Document: Điều 7 Thông tư 78/2009/TT-BNNPTNT  kiểm tra, lấy mẫu kiểm nghiệm lô hàng thủy sản

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "10/12/2009", "sign_number": "78/2009/TT-BNNPTNT", "signer": "Lương Lê Phương", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "10/12/2009", "sign_number": "78/2009/TT-BNNPTNT", "signer": "Lương Lê Phương", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "10/12/2009", "sign_number": "78/2009/TT-BNNPTNT", "signer": "Lương Lê Phương", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "10/12/2009", "sign_number": "78/2009/TT-BNNPTNT", "signer": "Lương Lê Phương", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "10/12/2009", "sign_number": "78/2009/TT-BNNPTNT", "signer": "Lương Lê Phương", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 7 Thông tư 78/2009/TT-BNNPTNT  kiểm tra, lấy mẫu kiểm nghiệm lô hàng thủy sản có nội dung như sau:

Điều 7. Kiểm tra hồ sơ tại hiện trường
1. Đối với lô hàng thủy sản sản xuất trong nước trước khi đưa ra thị trường nêu tại Điểm a, b, c Khoản 2, Điều 1:
a) Xem xét hồ sơ xuất xứ nguyên liệu dùng để sản xuất lô hàng đảm bảo được cung cấp từ các cơ sở (đại lý thu mua hoặc các cơ sở nuôi, tàu cá…) đã được cơ sở sản xuất kiểm soát về điều kiện an toàn vệ sinh hoặc được công nhận đủ điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, cụ thể:
- Nguyên liệu là thủy sản khai thác có xuất xứ từ vùng khai thác tự nhiên không có thông tin cảnh báo liên quan đến an toàn thực phẩm.
- Nguyên liệu là thủy sản nuôi có xuất xứ phải từ cơ sở nuôi không bị cấm/đình chỉ thu hoạch.
- Nguyên liệu là nhuyễn thể 2 mảnh vỏ (NT2MV) có xuất xứ phải từ vùng thu hoạch không bị cấm/đình chỉ thu hoạch.
b) Xem xét sự phù hợp của hồ sơ sản xuất lô hàng về khối lượng phù hợp với công suất của cơ sở sản xuất, định mức sản xuất; thời gian sản xuất phù hợp với hồ sơ đăng ký; kết quả kiểm tra các chỉ tiêu về CL, VSATTP theo chương trình quản lý chất lượng đề ra tại từng cộng đoạn sản xuất; độ tin cậy của hồ sơ sản xuất.
2. Đối với lô hàng nhập khẩu làm nguyên liệu cho cơ sở chế biến:
a) Xem xét sự phù hợp các thông tin trong Giấy chứng nhận xuất xứ lô hàng, Giấy chứng nhận CL, VSATTP lô hàng do cơ quan thẩm quyền nước xuất cấp và các giấy tờ khác kèm theo với thực tế thông tin lô hàng tại hiện trường.
b) Trường hợp lô hàng nhập khẩu để chế biến xuất khẩu vào các thị trường có những yêu cầu riêng biệt về nguồn gốc xuất xứ nguyên liệu, kiểm tra viên thực hiện kiểm tra theo quy định liên quan của Việt Nam và yêu cầu của các thị trường này.
3. Đối với lô hàng thủy sản bị triệu hồi hoặc bị trả về: Xem xét nguyên nhân triệu hồi hoặc trả về, kết quả phân tích các chỉ tiêu CL, VSATTP (nếu có) và sự phù hợp thông tin các giấy tờ kèm theo lô hàng với thực tế lô hàng kiểm tra.
4. Nếu kết quả kiểm tra hồ sơ tại hiện trường cho thấy không đủ độ tin cậy, sai lệch thông tin giữa các giấy tờ trong hồ đăng ký với thông tin kiểm tra tại hiện trường, kiểm tra viên thực hiện như sau:
a) Tạm dừng việc kiểm tra, lưu giữ bằng chứng về lô hàng và ghi Biên bản kiểm tra lô hàng theo quy định Khoản 2, Điều 11 đối với lô hàng nhập khẩu để chế biến.
b) Đối với lô hàng sản xuất trong nước, đề nghị chủ hàng/chủ cơ sở sản xuất giải trình và có biện pháp khắc phục ngay. Trong trường hợp chủ hàng/chủ cơ sở không cung cấp đủ thông tin để giải trình và khả năng khắc phục sai lỗi về hồ sơ của lô hàng, kiểm tra viên có thể dừng các việc kiểm tra tiếp theo đối với lô hàng.

