Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2323/QĐ-UBND 2010 phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng Bắc Kạn 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "01/11/2010", "sign_number": "2323/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Du", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "01/11/2010", "sign_number": "2323/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Du", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "01/11/2010", "sign_number": "2323/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Du", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "01/11/2010", "sign_number": "2323/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Du", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Kạn", "promulgation_date": "01/11/2010", "sign_number": "2323/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Du", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2323/QĐ-UBND 2010 phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng Bắc Kạn 2020

Điều 1. : Phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau:
...
4. Một số giải pháp chủ yếu: Để thực hiện mục tiêu quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020, cần chú trọng đến một số giải pháp sau:
a) Giải pháp về vốn đầu tư cho sản xuất vật liệu xây dựng.
Cơ cấu nguồn vốn đầu tư của tỉnh hiện đang chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng vốn tín dụng đầu tư, vốn doanh nghiệp và vốn tư nhân sẽ góp phần tháo gỡ những khó khăn về vốn trong đầu tư phát triển sản xuất vật liệu xây dựng. Để tiếp tục giải quyết những khó khăn về vốn cho các cơ sở đầu tư sản xuất vật liệu xây dựng cần triển khai nhóm giải pháp sau:
a.1) Đối với các công trình cần vốn đầu tư lớn, công nghệ cao như đầu tư nhà máy xi măng lò quay, sản xuất đá ốp lát, sản xuất gạch nung trên dây truyền có lò tuy nen v.v... ngoài nguồn vốn tự có của doanh nghiệp, có thể huy động của bên ngoài vào dưới hình thức hợp tác, liên doanh, liên kết, vốn vay tín dụng đảm bảo có đủ 30% vốn đối ứng.
a.2) Các cơ sở đầu tư đổi mới công nghệ và thiết bị nhu cầu vốn đầu tư không lớn, huy động vốn của các cổ đông và vốn vay.
a.3) Thành lập công ty cổ phần ngay từ khi xây dựng phương án đầu tư đối với các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng đầu tư mới trong giai đoạn tới để chủ động trong việc huy động nguồn vốn của các cổ đông.
a.4) Đầu tư chiều sâu, mở rộng, nâng công suất các cơ sở sản xuất kinh doanh có hiệu quả để giảm suất đầu tư là những giải pháp thiết thực nhằm tháo gỡ khó khăn về vốn trong bối cảnh hiện nay.
b) Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản phục vụ cho đầu tư sản xuất vật liệu xây dựng.
Trên cơ sở các phương án quy hoạch phát triển sản xuất vật liệu xây dựng đã nêu, trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, cần thăm dò, đánh giá trữ lượng, chất lượng những mỏ nguyên liệu có triển vọng, dự kiến đưa vào đầu tư khai thác trong giai đoạn tới.
c) Đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển sản xuất vật liệu xây dựng.
Để phát triển sản xuất vật liệu xây dựng, trong thời gian tới cần phải bổ sung lực lượng lao động, đặc biệt là lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật chuyên môn cho các cơ sở sản xuất các sản phẩm vật liệu xây dựng mới sẽ được đầu tư công nghệ mới. Đào tạo lao động có khả năng hòa nhập vào quy trình lao động tập thể. Trước mắt, cần đào tạo và thu hút đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân kỹ thuật cho các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng sẽ đầu tư như sản xuất xi măng trên dây truyền lò quay, gạch tuy nen, gạch terrazzo, đá ốp lát, ván nhân tạo, …bằng các giải pháp cụ thể sau:
c.1) Hình thành các trường, trung tâm dạy nghề đào tạo công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo mới, đào tạo lại, dạy nghề trong các doanh nghiệp, đào tạo tại chỗ. Triển khai liên kết đào tạo với các trường Đại học, Cao đẳng, từng bước áp dụng liên thông trong đào tạo.
