Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định số 731/QĐ-UBND 2013 phổ biến giáo dục pháp luật Hà Nam 2013 2016

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Nam", "promulgation_date": "10/07/2013", "sign_number": "731/QĐ-UBND", "signer": "Mai Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Nam", "promulgation_date": "10/07/2013", "sign_number": "731/QĐ-UBND", "signer": "Mai Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Nam", "promulgation_date": "10/07/2013", "sign_number": "731/QĐ-UBND", "signer": "Mai Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Nam", "promulgation_date": "10/07/2013", "sign_number": "731/QĐ-UBND", "signer": "Mai Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Nam", "promulgation_date": "10/07/2013", "sign_number": "731/QĐ-UBND", "signer": "Mai Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định số 731/QĐ-UBND 2013 phổ biến giáo dục pháp luật Hà Nam 2013 2016

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2013-2016” bao gồm các nội dung sau đây:
...
3. Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân.
3.1. Một số tồn tại, hạn chế:
Trong những năm qua công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên công tác này vẫn còn nhiều tồn tại hạn chế như:
- Hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tuy có nhiều đổi mới song chưa theo kịp với tình hình thực tiễn, nhất là ở cấp cơ sở. Hình thức triển khai chủ yếu là tổ chức hội nghị, in phát tài liệu, thông qua hệ thống bản tin, các trang mạng điện tử. Các hình thức và phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được đổi mới toàn diện để nâng cao chất lượng phổ biến, giáo dục pháp luật. Một số nơi còn nặng về hình thức, chưa chú trọng hiệu quả. Thời lượng và chất lượng thực hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng, việc ứng dụng công nghệ tin học vào hoạt động này nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu. Việc chỉ đạo tổng kết nhân rộng mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật tốt tại cơ sở còn ít.
- Nguồn nhân lực để triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu. Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật các cấp còn thiếu về số lượng, trình độ, chuyên môn còn hạn chế do chưa được đào tạo, tập huấn thường xuyên.
- Chất lượng, hiệu quả công tác chưa đồng đều, nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật chưa sâu, còn dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, chưa phù hợp với từng nhóm đối tượng.
- Việc xây dựng Kế hoạch triển khai hoạt động ở một số ngành, đoàn thể và địa phương chưa được quan tâm đúng mức. Tính chủ động trong việc triển khai thực hiện còn thấp, phụ thuộc, trông chờ vào sự chỉ đạo, kế hoạch của cấp trên.
- Kinh phí dành cho công tác còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra.
3. 2. Nguyên nhân chủ quan:
- Một số cơ quan, đơn vị chưa xác định công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là nhiệm vụ chính trị trọng tâm nên còn thụ động và thiếu sự phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc tổ chức, thực hiện. Một số cơ quan, đơn vị việc phổ biến, giáo dục pháp luật mới dừng lại ở việc triển khai, quán triệt trong cán bộ, công chức ở cơ quan mình, chưa triển khai rộng rãi trong cộng đồng dân cư.
- Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật còn theo thành tích; hình thức tuyên truyền mới chưa sáng tạo; đội ngũ làm công tác tuyên truyền ở địa phương còn hạn chế về kiến thức pháp luật và kỹ năng tuyên truyền nên hiệu quả chưa cao.
- Việc đầu tư kinh phí thực hiện còn hạn chế, đặc biệt là ở cơ sở. Công tác tham mưu của các cơ quan, đơn vị thiếu chủ động, chưa thường xuyên kịp thời, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chưa được quan tâm, chậm đổi mới.
3.3. Nguyên nhân khách quan:
- Việc triển khai các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, các Chương trình, Kế hoạch của Chính phủ cùng một thời điểm, trong khi điều kiện nhân lực, nguồn kinh phí có hạn. Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, thống nhất, chưa sát thực tiễn, số lượng văn bản quy phạm pháp luật nhiều, thường xuyên sửa đổi, bổ sung, nhiều luật đã có hiệu lực pháp luật nhưng thiếu văn bản hướng dẫn thi hành; các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp ban hành chưa được thường xuyên truyền tải kịp thời đến cho người dân để nắm bắt các chủ trương, chính sách của nhà nước làm hạn chế việc thực hiện trên thực tế.
- Cơ chế hoạt động còn bất cập. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động liên quan đến tất cả các ngành, địa phương và toàn bộ đời sống xã hội, song trong quá trình triển khai và phối hợp thực hiện còn khó khăn và vướng mắc. Tổ chức thi hành pháp luật thiếu chặt chẽ, ý thức một bộ phận công dân trong chấp hành pháp luật còn hạn chế, cơ chế quản lý nhà nước bằng pháp luật chưa đồng bộ, gây khó khăn cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
II. MỤC TIÊU, YÊU CẦU XÂY DỰNG ĐỀ ÁN.
1. Mục tiêu.
- Tiếp tục thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19 tháng 4 năm 2011 về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân.
- Tuyên truyền, phổ biến kịp thời, đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật đến cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân tạo chuyển biến căn bản trong việc nâng cao hiểu biết, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; góp phần ngăn chặn và hạn chế vi phạm pháp luật, tình trạng khiếu nại, tố cáo, giữ gìn an ninh, trật tự và an toàn xã hội của tỉnh.
Phấn đấu đến năm 2016 có từ 80% - 90% người dân được tiếp cận pháp luật và biết được những lĩnh vực pháp luật có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người dân; đảm bảo 100% cán bộ, công chức, viên chức; học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh được thông tin, truyên truyền, có điều kiện tiếp cận các văn bản quy phạm pháp luật mới do Trung ương và địa phương, ban hành. Triển khai thực hiện có hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật mới do Trung ương và địa phương ban hành.
- Tiếp tục củng cố về số lượng, nâng cao chất lượng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đảm bảo ít nhất mỗi năm một lần lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên, hoà giải viên được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật mới để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
- Đổi mới căn bản, đa dạng hoá về nội dung, hình thức, đảm bảo thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi toàn tỉnh.
- Xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động cho cán bộ, nhân dân giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan để đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật vào nề nếp.
2. Yêu cầu
- Tiếp tục duy trì các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật đang có hiệu quả; đồng thời, đổi mới, lựa chọn nội dung, hình thức phù hợp với từng đối tượng để nâng cao hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
- Xây dựng thí điểm một số đơn vị triển khai thực hiện Đề án sau đó nhân ra diện rộng. Khai thác có hiệu quả các hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật đã phát huy tác dụng, có sáng tạo, đổi mới trong phương thức thực hiện; lồng ghép công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Gắn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với việc tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước với công tác trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, đối tượng chính sách, công tác hòa giải ở cơ sở.
- Cần tập trung thực hiện một số công việc trước mắt, đồng thời chú trọng thực hiện các giải pháp lâu dài.
III. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN.
1. Đối tượng của Đề án.
Toàn thể Đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, nhân dân, lực lượng vũ trang và học sinh, sinh viên cư trú, sinh sống và học tập trên địa bàn tỉnh. Trong đó tập trung vào đội ngũ cán bộ, Đảng viên, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể, nhân dân, tuyên truyền viên, hòa giải viên, tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn; các chức sắc, chức việc các tôn giáo.
2. Xây dựng, hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật
- Xây dựng Chỉ thị của Tỉnh uỷ về tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ phối hợp giữa UBND tỉnh với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy trong việc triển khai kế hoạch phát triển KT-XH, giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân.
- Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết về mức chi cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
- Thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án “củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu đổi mới phát triển của đất nước” theo Quyết định số 1063/QĐ-BTP ngày 09/5/2013 của Bộ Tư pháp.
- Ban hành văn bản triển khai “Ngày pháp luật” trên địa bàn.
- Kiện toàn, củng cố hoạt động Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp theo Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg ngày 19 tháng 5 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật.
- Hướng dẫn về việc triển khai chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định 09/2013/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở.
* Cơ quan chủ trì: Sở Tư pháp
* Cơ quan phối hợp: Các Sở, ban, ngành; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố.
* Thời gian thực hiện: Quý IV năm 2013; các năm tiếp theo căn cứ vào các văn bản của Trung ương và tình hình thực tế địa phương.
3. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
a) Nội dung:
- Tiếp tục kiện toàn, củng cố đội ngũ Báo cáo viên pháp luật của tỉnh, Báo cáo viên pháp luật cấp huyện và Tuyên truyền viên pháp luật, Hoà giải viên ở xã, phường, thị trấn đủ về số lượng và đáp ứng yêu cầu để triển khai hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, hoà giải cơ sở.
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao năng lực cho đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, hoà giải viên cơ sở.
- Rà soát, đánh giá về chất lượng đội ngũ Báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, hoà giải viên cơ sở; công nhận và cấp thẻ báo cáo viên pháp luật theo quy định của Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2010/TT-BTP quy định về Báo cáo viên pháp luật (sau khi Thông tư này được ban hành).
b) Cơ quan chủ trì: Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp; Sở Tư pháp; Sở Nội vụ.
c) Cơ quan phối hợp: Các Sở, ban, ngành, đoàn thể; Ủy ban nhân dân cấp huyện; cấp xã.
d) Thời gian thực hiện: Hằng năm.

Content:
Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân.
3.1. Một số tồn tại, hạn chế:
Trong những năm qua công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên công tác này vẫn còn nhiều tồn tại hạn chế như:
- Hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tuy có nhiều đổi mới song chưa theo kịp với tình hình thực tiễn, nhất là ở cấp cơ sở. Hình thức triển khai chủ yếu là tổ chức hội nghị, in phát tài liệu, thông qua hệ thống bản tin, các trang mạng điện tử. Các hình thức và phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được đổi mới toàn diện để nâng cao chất lượng phổ biến, giáo dục pháp luật. Một số nơi còn nặng về hình thức, chưa chú trọng hiệu quả. Thời lượng và chất lượng thực hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng, việc ứng dụng công nghệ tin học vào hoạt động này nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu. Việc chỉ đạo tổng kết nhân rộng mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật tốt tại cơ sở còn ít.
- Nguồn nhân lực để triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu. Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật các cấp còn thiếu về số lượng, trình độ, chuyên môn còn hạn chế do chưa được đào tạo, tập huấn thường xuyên.
- Chất lượng, hiệu quả công tác chưa đồng đều, nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật chưa sâu, còn dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, chưa phù hợp với từng nhóm đối tượng.
- Việc xây dựng Kế hoạch triển khai hoạt động ở một số ngành, đoàn thể và địa phương chưa được quan tâm đúng mức. Tính chủ động trong việc triển khai thực hiện còn thấp, phụ thuộc, trông chờ vào sự chỉ đạo, kế hoạch của cấp trên.
- Kinh phí dành cho công tác còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra.
2. Nguyên nhân chủ quan:
- Một số cơ quan, đơn vị chưa xác định công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là nhiệm vụ chính trị trọng tâm nên còn thụ động và thiếu sự phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc tổ chức, thực hiện. Một số cơ quan, đơn vị việc phổ biến, giáo dục pháp luật mới dừng lại ở việc triển khai, quán triệt trong cán bộ, công chức ở cơ quan mình, chưa triển khai rộng rãi trong cộng đồng dân cư.
- Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật còn theo thành tích; hình thức tuyên truyền mới chưa sáng tạo; đội ngũ làm công tác tuyên truyền ở địa phương còn hạn chế về kiến thức pháp luật và kỹ năng tuyên truyền nên hiệu quả chưa cao.
- Việc đầu tư kinh phí thực hiện còn hạn chế, đặc biệt là ở cơ sở. Công tác tham mưu của các cơ quan, đơn vị thiếu chủ động, chưa thường xuyên kịp thời, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chưa được quan tâm, chậm đổi mới.
3.Nguyên nhân khách quan:
- Việc triển khai các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, các Chương trình, Kế hoạch của Chính phủ cùng một thời điểm, trong khi điều kiện nhân lực, nguồn kinh phí có hạn. Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, thống nhất, chưa sát thực tiễn, số lượng văn bản quy phạm pháp luật nhiều, thường xuyên sửa đổi, bổ sung, nhiều luật đã có hiệu lực pháp luật nhưng thiếu văn bản hướng dẫn thi hành; các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp ban hành chưa được thường xuyên truyền tải kịp thời đến cho người dân để nắm bắt các chủ trương, chính sách của nhà nước làm hạn chế việc thực hiện trên thực tế.
- Cơ chế hoạt động còn bất cập. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động liên quan đến tất cả các ngành, địa phương và toàn bộ đời sống xã hội, song trong quá trình triển khai và phối hợp thực hiện còn khó khăn và vướng mắc. Tổ chức thi hành pháp luật thiếu chặt chẽ, ý thức một bộ phận công dân trong chấp hành pháp luật còn hạn chế, cơ chế quản lý nhà nước bằng pháp luật chưa đồng bộ, gây khó khăn cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
II. MỤC TIÊU, YÊU CẦU XÂY DỰNG ĐỀ ÁN.
1. Mục tiêu.
- Tiếp tục thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19 tháng 4 năm 2011 về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân.
- Tuyên truyền, phổ biến kịp thời, đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật đến cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân tạo chuyển biến căn bản trong việc nâng cao hiểu biết, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; góp phần ngăn chặn và hạn chế vi phạm pháp luật, tình trạng khiếu nại, tố cáo, giữ gìn an ninh, trật tự và an toàn xã hội của tỉnh.
Phấn đấu đến năm 2016 có từ 80% - 90% người dân được tiếp cận pháp luật và biết được những lĩnh vực pháp luật có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người dân; đảm bảo 100% cán bộ, công chức, viên chức; học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh được thông tin, truyên truyền, có điều kiện tiếp cận các văn bản quy phạm pháp luật mới do Trung ương và địa phương, ban hành. Triển khai thực hiện có hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật mới do Trung ương và địa phương ban hành.
- Tiếp tục củng cố về số lượng, nâng cao chất lượng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đảm bảo ít nhất mỗi năm một lần lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên, hoà giải viên được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật mới để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
- Đổi mới căn bản, đa dạng hoá về nội dung, hình thức, đảm bảo thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi toàn tỉnh.
- Xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động cho cán bộ, nhân dân giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan để đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật vào nề nếp.
2. Yêu cầu
- Tiếp tục duy trì các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật đang có hiệu quả; đồng thời, đổi mới, lựa chọn nội dung, hình thức phù hợp với từng đối tượng để nâng cao hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
- Xây dựng thí điểm một số đơn vị triển khai thực hiện Đề án sau đó nhân ra diện rộng. Khai thác có hiệu quả các hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật đã phát huy tác dụng, có sáng tạo, đổi mới trong phương thức thực hiện; lồng ghép công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Gắn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với việc tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước với công tác trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, đối tượng chính sách, công tác hòa giải ở cơ sở.
- Cần tập trung thực hiện một số công việc trước mắt, đồng thời chú trọng thực hiện các giải pháp lâu dài.
III. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN.
1. Đối tượng của Đề án.
Toàn thể Đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, nhân dân, lực lượng vũ trang và học sinh, sinh viên cư trú, sinh sống và học tập trên địa bàn tỉnh. Trong đó tập trung vào đội ngũ cán bộ, Đảng viên, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể, nhân dân, tuyên truyền viên, hòa giải viên, tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn; các chức sắc, chức việc các tôn giáo.
2. Xây dựng, hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật
- Xây dựng Chỉ thị của Tỉnh uỷ về tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ phối hợp giữa UBND tỉnh với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy trong việc triển khai kế hoạch phát triển KT-XH, giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân.
- Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết về mức chi cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
- Thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án “củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu đổi mới phát triển của đất nước” theo Quyết định số 1063/QĐ-BTP ngày 09/5/2013 của Bộ Tư pháp.
- Ban hành văn bản triển khai “Ngày pháp luật” trên địa bàn.
- Kiện toàn, củng cố hoạt động Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp theo Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg ngày 19 tháng 5 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật.
- Hướng dẫn về việc triển khai chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định 09/2013/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở.
* Cơ quan chủ trì: Sở Tư pháp
* Cơ quan phối hợp: Các Sở, ban, ngành; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố.
* Thời gian thực hiện: Quý IV năm 2013; các năm tiếp theo căn cứ vào các văn bản của Trung ương và tình hình thực tế địa phương.
Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
a) Nội dung:
- Tiếp tục kiện toàn, củng cố đội ngũ Báo cáo viên pháp luật của tỉnh, Báo cáo viên pháp luật cấp huyện và Tuyên truyền viên pháp luật, Hoà giải viên ở xã, phường, thị trấn đủ về số lượng và đáp ứng yêu cầu để triển khai hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, hoà giải cơ sở.
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao năng lực cho đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, hoà giải viên cơ sở.
- Rà soát, đánh giá về chất lượng đội ngũ Báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, hoà giải viên cơ sở; công nhận và cấp thẻ báo cáo viên pháp luật theo quy định của Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2010/TT-BTP quy định về Báo cáo viên pháp luật (sau khi Thông tư này được ban hành).
b) Cơ quan chủ trì: Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp; Sở Tư pháp; Sở Nội vụ.
c) Cơ quan phối hợp: Các Sở, ban, ngành, đoàn thể; Ủy ban nhân dân cấp huyện; cấp xã.
d) Thời gian thực hiện: Hằng năm.