Document: Điều 57 Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1992 67-LCT/HĐNN8

Type: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "15/04/1992", "sign_number": "67-LCT/HĐNN8", "signer": "Võ Chí Công", "type": "Luật"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "15/04/1992", "sign_number": "67-LCT/HĐNN8", "signer": "Võ Chí Công", "type": "Luật"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "15/04/1992", "sign_number": "67-LCT/HĐNN8", "signer": "Võ Chí Công", "type": "Luật"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "15/04/1992", "sign_number": "67-LCT/HĐNN8", "signer": "Võ Chí Công", "type": "Luật"}
Signer: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "15/04/1992", "sign_number": "67-LCT/HĐNN8", "signer": "Võ Chí Công", "type": "Luật"}

Full Text:
Điều 57 Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1992 67-LCT/HĐNN8 có nội dung như sau:

Điều 57. Sau khi nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả của các Ban bầu cử và giải quyết những khiếu nại nếu có, Uỷ ban bầu cử lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương.
Biên bản tổng kết phải ghi rõ:
- Số lượng đơn vị bầu cử;
- Số lượng người ứng cử của địa phương;
- Tổng số cử tri ở địa phương;
- Số lượng cử tri tham gia bỏ phiếu và tỷ lệ so với số lượng cử tri ghi trong danh sách của các đơn vị bầu cử ở địa phương;
- Số phiếu hợp lệ;
- Số phiếu không hợp lệ;
- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;
- Danh sách những người trúng cử;
- Những khiếu nại Ban bầu cử đã giải quyết;
- Những khiếu nại Uỷ ban bầu cử đã giải quyết;
- Những việc quan trọng đã xảy ra và cách giải quyết;
- Những kiến nghị lên Hội đồng bầu cử.
Biên bản ghi thành bốn bản có chữ ký của Chủ tịch, Thư ký Uỷ ban bầu cử: một bản gửi lên Hội đồng bầu cử; một bản gửi cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tương đương; hai bản gửi cho Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cùng cấp chậm nhất là bảy ngày sau ngày bầu cử.

Content:
Điều 57. Sau khi nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả của các Ban bầu cử và giải quyết những khiếu nại nếu có, Uỷ ban bầu cử lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương.
Biên bản tổng kết phải ghi rõ:
- Số lượng đơn vị bầu cử;
- Số lượng người ứng cử của địa phương;
- Tổng số cử tri ở địa phương;
- Số lượng cử tri tham gia bỏ phiếu và tỷ lệ so với số lượng cử tri ghi trong danh sách của các đơn vị bầu cử ở địa phương;
- Số phiếu hợp lệ;
- Số phiếu không hợp lệ;
- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;
- Danh sách những người trúng cử;
- Những khiếu nại Ban bầu cử đã giải quyết;
- Những khiếu nại Uỷ ban bầu cử đã giải quyết;
- Những việc quan trọng đã xảy ra và cách giải quyết;
- Những kiến nghị lên Hội đồng bầu cử.
Biên bản ghi thành bốn bản có chữ ký của Chủ tịch, Thư ký Uỷ ban bầu cử: một bản gửi lên Hội đồng bầu cử; một bản gửi cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tương đương; hai bản gửi cho Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cùng cấp chậm nhất là bảy ngày sau ngày bầu cử.