Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 546/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "13/12/2011", "sign_number": "546/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Thanh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "13/12/2011", "sign_number": "546/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Thanh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "13/12/2011", "sign_number": "546/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Thanh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "13/12/2011", "sign_number": "546/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Thanh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "13/12/2011", "sign_number": "546/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Thanh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 546/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2011 - 2020, với những nội dung chủ yếu như sau:
...
2. Mục tiêu:
a) Mục tiêu tổng quát: phát triển nhân lực bảo đảm đủ về số lượng, có cơ cấu phù hợp, có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất, nhân cách, có năng lực nghề nghiệp, thành thạo về kỹ năng, có tác phong chuyên nghiệp, năng động, sáng tạo phục vụ tốt nhất nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững; đảm bảo thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của địa phương; phấn đấu xây dựng Ninh Thuận trở thành trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao trên một số lĩnh vực có lợi thế cho một số tỉnh trong khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên.
b) Mục tiêu cụ thể:
- Chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động để đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
+ Đến năm 2015: đáp ứng nhu cầu lao động khu vực sản xuất nông, lâm và thủy sản có khoảng 133 nghìn người, chiếm 37%; công nghiệp - xây dựng khoảng 100 nghìn người, chiếm 28% và dịch vụ khoảng 125 nghìn người, chiếm 35% trên tổng lao động làm việc trong nền kinh tế.
+ Đến năm 2020: đáp ứng nhu cầu lao động khu vực sản xuất nông, lâm và thủy sản khoảng 120 - 122 nghìn người, chiếm 29%; công nghiệp - xây dựng khoảng 140 - 143 nghìn người, chiếm 34% và dịch vụ khoảng 150 - 155 người, chiếm 37% trên tổng lao động làm việc trong nền kinh tế.
- Nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo:
+ Đến năm 2015: tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50%, trong đó đào tạo nghề đạt 33%; cơ cấu lao động qua đào tạo các ngành: Nông nghiệp chiếm 12,5%, công nghiệp - xây dựng chiếm 73,1%, dịch vụ chiếm 71,1%.
+ Đến năm 2020: tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60%, trong đó đào tạo nghề đạt trên 45%; cơ cấu lao động qua đào tạo các ngành: Nông nghiệp chiếm 16,6%, công nghiệp - xây dựng chiếm 76,4%, dịch vụ chiếm 76,7%.
- Bảo đảm nhu cầu số lượng và nâng cao chất lượng lao động cho các ngành kinh tế trụ cột:
+ Đến năm 2015: lao động làm việc trong 6 ngành kinh tế trụ cột khoảng 290 - 295 nghìn người, chiếm 81,3% lao động làm việc trong nền kinh tế, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 44 - 45%.
+ Đến năm 2020: lao động làm việc trong 6 ngành kinh tế trụ cột khoảng 350 - 360 nghìn người, chiếm 85% lao động làm việc trong nền kinh tế, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 56 - 57%.
- Đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao:
+ Đến năm 2015: có khoảng 280 - 300 cán bộ có trình độ thạc sĩ trở lên; đào tạo ở nước ngoài cho 50 cán bộ lãnh đạo, quản lý.
+ Đến năm 2020: có khoảng 600 - 610 cán bộ có trình độ thạc sĩ trở lên.
II. Định hướng phát triển nhân lực giai đoạn 2011 - 2020
1. Nâng cao trình độ học vấn:
a) Xác định giáo dục là nền tảng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hướng đến mục tiêu “Chuẩn hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế”; tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; tiếp tục củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, duy trì và củng cố kết quả phổ cập bậc trung học cơ sở, hoàn thành phổ cập bậc trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Phan Rang - Tháp Chàm vào năm 2015; các thị trấn hoàn thành vào năm 2020;
b) Tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh mạng lưới trường học; hình thành các trường học ngoài công lập có chất lượng để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông; mở rộng mạng lưới các cơ sở giáo dục thường xuyên - kỹ thuật hướng nghiệp - dạy nghề ở các huyện; có chính sách hỗ trợ cho số sinh viên của tỉnh đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng ngoài tỉnh cam kết về làm việc, cống hiến lâu dài cho địa phương;
c) Xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, đặc biệt coi trọng phẩm chất đạo đức, lương tâm trách nhiệm của người giáo viên, phấn đấu đến năm 2015 có 100% giáo viên các bậc học có trình độ đào tạo đạt chuẩn, trong đó có 30 - 35% đạt trình độ đào tạo trên chuẩn;
d) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo; đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục; tăng cường công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập đi đôi với chú trọng phát hiện, bồi dưỡng và phát huy nhân tài.
2. Nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật; đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao:
a) Tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo trong nền kinh tế của tỉnh theo định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2020. Tổng số nhân lực qua đào tạo năm 2015 khoảng 179 nghìn người, chiếm khoảng 50% trong tổng số lao động làm việc trong nền kinh tế (trong đó có 33% đào tạo nghề) và năm 2020 khoảng 252 nghìn người, chiếm khoảng 60% trong tổng số lao động làm việc trong nền kinh tế (trong đó có 45% đào tạo nghề). Trong tổng số nhân lực qua đào tạo, số nhân lực đào tạo qua hệ thống dạy nghề năm 2015 khoảng 143 nghìn người (bằng 79,5%), năm 2020 khoảng 196 nghìn người (bằng 77,5%); số nhân lực đào tạo qua hệ thống giáo dục - đào tạo năm 2015 khoảng 34 nghìn người (bằng 19,5%), năm 2020 khoảng 57 nghìn người (bằng 22,5%). Đào đạo mới giai đoạn 2011-2015 khoảng 73 nghìn lao động, giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 80 nghìn lao động;
b) Tập trung đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho lao động, bảo đảm nhu cầu lao động có chất lượng, với cơ cấu trình độ hợp lý, tiến bộ, theo từng lĩnh vực ngành, nghề của các ngành kinh tế, nhất là ưu tiên phát triển các ngành kinh tế trụ cột của tỉnh và đào tạo nghề cho lao động nông thôn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới;
c) Xây dựng và triển khai kế hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, xúc tiến mời gọi các trường đại học, các trung tâm đào tạo có uy tín, có kinh nghiệm trong và ngoài nước để đầu tư thành lập cơ sở đào tạo tại tỉnh đạt tiêu chuẩn quốc tế; mở rộng hợp tác, liên kết đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý; thu hút đội ngũ chuyên gia quản lý giàu kinh nghiệm, cán bộ nghiên cứu khoa học - công nghệ, nhân lực có trình độ cao trong các lĩnh vực công nghệ cao, tài chính, ngân hàng, y tế, giáo dục, năng lượng, du lịch;
d) Quan tâm hỗ trợ đào tạo đội ngũ doanh nhân, nhất là chủ doanh nghiệp mới thành lập, đội ngũ doanh nhân trẻ về kiến thức pháp luật, kỹ năng quản trị doanh nghiệp và hội nhập quốc tế;
đ) Định hướng đào tạo các cấp trình độ như sau:
- Đối với đào tạo công nhân kỹ thuật: phát triển các cơ sở đào tạo nghề, dạy nghề, tăng nhanh về quy mô và nâng cao chất lượng dạy nghề, tập trung đào tạo công nhân kỹ thuật cho các ngành kinh tế trụ cột của tỉnh.
- Đối với đào tạo hệ trung cấp và cao đẳng nghề: tập trung đào tạo kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành cho lao động và khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới trong sản xuất.
- Đối với hệ giáo dục đại học, cao đẳng: phát huy vị thế mới của tỉnh là trung tâm năng lượng sạch của cả nước, trọng tâm là 02 nhà máy điện hạt nhân; từng bước hình thành trung tâm đào tạo chất lượng cao kết hợp giữa nghiên cứu, giảng dạy, ứng dụng chuyển giao khoa học và công nghệ, đồng thời phát triển mô hình hợp tác giữa khối tư nhân và Nhà nước trong giáo dục đại học và các lĩnh vực nghiên cứu.
