Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 550/QĐ-UBND 2021 Đề án Tái cơ cấu sản xuất công nghiệp theo hướng hiện đại Cần Thơ

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "12/03/2021", "sign_number": "550/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Hồng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "12/03/2021", "sign_number": "550/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Hồng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "12/03/2021", "sign_number": "550/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Hồng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "12/03/2021", "sign_number": "550/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Hồng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "12/03/2021", "sign_number": "550/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Hồng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 550/QĐ-UBND 2021 Đề án Tái cơ cấu sản xuất công nghiệp theo hướng hiện đại Cần Thơ

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu sản xuất công nghiệp thành phố Cần Thơ theo hướng hiện đại” với những nội dung chủ yếu sau:
...
4. Nội dung tái cơ cấu theo nhóm ngành công nghiệp chủ yếu
a) Sản xuất, chế biến thực phẩm và đồ uống
- Nhóm chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản:
Chuyển đổi cơ cấu các sản phẩm chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm giá trị gia tăng, giảm mạnh tỷ lệ các sản phẩm sơ chế, trên cơ sở đầu tư ứng dụng công nghệ tiên tiến trong chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản.
Hạn chế đầu tư mới các cơ sở chế biến sản phẩm thủy sản sơ chế, chỉ khuyến khích đầu tư cơ sở chế biến sản phẩm thủy sản có hàm lượng chế biến cao và tinh chế có giá trị gia tăng cao. Phát triển một số nhà máy chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản dưới dạng sản phẩm chế biến sẵn, ăn liền sản xuất theo công nghệ mới với các sản phẩm như: Surimi, xúc xích, pa tê, chà bông, thủy sản đông lạnh chế biến sẵn, đồ hộp sấy, hút chân không...
Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nhà máy chế biến phụ phế phẩm thủy sản với công nghệ tiên tiến, đảm bảo đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường (các phụ phẩm trong chế biến cá phi lê đông lạnh như đầu, xương, da, vây, nội tạng, mỡ... được tận dụng để sản xuất ra các sản phẩm như dầu cá, bột cá, bong bóng, bao tử cá...).
- Sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản:
Ngành công nghiệp sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản của Cần Thơ sẽ được khuyến khích phát triển với quy mô lớn, chất lượng cao để hạ giá thành, đảm bảo cung cấp cho ngành chăn nuôi và chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản phát triển mạnh, phấn đấu đưa ngành sản xuất, chế biến thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản của thành phố trở thành một ngành sản xuất phát triển mạnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
- Công nghiệp xay xát và chế biến bột:
Công nghiệp xay xát và chế biến bột được khuyến khích đầu tư công nghệ, thiết bị tiên tiến và đồng bộ từ khâu dự trữ thóc, xay xát, phân loại, đánh bóng, đóng bao, bảo quản...
Chú trọng xây dựng và tổ chức tốt khâu thu hoạch và sau thu hoạch, sấy khô, bảo quản, dự trữ nhàm giảm ty lệ hao hụt và đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất các sản phẩm gạo có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.
Tùy theo nhu cầu, tiếp tục khuyến khích các nhà máy xay xát lương thực đầu tư trang bị thêm thiết bị phơi sấy, thiết bị phân loại, đánh bóng, tách màu, chọn hạt để không ngừng nâng cao chất lượng gạo, đặc biệt là gạo xuất khẩu.
- Chế biến và bảo quản rau quả:
Khuyến khích đầu tư nhà máy chế biến sản phẩm nông nghiệp (rau, củ, quả) tại các khu công nghiệp và cụm công nghiệp, tạo chuỗi khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm; đầu tư các dây chuyền chiên, sấy chân không củ, quả các loại...
Phát triển các sản phẩm bột dinh dưỡng từ rau, củ, quả; sản phẩm bột gia vị; các sản phẩm chế biến rau quả tươi bảo quản lạnh được đóng gói trong bao chất dẻo...
- Chế biến, bảo quản thịt và sản phẩm từ thịt;
Phát triển các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm với quy mô phù hợp theo từng địa bàn chăn nuôi để đảm bảo nguồn cung cấp thịt sạch, đảm bảo yêu cầu kiểm dịch và vệ sinh môi trường; gắn kết chuỗi giá trị từ chăn nuôi đến khâu tiêu thụ sản phẩm.
