Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1705/QĐ-UBND phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp Nam Định 2015

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "28/08/2015", "sign_number": "1705/QĐ-UBND", "signer": "Trần Lê Đoài", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "28/08/2015", "sign_number": "1705/QĐ-UBND", "signer": "Trần Lê Đoài", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "28/08/2015", "sign_number": "1705/QĐ-UBND", "signer": "Trần Lê Đoài", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "28/08/2015", "sign_number": "1705/QĐ-UBND", "signer": "Trần Lê Đoài", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "28/08/2015", "sign_number": "1705/QĐ-UBND", "signer": "Trần Lê Đoài", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1705/QĐ-UBND phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp Nam Định 2015

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025, với những nội dung chủ yếu như sau:
...
3. Định hướng phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
3.1 Nhóm ngành nghề chủ lực: cơ khí (rèn, đúc, chế tạo, gia công kim loại); Mộc, chạm khảm gỗ. Tập trung nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển nhóm ngành nghề này cả về hạ tầng, trang thiết bị, đào tạo nhân lực; xây dựng trung tâm giới thiệu sản phẩm và thương hiệu cho sản phẩm đúc đồng và gỗ mỹ nghệ trong giai đoạn đến năm 2020.
a) Cơ khí (rèn, đúc, chế tạo, gia công kim loại):
- Sản xuất máy móc và thiết bị, phụ tùng cơ khí phục vụ sản xuất nông nghiệp: máy tuốt lúa, máy bóc vỏ, tẽ hạt ngô, máy bóc tách vỏ lạc; máy xay xát công suất nhỏ; máy bơm nước phục vụ nuôi trồng thủy sản; các loại máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm loại nhỏ như máy thái đa năng, máy nghiền, trộn thức ăn chăn nuôi; trang, thiết bị cho máy cày bừa; các loại máy chế biến gỗ; máy trộn bê tông… tại các làng nghề có truyền thống về cơ khí như Xuân Tiến, Kiên Lao (huyện Xuân Trường), trong các Cụm công nghiệp An Xá (thành phố Nam Định), Yên Xá (huyện Ý Yên), các địa bàn đang phát triển nghề cơ khí như tại Bắc Câu (Thị trấn Xuân Trường), xã Quang Trung (huyện Vụ Bản), xã Hải Vân (huyện Hải Hậu), xã Giao Tiến, Hoành Sơn (huyện Giao Thủy)…
- Đúc đồng, nhôm, gang: Tiếp tục sản xuất hàng gia dụng: xoong, nồi, mâm, thau và đồ thờ tự (lư hương, đỉnh, chuông, tượng), hàng lưu niệm. Phát triển các sản phẩm phục vụ xuất khẩu: lò nướng, bếp nướng bằng gang đúc, các sản phẩm phụ tùng thay thế cho các ngành công nghiệp sản xuất xi măng, công nghiệp khai thác than và công nghiệp đóng tàu…tại các làng nghề có truyền thống về nghề đúc: Tống Xá (huyện Ý Yên), Bình Yên (huyện Nam Trực).
- Sản xuất phụ tùng xe đạp, xe máy, các loại thép phục vụ xây dựng, hàng nhôm sắt gia dụng, các công cụ cầm tay phục vụ sản xuất nông nghiệp tại các cụm, điểm SX-KD-DV, làng nghề rèn Vân Chàng, làng nghề cơ khí Đồng Côi (huyện Nam Trực), làng nghề cơ khí Xuân Tiến, Kiên Lao (huyện Xuân Trường), làng nghề rèn truyền thống Giáp Nhất (xã Quang Trung, huyện Vụ Bản) và các địa bàn đang phát triển nghề cơ khí như thôn Đồng Quỹ (Nam Tiến, huyện Nam Trực), Cổ Liêu (Yên Xá, huyện Ý Yên)... (Chi tiết tại phụ lục 1).
b) Mộc, chạm khảm gỗ
- Phát triển nghề sản xuất đồ gỗ dân dụng và phục vụ xây dựng tại các xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh.
- Nhân rộng, phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, nội thất, chạm khảm từ La Xuyên, Ninh Xá (xã Yên Ninh), Hoàng Giang (Yên Trị), Cát Đằng (Yên Tiến)… sang các xã Yên Khánh, Yên Hồng, thị trấn Lâm của huyện Ý Yên; tại các xã Trung Đông, thị trấn Cổ Lễ (huyện Trực Ninh); xã Hải Minh, Hải Phương, Hải Trung, Hải Đường, Hải Vân... (huyện Hải Hậu); xã Xuân Phương, Xuân Tiến, Xuân Bắc (huyện Xuân Trường); thị trấn Ngô Đồng, Hồng Thuận, Giao Tiến (huyện Giao Thủy), ... (Chi tiết tại phụ lục 1).
3.2. Nhóm ngành nghề nền tảng khai thác tiềm năng, thế mạnh của tỉnh: dệt may, thêu ren, tơ tằm; mây tre đan, sơn mài mỹ nghệ và chế biến nông sản, thực phẩm. Giai đoạn đến năm 2020, củng cố, duy trì và khôi phục và phát triển nhóm ngành này nhằm tạo tiền đề cho phát triển cho giai đoạn 2021-2025. Sau năm 2020, xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng sơn mài mỹ nghệ, thêu ren và mây tre đan.
a) Dệt may, thêu ren, tơ tằm
- Dệt vải, màn, xô, gạc y tế, khăn mặt ở các xã Thành Lợi (huyện Vụ Bản), xã Phương Định, xã Trực Chính (huyện Trực Ninh), xã Nam Hồng, xã Nam Thanh (huyện Nam Trực), xã Giao Tiến (huyện Giao Thủy)... Sản xuất vải tơ lụa từ tơ tự nhiên và tơ, sợi công nghiệp tại làng nghề Cự Trữ (Trực Ninh).
- Tiếp tục phát triển các cơ sở may nhỏ ở các xã huyện Ý Yên (nhất là xã Yên Trị), Vụ Bản, Hải Hậu, Xuân Trường, Nam Trực, Trực Ninh, Hải Hậu, thành phố Nam Định...
- Sản xuất chăn ga, gối đệm, quần áo ở xã Mỹ Thắng (huyện Mỹ Lộc); móc sợi ở một số xã huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Vụ Bản, Trực Ninh.
- Phát triển, nhân rộng nghề kéo sợi PE, dệt, đan lưới cước, thừng, chão phục vụ cho nuôi trồng, khai thác thuỷ sản, chăn nuôi gia cầm ở thị trấn Thịnh Long, xã Hải Triều (huyện Hải Hậu), xã Trực Hùng (Trực Ninh).
- Khuyến khích phát triển nghề thêu ren truyền thống ở xã Trung Đông (huyện Trực Ninh), xã Hải Hưng (huyện Hải Hậu), xã Yên Dương, xã Yên Trung (huyện Ý Yên), xã Bình Minh (Nam Trực), nghề thêu tranh truyền thống ở Phú Nhai, Xuân Phương (huyện Xuân Trường).
- Tiếp tục duy trì, củng cố nghề chăn tằm-ươm tơ truyền thống, sản phẩm đã có uy tín nhiều năm trên thị trường những năm gần đây đã được khôi phục lại và bắt đầu khởi sắc như: làng Đại An (xã Nam Thắng, Nam Trực); làng Cổ Chất (Phương Định,Trực Ninh), làng Hồng Thiện (Xuân Hồng, Xuân Trường).
- Nhân cấy, phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm tại một số vùng phù hợp với phát triển nghề như xã Tân Thịnh (huyện Nam Trực), Nông trường Rạng Đông (Nghĩa Hưng)... (Chi tiết tại phụ lục 1).
b) Mây tre đan, cói lá và sơn mài mỹ nghệ
- Nhân rộng nghề thủ công mỹ nghệ từ mây tre nứa đan Yên Bình, Yên Hồng, Yên Đồng sang các xã lân cận của huyện Ý Yên; xã Vĩnh Hào, Liên Minh, Hiển Khánh (huyện Vụ Bản); chắp nứa sơn mài ở làng nghề Cát Đằng, Yên Tiến (Ý Yên); đan giỏ tích ở làng Gôi, xã Mỹ Hưng (Mỹ Lộc). Tiếp tục phát triển nghề mây tre đan đã hình thành ở các xã Nghĩa Hoà (Nghĩa Hưng), Trực Thanh, Trung Đông, Trực Tuấn (Trực Ninh), xã Điền Xá, Thạch Cầu (Nam Trực), xã Hải Hưng (Hải Hậu), xã Giao Tiến, Hồng Thuận, Giao Hương (huyện Giao Thủy)...
