Document: Điều 2 Quyết định 49/2005/QĐ-TTg Kế hoạch phòng, chống ma tuý đến năm 2010

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/03/2005", "sign_number": "49/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Gia Khiêm", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/03/2005", "sign_number": "49/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Gia Khiêm", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/03/2005", "sign_number": "49/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Gia Khiêm", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/03/2005", "sign_number": "49/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Gia Khiêm", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/03/2005", "sign_number": "49/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Gia Khiêm", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định 49/2005/QĐ-TTg Kế hoạch phòng, chống ma tuý đến năm 2010 có nội dung như sau:

Điều 2. Các giải pháp chính:
1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng và chính quyền về công tác phòng, chống ma túy; nhiệm vụ phòng, chống ma túy phải là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và từng địa phương. Huy động toàn dân tham gia phòng, chống ma túy, từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn ma túy. Quy định rõ trách nhiệm của cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, trường học, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội khác trong công tác phòng, chống ma tuý.
2. Triển khai đồng bộ các loại hình thông tin, tuyên truyền, giáo dục sâu rộng nhiệm vụ phòng, chống ma túy với nội dung và hình thức phù hợp cho các loại đối tượng. Tập trung tuyên truyền ở những tuyến, địa bàn trọng điểm, trong thanh, thiếu niên, đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào vùng sâu, vùng xa và các nhóm đối tượng có nguy cơ cao, tạo ra phong trào sâu, rộng trong toàn dân lên án, phát hiện, tố giác và tham gia đấu tranh phòng, chống ma túy.
Tăng cường công tác truyền thông trực tiếp; nghiên cứu, biên soạn phát hành các tài liệu về tác hại của ma túy, biện pháp và kinh nghiệm phòng, chống ma túy; các biện pháp phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm khác qua đường tiêm chích ma túy.
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội khác trong công tác tuyên truyền, giáo dục phòng, chống ma túy. Đẩy mạnh cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hoá", ''xây dựng gia đình, địa bàn không có người nghiện và tội phạm ma túy''. Phòng, chống ma túy phải là một tiêu chí thi đua trong các cơ quan, tổ chức, trường học, doanh nghiệp, v.v...
3. Củng cố về số lượng và chất lượng các lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm ma túy. Chú trọng công tác nắm tình hình, điều tra ngặn chặn có hiệu quả hoạt động vận chuyển ma túy qua biên giới. Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa các lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan trong đấu tranh phòng, chống các tội phạm về ma túy tại địa bàn biên giới, cửa khẩu, trên biển, đặc biệt là các địa bàn và tuyến trọng điểm.
Phối hợp chặt chẽ với các nước có chung biên giới, các nước ASEAN và các nước thuộc tiểu vùng sông Mê Kông trong nhiệm vụ phòng, chống ma túy.
4. Tăng cường luật pháp về phòng, chống tội phạm ma túy và sản xuất trái phép ma túy ở trong nước. Nâng cao năng lực thi hành pháp luật phòng, chống ma túy cho các lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm ma túy, đảm bảo đủ sức điều tra, phát hiện, ngăn chặn, triệt phá và bắt giữ tội phạm ma túy.
Thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy. Phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng Công an các cấp, nhất là cấp xã, phường, thị trấn với các cơ quan, tổ chức cùng cấp, gia đình và toàn xã hội nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật của người nghiện ma túy, quản lý người nghiện trên địa bàn, cơ sở.
Bổ sung, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định cụ thể để kiểm soát chặt chẽ các khâu sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, vận chuyển, phân phối, bảo quản và sử dụng tiền chất. Chú trọng công tác lập kế hoạch, chế độ cấp phép hoạt động kinh doanh tiền chất, chế độ báo cáo, thanh tra, kiểm tra, giám sát và phối hợp trao đổi thông tin.
