Document: Điều 17 Thông tư 19/2017/TT-BTTTT công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong ngành thông tin truyền thông

Type: {"issuing_agency": "Bộ Thông tin và Truyền thông", "promulgation_date": "12/09/2017", "sign_number": "19/2017/TT-BTTTT", "signer": "Trương Minh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Thông tin và Truyền thông", "promulgation_date": "12/09/2017", "sign_number": "19/2017/TT-BTTTT", "signer": "Trương Minh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Thông tin và Truyền thông", "promulgation_date": "12/09/2017", "sign_number": "19/2017/TT-BTTTT", "signer": "Trương Minh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Thông tin và Truyền thông", "promulgation_date": "12/09/2017", "sign_number": "19/2017/TT-BTTTT", "signer": "Trương Minh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Thông tin và Truyền thông", "promulgation_date": "12/09/2017", "sign_number": "19/2017/TT-BTTTT", "signer": "Trương Minh Tuấn", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 17 Thông tư 19/2017/TT-BTTTT công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong ngành thông tin truyền thông có nội dung như sau:

Điều 17. Tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật nhà nước
1. Thẩm quyền quyết định tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật nhà nước được quy định như sau:
a) Việc tiêu hủy tại cơ quan Bộ Thông tin và Truyền thông do Bộ trưởng quyết định và thành lập Hội đồng tiêu hủy. Thành phần Hội đồng tiêu hủy do Chánh Văn phòng Bộ đề xuất với Bộ trưởng;
b) Việc tiêu hủy tại cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông do Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quyết định và thành lập Hội đồng tiêu hủy;
c) Việc tiêu hủy mật mã được thực hiện theo quy định của Ban Cơ yếu Chính phủ.
2. Hội đồng tiêu hủy tài liệu mật có trách nhiệm lập biên bản thống kê đầy đủ danh mục từng tài liệu mật cần tiêu hủy, trong đó phải ghi rõ số công văn, số bản, trích yếu tài liệu. Nội dung biên bản phải phản ánh phương thức, trình tự tiến hành và người thực hiện tiêu hủy tài liệu mật theo quy định của pháp luật. Biên bản phải có chữ ký đầy đủ của các thành viên Hội đồng tiêu hủy. Biên bản tiêu hủy được lưu giữ tại văn thư hoặc bộ phận bảo mật của cơ quan, đơn vị quản lý tài liệu đó.
3. Cách thức tiêu hủy tài liệu mật:
a) Đối với tài liệu mật là văn bản in trên giấy phải được đốt hoặc xé, nghiền nhỏ tới mức không thể chắp lại được;
b) Đối với tài liệu mật lưu trữ dưới dạng băng, đĩa mềm, phim chụp ảnh, thiết bị lưu giữ ngoài giao tiếp qua cổng USB và các phương tiện lưu trữ tương tự, việc tiêu hủy phải làm thay đổi toàn bộ hình dạng và tính năng tác dụng để không còn phục hồi, khai thác, sử dụng được;
c) Trong trường hợp đặc biệt, không có điều kiện tổ chức tiêu hủy tài liệu mật theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, đồng thời nếu tài liệu mật không được tiêu hủy ngay sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho an ninh, quốc phòng hoặc lợi ích khác của Nhà nước thì người đang quản lý tài liệu mật đó được quyền tự tiêu hủy, nhưng ngay sau đó phải báo cáo bằng văn bản với người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý. Nếu việc tự tiêu hủy tài liệu mật không có lý do chính đáng như trên thì người tiêu hủy phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Content:
Điều 17. Tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật nhà nước
1. Thẩm quyền quyết định tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật nhà nước được quy định như sau:
a) Việc tiêu hủy tại cơ quan Bộ Thông tin và Truyền thông do Bộ trưởng quyết định và thành lập Hội đồng tiêu hủy. Thành phần Hội đồng tiêu hủy do Chánh Văn phòng Bộ đề xuất với Bộ trưởng;
b) Việc tiêu hủy tại cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông do Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quyết định và thành lập Hội đồng tiêu hủy;
c) Việc tiêu hủy mật mã được thực hiện theo quy định của Ban Cơ yếu Chính phủ.
2. Hội đồng tiêu hủy tài liệu mật có trách nhiệm lập biên bản thống kê đầy đủ danh mục từng tài liệu mật cần tiêu hủy, trong đó phải ghi rõ số công văn, số bản, trích yếu tài liệu. Nội dung biên bản phải phản ánh phương thức, trình tự tiến hành và người thực hiện tiêu hủy tài liệu mật theo quy định của pháp luật. Biên bản phải có chữ ký đầy đủ của các thành viên Hội đồng tiêu hủy. Biên bản tiêu hủy được lưu giữ tại văn thư hoặc bộ phận bảo mật của cơ quan, đơn vị quản lý tài liệu đó.
3. Cách thức tiêu hủy tài liệu mật:
a) Đối với tài liệu mật là văn bản in trên giấy phải được đốt hoặc xé, nghiền nhỏ tới mức không thể chắp lại được;
b) Đối với tài liệu mật lưu trữ dưới dạng băng, đĩa mềm, phim chụp ảnh, thiết bị lưu giữ ngoài giao tiếp qua cổng USB và các phương tiện lưu trữ tương tự, việc tiêu hủy phải làm thay đổi toàn bộ hình dạng và tính năng tác dụng để không còn phục hồi, khai thác, sử dụng được;
c) Trong trường hợp đặc biệt, không có điều kiện tổ chức tiêu hủy tài liệu mật theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, đồng thời nếu tài liệu mật không được tiêu hủy ngay sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho an ninh, quốc phòng hoặc lợi ích khác của Nhà nước thì người đang quản lý tài liệu mật đó được quyền tự tiêu hủy, nhưng ngay sau đó phải báo cáo bằng văn bản với người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý. Nếu việc tự tiêu hủy tài liệu mật không có lý do chính đáng như trên thì người tiêu hủy phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.