Document: Điều 12 Nghị định 30-HĐBT thi hành Luật Đất đai

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "23/03/1989", "sign_number": "30-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "23/03/1989", "sign_number": "30-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "23/03/1989", "sign_number": "30-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "23/03/1989", "sign_number": "30-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "23/03/1989", "sign_number": "30-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 12 Nghị định 30-HĐBT thi hành Luật Đất đai có nội dung như sau:

Điều 12. - Việc đăng ký đất đai, lập và giữ sổ địa chính, thống kê đất đai tiến hành như sau:
1. Đăng ký đất đai:
a) Đăng ký ban đầu cho người đang sử dụng đất hợp pháp và người mới được giao đất để sử dụng.
b) Đăng ký biến động khi có thay đổi về hình thể, quy mô sử dụng, mục đích sử dụng và người sử dụng khu đất.
c) Uỷ ban nhân dân quận, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn và Uỷ ban nhân dân xã thuộc huyện thực hiện đăng ký đất đai thuộc quyền quản lý của mình.
2. Việc lập và giữ sổ địa chính:
a) Sổ địa chính được lập theo mẫu do Tổng Cục Quản lý ruộng đất quy định và được thực hiện thống nhất trong cả nước.
b) Cấp thực hiện đăng ký đất đai là cấp lập sổ địa chính.
c) Sổ địa chính lập thành hai bản, một bản lưu giữ tại cấp lập sổ, một bản lưu giữ ở cấp trên trực tiếp.
3. Việc thống kê đất đai:
a) Xã và cấp hành chính tương đương là đơn vị thống kê Nhà nước về đất đai.
b) Việc thống kê đất đai phải được tiến hành hàng năm.
c) Cứ 5 năm một lần, tiến hành kiểm kê đất đai.
d) Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện thống kê đất đai của địa phương mình.
đ) Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương có trách nhiệm báo cáo số liệu thống kê đất đai năm trước về Tổng cục Quản lý ruộng đất trong tháng 1 năm sau.
e) Tổng cục Quản lý ruộng đất tổng hợp kết quả thống kê đất đai năm trước để báo cáo với Hội đồng Bộ trưởng trong tháng 3 năm sau.

Content:
Điều 12. - Việc đăng ký đất đai, lập và giữ sổ địa chính, thống kê đất đai tiến hành như sau:
1. Đăng ký đất đai:
a) Đăng ký ban đầu cho người đang sử dụng đất hợp pháp và người mới được giao đất để sử dụng.
b) Đăng ký biến động khi có thay đổi về hình thể, quy mô sử dụng, mục đích sử dụng và người sử dụng khu đất.
c) Uỷ ban nhân dân quận, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn và Uỷ ban nhân dân xã thuộc huyện thực hiện đăng ký đất đai thuộc quyền quản lý của mình.
2. Việc lập và giữ sổ địa chính:
a) Sổ địa chính được lập theo mẫu do Tổng Cục Quản lý ruộng đất quy định và được thực hiện thống nhất trong cả nước.
b) Cấp thực hiện đăng ký đất đai là cấp lập sổ địa chính.
c) Sổ địa chính lập thành hai bản, một bản lưu giữ tại cấp lập sổ, một bản lưu giữ ở cấp trên trực tiếp.
3. Việc thống kê đất đai:
a) Xã và cấp hành chính tương đương là đơn vị thống kê Nhà nước về đất đai.
b) Việc thống kê đất đai phải được tiến hành hàng năm.
c) Cứ 5 năm một lần, tiến hành kiểm kê đất đai.
d) Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện thống kê đất đai của địa phương mình.
đ) Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương có trách nhiệm báo cáo số liệu thống kê đất đai năm trước về Tổng cục Quản lý ruộng đất trong tháng 1 năm sau.
e) Tổng cục Quản lý ruộng đất tổng hợp kết quả thống kê đất đai năm trước để báo cáo với Hội đồng Bộ trưởng trong tháng 3 năm sau.