Document: Điểm d Khoản 9 Điều 1 Quyết định 2967/QĐ-UBND 2015 phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng huyện Sóc Sơn Hà Nội

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "29/06/2015", "sign_number": "2967/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thế Thảo", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "29/06/2015", "sign_number": "2967/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thế Thảo", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "29/06/2015", "sign_number": "2967/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thế Thảo", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "29/06/2015", "sign_number": "2967/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thế Thảo", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "29/06/2015", "sign_number": "2967/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thế Thảo", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 9 Điều 1 Quyết định 2967/QĐ-UBND 2015 phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng huyện Sóc Sơn Hà Nội

Điều 1. Phê duyệt đồ án Quy hoạch chung xây dựng huyện Sóc Sơn, tỷ lệ 1/10.000 với các nội dung chính như sau:
...
9. Định hướng phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật:
9.1. Giao thông:
...
d) Giao thông đường sắt: Cải tạo tuyến đường sắt quốc gia Hà Nội - Thái Nguyên thành đường đôi, khổ 1435 mm. Xây dựng, cải tạo các ga Trung Giã và Đa Phúc trên tuyến thành ga trung gian lập tàu hàng và tàu khách theo Quy hoạch chi tiết đường sắt khu vực đầu mối thành phố Hà Nội được Bộ Giao thông vận tải phê duyệt tại Quyết định số 1399/QĐ-BGTVT ngày 18/6/2012.
e) Giao thông công cộng:
- Đường sắt đô thị:
+ Tuyến số 2: Kết nối trung tâm Thành phố với Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, trung tâm huyện Sóc Sơn và khu vực thị trấn Nỉ, đoạn dọc tuyến Quốc lộ 3 bố trí đi trên cao dọc dải phân cách giữa của tuyến đường. Depot của tuyến bố trí tại khu vực Phù Lỗ, phía Đông Nam Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, quy mô khoảng 25 ha.
+ Tuyến số 6: Kết nối Cảng hàng không quốc tế Nội Bài với trung tâm Thành phố theo hướng đường Võ Văn Kiệt.
- Xe buýt: Được thực hiện theo quy hoạch mạng lưới vận tải hành khách công cộng của Thành phố. Cụ thể:
+ Các tuyến xe buýt nhanh bố trí dọc theo đường Võ Nguyên Giáp, đường Vành đai IV (đoạn phía Nam đường 18).
+ Các tuyến xe buýt thông thường bố trí trên các tuyến: Đường Võ Văn Kiệt, Quốc lộ 3, đường tỉnh 35, 131... theo mạng lưới quy hoạch của Thành phố.
9.2. Chuẩn bị kỹ thuật:
a) San nền:
- Cao độ nền xây dựng khống chế được lựa chọn căn cứ vào cao độ mực nước lớn nhất của sông Cầu, sông Cà Lồ tại các điểm xả của hệ thống thoát nước và độ dốc thủy lực của các tuyến kênh, mương. Lựa chọn cao độ nền xây dựng khống chế cho khu vực đô thị như sau:
+ Cao độ nền xây dựng trong vùng tiêu 1: trung bình từ 10,5m-12,5m
+ Cao độ nền xây dựng trong vùng tiêu 2: trung bình từ 11,5m-12,0m.
+ Cao độ nền xây dựng trong vùng tiêu 3: trung bình từ 10,5m - 11,0m.
+ Khu vực đã và đang có dự án được phê duyệt cao độ nền xác định theo dự án.
- Cao độ tim đường tại các ngả giao nhau được xác định trên cơ sở các cao độ đã khống chế, quy hoạch mạng lưới cống thoát nước mưa, đảm bảo độ sâu chôn cống.
- Cao độ nền các ô đất được thiết kế đảm bảo thoát nước tự chảy, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và phân lưu thoát nước các ô đất.
- Đối với các khu vực đã xây dựng, khu vực làng xóm cũ sẽ được san gạt cục bộ phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và phân lưu thoát nước. Đối với các khu vực công viên cây xanh, hồ điều hòa được thực hiện theo dự án riêng.
- Khu vực ngoài đê tuân thủ theo Luật Đê điều (có sự cho phép và thỏa thuận của cơ quan quản lý về đê điều, hành lang thoát lũ). Thường xuyên kiểm tra, tu bổ các cống tiêu, kênh tiêu, tuyến đê có hiện tượng hư hỏng, sạt lở để đảm bảo an toàn cho khu vực về mùa mưa lũ. Kè bảo vệ, chống sạt lở các hồ cảnh quan, trục tiêu trong khu vực phát triển đô thị.
b) Thoát nước mưa:
- Hệ thống thoát nước mưa được tiêu thoát theo các lưu vực chính thông qua các trục tiêu, hồ điều hòa, trạm bơm tiêu, kênh tiêu thủy lợi rồi tự chảy hoặc bằng bơm động lực ra sông Cầu, sông Công, sông Cà Lồ. Hệ thống thoát nước mưa hỗn hợp (cống thoát kết hợp hồ điều hòa); chủ yếu là thoát nước riêng tự chảy với chu kỳ tính toán từ 2 - 5 năm. Các tuyến cống thoát nước mưa đảm bảo thoát nước mặt cho khu vực lập quy hoạch và khu vực lân cận. Hệ thống thoát nước mưa được tính toán theo phương pháp cường độ giới hạn.
- Khu vực đất nông nghiệp tiêu thoát nước theo các kênh qua trạm bơm cưỡng bức ra sông Cầu, sông Cà Lồ. Khu vực đô thị hệ thống thoát nước riêng. Toàn huyện chia thành 3 vùng tiêu, gồm 7 lưu vực chính thông qua các hồ, trạm bơm tiêu, kênh ngòi thủy lợi thoát ra sông Cầu, sông Công và sông Cà Lồ:
+ Vùng tiêu 1 (vùng núi phía Bắc huyện Sóc Sơn): chủ yếu tiêu tự chảy qua 3 ngòi chính: Suối Đa Hội, cầu Nai và Suối Mộc chảy qua suối Cống Cái rồi đổ ra sông Công. Cần cải tạo, mở rộng các suối Đa Hội, Cầu Nai, suối Mộc, suối Cống Cái để nâng cao năng lực tiêu nước ra sông Công.
