Document: Khoản 4 Điều 2 Quyết định 1638/2003/QĐ-NHNN sửa đổi tài khoản trong Hệ thống tài khoản kế toán

Type: {"issuing_agency": "Ngân hàng Nhà nước", "promulgation_date": "26/12/2003", "sign_number": "1638/2003/QĐ-NHNN", "signer": "Vũ Thị Liên", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Ngân hàng Nhà nước", "promulgation_date": "26/12/2003", "sign_number": "1638/2003/QĐ-NHNN", "signer": "Vũ Thị Liên", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Ngân hàng Nhà nước", "promulgation_date": "26/12/2003", "sign_number": "1638/2003/QĐ-NHNN", "signer": "Vũ Thị Liên", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Ngân hàng Nhà nước", "promulgation_date": "26/12/2003", "sign_number": "1638/2003/QĐ-NHNN", "signer": "Vũ Thị Liên", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Ngân hàng Nhà nước", "promulgation_date": "26/12/2003", "sign_number": "1638/2003/QĐ-NHNN", "signer": "Vũ Thị Liên", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 2 Quyết định 1638/2003/QĐ-NHNN sửa đổi tài khoản trong Hệ thống tài khoản kế toán

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số tài khoản quy định trong Hệ thống tài khoản kế toán Ngân hàng Nhà nước ban hành theo Quyết định số 425/1998/QĐ-NHNN2 , như sau:
...
4. Hủy bỏ và sửa đổi, bổ sung nội dung hạch toán một số tài khoản như sau
4.1. Hủy bỏ quy định về hạch toán trên các tài khoản ngoại tệ quy định trong Hệ thống tài khoản kế toán quy định tại Tài khoản 12 “Tiền mặt ngoại tệ và chứng từ có giá trị ngoại tệ”
4.2. Bổ sung điểm 8 vào Phần I - Những quy định chung của Quyết định số 425/1998/QĐ-NHNN2 về hạch toán tài khoản ngoại tệ trong hệ thống Tài khoản như sau:
“8. Việc hạch toán trên các tài khoản ngoại tệ quy định trong Hệ thống tài khoản kế toán này phải thực hiện theo phương pháp sau:
8.1- Thực hiện hạch toán đối ứng và cân đối giữa các tài khoản ngoại tệ và từng loại ngoại tệ (trừ tài khoản Tiền gửi ngoại tệ thanh toán hàng xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước).
8.2- Đối với các nghiệp vụ mua, bán ngoại tệ, hạch toán đồng thời các bút toán đối ứng bằng ngoại tệ và bút toán đối ứng bằng đồng Việt Nam.
8.3- Đối với các khoản thu, lãi trả bằng ngoại tệ được thực hiện thông qua nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để chuyển đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá thời điểm phát sinh để hạch toán vào thu nhập, chi phí.
8.4- Giá trị ngoại tệ quy đổi ra đồng Việt Nam để hạch toán các nghiệp vụ mua, bán ngoại tệ trên các tài khoản ngoại tệ được tính theo tỷ giá mua, bán thực tế tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ. Đối với các nghiệp vụ khác, hạch toán thống nhất theo tỷ giá hối đoái do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.
8.5- Trên sổ kế toán chi tiết các tài khoản ngoại lệ phải ghi cả giá trị ngoại tệ và đồng Việt Nam.
8.6- Phần kế toán tổng hợp các tài khoản ngoại tệ chỉ phản ảnh bằng đồng Việt Nam.
8.7- Cuối tháng, tiến hành quy đổi (để lập báo cáo) số dư tất cả các tài khoản ngoại tệ theo tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam với đồng đô la Mỹ do NHNN Việt Nam công bố vào ngày cuối tháng, ngoại trừ tài khoản Tiền gửi ngoại tệ thanh toán hàng xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước. Số chênh lệch tăng, giảm số dư cuối tháng (quy ra đồng Việt Nam) của các tài khoản ngoại tệ được hạch toán vào các tài khoản ngoại tệ đối ứng với tài khoản 631 “Chênh lệch tỷ giá hối đoái”. Cuối năm tài chính, số chênh lệch do đánh giá lại ngoại tệ (nếu có) được chuyển về xử lý tập trung tại Ngân hàng Nhà nước Trung ương (Vụ Kế toán – Tài chính) để hạch toán vào tài khoản 6032 – Vốn do đánh giá lại ngoại tệ.
