Document: Điều 4 Quyết định109-CT chính sách kinh tế tài chính trước mắt của 6 tỉnh biên giới phía Bắc

Type: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "29/03/1985", "sign_number": "109-CT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "29/03/1985", "sign_number": "109-CT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "29/03/1985", "sign_number": "109-CT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "29/03/1985", "sign_number": "109-CT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "29/03/1985", "sign_number": "109-CT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 4 Quyết định109-CT chính sách kinh tế tài chính trước mắt của 6 tỉnh biên giới phía Bắc có nội dung như sau:

Điều 4. - Về sản xuất công nghiệp (bao gồm cả tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp): căn cứ vào những mục tiêu và phương hướng phát triển công nghiệp ở các tỉnh biên giới như Nghị quyết số 133-HĐBT đã đề ra.
Trong bố trí kế hoạch, bố trí ngân sách và tín dụng hàng năm cho các tỉnh, các huyện, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính và Nhân hàng Nhà nước cần chú trọng dành số vốn cần thiết để xây dựng và phát triển các cơ sở công nghiệp địa phương chế biến nông sản, lâm sản (như chế biến đường mía, ép dầu, chế biến thực phẩm, rau quả, dược phẩm) với quy mô vừa và nhỏ thích hợp trên địa bàn từng huỵện và dùng thiết bị chế tạo trong nước là chủ yếu; xây dựng các cơ sở thuỷ điện nhỏ kết hợp với thuỷ lợi, các cơ sở khai thác than, khí mê - tan, sản xuất vật liệu xây dựng, các mặt hàng tiêu dùng bằng nguyên liệu tại chỗ như gốm, sứ, đồ mộc, v.v...
Các Bộ Cơ khí và luyện kim, Công nghiệp thực phẩm, Công nghiệp nhẹ, Lâm nghiệp, Nông nghiệp, Y tế cần chỉ đạo các xí nghiệp trực thuộc Bộ sản xuất ra những thiết bị phụ tùng thích hợp cungcấp cho các cơ sở công nghiệp địa phương nói trên, hướng dẫn giúp đỡ các địa phương về mặt tổ chức sắp xếp sản xuất theo ngành kinh tế - kỹ thuật, về mặt kỹ thuật và công nghệ sản xuất, và về cơ chế quản lý xí nghiệp đế sản xuất có năng suất, chất lượng và hiệu quả.
Để tạo thêm điều kiện thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp địa phương, các tỉnh biên giới phải chủ động thông qua các hình thức liên kết kinh tế. liên doanh, hợp tác trong sản xuất và trong xuất nhập khẩu, để tận dụng năng lực của các xí nghiệp công nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn lãnh thổ, các xí nghiệp quan trọng của các thành phố và khu công nghiệp lớn hỗ trợ cho xí nghiệp công nghiệp địa phương (tỉnh và huyện) phát triển sản xuất.

Content:
Điều 4. - Về sản xuất công nghiệp (bao gồm cả tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp): căn cứ vào những mục tiêu và phương hướng phát triển công nghiệp ở các tỉnh biên giới như Nghị quyết số 133-HĐBT đã đề ra.
Trong bố trí kế hoạch, bố trí ngân sách và tín dụng hàng năm cho các tỉnh, các huyện, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính và Nhân hàng Nhà nước cần chú trọng dành số vốn cần thiết để xây dựng và phát triển các cơ sở công nghiệp địa phương chế biến nông sản, lâm sản (như chế biến đường mía, ép dầu, chế biến thực phẩm, rau quả, dược phẩm) với quy mô vừa và nhỏ thích hợp trên địa bàn từng huỵện và dùng thiết bị chế tạo trong nước là chủ yếu; xây dựng các cơ sở thuỷ điện nhỏ kết hợp với thuỷ lợi, các cơ sở khai thác than, khí mê - tan, sản xuất vật liệu xây dựng, các mặt hàng tiêu dùng bằng nguyên liệu tại chỗ như gốm, sứ, đồ mộc, v.v...
Các Bộ Cơ khí và luyện kim, Công nghiệp thực phẩm, Công nghiệp nhẹ, Lâm nghiệp, Nông nghiệp, Y tế cần chỉ đạo các xí nghiệp trực thuộc Bộ sản xuất ra những thiết bị phụ tùng thích hợp cungcấp cho các cơ sở công nghiệp địa phương nói trên, hướng dẫn giúp đỡ các địa phương về mặt tổ chức sắp xếp sản xuất theo ngành kinh tế - kỹ thuật, về mặt kỹ thuật và công nghệ sản xuất, và về cơ chế quản lý xí nghiệp đế sản xuất có năng suất, chất lượng và hiệu quả.
Để tạo thêm điều kiện thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp địa phương, các tỉnh biên giới phải chủ động thông qua các hình thức liên kết kinh tế. liên doanh, hợp tác trong sản xuất và trong xuất nhập khẩu, để tận dụng năng lực của các xí nghiệp công nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn lãnh thổ, các xí nghiệp quan trọng của các thành phố và khu công nghiệp lớn hỗ trợ cho xí nghiệp công nghiệp địa phương (tỉnh và huyện) phát triển sản xuất.