Document: Điều 1 Thông tư 46-TC/TCT thi hành Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt

Type: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "04/10/1990", "sign_number": "46-TC/TCT", "signer": "Phan Văn Dĩnh", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "04/10/1990", "sign_number": "46-TC/TCT", "signer": "Phan Văn Dĩnh", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "04/10/1990", "sign_number": "46-TC/TCT", "signer": "Phan Văn Dĩnh", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "04/10/1990", "sign_number": "46-TC/TCT", "signer": "Phan Văn Dĩnh", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "04/10/1990", "sign_number": "46-TC/TCT", "signer": "Phan Văn Dĩnh", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 1 Thông tư 46-TC/TCT thi hành Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt có nội dung như sau:

Điều 1. 4 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính quy định hình thức phạt tiền:
+ Phạt tiền từ 1.000 đồng đến 20.000 đồng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính có tính chất đơn giản, rõ ràng, chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn về tài sản, nếu vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm thì phạt tiền từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng.
+ Phạt tiền từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng đối với vi phạm hành chính không thuộc trường hợp trên.
+ Vi phạm trong lĩnh vực thuế v.v...có tình tiết tăng nặng thì có thể phạt tiền trên 500.000 đồng.
b) Theo Điều 17 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt đối với cán bộ ngành thuế như sau:
- Cán bộ thuế đang thi hành công vụ được phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 20.000 đồng. Việc phạt tiền từ trên 20.000 đồng đến 50.000 đồng phải do thủ trưởng trực tiếp của cán bộ thuế quyết định.
- Trưởng phòng thuế được áp dụng tất cả các hình thức phạt và biện pháp cưỡng chế khác và phạt đến 200.000 đồng.
Theo Điều 20 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính thì trong trường hợp xử phạt hành chính đơn giản bằng hình thức cảnh cáo, phạt tiền đến 20.000 đồng thì người có thẩm quyền xử phạt quyết định phạt tại chỗ. Người bị phạt tiền phải nộp tiền và được nhận biên lai thu phạt.
Theo Điều 21 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, thì khi có vi phạm hành chính, cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền xử phạt phải kịp thời lập biên bản với nội dung đầy đủ trừ trường hợp xử phạt theo thủ tục đơn giản.
Trường hợp cần truy cứu trách nhiệm hình sự thì thực hiện theo điểm b, mục (1) trên.
3. Điều 23 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt quy định hình thức xử lý đối với cán bộ thuế, cá nhân khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm dụng, tham ô tiền thuế tiêu thụ đặc biệt, bao che cho người chi phạm Luật thuế tiêu thụ đặc biệt; cố ý làm trái quy định của luật; thiếu trách nhiệm trong khi thi hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt thì phải bồi thường cho Nhà nước toàn bộ số thuế đã chiếm dụng, tham ô và tuỳ mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Về xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm áp dụng theo hướng dẫn trong điểm a, và b, mục 2) trên. Riêng trường hợp cán bộ thuế do thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc cố tình xử lý sai, gây thiệt hại cho người nộp thuế hoặc người bị xử lý phải bồi thường cho người bị thiệt hại, cần xem xét thêm nguyên nhân sai phạm: vì mục đích vụ lợi hay vì chưa hiểu các nguyên tắc, chế độ... để việc giải quyết được thoả đáng.
4. Điều 20 và Điều 21 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt đã quy định mức xử phạt tối đa và thẩm quyền xử phạt đối với từng cấp. Do đó trước khi xử lý cần xác định trường hợp vi phạm được xử lý theo điều khoản nào trong Luật và thẩm quyền xử lý của mỗi cấp, tránh việc xử lý vượt quá mức phạt và quá thẩm quyền của mỗi cấp.
VI- KHIẾU NẠI VÀ THỜI HIỆU
1. Điều 25 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt quy định quyền khiếu nại đối với tổ chức cá nhân thấy việc thi hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt không đúng.
