Document: Điều 1 Quyết định 2067/QĐ-UBND 2014 Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp Bắc Giang

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "23/12/2014", "sign_number": "2067/QĐ-UBND", "signer": "Dương Văn Thái", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "23/12/2014", "sign_number": "2067/QĐ-UBND", "signer": "Dương Văn Thái", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "23/12/2014", "sign_number": "2067/QĐ-UBND", "signer": "Dương Văn Thái", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "23/12/2014", "sign_number": "2067/QĐ-UBND", "signer": "Dương Văn Thái", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "23/12/2014", "sign_number": "2067/QĐ-UBND", "signer": "Dương Văn Thái", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 2067/QĐ-UBND 2014 Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp Bắc Giang có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Giang theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2015-2020, với những nội dung chủ yếu sau đây:
I. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM
1. Mục tiêu
a) Mục tiêu tổng quát
- Duy trì tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của sản phẩm thông qua tăng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng; đáp ứng tốt hơn nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng nội địa và đẩy mạnh xuất khẩu.
- Nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho cư dân nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực (bao gồm cả an ninh dinh dưỡng) cả trước mắt và lâu dài, góp phần xóa đói, giảm nghèo.
- Tăng cường quản lý và sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với môi trường, chủ động phòng chống thiên tai, dịch bệnh, góp phần thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh của quốc gia.
b) Mục tiêu cụ thể
- Tốc độ tăng trưởng (GDP) ngành nông, lâm, ngư nghiệp bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 3,5 - 3,6%/năm và giai đoạn 2016 - 2020 đạt 3,5-4%/năm.
- Cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp và thủy sản: Đến năm 2015, tỷ trọng nông nghiệp chiếm 91,14%, lâm nghiệp chiếm 3,6%, thủy sản chiếm 5,2%; trong nội bộ ngành nông nghiệp: tỷ trọng trồng trọt chiếm 51,4%, chăn nuôi chiếm 46%, dịch vụ chiếm 2,6%. Đến năm 2020, tỷ trọng nông nghiệp chiếm 90,3%, lâm nghiệp chiếm 3,4%, thủy sản chiếm 6,3%; trong nội bộ ngành nông nghiệp: tỷ trọng trồng trọt chiếm 46,26%, chăn nuôi chiếm 50,01%, dịch vụ chiếm 3,73%.
- Giá trị sản xuất bình quân trên/ha đất sản xuất nông nghiệp đến năm 2015 đạt 70-75 triệu đồng/ha; đến năm 2020 đạt 110-120 triệu đồng/ha;
- Tổng sản lượng lương thực có hạt ổn định khoảng 640 - 650 nghìn tấn;
- Tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2015 đạt 41,8% (đạt 37,1% nếu không tính diện tích cây ăn quả); đến năm 2020 đạt 42,4% (đạt 38% nếu không tính diện tích cây ăn quả).
- Tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đến năm 2015 đạt 90%; đến năm 2020 đạt khoảng 99%;
- Tổng số xã đạt tiêu chí nông thôn mới đến năm 2015 đạt 15 - 17 % tổng số xã (khoảng từ 30 - 34 xã); đến năm 2020 đạt 50% tổng số xã (103 xã).
2. Quan điểm
- Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế của tỉnh, phù hợp với Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp cả nước và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; gắn với phát triển kinh tế - xã hội, hiện đại hóa nông thôn và bảo vệ môi trường để bảo đảm phát triển bền vững;
- Thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp vừa phải theo cơ chế thị trường, vừa phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về phúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng; chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng lấy số lượng làm mục tiêu phấn đấu sang nâng cao chất lượng, hiệu quả thể hiện bằng giá trị, lợi nhuận;
- Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của các thành phần kinh tế; tập trung hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và chuyển giao khoa học, công nghệ, phát triển thị trường, kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống, cung cấp thông tin, dịch vụ.
- Tăng cường sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế trong quá trình tái cơ cấu ngành. Khuyến khích nông dân và doanh nghiệp trực tiếp đầu tư đổi mới quy trình sản xuất, công nghệ và thiết bị để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn.
- Tái cơ cấu là một quá trình phức tạp, khó khăn và lâu dài cần được thường xuyên đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm để điều chỉnh phù hợp với thực tế.
II. NỘI DUNG TÁI CƠ CẤU TRONG CÁC LĨNH VỰC
1. Trồng trọt
1.1. Định hướng cây trồng chủ lực
- Đến năm 2015: Sản xuất lúa nhằm đảm bảo giữ vững an ninh lương thực, một phần phục vụ làm hàng hóa; duy trì diện tích gieo trồng lúa cả năm khoảng 110.000 ha/năm, sản lượng 615.000 tấn, trong đó diện tích lúa chất lượng 26.000 ha chiếm 23,6% diện tích gieo cấy; diện tích ngô 9.000 ha, sản lượng 34.200 tấn, sản lượng lương thực có hạt đạt trên 640.000 tấn. Diện tích lạc: 12.500 ha, sản lượng 33.750 tấn. Diện tích nhóm rau, đậu thực phẩm đạt 25.600 ha, sản lượng 381.400 tấn, trong đó: diện tích rau chế biến, rau an toàn 4.000 ha, diện tích cây khoai tây 2.000 ha. Diện tích cây ăn quả 43.000 ha, trong đó diện tích cây vải 32.000 ha, sản lượng duy trì khoảng 150.000 tấn, trong đó diện tích vải sản xuất theo hướng VietGAP và GlobalGAP là 10.500 ha, sản lượng 49 nghìn tấn; cam Đường Canh 600 ha, sản lượng 16.200 tấn; bưởi Diễn 450 ha, sản lượng 5.085 tấn; nấm ăn, sản lượng 5.000 tấn.
- Giai đoạn 2015-2020: Chuyển đổi khoảng 1.500 ha sản xuất lúa không ăn chắc, kém hiệu quả sang cây mầu, cây trồng khác và nuôi trồng thủy sản; diện tích gieo trồng lúa 109.000 ha/năm, năng suất 58 tạ/ha, sản lượng đạt 632.200 tấn, trong đó diện tích lúa chất lượng lên 35.000 ha chiếm 32,1% tổng diện tích gieo trồng. Diện tích ngô 10.000 ha, sản lượng 38.000 tấn. Diện tích lạc 13.000 ha, sản lượng 35,230 tấn. Diện tích nhóm cây rau, đậu thực phẩm 26.000 ha, sản lượng 388.700 tấn, trong đó diện tích rau chế biến, rau an toàn 8.000 ha. Diện tích cây ăn quả ổn định 42.500 ha, trong đó diện tích cây vải 31.000 ha, sản lượng duy trì khoảng 150.000 - 200.000 tấn; diện tích vải an toàn 15.000 ha, sản lượng 75.000 tấn; cam Đường canh 900 ha, sản lượng 24.300 tấn; bưởi Diễn 600 ha, sản lượng 6.900 tấn; nấm tươi đạt sản lượng từ 8.000 - 10.000 tấn.
1.2. Nội dung tái cơ cấu
- Quy hoạch trồng trọt, trong đó rà soát, xác định vùng chuyên trồng lúa nước, vùng chuyên canh cây ăn quả, cây công nghiệp và cây rau chế biến, rau an toàn để đầu tư kết cấu hạ tầng, dịch vụ phục vụ sản xuất. Chuyển đổi một phần diện tích đất trồng lúa (khoảng 1.500 ha) kém hiệu quả sang trồng cây rau màu ngắn ngày và nuôi thủy sản, hoặc cây ăn quả có hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa; chuyển đổi khoảng 3.000 ha cây ăn quả (chủ yếu là cây vải hiệu quả kinh tế thấp) sang trồng các cây ăn quả khác và cây lâm nghiệp.
- Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, theo hướng phát triển các loại cây có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ ổn định. Mở rộng diện tích trồng các giống lúa chất lượng có tiềm năng; diện tích trồng rau chế biến, rau an toàn; diện tích trồng lạc giống; cây vải VietGAP, GlobalGAP và một số loại cây có múi như cam, bưởi... Nghiên cứu các mô hình, công thức luân canh cây trồng có hiệu quả cao nhất để nhân rộng.
- Đẩy mạnh áp dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ, nhất là công nghệ cao và cơ giới hóa nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông sản; chú trọng các khâu công nghệ sau thu hoạch như bảo quản, chế biến, đặc biệt chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng; đẩy mạnh áp dụng các biện pháp kỹ thuật sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, hướng tới sản xuất theo tiêu chuẩn GlobalGAP phục vụ xuất khẩu sang các thị trường Châu Âu, Nhật Bản, Mỹ...; xây dựng và quảng bá thương hiệu cho các sản phẩm có thế mạnh của tỉnh như: vải, cam đường canh, bưởi Diễn, lúa chất lượng, rau chế biến, rau an toàn, nấm...
- Hỗ trợ, đẩy nhanh công tác đồn điền đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu, sắp xếp lại hệ thống tổ chức sản xuất, dịch vụ thu mua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị; khuyến khích, hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản cho nông dân.
2. Chăn nuôi
2.2. Định hướng các vật nuôi chủ lực
- Đến năm 2015, phát triển mạnh con gà và con lợn, với quy mô đàn lợn 1,25 triệu con, đàn gà 14,7 triệu con và duy trì ổn định đàn bò 128 nghìn con, đàn trâu 62 nghìn con. Tỷ trọng chăn nuôi theo quy mô trang trại, gia trại và an toàn sinh học đối với đàn gia cầm đạt 30% tổng đàn và đối với đàn lợn đạt 20% tổng đàn. Sản lượng thịt hơi các loại 244.872 tấn.
- Giai đoạn 2016 - 2020, quy mô đàn vật nuôi của tỉnh: đàn lợn 1,3-1,4 triệu con; đàn gia cầm 17-18 triệu con, trong đó đàn gà là 15-16 triệu con; đàn bò 120 nghìn con, trâu 60 nghìn con. Tỷ trọng chăn nuôi theo quy mô trang trại, gia trại và an toàn sinh học đối với đàn gia cầm đạt 40% tổng đàn và đối với đần lợn đạt 30% tổng đàn. Sản lượng thịt hơi các loại 275.094 tấn. Xây dựng từ 10-15 mô hình chăn nuôi an toàn dịch bệnh
2.2. Nội dung tái cơ cấu
- Nâng cao chất lượng giống vật nuôi: Thành lập Trung tâm Giống vật nuôi của tỉnh để sản xuất, cung ứng con giống và chuyển giao ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; hỗ trợ đầu tư các cơ sở sản xuất giống vật nuôi trên địa bàn tỉnh; tăng cường công tác thụ tinh nhân tạo cho đàn lợn, trâu, bò; đồng thời quản lý chặt chẽ đàn lợn, trâu, bò đực phối giống trực tiếp trong nông hộ; hỗ trợ, ưu đãi đầu tư doanh nghiệp xây dựng trại sản xuất giống gia cầm cấp ông bà với quy mô 10.000 con để chủ động cung ứng giống cho sản xuất.