Content:
Điều 7. Kiểm tra hồ sơ tại hiện trường
1. Đối với lô hàng thủy sản sản xuất trong nước trước khi đưa ra thị trường nêu tại Điểm a, b, c Khoản 2, Điều 1:
a) Xem xét hồ sơ xuất xứ nguyên liệu dùng để sản xuất lô hàng đảm bảo được cung cấp từ các cơ sở (đại lý thu mua hoặc các cơ sở nuôi, tàu cá…) đã được cơ sở sản xuất kiểm soát về điều kiện an toàn vệ sinh hoặc được công nhận đủ điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, cụ thể:
- Nguyên liệu là thủy sản khai thác có xuất xứ từ vùng khai thác tự nhiên không có thông tin cảnh báo liên quan đến an toàn thực phẩm.
- Nguyên liệu là thủy sản nuôi có xuất xứ phải từ cơ sở nuôi không bị cấm/đình chỉ thu hoạch.
- Nguyên liệu là nhuyễn thể 2 mảnh vỏ (NT2MV) có xuất xứ phải từ vùng thu hoạch không bị cấm/đình chỉ thu hoạch.
b) Xem xét sự phù hợp của hồ sơ sản xuất lô hàng về khối lượng phù hợp với công suất của cơ sở sản xuất, định mức sản xuất; thời gian sản xuất phù hợp với hồ sơ đăng ký; kết quả kiểm tra các chỉ tiêu về CL, VSATTP theo chương trình quản lý chất lượng đề ra tại từng cộng đoạn sản xuất; độ tin cậy của hồ sơ sản xuất.
2. Đối với lô hàng nhập khẩu làm nguyên liệu cho cơ sở chế biến:
a) Xem xét sự phù hợp các thông tin trong Giấy chứng nhận xuất xứ lô hàng, Giấy chứng nhận CL, VSATTP lô hàng do cơ quan thẩm quyền nước xuất cấp và các giấy tờ khác kèm theo với thực tế thông tin lô hàng tại hiện trường.
b) Trường hợp lô hàng nhập khẩu để chế biến xuất khẩu vào các thị trường có những yêu cầu riêng biệt về nguồn gốc xuất xứ nguyên liệu, kiểm tra viên thực hiện kiểm tra theo quy định liên quan của Việt Nam và yêu cầu của các thị trường này.
3. Đối với lô hàng thủy sản bị triệu hồi hoặc bị trả về: Xem xét nguyên nhân triệu hồi hoặc trả về, kết quả phân tích các chỉ tiêu CL, VSATTP (nếu có) và sự phù hợp thông tin các giấy tờ kèm theo lô hàng với thực tế lô hàng kiểm tra.
4. Nếu kết quả kiểm tra hồ sơ tại hiện trường cho thấy không đủ độ tin cậy, sai lệch thông tin giữa các giấy tờ trong hồ đăng ký với thông tin kiểm tra tại hiện trường, kiểm tra viên thực hiện như sau:
a) Tạm dừng việc kiểm tra, lưu giữ bằng chứng về lô hàng và ghi Biên bản kiểm tra lô hàng theo quy định Khoản 2, Điều 11 đối với lô hàng nhập khẩu để chế biến.
b) Đối với lô hàng sản xuất trong nước, đề nghị chủ hàng/chủ cơ sở sản xuất giải trình và có biện pháp khắc phục ngay. Trong trường hợp chủ hàng/chủ cơ sở không cung cấp đủ thông tin để giải trình và khả năng khắc phục sai lỗi về hồ sơ của lô hàng, kiểm tra viên có thể dừng các việc kiểm tra tiếp theo đối với lô hàng.