Document: Khoản 9 Điều 1 Quyết định  34/2009/QĐ-TTg  phê duyệt quy hoạch phát triển vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc bộ đến năm 2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "02/03/2009", "sign_number": "34/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "02/03/2009", "sign_number": "34/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "02/03/2009", "sign_number": "34/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "02/03/2009", "sign_number": "34/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "02/03/2009", "sign_number": "34/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 9 Điều 1 Quyết định  34/2009/QĐ-TTg  phê duyệt quy hoạch phát triển vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc bộ đến năm 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau:
...
9. Phương hướng hợp tác phát triển vành đai kinh tế
Nội dung hợp tác quốc tế phát triển hai hành lang, một vành đai kinh tế nói chung và phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ nói riêng là rất phong phú. Vì vậy, thời gian tới cần đẩy mạnh hợp tác theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa các hình thức hợp tác và các lĩnh vực hợp tác trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng và cùng có lợi. Ưu tiên hợp tác với Trung Quốc và các nước ASEAN nhằm khai thác tốt tiềm năng, lợi thế của khu vực để phát triển nhanh. Mở rộng hợp tác với các nước có tiềm lực kinh tế lớn và các tổ chức quốc tế trong khu vực để phát triển các công trình trọng điểm.
Về hợp tác với Trung Quốc, căn cứ vào Hiệp định hợp tác kinh tế thương mại song phương Việt Nam - Trung Quốc, Bản ghi nhớ về triển khai hợp tác hai hành lang, một vành đai kinh tế và ưu thế của mỗi nước, thời gian tới tập trung vào hợp tác trong các lĩnh vực chủ yếu sau:
a) Hợp tác trong xây dựng hạ tầng: đẩy mạnh hợp tác xây dựng hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng cửa khẩu, đặc biệt là tuyến cao tốc Hà Nội - Hạ Long - Móng Cái gắn với hai hành lang kinh tế để kết nối liên thông với mạng cao tốc ven biển Nam Trung Quốc. Trước mắt hợp tác nâng cấp quốc lộ 18A và tuyến đường sắt Kép - Bãi Cháy - Cái Lân đạt tiêu chuẩn quốc tế. Giai đoạn sau tiếp tục hợp tác xây dựng đường cao tốc Hạ Long - Móng Cái và tuyến đường sắt Hạ Long - Móng Cái - Đông Hưng - Phòng Thành, kết nối với mạng đường sắt của hai nước, hướng tới xây dựng tuyến đường sắt xuyên Á trong tương lai. Mở rộng hợp tác xây dựng các cảng biển quan trọng, hình thành đầu mối và mạng lưới vận tải biển thuận tiện và hiệu quả, tạo điều kiện thúc đẩy Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ nói riêng và hai hành lang, một vành đai kinh tế nói chung;
b) Hợp tác về du lịch: hợp tác nghiên cứu lập quy hoạch tổng thể phát triển du lịch trong Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ nói riêng và hai hành lang, một vành đai kinh tế nói chung. Tổ chức các tuyến du lịch quốc tế (cả bằng đường bộ, đường không và đường biển) giữa các địa phương hai nước trong khu vực hai hành lang, một vành đai kinh tế; xây dựng tuyến du lịch biển vòng quanh Vịnh Bắc Bộ. Đẩy mạnh hợp tác xây dựng cơ sở hạ tầng và kinh doanh du lịch. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Trung Quốc vào đầu tư xây dựng các khách sạn và các công trình vui chơi giải trí cao cấp tại các khu vực trọng điểm như Hạ Long, Vân Đồn, Cát Bà, Móng Cái... Thúc đẩy tiện lợi hóa xuất cảnh du lịch. Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực du lịch, nhất là hướng dẫn viên tiếng Trung Quốc, xúc tiến đầu tư và tuyên truyền quảng bá du lịch... Phối hợp cùng tổ chức Năm du lịch của Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ, đồng thời định kỳ hàng năm tổ chức Hội chợ - triển lãm du lịch luân phiên tại mỗi tỉnh trong vành đai kinh tế;
c) Hợp tác về thương mại: đẩy mạnh hợp tác phát triển thương mại giữa các địa phương của hai nước thuộc vành đai kinh tế, nhất là trong các lĩnh vực: mậu dịch chính ngạch, quản lý thị trường, ngăn chặn buôn lậu và gian lận thương mại. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam buôn bán với các đối tác Trung Quốc. Thúc đẩy hợp tác phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, nhất là xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái và Đặc khu kinh tế song phương tại Móng Cái. Phối hợp xây dựng các trung tâm dịch vụ tổng hợp gồm các trạm dừng, cơ sở cung cấp xăng dầu và các dịch vụ khác... tại các cửa khẩu, các cửa cảng và dọc hai hành lang, một vành đai kinh tế. Mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực dịch vụ khác như tài chính ngân hàng, vận tải, bưu chính viễn thông... Hai bên cùng hợp tác xây dựng và vận động các nước ASEAN, các tổ chức quốc tế tham gia xây dựng Quỹ tài chính cho phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ;
d) Hợp tác về công nghiệp: đẩy mạnh hơn nữa việc hợp tác phát triển công nghiệp, nhất là các ngành Trung Quốc có lợi thế như nhiệt điện, đóng tầu và sản xuất các thiết bị phụ trợ cho công nghiệp đóng tầu, lọc hóa dầu, khai thác chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất đồ điện gia dụng, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản... Tăng cường tiếp xúc với phía Trung Quốc để xác định những hạng mục hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Trung Quốc vào đầu tư phát triển công nghiệp tại Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ;
đ) Hợp tác về thuỷ sản: hợp tác điều tra, đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi hải sản trong Vịnh Bắc Bộ và vùng đánh cá chung, từ đó quy định quy mô khai thác phù hợp cho mỗi bên nhằm bảo vệ nguồn lợi. Đẩy mạnh hợp tác trong quản lý, bảo vệ nguồn lợi; điều tra nghiên cứu ngư trường; nghiên cứu, chuyển giao công nghệ khai thác và nuôi trồng hải sản, nhất là trong sản xuất giống nuôi và phát triển nuôi hải sản trên biển phục vụ xuất khẩu và du lịch...;
e) Hợp tác trong nông nghiệp: mở rộng hợp tác trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ sản xuất, chế biến nông, lâm sản; sản xuất và cung ứng các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao; sản xuất các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao mà Trung Quốc có nhu cầu như lúa, rau quả thực phẩm, hoa, cây cảnh, cây dược liệu và các sản phẩm chăn nuôi... Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Trung Quốc liên doanh sản xuất giống và xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao tại vành đai kinh tế. Đẩy mạnh hợp tác trong bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn và quản lý nguồn nước các lưu vực sông chung;
