Document: Điểm c Khoản 6 Điều 1 Quyết định 2178/QĐ-UBND năm 2011 phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Hậu Giang", "promulgation_date": "30/12/2011", "sign_number": "2178/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thành Nhơn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Hậu Giang", "promulgation_date": "30/12/2011", "sign_number": "2178/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thành Nhơn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Hậu Giang", "promulgation_date": "30/12/2011", "sign_number": "2178/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thành Nhơn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Hậu Giang", "promulgation_date": "30/12/2011", "sign_number": "2178/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thành Nhơn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Hậu Giang", "promulgation_date": "30/12/2011", "sign_number": "2178/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thành Nhơn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 6 Điều 1 Quyết định 2178/QĐ-UBND năm 2011 phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi và cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung tỉnh Hậu Giang đến năm 2020 với các nội dung chính sau:
...
6. Các giải pháp thực hiện quy hoạch.
6.1. Về thị trường tiêu thụ:
- Khuyến khích, thu hút mọi thành phần kinh tế đầu tư xây dựng mới cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm và chế biến sản phẩm chăn nuôi quy mô lớn, công nghệ, hiện đại đồng thời mở rộng liên kết giữa các trang trại chăn nuôi tập trung với các cơ sở giết mổ và chế biến này nhất là các cơ sở đang hoạt động ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh phía Nam, nhằm tạo ra khối lượng sản phẩm chăn nuôi lớn, ổn định, đa dạng đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
- Hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở chăn nuôi và cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, quy mô lớn xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu sản phẩm và tham gia các chương trình hội chợ, triển lãm chăn nuôi. Hỗ trợ thành lập các hợp tác xã giết mổ, thu mua, chế biến sản phẩm chăn nuôi với các chính sách hỗ trợ thiết thực về vốn, thuế,…Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác quản lý, hướng dẫn, kiểm tra, kiểm soát chất lượng của các cơ quan quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm,…
6.2. Về sản xuất thức ăn chăn nuôi:
- Khuyến khích, kêu gọi đầu tư xây dựng mới hoặc mở rộng nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm công suất lớn, công nghệ hiện đại nhằm chủ động cung ứng lượng lớn thức ăn chăn nuôi trong tỉnh và các vùng lân cận. Mở rộng liên kết, hợp tác giữa nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi - Trang trại chăn nuôi trong phát triển chăn nuôi. Riêng đối với thức ăn chăn nuôi cho gia súc nhai lại cần tận dụng đất thổ cư, đất vườn,…trồng các loại cỏ năng suất cao để cung cấp nguồn thức ăn đầy đủ, kịp thời nhất là trong mùa nước nổi.
- Cơ quan khuyến nông của tỉnh cần lên kế hoạch tập huấn thường xuyên kỹ thuật chăn nuôi cho các hộ dân trong tỉnh nhất là khâu chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm phát huy tối đa hiệu quả của các loại thức ăn, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi.
6.3. Giải pháp về khoa học - công nghệ, đào tạo và khuyến nông:
...
c) Khuyến nông:
Kiện toàn mạng lưới và có sự kết hợp nhịp nhàn giữa lực lượng khuyến nông và Chăn nuôi, Thú y từ tỉnh đến cơ sở đồng thời bổ sung nguồn kinh phí hoạt động để mua sắm mới vật tư, trang thiết bị để phục vụ tốt cho công tác khuyến nông và chăn nuôi, thú y.
6.4. Giải pháp về quản lý an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường:
a) Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm:
Cơ sở chăn nuôi và cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung phải cam kết thực hiện tốt các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm và đảm bảo đủ điều kiện vệ sinh thú y đồng thời không sử dụng các chất cấm sử dụng trong hoạt động chăn nuôi. Cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thẩm tra, cấp và giám sát việc thực hiện các nội dung quy định về điều kiện vệ sinh Thú y và vệ sinh an toàn thực phẩm. Trên cơ sở đó, tiến hành xử lý thật nghiêm các trường hợp vi phạm các quy định này.
b) Xử lý chất thải và quản lý môi trường trong chăn nuôi:
Cơ sở chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm tập trung phải thực hiện cam kết bảo vệ môi trường hoặc đánh giá tác động môi trường theo quy định của Luật Môi trường; thử nghiệm và nhân rộng các mô hình xử lý chất thải tiên tiến như xử lý toàn bộ chất thải bằng phương pháp biogas kết hợp phát điện, xử lý chất thải bằng công nghệ sinh học, sử dụng các chế phẩm sinh học bổ sung trong thức ăn chăn nuôi,…
6.5. Giải pháp về huy động vốn cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và hỗ trợ vốn cho phát triển chăn nuôi tập trung:
- Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại các vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung được huy động trực tiếp từ nguồn ngân sách, lồng ghép trong các chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng của tỉnh; tranh thủ sự hỗ trợ từ các chương trình, dự án trong và ngoài nước để nghiên cứu thử nghiệm, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi và giết mổ,… trước mắt là chương trình chuyển giao công nghệ nuôi heo và gà theo hướng an toàn sinh học và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để cơ sở chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm tập trung huy động vốn để xây dựng chuồng trại, đầu tư sản xuất, kinh doanh,…thông qua các hình thức sở hữu khác như: thành lập tổ hợp tác, hợp tác xã, công ty cổ phần về chăn nuôi và giết mổ tập trung; tỉnh ban hành chính sách ưu đãi đầu tư về đất đai, thuế, vốn vay và lãi suất cho vay đối với các cơ sở chăn nuôi, giết mổ tập trung để thu hút, kêu gọi đầu tư, phát triển chăn nuôi theo hướng quy hoạch của tỉnh.
6.Giải pháp về chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung và di dời các cơ sở chăn nuôi, giết mổ vào vùng quy hoạch:
- Các tổ chức, cá nhân đầu tư, phát triển chăn nuôi trong vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung được hưởng các chính sách ưu đãi hiện hành về đất đai, thuế (bao gồm thuế đất, thuế thu nhập cá nhân) trong một thời gian nhất định, vốn vay ngân hàng và lãi suất cho vay,…Đồng thời, được hỗ trợ để xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu, quảng bá sản phẩm thông qua các chương trình Hội chợ, triển lãm sản phẩm chăn nuôi,…
- Nghiên cứu, ban hành chính sách mới phù hợp với điều kiện của địa phương như: hỗ trợ chi phí di dời theo đầu con hoặc theo quy mô chuồng trại (m2 chuồng trại) với mức hỗ trợ phù hợp (có thể từ 20 - 30% so với chi phí xây dựng mới chuồng trại), hỗ trợ nguồn vốn vay và lãi suất cho vay đối với các hộ buộc phải di dời hoặc đầu tư, xây dựng mới chuồng trại vào trong vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung.
- Vận động và có chính sách hỗ trợ thiết thực đối với những hộ gia đình nằm trong vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung nhưng không có nguyện vọng đầu tư, phát triển chăn nuôi phải di dời ra khỏi vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung.
6.7. Quy chế quản lý trong các vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung:
- Tiêu chí xem xét, cấp phép đối với cơ sở chăn nuôi tập trung trong vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung là diện tích tối thiểu từ 2.000 m2 trở lên; số lượng vật nuôi chủ yếu tối thiểu của hộ chăn nuôi heo nái từ 20 con và hộ chăn nuôi heo thịt từ 100 con trở lên; hộ chăn nuôi gà 2.000 con trở lên; có vị trí phù hợp theo quy định, chuồng trại phải được đầu tư theo hướng hiện đại (trước mắt là chuồng kín) và cơ sở được Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại.
- Quản lý quy trình kỹ thuật chăn nuôi và xử lý môi trường chăn nuôi đảm bảo tuân thủ các quy định tại Pháp lệnh Thú y năm 2004 và Nghị định số 33/2005/NĐ-CP ngày 15/03/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Thú y, các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện trại chăn nuôi lợn và gia cầm an toàn sinh học,…do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành.
- Đất sản xuất nông nghiệp của các hộ dân trong vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung không bắt buộc phải chuyển mục đích sử dụng sang chăn nuôi, việc đầu tư, phát triển chăn nuôi hay không là do chủ sử dụng đất quyết định, nhưng nhà nước chủ trương khuyến khích các hộ dân này đầu tư, phát triển chăn nuôi tập trung hoặc liên kết góp vốn, sang nhượng cho hộ dân khác đầu tư, phát triển chăn nuôi tập trung theo quy hoạch của tỉnh.
- Các cơ sở chăn nuôi và cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung cũng như các tổ chức, cá nhân khác không được phép xây dựng nhà ở, các công trình công cộng vào trong vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung (được tính từ ranh vùng khuyến khích chăn nuôi tập trung đến ranh giới thành phố, thị xã, thị trấn, các khu đô thị, khu dân cư tập trung, khu công nghiệp, trường học, bệnh viện, công sở, trục đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường giao thông liên xã) theo quy định.
- Trong khuôn viên trang trại, diện tích xây dựng chuồng trại phải đảm bảo không vượt quá 25% đối với trại chăn nuôi heo và không vượt quá 40% đối với trại chăn nuôi gà, diện tích còn lại trồng cây lâu năm hoặc cây hàng năm hoặc nuôi trồng thủy sản.
- Đối với các cơ sở chăn nuôi tập trung quy mô vừa và nhỏ có trách nhiệm xử lý chất thải, nước thải đảm bảo các điều kiện về vệ sinh môi trường chăn nuôi theo quy định đồng thời phải đăng ký cam kết bảo vệ môi trường với Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thị xã, thành phố. Riêng đối với các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn phải làm báo cáo đánh giá tác động môi trường theo hướng dẫn của Sở Tài nguyên và Môi trường.
- Giao việc tổ chức, quản lý các vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung cho UBND các huyện, thị xã, thành phố có vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung. UBND các huyện, thị xã, thành phố có thể thành lập ban quản lý cho tất cả các vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi hoặc cho từng vùng tùy theo tình hình thực tế của từng huyện, trong đó có sự tham gia quản lý của các chủ cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung. Ban quản lý vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tổ chức, quản lý theo đúng quy định của nhà nước.

Content:
Khuyến nông:
Kiện toàn mạng lưới và có sự kết hợp nhịp nhàn giữa lực lượng khuyến nông và Chăn nuôi, Thú y từ tỉnh đến cơ sở đồng thời bổ sung nguồn kinh phí hoạt động để mua sắm mới vật tư, trang thiết bị để phục vụ tốt cho công tác khuyến nông và chăn nuôi, thú y.
6.4. Giải pháp về quản lý an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường:
a) Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm:
Cơ sở chăn nuôi và cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung phải cam kết thực hiện tốt các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm và đảm bảo đủ điều kiện vệ sinh thú y đồng thời không sử dụng các chất cấm sử dụng trong hoạt động chăn nuôi. Cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thẩm tra, cấp và giám sát việc thực hiện các nội dung quy định về điều kiện vệ sinh Thú y và vệ sinh an toàn thực phẩm. Trên cơ sở đó, tiến hành xử lý thật nghiêm các trường hợp vi phạm các quy định này.
b) Xử lý chất thải và quản lý môi trường trong chăn nuôi:
Cơ sở chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm tập trung phải thực hiện cam kết bảo vệ môi trường hoặc đánh giá tác động môi trường theo quy định của Luật Môi trường; thử nghiệm và nhân rộng các mô hình xử lý chất thải tiên tiến như xử lý toàn bộ chất thải bằng phương pháp biogas kết hợp phát điện, xử lý chất thải bằng công nghệ sinh học, sử dụng các chế phẩm sinh học bổ sung trong thức ăn chăn nuôi,…
6.5. Giải pháp về huy động vốn cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và hỗ trợ vốn cho phát triển chăn nuôi tập trung:
- Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại các vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung được huy động trực tiếp từ nguồn ngân sách, lồng ghép trong các chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng của tỉnh; tranh thủ sự hỗ trợ từ các chương trình, dự án trong và ngoài nước để nghiên cứu thử nghiệm, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi và giết mổ,… trước mắt là chương trình chuyển giao công nghệ nuôi heo và gà theo hướng an toàn sinh học và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để cơ sở chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm tập trung huy động vốn để xây dựng chuồng trại, đầu tư sản xuất, kinh doanh,…thông qua các hình thức sở hữu khác như: thành lập tổ hợp tác, hợp tác xã, công ty cổ phần về chăn nuôi và giết mổ tập trung; tỉnh ban hành chính sách ưu đãi đầu tư về đất đai, thuế, vốn vay và lãi suất cho vay đối với các cơ sở chăn nuôi, giết mổ tập trung để thu hút, kêu gọi đầu tư, phát triển chăn nuôi theo hướng quy hoạch của tỉnh.
6.Giải pháp về chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung và di dời các cơ sở chăn nuôi, giết mổ vào vùng quy hoạch:
- Các tổ chức, cá nhân đầu tư, phát triển chăn nuôi trong vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung được hưởng các chính sách ưu đãi hiện hành về đất đai, thuế (bao gồm thuế đất, thuế thu nhập cá nhân) trong một thời gian nhất định, vốn vay ngân hàng và lãi suất cho vay,…Đồng thời, được hỗ trợ để xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu, quảng bá sản phẩm thông qua các chương trình Hội chợ, triển lãm sản phẩm chăn nuôi,…
- Nghiên cứu, ban hành chính sách mới phù hợp với điều kiện của địa phương như: hỗ trợ chi phí di dời theo đầu con hoặc theo quy mô chuồng trại (m2 chuồng trại) với mức hỗ trợ phù hợp (có thể từ 20 - 30% so với chi phí xây dựng mới chuồng trại), hỗ trợ nguồn vốn vay và lãi suất cho vay đối với các hộ buộc phải di dời hoặc đầu tư, xây dựng mới chuồng trại vào trong vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung.
- Vận động và có chính sách hỗ trợ thiết thực đối với những hộ gia đình nằm trong vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung nhưng không có nguyện vọng đầu tư, phát triển chăn nuôi phải di dời ra khỏi vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung.
6.7. Quy chế quản lý trong các vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung:
- Tiêu chí xem xét, cấp phép đối với cơ sở chăn nuôi tập trung trong vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung là diện tích tối thiểu từ 2.000 m2 trở lên; số lượng vật nuôi chủ yếu tối thiểu của hộ chăn nuôi heo nái từ 20 con và hộ chăn nuôi heo thịt từ 100 con trở lên; hộ chăn nuôi gà 2.000 con trở lên; có vị trí phù hợp theo quy định, chuồng trại phải được đầu tư theo hướng hiện đại (trước mắt là chuồng kín) và cơ sở được Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại.
- Quản lý quy trình kỹ thuật chăn nuôi và xử lý môi trường chăn nuôi đảm bảo tuân thủ các quy định tại Pháp lệnh Thú y năm 2004 và Nghị định số 33/2005/NĐ-CP ngày 15/03/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Thú y, các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện trại chăn nuôi lợn và gia cầm an toàn sinh học,…do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành.
- Đất sản xuất nông nghiệp của các hộ dân trong vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung không bắt buộc phải chuyển mục đích sử dụng sang chăn nuôi, việc đầu tư, phát triển chăn nuôi hay không là do chủ sử dụng đất quyết định, nhưng nhà nước chủ trương khuyến khích các hộ dân này đầu tư, phát triển chăn nuôi tập trung hoặc liên kết góp vốn, sang nhượng cho hộ dân khác đầu tư, phát triển chăn nuôi tập trung theo quy hoạch của tỉnh.
- Các cơ sở chăn nuôi và cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung cũng như các tổ chức, cá nhân khác không được phép xây dựng nhà ở, các công trình công cộng vào trong vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung (được tính từ ranh vùng khuyến khích chăn nuôi tập trung đến ranh giới thành phố, thị xã, thị trấn, các khu đô thị, khu dân cư tập trung, khu công nghiệp, trường học, bệnh viện, công sở, trục đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường giao thông liên xã) theo quy định.
- Trong khuôn viên trang trại, diện tích xây dựng chuồng trại phải đảm bảo không vượt quá 25% đối với trại chăn nuôi heo và không vượt quá 40% đối với trại chăn nuôi gà, diện tích còn lại trồng cây lâu năm hoặc cây hàng năm hoặc nuôi trồng thủy sản.
- Đối với các cơ sở chăn nuôi tập trung quy mô vừa và nhỏ có trách nhiệm xử lý chất thải, nước thải đảm bảo các điều kiện về vệ sinh môi trường chăn nuôi theo quy định đồng thời phải đăng ký cam kết bảo vệ môi trường với Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thị xã, thành phố. Riêng đối với các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn phải làm báo cáo đánh giá tác động môi trường theo hướng dẫn của Sở Tài nguyên và Môi trường.
- Giao việc tổ chức, quản lý các vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung cho UBND các huyện, thị xã, thành phố có vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung. UBND các huyện, thị xã, thành phố có thể thành lập ban quản lý cho tất cả các vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi hoặc cho từng vùng tùy theo tình hình thực tế của từng huyện, trong đó có sự tham gia quản lý của các chủ cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung. Ban quản lý vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tổ chức, quản lý theo đúng quy định của nhà nước.