Đơn khiếu nại phải được gửi cơ quan thuế phát hành lệnh thu hoặc quyết định xử lý trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được lệnh thu hoặc quyết định xử lý. Trong khi chờ giải quyết người khiếu nại phải nộp đủ và đúng thời hạn số tiền thuế, tiền phạt đã thông báo. Cơ quan nhận đơn khiếu nại phải xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn. Đối với vụ phức tạp, phải mất nhiều thời gian điều tra xác minh, cần báo lại cho đương sự biết và thời gian giải quyết chậm nhất cũng không quá 30 ngày kể từ ngày nhận đơn.
Sau khi xem xét việc khiếu nại, cơ quan giải quyết việc khiếu nại phải có quyết định với một trong những nội dung sau:
- Không thay đổi quyết định xử lý trước;
- Thay đổi hình thức, mức độ, biện pháp xử lý;
- Huỷ quyết định xử lý và đình chỉ việc xử lý trước.
Trong trường hợp thay đổi hoặc huỷ quyết định xử lý trước, có thể có quyết định bồi thường, bồi hoàn thiệt hại trực tiếp (nếu có). Nếu người bị hại không đồng ý với quyết định bồi thường, bồi hoàn thì họ có thể yêu cầu Toà án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
2. Theo Điều 26 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định của cơ quan nhận đơn về mức thuế, mức phạt hoặc quá thời hạn 30 ngày mà chưa được giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại lên cơ quan thuế cấp trên trực tiếp của cơ quan nhận đơn. Thẩm quyền giải quyết đơn khiếu nại được quy định như sau:
- Trưởng chi cục thuế huyện hoặc cấp tương đương xét giải quyết các đơn khiếu nại về quyết định mức thuế hoặc mức phạt của trưởng trạm thuế.
- Trưởng Cục thuế tỉnh hoặc cấp trưởng tương đương xét giải quyết các đơn khiếu nại về quyết định mức thuế hoặc mức phạt của trưởng chi cục thuế huyện hoặc cấp tương đương.
- Nếu còn khiếu nại, Bộ trưởng Bộ Tài chính xét quyết định.
Trong quá trình xem xét giải quyết các vụ khiếu nại, cơ quan thuế cấp trên cần tham khảo và phân tích kỹ tài liệu ý kiến của cơ quan thuế cấp dưới để việc giải quyết được khách quan, công minh, đúng luật.

Content:
Điều 1. 4 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính quy định hình thức phạt tiền:
+ Phạt tiền từ 1.000 đồng đến 20.000 đồng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính có tính chất đơn giản, rõ ràng, chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn về tài sản, nếu vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm thì phạt tiền từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng.
+ Phạt tiền từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng đối với vi phạm hành chính không thuộc trường hợp trên.
+ Vi phạm trong lĩnh vực thuế v.v...có tình tiết tăng nặng thì có thể phạt tiền trên 500.000 đồng.
b) Theo Điều 17 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt đối với cán bộ ngành thuế như sau:
- Cán bộ thuế đang thi hành công vụ được phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 20.000 đồng. Việc phạt tiền từ trên 20.000 đồng đến 50.000 đồng phải do thủ trưởng trực tiếp của cán bộ thuế quyết định.
- Trưởng phòng thuế được áp dụng tất cả các hình thức phạt và biện pháp cưỡng chế khác và phạt đến 200.000 đồng.
Theo Điều 20 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính thì trong trường hợp xử phạt hành chính đơn giản bằng hình thức cảnh cáo, phạt tiền đến 20.000 đồng thì người có thẩm quyền xử phạt quyết định phạt tại chỗ. Người bị phạt tiền phải nộp tiền và được nhận biên lai thu phạt.
Theo Điều 21 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, thì khi có vi phạm hành chính, cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền xử phạt phải kịp thời lập biên bản với nội dung đầy đủ trừ trường hợp xử phạt theo thủ tục đơn giản.
Trường hợp cần truy cứu trách nhiệm hình sự thì thực hiện theo điểm b, mục (1) trên.
3. Điều 23 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt quy định hình thức xử lý đối với cán bộ thuế, cá nhân khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm dụng, tham ô tiền thuế tiêu thụ đặc biệt, bao che cho người chi phạm Luật thuế tiêu thụ đặc biệt; cố ý làm trái quy định của luật; thiếu trách nhiệm trong khi thi hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt thì phải bồi thường cho Nhà nước toàn bộ số thuế đã chiếm dụng, tham ô và tuỳ mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Về xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm áp dụng theo hướng dẫn trong điểm a, và b, mục 2) trên. Riêng trường hợp cán bộ thuế do thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc cố tình xử lý sai, gây thiệt hại cho người nộp thuế hoặc người bị xử lý phải bồi thường cho người bị thiệt hại, cần xem xét thêm nguyên nhân sai phạm: vì mục đích vụ lợi hay vì chưa hiểu các nguyên tắc, chế độ... để việc giải quyết được thoả đáng.
4. Điều 20 và Điều 21 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt đã quy định mức xử phạt tối đa và thẩm quyền xử phạt đối với từng cấp. Do đó trước khi xử lý cần xác định trường hợp vi phạm được xử lý theo điều khoản nào trong Luật và thẩm quyền xử lý của mỗi cấp, tránh việc xử lý vượt quá mức phạt và quá thẩm quyền của mỗi cấp.
VI- KHIẾU NẠI VÀ THỜI HIỆU
1. Điều 25 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt quy định quyền khiếu nại đối với tổ chức cá nhân thấy việc thi hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt không đúng.
Đơn khiếu nại phải được gửi cơ quan thuế phát hành lệnh thu hoặc quyết định xử lý trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được lệnh thu hoặc quyết định xử lý. Trong khi chờ giải quyết người khiếu nại phải nộp đủ và đúng thời hạn số tiền thuế, tiền phạt đã thông báo. Cơ quan nhận đơn khiếu nại phải xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đơn. Đối với vụ phức tạp, phải mất nhiều thời gian điều tra xác minh, cần báo lại cho đương sự biết và thời gian giải quyết chậm nhất cũng không quá 30 ngày kể từ ngày nhận đơn.
Sau khi xem xét việc khiếu nại, cơ quan giải quyết việc khiếu nại phải có quyết định với một trong những nội dung sau:
- Không thay đổi quyết định xử lý trước;
- Thay đổi hình thức, mức độ, biện pháp xử lý;
- Huỷ quyết định xử lý và đình chỉ việc xử lý trước.
Trong trường hợp thay đổi hoặc huỷ quyết định xử lý trước, có thể có quyết định bồi thường, bồi hoàn thiệt hại trực tiếp (nếu có). Nếu người bị hại không đồng ý với quyết định bồi thường, bồi hoàn thì họ có thể yêu cầu Toà án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
2. Theo Điều 26 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định của cơ quan nhận đơn về mức thuế, mức phạt hoặc quá thời hạn 30 ngày mà chưa được giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại lên cơ quan thuế cấp trên trực tiếp của cơ quan nhận đơn. Thẩm quyền giải quyết đơn khiếu nại được quy định như sau:
- Trưởng chi cục thuế huyện hoặc cấp tương đương xét giải quyết các đơn khiếu nại về quyết định mức thuế hoặc mức phạt của trưởng trạm thuế.
- Trưởng Cục thuế tỉnh hoặc cấp trưởng tương đương xét giải quyết các đơn khiếu nại về quyết định mức thuế hoặc mức phạt của trưởng chi cục thuế huyện hoặc cấp tương đương.
- Nếu còn khiếu nại, Bộ trưởng Bộ Tài chính xét quyết định.
Trong quá trình xem xét giải quyết các vụ khiếu nại, cơ quan thuế cấp trên cần tham khảo và phân tích kỹ tài liệu ý kiến của cơ quan thuế cấp dưới để việc giải quyết được khách quan, công minh, đúng luật.