+ Vùng tiêu 2 (phía Tây Nam huyện Sóc Sơn) gồm có Lưu vực 1: tiêu qua các suối Cầu Trắng, Cầu Đen, Cầu Sỏi, Đồng Đò và suối Xuân Kỳ rồi đổ ra sông Cà Lồ; Lưu vực 2: tiêu qua các suối Cầu Sỏi, Suối Đồng Đò rồi tự chảy ra sông Cà Lồ; Lưu vực 3: tiêu ra suối Cầu Trắng rồi tự chảy sông Cà Lồ; Lưu vực 4: thoát thẳng ra sông Cà Lồ và một phần thoát thông qua suối Cầu Đen rồi ra sông Cà Lồ; Lưu vực 5: tiêu ra suối Xuân Kỳ rồi tự chảy ra sông Cà Lồ, một phần lưu vực thoát thẳng ra sông Cà Lồ. Để nâng cao năng lực tiêu nước tự chảy ra sông Cà Lồ cần cải tạo các suối Cầu Trắng, Cầu Đen, Cầu Sỏi, Đồng Đò và kênh tiêu Anh Hùng.
+ Vùng tiêu 3 (vùng tiêu phía Đông Bắc và phía Đông Nam huyện Sóc Sơn) bao gồm: Tiểu vùng tiêu phía Đông Bắc - Lưu vực 6: tiêu qua các kênh chính nội đồng như kênh Cẩm Hà, Tân Hưng, Tăng Long, Lương Phúc, Tiên Tảo...và được tiêu bằng động lực thông qua các trạm bơm Tân Hưng, Tăng Long, Tiên Tảo và Cẩm Hà 1, 2 rồi đổ ra sông Cầu, kết hợp tiêu tự chảy qua các cống Lương Phúc và cống Tấc Ba. Để nâng cao năng lực tiêu cho khu vực này cần cải tạo, nâng cấp trạm bơm Tăng Long, Cẩm Hà. Chuyển đổi vùng trũng thuộc lưu vực trạm bơm Tân Hưng sang nuôi trồng thủy sản, để giảm áp lực tiêu. Trong khu vực này có các hồ điều hòa: hồ Đền Sóc, Đạc Đức, Đồng Chằm, Bến Tre và Đầm Lai Cách; Tiểu vùng tiêu phía Đông Nam - Lưu vực 7: tiêu tự chảy qua kênh tiêu Bến Tre về cống Thá, cống Lủ Trung, cống Cầu Dâu, cống Thu Thủy, thường bị úng khi mực nước sông Cầu dâng cao. Khu vực phía Bắc có địa hình cao từ 10 m trở lên tiêu tự chảy qua hệ thống kênh tiêu Bến Tre về cống Thá rồi đổ ra sông Cà Lồ, khu vực phía Nam có địa hình thấp trũng: khi mực nước sông Cà Lồ thấp < 5.5m tiêu tự chảy qua các cống Lủ Trung, Cầu Dâu, Thu Thủy, khi mực nước sông Cà Lồ > 5.5m tiêu bằng bơm động lực ra sông Cà Lồ qua các trạm bơm xây dựng mới trạm bơm Xuân Kỳ (công suất: 12,2 m/s) và trạm bơm Kim Lũ (công suất: 8,7 m/s). Chuyển đổi vùng úng trũng thuộc lưu vực tiêu cống Lương Phúc sang nuôi trồng thủy sản, để giảm áp lực tiêu. Xây mới 2 nhánh kênh tiêu: kênh tiêu số 1 nối giữa sông cụt ở Lủ Trung với sông cụt Lủ Hạ và kênh tiêu số 2 nối giữa sông cụt ở Lủ Trung với hồ Thanh Thủy.
- Cống thoát nước sử dụng hệ thống cống tròn và cống hộp BTCT, mương xây hở. Cống không xả trực tiếp vào hồ điều hòa, sử dụng ngăn lắng cặn và cống kỹ thuật tách nước mưa đợt đầu để đảm bảo vệ sinh môi trường nước và khống chế khả năng điều hòa của hồ cũng như khai thác sử dụng hồ điều hòa cho các mục đích vui chơi giải trí và nuôi thủy sản v.v...
- Khu vực làng xóm cải tạo chỉnh trang thoát nước bằng các cống bao và thoát thẳng ra sông Cà Lồ, xây dựng các tuyến rãnh nắp đan, bố trí dọc theo các tuyến đường thôn, xóm... thu gom nước mưa sau đó thoát ra các tuyến cống chính trong khu vực. Các tuyến rãnh này cụ thể sẽ được xác định trong giai đoạn sau. Trong giai đoạn ngắn hạn, cống thoát nước dùng kết cấu xây mương hở, dài hạn các cống này dần được chuyển sang mương nắp đan.
- Các hồ điều hòa thoát nước được bố trí trong đất cây xanh, trên nguyên tắc tận dụng tối đa hệ thống mặt nước và khu đất trũng hiện có. Phải đảm bảo diện tích mặt nước các hồ điều hòa chiếm ³ 5% diện tích đất xây dựng đô thị. Đối với các hồ ao hiện có trong khu vực làng xóm không được san lấp, cần được bảo tồn để tham gia vào hệ thống thoát nước, cải tạo khí hậu và tạo môi trường cảnh quan khu vực.
9.3. Cấp nước:
a) Nguồn nước:
- Vùng cấp nước 1: gồm khu vực đô thị và các xã nông thôn liền kề (Đô thị vệ tinh Sóc Sơn, thị trấn Nỉ và các xã Xuân Giang, Nam Sơn, Hiền Ninh, Phù Lỗ, Đông Xuân, Minh Phú, Thanh Xuân, Đức Hòa, Phú Cường, Phú Minh, Tân Minh, Quang Tiến, Phù Linh): nguồn cấp nước chính từ Nhà máy nước mặt sông Đuống và được cấp bổ sung từ Nhà máy nước ngầm Đông Anh thông qua các trạm bơm tăng áp: Sóc Sơn (công suất 100.000 m3/ngđ), Hiền Ninh (công suất 6.000 m3/ngđ), Nam Sơn (công suất 4.000 m3/ngđ) và trạm bơm tăng áp hiện có (trạm cấp nước Sóc Sơn công suất 7.200 m3/ngđ).