Phát triển các cơ sở chế biến thịt (sản phẩm súc sản đông lạnh, thịt chế biến sẵn, đồ hộp, xúc xích, giăm bông...) tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của đô thị và khách du lịch.
b) Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất
Tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất nhằm phát huy tối đa hiệu quả cơ sở hạ tầng đã được đầu tư, chú trọng đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường; phát huy tốt vai trò của ngành là một trong những hạt nhân, động lực thúc đẩy sự phát triển công nghiệp của thành phố.
Mở rộng quy mô sản xuất của ngành phù hợp; đầu tư chiều sâu, từng bước đổi mới công nghệ, thiết bị lên ngang tầm với trình độ tiên tiến trong khu vực nhằm cung cấp cho thị trường trong nước và hướng vào xuất khẩu.
- Nhóm ngành sản xuất nhựa và cao su tổng hợp:
Sản xuất nguyên liệu nhựa, các sản phẩm cao su, nhựa kỹ thuật cao cấp... là những sản phẩm luôn đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài, công nghệ phức tạp, do đó cần khuyến khích các thành phần kinh tế, đặc biệt là khu vực đầu tư nước ngoài tham gia phát triển sản xuất.
Từng bước chuyển đổi cơ cấu các sản phẩm theo hướng giảm dần tỷ trọng các nhóm sản phẩm bao bì và nhựa gia dụng; tăng dần tỷ trọng nhóm sản phẩm nhựa, cao su vật liệu xây dựng và nhựa, cao su kỹ thuật.
- Nhóm ngành hóa chất cơ bản, phân bón và hợp chất ni tơ:
Các sản phẩm hóa chất luôn có nhu cầu tiêu thụ cao, do vậy, cần khuyến khích doanh nghiệp trong nước và FDI tập trung sản xuất các sản phẩm như sản phẩm phục vụ chăn nuôi; thuốc diệt côn trùng, thuốc diệt cỏ; hóa chất xây dựng; sản phẩm vệ sinh cá nhân và công nghiệp, xịt thơm; vật tư làm giày, mouse; dụng cụ thể thao; bao bì sản phẩm, keo dán tổng hợp, sơn các loại, tinh dầu; thuốc thú y, thuốc BVTV...
Phát triển đa dạng các sản phẩm phân bón (hữu cơ, vô cơ, vi sinh...) đảm bảo cung cấp cho thị trường trong nước và hướng vào xuất khẩu.
- Nhóm ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu:
Tiếp tục phát triển mạnh các sản phẩm thuốc chứa penixilin và các kháng sinh khác (dạng viên, dạng lỏng, dạng bột); thuốc mỡ kháng sinh; vitamin, tiền vitamin và các chất dẫn xuất của vitamin...
Khuyến khích đầu tư phát triển các dự án bào chế thuốc đạt chuẩn GMP; dự án sản xuất thuốc gốc (generic), nguyên liệu làm thuốc, nguyên liệu hóa dược vô cơ, sản xuất tá dược thông thường và tá dược cao cấp; sản xuất nguyên liệu kháng sinh thế hệ mới.
Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển các sản phẩm cao cấp, có giá trị gia tăng cao dùng trong ngành dược phẩm hoặc mỹ phẩm như: Tinh dầu cá, gelatine, thực phẩm chức năng chứa vi chất...
c) Sản xuất kim loại, máy móc, thiết bị, sản phẩm điện tử, máy vi tính
- Nhóm ngành sản xuất kim loại, máy móc, thiết bị:
Phát triển ngành sản xuất kim loại, sản xuất máy móc, thiết bị thành phố Cần Thơ theo hướng nâng dần quy mô sản xuất kinh doanh, phục vụ yêu cầu trên địa bàn và đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường cơ khí toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long; vừa phát triển theo chiều rộng để tăng nhanh số lượng doanh nghiệp các phân ngành, vừa tranh thủ đầu tư chiều sâu vào những lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh, đi thẳng vào những công nghệ hiện đại mang lại hiệu quả cao về giá trị gia tăng, tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng, thân thiện môi trường.
Khai thác tiềm năng và huy động các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển ngành cơ khí, quan tâm đặc biệt đến xúc tiến đầu tư nước ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn và công nghệ mới, hình thành các doanh nghiệp lớn, dẫn đầu hỗ trợ cho các cơ sở cơ khí vệ tinh phát triển, tham gia cung cấp máy móc, thiết bị, phụ tùng, linh kiện cho các dự án lớn.
Hướng các doanh nghiệp tập trung phát triển các sản phẩm cơ khí, thiết bị tự động hóa và cơ giới hóa phục vụ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, lắp ráp, sửa chữa và tiến tới chế tạo các loại máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp trong khâu làm đất, chăm sóc, thu hoạch, chế biến, bảo quản sau thu hoạch nhằm phát triển đồng bộ ngành công nghiệp và nông nghiệp của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Khuyến khích doanh nghiệp liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, xây dựng mối quan hệ hữu cơ trên cơ sở chuyên môn hóa và hợp tác hóa, giữa các đơn vị trong và ngoài địa phương và các doanh nghiệp sản xuất nước ngoài.
- Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính:
Tạo môi trường thuận lợi, thu hút vốn đầu tư nước ngoài phát triển các sản phẩm linh, phụ kiện điện tử theo hướng gắn kết vào chuỗi sản xuất, cung ứng quốc tế.
Gắn kết phát triển sản xuất công nghiệp điện tử với sản xuất cơ điện tử, cơ khí chính xác để phát triển các sản phẩm kết hợp như: máy móc gia công cơ khí chính xác, máy móc sử dụng công nghệ cao cho các ngành công nghiệp.
d) Công nghiệp sản xuất và phân phối điện
Phát triển lưới điện truyền tải và phân phối của thành phố Cần Thơ gắn với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của vùng và từng địa phương trong vùng, đảm bảo chất lượng điện và độ tin cậy cung cấp điện ngày càng được nâng cao.
Đầu tư hạ tầng cung cấp điện, đảm bảo cung cấp đủ cho sản xuất và sinh hoạt, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa, thực hiện việc hiện đại hóa và từng bước ngầm hóa lưới điện trong khu vực đô thị.
Đầu tư xây dựng đường ống dẫn khí từ Kiên Giang đến ô Môn (công suất 3,4 tỷ m3/năm) và thay thế nhiên liệu của Nhà máy điện Ô Môn 1 (công suất 2 x 330Mw) từ chạy dầu FO sang chạy khí để đảm bảo hiệu quả kinh tế.
Xây dựng và hoàn thiện Trung tâm điện lực ô Môn (gồm các dự án Nhà máy nhiệt điện Ô Môn I, II, III và IV với tổng công suất dự kiến 3.810 MW) đáp ứng nhu cầu phát triển chung của thành phố và vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Khuyến khích phát triển nguồn điện năng lượng sạch (các nguồn năng lượng mặt trời, tái tạo từ chất thải rắn...). Nghiên cứu áp dụng lưới điện thông minh, công nghệ hiện đại nhằm nâng cao chất lượng quản lý và khai thác lưới điện phân phối; kết nối, hòa mạng đồng bộ hệ thống điện với các địa phương trong vùng.

Content:
Nội dung tái cơ cấu theo nhóm ngành công nghiệp chủ yếu
a) Sản xuất, chế biến thực phẩm và đồ uống
- Nhóm chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản:
Chuyển đổi cơ cấu các sản phẩm chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm giá trị gia tăng, giảm mạnh tỷ lệ các sản phẩm sơ chế, trên cơ sở đầu tư ứng dụng công nghệ tiên tiến trong chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản.
Hạn chế đầu tư mới các cơ sở chế biến sản phẩm thủy sản sơ chế, chỉ khuyến khích đầu tư cơ sở chế biến sản phẩm thủy sản có hàm lượng chế biến cao và tinh chế có giá trị gia tăng cao. Phát triển một số nhà máy chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản dưới dạng sản phẩm chế biến sẵn, ăn liền sản xuất theo công nghệ mới với các sản phẩm như: Surimi, xúc xích, pa tê, chà bông, thủy sản đông lạnh chế biến sẵn, đồ hộp sấy, hút chân không...
Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nhà máy chế biến phụ phế phẩm thủy sản với công nghệ tiên tiến, đảm bảo đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường (các phụ phẩm trong chế biến cá phi lê đông lạnh như đầu, xương, da, vây, nội tạng, mỡ... được tận dụng để sản xuất ra các sản phẩm như dầu cá, bột cá, bong bóng, bao tử cá...).
- Sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản:
Ngành công nghiệp sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản của Cần Thơ sẽ được khuyến khích phát triển với quy mô lớn, chất lượng cao để hạ giá thành, đảm bảo cung cấp cho ngành chăn nuôi và chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản phát triển mạnh, phấn đấu đưa ngành sản xuất, chế biến thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản của thành phố trở thành một ngành sản xuất phát triển mạnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
- Công nghiệp xay xát và chế biến bột:
Công nghiệp xay xát và chế biến bột được khuyến khích đầu tư công nghệ, thiết bị tiên tiến và đồng bộ từ khâu dự trữ thóc, xay xát, phân loại, đánh bóng, đóng bao, bảo quản...
