Document: Điều 2 Thông tư 11-TT hướng dẫn nghị định 196-CP vận chuyển hàng hóa đường biển bằng phương tiện vận tải cơ giới

Type: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "23/06/1964", "sign_number": "11-TT", "signer": "Dương Bạch Liên", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "23/06/1964", "sign_number": "11-TT", "signer": "Dương Bạch Liên", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "23/06/1964", "sign_number": "11-TT", "signer": "Dương Bạch Liên", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "23/06/1964", "sign_number": "11-TT", "signer": "Dương Bạch Liên", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "23/06/1964", "sign_number": "11-TT", "signer": "Dương Bạch Liên", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 2 Thông tư 11-TT hướng dẫn nghị định 196-CP vận chuyển hàng hóa đường biển bằng phương tiện vận tải cơ giới có nội dung như sau:

Điều 2. trong điều lệ của Chính phủ quy định:
“Thuê chở có thể thuê cả chuyến tàu, thuê chở hàng lẻ hoặc thuê chở khoản từng khối lượng hàng nhất định”.
Điều 23 trong điều lệ của Chính phủ còn quy định:
“Chủ hàng có thể thuê vận chuyển một khối lượng hàng hóa nhất định, thuê chuyến, thuê một hầm hay một phần hầm…”.
Như vậy là theo quy định của Chính phủ thì có bốn hình thức thuê vận chuyển:
a) Thuê chở khoán từng khối lượng hàng nhất định:
Hình thức này là chủ hàng thuê khoản bên vận tải chờ một khối lượng hàng nhất định, từ một địa điểm này tới một địa điểm khác, trong một thời hạn nhất định. Bên vận tải căn cứ vào khối lượng hàng và thời hạn thuê chở mà bố trí phương tiện thích hợp để bảo đảm hoàn thành vận chuyển khối lượng hàng đúng thời hạn.
b) Thuê chở cả chuyến tàu:
Hình thức này là chủ hàng thuê nguyên cả chuyến tầu với trọng tải và dung tích nhất định. Để tận dụng khả năng của phương tiện vận tải, chủ hàng có nhiệm vụ chuẩn bị đầy đủ hàng hóa. Trường hợp chủ hàng không sử dụng hết khả năng của phương tiện vận tải thì bên vận tải có quyền được xếp thêm hàng của các chủ khác miễn là không làm trở ngại đến hàng hóa của chủ hàng thuê nguyên cả chuyến và chủ hàng thuê nguyên cả chuyến vẫn phải trả cho bên vận tải tiền cước vận tải cả chuyến như đã quy định ở điều 35 trong điều lệ của Chính phủ.
Trường hợp này việc bố trí phương tiện vận tải cũng do bên vận tải quyết định miễn là đáp ứng được yêu cầu của chủ hàng.
c) Thuê một hầm hay một phần hầm:
Nếu chủ hàng có ít hàng chỉ cần đến một hầm thì có thể thuê bên vận tải nguyên một hầm.
Để giảm bớt thì giờ lao động của hai bên, để đỡ phiền phức về thủ tục giao nhận và để việc bảo quản hàng hóa được thuận lợi thì những trường hợp thuê chở sau đây kể cả những hàng có đóng gói và hàng rời như than, gạo, ngô… sẽ áp dụng hình thức thuê nguyên hầm.
- Nếu khối lượng hàng phải dùng hết một hầm.
- Nếu chủ hàng thấy hàng của mình không thể chở chung với hàng khác cần bảo quản đặc biệt.
- Nếu hàng thuộc loại không chở chung với loại hàng khác được.
Chủ hàng chỉ được thuê một phần hầm khi có hàng xếp hết từ nửa hầm trở lên.
d) Thuê chở hàng lẻ: Khối lượng hàng hóa không chiếm hết nửa hầm hoặc từ 50 tấn trở xuống thì đều coi là hàng lẻ.
Thuê chở hàng lẻ thì chủ hàng không phải ký hợp đồng với bên vận tải, mà chỉ thương lượng với bên vận tải. Tùy theo khả năng và thuận chuyến bên vận tải quyết định ngày nhận chở.
Nếu bên vận tải nhận chở thì bên chủ hàng cũng phải làm giấy xin gửi hàng và bên vận tải cũng phải làm giấy vận chuyển hàng hóa như đã quy định ở điều 7 trong điều lệ của Chính phủ.
Giấy vận chuyển này có giá trị như hợp đồng vận tải mà chủ hàng và bên vận tải đã ký với nhau.
3. Trách nhiệm xếp, dỡ hàng hóa lên xuống phương tiện vận tải.
Vấn đề xếp, dỡ hàng hóa lên xuống phương tiện vận tải là một khâu hết sức phức tạp và quan trọng trong dây chuyền vận chuyển hàng hóa. Nếu khâu này làm được nhanh, tốt thì sẽ có tác dụng lớn đối với kế hoạch lưu thông hàng hóa của Nhà nước, của nhân dân, đồng thời sẽ bảo đảm cho việc quay vòng phương tiện vận tải được nhanh và sẽ giải quyết được phần lớn mắc mứu giữa chủ hàng và bên vận tải.
Để giải quyết khâu xếp dỡ hàng hóa được hợp lý, giảm được bớt khó khăn cho bên chủ hàng, điều 2 trong điều lệ của Hội đồng Chính phủ quy định:
- "Ở những bến, cảng có tổ chức xếp dỡ do cơ quan giao thông vận tải quản lý, bên vận tải phải đảm nhiệm cả việc xếp dỡ hàng hóa cho chủ hàng".
- "Ở những bến, cảng mà tổ chức xếp dỡ không do cơ quan giao thông vận tải quản lý, chủ hàng phải đảm nhiệm lấy việc xếp dỡ hàng hóa".
Cơ quan giao thông vận tải nói trong điều lệ của Hội đồng Chính phủ là chi các cảng do Bộ Giao thông vận tải quản lý và các Sở, các Ty Giao thông vận tải.
