Document: Điều 1 Quyết định 81/2007/QĐ-UBND bổ sung 137/2005/QĐ-UB giá quyền sử dụng giao đất có thu tiền sử dụng cho thuê  địa bàn thành phố Hà Nội

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "13/07/2007", "sign_number": "81/2007/QĐ-UBND", "signer": "Lê Quý Đôn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "13/07/2007", "sign_number": "81/2007/QĐ-UBND", "signer": "Lê Quý Đôn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "13/07/2007", "sign_number": "81/2007/QĐ-UBND", "signer": "Lê Quý Đôn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "13/07/2007", "sign_number": "81/2007/QĐ-UBND", "signer": "Lê Quý Đôn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "13/07/2007", "sign_number": "81/2007/QĐ-UBND", "signer": "Lê Quý Đôn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 81/2007/QĐ-UBND bổ sung 137/2005/QĐ-UB giá quyền sử dụng giao đất có thu tiền sử dụng cho thuê  địa bàn thành phố Hà Nội có nội dung như sau:

Điều 1. Điều chỉnh, bổ sung một số Điều của Quyết định số 137/2005/QĐ-UB ngày 09/09/2005 của Ủy ban nhân dân Thành phố về việc ban hành quy định về đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn Thành phố như sau:
1/ Điều chỉnh Khoản 1, Điều 18 quy định về Phê duyệt kết quả đấu giá, quyết định giao đất, như sau:
“Căn cứ biên bản phiên đấu giá và đề nghị của Hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất, Chủ tịch Hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất trình Ủy ban nhân dân quận, huyện quyết định phê duyệt kết quả đấu giá làm cơ sở cho việc nộp tiền và lập hồ sơ giao đất đối với trường hợp người trúng đấu giá là cá nhân, hộ gia đình.
Ủy ban nhân dân Thành phố ủy quyền cho Sở Tài chính căn cứ biên bản phiên đấu giá và đề nghị của Hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất quyết định phê duyệt kết quả đấu giá làm cơ sở cho việc nộp tiền và lập hồ sơ giao đất đối với trường hợp người trúng đấu giá là tổ chức và các trường hợp là cá nhân, hộ gia đình nhưng đơn vị tổ chức đấu giá là các Sở, ngành Thành phố và Trung tâm Phát triển quỹ đất.
Quyết định phê duyệt kết quả trúng đấu giá phải ghi rõ danh sách người trúng giá gồm: họ tên, địa chỉ, số chứng minh thư nhân dân của người trúng giá (đối với tổ chức ghi rõ tên tổ chức, mã số tài khoản), vị trí thửa đất, giá trúng, tổng số tiền phải nộp vào ngân sách Nhà nước của từng người và các nội dung cần thiết khác.
Giá cho thuê đất phê duyệt cho người trúng giá được giữ ổn định trong thời hạn 03 năm. Sau 03 năm, nếu giá cho thuê đất do Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành vào ngày 01 tháng 01 hàng năm cao hơn giá thuê thì áp dụng theo giá đất do Ủy ban nhân dân Thành phố quy định, trường hợp thấp hơn thì vẫn giữ nguyên theo kết quả đấu giá”.
2/ Bổ sung Mục b, Khoản 2, Điều 7 quy định trách nhiệm nộp lệ phí trước bạ đất:
“- Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất (tổ chức, cá nhân) có trách nhiệm nộp lệ phí trước bạ đất theo quy định của Bộ Tài chính khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (kể cả các trường hợp xây dựng nhà để ở, để kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn, cho thuê nhà hoặc hoạt động kinh doanh khác).
- Riêng các trường hợp người trúng đấu giá quyền sử dụng đất (tổ chức, cá nhân) được phép kinh doanh nhà mà đất trúng đấu giá để xây dựng nhà ở bán thì không phải nộp lệ phí trước bạ đất. Người nhận chuyển nhượng đất và nhà của các tổ chức, cá nhân được phép kinh doanh nhà thì phải nộp lệ phí trước bạ nhà đất theo quy định của Bộ Tài chính”.
3/ Điều chỉnh Khoản 2, Điều 16 như sau:
“2. Người tham gia đấu giá quyền sử dụng đất nộp tiền mua hồ sơ đấu giá và các chi phí cho việc tổ chức phiên đấu giá do Chủ tịch Hội đồng đấu giá quy định:
a/ Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đấu giá đất để xây dựng nhà ở:
- Đối với thửa đất có giá sàn từ 200.000.000 đồng/thửa đất trở xuống: 100.000đ/hồ sơ.
- Đối với thửa đất có giá sàn từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng/thửa đất: 200.000đ/hồ sơ.
- Đối với thửa đất có giá sàn từ 500.000.000 đồng/thửa đất trở lên: 500.000đ/hồ sơ.
b/ Các trường hợp khác:
- Đối với thửa đất có diện tích từ 0,5 ha đất trở xuống: 1.000.000 đ/hồ sơ.
- Đối với thửa đất có diện tích từ trên 0,5 ha đất đến 2 ha đất: 3.000.000 đ/hồ sơ.
- Đối với thửa đất có diện tích trên 5 ha đất: 5.000.000 đ/hồ sơ.
4/ Bổ sung Khoản 7, Điều 17 như sau:
“7. Trường hợp tổ chức đấu giá không thành:
Trường hợp đơn vị tổ chức đấu giá đã mời tham gia đấu giá công khai theo quy định tại Khoản 1, Điều 8 Quyết định này mà không có người tham gia hoặc tham gia không đủ theo quy định tại Khoản 2, Điều 6 Quyết định này thì đơn vị được giao nhiệm vụ tổ chức đấu giá phải báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố và đề xuất phương án giải quyết”.

