Document: Điều 3 Nghị định 11/2002/NĐ-CP quản lý hoạt động xuất nhập khẩu quá cảnh động thực vật hoang dã

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "22/01/2002", "sign_number": "11/2002/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "22/01/2002", "sign_number": "11/2002/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "22/01/2002", "sign_number": "11/2002/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "22/01/2002", "sign_number": "11/2002/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "22/01/2002", "sign_number": "11/2002/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 3 Nghị định 11/2002/NĐ-CP quản lý hoạt động xuất nhập khẩu quá cảnh động thực vật hoang dã có nội dung như sau:

Điều 3. 1. Cấm xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu và nhập nội từ biển vì mục đích thương mại mẫu vật của các loài động vật, thực vật hoang dã được quy định trong Phụ lục I của Công ước CITES.
2. Việc xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu và nhập nội từ biển mẫu vật của các loài động vật, thực vật hoang dã được quy định trong Phụ lục I của Công ước CITES chỉ được thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Không vì mục đích thương mại;
b) Phù hợp với pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
c) Có giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu và nhập nội từ biển do Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam cấp.
3. Việc cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu và nhập nội từ biển mẫu vật của các loài động vật, thực vật hoang dã được quy định trong Phụ lục I của Công ước CITES và điểm c khoản 2 Điều này được thực hiện khi đáp ứng đủ những điều kiện sau:
a) Xuất khẩu:
Cơ quan thẩm quyền khoa học CITES Việt Nam tư vấn rằng việc xuất khẩu không ảnh hưởng đến sự tồn tại bền vững của loài đó trong thiên nhiên;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam công nhận giấy phép nhập khẩu các mẫu vật đó do Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES nước nhập khẩu cấp trước đó;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam thừa nhận mẫu vật đó được khai thác hợp pháp theo luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác nhận việc vận chuyển mẫu vật sống phải được chuẩn bị tốt để bảo đảm giảm tối đa những nguy hiểm, thương tích đối với mẫu vật.
b) Nhập khẩu:
Cơ quan thẩm quyền khoa học CITES Việt Nam thừa nhận mẫu vật được nhập khẩu vào Việt Nam không ảnh hưởng đến sự tồn tại bền vững của loài đó và các loài khác hiện có trong thiên nhiên;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam thừa nhận những mẫu vật được nhập khẩu vào Việt Nam theo đúng các quy định của Công ước CITES;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam thừa nhận những mẫu vật đó không được sử dụng vì mục đích thương mại;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác nhận tổ chức, cá nhân nhận mẫu vật có đủ điều kiện về chuồng trại và các điều kiện khác để giữ và chăm sóc mẫu vật sống.
c) Tái xuất khẩu:
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam công nhận mẫu vật đó đã được nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác nhận việc vận chuyển mẫu vật sống phải được chuẩn bị tốt để bảo đảm giảm tối đa những nguy hiểm, thương tích đối với mẫu vật.
d) Nhập nội từ biển:
Cơ quan thẩm quyền khoa học CITES Việt Nam thừa nhận mẫu vật được nhập nội vào lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ảnh hưởng đến sự tồn tại bền vững của loài đó và các loài khác hiện có trong thiên nhiên;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác định những mẫu vật đó không được sử dụng vì mục đích thương mại.
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác nhận tổ chức, cá nhân nhận mẫu vật có đủ điều kiện về chuồng trại và các điều kiện khác để giữ và chăm sóc mẫu vật sống.

Content:
Điều 3. 1. Cấm xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu và nhập nội từ biển vì mục đích thương mại mẫu vật của các loài động vật, thực vật hoang dã được quy định trong Phụ lục I của Công ước CITES.
2. Việc xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu và nhập nội từ biển mẫu vật của các loài động vật, thực vật hoang dã được quy định trong Phụ lục I của Công ước CITES chỉ được thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Không vì mục đích thương mại;
b) Phù hợp với pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
c) Có giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu và nhập nội từ biển do Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam cấp.
3. Việc cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu và nhập nội từ biển mẫu vật của các loài động vật, thực vật hoang dã được quy định trong Phụ lục I của Công ước CITES và điểm c khoản 2 Điều này được thực hiện khi đáp ứng đủ những điều kiện sau:
a) Xuất khẩu:
Cơ quan thẩm quyền khoa học CITES Việt Nam tư vấn rằng việc xuất khẩu không ảnh hưởng đến sự tồn tại bền vững của loài đó trong thiên nhiên;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam công nhận giấy phép nhập khẩu các mẫu vật đó do Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES nước nhập khẩu cấp trước đó;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam thừa nhận mẫu vật đó được khai thác hợp pháp theo luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác nhận việc vận chuyển mẫu vật sống phải được chuẩn bị tốt để bảo đảm giảm tối đa những nguy hiểm, thương tích đối với mẫu vật.
b) Nhập khẩu:
Cơ quan thẩm quyền khoa học CITES Việt Nam thừa nhận mẫu vật được nhập khẩu vào Việt Nam không ảnh hưởng đến sự tồn tại bền vững của loài đó và các loài khác hiện có trong thiên nhiên;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam thừa nhận những mẫu vật được nhập khẩu vào Việt Nam theo đúng các quy định của Công ước CITES;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam thừa nhận những mẫu vật đó không được sử dụng vì mục đích thương mại;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác nhận tổ chức, cá nhân nhận mẫu vật có đủ điều kiện về chuồng trại và các điều kiện khác để giữ và chăm sóc mẫu vật sống.
c) Tái xuất khẩu:
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam công nhận mẫu vật đó đã được nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác nhận việc vận chuyển mẫu vật sống phải được chuẩn bị tốt để bảo đảm giảm tối đa những nguy hiểm, thương tích đối với mẫu vật.
d) Nhập nội từ biển:
Cơ quan thẩm quyền khoa học CITES Việt Nam thừa nhận mẫu vật được nhập nội vào lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ảnh hưởng đến sự tồn tại bền vững của loài đó và các loài khác hiện có trong thiên nhiên;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác định những mẫu vật đó không được sử dụng vì mục đích thương mại.
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác nhận tổ chức, cá nhân nhận mẫu vật có đủ điều kiện về chuồng trại và các điều kiện khác để giữ và chăm sóc mẫu vật sống.