Document: Điều 1 Quyết định 481/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch sử dụng cát, sỏi xây dựng

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "23/12/2011", "sign_number": "481/QĐ-UBND", "signer": "Chẩu Văn Lâm", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "23/12/2011", "sign_number": "481/QĐ-UBND", "signer": "Chẩu Văn Lâm", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "23/12/2011", "sign_number": "481/QĐ-UBND", "signer": "Chẩu Văn Lâm", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "23/12/2011", "sign_number": "481/QĐ-UBND", "signer": "Chẩu Văn Lâm", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Tuyên Quang", "promulgation_date": "23/12/2011", "sign_number": "481/QĐ-UBND", "signer": "Chẩu Văn Lâm", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 481/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch sử dụng cát, sỏi xây dựng có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch sử dụng cát, sỏi xây dựng đến năm 2015 của tỉnh Tuyên Quang, với các nội dung chủ yếu như sau:
1. Mục tiêu
a) Xác định các khu vực quy hoạch thăm dò, khai thác, các khu vực cấm khai thác để sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên cát, sỏi làm vật liệu xây dựng, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhằm bảo vệ an toàn đê điều, công trình xây dựng, cảnh quan môi trường, khắc phục tình trạng khai thác cát, sỏi trái phép.
b) Làm căn cứ cho công tác quản lý tài nguyên cát, sỏi làm vật liệu xây dựng và là cơ sở cho định hướng thăm dò, khai thác đến năm 2015; xây dựng kế hoạch thăm dò, khai thác để phục vụ nhu cầu xây dựng trong và ngoài tỉnh.
2. Quan điểm
a) Quan điểm về thăm dò khoáng sản:
- Khảo sát, thăm dò cát, sỏi xây dựng làm căn cứ pháp lý cho công tác quản lý cấp phép khai thác các mỏ cát, sỏi nhằm đáp ứng yêu cầu về vật liệu xây dựng trong giai đoạn từ nay đến năm 2015.
- Quy hoạch sử dụng cát, sỏi phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng, quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản và các quy hoạch của các ngành, lĩnh vực khác của tỉnh Tuyên Quang đã phê duyệt.
b) Quan điểm về sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên:
- Khoanh vùng các mỏ cát, sỏi trên cơ sở chất lượng và lĩnh vực sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường; dự báo tiềm năng về trữ lượng nhằm đảm bảo nguồn vật liệu xây dựng trong giai đoạn tiếp theo.
- Các mỏ cát, sỏi được lựa chọn đưa vào thăm dò, khai thác không nằm trong phạm vi cấm hoạt động khoáng sản. Khi đi vào khai thác phải đảm bảo không ảnh hưởng tới sự ổn định của lòng sông, đê điều, không ảnh hưởng đến an toàn của các công trình và giao thông đường thuỷ.
- Xây dựng phương án khai thác hợp lý và hiệu quả nhằm sử dụng cát, sỏi xây dựng đúng mục đích, giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực đến môi trường, cảnh quan thiên nhiên và thất thoát khoáng sản.
c) Quan điểm về phát huy mọi nguồn lực để thăm dò, khai thác:
- Huy động nguồn vốn và phát huy năng lực của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh tham gia thăm dò, khai thác cát, sỏi theo quy định của pháp luật.
- Phát huy năng lực khoa học kỹ thuật, nguồn nhân lực và tính chủ động của các tổ chức có chức năng để khảo sát, thăm dò, khai thác cát, sỏi làm vật liệu xây dựng.
d) Quan điểm về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững:
- Áp dụng các quy trình công nghệ thăm dò, công nghệ khai thác tiên tiến nhằm giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường, thực hiện việc hoàn trả lại mặt bằng sau khi khai thác khoáng sản và phục hồi môi trường hoặc cải tạo các khu vực đã hoàn thành việc khai thác.
- Phát triển công nghiệp thăm dò, khai thác cát, sỏi làm vật liệu xây dựng phải phù hợp với quy định bảo vệ các di sản thiên nhiên, di tích lịch sử, di chỉ khảo cổ, các công trình văn hoá có giá trị và khu du lịch; bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững.
- Quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng cát, sỏi xây dựng là quy hoạch định hướng, quy hoạch mở, do vậy trong quá trình thực hiện luôn cần có sự bổ sung, điều chỉnh kịp thời và cập nhật, hoàn thiện qua từng giai đoạn.
3. Tiềm năng tài nguyên cát, sỏi xây dựng tỉnh Tuyên Quang
a) Tổng số mỏ cát, sỏi trên các sông, suối trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang gồm: 55 khu vực mỏ (48 khu vực mỏ trên các tuyến sông; 07 khu vực mỏ trên các tuyến suối).
