Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 53/2006/QĐ-UBND quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Quảng Trị

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "14/06/2006", "sign_number": "53/2006/QĐ-UBND", "signer": "Lê Hữu Phúc", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "14/06/2006", "sign_number": "53/2006/QĐ-UBND", "signer": "Lê Hữu Phúc", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "14/06/2006", "sign_number": "53/2006/QĐ-UBND", "signer": "Lê Hữu Phúc", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "14/06/2006", "sign_number": "53/2006/QĐ-UBND", "signer": "Lê Hữu Phúc", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "14/06/2006", "sign_number": "53/2006/QĐ-UBND", "signer": "Lê Hữu Phúc", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 53/2006/QĐ-UBND quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Quảng Trị

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Quảng Trị đến năm 2010 có tính đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau
...
3. Định hướng phát triển các chuyên ngành.
3.1. Khai thác thủy sản.
Phát triển khai thác thủy sản trung và xa bờ hợp lý; ổn định khai thác ven bờ và nội địa. Phát triển khai thác đi đôi với bảo vệ, tái tạo nguồn lợi thủy sản, gắn với công tác cứu nạn, cứu hộ và đảm bảo quốc phòng- an ninh trên biển.
- Sản lượng khai thác thủy sản đến năm 2010 đạt 16.500 tấn; trong đó sản lượng khai thác trung bờ và xa bờ trên 7.000 tấn;
- Ổn định số lượng tàu thuyền đánh cá đến năm 2010 khoảng 1.320 chiếc với tổng công suất 35.000CV; trong đó tàu đánh cá xa bờ có 45- 50 chiếc, tàu đánh cá trung bờ (45 đến dưới 90CV) có trên 170 chiếc. Giảm đáng kể số lượng thuyền đánh cá ven bờ, đặc biệt là thuyền thủ công và thuyền máy công suất dưới 20CV;
- Chú trọng du nhập và phát triển các ngành nghề khai thác thủy sản hiệu quả, đánh bắt các sản phẩm có giá trị kinh tế cao và thân thiện với môi trường;
- Xây dựng hoàn thiện và đưa vào khai thác có hiệu quả các cảng cá, khu dịch vụ hậu cần nghề cá, khu neo đậu trú bão tại Cửa Tùng, Cửa Việt và Cồn Cỏ.
3.2. Nuôi thủy sản.
Là hướng phát triển chính để tăng sản lượng ngành Thủy sản; từng bước hình thành vùng nguyên liệu tập trung, ổn định cho chế biến xuất khẩu; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông nghiệp nông thôn và xóa đói giảm nghèo.
- Sản lượng nuôi thủy sản đến năm 2010 đạt 10.500 tấn, trong đó nuôi thủy sản nước ngọt 5.000 tấn, nuôi thủy sản mặn lợ 5.500 tấn;
- Diện tích nuôi thủy sản đến năm 2010 đạt 3.500- 4.000 ha, trong đó diện tích nuôi thủy sản mặn lợ khoảng 2.000 ha;
- Phát triển đa dạng các loại hình nuôi thủy sản như: Nuôi thâm canh, bán thâm canh, quảng canh, quảng canh cải tiến; nuôi ao hồ, mặt nước, lồng, bè, bể; nuôi kết hợp ruộng lúa, ruộng sen, chăn nuôi thủy cầm;...
- Phát triển đa dạng các đối tượng nuôi thủy sản, tập trung các đối tượng chính là: Tôm sú, tôm he chân trắng, tôm càng xanh, cua, cá giò, cá truyền thống, cá rô phi đơn tính, cá tra. Thử nghiệm các đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế như: Ba ba, ếch, cá trê lai, cá chim trắng, cá chình... để phát triển trên địa bàn.
3.3. Chế biến- thương mại thủy sản.
- Củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động các cơ sở chế biến thủy sản hiện có, phát triển và đổi mới trang thiết bị, công nghệ, đưa sản lượng thủy sản xuất khẩu đạt 3.300 tấn vào năm 2010;
- Đa dạng hoá các sản phẩm thủy sản chế biến nhằm phục vụ xuất khẩu, tiêu dùng nội địa và khách du lịch trên địa bàn; từng bước xây dựng và quảng bá thương hiệu các sản phẩm thủy sản đặc trưng của tỉnh;
- Phấn đấu đến năm 2010 các cơ sở chế biến thủy sản theo phương thức công nghiệp đều đạt tiêu chuẩn ngành về điều kiện an toàn vệ sinh và thú y thủy sản; tăng cường áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
3.4. Dịch vụ thủy sản.
Kiện toàn hệ thống dịch vụ thủy sản trên địa bàn để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành: Từng bước chuyển giao công nghệ sản xuất giống, tăng cường khả năng tự sản xuất giống trên địa bàn để đáp ứng cơ bản nhu cầu nuôi thủy sản của nhân dân. Đẩy mạnh công tác khuyến ngư, tập trung chuyển giao kỹ thuật khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản cho nhân dân. Đẩy mạnh công tác kiểm dịch, thú y nhằm tăng khả năng phát hiện và dập dịch bệnh thủy sản. Tăng cường kiểm tra chất lượng giống, thức ăn, thuốc thú y, vệ sinh thực phẩm thủy sản trên địa bàn. Quản lý chặt chẽ việc cấp giấy phép khai thác để giảm dần số thuyền nhỏ khai thác ven bờ, ngăn chặn kịp thời, tiến tới chấm dứt việc sử dụng các phương thức khai thác mang tính hủy diệt. Tổ chức tốt dịch vụ hậu cần như: Cung ứng vật tư, thiết bị nghề cá; dịch vụ cảng, neo đậu tàu thuyền; thu mua, chế biến thủy sản… đáp ứng yêu cầu phát triển nghề cá của tỉnh.