- Chuyển dịch cơ cấu đàn vật nuôi: phát triển đàn vật nuôi theo hướng tăng tỷ trọng gia cầm (gà đồi) và lợn thịt. Đàn gia cầm khuyến khích tăng số lượng và sản lượng, tập trung phát triển gà thả vườn, thả đôi có kiểm soát. Đối với đàn lợn tăng tổng đàn kết hợp với tăng quay vòng, tăng quy mô đàn lợn cao sản, cải thiện nâng cao năng suất sinh sản đàn lợn nái, tăng số lượng và khối lượng lợn xuất chuồng để duy trì mức tăng trưởng về sản lượng thịt lợn hơi. Đàn trâu, bò thịt phát triển theo hướng nâng cao tỷ lệ giống bò lai chuyên thịt và cải thiện tầm vóc của trâu.
- Phát triển chăn nuôi theo lợi thế vùng: phát triển loại vật nuôi theo lợi thế vùng, xác định các vùng chăn nuôi tập trung, thâm canh cao, an toàn dịch bệnh (xã, huyện, liên xã, liên huyện), vùng hạn chế chăn nuôi, vùng không chăn nuôi theo quy hoạch đã được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt. Chuyển dịch dần chăn nuôi từ vùng có mật độ dân số cao sang vùng có mật độ dân số thấp, hình thành các vùng chăn nuôi xa thành phố, khu dân cư. Khuyến khích phát triển những loại vật nuôi của tỉnh có lợi thế so sánh với các tỉnh, thành phố khác trên toàn quốc.
- Tổ chức sản xuất: Trước mắt duy trì chăn nuôi nông hộ nhưng tổ chức lại theo các Nhóm, Tổ, Hội, Hợp tác xã chăn nuôi theo hướng có kiểm soát. Thời gian tới, mở rộng hình thức chăn nuôi trang trại, gia trại, chăn nuôi tập trung theo chuỗi giá trị để giảm giá thành, giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường, nâng cao giá trị gia tăng. Khuyến khích đầu tư các cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm tập trung theo hướng bán công nghiệp và công nghiệp để kiểm soát vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm, phòng lây lan dịch bệnh và bảo vệ môi trường.
3. Lĩnh vực lâm nghiệp
3.1. Định hướng phát triển
- Điều chỉnh lại cơ cấu 3 loại rừng, theo hướng giảm diện tích rừng đặc dụng cho phù hợp với hiện trạng quản lý theo Quy hoạch rừng đặc dụng cấp tỉnh đã được phê duyệt; tăng diện tích đất rừng sản xuất; tăng diện tích phòng hộ thuộc dãy núi Nham Biền; tăng diện tích rừng rừng sản xuất, trong đó bổ sung vào đất rừng sản xuất diện tích vườn quả trước đây nay đã chuyển sang trồng rừng.
- Làm giàu rừng tự nhiên với diện tích khoảng 1.000 ha; cải tạo chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt, kém chất lượng sang trồng rừng kinh tế 2.300,0 ha.
- Áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ, giống mới vào trồng rừng nhằm nâng cao năng suất rừng trồng bình quân lên 20 m3/ha/năm; mở rộng diện tích kinh doanh rừng gỗ lớn, đến năm 2020 dự kiến diện tích kinh doanh rừng gỗ lớn khoảng 7.200 ha, chiếm khoảng 10% tổng diện tích rừng trồng sản xuất của tỉnh.
- Khai thác gỗ bình quân 250.000 m3/năm vào năm 2015 và đến năm 2020 đạt 350.000 m3/năm, trong đó tỷ lệ gỗ lớn chiếm 40% tổng sản lượng khai thác.
- Sản phẩm chế biến gỗ: Tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu (gỗ dán, gỗ ghép thanh, ván MDF, đồ mộc xuất khẩu) ở mức 42,3% vào năm 2015 và lên 60 % vào năm 2020; giảm tỷ trọng sản phẩm thô, sơ chế (gỗ trụ mỏ, dăm gỗ, bột giấy, khác) ở mức 57,7% năm 2015 và giảm xuống 40,0 % vào năm 2020.
3.2. Nội dung tái cơ cấu
- Cơ cấu các loại rừng: Thực hiện rà soát, điều chỉnh lại Quy hoạch 3 loại rừng cho phù hợp với thực tiễn và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh. Dự kiến quy mô 3 loại rừng sau điều chỉnh quy hoạch như sau: rừng đặc dụng là 13.379 ha (theo hiện trạng quản lý của Quy hoạch rừng đặc dụng cấp tỉnh đã được phê duyệt); rừng phòng hộ khoảng 20.500 ha (trong đó điều chỉnh tăng khoảng 1.600 ha tại dãy núi Nham Biền); rà soát điều chỉnh tăng diện tích đất rừng sản xuất, trong đó sẽ rà soát để bổ sung khoảng 7.000 ha đất vườn quả đã chuyển sang trồng rừng để quy hoạch sang đất rừng sản xuất.
- Nâng cao chất lượng rừng:
Tiếp tục điều tra đánh giá năng suất một số loài cây trồng lâm nghiệp chính trên địa bàn tỉnh, lựa chọn giống mới, giống tiến bộ kỹ thuật đã được công nhận có năng suất cao đưa vào trồng rừng; công nhận nguồn giống một số loài cây bản địa (Lim xanh, Vôi thuốc, Dẻ,..) để phục vụ trồng rừng gỗ lớn, làm giàu rừng tự nhiên. Tập trung chỉ đạo xây dựng mô hình "cánh rừng mẫu lớn": trồng cây bản địa, cây dược liệu dưới tán rừng, xây dựng dự án mô hình trồng rừng gỗ lớn và chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn; quy hoạch vùng sản xuất kinh doanh gỗ lớn; xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ trồng rừng, chuyển hóa rừng trồng sang kinh doanh gỗ lớn trên địa bàn tỉnh.
Đối với rừng tự nhiên: Quản lý, sử dụng bền vững khoảng 56.000 ha rừng tự nhiên hiện có; cải tạo, chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt, kém chất lượng sang trồng rừng kinh tế 2.300,0 ha; xây dựng các mô hình làm giàu rừng tự nhiên bằng biện pháp trồng bổ sung cây bản địa (Lim xanh, Lát hoa, Dẻ, Vối thuốc, Giổi xanh,..), trồng cây dược liệu (Ba kích, Đinh lăng, Gấc, Địa hoàng, Địa liền, Kim tiền thảo, Sa nhân, mắt nai...); cây lâm sản ngoài gỗ (Song, mây, tre luồng,..) diện tích khoảng 1,000 ha; thu hút đầu tư xây dựng dự án trồng cây dược liệu; dự án đầu tư trồng và chế biến mây tre đan.
Đối với rừng trồng: Phát triển, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng: Từ nay đến năm 2020 thực hiện trồng khoảng 29.000 ha (trồng mới 7.000 ha, trồng lại rừng sau khai thác 22.000 ha), trong đó: Giai đoạn 2014-2015: trồng 9.300 ha, giai đoạn 2016-2020: trồng 19.700 ha. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 trồng và chuyển hóa rừng sang kinh doanh gỗ lớn khoảng 4.200 ha. Đến năm 2020 diện tích rừng kinh doanh gỗ lớn toàn tỉnh 7.200 ha, chiếm 10 % diện tích rừng trồng sản xuất của tỉnh. Tuyên truyền, vận động và hướng dẫn các chủ rừng áp dụng biện pháp tỉa thưa cây phù trợ, kéo dài chu kỳ kinh doanh đối với rừng trồng hỗn giao thông xen keo thuộc Dự án trồng rừng Việt - Đức để cung cấp gỗ lớn.
- Phát triển công nghiệp chế biến gỗ:
Cơ cấu lại sản phẩm chế biến, chuyển hướng tăng cường chế biến sản xuất sản phẩm gỗ nội thất, sản xuất ván nhân tạo phục vụ sản xuất đồ gỗ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu; từng bước hạn chế xuất khẩu dăm gỗ, sản phẩm sơ chế. Tăng cường xúc tiến thu hút đầu tư phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn với đầu tư công nghiệp chế biến; nâng cấp các cơ sở chế biến gỗ lớn trên địa bàn tỉnh để tăng công suất lên gấp đôi; quan tâm và tạo điều kiện nâng cấp một số làng nghề chế biến đồ mộc dân dụng đã hình thành ở một số địa phương hoạt động hiệu quả. Kêu gọi dự án đầu tư, xây dựng 01 nhà máy chế biến (ván MDF, ván ghép thanh, ván dăm) với công suất tiêu thụ 25.000 - 40.000 m3/năm với công nghệ hiện đại, tận dụng và tiết kiệm gỗ phục vụ cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
- Mô hình tổ chức quản lý rừng:
Các tổ chức quản lý rừng thuộc khu vực nhà nước: Ổn định cơ cấu diện tích của các tổ chức nhà nước trực tiếp quản lý diện tích rừng khoảng 31,1% diện tích đất rừng (45.798 ha), gồm toàn bộ diện tích rừng đặc dụng (13.379 ha), 95,9% đất rừng phòng hộ (18.048 ha) và 12,5 % đất rừng sản xuất. Đối với diện tích rừng do UBND cấp xã đang quản lý (khoảng 1.655 ha), xem xét tiếp tục thực hiện giao, cho thuê rừng theo quy định.
Mô hình tổ chức quản lý rừng: Đối với các BQL rừng phòng hộ, đặc dụng vẫn giữ nguyên đầu mối các tổ chức như hiện nay. Đối với các doanh nghiệp lâm nghiệp tiếp tục sắp xếp lại theo tinh thần Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị.
4. Lĩnh vực thủy sản
4.1. Định hướng phát triển
- Tiếp tục duy trì và mở rộng diện tích nuôi thủy sản, đưa diện tích nuôi thủy sản đến năm 2015 đạt 12.200 ha, trong đó diện tích nuôi chuyên canh đạt 5.200 ha, diện tích nuôi kết hợp ruộng trũng là 3.200 ha; nuôi mặt nước lớn 3.800 ha. Trong diện tích nuôi thủy sản chuyên canh, diện tích nuôi thâm canh đạt 1.250 ha, bán thâm canh 2.400 ha; mở rộng diện tích nuôi an toàn sinh học năm 2015 đạt 300 ha. Tổng sản lượng thủy sản đến năm 2015 đạt 30.000 tấn, trong đó: sản lượng thủy sản nuôi là 28.500 tấn, sản lượng thủy sản khai thác tự nhiên là 1.500 tấn.
- Tổng diện tích nuôi thủy sản đến năm 2020 đạt 12.500 ha, diện tích nuôi chuyên canh đạt 5.800 ha, diện tích nuôi kết hợp ruộng trũng là 2.700 ha; nuôi mặt nước lớn 4.000 ha. Trong diện tích nuôi thủy sản chuyên canh, diện tích nuôi thâm canh đạt 1.400 ha, bán thâm canh 2.700 ha; diện tích nuôi an toàn sinh học đạt 700 ha. Tổng sản lượng thủy sản đến năm 2020 đạt 35.000 tấn; trong đó sản lượng thủy sản nuôi là 33.500 tấn, sản lượng thủy sản khai thác là 1.500 tấn.
