Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 70/2002/QĐ-UB quy hoạch phát triển Thủy sản Ninh Thuận

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "25/06/2002", "sign_number": "70/2002/QĐ-UB", "signer": "***", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "25/06/2002", "sign_number": "70/2002/QĐ-UB", "signer": "***", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "25/06/2002", "sign_number": "70/2002/QĐ-UB", "signer": "***", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "25/06/2002", "sign_number": "70/2002/QĐ-UB", "signer": "***", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "25/06/2002", "sign_number": "70/2002/QĐ-UB", "signer": "***", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 70/2002/QĐ-UB quy hoạch phát triển Thủy sản Ninh Thuận

Điều 1. Phê duyệt (điều chỉnh) quy hoạch phát triển ngành Thủy sản giai đoạn 2001 - 2010 với những nội dung như sau:
...
4. Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi trồng và khai thác hải sản:
Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng và hệ thống dịch vụ hậu cần cho khai thác và nuôi trồng là yếu tố trọng tâm để phát triển thủy sản một cách bền vững, giải quyết việc làm và góp phần phát triển kinh tế - xã hội các địa phương vùng biển trong tỉnh.
a) Khai thác:
Xây dựng hệ thống cảng, bến cá, hình thành các trung tâm nghề cá và dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cá và bến cá. Đến năm 2010 tập trung đầu tư các dự án sau:
Tập trung đầu tư hoàn thiện đưa vào sử dụng cảng Ninh Chữ, bến cá Mỹ Tân, mở rộng cảng cá Cà Ná, Đông Hải đảm bảo cho loại thuyền lớn ra vào thuận lợi.
Sau năm 2005 xây dựng bến cá Sơn Hải, đồng thời khảo sát xây dựng cảng Vĩnh Hy.
b) Về nuôi trồng:
Giai đoạn 2002 - 2005 đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng các vùng nuôi tôm công nghiệp Sơn Hải, An Hải, Từ Thiện, Vĩnh Trường, Thái An, Phương Hải nâng diện tích nuôi tôm lên 2.200 ha.
Tiếp tục đầu tư hạ tầng tại khu vực tôm giống Khánh Nhơn, Mỹ Hòa, chú trọng chất lượng nguồn tôm giống bố mẹ đảm bảo cung cấp con giống tốt cho nuôi trồng trong và ngoài tỉnh.
Sau năm 2005: Đầu tư các dự án nuôi tôm Phương Hải, Tri Hải... để nâng diện tích nuôi tôm lên 3.000 - 3.500 ha vào năm 2010.
Thực hiện kiên cố hóa hệ thống kênh cấp thoát nước, điện khí hóa các vùng nuôi tôm nâng cao năng suất tôm, sản lượng tôm nuôi.
Hình thành trại giống quốc gia tại tỉnh Ninh Thuận để thực hiện chức năng ứng dụng công nghệ, sản xuất thử nghiệm và nhân rộng các loại giống mới vào nuôi trồng tại địa phương và cho cả nước.
c) Dịch vụ hậu cần:
Nâng cao hiệu quả sử dụng mặt bằng các cảng cá, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển dịch vụ hậu cần trên các cảng cá thật sự trở thành là nơi cung ứng hậu cần tiêu thụ sản phẩm cho ngư dân trong và ngoài tỉnh.
Xây dựng cảng cá văn minh, đảm bảo trật tự an ninh và vệ sinh môi trường tại các bến cá và cảng cá.
Cơ khí sửa chữa: Đầu tư các cơ sở cơ khí tại các trung tâm nghề cá, cảng cá nhằm đảm bảo khả năng đóng mới và sửa chữa 100% tàu thuyền trong tỉnh để phục vụ cho khai thác hải sản. Nghiên cứu và áp dụng công nghệ và vật liệu tiên tiến trong đóng mới và sửa chữa tàu thuyền để thay thế vật liệu gỗ.
d) Về chế biến và thương mại thủy sản:
Đầu tư nâng cấp các cơ sở chế biến hiện có ở Phan Rang, Đông Hải, Cà Ná, nhất là các cơ sở xuất khẩu ở Phan Rang đạt tiêu chuẩn xuất khẩu của HACCP, chế biến được mặt hàng chủ lực là con tôm xuất khẩu
Giai đoạn 2006 - 2010 đầu tư xây dựng thêm 1 - 2 nhà máy mới, chuyển một số cơ sở chế biến hải sản hiện có về các cụm công nghiệp để thuận lợi trong sản xuất và tránh ô nhiễm môi trường.
Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư các cơ sở chế biến hàng thủy sản xuất khẩu và tiêu thụ nội địa như chế biến cá khô, nước mắm trong tỉnh.

Content:
Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi trồng và khai thác hải sản:
Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng và hệ thống dịch vụ hậu cần cho khai thác và nuôi trồng là yếu tố trọng tâm để phát triển thủy sản một cách bền vững, giải quyết việc làm và góp phần phát triển kinh tế - xã hội các địa phương vùng biển trong tỉnh.
a) Khai thác:
Xây dựng hệ thống cảng, bến cá, hình thành các trung tâm nghề cá và dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cá và bến cá. Đến năm 2010 tập trung đầu tư các dự án sau:
Tập trung đầu tư hoàn thiện đưa vào sử dụng cảng Ninh Chữ, bến cá Mỹ Tân, mở rộng cảng cá Cà Ná, Đông Hải đảm bảo cho loại thuyền lớn ra vào thuận lợi.
Sau năm 2005 xây dựng bến cá Sơn Hải, đồng thời khảo sát xây dựng cảng Vĩnh Hy.
b) Về nuôi trồng:
Giai đoạn 2002 - 2005 đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng các vùng nuôi tôm công nghiệp Sơn Hải, An Hải, Từ Thiện, Vĩnh Trường, Thái An, Phương Hải nâng diện tích nuôi tôm lên 2.200 ha.
Tiếp tục đầu tư hạ tầng tại khu vực tôm giống Khánh Nhơn, Mỹ Hòa, chú trọng chất lượng nguồn tôm giống bố mẹ đảm bảo cung cấp con giống tốt cho nuôi trồng trong và ngoài tỉnh.
Sau năm 2005: Đầu tư các dự án nuôi tôm Phương Hải, Tri Hải... để nâng diện tích nuôi tôm lên 3.000 - 3.500 ha vào năm 2010.
Thực hiện kiên cố hóa hệ thống kênh cấp thoát nước, điện khí hóa các vùng nuôi tôm nâng cao năng suất tôm, sản lượng tôm nuôi.
Hình thành trại giống quốc gia tại tỉnh Ninh Thuận để thực hiện chức năng ứng dụng công nghệ, sản xuất thử nghiệm và nhân rộng các loại giống mới vào nuôi trồng tại địa phương và cho cả nước.
c) Dịch vụ hậu cần:
Nâng cao hiệu quả sử dụng mặt bằng các cảng cá, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển dịch vụ hậu cần trên các cảng cá thật sự trở thành là nơi cung ứng hậu cần tiêu thụ sản phẩm cho ngư dân trong và ngoài tỉnh.
Xây dựng cảng cá văn minh, đảm bảo trật tự an ninh và vệ sinh môi trường tại các bến cá và cảng cá.
Cơ khí sửa chữa: Đầu tư các cơ sở cơ khí tại các trung tâm nghề cá, cảng cá nhằm đảm bảo khả năng đóng mới và sửa chữa 100% tàu thuyền trong tỉnh để phục vụ cho khai thác hải sản. Nghiên cứu và áp dụng công nghệ và vật liệu tiên tiến trong đóng mới và sửa chữa tàu thuyền để thay thế vật liệu gỗ.
d) Về chế biến và thương mại thủy sản:
Đầu tư nâng cấp các cơ sở chế biến hiện có ở Phan Rang, Đông Hải, Cà Ná, nhất là các cơ sở xuất khẩu ở Phan Rang đạt tiêu chuẩn xuất khẩu của HACCP, chế biến được mặt hàng chủ lực là con tôm xuất khẩu
Giai đoạn 2006 - 2010 đầu tư xây dựng thêm 1 - 2 nhà máy mới, chuyển một số cơ sở chế biến hải sản hiện có về các cụm công nghiệp để thuận lợi trong sản xuất và tránh ô nhiễm môi trường.
Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư các cơ sở chế biến hàng thủy sản xuất khẩu và tiêu thụ nội địa như chế biến cá khô, nước mắm trong tỉnh.