Content:
Định hướng phát triển các chuyên ngành.
3.1. Khai thác thủy sản.
Phát triển khai thác thủy sản trung và xa bờ hợp lý; ổn định khai thác ven bờ và nội địa. Phát triển khai thác đi đôi với bảo vệ, tái tạo nguồn lợi thủy sản, gắn với công tác cứu nạn, cứu hộ và đảm bảo quốc phòng- an ninh trên biển.
- Sản lượng khai thác thủy sản đến năm 2010 đạt 16.500 tấn; trong đó sản lượng khai thác trung bờ và xa bờ trên 7.000 tấn;
- Ổn định số lượng tàu thuyền đánh cá đến năm 2010 khoảng 1.320 chiếc với tổng công suất 35.000CV; trong đó tàu đánh cá xa bờ có 45- 50 chiếc, tàu đánh cá trung bờ (45 đến dưới 90CV) có trên 170 chiếc. Giảm đáng kể số lượng thuyền đánh cá ven bờ, đặc biệt là thuyền thủ công và thuyền máy công suất dưới 20CV;
- Chú trọng du nhập và phát triển các ngành nghề khai thác thủy sản hiệu quả, đánh bắt các sản phẩm có giá trị kinh tế cao và thân thiện với môi trường;
- Xây dựng hoàn thiện và đưa vào khai thác có hiệu quả các cảng cá, khu dịch vụ hậu cần nghề cá, khu neo đậu trú bão tại Cửa Tùng, Cửa Việt và Cồn Cỏ.
3.2. Nuôi thủy sản.
Là hướng phát triển chính để tăng sản lượng ngành Thủy sản; từng bước hình thành vùng nguyên liệu tập trung, ổn định cho chế biến xuất khẩu; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông nghiệp nông thôn và xóa đói giảm nghèo.
- Sản lượng nuôi thủy sản đến năm 2010 đạt 10.500 tấn, trong đó nuôi thủy sản nước ngọt 5.000 tấn, nuôi thủy sản mặn lợ 5.500 tấn;
- Diện tích nuôi thủy sản đến năm 2010 đạt 3.500- 4.000 ha, trong đó diện tích nuôi thủy sản mặn lợ khoảng 2.000 ha;
- Phát triển đa dạng các loại hình nuôi thủy sản như: Nuôi thâm canh, bán thâm canh, quảng canh, quảng canh cải tiến; nuôi ao hồ, mặt nước, lồng, bè, bể; nuôi kết hợp ruộng lúa, ruộng sen, chăn nuôi thủy cầm;...
- Phát triển đa dạng các đối tượng nuôi thủy sản, tập trung các đối tượng chính là: Tôm sú, tôm he chân trắng, tôm càng xanh, cua, cá giò, cá truyền thống, cá rô phi đơn tính, cá tra. Thử nghiệm các đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế như: Ba ba, ếch, cá trê lai, cá chim trắng, cá chình... để phát triển trên địa bàn.
3.Chế biến- thương mại thủy sản.
- Củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động các cơ sở chế biến thủy sản hiện có, phát triển và đổi mới trang thiết bị, công nghệ, đưa sản lượng thủy sản xuất khẩu đạt 3.300 tấn vào năm 2010;
- Đa dạng hoá các sản phẩm thủy sản chế biến nhằm phục vụ xuất khẩu, tiêu dùng nội địa và khách du lịch trên địa bàn; từng bước xây dựng và quảng bá thương hiệu các sản phẩm thủy sản đặc trưng của tỉnh;
- Phấn đấu đến năm 2010 các cơ sở chế biến thủy sản theo phương thức công nghiệp đều đạt tiêu chuẩn ngành về điều kiện an toàn vệ sinh và thú y thủy sản; tăng cường áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
3.4. Dịch vụ thủy sản.
Kiện toàn hệ thống dịch vụ thủy sản trên địa bàn để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành: Từng bước chuyển giao công nghệ sản xuất giống, tăng cường khả năng tự sản xuất giống trên địa bàn để đáp ứng cơ bản nhu cầu nuôi thủy sản của nhân dân. Đẩy mạnh công tác khuyến ngư, tập trung chuyển giao kỹ thuật khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản cho nhân dân. Đẩy mạnh công tác kiểm dịch, thú y nhằm tăng khả năng phát hiện và dập dịch bệnh thủy sản. Tăng cường kiểm tra chất lượng giống, thức ăn, thuốc thú y, vệ sinh thực phẩm thủy sản trên địa bàn. Quản lý chặt chẽ việc cấp giấy phép khai thác để giảm dần số thuyền nhỏ khai thác ven bờ, ngăn chặn kịp thời, tiến tới chấm dứt việc sử dụng các phương thức khai thác mang tính hủy diệt. Tổ chức tốt dịch vụ hậu cần như: Cung ứng vật tư, thiết bị nghề cá; dịch vụ cảng, neo đậu tàu thuyền; thu mua, chế biến thủy sản… đáp ứng yêu cầu phát triển nghề cá của tỉnh.