Document: Điểm d Khoản 3 Điều 1 Quyết định 3690/QĐ-UBND 2016 quy hoạch chế biến nông lâm sản Lào Cai 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "27/10/2016", "sign_number": "3690/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Xuân Phong", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "27/10/2016", "sign_number": "3690/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Xuân Phong", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "27/10/2016", "sign_number": "3690/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Xuân Phong", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "27/10/2016", "sign_number": "3690/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Xuân Phong", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "27/10/2016", "sign_number": "3690/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Xuân Phong", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 3 Điều 1 Quyết định 3690/QĐ-UBND 2016 quy hoạch chế biến nông lâm sản Lào Cai 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch chế biến nông, lâm sản tỉnh Lào Cai đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 với những nội dung sau:
...
3. Nội dung chủ yếu
3.1. Chế biến chè
...
d) Định hướng đến năm 2030
Không xây dựng mới cơ sở, chỉ nâng công suất chế biến tăng 20 - 50% để đáp ứng nhu cầu khi năng suất cây trồng nâng lên và diện tích trồng mới đến kỳ cho thu hoạch.
3.Chế biến lương thực thực phẩm
3.3.1. Chế biến gạo ngô
a) Quy hoạch cơ sở chế biến
Đến năm 2020 tổng sản lượng ước đạt 340.000 tấn. Tổng số cơ sở chế biến lúa gạo, ngô 1.389 cơ sở, trong đó doanh nghiệp 7 cơ sở, tăng 5 cơ sở.
- Đối với lúa gạo: Xây dựng 1 cơ sở chế biến lương thực thực phẩm tại xã Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng công suất 6.000 tấn/năm, xây dựng 1 cơ sở chế biến thóc gạo (chế biến đến công đoạn đánh bóng gạo) tại xã Dương Quỳ, huyện Văn Bàn công suất 4.000 tấn/năm.
- Đối với Ngô: Xây dựng 3 cơ sở sấy và bảo quản ngô tại xã Cốc Ly, huyện Bắc Hà; xã Khánh Yên, huyện Văn Bàn; thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương tổng công suất 35.000 tấn/năm.
Các cơ sở xây xát lúa gạo và nghiền ngô còn lại là 1.380 cơ sở phân bố tại tất cả các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh.
b) Định hướng công nghệ chế biến, thị trường tiêu thụ, giá trị sản xuất và thu nhập người lao động
- Đối với sản phẩm gạo, công nghệ chế biến tập trung đầu tư vào công nghệ đánh bóng gạo để xuất khẩu, khuyến khích lựa chọn dây chuyền của Thái Lan, Mỹ. Đối với chế biến và bảo quản ngô khuyến khích tập trung vào dây chuyền tách hạt, phân loại hạt, sấy hạt và dây chuyền đóng gói sản phẩm.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm này chủ yếu vẫn phục vụ trong tỉnh, một số sản phẩm đặc sản được tiêu thụ cho các thị trường xa như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, từng bước tiếp cận thị trường các nước như: Nhật Bản, Hàn Quốc.
- Tổng giá trị sản xuất chế biến và bảo quản gạo ngô ước đạt 337 tỷ, giải quyết việc làm thường xuyên cho 1.500 lao động, mang lại thu nhập bình quân cho lao động thường xuyên 3,2 triệu đồng/tháng.
c) Định hướng đến năm 2030
Đến năm 2030 cơ bản giữ nguyên các nhà máy đã quy hoạch, không xây dựng thêm mà chỉ nâng công suất dây chuyền chế biến lên 20-50%, để đáp ứng nhu cầu khi năng suất cây trồng được nâng cao, đồng thời giảm số cơ sở chế biến nhỏ lẻ bằng cách thành lập các tổ hợp tác.
3.3.2. Chế biến thức ăn chăn nuôi (cám chăn nuôi công nghiệp)
a) Quy hoạch cơ sở chế biến
Đến năm 2020 số cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi 33 cơ sở, trong đó doanh nghiệp 2 cơ sở (xây dựng thêm 1 cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi công suất 30.000-40.000 tấn/năm đặt tại huyện Bảo Thắng), các cơ sở nhỏ lẻ quy mô hộ gia đình ổn định như hiện nay.
b) Định hướng công nghệ chế biến, thị trường tiêu thụ, giá trị sản xuất và thu nhập người lao động
- Để sản phẩm hàng hóa có tính cạnh tranh hơn trên thị trường, các cơ sở chế biến đặc biệt là doanh nghiệp cần đổi mới công nghệ sản xuất, giảm chi phí đầu vào và nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra. Hiện nay trên thị trường có một số dây chuyền sản xuất thức ăn chăn nuôi hiện đại phù hợp với Việt Nam có xuất xứ từ Thái Lan, Mỹ, một số nước Châu Âu...
- Tổng giá trị sản xuất của ngành ước đạt 280 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 100 lao động, thu nhập bình quân lao động đạt 5,8 triệu đồng/tháng.
c) Định hướng đến năm 2030
Định hướng đến năm 2030 không quy hoạch mới cơ sở, nhưng công suất chế biến của doanh nghiệp sẽ nâng lên khoảng 25% so với năm 2020. Đồng thời khuyến khích các hộ sản xuất nhỏ lẻ thành lập các tổ hợp tác sản xuất để có điều kiện đầu tư máy móc hiện đại phục vụ sản xuất.
3.4. Chế biến tương ớt
a) Quy hoạch cơ sở chế biến
Đến năm 2020, sản lượng ớt tươi thu hoạch được ước đạt 1.235 tấn. Tổng số cơ sở tham gia chế biến tương ớt 17 cơ sở, trong đó doanh nghiệp Hợp tác xã là 2 cơ sở (1 địa điểm tại Mường Khương và 1 địa điểm tại thành phố Lào Cai) tổng công suất chế biến 1.000 tấn/năm. Không khuyến khích phát triển sản xuất theo quy mô hộ gia đình để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
b) Định hướng công nghệ chế biến, thị trường tiêu thụ, giá trị sản xuất và thu nhập người lao động
- Khuyến khích các cơ sở đầu tư dây chuyền hiện đại, khép kín có kiểm soát chất lượng sản phẩm tại từng công đoạn để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Thị trường tiêu thụ tương ớt chủ yếu trong nước là chính.
- Giá trị sản xuất tương ớt ước đạt 5 tỷ đồng, giải quyết việc làm thường xuyên cho khoảng 25 lao động, thu nhập bình quân lao động 3,5 triệu đồng/tháng.
d) Quy hoạch tầm nhìn đến năm 2030
Đến 2030 không quy hoạch mới cơ sở, nâng công suất dây chuyền chế biến lên 50%, không khuyến khích phát triển sản xuất quy mô hộ gia đình, chuyển dần lao động các hộ sản xuất nhỏ lẻ vào các Tổ hợp tác hoặc vào Hợp tác xã Hoa Lợi để các Tổ hợp tác, Hợp tác xã có điều kiện đầu tư máy móc hiện đại, khép kín để cho ra các sản phẩm chất lượng.
3.5. Chế biến dược liệu
a) Quy hoạch cơ sở chế biến
Đến năm 2020, sản lượng dược liệu các loại ước đạt 13.416 tấn dược liệu thô tương đương công suất chế biến của dây chuyền khoảng 115 tấn/ngày; cây quế tổng diện tích đến năm 2020 đạt 22.324,1 ha, nhu cầu chế biến tinh dầu quế 750 lít/ngày. Tổng số cơ sở chế biến dược liệu, tinh dầu quế đến năm 2020 toàn tỉnh là 33 cơ sở, trong đó doanh nghiệp 10 cơ sở chiếm 30,3%, Hợp tác xã 23 cơ sở chiếm 69,7%.
b) Định hướng công nghệ chế biến, thị trường tiêu thụ, giá trị sản xuất và thu nhập người lao động
- Công nghệ chế biến khuyến khích các cơ sở nhập dây chuyền đồng bộ, có bộ phận kiểm soát tự động bằng máy vi tính. Ưu tiên nhập khẩu các thiết bị đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Châu Âu.
- Thị trường tiêu thụ chủ yếu trong nước, một số sản phẩm như tinh dầu Quế, các loại dược liệu quý... từng bước tiếp cận các thị trường như: Mỹ, Nhật Bản, các nước Châu Âu. Giá trị sản xuất của ngành ước đạt 117 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 456 lao động, thu nhập bình quân lao động 4,2 triệu đồng/tháng.
c) Quy hoạch tầm nhìn đến năm 2030
Định hướng đến năm 2030, cơ bản ổn định số lượng cơ sở như hiện nay, nhưng sẽ nâng công suất chế biến các loại lên từ 25-50% để đáp ứng nhu cầu khi diện tích, năng suất dược liệu tăng lên.
3.6. Chế biến sản phẩm chăn nuôi (cơ sở giết mổ)
a) Quy hoạch cơ sở chế biến
Đến năm 2020 sản lượng thịt hơi các loại ước đạt trên 50.833 tấn; xây dựng 21 cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung gồm 18 cơ sở doanh nghiệp (trong đó 2 cơ sở giết mổ công nghiệp đặt tại thành phố Lào Cai còn lại là các cơ sở giết mổ thủ công), Hợp tác xã 3 cơ sở. Đưa các các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tại các hộ cá thể vào cơ sở giết mổ tập trung. Các cơ sở chế biến khác (giò, chả...) chủ yếu đưa vào giám sát, quản lý.
b) Định hướng công nghệ chế biến, thị trường tiêu thụ, giá trị sản xuất và thu nhập người lao động
Khuyến khích các cơ sở nhập dây chuyền đồng bộ, ưu tiên các dây chuyền giết mổ tự động, có kiểm soát chất lượng từng khâu. Các cơ sở khi xây dựng phải có hệ thống xử lý chất thải, mùi đảm bảo theo tiêu chuẩn. Ưu tiên nhập khẩu các thiết bị đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Châu Âu.
Thị trường tiêu thụ trong nước là chính. Giá trị sản xuất của ngành ước đạt 109 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 455 lao động, thu nhập bình quân lao động 4,7 triệu đồng/tháng.
c) Quy hoạch tầm nhìn đến năm 2030
Định hướng đến năm 2030, ổn định số lượng cơ sở theo quy hoạch, nâng công suất chế biến các loại lên từ 25 - 50% để đáp ứng nhu cầu phát triển chăn nuôi của tỉnh trong giai đoạn tới.
3.7. Chế biến lâm sản (sản xuất đồ gỗ, sản xuất nguyên liệu giấy, sản xuất gỗ ván bóc)
a) Quy hoạch các cơ sở chế biến lâm sản
Theo Quy hoạch, diện tích rừng sản xuất của tỉnh 115.470,2 ha (diện tích cây có giống 7.790 ha), trong đó tập trung tại 1 số huyện vùng thấp như: Bảo Yên, Văn Bàn, Bảo Thắng, Bát Xát ...; khai thác tre, nứa, vầu giai đoạn 2016-2020 khoảng 420.000-720.000 tấn, bình quân 35.000-60.000 tấn/năm; khai thác gỗ chính và khai thác hưởng lợi trong rừng trồng: khoảng 1.565.000 m3 giai đoạn 2016-2020, bình quân 250.000 m3/năm. Tổng số cơ sở chế biến lâm sản toàn tỉnh đến năm 2020 là 459 cơ sở và 1 khu công nghiệp chế biến lâm sản.
Công suất chế biến của doanh nghiệp 31 cơ sở và khu công nghiệp chế biến lâm sản là: Chế biến gỗ khoảng 260.000-320.000 m3/năm. Nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ như: Tre, vầu, nứa khoảng 44.000 - 76.000 tấn/năm. Trong đó, ưu tiên xây dựng khu công nghiệp chế biến lâm sản tại huyện Bảo Yên; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng mới 01 cơ sở sản xuất mây tre đan đặt tại xã Chiềng Ken, huyện Văn Bàn; 01 nhà máy sản xuất gỗ ván bóc đặt tại thị trấn Mường Khương; 01 cơ sở sản xuất đồ gỗ đặt tại khu công nghiệp Bắc Duyên Hải. Ngoài ra Hợp tác xã: 7 cơ sở, hộ cá thể 421 cơ sở, công suất chế biến khoảng 100.000 - 150.000m3/năm.
b) Định hướng công nghệ chế biến, thị trường tiêu thụ, giá trị sản xuất và thu nhập người lao động
- Đổi mới phương thức sản xuất, xác định đầu ra cho sản phẩm, đầu tư áp dụng công nghệ chế biến tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường, tiết kiệm nguyên liệu, đồng bộ về công nghệ và quy trình tổ chức sản xuất, hạn chế sản xuất gỗ nhỏ, dăm gỗ..., tập trung sản xuất sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao, khuyến khích đầu tư dây chuyền sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh trước khi xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu sản phẩm thô.
- Thị trường tiêu thụ: Đối với thị trường nội địa là đẩy mạnh các kênh phân phối, tập trung sản xuất các sản phẩm hướng vào thị trường các thành phố lớn và các tỉnh lân cận. Đối với thị trường quốc tế: Tham gia các chương trình hội chợ, xúc tiến thương mại, liên kết với các tổ chức khác để sản xuất, tìm kiếm thị trường lâm sản xuất khẩu. Thị trường mục tiêu trước mắt là Trung Quốc, Đài Loan, Canada, Singapo, Malaysia... mục tiêu lâu dài là thị trường các nước như Nhật Bản, các nước Châu Âu...
- Giá trị sản xuất của ngành mang lại 1.043 tỷ đồng, giải quyết việc làm thường xuyên cho khoảng 2.166 lao động, cho thu nhập bình quân 3,5 triệu đồng/tháng.
c) Định hướng quy hoạch đến năm 2030
- Đến năm 2030 cơ bản ổn định các nhà máy chế biến gỗ, công suất nhà máy sẽ tăng lên khoảng 25-50% tùy theo năng suất khai thác và định hướng xây dựng vùng nguyên liệu của các nhà máy đã có.
- Đối với các cơ sở chế biến gỗ nhỏ lẻ: Tăng cường quản lý nhà nước, loại bỏ các cơ sở chế biến không còn vùng nguyên liệu, các cơ sở chế biến gần rừng tự nhiên, dần chuyển các cơ sở này sang sản xuất nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế biến chuyên sâu, khuyến khích các cơ sở sản xuất giấy để xuất khẩu sử dụng nguyên liệu từ tre, nứa.

Content:
Định hướng đến năm 2030
Không xây dựng mới cơ sở, chỉ nâng công suất chế biến tăng 20 - 50% để đáp ứng nhu cầu khi năng suất cây trồng nâng lên và diện tích trồng mới đến kỳ cho thu hoạch.
3.Chế biến lương thực thực phẩm
3.3.1. Chế biến gạo ngô
a) Quy hoạch cơ sở chế biến
Đến năm 2020 tổng sản lượng ước đạt 340.000 tấn. Tổng số cơ sở chế biến lúa gạo, ngô 1.389 cơ sở, trong đó doanh nghiệp 7 cơ sở, tăng 5 cơ sở.
- Đối với lúa gạo: Xây dựng 1 cơ sở chế biến lương thực thực phẩm tại xã Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng công suất 6.000 tấn/năm, xây dựng 1 cơ sở chế biến thóc gạo (chế biến đến công đoạn đánh bóng gạo) tại xã Dương Quỳ, huyện Văn Bàn công suất 4.000 tấn/năm.
- Đối với Ngô: Xây dựng 3 cơ sở sấy và bảo quản ngô tại xã Cốc Ly, huyện Bắc Hà; xã Khánh Yên, huyện Văn Bàn; thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương tổng công suất 35.000 tấn/năm.
Các cơ sở xây xát lúa gạo và nghiền ngô còn lại là 1.380 cơ sở phân bố tại tất cả các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh.
b) Định hướng công nghệ chế biến, thị trường tiêu thụ, giá trị sản xuất và thu nhập người lao động
- Đối với sản phẩm gạo, công nghệ chế biến tập trung đầu tư vào công nghệ đánh bóng gạo để xuất khẩu, khuyến khích lựa chọn dây chuyền của Thái Lan, Mỹ. Đối với chế biến và bảo quản ngô khuyến khích tập trung vào dây chuyền tách hạt, phân loại hạt, sấy hạt và dây chuyền đóng gói sản phẩm.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm này chủ yếu vẫn phục vụ trong tỉnh, một số sản phẩm đặc sản được tiêu thụ cho các thị trường xa như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, từng bước tiếp cận thị trường các nước như: Nhật Bản, Hàn Quốc.
- Tổng giá trị sản xuất chế biến và bảo quản gạo ngô ước đạt 337 tỷ, giải quyết việc làm thường xuyên cho 1.500 lao động, mang lại thu nhập bình quân cho lao động thường xuyên 3,2 triệu đồng/tháng.
c) Định hướng đến năm 2030
Đến năm 2030 cơ bản giữ nguyên các nhà máy đã quy hoạch, không xây dựng thêm mà chỉ nâng công suất dây chuyền chế biến lên 20-50%, để đáp ứng nhu cầu khi năng suất cây trồng được nâng cao, đồng thời giảm số cơ sở chế biến nhỏ lẻ bằng cách thành lập các tổ hợp tác.
3.3.2. Chế biến thức ăn chăn nuôi (cám chăn nuôi công nghiệp)
a) Quy hoạch cơ sở chế biến
Đến năm 2020 số cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi 33 cơ sở, trong đó doanh nghiệp 2 cơ sở (xây dựng thêm 1 cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi công suất 30.000-40.000 tấn/năm đặt tại huyện Bảo Thắng), các cơ sở nhỏ lẻ quy mô hộ gia đình ổn định như hiện nay.
b) Định hướng công nghệ chế biến, thị trường tiêu thụ, giá trị sản xuất và thu nhập người lao động
- Để sản phẩm hàng hóa có tính cạnh tranh hơn trên thị trường, các cơ sở chế biến đặc biệt là doanh nghiệp cần đổi mới công nghệ sản xuất, giảm chi phí đầu vào và nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra. Hiện nay trên thị trường có một số dây chuyền sản xuất thức ăn chăn nuôi hiện đại phù hợp với Việt Nam có xuất xứ từ Thái Lan, Mỹ, một số nước Châu Âu...
- Tổng giá trị sản xuất của ngành ước đạt 280 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 100 lao động, thu nhập bình quân lao động đạt 5,8 triệu đồng/tháng.
c) Định hướng đến năm 2030
Định hướng đến năm 2030 không quy hoạch mới cơ sở, nhưng công suất chế biến của doanh nghiệp sẽ nâng lên khoảng 25% so với năm 2020. Đồng thời khuyến khích các hộ sản xuất nhỏ lẻ thành lập các tổ hợp tác sản xuất để có điều kiện đầu tư máy móc hiện đại phục vụ sản xuất.
3.4. Chế biến tương ớt
a) Quy hoạch cơ sở chế biến
Đến năm 2020, sản lượng ớt tươi thu hoạch được ước đạt 1.235 tấn. Tổng số cơ sở tham gia chế biến tương ớt 17 cơ sở, trong đó doanh nghiệp Hợp tác xã là 2 cơ sở (1 địa điểm tại Mường Khương và 1 địa điểm tại thành phố Lào Cai) tổng công suất chế biến 1.000 tấn/năm. Không khuyến khích phát triển sản xuất theo quy mô hộ gia đình để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
b) Định hướng công nghệ chế biến, thị trường tiêu thụ, giá trị sản xuất và thu nhập người lao động
- Khuyến khích các cơ sở đầu tư dây chuyền hiện đại, khép kín có kiểm soát chất lượng sản phẩm tại từng công đoạn để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Thị trường tiêu thụ tương ớt chủ yếu trong nước là chính.
- Giá trị sản xuất tương ớt ước đạt 5 tỷ đồng, giải quyết việc làm thường xuyên cho khoảng 25 lao động, thu nhập bình quân lao động 3,5 triệu đồng/tháng.
Quy hoạch tầm nhìn đến năm 2030
Đến 2030 không quy hoạch mới cơ sở, nâng công suất dây chuyền chế biến lên 50%, không khuyến khích phát triển sản xuất quy mô hộ gia đình, chuyển dần lao động các hộ sản xuất nhỏ lẻ vào các Tổ hợp tác hoặc vào Hợp tác xã Hoa Lợi để các Tổ hợp tác, Hợp tác xã có điều kiện đầu tư máy móc hiện đại, khép kín để cho ra các sản phẩm chất lượng.
3.5. Chế biến dược liệu
a) Quy hoạch cơ sở chế biến
Đến năm 2020, sản lượng dược liệu các loại ước đạt 13.416 tấn dược liệu thô tương đương công suất chế biến của dây chuyền khoảng 115 tấn/ngày; cây quế tổng diện tích đến năm 2020 đạt 22.324,1 ha, nhu cầu chế biến tinh dầu quế 750 lít/ngày. Tổng số cơ sở chế biến dược liệu, tinh dầu quế đến năm 2020 toàn tỉnh là 33 cơ sở, trong đó doanh nghiệp 10 cơ sở chiếm 30,3%, Hợp tác xã 23 cơ sở chiếm 69,7%.
b) Định hướng công nghệ chế biến, thị trường tiêu thụ, giá trị sản xuất và thu nhập người lao động
- Công nghệ chế biến khuyến khích các cơ sở nhập dây chuyền đồng bộ, có bộ phận kiểm soát tự động bằng máy vi tính. Ưu tiên nhập khẩu các thiết bị đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Châu Âu.
- Thị trường tiêu thụ chủ yếu trong nước, một số sản phẩm như tinh dầu Quế, các loại dược liệu quý... từng bước tiếp cận các thị trường như: Mỹ, Nhật Bản, các nước Châu Âu. Giá trị sản xuất của ngành ước đạt 117 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 456 lao động, thu nhập bình quân lao động 4,2 triệu đồng/tháng.
c) Quy hoạch tầm nhìn đến năm 2030
Định hướng đến năm 2030, cơ bản ổn định số lượng cơ sở như hiện nay, nhưng sẽ nâng công suất chế biến các loại lên từ 25-50% để đáp ứng nhu cầu khi diện tích, năng suất dược liệu tăng lên.
3.6. Chế biến sản phẩm chăn nuôi (cơ sở giết mổ)
a) Quy hoạch cơ sở chế biến
Đến năm 2020 sản lượng thịt hơi các loại ước đạt trên 50.833 tấn; xây dựng 21 cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung gồm 18 cơ sở doanh nghiệp (trong đó 2 cơ sở giết mổ công nghiệp đặt tại thành phố Lào Cai còn lại là các cơ sở giết mổ thủ công), Hợp tác xã 3 cơ sở. Đưa các các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tại các hộ cá thể vào cơ sở giết mổ tập trung. Các cơ sở chế biến khác (giò, chả...) chủ yếu đưa vào giám sát, quản lý.
b) Định hướng công nghệ chế biến, thị trường tiêu thụ, giá trị sản xuất và thu nhập người lao động
Khuyến khích các cơ sở nhập dây chuyền đồng bộ, ưu tiên các dây chuyền giết mổ tự động, có kiểm soát chất lượng từng khâu. Các cơ sở khi xây dựng phải có hệ thống xử lý chất thải, mùi đảm bảo theo tiêu chuẩn. Ưu tiên nhập khẩu các thiết bị đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Châu Âu.
Thị trường tiêu thụ trong nước là chính. Giá trị sản xuất của ngành ước đạt 109 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 455 lao động, thu nhập bình quân lao động 4,7 triệu đồng/tháng.
c) Quy hoạch tầm nhìn đến năm 2030
Định hướng đến năm 2030, ổn định số lượng cơ sở theo quy hoạch, nâng công suất chế biến các loại lên từ 25 - 50% để đáp ứng nhu cầu phát triển chăn nuôi của tỉnh trong giai đoạn tới.
3.7. Chế biến lâm sản (sản xuất đồ gỗ, sản xuất nguyên liệu giấy, sản xuất gỗ ván bóc)
a) Quy hoạch các cơ sở chế biến lâm sản
Theo Quy hoạch, diện tích rừng sản xuất của tỉnh 115.470,2 ha (diện tích cây có giống 7.790 ha), trong đó tập trung tại 1 số huyện vùng thấp như: Bảo Yên, Văn Bàn, Bảo Thắng, Bát Xát ...; khai thác tre, nứa, vầu giai đoạn 2016-2020 khoảng 420.000-720.000 tấn, bình quân 35.000-60.000 tấn/năm; khai thác gỗ chính và khai thác hưởng lợi trong rừng trồng: khoảng 1.565.000 m3 giai đoạn 2016-2020, bình quân 250.000 m3/năm. Tổng số cơ sở chế biến lâm sản toàn tỉnh đến năm 2020 là 459 cơ sở và 1 khu công nghiệp chế biến lâm sản.
Công suất chế biến của doanh nghiệp 31 cơ sở và khu công nghiệp chế biến lâm sản là: Chế biến gỗ khoảng 260.000-320.000 m3/năm. Nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ như: Tre, vầu, nứa khoảng 44.000 - 76.000 tấn/năm. Trong đó, ưu tiên xây dựng khu công nghiệp chế biến lâm sản tại huyện Bảo Yên; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng mới 01 cơ sở sản xuất mây tre đan đặt tại xã Chiềng Ken, huyện Văn Bàn; 01 nhà máy sản xuất gỗ ván bóc đặt tại thị trấn Mường Khương; 01 cơ sở sản xuất đồ gỗ đặt tại khu công nghiệp Bắc Duyên Hải. Ngoài ra Hợp tác xã: 7 cơ sở, hộ cá thể 421 cơ sở, công suất chế biến khoảng 100.000 - 150.000m3/năm.
b) Định hướng công nghệ chế biến, thị trường tiêu thụ, giá trị sản xuất và thu nhập người lao động
- Đổi mới phương thức sản xuất, xác định đầu ra cho sản phẩm, đầu tư áp dụng công nghệ chế biến tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường, tiết kiệm nguyên liệu, đồng bộ về công nghệ và quy trình tổ chức sản xuất, hạn chế sản xuất gỗ nhỏ, dăm gỗ..., tập trung sản xuất sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao, khuyến khích đầu tư dây chuyền sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh trước khi xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu sản phẩm thô.
- Thị trường tiêu thụ: Đối với thị trường nội địa là đẩy mạnh các kênh phân phối, tập trung sản xuất các sản phẩm hướng vào thị trường các thành phố lớn và các tỉnh lân cận. Đối với thị trường quốc tế: Tham gia các chương trình hội chợ, xúc tiến thương mại, liên kết với các tổ chức khác để sản xuất, tìm kiếm thị trường lâm sản xuất khẩu. Thị trường mục tiêu trước mắt là Trung Quốc, Đài Loan, Canada, Singapo, Malaysia... mục tiêu lâu dài là thị trường các nước như Nhật Bản, các nước Châu Âu...
- Giá trị sản xuất của ngành mang lại 1.043 tỷ đồng, giải quyết việc làm thường xuyên cho khoảng 2.166 lao động, cho thu nhập bình quân 3,5 triệu đồng/tháng.
c) Định hướng quy hoạch đến năm 2030
- Đến năm 2030 cơ bản ổn định các nhà máy chế biến gỗ, công suất nhà máy sẽ tăng lên khoảng 25-50% tùy theo năng suất khai thác và định hướng xây dựng vùng nguyên liệu của các nhà máy đã có.
- Đối với các cơ sở chế biến gỗ nhỏ lẻ: Tăng cường quản lý nhà nước, loại bỏ các cơ sở chế biến không còn vùng nguyên liệu, các cơ sở chế biến gần rừng tự nhiên, dần chuyển các cơ sở này sang sản xuất nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế biến chuyên sâu, khuyến khích các cơ sở sản xuất giấy để xuất khẩu sử dụng nguyên liệu từ tre, nứa.