4.2. Nội dung tái cơ cấu
- Nâng cao chất lượng giống thủy sản: Tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng của Trung tâm giống thủy sản cấp I theo dự án cải tạo, nâng cấp Trung tâm đã được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt. Từng bước nâng cao chất lượng hạ tầng cơ sở sản xuất giống, năng lực sản xuất giống của 11 cơ sở sản xuất giống còn lại trên địa bàn tỉnh. Chỉ đạo, định hướng nuôi các giống thủy sản có giá trị kinh tế cao, đối tượng nuôi mới theo mục tiêu đã xác định.
- Cơ cấu đối tượng nuôi: Tăng cơ cấu các loài thủy đặc sản có giá trị và hiệu quả kinh tế cao như: rô phi đơn tính, chép lai, trắm cỏ, chim, cá nước lạnh chiếm 60% tổng sản lượng thương phẩm vào năm 2015 và đạt 70 % vào năm 2020. Tập trung vào nuôi đối tượng hàng hóa chủ lực là rô phi đơn tính, chép lai, trắm cỏ, chim, cá nước lạnh và các loài thủy đặc sản như ba ba, vược, lăng, điêu hồng..., trong đó chú trọng đến cá rô phi đơn tính.
- Nâng cấp cơ sở hạ tầng nuôi thủy sản: Từng bước hoàn thiện, nâng cấp các cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản tập trung (theo Quyết định 332/QĐ-TTg ngày 3/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ). Phối hợp với các huyện mở rộng, phát triển các vùng nuôi tập trung, trong đó chú trọng vùng nuôi sử dụng công nghệ cao, tuần hoàn tiết kiệm nước, giảm thiểu các tiêu cực, mặt trái của nuôi thâm canh xả thải, gây ô nhiễm môi trường, phát sinh dịch bệnh. Trong quy hoạch xây dựng các công trình thủy lợi có đánh giá, tính toán đến hoạt động nuôi thủy sản.
- Phát triển các hình thức nuôi có hiệu quả: Mở rộng diện tích nuôi thủy sản thâm canh, bán thâm canh, an toàn sinh học, VietGap theo hướng tập trung, nâng cao năng suất, sản lượng, hiệu quả sản xuất, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng. Xây dựng các mô hình nuôi thâm canh theo hướng an toàn sinh học, tiêu chuẩn VietGap, nuôi công nghệ cao phòng trị bệnh thủy sản, bảo vệ môi trường, tăng cường liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm, truy xuất nguồn gốc sản phẩm trong nuôi trồng thủy sản.
- Tổ chức sản xuất, tiêu thụ: Tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, áp dụng các mô hình liên kết các khâu theo chuỗi giá trị, gắn kết các khâu trong sản xuất, giữa các hộ sản xuất theo hình thức hợp tác, tổ hợp tác, hợp tác xã, tổ chức cộng đồng... để giúp đỡ nhau trong sản xuất, cung ứng dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm ổn định, từ đó giảm giá thành, nâng cao giá trị, lợi nhuận cho người nông dân. Xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ xây dựng chợ đầu mối tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn thành phố Bắc Giang là chợ trung tâm để gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, đồng thời là nơi giao dịch, mua bán các sản phẩm đầu vào phục vụ cho nuôi thủy sản.
- Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, phát triển bền vững: Có cơ chế chính sách bổ sung và tái tạo nguồn lợi thủy sản tại các hồ chứa lớn bằng nguồn giống nhân tạo có sự tham gia của cộng đồng đạt 20 - 30% tổng số các hồ chứa lớn trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ phát triển nuôi lồng bồ cá trên sông, các hồ chứa. Phát triển nuôi thủy sản tại 04 huyện miền núi của tỉnh gồm Yên Thế, Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam góp phần nâng cao thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, cung cấp thực phẩm tại chỗ, tạo công ăn việc làm cho bà con vùng sâu, vùng xa, phát triển bền vững.
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước: Làm tốt công tác thanh tra chuyên ngành thủy sản, tăng cường quản lý, kiểm tra điều kiện sản xuất, các loại thức ăn, vật tư, thuốc thú y, chế phẩm sinh học dùng trong thủy sản. Quy hoạch thủy sản chi tiết cho 10 huyện, thành phố giai đoạn 2015-2020, tầm nhìn 2030. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu của tỉnh về nguồn lợi thủy sản, sản lượng khai thác, nuôi trồng, kinh tế xã hội nghề cá phục vụ cho công tác quản lý, kế hoạch và dự báo, từng bước truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản.
5. Lĩnh vực thủy lợi
5.1. Định hướng phát triển
Nâng cao hiệu quả công trình thủy lợi phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành kinh tế - xã hội; nâng cao năng lực phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu; góp phần hiện đại hóa kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới.
5.2. Nội dung tái cơ cấu
5.2.1. Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi
- Nâng cấp hệ thống thủy lợi nội đồng, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp, gắn với xây dựng nông thôn mới.
- Rà soát, củng cố và thành lập mới các Tổ chức hợp tác dùng nước trên cơ sở tự nguyện, hợp tác, bình đẳng cùng nhau trách nhiệm và chia sẻ lợi ích; hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý thủy nông cơ sở, tăng khả năng tham gia cung cấp các dịch vụ khác nhau nhằm phát triển bền vững.
- Tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh hệ thống: Nâng cấp hệ thống kênh mương, công trình trên kênh, đầu tư xây dựng bổ sung hồ đập vừa và nhỏ, trạm bơm đồng bộ với hệ thống kênh mương để tăng tỷ lệ diện tích được cấp nước và tăng khả năng tiêu thoát nước của hệ thống. Ưu tiên hệ thống công trình thủy lợi phục vụ cấp nước khu vực miền núi các huyện Sơn động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế; tiêu nước vùng trũng các huyện Yên Dũng, Việt Yên và TP Bắc Giang.
5.2.2. Phát triển tưới cho cây trồng cạn
Tiếp tục đầu tư xây dựng hệ thống công trình thủy lợi để tạo nguồn nước tưới, đầu tư áp dụng xây dựng đồng bộ trên diện rộng các hình thức tưới tiên tiến và tiết kiệm nước, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giảm thiểu rủi ro cho các loại cây trồng chủ lực tập trung có giá trị kinh tế cao như: cây công nghiệp, rau màu, cây ăn quả (cam, bưởi, vải thiều...), hoa, cây cảnh, góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm nạn phá rừng cho vùng miền núi.
5.2.3. Phát triển kết cấu hạ tầng thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản
Đầu tư hạ tầng thủy lợi để lấy nước, tháo nước chủ động, kết hợp với phương pháp tiết kiệm nước và có xử lý nước đảm bảo môi trường nước cho các khu vực nuôi thủy sản tập trung, nuôi công nghiệp theo quy trình công nghệ tiên tiến, năng suất cao và an toàn tại các huyện Yên Dũng, Tân Yên, Việt Yên, TP Bắc Giang.
5.2.4. Nâng cao mức đảm bảo an toàn hồ đập
- Tăng cường quản lý nhà nước về an toàn đập (ATĐ), đảm bảo quản lý chặt chẽ về ATĐ từ khâu quy hoạch, khảo sát, thiết kế, xây dựng và quản lý vận hành; tăng cường đảm bảo an toàn cho khu vực hạ lưu đập: tăng cường phối hợp liên ngành để dự báo, cảnh báo lũ, vận hành an toàn hồ chứa và phòng chống lũ cho vùng hạ lưu đập.
5.2.5. Nâng cao năng lực phòng chống thiên tai
- Xây dựng kế hoạch quản lý rủi ro thiên tai và kế hoạch quản lý lũ tổng hợp cho các lưu vực sông; xây dựng kế hoạch và lộ trình thực hiện.
- Nâng cao năng lực quản lý hệ thống đê sông, quản lý sạt lở bờ sông:
- Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy hoạch, thực hiện các giải pháp chống ngập cho thành phố Bắc Giang, các khu cụm công nghiệp và các vùng nông thôn huyện Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Dũng, Lục Nam.
III. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền nội dung Đề án để các cấp, các ngành, các nhà đầu tư và nhân dân tích cực tham gia thực hiện đề án
Sau khi Đề án được phê duyệt, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ công khai Đề án trên các trang thông tin điện tử của UBND tỉnh và của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; đồng thời các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị, đoàn thể, hội nghề nghiệp tổ chức tuyên truyền, phổ biến Đề án đến các hội viên, đoàn viên và nhân dân trên địa bàn để tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong quá trình tổ chức, triển khai thực hiện Đề án.
Các cơ quan thông tin đại chúng như Báo Bắc Giang, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh và các đài địa phương tăng cường thông tin, tuyên truyền nội dung Đề án và các cơ chế, chính sách, đề án, dự án, các mô hình sản xuất có hiệu quả kinh tế cao trong lĩnh vực sản xuất, chế biến nông, lâm nghiệp, thủy sản rộng rãi đến các tầng lớp nhân dân trên địa bàn để sớm hoàn thành mục tiêu, nội dung của Đề án.
2. Nâng cao chất lượng quy hoạch, gắn xây dựng kế hoạch, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với quy hoạch
- Triển khai thực hiện có hiệu quả các quy hoạch ngành nông nghiệp đã được phê duyệt. Tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch, nhất là sự kết hợp giữa quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện công khai, minh bạch các quy hoạch.
- Tổ chức rà soát, điều chỉnh các quy hoạch không còn phù hợp với tình hình thực tế, bổ sung những nội dung mới theo hướng hiệu quả, bền vững, trên cơ sở tận dụng triệt để các lợi thế so sánh. Trước mắt từ nay đến 2015 hoàn thành các quy hoạch như: Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thủy lợi tỉnh Bắc Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; xây dựng quy hoạch hệ thống đê điều tỉnh Bắc Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; rà soát, điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; rà soát, điều chỉnh Quy hoạch 3 loại rừng và rà soát điều chỉnh bổ sung Quy hoạch tổng thể về cấp nước sinh hoạt và VSMTNT tỉnh Bắc Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2020. Trong giai đoạn đến năm 2020 tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch ngành, sản phẩm nông nghiệp hiện có như lâm nghiệp, thủy sản, chăn nuôi...; xây dựng mới quy hoạch trồng trọt; quy hoạch phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao...
3. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học công nghệ, giống vào sản xuất
Xác định khoa học, công nghệ là giải pháp xuyên suốt trong quá trình tái cơ cấu, tạo sự đột phá về năng suất, tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh ATTP sản phẩm nông nghiệp hàng hóa, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Ưu tiên lĩnh vực sản xuất giống, công nghệ sau thu hoạch, công nghệ cao, bảo quản chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó tích cực hỗ trợ nông dân kết nối, tiếp cận với dịch vụ nghiên cứu, chuyển giao và áp dụng tiến bộ kỹ thuật.
Xác định công tác giống là then chốt để sản xuất thành công, hiệu quả và bền vững. Phát huy mạnh vai trò của các doanh nghiệp, trung tâm, cơ sở sản xuất, kinh doanh giống trên địa bàn tỉnh; đẩy mạnh thu hút các nguồn vốn đầu tư từ Chương trình giống quốc gia để cải tạo, nâng cấp các trung tâm sản xuất giống cây ăn quả, cây lâm nghiệp, thủy sản, giống lúa, giống lợn hiện có, đầu tư xây dựng mới trung tâm sản xuất giống gia cầm đảm bảo cung cấp đủ, ổn định các loại giống tốt cho sản xuất.
Quan tâm nghiên cứu và xây dựng mô hình trình diễn các giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất cao, kháng bệnh tốt và thích ứng điều kiện sản xuất, canh tác của địa phương với giá thành thấp và có thị trường tiêu thụ ổn định. Nghiên cứu, chọn tạo bộ giống tốt cho các sản phẩm chủ lực của tỉnh.
4. Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản
Khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp, nhà đầu tư vào các lĩnh vực chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông, lâm nghiệp và thủy sản cho người nông dân thông qua việc triển khai có hiệu quả các chính sách của Trung ương đã ban hành về liên doanh, liên kết trong sản xuất, tiêu thụ nông sản và chính sách về ưu đãi, thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư; đồng thời cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ trên các phương tiện thông tin đại chúng về chính sách, pháp luật của Nhà nước và một số nước có quan hệ giao dịch thương mại, về thị trường cho các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, đặc biệt là người nông dân, để giúp họ có định hướng đầu tư phù hợp.
Hỗ trợ xây dựng, phát triển các thương hiệu sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực của tỉnh; tuyên truyền, quảng bá sản phẩm, gắn kết sản xuất và thị trường để ổn định đầu ra cho sản phẩm; hỗ trợ kênh phân phối, bán hàng đến các chợ, siêu thị tại các khu đô thị, khu công nghiệp và các tỉnh thành trên cả nước.
5. Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện, bổ sung chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh; tăng cường thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các cơ chế, chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh (các chính sách đã ban hành và xây dựng các cơ chế, chính sách mới) thúc đẩy quá trình tái cơ cấu được triển khai đúng hướng, hiệu quả. Đồng thời triển khai có hiệu quả các cơ chế, chính sách hiện hành liên quan đến khuyến khích, thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; tạo môi trường thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đầu tư vào phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Tăng kinh phí cho các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao khoa học, công nghệ, chế biến, bảo quản giảm tổn thất sau thu hoạch, đào tạo, phát triển thị trường và khuyến nông; ưu tiên đầu tư các dự án sản xuất công nghệ cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, gắn thị trường tiêu thụ. Đầu tư cơ sở hạ tầng và nâng cao nguồn nhân lực cho hệ thống thông tin thị trường nhằm làm tốt công tác dự báo, cung cấp thông tin về cung cầu, giá cả, thị trường trong nước và thế giới cho người sản xuất; hỗ trợ xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu, phát triển thị trường tiêu thụ nông sản.
- Tiến hành rà soát, bổ sung, sửa đổi danh mục các dự án lớn, quan trọng làm cơ sở để vận động, xúc tiến đầu tư. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xúc tiến đầu tư, tập trung kêu gọi các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế cả trong và ngoài nước đầu tư vào nông nghiệp, đặc biệt là lĩnh vực chế biến nông, lâm sản.
- Xây dựng kế hoạch và cơ chế cụ thể để huy động tối đa các nguồn vốn ngân sách nhà nước (bao gồm cả vốn ODA), vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu, vốn TPCP, vốn từ khai thác quỹ đất, vốn đầu tư của các doanh nghiệp, tổ chức, tư nhân. Thực hiện đa dạng hoá các hình thức đầu tư; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư theo các hình thức BT, BOT, BTO, PPP và các hình thức đầu tư khác để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông nghiệp, nông thôn.
6. Đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất
- Tiếp tục sắp xếp, đổi mới các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp; đổi mới và nâng cao hiệu quả, trách nhiệm của các Công ty TNHH MTV. KTCTTL thủy lợi.
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể đến cán bộ và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, để tạo sự thống nhất nhận thức về các quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể; từng bước kiện toàn bộ máy tổ chức, hướng dẫn chuyển đổi và xây dựng các mô hình hợp tác xã theo luật Hợp tác xã năm 2012; đổi mới, phát triển các hình thức tổ chức kinh tế hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp; hỗ trợ, nâng cao năng lực quản lý và hoạt động của các HTX và THT nông nghiệp trong việc cung cấp dịch vụ nông nghiệp đầu vào, chế biến, tiêu thụ nông sản và tiếp cận thị trường cho các thành viên.
- Đẩy mạnh và khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế trang trại theo quy mô phù hợp với trình độ, năng lực quản lý của các chủ trang trại; khuyến khích và tạo điều kiện để các trang trại nhỏ, nông hộ sản xuất cùng loại hình gắn kết lại với nhau trong tổ chức tiêu thụ nông sản.
- Tăng cường sự tham gia của Hội nông dân, vai trò của các hiệp hội ngành hàng, hiệp hội sản xuất; phát triển kinh tế hộ, hỗ trợ các hộ sản xuất áp dụng khoa học công nghệ, quy trình sản xuất tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh xây dựng và nhân rộng các mô hình liên kết sản xuất trên cơ sở triển khai có hiệu quả liên kết 4 nhà, sản xuất theo kiểu mô hình cánh đồng mẫu lớn.
7. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước; tăng cường phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm
- Rà soát chức năng nhiệm vụ của các đơn vị để xác định nhiệm vụ hành chính chủ yếu; bổ sung những thiếu sót, xoá bỏ trùng lặp trong chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, tổ chức thuộc ngành.
- Đánh giá lại cơ cấu tổ chức của ngành, từ tỉnh đến huyện, thành phố với việc xác định rõ các chức năng chính và chức năng bổ sung; sắp xếp tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đảm bảo sự chỉ đạo nhanh nhạy, thông suốt, chủ động và hiệu quả.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông; triệt để đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho giải quyết nhanh các yêu cầu và đáp ứng có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp và các lĩnh vực khác.
- Tăng cường năng lực cho hệ thống kiểm tra, kiểm nghiệm, thanh tra chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đối với giống, vật tư nông nghiệp, nông sản, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng và tiến tới xuất khẩu.
IV. TỔ CHỨC THỨC HIỆN
1. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành và địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án này; giúp UBND tỉnh theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc tổ chức, thực hiện; tham mưu UBND tỉnh giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc triển khai thực hiện và đề xuất sửa đổi, bổ sung đề án khi cần thiết.
- Xây dựng kế hoạch hành động, giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị, phòng ban trực thuộc sở và các huyện, thành phố triển khai thực hiện.
- Tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện đề án hàng năm báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và UBND tỉnh theo quy định.
2. Sở Kế hoạch và Đầu tư
- Chủ trì tham mưu thu hút và bố trí các nguồn lực từ ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn phục vụ sản xuất.
- Rà soát, phân loại các dự án đầu tư, điều chỉnh phương thức và nguồn đầu tư để thu hút tối đa nguồn lực đầu tư xã hội vào lĩnh vực nông nghiệp. Nâng cao chất lượng quá trình lựa chọn dự án; tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các sở, ban, ngành, địa phương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế ngoài nhà nước cho nông nghiệp, nông thôn.
3. Sở Tài chính
- Chủ trì, tham mưu bố trí, quản lý kinh phí cho các nội dung thực hiện của đề án từ nguồn sự nghiệp kinh tế.
- Phối hợp với các ngành có liên quan rà soát sửa đổi bổ sung hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Hàng năm, thẩm định dự toán kinh phí Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng và tổng hợp trình UBND tỉnh phê duyệt.
4. Sở Khoa học và Công nghệ
- Chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các sở, ban, ngành có liên quan đề xuất điều chỉnh, bổ sung các cơ chế, chính sách có liên quan tới hỗ trợ tăng cường năng lực nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ và tiến bộ kỹ thuật; điều chỉnh cơ cấu đề tài nghiên cứu, tập trung vào các nhiệm vụ chính của đề án tái cơ cấu,... qua đó hỗ trợ ngành nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu.
- Hướng dẫn, hỗ trợ đẩy mạnh thực hiện việc xây dựng và phát triển thương hiệu đối với các sản phẩm hàng hóa nông sản thế mạnh trên địa bàn tỉnh nhằm nâng cao giá trị, tăng sức cạnh tranh các sản phẩm nông nghiệp của tỉnh.
5. Sở Công thương
- Chủ trì, phối hợp với Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu đề xuất các chính sách thương mại, phân tích tìm hiểu các thị trường tiêu thụ, thúc đẩy xuất khẩu nông sản; hỗ trợ quảng bá sản phẩm hàng hóa thế mạnh của tỉnh; khuyến khích, hỗ trợ phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản gắn với thị trường tiêu thụ ổn định. Hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia đẩy mạnh tiêu thụ nông sản từ các dự án cánh đồng mẫu lớn, cánh rừng mẫu lớn.
- Kiểm soát chặt chẽ, xử lý nghiêm hoạt động buôn lậu và gian lận trong thương mại hàng hóa nông, lâm, thủy sản.
6. Sở Tài nguyên và Môi trường
- Chủ trì, phối hợp với Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, các địa phương rà soát, kiểm soát chặt chẽ quy hoạch và quản lý, thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp (đặc biệt là đất lúa, đất rừng phòng hộ, đặc dụng). Rà soát hiện trạng sử dụng quỹ đất rừng của các công ty nông, lâm nghiệp, thu hồi diện tích sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả, vượt khả năng quản lý của các công ty nông, lâm nghiệp giao lại cho chính quyền địa phương để cho các tổ chức, cá nhân thuê sử dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
- Đề xuất các chính sách liên quan đến đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học theo hướng tạo thuận lợi cho nông nghiệp, nông thôn phát triển bền vững; vận động người dân “dồn điền, đổi thửa” và khuyến khích tích tụ ruộng đất để phát triển sản xuất quy mô lớn trong nông nghiệp.
7. Ngân hàng Nhà nước tỉnh
- Triển khai kịp thời, đầy đủ và có hiệu quả các chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; tăng cường kiểm tra giám sát và chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn bảo đảm đáp ứng kịp thời, đầy đủ vốn cho các dự án, phương án có hiệu quả thuộc đối tượng nông nghiệp, nông thôn.
- Nghiên cứu, đề xuất các chính sách hoạt động ngân hàng cần thiết, phù hợp để phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
8. UBND các huyện, thành phố
- Triển khai rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch theo hướng phát triển cây trồng, vật nuôi có lợi thế của địa phương, có khả năng cạnh tranh phù hợp với quy hoạch phát triển của ngành và nhu cầu thị trường; nghiên cứu, xây dựng mô hình sản xuất và các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển phù hợp, hiệu quả.
