Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2882/QĐ-UBND 2011 phê duyệt Quy hoạch phát triển Ngành Giáo dục Đào tạo Bình Thuận

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "2882/QĐ-UBND", "signer": "Lê Tiến Phương", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "2882/QĐ-UBND", "signer": "Lê Tiến Phương", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "2882/QĐ-UBND", "signer": "Lê Tiến Phương", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "2882/QĐ-UBND", "signer": "Lê Tiến Phương", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "2882/QĐ-UBND", "signer": "Lê Tiến Phương", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2882/QĐ-UBND 2011 phê duyệt Quy hoạch phát triển Ngành Giáo dục Đào tạo Bình Thuận

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Thuận đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau:
...
4. Giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề:
Thực sự coi đào tạo và dạy nghề là nhiệm vụ trung tâm phát triển nguồn nhân lực, một trong những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Đầu tư cho đào tạo và dạy nghề là đầu tư cho phát triển và phải tăng nhanh về quy mô, loại hình và và chất lượng, song song với đào tạo nghề cho lao động công nghiệp và dịch vụ, cần chú trọng đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Gắn đào tạo nghề với chương trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, của các ngành kinh tế, vùng kinh tế, vùng dân cư, gắn với nhu cầu các doanh nghiệp và thị trường sức lao động và những tiến bộ về kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất, dịch vụ theo quan hệ cung cầu trên địa bàn tỉnh Bình Thuận.
Giai đoạn 2010-2015 và đến năm 2020, cơ cấu đào tạo giáo viên mầm non và phổ thông có sự thay đổi đáng kể so với giai đoạn trước. Giáo viên mầm non đang có nhu cầu đào tạo rất lớn, đến năm 2015 cần có số lượng tăng gấp 1,5 lần so với hiện nay.
Để đáp ứng được nhu cầu lao động qua đào tạo, giáo viên của tỉnh từ nay đến năm 2020, cần phát triển các trường chuyên nghiệp, dạy nghề như sau:
4.1. Trường Cao đẳng Cộng đồng tỉnh:
Xác định nâng cấp Trường Cao đẳng cộng đồng tỉnh lên thành Trường Đại học Bình Thuận (đa ngành) vào năm 2015.
Trong những năm tới, song song việc đào tạo đa ngành nghề theo nhu cầu thị trường lao động, tập trung đào tạo đội ngũ giáo viên nâng cao trình độ trên chuẩn và đáp ứng số lượng thiếu hụt giáo viên mầm non, tiểu học, THCS trong những năm tiếp theo của tỉnh. Việc đầu tư phát triển cơ sở vật chất cho Trường Cao đẳng Cộng đồng không thực hiện tại vị trí hiện tại mà sẽ đầu tư xây dựng tại xã Tiến Lợi, thành phố Phan Thiết theo quy hoạch được duyệt, với diện tích 40 ha. Đồng thời, tăng cường đào tạo để tăng số lượng giảng viên cơ hữu, bảo đảm đủ chuẩn về trình độ để nâng cấp Trường Cao đẳng cộng đồng lên thành Trường đại học Bình Thuận vào năm 2015.
4.2. Trường Cao đẳng Y tế:
Trường Cao đẳng Y tế Bình Thuận trong những năm qua thực hiện việc đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực y tế cơ sở và cho các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện.
- Trong giai đoạn 2010-2015 và đến năm 2020, Trường tiếp tục tăng cường quy mô đào tạo trình độ cao đẳng các ngành: Điều dưỡng, Dược, Hộ sinh, Kỹ thuật y tế. Liên kết với trường Đại học Y - Dược đào tạo trình độ đại học và sau đại học ngành cử nhân Điều dưỡng, Bác sỹ, Dược sỹ đại học. Song song việc đào tạo cán bộ cho ngành y tế, giai đoạn 2011-2015 trường tập trung đào tạo đội ngũ cán bộ y tế học đường cho các trường mầm non và phổ thông trong tỉnh. Quy mô đào tạo của trường đến năm 2015 có khoảng 2.860 sinh viên, trong đó trình độ cao đẳng chiếm trên 50%. Định hướng đến năm 2020, trường đào tạo chủ yếu trình độ cao đẳng và liên kết đào tạo trình độ đại học và sau đại học các ngành: Điều dưỡng, Bác sỹ, Dược sỹ, Kỹ thuật y tế với quy mô khoảng 4.500 sinh viên.
- Mở rộng qui mô Trường Cao đẳng Y tế, tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy đủ về số lượng và bảo đảm chất lượng, phát triển giảng viên cơ hữu đủ theo chuẩn quy định. Phấn đấu đạt chuẩn quy định 15 sinh viên/1 giảng viên. Cán bộ có trình độ đại học chiếm khoảng 40%. Đến năm 2015, tổng số giảng viên cơ hữu là 87 người, trong đó có 5 tiến sỹ hoặc chuyên khoa 2; có 35 thạc sỹ hoặc chuyên khoa cấp I, có 47 đại học. Đến năm 2020, tổng số giảng viên cơ hữu là 150 người, trong đó 10 tiến sỹ hoặc chuyên khoa cấp II; có 80 thạc sỹ hoặc chuyên khoa cấp I, có 60 đại học. Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy cả chuyên môn nghiệp vụ. Chuẩn bị đội ngũ cán bộ giảng dạy đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng để liên kết đào tạo đại học và sau đại học.
Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ dạy và học. Phấn đấu đến năm 2015, đạt chuẩn quy định bình quân về diện tích học tập tối thiểu 6m2/sinh viên, diện tích nhà ở và sinh hoạt của sinh viên tối thiếu 3m2/sinh viên; có đủ phòng làm việc cho giảng viên và cán bộ với diện tích 8m2/người; có đầy đủ trang thiết bị giảng dạy cần thiết phục vụ cho việc dạy và học. Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ học tập, giảng dạy, điều hành và quản lý.
4.3. Trường Trung cấp nghề tỉnh:
Xác định đầu tư nâng cấp Trường Trung cấp nghề tỉnh lên thành Trường Cao đẳng nghề trước năm 2015. Thực hiện đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề, trong đó chủ yếu tập trung đào tạo những ngành nghề mới theo nhu cầu thị trường lao động. Đồng thời phát triển đào tạo nghề chất lượng cao, chú trọng đào tạo nghề phục vụ xuất khẩu lao động và mở rộng hợp tác với các trường có uy tín, chất lượng trong lĩnh vực đào tạo nghề.
Qui mô đào tạo của trường Trung cấp nghề tỉnh tăng từ 3.800 học sinh, sinh viên năm 2015 lên 6.800 học sinh, sinh viên năm 2020. Trong đó, số tuyển mới hàng năm tăng từ 1.371 học sinh, sinh viên năm 2010 lên khoảng 1.500 học sinh, sinh viên năm 2015 và 2.500 học sinh, sinh viên năm 2020.
Ngành nghề đào tạo chủ yếu của hệ Cao đẳng nghề và Trung cấp nghề là: Điện công nghiệp; May và thiết kế thời trang; Kế toán doanh nghiệp; Công nghệ ô tô; sửa chữa máy tàu thuỷ; Lập trình máy tính; Lắp ráp và sửa chữa máy tính; Dịch vụ nhà hàng; Quản trị khách sạn; Quản trị khu resort; Nghiệp vụ lễ tân; Quản trị doanh nghiệp; Kỹ thuật xây dựng; Chế biến - bảo quản thuỷ sản; Kỷ thuật chế biến món ăn; Bảo vệ thực vật; Sinh vật cảnh. Đối với hệ sơ cấp nghề, ngành nghề chủ yếu là: Điện dân dụng; Xây dựng dân dụng; Sản xuất hàng mây, tre đan; May công nghiệp; Trồng cây lương thực (trồng nấm); Trồng, chăm sóc và khai thác cây cao su; Trồng và chăm sóc cây thanh long; Tiếng Anh chuyên ngành nghiệp vụ lễ tân; Lễ tân khách sạn; Phục vụ bàn quầy; Thuyền trưởng, máy trưởng; Tin học văn phòng…
4.4. Trường Trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ thuật Công đoàn (thuộc Liên đoàn Lao động tỉnh): Đầu tư phát triển hợp lý về CSVC, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên. Đến năm 2015 bảo đảm đạt chuẩn về CSVC, trang thiết bị và đội ngũ giáo viên theo quy định.
4.5. Các trung tâm dạy nghề công lập:
Đầu tư hoàn thiện CSVC, trang thiết bị của các trung tâm dạy nghề công lập hiện có vào năm 2015; bảo đảm các điều kiện để đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề tại chỗ gắn với nhu cầu lao động và thực hiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo chỉ tiêu được giao hàng năm.
Sau năm 2015, bảo đảm các điều kiện để nâng cấp Trung tâm dạy nghề Bắc Bình và Trung tâm dạy nghề Tánh Linh lên Trường Trung cấp nghề.
4.6. Phát triển xã hội hóa giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề:
a) Trường Đại học Phan Thiết:
Ngoài những ngành, nghề đang đào tạo, tiếp tục phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu và cơ sở vật chất để đủ kiều kiện mở thêm những ngành, nghề đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và những vùng lận cận. Không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, sớm trở thành trường có uy tín, có tầm ảnh hưởng trong khu vực và toàn quốc. Thực hiện liên kết với các trường Đại học, các cơ sở đào tạo nổi tiếng trong nước và quốc tế để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, nhất là đào tạo ngoại ngữ.
Đôn đốc chủ đầu tư triển khai đầu tư cơ sở II của trường trên khu đất 10,5 ha tại phường Phú Hài, thành phố Phan Thiết theo thiết kế, đến năm học 2014-2015 bắt đầu đưa vào sử dụng những hạng mục đầu tiên.
b) Tiếp tục đẩy mạnh kêu gọi đầu tư các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp dạy nghề. Cụ thể:
- Đôn đốc triển khai các dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư khẩn trương triển khai đầu tư, đi vào hoạt động trước năm 2015, gồm:
+ Dự án đầu tư Trường Cao đẳng Quản trị và CNTT của Công ty cổ phần Tin học và Tư vấn quản lý Tâm Việt tại xã Tiến lợi, thành phố Phan Thiết, diện tích 5 ha. Dự kiến quy mô tuyển sinh đào tạo ổn định hàng năm khoảng 1.000 học sinh, sinh viên.
+ Dự án đầu tư cơ sở đào tạo của Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh tại Tân Phước, thị xã La Gi, với diện tích 17,45 ha. Dự kiến quy mô tuyển sinh đào tạo ổn định hàng năm khoảng 800 học sinh, sinh viên.
+ Dự án Trường Trung cấp nghề của Công ty Cổ phần địa ốc Hoàng Quân tại xã Hàm Kiệm, huyện Hàm Thuận Nam, với diện tích 15,75 ha. Dự kiến quy mô tuyển sinh đào tạo ổn định hàng năm khoảng 1.000 học sinh, sinh viên.
Các dự án này sẽ tiến hành rà soát đánh giá lại năng lực trong năm 2011, nếu không đảm bảo điều kiện triển khai thì thu hồi, tiếp tục kêu gọi nhà đầu tư đủ năng lực để triển khai.
- Tiếp tục kêu gọi đầu tư phát triển các cở sở giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, gồm:
+ Xem xét, giải quyết chủ trương đầu tư mở cơ sở đào tạo của Trường Trung cấp Kinh tế Công nghệ Đại Việt tại thị trấn Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân với diện tích 5 ha. Dự kiến quy mô tuyển sinh đào tạo ổn định hàng năm khoảng 800 học sinh.
+ Trường Cao đẳng Du lịch quốc tế tại thành phố Phan Thiết, với diện tích khoảng từ 15 ha. Tập trung mở các ngành nghề quản trị resort; hướng dẫn viên du lịch; quản lý nhà hàng - khách sạn; dịch vụ du lịch… theo tiêu chuẩn quốc tế. Dự kiến quy mô tuyển sinh đào tạo ổn định hàng năm khoảng 1.500 học sinh, sinh viên.
+ Trường cao đẳng nghề tại thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong phát triển sau năm 2015, với diện tích 5 ha. Dự kiến quy mô tuyển sinh đào tạo ổn định hàng năm khoảng 700 học sinh, sinh viên.
+ Các địa phương còn lại bảo đảm đến năm 2015 có cơ sở dạy nghề ngoài công lập phù hợp với nhu cầu phát triển của từng địa phương.
III. XÁC ĐỊNH NHU CẦU ĐẤT VÀ VỐN ĐẦU TƯ THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Nhu cầu sử dụng đất:
1.1. Hệ thống giáo dục mầm non và phổ thông:
Tổng số trường được xây mới trong toàn tỉnh đến năm 2020 là 135 trường, chia ra giai đoạn 2010-2015 là 98 trường, giai đoạn 2016-2020 là 37 trường. Trong đó: Mầm non 28 trường (chia theo giai đoạn là 22 và 6); Tiểu học 32 trường (chia theo giai đoạn là 22 và 10); Trung học cơ sở 29 trường (chia theo giai đoạn là 17 và 12); Trung học phổ thông là 10 trường (chia theo giai đoạn là 3 và 7); Trường nhiều cấp học (Mầm non-Tiểu học-THCS-THPT) là 36 trường (chia theo giai đoạn là 34 và 2).
1.2. Hệ thống giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp: Tổng số Trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp được xây mới trong toàn tỉnh đến năm 2020 là 5.
1.3. Hệ thống giáo dục và giáo dục chuyên nghiệp:
Tổng số trường được nâng cấp mở rộng và xây mới trong toàn tỉnh đến năm 2020 là 11 trường, chia ra giai đoạn 2011-2015 là 8 trường, giai đoạn 2016-2020 là 3 trường.
Tổng diện tích đất thực hiện quy hoạch là 445,57 ha (giai đoạn 2011 - 2015 là 350,57 ha; giai đoạn 2016 - 2020 là 95 ha).
2. Nhu cầu vốn đầu tư:
Xác định danh mục các dự án đầu tư và phân kỳ thực hiện đầu tư hợp lý theo từng giai đoạn là nội dung quan trọng trong quy hoạch, làm căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch hàng năm và chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch.
Để đạt được các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển giáo dục và đào tạo theo quy hoạch đã đề ra, tổng số phòng học và phòng chức năng cần đầu tư xây dựng mới và xây thay thế từ năm 2011 đến năm 2020 là 7.630 phòng. Trong đó, ngành học mầm non là 4.716 phòng, ngành học phổ thông là 2.353 phòng, các trung tâm giáo dục thường xuyên và và hướng nghiệp là 200 phòng; các trường chuyên nghiệp và dạy nghề là 361 phòng.
Giai đoạn 2011-2015 cần đầu tư 2.877 phòng, trong đó ngành học mầm non 1.373 phòng, ngành học phổ thông 1.189 phòng, các trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp là 56, các trường chuyên nghiệp và dạy nghề là 259 phòng.
Giai đoạn 2016-2020 cần đầu tư 4.753 phòng, trong đó ngành học mầm non 3.343 phòng, ngành học phổ thông 1.164 phòng, các trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp là 144, các trường chuyên nghiệp và dạy nghề là 102 phòng.
Tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển cho ngành giáo dục và đào tạo là 8.818 tỷ đồng. Trong đó giai đoạn 2011-2015 là 3.905 tỷ đồng, giai đoạn 2016-2020 là 4.913 tỷ đồng. Bao gồm:
- Xây dựng mới 7.630 phòng học, phòng bộ môn của 151 cơ sở giáo dục và đào tạo thành lập mới và bổ sung thay thế các phòng học xuống cấp của các trường hiện có; kinh phí 3.185 tỷ đồng (2011-2015 là 1.287 tỷ đồng, 2016-2020 là 1.898 tỷ đồng), bình quân giá trị xây dựng mỗi phòng học 500 triệu, bao gồm cả bàn ghế học sinh và giáo viên.
- Đầu tư bổ sung cơ sở vật chất trường chuẩn quốc gia cho 237 trường, giai đoạn 2011-2015 đầu tư 117 trường với nhu cầu vốn 212 tỷ đồng, giai đoạn 2016-2020 đầu tư 120 trường với nhu cầu vốn 350 tỷ đồng.
IV. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Về công tác tuyên truyền, giáo dục:
Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền làm cho cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn dân, đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển; thực hiện nhiệm vụ giáo dục phải kết hợp đồng bộ ba môi trường giáo dục là gia đình, nhà trường và xã hội.
2. Đẩy mạnh tiến độ đầu tư CSVC, phát triển mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất giáo dục - đào tạo:
- Đẩy mạnh tiến độ đầu tư cơ sở vật chất và phát triển hợp lý mạng lưới trường lớp gắn với từng địa bàn, phù hợp với quy mô dân số và yêu cầu vừa thực hiện phổ cập giáo dục vừa đảm bảo nâng cao chất lượng dạy và học theo các Đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ giáo viên, các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo, đề án xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia, đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi… Xúc tiến thực hiện đề án nâng cấp trường Trung cấp nghề lên trường Cao đẳng nghề. Triển khai xây dựng trường Đại học Bình Thuận theo quy hoạch được duyệt. Sơ kết hoạt động của mô hình Trung tâm học tập cộng đồng để có giải pháp tiếp theo cho phù hợp.
- Các dự án đầu tư nâng cấp, xây mới trường học phải bảo đảm có bố trí các hạng mục phục vụ cho học sinh khuyết tật theo quy định nhằm thực hiện được chỉ tiêu bảo đảm 100% trẻ em khuyết tật có nhu cầu được học hòa nhập tại các trường phổ thông thuộc địa bàn cư trú.
- Sắp xếp hợp lý mạng lưới các trường tiểu học, THCS, THPT gắn với từng địa bàn, phù hợp với quy mô dân số và yêu cầu vừa thực hiện phổ cập giáo dục vừa đảm bảo nâng cao chất lượng dạy và học.
- Chủ động chuẩn bị, hoàn tất thủ tục đầu tư đối với các công trình, dự án giáo dục - đào tạo theo lộ trình đã xác định. Đồng thời, huy động tối đa năng lực, cơ sở vật chất hiện có.
- Tranh thủ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia “Đổi mới, nâng cao năng lực đào tạo nghề” để đầu tư hoàn chỉnh cơ sở vật chất các cơ sở đào tạo nghề công lập.
3. Thu hút và đào tạo, bồi nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục:
- Khuyến khích đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục các cấp tham gia học tập nâng cao trình độ theo các chính sách hiện hành của Trung ương và của tỉnh.
- Xây dựng đề án đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, thực hiện công khai dân chủ trong việc đánh giá năng lực đội ngũ giáo viên. Mạnh dạn giải quyết chính sách nghỉ trước tuổi hoặc chuyển công tác khác đối với những giáo viên có năng lực yếu không phù hợp yêu cầu sư phạm.
- Tiếp tục nghiên cứu đổi mới chính sách thu hút đội ngũ trí thức có trình độ cao về công tác tại các trường chuyên nghiệp, dạy nghề thuộc tỉnh.
- Tiếp tục đào tạo bổ sung đội ngũ giáo viên mầm non phục vụ yêu cầu phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi; đào tạo và tuyển dụng bổ sung hợp lý theo yêu cầu đối với đội ngũ giáo viên tiểu học, trung học cơ sở và THPT.
- Tăng cường công tác kiểm tra chất lượng đội ngũ giáo viên bằng nhiều hình thức, bố trí luân phiên đào tạo, tăng nhanh số giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn. Tăng cường đào tạo nghề sư phạm với những học sinh khá giỏi để có một đội ngũ giáo viên giỏi.
4. Giải pháp về quản lý giáo dục, đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong các hoạt động của các cấp quản lý giáo dục:
- Chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tạo sự chuyển biến tiến bộ và vững chắc về nhận thức chính trị, nhân cách, đạo đức, lối sống, kiến thức và kỹ năng của học sinh ở tất cả các cấp học, bậc học, làm tốt việc phát hiện và đào tạo bồi dưỡng, sử dụng nhân tài. Có giải pháp tích cực nâng cao chất lượng giáo dục miền núi, hải đảo để rút ngắn chênh lệch chất lượng giáo dục giữa các vùng, miền trong tỉnh. Có chính sách hỗ trợ các em học sinh nghèo học giỏi, hạn chế tối đa tình trạng học sinh bỏ học giữa chừng, có biện pháp khắc phục mặt tiêu cực trong việc dạy thêm, học thêm.
- Các cấp quản lý giáo dục chủ động, tích cực xây dựng và tổ chức thực hiện tốt các kế hoạch, chương trình, đề án để cụ thể hóa quy hoạch này. Tăng cường công tác quản lý nhà nước, nhất là đối với các cơ sở giáo dục thực hiện xã hội hóa. Thực hiện kiểm tra, thẩm định chất lượng giáo dục theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ nâng cao chất lượng dạy và học, đổi mới quản lý giáo dục và nhu cầu thông tin về giáo dục của học sinh, phụ huynh và nhân dân. Xây dựng và thực hiện tốt quy chế thể hiện trách nhiệm và cơ chế phối hợp của các tổ chức, các lực lượng xã hội tham gia công tác giáo dục. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở trong trường học.
- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện phong trào thi đua “Hai tốt”. Cụ thể hóa các tiêu chuẩn thi đua phù hợp với từng địa phương, động viên và tạo điều kiện cho giáo dục các vùng còn khó khăn vươn lên đạt các chỉ tiêu trong hoạt động giáo dục. Tôn vinh các tập thể, cá nhân trong và ngoài ngành giáo dục có nhiều đóng góp cho phát triển giáo dục và đào tạo. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh; kiên quyết xử lý các hành vi tiêu cực trong hoạt động giáo dục và đào tạo.

Content:
Giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề:
Thực sự coi đào tạo và dạy nghề là nhiệm vụ trung tâm phát triển nguồn nhân lực, một trong những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Đầu tư cho đào tạo và dạy nghề là đầu tư cho phát triển và phải tăng nhanh về quy mô, loại hình và và chất lượng, song song với đào tạo nghề cho lao động công nghiệp và dịch vụ, cần chú trọng đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Gắn đào tạo nghề với chương trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, của các ngành kinh tế, vùng kinh tế, vùng dân cư, gắn với nhu cầu các doanh nghiệp và thị trường sức lao động và những tiến bộ về kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất, dịch vụ theo quan hệ cung cầu trên địa bàn tỉnh Bình Thuận.
Giai đoạn 2010-2015 và đến năm 2020, cơ cấu đào tạo giáo viên mầm non và phổ thông có sự thay đổi đáng kể so với giai đoạn trước. Giáo viên mầm non đang có nhu cầu đào tạo rất lớn, đến năm 2015 cần có số lượng tăng gấp 1,5 lần so với hiện nay.
Để đáp ứng được nhu cầu lao động qua đào tạo, giáo viên của tỉnh từ nay đến năm 2020, cần phát triển các trường chuyên nghiệp, dạy nghề như sau:
4.1. Trường Cao đẳng Cộng đồng tỉnh:
Xác định nâng cấp Trường Cao đẳng cộng đồng tỉnh lên thành Trường Đại học Bình Thuận (đa ngành) vào năm 2015.
Trong những năm tới, song song việc đào tạo đa ngành nghề theo nhu cầu thị trường lao động, tập trung đào tạo đội ngũ giáo viên nâng cao trình độ trên chuẩn và đáp ứng số lượng thiếu hụt giáo viên mầm non, tiểu học, THCS trong những năm tiếp theo của tỉnh. Việc đầu tư phát triển cơ sở vật chất cho Trường Cao đẳng Cộng đồng không thực hiện tại vị trí hiện tại mà sẽ đầu tư xây dựng tại xã Tiến Lợi, thành phố Phan Thiết theo quy hoạch được duyệt, với diện tích 40 ha. Đồng thời, tăng cường đào tạo để tăng số lượng giảng viên cơ hữu, bảo đảm đủ chuẩn về trình độ để nâng cấp Trường Cao đẳng cộng đồng lên thành Trường đại học Bình Thuận vào năm 2015.
4.2. Trường Cao đẳng Y tế:
Trường Cao đẳng Y tế Bình Thuận trong những năm qua thực hiện việc đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực y tế cơ sở và cho các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện.
- Trong giai đoạn 2010-2015 và đến năm 2020, Trường tiếp tục tăng cường quy mô đào tạo trình độ cao đẳng các ngành: Điều dưỡng, Dược, Hộ sinh, Kỹ thuật y tế. Liên kết với trường Đại học Y - Dược đào tạo trình độ đại học và sau đại học ngành cử nhân Điều dưỡng, Bác sỹ, Dược sỹ đại học. Song song việc đào tạo cán bộ cho ngành y tế, giai đoạn 2011-2015 trường tập trung đào tạo đội ngũ cán bộ y tế học đường cho các trường mầm non và phổ thông trong tỉnh. Quy mô đào tạo của trường đến năm 2015 có khoảng 2.860 sinh viên, trong đó trình độ cao đẳng chiếm trên 50%. Định hướng đến năm 2020, trường đào tạo chủ yếu trình độ cao đẳng và liên kết đào tạo trình độ đại học và sau đại học các ngành: Điều dưỡng, Bác sỹ, Dược sỹ, Kỹ thuật y tế với quy mô khoảng 4.500 sinh viên.
- Mở rộng qui mô Trường Cao đẳng Y tế, tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy đủ về số lượng và bảo đảm chất lượng, phát triển giảng viên cơ hữu đủ theo chuẩn quy định. Phấn đấu đạt chuẩn quy định 15 sinh viên/1 giảng viên. Cán bộ có trình độ đại học chiếm khoảng 40%. Đến năm 2015, tổng số giảng viên cơ hữu là 87 người, trong đó có 5 tiến sỹ hoặc chuyên khoa 2; có 35 thạc sỹ hoặc chuyên khoa cấp I, có 47 đại học. Đến năm 2020, tổng số giảng viên cơ hữu là 150 người, trong đó 10 tiến sỹ hoặc chuyên khoa cấp II; có 80 thạc sỹ hoặc chuyên khoa cấp I, có 60 đại học. Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy cả chuyên môn nghiệp vụ. Chuẩn bị đội ngũ cán bộ giảng dạy đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng để liên kết đào tạo đại học và sau đại học.
Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ dạy và học. Phấn đấu đến năm 2015, đạt chuẩn quy định bình quân về diện tích học tập tối thiểu 6m2/sinh viên, diện tích nhà ở và sinh hoạt của sinh viên tối thiếu 3m2/sinh viên; có đủ phòng làm việc cho giảng viên và cán bộ với diện tích 8m2/người; có đầy đủ trang thiết bị giảng dạy cần thiết phục vụ cho việc dạy và học. Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ học tập, giảng dạy, điều hành và quản lý.
