Document: Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 12119/QĐ-BCT tái cơ cấu ngành dầu khí phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa phát triển bền vững 2020 2030

Type: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "05/11/2015", "sign_number": "12119/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "05/11/2015", "sign_number": "12119/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "05/11/2015", "sign_number": "12119/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "05/11/2015", "sign_number": "12119/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "05/11/2015", "sign_number": "12119/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 12119/QĐ-BCT tái cơ cấu ngành dầu khí phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa phát triển bền vững 2020 2030

Điều 1. Phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành Dầu khí Việt Nam giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (sau đây gọi là Đề án) với các nội dung chủ yếu sau:
...
2. Mục tiêu
...
b) Mục tiêu cụ thể
Tái cơ cấu ngành Dầu khí Việt Nam nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể như sau:
- Về tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí:
Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản và tìm kiếm thăm dò dầu khí ở trong nước nhằm gia tăng trữ lượng dầu khí; xây dựng cơ chế đột phá, khuyến khích các nhà thầu dầu khí lớn từ các nước có vị thế trên thế giới tham gia tại những vùng nước sâu, xa bờ, vùng nhạy cảm, gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; phấn đấu trong giai đoạn 2030-2035, cơ bản đánh giá được trữ lượng dầu khí trên đất liền và thềm lục địa Việt Nam.
Tích cực thăm dò tại các bể nước nông, nghiên cứu thăm dò các đối tượng tìm kiếm thăm dò mới, các bể trầm tích mới và các dạng hydrocarbon phi truyền thống (khí than, khí nông, khí đá phiến sét, khí hydrate,...) để bổ sung trữ lượng phục vụ khai thác lâu dài.
Khai thác hiệu quả các mỏ hiện có; phát triển và đưa các mỏ đã có phát hiện vào khai thác một cách hợp lý và có hiệu quả để sử dụng tài nguyên dầu khí trong nước lâu dài. Xây dựng phương án hợp tác, cơ chế khai thác chung tại những vùng chồng lấn, tranh chấp phức tạp. Triển khai thu dọn các mỏ đã hết khả năng khai thác, bảo đảm hoàn nguyên môi trường sinh thái.
Đẩy mạnh các hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở nước ngoài với cơ chế linh hoạt, phù hợp với khả năng tài chính và năng lực quản lý của ngành Dầu khí theo nguyên tắc bảo đảm hiệu quả kinh tế tài chính và quản trị rủi ro. Lựa chọn các khu vực có tiềm năng dầu khí cao, môi trường đầu tư tốt, thuận lợi về quan hệ chính trị tại các nước và khu vực: Liên bang Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ, Đông Nam Á, Bắc và Nam Mỹ, Bắc Phi và Trung Đông.
Phấn đấu gia tăng trữ lượng dầu khí đạt 33-40 triệu tấn quy dầu/năm, cụ thể như sau:

Chỉ tiêu

Đơn vị

Giai đoạn

2016-2020

2021-2030

Tổng trữ lượng gia tăng

Triệu tấn quy dầu/năm

33-40

30-39

Trong đó:

- Ở trong nước

25-30

20-28

- Ở nước ngoài

8-10

10-11

Phấn đấu sản lượng khai thác dầu khí trong nước đạt 22-33 triệu tấn/năm, trong đó sản lượng dầu thô và condensate đạt 5-14 triệu tấn/năm; sản lượng khí đạt 11-21 tỷ m3/năm, cụ thể như sau:

Chỉ tiêu/năm

Đơn vị

Giai đoạn

2016-2020

2021-2030

Dầu và condensate

Triệu tấn

11-14

5-12

Khí

Tỷ m3

11-14

15-21

Tổng khai thác dầu khí trong nước (quy dầu)

Triệu tấn

22-28

20-33

Phấn đấu sản lượng khai thác dầu thô ở nước ngoài đạt 3-8 triệu tấn/năm, cụ thể như sau:

Chỉ tiêu/năm

Đơn vị

Giai đoạn

2016-2020

2021-2030

Tổng khai thác quy dầu

Triệu tấn

3-7

7-8

- Về công nghiệp khí:
Xây dựng công nghiệp khí hoàn chỉnh, đồng bộ tất cả các khâu: khai thác - thu gom - vận chuyển - chế biến - xuất nhập khẩu - dự trữ - phân phối sản phẩm khí. Giảm dần tỷ trọng sử dụng khí cho điện và chất đốt, tăng cường cho chế biến sâu. Nghiên cứu, tìm kiếm thị trường và xây dựng cơ sở hạ tầng kho cảng để sẵn sàng nhập khẩu khí và các sản phẩm khí từ sau năm 2020. Nghiên cứu phương án xây dựng đường ống kết nối các khu vực, hình thành đường ống dẫn khí quốc gia.
Phấn đấu đến năm 2020 và giai đoạn 2021-2030, duy trì cung cấp 100% thị phần khí khô và tối thiểu 70% thị phần LPG toàn quốc.
- Về công nghiệp điện:
Tăng cường công tác quản lý, vận hành, bảo trì, sửa chữa, bảo đảm hiệu quả đầu tư đối với các dự án, nhà máy điện đã và đang triển khai, phát triển thêm một số dự án điện khí phù hợp với Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia được phê duyệt; không phát triển thêm các dự án thủy điện, điện than, điện gió,...
Phấn đấu đạt sản lượng sản xuất điện như sau: đến cuối năm 2020 đạt 14% công suất hệ thống điện toàn quốc; sản lượng điện đạt trên 40 tỷ kWh. Đến năm 2030, đạt 12% công suất hệ thống điện toàn quốc; sản lượng điện đạt 77 tỷ kWh.
- Về chế biến dầu khí:
Chú trọng chế biến dầu khí nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu trong nước, hướng tới mục tiêu xuất khẩu. Tập trung phát triển lĩnh vực hóa dầu (bao gồm cả hóa dầu từ khí), hóa chất để nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm dầu khí, tạo ra các nguyên, nhiên, vật liệu để phục vụ phát triển sản xuất công nghiệp trong nước, hướng tới xuất khẩu, giảm tỷ trọng nhập siêu. Thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nguồn vốn đầu tư từ xã hội để phát triển lĩnh vực chế biến dầu khí theo nguyên tắc bảo đảm hài hòa lợi ích quốc gia và nhà đầu tư.
Đẩy mạnh việc tích hợp, tổ hợp lọc - hóa dầu với các nguồn khí tự nhiên khai thác nhằm nâng cao hiệu quả của công trình, dự án đã đầu tư và phát triển các dự án mới cả về quy mô, mức độ chế biến sâu có sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế.
Đến năm 2020 và giai đoạn 2021-2030, đáp ứng tối thiểu 60-70% nhu cầu xăng dầu, trên 70% nhu cầu phân đạm và trên 50% nhu cầu sản phẩm hóa dầu trong nước; nghiên cứu đầu tư dự án mới, có xét đến khả năng xuất khẩu.
- Về tồn trữ, phân phối sản phẩm dầu khí:
Phát triển hợp lý hệ thống phân phối xăng dầu nhằm đảm bảo lưu thông và bình ổn thị trường tiêu thụ, đáp ứng toàn bộ nhu cầu xăng dầu trong nước; tăng cường các giải pháp gia tăng dự trữ về dầu thô và xăng dầu; xây dựng chính sách, chế tài khuyến khích sử dụng tiết kiệm xăng dầu, khuyến khích sử dụng rộng rãi nhiên liệu sinh học nhằm giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và bảo vệ môi trường. Hoàn thiện việc điều hành giá xăng dầu theo cơ chế thị trường; khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế khác trong lĩnh vực phân phối sản phẩm dầu khí.
- Về dịch vụ dầu khí:
Có cơ chế, chính sách phù hợp khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia phát triển dịch vụ dầu khí, đặc biệt là dịch vụ dầu khí chất lượng cao; đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn đầu tư của Nhà nước để tái đầu tư vào các lĩnh vực cốt lõi của ngành Dầu khí. Đầu tư trang thiết bị, công nghệ hiện đại để bảo đảm chủ động thực hiện dịch vụ cho các lĩnh vực kinh doanh chính, các dự án đầu tư trong ngành Dầu khí; đồng thời xây dựng cơ chế chính sách tăng cường mở rộng cung cấp dịch vụ kỹ thuật dầu khí của Việt Nam ra nước ngoài.