- Phát triển, nhân rộng nghề xe đay của xã Hải Phương cung ứng nguyên liệu cho các cơ sở dệt chiếu trong và ngoài tỉnh. (Chi tiết tại phụ lục 1).
c) Chế biến nông sản, thực phẩm
- Tiếp tục duy trì các cơ sở xay xát, chế biến gạo nhỏ ở địa bàn các xã, thị trấn. Sản xuất bánh phở, bánh đa, bún khô ở xã Đồng Sơn, xã Nam Dương (huyện Nam Trực), xã Xuân Tiến (huyện Xuân Trường), làng Phong Lộc (phường Cửa Nam- TP Nam Định); Miến dong, miến gạo ở xã Nghĩa Sơn, Nghĩa Lâm (huyện Nghĩa Hưng); rượu gạo Kiên Lao (Xuân Trường), Yên Phú (Ý Yên)....
- Sản xuất bánh kẹo, thính gạo ở thị trấn Yên Định (huyện Hải Hậu); mở rộng sản xuất và xây dựng thương hiệu kẹo Sìu Châu ở thành phố Nam Định.
- Sản xuất nước mắm, mắm tôm, cá khô tại Giao Châu, Giao Hải, Thị trấn Quất Lâm (Giao Thủy); xã Nghĩa Hải, Nghĩa Thắng, Nghĩa Bình, thị trấn Rạng Đông (Nghĩa Hưng), Thịnh Long, Hải Chính (Hải Hậu) và địa bàn các xã các huyện ven biển Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Giao Thuỷ.
- Chế biến thức ăn chăn nuôi (bột cá nhạt) từ nguyên liệu thủy hải sản tại một số xã các huyện ven biển Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thuỷ... (Chi tiết tại phụ lục 1).
3.3. Nhóm ngành nghề duy trì phát triển: sản xuất vật liệu xây dựng và các ngành nghề TTCN khác.
a) Sản xuất gạch không nung
- Xoá bỏ triệt để các lò gạch thủ công trên địa bàn tỉnh trước năm 2016. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho các cơ sở gạch thủ công chuyển đổi công nghệ sang gạch không nung với sản phẩm chủ yếu là gạch xi măng - cốt liệu.
- Tiếp tục phát triển nghề sản xuất vật liệu xây dựng không nung (sản phẩm chủ yếu là gạch bi các loại) tại địa bàn các xã Yên Khang (Ý Yên), xã Trực Đại, Trực Phú, thị trấn Cổ Lễ (Trực Ninh), xã Nghĩa An (Nam Trực), thị trấn Xuân Trường, xã Thọ Nghiệp (Xuân Trường). (Chi tiết tại phụ lục 1).
- Đầu tư xây dựng mới một số cơ sở sản xuất gạch xi măng - cốt liệu tại các CCN trên địa bàn các huyện.
- Tại các nhà máy gạch Tuynel đang hoạt động, đầu tư mỗi nơi 01 dây chuyền sản xuất gạch không nung từ phế thải lò.
- Quy hoạch và đầu tư các nhà máy sản xuất gạch không nung sử dụng nguyên liệu xỉ than sau khi Nhà máy nhiệt điện Hải Hậu vận hành.
b) Ngành nghề TTCN khác (nhựa, giấy, thuỷ tinh...)
- Phát triển sản xuất dép nhựa, ống nước, chai lọ nhựa các loại ở thành phố Nam Định, xã Trung Thành (Vụ Bản), xã Nam Hồng (Nam Trực), xã Mỹ Hưng, thị trấn Mỹ Lộc (huyện Mỹ Lộc); không khuyến khích mở rộng thêm trong khu dân cư, áp dụng các biện pháp xử lý môi trường và di chuyển các cơ sở sản xuất vào các cụm, điểm SX-KD-DV tập trung.
- Nhân rộng, phát triển nghề làm hoa lụa giấy truyền thống của làng nghề Báo Đáp (xã Hồng Quang, Nam Trực).
- Không khuyến khích phát triển nghề thổi thủy tinh ở Xối Trì - xã Nam Thanh (Nam Trực) do độc hại cho người làm nghề và sản phẩm không còn phù hợp với thị trường.
- Duy trì (không mở rộng do nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ hạn chế) các nghề: (1) Khâu nón ở làng Đào Khê, xã Nghĩa Châu; làng Phù Sa Thượng, xã Hoàng Nam, xã Nghĩa Thịnh, thị trấn Quỹ Nhất, Nghĩa Thái, Nghĩa Trung của huyện Nghĩa Hưng; xã Xuân Bắc, Xuân Trung (Xuân Trường; xã Yên Trung (Ý Yên), làng Hương Cát, TT Cát Thành (Trực Ninh); (2) Nghề dệt chiếu truyền thống ở các xã Xuân Ninh (Xuân Trường), xã Hải Bắc, Hải An (huyện Hải Hậu); (3) Nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu từ nguyên liệu bèo tây, bẹ chuối ở xã Trực Tuấn (Trực Ninh), Xuân Ninh (Xuân Trường).

Content:
Định hướng phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
3.1 Nhóm ngành nghề chủ lực: cơ khí (rèn, đúc, chế tạo, gia công kim loại); Mộc, chạm khảm gỗ. Tập trung nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển nhóm ngành nghề này cả về hạ tầng, trang thiết bị, đào tạo nhân lực; xây dựng trung tâm giới thiệu sản phẩm và thương hiệu cho sản phẩm đúc đồng và gỗ mỹ nghệ trong giai đoạn đến năm 2020.
a) Cơ khí (rèn, đúc, chế tạo, gia công kim loại):
- Sản xuất máy móc và thiết bị, phụ tùng cơ khí phục vụ sản xuất nông nghiệp: máy tuốt lúa, máy bóc vỏ, tẽ hạt ngô, máy bóc tách vỏ lạc; máy xay xát công suất nhỏ; máy bơm nước phục vụ nuôi trồng thủy sản; các loại máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm loại nhỏ như máy thái đa năng, máy nghiền, trộn thức ăn chăn nuôi; trang, thiết bị cho máy cày bừa; các loại máy chế biến gỗ; máy trộn bê tông… tại các làng nghề có truyền thống về cơ khí như Xuân Tiến, Kiên Lao (huyện Xuân Trường), trong các Cụm công nghiệp An Xá (thành phố Nam Định), Yên Xá (huyện Ý Yên), các địa bàn đang phát triển nghề cơ khí như tại Bắc Câu (Thị trấn Xuân Trường), xã Quang Trung (huyện Vụ Bản), xã Hải Vân (huyện Hải Hậu), xã Giao Tiến, Hoành Sơn (huyện Giao Thủy)…
- Đúc đồng, nhôm, gang: Tiếp tục sản xuất hàng gia dụng: xoong, nồi, mâm, thau và đồ thờ tự (lư hương, đỉnh, chuông, tượng), hàng lưu niệm. Phát triển các sản phẩm phục vụ xuất khẩu: lò nướng, bếp nướng bằng gang đúc, các sản phẩm phụ tùng thay thế cho các ngành công nghiệp sản xuất xi măng, công nghiệp khai thác than và công nghiệp đóng tàu…tại các làng nghề có truyền thống về nghề đúc: Tống Xá (huyện Ý Yên), Bình Yên (huyện Nam Trực).
- Sản xuất phụ tùng xe đạp, xe máy, các loại thép phục vụ xây dựng, hàng nhôm sắt gia dụng, các công cụ cầm tay phục vụ sản xuất nông nghiệp tại các cụm, điểm SX-KD-DV, làng nghề rèn Vân Chàng, làng nghề cơ khí Đồng Côi (huyện Nam Trực), làng nghề cơ khí Xuân Tiến, Kiên Lao (huyện Xuân Trường), làng nghề rèn truyền thống Giáp Nhất (xã Quang Trung, huyện Vụ Bản) và các địa bàn đang phát triển nghề cơ khí như thôn Đồng Quỹ (Nam Tiến, huyện Nam Trực), Cổ Liêu (Yên Xá, huyện Ý Yên)... (Chi tiết tại phụ lục 1).
b) Mộc, chạm khảm gỗ
- Phát triển nghề sản xuất đồ gỗ dân dụng và phục vụ xây dựng tại các xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh.
- Nhân rộng, phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, nội thất, chạm khảm từ La Xuyên, Ninh Xá (xã Yên Ninh), Hoàng Giang (Yên Trị), Cát Đằng (Yên Tiến)… sang các xã Yên Khánh, Yên Hồng, thị trấn Lâm của huyện Ý Yên; tại các xã Trung Đông, thị trấn Cổ Lễ (huyện Trực Ninh); xã Hải Minh, Hải Phương, Hải Trung, Hải Đường, Hải Vân... (huyện Hải Hậu); xã Xuân Phương, Xuân Tiến, Xuân Bắc (huyện Xuân Trường); thị trấn Ngô Đồng, Hồng Thuận, Giao Tiến (huyện Giao Thủy), ... (Chi tiết tại phụ lục 1).
3.2. Nhóm ngành nghề nền tảng khai thác tiềm năng, thế mạnh của tỉnh: dệt may, thêu ren, tơ tằm; mây tre đan, sơn mài mỹ nghệ và chế biến nông sản, thực phẩm. Giai đoạn đến năm 2020, củng cố, duy trì và khôi phục và phát triển nhóm ngành này nhằm tạo tiền đề cho phát triển cho giai đoạn 2021-2025. Sau năm 2020, xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng sơn mài mỹ nghệ, thêu ren và mây tre đan.
a) Dệt may, thêu ren, tơ tằm
- Dệt vải, màn, xô, gạc y tế, khăn mặt ở các xã Thành Lợi (huyện Vụ Bản), xã Phương Định, xã Trực Chính (huyện Trực Ninh), xã Nam Hồng, xã Nam Thanh (huyện Nam Trực), xã Giao Tiến (huyện Giao Thủy)... Sản xuất vải tơ lụa từ tơ tự nhiên và tơ, sợi công nghiệp tại làng nghề Cự Trữ (Trực Ninh).
- Tiếp tục phát triển các cơ sở may nhỏ ở các xã huyện Ý Yên (nhất là xã Yên Trị), Vụ Bản, Hải Hậu, Xuân Trường, Nam Trực, Trực Ninh, Hải Hậu, thành phố Nam Định...
- Sản xuất chăn ga, gối đệm, quần áo ở xã Mỹ Thắng (huyện Mỹ Lộc); móc sợi ở một số xã huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Vụ Bản, Trực Ninh.
- Phát triển, nhân rộng nghề kéo sợi PE, dệt, đan lưới cước, thừng, chão phục vụ cho nuôi trồng, khai thác thuỷ sản, chăn nuôi gia cầm ở thị trấn Thịnh Long, xã Hải Triều (huyện Hải Hậu), xã Trực Hùng (Trực Ninh).
- Khuyến khích phát triển nghề thêu ren truyền thống ở xã Trung Đông (huyện Trực Ninh), xã Hải Hưng (huyện Hải Hậu), xã Yên Dương, xã Yên Trung (huyện Ý Yên), xã Bình Minh (Nam Trực), nghề thêu tranh truyền thống ở Phú Nhai, Xuân Phương (huyện Xuân Trường).
- Tiếp tục duy trì, củng cố nghề chăn tằm-ươm tơ truyền thống, sản phẩm đã có uy tín nhiều năm trên thị trường những năm gần đây đã được khôi phục lại và bắt đầu khởi sắc như: làng Đại An (xã Nam Thắng, Nam Trực); làng Cổ Chất (Phương Định,Trực Ninh), làng Hồng Thiện (Xuân Hồng, Xuân Trường).
- Nhân cấy, phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm tại một số vùng phù hợp với phát triển nghề như xã Tân Thịnh (huyện Nam Trực), Nông trường Rạng Đông (Nghĩa Hưng)... (Chi tiết tại phụ lục 1).
b) Mây tre đan, cói lá và sơn mài mỹ nghệ
- Nhân rộng nghề thủ công mỹ nghệ từ mây tre nứa đan Yên Bình, Yên Hồng, Yên Đồng sang các xã lân cận của huyện Ý Yên; xã Vĩnh Hào, Liên Minh, Hiển Khánh (huyện Vụ Bản); chắp nứa sơn mài ở làng nghề Cát Đằng, Yên Tiến (Ý Yên); đan giỏ tích ở làng Gôi, xã Mỹ Hưng (Mỹ Lộc). Tiếp tục phát triển nghề mây tre đan đã hình thành ở các xã Nghĩa Hoà (Nghĩa Hưng), Trực Thanh, Trung Đông, Trực Tuấn (Trực Ninh), xã Điền Xá, Thạch Cầu (Nam Trực), xã Hải Hưng (Hải Hậu), xã Giao Tiến, Hồng Thuận, Giao Hương (huyện Giao Thủy)...
- Phát triển, nhân rộng nghề xe đay của xã Hải Phương cung ứng nguyên liệu cho các cơ sở dệt chiếu trong và ngoài tỉnh. (Chi tiết tại phụ lục 1).
c) Chế biến nông sản, thực phẩm
- Tiếp tục duy trì các cơ sở xay xát, chế biến gạo nhỏ ở địa bàn các xã, thị trấn. Sản xuất bánh phở, bánh đa, bún khô ở xã Đồng Sơn, xã Nam Dương (huyện Nam Trực), xã Xuân Tiến (huyện Xuân Trường), làng Phong Lộc (phường Cửa Nam- TP Nam Định); Miến dong, miến gạo ở xã Nghĩa Sơn, Nghĩa Lâm (huyện Nghĩa Hưng); rượu gạo Kiên Lao (Xuân Trường), Yên Phú (Ý Yên)....
- Sản xuất bánh kẹo, thính gạo ở thị trấn Yên Định (huyện Hải Hậu); mở rộng sản xuất và xây dựng thương hiệu kẹo Sìu Châu ở thành phố Nam Định.
- Sản xuất nước mắm, mắm tôm, cá khô tại Giao Châu, Giao Hải, Thị trấn Quất Lâm (Giao Thủy); xã Nghĩa Hải, Nghĩa Thắng, Nghĩa Bình, thị trấn Rạng Đông (Nghĩa Hưng), Thịnh Long, Hải Chính (Hải Hậu) và địa bàn các xã các huyện ven biển Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Giao Thuỷ.
- Chế biến thức ăn chăn nuôi (bột cá nhạt) từ nguyên liệu thủy hải sản tại một số xã các huyện ven biển Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thuỷ... (Chi tiết tại phụ lục 1).
3.Nhóm ngành nghề duy trì phát triển: sản xuất vật liệu xây dựng và các ngành nghề TTCN khác.
a) Sản xuất gạch không nung
- Xoá bỏ triệt để các lò gạch thủ công trên địa bàn tỉnh trước năm 2016. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho các cơ sở gạch thủ công chuyển đổi công nghệ sang gạch không nung với sản phẩm chủ yếu là gạch xi măng - cốt liệu.
- Tiếp tục phát triển nghề sản xuất vật liệu xây dựng không nung (sản phẩm chủ yếu là gạch bi các loại) tại địa bàn các xã Yên Khang (Ý Yên), xã Trực Đại, Trực Phú, thị trấn Cổ Lễ (Trực Ninh), xã Nghĩa An (Nam Trực), thị trấn Xuân Trường, xã Thọ Nghiệp (Xuân Trường). (Chi tiết tại phụ lục 1).
- Đầu tư xây dựng mới một số cơ sở sản xuất gạch xi măng - cốt liệu tại các CCN trên địa bàn các huyện.
- Tại các nhà máy gạch Tuynel đang hoạt động, đầu tư mỗi nơi 01 dây chuyền sản xuất gạch không nung từ phế thải lò.
- Quy hoạch và đầu tư các nhà máy sản xuất gạch không nung sử dụng nguyên liệu xỉ than sau khi Nhà máy nhiệt điện Hải Hậu vận hành.
b) Ngành nghề TTCN khác (nhựa, giấy, thuỷ tinh...)
- Phát triển sản xuất dép nhựa, ống nước, chai lọ nhựa các loại ở thành phố Nam Định, xã Trung Thành (Vụ Bản), xã Nam Hồng (Nam Trực), xã Mỹ Hưng, thị trấn Mỹ Lộc (huyện Mỹ Lộc); không khuyến khích mở rộng thêm trong khu dân cư, áp dụng các biện pháp xử lý môi trường và di chuyển các cơ sở sản xuất vào các cụm, điểm SX-KD-DV tập trung.
- Nhân rộng, phát triển nghề làm hoa lụa giấy truyền thống của làng nghề Báo Đáp (xã Hồng Quang, Nam Trực).
- Không khuyến khích phát triển nghề thổi thủy tinh ở Xối Trì - xã Nam Thanh (Nam Trực) do độc hại cho người làm nghề và sản phẩm không còn phù hợp với thị trường.
- Duy trì (không mở rộng do nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ hạn chế) các nghề: (1) Khâu nón ở làng Đào Khê, xã Nghĩa Châu; làng Phù Sa Thượng, xã Hoàng Nam, xã Nghĩa Thịnh, thị trấn Quỹ Nhất, Nghĩa Thái, Nghĩa Trung của huyện Nghĩa Hưng; xã Xuân Bắc, Xuân Trung (Xuân Trường; xã Yên Trung (Ý Yên), làng Hương Cát, TT Cát Thành (Trực Ninh); (2) Nghề dệt chiếu truyền thống ở các xã Xuân Ninh (Xuân Trường), xã Hải Bắc, Hải An (huyện Hải Hậu); (3) Nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu từ nguyên liệu bèo tây, bẹ chuối ở xã Trực Tuấn (Trực Ninh), Xuân Ninh (Xuân Trường).