Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 3675/QĐ-UBND 2018 Đề án Tổng thể phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/09/2018", "sign_number": "3675/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/09/2018", "sign_number": "3675/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/09/2018", "sign_number": "3675/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/09/2018", "sign_number": "3675/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/09/2018", "sign_number": "3675/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 3675/QĐ-UBND 2018 Đề án Tổng thể phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh

Điều 1. Phê duyệt Đề án Tổng thể phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (sau đây gọi tắt là Đề án), với các nội dung chủ yếu sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể
2.1- Đến năm 2020
- Tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 135.000 tấn, trong đó: Sản lượng khai thác thủy sản đạt 65.000 tấn, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 70.000 tấn.
- Kinh tế thủy sản phấn đấu chiếm trên 3% GRDP của Tỉnh, đóng góp 60-65% GRDP trong khối nông, lâm, ngư nghiệp. Giá trị sản xuất thủy sản đạt khoảng 6.200 tỷ đồng; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt trên 100 triệu USD; tạo việc làm cho khoảng 62.000 lao động.
- Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 20.722 ha và 10.280 ô lồng nuôi biển.
- Số lượng tàu thuyền khai thác giảm xuống còn 7.000 tàu, gồm:
- Hình thành 03 Trung tâm nghề cá và 01 Trung tâm thương mại nghề cá thuộc Tỉnh gắn với hệ thống hạ tầng sản xuất, hậu cần nghề cá đồng bộ; chủ động sản xuất được giống các đối tượng nuôi chủ lực.
2.2- Đến năm 2030
- Tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 176.000 tấn, trong đó: Sản lượng khai thác thủy sản đạt 78.000 tấn, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 98.000 tấn.
- Giá trị sản xuất thủy sản đạt khoảng trên 8.900 tỷ đồng; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt trên 200 triệu USD; tạo việc làm cho khoảng 65.000 lao động.
- Số lượng tàu thuyền khai thác giảm xuống còn còn 6.680 chiếc, trong đó đánh bắt xa bờ 800 chiếc.
- Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 21.942 ha (nuôi nước ngọt: 3.110 ha; nuôi mặn, lợ: 18.832 ha) và 11.800 ô lồng nuôi biển.
- Chủ động sản xuất được giống thủy sản có chất lượng cao phục vụ nhu cầu giống nuôi trồng thủy sản của tỉnh.
(Chi tiết theo Phụ lục 01)
II. Nhiệm vụ trọng tâm
1. Về Lĩnh vực khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Cơ cấu lại lực lượng tàu khai thác thủy sản: Phát triển các nghề có tính chọn lọc cao, thân thiện với môi trường như nghề lưới rê khơi, nghề câu, nghề chài chụp xa bờ; phát triển các tàu dịch vụ thu mua sản phẩm khai thác hải sản xa bờ. Giảm các nghề khai thác ven bờ, kém hiệu quả, gây xâm hại nguồn lợi hải sản như các nghề lưới kéo, một số nghề lưới rê ven bờ, lồng bẫy,...
- Tổ chức lại hình thức sản xuất trên biển theo mô hình kinh tế tập thể hợp tác sản xuất theo chuỗi liên kết đối với khai thác vùng biển xa bờ (hình thành thêm từ 15-20 tổ hợp tác sản xuất trên biển và từ 8-10 chuỗi liên kết từ cung ứng vật tư đến khai thác, thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm thủy sản); xây dựng mô hình đồng quản lý đối với vùng biển ven bờ để tăng hiệu quả sản xuất, bảo vệ môi trường, nguồn lợi. Đến năm 2030 xây dựng và phát triển được 10-15 mô hình đồng quản lý nghề cá.
- Tuyên truyền, phổ biến và nâng cao nhận thức trách nhiệm của cộng đồng dân cư về các quy định về khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU fishing): Tổ chức được từ 10-15 lớp tuyên truyền, phổ biến về IUU fishing/năm.
