Document: Điều 11 Thông tư 07/2014/TT-BNNPTNT hướng dẫn công tác thi đua khen thưởng trong ngành Nông nghiệp

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "10/02/2014", "sign_number": "07/2014/TT-BNNPTNT", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "10/02/2014", "sign_number": "07/2014/TT-BNNPTNT", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "10/02/2014", "sign_number": "07/2014/TT-BNNPTNT", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "10/02/2014", "sign_number": "07/2014/TT-BNNPTNT", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "10/02/2014", "sign_number": "07/2014/TT-BNNPTNT", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 11 Thông tư 07/2014/TT-BNNPTNT hướng dẫn công tác thi đua khen thưởng trong ngành Nông nghiệp có nội dung như sau:

Điều 11. Quy định về công tác khen thưởng, tuyến trình khen thưởng, tổ chức trao tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng
1. Quy định về công tác khen thưởng:
a) Cấp nào quản lý về tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, quỹ lương thì cấp đó có trách nhiệm khen thưởng và trình cấp trên xét khen thưởng;
b) Đối với các Hội, Hiệp hội hoạt động trong các lĩnh vực thuộc ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn do Bộ khen thưởng hoặc trình cấp trên xét khen thưởng;
c) Đối với các công ty cổ phần, kể cả công ty, tổng công ty đã chuyển giao phần vốn nhà nước về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước quản lý, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Việc xét, trình khen thưởng theo nguyên tắc cấp nào quyết định cổ phần hóa, quyết định thành lập tổ chức thì cấp đó xem xét quyết định khen thưởng.
Đối với các công ty cổ phần (trước khi cổ phần hóa là doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn, các Tổng công ty), công ty TNHH một thành viên việc bình xét các danh hiệu thi đua, các hình thức khen thưởng cho các tập thể, cá nhân của công ty (thuộc thẩm quyền của Bộ), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao cho Hội đồng Thi đua Khen thưởng của Tập đoàn, các Tổng công ty tổ chức bình xét, trình Bộ. Đối với các doanh nghiệp độc lập, cấp nào quyết định cấp giấy phép thành lập, cấp đó có trách nhiệm xét trình khen thưởng theo quy định;
d) Cấp nào chủ trì phát động các đợt thi đua theo đợt, theo chuyên đề, khi tổng kết đợt phát động thì cấp đó khen thưởng hoặc trình cấp trên xét khen thưởng. Việc khen thưởng chủ yếu là tự khen thưởng ở cấp mình, trường hợp thành tích đặc biệt xuất sắc, có tác dụng lớn thì đề nghị cấp trên xét khen thưởng. Các phong trào thi đua theo đợt, theo chuyên đề có thời gian từ 05 năm trở lên, có thành tích đặc biệt xuất sắc mới đề nghị Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen hoặc Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba (chủ yếu khen thưởng cho đối tượng là tập thể nhỏ, người lao động trực tiếp);
đ) Trong một năm, không trình hai hình thức khen thưởng từ cấp Bộ trở lên cho một đối tượng, trừ các trường hợp khen thưởng thành tích đột xuất hoặc theo chuyên đề.
Ví dụ: đơn vị trình xét khen thưởng năm 2013 cho ông Nguyễn Văn A, chỉ được trình Bộ xét một trong ba hình thức là Bằng khen của Bộ trưởng hoặc Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ hoặc Huân chương Lao động;
e) Các trường hợp đề nghị tặng thưởng Huân chương có tiêu chuẩn liên quan đến Bằng khen Thủ tướng Chính phủ, thì sau 2 năm được tặng Bằng khen Thủ tướng Chính phủ mới đề nghị xét tặng Huân chương.
Ví dụ: Kết thúc năm 2012, ông Nguyễn Văn A được đề nghị xét khen thưởng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và đến tháng 10/2013 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định tặng thưởng bằng khen đối với ông Nguyễn Văn A thì đến tháng 10/2015 ông Nguyễn Văn A mới đủ thời gian để xét trình khen thưởng Huân chương;
g) Quy định thời gian 05 năm hoặc 10 năm để làm mốc thời gian đề nghị khen thưởng cho lần tiếp theo: là thời gian tính từ khi ghi nhận kết quả khen thưởng lần trước, tính đến thời điểm khen thưởng lần sau phải đủ 05 năm hoặc 10 năm trở lên.
2. Tuyến trình khen thưởng:
Tuyến trình khen thưởng được thực hiện theo nguyên tắc: cấp trên chỉ tổ chức xét khen thưởng hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng khi nhận được hồ sơ đề nghị khen thưởng của cấp dưới trực tiếp, không nhận hồ sơ gửi vượt cấp.
3. Tổ chức trao tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng:
Nghi thức tổ chức trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng và danh hiệu thi đua thực hiện theo Nghị định số 145/2013/NĐ-CP ngày 29/10/2013 của Chính phủ và Hướng dẫn số 4422/HD-BNN-TCCB ngày 12/12/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Hướng dẫn nghi thức tổ chức trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng và danh hiệu thi đua.

Content:
Điều 11. Quy định về công tác khen thưởng, tuyến trình khen thưởng, tổ chức trao tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng
1. Quy định về công tác khen thưởng:
a) Cấp nào quản lý về tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, quỹ lương thì cấp đó có trách nhiệm khen thưởng và trình cấp trên xét khen thưởng;
b) Đối với các Hội, Hiệp hội hoạt động trong các lĩnh vực thuộc ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn do Bộ khen thưởng hoặc trình cấp trên xét khen thưởng;
c) Đối với các công ty cổ phần, kể cả công ty, tổng công ty đã chuyển giao phần vốn nhà nước về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước quản lý, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Việc xét, trình khen thưởng theo nguyên tắc cấp nào quyết định cổ phần hóa, quyết định thành lập tổ chức thì cấp đó xem xét quyết định khen thưởng.
Đối với các công ty cổ phần (trước khi cổ phần hóa là doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn, các Tổng công ty), công ty TNHH một thành viên việc bình xét các danh hiệu thi đua, các hình thức khen thưởng cho các tập thể, cá nhân của công ty (thuộc thẩm quyền của Bộ), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao cho Hội đồng Thi đua Khen thưởng của Tập đoàn, các Tổng công ty tổ chức bình xét, trình Bộ. Đối với các doanh nghiệp độc lập, cấp nào quyết định cấp giấy phép thành lập, cấp đó có trách nhiệm xét trình khen thưởng theo quy định;
d) Cấp nào chủ trì phát động các đợt thi đua theo đợt, theo chuyên đề, khi tổng kết đợt phát động thì cấp đó khen thưởng hoặc trình cấp trên xét khen thưởng. Việc khen thưởng chủ yếu là tự khen thưởng ở cấp mình, trường hợp thành tích đặc biệt xuất sắc, có tác dụng lớn thì đề nghị cấp trên xét khen thưởng. Các phong trào thi đua theo đợt, theo chuyên đề có thời gian từ 05 năm trở lên, có thành tích đặc biệt xuất sắc mới đề nghị Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen hoặc Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba (chủ yếu khen thưởng cho đối tượng là tập thể nhỏ, người lao động trực tiếp);
đ) Trong một năm, không trình hai hình thức khen thưởng từ cấp Bộ trở lên cho một đối tượng, trừ các trường hợp khen thưởng thành tích đột xuất hoặc theo chuyên đề.
Ví dụ: đơn vị trình xét khen thưởng năm 2013 cho ông Nguyễn Văn A, chỉ được trình Bộ xét một trong ba hình thức là Bằng khen của Bộ trưởng hoặc Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ hoặc Huân chương Lao động;
e) Các trường hợp đề nghị tặng thưởng Huân chương có tiêu chuẩn liên quan đến Bằng khen Thủ tướng Chính phủ, thì sau 2 năm được tặng Bằng khen Thủ tướng Chính phủ mới đề nghị xét tặng Huân chương.
Ví dụ: Kết thúc năm 2012, ông Nguyễn Văn A được đề nghị xét khen thưởng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và đến tháng 10/2013 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định tặng thưởng bằng khen đối với ông Nguyễn Văn A thì đến tháng 10/2015 ông Nguyễn Văn A mới đủ thời gian để xét trình khen thưởng Huân chương;
g) Quy định thời gian 05 năm hoặc 10 năm để làm mốc thời gian đề nghị khen thưởng cho lần tiếp theo: là thời gian tính từ khi ghi nhận kết quả khen thưởng lần trước, tính đến thời điểm khen thưởng lần sau phải đủ 05 năm hoặc 10 năm trở lên.
2. Tuyến trình khen thưởng:
Tuyến trình khen thưởng được thực hiện theo nguyên tắc: cấp trên chỉ tổ chức xét khen thưởng hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng khi nhận được hồ sơ đề nghị khen thưởng của cấp dưới trực tiếp, không nhận hồ sơ gửi vượt cấp.
3. Tổ chức trao tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng:
Nghi thức tổ chức trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng và danh hiệu thi đua thực hiện theo Nghị định số 145/2013/NĐ-CP ngày 29/10/2013 của Chính phủ và Hướng dẫn số 4422/HD-BNN-TCCB ngày 12/12/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Hướng dẫn nghi thức tổ chức trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng và danh hiệu thi đua.