Document: Điều 1 Quyết định 111/2008/QĐ-UBND cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Nghệ An

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "26/12/2008", "sign_number": "111/2008/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đình Chi", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "26/12/2008", "sign_number": "111/2008/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đình Chi", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "26/12/2008", "sign_number": "111/2008/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đình Chi", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "26/12/2008", "sign_number": "111/2008/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đình Chi", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "26/12/2008", "sign_number": "111/2008/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đình Chi", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 111/2008/QĐ-UBND cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Nghệ An có nội dung như sau:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của bản quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, đất vườn, ao trong cùng thửa đất với đất ở ban hành kèm theo Quyết định số 146/2007/QĐ-UBND ngày 19/12/2007 của UBND tỉnh Nghệ An:
1. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 3 như sau:
“c) Đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước về sử dụng đất, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 25 Quy định này.”
2. Sửa đổi điểm a khoản 2 Điều 3 như sau:
“a) Đất đã được sử dụng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn (gọi chung là quy hoạch) được xét duyệt tại thời điểm cấp giấy chứng nhận; trừ trường hợp đất đã sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993 nhưng chưa có chủ trương thu hồi đất theo quy định tại Điều 49 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.”
3. Sửa đổi khoản 3 Điều 4 như sau:
“3. Trường hợp thửa đất được hình thành trước ngày 18/12/1980 không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì diện tích đất ở được xác định như sau:
a) Trường hợp thửa đất được hình thành trước ngày 18/12/1980 mà trong hồ sơ địa chính có ghi nhận rõ ranh giới thửa đất ở (hoặc thổ cư) thì toàn bộ diện tích thửa đất theo hồ sơ địa chính được xác định là đất ở.
b) Trường hợp thửa đất được hình thành trước ngày 18/12/1980 mà ranh giới thửa đất chưa được xác định trong hồ sơ địa chính và những trường hợp chưa được đo đạc theo Chỉ thị số 299/TTg thì diện tích đất ở được xác định bằng (05) lần hạn mức giao đất ở tại địa phương (theo quy định hiện hành của UBND tỉnh Nghệ An); trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn (05) lần hạn mức giao đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ thửa đất.”
4. Bổ sung Điều 4 như sau:
“5. Phần diện tích đất ở được xác định để cấp giấy chứng nhận tại các khoản 1“, 2, 3, 4 Điều này không phải nộp tiền sử dụng đất”.
5. Bỏ Điều 19.
6. Sửa đổi Điều 20 như sau:
“Điều 20. Trường hợp người sử dụng đất được cơ quan, tổ chức giao đất không đúng thẩm quyền
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do cơ quan, tổ chức giao đất không đúng thẩm quyền trong khoảng thời gian từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004, nếu đủ điều kiện theo Điều 3 (trừ điểm c khoản 1 Điều 3) của bản quy định này, có giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền để được sử dụng đất và phù hợp với quy hoạch thì được cấp giấy chứng nhận không phải nộp tiền sử dụng đất và diện tích đất ở được xác định như sau:
a) Trường hợp diện tích thửa đất đang sử dụng lớn hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở địa phương thì diện tích đất ở bằng hạn mức giao đất ở địa phương.
b) Trường hợp diện tích thửa đất đang sử dụng nhỏ hơn hạn mức giao đất ở địa phương thì diện tích đất ở bằng toàn bộ diện tích thửa đất đó.
Đối với phần diện tích đất được giao làm đất ở ngoài hạn mức giao đất ở thì hộ gia đình, cá nhân phải nộp tiền sử dụng đất, cụ thể như sau:
- Đối với diện tích đất còn lại đã có nhà ở (nếu có) thì được cấp giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ.
- Đối với diện tích đất còn lại không có nhà ở (nếu có) được xác định là đất nông nghiệp theo hiện trạng sử dụng; nếu hộ gia đình, cá nhân đề nghị được chuyển sang đất ở thì được cấp giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP của Chính phủ.”

Content:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của bản quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, đất vườn, ao trong cùng thửa đất với đất ở ban hành kèm theo Quyết định số 146/2007/QĐ-UBND ngày 19/12/2007 của UBND tỉnh Nghệ An:
1. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 3 như sau:
“c) Đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước về sử dụng đất, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 25 Quy định này.”
2. Sửa đổi điểm a khoản 2 Điều 3 như sau:
“a) Đất đã được sử dụng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn (gọi chung là quy hoạch) được xét duyệt tại thời điểm cấp giấy chứng nhận; trừ trường hợp đất đã sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993 nhưng chưa có chủ trương thu hồi đất theo quy định tại Điều 49 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.”
3. Sửa đổi khoản 3 Điều 4 như sau:
“3. Trường hợp thửa đất được hình thành trước ngày 18/12/1980 không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì diện tích đất ở được xác định như sau:
a) Trường hợp thửa đất được hình thành trước ngày 18/12/1980 mà trong hồ sơ địa chính có ghi nhận rõ ranh giới thửa đất ở (hoặc thổ cư) thì toàn bộ diện tích thửa đất theo hồ sơ địa chính được xác định là đất ở.
b) Trường hợp thửa đất được hình thành trước ngày 18/12/1980 mà ranh giới thửa đất chưa được xác định trong hồ sơ địa chính và những trường hợp chưa được đo đạc theo Chỉ thị số 299/TTg thì diện tích đất ở được xác định bằng (05) lần hạn mức giao đất ở tại địa phương (theo quy định hiện hành của UBND tỉnh Nghệ An); trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn (05) lần hạn mức giao đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ thửa đất.”
4. Bổ sung Điều 4 như sau:
“5. Phần diện tích đất ở được xác định để cấp giấy chứng nhận tại các khoản 1“, 2, 3, 4 Điều này không phải nộp tiền sử dụng đất”.
5. Bỏ Điều 19.
6. Sửa đổi Điều 20 như sau:
“Điều 20. Trường hợp người sử dụng đất được cơ quan, tổ chức giao đất không đúng thẩm quyền
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do cơ quan, tổ chức giao đất không đúng thẩm quyền trong khoảng thời gian từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004, nếu đủ điều kiện theo Điều 3 (trừ điểm c khoản 1 Điều 3) của bản quy định này, có giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền để được sử dụng đất và phù hợp với quy hoạch thì được cấp giấy chứng nhận không phải nộp tiền sử dụng đất và diện tích đất ở được xác định như sau:
a) Trường hợp diện tích thửa đất đang sử dụng lớn hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở địa phương thì diện tích đất ở bằng hạn mức giao đất ở địa phương.
b) Trường hợp diện tích thửa đất đang sử dụng nhỏ hơn hạn mức giao đất ở địa phương thì diện tích đất ở bằng toàn bộ diện tích thửa đất đó.
Đối với phần diện tích đất được giao làm đất ở ngoài hạn mức giao đất ở thì hộ gia đình, cá nhân phải nộp tiền sử dụng đất, cụ thể như sau:
- Đối với diện tích đất còn lại đã có nhà ở (nếu có) thì được cấp giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ.
- Đối với diện tích đất còn lại không có nhà ở (nếu có) được xác định là đất nông nghiệp theo hiện trạng sử dụng; nếu hộ gia đình, cá nhân đề nghị được chuyển sang đất ở thì được cấp giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP của Chính phủ.”