Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 2261/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "25/05/2012", "sign_number": "2261/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Sửu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "25/05/2012", "sign_number": "2261/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Sửu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "25/05/2012", "sign_number": "2261/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Sửu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "25/05/2012", "sign_number": "2261/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Sửu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "25/05/2012", "sign_number": "2261/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Sửu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 2261/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp Thành phố Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với những nội dung chủ yếu sau:
...
2. Định hướng phát triển các ngành công nghiệp:
2.1. Điện tử - công nghệ thông tin:
Xây dựng ngành công nghiệp điện tử - công nghệ thông tin trở thành ngành công nghiệp chủ lực để tạo cơ sở cho các ngành khác phát triển. Phấn đấu để thành phố Hà Nội trở thành trung tâm của cả nước, của Vùng đồng bằng sông Hồng về thiết kế sản phẩm, sản xuất phần mềm,sản xuất linh kiện, thiết bị và các dịch vụ điện tử - tin học trên cơ sở phát huy tiềm năng của mọi thành phần kinh tế trên địa bàn. Tiếp tục phát triển phương thức lắp ráp các thiết bị điện tử, tin học, tiếp nhận công nghệ và đáp ứng nhu cầu sản phẩm điện tử trong nước và tham gia xuất khẩu, đồng thời tăng cường liên kết với các tập đoàn điện tử, tin học lớn trên thế giới để tiếp thu công nghệ hiện đại, tăng năng lực sản xuất linh kiện trong nước. Nâng cao tỷ lệ nội địa hóa các thiết bị điện tử - tin học. Tập trung nâng cao chất lượng, mở rộng thị phần các thiết bị điện, điện tử, dây dẫn và vật liệu cho ngành điện, khuyến khích sản xuất các sản phẩm mang thương hiệu Hà Nội, các sản phẩm phần mềm tin học phục vụ cho các ngành công nghiệp và tham gia thị trường xuất khẩu.
- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân đạt 12,63%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 13,45%/năm, giai đoạn 2021 - 2030 đạt 12,18%/năm. Đến năm 2015 cơ cấu ngành điện tử - công nghệ thông tin chiếm tỷ trọng 10,86% của toàn ngành công nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 11,85%, năm 2030 chiếm tỷ trọng 15,53%.
2.2. Cơ khí:
- Ưu tiên phát triển sản xuất các loại động cơ nhỏ, các sản phẩm điện cơ, cơ khí chính xác, dụng cụ học tập, dụng cụ thí nghiệm, các chi tiết máy hiện đại, các sản phẩm tiêu dùng cao cấp, máy móc, thiết bị văn phòng. Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp chế tạo khuôn mẫu cung cấp cho nhu cầu sản xuất của Thủ đô, các địa phương trong nước và xuất khẩu.
- Phát triển cơ khí chế tạo thiết bị đồng bộ, các thiết bị điện, cơ điện tử, tự động hóa phục vụ phát triển các ngành công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, dịch vụ và tiêu dùng đáp ứng phần lớn yêu cầu của thị trường trong nước, từng bước vươn ra thị trường thế giới và khu vực.
- Chú trọng phát triển khâu nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới theo hướng gắn kết, hợp tác chặt chẽ với các viện, trường với doanh nghiệp, gắn các chương trình nghiên cứu quốc gia với phát triển các sản phẩm trọng điểm. Từng bước hình thành hệ thống công nghiệp hỗ trợ để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.
- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân đạt 12,50%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 13,63%/năm, giai đoạn 2021 - 2030 đạt 10,60%/năm. Đến năm 2015 cơ cấu chiếm tỷ trọng 44,55% của toàn ngành công nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 49,22%, năm 2030 chiếm tỷ trọng 52,00%.
2.3. Hóa chất, hóa dược và mỹ phẩm:
- Ưu tiên phát triển ngành hóa dược và hóa mỹ phẩm thành ngành công nghiệp mũi nhọn, đi ngay vào công nghệ hiện đại, xây dựng một số phòng thí nghiệm hiện đại phục vụ nghiên cứu cơ bản cho công nghiệp hóa dược.
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tiến tới sản xuất một số loại hóa chất tinh khiết quy mô phòng thí nghiệm phục vụ cho bào chế thuốc, nghiên cứu và giảng dạy.
- Khuyến khích xây dựng các tổ hợp chế biến rác thải kết hợp sản xuất phân hữu cơ tại các khu xử lý rác thải tập trung của thành phố.
- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân đạt 11,25%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 10,0%/năm, giai đoạn 2021 - 2030 đạt 7,24%/năm. Đến năm 2015 cơ cấu chiếm tỷ trọng 8,31% của toàn ngành công nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 7,19%, năm 2030 chiếm tỷ trọng 4,74%.
2.4. Chế biến nông sản, thực phẩm và đồ uống:
- Tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất những sản phẩm có thương hiệu, có uy tín phục vụ nhu cầu ngày càng tăng cao của nhân dân Thủ đô và các tỉnh, thành trong cả nước. Chú trọng phát triển các sản phẩm truyền thống nổi tiếng của Thủ đô phục vụ cho khách du lịch. Kết hợp với các tỉnh trong vùng Bắc bộ để phát triển các vùng nguyên liệu và bố trí nhà máy chế biến phù hợp với quy hoạch vùng, tránh lãng phí, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.
- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân đạt 12,08%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 12,18%/năm, giai đoạn 2021 - 2030 đạt 11,13%/năm. Đến năm 2015 cơ cấu ngành chiếm 17,54% của toàn ngành công nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 17,6%, năm 2030 chiếm tỷ trọng 19,99%.
2.5. Dệt may, da giày:
- Phát triển các trung tâm cung cấp dịch vụ, trung tâm nghiên cứu thiết kế mẫu thời trang cao cấp. Phát triển chủ yếu theo chiều sâu, cần tập trung vào sản xuất sản phẩm cao cấp theo công nghệ mới, hiện đại không gây ô nhiễm môi trường.
- Hướng vào 3 nhóm sản phẩm chính là giày thể thao, giày dép da và túi cặp. Tập trung đầu tư máy móc trang thiết bị chuyên dùng, công nghệ hiện đại, coi trọng thiết kế mẫu mã để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, cạnh tranh được cả trong nước và thế giới, tiến tới thay thế hàng nhập khẩu.
- Đẩy mạnh hợp tác liên kết với các tỉnh, thành lân cận để phát huy thế mạnh về lao động, đất đai, giao thông của các địa phương.
- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân đạt 6,88%/năm, giai đoạn 2016 -2 020 tăng trưởng đạt 7,68%/năm, giai đoạn 2021 - 2030 tăng trưởng đạt 4,75%/năm. Đến năm 2015 cơ cấu ngành chiếm tỷ trọng 5,90% của toàn ngành công nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 4,34%, năm 2030 chiếm tỷ trọng 1,99%.
2.6. Vật liệu xây dựng, trang trí nội thất:
- Đầu tư ứng dụng kỹ thuật mới, tiên tiến vào sản xuất các loại vật liệu mới, vật liệu cao cấp, vật liệu tổng hợp phục vụ xây dựng và trang trí nội thất như: vật liệu không nung, vật liệu nhẹ, tấm kết cấu 3D, sản phẩm ốp lát, gốm sứ xây dựng, các loại vật liệu mới ứng dụng công nghệ nano như kính chống va đập, kính chống mờ … tiến tới giảm dần việc sản xuất các loại vật liệu gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn Thành phố.
- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân đạt 10,65%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 tăng trưởng đạt 10,01%/năm, giai đoạn 2021-2030 tăng trưởng đạt 7,25%/năm. Đến năm 2015 cơ cấu ngành chiếm tỷ trọng 6,58% của toàn ngành công nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 5,70%, năm 2030 chiếm tỷ trọng 3,77%.
2.7. Định hướng phát triển nghề, làng nghề:
- Phát triển các làng nghề gắn với xây dựng nông thôn mới và bảo tồn, khôi phục bản sắc văn hóa dân tộc.
- Phát triển các nghề, làng nghề xuất phát từ tiềm năng và nhu cầu của xã hội nhằm tạo ra các sản phẩm có giá trị văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật và tính thương mại cao nhưng vẫn mang các giá trị truyền thống đặc trưng của các làng nghề.