g) Hợp tác về khoa học - công nghệ: xây dựng kế hoạch hợp tác thường xuyên và lâu dài với Trung Quốc để cùng phối hợp điều tra tổng hợp Vịnh Bắc Bộ nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ phục vụ việc quản lý và khai thác tài nguyên, môi trường Vịnh Bắc Bộ một cách hiệu quả và bền vững. Chuẩn bị điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ để hợp tác tìm kiếm thăm dò dầu khí tại các mỏ nằm vắt ngang đường phân định và các mỏ trong khu vực chồng lấn ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ khi cần thiết. Tăng cường hợp tác trao đổi thông tin, đào tạo cán bộ và tổ chức nghiên cứu khoa học. Xúc tiến hợp tác quốc tế trong phát triển các nghề biển tương lai ở Vịnh Bắc Bộ;
h) Hợp tác trong lĩnh vực văn hóa xã hội: mở rộng hợp tác trong giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, y tế, văn hóa nghệ thuật, triển lãm, thể dục thể thao và các lĩnh vực xã hội khác. Đẩy mạnh các hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao, biểu diễn nghệ thuật... giữa các địa phương thuộc vành đai kinh tế để hiểu biết rõ hơn về phong tục tập quán của nhau, đồng thời góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ bang giao đang ngày càng thắm thiết giữa hai nước;
i) Hợp tác trong bảo vệ môi trường: hợp tác chặt chẽ với các địa phương Trung Quốc thuộc vành đai kinh tế trong công tác quan trắc, dự báo môi trường và bảo vệ môi trường, nhất là môi trường biển, bảo đảm phát triển bền vững cho toàn vành đai kinh tế. Đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực an toàn hàng hải, ứng phó các sự cố tràn dầu và xử lý ô nhiễm biển do nạn dầu loang. Mở rộng hợp tác trong tìm kiếm cứu nạn, cảnh báo thiên tai. Hai nước hợp tác xây dựng một hệ thống các Trung tâm tìm kiếm cứu nạn thống nhất trong khu vực vành đai kinh tế, có kế hoạch phối hợp chặt chẽ trong việc tìm kiếm cứu nạn có hiệu quả.
V. LỘ TRÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Giai đoạn 2009 - 2010: hình thành cho được một số lãnh thổ động lực; xây dựng một bước cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng trong vành đai kinh tế; xúc tiến thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước vào các công trình trọng điểm, vùng động lực... tạo điều kiện để phát triển nhanh trong giai đoạn sau.
2. Giai đoạn 2011 - 2020: tiếp tục đầu tư phát triển đồng bộ và hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong vành đai kinh tế. Xây dựng xong những hạng mục quan trọng tại các khu kinh tế, khu công nghiệp. Xây dựng hoàn chỉnh và đưa vào hoạt động Đặc khu kinh tế song phương Móng Cái, các cảng Lạch Huyện, Hải Hà, Vạn Gia..., sân bay Vân Đồn, các khu du lịch, các trung tâm vui chơi giải trí cao cấp và các công trình dịch vụ khác... để phát triển tăng tốc trong giai đoạn sau năm 2020.
VI. CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Giải pháp phối hợp chung giữa hai nước
Trên cơ sở các thoả thuận đã đạt được tại Bản ghi nhớ về việc triển khai hợp tác "Hai hành lang, một vành đai kinh tế" giữa Chính phủ hai nước Việt Nam - Trung Quốc, hai bên cần phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp sau:
a) Phối hợp lập quy hoạch chung về phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ trên lãnh thổ của cả hai nước: hai bên cần củng cố và đẩy mạnh hoạt động của Nhóm công tác hai hành lang, một vành đai kinh tế trong khuôn khổ Ủy ban Hợp tác kinh tế thương mại song phương Việt Nam - Trung Quốc để tổ chức, phối hợp lập quy hoạch chung về phát triển vành đai kinh tế trên phạm vi lãnh thổ của cả hai nước, đồng thời xây dựng Chương trình hành động chung để cùng nhau thực hiện trong thời gian tới. Thành lập các tổ chuyên gia chuyên ngành trong một số lĩnh vực quan trọng để phối hợp xây dựng quy hoạch và chương trình, kế hoạch hợp tác cụ thể đối với từng lĩnh vực, đồng thời tổ chức thực hiện quy hoạch và những vấn đề hai bên đã thoả thuận;
b) Đẩy nhanh kế hoạch hợp tác xây dựng hệ thống giao thông trong Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ: căn cứ vào Điều 6 Bản ghi nhớ về việc triển khai hợp tác hai hành lang, một vành đai kinh tế, Bộ Giao thông vận tải tiến hành trao đổi, thoả thuận với Trung Quốc để cùng phối hợp xây dựng quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng giao thông trong phạm vi hai hành lang, một vành đai kinh tế nói chung và Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ nói riêng. Đẩy nhanh kế hoạch hợp tác xây dựng các công trình giao thông đã được thoả thuận trong phạm vi hai hành lang, một vành đai kinh tế. Sớm xây dựng tuyến cao tốc dọc vành đai kinh tế từ Hải Phòng - Hạ Long đến Móng Cái (trước mắt nâng cấp hoàn chỉnh quốc lộ 18 đạt cấp III đồng bằng) để kết nối liên thông với mạng cao tốc khu vực Nam Trung Quốc. Phối hợp xây dựng nhanh các tuyến cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Hạ Long; xây dựng các tuyến đường thông thương giữa hai bên biên giới và đường nối các cửa khẩu chính đến các trung tâm kinh tế phía trong;
Triển khai việc hợp tác nâng cấp tuyến đường sắt Kép - Bãi Cháy, Hà Nội - Hải Phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế 1435 mm; xây dựng tuyến đường sắt Phả Lại - Hạ Long - Cái Lân; chuẩn bị điều kiện hợp tác xây dựng tiếp đoạn Hạ Long - Móng Cái - Đông Hưng - Phòng Thành để hoà vào mạng đường sắt quốc gia của hai nước. Cùng hợp tác phát triển cảng biển, tạo cửa ra cho hai hành lang, một vành đai kinh tế.
c) Hợp tác đẩy mạnh tự do hóa thương mại và tiện lợi hóa thông quan. Hai bên cùng tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy tự do hóa thương mại trong Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ. Đẩy mạnh hợp tác trong việc cải tiến, tiện lợi hóa thông quan trên các cặp cửa khẩu, trước mắt thực hiện tại cặp cửa khẩu quốc tế Móng Cái - Đông Hưng, sau đó mở rộng sang các cặp cửa khẩu khác. Tăng cường hợp tác và thúc đẩy mô hình thông quan "Kiểm tra một lần" ở tất cả các cửa khẩu chính trong phạm vi vành đai kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu hàng hóa qua biên giới và đi lại của các thương gia hai nước;
Tích cực mở rộng hợp tác vận chuyển hàng hóa và hành khách giữa hai nước. Cải thiện điều kiện vận chuyển hành khách và hàng hóa qua biên giới, áp dụng phương thức Giấy phép vận tải qua biên giới GMS đã được thoả thuận tại Hiệp định Vận tải qua biên giới GMS tháng 4 năm 2006. Xem xét mở các tuyến vận chuyển hành khách xuyên quốc gia để thúc đẩy phát triển hợp tác du lịch và mậu dịch.
