Document: Điểm b Khoản 7 Điều 1 Quyết định 2033/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển sản xuất  tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "04/12/2009", "sign_number": "2033/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Sinh Hùng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "04/12/2009", "sign_number": "2033/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Sinh Hùng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "04/12/2009", "sign_number": "2033/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Sinh Hùng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "04/12/2009", "sign_number": "2033/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Sinh Hùng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "04/12/2009", "sign_number": "2033/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Sinh Hùng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 7 Điều 1 Quyết định 2033/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển sản xuất  tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long

Điều 1. Phê duyệt Đề án phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 với các nội dung sau:
...
7. Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án
...
b) Phân kỳ đầu tư theo giai đoạn
- Giai đoạn 2009 – 2015: 800 tỷ đồng;
- Giai đoạn 2016 – 2020: 540 tỷ đồng;
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm
- Chỉ đạo các cơ quan chức năng và Ban Chỉ đạo sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long phối hợp với các địa phương liên quan để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Đề án.
- Ban hành, hướng dẫn các quy định về kiểm tra, quản lý các cơ sở nuôi, sản xuất và chế biến cá tra; rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long;
- Xây dựng và ban hành các quy chuẩn và tăng cường kiểm tra, xử lý về chất lượng giống, thức ăn, chất lượng sản phẩm, quản lý môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm và thú y thủy sản;
- Chủ trì, phối hợp với Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam có biện pháp cụ thể để quản lý chất lượng, giá cả xuất khẩu.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính cân đối, bố trí đủ nguồn vốn để các địa phương thực hiện các nhiệm vụ; nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn cơ chế tài chính để triển khai, thực hiện có hiệu quả; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu việc bổ sung danh mục được hưởng cơ chế lãi suất tín dụng đầu tư nhà nước theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP và Nghị định số 106/2008/NĐ-CP .
3. Bộ Công Thương: chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hiệp hội Chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam chấn chỉnh lại công tác thị trường xuất khẩu cá tra, đổi mới và tăng cường xúc tiến thương mại, xử lý kịp thời các vướng mắc, rào cản thương mại ở các thị trường nhập khẩu cá tra để giữ được thị trường truyền thống và mở rộng thị trường mới; đồng thời có kế hoạch, biện pháp cụ thể để phát triển thị trường nội địa.
4. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: tiếp tục nghiên cứu tháo gỡ những khó khăn vướng mắc về điều kiện vay và thủ tục giải ngân đối với các hộ nuôi, sản xuất giống, chế biến và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long; chỉ đạo các ngân hàng thương mại hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế tiếp cận với nguồn vốn vay để phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long.
5. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Cửu Long: phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch nuôi, chế biến cá tra tại địa phương phù hợp với quy hoạch chung của vùng; cân đối ngân sách địa phương, dành phần vốn thích đáng cùng với nguồn vốn của trung ương để thực hiện Đề án; chỉ đạo xây dựng các dự án cụ thể để trình duyệt theo quy định. Tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước, đặc biệt là kiểm tra chất lượng giống, thức ăn, môi trường, chất lượng sản phẩm, điều kiện sản xuất, kinh doanh; sơ kết, tổng kết hàng năm và báo cáo kết quả thực hiện về Ban Chỉ đạo và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
6. Các Hội, Hiệp hội nghề nghiệp
- Khẩn trương thành lập Hiệp hội cá tra của người nuôi vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nuôi cá tra và giúp tổ chức lại sản xuất của người nuôi, tăng cường sự gắn kết giữa người nuôi với ngân hàng, cơ quan khoa học, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ;
- Hội Nghề cá Việt Nam và Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có biện pháp khuyến khích, hỗ trợ các thành viên phát triển, tăng cường quản lý chặt chẽ chất lượng sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm xuất khẩu; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, ổn định và mở rộng thị trường. Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam có trách nhiệm tham gia xây dựng định hướng chiến lược phát triển thị trường; thường xuyên thông tin về thị trường khu vực và trên thế giới cho doanh nghiệp và người nuôi để chủ động trong sản xuất và kinh doanh xuất khẩu.

Content:
Phân kỳ đầu tư theo giai đoạn
- Giai đoạn 2009 – 2015: 800 tỷ đồng;
- Giai đoạn 2016 – 2020: 540 tỷ đồng;
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm
- Chỉ đạo các cơ quan chức năng và Ban Chỉ đạo sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long phối hợp với các địa phương liên quan để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Đề án.
- Ban hành, hướng dẫn các quy định về kiểm tra, quản lý các cơ sở nuôi, sản xuất và chế biến cá tra; rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long;
- Xây dựng và ban hành các quy chuẩn và tăng cường kiểm tra, xử lý về chất lượng giống, thức ăn, chất lượng sản phẩm, quản lý môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm và thú y thủy sản;
- Chủ trì, phối hợp với Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam có biện pháp cụ thể để quản lý chất lượng, giá cả xuất khẩu.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính cân đối, bố trí đủ nguồn vốn để các địa phương thực hiện các nhiệm vụ; nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn cơ chế tài chính để triển khai, thực hiện có hiệu quả; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu việc bổ sung danh mục được hưởng cơ chế lãi suất tín dụng đầu tư nhà nước theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP và Nghị định số 106/2008/NĐ-CP .
3. Bộ Công Thương: chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hiệp hội Chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam chấn chỉnh lại công tác thị trường xuất khẩu cá tra, đổi mới và tăng cường xúc tiến thương mại, xử lý kịp thời các vướng mắc, rào cản thương mại ở các thị trường nhập khẩu cá tra để giữ được thị trường truyền thống và mở rộng thị trường mới; đồng thời có kế hoạch, biện pháp cụ thể để phát triển thị trường nội địa.
4. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: tiếp tục nghiên cứu tháo gỡ những khó khăn vướng mắc về điều kiện vay và thủ tục giải ngân đối với các hộ nuôi, sản xuất giống, chế biến và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long; chỉ đạo các ngân hàng thương mại hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế tiếp cận với nguồn vốn vay để phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long.
5. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Cửu Long: phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch nuôi, chế biến cá tra tại địa phương phù hợp với quy hoạch chung của vùng; cân đối ngân sách địa phương, dành phần vốn thích đáng cùng với nguồn vốn của trung ương để thực hiện Đề án; chỉ đạo xây dựng các dự án cụ thể để trình duyệt theo quy định. Tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước, đặc biệt là kiểm tra chất lượng giống, thức ăn, môi trường, chất lượng sản phẩm, điều kiện sản xuất, kinh doanh; sơ kết, tổng kết hàng năm và báo cáo kết quả thực hiện về Ban Chỉ đạo và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
6. Các Hội, Hiệp hội nghề nghiệp
- Khẩn trương thành lập Hiệp hội cá tra của người nuôi vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nuôi cá tra và giúp tổ chức lại sản xuất của người nuôi, tăng cường sự gắn kết giữa người nuôi với ngân hàng, cơ quan khoa học, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ;
- Hội Nghề cá Việt Nam và Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có biện pháp khuyến khích, hỗ trợ các thành viên phát triển, tăng cường quản lý chặt chẽ chất lượng sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm xuất khẩu; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, ổn định và mở rộng thị trường. Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam có trách nhiệm tham gia xây dựng định hướng chiến lược phát triển thị trường; thường xuyên thông tin về thị trường khu vực và trên thế giới cho doanh nghiệp và người nuôi để chủ động trong sản xuất và kinh doanh xuất khẩu.