Xác định các dịch vụ chủ đạo: khoan và kỹ thuật giếng khoan; khảo sát, xử lý và minh giải địa chấn; địa chất công trình, khảo sát và sửa chữa công trình ngầm; thiết kế, chế tạo và xây lắp các công trình dầu khí; đóng mới và vận hành các phương tiện nổi; vận hành và bảo dưỡng, sửa chữa các nhà máy/công trình dầu khí.
II. NỘI DUNG TÁI CƠ CẤU
1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước
Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về dầu khí, trong đó quy định rõ về hoạt động dầu khí từ thượng nguồn, trung nguồn, hạ nguồn. Xây dựng hành lang pháp luật đặc thù nhằm tăng quyền chủ động cho PVN (đơn vị nòng cốt của ngành Dầu khí), nhất là về quyền tự quyết định, tự chịu trách nhiệm đi đôi với kiểm tra, giám sát; về cơ chế đầu tư ra nước ngoài; về công tác tự tổ chức thực hiện các dịch vụ dầu khí đặc thù trong nội bộ PVN.
Hoạch định các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp để thúc đẩy ngành Dầu khí Việt Nam phát triển.
Tăng cường phân công, phân cấp quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong lĩnh vực dầu khí.
Xây dựng Đề án thành lập Cơ quan quản lý nhà nước về năng lượng, trong đó có chức năng quản lý nhà nước về dầu khí, phù hợp với trình độ, năng lực quản lý và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Phân định rõ chức năng quản lý nhà nước về dầu khí; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát.
Đối với các doanh nghiệp ngành Dầu khí
Tiếp tục thực hiện tái cơ cấu ngành Dầu khí bảo đảm vận hành đầy đủ, đúng đắn cơ chế thị trường, phù hợp với xu hướng phát triển và hội nhập quốc tế.
a) Về tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí
- Tiếp tục duy trì vai trò chủ đạo của Công ty mẹ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) - đơn vị nòng cốt của ngành Dầu khí và hai doanh nghiệp cấp II của PVN là Tổng công ty Thăm dò khai thác dầu khí (PVEP) và Liên doanh dầu khí Việt - Nga Vietsovpetro (Vietsovpetro) với nhiệm vụ như sau:
+ Công ty mẹ PVN (100% vốn Nhà nước): thay mặt nước chủ nhà tham gia vào các hợp đồng dầu khí (đàm phán, ký kết, quản lý); chủ động lựa chọn các dự án tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí trong và ngoài nước trình cấp thẩm quyền phê duyệt chủ trương và thực hiện đầu tư; chỉ đạo người đại diện của PVN tại các đơn vị thực hiện phát triển lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò khai thác dầu khí theo Chiến lược/Quy hoạch phát triển ngành Dầu khí Việt Nam.
+ PVEP (hiện PVN đang nắm giữ 100% vốn điều lệ): với tư cách là công ty thực hiện tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí ở trong và ngoài nước theo các hợp đồng dầu khí và quy định hiện hành. Cụ thể: thúc đẩy thực hiện các hợp đồng đã ký (cả trong nước và ngoài nước) theo cam kết; ký kết và thực hiện các hợp đồng mới ở trong nước trên cơ sở hiệu quả; thực hiện các nhiệm vụ chính trị PVN giao; tìm kiếm dự án mới ở nước ngoài để tìm kiếm thăm dò/hoặc mua dự án, các mỏ đang khai thác, mua cổ phần trong các công ty đang khai thác, tham gia vào các hợp đồng đã có phát hiện chuẩn bị phát triển, kết hợp với tìm kiếm, thăm dò gia tăng trữ lượng xung quanh khu vực mua tài sản nếu hiệu quả.