Như vậy là ở các cảng mà cảng hoặc Sở, Ty Giao thông vận tải có tổ chức lực lượng công nhân xếp dỡ thì sau khi đã nhận vận chuyển hàng hóa của chủ hàng, bên vận tải có nhiệm vụ phải ký hợp đồng, xếp dỡ hàng hóa lên xuống phương tiện vận tải với cảng hoặc ký hợp đồng xếp dỡ trực tiếp với các tổ chức công nhân xếp dỡ.
Để các đơn vị vận tải không gặp khó khăn trong khâu xếp dỡ, tránh được những trường hợp vận chuyển không bảo đảm thời hạn, các cảng và các Sở, Ty Giao thông vận tải phải đề cao tinh thần trách nhiệm, cộng tác với các đơn vị vận tải khi đơn vị vận tải có yêu cầu xếp, dỡ.
Trường hợp nơi cảng đi nếu cảng hoặc Sở, Ty Giao thông vận tải có tổ chức lực lượng xếp dỡ, còn nơi cảng đến không có lực lượng công nhân xếp dỡ thuộc các cơ quan giao thông vận tải quản lý thì việc xếp hàng ở cảng nơi đi do bên vận tải phải đảm nhiệm, còn việc dỡ hàng ở cảng nơi trả hàng cho chủ hàng thì bên chủ hàng phải đảm nhiệm. Ngược lại, nếu nơi cảng đi không có lực lượng xếp dỡ thuộc cơ quan giao thông vận tải quản lý mà nơi cảng đến có lực lượng xếp, dỡ do cơ quan giao thông vận tải quản lý thì việc xếp hàng ở cảng đi do chủ hàng phải đảm nhiệm còn việc dỡ hàng nơi cảng trả hàng cho chủ hàng thì bên vận tải phải đảm nhiệm.
Còn nói chung bất kỳ cảng nào, nếu đã có lực lượng công nhân xếp dỡ (như Cẩm Phả, Hòn Gai) mà không do cơ quan giao thông vận tải quản lý hoặc chưa có tổ chức công nhân xếp dỡ thì việc xếp dỡ hàng hóa lên xuống phương tiện vận tải đều do bên chủ hàng phải đảm nhiệm.
Trường hợp bên vận tải đảm nhiệm việc xếp dỡ thì mọi phí tổn về xếp dỡ cho chủ hàng phải đài thọ.
4. Trường hợp hàng hóa có người của chủ hàng đi áp tải.
Cũng trong điều 2 của điều lệ của Chính phủ còn quy định rằng:
“Trong trường hợp hàng hóa của người của chủ hàng đi áp tải thì trách nhiệm của người áp tải do Bộ Giao thông vận tải quy định – Trong khi chưa có quy định thì hai bên thỏa thuận ghi vào hợp đồng vận tải và giấy vận chuyển.
Để thi hành nguyên tắc này của Chính phủ, Bộ quy định những nhiệm vụ chủ yếu của người đi áp tải hàng hóa như sau: Người của chủ hàng đi áp tải hàng hóa có nhiệm vụ phải chăm sóc hàng hóa, không được để hàng hóa mất mát. Nếu hàng hóa thuộc loại phải tưới nước thì người áp tải phải chăm lo tưới nước cho hàng hóa, nếu hàng hóa là động vật sống thì người áp tải phải chăm lo cho động vật ăn, uống. Người đi áp tải còn có nhiệm vụ phát hiện những trường hợp hàng hóa có triệu chứng không an toàn, báo cáo với thuyền trưởng, yêu cầu thuyền trưởng cùng cộng tác giúp đỡ sửa chữa lại hàng hóa.
Hàng hóa có người của chủ hàng đi áp tải bên vận tải vẫn có nhiệm vụ phải giúp đỡ người đi áp tải trong những trường hợp cần thiết để bảo vệ hàng hóa không được viện cớ có người của chủ hàng đi áp tải mà không phát huy tinh thần trách nhiệm trong việc bảo vệ tài sản của Nhà nước, của nhân dân.
Khi bên vận tải và bên chủ hàng ký hợp đồng và làm giấy vận chuyển sẽ căn cứ vào những nguyên tắc này mà cùng nhau bàn bạc, giao nhiệm vụ cụ thể cho người đi áp tải hàng hóa. Nhiệm vụ của người đi áp tải hàng phải ghi vào hợp đồng và giấy vận chuyển.
5. Cơ quan hay người có tên trong giấy vận chuyển hàng hóa bắt buộc phải nhận hàng do bên vận tải giao.
Trong điều 2 của điều lệ của Chính phủ còn quy định rằng:
“Trong bất kỳ trường hợp nào, các cơ quan hay người nhận hàng có tên trong giấy vận chuyển đều không có quyền từ chối nhận hàng”.
Quy định này của Chính phủ nhằm mục đích chủ yếu là để bảo vệ hàng hóa đồng thời để tránh ứ đọng phương tiện vận tải gây lãng phí.
Như vậy là dù người có tên trong giấy vận chuyển biết chắc chắn rằng người gửi đã ghi nhầm tên mình trong giấy xin gửi hàng hay đã gửi nhầm hàng cho mình thì vẫn bắt buộc phải nhận hàng, tổ chức bảo quản hàng rồi liên hệ với chủ gửi giải quyết sau.
Người có tên trong giấy vận chuyển hàng hóa chỉ được từ chối, không nhận hàng khi tên và địa chỉ ghi trên các kiện hàng không phù hợp với tên và địa chỉ ghi trong giấy vận chuyển. Trường hợp này bên vận tải phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc lầm lẫn hàng hóa.
6. Trách nhiệm của bên vận tải bên chủ hàng đối với người đại diện của mình.
Trong quan hệ giao dịch về hợp đồng và vận chuyển hàng hóa thì các thủ trưởng của các đơn vị chủ hàng và các đơn vị vận tải là người có trách nhiệm đối trước pháp lý. Cho nên nếu bên nào muốn ủy quyền chính thức cho một người khác đại diện cho mình thì thủ trưởng đơn vị phải ký vào giấy ủy quyền và đóng dấu của cơ quan. Người được ủy quyền đại diện phải là người có đủ tư cách và chức vụ đại diện cho thủ trưởng. Người được ủy quyền tuyệt đối không được ủy quyền lại cho bất kỳ người nào khác. Tuy vậy không hạn chế bên chủ hàng và bên vận tải giới thiệu những cán bộ thường qua lại giao dịch với nhau để chuẩn bị cho những quan hệ chính thức của hai bên.
