Document: Điều 14 Thông tư 19/2011/TT-BTC quyết toán dự án hoàn thành

Type: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "14/02/2011", "sign_number": "19/2011/TT-BTC", "signer": "Phạm Sỹ Danh", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "14/02/2011", "sign_number": "19/2011/TT-BTC", "signer": "Phạm Sỹ Danh", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "14/02/2011", "sign_number": "19/2011/TT-BTC", "signer": "Phạm Sỹ Danh", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "14/02/2011", "sign_number": "19/2011/TT-BTC", "signer": "Phạm Sỹ Danh", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "14/02/2011", "sign_number": "19/2011/TT-BTC", "signer": "Phạm Sỹ Danh", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 14 Thông tư 19/2011/TT-BTC quyết toán dự án hoàn thành có nội dung như sau:

Điều 14. Kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành
1. Tất cả các dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B sử dụng vốn nhà nước khi hoàn thành đều phải kiểm toán quyết toán trước khi trình cấp có thẩm quyền thẩm tra, phê duyệt quyết toán; các dự án còn lại thực hiện kiểm toán quyết toán theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền.
2. Chủ đầu tư tổ chức lựa chọn nhà thầu kiểm toán theo quy định của pháp luật về đấu thầu, ký kết hợp đồng kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành theo quy định của pháp luật về hợp đồng và nghiệm thu kết quả kiểm toán. Trường hợp không thể lựa chọn được nhà thầu kiểm toán báo cáo quyết toán, chủ đầu tư báo cáo người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán xem xét, quyết định giao cho cơ quan thẩm tra trực tiếp thẩm tra quyết toán.
3. Nhà thầu kiểm toán quyết toán phải là các doanh nghiệp kiểm toán được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về thành lập và hoạt động doanh nghiệp tại Việt Nam và quy định tại Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 của Chính phủ về kiểm toán độc lập, Nghị định số 30/2009/NĐ-CP ngày 30/3/2009 sửa đổi, bổ sung một số điểm Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 của Chính phủ.
4. Nhà thầu kiểm toán khi thực hiện kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành phải tuân thủ Chuẩn mực kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành do Bộ Tài chính ban hành (Chuẩn mực số 1000); khi công việc kiểm toán kết thúc phải lập báo cáo kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành với đầy đủ các nội dung quy định tại Chuẩn mực kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành và các nội dung quy định cụ thể tại Điều 16 của Thông tư này. Nhà thầu kiểm toán chịu trách nhiệm về nội dung và giá trị kiểm toán của dự án do mình thực hiện.
5. Khi cơ quan Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán đối với Báo cáo quyết toán dự án hoàn thành hoặc kiểm toán thường xuyên theo tiến độ triển khai dự án đối với giá trị khối lượng các hạng mục hoàn thành của dự án:
5.1. Trường hợp nội dung Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước đảm bảo đủ các nội dung quy định tại Điều 16 của Thông tư này thì cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán dự án được sử dụng kết quả Báo cáo kiểm toán của cơ quan Kiểm toán Nhà nước làm căn cứ để thẩm tra, không phải thuê kiểm toán độc lập để kiểm toán quyết toán đối với dự án. Cơ quan Kiểm toán Nhà nước chịu trách nhiệm về nội dung và giá trị kiểm toán của dự án do mình thực hiện.
5.2. Trường hợp nội dung Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước chưa đủ các nội dung quy định tại Điều 16 của Thông tư này thì chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu kiểm toán độc lập để thực hiện kiểm toán bổ sung các nội dung mà cơ quan Kiểm toán Nhà nước chưa thực hiện. Chi phí kiểm toán bổ sung được xác định tương tự như xác định chi phí kiểm toán đối với hạng mục công trình, gói thầu trong dự án tại Điểm 1.3, Khoản 1, Điều 18 của Thông tư này. Cơ quan chủ trì thẩm tra được sử dụng kết quả Báo cáo kiểm toán của cơ quan Kiểm toán Nhà nước và kết quả Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán độc lập làm căn cứ để thẩm tra quyết toán dự án. Cơ quan Kiểm toán Nhà nước và tổ chức kiểm toán độc lập chịu trách nhiệm về nội dung và giá trị kiểm toán báo cáo quyết toán do mình thực hiện.

Content:
Điều 14. Kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành
1. Tất cả các dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B sử dụng vốn nhà nước khi hoàn thành đều phải kiểm toán quyết toán trước khi trình cấp có thẩm quyền thẩm tra, phê duyệt quyết toán; các dự án còn lại thực hiện kiểm toán quyết toán theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền.
2. Chủ đầu tư tổ chức lựa chọn nhà thầu kiểm toán theo quy định của pháp luật về đấu thầu, ký kết hợp đồng kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành theo quy định của pháp luật về hợp đồng và nghiệm thu kết quả kiểm toán. Trường hợp không thể lựa chọn được nhà thầu kiểm toán báo cáo quyết toán, chủ đầu tư báo cáo người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán xem xét, quyết định giao cho cơ quan thẩm tra trực tiếp thẩm tra quyết toán.
3. Nhà thầu kiểm toán quyết toán phải là các doanh nghiệp kiểm toán được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về thành lập và hoạt động doanh nghiệp tại Việt Nam và quy định tại Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 của Chính phủ về kiểm toán độc lập, Nghị định số 30/2009/NĐ-CP ngày 30/3/2009 sửa đổi, bổ sung một số điểm Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 của Chính phủ.
4. Nhà thầu kiểm toán khi thực hiện kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành phải tuân thủ Chuẩn mực kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành do Bộ Tài chính ban hành (Chuẩn mực số 1000); khi công việc kiểm toán kết thúc phải lập báo cáo kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành với đầy đủ các nội dung quy định tại Chuẩn mực kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành và các nội dung quy định cụ thể tại Điều 16 của Thông tư này. Nhà thầu kiểm toán chịu trách nhiệm về nội dung và giá trị kiểm toán của dự án do mình thực hiện.
5. Khi cơ quan Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán đối với Báo cáo quyết toán dự án hoàn thành hoặc kiểm toán thường xuyên theo tiến độ triển khai dự án đối với giá trị khối lượng các hạng mục hoàn thành của dự án:
5.1. Trường hợp nội dung Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước đảm bảo đủ các nội dung quy định tại Điều 16 của Thông tư này thì cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán dự án được sử dụng kết quả Báo cáo kiểm toán của cơ quan Kiểm toán Nhà nước làm căn cứ để thẩm tra, không phải thuê kiểm toán độc lập để kiểm toán quyết toán đối với dự án. Cơ quan Kiểm toán Nhà nước chịu trách nhiệm về nội dung và giá trị kiểm toán của dự án do mình thực hiện.
5.2. Trường hợp nội dung Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước chưa đủ các nội dung quy định tại Điều 16 của Thông tư này thì chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu kiểm toán độc lập để thực hiện kiểm toán bổ sung các nội dung mà cơ quan Kiểm toán Nhà nước chưa thực hiện. Chi phí kiểm toán bổ sung được xác định tương tự như xác định chi phí kiểm toán đối với hạng mục công trình, gói thầu trong dự án tại Điểm 1.3, Khoản 1, Điều 18 của Thông tư này. Cơ quan chủ trì thẩm tra được sử dụng kết quả Báo cáo kiểm toán của cơ quan Kiểm toán Nhà nước và kết quả Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán độc lập làm căn cứ để thẩm tra quyết toán dự án. Cơ quan Kiểm toán Nhà nước và tổ chức kiểm toán độc lập chịu trách nhiệm về nội dung và giá trị kiểm toán báo cáo quyết toán do mình thực hiện.