Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 56/QĐ-UBND 2012 Nâng cao năng suất chất lượng hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ Ninh Thuận

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "23/03/2012", "sign_number": "56/QĐ-UBND", "signer": "Võ Đại", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "23/03/2012", "sign_number": "56/QĐ-UBND", "signer": "Võ Đại", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "23/03/2012", "sign_number": "56/QĐ-UBND", "signer": "Võ Đại", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "23/03/2012", "sign_number": "56/QĐ-UBND", "signer": "Võ Đại", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "23/03/2012", "sign_number": "56/QĐ-UBND", "signer": "Võ Đại", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 56/QĐ-UBND 2012 Nâng cao năng suất chất lượng hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ Ninh Thuận

Điều 1. Phê duyệt dự án “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020” gồm các nội dung chính sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể:
a) Trong giai đoạn 2011-2015, có ít nhất 50 doanh nghiệp tham gia thực hiện và đến năm 2020 có khoảng 85 doanh nghiệp vừa và nhỏ, kể cả doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, hàng hóa chủ lực của địa phương ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đổi mới công nghệ, áp dụng các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng cụ thể như sau:
- Số lượng doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, hàng hóa chủ lực của tỉnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đổi mới công nghệ:
+ Giai đoạn 2011 -2015:
* Ít nhất 10 doanh nghiệp áp dụng thành tựu khoa học, đổi mới công nghệ và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; áp dụng sản xuất sạch hơn...
* Ít nhất 15 doanh nghiệp đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT).
* Từ 07-08 doanh nghiệp thực hiện kiểm toán năng lượng, đào tạo cán bộ quản lý năng lượng.
+ Giai đoạn 2016-2020: Ít nhất 20 doanh nghiệp áp dụng thành tựu khoa học, đổi mới công nghệ và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; áp dụng sản xuất sạch hơn; ít nhất 20 doanh nghiệp đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT); có 15 doanh nghiệp thực hiện kiểm toán năng lượng, đào tạo cán bộ quản lý năng lượng.
- Số doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, hàng hóa chủ lực của tỉnh áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, mô hình, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng:
+ Giai đoạn 2011-2015:
* Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như: ISO, HACCP, SA 8000…: 15 doanh nghiệp.
* Áp dụng công cụ cải tiến như: Kaizen, 5S, TQM, TPM...: 05 doanh nghiệp.
+ Giai đoạn 2016-2020:
* Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như: ISO, HACCP, SA 8000…: 20 doanh nghiệp.
* Áp dụng công cụ cải tiến như: Kaizen, 5S, TQM, TPM...: 10 doanh nghiệp.
b) Chỉ tiêu về nâng cao chất lượng của sản phẩm, nhóm sản phẩm hàng hóa đạt tiêu chuẩn hoặc đạt trình độ chất lượng tương đương với sản phẩm, hàng hóa cùng loại của nước ngoài. Cụ thể như sau:
- Trong giai đoạn 2011-2015, để đạt được những mục tiêu đề ra về quy mô, tốc độ tăng trưởng và tăng khả năng đóng góp kim ngạch của các sản phẩm, hàng hóa chủ lực của tỉnh gồm: Nhân điều, thủy sản, tinh bột mì, đá granite, sản phẩm may mặc và nước yến;
- Đến năm 2020, trình độ chất lượng tương đương với các sản phẩm, hàng hóa cùng loại trên thế giới gồm: Nhân điều, thủy sản, tinh bột mì, khoáng sản (xỉ titan, pigment, đá granite), sản phẩm may mặc, nước yến, muối tinh và vang nho.
c) Chỉ tiêu về sản phẩm, hàng hóa được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn quốc gia (TCVN); Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia (QCVN), doanh nghiệp được trao tặng giải thưởng chất lượng Quốc gia, giải thưởng chất lượng Quốc tế Châu Á-Thái Bình Dương.
- Chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn quốc gia (TCVN):
+ Giai đoạn 2011 - 2015: 05 sản phẩm;
+ Giai đoạn 2016 - 2020: 05 sản phẩm.
- Chứng nhận phù hợp Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia (QCVN):
+ Giai đoạn 2011-2015: 05 sản phẩm;
+ Giai đoạn 2016-2020: 05 sản phẩm.
- Doanh nghiệp được trao tặng giải thưởng chất lượng Quốc gia, giải thưởng chất lượng Quốc tế Châu Á-Thái Bình Dương:
- Giai đoạn 2011 -2015:
+ Doanh nghiệp được trao tặng giải thưởng chất lượng Quốc gia (giải Vàng): 01 doanh nghiệp.
+ Doanh nghiệp được trao tặng giải thưởng chất lượng Quốc gia (giải Bạc): 05 doanh nghiệp.
+ Giai đoạn 2016-2020:
* Doanh nghiệp được trao tặng giải thưởng chất lượng Quốc gia (giải Vàng): Từ 01-02 doanh nghiệp.
* Doanh nghiệp được trao tặng giải thưởng chất lượng Quốc gia (giải Bạc): 10 doanh nghiệp.
d) Chỉ tiêu về đào tạo đội ngũ chuyên gia, cán bộ tư vấn về năng suất và chất lượng; tổ chức, cá nhân hoạt động chuyên nghiệp về năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại ngành, địa phương: Có ít nhất từ 06-07 chuyên gia tư vấn về năng suất và chất lượng. Cụ thể: Ngành Khoa học và Công nghệ: 03 chuyên gia; Ngành Công Thương: 02 chuyên gia và Ngành Nông nghiệp: 02 chuyên gia.
đ) Chỉ tiêu về phát triển các tổ chức đánh giá sự phù hợp; đầu tư năng lực phòng thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa đạt trình độ quốc tế:
- Chỉ tiêu về phát triển các tổ chức đánh giá sự phù hợp: Ở địa phương chưa thực hiện được, Trung ương hỗ trợ để thực hiện.
- Đầu tư năng lực phòng thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa đạt trình độ quốc tế: Phòng thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa (ISO 17025:2005): 05 Phòng thử nghiệm và Phòng thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa (LAS Xây dựng): 10 Phòng thử nghiệm.
e) Chỉ tiêu về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp: Các sản phẩm, hàng hóa chủ lực của tỉnh Ninh Thuận hiện nay đang từng bước ổn định và phát triển, nhất là các sản phẩm, hàng hóa như: đường RS, muối tinh và sản phẩm sau muối, thủy sản, đá Granite. Đây là những sản phẩm có lợi thế của tỉnh về điều kiện tự nhiên, nguồn nguyên liệu sẵn có, nguồn nhân lực đáp ứng, chi phí sản xuất thấp... làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
f) Mức độ đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) trong tốc độ tăng trưởng: (Tham khảo theo Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của cả nước giai đoạn 2011-2020):
- Giai đoạn 2011-2015: Góp phần nâng tỷ trọng đóng góp năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) trong tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt khoảng 30%;
- Giai đoạn 2016-2020: Góp phần nâng tỷ trọng đóng góp năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) trong tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt khoảng 35%.
II. Nhiệm vụ
1. Xác định, lựa chọn các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm, hàng hóa chủ lực tham gia dự án năng suất và chất lượng của tỉnh:
Lựa chọn doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm, hàng hóa chủ lực có tính mới, ứng dụng công nghệ cao, phải là sản phẩm chủ lực của địa phương, có uy tín trên thị trường; giải quyết nhiều việc làm cho người lao động; sản xuất hàng xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp; sản phẩm, hàng hóa qua chế biến để nâng cao giá trị hàng hóa xuất khẩu cũng như chế biến các sản phẩm sau thu hoạch; xử lý môi trường, cải thiện và bảo vệ môi trường. Cụ thể như:
- Giai đoạn 2011-2015: Lựa chọn từ 07-08 doanh nghiệp tham gia dự án năng suất và chất lượng;
- Đến năm 2020: Có từ 17-18 doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm, hàng hóa chủ lực tham gia dự án năng suất và chất lượng của tỉnh.
