Document: Khoản 7 Điều 1 Quyết định 1588/QĐ-UBND 2014 Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Quảng Ninh đến 2030 tầm nhìn 2050 ngoài 2050

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "28/07/2014", "sign_number": "1588/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đọc", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "28/07/2014", "sign_number": "1588/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đọc", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "28/07/2014", "sign_number": "1588/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đọc", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "28/07/2014", "sign_number": "1588/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đọc", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "28/07/2014", "sign_number": "1588/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đọc", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 7 Điều 1 Quyết định 1588/QĐ-UBND 2014 Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Quảng Ninh đến 2030 tầm nhìn 2050 ngoài 2050

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và ngoài 2050 (kèm theo Sơ đồ định hướng phát triển không gian toàn vùng tỷ lệ 1/25.000) với những nội dung chính như sau:
...
7. Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực chủ yếu
7.1. Các khu, cụm, cơ sở sản xuất công nghiệp:
a) Các khu, cụm công nghiệp:
- Trên cơ sở điều chỉnh thu gọn quy mô một số các khu công nghiệp (KCN) và cụm công nghiệp (CCN) cũ đồng thời đề xuất một số KCN mới; trên địa bàn tỉnh đến năm 2030 quy hoạch 14 KCN và 21 CCN với tổng diện tích đất khoảng 14.700ha trong đó ưu tiên phát triển 9.200ha và dự trữ phát triển 5.500ha.
- Trọng điểm phát triển thu hút đầu tư là Khu đô thị công nghiệp thông minh Quảng Yên; các khu công nghiệp Phương Nam, Đầm Nhà Mạc, Tiền Phong, Cái Lân, Việt Hưng, Nam Hoành Bồ, Hải Hà, Hải Yên, v.v...
- Từng bước thực hiện di dời các cơ sở sản xuất công nghiệp phải di dời do ô nhiễm môi trường và theo quy hoạch xây dựng đô thị.
b) Các nhà máy xi măng:
- Đối với các nhà máy xi măng nằm trong khu vực đô thị, ven vịnh Cửa Lục, vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long (Cẩm Phả, Thăng Long, Hạ Long, Lam Thạch) có ảnh hưởng đến cảnh quan cũng như môi trường đô thị, môi trường vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long: Dừng việc mở rộng nâng công suất các nhà máy xi măng hiện có; di chuyển vị trí các nhà máy dự kiến xây dựng theo quy hoạch (lên phía Bắc đường cao tốc).
- Giai đoạn trước mắt, yêu cầu các nhà máy phải có các giải pháp công nghệ giảm thiểu tác động tới cảnh quan và môi trường khu vực lân cận; sau năm 2030, khi các nhà máy ngừng hoạt động hoặc thực hiện di dời, quỹ đất các nhà máy xi măng hiện có (Cẩm Phả, Lam Thạch, Hạ Long, Thăng Long) sẽ được sử dụng để tái thiết, phát triển đồ thị, phát triển công nghiệp sạch phù hợp.
c) Các nhà máy nhiệt điện:
- Khai thác ổn định và có các giải pháp môi trường hiệu quả các Nhà máy nhiệt điện hiện có: Mạo Khê 1-2, Uông Bí 1-2, Quảng Ninh 1-2, Cẩm Phả 1-2, Mông Dương 1-2;
- Tiếp tục thực hiện QH điện VII: Đề xuất chuyển địa điểm quy hoạch các nhà máy nhiệt điện: Uông Bí 3; Yên Hưng; Thăng Long; Cẩm Phả 3 về khu vực phía Bắc đường 18 và đường cao tốc.
- Lộ trình: Đến năm 2021, dừng khai thác Nhiệt điện Uông Bí 1 (Theo QH điện VIl); đến năm 2030 xem xét và đánh giá lại sự phù hợp các Dự án Nhiệt điện: Uông Bí 2, Quảng Ninh 1-2; sau năm 2030 di chuyển nhiệt điện Cẩm Phả 1-2 về khu vực Ba Chẽ, Tiên Yên, Hải Hà và phía Bắc đường cao tốc.
d) Các mỏ than:
- Tuân thủ lộ trình phát triển khai thác than theo Quyết định số 60/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam (đặc biệt là lộ trình kết thúc khai thác lộ thiên đối với các mỏ than khu vực thành phố Hạ Long, Cẩm Phả; các mỏ than nằm giáp các khu đô thị, đầu nguồn nước và các khu di tích Quốc gia).