4.3. Trường Trung cấp nghề tỉnh:
Xác định đầu tư nâng cấp Trường Trung cấp nghề tỉnh lên thành Trường Cao đẳng nghề trước năm 2015. Thực hiện đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề, trong đó chủ yếu tập trung đào tạo những ngành nghề mới theo nhu cầu thị trường lao động. Đồng thời phát triển đào tạo nghề chất lượng cao, chú trọng đào tạo nghề phục vụ xuất khẩu lao động và mở rộng hợp tác với các trường có uy tín, chất lượng trong lĩnh vực đào tạo nghề.
Qui mô đào tạo của trường Trung cấp nghề tỉnh tăng từ 3.800 học sinh, sinh viên năm 2015 lên 6.800 học sinh, sinh viên năm 2020. Trong đó, số tuyển mới hàng năm tăng từ 1.371 học sinh, sinh viên năm 2010 lên khoảng 1.500 học sinh, sinh viên năm 2015 và 2.500 học sinh, sinh viên năm 2020.
Ngành nghề đào tạo chủ yếu của hệ Cao đẳng nghề và Trung cấp nghề là: Điện công nghiệp; May và thiết kế thời trang; Kế toán doanh nghiệp; Công nghệ ô tô; sửa chữa máy tàu thuỷ; Lập trình máy tính; Lắp ráp và sửa chữa máy tính; Dịch vụ nhà hàng; Quản trị khách sạn; Quản trị khu resort; Nghiệp vụ lễ tân; Quản trị doanh nghiệp; Kỹ thuật xây dựng; Chế biến - bảo quản thuỷ sản; Kỷ thuật chế biến món ăn; Bảo vệ thực vật; Sinh vật cảnh. Đối với hệ sơ cấp nghề, ngành nghề chủ yếu là: Điện dân dụng; Xây dựng dân dụng; Sản xuất hàng mây, tre đan; May công nghiệp; Trồng cây lương thực (trồng nấm); Trồng, chăm sóc và khai thác cây cao su; Trồng và chăm sóc cây thanh long; Tiếng Anh chuyên ngành nghiệp vụ lễ tân; Lễ tân khách sạn; Phục vụ bàn quầy; Thuyền trưởng, máy trưởng; Tin học văn phòng…
4.Trường Trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ thuật Công đoàn (thuộc Liên đoàn Lao động tỉnh): Đầu tư phát triển hợp lý về CSVC, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên. Đến năm 2015 bảo đảm đạt chuẩn về CSVC, trang thiết bị và đội ngũ giáo viên theo quy định.
4.5. Các trung tâm dạy nghề công lập:
Đầu tư hoàn thiện CSVC, trang thiết bị của các trung tâm dạy nghề công lập hiện có vào năm 2015; bảo đảm các điều kiện để đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề tại chỗ gắn với nhu cầu lao động và thực hiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo chỉ tiêu được giao hàng năm.
Sau năm 2015, bảo đảm các điều kiện để nâng cấp Trung tâm dạy nghề Bắc Bình và Trung tâm dạy nghề Tánh Linh lên Trường Trung cấp nghề.
4.6. Phát triển xã hội hóa giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề:
a) Trường Đại học Phan Thiết:
Ngoài những ngành, nghề đang đào tạo, tiếp tục phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu và cơ sở vật chất để đủ kiều kiện mở thêm những ngành, nghề đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và những vùng lận cận. Không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, sớm trở thành trường có uy tín, có tầm ảnh hưởng trong khu vực và toàn quốc. Thực hiện liên kết với các trường Đại học, các cơ sở đào tạo nổi tiếng trong nước và quốc tế để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, nhất là đào tạo ngoại ngữ.
Đôn đốc chủ đầu tư triển khai đầu tư cơ sở II của trường trên khu đất 10,5 ha tại phường Phú Hài, thành phố Phan Thiết theo thiết kế, đến năm học 2014-2015 bắt đầu đưa vào sử dụng những hạng mục đầu tiên.
b) Tiếp tục đẩy mạnh kêu gọi đầu tư các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp dạy nghề. Cụ thể:
- Đôn đốc triển khai các dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư khẩn trương triển khai đầu tư, đi vào hoạt động trước năm 2015, gồm:
+ Dự án đầu tư Trường Cao đẳng Quản trị và CNTT của Công ty cổ phần Tin học và Tư vấn quản lý Tâm Việt tại xã Tiến lợi, thành phố Phan Thiết, diện tích 5 ha. Dự kiến quy mô tuyển sinh đào tạo ổn định hàng năm khoảng 1.000 học sinh, sinh viên.
+ Dự án đầu tư cơ sở đào tạo của Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh tại Tân Phước, thị xã La Gi, với diện tích 17,45 ha. Dự kiến quy mô tuyển sinh đào tạo ổn định hàng năm khoảng 800 học sinh, sinh viên.
+ Dự án Trường Trung cấp nghề của Công ty Cổ phần địa ốc Hoàng Quân tại xã Hàm Kiệm, huyện Hàm Thuận Nam, với diện tích 15,75 ha. Dự kiến quy mô tuyển sinh đào tạo ổn định hàng năm khoảng 1.000 học sinh, sinh viên.
Các dự án này sẽ tiến hành rà soát đánh giá lại năng lực trong năm 2011, nếu không đảm bảo điều kiện triển khai thì thu hồi, tiếp tục kêu gọi nhà đầu tư đủ năng lực để triển khai.