2. Các doanh nghiệp tham gia dự án năng suất và chất lượng cần phải phân tích, đánh giá hiện trạng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và quản lý chất lượng; xác định nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại về năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp đảm bảo sản xuất sản phẩm đạt chất lượng cao theo tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu.

Content:
Mục tiêu cụ thể:
a) Trong giai đoạn 2011-2015, có ít nhất 50 doanh nghiệp tham gia thực hiện và đến năm 2020 có khoảng 85 doanh nghiệp vừa và nhỏ, kể cả doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, hàng hóa chủ lực của địa phương ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đổi mới công nghệ, áp dụng các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng cụ thể như sau:
- Số lượng doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, hàng hóa chủ lực của tỉnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đổi mới công nghệ:
+ Giai đoạn 2011 -2015:
* Ít nhất 10 doanh nghiệp áp dụng thành tựu khoa học, đổi mới công nghệ và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; áp dụng sản xuất sạch hơn...
* Ít nhất 15 doanh nghiệp đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT).
* Từ 07-08 doanh nghiệp thực hiện kiểm toán năng lượng, đào tạo cán bộ quản lý năng lượng.
+ Giai đoạn 2016-2020: Ít nhất 20 doanh nghiệp áp dụng thành tựu khoa học, đổi mới công nghệ và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; áp dụng sản xuất sạch hơn; ít nhất 20 doanh nghiệp đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT); có 15 doanh nghiệp thực hiện kiểm toán năng lượng, đào tạo cán bộ quản lý năng lượng.
- Số doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, hàng hóa chủ lực của tỉnh áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, mô hình, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng:
+ Giai đoạn 2011-2015:
* Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như: ISO, HACCP, SA 8000…: 15 doanh nghiệp.
* Áp dụng công cụ cải tiến như: Kaizen, 5S, TQM, TPM...: 05 doanh nghiệp.
+ Giai đoạn 2016-2020:
* Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như: ISO, HACCP, SA 8000…: 20 doanh nghiệp.
* Áp dụng công cụ cải tiến như: Kaizen, 5S, TQM, TPM...: 10 doanh nghiệp.
b) Chỉ tiêu về nâng cao chất lượng của sản phẩm, nhóm sản phẩm hàng hóa đạt tiêu chuẩn hoặc đạt trình độ chất lượng tương đương với sản phẩm, hàng hóa cùng loại của nước ngoài. Cụ thể như sau:
- Trong giai đoạn 2011-2015, để đạt được những mục tiêu đề ra về quy mô, tốc độ tăng trưởng và tăng khả năng đóng góp kim ngạch của các sản phẩm, hàng hóa chủ lực của tỉnh gồm: Nhân điều, thủy sản, tinh bột mì, đá granite, sản phẩm may mặc và nước yến;
- Đến năm 2020, trình độ chất lượng tương đương với các sản phẩm, hàng hóa cùng loại trên thế giới gồm: Nhân điều, thủy sản, tinh bột mì, khoáng sản (xỉ titan, pigment, đá granite), sản phẩm may mặc, nước yến, muối tinh và vang nho.
c) Chỉ tiêu về sản phẩm, hàng hóa được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn quốc gia (TCVN); Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia (QCVN), doanh nghiệp được trao tặng giải thưởng chất lượng Quốc gia, giải thưởng chất lượng Quốc tế Châu Á-Thái Bình Dương.
- Chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn quốc gia (TCVN):
+ Giai đoạn 2011 - 2015: 05 sản phẩm;
+ Giai đoạn 2016 - 2020: 05 sản phẩm.
- Chứng nhận phù hợp Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia (QCVN):
+ Giai đoạn 2011-2015: 05 sản phẩm;
+ Giai đoạn 2016-2020: 05 sản phẩm.
- Doanh nghiệp được trao tặng giải thưởng chất lượng Quốc gia, giải thưởng chất lượng Quốc tế Châu Á-Thái Bình Dương:
- Giai đoạn 2011 -2015:
+ Doanh nghiệp được trao tặng giải thưởng chất lượng Quốc gia (giải Vàng): 01 doanh nghiệp.
+ Doanh nghiệp được trao tặng giải thưởng chất lượng Quốc gia (giải Bạc): 05 doanh nghiệp.
+ Giai đoạn 2016-2020:
* Doanh nghiệp được trao tặng giải thưởng chất lượng Quốc gia (giải Vàng): Từ 01-02 doanh nghiệp.
* Doanh nghiệp được trao tặng giải thưởng chất lượng Quốc gia (giải Bạc): 10 doanh nghiệp.
d) Chỉ tiêu về đào tạo đội ngũ chuyên gia, cán bộ tư vấn về năng suất và chất lượng; tổ chức, cá nhân hoạt động chuyên nghiệp về năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại ngành, địa phương: Có ít nhất từ 06-07 chuyên gia tư vấn về năng suất và chất lượng. Cụ thể: Ngành Khoa học và Công nghệ: 03 chuyên gia; Ngành Công Thương: 02 chuyên gia và Ngành Nông nghiệp: 02 chuyên gia.
đ) Chỉ tiêu về phát triển các tổ chức đánh giá sự phù hợp; đầu tư năng lực phòng thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa đạt trình độ quốc tế:
- Chỉ tiêu về phát triển các tổ chức đánh giá sự phù hợp: Ở địa phương chưa thực hiện được, Trung ương hỗ trợ để thực hiện.
- Đầu tư năng lực phòng thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa đạt trình độ quốc tế: Phòng thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa (ISO 17025:2005): 05 Phòng thử nghiệm và Phòng thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa (LAS Xây dựng): 10 Phòng thử nghiệm.
e) Chỉ tiêu về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp: Các sản phẩm, hàng hóa chủ lực của tỉnh Ninh Thuận hiện nay đang từng bước ổn định và phát triển, nhất là các sản phẩm, hàng hóa như: đường RS, muối tinh và sản phẩm sau muối, thủy sản, đá Granite. Đây là những sản phẩm có lợi thế của tỉnh về điều kiện tự nhiên, nguồn nguyên liệu sẵn có, nguồn nhân lực đáp ứng, chi phí sản xuất thấp... làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
f) Mức độ đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) trong tốc độ tăng trưởng: (Tham khảo theo Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của cả nước giai đoạn 2011-2020):
- Giai đoạn 2011-2015: Góp phần nâng tỷ trọng đóng góp năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) trong tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt khoảng 30%;
- Giai đoạn 2016-2020: Góp phần nâng tỷ trọng đóng góp năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) trong tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt khoảng 35%.
II. Nhiệm vụ
1. Xác định, lựa chọn các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm, hàng hóa chủ lực tham gia dự án năng suất và chất lượng của tỉnh:
Lựa chọn doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm, hàng hóa chủ lực có tính mới, ứng dụng công nghệ cao, phải là sản phẩm chủ lực của địa phương, có uy tín trên thị trường; giải quyết nhiều việc làm cho người lao động; sản xuất hàng xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp; sản phẩm, hàng hóa qua chế biến để nâng cao giá trị hàng hóa xuất khẩu cũng như chế biến các sản phẩm sau thu hoạch; xử lý môi trường, cải thiện và bảo vệ môi trường. Cụ thể như:
- Giai đoạn 2011-2015: Lựa chọn từ 07-08 doanh nghiệp tham gia dự án năng suất và chất lượng;
- Đến năm 2020: Có từ 17-18 doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm, hàng hóa chủ lực tham gia dự án năng suất và chất lượng của tỉnh.
Các doanh nghiệp tham gia dự án năng suất và chất lượng cần phải phân tích, đánh giá hiện trạng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và quản lý chất lượng; xác định nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại về năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp đảm bảo sản xuất sản phẩm đạt chất lượng cao theo tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu.