Document: Điều 2 Nghị định 390-HĐBT Thuế Nông nghiệp để sửa đổi điều 9 và điều 11 Nghị định 52-HĐBT

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "10/11/1990", "sign_number": "390-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "10/11/1990", "sign_number": "390-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "10/11/1990", "sign_number": "390-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "10/11/1990", "sign_number": "390-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "10/11/1990", "sign_number": "390-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 2 Nghị định 390-HĐBT Thuế Nông nghiệp để sửa đổi điều 9 và điều 11 Nghị định 52-HĐBT có nội dung như sau:

Điều 2. Điều 11 Nghị định số 52-HĐBT ngày 27 tháng 5 năm 1989 của Hội đồng Bộ trưởng quy định:
"Đối với đất trống lúa, thuế thu chủ yếu bằng thóc; riêng các vùng cao, vùng xa đường giao thông không có điều kiện vận chuyển sản phẩm để nộp thuế hoặc không có cơ quan thu mua, hoặc đối với những địa phương nông dân có yêu cầu và Nhà nước có thể dùng tiền để mua đủ số thóc thuế tương ứng thì thu bằng tiền.
Đối với cây hàng năm khác: thu chủ yếu bằng tiền.
Đối với các nông trường, lâm trường, trạm trại quốc doanh thu bằng tiền.
Giá để tính thuế bằng tiền thay hiện vật, nông sản do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương quy định căn cứ vào thời giá nông sản ở địa phương tại thời điểm thu thuế".
Nay sửa lại như sau:
Điều 11 (mới): thuế nông nghiệp thu bằng tiền.
Giá thu thuế bằng tiền thay thóc và nông sản là thời giá trung bình của thóc và các nông sản tính thuế ở địa phương có phẩm chất tốt trong vụ thu thuế do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương quyết định theo đề nghị của cơ quan thuế cùng cấp.
Giá thu nợ thuế của các vụ trước và năm trước, giá thanh toán thóc thuế nông nghiệp đối với các tổ chức thu mua là giá thu thuế nông nghiệp bằng tiền thay thóc và nông sản ở địa phương tại thời điểm thanh toán.
Trong trường hợp cá biệt ở vùng cao, miền núi hoặc Nhà nước cần mua thóc cho nhu cầu dự trữ quốc gia, thuế trên đất trồng lúa có thể thu bằng thóc.
Việc thu thuế bằng thóc do Chủ tịch Hội động Bộ trưởng quy định.

Content:
Điều 2. Điều 11 Nghị định số 52-HĐBT ngày 27 tháng 5 năm 1989 của Hội đồng Bộ trưởng quy định:
"Đối với đất trống lúa, thuế thu chủ yếu bằng thóc; riêng các vùng cao, vùng xa đường giao thông không có điều kiện vận chuyển sản phẩm để nộp thuế hoặc không có cơ quan thu mua, hoặc đối với những địa phương nông dân có yêu cầu và Nhà nước có thể dùng tiền để mua đủ số thóc thuế tương ứng thì thu bằng tiền.
Đối với cây hàng năm khác: thu chủ yếu bằng tiền.
Đối với các nông trường, lâm trường, trạm trại quốc doanh thu bằng tiền.
Giá để tính thuế bằng tiền thay hiện vật, nông sản do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương quy định căn cứ vào thời giá nông sản ở địa phương tại thời điểm thu thuế".
Nay sửa lại như sau:
Điều 11 (mới): thuế nông nghiệp thu bằng tiền.
Giá thu thuế bằng tiền thay thóc và nông sản là thời giá trung bình của thóc và các nông sản tính thuế ở địa phương có phẩm chất tốt trong vụ thu thuế do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương quyết định theo đề nghị của cơ quan thuế cùng cấp.
Giá thu nợ thuế của các vụ trước và năm trước, giá thanh toán thóc thuế nông nghiệp đối với các tổ chức thu mua là giá thu thuế nông nghiệp bằng tiền thay thóc và nông sản ở địa phương tại thời điểm thanh toán.
Trong trường hợp cá biệt ở vùng cao, miền núi hoặc Nhà nước cần mua thóc cho nhu cầu dự trữ quốc gia, thuế trên đất trồng lúa có thể thu bằng thóc.
Việc thu thuế bằng thóc do Chủ tịch Hội động Bộ trưởng quy định.