Document: Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 2659/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Bến Tre

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 2659/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Bến Tre

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Bến Tre đến năm 2020 với nội dung chính sau:
...
2. Nội dung quy hoạch:
...
b) Phương án quy hoạch:
- Lựa chọn phương án và phân vùng kiểm soát:
Chọn phương án 1 làm phương án quy hoạch, phân tách tỉnh Bến Tre làm 2 vùng kiểm soát:
+ Vùng 1: Lấy hệ thống Ba Lai đã được phê duyệt làm nền (cù lao An Hoá và cù lao Bảo) bổ sung các công trình cho phù hợp, bao theo tuyến kiểm soát sông Mỹ Tho - tuyến cống đập Ba Lai (đã có) - tuyến bờ tả sông Hàm Luông.
+ Vùng 2: Bao toàn bộ cù lao Minh; các công trình được xem xét cho phù hợp với kiểm soát mặn và trữ ngọt cũng như tiêu nước bao theo tuyến bờ hữu sông Hàm Luông - tuyến sông Cổ Chiên.
- Phân kỳ thực hiện quy hoạch:
+ Từ nay đến 2020 quy hoạch thuỷ lợi Bến Tre sẽ chia làm 4 giai đoạn:
. Giai đoạn 2010-2013: Giai đoạn giảm thiểu áp lực xâm nhập mặn và trữ nước.
. Giai đoạn 2014-2015: Giai đoạn gia tăng chủ động kiểm soát hoàn tất hệ thống khung trục, cơ bản xây dựng xong hệ thống ngăn mặn trữ ngọt.
. Giai đoạn 2016-2017: Giai đoạn hoàn thiện hệ thống đê kết hợp với phát triển giao thông và dân cư.
. Giai đoạn 2018-2020: Hoàn chỉnh hệ thống nội đồng, phát triển theo hình thức chủ động hoàn toàn phục vụ sản xuất.
+ Chi tiết hạng mục bố trí các giai đoạn theo trình tự đầu tư như sau:
. Giai đoạn 2010-2013: Xây dựng tuyến đê và cống kiểm soát mặn bờ sông Mỹ Tho, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên, nạo vét thượng nguồn sông Ba Lai, xây dựng một phần hệ thống kè chống sạt lở.
. Giai đoạn 2014-2015: Đầu tư cống nhồi nước vùng ngọt và trong nội đồng, hoàn thiện hệ thống kè chống sạt lở.
. Giai đoạn 2016-2017: Nạo vét kênh cấp I, cấp II, lấy đất đắp bờ bao hình thành các ô bao khép kín, chủ động tưới tiêu. Phát triển củng cố hệ thống nội đồng phục vụ tốt công tác chuyển đổi sản xuất.
. Giai đoạn 2018-2020: Nghiên cứu bổ sung cho giai đoạn mới sau 2020, tiếp tục nạo vét các kênh trục bị bồi lắng lại.
Hệ thống bờ bao các cấp được hình thành đồng thời song song trong quá trình nạo vét và đào mới kênh. Xây dựng dần các hệ thống thuỷ lợi ô bao khép kín của các vùng (theo hình thức cuốn chiếu từ tiểu vùng này đến tiểu vùng khác), kết hợp phát triển nội đồng khi ô bao đã khép kín.
- Các hạng mục công trình chính: (Xem phụ lục kèm theo)
+ Hệ thống đê biển, đê sông:
Trong quá trình phát triển các tuyến đê biển, đê sông đều đã hình thành, các tuyến này đều kết hợp với giao thông bộ, quy mô cụ thể tuỳ thuộc vào cấp công trình của từng tuyến. Hệ thống đê biển hầu hết đã được nghiên cứu, có nhiều đoạn đang được đầu tư xây dựng, một số dự án đang được thiết kế và đấu thầu thi công, nghiên cứu này chỉ cập nhật cho phù hợp với hiện trạng và thực tế sẽ đầu tư xây dựng.
Hệ thống đê sông đã hình thành tuyến. Một số đoạn là các trục lộ giao thông liên huyện, liên xã. Nghiên cứu đề xuất bổ sung thêm các tuyến ven sông Mỹ Tho, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên cho các đoạn chưa có và nâng cấp cho các đoạn chưa đủ quy mô.
Hệ thống đê biển được đầu tư theo tuyến của từng vùng.
+ Cống kiểm soát mặn và tưới tiêu:
Bổ sung toàn bộ các cống kiểm soát mặn còn thiếu dọc sông Mỹ Tho, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên, phân tách riêng biệt cù lao Ba Lai và cù lao Minh. Bố trí bổ sung hệ thống cống nhồi nước đầu nguồn Ba Lai tạo cù lao Ba Lai thành hệ thống kín.
Ngoài ra các công trình nội vùng điều tiết làm tăng mực nước hay linh động trong hình thức chuyển đổi sản xuất giữa lúa và tôm cũng được bố trí bổ sung.
