Document: Điểm c Khoản 2 Điều 1 Quyết định 78/2008/QĐ-BNN phê duyệt Chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "01/07/2008", "sign_number": "78/2008/QĐ-BNN", "signer": "Hứa Đức Nhị", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "01/07/2008", "sign_number": "78/2008/QĐ-BNN", "signer": "Hứa Đức Nhị", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "01/07/2008", "sign_number": "78/2008/QĐ-BNN", "signer": "Hứa Đức Nhị", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "01/07/2008", "sign_number": "78/2008/QĐ-BNN", "signer": "Hứa Đức Nhị", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "01/07/2008", "sign_number": "78/2008/QĐ-BNN", "signer": "Hứa Đức Nhị", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 2 Điều 1 Quyết định 78/2008/QĐ-BNN phê duyệt Chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020

Điều 1. Phê duyệt Chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu sau đây:
...
2. Tổ chức nghiên cứu lâm nghiệp
...
c) Cơ chế quản lý nghiên cứu:
- Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ đã có nhiều đổi mới, nhất là sau khi Luật Khoa học và Công nghệ ra đời; việc xác định kế hoạch nghiên cứu đã được chuyển từ hình thức giao nhiệm vụ sang tuyển chọn và đấu thầu công khai, tạo sự cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa các thành phần tham gia nghiên cứu và góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu. Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ 2010 và Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ đã đề cập và qui định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học công nghệ công lập.
- Về thực hiện các chương trình, đề tài nghiên cứu: Trước 1980, các đề tài được tập hợp thành các chương trình của ngành; từ năm 1981, các chương trình tiến bộ kỹ thuật có mục tiêu được xây dựng theo 2 cấp: Nhà nước và ngành. Ngoài các Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước và cấp ngành còn các đề tài độc lập và các nhiệm vụ nghiên cứu thường xuyên. Thiếu các chương trình nghiên cứu dài hạn phù hợp với đặc thù của ngành lâm nghiệp là cây dài ngày gây khó khăn không nhỏ cho quá trình xây dựng kế hoạch nghiên cứu hàng năm.
- Công tác quản lý nghiên cứu có sự phân công ngày càng rõ hơn giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và các Bộ chuyên ngành cũng như việc phân cấp giữa các nhiệm vụ cấp Nhà nước, cấp ngành và cấp cơ sở.
- Cơ chế quản lý tài chính trong nghiên cứu chậm được đổi mới, chưa khuyến khích hoạt động khoa học công nghệ và thu hút tài năng; đặc điểm này càng rõ trong nghiên cứu lâm nghiệp, vì đây là lĩnh vực đặc thù với nhiều khó khăn về địa bàn, thời gian dài và rủi ro lớn.
- Cơ chế kiểm tra, đánh giá, nghiệm thu... tuy có nhiều cải tiến nhưng vẫn nặng về thủ tục và hình thức.
- Thiếu cơ chế quản lý kết quả nghiên cứu để bảo đảm các kết quả nghiên cứu được sử dụng hiệu quả, thiếu sự phối hợp với mạng lưới khuyến lâm để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Thiếu hệ thống quản lý thông tin để phục vụ các đối tượng khác nhau như nhà quản lý, hoạch định chính sách, các cơ quan nghiên cứu, đào tạo và các cơ sở sản xuất kinh doanh.

Content:
Cơ chế quản lý nghiên cứu:
- Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ đã có nhiều đổi mới, nhất là sau khi Luật Khoa học và Công nghệ ra đời; việc xác định kế hoạch nghiên cứu đã được chuyển từ hình thức giao nhiệm vụ sang tuyển chọn và đấu thầu công khai, tạo sự cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa các thành phần tham gia nghiên cứu và góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu. Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ 2010 và Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ đã đề cập và qui định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học công nghệ công lập.
- Về thực hiện các chương trình, đề tài nghiên cứu: Trước 1980, các đề tài được tập hợp thành các chương trình của ngành; từ năm 1981, các chương trình tiến bộ kỹ thuật có mục tiêu được xây dựng theo 2 cấp: Nhà nước và ngành. Ngoài các Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước và cấp ngành còn các đề tài độc lập và các nhiệm vụ nghiên cứu thường xuyên. Thiếu các chương trình nghiên cứu dài hạn phù hợp với đặc thù của ngành lâm nghiệp là cây dài ngày gây khó khăn không nhỏ cho quá trình xây dựng kế hoạch nghiên cứu hàng năm.
- Công tác quản lý nghiên cứu có sự phân công ngày càng rõ hơn giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và các Bộ chuyên ngành cũng như việc phân cấp giữa các nhiệm vụ cấp Nhà nước, cấp ngành và cấp cơ sở.
- Cơ chế quản lý tài chính trong nghiên cứu chậm được đổi mới, chưa khuyến khích hoạt động khoa học công nghệ và thu hút tài năng; đặc điểm này càng rõ trong nghiên cứu lâm nghiệp, vì đây là lĩnh vực đặc thù với nhiều khó khăn về địa bàn, thời gian dài và rủi ro lớn.
- Cơ chế kiểm tra, đánh giá, nghiệm thu... tuy có nhiều cải tiến nhưng vẫn nặng về thủ tục và hình thức.
- Thiếu cơ chế quản lý kết quả nghiên cứu để bảo đảm các kết quả nghiên cứu được sử dụng hiệu quả, thiếu sự phối hợp với mạng lưới khuyến lâm để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Thiếu hệ thống quản lý thông tin để phục vụ các đối tượng khác nhau như nhà quản lý, hoạch định chính sách, các cơ quan nghiên cứu, đào tạo và các cơ sở sản xuất kinh doanh.