Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 3358/QĐ-UBND 2009 quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn Thái Nguyên

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "17/12/2009", "sign_number": "3358/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Viết Thuần", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "17/12/2009", "sign_number": "3358/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Viết Thuần", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "17/12/2009", "sign_number": "3358/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Viết Thuần", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "17/12/2009", "sign_number": "3358/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Viết Thuần", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "17/12/2009", "sign_number": "3358/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Viết Thuần", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 3358/QĐ-UBND 2009 quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn Thái Nguyên

Điều 1. : Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009 – 2020 với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Đến năm 2020 mở mới 15 làng nghề, trong đó mở mới 6 làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ và 6 làng nghề trồng nấm, thu hút 1.217 hộ làm nghề với 2.625 lao động. Hàng năm cung cấp ra thị trường khoảng 5.894.100 sản phẩm các loại. Tổng thu nhập của 22 làng nghề dự kiến 55.522 triệu đồng, trong đó thu nhập từ ngành nghề là 17.850 triệu đồng, chiếm 32,1%.
Đầu tư phát triển 121 làng nghề hiện có, trong đó mở thêm ngành nghề đồ gỗ mỹ nghệ ở 20 làng nghề mây tre đan có điều kiện và 12 làng nghề trồng nấm, nhằm phát huy tiềm năng về nguồn nguyên liệu tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên, thu hút 19.929 hộ làm nghề với 50.201 lao động. Hàng năm cung cấp ra thị trường khoảng 7.012.132.705 sản phẩm các loại. Tổng thu nhập của 121 làng nghề dự kiến 951.700 triệu đồng, trong đó thu nhập từ ngành nghề là 661.100 triệu đồng chiếm 69,5%.
Đến năm 2020 toàn tỉnh Thái Nguyên có 25.037 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, trong đó có 180 làng nghề. Tổng giá trị sản xuất TTCN tính theo giá thực tế đạt 2.713.330 triệu đồng.
III. Định hướng và khả năng phát triển ngành nghề
- Phát triển công nghiệp với tốc độ nhanh, có chất lượng và hiệu quả, tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng đến năm 2010 đạt khoảng 16,5% - 17%/ năm và thời kỳ 2011 – 2020 đạt 12,5 – 13,5%/ năm; Ưu tiên về các nguồn lực; Ưu đãi về chính sách cho một số ngành, sản phẩm chủ lực.
- Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng tăng nhanh nhóm ngành chủ đạo, có lợi thế, có truyền thống; Hình thành các ngành; Sản phẩm công nghiệp mới; Tăng nhanh nhóm ngành sản xuất hàng xuất khẩu; Tăng thỏa đáng các ngành công nghiệp phụ trợ; tăng tỉ trọng công nghiệp tư nhân, đặc biệt là đầu tư ngoài nước trong các ngành công nghiệp chủ lực; Chuyển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và lao động có trình độ không cao về khu vực nông thôn huy động có hiệu quả các nguồn lực nội sinh, thu hút tối đa các nguồn lực bên ngoài.
- Phát triển các khu, cụm công nghiệp tập trung, gắn với phát triển hệ thống đô thị; kết hợp các loại quy mô, loại hình sản xuất; Hiện đại hóa và đổi mới thiết bị, công nghệ.
1. Ngành chế biến bảo quản nông lâm thủy sản:
- Ngành chế biến chè:
Lượng các sản phẩm chè sạch ( chè hữu cơ) được tiêu thụ sẽ ngày một tăng đây sẽ là một mặt hàng xuất khẩu.
- Ngành chế biến các sản phẩm từ lúa gạo đậu ngô sắn:
Các sản phẩm được chế biến từ các nguyên liệu lúa, gạo các loại cây lương thực có hạt khác và cây công nghiệp hàng năm (lạc, vừng, đậu tương …) tương đối đa dạng, có thể kể ra đây các sản phẩm như bánh, bún, miến, mứt kẹo, tương, đậu phụ.
- Ngành chế biến và bảo quản rau quả.
Chế biến rau tươi Thái Nguyên là tỉnh có điều kiện để phát triển rau xanh các loại cung cấp cho thị trường thành phố Thái Nguyên, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Ngành chế biến và bảo quản quả tươi:
Thái Nguyên có diện tích và sản lượng nhãn vải khá lớn, những năm gần đây đã hình thành một số làng nghề chuyên chế biến long nhãn vải để cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu.
2- Ngành sản xuất hành thủ công mỹ nghệ và chế biến gỗ:
Thái Nguyên là tỉnh có nhiều tuyến du lịch, ngành hàng thủ công mỹ nghệ của Thái Nguyên có tiềm năng phát triển mạnh trong tương lai, đặc biệt là hàng dệt may thổ cẩm dân tộc truyền thống, nghề mây tre đan ... những nghề có triển vọng phát triển là hàng mộc mỹ nghệ. Thị trường mặt hàng này chủ yếu phục vụ cho khách du lịch và xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng tại chỗ.
3- Ngành các sản phẩm cơ khí nhỏ:
Mở mới các cơ sở sản xuất và trang bị và cơ giới hóa ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và vận tải; các sản phẩm dao, kéo, nông cụ cầm tay, phụ tùng máy kéo nông nghiệp, dụng cụ xây dựng, đặc biệt là sản xuất trang thiết bị máy móc phục vụ cơ giới hoá ngành nông nghiệp như thiết bị làm đất, thu hoạch, bảo quản.
4- Xử lý, chế biến nguyên liệu phục vụ ngành nghề nông thôn:
Chế biến nguyên liệu gỗ và ngoài gỗ: Khối lượng gỗ xẻ tiếp tục tăng do sự cơ cấu ba loại rừng của tỉnh. Lượng chế biến gỗ và tiêu thụ gỗ rừng trồng sẽ tiếp tục tăng do nhu cầu sử dụng gỗ trồng trong sản xuất nguyên liệu giấy, ván nhân tạo, ván ghép thanh, ván bóc và nhu cầu gia tăng của sản xuất đồ gia dụng và hành xuất khẩu sử dụng nguyên liệu gỗ rừng trồng. Các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ cũng sẽ được tiếp tục được chế biến với số lượng ngày một tăng, đặc biệt là các sản phẩm từ nguyên liệu họ tre (luồng, mai, vầu, bương, hóp) và mây. Tăng chế biến nguyên vật liệu họ tre cũng như số lượng các cơ sở chế biến sản xuất mành, tăm hương, đũa và đan lát. Việc sử dụng các sản phẩm lâm sản chế biến sẽ đi vào chiều sâu, tức là nâng cao giá trị chất lượng và giảm thiểu nguồn tài nguyên.
5. Vốn đầu tư:
Tổng vốn đầu tư cho cả giai đoạn 2010-2020; 875.440,0 triệu đồng
- Đầu tư cho đào tạo nghề; 2.970,0 triệu đồng
- Đầu tư cơ sở hạ tầng các làng nghề; 387.000,0 triệu đồng
- Đầu tư cho phát triển làng nghề hiện có; 417.542,0 triệu đồng
- Đầu tư cho mở mới làng nghề; 67.928 triệu đồng.
IV. Các chương trình, dự án ưu tiên nghiên cứu đầu tư:
1. Đầu tư cho đào tạo nghề:
Hàng năm mở các lớp dạy nghề với lượng vốn đầu tư là 300 triệu đồng cho 9 lớp (mỗi huyện, thành, thị mỗi năm 1 lớp từ năm 2010 đến năm 2020), mỗi lớp bình quân 30 triệu đồng. Tổng vốn đầu cho mở lớp tập huấn đào tạo nghề: 9 lớp/năm x 30 triệu đồng/lớp x 11 năm = 2.970 triệu đồng.
Đối tượng đào tạo nghề là lực lượng lao động ở nông thôn, đã và sẽ làm nghề ở các làng nghề và các cơ sở ngành nghề, mỗi năm đào tạo 270 - 300 lao động. Đặc biệt đào tạo nghề trồng nấm và thợ làm hàng thủ công mỹ nghệ.
2. Đầu tư cơ sở hạ tầng cho các làng nghề:
Hàng năm đầu tư cho các làng nghề hiện có và các làng nghề mở mới cơ sở hạ tầng như: nhà xưởng, nhà trưng bày hàng hoá, đường giao thông vào làng nghề, kéo lưới điện phục vụ sản xuất, hỗ trợ trang thiết bị máy móc.
3. Đầu tư mở mới các làng nghề:
(Có phụ biểu kèm theo)

Content:
Đến năm 2020 mở mới 15 làng nghề, trong đó mở mới 6 làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ và 6 làng nghề trồng nấm, thu hút 1.217 hộ làm nghề với 2.625 lao động. Hàng năm cung cấp ra thị trường khoảng 5.894.100 sản phẩm các loại. Tổng thu nhập của 22 làng nghề dự kiến 55.522 triệu đồng, trong đó thu nhập từ ngành nghề là 17.850 triệu đồng, chiếm 32,1%.
Đầu tư phát triển 121 làng nghề hiện có, trong đó mở thêm ngành nghề đồ gỗ mỹ nghệ ở 20 làng nghề mây tre đan có điều kiện và 12 làng nghề trồng nấm, nhằm phát huy tiềm năng về nguồn nguyên liệu tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên, thu hút 19.929 hộ làm nghề với 50.201 lao động. Hàng năm cung cấp ra thị trường khoảng 7.012.132.705 sản phẩm các loại. Tổng thu nhập của 121 làng nghề dự kiến 951.700 triệu đồng, trong đó thu nhập từ ngành nghề là 661.100 triệu đồng chiếm 69,5%.
Đến năm 2020 toàn tỉnh Thái Nguyên có 25.037 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, trong đó có 180 làng nghề. Tổng giá trị sản xuất TTCN tính theo giá thực tế đạt 2.713.330 triệu đồng.
III. Định hướng và khả năng phát triển ngành nghề
- Phát triển công nghiệp với tốc độ nhanh, có chất lượng và hiệu quả, tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng đến năm 2010 đạt khoảng 16,5% - 17%/ năm và thời kỳ 2011 – 2020 đạt 12,5 – 13,5%/ năm; Ưu tiên về các nguồn lực; Ưu đãi về chính sách cho một số ngành, sản phẩm chủ lực.
- Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng tăng nhanh nhóm ngành chủ đạo, có lợi thế, có truyền thống; Hình thành các ngành; Sản phẩm công nghiệp mới; Tăng nhanh nhóm ngành sản xuất hàng xuất khẩu; Tăng thỏa đáng các ngành công nghiệp phụ trợ; tăng tỉ trọng công nghiệp tư nhân, đặc biệt là đầu tư ngoài nước trong các ngành công nghiệp chủ lực; Chuyển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và lao động có trình độ không cao về khu vực nông thôn huy động có hiệu quả các nguồn lực nội sinh, thu hút tối đa các nguồn lực bên ngoài.
- Phát triển các khu, cụm công nghiệp tập trung, gắn với phát triển hệ thống đô thị; kết hợp các loại quy mô, loại hình sản xuất; Hiện đại hóa và đổi mới thiết bị, công nghệ.
1. Ngành chế biến bảo quản nông lâm thủy sản:
- Ngành chế biến chè:
Lượng các sản phẩm chè sạch ( chè hữu cơ) được tiêu thụ sẽ ngày một tăng đây sẽ là một mặt hàng xuất khẩu.
- Ngành chế biến các sản phẩm từ lúa gạo đậu ngô sắn:
Các sản phẩm được chế biến từ các nguyên liệu lúa, gạo các loại cây lương thực có hạt khác và cây công nghiệp hàng năm (lạc, vừng, đậu tương …) tương đối đa dạng, có thể kể ra đây các sản phẩm như bánh, bún, miến, mứt kẹo, tương, đậu phụ.
- Ngành chế biến và bảo quản rau quả.
Chế biến rau tươi Thái Nguyên là tỉnh có điều kiện để phát triển rau xanh các loại cung cấp cho thị trường thành phố Thái Nguyên, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Ngành chế biến và bảo quản quả tươi:
Thái Nguyên có diện tích và sản lượng nhãn vải khá lớn, những năm gần đây đã hình thành một số làng nghề chuyên chế biến long nhãn vải để cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu.
2- Ngành sản xuất hành thủ công mỹ nghệ và chế biến gỗ:
Thái Nguyên là tỉnh có nhiều tuyến du lịch, ngành hàng thủ công mỹ nghệ của Thái Nguyên có tiềm năng phát triển mạnh trong tương lai, đặc biệt là hàng dệt may thổ cẩm dân tộc truyền thống, nghề mây tre đan ... những nghề có triển vọng phát triển là hàng mộc mỹ nghệ. Thị trường mặt hàng này chủ yếu phục vụ cho khách du lịch và xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng tại chỗ.
3- Ngành các sản phẩm cơ khí nhỏ:
Mở mới các cơ sở sản xuất và trang bị và cơ giới hóa ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và vận tải; các sản phẩm dao, kéo, nông cụ cầm tay, phụ tùng máy kéo nông nghiệp, dụng cụ xây dựng, đặc biệt là sản xuất trang thiết bị máy móc phục vụ cơ giới hoá ngành nông nghiệp như thiết bị làm đất, thu hoạch, bảo quản.
4- Xử lý, chế biến nguyên liệu phục vụ ngành nghề nông thôn:
Chế biến nguyên liệu gỗ và ngoài gỗ: Khối lượng gỗ xẻ tiếp tục tăng do sự cơ cấu ba loại rừng của tỉnh. Lượng chế biến gỗ và tiêu thụ gỗ rừng trồng sẽ tiếp tục tăng do nhu cầu sử dụng gỗ trồng trong sản xuất nguyên liệu giấy, ván nhân tạo, ván ghép thanh, ván bóc và nhu cầu gia tăng của sản xuất đồ gia dụng và hành xuất khẩu sử dụng nguyên liệu gỗ rừng trồng. Các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ cũng sẽ được tiếp tục được chế biến với số lượng ngày một tăng, đặc biệt là các sản phẩm từ nguyên liệu họ tre (luồng, mai, vầu, bương, hóp) và mây. Tăng chế biến nguyên vật liệu họ tre cũng như số lượng các cơ sở chế biến sản xuất mành, tăm hương, đũa và đan lát. Việc sử dụng các sản phẩm lâm sản chế biến sẽ đi vào chiều sâu, tức là nâng cao giá trị chất lượng và giảm thiểu nguồn tài nguyên.
5. Vốn đầu tư:
Tổng vốn đầu tư cho cả giai đoạn 2010-2020; 875.440,0 triệu đồng
- Đầu tư cho đào tạo nghề; 2.970,0 triệu đồng
- Đầu tư cơ sở hạ tầng các làng nghề; 387.000,0 triệu đồng
- Đầu tư cho phát triển làng nghề hiện có; 417.542,0 triệu đồng
- Đầu tư cho mở mới làng nghề; 67.928 triệu đồng.
IV. Các chương trình, dự án ưu tiên nghiên cứu đầu tư:
1. Đầu tư cho đào tạo nghề:
Hàng năm mở các lớp dạy nghề với lượng vốn đầu tư là 300 triệu đồng cho 9 lớp (mỗi huyện, thành, thị mỗi năm 1 lớp từ năm 2010 đến năm 2020), mỗi lớp bình quân 30 triệu đồng. Tổng vốn đầu cho mở lớp tập huấn đào tạo nghề: 9 lớp/năm x 30 triệu đồng/lớp x 11 năm = 2.970 triệu đồng.
Đối tượng đào tạo nghề là lực lượng lao động ở nông thôn, đã và sẽ làm nghề ở các làng nghề và các cơ sở ngành nghề, mỗi năm đào tạo 270 - 300 lao động. Đặc biệt đào tạo nghề trồng nấm và thợ làm hàng thủ công mỹ nghệ.
2. Đầu tư cơ sở hạ tầng cho các làng nghề:
Hàng năm đầu tư cho các làng nghề hiện có và các làng nghề mở mới cơ sở hạ tầng như: nhà xưởng, nhà trưng bày hàng hoá, đường giao thông vào làng nghề, kéo lưới điện phục vụ sản xuất, hỗ trợ trang thiết bị máy móc.
Đầu tư mở mới các làng nghề:
(Có phụ biểu kèm theo)