c.2) Đào tạo các chủ doanh nghiệp, nhất là các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ, các chủ hộ gia đình cũng như các cán bộ kỹ thuật và công nhân vận hành trong các dây chuyền sản xuất vật liệu xây dựng sẽ đầu tư, đào tạo đội ngũ kiểm định nguyên, nhiên liệu và sản phẩm có tay nghề vững, có trình độ về ngoại ngữ, maketing, hiểu biết về chính sách luật pháp để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường v.v…
c.3) Đào tạo đồng bộ lực lượng lao động từ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ nghiệp vụ kinh tế, kinh doanh đến đội ngũ công nhân kỹ thuật. Đào tạo lực lượng lao động nòng cốt để bổ sung và thay thế.
c.4) Đào tạo chuyên môn, ngoại ngữ, tin học, quản trị kinh doanh, maketing... cho lực lượng cán bộ kỹ thuật và quản lý để thích ứng với thời đại trình độ công nghệ cao và nền sản xuất hàng hoá vận hành cơ chế thị trường. Cán bộ quản lý Nhà nước cần được qua đào tạo tại các trường quản lý và định kỳ bổ túc về luật pháp và các kỹ năng quản lý mới.
c.5) Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề dưới hình thức: Đào tạo tập trung, đào tạo tại chức, huấn luyện nghiệp vụ theo từng khoá v.v…
c.6) Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao từ các địa phương khác đến làm việc tại Bắc Kạn, trên cơ sở xây dựng chính sách ưu đãi như phát triển xây dựng nhà ở, trang bị cơ sở vật chất, hệ thống dịch vụ cộng đồng, trường học, nâng cao điều kiện sống....
c.7) Hình thành thị trường lao động tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng.
d) Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước trong sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng, quản lý tài nguyên và môi trường; Tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, cạnh tranh bình đẳng, giữa các thành phần kinh tế; Ban hành chiến l­ược, ch­ương trình, kế hoạch bảo vệ môi trư­ờng và tổ chức thực hiện trên địa bàn tỉnh; Tăng cường hiệu lực quản lý của các cấp, các ngành trong tỉnh đối với sản xuất vật liệu xây dựng. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về bảo vệ môi trường, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về môi trường; Các hoạt động khoa học công nghệ trong lĩnh vực sản xuất vật liệu cần tập trung cải tiến ở các khâu cơ bản trong dây truyền sản xuất, trong công nghệ, kỹ thuật sản xuất, loại bỏ dần các thiết bị công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên, nhiên vật liệu và gây ô nhiễm môi trường, từng bước chuyển đổi sang công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại để kịp thời hoà nhập với trình độ khoa học kỹ thuật cao.
e) Mở rộng thị trường thúc đẩy sản xuất vật liệu xây dựng phát triển.
Đẩy mạnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi, mua bán hàng hoá, tạo lập mối liên kết giữa lưu thông hàng hoá với sản xuất nhằm mở rộng mạng lưới tiếp thị đến các vùng sâu, vùng xa của tỉnh; khuyến khích môi giới bán hàng và thực hiện các chế độ hậu mãi tạo niềm tin cho người tiêu dùng nhất là đối với các sản phẩm mới, tạo điều kiện thuận lợi trong tiêu thụ sản phẩm.
Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tham gia hội chợ, triển lãm, hội thảo, giới thiệu và bán sản phẩm để tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước, quảng bá những sản phẩm vật liệu xây dựng và các hình thức liên doanh, liên kết sản xuất, tiêu thụ.
Xây dựng cổng giao tiếp điện tử giới thiệu các sản phẩm vật liệu xây dựng và tài nguyên khoáng sản. Các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trong tỉnh đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, xúc tiến thương mại mở rộng thị trường, giới thiệu các sản phẩm vật liệu xây dựng mới được sản xuất trong tỉnh trên các phương tiện thông tin đại chúng để hướng dẫn người tiêu dùng sử dụng những vật liệu xây dựng mới.
f) Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy sản xuất vật liệu xây dựng phát triển. Rút ngắn thời gian cấp giấy phép đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư đăng ký đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh có lợi thế.
Tổ chức các hội nghị xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời xây dựng danh mục các dự án đầu tư, ban hành chính sách ưu đãi đầu tư đối với các dự án nằm trong danh mục và đăng tải công khai trên Website của Trung tâm xúc tiến đầu tư của tỉnh.
Hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm mới, áp dụng công nghệ mới trong giai đoạn đầu đi vào sản xuất từ nguồn vốn khoa học công nghệ, v.v...
Khuyến khích cơ sở kinh doanh đang hoạt động có đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất.

Content:
Một số giải pháp chủ yếu: Để thực hiện mục tiêu quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020, cần chú trọng đến một số giải pháp sau:
a) Giải pháp về vốn đầu tư cho sản xuất vật liệu xây dựng.
Cơ cấu nguồn vốn đầu tư của tỉnh hiện đang chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng vốn tín dụng đầu tư, vốn doanh nghiệp và vốn tư nhân sẽ góp phần tháo gỡ những khó khăn về vốn trong đầu tư phát triển sản xuất vật liệu xây dựng. Để tiếp tục giải quyết những khó khăn về vốn cho các cơ sở đầu tư sản xuất vật liệu xây dựng cần triển khai nhóm giải pháp sau:
a.1) Đối với các công trình cần vốn đầu tư lớn, công nghệ cao như đầu tư nhà máy xi măng lò quay, sản xuất đá ốp lát, sản xuất gạch nung trên dây truyền có lò tuy nen v.v... ngoài nguồn vốn tự có của doanh nghiệp, có thể huy động của bên ngoài vào dưới hình thức hợp tác, liên doanh, liên kết, vốn vay tín dụng đảm bảo có đủ 30% vốn đối ứng.
a.2) Các cơ sở đầu tư đổi mới công nghệ và thiết bị nhu cầu vốn đầu tư không lớn, huy động vốn của các cổ đông và vốn vay.
a.3) Thành lập công ty cổ phần ngay từ khi xây dựng phương án đầu tư đối với các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng đầu tư mới trong giai đoạn tới để chủ động trong việc huy động nguồn vốn của các cổ đông.
a.4) Đầu tư chiều sâu, mở rộng, nâng công suất các cơ sở sản xuất kinh doanh có hiệu quả để giảm suất đầu tư là những giải pháp thiết thực nhằm tháo gỡ khó khăn về vốn trong bối cảnh hiện nay.
b) Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản phục vụ cho đầu tư sản xuất vật liệu xây dựng.
Trên cơ sở các phương án quy hoạch phát triển sản xuất vật liệu xây dựng đã nêu, trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, cần thăm dò, đánh giá trữ lượng, chất lượng những mỏ nguyên liệu có triển vọng, dự kiến đưa vào đầu tư khai thác trong giai đoạn tới.
c) Đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển sản xuất vật liệu xây dựng.
Để phát triển sản xuất vật liệu xây dựng, trong thời gian tới cần phải bổ sung lực lượng lao động, đặc biệt là lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật chuyên môn cho các cơ sở sản xuất các sản phẩm vật liệu xây dựng mới sẽ được đầu tư công nghệ mới. Đào tạo lao động có khả năng hòa nhập vào quy trình lao động tập thể. Trước mắt, cần đào tạo và thu hút đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân kỹ thuật cho các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng sẽ đầu tư như sản xuất xi măng trên dây truyền lò quay, gạch tuy nen, gạch terrazzo, đá ốp lát, ván nhân tạo, …bằng các giải pháp cụ thể sau:
c.1) Hình thành các trường, trung tâm dạy nghề đào tạo công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo mới, đào tạo lại, dạy nghề trong các doanh nghiệp, đào tạo tại chỗ. Triển khai liên kết đào tạo với các trường Đại học, Cao đẳng, từng bước áp dụng liên thông trong đào tạo.
c.2) Đào tạo các chủ doanh nghiệp, nhất là các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ, các chủ hộ gia đình cũng như các cán bộ kỹ thuật và công nhân vận hành trong các dây chuyền sản xuất vật liệu xây dựng sẽ đầu tư, đào tạo đội ngũ kiểm định nguyên, nhiên liệu và sản phẩm có tay nghề vững, có trình độ về ngoại ngữ, maketing, hiểu biết về chính sách luật pháp để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường v.v…
c.3) Đào tạo đồng bộ lực lượng lao động từ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ nghiệp vụ kinh tế, kinh doanh đến đội ngũ công nhân kỹ thuật. Đào tạo lực lượng lao động nòng cốt để bổ sung và thay thế.
