Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 20/2005/QĐ-BGD&ĐT Đề án Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005 - 2010

Type: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục và Đào tạo", "promulgation_date": "24/06/2005", "sign_number": "20/2005/QĐ-BGD&ĐT", "signer": "Nguyễn Minh Hiển", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục và Đào tạo", "promulgation_date": "24/06/2005", "sign_number": "20/2005/QĐ-BGD&ĐT", "signer": "Nguyễn Minh Hiển", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục và Đào tạo", "promulgation_date": "24/06/2005", "sign_number": "20/2005/QĐ-BGD&ĐT", "signer": "Nguyễn Minh Hiển", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục và Đào tạo", "promulgation_date": "24/06/2005", "sign_number": "20/2005/QĐ-BGD&ĐT", "signer": "Nguyễn Minh Hiển", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục và Đào tạo", "promulgation_date": "24/06/2005", "sign_number": "20/2005/QĐ-BGD&ĐT", "signer": "Nguyễn Minh Hiển", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 20/2005/QĐ-BGD&ĐT Đề án Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005 - 2010

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005-2010”, với những nội dung như sau:
...
3. Định hướng và mục tiêu phát triển xã hóa ở các cấp học, trình độ và loại hình giáo dục:
a. Đối với giáo dục mầm non
Đẩy mạnh việc thực hiện Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển giáo dục mầm non. Mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt ở nông thôn và những vùng khó khăn thông qua một hệ thống trường, lớp đa dạng và một mạng lưới phổ biến kiến thức và tư vấn nuôi dạy trẻ cho các gia đình.
Khuyến khích thành lập các cơ sử giáo dục mầm non dân lập, tư thục ở thành phố, thị xã, vùng kinh tế phát triển. Không thành lập mới các cơ sở giáo dục mầm non công lập ở các vùng này.
Ưu tiên ngân sách để đầu tư phát triển giáo dục mầm non công lập ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, biên giới, hải đảo.
Chuyển các cơ sở giáo dục mầm non công lập có nguồn thu sự nghiệp và có đủ điều kiện sang thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính. Trước mắt, chuyển các cơ sở giáo dục mầm non công lập ở khu vực thành phố, thị xã và ở những nơi có các điều kiện thuận lợi, kinh tế phát triển sang thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên.
Có lộ trình cho việc chuyển các cơ sở giáo dục mầm non bán công sang dân lập hoặc tư thục; từng bước chuyển các cơ sở giáo dục mầm non công lập ở khu vực kinh tế phát triển, khu đô thị sang dân lập hoặc tư thục.
Khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, xã hội và nhân dân đóng góp kinh phí, đất đai để xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia.
Phấn đấu đến năm 2010, tỷ lệ trẻ em trong các nhà trẻ ngoài công lập khoảng 80% và tỷ lệ học sinh mẫu giáo ngoài công lập khoảng 70%.
b. Đối với giáo dục phổ thông
b1. Tiểu học:
Khuyến khích mở các loại hình trường tiểu học ngoài công lập ở khu vực thành phố, thị xã và các vùng kinh tế phát triển nhằm huy động nguồn lực của xã hội, của những gia đình có thu nhập cao đầu tư phát triển giáo dục tiểu học.
Khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, xã hội và nhân dân đóng góp kinh phí, đất đai để xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia và thực hiện học 2 buổi/ngày.
Thực hiện chính sách ưu tiên ngân sách cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, vùng kinh tế - xã hội khó khăn, đồng thời huy động tối đa các nguồn ngoài ngân sách nhà nước ở những nơi có điều kiện để đầu tư cho các vùng này.
Đến năm 2010, tỷ lệ học sinh tiểu học ngoài công lập trong cả nước khoảng 1%.
b2. Trung học cơ sở:
Khuyến khích phát triển trường trung học cơ sở ngoài công lập ở khu vực thành phố, thị xã và các vùng kinh tế phát triển.
Khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, xã hội và nhân dân đóng góp kinh phí, đất đai để xây dựng trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia.
Thực hiện chính sách ưu tiên ngân sách cho vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và khó khăn thực hiện phổ cập trung học cơ sở. Đảm bảo đủ ngân sách cho giáo dục phổ cập.
