Document: Điểm a Khoản 8 Điều 1 Quyết định 3276/QĐ-UBND 2014 Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Hải Hà Quảng Ninh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/12/2014", "sign_number": "3276/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đọc", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/12/2014", "sign_number": "3276/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đọc", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/12/2014", "sign_number": "3276/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đọc", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/12/2014", "sign_number": "3276/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đọc", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "30/12/2014", "sign_number": "3276/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đọc", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm a Khoản 8 Điều 1 Quyết định 3276/QĐ-UBND 2014 Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Hải Hà Quảng Ninh

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Hải Hà đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (sau đây gọi tắt và Quy hoạch) với những nội dung chủ yếu sau:
...
8. Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm an ninh quốc phòng:
Tổ chức tốt phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, nhất là phong trào tự quản vùng biên giới, vùng biển; tự quản về an ninh trật tự trong các doanh nghiệp, các khu phố và thôn, bản. Di dãn dân ra khu vực biên giới, khu kinh tế quốc phòng, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời xây dựng vành đai biên giới vững chắc về quốc phòng, an ninh. Từng bước củng cố mối quan hệ hữu nghị với Thành phố Cảng Phòng Thành - Quảng Tây - Trung Quốc trong phát triển kinh tế - xã hội, quản lý và bảo vệ đường biên giới, phối hợp phòng chống tội phạm, vừa đảm bảo vững chắc chủ quyền lãnh thổ, vừa tạo môi trường thuận lợi để tăng cường hợp tác phát triển.
Chăm lo xây dựng lực lượng Công an, Quân đội vững mạnh, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới, đồng thời thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. Củng cố lực lượng, đảm bảo quốc phòng an ninh khu vực biển đảo. Tổ chức phối hợp thống nhất các lực lượng để kiểm soát vùng biển, chống lại các âm mưu lấn chiếm lãnh thổ, lấn chiếm ngư trường và ngăn chặn buôn bán bất hợp pháp trên biển đảo.
IV. Tổ chức không gian kinh tế - xã hội:
1. Vùng kinh tế:
a. Vùng kinh tế phía Bắc: gồm 6 xã trong đó có 2 xã miền núi (Quảng Đức, Quảng Sơn) và 4 xã trung du (Đường Hoa, Quảng Long, Quảng Thịnh, Quảng Chính). Vùng này có thể chia thành 2 tiểu vùng nhỏ:
- Tiểu vùng cao: Phát triển mạnh kinh tế đồi rừng, đẩy mạnh khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng rừng kết hợp trồng cây ăn quả và cây dược liệu như ba kích, phát triển chăn nuôi trâu bò. Khu kinh tế cửa khẩu Bắc Phong Sinh phát triển dịch vụ xuất - nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, vận tải và các ngành công nghiệp hỗ trợ, phụ trợ cho kinh tế biển, phát triển đô thị.
- Tiểu vùng trung du: vùng sản xuất nông sản hàng hóa như chè, cây ăn quả, trong vùng sẽ xây dựng một số trung tâm cụm xã làm điểm hội tụ về văn hóa, trao đổi khoa học kỹ thuật, cầu nối với vùng ven biển, thúc đẩy kinh tế phát triển.
b. Vùng kinh tế phía Nam: gồm 9 địa phương nằm trong Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái: Khu Công nghiệp - Cảng biển Hải Hà (bao gồm 4 đơn vị hành chính là các xã: Quảng Điền, Quảng Phong, Phú Hải và Cái Chiên); thị trấn Quảng Hà và các xã: Quảng Thắng, Quảng Thành, Quảng Minh, Quảng Trung và Tiến Tới.
- Phát triển Khu Công nghiệp - Cảng biển Hải Hà để đáp ứng nhu cầu cụ thể của nhà đầu tư trong sản xuất công nghiệp công nghệ cao.
- Phát triển dịch vụ: Khai thác có hiệu quả dịch vụ trung tâm thị trấn Quảng Hà gắn chặt với sự phát triển Khu Công nghiệp - Cảng biển Hải Hà.
- Phát triển kinh tế biển và hải đảo: Hướng phát triển chính là khai thác hải sản, tận dụng bãi triều để nuôi trồng thủy hải sản theo phương thức thâm canh hoặc bán thâm canh kết hợp trồng rừng ngập mặn.
- Tập trung sản xuất lương thực, thực phẩm, phát triển chăn nuôi lợn, nuôi trồng thủy sản ven biển.
2. Không gian đô thị:
- Xây dựng đô thị Quảng Hà là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của huyện Hải Hà, có chức năng tổng hợp tạo động lực phát triển các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng Đông Bắc Tỉnh Quảng Ninh, là đầu mối giao thông quan trọng của khu kinh tế Móng Cái - Hải Hà và các khu lân cận. Định hướng trong giai đoạn 2016 - 2020 xây dựng thị trấn Quảng Hà đạt đô thị loại IV; đến năm 2030 đạt đô thị loại III; Sau năm 2020, xây dựng thêm 01 đô thị loại V là: Khu kinh tế cửa khẩu Bắc Phong Sinh.
- Phát triển thêm các trung tâm cụm xã nằm trên trục Quốc lộ 18A, đường liên huyện và một số trung tâm cụm xã nằm trên các trục đầu mối đường liên xã. Phát triển đô thị trên quan điểm bền vững, cần tập trung xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật khu vực đô thị trung tâm huyện - đô thị Quảng Hà, xây dựng mới 1 đô thị loại V, các thị tứ, tạo mối liên kết chặt chẽ với các trục kinh tế động lực của tỉnh Quảng Ninh, các trục hành lang kinh tế vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Đối với các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, ưu tiên xây dựng các khu nhà ở, khu dịch vụ - đô thị đáp ứng nhu cầu nhà ở của người lao động.
- Phát triển hệ thống đô thị và phân bố dân cư Khu Công nghiệp - Cảng biển. Xây dựng khu đô thị mới ở khu vực Bắc Nam - là nơi sinh sống của những người lao động làm việc ở khu vực khu công nghiệp, từ đó hình thành khu vực sản xuất có nhà ở và nơi làm việc tiếp giáp nhau.
VI. Danh mục các dự án ưu tiên:
Danh mục các chương trình, dự án đầu tư trọng điểm được trình bày trong phụ lục kèm theo.
VII. Các giải pháp thực hiện quy hoạch:
1. Giải pháp về nguồn lực:
a) Huy động các nguồn đầu tư:
- Tổng nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2012 - 2020 dự kiến khoảng 46.500 tỷ đồng. Để thu hút đủ nguồn vốn đáp ứng nhu cầu này, cần tập trung huy động và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư từ: ngân sách Nhà nước; vốn nước ngoài (FDI); vốn doanh nghiệp và tín dụng; vốn trong dân và các nguồn vốn khác (khai thác quỹ đất...), trong đó:
+ Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước chủ yếu dành cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội. Căn cứ vào khả năng cân đối ngân sách hàng năm, chủ động xây dựng kế hoạch, phân kỳ đầu tư phù hợp để đảm bảo vốn cho các công trình, các dự án trọng điểm.
+ Thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đáp ứng 53-61% tổng nhu cầu còn lại thông qua các biện pháp xúc tiến đầu đầu tư; cần xác định rõ nhà đầu tư chiến lược, nhà đầu tư tiềm năng để tăng cường tiếp cận; Thực hiện cải cách hành chính, tạo thông thoáng trong lĩnh vực đầu tư; tạo thuận lợi trong đăng ký kinh doanh, giao đất, cho thuê đất, thuê mặt bằng, miễn giảm thuế và tiền thuê đất, tiền sử dụng đất...
- Thực hiện sâu rộng và triệt để cải cách hành chính, đơn giản hoá các thủ tục hành chính, tập trung huy động vốn đầu tư từ bên ngoài theo hình thức liên doanh, liên kết như BOT, BT, BTO, hợp tác công - tư theo các mô hình “lãnh đạo công - quản trị tư” “đầu tư công - quản lý tư” “đầu tư tư - sử dụng công”.
- Đẩy mạnh tuyên truyền và quảng bá thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp và du lịch; Chủ động phối hợp với Ban xúc tiến và hỗ trợ đầu tư của Tỉnh nâng cao năng lực hoạt động xúc tiến đầu tư của huyện.

Content:
Huy động các nguồn đầu tư:
- Tổng nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2012 - 2020 dự kiến khoảng 46.500 tỷ đồng. Để thu hút đủ nguồn vốn đáp ứng nhu cầu này, cần tập trung huy động và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư từ: ngân sách Nhà nước; vốn nước ngoài (FDI); vốn doanh nghiệp và tín dụng; vốn trong dân và các nguồn vốn khác (khai thác quỹ đất...), trong đó:
+ Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước chủ yếu dành cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội. Căn cứ vào khả năng cân đối ngân sách hàng năm, chủ động xây dựng kế hoạch, phân kỳ đầu tư phù hợp để đảm bảo vốn cho các công trình, các dự án trọng điểm.
+ Thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đáp ứng 53-61% tổng nhu cầu còn lại thông qua các biện pháp xúc tiến đầu đầu tư; cần xác định rõ nhà đầu tư chiến lược, nhà đầu tư tiềm năng để tăng cường tiếp cận; Thực hiện cải cách hành chính, tạo thông thoáng trong lĩnh vực đầu tư; tạo thuận lợi trong đăng ký kinh doanh, giao đất, cho thuê đất, thuê mặt bằng, miễn giảm thuế và tiền thuê đất, tiền sử dụng đất...
- Thực hiện sâu rộng và triệt để cải cách hành chính, đơn giản hoá các thủ tục hành chính, tập trung huy động vốn đầu tư từ bên ngoài theo hình thức liên doanh, liên kết như BOT, BT, BTO, hợp tác công - tư theo các mô hình “lãnh đạo công - quản trị tư” “đầu tư công - quản lý tư” “đầu tư tư - sử dụng công”.
- Đẩy mạnh tuyên truyền và quảng bá thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp và du lịch; Chủ động phối hợp với Ban xúc tiến và hỗ trợ đầu tư của Tỉnh nâng cao năng lực hoạt động xúc tiến đầu tư của huyện.