Document: Khoản 7 Điều 1 Quyết định 27/2011/QĐ-UBND Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "28/12/2011", "sign_number": "27/2011/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Dân Mạc", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "28/12/2011", "sign_number": "27/2011/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Dân Mạc", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "28/12/2011", "sign_number": "27/2011/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Dân Mạc", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "28/12/2011", "sign_number": "27/2011/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Dân Mạc", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "28/12/2011", "sign_number": "27/2011/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Dân Mạc", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 7 Điều 1 Quyết định 27/2011/QĐ-UBND Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực

Điều 1. Phê duyêt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 - 2020 với những nội dung sau:
...
7. Các chương trình, dự án ưu tiên.
a) Hoàn thiện và nâng cao chất lượng mạng lưới đào tạo nhân lực.
- Về đào tạo chuyên nghiệp: Nâng cấp 03 trường cao đẳng lên đại học, trong đó 01 trường Trung ương quản lý (trường Cao đẳng công nghiệp thực phẩm); 02 trường thuộc tỉnh quản lý (Trường Cao đẳng y tế; Trường cao đẳng Dược). Nâng cấp trường trung học Văn hóa nghệ thuật lê trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và du lịch. Nâng cấp trường Trung cấp nông lâm nghiệp lên thành trường Cao đẳng nông lâm nghiệp (có đào tạo nghề). Phát triển thêm các cơ sở đào tạo bồi dưỡng nâng cao và đào tạo lại.
- Về đào tạo nghề: Nâng cấp trường Cao đẳng nghề lên đại học Công nghệ; nâng cấp 02 trường trung cấp nghề lên trường Cao đẳng nghề (trường trung cấp nghề công nghệ vận tải; trường trung cấp nghề dân tộc nội trú); nâng cấp 03 trung tâm dạy nghề cấp huyện thành 03 trường trung cấp nghề (Trung tâm dạy nghề Hạ Hòa, Đoan Hùng, Tam Nông). Thành lập trung tâm dạy nghề Lâm Thao (2011).
Sau năm 2015 trên địa bàn tỉnh có khoảng 50 cơ sở đào tạo và dạy nghề, trong đó 6 trường đại học, 11 - 13 trường cao đẳng và tương đương; 10 - 12 cơ sở đào tạo tương đương trung cấp; trên 20 trung tâm đào tạo nghề và tương đương.
b) Tổ chức đào tạo mới, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng lao động.
Xây dựng Đề án đào tạo lại, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho cán bộ lãnh đạo, quản lý. Tổ chức đào tạo mới trong các cơ sở đào tạo trong tỉnh.
Đào tạo lao động các nghề đặc biệt: Khảo sát tại các làng nghề truyền thống để xây dựng các đề án đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ nhằm giữ gìn và nâng cao chất lượng sản phẩm các mặt hàng truyền thống.
Tổ chức đào tạo mới, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng lao động trong các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh.
c) Hợp tác quốc tế về đào tạo và xuất khẩu lao động.
Cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài. Mời chuyên gia, giảng viên nước ngoài tham gia đào tạo ở trong nước. Thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài (ODA, FDI…) xây dựng cơ sở đào tạo ở Phú Thọ; tranh thủ các nguồn vốn từ nước ngoài để nâng cao năng lực các trường nghề hiện có đảm bảo chất lượng đào tạo. Đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu lao động và cung cấp nhân lực chất lượng cao cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh và các khu chế xuất, khu công nghệ cao của Hà Nội và các tỉnh lân cận.
III - GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Đổi mới và nâng cao nhận thức về vai trò của phát triển nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Các cấp chính quyền từ tỉnh đến cơ sở, nhất là người đứng đầu phải thường xuyên quan tâm chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển nguồn nhân lực; xác định phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nhiệm vụ mang tính chiến lược đảm bảo cho kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững.
Các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân phát huy tính chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động cán bộ, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực; tạo sự chuyển biến trong nhận thức, hành động, phát huy vai trò, trách nhiệm đối với phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh.
2. Phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo của hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề
a) Phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề:
- Tiếp tục đẩy mạnh phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề: Tổ chức hợp lý hệ thống các bậc học giáo dục và đào tạo từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và đào tạo chuyên nghiệp dạy nghề. Điều chỉnh quy hoạch, sắp xếp và phát triển hợp lý các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, các cơ sở dạy nghề.
- Xây dựng kế hoạch đào tạo theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cho từng giai đoạn của tỉnh, huyện và của mỗi cơ sở đào tạo và dạy nghề. Thực hiện liên thông trong giáo dục phổ thông với đào tạo nghề. Đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại, phù hợp với điều kiện của tỉnh.
- Xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp; đảm bảo chế độ chính sách cho đội ngũ giáo viên và người học học theo quy định của Nhà nước.
- Thường xuyên đánh giá chất lượng đào tạo, dạy nghề bằng hệ thống tiêu chí quốc gia.
b) Nâng cao thể lực và tầm vóc của nhân lực:
- Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, đặc biệt là người lao động; cần làm tốt công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe ban đầu, nâng cao thể lực toàn dân, thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em, chăm sóc sức khỏe học đường cho học sinh.
- Hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của các Trung tâm y tế dự phòng, các bệnh viện đa khoa tuyến huyện; thành lập Trung tâm y tế hoặc bệnh xá, phòng khám đa khoa tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
- Chú trọng công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, quan tâm cải thiện điều kiện làm việc, vui chơi giải trí, đi đôi với bảo đảm đầy đủ các chế độ cho người lao động theo quy định của Nhà nước.
- Thường xuyên cải thiện điều kiện lao động. Nâng cao chất lượng các phong trào rèo luyện thân thể, tập thể dục, nâng cao thể lực… xây dựng đời sống lành mạnh trong nhân dân, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong lối sống xã hội.
c) Đào tạo, nâng cao trình độ, kiến thức và kỹ năng lao động:
Xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực 5 năm và hàng năm phải đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, lao động được đào tạo với ngành nghề phù hợp, có kỹ năng đáp ứng yêu cầu thực tế. Thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng tại chỗ để theo kịp sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ mới và phù hợp với đường lối, chính sách, luật pháp về phát triển kinh tế - xã hội, phát triển doanh nghiệp của Đảng của Nhà nước.
Nâng cao nhận thức của nhân lực về ý thức, tác phong, kỷ luật trong lao động nhằm hạn chế, đẩy lùi các mặt yếu, tồn tại của đội ngũ nhân lực hiện nay. Tổ chức công đoàn và các đoàn thể chính trị, các cơ quan quản lý lao động cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để người lao động có nhận thức đầy đủ về sự phối hợp tập thể, kỷ luật của doanh nghiệp, tính hợp lý, khoa học của quy trình lao động, sản xuất và những yêu cầu của người sử dụng lao động, của doanh nghiệp mà người lao động phải đáp ứng.
3. Tập trung huy động các nguồn lực đầu tư cho đào tạo phát triển nhân lực.
a) Nhu cầu vốn, kinh phí phát triển nhân lực:
Tổng nhu cầu vốn cho phát triển nhân lực (bao gồm vốn đầu tư phát triển và kinh phí đào tạo) của giai đọan 2011 - 2020 khoảng 11.897 tỷ đồng, trong đó thời kỳ 2011 - 2015 khoảng 4.911,5 tỷ đồng (bình quân 982,3 tỷ đồng/năm); thời kỳ 2016 – 2020 khoảng 6.985,5 tỷ đồng (bình quân 1.397,1 tỷ đồng/năm).
- Nhu cầu vốn đầu tư phát triển hệ thống đào tạo và dạy nghề (tỉnh quản lý) giai đoạn 2011 - 2020 khoảng 9.130 tỷ đồng, trong đó thời kỳ (2011 - 2015) khoảng 3.750 tỷ đồng (bình quân 946 tỷ đồng/năm); thời kỳ (2016 - 2020) khoảng 5.380 tỷ đồng (bình quân 1.076 tỷ đồng/năm).
- Nhu cầu kinh phí chi cho các hoạt động đào tạo, dạy nghề giai đoạn 2011 - 2020 khoảng 2.767 tỷ đồng, trong đó thời kỳ (2011 - 2015) khoảng 1.161,5 tỷ đồng (bình quân 232,3 tỷ đồng/năm); thời kỳ 2016 - 2020) khoảng 1.605,5 tỷ đồng (bình quân 321,1 tỷ đồng/năm).
b) Huy đồng các nguồn vốn đảm bảo cho phát triển nhân lực:
- Tăng mức đầu tư từ các nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho các cơ sở đào tạo và dạy nghề do tỉnh quản lý, ưu tiên bố trí vốn cho các cơ sở đào tạo, cơ sở dạy nghề trọng điểm; các cơ sở đào tạo được quy hoạch được nâng cấp từ cao đẳng lên đại học và từ trung cấp lên cao đẳng và từ trung tâm dạy nghề lên trường trung cấp nghề. Hàng năm, dành một phần vốn ngân sách để thực hiện chính sách khuyến khích phát triển cơ sở xã hội hóa, hỗ trợ đầu tư các cơ sở đào tạo, dạy nghề ngoài công lập theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.
- Xây dựng kế hoạch dự toán ngân sách nhà nước theo hướng tập trung cho các nhóm ngành nghề đào tạo, dạy nghề ưu tiên, thực hiện bình đẳng giữa các cơ sở đào tạo, chú trọng các hoạt động đào tạo, dạy nghề trên địa bàn miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và đối tượng là người dân tộc thiểu số, hộ nghèo, hộ gia đình chính sách…
- Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động trong giáo dục đào tạo, dạy nghề để huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực. Tạo mối quan hệ tương hỗ và chia sẻ kinh phí đào tạo giữa nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và người lao động.
4. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực.
4.1. Xây dựng, ban hành cơ chế chính sách khuyến khích phát triển nhân lực:
a) Chính sách đầu tư và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, có mức ưu đãi cao trong khung pháp lý chung của nhà nước, chú trọng các hình thức đầu tư mới gắn quyền lợi với trách nhiệm của nhà đầu tư và thu hút nhiều lao động.
b) Chính sách tài chính, sử dụng ngân sách cho phát triển nhân lực: Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước, huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển nhân lực; đổi mới cơ chế quản lý tài chính. Ngân sách nhà nước là nguồn tài chính chủ yếu của giáo dục, đào tạo. Nhà nước ưu tiên đầu tư cho phát triển nhân lực trong tương quan với các ngành khác.
c) Chính sách việc làm, bảo hiển, bảo trợ xã hội: Để đảm bảo an sinh xã hội, Nhà nước có chính sách hỗ trợ tạo việc làm, hỗ trợ đối tượng nghèo khi tham gia các loại hình bảo hiểm, đây là hình thức thiết thực để hỗ trợ những người lao động thuộc đối tượng yếu thế trong xã hội.
d) Chính sách huy động các nguồn lực xã hội hóa phát triển nhân lực: Để đảm bảo nhu cầu vốn cho phát triển nguồn nhân lực trong xã hội, tăng mức huy động các nguồn vốn xây dựng cơ bản, sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp khoa học, vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, vốn FDI, hợp tác quốc tế và huy động nguồn vốn của các doanh nghiệp, vốn trong dân thông qua xã hội để thực hiện các dự án cho phát triển nguồn nhân lực.
e) Chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài: Rà soát, điều chỉnh, bổ sung và nghiên cứu ban hành những chính sách ưu đãi, thu hút người có trình độ cao về tỉnh công tác cho phù hợp với từng giai đoạn. Thực hiện các chính sách ưu đãi đối với học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số. Xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số.
f) Chính sách phát triển thị trường lao động và hệ thống công cụ, thông tin thị trường lao động: Xây dựng và phát triển mạng lưới thông tin thị trường lao động và dịch vụ về đào tạo, tìm kiếm, giới thiệu việc làm. Khuyến khích thành lập các công ty, đơn vị cung cấp dịch vụ cung ứng nhân lực theo đặt hàng. Các đơn vị này được hưởng các cơ chế ưu đãi theo chính sách Nhà nước hiện hành.
4.2. Tăng cường công tác quản lý nhà nước và giám sát thực hiện các chương trình đào tạo, dạy nghề, giải quyết việc làm và an sinh xã hội:
a) Tăng cường phân cấp và đổi mới cơ chế quản lý về giáo dục và đào tạo: Đẩy mạnh phân cấp quản lý, tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở đào tạo và người sử dụng lao động.
Đổi mới cơ chế quản lý, bồi dưỡng cán bộ quản lý lao động, quản lý giáo dục, đào tạo các cấp, nâng cao năng lực bộ máy quản lý; hoàn thiện hệ thống thanh tra giáo dục, thanh tra lao động; xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý giáo dục, thông tin thị trường lao động. Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác đào tạo, chất lượng đào tạo và sử dụng lao động của các cơ sở đào tạo, các tổ chức, doanh nghiệp và đơn vị kinh tế. Gắn đào tạo với giới thiệu việc làm, với nhu cầu của xã hội.
b) Đẩy mạnh công tác thông tin, phổ biến pháp luật về phát triển nhân lực: Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các chương trình hành động, hoạt động của các cơ quan, đoàn thể để thông tin, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân, nhất là thanh niên về vai trò của tri thức, của kỹ năng lao động, ý thức kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác; trình độ tay nghề; về pháp luật và chủ trương phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Đảng và Nhà nước… Lồng ghép những hoạt động truyền thông vào chương trình hướng nghiệp tại các trường THCS và THPT.
Chú trọng công tác thông báo, tập huấn kịp thời cho doanh nghiệp, người sử dụng lao động về chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước liên quan đến lao động, việc làm để họ có định hướng, kế hoạch thực hiện.
c) Hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực, đổi mới phương pháp quản lý, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động bộ máy quản lý: Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý phát triển nhân lực của tỉnh tại các cơ quan tham mưu, tổng hợp (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính) và các cơ quan thực hiện chức năng quản lý chuyên ngành (Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Y tế…). Đồng thời tăng cường sự chỉ đạo và phối hợp của Ban tổ chức Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy với các cơ quan quản lý Nhà nước.
Cải tiến và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan Đảng, cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Nhất là các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, các doanh nghiệp trực thuộc các Bộ, ngành Trung ương, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, cơ chế hỗ trợ đặc thù và tổ chức đào tạo, hợp đồng đào tạo.
Nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước, ngoại ngữ cho cán bộ làm việc trong lĩnh vực quản lý nhà nước về phát triển nhân lực.
Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tham mưu, giúp việc về công tác quản lý phát triển nhân lực. Phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm quản lý của UBND các cấp, các Sở, Ban, Ngành trong việc theo dõi, dự báo, xây dựng kế hoạch phát triển nhân lực. Giám đốc các Sở, Ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã chỉ đạo trực tiếp và chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về kết quả phát triển nguồn nhân lực ở địa phương, đơn vị mình.
Thành lập bộ phận chuyên trách thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư để tiếp nhận và nắm bắt nhu cầu nhân lực của các khu, cụm công nghiệp; các đơn vị, doanh nghiệp ngay từ khi đăng ký đầu tư, thành lập doanh nghiệp và trong quá trình hoạt động, phát triển mở rộng doanh nghiệp.
5. Mở rộng, tăng cường sự phối hợp và hợp tác quốc tế trong đào tạo, giải quyết việc làm, phát triển nhân lực.
a) Phối hợp và hợp tác với các cơ quan, tổ chức thuộc các bộ, ngành Trung ương, các cơ sở đào tạo, các viện nghiên cứu trực thuộc Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh, tạo điều kiện về chương trình dạy - học mới, giáo trình, giáo án, nâng cao trình độ giáo viên và nguồn vốn để hỗ trợ Phú Thọ phát triển nhân lực.
b) Phối hợp và hợp tác với các tỉnh, thành phố: Tận dụng các lợi thế về vị trí, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội để mở rộng quan hệ giao lưu, trao đổi và hợp tác toàn diện với các địa phương lân cận, vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước, tạo cơ hội thuận lợi cho việc phát triển nhân lực, giải quyết việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Các sở đào tạo chủ động tăng cường mối quan hệ hợp tác, liên kết đào tạo, tuyển dụng nhân lực và chuyển giao nhân lực với các tỉnh để điều tiết cung cầu nhân lực trên thị trường lao động.
c) Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế đại sứ quán các nước tại Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ, các nhà đầu tư nước ngoài đang hoạt động trên địa bàn tỉnh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các tổ chức liên quan khác để tăng cường hoạt động đào tạo, chuyển giao nhân lực; gửi lao động đi đào tạo ở nước ngoài và xuất khẩu lao động. Đồng thời cung cấp nhân lực có trình độ kỹ thuật cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh và các địa phương trong cả nước.
Tổ chức cung cấp thông tin, các hoạt động tuyên truyền, các cuộc hội thảo về du học nước ngoài để giới thiệu và cải cách thủ tục hành chính để học sinh có cơ hội và điều kiện thuận lợi ở nước ngoài.
IV - TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Thành lập Ban chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 - 2015. Trưởng Ban chỉ đạo là Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư là Phó Trưởng ban thường trực, các Phó Trưởng Ban là Giám đốc các sở: Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, Lao động Thương binh và Xã hội; Thành viên Ban chỉ đạo là Thủ trưởng các sở ngành có liên quan; mời Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, trưởng các tổ chức đoàn thể: Liên đoàn lao động, Hội nông dân, Phụ nữ, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh tham gia Ban chỉ đạo.
2. Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu giúp UBND tỉnh xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm để thực hiện Quy hoạch này; Hướng dẫn các sở, ngành, UBND các huyện, thành, thị các Trường đào tạo chuyên nghiệp, các cơ sở dạy nghề xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực, Kế hoạch đào tạo phù hợp với Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của tỉnh và đưa vào mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch 5 năm, hàng năm.
Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành và UBND các huyện, thành, thị cụ thể hóa hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển nhân lực, đánh giá chất lượng đào tạo, dạy nghề; tổng hợp, báo cáo kế quả thực hiện Quy hoạch với UBND tỉnh.
3. Các sở: Giáo dục và Đào tạo, Lao động Thương binh và Xã hội, Y tế, Nội vụ, các sở, ban, ngành, các trường Đại học, Cao đẳng tổ chức triển khai xây dựng Quy hoạch, Kế hoạch phát triển nhân lực của sở, ngành, đơn vị mình phù hợp với Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của tỉnh và Quy hoạch phát triển nhân lực của Bộ, ngành dọc Trung ương; Báo cáo Hội đồng thẩm định cấp tỉnh, trình Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt.
4. Ủy ban nhân dân các huyện, thành, thị xây dựng Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của địa phương và đưa vào mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, hàng năm của địa phương mình. Tổ chức tốt hệ thống thông tin nhu cầu nhân lực trên địa bàn, chủ động phối hợp với các doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo để xác định nhu cầu, huy động nguồn lực và đào tạo nhân lực.
5. Các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nghề nghiệp; học sinh, sinh viên và người lao động có trách nhiệm, chủ động tham gia thực hiện Quy hoạch này.
6. Các sở, ngành, UBND các huyện, thành, thị, các cơ sở đào tạo và dạy nghề định kỳ đánh giá kết quả thực hiện Quy hoạch hàng năm, báo cáo UBND tỉnh và gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư. Trong quá trình thực hiện, nếu có phát sinh, vướng mắc hoặc thấy cần bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế, Báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp).
7. Công khai Quy hoạch được duyệt trên các phương tiện thông tin đại chúng, để nhân dân biết, kiểm tra, giám sát và theo dõi trong quá trình thực hiện.

Content:
Các chương trình, dự án ưu tiên.
a) Hoàn thiện và nâng cao chất lượng mạng lưới đào tạo nhân lực.
- Về đào tạo chuyên nghiệp: Nâng cấp 03 trường cao đẳng lên đại học, trong đó 01 trường Trung ương quản lý (trường Cao đẳng công nghiệp thực phẩm); 02 trường thuộc tỉnh quản lý (Trường Cao đẳng y tế; Trường cao đẳng Dược). Nâng cấp trường trung học Văn hóa nghệ thuật lê trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và du lịch. Nâng cấp trường Trung cấp nông lâm nghiệp lên thành trường Cao đẳng nông lâm nghiệp (có đào tạo nghề). Phát triển thêm các cơ sở đào tạo bồi dưỡng nâng cao và đào tạo lại.
- Về đào tạo nghề: Nâng cấp trường Cao đẳng nghề lên đại học Công nghệ; nâng cấp 02 trường trung cấp nghề lên trường Cao đẳng nghề (trường trung cấp nghề công nghệ vận tải; trường trung cấp nghề dân tộc nội trú); nâng cấp 03 trung tâm dạy nghề cấp huyện thành 03 trường trung cấp nghề (Trung tâm dạy nghề Hạ Hòa, Đoan Hùng, Tam Nông). Thành lập trung tâm dạy nghề Lâm Thao (2011).
Sau năm 2015 trên địa bàn tỉnh có khoảng 50 cơ sở đào tạo và dạy nghề, trong đó 6 trường đại học, 11 - 13 trường cao đẳng và tương đương; 10 - 12 cơ sở đào tạo tương đương trung cấp; trên 20 trung tâm đào tạo nghề và tương đương.
b) Tổ chức đào tạo mới, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng lao động.
Xây dựng Đề án đào tạo lại, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho cán bộ lãnh đạo, quản lý. Tổ chức đào tạo mới trong các cơ sở đào tạo trong tỉnh.
Đào tạo lao động các nghề đặc biệt: Khảo sát tại các làng nghề truyền thống để xây dựng các đề án đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ nhằm giữ gìn và nâng cao chất lượng sản phẩm các mặt hàng truyền thống.
Tổ chức đào tạo mới, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng lao động trong các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh.
c) Hợp tác quốc tế về đào tạo và xuất khẩu lao động.
Cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài. Mời chuyên gia, giảng viên nước ngoài tham gia đào tạo ở trong nước. Thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài (ODA, FDI…) xây dựng cơ sở đào tạo ở Phú Thọ; tranh thủ các nguồn vốn từ nước ngoài để nâng cao năng lực các trường nghề hiện có đảm bảo chất lượng đào tạo. Đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu lao động và cung cấp nhân lực chất lượng cao cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh và các khu chế xuất, khu công nghệ cao của Hà Nội và các tỉnh lân cận.
III - GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Đổi mới và nâng cao nhận thức về vai trò của phát triển nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Các cấp chính quyền từ tỉnh đến cơ sở, nhất là người đứng đầu phải thường xuyên quan tâm chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển nguồn nhân lực; xác định phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nhiệm vụ mang tính chiến lược đảm bảo cho kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững.
Các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân phát huy tính chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động cán bộ, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực; tạo sự chuyển biến trong nhận thức, hành động, phát huy vai trò, trách nhiệm đối với phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh.
2. Phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo của hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề
a) Phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề:
- Tiếp tục đẩy mạnh phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề: Tổ chức hợp lý hệ thống các bậc học giáo dục và đào tạo từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và đào tạo chuyên nghiệp dạy nghề. Điều chỉnh quy hoạch, sắp xếp và phát triển hợp lý các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, các cơ sở dạy nghề.
- Xây dựng kế hoạch đào tạo theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cho từng giai đoạn của tỉnh, huyện và của mỗi cơ sở đào tạo và dạy nghề. Thực hiện liên thông trong giáo dục phổ thông với đào tạo nghề. Đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại, phù hợp với điều kiện của tỉnh.
- Xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp; đảm bảo chế độ chính sách cho đội ngũ giáo viên và người học học theo quy định của Nhà nước.
- Thường xuyên đánh giá chất lượng đào tạo, dạy nghề bằng hệ thống tiêu chí quốc gia.
b) Nâng cao thể lực và tầm vóc của nhân lực:
- Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, đặc biệt là người lao động; cần làm tốt công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe ban đầu, nâng cao thể lực toàn dân, thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em, chăm sóc sức khỏe học đường cho học sinh.
- Hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của các Trung tâm y tế dự phòng, các bệnh viện đa khoa tuyến huyện; thành lập Trung tâm y tế hoặc bệnh xá, phòng khám đa khoa tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
- Chú trọng công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, quan tâm cải thiện điều kiện làm việc, vui chơi giải trí, đi đôi với bảo đảm đầy đủ các chế độ cho người lao động theo quy định của Nhà nước.
- Thường xuyên cải thiện điều kiện lao động. Nâng cao chất lượng các phong trào rèo luyện thân thể, tập thể dục, nâng cao thể lực… xây dựng đời sống lành mạnh trong nhân dân, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong lối sống xã hội.
c) Đào tạo, nâng cao trình độ, kiến thức và kỹ năng lao động:
Xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực 5 năm và hàng năm phải đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, lao động được đào tạo với ngành nghề phù hợp, có kỹ năng đáp ứng yêu cầu thực tế. Thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng tại chỗ để theo kịp sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ mới và phù hợp với đường lối, chính sách, luật pháp về phát triển kinh tế - xã hội, phát triển doanh nghiệp của Đảng của Nhà nước.
Nâng cao nhận thức của nhân lực về ý thức, tác phong, kỷ luật trong lao động nhằm hạn chế, đẩy lùi các mặt yếu, tồn tại của đội ngũ nhân lực hiện nay. Tổ chức công đoàn và các đoàn thể chính trị, các cơ quan quản lý lao động cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để người lao động có nhận thức đầy đủ về sự phối hợp tập thể, kỷ luật của doanh nghiệp, tính hợp lý, khoa học của quy trình lao động, sản xuất và những yêu cầu của người sử dụng lao động, của doanh nghiệp mà người lao động phải đáp ứng.
3. Tập trung huy động các nguồn lực đầu tư cho đào tạo phát triển nhân lực.
a) Nhu cầu vốn, kinh phí phát triển nhân lực:
Tổng nhu cầu vốn cho phát triển nhân lực (bao gồm vốn đầu tư phát triển và kinh phí đào tạo) của giai đọan 2011 - 2020 khoảng 11.897 tỷ đồng, trong đó thời kỳ 2011 - 2015 khoảng 4.911,5 tỷ đồng (bình quân 982,3 tỷ đồng/năm); thời kỳ 2016 – 2020 khoảng 6.985,5 tỷ đồng (bình quân 1.397,1 tỷ đồng/năm).
- Nhu cầu vốn đầu tư phát triển hệ thống đào tạo và dạy nghề (tỉnh quản lý) giai đoạn 2011 - 2020 khoảng 9.130 tỷ đồng, trong đó thời kỳ (2011 - 2015) khoảng 3.750 tỷ đồng (bình quân 946 tỷ đồng/năm); thời kỳ (2016 - 2020) khoảng 5.380 tỷ đồng (bình quân 1.076 tỷ đồng/năm).
- Nhu cầu kinh phí chi cho các hoạt động đào tạo, dạy nghề giai đoạn 2011 - 2020 khoảng 2.767 tỷ đồng, trong đó thời kỳ (2011 - 2015) khoảng 1.161,5 tỷ đồng (bình quân 232,3 tỷ đồng/năm); thời kỳ 2016 - 2020) khoảng 1.605,5 tỷ đồng (bình quân 321,1 tỷ đồng/năm).
b) Huy đồng các nguồn vốn đảm bảo cho phát triển nhân lực:
- Tăng mức đầu tư từ các nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho các cơ sở đào tạo và dạy nghề do tỉnh quản lý, ưu tiên bố trí vốn cho các cơ sở đào tạo, cơ sở dạy nghề trọng điểm; các cơ sở đào tạo được quy hoạch được nâng cấp từ cao đẳng lên đại học và từ trung cấp lên cao đẳng và từ trung tâm dạy nghề lên trường trung cấp nghề. Hàng năm, dành một phần vốn ngân sách để thực hiện chính sách khuyến khích phát triển cơ sở xã hội hóa, hỗ trợ đầu tư các cơ sở đào tạo, dạy nghề ngoài công lập theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.
- Xây dựng kế hoạch dự toán ngân sách nhà nước theo hướng tập trung cho các nhóm ngành nghề đào tạo, dạy nghề ưu tiên, thực hiện bình đẳng giữa các cơ sở đào tạo, chú trọng các hoạt động đào tạo, dạy nghề trên địa bàn miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và đối tượng là người dân tộc thiểu số, hộ nghèo, hộ gia đình chính sách…
- Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động trong giáo dục đào tạo, dạy nghề để huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực. Tạo mối quan hệ tương hỗ và chia sẻ kinh phí đào tạo giữa nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và người lao động.
4. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực.
4.1. Xây dựng, ban hành cơ chế chính sách khuyến khích phát triển nhân lực:
a) Chính sách đầu tư và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, có mức ưu đãi cao trong khung pháp lý chung của nhà nước, chú trọng các hình thức đầu tư mới gắn quyền lợi với trách nhiệm của nhà đầu tư và thu hút nhiều lao động.
b) Chính sách tài chính, sử dụng ngân sách cho phát triển nhân lực: Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước, huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển nhân lực; đổi mới cơ chế quản lý tài chính. Ngân sách nhà nước là nguồn tài chính chủ yếu của giáo dục, đào tạo. Nhà nước ưu tiên đầu tư cho phát triển nhân lực trong tương quan với các ngành khác.
c) Chính sách việc làm, bảo hiển, bảo trợ xã hội: Để đảm bảo an sinh xã hội, Nhà nước có chính sách hỗ trợ tạo việc làm, hỗ trợ đối tượng nghèo khi tham gia các loại hình bảo hiểm, đây là hình thức thiết thực để hỗ trợ những người lao động thuộc đối tượng yếu thế trong xã hội.
d) Chính sách huy động các nguồn lực xã hội hóa phát triển nhân lực: Để đảm bảo nhu cầu vốn cho phát triển nguồn nhân lực trong xã hội, tăng mức huy động các nguồn vốn xây dựng cơ bản, sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp khoa học, vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, vốn FDI, hợp tác quốc tế và huy động nguồn vốn của các doanh nghiệp, vốn trong dân thông qua xã hội để thực hiện các dự án cho phát triển nguồn nhân lực.
e) Chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài: Rà soát, điều chỉnh, bổ sung và nghiên cứu ban hành những chính sách ưu đãi, thu hút người có trình độ cao về tỉnh công tác cho phù hợp với từng giai đoạn. Thực hiện các chính sách ưu đãi đối với học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số. Xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số.
f) Chính sách phát triển thị trường lao động và hệ thống công cụ, thông tin thị trường lao động: Xây dựng và phát triển mạng lưới thông tin thị trường lao động và dịch vụ về đào tạo, tìm kiếm, giới thiệu việc làm. Khuyến khích thành lập các công ty, đơn vị cung cấp dịch vụ cung ứng nhân lực theo đặt hàng. Các đơn vị này được hưởng các cơ chế ưu đãi theo chính sách Nhà nước hiện hành.
4.2. Tăng cường công tác quản lý nhà nước và giám sát thực hiện các chương trình đào tạo, dạy nghề, giải quyết việc làm và an sinh xã hội:
a) Tăng cường phân cấp và đổi mới cơ chế quản lý về giáo dục và đào tạo: Đẩy mạnh phân cấp quản lý, tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở đào tạo và người sử dụng lao động.
Đổi mới cơ chế quản lý, bồi dưỡng cán bộ quản lý lao động, quản lý giáo dục, đào tạo các cấp, nâng cao năng lực bộ máy quản lý; hoàn thiện hệ thống thanh tra giáo dục, thanh tra lao động; xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý giáo dục, thông tin thị trường lao động. Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác đào tạo, chất lượng đào tạo và sử dụng lao động của các cơ sở đào tạo, các tổ chức, doanh nghiệp và đơn vị kinh tế. Gắn đào tạo với giới thiệu việc làm, với nhu cầu của xã hội.
b) Đẩy mạnh công tác thông tin, phổ biến pháp luật về phát triển nhân lực: Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các chương trình hành động, hoạt động của các cơ quan, đoàn thể để thông tin, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân, nhất là thanh niên về vai trò của tri thức, của kỹ năng lao động, ý thức kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác; trình độ tay nghề; về pháp luật và chủ trương phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Đảng và Nhà nước… Lồng ghép những hoạt động truyền thông vào chương trình hướng nghiệp tại các trường THCS và THPT.
Chú trọng công tác thông báo, tập huấn kịp thời cho doanh nghiệp, người sử dụng lao động về chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước liên quan đến lao động, việc làm để họ có định hướng, kế hoạch thực hiện.
c) Hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực, đổi mới phương pháp quản lý, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động bộ máy quản lý: Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý phát triển nhân lực của tỉnh tại các cơ quan tham mưu, tổng hợp (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính) và các cơ quan thực hiện chức năng quản lý chuyên ngành (Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Y tế…). Đồng thời tăng cường sự chỉ đạo và phối hợp của Ban tổ chức Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy với các cơ quan quản lý Nhà nước.
Cải tiến và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan Đảng, cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Nhất là các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, các doanh nghiệp trực thuộc các Bộ, ngành Trung ương, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, cơ chế hỗ trợ đặc thù và tổ chức đào tạo, hợp đồng đào tạo.
Nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước, ngoại ngữ cho cán bộ làm việc trong lĩnh vực quản lý nhà nước về phát triển nhân lực.
Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tham mưu, giúp việc về công tác quản lý phát triển nhân lực. Phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm quản lý của UBND các cấp, các Sở, Ban, Ngành trong việc theo dõi, dự báo, xây dựng kế hoạch phát triển nhân lực. Giám đốc các Sở, Ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã chỉ đạo trực tiếp và chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về kết quả phát triển nguồn nhân lực ở địa phương, đơn vị mình.