8.8- Trong trường hợp tỷ giá ngoại tệ biến động đột ngột và lớn, cần phải bảo toàn vốn thì sẽ do Ngân hàng Nhà nước Trung ương quyết định và thông báo tỷ giá đánh giá ại thống nhất cho tất cả các đơn vị Ngân hàng Nhà nước để tiến hành đánh giá lại giá trị các tài khoản ngoại tệ trên sổ sách. Số chênh lệch phát sinh (theo tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước Trung ương thông báo để đánh giá lại) được chuyển vào tài khoản 6032 – Vốn do đánh giá lại ngoại tệ.
8.9- Đối với loại ngoại tệ không có tỷ giá hối đoái với đồng Việt Nam thì phải quy đổi thông qua một loại ngoại tệ có tỷ giá hối đoái với đồng Việt Nam”.
4.3. Sửa đổi nội dung quy định về hạch toán Tài khoản 211 “Đầu tư vào các chứng khoán của nước ngoài”, như sau:
“Hạch toán tài khoản này cần phân biệt 2 trường hợp: (a) Đầu tư chứng khoán và (b) Mua bán chứng khoán theo các nguyên tắc sau:
(a) Trường hợp đầu tư chứng khoán (giữ đến ngày thanh toán Tiền gốc Mệnh giá chứng khoán):
1- Chứng khoản chỉ hạch toán theo chi phí thực tế mua chứng khoán, bao gồm giá mua cộng (+) các chi phí mua (nếu có).
2- Số tiền lãi sẽ được hưởng trên các chứng khoán này Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục tính và hạch toán cho đến khi được thanh toán khi đến hạn.
3- Nếu thu được tiền lãi từ chứng khoán đầu tư bao gồm cả khoản lãi đầu tư dồn tích trước khi Ngân hàng Nhà nước mua lại khoản đầu tư đó, Ngân hàng Nhà nước phải phân bổ số tiền lãi này, chỉ có phần tiền lãi của các kỳ sau khi Ngân hàng Nhà nước mua khoản đầu tư này mới được ghi nhận là Thu nhập, còn khoản tiền lãi dồn tích trước khi Ngân hàng Nhà nước mua lại khoản đầu tư đó thì ghi Giảm giá trị của chính khoản đầu tư chứng khoán đó.
4- Tiền gốc (mệnh giá) của chứng khoán được thanh toán một lần khi đến hạn. Tiền lãi được thanh toán theo các phương thức:
- Thanh toán ngay khi phát hành (chứng khoán chiết khấu).
- Thanh toán theo định kỳ (6 hoặc 12 tháng một lần).
- Thanh toán một lần cùng tiền gốc chứng khoán.
Phái tính toán và thanh toán kịp thời mọi khoản lãi về chứng khoán khi đến kỳ hạn.
5- Nếu cơ chế tài chính cho phép: Cuối niên độ kế toán, nếu giá trị thị trường của chứng khoán bị giảm xuống thấp hơn giá gốc thì lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán.
6- Ngoài sổ tài khoản chi tiết, Ngân hàng Nhà nước phải mở sổ theo dõi chi tiết từng loại chứng khoán đã mua theo từng đối tác, mệnh giá.
(b) Trường hợp mua bán (kinh doanh) chứng khoán (mua vào, bán ra để hưởng chênh lệch lãi):
1- Chứng khoán được hạch toán theo giá trị thực tế mua chứng khoán, bao gồm giá mua cộng (+) các chi phí mua (nếu có).
