Document: Điểm d Khoản 4 Điều 1 Quyết định 1788/QĐ-UBND 2018 phê duyệt quy hoạch phát triển thủy sản Khánh Hòa đến 2025

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "22/06/2018", "sign_number": "1788/QĐ-UBND", "signer": "Đào Công Thiên", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "22/06/2018", "sign_number": "1788/QĐ-UBND", "signer": "Đào Công Thiên", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "22/06/2018", "sign_number": "1788/QĐ-UBND", "signer": "Đào Công Thiên", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "22/06/2018", "sign_number": "1788/QĐ-UBND", "signer": "Đào Công Thiên", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "22/06/2018", "sign_number": "1788/QĐ-UBND", "signer": "Đào Công Thiên", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 4 Điều 1 Quyết định 1788/QĐ-UBND 2018 phê duyệt quy hoạch phát triển thủy sản Khánh Hòa đến 2025

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch phát triển ngành thủy sản tỉnh Khánh Hòa đến năm 2025 và định hướng đến năm 2035 với những nội dung chủ yếu sau:
...
4. Nội dung quy hoạch
4.1. Bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản
...
d) Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản:
- Chú trọng công tác tái tạo nguồn lợi thủy sản, xây dựng triển khai thực hiện một số chương trình thả giống ra các vùng nước tự nhiên đối với một số đối tượng thủy sản có nguy cơ cạn kiệt tại các vịnh Nha Trang, Vân Phong, Cam Ranh, đầm Nha Phu, đầm Thủy Triều.
- Xây dựng Khu bảo tồn biển đảo Nam Yết, đảo Bình Ba, Khu bảo vệ hệ sinh thái biển Rạn Trào, Khu bảo vệ biển đầm Nha Phú, đầm Thủy Triều. Khôi phục và bảo vệ môi trường sống các loài thủy sản tại vùng nước nội địa trên địa bàn tỉnh.
- Chuyển giao, nhân rộng các mô hình đồng quản lý nghề cá ven bờ dựa vào cộng đồng.
e) Dịch vụ hậu cần nghề cá:
- Hình thành cơ sở hậu cần nghề cá đồng bộ, thu hút tàu đánh bắt xa bờ có công suất lớn của địa phương và khu vực lân cận; là đầu mối tập trung và phân phối hàng thủy sản tại khu vực; đồng thời cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá, hỗ trợ dịch vụ cứu hộ, cứu nạn.
- Đầu tư hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh bão theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2015 và theo quy hoạch của tỉnh.
- Đầu tư các bến cá tại địa phương như: Bích Đầm, Bình Tây, Tân Thành, Thủy Đầm, Xuân Tự 2, Cam Lâm, Quảng Hội. Nâng cấp bến cá Quảng Hội thành cảng cá loại 2 kết hợp khu neo đậu tránh trú bão.
- Tiếp tục kêu gọi đầu tư vào Trung tâm nghề cá lớn Khánh Hòa để sớm hình thành và đi vào hoạt động.
- Đầu tư xây dựng mới nhà máy đóng, sửa chữa tàu cá bằng các vật liệu composite và thép; từng bước thay thế các tàu cá vỏ gỗ; đầu tư, nâng cấp nhà máy đóng tàu vật liệu composite tại phường Ninh Hải, thị xã Ninh Hòa; xây dựng thêm khu đóng sửa tàu thuyền tại thành phố Nha Trang.
4.2. Nuôi trồng thủy sản
- Đến năm 2020 tổng diện tích nuôi trồng thủy sản giảm còn khoảng 3.575 ha, giảm 7,3%/năm; trong đó: Nuôi mặn, lợ giảm còn 2.958 ha (do chuyển sang mục đích khác và không tính diện tích mặt nước nuôi ngọc trai vào diện tích nuôi trồng thủy sản), nuôi nước ngọt ổn định 617 ha; đến năm 2025 tổng diện tích nuôi trồng thủy sản giảm còn khoảng 3.457 ha, giảm 0,7%/năm; trong đó: Nuôi mặn, lợ giảm còn 2.840 ha, nuôi nước ngọt ổn định 617 ha; đến năm 2035 tổng diện tích nuôi giảm còn 2.742 ha, giảm 2,3%/năm (nuôi mặn, lợ 2.065 ha, nuôi nước ngọt 677 ha).
- Đến năm 2020, sản lượng nuôi toàn tỉnh khoảng 17.000 tấn (nuôi mặn lợ 16.030 tấn, nuôi nước ngọt 970 tấn); đến năm 2025, sản lượng nuôi tăng lên 18.500 tấn (nuôi mặn lợ 17.480 tấn, nuôi nước ngọt 1.020 tấn); đến năm 2035, sản lượng nuôi khoảng 20.500 tấn (nuôi mặn lợ 19.450 tấn, nuôi nước ngọt 1.050 tấn).
- Mặc dù diện tích nuôi trồng thủy sản giảm để phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nhưng nhờ đầu tư cơ sở hạ tầng, ứng dụng công nghệ mới vào nuôi trồng thủy sản, phát triển nuôi biển, đặc biệt là nuôi công nghệ cao và nuôi biển hở nên sản lượng nuôi trồng thủy sản trong giai đoạn này vẫn tăng.
4.2.1. Nuôi thủy sản nước mặn/lợ
4.2.1.1. Nuôi tôm
a) Nuôi tôm siêu thâm canh:
- Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển nuôi tôm thâm canh, đặc biệt là nuôi tôm công nghệ cao để tăng năng suất. Xây dựng vùng nuôi tôm chân trắng công nghệ cao dự kiến tại thị xã Ninh Hòa với quy mô đến năm 2020 khoảng 50 ha, năng suất nuôi bình quân đạt khoảng 50 - 100 tấn/ha/năm và đến năm 2025 mở rộng ra một số vùng có đủ điều kiện khoảng 100 ha.
