Document: Điều 6 Thông tư 116/2011/TT-BTC hướng dẫn Quyết định 36/2011/QĐ-TTg mức thuế nhập khẩu

Type: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "15/08/2011", "sign_number": "116/2011/TT-BTC", "signer": "Đỗ Hoàng Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "15/08/2011", "sign_number": "116/2011/TT-BTC", "signer": "Đỗ Hoàng Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "15/08/2011", "sign_number": "116/2011/TT-BTC", "signer": "Đỗ Hoàng Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "15/08/2011", "sign_number": "116/2011/TT-BTC", "signer": "Đỗ Hoàng Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "15/08/2011", "sign_number": "116/2011/TT-BTC", "signer": "Đỗ Hoàng Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 6 Thông tư 116/2011/TT-BTC hướng dẫn Quyết định 36/2011/QĐ-TTg mức thuế nhập khẩu có nội dung như sau:

Điều 6. Kiểm tra trị giá khai báo
1. Thực hiện kiểm tra trị giá khai báo ngay tại khâu thông quan đối với tất cả các lô hàng xe ôtô chở người từ 15 chỗ ngồi trở xuống (kể cả lái xe) đã qua sử dụng nhập khẩu theo hướng dẫn tại Điều 24 Thông tư số 205/2010/TT-BTC.
2. Trên cơ sở mức giá tính thuế do người nhập khẩu khai báo, cơ quan hải quan thực hiện so sánh, đối chiếu với cơ sở dữ liệu giá có sẵn tại thời điểm kiểm tra và xác định dấu hiệu nghi vấn về mức giá nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
2.1. Loại xe nhập khẩu có mức giá khai báo thấp hơn mức giá tính thuế thấp nhất của loại xe giống hệt, tương tự, do cơ quan hải quan xác định; hoặc thấp hơn mức giá khai báo thấp nhất của loại xe giống hệt, tương tự (không so sánh với những lô hàng đang trong diện nghi vấn), đã được cơ quan hải quan chấp nhận theo mức giá khai báo.
Loại xe giống hệt, tương tự dùng để so sánh là những loại xe được xuất khẩu đến Việt Nam vào cùng ngày hoặc trong khoảng thời gian 60 ngày trước hoặc 60 ngày sau ngày xuất khẩu của loại xe đang kiểm tra trị giá. Trường hợp không tìm được loại xe giống hệt, tương tự trong thời hạn nêu trên thì được mở rộng khoảng thời gian nhưng không quá 90 ngày trước hoặc 90 ngày sau ngày xuất khẩu của loại xe đang kiểm tra trị giá.
2.2. Loại xe nhập khẩu có mức giá khai báo thấp hơn mức giá kiểm tra của loại xe giống hệt, tương tự có trong Danh mục quản lý rủi ro hàng hóa nhập khẩu cấp Tổng cục.
2.3. Loại xe nhập khẩu có mức giá khai báo thấp hơn mức giá do cơ quan hải quan thu thập từ các nguồn thông tin khác sau khi đã được quy đổi về cùng điều kiện với lô hàng đang kiểm tra trị giá.
2.4. Loại xe nhập khẩu có yếu tố giảm giá trong đó mức giá khai báo sau khi trừ đi khoản giảm giá thấp hơn mức giá của loại xe giống hệt, tương tự quy định tại cơ sở dữ liệu giá.
2.5. Trường hợp không tìm được loại xe giống hệt, tương tự để so sánh, kiểm tra mức giá khai báo thì áp dụng linh hoạt, mở rộng hơn khái niệm loại xe giống hệt, tương tự, cụ thể:
2.5.1. Loại xe nhập khẩu có nhiều tính năng, công dụng đi kèm có thể so sánh với loại xe cùng loại có một tính năng cơ bản đã có trong cơ sở dữ liệu giá;
2.5.2. Loại xe nhập khẩu có trang thiết bị cao cấp hơn có thể so sánh với loại xe cùng loại có trang thiết bị thấp cấp hơn đã có trong cơ sở dữ liệu giá;
2.5.3. Loại xe nhập khẩu có xuất xứ từ các nước, khối nước phát triển có thể so sánh với loại xe cùng loại từ các nước, khối nước chưa phát triển, đang phát triển có trong cơ sở dữ liệu giá (ví dụ: Loại xe nhập khẩu đang cần kiểm tra trị giá có xuất xứ từ Nhật Bản có thể so sánh với loại xe cùng loại xuất xứ từ Thái Lan có trong cơ sở dữ liệu giá).
2.6. Mức giá khai báo thấp hơn 10% qua mỗi năm sử dụng so với giá xe mới cùng loại, cùng năm sản xuất tại cơ sở dữ liệu giá.
3. Khi xác định dấu hiệu nghi vấn về mức giá, cơ quan hải quan phải thông báo để người khai hải quan biết: Cơ sở, căn cứ nghi vấn mức giá khai báo, phương pháp, mức giá do cơ quan hải quan xác định theo Mẫu số 1.
Nếu người khai hải quan đồng ý với phương pháp, mức giá do cơ quan hải quan xác định thì cơ quan hải quan ra Thông báo xác định trị giá theo Mẫu số 4 ban hành kèm theo Thông tư số 205/2010/TT-BTC , thực hiện ấn định thuế theo mức giá đã xác định và ghi rõ trên Tờ khai nhập khẩu phương pháp xác định giá tính thuế, mức giá xác định trước khi thông quan loại xe nhập khẩu.
Trường hợp người khai hải quan không đồng ý với phương pháp, mức giá do cơ quan hải quan xác định tại Mẫu số 1 và đề nghị được thực hiện tham vấn thì cơ quan hải quan ra thông báo mức bảo đảm theo Mẫu số 2 ban hành kèm theo Thông tư số 205/2010/TT-BTC và chuyển qua thực hiện tham vấn theo hướng dẫn tại Điều 7 dưới đây.
4. Chấp nhận trị giá khai báo đối với các trường hợp không nghi vấn về mức giá nêu tại khoản 2 Điều này.