2- Khi Ngân hàng Nhà nước bán, chuyển nhượng chứng khoán thì bên Có tài khoản này được ghi theo giá trị thực tế mà trước đây đã hạch toán khi mua lại chứng khoán này (để tất toán), không ghi theo số tiền thực tế thu được. Phần chênh lệch giữa số tiền thực tế thu được với số tiền đã ghi Có tài khoản này được hạch toán vào kết quả kinh doanh (Tài khoản Thu về mua bán chứng khoán, nếu Lãi; Tài khoản Chi về mua bán chứng khoán, nếu Lỗ).
3- Nếu cơ chế tài chính cho phép: Định kỳ khi lập báo cáo tài chính, chứng khoán được đánh giá lại theo giá thị trường. Tất cả mọi lãi/lỗ thực hiện và chưa thực hiện được ghi vào thu nhập kinh doanh ròng (đưa vào Báo cáo kết quả kinh doanh). Tiền lãi nhận được trong thời gian giữ chứng khoán được ghi vào thu nhập lãi.”
4.4. Sửa đổi phạm vi áp dụng tài khoản 103 “Tiền mặt ở đơn vị phụ thuộc”, như sau:
Tài khoản này mở tại Cục quản trị, Cục Công nghệ tin học Ngân hàng, Văn phòng đại diện NHNN tại thành phố Hồ Chí Minh, Thời báo Ngân hàng, Tạo chí Ngân hàng, Trung tâm thông tin tín dụng (CIC), Ban quản lý công trình (đối với các chi nhánh NHNN có XDCB) và các đơn vị NHNN khác được phép sử dụng.
4.5. Sửa đổi nội dung quy định hạch toán Tài khoản 221 “Mua bán chứng khoán Chính phủ”, như sau:
“1- Chứng khoán được hạch toán theo giá thực tế mua chứng khoán (giá gốc), bao gồm giá mua cộng (+) các chi phí mua (nếu có).
2- Khi Ngân hàng Nhà nước bán, chuyển nhượng chứng khoán thì bên Có tài khoản này phải được ghi theo giá trị thực tế mà trước đây đã hạch toán khi mua loại chứng khoán này (để tất toán), không ghi theo số tiền thực tế thu được. Phần chênh lệch giữa số tiền thực tế thu được với số tiền đã ghi Có tài khoản này được hạch toán vào kết quả kinh doanh (Tài khoản Thu về mua bán chứng khoán, nếu Lãi; Tài khoản Chi về mua bán chứng khoán, nếu Lỗ).
3- Nếu cơ chế tài chính cho phép: Định kỳ khi lập báo cáo tài chính, chứng khoán được đánh giá lại theo giá thị trường. Tất cả mọi lãi/lỗ thực hiện và chưa thực hiện được ghi vào thu nhập kinh doanh ròng (đưa vào Báo cáo kết quả kinh doanh). Tiền lãi nhận được trong thời gian giữ chứng khoán được ghi vào thu nhập lãi.”
4.6. Sửa đổi nội dung hạch toán Tài khoản 3621 “Các khoản tham ô, lợi dụng”, như sau:
Tài khoản này dùng để phản ảnh các khoản tiền bị khách hàng tham ô, lợi dụng trong quá trình giao dịch với Ngân hàng Nhà nước hay số tiền bị thiếu qua kiểm đếm tiền điều chuyển từ các Tổ chức tín dụng.
4.7. Sửa đổi nội dung hạch toán tài khoản 711 “Thu về mua bán chứng khoán”, như sau:
Tài khoản này dùng để phản ảnh số chênh lệnh giữa giá bán lớn hơn giá mua chứng khoán.
4.8. Sửa đổi nội dung hạch tài khoản 8031 “Chi về mua bán chứng khoán”, như sau:
Tài khoản này dùng để phản ảnh số chênh lệnh giữa giá bán nhỏ hơn giá mua chứng khoán.
4.9. Sửa đổi phạm vi áp dụng tài khoản 846 “Chi thuê tài sản”, như sau:
Tài khoản này mở tại các đơn vị có thuê tài sản dùng để phản ảnh số tiền chi thuê tài sản.
4.10. Sửa đổi phạm vi áp dụng tài khoản 909 “Tiền đang vận chuyển”, như sau:
Tài khoản này mở tại Ngân hàng Nhà nước Trung ương (Vụ Kế toán – Tài chính) và chi nhánh tỉnh Bình Định dùng để phản ảnh số tiền chưa công bố lưu hành và số tiền đã công bố lưu hành đang vận chuyển.
4.11. Sửa đổi phạm vi áp dụng tài khoản 952 “Chứng khoán Chính phủ chưa phát hành”, như sau:
Tài khoản này mở tại Ngân hàng Nhà nước Trung ương và các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước được chỉ định.

Content:
Hủy bỏ và sửa đổi, bổ sung nội dung hạch toán một số tài khoản như sau
4.1. Hủy bỏ quy định về hạch toán trên các tài khoản ngoại tệ quy định trong Hệ thống tài khoản kế toán quy định tại Tài khoản 12 “Tiền mặt ngoại tệ và chứng từ có giá trị ngoại tệ”
4.2. Bổ sung điểm 8 vào Phần I - Những quy định chung của Quyết định số 425/1998/QĐ-NHNN2 về hạch toán tài khoản ngoại tệ trong hệ thống Tài khoản như sau:
“8. Việc hạch toán trên các tài khoản ngoại tệ quy định trong Hệ thống tài khoản kế toán này phải thực hiện theo phương pháp sau:
8.1- Thực hiện hạch toán đối ứng và cân đối giữa các tài khoản ngoại tệ và từng loại ngoại tệ (trừ tài khoản Tiền gửi ngoại tệ thanh toán hàng xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước).
8.2- Đối với các nghiệp vụ mua, bán ngoại tệ, hạch toán đồng thời các bút toán đối ứng bằng ngoại tệ và bút toán đối ứng bằng đồng Việt Nam.
8.3- Đối với các khoản thu, lãi trả bằng ngoại tệ được thực hiện thông qua nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để chuyển đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá thời điểm phát sinh để hạch toán vào thu nhập, chi phí.
8.4- Giá trị ngoại tệ quy đổi ra đồng Việt Nam để hạch toán các nghiệp vụ mua, bán ngoại tệ trên các tài khoản ngoại tệ được tính theo tỷ giá mua, bán thực tế tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ. Đối với các nghiệp vụ khác, hạch toán thống nhất theo tỷ giá hối đoái do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.
8.5- Trên sổ kế toán chi tiết các tài khoản ngoại lệ phải ghi cả giá trị ngoại tệ và đồng Việt Nam.
8.6- Phần kế toán tổng hợp các tài khoản ngoại tệ chỉ phản ảnh bằng đồng Việt Nam.
8.7- Cuối tháng, tiến hành quy đổi (để lập báo cáo) số dư tất cả các tài khoản ngoại tệ theo tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam với đồng đô la Mỹ do NHNN Việt Nam công bố vào ngày cuối tháng, ngoại trừ tài khoản Tiền gửi ngoại tệ thanh toán hàng xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước. Số chênh lệch tăng, giảm số dư cuối tháng (quy ra đồng Việt Nam) của các tài khoản ngoại tệ được hạch toán vào các tài khoản ngoại tệ đối ứng với tài khoản 631 “Chênh lệch tỷ giá hối đoái”. Cuối năm tài chính, số chênh lệch do đánh giá lại ngoại tệ (nếu có) được chuyển về xử lý tập trung tại Ngân hàng Nhà nước Trung ương (Vụ Kế toán – Tài chính) để hạch toán vào tài khoản 6032 – Vốn do đánh giá lại ngoại tệ.
8.8- Trong trường hợp tỷ giá ngoại tệ biến động đột ngột và lớn, cần phải bảo toàn vốn thì sẽ do Ngân hàng Nhà nước Trung ương quyết định và thông báo tỷ giá đánh giá ại thống nhất cho tất cả các đơn vị Ngân hàng Nhà nước để tiến hành đánh giá lại giá trị các tài khoản ngoại tệ trên sổ sách. Số chênh lệch phát sinh (theo tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước Trung ương thông báo để đánh giá lại) được chuyển vào tài khoản 6032 – Vốn do đánh giá lại ngoại tệ.
8.9- Đối với loại ngoại tệ không có tỷ giá hối đoái với đồng Việt Nam thì phải quy đổi thông qua một loại ngoại tệ có tỷ giá hối đoái với đồng Việt Nam”.
4.3. Sửa đổi nội dung quy định về hạch toán Tài khoản 211 “Đầu tư vào các chứng khoán của nước ngoài”, như sau:
“Hạch toán tài khoản này cần phân biệt 2 trường hợp: (a) Đầu tư chứng khoán và (b) Mua bán chứng khoán theo các nguyên tắc sau:
(a) Trường hợp đầu tư chứng khoán (giữ đến ngày thanh toán Tiền gốc Mệnh giá chứng khoán):
1- Chứng khoản chỉ hạch toán theo chi phí thực tế mua chứng khoán, bao gồm giá mua cộng (+) các chi phí mua (nếu có).
2- Số tiền lãi sẽ được hưởng trên các chứng khoán này Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục tính và hạch toán cho đến khi được thanh toán khi đến hạn.
3- Nếu thu được tiền lãi từ chứng khoán đầu tư bao gồm cả khoản lãi đầu tư dồn tích trước khi Ngân hàng Nhà nước mua lại khoản đầu tư đó, Ngân hàng Nhà nước phải phân bổ số tiền lãi này, chỉ có phần tiền lãi của các kỳ sau khi Ngân hàng Nhà nước mua khoản đầu tư này mới được ghi nhận là Thu nhập, còn khoản tiền lãi dồn tích trước khi Ngân hàng Nhà nước mua lại khoản đầu tư đó thì ghi Giảm giá trị của chính khoản đầu tư chứng khoán đó.
4- Tiền gốc (mệnh giá) của chứng khoán được thanh toán một lần khi đến hạn. Tiền lãi được thanh toán theo các phương thức:
- Thanh toán ngay khi phát hành (chứng khoán chiết khấu).
- Thanh toán theo định kỳ (6 hoặc 12 tháng một lần).
- Thanh toán một lần cùng tiền gốc chứng khoán.
Phái tính toán và thanh toán kịp thời mọi khoản lãi về chứng khoán khi đến kỳ hạn.
5- Nếu cơ chế tài chính cho phép: Cuối niên độ kế toán, nếu giá trị thị trường của chứng khoán bị giảm xuống thấp hơn giá gốc thì lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán.
6- Ngoài sổ tài khoản chi tiết, Ngân hàng Nhà nước phải mở sổ theo dõi chi tiết từng loại chứng khoán đã mua theo từng đối tác, mệnh giá.
(b) Trường hợp mua bán (kinh doanh) chứng khoán (mua vào, bán ra để hưởng chênh lệch lãi):
1- Chứng khoán được hạch toán theo giá trị thực tế mua chứng khoán, bao gồm giá mua cộng (+) các chi phí mua (nếu có).
2- Khi Ngân hàng Nhà nước bán, chuyển nhượng chứng khoán thì bên Có tài khoản này được ghi theo giá trị thực tế mà trước đây đã hạch toán khi mua lại chứng khoán này (để tất toán), không ghi theo số tiền thực tế thu được. Phần chênh lệch giữa số tiền thực tế thu được với số tiền đã ghi Có tài khoản này được hạch toán vào kết quả kinh doanh (Tài khoản Thu về mua bán chứng khoán, nếu Lãi; Tài khoản Chi về mua bán chứng khoán, nếu Lỗ).
3- Nếu cơ chế tài chính cho phép: Định kỳ khi lập báo cáo tài chính, chứng khoán được đánh giá lại theo giá thị trường. Tất cả mọi lãi/lỗ thực hiện và chưa thực hiện được ghi vào thu nhập kinh doanh ròng (đưa vào Báo cáo kết quả kinh doanh). Tiền lãi nhận được trong thời gian giữ chứng khoán được ghi vào thu nhập lãi.”
4.Sửa đổi phạm vi áp dụng tài khoản 103 “Tiền mặt ở đơn vị phụ thuộc”, như sau:
Tài khoản này mở tại Cục quản trị, Cục Công nghệ tin học Ngân hàng, Văn phòng đại diện NHNN tại thành phố Hồ Chí Minh, Thời báo Ngân hàng, Tạo chí Ngân hàng, Trung tâm thông tin tín dụng (CIC), Ban quản lý công trình (đối với các chi nhánh NHNN có XDCB) và các đơn vị NHNN khác được phép sử dụng.
4.5. Sửa đổi nội dung quy định hạch toán Tài khoản 221 “Mua bán chứng khoán Chính phủ”, như sau:
“1- Chứng khoán được hạch toán theo giá thực tế mua chứng khoán (giá gốc), bao gồm giá mua cộng (+) các chi phí mua (nếu có).
2- Khi Ngân hàng Nhà nước bán, chuyển nhượng chứng khoán thì bên Có tài khoản này phải được ghi theo giá trị thực tế mà trước đây đã hạch toán khi mua loại chứng khoán này (để tất toán), không ghi theo số tiền thực tế thu được. Phần chênh lệch giữa số tiền thực tế thu được với số tiền đã ghi Có tài khoản này được hạch toán vào kết quả kinh doanh (Tài khoản Thu về mua bán chứng khoán, nếu Lãi; Tài khoản Chi về mua bán chứng khoán, nếu Lỗ).
3- Nếu cơ chế tài chính cho phép: Định kỳ khi lập báo cáo tài chính, chứng khoán được đánh giá lại theo giá thị trường. Tất cả mọi lãi/lỗ thực hiện và chưa thực hiện được ghi vào thu nhập kinh doanh ròng (đưa vào Báo cáo kết quả kinh doanh). Tiền lãi nhận được trong thời gian giữ chứng khoán được ghi vào thu nhập lãi.”
4.6. Sửa đổi nội dung hạch toán Tài khoản 3621 “Các khoản tham ô, lợi dụng”, như sau:
Tài khoản này dùng để phản ảnh các khoản tiền bị khách hàng tham ô, lợi dụng trong quá trình giao dịch với Ngân hàng Nhà nước hay số tiền bị thiếu qua kiểm đếm tiền điều chuyển từ các Tổ chức tín dụng.
4.7. Sửa đổi nội dung hạch toán tài khoản 711 “Thu về mua bán chứng khoán”, như sau:
Tài khoản này dùng để phản ảnh số chênh lệnh giữa giá bán lớn hơn giá mua chứng khoán.
4.8. Sửa đổi nội dung hạch tài khoản 8031 “Chi về mua bán chứng khoán”, như sau:
Tài khoản này dùng để phản ảnh số chênh lệnh giữa giá bán nhỏ hơn giá mua chứng khoán.
4.9. Sửa đổi phạm vi áp dụng tài khoản 846 “Chi thuê tài sản”, như sau:
Tài khoản này mở tại các đơn vị có thuê tài sản dùng để phản ảnh số tiền chi thuê tài sản.
4.10. Sửa đổi phạm vi áp dụng tài khoản 909 “Tiền đang vận chuyển”, như sau:
Tài khoản này mở tại Ngân hàng Nhà nước Trung ương (Vụ Kế toán – Tài chính) và chi nhánh tỉnh Bình Định dùng để phản ảnh số tiền chưa công bố lưu hành và số tiền đã công bố lưu hành đang vận chuyển.
4.11. Sửa đổi phạm vi áp dụng tài khoản 952 “Chứng khoán Chính phủ chưa phát hành”, như sau:
Tài khoản này mở tại Ngân hàng Nhà nước Trung ương và các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước được chỉ định.