+ Kênh trục, cấp I, cấp II chuyển nước tưới tiêu:
Với đặc thù hệ thống kênh rạch chằng chịt, bề rộng mặt kênh lớn do tác động của thuỷ triều, nghiên cứu đi theo hướng nạo vét phát triển các kênh trục, bố trí cải tạo theo mật độ đều cho các kênh cấp I và cấp II.
Ngoài việc nạo vét hệ thống kênh các cấp tạo thuận lợi cho chuyển nước, trong quá trình xây dựng còn kết hợp tạo bờ bao, nền đường giao thông và dân cư. Trong cả hai phương án nội dung cải tạo hệ thống này đều giống nhau.
+ Kè chống xói lở:
Tại vị trí ngã ba sông An Hoá với sông Mỹ Tho và sông Bến Tre với sông Hàm Luông, bờ trên sông An Hoá và sông Bến Tre; một số vị trí vùng Nam Bến Tre (sông Mỏ Cày, sông Mương Điều, khu vực bệnh viện Cù Lao Minh) tốc độ xói lở khá nhanh, diễn biến ngày càng phức tạp; nghiên cứu tính toán đưa vào bảo vệ bằng hình thức xây dựng hệ thống kè.
+ Nội đồng:
Hiện tại hệ thống nội đồng đã tương đối phát triển, tuy nhiên các mô hình vẫn còn mang tính chất cục bộ nhỏ lẻ và tập trung phát triển chủ yếu cho vùng canh tác ngọt, ở vùng này trong nghiên cứu tính toán bổ sung hệ thống nội đồng cho hoàn thiện hơn phù hợp với hình thức công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
Hệ thống nội đồng sản xuất thuỷ sản vùng mặn đã và đang được đầu tư, trong thời gian tới cần thực hiện tốt hơn phù hợp với các mô hình canh tác cụ thể. Tỉnh cũng đã đầu tư nghiên cứu tính toán các dự án đầu tư nuôi trồng thuỷ sản, nghiên cứu này chỉ tính toán bổ sung tính toán các kênh tạo nguồn và cập nhật các đơn giá cho phù hợp hơn.
+ Bơm điện hỗ trợ tưới:
Đề án phát triển trạm bơm điện vừa và nhỏ vùng ĐBSCL đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hệ thống bơm này sẽ hỗ trợ cấp nước và tiêu úng cho những khu vực gặp khó khăn. Trong nghiên cứu cũng sẽ tính toán hệ thống bơm hỗ trợ tưới cho vùng gò cao phục vụ sản xuất lúa ở các huyện Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại và bơm nước ngọt pha loãng cho nuôi trồng thuỷ sản ven biển.

Content:
Phương án quy hoạch:
- Lựa chọn phương án và phân vùng kiểm soát:
Chọn phương án 1 làm phương án quy hoạch, phân tách tỉnh Bến Tre làm 2 vùng kiểm soát:
+ Vùng 1: Lấy hệ thống Ba Lai đã được phê duyệt làm nền (cù lao An Hoá và cù lao Bảo) bổ sung các công trình cho phù hợp, bao theo tuyến kiểm soát sông Mỹ Tho - tuyến cống đập Ba Lai (đã có) - tuyến bờ tả sông Hàm Luông.
+ Vùng 2: Bao toàn bộ cù lao Minh; các công trình được xem xét cho phù hợp với kiểm soát mặn và trữ ngọt cũng như tiêu nước bao theo tuyến bờ hữu sông Hàm Luông - tuyến sông Cổ Chiên.
- Phân kỳ thực hiện quy hoạch:
+ Từ nay đến 2020 quy hoạch thuỷ lợi Bến Tre sẽ chia làm 4 giai đoạn:
. Giai đoạn 2010-2013: Giai đoạn giảm thiểu áp lực xâm nhập mặn và trữ nước.
. Giai đoạn 2014-2015: Giai đoạn gia tăng chủ động kiểm soát hoàn tất hệ thống khung trục, cơ bản xây dựng xong hệ thống ngăn mặn trữ ngọt.
. Giai đoạn 2016-2017: Giai đoạn hoàn thiện hệ thống đê kết hợp với phát triển giao thông và dân cư.
. Giai đoạn 2018-2020: Hoàn chỉnh hệ thống nội đồng, phát triển theo hình thức chủ động hoàn toàn phục vụ sản xuất.
+ Chi tiết hạng mục bố trí các giai đoạn theo trình tự đầu tư như sau:
. Giai đoạn 2010-2013: Xây dựng tuyến đê và cống kiểm soát mặn bờ sông Mỹ Tho, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên, nạo vét thượng nguồn sông Ba Lai, xây dựng một phần hệ thống kè chống sạt lở.
. Giai đoạn 2014-2015: Đầu tư cống nhồi nước vùng ngọt và trong nội đồng, hoàn thiện hệ thống kè chống sạt lở.
. Giai đoạn 2016-2017: Nạo vét kênh cấp I, cấp II, lấy đất đắp bờ bao hình thành các ô bao khép kín, chủ động tưới tiêu. Phát triển củng cố hệ thống nội đồng phục vụ tốt công tác chuyển đổi sản xuất.
