Document: Điểm d Khoản 3 Điều 1 Quyết định 02/2013/QĐ-UBND sửa đổi Quy định bồi thường hỗ trợ tái định cư

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "07/01/2013", "sign_number": "02/2013/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Hồng Khanh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "07/01/2013", "sign_number": "02/2013/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Hồng Khanh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "07/01/2013", "sign_number": "02/2013/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Hồng Khanh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "07/01/2013", "sign_number": "02/2013/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Hồng Khanh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "07/01/2013", "sign_number": "02/2013/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Hồng Khanh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 3 Điều 1 Quyết định 02/2013/QĐ-UBND sửa đổi Quy định bồi thường hỗ trợ tái định cư

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29/9/2009 của UBND Thành phố về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội như sau:
...
3. Việc điều chỉnh giá đất làm cơ sở tính bồi thường, hỗ trợ đất thu hồi (nếu có) khi đã có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của cấp có thẩm quyền được xử lý như sau:
...
d) Khi thực hiện hỗ trợ bằng tiền quy định tại các mục a, b, c nêu trên, UBND quận, huyện, thị xã có trách nhiệm chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường, vần phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận, huyện, thị xã làm thủ tục ghi hạn chế quyền sử dụng đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà đối với trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hoặc lưu hồ sơ quản lý đất đai để thực hiện việc quản lý sử dụng đất và ghi hạn chế quyền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận quyền sư dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác phù hợp với đất."
6) Bổ sung Khoản 1 Điều 29 như sau:
"Kinh phí hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân thuê, đấu thầu theo quy định này được trích từ số tiền do UBND cấp huyện hỗ trợ cho ngân sách UBND cấp xã khi thu hồi đất."
7) Sửa đổi, bổ sung khoản 1, 2 Điều 31 như sau:
"1. Nhà ở và công trình xây dựng có phép; nhà ở và công trình xây dựng không phép trước ngày 01/7/2004 của hộ gia đình, cá nhân trên đất có đủ điều kiện được bồi thường tại Điều 7 bản quy định ban hành kèm Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29/9/2009 của UBND Thành phố được bồi thường bằng 100% đơn giá xây dựng mới do UBND Thành phố ban hành.
Ủy ban nhân dân Thành phố ủy quyền cho Sở Xây dựng quyết định công bố đơn giá xây dựng mới nhà ở, công trình, vật kiến trúc, di chuyển mộ làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố.
2. Bồi thường đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội được xác định như sau:
a) Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đang sử dụng, phải di chuyển thì mức bồi thường bằng tiền tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật cùng cấp (theo tiêu chuẩn kỹ thuật do Bộ quản lý chuyên ngành ban hành) cho các đơn vị quản lý, sử dụng, khai thác công trình này tự thực hiện việc xây dựng mới, di chuyển các công trình; nếu công trình không còn sử dụng thì không được bồi thường.
Trường hợp công trình hạ tầng đang sử dụng, phải di chuyển mà chưa được xếp loại vào cấp tiêu chuẩn kỹ thuật thì Sở quan lý chuyên ngành xác định cấp tiêu chuẩn kỹ thuật để tính bồi thường.
b) Đối với các dự án theo tuyến liên quan đến nhiều địa bàn (quận, huyện, xã phường), việc di chuyển các công trình hạ tầng kỹ thuật đang sử dụng phải thực hiện đồng bộ. Trường hợp các đơn vị có tài sản có văn bản đề nghị được nhận bồi thường bằng hoàn trả công trình (thay việc nhận bồi thường bằng tiền theo quy định tại tiết a, điểm 2 khoản này) thì việc hoàn trả bằng công trình được xem xét, thực hiện như sau:
b1. Căn cứ biên bản điều tra hiện trạng công trình hạ tầng kỹ thuật đang sử dụng, phải di chuyển của Tổ công tác (có xác nhận của UBND cấp xã nơi thu hồi đất và của đơn vị quản lý, sử dụng, khai thác công trình), Chủ đầu tư được giao nhiệm vụ giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lạp hoặc thuê tổ chức có tư cách pháp nhân lập thiết kế dự toán xây dựng công trình mới có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương gửi cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành để . xin ý kiến thỏa thuận, thẩm định làm cơ sở trình UBND cấp huyện thẩm định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ theo quy định.
b2. .Giá trị phương án bồi thường, hỗ trợ được phê duyệt là kinh phí để tổ chức thực hiện di chuyển, xây dựng công trình va hoàn trả, bàn giao cho đơn vị có tài sản. Việc tổ chức di chuyển, xây dựng công trình phải thực hiện theo đúng trình tự, quy định về quản lý dự án đầu tư; tài sản thu hồi không còn dùng được xử lý theo đúng các quy định hiện hành
Trường hợp đơn vị có tài sản có nhu cầu bổ sung công năng, tăng dung lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật thì phần tăng thêm đơn vị phải chi trả.
bĐơn vị nhận tiếp nhận tài sản có trách nhiệm thực hiện việc đánh giá, ghi tăng vốn Nhà nước tại doanh nghiệp theo đúng các quy định."
8) Điều chỉnh một số khoản hỗ trợ quy định tại Điều 35, Điều 38 như sau:
a) Hỗ trợ di chuyển mộ quy định tại khoản 1, 2 Điều 35 từ mức 3.000.000 |đồng/mộ thành mức 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)/ mộ.
b) Hỗ trợ di chuyển quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 38 từ mức 3.000.000 đồng/chủ sử dụng nhà ở, đất ở (nếu di chuyển chỗ ở trong phạm vi thành ) thành mức 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)/ chủ sử dụng nhà ở, đất ở; 5.000.000đồng/chủ sử dụng nhà ở, đất ở (nếu di chuyển chỗ ở về tỉnh, thành phố khác) thành mức 8.000.000 đồng (tám triệu đồng)/chủ sử dụng nhà ở, đất ở.
Trường hợp đủ điều kiện được bố trí tái định cư mà tự nguyện bàn giao mặt bằng và tự lo nơi ở tạm cư thì còn được bổ sung hỗ trợ di chuyển chỗ ở tạm 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)/chủ sử dụng nhà ở, đất ở.
c) Hỗ trợ thuê nhà tạm cư quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 38 từ mức 500.000đồng/nhân khẩu hoặc 1.000.000 đồng/hộ độc thân/tháng thành mức 1.000.000 đồng (một triệu đồng)/nhân khẩu thực tế ăn ở tại nơi thu hồi đất/ tháng hoặc 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/hộ độc thân/tháng, nhưng mức hỗ trợ không quá 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng)/hộ gia đình/tháng.
Thời gian hỗ trợ tính từ khi bàn giao mặt bằng đến khi có thông báo nhận nhà tái định cư (trường hợp được mua nhà tái định cư); tính từ khi bàn giao mặt bằng đến khi có thông báo nhận đất tái định cư cộng thêm 06 tháng để xây nhà (trường hợp được giao đất tái định cư).
Các trường hợp nhận tiền hỗ trợ để tự lo tái định cư cũng được hỗ trợ tiền thuê nhà ở tạm như các trường hợp được mua nhà, giao đất tái định cư của dự án
Trường hợp bị thu hồi một phần đất ở mà chủ sử dụng nhà ở, đất ở không được tiêu chuẩn tái định cư nhưng thực tế bị phá dỡ toàn bộ hoặc một phần nhà ở, nếu bàn giao mặt bằng đúng tiến độ thì cũng được hỗ trợ tiền thuê nhà tạm theo mức trên trong 06 tháng (đối với trường hợp bị phá dỡ toàn bộ nhà ở) và 03 tháng (đối với trường hợp bị phá dỡ một phần nhà ở).
9) Sửa đổi khoản 3 Điều 40 như sau:
"Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp (thực hiện Quyết định số 52/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) sẽ được UBND Thành phố quy định chi tiết riêng.
10) Sửa đổi khoản 3 Điều 44 như sau:
"Trường hợp chủ đầu tư thực hiện dự án bằng nguồn vốn ngoài ngân sách, không tự lo được quỹ tái định cư, nếu có nhu cầu sử dụng qũy nhà, đất tái định cư của Thành phố thì phải đề nghị với UBND Thành phố để được xem xét mua nhà, giao đất theo giá sát với giá thị trường."
11) Sửa đổi Điều 45 như sau:
Điều 45. Chính sách và nguyên tắc bố trí tái định cư nhà ở, đất ở cho hộ gia đình cá nhân (Thực hiện Luật Đất đai, Luật Nhà ở năm 2003; Điều 4, khoản 2 Điều 14, Điều 34 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ; Điều 5 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ; Điều 19 Nghị Định 69/2009/NĐ-CP ; Điều 18 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT)
1. Hộ gia đình, cá nhân khi bị Nhà nước thu hồi đất có một trong các điều kiện được bồi thường, hỗ trợ theo giá đất ở, được bố trí tái định cư trong các trường hợp sau:
a) Hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi hết đất ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu tái định cư);
b) Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất mà phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở hoặc xây dựng nhà ở theo quy định của Thành phố mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phương, thị trấn nơi có đất bị thu hồi;
c) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi;
d) Các trường hợp cá biệt khác được giải quyết theo văn bản chỉ đạo riêng của ỤBND Thành phố.
2. Giá thu tiền sử dụng đất, giá bán nhà tái định cư.
a) (Giá thu tiền sử dụng đất khi giao đất tái định cư được xác định theo sát giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường trong điều kiện bình thường, cùng với thời điểm và thống nhất với nguyên tắc và phương pháp xác định giá đất ở làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi, được UBND Thành phố phê duyệt cho từng dự án cụ thể (đối với trường hợp có điều chỉnh so với bảng giá đất hàng năm) cùng với việc phê duyệt giá đất ở làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất.
Chủ đầu tư hoặc tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm thuê tổ chức tư vấn có chức năng thẩm định giá theo quy định của Bộ Tài chính để xác định giá thu tiền sử dụng đất, có chứng thư thẩm định giá gửi UBND cấp huyện xem xét, đề xuất, báo cáo Sở Tài chính thẩm tra, trình UBND Thành phố quyết định đối với giá thu tiền sử dụng đất tái định cư
Chi phí thuê tổ chức tư vấn để xác định lại giá đất ờ theo quy định này được tính vào chi phí phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án.
b) Giá bán nhà tái định cư được xác định sát với giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường, đảm bảo không thấp hơn tiền sử dụng đất phân bổ và chi phí thực tế.
Ủy ban nhân dân Thành phố ủy quyền cho Sở Tài chính quyết định giá bán căn hộ chung cư tái định cư cho từng tầng, loại nhà, theo vị trí của từng dự án cụ thể. Công ty TNHH MTV Quản lý và Phát triển nhà Hà Nội thuê đơn vị tư vấn thẩm định giá xác định, xem xét báo cáo Sở Tài chính thẩm tra, phê duyệt.
Đối với các căn hộ tái định cư tại khu tái định cư đã xác định giá bán theo nguyên tắc này, nếu áp dụng tiếp cho các dự án sau mà giá thị trường có biến động thì Sở Tài chính phê duyệt tỷ lệ % điều chỉnh tăng, giảm cho phù hợp để áp dụng.
c) Khi thực hiện chính sách giá tái định cư theo quy định tại khoản này, người bị thu hồi đất được lựa chọn theo phương án bố trí tái định cư của chủ đầu tư đã được thỏa thuận cho dự án theo quy định tại khoản 12, khoản 13 Điều này hoặc mua nhà, đất thương mại tại các dự án phát triển khu đô thị mới trên địa bàn Thành phố.
Hỗ trợ tái định cư.
a) Khi Nhà nước thu hồi đất (toàn bộ thửa đất ở), hộ gia đình, cá nhân có đủ điều kiện được bố trí tái định cư mà số tiền được bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu (40m2 đất; 45m2 nhà chung cư) thì được hỗ trợ khoản chênh lệch này.
Trường hợp sau khi đã được hưởng khoản hỗ trợ chênh lệch mà tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ trong phương án vẫn chưa đủ nộp tiền sử dụng đất, tiền mua nhà tái định cư theo phương án được phê duyệt thực tế, nếu có nguyện vọng và có đơn đề nghị thì được trả dần số tiền còn thiếu theo quy định hiện hành của UBND Thành phố;
Trường hợp không nhận đất ở, nhà ở tái khu tái định cư thì được hỗ trợ
bằng tiền theo quy định tại tiết b, điểm 3 khoản này.
b) Khi Nhà nước thu hồi đất hộ gia đình, cá nhân có đủ điều kiện được bố trí tái định cư (kể cả trường hợp quy định tại tiết a, điểm 3 khoản này), mà có nguyện vọng tự lo chỗ ở thì được hỗ trợ một khoản bằng tiền 100.000.000 đồng/hộ gia đình (một trăm triệu đồng).

Content:
Khi thực hiện hỗ trợ bằng tiền quy định tại các mục a, b, c nêu trên, UBND quận, huyện, thị xã có trách nhiệm chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường, vần phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận, huyện, thị xã làm thủ tục ghi hạn chế quyền sử dụng đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà đối với trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hoặc lưu hồ sơ quản lý đất đai để thực hiện việc quản lý sử dụng đất và ghi hạn chế quyền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận quyền sư dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác phù hợp với đất."
6) Bổ sung Khoản 1 Điều 29 như sau:
"Kinh phí hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân thuê, đấu thầu theo quy định này được trích từ số tiền do UBND cấp huyện hỗ trợ cho ngân sách UBND cấp xã khi thu hồi đất."
7) Sửa đổi, bổ sung khoản 1, 2 Điều 31 như sau:
"1. Nhà ở và công trình xây dựng có phép; nhà ở và công trình xây dựng không phép trước ngày 01/7/2004 của hộ gia đình, cá nhân trên đất có đủ điều kiện được bồi thường tại Điều 7 bản quy định ban hành kèm Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29/9/2009 của UBND Thành phố được bồi thường bằng 100% đơn giá xây dựng mới do UBND Thành phố ban hành.
Ủy ban nhân dân Thành phố ủy quyền cho Sở Xây dựng quyết định công bố đơn giá xây dựng mới nhà ở, công trình, vật kiến trúc, di chuyển mộ làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố.
2. Bồi thường đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội được xác định như sau:
a) Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đang sử dụng, phải di chuyển thì mức bồi thường bằng tiền tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật cùng cấp (theo tiêu chuẩn kỹ thuật do Bộ quản lý chuyên ngành ban hành) cho các đơn vị quản lý, sử dụng, khai thác công trình này tự thực hiện việc xây dựng mới, di chuyển các công trình; nếu công trình không còn sử dụng thì không được bồi thường.
Trường hợp công trình hạ tầng đang sử dụng, phải di chuyển mà chưa được xếp loại vào cấp tiêu chuẩn kỹ thuật thì Sở quan lý chuyên ngành xác định cấp tiêu chuẩn kỹ thuật để tính bồi thường.
b) Đối với các dự án theo tuyến liên quan đến nhiều địa bàn (quận, huyện, xã phường), việc di chuyển các công trình hạ tầng kỹ thuật đang sử dụng phải thực hiện đồng bộ. Trường hợp các đơn vị có tài sản có văn bản đề nghị được nhận bồi thường bằng hoàn trả công trình (thay việc nhận bồi thường bằng tiền theo quy định tại tiết a, điểm 2 khoản này) thì việc hoàn trả bằng công trình được xem xét, thực hiện như sau:
b1. Căn cứ biên bản điều tra hiện trạng công trình hạ tầng kỹ thuật đang sử dụng, phải di chuyển của Tổ công tác (có xác nhận của UBND cấp xã nơi thu hồi đất và của đơn vị quản lý, sử dụng, khai thác công trình), Chủ đầu tư được giao nhiệm vụ giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lạp hoặc thuê tổ chức có tư cách pháp nhân lập thiết kế dự toán xây dựng công trình mới có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương gửi cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành để . xin ý kiến thỏa thuận, thẩm định làm cơ sở trình UBND cấp huyện thẩm định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ theo quy định.
b2. .Giá trị phương án bồi thường, hỗ trợ được phê duyệt là kinh phí để tổ chức thực hiện di chuyển, xây dựng công trình va hoàn trả, bàn giao cho đơn vị có tài sản. Việc tổ chức di chuyển, xây dựng công trình phải thực hiện theo đúng trình tự, quy định về quản lý dự án đầu tư; tài sản thu hồi không còn dùng được xử lý theo đúng các quy định hiện hành
Trường hợp đơn vị có tài sản có nhu cầu bổ sung công năng, tăng dung lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật thì phần tăng thêm đơn vị phải chi trả.
bĐơn vị nhận tiếp nhận tài sản có trách nhiệm thực hiện việc đánh giá, ghi tăng vốn Nhà nước tại doanh nghiệp theo đúng các quy định."
8) Điều chỉnh một số khoản hỗ trợ quy định tại Điều 35, Điều 38 như sau:
a) Hỗ trợ di chuyển mộ quy định tại khoản 1, 2 Điều 35 từ mức 3.000.000 |đồng/mộ thành mức 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)/ mộ.
b) Hỗ trợ di chuyển quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 38 từ mức 3.000.000 đồng/chủ sử dụng nhà ở, đất ở (nếu di chuyển chỗ ở trong phạm vi thành ) thành mức 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)/ chủ sử dụng nhà ở, đất ở; 5.000.000đồng/chủ sử dụng nhà ở, đất ở (nếu di chuyển chỗ ở về tỉnh, thành phố khác) thành mức 8.000.000 đồng (tám triệu đồng)/chủ sử dụng nhà ở, đất ở.
Trường hợp đủ điều kiện được bố trí tái định cư mà tự nguyện bàn giao mặt bằng và tự lo nơi ở tạm cư thì còn được bổ sung hỗ trợ di chuyển chỗ ở tạm 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)/chủ sử dụng nhà ở, đất ở.
c) Hỗ trợ thuê nhà tạm cư quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 38 từ mức 500.000đồng/nhân khẩu hoặc 1.000.000 đồng/hộ độc thân/tháng thành mức 1.000.000 đồng (một triệu đồng)/nhân khẩu thực tế ăn ở tại nơi thu hồi đất/ tháng hoặc 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/hộ độc thân/tháng, nhưng mức hỗ trợ không quá 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng)/hộ gia đình/tháng.
Thời gian hỗ trợ tính từ khi bàn giao mặt bằng đến khi có thông báo nhận nhà tái định cư (trường hợp được mua nhà tái định cư); tính từ khi bàn giao mặt bằng đến khi có thông báo nhận đất tái định cư cộng thêm 06 tháng để xây nhà (trường hợp được giao đất tái định cư).
Các trường hợp nhận tiền hỗ trợ để tự lo tái định cư cũng được hỗ trợ tiền thuê nhà ở tạm như các trường hợp được mua nhà, giao đất tái định cư của dự án
Trường hợp bị thu hồi một phần đất ở mà chủ sử dụng nhà ở, đất ở không được tiêu chuẩn tái định cư nhưng thực tế bị phá dỡ toàn bộ hoặc một phần nhà ở, nếu bàn giao mặt bằng đúng tiến độ thì cũng được hỗ trợ tiền thuê nhà tạm theo mức trên trong 06 tháng (đối với trường hợp bị phá dỡ toàn bộ nhà ở) và 03 tháng (đối với trường hợp bị phá dỡ một phần nhà ở).
9) Sửa đổi khoản 3 Điều 40 như sau:
"Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp (thực hiện Quyết định số 52/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) sẽ được UBND Thành phố quy định chi tiết riêng.
10) Sửa đổi khoản 3 Điều 44 như sau:
"Trường hợp chủ đầu tư thực hiện dự án bằng nguồn vốn ngoài ngân sách, không tự lo được quỹ tái định cư, nếu có nhu cầu sử dụng qũy nhà, đất tái định cư của Thành phố thì phải đề nghị với UBND Thành phố để được xem xét mua nhà, giao đất theo giá sát với giá thị trường."
11) Sửa đổi Điều 45 như sau:
Điều 45. Chính sách và nguyên tắc bố trí tái định cư nhà ở, đất ở cho hộ gia đình cá nhân (Thực hiện Luật Đất đai, Luật Nhà ở năm 2003; Điều 4, khoản 2 Điều 14, Điều 34 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ; Điều 5 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ; Điều 19 Nghị Định 69/2009/NĐ-CP ; Điều 18 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT)
1. Hộ gia đình, cá nhân khi bị Nhà nước thu hồi đất có một trong các điều kiện được bồi thường, hỗ trợ theo giá đất ở, được bố trí tái định cư trong các trường hợp sau:
a) Hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi hết đất ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu tái định cư);
b) Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất mà phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở hoặc xây dựng nhà ở theo quy định của Thành phố mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phương, thị trấn nơi có đất bị thu hồi;
c) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi;
Các trường hợp cá biệt khác được giải quyết theo văn bản chỉ đạo riêng của ỤBND Thành phố.
2. Giá thu tiền sử dụng đất, giá bán nhà tái định cư.
a) (Giá thu tiền sử dụng đất khi giao đất tái định cư được xác định theo sát giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường trong điều kiện bình thường, cùng với thời điểm và thống nhất với nguyên tắc và phương pháp xác định giá đất ở làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi, được UBND Thành phố phê duyệt cho từng dự án cụ thể (đối với trường hợp có điều chỉnh so với bảng giá đất hàng năm) cùng với việc phê duyệt giá đất ở làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất.
Chủ đầu tư hoặc tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm thuê tổ chức tư vấn có chức năng thẩm định giá theo quy định của Bộ Tài chính để xác định giá thu tiền sử dụng đất, có chứng thư thẩm định giá gửi UBND cấp huyện xem xét, đề xuất, báo cáo Sở Tài chính thẩm tra, trình UBND Thành phố quyết định đối với giá thu tiền sử dụng đất tái định cư
Chi phí thuê tổ chức tư vấn để xác định lại giá đất ờ theo quy định này được tính vào chi phí phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án.
b) Giá bán nhà tái định cư được xác định sát với giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường, đảm bảo không thấp hơn tiền sử dụng đất phân bổ và chi phí thực tế.
Ủy ban nhân dân Thành phố ủy quyền cho Sở Tài chính quyết định giá bán căn hộ chung cư tái định cư cho từng tầng, loại nhà, theo vị trí của từng dự án cụ thể. Công ty TNHH MTV Quản lý và Phát triển nhà Hà Nội thuê đơn vị tư vấn thẩm định giá xác định, xem xét báo cáo Sở Tài chính thẩm tra, phê duyệt.
Đối với các căn hộ tái định cư tại khu tái định cư đã xác định giá bán theo nguyên tắc này, nếu áp dụng tiếp cho các dự án sau mà giá thị trường có biến động thì Sở Tài chính phê duyệt tỷ lệ % điều chỉnh tăng, giảm cho phù hợp để áp dụng.
c) Khi thực hiện chính sách giá tái định cư theo quy định tại khoản này, người bị thu hồi đất được lựa chọn theo phương án bố trí tái định cư của chủ đầu tư đã được thỏa thuận cho dự án theo quy định tại khoản 12, khoản 13 Điều này hoặc mua nhà, đất thương mại tại các dự án phát triển khu đô thị mới trên địa bàn Thành phố.
Hỗ trợ tái định cư.
a) Khi Nhà nước thu hồi đất (toàn bộ thửa đất ở), hộ gia đình, cá nhân có đủ điều kiện được bố trí tái định cư mà số tiền được bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu (40m2 đất; 45m2 nhà chung cư) thì được hỗ trợ khoản chênh lệch này.
Trường hợp sau khi đã được hưởng khoản hỗ trợ chênh lệch mà tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ trong phương án vẫn chưa đủ nộp tiền sử dụng đất, tiền mua nhà tái định cư theo phương án được phê duyệt thực tế, nếu có nguyện vọng và có đơn đề nghị thì được trả dần số tiền còn thiếu theo quy định hiện hành của UBND Thành phố;
Trường hợp không nhận đất ở, nhà ở tái khu tái định cư thì được hỗ trợ
bằng tiền theo quy định tại tiết b, điểm 3 khoản này.
b) Khi Nhà nước thu hồi đất hộ gia đình, cá nhân có đủ điều kiện được bố trí tái định cư (kể cả trường hợp quy định tại tiết a, điểm 3 khoản này), mà có nguyện vọng tự lo chỗ ở thì được hỗ trợ một khoản bằng tiền 100.000.000 đồng/hộ gia đình (một trăm triệu đồng).