Document: Điểm b Khoản 4 Điều 1 Quyết định 253/2005/QĐ-TTg  Đề án phát triển kinh tế - xã hội bảo đảm quốc phòng, an ninh miền Tây tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "12/10/2005", "sign_number": "253/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "12/10/2005", "sign_number": "253/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "12/10/2005", "sign_number": "253/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "12/10/2005", "sign_number": "253/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "12/10/2005", "sign_number": "253/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 4 Điều 1 Quyết định 253/2005/QĐ-TTg  Đề án phát triển kinh tế - xã hội bảo đảm quốc phòng, an ninh miền Tây tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010

Điều 1. Phê duyệt Đề án phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh miền Tây tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010 với những nội dung chủ yếu như sau:
...
4. Phương hướng phát triển các ngành và lĩnh vực.
...
b) Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp.
- Nông nghiệp: đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, áp dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất các loại cây công nghiệp và phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc theo quy mô trang trại, tăng tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp. Tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản đến năm 2010 đạt 3.630 tỷ đồng (giá so sánh 1994), tăng bình quân hàng năm 9,2%.
+ Sản xuất lương thực: thực hiện thâm canh, áp dụng giống lúa tiến bộ kỹ thuật ở những nơi có điều kiện tưới tiêu chủ động để nâng cao năng suất lúa đối với các huyện vùng núi thấp. Đối với các huyện vùng núi cao: chỉ tăng diện tích cây lương thực ở những nơi đủ điều kiện xây dựng hồ chứa nước nhỏ, chuyển dần diện tích thiếu nước, đất lúa nương rẫy sang trồng ngô, đậu tương, cây ăn quả, giảm tối đa việc phá rừng làm nương rẫy. Đến năm 2010, phấn đấu năng suất lúa cả năm đạt 45 tạ/ha, sản lượng lương thực đạt trên 380.000 tấn.
+ Cây công nghiệp: ổn định diện tích các vùng cây nguyên liệu, tập trung thâm canh, tăng năng suất, đáp ứng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến. Cụ thể là:
. Cây mía: 26.150 ha, tập trung thâm canh, áp dụng giống mới, tăng năng suất cung cấp đủ nguyên liệu cho nhà máy đường, trong đó:
. Vùng mía Lam Sơn (tập trung ở các huyện Ngọc Lặc, Thường Xuân): 10.800 ha, sản lượng 724.000 tấn.
. Vùng mía phía Bắc (tập trung ở các huyện Thạch Thành, Cẩm Thuỷ): 10.600 ha, sản lượng 682.000 tấn.
. Vùng mía Tây - Nam (tập trung ở các huyện Như Xuân, Như Thanh): 4.750 ha, sản lượng 295.000 tấn.
. Cây sắn (tập trung ở các huyện Bá Thước, Như Xuân): 7.000 ha, sản lượng 175.000 tấn.
. Cây dứa (tập trung ở huyện Như Thanh): diện tích dứa đứng hàng năm là 1.000 ha, sản lượng 25.000 - 30.000 tấn.
. Cây lạc: tăng diện tích từ 3.250 ha lên 4.000 ha, sản lượng 6.600 tấn.
. Cây đậu tương: phát triển đến năm 2010 đạt 3.400 ha, sản lượng 5.220 tấn.
. Cây công nghiệp dài ngày: tập trung phát triển cây cao su, diện tích cao su đến năm 2010 là 10.000 ha trở lên, trong đó diện tích cao su trồng mới là 2.600 ha trở lên, tập trung ở các huyện Như Xuân, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Cẩm Thủy. Sản lượng mủ khô đạt 5.000 - 6.000 tấn.
+ Chăn nuôi:
Phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc, tập trung các giải pháp tăng nhanh đàn trâu, đàn bò, tạo ra bước đột phá cả về số lượng và chất lượng; khuyến khích phát triển chăn nuôi trang trại, hình thành các vùng chăn nuôi tập trung, có sản phẩm hàng hoá, nâng tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 35% trở lên.
Đến năm 2010, đàn bò đạt: 170.000 con, tăng bình quân 14,8%/năm, trong đó bò lai 68.000 con, chiếm 40% tổng đàn; đàn trâu: 200.000 con, tăng bình quân 4,5%/năm; đàn lợn: 490.000 con, tăng bình quân 6%/năm. Phát triển mạnh đàn bò sữa trong nhân dân.
- Lâm nghiệp:
. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý lâm nghiệp, khuyến khích phát triển các loại rừng, đặc biệt là rừng sản xuất, vùng nguyên liệu giấy và các vùng nguyên liệu phục vụ chế biến lâm sản khác. Thực hiện tốt việc khoán rừng phù hợp với từng địa bàn dân cư, bảo vệ có hiệu quả diện tích rừng hiện có, tạo việc làm và từng bước ổn định đời sống nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.
. Rà soát và điều chỉnh lại quy hoạch 3 loại rừng, trong đó xác định diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ với quy mô phù hợp, bảo vệ nghiêm ngặt rừng phòng hộ xung yếu; mở rộng và tăng diện tích rừng sản xuất. Đến năm 2010 diện tích rừng đạt 527.856 ha, trong đó: rừng phòng hộ: 201.718 ha; rừng đặc dụng: 72.157 ha; rừng sản xuất: 253.963 ha, độ che phủ rừng đạt 61,5% (toàn tỉnh là 53%). Sản phẩm khai thác từ rừng dự kiến khoảng 45.000 - 50.000 m3 gỗ, 18 - 20 triệu cây luồng, nguyên liệu giấy 250.000 tấn.
. Quy hoạch và xây dựng vùng nguyên liệu giấy với quy mô 173.000 ha trên địa bàn 7 huyện (Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc và Cẩm Thủy) phục vụ nhà máy giấy Châu Lộc công suất 6 vạn tấn bột giấy/năm.
. Xây dựng Đề án phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn sông Mã với cơ chế nhà nước đảm bảo lương thực cho người dân để người dân bảo vệ và phát triển rừng.
- Thủy sản: tận dụng ao, hồ nuôi cá truyền thống, nuôi lồng bè và chuyển đổi một số diện tích lúa năng suất thấp sang nuôi cá kết hợp; phấn đấu diện tích nuôi trồng đạt 3.500 ha, sản lượng 7.770 tấn cá các loại.

Content:
Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp.
- Nông nghiệp: đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, áp dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất các loại cây công nghiệp và phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc theo quy mô trang trại, tăng tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp. Tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản đến năm 2010 đạt 3.630 tỷ đồng (giá so sánh 1994), tăng bình quân hàng năm 9,2%.
+ Sản xuất lương thực: thực hiện thâm canh, áp dụng giống lúa tiến bộ kỹ thuật ở những nơi có điều kiện tưới tiêu chủ động để nâng cao năng suất lúa đối với các huyện vùng núi thấp. Đối với các huyện vùng núi cao: chỉ tăng diện tích cây lương thực ở những nơi đủ điều kiện xây dựng hồ chứa nước nhỏ, chuyển dần diện tích thiếu nước, đất lúa nương rẫy sang trồng ngô, đậu tương, cây ăn quả, giảm tối đa việc phá rừng làm nương rẫy. Đến năm 2010, phấn đấu năng suất lúa cả năm đạt 45 tạ/ha, sản lượng lương thực đạt trên 380.000 tấn.
+ Cây công nghiệp: ổn định diện tích các vùng cây nguyên liệu, tập trung thâm canh, tăng năng suất, đáp ứng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến. Cụ thể là:
. Cây mía: 26.150 ha, tập trung thâm canh, áp dụng giống mới, tăng năng suất cung cấp đủ nguyên liệu cho nhà máy đường, trong đó:
. Vùng mía Lam Sơn (tập trung ở các huyện Ngọc Lặc, Thường Xuân): 10.800 ha, sản lượng 724.000 tấn.
. Vùng mía phía Bắc (tập trung ở các huyện Thạch Thành, Cẩm Thuỷ): 10.600 ha, sản lượng 682.000 tấn.
. Vùng mía Tây - Nam (tập trung ở các huyện Như Xuân, Như Thanh): 4.750 ha, sản lượng 295.000 tấn.
. Cây sắn (tập trung ở các huyện Bá Thước, Như Xuân): 7.000 ha, sản lượng 175.000 tấn.
. Cây dứa (tập trung ở huyện Như Thanh): diện tích dứa đứng hàng năm là 1.000 ha, sản lượng 25.000 - 30.000 tấn.
. Cây lạc: tăng diện tích từ 3.250 ha lên 4.000 ha, sản lượng 6.600 tấn.
. Cây đậu tương: phát triển đến năm 2010 đạt 3.400 ha, sản lượng 5.220 tấn.
. Cây công nghiệp dài ngày: tập trung phát triển cây cao su, diện tích cao su đến năm 2010 là 10.000 ha trở lên, trong đó diện tích cao su trồng mới là 2.600 ha trở lên, tập trung ở các huyện Như Xuân, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Cẩm Thủy. Sản lượng mủ khô đạt 5.000 - 6.000 tấn.
+ Chăn nuôi:
Phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc, tập trung các giải pháp tăng nhanh đàn trâu, đàn bò, tạo ra bước đột phá cả về số lượng và chất lượng; khuyến khích phát triển chăn nuôi trang trại, hình thành các vùng chăn nuôi tập trung, có sản phẩm hàng hoá, nâng tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 35% trở lên.
Đến năm 2010, đàn bò đạt: 170.000 con, tăng bình quân 14,8%/năm, trong đó bò lai 68.000 con, chiếm 40% tổng đàn; đàn trâu: 200.000 con, tăng bình quân 4,5%/năm; đàn lợn: 490.000 con, tăng bình quân 6%/năm. Phát triển mạnh đàn bò sữa trong nhân dân.
- Lâm nghiệp:
. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý lâm nghiệp, khuyến khích phát triển các loại rừng, đặc biệt là rừng sản xuất, vùng nguyên liệu giấy và các vùng nguyên liệu phục vụ chế biến lâm sản khác. Thực hiện tốt việc khoán rừng phù hợp với từng địa bàn dân cư, bảo vệ có hiệu quả diện tích rừng hiện có, tạo việc làm và từng bước ổn định đời sống nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.
. Rà soát và điều chỉnh lại quy hoạch 3 loại rừng, trong đó xác định diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ với quy mô phù hợp, bảo vệ nghiêm ngặt rừng phòng hộ xung yếu; mở rộng và tăng diện tích rừng sản xuất. Đến năm 2010 diện tích rừng đạt 527.856 ha, trong đó: rừng phòng hộ: 201.718 ha; rừng đặc dụng: 72.157 ha; rừng sản xuất: 253.963 ha, độ che phủ rừng đạt 61,5% (toàn tỉnh là 53%). Sản phẩm khai thác từ rừng dự kiến khoảng 45.000 - 50.000 m3 gỗ, 18 - 20 triệu cây luồng, nguyên liệu giấy 250.000 tấn.
. Quy hoạch và xây dựng vùng nguyên liệu giấy với quy mô 173.000 ha trên địa bàn 7 huyện (Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc và Cẩm Thủy) phục vụ nhà máy giấy Châu Lộc công suất 6 vạn tấn bột giấy/năm.
. Xây dựng Đề án phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn sông Mã với cơ chế nhà nước đảm bảo lương thực cho người dân để người dân bảo vệ và phát triển rừng.
- Thủy sản: tận dụng ao, hồ nuôi cá truyền thống, nuôi lồng bè và chuyển đổi một số diện tích lúa năng suất thấp sang nuôi cá kết hợp; phấn đấu diện tích nuôi trồng đạt 3.500 ha, sản lượng 7.770 tấn cá các loại.