- Khuyến khích đầu tư nghiên cứu, ứng dụng hỗ trợ chuyển giao, áp dụng khoa học công nghệ vào hoạt động khai thác, bảo quản sau thu hoạch để nâng giá trị sản xuất và hiện đại hóa công nghệ trong khai thác thủy sản: Ứng dụng công nghệ sử dụng đèn LED trong nghề chụp mực; ứng dụng công nghệ dò cá ngang; ứng dụng mô hình sản xuất chuỗi liên kết. Đến năm 2020, có từ 20-30% tàu khai thác xa bờ được lắp đặt công cụ, thiết bị kỹ thuật hiện đại hỗ trợ khai thác và bảo quản sản phẩm sau thu hoạch và nâng lên 60-70% vào năm 2030.
- Điều tra, đánh giá trữ lượng, khoanh vùng bảo vệ phục hồi, tái tạo nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Ninh: Đặc biệt là hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển để tổ chức bảo tồn, phục hồi, tái tạo và phát triển. Đến năm 2030, toàn bộ vùng ven biển Quảng Ninh được điều tra, nghiên cứu, đánh giá xác định các hệ sinh thái tiêu biểu làm cơ sở cho việc tổ chức khoanh vùng, bảo tồn, phục hồi và phát triển. Hàng năm, tuyên truyền sâu rộng để nhân dân nhận thức về giá trị của nguồn lợi thủy sản, hệ sinh. Huy động nguồn lực từ xã hội, các tổ chức thả bổ sung một số đối tượng thủy sản vào vùng nước tự nhiên.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực thủy sản: Xây dựng lực lượng kiểm ngư địa phương để quản lý hoạt động khai thác hiệu quả. Đến năm 2020, hoàn thiện lực lượng kiểm ngư địa phương bao gồm con người, trang thiết bị, các kỹ năng cần thiết để hoạt động an toàn, hiệu quả.
- Xây dựng các mô hình khai thác và phát triển nuôi biển gắn với du lịch biển: Xây dựng được từ 5-7 mô hình khai thác và nuôi biển với gắn du lịch biển.
- Các chương trình, dự án ưu tiên (Chi tiết theo Phụ lục 02)
2. Lĩnh vực sản xuất giống và nuôi trồng thủy sản
- Sắp xếp, cải tạo và nâng cấp các cơ sở sản xuất giống hiện có theo hướng tập trung nghiên cứu, nhập và chuyển giao công nghệ sản xuất giống chất lượng cao nhằm tăng năng suất và chất lượng con giống, đảm bảo đến năm 2020 sản xuất đạt trên 6,0 tỷ giống; đến năm 2030 sản xuất đạt 8,0 tỷ giống thủy sản các loại, đáp ứng đủ nhu cầu giống nuôi trồng thủy sản.
- Phát triển các vùng nuôi thủy sản thâm canh, hạn chế mở rộng diện tích, tập trung ứng dụng công nghệ cao, nuôi tiết kiệm nước, nuôi an toàn sinh học cho năng suất cao, sản lượng lớn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất theo hướng nâng cao giá trị sản phẩm, đảm bảo mục tiêu tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản: Đến năm 2020 đạt 70.000 tấn (nuôi nước ngọt đạt 12.710 tấn, nuôi mặn lợ đạt 57.290 tấn); đến năm 2030 đạt 98.000 tấn (nuôi nước ngọt đạt 15.400 tấn, nuôi mặn lợ đạt 82.600 tấn). Khuyến khích đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất thức ăn công nghiệp phục vụ nuôi trồng thủy sản, đảm bảo sản lượng đến năm 2020 đạt 60.000 tấn và đến năm 2030 đạt 90.000 tấn.
- Xây dựng vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong thủy sản: Đến năm 2025 hoàn thiện và vận hành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao về thủy sản tại huyện Đầm Hà tỉnh Quảng Ninh phấn đấu trở thành trung tâm đào tạo cán bộ, lao động; nghiên cứu, hợp tác, thử nghiệm khoa học công nghệ, là đầu tầu quan trọng nhằm ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, tạo ra các sản phẩm giống thủy sản chủ lực, giống thủy sản đặc hữu có chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu giống trong tỉnh và khu vực các tỉnh phía bắc, phục vụ chiến lược phát triển ngành tôm. Hàng năm đào tạo được khoảng 300-500 lượt cán bộ kỹ thuật và nông dân.
- Xây dựng Chương trình phát triển nuôi biển trên các vùng biển đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030. Trong đó, thực hiện quy hoạch lại việc sử dụng vùng biển, sắp xếp lại các khu vực lồng bè theo quy hoạch, xây dựng các mô hình công nghiệp nuôi biển tiên tiến nâng cao giá trị, lấy doanh nghiệp làm trung tâm phát triển và hỗ trợ hộ ngư dân chuyển đổi mô hình nuôi. Từng bước thay thế vật liệu cũ và đưa vật liệu mới vào phát triển nuôi biển để tăng khả năng chịu sóng gió, độ bền và giảm rủi ro trong sản xuất. Đến năm 2030, 100% lồng bè nuôi trên biển sử dụng vật liệu mới để làm lồng, bè bảo đảm an toàn sản xuất thân thiện với môi trường.
- Xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động phát triển ngành tôm Quảng Ninh đến năm 2025, nhằm phát triển nghề nuôi tôm bền vững với mục tiêu chiến lược đưa Quảng Ninh trở thành trung tâm ngành công nghiệp tôm lớn nhất Miền Bắc theo Quyết định số 79/QĐ-TTg ngày 18/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Ban hành Kế hoạch hành động quốc gia phát triển ngành tôm Việt Nam đến năm 2025”.
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các vùng NTTS trọng điểm: Đầu tư mới, nâng cấp và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng tại các vùng nuôi trọng điểm. Đến năm 2030, đảm bảo có 70-80% diện tích vùng nuôi đã quy hoạch được đầu tư hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất.
- Ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm: Nghiên cứu, chuyển giao, áp dụng kỹ thuật mới, tiên tiến vào nuôi trồng thủy sản để nâng cao chất lượng, giá trị và hiệu quả, đồng thời giảm rủi ro trong sản xuất; ứng dụng thí điểm xây dựng hệ thống quản lý thông tin nuôi trồng thủy sản gắn với chính quyền điện tử; ứng dụng phát triển vật liệu thân thiện với môi trường trong nuôi trồng thủy sản. Đến năm 2020, có 30% diện tích nuôi trồng thủy sản các đối tượng chủ lực áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng lên 50% vào năm 2025 và đạt 80% vào năm 2030.
- Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế để tiếp nhận công nghệ tiên tiến phát triển thủy sản, nhất là công nghệ sản xuất giống với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Israel, các nước trong khu vực ASEAN và các nước có trình độ phát triển cao về thủy sản. Đẩy mạnh hợp tác với các tỉnh trong nước, các Viện nghiên cứu, các Trường Đại Học về nghiên cứu khoa học công nghệ về thủy sản; chuyển giao đối tượng và công nghệ nuôi mới; hỗ trợ công tác đào tạo nguồn nhân lực lĩnh vực thủy sản cho tỉnh.
- Xây dựng các liên kết chuỗi trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là các đối tượng nuôi chủ lực, phục vụ xuất khẩu. Xây dựng được từ 2-3 mô hình/năm, liên kết từ cung cấp vật tư đầu vào đến nuôi trồng, chế biến xuất khẩu đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm.
- Nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong phát triển các đối tượng nuôi trồng thủy sản đặc hữu, đặc sản, giá trị kinh tế cao để phục vụ phát triển du lịch. Đến năm 2030, nghiên cứu hoàn thiện từ sản xuất giống, thức ăn đến quy trình nuôi 5 - 7 loài đặc hữu, đặc sản.
- Tăng cường công tác giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các vùng nuôi trồng thủy sản: Giám sát chặt chẽ an toàn dịch bệnh và môi trường trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là các vùng nuôi tập trung; giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm các sản phẩm chủ lực tại các vùng nuôi tập trung. Đến năm 2020, 100% vùng nuôi tập trung và 30% diện tích vùng nuôi phân tán được giám sát an toàn dịch bệnh và môi trường, giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm, đến năm 2030, 100% diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh được giám sát an toàn dịch bệnh, môi trường, an toàn thực phẩm thủy sản.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong toàn chuỗi hoạt động nuôi trồng thủy sản của tỉnh, đảm bảo kiểm soát tốt từ vật tư đầu vào đến nuôi thương phẩm, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đến năm 2030, đảm bảo 100% sản phẩm trong chuỗi nuôi trồng thủy sản được kiểm tra, kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm trước khi lưu thông trên thị trường.
