Document: Khoản 1 Điều 1 Quyết định 1999/QĐ-UBND 2006 Quy hoạch phát triển mạng lưới Chợ tỉnh Thanh Hóa đến 2010

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "19/07/2006", "sign_number": "1999/QĐ-UBND", "signer": "Chu Phạm Ngọc Hiển", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "19/07/2006", "sign_number": "1999/QĐ-UBND", "signer": "Chu Phạm Ngọc Hiển", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "19/07/2006", "sign_number": "1999/QĐ-UBND", "signer": "Chu Phạm Ngọc Hiển", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "19/07/2006", "sign_number": "1999/QĐ-UBND", "signer": "Chu Phạm Ngọc Hiển", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "19/07/2006", "sign_number": "1999/QĐ-UBND", "signer": "Chu Phạm Ngọc Hiển", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 1 Quyết định 1999/QĐ-UBND 2006 Quy hoạch phát triển mạng lưới Chợ tỉnh Thanh Hóa đến 2010

Điều 1. Phê duyệt đề án “Quy hoạch phát triển mạng lưới Chợ tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” với nội dung như sau:
1. Thực trạng mạng lưới chợ tỉnh Thanh Hóa đến năm 2005
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có 02 chợ loại I ( chợ Vườn Hoa thành phố Thanh Hóa và chợ Trung tâm thị xã Bỉm Sơn ), 20 chợ loại II, 368 chợ loại III; ngoài ra còn có 23 chợ cóc và tụ điểm buôn bán không có vị trí đất.
Tổng diện tích đất chiếm của các chợ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa là 1.200.401 m2, diện tích xây dựng là 219.189 m2, chiếm 18,3% tổng diện tích đất chợ. Một chợ phục vụ bình quân 9.350 người.
- Khu vực thành phố và hai thị xã: hiện có 25 chợ, gồm 2 chợ loại I, 4 chợ loại II và 19 chợ loại III. Diện tích chiếm đất 114.617 m2, trong đó diện tích xây dựng 51.471 m2; Có 4 chợ kiên cố, 12 chợ bán kiên cố và 9 chợ tạm. Bình quân một chợ có diện tích 4.585 m2, vốn đầu tư 2.196 triệu đồng. Tổng số hộ kinh doanh trong các chợ có 5.576 hộ. Bình quân một chợ phục vụ 12.350 người. Bình quân 0,83 chợ/xã, phường, bình quân diện tích lãnh thổ 5,71 Km2 có một chợ.
- Khu vực đồng bằng ven biển: gồm 13 huyện đồng bằng ven biển, hiện có 268 chợ với 12 chợ loại II và 256 chợ loại III. Diện tích chiếm đất 842.752 m2, trong đó diện tích xây dựng 138.457 m2; Có 12 chợ kiên cố, 154 chợ bán kiên cố và 102 chợ tạm. Bình quân một chợ có diện tích 3.145 m2, vốn đầu tư 248,8 triệu đồng. Tổng số hộ kinh doanh trong các chợ có 49.035 hộ. Bình quân một chợ phục vụ 9.150 người. Bình quân 0,66 chợ/xã, phường, bình quân diện tích lãnh thổ 11,17 Km2 có một chợ.
- Khu vực miền núi: Khu vực 11 huyện miền núi hiện có 97 chợ với 4 chợ loại II và 93 chợ loại III. Diện tích chiếm đất 243.032 m2, trong đó diện tích xây dựng 29.261 m2; Có 4 chợ kiên cố, 56 chợ bán kiên cố và 37 chợ tạm. Bình quân một chợ có diện tích 2.505 m2, vốn đầu tư 262,2 triệu đồng. Tổng số hộ kinh doanh trong các chợ có 18.494 hộ, trong đó kinh doanh thường xuyên là 4.904 hộ, không thường xuyên là 13.590 hộ. Bình quân một chợ phục vụ 9.140 người. Bình quân 0,5 chợ/xã, phường, bình quân diện tích lãnh thổ 82,28 Km2 có một chợ.
2- Những hạn chế tồn tại và nguyên nhân.
Do sự hình thành và phát triển chợ phần lớn mang tính tự phát, chưa có quy hoạch nên mạng lưới chợ còn nhiều bất hợp lý, phân bố không đều, còn nhiều chợ cóc, tụ điểm buôn bán không có vị trí đất, chợ tạm, hiệu quả hoạt động của chợ chưa cao. Do thiếu vốn đầu tư cải tạo, sửa chữa nâng cấp nên nhiều chợ có cơ sở vật chất thấp kém, chưa có hệ thống phòng chống cháy, nổ, xử lý rác, nước thải … diện tích và quy mô xây dựng nhiều chợ chưa phù hợp với hiện tại và xu hướng phát triển những năm tới. Việc xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp một số chợ hiệu quả đầu tư còn thấp, một số chợ được đầu tư khá tốn kém nhưng không phù hợp với yêu cầu mua bán, truyền thống, tập quán của từng địa bàn dân cư, thậm chí có chợ không có người họp, gây lãng phí vốn đầu tư.
Công tác quản lý Nhà nước về chợ còn nhiều thiếu sót, đôi lúc chưa có sự thống nhất giữa cơ quan chuyên môn và cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền. Việc phân cấp quản lý chưa cụ thể, bộ máy quản lý chợ còn nhiều bất cập. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong quản lý chợ chưa chặt chẽ, thiếu thường xuyên, hoạt động kinh doanh của thương nhân trong chợ còn nhiều sai phạm.
Đa số các chợ chưa xây dựng được nội quy, chức năng, nhiệm vụ của ban quản lý, tổ quản lý chưa được quy định cụ thể, thiếu chặt chẽ; quyền hạn, trách nhiệm chưa rõ ràng, chưa khuyến khích được sự năng động và gắn bó được trách nhiệm lâu dài của người quản lý với sự phát triển chợ.
B- Quy hoạch phát triển mạng lưới chợ tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
1. Quan điểm quy hoạch
- Quy hoạch phát triển mạng lưới chợ phải được tiến hành một cách đồng bộ; theo quy mô, tính chất, chức năng của từng loại chợ, vị trí của từng chợ phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố hình thành chợ. Cấu trúc, quy mô từng loại chợ phải phù hợp với yêu cầu hiện tại, phát huy hiệu quả, tránh lãng phí; đồng thời phải dự kiến đến việc nâng cấp, mở rộng để phù hợp với yêu cầu phát triển trong tương lai.
- Phát triển và khai thác có hiệu quả mạng lưới chợ với sự đa dạng về loại hình và cấp độ. Phát triển hệ thống chợ của tỉnh phải đảm bảo gắn kết giữa hệ thống chợ hiện có với việc mở rộng và phát triển thêm các chợ mới, liên kết với các siêu thị, trung tâm thương mại …Ưu tiên phát triển các chợ: chợ chuyên doanh nông lâm thủy sản, gia súc; chợ đầu mối, chợ trung tâm cụm xã, chợ trung tâm loại I, các chợ biên giới, chợ thuộc khu vực kinh tế cửa khẩu. Phát triển nhiều chợ loại III để đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hóa ở khu vực nông thôn, đặc biệt là các xã, miền núi, vùng sâu, vùng xa, để đẩy mạnh lưu thông hàng hóa và kinh doanh dịch vụ, xây dựng văn minh thương mại, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và giải quyết ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, an ninh trật tự....
- Đối với các chợ có vị trí không phù hợp, vi phạm lộ giới giao thông các địa phương phải có kế hoạch di dời, giải tỏa; đối với một số chợ đã xây dựng xong nhưng chưa hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả cần xem xét lại các yếu tố hình thành chợ, đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng tại khu vực chợ, áp dụng các hình thức giảm thu, nhằm khuyến khích các đối tượng vào họp chợ.