- Chuyển dần từ khai thác than lộ thiên sang khai thác hầm lò theo đúng lộ trình trong quy hoạch đã được duyệt; áp dụng các hình thức vận chuyển than từ mỏ đến nơi chế biến, tiêu thụ đảm bảo không ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường; phân vùng không gian khai thác và vùng phát triển dân cư, đô thị và du lịch đồng thời bố trí các vùng đệm cây xanh quy mô lớn tại các khu vực giữa khai trường và đô thị; sớm hoàn nguyên các mỏ than không còn hoạt động khai thác và chuyển đổi mục đích sử dụng thành các khu công viên cây xanh, các khu chức năng phục vụ đô thị... phù hợp với sự phát triển của du lịch và dịch vụ.
7.2. Thương mại, dịch vụ:
- Xây dựng 01 trung tâm dịch vụ thương mại cấp quốc gia và hướng tới đẳng cấp quốc tế tại khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái với tổng diện tích khoảng 500ha; gồm: Khu mậu dịch thương mại tự do, khu phố thương mại, khu phố tài chính, khu dịch vụ du lịch cửa khẩu gần cửa khẩu Bắc Luân II...
- Xây dựng các khu thương mại, dịch vụ du lịch cấp tỉnh tại 5 khu vực: Hạ Long (khoảng 65ha), Vân Đồn (khoảng 50ha), Hải Hà (khoảng 100ha), Bình Liêu (khoảng 50ha), Quảng Yên (khoảng 65ha).
- Xây dựng khu thương mại bán các mặt hàng thương hiệu, chất lượng cao, giá cả tốt (outlet mall) có quy mô 35 ÷ 65 ha tại khu vực gần nút giao với đường cao tốc trên địa bàn huyện Đông Triều, Tiên Yên (sau khi đường cao tốc Hà Nội - Hạ Long được xây dựng).
- Xây dựng các khu thương mại, dịch vụ cấp khu vực (quy mô 10 ÷ 40 ha) tại các địa phương: Cẩm Phả, Hoành Bồ, Cô Tô, Đầm Hà, Ba Chẽ, Uông Bí.
7.3. Du lịch:
- Xây dựng, phát triển các khu du lịch, dịch vụ trong đô thị: ở Móng Cái hình thành khu phố ẩm thực, mua sắm để phát huy lợi thế của khu biên giới và mậu dịch với Trung Quốc; xây dựng Khu nghỉ dưỡng phức hợp tại Vân Đồn với các hình thức như tổ hợp khách sạn gắn liền với sòng bạc (Casino), công viên chủ đề, sân golf, các khu du lịch hội nghị, mua sắm...; xây dựng các Công viên chủ đề, trung tâm vui chơi giải trí, mua sắm, nhà hàng, khu du lịch hội nghị… tại khu vực hoàn nguyên các mỏ than của Hạ Long, Cẩm Phả.
- Phát triển xây dựng các khu du lịch sinh thái (tuyến du lịch đi bộ, khám phá, leo núi, cắm trại...) tại Móng Cái, Bình Liêu, Tiên Yên...; du lịch văn hóa trải nghiệm gắn với các vùng nông nghiệp nông thôn tại Đầm Hà, Hải Hà, Đông Triều...; các khu du lịch văn hóa địa phương (giới thiệu văn hóa, hình thức sinh hoạt của người dân tộc thiểu số, trưng bày, giới thiệu và bán các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, ẩm thực địa phương).
- Phát triển sản phẩm du lịch độc đáo thông qua việc, gắn kết khu di tích Yên Tử, khu di tích nhà Trần, di tích chiến thắng Bạch Đằng...
- Phát triển du lịch biển đảo tại Vĩnh Trung, Vĩnh Thực, Minh Châu, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Vạn Cảnh, Phượng Hoàng, Cô Tô... xây dựng bến du thuyền, thuyền buồm, các khu vui chơi lướt ván, ca nô, lặn, câu cá...
- Tăng số lượng khách sạn từ 3 ÷ 5 sao, xây dựng các công trình lưu trú đa dạng, phong phú đa dạng; hoàn thiện hạ tầng giao thông đường bộ (các tuyến xe buýt dành cho du lịch, dịch vụ tàu cao tốc, bến cảng du lịch...), xây dựng tuyến đường sắt 1 ray, xây dựng sân bay trực thăng tại các khu vực và các đảo lớn có hoạt động du lịch.
7.4. Các khu sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp:
- Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, đa dạng hóa sản phẩm và đa dạng hóa cơ cấu kinh tế nông thôn kết hợp phục vụ đắc lực cho ngành du lịch của tỉnh thông qua các mặt hàng nông sản, ẩm thực...
- Nông nghiệp: Duy trì, nâng cao hiệu quả sản xuất các khu đất nông nghiệp tại các đô thị để phục vụ địa phương; xuất ra ngoài tỉnh; từng bước hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao để tạo ra sản phẩm chất lượng và có khả năng cạnh tranh cao.
- Lâm nghiệp: Hình thành 2 vùng sản xuất lâm nghiệp: (1) vùng cây nguyên liệu gỗ cho chế biến phục vụ xuất khẩu, cung cấp gỗ mỏ cho ngành than, gỗ xây dựng; (2) vùng cây lâm nghiệp đặc sản, cây dược liệu (ba kích, quế, hồi, thông...), phục vụ xuất khẩu.
- Thủy sản: Phát triển thủy sản toàn diện và bền vững trên tất cả các lĩnh vực đánh bắt, nuôi trồng và chế biến để có thể khai thác hết tiềm năng của tỉnh. Tăng chế biến phục vụ xuất khẩu đối với những mặt hàng chất lượng cao; đảm bảo bảo vệ môi trường vùng biển và ven biển, đặc biệt là môi trường cho các hoạt động du lịch.
- Trên cơ sở các tính toán, thiết lập các khu vực nông lâm thủy sản cũng như định hướng phát triển (đặc trưng, chức năng) cho từng khu vực.
7.5. Định hướng phát triển phân khu biển:
- Không gian biển tỉnh Quảng Ninh được phân làm 5 khu vực: Khu vực bảo tồn tuyệt đối di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long; khu vực bảo tồn vườn quốc gia Bái Tử Long; khu vực phát triển năng động, phục vụ du lịch; khu vực hạn chế phát triển, đảm bảo quốc phòng, an ninh; khu vực không phát triển, ranh giới với vịnh Bắc Bộ. Các khu vực này có những đặc trưng riêng, kết nối với nhau, hỗ trợ phát triển vành đai du lịch biển đảo, phát triển kinh tế biển, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng và phát triển bền vững của tỉnh.
- Bảo vệ môi trường tự nhiên và tăng cường liên kết giữa vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long; Vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long có đặc trưng khác nhau cần có các giải pháp quản lý, phát triển, tăng cường liên kết để phát huy tối đa lợi thế của các khu vực. Khu vực vịnh Hạ Long là di sản thiên nhiên thế giới được bảo tồn tuyệt đối, chủ yếu là núi đá; khu vực vịnh Bái Tử Long (bao gồm cả các đảo đất và đảo đá vôi có người dân sinh sống) quy hoạch phát triển các không gian, loại hình du lịch tương hỗ, giảm tải cho Vịnh Hạ Long, phát triển du lịch phức hợp, kết hợp giữa các yếu tố tự nhiên và văn hóa để phát triển du lịch.
- Phát triển các khu nghỉ dưỡng biển đảo cao cấp hấp dẫn tại khu vực các đảo thuộc các địa phương Vân Đồn, Cô Tô, Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà.
- Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các làng chài trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long (Cửa Vạn, Vung Viêng, Ba Hang, Hoa Cương - sau khi di chuyển tất cả các hộ dân đang sinh sống lên đất liền) để đầu tư bài bản, chuyên nghiệp tăng cường quản lý nhà nước để hình thành, phát triển các hoạt động du lịch, thương mại dịch vụ đồng thời kết nối với các khu tái định cư làng chài trên đất liền (phục vụ nhu cầu ở cho dân cư các làng chài); các khu dịch vụ du lịch, bảo tồn làng chài được tổ chức, quản lý đảm bảo các yêu cầu về cảnh quan, môi trường vịnh, bảo tồn giá trị di sản thế giới; các khu vực nằm ngoài các vùng bảo vệ tuyệt đối của di sản, có thể nghiên cứu xây dựng quần thể du lịch, dịch vụ trên biển, đào tạo các không gian mới cho người dân và du khách.

Content:
Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực chủ yếu
7.1. Các khu, cụm, cơ sở sản xuất công nghiệp:
a) Các khu, cụm công nghiệp:
- Trên cơ sở điều chỉnh thu gọn quy mô một số các khu công nghiệp (KCN) và cụm công nghiệp (CCN) cũ đồng thời đề xuất một số KCN mới; trên địa bàn tỉnh đến năm 2030 quy hoạch 14 KCN và 21 CCN với tổng diện tích đất khoảng 14.700ha trong đó ưu tiên phát triển 9.200ha và dự trữ phát triển 5.500ha.
- Trọng điểm phát triển thu hút đầu tư là Khu đô thị công nghiệp thông minh Quảng Yên; các khu công nghiệp Phương Nam, Đầm Nhà Mạc, Tiền Phong, Cái Lân, Việt Hưng, Nam Hoành Bồ, Hải Hà, Hải Yên, v.v...
- Từng bước thực hiện di dời các cơ sở sản xuất công nghiệp phải di dời do ô nhiễm môi trường và theo quy hoạch xây dựng đô thị.
b) Các nhà máy xi măng:
- Đối với các nhà máy xi măng nằm trong khu vực đô thị, ven vịnh Cửa Lục, vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long (Cẩm Phả, Thăng Long, Hạ Long, Lam Thạch) có ảnh hưởng đến cảnh quan cũng như môi trường đô thị, môi trường vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long: Dừng việc mở rộng nâng công suất các nhà máy xi măng hiện có; di chuyển vị trí các nhà máy dự kiến xây dựng theo quy hoạch (lên phía Bắc đường cao tốc).
- Giai đoạn trước mắt, yêu cầu các nhà máy phải có các giải pháp công nghệ giảm thiểu tác động tới cảnh quan và môi trường khu vực lân cận; sau năm 2030, khi các nhà máy ngừng hoạt động hoặc thực hiện di dời, quỹ đất các nhà máy xi măng hiện có (Cẩm Phả, Lam Thạch, Hạ Long, Thăng Long) sẽ được sử dụng để tái thiết, phát triển đồ thị, phát triển công nghiệp sạch phù hợp.
c) Các nhà máy nhiệt điện:
- Khai thác ổn định và có các giải pháp môi trường hiệu quả các Nhà máy nhiệt điện hiện có: Mạo Khê 1-2, Uông Bí 1-2, Quảng Ninh 1-2, Cẩm Phả 1-2, Mông Dương 1-2;
- Tiếp tục thực hiện QH điện VII: Đề xuất chuyển địa điểm quy hoạch các nhà máy nhiệt điện: Uông Bí 3; Yên Hưng; Thăng Long; Cẩm Phả 3 về khu vực phía Bắc đường 18 và đường cao tốc.
- Lộ trình: Đến năm 2021, dừng khai thác Nhiệt điện Uông Bí 1 (Theo QH điện VIl); đến năm 2030 xem xét và đánh giá lại sự phù hợp các Dự án Nhiệt điện: Uông Bí 2, Quảng Ninh 1-2; sau năm 2030 di chuyển nhiệt điện Cẩm Phả 1-2 về khu vực Ba Chẽ, Tiên Yên, Hải Hà và phía Bắc đường cao tốc.
d) Các mỏ than:
- Tuân thủ lộ trình phát triển khai thác than theo Quyết định số 60/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam (đặc biệt là lộ trình kết thúc khai thác lộ thiên đối với các mỏ than khu vực thành phố Hạ Long, Cẩm Phả; các mỏ than nằm giáp các khu đô thị, đầu nguồn nước và các khu di tích Quốc gia).
- Chuyển dần từ khai thác than lộ thiên sang khai thác hầm lò theo đúng lộ trình trong quy hoạch đã được duyệt; áp dụng các hình thức vận chuyển than từ mỏ đến nơi chế biến, tiêu thụ đảm bảo không ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường; phân vùng không gian khai thác và vùng phát triển dân cư, đô thị và du lịch đồng thời bố trí các vùng đệm cây xanh quy mô lớn tại các khu vực giữa khai trường và đô thị; sớm hoàn nguyên các mỏ than không còn hoạt động khai thác và chuyển đổi mục đích sử dụng thành các khu công viên cây xanh, các khu chức năng phục vụ đô thị... phù hợp với sự phát triển của du lịch và dịch vụ.
7.2. Thương mại, dịch vụ:
- Xây dựng 01 trung tâm dịch vụ thương mại cấp quốc gia và hướng tới đẳng cấp quốc tế tại khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái với tổng diện tích khoảng 500ha; gồm: Khu mậu dịch thương mại tự do, khu phố thương mại, khu phố tài chính, khu dịch vụ du lịch cửa khẩu gần cửa khẩu Bắc Luân II...
- Xây dựng các khu thương mại, dịch vụ du lịch cấp tỉnh tại 5 khu vực: Hạ Long (khoảng 65ha), Vân Đồn (khoảng 50ha), Hải Hà (khoảng 100ha), Bình Liêu (khoảng 50ha), Quảng Yên (khoảng 65ha).
- Xây dựng khu thương mại bán các mặt hàng thương hiệu, chất lượng cao, giá cả tốt (outlet mall) có quy mô 35 ÷ 65 ha tại khu vực gần nút giao với đường cao tốc trên địa bàn huyện Đông Triều, Tiên Yên (sau khi đường cao tốc Hà Nội - Hạ Long được xây dựng).
- Xây dựng các khu thương mại, dịch vụ cấp khu vực (quy mô 10 ÷ 40 ha) tại các địa phương: Cẩm Phả, Hoành Bồ, Cô Tô, Đầm Hà, Ba Chẽ, Uông Bí.
7.3. Du lịch:
- Xây dựng, phát triển các khu du lịch, dịch vụ trong đô thị: ở Móng Cái hình thành khu phố ẩm thực, mua sắm để phát huy lợi thế của khu biên giới và mậu dịch với Trung Quốc; xây dựng Khu nghỉ dưỡng phức hợp tại Vân Đồn với các hình thức như tổ hợp khách sạn gắn liền với sòng bạc (Casino), công viên chủ đề, sân golf, các khu du lịch hội nghị, mua sắm...; xây dựng các Công viên chủ đề, trung tâm vui chơi giải trí, mua sắm, nhà hàng, khu du lịch hội nghị… tại khu vực hoàn nguyên các mỏ than của Hạ Long, Cẩm Phả.
- Phát triển xây dựng các khu du lịch sinh thái (tuyến du lịch đi bộ, khám phá, leo núi, cắm trại...) tại Móng Cái, Bình Liêu, Tiên Yên...; du lịch văn hóa trải nghiệm gắn với các vùng nông nghiệp nông thôn tại Đầm Hà, Hải Hà, Đông Triều...; các khu du lịch văn hóa địa phương (giới thiệu văn hóa, hình thức sinh hoạt của người dân tộc thiểu số, trưng bày, giới thiệu và bán các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, ẩm thực địa phương).
- Phát triển sản phẩm du lịch độc đáo thông qua việc, gắn kết khu di tích Yên Tử, khu di tích nhà Trần, di tích chiến thắng Bạch Đằng...
- Phát triển du lịch biển đảo tại Vĩnh Trung, Vĩnh Thực, Minh Châu, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Vạn Cảnh, Phượng Hoàng, Cô Tô... xây dựng bến du thuyền, thuyền buồm, các khu vui chơi lướt ván, ca nô, lặn, câu cá...
- Tăng số lượng khách sạn từ 3 ÷ 5 sao, xây dựng các công trình lưu trú đa dạng, phong phú đa dạng; hoàn thiện hạ tầng giao thông đường bộ (các tuyến xe buýt dành cho du lịch, dịch vụ tàu cao tốc, bến cảng du lịch...), xây dựng tuyến đường sắt 1 ray, xây dựng sân bay trực thăng tại các khu vực và các đảo lớn có hoạt động du lịch.
7.4. Các khu sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp:
- Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, đa dạng hóa sản phẩm và đa dạng hóa cơ cấu kinh tế nông thôn kết hợp phục vụ đắc lực cho ngành du lịch của tỉnh thông qua các mặt hàng nông sản, ẩm thực...
- Nông nghiệp: Duy trì, nâng cao hiệu quả sản xuất các khu đất nông nghiệp tại các đô thị để phục vụ địa phương; xuất ra ngoài tỉnh; từng bước hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao để tạo ra sản phẩm chất lượng và có khả năng cạnh tranh cao.
- Lâm nghiệp: Hình thành 2 vùng sản xuất lâm nghiệp: (1) vùng cây nguyên liệu gỗ cho chế biến phục vụ xuất khẩu, cung cấp gỗ mỏ cho ngành than, gỗ xây dựng; (2) vùng cây lâm nghiệp đặc sản, cây dược liệu (ba kích, quế, hồi, thông...), phục vụ xuất khẩu.
- Thủy sản: Phát triển thủy sản toàn diện và bền vững trên tất cả các lĩnh vực đánh bắt, nuôi trồng và chế biến để có thể khai thác hết tiềm năng của tỉnh. Tăng chế biến phục vụ xuất khẩu đối với những mặt hàng chất lượng cao; đảm bảo bảo vệ môi trường vùng biển và ven biển, đặc biệt là môi trường cho các hoạt động du lịch.
- Trên cơ sở các tính toán, thiết lập các khu vực nông lâm thủy sản cũng như định hướng phát triển (đặc trưng, chức năng) cho từng khu vực.
7.5. Định hướng phát triển phân khu biển:
- Không gian biển tỉnh Quảng Ninh được phân làm 5 khu vực: Khu vực bảo tồn tuyệt đối di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long; khu vực bảo tồn vườn quốc gia Bái Tử Long; khu vực phát triển năng động, phục vụ du lịch; khu vực hạn chế phát triển, đảm bảo quốc phòng, an ninh; khu vực không phát triển, ranh giới với vịnh Bắc Bộ. Các khu vực này có những đặc trưng riêng, kết nối với nhau, hỗ trợ phát triển vành đai du lịch biển đảo, phát triển kinh tế biển, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng và phát triển bền vững của tỉnh.
- Bảo vệ môi trường tự nhiên và tăng cường liên kết giữa vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long; Vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long có đặc trưng khác nhau cần có các giải pháp quản lý, phát triển, tăng cường liên kết để phát huy tối đa lợi thế của các khu vực. Khu vực vịnh Hạ Long là di sản thiên nhiên thế giới được bảo tồn tuyệt đối, chủ yếu là núi đá; khu vực vịnh Bái Tử Long (bao gồm cả các đảo đất và đảo đá vôi có người dân sinh sống) quy hoạch phát triển các không gian, loại hình du lịch tương hỗ, giảm tải cho Vịnh Hạ Long, phát triển du lịch phức hợp, kết hợp giữa các yếu tố tự nhiên và văn hóa để phát triển du lịch.
- Phát triển các khu nghỉ dưỡng biển đảo cao cấp hấp dẫn tại khu vực các đảo thuộc các địa phương Vân Đồn, Cô Tô, Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà.
- Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các làng chài trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long (Cửa Vạn, Vung Viêng, Ba Hang, Hoa Cương - sau khi di chuyển tất cả các hộ dân đang sinh sống lên đất liền) để đầu tư bài bản, chuyên nghiệp tăng cường quản lý nhà nước để hình thành, phát triển các hoạt động du lịch, thương mại dịch vụ đồng thời kết nối với các khu tái định cư làng chài trên đất liền (phục vụ nhu cầu ở cho dân cư các làng chài); các khu dịch vụ du lịch, bảo tồn làng chài được tổ chức, quản lý đảm bảo các yêu cầu về cảnh quan, môi trường vịnh, bảo tồn giá trị di sản thế giới; các khu vực nằm ngoài các vùng bảo vệ tuyệt đối của di sản, có thể nghiên cứu xây dựng quần thể du lịch, dịch vụ trên biển, đào tạo các không gian mới cho người dân và du khách.