- Các chương trình, dự án ưu tiên. (Chi tiết theo Phụ lục 03)

Content:
Mục tiêu cụ thể
2.1- Đến năm 2020
- Tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 135.000 tấn, trong đó: Sản lượng khai thác thủy sản đạt 65.000 tấn, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 70.000 tấn.
- Kinh tế thủy sản phấn đấu chiếm trên 3% GRDP của Tỉnh, đóng góp 60-65% GRDP trong khối nông, lâm, ngư nghiệp. Giá trị sản xuất thủy sản đạt khoảng 6.200 tỷ đồng; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt trên 100 triệu USD; tạo việc làm cho khoảng 62.000 lao động.
- Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 20.722 ha và 10.280 ô lồng nuôi biển.
- Số lượng tàu thuyền khai thác giảm xuống còn 7.000 tàu, gồm:
- Hình thành 03 Trung tâm nghề cá và 01 Trung tâm thương mại nghề cá thuộc Tỉnh gắn với hệ thống hạ tầng sản xuất, hậu cần nghề cá đồng bộ; chủ động sản xuất được giống các đối tượng nuôi chủ lực.
2.2- Đến năm 2030
- Tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 176.000 tấn, trong đó: Sản lượng khai thác thủy sản đạt 78.000 tấn, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 98.000 tấn.
- Giá trị sản xuất thủy sản đạt khoảng trên 8.900 tỷ đồng; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt trên 200 triệu USD; tạo việc làm cho khoảng 65.000 lao động.
- Số lượng tàu thuyền khai thác giảm xuống còn còn 6.680 chiếc, trong đó đánh bắt xa bờ 800 chiếc.
- Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 21.942 ha (nuôi nước ngọt: 3.110 ha; nuôi mặn, lợ: 18.832 ha) và 11.800 ô lồng nuôi biển.
- Chủ động sản xuất được giống thủy sản có chất lượng cao phục vụ nhu cầu giống nuôi trồng thủy sản của tỉnh.
(Chi tiết theo Phụ lục 01)
II. Nhiệm vụ trọng tâm
1. Về Lĩnh vực khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Cơ cấu lại lực lượng tàu khai thác thủy sản: Phát triển các nghề có tính chọn lọc cao, thân thiện với môi trường như nghề lưới rê khơi, nghề câu, nghề chài chụp xa bờ; phát triển các tàu dịch vụ thu mua sản phẩm khai thác hải sản xa bờ. Giảm các nghề khai thác ven bờ, kém hiệu quả, gây xâm hại nguồn lợi hải sản như các nghề lưới kéo, một số nghề lưới rê ven bờ, lồng bẫy,...
- Tổ chức lại hình thức sản xuất trên biển theo mô hình kinh tế tập thể hợp tác sản xuất theo chuỗi liên kết đối với khai thác vùng biển xa bờ (hình thành thêm từ 15-20 tổ hợp tác sản xuất trên biển và từ 8-10 chuỗi liên kết từ cung ứng vật tư đến khai thác, thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm thủy sản); xây dựng mô hình đồng quản lý đối với vùng biển ven bờ để tăng hiệu quả sản xuất, bảo vệ môi trường, nguồn lợi. Đến năm 2030 xây dựng và phát triển được 10-15 mô hình đồng quản lý nghề cá.
- Tuyên truyền, phổ biến và nâng cao nhận thức trách nhiệm của cộng đồng dân cư về các quy định về khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU fishing): Tổ chức được từ 10-15 lớp tuyên truyền, phổ biến về IUU fishing/năm.
- Khuyến khích đầu tư nghiên cứu, ứng dụng hỗ trợ chuyển giao, áp dụng khoa học công nghệ vào hoạt động khai thác, bảo quản sau thu hoạch để nâng giá trị sản xuất và hiện đại hóa công nghệ trong khai thác thủy sản: Ứng dụng công nghệ sử dụng đèn LED trong nghề chụp mực; ứng dụng công nghệ dò cá ngang; ứng dụng mô hình sản xuất chuỗi liên kết. Đến năm 2020, có từ 20-30% tàu khai thác xa bờ được lắp đặt công cụ, thiết bị kỹ thuật hiện đại hỗ trợ khai thác và bảo quản sản phẩm sau thu hoạch và nâng lên 60-70% vào năm 2030.