- Khuyến khích các doanh nhân bỏ vốn đầu tư xây dựng chợ hoặc góp vốn đầu tư xây dựng chợ để kinh doanh. Nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đối với chợ đầu mối, chợ chuyên doanh.
- Đổi mới phương thức hoạt động, hình thành các mô hình tổ chức quản lý mới quản lý ở tất cả các chợ trên địa bàn tỉnh, phù hợp phát triển kinh tế - xã hội.

Content:
Thực trạng mạng lưới chợ tỉnh Thanh Hóa đến năm 2005
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có 02 chợ loại I ( chợ Vườn Hoa thành phố Thanh Hóa và chợ Trung tâm thị xã Bỉm Sơn ), 20 chợ loại II, 368 chợ loại III; ngoài ra còn có 23 chợ cóc và tụ điểm buôn bán không có vị trí đất.
Tổng diện tích đất chiếm của các chợ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa là 1.200.401 m2, diện tích xây dựng là 219.189 m2, chiếm 18,3% tổng diện tích đất chợ. Một chợ phục vụ bình quân 9.350 người.
- Khu vực thành phố và hai thị xã: hiện có 25 chợ, gồm 2 chợ loại I, 4 chợ loại II và 19 chợ loại III. Diện tích chiếm đất 114.617 m2, trong đó diện tích xây dựng 51.471 m2; Có 4 chợ kiên cố, 12 chợ bán kiên cố và 9 chợ tạm. Bình quân một chợ có diện tích 4.585 m2, vốn đầu tư 2.196 triệu đồng. Tổng số hộ kinh doanh trong các chợ có 5.576 hộ. Bình quân một chợ phục vụ 12.350 người. Bình quân 0,83 chợ/xã, phường, bình quân diện tích lãnh thổ 5,71 Km2 có một chợ.
- Khu vực đồng bằng ven biển: gồm 13 huyện đồng bằng ven biển, hiện có 268 chợ với 12 chợ loại II và 256 chợ loại III. Diện tích chiếm đất 842.752 m2, trong đó diện tích xây dựng 138.457 m2; Có 12 chợ kiên cố, 154 chợ bán kiên cố và 102 chợ tạm. Bình quân một chợ có diện tích 3.145 m2, vốn đầu tư 248,8 triệu đồng. Tổng số hộ kinh doanh trong các chợ có 49.035 hộ. Bình quân một chợ phục vụ 9.150 người. Bình quân 0,66 chợ/xã, phường, bình quân diện tích lãnh thổ 11,17 Km2 có một chợ.
- Khu vực miền núi: Khu vực 11 huyện miền núi hiện có 97 chợ với 4 chợ loại II và 93 chợ loại III. Diện tích chiếm đất 243.032 m2, trong đó diện tích xây dựng 29.261 m2; Có 4 chợ kiên cố, 56 chợ bán kiên cố và 37 chợ tạm. Bình quân một chợ có diện tích 2.505 m2, vốn đầu tư 262,2 triệu đồng. Tổng số hộ kinh doanh trong các chợ có 18.494 hộ, trong đó kinh doanh thường xuyên là 4.904 hộ, không thường xuyên là 13.590 hộ. Bình quân một chợ phục vụ 9.140 người. Bình quân 0,5 chợ/xã, phường, bình quân diện tích lãnh thổ 82,28 Km2 có một chợ.
2- Những hạn chế tồn tại và nguyên nhân.
