Document: Điều 1 Quyết định 3675/QĐ-UBND 2018 Đề án Tổng thể phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/09/2018", "sign_number": "3675/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/09/2018", "sign_number": "3675/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/09/2018", "sign_number": "3675/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/09/2018", "sign_number": "3675/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "18/09/2018", "sign_number": "3675/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Huy Hậu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 3675/QĐ-UBND 2018 Đề án Tổng thể phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Đề án Tổng thể phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (sau đây gọi tắt là Đề án), với các nội dung chủ yếu sau:
I. Mục tiêu đề án
1. Mục tiêu chung
Đưa ngành thủy sản tỉnh Quảng Ninh phát triển toàn diện theo hướng công nghiệp hiện đại, tạo sản phẩm lớn, giá trị cao, đảm bảo chất lượng phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Chủ động sản xuất và quản lý trong toàn chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản gắn với bảo vệ môi trường, nguồn lợi và thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu; nâng cao thu nhập và mức sống của ngư dân, góp phần bảo vệ quốc phòng, an ninh trên vùng biển đảo của Tổ quốc.
2. Mục tiêu cụ thể
2.1- Đến năm 2020
- Tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 135.000 tấn, trong đó: Sản lượng khai thác thủy sản đạt 65.000 tấn, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 70.000 tấn.
- Kinh tế thủy sản phấn đấu chiếm trên 3% GRDP của Tỉnh, đóng góp 60-65% GRDP trong khối nông, lâm, ngư nghiệp. Giá trị sản xuất thủy sản đạt khoảng 6.200 tỷ đồng; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt trên 100 triệu USD; tạo việc làm cho khoảng 62.000 lao động.
- Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 20.722 ha và 10.280 ô lồng nuôi biển.
- Số lượng tàu thuyền khai thác giảm xuống còn 7.000 tàu, gồm:
- Hình thành 03 Trung tâm nghề cá và 01 Trung tâm thương mại nghề cá thuộc Tỉnh gắn với hệ thống hạ tầng sản xuất, hậu cần nghề cá đồng bộ; chủ động sản xuất được giống các đối tượng nuôi chủ lực.
2.2- Đến năm 2030
- Tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 176.000 tấn, trong đó: Sản lượng khai thác thủy sản đạt 78.000 tấn, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 98.000 tấn.
- Giá trị sản xuất thủy sản đạt khoảng trên 8.900 tỷ đồng; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt trên 200 triệu USD; tạo việc làm cho khoảng 65.000 lao động.
- Số lượng tàu thuyền khai thác giảm xuống còn còn 6.680 chiếc, trong đó đánh bắt xa bờ 800 chiếc.
- Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 21.942 ha (nuôi nước ngọt: 3.110 ha; nuôi mặn, lợ: 18.832 ha) và 11.800 ô lồng nuôi biển.
- Chủ động sản xuất được giống thủy sản có chất lượng cao phục vụ nhu cầu giống nuôi trồng thủy sản của tỉnh.
(Chi tiết theo Phụ lục 01)
II. Nhiệm vụ trọng tâm
1. Về Lĩnh vực khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Cơ cấu lại lực lượng tàu khai thác thủy sản: Phát triển các nghề có tính chọn lọc cao, thân thiện với môi trường như nghề lưới rê khơi, nghề câu, nghề chài chụp xa bờ; phát triển các tàu dịch vụ thu mua sản phẩm khai thác hải sản xa bờ. Giảm các nghề khai thác ven bờ, kém hiệu quả, gây xâm hại nguồn lợi hải sản như các nghề lưới kéo, một số nghề lưới rê ven bờ, lồng bẫy,...
- Tổ chức lại hình thức sản xuất trên biển theo mô hình kinh tế tập thể hợp tác sản xuất theo chuỗi liên kết đối với khai thác vùng biển xa bờ (hình thành thêm từ 15-20 tổ hợp tác sản xuất trên biển và từ 8-10 chuỗi liên kết từ cung ứng vật tư đến khai thác, thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm thủy sản); xây dựng mô hình đồng quản lý đối với vùng biển ven bờ để tăng hiệu quả sản xuất, bảo vệ môi trường, nguồn lợi. Đến năm 2030 xây dựng và phát triển được 10-15 mô hình đồng quản lý nghề cá.
- Tuyên truyền, phổ biến và nâng cao nhận thức trách nhiệm của cộng đồng dân cư về các quy định về khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU fishing): Tổ chức được từ 10-15 lớp tuyên truyền, phổ biến về IUU fishing/năm.
- Khuyến khích đầu tư nghiên cứu, ứng dụng hỗ trợ chuyển giao, áp dụng khoa học công nghệ vào hoạt động khai thác, bảo quản sau thu hoạch để nâng giá trị sản xuất và hiện đại hóa công nghệ trong khai thác thủy sản: Ứng dụng công nghệ sử dụng đèn LED trong nghề chụp mực; ứng dụng công nghệ dò cá ngang; ứng dụng mô hình sản xuất chuỗi liên kết. Đến năm 2020, có từ 20-30% tàu khai thác xa bờ được lắp đặt công cụ, thiết bị kỹ thuật hiện đại hỗ trợ khai thác và bảo quản sản phẩm sau thu hoạch và nâng lên 60-70% vào năm 2030.
- Điều tra, đánh giá trữ lượng, khoanh vùng bảo vệ phục hồi, tái tạo nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Ninh: Đặc biệt là hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển để tổ chức bảo tồn, phục hồi, tái tạo và phát triển. Đến năm 2030, toàn bộ vùng ven biển Quảng Ninh được điều tra, nghiên cứu, đánh giá xác định các hệ sinh thái tiêu biểu làm cơ sở cho việc tổ chức khoanh vùng, bảo tồn, phục hồi và phát triển. Hàng năm, tuyên truyền sâu rộng để nhân dân nhận thức về giá trị của nguồn lợi thủy sản, hệ sinh. Huy động nguồn lực từ xã hội, các tổ chức thả bổ sung một số đối tượng thủy sản vào vùng nước tự nhiên.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực thủy sản: Xây dựng lực lượng kiểm ngư địa phương để quản lý hoạt động khai thác hiệu quả. Đến năm 2020, hoàn thiện lực lượng kiểm ngư địa phương bao gồm con người, trang thiết bị, các kỹ năng cần thiết để hoạt động an toàn, hiệu quả.
- Xây dựng các mô hình khai thác và phát triển nuôi biển gắn với du lịch biển: Xây dựng được từ 5-7 mô hình khai thác và nuôi biển với gắn du lịch biển.
- Các chương trình, dự án ưu tiên (Chi tiết theo Phụ lục 02)
2. Lĩnh vực sản xuất giống và nuôi trồng thủy sản
- Sắp xếp, cải tạo và nâng cấp các cơ sở sản xuất giống hiện có theo hướng tập trung nghiên cứu, nhập và chuyển giao công nghệ sản xuất giống chất lượng cao nhằm tăng năng suất và chất lượng con giống, đảm bảo đến năm 2020 sản xuất đạt trên 6,0 tỷ giống; đến năm 2030 sản xuất đạt 8,0 tỷ giống thủy sản các loại, đáp ứng đủ nhu cầu giống nuôi trồng thủy sản.
- Phát triển các vùng nuôi thủy sản thâm canh, hạn chế mở rộng diện tích, tập trung ứng dụng công nghệ cao, nuôi tiết kiệm nước, nuôi an toàn sinh học cho năng suất cao, sản lượng lớn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất theo hướng nâng cao giá trị sản phẩm, đảm bảo mục tiêu tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản: Đến năm 2020 đạt 70.000 tấn (nuôi nước ngọt đạt 12.710 tấn, nuôi mặn lợ đạt 57.290 tấn); đến năm 2030 đạt 98.000 tấn (nuôi nước ngọt đạt 15.400 tấn, nuôi mặn lợ đạt 82.600 tấn). Khuyến khích đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất thức ăn công nghiệp phục vụ nuôi trồng thủy sản, đảm bảo sản lượng đến năm 2020 đạt 60.000 tấn và đến năm 2030 đạt 90.000 tấn.
- Xây dựng vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong thủy sản: Đến năm 2025 hoàn thiện và vận hành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao về thủy sản tại huyện Đầm Hà tỉnh Quảng Ninh phấn đấu trở thành trung tâm đào tạo cán bộ, lao động; nghiên cứu, hợp tác, thử nghiệm khoa học công nghệ, là đầu tầu quan trọng nhằm ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, tạo ra các sản phẩm giống thủy sản chủ lực, giống thủy sản đặc hữu có chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu giống trong tỉnh và khu vực các tỉnh phía bắc, phục vụ chiến lược phát triển ngành tôm. Hàng năm đào tạo được khoảng 300-500 lượt cán bộ kỹ thuật và nông dân.
- Xây dựng Chương trình phát triển nuôi biển trên các vùng biển đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030. Trong đó, thực hiện quy hoạch lại việc sử dụng vùng biển, sắp xếp lại các khu vực lồng bè theo quy hoạch, xây dựng các mô hình công nghiệp nuôi biển tiên tiến nâng cao giá trị, lấy doanh nghiệp làm trung tâm phát triển và hỗ trợ hộ ngư dân chuyển đổi mô hình nuôi. Từng bước thay thế vật liệu cũ và đưa vật liệu mới vào phát triển nuôi biển để tăng khả năng chịu sóng gió, độ bền và giảm rủi ro trong sản xuất. Đến năm 2030, 100% lồng bè nuôi trên biển sử dụng vật liệu mới để làm lồng, bè bảo đảm an toàn sản xuất thân thiện với môi trường.
- Xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động phát triển ngành tôm Quảng Ninh đến năm 2025, nhằm phát triển nghề nuôi tôm bền vững với mục tiêu chiến lược đưa Quảng Ninh trở thành trung tâm ngành công nghiệp tôm lớn nhất Miền Bắc theo Quyết định số 79/QĐ-TTg ngày 18/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Ban hành Kế hoạch hành động quốc gia phát triển ngành tôm Việt Nam đến năm 2025”.
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các vùng NTTS trọng điểm: Đầu tư mới, nâng cấp và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng tại các vùng nuôi trọng điểm. Đến năm 2030, đảm bảo có 70-80% diện tích vùng nuôi đã quy hoạch được đầu tư hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất.
- Ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm: Nghiên cứu, chuyển giao, áp dụng kỹ thuật mới, tiên tiến vào nuôi trồng thủy sản để nâng cao chất lượng, giá trị và hiệu quả, đồng thời giảm rủi ro trong sản xuất; ứng dụng thí điểm xây dựng hệ thống quản lý thông tin nuôi trồng thủy sản gắn với chính quyền điện tử; ứng dụng phát triển vật liệu thân thiện với môi trường trong nuôi trồng thủy sản. Đến năm 2020, có 30% diện tích nuôi trồng thủy sản các đối tượng chủ lực áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng lên 50% vào năm 2025 và đạt 80% vào năm 2030.
- Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế để tiếp nhận công nghệ tiên tiến phát triển thủy sản, nhất là công nghệ sản xuất giống với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Israel, các nước trong khu vực ASEAN và các nước có trình độ phát triển cao về thủy sản. Đẩy mạnh hợp tác với các tỉnh trong nước, các Viện nghiên cứu, các Trường Đại Học về nghiên cứu khoa học công nghệ về thủy sản; chuyển giao đối tượng và công nghệ nuôi mới; hỗ trợ công tác đào tạo nguồn nhân lực lĩnh vực thủy sản cho tỉnh.
- Xây dựng các liên kết chuỗi trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là các đối tượng nuôi chủ lực, phục vụ xuất khẩu. Xây dựng được từ 2-3 mô hình/năm, liên kết từ cung cấp vật tư đầu vào đến nuôi trồng, chế biến xuất khẩu đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm.
- Nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong phát triển các đối tượng nuôi trồng thủy sản đặc hữu, đặc sản, giá trị kinh tế cao để phục vụ phát triển du lịch. Đến năm 2030, nghiên cứu hoàn thiện từ sản xuất giống, thức ăn đến quy trình nuôi 5 - 7 loài đặc hữu, đặc sản.
- Tăng cường công tác giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các vùng nuôi trồng thủy sản: Giám sát chặt chẽ an toàn dịch bệnh và môi trường trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là các vùng nuôi tập trung; giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm các sản phẩm chủ lực tại các vùng nuôi tập trung. Đến năm 2020, 100% vùng nuôi tập trung và 30% diện tích vùng nuôi phân tán được giám sát an toàn dịch bệnh và môi trường, giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm, đến năm 2030, 100% diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh được giám sát an toàn dịch bệnh, môi trường, an toàn thực phẩm thủy sản.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong toàn chuỗi hoạt động nuôi trồng thủy sản của tỉnh, đảm bảo kiểm soát tốt từ vật tư đầu vào đến nuôi thương phẩm, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đến năm 2030, đảm bảo 100% sản phẩm trong chuỗi nuôi trồng thủy sản được kiểm tra, kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm trước khi lưu thông trên thị trường.
- Các chương trình, dự án ưu tiên. (Chi tiết theo Phụ lục 03)
3. Lĩnh vực Chế biến và tiêu thụ sản phẩm thủy sản
- Tổ chức rà soát, đánh giá sắp xếp lại các cơ sở chế biến trên địa bàn tỉnh đảm bảo phù hợp với quy hoạch. Đến năm 2020, đảm bảo di dời xong các khu cơ sở chế biến về khu vực quy hoạch để ổn định sản xuất.
- Đẩy mạnh việc liên kết giữa các nhà máy chế biến với cơ sở sản xuất và cung cấp nguyên liệu thủy sản (vùng nuôi trồng thủy sản và khai thác thủy sản). Tất cả các nhà máy chế biến đều xây dựng được các mối liên kết trực tiếp với vùng sản xuất nguyên liệu để chủ động sản xuất và truy suất nguồn gốc sản phẩm; Xây dựng các chợ đầu mối đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường.
- Quản lý và kiểm soát chặt chẽ an toàn vệ sinh thực phẩm ở tất cả các cơ sở chế biến trước khi đưa sản phẩm ra thị trường. Đến năm 2030, 100% cơ sở sản xuất đều được kiểm tra, giám sát về an toàn vệ sinh thực phẩm.
- Khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ mới trong chế biến để gia tăng giá trị sản phẩm. Đến năm 2030, tỷ lệ mặt hàng giá trị gia tăng trong chế biến tăng lên 30-35% và 70-80% phế phụ phẩm trong chế biến thủy sản được sử dụng để tạo các sản phẩm khác.
- Các chương trình, dự án ưu tiên (Chi tiết theo Phụ lục 04)
4. Lĩnh vực dịch vụ hậu cần thủy sản:
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão, trung tâm nghề cá (đã được Chính phủ, UBND tỉnh phê duyệt), các cơ sở đóng mới sửa chữa tàu thuyền, các chợ thủy sản trên các đảo và các huyện ven biển nhằm hỗ trợ ngư dân khai thác hiệu quả trên các vùng biển xa bờ và hình thành kênh phân phối thủy sản ổn định. Phấn đấu đến năm 2030 hoàn thành được 3 trung tâm nghề cá gắn với các vùng nuôi trồng thủy sản và ngư trường trọng điểm của tỉnh tại các huyện Vân Đồn, Cô Tô, Đầm Hà - Hải Hà; hình thành 01 Trung tâm thương mại thủy sản tại thành phố Hạ Long.
- Các chương trình, dự án ưu tiên. (Chi tiết theo Phụ lục 05)
III. Một số giải pháp chủ yếu
1. Về cơ chế, chính sách
- Thực hiện có hiệu quả các chính sách của Trung ương và tỉnh trong lĩnh vực thủy sản và lĩnh vực liên quan để thúc đẩy phát triển ngành thủy sản của tỉnh.
- Thường xuyên rà soát đánh giá và kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các tổ chức, cá nhân trong việc tiếp cận các chính sách của nhà nước trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là chính sách (giao mặt nước, hỗ trợ đầu tư, tín dụng....).
- Nghiên cứu xây dựng các chính sách đặc thù để thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực thủy sản của tỉnh (giao mặt nước, tín dụng, bảo hiểm, đầu tư...)
2. Về khoa học công nghệ và khuyến ngư
- Chủ động liên kết, hợp tác nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao KHCN với các tổ chức nghiên cứu (Viện, trường, trung tâm), các nhà khoa học trong và ngoài nước về lĩnh vực thủy sản.
- Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, chuyển giao kỹ thuật cho người dân; khuyến khích hoạt động tư vấn và dịch vụ khuyến ngư để huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, đặc biệt chú trọng nghiên cứu công nghệ sản xuất giống, bảo quản sau thu hoạch, công nghệ xanh, thân thiện với môi trường.
- Thường xuyên tổ chức tổng kết, đánh giá hiệu quả của các mô hình sản xuất, hiệu quả hoạt động khuyến ngư,... để phổ biến, nhân rộng.
3. Về nguồn nhân lực phục vụ phát triển ngành
- Lập kế hoạch hàng năm để tổ chức các khóa đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân theo mức độ phù hợp với nhu cầu sản xuất và quản lý; chú trọng đào tạo nghề cho lực lượng lao động khai thác và nuôi trồng thủy sản có kỹ thuật cao. Tổng kết, đánh giá hiệu quả các hình thức đào tạo để lựa chọn hình thức, phương pháp đào tạo, tập huấn hiệu quả.
- Thu hút lực lượng cán bộ, lao động chất lượng cao về làm việc quản lý nhà nước và sản xuất thủy sản: Khuyến khích cán bộ công chức trong lĩnh vực thủy sản học trên đại học trong và ngoài nước.
- Tiếp tục thực hiện Chương trình đào tạo nghề nông thôn theo địa chỉ, theo đặc điểm nghề của từng địa phương; Đào tạo, bồi dưỡng thuyền trưởng, máy trưởng, nghiệp vụ thuyền viên tàu cá cho ngư dân;
4. Về chế biến và phát triển thị trường tiêu thụ.
- Giảm chế biến thô và sơ chế, nâng cao tỷ trọng chế biến các mặt hàng giá trị gia tăng, đa dạng hóa các sản phẩm chế biến và thị trường tiêu thụ phù hợp với thị hiếu, văn hóa tiêu dùng của từng thị trường.
- Gắn kết nhà máy chế biến với vùng nguyên liệu nuôi trồng, khai thác thủy sản; hoàn thành việc di dời và ổn định sản xuất các nhà máy chế biến thủy sản tại Hạ Long, Quảng Yên, Vân Đồn; phát triển các cơ sở chế biến ở các địa phương có lợi thế nguồn nguyên liệu. Giữ vững thị trường xuất khẩu truyền thống; phát triển thị trường tiềm năng và thị trường tiêu thụ trong nước.
- Xã hội hóa, kêu gọi đầu tư hệ thống các chợ đầu mối, hình thành kênh phân phối hàng thủy sản từ người sản xuất, doanh nghiệp đến chợ, các siêu thị.
- Xây dựng thương hiệu, xuất xứ hàng hóa thủy sản Quảng Ninh: Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại các sản phẩm thủy sản tỉnh Quảng Ninh, tập trung vào các đối tượng chủ lực, các sản phẩm truyền thống, đặc trưng của tỉnh Quảng Ninh.
5. Về hợp tác quốc tế
- Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế để tiếp nhận ứng dụng công nghệ tiên tiến vào phát triển kinh tế thủy sản; Đẩy mạnh hợp tác với các tỉnh trong nước, các Viện nghiên cứu, các Trường Đại học về nghiên cứu khoa học công nghệ về thủy sản; nhập hoặc chuyển giao các đối tượng nuôi và công nghệ nuôi;
- Hợp tác với các nước trong khu vực để cảnh báo, cứu trợ, cứu nạn trên biển và chống khai thác IUU.
6. Về bảo vệ môi trường, nguồn lợi thủy sản
- Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ý thức cộng đồng về công tác bảo vệ môi trường, nguồn lợi thủy sản; Xây dựng kế hoạch phối hợp với đoàn thể, các tổ chức xã hội thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân ở các địa phương nhận thức và tự giác chấp hành tốt các quy định pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.
- Xây dựng kế hoạch, lộ trình và các giải pháp phục hồi, phát triển rừng ngập mặn trên diện tích nuôi trồng thủy sản đã bị thoái hóa, ở khu vực bãi triều ven biển có điều kiện thuận lợi.
- Công bố công khai các vùng cấm khai thác, vùng khai thác có thời hạn, danh mục các loại nghề cấm, đối tượng cấm khai thác.
- Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án các mô hình chuyển đổi nghề khai thác ven bờ kém hiệu quả, gây hại cho nguồn lợi thủy sản sang các ngành nghề thích hợp khác; Phát triển và duy trì mô hình đồng quản lý trong công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường trong các hoạt động thủy sản; quản lý nghiêm ngặt về các điều kiện đảm bảo môi trường đối với hoạt động nuôi trồng và chế biến thủy sản; đặc biệt là việc xử lý chất thải, nước thải, khí thải trong quá trình sản xuất kinh doanh.
7. Về nguồn vốn thực hiện đề án (Chi tiết theo Phụ lục 06)
7.1- Nhu cầu vốn đầu tư:
Theo Quyết định số 4209/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 của UBND tỉnh về Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành thủy sản tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, tổng nhu cầu vốn thực hiện đề án, cụ thể:
Tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2018-2030, dự kiến khoảng 4.098 tỷ đồng; trong đó: Ngân sách 1.744 tỷ đồng, vốn khác 2.354 tỷ đồng.
- Giai đoạn: 2018-2020 là: 1.273 tỷ đồng, gồm:
+ Ngân sách là: 589 tỷ đồng (Trung ương là: 134 tỷ đồng, chiếm 10,53%; Địa phương là 455 tỷ đồng, chiếm 35,74 %);
+ Vốn khác là: 684 tỷ đồng, chiếm 53,73 %.
- Giai đoạn 2021-2030 là: 2.825 tỷ đồng, gồm:
+ Ngân sách là: 1.155 tỷ đồng (Trung ương là: 412 tỷ đồng, chiếm 14,58%; Địa phương là: 743 tỷ đồng, chiếm 26,30%);
+ Vốn khác là: 1.670 tỷ đồng, chiếm 59,12%.
7.2- Phân kỳ đầu tư theo giai đoạn và các nguồn vốn như sau:

TT

Nguồn vốn

Tổng

Dự kiến nhu cầu vốn GĐ 2018-2020
(Tỷ đồng)

Dự kiến nhu cầu vốn GĐ 2021-2030
(Tỷ đồng)

1

Trung ương

546

134

412

2

Địa phương

1198

455

743

2.1

Tỉnh

935

360

575

2.2

Huyện

263

95

168

3

Vốn khác

2354

684

1670

Tổng

4098

1273

2825

7.3- Thu hút, huy động nguồn vốn đầu tư:
- Nguồn vốn từ Ngân sách: Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn Trung ương, ngân sách địa phương để đầu tư vào vùng sản xuất giống tập trung, vùng nuôi trồng tập trung, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, chợ thủy sản đầu mối; cơ sở vật chất phục vụ quản lý nhà nước, công tác thông tin tuyên truyền; công tác ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong xây dựng và nhân rộng mô hình nuôi trồng, khai thác thủy sản; chính sách phát triển đội tàu khai thác thủy sản xa bờ.
- Huy động từ các thành phần kinh tế: Tạo cơ chế, chính sách đồng bộ để thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp vào lĩnh vực thủy sản. Xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong đầu tư các lĩnh vực thủy sản.
- Nguồn vốn tín dụng: Tạo điều kiện các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi; chuyển hướng việc Ngân sách hỗ trợ trực tiếp cho người sản xuất thủy sản sang hỗ trợ lãi suất tín dụng.
- Thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Có chính sách khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài, cải thiện môi trường đầu tư; tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ, tài trợ của quốc tế, nhất là trong lĩnh vực bảo vệ nguồn lợi, tái tạo rừng ngập mặn và xây dựng khu bảo tồn biển, các khu neo đậu tránh trú bão để phòng tránh, giảm nhẹ rủi ro thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Content:
Điều 1. Phê duyệt Đề án Tổng thể phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (sau đây gọi tắt là Đề án), với các nội dung chủ yếu sau:
I. Mục tiêu đề án
1. Mục tiêu chung
Đưa ngành thủy sản tỉnh Quảng Ninh phát triển toàn diện theo hướng công nghiệp hiện đại, tạo sản phẩm lớn, giá trị cao, đảm bảo chất lượng phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Chủ động sản xuất và quản lý trong toàn chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản gắn với bảo vệ môi trường, nguồn lợi và thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu; nâng cao thu nhập và mức sống của ngư dân, góp phần bảo vệ quốc phòng, an ninh trên vùng biển đảo của Tổ quốc.
2. Mục tiêu cụ thể
2.1- Đến năm 2020
- Tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 135.000 tấn, trong đó: Sản lượng khai thác thủy sản đạt 65.000 tấn, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 70.000 tấn.
- Kinh tế thủy sản phấn đấu chiếm trên 3% GRDP của Tỉnh, đóng góp 60-65% GRDP trong khối nông, lâm, ngư nghiệp. Giá trị sản xuất thủy sản đạt khoảng 6.200 tỷ đồng; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt trên 100 triệu USD; tạo việc làm cho khoảng 62.000 lao động.
- Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 20.722 ha và 10.280 ô lồng nuôi biển.
- Số lượng tàu thuyền khai thác giảm xuống còn 7.000 tàu, gồm:
- Hình thành 03 Trung tâm nghề cá và 01 Trung tâm thương mại nghề cá thuộc Tỉnh gắn với hệ thống hạ tầng sản xuất, hậu cần nghề cá đồng bộ; chủ động sản xuất được giống các đối tượng nuôi chủ lực.
2.2- Đến năm 2030
- Tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 176.000 tấn, trong đó: Sản lượng khai thác thủy sản đạt 78.000 tấn, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 98.000 tấn.
- Giá trị sản xuất thủy sản đạt khoảng trên 8.900 tỷ đồng; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt trên 200 triệu USD; tạo việc làm cho khoảng 65.000 lao động.
- Số lượng tàu thuyền khai thác giảm xuống còn còn 6.680 chiếc, trong đó đánh bắt xa bờ 800 chiếc.
- Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 21.942 ha (nuôi nước ngọt: 3.110 ha; nuôi mặn, lợ: 18.832 ha) và 11.800 ô lồng nuôi biển.
- Chủ động sản xuất được giống thủy sản có chất lượng cao phục vụ nhu cầu giống nuôi trồng thủy sản của tỉnh.
(Chi tiết theo Phụ lục 01)
II. Nhiệm vụ trọng tâm
1. Về Lĩnh vực khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Cơ cấu lại lực lượng tàu khai thác thủy sản: Phát triển các nghề có tính chọn lọc cao, thân thiện với môi trường như nghề lưới rê khơi, nghề câu, nghề chài chụp xa bờ; phát triển các tàu dịch vụ thu mua sản phẩm khai thác hải sản xa bờ. Giảm các nghề khai thác ven bờ, kém hiệu quả, gây xâm hại nguồn lợi hải sản như các nghề lưới kéo, một số nghề lưới rê ven bờ, lồng bẫy,...
- Tổ chức lại hình thức sản xuất trên biển theo mô hình kinh tế tập thể hợp tác sản xuất theo chuỗi liên kết đối với khai thác vùng biển xa bờ (hình thành thêm từ 15-20 tổ hợp tác sản xuất trên biển và từ 8-10 chuỗi liên kết từ cung ứng vật tư đến khai thác, thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm thủy sản); xây dựng mô hình đồng quản lý đối với vùng biển ven bờ để tăng hiệu quả sản xuất, bảo vệ môi trường, nguồn lợi. Đến năm 2030 xây dựng và phát triển được 10-15 mô hình đồng quản lý nghề cá.
- Tuyên truyền, phổ biến và nâng cao nhận thức trách nhiệm của cộng đồng dân cư về các quy định về khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU fishing): Tổ chức được từ 10-15 lớp tuyên truyền, phổ biến về IUU fishing/năm.
- Khuyến khích đầu tư nghiên cứu, ứng dụng hỗ trợ chuyển giao, áp dụng khoa học công nghệ vào hoạt động khai thác, bảo quản sau thu hoạch để nâng giá trị sản xuất và hiện đại hóa công nghệ trong khai thác thủy sản: Ứng dụng công nghệ sử dụng đèn LED trong nghề chụp mực; ứng dụng công nghệ dò cá ngang; ứng dụng mô hình sản xuất chuỗi liên kết. Đến năm 2020, có từ 20-30% tàu khai thác xa bờ được lắp đặt công cụ, thiết bị kỹ thuật hiện đại hỗ trợ khai thác và bảo quản sản phẩm sau thu hoạch và nâng lên 60-70% vào năm 2030.
- Điều tra, đánh giá trữ lượng, khoanh vùng bảo vệ phục hồi, tái tạo nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Ninh: Đặc biệt là hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển để tổ chức bảo tồn, phục hồi, tái tạo và phát triển. Đến năm 2030, toàn bộ vùng ven biển Quảng Ninh được điều tra, nghiên cứu, đánh giá xác định các hệ sinh thái tiêu biểu làm cơ sở cho việc tổ chức khoanh vùng, bảo tồn, phục hồi và phát triển. Hàng năm, tuyên truyền sâu rộng để nhân dân nhận thức về giá trị của nguồn lợi thủy sản, hệ sinh. Huy động nguồn lực từ xã hội, các tổ chức thả bổ sung một số đối tượng thủy sản vào vùng nước tự nhiên.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực thủy sản: Xây dựng lực lượng kiểm ngư địa phương để quản lý hoạt động khai thác hiệu quả. Đến năm 2020, hoàn thiện lực lượng kiểm ngư địa phương bao gồm con người, trang thiết bị, các kỹ năng cần thiết để hoạt động an toàn, hiệu quả.
- Xây dựng các mô hình khai thác và phát triển nuôi biển gắn với du lịch biển: Xây dựng được từ 5-7 mô hình khai thác và nuôi biển với gắn du lịch biển.
- Các chương trình, dự án ưu tiên (Chi tiết theo Phụ lục 02)
2. Lĩnh vực sản xuất giống và nuôi trồng thủy sản
- Sắp xếp, cải tạo và nâng cấp các cơ sở sản xuất giống hiện có theo hướng tập trung nghiên cứu, nhập và chuyển giao công nghệ sản xuất giống chất lượng cao nhằm tăng năng suất và chất lượng con giống, đảm bảo đến năm 2020 sản xuất đạt trên 6,0 tỷ giống; đến năm 2030 sản xuất đạt 8,0 tỷ giống thủy sản các loại, đáp ứng đủ nhu cầu giống nuôi trồng thủy sản.
- Phát triển các vùng nuôi thủy sản thâm canh, hạn chế mở rộng diện tích, tập trung ứng dụng công nghệ cao, nuôi tiết kiệm nước, nuôi an toàn sinh học cho năng suất cao, sản lượng lớn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất theo hướng nâng cao giá trị sản phẩm, đảm bảo mục tiêu tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản: Đến năm 2020 đạt 70.000 tấn (nuôi nước ngọt đạt 12.710 tấn, nuôi mặn lợ đạt 57.290 tấn); đến năm 2030 đạt 98.000 tấn (nuôi nước ngọt đạt 15.400 tấn, nuôi mặn lợ đạt 82.600 tấn). Khuyến khích đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất thức ăn công nghiệp phục vụ nuôi trồng thủy sản, đảm bảo sản lượng đến năm 2020 đạt 60.000 tấn và đến năm 2030 đạt 90.000 tấn.
- Xây dựng vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong thủy sản: Đến năm 2025 hoàn thiện và vận hành khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao về thủy sản tại huyện Đầm Hà tỉnh Quảng Ninh phấn đấu trở thành trung tâm đào tạo cán bộ, lao động; nghiên cứu, hợp tác, thử nghiệm khoa học công nghệ, là đầu tầu quan trọng nhằm ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, tạo ra các sản phẩm giống thủy sản chủ lực, giống thủy sản đặc hữu có chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu giống trong tỉnh và khu vực các tỉnh phía bắc, phục vụ chiến lược phát triển ngành tôm. Hàng năm đào tạo được khoảng 300-500 lượt cán bộ kỹ thuật và nông dân.
- Xây dựng Chương trình phát triển nuôi biển trên các vùng biển đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030. Trong đó, thực hiện quy hoạch lại việc sử dụng vùng biển, sắp xếp lại các khu vực lồng bè theo quy hoạch, xây dựng các mô hình công nghiệp nuôi biển tiên tiến nâng cao giá trị, lấy doanh nghiệp làm trung tâm phát triển và hỗ trợ hộ ngư dân chuyển đổi mô hình nuôi. Từng bước thay thế vật liệu cũ và đưa vật liệu mới vào phát triển nuôi biển để tăng khả năng chịu sóng gió, độ bền và giảm rủi ro trong sản xuất. Đến năm 2030, 100% lồng bè nuôi trên biển sử dụng vật liệu mới để làm lồng, bè bảo đảm an toàn sản xuất thân thiện với môi trường.
- Xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động phát triển ngành tôm Quảng Ninh đến năm 2025, nhằm phát triển nghề nuôi tôm bền vững với mục tiêu chiến lược đưa Quảng Ninh trở thành trung tâm ngành công nghiệp tôm lớn nhất Miền Bắc theo Quyết định số 79/QĐ-TTg ngày 18/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Ban hành Kế hoạch hành động quốc gia phát triển ngành tôm Việt Nam đến năm 2025”.
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các vùng NTTS trọng điểm: Đầu tư mới, nâng cấp và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng tại các vùng nuôi trọng điểm. Đến năm 2030, đảm bảo có 70-80% diện tích vùng nuôi đã quy hoạch được đầu tư hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất.
- Ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm: Nghiên cứu, chuyển giao, áp dụng kỹ thuật mới, tiên tiến vào nuôi trồng thủy sản để nâng cao chất lượng, giá trị và hiệu quả, đồng thời giảm rủi ro trong sản xuất; ứng dụng thí điểm xây dựng hệ thống quản lý thông tin nuôi trồng thủy sản gắn với chính quyền điện tử; ứng dụng phát triển vật liệu thân thiện với môi trường trong nuôi trồng thủy sản. Đến năm 2020, có 30% diện tích nuôi trồng thủy sản các đối tượng chủ lực áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng lên 50% vào năm 2025 và đạt 80% vào năm 2030.
- Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế để tiếp nhận công nghệ tiên tiến phát triển thủy sản, nhất là công nghệ sản xuất giống với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Israel, các nước trong khu vực ASEAN và các nước có trình độ phát triển cao về thủy sản. Đẩy mạnh hợp tác với các tỉnh trong nước, các Viện nghiên cứu, các Trường Đại Học về nghiên cứu khoa học công nghệ về thủy sản; chuyển giao đối tượng và công nghệ nuôi mới; hỗ trợ công tác đào tạo nguồn nhân lực lĩnh vực thủy sản cho tỉnh.
- Xây dựng các liên kết chuỗi trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là các đối tượng nuôi chủ lực, phục vụ xuất khẩu. Xây dựng được từ 2-3 mô hình/năm, liên kết từ cung cấp vật tư đầu vào đến nuôi trồng, chế biến xuất khẩu đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm.
- Nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong phát triển các đối tượng nuôi trồng thủy sản đặc hữu, đặc sản, giá trị kinh tế cao để phục vụ phát triển du lịch. Đến năm 2030, nghiên cứu hoàn thiện từ sản xuất giống, thức ăn đến quy trình nuôi 5 - 7 loài đặc hữu, đặc sản.
- Tăng cường công tác giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các vùng nuôi trồng thủy sản: Giám sát chặt chẽ an toàn dịch bệnh và môi trường trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là các vùng nuôi tập trung; giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm các sản phẩm chủ lực tại các vùng nuôi tập trung. Đến năm 2020, 100% vùng nuôi tập trung và 30% diện tích vùng nuôi phân tán được giám sát an toàn dịch bệnh và môi trường, giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm, đến năm 2030, 100% diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh được giám sát an toàn dịch bệnh, môi trường, an toàn thực phẩm thủy sản.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong toàn chuỗi hoạt động nuôi trồng thủy sản của tỉnh, đảm bảo kiểm soát tốt từ vật tư đầu vào đến nuôi thương phẩm, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đến năm 2030, đảm bảo 100% sản phẩm trong chuỗi nuôi trồng thủy sản được kiểm tra, kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm trước khi lưu thông trên thị trường.
- Các chương trình, dự án ưu tiên. (Chi tiết theo Phụ lục 03)
3. Lĩnh vực Chế biến và tiêu thụ sản phẩm thủy sản
- Tổ chức rà soát, đánh giá sắp xếp lại các cơ sở chế biến trên địa bàn tỉnh đảm bảo phù hợp với quy hoạch. Đến năm 2020, đảm bảo di dời xong các khu cơ sở chế biến về khu vực quy hoạch để ổn định sản xuất.
- Đẩy mạnh việc liên kết giữa các nhà máy chế biến với cơ sở sản xuất và cung cấp nguyên liệu thủy sản (vùng nuôi trồng thủy sản và khai thác thủy sản). Tất cả các nhà máy chế biến đều xây dựng được các mối liên kết trực tiếp với vùng sản xuất nguyên liệu để chủ động sản xuất và truy suất nguồn gốc sản phẩm; Xây dựng các chợ đầu mối đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường.
- Quản lý và kiểm soát chặt chẽ an toàn vệ sinh thực phẩm ở tất cả các cơ sở chế biến trước khi đưa sản phẩm ra thị trường. Đến năm 2030, 100% cơ sở sản xuất đều được kiểm tra, giám sát về an toàn vệ sinh thực phẩm.
- Khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ mới trong chế biến để gia tăng giá trị sản phẩm. Đến năm 2030, tỷ lệ mặt hàng giá trị gia tăng trong chế biến tăng lên 30-35% và 70-80% phế phụ phẩm trong chế biến thủy sản được sử dụng để tạo các sản phẩm khác.
- Các chương trình, dự án ưu tiên (Chi tiết theo Phụ lục 04)
4. Lĩnh vực dịch vụ hậu cần thủy sản:
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão, trung tâm nghề cá (đã được Chính phủ, UBND tỉnh phê duyệt), các cơ sở đóng mới sửa chữa tàu thuyền, các chợ thủy sản trên các đảo và các huyện ven biển nhằm hỗ trợ ngư dân khai thác hiệu quả trên các vùng biển xa bờ và hình thành kênh phân phối thủy sản ổn định. Phấn đấu đến năm 2030 hoàn thành được 3 trung tâm nghề cá gắn với các vùng nuôi trồng thủy sản và ngư trường trọng điểm của tỉnh tại các huyện Vân Đồn, Cô Tô, Đầm Hà - Hải Hà; hình thành 01 Trung tâm thương mại thủy sản tại thành phố Hạ Long.
- Các chương trình, dự án ưu tiên. (Chi tiết theo Phụ lục 05)
III. Một số giải pháp chủ yếu
1. Về cơ chế, chính sách
- Thực hiện có hiệu quả các chính sách của Trung ương và tỉnh trong lĩnh vực thủy sản và lĩnh vực liên quan để thúc đẩy phát triển ngành thủy sản của tỉnh.
- Thường xuyên rà soát đánh giá và kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các tổ chức, cá nhân trong việc tiếp cận các chính sách của nhà nước trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là chính sách (giao mặt nước, hỗ trợ đầu tư, tín dụng....).
- Nghiên cứu xây dựng các chính sách đặc thù để thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực thủy sản của tỉnh (giao mặt nước, tín dụng, bảo hiểm, đầu tư...)
2. Về khoa học công nghệ và khuyến ngư
- Chủ động liên kết, hợp tác nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao KHCN với các tổ chức nghiên cứu (Viện, trường, trung tâm), các nhà khoa học trong và ngoài nước về lĩnh vực thủy sản.
- Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, chuyển giao kỹ thuật cho người dân; khuyến khích hoạt động tư vấn và dịch vụ khuyến ngư để huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, đặc biệt chú trọng nghiên cứu công nghệ sản xuất giống, bảo quản sau thu hoạch, công nghệ xanh, thân thiện với môi trường.
- Thường xuyên tổ chức tổng kết, đánh giá hiệu quả của các mô hình sản xuất, hiệu quả hoạt động khuyến ngư,... để phổ biến, nhân rộng.
3. Về nguồn nhân lực phục vụ phát triển ngành
- Lập kế hoạch hàng năm để tổ chức các khóa đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân theo mức độ phù hợp với nhu cầu sản xuất và quản lý; chú trọng đào tạo nghề cho lực lượng lao động khai thác và nuôi trồng thủy sản có kỹ thuật cao. Tổng kết, đánh giá hiệu quả các hình thức đào tạo để lựa chọn hình thức, phương pháp đào tạo, tập huấn hiệu quả.
- Thu hút lực lượng cán bộ, lao động chất lượng cao về làm việc quản lý nhà nước và sản xuất thủy sản: Khuyến khích cán bộ công chức trong lĩnh vực thủy sản học trên đại học trong và ngoài nước.
- Tiếp tục thực hiện Chương trình đào tạo nghề nông thôn theo địa chỉ, theo đặc điểm nghề của từng địa phương; Đào tạo, bồi dưỡng thuyền trưởng, máy trưởng, nghiệp vụ thuyền viên tàu cá cho ngư dân;
4. Về chế biến và phát triển thị trường tiêu thụ.
- Giảm chế biến thô và sơ chế, nâng cao tỷ trọng chế biến các mặt hàng giá trị gia tăng, đa dạng hóa các sản phẩm chế biến và thị trường tiêu thụ phù hợp với thị hiếu, văn hóa tiêu dùng của từng thị trường.
- Gắn kết nhà máy chế biến với vùng nguyên liệu nuôi trồng, khai thác thủy sản; hoàn thành việc di dời và ổn định sản xuất các nhà máy chế biến thủy sản tại Hạ Long, Quảng Yên, Vân Đồn; phát triển các cơ sở chế biến ở các địa phương có lợi thế nguồn nguyên liệu. Giữ vững thị trường xuất khẩu truyền thống; phát triển thị trường tiềm năng và thị trường tiêu thụ trong nước.
- Xã hội hóa, kêu gọi đầu tư hệ thống các chợ đầu mối, hình thành kênh phân phối hàng thủy sản từ người sản xuất, doanh nghiệp đến chợ, các siêu thị.
- Xây dựng thương hiệu, xuất xứ hàng hóa thủy sản Quảng Ninh: Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại các sản phẩm thủy sản tỉnh Quảng Ninh, tập trung vào các đối tượng chủ lực, các sản phẩm truyền thống, đặc trưng của tỉnh Quảng Ninh.
5. Về hợp tác quốc tế
- Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế để tiếp nhận ứng dụng công nghệ tiên tiến vào phát triển kinh tế thủy sản; Đẩy mạnh hợp tác với các tỉnh trong nước, các Viện nghiên cứu, các Trường Đại học về nghiên cứu khoa học công nghệ về thủy sản; nhập hoặc chuyển giao các đối tượng nuôi và công nghệ nuôi;
- Hợp tác với các nước trong khu vực để cảnh báo, cứu trợ, cứu nạn trên biển và chống khai thác IUU.
6. Về bảo vệ môi trường, nguồn lợi thủy sản
- Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ý thức cộng đồng về công tác bảo vệ môi trường, nguồn lợi thủy sản; Xây dựng kế hoạch phối hợp với đoàn thể, các tổ chức xã hội thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân ở các địa phương nhận thức và tự giác chấp hành tốt các quy định pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.
- Xây dựng kế hoạch, lộ trình và các giải pháp phục hồi, phát triển rừng ngập mặn trên diện tích nuôi trồng thủy sản đã bị thoái hóa, ở khu vực bãi triều ven biển có điều kiện thuận lợi.
- Công bố công khai các vùng cấm khai thác, vùng khai thác có thời hạn, danh mục các loại nghề cấm, đối tượng cấm khai thác.
- Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án các mô hình chuyển đổi nghề khai thác ven bờ kém hiệu quả, gây hại cho nguồn lợi thủy sản sang các ngành nghề thích hợp khác; Phát triển và duy trì mô hình đồng quản lý trong công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường trong các hoạt động thủy sản; quản lý nghiêm ngặt về các điều kiện đảm bảo môi trường đối với hoạt động nuôi trồng và chế biến thủy sản; đặc biệt là việc xử lý chất thải, nước thải, khí thải trong quá trình sản xuất kinh doanh.
7. Về nguồn vốn thực hiện đề án (Chi tiết theo Phụ lục 06)
7.1- Nhu cầu vốn đầu tư:
Theo Quyết định số 4209/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 của UBND tỉnh về Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành thủy sản tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, tổng nhu cầu vốn thực hiện đề án, cụ thể:
Tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2018-2030, dự kiến khoảng 4.098 tỷ đồng; trong đó: Ngân sách 1.744 tỷ đồng, vốn khác 2.354 tỷ đồng.
- Giai đoạn: 2018-2020 là: 1.273 tỷ đồng, gồm:
+ Ngân sách là: 589 tỷ đồng (Trung ương là: 134 tỷ đồng, chiếm 10,53%; Địa phương là 455 tỷ đồng, chiếm 35,74 %);
+ Vốn khác là: 684 tỷ đồng, chiếm 53,73 %.
- Giai đoạn 2021-2030 là: 2.825 tỷ đồng, gồm:
+ Ngân sách là: 1.155 tỷ đồng (Trung ương là: 412 tỷ đồng, chiếm 14,58%; Địa phương là: 743 tỷ đồng, chiếm 26,30%);
+ Vốn khác là: 1.670 tỷ đồng, chiếm 59,12%.
7.2- Phân kỳ đầu tư theo giai đoạn và các nguồn vốn như sau:

TT

Nguồn vốn

Tổng

Dự kiến nhu cầu vốn GĐ 2018-2020
(Tỷ đồng)

Dự kiến nhu cầu vốn GĐ 2021-2030
(Tỷ đồng)

1

Trung ương

546

134

412

2

Địa phương

1198

455

743

2.1

Tỉnh

935

360

575

2.2

Huyện

263

95

168

3

Vốn khác

2354

684

1670

Tổng

4098

1273

2825

7.3- Thu hút, huy động nguồn vốn đầu tư:
- Nguồn vốn từ Ngân sách: Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn Trung ương, ngân sách địa phương để đầu tư vào vùng sản xuất giống tập trung, vùng nuôi trồng tập trung, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, chợ thủy sản đầu mối; cơ sở vật chất phục vụ quản lý nhà nước, công tác thông tin tuyên truyền; công tác ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong xây dựng và nhân rộng mô hình nuôi trồng, khai thác thủy sản; chính sách phát triển đội tàu khai thác thủy sản xa bờ.
- Huy động từ các thành phần kinh tế: Tạo cơ chế, chính sách đồng bộ để thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp vào lĩnh vực thủy sản. Xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong đầu tư các lĩnh vực thủy sản.
- Nguồn vốn tín dụng: Tạo điều kiện các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi; chuyển hướng việc Ngân sách hỗ trợ trực tiếp cho người sản xuất thủy sản sang hỗ trợ lãi suất tín dụng.
- Thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Có chính sách khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài, cải thiện môi trường đầu tư; tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ, tài trợ của quốc tế, nhất là trong lĩnh vực bảo vệ nguồn lợi, tái tạo rừng ngập mặn và xây dựng khu bảo tồn biển, các khu neo đậu tránh trú bão để phòng tránh, giảm nhẹ rủi ro thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.