Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 52/2008/QĐ-TTg  phê duyệt Đề án Quy hoạch phát triển các Khu kinh tế cửa khẩu của Việt Nam đến năm 2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "25/04/2008", "sign_number": "52/2008/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "25/04/2008", "sign_number": "52/2008/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "25/04/2008", "sign_number": "52/2008/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "25/04/2008", "sign_number": "52/2008/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "25/04/2008", "sign_number": "52/2008/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 52/2008/QĐ-TTg  phê duyệt Đề án Quy hoạch phát triển các Khu kinh tế cửa khẩu của Việt Nam đến năm 2020

Điều 1. Phê duyệt Đề án "Quy hoạch phát triển các Khu kinh tế cửa khẩu của Việt Nam đến năm 2020" với những nội dung chủ yếu sau:
...
5. Các biện pháp chủ yếu để thực hiện quy hoạch
a) Cơ chế chính sách phát triển đối với các khu kinh tế cửa khẩu sẽ được Chính phủ ban hành và có sự thống nhất chung trong cả nước theo Nghị định quy định về khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất. Trong đó, có những cơ chế chính sách liên quan đến khu kinh tế cửa khẩu là chính sách xuất, nhập khẩu và xuất, nhập cảnh, cơ chế quản lý của các khu kinh tế cửa khẩu;
b) Phát triển khu kinh tế cửa khẩu tuân thủ quy hoạch đã được phê duyệt. Tiến hành lập quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết của từng khu kinh tế cửa khẩu. Quán triệt và làm tốt việc kết hợp tốt giữa các Bộ, ngành trung ương với Ủy ban nhân dân các tỉnh trong việc tổ chức chỉ đạo phát triển khu kinh tế cửa khẩu;
c) Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong các khu kinh tế cửa khẩu. Đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng. Bên cạnh việc đầu tư của Nhà nước bằng nguồn ngân sách (mang tính chất mồi), các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cần thiết của khu kinh tế được sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn từ quỹ đất theo quy định của pháp luật về đất đai, vốn tín dụng ưu đãi và các trợ giúp kỹ thuật khác và thu hút vốn đầu tư theo các hình thức BOT, BT, BTO và các hình thức khác theo quy định của pháp luật để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trong các khu kinh tế cửa khẩu;
d) Tăng cường công tác vận động xúc tiến đầu tư vào khu kinh tế cửa khẩu. Tập trung thu hút đầu tư vào các ngành, lĩnh vực dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, hình thành khu chức năng trong khu kinh tế cửa khẩu... Thực hiện thống nhất, chủ động công tác vận động, xúc tiến đầu tư với sự tham gia tích cực, đồng bộ của các Bộ, ngành và chính quyền địa phương. Tổ chức công bố rộng rãi quy hoạch chi tiết, danh mục các dự án ưu tiên đầu tư và các chính sách khuyến khích đầu tư vào khu kinh tế cửa khẩu để các nhà đầu tư cà người dân được biết. Các Ban Quản lý, chính quyền địa phương có khu kinh tế cửa khẩu tăng cường công tác nghiên cứu tình hình kinh tế, thị trường đầu tư, chính sách của các nước, các tập đoàn và công ty lớn để có chính sách thu hút đầu tư phù hợp;
đ) Giải pháp và chính sách tạo nguồn vốn:
- Ngân sách trung ương hỗ trợ vốn để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật khu kinh tế cửa khẩu theo cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách trung ương như cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn theo Quyết định số 183/2004/QĐ-TTg ngày 19 tháng 10 năm 2004 và tương đương đối với các khu kinh tế ven biển trong thời kỳ từ nay đến năm 2015.
- Nghiên cứu hình thành chương trình phát triển có mục tiêu đầu tư phát triển Khu kinh tế cửa khẩu.
