Document: Điểm g Khoản 2 Điều 1 Quyết định  34/2009/QĐ-TTg  phê duyệt quy hoạch phát triển vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc bộ đến năm 2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "02/03/2009", "sign_number": "34/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "02/03/2009", "sign_number": "34/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "02/03/2009", "sign_number": "34/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "02/03/2009", "sign_number": "34/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "02/03/2009", "sign_number": "34/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm g Khoản 2 Điều 1 Quyết định  34/2009/QĐ-TTg  phê duyệt quy hoạch phát triển vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc bộ đến năm 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau:
...
2. Mục tiêu chủ yếu
- Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống giao thông trong vành đai kinh tế, đặc biệt là tuyến trục chính ven biển từ Móng Cái đến Đồ Sơn và các cảng biển, sân bay... để nối kết với hai hành lang kinh tế Việt - Trung và khu vực ven biển Nam Trung Quốc thuộc vành đai kinh tế, tạo điều kiện mở rộng giao thương và hợp tác phát triển với Trung Quốc và ASEAN một cách chủ động, hiệu quả.
- Tập trung phát triển vùng động lực và các đô thị trung tâm dọc vành đai kinh tế, tạo sự bứt phá thúc đẩy toàn vành đai kinh tế phát triển nhanh, bền vững, tương xứng với vùng ven biển Nam Trung Quốc.
- Hình thành và phát triển một số ngành kinh tế chủ lực, gồm: du lịch biển, đảo cao cấp, đóng tầu, nhiệt điện, khai khoáng, cơ khí chế tạo, sản xuất vật liệu xây dựng, hóa dầu, nuôi trồng và chế biến thủy sản... đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế gấp 1,4 - 1,5 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP cả nước. Đến năm 2020, Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ đóng góp khoảng từ 6,5 - 7,0% trong tổng GDP cả nước; GDP bình quân đầu người đạt 3.500 - 4.000 USD.
III. PHƯƠNG HƯỚNG TỔ CHỨC VÀNH ĐAI KINH TẾ
1. Xây dựng hoàn chỉnh trục giao thông nòng cốt
Tập trung xây dựng hoàn chỉnh và hiện đại hóa tuyến trục giao thông ven biển Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng - Ninh Bình, tạo điều kiện giao thông thuận tiện và thông suốt giữa Việt Nam với các tỉnh vùng Hoa Nam của Trung Quốc qua vành đai kinh tế. Giai đoạn 2009 - 2010, đầu tư nâng cấp đoạn Cẩm Phả - Móng Cái đạt cấp III đường đồng bằng và đường qua đảo Cái Bầu quy mô 4 - 6 làn xe (cùng với xây dựng cầu Vân Tiên) nối với đường cao tốc Hạ Long - Móng Cái. Triển khai xây dựng một số đường cao tốc quan trọng: Hà Nội - Hải Phòng, Nội Bài - Hạ Long để đưa vào sử dụng trước năm 2015. Giai đoạn sau năm 2015, xây dựng tiếp đoạn Hạ Long - Móng Cái. Xem xét việc xây dựng tuyến cao tốc Quảng Ninh - Hải Phòng - Ninh Bình để kết nối Quảng Ninh với Hải Phòng và kết nối vành đai kinh tế với các tỉnh phía Nam, mạng cao tốc trong cả nước cũng như hệ thống đường cao tốc ven biển Nam Trung Quốc.
2. Phát triển vùng động lực
Tập trung phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp quan trọng, liên kết với các đô thị lớn tạo thành một dải vùng động lực, các khu vực trọng điểm mang tính đột phá dọc vành đai kinh tế .
...
g) Xây dựng thành phố cửa khẩu quốc tế Móng Cái, là điểm khởi đầu của Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ, vì vậy, khẩn trương xây dựng Móng Cái trở thành Thành phố cửa khẩu quốc tế hiện đại, là một Trung tâm đầu mối về giao dịch, trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa Việt Nam với Trung Quốc; Trung tâm du lịch nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí lớn của khu vực và Trung tâm công nghiệp chế biến, chế tác và lắp ráp xuất khẩu;
Trước hết, đầu tư nâng cấp Quốc lộ 18A đoạn Mông Dương - Móng Cái và kéo dài đến Trà Cổ - Mũi Ngọc đạt tiêu chuẩn cấp III đồng bằng. Xây dựng tuyến đường biên Móng Cái - Bắc Phong Sinh - Hoành Mô - Bắc Cương và các đường xương cá nối vào nội địa. Xây dựng đường trên đảo Vĩnh Thực phục vụ du lịch. Phát triển đồng bộ hệ thống giao thông, cấp điện, cấp thoát nước của thành phố. Đầu tư xây dựng cảng Vạn Gia công suất từ 3 - 5 triệu tấn/năm (giai đoạn đầu khoảng 1 triệu tấn/năm), đáp ứng yêu cầu phát triển giao thương hàng hóa trong nước và quốc tế.
Phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản xuất khẩu, gia công sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu sang Trung Quốc và công nghiệp lắp ráp những linh kiện nhập từ Trung Quốc để xuất sang các nước ASEAN... Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng thương mại hiện đại (gồm trung tâm thương mại, các siêu thị, các điểm giao dịch, văn phòng đại diện, Trung tâm hội chợ - triển lãm quốc tế...). Hợp tác với Trung Quốc xây dựng Khu thương mại tự do Móng Cái theo mô hình "Đặc khu kinh tế song phương" với các chính sách ưu đãi chung cho cả hai bên để thúc đẩy phát triển các hoạt động hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước và mở cửa, hội nhập mạnh với các nước ASEAN.
IV. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC
1. Phát triển các ngành chủ đạo trong vành đai kinh tế
a) Công nghiệp
Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp cơ bản, then chốt, các ngành có giá trị gia tăng cao, kết hợp với phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng công nghiệp khoảng 18 - 19%. Đến năm 2020 cơ bản Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ có nền công nghiệp lớn và hiện đại trong khu vực.
