Document: Điều 1 Quyết định 1832/QĐ-UBND năm 2013 hỗ trợ sản xuất làng nghề tiểu thủ công nghiệp Bến Tre 2013 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "11/10/2013", "sign_number": "1832/QĐ-UBND", "signer": "Võ Thành Hạo", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "11/10/2013", "sign_number": "1832/QĐ-UBND", "signer": "Võ Thành Hạo", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "11/10/2013", "sign_number": "1832/QĐ-UBND", "signer": "Võ Thành Hạo", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "11/10/2013", "sign_number": "1832/QĐ-UBND", "signer": "Võ Thành Hạo", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "11/10/2013", "sign_number": "1832/QĐ-UBND", "signer": "Võ Thành Hạo", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 1832/QĐ-UBND năm 2013 hỗ trợ sản xuất làng nghề tiểu thủ công nghiệp Bến Tre 2013 2020 có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Chương trình số 1229/CTr-SCT ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Sở Công Thương về hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh các làng nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2013-2020 (kèm theo) với những nội dung chủ yếu sau:
I. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
- Phát triển làng nghề trên cơ sở phát triển các làng nghề hiện có, phát huy nghề truyền thống, kết hợp với du lịch;
- Tập trung hỗ trợ nâng cao năng lực phát triển các làng nghề trọng điểm thuộc thế mạnh của tỉnh; phát triển hạ tầng phục vụ cho làng nghề đi đôi với việc bảo vệ môi trường, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho làng nghề, thành lập các hợp tác xã để làm đầu mối tổ chức quản lý làng nghề;
- Tăng thu nhập, giải quyết nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, tạo việc làm cho người lao động, đặc biệt là ở các vùng nông thôn;
- Đổi mới công nghệ, cơ khí hoá, hợp lý hoá dây chuyền sản xuất để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
1. Mục tiêu chung: Khôi phục, phát triển các làng nghề, ngành nghề thủ công, thủ công mỹ nghệ truyền thống; chú trọng phát triển các sản phẩm thủ công tiêu biểu thế mạnh của Bến Tre, có lợi thế cạnh tranh, ngành nghề ưu tiên của tỉnh, gắn sản xuất làng nghề với các hoạt động du lịch, văn hoá, lễ hội truyền thống, bảo đảm làng nghề phát triển một cách bền vững, sử dụng nhiều lao động tại chỗ, nguồn nguyên vật liệu trong nước và không gây ô nhiễm môi trường.
2. Mục tiêu cụ thể: Phấn đấu đưa giá trị sản xuất công nghiệp của làng nghề tăng bình quân 15%/năm, phát triển thêm khoảng 2-3 làng nghề mới, tạo việc làm ổn định cho khoảng 10.000-12.000 lao động nhàn rỗi ở nông thôn, tăng thu nhập cho lao động ở nông thôn từ 2-3 triệu đồng/người/tháng lên 3-4 triệu đồng/người/tháng; mỗi huyện có khoảng 2-3 loại sản phẩm làng nghề tiêu biểu để xây dựng nhãn hiệu và có ít nhất 50% số làng nghề được xây dựng mô hình kinh tế hợp tác hoạt động có hiệu quả; hỗ trợ và hướng dẫn các cơ sở sản xuất trong làng nghề thực hiện bảo vệ môi trường theo quy định hiện hành.
III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ
1. Đối với những ngành nghề truyền thống đã hình thành lâu đời: Tập trung hỗ trợ vốn để duy trì, phát triển nguồn nguyên liệu, đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ làng nghề, đầu tư máy móc thiết bị để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn. Cụ thể:
a) Làng nghề dệt chiếu - thảm (An Hiệp - Châu Thành; Nhơn Thạnh - thành phố Bến Tre, Thành Thới B - Mỏ Cày Nam): Tập trung phát triển vùng nguyên liệu tại chỗ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; mở các lớp đào tạo nghề để phát triển thêm mẫu mã, kiểu dáng mới, tạo các sản phẩm đặc trưng của làng nghề; mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm; cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng, xử lý ô nhiễm môi trường đồng thời nghiên cứu hỗ trợ phát triển nghề mới.
b) Làng nghề sản xuất mây tre đan (Phước Tuy, Phú Lễ - Ba Tri): Đầu tư khôi phục vùng nguyên liệu, cải tiến công cụ lao động, mẫu mã, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào các khâu sản xuất; khuyến khích nghiên cứu phát triển các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, hàng trang trí nội thất, hỗ trợ xúc tiến thương mại giới thiệu tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ làng nghề cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng, đào tạo tay nghề, truyền nghề, đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, gắn với du lịch văn hoá và có kế hoạch thành lập tổ hợp tác hoặc hợp tác xã để làm đầu mối quản lý.
c) Làng nghề (TTCN) nấu rượu (Phú Lễ - Ba Tri): Nghiên cứu quy trình sản xuất chuẩn, giữ vững hồ men gia truyền nhằm duy trì và nâng cao chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; cải tiến bao bì, đăng ký nhãn hiệu, xây dựng và phát triển thương hiệu; hình thành tổ hợp tác và phát triển nhiều loại hình doanh nghiệp, củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Rượu Phú Lễ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập; hỗ trợ đầu tư cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng làng nghề.
d) Làng nghề chế biến cá khô (Bình Thắng - Bình Đại; An Thuỷ - Ba Tri): Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, xây dựng nhà xưởng, hệ thống sấy, hút chân không, đăng ký nhãn hiệu, bao bì sản phẩm, nâng cao chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đa dạng hoá sản phẩm, tổ chức truyền nghề và mời gọi đầu tư phát triển doanh nghiệp đầu mối để cung ứng nguyên liệu, bao tiêu sản phẩm, xử lý ô nhiễm môi trường, cải tạo xây dựng cơ sở hạ tầng làng nghề; tăng cường đầu tư nâng cao năng lực hoạt động của các doanh nghiệp có quy mô lớn trong làng nghề để làm nòng cốt, vận động các hộ sản xuất liên kết sản xuất theo hình thức tổ hợp tác hoặc hợp tác xã để làm đầu mối hỗ trợ làng nghề cũng như tiếp nhận các nguồn hỗ trợ của Nhà nước.
đ) Làng nghề sản xuất kìm kéo (Mỹ Thạnh - Giồng Trôm): Mở rộng quy mô sản xuất, cải tiến kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ cho sản xuất, khép kín quy trình sản xuất từ khâu nguyên liệu đến thành phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, có kế hoạch xây dựng mô hình kinh tế hợp tác phù hợp nhằm phát huy hiệu quả hoạt động của làng nghề, đáp ứng nhu cầu thị trường, tổ chức các lớp truyền nghề, đào tạo nghề, nâng cao trình độ quản lý, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường.
e) Làng nghề sản xuất bánh phồng, bánh tráng (Sơn Đốc, Mỹ Lồng - Giồng Trôm, Phú Ngãi - Ba Tri): Nghiên cứu thiết kế xây dựng quy trình sản xuất tiên tiến, khuyến khích và hỗ trợ các cơ sở đầu tư thiết bị, xây dựng hệ thống xử lý môi trường đạt tiêu chuẩn, có giải pháp để hỗ trợ làng nghề phát triển vùng trồng nếp cung cấp nguyên liệu cho sản xuất; thực hiện an toàn vệ sinh và nâng cao chất lượng sản phẩm, hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, cải tiến bao bì mẫu mã, phát triển mạnh thị trường trong nước và xuất khẩu; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã hiện có và vận động thành lập hợp tác xã mới trong các làng nghề; nhân rộng mô hình tăng cường năng lực quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo vệ môi trường tại làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng sang các làng nghề sản xuất khác.
g) Làng nghề sản xuất lu chứa nước - Bàn ghế bằng xi măng (Hoà Lợi - Thạnh Phú): Đầu tư vốn xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển hệ thống giao thông; tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình thuộc làng nghề vay vốn phát triển sản xuất; tăng cường công tác đào tạo nghề, hỗ trợ kinh phí thực hiện nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật cơ giới hoá vào một số công đoạn để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, hỗ trợ đăng ký thương hiệu; tổ chức vận động thành lập mô hình kinh tế hợp tác thích hợp để hỗ trợ làng nghề.
2. Đối với các làng nghề sản xuất các sản phẩm từ dừa: Tập trung phát triển các sản phẩm thế mạnh của tỉnh; đồng thời, quan tâm bảo vệ môi trường và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Cụ thể:
a) Làng nghề sản xuất chỉ xơ dừa (An Thạnh - Mỏ Cày Nam, Khánh Thạnh Tân - Mỏ Cày Bắc): Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư dây chuyền công nghệ chế biến chỉ xơ dừa; tập trung xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường, đổi mới quy trình, thiết bị công nghệ sản xuất chỉ xơ dừa, phát triển thêm một số sản phẩm để cạnh tranh với thị trường trong và ngoài nước; tăng cường củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp lớn trong làng nghề để làm đầu mối hỗ trợ thúc đẩy các hộ sản xuất trong làng nghề phát triển.
b) Làng nghề đan giỏ cọng dừa (Phước Long, Hưng Phong - Giồng Trôm): Mở rộng quy mô sản xuất; đầu tư đổi mới công cụ, thiết bị chuyên dùng, nghiên cứu chuyển giao phần mềm thiết kế và khuyến khích các nghệ nhân thiết kế, sáng tạo ra nhiều mẫu mã mới, chất lượng cao đáp ứng thị trường thị hiếu người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; tổ chức truyền nghề và đào tạo thợ giỏi, nâng cao trình độ quản lý và kiến thức hội nhập của các doanh nghiệp và cơ sở; củng cố nâng cao chất lượng hoạt động hợp tác xã hiện có và tuyên truyền vận động thành lập thêm hợp tác xã mới để làm đầu mối hỗ trợ làng nghề.
c) Làng nghề bó chổi (Mỹ An - Thạnh Phú): Mở rộng quy mô sản xuất hiện có để thu hút lao động, giải quyết việc làm cho địa phương; đầu tư máy móc, thiết bị, chuyển giao khoa học, công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm; mở các lớp đào tạo nghề mới, hỗ trợ đăng ký thương hiệu, nhãn hiệu hàng hoá; đồng thời, huy động vốn để đầu tư đường giao thông phục vụ việc vận chuyển nguyên liệu, sản phẩm của làng nghề; tăng cường hỗ trợ đầu tư các cơ sở sản xuất lớn, vận động thành lập mô hình kinh tế hợp tác thích hợp để làm đầu mối hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ của làng nghề.
Ngoài ra, trong giai đoạn 2013-2020, dự kiến phát triển thêm khoảng 03 làng nghề mới: Làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp xã Tân Thạch, huyện Châu Thành; làng nghề may gia công banh da xã Tân Thanh Tây, huyện Mỏ Cày Bắc và làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp từ dừa xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam; dự kiến giải quyết việc làm cho khoảng 870 lao động tại địa phương.
IV. CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