+ Vietsovpetro (hiện PVN đang nắm giữ 51% vốn điều lệ, Zarubezhneft - Liên bang Nga 49%): tiếp tục triển khai tận thăm dò và khai thác dầu khí tại Lô 09-1 trên cơ sở hiệp định hai Chính phủ Việt Nam - Liên bang (LB) Nga đến năm 2030, mở rộng đầu tư ở Việt Nam và nước thứ ba, trên cơ sở hiệu quả và được sự đồng ý của hai phía (LB Nga và Việt Nam).
- Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam khác (ngoài PVN), các doanh nghiệp tư nhân có đủ tiềm lực tài chính tham gia Hợp đồng Chia sản phẩm dầu khí (PSC).
- Tiếp tục khuyến khích các nhà thầu dầu khí lớn từ các nước có vị thế trên thế giới tham gia các PSC nhất là tại những vùng nước sâu, xa bờ, vùng nhạy cảm, gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.
- Đối với đầu tư ra nước ngoài: PVN, PVEP, Vietsovpetro tham gia góp vốn liên doanh phù hợp với đặc thù của từng quốc gia; được phép thành lập một số công ty điều hành dầu khí, doanh nghiệp cấp IV của PVN theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ để quản lý, điều hành, đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí phù hợp với đặc thù lĩnh vực dầu khí và quy định của nước sở tại, đồng thời giảm rủi ro tài chính đối với PVN và PVEP.
- Về định hướng cơ cấu vốn Nhà nước cho giai đoạn tới:
+ Giai đoạn đến năm 2020: tiếp tục duy trì 100% vốn Nhà nước tại PVN; nghiên cứu phương án cổ phần hóa PVEP để thực hiện vào thời điểm thích hợp nhằm thoái vốn của PVN tại PVEP xuống tối thiểu 75%; duy trì 51% vốn PVN tại Vietsovpetro theo Hiệp định liên Chính phủ.
+ Giai đoạn 2021-2030: tiếp tục duy trì 100% vốn Nhà nước tại PVN; tiếp tục thoái vốn PVN tại PVEP xuống tối thiểu 65%; duy trì 51% vốn PVN tại Vietsovpetro theo Hiệp định liên Chính phủ.
b) Về công nghiệp khí
- Tiếp tục duy trì vai trò chủ đạo của Công ty mẹ PVN và doanh nghiệp cấp II của PVN là Tổng công ty Khí Việt Nam - Công ty cổ phần (PVGas) với nhiệm vụ như sau:
+ Công ty mẹ PVN (100% vốn Nhà nước): trực tiếp ký mới các Hợp đồng mua khí với các chủ mỏ, sau đó bán lại cho PVGas và các đối tác, khách hàng quan trọng của nền kinh tế (trước mắt là các nhà máy điện, đạm); đầu tư vào các dự án đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, các dự án trọng điểm dầu khí theo chỉ đạo của Chính phủ; chỉ đạo người đại diện của PVN tại các đơn vị thực hiện phát triển lĩnh vực công nghiệp khí theo Chiến lược/Quy hoạch phát triển ngành Dầu khí.
+ PVGas (hiện PVN đang nắm giữ 96,72% vốn điều lệ): thực hiện các hợp đồng mua khí trực tiếp từ các chủ mỏ trước đây PVGas đã đứng tên là một bên của hợp đồng; đối với các hợp đồng mới, PVGas mua khí từ PVN sau đó bán cho các khách hàng; tập trung vận hành an toàn các công trình, hệ thống vận chuyển, nhà máy xử lý khí hiện có; đầu tư cơ sở hạ tầng cho việc thu gom, vận chuyển, xử lý, xuất nhập khẩu, tàng trữ và kinh doanh khí; đầu tư hạ tầng cơ sở kho cảng phục vụ nhập khẩu LNG; đầu tư sản xuất kinh doanh CNG, LPG,...
- Giai đoạn đến năm 2020, duy trì mô hình công nghiệp khí hiện tại; giai đoạn 2021-2030, nghiên cứu xây dựng mô hình thị trường khí cạnh tranh tự do.
- Về định hướng cơ cấu vốn Nhà nước cho giai đoạn tới:
+ Giai đoạn đến năm 2020: tiếp tục cổ phần hóa PVGas, trong đó vốn của PVN tối thiểu 75%.
+ Giai đoạn 2021-2030: tiếp tục cổ phần hóa PVGas, trong đó vốn của PVN tối thiểu 65%; cho phép thành lập các công ty mới tham gia đầu tư hạ tầng cơ sở công nghiệp khí khi đủ điều kiện và đã hình thành thị trường khí cạnh tranh tự do.

Content:
Mục tiêu cụ thể
Tái cơ cấu ngành Dầu khí Việt Nam nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể như sau:
- Về tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí:
Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản và tìm kiếm thăm dò dầu khí ở trong nước nhằm gia tăng trữ lượng dầu khí; xây dựng cơ chế đột phá, khuyến khích các nhà thầu dầu khí lớn từ các nước có vị thế trên thế giới tham gia tại những vùng nước sâu, xa bờ, vùng nhạy cảm, gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; phấn đấu trong giai đoạn 2030-2035, cơ bản đánh giá được trữ lượng dầu khí trên đất liền và thềm lục địa Việt Nam.
Tích cực thăm dò tại các bể nước nông, nghiên cứu thăm dò các đối tượng tìm kiếm thăm dò mới, các bể trầm tích mới và các dạng hydrocarbon phi truyền thống (khí than, khí nông, khí đá phiến sét, khí hydrate,...) để bổ sung trữ lượng phục vụ khai thác lâu dài.
Khai thác hiệu quả các mỏ hiện có; phát triển và đưa các mỏ đã có phát hiện vào khai thác một cách hợp lý và có hiệu quả để sử dụng tài nguyên dầu khí trong nước lâu dài. Xây dựng phương án hợp tác, cơ chế khai thác chung tại những vùng chồng lấn, tranh chấp phức tạp. Triển khai thu dọn các mỏ đã hết khả năng khai thác, bảo đảm hoàn nguyên môi trường sinh thái.
Đẩy mạnh các hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở nước ngoài với cơ chế linh hoạt, phù hợp với khả năng tài chính và năng lực quản lý của ngành Dầu khí theo nguyên tắc bảo đảm hiệu quả kinh tế tài chính và quản trị rủi ro. Lựa chọn các khu vực có tiềm năng dầu khí cao, môi trường đầu tư tốt, thuận lợi về quan hệ chính trị tại các nước và khu vực: Liên bang Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ, Đông Nam Á, Bắc và Nam Mỹ, Bắc Phi và Trung Đông.
Phấn đấu gia tăng trữ lượng dầu khí đạt 33-40 triệu tấn quy dầu/năm, cụ thể như sau:

Chỉ tiêu

Đơn vị

Giai đoạn

2016-2020

2021-2030

Tổng trữ lượng gia tăng

Triệu tấn quy dầu/năm

33-40

30-39

Trong đó:

- Ở trong nước

25-30

20-28

- Ở nước ngoài

8-10

10-11

Phấn đấu sản lượng khai thác dầu khí trong nước đạt 22-33 triệu tấn/năm, trong đó sản lượng dầu thô và condensate đạt 5-14 triệu tấn/năm; sản lượng khí đạt 11-21 tỷ m3/năm, cụ thể như sau:

Chỉ tiêu/năm

Đơn vị

Giai đoạn

2016-2020

2021-2030

Dầu và condensate

Triệu tấn

11-14

5-12

Khí

Tỷ m3

11-14

15-21

Tổng khai thác dầu khí trong nước (quy dầu)

Triệu tấn

22-28

20-33

Phấn đấu sản lượng khai thác dầu thô ở nước ngoài đạt 3-8 triệu tấn/năm, cụ thể như sau:

Chỉ tiêu/năm

Đơn vị

Giai đoạn

2016-2020

2021-2030

Tổng khai thác quy dầu

Triệu tấn

3-7

7-8

- Về công nghiệp khí:
Xây dựng công nghiệp khí hoàn chỉnh, đồng bộ tất cả các khâu: khai thác - thu gom - vận chuyển - chế biến - xuất nhập khẩu - dự trữ - phân phối sản phẩm khí. Giảm dần tỷ trọng sử dụng khí cho điện và chất đốt, tăng cường cho chế biến sâu. Nghiên cứu, tìm kiếm thị trường và xây dựng cơ sở hạ tầng kho cảng để sẵn sàng nhập khẩu khí và các sản phẩm khí từ sau năm 2020. Nghiên cứu phương án xây dựng đường ống kết nối các khu vực, hình thành đường ống dẫn khí quốc gia.
Phấn đấu đến năm 2020 và giai đoạn 2021-2030, duy trì cung cấp 100% thị phần khí khô và tối thiểu 70% thị phần LPG toàn quốc.
- Về công nghiệp điện:
Tăng cường công tác quản lý, vận hành, bảo trì, sửa chữa, bảo đảm hiệu quả đầu tư đối với các dự án, nhà máy điện đã và đang triển khai, phát triển thêm một số dự án điện khí phù hợp với Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia được phê duyệt; không phát triển thêm các dự án thủy điện, điện than, điện gió,...
Phấn đấu đạt sản lượng sản xuất điện như sau: đến cuối năm 2020 đạt 14% công suất hệ thống điện toàn quốc; sản lượng điện đạt trên 40 tỷ kWh. Đến năm 2030, đạt 12% công suất hệ thống điện toàn quốc; sản lượng điện đạt 77 tỷ kWh.
- Về chế biến dầu khí:
Chú trọng chế biến dầu khí nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu trong nước, hướng tới mục tiêu xuất khẩu. Tập trung phát triển lĩnh vực hóa dầu (bao gồm cả hóa dầu từ khí), hóa chất để nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm dầu khí, tạo ra các nguyên, nhiên, vật liệu để phục vụ phát triển sản xuất công nghiệp trong nước, hướng tới xuất khẩu, giảm tỷ trọng nhập siêu. Thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nguồn vốn đầu tư từ xã hội để phát triển lĩnh vực chế biến dầu khí theo nguyên tắc bảo đảm hài hòa lợi ích quốc gia và nhà đầu tư.
Đẩy mạnh việc tích hợp, tổ hợp lọc - hóa dầu với các nguồn khí tự nhiên khai thác nhằm nâng cao hiệu quả của công trình, dự án đã đầu tư và phát triển các dự án mới cả về quy mô, mức độ chế biến sâu có sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế.
Đến năm 2020 và giai đoạn 2021-2030, đáp ứng tối thiểu 60-70% nhu cầu xăng dầu, trên 70% nhu cầu phân đạm và trên 50% nhu cầu sản phẩm hóa dầu trong nước; nghiên cứu đầu tư dự án mới, có xét đến khả năng xuất khẩu.
- Về tồn trữ, phân phối sản phẩm dầu khí:
Phát triển hợp lý hệ thống phân phối xăng dầu nhằm đảm bảo lưu thông và bình ổn thị trường tiêu thụ, đáp ứng toàn bộ nhu cầu xăng dầu trong nước; tăng cường các giải pháp gia tăng dự trữ về dầu thô và xăng dầu; xây dựng chính sách, chế tài khuyến khích sử dụng tiết kiệm xăng dầu, khuyến khích sử dụng rộng rãi nhiên liệu sinh học nhằm giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và bảo vệ môi trường. Hoàn thiện việc điều hành giá xăng dầu theo cơ chế thị trường; khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế khác trong lĩnh vực phân phối sản phẩm dầu khí.