Do sự hình thành và phát triển chợ phần lớn mang tính tự phát, chưa có quy hoạch nên mạng lưới chợ còn nhiều bất hợp lý, phân bố không đều, còn nhiều chợ cóc, tụ điểm buôn bán không có vị trí đất, chợ tạm, hiệu quả hoạt động của chợ chưa cao. Do thiếu vốn đầu tư cải tạo, sửa chữa nâng cấp nên nhiều chợ có cơ sở vật chất thấp kém, chưa có hệ thống phòng chống cháy, nổ, xử lý rác, nước thải … diện tích và quy mô xây dựng nhiều chợ chưa phù hợp với hiện tại và xu hướng phát triển những năm tới. Việc xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp một số chợ hiệu quả đầu tư còn thấp, một số chợ được đầu tư khá tốn kém nhưng không phù hợp với yêu cầu mua bán, truyền thống, tập quán của từng địa bàn dân cư, thậm chí có chợ không có người họp, gây lãng phí vốn đầu tư.
Công tác quản lý Nhà nước về chợ còn nhiều thiếu sót, đôi lúc chưa có sự thống nhất giữa cơ quan chuyên môn và cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền. Việc phân cấp quản lý chưa cụ thể, bộ máy quản lý chợ còn nhiều bất cập. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong quản lý chợ chưa chặt chẽ, thiếu thường xuyên, hoạt động kinh doanh của thương nhân trong chợ còn nhiều sai phạm.
Đa số các chợ chưa xây dựng được nội quy, chức năng, nhiệm vụ của ban quản lý, tổ quản lý chưa được quy định cụ thể, thiếu chặt chẽ; quyền hạn, trách nhiệm chưa rõ ràng, chưa khuyến khích được sự năng động và gắn bó được trách nhiệm lâu dài của người quản lý với sự phát triển chợ.
B- Quy hoạch phát triển mạng lưới chợ tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
Quan điểm quy hoạch
- Quy hoạch phát triển mạng lưới chợ phải được tiến hành một cách đồng bộ; theo quy mô, tính chất, chức năng của từng loại chợ, vị trí của từng chợ phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố hình thành chợ. Cấu trúc, quy mô từng loại chợ phải phù hợp với yêu cầu hiện tại, phát huy hiệu quả, tránh lãng phí; đồng thời phải dự kiến đến việc nâng cấp, mở rộng để phù hợp với yêu cầu phát triển trong tương lai.
- Phát triển và khai thác có hiệu quả mạng lưới chợ với sự đa dạng về loại hình và cấp độ. Phát triển hệ thống chợ của tỉnh phải đảm bảo gắn kết giữa hệ thống chợ hiện có với việc mở rộng và phát triển thêm các chợ mới, liên kết với các siêu thị, trung tâm thương mại …Ưu tiên phát triển các chợ: chợ chuyên doanh nông lâm thủy sản, gia súc; chợ đầu mối, chợ trung tâm cụm xã, chợ trung tâm loại I, các chợ biên giới, chợ thuộc khu vực kinh tế cửa khẩu. Phát triển nhiều chợ loại III để đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hóa ở khu vực nông thôn, đặc biệt là các xã, miền núi, vùng sâu, vùng xa, để đẩy mạnh lưu thông hàng hóa và kinh doanh dịch vụ, xây dựng văn minh thương mại, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và giải quyết ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, an ninh trật tự....
- Đối với các chợ có vị trí không phù hợp, vi phạm lộ giới giao thông các địa phương phải có kế hoạch di dời, giải tỏa; đối với một số chợ đã xây dựng xong nhưng chưa hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả cần xem xét lại các yếu tố hình thành chợ, đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng tại khu vực chợ, áp dụng các hình thức giảm thu, nhằm khuyến khích các đối tượng vào họp chợ.
- Khuyến khích các doanh nhân bỏ vốn đầu tư xây dựng chợ hoặc góp vốn đầu tư xây dựng chợ để kinh doanh. Nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đối với chợ đầu mối, chợ chuyên doanh.
- Đổi mới phương thức hoạt động, hình thành các mô hình tổ chức quản lý mới quản lý ở tất cả các chợ trên địa bàn tỉnh, phù hợp phát triển kinh tế - xã hội.