+ Đối với các khu kinh tế cửa khẩu là đầu mối của các hành lang kinh tế liên vùng, quốc tế: Nhà nước trung ương sẽ tập trung đầu tư vào các khu kinh tế cửa khẩu trọng điểm có ý nghĩa động lực trong giao thương kinh tế và dịch vụ thương mại của quốc gia như: các khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, Lạng Sơn, Lào Cai; khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo, khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo, Bờ Y, Mộc Bài, An Giang và Đồng Tháp;
+ Đối với các khu kinh tế cửa khẩu đã hình thành và đang trong giai đoạn xây dựng kết cấu hạ tầng, bước đầu kinh doanh phát triển thương mại, ngoài phần hỗ trợ nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng từ ngân sách, nhà nước cần phân cấp mạnh mẽ về quyền hạn, trách nhiệm cho địa phương đầu tư trên cơ sở ban hành cơ chế chính sách ưu đãi đặc thù và chính sách phát triển khu kinh tế cửa khẩu chung của cả nước và huy động, kêu gọi các thành phần kinh tế như doanh nghiệp dân doanh trong và ngoài nước đầu tư theo quy hoạch đã được duyệt;
+ Đầu tư cho phát triển khu kinh tế cửa khẩu đồng thời với việc đầu tư các dự án công trình trọng điểm trên khu kinh tế cửa khẩu để không gây lãng phí về vốn đầu tư và đất đai, đảm bảo phát huy có hiệu quả khu kinh tế cửa khẩu đối với phát triển kinh tế - xã hội của từng tỉnh cũng như đối với từng vùng, miền.
- Đối với Ban Quản lý các khu kinh tế cửa khẩu và các địa phương có khu kinh tế cửa khẩu.
+ Rà soát, điều chỉnh quy hoạch chi tiết và xây dựng kế hoạch theo hướng đầu tư phát triển tập trung vào các dự án, công trình nòng cốt ở từng khu kinh tế cửa khẩu;
+ Xây dựng kế hoạch và thực hiện theo kế hoạch đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng trong và ngoài các khu chức năng của khu kinh tế cửa khẩu; trong đó có phân kỳ đầu tư, xác định danh mục ưu tiên trên cơ sở tính toán kỹ trong tổng thể cân đối chung của nền kinh tế quốc gia, vùng và địa phương.
e) Giải pháp về củng cố an ninh quốc phòng ở các khu kinh tế cửa khẩu:
- Các Ban Quản lý khu kinh tế cửa khẩu và chính quyền địa phương có khu kinh tế cửa khẩu cần chỉ đạo và thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của các xã trên tuyến biên giới Việt Nam - Lào và Việt Nam - Campuchia (tại Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển kinh tế - xã hội của các xã trên tuyến biên giới Việt Nam - Lào và Việt Nam - Campuchia đến năm 2020);
- Ban Quản lý các khu kinh tế cửa khẩu phối hợp với Bộ đội Biên phòng, lực lượng quân đội và an ninh tích cực tham gia xây dựng phát triển kinh tế - xã hội ở các xã khu vực biên giới bằng nhiều hình thức thích hợp. Thực hiện tốt kế hoạch rà phá bom, mìn ở khu vực biên giới;
- Ban Quản lý các khu kinh tế cửa khẩu phối hợp giữa Biên phòng, Công an, Hải quan của hai nước có chung biên giới để ngăn chặn các đối tượng vượt biên trái phép, tội phạm hình sự trốn qua biên giới, buôn lậu qua biên giới, buôn bán, vận chuyển ma tuý, buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới theo các Hiệp định ký kết về công tác phòng, chống tội phạm, phòng, chống vận chuyển, buôn bán trái phép chất ma tuý, phòng, chống buôn lậu qua biên giới của các nước Tiểu vùng sông Mê Kông;
- Tập trung đầu tư xây dựng các đồn biên phòng, các công trình phòng thủ, các đường tuần tra, vành đai biên giới. Tăng cường khả năng cơ động, xây dựng lực lượng quân đội, công an phản ứng nhanh để có thể ứng phó tình trạng khẩn cấp;
- Đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, thường xuyên tiến hành công tác tuyên truyền giáo dục quần chúng dọc biên giới ý thức dân tộc, phối hợp với các cơ quan, đoàn thể triển khai các chương trình phối hợp hành động để đấu tranh với các loại tội phạm, bảo vệ chủ quyền biên giới;
- Tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế với lực lượng an ninh Lào và Campuchia trong đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, giải quyết những vấn đề 2 bên cùng quan tâm.
