Document: Khoản 1 Điều 1 Quyết định 819/QĐ-UBND 2017 Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng Thái Nguyên 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "05/04/2017", "sign_number": "819/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Tuấn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "05/04/2017", "sign_number": "819/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Tuấn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "05/04/2017", "sign_number": "819/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Tuấn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "05/04/2017", "sign_number": "819/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Tuấn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "05/04/2017", "sign_number": "819/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Tuấn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 1 Quyết định 819/QĐ-UBND 2017 Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng Thái Nguyên 2020

Điều 1. Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau:
1. Quan điểm quy hoạch:
- Quy hoạch vật liệu xây dựng (VLXD) phải gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản làm VLXD thông thường, quy hoạch các ngành, các lĩnh vực kinh tế khác của tỉnh, đồng thời phải phù hợp với quy hoạch tổng thể ngành công nghiệp VLXD và quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm VLXD của cả nước để đảm bảo tính khoa học và khả thi cao. Phát triển sản xuất VLXD phải đi đôi với quản lý Nhà nước trong lĩnh vực VLXD để đảm bảo bền vững, gắn hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, bảo vệ tốt nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, di tích văn hóa, lịch sử, cảnh quan và đảm bảo an ninh quốc phòng.
- Phát triển sản xuất VLXD trên cơ sở phát huy nội lực của ngành và của tỉnh, tận dụng tốt tiềm năng thiên nhiên, lao động, điều kiện hạ tầng cơ sở và nguồn lực cho đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế. Xem năng lực nội sinh của ngành là nền tảng để phát triển nhằm tiết kiệm vốn đầu tư, đưa nhanh sản phẩm vào thị trường, tạo ra hiệu quả cao trong sản xuất và kinh doanh. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia sản xuất VLXD nhằm chống độc quyền trong sản xuất và lưu thông VLXD, tạo động lực cho việc cải tiến công nghệ, cải tiến công tác quản lý nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm VLXD trên thị trường trong tỉnh và ngoài tỉnh.
- Tập trung phát triển sản xuất xi măng, vật liệu xây, vật liệu lợp và khai thác chế biến đá, cát sỏi xây dựng,... xem đây là những hướng đầu tư chính của ngành VLXD ở tỉnh trong giai đoạn tới. Đồng thời chú trọng phát triển các chủng loại VLXD mới có chất lượng cao phục vụ cho xây dựng đô thị, các khu thương mại và du lịch. Quan tâm đúng mức đến việc phát triển các chủng loại VLXD từ nguồn nguyên liệu tại chỗ, công nghệ sản xuất đơn giản, vốn đầu tư ban đầu thấp, trước mắt là các loại vật liệu xây, vật liệu lợp không nung cho xây dựng nhà ở tại các khu vực có khả năng chi trả hạn chế.
- Lựa chọn quy mô đầu tư hợp lý đối với từng chủng loại VLXD, bố trí sản xuất gần các vùng nguyên liệu và vùng tiêu thụ để phù hợp với đặc thù của đa số các chủng loại VLXD là nặng và cồng kềnh, khối lượng sử dụng thường lớn, đồng thời thích ứng với từng thời kỳ tùy theo năng lực tiếp thu công nghệ sản xuất và tập quán sử dụng VLXD của tỉnh. Từng bước loại bỏ các công nghệ lạc hậu, công nghệ tiêu tốn nhiều nguyên liệu, nhiên liệu và gây ô nhiễm môi trường, phấn đấu nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành để tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
- Quy hoạch phải được thường xuyên rà soát, trên cơ sở đó điều chỉnh, bổ sung cục bộ các cơ sở sản xuất VLXD, khai thác chế biến khoáng sản làm VLXD cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Content:
Quan điểm quy hoạch:
- Quy hoạch vật liệu xây dựng (VLXD) phải gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản làm VLXD thông thường, quy hoạch các ngành, các lĩnh vực kinh tế khác của tỉnh, đồng thời phải phù hợp với quy hoạch tổng thể ngành công nghiệp VLXD và quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm VLXD của cả nước để đảm bảo tính khoa học và khả thi cao. Phát triển sản xuất VLXD phải đi đôi với quản lý Nhà nước trong lĩnh vực VLXD để đảm bảo bền vững, gắn hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, bảo vệ tốt nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, di tích văn hóa, lịch sử, cảnh quan và đảm bảo an ninh quốc phòng.
- Phát triển sản xuất VLXD trên cơ sở phát huy nội lực của ngành và của tỉnh, tận dụng tốt tiềm năng thiên nhiên, lao động, điều kiện hạ tầng cơ sở và nguồn lực cho đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế. Xem năng lực nội sinh của ngành là nền tảng để phát triển nhằm tiết kiệm vốn đầu tư, đưa nhanh sản phẩm vào thị trường, tạo ra hiệu quả cao trong sản xuất và kinh doanh. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia sản xuất VLXD nhằm chống độc quyền trong sản xuất và lưu thông VLXD, tạo động lực cho việc cải tiến công nghệ, cải tiến công tác quản lý nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm VLXD trên thị trường trong tỉnh và ngoài tỉnh.
- Tập trung phát triển sản xuất xi măng, vật liệu xây, vật liệu lợp và khai thác chế biến đá, cát sỏi xây dựng,... xem đây là những hướng đầu tư chính của ngành VLXD ở tỉnh trong giai đoạn tới. Đồng thời chú trọng phát triển các chủng loại VLXD mới có chất lượng cao phục vụ cho xây dựng đô thị, các khu thương mại và du lịch. Quan tâm đúng mức đến việc phát triển các chủng loại VLXD từ nguồn nguyên liệu tại chỗ, công nghệ sản xuất đơn giản, vốn đầu tư ban đầu thấp, trước mắt là các loại vật liệu xây, vật liệu lợp không nung cho xây dựng nhà ở tại các khu vực có khả năng chi trả hạn chế.
- Lựa chọn quy mô đầu tư hợp lý đối với từng chủng loại VLXD, bố trí sản xuất gần các vùng nguyên liệu và vùng tiêu thụ để phù hợp với đặc thù của đa số các chủng loại VLXD là nặng và cồng kềnh, khối lượng sử dụng thường lớn, đồng thời thích ứng với từng thời kỳ tùy theo năng lực tiếp thu công nghệ sản xuất và tập quán sử dụng VLXD của tỉnh. Từng bước loại bỏ các công nghệ lạc hậu, công nghệ tiêu tốn nhiều nguyên liệu, nhiên liệu và gây ô nhiễm môi trường, phấn đấu nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành để tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
- Quy hoạch phải được thường xuyên rà soát, trên cơ sở đó điều chỉnh, bổ sung cục bộ các cơ sở sản xuất VLXD, khai thác chế biến khoáng sản làm VLXD cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương.