Document: Khoản 1 Điều 6 Thông tư 02-BCNN/KH chế độ quản lý hàng thiếu tiêu chuẩn phế phẩm phế liệu hướng dẫn Quyết định 63-CP

Type: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 6 Thông tư 02-BCNN/KH chế độ quản lý hàng thiếu tiêu chuẩn phế phẩm phế liệu hướng dẫn Quyết định 63-CP

Điều 6. – Các xí nghiệp, công trường thuộc Bộ phải triệt để ngăn cấm những hành động giấu phế phẩm, phế liệu và hàng thiếu tiêu chuẩn.
1. Đối với hàng thiếu tiêu chuẩn:
Trước hết, cần thống nhất quan niệm thế nào là hàng thiếu tiêu chuẩn:
Thông tư số 63-CP của Hội đồng Chính phủ, mục I, điểm 1 định nghĩa: hàng thiếu tiêu chuẩn gồm:
“Những hàng sản xuất ra mà chưa đạt quy cách và phẩm chất quy định cho những mặt hàng đó.
Những hàng mà phẩm chất bị kém đi, nhưng vẫn còn giá trị thương phẩm do các đơn vị thương nghiệp quản lý”.
Như vậy có nghĩa là:
- Đối với các xí nghiệp sản xuất, hàng thiếu tiêu chuẩn là những sản phẩm hoàn thành (thành phẩm) xuất xưởng mà chưa đạt được đầy đủ các tiêu chuẩn về quy cách và phẩm chất của mặt hàng đó đã quy định trong kế hoạch sản phẩm và hợp đồng tiêu thụ.
- Đối với các đơn vị thương nghiệp, hàng thiếu tiêu chuẩn cụ thể là hàng kém phẩm chất, những vẫn còn có giá trị sử dụng như một sản phẩm thương phẩm có thể bán ra thị trường tiêu thụ.
Thí dụ:
Bát bị xây xát men một vài chỗ nhỏ. Bút máy bị xây xát một chút, hoặc nhãn hiệu in lệch hoặc in mờ. Xà phòng bẹp hoặc méo một chút. Vải nhuộm hoen ố một vài chỗ, v.v…
Phân biệt hàng thiếu tiêu chuẩn với hàng đủ tiêu chuẩn ở chỗ:
- Hàng đủ tiêu chuẩn phải đạt 100% tiêu chuẩn sản phẩm quy định cho xí nghiệp sản xuất mặt hàng đó được Bộ duyệt y. Về quy cách và phẩm chất bao gồm: quy cách, mật độ (thí dụ tích cỡ vải sợi ngang bao nhiêu, sợi dọc bao nhiêu), kích thước (khổ rộng), độ bền màu, và các lỗi do quá trình sản xuất gây ra (hàng đủ tiêu chuẩn phải dệt đúng, không lỗi sợi, không dây dầu, không loang ố, v.v…). Hàng đủ tiêu chuẩn tức là hàng loại I của mặt hàng đó.
- Hàng thiếu tiêu chuẩn tuy không đạt được đầy đủ 100% các tiêu chuẩn sản phẩm quy định, nhưng về quy cách và phẩm chất thì tương đối đạt được 90% hoặc trên 90% hay dưới 90% so với hàng đủ tiêu chuẩn và vẫn đảm bảo giá trị sử dụng theo công dụng chính của nó là một sản phẩm thương phẩm thông thường. Hàng thiếu tiêu chuẩn tức là hàng loại 2 hay loại 3 của mặt hàng đó.
Nguyên tắc quản lý hàng thiếu tiêu chuẩn: Thông tư 63-CP quy định: “Tất cả hàng thiếu tiêu chuẩn đều phải giao cho ngành Mậu dịch quốc doanh tiêu thụ” (mục III, điểm I, trang 2).

Content:
Đối với hàng thiếu tiêu chuẩn:
Trước hết, cần thống nhất quan niệm thế nào là hàng thiếu tiêu chuẩn:
Thông tư số 63-CP của Hội đồng Chính phủ, mục I, điểm 1 định nghĩa: hàng thiếu tiêu chuẩn gồm:
“Những hàng sản xuất ra mà chưa đạt quy cách và phẩm chất quy định cho những mặt hàng đó.
Những hàng mà phẩm chất bị kém đi, nhưng vẫn còn giá trị thương phẩm do các đơn vị thương nghiệp quản lý”.
Như vậy có nghĩa là:
- Đối với các xí nghiệp sản xuất, hàng thiếu tiêu chuẩn là những sản phẩm hoàn thành (thành phẩm) xuất xưởng mà chưa đạt được đầy đủ các tiêu chuẩn về quy cách và phẩm chất của mặt hàng đó đã quy định trong kế hoạch sản phẩm và hợp đồng tiêu thụ.
- Đối với các đơn vị thương nghiệp, hàng thiếu tiêu chuẩn cụ thể là hàng kém phẩm chất, những vẫn còn có giá trị sử dụng như một sản phẩm thương phẩm có thể bán ra thị trường tiêu thụ.
Thí dụ:
Bát bị xây xát men một vài chỗ nhỏ. Bút máy bị xây xát một chút, hoặc nhãn hiệu in lệch hoặc in mờ. Xà phòng bẹp hoặc méo một chút. Vải nhuộm hoen ố một vài chỗ, v.v…
Phân biệt hàng thiếu tiêu chuẩn với hàng đủ tiêu chuẩn ở chỗ:
- Hàng đủ tiêu chuẩn phải đạt 100% tiêu chuẩn sản phẩm quy định cho xí nghiệp sản xuất mặt hàng đó được Bộ duyệt y. Về quy cách và phẩm chất bao gồm: quy cách, mật độ (thí dụ tích cỡ vải sợi ngang bao nhiêu, sợi dọc bao nhiêu), kích thước (khổ rộng), độ bền màu, và các lỗi do quá trình sản xuất gây ra (hàng đủ tiêu chuẩn phải dệt đúng, không lỗi sợi, không dây dầu, không loang ố, v.v…). Hàng đủ tiêu chuẩn tức là hàng loại I của mặt hàng đó.
- Hàng thiếu tiêu chuẩn tuy không đạt được đầy đủ 100% các tiêu chuẩn sản phẩm quy định, nhưng về quy cách và phẩm chất thì tương đối đạt được 90% hoặc trên 90% hay dưới 90% so với hàng đủ tiêu chuẩn và vẫn đảm bảo giá trị sử dụng theo công dụng chính của nó là một sản phẩm thương phẩm thông thường. Hàng thiếu tiêu chuẩn tức là hàng loại 2 hay loại 3 của mặt hàng đó.
Nguyên tắc quản lý hàng thiếu tiêu chuẩn: Thông tư 63-CP quy định: “Tất cả hàng thiếu tiêu chuẩn đều phải giao cho ngành Mậu dịch quốc doanh tiêu thụ” (mục III, điểm I, trang 2).