Document: Khoản 18 Điều 1 Quyết định 631/QĐ-UBND 2012 quy hoạch Phát triển vật liệu xây dựng Ninh Bình 2020 2030

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Bình", "promulgation_date": "21/08/2012", "sign_number": "631/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Văn Điến", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Bình", "promulgation_date": "21/08/2012", "sign_number": "631/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Văn Điến", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Bình", "promulgation_date": "21/08/2012", "sign_number": "631/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Văn Điến", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Bình", "promulgation_date": "21/08/2012", "sign_number": "631/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Văn Điến", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Bình", "promulgation_date": "21/08/2012", "sign_number": "631/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Văn Điến", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 18 Điều 1 Quyết định 631/QĐ-UBND 2012 quy hoạch Phát triển vật liệu xây dựng Ninh Bình 2020 2030

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch Phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Ninh Bình đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, gồm những nội dung sau:
...
18. Đá mỹ nghệ: Duy trì và phát triển sản xuất đá mỹ nghệ tại xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư và các địa phương khác (như: thị xã Tam Điệp, huyện Nho Quan v.v...). Sử dụng nguồn nguyên liệu từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và một phần tận thu từ các mỏ đá (≤ 5%) đá khối tại các mỏ đá khu vực Núi Mả Vối xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư và núi Thung Chuông xã Đức Long huyện Nho Quan.
III. Định hướng phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2030
1. Về xi măng:
Thống nhất thực hiện theo Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1488/QĐ-TTg ngày 29/8/2011, trong đó duy trì sản lượng 13,06 triệu tấn/năm như năm 2020.
2. Về vật liệu xây, đá xây dựng, các loại VLXD khác:
2.1. Gạch đất sét nung:
Đến năm 2030, hầu hết các dự án sản xuất sản phẩm gạch đất sét nung không còn nguyên liệu để sản xuất. Các nhà máy sản xuất gạch nung chuyển đổi sang sản xuất vật liệu xây không nung và các sản phẩm vật liệu xây dựng khác.
2.2. Vật liệu xây không nung:
Đến năm 2030, vật liệu xây sử dụng chủ yếu là vật liệu xây không nung. Sản lượng đạt như năm 2020. Sản phẩm chủ yếu là gạch xi măng cốt liệu, gạch từ bê tông bọt, bê tông khí chưng áp AAC với dây chuyền công nghệ, thiết bị sản xuất tiên tiến.
2.3. Đá xây dựng:
Đến năm 2030 có 13 mỏ hết trữ lượng, còn lại 40 mỏ, trong đó có nhiều mỏ trữ lượng lớn nâng cao công suất để thay thế 13 mỏ đã hết trữ lượng, đảm bảo duy trì sản lượng như 2020, đồng thời tính toán, huy động bổ sung thêm 14 mỏ mới đã có trong quy hoạch, đang hoàn thiện thủ tục (không bổ sung thêm quy hoạch). Nghiêm cấm việc khai thác các núi đá độc lập như những non bộ trên địa bàn toàn tỉnh để giữ gìn cảnh quan tự nhiên, môi trường sinh thái.
Yêu cầu: Sử dụng trang thiết bị khai thác hiện đại, hiệu quả, ít gây ô nhiễm môi trường; các mỏ đã đưa vào quy hoạch đến 2020 và định hướng đến năm 2030 nếu không còn trữ lượng theo kết quả thăm dò lộ thiên cần tính toán thăm dò, khai thác theo chiều sâu để tận thu khoáng sản hạn chế tối đa mở rộng khai thác lộ thiên để tham gia bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái, phát triển bền vững, hạn chế ảnh hưởng đến phát triển du lịch.
2.4. Đất đá hỗn hợp san nền:
Duy trì các mỏ đã đưa vào quy hoạch đến năm 2020 đồng thời đưa vào khai thác các mỏ đã được cấp phép thăm dò, cấp phép khai thác hiện nay chưa thực hiện.
2.5. Các sản phẩm vật liệu xây dựng khác:
Duy trì và phát triển như năm 2020. Đồng thời căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh các thời kỳ để xem xét điều chỉnh phù hợp với sự tăng trưởng theo định hướng tập trung vào mở rộng sản xuất, đầu tư chiều sâu áp dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng hiệu quả.