c.4) Đào tạo chuyên môn, ngoại ngữ, tin học, quản trị kinh doanh, maketing... cho lực lượng cán bộ kỹ thuật và quản lý để thích ứng với thời đại trình độ công nghệ cao và nền sản xuất hàng hoá vận hành cơ chế thị trường. Cán bộ quản lý Nhà nước cần được qua đào tạo tại các trường quản lý và định kỳ bổ túc về luật pháp và các kỹ năng quản lý mới.
c.5) Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề dưới hình thức: Đào tạo tập trung, đào tạo tại chức, huấn luyện nghiệp vụ theo từng khoá v.v…
c.6) Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao từ các địa phương khác đến làm việc tại Bắc Kạn, trên cơ sở xây dựng chính sách ưu đãi như phát triển xây dựng nhà ở, trang bị cơ sở vật chất, hệ thống dịch vụ cộng đồng, trường học, nâng cao điều kiện sống....
c.7) Hình thành thị trường lao động tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng.
d) Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước trong sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng, quản lý tài nguyên và môi trường; Tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, cạnh tranh bình đẳng, giữa các thành phần kinh tế; Ban hành chiến l­ược, ch­ương trình, kế hoạch bảo vệ môi trư­ờng và tổ chức thực hiện trên địa bàn tỉnh; Tăng cường hiệu lực quản lý của các cấp, các ngành trong tỉnh đối với sản xuất vật liệu xây dựng. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về bảo vệ môi trường, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về môi trường; Các hoạt động khoa học công nghệ trong lĩnh vực sản xuất vật liệu cần tập trung cải tiến ở các khâu cơ bản trong dây truyền sản xuất, trong công nghệ, kỹ thuật sản xuất, loại bỏ dần các thiết bị công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên, nhiên vật liệu và gây ô nhiễm môi trường, từng bước chuyển đổi sang công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại để kịp thời hoà nhập với trình độ khoa học kỹ thuật cao.
e) Mở rộng thị trường thúc đẩy sản xuất vật liệu xây dựng phát triển.
Đẩy mạnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi, mua bán hàng hoá, tạo lập mối liên kết giữa lưu thông hàng hoá với sản xuất nhằm mở rộng mạng lưới tiếp thị đến các vùng sâu, vùng xa của tỉnh; khuyến khích môi giới bán hàng và thực hiện các chế độ hậu mãi tạo niềm tin cho người tiêu dùng nhất là đối với các sản phẩm mới, tạo điều kiện thuận lợi trong tiêu thụ sản phẩm.
Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tham gia hội chợ, triển lãm, hội thảo, giới thiệu và bán sản phẩm để tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước, quảng bá những sản phẩm vật liệu xây dựng và các hình thức liên doanh, liên kết sản xuất, tiêu thụ.
Xây dựng cổng giao tiếp điện tử giới thiệu các sản phẩm vật liệu xây dựng và tài nguyên khoáng sản. Các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trong tỉnh đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, xúc tiến thương mại mở rộng thị trường, giới thiệu các sản phẩm vật liệu xây dựng mới được sản xuất trong tỉnh trên các phương tiện thông tin đại chúng để hướng dẫn người tiêu dùng sử dụng những vật liệu xây dựng mới.
f) Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy sản xuất vật liệu xây dựng phát triển. Rút ngắn thời gian cấp giấy phép đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư đăng ký đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh có lợi thế.
Tổ chức các hội nghị xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời xây dựng danh mục các dự án đầu tư, ban hành chính sách ưu đãi đầu tư đối với các dự án nằm trong danh mục và đăng tải công khai trên Website của Trung tâm xúc tiến đầu tư của tỉnh.
Hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm mới, áp dụng công nghệ mới trong giai đoạn đầu đi vào sản xuất từ nguồn vốn khoa học công nghệ, v.v...
Khuyến khích cơ sở kinh doanh đang hoạt động có đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất.