, hình thành tập quán mới làm phong phú nội dung
- Tập trung nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa nghệ thuật theo định hướng: Bảo tồn có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống, loại bỏ dần các yếu tố lạc hậu, xây dựng bổ sung thêm các yếu tố mới phù hợp. Nghiên cứu đưa vào lễ hội một số trò chơi, trò diễn dân gian phù hợp nhằm tạo nên sức sống mới cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật.
Tùy thuộc vào không gian khu vực tổ chức và điều kiện kinh phí và nhu cầu của nhân dân địa phương tổ chức một số chương trình hoạt động như: Biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp và nghệ thuật quần chúng, tổ chức các hoạt động thể dục thể thao truyền thống và hiện đại, tổ chức các hội thi, hội diễn, hội trại... Trong phần hội nên chú trọng tổ chức các hoạt động văn hóa dân gian truyền thống đặc trưng, chú trọng khai thác các hoạt động dân gian, trò diễn và các hoạt động văn hóa truyền thống đặc trưng mang đậm bản sắc văn hóa của từng địa phương, vùng miền, khu vực, qua đó truyền dạy cho các thế hệ trẻ hôm nay niềm tự hào, lòng biết ơn đối với những lớp người đi trước. Các hoạt động văn hóa tham gia lễ hội phải được chuẩn bị chu đáo, nội dung chương trình hấp dẫn, văn minh lịch sự, lành mạnh có khả năng thu hút công chúng.
g) Nâng cao năng lực tổ chức hoạt động biểu diễn văn hóa, nghệ thuật cho cán bộ làm công tác văn hóa ở cơ sở
- Kỹ năng xây dựng chương trình biểu diễn văn nghệ.
Tổ chức hội thi, hội diễn dân ca các dân tộc thiểu số cấp tỉnh, vùng miền và cấp quốc gia.
- Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và có chuyên môn, có kinh nghiệm thực tiễn, hiểu về quản lý tổ chức hoạt động lễ hội, dần tạo phong cách chuyên nghiệp trong trình diễn các sinh hoạt văn hóa dân gian cho các chuyên gia và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ. Có kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về các văn bản luật, pháp lệnh và văn bản dưới luật về hoạt động lễ hội và nâng cao trình độ tổ chức quản lý điều hành tổ chức lễ hội cho đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở đặc biệt là cán bộ trực tiếp quản lý di tích và tổ chức lễ hội.