Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2112/QĐ-UBND năm 2012 phê duyệt Quy hoạch phân bổ bảo vệ tài nguyên

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "27/12/2012", "sign_number": "2112/QĐ-UBND", "signer": "Lại Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "27/12/2012", "sign_number": "2112/QĐ-UBND", "signer": "Lại Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "27/12/2012", "sign_number": "2112/QĐ-UBND", "signer": "Lại Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "27/12/2012", "sign_number": "2112/QĐ-UBND", "signer": "Lại Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "27/12/2012", "sign_number": "2112/QĐ-UBND", "signer": "Lại Thanh Sơn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2112/QĐ-UBND năm 2012 phê duyệt Quy hoạch phân bổ bảo vệ tài nguyên

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phân bổ và bảo vệ tài nguyên nước tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2012-2020, định hướng đến năm 2025 đã được Hội đồng thẩm định thành lập theo Quyết định số 1601/QĐ-UBND ngày 01/11/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh nghiệm thu, với nội dung chủ yếu như sau:
...
3. Các giải pháp kỹ thuật, khoa học - công nghệ
* Giải pháp chung về khai thác, phân bổ và bảo vệ tài nguyên nước
- Khai thác hiệu quả, ổn định, lâu dài nguồn nước mặt, nước dưới đất; đảm bảo cân đối, đáp ứng hài hòa nhu cầu khai thác nguồn nước cho sinh hoạt và các nhu cầu khác trên phạm vi toàn tỉnh và trên từng tiểu vùng quy hoạch.
- Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các biện pháp bảo vệ nguồn nước đối với từng tiểu vùng quy hoạch, từng khu vực để hạn chế đến mức thấp nhất việc khai thác quá ngưỡng giới hạn dòng chảy tối thiểu trên sông, quá giới hạn độ sâu mực nước cho phép đối với tầng chứa nước, hạn chế các nguy cơ ô nhiễm, suy giảm nguồn nước mặt, nước dưới đất.
- Khai thác, phân bổ nguồn nước cho các nhu cầu sử dụng đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025, cụ thể như sau: Nguồn nước dưới đất ưu tiên cấp nước cho mục đích sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, y tế, du lịch - dịch vụ. Các ngành, lĩnh vực khác được cấp nước từ công trình khai thác nước mặt đa mục tiêu. Tỷ lệ khai thác nước dưới đất tương ứng theo từng giai đoạn: Đến năm 2015 khoảng 46%, giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 64%, giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 71%; tỷ lệ khai thác nước mặt tương ứng theo từng giai đoạn: Đến năm 2015 khoảng 19%, giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 28%, giai đoạn 2021- 2025 khoảng 52% so với tổng lượng nước có thể khai thác.
* Giải pháp về công trình
+ Đối với tiểu vùng sông Sỏi
- Nâng cấp những công trình hồ chứa, trạm bơm hiện có để đạt được theo công suất thiết kế; xây dựng mới một số hồ chứa lớn phục vụ cấp nước đa mục tiêu như hồ Quỳnh.
- Khai thác nguồn nước dưới đất ở những khu vực phân bố các tầng chứa nước trong đá gốc nứt nẻ theo loại hình giếng khoan với quy mô từ 0,5-200 m3/ngày; khai thác từ loại hình giếng đào ở các khu vực phân bố các trầm tích bở rời với quy mô từ 0,5-5 m3/ngày.
+ Đối với tiểu vùng sông Thương
- Nâng cấp hệ thống thủy lợi Cầu Sơn - Cấm Sơn và các công trình hồ chứa, trạm bơm hiện có để đạt được theo công suất thiết kế; xây dựng mới một số hồ chứa lớn phục vụ cấp nước đa mục tiêu.
- Thực hiện các giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu tránh gây ô nhiễm nguồn nước sông Thương; xây dựng công trình chuyển nước từ hồ Cấm Sơn phục vụ cấp nước sinh hoạt cho các khu đô thị như thị trấn Vôi, thị trấn Kép và thành phố Bắc Giang.
- Khai thác nguồn nước dưới đất ở những khu vực phân bố các tầng chứa nước trong đá gốc nứt nẻ theo loại hình giếng khoan với quy mô từ 0,5-500 m3/ngày.
- Khu vực phân bố các trầm tích bở rời ven sông Thương có thể khai thác bằng các công trình cấp nước tập trung khai thác với công suất từ 100-500 m3/ngày. Ngoài ra, có thể khai thác theo loại hình nhỏ trong các khu dân cư với quy mô từ 0,5- 5 m3/ngày.