Chú trọng xây dựng và tổ chức tốt khâu thu hoạch và sau thu hoạch, sấy khô, bảo quản, dự trữ nhàm giảm ty lệ hao hụt và đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất các sản phẩm gạo có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.
Tùy theo nhu cầu, tiếp tục khuyến khích các nhà máy xay xát lương thực đầu tư trang bị thêm thiết bị phơi sấy, thiết bị phân loại, đánh bóng, tách màu, chọn hạt để không ngừng nâng cao chất lượng gạo, đặc biệt là gạo xuất khẩu.
- Chế biến và bảo quản rau quả:
Khuyến khích đầu tư nhà máy chế biến sản phẩm nông nghiệp (rau, củ, quả) tại các khu công nghiệp và cụm công nghiệp, tạo chuỗi khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm; đầu tư các dây chuyền chiên, sấy chân không củ, quả các loại...
Phát triển các sản phẩm bột dinh dưỡng từ rau, củ, quả; sản phẩm bột gia vị; các sản phẩm chế biến rau quả tươi bảo quản lạnh được đóng gói trong bao chất dẻo...
- Chế biến, bảo quản thịt và sản phẩm từ thịt;
Phát triển các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm với quy mô phù hợp theo từng địa bàn chăn nuôi để đảm bảo nguồn cung cấp thịt sạch, đảm bảo yêu cầu kiểm dịch và vệ sinh môi trường; gắn kết chuỗi giá trị từ chăn nuôi đến khâu tiêu thụ sản phẩm.
Phát triển các cơ sở chế biến thịt (sản phẩm súc sản đông lạnh, thịt chế biến sẵn, đồ hộp, xúc xích, giăm bông...) tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của đô thị và khách du lịch.
b) Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất
Tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất nhằm phát huy tối đa hiệu quả cơ sở hạ tầng đã được đầu tư, chú trọng đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường; phát huy tốt vai trò của ngành là một trong những hạt nhân, động lực thúc đẩy sự phát triển công nghiệp của thành phố.
Mở rộng quy mô sản xuất của ngành phù hợp; đầu tư chiều sâu, từng bước đổi mới công nghệ, thiết bị lên ngang tầm với trình độ tiên tiến trong khu vực nhằm cung cấp cho thị trường trong nước và hướng vào xuất khẩu.
- Nhóm ngành sản xuất nhựa và cao su tổng hợp:
Sản xuất nguyên liệu nhựa, các sản phẩm cao su, nhựa kỹ thuật cao cấp... là những sản phẩm luôn đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài, công nghệ phức tạp, do đó cần khuyến khích các thành phần kinh tế, đặc biệt là khu vực đầu tư nước ngoài tham gia phát triển sản xuất.
Từng bước chuyển đổi cơ cấu các sản phẩm theo hướng giảm dần tỷ trọng các nhóm sản phẩm bao bì và nhựa gia dụng; tăng dần tỷ trọng nhóm sản phẩm nhựa, cao su vật liệu xây dựng và nhựa, cao su kỹ thuật.
- Nhóm ngành hóa chất cơ bản, phân bón và hợp chất ni tơ:
Các sản phẩm hóa chất luôn có nhu cầu tiêu thụ cao, do vậy, cần khuyến khích doanh nghiệp trong nước và FDI tập trung sản xuất các sản phẩm như sản phẩm phục vụ chăn nuôi; thuốc diệt côn trùng, thuốc diệt cỏ; hóa chất xây dựng; sản phẩm vệ sinh cá nhân và công nghiệp, xịt thơm; vật tư làm giày, mouse; dụng cụ thể thao; bao bì sản phẩm, keo dán tổng hợp, sơn các loại, tinh dầu; thuốc thú y, thuốc BVTV...
Phát triển đa dạng các sản phẩm phân bón (hữu cơ, vô cơ, vi sinh...) đảm bảo cung cấp cho thị trường trong nước và hướng vào xuất khẩu.
- Nhóm ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu:
Tiếp tục phát triển mạnh các sản phẩm thuốc chứa penixilin và các kháng sinh khác (dạng viên, dạng lỏng, dạng bột); thuốc mỡ kháng sinh; vitamin, tiền vitamin và các chất dẫn xuất của vitamin...