- Xây dựng cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm tập trung thâm canh và bán thâm canh tại các xã, phường: Ninh Ích, Ninh Lộc, Ninh Giang, Ninh Hải và Ninh Phú, thị xã Ninh Hòa; xã Cam Thịnh Đông, thành phố Cam Ranh; xã Vạn Hưng, Vạn Thắng, Vạn Khánh, Vạn Long và Vạn Phước, huyện Vạn Ninh.
- Nâng cấp cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm quảng canh cải tiến tại phường Ninh Hà, thị xã Ninh Hòa.
b) Nuôi tôm hùm:
- Đối tượng nuôi: Phát triển nuôi 5 loài tôm hùm, trong đó 2 đối tượng chủ lực là tôm hùm bông (Panulirus ornatus), tôm hùm xanh (P. Hormarus). Các đối tượng nuôi kèm theo là tôm hùm đỏ (P. Longipes), tôm hùm tre (P. Polyphagus) và tôm hùm sỏi (P. Versicolor).
- Đến 2020, nuôi trồng thủy sản bằng lồng, bè trong vũng, vịnh và biển hở ven đảo, ven bờ ít chịu sóng lớn hay bão lũ; định hướng đến năm 2025, 2035, nuôi tôm hùm bằng lồng, bè trong các vịnh kín, biển hở ven bờ, ven đảo.
- Khu vực nuôi tại các vịnh: Vịnh Cam Ranh (Cam Bình, Cam Lập); vịnh Nha Trang (Trí Nguyên, Bích Đầm, giao giữa Đầm Bấy - Bích Đầm); vịnh Vân Phong (lạch Cổ Cò, khu Vạn Hưng - Vạn Lương, lạch Cửa Bé).
- Đến năm 2020 và ổn định đến năm 2025 số lồng nuôi 40.600 lồng (cả lồng nổi và lồng chìm) với sản lượng khoảng 1.300 tấn; đến năm 2035, số lồng nuôi giảm xuống còn 38.700 lồng với sản lượng 1.190 tấn.
4.2.1.2. Nuôi cá mặn, lợ
a) Nuôi cá trong ao/đầm:
Đến năm 2020, diện tích nuôi cá nước lợ giảm còn 230 ha (trong đó: Ninh Hòa 100 ha; Cam Lâm 80 ha; Vạn Ninh 50 ha); đến năm 2025, giảm còn 200 ha; đến năm 2035, giảm còn 150 ha (Ninh Hòa 100 ha; Vạn Ninh 50 ha).
b) Nuôi cá lồng bè:
- Tập trung đầu tư, phát triển nuôi cá lồng bè trên biển, hải đảo, nhằm phát huy lợi thế, tiềm năng ven biển, đưa nghề nuôi cá biển trở thành một ngành chủ lực tạo sản phẩm hàng hóa có khối lượng lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Quy hoạch nuôi cá biển tập trung tại các vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh, vịnh Vân Phong và huyện đảo Trường Sa.
- Số lượng lồng nuôi cá biển:
+ Đến năm 2020, số lượng lồng nuôi khoảng 6.910 lồng, trong đó có 310 lồng nuôi công nghiệp gồm: Nha Trang 950 lồng (50 lồng công nghiệp), Cam Ranh 3.000 lồng, Ninh Hòa 1.230 lồng (30 lồng nuôi công nghiệp), Vạn Ninh 1.700 lồng (200 lồng nuôi công nghiệp) và Trường Sa 30 lồng (nuôi công nghiệp).
+ Đến năm 2025, số lượng lồng nuôi khoảng 7.150 lồng, trong đó có 550 lồng nuôi công nghiệp gồm: Nha Trang 1.050 lồng (150 lồng nuôi công nghiệp), Cam Ranh 3.000 lồng, Ninh Hòa 1.250 lồng (50 lồng nuôi công nghiệp), Vạn Ninh 1.800 lồng (300 lồng nuôi công nghiệp) và Trường Sa 50 lồng (nuôi công nghiệp).
+ Đến năm 2035, số lượng lồng nuôi giảm còn khoảng 6.575 lồng, trong đó có 675 lồng nuôi công nghiệp gồm: Nha Trang 850 lồng (150 lồng nuôi công nghiệp), Cam Ranh 3.000 lồng, Ninh Hòa 1.275 lồng (75 lồng nuôi công nghiệp), Vạn Ninh 1.350 lồng (350 lồng nuôi công nghiệp) và Trường Sa 100 lồng (nuôi công nghiệp).
- Sản lượng nuôi cá: Đến năm 2020, sản lượng nuôi cá khoảng 5.880 tấn (Nha Trang 1.020 tấn, Cam Ranh 1.080 tấn, Ninh Hòa 1.700 tấn, Cam Lâm 350 tấn, Vạn Ninh 1.430 tấn, Trường Sa 300 tấn); đến năm 2025, sản lượng nuôi cá khoảng 7.200 tấn (Nha Trang 1.320 tấn, Cam Ranh 1.180 tấn, Ninh Hòa 1.900 tấn, Cam Lâm 300 tấn, Vạn Ninh 2.000 tấn, Trường Sa 500 tấn); đến năm 2035, sản lượng nuôi cá khoảng 9.580 tấn (Nha Trang 1.530 tấn, Cam Ranh 1.450 tấn, Ninh Hòa 2.600 tấn, Vạn Ninh 2.500 tấn, Trường Sa 1.500 tấn).