d) Bộ Công thương phối hợp với tỉnh Quảng Ninh trao đổi, thoả thuận với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) để phối hợp lập quy hoạch và hợp tác xây dựng Khu thương mại tự do Móng Cái (theo mô hình Đặc khu kinh tế song phương); đồng thời cùng thoả thuận thống nhất quy chế của Khu thương mại tự do này, qua đó rút kinh nghiệm để áp dụng cho các khu vực khác trong vành đai kinh tế nhằm thúc đẩy thương mại giữa hai nước cũng như với khu vực và thế giới.
2. Các giải pháp riêng đối với Việt Nam
a) Xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và cơ chế, chính sách cho Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ. Căn cứ vào định hướng quy hoạch này, các ngành và địa phương liên quan rà soát, bổ sung, cụ thể hóa các chính sách nhằm phát huy mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước để phát triển nhanh, hiện đại hóa một số ngành quan trọng và vùng động lực. Xác định các dự án lớn, các lĩnh vực, khu vực mang tính đột phá và cấp thiết để có chính sách đầu tư tập trung, trọng điểm. Ưu tiên nguồn vốn đầu tư thoả đáng cho xây dựng cơ sở hạ tầng Khu kinh tế Vân Đồn. Trên cơ sở Quy chế tổ chức và hoạt động của Khu kinh tế Vân Đồn đã được ban hành tại Quyết định số 120/2007/QĐ-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương tiếp tục cụ thể hóa các chính sách ưu đãi đặc thù nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước để phát triển nhanh Khu kinh tế trong thời gian tới;
Tiếp tục hoàn thiện, đổi mới chính sách đối với kinh tế cửa khẩu. Tiến hành tổng kết, đánh giá việc thực hiện Quyết định số 53/2001/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đối với khu kinh tế cửa khẩu biên giới để bổ sung, đổi mới các chính sách và biện pháp hỗ trợ phát triển thương mại ở các khu vực này, nhất là các chính sách về đầu tư, về xuất khẩu, về thuế, chính sách tài chính, tiền tệ... để phát triển kinh tế cửa khẩu.
Xây dựng, củng cố cơ sở pháp lý và nguồn nhân lực phục vụ cho hội nhập quốc tế. Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý theo lộ trình hội nhập WTO, APEC và các hợp tác đa phương và song phương khác... Chú trọng xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ các thẩm phán, luật sư, các cán bộ làm công tác đối ngoại của tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng để có khả năng đàm phán và xử lý kịp thời các tranh chấp kinh tế, thương mại quốc tế trong quá trình hợp tác phát triển vành đai kinh tế.
b) Tạo bước đột phá về phát triển nguồn nhân lực: có chính sách tích cực để đào tạo phát triển nguồn nhân lực, sớm xây dựng lực lượng lao động chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của vành đai kinh tế trong bối cảnh hợp tác và hội nhập. Đa dạng hóa các hình thức đào tạo, dạy nghề, nâng cao chất lượng lao động trẻ tại chỗ, nhất là cho các ngành có lợi thế như khai khoáng, nhiệt điện, đóng tầu, cơ khí chế tạo, hàng hải, du lịch, thuỷ sản... Đẩy mạnh đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao năng lực cho cán bộ, công chức quản lý kinh tế, quản lý đối ngoại. Tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo trên địa bàn. Khuyến khích các doanh nghiệp lớn tham gia dạy nghề cho lực lượng lao động của địa phương. Áp dụng chính sách ưu đãi để thu hút các chuyên gia, các nhà doanh nghiệp giỏi và các nhà khoa học có trình độ cao... đến làm việc lâu dài tại vành đai kinh tế;
Liên kết với các trường đại học, các trung tâm đào tạo, dạy nghề ở Hà Nội để mở rộng quy mô và hình thức đào tạo. Đẩy mạnh thu hút FDI trong lĩnh vực đào tạo phát triển nguồn nhân lực. Mở rộng hợp tác quốc tế, nhất là với Trung Quốc trong công tác đào tạo với nhiều hình thức... sớm xây dựng lực lượng lao động chất lượng cao cho các ngành mũi nhọn trong vành đai kinh tế.
c) Giải pháp về khoa học, công nghệ và môi trường: đổi mới công tác quản lý khoa học, công nghệ phù hợp với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế. Tăng cường ứng dụng các công nghệ mới thông qua chuyển giao công nghệ, đặc biệt là các công nghệ tiên tiến của nước ngoài để đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của các sản phẩm mũi nhọn. Ưu tiên thu hút các dự án có công nghệ tiên tiến, hiện đại đầu tư vào vành đai kinh tế.
Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư đổi mới công nghệ. Thực hiện các chính sách ưu đãi về tín dụng, miễn giảm thuế, về thuê đất... để phát triển khoa học, công nghệ. Có cơ chế vừa khuyến khích, vừa bắt buộc các doanh nghiệp đầu tư cải tiến kỹ thuật và áp dụng công nghệ mới, công nghệ thích hợp vào sản xuất. Mở rộng quan hệ hợp tác, nhất là với Trung Quốc để phát triển khoa học, công nghệ. Tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của các nước, các tổ chức quốc tế trong các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và đổi mới công nghệ...
Đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường. Thực hiện đồng bộ các giải pháp cả về kỹ thuật, cơ chế chính sách và tuyên truyền giáo dục... nhằm bảo vệ tài nguyên, môi trường của vành đai kinh tế, đặc biệt là môi trường Vịnh Hạ Long, bảo đảm phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Quản lý chặt chẽ việc xả thải của các nguồn gây ô nhiễm. Khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường vào sản xuất.
d) Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho phát triển: dự báo nhu cầu vốn đầu tư của vành đai kinh tế từ nay đến năm 2020 là hơn 50 tỷ USD, trong đó giai đoạn 2009 - 2010 khoảng 5 - 7 tỷ USD. Để đáp ứng nguồn vốn trên cần thực hiện các giải pháp đồng bộ và tích cực nhằm thu hút mọi nguồn vốn có thể dưới mọi hình thức, trong đó tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau:
- Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá các thế mạnh và cơ hội đầu tư của vành đai kinh tế. Xác định các công trình, các địa bàn ưu tiên và mức độ ưu tiên để kêu gọi vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh tại Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ;
- Áp dụng các chính sách ưu đãi như miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, miễn, giảm thuế và tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, hỗ trợ vốn giải phóng mặt bằng, tái định cư... đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp, Khu kinh tế. Ưu tiên dành nguồn vốn ngân sách và tín dụng ưu đãi hỗ trợ đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng quan trọng. Xúc tiến việc thành lập Quỹ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng của vành đai kinh tế. Xem xét thành lập Công ty đầu tư phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ (như Trung Quốc đang thực hiện ở Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây) để kinh doanh vốn và tạo kênh thu hút nguồn vốn vào phát triển hạ tầng và các ngành mũi nhọn của vành đai kinh tế;
- Sử dụng vốn đầu tư đúng mục đích theo dự án, giảm tình trạng lãng phí, thất thoát vốn, nhất là trong khâu thi công xây dựng. Đơn giản hóa các thủ tục cho vay; mở rộng các hình thức cho vay và đối tượng cho vay, tạo điều kiện để mọi thành phần kinh tế tiếp cận được nguồn vốn này. Lồng ghép có hiệu quả các chương trình, dự án trên địa bàn để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Mở rộng việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu các loại để huy động vốn cho các công trình quan trọng;
- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường thông thoáng trong lĩnh vực đầu tư. Có chính sách khuyến khích các tập đoàn lớn, các doanh nghiệp lớn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh tại Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ;
- Khuyến khích khu vực dân cư và tư nhân đầu tư mở rộng và phát triển sản xuất, kinh doanh, nhất là trong các lĩnh vực: sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tập trung, nuôi trồng thuỷ sản, phát triển kinh tế trang trại, phát triển du lịch, dịch vụ... Tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, không hạn chế về quy mô, ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn. Đẩy mạnh huy động sự đóng góp của nhân dân (cả bằng tiền và lao động công ích) phù hợp với các quy định của Nhà nước vào xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, nhất là ở các khu vực miền núi và hải đảo;
- Đổi mới cơ chế thu hút FDI, xây dựng cơ chế, chính sách đồng bộ để thu hút nguồn vốn FDI phù hợp với quá trình hội nhập. Tạo mọi điều kiện thuận lợi và thông thoáng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các nhà đầu tư Trung Quốc vào phát triển sản xuất tại vành đai kinh tế. Điều chỉnh cơ cấu thu hút đầu tư FDI phù hợp, hướng nguồn vốn FDI vào các lĩnh vực ưu tiên. Khuyến khích các dự án lớn có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh và các dự án sản xuất hàng xuất khẩu. Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, phối hợp với các địa phương Trung Quốc thuộc vành đai kinh tế tổ chức các Hội nghị để quảng bá, giới thiệu môi trường đầu tư, trao đổi kinh nghiệm về xúc tiến đầu tư và thu hút đầu tư...;
- Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, địa phương và các tổ chức quốc tế để tranh thủ vận động đàm phán các dự án ODA, trong đó ưu tiên cho phát triển cơ sở hạ tầng. Xây dựng các dự án cụ thể, tích cực vận động đầu tư và chủ động bố trí vốn đối ứng làm cơ sở để vận động tài trợ. Tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ của các tổ chức quốc tế vào các lĩnh vực: bảo tồn thiên nhiên, xóa đói, giảm nghèo, nước sạch nông thôn, vệ sinh môi trường, y tế, giáo dục... ở các khu vực miền núi, hải đảo. Mở rộng các hình thức đầu tư BOT, BT và các hình thức khác....
3. Tổ chức thực hiện
a) Nhanh chóng tiến hành nghiên cứu các vấn đề liên quan: để thực hiện mục tiêu phát triển của vành đai kinh tế, hai nước cần phối hợp xây dựng nhanh quy hoạch chung về phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ trên phạm vi lãnh thổ cả hai nước và Chương trình hợp tác tổng thể trình Chính phủ hai nước thông qua, làm cơ sở cho các ngành, địa phương tổ chức thực hiện;
b) Xây dựng diễn đàn Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ: hai bên phối hợp tổ chức diễn đàn chung về hợp tác phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ, cũng như các diễn đàn chuyên ngành đối với các ngành quan trọng để trao đổi, thảo luận thống nhất các vấn đề liên quan và kế hoạch hợp tác phát triển;
c) Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền: hai nước phối hợp xây dựng một Tập san hoặc bản tin chung (song ngữ Việt - Trung) xuất bản định kỳ để hai bên có điều kiện tìm hiểu thêm về tình hình phát triển kinh tế và hợp tác trên các lĩnh vực liên quan đến vành đai kinh tế. Phổ biến kịp thời đến các cơ quan, tổ chức liên quan về các nội dung nghiên cứu cụ thể làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình, dự án phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ;
d) Phân công thực hiện
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và các địa phương liên quan xây dựng chương trình hành động chung, trong đó có phân công trách nhiệm và phối hợp cụ thể; phối hợp với Bộ Tài chính để cân đối và huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển vành đai kinh tế; làm đầu mối của phía Việt Nam để phối hợp với phía Trung Quốc xây dựng quy hoạch chung cho toàn bộ vành đai kinh tế trên phạm vi lãnh thổ hai nước; xây dựng chương trình, kế hoạch tổng thể về hợp tác phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ và phối hợp tổ chức thực hiện; làm đầu mối giúp Chính phủ phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát việc thực hiện quy hoạch và chương trình, kế hoạch hợp tác phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ;
- Các Bộ, ngành liên quan: xây dựng chương trình hành động cụ thể của ngành mình để thực hiện quy hoạch; lồng ghép các mục tiêu, định hướng phát triển của quy hoạch này vào quy hoạch phát triển của ngành mình trên phạm vi cả nước; phối hợp với tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng cân đối các nguồn lực cho phát triển vành đai kinh tế theo quy hoạch; xây dựng chương trình, kế hoạch hợp tác và các dự án hợp tác cụ thể của ngành trong phạm vi vành đai kinh tế và tổ chức thực hiện;
- Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng: tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thành phố đến năm 2020, lồng ghép các mục tiêu, định hướng phát triển của quy hoạch này vào quy hoạch tổng thể của tỉnh, thành phố; xây dựng kế hoạch hợp tác và các dự án hợp tác cụ thể của địa phương và tổ chức thực hiện. Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Ninh và Hải Phòng làm đầu mối giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch và các chương trình, kế hoạch hợp tác phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ trong phạm vi của địa phương;
- Các Bộ, ngành và địa phương liên quan phối hợp với Bộ Quốc phòng trong quá trình lập và triển khai thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến quốc phòng, bảo đảm sự thống nhất giữa kinh tế với quốc phòng, đồng thời không phá vỡ những quy hoạch lớn về quốc phòng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
- Định kỳ hàng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương liên quan tổ chức tổng kết, đánh giá việc thực hiện Quy hoạch này để đề xuất, kiến nghị cấp có thẩm quyền kịp thời điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới.