- Vận dụng linh hoạt cơ chế, chính sách của Trung ương, của tỉnh để khuyến khích thu hút đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn.
- Xây dựng kế hoạch thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Giang theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2015-2020, định kỳ hàng năm báo cáo kết quả triển khai thực hiện về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh.

Content:
Điều 1. Phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Giang theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2015-2020, với những nội dung chủ yếu sau đây:
I. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM
1. Mục tiêu
a) Mục tiêu tổng quát
- Duy trì tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của sản phẩm thông qua tăng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng; đáp ứng tốt hơn nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng nội địa và đẩy mạnh xuất khẩu.
- Nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho cư dân nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực (bao gồm cả an ninh dinh dưỡng) cả trước mắt và lâu dài, góp phần xóa đói, giảm nghèo.
- Tăng cường quản lý và sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với môi trường, chủ động phòng chống thiên tai, dịch bệnh, góp phần thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh của quốc gia.
b) Mục tiêu cụ thể
- Tốc độ tăng trưởng (GDP) ngành nông, lâm, ngư nghiệp bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 3,5 - 3,6%/năm và giai đoạn 2016 - 2020 đạt 3,5-4%/năm.
- Cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp và thủy sản: Đến năm 2015, tỷ trọng nông nghiệp chiếm 91,14%, lâm nghiệp chiếm 3,6%, thủy sản chiếm 5,2%; trong nội bộ ngành nông nghiệp: tỷ trọng trồng trọt chiếm 51,4%, chăn nuôi chiếm 46%, dịch vụ chiếm 2,6%. Đến năm 2020, tỷ trọng nông nghiệp chiếm 90,3%, lâm nghiệp chiếm 3,4%, thủy sản chiếm 6,3%; trong nội bộ ngành nông nghiệp: tỷ trọng trồng trọt chiếm 46,26%, chăn nuôi chiếm 50,01%, dịch vụ chiếm 3,73%.
- Giá trị sản xuất bình quân trên/ha đất sản xuất nông nghiệp đến năm 2015 đạt 70-75 triệu đồng/ha; đến năm 2020 đạt 110-120 triệu đồng/ha;
- Tổng sản lượng lương thực có hạt ổn định khoảng 640 - 650 nghìn tấn;
- Tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2015 đạt 41,8% (đạt 37,1% nếu không tính diện tích cây ăn quả); đến năm 2020 đạt 42,4% (đạt 38% nếu không tính diện tích cây ăn quả).
- Tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đến năm 2015 đạt 90%; đến năm 2020 đạt khoảng 99%;
- Tổng số xã đạt tiêu chí nông thôn mới đến năm 2015 đạt 15 - 17 % tổng số xã (khoảng từ 30 - 34 xã); đến năm 2020 đạt 50% tổng số xã (103 xã).
2. Quan điểm
- Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế của tỉnh, phù hợp với Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp cả nước và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; gắn với phát triển kinh tế - xã hội, hiện đại hóa nông thôn và bảo vệ môi trường để bảo đảm phát triển bền vững;
- Thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp vừa phải theo cơ chế thị trường, vừa phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về phúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng; chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng lấy số lượng làm mục tiêu phấn đấu sang nâng cao chất lượng, hiệu quả thể hiện bằng giá trị, lợi nhuận;
- Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của các thành phần kinh tế; tập trung hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và chuyển giao khoa học, công nghệ, phát triển thị trường, kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống, cung cấp thông tin, dịch vụ.
- Tăng cường sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế trong quá trình tái cơ cấu ngành. Khuyến khích nông dân và doanh nghiệp trực tiếp đầu tư đổi mới quy trình sản xuất, công nghệ và thiết bị để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn.
- Tái cơ cấu là một quá trình phức tạp, khó khăn và lâu dài cần được thường xuyên đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm để điều chỉnh phù hợp với thực tế.
II. NỘI DUNG TÁI CƠ CẤU TRONG CÁC LĨNH VỰC
1. Trồng trọt
1.1. Định hướng cây trồng chủ lực
- Đến năm 2015: Sản xuất lúa nhằm đảm bảo giữ vững an ninh lương thực, một phần phục vụ làm hàng hóa; duy trì diện tích gieo trồng lúa cả năm khoảng 110.000 ha/năm, sản lượng 615.000 tấn, trong đó diện tích lúa chất lượng 26.000 ha chiếm 23,6% diện tích gieo cấy; diện tích ngô 9.000 ha, sản lượng 34.200 tấn, sản lượng lương thực có hạt đạt trên 640.000 tấn. Diện tích lạc: 12.500 ha, sản lượng 33.750 tấn. Diện tích nhóm rau, đậu thực phẩm đạt 25.600 ha, sản lượng 381.400 tấn, trong đó: diện tích rau chế biến, rau an toàn 4.000 ha, diện tích cây khoai tây 2.000 ha. Diện tích cây ăn quả 43.000 ha, trong đó diện tích cây vải 32.000 ha, sản lượng duy trì khoảng 150.000 tấn, trong đó diện tích vải sản xuất theo hướng VietGAP và GlobalGAP là 10.500 ha, sản lượng 49 nghìn tấn; cam Đường Canh 600 ha, sản lượng 16.200 tấn; bưởi Diễn 450 ha, sản lượng 5.085 tấn; nấm ăn, sản lượng 5.000 tấn.
- Giai đoạn 2015-2020: Chuyển đổi khoảng 1.500 ha sản xuất lúa không ăn chắc, kém hiệu quả sang cây mầu, cây trồng khác và nuôi trồng thủy sản; diện tích gieo trồng lúa 109.000 ha/năm, năng suất 58 tạ/ha, sản lượng đạt 632.200 tấn, trong đó diện tích lúa chất lượng lên 35.000 ha chiếm 32,1% tổng diện tích gieo trồng. Diện tích ngô 10.000 ha, sản lượng 38.000 tấn. Diện tích lạc 13.000 ha, sản lượng 35,230 tấn. Diện tích nhóm cây rau, đậu thực phẩm 26.000 ha, sản lượng 388.700 tấn, trong đó diện tích rau chế biến, rau an toàn 8.000 ha. Diện tích cây ăn quả ổn định 42.500 ha, trong đó diện tích cây vải 31.000 ha, sản lượng duy trì khoảng 150.000 - 200.000 tấn; diện tích vải an toàn 15.000 ha, sản lượng 75.000 tấn; cam Đường canh 900 ha, sản lượng 24.300 tấn; bưởi Diễn 600 ha, sản lượng 6.900 tấn; nấm tươi đạt sản lượng từ 8.000 - 10.000 tấn.
1.2. Nội dung tái cơ cấu
- Quy hoạch trồng trọt, trong đó rà soát, xác định vùng chuyên trồng lúa nước, vùng chuyên canh cây ăn quả, cây công nghiệp và cây rau chế biến, rau an toàn để đầu tư kết cấu hạ tầng, dịch vụ phục vụ sản xuất. Chuyển đổi một phần diện tích đất trồng lúa (khoảng 1.500 ha) kém hiệu quả sang trồng cây rau màu ngắn ngày và nuôi thủy sản, hoặc cây ăn quả có hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa; chuyển đổi khoảng 3.000 ha cây ăn quả (chủ yếu là cây vải hiệu quả kinh tế thấp) sang trồng các cây ăn quả khác và cây lâm nghiệp.
- Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, theo hướng phát triển các loại cây có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ ổn định. Mở rộng diện tích trồng các giống lúa chất lượng có tiềm năng; diện tích trồng rau chế biến, rau an toàn; diện tích trồng lạc giống; cây vải VietGAP, GlobalGAP và một số loại cây có múi như cam, bưởi... Nghiên cứu các mô hình, công thức luân canh cây trồng có hiệu quả cao nhất để nhân rộng.
- Đẩy mạnh áp dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ, nhất là công nghệ cao và cơ giới hóa nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông sản; chú trọng các khâu công nghệ sau thu hoạch như bảo quản, chế biến, đặc biệt chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng; đẩy mạnh áp dụng các biện pháp kỹ thuật sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, hướng tới sản xuất theo tiêu chuẩn GlobalGAP phục vụ xuất khẩu sang các thị trường Châu Âu, Nhật Bản, Mỹ...; xây dựng và quảng bá thương hiệu cho các sản phẩm có thế mạnh của tỉnh như: vải, cam đường canh, bưởi Diễn, lúa chất lượng, rau chế biến, rau an toàn, nấm...
- Hỗ trợ, đẩy nhanh công tác đồn điền đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu, sắp xếp lại hệ thống tổ chức sản xuất, dịch vụ thu mua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị; khuyến khích, hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản cho nông dân.
2. Chăn nuôi
2.2. Định hướng các vật nuôi chủ lực
- Đến năm 2015, phát triển mạnh con gà và con lợn, với quy mô đàn lợn 1,25 triệu con, đàn gà 14,7 triệu con và duy trì ổn định đàn bò 128 nghìn con, đàn trâu 62 nghìn con. Tỷ trọng chăn nuôi theo quy mô trang trại, gia trại và an toàn sinh học đối với đàn gia cầm đạt 30% tổng đàn và đối với đàn lợn đạt 20% tổng đàn. Sản lượng thịt hơi các loại 244.872 tấn.
- Giai đoạn 2016 - 2020, quy mô đàn vật nuôi của tỉnh: đàn lợn 1,3-1,4 triệu con; đàn gia cầm 17-18 triệu con, trong đó đàn gà là 15-16 triệu con; đàn bò 120 nghìn con, trâu 60 nghìn con. Tỷ trọng chăn nuôi theo quy mô trang trại, gia trại và an toàn sinh học đối với đàn gia cầm đạt 40% tổng đàn và đối với đần lợn đạt 30% tổng đàn. Sản lượng thịt hơi các loại 275.094 tấn. Xây dựng từ 10-15 mô hình chăn nuôi an toàn dịch bệnh
2.2. Nội dung tái cơ cấu
- Nâng cao chất lượng giống vật nuôi: Thành lập Trung tâm Giống vật nuôi của tỉnh để sản xuất, cung ứng con giống và chuyển giao ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; hỗ trợ đầu tư các cơ sở sản xuất giống vật nuôi trên địa bàn tỉnh; tăng cường công tác thụ tinh nhân tạo cho đàn lợn, trâu, bò; đồng thời quản lý chặt chẽ đàn lợn, trâu, bò đực phối giống trực tiếp trong nông hộ; hỗ trợ, ưu đãi đầu tư doanh nghiệp xây dựng trại sản xuất giống gia cầm cấp ông bà với quy mô 10.000 con để chủ động cung ứng giống cho sản xuất.
