Document: Điểm g Khoản 4 Điều 1 Quyết định 339/QĐ-TTg năm 2013 phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "19/02/2013", "sign_number": "339/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "19/02/2013", "sign_number": "339/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "19/02/2013", "sign_number": "339/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "19/02/2013", "sign_number": "339/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "19/02/2013", "sign_number": "339/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm g Khoản 4 Điều 1 Quyết định 339/QĐ-TTg năm 2013 phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế

Điều 1. Phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 - 2020 (sau đây gọi tắt là Đề án) với các nội dung chủ yếu như sau:
...
4. Định hướng tái cơ cấu một số lĩnh vực chủ yếu
...
g) Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trực tiếp chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về cải cách và chất lượng thể chế trong phạm vi ngành, lĩnh vực và địa phương thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được giao.
2. Nâng cao chất lượng quy hoạch, gắn chiến lược với quy hoạch, kế hoạch, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với quy hoạch
a) Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan quản lý ngành theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan và các địa phương:
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp lý về quy hoạch; khẩn trương xây dựng trình Quốc hội ban hành Luật quy hoạch. Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới quy trình và phương pháp lập quy hoạch, bảo đảm phù hợp với thực tế.
- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và liên kết giữa các loại quy hoạch; bảo đảm cụ thể hóa những mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và tính gắn kết hệ thống giữa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả nước, quy hoạch ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương phù hợp với tình hình và yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
- Đổi mới, nâng cao tính liên kết, đồng bộ giữa các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng, quy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất theo hướng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải tổng hợp, cân đối, phân bổ hợp lý, sử dụng hiệu quả đất đai cho các ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ và đơn vị hành chính; quy hoạch xây dựng và quy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất phải phù hợp với các chỉ tiêu, tiến độ sử dụng đất được phân bổ trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thực hiện lồng ghép; quản lý chặt chẽ yêu cầu bảo vệ môi trường vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội.
- Thực hiện các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, bảo đảm chế tài thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực, vùng, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch đô thị; tăng cường tính công khai, minh bạch đối với các loại quy hoạch.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ quy hoạch ở các Bộ, cơ quan, địa phương, nhất là sự kết hợp giữa quy hoạch vùng với quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; giảm thiểu tình trạng điều chỉnh sớm và với tần suất cao các quy hoạch đã được duyệt, nhất là quy hoạch cơ sở hạ tầng đô thị; thực hiện đúng trình tự, thủ tục về xây dựng, thẩm định và phê duyệt theo quy định đối với các trường hợp sửa đổi, bổ sung quy hoạch.
- Tổng hợp, báo cáo về công tác quy hoạch, tình hình triển khai các quy hoạch và kịp thời đề xuất với cấp có thẩm quyền xử lý những tồn tại trong công tác quản lý và thực hiện quy hoạch.
b) Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương rà soát, đánh giá, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền đối với quy hoạch phát triển hạ tầng giao thông phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã được Đại hội Đảng XI thông qua, Nghị quyết số 13-NQ/TW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
c) Các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm, quy hoạch vùng, địa phương và các quy hoạch khác để thực hiện các nội dung, định hướng tái cơ cấu kinh tế, nhất là tái cơ cấu ngành, lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, bảo đảm phù hợp với từng vùng, phát huy tiềm năng lợi thế của địa phương, gắn kết sản xuất với tiêu thụ sản phẩm và đảm bảo phát triển bền vững.
- Rà soát, cập nhật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp theo hướng sử dụng hiệu quả nhất nguồn đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Rà soát việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư đã được giao đất, có biện pháp xử lý phù hợp đối với các dự án sai quy hoạch; kiên quyết thu hồi hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền thu hồi đất đối với những dự án đầu tư không triển khai hoặc triển khai chậm so với quy định của pháp luật đất đai, bất động sản.
- Trong giai đoạn 2013 - 2015, tập trung hoàn thiện và công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, quy hoạch đô thị, khu công nghiệp, quy hoạch ngành, lĩnh vực và sản phẩm quan trọng thuộc diện ưu tiên phát triển; xóa bỏ tình trạng quy hoạch treo trước năm 2015.
- Hàng năm, xây dựng báo cáo về thực trạng công tác quy hoạch, công khai, minh bạch hóa quy hoạch, kết quả thực hiện quy hoạch và các vấn đề liên quan gửi Bộ kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
d) Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch và các cơ quan liên quan theo nhiệm vụ được phân công:
- Chịu trách nhiệm về chất lượng quy hoạch, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện quy hoạch và đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch theo quy định.
- Đình chỉ ngay các hành vi vi phạm quy hoạch đã được phê duyệt, thực hiện các biện pháp xử lý hoặc đề xuất biện pháp xử lý với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
3. Đổi mới cơ chế, chính sách huy động, phân bổ, sử dụng vốn đầu tư
a) Thực hiện quyết liệt, hiệu quả tái cơ cấu đầu tư công:
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
+ Tiếp tục rà soát, hoàn thiện pháp luật, cơ chế chính sách phân cấp, quản lý đầu tư công. Xây dựng, trình ban hành Luật đầu tư công theo hướng thống nhất quản lý các loại vốn đầu tư nhà nước, bao gồm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, tín dụng đầu tư của Nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp; tăng cường kỷ luật, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong sử dụng vốn đầu tư nhà nước, bảo đảm kiểm soát chặt chẽ nợ công, bảo đảm trong giới hạn an toàn và giữ vững an ninh tài chính quốc gia.
+ Thực hiện quyết liệt, nhất quán, hiệu quả kế hoạch đầu tư trung hạn; trong đó tập trung vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các dự án, công trình trọng điểm, quan trọng quốc gia; dành một phần thỏa đáng vốn ngân sách nhà nước để tham gia các dự án hợp tác công - tư, vốn đối ứng ODA và kinh phí giải phóng mặt bằng. Đối với những dự án quan trọng quốc gia có hiệu quả cao và tác động lan tỏa lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội trong vùng, liên vùng, khuyến khích thực hiện theo các hình thức đầu tư kết hợp công - tư (PPP, BOT, BT, BO,...) hoặc phát hành trái phiếu, tăng cường huy động và bảo đảm cân đối đủ vốn để triển khai thực hiện.
+ Không phân bổ và thực hiện đầu tư mới vào các ngành, lĩnh vực mà khu vực tư nhân có khả năng và sẵn sàng đầu tư kinh doanh như các dịch vụ thương mại, khách sạn, nhà hàng, kinh doanh bất động sản, lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng và một số ngành, lĩnh vực khác.
+ Xây dựng và áp dụng quy trình hợp lý, chặt chẽ và có hiệu quả về xác định, thẩm định, lựa chọn, phân bổ vốn đầu tư và thực hiện dự án đầu tư nhà nước; chỉ lựa chọn những dự án đáp ứng tiêu chí về hiệu quả kinh tế - xã hội; tập trung bố trí đủ vốn đầu tư thực hiện các dự án quan trọng, cấp bách; khắc phục hiệu quả tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ và kém hiệu quả.
+ Thực hiện công khai hóa, minh bạch hóa thông tin về đầu tư; tăng cường thẩm quyền và năng lực của hệ thống giám sát đối với đầu tư công, khuyến khích và tạo điều kiện cho hoạt động giám sát của cộng đồng đối với các dự án đầu tư công, hoạt động đầu tư công. Tăng cường chấp hành pháp luật, cơ chế chính sách, nâng cao trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát trong đầu tư công.
- Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương thực hiện rà soát và lựa chọn các dự án giao thông quan trọng quốc gia ưu tiên đầu tư và bố trí đủ vốn đảm bảo hoàn thành trong thời hạn sớm nhất; trường hợp cân đối không đủ số vốn cần thiết, thì nghiên cứu áp dụng các hình thức đầu tư kết hợp công - tư (PPP, BT, BOT, BO,...) hoặc phát hành trái phiếu để huy động vốn đầu tư; rà soát, cắt giảm, đình hoãn các dự án chưa bố trí được vốn hoặc không chuyển đổi để thực hiện đầu tư theo các hình thức khác.
- Các Bộ, cơ quan, địa phương theo trách nhiệm, thẩm quyền chịu trách nhiệm rà soát lại tất cả các dự án đầu tư thuộc phạm vi quản lý, kiểm soát chặt chẽ phạm vi, quy mô của từng dự án đầu tư theo đúng mục tiêu, lĩnh vực và chương trình đã được phê duyệt; chỉ được quyết định đầu tư khi dự án đã được lựa chọn theo đúng quy trình và thứ tự ưu tiên, đã xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối, bố trí đủ vốn hoàn thành dự án đầu tư ở từng cấp ngân sách.
b) Đổi mới cơ chế huy động nguồn lực, chế độ ưu đãi, khuyến khích đầu tư, cơ chế quản lý đầu tư, mở rộng cơ hội thu hút đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư nước ngoài
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ quản lý ngành theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan và các địa phương:
- Xác định và công bố danh mục các dự án hạ tầng khả thi, có khả năng thu hồi vốn, xác định cơ chế chính sách đặc thù cho từng dự án cho giai đoạn 2013 - 2015 và các năm tiếp theo để thu hút, huy động tư nhân đầu tư phát triển hạ tầng theo các hình thức đầu tư kết hợp công - tư thích hợp (PPP, BT, BOT, BO,...).
- Ban hành cơ chế đấu thầu quyền thăm dò và khai thác các loại khoáng sản, đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất để giao đất, cho thuê đất đối với các dự án phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo sử dụng khoáng sản, đất đai, tài nguyên một cách tiết kiệm, hiệu quả và bền vững.
- Quy định cụ thể điều kiện để nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án phát triển kinh tế, xã hội; có chế tài đồng bộ, cụ thể để xử lý nghiêm, dứt điểm các trường hợp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhưng sử dụng lãng phí, không đúng mục đích, đầu cơ đất, chậm đưa đất vào sử dụng; không bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất, giá trị đã đầu tư vào đất đối với các trường hợp bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai.
- Bổ sung, thay đổi danh mục ngành, nghề khuyến khích đầu tư theo hướng chỉ bao gồm các ngành nghề ưu tiên phát triển đã được xác định phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu nội bộ ngành kinh tế - kỹ thuật; thực hiện ưu đãi đầu tư như nhau đối với dự án đầu tư mới và đầu tư mở rộng, đầu tư nâng cấp trong các ngành, nghề khuyến khích đầu tư.
- Thực hiện chế độ ưu đãi và khuyến khích đầu tư đủ lớn về quy mô, đa dạng về công cụ và hình thức để thúc đẩy, hỗ trợ và thu hút các nhà đầu tư có chất lượng cao, đảm bảo phát triển các ngành ưu tiên phát triển; các biện pháp ưu đãi đầu tư đều phải có mục tiêu, thời hạn và điều kiện ràng buộc, chế tài cụ thể, rõ ràng.
c) Tăng cường quản lý nhà nước về đầu tư
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
- Chỉ chấp thuận đầu tư và cấp phép xây dựng công trình đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình có đủ các điều kiện theo quy định (địa điểm đầu tư và quy mô sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị, quy hoạch phát triển hạ tầng kỹ thuật; đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật; có hiệu quả kinh tế - xã hội đáp ứng các yêu cầu theo quy định của pháp luật,...). Trường hợp diện tích đất quy hoạch để đầu tư phát triển công nghiệp có hạn, không đáp ứng đủ nhu cầu của nhà đầu tư, thì ưu tiên giao đất, cho thuê đất đối với dự án thuộc ngành, nghề ưu tiên phát triển.
- Xây dựng quy trình hợp lý, liên thông giải quyết các thủ tục hành chính về đầu tư - xây dựng từ chấp thuận chủ trương đầu tư, đánh giá tác động môi trường, thẩm định và chấp thuận dự án đầu tư, thỏa thuận về giao đất, cho thuê đất,... đến cấp giấy phép xây dựng; thực hiện cơ chế dịch vụ một cửa liên thông trong việc thực hiện các thủ tục hành chính.
- Nâng cao thẩm quyền, tăng cường năng lực và thực hiện có hiệu quả giám sát của các Bộ, cơ quan Trung ương liên quan về quản lý đầu tư xây dựng công trình, bảo đảm dự án đầu tư được chấp thuận đáp ứng đầy đủ tiêu chí, thực hiện đúng tiến độ, có hiệu quả kinh tế - xã hội; tăng cường công khai hóa thông tin và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước hữu quan về đầu tư và các vấn đề có liên quan.
d) Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và bảo đảm chất lượng các dự án đầu tư nước ngoài
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
- Xây dựng và thực hiện chiến lược vận động và xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển các ngành, nghề ưu tiên phát triển, đẩy nhanh tốc độ tái cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Xây dựng tiêu chí cụ thể đánh giá, thẩm định và lựa chọn nhà đầu tư và dự án đầu tư nước ngoài nhằm đạt được các mục tiêu: thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ; có khả năng tạo ra ngoại tệ đủ bù đắp nhu cầu chi ngoại tệ của dự án, bao gồm cả chuyển vốn và lợi nhuận ra nước ngoài, góp phần giảm thâm hụt và tiến tới cân bằng cán cân thương mại; sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; tăng tỷ trọng giá trị gia tăng nội địa,...
- Xây dựng và thực hiện các gói giải pháp ưu đãi và hỗ trợ cụ thể, linh hoạt trên cơ sở đàm phán, thỏa thuận với các tập đoàn đa quốc gia để thu hút đầu tư của các tập đoàn này vào các ngành công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, xây dựng mạng sản xuất và chuỗi cung ứng nội địa liên kết với hoạt động sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia.
- Đổi mới hệ thống quản lý, vận động và xúc tiến đầu tư nước ngoài; tăng cường năng lực và hiệu lực giám sát thực hiện đầu tư sau đăng ký hoặc đã được chấp thuận. Củng cố công tác giám sát, theo dõi và quản lý thực hiện đầu tư đối với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng các giải pháp:
+ Duy trì mối liên hệ thường xuyên với các nhà đầu tư để kịp thời nắm bắt các vướng mắc, khó khăn gặp phải trong quá trình đầu tư. Cơ quan xúc tiến đầu tư phải là đầu mối một cửa, chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan khác đề xuất các giải pháp tháo gỡ hoặc hỗ trợ kịp thời đối với các khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư.
+ Tăng cường năng lực, xây dựng hệ thống thông tin quốc gia, thống nhất toàn quốc về đầu tư nước ngoài.
+ Giám sát thường xuyên và kịp thời phát hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả các ưu đãi đầu tư, nhất là đất đai và cơ sở hạ tầng; kịp thời thu hồi và chuyển giao các nguồn lực cho những dự án hiệu quả hơn; định kỳ đánh giá kết quả thu hút và hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư nước ngoài.
+ Nâng cao năng lực quản lý và thực hiện các giải pháp chống chuyển giá ngay từ khi triển khai các công trình, dự án.
Tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng, trọng tâm là các ngân hàng thương mại
a) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:
- Thực hiện đầy đủ, nhất quán và có hiệu quả các giải pháp theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015”.
- Chỉ đạo và thực hiện các giải pháp thuộc thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp luật để ngăn chặn gia tăng và giảm dần nợ xấu như yêu cầu và giám sát hiệu quả việc trích lập đầy đủ quỹ dự phòng, sử dụng quỹ dự phòng, lợi nhuận và vốn chủ sở hữu để xử lý nợ xấu đối với từng tổ chức tín dụng,...
- Yêu cầu các tổ chức tín dụng khẩn trương xây dựng, trình phương án tái cơ cấu phù hợp với thực trạng cụ thể của từng tổ chức tín dụng; chỉ đạo và giám sát các tổ chức tín dụng triển khai thực hiện có hiệu quả phương án tái cơ cấu, đảm bảo đạt được các mục tiêu và định hướng tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng theo Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015” nói trên.
- Từng bước áp dụng các nguyên tắc và tiêu chí đánh giá ngân hàng theo thông lệ quốc tế. Tập trung xử lý nợ xấu, tăng cường kiểm tra, kiểm soát để nâng cao chất lượng, giảm thiểu rủi ro tín dụng. Đánh giá, xác định đúng thực trạng nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng và của từng tổ chức tín dụng; trên cơ sở đó xây dựng phương án tổng thể xử lý nợ xấu nhằm làm sạch và cơ cấu lại hoạt động của các tổ chức tín dụng theo hướng lành mạnh, hiệu quả. Phấn đấu đến năm 2015 giảm nợ xấu của ngân hàng thương mại nhà nước xuống dưới 3% tổng dư nợ tín dụng (theo chuẩn phân loại nợ và chuẩn mực kế toán của Việt Nam).
- Đánh giá và xác định đầy đủ thực trạng sở hữu chéo hiện nay trong hệ thống các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính; thực hiện các giải pháp ngăn chặn và loại trừ ảnh hưởng chi phối tiêu cực và vi phạm pháp luật của các cổ đông, nhóm cổ đông chi phối trong huy động, phân bổ và sử dụng vốn tín dụng ngân hàng; hạn chế các hành vi thâu tóm, lũng đoạn và chi phối các ngân hàng thương mại cổ phần gây rủi ro đối với từng ngân hàng và toàn hệ thống ngân hàng.
- Tăng cường công tác quản lý, cấp phép hoạt động và mở rộng mạng lưới của các ngân hàng thương mại; tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách về quản lý, thanh tra, giám sát đối với hoạt động ngân hàng.
- Khuyến khích, tạo điều kiện và bảo đảm việc theo đuổi và thực hành các chuẩn mực về quản trị ngân hàng, đặc biệt là quản trị rủi ro tại các tổ chức tín dụng, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tế của Việt Nam.
b) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan:
- Đẩy mạnh tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm thông qua cơ cấu lại, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm trên thị trường; cơ cấu lại các nhà đầu tư; sắp xếp lại và nâng cao năng lực tổ chức kinh doanh trên thị trường; bảo đảm chuẩn mực công bố và minh bạch hóa thông tin.
- Thực hiện các giải pháp phù hợp tháo gỡ khó khăn và để đẩy mạnh huy động vốn qua thị trường vốn, thị trường chứng khoán.
- Thực hiện giải pháp bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ cùng với việc tăng cường hiệu lực, chế tài thực thi quy định pháp luật trên thị trường chứng khoán.

Content:
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trực tiếp chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về cải cách và chất lượng thể chế trong phạm vi ngành, lĩnh vực và địa phương thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được giao.
2. Nâng cao chất lượng quy hoạch, gắn chiến lược với quy hoạch, kế hoạch, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với quy hoạch
a) Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan quản lý ngành theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan và các địa phương:
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp lý về quy hoạch; khẩn trương xây dựng trình Quốc hội ban hành Luật quy hoạch. Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới quy trình và phương pháp lập quy hoạch, bảo đảm phù hợp với thực tế.
- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và liên kết giữa các loại quy hoạch; bảo đảm cụ thể hóa những mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và tính gắn kết hệ thống giữa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả nước, quy hoạch ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương phù hợp với tình hình và yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
- Đổi mới, nâng cao tính liên kết, đồng bộ giữa các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng, quy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất theo hướng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải tổng hợp, cân đối, phân bổ hợp lý, sử dụng hiệu quả đất đai cho các ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ và đơn vị hành chính; quy hoạch xây dựng và quy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất phải phù hợp với các chỉ tiêu, tiến độ sử dụng đất được phân bổ trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thực hiện lồng ghép; quản lý chặt chẽ yêu cầu bảo vệ môi trường vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội.
- Thực hiện các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, bảo đảm chế tài thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực, vùng, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch đô thị; tăng cường tính công khai, minh bạch đối với các loại quy hoạch.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ quy hoạch ở các Bộ, cơ quan, địa phương, nhất là sự kết hợp giữa quy hoạch vùng với quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; giảm thiểu tình trạng điều chỉnh sớm và với tần suất cao các quy hoạch đã được duyệt, nhất là quy hoạch cơ sở hạ tầng đô thị; thực hiện đúng trình tự, thủ tục về xây dựng, thẩm định và phê duyệt theo quy định đối với các trường hợp sửa đổi, bổ sung quy hoạch.
- Tổng hợp, báo cáo về công tác quy hoạch, tình hình triển khai các quy hoạch và kịp thời đề xuất với cấp có thẩm quyền xử lý những tồn tại trong công tác quản lý và thực hiện quy hoạch.
b) Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương rà soát, đánh giá, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền đối với quy hoạch phát triển hạ tầng giao thông phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã được Đại hội Đảng XI thông qua, Nghị quyết số 13-NQ/TW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
c) Các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm, quy hoạch vùng, địa phương và các quy hoạch khác để thực hiện các nội dung, định hướng tái cơ cấu kinh tế, nhất là tái cơ cấu ngành, lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, bảo đảm phù hợp với từng vùng, phát huy tiềm năng lợi thế của địa phương, gắn kết sản xuất với tiêu thụ sản phẩm và đảm bảo phát triển bền vững.
- Rà soát, cập nhật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp theo hướng sử dụng hiệu quả nhất nguồn đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Rà soát việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư đã được giao đất, có biện pháp xử lý phù hợp đối với các dự án sai quy hoạch; kiên quyết thu hồi hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền thu hồi đất đối với những dự án đầu tư không triển khai hoặc triển khai chậm so với quy định của pháp luật đất đai, bất động sản.
- Trong giai đoạn 2013 - 2015, tập trung hoàn thiện và công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, quy hoạch đô thị, khu công nghiệp, quy hoạch ngành, lĩnh vực và sản phẩm quan trọng thuộc diện ưu tiên phát triển; xóa bỏ tình trạng quy hoạch treo trước năm 2015.
- Hàng năm, xây dựng báo cáo về thực trạng công tác quy hoạch, công khai, minh bạch hóa quy hoạch, kết quả thực hiện quy hoạch và các vấn đề liên quan gửi Bộ kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
d) Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch và các cơ quan liên quan theo nhiệm vụ được phân công:
- Chịu trách nhiệm về chất lượng quy hoạch, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện quy hoạch và đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch theo quy định.
- Đình chỉ ngay các hành vi vi phạm quy hoạch đã được phê duyệt, thực hiện các biện pháp xử lý hoặc đề xuất biện pháp xử lý với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
3. Đổi mới cơ chế, chính sách huy động, phân bổ, sử dụng vốn đầu tư
a) Thực hiện quyết liệt, hiệu quả tái cơ cấu đầu tư công:
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
+ Tiếp tục rà soát, hoàn thiện pháp luật, cơ chế chính sách phân cấp, quản lý đầu tư công. Xây dựng, trình ban hành Luật đầu tư công theo hướng thống nhất quản lý các loại vốn đầu tư nhà nước, bao gồm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, tín dụng đầu tư của Nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp; tăng cường kỷ luật, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong sử dụng vốn đầu tư nhà nước, bảo đảm kiểm soát chặt chẽ nợ công, bảo đảm trong giới hạn an toàn và giữ vững an ninh tài chính quốc gia.
+ Thực hiện quyết liệt, nhất quán, hiệu quả kế hoạch đầu tư trung hạn; trong đó tập trung vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các dự án, công trình trọng điểm, quan trọng quốc gia; dành một phần thỏa đáng vốn ngân sách nhà nước để tham gia các dự án hợp tác công - tư, vốn đối ứng ODA và kinh phí giải phóng mặt bằng. Đối với những dự án quan trọng quốc gia có hiệu quả cao và tác động lan tỏa lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội trong vùng, liên vùng, khuyến khích thực hiện theo các hình thức đầu tư kết hợp công - tư (PPP, BOT, BT, BO,...) hoặc phát hành trái phiếu, tăng cường huy động và bảo đảm cân đối đủ vốn để triển khai thực hiện.
+ Không phân bổ và thực hiện đầu tư mới vào các ngành, lĩnh vực mà khu vực tư nhân có khả năng và sẵn sàng đầu tư kinh doanh như các dịch vụ thương mại, khách sạn, nhà hàng, kinh doanh bất động sản, lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng và một số ngành, lĩnh vực khác.
+ Xây dựng và áp dụng quy trình hợp lý, chặt chẽ và có hiệu quả về xác định, thẩm định, lựa chọn, phân bổ vốn đầu tư và thực hiện dự án đầu tư nhà nước; chỉ lựa chọn những dự án đáp ứng tiêu chí về hiệu quả kinh tế - xã hội; tập trung bố trí đủ vốn đầu tư thực hiện các dự án quan trọng, cấp bách; khắc phục hiệu quả tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ và kém hiệu quả.
+ Thực hiện công khai hóa, minh bạch hóa thông tin về đầu tư; tăng cường thẩm quyền và năng lực của hệ thống giám sát đối với đầu tư công, khuyến khích và tạo điều kiện cho hoạt động giám sát của cộng đồng đối với các dự án đầu tư công, hoạt động đầu tư công. Tăng cường chấp hành pháp luật, cơ chế chính sách, nâng cao trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát trong đầu tư công.
- Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương thực hiện rà soát và lựa chọn các dự án giao thông quan trọng quốc gia ưu tiên đầu tư và bố trí đủ vốn đảm bảo hoàn thành trong thời hạn sớm nhất; trường hợp cân đối không đủ số vốn cần thiết, thì nghiên cứu áp dụng các hình thức đầu tư kết hợp công - tư (PPP, BT, BOT, BO,...) hoặc phát hành trái phiếu để huy động vốn đầu tư; rà soát, cắt giảm, đình hoãn các dự án chưa bố trí được vốn hoặc không chuyển đổi để thực hiện đầu tư theo các hình thức khác.
- Các Bộ, cơ quan, địa phương theo trách nhiệm, thẩm quyền chịu trách nhiệm rà soát lại tất cả các dự án đầu tư thuộc phạm vi quản lý, kiểm soát chặt chẽ phạm vi, quy mô của từng dự án đầu tư theo đúng mục tiêu, lĩnh vực và chương trình đã được phê duyệt; chỉ được quyết định đầu tư khi dự án đã được lựa chọn theo đúng quy trình và thứ tự ưu tiên, đã xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối, bố trí đủ vốn hoàn thành dự án đầu tư ở từng cấp ngân sách.
b) Đổi mới cơ chế huy động nguồn lực, chế độ ưu đãi, khuyến khích đầu tư, cơ chế quản lý đầu tư, mở rộng cơ hội thu hút đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư nước ngoài
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ quản lý ngành theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan và các địa phương:
- Xác định và công bố danh mục các dự án hạ tầng khả thi, có khả năng thu hồi vốn, xác định cơ chế chính sách đặc thù cho từng dự án cho giai đoạn 2013 - 2015 và các năm tiếp theo để thu hút, huy động tư nhân đầu tư phát triển hạ tầng theo các hình thức đầu tư kết hợp công - tư thích hợp (PPP, BT, BOT, BO,...).
- Ban hành cơ chế đấu thầu quyền thăm dò và khai thác các loại khoáng sản, đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất để giao đất, cho thuê đất đối với các dự án phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo sử dụng khoáng sản, đất đai, tài nguyên một cách tiết kiệm, hiệu quả và bền vững.
- Quy định cụ thể điều kiện để nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án phát triển kinh tế, xã hội; có chế tài đồng bộ, cụ thể để xử lý nghiêm, dứt điểm các trường hợp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhưng sử dụng lãng phí, không đúng mục đích, đầu cơ đất, chậm đưa đất vào sử dụng; không bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất, giá trị đã đầu tư vào đất đối với các trường hợp bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai.
- Bổ sung, thay đổi danh mục ngành, nghề khuyến khích đầu tư theo hướng chỉ bao gồm các ngành nghề ưu tiên phát triển đã được xác định phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu nội bộ ngành kinh tế - kỹ thuật; thực hiện ưu đãi đầu tư như nhau đối với dự án đầu tư mới và đầu tư mở rộng, đầu tư nâng cấp trong các ngành, nghề khuyến khích đầu tư.
- Thực hiện chế độ ưu đãi và khuyến khích đầu tư đủ lớn về quy mô, đa dạng về công cụ và hình thức để thúc đẩy, hỗ trợ và thu hút các nhà đầu tư có chất lượng cao, đảm bảo phát triển các ngành ưu tiên phát triển; các biện pháp ưu đãi đầu tư đều phải có mục tiêu, thời hạn và điều kiện ràng buộc, chế tài cụ thể, rõ ràng.
c) Tăng cường quản lý nhà nước về đầu tư
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
- Chỉ chấp thuận đầu tư và cấp phép xây dựng công trình đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình có đủ các điều kiện theo quy định (địa điểm đầu tư và quy mô sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị, quy hoạch phát triển hạ tầng kỹ thuật; đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật; có hiệu quả kinh tế - xã hội đáp ứng các yêu cầu theo quy định của pháp luật,...). Trường hợp diện tích đất quy hoạch để đầu tư phát triển công nghiệp có hạn, không đáp ứng đủ nhu cầu của nhà đầu tư, thì ưu tiên giao đất, cho thuê đất đối với dự án thuộc ngành, nghề ưu tiên phát triển.
- Xây dựng quy trình hợp lý, liên thông giải quyết các thủ tục hành chính về đầu tư - xây dựng từ chấp thuận chủ trương đầu tư, đánh giá tác động môi trường, thẩm định và chấp thuận dự án đầu tư, thỏa thuận về giao đất, cho thuê đất,... đến cấp giấy phép xây dựng; thực hiện cơ chế dịch vụ một cửa liên thông trong việc thực hiện các thủ tục hành chính.
- Nâng cao thẩm quyền, tăng cường năng lực và thực hiện có hiệu quả giám sát của các Bộ, cơ quan Trung ương liên quan về quản lý đầu tư xây dựng công trình, bảo đảm dự án đầu tư được chấp thuận đáp ứng đầy đủ tiêu chí, thực hiện đúng tiến độ, có hiệu quả kinh tế - xã hội; tăng cường công khai hóa thông tin và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước hữu quan về đầu tư và các vấn đề có liên quan.
d) Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và bảo đảm chất lượng các dự án đầu tư nước ngoài
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao:
- Xây dựng và thực hiện chiến lược vận động và xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển các ngành, nghề ưu tiên phát triển, đẩy nhanh tốc độ tái cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Xây dựng tiêu chí cụ thể đánh giá, thẩm định và lựa chọn nhà đầu tư và dự án đầu tư nước ngoài nhằm đạt được các mục tiêu: thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ; có khả năng tạo ra ngoại tệ đủ bù đắp nhu cầu chi ngoại tệ của dự án, bao gồm cả chuyển vốn và lợi nhuận ra nước ngoài, góp phần giảm thâm hụt và tiến tới cân bằng cán cân thương mại; sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; tăng tỷ trọng giá trị gia tăng nội địa,...
- Xây dựng và thực hiện các gói giải pháp ưu đãi và hỗ trợ cụ thể, linh hoạt trên cơ sở đàm phán, thỏa thuận với các tập đoàn đa quốc gia để thu hút đầu tư của các tập đoàn này vào các ngành công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, xây dựng mạng sản xuất và chuỗi cung ứng nội địa liên kết với hoạt động sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia.
- Đổi mới hệ thống quản lý, vận động và xúc tiến đầu tư nước ngoài; tăng cường năng lực và hiệu lực giám sát thực hiện đầu tư sau đăng ký hoặc đã được chấp thuận. Củng cố công tác giám sát, theo dõi và quản lý thực hiện đầu tư đối với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng các giải pháp:
+ Duy trì mối liên hệ thường xuyên với các nhà đầu tư để kịp thời nắm bắt các vướng mắc, khó khăn gặp phải trong quá trình đầu tư. Cơ quan xúc tiến đầu tư phải là đầu mối một cửa, chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan khác đề xuất các giải pháp tháo gỡ hoặc hỗ trợ kịp thời đối với các khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư.
+ Tăng cường năng lực, xây dựng hệ thống thông tin quốc gia, thống nhất toàn quốc về đầu tư nước ngoài.
+ Giám sát thường xuyên và kịp thời phát hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả các ưu đãi đầu tư, nhất là đất đai và cơ sở hạ tầng; kịp thời thu hồi và chuyển giao các nguồn lực cho những dự án hiệu quả hơn; định kỳ đánh giá kết quả thu hút và hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư nước ngoài.
+ Nâng cao năng lực quản lý và thực hiện các giải pháp chống chuyển giá ngay từ khi triển khai các công trình, dự án.
Tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng, trọng tâm là các ngân hàng thương mại
a) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:
- Thực hiện đầy đủ, nhất quán và có hiệu quả các giải pháp theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015”.
- Chỉ đạo và thực hiện các giải pháp thuộc thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp luật để ngăn chặn gia tăng và giảm dần nợ xấu như yêu cầu và giám sát hiệu quả việc trích lập đầy đủ quỹ dự phòng, sử dụng quỹ dự phòng, lợi nhuận và vốn chủ sở hữu để xử lý nợ xấu đối với từng tổ chức tín dụng,...
- Yêu cầu các tổ chức tín dụng khẩn trương xây dựng, trình phương án tái cơ cấu phù hợp với thực trạng cụ thể của từng tổ chức tín dụng; chỉ đạo và giám sát các tổ chức tín dụng triển khai thực hiện có hiệu quả phương án tái cơ cấu, đảm bảo đạt được các mục tiêu và định hướng tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng theo Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015” nói trên.
- Từng bước áp dụng các nguyên tắc và tiêu chí đánh giá ngân hàng theo thông lệ quốc tế. Tập trung xử lý nợ xấu, tăng cường kiểm tra, kiểm soát để nâng cao chất lượng, giảm thiểu rủi ro tín dụng. Đánh giá, xác định đúng thực trạng nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng và của từng tổ chức tín dụng; trên cơ sở đó xây dựng phương án tổng thể xử lý nợ xấu nhằm làm sạch và cơ cấu lại hoạt động của các tổ chức tín dụng theo hướng lành mạnh, hiệu quả. Phấn đấu đến năm 2015 giảm nợ xấu của ngân hàng thương mại nhà nước xuống dưới 3% tổng dư nợ tín dụng (theo chuẩn phân loại nợ và chuẩn mực kế toán của Việt Nam).
- Đánh giá và xác định đầy đủ thực trạng sở hữu chéo hiện nay trong hệ thống các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính; thực hiện các giải pháp ngăn chặn và loại trừ ảnh hưởng chi phối tiêu cực và vi phạm pháp luật của các cổ đông, nhóm cổ đông chi phối trong huy động, phân bổ và sử dụng vốn tín dụng ngân hàng; hạn chế các hành vi thâu tóm, lũng đoạn và chi phối các ngân hàng thương mại cổ phần gây rủi ro đối với từng ngân hàng và toàn hệ thống ngân hàng.
- Tăng cường công tác quản lý, cấp phép hoạt động và mở rộng mạng lưới của các ngân hàng thương mại; tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách về quản lý, thanh tra, giám sát đối với hoạt động ngân hàng.
- Khuyến khích, tạo điều kiện và bảo đảm việc theo đuổi và thực hành các chuẩn mực về quản trị ngân hàng, đặc biệt là quản trị rủi ro tại các tổ chức tín dụng, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tế của Việt Nam.
b) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan:
- Đẩy mạnh tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm thông qua cơ cấu lại, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm trên thị trường; cơ cấu lại các nhà đầu tư; sắp xếp lại và nâng cao năng lực tổ chức kinh doanh trên thị trường; bảo đảm chuẩn mực công bố và minh bạch hóa thông tin.
- Thực hiện các giải pháp phù hợp tháo gỡ khó khăn và để đẩy mạnh huy động vốn qua thị trường vốn, thị trường chứng khoán.
- Thực hiện giải pháp bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ cùng với việc tăng cường hiệu lực, chế tài thực thi quy định pháp luật trên thị trường chứng khoán.