- Vùng cấp nước 2: các xã còn lại (gồm các xã Bắc Sơn, Tân Dân, Minh Trí, Tân Hưng, Bắc Phú, Việt Long, Kim Lũ, Xuân Thu) được cấp nguồn từ các trạm cấp nước ngầm cục bộ: Trạm cấp nước Bắc Sơn (công suất 2.500 m3/ngđ cấp nước cho khu vực xã Bắc Sơn); Trạm cấp nước Tân Dân (công suất 4.600 m3/ngđ cấp nước cho khu vực xã Tân Dân, Minh Trí); Trạm cấp nước Tân Hưng (công suất 4.700 m3/ngđ cấp nước cho khu vực xã Tân Hưng, Trung Giã, Bắc Phú, Việt Long) và Trạm cấp nước Kim Lũ (công suất 1.700 m3/ngđ cấp nước cho khu vực xã Kim Lũ, Xuân Thu).
b) Nhu cầu cấp nước:
- Đối với vùng cấp nước 1 (khu vực đô thị và các xã nông thôn liền kề): đến năm 2030 khoảng 109.500 m3/ngđ.
- Đối với vùng cấp nước 2 (các xã còn lại): đến năm 2030 khoảng 11.500 m3/ngđ.
c) Mạng lưới đường ống cấp nước:
- Đối với vùng cấp nước 1 (khu vực đô thị và các xã nông thôn liền kề):
+ Xây dựng tuyến ống truyền dẫn F1200 mm đấu nối với tuyến ống từ Nhà máy nước mặt sông Đuống tới trạm bơm tăng áp Sóc Sơn.
+ Xây dựng các tuyến ống cấp nước truyền dẫn F300 mm ¸ F800 mm, các tuyến ống cấp nước phân phối dọc các tuyến đường F100 mm ¸ F250 mm bố trí dọc các tuyến đường quy hoạch cấp nước tới các ô quy hoạch trong khu vực đô thị và các xã nông thôn liền kề.
- Đối với các xã vùng cấp nước 2: xây dựng các tuyến ống cấp nước phân phối dọc các tuyến đường F100 mm ¸ F250 mm bố trí dọc các tuyến đường quy hoạch cấp nước tới các ô quy hoạch trong khu vực các xã vùng cấp nước 2.
- Mạng lưới cấp nước dịch vụ tới từng công trình sẽ được xác định trong giai đoạn sau.
d) Cấp nước chữa cháy:
- Lắp đặt các trụ cấp nước trên các tuyến ống cấp nước F ³100 mm phục vụ cứu hỏa. Vị trí của các họng cứu hỏa sẽ được xác định cụ thể trong quá trình lập quy hoạch chi tiết và thiết kế mạng lưới cứu hỏa của khu vực được cấp thẩm quyền phê duyệt, đảm bảo khoảng cách theo quy định hiện hành.
- Bố trí các hố thu nước cứu hỏa tại khu vực hồ điều hòa để bổ trợ nguồn cấp nước cứu hỏa khi cần thiết.
9.4. Cấp điện:
- Nguồn điện chính cấp cho huyện Sóc Sơn là các trạm 220 KV và 110 KV:
+ Trạm biến áp 220/110 KV Sóc Sơn: công suất 2x125 MVA, giai đoạn dài hạn nâng công suất lên 2x250 MVA.
+ Trạm biến áp 110/22 KV Nội Bài: công suất 2x40 MVA cấp điện cho phụ tải khu CN Nội Bài, khu đô thị mới Sóc Sơn, xã Tiên Dược, Hiền Ninh...
+ Trạm biến áp 110/22 KV Sóc Sơn: công suất 1x25 MVA. Giai đoạn 2020 nâng công suất lên 63 MVA, trạm cấp điện cho phụ tải các xã Hồng Kỳ, Trung Giã, Bắc Sơn, Phù Ninh, Tân Hưng, Bắc Phú, thị trấn Sóc Sơn...
+ Xây dựng mới trạm 220/110 KV Sóc Sơn 2 giai đoạn 2021 ¸ 2025: công suất 2x250 MVA, đợt đầu đặt 1 máy 250 MVA.
+ Xây dựng mới trạm 110/22KV sân bay Nội Bài giai đoạn 2015 tại khu vực đất dịch vụ sân bay, công suất dự kiến 2x25 MVA.
+ Trạm 110/22KV Sóc Sơn 2 giai đoạn 2016 ¸ 2020 tại phía Đông Nam khu đô thị mới Sóc Sơn, đợt đầu đặt 1 máy 40 MVA, giai đoạn 2020 nâng công suất lên 40+63 MVA
+ Trạm 110/22KV Sóc Sơn 3 giai đoạn 2016 ¸ 2020 tại cụm công nghiệp Tân Dân - Minh Trí đợt đầu đặt 1 máy 40 MVA, giai đoạn 2020 nâng công suất lên 40+63 MVA.
- Lưới 220 KV: Xây dựng mới tuyến 220 KV Sóc Sơn - Vân Trì chiều dài 25 km lộ kép; tuyến 220 KV Sóc Sơn - Bá Thiện chiều dài 30km lộ kép.
- Lưới 110KV: Một số tuyến 110 KV hiện có đang chạy cắt ngang qua đất của khu vực phát triển đô thị dự kiến cần được di chuyển khi xây dựng đô thị. Về lâu dài các tuyến 110KV chạy qua khu vực đô thị cần được hạ ngầm và đi theo các tuyến đường quy hoạch.
- Lưới 22 KV: Các khu đô thị mới và khu vực thị trấn Sóc Sơn lưới 22 KV bố trí đi ngầm; Các tuyến trung thế 6, 10, 35 KV hiện có không phù hợp với quy hoạch sẽ được di chuyển cải tạo nâng cấp điện áp lên 22 KV và đi theo các tuyến đường quy hoạch.
- Chiếu sáng đô thị: Lưới điện hạ thế 0,4 KV xây dựng mới có kết cấu hình tia, đi nổi trên cột bê tông ly tâm, xây dựng hệ thống điện chiếu sáng hoàn chỉnh trên khắp địa bàn.
9.5. Thông tin liên lạc:
- Nguồn cấp: Nâng cấp mở rộng dung lượng cho tổng đài HOST Phù Lỗ (lên 15000 lines), tổng đài HOST Sóc Sơn (lên 20000 lines) và xây dựng mới 05 tổng đài vệ tinh trên địa bàn huyện Sóc Sơn. Tổng đài HOST và các tổng đài vệ tinh được đấu nối trên tuyến cáp quang liên tỉnh chạy dọc trên tuyến Quốc lộ 3.
- Hệ thống mạng lưới:
+ Mạng truyền dẫn: các đường trung kế giữa các tổng đài là cáp quang tạo thành mạch vòng (ring), tạo điều kiện mở rộng các loại hình dịch vụ như truyền hình cáp, Internet băng thông rộng, Video phone....
+ Mạng ngoại vi của huyện Sóc Sơn phải đồng bộ với quy hoạch chung của Thành phố.
+ Thực hiện ngầm hóa đến toàn bộ các khu đô thị mới, các khu công nghiệp.
9.6. Thoát nước thải, quản lý chất thải rắn và nghĩa trang:
a) Thu gom và xử lý nước thải:
- Các loại nước thải không được xả trực tiếp ra sông, suối mà phải được xử lý đạt tiêu chuẩn vệ sinh theo Tiêu chuẩn Việt Nam trước khi xả ra nguồn.
- Xây dựng hệ thống thoát nước thải của khu vực đô thị là hệ thống thoát nước riêng, tự chảy theo các tuyến cống đường phố về trạm xử lý tập trung của khu vực.
- Hệ thống nước thải sinh hoạt đô thị huyện Sóc Sơn được xử lý thông qua 4 trạm xử lý nước thải gồm:
+ Trạm xử lý số 1 có công suất: đến năm 2020 khoảng 12.000 m3/ng.đ, đến năm 2030 khoảng 20.000 m3/ng.đêm.
+ Trạm xử lý số 2 có công suất: đến năm 2020 khoảng 15.000 m3/ng.đ, đến năm 2030 khoảng 23.000 m3/ng.đêm.
+ Trạm xử lý số 3 có công suất: đến năm 2020 khoảng 10.000 m3/ng.đ, đến năm 2030 khoảng 22.000 m3/ng.đêm.
+ Khu vực thị trấn Nỉ xây dựng 01 trạm xử lý, công suất 3.000 m3/ng.đêm.
- Khu vực hệ thống nước thải nông thôn thoát nước chung với nước mưa.
+ Nâng cấp, xây dựng hệ thống mương thoát nước, nạo vét, mở rộng mương, cải tạo mương khai thông dòng chảy.
+ Xử lý nước thải theo mô hình cục bộ, từng hộ gia đình hoặc mô hình tập trung theo cụm các cơ sở sản xuất.
- Thoát nước thải cho các khu công nghiệp và cơ sở y tế: Các khu công nghiệp được thu gom và xử lý riêng hoàn toàn. Trạm xử lý nước thải được đặt trong khu công nghiệp, xử lý nước thải đạt đến tiêu chuẩn cho phép rồi mới thải ra hệ thống thoát nước chung. Đối với nước thải y tế: Sử dụng hệ thống thoát nước riêng, nước thải y tế sau khi được xử lý đạt tiêu chuẩn mới được thải ra hệ thống thoát nước chung.
b) Quản lý chất thải rắn:
- Chất thải rắn sinh hoạt: được thu gom và phân loại tại nguồn, sau đó đưa về các điểm trung chuyển chất thải rắn trước khi vận chuyển đến Khu hỗn hợp xử lý chất thải Sóc Sơn.
- Chất thải rắn công nghiệp: Chất thải rắn công nghiệp không nguy hại được đưa về các điểm trung chuyển và đưa về các cơ sở xử lý chất thải rắn công nghiệp, để sử dụng cho mục đích tái chế; Chất thải rắn công nghiệp nguy hại được thu gom và xử lý riêng.
- Chất thải rắn y tế: Chất thải rắn y tế nguy hại được thu gom và xử lý riêng. Xây dựng lò đốt chất thải rắn y tế tại các trung tâm y tế cấp huyện.
- Xây dựng Khu liên hợp xử lý chất thải Sóc Sơn có quy mô là 257 ha đến năm 2030; và 280 ha đến năm 2050, nằm trên địa bàn các xã Nam Sơn, Hồng Kỳ và Bắc Sơn.
c) Định hướng quy hoạch nghĩa trang, nhà tang lễ:
- Xây dựng nghĩa trang tập trung Minh Phú có diện tích quy hoạch khoảng 100 ha, theo Quy hoạch nghĩa trang Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 496/QĐ-TTg ngày 08/4/2014.
- Xây dựng nghĩa trang Bắc Sơn đến 2020 có quy mô diện tích là 10 ha, sử dụng hình thức hỏa táng phục vụ nhân dân huyện Sóc Sơn và khu vực Bắc Hà Nội.
- Xây dựng 02 nhà tang lễ tại thị trấn Nỉ và xã Tiên Dược, quy mô mỗi nhà tang lễ khoảng 1 ha phục vụ nhu cầu của Huyện.
- Đối với nghĩa trang hiện có phân tán, có quy mô nhỏ không đảm bảo yêu cầu vệ sinh môi trường cần có kế hoạch đóng cửa, tiến hành trồng cây xanh cách ly đảm bảo vệ sinh môi trường và cảnh quan. Khi có nhu cầu sử dụng đất phải di chuyển đến nghĩa trang tập trung Minh Phú; Từng bước đóng cửa các nghĩa trang nhỏ lẻ.