- Đào tạo đội ngũ quản trị doanh nghiệp: tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo, bổ sung kiến thức về tổ chức và quản lý phát triển nhân lực, quản trị kinh doanh, tiếp cận thị trường, pháp luật, ... cho các doanh nhân.
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức: đào tạo nhân lực chất lượng cao, chú trọng lực lượng lao động trẻ theo quy hoạch cán bộ trong từng giai đoạn, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước; đào tạo ngoại ngữ đạt trình độ để cử đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài.
- Đào tạo đội ngũ giáo viên: xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề, nâng cao trình độ đào tạo và cơ cấu ngành nghề; định kỳ 3 - 5 năm giáo viện dạy nghề được bồi dưỡng, cập nhật phương pháp đào tạo, công nghệ, kỹ thuật mới; phát triển đội ngũ giáo viên dạy sơ cấp nghề dưới 3 tháng;
e) Định hướng đào tạo cho 06 ngành kinh tế trụ cột: nhu cầu lao động được đào tạo các cấp trình độ cho 6 ngành kinh tế trụ đến năm 2015 khoảng 129 nghìn người, chiếm 44,6%; đến năm 2020 khoảng 201 nghìn người, chiếm 56,4% trên tổng số lao động đang làm việc; cụ thể:
- Đối với ngành năng lượng sạch: ưu tiên đào tạo lao động các ngành điện, cơ khí, chế tạo các linh kiện điện, điện tử, gia công lắp ráp; đến năm 2015, có khoảng 4.600 lao động qua đào tạo, chiếm 81,2%; đến năm 2020, có khoảng 8.200 lao động qua đào tạo, chiếm 82,6% trên tổng số lao động làm việc.
- Đối với ngành du lịch: ưu tiên đào tạo cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ khách sạn, nhà hàng, đội ngũ hướng dẫn viên du lịch; đến năm 2015, có khoảng 23.700 lao động qua đào tạo, chiếm 69,4%; đến năm 2020, có khoảng 39.900 lao động qua đào tạo, chiếm 74% trên tổng số lao động làm việc.
- Đối với ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản: ưu tiên đào tạo cán bộ khoa học - kỹ thuật các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản; đến năm 2015, có khoảng 17.400 lao động qua đào tạo, chiếm 13,1%; đến năm 2020, có khoảng 20.000 lao động qua đào tạo, chiếm 16,7% trên tổng số lao động làm việc.
- Đối với ngành công nghiệp: ưu tiên đào tạo cán bộ quản lý, kỹ thuật, công nhân kỹ thuật và lao động có tay nghề các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến nông, thủy sản, chế biến khoáng sản và sản xuất vật liệu; đến năm 2015, có khoảng 30.700 lao động qua đào tạo, chiếm 75%; đến năm 2020, có khoảng 42.000 lao động qua đào tạo, chiếm 77% trên tổng số lao động làm việc.
- Đối với ngành xây dựng và kinh doanh bất động sản: ưu tiên đào tạo lao động kỹ thuật công trình xây dựng, thủy lợi, điện, xây dựng dân dụng và cán bộ quản lý đất đai; đến năm 2015, có khoảng 43.500 lao động qua đào tạo, chiếm 65,3%; đến năm 2020, có khoảng 80.000 lao động qua đào tạo, chiếm 76% trên tổng số lao động làm việc.
- Đối với ngành giáo dục và đào tạo: ưu tiên đào tạo cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo giáo viên cho các cấp học; đến năm 2015, có khoảng 9.500 lao động qua đào tạo, chiếm 91,9%; đến năm 2020, có khoảng 10.400 lao động qua đào tạo, chiếm 95,2% trên tổng số lao động làm việc;
g) Đào tạo nguồn nhân lực cho xây dựng và vận hành 02 nhà máy điện hạt nhân giai đoạn 2011 - 2020: tổng nhu cầu đào tạo khoảng 8.000 lao động; ngoài nguồn lực của Trung ương đào tạo nguồn nhân lực cho nhà máy điện hạt nhân thực hiện theo Quyết định 1558/QĐ-TTg ngày 18 tháng 8 năm 2010, với tổng lao động được đào tạo ở 06 cơ sở đào tạo trong nước là 2.750 người, trong đó có khoảng 2.400 kỹ sư, 350 thạc sĩ và tiến sĩ các chuyên ngành điện hạt nhân; nhu cầu đào tạo tại tỉnh cho khoảng 5.250 lao động để đáp ứng nhu cầu cho 02 nhà máy điện hạt nhân, tập trung tổ chức đào tạo lao động phục vụ quá trình xây dựng nhà máy điện hạt nhân (xây dựng hạ tầng, lắp đặt thiết bị, …);
h) Đào tạo nhân lực cho một số lĩnh vực đặc thù: để đáp ứng yêu cầu phát triển doanh nghiệp các thành phần kinh tế, dự báo nhu cầu đào lao động đặc thù cần được đào tạo giai đoạn 2011 - 2020 gồm: lĩnh vực quản trị doanh nghiệp khoảng 3.000 người; kế toán hơn 6.000 người; cán bộ kỹ thuật, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ khoảng cho hơn 1.000 người và đào tạo ngoại ngữ cho khoảng 33.000 người;
k) Đào tạo lại: thực hiện tốt công tác đào tạo lại để nâng cao trình độ nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của trình độ khoa học công nghệ và phù hợp với tình hình phát triển của thế giới và trong nước; tập trung đào tạo nghề ở các cấp độ từ 3 tháng đến cao đẳng nghề, đào tạo đại học và trên đại học, dự kiến giai đoạn 2011 - 2015 có khoảng 28,8 nghìn lao động được đào tạo lại (hệ Trung cấp và cao đẳng nghề chiếm 10%, đại học và trên đại học chiếm 5%; giai đoạn 2016 - 2020 có khoảng 41 nghìn lao động có nhu cầu phải đào tạo lại (trung cấp và cao đẳng nghề chiếm 12%, đại học và trên đại học chiếm khoảng 5%).

Content:
Mục tiêu:
a) Mục tiêu tổng quát: phát triển nhân lực bảo đảm đủ về số lượng, có cơ cấu phù hợp, có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất, nhân cách, có năng lực nghề nghiệp, thành thạo về kỹ năng, có tác phong chuyên nghiệp, năng động, sáng tạo phục vụ tốt nhất nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững; đảm bảo thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của địa phương; phấn đấu xây dựng Ninh Thuận trở thành trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao trên một số lĩnh vực có lợi thế cho một số tỉnh trong khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên.
b) Mục tiêu cụ thể:
- Chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động để đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
+ Đến năm 2015: đáp ứng nhu cầu lao động khu vực sản xuất nông, lâm và thủy sản có khoảng 133 nghìn người, chiếm 37%; công nghiệp - xây dựng khoảng 100 nghìn người, chiếm 28% và dịch vụ khoảng 125 nghìn người, chiếm 35% trên tổng lao động làm việc trong nền kinh tế.
+ Đến năm 2020: đáp ứng nhu cầu lao động khu vực sản xuất nông, lâm và thủy sản khoảng 120 - 122 nghìn người, chiếm 29%; công nghiệp - xây dựng khoảng 140 - 143 nghìn người, chiếm 34% và dịch vụ khoảng 150 - 155 người, chiếm 37% trên tổng lao động làm việc trong nền kinh tế.
- Nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo:
+ Đến năm 2015: tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50%, trong đó đào tạo nghề đạt 33%; cơ cấu lao động qua đào tạo các ngành: Nông nghiệp chiếm 12,5%, công nghiệp - xây dựng chiếm 73,1%, dịch vụ chiếm 71,1%.