Trong đó:
- Khu vực đã thăm dò (cát, sỏi lòng sông): 31 khu vực;
- Khu vực đang thăm dò (cát, sỏi lòng sông): 02 khu vực;
- Khu vực chưa thăm dò (cát, sỏi lòng sông): 15 khu vực;
- Khu vực đã khảo sát (cát, sỏi lòng suối): 02 khu vực;
- Khu vực đang khảo sát (cát, sỏi lòng suối): 04 khu vực;
- Khu vực chưa khảo sát (cát, sỏi lòng suối): 01 khu vực.
b) Tổng trữ lượng tiềm năng cát, sỏi dự tính: 66.914.523 m3.
Trong đó:
- Trữ lượng đã cấp phép thăm dò: 47.180.522 m3;
- Trữ lượng chưa cấp phép thăm dò: 16.547.595 m3;
- Trữ lượng bồi lắng hàng năm: 3.186.406 m3;
(Tổng hợp tiềm năng cát, sỏi xây dựng tỉnh Tuyên Quang theo Phụ lục 1)
4. Nội dung quy hoạch
a) Quy hoạch khảo sát, thăm dò các mỏ cát, sỏi xây dựng đến năm 2015:
Trong thời gian tới, tiếp tục đẩy mạnh công tác khảo sát, thăm dò cát, sỏi xây dựng trên các sông, suối; dự kiến đến hết năm 2012 cơ bản hoàn thành công tác thăm dò tại tất cả các khu mỏ chưa được thăm dò trên các sông, suối thuộc địa phận tỉnh Tuyên Quang.
Phương án quy hoạch thăm dò các mỏ cát, sỏi xây dựng giai đoạn 2011 - 2015 như sau:
- Thăm dò 17 khu vực mỏ cát, sỏi chưa được thăm dò còn lại trên 3 sông (sông Lô, sông Gâm, sông Phó Đáy), thời gian thực hiện: năm 2011 - 2012.
- Khảo sát địa hình, địa chất, đánh giá trữ lượng, chất lượng tại 05 khu vực mỏ cát, sỏi trên các suối lớn, thời gian thực hiện: năm 2011 - 2012.
- Tổng trữ lượng quy hoạch khảo sát, thăm dò: 19.574.898 m3.
- Tổng vốn đầu tư cho công tác thăm dò (đơn giá khai thác dự tính khoảng 200 đồng/m3): 3,915 tỷ đồng.
(Tổng hợp phương án quy hoạch thăm dò theo Phụ lục 2.1; phương án quy hoạch chi tiết theo Phụ lục 2.2).
b) Quy hoạch khai thác các mỏ cát, sỏi đến năm 2015: Nâng công suất khai thác hiện nay của các doanh nghiệp tại các địa bàn trong tỉnh từ 1.291.000m3/năm (năm 2010) lên 1.746.000m3/năm (năm 2015), cụ thể:
- Giữ nguyên công suất khai thác theo các giấy phép khai thác đã cấp (28 giấy phép) tại 26 khu mỏ đang khai thác hiện nay, với tổng công suất 1.291.000 m3/năm.
- Cấp giấy phép khai thác mới tại 29 khu vực mỏ còn lại trên các tuyến sông, suối, với tổng công suất 455.000m3/năm.
- Tổng trữ lượng quy hoạch khai thác: 7.885.631 m3.
- Tổng trữ lượng dự trữ cho giai đoạn sau: 59.028.892m3.
- Tổng vốn đầu tư cho công tác khai thác (đơn giá khai thác dự tính khoảng 40.000 đồng/m3): 315,425 tỷ đồng.
(Tổng hợp phương án quy hoạch khai thác theo Phụ lục 3.1; phương án quy hoạch chi tiết theo Phụ lục 3.2)
c) Quy hoạch các bến bãi tập kết cát, sỏi: Quy hoạch các bến bãi tập kết cát, sỏi phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Về vị trí: Khu vực quy hoạch các bến bãi tập kết cát, sỏi phải đảm bảo phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của các xã, phường, thị trấn tại nơi có bến bãi và phải phù hợp với các quy hoạch có liên quan khác đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt; không được nằm trong phạm vi hành lang bảo vệ đường bờ, hành lang bảo vệ các công trình thủy lợi, cầu, cống, đê, kè, bến đò trên sông. Hệ thống đường giao thông trong khu vực phải đáp ứng được tải trọng của các phương tiện vận chuyển cát, sỏi.
- Về diện tích: Diện tích bến bãi phải phù hợp với công suất khai thác theo giấy phép được cấp.
- Về điều kiện địa hình, địa chất: phải có nền đất ổn định, có địa hình tương đối bằng phẳng, có khả năng thoát nước tốt, thuận lợi cho việc rung chuyển từ dưới sông lên bờ và vận chuyển từ bãi tập kết đến nơi tiêu thụ.
d) Các khu vực cấm, hạn chế khai thác cát, sỏi xây dựng:
- Các khu vực cấm khai thác cát, sỏi xây dựng:
+ Khu vực cấm thăm dò, khai thác theo Quyết định số 02/2008/QĐ-UBND ngày 17/4/2008 của UBND tỉnh Tuyên Quang: khu vực ngã ba sông Lô - Gâm thuộc địa bàn xã Tân Long, huyện Yên Sơn, diện tích 1,2 km2, gần đường quốc lộ 37B;
+ Các khu vực chưa được cấp phép thăm dò, khai thác;
+ Các khu vực nằm trong hành lang bảo vệ an toàn đê điều, đường bờ dọc theo các sông và hành lang bảo vệ an toàn của bãi bồi trên sông; những điểm thường xảy ra sạt lở hoặc khu vực có nguy cơ sạt lở cao; khu vực nằm trong hành lang bảo vệ các công trình thủy lợi, kè sông suối, cống, các cầu bắc qua sông; khu vực nằm trong phạm vi hoạt động của các bến đò, bến cảng, bến phà, trạm thủy văn; khu vực có các điểm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh.
- Các khu vực hạn chế khai thác cát, sỏi xây dựng: Khu vực hạn chế khai thác là các khu vực có tuyến sông chảy qua nằm trong địa bàn thành phố Tuyên Quang, các thị trấn huyện lỵ, các khu vực có dự án xây dựng kè bảo vệ bờ sông, các khu vực có các tuyến đê phòng lũ.
+ Sông Lô: Đoạn chảy qua thành phố Tuyên Quang từ cầu Tân Hà đến hết soi Tình Húc, dài khoảng 8 km và khu vực xây dựng kè bảo vệ tại xã An Khang dài khoảng 0,5 km; đoạn chảy qua thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, từ khu Bắc Mục đến khu Bắc Yên dài khoảng 1,6 km; các khu vực có các tuyến đê phòng lũ thuộc địa bàn các xã: Vĩnh Lợi, Cấp Tiến, Đông Thọ, Quyết Thắng Vân Sơn, Hồng Lạc, Sầm Dương, Lâm Xuyên (huyện Sơn Dương) và các xã An Khang, Thái Long (thành phố Tuyên Quang).
+ Sông Gâm: Đoạn từ chân đập thủy điện Tuyên Quang về phía hạ lưu dài khoảng 2 km thuộc địa bàn thị trấn huyện lỵ Na Hang; đoạn chảy qua thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa dài khoảng 2 km.
+ Sông Phó Đáy: Các khu vực có kè bảo vệ bờ sông trong phạm vi khu di tích lịch sử ATK thuộc huyện Yên Sơn, huyện Sơn Dương và khu vực chảy qua thị trấn Sơn Dương.
e) Định hướng sử dụng tài nguyên cát, sỏi xây dựng:
- Trong quá trình khai thác phải sử dụng công nghệ sàng, tuyển thích hợp, đảm bảo tận thu tối đa các thành phần cát, sỏi có theo từng cỡ hạt, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạn chế thấp nhất lượng phế thải trong quá trình khai thác.
- Việc sử dụng cát, sỏi phải đúng mục đích, phù hợp với tính chất công nghệ và chỉ tiêu kỹ thuật của từng loại cát, sỏi, không được sử dụng cát, sỏi có chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn làm cốt liệu cho bê tông và vữa xây dựng để làm vật liệu san lấp hoặc vào các mục đích không phù hợp khác.
- Mọi hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi xây dựng phải tuân thủ theo đúng pháp luật. Mua bán, vận chuyển và sử dụng cát, sỏi xây dựng (kể cả các công trình của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không sử dụng ngân sách nhà nước) phải có nguồn gốc hợp pháp, có hóa đơn, chứng từ theo quy định để chứng minh đã nộp đầy đủ các loại phí và các loại thuế theo quy định.
5. Các giải pháp thực hiện quy hoạch
a) Giải pháp về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước:
- Triển khai quy hoạch tới các cấp, các ngành; thông báo rộng rãi quy trình, thủ tục hành chính cấp giấy phép thăm dò, khai thác cát, sỏi xây dựng; tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về lĩnh vực khoáng sản, vật liệu xây dựng để các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân biết và thực hiện.
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước, kiểm tra, giám sát, phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thăm dò, khai thác, kinh doanh và sử dụng cát, sỏi xây dựng, bảo đảm hiệu quả, đúng quy định.
- Xây dựng các quy chế phối hợp giữa các cấp, các ngành trong tỉnh trong công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động thăm dò, khai thác, kinh doanh và sử dụng cát, sỏi xây dựng nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước tại địa phương.