- Về dịch vụ dầu khí:
Có cơ chế, chính sách phù hợp khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia phát triển dịch vụ dầu khí, đặc biệt là dịch vụ dầu khí chất lượng cao; đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn đầu tư của Nhà nước để tái đầu tư vào các lĩnh vực cốt lõi của ngành Dầu khí. Đầu tư trang thiết bị, công nghệ hiện đại để bảo đảm chủ động thực hiện dịch vụ cho các lĩnh vực kinh doanh chính, các dự án đầu tư trong ngành Dầu khí; đồng thời xây dựng cơ chế chính sách tăng cường mở rộng cung cấp dịch vụ kỹ thuật dầu khí của Việt Nam ra nước ngoài.
Xác định các dịch vụ chủ đạo: khoan và kỹ thuật giếng khoan; khảo sát, xử lý và minh giải địa chấn; địa chất công trình, khảo sát và sửa chữa công trình ngầm; thiết kế, chế tạo và xây lắp các công trình dầu khí; đóng mới và vận hành các phương tiện nổi; vận hành và bảo dưỡng, sửa chữa các nhà máy/công trình dầu khí.
II. NỘI DUNG TÁI CƠ CẤU
1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước
Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về dầu khí, trong đó quy định rõ về hoạt động dầu khí từ thượng nguồn, trung nguồn, hạ nguồn. Xây dựng hành lang pháp luật đặc thù nhằm tăng quyền chủ động cho PVN (đơn vị nòng cốt của ngành Dầu khí), nhất là về quyền tự quyết định, tự chịu trách nhiệm đi đôi với kiểm tra, giám sát; về cơ chế đầu tư ra nước ngoài; về công tác tự tổ chức thực hiện các dịch vụ dầu khí đặc thù trong nội bộ PVN.
Hoạch định các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp để thúc đẩy ngành Dầu khí Việt Nam phát triển.
Tăng cường phân công, phân cấp quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong lĩnh vực dầu khí.
Xây dựng Đề án thành lập Cơ quan quản lý nhà nước về năng lượng, trong đó có chức năng quản lý nhà nước về dầu khí, phù hợp với trình độ, năng lực quản lý và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Phân định rõ chức năng quản lý nhà nước về dầu khí; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát.
Đối với các doanh nghiệp ngành Dầu khí
Tiếp tục thực hiện tái cơ cấu ngành Dầu khí bảo đảm vận hành đầy đủ, đúng đắn cơ chế thị trường, phù hợp với xu hướng phát triển và hội nhập quốc tế.
a) Về tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí
- Tiếp tục duy trì vai trò chủ đạo của Công ty mẹ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) - đơn vị nòng cốt của ngành Dầu khí và hai doanh nghiệp cấp II của PVN là Tổng công ty Thăm dò khai thác dầu khí (PVEP) và Liên doanh dầu khí Việt - Nga Vietsovpetro (Vietsovpetro) với nhiệm vụ như sau:
+ Công ty mẹ PVN (100% vốn Nhà nước): thay mặt nước chủ nhà tham gia vào các hợp đồng dầu khí (đàm phán, ký kết, quản lý); chủ động lựa chọn các dự án tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí trong và ngoài nước trình cấp thẩm quyền phê duyệt chủ trương và thực hiện đầu tư; chỉ đạo người đại diện của PVN tại các đơn vị thực hiện phát triển lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò khai thác dầu khí theo Chiến lược/Quy hoạch phát triển ngành Dầu khí Việt Nam.
+ PVEP (hiện PVN đang nắm giữ 100% vốn điều lệ): với tư cách là công ty thực hiện tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí ở trong và ngoài nước theo các hợp đồng dầu khí và quy định hiện hành. Cụ thể: thúc đẩy thực hiện các hợp đồng đã ký (cả trong nước và ngoài nước) theo cam kết; ký kết và thực hiện các hợp đồng mới ở trong nước trên cơ sở hiệu quả; thực hiện các nhiệm vụ chính trị PVN giao; tìm kiếm dự án mới ở nước ngoài để tìm kiếm thăm dò/hoặc mua dự án, các mỏ đang khai thác, mua cổ phần trong các công ty đang khai thác, tham gia vào các hợp đồng đã có phát hiện chuẩn bị phát triển, kết hợp với tìm kiếm, thăm dò gia tăng trữ lượng xung quanh khu vực mua tài sản nếu hiệu quả.
