Document: Khoản 4 Điều 1 Thông tư 377-TC hướng dẫn tổ chức bầu cử Thẩm phán Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân địa phương

Type: {"issuing_agency": "Tòa án nhân dân tối cao", "promulgation_date": "25/04/1961", "sign_number": "377-TC", "signer": "Phạm Văn Bạch", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tòa án nhân dân tối cao", "promulgation_date": "25/04/1961", "sign_number": "377-TC", "signer": "Phạm Văn Bạch", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tòa án nhân dân tối cao", "promulgation_date": "25/04/1961", "sign_number": "377-TC", "signer": "Phạm Văn Bạch", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tòa án nhân dân tối cao", "promulgation_date": "25/04/1961", "sign_number": "377-TC", "signer": "Phạm Văn Bạch", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Tòa án nhân dân tối cao", "promulgation_date": "25/04/1961", "sign_number": "377-TC", "signer": "Phạm Văn Bạch", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Thông tư 377-TC hướng dẫn tổ chức bầu cử Thẩm phán Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân địa phương

Điều 1. 1 và điều 12 của luật tổ chức tòa án nhân dân đã quy định: khi sơ thẩm tòa án nhân dân gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân; khi xét xử, hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán và tòa án nhân dân quyết định theo đa số.
...
4. Số hội thẩm nhân dân.
Điều 17 của pháp lệnh ngày 23-03-1961 đã giao cho Hội đồng nhân dân quyết định về số hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân cùng cấp, căn cứ vào đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân đó.
Để cho việc quy định số hội thẩm nhân dân được thống nhất giữa các Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án nhân dân tối cao định ra hướng chung trong việc quy định số hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân địa phương như sau:
A. Số hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương tính theo nguyên tắc sau đây:
- Mỗi thị trấn, xã hoặc khu vực tương đương ở thị xã cần có hai hội thẩm nhân dân; trường hợp đặc biệt những xã lớn và quan trọng thì có thể có ba hội thẩm nhân dân.
Ở các khu phố thuộc các thành phố Hà Nội, nhân dân ở tập trung, cho nên, có thể cử hai hoặc ba khối mới cần có một hội thẩm nhân dân. Ở thành phố Hải Phòng, việc tính số hội thẩm nhân dân cũng theo nguyên tắc như đã nói ở trên đối với trong Hà nội.
- Ngoài số hội thẩm nhân dân là những cán bộ ở các thị trấn, xã hoặc khu vực tương đương với xã, ở các thành phố, cần có từ ba đến năm hội thẩm nhân dân là cán bộ của các cơ quan, đoàn thể chung quanh thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương.
B. Số hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương tính theo nguyên tắc sau đây:
- Mỗi thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương cần có từ hai đến năm hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương:
- Ngoài số hội thẩm nhân dân là cán bộ ở thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương, cần có từ năm đến chính hội thẩm nhân dân là cán bộ của các cơ quan, đoàn thể chung quanh tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương; ở các thành phố Hà nội, Hải phòng, số hội thẩm nhân dân là cán bộ của các cơ quan, đoàn thể chung quanh thành phố có thể nhiều hơn.

Content:
Số hội thẩm nhân dân.
Điều 17 của pháp lệnh ngày 23-03-1961 đã giao cho Hội đồng nhân dân quyết định về số hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân cùng cấp, căn cứ vào đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân đó.
Để cho việc quy định số hội thẩm nhân dân được thống nhất giữa các Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án nhân dân tối cao định ra hướng chung trong việc quy định số hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân địa phương như sau:
A. Số hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương tính theo nguyên tắc sau đây:
- Mỗi thị trấn, xã hoặc khu vực tương đương ở thị xã cần có hai hội thẩm nhân dân; trường hợp đặc biệt những xã lớn và quan trọng thì có thể có ba hội thẩm nhân dân.
Ở các khu phố thuộc các thành phố Hà Nội, nhân dân ở tập trung, cho nên, có thể cử hai hoặc ba khối mới cần có một hội thẩm nhân dân. Ở thành phố Hải Phòng, việc tính số hội thẩm nhân dân cũng theo nguyên tắc như đã nói ở trên đối với trong Hà nội.
- Ngoài số hội thẩm nhân dân là những cán bộ ở các thị trấn, xã hoặc khu vực tương đương với xã, ở các thành phố, cần có từ ba đến năm hội thẩm nhân dân là cán bộ của các cơ quan, đoàn thể chung quanh thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương.
B. Số hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương tính theo nguyên tắc sau đây:
- Mỗi thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương cần có từ hai đến năm hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương:
- Ngoài số hội thẩm nhân dân là cán bộ ở thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương, cần có từ năm đến chính hội thẩm nhân dân là cán bộ của các cơ quan, đoàn thể chung quanh tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương; ở các thành phố Hà nội, Hải phòng, số hội thẩm nhân dân là cán bộ của các cơ quan, đoàn thể chung quanh thành phố có thể nhiều hơn.