g) Về phát triển nguồn nhân lực: chú trọng tới phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ đầu tư xây dựng trường, trung tâm dạy nghề đào tạo nguồn lao động, hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm ở vùng thu hồi đất để xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu.
h) Về bảo vệ môi trường:
Khi tiến hành đầu tư xây dựng khu kinh tế cửa khẩu cần phải kết hợp đồng thời với công tác bảo vệ môi trường trong và ngoài khu. Các hướng chính của bảo vệ môi trường của khu kinh tế cửa khẩu là:
+ Bảo vệ chất lượng nước, không khí, đất;
+ Bảo vệ đa dạng sinh học;
+ Bảo vệ môi trường đô thị.
- Lựa chọn công nghệ sạch, cụ thể hoá các quy định về nhập khẩu công nghệ, thiết bị theo các tiêu chuẩn về hệ số tiêu hao năng lượng, hệ số thải; ban hành các tiêu chuẩn chất thải cho khu kinh tế theo các ngành và lĩnh vực;
- Xây dựng chính sách về tài chính, khuyến khích miễn giảm thuế hoặc cho vay vốn với việc nhập thiết bị và công nghệ xử lý chất thải. Đối với các đề án phát triển công nghiệp, du lịch cần giải trình phương án cụ thể về công nghệ và quy trình xử lý chất thải đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường;
- Tăng cường thanh tra giám sát các nguồn thải của các cơ sở sản xuất công nghiệp, du lịch, thực hiện kiểm toán môi trường đối với các dự án đã hoạt động để đánh giá hiệu quả công nghệ sản xuất, hiệu quả của hệ thống xử lý chất thải. Đẩy mạnh việc giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường, áp dụng thu phí ô nhiễm và các biện pháp hành chính khác đối với các nhà máy thải ra môi trường khối lượng lớn khí thải, nước thải.

Content:
Các biện pháp chủ yếu để thực hiện quy hoạch
a) Cơ chế chính sách phát triển đối với các khu kinh tế cửa khẩu sẽ được Chính phủ ban hành và có sự thống nhất chung trong cả nước theo Nghị định quy định về khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất. Trong đó, có những cơ chế chính sách liên quan đến khu kinh tế cửa khẩu là chính sách xuất, nhập khẩu và xuất, nhập cảnh, cơ chế quản lý của các khu kinh tế cửa khẩu;
b) Phát triển khu kinh tế cửa khẩu tuân thủ quy hoạch đã được phê duyệt. Tiến hành lập quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết của từng khu kinh tế cửa khẩu. Quán triệt và làm tốt việc kết hợp tốt giữa các Bộ, ngành trung ương với Ủy ban nhân dân các tỉnh trong việc tổ chức chỉ đạo phát triển khu kinh tế cửa khẩu;
c) Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong các khu kinh tế cửa khẩu. Đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng. Bên cạnh việc đầu tư của Nhà nước bằng nguồn ngân sách (mang tính chất mồi), các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cần thiết của khu kinh tế được sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn từ quỹ đất theo quy định của pháp luật về đất đai, vốn tín dụng ưu đãi và các trợ giúp kỹ thuật khác và thu hút vốn đầu tư theo các hình thức BOT, BT, BTO và các hình thức khác theo quy định của pháp luật để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trong các khu kinh tế cửa khẩu;
d) Tăng cường công tác vận động xúc tiến đầu tư vào khu kinh tế cửa khẩu. Tập trung thu hút đầu tư vào các ngành, lĩnh vực dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, hình thành khu chức năng trong khu kinh tế cửa khẩu... Thực hiện thống nhất, chủ động công tác vận động, xúc tiến đầu tư với sự tham gia tích cực, đồng bộ của các Bộ, ngành và chính quyền địa phương. Tổ chức công bố rộng rãi quy hoạch chi tiết, danh mục các dự án ưu tiên đầu tư và các chính sách khuyến khích đầu tư vào khu kinh tế cửa khẩu để các nhà đầu tư cà người dân được biết. Các Ban Quản lý, chính quyền địa phương có khu kinh tế cửa khẩu tăng cường công tác nghiên cứu tình hình kinh tế, thị trường đầu tư, chính sách của các nước, các tập đoàn và công ty lớn để có chính sách thu hút đầu tư phù hợp;
đ) Giải pháp và chính sách tạo nguồn vốn:
- Ngân sách trung ương hỗ trợ vốn để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật khu kinh tế cửa khẩu theo cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách trung ương như cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn theo Quyết định số 183/2004/QĐ-TTg ngày 19 tháng 10 năm 2004 và tương đương đối với các khu kinh tế ven biển trong thời kỳ từ nay đến năm 2015.
- Nghiên cứu hình thành chương trình phát triển có mục tiêu đầu tư phát triển Khu kinh tế cửa khẩu.
+ Đối với các khu kinh tế cửa khẩu là đầu mối của các hành lang kinh tế liên vùng, quốc tế: Nhà nước trung ương sẽ tập trung đầu tư vào các khu kinh tế cửa khẩu trọng điểm có ý nghĩa động lực trong giao thương kinh tế và dịch vụ thương mại của quốc gia như: các khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, Lạng Sơn, Lào Cai; khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo, khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo, Bờ Y, Mộc Bài, An Giang và Đồng Tháp;
+ Đối với các khu kinh tế cửa khẩu đã hình thành và đang trong giai đoạn xây dựng kết cấu hạ tầng, bước đầu kinh doanh phát triển thương mại, ngoài phần hỗ trợ nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng từ ngân sách, nhà nước cần phân cấp mạnh mẽ về quyền hạn, trách nhiệm cho địa phương đầu tư trên cơ sở ban hành cơ chế chính sách ưu đãi đặc thù và chính sách phát triển khu kinh tế cửa khẩu chung của cả nước và huy động, kêu gọi các thành phần kinh tế như doanh nghiệp dân doanh trong và ngoài nước đầu tư theo quy hoạch đã được duyệt;
+ Đầu tư cho phát triển khu kinh tế cửa khẩu đồng thời với việc đầu tư các dự án công trình trọng điểm trên khu kinh tế cửa khẩu để không gây lãng phí về vốn đầu tư và đất đai, đảm bảo phát huy có hiệu quả khu kinh tế cửa khẩu đối với phát triển kinh tế - xã hội của từng tỉnh cũng như đối với từng vùng, miền.
- Đối với Ban Quản lý các khu kinh tế cửa khẩu và các địa phương có khu kinh tế cửa khẩu.
+ Rà soát, điều chỉnh quy hoạch chi tiết và xây dựng kế hoạch theo hướng đầu tư phát triển tập trung vào các dự án, công trình nòng cốt ở từng khu kinh tế cửa khẩu;
+ Xây dựng kế hoạch và thực hiện theo kế hoạch đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng trong và ngoài các khu chức năng của khu kinh tế cửa khẩu; trong đó có phân kỳ đầu tư, xác định danh mục ưu tiên trên cơ sở tính toán kỹ trong tổng thể cân đối chung của nền kinh tế quốc gia, vùng và địa phương.
e) Giải pháp về củng cố an ninh quốc phòng ở các khu kinh tế cửa khẩu:
- Các Ban Quản lý khu kinh tế cửa khẩu và chính quyền địa phương có khu kinh tế cửa khẩu cần chỉ đạo và thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của các xã trên tuyến biên giới Việt Nam - Lào và Việt Nam - Campuchia (tại Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển kinh tế - xã hội của các xã trên tuyến biên giới Việt Nam - Lào và Việt Nam - Campuchia đến năm 2020);
- Ban Quản lý các khu kinh tế cửa khẩu phối hợp với Bộ đội Biên phòng, lực lượng quân đội và an ninh tích cực tham gia xây dựng phát triển kinh tế - xã hội ở các xã khu vực biên giới bằng nhiều hình thức thích hợp. Thực hiện tốt kế hoạch rà phá bom, mìn ở khu vực biên giới;
- Ban Quản lý các khu kinh tế cửa khẩu phối hợp giữa Biên phòng, Công an, Hải quan của hai nước có chung biên giới để ngăn chặn các đối tượng vượt biên trái phép, tội phạm hình sự trốn qua biên giới, buôn lậu qua biên giới, buôn bán, vận chuyển ma tuý, buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới theo các Hiệp định ký kết về công tác phòng, chống tội phạm, phòng, chống vận chuyển, buôn bán trái phép chất ma tuý, phòng, chống buôn lậu qua biên giới của các nước Tiểu vùng sông Mê Kông;
- Tập trung đầu tư xây dựng các đồn biên phòng, các công trình phòng thủ, các đường tuần tra, vành đai biên giới. Tăng cường khả năng cơ động, xây dựng lực lượng quân đội, công an phản ứng nhanh để có thể ứng phó tình trạng khẩn cấp;
- Đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, thường xuyên tiến hành công tác tuyên truyền giáo dục quần chúng dọc biên giới ý thức dân tộc, phối hợp với các cơ quan, đoàn thể triển khai các chương trình phối hợp hành động để đấu tranh với các loại tội phạm, bảo vệ chủ quyền biên giới;
- Tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế với lực lượng an ninh Lào và Campuchia trong đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, giải quyết những vấn đề 2 bên cùng quan tâm.
g) Về phát triển nguồn nhân lực: chú trọng tới phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ đầu tư xây dựng trường, trung tâm dạy nghề đào tạo nguồn lao động, hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm ở vùng thu hồi đất để xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu.
h) Về bảo vệ môi trường:
Khi tiến hành đầu tư xây dựng khu kinh tế cửa khẩu cần phải kết hợp đồng thời với công tác bảo vệ môi trường trong và ngoài khu. Các hướng chính của bảo vệ môi trường của khu kinh tế cửa khẩu là:
+ Bảo vệ chất lượng nước, không khí, đất;
+ Bảo vệ đa dạng sinh học;
+ Bảo vệ môi trường đô thị.
- Lựa chọn công nghệ sạch, cụ thể hoá các quy định về nhập khẩu công nghệ, thiết bị theo các tiêu chuẩn về hệ số tiêu hao năng lượng, hệ số thải; ban hành các tiêu chuẩn chất thải cho khu kinh tế theo các ngành và lĩnh vực;
- Xây dựng chính sách về tài chính, khuyến khích miễn giảm thuế hoặc cho vay vốn với việc nhập thiết bị và công nghệ xử lý chất thải. Đối với các đề án phát triển công nghiệp, du lịch cần giải trình phương án cụ thể về công nghệ và quy trình xử lý chất thải đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường;
- Tăng cường thanh tra giám sát các nguồn thải của các cơ sở sản xuất công nghiệp, du lịch, thực hiện kiểm toán môi trường đối với các dự án đã hoạt động để đánh giá hiệu quả công nghệ sản xuất, hiệu quả của hệ thống xử lý chất thải. Đẩy mạnh việc giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường, áp dụng thu phí ô nhiễm và các biện pháp hành chính khác đối với các nhà máy thải ra môi trường khối lượng lớn khí thải, nước thải.