Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 126/2011/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Ninh", "promulgation_date": "12/10/2011", "sign_number": "126/2011/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Tử Quỳnh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Ninh", "promulgation_date": "12/10/2011", "sign_number": "126/2011/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Tử Quỳnh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Ninh", "promulgation_date": "12/10/2011", "sign_number": "126/2011/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Tử Quỳnh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Ninh", "promulgation_date": "12/10/2011", "sign_number": "126/2011/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Tử Quỳnh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Ninh", "promulgation_date": "12/10/2011", "sign_number": "126/2011/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Tử Quỳnh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 126/2011/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011-2015 định hướng đến năm 2020 (Kèm theo Quyết định này bản quy hoạch chi tiết), với những nội dung chủ yếu sau:
...
2. Mục tiêu phát triển nhân lực
2.1. Mục tiêu chung
Nâng cao tính khả thi và hiệu quả của Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 - 2020;
Đưa nhân lực trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng để phát triển kinh tế xã hội, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI);
Phát triển nhân lực đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng. Trên cả ba yếu tố cơ bản: sức khỏe, kỹ năng nghề, đạo đức và cơ cấu hợp lý đáp ứng cho nhu cầu phát triển KT-XH của một tỉnh công nghiệp và thành Thành phố trực thuộc Trung ương.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Nâng cao thể lực, tầm vóc của nhân lực; nâng cao trí tuệ, ý chí, đạo đức, tính năng động, chủ động, tự lực, sáng tạo, kỹ năng nghề nghiệp; có khả năng thích ứng và nhanh chóng tạo thế chủ động trong môi trường sống và làm việc của thời đại mới.
Từng bước nâng cao chất lượng nguồn lao động, đến năm 2015 tỷ lệ lao động qua đào tạo 60%; giải quyết việc làm bình quân hàng năm từ 26.000 - 27.000 lao động, trong đó 50% là lao động nữ. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội, lao động nông nghiệp còn 33,3 %; lao động công nghiệp xây dựng 40,3%; lao động dịch vụ 25,8%. Đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo 75%; lao động nông nghiệp còn 20,2%; lao động công nghiệp xây dựng 47,6%; lao động dịch vụ 32,2%. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các trường (các hệ giáo dục đào tạo và dạy nghề) trên địa bàn tỉnh để đào tạo nhân lực cho nhu cầu phát triển.
II. Phương hướng phát triển nhân lực thời kỳ 2011 - 2020
1. Phát triển nhân lực theo bậc đào tạo
Nâng cao số lượng nhân lực được đào tạo theo các cấp trình độ, chú ý nguồn nhân lực chất lượng cao cung ứng cho các ngành kinh tế mũi nhọn (điện tử, chế tạo cơ khí…). Tăng tỷ lệ nhân lực qua đào tạo trong nền kinh tế với cơ cấu hợp lý.
Trong tổng số nhân lực qua đào tạo năm 2015 ước tính khoảng 382,1 nghìn người, trong đó: số nhân lực đào tạo qua hệ thống dạy nghề khoảng 229,6 nghìn người, qua hệ thống giáo dục đào tạo khoảng 152,84 nghìn người. Đến năm 2020, tổng số nhân lực qua đào tạo khoảng 504,4 nghìn người, trong đó: số nhân lực đào tạo qua hệ thống dạy nghề khoảng 267,3 nghìn người, qua hệ thống giáo dục đào tạo khoảng 237,1 nghìn người. Năm 2015 số nhân lực có trình độ sơ cấp nghề khoảng 213,9 nghìn người (56%), qua trung cấp khoảng 87,9 nghìn người (23%); bậc cao đẳng khoảng 34,6 nghìn người (9%); bậc Đại học hơn 42,2 nghìn người (11%) và trên đại học khoảng 3,4 nghìn người (0,9%). Năm 2020 các con số tương ứng là 257,2 nghìn người (51%); 131,1 nghìn người (26%); 50,9 nghìn người (>10%); 60,4 nghìn người (12%) và 4,6 nghìn người (0,9%).
2. Xây dựng mối quan hệ, gắn kết giữa các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả công các đào tạo nghề, đồng thời phát triển nguồn nhân lực có tay nghề cao và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực đã được đào tạo.

Content:
Mục tiêu phát triển nhân lực
2.1. Mục tiêu chung
Nâng cao tính khả thi và hiệu quả của Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 - 2020;
Đưa nhân lực trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng để phát triển kinh tế xã hội, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI);
Phát triển nhân lực đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng. Trên cả ba yếu tố cơ bản: sức khỏe, kỹ năng nghề, đạo đức và cơ cấu hợp lý đáp ứng cho nhu cầu phát triển KT-XH của một tỉnh công nghiệp và thành Thành phố trực thuộc Trung ương.
2.Mục tiêu cụ thể
Nâng cao thể lực, tầm vóc của nhân lực; nâng cao trí tuệ, ý chí, đạo đức, tính năng động, chủ động, tự lực, sáng tạo, kỹ năng nghề nghiệp; có khả năng thích ứng và nhanh chóng tạo thế chủ động trong môi trường sống và làm việc của thời đại mới.
Từng bước nâng cao chất lượng nguồn lao động, đến năm 2015 tỷ lệ lao động qua đào tạo 60%; giải quyết việc làm bình quân hàng năm từ 26.000 - 27.000 lao động, trong đó 50% là lao động nữ. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội, lao động nông nghiệp còn 33,3 %; lao động công nghiệp xây dựng 40,3%; lao động dịch vụ 25,8%. Đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo 75%; lao động nông nghiệp còn 20,2%; lao động công nghiệp xây dựng 47,6%; lao động dịch vụ 32,2%. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các trường (các hệ giáo dục đào tạo và dạy nghề) trên địa bàn tỉnh để đào tạo nhân lực cho nhu cầu phát triển.
II. Phương hướng phát triển nhân lực thời kỳ 2011 - 2020
1. Phát triển nhân lực theo bậc đào tạo
Nâng cao số lượng nhân lực được đào tạo theo các cấp trình độ, chú ý nguồn nhân lực chất lượng cao cung ứng cho các ngành kinh tế mũi nhọn (điện tử, chế tạo cơ khí…). Tăng tỷ lệ nhân lực qua đào tạo trong nền kinh tế với cơ cấu hợp lý.
Trong tổng số nhân lực qua đào tạo năm 2015 ước tính khoảng 382,1 nghìn người, trong đó: số nhân lực đào tạo qua hệ thống dạy nghề khoảng 229,6 nghìn người, qua hệ thống giáo dục đào tạo khoảng 152,84 nghìn người. Đến năm 2020, tổng số nhân lực qua đào tạo khoảng 504,4 nghìn người, trong đó: số nhân lực đào tạo qua hệ thống dạy nghề khoảng 267,3 nghìn người, qua hệ thống giáo dục đào tạo khoảng 237,1 nghìn người. Năm 2015 số nhân lực có trình độ sơ cấp nghề khoảng 213,9 nghìn người (56%), qua trung cấp khoảng 87,9 nghìn người (23%); bậc cao đẳng khoảng 34,6 nghìn người (9%); bậc Đại học hơn 42,2 nghìn người (11%) và trên đại học khoảng 3,4 nghìn người (0,9%). Năm 2020 các con số tương ứng là 257,2 nghìn người (51%); 131,1 nghìn người (26%); 50,9 nghìn người (>10%); 60,4 nghìn người (12%) và 4,6 nghìn người (0,9%).
Xây dựng mối quan hệ, gắn kết giữa các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả công các đào tạo nghề, đồng thời phát triển nguồn nhân lực có tay nghề cao và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực đã được đào tạo.