Document: Điểm a Khoản 2 Điều 1 Quyết định 2311/QĐ-UBND phê duyệt đề án củng cố khôi phục phát triển làng nghề

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "27/11/2012", "sign_number": "2311/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Cường", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "27/11/2012", "sign_number": "2311/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Cường", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "27/11/2012", "sign_number": "2311/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Cường", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "27/11/2012", "sign_number": "2311/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Cường", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "27/11/2012", "sign_number": "2311/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Cường", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm a Khoản 2 Điều 1 Quyết định 2311/QĐ-UBND phê duyệt đề án củng cố khôi phục phát triển làng nghề

Điều 1. Phê duyệt Đề án củng cố, khôi phục và phát triển làng nghề, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tỉnh Quảng Trị đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
2. Mục tiêu phát triển
2.1. Mục tiêu đến năm 2015
- Tỷ trọng kinh tế làng nghề, ngành nghề nông thôn đạt 25 - 30% trong kinh tế nông thôn;
- Tổng giá trị sản xuất làng nghề, ngành nghề TTCN đạt 300 - 350 tỷ đồng;
- Tạo việc làm cho trên 10.000 lao động nông thôn, nâng thu nhập bình quân cho lao động ngành nghề nông thôn đạt 20 - 25 triệu đồng/người/năm;
- Tỷ lệ lao động được đào tạo đạt 30 - 33%;
- Đến năm 2015, tỷ lệ cơ giới hóa (đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị phục vụ một số khâu sản xuất) đạt 25 - 30%;
- Xử lý cơ bản ô nhiễm môi trường các cơ sở sản xuất, làng nghề (đặc biệt là các ngành nghề chế biến nông - lâm - thủy sản và thực phẩm);
- Đến năm 2015, 10 làng được công nhận có nghề truyền thống, 05 làng nghề và 08 làng nghề truyền thống.
2.2. Mục tiêu đến năm 2020
- Tỷ trọng kinh tế làng nghề, ngành nghề nông thôn đạt 40 - 45% trong kinh tế nông thôn;
- Tổng giá trị sản xuất làng nghề, ngành nghề TTCN đạt 450 - 500 tỷ đồng;
- Tạo việc làm trên 15.000 lao động nông thôn, nâng thu nhập bình quân cho lao động ngành nghề đạt 30 - 35 triệu đồng/người/năm;
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50%;
- Đến năm 2020, tỷ lệ các cơ sở ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, hiện đại vào sản xuất đạt 65%;
- Xử lý cơ bản ô nhiễm môi trường ở các làng nghề, cơ sở sản xuất. Trên 90% các cơ sở, cụm - điểm công nghiệp, làng nghề có hệ thống xử lý chất thải tập trung đạt chuẩn;
- Đến năm 2020, 14 làng được công nhận có nghề truyền thống, 04 làng nghề và 02 làng nghề truyền thống.
II. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ, NGÀNH NGHỀ TTCN ĐẾN NĂM 2020
A. PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ, NGÀNH NGHỀ TTCN TRUYỀN THỐNG
1. Nhóm nghề chế biến nông - lâm - thủy sản
a) Nghề làm bún, bánh
+ Giai đoạn 2011 - 2015:
- Từng bước đầu tư đổi mới, cải tiến công nghệ, máy móc thiết bị, cơ giới hóa sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, thay thế các công đoạn thủ công truyền thống gây ô nhiễm môi truờng, không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm;
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các điểm làng nghề sản xuất bún: Thượng Trạch, Linh Chiểu (Triệu Sơn, Triệu Phong) và Cẩm Thạch (Cam An, Cam Lộ); bánh ướt Phương Lang (Hải Ba, Hải Lăng). Khuyến khích các cơ sở đầu tư sản xuất trong điểm công nghiệp làng nghề nhằm đảm bảo môi trường sinh thái;
- Mở rộng sản xuất tại các địa phương khác trong tỉnh, đa dạng hóa một số sản phẩm, xây dựng và công nhận làng nghề truyền thống đối với các làng bún, bánh: Cẩm Thạch, Linh Chiểu; nghề truyền thống bún, bánh Phương Lang;
+ Giai đoạn 2016 - 2020:
- Nâng cao chất lượng máy móc thiết bị theo hướng liên hoàn, khép kín, tăng năng suất và trở thành một trong những nghề TTCN mạnh của tỉnh. Phát triển mạnh các sản phẩm khô như: bún khô, hủ tiếu, bánh canh khô, bánh tráng, bánh đa...
- Tiếp tục đầu tư mở rộng và phát triển các điểm làng nghề đã có, xây dựng và công nhận làng nghề truyền thống Thượng Trạch.

Content:
Nghề làm bún, bánh
+ Giai đoạn 2011 - 2015:
- Từng bước đầu tư đổi mới, cải tiến công nghệ, máy móc thiết bị, cơ giới hóa sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, thay thế các công đoạn thủ công truyền thống gây ô nhiễm môi truờng, không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm;
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các điểm làng nghề sản xuất bún: Thượng Trạch, Linh Chiểu (Triệu Sơn, Triệu Phong) và Cẩm Thạch (Cam An, Cam Lộ); bánh ướt Phương Lang (Hải Ba, Hải Lăng). Khuyến khích các cơ sở đầu tư sản xuất trong điểm công nghiệp làng nghề nhằm đảm bảo môi trường sinh thái;
- Mở rộng sản xuất tại các địa phương khác trong tỉnh, đa dạng hóa một số sản phẩm, xây dựng và công nhận làng nghề truyền thống đối với các làng bún, bánh: Cẩm Thạch, Linh Chiểu; nghề truyền thống bún, bánh Phương Lang;
+ Giai đoạn 2016 - 2020:
- Nâng cao chất lượng máy móc thiết bị theo hướng liên hoàn, khép kín, tăng năng suất và trở thành một trong những nghề TTCN mạnh của tỉnh. Phát triển mạnh các sản phẩm khô như: bún khô, hủ tiếu, bánh canh khô, bánh tráng, bánh đa...
- Tiếp tục đầu tư mở rộng và phát triển các điểm làng nghề đã có, xây dựng và công nhận làng nghề truyền thống Thượng Trạch.