- Chuyển dịch cơ cấu đàn vật nuôi: phát triển đàn vật nuôi theo hướng tăng tỷ trọng gia cầm (gà đồi) và lợn thịt. Đàn gia cầm khuyến khích tăng số lượng và sản lượng, tập trung phát triển gà thả vườn, thả đôi có kiểm soát. Đối với đàn lợn tăng tổng đàn kết hợp với tăng quay vòng, tăng quy mô đàn lợn cao sản, cải thiện nâng cao năng suất sinh sản đàn lợn nái, tăng số lượng và khối lượng lợn xuất chuồng để duy trì mức tăng trưởng về sản lượng thịt lợn hơi. Đàn trâu, bò thịt phát triển theo hướng nâng cao tỷ lệ giống bò lai chuyên thịt và cải thiện tầm vóc của trâu.
- Phát triển chăn nuôi theo lợi thế vùng: phát triển loại vật nuôi theo lợi thế vùng, xác định các vùng chăn nuôi tập trung, thâm canh cao, an toàn dịch bệnh (xã, huyện, liên xã, liên huyện), vùng hạn chế chăn nuôi, vùng không chăn nuôi theo quy hoạch đã được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt. Chuyển dịch dần chăn nuôi từ vùng có mật độ dân số cao sang vùng có mật độ dân số thấp, hình thành các vùng chăn nuôi xa thành phố, khu dân cư. Khuyến khích phát triển những loại vật nuôi của tỉnh có lợi thế so sánh với các tỉnh, thành phố khác trên toàn quốc.
- Tổ chức sản xuất: Trước mắt duy trì chăn nuôi nông hộ nhưng tổ chức lại theo các Nhóm, Tổ, Hội, Hợp tác xã chăn nuôi theo hướng có kiểm soát. Thời gian tới, mở rộng hình thức chăn nuôi trang trại, gia trại, chăn nuôi tập trung theo chuỗi giá trị để giảm giá thành, giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường, nâng cao giá trị gia tăng. Khuyến khích đầu tư các cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm tập trung theo hướng bán công nghiệp và công nghiệp để kiểm soát vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm, phòng lây lan dịch bệnh và bảo vệ môi trường.
3. Lĩnh vực lâm nghiệp
3.1. Định hướng phát triển
- Điều chỉnh lại cơ cấu 3 loại rừng, theo hướng giảm diện tích rừng đặc dụng cho phù hợp với hiện trạng quản lý theo Quy hoạch rừng đặc dụng cấp tỉnh đã được phê duyệt; tăng diện tích đất rừng sản xuất; tăng diện tích phòng hộ thuộc dãy núi Nham Biền; tăng diện tích rừng rừng sản xuất, trong đó bổ sung vào đất rừng sản xuất diện tích vườn quả trước đây nay đã chuyển sang trồng rừng.
- Làm giàu rừng tự nhiên với diện tích khoảng 1.000 ha; cải tạo chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt, kém chất lượng sang trồng rừng kinh tế 2.300,0 ha.
- Áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ, giống mới vào trồng rừng nhằm nâng cao năng suất rừng trồng bình quân lên 20 m3/ha/năm; mở rộng diện tích kinh doanh rừng gỗ lớn, đến năm 2020 dự kiến diện tích kinh doanh rừng gỗ lớn khoảng 7.200 ha, chiếm khoảng 10% tổng diện tích rừng trồng sản xuất của tỉnh.
- Khai thác gỗ bình quân 250.000 m3/năm vào năm 2015 và đến năm 2020 đạt 350.000 m3/năm, trong đó tỷ lệ gỗ lớn chiếm 40% tổng sản lượng khai thác.
- Sản phẩm chế biến gỗ: Tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu (gỗ dán, gỗ ghép thanh, ván MDF, đồ mộc xuất khẩu) ở mức 42,3% vào năm 2015 và lên 60 % vào năm 2020; giảm tỷ trọng sản phẩm thô, sơ chế (gỗ trụ mỏ, dăm gỗ, bột giấy, khác) ở mức 57,7% năm 2015 và giảm xuống 40,0 % vào năm 2020.
3.2. Nội dung tái cơ cấu
- Cơ cấu các loại rừng: Thực hiện rà soát, điều chỉnh lại Quy hoạch 3 loại rừng cho phù hợp với thực tiễn và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh. Dự kiến quy mô 3 loại rừng sau điều chỉnh quy hoạch như sau: rừng đặc dụng là 13.379 ha (theo hiện trạng quản lý của Quy hoạch rừng đặc dụng cấp tỉnh đã được phê duyệt); rừng phòng hộ khoảng 20.500 ha (trong đó điều chỉnh tăng khoảng 1.600 ha tại dãy núi Nham Biền); rà soát điều chỉnh tăng diện tích đất rừng sản xuất, trong đó sẽ rà soát để bổ sung khoảng 7.000 ha đất vườn quả đã chuyển sang trồng rừng để quy hoạch sang đất rừng sản xuất.
- Nâng cao chất lượng rừng:
Tiếp tục điều tra đánh giá năng suất một số loài cây trồng lâm nghiệp chính trên địa bàn tỉnh, lựa chọn giống mới, giống tiến bộ kỹ thuật đã được công nhận có năng suất cao đưa vào trồng rừng; công nhận nguồn giống một số loài cây bản địa (Lim xanh, Vôi thuốc, Dẻ,..) để phục vụ trồng rừng gỗ lớn, làm giàu rừng tự nhiên. Tập trung chỉ đạo xây dựng mô hình "cánh rừng mẫu lớn": trồng cây bản địa, cây dược liệu dưới tán rừng, xây dựng dự án mô hình trồng rừng gỗ lớn và chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn; quy hoạch vùng sản xuất kinh doanh gỗ lớn; xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ trồng rừng, chuyển hóa rừng trồng sang kinh doanh gỗ lớn trên địa bàn tỉnh.
Đối với rừng tự nhiên: Quản lý, sử dụng bền vững khoảng 56.000 ha rừng tự nhiên hiện có; cải tạo, chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt, kém chất lượng sang trồng rừng kinh tế 2.300,0 ha; xây dựng các mô hình làm giàu rừng tự nhiên bằng biện pháp trồng bổ sung cây bản địa (Lim xanh, Lát hoa, Dẻ, Vối thuốc, Giổi xanh,..), trồng cây dược liệu (Ba kích, Đinh lăng, Gấc, Địa hoàng, Địa liền, Kim tiền thảo, Sa nhân, mắt nai...); cây lâm sản ngoài gỗ (Song, mây, tre luồng,..) diện tích khoảng 1,000 ha; thu hút đầu tư xây dựng dự án trồng cây dược liệu; dự án đầu tư trồng và chế biến mây tre đan.
Đối với rừng trồng: Phát triển, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng: Từ nay đến năm 2020 thực hiện trồng khoảng 29.000 ha (trồng mới 7.000 ha, trồng lại rừng sau khai thác 22.000 ha), trong đó: Giai đoạn 2014-2015: trồng 9.300 ha, giai đoạn 2016-2020: trồng 19.700 ha. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 trồng và chuyển hóa rừng sang kinh doanh gỗ lớn khoảng 4.200 ha. Đến năm 2020 diện tích rừng kinh doanh gỗ lớn toàn tỉnh 7.200 ha, chiếm 10 % diện tích rừng trồng sản xuất của tỉnh. Tuyên truyền, vận động và hướng dẫn các chủ rừng áp dụng biện pháp tỉa thưa cây phù trợ, kéo dài chu kỳ kinh doanh đối với rừng trồng hỗn giao thông xen keo thuộc Dự án trồng rừng Việt - Đức để cung cấp gỗ lớn.
- Phát triển công nghiệp chế biến gỗ:
Cơ cấu lại sản phẩm chế biến, chuyển hướng tăng cường chế biến sản xuất sản phẩm gỗ nội thất, sản xuất ván nhân tạo phục vụ sản xuất đồ gỗ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu; từng bước hạn chế xuất khẩu dăm gỗ, sản phẩm sơ chế. Tăng cường xúc tiến thu hút đầu tư phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn với đầu tư công nghiệp chế biến; nâng cấp các cơ sở chế biến gỗ lớn trên địa bàn tỉnh để tăng công suất lên gấp đôi; quan tâm và tạo điều kiện nâng cấp một số làng nghề chế biến đồ mộc dân dụng đã hình thành ở một số địa phương hoạt động hiệu quả. Kêu gọi dự án đầu tư, xây dựng 01 nhà máy chế biến (ván MDF, ván ghép thanh, ván dăm) với công suất tiêu thụ 25.000 - 40.000 m3/năm với công nghệ hiện đại, tận dụng và tiết kiệm gỗ phục vụ cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
- Mô hình tổ chức quản lý rừng:
Các tổ chức quản lý rừng thuộc khu vực nhà nước: Ổn định cơ cấu diện tích của các tổ chức nhà nước trực tiếp quản lý diện tích rừng khoảng 31,1% diện tích đất rừng (45.798 ha), gồm toàn bộ diện tích rừng đặc dụng (13.379 ha), 95,9% đất rừng phòng hộ (18.048 ha) và 12,5 % đất rừng sản xuất. Đối với diện tích rừng do UBND cấp xã đang quản lý (khoảng 1.655 ha), xem xét tiếp tục thực hiện giao, cho thuê rừng theo quy định.
Mô hình tổ chức quản lý rừng: Đối với các BQL rừng phòng hộ, đặc dụng vẫn giữ nguyên đầu mối các tổ chức như hiện nay. Đối với các doanh nghiệp lâm nghiệp tiếp tục sắp xếp lại theo tinh thần Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị.
4. Lĩnh vực thủy sản
4.1. Định hướng phát triển
- Tiếp tục duy trì và mở rộng diện tích nuôi thủy sản, đưa diện tích nuôi thủy sản đến năm 2015 đạt 12.200 ha, trong đó diện tích nuôi chuyên canh đạt 5.200 ha, diện tích nuôi kết hợp ruộng trũng là 3.200 ha; nuôi mặt nước lớn 3.800 ha. Trong diện tích nuôi thủy sản chuyên canh, diện tích nuôi thâm canh đạt 1.250 ha, bán thâm canh 2.400 ha; mở rộng diện tích nuôi an toàn sinh học năm 2015 đạt 300 ha. Tổng sản lượng thủy sản đến năm 2015 đạt 30.000 tấn, trong đó: sản lượng thủy sản nuôi là 28.500 tấn, sản lượng thủy sản khai thác tự nhiên là 1.500 tấn.
- Tổng diện tích nuôi thủy sản đến năm 2020 đạt 12.500 ha, diện tích nuôi chuyên canh đạt 5.800 ha, diện tích nuôi kết hợp ruộng trũng là 2.700 ha; nuôi mặt nước lớn 4.000 ha. Trong diện tích nuôi thủy sản chuyên canh, diện tích nuôi thâm canh đạt 1.400 ha, bán thâm canh 2.700 ha; diện tích nuôi an toàn sinh học đạt 700 ha. Tổng sản lượng thủy sản đến năm 2020 đạt 35.000 tấn; trong đó sản lượng thủy sản nuôi là 33.500 tấn, sản lượng thủy sản khai thác là 1.500 tấn.
4.2. Nội dung tái cơ cấu
- Nâng cao chất lượng giống thủy sản: Tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng của Trung tâm giống thủy sản cấp I theo dự án cải tạo, nâng cấp Trung tâm đã được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt. Từng bước nâng cao chất lượng hạ tầng cơ sở sản xuất giống, năng lực sản xuất giống của 11 cơ sở sản xuất giống còn lại trên địa bàn tỉnh. Chỉ đạo, định hướng nuôi các giống thủy sản có giá trị kinh tế cao, đối tượng nuôi mới theo mục tiêu đã xác định.
- Cơ cấu đối tượng nuôi: Tăng cơ cấu các loài thủy đặc sản có giá trị và hiệu quả kinh tế cao như: rô phi đơn tính, chép lai, trắm cỏ, chim, cá nước lạnh chiếm 60% tổng sản lượng thương phẩm vào năm 2015 và đạt 70 % vào năm 2020. Tập trung vào nuôi đối tượng hàng hóa chủ lực là rô phi đơn tính, chép lai, trắm cỏ, chim, cá nước lạnh và các loài thủy đặc sản như ba ba, vược, lăng, điêu hồng..., trong đó chú trọng đến cá rô phi đơn tính.
- Nâng cấp cơ sở hạ tầng nuôi thủy sản: Từng bước hoàn thiện, nâng cấp các cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản tập trung (theo Quyết định 332/QĐ-TTg ngày 3/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ). Phối hợp với các huyện mở rộng, phát triển các vùng nuôi tập trung, trong đó chú trọng vùng nuôi sử dụng công nghệ cao, tuần hoàn tiết kiệm nước, giảm thiểu các tiêu cực, mặt trái của nuôi thâm canh xả thải, gây ô nhiễm môi trường, phát sinh dịch bệnh. Trong quy hoạch xây dựng các công trình thủy lợi có đánh giá, tính toán đến hoạt động nuôi thủy sản.
- Phát triển các hình thức nuôi có hiệu quả: Mở rộng diện tích nuôi thủy sản thâm canh, bán thâm canh, an toàn sinh học, VietGap theo hướng tập trung, nâng cao năng suất, sản lượng, hiệu quả sản xuất, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng. Xây dựng các mô hình nuôi thâm canh theo hướng an toàn sinh học, tiêu chuẩn VietGap, nuôi công nghệ cao phòng trị bệnh thủy sản, bảo vệ môi trường, tăng cường liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm, truy xuất nguồn gốc sản phẩm trong nuôi trồng thủy sản.
- Tổ chức sản xuất, tiêu thụ: Tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, áp dụng các mô hình liên kết các khâu theo chuỗi giá trị, gắn kết các khâu trong sản xuất, giữa các hộ sản xuất theo hình thức hợp tác, tổ hợp tác, hợp tác xã, tổ chức cộng đồng... để giúp đỡ nhau trong sản xuất, cung ứng dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm ổn định, từ đó giảm giá thành, nâng cao giá trị, lợi nhuận cho người nông dân. Xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ xây dựng chợ đầu mối tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn thành phố Bắc Giang là chợ trung tâm để gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, đồng thời là nơi giao dịch, mua bán các sản phẩm đầu vào phục vụ cho nuôi thủy sản.
- Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, phát triển bền vững: Có cơ chế chính sách bổ sung và tái tạo nguồn lợi thủy sản tại các hồ chứa lớn bằng nguồn giống nhân tạo có sự tham gia của cộng đồng đạt 20 - 30% tổng số các hồ chứa lớn trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ phát triển nuôi lồng bồ cá trên sông, các hồ chứa. Phát triển nuôi thủy sản tại 04 huyện miền núi của tỉnh gồm Yên Thế, Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam góp phần nâng cao thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, cung cấp thực phẩm tại chỗ, tạo công ăn việc làm cho bà con vùng sâu, vùng xa, phát triển bền vững.
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước: Làm tốt công tác thanh tra chuyên ngành thủy sản, tăng cường quản lý, kiểm tra điều kiện sản xuất, các loại thức ăn, vật tư, thuốc thú y, chế phẩm sinh học dùng trong thủy sản. Quy hoạch thủy sản chi tiết cho 10 huyện, thành phố giai đoạn 2015-2020, tầm nhìn 2030. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu của tỉnh về nguồn lợi thủy sản, sản lượng khai thác, nuôi trồng, kinh tế xã hội nghề cá phục vụ cho công tác quản lý, kế hoạch và dự báo, từng bước truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản.
5. Lĩnh vực thủy lợi
5.1. Định hướng phát triển
Nâng cao hiệu quả công trình thủy lợi phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành kinh tế - xã hội; nâng cao năng lực phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu; góp phần hiện đại hóa kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới.
5.2. Nội dung tái cơ cấu
5.2.1. Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi
- Nâng cấp hệ thống thủy lợi nội đồng, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp, gắn với xây dựng nông thôn mới.
- Rà soát, củng cố và thành lập mới các Tổ chức hợp tác dùng nước trên cơ sở tự nguyện, hợp tác, bình đẳng cùng nhau trách nhiệm và chia sẻ lợi ích; hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý thủy nông cơ sở, tăng khả năng tham gia cung cấp các dịch vụ khác nhau nhằm phát triển bền vững.
- Tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh hệ thống: Nâng cấp hệ thống kênh mương, công trình trên kênh, đầu tư xây dựng bổ sung hồ đập vừa và nhỏ, trạm bơm đồng bộ với hệ thống kênh mương để tăng tỷ lệ diện tích được cấp nước và tăng khả năng tiêu thoát nước của hệ thống. Ưu tiên hệ thống công trình thủy lợi phục vụ cấp nước khu vực miền núi các huyện Sơn động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế; tiêu nước vùng trũng các huyện Yên Dũng, Việt Yên và TP Bắc Giang.
5.2.2. Phát triển tưới cho cây trồng cạn
Tiếp tục đầu tư xây dựng hệ thống công trình thủy lợi để tạo nguồn nước tưới, đầu tư áp dụng xây dựng đồng bộ trên diện rộng các hình thức tưới tiên tiến và tiết kiệm nước, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giảm thiểu rủi ro cho các loại cây trồng chủ lực tập trung có giá trị kinh tế cao như: cây công nghiệp, rau màu, cây ăn quả (cam, bưởi, vải thiều...), hoa, cây cảnh, góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm nạn phá rừng cho vùng miền núi.
5.2.3. Phát triển kết cấu hạ tầng thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản
Đầu tư hạ tầng thủy lợi để lấy nước, tháo nước chủ động, kết hợp với phương pháp tiết kiệm nước và có xử lý nước đảm bảo môi trường nước cho các khu vực nuôi thủy sản tập trung, nuôi công nghiệp theo quy trình công nghệ tiên tiến, năng suất cao và an toàn tại các huyện Yên Dũng, Tân Yên, Việt Yên, TP Bắc Giang.
5.2.4. Nâng cao mức đảm bảo an toàn hồ đập
- Tăng cường quản lý nhà nước về an toàn đập (ATĐ), đảm bảo quản lý chặt chẽ về ATĐ từ khâu quy hoạch, khảo sát, thiết kế, xây dựng và quản lý vận hành; tăng cường đảm bảo an toàn cho khu vực hạ lưu đập: tăng cường phối hợp liên ngành để dự báo, cảnh báo lũ, vận hành an toàn hồ chứa và phòng chống lũ cho vùng hạ lưu đập.
5.2.5. Nâng cao năng lực phòng chống thiên tai
- Xây dựng kế hoạch quản lý rủi ro thiên tai và kế hoạch quản lý lũ tổng hợp cho các lưu vực sông; xây dựng kế hoạch và lộ trình thực hiện.
- Nâng cao năng lực quản lý hệ thống đê sông, quản lý sạt lở bờ sông:
- Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy hoạch, thực hiện các giải pháp chống ngập cho thành phố Bắc Giang, các khu cụm công nghiệp và các vùng nông thôn huyện Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Dũng, Lục Nam.
III. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền nội dung Đề án để các cấp, các ngành, các nhà đầu tư và nhân dân tích cực tham gia thực hiện đề án
Sau khi Đề án được phê duyệt, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ công khai Đề án trên các trang thông tin điện tử của UBND tỉnh và của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; đồng thời các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị, đoàn thể, hội nghề nghiệp tổ chức tuyên truyền, phổ biến Đề án đến các hội viên, đoàn viên và nhân dân trên địa bàn để tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong quá trình tổ chức, triển khai thực hiện Đề án.
Các cơ quan thông tin đại chúng như Báo Bắc Giang, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh và các đài địa phương tăng cường thông tin, tuyên truyền nội dung Đề án và các cơ chế, chính sách, đề án, dự án, các mô hình sản xuất có hiệu quả kinh tế cao trong lĩnh vực sản xuất, chế biến nông, lâm nghiệp, thủy sản rộng rãi đến các tầng lớp nhân dân trên địa bàn để sớm hoàn thành mục tiêu, nội dung của Đề án.
2. Nâng cao chất lượng quy hoạch, gắn xây dựng kế hoạch, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với quy hoạch
- Triển khai thực hiện có hiệu quả các quy hoạch ngành nông nghiệp đã được phê duyệt. Tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch, nhất là sự kết hợp giữa quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện công khai, minh bạch các quy hoạch.
- Tổ chức rà soát, điều chỉnh các quy hoạch không còn phù hợp với tình hình thực tế, bổ sung những nội dung mới theo hướng hiệu quả, bền vững, trên cơ sở tận dụng triệt để các lợi thế so sánh. Trước mắt từ nay đến 2015 hoàn thành các quy hoạch như: Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thủy lợi tỉnh Bắc Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; xây dựng quy hoạch hệ thống đê điều tỉnh Bắc Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; rà soát, điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; rà soát, điều chỉnh Quy hoạch 3 loại rừng và rà soát điều chỉnh bổ sung Quy hoạch tổng thể về cấp nước sinh hoạt và VSMTNT tỉnh Bắc Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2020. Trong giai đoạn đến năm 2020 tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch ngành, sản phẩm nông nghiệp hiện có như lâm nghiệp, thủy sản, chăn nuôi...; xây dựng mới quy hoạch trồng trọt; quy hoạch phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao...
3. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học công nghệ, giống vào sản xuất
Xác định khoa học, công nghệ là giải pháp xuyên suốt trong quá trình tái cơ cấu, tạo sự đột phá về năng suất, tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh ATTP sản phẩm nông nghiệp hàng hóa, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Ưu tiên lĩnh vực sản xuất giống, công nghệ sau thu hoạch, công nghệ cao, bảo quản chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó tích cực hỗ trợ nông dân kết nối, tiếp cận với dịch vụ nghiên cứu, chuyển giao và áp dụng tiến bộ kỹ thuật.