Đối với vật liệu lợp: Nâng cấp 02 cơ sở tấm lợp kim loại sang sản xuất tấm lợp kim loại 03 lớp.
IV. Bảo vệ môi trường trong sản xuất vật liệu xây dựng
Yêu cầu các doanh nghiệp đầu tư khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng phải từng bước xóa bỏ toàn bộ công nghệ, thiết bị sản xuất lạc hậu, tiêu tốn nhiên liệu và gây ô nhiễm môi trường. Các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng mới đầu tư phải lựa chọn công nghệ tiên tiến và hướng bố trí vào các khu, cụm công nghiệp để có phương án xử lý môi trường tập trung, đồng bộ.
- Sản xuất xi măng: Xóa bỏ công nghệ xi măng lò đứng vào năm 2015, các cơ sở đầu tư mới trên địa bàn tỉnh công nghệ xi măng lò quay phải chấp hành nghiêm túc báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Sản xuất gạch nung: Hiện trên địa bàn tỉnh chỉ còn 02 loại công nghệ là lò Tuynel và lò đứng nung gạch liên tục hiệu suất cao VSBK. Việc sản xuất phải đảm bảo tiêu chuẩn về chất lượng không khí xung quanh (TCVN 5937:2005); tiêu chuẩn về nồng độ tối đa cho phép của một số chất độc hại trong không khí xung quanh (TCVN 5939:2005); Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với bụi và chất vô cơ (TCVN 5939:2005) và các tiêu chuẩn khác có liên quan.
- Khai thác chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường: Các đơn vị khai thác phải thực hiện nghiêm túc các quy định trong luật khoáng sản, luật bảo vệ môi trường, các nghị định của Chính phủ, các văn bản pháp quy về đầu tư phát triển sản xuất, các quy trình quy phạm tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành trong sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng. Ngoài ra, các đơn vị khai thác còn phải thực hiện các biện pháp bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, đảm bảo an toàn các công trình xây dựng cơ bản, giao thông, thủy lợi, đê điều, công trình xây dựng dân dụng công nghiệp, tham gia bảo vệ cảnh quan, phát triển kinh tế xã hội bền vững.
- Sản xuất các loại vật liệu mới: Đầu tư các cơ sở có quy mô vừa và lớn, công nghệ tiên tiến, thân thiện và không gây ô nhiễm môi trường, như: Sản xuất gạch lát Terazzo, gạch lát cao cấp, đá xẻ ốp lát, tấm nhựa ốp trần và tường tấm ốp hợp kim nhôm Composite, gỗ ván ép,...
V. Các giải pháp chủ yếu để thực hiện quy hoạch
1. Huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư:
Phát huy tối đa các nguồn nội lực và huy động các nguồn lực từ bên ngoài, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn; tranh thủ tối đa nguồn vốn từ ngân sách Trung ương hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, xây dựng công trình cấp thoát nước, mở rộng mạng lưới giao thông, mạng lưới điện... phục vụ cho khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng.
2. Chuẩn bị các điều kiện để kêu gọi đầu tư và điều tra cơ bản:
Chủ động thông báo danh mục các dự án cần kêu gọi đầu tư, tổ chức thăm dò đánh giá tài nguyên, khoáng sản; lựa chọn địa điểm phù hợp cho các dự án sản xuất vật liệu xây dựng theo quy hoạch; có cơ chế hỗ trợ các nhà đầu tư như: Đơn giản hóa thủ tục; xem xét, hỗ trợ phù hợp về giải phóng mặt bằng, đầu tư ngoài hàng rào như giao thông, điện, ưu đãi đầu tư theo quy định của Nhà nước. Tích cực công tác xúc tiến đầu tư để tìm các nhà đầu tư có năng lực. Chỉ đạo các đơn vị đang sản xuất vật liệu xây dựng chủ động tìm kiếm, khảo sát thăm dò bổ sung các nguồn nguyên liệu đang được khai thác sử dụng để đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất.
