Document: Điều 1 Quyết định 1433/QĐ-BNN-QLCL năm 2013 khai thác thu mua chế biến xuất khẩu cá nóc

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "26/06/2013", "sign_number": "1433/QĐ-BNN-QLCL", "signer": "Nguyễn Thị Xuân Thu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "26/06/2013", "sign_number": "1433/QĐ-BNN-QLCL", "signer": "Nguyễn Thị Xuân Thu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "26/06/2013", "sign_number": "1433/QĐ-BNN-QLCL", "signer": "Nguyễn Thị Xuân Thu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "26/06/2013", "sign_number": "1433/QĐ-BNN-QLCL", "signer": "Nguyễn Thị Xuân Thu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "26/06/2013", "sign_number": "1433/QĐ-BNN-QLCL", "signer": "Nguyễn Thị Xuân Thu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 1433/QĐ-BNN-QLCL năm 2013 khai thác thu mua chế biến xuất khẩu cá nóc có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Đề án thí điểm khai thác, thu mua, chế biến và xuất khẩu cá nóc bảo đảm an toàn thực phẩm giai đoạn 2013-2015 (sau đây gọi tắt là Đề án cá nóc thí điểm) với các nội dung sau:
1. Mục tiêu
a) Mục tiêu chung:
- Tổ chức hoạt động thí điểm khai thác, thu mua, chế biến, xuất khẩu cá nóc tại một số tỉnh để tận thu nguồn cá đã khai thác phục vụ xuất khẩu, hạn chế không để người dân sử dụng cá nóc độc làm thực phẩm, ảnh hưởng đến sức khỏe.
- Nâng cao nhận thức, kiến thức của người dân trên địa bàn thí điểm về sự nguy hiểm của độc tố cá nóc và tuân thủ các quy định hiện hành về ngăn chặn ngộ độc cá nóc.
b) Mục tiêu cụ thể:
- Về sản lượng:
+ Khánh Hòa: sản lượng thu mua, chế biến: 500-600 tấn/năm, sản lượng cá nóc thành phẩm xuất khẩu: 200-240 tấn/năm.
+ Phú Yên: sản lượng thu mua, chế biến: 1000-1200 tấn/năm, sản lượng cá nóc thành phẩm xuất khẩu: 400 tấn/năm.
+ Bà Rịa Vũng Tàu: sản lượng thu mua, chế biến: 1200-1500 tấn/năm, sản lượng cá nóc thành phẩm xuất khẩu: 500 tấn/năm.
+ Kiên Giang: sản lượng thu mua, chế biến: 1200-1500 tấn/năm, sản lượng cá nóc thành phẩm xuất khẩu: 500 tấn/năm.
- Về hiệu quả kinh tế:
Giá trị xuất khẩu cá nóc thành phẩm ước đạt: 49,92 tỷ đồng (sản lượng cá nóc thành phẩm xuất khẩu 1600 tấn x 1.500 USD/tấn).
- Về an sinh xã hội:
+ 1200 người là các ngư dân, công nhân chế biến thủy sản, cán bộ quản lý nhà nước được đào tạo kiến thức về nhận biết, phân loại các loài cá nóc xuất khẩu bảo đảm An toàn thực phẩm.
+ Tạo thêm việc làm và thu nhập cho 1000 lao động là công nhân chế biến thủy sản, ngư dân, công nhân cơ sở thu mua thủy sản.
3. Phạm vi
a) Đề án cá nóc thí điểm được thực hiện tại 04 tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu và Kiên Giang (sau đây gọi tắt là các tỉnh điểm).
b) Tất cả cá nóc được khai thác, thu mua, vận chuyển, sơ chế, chế biến trong Đề án cá nóc thí điểm chỉ phục vụ mục đích xuất khẩu, không được phép đưa ra tiêu thụ tại thị trường nội địa.
4. Thời gian thực hiện
Thời gian thực hiện Đề án cá nóc thí điểm là 03 năm, bắt đầu từ năm 2013 đến hết năm 2015.
5. Nội dung Đề án
a) Truyền thông, đào tạo tập huấn:
- Sử dụng các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến người dân trên địa bàn thí điểm về các loài cá nóc độc và không độc, tránh chủ quan ăn cá nóc bị ngộ độc tử vong.
- Xây dựng chương trình, nội dung và tổ chức đào tạo đội ngũ người lao động trực tiếp đánh bắt, dịch vụ hậu cần thu gom và chế biến cá nóc xuất khẩu về các kiến thức bảo đảm an toàn thực phẩm, hạn chế không để người dân sử dụng cá nóc độc làm thực phẩm, ảnh hưởng đến sức khỏe.
b) Tổ chức khai thác, thu mua, vận chuyển, sơ chế và chế biến cá nóc xuất khẩu:
- Tàu cá khai thác cá nóc được chỉ định tham gia Đề án thực hiện khai thác, đánh bắt cá nóc và cập cảng để bốc dỡ cá nóc tại các cảng cá, bến cá được chỉ định, đồng thời thông báo trước về thời gian dự kiến cập cảng để được kiểm tra, cấp giấy xác nhận xuất xứ cho từng lô cá nóc nguyên liệu.
- Chủ cơ sở thu mua cá nóc, nhà máy chế biến cá nóc xuất khẩu được chỉ định tham gia Đề án thực hiện thu gom những lô nguyên liệu cá nóc có giấy xác nhận xuất xứ.
- Các lô nguyên liệu cá nóc có giấy xác nhận xuất xứ được đưa về nhà máy chế biến được chỉ định tham gia Đề án để được phân loại, sơ chế, chế biến theo đúng kỹ thuật;
- Nhà máy chế biến được chỉ định tham gia Đề án thực hiện đăng ký, kiểm tra chứng nhận an toàn thực phẩm đối với các lô cá nóc thành phẩm xuất khẩu theo đúng quy định giữa Việt Nam và thị trường nhập khẩu.
- Phế liệu, phế thải trong quá trình chế biến cá nóc được xử lý phù hợp, bảo đảm không độc hại đến người và môi trường xung quanh.
6. Các giải pháp thực hiện Đề án
a) Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về cá nóc, độc tố cá nóc và ngộ độc cá nóc: Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh điểm chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện rà soát, hoàn thiện các sản phẩm truyền thông (bản tin, tờ rơi, tờ dán) về sự nguy hiểm của độc tố cá nóc và một số biện pháp nhận biết, phòng tránh cá nóc độc và tổ chức tuyên truyền, phổ biến các sản phẩm truyền thông thông qua các phương tiện thông tin đại chúng trên địa bàn tỉnh.
b) Đào tạo, tập huấn: Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh điểm chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá nóc tổ chức đào tạo, tập huấn về kỹ thuật nhận biết, phân loại cá nóc, phương pháp bảo quản cá nóc, kỹ thuật sơ chế, chế biến cá nóc cho các đối tượng tham gia Đề án, thực hiện cấp chứng chỉ cho các đối tượng đạt yêu cầu và cập nhật, quản lý chặt chẽ Danh sách các nhân sự đã được đào tạo tập huấn.
c) Quản lý và tổ chức sản xuất
- Các tổ chức, cá nhân tham gia khai thác, thu gom vận chuyển, chế biến xuất khẩu và xử lý chất thải cá nóc, có nghĩa vụ bắt buộc tuân thủ "Quy định kiểm soát trong khai thác, thu mua, vận chuyển, chế biến xuất khẩu và xử lý chất thải cá nóc" và các quy định khác.
- Tàu cá tham gia Đề án phải được cơ quan chuyên môn của Sở Nông nghiệp và PTNT kiểm tra điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm, cấp mã số, đồng thời cam kết không sử dụng các phương pháp khai thác thủy sản bị cấm hoặc phương pháp khai thác gây hủy diệt nguồn lợi thủy sản. Chủ tàu và người lao động phải được đào tạo, cấp chứng chỉ về kỹ thuật nhận biết, phân loại cá nóc, phương pháp bảo quản cá nóc.
- Tàu cá khai thác cá nóc chỉ được cập cảng để bốc dỡ cá nóc tại các cảng cá, bến cá đã được Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh điểm chỉ định và thông báo trước về thời gian dự kiến cập cảng để cơ quan chuyên môn của Sở Nông nghiệp và PTNT kiểm tra, cấp giấy xác nhận cho từng lô cá nóc (bao gồm các thông tin về tên chủ tàu, mã số tàu, ngày giờ cập cảng/bến đậu, chủng loại và khối lượng cá nóc khai thác, tình trạng bảo quản).
- Cơ sở thu mua phải được cơ quan chuyên môn do Sở NN&PTNT kiểm tra điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và cấp mã số, chủ cơ sở và người lao động phải được đào tạo, cấp chứng chỉ về kỹ thuật nhận biết, phân loại cá nóc, phương pháp bảo quản, vận chuyển cá nóc đến nhà máy chế biến. Chủ cơ sở thu mua cá nóc, nhà máy chế biến cá nóc xuất khẩu chỉ được phép thu gom những lô nguyên liệu cá nóc có giấy xác nhận xuất xứ do cơ quan chuyên môn của Sở NN&PTNT cấp.
- Cơ sở chế biến cá nóc xuất khẩu do các tỉnh chọn tham gia Đề án phải được Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản kiểm tra, chứng nhận điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định của Việt Nam và Hàn Quốc và phải có tên trong danh sách các cơ sở được phép chế biến xuất khẩu thủy sản sang Hàn Quốc.
- Tất cả các lô cá nóc thành phẩm đều phải được chế biến từ các lô nguyên liệu có giấy xác nhận xuất xứ do cơ quan chuyên môn của Sở Nông nghiệp và PTNT cấp, mỗi lô hàng cá nóc xuất khẩu sang Hàn Quốc phải được đăng ký, kiểm tra chứng nhận theo đúng quy định giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Việc lấy mẫu, phân tích độc tố Tetrodotoxin là bắt buộc đối với từng lô sản phẩm cá nóc trước khi xuất khẩu.
d) Giải pháp về thị trường: Doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá nóc của Việt Nam được chủ động tìm kiếm đối tác nhập khẩu cá nóc trước mắt là thị trường Hàn Quốc, sau đó căn cứ tình hình sản lượng cá nóc thương phẩm được thu mua, chế biến và nhu cầu của doanh nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép mở rộng thị trường xuất khẩu cá nóc sang các thị trường khác ngoài thị trường Hàn Quốc. Giữa đối tác nhập khẩu và các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu phía Việt Nam phải có Hợp đồng nguyên tắc trong đó có cam kết trách nhiệm chia sẻ lợi ích và rủi ro với các doanh nghiệp Việt Nam.
7. Nguồn kinh phí thực hiện Đề án
a) Kinh phí thực hiện Đề án cá nóc thí điểm trong 03 năm, từ năm 2013 đến hết năm 2015 gồm:
Đơn vị tính: triệu đồng

TT

Nội dung

Số tiền

Nguồn

Đơn vị thực hiện

1

Chi phí thường xuyên cho Ban chỉ đạo Đề án cá nóc các tỉnh thí điểm

280

NS địa phương

Ban chỉ đạo Đề án tỉnh

2

Rà soát, hoàn thiện các sản phẩm truyền thông, tổ chức truyền thông tại địa phương

600

NS địa phương

Sở NN&PTNT phối hợp Hội nghề cá, TT khuyến nông

3

Đào tạo tập huấn các cơ sở tham gia Đề án thí điểm (ngư dân, cơ sở thu gom, nhà máy chế biến)

800

NS địa phương và DN chế biến

Sở NN&PTNT phối hợp Hội nghề cá, TT khuyến nông, DN chế biến

4

Kiểm tra, giám sát

400

NS Trung ương (đối với CQTW) và địa phương (đối với các CQĐP)

Sở NN&PTNT, Bộ Nông nghiệp và PTNT (Cục Quản lý Chất lượng NLS&TS)

TỔNG CỘNG

2,080

Bằng chữ: Hai tỷ không trăm tám mươi triệu đồng chẵn.
b) Kinh phí thực hiện Đề án cá nóc thí điểm bố trí theo nguyên tắc sau: Kinh phí thực hiện các nội dung của Đề án tại địa phương do ngân sách địa phương bảo đảm và các nguồn huy động hợp pháp khác (nếu có); Kinh phí kiểm tra, giám sát của Bộ Nông nghiệp và PTNT, do Bộ tự bảo đảm và bố trí trong dự toán được giao hàng năm.

Content:
Điều 1. Phê duyệt Đề án thí điểm khai thác, thu mua, chế biến và xuất khẩu cá nóc bảo đảm an toàn thực phẩm giai đoạn 2013-2015 (sau đây gọi tắt là Đề án cá nóc thí điểm) với các nội dung sau:
1. Mục tiêu
a) Mục tiêu chung:
- Tổ chức hoạt động thí điểm khai thác, thu mua, chế biến, xuất khẩu cá nóc tại một số tỉnh để tận thu nguồn cá đã khai thác phục vụ xuất khẩu, hạn chế không để người dân sử dụng cá nóc độc làm thực phẩm, ảnh hưởng đến sức khỏe.
- Nâng cao nhận thức, kiến thức của người dân trên địa bàn thí điểm về sự nguy hiểm của độc tố cá nóc và tuân thủ các quy định hiện hành về ngăn chặn ngộ độc cá nóc.
b) Mục tiêu cụ thể:
- Về sản lượng:
+ Khánh Hòa: sản lượng thu mua, chế biến: 500-600 tấn/năm, sản lượng cá nóc thành phẩm xuất khẩu: 200-240 tấn/năm.
+ Phú Yên: sản lượng thu mua, chế biến: 1000-1200 tấn/năm, sản lượng cá nóc thành phẩm xuất khẩu: 400 tấn/năm.
+ Bà Rịa Vũng Tàu: sản lượng thu mua, chế biến: 1200-1500 tấn/năm, sản lượng cá nóc thành phẩm xuất khẩu: 500 tấn/năm.
+ Kiên Giang: sản lượng thu mua, chế biến: 1200-1500 tấn/năm, sản lượng cá nóc thành phẩm xuất khẩu: 500 tấn/năm.
- Về hiệu quả kinh tế:
Giá trị xuất khẩu cá nóc thành phẩm ước đạt: 49,92 tỷ đồng (sản lượng cá nóc thành phẩm xuất khẩu 1600 tấn x 1.500 USD/tấn).
- Về an sinh xã hội:
+ 1200 người là các ngư dân, công nhân chế biến thủy sản, cán bộ quản lý nhà nước được đào tạo kiến thức về nhận biết, phân loại các loài cá nóc xuất khẩu bảo đảm An toàn thực phẩm.
+ Tạo thêm việc làm và thu nhập cho 1000 lao động là công nhân chế biến thủy sản, ngư dân, công nhân cơ sở thu mua thủy sản.
3. Phạm vi
a) Đề án cá nóc thí điểm được thực hiện tại 04 tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu và Kiên Giang (sau đây gọi tắt là các tỉnh điểm).
b) Tất cả cá nóc được khai thác, thu mua, vận chuyển, sơ chế, chế biến trong Đề án cá nóc thí điểm chỉ phục vụ mục đích xuất khẩu, không được phép đưa ra tiêu thụ tại thị trường nội địa.
4. Thời gian thực hiện
Thời gian thực hiện Đề án cá nóc thí điểm là 03 năm, bắt đầu từ năm 2013 đến hết năm 2015.
5. Nội dung Đề án
a) Truyền thông, đào tạo tập huấn:
- Sử dụng các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến người dân trên địa bàn thí điểm về các loài cá nóc độc và không độc, tránh chủ quan ăn cá nóc bị ngộ độc tử vong.
- Xây dựng chương trình, nội dung và tổ chức đào tạo đội ngũ người lao động trực tiếp đánh bắt, dịch vụ hậu cần thu gom và chế biến cá nóc xuất khẩu về các kiến thức bảo đảm an toàn thực phẩm, hạn chế không để người dân sử dụng cá nóc độc làm thực phẩm, ảnh hưởng đến sức khỏe.
b) Tổ chức khai thác, thu mua, vận chuyển, sơ chế và chế biến cá nóc xuất khẩu:
- Tàu cá khai thác cá nóc được chỉ định tham gia Đề án thực hiện khai thác, đánh bắt cá nóc và cập cảng để bốc dỡ cá nóc tại các cảng cá, bến cá được chỉ định, đồng thời thông báo trước về thời gian dự kiến cập cảng để được kiểm tra, cấp giấy xác nhận xuất xứ cho từng lô cá nóc nguyên liệu.
- Chủ cơ sở thu mua cá nóc, nhà máy chế biến cá nóc xuất khẩu được chỉ định tham gia Đề án thực hiện thu gom những lô nguyên liệu cá nóc có giấy xác nhận xuất xứ.
- Các lô nguyên liệu cá nóc có giấy xác nhận xuất xứ được đưa về nhà máy chế biến được chỉ định tham gia Đề án để được phân loại, sơ chế, chế biến theo đúng kỹ thuật;
- Nhà máy chế biến được chỉ định tham gia Đề án thực hiện đăng ký, kiểm tra chứng nhận an toàn thực phẩm đối với các lô cá nóc thành phẩm xuất khẩu theo đúng quy định giữa Việt Nam và thị trường nhập khẩu.
- Phế liệu, phế thải trong quá trình chế biến cá nóc được xử lý phù hợp, bảo đảm không độc hại đến người và môi trường xung quanh.
6. Các giải pháp thực hiện Đề án
a) Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về cá nóc, độc tố cá nóc và ngộ độc cá nóc: Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh điểm chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện rà soát, hoàn thiện các sản phẩm truyền thông (bản tin, tờ rơi, tờ dán) về sự nguy hiểm của độc tố cá nóc và một số biện pháp nhận biết, phòng tránh cá nóc độc và tổ chức tuyên truyền, phổ biến các sản phẩm truyền thông thông qua các phương tiện thông tin đại chúng trên địa bàn tỉnh.
b) Đào tạo, tập huấn: Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh điểm chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá nóc tổ chức đào tạo, tập huấn về kỹ thuật nhận biết, phân loại cá nóc, phương pháp bảo quản cá nóc, kỹ thuật sơ chế, chế biến cá nóc cho các đối tượng tham gia Đề án, thực hiện cấp chứng chỉ cho các đối tượng đạt yêu cầu và cập nhật, quản lý chặt chẽ Danh sách các nhân sự đã được đào tạo tập huấn.
c) Quản lý và tổ chức sản xuất
- Các tổ chức, cá nhân tham gia khai thác, thu gom vận chuyển, chế biến xuất khẩu và xử lý chất thải cá nóc, có nghĩa vụ bắt buộc tuân thủ "Quy định kiểm soát trong khai thác, thu mua, vận chuyển, chế biến xuất khẩu và xử lý chất thải cá nóc" và các quy định khác.
- Tàu cá tham gia Đề án phải được cơ quan chuyên môn của Sở Nông nghiệp và PTNT kiểm tra điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm, cấp mã số, đồng thời cam kết không sử dụng các phương pháp khai thác thủy sản bị cấm hoặc phương pháp khai thác gây hủy diệt nguồn lợi thủy sản. Chủ tàu và người lao động phải được đào tạo, cấp chứng chỉ về kỹ thuật nhận biết, phân loại cá nóc, phương pháp bảo quản cá nóc.
- Tàu cá khai thác cá nóc chỉ được cập cảng để bốc dỡ cá nóc tại các cảng cá, bến cá đã được Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh điểm chỉ định và thông báo trước về thời gian dự kiến cập cảng để cơ quan chuyên môn của Sở Nông nghiệp và PTNT kiểm tra, cấp giấy xác nhận cho từng lô cá nóc (bao gồm các thông tin về tên chủ tàu, mã số tàu, ngày giờ cập cảng/bến đậu, chủng loại và khối lượng cá nóc khai thác, tình trạng bảo quản).
- Cơ sở thu mua phải được cơ quan chuyên môn do Sở NN&PTNT kiểm tra điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và cấp mã số, chủ cơ sở và người lao động phải được đào tạo, cấp chứng chỉ về kỹ thuật nhận biết, phân loại cá nóc, phương pháp bảo quản, vận chuyển cá nóc đến nhà máy chế biến. Chủ cơ sở thu mua cá nóc, nhà máy chế biến cá nóc xuất khẩu chỉ được phép thu gom những lô nguyên liệu cá nóc có giấy xác nhận xuất xứ do cơ quan chuyên môn của Sở NN&PTNT cấp.
- Cơ sở chế biến cá nóc xuất khẩu do các tỉnh chọn tham gia Đề án phải được Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản kiểm tra, chứng nhận điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định của Việt Nam và Hàn Quốc và phải có tên trong danh sách các cơ sở được phép chế biến xuất khẩu thủy sản sang Hàn Quốc.
- Tất cả các lô cá nóc thành phẩm đều phải được chế biến từ các lô nguyên liệu có giấy xác nhận xuất xứ do cơ quan chuyên môn của Sở Nông nghiệp và PTNT cấp, mỗi lô hàng cá nóc xuất khẩu sang Hàn Quốc phải được đăng ký, kiểm tra chứng nhận theo đúng quy định giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Việc lấy mẫu, phân tích độc tố Tetrodotoxin là bắt buộc đối với từng lô sản phẩm cá nóc trước khi xuất khẩu.
d) Giải pháp về thị trường: Doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá nóc của Việt Nam được chủ động tìm kiếm đối tác nhập khẩu cá nóc trước mắt là thị trường Hàn Quốc, sau đó căn cứ tình hình sản lượng cá nóc thương phẩm được thu mua, chế biến và nhu cầu của doanh nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép mở rộng thị trường xuất khẩu cá nóc sang các thị trường khác ngoài thị trường Hàn Quốc. Giữa đối tác nhập khẩu và các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu phía Việt Nam phải có Hợp đồng nguyên tắc trong đó có cam kết trách nhiệm chia sẻ lợi ích và rủi ro với các doanh nghiệp Việt Nam.
7. Nguồn kinh phí thực hiện Đề án
a) Kinh phí thực hiện Đề án cá nóc thí điểm trong 03 năm, từ năm 2013 đến hết năm 2015 gồm:
Đơn vị tính: triệu đồng

TT

Nội dung

Số tiền

Nguồn

Đơn vị thực hiện

1

Chi phí thường xuyên cho Ban chỉ đạo Đề án cá nóc các tỉnh thí điểm

280

NS địa phương

Ban chỉ đạo Đề án tỉnh

2

Rà soát, hoàn thiện các sản phẩm truyền thông, tổ chức truyền thông tại địa phương

600

NS địa phương

Sở NN&PTNT phối hợp Hội nghề cá, TT khuyến nông

3

Đào tạo tập huấn các cơ sở tham gia Đề án thí điểm (ngư dân, cơ sở thu gom, nhà máy chế biến)

800

NS địa phương và DN chế biến

Sở NN&PTNT phối hợp Hội nghề cá, TT khuyến nông, DN chế biến

4

Kiểm tra, giám sát

400

NS Trung ương (đối với CQTW) và địa phương (đối với các CQĐP)

Sở NN&PTNT, Bộ Nông nghiệp và PTNT (Cục Quản lý Chất lượng NLS&TS)

TỔNG CỘNG

2,080

Bằng chữ: Hai tỷ không trăm tám mươi triệu đồng chẵn.
b) Kinh phí thực hiện Đề án cá nóc thí điểm bố trí theo nguyên tắc sau: Kinh phí thực hiện các nội dung của Đề án tại địa phương do ngân sách địa phương bảo đảm và các nguồn huy động hợp pháp khác (nếu có); Kinh phí kiểm tra, giám sát của Bộ Nông nghiệp và PTNT, do Bộ tự bảo đảm và bố trí trong dự toán được giao hàng năm.