- Điều tra, đánh giá trữ lượng, khoanh vùng bảo vệ phục hồi, tái tạo nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Ninh: Đặc biệt là hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển để tổ chức bảo tồn, phục hồi, tái tạo và phát triển. Đến năm 2030, toàn bộ vùng ven biển Quảng Ninh được điều tra, nghiên cứu, đánh giá xác định các hệ sinh thái tiêu biểu làm cơ sở cho việc tổ chức khoanh vùng, bảo tồn, phục hồi và phát triển. Hàng năm, tuyên truyền sâu rộng để nhân dân nhận thức về giá trị của nguồn lợi thủy sản, hệ sinh. Huy động nguồn lực từ xã hội, các tổ chức thả bổ sung một số đối tượng thủy sản vào vùng nước tự nhiên.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực thủy sản: Xây dựng lực lượng kiểm ngư địa phương để quản lý hoạt động khai thác hiệu quả. Đến năm 2020, hoàn thiện lực lượng kiểm ngư địa phương bao gồm con người, trang thiết bị, các kỹ năng cần thiết để hoạt động an toàn, hiệu quả.
- Xây dựng các mô hình khai thác và phát triển nuôi biển gắn với du lịch biển: Xây dựng được từ 5-7 mô hình khai thác và nuôi biển với gắn du lịch biển.
- Các chương trình, dự án ưu tiên (Chi tiết theo Phụ lục 02)
Lĩnh vực sản xuất giống và nuôi trồng thủy sản
- Sắp xếp, cải tạo và nâng cấp các cơ sở sản xuất giống hiện có theo hướng tập trung nghiên cứu, nhập và chuyển giao công nghệ sản xuất giống chất lượng cao nhằm tăng năng suất và chất lượng con giống, đảm bảo đến năm 2020 sản xuất đạt trên 6,0 tỷ giống; đến năm 2030 sản xuất đạt 8,0 tỷ giống thủy sản các loại, đáp ứng đủ nhu cầu giống nuôi trồng thủy sản.
- Phát triển các vùng nuôi thủy sản thâm canh, hạn chế mở rộng diện tích, tập trung ứng dụng công nghệ cao, nuôi tiết kiệm nước, nuôi an toàn sinh học cho năng suất cao, sản lượng lớn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất theo hướng nâng cao giá trị sản phẩm, đảm bảo mục tiêu tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản: Đến năm 2020 đạt 70.000 tấn (nuôi nước ngọt đạt 12.710 tấn, nuôi mặn lợ đạt 57.290 tấn); đến năm 2030 đạt 98.000 tấn (nuôi nước ngọt đạt 15.400 tấn, nuôi mặn lợ đạt 82.600 tấn). Khuyến khích đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất thức ăn công nghiệp phục vụ nuôi trồng thủy sản, đảm bảo sản lượng đến năm 2020 đạt 60.000 tấn và đến năm 2030 đạt 90.000 tấn.
- Xây dựng vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong thủy sản: Đến năm 2025 hoàn thiện và vận hành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao về thủy sản tại huyện Đầm Hà tỉnh Quảng Ninh phấn đấu trở thành trung tâm đào tạo cán bộ, lao động; nghiên cứu, hợp tác, thử nghiệm khoa học công nghệ, là đầu tầu quan trọng nhằm ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, tạo ra các sản phẩm giống thủy sản chủ lực, giống thủy sản đặc hữu có chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu giống trong tỉnh và khu vực các tỉnh phía bắc, phục vụ chiến lược phát triển ngành tôm. Hàng năm đào tạo được khoảng 300-500 lượt cán bộ kỹ thuật và nông dân.
