Document: Điều 30 Nghị định 14/2005/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong thống kê

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "04/02/2005", "sign_number": "14/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "04/02/2005", "sign_number": "14/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "04/02/2005", "sign_number": "14/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "04/02/2005", "sign_number": "14/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "04/02/2005", "sign_number": "14/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 30 Nghị định 14/2005/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong thống kê có nội dung như sau:

Điều 30. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê
1. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê được lập theo mẫu quy định kèm theo Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ. Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê ra quyết định xử phạt, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại Nghị định này.
2. Thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày, kể từ ngày lập biên bản về vi phạm hành chính; đối với vụ vi phạm hành chính có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 30 ngày. Trong trường hợp xét cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền xử phạt phải báo cáo bằng văn bản với Thủ trưởng trực tiếp của mình để gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày. Quá thời hạn nói trên, người có thẩm quyền xử phạt không được ra quyết định xử phạt, trong trường hợp không ra quyết định xử phạt thì vẫn phải áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại Nghị định này.
3. Khi quyết định xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính, người có thẩm quyền chỉ ra quyết định xử phạt đối với từng hành vi vi phạm, nếu các hình thức xử phạt là phạt tiền thì cộng lại thành mức phạt chung.
4. Khi phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính khụng cú tỡnh tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó. Mức trung bỡnh của khung tiền phạt được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tối thiểu cộng với mức tối đa. Nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống, nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt.
5. Quyết định xử phạt có hiệu lực kể từ ngày ký, trừ trường hợp trong quyết định xử phạt có quy định khác.
6. Quyết định xử phạt bằng hình thức phạt tiền được gửi cho tổ chức, cá nhân bị xử phạt 01 bản, thời hạn gửi quyết định là 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định xử phạt.

Content:
Điều 30. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê
1. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê được lập theo mẫu quy định kèm theo Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ. Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê ra quyết định xử phạt, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại Nghị định này.
2. Thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày, kể từ ngày lập biên bản về vi phạm hành chính; đối với vụ vi phạm hành chính có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 30 ngày. Trong trường hợp xét cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền xử phạt phải báo cáo bằng văn bản với Thủ trưởng trực tiếp của mình để gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày. Quá thời hạn nói trên, người có thẩm quyền xử phạt không được ra quyết định xử phạt, trong trường hợp không ra quyết định xử phạt thì vẫn phải áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại Nghị định này.
3. Khi quyết định xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính, người có thẩm quyền chỉ ra quyết định xử phạt đối với từng hành vi vi phạm, nếu các hình thức xử phạt là phạt tiền thì cộng lại thành mức phạt chung.
4. Khi phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính khụng cú tỡnh tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó. Mức trung bỡnh của khung tiền phạt được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tối thiểu cộng với mức tối đa. Nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống, nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt.
5. Quyết định xử phạt có hiệu lực kể từ ngày ký, trừ trường hợp trong quyết định xử phạt có quy định khác.
6. Quyết định xử phạt bằng hình thức phạt tiền được gửi cho tổ chức, cá nhân bị xử phạt 01 bản, thời hạn gửi quyết định là 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định xử phạt.