+ Đến năm 2020: tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60%, trong đó đào tạo nghề đạt trên 45%; cơ cấu lao động qua đào tạo các ngành: Nông nghiệp chiếm 16,6%, công nghiệp - xây dựng chiếm 76,4%, dịch vụ chiếm 76,7%.
- Bảo đảm nhu cầu số lượng và nâng cao chất lượng lao động cho các ngành kinh tế trụ cột:
+ Đến năm 2015: lao động làm việc trong 6 ngành kinh tế trụ cột khoảng 290 - 295 nghìn người, chiếm 81,3% lao động làm việc trong nền kinh tế, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 44 - 45%.
+ Đến năm 2020: lao động làm việc trong 6 ngành kinh tế trụ cột khoảng 350 - 360 nghìn người, chiếm 85% lao động làm việc trong nền kinh tế, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 56 - 57%.
- Đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao:
+ Đến năm 2015: có khoảng 280 - 300 cán bộ có trình độ thạc sĩ trở lên; đào tạo ở nước ngoài cho 50 cán bộ lãnh đạo, quản lý.
+ Đến năm 2020: có khoảng 600 - 610 cán bộ có trình độ thạc sĩ trở lên.
II. Định hướng phát triển nhân lực giai đoạn 2011 - 2020
1. Nâng cao trình độ học vấn:
a) Xác định giáo dục là nền tảng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hướng đến mục tiêu “Chuẩn hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế”; tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; tiếp tục củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, duy trì và củng cố kết quả phổ cập bậc trung học cơ sở, hoàn thành phổ cập bậc trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Phan Rang - Tháp Chàm vào năm 2015; các thị trấn hoàn thành vào năm 2020;
b) Tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh mạng lưới trường học; hình thành các trường học ngoài công lập có chất lượng để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông; mở rộng mạng lưới các cơ sở giáo dục thường xuyên - kỹ thuật hướng nghiệp - dạy nghề ở các huyện; có chính sách hỗ trợ cho số sinh viên của tỉnh đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng ngoài tỉnh cam kết về làm việc, cống hiến lâu dài cho địa phương;
c) Xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, đặc biệt coi trọng phẩm chất đạo đức, lương tâm trách nhiệm của người giáo viên, phấn đấu đến năm 2015 có 100% giáo viên các bậc học có trình độ đào tạo đạt chuẩn, trong đó có 30 - 35% đạt trình độ đào tạo trên chuẩn;
d) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo; đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục; tăng cường công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập đi đôi với chú trọng phát hiện, bồi dưỡng và phát huy nhân tài.
Nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật; đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao:
a) Tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo trong nền kinh tế của tỉnh theo định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2020. Tổng số nhân lực qua đào tạo năm 2015 khoảng 179 nghìn người, chiếm khoảng 50% trong tổng số lao động làm việc trong nền kinh tế (trong đó có 33% đào tạo nghề) và năm 2020 khoảng 252 nghìn người, chiếm khoảng 60% trong tổng số lao động làm việc trong nền kinh tế (trong đó có 45% đào tạo nghề). Trong tổng số nhân lực qua đào tạo, số nhân lực đào tạo qua hệ thống dạy nghề năm 2015 khoảng 143 nghìn người (bằng 79,5%), năm 2020 khoảng 196 nghìn người (bằng 77,5%); số nhân lực đào tạo qua hệ thống giáo dục - đào tạo năm 2015 khoảng 34 nghìn người (bằng 19,5%), năm 2020 khoảng 57 nghìn người (bằng 22,5%). Đào đạo mới giai đoạn 2011-2015 khoảng 73 nghìn lao động, giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 80 nghìn lao động;