- Nghĩa trang cấp xã, mỗi xã có từ 01 đến 02 nghĩa trang tập trung cấp xã (tùy thuộc diện tích, địa giới hành chính và quy mô dân số theo quy hoạch nông thôn mới). Các nghĩa trang hiện có, đủ điều kiện tồn tại đáp ứng được yêu cầu về quỹ đất thì có thể xem xét mở rộng, xây dựng theo quy hoạch.
- Với nghĩa trang ảnh hưởng đến việc phát triển đô thị sẽ di chuyển về nghĩa trang tập trung Minh Phú.

Content:
Giao thông đường sắt: Cải tạo tuyến đường sắt quốc gia Hà Nội - Thái Nguyên thành đường đôi, khổ 1435 mm. Xây dựng, cải tạo các ga Trung Giã và Đa Phúc trên tuyến thành ga trung gian lập tàu hàng và tàu khách theo Quy hoạch chi tiết đường sắt khu vực đầu mối thành phố Hà Nội được Bộ Giao thông vận tải phê duyệt tại Quyết định số 1399/QĐ-BGTVT ngày 18/6/2012.
e) Giao thông công cộng:
- Đường sắt đô thị:
+ Tuyến số 2: Kết nối trung tâm Thành phố với Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, trung tâm huyện Sóc Sơn và khu vực thị trấn Nỉ, đoạn dọc tuyến Quốc lộ 3 bố trí đi trên cao dọc dải phân cách giữa của tuyến đường. Depot của tuyến bố trí tại khu vực Phù Lỗ, phía Đông Nam Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, quy mô khoảng 25 ha.
+ Tuyến số 6: Kết nối Cảng hàng không quốc tế Nội Bài với trung tâm Thành phố theo hướng đường Võ Văn Kiệt.
- Xe buýt: Được thực hiện theo quy hoạch mạng lưới vận tải hành khách công cộng của Thành phố. Cụ thể:
+ Các tuyến xe buýt nhanh bố trí dọc theo đường Võ Nguyên Giáp, đường Vành đai IV (đoạn phía Nam đường 18).
+ Các tuyến xe buýt thông thường bố trí trên các tuyến: Đường Võ Văn Kiệt, Quốc lộ 3, đường tỉnh 35, 131... theo mạng lưới quy hoạch của Thành phố.
9.2. Chuẩn bị kỹ thuật:
a) San nền:
- Cao độ nền xây dựng khống chế được lựa chọn căn cứ vào cao độ mực nước lớn nhất của sông Cầu, sông Cà Lồ tại các điểm xả của hệ thống thoát nước và độ dốc thủy lực của các tuyến kênh, mương. Lựa chọn cao độ nền xây dựng khống chế cho khu vực đô thị như sau:
+ Cao độ nền xây dựng trong vùng tiêu 1: trung bình từ 10,5m-12,5m
+ Cao độ nền xây dựng trong vùng tiêu 2: trung bình từ 11,5m-12,0m.
+ Cao độ nền xây dựng trong vùng tiêu 3: trung bình từ 10,5m - 11,0m.
+ Khu vực đã và đang có dự án được phê duyệt cao độ nền xác định theo dự án.
- Cao độ tim đường tại các ngả giao nhau được xác định trên cơ sở các cao độ đã khống chế, quy hoạch mạng lưới cống thoát nước mưa, đảm bảo độ sâu chôn cống.
- Cao độ nền các ô đất được thiết kế đảm bảo thoát nước tự chảy, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và phân lưu thoát nước các ô đất.
- Đối với các khu vực đã xây dựng, khu vực làng xóm cũ sẽ được san gạt cục bộ phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và phân lưu thoát nước. Đối với các khu vực công viên cây xanh, hồ điều hòa được thực hiện theo dự án riêng.
- Khu vực ngoài đê tuân thủ theo Luật Đê điều (có sự cho phép và thỏa thuận của cơ quan quản lý về đê điều, hành lang thoát lũ). Thường xuyên kiểm tra, tu bổ các cống tiêu, kênh tiêu, tuyến đê có hiện tượng hư hỏng, sạt lở để đảm bảo an toàn cho khu vực về mùa mưa lũ. Kè bảo vệ, chống sạt lở các hồ cảnh quan, trục tiêu trong khu vực phát triển đô thị.
b) Thoát nước mưa:
- Hệ thống thoát nước mưa được tiêu thoát theo các lưu vực chính thông qua các trục tiêu, hồ điều hòa, trạm bơm tiêu, kênh tiêu thủy lợi rồi tự chảy hoặc bằng bơm động lực ra sông Cầu, sông Công, sông Cà Lồ. Hệ thống thoát nước mưa hỗn hợp (cống thoát kết hợp hồ điều hòa); chủ yếu là thoát nước riêng tự chảy với chu kỳ tính toán từ 2 - 5 năm. Các tuyến cống thoát nước mưa đảm bảo thoát nước mặt cho khu vực lập quy hoạch và khu vực lân cận. Hệ thống thoát nước mưa được tính toán theo phương pháp cường độ giới hạn.
- Khu vực đất nông nghiệp tiêu thoát nước theo các kênh qua trạm bơm cưỡng bức ra sông Cầu, sông Cà Lồ. Khu vực đô thị hệ thống thoát nước riêng. Toàn huyện chia thành 3 vùng tiêu, gồm 7 lưu vực chính thông qua các hồ, trạm bơm tiêu, kênh ngòi thủy lợi thoát ra sông Cầu, sông Công và sông Cà Lồ:
+ Vùng tiêu 1 (vùng núi phía Bắc huyện Sóc Sơn): chủ yếu tiêu tự chảy qua 3 ngòi chính: Suối Đa Hội, cầu Nai và Suối Mộc chảy qua suối Cống Cái rồi đổ ra sông Công. Cần cải tạo, mở rộng các suối Đa Hội, Cầu Nai, suối Mộc, suối Cống Cái để nâng cao năng lực tiêu nước ra sông Công.
