Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2659/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Bến Tre

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "10/11/2011", "sign_number": "2659/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2659/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Bến Tre

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Bến Tre đến năm 2020 với nội dung chính sau:
...
5. Đánh giá tác động môi trường:
a) Tác động tích cực:
Giải quyết tốt vấn đề “mặn ra mặn, ngọt ra ngọt” ở vùng ven biển và do đó giải quyết được mâu thuẫn về sử dụng nước trong vùng. Kiểm soát được chế độ mực nước, lưu lượng, xâm nhập mặn, đảm bảo cho Bến Tre có điều kiện thuận lợi để khai thác tốt tiềm năng đất đai, nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân.
Giảm được thiệt hại do lũ, úng gây ra, giảm được phần nào khối lượng xây dựng, chi phí đầu tư, duy tu, sửa chữa hàng năm, tăng độ ổn định các hạng mục công trình hạ tầng cơ sở do ngập được kiểm soát.
Đáp ứng được nhu cầu tưới, cải thiện điều kiện tiêu cho vùng ngập và do đó góp phần làm ổn định hơn việc sản xuất hai vụ lúa Đông xuân - Hè thu. Các vùng kiểm soát lũ cả năm. Cải thiện phần nào điều kiện thổ nhưỡng của các vùng đất có “vấn đề” (đặc biệt là các huyện Bình Đại, Ba Tri).
Cải thiện điều kiện hạ tầng cơ sở (hệ thống nhà ở, đường sá, tạo nguồn cấp nước sinh hoạt…) làm thay đổi bộ mặt nông thôn, cải thiện điều kiện sức khoẻ, nâng cao cuộc sống văn hoá tinh thần cho nhân dân trong vùng.
Tăng cao và đa dạng hoá sản phẩm, tạo thêm nhiều công ăn việc làm từ phát triển sản xuất thâm canh tăng vụ, nhờ đó thu nhập của nông dân gia tăng, đời sống kinh tế phát triển.
b) Tác động tiêu cực:
Làm gia tăng mực nước tại thượng lưu và xung quanh các vùng bao. Làm thay đổi, phức tạp thêm chế độ dòng chảy lũ và vì vậy có thể gây nên các diễn biến xấu về bồi lắng, xói lở cục bộ ở một số khu vực. Giảm tác dụng bồi đắp phù sa và vệ sinh đồng ruộng.
Phát triển sẽ tạo nên một sức ép lớn cho những khu vực đất ướt còn sót lại và như vậy tính đa dạng sinh học trong vùng bị giảm sút, một số loài động vật quý hiếm, nguồn gene quý hiếm có nguy cơ bị giảm, mất.
Tăng mức độ ô nhiễm (chua phèn) cho các vùng đất phèn được khai thác, các vùng phụ cận và nước biển ven bờ trong mùa tiêu chua trong một thời gian khoảng 3 - 5 năm và do vậy có thể ảnh hưởng tới sự phát triển một số loài sinh vật ở hạ lưu sông, vùng ven biển (bãi nghêu Bình Đại).
Tăng khả năng ô nhiễm nguồn nước từ các loại chất thải, hoá chất nông nghiệp, ảnh hưởng đến môi trường đất, nước ở các vùng được kiểm soát lũ cả năm và đời sống, sức khoẻ của nhân dân.
Thay đổi tập quán sinh sống, canh tác của nhân dân tại một số khu vực. Hạn chế giao thông thuỷ, đặc biệt tại các công trình kiểm soát mặn. Mất một diện tích khá lớn đất đai canh tác cũng như một số diện tích cây hàng năm, lâu năm của dân, một số lớn các hộ gia đình phải di dời chỗ ở.
c) Các giải pháp giảm thiểu:
Để giảm thiểu các tác động về đa dạng sinh học và thay đổi thảm phủ thực vật, trong giai đoạn lập đồ án cần có sự quan tâm thích đáng trong việc bố trí sử dụng đất. Cần có một diện tích hợp lý cho các khu đất ướt, trồng, bảo vệ tốt diện tích đất rừng hiện có; trong giai đoạn thi công, đặc biệt là thi công trong các vùng phèn tiềm tàng cần tránh tác động đến tầng sinh phèn, hạn chế việc tiêu thoát nước phèn ra khu vực xung quanh và vùng hạ lưu, nơi có hệ sinh thái rừng ngập mặn rất phong phú.
