Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định  227-CT  phê duyệt Dự án tiền khả thi công trình xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn các hồ Kẻ gỗ - sông Rác tỉnh Nghệ Tĩnh

Type: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "27/07/1991", "sign_number": "227-CT", "signer": "Đồng Sĩ Nguyên", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "27/07/1991", "sign_number": "227-CT", "signer": "Đồng Sĩ Nguyên", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "27/07/1991", "sign_number": "227-CT", "signer": "Đồng Sĩ Nguyên", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "27/07/1991", "sign_number": "227-CT", "signer": "Đồng Sĩ Nguyên", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "27/07/1991", "sign_number": "227-CT", "signer": "Đồng Sĩ Nguyên", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định  227-CT  phê duyệt Dự án tiền khả thi công trình xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn các hồ Kẻ gỗ - sông Rác tỉnh Nghệ Tĩnh

Điều 1. Phê duyệt dự án tiền khả thi công trình xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn các hồ Kẻ gỗ - sông Rác tỉnh Nghệ Tĩnh theo những nội dung chủ yếu sau:
...
5. Các giải pháp chủ yếu:
a) Giải pháp lâm nghiệp:
- Tận dụng tối đa khả năng phục hồi rừng tự nhiên.
- Thiết kế xây dựng tạo rừng có kết cấu nhiều tầng, phù hợp với yêu cầu phòng hộ lâu dài và tạo điều kiện kết hợp thu sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả rừng phòng hộ.
- Loại cây trồng và kỹ thuật trồng do Bộ Lâm nghiệp quy định.
b) Giải pháp kinh tế - xã hội:
- Khuyến khích phát triển kinh tế vườn, thực hiện giao khoán rừng, đất trồng rừng cho các hộ gia đình bảo vệ và sản xuất kinh doanh kết hợp, tạo điều kiện ổn định dân cư trong vùng.
- Làm rõ quy hoạch kinh tế - xã hội vùng giáp hạ lưu, giao rừng, đất trồng rừng cho nhân dân vùng hạ lưu của các hồ để giải quyết ổn định nhu cầu về gỗ, củi gia dụng và nguyên nhiên liệu, từng bước nâng cao mức sống nhân dân, chấm dứt nạn chặt phá, khai thác gỗ, củi bừa bãi trên vùng rừng đầu nguồn.
c) Nguồn vốn đầu tư:
Cần huy động nhiều nguồn vốn khác nhau tham gia đầu tư theo trình tự các hạng mục công trình như sau:
- Vốn trồng rừng và khoanh nuôi, bảo vệ phục hồi rừng đầu nguồn khu vực phòng hộ xung yếu do ngân sách Nhà nước cân đối theo kế hoạch hàng năm trên cơ sở các luận chứng kinh tế - kỹ thuật (hoặc LCKTKT) được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Vốn xây dựng rừng phòng hộ kết hợp kinh tế và vốn làm vườn rừng vùng hạ lưu các hồ do Uỷ ban Nhân dân tỉnh lập LCKTKT để huy động từ các nguồn kinh phí khác hoặc dùng vốn vay để thực hiện.
- Vốn xây dựng các cơ sở hạ tầng trong khu vực dự án, thì hàng năm Uỷ ban Nhân dân tỉnh trích trong nguồn ngân sách được Trung ương đầu tư cho tỉnh về các mặt theo một tỷ lệ nhất định để thực hiện. Nguồn vốn kinh tế mới phải sử dụng tập trung, chủ yếu cho khu vực này để hỗ trợ cho dân khi giãn, chuyển đến.
Năm 1991, để chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết cho năm 1992, mà chủ yếu là chuẩn bị cây giống, con giống thì Uỷ ban Nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh cần làm việc cụ thể ngay với các Bộ: Lâm nghiệp, Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Lao động - Thương binh và Xã hội, Thuỷ sản và các ngành khác có liên quan để các cơ quan này điều chỉnh tìm thêm nguồn vốn cho tỉnh trên cơ sở không ảnh hưởng đến kế hoạch chung và làm tăng ngân sách của Nhà nước. Riêng Bộ Lâm nghiệp điều chỉnh cho tỉnh mức tối thiểu là 50 triệu để chuẩn bị giống cây.

Content:
Các giải pháp chủ yếu:
a) Giải pháp lâm nghiệp:
- Tận dụng tối đa khả năng phục hồi rừng tự nhiên.
- Thiết kế xây dựng tạo rừng có kết cấu nhiều tầng, phù hợp với yêu cầu phòng hộ lâu dài và tạo điều kiện kết hợp thu sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả rừng phòng hộ.
- Loại cây trồng và kỹ thuật trồng do Bộ Lâm nghiệp quy định.
b) Giải pháp kinh tế - xã hội:
- Khuyến khích phát triển kinh tế vườn, thực hiện giao khoán rừng, đất trồng rừng cho các hộ gia đình bảo vệ và sản xuất kinh doanh kết hợp, tạo điều kiện ổn định dân cư trong vùng.
- Làm rõ quy hoạch kinh tế - xã hội vùng giáp hạ lưu, giao rừng, đất trồng rừng cho nhân dân vùng hạ lưu của các hồ để giải quyết ổn định nhu cầu về gỗ, củi gia dụng và nguyên nhiên liệu, từng bước nâng cao mức sống nhân dân, chấm dứt nạn chặt phá, khai thác gỗ, củi bừa bãi trên vùng rừng đầu nguồn.
c) Nguồn vốn đầu tư:
Cần huy động nhiều nguồn vốn khác nhau tham gia đầu tư theo trình tự các hạng mục công trình như sau:
- Vốn trồng rừng và khoanh nuôi, bảo vệ phục hồi rừng đầu nguồn khu vực phòng hộ xung yếu do ngân sách Nhà nước cân đối theo kế hoạch hàng năm trên cơ sở các luận chứng kinh tế - kỹ thuật (hoặc LCKTKT) được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Vốn xây dựng rừng phòng hộ kết hợp kinh tế và vốn làm vườn rừng vùng hạ lưu các hồ do Uỷ ban Nhân dân tỉnh lập LCKTKT để huy động từ các nguồn kinh phí khác hoặc dùng vốn vay để thực hiện.
- Vốn xây dựng các cơ sở hạ tầng trong khu vực dự án, thì hàng năm Uỷ ban Nhân dân tỉnh trích trong nguồn ngân sách được Trung ương đầu tư cho tỉnh về các mặt theo một tỷ lệ nhất định để thực hiện. Nguồn vốn kinh tế mới phải sử dụng tập trung, chủ yếu cho khu vực này để hỗ trợ cho dân khi giãn, chuyển đến.
Năm 1991, để chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết cho năm 1992, mà chủ yếu là chuẩn bị cây giống, con giống thì Uỷ ban Nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh cần làm việc cụ thể ngay với các Bộ: Lâm nghiệp, Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Lao động - Thương binh và Xã hội, Thuỷ sản và các ngành khác có liên quan để các cơ quan này điều chỉnh tìm thêm nguồn vốn cho tỉnh trên cơ sở không ảnh hưởng đến kế hoạch chung và làm tăng ngân sách của Nhà nước. Riêng Bộ Lâm nghiệp điều chỉnh cho tỉnh mức tối thiểu là 50 triệu để chuẩn bị giống cây.