STT

Chính sách

Kinh phí (triệu đồng)

Nguồn kinh phí

1

Hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở trong làng nghề giới thiệu sản phẩm trong các hội chợ triển lãm

560

Vốn khuyến công và xúc tiến thương mại

2

Hỗ trợ các làng nghề tham quan, học tập kinh nghiệm trong và ngoài tỉnh

350

Vốn khuyến công

3

Hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở trong làng nghề ứng dụng khoa học kỹ thuật, cải tiến thiết bị

1.400

Vốn khuyến công

4

Hỗ trợ các doanh nghiệp trong làng nghề đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm

3.000

Nguồn vốn khoa học công nghệ

5

Hỗ trợ chi phí cho làng nghề xây dựng, xác lập quyền và phát triển chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận

400

Vốn khoa học công nghệ

6

Hỗ trợ một phần vốn xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển hệ thống giao thông nông thôn

2,000

Vốn Chương trình mục tiêu quốc gia

7

Hỗ trợ vốn để đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải

1.000

Vốn sự nghiệp môi trường

8

Hỗ trợ vốn để xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường

4.000

Vốn sự nghiệp môi trường

TỔNG

12.710

V. TỔNG HỢP NHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

STT

Nguồn vốn

Tổng nguồn vốn
(triệu đồng)

Phân kỳ

2013-2015

2016-2020

1

Vốn khuyến công

1.960

700

1.260

2

Vốn xúc tiến thương mại

350

150

200

3

Vốn Chương trình mục tiêu quốc gia

2.000

1.000

1.000

4

Vốn sự nghiệp môi trường

5.000

2.000

3.000

5

Vốn khoa học công nghệ

3.400

1.500

1.900

TỔNG

12.710

5.350

7.360

VI. GIẢI PHÁP
1. Giải pháp đổi mới tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh làng nghề:
- Tổ chức lại sản xuất theo mô hình kinh tế tập thể, xây dựng mô hình quản lý làng nghề hoạt động có hiệu quả;
- Các cơ sở sản xuất trong làng nghề liên kết lại với nhau để hình thành những cơ sở, những doanh nghiệp mạnh ở ngay trong làng nghề;
- Thường xuyên đào tạo nâng cao tay nghề, kỹ năng cho người lao động;
- Chủ động tổ chức các điểm trưng bày và giới thiệu, quảng bá sản phẩm của làng nghề tại các Trung tâm thương mại, các điểm du lịch, nhà hàng, khách sạn,...2. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực:
- Tăng cường công tác đào tạo nghề theo hình thức truyền nghề, nhân cấy nghề; xây dựng cơ chế khuyến khích các nghệ nhân, thợ giỏi tham gia đào tạo, chú trọng đến các nghề truyền thống, cổ truyền;
- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về kỹ thuật, tổ chức sản xuất, quản lý doanh nghiệp cho các chủ doanh nghiệp, chủ cơ sở sản xuất tại làng nghề;
- Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị nhằm giới thiệu các kinh nghiệm quản lý, sản xuất kinh doanh, khoa học công nghệ mới và các lĩnh vực liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh tại làng nghề.
3. Giải pháp về xúc tiến thương mại:
- Hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở trong làng nghề tiếp cận thị trường trong và ngoài nước bằng cách ưu tiên về quảng cáo, triển lãm;
- Tổ chức mạng lưới tiêu thụ và quảng bá sản phẩm.
4. Giải pháp về huy động vốn:
- Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương, ngân sách tỉnh;
- Uỷ ban nhân dân (UBND) các huyện, thành phố cần chủ động cân đối, bố trí vốn đối ứng và một phần thích hợp từ nguồn thu theo phân cấp ngân sách trên địa bàn để tham gia thực hiện các chính sách hỗ trợ khôi phục và phát triển làng nghề theo quy định.
5. Giải pháp về hỗ trợ xử lý môi trường, đầu tư hạ tầng:
- Các làng nghề hiện có sắp xếp lại mặt bằng sản xuất, nâng cao nhận thức cho người dân làng nghề, tiếp cận với những giải pháp kỹ thuật, công nghệ sản xuất sạch hơn nhằm phòng ngừa phát sinh chất thải và có biện pháp xử lý chất thải;
- Xây dựng tốt và đồng bộ kết cấu hạ tầng để các khu sản xuất tập trung phát triển có hiệu quả.
6. Giải pháp về hỗ trợ ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng thương hiệu:
- Thông qua chương trình khoa học công nghệ để hỗ trợ đổi mới, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, cải tiến mẫu mã, xây dựng thương hiệu, áp dụng công nghệ phù hợp;
- Khuyến khích nhu cầu đổi mới thiết bị, công nghệ, tăng cường hỗ trợ nguồn vốn đầu tư và ưu đãi tín dụng khi áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại.
7. Giải pháp về nguyên liệu: Hỗ trợ, khuyến khích các làng nghề phát triển các vùng nguyên liệu chuyên canh như: Lát, tre, trúc,… nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu phục vụ cho phát triển sản xuất lâu dài; tăng cường liên kết với các địa phương khác trong việc khai thác và phát triển các vùng nguyên liệu tập trung.
8. Giải pháp thống nhất quản lý nhà nước về làng nghề:
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thống nhất quản lý nhà nước về làng nghề theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn; Sở Công Thương quản lý chuyên ngành; hỗ trợ hình thành ban quản lý các làng nghề;
- Thường xuyên rà soát các văn bản về cơ chế, chính sách liên quan đến làng nghề để điều chỉnh, bổ sung và thống nhất triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh; đề xuất các giải pháp, cơ chế, chính sách hỗ trợ phù hợp để giải quyết có hiệu quả những tồn tại.