Tác động đến nguồn lợi thuỷ sản, sẽ được khắc phục bằng việc tăng cường việc nuôi cá hầm, ao hồ và nuôi kết hợp trên ruộng lúa, rừng tràm; thay đổi tập quán sử dụng các loại hoá chất nông nghiệp bằng các chương trình “Ba giảm”, quản lý dịch bệnh tổng hợp (IPM) cũng là giải pháp hữu dụng, có hiệu quả về kinh tế và môi trường.
Giảm chi phí vận hành bằng xây dựng quy trình khai thác phù hợp, đào tạo nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Áp dụng vật liệu mới trong xây dựng nhằm giảm chi phí bảo dưỡng tu bổ hàng năm.
Tác động về mất đất ở, nhà cửa, công tác đền bù, tái định cư sẽ được giảm thiểu bằng một đồ án với các công trình được bố trí một cách tối ưu, thông qua quá trình tham vấn cộng đồng; các hộ mất đất, nhà ở phải được đền bù hợp lý, xứng đáng, đảm bảo để cuộc sống của họ không bị ảnh hưởng và ít nhất phải bằng với mức sống trước đó.
Tính toán mặt cắt kênh hợp lý theo giới hạn xói và lắng, xây dựng quy trình vận hành khai thác phù hợp với các công trình đầu tư. Giới hạn tốc độ tàu thuyền trong khai thác đường thuỷ giảm triệt để bồi, xói.
Chất lượng nước sẽ được cải thiện bằng hệ thống công trình (kênh, cống) thông thoáng, có chế độ vận hành hợp lý; tuy nhiên, con người vẫn là yếu tố quyết định. Cần phải nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc bảo vệ chất lượng nguồn nước, thay đổi dần các tập quán lạc hậu như làm hố xí trên sông, kênh, chăn nuôi gia súc, gia cầm thả rông, vứt bỏ các loại rác thải ra nguồn nước…

Content:
Đánh giá tác động môi trường:
a) Tác động tích cực:
Giải quyết tốt vấn đề “mặn ra mặn, ngọt ra ngọt” ở vùng ven biển và do đó giải quyết được mâu thuẫn về sử dụng nước trong vùng. Kiểm soát được chế độ mực nước, lưu lượng, xâm nhập mặn, đảm bảo cho Bến Tre có điều kiện thuận lợi để khai thác tốt tiềm năng đất đai, nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân.
Giảm được thiệt hại do lũ, úng gây ra, giảm được phần nào khối lượng xây dựng, chi phí đầu tư, duy tu, sửa chữa hàng năm, tăng độ ổn định các hạng mục công trình hạ tầng cơ sở do ngập được kiểm soát.
Đáp ứng được nhu cầu tưới, cải thiện điều kiện tiêu cho vùng ngập và do đó góp phần làm ổn định hơn việc sản xuất hai vụ lúa Đông xuân - Hè thu. Các vùng kiểm soát lũ cả năm. Cải thiện phần nào điều kiện thổ nhưỡng của các vùng đất có “vấn đề” (đặc biệt là các huyện Bình Đại, Ba Tri).
Cải thiện điều kiện hạ tầng cơ sở (hệ thống nhà ở, đường sá, tạo nguồn cấp nước sinh hoạt…) làm thay đổi bộ mặt nông thôn, cải thiện điều kiện sức khoẻ, nâng cao cuộc sống văn hoá tinh thần cho nhân dân trong vùng.
Tăng cao và đa dạng hoá sản phẩm, tạo thêm nhiều công ăn việc làm từ phát triển sản xuất thâm canh tăng vụ, nhờ đó thu nhập của nông dân gia tăng, đời sống kinh tế phát triển.
b) Tác động tiêu cực:
Làm gia tăng mực nước tại thượng lưu và xung quanh các vùng bao. Làm thay đổi, phức tạp thêm chế độ dòng chảy lũ và vì vậy có thể gây nên các diễn biến xấu về bồi lắng, xói lở cục bộ ở một số khu vực. Giảm tác dụng bồi đắp phù sa và vệ sinh đồng ruộng.
Phát triển sẽ tạo nên một sức ép lớn cho những khu vực đất ướt còn sót lại và như vậy tính đa dạng sinh học trong vùng bị giảm sút, một số loài động vật quý hiếm, nguồn gene quý hiếm có nguy cơ bị giảm, mất.
Tăng mức độ ô nhiễm (chua phèn) cho các vùng đất phèn được khai thác, các vùng phụ cận và nước biển ven bờ trong mùa tiêu chua trong một thời gian khoảng 3 - 5 năm và do vậy có thể ảnh hưởng tới sự phát triển một số loài sinh vật ở hạ lưu sông, vùng ven biển (bãi nghêu Bình Đại).
Tăng khả năng ô nhiễm nguồn nước từ các loại chất thải, hoá chất nông nghiệp, ảnh hưởng đến môi trường đất, nước ở các vùng được kiểm soát lũ cả năm và đời sống, sức khoẻ của nhân dân.
Thay đổi tập quán sinh sống, canh tác của nhân dân tại một số khu vực. Hạn chế giao thông thuỷ, đặc biệt tại các công trình kiểm soát mặn. Mất một diện tích khá lớn đất đai canh tác cũng như một số diện tích cây hàng năm, lâu năm của dân, một số lớn các hộ gia đình phải di dời chỗ ở.
c) Các giải pháp giảm thiểu:
Để giảm thiểu các tác động về đa dạng sinh học và thay đổi thảm phủ thực vật, trong giai đoạn lập đồ án cần có sự quan tâm thích đáng trong việc bố trí sử dụng đất. Cần có một diện tích hợp lý cho các khu đất ướt, trồng, bảo vệ tốt diện tích đất rừng hiện có; trong giai đoạn thi công, đặc biệt là thi công trong các vùng phèn tiềm tàng cần tránh tác động đến tầng sinh phèn, hạn chế việc tiêu thoát nước phèn ra khu vực xung quanh và vùng hạ lưu, nơi có hệ sinh thái rừng ngập mặn rất phong phú.
Tác động đến nguồn lợi thuỷ sản, sẽ được khắc phục bằng việc tăng cường việc nuôi cá hầm, ao hồ và nuôi kết hợp trên ruộng lúa, rừng tràm; thay đổi tập quán sử dụng các loại hoá chất nông nghiệp bằng các chương trình “Ba giảm”, quản lý dịch bệnh tổng hợp (IPM) cũng là giải pháp hữu dụng, có hiệu quả về kinh tế và môi trường.
Giảm chi phí vận hành bằng xây dựng quy trình khai thác phù hợp, đào tạo nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Áp dụng vật liệu mới trong xây dựng nhằm giảm chi phí bảo dưỡng tu bổ hàng năm.
Tác động về mất đất ở, nhà cửa, công tác đền bù, tái định cư sẽ được giảm thiểu bằng một đồ án với các công trình được bố trí một cách tối ưu, thông qua quá trình tham vấn cộng đồng; các hộ mất đất, nhà ở phải được đền bù hợp lý, xứng đáng, đảm bảo để cuộc sống của họ không bị ảnh hưởng và ít nhất phải bằng với mức sống trước đó.
Tính toán mặt cắt kênh hợp lý theo giới hạn xói và lắng, xây dựng quy trình vận hành khai thác phù hợp với các công trình đầu tư. Giới hạn tốc độ tàu thuyền trong khai thác đường thuỷ giảm triệt để bồi, xói.
Chất lượng nước sẽ được cải thiện bằng hệ thống công trình (kênh, cống) thông thoáng, có chế độ vận hành hợp lý; tuy nhiên, con người vẫn là yếu tố quyết định. Cần phải nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc bảo vệ chất lượng nguồn nước, thay đổi dần các tập quán lạc hậu như làm hố xí trên sông, kênh, chăn nuôi gia súc, gia cầm thả rông, vứt bỏ các loại rác thải ra nguồn nước…