4.2.1.3. Nuôi nhuyễn thể
- Nuôi ốc hương: Đến năm 2020, diện tích nuôi khoảng 775 ha, sản lượng khoảng 2.500 tấn; đến năm 2025 diện tích nuôi khoảng 775 ha, sản lượng khoảng 2.600 tấn; đến năm 2035 diện tích nuôi còn khoảng 600 ha, sản lượng khoảng 2.400 tấn. Ốc hương được nuôi tập trung tại thị xã Ninh Hòa và huyện Vạn Ninh.
- Nuôi ngọc trai: Được nuôi chủ yếu ở vịnh Vân Phong với diện tích được duy trì ổn định khoảng 454 ha, sản lượng ngọc trai khoảng 0,3 tấn.
- Các đối tượng nhuyễn thể khác như: Vẹm xanh, tu hài, hàu Thái Bình Dương...; sản lượng nuôi: Đến năm 2020 đạt khoảng 170 tấn, đến năm 2025 đạt khoảng 200 tấn, đến năm 2035 đạt khoảng 250 tấn; vẹm xanh và hàu Thái Bình Dương chủ yếu được nuôi tại đầm Nha Phu, thị xã Ninh Hòa.
4.2.1.Nuôi cua
Diện tích nuôi cua được duy trì ổn định khoảng 100 ha với sản lượng nuôi khoảng 100 tấn đến năm 2020 và năm 2025; sản lượng đạt khoảng 130 tấn đến năm 2035. Cua được nuôi chủ yếu tại thị xã Ninh Hòa.
4.2.1.5. Nuôi rong biển
Đến năm 2020, diện tích nuôi trồng còn khoảng 98 ha, sản lượng khoảng 500 tấn; đến năm 2025 diện tích nuôi trồng giảm còn khoảng 80 ha, sản lượng khoảng 400 tấn và đến năm 2035 diện tích nuôi trồng giảm còn 50 ha, sản lượng khoảng 120 tấn.
4.2.2. Nuôi thủy sản nước ngọt
Đến năm 2020 và năm 2025 diện tích nuôi nước ngọt duy trì ổn định khoảng 617 ha, sản lượng đến năm 2020 đạt khoảng 970 tấn và tăng lên khoảng 1.020 tấn vào năm 2025; đến năm 2035 diện tích nuôi tăng lên 677 ha (sử dụng diện tích mặt nước của các hồ chứa nước thủy lợi) với sản lượng nuôi đạt 1.050 tấn. Nuôi cá nước ngọt chủ yếu tập trung tại các huyện/thị xã: Ninh Hòa, Cam Lâm, Diên Khánh, Khánh Sơn và Khánh Vĩnh.
4.2.3. Nuôi trồng thủy sản theo địa phương
a) Thành phố Nha Trang (vịnh Nha Trang):
- Sắp xếp, phát triển nuôi trồng thủy sản bằng lồng, bè tại vùng mặt nước đến năm 2025 và định hướng đến năm 2035 như sau:
+ Vùng mặt nước đảo Bích Đầm: Phát triển nuôi lồng truyền thống, diện tích khoảng 6 ha, mật độ lồng nuôi bố trí khoảng 25 - 30 lồng.
+ Vùng mặt nước giao giữa đảo Bích Đầm và Đầm Bấy: Quy hoạch vùng nuôi công nghiệp (lồng Na Uy), diện tích khoảng 50 ha, mật độ lồng nuôi bố trí khoảng 150 lồng (lồng nuôi công nghiệp có đường kính từ 20 - 30 m).
+ Vùng mặt nước đảo Trí Nguyên (Hòn Miễu): Phát triển nuôi lồng truyền thống, diện tích khoảng 14 ha, mật độ lồng nuôi bố trí khoảng 100 lồng.
- Đối tượng nuôi: Tôm hùm (tôm hùm bông, tôm hùm xanh, tôm hùm đỏ), cá biển (cá bớp, cá hồng, cá chim vây vàng, cá mú, cá chẽm...).
- Có chính sách hỗ trợ cho người dân di dời lồng, bè đến vùng nuôi theo quy định và chính sách khuyến khích người dân chuyển sang nuôi lồng công nghiệp.
- Xây dựng mô hình làng chài kiểu mẫu tại đảo Bích Đầm.
b) Thành phố Cam Ranh (vịnh Cam Ranh):
- Sắp xếp, phát triển nuôi trồng thủy sản bằng lồng, bè tại vùng mặt nước đến năm 2025 và định hướng đến năm 2035 như sau:
+ Vùng mặt nước tại Bình Ba: Khu vực vũng Bình Ba, phía Tây đảo Bình Ba giữ nguyên 3 vùng nuôi theo hiện trạng với diện tích 100 ha, mật độ lồng nuôi bố trí khoảng 8.000 lồng (chủ yếu nuôi bằng lồng chìm, đối tượng nuôi là tôm hùm).
+ Vùng mặt nước tại Cam Lập: Quy hoạch vùng nuôi mới phía Tây xã Cam Lập với diện tích khoảng 500 ha, mật độ lồng nuôi bố trí khoảng 25.000 lồng với mục tiêu di dời, sắp xếp lại toàn bộ lồng bè đang nuôi trong vịnh (chủ yếu nuôi bằng lồng chìm, đối tượng nuôi là tôm hùm).
+ Vùng mặt nước tại Bình Hưng: Phát triển nuôi với diện tích khoảng 30 ha, mật độ lồng nuôi bố trí khoảng 1.000 lồng (chủ yếu nuôi bằng lồng chìm và lồng nổi, đối tượng nuôi là tôm hùm và cá biển).