Đấu tranh, phát hiện, ngăn chặn và triệt phá kịp thời việc sản xuất, vận chuyển, mua bán trái phép tiền chất để sản xuất các chất ma túy. Đồng thời phối hợp với các lực lượng phòng, chống ma túy của các nước láng giềng trong việc xóa bỏ các cơ sở sản xuất ma túy ở khu vực biên giới.
Quản lý và kiểm soát chặt chẽ chống thất thoát các loại thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần được phép lưu hành, sử dụng trong lĩnh vực y tế và công nghiệp.
Hàng năm, tổ chức các đợt cao điểm truy quét tội phạm, không để tồn tại các tụ điểm mua bán và sử dụng ma túy trái phép.
Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ phòng, chống ma túy tại các trường của Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan.
Tăng cường năng lực cho các cơ sở giám định ma túy, đặc biệt là các cơ sở thuộc Bộ Công an để có đủ khả năng giám định ma tuý, quản lý, chỉ đạo và hướng dẫn công tác giám định ma túy và tiền chất theo quy định của pháp luật.
Ưu tiên đầu tư phương tiện, trang thiết bị, chó nghiệp vụ cho công tác phòng, chống tội phạm về ma túy.
Xây dựng hệ thống dữ liệu thống kê về phòng, chống ma túy. Thiết lập hệ thống thông tin và quy chế trao đổi thông tin trong từng lực lượng và giữa các lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm ma túy trong cả nước.
Tăng cường sự phối hợp giữa các ngành Công an, Toà án, Kiểm sát trong công tác điều tra, truy tố và xét xử các vụ án về ma túy, đảm bảo kịp thời và nghiêm minh.
Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức quốc tế, khu vực và cơ quan chức năng phòng, chống tội phạm ma túy của các nước trong việc trao đổi thông tin, truy nã, bắt giữ tội phạm ma túy, tương trợ tư pháp, thực hiện các chuyên án đấu tranh chống ma túy trên phạm vi quốc tế.
5. Giảm tốc độ gia tăng người nghiện mới và nâng cao hiệu quả cai nghiện ma túy.
Các cơ quan, các tổ chức thường xuyên rà soát, cập nhật số người nghiện ma túy để có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời việc phát sinh người nghiện mới.
Tiến hành đồng bộ các biện pháp giảm cung, giảm cầu ma túy. Nâng cấp, cải tạo và mở rộng các Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội để đảm bảo cai nghiện cho đại bộ phận số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, đồng thời tăng cường cai nghiện tại gia đình và cộng đồng, chống tái nghiện ma túy.
Xử lý kiên quyết theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng nghiện ma túy lâu năm, tái nghiện nhiều lần.
Đẩy mạnh xã hội hóa nhiệm vụ cai nghiện ma túy. Chú trọng hình thức cai nghiện tại gia đình và cộng đồng; khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và tư nhân tổ chức cai nghiện cho người nghiện ma túy.
Đẩy mạnh nghiên cứu các vấn đề về ma túy, các phương pháp và thuốc cai nghiện ma túy, phục hồi sức khoẻ cho người nghiện ma túy. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho các cán bộ y tế làm việc trong lĩnh vực cai nghiện và điều trị, phục hồi sức khỏe cho người nghiện ma tuý.
Lồng ghép chương trình cai nghiện, quản lý vào tái hoà nhập cộng đồng cho người sau cai nghiện ma tuý vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
6. Xoá bỏ và thay thế các loại cây có chứa chất ma túy
- Chính quyền các cấp phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội ở địa phương để phát hiện và xóa bỏ hiện tượng trồng cây có chứa chất ma túy. Kết hợp vận động, tuyên truyền giáo dục với xử lý hành chính, hình sự đối với các đối tượng trồng cây có chứa các chất ma túy.
- Tiếp tục bổ sung, sửa đổi cơ chế, chính sách ưu tiên, đồng thời lồng ghép các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, phát triển cơ sở hạ tầng, văn hoá, xã hội, y tế, giáo dục, phúc lợi xã hội, tạo nguồn thu nhập ổn định, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở các vùng thực hiện xóa bỏ và thay thế việc trồng cây có chứa chất ma tuý.