Content:
Điều 6. Kiểm tra trị giá khai báo
1. Thực hiện kiểm tra trị giá khai báo ngay tại khâu thông quan đối với tất cả các lô hàng xe ôtô chở người từ 15 chỗ ngồi trở xuống (kể cả lái xe) đã qua sử dụng nhập khẩu theo hướng dẫn tại Điều 24 Thông tư số 205/2010/TT-BTC.
2. Trên cơ sở mức giá tính thuế do người nhập khẩu khai báo, cơ quan hải quan thực hiện so sánh, đối chiếu với cơ sở dữ liệu giá có sẵn tại thời điểm kiểm tra và xác định dấu hiệu nghi vấn về mức giá nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
2.1. Loại xe nhập khẩu có mức giá khai báo thấp hơn mức giá tính thuế thấp nhất của loại xe giống hệt, tương tự, do cơ quan hải quan xác định; hoặc thấp hơn mức giá khai báo thấp nhất của loại xe giống hệt, tương tự (không so sánh với những lô hàng đang trong diện nghi vấn), đã được cơ quan hải quan chấp nhận theo mức giá khai báo.
Loại xe giống hệt, tương tự dùng để so sánh là những loại xe được xuất khẩu đến Việt Nam vào cùng ngày hoặc trong khoảng thời gian 60 ngày trước hoặc 60 ngày sau ngày xuất khẩu của loại xe đang kiểm tra trị giá. Trường hợp không tìm được loại xe giống hệt, tương tự trong thời hạn nêu trên thì được mở rộng khoảng thời gian nhưng không quá 90 ngày trước hoặc 90 ngày sau ngày xuất khẩu của loại xe đang kiểm tra trị giá.
2.2. Loại xe nhập khẩu có mức giá khai báo thấp hơn mức giá kiểm tra của loại xe giống hệt, tương tự có trong Danh mục quản lý rủi ro hàng hóa nhập khẩu cấp Tổng cục.
2.3. Loại xe nhập khẩu có mức giá khai báo thấp hơn mức giá do cơ quan hải quan thu thập từ các nguồn thông tin khác sau khi đã được quy đổi về cùng điều kiện với lô hàng đang kiểm tra trị giá.
2.4. Loại xe nhập khẩu có yếu tố giảm giá trong đó mức giá khai báo sau khi trừ đi khoản giảm giá thấp hơn mức giá của loại xe giống hệt, tương tự quy định tại cơ sở dữ liệu giá.
2.5. Trường hợp không tìm được loại xe giống hệt, tương tự để so sánh, kiểm tra mức giá khai báo thì áp dụng linh hoạt, mở rộng hơn khái niệm loại xe giống hệt, tương tự, cụ thể:
2.5.1. Loại xe nhập khẩu có nhiều tính năng, công dụng đi kèm có thể so sánh với loại xe cùng loại có một tính năng cơ bản đã có trong cơ sở dữ liệu giá;
2.5.2. Loại xe nhập khẩu có trang thiết bị cao cấp hơn có thể so sánh với loại xe cùng loại có trang thiết bị thấp cấp hơn đã có trong cơ sở dữ liệu giá;
2.5.3. Loại xe nhập khẩu có xuất xứ từ các nước, khối nước phát triển có thể so sánh với loại xe cùng loại từ các nước, khối nước chưa phát triển, đang phát triển có trong cơ sở dữ liệu giá (ví dụ: Loại xe nhập khẩu đang cần kiểm tra trị giá có xuất xứ từ Nhật Bản có thể so sánh với loại xe cùng loại xuất xứ từ Thái Lan có trong cơ sở dữ liệu giá).
2.6. Mức giá khai báo thấp hơn 10% qua mỗi năm sử dụng so với giá xe mới cùng loại, cùng năm sản xuất tại cơ sở dữ liệu giá.
3. Khi xác định dấu hiệu nghi vấn về mức giá, cơ quan hải quan phải thông báo để người khai hải quan biết: Cơ sở, căn cứ nghi vấn mức giá khai báo, phương pháp, mức giá do cơ quan hải quan xác định theo Mẫu số 1.
Nếu người khai hải quan đồng ý với phương pháp, mức giá do cơ quan hải quan xác định thì cơ quan hải quan ra Thông báo xác định trị giá theo Mẫu số 4 ban hành kèm theo Thông tư số 205/2010/TT-BTC , thực hiện ấn định thuế theo mức giá đã xác định và ghi rõ trên Tờ khai nhập khẩu phương pháp xác định giá tính thuế, mức giá xác định trước khi thông quan loại xe nhập khẩu.
Trường hợp người khai hải quan không đồng ý với phương pháp, mức giá do cơ quan hải quan xác định tại Mẫu số 1 và đề nghị được thực hiện tham vấn thì cơ quan hải quan ra thông báo mức bảo đảm theo Mẫu số 2 ban hành kèm theo Thông tư số 205/2010/TT-BTC và chuyển qua thực hiện tham vấn theo hướng dẫn tại Điều 7 dưới đây.
4. Chấp nhận trị giá khai báo đối với các trường hợp không nghi vấn về mức giá nêu tại khoản 2 Điều này.