Document: Điểm d Khoản 4 Điều 1 Quyết định 805/BNN-KH 2014 Vùng Kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long 2020 2030

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "22/04/2014", "sign_number": "805/BNN-KH", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "22/04/2014", "sign_number": "805/BNN-KH", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "22/04/2014", "sign_number": "805/BNN-KH", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "22/04/2014", "sign_number": "805/BNN-KH", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "22/04/2014", "sign_number": "805/BNN-KH", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 4 Điều 1 Quyết định 805/BNN-KH 2014 Vùng Kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long 2020 2030

Điều 1. : Phê duyệt Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng Kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long (gồm thành phố Cần Thơ và các tỉnh: An Giang, Kiên Giang, Cà Mau) đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với các nội dung chính sau:
...
4. Phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
...
d) Bố trí, sắp xếp dân cư và bảo vệ môi trường nông thôn
Bố trí, sắp xếp dân cư nông thôn theo cụm và tuyến tập trung, xen ghép vào các điểm dân cư hiện có và ổn định tại chỗ, phù hợp với điều kiện sinh thái và tập quán sinh sống của người dân trên từng tiểu vùng; ưu tiên bố trí các hộ, vùng có nguy cơ thiên tai; đảm bảo kết nối thôn, ấp đến thị trấn, trung tâm tỉnh và thành phố; từng bước phát triển các cụm dân cư nông thôn tương tự như khu đô thị; hỗ trợ các hộ tái định cư việc làm để nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống lâu dài.
Kiểm soát chặt chẽ, xử lý có hiệu quả nguồn rác thải, chất thải từ sinh hoạt, từ sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và từ ngành nghề thủ công truyền thống áp dụng công nghệ thấp nhằm cải thiện cảnh quan và hạn chế ô nhiễm môi trường nông thôn.
e) Về khoa học công nghệ
Hình thành Trung tâm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Cần Thơ. Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất cho Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long và hệ thống các Trạm, Trại, Trung tâm sản xuất giống tại các địa phương trong vùng. Phát triển một số dịch vụ về giống; khoa học công nghệ sản xuất, bảo quản và chế biến các sản phẩm nông sản, thủy sản chủ lực.
f) Các công trình hạ tầng xã hội nông thôn khác
Tiếp tục đầu tư phát triển các công trình hạ tầng xã hội khác trên địa bàn nông thôn vùng Kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long như giao thông, điện, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, bưu chính, chợ, nhà sinh hoạt cộng đồng thôn ấp... theo quy hoạch được duyệt nhằm mục tiêu đến năm 2020 tỉ lệ xã đạt tiêu chí nông thôn mới trên 50%, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, kế hoạch
Trên cơ sở định hướng quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn vùng Kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long; các địa phương rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển các ngành sản xuất, các lĩnh vực và các sản phẩm chủ lực.
Phương án quy hoạch nông nghiệp, nông thôn của các địa phương cần gắn kết chặt chẽ với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các quy hoạch chuyên ngành, các địa phương trong tỉnh và các tỉnh trong vùng, tạo nên sự thống nhất để triển khai và thường xuyên được kiểm tra, giám sát thực hiện.
2. Đổi mới tổ chức sản xuất
- Xây dựng vùng Kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng kiểu mẫu về liên kết sản xuất, trọng tâm là liên kết sản xuất lúa và nuôi trồng thủy sản. Hướng tới đến năm 2020, toàn vùng có 280 nghìn ha lúa thực hiện mô hình liên kết sản xuất, chiếm 35,6% diện tích canh tác lúa của vùng; trong đó, An Giang: 100 nghìn ha, Kiên Giang: 120 nghìn ha, Cà Mau: 20 nghìn ha, Cần Thơ: 40 nghìn ha. Sau đó tiếp tục nghiên cứu, mở rộng sang liên kết xây dựng cánh đồng lớn đối với cây ăn trái và các sản phẩm khác.
- Xây dựng cơ chế chính sách tạo điều kiện để nông dân chuyển đổi mục đích sử dụng đất; tạo điều kiện để mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, bao gồm cả việc chuyển đổi cây trồng trên đất lúa nhưng không làm mất đi năng lực sản xuất lúa về lâu dài.
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế trang trại; đồng thời hỗ trợ kinh tế hộ gia đình phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập.
2. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa nông, thủy sản
- Các địa phương trong vùng lựa chọn các sản phẩm chủ lực tập trung đầu tư chế biến theo chiều sâu, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tổ chức quảng bá sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước; ưu tiên trước hết cho sản phẩm gạo, cá tra, tôm. Bảo tồn, phát triển thương hiệu nước mắm Phú Quốc.
- Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại đối với các sản phẩm đặc sản của vùng như: Gạo một bụi Cà Mau, mật ong U Minh, rượu sim Phú Quốc, cá sặc U Minh, mắm cá đồng Thới Bình, mắm Châu Đốc...
- Tạo điều kiện để các doanh nghiệp chế biến nông, thủy sản xuất khẩu (như Minh Phú, Kim Anh, Canimex...) đầu tư nâng cấp cơ sở chế biến, ứng dụng công nghệ mới, gắn với quản lý chất lượng sản phẩm, xây dựng hệ thống phân phối, mở rộng mạng lưới tiêu thụ trong và ngoài nước.
- Đẩy mạnh hợp tác, liên kết vùng trong xúc tiến đầu tư, thương mại. Tổ chức các hội chợ, triển lãm nông lâm thủy sản tại các tỉnh trong vùng; hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến nông, thủy sản tham gia các hội chợ thường niên tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác trong cả nước để giới thiệu, quảng bá các sản phẩm đến người tiêu dùng.
3. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật - công nghệ mới vào sản xuất nông lâm thủy sản
- Trước hết cần tập trung nguồn lực nghiên cứu, sản xuất các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao đưa vào sản xuất. Ưu tiên giống lúa phục vụ xuất khẩu, giống tôm, cá tra... Mỗi giống mới cần nghiên cứu quy trình kỹ thuật thâm canh phù hợp trong từng điều kiện sản xuất cụ thể.
- Khuyến khích, hỗ trợ nông dân sử dụng các giống mới và áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến; áp dụng các mô hình sản xuất nông - lâm - thủy sản kết hợp, mô hình canh tác an toàn sinh học cho tất cả các cây trồng, vật nuôi.
- Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm chủ lực (tôm, cá tra, gạo).
- Khuyến khích đầu tư, phát triển khu, vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy hoạch khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Các tỉnh, thành phố từng bước xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đối với các sản phẩm có lợi thế, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ.
- Tiếp tục nghiên cứu bổ sung cơ chế, chính sách đẩy mạnh ứng dụng cơ giới hóa trong tất cả các khâu, từ làm đất đến gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản, chế biến nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm.
Tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
- Các địa phương xác định số lượng lao động, cơ cấu ngành nghề và trình độ cần đào tạo để xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn. Từng bước đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
- Đẩy mạnh xã hội hóa các hình thức đào tạo; khuyến khích các doanh nghiệp chế biến, dịch vụ nông nghiệp, nông thôn tham gia tập huấn, dạy nghề cho nông dân.
- Triển khai có hiệu quả Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Gắn đào tạo nghề với hỗ trợ tạo việc làm sau khi học nghề, đào tạo nghề theo yêu cầu của các doanh nghiệp tuyển dụng lao động.

Content:
Bố trí, sắp xếp dân cư và bảo vệ môi trường nông thôn
Bố trí, sắp xếp dân cư nông thôn theo cụm và tuyến tập trung, xen ghép vào các điểm dân cư hiện có và ổn định tại chỗ, phù hợp với điều kiện sinh thái và tập quán sinh sống của người dân trên từng tiểu vùng; ưu tiên bố trí các hộ, vùng có nguy cơ thiên tai; đảm bảo kết nối thôn, ấp đến thị trấn, trung tâm tỉnh và thành phố; từng bước phát triển các cụm dân cư nông thôn tương tự như khu đô thị; hỗ trợ các hộ tái định cư việc làm để nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống lâu dài.
Kiểm soát chặt chẽ, xử lý có hiệu quả nguồn rác thải, chất thải từ sinh hoạt, từ sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và từ ngành nghề thủ công truyền thống áp dụng công nghệ thấp nhằm cải thiện cảnh quan và hạn chế ô nhiễm môi trường nông thôn.
e) Về khoa học công nghệ
Hình thành Trung tâm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Cần Thơ. Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất cho Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long và hệ thống các Trạm, Trại, Trung tâm sản xuất giống tại các địa phương trong vùng. Phát triển một số dịch vụ về giống; khoa học công nghệ sản xuất, bảo quản và chế biến các sản phẩm nông sản, thủy sản chủ lực.
f) Các công trình hạ tầng xã hội nông thôn khác
Tiếp tục đầu tư phát triển các công trình hạ tầng xã hội khác trên địa bàn nông thôn vùng Kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long như giao thông, điện, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, bưu chính, chợ, nhà sinh hoạt cộng đồng thôn ấp... theo quy hoạch được duyệt nhằm mục tiêu đến năm 2020 tỉ lệ xã đạt tiêu chí nông thôn mới trên 50%, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, kế hoạch
Trên cơ sở định hướng quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn vùng Kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long; các địa phương rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển các ngành sản xuất, các lĩnh vực và các sản phẩm chủ lực.
Phương án quy hoạch nông nghiệp, nông thôn của các địa phương cần gắn kết chặt chẽ với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các quy hoạch chuyên ngành, các địa phương trong tỉnh và các tỉnh trong vùng, tạo nên sự thống nhất để triển khai và thường xuyên được kiểm tra, giám sát thực hiện.
2. Đổi mới tổ chức sản xuất
- Xây dựng vùng Kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng kiểu mẫu về liên kết sản xuất, trọng tâm là liên kết sản xuất lúa và nuôi trồng thủy sản. Hướng tới đến năm 2020, toàn vùng có 280 nghìn ha lúa thực hiện mô hình liên kết sản xuất, chiếm 35,6% diện tích canh tác lúa của vùng; trong đó, An Giang: 100 nghìn ha, Kiên Giang: 120 nghìn ha, Cà Mau: 20 nghìn ha, Cần Thơ: 40 nghìn ha. Sau đó tiếp tục nghiên cứu, mở rộng sang liên kết xây dựng cánh đồng lớn đối với cây ăn trái và các sản phẩm khác.
- Xây dựng cơ chế chính sách tạo điều kiện để nông dân chuyển đổi mục đích sử dụng đất; tạo điều kiện để mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, bao gồm cả việc chuyển đổi cây trồng trên đất lúa nhưng không làm mất đi năng lực sản xuất lúa về lâu dài.
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế trang trại; đồng thời hỗ trợ kinh tế hộ gia đình phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập.
2. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa nông, thủy sản
- Các địa phương trong vùng lựa chọn các sản phẩm chủ lực tập trung đầu tư chế biến theo chiều sâu, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tổ chức quảng bá sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước; ưu tiên trước hết cho sản phẩm gạo, cá tra, tôm. Bảo tồn, phát triển thương hiệu nước mắm Phú Quốc.
- Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại đối với các sản phẩm đặc sản của vùng như: Gạo một bụi Cà Mau, mật ong U Minh, rượu sim Phú Quốc, cá sặc U Minh, mắm cá đồng Thới Bình, mắm Châu Đốc...
- Tạo điều kiện để các doanh nghiệp chế biến nông, thủy sản xuất khẩu (như Minh Phú, Kim Anh, Canimex...) đầu tư nâng cấp cơ sở chế biến, ứng dụng công nghệ mới, gắn với quản lý chất lượng sản phẩm, xây dựng hệ thống phân phối, mở rộng mạng lưới tiêu thụ trong và ngoài nước.
- Đẩy mạnh hợp tác, liên kết vùng trong xúc tiến đầu tư, thương mại. Tổ chức các hội chợ, triển lãm nông lâm thủy sản tại các tỉnh trong vùng; hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến nông, thủy sản tham gia các hội chợ thường niên tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác trong cả nước để giới thiệu, quảng bá các sản phẩm đến người tiêu dùng.
3. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật - công nghệ mới vào sản xuất nông lâm thủy sản
- Trước hết cần tập trung nguồn lực nghiên cứu, sản xuất các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao đưa vào sản xuất. Ưu tiên giống lúa phục vụ xuất khẩu, giống tôm, cá tra... Mỗi giống mới cần nghiên cứu quy trình kỹ thuật thâm canh phù hợp trong từng điều kiện sản xuất cụ thể.
- Khuyến khích, hỗ trợ nông dân sử dụng các giống mới và áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến; áp dụng các mô hình sản xuất nông - lâm - thủy sản kết hợp, mô hình canh tác an toàn sinh học cho tất cả các cây trồng, vật nuôi.
- Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm chủ lực (tôm, cá tra, gạo).
- Khuyến khích đầu tư, phát triển khu, vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy hoạch khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Các tỉnh, thành phố từng bước xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đối với các sản phẩm có lợi thế, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ.
- Tiếp tục nghiên cứu bổ sung cơ chế, chính sách đẩy mạnh ứng dụng cơ giới hóa trong tất cả các khâu, từ làm đất đến gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản, chế biến nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm.
Tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
- Các địa phương xác định số lượng lao động, cơ cấu ngành nghề và trình độ cần đào tạo để xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn. Từng bước đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
- Đẩy mạnh xã hội hóa các hình thức đào tạo; khuyến khích các doanh nghiệp chế biến, dịch vụ nông nghiệp, nông thôn tham gia tập huấn, dạy nghề cho nông dân.
- Triển khai có hiệu quả Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Gắn đào tạo nghề với hỗ trợ tạo việc làm sau khi học nghề, đào tạo nghề theo yêu cầu của các doanh nghiệp tuyển dụng lao động.