Document: Điều 7 Nghị định 190-HĐBT cải tiến công tác quản lý vật tư

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "27/06/1985", "sign_number": "190-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "27/06/1985", "sign_number": "190-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "27/06/1985", "sign_number": "190-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "27/06/1985", "sign_number": "190-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "27/06/1985", "sign_number": "190-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 7 Nghị định 190-HĐBT cải tiến công tác quản lý vật tư có nội dung như sau:

Điều 7. - Kế hoạch hoá cung ứng vật tư:
1. Nhằm phát huy mạnh mẽ tính chủ động, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh của cơ sở, của ngành và của địa phương, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương, kế hoạch cung ứng vật tư phải được xây dựng từ cơ sở và địa phương lên cùng với kế hoạch sản xuất, tiêu thụ và vận tải; những vật tư do Nhà nước thống nhất quản lý phải được tổng hợp theo ngành và địa phương và được cân đối trong kế hoạch Nhà nước. Kế hoạch vật tư phải được ưu tiên bảo đảm cân đối cho những nhiệm vụ chủ yếu, những sản phẩm quan trọng, những xí nghiệp và công trình trọng điểm.
2. Các ngành, các địa phương, các đơn vị cơ sở tận dụng mọi khả năng, triệt để khai thác các nguồn vật tư tự có hoặc bằng liên kết kinh tế và xuất - nhập khẩu để chủ động cân đối kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá ngay từ đầu năm.
3. Trong kế hoạch cân đối và phân phối vật tư hàng năm, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước căn cứ vào tình hình thực tế về nguồn vật tư cần có kế hoạch từng bước tạo quỹ vật tư dự trữ ở các khâu sản xuất, lưu thông và dự trữ của Hội đồng Bộ trưởng để bảo đảm cho việc cung ứng được ổn định và phòng ngừa các bất trắc.
4. Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định trong quý III năm 1985 danh mục những vật tư do Nhà nước thống nhất quản lý và việc phân công, phân cấp cân đối và phân phối.
5. Từ năm 1986 thực hiện việc cân đối và quyết toán hàng năm vật tư, hàng hoá của Nhà nước giao cho các ngành, các địa phương với sản phẩm của ngành và địa phương giao nộp cho Nhà nước. Đối với những địa phương điều kiện sản xuất có khó khăn, Nhà nước có chính sách riêng để hỗ trợ.
6. Dành một số vật tư thông dụng như xăng dầu, sắt thép, xi măng... để bán lẻ cho nhân dân.

Content:
Điều 7. - Kế hoạch hoá cung ứng vật tư:
1. Nhằm phát huy mạnh mẽ tính chủ động, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh của cơ sở, của ngành và của địa phương, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương, kế hoạch cung ứng vật tư phải được xây dựng từ cơ sở và địa phương lên cùng với kế hoạch sản xuất, tiêu thụ và vận tải; những vật tư do Nhà nước thống nhất quản lý phải được tổng hợp theo ngành và địa phương và được cân đối trong kế hoạch Nhà nước. Kế hoạch vật tư phải được ưu tiên bảo đảm cân đối cho những nhiệm vụ chủ yếu, những sản phẩm quan trọng, những xí nghiệp và công trình trọng điểm.
2. Các ngành, các địa phương, các đơn vị cơ sở tận dụng mọi khả năng, triệt để khai thác các nguồn vật tư tự có hoặc bằng liên kết kinh tế và xuất - nhập khẩu để chủ động cân đối kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá ngay từ đầu năm.
3. Trong kế hoạch cân đối và phân phối vật tư hàng năm, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước căn cứ vào tình hình thực tế về nguồn vật tư cần có kế hoạch từng bước tạo quỹ vật tư dự trữ ở các khâu sản xuất, lưu thông và dự trữ của Hội đồng Bộ trưởng để bảo đảm cho việc cung ứng được ổn định và phòng ngừa các bất trắc.
4. Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định trong quý III năm 1985 danh mục những vật tư do Nhà nước thống nhất quản lý và việc phân công, phân cấp cân đối và phân phối.
5. Từ năm 1986 thực hiện việc cân đối và quyết toán hàng năm vật tư, hàng hoá của Nhà nước giao cho các ngành, các địa phương với sản phẩm của ngành và địa phương giao nộp cho Nhà nước. Đối với những địa phương điều kiện sản xuất có khó khăn, Nhà nước có chính sách riêng để hỗ trợ.
6. Dành một số vật tư thông dụng như xăng dầu, sắt thép, xi măng... để bán lẻ cho nhân dân.