- Tổ chức cắm biển báo các khu vực cấm khai thác; khống chế tối đa chiều sâu khai thác cát, sỏi xây dựng dưới lòng sông; bàn giao các khu vực được thăm dò, khai thác và các nơi nghiêm cấm khai thác cho cấp xã, phường, thị trấn trực tiếp quản lý, bảo vệ theo quy định.
- Chỉ cấp giấy phép thăm dò, khai thác cát, sỏi xây dựng cho tổ chức, cá nhân có đủ năng lực theo quy định của pháp luật. Việc cấp phép khai thác cần quy định rõ về công suất, thời gian hoạt động, quy định chủng loại và số lượng, thông số kỹ thuật chính của thiết bị được sử dụng để thăm dò, khai thác.
- Nghiên cứu, xây dựng quy chế phối hợp với các tỉnh lân cận (Phú Thọ, Yên Bái, Hà Giang) trong công tác quản lý thăm dò, khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên cát, sỏi xây dựng tại các khu vực tiếp giáp giữa 2 tỉnh. Theo đó, cần có giải pháp phân định rõ gianh giới, cắm mốc để xác định các khu mỏ thuộc thẩm quyền quản lý của mỗi tỉnh trong các khu vực này. Đồng thời, cần quy định rõ vị trí hoạt động khai thác của từng doanh nghiệp trên mỗi khu mỏ và khoảng cách hoạt động giữa các doanh nghiệp trong khu vực mỏ tiếp giáp nhau, tránh xảy ra tình trạng tranh chấp trong khai thác, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội.
- Tổ chức điều tra, thống kê các tổ chức, cá nhân đang khai thác, kinh doanh cát, sỏi xây dựng trên địa bàn để quản lý và yêu cầu lập quy hoạch bến bãi tập kết, kinh doanh cát sỏi xây dựng theo quy định của pháp luật.
b) Giải pháp chính sách:
- Hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến công tác thăm dò, khai thác kinh doanh cát, sỏi xây dựng; xây dựng các phương án, kế hoạch đấu thầu các khu vực thăm dò, khai thác các mỏ cát, sỏi xây dựng.
- Có chính sách khuyến khích đầu tư về thiết bị, công nghệ khai thác, chế biến nhằm khai thác triệt để nguồn tài nguyên cát, sỏi xây dựng.
- Hỗ trợ kinh phí, trang thiết bị cho địa phương tăng cường công tác kiểm tra, xử lý các hoạt động khai thác cát, sỏi xây dựng trái phép trên địa bàn.
- Thực hiện cơ chế khen thưởng cho người dân khi phát hiện các trường hợp vi phạm và báo tin cho các cấp chính quyền xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành.
c) Giải pháp về vốn:
- Nguồn vốn cho thăm dò, khai thác cát, sỏi xây dựng chủ yếu từ vốn của các doanh nghiệp được cấp phép thăm dò, khai thác.
- Ngân sách của tỉnh đầu tư cho việc khoanh vùng, cắm biển báo các khu vực cấm thăm dò, khai thác để giao cho địa phương quản lý, bảo vệ.
- Công bố rộng rãi danh mục, tài nguyên các mỏ đã được quy hoạch thăm dò, khai thác trên địa bàn các tỉnh để kêu gọi đầu tư thăm dò và tổ chức khai thác phục vụ công nghiệp vật liệu xây dựng.
d) Giải pháp về công nghệ và môi trường:
- Áp dụng các quy trình công nghệ thăm dò, khai thác phải phù hợp với đặc điểm cấu tạo mỏ, điều kiện khai thác và chiều sâu khai thác theo thiết kế của từng mỏ, đảm bảo nâng cao tối đa hệ số thu hồi khoáng sản, nâng cao chất lượng của sản phẩm.
- Ưu tiên sử dụng công nghệ khai thác bằng phương tiện tàu hút hoặc công nghệ tiên tiến khác ít gây tác động đến môi trường.
- Không được phép khai thác bằng phương tiện tàu cuốc, gầu quăng để giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường và tránh việc lợi dụng khai thác cát, sỏi để khai thác vàng sa khoáng trái phép. Chỉ cho phép sử dụng các phương tiện này khi xác định địa chất khu vực khai thác đảm bảo an toàn tuyệt đối và không thể sử dụng được phương tiện tàu hút hoặc các phương tiện khác.
- Các dự án trước khi cấp phép khai thác đều phải thực hiện nghiêm việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc lập bản cam kết bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật. Trong quá trình hoạt động phải thực hiện nghiêm các quy định của Luật Bảo vệ môi trường, định kỳ quan trắc, phân tích các thông số ô nhiễm. Thực hiện nghiêm túc việc hoàn thổ, phục hồi môi trường các mỏ cát, sỏi sau khai thác.