- Chú trọng kết hợp truyền thống với ứng dụng khoa học - kỹ thuật tiên tiến vào các công đoạn sản xuất, đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường, duy trì chất lượng sống khu vực dân cư tại địa phương có làng nghề.

Content:
Định hướng phát triển các ngành công nghiệp:
2.1. Điện tử - công nghệ thông tin:
Xây dựng ngành công nghiệp điện tử - công nghệ thông tin trở thành ngành công nghiệp chủ lực để tạo cơ sở cho các ngành khác phát triển. Phấn đấu để thành phố Hà Nội trở thành trung tâm của cả nước, của Vùng đồng bằng sông Hồng về thiết kế sản phẩm, sản xuất phần mềm,sản xuất linh kiện, thiết bị và các dịch vụ điện tử - tin học trên cơ sở phát huy tiềm năng của mọi thành phần kinh tế trên địa bàn. Tiếp tục phát triển phương thức lắp ráp các thiết bị điện tử, tin học, tiếp nhận công nghệ và đáp ứng nhu cầu sản phẩm điện tử trong nước và tham gia xuất khẩu, đồng thời tăng cường liên kết với các tập đoàn điện tử, tin học lớn trên thế giới để tiếp thu công nghệ hiện đại, tăng năng lực sản xuất linh kiện trong nước. Nâng cao tỷ lệ nội địa hóa các thiết bị điện tử - tin học. Tập trung nâng cao chất lượng, mở rộng thị phần các thiết bị điện, điện tử, dây dẫn và vật liệu cho ngành điện, khuyến khích sản xuất các sản phẩm mang thương hiệu Hà Nội, các sản phẩm phần mềm tin học phục vụ cho các ngành công nghiệp và tham gia thị trường xuất khẩu.
- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân đạt 12,63%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 13,45%/năm, giai đoạn 2021 - 2030 đạt 12,18%/năm. Đến năm 2015 cơ cấu ngành điện tử - công nghệ thông tin chiếm tỷ trọng 10,86% của toàn ngành công nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 11,85%, năm 2030 chiếm tỷ trọng 15,53%.
2.Cơ khí:
- Ưu tiên phát triển sản xuất các loại động cơ nhỏ, các sản phẩm điện cơ, cơ khí chính xác, dụng cụ học tập, dụng cụ thí nghiệm, các chi tiết máy hiện đại, các sản phẩm tiêu dùng cao cấp, máy móc, thiết bị văn phòng. Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp chế tạo khuôn mẫu cung cấp cho nhu cầu sản xuất của Thủ đô, các địa phương trong nước và xuất khẩu.
- Phát triển cơ khí chế tạo thiết bị đồng bộ, các thiết bị điện, cơ điện tử, tự động hóa phục vụ phát triển các ngành công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, dịch vụ và tiêu dùng đáp ứng phần lớn yêu cầu của thị trường trong nước, từng bước vươn ra thị trường thế giới và khu vực.
- Chú trọng phát triển khâu nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới theo hướng gắn kết, hợp tác chặt chẽ với các viện, trường với doanh nghiệp, gắn các chương trình nghiên cứu quốc gia với phát triển các sản phẩm trọng điểm. Từng bước hình thành hệ thống công nghiệp hỗ trợ để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.
- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân đạt 12,50%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 13,63%/năm, giai đoạn 2021 - 2030 đạt 10,60%/năm. Đến năm 2015 cơ cấu chiếm tỷ trọng 44,55% của toàn ngành công nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 49,22%, năm 2030 chiếm tỷ trọng 52,00%.
2.3. Hóa chất, hóa dược và mỹ phẩm:
- Ưu tiên phát triển ngành hóa dược và hóa mỹ phẩm thành ngành công nghiệp mũi nhọn, đi ngay vào công nghệ hiện đại, xây dựng một số phòng thí nghiệm hiện đại phục vụ nghiên cứu cơ bản cho công nghiệp hóa dược.
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tiến tới sản xuất một số loại hóa chất tinh khiết quy mô phòng thí nghiệm phục vụ cho bào chế thuốc, nghiên cứu và giảng dạy.
- Khuyến khích xây dựng các tổ hợp chế biến rác thải kết hợp sản xuất phân hữu cơ tại các khu xử lý rác thải tập trung của thành phố.
- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân đạt 11,25%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 10,0%/năm, giai đoạn 2021 - 2030 đạt 7,24%/năm. Đến năm 2015 cơ cấu chiếm tỷ trọng 8,31% của toàn ngành công nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 7,19%, năm 2030 chiếm tỷ trọng 4,74%.
2.4. Chế biến nông sản, thực phẩm và đồ uống:
- Tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất những sản phẩm có thương hiệu, có uy tín phục vụ nhu cầu ngày càng tăng cao của nhân dân Thủ đô và các tỉnh, thành trong cả nước. Chú trọng phát triển các sản phẩm truyền thống nổi tiếng của Thủ đô phục vụ cho khách du lịch. Kết hợp với các tỉnh trong vùng Bắc bộ để phát triển các vùng nguyên liệu và bố trí nhà máy chế biến phù hợp với quy hoạch vùng, tránh lãng phí, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.
- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân đạt 12,08%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 12,18%/năm, giai đoạn 2021 - 2030 đạt 11,13%/năm. Đến năm 2015 cơ cấu ngành chiếm 17,54% của toàn ngành công nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 17,6%, năm 2030 chiếm tỷ trọng 19,99%.
2.5. Dệt may, da giày:
- Phát triển các trung tâm cung cấp dịch vụ, trung tâm nghiên cứu thiết kế mẫu thời trang cao cấp. Phát triển chủ yếu theo chiều sâu, cần tập trung vào sản xuất sản phẩm cao cấp theo công nghệ mới, hiện đại không gây ô nhiễm môi trường.
- Hướng vào 3 nhóm sản phẩm chính là giày thể thao, giày dép da và túi cặp. Tập trung đầu tư máy móc trang thiết bị chuyên dùng, công nghệ hiện đại, coi trọng thiết kế mẫu mã để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, cạnh tranh được cả trong nước và thế giới, tiến tới thay thế hàng nhập khẩu.
- Đẩy mạnh hợp tác liên kết với các tỉnh, thành lân cận để phát huy thế mạnh về lao động, đất đai, giao thông của các địa phương.
- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân đạt 6,88%/năm, giai đoạn 2016 -2 020 tăng trưởng đạt 7,68%/năm, giai đoạn 2021 - 2030 tăng trưởng đạt 4,75%/năm. Đến năm 2015 cơ cấu ngành chiếm tỷ trọng 5,90% của toàn ngành công nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 4,34%, năm 2030 chiếm tỷ trọng 1,99%.
2.6. Vật liệu xây dựng, trang trí nội thất:
- Đầu tư ứng dụng kỹ thuật mới, tiên tiến vào sản xuất các loại vật liệu mới, vật liệu cao cấp, vật liệu tổng hợp phục vụ xây dựng và trang trí nội thất như: vật liệu không nung, vật liệu nhẹ, tấm kết cấu 3D, sản phẩm ốp lát, gốm sứ xây dựng, các loại vật liệu mới ứng dụng công nghệ nano như kính chống va đập, kính chống mờ … tiến tới giảm dần việc sản xuất các loại vật liệu gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn Thành phố.
- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân đạt 10,65%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 tăng trưởng đạt 10,01%/năm, giai đoạn 2021-2030 tăng trưởng đạt 7,25%/năm. Đến năm 2015 cơ cấu ngành chiếm tỷ trọng 6,58% của toàn ngành công nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 5,70%, năm 2030 chiếm tỷ trọng 3,77%.
2.7. Định hướng phát triển nghề, làng nghề:
- Phát triển các làng nghề gắn với xây dựng nông thôn mới và bảo tồn, khôi phục bản sắc văn hóa dân tộc.
- Phát triển các nghề, làng nghề xuất phát từ tiềm năng và nhu cầu của xã hội nhằm tạo ra các sản phẩm có giá trị văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật và tính thương mại cao nhưng vẫn mang các giá trị truyền thống đặc trưng của các làng nghề.
- Chú trọng kết hợp truyền thống với ứng dụng khoa học - kỹ thuật tiên tiến vào các công đoạn sản xuất, đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường, duy trì chất lượng sống khu vực dân cư tại địa phương có làng nghề.