Document: Điều 1 Nghị định 63-CP quy định các biện pháp tính thuế, thu thuế và miễn giảm thuế nông nghiệp đối với hợp tác xã nông nghiệp

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "26/05/1962", "sign_number": "63-CP", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "26/05/1962", "sign_number": "63-CP", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "26/05/1962", "sign_number": "63-CP", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "26/05/1962", "sign_number": "63-CP", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "26/05/1962", "sign_number": "63-CP", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 1 Nghị định 63-CP quy định các biện pháp tính thuế, thu thuế và miễn giảm thuế nông nghiệp đối với hợp tác xã nông nghiệp có nội dung như sau:

Điều 1. Để phù hợp với tình hình quan hệ sản xuất mới ở nông thôn và nhằm mục đích đơn giản bớt cách tính thuế, đồng thời bảo đảm động viên hợp lý thu nhập của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp và của nông dân phục vụ cho nhu cầu nông nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, nay sửa đổi điều 2 và điều 3 trong Nghị định số 375-TTg như sau:
1. Nhà nước coi hợp tác xã sản xuất nông nghiệp là đơn vị tính thuế, nộp thuế và miễn giảm thuế nông nghiệp;
Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp chịu trách nhiệm tính thuế nông nghiệp trên toàn bộ sản lượng thường niên ruộng đất chịu thuế của hợp tác xã và phần hoa lợi trên diện tích ruộng đất để lại làm riêng của xã viên.
2. Để đơn giản việc tính toán, trong năm 1962 sẽ giữ nguyên mức động viên đã thực hiện trong năm 1961. Hợp tác xã nông nghiệp sẽ lấy thuế suất bình quân năm 1961 để tính thuế năm 1962 cho hợp tác xã.

(Thuế suất bình quân)

=

Thuế ghi thu của hợp tác xã

Tổng sản lượng thường niên chịu thuế của hợp tác xã

Thuế của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (cả hợp tác xã cấp cao và hợp tác xã cấp thấp) gồm phần thuế của tập thể hợp tác xã và phần thuế của nông hộ xã viên do hợp tác xã trực tiếp nộp cho Nhà nước trước khi chia hoa lợi cho xã viên rồi thanh toán với xã viên sau.
Trong trường hợp mùa màng bị thiên tai sẽ lấy hợp tác xã sản xuất nông nghiệp làm đơn vị tính toán miễn giảm. Căn cứ vào thực tế thu hoạch cả năm trên phần diện tích chịu thuế của hợp tác xã, đối chiếu với tổng sản lượng thường niên tính thuế, nếu thu hoạch bị sút kém sẽ được miễn, hoặc giảm thuế theo quy định ở điều 6 của Nghị định số 375-TTg.

Content:
Điều 1. Để phù hợp với tình hình quan hệ sản xuất mới ở nông thôn và nhằm mục đích đơn giản bớt cách tính thuế, đồng thời bảo đảm động viên hợp lý thu nhập của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp và của nông dân phục vụ cho nhu cầu nông nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, nay sửa đổi điều 2 và điều 3 trong Nghị định số 375-TTg như sau:
1. Nhà nước coi hợp tác xã sản xuất nông nghiệp là đơn vị tính thuế, nộp thuế và miễn giảm thuế nông nghiệp;
Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp chịu trách nhiệm tính thuế nông nghiệp trên toàn bộ sản lượng thường niên ruộng đất chịu thuế của hợp tác xã và phần hoa lợi trên diện tích ruộng đất để lại làm riêng của xã viên.
2. Để đơn giản việc tính toán, trong năm 1962 sẽ giữ nguyên mức động viên đã thực hiện trong năm 1961. Hợp tác xã nông nghiệp sẽ lấy thuế suất bình quân năm 1961 để tính thuế năm 1962 cho hợp tác xã.

(Thuế suất bình quân)

=

Thuế ghi thu của hợp tác xã

Tổng sản lượng thường niên chịu thuế của hợp tác xã

Thuế của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (cả hợp tác xã cấp cao và hợp tác xã cấp thấp) gồm phần thuế của tập thể hợp tác xã và phần thuế của nông hộ xã viên do hợp tác xã trực tiếp nộp cho Nhà nước trước khi chia hoa lợi cho xã viên rồi thanh toán với xã viên sau.
Trong trường hợp mùa màng bị thiên tai sẽ lấy hợp tác xã sản xuất nông nghiệp làm đơn vị tính toán miễn giảm. Căn cứ vào thực tế thu hoạch cả năm trên phần diện tích chịu thuế của hợp tác xã, đối chiếu với tổng sản lượng thường niên tính thuế, nếu thu hoạch bị sút kém sẽ được miễn, hoặc giảm thuế theo quy định ở điều 6 của Nghị định số 375-TTg.