Content:
Phương hướng hợp tác phát triển vành đai kinh tế
Nội dung hợp tác quốc tế phát triển hai hành lang, một vành đai kinh tế nói chung và phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ nói riêng là rất phong phú. Vì vậy, thời gian tới cần đẩy mạnh hợp tác theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa các hình thức hợp tác và các lĩnh vực hợp tác trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng và cùng có lợi. Ưu tiên hợp tác với Trung Quốc và các nước ASEAN nhằm khai thác tốt tiềm năng, lợi thế của khu vực để phát triển nhanh. Mở rộng hợp tác với các nước có tiềm lực kinh tế lớn và các tổ chức quốc tế trong khu vực để phát triển các công trình trọng điểm.
Về hợp tác với Trung Quốc, căn cứ vào Hiệp định hợp tác kinh tế thương mại song phương Việt Nam - Trung Quốc, Bản ghi nhớ về triển khai hợp tác hai hành lang, một vành đai kinh tế và ưu thế của mỗi nước, thời gian tới tập trung vào hợp tác trong các lĩnh vực chủ yếu sau:
a) Hợp tác trong xây dựng hạ tầng: đẩy mạnh hợp tác xây dựng hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng cửa khẩu, đặc biệt là tuyến cao tốc Hà Nội - Hạ Long - Móng Cái gắn với hai hành lang kinh tế để kết nối liên thông với mạng cao tốc ven biển Nam Trung Quốc. Trước mắt hợp tác nâng cấp quốc lộ 18A và tuyến đường sắt Kép - Bãi Cháy - Cái Lân đạt tiêu chuẩn quốc tế. Giai đoạn sau tiếp tục hợp tác xây dựng đường cao tốc Hạ Long - Móng Cái và tuyến đường sắt Hạ Long - Móng Cái - Đông Hưng - Phòng Thành, kết nối với mạng đường sắt của hai nước, hướng tới xây dựng tuyến đường sắt xuyên Á trong tương lai. Mở rộng hợp tác xây dựng các cảng biển quan trọng, hình thành đầu mối và mạng lưới vận tải biển thuận tiện và hiệu quả, tạo điều kiện thúc đẩy Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ nói riêng và hai hành lang, một vành đai kinh tế nói chung;
b) Hợp tác về du lịch: hợp tác nghiên cứu lập quy hoạch tổng thể phát triển du lịch trong Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ nói riêng và hai hành lang, một vành đai kinh tế nói chung. Tổ chức các tuyến du lịch quốc tế (cả bằng đường bộ, đường không và đường biển) giữa các địa phương hai nước trong khu vực hai hành lang, một vành đai kinh tế; xây dựng tuyến du lịch biển vòng quanh Vịnh Bắc Bộ. Đẩy mạnh hợp tác xây dựng cơ sở hạ tầng và kinh doanh du lịch. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Trung Quốc vào đầu tư xây dựng các khách sạn và các công trình vui chơi giải trí cao cấp tại các khu vực trọng điểm như Hạ Long, Vân Đồn, Cát Bà, Móng Cái... Thúc đẩy tiện lợi hóa xuất cảnh du lịch. Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực du lịch, nhất là hướng dẫn viên tiếng Trung Quốc, xúc tiến đầu tư và tuyên truyền quảng bá du lịch... Phối hợp cùng tổ chức Năm du lịch của Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ, đồng thời định kỳ hàng năm tổ chức Hội chợ - triển lãm du lịch luân phiên tại mỗi tỉnh trong vành đai kinh tế;
c) Hợp tác về thương mại: đẩy mạnh hợp tác phát triển thương mại giữa các địa phương của hai nước thuộc vành đai kinh tế, nhất là trong các lĩnh vực: mậu dịch chính ngạch, quản lý thị trường, ngăn chặn buôn lậu và gian lận thương mại. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam buôn bán với các đối tác Trung Quốc. Thúc đẩy hợp tác phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, nhất là xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái và Đặc khu kinh tế song phương tại Móng Cái. Phối hợp xây dựng các trung tâm dịch vụ tổng hợp gồm các trạm dừng, cơ sở cung cấp xăng dầu và các dịch vụ khác... tại các cửa khẩu, các cửa cảng và dọc hai hành lang, một vành đai kinh tế. Mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực dịch vụ khác như tài chính ngân hàng, vận tải, bưu chính viễn thông... Hai bên cùng hợp tác xây dựng và vận động các nước ASEAN, các tổ chức quốc tế tham gia xây dựng Quỹ tài chính cho phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ;
d) Hợp tác về công nghiệp: đẩy mạnh hơn nữa việc hợp tác phát triển công nghiệp, nhất là các ngành Trung Quốc có lợi thế như nhiệt điện, đóng tầu và sản xuất các thiết bị phụ trợ cho công nghiệp đóng tầu, lọc hóa dầu, khai thác chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất đồ điện gia dụng, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản... Tăng cường tiếp xúc với phía Trung Quốc để xác định những hạng mục hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Trung Quốc vào đầu tư phát triển công nghiệp tại Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ;
đ) Hợp tác về thuỷ sản: hợp tác điều tra, đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi hải sản trong Vịnh Bắc Bộ và vùng đánh cá chung, từ đó quy định quy mô khai thác phù hợp cho mỗi bên nhằm bảo vệ nguồn lợi. Đẩy mạnh hợp tác trong quản lý, bảo vệ nguồn lợi; điều tra nghiên cứu ngư trường; nghiên cứu, chuyển giao công nghệ khai thác và nuôi trồng hải sản, nhất là trong sản xuất giống nuôi và phát triển nuôi hải sản trên biển phục vụ xuất khẩu và du lịch...;
e) Hợp tác trong nông nghiệp: mở rộng hợp tác trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ sản xuất, chế biến nông, lâm sản; sản xuất và cung ứng các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao; sản xuất các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao mà Trung Quốc có nhu cầu như lúa, rau quả thực phẩm, hoa, cây cảnh, cây dược liệu và các sản phẩm chăn nuôi... Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Trung Quốc liên doanh sản xuất giống và xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao tại vành đai kinh tế. Đẩy mạnh hợp tác trong bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn và quản lý nguồn nước các lưu vực sông chung;
g) Hợp tác về khoa học - công nghệ: xây dựng kế hoạch hợp tác thường xuyên và lâu dài với Trung Quốc để cùng phối hợp điều tra tổng hợp Vịnh Bắc Bộ nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ phục vụ việc quản lý và khai thác tài nguyên, môi trường Vịnh Bắc Bộ một cách hiệu quả và bền vững. Chuẩn bị điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ để hợp tác tìm kiếm thăm dò dầu khí tại các mỏ nằm vắt ngang đường phân định và các mỏ trong khu vực chồng lấn ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ khi cần thiết. Tăng cường hợp tác trao đổi thông tin, đào tạo cán bộ và tổ chức nghiên cứu khoa học. Xúc tiến hợp tác quốc tế trong phát triển các nghề biển tương lai ở Vịnh Bắc Bộ;
h) Hợp tác trong lĩnh vực văn hóa xã hội: mở rộng hợp tác trong giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, y tế, văn hóa nghệ thuật, triển lãm, thể dục thể thao và các lĩnh vực xã hội khác. Đẩy mạnh các hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao, biểu diễn nghệ thuật... giữa các địa phương thuộc vành đai kinh tế để hiểu biết rõ hơn về phong tục tập quán của nhau, đồng thời góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ bang giao đang ngày càng thắm thiết giữa hai nước;
i) Hợp tác trong bảo vệ môi trường: hợp tác chặt chẽ với các địa phương Trung Quốc thuộc vành đai kinh tế trong công tác quan trắc, dự báo môi trường và bảo vệ môi trường, nhất là môi trường biển, bảo đảm phát triển bền vững cho toàn vành đai kinh tế. Đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực an toàn hàng hải, ứng phó các sự cố tràn dầu và xử lý ô nhiễm biển do nạn dầu loang. Mở rộng hợp tác trong tìm kiếm cứu nạn, cảnh báo thiên tai. Hai nước hợp tác xây dựng một hệ thống các Trung tâm tìm kiếm cứu nạn thống nhất trong khu vực vành đai kinh tế, có kế hoạch phối hợp chặt chẽ trong việc tìm kiếm cứu nạn có hiệu quả.
V. LỘ TRÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Giai đoạn 2009 - 2010: hình thành cho được một số lãnh thổ động lực; xây dựng một bước cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng trong vành đai kinh tế; xúc tiến thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước vào các công trình trọng điểm, vùng động lực... tạo điều kiện để phát triển nhanh trong giai đoạn sau.
2. Giai đoạn 2011 - 2020: tiếp tục đầu tư phát triển đồng bộ và hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong vành đai kinh tế. Xây dựng xong những hạng mục quan trọng tại các khu kinh tế, khu công nghiệp. Xây dựng hoàn chỉnh và đưa vào hoạt động Đặc khu kinh tế song phương Móng Cái, các cảng Lạch Huyện, Hải Hà, Vạn Gia..., sân bay Vân Đồn, các khu du lịch, các trung tâm vui chơi giải trí cao cấp và các công trình dịch vụ khác... để phát triển tăng tốc trong giai đoạn sau năm 2020.
VI. CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Giải pháp phối hợp chung giữa hai nước
Trên cơ sở các thoả thuận đã đạt được tại Bản ghi nhớ về việc triển khai hợp tác "Hai hành lang, một vành đai kinh tế" giữa Chính phủ hai nước Việt Nam - Trung Quốc, hai bên cần phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp sau:
a) Phối hợp lập quy hoạch chung về phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ trên lãnh thổ của cả hai nước: hai bên cần củng cố và đẩy mạnh hoạt động của Nhóm công tác hai hành lang, một vành đai kinh tế trong khuôn khổ Ủy ban Hợp tác kinh tế thương mại song phương Việt Nam - Trung Quốc để tổ chức, phối hợp lập quy hoạch chung về phát triển vành đai kinh tế trên phạm vi lãnh thổ của cả hai nước, đồng thời xây dựng Chương trình hành động chung để cùng nhau thực hiện trong thời gian tới. Thành lập các tổ chuyên gia chuyên ngành trong một số lĩnh vực quan trọng để phối hợp xây dựng quy hoạch và chương trình, kế hoạch hợp tác cụ thể đối với từng lĩnh vực, đồng thời tổ chức thực hiện quy hoạch và những vấn đề hai bên đã thoả thuận;
b) Đẩy nhanh kế hoạch hợp tác xây dựng hệ thống giao thông trong Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ: căn cứ vào Điều 6 Bản ghi nhớ về việc triển khai hợp tác hai hành lang, một vành đai kinh tế, Bộ Giao thông vận tải tiến hành trao đổi, thoả thuận với Trung Quốc để cùng phối hợp xây dựng quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng giao thông trong phạm vi hai hành lang, một vành đai kinh tế nói chung và Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ nói riêng. Đẩy nhanh kế hoạch hợp tác xây dựng các công trình giao thông đã được thoả thuận trong phạm vi hai hành lang, một vành đai kinh tế. Sớm xây dựng tuyến cao tốc dọc vành đai kinh tế từ Hải Phòng - Hạ Long đến Móng Cái (trước mắt nâng cấp hoàn chỉnh quốc lộ 18 đạt cấp III đồng bằng) để kết nối liên thông với mạng cao tốc khu vực Nam Trung Quốc. Phối hợp xây dựng nhanh các tuyến cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Hạ Long; xây dựng các tuyến đường thông thương giữa hai bên biên giới và đường nối các cửa khẩu chính đến các trung tâm kinh tế phía trong;
Triển khai việc hợp tác nâng cấp tuyến đường sắt Kép - Bãi Cháy, Hà Nội - Hải Phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế 1435 mm; xây dựng tuyến đường sắt Phả Lại - Hạ Long - Cái Lân; chuẩn bị điều kiện hợp tác xây dựng tiếp đoạn Hạ Long - Móng Cái - Đông Hưng - Phòng Thành để hoà vào mạng đường sắt quốc gia của hai nước. Cùng hợp tác phát triển cảng biển, tạo cửa ra cho hai hành lang, một vành đai kinh tế.
c) Hợp tác đẩy mạnh tự do hóa thương mại và tiện lợi hóa thông quan. Hai bên cùng tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy tự do hóa thương mại trong Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ. Đẩy mạnh hợp tác trong việc cải tiến, tiện lợi hóa thông quan trên các cặp cửa khẩu, trước mắt thực hiện tại cặp cửa khẩu quốc tế Móng Cái - Đông Hưng, sau đó mở rộng sang các cặp cửa khẩu khác. Tăng cường hợp tác và thúc đẩy mô hình thông quan "Kiểm tra một lần" ở tất cả các cửa khẩu chính trong phạm vi vành đai kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu hàng hóa qua biên giới và đi lại của các thương gia hai nước;
Tích cực mở rộng hợp tác vận chuyển hàng hóa và hành khách giữa hai nước. Cải thiện điều kiện vận chuyển hành khách và hàng hóa qua biên giới, áp dụng phương thức Giấy phép vận tải qua biên giới GMS đã được thoả thuận tại Hiệp định Vận tải qua biên giới GMS tháng 4 năm 2006. Xem xét mở các tuyến vận chuyển hành khách xuyên quốc gia để thúc đẩy phát triển hợp tác du lịch và mậu dịch.
d) Bộ Công thương phối hợp với tỉnh Quảng Ninh trao đổi, thoả thuận với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) để phối hợp lập quy hoạch và hợp tác xây dựng Khu thương mại tự do Móng Cái (theo mô hình Đặc khu kinh tế song phương); đồng thời cùng thoả thuận thống nhất quy chế của Khu thương mại tự do này, qua đó rút kinh nghiệm để áp dụng cho các khu vực khác trong vành đai kinh tế nhằm thúc đẩy thương mại giữa hai nước cũng như với khu vực và thế giới.