Content:
Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Chương trình số 1229/CTr-SCT ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Sở Công Thương về hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh các làng nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2013-2020 (kèm theo) với những nội dung chủ yếu sau:
I. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
- Phát triển làng nghề trên cơ sở phát triển các làng nghề hiện có, phát huy nghề truyền thống, kết hợp với du lịch;
- Tập trung hỗ trợ nâng cao năng lực phát triển các làng nghề trọng điểm thuộc thế mạnh của tỉnh; phát triển hạ tầng phục vụ cho làng nghề đi đôi với việc bảo vệ môi trường, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho làng nghề, thành lập các hợp tác xã để làm đầu mối tổ chức quản lý làng nghề;
- Tăng thu nhập, giải quyết nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, tạo việc làm cho người lao động, đặc biệt là ở các vùng nông thôn;
- Đổi mới công nghệ, cơ khí hoá, hợp lý hoá dây chuyền sản xuất để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
1. Mục tiêu chung: Khôi phục, phát triển các làng nghề, ngành nghề thủ công, thủ công mỹ nghệ truyền thống; chú trọng phát triển các sản phẩm thủ công tiêu biểu thế mạnh của Bến Tre, có lợi thế cạnh tranh, ngành nghề ưu tiên của tỉnh, gắn sản xuất làng nghề với các hoạt động du lịch, văn hoá, lễ hội truyền thống, bảo đảm làng nghề phát triển một cách bền vững, sử dụng nhiều lao động tại chỗ, nguồn nguyên vật liệu trong nước và không gây ô nhiễm môi trường.
2. Mục tiêu cụ thể: Phấn đấu đưa giá trị sản xuất công nghiệp của làng nghề tăng bình quân 15%/năm, phát triển thêm khoảng 2-3 làng nghề mới, tạo việc làm ổn định cho khoảng 10.000-12.000 lao động nhàn rỗi ở nông thôn, tăng thu nhập cho lao động ở nông thôn từ 2-3 triệu đồng/người/tháng lên 3-4 triệu đồng/người/tháng; mỗi huyện có khoảng 2-3 loại sản phẩm làng nghề tiêu biểu để xây dựng nhãn hiệu và có ít nhất 50% số làng nghề được xây dựng mô hình kinh tế hợp tác hoạt động có hiệu quả; hỗ trợ và hướng dẫn các cơ sở sản xuất trong làng nghề thực hiện bảo vệ môi trường theo quy định hiện hành.
III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ
1. Đối với những ngành nghề truyền thống đã hình thành lâu đời: Tập trung hỗ trợ vốn để duy trì, phát triển nguồn nguyên liệu, đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ làng nghề, đầu tư máy móc thiết bị để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn. Cụ thể:
a) Làng nghề dệt chiếu - thảm (An Hiệp - Châu Thành; Nhơn Thạnh - thành phố Bến Tre, Thành Thới B - Mỏ Cày Nam): Tập trung phát triển vùng nguyên liệu tại chỗ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; mở các lớp đào tạo nghề để phát triển thêm mẫu mã, kiểu dáng mới, tạo các sản phẩm đặc trưng của làng nghề; mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm; cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng, xử lý ô nhiễm môi trường đồng thời nghiên cứu hỗ trợ phát triển nghề mới.
b) Làng nghề sản xuất mây tre đan (Phước Tuy, Phú Lễ - Ba Tri): Đầu tư khôi phục vùng nguyên liệu, cải tiến công cụ lao động, mẫu mã, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào các khâu sản xuất; khuyến khích nghiên cứu phát triển các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, hàng trang trí nội thất, hỗ trợ xúc tiến thương mại giới thiệu tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ làng nghề cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng, đào tạo tay nghề, truyền nghề, đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, gắn với du lịch văn hoá và có kế hoạch thành lập tổ hợp tác hoặc hợp tác xã để làm đầu mối quản lý.
c) Làng nghề (TTCN) nấu rượu (Phú Lễ - Ba Tri): Nghiên cứu quy trình sản xuất chuẩn, giữ vững hồ men gia truyền nhằm duy trì và nâng cao chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; cải tiến bao bì, đăng ký nhãn hiệu, xây dựng và phát triển thương hiệu; hình thành tổ hợp tác và phát triển nhiều loại hình doanh nghiệp, củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Rượu Phú Lễ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập; hỗ trợ đầu tư cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng làng nghề.
d) Làng nghề chế biến cá khô (Bình Thắng - Bình Đại; An Thuỷ - Ba Tri): Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, xây dựng nhà xưởng, hệ thống sấy, hút chân không, đăng ký nhãn hiệu, bao bì sản phẩm, nâng cao chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đa dạng hoá sản phẩm, tổ chức truyền nghề và mời gọi đầu tư phát triển doanh nghiệp đầu mối để cung ứng nguyên liệu, bao tiêu sản phẩm, xử lý ô nhiễm môi trường, cải tạo xây dựng cơ sở hạ tầng làng nghề; tăng cường đầu tư nâng cao năng lực hoạt động của các doanh nghiệp có quy mô lớn trong làng nghề để làm nòng cốt, vận động các hộ sản xuất liên kết sản xuất theo hình thức tổ hợp tác hoặc hợp tác xã để làm đầu mối hỗ trợ làng nghề cũng như tiếp nhận các nguồn hỗ trợ của Nhà nước.