b) Tập trung đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho lao động, bảo đảm nhu cầu lao động có chất lượng, với cơ cấu trình độ hợp lý, tiến bộ, theo từng lĩnh vực ngành, nghề của các ngành kinh tế, nhất là ưu tiên phát triển các ngành kinh tế trụ cột của tỉnh và đào tạo nghề cho lao động nông thôn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới;
c) Xây dựng và triển khai kế hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, xúc tiến mời gọi các trường đại học, các trung tâm đào tạo có uy tín, có kinh nghiệm trong và ngoài nước để đầu tư thành lập cơ sở đào tạo tại tỉnh đạt tiêu chuẩn quốc tế; mở rộng hợp tác, liên kết đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý; thu hút đội ngũ chuyên gia quản lý giàu kinh nghiệm, cán bộ nghiên cứu khoa học - công nghệ, nhân lực có trình độ cao trong các lĩnh vực công nghệ cao, tài chính, ngân hàng, y tế, giáo dục, năng lượng, du lịch;
d) Quan tâm hỗ trợ đào tạo đội ngũ doanh nhân, nhất là chủ doanh nghiệp mới thành lập, đội ngũ doanh nhân trẻ về kiến thức pháp luật, kỹ năng quản trị doanh nghiệp và hội nhập quốc tế;
đ) Định hướng đào tạo các cấp trình độ như sau:
- Đối với đào tạo công nhân kỹ thuật: phát triển các cơ sở đào tạo nghề, dạy nghề, tăng nhanh về quy mô và nâng cao chất lượng dạy nghề, tập trung đào tạo công nhân kỹ thuật cho các ngành kinh tế trụ cột của tỉnh.
- Đối với đào tạo hệ trung cấp và cao đẳng nghề: tập trung đào tạo kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành cho lao động và khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới trong sản xuất.
- Đối với hệ giáo dục đại học, cao đẳng: phát huy vị thế mới của tỉnh là trung tâm năng lượng sạch của cả nước, trọng tâm là 02 nhà máy điện hạt nhân; từng bước hình thành trung tâm đào tạo chất lượng cao kết hợp giữa nghiên cứu, giảng dạy, ứng dụng chuyển giao khoa học và công nghệ, đồng thời phát triển mô hình hợp tác giữa khối tư nhân và Nhà nước trong giáo dục đại học và các lĩnh vực nghiên cứu.
- Đào tạo đội ngũ quản trị doanh nghiệp: tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo, bổ sung kiến thức về tổ chức và quản lý phát triển nhân lực, quản trị kinh doanh, tiếp cận thị trường, pháp luật, ... cho các doanh nhân.
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức: đào tạo nhân lực chất lượng cao, chú trọng lực lượng lao động trẻ theo quy hoạch cán bộ trong từng giai đoạn, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước; đào tạo ngoại ngữ đạt trình độ để cử đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài.
- Đào tạo đội ngũ giáo viên: xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề, nâng cao trình độ đào tạo và cơ cấu ngành nghề; định kỳ 3 - 5 năm giáo viện dạy nghề được bồi dưỡng, cập nhật phương pháp đào tạo, công nghệ, kỹ thuật mới; phát triển đội ngũ giáo viên dạy sơ cấp nghề dưới 3 tháng;
e) Định hướng đào tạo cho 06 ngành kinh tế trụ cột: nhu cầu lao động được đào tạo các cấp trình độ cho 6 ngành kinh tế trụ đến năm 2015 khoảng 129 nghìn người, chiếm 44,6%; đến năm 2020 khoảng 201 nghìn người, chiếm 56,4% trên tổng số lao động đang làm việc; cụ thể:
- Đối với ngành năng lượng sạch: ưu tiên đào tạo lao động các ngành điện, cơ khí, chế tạo các linh kiện điện, điện tử, gia công lắp ráp; đến năm 2015, có khoảng 4.600 lao động qua đào tạo, chiếm 81,2%; đến năm 2020, có khoảng 8.200 lao động qua đào tạo, chiếm 82,6% trên tổng số lao động làm việc.
- Đối với ngành du lịch: ưu tiên đào tạo cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ khách sạn, nhà hàng, đội ngũ hướng dẫn viên du lịch; đến năm 2015, có khoảng 23.700 lao động qua đào tạo, chiếm 69,4%; đến năm 2020, có khoảng 39.900 lao động qua đào tạo, chiếm 74% trên tổng số lao động làm việc.
- Đối với ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản: ưu tiên đào tạo cán bộ khoa học - kỹ thuật các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản; đến năm 2015, có khoảng 17.400 lao động qua đào tạo, chiếm 13,1%; đến năm 2020, có khoảng 20.000 lao động qua đào tạo, chiếm 16,7% trên tổng số lao động làm việc.
- Đối với ngành công nghiệp: ưu tiên đào tạo cán bộ quản lý, kỹ thuật, công nhân kỹ thuật và lao động có tay nghề các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến nông, thủy sản, chế biến khoáng sản và sản xuất vật liệu; đến năm 2015, có khoảng 30.700 lao động qua đào tạo, chiếm 75%; đến năm 2020, có khoảng 42.000 lao động qua đào tạo, chiếm 77% trên tổng số lao động làm việc.
- Đối với ngành xây dựng và kinh doanh bất động sản: ưu tiên đào tạo lao động kỹ thuật công trình xây dựng, thủy lợi, điện, xây dựng dân dụng và cán bộ quản lý đất đai; đến năm 2015, có khoảng 43.500 lao động qua đào tạo, chiếm 65,3%; đến năm 2020, có khoảng 80.000 lao động qua đào tạo, chiếm 76% trên tổng số lao động làm việc.
- Đối với ngành giáo dục và đào tạo: ưu tiên đào tạo cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo giáo viên cho các cấp học; đến năm 2015, có khoảng 9.500 lao động qua đào tạo, chiếm 91,9%; đến năm 2020, có khoảng 10.400 lao động qua đào tạo, chiếm 95,2% trên tổng số lao động làm việc;
g) Đào tạo nguồn nhân lực cho xây dựng và vận hành 02 nhà máy điện hạt nhân giai đoạn 2011 - 2020: tổng nhu cầu đào tạo khoảng 8.000 lao động; ngoài nguồn lực của Trung ương đào tạo nguồn nhân lực cho nhà máy điện hạt nhân thực hiện theo Quyết định 1558/QĐ-TTg ngày 18 tháng 8 năm 2010, với tổng lao động được đào tạo ở 06 cơ sở đào tạo trong nước là 2.750 người, trong đó có khoảng 2.400 kỹ sư, 350 thạc sĩ và tiến sĩ các chuyên ngành điện hạt nhân; nhu cầu đào tạo tại tỉnh cho khoảng 5.250 lao động để đáp ứng nhu cầu cho 02 nhà máy điện hạt nhân, tập trung tổ chức đào tạo lao động phục vụ quá trình xây dựng nhà máy điện hạt nhân (xây dựng hạ tầng, lắp đặt thiết bị, …);
h) Đào tạo nhân lực cho một số lĩnh vực đặc thù: để đáp ứng yêu cầu phát triển doanh nghiệp các thành phần kinh tế, dự báo nhu cầu đào lao động đặc thù cần được đào tạo giai đoạn 2011 - 2020 gồm: lĩnh vực quản trị doanh nghiệp khoảng 3.000 người; kế toán hơn 6.000 người; cán bộ kỹ thuật, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ khoảng cho hơn 1.000 người và đào tạo ngoại ngữ cho khoảng 33.000 người;
k) Đào tạo lại: thực hiện tốt công tác đào tạo lại để nâng cao trình độ nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của trình độ khoa học công nghệ và phù hợp với tình hình phát triển của thế giới và trong nước; tập trung đào tạo nghề ở các cấp độ từ 3 tháng đến cao đẳng nghề, đào tạo đại học và trên đại học, dự kiến giai đoạn 2011 - 2015 có khoảng 28,8 nghìn lao động được đào tạo lại (hệ Trung cấp và cao đẳng nghề chiếm 10%, đại học và trên đại học chiếm 5%; giai đoạn 2016 - 2020 có khoảng 41 nghìn lao động có nhu cầu phải đào tạo lại (trung cấp và cao đẳng nghề chiếm 12%, đại học và trên đại học chiếm khoảng 5%).