Document: Điều 14 Thông tư 03/2012/TT-BNV hướng dẫn Nghị định 66/2011/NĐ-CP quy định áp dụng Luật

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nội vụ", "promulgation_date": "26/06/2012", "sign_number": "03/2012/TT-BNV", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nội vụ", "promulgation_date": "26/06/2012", "sign_number": "03/2012/TT-BNV", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nội vụ", "promulgation_date": "26/06/2012", "sign_number": "03/2012/TT-BNV", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nội vụ", "promulgation_date": "26/06/2012", "sign_number": "03/2012/TT-BNV", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nội vụ", "promulgation_date": "26/06/2012", "sign_number": "03/2012/TT-BNV", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 14 Thông tư 03/2012/TT-BNV hướng dẫn Nghị định 66/2011/NĐ-CP quy định áp dụng Luật có nội dung như sau:

Điều 14. Nguyên tắc xử lý trách nhiệm bồi thường, hoàn trả
1. Việc xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây ra thiệt hại đến kinh tế, gây mất vốn, tài sản của nhà nước và của doanh nghiệp phải căn cứ vào tính chất của hành vi gây thiệt hại, mức độ thiệt hại tài sản thực tế gây ra để quyết định mức và phương thức bồi thường, hoàn trả cho nhà nước hoặc doanh nghiệp. Việc xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường, hoàn trả phải bảo đảm khách quan, công bằng và công khai.
2. Người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi thường, hoàn trả theo quyết định của người đứng đầu doanh nghiệp hoặc cấp có thẩm quyền:
a) Trường hợp người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây ra thiệt hại thuyên chuyển công tác, nghỉ hưu hay thôi việc thì phải hoàn thành việc bồi thường, hoàn trả trước khi thuyên chuyển, nghỉ hưu hay thôi việc; nếu không đủ khả năng bồi thường, hoàn trả thì doanh nghiệp có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị mới hoặc chính quyền địa phương nơi người gây thiệt hại cư trú tiếp tục thu tiền bồi thường, hoàn trả cho đến khi thu đủ theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Nếu không thực hiện việc bồi thường, hoàn trả thì doanh nghiệp có quyền khởi kiện ra Tòa án yêu cầu người gây ra thiệt hại phải bồi thường, hoàn trả theo quy định của pháp luật liên quan;
b) Trường hợp người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây ra thiệt hại bị phạt tù mà không được hưởng án treo thì cơ quan thi hành án có trách nhiệm thu tiền bồi thường, hoàn trả theo quyết định của bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án;
c) Trường hợp có nhiều người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện trong hoạt động kinh doanh gây thiệt hại đến kinh tế, gây mất vốn, tài sản của nhà nước và của doanh nghiệp mà doanh nghiệp bồi thường thì đều phải liên đối chịu trách nhiệm bồi thường, hoàn trả trên cơ sở mức độ thiệt hại tài sản thực tế và mức độ lỗi sai phạm của mỗi người;
d) Trường hợp người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây thiệt hại, mà ngay sau khi gây ra thiệt hại có đơn xin tự nguyện bồi thường, hoàn trả thiệt hại và được cấp có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản về mức, phương thức và thời hạn bồi thường, hoàn trả thì không phải thành lập Hội đồng xử lý trách nhiệm bồi thường, hoàn trả theo quy định tại Điều 16 Thông tư này;
đ) Trường hợp thiệt hại vật chất xảy ra do nguyên nhân bất khả kháng được cơ quan chuyên môn và cấp có thẩm quyền xác nhận thì người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện, gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường, hoàn trả.
3. Nếu doanh nghiệp nơi người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây ra thiệt hại bị giải thể, sáp nhập thì cơ quan, tổ chức, đơn vị kế thừa đơn vị bị giải thể, sáp nhập có trách nhiệm tiếp tục thu tiền bồi thường, hoàn trả cho đến khi thu đủ theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
4. Tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp thiệt hại do lỗi cố ý của người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây thiệt hại thì người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây thiệt hại phải bồi thường, hoàn trả toàn bộ giá trị thiệt hại gây ra. Nếu tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp thiệt hại do khách quan hoặc lỗi vô ý của người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây thiệt hại thì căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, cấp có thẩm quyền quyết định mức và phương thức bồi thường, hoàn trả.

Content:
Điều 14. Nguyên tắc xử lý trách nhiệm bồi thường, hoàn trả
1. Việc xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây ra thiệt hại đến kinh tế, gây mất vốn, tài sản của nhà nước và của doanh nghiệp phải căn cứ vào tính chất của hành vi gây thiệt hại, mức độ thiệt hại tài sản thực tế gây ra để quyết định mức và phương thức bồi thường, hoàn trả cho nhà nước hoặc doanh nghiệp. Việc xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường, hoàn trả phải bảo đảm khách quan, công bằng và công khai.
2. Người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi thường, hoàn trả theo quyết định của người đứng đầu doanh nghiệp hoặc cấp có thẩm quyền:
a) Trường hợp người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây ra thiệt hại thuyên chuyển công tác, nghỉ hưu hay thôi việc thì phải hoàn thành việc bồi thường, hoàn trả trước khi thuyên chuyển, nghỉ hưu hay thôi việc; nếu không đủ khả năng bồi thường, hoàn trả thì doanh nghiệp có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị mới hoặc chính quyền địa phương nơi người gây thiệt hại cư trú tiếp tục thu tiền bồi thường, hoàn trả cho đến khi thu đủ theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Nếu không thực hiện việc bồi thường, hoàn trả thì doanh nghiệp có quyền khởi kiện ra Tòa án yêu cầu người gây ra thiệt hại phải bồi thường, hoàn trả theo quy định của pháp luật liên quan;
b) Trường hợp người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây ra thiệt hại bị phạt tù mà không được hưởng án treo thì cơ quan thi hành án có trách nhiệm thu tiền bồi thường, hoàn trả theo quyết định của bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án;
c) Trường hợp có nhiều người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện trong hoạt động kinh doanh gây thiệt hại đến kinh tế, gây mất vốn, tài sản của nhà nước và của doanh nghiệp mà doanh nghiệp bồi thường thì đều phải liên đối chịu trách nhiệm bồi thường, hoàn trả trên cơ sở mức độ thiệt hại tài sản thực tế và mức độ lỗi sai phạm của mỗi người;
d) Trường hợp người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây thiệt hại, mà ngay sau khi gây ra thiệt hại có đơn xin tự nguyện bồi thường, hoàn trả thiệt hại và được cấp có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản về mức, phương thức và thời hạn bồi thường, hoàn trả thì không phải thành lập Hội đồng xử lý trách nhiệm bồi thường, hoàn trả theo quy định tại Điều 16 Thông tư này;
đ) Trường hợp thiệt hại vật chất xảy ra do nguyên nhân bất khả kháng được cơ quan chuyên môn và cấp có thẩm quyền xác nhận thì người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện, gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường, hoàn trả.
3. Nếu doanh nghiệp nơi người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây ra thiệt hại bị giải thể, sáp nhập thì cơ quan, tổ chức, đơn vị kế thừa đơn vị bị giải thể, sáp nhập có trách nhiệm tiếp tục thu tiền bồi thường, hoàn trả cho đến khi thu đủ theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
4. Tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp thiệt hại do lỗi cố ý của người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây thiệt hại thì người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây thiệt hại phải bồi thường, hoàn trả toàn bộ giá trị thiệt hại gây ra. Nếu tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp thiệt hại do khách quan hoặc lỗi vô ý của người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện gây thiệt hại thì căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, cấp có thẩm quyền quyết định mức và phương thức bồi thường, hoàn trả.