+ Vietsovpetro (hiện PVN đang nắm giữ 51% vốn điều lệ, Zarubezhneft - Liên bang Nga 49%): tiếp tục triển khai tận thăm dò và khai thác dầu khí tại Lô 09-1 trên cơ sở hiệp định hai Chính phủ Việt Nam - Liên bang (LB) Nga đến năm 2030, mở rộng đầu tư ở Việt Nam và nước thứ ba, trên cơ sở hiệu quả và được sự đồng ý của hai phía (LB Nga và Việt Nam).
- Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam khác (ngoài PVN), các doanh nghiệp tư nhân có đủ tiềm lực tài chính tham gia Hợp đồng Chia sản phẩm dầu khí (PSC).
- Tiếp tục khuyến khích các nhà thầu dầu khí lớn từ các nước có vị thế trên thế giới tham gia các PSC nhất là tại những vùng nước sâu, xa bờ, vùng nhạy cảm, gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.
- Đối với đầu tư ra nước ngoài: PVN, PVEP, Vietsovpetro tham gia góp vốn liên doanh phù hợp với đặc thù của từng quốc gia; được phép thành lập một số công ty điều hành dầu khí, doanh nghiệp cấp IV của PVN theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ để quản lý, điều hành, đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí phù hợp với đặc thù lĩnh vực dầu khí và quy định của nước sở tại, đồng thời giảm rủi ro tài chính đối với PVN và PVEP.
- Về định hướng cơ cấu vốn Nhà nước cho giai đoạn tới:
+ Giai đoạn đến năm 2020: tiếp tục duy trì 100% vốn Nhà nước tại PVN; nghiên cứu phương án cổ phần hóa PVEP để thực hiện vào thời điểm thích hợp nhằm thoái vốn của PVN tại PVEP xuống tối thiểu 75%; duy trì 51% vốn PVN tại Vietsovpetro theo Hiệp định liên Chính phủ.
+ Giai đoạn 2021-2030: tiếp tục duy trì 100% vốn Nhà nước tại PVN; tiếp tục thoái vốn PVN tại PVEP xuống tối thiểu 65%; duy trì 51% vốn PVN tại Vietsovpetro theo Hiệp định liên Chính phủ.
Về công nghiệp khí
- Tiếp tục duy trì vai trò chủ đạo của Công ty mẹ PVN và doanh nghiệp cấp II của PVN là Tổng công ty Khí Việt Nam - Công ty cổ phần (PVGas) với nhiệm vụ như sau:
+ Công ty mẹ PVN (100% vốn Nhà nước): trực tiếp ký mới các Hợp đồng mua khí với các chủ mỏ, sau đó bán lại cho PVGas và các đối tác, khách hàng quan trọng của nền kinh tế (trước mắt là các nhà máy điện, đạm); đầu tư vào các dự án đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, các dự án trọng điểm dầu khí theo chỉ đạo của Chính phủ; chỉ đạo người đại diện của PVN tại các đơn vị thực hiện phát triển lĩnh vực công nghiệp khí theo Chiến lược/Quy hoạch phát triển ngành Dầu khí.
+ PVGas (hiện PVN đang nắm giữ 96,72% vốn điều lệ): thực hiện các hợp đồng mua khí trực tiếp từ các chủ mỏ trước đây PVGas đã đứng tên là một bên của hợp đồng; đối với các hợp đồng mới, PVGas mua khí từ PVN sau đó bán cho các khách hàng; tập trung vận hành an toàn các công trình, hệ thống vận chuyển, nhà máy xử lý khí hiện có; đầu tư cơ sở hạ tầng cho việc thu gom, vận chuyển, xử lý, xuất nhập khẩu, tàng trữ và kinh doanh khí; đầu tư hạ tầng cơ sở kho cảng phục vụ nhập khẩu LNG; đầu tư sản xuất kinh doanh CNG, LPG,...
- Giai đoạn đến năm 2020, duy trì mô hình công nghiệp khí hiện tại; giai đoạn 2021-2030, nghiên cứu xây dựng mô hình thị trường khí cạnh tranh tự do.
- Về định hướng cơ cấu vốn Nhà nước cho giai đoạn tới:
+ Giai đoạn đến năm 2020: tiếp tục cổ phần hóa PVGas, trong đó vốn của PVN tối thiểu 75%.
+ Giai đoạn 2021-2030: tiếp tục cổ phần hóa PVGas, trong đó vốn của PVN tối thiểu 65%; cho phép thành lập các công ty mới tham gia đầu tư hạ tầng cơ sở công nghiệp khí khi đủ điều kiện và đã hình thành thị trường khí cạnh tranh tự do.