+ Vùng tiêu 2 (phía Tây Nam huyện Sóc Sơn) gồm có Lưu vực 1: tiêu qua các suối Cầu Trắng, Cầu Đen, Cầu Sỏi, Đồng Đò và suối Xuân Kỳ rồi đổ ra sông Cà Lồ; Lưu vực 2: tiêu qua các suối Cầu Sỏi, Suối Đồng Đò rồi tự chảy ra sông Cà Lồ; Lưu vực 3: tiêu ra suối Cầu Trắng rồi tự chảy sông Cà Lồ; Lưu vực 4: thoát thẳng ra sông Cà Lồ và một phần thoát thông qua suối Cầu Đen rồi ra sông Cà Lồ; Lưu vực 5: tiêu ra suối Xuân Kỳ rồi tự chảy ra sông Cà Lồ, một phần lưu vực thoát thẳng ra sông Cà Lồ. Để nâng cao năng lực tiêu nước tự chảy ra sông Cà Lồ cần cải tạo các suối Cầu Trắng, Cầu Đen, Cầu Sỏi, Đồng Đò và kênh tiêu Anh Hùng.
+ Vùng tiêu 3 (vùng tiêu phía Đông Bắc và phía Đông Nam huyện Sóc Sơn) bao gồm: Tiểu vùng tiêu phía Đông Bắc - Lưu vực 6: tiêu qua các kênh chính nội đồng như kênh Cẩm Hà, Tân Hưng, Tăng Long, Lương Phúc, Tiên Tảo...và được tiêu bằng động lực thông qua các trạm bơm Tân Hưng, Tăng Long, Tiên Tảo và Cẩm Hà 1, 2 rồi đổ ra sông Cầu, kết hợp tiêu tự chảy qua các cống Lương Phúc và cống Tấc Ba. Để nâng cao năng lực tiêu cho khu vực này cần cải tạo, nâng cấp trạm bơm Tăng Long, Cẩm Hà. Chuyển đổi vùng trũng thuộc lưu vực trạm bơm Tân Hưng sang nuôi trồng thủy sản, để giảm áp lực tiêu. Trong khu vực này có các hồ điều hòa: hồ Đền Sóc, Đạc Đức, Đồng Chằm, Bến Tre và Đầm Lai Cách; Tiểu vùng tiêu phía Đông Nam - Lưu vực 7: tiêu tự chảy qua kênh tiêu Bến Tre về cống Thá, cống Lủ Trung, cống Cầu Dâu, cống Thu Thủy, thường bị úng khi mực nước sông Cầu dâng cao. Khu vực phía Bắc có địa hình cao từ 10 m trở lên tiêu tự chảy qua hệ thống kênh tiêu Bến Tre về cống Thá rồi đổ ra sông Cà Lồ, khu vực phía Nam có địa hình thấp trũng: khi mực nước sông Cà Lồ thấp < 5.5m tiêu tự chảy qua các cống Lủ Trung, Cầu Dâu, Thu Thủy, khi mực nước sông Cà Lồ > 5.5m tiêu bằng bơm động lực ra sông Cà Lồ qua các trạm bơm xây dựng mới trạm bơm Xuân Kỳ (công suất: 12,2 m/s) và trạm bơm Kim Lũ (công suất: 8,7 m/s). Chuyển đổi vùng úng trũng thuộc lưu vực tiêu cống Lương Phúc sang nuôi trồng thủy sản, để giảm áp lực tiêu. Xây mới 2 nhánh kênh tiêu: kênh tiêu số 1 nối giữa sông cụt ở Lủ Trung với sông cụt Lủ Hạ và kênh tiêu số 2 nối giữa sông cụt ở Lủ Trung với hồ Thanh Thủy.
- Cống thoát nước sử dụng hệ thống cống tròn và cống hộp BTCT, mương xây hở. Cống không xả trực tiếp vào hồ điều hòa, sử dụng ngăn lắng cặn và cống kỹ thuật tách nước mưa đợt đầu để đảm bảo vệ sinh môi trường nước và khống chế khả năng điều hòa của hồ cũng như khai thác sử dụng hồ điều hòa cho các mục đích vui chơi giải trí và nuôi thủy sản v.v...
- Khu vực làng xóm cải tạo chỉnh trang thoát nước bằng các cống bao và thoát thẳng ra sông Cà Lồ, xây dựng các tuyến rãnh nắp đan, bố trí dọc theo các tuyến đường thôn, xóm... thu gom nước mưa sau đó thoát ra các tuyến cống chính trong khu vực. Các tuyến rãnh này cụ thể sẽ được xác định trong giai đoạn sau. Trong giai đoạn ngắn hạn, cống thoát nước dùng kết cấu xây mương hở, dài hạn các cống này dần được chuyển sang mương nắp đan.
- Các hồ điều hòa thoát nước được bố trí trong đất cây xanh, trên nguyên tắc tận dụng tối đa hệ thống mặt nước và khu đất trũng hiện có. Phải đảm bảo diện tích mặt nước các hồ điều hòa chiếm ³ 5% diện tích đất xây dựng đô thị. Đối với các hồ ao hiện có trong khu vực làng xóm không được san lấp, cần được bảo tồn để tham gia vào hệ thống thoát nước, cải tạo khí hậu và tạo môi trường cảnh quan khu vực.
9.3. Cấp nước:
a) Nguồn nước:
- Vùng cấp nước 1: gồm khu vực đô thị và các xã nông thôn liền kề (Đô thị vệ tinh Sóc Sơn, thị trấn Nỉ và các xã Xuân Giang, Nam Sơn, Hiền Ninh, Phù Lỗ, Đông Xuân, Minh Phú, Thanh Xuân, Đức Hòa, Phú Cường, Phú Minh, Tân Minh, Quang Tiến, Phù Linh): nguồn cấp nước chính từ Nhà máy nước mặt sông Đuống và được cấp bổ sung từ Nhà máy nước ngầm Đông Anh thông qua các trạm bơm tăng áp: Sóc Sơn (công suất 100.000 m3/ngđ), Hiền Ninh (công suất 6.000 m3/ngđ), Nam Sơn (công suất 4.000 m3/ngđ) và trạm bơm tăng áp hiện có (trạm cấp nước Sóc Sơn công suất 7.200 m3/ngđ).
- Vùng cấp nước 2: các xã còn lại (gồm các xã Bắc Sơn, Tân Dân, Minh Trí, Tân Hưng, Bắc Phú, Việt Long, Kim Lũ, Xuân Thu) được cấp nguồn từ các trạm cấp nước ngầm cục bộ: Trạm cấp nước Bắc Sơn (công suất 2.500 m3/ngđ cấp nước cho khu vực xã Bắc Sơn); Trạm cấp nước Tân Dân (công suất 4.600 m3/ngđ cấp nước cho khu vực xã Tân Dân, Minh Trí); Trạm cấp nước Tân Hưng (công suất 4.700 m3/ngđ cấp nước cho khu vực xã Tân Hưng, Trung Giã, Bắc Phú, Việt Long) và Trạm cấp nước Kim Lũ (công suất 1.700 m3/ngđ cấp nước cho khu vực xã Kim Lũ, Xuân Thu).
b) Nhu cầu cấp nước:
- Đối với vùng cấp nước 1 (khu vực đô thị và các xã nông thôn liền kề): đến năm 2030 khoảng 109.500 m3/ngđ.
- Đối với vùng cấp nước 2 (các xã còn lại): đến năm 2030 khoảng 11.500 m3/ngđ.
c) Mạng lưới đường ống cấp nước:
- Đối với vùng cấp nước 1 (khu vực đô thị và các xã nông thôn liền kề):
+ Xây dựng tuyến ống truyền dẫn F1200 mm đấu nối với tuyến ống từ Nhà máy nước mặt sông Đuống tới trạm bơm tăng áp Sóc Sơn.
+ Xây dựng các tuyến ống cấp nước truyền dẫn F300 mm ¸ F800 mm, các tuyến ống cấp nước phân phối dọc các tuyến đường F100 mm ¸ F250 mm bố trí dọc các tuyến đường quy hoạch cấp nước tới các ô quy hoạch trong khu vực đô thị và các xã nông thôn liền kề.
- Đối với các xã vùng cấp nước 2: xây dựng các tuyến ống cấp nước phân phối dọc các tuyến đường F100 mm ¸ F250 mm bố trí dọc các tuyến đường quy hoạch cấp nước tới các ô quy hoạch trong khu vực các xã vùng cấp nước 2.
- Mạng lưới cấp nước dịch vụ tới từng công trình sẽ được xác định trong giai đoạn sau.
Cấp nước chữa cháy:
- Lắp đặt các trụ cấp nước trên các tuyến ống cấp nước F ³100 mm phục vụ cứu hỏa. Vị trí của các họng cứu hỏa sẽ được xác định cụ thể trong quá trình lập quy hoạch chi tiết và thiết kế mạng lưới cứu hỏa của khu vực được cấp thẩm quyền phê duyệt, đảm bảo khoảng cách theo quy định hiện hành.
- Bố trí các hố thu nước cứu hỏa tại khu vực hồ điều hòa để bổ trợ nguồn cấp nước cứu hỏa khi cần thiết.
9.4. Cấp điện:
- Nguồn điện chính cấp cho huyện Sóc Sơn là các trạm 220 KV và 110 KV:
+ Trạm biến áp 220/110 KV Sóc Sơn: công suất 2x125 MVA, giai đoạn dài hạn nâng công suất lên 2x250 MVA.
+ Trạm biến áp 110/22 KV Nội Bài: công suất 2x40 MVA cấp điện cho phụ tải khu CN Nội Bài, khu đô thị mới Sóc Sơn, xã Tiên Dược, Hiền Ninh...
+ Trạm biến áp 110/22 KV Sóc Sơn: công suất 1x25 MVA. Giai đoạn 2020 nâng công suất lên 63 MVA, trạm cấp điện cho phụ tải các xã Hồng Kỳ, Trung Giã, Bắc Sơn, Phù Ninh, Tân Hưng, Bắc Phú, thị trấn Sóc Sơn...
+ Xây dựng mới trạm 220/110 KV Sóc Sơn 2 giai đoạn 2021 ¸ 2025: công suất 2x250 MVA, đợt đầu đặt 1 máy 250 MVA.
+ Xây dựng mới trạm 110/22KV sân bay Nội Bài giai đoạn 2015 tại khu vực đất dịch vụ sân bay, công suất dự kiến 2x25 MVA.
+ Trạm 110/22KV Sóc Sơn 2 giai đoạn 2016 ¸ 2020 tại phía Đông Nam khu đô thị mới Sóc Sơn, đợt đầu đặt 1 máy 40 MVA, giai đoạn 2020 nâng công suất lên 40+63 MVA
+ Trạm 110/22KV Sóc Sơn 3 giai đoạn 2016 ¸ 2020 tại cụm công nghiệp Tân Dân - Minh Trí đợt đầu đặt 1 máy 40 MVA, giai đoạn 2020 nâng công suất lên 40+63 MVA.
- Lưới 220 KV: Xây dựng mới tuyến 220 KV Sóc Sơn - Vân Trì chiều dài 25 km lộ kép; tuyến 220 KV Sóc Sơn - Bá Thiện chiều dài 30km lộ kép.
- Lưới 110KV: Một số tuyến 110 KV hiện có đang chạy cắt ngang qua đất của khu vực phát triển đô thị dự kiến cần được di chuyển khi xây dựng đô thị. Về lâu dài các tuyến 110KV chạy qua khu vực đô thị cần được hạ ngầm và đi theo các tuyến đường quy hoạch.
- Lưới 22 KV: Các khu đô thị mới và khu vực thị trấn Sóc Sơn lưới 22 KV bố trí đi ngầm; Các tuyến trung thế 6, 10, 35 KV hiện có không phù hợp với quy hoạch sẽ được di chuyển cải tạo nâng cấp điện áp lên 22 KV và đi theo các tuyến đường quy hoạch.
- Chiếu sáng đô thị: Lưới điện hạ thế 0,4 KV xây dựng mới có kết cấu hình tia, đi nổi trên cột bê tông ly tâm, xây dựng hệ thống điện chiếu sáng hoàn chỉnh trên khắp địa bàn.