- Xây dựng Chương trình phát triển nuôi biển trên các vùng biển đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030. Trong đó, thực hiện quy hoạch lại việc sử dụng vùng biển, sắp xếp lại các khu vực lồng bè theo quy hoạch, xây dựng các mô hình công nghiệp nuôi biển tiên tiến nâng cao giá trị, lấy doanh nghiệp làm trung tâm phát triển và hỗ trợ hộ ngư dân chuyển đổi mô hình nuôi. Từng bước thay thế vật liệu cũ và đưa vật liệu mới vào phát triển nuôi biển để tăng khả năng chịu sóng gió, độ bền và giảm rủi ro trong sản xuất. Đến năm 2030, 100% lồng bè nuôi trên biển sử dụng vật liệu mới để làm lồng, bè bảo đảm an toàn sản xuất thân thiện với môi trường.
- Xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động phát triển ngành tôm Quảng Ninh đến năm 2025, nhằm phát triển nghề nuôi tôm bền vững với mục tiêu chiến lược đưa Quảng Ninh trở thành trung tâm ngành công nghiệp tôm lớn nhất Miền Bắc theo Quyết định số 79/QĐ-TTg ngày 18/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Ban hành Kế hoạch hành động quốc gia phát triển ngành tôm Việt Nam đến năm 2025”.
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các vùng NTTS trọng điểm: Đầu tư mới, nâng cấp và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng tại các vùng nuôi trọng điểm. Đến năm 2030, đảm bảo có 70-80% diện tích vùng nuôi đã quy hoạch được đầu tư hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất.
- Ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm: Nghiên cứu, chuyển giao, áp dụng kỹ thuật mới, tiên tiến vào nuôi trồng thủy sản để nâng cao chất lượng, giá trị và hiệu quả, đồng thời giảm rủi ro trong sản xuất; ứng dụng thí điểm xây dựng hệ thống quản lý thông tin nuôi trồng thủy sản gắn với chính quyền điện tử; ứng dụng phát triển vật liệu thân thiện với môi trường trong nuôi trồng thủy sản. Đến năm 2020, có 30% diện tích nuôi trồng thủy sản các đối tượng chủ lực áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng lên 50% vào năm 2025 và đạt 80% vào năm 2030.
- Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế để tiếp nhận công nghệ tiên tiến phát triển thủy sản, nhất là công nghệ sản xuất giống với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Israel, các nước trong khu vực ASEAN và các nước có trình độ phát triển cao về thủy sản. Đẩy mạnh hợp tác với các tỉnh trong nước, các Viện nghiên cứu, các Trường Đại Học về nghiên cứu khoa học công nghệ về thủy sản; chuyển giao đối tượng và công nghệ nuôi mới; hỗ trợ công tác đào tạo nguồn nhân lực lĩnh vực thủy sản cho tỉnh.
- Xây dựng các liên kết chuỗi trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là các đối tượng nuôi chủ lực, phục vụ xuất khẩu. Xây dựng được từ 2-3 mô hình/năm, liên kết từ cung cấp vật tư đầu vào đến nuôi trồng, chế biến xuất khẩu đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm.
- Nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong phát triển các đối tượng nuôi trồng thủy sản đặc hữu, đặc sản, giá trị kinh tế cao để phục vụ phát triển du lịch. Đến năm 2030, nghiên cứu hoàn thiện từ sản xuất giống, thức ăn đến quy trình nuôi 5 - 7 loài đặc hữu, đặc sản.
- Tăng cường công tác giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các vùng nuôi trồng thủy sản: Giám sát chặt chẽ an toàn dịch bệnh và môi trường trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là các vùng nuôi tập trung; giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm các sản phẩm chủ lực tại các vùng nuôi tập trung. Đến năm 2020, 100% vùng nuôi tập trung và 30% diện tích vùng nuôi phân tán được giám sát an toàn dịch bệnh và môi trường, giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm, đến năm 2030, 100% diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh được giám sát an toàn dịch bệnh, môi trường, an toàn thực phẩm thủy sản.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong toàn chuỗi hoạt động nuôi trồng thủy sản của tỉnh, đảm bảo kiểm soát tốt từ vật tư đầu vào đến nuôi thương phẩm, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đến năm 2030, đảm bảo 100% sản phẩm trong chuỗi nuôi trồng thủy sản được kiểm tra, kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm trước khi lưu thông trên thị trường.
- Các chương trình, dự án ưu tiên. (Chi tiết theo Phụ lục 03)