Chú trọng việc xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là việc nâng cấp các tuyến đường giao thông, điện lưới vào các khu mỏ khoáng sản, đường cho các khu công nghiệp, các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng và các bến bãi tập kết vật liệu, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư khai thác tài nguyên và phát triển sản xuất.
3. Phát triển nguồn nhân lực kết hợp với phát triển khoa học công nghệ:
Khuyến khích phát triển tài năng trẻ, sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật hiện có, bao gồm cả việc tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển. Xây dựng cơ chế chính sách ưu đãi để thu hút các cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao và lực lượng lao động có tay nghề giỏi từ các địa phương khác tới làm việc; đồng thời có chính sách khuyến khích, thu hút nhân lực là người địa phương.
Các hoạt động khoa học công nghệ trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng cần tập trung cải tiến các khâu cơ bản trong dây chuyền sản xuất, từng bước loại bỏ các thiết bị công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên nhiên vật liệu và gây ô nhiễm môi trường, để chuyển đổi sang công nghệ tiên tiến, hiện đại. Có chính sách phù hợp cho việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhất là sản xuất vật liệu xây dựng không nung.
4. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước:
- Tổ chức phổ biến rộng rãi quy hoạch theo đúng quy định. Tổ chức triển khai thực hiện đúng theo quy hoạch được duyệt, nhất là việc cấp phép khai thác tài nguyên khoáng sản và đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch, tình hình thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng trên địa bàn và công tác bảo vệ cảnh quan môi trường để kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm theo quy định.
- Nghiên cứu, ban hành các cơ chế chính sách để khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư sản xuất vật liệu xây dựng, đồng thời tăng cường công tác quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, nghĩa vụ của các cơ sở sản xuất kinh doanh đối với xã hội và người tiêu dùng theo đúng quy định.
- Tăng cường đội ngũ cán bộ chuyên ngành quản lý về khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng có năng lực tại các cấp.
- Kiên quyết xóa bỏ các cơ sở sản xuất kém hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường; đồng thời xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về đất đai, tài nguyên khoáng sản, môi trường theo quy định.
- Quản lý sản xuất vật liệu một cách tập trung và có sự phân cấp rõ ràng cho các cấp, các ngành quản lý chặt chẽ mọi hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng; trong đó, đơn vị đầu mối là Sở Xây dựng.
5. Hỗ trợ mở rộng phát triển thị trường:
Có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng tăng cường hoạt động quảng bá sản phẩm thông qua việc tham gia các hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế để tìm kiếm đối tác liên doanh, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Content:
Đá mỹ nghệ: Duy trì và phát triển sản xuất đá mỹ nghệ tại xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư và các địa phương khác (như: thị xã Tam Điệp, huyện Nho Quan v.v...). Sử dụng nguồn nguyên liệu từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và một phần tận thu từ các mỏ đá (≤ 5%) đá khối tại các mỏ đá khu vực Núi Mả Vối xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư và núi Thung Chuông xã Đức Long huyện Nho Quan.
III. Định hướng phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2030
1. Về xi măng:
Thống nhất thực hiện theo Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1488/QĐ-TTg ngày 29/8/2011, trong đó duy trì sản lượng 13,06 triệu tấn/năm như năm 2020.
2. Về vật liệu xây, đá xây dựng, các loại VLXD khác:
2.1. Gạch đất sét nung:
Đến năm 2030, hầu hết các dự án sản xuất sản phẩm gạch đất sét nung không còn nguyên liệu để sản xuất. Các nhà máy sản xuất gạch nung chuyển đổi sang sản xuất vật liệu xây không nung và các sản phẩm vật liệu xây dựng khác.
2.2. Vật liệu xây không nung:
Đến năm 2030, vật liệu xây sử dụng chủ yếu là vật liệu xây không nung. Sản lượng đạt như năm 2020. Sản phẩm chủ yếu là gạch xi măng cốt liệu, gạch từ bê tông bọt, bê tông khí chưng áp AAC với dây chuyền công nghệ, thiết bị sản xuất tiên tiến.
2.3. Đá xây dựng:
Đến năm 2030 có 13 mỏ hết trữ lượng, còn lại 40 mỏ, trong đó có nhiều mỏ trữ lượng lớn nâng cao công suất để thay thế 13 mỏ đã hết trữ lượng, đảm bảo duy trì sản lượng như 2020, đồng thời tính toán, huy động bổ sung thêm 14 mỏ mới đã có trong quy hoạch, đang hoàn thiện thủ tục (không bổ sung thêm quy hoạch). Nghiêm cấm việc khai thác các núi đá độc lập như những non bộ trên địa bàn toàn tỉnh để giữ gìn cảnh quan tự nhiên, môi trường sinh thái.
Yêu cầu: Sử dụng trang thiết bị khai thác hiện đại, hiệu quả, ít gây ô nhiễm môi trường; các mỏ đã đưa vào quy hoạch đến 2020 và định hướng đến năm 2030 nếu không còn trữ lượng theo kết quả thăm dò lộ thiên cần tính toán thăm dò, khai thác theo chiều sâu để tận thu khoáng sản hạn chế tối đa mở rộng khai thác lộ thiên để tham gia bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái, phát triển bền vững, hạn chế ảnh hưởng đến phát triển du lịch.
2.4. Đất đá hỗn hợp san nền:
Duy trì các mỏ đã đưa vào quy hoạch đến năm 2020 đồng thời đưa vào khai thác các mỏ đã được cấp phép thăm dò, cấp phép khai thác hiện nay chưa thực hiện.
2.5. Các sản phẩm vật liệu xây dựng khác:
Duy trì và phát triển như năm 2020. Đồng thời căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh các thời kỳ để xem xét điều chỉnh phù hợp với sự tăng trưởng theo định hướng tập trung vào mở rộng sản xuất, đầu tư chiều sâu áp dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng hiệu quả.
Đối với vật liệu lợp: Nâng cấp 02 cơ sở tấm lợp kim loại sang sản xuất tấm lợp kim loại 03 lớp.
IV. Bảo vệ môi trường trong sản xuất vật liệu xây dựng
Yêu cầu các doanh nghiệp đầu tư khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng phải từng bước xóa bỏ toàn bộ công nghệ, thiết bị sản xuất lạc hậu, tiêu tốn nhiên liệu và gây ô nhiễm môi trường. Các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng mới đầu tư phải lựa chọn công nghệ tiên tiến và hướng bố trí vào các khu, cụm công nghiệp để có phương án xử lý môi trường tập trung, đồng bộ.
- Sản xuất xi măng: Xóa bỏ công nghệ xi măng lò đứng vào năm 2015, các cơ sở đầu tư mới trên địa bàn tỉnh công nghệ xi măng lò quay phải chấp hành nghiêm túc báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Sản xuất gạch nung: Hiện trên địa bàn tỉnh chỉ còn 02 loại công nghệ là lò Tuynel và lò đứng nung gạch liên tục hiệu suất cao VSBK. Việc sản xuất phải đảm bảo tiêu chuẩn về chất lượng không khí xung quanh (TCVN 5937:2005); tiêu chuẩn về nồng độ tối đa cho phép của một số chất độc hại trong không khí xung quanh (TCVN 5939:2005); Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với bụi và chất vô cơ (TCVN 5939:2005) và các tiêu chuẩn khác có liên quan.
- Khai thác chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường: Các đơn vị khai thác phải thực hiện nghiêm túc các quy định trong luật khoáng sản, luật bảo vệ môi trường, các nghị định của Chính phủ, các văn bản pháp quy về đầu tư phát triển sản xuất, các quy trình quy phạm tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành trong sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng. Ngoài ra, các đơn vị khai thác còn phải thực hiện các biện pháp bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, đảm bảo an toàn các công trình xây dựng cơ bản, giao thông, thủy lợi, đê điều, công trình xây dựng dân dụng công nghiệp, tham gia bảo vệ cảnh quan, phát triển kinh tế xã hội bền vững.
- Sản xuất các loại vật liệu mới: Đầu tư các cơ sở có quy mô vừa và lớn, công nghệ tiên tiến, thân thiện và không gây ô nhiễm môi trường, như: Sản xuất gạch lát Terazzo, gạch lát cao cấp, đá xẻ ốp lát, tấm nhựa ốp trần và tường tấm ốp hợp kim nhôm Composite, gỗ ván ép,...