Ưu tiên nguồn lực và chính sách ưu đãi cho một số ngành, sản phẩm chủ đạo như công nghiệp than, nhiệt điện, đóng tầu, cơ khí chế tạo, sản xuất thép, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp dầu khí, sản xuất động cơ điện, chế biến lâm sản, thuỷ sản, dệt may, giầy dép, sản xuất hàng xuất khẩu, hàng tiêu dùng cao cấp... Kết hợp đồng bộ giữa phát triển công nghiệp với phát triển kết cấu hạ tầng trên từng địa bàn.
- Về công nghiệp than: đầu tư đổi mới công nghệ các cơ sở khai thác than hiện có, mở rộng quy mô khai thác hầm lò. Quản lý chặt chẽ tình trạng khai thác than trái phép. Từ nay đến năm 2010 và những năm tiếp theo thực hiện theo Chiến lược, Quy hoạch phát triển ngành Than Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Giảm dần xuất khẩu than thông qua biện pháp quản lý bằng kế hoạch nhằm bảo vệ tài nguyên, đồng thời bảo đảm an toàn năng lượng quốc gia. Quy hoạch hợp lý các bãi thải, kiểm soát và xử lý tốt bụi than trong quá trình vận chuyển và chế biến than;
- Về công nghiệp điện: đẩy nhanh tiến độ thi công và đưa vào hoạt động các nhà máy nhiệt điện Uông Bí II, Cẩm Phả I, II, Hà Khánh (Quảng Ninh), Tam Hưng (Hải Phòng). Triển khai xây dựng các nhà máy điện Mạo Khê, Mông Dương, Thăng Long, nhà máy điện diezen Cái Lân (Quảng Ninh)... Xúc tiến xây dựng trung tâm nhiệt điện lớn tại Khu công nghiệp Hải Hà sau năm 2010. Phát triển sử dụng năng lượng gió, năng lượng mặt trời tại các vùng nông thôn ven biển và trên các đảo. Đến năm 2010 tổng công suất điện trong vành đai kinh tế đạt từ 2.500 - 3.000 MW và năm 2020 đạt trên 6.000 MW;
- Về công nghiệp đóng tầu: tập trung nguồn lực phát triển mạnh công nghiệp đóng tầu. Đến năm 2020 xây dựng Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ thành Trung tâm đóng tầu lớn của Việt Nam, đồng thời là một trong những trung tâm công nghiệp tầu biển lớn và hiện đại của khu vực và thế giới, có thể đóng mới tầu vận tải đến 20 - 25 vạn DWT và các loại tầu chuyên dùng khác như tầu chở dầu, tầu container, tầu công trình, tầu thăm dò và khai thác dầu khí, tầu du lịch, tầu cá công suất lớn, tầu quân sự... đạt tiêu chuẩn quốc tế;
Tiếp tục nâng cấp mở rộng các nhà máy đóng tầu Phà Rừng - Bạch Đằng, Bến Kiền, Nam Triệu (Hải Phòng); hoàn thiện Khu công nghiệp đóng tầu Cái Lân, nhà máy đóng tầu Hạ Long, Hà An (Quảng Ninh)... đáp ứng từ 80 - 85% nhu cầu sửa chữa tầu sông của Vùng Bắc Bộ và 45 - 50% nhu cầu đóng mới, sửa chữa tầu biển của cả nước. Sau năm 2010, triển khai xây dựng một số nhà máy đóng tầu quy mô lớn cùng công nghiệp phụ trợ tại Khu công nghiệp Đình Vũ - Cát Hải và các Khu công nghiệp Hải Hà, Đầm Nhà Mạc, Quang Vinh (Tiên Lãng)... Phát triển đồng bộ các cơ sở công nghiệp phụ trợ cho công nghiệp đóng tầu, tăng dần tỷ lệ nội địa hóa.
- Về công nghiệp thép: phát triển nhanh công nghiệp sản xuất thép, đáp ứng nhu cầu thép ngày càng lớn trong khu vực, nhất là cho công nghiệp đóng tầu. Tiếp tục mở rộng các nhà máy thép hiện có. Đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất thép khác, nhất là các nhà máy đúc phôi, sản xuất thép tấm, thép cao cấp... Ưu tiên xây dựng các nhà máy thép quy mô lớn tại Khu công nghiệp Đình Vũ - Cát Hải và Khu công nghiệp Hải Hà phục vụ công nghiệp đóng tầu. Đến năm 2010 quy mô sản xuất thép trong vành đai kinh tế đạt trên 5 triệu tấn/năm và năm 2020 đạt khoảng 15 triệu tấn/năm;
- Về công nghiệp vật liệu xây dựng: phát triển mạnh công nghiệp xi măng để trở thành ngành mũi nhọn. Cải tạo, nâng cấp các cơ sở sản xuất hiện có đạt trình độ tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng dây chuyền II của các nhà máy xi măng Chinfon, Hướng Dương để đưa vào hoạt động trước 2010. Tiếp tục đầu tư xây dựng các nhà máy xi măng Cẩm Phả, Thăng Long, Lam Thạch (Quảng Ninh)... Đến năm 2010 tổng năng lực sản xuất xi măng trong vành đai kinh tế đạt từ 11 - 12 triệu tấn/năm. Sắp xếp hợp lý các cơ sở sản xuất đá, đất sét, cát xây dựng... để khai thác hiệu quả nguồn vật liệu xây dựng trên địa bàn, đồng thời bảo vệ môi trường, cảnh quan du lịch;
- Về cơ khí, chế tạo: phát triển công nghiệp cơ khí, chế tạo trở thành trung tâm cơ khí mạnh của khu vực phía Bắc. Đầu tư có chọn lọc xây dựng mới các cơ sở sản xuất hiện đại với công nghệ tiên tiến. Ưu tiên phát triển các ngành cơ khí phục vụ công nghiệp đóng tầu, công nghiệp cảng, công nghiệp khai thác mỏ. Phát triển công nghiệp chế tạo máy móc, thiết bị điện; sản xuất, lắp ráp xe cơ giới; sửa chữa lắp ráp các thiết bị hạng nặng, các phương tiện vận tải nặng, các thiết bị nâng dỡ; sản xuất máy xây dựng, các máy móc, thiết bị phục vụ ngành xi măng, may mặc, chế biến nông, lâm, thuỷ sản... Ưu tiên phát triển các sản phẩm bổ trợ cho công nghiệp đóng mới và sửa chữa tầu biển;
- Các ngành công nghiệp khác: mở rộng các ngành công nghiệp truyền thống và các ngành sản phẩm có nhu cầu lớn trong địa bàn như sản xuất sơn tầu biển, bột nhẹ, chất tẩy rửa tổng hợp, đất đèn, ắc quy, nhựa bao bì, nhựa xây dựng, nhựa công nghiệp, điện tử, điện lạnh... và các loại hàng hóa tiêu dùng khác. Phát triển công nghiệp dệt may, da giầy phục vụ xuất khẩu, ưu tiên thu hút các dự án dệt may, da giầy vào các cụm công nghiệp trên địa bàn huyện để sử dụng nguồn lao động của khu vực nông thôn. Phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản, xây dựng một số cơ sở chế biến hiện đại, tạo các sản phẩm chất lượng cao cung cấp cho các đô thị, khu du lịch trong vành đai kinh tế và xuất khẩu. Chuẩn bị điều kiện để sau năm 2010 triển khai xây dựng nhà máy lọc hóa dầu trong vành đai kinh tế (tại Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải hoặc Khu công nghiệp Hải Hà);
- Về phát triển các khu công nghiệp: đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp hiện có để thu hút đầu tư nâng cao tỷ lệ lấp đầy của các khu công nghiệp. Phát triển hợp lý các khu, cụm công nghiệp mới. Dự kiến đến năm 2020 toàn vành đai kinh tế sẽ có khoảng 25 khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 22.100 ha, trong đó đất xây dựng công nghiệp gần 10.000 ha. Ngoài ra sẽ phát triển các khu, cụm công nghiệp vừa và nhỏ khác trên địa bàn các huyện, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế nông thôn.
b) Du lịch
Phát triển nhanh và bền vững ngành du lịch của vành đai kinh tế, gắn kết chặt chẽ với Thủ đô Hà Nội và vùng Nam Trung Quốc. Tổ chức hợp lý không gian du lịch trong toàn khu vực. Đầu tư có chọn lọc một số khu du lịch trọng điểm, hình thành các trung tâm du lịch lớn ven biển và trên một số đảo có ý nghĩa quốc gia và quốc tế. Ưu tiên phát triển du lịch biển - đảo tại các đảo xa như Cô Tô, Bạch Long Vĩ... vừa phát triển kinh tế, vừa bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Phát triển nhanh Khu du lịch Hạ Long thành Trung tâm du lịch lớn, hiện đại có đẳng cấp khu vực và thế giới. Xây dựng đồng bộ và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng du lịch trong khu vực. Ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài vào các dự án du lịch có quy mô lớn, tạo ra các sản phẩm du lịch cao cấp để thu hút du khách. Tiếp tục nâng cấp hiện đại hóa Khu du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí Đồ Sơn; Khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng cao cấp đảo Cát Bà gắn với Khu du lịch Hạ Long.
Triển khai xây dựng nhanh các công trình hạ tầng thiết yếu của Khu kinh tế Vân Đồn để thu hút đầu tư xây dựng Khu du lịch sinh thái biển, đảo chất lượng cao Vân Đồn - Bái Tử Long. Phát triển Khu du lịch Móng Cái - Trà Cổ - Vĩnh Thực thành Trung tâm du lịch lớn, làm đầu mối quan trọng thu hút nguồn khách du lịch từ vùng Nam Trung Quốc qua vành đai kinh tế này. Xúc tiến đầu tư xây dựng Khu đô thị - du lịch sinh thái - văn hóa Nam Hạ Long, từng bước hình thành một quần thể du lịch hiện đại dọc ven biển Quảng Ninh (từ đảo Hoàng Tân - Tuần Châu - Hạ Long - Bái Tử Long - Vân Đồn - Móng Cái - Trà Cổ) có tầm cỡ khu vực và quốc tế.
Hình thành các tuyến du lịch liên vùng kết nối với Hà Nội và các điểm du lịch lân cận. Tăng cường hợp tác với các địa phương Trung Quốc thuộc hai hành lang, một vành đai kinh tế tổ chức các tuyến du lịch giữa hai nước. Phối hợp với các nước ASEAN hình thành các tuyến du lịch liên quốc gia. Đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến du lịch để kêu gọi đầu tư và thu hút khách. Phấn đấu năm 2010 thu hút khoảng 7,5 triệu lượt khách, trong đó có từ 2,8 - 3 triệu lượt khách quốc tế và năm 2020 đạt 18 - 20 triệu lượt khách, trong đó có từ 8 - 10 triệu lượt khách quốc tế.
c) Thương mại - dịch vụ
Khai thác tối đa lợi thế so sánh của Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ để phát triển thương mại với tốc độ cao, hướng mạnh vào xuất khẩu, từng bước hội nhập vững chắc vào thị trường quốc tế, nhất là thị trường Trung Quốc, ASEAN. Phấn đấu tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên vành đai kinh tế tăng bình quân từ 17 - 18% thời kỳ 2008 - 2010 và trên 20% thời kỳ 2011 - 2020.
Phát triển hệ thống các siêu thị, các trung tâm thương mại hiện đại ở các thành phố, thị xã và các khu công nghiệp, Khu kinh tế. Xây dựng Trung tâm thương mại lớn và hiện đại tại Hải Phòng, làm chức năng đầu mối thương mại và trung tâm hội nhập chính của cả vùng Bắc Bộ và hai hành lang, một vành đai kinh tế. Đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại Móng Cái, giữ vai trò cửa ngõ giao lưu chính của vành đai kinh tế với Trung Quốc và giữa Việt Nam - Trung Quốc với ASEAN. Phát triển hệ thống các siêu thị, các trung tâm thương mại quy mô phù hợp gắn với các khu du lịch ở Hạ Long, Móng Cái, Vân Đồn, Cát Bà, Đồ Sơn... và các thị xã, các trung tâm huyện lỵ... Củng cố mạng lưới thương mại từ cấp tỉnh đến các xã, hình thành một thị trường thông suốt, lưu thông hàng hóa thuận tiện, thúc đẩy sản xuất phát triển và đáp ứng nhu cầu của nhân dân.
Đẩy mạnh xuất khẩu, nhất là xuất khẩu sang Trung Quốc; đổi mới cơ cấu hàng xuất khẩu, quy hoạch phát triển các nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu phù hợp với nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc và lợi thế của từng địa phương. Tăng cường xuất khẩu các sản phẩm chế biến sâu, hạn chế xuất khẩu thô, xuất khẩu nguyên liệu. Hạn chế thấp nhất việc xuất khẩu các loại than có nhu cầu sử dụng trong nước. Xây dựng hoàn chỉnh Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, nâng cấp các cửa khẩu Hoành Mô, Bắc Phong Sình để mở rộng giao thương hàng hóa giữa các địa phương của hai nước trong vành đai kinh tế.
Phát triển đa dạng các hoạt động xuất khẩu tại chỗ như: tạm nhập, tái xuất, chuyển tải, quá cảnh, uỷ thác, kho ngoại quan và các dịch vụ xuất, nhập khẩu khác... Phần đấu đạt tốc độ xuất khẩu bình quân từ 24 - 25% giai đoạn 2009 - 2010 và trên 25% giai đoạn 2011 - 2020. Đầu tư xây dựng các khu phi thuế quan tại các khu vực cửa khẩu, các khu kinh tế và các cửa hàng miễn thuế tại các thành phố, các trung tâm thương mại, trung tâm du lịch lớn, các sân bay, cảng biển đầu mối... nhằm thúc đẩy xuất khẩu tại chỗ.
Phát triển tổng hợp các ngành dịch vụ theo hướng đa dạng hóa các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống. Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao như dịch vụ vận tải, tài chính ngân hàng, viễn thông..., đưa dịch vụ thực sự trở thành khu vực kinh tế năng động, tạo nhiều việc làm và đóng góp lớn cho nền kinh tế. Nâng cao năng lực hoạt động của các ngân hàng trên địa bàn. Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các ngân hàng, các Công ty tài chính lớn trong và ngoài nước đầu tư tài chính và mở chi nhánh hoạt động tại Hải Phòng, Hạ Long, Móng Cái.... Xây dựng tại Hải Phòng Trung tâm tài chính lớn và hiện đại quy mô khu vực và quốc tế.
Phát triển mạnh dịch vụ vận tải cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và hàng không. Khai thác tối đa lợi thế "Cửa mở" để phát triển đa dạng các dịch vụ cảng và vận tải biển. Mở các tuyến vận tải cao tốc (cả đường bộ và đường biển) tới các địa phương của Trung Quốc thuộc vành đai kinh tế, đáp ứng nhu cầu giao lưu hàng hóa và đi lại của nhân dân, nhất là khách du lịch. Phát triển tuyến đường biển cao tốc đi các tỉnh phía Nam và các tuyến vận tải biển cao tốc ra các đảo đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế đảo.
Phát triển dịch vụ thông tin, truyền thông theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của các loại dịch vụ, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực. Phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ khác đáp ứng yêu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Thuỷ sản
Phát triển ngành thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, hướng mạnh xuất khẩu. Chuyển đổi mạnh cơ cấu sản xuất thuỷ sản theo hướng giảm tỷ trọng khai thác, tăng tỷ trọng nuôi trồng và dịch vụ; gắn sản xuất với chế biến và bảo vệ nguồn lợi, bảo đảm phát triển bền vững. Đến năm 2010 tổng sản lượng thuỷ sản trong vành đai kinh tế đạt 220 nghìn tấn và năm 2020 đạt khoảng 400 nghìn tấn, trong đó khai thác khoảng từ 120 - 130 nghìn tấn; nuôi trồng đạt từ 270 - 280 nghìn tấn; xuất khẩu thủy sản đạt từ 600 - 700 triệu USD.
Đẩy mạnh khai thác hải sản xa bờ, nhất là ở ngư trường Bạch Long Vĩ, ngư trường giữa Vịnh... thuộc vùng đánh cá chung, nâng tỷ trọng khai thác xa bờ lên 65 - 70%. Phát triển các đội tầu lớn, trang bị hiện đại gắn với đầu tư cơ sở hạ tầng và dịch vụ nghề cá phục vụ đánh bắt xa bờ. Tổ chức lại sản xuất trên biển theo mô hình liên kết, liên doanh, trước mắt phát triển mô hình các tổ đội khai thác xa bờ theo từng ngành, nghề để hỗ trợ nhau trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và bảo đảm an toàn trên biển. Sắp xếp hợp lý nghề khai thác gần bờ nhằm bảo vệ phát triển nguồn lợi, đồng thời bảo đảm mưu sinh cho dân cư ven biển. Chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở khu vực Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long và ven các đảo, giảm đánh bắt gần bờ chuyển sang nuôi trồng thủy sản và dịch vụ du lịch... Phát triển đồng bộ các cảng cá, các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền và các trung tâm tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ... dọc ven biển và trên các đảo quan trọng như Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Cô Tô... để thúc đẩy khai thác xa bờ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Phát triển nuôi trồng thuỷ sản, nhất là nuôi, trồng hải sản trên biển với công nghệ tiên tiến, bảo đảm vệ sinh môi trường và phát triển bền vững. Hình thành các vùng nuôi, trồng thuỷ sản tập trung theo hướng thâm canh năng suất cao. Đẩy mạnh nuôi, trồng thuỷ sản nước lợ, nhất là nuôi tôm xuất khẩu theo công nghệ tiên tiến. Mở rộng nuôi nhuyễn thể (nghêu, sò huyết, hến, vẹm, hầu...) tại các khu vực cửa sông, các vùng bãi triều ven biển và ven các đảo. Ưu tiên phát triển mạnh nuôi cá và đặc sản biển theo hướng công nghiệp kết hợp với phát triển du lịch, nhất là ở khu vực Bái Tử Long, Cô Tô, Vân Đồn, Tiên Yên và quanh đảo Cát Bà... từng bước xây dựng ngành nuôi trồng hải sản trên biển ở Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
Tiếp tục nâng cấp hiện đại hóa các cơ sở chế biến hiện có; xây dựng mới một số cơ sở chế biến thủy sản hiện đại, tạo các sản phẩm chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế. Xây dựng Hải Phòng thành Trung tâm dịch vụ nghề cá lớn của Vịnh Bắc Bộ, Trung tâm sản xuất giống, sản xuất thức ăn, Trung tâm khoa học - kỹ thuật, chế biến, thương mại và xuất khẩu thuỷ sản của Vùng Bắc Bộ.

Content:
Xây dựng thành phố cửa khẩu quốc tế Móng Cái, là điểm khởi đầu của Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ, vì vậy, khẩn trương xây dựng Móng Cái trở thành Thành phố cửa khẩu quốc tế hiện đại, là một Trung tâm đầu mối về giao dịch, trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa Việt Nam với Trung Quốc; Trung tâm du lịch nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí lớn của khu vực và Trung tâm công nghiệp chế biến, chế tác và lắp ráp xuất khẩu;
Trước hết, đầu tư nâng cấp Quốc lộ 18A đoạn Mông Dương - Móng Cái và kéo dài đến Trà Cổ - Mũi Ngọc đạt tiêu chuẩn cấp III đồng bằng. Xây dựng tuyến đường biên Móng Cái - Bắc Phong Sinh - Hoành Mô - Bắc Cương và các đường xương cá nối vào nội địa. Xây dựng đường trên đảo Vĩnh Thực phục vụ du lịch. Phát triển đồng bộ hệ thống giao thông, cấp điện, cấp thoát nước của thành phố. Đầu tư xây dựng cảng Vạn Gia công suất từ 3 - 5 triệu tấn/năm (giai đoạn đầu khoảng 1 triệu tấn/năm), đáp ứng yêu cầu phát triển giao thương hàng hóa trong nước và quốc tế.
Phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản xuất khẩu, gia công sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu sang Trung Quốc và công nghiệp lắp ráp những linh kiện nhập từ Trung Quốc để xuất sang các nước ASEAN... Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng thương mại hiện đại (gồm trung tâm thương mại, các siêu thị, các điểm giao dịch, văn phòng đại diện, Trung tâm hội chợ - triển lãm quốc tế...). Hợp tác với Trung Quốc xây dựng Khu thương mại tự do Móng Cái theo mô hình "Đặc khu kinh tế song phương" với các chính sách ưu đãi chung cho cả hai bên để thúc đẩy phát triển các hoạt động hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước và mở cửa, hội nhập mạnh với các nước ASEAN.
IV. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC
1. Phát triển các ngành chủ đạo trong vành đai kinh tế
a) Công nghiệp
Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp cơ bản, then chốt, các ngành có giá trị gia tăng cao, kết hợp với phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng công nghiệp khoảng 18 - 19%. Đến năm 2020 cơ bản Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ có nền công nghiệp lớn và hiện đại trong khu vực.
Ưu tiên nguồn lực và chính sách ưu đãi cho một số ngành, sản phẩm chủ đạo như công nghiệp than, nhiệt điện, đóng tầu, cơ khí chế tạo, sản xuất thép, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp dầu khí, sản xuất động cơ điện, chế biến lâm sản, thuỷ sản, dệt may, giầy dép, sản xuất hàng xuất khẩu, hàng tiêu dùng cao cấp... Kết hợp đồng bộ giữa phát triển công nghiệp với phát triển kết cấu hạ tầng trên từng địa bàn.
- Về công nghiệp than: đầu tư đổi mới công nghệ các cơ sở khai thác than hiện có, mở rộng quy mô khai thác hầm lò. Quản lý chặt chẽ tình trạng khai thác than trái phép. Từ nay đến năm 2010 và những năm tiếp theo thực hiện theo Chiến lược, Quy hoạch phát triển ngành Than Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Giảm dần xuất khẩu than thông qua biện pháp quản lý bằng kế hoạch nhằm bảo vệ tài nguyên, đồng thời bảo đảm an toàn năng lượng quốc gia. Quy hoạch hợp lý các bãi thải, kiểm soát và xử lý tốt bụi than trong quá trình vận chuyển và chế biến than;
- Về công nghiệp điện: đẩy nhanh tiến độ thi công và đưa vào hoạt động các nhà máy nhiệt điện Uông Bí II, Cẩm Phả I, II, Hà Khánh (Quảng Ninh), Tam Hưng (Hải Phòng). Triển khai xây dựng các nhà máy điện Mạo Khê, Mông Dương, Thăng Long, nhà máy điện diezen Cái Lân (Quảng Ninh)... Xúc tiến xây dựng trung tâm nhiệt điện lớn tại Khu công nghiệp Hải Hà sau năm 2010. Phát triển sử dụng năng lượng gió, năng lượng mặt trời tại các vùng nông thôn ven biển và trên các đảo. Đến năm 2010 tổng công suất điện trong vành đai kinh tế đạt từ 2.500 - 3.000 MW và năm 2020 đạt trên 6.000 MW;
- Về công nghiệp đóng tầu: tập trung nguồn lực phát triển mạnh công nghiệp đóng tầu. Đến năm 2020 xây dựng Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ thành Trung tâm đóng tầu lớn của Việt Nam, đồng thời là một trong những trung tâm công nghiệp tầu biển lớn và hiện đại của khu vực và thế giới, có thể đóng mới tầu vận tải đến 20 - 25 vạn DWT và các loại tầu chuyên dùng khác như tầu chở dầu, tầu container, tầu công trình, tầu thăm dò và khai thác dầu khí, tầu du lịch, tầu cá công suất lớn, tầu quân sự... đạt tiêu chuẩn quốc tế;
Tiếp tục nâng cấp mở rộng các nhà máy đóng tầu Phà Rừng - Bạch Đằng, Bến Kiền, Nam Triệu (Hải Phòng); hoàn thiện Khu công nghiệp đóng tầu Cái Lân, nhà máy đóng tầu Hạ Long, Hà An (Quảng Ninh)... đáp ứng từ 80 - 85% nhu cầu sửa chữa tầu sông của Vùng Bắc Bộ và 45 - 50% nhu cầu đóng mới, sửa chữa tầu biển của cả nước. Sau năm 2010, triển khai xây dựng một số nhà máy đóng tầu quy mô lớn cùng công nghiệp phụ trợ tại Khu công nghiệp Đình Vũ - Cát Hải và các Khu công nghiệp Hải Hà, Đầm Nhà Mạc, Quang Vinh (Tiên Lãng)... Phát triển đồng bộ các cơ sở công nghiệp phụ trợ cho công nghiệp đóng tầu, tăng dần tỷ lệ nội địa hóa.
- Về công nghiệp thép: phát triển nhanh công nghiệp sản xuất thép, đáp ứng nhu cầu thép ngày càng lớn trong khu vực, nhất là cho công nghiệp đóng tầu. Tiếp tục mở rộng các nhà máy thép hiện có. Đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất thép khác, nhất là các nhà máy đúc phôi, sản xuất thép tấm, thép cao cấp... Ưu tiên xây dựng các nhà máy thép quy mô lớn tại Khu công nghiệp Đình Vũ - Cát Hải và Khu công nghiệp Hải Hà phục vụ công nghiệp đóng tầu. Đến năm 2010 quy mô sản xuất thép trong vành đai kinh tế đạt trên 5 triệu tấn/năm và năm 2020 đạt khoảng 15 triệu tấn/năm;
- Về công nghiệp vật liệu xây dựng: phát triển mạnh công nghiệp xi măng để trở thành ngành mũi nhọn. Cải tạo, nâng cấp các cơ sở sản xuất hiện có đạt trình độ tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng dây chuyền II của các nhà máy xi măng Chinfon, Hướng Dương để đưa vào hoạt động trước 2010. Tiếp tục đầu tư xây dựng các nhà máy xi măng Cẩm Phả, Thăng Long, Lam Thạch (Quảng Ninh)... Đến năm 2010 tổng năng lực sản xuất xi măng trong vành đai kinh tế đạt từ 11 - 12 triệu tấn/năm. Sắp xếp hợp lý các cơ sở sản xuất đá, đất sét, cát xây dựng... để khai thác hiệu quả nguồn vật liệu xây dựng trên địa bàn, đồng thời bảo vệ môi trường, cảnh quan du lịch;
- Về cơ khí, chế tạo: phát triển công nghiệp cơ khí, chế tạo trở thành trung tâm cơ khí mạnh của khu vực phía Bắc. Đầu tư có chọn lọc xây dựng mới các cơ sở sản xuất hiện đại với công nghệ tiên tiến. Ưu tiên phát triển các ngành cơ khí phục vụ công nghiệp đóng tầu, công nghiệp cảng, công nghiệp khai thác mỏ. Phát triển công nghiệp chế tạo máy móc, thiết bị điện; sản xuất, lắp ráp xe cơ giới; sửa chữa lắp ráp các thiết bị hạng nặng, các phương tiện vận tải nặng, các thiết bị nâng dỡ; sản xuất máy xây dựng, các máy móc, thiết bị phục vụ ngành xi măng, may mặc, chế biến nông, lâm, thuỷ sản... Ưu tiên phát triển các sản phẩm bổ trợ cho công nghiệp đóng mới và sửa chữa tầu biển;
- Các ngành công nghiệp khác: mở rộng các ngành công nghiệp truyền thống và các ngành sản phẩm có nhu cầu lớn trong địa bàn như sản xuất sơn tầu biển, bột nhẹ, chất tẩy rửa tổng hợp, đất đèn, ắc quy, nhựa bao bì, nhựa xây dựng, nhựa công nghiệp, điện tử, điện lạnh... và các loại hàng hóa tiêu dùng khác. Phát triển công nghiệp dệt may, da giầy phục vụ xuất khẩu, ưu tiên thu hút các dự án dệt may, da giầy vào các cụm công nghiệp trên địa bàn huyện để sử dụng nguồn lao động của khu vực nông thôn. Phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản, xây dựng một số cơ sở chế biến hiện đại, tạo các sản phẩm chất lượng cao cung cấp cho các đô thị, khu du lịch trong vành đai kinh tế và xuất khẩu. Chuẩn bị điều kiện để sau năm 2010 triển khai xây dựng nhà máy lọc hóa dầu trong vành đai kinh tế (tại Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải hoặc Khu công nghiệp Hải Hà);
- Về phát triển các khu công nghiệp: đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp hiện có để thu hút đầu tư nâng cao tỷ lệ lấp đầy của các khu công nghiệp. Phát triển hợp lý các khu, cụm công nghiệp mới. Dự kiến đến năm 2020 toàn vành đai kinh tế sẽ có khoảng 25 khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 22.100 ha, trong đó đất xây dựng công nghiệp gần 10.000 ha. Ngoài ra sẽ phát triển các khu, cụm công nghiệp vừa và nhỏ khác trên địa bàn các huyện, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế nông thôn.
b) Du lịch
Phát triển nhanh và bền vững ngành du lịch của vành đai kinh tế, gắn kết chặt chẽ với Thủ đô Hà Nội và vùng Nam Trung Quốc. Tổ chức hợp lý không gian du lịch trong toàn khu vực. Đầu tư có chọn lọc một số khu du lịch trọng điểm, hình thành các trung tâm du lịch lớn ven biển và trên một số đảo có ý nghĩa quốc gia và quốc tế. Ưu tiên phát triển du lịch biển - đảo tại các đảo xa như Cô Tô, Bạch Long Vĩ... vừa phát triển kinh tế, vừa bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Phát triển nhanh Khu du lịch Hạ Long thành Trung tâm du lịch lớn, hiện đại có đẳng cấp khu vực và thế giới. Xây dựng đồng bộ và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng du lịch trong khu vực. Ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài vào các dự án du lịch có quy mô lớn, tạo ra các sản phẩm du lịch cao cấp để thu hút du khách. Tiếp tục nâng cấp hiện đại hóa Khu du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí Đồ Sơn; Khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng cao cấp đảo Cát Bà gắn với Khu du lịch Hạ Long.
Triển khai xây dựng nhanh các công trình hạ tầng thiết yếu của Khu kinh tế Vân Đồn để thu hút đầu tư xây dựng Khu du lịch sinh thái biển, đảo chất lượng cao Vân Đồn - Bái Tử Long. Phát triển Khu du lịch Móng Cái - Trà Cổ - Vĩnh Thực thành Trung tâm du lịch lớn, làm đầu mối quan trọng thu hút nguồn khách du lịch từ vùng Nam Trung Quốc qua vành đai kinh tế này. Xúc tiến đầu tư xây dựng Khu đô thị - du lịch sinh thái - văn hóa Nam Hạ Long, từng bước hình thành một quần thể du lịch hiện đại dọc ven biển Quảng Ninh (từ đảo Hoàng Tân - Tuần Châu - Hạ Long - Bái Tử Long - Vân Đồn - Móng Cái - Trà Cổ) có tầm cỡ khu vực và quốc tế.
Hình thành các tuyến du lịch liên vùng kết nối với Hà Nội và các điểm du lịch lân cận. Tăng cường hợp tác với các địa phương Trung Quốc thuộc hai hành lang, một vành đai kinh tế tổ chức các tuyến du lịch giữa hai nước. Phối hợp với các nước ASEAN hình thành các tuyến du lịch liên quốc gia. Đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến du lịch để kêu gọi đầu tư và thu hút khách. Phấn đấu năm 2010 thu hút khoảng 7,5 triệu lượt khách, trong đó có từ 2,8 - 3 triệu lượt khách quốc tế và năm 2020 đạt 18 - 20 triệu lượt khách, trong đó có từ 8 - 10 triệu lượt khách quốc tế.
c) Thương mại - dịch vụ
Khai thác tối đa lợi thế so sánh của Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ để phát triển thương mại với tốc độ cao, hướng mạnh vào xuất khẩu, từng bước hội nhập vững chắc vào thị trường quốc tế, nhất là thị trường Trung Quốc, ASEAN. Phấn đấu tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên vành đai kinh tế tăng bình quân từ 17 - 18% thời kỳ 2008 - 2010 và trên 20% thời kỳ 2011 - 2020.
Phát triển hệ thống các siêu thị, các trung tâm thương mại hiện đại ở các thành phố, thị xã và các khu công nghiệp, Khu kinh tế. Xây dựng Trung tâm thương mại lớn và hiện đại tại Hải Phòng, làm chức năng đầu mối thương mại và trung tâm hội nhập chính của cả vùng Bắc Bộ và hai hành lang, một vành đai kinh tế. Đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại Móng Cái, giữ vai trò cửa ngõ giao lưu chính của vành đai kinh tế với Trung Quốc và giữa Việt Nam - Trung Quốc với ASEAN. Phát triển hệ thống các siêu thị, các trung tâm thương mại quy mô phù hợp gắn với các khu du lịch ở Hạ Long, Móng Cái, Vân Đồn, Cát Bà, Đồ Sơn... và các thị xã, các trung tâm huyện lỵ... Củng cố mạng lưới thương mại từ cấp tỉnh đến các xã, hình thành một thị trường thông suốt, lưu thông hàng hóa thuận tiện, thúc đẩy sản xuất phát triển và đáp ứng nhu cầu của nhân dân.
Đẩy mạnh xuất khẩu, nhất là xuất khẩu sang Trung Quốc; đổi mới cơ cấu hàng xuất khẩu, quy hoạch phát triển các nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu phù hợp với nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc và lợi thế của từng địa phương. Tăng cường xuất khẩu các sản phẩm chế biến sâu, hạn chế xuất khẩu thô, xuất khẩu nguyên liệu. Hạn chế thấp nhất việc xuất khẩu các loại than có nhu cầu sử dụng trong nước. Xây dựng hoàn chỉnh Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, nâng cấp các cửa khẩu Hoành Mô, Bắc Phong Sình để mở rộng giao thương hàng hóa giữa các địa phương của hai nước trong vành đai kinh tế.
Phát triển đa dạng các hoạt động xuất khẩu tại chỗ như: tạm nhập, tái xuất, chuyển tải, quá cảnh, uỷ thác, kho ngoại quan và các dịch vụ xuất, nhập khẩu khác... Phần đấu đạt tốc độ xuất khẩu bình quân từ 24 - 25% giai đoạn 2009 - 2010 và trên 25% giai đoạn 2011 - 2020. Đầu tư xây dựng các khu phi thuế quan tại các khu vực cửa khẩu, các khu kinh tế và các cửa hàng miễn thuế tại các thành phố, các trung tâm thương mại, trung tâm du lịch lớn, các sân bay, cảng biển đầu mối... nhằm thúc đẩy xuất khẩu tại chỗ.
Phát triển tổng hợp các ngành dịch vụ theo hướng đa dạng hóa các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống. Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao như dịch vụ vận tải, tài chính ngân hàng, viễn thông..., đưa dịch vụ thực sự trở thành khu vực kinh tế năng động, tạo nhiều việc làm và đóng góp lớn cho nền kinh tế. Nâng cao năng lực hoạt động của các ngân hàng trên địa bàn. Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các ngân hàng, các Công ty tài chính lớn trong và ngoài nước đầu tư tài chính và mở chi nhánh hoạt động tại Hải Phòng, Hạ Long, Móng Cái.... Xây dựng tại Hải Phòng Trung tâm tài chính lớn và hiện đại quy mô khu vực và quốc tế.
Phát triển mạnh dịch vụ vận tải cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và hàng không. Khai thác tối đa lợi thế "Cửa mở" để phát triển đa dạng các dịch vụ cảng và vận tải biển. Mở các tuyến vận tải cao tốc (cả đường bộ và đường biển) tới các địa phương của Trung Quốc thuộc vành đai kinh tế, đáp ứng nhu cầu giao lưu hàng hóa và đi lại của nhân dân, nhất là khách du lịch. Phát triển tuyến đường biển cao tốc đi các tỉnh phía Nam và các tuyến vận tải biển cao tốc ra các đảo đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế đảo.
Phát triển dịch vụ thông tin, truyền thông theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của các loại dịch vụ, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực. Phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ khác đáp ứng yêu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Thuỷ sản
Phát triển ngành thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, hướng mạnh xuất khẩu. Chuyển đổi mạnh cơ cấu sản xuất thuỷ sản theo hướng giảm tỷ trọng khai thác, tăng tỷ trọng nuôi trồng và dịch vụ; gắn sản xuất với chế biến và bảo vệ nguồn lợi, bảo đảm phát triển bền vững. Đến năm 2010 tổng sản lượng thuỷ sản trong vành đai kinh tế đạt 220 nghìn tấn và năm 2020 đạt khoảng 400 nghìn tấn, trong đó khai thác khoảng từ 120 - 130 nghìn tấn; nuôi trồng đạt từ 270 - 280 nghìn tấn; xuất khẩu thủy sản đạt từ 600 - 700 triệu USD.
Đẩy mạnh khai thác hải sản xa bờ, nhất là ở ngư trường Bạch Long Vĩ, ngư trường giữa Vịnh... thuộc vùng đánh cá chung, nâng tỷ trọng khai thác xa bờ lên 65 - 70%. Phát triển các đội tầu lớn, trang bị hiện đại gắn với đầu tư cơ sở hạ tầng và dịch vụ nghề cá phục vụ đánh bắt xa bờ. Tổ chức lại sản xuất trên biển theo mô hình liên kết, liên doanh, trước mắt phát triển mô hình các tổ đội khai thác xa bờ theo từng ngành, nghề để hỗ trợ nhau trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và bảo đảm an toàn trên biển. Sắp xếp hợp lý nghề khai thác gần bờ nhằm bảo vệ phát triển nguồn lợi, đồng thời bảo đảm mưu sinh cho dân cư ven biển. Chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở khu vực Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long và ven các đảo, giảm đánh bắt gần bờ chuyển sang nuôi trồng thủy sản và dịch vụ du lịch... Phát triển đồng bộ các cảng cá, các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền và các trung tâm tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ... dọc ven biển và trên các đảo quan trọng như Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Cô Tô... để thúc đẩy khai thác xa bờ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Phát triển nuôi trồng thuỷ sản, nhất là nuôi, trồng hải sản trên biển với công nghệ tiên tiến, bảo đảm vệ sinh môi trường và phát triển bền vững. Hình thành các vùng nuôi, trồng thuỷ sản tập trung theo hướng thâm canh năng suất cao. Đẩy mạnh nuôi, trồng thuỷ sản nước lợ, nhất là nuôi tôm xuất khẩu theo công nghệ tiên tiến. Mở rộng nuôi nhuyễn thể (nghêu, sò huyết, hến, vẹm, hầu...) tại các khu vực cửa sông, các vùng bãi triều ven biển và ven các đảo. Ưu tiên phát triển mạnh nuôi cá và đặc sản biển theo hướng công nghiệp kết hợp với phát triển du lịch, nhất là ở khu vực Bái Tử Long, Cô Tô, Vân Đồn, Tiên Yên và quanh đảo Cát Bà... từng bước xây dựng ngành nuôi trồng hải sản trên biển ở Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
Tiếp tục nâng cấp hiện đại hóa các cơ sở chế biến hiện có; xây dựng mới một số cơ sở chế biến thủy sản hiện đại, tạo các sản phẩm chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế. Xây dựng Hải Phòng thành Trung tâm dịch vụ nghề cá lớn của Vịnh Bắc Bộ, Trung tâm sản xuất giống, sản xuất thức ăn, Trung tâm khoa học - kỹ thuật, chế biến, thương mại và xuất khẩu thuỷ sản của Vùng Bắc Bộ.