Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 134/QĐ-TTg 2015 tái cơ cấu ngành Xây dựng gắn chuyển đổi mô hình tăng trưởng 2014 2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/01/2015", "sign_number": "134/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/01/2015", "sign_number": "134/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/01/2015", "sign_number": "134/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/01/2015", "sign_number": "134/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "26/01/2015", "sign_number": "134/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 134/QĐ-TTg 2015 tái cơ cấu ngành Xây dựng gắn chuyển đổi mô hình tăng trưởng 2014 2020

Điều 1. Phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành Xây dựng gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2014 - 2020 (sau đây gọi tắt là Đề án) với các nội dung chủ yếu sau:
...
5. Lĩnh vực vật liệu xây dựng
- Phát triển vật liệu xây dựng phải tuân thủ quy hoạch, bảo đảm cân đối cung - cầu trên cơ sở bám sát nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu, duy trì sự ổn định thị trường xi măng và các loại vật liệu xây dựng chủ yếu; tăng cường quản lý khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản làm vật liệu xây dựng.
- Điều chỉnh cơ cấu hàng hóa vật liệu xây dựng theo hướng: đối với các vật liệu xây dựng chủ yếu, phải sản xuất đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và một phần xuất khẩu, trong đó đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh như: gạch gốm ốp lát, đá ốp lát tự nhiên, sứ vệ sinh, kính phẳng, vôi công nghiệp; đối với các vật liệu hoàn thiện cao cấp, phải tăng cường sản xuất trong nước, giảm dần nhập khẩu. Đẩy mạnh phát triển vật liệu xây không nung. Ưu tiên phát triển vật liệu địa phương, vật liệu tại chỗ nhằm phát huy lợi thế của các địa phương và vùng miền, giảm chi phí vận chuyển.
- Ưu tiên đầu tư công nghệ mới, tiên tiến, thiết bị hiện đại sản xuất ra các sản phẩm vật liệu xây dựng hoàn thiện cao cấp, có tính năng vượt trội, có hàm lượng công nghệ cao, hiệu quả kinh tế lớn, phục vụ tiêu dùng trong nước thay thế hàng nhập khẩu và tiến tới xuất khẩu ra nước ngoài.
- Tái cơ cấu đầu tư các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng tăng dần quy mô sản xuất theo nhu cầu của thị trường, hình thành các cơ sở chế biến nguyên liệu, các khu vực sản xuất vật liệu xây dựng tập trung, quy mô lớn, công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao.
- Thực hiện việc áp dụng định mức tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, triển khai áp dụng các công nghệ vật liệu mới, vật liệu nano sử dụng cho ngành xây dựng và xử lý ô nhiễm môi trường (xử lý nước thải, chất thải rắn, tái chế chất thải, công nghệ xanh,...) trong các sản phẩm vật liệu xây dựng theo Quyết định số 1469/QĐ-TTg ngày 22 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
- Từng bước hiện đại hóa công nghệ sản xuất theo hướng sản xuất xanh, sạch, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, tiêu tốn ít năng lượng, kết hợp với nâng cao chất lượng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường; đẩy mạnh việc sử dụng phế thải làm nguyên, nhiên liệu sản xuất các loại vật liệu xây dựng.

Content:
Lĩnh vực vật liệu xây dựng
- Phát triển vật liệu xây dựng phải tuân thủ quy hoạch, bảo đảm cân đối cung - cầu trên cơ sở bám sát nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu, duy trì sự ổn định thị trường xi măng và các loại vật liệu xây dựng chủ yếu; tăng cường quản lý khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản làm vật liệu xây dựng.
- Điều chỉnh cơ cấu hàng hóa vật liệu xây dựng theo hướng: đối với các vật liệu xây dựng chủ yếu, phải sản xuất đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và một phần xuất khẩu, trong đó đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh như: gạch gốm ốp lát, đá ốp lát tự nhiên, sứ vệ sinh, kính phẳng, vôi công nghiệp; đối với các vật liệu hoàn thiện cao cấp, phải tăng cường sản xuất trong nước, giảm dần nhập khẩu. Đẩy mạnh phát triển vật liệu xây không nung. Ưu tiên phát triển vật liệu địa phương, vật liệu tại chỗ nhằm phát huy lợi thế của các địa phương và vùng miền, giảm chi phí vận chuyển.
- Ưu tiên đầu tư công nghệ mới, tiên tiến, thiết bị hiện đại sản xuất ra các sản phẩm vật liệu xây dựng hoàn thiện cao cấp, có tính năng vượt trội, có hàm lượng công nghệ cao, hiệu quả kinh tế lớn, phục vụ tiêu dùng trong nước thay thế hàng nhập khẩu và tiến tới xuất khẩu ra nước ngoài.
- Tái cơ cấu đầu tư các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng tăng dần quy mô sản xuất theo nhu cầu của thị trường, hình thành các cơ sở chế biến nguyên liệu, các khu vực sản xuất vật liệu xây dựng tập trung, quy mô lớn, công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao.
- Thực hiện việc áp dụng định mức tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, triển khai áp dụng các công nghệ vật liệu mới, vật liệu nano sử dụng cho ngành xây dựng và xử lý ô nhiễm môi trường (xử lý nước thải, chất thải rắn, tái chế chất thải, công nghệ xanh,...) trong các sản phẩm vật liệu xây dựng theo Quyết định số 1469/QĐ-TTg ngày 22 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
- Từng bước hiện đại hóa công nghệ sản xuất theo hướng sản xuất xanh, sạch, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, tiêu tốn ít năng lượng, kết hợp với nâng cao chất lượng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường; đẩy mạnh việc sử dụng phế thải làm nguyên, nhiên liệu sản xuất các loại vật liệu xây dựng.