- Chỉ cho phép các phương tiện hoạt động khai thác cát, sỏi xây dựng vào ban ngày để thuận tiện cho việc quản lý, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng, hạn chế ảnh hưởng của tiếng ồn do quá trình khai thác đến đời sống của nhân dân và tránh việc khai thác trái phép.

Content:
Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch sử dụng cát, sỏi xây dựng đến năm 2015 của tỉnh Tuyên Quang, với các nội dung chủ yếu như sau:
1. Mục tiêu
a) Xác định các khu vực quy hoạch thăm dò, khai thác, các khu vực cấm khai thác để sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên cát, sỏi làm vật liệu xây dựng, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhằm bảo vệ an toàn đê điều, công trình xây dựng, cảnh quan môi trường, khắc phục tình trạng khai thác cát, sỏi trái phép.
b) Làm căn cứ cho công tác quản lý tài nguyên cát, sỏi làm vật liệu xây dựng và là cơ sở cho định hướng thăm dò, khai thác đến năm 2015; xây dựng kế hoạch thăm dò, khai thác để phục vụ nhu cầu xây dựng trong và ngoài tỉnh.
2. Quan điểm
a) Quan điểm về thăm dò khoáng sản:
- Khảo sát, thăm dò cát, sỏi xây dựng làm căn cứ pháp lý cho công tác quản lý cấp phép khai thác các mỏ cát, sỏi nhằm đáp ứng yêu cầu về vật liệu xây dựng trong giai đoạn từ nay đến năm 2015.
- Quy hoạch sử dụng cát, sỏi phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng, quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản và các quy hoạch của các ngành, lĩnh vực khác của tỉnh Tuyên Quang đã phê duyệt.
b) Quan điểm về sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên:
- Khoanh vùng các mỏ cát, sỏi trên cơ sở chất lượng và lĩnh vực sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường; dự báo tiềm năng về trữ lượng nhằm đảm bảo nguồn vật liệu xây dựng trong giai đoạn tiếp theo.
- Các mỏ cát, sỏi được lựa chọn đưa vào thăm dò, khai thác không nằm trong phạm vi cấm hoạt động khoáng sản. Khi đi vào khai thác phải đảm bảo không ảnh hưởng tới sự ổn định của lòng sông, đê điều, không ảnh hưởng đến an toàn của các công trình và giao thông đường thuỷ.
- Xây dựng phương án khai thác hợp lý và hiệu quả nhằm sử dụng cát, sỏi xây dựng đúng mục đích, giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực đến môi trường, cảnh quan thiên nhiên và thất thoát khoáng sản.
c) Quan điểm về phát huy mọi nguồn lực để thăm dò, khai thác:
- Huy động nguồn vốn và phát huy năng lực của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh tham gia thăm dò, khai thác cát, sỏi theo quy định của pháp luật.
- Phát huy năng lực khoa học kỹ thuật, nguồn nhân lực và tính chủ động của các tổ chức có chức năng để khảo sát, thăm dò, khai thác cát, sỏi làm vật liệu xây dựng.
d) Quan điểm về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững:
- Áp dụng các quy trình công nghệ thăm dò, công nghệ khai thác tiên tiến nhằm giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường, thực hiện việc hoàn trả lại mặt bằng sau khi khai thác khoáng sản và phục hồi môi trường hoặc cải tạo các khu vực đã hoàn thành việc khai thác.
- Phát triển công nghiệp thăm dò, khai thác cát, sỏi làm vật liệu xây dựng phải phù hợp với quy định bảo vệ các di sản thiên nhiên, di tích lịch sử, di chỉ khảo cổ, các công trình văn hoá có giá trị và khu du lịch; bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững.
- Quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng cát, sỏi xây dựng là quy hoạch định hướng, quy hoạch mở, do vậy trong quá trình thực hiện luôn cần có sự bổ sung, điều chỉnh kịp thời và cập nhật, hoàn thiện qua từng giai đoạn.
3. Tiềm năng tài nguyên cát, sỏi xây dựng tỉnh Tuyên Quang
a) Tổng số mỏ cát, sỏi trên các sông, suối trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang gồm: 55 khu vực mỏ (48 khu vực mỏ trên các tuyến sông; 07 khu vực mỏ trên các tuyến suối).
Trong đó:
- Khu vực đã thăm dò (cát, sỏi lòng sông): 31 khu vực;
- Khu vực đang thăm dò (cát, sỏi lòng sông): 02 khu vực;
- Khu vực chưa thăm dò (cát, sỏi lòng sông): 15 khu vực;
- Khu vực đã khảo sát (cát, sỏi lòng suối): 02 khu vực;
- Khu vực đang khảo sát (cát, sỏi lòng suối): 04 khu vực;
- Khu vực chưa khảo sát (cát, sỏi lòng suối): 01 khu vực.
b) Tổng trữ lượng tiềm năng cát, sỏi dự tính: 66.914.523 m3.
Trong đó:
- Trữ lượng đã cấp phép thăm dò: 47.180.522 m3;
- Trữ lượng chưa cấp phép thăm dò: 16.547.595 m3;
- Trữ lượng bồi lắng hàng năm: 3.186.406 m3;
(Tổng hợp tiềm năng cát, sỏi xây dựng tỉnh Tuyên Quang theo Phụ lục 1)
4. Nội dung quy hoạch
a) Quy hoạch khảo sát, thăm dò các mỏ cát, sỏi xây dựng đến năm 2015:
Trong thời gian tới, tiếp tục đẩy mạnh công tác khảo sát, thăm dò cát, sỏi xây dựng trên các sông, suối; dự kiến đến hết năm 2012 cơ bản hoàn thành công tác thăm dò tại tất cả các khu mỏ chưa được thăm dò trên các sông, suối thuộc địa phận tỉnh Tuyên Quang.
Phương án quy hoạch thăm dò các mỏ cát, sỏi xây dựng giai đoạn 2011 - 2015 như sau:
- Thăm dò 17 khu vực mỏ cát, sỏi chưa được thăm dò còn lại trên 3 sông (sông Lô, sông Gâm, sông Phó Đáy), thời gian thực hiện: năm 2011 - 2012.
- Khảo sát địa hình, địa chất, đánh giá trữ lượng, chất lượng tại 05 khu vực mỏ cát, sỏi trên các suối lớn, thời gian thực hiện: năm 2011 - 2012.
- Tổng trữ lượng quy hoạch khảo sát, thăm dò: 19.574.898 m3.
- Tổng vốn đầu tư cho công tác thăm dò (đơn giá khai thác dự tính khoảng 200 đồng/m3): 3,915 tỷ đồng.
(Tổng hợp phương án quy hoạch thăm dò theo Phụ lục 2.1; phương án quy hoạch chi tiết theo Phụ lục 2.2).
b) Quy hoạch khai thác các mỏ cát, sỏi đến năm 2015: Nâng công suất khai thác hiện nay của các doanh nghiệp tại các địa bàn trong tỉnh từ 1.291.000m3/năm (năm 2010) lên 1.746.000m3/năm (năm 2015), cụ thể:
- Giữ nguyên công suất khai thác theo các giấy phép khai thác đã cấp (28 giấy phép) tại 26 khu mỏ đang khai thác hiện nay, với tổng công suất 1.291.000 m3/năm.
- Cấp giấy phép khai thác mới tại 29 khu vực mỏ còn lại trên các tuyến sông, suối, với tổng công suất 455.000m3/năm.
- Tổng trữ lượng quy hoạch khai thác: 7.885.631 m3.
- Tổng trữ lượng dự trữ cho giai đoạn sau: 59.028.892m3.
- Tổng vốn đầu tư cho công tác khai thác (đơn giá khai thác dự tính khoảng 40.000 đồng/m3): 315,425 tỷ đồng.
(Tổng hợp phương án quy hoạch khai thác theo Phụ lục 3.1; phương án quy hoạch chi tiết theo Phụ lục 3.2)
c) Quy hoạch các bến bãi tập kết cát, sỏi: Quy hoạch các bến bãi tập kết cát, sỏi phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Về vị trí: Khu vực quy hoạch các bến bãi tập kết cát, sỏi phải đảm bảo phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của các xã, phường, thị trấn tại nơi có bến bãi và phải phù hợp với các quy hoạch có liên quan khác đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt; không được nằm trong phạm vi hành lang bảo vệ đường bờ, hành lang bảo vệ các công trình thủy lợi, cầu, cống, đê, kè, bến đò trên sông. Hệ thống đường giao thông trong khu vực phải đáp ứng được tải trọng của các phương tiện vận chuyển cát, sỏi.
- Về diện tích: Diện tích bến bãi phải phù hợp với công suất khai thác theo giấy phép được cấp.
