Document: Điều 2 Quyết định 1379/QĐ-TTg năm 2013 giáo dục đào tạo dạy nghề trung du miền núi Nghệ An

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "12/08/2013", "sign_number": "1379/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Thiện Nhân", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "12/08/2013", "sign_number": "1379/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Thiện Nhân", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "12/08/2013", "sign_number": "1379/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Thiện Nhân", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "12/08/2013", "sign_number": "1379/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Thiện Nhân", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "12/08/2013", "sign_number": "1379/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Thiện Nhân", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định 1379/QĐ-TTg năm 2013 giáo dục đào tạo dạy nghề trung du miền núi Nghệ An có nội dung như sau:

Điều 2. Các mục tiêu cụ thể
1. Giáo dục mầm non:
Đến năm 2015, tất cả các tỉnh trong vùng đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; tỷ lệ huy động cháu nhà trẻ ra lớp đạt 25%; trên 95% số trẻ 3 - 5 tuổi học mẫu giáo; tỷ lệ trường mầm non đạt chuẩn quốc gia đạt 30%. Đến năm 2020, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 10%; tỷ lệ huy động cháu nhà trẻ ra lớp đạt 35%; 100% trẻ em 5 tuổi là người dân tộc thiểu số được chuẩn bị tốt tiếng Việt trước khi vào lớp 1; tỷ lệ trường mầm non đạt chuẩn quốc gia đạt 45%.
2. Giáo dục phổ thông:
Đến năm 2015, tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường ở tiểu học đạt 98%, trung học cơ sở đạt 90%, trung học phổ thông đạt 55%; tỷ lệ trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia đạt 35%. Đến năm 2020, tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường ở tiểu học đạt 99%, trung học cơ sở đạt 95%, trung học phổ thông đạt 70%; tỷ lệ trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia đạt 50%; 100% số huyện có đông đồng bào dân tộc thiểu số đều có trường phổ thông dân tộc nội trú; trên 10% học sinh dân tộc thiểu số học trung học được học ở trường nội trú.
3. Giáo dục trung cấp chuyên nghiệp:
Đến năm 2015, số lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp đạt 15% trong tổng số lao động qua đào tạo; thu hút từ 5 - 7% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học trung cấp chuyên nghiệp. Đến năm 2020, số lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp đạt trên 20% trong tổng số lao động qua đào tạo; thành lập mới một số trường trung cấp chuyên nghiệp để mở rộng quy mô đào tạo nhóm ngành công nghệ, nông - lâm - ngư, pháp lý, văn hóa; thu hút trên 10% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học trung cấp chuyên nghiệp.
4. Dạy nghề:
Đến năm 2015, toàn vùng có 24 trường cao đẳng nghề, 40 trường trung cấp nghề (trong đó có từ 5 - 7 trường trung cấp nghề dân tộc nội trú). Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của vùng đạt 30%.
Đến năm 2020, toàn vùng có 30 trường cao đẳng nghề (trong đó có 03 trường chất lượng cao, 01 trường đẳng cấp quốc tế), 50 trường trung cấp nghề (trong đó có từ 8 - 10 trường trung cấp nghề dân tộc nội trú). Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của vùng đạt 40%. Tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở để hằng năm thu hút ít nhất 15% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học nghề. 100% huyện có trung tâm thực hiện hiệu quả, đồng thời ba nhiệm vụ giáo dục thường xuyên, dạy nghề và hướng nghiệp.
5. Giáo dục thường xuyên:
Đến năm 2015, tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 - 35 là 92%. Đến năm 2020, kết quả xóa mù chữ được củng cố bền vững, tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 - 35 là 96%; huy động 95% số người chưa đạt chuẩn phổ cập trong độ tuổi ra học các lớp bổ túc văn hóa trung học cơ sở. 100% xã, phường, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng. Chất lượng giáo dục thường xuyên được nâng cao, giúp người học có kiến thức, kỹ năng thiết thực để tự tạo việc làm hoặc chuyển đổi nghề nghiệp.
6. Giáo dục đại học:
Đến năm 2020, trên cơ sở quy hoạch mạng lưới được phê duyệt, thành lập mới từ 01 đến 02 trường đại học; từ 01 đến 02 trường cao đẳng theo hướng đa ngành để ưu tiên phát triển các ngành, nghề sản xuất công nghiệp, nông - lâm - ngư nghiệp, chăm sóc sức khỏe, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của vùng; tỷ lệ sinh viên người dân tộc thiểu số đạt trên 30% trong tổng số sinh viên các trường đại học, cao đẳng trong vùng.

Content:
Điều 2. Các mục tiêu cụ thể
1. Giáo dục mầm non:
Đến năm 2015, tất cả các tỉnh trong vùng đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; tỷ lệ huy động cháu nhà trẻ ra lớp đạt 25%; trên 95% số trẻ 3 - 5 tuổi học mẫu giáo; tỷ lệ trường mầm non đạt chuẩn quốc gia đạt 30%. Đến năm 2020, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 10%; tỷ lệ huy động cháu nhà trẻ ra lớp đạt 35%; 100% trẻ em 5 tuổi là người dân tộc thiểu số được chuẩn bị tốt tiếng Việt trước khi vào lớp 1; tỷ lệ trường mầm non đạt chuẩn quốc gia đạt 45%.
2. Giáo dục phổ thông:
Đến năm 2015, tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường ở tiểu học đạt 98%, trung học cơ sở đạt 90%, trung học phổ thông đạt 55%; tỷ lệ trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia đạt 35%. Đến năm 2020, tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường ở tiểu học đạt 99%, trung học cơ sở đạt 95%, trung học phổ thông đạt 70%; tỷ lệ trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia đạt 50%; 100% số huyện có đông đồng bào dân tộc thiểu số đều có trường phổ thông dân tộc nội trú; trên 10% học sinh dân tộc thiểu số học trung học được học ở trường nội trú.
3. Giáo dục trung cấp chuyên nghiệp:
Đến năm 2015, số lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp đạt 15% trong tổng số lao động qua đào tạo; thu hút từ 5 - 7% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học trung cấp chuyên nghiệp. Đến năm 2020, số lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp đạt trên 20% trong tổng số lao động qua đào tạo; thành lập mới một số trường trung cấp chuyên nghiệp để mở rộng quy mô đào tạo nhóm ngành công nghệ, nông - lâm - ngư, pháp lý, văn hóa; thu hút trên 10% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học trung cấp chuyên nghiệp.
4. Dạy nghề:
Đến năm 2015, toàn vùng có 24 trường cao đẳng nghề, 40 trường trung cấp nghề (trong đó có từ 5 - 7 trường trung cấp nghề dân tộc nội trú). Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của vùng đạt 30%.
Đến năm 2020, toàn vùng có 30 trường cao đẳng nghề (trong đó có 03 trường chất lượng cao, 01 trường đẳng cấp quốc tế), 50 trường trung cấp nghề (trong đó có từ 8 - 10 trường trung cấp nghề dân tộc nội trú). Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của vùng đạt 40%. Tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở để hằng năm thu hút ít nhất 15% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học nghề. 100% huyện có trung tâm thực hiện hiệu quả, đồng thời ba nhiệm vụ giáo dục thường xuyên, dạy nghề và hướng nghiệp.
5. Giáo dục thường xuyên:
Đến năm 2015, tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 - 35 là 92%. Đến năm 2020, kết quả xóa mù chữ được củng cố bền vững, tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 - 35 là 96%; huy động 95% số người chưa đạt chuẩn phổ cập trong độ tuổi ra học các lớp bổ túc văn hóa trung học cơ sở. 100% xã, phường, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng. Chất lượng giáo dục thường xuyên được nâng cao, giúp người học có kiến thức, kỹ năng thiết thực để tự tạo việc làm hoặc chuyển đổi nghề nghiệp.
6. Giáo dục đại học:
Đến năm 2020, trên cơ sở quy hoạch mạng lưới được phê duyệt, thành lập mới từ 01 đến 02 trường đại học; từ 01 đến 02 trường cao đẳng theo hướng đa ngành để ưu tiên phát triển các ngành, nghề sản xuất công nghiệp, nông - lâm - ngư nghiệp, chăm sóc sức khỏe, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của vùng; tỷ lệ sinh viên người dân tộc thiểu số đạt trên 30% trong tổng số sinh viên các trường đại học, cao đẳng trong vùng.