- Tiếp tục kêu gọi đầu tư phát triển các cở sở giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, gồm:
+ Xem xét, giải quyết chủ trương đầu tư mở cơ sở đào tạo của Trường Trung cấp Kinh tế Công nghệ Đại Việt tại thị trấn Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân với diện tích 5 ha. Dự kiến quy mô tuyển sinh đào tạo ổn định hàng năm khoảng 800 học sinh.
+ Trường Cao đẳng Du lịch quốc tế tại thành phố Phan Thiết, với diện tích khoảng từ 15 ha. Tập trung mở các ngành nghề quản trị resort; hướng dẫn viên du lịch; quản lý nhà hàng - khách sạn; dịch vụ du lịch… theo tiêu chuẩn quốc tế. Dự kiến quy mô tuyển sinh đào tạo ổn định hàng năm khoảng 1.500 học sinh, sinh viên.
+ Trường cao đẳng nghề tại thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong phát triển sau năm 2015, với diện tích 5 ha. Dự kiến quy mô tuyển sinh đào tạo ổn định hàng năm khoảng 700 học sinh, sinh viên.
+ Các địa phương còn lại bảo đảm đến năm 2015 có cơ sở dạy nghề ngoài công lập phù hợp với nhu cầu phát triển của từng địa phương.
III. XÁC ĐỊNH NHU CẦU ĐẤT VÀ VỐN ĐẦU TƯ THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Nhu cầu sử dụng đất:
1.1. Hệ thống giáo dục mầm non và phổ thông:
Tổng số trường được xây mới trong toàn tỉnh đến năm 2020 là 135 trường, chia ra giai đoạn 2010-2015 là 98 trường, giai đoạn 2016-2020 là 37 trường. Trong đó: Mầm non 28 trường (chia theo giai đoạn là 22 và 6); Tiểu học 32 trường (chia theo giai đoạn là 22 và 10); Trung học cơ sở 29 trường (chia theo giai đoạn là 17 và 12); Trung học phổ thông là 10 trường (chia theo giai đoạn là 3 và 7); Trường nhiều cấp học (Mầm non-Tiểu học-THCS-THPT) là 36 trường (chia theo giai đoạn là 34 và 2).
1.2. Hệ thống giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp: Tổng số Trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp được xây mới trong toàn tỉnh đến năm 2020 là 5.
1.3. Hệ thống giáo dục và giáo dục chuyên nghiệp:
Tổng số trường được nâng cấp mở rộng và xây mới trong toàn tỉnh đến năm 2020 là 11 trường, chia ra giai đoạn 2011-2015 là 8 trường, giai đoạn 2016-2020 là 3 trường.
Tổng diện tích đất thực hiện quy hoạch là 445,57 ha (giai đoạn 2011 - 2015 là 350,57 ha; giai đoạn 2016 - 2020 là 95 ha).
2. Nhu cầu vốn đầu tư:
Xác định danh mục các dự án đầu tư và phân kỳ thực hiện đầu tư hợp lý theo từng giai đoạn là nội dung quan trọng trong quy hoạch, làm căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch hàng năm và chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch.
Để đạt được các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển giáo dục và đào tạo theo quy hoạch đã đề ra, tổng số phòng học và phòng chức năng cần đầu tư xây dựng mới và xây thay thế từ năm 2011 đến năm 2020 là 7.630 phòng. Trong đó, ngành học mầm non là 4.716 phòng, ngành học phổ thông là 2.353 phòng, các trung tâm giáo dục thường xuyên và và hướng nghiệp là 200 phòng; các trường chuyên nghiệp và dạy nghề là 361 phòng.
Giai đoạn 2011-2015 cần đầu tư 2.877 phòng, trong đó ngành học mầm non 1.373 phòng, ngành học phổ thông 1.189 phòng, các trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp là 56, các trường chuyên nghiệp và dạy nghề là 259 phòng.
Giai đoạn 2016-2020 cần đầu tư 4.753 phòng, trong đó ngành học mầm non 3.343 phòng, ngành học phổ thông 1.164 phòng, các trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp là 144, các trường chuyên nghiệp và dạy nghề là 102 phòng.
Tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển cho ngành giáo dục và đào tạo là 8.818 tỷ đồng. Trong đó giai đoạn 2011-2015 là 3.905 tỷ đồng, giai đoạn 2016-2020 là 4.913 tỷ đồng. Bao gồm:
- Xây dựng mới 7.630 phòng học, phòng bộ môn của 151 cơ sở giáo dục và đào tạo thành lập mới và bổ sung thay thế các phòng học xuống cấp của các trường hiện có; kinh phí 3.185 tỷ đồng (2011-2015 là 1.287 tỷ đồng, 2016-2020 là 1.898 tỷ đồng), bình quân giá trị xây dựng mỗi phòng học 500 triệu, bao gồm cả bàn ghế học sinh và giáo viên.
- Đầu tư bổ sung cơ sở vật chất trường chuẩn quốc gia cho 237 trường, giai đoạn 2011-2015 đầu tư 117 trường với nhu cầu vốn 212 tỷ đồng, giai đoạn 2016-2020 đầu tư 120 trường với nhu cầu vốn 350 tỷ đồng.
IV. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Về công tác tuyên truyền, giáo dục:
Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền làm cho cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn dân, đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển; thực hiện nhiệm vụ giáo dục phải kết hợp đồng bộ ba môi trường giáo dục là gia đình, nhà trường và xã hội.
2. Đẩy mạnh tiến độ đầu tư CSVC, phát triển mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất giáo dục - đào tạo:
- Đẩy mạnh tiến độ đầu tư cơ sở vật chất và phát triển hợp lý mạng lưới trường lớp gắn với từng địa bàn, phù hợp với quy mô dân số và yêu cầu vừa thực hiện phổ cập giáo dục vừa đảm bảo nâng cao chất lượng dạy và học theo các Đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ giáo viên, các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo, đề án xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia, đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi… Xúc tiến thực hiện đề án nâng cấp trường Trung cấp nghề lên trường Cao đẳng nghề. Triển khai xây dựng trường Đại học Bình Thuận theo quy hoạch được duyệt. Sơ kết hoạt động của mô hình Trung tâm học tập cộng đồng để có giải pháp tiếp theo cho phù hợp.
- Các dự án đầu tư nâng cấp, xây mới trường học phải bảo đảm có bố trí các hạng mục phục vụ cho học sinh khuyết tật theo quy định nhằm thực hiện được chỉ tiêu bảo đảm 100% trẻ em khuyết tật có nhu cầu được học hòa nhập tại các trường phổ thông thuộc địa bàn cư trú.
- Sắp xếp hợp lý mạng lưới các trường tiểu học, THCS, THPT gắn với từng địa bàn, phù hợp với quy mô dân số và yêu cầu vừa thực hiện phổ cập giáo dục vừa đảm bảo nâng cao chất lượng dạy và học.
- Chủ động chuẩn bị, hoàn tất thủ tục đầu tư đối với các công trình, dự án giáo dục - đào tạo theo lộ trình đã xác định. Đồng thời, huy động tối đa năng lực, cơ sở vật chất hiện có.
- Tranh thủ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia “Đổi mới, nâng cao năng lực đào tạo nghề” để đầu tư hoàn chỉnh cơ sở vật chất các cơ sở đào tạo nghề công lập.
3. Thu hút và đào tạo, bồi nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục:
- Khuyến khích đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục các cấp tham gia học tập nâng cao trình độ theo các chính sách hiện hành của Trung ương và của tỉnh.
- Xây dựng đề án đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, thực hiện công khai dân chủ trong việc đánh giá năng lực đội ngũ giáo viên. Mạnh dạn giải quyết chính sách nghỉ trước tuổi hoặc chuyển công tác khác đối với những giáo viên có năng lực yếu không phù hợp yêu cầu sư phạm.
- Tiếp tục nghiên cứu đổi mới chính sách thu hút đội ngũ trí thức có trình độ cao về công tác tại các trường chuyên nghiệp, dạy nghề thuộc tỉnh.
- Tiếp tục đào tạo bổ sung đội ngũ giáo viên mầm non phục vụ yêu cầu phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi; đào tạo và tuyển dụng bổ sung hợp lý theo yêu cầu đối với đội ngũ giáo viên tiểu học, trung học cơ sở và THPT.
- Tăng cường công tác kiểm tra chất lượng đội ngũ giáo viên bằng nhiều hình thức, bố trí luân phiên đào tạo, tăng nhanh số giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn. Tăng cường đào tạo nghề sư phạm với những học sinh khá giỏi để có một đội ngũ giáo viên giỏi.
Giải pháp về quản lý giáo dục, đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong các hoạt động của các cấp quản lý giáo dục:
- Chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tạo sự chuyển biến tiến bộ và vững chắc về nhận thức chính trị, nhân cách, đạo đức, lối sống, kiến thức và kỹ năng của học sinh ở tất cả các cấp học, bậc học, làm tốt việc phát hiện và đào tạo bồi dưỡng, sử dụng nhân tài. Có giải pháp tích cực nâng cao chất lượng giáo dục miền núi, hải đảo để rút ngắn chênh lệch chất lượng giáo dục giữa các vùng, miền trong tỉnh. Có chính sách hỗ trợ các em học sinh nghèo học giỏi, hạn chế tối đa tình trạng học sinh bỏ học giữa chừng, có biện pháp khắc phục mặt tiêu cực trong việc dạy thêm, học thêm.
- Các cấp quản lý giáo dục chủ động, tích cực xây dựng và tổ chức thực hiện tốt các kế hoạch, chương trình, đề án để cụ thể hóa quy hoạch này. Tăng cường công tác quản lý nhà nước, nhất là đối với các cơ sở giáo dục thực hiện xã hội hóa. Thực hiện kiểm tra, thẩm định chất lượng giáo dục theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ nâng cao chất lượng dạy và học, đổi mới quản lý giáo dục và nhu cầu thông tin về giáo dục của học sinh, phụ huynh và nhân dân. Xây dựng và thực hiện tốt quy chế thể hiện trách nhiệm và cơ chế phối hợp của các tổ chức, các lực lượng xã hội tham gia công tác giáo dục. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở trong trường học.
- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện phong trào thi đua “Hai tốt”. Cụ thể hóa các tiêu chuẩn thi đua phù hợp với từng địa phương, động viên và tạo điều kiện cho giáo dục các vùng còn khó khăn vươn lên đạt các chỉ tiêu trong hoạt động giáo dục. Tôn vinh các tập thể, cá nhân trong và ngoài ngành giáo dục có nhiều đóng góp cho phát triển giáo dục và đào tạo. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh; kiên quyết xử lý các hành vi tiêu cực trong hoạt động giáo dục và đào tạo.