- Về điều kiện địa hình, địa chất: phải có nền đất ổn định, có địa hình tương đối bằng phẳng, có khả năng thoát nước tốt, thuận lợi cho việc rung chuyển từ dưới sông lên bờ và vận chuyển từ bãi tập kết đến nơi tiêu thụ.
d) Các khu vực cấm, hạn chế khai thác cát, sỏi xây dựng:
- Các khu vực cấm khai thác cát, sỏi xây dựng:
+ Khu vực cấm thăm dò, khai thác theo Quyết định số 02/2008/QĐ-UBND ngày 17/4/2008 của UBND tỉnh Tuyên Quang: khu vực ngã ba sông Lô - Gâm thuộc địa bàn xã Tân Long, huyện Yên Sơn, diện tích 1,2 km2, gần đường quốc lộ 37B;
+ Các khu vực chưa được cấp phép thăm dò, khai thác;
+ Các khu vực nằm trong hành lang bảo vệ an toàn đê điều, đường bờ dọc theo các sông và hành lang bảo vệ an toàn của bãi bồi trên sông; những điểm thường xảy ra sạt lở hoặc khu vực có nguy cơ sạt lở cao; khu vực nằm trong hành lang bảo vệ các công trình thủy lợi, kè sông suối, cống, các cầu bắc qua sông; khu vực nằm trong phạm vi hoạt động của các bến đò, bến cảng, bến phà, trạm thủy văn; khu vực có các điểm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh.
- Các khu vực hạn chế khai thác cát, sỏi xây dựng: Khu vực hạn chế khai thác là các khu vực có tuyến sông chảy qua nằm trong địa bàn thành phố Tuyên Quang, các thị trấn huyện lỵ, các khu vực có dự án xây dựng kè bảo vệ bờ sông, các khu vực có các tuyến đê phòng lũ.
+ Sông Lô: Đoạn chảy qua thành phố Tuyên Quang từ cầu Tân Hà đến hết soi Tình Húc, dài khoảng 8 km và khu vực xây dựng kè bảo vệ tại xã An Khang dài khoảng 0,5 km; đoạn chảy qua thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, từ khu Bắc Mục đến khu Bắc Yên dài khoảng 1,6 km; các khu vực có các tuyến đê phòng lũ thuộc địa bàn các xã: Vĩnh Lợi, Cấp Tiến, Đông Thọ, Quyết Thắng Vân Sơn, Hồng Lạc, Sầm Dương, Lâm Xuyên (huyện Sơn Dương) và các xã An Khang, Thái Long (thành phố Tuyên Quang).
+ Sông Gâm: Đoạn từ chân đập thủy điện Tuyên Quang về phía hạ lưu dài khoảng 2 km thuộc địa bàn thị trấn huyện lỵ Na Hang; đoạn chảy qua thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa dài khoảng 2 km.
+ Sông Phó Đáy: Các khu vực có kè bảo vệ bờ sông trong phạm vi khu di tích lịch sử ATK thuộc huyện Yên Sơn, huyện Sơn Dương và khu vực chảy qua thị trấn Sơn Dương.
e) Định hướng sử dụng tài nguyên cát, sỏi xây dựng:
- Trong quá trình khai thác phải sử dụng công nghệ sàng, tuyển thích hợp, đảm bảo tận thu tối đa các thành phần cát, sỏi có theo từng cỡ hạt, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạn chế thấp nhất lượng phế thải trong quá trình khai thác.
- Việc sử dụng cát, sỏi phải đúng mục đích, phù hợp với tính chất công nghệ và chỉ tiêu kỹ thuật của từng loại cát, sỏi, không được sử dụng cát, sỏi có chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn làm cốt liệu cho bê tông và vữa xây dựng để làm vật liệu san lấp hoặc vào các mục đích không phù hợp khác.
- Mọi hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi xây dựng phải tuân thủ theo đúng pháp luật. Mua bán, vận chuyển và sử dụng cát, sỏi xây dựng (kể cả các công trình của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không sử dụng ngân sách nhà nước) phải có nguồn gốc hợp pháp, có hóa đơn, chứng từ theo quy định để chứng minh đã nộp đầy đủ các loại phí và các loại thuế theo quy định.
5. Các giải pháp thực hiện quy hoạch
a) Giải pháp về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước:
- Triển khai quy hoạch tới các cấp, các ngành; thông báo rộng rãi quy trình, thủ tục hành chính cấp giấy phép thăm dò, khai thác cát, sỏi xây dựng; tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về lĩnh vực khoáng sản, vật liệu xây dựng để các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân biết và thực hiện.
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước, kiểm tra, giám sát, phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thăm dò, khai thác, kinh doanh và sử dụng cát, sỏi xây dựng, bảo đảm hiệu quả, đúng quy định.
- Xây dựng các quy chế phối hợp giữa các cấp, các ngành trong tỉnh trong công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động thăm dò, khai thác, kinh doanh và sử dụng cát, sỏi xây dựng nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước tại địa phương.
- Tổ chức cắm biển báo các khu vực cấm khai thác; khống chế tối đa chiều sâu khai thác cát, sỏi xây dựng dưới lòng sông; bàn giao các khu vực được thăm dò, khai thác và các nơi nghiêm cấm khai thác cho cấp xã, phường, thị trấn trực tiếp quản lý, bảo vệ theo quy định.
- Chỉ cấp giấy phép thăm dò, khai thác cát, sỏi xây dựng cho tổ chức, cá nhân có đủ năng lực theo quy định của pháp luật. Việc cấp phép khai thác cần quy định rõ về công suất, thời gian hoạt động, quy định chủng loại và số lượng, thông số kỹ thuật chính của thiết bị được sử dụng để thăm dò, khai thác.
- Nghiên cứu, xây dựng quy chế phối hợp với các tỉnh lân cận (Phú Thọ, Yên Bái, Hà Giang) trong công tác quản lý thăm dò, khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên cát, sỏi xây dựng tại các khu vực tiếp giáp giữa 2 tỉnh. Theo đó, cần có giải pháp phân định rõ gianh giới, cắm mốc để xác định các khu mỏ thuộc thẩm quyền quản lý của mỗi tỉnh trong các khu vực này. Đồng thời, cần quy định rõ vị trí hoạt động khai thác của từng doanh nghiệp trên mỗi khu mỏ và khoảng cách hoạt động giữa các doanh nghiệp trong khu vực mỏ tiếp giáp nhau, tránh xảy ra tình trạng tranh chấp trong khai thác, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội.
- Tổ chức điều tra, thống kê các tổ chức, cá nhân đang khai thác, kinh doanh cát, sỏi xây dựng trên địa bàn để quản lý và yêu cầu lập quy hoạch bến bãi tập kết, kinh doanh cát sỏi xây dựng theo quy định của pháp luật.
b) Giải pháp chính sách:
- Hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến công tác thăm dò, khai thác kinh doanh cát, sỏi xây dựng; xây dựng các phương án, kế hoạch đấu thầu các khu vực thăm dò, khai thác các mỏ cát, sỏi xây dựng.
- Có chính sách khuyến khích đầu tư về thiết bị, công nghệ khai thác, chế biến nhằm khai thác triệt để nguồn tài nguyên cát, sỏi xây dựng.
- Hỗ trợ kinh phí, trang thiết bị cho địa phương tăng cường công tác kiểm tra, xử lý các hoạt động khai thác cát, sỏi xây dựng trái phép trên địa bàn.
- Thực hiện cơ chế khen thưởng cho người dân khi phát hiện các trường hợp vi phạm và báo tin cho các cấp chính quyền xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành.
c) Giải pháp về vốn:
- Nguồn vốn cho thăm dò, khai thác cát, sỏi xây dựng chủ yếu từ vốn của các doanh nghiệp được cấp phép thăm dò, khai thác.
- Ngân sách của tỉnh đầu tư cho việc khoanh vùng, cắm biển báo các khu vực cấm thăm dò, khai thác để giao cho địa phương quản lý, bảo vệ.
- Công bố rộng rãi danh mục, tài nguyên các mỏ đã được quy hoạch thăm dò, khai thác trên địa bàn các tỉnh để kêu gọi đầu tư thăm dò và tổ chức khai thác phục vụ công nghiệp vật liệu xây dựng.
d) Giải pháp về công nghệ và môi trường:
- Áp dụng các quy trình công nghệ thăm dò, khai thác phải phù hợp với đặc điểm cấu tạo mỏ, điều kiện khai thác và chiều sâu khai thác theo thiết kế của từng mỏ, đảm bảo nâng cao tối đa hệ số thu hồi khoáng sản, nâng cao chất lượng của sản phẩm.
- Ưu tiên sử dụng công nghệ khai thác bằng phương tiện tàu hút hoặc công nghệ tiên tiến khác ít gây tác động đến môi trường.
- Không được phép khai thác bằng phương tiện tàu cuốc, gầu quăng để giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường và tránh việc lợi dụng khai thác cát, sỏi để khai thác vàng sa khoáng trái phép. Chỉ cho phép sử dụng các phương tiện này khi xác định địa chất khu vực khai thác đảm bảo an toàn tuyệt đối và không thể sử dụng được phương tiện tàu hút hoặc các phương tiện khác.
- Các dự án trước khi cấp phép khai thác đều phải thực hiện nghiêm việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc lập bản cam kết bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật. Trong quá trình hoạt động phải thực hiện nghiêm các quy định của Luật Bảo vệ môi trường, định kỳ quan trắc, phân tích các thông số ô nhiễm. Thực hiện nghiêm túc việc hoàn thổ, phục hồi môi trường các mỏ cát, sỏi sau khai thác.
- Chỉ cho phép các phương tiện hoạt động khai thác cát, sỏi xây dựng vào ban ngày để thuận tiện cho việc quản lý, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng, hạn chế ảnh hưởng của tiếng ồn do quá trình khai thác đến đời sống của nhân dân và tránh việc khai thác trái phép.