Document: Điểm d Khoản 21 Điều 1 Quyết định 01/2021/QĐ-UBND sửa đổi Quy định bảo vệ công trình cấp nước Hồ Chí Minh

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "20/01/2021", "sign_number": "01/2021/QĐ-UBND", "signer": "Lê Hòa Bình", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "20/01/2021", "sign_number": "01/2021/QĐ-UBND", "signer": "Lê Hòa Bình", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "20/01/2021", "sign_number": "01/2021/QĐ-UBND", "signer": "Lê Hòa Bình", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "20/01/2021", "sign_number": "01/2021/QĐ-UBND", "signer": "Lê Hòa Bình", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "20/01/2021", "sign_number": "01/2021/QĐ-UBND", "signer": "Lê Hòa Bình", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 21 Điều 1 Quyết định 01/2021/QĐ-UBND sửa đổi Quy định bảo vệ công trình cấp nước Hồ Chí Minh

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều Quyết định số 20/2007/QĐ-UBND ngày 09 tháng 02 năm 2007 về ban hành Quy định về cung cấp, sử dụng nước và bảo vệ công trình cấp nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm:
...
21. “Thủy đài”, “Hồ chứa nước”: là nơi chứa nước sạch để phân phối cho mạng lưới cấp nước.
2. “Trạm xử lý nước ngầm”: là nơi vận hành lấy nước từ các giếng nước ngầm để xử lý thành nước sạch theo tiêu chuẩn quy định nhằm cung cấp cho mạng lưới cấp nước.
23. “Trạm tăng áp”: là nơi vận hành nhằm tăng áp lực nước sạch cung cấp cho những khu vực có áp lực nước yếu hoặc thiếu.
24. “Tháp cắt áp”: là nơi khống chế áp lực nước tối đa đầu mạng lưới để bảo vệ an toàn mạng lưới cấp nước, phòng chống trường hợp áp lực nước trên mạng lưới tăng đột ngột.
25. “Bar”: là đơn vị tính của đồng hồ đo áp lực, tương đương với cột nước cao 10 mét (tính từ vị trí đặt đồng hồ đo áp lực).
26. “Hầm van”: là nơi chứa các van xả gió, van xả bùn, van trên đường ống, van lấy nước và các thiết bị, phụ tùng quản lý mạng.
27. “Phương pháp giả định”: là phương pháp tính trung bình cộng lượng nước khách hàng đã sử dụng trong ba kỳ hóa đơn liền trước đó.
28. “Kỳ hóa đơn”:
là sự ghi nhận giữa lần đọc số này với lần đọc số trước đó để thanh toán tiền nước, khoảng cách giữa 2 lần đọc số không quá 32 ngày.
29. “Điểm đấu nối”: là điểm ngay sát chỉ giới sử dụng đất hoặc chân tường rào công trình của khách hàng sử dụng nước.
30. “Hợp đồng dịch vụ cấp nước”: là văn bản pháp lý được ký kết giữa đơn vị cấp nước với khách hàng sử dụng nước.”
31. “Nhu cầu sử dụng tối thiểu”: là nhu cầu sử dụng nước tối thiểu của từng cá nhân trong khu vực xảy ra sự cố gián đoạn cấp nước được Ủy ban nhân dân Thành phố thông qua trong kế hoạch cấp nước an toàn của Thành phố.
32. “Đơn vị cấp nước bán buôn”: là đơn vị cấp nước thực hiện việc bán nước sạch cho một đơn vị cấp nước khác để phân phối, bán trực tiếp đến khách hàng sử dụng nước.
33. “Đơn vị cấp nước bán lẻ”: là đơn vị cấp nước thực hiện việc bán nước sạch trực tiếp đến khách hàng sử dụng nước.
6. Sửa đổi Điều 9 như sau:
“Điều 9. Chi phí lắp đặt đồng hồ đo nước:
1. Đơn vị cấp nước phải thiết lập các điểm đấu nối vào mạng lưới cấp nước cho mỗi khách hàng sử dụng nước; các điểm đấu nối phải đặt ngay sát chỉ giới sử dụng đất hoặc chân tường rào công trình của khách hàng sử dụng nước trong điều kiện cho phép.
2. Điểm lắp đặt đồng hồ đo nước được thỏa thuận bằng biên bản giữa đơn vị cấp nước và khách hàng sử dụng nước có thể xác định trước, trùng hoặc sau điểm đấu nối của khách hàng sử dụng nước vào mạng lưới cấp nước, bảo đảm thuận tiện cho việc lắp đặt, quản lý, kiểm tra ghi thu của đơn vị cấp nước và bảo vệ đồng hồ nước.
3. Đơn vị cấp nước có trách nhiệm đầu tư đồng bộ đến điểm đấu nối với các khách hàng sử dụng nước bao gồm cả đồng hồ đo nước. Trường hợp đồng hồ đo nước được lắp đặt sau điểm đấu nối đã được xác định thì chi phí vật tư, lắp đặt từ điểm đấu nối đến điểm lắp đặt đồng hồ đo nước do khách hàng sử dụng nước chi trả sau khi đã có thoả thuận với đơn vị cấp nước.”
7. Sửa đổi Điều 12 như sau:
“Điều 12. Cung cấp nước phòng cháy chữa cháy
Thực hiện theo quy định tại Quyết định số 182/2006/QĐ-UB ngày 25 tháng 12 năm 2006 về ban hành quy định về quản lý và bảo vệ trụ nước chữa cháy trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và Thông tư liên tịch số 04/2009/TTLT-BXD-BCA ngày 10 tháng 4 năm 2009 của Liên Bộ Công an, Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện việc cấp nước phòng cháy chữa cháy tại đô thị và khu công nghiệp.”
8. Sửa đổi Điều 13 như sau:
“Điều 13. Tạm ngừng, ngừng dịch vụ cấp nước
1. Tạm ngừng dịch vụ cấp nước: Đơn vị cấp nước tạm ngừng dịch vụ cấp nước trong trường hợp:
...
d) Xử lý sự cố trên mạng lưới cấp nước: đơn vị cấp nước phải xây dựng phương án dự phòng sẵn sàng cung cấp nước tạm thời cho khách hàng sử dụng nước trong suốt thời gian xử lý sự cố.
e) Trong mọi trường hợp tạm ngưng cung cấp nước, đơn vị cấp nước chịu trách nhiệm đảm bảo việc cung cấp nước liên tục cho khách hàng thiết yếu như bệnh viện, trường học, các cơ quan ngoại giao, cơ quan nhà nước trong phạm vi ảnh hưởng, báo cáo Sở Xây dựng kế hoạch thực hiện chi tiết.
f) Thực hiện theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Ngừng dịch vụ cấp nước từ phía đơn vị cấp nước:
a) Đối với khách hàng sử dụng nước là hộ gia đình sử dụng nước cho mục đích sinh hoạt:
- Đơn vị cấp nước có thể ngừng dịch vụ cấp nước từ điểm đấu nối nếu khách hàng sử dụng nước không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền nước, vi phạm các quy định của Hợp đồng dịch vụ cấp nước sau 5 tuần kể từ khi có thông báo đến khách hàng sử dụng nước về việc ngừng dịch vụ cấp nước;
- Nếu khách hàng sử dụng nước không thực hiện nghĩa vụ thanh toán do có lý do khách quan đã được thông báo trước cho đơn vị cấp nước về những lý do trên thì việc ngừng dịch vụ cấp nước sẽ được thực hiện sau 10 tuần kể từ khi có thông báo về việc ngừng dịch vụ cấp nước.
b) Đối với các khách hàng sử dụng nước khác:
Đơn vị cấp nước có thể ngừng dịch vụ cấp nước từ điểm đấu nối nếu khách hàng sử dụng nước không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền nước, vi phạm các quy định của Hợp đồng dịch vụ cấp nước sau 15 ngày làm việc kể từ khi có thông báo đến khách hàng sử dụng nước và chính quyền địa phương về việc ngừng dịch vụ cấp nước.
3. Ngừng dịch vụ cấp nước từ phía khách hàng sử dụng nước:
Khách hàng sử dụng nước khi không còn nhu cầu sử dụng nước thông báo cho đơn vị cấp nước ngừng dịch vụ cấp nước và lập thủ tục chấm dứt Hợp đồng dịch vụ cấp nước. Đơn vị cấp nước chịu trách nhiệm thực hiện các thủ tục bít hủy danh bộ theo quy định.”
9. Bổ sung, điều chỉnh Khoản 3 Điều 14 như sau:
“3. Khách hàng phải thường xuyên theo dõi chỉ số đang có trên đồng hồ đo nước, kịp thời thông báo đến đơn vị cấp nước yêu cầu kiểm tra, xử lý, khi phát hiện lượng nước sử dụng trong kỳ tăng giảm không bình thường. Đơn vị cấp nước kiểm tra tình trạng đồng hồ, chì niêm phong trong quá trình ghi số đồng hồ đo nước.”
10. Sửa đổi, bổ sung Điều 15 như sau:
“Điều 15. Thay đồng hồ đo nước:
1. Đơn vị cấp nước công khai các thông tin chi tiết để đánh giá các trường hợp liên quan đến việc xác định lỗi hoặc không phải lỗi của khách hàng sử dụng nước, báo cáo Sở Xây dựng định kỳ hằng năm để cập nhật.
2. Trường hợp đồng hồ đo nước bị mất hoặc hư hỏng do lỗi của khách hàng, đơn vị cấp nước thay đồng hồ đo nước khác, toàn bộ chi phí thay thế đồng hồ đo nước do khách hàng thanh toán theo đơn giá được đơn vị cấp nước công bố đầu mỗi quý trên các phương tiện thông tin đại chúng.
3. Trường hợp đồng hồ đo nước bị hư hỏng mà không phải do lỗi của khách hàng hoặc chì niêm phong bị đứt, khách hàng phải thông báo cho đơn vị cấp nước biết để tiến hành kiểm tra, bấm chì hoặc thay đồng hồ đo nước khác. Đơn vị cấp nước có trách nhiệm thay đổi cỡ đồng hồ đo nước cho phù hợp quy chuẩn kỹ thuật, lượng nước tiêu thụ thực tế của khách hàng nhằm đảm bảo tính chính xác của đồng hồ đo nước.
4. Đơn vị cấp nước có trách nhiệm thay đồng hồ đo nước miễn phí khi đồng hồ đo nước đó không đọc được chỉ số, ngưng hoạt động, kính mờ, có dấu hiệu chạy không chính xác không do lỗi khách hàng hoặc đến kỳ hạn phải thay kiểm định, tùy thuộc vào từng cỡ loại đồng hồ đo nước được thỏa thuận lắp đặt trong hợp đồng dịch vụ cấp nước và theo quy định của Nhà nước.
5. Trường hợp đồng hồ đo nước được tạm ngưng theo yêu cầu khách hàng quá 12 tháng khi khách hàng có yêu cầu sử dụng nước trở lại: đơn vị cấp nước thay đồng hồ đo nước khác, toàn bộ chi phí thay thế đồng hồ đo nước do khách hàng thanh toán theo đơn giá được đơn vị cấp nước công bố đầu mỗi quý trên các phương tiện thông tin đại chúng.
6. Khách hàng sử dụng nước phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để đơn vị cấp nước thực hiện thay đồng hồ đo nước trong các trường hợp được quy định nêu trên.”
11. Sửa đổi, bổ sung Điều 29 như sau:
“Điều 29. Thanh toán tiền sử dụng nước
1. Khách hàng sử dụng nước phải thanh toán đủ và đúng thời hạn số tiền nước ghi trong hóa đơn cho đơn vị cấp nước. Phương thức, hình thức và địa điểm thanh toán do hai bên thỏa thuận trong Hợp đồng dịch vụ cấp nước.
2. Khách hàng sử dụng nước chậm trả tiền nước quá 1 tháng so với thời hạn thanh toán được quy định trong Hợp đồng dịch vụ cấp nước thì phải trả cả tiền lãi của khoản tiền chậm trả cho đơn vị cấp nước.
3. Đơn vị cấp nước thu thừa tiền nước phải hoàn trả cho khách hàng sử dụng nước khoản tiền thu thừa bao gồm cả tiền lãi của khoản tiền thu thừa nếu thời điểm hoàn trả sau một tháng so với thời điểm đã thu thừa tiền nước.
4. Lãi suất của số tiền chậm trả hoặc thu thừa do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng dịch vụ nhưng không vượt quá lãi suất cho vay cao nhất của ngân hàng mà đơn vị cấp nước có tài khoản ghi trong Hợp đồng dịch vụ cấp nước tại thời điểm thanh toán.
5. Khách hàng sử dụng nước có quyền yêu cầu đơn vị cấp nước xem xét lại số tiền nước phải thanh toán. Khi nhận được yêu cầu của khách hàng sử dụng nước, đơn vị cấp nước có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn 15 ngày làm việc. Trường hợp không đồng ý với cách giải quyết của đơn vị cấp nước, khách hàng sử dụng nước có thể đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tổ chức việc hòa giải. Trong trường hợp không đề nghị hòa giải hoặc hòa giải không thành, khách hàng sử dụng nước có quyền khởi kiện tại tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Trong thời gian chờ giải quyết, khách hàng sử dụng nước vẫn phải thanh toán tiền nước và đơn vị cấp nước không được ngừng dịch vụ cấp nước.”
12. Sửa đổi Điều 30 như sau:
“Điều 30. Phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của công trình khai thác nước mặt
1. Phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của các công trình khai thác nước mặt trên sông, suối, kênh, rạch để cấp cho sinh hoạt bao gồm phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước đối với sông, suối, kênh, rạch mà công trình đó khai thác và vùng thượng lưu, hạ lưu tính từ vị trí khai thác nước của công trình được quy định như sau:
a) Trường hợp công trình khai thác nước với quy mô trên 100m3/ngày đêm đến dưới 50.000m3/ngày đêm, phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt không nhỏ hơn:
- 1.000 m về phía thượng lưu và 100 m về phía hạ lưu đối với khu vực miền núi;
- 800 m về phía thượng lưu và 200 m về phía hạ lưu đối với khu vực đồng bằng, trung du.
b) Trường hợp công trình khai thác nước với quy mô từ 50.000m3/ngày đêm trở lên, phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt không nhỏ hơn:
- 1.500m về phía thượng lưu và 100m về phía hạ lưu đối với khu vực miền núi;
- 1.000m về phía thượng lưu và 200m về phía hạ lưu đối với khu vực đồng bằng, trung du.
2. Phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của các công trình khai thác nước mặt từ hồ chứa để cấp cho sinh hoạt được tính từ vị trí khai thác nước của công trình và quy định như sau:
a) Không nhỏ hơn 1.500m đối với trường hợp công trình khai thác nước từ hồ chứa trên sông, suối và không vượt quá chỉ giới hành lang bảo vệ nguồn nước của hồ chứa;
b) Toàn bộ khu vực lòng hồ đối với trường hợp công trình khai thác nước từ hồ chứa khác với quy định tại Điểm a Khoản này.”
13. Sửa đổi Điều 31 như sau:
“Điều 31. Phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của công trình khai thác nước dưới đất
1. Đối với công trình khai thác nước dưới đất để cấp cho sinh hoạt có quy mô trên 10m3/ngày đêm đến dưới 3.000m3/ngày đêm, phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt không nhỏ hơn 20 m tính từ miệng giếng.
2. Đối với công trình khai thác nước dưới đất để cấp cho sinh hoạt có quy mô từ 3.000m3/ngày đêm trở lên, phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt không nhỏ hơn 30m tính từ miệng giếng.”
14. Sửa đổi Điều 42 như sau:
“Điều 42. Trách nhiệm của Sở Xây dựng
1. Phối hợp với Ủy ban nhân dân các quận - huyện, các cơ quan thông tin đại chúng để phổ biến, tuyên truyền việc thực hiện quy định của Ủy ban nhân dân Thành phố về bảo vệ công trình cấp nước.
2. Thực hiện chức năng tham mưu cho Ủy ban nhân dân Thành phố quản lý nhà nước về cung cấp, sử dụng nước và bảo vệ công trình cấp nước trên địa bàn Thành phố.
3. Chủ trì việc hướng dẫn các cấp, các ngành, các đơn vị cấp nước thực hiện quy định này. Tham mưu cho Ủy ban nhân dân Thành phố về công tác đảm bảo nguồn nước cung cấp cho nhân dân Thành phố và bảo vệ công trình cấp nước.”

Content:
Xử lý sự cố trên mạng lưới cấp nước: đơn vị cấp nước phải xây dựng phương án dự phòng sẵn sàng cung cấp nước tạm thời cho khách hàng sử dụng nước trong suốt thời gian xử lý sự cố.
e) Trong mọi trường hợp tạm ngưng cung cấp nước, đơn vị cấp nước chịu trách nhiệm đảm bảo việc cung cấp nước liên tục cho khách hàng thiết yếu như bệnh viện, trường học, các cơ quan ngoại giao, cơ quan nhà nước trong phạm vi ảnh hưởng, báo cáo Sở Xây dựng kế hoạch thực hiện chi tiết.
f) Thực hiện theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Ngừng dịch vụ cấp nước từ phía đơn vị cấp nước:
a) Đối với khách hàng sử dụng nước là hộ gia đình sử dụng nước cho mục đích sinh hoạt:
- Đơn vị cấp nước có thể ngừng dịch vụ cấp nước từ điểm đấu nối nếu khách hàng sử dụng nước không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền nước, vi phạm các quy định của Hợp đồng dịch vụ cấp nước sau 5 tuần kể từ khi có thông báo đến khách hàng sử dụng nước về việc ngừng dịch vụ cấp nước;
- Nếu khách hàng sử dụng nước không thực hiện nghĩa vụ thanh toán do có lý do khách quan đã được thông báo trước cho đơn vị cấp nước về những lý do trên thì việc ngừng dịch vụ cấp nước sẽ được thực hiện sau 10 tuần kể từ khi có thông báo về việc ngừng dịch vụ cấp nước.
b) Đối với các khách hàng sử dụng nước khác:
Đơn vị cấp nước có thể ngừng dịch vụ cấp nước từ điểm đấu nối nếu khách hàng sử dụng nước không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền nước, vi phạm các quy định của Hợp đồng dịch vụ cấp nước sau 15 ngày làm việc kể từ khi có thông báo đến khách hàng sử dụng nước và chính quyền địa phương về việc ngừng dịch vụ cấp nước.
3. Ngừng dịch vụ cấp nước từ phía khách hàng sử dụng nước:
Khách hàng sử dụng nước khi không còn nhu cầu sử dụng nước thông báo cho đơn vị cấp nước ngừng dịch vụ cấp nước và lập thủ tục chấm dứt Hợp đồng dịch vụ cấp nước. Đơn vị cấp nước chịu trách nhiệm thực hiện các thủ tục bít hủy danh bộ theo quy định.”
9. Bổ sung, điều chỉnh Khoản 3 Điều 14 như sau:
“3. Khách hàng phải thường xuyên theo dõi chỉ số đang có trên đồng hồ đo nước, kịp thời thông báo đến đơn vị cấp nước yêu cầu kiểm tra, xử lý, khi phát hiện lượng nước sử dụng trong kỳ tăng giảm không bình thường. Đơn vị cấp nước kiểm tra tình trạng đồng hồ, chì niêm phong trong quá trình ghi số đồng hồ đo nước.”
10. Sửa đổi, bổ sung Điều 15 như sau:
“Điều 15. Thay đồng hồ đo nước:
1. Đơn vị cấp nước công khai các thông tin chi tiết để đánh giá các trường hợp liên quan đến việc xác định lỗi hoặc không phải lỗi của khách hàng sử dụng nước, báo cáo Sở Xây dựng định kỳ hằng năm để cập nhật.
2. Trường hợp đồng hồ đo nước bị mất hoặc hư hỏng do lỗi của khách hàng, đơn vị cấp nước thay đồng hồ đo nước khác, toàn bộ chi phí thay thế đồng hồ đo nước do khách hàng thanh toán theo đơn giá được đơn vị cấp nước công bố đầu mỗi quý trên các phương tiện thông tin đại chúng.
3. Trường hợp đồng hồ đo nước bị hư hỏng mà không phải do lỗi của khách hàng hoặc chì niêm phong bị đứt, khách hàng phải thông báo cho đơn vị cấp nước biết để tiến hành kiểm tra, bấm chì hoặc thay đồng hồ đo nước khác. Đơn vị cấp nước có trách nhiệm thay đổi cỡ đồng hồ đo nước cho phù hợp quy chuẩn kỹ thuật, lượng nước tiêu thụ thực tế của khách hàng nhằm đảm bảo tính chính xác của đồng hồ đo nước.
4. Đơn vị cấp nước có trách nhiệm thay đồng hồ đo nước miễn phí khi đồng hồ đo nước đó không đọc được chỉ số, ngưng hoạt động, kính mờ, có dấu hiệu chạy không chính xác không do lỗi khách hàng hoặc đến kỳ hạn phải thay kiểm định, tùy thuộc vào từng cỡ loại đồng hồ đo nước được thỏa thuận lắp đặt trong hợp đồng dịch vụ cấp nước và theo quy định của Nhà nước.
5. Trường hợp đồng hồ đo nước được tạm ngưng theo yêu cầu khách hàng quá 12 tháng khi khách hàng có yêu cầu sử dụng nước trở lại: đơn vị cấp nước thay đồng hồ đo nước khác, toàn bộ chi phí thay thế đồng hồ đo nước do khách hàng thanh toán theo đơn giá được đơn vị cấp nước công bố đầu mỗi quý trên các phương tiện thông tin đại chúng.
6. Khách hàng sử dụng nước phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để đơn vị cấp nước thực hiện thay đồng hồ đo nước trong các trường hợp được quy định nêu trên.”
11. Sửa đổi, bổ sung Điều 29 như sau:
“Điều 29. Thanh toán tiền sử dụng nước
1. Khách hàng sử dụng nước phải thanh toán đủ và đúng thời hạn số tiền nước ghi trong hóa đơn cho đơn vị cấp nước. Phương thức, hình thức và địa điểm thanh toán do hai bên thỏa thuận trong Hợp đồng dịch vụ cấp nước.
2. Khách hàng sử dụng nước chậm trả tiền nước quá 1 tháng so với thời hạn thanh toán được quy định trong Hợp đồng dịch vụ cấp nước thì phải trả cả tiền lãi của khoản tiền chậm trả cho đơn vị cấp nước.
3. Đơn vị cấp nước thu thừa tiền nước phải hoàn trả cho khách hàng sử dụng nước khoản tiền thu thừa bao gồm cả tiền lãi của khoản tiền thu thừa nếu thời điểm hoàn trả sau một tháng so với thời điểm đã thu thừa tiền nước.
4. Lãi suất của số tiền chậm trả hoặc thu thừa do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng dịch vụ nhưng không vượt quá lãi suất cho vay cao nhất của ngân hàng mà đơn vị cấp nước có tài khoản ghi trong Hợp đồng dịch vụ cấp nước tại thời điểm thanh toán.
5. Khách hàng sử dụng nước có quyền yêu cầu đơn vị cấp nước xem xét lại số tiền nước phải thanh toán. Khi nhận được yêu cầu của khách hàng sử dụng nước, đơn vị cấp nước có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn 15 ngày làm việc. Trường hợp không đồng ý với cách giải quyết của đơn vị cấp nước, khách hàng sử dụng nước có thể đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tổ chức việc hòa giải. Trong trường hợp không đề nghị hòa giải hoặc hòa giải không thành, khách hàng sử dụng nước có quyền khởi kiện tại tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Trong thời gian chờ giải quyết, khách hàng sử dụng nước vẫn phải thanh toán tiền nước và đơn vị cấp nước không được ngừng dịch vụ cấp nước.”
12. Sửa đổi Điều 30 như sau:
“Điều 30. Phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của công trình khai thác nước mặt
1. Phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của các công trình khai thác nước mặt trên sông, suối, kênh, rạch để cấp cho sinh hoạt bao gồm phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước đối với sông, suối, kênh, rạch mà công trình đó khai thác và vùng thượng lưu, hạ lưu tính từ vị trí khai thác nước của công trình được quy định như sau:
a) Trường hợp công trình khai thác nước với quy mô trên 100m3/ngày đêm đến dưới 50.000m3/ngày đêm, phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt không nhỏ hơn:
- 1.000 m về phía thượng lưu và 100 m về phía hạ lưu đối với khu vực miền núi;
- 800 m về phía thượng lưu và 200 m về phía hạ lưu đối với khu vực đồng bằng, trung du.
b) Trường hợp công trình khai thác nước với quy mô từ 50.000m3/ngày đêm trở lên, phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt không nhỏ hơn:
- 1.500m về phía thượng lưu và 100m về phía hạ lưu đối với khu vực miền núi;
- 1.000m về phía thượng lưu và 200m về phía hạ lưu đối với khu vực đồng bằng, trung du.
2. Phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của các công trình khai thác nước mặt từ hồ chứa để cấp cho sinh hoạt được tính từ vị trí khai thác nước của công trình và quy định như sau:
a) Không nhỏ hơn 1.500m đối với trường hợp công trình khai thác nước từ hồ chứa trên sông, suối và không vượt quá chỉ giới hành lang bảo vệ nguồn nước của hồ chứa;
b) Toàn bộ khu vực lòng hồ đối với trường hợp công trình khai thác nước từ hồ chứa khác với quy định tại Điểm a Khoản này.”
13. Sửa đổi Điều 31 như sau:
“Điều 31. Phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của công trình khai thác nước dưới đất
1. Đối với công trình khai thác nước dưới đất để cấp cho sinh hoạt có quy mô trên 10m3/ngày đêm đến dưới 3.000m3/ngày đêm, phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt không nhỏ hơn 20 m tính từ miệng giếng.
2. Đối với công trình khai thác nước dưới đất để cấp cho sinh hoạt có quy mô từ 3.000m3/ngày đêm trở lên, phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt không nhỏ hơn 30m tính từ miệng giếng.”
14. Sửa đổi Điều 42 như sau:
“Điều 42. Trách nhiệm của Sở Xây dựng
1. Phối hợp với Ủy ban nhân dân các quận - huyện, các cơ quan thông tin đại chúng để phổ biến, tuyên truyền việc thực hiện quy định của Ủy ban nhân dân Thành phố về bảo vệ công trình cấp nước.
2. Thực hiện chức năng tham mưu cho Ủy ban nhân dân Thành phố quản lý nhà nước về cung cấp, sử dụng nước và bảo vệ công trình cấp nước trên địa bàn Thành phố.
3. Chủ trì việc hướng dẫn các cấp, các ngành, các đơn vị cấp nước thực hiện quy định này. Tham mưu cho Ủy ban nhân dân Thành phố về công tác đảm bảo nguồn nước cung cấp cho nhân dân Thành phố và bảo vệ công trình cấp nước.”