Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1343/QĐ-TTg 2023 phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự đến 2030

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "14/11/2023", "sign_number": "1343/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Minh Chính", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "14/11/2023", "sign_number": "1343/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Minh Chính", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "14/11/2023", "sign_number": "1343/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Minh Chính", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "14/11/2023", "sign_number": "1343/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Minh Chính", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "14/11/2023", "sign_number": "1343/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Minh Chính", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1343/QĐ-TTg 2023 phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự đến 2030

Điều 1. Phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo với những nội dung chủ yếu sau:
...
2. Tình hình trong nước
a) Chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
Sau hơn 35 năm đổi mới, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, chính trị - xã hội ổn định, kinh tế tăng trưởng từng bước vững chắc, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện; tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người năm 2022 theo giá hiện hành ước đạt 95,6 triệu đồng/người, tương đương 4.110 USD; uy tín, vị thế của đất nước không ngừng nâng cao; sức mạnh đại đoàn kết toàn dân được củng cố; quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu được chú trọng, bước đầu đạt được kết quả tích cực. Các cân đối lớn của nền kinh tế về tích lũy - tiêu dùng, tiết kiệm - đầu tư, năng lượng, lương thực, lao động, việc làm... tiếp tục được bảo đảm, góp phần củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô.
Phát triển vùng, liên kết vùng chuyển biến tích cực, hình thành nhiều vùng kinh tế lớn, quan trọng cho phát triển đất nước. Bước đầu hình thành các hành lang kinh tế trên địa bàn các vùng, liên vùng, nhất là các hành lang gắn với các đô thị lớn. Các vùng kinh tế trọng điểm, đô thị lớn tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu trong phát triển kinh tế - xã hội, thu hút nhiều vốn đầu tư và đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu, thu ngân sách, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới hoàn thành trước thời hạn quy định và vượt mục tiêu đề ra; hệ thống y tế dự phòng và mạng lưới y tế cơ sở được củng cố; chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục đại học tiếp tục được nâng lên.
Hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm xây dựng, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, năng lượng, đô thị, thông tin và truyền thông, cùng nhiều công trình hạ tầng quan trọng trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, các công trình điện lưới quốc gia đã cơ bản nối đến các đảo lớn; các cảng biển, âu tàu phục vụ đánh bắt xa bờ đã được quan tâm đầu tư; hạ tầng giao thông đã có bước phát triển nhanh theo hướng đồng bộ, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các công trình có tính kết nối tạo diện mạo mới cho đất nước.
Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố được củng cố ngày càng vững chắc, đã kết hợp có hiệu quả quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Quốc phòng, an ninh được tăng cường; công tác đối ngoại được mở rộng và đi vào chiều sâu; thiên tai, dịch bệnh được kiểm soát hiệu quả; đời sống của nhân dân cải thiện, niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới ngày càng được củng cố; sức mạnh tổng hợp quốc gia được tăng cường, tiềm lực, vị thế, uy tín của Việt Nam được khẳng định và nâng cao trên trường quốc tế, khu vực, tạo cơ sở nền tảng, điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và công tác phòng thủ dân sự.
Tuy nhiên, đất nước cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Nguồn lực quốc gia còn hạn chế đã làm chậm các chương trình quốc gia nhằm nâng cao khả năng chống chịu, ứng phó với biến đổi khí hậu, ảnh hưởng đến nền kinh tế và các vùng dân cư. Tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên một số lĩnh vực, địa bàn còn tiềm ẩn phức tạp; cháy, nổ, sự cố, tai nạn diễn biến phức tạp, một số vụ làm chết nhiều người, thiệt hại lớn về vật chất, ảnh hưởng tiêu cực đến an toàn, an sinh xã hội, gây hoang mang dư luận. Ô nhiễm môi trường ở các đô thị lớn, làng nghề và một số lưu vực sông chậm được khắc phục, các nguồn ô nhiễm môi trường biển, hải đảo gia tăng; hạ tầng ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai còn hạn chế. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra động lực và thời cơ để phát triển kinh tế nhưng cũng đặt ra những thách thức, rủi ro đối với một số lĩnh vực (trật tự, an toàn xã hội, lao động, việc làm...). Biển Đông, vùng biển Tây Nam và một số địa bàn chiến lược tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước câu kết với nhau tăng cường hoạt động “diễn biến hòa bình” với âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng công khai, trực diện hơn.
Việt Nam nằm trên đường hàng hải, hàng không quốc tế, cửa ngõ ra vào khu vực Đông Nam Á, là cầu nối giữa vùng kinh tế biển và kinh tế lục địa ở châu Á nên có vị trí địa chính trị quan trọng. Trong bối cảnh hiện nay, với sự gia tăng căng thẳng trong quan hệ quốc tế, sự trỗi dậy của chủ nghĩa cường quyền nước lớn, nguy cơ xung đột vũ trang, chiến tranh dưới các hình thức và quy mô khác nhau đối với nước ta vẫn đang hiện hữu; cần chủ động các giải pháp để giảm thiểu thiệt hại cho nhân dân, cho nền kinh tế nếu chiến tranh xảy ra.
b) Đặc điểm địa hình, khí hậu, thủy văn
Việt Nam có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong khu vực Đông Nam Á, có diện tích đất liền hơn 330 ngàn km2, đường biên giới trên đất liền dài hơn 5.000 km, tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào ở phía Tây và Campuchia ở phía Tây Nam, đi qua 25 tỉnh biên giới của Việt Nam và 21 tỉnh của các nước láng giềng. Địa hình chia thành các vùng: Rừng núi, trung du, đồng bằng và ven biển.
Vùng rừng núi có nhiều núi đá, hang động, trong đó nhiều hang động có thể tận dụng cải tạo thành công trình trú ẩn cho nhân dân khi có chiến tranh. Đây cũng là vùng có địa hình hiểm trở, giao thông chưa phát triển, đường độc đạo dễ bị chia cắt vào mùa mưa, gây khó khăn cho cơ động lực lượng, nhất là khi di chuyển, sơ tán, bảo đảm cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật cho khắc phục thảm họa, chiến tranh.
Trung du là vùng chuyển tiếp giữa vùng rừng núi và đồng bằng, có hệ thống đường xá tương đối phát triển, mật độ sông ngòi không lớn; địa hình thuận lợi cho việc xây dựng công trình phòng tránh, cơ động lực lượng, phân tán, sơ tán người và trang bị khi xảy ra thảm họa, chiến tranh. Tuy nhiên, địa hình trung du thường trống trải, khó khăn trong tổ chức ngụy trang, che dấu lực lượng, phương tiện; là nơi tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra sự cố, thảm họa, như sạt lở đất, cháy rừng, sập đổ hầm lò, sạt lở công trình giao thông...
Vùng đồng bằng và ven biển hình thành hai đồng bằng lớn ở Bắc Bộ và Nam Bộ, còn lại trải dài theo bờ biển. Vùng đồng bằng có mật độ dân cư cao, đời sống phát triển, tập trung nhiều đô thị, thành phố lớn và trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, có nhiều khu chế xuất, khu công nghiệp lớn. Hệ thống giao thông phát triển cả đường bộ, đường không, đường sông, đường ven biển, thuận tiện cho cơ động, triển khai lực lượng, phương tiện ứng cứu. Đây cũng là khu vực có mật độ cư dân đông, mức độ tập trung vật chất rất lớn, tiềm ẩn nhiều rủi ro về thiên tai cũng như các sự cố nghiêm trọng trong hoạt động sản xuất.
Vùng biển Việt Nam rộng hơn 1 triệu km2, với hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Các đảo, cụm đảo hình thành từng tuyến từ ngoài vào trong tạo thuận lợi cho tổ chức các điểm tránh, trú cho tàu thuyền trên biển. Biển có tài nguyên thiên nhiên phong phú, là địa bàn quan trọng để phát triển kinh tế đất nước, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về thiên tai, thảm họa ô nhiễm môi trường.
Do địa hình trải dài trên các vĩ độ nên các vùng, miền của Việt Nam có thời tiết, khí hậu, thủy văn đa dạng và phức tạp. Hằng năm cả nước có trên dưới 10 con bão, áp thấp nhiệt đới gây ra lũ lụt, sạt lở đất ở vùng rừng núi, trung du, nước biển dâng ở vùng đồng bằng ven biển... chi phối rất lớn đến hoạt động phòng thủ dân sự. Dự báo những năm tới, tình hình thời tiết, biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường với chiều hướng cực đoan hơn. Tần suất bão gia tăng và có quỹ đạo ngày càng khó dự báo; xu thế tăng nhiệt độ trung bình năm cùng với sự biến đổi của lượng mưa làm cho hạn hán, lũ lụt ngày càng bất thường hơn.
Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình và đặc điểm kinh tế - xã hội cho thấy Việt Nam là nước chịu tác động nhiều và dễ bị tổn thương bởi các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, vì vậy cần phải có các giải pháp căn cơ, lâu dài và toàn diện để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ tác động và hậu quả của thiên tai.
c) Thực trạng công tác phòng thủ dân sự
Công tác phòng thủ dân sự thời gian qua được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, đạt được những kết quả quan trọng trong phòng, chống, khắc phục hậu quả sự cố, thiên tai, dịch bệnh, thảm họa, góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Công tác chỉ đạo, chỉ huy và phối hợp giữa các lực lượng xử lý khi có tình huống được vận hành thông suốt, bảo đảm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của trung ương và địa phương nhằm tăng cường khả năng phòng ngừa và giảm thiểu thiệt hại do sự cố, thiên tai, dịch bệnh, thảm họa gây ra. Công tác xây dựng kế hoạch ở các bộ, ngành nhằm ứng phó với các tình huống sự cố, thiên tai, dịch bệnh, thảm họa đã bước đầu đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ. Lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm được quan tâm xây dựng về tổ chức, đầu tư về trang bị và nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả sự cố, thiên tai, dịch bệnh, thảm họa. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác phòng thủ dân sự tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện, bước đầu cơ bản đáp ứng được yêu cầu. Các công trình phục vụ nhiệm vụ phòng thủ dân sự đang được tiếp tục triển khai theo quy hoạch của các bộ, các địa phương.
Bên cạnh kết quả đạt được, công tác phòng thủ dân sự vẫn còn những hạn chế, bất cập cần khắc phục: Hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền, huấn luyện phổ cập kiến thức về phòng thủ dân sự cho người dân khu vực vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiệu quả chưa cao; nhận thức về phòng thủ dân sự chưa thống nhất; văn bản quy phạm pháp luật về công tác phòng thủ dân sự chưa đầy đủ; cơ chế quản lý, chỉ đạo chưa tập trung. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ vào giám sát dự báo, cảnh báo... chưa đồng bộ ở các khâu và chưa tạo được đột phá trong công tác quản lý rủi ro thảm họa thiên tai; vẫn còn bị động đối với một số loại hình thiên tai như lũ lụt, sạt lở đất... Công tác di dời người dân từ vùng có nguy cơ cao đến khu vực an toàn còn chậm theo phương án quy hoạch, chưa bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và theo kịp yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh. Công tác luyện tập, diễn tập một số loại hình sự cố, thiên tai mới dừng ở mức độ nghiên cứu, chưa thực sự mang tính huấn luyện kỹ năng cho cộng đồng. Trang bị, phương tiện của lực lượng chuyên ngành vẫn thiếu cả về số lượng và chủng loại. Sự phối kết hợp giữa các bộ, ngành trung ương và địa phương trong việc xây dựng, thực hiện quy hoạch cũng như ứng phó một số loại hình sự cố, thiên tai vẫn còn nội dung chưa thống nhất, thiếu đồng bộ trong tổ chức thực hiện. Công tác quản lý quy hoạch còn thiếu kiên quyết nên thiệt hại do sự cố, thiên tai còn lớn. Công trình phòng, chống thiên tai triển khai còn chậm, công trình phòng ngừa thảm họa chiến tranh chưa được quan tâm xây dựng đúng mức, có nơi chưa được lồng ghép vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, của vùng.
Phòng thủ dân sự có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thời bình, phòng thủ dân sự ngăn ngừa, khắc phục hậu quả do sự cố, thiên tai, dịch bệnh, thảm họa bảo vệ nhân dân, bảo vệ các nguồn lực của đất nước. Khi xảy ra chiến tranh, phòng thủ dân sự trực tiếp khai thác và tạo ra sức mạnh tại chỗ để khắc phục hậu quả chiến tranh, bảo vệ các mục tiêu, góp phần bảo vệ tiềm lực quốc gia, tăng cường sức mạnh quân sự. Chính vì vậy, công tác phòng thủ dân sự phải được tổ chức chặt chẽ, vận hành thông suốt, đồng bộ, hiệu quả, thường xuyên và liên tục.
II. QUAN ĐIỂM CHIẾN LƯỢC
1. Chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự nhằm cụ thể hóa các nội dung của Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 30 tháng 8 năm 2022 của Bộ Chính trị về phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo; phù hợp với Kế hoạch triển khai thi hành Luật phòng thủ dân sự năm 2023 và Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023; đặt trong tổng thể Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc và kết hợp chặt chẽ với các chiến lược chuyên ngành liên quan.
2. Phòng thủ dân sự là một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Phòng thủ dân sự đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, trực tiếp là sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, điều hành của chính quyền các cấp. Người đứng đầu các bộ, ngành trung ương, địa phương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện phòng thủ dân sự ở cấp mình.

Content:
Tình hình trong nước
a) Chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
Sau hơn 35 năm đổi mới, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, chính trị - xã hội ổn định, kinh tế tăng trưởng từng bước vững chắc, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện; tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người năm 2022 theo giá hiện hành ước đạt 95,6 triệu đồng/người, tương đương 4.110 USD; uy tín, vị thế của đất nước không ngừng nâng cao; sức mạnh đại đoàn kết toàn dân được củng cố; quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu được chú trọng, bước đầu đạt được kết quả tích cực. Các cân đối lớn của nền kinh tế về tích lũy - tiêu dùng, tiết kiệm - đầu tư, năng lượng, lương thực, lao động, việc làm... tiếp tục được bảo đảm, góp phần củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô.
Phát triển vùng, liên kết vùng chuyển biến tích cực, hình thành nhiều vùng kinh tế lớn, quan trọng cho phát triển đất nước. Bước đầu hình thành các hành lang kinh tế trên địa bàn các vùng, liên vùng, nhất là các hành lang gắn với các đô thị lớn. Các vùng kinh tế trọng điểm, đô thị lớn tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu trong phát triển kinh tế - xã hội, thu hút nhiều vốn đầu tư và đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu, thu ngân sách, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới hoàn thành trước thời hạn quy định và vượt mục tiêu đề ra; hệ thống y tế dự phòng và mạng lưới y tế cơ sở được củng cố; chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục đại học tiếp tục được nâng lên.
Hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm xây dựng, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, năng lượng, đô thị, thông tin và truyền thông, cùng nhiều công trình hạ tầng quan trọng trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, các công trình điện lưới quốc gia đã cơ bản nối đến các đảo lớn; các cảng biển, âu tàu phục vụ đánh bắt xa bờ đã được quan tâm đầu tư; hạ tầng giao thông đã có bước phát triển nhanh theo hướng đồng bộ, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các công trình có tính kết nối tạo diện mạo mới cho đất nước.
Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố được củng cố ngày càng vững chắc, đã kết hợp có hiệu quả quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Quốc phòng, an ninh được tăng cường; công tác đối ngoại được mở rộng và đi vào chiều sâu; thiên tai, dịch bệnh được kiểm soát hiệu quả; đời sống của nhân dân cải thiện, niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới ngày càng được củng cố; sức mạnh tổng hợp quốc gia được tăng cường, tiềm lực, vị thế, uy tín của Việt Nam được khẳng định và nâng cao trên trường quốc tế, khu vực, tạo cơ sở nền tảng, điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và công tác phòng thủ dân sự.
Tuy nhiên, đất nước cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Nguồn lực quốc gia còn hạn chế đã làm chậm các chương trình quốc gia nhằm nâng cao khả năng chống chịu, ứng phó với biến đổi khí hậu, ảnh hưởng đến nền kinh tế và các vùng dân cư. Tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên một số lĩnh vực, địa bàn còn tiềm ẩn phức tạp; cháy, nổ, sự cố, tai nạn diễn biến phức tạp, một số vụ làm chết nhiều người, thiệt hại lớn về vật chất, ảnh hưởng tiêu cực đến an toàn, an sinh xã hội, gây hoang mang dư luận. Ô nhiễm môi trường ở các đô thị lớn, làng nghề và một số lưu vực sông chậm được khắc phục, các nguồn ô nhiễm môi trường biển, hải đảo gia tăng; hạ tầng ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai còn hạn chế. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra động lực và thời cơ để phát triển kinh tế nhưng cũng đặt ra những thách thức, rủi ro đối với một số lĩnh vực (trật tự, an toàn xã hội, lao động, việc làm...). Biển Đông, vùng biển Tây Nam và một số địa bàn chiến lược tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước câu kết với nhau tăng cường hoạt động “diễn biến hòa bình” với âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng công khai, trực diện hơn.
Việt Nam nằm trên đường hàng hải, hàng không quốc tế, cửa ngõ ra vào khu vực Đông Nam Á, là cầu nối giữa vùng kinh tế biển và kinh tế lục địa ở châu Á nên có vị trí địa chính trị quan trọng. Trong bối cảnh hiện nay, với sự gia tăng căng thẳng trong quan hệ quốc tế, sự trỗi dậy của chủ nghĩa cường quyền nước lớn, nguy cơ xung đột vũ trang, chiến tranh dưới các hình thức và quy mô khác nhau đối với nước ta vẫn đang hiện hữu; cần chủ động các giải pháp để giảm thiểu thiệt hại cho nhân dân, cho nền kinh tế nếu chiến tranh xảy ra.
b) Đặc điểm địa hình, khí hậu, thủy văn
Việt Nam có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong khu vực Đông Nam Á, có diện tích đất liền hơn 330 ngàn km2, đường biên giới trên đất liền dài hơn 5.000 km, tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào ở phía Tây và Campuchia ở phía Tây Nam, đi qua 25 tỉnh biên giới của Việt Nam và 21 tỉnh của các nước láng giềng. Địa hình chia thành các vùng: Rừng núi, trung du, đồng bằng và ven biển.
Vùng rừng núi có nhiều núi đá, hang động, trong đó nhiều hang động có thể tận dụng cải tạo thành công trình trú ẩn cho nhân dân khi có chiến tranh. Đây cũng là vùng có địa hình hiểm trở, giao thông chưa phát triển, đường độc đạo dễ bị chia cắt vào mùa mưa, gây khó khăn cho cơ động lực lượng, nhất là khi di chuyển, sơ tán, bảo đảm cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật cho khắc phục thảm họa, chiến tranh.
Trung du là vùng chuyển tiếp giữa vùng rừng núi và đồng bằng, có hệ thống đường xá tương đối phát triển, mật độ sông ngòi không lớn; địa hình thuận lợi cho việc xây dựng công trình phòng tránh, cơ động lực lượng, phân tán, sơ tán người và trang bị khi xảy ra thảm họa, chiến tranh. Tuy nhiên, địa hình trung du thường trống trải, khó khăn trong tổ chức ngụy trang, che dấu lực lượng, phương tiện; là nơi tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra sự cố, thảm họa, như sạt lở đất, cháy rừng, sập đổ hầm lò, sạt lở công trình giao thông...
Vùng đồng bằng và ven biển hình thành hai đồng bằng lớn ở Bắc Bộ và Nam Bộ, còn lại trải dài theo bờ biển. Vùng đồng bằng có mật độ dân cư cao, đời sống phát triển, tập trung nhiều đô thị, thành phố lớn và trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, có nhiều khu chế xuất, khu công nghiệp lớn. Hệ thống giao thông phát triển cả đường bộ, đường không, đường sông, đường ven biển, thuận tiện cho cơ động, triển khai lực lượng, phương tiện ứng cứu. Đây cũng là khu vực có mật độ cư dân đông, mức độ tập trung vật chất rất lớn, tiềm ẩn nhiều rủi ro về thiên tai cũng như các sự cố nghiêm trọng trong hoạt động sản xuất.
Vùng biển Việt Nam rộng hơn 1 triệu km2, với hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Các đảo, cụm đảo hình thành từng tuyến từ ngoài vào trong tạo thuận lợi cho tổ chức các điểm tránh, trú cho tàu thuyền trên biển. Biển có tài nguyên thiên nhiên phong phú, là địa bàn quan trọng để phát triển kinh tế đất nước, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về thiên tai, thảm họa ô nhiễm môi trường.
Do địa hình trải dài trên các vĩ độ nên các vùng, miền của Việt Nam có thời tiết, khí hậu, thủy văn đa dạng và phức tạp. Hằng năm cả nước có trên dưới 10 con bão, áp thấp nhiệt đới gây ra lũ lụt, sạt lở đất ở vùng rừng núi, trung du, nước biển dâng ở vùng đồng bằng ven biển... chi phối rất lớn đến hoạt động phòng thủ dân sự. Dự báo những năm tới, tình hình thời tiết, biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường với chiều hướng cực đoan hơn. Tần suất bão gia tăng và có quỹ đạo ngày càng khó dự báo; xu thế tăng nhiệt độ trung bình năm cùng với sự biến đổi của lượng mưa làm cho hạn hán, lũ lụt ngày càng bất thường hơn.
Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình và đặc điểm kinh tế - xã hội cho thấy Việt Nam là nước chịu tác động nhiều và dễ bị tổn thương bởi các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, vì vậy cần phải có các giải pháp căn cơ, lâu dài và toàn diện để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ tác động và hậu quả của thiên tai.
c) Thực trạng công tác phòng thủ dân sự
Công tác phòng thủ dân sự thời gian qua được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, đạt được những kết quả quan trọng trong phòng, chống, khắc phục hậu quả sự cố, thiên tai, dịch bệnh, thảm họa, góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Công tác chỉ đạo, chỉ huy và phối hợp giữa các lực lượng xử lý khi có tình huống được vận hành thông suốt, bảo đảm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của trung ương và địa phương nhằm tăng cường khả năng phòng ngừa và giảm thiểu thiệt hại do sự cố, thiên tai, dịch bệnh, thảm họa gây ra. Công tác xây dựng kế hoạch ở các bộ, ngành nhằm ứng phó với các tình huống sự cố, thiên tai, dịch bệnh, thảm họa đã bước đầu đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ. Lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm được quan tâm xây dựng về tổ chức, đầu tư về trang bị và nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả sự cố, thiên tai, dịch bệnh, thảm họa. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác phòng thủ dân sự tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện, bước đầu cơ bản đáp ứng được yêu cầu. Các công trình phục vụ nhiệm vụ phòng thủ dân sự đang được tiếp tục triển khai theo quy hoạch của các bộ, các địa phương.
Bên cạnh kết quả đạt được, công tác phòng thủ dân sự vẫn còn những hạn chế, bất cập cần khắc phục: Hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền, huấn luyện phổ cập kiến thức về phòng thủ dân sự cho người dân khu vực vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiệu quả chưa cao; nhận thức về phòng thủ dân sự chưa thống nhất; văn bản quy phạm pháp luật về công tác phòng thủ dân sự chưa đầy đủ; cơ chế quản lý, chỉ đạo chưa tập trung. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ vào giám sát dự báo, cảnh báo... chưa đồng bộ ở các khâu và chưa tạo được đột phá trong công tác quản lý rủi ro thảm họa thiên tai; vẫn còn bị động đối với một số loại hình thiên tai như lũ lụt, sạt lở đất... Công tác di dời người dân từ vùng có nguy cơ cao đến khu vực an toàn còn chậm theo phương án quy hoạch, chưa bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và theo kịp yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh. Công tác luyện tập, diễn tập một số loại hình sự cố, thiên tai mới dừng ở mức độ nghiên cứu, chưa thực sự mang tính huấn luyện kỹ năng cho cộng đồng. Trang bị, phương tiện của lực lượng chuyên ngành vẫn thiếu cả về số lượng và chủng loại. Sự phối kết hợp giữa các bộ, ngành trung ương và địa phương trong việc xây dựng, thực hiện quy hoạch cũng như ứng phó một số loại hình sự cố, thiên tai vẫn còn nội dung chưa thống nhất, thiếu đồng bộ trong tổ chức thực hiện. Công tác quản lý quy hoạch còn thiếu kiên quyết nên thiệt hại do sự cố, thiên tai còn lớn. Công trình phòng, chống thiên tai triển khai còn chậm, công trình phòng ngừa thảm họa chiến tranh chưa được quan tâm xây dựng đúng mức, có nơi chưa được lồng ghép vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, của vùng.
Phòng thủ dân sự có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thời bình, phòng thủ dân sự ngăn ngừa, khắc phục hậu quả do sự cố, thiên tai, dịch bệnh, thảm họa bảo vệ nhân dân, bảo vệ các nguồn lực của đất nước. Khi xảy ra chiến tranh, phòng thủ dân sự trực tiếp khai thác và tạo ra sức mạnh tại chỗ để khắc phục hậu quả chiến tranh, bảo vệ các mục tiêu, góp phần bảo vệ tiềm lực quốc gia, tăng cường sức mạnh quân sự. Chính vì vậy, công tác phòng thủ dân sự phải được tổ chức chặt chẽ, vận hành thông suốt, đồng bộ, hiệu quả, thường xuyên và liên tục.
II. QUAN ĐIỂM CHIẾN LƯỢC
1. Chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự nhằm cụ thể hóa các nội dung của Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 30 tháng 8 năm 2022 của Bộ Chính trị về phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo; phù hợp với Kế hoạch triển khai thi hành Luật phòng thủ dân sự năm 2023 và Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023; đặt trong tổng thể Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc và kết hợp chặt chẽ với các chiến lược chuyên ngành liên quan.
Phòng thủ dân sự là một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Phòng thủ dân sự đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, trực tiếp là sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, điều hành của chính quyền các cấp. Người đứng đầu các bộ, ngành trung ương, địa phương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện phòng thủ dân sự ở cấp mình.