đ) Làng nghề sản xuất kìm kéo (Mỹ Thạnh - Giồng Trôm): Mở rộng quy mô sản xuất, cải tiến kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ cho sản xuất, khép kín quy trình sản xuất từ khâu nguyên liệu đến thành phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, có kế hoạch xây dựng mô hình kinh tế hợp tác phù hợp nhằm phát huy hiệu quả hoạt động của làng nghề, đáp ứng nhu cầu thị trường, tổ chức các lớp truyền nghề, đào tạo nghề, nâng cao trình độ quản lý, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường.
e) Làng nghề sản xuất bánh phồng, bánh tráng (Sơn Đốc, Mỹ Lồng - Giồng Trôm, Phú Ngãi - Ba Tri): Nghiên cứu thiết kế xây dựng quy trình sản xuất tiên tiến, khuyến khích và hỗ trợ các cơ sở đầu tư thiết bị, xây dựng hệ thống xử lý môi trường đạt tiêu chuẩn, có giải pháp để hỗ trợ làng nghề phát triển vùng trồng nếp cung cấp nguyên liệu cho sản xuất; thực hiện an toàn vệ sinh và nâng cao chất lượng sản phẩm, hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, cải tiến bao bì mẫu mã, phát triển mạnh thị trường trong nước và xuất khẩu; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã hiện có và vận động thành lập hợp tác xã mới trong các làng nghề; nhân rộng mô hình tăng cường năng lực quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo vệ môi trường tại làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng sang các làng nghề sản xuất khác.
g) Làng nghề sản xuất lu chứa nước - Bàn ghế bằng xi măng (Hoà Lợi - Thạnh Phú): Đầu tư vốn xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển hệ thống giao thông; tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình thuộc làng nghề vay vốn phát triển sản xuất; tăng cường công tác đào tạo nghề, hỗ trợ kinh phí thực hiện nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật cơ giới hoá vào một số công đoạn để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, hỗ trợ đăng ký thương hiệu; tổ chức vận động thành lập mô hình kinh tế hợp tác thích hợp để hỗ trợ làng nghề.
2. Đối với các làng nghề sản xuất các sản phẩm từ dừa: Tập trung phát triển các sản phẩm thế mạnh của tỉnh; đồng thời, quan tâm bảo vệ môi trường và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Cụ thể:
a) Làng nghề sản xuất chỉ xơ dừa (An Thạnh - Mỏ Cày Nam, Khánh Thạnh Tân - Mỏ Cày Bắc): Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư dây chuyền công nghệ chế biến chỉ xơ dừa; tập trung xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường, đổi mới quy trình, thiết bị công nghệ sản xuất chỉ xơ dừa, phát triển thêm một số sản phẩm để cạnh tranh với thị trường trong và ngoài nước; tăng cường củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp lớn trong làng nghề để làm đầu mối hỗ trợ thúc đẩy các hộ sản xuất trong làng nghề phát triển.
b) Làng nghề đan giỏ cọng dừa (Phước Long, Hưng Phong - Giồng Trôm): Mở rộng quy mô sản xuất; đầu tư đổi mới công cụ, thiết bị chuyên dùng, nghiên cứu chuyển giao phần mềm thiết kế và khuyến khích các nghệ nhân thiết kế, sáng tạo ra nhiều mẫu mã mới, chất lượng cao đáp ứng thị trường thị hiếu người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; tổ chức truyền nghề và đào tạo thợ giỏi, nâng cao trình độ quản lý và kiến thức hội nhập của các doanh nghiệp và cơ sở; củng cố nâng cao chất lượng hoạt động hợp tác xã hiện có và tuyên truyền vận động thành lập thêm hợp tác xã mới để làm đầu mối hỗ trợ làng nghề.
c) Làng nghề bó chổi (Mỹ An - Thạnh Phú): Mở rộng quy mô sản xuất hiện có để thu hút lao động, giải quyết việc làm cho địa phương; đầu tư máy móc, thiết bị, chuyển giao khoa học, công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm; mở các lớp đào tạo nghề mới, hỗ trợ đăng ký thương hiệu, nhãn hiệu hàng hoá; đồng thời, huy động vốn để đầu tư đường giao thông phục vụ việc vận chuyển nguyên liệu, sản phẩm của làng nghề; tăng cường hỗ trợ đầu tư các cơ sở sản xuất lớn, vận động thành lập mô hình kinh tế hợp tác thích hợp để làm đầu mối hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ của làng nghề.
Ngoài ra, trong giai đoạn 2013-2020, dự kiến phát triển thêm khoảng 03 làng nghề mới: Làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp xã Tân Thạch, huyện Châu Thành; làng nghề may gia công banh da xã Tân Thanh Tây, huyện Mỏ Cày Bắc và làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp từ dừa xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam; dự kiến giải quyết việc làm cho khoảng 870 lao động tại địa phương.
IV. CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

STT

Chính sách

Kinh phí (triệu đồng)

Nguồn kinh phí

1

Hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở trong làng nghề giới thiệu sản phẩm trong các hội chợ triển lãm

560

Vốn khuyến công và xúc tiến thương mại

2

Hỗ trợ các làng nghề tham quan, học tập kinh nghiệm trong và ngoài tỉnh

350

Vốn khuyến công

3

Hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở trong làng nghề ứng dụng khoa học kỹ thuật, cải tiến thiết bị

1.400

Vốn khuyến công

4

Hỗ trợ các doanh nghiệp trong làng nghề đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm

3.000

Nguồn vốn khoa học công nghệ

5

Hỗ trợ chi phí cho làng nghề xây dựng, xác lập quyền và phát triển chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận

400

Vốn khoa học công nghệ

6

Hỗ trợ một phần vốn xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển hệ thống giao thông nông thôn

2,000

Vốn Chương trình mục tiêu quốc gia

7

Hỗ trợ vốn để đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải

1.000

Vốn sự nghiệp môi trường

8

Hỗ trợ vốn để xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường

4.000

Vốn sự nghiệp môi trường

TỔNG

12.710

V. TỔNG HỢP NHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

STT

Nguồn vốn

Tổng nguồn vốn
(triệu đồng)

Phân kỳ

2013-2015

2016-2020

1

Vốn khuyến công

1.960

700

1.260

2

Vốn xúc tiến thương mại

350

150

200

3

Vốn Chương trình mục tiêu quốc gia

2.000

1.000

1.000

4

Vốn sự nghiệp môi trường

5.000

2.000

3.000

5

Vốn khoa học công nghệ

3.400

1.500

1.900

TỔNG

12.710

5.350

7.360

VI. GIẢI PHÁP
1. Giải pháp đổi mới tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh làng nghề:
- Tổ chức lại sản xuất theo mô hình kinh tế tập thể, xây dựng mô hình quản lý làng nghề hoạt động có hiệu quả;
- Các cơ sở sản xuất trong làng nghề liên kết lại với nhau để hình thành những cơ sở, những doanh nghiệp mạnh ở ngay trong làng nghề;
- Thường xuyên đào tạo nâng cao tay nghề, kỹ năng cho người lao động;
- Chủ động tổ chức các điểm trưng bày và giới thiệu, quảng bá sản phẩm của làng nghề tại các Trung tâm thương mại, các điểm du lịch, nhà hàng, khách sạn,...2. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực:
- Tăng cường công tác đào tạo nghề theo hình thức truyền nghề, nhân cấy nghề; xây dựng cơ chế khuyến khích các nghệ nhân, thợ giỏi tham gia đào tạo, chú trọng đến các nghề truyền thống, cổ truyền;
- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về kỹ thuật, tổ chức sản xuất, quản lý doanh nghiệp cho các chủ doanh nghiệp, chủ cơ sở sản xuất tại làng nghề;
- Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị nhằm giới thiệu các kinh nghiệm quản lý, sản xuất kinh doanh, khoa học công nghệ mới và các lĩnh vực liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh tại làng nghề.
3. Giải pháp về xúc tiến thương mại:
- Hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở trong làng nghề tiếp cận thị trường trong và ngoài nước bằng cách ưu tiên về quảng cáo, triển lãm;
- Tổ chức mạng lưới tiêu thụ và quảng bá sản phẩm.
4. Giải pháp về huy động vốn:
- Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương, ngân sách tỉnh;
- Uỷ ban nhân dân (UBND) các huyện, thành phố cần chủ động cân đối, bố trí vốn đối ứng và một phần thích hợp từ nguồn thu theo phân cấp ngân sách trên địa bàn để tham gia thực hiện các chính sách hỗ trợ khôi phục và phát triển làng nghề theo quy định.
5. Giải pháp về hỗ trợ xử lý môi trường, đầu tư hạ tầng:
- Các làng nghề hiện có sắp xếp lại mặt bằng sản xuất, nâng cao nhận thức cho người dân làng nghề, tiếp cận với những giải pháp kỹ thuật, công nghệ sản xuất sạch hơn nhằm phòng ngừa phát sinh chất thải và có biện pháp xử lý chất thải;
- Xây dựng tốt và đồng bộ kết cấu hạ tầng để các khu sản xuất tập trung phát triển có hiệu quả.
6. Giải pháp về hỗ trợ ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng thương hiệu:
- Thông qua chương trình khoa học công nghệ để hỗ trợ đổi mới, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, cải tiến mẫu mã, xây dựng thương hiệu, áp dụng công nghệ phù hợp;
- Khuyến khích nhu cầu đổi mới thiết bị, công nghệ, tăng cường hỗ trợ nguồn vốn đầu tư và ưu đãi tín dụng khi áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại.
7. Giải pháp về nguyên liệu: Hỗ trợ, khuyến khích các làng nghề phát triển các vùng nguyên liệu chuyên canh như: Lát, tre, trúc,… nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu phục vụ cho phát triển sản xuất lâu dài; tăng cường liên kết với các địa phương khác trong việc khai thác và phát triển các vùng nguyên liệu tập trung.
8. Giải pháp thống nhất quản lý nhà nước về làng nghề:
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thống nhất quản lý nhà nước về làng nghề theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn; Sở Công Thương quản lý chuyên ngành; hỗ trợ hình thành ban quản lý các làng nghề;
- Thường xuyên rà soát các văn bản về cơ chế, chính sách liên quan đến làng nghề để điều chỉnh, bổ sung và thống nhất triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh; đề xuất các giải pháp, cơ chế, chính sách hỗ trợ phù hợp để giải quyết có hiệu quả những tồn tại.