2. Các giải pháp riêng đối với Việt Nam
a) Xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và cơ chế, chính sách cho Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ. Căn cứ vào định hướng quy hoạch này, các ngành và địa phương liên quan rà soát, bổ sung, cụ thể hóa các chính sách nhằm phát huy mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước để phát triển nhanh, hiện đại hóa một số ngành quan trọng và vùng động lực. Xác định các dự án lớn, các lĩnh vực, khu vực mang tính đột phá và cấp thiết để có chính sách đầu tư tập trung, trọng điểm. Ưu tiên nguồn vốn đầu tư thoả đáng cho xây dựng cơ sở hạ tầng Khu kinh tế Vân Đồn. Trên cơ sở Quy chế tổ chức và hoạt động của Khu kinh tế Vân Đồn đã được ban hành tại Quyết định số 120/2007/QĐ-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương tiếp tục cụ thể hóa các chính sách ưu đãi đặc thù nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước để phát triển nhanh Khu kinh tế trong thời gian tới;
Tiếp tục hoàn thiện, đổi mới chính sách đối với kinh tế cửa khẩu. Tiến hành tổng kết, đánh giá việc thực hiện Quyết định số 53/2001/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đối với khu kinh tế cửa khẩu biên giới để bổ sung, đổi mới các chính sách và biện pháp hỗ trợ phát triển thương mại ở các khu vực này, nhất là các chính sách về đầu tư, về xuất khẩu, về thuế, chính sách tài chính, tiền tệ... để phát triển kinh tế cửa khẩu.
Xây dựng, củng cố cơ sở pháp lý và nguồn nhân lực phục vụ cho hội nhập quốc tế. Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý theo lộ trình hội nhập WTO, APEC và các hợp tác đa phương và song phương khác... Chú trọng xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ các thẩm phán, luật sư, các cán bộ làm công tác đối ngoại của tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng để có khả năng đàm phán và xử lý kịp thời các tranh chấp kinh tế, thương mại quốc tế trong quá trình hợp tác phát triển vành đai kinh tế.
b) Tạo bước đột phá về phát triển nguồn nhân lực: có chính sách tích cực để đào tạo phát triển nguồn nhân lực, sớm xây dựng lực lượng lao động chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của vành đai kinh tế trong bối cảnh hợp tác và hội nhập. Đa dạng hóa các hình thức đào tạo, dạy nghề, nâng cao chất lượng lao động trẻ tại chỗ, nhất là cho các ngành có lợi thế như khai khoáng, nhiệt điện, đóng tầu, cơ khí chế tạo, hàng hải, du lịch, thuỷ sản... Đẩy mạnh đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao năng lực cho cán bộ, công chức quản lý kinh tế, quản lý đối ngoại. Tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo trên địa bàn. Khuyến khích các doanh nghiệp lớn tham gia dạy nghề cho lực lượng lao động của địa phương. Áp dụng chính sách ưu đãi để thu hút các chuyên gia, các nhà doanh nghiệp giỏi và các nhà khoa học có trình độ cao... đến làm việc lâu dài tại vành đai kinh tế;
Liên kết với các trường đại học, các trung tâm đào tạo, dạy nghề ở Hà Nội để mở rộng quy mô và hình thức đào tạo. Đẩy mạnh thu hút FDI trong lĩnh vực đào tạo phát triển nguồn nhân lực. Mở rộng hợp tác quốc tế, nhất là với Trung Quốc trong công tác đào tạo với nhiều hình thức... sớm xây dựng lực lượng lao động chất lượng cao cho các ngành mũi nhọn trong vành đai kinh tế.
c) Giải pháp về khoa học, công nghệ và môi trường: đổi mới công tác quản lý khoa học, công nghệ phù hợp với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế. Tăng cường ứng dụng các công nghệ mới thông qua chuyển giao công nghệ, đặc biệt là các công nghệ tiên tiến của nước ngoài để đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của các sản phẩm mũi nhọn. Ưu tiên thu hút các dự án có công nghệ tiên tiến, hiện đại đầu tư vào vành đai kinh tế.
Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư đổi mới công nghệ. Thực hiện các chính sách ưu đãi về tín dụng, miễn giảm thuế, về thuê đất... để phát triển khoa học, công nghệ. Có cơ chế vừa khuyến khích, vừa bắt buộc các doanh nghiệp đầu tư cải tiến kỹ thuật và áp dụng công nghệ mới, công nghệ thích hợp vào sản xuất. Mở rộng quan hệ hợp tác, nhất là với Trung Quốc để phát triển khoa học, công nghệ. Tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của các nước, các tổ chức quốc tế trong các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và đổi mới công nghệ...
Đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường. Thực hiện đồng bộ các giải pháp cả về kỹ thuật, cơ chế chính sách và tuyên truyền giáo dục... nhằm bảo vệ tài nguyên, môi trường của vành đai kinh tế, đặc biệt là môi trường Vịnh Hạ Long, bảo đảm phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Quản lý chặt chẽ việc xả thải của các nguồn gây ô nhiễm. Khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường vào sản xuất.
d) Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho phát triển: dự báo nhu cầu vốn đầu tư của vành đai kinh tế từ nay đến năm 2020 là hơn 50 tỷ USD, trong đó giai đoạn 2009 - 2010 khoảng 5 - 7 tỷ USD. Để đáp ứng nguồn vốn trên cần thực hiện các giải pháp đồng bộ và tích cực nhằm thu hút mọi nguồn vốn có thể dưới mọi hình thức, trong đó tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau:
- Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá các thế mạnh và cơ hội đầu tư của vành đai kinh tế. Xác định các công trình, các địa bàn ưu tiên và mức độ ưu tiên để kêu gọi vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh tại Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ;
- Áp dụng các chính sách ưu đãi như miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, miễn, giảm thuế và tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, hỗ trợ vốn giải phóng mặt bằng, tái định cư... đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp, Khu kinh tế. Ưu tiên dành nguồn vốn ngân sách và tín dụng ưu đãi hỗ trợ đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng quan trọng. Xúc tiến việc thành lập Quỹ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng của vành đai kinh tế. Xem xét thành lập Công ty đầu tư phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ (như Trung Quốc đang thực hiện ở Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây) để kinh doanh vốn và tạo kênh thu hút nguồn vốn vào phát triển hạ tầng và các ngành mũi nhọn của vành đai kinh tế;
- Sử dụng vốn đầu tư đúng mục đích theo dự án, giảm tình trạng lãng phí, thất thoát vốn, nhất là trong khâu thi công xây dựng. Đơn giản hóa các thủ tục cho vay; mở rộng các hình thức cho vay và đối tượng cho vay, tạo điều kiện để mọi thành phần kinh tế tiếp cận được nguồn vốn này. Lồng ghép có hiệu quả các chương trình, dự án trên địa bàn để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Mở rộng việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu các loại để huy động vốn cho các công trình quan trọng;
- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường thông thoáng trong lĩnh vực đầu tư. Có chính sách khuyến khích các tập đoàn lớn, các doanh nghiệp lớn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh tại Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ;
- Khuyến khích khu vực dân cư và tư nhân đầu tư mở rộng và phát triển sản xuất, kinh doanh, nhất là trong các lĩnh vực: sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tập trung, nuôi trồng thuỷ sản, phát triển kinh tế trang trại, phát triển du lịch, dịch vụ... Tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, không hạn chế về quy mô, ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn. Đẩy mạnh huy động sự đóng góp của nhân dân (cả bằng tiền và lao động công ích) phù hợp với các quy định của Nhà nước vào xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, nhất là ở các khu vực miền núi và hải đảo;
- Đổi mới cơ chế thu hút FDI, xây dựng cơ chế, chính sách đồng bộ để thu hút nguồn vốn FDI phù hợp với quá trình hội nhập. Tạo mọi điều kiện thuận lợi và thông thoáng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các nhà đầu tư Trung Quốc vào phát triển sản xuất tại vành đai kinh tế. Điều chỉnh cơ cấu thu hút đầu tư FDI phù hợp, hướng nguồn vốn FDI vào các lĩnh vực ưu tiên. Khuyến khích các dự án lớn có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh và các dự án sản xuất hàng xuất khẩu. Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, phối hợp với các địa phương Trung Quốc thuộc vành đai kinh tế tổ chức các Hội nghị để quảng bá, giới thiệu môi trường đầu tư, trao đổi kinh nghiệm về xúc tiến đầu tư và thu hút đầu tư...;
- Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, địa phương và các tổ chức quốc tế để tranh thủ vận động đàm phán các dự án ODA, trong đó ưu tiên cho phát triển cơ sở hạ tầng. Xây dựng các dự án cụ thể, tích cực vận động đầu tư và chủ động bố trí vốn đối ứng làm cơ sở để vận động tài trợ. Tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ của các tổ chức quốc tế vào các lĩnh vực: bảo tồn thiên nhiên, xóa đói, giảm nghèo, nước sạch nông thôn, vệ sinh môi trường, y tế, giáo dục... ở các khu vực miền núi, hải đảo. Mở rộng các hình thức đầu tư BOT, BT và các hình thức khác....
3. Tổ chức thực hiện
a) Nhanh chóng tiến hành nghiên cứu các vấn đề liên quan: để thực hiện mục tiêu phát triển của vành đai kinh tế, hai nước cần phối hợp xây dựng nhanh quy hoạch chung về phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ trên phạm vi lãnh thổ cả hai nước và Chương trình hợp tác tổng thể trình Chính phủ hai nước thông qua, làm cơ sở cho các ngành, địa phương tổ chức thực hiện;
b) Xây dựng diễn đàn Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ: hai bên phối hợp tổ chức diễn đàn chung về hợp tác phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ, cũng như các diễn đàn chuyên ngành đối với các ngành quan trọng để trao đổi, thảo luận thống nhất các vấn đề liên quan và kế hoạch hợp tác phát triển;
c) Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền: hai nước phối hợp xây dựng một Tập san hoặc bản tin chung (song ngữ Việt - Trung) xuất bản định kỳ để hai bên có điều kiện tìm hiểu thêm về tình hình phát triển kinh tế và hợp tác trên các lĩnh vực liên quan đến vành đai kinh tế. Phổ biến kịp thời đến các cơ quan, tổ chức liên quan về các nội dung nghiên cứu cụ thể làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình, dự án phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ;
d) Phân công thực hiện
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và các địa phương liên quan xây dựng chương trình hành động chung, trong đó có phân công trách nhiệm và phối hợp cụ thể; phối hợp với Bộ Tài chính để cân đối và huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển vành đai kinh tế; làm đầu mối của phía Việt Nam để phối hợp với phía Trung Quốc xây dựng quy hoạch chung cho toàn bộ vành đai kinh tế trên phạm vi lãnh thổ hai nước; xây dựng chương trình, kế hoạch tổng thể về hợp tác phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ và phối hợp tổ chức thực hiện; làm đầu mối giúp Chính phủ phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát việc thực hiện quy hoạch và chương trình, kế hoạch hợp tác phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ;
- Các Bộ, ngành liên quan: xây dựng chương trình hành động cụ thể của ngành mình để thực hiện quy hoạch; lồng ghép các mục tiêu, định hướng phát triển của quy hoạch này vào quy hoạch phát triển của ngành mình trên phạm vi cả nước; phối hợp với tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng cân đối các nguồn lực cho phát triển vành đai kinh tế theo quy hoạch; xây dựng chương trình, kế hoạch hợp tác và các dự án hợp tác cụ thể của ngành trong phạm vi vành đai kinh tế và tổ chức thực hiện;
- Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng: tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thành phố đến năm 2020, lồng ghép các mục tiêu, định hướng phát triển của quy hoạch này vào quy hoạch tổng thể của tỉnh, thành phố; xây dựng kế hoạch hợp tác và các dự án hợp tác cụ thể của địa phương và tổ chức thực hiện. Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Ninh và Hải Phòng làm đầu mối giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch và các chương trình, kế hoạch hợp tác phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ trong phạm vi của địa phương;
- Các Bộ, ngành và địa phương liên quan phối hợp với Bộ Quốc phòng trong quá trình lập và triển khai thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến quốc phòng, bảo đảm sự thống nhất giữa kinh tế với quốc phòng, đồng thời không phá vỡ những quy hoạch lớn về quốc phòng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
- Định kỳ hàng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương liên quan tổ chức tổng kết, đánh giá việc thực hiện Quy hoạch này để đề xuất, kiến nghị cấp có thẩm quyền kịp thời điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới.