Document: Điều 3 Quyết định 13-HĐBT  giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "01/02/1989", "sign_number": "13-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "01/02/1989", "sign_number": "13-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "01/02/1989", "sign_number": "13-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "01/02/1989", "sign_number": "13-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "01/02/1989", "sign_number": "13-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 3 Quyết định 13-HĐBT  giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất có nội dung như sau:

Điều 3. Việc xử lý các vụ tranh chấp đất đai phải theo đúng thẩm quyền quy định tại các điều 21, 22 của Luật đất đai và theo các quy định sau đây:
1. Khu đất tranh chấp trong địa phương nào thì do Uỷ ban nhân dân đó giải quyết theo thẩm quyền quy định tại điều 21 của Luật đất đai.
Khu đất tranh chấp liên quan đến hai đơn vị chính thì Uỷ ban nhân dân của hai đơn vị hành chính tương ứng bàn bạc giải quyết.
2. Người tranh chấp thuộc tổ chức nào (tập đoàn sản xuất, hợp tác xã, đoàn thể), địa phương nào thì tổ chức đó, địa phương đó có trách nhiệm giải quyết đối với các thành viên của mình.
Ruộng đất do cá nhân (bao gồm cán bộ công nhân viên Nhà nước, cán bộ xã, ấp, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất) chiếm dụng trái phép dưới mọi hình thức (bao gồm cả việc đổi ruộng xấu lấy ruộng tốt, đổi ruộng xa nhà lấy ruộng gần nhà sử dụng ruộng đất dôi ra sau khi điều chỉnh vì lợi ích riêng...) đều phải thu hồi để giải quyết cho hộ thiếu đất, hoặc chưa có đất để sản xuất.
Những cá nhân bao giữ đất hoang hoá, bãi bồi quá nhiều, sử dụng không hết hoặc kém hiệu quả thì phải thu hồi bớt để chia cấp cho những hộ nông dân chưa có ruộng hoặc thiếu ruộng.

Content:
Điều 3. Việc xử lý các vụ tranh chấp đất đai phải theo đúng thẩm quyền quy định tại các điều 21, 22 của Luật đất đai và theo các quy định sau đây:
1. Khu đất tranh chấp trong địa phương nào thì do Uỷ ban nhân dân đó giải quyết theo thẩm quyền quy định tại điều 21 của Luật đất đai.
Khu đất tranh chấp liên quan đến hai đơn vị chính thì Uỷ ban nhân dân của hai đơn vị hành chính tương ứng bàn bạc giải quyết.
2. Người tranh chấp thuộc tổ chức nào (tập đoàn sản xuất, hợp tác xã, đoàn thể), địa phương nào thì tổ chức đó, địa phương đó có trách nhiệm giải quyết đối với các thành viên của mình.
Ruộng đất do cá nhân (bao gồm cán bộ công nhân viên Nhà nước, cán bộ xã, ấp, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất) chiếm dụng trái phép dưới mọi hình thức (bao gồm cả việc đổi ruộng xấu lấy ruộng tốt, đổi ruộng xa nhà lấy ruộng gần nhà sử dụng ruộng đất dôi ra sau khi điều chỉnh vì lợi ích riêng...) đều phải thu hồi để giải quyết cho hộ thiếu đất, hoặc chưa có đất để sản xuất.
Những cá nhân bao giữ đất hoang hoá, bãi bồi quá nhiều, sử dụng không hết hoặc kém hiệu quả thì phải thu hồi bớt để chia cấp cho những hộ nông dân chưa có ruộng hoặc thiếu ruộng.