Khuyến khích đầu tư phát triển các dự án bào chế thuốc đạt chuẩn GMP; dự án sản xuất thuốc gốc (generic), nguyên liệu làm thuốc, nguyên liệu hóa dược vô cơ, sản xuất tá dược thông thường và tá dược cao cấp; sản xuất nguyên liệu kháng sinh thế hệ mới.
Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển các sản phẩm cao cấp, có giá trị gia tăng cao dùng trong ngành dược phẩm hoặc mỹ phẩm như: Tinh dầu cá, gelatine, thực phẩm chức năng chứa vi chất...
c) Sản xuất kim loại, máy móc, thiết bị, sản phẩm điện tử, máy vi tính
- Nhóm ngành sản xuất kim loại, máy móc, thiết bị:
Phát triển ngành sản xuất kim loại, sản xuất máy móc, thiết bị thành phố Cần Thơ theo hướng nâng dần quy mô sản xuất kinh doanh, phục vụ yêu cầu trên địa bàn và đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường cơ khí toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long; vừa phát triển theo chiều rộng để tăng nhanh số lượng doanh nghiệp các phân ngành, vừa tranh thủ đầu tư chiều sâu vào những lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh, đi thẳng vào những công nghệ hiện đại mang lại hiệu quả cao về giá trị gia tăng, tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng, thân thiện môi trường.
Khai thác tiềm năng và huy động các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển ngành cơ khí, quan tâm đặc biệt đến xúc tiến đầu tư nước ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn và công nghệ mới, hình thành các doanh nghiệp lớn, dẫn đầu hỗ trợ cho các cơ sở cơ khí vệ tinh phát triển, tham gia cung cấp máy móc, thiết bị, phụ tùng, linh kiện cho các dự án lớn.
Hướng các doanh nghiệp tập trung phát triển các sản phẩm cơ khí, thiết bị tự động hóa và cơ giới hóa phục vụ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, lắp ráp, sửa chữa và tiến tới chế tạo các loại máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp trong khâu làm đất, chăm sóc, thu hoạch, chế biến, bảo quản sau thu hoạch nhằm phát triển đồng bộ ngành công nghiệp và nông nghiệp của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Khuyến khích doanh nghiệp liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, xây dựng mối quan hệ hữu cơ trên cơ sở chuyên môn hóa và hợp tác hóa, giữa các đơn vị trong và ngoài địa phương và các doanh nghiệp sản xuất nước ngoài.
- Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính:
Tạo môi trường thuận lợi, thu hút vốn đầu tư nước ngoài phát triển các sản phẩm linh, phụ kiện điện tử theo hướng gắn kết vào chuỗi sản xuất, cung ứng quốc tế.
Gắn kết phát triển sản xuất công nghiệp điện tử với sản xuất cơ điện tử, cơ khí chính xác để phát triển các sản phẩm kết hợp như: máy móc gia công cơ khí chính xác, máy móc sử dụng công nghệ cao cho các ngành công nghiệp.
d) Công nghiệp sản xuất và phân phối điện
Phát triển lưới điện truyền tải và phân phối của thành phố Cần Thơ gắn với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của vùng và từng địa phương trong vùng, đảm bảo chất lượng điện và độ tin cậy cung cấp điện ngày càng được nâng cao.
Đầu tư hạ tầng cung cấp điện, đảm bảo cung cấp đủ cho sản xuất và sinh hoạt, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa, thực hiện việc hiện đại hóa và từng bước ngầm hóa lưới điện trong khu vực đô thị.
Đầu tư xây dựng đường ống dẫn khí từ Kiên Giang đến ô Môn (công suất 3,4 tỷ m3/năm) và thay thế nhiên liệu của Nhà máy điện Ô Môn 1 (công suất 2 x 330Mw) từ chạy dầu FO sang chạy khí để đảm bảo hiệu quả kinh tế.
Xây dựng và hoàn thiện Trung tâm điện lực ô Môn (gồm các dự án Nhà máy nhiệt điện Ô Môn I, II, III và IV với tổng công suất dự kiến 3.810 MW) đáp ứng nhu cầu phát triển chung của thành phố và vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Khuyến khích phát triển nguồn điện năng lượng sạch (các nguồn năng lượng mặt trời, tái tạo từ chất thải rắn...). Nghiên cứu áp dụng lưới điện thông minh, công nghệ hiện đại nhằm nâng cao chất lượng quản lý và khai thác lưới điện phân phối; kết nối, hòa mạng đồng bộ hệ thống điện với các địa phương trong vùng.