+ Đối với tiểu vùng ven sông Cầu
- Nâng cấp hệ thống thủy lợi Thác Huống, các trạm bơm hiện có để đạt được theo công suất thiết kế; xây dựng mới một số hồ chứa lớn phục vụ cấp nước đa mục tiêu.
- Xây dựng các hệ thống khai thác nguồn nước mặt phục vụ cho sinh hoạt với công suất từ 100-500 m3/ngày từ nguồn nước sông Cầu.
- Khu vực phân bố các trầm tích bở rời ven sông Cầu có thể khai thác bằng các công trình cấp nước tập trung với công suất từ 100-800 m3/ngày. Ngoài ra, có thể khai thác theo loại hình nhỏ lẻ trong các khu dân cư với quy mô từ 0,5-5 m3/ngày.
+ Đối với tiểu vùng hồ Cấm Sơn
- Nâng cấp các hồ chứa hiện có để đạt được theo công suất thiết kế.
- Xây dựng hệ thống cấp nước lấy từ hồ Cấm Sơn phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất trong vùng và các tiểu vùng khác như huyện Lạng Giang (khu vực thị trấn Vôi, thị trấn Kép) thuộc tiểu vùng hạ lưu sông Lục Nam và cho thành phố Bắc Giang thuộc tiểu vùng sông Thương.
- Khai thác nguồn nước dưới đất ở những khu vực phân bố các tầng chứa nước trong đá gốc nứt nẻ theo loại hình giếng khoan với quy mô từ 0,5-500m3/ngày.
+ Đối với tiểu vùng sông Đinh Đèn
- Nâng cấp những công trình hồ chứa, trạm bơm hiện có trong tiểu vùng để đạt được theo công suất thiết kế.
- Xây dựng mới một số hồ chứa lớn phục vụ cấp nước đa mục tiêu (nông nghiệp, sinh hoạt, sản xuất công nghiệp).
- Xây dựng các hệ thống khai thác nguồn nước mặt phục vụ cho sinh hoạt với công suất từ 100-300 m3/ngày từ nguồn nước sông Đinh Đèn và sông suối nhỏ khác trong vùng.
+ Đối với tiểu vùng thượng lưu sông Lục Nam
- Nâng cấp những công trình hồ chứa, trạm bơm hiện có để đạt được theo công suất thiết kế.
- Xây dựng mới một số hồ chứa lớn (hồ Nà Lạnh) trên dòng chính thượng lưu sông Lục Nam để phục vụ nhu cầu nước của các ngành, đặc biệt là nhu cầu nước cho nông nghiệp.
- Xây dựng các hệ thống khai thác nguồn nước mặt phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp với công suất từ 100-300 m3/ngày từ nguồn nước sông Lục Nam và sông suối nhỏ khác trong vùng.
- Khai thác nguồn nước dưới đất ở những khu vực phân bố các tầng chứa nước trong đá gốc nứt nẻ theo loại hình giếng khoan với quy mô từ 100-200 m3/ngày, giếng đào khai thác nhỏ phục vụ cho sinh hoạt quy mô hộ gia đình.
+ Đối với tiểu vùng trung lưu sông Lục Nam
- Nâng cấp những công trình hồ chứa, trạm bơm hiện có để đạt được theo công suất thiết kế.
- Xây dựng mới một số hồ chứa lớn (hồ Khe Sàng, hồ Khuôn Vố) trên dòng chính thượng lưu sông Lục Nam để phục vụ nhu cầu nước của các ngành, đặc biệt là nhu cầu nước cho nông nghiệp.
- Xây dựng các hệ thống khai thác nguồn nước mặt phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp với công suất từ 100-1000m3/ngày từ nguồn nước sông Lục Nam và sông suối nhỏ khác trong vùng.
- Khai thác nguồn nước dưới đất ở những khu vực phân bố các tầng chứa nước trong đá gốc nứt nẻ có thể khai thác theo loại hình giếng khoan với quy mô từ 50-100 m3/ngày.
- Khu vực phân bố các trầm tích bở rời ven sông Lục Nam, do các trầm tích bở rời nằm ở vùng rìa tầng chứa nước, nên bề dày tầng không lớn vì vậy có thể khai thác bằng các giếng khoan, giếng đào với quy mô hộ gia đình.
+ Đối với tiểu vùng hạ lưu sông Lục Nam
- Nâng cấp những công trình hồ chứa, trạm bơm hiện có để đạt được theo công suất thiết kế.
- Xây dựng mới một số hồ chứa lớn trên dòng chính thượng lưu sông Lục Nam để phục vụ nhu cầu nước của các ngành, đặc biệt là ngành nông nghiệp.
- Xây dựng những hệ thống khai thác nguồn nước mặt phục vụ cho ăn uống sinh hoạt và sản xuất công nghiệp với công suất từ 100-800 m3/ngày từ nguồn nước sông Lục Nam và sông suối nhỏ khác trong vùng.
- Khai thác nguồn nước dưới đất ở những khu vực phân bố các tầng chứa nước trong đá gốc nứt nẻ khai thác theo loại hình giếng khoan với quy mô từ 50-100 m3/ngày.
- Khu vực phân bố các trầm tích bở rời ven sông Lục Nam có thể khai thác bằng các công trình cấp nước tập trung với công suất (100-500) m3/ngày. Ngoài ra, có thể khai thác theo loại hình nhỏ lẻ trong các khu dân cư với quy mô từ 0,5-5 m3/ngày.
* Giải pháp về quan trắc, giám sát tài nguyên nước
- Tiểu vùng sông Sỏi: Quan trắc nước mặt trên sông Sỏi tại xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế.
- Tiểu vùng sông Thương: Quan trắc nước mặt trên sông Thương, tại khu vực phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang; quan trắc nước dưới đất tại khu vực thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế, thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên và khu vực phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang.
- Tiểu vùng ven sông Cầu: Quan trắc nước dưới đất tại khu vực thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa.
- Tiểu vùng hồ Cấm Sơn: Quan trắc nước mặt tại hồ Cấm Sơn, khu vực xã Cấm Sơn, huyện Lục Ngạn.
- Tiểu vùng sông Đinh Đèn: Quan trắc nước mặt trên sông Đình Đèn tại xã Cẩm Đàn, huyện Sơn Động.
- Tiểu vùng trung lưu sông Lục Nam: Quan trắc nước mặt trên sông Lục Nam tại xã Nghĩa Hồ, huyện Lục Ngạn.
- Tiểu vùng hạ lưu sông Lục Nam: Quan trắc nước mặt trên sông Lục Nam tại thị trấn Lục Nam, huyện Lục Nam; quan trắc nước dưới đất tại khu vực thị trấn Lục Nam, huyện Lục Nam.
* Giải pháp công nghệ, kỹ thuật trong lĩnh vực tài nguyên nước
- Công nghệ định vị vệ tinh toàn cầu (GPS) kết hợp với các công cụ ứng dụng hệ thống thông tin địa lý.
- Công nghệ đo địa vật lý, công nghệ phân tích ảnh viễn thám.
- Khuyến khích tái sử dụng nước trong các hoạt động sản xuất; sử dụng các công nghệ tưới, các chất giữ ẩm để tiết kiệm nước trong sản xuất nông nghiệp.
- Sử dụng các giống cây trồng chịu hạn, đặc biệt đối với các vùng đất gặp khó khăn về nước tưới.
- Triển khai kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu để phòng, chống, giảm nhẹ các tác động của hạn hán.
- Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường cho các làng nghề để bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ nguồn nước nói riêng.
* Các giải pháp kỹ thuật trong bảo vệ tài nguyên nước
- Quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nghiêm cấm đốt phá, khai thác rừng bừa bãi với mục tiêu bảo vệ, duy trì diện tích rừng tự nhiên đủ tiêu chuẩn. Cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt để có chất lượng tốt hơn. Trồng rừng trên đất trống đồi núi trọc, khoanh nuôi tái sinh rừng trên đất trống thuộc rừng phòng hộ, đặc dụng; phấn đấu đến năm 2020 nâng độ che phủ rừng trên địa bàn toàn tỉnh đạt 43%; nâng cao hiệu quả phòng hộ của rừng đầu nguồn sông Thương và sông Lục Nam.
- Trong sản xuất công nghiệp: Khuyến khích những ngành sử dụng ít nước, thân thiện với môi trường và tái sử dụng nguồn nước trong sản xuất. Xây dựng và lắp đặt thiết bị thu gom, xử lý chất thải, nước thải tại các khu, cụm công nghiệp tập trung theo quy định.
