Document: Khoản 5 Điều 4 Thông tư 24/2009/TT-BXD hướng dẫn Nghị định 23/2009/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản

Type: {"issuing_agency": "Bộ Xây dựng", "promulgation_date": "22/07/2009", "sign_number": "24/2009/TT-BXD", "signer": "Cao Lại Quang", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Xây dựng", "promulgation_date": "22/07/2009", "sign_number": "24/2009/TT-BXD", "signer": "Cao Lại Quang", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Xây dựng", "promulgation_date": "22/07/2009", "sign_number": "24/2009/TT-BXD", "signer": "Cao Lại Quang", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Xây dựng", "promulgation_date": "22/07/2009", "sign_number": "24/2009/TT-BXD", "signer": "Cao Lại Quang", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Xây dựng", "promulgation_date": "22/07/2009", "sign_number": "24/2009/TT-BXD", "signer": "Cao Lại Quang", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 4 Thông tư 24/2009/TT-BXD hướng dẫn Nghị định 23/2009/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản

Điều 4. Về xử phạt chủ đầu tư, nhà thầu có hành vi vi phạm các quy định về trật tự xây dựng
...
5. Xử lý công trình xây dựng vi phạm trật tự xây dựng khác theo quy định tại khoản 5, khoản 6, khoản 7 Điều 11 và khoản 5, khoản 6, khoản 7 Điều 25 Nghị định số 23/2009/NĐ-CP
a) Khoản 5 Điều 11 và khoản 5 Điều 25 Nghị định số 23/2009/NĐ-CP được áp dụng đối với nhà ở riêng lẻ, công trình xây dựng khác không phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình có một trong những hành vi vi phạm như: không che chắn hoặc có che chắn nhưng vẫn để rơi vãi vật liệu xuống khu vực xung quanh; để vật liệu ở vỉa hè, lòng đường, ngõ xóm, khu dân cư không đúng quy định.
b) Hành vi vi phạm quy định tại khoản 6, khoản 7 Điều 11 và khoản 6, khoản 7 Điều 25 Nghị định số 23/2009/NĐ-CP khi được phát hiện hoặc có khiếu kiện của bên bị thiệt hại, người có thẩm quyền phải kịp thời lập biên bản theo Phụ lục II Nghị định số 23/2009/NĐ-CP, yêu cầu chủ đầu tư ngừng ngay việc thi công xây dựng công trình.
Ngay sau khi biên bản được lập, nếu hai bên không tự thỏa thuận được và một bên có đơn yêu cầu thì Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì mời chủ đầu tư công trình vi phạm và đại diện bên bị thiệt hại đến để thỏa thuận mức đền bù. Sau bảy ngày kể từ ngày thỏa thuận lần đầu không thành hoặc bên bị thiệt hại vắng mặt không có lý do chính đáng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức thỏa thuận lần hai. Trường hợp tại các buổi thỏa thuận mà bên bị thiệt hại vắng mặt không có lý do chính đáng thì chủ đầu tư công trình được tiếp tục thi công xây dựng. Trường hợp thỏa thuận lần hai không thành, các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết, công trình được tiếp tục thi công khi có quyết định, bản án có hiệu lực của Tòa án.
Trường hợp công trình xây dựng có nguy cơ sụp đổ thì Chủ đầu tư có trách nhiệm hỗ trợ tiền di chuyển và thuê chỗ ở tạm thời cho bên bị thiệt hại trong thời gian giải quyết.

Content:
Xử lý công trình xây dựng vi phạm trật tự xây dựng khác theo quy định tại khoản 5, khoản 6, khoản 7 Điều 11 và khoản 5, khoản 6, khoản 7 Điều 25 Nghị định số 23/2009/NĐ-CP
a) Khoản 5 Điều 11 và khoản 5 Điều 25 Nghị định số 23/2009/NĐ-CP được áp dụng đối với nhà ở riêng lẻ, công trình xây dựng khác không phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình có một trong những hành vi vi phạm như: không che chắn hoặc có che chắn nhưng vẫn để rơi vãi vật liệu xuống khu vực xung quanh; để vật liệu ở vỉa hè, lòng đường, ngõ xóm, khu dân cư không đúng quy định.
b) Hành vi vi phạm quy định tại khoản 6, khoản 7 Điều 11 và khoản 6, khoản 7 Điều 25 Nghị định số 23/2009/NĐ-CP khi được phát hiện hoặc có khiếu kiện của bên bị thiệt hại, người có thẩm quyền phải kịp thời lập biên bản theo Phụ lục II Nghị định số 23/2009/NĐ-CP, yêu cầu chủ đầu tư ngừng ngay việc thi công xây dựng công trình.
Ngay sau khi biên bản được lập, nếu hai bên không tự thỏa thuận được và một bên có đơn yêu cầu thì Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì mời chủ đầu tư công trình vi phạm và đại diện bên bị thiệt hại đến để thỏa thuận mức đền bù. Sau bảy ngày kể từ ngày thỏa thuận lần đầu không thành hoặc bên bị thiệt hại vắng mặt không có lý do chính đáng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức thỏa thuận lần hai. Trường hợp tại các buổi thỏa thuận mà bên bị thiệt hại vắng mặt không có lý do chính đáng thì chủ đầu tư công trình được tiếp tục thi công xây dựng. Trường hợp thỏa thuận lần hai không thành, các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết, công trình được tiếp tục thi công khi có quyết định, bản án có hiệu lực của Tòa án.
Trường hợp công trình xây dựng có nguy cơ sụp đổ thì Chủ đầu tư có trách nhiệm hỗ trợ tiền di chuyển và thuê chỗ ở tạm thời cho bên bị thiệt hại trong thời gian giải quyết.