Document: Điểm a Khoản 4 Điều 1 Quyết định 6868/QĐ-BCT phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống sản xuất

Type: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "27/12/2010", "sign_number": "6868/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "27/12/2010", "sign_number": "6868/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "27/12/2010", "sign_number": "6868/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "27/12/2010", "sign_number": "6868/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Công thương", "promulgation_date": "27/12/2010", "sign_number": "6868/QĐ-BCT", "signer": "Vũ Huy Hoàng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm a Khoản 4 Điều 1 Quyết định 6868/QĐ-BCT phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống sản xuất

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống sản xuất và hệ thống phân phối mặt hàng phân bón giai đoạn 2011 – 2020, có xét đến năm 2025 với những nội dung chủ yếu như sau:
...
4. Quy hoạch phát triển
a) Hệ thống sản xuất phân bón
- Đầu tư chiều sâu:
+ Giai đoạn 2011 – 2015: Mở rộng sản xuất và sử dụng phân urê có chứa chất ổn định nitơ, … để giảm thất thoát đạm trong quá trình sử dụng; loại bỏ công nghệ sản xuất phân NPK theo phương pháp thủ công, chất lượng sản phẩm thấp, độ ẩm cao; nâng cao dần hàm lượng chất dinh dưỡng trong sản phẩm phân bón, bổ sung thêm các nguyên tố vi lượng với nhiều chủng loại phù hợp với yêu cầu của cây trồng và từng vùng đất; phát triển phân bón lá chứa các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng, chất kích thích sinh trưởng phù hợp với từng đối tượng cây trồng và từng vùng thổ nhưỡng; mở rộng sản xuất nhóm phân bón hữu cơ với quy mô khoảng 500.000 tấn/năm trên cơ sở những nguồn nguyên liệu có sẵn như than bùn, phế thải chế biến nông sản và những chủng vi sinh vật được phép sử dụng đảm bảo an toàn môi trường.
+ Giai đoạn 2016 – 2020: Chuyển dần các cơ sở sản xuất supe lân đơn sang sản xuất supe lân giầu, chứa khoảng 28% P2O5; sản xuất phân NPK có tổng hàm lượng chất dinh dưỡng cao hơn 30% theo phương pháp hóa học và công nghệ tạo hạt thùng quay dùng hơi nước; tiếp tục đầu tư chiều sâu, cơ giới hóa, sử dụng hệ thống điều khiển hiện đại để giảm chi phí sản xuất phân bón và đảm bảo môi trường.
- Đầu tư mới
+ Giai đoạn 2011 – 2015: Ngoài các công trình đang được đầu tư xây dựng như Dự án cải tạo và mở rộng Nhà máy phân đạm Hà Bắc, Nhà máy phân đạm Ninh Bình, Nhà máy phân đạm Cà Mau, Nhà máy DAP số 2, Nhà máy phân kali, sẽ xây dựng thêm Nhà máy phân đạm có công suất 560.000 tấn/năm với nguyên liệu là than cám, Nhà máy phân lân nung chảy công suất 200.000 tấn/năm, Nhà máy sunphat amôn công suất 300.000 tấn/năm. Hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm phân DAP của Nhà máy DAP Đình Vũ, Hải Phòng, đầu tư phát triển dự án DAP số 2 tại Lào Cai, xây dựng thêm nhà máy tuyển quặng apatit loại III công suất 250.000 tấn/năm quặng tinh và nhà máy tuyển quặng apatit loại II công suất 800.000 tấn/năm quặng tinh.
+ Giai đoạn 2016 – 2020: Mở rộng các nhà máy DAP hiện có hoặc xây dựng mới Nhà máy DAP số 3 công suất 330.000 tấn/năm, xây dựng nhà máy sunphat amôn công suất 400.000 tấn/năm. Mở rộng nhà máy phân kali lên 700.000 tấn/năm (có thể nâng công suất, phụ thuộc vào trữ lượng thực tế của mỏ).

Content:
Hệ thống sản xuất phân bón
- Đầu tư chiều sâu:
+ Giai đoạn 2011 – 2015: Mở rộng sản xuất và sử dụng phân urê có chứa chất ổn định nitơ, … để giảm thất thoát đạm trong quá trình sử dụng; loại bỏ công nghệ sản xuất phân NPK theo phương pháp thủ công, chất lượng sản phẩm thấp, độ ẩm cao; nâng cao dần hàm lượng chất dinh dưỡng trong sản phẩm phân bón, bổ sung thêm các nguyên tố vi lượng với nhiều chủng loại phù hợp với yêu cầu của cây trồng và từng vùng đất; phát triển phân bón lá chứa các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng, chất kích thích sinh trưởng phù hợp với từng đối tượng cây trồng và từng vùng thổ nhưỡng; mở rộng sản xuất nhóm phân bón hữu cơ với quy mô khoảng 500.000 tấn/năm trên cơ sở những nguồn nguyên liệu có sẵn như than bùn, phế thải chế biến nông sản và những chủng vi sinh vật được phép sử dụng đảm bảo an toàn môi trường.
+ Giai đoạn 2016 – 2020: Chuyển dần các cơ sở sản xuất supe lân đơn sang sản xuất supe lân giầu, chứa khoảng 28% P2O5; sản xuất phân NPK có tổng hàm lượng chất dinh dưỡng cao hơn 30% theo phương pháp hóa học và công nghệ tạo hạt thùng quay dùng hơi nước; tiếp tục đầu tư chiều sâu, cơ giới hóa, sử dụng hệ thống điều khiển hiện đại để giảm chi phí sản xuất phân bón và đảm bảo môi trường.
- Đầu tư mới
+ Giai đoạn 2011 – 2015: Ngoài các công trình đang được đầu tư xây dựng như Dự án cải tạo và mở rộng Nhà máy phân đạm Hà Bắc, Nhà máy phân đạm Ninh Bình, Nhà máy phân đạm Cà Mau, Nhà máy DAP số 2, Nhà máy phân kali, sẽ xây dựng thêm Nhà máy phân đạm có công suất 560.000 tấn/năm với nguyên liệu là than cám, Nhà máy phân lân nung chảy công suất 200.000 tấn/năm, Nhà máy sunphat amôn công suất 300.000 tấn/năm. Hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm phân DAP của Nhà máy DAP Đình Vũ, Hải Phòng, đầu tư phát triển dự án DAP số 2 tại Lào Cai, xây dựng thêm nhà máy tuyển quặng apatit loại III công suất 250.000 tấn/năm quặng tinh và nhà máy tuyển quặng apatit loại II công suất 800.000 tấn/năm quặng tinh.
+ Giai đoạn 2016 – 2020: Mở rộng các nhà máy DAP hiện có hoặc xây dựng mới Nhà máy DAP số 3 công suất 330.000 tấn/năm, xây dựng nhà máy sunphat amôn công suất 400.000 tấn/năm. Mở rộng nhà máy phân kali lên 700.000 tấn/năm (có thể nâng công suất, phụ thuộc vào trữ lượng thực tế của mỏ).