. Giai đoạn 2018-2020: Nghiên cứu bổ sung cho giai đoạn mới sau 2020, tiếp tục nạo vét các kênh trục bị bồi lắng lại.
Hệ thống bờ bao các cấp được hình thành đồng thời song song trong quá trình nạo vét và đào mới kênh. Xây dựng dần các hệ thống thuỷ lợi ô bao khép kín của các vùng (theo hình thức cuốn chiếu từ tiểu vùng này đến tiểu vùng khác), kết hợp phát triển nội đồng khi ô bao đã khép kín.
- Các hạng mục công trình chính: (Xem phụ lục kèm theo)
+ Hệ thống đê biển, đê sông:
Trong quá trình phát triển các tuyến đê biển, đê sông đều đã hình thành, các tuyến này đều kết hợp với giao thông bộ, quy mô cụ thể tuỳ thuộc vào cấp công trình của từng tuyến. Hệ thống đê biển hầu hết đã được nghiên cứu, có nhiều đoạn đang được đầu tư xây dựng, một số dự án đang được thiết kế và đấu thầu thi công, nghiên cứu này chỉ cập nhật cho phù hợp với hiện trạng và thực tế sẽ đầu tư xây dựng.
Hệ thống đê sông đã hình thành tuyến. Một số đoạn là các trục lộ giao thông liên huyện, liên xã. Nghiên cứu đề xuất bổ sung thêm các tuyến ven sông Mỹ Tho, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên cho các đoạn chưa có và nâng cấp cho các đoạn chưa đủ quy mô.
Hệ thống đê biển được đầu tư theo tuyến của từng vùng.
+ Cống kiểm soát mặn và tưới tiêu:
Bổ sung toàn bộ các cống kiểm soát mặn còn thiếu dọc sông Mỹ Tho, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên, phân tách riêng biệt cù lao Ba Lai và cù lao Minh. Bố trí bổ sung hệ thống cống nhồi nước đầu nguồn Ba Lai tạo cù lao Ba Lai thành hệ thống kín.
Ngoài ra các công trình nội vùng điều tiết làm tăng mực nước hay linh động trong hình thức chuyển đổi sản xuất giữa lúa và tôm cũng được bố trí bổ sung.
+ Kênh trục, cấp I, cấp II chuyển nước tưới tiêu:
Với đặc thù hệ thống kênh rạch chằng chịt, bề rộng mặt kênh lớn do tác động của thuỷ triều, nghiên cứu đi theo hướng nạo vét phát triển các kênh trục, bố trí cải tạo theo mật độ đều cho các kênh cấp I và cấp II.
Ngoài việc nạo vét hệ thống kênh các cấp tạo thuận lợi cho chuyển nước, trong quá trình xây dựng còn kết hợp tạo bờ bao, nền đường giao thông và dân cư. Trong cả hai phương án nội dung cải tạo hệ thống này đều giống nhau.
+ Kè chống xói lở:
Tại vị trí ngã ba sông An Hoá với sông Mỹ Tho và sông Bến Tre với sông Hàm Luông, bờ trên sông An Hoá và sông Bến Tre; một số vị trí vùng Nam Bến Tre (sông Mỏ Cày, sông Mương Điều, khu vực bệnh viện Cù Lao Minh) tốc độ xói lở khá nhanh, diễn biến ngày càng phức tạp; nghiên cứu tính toán đưa vào bảo vệ bằng hình thức xây dựng hệ thống kè.
+ Nội đồng:
Hiện tại hệ thống nội đồng đã tương đối phát triển, tuy nhiên các mô hình vẫn còn mang tính chất cục bộ nhỏ lẻ và tập trung phát triển chủ yếu cho vùng canh tác ngọt, ở vùng này trong nghiên cứu tính toán bổ sung hệ thống nội đồng cho hoàn thiện hơn phù hợp với hình thức công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
Hệ thống nội đồng sản xuất thuỷ sản vùng mặn đã và đang được đầu tư, trong thời gian tới cần thực hiện tốt hơn phù hợp với các mô hình canh tác cụ thể. Tỉnh cũng đã đầu tư nghiên cứu tính toán các dự án đầu tư nuôi trồng thuỷ sản, nghiên cứu này chỉ tính toán bổ sung tính toán các kênh tạo nguồn và cập nhật các đơn giá cho phù hợp hơn.
+ Bơm điện hỗ trợ tưới:
Đề án phát triển trạm bơm điện vừa và nhỏ vùng ĐBSCL đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hệ thống bơm này sẽ hỗ trợ cấp nước và tiêu úng cho những khu vực gặp khó khăn. Trong nghiên cứu cũng sẽ tính toán hệ thống bơm hỗ trợ tưới cho vùng gò cao phục vụ sản xuất lúa ở các huyện Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại và bơm nước ngọt pha loãng cho nuôi trồng thuỷ sản ven biển.