- Đối tượng nuôi chủ lực: Nuôi trong ao, đầm là tôm chân trắng; nuôi biển là tôm hùm, cá biển (cá bớp, cá hồng, cá chim vây vàng, cá mú, cá chẽm...).
- Thời gian cho phép nuôi trồng thủy sản đối với các vùng nuôi trên vịnh Cam Ranh được kéo dài cho đến khi Nhà nước thu hồi diện tích mặt nước cho mục đích quốc phòng và phù hợp với các quy hoạch hiện hành; các tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản phải thu dọn vệ sinh, xử lý môi trường nuôi và hoàn trả mặt nước theo hiện trạng ban đầu mà không được nhận bồi thường, hỗ trợ; trước khi triển khai nuôi trồng thủy sản phải có cam kết với chính quyền địa phương, cơ quan có thẩm quyền và tuân thủ các quy định hiện hành.
c) Thị xã Ninh Hòa:
- Diện tích nuôi: Đến năm 2020 và năm 2025 ổn định diện tích nuôi trồng thủy sản khoảng 2.300 ha (nuôi cá 100 ha, tôm sú 290 ha, tôm chân trắng 1.000 ha, ốc hương 350 ha, trồng rong 50 ha, nuôi cua 100 ha và nuôi nước ngọt 410 ha), quy mô nuôi khoảng 1.230 lồng nuôi cá (có 50 lồng nuôi công nghiệp) và 200 lồng nuôi tôm hùm; đến năm 2035, diện tích nuôi còn khoảng 1.710 ha (nuôi cá 100 ha, tôm sú 150 ha, tôm chân trắng 700 ha, ốc hương 200 ha, trồng rong 50 ha, nuôi cua 100 ha và nuôi nước ngọt 410 ha), quy mô nuôi khoảng 1.275 lồng, nuôi cá (có 75 lồng nuôi công nghiệp) và 200 lồng nuôi tôm hùm.
- Sản lượng: Đến năm 2020 đạt khoảng 6.800 tấn (cá mặn lợ 1.700 tấn, tôm hùm 20 tấn, tôm chân trắng 2.500 tấn, tôm sú 280 tấn, ốc hương 1.600 tấn, cua 100 tấn, rong biển 100 tấn, nhuyễn thể khác 100 tấn và cá nước ngọt 500 tấn); đến năm 2025, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 7.400 tấn (cá mặn lợ 1.900 tấn, tôm hùm 20 tấn, tôm chân trắng 2.800 tấn, tôm sú 280 tấn, ốc hương 1.600 tấn, cua 120 tấn, rong biển 100 tấn, nhuyễn thể khác 100 tấn và cá nước ngọt 500 tấn); đến năm 2035, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 8.200 tấn (cá mặn lợ 2.600 tấn, tôm hùm 20 tấn, tôm chân trắng 3.200 tấn, tôm sú 280 tấn, ốc hương 1.200 tấn, cua 130 tấn, rong biển 120 tấn, nhuyễn thể khác 150 tấn và cá nước ngọt 500 tấn).
- Đối tượng nuôi chủ lực: Nuôi trong ao đầm là tôm chân trắng, tôm sú, cua; nuôi biển: Cá biển (cá giò, cá hồng, cá chim vây vàng, cá mú, cá chẽm...), hàu Thái Bình Dương.
- Xây dựng một số vùng nuôi trồng thủy sản tập trung cho các đối tượng nuôi chủ lực như:
+ Vùng nuôi ốc hương: Tập trung ở xã Ninh Phú, thị xã Ninh Hòa.
+ Xây dựng vùng nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao tại xã Ninh Lộc, xã Ninh Phú với diện tích khoảng 50 ha để tăng năng suất, quản lý môi trường, dịch bệnh và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
+ Xây dựng cơ sở hạ tầng vùng nuôi trồng thủy sản tập trung của các xã, phường: Ninh Ích, Ninh Lộc, Ninh Giang, Ninh Hà và Ninh Phú.
- Vùng nước đầm Nha Phu: Quy hoạch 03 vùng nuôi lồng bè với các đối tượng nuôi chính như cá chim, cá bớp, tôm hùm, hàu Thái Bình Dương..., cụ thể như sau:
+ Vùng nuôi tại vị trí 1: Nuôi lồng truyền thống, chia thành 02 khu phía Tây Nam của các đảo Hòn Lăng, Hòn Giữa và Hòn Thị để giảm mật độ nuôi với diện tích 40 ha.
+ Vùng nuôi tại vị trí 2: Nuôi lồng truyền thống, phía Tây Nam đảo Hòn Thị với diện tích 20 ha.
+ Vùng nuôi tại vị trí 3: Nuôi lồng công nghiệp, phía Tây khu vực Bãi Giông, xã Ninh Vân với diện tích 26 ha.
d) Huyện Cam Lâm:
- Đến năm 2020 diện tích nuôi trồng thủy sản còn khoảng 370 ha, sản lượng khoảng 1.350 tấn; đến năm 2025 diện tích nuôi trồng thủy sản còn khoảng 251,8 ha sản lượng khoảng 1.000 tấn.
- Nuôi tôm tại phía Đông xã Cam Hòa, Cam Đức, Cam Thành Bắc; đến năm 2020 diện tích nuôi còn khoảng 150 ha; đến năm 2025 diện tích nuôi còn khoảng 80 ha và sau năm 2025 không còn phát triển nuôi tôm.
- Trồng rong, nuôi hàu rải rác tại khu vực đầm Thủy Triều; đến năm 2020 diện tích còn khoảng 48,2 ha; đến năm 2025 diện tích còn khoảng 30 ha và sau năm 2025 định hướng không phát triển trồng rong, nuôi hàu.
- Nuôi cá biển tại các xã Cam Hòa, Cam Đức, Cam Thành Bắc: Đến năm 2020 diện tích nuôi còn khoảng 80 ha; đến năm 2025 diện tích nuôi còn khoảng 50 ha và sau năm 2025 không còn phát triển nuôi cá.
- Nuôi nước ngọt ổn định với diện tích nuôi 91,8 ha.

Content:
Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản:
- Chú trọng công tác tái tạo nguồn lợi thủy sản, xây dựng triển khai thực hiện một số chương trình thả giống ra các vùng nước tự nhiên đối với một số đối tượng thủy sản có nguy cơ cạn kiệt tại các vịnh Nha Trang, Vân Phong, Cam Ranh, đầm Nha Phu, đầm Thủy Triều.
- Xây dựng Khu bảo tồn biển đảo Nam Yết, đảo Bình Ba, Khu bảo vệ hệ sinh thái biển Rạn Trào, Khu bảo vệ biển đầm Nha Phú, đầm Thủy Triều. Khôi phục và bảo vệ môi trường sống các loài thủy sản tại vùng nước nội địa trên địa bàn tỉnh.
- Chuyển giao, nhân rộng các mô hình đồng quản lý nghề cá ven bờ dựa vào cộng đồng.
e) Dịch vụ hậu cần nghề cá:
- Hình thành cơ sở hậu cần nghề cá đồng bộ, thu hút tàu đánh bắt xa bờ có công suất lớn của địa phương và khu vực lân cận; là đầu mối tập trung và phân phối hàng thủy sản tại khu vực; đồng thời cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá, hỗ trợ dịch vụ cứu hộ, cứu nạn.
- Đầu tư hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh bão theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2015 và theo quy hoạch của tỉnh.
- Đầu tư các bến cá tại địa phương như: Bích Đầm, Bình Tây, Tân Thành, Thủy Đầm, Xuân Tự 2, Cam Lâm, Quảng Hội. Nâng cấp bến cá Quảng Hội thành cảng cá loại 2 kết hợp khu neo đậu tránh trú bão.
- Tiếp tục kêu gọi đầu tư vào Trung tâm nghề cá lớn Khánh Hòa để sớm hình thành và đi vào hoạt động.
- Đầu tư xây dựng mới nhà máy đóng, sửa chữa tàu cá bằng các vật liệu composite và thép; từng bước thay thế các tàu cá vỏ gỗ; đầu tư, nâng cấp nhà máy đóng tàu vật liệu composite tại phường Ninh Hải, thị xã Ninh Hòa; xây dựng thêm khu đóng sửa tàu thuyền tại thành phố Nha Trang.
4.2. Nuôi trồng thủy sản
- Đến năm 2020 tổng diện tích nuôi trồng thủy sản giảm còn khoảng 3.575 ha, giảm 7,3%/năm; trong đó: Nuôi mặn, lợ giảm còn 2.958 ha (do chuyển sang mục đích khác và không tính diện tích mặt nước nuôi ngọc trai vào diện tích nuôi trồng thủy sản), nuôi nước ngọt ổn định 617 ha; đến năm 2025 tổng diện tích nuôi trồng thủy sản giảm còn khoảng 3.457 ha, giảm 0,7%/năm; trong đó: Nuôi mặn, lợ giảm còn 2.840 ha, nuôi nước ngọt ổn định 617 ha; đến năm 2035 tổng diện tích nuôi giảm còn 2.742 ha, giảm 2,3%/năm (nuôi mặn, lợ 2.065 ha, nuôi nước ngọt 677 ha).
- Đến năm 2020, sản lượng nuôi toàn tỉnh khoảng 17.000 tấn (nuôi mặn lợ 16.030 tấn, nuôi nước ngọt 970 tấn); đến năm 2025, sản lượng nuôi tăng lên 18.500 tấn (nuôi mặn lợ 17.480 tấn, nuôi nước ngọt 1.020 tấn); đến năm 2035, sản lượng nuôi khoảng 20.500 tấn (nuôi mặn lợ 19.450 tấn, nuôi nước ngọt 1.050 tấn).
- Mặc dù diện tích nuôi trồng thủy sản giảm để phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nhưng nhờ đầu tư cơ sở hạ tầng, ứng dụng công nghệ mới vào nuôi trồng thủy sản, phát triển nuôi biển, đặc biệt là nuôi công nghệ cao và nuôi biển hở nên sản lượng nuôi trồng thủy sản trong giai đoạn này vẫn tăng.
4.2.1. Nuôi thủy sản nước mặn/lợ
4.2.1.1. Nuôi tôm
a) Nuôi tôm siêu thâm canh:
- Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển nuôi tôm thâm canh, đặc biệt là nuôi tôm công nghệ cao để tăng năng suất. Xây dựng vùng nuôi tôm chân trắng công nghệ cao dự kiến tại thị xã Ninh Hòa với quy mô đến năm 2020 khoảng 50 ha, năng suất nuôi bình quân đạt khoảng 50 - 100 tấn/ha/năm và đến năm 2025 mở rộng ra một số vùng có đủ điều kiện khoảng 100 ha.
- Xây dựng cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm tập trung thâm canh và bán thâm canh tại các xã, phường: Ninh Ích, Ninh Lộc, Ninh Giang, Ninh Hải và Ninh Phú, thị xã Ninh Hòa; xã Cam Thịnh Đông, thành phố Cam Ranh; xã Vạn Hưng, Vạn Thắng, Vạn Khánh, Vạn Long và Vạn Phước, huyện Vạn Ninh.
- Nâng cấp cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm quảng canh cải tiến tại phường Ninh Hà, thị xã Ninh Hòa.
b) Nuôi tôm hùm:
- Đối tượng nuôi: Phát triển nuôi 5 loài tôm hùm, trong đó 2 đối tượng chủ lực là tôm hùm bông (Panulirus ornatus), tôm hùm xanh (P. Hormarus). Các đối tượng nuôi kèm theo là tôm hùm đỏ (P. Longipes), tôm hùm tre (P. Polyphagus) và tôm hùm sỏi (P. Versicolor).
- Đến 2020, nuôi trồng thủy sản bằng lồng, bè trong vũng, vịnh và biển hở ven đảo, ven bờ ít chịu sóng lớn hay bão lũ; định hướng đến năm 2025, 2035, nuôi tôm hùm bằng lồng, bè trong các vịnh kín, biển hở ven bờ, ven đảo.
- Khu vực nuôi tại các vịnh: Vịnh Cam Ranh (Cam Bình, Cam Lập); vịnh Nha Trang (Trí Nguyên, Bích Đầm, giao giữa Đầm Bấy - Bích Đầm); vịnh Vân Phong (lạch Cổ Cò, khu Vạn Hưng - Vạn Lương, lạch Cửa Bé).
- Đến năm 2020 và ổn định đến năm 2025 số lồng nuôi 40.600 lồng (cả lồng nổi và lồng chìm) với sản lượng khoảng 1.300 tấn; đến năm 2035, số lồng nuôi giảm xuống còn 38.700 lồng với sản lượng 1.190 tấn.
4.2.1.2. Nuôi cá mặn, lợ
a) Nuôi cá trong ao/đầm:
Đến năm 2020, diện tích nuôi cá nước lợ giảm còn 230 ha (trong đó: Ninh Hòa 100 ha; Cam Lâm 80 ha; Vạn Ninh 50 ha); đến năm 2025, giảm còn 200 ha; đến năm 2035, giảm còn 150 ha (Ninh Hòa 100 ha; Vạn Ninh 50 ha).
b) Nuôi cá lồng bè:
- Tập trung đầu tư, phát triển nuôi cá lồng bè trên biển, hải đảo, nhằm phát huy lợi thế, tiềm năng ven biển, đưa nghề nuôi cá biển trở thành một ngành chủ lực tạo sản phẩm hàng hóa có khối lượng lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Quy hoạch nuôi cá biển tập trung tại các vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh, vịnh Vân Phong và huyện đảo Trường Sa.
- Số lượng lồng nuôi cá biển:
+ Đến năm 2020, số lượng lồng nuôi khoảng 6.910 lồng, trong đó có 310 lồng nuôi công nghiệp gồm: Nha Trang 950 lồng (50 lồng công nghiệp), Cam Ranh 3.000 lồng, Ninh Hòa 1.230 lồng (30 lồng nuôi công nghiệp), Vạn Ninh 1.700 lồng (200 lồng nuôi công nghiệp) và Trường Sa 30 lồng (nuôi công nghiệp).
+ Đến năm 2025, số lượng lồng nuôi khoảng 7.150 lồng, trong đó có 550 lồng nuôi công nghiệp gồm: Nha Trang 1.050 lồng (150 lồng nuôi công nghiệp), Cam Ranh 3.000 lồng, Ninh Hòa 1.250 lồng (50 lồng nuôi công nghiệp), Vạn Ninh 1.800 lồng (300 lồng nuôi công nghiệp) và Trường Sa 50 lồng (nuôi công nghiệp).
+ Đến năm 2035, số lượng lồng nuôi giảm còn khoảng 6.575 lồng, trong đó có 675 lồng nuôi công nghiệp gồm: Nha Trang 850 lồng (150 lồng nuôi công nghiệp), Cam Ranh 3.000 lồng, Ninh Hòa 1.275 lồng (75 lồng nuôi công nghiệp), Vạn Ninh 1.350 lồng (350 lồng nuôi công nghiệp) và Trường Sa 100 lồng (nuôi công nghiệp).
- Sản lượng nuôi cá: Đến năm 2020, sản lượng nuôi cá khoảng 5.880 tấn (Nha Trang 1.020 tấn, Cam Ranh 1.080 tấn, Ninh Hòa 1.700 tấn, Cam Lâm 350 tấn, Vạn Ninh 1.430 tấn, Trường Sa 300 tấn); đến năm 2025, sản lượng nuôi cá khoảng 7.200 tấn (Nha Trang 1.320 tấn, Cam Ranh 1.180 tấn, Ninh Hòa 1.900 tấn, Cam Lâm 300 tấn, Vạn Ninh 2.000 tấn, Trường Sa 500 tấn); đến năm 2035, sản lượng nuôi cá khoảng 9.580 tấn (Nha Trang 1.530 tấn, Cam Ranh 1.450 tấn, Ninh Hòa 2.600 tấn, Vạn Ninh 2.500 tấn, Trường Sa 1.500 tấn).
4.2.1.3. Nuôi nhuyễn thể
- Nuôi ốc hương: Đến năm 2020, diện tích nuôi khoảng 775 ha, sản lượng khoảng 2.500 tấn; đến năm 2025 diện tích nuôi khoảng 775 ha, sản lượng khoảng 2.600 tấn; đến năm 2035 diện tích nuôi còn khoảng 600 ha, sản lượng khoảng 2.400 tấn. Ốc hương được nuôi tập trung tại thị xã Ninh Hòa và huyện Vạn Ninh.
- Nuôi ngọc trai: Được nuôi chủ yếu ở vịnh Vân Phong với diện tích được duy trì ổn định khoảng 454 ha, sản lượng ngọc trai khoảng 0,3 tấn.
- Các đối tượng nhuyễn thể khác như: Vẹm xanh, tu hài, hàu Thái Bình Dương...; sản lượng nuôi: Đến năm 2020 đạt khoảng 170 tấn, đến năm 2025 đạt khoảng 200 tấn, đến năm 2035 đạt khoảng 250 tấn; vẹm xanh và hàu Thái Bình Dương chủ yếu được nuôi tại đầm Nha Phu, thị xã Ninh Hòa.
4.2.1.Nuôi cua
Diện tích nuôi cua được duy trì ổn định khoảng 100 ha với sản lượng nuôi khoảng 100 tấn đến năm 2020 và năm 2025; sản lượng đạt khoảng 130 tấn đến năm 2035. Cua được nuôi chủ yếu tại thị xã Ninh Hòa.
4.2.1.5. Nuôi rong biển
Đến năm 2020, diện tích nuôi trồng còn khoảng 98 ha, sản lượng khoảng 500 tấn; đến năm 2025 diện tích nuôi trồng giảm còn khoảng 80 ha, sản lượng khoảng 400 tấn và đến năm 2035 diện tích nuôi trồng giảm còn 50 ha, sản lượng khoảng 120 tấn.
4.2.2. Nuôi thủy sản nước ngọt
Đến năm 2020 và năm 2025 diện tích nuôi nước ngọt duy trì ổn định khoảng 617 ha, sản lượng đến năm 2020 đạt khoảng 970 tấn và tăng lên khoảng 1.020 tấn vào năm 2025; đến năm 2035 diện tích nuôi tăng lên 677 ha (sử dụng diện tích mặt nước của các hồ chứa nước thủy lợi) với sản lượng nuôi đạt 1.050 tấn. Nuôi cá nước ngọt chủ yếu tập trung tại các huyện/thị xã: Ninh Hòa, Cam Lâm, Diên Khánh, Khánh Sơn và Khánh Vĩnh.
4.2.3. Nuôi trồng thủy sản theo địa phương
a) Thành phố Nha Trang (vịnh Nha Trang):
- Sắp xếp, phát triển nuôi trồng thủy sản bằng lồng, bè tại vùng mặt nước đến năm 2025 và định hướng đến năm 2035 như sau:
+ Vùng mặt nước đảo Bích Đầm: Phát triển nuôi lồng truyền thống, diện tích khoảng 6 ha, mật độ lồng nuôi bố trí khoảng 25 - 30 lồng.
+ Vùng mặt nước giao giữa đảo Bích Đầm và Đầm Bấy: Quy hoạch vùng nuôi công nghiệp (lồng Na Uy), diện tích khoảng 50 ha, mật độ lồng nuôi bố trí khoảng 150 lồng (lồng nuôi công nghiệp có đường kính từ 20 - 30 m).
+ Vùng mặt nước đảo Trí Nguyên (Hòn Miễu): Phát triển nuôi lồng truyền thống, diện tích khoảng 14 ha, mật độ lồng nuôi bố trí khoảng 100 lồng.
- Đối tượng nuôi: Tôm hùm (tôm hùm bông, tôm hùm xanh, tôm hùm đỏ), cá biển (cá bớp, cá hồng, cá chim vây vàng, cá mú, cá chẽm...).
- Có chính sách hỗ trợ cho người dân di dời lồng, bè đến vùng nuôi theo quy định và chính sách khuyến khích người dân chuyển sang nuôi lồng công nghiệp.
- Xây dựng mô hình làng chài kiểu mẫu tại đảo Bích Đầm.
b) Thành phố Cam Ranh (vịnh Cam Ranh):
- Sắp xếp, phát triển nuôi trồng thủy sản bằng lồng, bè tại vùng mặt nước đến năm 2025 và định hướng đến năm 2035 như sau:
+ Vùng mặt nước tại Bình Ba: Khu vực vũng Bình Ba, phía Tây đảo Bình Ba giữ nguyên 3 vùng nuôi theo hiện trạng với diện tích 100 ha, mật độ lồng nuôi bố trí khoảng 8.000 lồng (chủ yếu nuôi bằng lồng chìm, đối tượng nuôi là tôm hùm).
+ Vùng mặt nước tại Cam Lập: Quy hoạch vùng nuôi mới phía Tây xã Cam Lập với diện tích khoảng 500 ha, mật độ lồng nuôi bố trí khoảng 25.000 lồng với mục tiêu di dời, sắp xếp lại toàn bộ lồng bè đang nuôi trong vịnh (chủ yếu nuôi bằng lồng chìm, đối tượng nuôi là tôm hùm).
+ Vùng mặt nước tại Bình Hưng: Phát triển nuôi với diện tích khoảng 30 ha, mật độ lồng nuôi bố trí khoảng 1.000 lồng (chủ yếu nuôi bằng lồng chìm và lồng nổi, đối tượng nuôi là tôm hùm và cá biển).
- Đối tượng nuôi chủ lực: Nuôi trong ao, đầm là tôm chân trắng; nuôi biển là tôm hùm, cá biển (cá bớp, cá hồng, cá chim vây vàng, cá mú, cá chẽm...).
- Thời gian cho phép nuôi trồng thủy sản đối với các vùng nuôi trên vịnh Cam Ranh được kéo dài cho đến khi Nhà nước thu hồi diện tích mặt nước cho mục đích quốc phòng và phù hợp với các quy hoạch hiện hành; các tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản phải thu dọn vệ sinh, xử lý môi trường nuôi và hoàn trả mặt nước theo hiện trạng ban đầu mà không được nhận bồi thường, hỗ trợ; trước khi triển khai nuôi trồng thủy sản phải có cam kết với chính quyền địa phương, cơ quan có thẩm quyền và tuân thủ các quy định hiện hành.
c) Thị xã Ninh Hòa:
- Diện tích nuôi: Đến năm 2020 và năm 2025 ổn định diện tích nuôi trồng thủy sản khoảng 2.300 ha (nuôi cá 100 ha, tôm sú 290 ha, tôm chân trắng 1.000 ha, ốc hương 350 ha, trồng rong 50 ha, nuôi cua 100 ha và nuôi nước ngọt 410 ha), quy mô nuôi khoảng 1.230 lồng nuôi cá (có 50 lồng nuôi công nghiệp) và 200 lồng nuôi tôm hùm; đến năm 2035, diện tích nuôi còn khoảng 1.710 ha (nuôi cá 100 ha, tôm sú 150 ha, tôm chân trắng 700 ha, ốc hương 200 ha, trồng rong 50 ha, nuôi cua 100 ha và nuôi nước ngọt 410 ha), quy mô nuôi khoảng 1.275 lồng, nuôi cá (có 75 lồng nuôi công nghiệp) và 200 lồng nuôi tôm hùm.
- Sản lượng: Đến năm 2020 đạt khoảng 6.800 tấn (cá mặn lợ 1.700 tấn, tôm hùm 20 tấn, tôm chân trắng 2.500 tấn, tôm sú 280 tấn, ốc hương 1.600 tấn, cua 100 tấn, rong biển 100 tấn, nhuyễn thể khác 100 tấn và cá nước ngọt 500 tấn); đến năm 2025, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 7.400 tấn (cá mặn lợ 1.900 tấn, tôm hùm 20 tấn, tôm chân trắng 2.800 tấn, tôm sú 280 tấn, ốc hương 1.600 tấn, cua 120 tấn, rong biển 100 tấn, nhuyễn thể khác 100 tấn và cá nước ngọt 500 tấn); đến năm 2035, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 8.200 tấn (cá mặn lợ 2.600 tấn, tôm hùm 20 tấn, tôm chân trắng 3.200 tấn, tôm sú 280 tấn, ốc hương 1.200 tấn, cua 130 tấn, rong biển 120 tấn, nhuyễn thể khác 150 tấn và cá nước ngọt 500 tấn).
- Đối tượng nuôi chủ lực: Nuôi trong ao đầm là tôm chân trắng, tôm sú, cua; nuôi biển: Cá biển (cá giò, cá hồng, cá chim vây vàng, cá mú, cá chẽm...), hàu Thái Bình Dương.
- Xây dựng một số vùng nuôi trồng thủy sản tập trung cho các đối tượng nuôi chủ lực như:
+ Vùng nuôi ốc hương: Tập trung ở xã Ninh Phú, thị xã Ninh Hòa.
+ Xây dựng vùng nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao tại xã Ninh Lộc, xã Ninh Phú với diện tích khoảng 50 ha để tăng năng suất, quản lý môi trường, dịch bệnh và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
+ Xây dựng cơ sở hạ tầng vùng nuôi trồng thủy sản tập trung của các xã, phường: Ninh Ích, Ninh Lộc, Ninh Giang, Ninh Hà và Ninh Phú.
- Vùng nước đầm Nha Phu: Quy hoạch 03 vùng nuôi lồng bè với các đối tượng nuôi chính như cá chim, cá bớp, tôm hùm, hàu Thái Bình Dương..., cụ thể như sau:
+ Vùng nuôi tại vị trí 1: Nuôi lồng truyền thống, chia thành 02 khu phía Tây Nam của các đảo Hòn Lăng, Hòn Giữa và Hòn Thị để giảm mật độ nuôi với diện tích 40 ha.
+ Vùng nuôi tại vị trí 2: Nuôi lồng truyền thống, phía Tây Nam đảo Hòn Thị với diện tích 20 ha.
+ Vùng nuôi tại vị trí 3: Nuôi lồng công nghiệp, phía Tây khu vực Bãi Giông, xã Ninh Vân với diện tích 26 ha.
Huyện Cam Lâm:
- Đến năm 2020 diện tích nuôi trồng thủy sản còn khoảng 370 ha, sản lượng khoảng 1.350 tấn; đến năm 2025 diện tích nuôi trồng thủy sản còn khoảng 251,8 ha sản lượng khoảng 1.000 tấn.
- Nuôi tôm tại phía Đông xã Cam Hòa, Cam Đức, Cam Thành Bắc; đến năm 2020 diện tích nuôi còn khoảng 150 ha; đến năm 2025 diện tích nuôi còn khoảng 80 ha và sau năm 2025 không còn phát triển nuôi tôm.
- Trồng rong, nuôi hàu rải rác tại khu vực đầm Thủy Triều; đến năm 2020 diện tích còn khoảng 48,2 ha; đến năm 2025 diện tích còn khoảng 30 ha và sau năm 2025 định hướng không phát triển trồng rong, nuôi hàu.
- Nuôi cá biển tại các xã Cam Hòa, Cam Đức, Cam Thành Bắc: Đến năm 2020 diện tích nuôi còn khoảng 80 ha; đến năm 2025 diện tích nuôi còn khoảng 50 ha và sau năm 2025 không còn phát triển nuôi cá.
- Nuôi nước ngọt ổn định với diện tích nuôi 91,8 ha.