V. Các giải pháp chủ yếu để thực hiện quy hoạch
1. Huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư:
Phát huy tối đa các nguồn nội lực và huy động các nguồn lực từ bên ngoài, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn; tranh thủ tối đa nguồn vốn từ ngân sách Trung ương hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, xây dựng công trình cấp thoát nước, mở rộng mạng lưới giao thông, mạng lưới điện... phục vụ cho khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng.
2. Chuẩn bị các điều kiện để kêu gọi đầu tư và điều tra cơ bản:
Chủ động thông báo danh mục các dự án cần kêu gọi đầu tư, tổ chức thăm dò đánh giá tài nguyên, khoáng sản; lựa chọn địa điểm phù hợp cho các dự án sản xuất vật liệu xây dựng theo quy hoạch; có cơ chế hỗ trợ các nhà đầu tư như: Đơn giản hóa thủ tục; xem xét, hỗ trợ phù hợp về giải phóng mặt bằng, đầu tư ngoài hàng rào như giao thông, điện, ưu đãi đầu tư theo quy định của Nhà nước. Tích cực công tác xúc tiến đầu tư để tìm các nhà đầu tư có năng lực. Chỉ đạo các đơn vị đang sản xuất vật liệu xây dựng chủ động tìm kiếm, khảo sát thăm dò bổ sung các nguồn nguyên liệu đang được khai thác sử dụng để đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất.
Chú trọng việc xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là việc nâng cấp các tuyến đường giao thông, điện lưới vào các khu mỏ khoáng sản, đường cho các khu công nghiệp, các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng và các bến bãi tập kết vật liệu, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư khai thác tài nguyên và phát triển sản xuất.
3. Phát triển nguồn nhân lực kết hợp với phát triển khoa học công nghệ:
Khuyến khích phát triển tài năng trẻ, sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật hiện có, bao gồm cả việc tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển. Xây dựng cơ chế chính sách ưu đãi để thu hút các cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao và lực lượng lao động có tay nghề giỏi từ các địa phương khác tới làm việc; đồng thời có chính sách khuyến khích, thu hút nhân lực là người địa phương.
Các hoạt động khoa học công nghệ trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng cần tập trung cải tiến các khâu cơ bản trong dây chuyền sản xuất, từng bước loại bỏ các thiết bị công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên nhiên vật liệu và gây ô nhiễm môi trường, để chuyển đổi sang công nghệ tiên tiến, hiện đại. Có chính sách phù hợp cho việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhất là sản xuất vật liệu xây dựng không nung.
4. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước:
- Tổ chức phổ biến rộng rãi quy hoạch theo đúng quy định. Tổ chức triển khai thực hiện đúng theo quy hoạch được duyệt, nhất là việc cấp phép khai thác tài nguyên khoáng sản và đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch, tình hình thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng trên địa bàn và công tác bảo vệ cảnh quan môi trường để kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm theo quy định.
- Nghiên cứu, ban hành các cơ chế chính sách để khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư sản xuất vật liệu xây dựng, đồng thời tăng cường công tác quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, nghĩa vụ của các cơ sở sản xuất kinh doanh đối với xã hội và người tiêu dùng theo đúng quy định.
- Tăng cường đội ngũ cán bộ chuyên ngành quản lý về khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng có năng lực tại các cấp.
- Kiên quyết xóa bỏ các cơ sở sản xuất kém hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường; đồng thời xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về đất đai, tài nguyên khoáng sản, môi trường theo quy định.
- Quản lý sản xuất vật liệu một cách tập trung và có sự phân cấp rõ ràng cho các cấp, các ngành quản lý chặt chẽ mọi hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng; trong đó, đơn vị đầu mối là Sở Xây dựng.
5. Hỗ trợ mở rộng phát triển thị trường:
Có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng tăng cường hoạt động quảng bá sản phẩm thông qua việc tham gia các hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế để tìm kiếm đối tác liên doanh, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.