Xác định công tác giống là then chốt để sản xuất thành công, hiệu quả và bền vững. Phát huy mạnh vai trò của các doanh nghiệp, trung tâm, cơ sở sản xuất, kinh doanh giống trên địa bàn tỉnh; đẩy mạnh thu hút các nguồn vốn đầu tư từ Chương trình giống quốc gia để cải tạo, nâng cấp các trung tâm sản xuất giống cây ăn quả, cây lâm nghiệp, thủy sản, giống lúa, giống lợn hiện có, đầu tư xây dựng mới trung tâm sản xuất giống gia cầm đảm bảo cung cấp đủ, ổn định các loại giống tốt cho sản xuất.
Quan tâm nghiên cứu và xây dựng mô hình trình diễn các giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất cao, kháng bệnh tốt và thích ứng điều kiện sản xuất, canh tác của địa phương với giá thành thấp và có thị trường tiêu thụ ổn định. Nghiên cứu, chọn tạo bộ giống tốt cho các sản phẩm chủ lực của tỉnh.
4. Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản
Khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp, nhà đầu tư vào các lĩnh vực chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông, lâm nghiệp và thủy sản cho người nông dân thông qua việc triển khai có hiệu quả các chính sách của Trung ương đã ban hành về liên doanh, liên kết trong sản xuất, tiêu thụ nông sản và chính sách về ưu đãi, thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư; đồng thời cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ trên các phương tiện thông tin đại chúng về chính sách, pháp luật của Nhà nước và một số nước có quan hệ giao dịch thương mại, về thị trường cho các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, đặc biệt là người nông dân, để giúp họ có định hướng đầu tư phù hợp.
Hỗ trợ xây dựng, phát triển các thương hiệu sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực của tỉnh; tuyên truyền, quảng bá sản phẩm, gắn kết sản xuất và thị trường để ổn định đầu ra cho sản phẩm; hỗ trợ kênh phân phối, bán hàng đến các chợ, siêu thị tại các khu đô thị, khu công nghiệp và các tỉnh thành trên cả nước.
5. Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện, bổ sung chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh; tăng cường thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các cơ chế, chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh (các chính sách đã ban hành và xây dựng các cơ chế, chính sách mới) thúc đẩy quá trình tái cơ cấu được triển khai đúng hướng, hiệu quả. Đồng thời triển khai có hiệu quả các cơ chế, chính sách hiện hành liên quan đến khuyến khích, thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; tạo môi trường thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đầu tư vào phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Tăng kinh phí cho các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao khoa học, công nghệ, chế biến, bảo quản giảm tổn thất sau thu hoạch, đào tạo, phát triển thị trường và khuyến nông; ưu tiên đầu tư các dự án sản xuất công nghệ cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, gắn thị trường tiêu thụ. Đầu tư cơ sở hạ tầng và nâng cao nguồn nhân lực cho hệ thống thông tin thị trường nhằm làm tốt công tác dự báo, cung cấp thông tin về cung cầu, giá cả, thị trường trong nước và thế giới cho người sản xuất; hỗ trợ xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu, phát triển thị trường tiêu thụ nông sản.
- Tiến hành rà soát, bổ sung, sửa đổi danh mục các dự án lớn, quan trọng làm cơ sở để vận động, xúc tiến đầu tư. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xúc tiến đầu tư, tập trung kêu gọi các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế cả trong và ngoài nước đầu tư vào nông nghiệp, đặc biệt là lĩnh vực chế biến nông, lâm sản.
- Xây dựng kế hoạch và cơ chế cụ thể để huy động tối đa các nguồn vốn ngân sách nhà nước (bao gồm cả vốn ODA), vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu, vốn TPCP, vốn từ khai thác quỹ đất, vốn đầu tư của các doanh nghiệp, tổ chức, tư nhân. Thực hiện đa dạng hoá các hình thức đầu tư; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư theo các hình thức BT, BOT, BTO, PPP và các hình thức đầu tư khác để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông nghiệp, nông thôn.
6. Đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất
- Tiếp tục sắp xếp, đổi mới các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp; đổi mới và nâng cao hiệu quả, trách nhiệm của các Công ty TNHH MTV. KTCTTL thủy lợi.
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể đến cán bộ và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, để tạo sự thống nhất nhận thức về các quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể; từng bước kiện toàn bộ máy tổ chức, hướng dẫn chuyển đổi và xây dựng các mô hình hợp tác xã theo luật Hợp tác xã năm 2012; đổi mới, phát triển các hình thức tổ chức kinh tế hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp; hỗ trợ, nâng cao năng lực quản lý và hoạt động của các HTX và THT nông nghiệp trong việc cung cấp dịch vụ nông nghiệp đầu vào, chế biến, tiêu thụ nông sản và tiếp cận thị trường cho các thành viên.
- Đẩy mạnh và khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế trang trại theo quy mô phù hợp với trình độ, năng lực quản lý của các chủ trang trại; khuyến khích và tạo điều kiện để các trang trại nhỏ, nông hộ sản xuất cùng loại hình gắn kết lại với nhau trong tổ chức tiêu thụ nông sản.
- Tăng cường sự tham gia của Hội nông dân, vai trò của các hiệp hội ngành hàng, hiệp hội sản xuất; phát triển kinh tế hộ, hỗ trợ các hộ sản xuất áp dụng khoa học công nghệ, quy trình sản xuất tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh xây dựng và nhân rộng các mô hình liên kết sản xuất trên cơ sở triển khai có hiệu quả liên kết 4 nhà, sản xuất theo kiểu mô hình cánh đồng mẫu lớn.
7. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước; tăng cường phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm
- Rà soát chức năng nhiệm vụ của các đơn vị để xác định nhiệm vụ hành chính chủ yếu; bổ sung những thiếu sót, xoá bỏ trùng lặp trong chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, tổ chức thuộc ngành.
- Đánh giá lại cơ cấu tổ chức của ngành, từ tỉnh đến huyện, thành phố với việc xác định rõ các chức năng chính và chức năng bổ sung; sắp xếp tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đảm bảo sự chỉ đạo nhanh nhạy, thông suốt, chủ động và hiệu quả.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông; triệt để đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho giải quyết nhanh các yêu cầu và đáp ứng có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp và các lĩnh vực khác.
- Tăng cường năng lực cho hệ thống kiểm tra, kiểm nghiệm, thanh tra chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đối với giống, vật tư nông nghiệp, nông sản, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng và tiến tới xuất khẩu.
IV. TỔ CHỨC THỨC HIỆN
1. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành và địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án này; giúp UBND tỉnh theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc tổ chức, thực hiện; tham mưu UBND tỉnh giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc triển khai thực hiện và đề xuất sửa đổi, bổ sung đề án khi cần thiết.
- Xây dựng kế hoạch hành động, giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị, phòng ban trực thuộc sở và các huyện, thành phố triển khai thực hiện.
- Tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện đề án hàng năm báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và UBND tỉnh theo quy định.
2. Sở Kế hoạch và Đầu tư
- Chủ trì tham mưu thu hút và bố trí các nguồn lực từ ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn phục vụ sản xuất.
- Rà soát, phân loại các dự án đầu tư, điều chỉnh phương thức và nguồn đầu tư để thu hút tối đa nguồn lực đầu tư xã hội vào lĩnh vực nông nghiệp. Nâng cao chất lượng quá trình lựa chọn dự án; tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các sở, ban, ngành, địa phương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế ngoài nhà nước cho nông nghiệp, nông thôn.
3. Sở Tài chính
- Chủ trì, tham mưu bố trí, quản lý kinh phí cho các nội dung thực hiện của đề án từ nguồn sự nghiệp kinh tế.
- Phối hợp với các ngành có liên quan rà soát sửa đổi bổ sung hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Hàng năm, thẩm định dự toán kinh phí Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng và tổng hợp trình UBND tỉnh phê duyệt.
4. Sở Khoa học và Công nghệ
- Chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các sở, ban, ngành có liên quan đề xuất điều chỉnh, bổ sung các cơ chế, chính sách có liên quan tới hỗ trợ tăng cường năng lực nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ và tiến bộ kỹ thuật; điều chỉnh cơ cấu đề tài nghiên cứu, tập trung vào các nhiệm vụ chính của đề án tái cơ cấu,... qua đó hỗ trợ ngành nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu.
- Hướng dẫn, hỗ trợ đẩy mạnh thực hiện việc xây dựng và phát triển thương hiệu đối với các sản phẩm hàng hóa nông sản thế mạnh trên địa bàn tỉnh nhằm nâng cao giá trị, tăng sức cạnh tranh các sản phẩm nông nghiệp của tỉnh.
5. Sở Công thương
- Chủ trì, phối hợp với Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu đề xuất các chính sách thương mại, phân tích tìm hiểu các thị trường tiêu thụ, thúc đẩy xuất khẩu nông sản; hỗ trợ quảng bá sản phẩm hàng hóa thế mạnh của tỉnh; khuyến khích, hỗ trợ phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản gắn với thị trường tiêu thụ ổn định. Hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia đẩy mạnh tiêu thụ nông sản từ các dự án cánh đồng mẫu lớn, cánh rừng mẫu lớn.
- Kiểm soát chặt chẽ, xử lý nghiêm hoạt động buôn lậu và gian lận trong thương mại hàng hóa nông, lâm, thủy sản.
6. Sở Tài nguyên và Môi trường
- Chủ trì, phối hợp với Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, các địa phương rà soát, kiểm soát chặt chẽ quy hoạch và quản lý, thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp (đặc biệt là đất lúa, đất rừng phòng hộ, đặc dụng). Rà soát hiện trạng sử dụng quỹ đất rừng của các công ty nông, lâm nghiệp, thu hồi diện tích sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả, vượt khả năng quản lý của các công ty nông, lâm nghiệp giao lại cho chính quyền địa phương để cho các tổ chức, cá nhân thuê sử dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
- Đề xuất các chính sách liên quan đến đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học theo hướng tạo thuận lợi cho nông nghiệp, nông thôn phát triển bền vững; vận động người dân “dồn điền, đổi thửa” và khuyến khích tích tụ ruộng đất để phát triển sản xuất quy mô lớn trong nông nghiệp.
7. Ngân hàng Nhà nước tỉnh
- Triển khai kịp thời, đầy đủ và có hiệu quả các chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; tăng cường kiểm tra giám sát và chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn bảo đảm đáp ứng kịp thời, đầy đủ vốn cho các dự án, phương án có hiệu quả thuộc đối tượng nông nghiệp, nông thôn.
- Nghiên cứu, đề xuất các chính sách hoạt động ngân hàng cần thiết, phù hợp để phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
8. UBND các huyện, thành phố
- Triển khai rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch theo hướng phát triển cây trồng, vật nuôi có lợi thế của địa phương, có khả năng cạnh tranh phù hợp với quy hoạch phát triển của ngành và nhu cầu thị trường; nghiên cứu, xây dựng mô hình sản xuất và các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển phù hợp, hiệu quả.
- Vận dụng linh hoạt cơ chế, chính sách của Trung ương, của tỉnh để khuyến khích thu hút đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn.
- Xây dựng kế hoạch thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Giang theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2015-2020, định kỳ hàng năm báo cáo kết quả triển khai thực hiện về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh.