Document: Điều 18 Nghị định 50/2005/NĐ-CP cơ quan quản lý thi hành án dân sự cán bộ, công chức làm công tác

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "11/04/2005", "sign_number": "50/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "11/04/2005", "sign_number": "50/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "11/04/2005", "sign_number": "50/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "11/04/2005", "sign_number": "50/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "11/04/2005", "sign_number": "50/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 18 Nghị định 50/2005/NĐ-CP cơ quan quản lý thi hành án dân sự cán bộ, công chức làm công tác có nội dung như sau:

Điều 18. Quyền hạn và nghĩa vụ của Chấp hành viên
Chấp hành viên thực hiện nhiệm vụ của Chấp hành viên theo quy định tại Điều 14 của Pháp lệnh Thi hành án dân sự, đồng thời có quyền hạn, nghĩa vụ như sau:
1. Nghiêm chỉnh chấp hành hiến pháp, pháp luật.
2. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; chủ động, tích cực tổ chức thi hành án đúng nội dung bản án, quyết định của Tòa án và theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
3. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà gây thiệt hại thì cơ quan thi hành án nơi Chấp hành viên công tác phải có trách nhiệm bồi thường. Chấp hành viên đã gây ra thiệt hại nếu có lỗi thì tùy từng trường hợp cụ thể có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan thi hành án theo quy định của pháp luật.
4. Chấp hành viên có nghĩa vụ từ chối thực hiện nhiệm vụ được giao khi có căn cứ cho rằng việc đó là trái pháp luật. Nếu Thủ trưởng cơ quan thi hành án vẫn quyết định thì Chấp hành viên phải chấp hành, nhưng Thủ trưởng cơ quan thi hành án phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trong trường hợp này, Chấp hành viên có nghĩa vụ báo cáo lên Trưởng Thi hành án dân sự cấp tỉnh (đối với cơ quan thi hành án cấp huyện), báo cáo lên Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp (đối với cơ quan thi hành án cấp tỉnh), báo cáo lên Cục trưởng Cục Thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng (đối với cơ quan thi hành án cấp quân khu) và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành quyết định đó.

Content:
Điều 18. Quyền hạn và nghĩa vụ của Chấp hành viên
Chấp hành viên thực hiện nhiệm vụ của Chấp hành viên theo quy định tại Điều 14 của Pháp lệnh Thi hành án dân sự, đồng thời có quyền hạn, nghĩa vụ như sau:
1. Nghiêm chỉnh chấp hành hiến pháp, pháp luật.
2. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; chủ động, tích cực tổ chức thi hành án đúng nội dung bản án, quyết định của Tòa án và theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
3. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà gây thiệt hại thì cơ quan thi hành án nơi Chấp hành viên công tác phải có trách nhiệm bồi thường. Chấp hành viên đã gây ra thiệt hại nếu có lỗi thì tùy từng trường hợp cụ thể có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan thi hành án theo quy định của pháp luật.
4. Chấp hành viên có nghĩa vụ từ chối thực hiện nhiệm vụ được giao khi có căn cứ cho rằng việc đó là trái pháp luật. Nếu Thủ trưởng cơ quan thi hành án vẫn quyết định thì Chấp hành viên phải chấp hành, nhưng Thủ trưởng cơ quan thi hành án phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trong trường hợp này, Chấp hành viên có nghĩa vụ báo cáo lên Trưởng Thi hành án dân sự cấp tỉnh (đối với cơ quan thi hành án cấp huyện), báo cáo lên Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp (đối với cơ quan thi hành án cấp tỉnh), báo cáo lên Cục trưởng Cục Thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng (đối với cơ quan thi hành án cấp quân khu) và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành quyết định đó.