Document: Khoản 7 Điều 1 Quyết định 1239/QĐ-UBND 2013 Quy hoạch phát triển rau an toàn Bắc Kạn 2011 2015

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "08/08/2013", "sign_number": "1239/QĐ-UBND", "signer": "Nông Văn Chí", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "08/08/2013", "sign_number": "1239/QĐ-UBND", "signer": "Nông Văn Chí", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "08/08/2013", "sign_number": "1239/QĐ-UBND", "signer": "Nông Văn Chí", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "08/08/2013", "sign_number": "1239/QĐ-UBND", "signer": "Nông Văn Chí", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "08/08/2013", "sign_number": "1239/QĐ-UBND", "signer": "Nông Văn Chí", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 7 Điều 1 Quyết định 1239/QĐ-UBND 2013 Quy hoạch phát triển rau an toàn Bắc Kạn 2011 2015

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển rau an toàn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020 với nội dung chủ yếu như sau:
...
7. Hiệu quả của dự án
7.1. Về kinh tế
Tổng diện tích gieo trồng rau, rau an toàn và rau bản địa tỉnh Bắc Kạn đến năm 2015 là 1.955ha, sản lượng ước đạt 31.450, giá trị đạt trên 252 tỷ đồng/năm; đến năm 2020 diện tích gieo trồng rau ổn định là 2.462ha, sản lượng ước đạt 42.125tấn, giá trị 337 tỷ đồng/năm. Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng của ngành trồng trọt đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp ở Bắc Kạn trong điều kiện đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, hiệu quả trồng trọt không cao và luôn gặp nhiều rủi ro, cũng như đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm rau xanh ngày càng cao hơn - đa dạng hơn và chất lượng hơn.
7.2. Về xã hội
- Tạo điều kiện để phát triển một nghề ở nông thôn (sản xuất hàng hóa) có khả năng thu hút tạo thêm hàng ngàn lao động ở nông thôn đã góp phần tạo công ăn việc làm ổn định, giảm bớt áp lực di chuyển lao động thất nghiệp từ nông thôn ra thành thị.
- Phát triển kinh tế nông nghiệp thông qua sản xuất rau, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho nông hộ và chủ động sản xuất nguồn rau xanh tại chỗ, giảm bớt sự phụ thuộc mua từ tỉnh ngoài đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho sức khỏe của cộng đồng.
7.3. Về môi trường
- Các vùng trồng rau, rau an toàn tập trung được quy hoạch và đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng đảm bảo cho sản xuất bền vững.
- Sản xuất rau an toàn được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đảm bảo sức khoẻ cho cộng đồng và toàn xã hội.
- Nhận thức về bảo vệ môi trường của người sản xuất và tất cả người dân được tăng cường thông qua tuyên truyền, kiểm tra và áp dụng các chế tài xử lý vi phạm phù hợp.

Content:
Hiệu quả của dự án
7.1. Về kinh tế
Tổng diện tích gieo trồng rau, rau an toàn và rau bản địa tỉnh Bắc Kạn đến năm 2015 là 1.955ha, sản lượng ước đạt 31.450, giá trị đạt trên 252 tỷ đồng/năm; đến năm 2020 diện tích gieo trồng rau ổn định là 2.462ha, sản lượng ước đạt 42.125tấn, giá trị 337 tỷ đồng/năm. Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng của ngành trồng trọt đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp ở Bắc Kạn trong điều kiện đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, hiệu quả trồng trọt không cao và luôn gặp nhiều rủi ro, cũng như đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm rau xanh ngày càng cao hơn - đa dạng hơn và chất lượng hơn.
7.2. Về xã hội
- Tạo điều kiện để phát triển một nghề ở nông thôn (sản xuất hàng hóa) có khả năng thu hút tạo thêm hàng ngàn lao động ở nông thôn đã góp phần tạo công ăn việc làm ổn định, giảm bớt áp lực di chuyển lao động thất nghiệp từ nông thôn ra thành thị.
- Phát triển kinh tế nông nghiệp thông qua sản xuất rau, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho nông hộ và chủ động sản xuất nguồn rau xanh tại chỗ, giảm bớt sự phụ thuộc mua từ tỉnh ngoài đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho sức khỏe của cộng đồng.
7.3. Về môi trường
- Các vùng trồng rau, rau an toàn tập trung được quy hoạch và đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng đảm bảo cho sản xuất bền vững.
- Sản xuất rau an toàn được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đảm bảo sức khoẻ cho cộng đồng và toàn xã hội.
- Nhận thức về bảo vệ môi trường của người sản xuất và tất cả người dân được tăng cường thông qua tuyên truyền, kiểm tra và áp dụng các chế tài xử lý vi phạm phù hợp.