Content:
Điều 1. Điều chỉnh, bổ sung một số Điều của Quyết định số 137/2005/QĐ-UB ngày 09/09/2005 của Ủy ban nhân dân Thành phố về việc ban hành quy định về đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn Thành phố như sau:
1/ Điều chỉnh Khoản 1, Điều 18 quy định về Phê duyệt kết quả đấu giá, quyết định giao đất, như sau:
“Căn cứ biên bản phiên đấu giá và đề nghị của Hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất, Chủ tịch Hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất trình Ủy ban nhân dân quận, huyện quyết định phê duyệt kết quả đấu giá làm cơ sở cho việc nộp tiền và lập hồ sơ giao đất đối với trường hợp người trúng đấu giá là cá nhân, hộ gia đình.
Ủy ban nhân dân Thành phố ủy quyền cho Sở Tài chính căn cứ biên bản phiên đấu giá và đề nghị của Hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất quyết định phê duyệt kết quả đấu giá làm cơ sở cho việc nộp tiền và lập hồ sơ giao đất đối với trường hợp người trúng đấu giá là tổ chức và các trường hợp là cá nhân, hộ gia đình nhưng đơn vị tổ chức đấu giá là các Sở, ngành Thành phố và Trung tâm Phát triển quỹ đất.
Quyết định phê duyệt kết quả trúng đấu giá phải ghi rõ danh sách người trúng giá gồm: họ tên, địa chỉ, số chứng minh thư nhân dân của người trúng giá (đối với tổ chức ghi rõ tên tổ chức, mã số tài khoản), vị trí thửa đất, giá trúng, tổng số tiền phải nộp vào ngân sách Nhà nước của từng người và các nội dung cần thiết khác.
Giá cho thuê đất phê duyệt cho người trúng giá được giữ ổn định trong thời hạn 03 năm. Sau 03 năm, nếu giá cho thuê đất do Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành vào ngày 01 tháng 01 hàng năm cao hơn giá thuê thì áp dụng theo giá đất do Ủy ban nhân dân Thành phố quy định, trường hợp thấp hơn thì vẫn giữ nguyên theo kết quả đấu giá”.
2/ Bổ sung Mục b, Khoản 2, Điều 7 quy định trách nhiệm nộp lệ phí trước bạ đất:
“- Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất (tổ chức, cá nhân) có trách nhiệm nộp lệ phí trước bạ đất theo quy định của Bộ Tài chính khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (kể cả các trường hợp xây dựng nhà để ở, để kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn, cho thuê nhà hoặc hoạt động kinh doanh khác).
- Riêng các trường hợp người trúng đấu giá quyền sử dụng đất (tổ chức, cá nhân) được phép kinh doanh nhà mà đất trúng đấu giá để xây dựng nhà ở bán thì không phải nộp lệ phí trước bạ đất. Người nhận chuyển nhượng đất và nhà của các tổ chức, cá nhân được phép kinh doanh nhà thì phải nộp lệ phí trước bạ nhà đất theo quy định của Bộ Tài chính”.
3/ Điều chỉnh Khoản 2, Điều 16 như sau:
“2. Người tham gia đấu giá quyền sử dụng đất nộp tiền mua hồ sơ đấu giá và các chi phí cho việc tổ chức phiên đấu giá do Chủ tịch Hội đồng đấu giá quy định:
a/ Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đấu giá đất để xây dựng nhà ở:
- Đối với thửa đất có giá sàn từ 200.000.000 đồng/thửa đất trở xuống: 100.000đ/hồ sơ.
- Đối với thửa đất có giá sàn từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng/thửa đất: 200.000đ/hồ sơ.
- Đối với thửa đất có giá sàn từ 500.000.000 đồng/thửa đất trở lên: 500.000đ/hồ sơ.
b/ Các trường hợp khác:
- Đối với thửa đất có diện tích từ 0,5 ha đất trở xuống: 1.000.000 đ/hồ sơ.
- Đối với thửa đất có diện tích từ trên 0,5 ha đất đến 2 ha đất: 3.000.000 đ/hồ sơ.
- Đối với thửa đất có diện tích trên 5 ha đất: 5.000.000 đ/hồ sơ.
4/ Bổ sung Khoản 7, Điều 17 như sau:
“7. Trường hợp tổ chức đấu giá không thành:
Trường hợp đơn vị tổ chức đấu giá đã mời tham gia đấu giá công khai theo quy định tại Khoản 1, Điều 8 Quyết định này mà không có người tham gia hoặc tham gia không đủ theo quy định tại Khoản 2, Điều 6 Quyết định này thì đơn vị được giao nhiệm vụ tổ chức đấu giá phải báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố và đề xuất phương án giải quyết”.