Đến 2010, tỷ lệ bọc sinh trung học cơ sở ngoài công lập khoảng 3,5%.
b3. Trung học phổ thông:
Chuyển các trường trung học phổ thông công lập sang thực hiện cơ chế tự chủ. tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính. Trước mắt, chuyển các trường trung học phổ thông công lập có nguồn thu sự nghiệp ở thành phố, thị xã, khu vực kinh tế phát triển sang thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên.
Có lộ trình chuyển các trường trung học phổ thông bán công sang loại hình dân lập, tư thục. Khuyến khích phát triển trường trung học phổ thông dân lập và tư thục ở các vùng miền trên cả nước, nhất là ở các đô thị và vùng kinh tế phát triển.
Đến 2010, tỷ lệ học sinh trung học phổ thông ngoài công lập khoảng 40%.
c. Đối với trung học chuyên nghiệp:
Phát triển các cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp phù hợp với nhu cầu và điều kiện kinh tế - xã hội của các địa phương.
Khuyến khích phát triển các cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp dân lập, tư thực trên các vùng miền trong cả nước, nhất là ở
khu vực đô thị, vùng kinh tế phát triển, khu công nghiệp, khu chế xuất và trong các doanh nghiệp, tổng công ty lớn.
Chuyển các cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp công lập sang thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính. Trước mắt, giao cho các cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp thực hiện cơ chế tự đảm bảo toàn bộ hoặc một phần chi phí hoạt động thường xuyên.
Chuyển các cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp bán công sang dân lập hoặc tư thục. Thí điểm chuyển một số cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp công lập sang loại hình ngoài công lập.
Khuyến khích các cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo có chất lượng cao của nước ngoài.
Phấn đấu đến năm 2010, tỷ lệ học sinh trung học chuyên nghiệp ngoài công lập khoảng 30%.
d. Đối với cao đẳng và đại học
Đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính cho các trường đại học, cao đẳng công lập. Hội đồng trường có trách nhiệm tổ chức thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật
Chuyển các trường đại học, cao đẳng công lập có nguồn thu sự nghiệp sang hoạt động theo cơ chế tự đảm bảo toàn bộ hoặc tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên.
Chuyển các trường đại học, cao đẳng bán công thành trường dân lập hoặc tư thục. Thí điểm chuyển một số trường đại học, cao đẳng công lập tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên thành trường ngoài công lập.
Thành lập một số trường đại học, cao đẳng dân lập, tư thục ở các tỉnh, thành phố đã có điều kiện phát triển, có nhu cầu lớn về đào tạo nguồn nhân lực đại học, cao đẳng (cạch các khu công nghiệp, khu kinh tế, các doanh nghiệp lớn) nhưng chưa có hoặc có ít trường đại học, cao đẳng.
Phát triển mô hình trường cao đẳng cộng đồng ở các địa phương.
Khuyến khích các trường đại học, cao đẳng liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo có
chất lượng cao của nước ngoài.
Khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao.
Phấn đấu đến năm 2010, tỷ lệ sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng ngoàl công lập khoảng 40%.
đ. Giáo dục thường xuyên
Đẩy mạnh việc thực hiện Quyết định số l12/2005/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về "Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 - 2010". Phát triển giáo dục thường xuyên như là một hình thức huy động tiềm năng của cộng đồng để xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội cho mọi người, ở mọi trình độ, mọi lứa tuổi, mọi nơi có thể học tập suốt đời, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mỗi cá nhân, góp phần nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực.
Mở rộng đào tạo từ xa và các phương thức đào tạo không chính quy khác. Tạo cơ hội cho đông đảo người lao động được tiếp tục học tập, được đào tạo lại, được bồi dưỡng ngắn hạn, định kỳ và thường xuyên theo các chương trình giáo dục, các chương trình kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập hoặc chuyển đổi nghề nghiệp.
Phát triển các trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên, phong trào gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học, tổ chức các hoạt động khuyến học trong các cơ quan, doanh nghiệp, trung học và các hội khuyến học ở xã, phường tiến tới xây dựng xã hội học tập.
