Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 123/2007/QĐ-UBND bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm Thái Nguyên

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "16/01/2007", "sign_number": "123/2007/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Thị Cúc", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "16/01/2007", "sign_number": "123/2007/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Thị Cúc", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "16/01/2007", "sign_number": "123/2007/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Thị Cúc", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "16/01/2007", "sign_number": "123/2007/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Thị Cúc", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "16/01/2007", "sign_number": "123/2007/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Thị Cúc", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 123/2007/QĐ-UBND bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm Thái Nguyên

Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2006 - 2010 với những nội dung chủ yếu như sau:
...
3. Một số giải pháp chính:
a) Đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về VSATTP:
- Đẩy mạnh công tác thông tin giáo dục, truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm sâu rộng trong cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người sản xuất và tiêu dùng. Phát huy tối đa các phương tiện thông tin đại chúng vào công tác tuyên truyền về vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Xã hội hóa công tác giáo dục truyền thông và phát triển đội ngũ cộng tác viên tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm tại tuyến cơ sở (huyện, xã) và tại các cơ sở sản xuất chế biến các loại thực phẩm nguy cơ cao.
- Xây dựng hệ thống kênh thông tin giáo dục truyền thông đa dạng, phong phú và hoạt động thường xuyên để nâng cao nhận thức về vệ sinh an toàn thực phẩm trong cộng đồng. Tổ chức các lớp tuyên truyền trực tiếp đến lãnh đạo các đơn vị, người sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng.
b) Tăng cường tổ chức quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm:
- Tăng cường củng cố và bổ sung hệ thống quản lý chất lượng VSATTP từ tuyến tỉnh đến tuyến xã, phân cấp cụ thể rõ ràng trong công tác quản lý Nhà nước về VSATTP cho từng tuyến. Kiện toàn và tăng cường vai trò của Ban chỉ đạo thực hiện chỉ thị 08/1999/CT-TTg từ tỉnh đến huyện (thành phố, thị xã) và xã (phường, thị trấn). Xây dựng quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo và phân công nhiệm vụ cụ thể của các thành viên để tăng cường các hoạt động phối hợp liên ngành về đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Đầu tư cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, trang bị máy móc công nghệ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất thực phẩm.
- Xây dựng kế hoạch và lộ trình triển khai áp dụng hệ thống HACCP và triển khai đào tạo HACCP cho các cơ sở sản xuất thực phẩm nguy cơ cao trong toàn tỉnh. Giám sát tốt ô nhiễm thực phẩm, ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm. Củng cố và kiện toàn hệ thống báo cáo ngộ độc thực phẩm; Thực hiện tốt quy định báo cáo theo mẫu của Bộ Y tế ban hành.
- Đẩy mạnh công tác thực hiện các quy định của Pháp luật về VSATTP cho mọi ngành, mọi cấp, mọi thành phần kinh tế và mọi người dân nhằm đạt mục tiêu xã hội hoá công tác quản lý chất lượng VSATTP.
- Tiếp tục triển khai có hiệu quả và nhân rộng mô hình điểm về VSATTP trên địa bàn tỉnh.
c) Đào tạo và tập huấn cán bộ:
- Đào tạo và đào tạo lại cán bộ làm công tác quản lý và kiểm nghiệm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Hàng năm cử cán bộ làm công tác quản lý và kiểm nghiệm thực phẩm ở tuyến tỉnh và huyện đi đào tạo nâng cao.
- Tổ chức các lớp tại tỉnh để tập huấn, đào tạo cho các cán bộ tuyến xã.
d) Tăng cường kiểm nghiệm, xét nghiệm thực phẩm:
- Tăng cường đầu tư trang thiết bị đáp ứng việc thực hiện kiểm nghiệm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm của Bộ Y tế và từng bước chuẩn hoá phòng kiểm nghiệm tại Trung tâm y tế Dự phòng tỉnh theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17025. Đào tạo cán bộ có đủ năng lực sử dụng và khai thác có hiệu quả các máy kiểm nghiệm hiện đại, đảm bảo chất lượng và độ tin cậy của kết quả kiểm nghiệm khi công bố.
- Chuyển giao dần các kỹ thuật kiểm nghiệm thực phẩm cho tuyến huyện, đào tạo cán bộ làm công tác kiểm nghiệm thực phẩm cho tuyến huyện, đảm bảo đến năm 2010 tất cả các huyện trên địa bàn tỉnh đều có thể làm được các mẫu kiểm nghiệm thông thường và có thể thực hiện tốt các Test kiểm tra nhanh.
đ) Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra:
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra liên ngành đảm bảo chất lượng VSATTP; Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định về điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, tự công bố chất lượng thực phẩm. Hoạt động thanh tra, kiểm tra thực hiện theo phân cấp và được triển khai thực hiện thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất. Kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về bảo đảm chất lượng VSATTP theo quy định của Pháp luật.
- Định kỳ tổ chức lấy mẫu nguyên liệu sản xuất, mẫu thực phẩm để phân tích đánh giá mức độ ô nhiễm sinh học và tồn dư hoá chất độc hại trong thực phẩm.
- Thường xuyên kiểm tra các chợ đầu mối về nguồn gốc xuất xứ của thực phẩm và sử dụng test nhanh để phát hiện tồn dư hoá chất độc hại trong thực phẩm. Thường xuyên kiểm tra kiểm soát tốt hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm.
e) Về kinh phí:
Kinh phí thực hiện Kế hoạch hành động bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm của tỉnh Thái Nguyên được huy động từ các nguồn:
- Ngân sách Trung ương và các nguồn khác (Hợp tác quốc tế, các tổ chức, cá nhân trong nước...).
- Ngân sách của địa phương.
- Kinh phí hàng năm thực hiện kế hoạch: 945 triệu đến 950 triệu VNĐ.

Content:
Một số giải pháp chính:
a) Đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về VSATTP:
- Đẩy mạnh công tác thông tin giáo dục, truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm sâu rộng trong cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người sản xuất và tiêu dùng. Phát huy tối đa các phương tiện thông tin đại chúng vào công tác tuyên truyền về vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Xã hội hóa công tác giáo dục truyền thông và phát triển đội ngũ cộng tác viên tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm tại tuyến cơ sở (huyện, xã) và tại các cơ sở sản xuất chế biến các loại thực phẩm nguy cơ cao.
- Xây dựng hệ thống kênh thông tin giáo dục truyền thông đa dạng, phong phú và hoạt động thường xuyên để nâng cao nhận thức về vệ sinh an toàn thực phẩm trong cộng đồng. Tổ chức các lớp tuyên truyền trực tiếp đến lãnh đạo các đơn vị, người sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng.
b) Tăng cường tổ chức quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm:
- Tăng cường củng cố và bổ sung hệ thống quản lý chất lượng VSATTP từ tuyến tỉnh đến tuyến xã, phân cấp cụ thể rõ ràng trong công tác quản lý Nhà nước về VSATTP cho từng tuyến. Kiện toàn và tăng cường vai trò của Ban chỉ đạo thực hiện chỉ thị 08/1999/CT-TTg từ tỉnh đến huyện (thành phố, thị xã) và xã (phường, thị trấn). Xây dựng quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo và phân công nhiệm vụ cụ thể của các thành viên để tăng cường các hoạt động phối hợp liên ngành về đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Đầu tư cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, trang bị máy móc công nghệ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất thực phẩm.
- Xây dựng kế hoạch và lộ trình triển khai áp dụng hệ thống HACCP và triển khai đào tạo HACCP cho các cơ sở sản xuất thực phẩm nguy cơ cao trong toàn tỉnh. Giám sát tốt ô nhiễm thực phẩm, ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm. Củng cố và kiện toàn hệ thống báo cáo ngộ độc thực phẩm; Thực hiện tốt quy định báo cáo theo mẫu của Bộ Y tế ban hành.
- Đẩy mạnh công tác thực hiện các quy định của Pháp luật về VSATTP cho mọi ngành, mọi cấp, mọi thành phần kinh tế và mọi người dân nhằm đạt mục tiêu xã hội hoá công tác quản lý chất lượng VSATTP.
- Tiếp tục triển khai có hiệu quả và nhân rộng mô hình điểm về VSATTP trên địa bàn tỉnh.
c) Đào tạo và tập huấn cán bộ:
- Đào tạo và đào tạo lại cán bộ làm công tác quản lý và kiểm nghiệm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Hàng năm cử cán bộ làm công tác quản lý và kiểm nghiệm thực phẩm ở tuyến tỉnh và huyện đi đào tạo nâng cao.
- Tổ chức các lớp tại tỉnh để tập huấn, đào tạo cho các cán bộ tuyến xã.
d) Tăng cường kiểm nghiệm, xét nghiệm thực phẩm:
- Tăng cường đầu tư trang thiết bị đáp ứng việc thực hiện kiểm nghiệm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm của Bộ Y tế và từng bước chuẩn hoá phòng kiểm nghiệm tại Trung tâm y tế Dự phòng tỉnh theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17025. Đào tạo cán bộ có đủ năng lực sử dụng và khai thác có hiệu quả các máy kiểm nghiệm hiện đại, đảm bảo chất lượng và độ tin cậy của kết quả kiểm nghiệm khi công bố.
- Chuyển giao dần các kỹ thuật kiểm nghiệm thực phẩm cho tuyến huyện, đào tạo cán bộ làm công tác kiểm nghiệm thực phẩm cho tuyến huyện, đảm bảo đến năm 2010 tất cả các huyện trên địa bàn tỉnh đều có thể làm được các mẫu kiểm nghiệm thông thường và có thể thực hiện tốt các Test kiểm tra nhanh.
đ) Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra:
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra liên ngành đảm bảo chất lượng VSATTP; Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định về điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, tự công bố chất lượng thực phẩm. Hoạt động thanh tra, kiểm tra thực hiện theo phân cấp và được triển khai thực hiện thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất. Kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về bảo đảm chất lượng VSATTP theo quy định của Pháp luật.
- Định kỳ tổ chức lấy mẫu nguyên liệu sản xuất, mẫu thực phẩm để phân tích đánh giá mức độ ô nhiễm sinh học và tồn dư hoá chất độc hại trong thực phẩm.
- Thường xuyên kiểm tra các chợ đầu mối về nguồn gốc xuất xứ của thực phẩm và sử dụng test nhanh để phát hiện tồn dư hoá chất độc hại trong thực phẩm. Thường xuyên kiểm tra kiểm soát tốt hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm.
e) Về kinh phí:
Kinh phí thực hiện Kế hoạch hành động bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm của tỉnh Thái Nguyên được huy động từ các nguồn:
- Ngân sách Trung ương và các nguồn khác (Hợp tác quốc tế, các tổ chức, cá nhân trong nước...).
- Ngân sách của địa phương.
- Kinh phí hàng năm thực hiện kế hoạch: 945 triệu đến 950 triệu VNĐ.