Document: Điều 14 Thông tư 14/2023/TT-BCA quy trình công nhận chế độ ưu đãi người có công với cách mạng mới nhất

Type: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "20/04/2023", "sign_number": "14/2023/TT-BCA", "signer": "Tô Lâm", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "20/04/2023", "sign_number": "14/2023/TT-BCA", "signer": "Tô Lâm", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "20/04/2023", "sign_number": "14/2023/TT-BCA", "signer": "Tô Lâm", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "20/04/2023", "sign_number": "14/2023/TT-BCA", "signer": "Tô Lâm", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "20/04/2023", "sign_number": "14/2023/TT-BCA", "signer": "Tô Lâm", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 14 Thông tư 14/2023/TT-BCA quy trình công nhận chế độ ưu đãi người có công với cách mạng mới nhất có nội dung như sau:

Điều 14. Quy trình tiếp nhận hồ sơ, đề nghị công nhận thương binh đối với người bị thương trong chiến tranh đang công tác trong Công an nhân dân
1. Người bị thương lập bản khai theo Mẫu số 08 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP và căn cứ từng trường hợp cụ thể để kèm theo giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 79 Nghị định số 131/2021/NĐ-CP gửi đến Công an cấp huyện hoặc tương đương nơi người bị thương đang công tác.
2. Công an cấp huyện hoặc tương đương nơi người bị thương đang công tác trong thời gian 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ các giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, có trách nhiệm rà soát, kiểm tra các giấy tờ làm căn cứ đề nghị công nhận thương binh. Trường hợp đủ điều kiện thì có văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ gửi đến Công an đơn vị, địa phương.
3. Công an đơn vị, địa phương trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ do Công an cấp huyện hoặc tương đương chuyển đến, có trách nhiệm kiểm tra, xét duyệt hồ sơ. Trường hợp khi bị thương, người bị thương công tác ở Công an đơn vị, địa phương khác thì phối hợp xác minh, thu thập tài liệu, giấy tờ có liên quan đến trường hợp bị thương của người bị thương (nếu cần thiết). Tổ chức họp xem xét đề nghị công nhận thương binh do lãnh đạo Công an đơn vị, địa phương chủ trì, các thành viên gồm: Đại diện đơn vị tổ chức cán bộ, y tế (nếu có), Công an đơn vị, địa phương nơi cán bộ, chiến sĩ công tác khi bị thương; lập biên bản cuộc họp. Trường hợp có căn cứ đề nghị công nhận thương binh thì cấp giấy chứng nhận bị thương theo Mẫu số 35 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP và có văn bản kèm hồ sơ đề nghị gửi đến Cục Tổ chức cán bộ để thẩm định.
Đối với trường hợp các giấy tờ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 76 Nghị định số 131/2021/NĐ-CP không ghi nhận các vết thương cụ thể hoặc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 76 Nghị định số 131/2021/NĐ-CP có khai thêm các vết thương khác, Công an cấp tỉnh nơi quản lý người bị thương phối hợp, chỉ đạo cơ quan y tế (bệnh viện, bệnh xá thuộc Công an cấp tỉnh) thành lập Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể để kiểm tra và lập biên bản kiểm tra vết thương thực thể theo Mẫu số 46 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP trước khi cấp giấy chứng nhận bị thương. Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể do Giám đốc Bệnh viện Công an cấp tỉnh (hoặc Trưởng phòng Hậu cần nếu Công an cấp tỉnh không có bệnh viện) làm Chủ tịch Hội đồng, các thành viên gồm: lãnh đạo Phòng Tổ chức cán bộ; bác sĩ chuyên khoa I thuộc Bệnh viện Công an cấp tỉnh hoặc Bệnh xá trưởng; lãnh đạo Đội Chính sách, Phòng Tổ chức cán bộ; Giám định viên pháp y (nếu thấy cần thiết). Trường hợp người bị thương đang công tác tại đơn vị thuộc cơ quan Bộ thì đơn vị có văn bản đề nghị bệnh viện thuộc Bộ Công an và Hội đồng giám định y khoa Bộ Công an phối hợp thành lập Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể để kiểm tra và lập biên bản kiểm tra vết thương thực thể. Chủ tịch Hội đồng giám định y khoa Bộ Công an làm Chủ tịch Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể. Các thành viên Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể do Chủ tịch hội đồng quyết định.
4. Cục Tổ chức cán bộ trong thời gian 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, có trách nhiệm thẩm định theo Mẫu số 91 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP; thông báo kết quả kèm theo hồ sơ gửi về Công an đơn vị, địa phương nơi đề nghị. Trường hợp cần thiết, có văn bản trao đổi với cơ quan chức năng thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho ý kiến trước khi trả lời Công an đơn vị, địa phương.
5. Công an đơn vị, địa phương trong thời gian 05 ngày, kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định của Cục Tổ chức cán bộ, có trách nhiệm cấp giấy giới thiệu theo Mẫu số 38 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP đối với trường hợp đủ điều kiện kèm theo bản sao hồ sơ gửi đến Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tật.
Trong thời gian 10 ngày, kể từ ngày tiếp nhận biên bản giám định y khoa, Công an đơn vị, địa phương có văn bản kèm theo hồ sơ đề nghị công nhận thương binh gửi đến Cục Tổ chức cán bộ. Văn bản đề nghị nêu chi tiết về trường hợp bị thương, kèm theo 02 ảnh chân dung (nền xanh, kích cỡ 2x3cm) của người bị thương.
6. Cục Tổ chức cán bộ trong thời gian 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, có trách nhiệm thẩm định, ban hành quyết định cấp giấy chứng nhận thương binh và trợ cấp, phụ cấp ưu đãi theo Mẫu số 59 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP, cấp giấy chứng nhận thương binh theo Mẫu số 102 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP đối với trường hợp có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 21% trở lên hoặc ban hành quyết định trợ cấp thương tật một lần theo Mẫu số 61 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP đối với trường hợp có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 5% đến 20%; chuyển hồ sơ kèm theo quyết định, giấy chứng nhận (nếu có) về Công an đơn vị, địa phương nơi lập hồ sơ đề nghị để quản lý và thực hiện chế độ ưu đãi.

Content:
Điều 14. Quy trình tiếp nhận hồ sơ, đề nghị công nhận thương binh đối với người bị thương trong chiến tranh đang công tác trong Công an nhân dân
1. Người bị thương lập bản khai theo Mẫu số 08 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP và căn cứ từng trường hợp cụ thể để kèm theo giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 79 Nghị định số 131/2021/NĐ-CP gửi đến Công an cấp huyện hoặc tương đương nơi người bị thương đang công tác.
2. Công an cấp huyện hoặc tương đương nơi người bị thương đang công tác trong thời gian 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ các giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, có trách nhiệm rà soát, kiểm tra các giấy tờ làm căn cứ đề nghị công nhận thương binh. Trường hợp đủ điều kiện thì có văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ gửi đến Công an đơn vị, địa phương.
3. Công an đơn vị, địa phương trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ do Công an cấp huyện hoặc tương đương chuyển đến, có trách nhiệm kiểm tra, xét duyệt hồ sơ. Trường hợp khi bị thương, người bị thương công tác ở Công an đơn vị, địa phương khác thì phối hợp xác minh, thu thập tài liệu, giấy tờ có liên quan đến trường hợp bị thương của người bị thương (nếu cần thiết). Tổ chức họp xem xét đề nghị công nhận thương binh do lãnh đạo Công an đơn vị, địa phương chủ trì, các thành viên gồm: Đại diện đơn vị tổ chức cán bộ, y tế (nếu có), Công an đơn vị, địa phương nơi cán bộ, chiến sĩ công tác khi bị thương; lập biên bản cuộc họp. Trường hợp có căn cứ đề nghị công nhận thương binh thì cấp giấy chứng nhận bị thương theo Mẫu số 35 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP và có văn bản kèm hồ sơ đề nghị gửi đến Cục Tổ chức cán bộ để thẩm định.
Đối với trường hợp các giấy tờ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 76 Nghị định số 131/2021/NĐ-CP không ghi nhận các vết thương cụ thể hoặc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 76 Nghị định số 131/2021/NĐ-CP có khai thêm các vết thương khác, Công an cấp tỉnh nơi quản lý người bị thương phối hợp, chỉ đạo cơ quan y tế (bệnh viện, bệnh xá thuộc Công an cấp tỉnh) thành lập Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể để kiểm tra và lập biên bản kiểm tra vết thương thực thể theo Mẫu số 46 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP trước khi cấp giấy chứng nhận bị thương. Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể do Giám đốc Bệnh viện Công an cấp tỉnh (hoặc Trưởng phòng Hậu cần nếu Công an cấp tỉnh không có bệnh viện) làm Chủ tịch Hội đồng, các thành viên gồm: lãnh đạo Phòng Tổ chức cán bộ; bác sĩ chuyên khoa I thuộc Bệnh viện Công an cấp tỉnh hoặc Bệnh xá trưởng; lãnh đạo Đội Chính sách, Phòng Tổ chức cán bộ; Giám định viên pháp y (nếu thấy cần thiết). Trường hợp người bị thương đang công tác tại đơn vị thuộc cơ quan Bộ thì đơn vị có văn bản đề nghị bệnh viện thuộc Bộ Công an và Hội đồng giám định y khoa Bộ Công an phối hợp thành lập Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể để kiểm tra và lập biên bản kiểm tra vết thương thực thể. Chủ tịch Hội đồng giám định y khoa Bộ Công an làm Chủ tịch Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể. Các thành viên Hội đồng kiểm tra vết thương thực thể do Chủ tịch hội đồng quyết định.
4. Cục Tổ chức cán bộ trong thời gian 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, có trách nhiệm thẩm định theo Mẫu số 91 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP; thông báo kết quả kèm theo hồ sơ gửi về Công an đơn vị, địa phương nơi đề nghị. Trường hợp cần thiết, có văn bản trao đổi với cơ quan chức năng thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho ý kiến trước khi trả lời Công an đơn vị, địa phương.
5. Công an đơn vị, địa phương trong thời gian 05 ngày, kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định của Cục Tổ chức cán bộ, có trách nhiệm cấp giấy giới thiệu theo Mẫu số 38 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP đối với trường hợp đủ điều kiện kèm theo bản sao hồ sơ gửi đến Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tật.
Trong thời gian 10 ngày, kể từ ngày tiếp nhận biên bản giám định y khoa, Công an đơn vị, địa phương có văn bản kèm theo hồ sơ đề nghị công nhận thương binh gửi đến Cục Tổ chức cán bộ. Văn bản đề nghị nêu chi tiết về trường hợp bị thương, kèm theo 02 ảnh chân dung (nền xanh, kích cỡ 2x3cm) của người bị thương.
6. Cục Tổ chức cán bộ trong thời gian 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, có trách nhiệm thẩm định, ban hành quyết định cấp giấy chứng nhận thương binh và trợ cấp, phụ cấp ưu đãi theo Mẫu số 59 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP, cấp giấy chứng nhận thương binh theo Mẫu số 102 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP đối với trường hợp có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 21% trở lên hoặc ban hành quyết định trợ cấp thương tật một lần theo Mẫu số 61 Phụ lục I Nghị định số 131/2021/NĐ-CP đối với trường hợp có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 5% đến 20%; chuyển hồ sơ kèm theo quyết định, giấy chứng nhận (nếu có) về Công an đơn vị, địa phương nơi lập hồ sơ đề nghị để quản lý và thực hiện chế độ ưu đãi.