Phấn đấu đến năm 2010, tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 trở lên đạt trên 98%; đạt tỷ lệ 80% số cán bộ cấp xã và cán bộ cấp huyện được học tập bồi dưỡng cập nhật kiến thức về quản lý, pháp luật, kinh tế và xã hội; đạt tỷ lệ 100% số cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước được tham gia các khoá đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ; đạt tỷ lệ trên 85% số người lao động trong các lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp được tiếp cận và hưởng thụ các chương trình bồi dưỡng nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ; đạt 100% quận, huyện có Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện; 100% tỉnh, thành phố có Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh và trên 80% xã, phường, thị trấn trong cả nước có Trung tâm học tập cộng đồng.

Content:
Định hướng và mục tiêu phát triển xã hóa ở các cấp học, trình độ và loại hình giáo dục:
a. Đối với giáo dục mầm non
Đẩy mạnh việc thực hiện Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển giáo dục mầm non. Mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt ở nông thôn và những vùng khó khăn thông qua một hệ thống trường, lớp đa dạng và một mạng lưới phổ biến kiến thức và tư vấn nuôi dạy trẻ cho các gia đình.
Khuyến khích thành lập các cơ sử giáo dục mầm non dân lập, tư thục ở thành phố, thị xã, vùng kinh tế phát triển. Không thành lập mới các cơ sở giáo dục mầm non công lập ở các vùng này.
Ưu tiên ngân sách để đầu tư phát triển giáo dục mầm non công lập ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, biên giới, hải đảo.
Chuyển các cơ sở giáo dục mầm non công lập có nguồn thu sự nghiệp và có đủ điều kiện sang thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính. Trước mắt, chuyển các cơ sở giáo dục mầm non công lập ở khu vực thành phố, thị xã và ở những nơi có các điều kiện thuận lợi, kinh tế phát triển sang thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên.
Có lộ trình cho việc chuyển các cơ sở giáo dục mầm non bán công sang dân lập hoặc tư thục; từng bước chuyển các cơ sở giáo dục mầm non công lập ở khu vực kinh tế phát triển, khu đô thị sang dân lập hoặc tư thục.
Khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, xã hội và nhân dân đóng góp kinh phí, đất đai để xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia.
Phấn đấu đến năm 2010, tỷ lệ trẻ em trong các nhà trẻ ngoài công lập khoảng 80% và tỷ lệ học sinh mẫu giáo ngoài công lập khoảng 70%.
b. Đối với giáo dục phổ thông
b1. Tiểu học:
Khuyến khích mở các loại hình trường tiểu học ngoài công lập ở khu vực thành phố, thị xã và các vùng kinh tế phát triển nhằm huy động nguồn lực của xã hội, của những gia đình có thu nhập cao đầu tư phát triển giáo dục tiểu học.
Khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, xã hội và nhân dân đóng góp kinh phí, đất đai để xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia và thực hiện học 2 buổi/ngày.
Thực hiện chính sách ưu tiên ngân sách cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, vùng kinh tế - xã hội khó khăn, đồng thời huy động tối đa các nguồn ngoài ngân sách nhà nước ở những nơi có điều kiện để đầu tư cho các vùng này.
Đến năm 2010, tỷ lệ học sinh tiểu học ngoài công lập trong cả nước khoảng 1%.
b2. Trung học cơ sở:
Khuyến khích phát triển trường trung học cơ sở ngoài công lập ở khu vực thành phố, thị xã và các vùng kinh tế phát triển.
Khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, xã hội và nhân dân đóng góp kinh phí, đất đai để xây dựng trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia.
Thực hiện chính sách ưu tiên ngân sách cho vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và khó khăn thực hiện phổ cập trung học cơ sở. Đảm bảo đủ ngân sách cho giáo dục phổ cập.
Đến 2010, tỷ lệ bọc sinh trung học cơ sở ngoài công lập khoảng 3,5%.
bTrung học phổ thông:
Chuyển các trường trung học phổ thông công lập sang thực hiện cơ chế tự chủ. tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính. Trước mắt, chuyển các trường trung học phổ thông công lập có nguồn thu sự nghiệp ở thành phố, thị xã, khu vực kinh tế phát triển sang thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên.
Có lộ trình chuyển các trường trung học phổ thông bán công sang loại hình dân lập, tư thục. Khuyến khích phát triển trường trung học phổ thông dân lập và tư thục ở các vùng miền trên cả nước, nhất là ở các đô thị và vùng kinh tế phát triển.
Đến 2010, tỷ lệ học sinh trung học phổ thông ngoài công lập khoảng 40%.
c. Đối với trung học chuyên nghiệp:
Phát triển các cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp phù hợp với nhu cầu và điều kiện kinh tế - xã hội của các địa phương.
Khuyến khích phát triển các cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp dân lập, tư thực trên các vùng miền trong cả nước, nhất là ở
khu vực đô thị, vùng kinh tế phát triển, khu công nghiệp, khu chế xuất và trong các doanh nghiệp, tổng công ty lớn.
Chuyển các cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp công lập sang thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính. Trước mắt, giao cho các cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp thực hiện cơ chế tự đảm bảo toàn bộ hoặc một phần chi phí hoạt động thường xuyên.
Chuyển các cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp bán công sang dân lập hoặc tư thục. Thí điểm chuyển một số cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp công lập sang loại hình ngoài công lập.
Khuyến khích các cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo có chất lượng cao của nước ngoài.
Phấn đấu đến năm 2010, tỷ lệ học sinh trung học chuyên nghiệp ngoài công lập khoảng 30%.
d. Đối với cao đẳng và đại học
Đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính cho các trường đại học, cao đẳng công lập. Hội đồng trường có trách nhiệm tổ chức thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật
Chuyển các trường đại học, cao đẳng công lập có nguồn thu sự nghiệp sang hoạt động theo cơ chế tự đảm bảo toàn bộ hoặc tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên.
Chuyển các trường đại học, cao đẳng bán công thành trường dân lập hoặc tư thục. Thí điểm chuyển một số trường đại học, cao đẳng công lập tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên thành trường ngoài công lập.
Thành lập một số trường đại học, cao đẳng dân lập, tư thục ở các tỉnh, thành phố đã có điều kiện phát triển, có nhu cầu lớn về đào tạo nguồn nhân lực đại học, cao đẳng (cạch các khu công nghiệp, khu kinh tế, các doanh nghiệp lớn) nhưng chưa có hoặc có ít trường đại học, cao đẳng.
Phát triển mô hình trường cao đẳng cộng đồng ở các địa phương.
Khuyến khích các trường đại học, cao đẳng liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo có
chất lượng cao của nước ngoài.
Khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao.
Phấn đấu đến năm 2010, tỷ lệ sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng ngoàl công lập khoảng 40%.
đ. Giáo dục thường xuyên
Đẩy mạnh việc thực hiện Quyết định số l12/2005/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về "Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 - 2010". Phát triển giáo dục thường xuyên như là một hình thức huy động tiềm năng của cộng đồng để xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội cho mọi người, ở mọi trình độ, mọi lứa tuổi, mọi nơi có thể học tập suốt đời, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mỗi cá nhân, góp phần nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực.
Mở rộng đào tạo từ xa và các phương thức đào tạo không chính quy khác. Tạo cơ hội cho đông đảo người lao động được tiếp tục học tập, được đào tạo lại, được bồi dưỡng ngắn hạn, định kỳ và thường xuyên theo các chương trình giáo dục, các chương trình kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập hoặc chuyển đổi nghề nghiệp.
Phát triển các trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên, phong trào gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học, tổ chức các hoạt động khuyến học trong các cơ quan, doanh nghiệp, trung học và các hội khuyến học ở xã, phường tiến tới xây dựng xã hội học tập.
Phấn đấu đến năm 2010, tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 trở lên đạt trên 98%; đạt tỷ lệ 80% số cán bộ cấp xã và cán bộ cấp huyện được học tập bồi dưỡng cập nhật kiến thức về quản lý, pháp luật, kinh tế và xã hội; đạt tỷ lệ 100% số cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước được tham gia các khoá đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ; đạt tỷ lệ trên 85% số người lao động trong các lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp được tiếp cận và hưởng thụ các chương trình bồi dưỡng nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ; đạt 100% quận, huyện có Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện; 100% tỉnh, thành phố có Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh và trên 80% xã, phường, thị trấn trong cả nước có Trung tâm học tập cộng đồng.