Thành lập bộ phận chuyên trách thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư để tiếp nhận và nắm bắt nhu cầu nhân lực của các khu, cụm công nghiệp; các đơn vị, doanh nghiệp ngay từ khi đăng ký đầu tư, thành lập doanh nghiệp và trong quá trình hoạt động, phát triển mở rộng doanh nghiệp.
5. Mở rộng, tăng cường sự phối hợp và hợp tác quốc tế trong đào tạo, giải quyết việc làm, phát triển nhân lực.
a) Phối hợp và hợp tác với các cơ quan, tổ chức thuộc các bộ, ngành Trung ương, các cơ sở đào tạo, các viện nghiên cứu trực thuộc Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh, tạo điều kiện về chương trình dạy - học mới, giáo trình, giáo án, nâng cao trình độ giáo viên và nguồn vốn để hỗ trợ Phú Thọ phát triển nhân lực.
b) Phối hợp và hợp tác với các tỉnh, thành phố: Tận dụng các lợi thế về vị trí, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội để mở rộng quan hệ giao lưu, trao đổi và hợp tác toàn diện với các địa phương lân cận, vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước, tạo cơ hội thuận lợi cho việc phát triển nhân lực, giải quyết việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Các sở đào tạo chủ động tăng cường mối quan hệ hợp tác, liên kết đào tạo, tuyển dụng nhân lực và chuyển giao nhân lực với các tỉnh để điều tiết cung cầu nhân lực trên thị trường lao động.
c) Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế đại sứ quán các nước tại Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ, các nhà đầu tư nước ngoài đang hoạt động trên địa bàn tỉnh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các tổ chức liên quan khác để tăng cường hoạt động đào tạo, chuyển giao nhân lực; gửi lao động đi đào tạo ở nước ngoài và xuất khẩu lao động. Đồng thời cung cấp nhân lực có trình độ kỹ thuật cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh và các địa phương trong cả nước.
Tổ chức cung cấp thông tin, các hoạt động tuyên truyền, các cuộc hội thảo về du học nước ngoài để giới thiệu và cải cách thủ tục hành chính để học sinh có cơ hội và điều kiện thuận lợi ở nước ngoài.
IV - TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Thành lập Ban chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 - 2015. Trưởng Ban chỉ đạo là Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư là Phó Trưởng ban thường trực, các Phó Trưởng Ban là Giám đốc các sở: Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, Lao động Thương binh và Xã hội; Thành viên Ban chỉ đạo là Thủ trưởng các sở ngành có liên quan; mời Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, trưởng các tổ chức đoàn thể: Liên đoàn lao động, Hội nông dân, Phụ nữ, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh tham gia Ban chỉ đạo.
2. Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu giúp UBND tỉnh xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm để thực hiện Quy hoạch này; Hướng dẫn các sở, ngành, UBND các huyện, thành, thị các Trường đào tạo chuyên nghiệp, các cơ sở dạy nghề xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực, Kế hoạch đào tạo phù hợp với Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của tỉnh và đưa vào mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch 5 năm, hàng năm.
Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành và UBND các huyện, thành, thị cụ thể hóa hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển nhân lực, đánh giá chất lượng đào tạo, dạy nghề; tổng hợp, báo cáo kế quả thực hiện Quy hoạch với UBND tỉnh.
3. Các sở: Giáo dục và Đào tạo, Lao động Thương binh và Xã hội, Y tế, Nội vụ, các sở, ban, ngành, các trường Đại học, Cao đẳng tổ chức triển khai xây dựng Quy hoạch, Kế hoạch phát triển nhân lực của sở, ngành, đơn vị mình phù hợp với Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của tỉnh và Quy hoạch phát triển nhân lực của Bộ, ngành dọc Trung ương; Báo cáo Hội đồng thẩm định cấp tỉnh, trình Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt.
4. Ủy ban nhân dân các huyện, thành, thị xây dựng Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của địa phương và đưa vào mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, hàng năm của địa phương mình. Tổ chức tốt hệ thống thông tin nhu cầu nhân lực trên địa bàn, chủ động phối hợp với các doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo để xác định nhu cầu, huy động nguồn lực và đào tạo nhân lực.
5. Các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nghề nghiệp; học sinh, sinh viên và người lao động có trách nhiệm, chủ động tham gia thực hiện Quy hoạch này.
6. Các sở, ngành, UBND các huyện, thành, thị, các cơ sở đào tạo và dạy nghề định kỳ đánh giá kết quả thực hiện Quy hoạch hàng năm, báo cáo UBND tỉnh và gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư. Trong quá trình thực hiện, nếu có phát sinh, vướng mắc hoặc thấy cần bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế, Báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp).
Công khai Quy hoạch được duyệt trên các phương tiện thông tin đại chúng, để nhân dân biết, kiểm tra, giám sát và theo dõi trong quá trình thực hiện.