- Tiến hành xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và thực hiện xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án cải tạo, nâng cấp các khu xử lý chất thải sinh hoạt, các dự án khắc phục, cải thiện môi trường tại các làng nghề nấu rượu Vân Hà, làng nghề giết mổ gia súc Phúc Lâm, huyện Việt Yên.
- Đối với nước thải sinh hoạt: Xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt đô thị trước khi thải ra môi trường; khuyến khích các hộ gia đình thu gom xử lý nước thải sinh hoạt bằng hệ thống bể tự hoại trước khi thải ra môi trường xung quanh. Tiến tới cần có giải pháp xử lý nước thải sinh hoạt làm nguồn cấp cho sản xuất nông nghiệp.
- Đối với sản xuất nông nghiệp: Hạn chế, tiến tới không sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu có nguồn gốc hoá học, tích cực sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu vi sinh để giảm áp lực ô nhiễm nguồn nước trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. Phát triển các mô hình nông lâm kết hợp, trồng cây ăn quả trên diện tích đồi, núi thấp để tăng độ che phủ của thảm thực vật thuộc các huyện vùng cao như Lục Ngạn, Sơn Động, Lục Nam, Yên Thế nhằm mục đích phát triển kinh tế cũng như để nâng cao khả năng dự trữ nước trong vùng.
- Đối với chất thải trong chăn nuôi: Khuyến khích chăn nuôi theo các mô hình trang trại để giảm thiểu nguồn phát sinh chất thải gây ô nhiễm nguồn nước. Thu gom, xử lý chất thải bằng công nghệ sinh học, tránh gây ô nhiễm môi trường đồng thời tạo nguồn năng lượng phục vụ sinh hoạt, sản xuất.
- Trong hoạt động khai thác khoáng sản: Nghiêm cấm việc khai thác khoáng sản trái phép, bừa bãi không theo quy định. Nước thải từ các bãi khai thác khoáng sản phải được tập trung xử lý theo quy định; khai thác cát, sỏi lòng sông đúng theo quy hoạch được phê duyệt, không gây cản trở dòng chảy, ô nhiễm nguồn nước.
- Khu vực nguồn nước dưới đất bị nhiễm mặn: Các khu vực nguồn nước dưới đất bị nhiễm mặn, cần phải hạn chế tiến tới cấm khai thác nguồn nước dưới đất trong các vùng này để tránh sự lan truyền biên mặn của các tầng chứa nước.
- Đối với những khu vực nguồn nước bị ô nhiễm như ô nhiễm Asenic, sắt,.. khuyến khích người dân xử lý trước khi đưa vào sử dụng, phương án xử lý đơn giản nhất là giàn mưa, lắng, lọc.

Content:
Các giải pháp kỹ thuật, khoa học - công nghệ
* Giải pháp chung về khai thác, phân bổ và bảo vệ tài nguyên nước
- Khai thác hiệu quả, ổn định, lâu dài nguồn nước mặt, nước dưới đất; đảm bảo cân đối, đáp ứng hài hòa nhu cầu khai thác nguồn nước cho sinh hoạt và các nhu cầu khác trên phạm vi toàn tỉnh và trên từng tiểu vùng quy hoạch.
- Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các biện pháp bảo vệ nguồn nước đối với từng tiểu vùng quy hoạch, từng khu vực để hạn chế đến mức thấp nhất việc khai thác quá ngưỡng giới hạn dòng chảy tối thiểu trên sông, quá giới hạn độ sâu mực nước cho phép đối với tầng chứa nước, hạn chế các nguy cơ ô nhiễm, suy giảm nguồn nước mặt, nước dưới đất.
- Khai thác, phân bổ nguồn nước cho các nhu cầu sử dụng đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025, cụ thể như sau: Nguồn nước dưới đất ưu tiên cấp nước cho mục đích sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, y tế, du lịch - dịch vụ. Các ngành, lĩnh vực khác được cấp nước từ công trình khai thác nước mặt đa mục tiêu. Tỷ lệ khai thác nước dưới đất tương ứng theo từng giai đoạn: Đến năm 2015 khoảng 46%, giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 64%, giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 71%; tỷ lệ khai thác nước mặt tương ứng theo từng giai đoạn: Đến năm 2015 khoảng 19%, giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 28%, giai đoạn 2021- 2025 khoảng 52% so với tổng lượng nước có thể khai thác.
* Giải pháp về công trình
+ Đối với tiểu vùng sông Sỏi
- Nâng cấp những công trình hồ chứa, trạm bơm hiện có để đạt được theo công suất thiết kế; xây dựng mới một số hồ chứa lớn phục vụ cấp nước đa mục tiêu như hồ Quỳnh.
- Khai thác nguồn nước dưới đất ở những khu vực phân bố các tầng chứa nước trong đá gốc nứt nẻ theo loại hình giếng khoan với quy mô từ 0,5-200 m3/ngày; khai thác từ loại hình giếng đào ở các khu vực phân bố các trầm tích bở rời với quy mô từ 0,5-5 m3/ngày.
+ Đối với tiểu vùng sông Thương
- Nâng cấp hệ thống thủy lợi Cầu Sơn - Cấm Sơn và các công trình hồ chứa, trạm bơm hiện có để đạt được theo công suất thiết kế; xây dựng mới một số hồ chứa lớn phục vụ cấp nước đa mục tiêu.
- Thực hiện các giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu tránh gây ô nhiễm nguồn nước sông Thương; xây dựng công trình chuyển nước từ hồ Cấm Sơn phục vụ cấp nước sinh hoạt cho các khu đô thị như thị trấn Vôi, thị trấn Kép và thành phố Bắc Giang.
- Khai thác nguồn nước dưới đất ở những khu vực phân bố các tầng chứa nước trong đá gốc nứt nẻ theo loại hình giếng khoan với quy mô từ 0,5-500 m3/ngày.
- Khu vực phân bố các trầm tích bở rời ven sông Thương có thể khai thác bằng các công trình cấp nước tập trung khai thác với công suất từ 100-500 m3/ngày. Ngoài ra, có thể khai thác theo loại hình nhỏ trong các khu dân cư với quy mô từ 0,5- 5 m3/ngày.
+ Đối với tiểu vùng ven sông Cầu
- Nâng cấp hệ thống thủy lợi Thác Huống, các trạm bơm hiện có để đạt được theo công suất thiết kế; xây dựng mới một số hồ chứa lớn phục vụ cấp nước đa mục tiêu.
- Xây dựng các hệ thống khai thác nguồn nước mặt phục vụ cho sinh hoạt với công suất từ 100-500 m3/ngày từ nguồn nước sông Cầu.
- Khu vực phân bố các trầm tích bở rời ven sông Cầu có thể khai thác bằng các công trình cấp nước tập trung với công suất từ 100-800 m3/ngày. Ngoài ra, có thể khai thác theo loại hình nhỏ lẻ trong các khu dân cư với quy mô từ 0,5-5 m3/ngày.
+ Đối với tiểu vùng hồ Cấm Sơn
- Nâng cấp các hồ chứa hiện có để đạt được theo công suất thiết kế.
- Xây dựng hệ thống cấp nước lấy từ hồ Cấm Sơn phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất trong vùng và các tiểu vùng khác như huyện Lạng Giang (khu vực thị trấn Vôi, thị trấn Kép) thuộc tiểu vùng hạ lưu sông Lục Nam và cho thành phố Bắc Giang thuộc tiểu vùng sông Thương.
- Khai thác nguồn nước dưới đất ở những khu vực phân bố các tầng chứa nước trong đá gốc nứt nẻ theo loại hình giếng khoan với quy mô từ 0,5-500m3/ngày.
+ Đối với tiểu vùng sông Đinh Đèn
- Nâng cấp những công trình hồ chứa, trạm bơm hiện có trong tiểu vùng để đạt được theo công suất thiết kế.
- Xây dựng mới một số hồ chứa lớn phục vụ cấp nước đa mục tiêu (nông nghiệp, sinh hoạt, sản xuất công nghiệp).
- Xây dựng các hệ thống khai thác nguồn nước mặt phục vụ cho sinh hoạt với công suất từ 100-300 m3/ngày từ nguồn nước sông Đinh Đèn và sông suối nhỏ khác trong vùng.
+ Đối với tiểu vùng thượng lưu sông Lục Nam
- Nâng cấp những công trình hồ chứa, trạm bơm hiện có để đạt được theo công suất thiết kế.
- Xây dựng mới một số hồ chứa lớn (hồ Nà Lạnh) trên dòng chính thượng lưu sông Lục Nam để phục vụ nhu cầu nước của các ngành, đặc biệt là nhu cầu nước cho nông nghiệp.
- Xây dựng các hệ thống khai thác nguồn nước mặt phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp với công suất từ 100-300 m3/ngày từ nguồn nước sông Lục Nam và sông suối nhỏ khác trong vùng.
- Khai thác nguồn nước dưới đất ở những khu vực phân bố các tầng chứa nước trong đá gốc nứt nẻ theo loại hình giếng khoan với quy mô từ 100-200 m3/ngày, giếng đào khai thác nhỏ phục vụ cho sinh hoạt quy mô hộ gia đình.
+ Đối với tiểu vùng trung lưu sông Lục Nam
- Nâng cấp những công trình hồ chứa, trạm bơm hiện có để đạt được theo công suất thiết kế.
- Xây dựng mới một số hồ chứa lớn (hồ Khe Sàng, hồ Khuôn Vố) trên dòng chính thượng lưu sông Lục Nam để phục vụ nhu cầu nước của các ngành, đặc biệt là nhu cầu nước cho nông nghiệp.
- Xây dựng các hệ thống khai thác nguồn nước mặt phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp với công suất từ 100-1000m3/ngày từ nguồn nước sông Lục Nam và sông suối nhỏ khác trong vùng.
- Khai thác nguồn nước dưới đất ở những khu vực phân bố các tầng chứa nước trong đá gốc nứt nẻ có thể khai thác theo loại hình giếng khoan với quy mô từ 50-100 m3/ngày.
- Khu vực phân bố các trầm tích bở rời ven sông Lục Nam, do các trầm tích bở rời nằm ở vùng rìa tầng chứa nước, nên bề dày tầng không lớn vì vậy có thể khai thác bằng các giếng khoan, giếng đào với quy mô hộ gia đình.
+ Đối với tiểu vùng hạ lưu sông Lục Nam
- Nâng cấp những công trình hồ chứa, trạm bơm hiện có để đạt được theo công suất thiết kế.
- Xây dựng mới một số hồ chứa lớn trên dòng chính thượng lưu sông Lục Nam để phục vụ nhu cầu nước của các ngành, đặc biệt là ngành nông nghiệp.
- Xây dựng những hệ thống khai thác nguồn nước mặt phục vụ cho ăn uống sinh hoạt và sản xuất công nghiệp với công suất từ 100-800 m3/ngày từ nguồn nước sông Lục Nam và sông suối nhỏ khác trong vùng.
- Khai thác nguồn nước dưới đất ở những khu vực phân bố các tầng chứa nước trong đá gốc nứt nẻ khai thác theo loại hình giếng khoan với quy mô từ 50-100 m3/ngày.
- Khu vực phân bố các trầm tích bở rời ven sông Lục Nam có thể khai thác bằng các công trình cấp nước tập trung với công suất (100-500) m3/ngày. Ngoài ra, có thể khai thác theo loại hình nhỏ lẻ trong các khu dân cư với quy mô từ 0,5-5 m3/ngày.
* Giải pháp về quan trắc, giám sát tài nguyên nước
- Tiểu vùng sông Sỏi: Quan trắc nước mặt trên sông Sỏi tại xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế.
- Tiểu vùng sông Thương: Quan trắc nước mặt trên sông Thương, tại khu vực phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang; quan trắc nước dưới đất tại khu vực thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế, thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên và khu vực phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang.
- Tiểu vùng ven sông Cầu: Quan trắc nước dưới đất tại khu vực thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa.
- Tiểu vùng hồ Cấm Sơn: Quan trắc nước mặt tại hồ Cấm Sơn, khu vực xã Cấm Sơn, huyện Lục Ngạn.
- Tiểu vùng sông Đinh Đèn: Quan trắc nước mặt trên sông Đình Đèn tại xã Cẩm Đàn, huyện Sơn Động.
- Tiểu vùng trung lưu sông Lục Nam: Quan trắc nước mặt trên sông Lục Nam tại xã Nghĩa Hồ, huyện Lục Ngạn.
- Tiểu vùng hạ lưu sông Lục Nam: Quan trắc nước mặt trên sông Lục Nam tại thị trấn Lục Nam, huyện Lục Nam; quan trắc nước dưới đất tại khu vực thị trấn Lục Nam, huyện Lục Nam.
* Giải pháp công nghệ, kỹ thuật trong lĩnh vực tài nguyên nước
- Công nghệ định vị vệ tinh toàn cầu (GPS) kết hợp với các công cụ ứng dụng hệ thống thông tin địa lý.
- Công nghệ đo địa vật lý, công nghệ phân tích ảnh viễn thám.
- Khuyến khích tái sử dụng nước trong các hoạt động sản xuất; sử dụng các công nghệ tưới, các chất giữ ẩm để tiết kiệm nước trong sản xuất nông nghiệp.
- Sử dụng các giống cây trồng chịu hạn, đặc biệt đối với các vùng đất gặp khó khăn về nước tưới.
- Triển khai kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu để phòng, chống, giảm nhẹ các tác động của hạn hán.
- Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường cho các làng nghề để bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ nguồn nước nói riêng.
* Các giải pháp kỹ thuật trong bảo vệ tài nguyên nước
- Quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nghiêm cấm đốt phá, khai thác rừng bừa bãi với mục tiêu bảo vệ, duy trì diện tích rừng tự nhiên đủ tiêu chuẩn. Cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt để có chất lượng tốt hơn. Trồng rừng trên đất trống đồi núi trọc, khoanh nuôi tái sinh rừng trên đất trống thuộc rừng phòng hộ, đặc dụng; phấn đấu đến năm 2020 nâng độ che phủ rừng trên địa bàn toàn tỉnh đạt 43%; nâng cao hiệu quả phòng hộ của rừng đầu nguồn sông Thương và sông Lục Nam.
- Trong sản xuất công nghiệp: Khuyến khích những ngành sử dụng ít nước, thân thiện với môi trường và tái sử dụng nguồn nước trong sản xuất. Xây dựng và lắp đặt thiết bị thu gom, xử lý chất thải, nước thải tại các khu, cụm công nghiệp tập trung theo quy định.
- Tiến hành xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và thực hiện xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án cải tạo, nâng cấp các khu xử lý chất thải sinh hoạt, các dự án khắc phục, cải thiện môi trường tại các làng nghề nấu rượu Vân Hà, làng nghề giết mổ gia súc Phúc Lâm, huyện Việt Yên.
- Đối với nước thải sinh hoạt: Xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt đô thị trước khi thải ra môi trường; khuyến khích các hộ gia đình thu gom xử lý nước thải sinh hoạt bằng hệ thống bể tự hoại trước khi thải ra môi trường xung quanh. Tiến tới cần có giải pháp xử lý nước thải sinh hoạt làm nguồn cấp cho sản xuất nông nghiệp.
- Đối với sản xuất nông nghiệp: Hạn chế, tiến tới không sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu có nguồn gốc hoá học, tích cực sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu vi sinh để giảm áp lực ô nhiễm nguồn nước trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. Phát triển các mô hình nông lâm kết hợp, trồng cây ăn quả trên diện tích đồi, núi thấp để tăng độ che phủ của thảm thực vật thuộc các huyện vùng cao như Lục Ngạn, Sơn Động, Lục Nam, Yên Thế nhằm mục đích phát triển kinh tế cũng như để nâng cao khả năng dự trữ nước trong vùng.
- Đối với chất thải trong chăn nuôi: Khuyến khích chăn nuôi theo các mô hình trang trại để giảm thiểu nguồn phát sinh chất thải gây ô nhiễm nguồn nước. Thu gom, xử lý chất thải bằng công nghệ sinh học, tránh gây ô nhiễm môi trường đồng thời tạo nguồn năng lượng phục vụ sinh hoạt, sản xuất.
- Trong hoạt động khai thác khoáng sản: Nghiêm cấm việc khai thác khoáng sản trái phép, bừa bãi không theo quy định. Nước thải từ các bãi khai thác khoáng sản phải được tập trung xử lý theo quy định; khai thác cát, sỏi lòng sông đúng theo quy hoạch được phê duyệt, không gây cản trở dòng chảy, ô nhiễm nguồn nước.
- Khu vực nguồn nước dưới đất bị nhiễm mặn: Các khu vực nguồn nước dưới đất bị nhiễm mặn, cần phải hạn chế tiến tới cấm khai thác nguồn nước dưới đất trong các vùng này để tránh sự lan truyền biên mặn của các tầng chứa nước.
- Đối với những khu vực nguồn nước bị ô nhiễm như ô nhiễm Asenic, sắt,.. khuyến khích người dân xử lý trước khi đưa vào sử dụng, phương án xử lý đơn giản nhất là giàn mưa, lắng, lọc.