Thủ trưởng của các đơn vị vận tải và các đơn vị chủ hàng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những hành động của người đại diện mà mình đã ủy quyền nếu họ gây ra những trở ngại cho việc thực hiện hợp đồng vận tải như điều 2 trong điều lệ của Chính phủ đã quy định.
Đối với bên vận tải, người đại diện cho xí nghiệp vận tải trên dọc đường vận chuyển là thuyền trưởng.
7. Quyền từ chối không nhận chở của bên vận tải.
Điểm a và b trong điều lệ của Chính phủ quy định:
“Bên vận tải có quyền từ chối không nhận chở:
a) Những hàng hóa không ghi trong chỉ tiêu kế hoạch hàng năm của Nhà nước, không có hợp đồng vận tải, không có lệnh của Thủ tướng Chính phủ của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải hay của Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
b) Những hàng hóa mà bao bì không đúng quy cách.
Quy định của Chính phủ nhằm hai mục đích:
a) Để tránh tình trạng gây bị động, đột xuất cho bên vận tải và để đề cao tinh thần trách nhiệm của các chủ hàng trong công tác lập kế hoạch.
b) Để hàng hóa khỏi bị mất mát, hư hỏng, rơi vãi ở dọc đường.
Để đề cao trách nhiệm của chủ hàng đối với hàng hóa, điều 18 trong điều lệ của Chính phủ còn quy định rằng:
"Trừ những loại hàng theo tập quán thông thường vẫn gửi không có bao bì ra, còn tất cả những hàng hóa vận chuyển khác đều phải có bao bì đúng quy cách, bảo đảm xếp dỡ, vận chuyển thuận tiện, không bị hư hỏng, rơi vãi. Việc đóng gói hàng làm theo những quy tắc do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định".
Để việc chấp hành các quy định này của Chính phủ được đúng đắn, vận dụng pháp luật không cứng đờ, ảnh hưởng đến kế hoạch chung, Bộ giải thích cụ thể tinh thần và ý nghĩa của điều lệ như sau:
- Bên vận tải khi áp dụng quy định này cần quán triệt ý nghĩa và xác định cho rõ trách nhiệm của mình đối với kế hoạch Nhà nước, yêu cầu vận chuyển của nhân dân như nguyên tắc mà Chính phủ đã nêu ra ở điều 1 trong điều lệ của Chính phủ rằng:
"Bên vận tải có nhiệm vụ tích cực khắc phục khó khăn để bảo đảm vận chuyển kịp thời trong những trường hợp đột xuất ngoài chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước, khi có lệnh của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải hay của Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương".
Như vậy là khi đã có lệnh của cấp trên thì bên vận tải phải khẩn trương và tích cực thực hiện cho bằng được những yêu cầu vận chuyển đột xuất, không được vì bất cứ một lý do khó khăn nào mà làm lỡ hoặc làm chậm trễ việc thi hành lệnh của cấp trên. Các Sở, Ty Giao thông vận tải cũng có trách nhiệm phải giải quyết những khó khăn cho các đơn vị vận tải để tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị vận tải thi hành lệnh của cấp trên.
Tuy bên vận tải được Chính phủ giao quyền được từ chối không nhận chở những hàng hóa không ghi trong chỉ tiêu kế hoạch hàng năm của Nhà nước, không có lệnh của cấp trên, nhưng trong hoàn cảnh thực tế hiện nay, chúng ta không thể tránh hết được những đột xuất. Cho nên nếu bên chủ hàng có hàng đột xuất, không có lệnh của cấp trên, bên vận tải cũng phải đứng trên tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa mà cố gắng vận chuyển cho chủ hàng. Bên vận tải chỉ được từ chối khi thực sự là mình không có khả năng sau khi đã cố gắng hết sức mình.
Chính phủ giao trách nhiệm cho bên vận tải là có quyền từ chối không nhận chở những hàng mà bao bì không đúng quy cách. Như vậy là khi nhận hàng để chờ bên vận tải có trách nhiệm phải kiểm tra trạng thái bên ngoài của hàng hóa - Nếu thấy bao bì không chắc chắn có thể bị hư hỏng trong quá trình xếp dỡ hoặc vận chuyển thì có quyền từ chối không nhận chở. Tuy vậy, để bảo đảm kế hoạch vận chuyển của Nhà nước và yêu cầu vận chuyển của nhân dân, bên vận tải chỉ được từ chối sau khi đã yêu cầu chủ hàng sửa chữa lại bao bì mà chủ hàng không chịu sửa chữa lại, hoặc sửa chữa lại nhưng vẫn chưa được chắc chắn. Nếu chủ hàng cam đoan và ghi vào giấy vận chuyển rằng bao bì đã chắc chắn, có thể xếp dỡ và vận chuyển an toàn, thì bên vận tải nhận chở và không chịu trách nhiệm nếu dọc đường hàng hóa đó bị hư hỏng do bao bì không chắc chắn.
Về phía chủ hàng cũng phải quán triệt ý nghĩa điều lệ của Chính phủ mà chuẩn bị kế hoạch cho tốt, phải cố gắng đưa mọi yêu cầu vận chuyển vào kế hoạch, hết sức tránh gây đột xuất làm đảo lộn kế hoạch của bên vận tải. Không được ỷ lại vào tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa của bên vận tải hoặc là dựa vào lệnh đột xuất của cấp trên để gây khó khăn cho bên vận tải.
Việc đóng gói hàng hóa, trong khi chờ đợi quy định cụ thể về quy cách đóng gói của Bộ Giao thông vận tải, bên chủ hàng phải đề cao tinh thần bảo vệ hàng hóa mà đóng gói cho thật chắc chắn, trường hợp bên vận tải yêu cầu sửa chữa lại bao bì thì phải tích cực và khẩn trương sửa chữa lại cho chắc chắn. Nếu vì sửa chữa chậm trễ làm cho phương tiện vận tải phải chờ đợi lâu thì chủ hàng phải trả tiền chờ đợi cho bên vận tải. Nếu vì chủ hàng không chịu sửa chữa lại bao bì, không có cam đoan ghi vào giấy vận chuyển, bên vận tải phải từ chối không nhận chở, thì trường hợp này coi như chủ hàng không có hàng, phải trả cho bên vận tải tiền phí tổn điều động phương tiện vận tải và phải phạt vì không có hàng.
Trường hợp vận chuyển đột xuất.
Điều 5 trong điều lệ của Hội đồng Chính phủ quy định:
"a) Bên vận tải chỉ nhận chở những hàng hóa vận chuyển đột xuất có tính chất khẩn cấp khi được lệnh của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải hay của Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong những trường hợp cứu đói, cứu mùa màng, chống bão lụt, chống dịch hoặc phục vụ nhiệm vụ an ninh quốc phòng… "
"b) Trong những trường hợp cần vận chuyển hàng đột xuất khác, bên vận tải chỉ nhận chở nếu có khả năng hoặc khi được lệnh của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải hay của Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhưng chủ hàng phải trả thêm cho bên vận tải một khoản tiền bằng 2% tiền cước cho chuyến đó… "
Để giải quyết các trường hợp vận chuyển đột xuất quy định trên đây đúng với tinh thần của điều lệ, Bộ giải thích thế nào là vận chuyển đột xuất.
Căn cứ theo thể lệ hiện hành của Chính phủ thì hàng năm, hàng quý, hàng tháng bên chủ hàng phải gửi kế hoạch vận chuyển hàng hóa cho bên vận tải và hai bên phải cùng nhau ký hợp đồng vận tải theo đúng chế độ hợp đồng kinh tế đã được Chính phủ quy định. Do đó, nếu bên chủ hàng không chấp hành đúng thể lệ mà yêu cầu bên vận tải vận chuyển thì coi là vận chuyển đột xuất. Tuy nhiên, tinh thần của điều 5 trên đây là nhằm mục đích đảm bảo vận chuyển những trường hợp cần thiết. Trong thực tế hiện nay, việc lập kế hoạch vận tải và việc ký kết hợp đồng vận tải còn có những trường hợp cần được châm chước, cho nên áp dụng điều 5 trên đây vào thực tế cần phải linh hoạt và thích ứng với hoàn cảnh. Vậy tạm thời Bộ xác định những hàng hóa thuê vận chuyển đột xuất chỉ là những hàng hóa thuê vận chuyển trong những trường hợp sau đây:
- Hàng hóa không nằm trong chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước và không có hợp đồng vận tải mà bên chủ hàng xin vận chuyển.
- Hàng hóa đã có chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước nhưng bên chủ hàng không chấp hành đúng chế độ ký kết hợp đồng vận tải mà xin vận chuyển, làm xáo trộn kế hoạch của bên vận tải.
Còn những trường hợp sau đây thì không coi là hàng hóa vận chuyển đột xuất:
- Hàng hóa đã có chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước, không có hoặc chưa có hợp đồng vận tải nguyên tắc nhưng có hợp đồng vận tải cụ thể;
- Hàng hóa không có chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước, không có hợp đồng nguyên tắc nhưng hai bên chủ hàng và vận tải đã cùng nhau thỏa thuận ký hợp đồng vận tải cụ thể;
- Hàng hóa mà bên chủ hàng đã chính thức gửi kế hoạch dự trù lên cấp trên và đã gửi kế hoạch cho bên vận tải nhưng Nhà nước chưa duyệt và cấp trên chưa ký hợp đồng vận tải nguyên tắc hoặc chưa phân bổ kế hoạch mà hai bên đã có ký hợp đồng cụ thể (đoạn cuối của điều 6 trong điều lệ).
- Hàng hóa thuê vận chuyển hàng năm với khối lượng dưới 400 tấn, mỗi chuyến từ 200 tấn trở xuống.
- Hàng hóa vận chuyển kết hợp hai chiều.
Hàng hóa vận chuyển đột xuất trong những trường hợp khẩn cấp như quy định ở khoản a điều 5 của điều lệ thì không phải trả thêm 2% giá cước vận chuyển.
Hàng hóa vận chuyển đột xuất trong những trường hợp khác thì phải trả thêm 2% giá cước vận chuyển như đã quy định ở khoản b điều 5 của điều lệ.
Để bảo đảm điều 5 trên đây được thi hành đúng với tinh thần của điều lệ, Bộ giải thích và quy định thêm một số điểm cụ thể như sau:
Lệnh vận chuyển đột xuất (trường hợp khẩn cấp cũng như những trường hợp không khẩn cấp) do Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành. Lệnh của Thủ tướng Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải và các Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thi hành. Lệnh của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải do ông Cục trưởng Cục Vận tải đường thủy thi hành.
Trong những trường hợp vận chuyển đột xuất khẩn cấp, bên vận tải được miễn trách nhiệm đối với các chủ hàng khác nếu vì thi hành lệnh mà không hoàn thành hợp đồng đúng thời hạn hoặc gây ra các tổn thất khác mà không do lỗi của bên vận tải. Nếu phải dỡ hàng xuống để tập trung phương tiện vận tải thì bên vận tải có nhiệm vụ lo liệu việc dỡ hàng, yêu cầu Ủy ban hành chính địa phương giúp đỡ và bảo quản hàng hóa. Sau khi phương tiện vận tải đã hoàn thành kế hoạch khẩn cấp thì bên vận tải yêu cầu Ủy ban hành chính và cơ quan giao thông vận tải giúp đỡ tổ chức xếp lại hàng lên phương tiện vận tải. Ủy ban hành chính địa phương có nhiệm vụ giúp đỡ bên vận tải khi bên vận tải yêu cầu. Các cơ quan giao thông vận tải có trách nhiệm cộng tác với bên vận tải để lo liệu việc xếp dỡ hàng hóa lên xuống phương tiện vận tải khi bên vận tải yêu cầu. Nếu việc xếp dỡ hàng tại cảng thì cảng có trách nhiệm phải xếp dỡ và bảo quản hàng hóa. Cước phí và phụ phí vận tải cũng như các phí tổn về các công việc nói trên do cơ quan có hàng vận chuyển đột xuất hoặc cơ quan ra lệnh thanh toán.
Mỗi khi bên vận tải phải vận chuyển hàng đột xuất là gặp rất nhiều khó khăn cho nên các chủ hàng cần đề cao tinh thần trách nhiệm đối với nhiệm vụ lập kế hoạch vận tải, nhiệm vụ chấp hành chế độ hợp đồng kinh tế mà hết sức tránh những trường hợp yêu cầu bên vận tải vận chuyển đột xuất, gây xáo trộn kế hoạch của bên vận tải.

Content:
Điều 2. trong điều lệ của Chính phủ quy định:
“Thuê chở có thể thuê cả chuyến tàu, thuê chở hàng lẻ hoặc thuê chở khoản từng khối lượng hàng nhất định”.
Điều 23 trong điều lệ của Chính phủ còn quy định:
“Chủ hàng có thể thuê vận chuyển một khối lượng hàng hóa nhất định, thuê chuyến, thuê một hầm hay một phần hầm…”.
Như vậy là theo quy định của Chính phủ thì có bốn hình thức thuê vận chuyển:
a) Thuê chở khoán từng khối lượng hàng nhất định:
Hình thức này là chủ hàng thuê khoản bên vận tải chờ một khối lượng hàng nhất định, từ một địa điểm này tới một địa điểm khác, trong một thời hạn nhất định. Bên vận tải căn cứ vào khối lượng hàng và thời hạn thuê chở mà bố trí phương tiện thích hợp để bảo đảm hoàn thành vận chuyển khối lượng hàng đúng thời hạn.
b) Thuê chở cả chuyến tàu:
Hình thức này là chủ hàng thuê nguyên cả chuyến tầu với trọng tải và dung tích nhất định. Để tận dụng khả năng của phương tiện vận tải, chủ hàng có nhiệm vụ chuẩn bị đầy đủ hàng hóa. Trường hợp chủ hàng không sử dụng hết khả năng của phương tiện vận tải thì bên vận tải có quyền được xếp thêm hàng của các chủ khác miễn là không làm trở ngại đến hàng hóa của chủ hàng thuê nguyên cả chuyến và chủ hàng thuê nguyên cả chuyến vẫn phải trả cho bên vận tải tiền cước vận tải cả chuyến như đã quy định ở điều 35 trong điều lệ của Chính phủ.
Trường hợp này việc bố trí phương tiện vận tải cũng do bên vận tải quyết định miễn là đáp ứng được yêu cầu của chủ hàng.
c) Thuê một hầm hay một phần hầm:
Nếu chủ hàng có ít hàng chỉ cần đến một hầm thì có thể thuê bên vận tải nguyên một hầm.
Để giảm bớt thì giờ lao động của hai bên, để đỡ phiền phức về thủ tục giao nhận và để việc bảo quản hàng hóa được thuận lợi thì những trường hợp thuê chở sau đây kể cả những hàng có đóng gói và hàng rời như than, gạo, ngô… sẽ áp dụng hình thức thuê nguyên hầm.
- Nếu khối lượng hàng phải dùng hết một hầm.
- Nếu chủ hàng thấy hàng của mình không thể chở chung với hàng khác cần bảo quản đặc biệt.
- Nếu hàng thuộc loại không chở chung với loại hàng khác được.
Chủ hàng chỉ được thuê một phần hầm khi có hàng xếp hết từ nửa hầm trở lên.
d) Thuê chở hàng lẻ: Khối lượng hàng hóa không chiếm hết nửa hầm hoặc từ 50 tấn trở xuống thì đều coi là hàng lẻ.
Thuê chở hàng lẻ thì chủ hàng không phải ký hợp đồng với bên vận tải, mà chỉ thương lượng với bên vận tải. Tùy theo khả năng và thuận chuyến bên vận tải quyết định ngày nhận chở.
Nếu bên vận tải nhận chở thì bên chủ hàng cũng phải làm giấy xin gửi hàng và bên vận tải cũng phải làm giấy vận chuyển hàng hóa như đã quy định ở điều 7 trong điều lệ của Chính phủ.
Giấy vận chuyển này có giá trị như hợp đồng vận tải mà chủ hàng và bên vận tải đã ký với nhau.
3. Trách nhiệm xếp, dỡ hàng hóa lên xuống phương tiện vận tải.
Vấn đề xếp, dỡ hàng hóa lên xuống phương tiện vận tải là một khâu hết sức phức tạp và quan trọng trong dây chuyền vận chuyển hàng hóa. Nếu khâu này làm được nhanh, tốt thì sẽ có tác dụng lớn đối với kế hoạch lưu thông hàng hóa của Nhà nước, của nhân dân, đồng thời sẽ bảo đảm cho việc quay vòng phương tiện vận tải được nhanh và sẽ giải quyết được phần lớn mắc mứu giữa chủ hàng và bên vận tải.
Để giải quyết khâu xếp dỡ hàng hóa được hợp lý, giảm được bớt khó khăn cho bên chủ hàng, điều 2 trong điều lệ của Hội đồng Chính phủ quy định:
- "Ở những bến, cảng có tổ chức xếp dỡ do cơ quan giao thông vận tải quản lý, bên vận tải phải đảm nhiệm cả việc xếp dỡ hàng hóa cho chủ hàng".
- "Ở những bến, cảng mà tổ chức xếp dỡ không do cơ quan giao thông vận tải quản lý, chủ hàng phải đảm nhiệm lấy việc xếp dỡ hàng hóa".
Cơ quan giao thông vận tải nói trong điều lệ của Hội đồng Chính phủ là chi các cảng do Bộ Giao thông vận tải quản lý và các Sở, các Ty Giao thông vận tải.
Như vậy là ở các cảng mà cảng hoặc Sở, Ty Giao thông vận tải có tổ chức lực lượng công nhân xếp dỡ thì sau khi đã nhận vận chuyển hàng hóa của chủ hàng, bên vận tải có nhiệm vụ phải ký hợp đồng, xếp dỡ hàng hóa lên xuống phương tiện vận tải với cảng hoặc ký hợp đồng xếp dỡ trực tiếp với các tổ chức công nhân xếp dỡ.
Để các đơn vị vận tải không gặp khó khăn trong khâu xếp dỡ, tránh được những trường hợp vận chuyển không bảo đảm thời hạn, các cảng và các Sở, Ty Giao thông vận tải phải đề cao tinh thần trách nhiệm, cộng tác với các đơn vị vận tải khi đơn vị vận tải có yêu cầu xếp, dỡ.
Trường hợp nơi cảng đi nếu cảng hoặc Sở, Ty Giao thông vận tải có tổ chức lực lượng xếp dỡ, còn nơi cảng đến không có lực lượng công nhân xếp dỡ thuộc các cơ quan giao thông vận tải quản lý thì việc xếp hàng ở cảng nơi đi do bên vận tải phải đảm nhiệm, còn việc dỡ hàng ở cảng nơi trả hàng cho chủ hàng thì bên chủ hàng phải đảm nhiệm. Ngược lại, nếu nơi cảng đi không có lực lượng xếp dỡ thuộc cơ quan giao thông vận tải quản lý mà nơi cảng đến có lực lượng xếp, dỡ do cơ quan giao thông vận tải quản lý thì việc xếp hàng ở cảng đi do chủ hàng phải đảm nhiệm còn việc dỡ hàng nơi cảng trả hàng cho chủ hàng thì bên vận tải phải đảm nhiệm.
Còn nói chung bất kỳ cảng nào, nếu đã có lực lượng công nhân xếp dỡ (như Cẩm Phả, Hòn Gai) mà không do cơ quan giao thông vận tải quản lý hoặc chưa có tổ chức công nhân xếp dỡ thì việc xếp dỡ hàng hóa lên xuống phương tiện vận tải đều do bên chủ hàng phải đảm nhiệm.
Trường hợp bên vận tải đảm nhiệm việc xếp dỡ thì mọi phí tổn về xếp dỡ cho chủ hàng phải đài thọ.
4. Trường hợp hàng hóa có người của chủ hàng đi áp tải.
Cũng trong điều 2 của điều lệ của Chính phủ còn quy định rằng:
“Trong trường hợp hàng hóa của người của chủ hàng đi áp tải thì trách nhiệm của người áp tải do Bộ Giao thông vận tải quy định – Trong khi chưa có quy định thì hai bên thỏa thuận ghi vào hợp đồng vận tải và giấy vận chuyển.
Để thi hành nguyên tắc này của Chính phủ, Bộ quy định những nhiệm vụ chủ yếu của người đi áp tải hàng hóa như sau: Người của chủ hàng đi áp tải hàng hóa có nhiệm vụ phải chăm sóc hàng hóa, không được để hàng hóa mất mát. Nếu hàng hóa thuộc loại phải tưới nước thì người áp tải phải chăm lo tưới nước cho hàng hóa, nếu hàng hóa là động vật sống thì người áp tải phải chăm lo cho động vật ăn, uống. Người đi áp tải còn có nhiệm vụ phát hiện những trường hợp hàng hóa có triệu chứng không an toàn, báo cáo với thuyền trưởng, yêu cầu thuyền trưởng cùng cộng tác giúp đỡ sửa chữa lại hàng hóa.
Hàng hóa có người của chủ hàng đi áp tải bên vận tải vẫn có nhiệm vụ phải giúp đỡ người đi áp tải trong những trường hợp cần thiết để bảo vệ hàng hóa không được viện cớ có người của chủ hàng đi áp tải mà không phát huy tinh thần trách nhiệm trong việc bảo vệ tài sản của Nhà nước, của nhân dân.
Khi bên vận tải và bên chủ hàng ký hợp đồng và làm giấy vận chuyển sẽ căn cứ vào những nguyên tắc này mà cùng nhau bàn bạc, giao nhiệm vụ cụ thể cho người đi áp tải hàng hóa. Nhiệm vụ của người đi áp tải hàng phải ghi vào hợp đồng và giấy vận chuyển.
5. Cơ quan hay người có tên trong giấy vận chuyển hàng hóa bắt buộc phải nhận hàng do bên vận tải giao.
Trong điều 2 của điều lệ của Chính phủ còn quy định rằng:
“Trong bất kỳ trường hợp nào, các cơ quan hay người nhận hàng có tên trong giấy vận chuyển đều không có quyền từ chối nhận hàng”.
Quy định này của Chính phủ nhằm mục đích chủ yếu là để bảo vệ hàng hóa đồng thời để tránh ứ đọng phương tiện vận tải gây lãng phí.
Như vậy là dù người có tên trong giấy vận chuyển biết chắc chắn rằng người gửi đã ghi nhầm tên mình trong giấy xin gửi hàng hay đã gửi nhầm hàng cho mình thì vẫn bắt buộc phải nhận hàng, tổ chức bảo quản hàng rồi liên hệ với chủ gửi giải quyết sau.
Người có tên trong giấy vận chuyển hàng hóa chỉ được từ chối, không nhận hàng khi tên và địa chỉ ghi trên các kiện hàng không phù hợp với tên và địa chỉ ghi trong giấy vận chuyển. Trường hợp này bên vận tải phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc lầm lẫn hàng hóa.
6. Trách nhiệm của bên vận tải bên chủ hàng đối với người đại diện của mình.
Trong quan hệ giao dịch về hợp đồng và vận chuyển hàng hóa thì các thủ trưởng của các đơn vị chủ hàng và các đơn vị vận tải là người có trách nhiệm đối trước pháp lý. Cho nên nếu bên nào muốn ủy quyền chính thức cho một người khác đại diện cho mình thì thủ trưởng đơn vị phải ký vào giấy ủy quyền và đóng dấu của cơ quan. Người được ủy quyền đại diện phải là người có đủ tư cách và chức vụ đại diện cho thủ trưởng. Người được ủy quyền tuyệt đối không được ủy quyền lại cho bất kỳ người nào khác. Tuy vậy không hạn chế bên chủ hàng và bên vận tải giới thiệu những cán bộ thường qua lại giao dịch với nhau để chuẩn bị cho những quan hệ chính thức của hai bên.
Thủ trưởng của các đơn vị vận tải và các đơn vị chủ hàng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những hành động của người đại diện mà mình đã ủy quyền nếu họ gây ra những trở ngại cho việc thực hiện hợp đồng vận tải như điều 2 trong điều lệ của Chính phủ đã quy định.
Đối với bên vận tải, người đại diện cho xí nghiệp vận tải trên dọc đường vận chuyển là thuyền trưởng.
7. Quyền từ chối không nhận chở của bên vận tải.
Điểm a và b trong điều lệ của Chính phủ quy định:
“Bên vận tải có quyền từ chối không nhận chở:
a) Những hàng hóa không ghi trong chỉ tiêu kế hoạch hàng năm của Nhà nước, không có hợp đồng vận tải, không có lệnh của Thủ tướng Chính phủ của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải hay của Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
b) Những hàng hóa mà bao bì không đúng quy cách.
Quy định của Chính phủ nhằm hai mục đích:
a) Để tránh tình trạng gây bị động, đột xuất cho bên vận tải và để đề cao tinh thần trách nhiệm của các chủ hàng trong công tác lập kế hoạch.
b) Để hàng hóa khỏi bị mất mát, hư hỏng, rơi vãi ở dọc đường.
Để đề cao trách nhiệm của chủ hàng đối với hàng hóa, điều 18 trong điều lệ của Chính phủ còn quy định rằng:
"Trừ những loại hàng theo tập quán thông thường vẫn gửi không có bao bì ra, còn tất cả những hàng hóa vận chuyển khác đều phải có bao bì đúng quy cách, bảo đảm xếp dỡ, vận chuyển thuận tiện, không bị hư hỏng, rơi vãi. Việc đóng gói hàng làm theo những quy tắc do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định".
Để việc chấp hành các quy định này của Chính phủ được đúng đắn, vận dụng pháp luật không cứng đờ, ảnh hưởng đến kế hoạch chung, Bộ giải thích cụ thể tinh thần và ý nghĩa của điều lệ như sau:
- Bên vận tải khi áp dụng quy định này cần quán triệt ý nghĩa và xác định cho rõ trách nhiệm của mình đối với kế hoạch Nhà nước, yêu cầu vận chuyển của nhân dân như nguyên tắc mà Chính phủ đã nêu ra ở điều 1 trong điều lệ của Chính phủ rằng:
"Bên vận tải có nhiệm vụ tích cực khắc phục khó khăn để bảo đảm vận chuyển kịp thời trong những trường hợp đột xuất ngoài chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước, khi có lệnh của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải hay của Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương".
Như vậy là khi đã có lệnh của cấp trên thì bên vận tải phải khẩn trương và tích cực thực hiện cho bằng được những yêu cầu vận chuyển đột xuất, không được vì bất cứ một lý do khó khăn nào mà làm lỡ hoặc làm chậm trễ việc thi hành lệnh của cấp trên. Các Sở, Ty Giao thông vận tải cũng có trách nhiệm phải giải quyết những khó khăn cho các đơn vị vận tải để tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị vận tải thi hành lệnh của cấp trên.
Tuy bên vận tải được Chính phủ giao quyền được từ chối không nhận chở những hàng hóa không ghi trong chỉ tiêu kế hoạch hàng năm của Nhà nước, không có lệnh của cấp trên, nhưng trong hoàn cảnh thực tế hiện nay, chúng ta không thể tránh hết được những đột xuất. Cho nên nếu bên chủ hàng có hàng đột xuất, không có lệnh của cấp trên, bên vận tải cũng phải đứng trên tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa mà cố gắng vận chuyển cho chủ hàng. Bên vận tải chỉ được từ chối khi thực sự là mình không có khả năng sau khi đã cố gắng hết sức mình.
Chính phủ giao trách nhiệm cho bên vận tải là có quyền từ chối không nhận chở những hàng mà bao bì không đúng quy cách. Như vậy là khi nhận hàng để chờ bên vận tải có trách nhiệm phải kiểm tra trạng thái bên ngoài của hàng hóa - Nếu thấy bao bì không chắc chắn có thể bị hư hỏng trong quá trình xếp dỡ hoặc vận chuyển thì có quyền từ chối không nhận chở. Tuy vậy, để bảo đảm kế hoạch vận chuyển của Nhà nước và yêu cầu vận chuyển của nhân dân, bên vận tải chỉ được từ chối sau khi đã yêu cầu chủ hàng sửa chữa lại bao bì mà chủ hàng không chịu sửa chữa lại, hoặc sửa chữa lại nhưng vẫn chưa được chắc chắn. Nếu chủ hàng cam đoan và ghi vào giấy vận chuyển rằng bao bì đã chắc chắn, có thể xếp dỡ và vận chuyển an toàn, thì bên vận tải nhận chở và không chịu trách nhiệm nếu dọc đường hàng hóa đó bị hư hỏng do bao bì không chắc chắn.
Về phía chủ hàng cũng phải quán triệt ý nghĩa điều lệ của Chính phủ mà chuẩn bị kế hoạch cho tốt, phải cố gắng đưa mọi yêu cầu vận chuyển vào kế hoạch, hết sức tránh gây đột xuất làm đảo lộn kế hoạch của bên vận tải. Không được ỷ lại vào tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa của bên vận tải hoặc là dựa vào lệnh đột xuất của cấp trên để gây khó khăn cho bên vận tải.
Việc đóng gói hàng hóa, trong khi chờ đợi quy định cụ thể về quy cách đóng gói của Bộ Giao thông vận tải, bên chủ hàng phải đề cao tinh thần bảo vệ hàng hóa mà đóng gói cho thật chắc chắn, trường hợp bên vận tải yêu cầu sửa chữa lại bao bì thì phải tích cực và khẩn trương sửa chữa lại cho chắc chắn. Nếu vì sửa chữa chậm trễ làm cho phương tiện vận tải phải chờ đợi lâu thì chủ hàng phải trả tiền chờ đợi cho bên vận tải. Nếu vì chủ hàng không chịu sửa chữa lại bao bì, không có cam đoan ghi vào giấy vận chuyển, bên vận tải phải từ chối không nhận chở, thì trường hợp này coi như chủ hàng không có hàng, phải trả cho bên vận tải tiền phí tổn điều động phương tiện vận tải và phải phạt vì không có hàng.
Trường hợp vận chuyển đột xuất.
Điều 5 trong điều lệ của Hội đồng Chính phủ quy định:
"a) Bên vận tải chỉ nhận chở những hàng hóa vận chuyển đột xuất có tính chất khẩn cấp khi được lệnh của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải hay của Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong những trường hợp cứu đói, cứu mùa màng, chống bão lụt, chống dịch hoặc phục vụ nhiệm vụ an ninh quốc phòng… "
"b) Trong những trường hợp cần vận chuyển hàng đột xuất khác, bên vận tải chỉ nhận chở nếu có khả năng hoặc khi được lệnh của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải hay của Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhưng chủ hàng phải trả thêm cho bên vận tải một khoản tiền bằng 2% tiền cước cho chuyến đó… "
Để giải quyết các trường hợp vận chuyển đột xuất quy định trên đây đúng với tinh thần của điều lệ, Bộ giải thích thế nào là vận chuyển đột xuất.
Căn cứ theo thể lệ hiện hành của Chính phủ thì hàng năm, hàng quý, hàng tháng bên chủ hàng phải gửi kế hoạch vận chuyển hàng hóa cho bên vận tải và hai bên phải cùng nhau ký hợp đồng vận tải theo đúng chế độ hợp đồng kinh tế đã được Chính phủ quy định. Do đó, nếu bên chủ hàng không chấp hành đúng thể lệ mà yêu cầu bên vận tải vận chuyển thì coi là vận chuyển đột xuất. Tuy nhiên, tinh thần của điều 5 trên đây là nhằm mục đích đảm bảo vận chuyển những trường hợp cần thiết. Trong thực tế hiện nay, việc lập kế hoạch vận tải và việc ký kết hợp đồng vận tải còn có những trường hợp cần được châm chước, cho nên áp dụng điều 5 trên đây vào thực tế cần phải linh hoạt và thích ứng với hoàn cảnh. Vậy tạm thời Bộ xác định những hàng hóa thuê vận chuyển đột xuất chỉ là những hàng hóa thuê vận chuyển trong những trường hợp sau đây:
- Hàng hóa không nằm trong chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước và không có hợp đồng vận tải mà bên chủ hàng xin vận chuyển.
- Hàng hóa đã có chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước nhưng bên chủ hàng không chấp hành đúng chế độ ký kết hợp đồng vận tải mà xin vận chuyển, làm xáo trộn kế hoạch của bên vận tải.
Còn những trường hợp sau đây thì không coi là hàng hóa vận chuyển đột xuất:
- Hàng hóa đã có chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước, không có hoặc chưa có hợp đồng vận tải nguyên tắc nhưng có hợp đồng vận tải cụ thể;
- Hàng hóa không có chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước, không có hợp đồng nguyên tắc nhưng hai bên chủ hàng và vận tải đã cùng nhau thỏa thuận ký hợp đồng vận tải cụ thể;
- Hàng hóa mà bên chủ hàng đã chính thức gửi kế hoạch dự trù lên cấp trên và đã gửi kế hoạch cho bên vận tải nhưng Nhà nước chưa duyệt và cấp trên chưa ký hợp đồng vận tải nguyên tắc hoặc chưa phân bổ kế hoạch mà hai bên đã có ký hợp đồng cụ thể (đoạn cuối của điều 6 trong điều lệ).
- Hàng hóa thuê vận chuyển hàng năm với khối lượng dưới 400 tấn, mỗi chuyến từ 200 tấn trở xuống.
- Hàng hóa vận chuyển kết hợp hai chiều.
Hàng hóa vận chuyển đột xuất trong những trường hợp khẩn cấp như quy định ở khoản a điều 5 của điều lệ thì không phải trả thêm 2% giá cước vận chuyển.
Hàng hóa vận chuyển đột xuất trong những trường hợp khác thì phải trả thêm 2% giá cước vận chuyển như đã quy định ở khoản b điều 5 của điều lệ.
Để bảo đảm điều 5 trên đây được thi hành đúng với tinh thần của điều lệ, Bộ giải thích và quy định thêm một số điểm cụ thể như sau:
Lệnh vận chuyển đột xuất (trường hợp khẩn cấp cũng như những trường hợp không khẩn cấp) do Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành. Lệnh của Thủ tướng Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải và các Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thi hành. Lệnh của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải do ông Cục trưởng Cục Vận tải đường thủy thi hành.
Trong những trường hợp vận chuyển đột xuất khẩn cấp, bên vận tải được miễn trách nhiệm đối với các chủ hàng khác nếu vì thi hành lệnh mà không hoàn thành hợp đồng đúng thời hạn hoặc gây ra các tổn thất khác mà không do lỗi của bên vận tải. Nếu phải dỡ hàng xuống để tập trung phương tiện vận tải thì bên vận tải có nhiệm vụ lo liệu việc dỡ hàng, yêu cầu Ủy ban hành chính địa phương giúp đỡ và bảo quản hàng hóa. Sau khi phương tiện vận tải đã hoàn thành kế hoạch khẩn cấp thì bên vận tải yêu cầu Ủy ban hành chính và cơ quan giao thông vận tải giúp đỡ tổ chức xếp lại hàng lên phương tiện vận tải. Ủy ban hành chính địa phương có nhiệm vụ giúp đỡ bên vận tải khi bên vận tải yêu cầu. Các cơ quan giao thông vận tải có trách nhiệm cộng tác với bên vận tải để lo liệu việc xếp dỡ hàng hóa lên xuống phương tiện vận tải khi bên vận tải yêu cầu. Nếu việc xếp dỡ hàng tại cảng thì cảng có trách nhiệm phải xếp dỡ và bảo quản hàng hóa. Cước phí và phụ phí vận tải cũng như các phí tổn về các công việc nói trên do cơ quan có hàng vận chuyển đột xuất hoặc cơ quan ra lệnh thanh toán.
Mỗi khi bên vận tải phải vận chuyển hàng đột xuất là gặp rất nhiều khó khăn cho nên các chủ hàng cần đề cao tinh thần trách nhiệm đối với nhiệm vụ lập kế hoạch vận tải, nhiệm vụ chấp hành chế độ hợp đồng kinh tế mà hết sức tránh những trường hợp yêu cầu bên vận tải vận chuyển đột xuất, gây xáo trộn kế hoạch của bên vận tải.