Lồng ghép chương trình xoá bỏ và thay thế cây có chứa chất ma tuý với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
7. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống ma túy
Bổ sung, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phòng, chống ma túy, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến công tác phòng, chống ma túy. Xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ và đồng bộ để đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác phòng, chống ma tuý và thi hành pháp luật về phòng, chống ma túy.
Ban hành bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát tiền chất, điều trị và phục hồi chức năng cho người nghiện ma túy, quản lý các đối tượng sau cai nghiện ma tuý.
Tham gia, ký kết và tổ chức thực hiện các Điều ước quốc tế về công tác phòng, chống ma túy. Sửa đổi, bổ sung một số quy định trong hệ thống văn bản pháp luật cho phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
8. Kiện toàn tổ chức bộ máy phòng, chống ma túy
Bổ sung, sửa đổi Quy chế hoạt động của Uỷ ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm cho phù hợp với tình hình mới. Kiện toàn Ban Chỉ đạo phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm ở các Bộ, ngành, các cơ quan, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là cấp cơ sở xã, phường, thị trấn.
Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy của các cấp để thực hiện có hiệu quả Luật Phòng, chống ma túy.
Củng cố và tăng cường năng lực các lực lượng chuyên trách phòng, chống ma túy của Công an, Hải quan, Bộ đội Biên phòng và Cảnh sát biển.
9. Tăng cường hợp tác quốc tế
Tăng cường và mở rộng các hoạt động hợp tác với cơ quan phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc, của các tổ chức quốc tế và các nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là các nước láng giềng để học tập, chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi thông tin và phối hợp điều tra bắt giữ tội phạm ma tuý, ngăn chặn có hiệu quả ma túy xâm nhập vào nước ta và các hoạt động phòng, chống ma tuý quốc tế.
Tranh thủ sự ủng hộ quốc tế về kinh nghiệm, kỹ thuật, trang thiết bị và tài chính cho các hoạt động phòng, chống ma túy ở Việt Nam thông qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật thuộc các lĩnh vực ưu tiên (có phụ lục kèm theo).

Content:
Điều 2. Các giải pháp chính:
1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng và chính quyền về công tác phòng, chống ma túy; nhiệm vụ phòng, chống ma túy phải là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và từng địa phương. Huy động toàn dân tham gia phòng, chống ma túy, từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn ma túy. Quy định rõ trách nhiệm của cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, trường học, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội khác trong công tác phòng, chống ma tuý.
2. Triển khai đồng bộ các loại hình thông tin, tuyên truyền, giáo dục sâu rộng nhiệm vụ phòng, chống ma túy với nội dung và hình thức phù hợp cho các loại đối tượng. Tập trung tuyên truyền ở những tuyến, địa bàn trọng điểm, trong thanh, thiếu niên, đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào vùng sâu, vùng xa và các nhóm đối tượng có nguy cơ cao, tạo ra phong trào sâu, rộng trong toàn dân lên án, phát hiện, tố giác và tham gia đấu tranh phòng, chống ma túy.
Tăng cường công tác truyền thông trực tiếp; nghiên cứu, biên soạn phát hành các tài liệu về tác hại của ma túy, biện pháp và kinh nghiệm phòng, chống ma túy; các biện pháp phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm khác qua đường tiêm chích ma túy.
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội khác trong công tác tuyên truyền, giáo dục phòng, chống ma túy. Đẩy mạnh cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hoá", ''xây dựng gia đình, địa bàn không có người nghiện và tội phạm ma túy''. Phòng, chống ma túy phải là một tiêu chí thi đua trong các cơ quan, tổ chức, trường học, doanh nghiệp, v.v...
3. Củng cố về số lượng và chất lượng các lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm ma túy. Chú trọng công tác nắm tình hình, điều tra ngặn chặn có hiệu quả hoạt động vận chuyển ma túy qua biên giới. Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa các lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan trong đấu tranh phòng, chống các tội phạm về ma túy tại địa bàn biên giới, cửa khẩu, trên biển, đặc biệt là các địa bàn và tuyến trọng điểm.
Phối hợp chặt chẽ với các nước có chung biên giới, các nước ASEAN và các nước thuộc tiểu vùng sông Mê Kông trong nhiệm vụ phòng, chống ma túy.
4. Tăng cường luật pháp về phòng, chống tội phạm ma túy và sản xuất trái phép ma túy ở trong nước. Nâng cao năng lực thi hành pháp luật phòng, chống ma túy cho các lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm ma túy, đảm bảo đủ sức điều tra, phát hiện, ngăn chặn, triệt phá và bắt giữ tội phạm ma túy.
Thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy. Phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng Công an các cấp, nhất là cấp xã, phường, thị trấn với các cơ quan, tổ chức cùng cấp, gia đình và toàn xã hội nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật của người nghiện ma túy, quản lý người nghiện trên địa bàn, cơ sở.
Bổ sung, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định cụ thể để kiểm soát chặt chẽ các khâu sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, vận chuyển, phân phối, bảo quản và sử dụng tiền chất. Chú trọng công tác lập kế hoạch, chế độ cấp phép hoạt động kinh doanh tiền chất, chế độ báo cáo, thanh tra, kiểm tra, giám sát và phối hợp trao đổi thông tin.
Đấu tranh, phát hiện, ngăn chặn và triệt phá kịp thời việc sản xuất, vận chuyển, mua bán trái phép tiền chất để sản xuất các chất ma túy. Đồng thời phối hợp với các lực lượng phòng, chống ma túy của các nước láng giềng trong việc xóa bỏ các cơ sở sản xuất ma túy ở khu vực biên giới.
Quản lý và kiểm soát chặt chẽ chống thất thoát các loại thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần được phép lưu hành, sử dụng trong lĩnh vực y tế và công nghiệp.
Hàng năm, tổ chức các đợt cao điểm truy quét tội phạm, không để tồn tại các tụ điểm mua bán và sử dụng ma túy trái phép.
Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ phòng, chống ma túy tại các trường của Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan.
Tăng cường năng lực cho các cơ sở giám định ma túy, đặc biệt là các cơ sở thuộc Bộ Công an để có đủ khả năng giám định ma tuý, quản lý, chỉ đạo và hướng dẫn công tác giám định ma túy và tiền chất theo quy định của pháp luật.
Ưu tiên đầu tư phương tiện, trang thiết bị, chó nghiệp vụ cho công tác phòng, chống tội phạm về ma túy.
Xây dựng hệ thống dữ liệu thống kê về phòng, chống ma túy. Thiết lập hệ thống thông tin và quy chế trao đổi thông tin trong từng lực lượng và giữa các lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm ma túy trong cả nước.
Tăng cường sự phối hợp giữa các ngành Công an, Toà án, Kiểm sát trong công tác điều tra, truy tố và xét xử các vụ án về ma túy, đảm bảo kịp thời và nghiêm minh.
Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức quốc tế, khu vực và cơ quan chức năng phòng, chống tội phạm ma túy của các nước trong việc trao đổi thông tin, truy nã, bắt giữ tội phạm ma túy, tương trợ tư pháp, thực hiện các chuyên án đấu tranh chống ma túy trên phạm vi quốc tế.
5. Giảm tốc độ gia tăng người nghiện mới và nâng cao hiệu quả cai nghiện ma túy.
Các cơ quan, các tổ chức thường xuyên rà soát, cập nhật số người nghiện ma túy để có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời việc phát sinh người nghiện mới.
Tiến hành đồng bộ các biện pháp giảm cung, giảm cầu ma túy. Nâng cấp, cải tạo và mở rộng các Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội để đảm bảo cai nghiện cho đại bộ phận số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, đồng thời tăng cường cai nghiện tại gia đình và cộng đồng, chống tái nghiện ma túy.
Xử lý kiên quyết theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng nghiện ma túy lâu năm, tái nghiện nhiều lần.
Đẩy mạnh xã hội hóa nhiệm vụ cai nghiện ma túy. Chú trọng hình thức cai nghiện tại gia đình và cộng đồng; khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và tư nhân tổ chức cai nghiện cho người nghiện ma túy.
Đẩy mạnh nghiên cứu các vấn đề về ma túy, các phương pháp và thuốc cai nghiện ma túy, phục hồi sức khoẻ cho người nghiện ma túy. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho các cán bộ y tế làm việc trong lĩnh vực cai nghiện và điều trị, phục hồi sức khỏe cho người nghiện ma tuý.
Lồng ghép chương trình cai nghiện, quản lý vào tái hoà nhập cộng đồng cho người sau cai nghiện ma tuý vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
6. Xoá bỏ và thay thế các loại cây có chứa chất ma túy
- Chính quyền các cấp phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội ở địa phương để phát hiện và xóa bỏ hiện tượng trồng cây có chứa chất ma túy. Kết hợp vận động, tuyên truyền giáo dục với xử lý hành chính, hình sự đối với các đối tượng trồng cây có chứa các chất ma túy.
- Tiếp tục bổ sung, sửa đổi cơ chế, chính sách ưu tiên, đồng thời lồng ghép các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, phát triển cơ sở hạ tầng, văn hoá, xã hội, y tế, giáo dục, phúc lợi xã hội, tạo nguồn thu nhập ổn định, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở các vùng thực hiện xóa bỏ và thay thế việc trồng cây có chứa chất ma tuý.
Lồng ghép chương trình xoá bỏ và thay thế cây có chứa chất ma tuý với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
7. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống ma túy
Bổ sung, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phòng, chống ma túy, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến công tác phòng, chống ma túy. Xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ và đồng bộ để đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác phòng, chống ma tuý và thi hành pháp luật về phòng, chống ma túy.
Ban hành bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát tiền chất, điều trị và phục hồi chức năng cho người nghiện ma túy, quản lý các đối tượng sau cai nghiện ma tuý.
Tham gia, ký kết và tổ chức thực hiện các Điều ước quốc tế về công tác phòng, chống ma túy. Sửa đổi, bổ sung một số quy định trong hệ thống văn bản pháp luật cho phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
8. Kiện toàn tổ chức bộ máy phòng, chống ma túy
Bổ sung, sửa đổi Quy chế hoạt động của Uỷ ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm cho phù hợp với tình hình mới. Kiện toàn Ban Chỉ đạo phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm ở các Bộ, ngành, các cơ quan, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là cấp cơ sở xã, phường, thị trấn.
Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy của các cấp để thực hiện có hiệu quả Luật Phòng, chống ma túy.
Củng cố và tăng cường năng lực các lực lượng chuyên trách phòng, chống ma túy của Công an, Hải quan, Bộ đội Biên phòng và Cảnh sát biển.
9. Tăng cường hợp tác quốc tế
Tăng cường và mở rộng các hoạt động hợp tác với cơ quan phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc, của các tổ chức quốc tế và các nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là các nước láng giềng để học tập, chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi thông tin và phối hợp điều tra bắt giữ tội phạm ma tuý, ngăn chặn có hiệu quả ma túy xâm nhập vào nước ta và các hoạt động phòng, chống ma tuý quốc tế.
Tranh thủ sự ủng hộ quốc tế về kinh nghiệm, kỹ thuật, trang thiết bị và tài chính cho các hoạt động phòng, chống ma túy ở Việt Nam thông qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật thuộc các lĩnh vực ưu tiên (có phụ lục kèm theo).