9.5. Thông tin liên lạc:
- Nguồn cấp: Nâng cấp mở rộng dung lượng cho tổng đài HOST Phù Lỗ (lên 15000 lines), tổng đài HOST Sóc Sơn (lên 20000 lines) và xây dựng mới 05 tổng đài vệ tinh trên địa bàn huyện Sóc Sơn. Tổng đài HOST và các tổng đài vệ tinh được đấu nối trên tuyến cáp quang liên tỉnh chạy dọc trên tuyến Quốc lộ 3.
- Hệ thống mạng lưới:
+ Mạng truyền dẫn: các đường trung kế giữa các tổng đài là cáp quang tạo thành mạch vòng (ring), tạo điều kiện mở rộng các loại hình dịch vụ như truyền hình cáp, Internet băng thông rộng, Video phone....
+ Mạng ngoại vi của huyện Sóc Sơn phải đồng bộ với quy hoạch chung của Thành phố.
+ Thực hiện ngầm hóa đến toàn bộ các khu đô thị mới, các khu công nghiệp.
9.6. Thoát nước thải, quản lý chất thải rắn và nghĩa trang:
a) Thu gom và xử lý nước thải:
- Các loại nước thải không được xả trực tiếp ra sông, suối mà phải được xử lý đạt tiêu chuẩn vệ sinh theo Tiêu chuẩn Việt Nam trước khi xả ra nguồn.
- Xây dựng hệ thống thoát nước thải của khu vực đô thị là hệ thống thoát nước riêng, tự chảy theo các tuyến cống đường phố về trạm xử lý tập trung của khu vực.
- Hệ thống nước thải sinh hoạt đô thị huyện Sóc Sơn được xử lý thông qua 4 trạm xử lý nước thải gồm:
+ Trạm xử lý số 1 có công suất: đến năm 2020 khoảng 12.000 m3/ng.đ, đến năm 2030 khoảng 20.000 m3/ng.đêm.
+ Trạm xử lý số 2 có công suất: đến năm 2020 khoảng 15.000 m3/ng.đ, đến năm 2030 khoảng 23.000 m3/ng.đêm.
+ Trạm xử lý số 3 có công suất: đến năm 2020 khoảng 10.000 m3/ng.đ, đến năm 2030 khoảng 22.000 m3/ng.đêm.
+ Khu vực thị trấn Nỉ xây dựng 01 trạm xử lý, công suất 3.000 m3/ng.đêm.
- Khu vực hệ thống nước thải nông thôn thoát nước chung với nước mưa.
+ Nâng cấp, xây dựng hệ thống mương thoát nước, nạo vét, mở rộng mương, cải tạo mương khai thông dòng chảy.
+ Xử lý nước thải theo mô hình cục bộ, từng hộ gia đình hoặc mô hình tập trung theo cụm các cơ sở sản xuất.
- Thoát nước thải cho các khu công nghiệp và cơ sở y tế: Các khu công nghiệp được thu gom và xử lý riêng hoàn toàn. Trạm xử lý nước thải được đặt trong khu công nghiệp, xử lý nước thải đạt đến tiêu chuẩn cho phép rồi mới thải ra hệ thống thoát nước chung. Đối với nước thải y tế: Sử dụng hệ thống thoát nước riêng, nước thải y tế sau khi được xử lý đạt tiêu chuẩn mới được thải ra hệ thống thoát nước chung.
b) Quản lý chất thải rắn:
- Chất thải rắn sinh hoạt: được thu gom và phân loại tại nguồn, sau đó đưa về các điểm trung chuyển chất thải rắn trước khi vận chuyển đến Khu hỗn hợp xử lý chất thải Sóc Sơn.
- Chất thải rắn công nghiệp: Chất thải rắn công nghiệp không nguy hại được đưa về các điểm trung chuyển và đưa về các cơ sở xử lý chất thải rắn công nghiệp, để sử dụng cho mục đích tái chế; Chất thải rắn công nghiệp nguy hại được thu gom và xử lý riêng.
- Chất thải rắn y tế: Chất thải rắn y tế nguy hại được thu gom và xử lý riêng. Xây dựng lò đốt chất thải rắn y tế tại các trung tâm y tế cấp huyện.
- Xây dựng Khu liên hợp xử lý chất thải Sóc Sơn có quy mô là 257 ha đến năm 2030; và 280 ha đến năm 2050, nằm trên địa bàn các xã Nam Sơn, Hồng Kỳ và Bắc Sơn.
c) Định hướng quy hoạch nghĩa trang, nhà tang lễ:
- Xây dựng nghĩa trang tập trung Minh Phú có diện tích quy hoạch khoảng 100 ha, theo Quy hoạch nghĩa trang Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 496/QĐ-TTg ngày 08/4/2014.
- Xây dựng nghĩa trang Bắc Sơn đến 2020 có quy mô diện tích là 10 ha, sử dụng hình thức hỏa táng phục vụ nhân dân huyện Sóc Sơn và khu vực Bắc Hà Nội.
- Xây dựng 02 nhà tang lễ tại thị trấn Nỉ và xã Tiên Dược, quy mô mỗi nhà tang lễ khoảng 1 ha phục vụ nhu cầu của Huyện.
- Đối với nghĩa trang hiện có phân tán, có quy mô nhỏ không đảm bảo yêu cầu vệ sinh môi trường cần có kế hoạch đóng cửa, tiến hành trồng cây xanh cách ly đảm bảo vệ sinh môi trường và cảnh quan. Khi có nhu cầu sử dụng đất phải di chuyển đến nghĩa trang tập trung Minh Phú; Từng bước đóng cửa các nghĩa trang nhỏ lẻ.
- Nghĩa trang cấp xã, mỗi xã có từ 01 đến 02 nghĩa trang tập trung cấp xã (tùy thuộc diện tích, địa giới hành chính và quy mô dân số theo quy hoạch nông thôn mới). Các nghĩa trang hiện có, đủ điều kiện tồn tại đáp ứng được yêu cầu về quỹ đất thì có thể xem xét mở rộng, xây dựng theo quy hoạch.
- Với nghĩa trang ảnh hưởng đến việc phát triển đô thị sẽ di chuyển về nghĩa trang tập trung Minh Phú.