Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2354/QĐ-UBND 2012 Quy hoạch khai thác bảo vệ nguồn lợi thủy sản Quảng Bình đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "08/10/2012", "sign_number": "2354/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hữu Hoài", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "08/10/2012", "sign_number": "2354/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hữu Hoài", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "08/10/2012", "sign_number": "2354/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hữu Hoài", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "08/10/2012", "sign_number": "2354/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hữu Hoài", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Bình", "promulgation_date": "08/10/2012", "sign_number": "2354/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hữu Hoài", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2354/QĐ-UBND 2012 Quy hoạch khai thác bảo vệ nguồn lợi thủy sản Quảng Bình đến 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản vùng biển Quảng Bình đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu như sau:
...
3. Cơ sở hạ tầng, dịch vụ hậu cần nghề cá
- Đầu tư nâng cấp Cảng cá Sông Gianh với công suất xếp dỡ hàng hóa 22.000 tấn/năm; Khu neo đậu tránh trú bão tàu cá Cửa Gianh với công suất xếp dỡ hàng hải sản 12.000 tấn/năm.
- Đầu tư Khu neo đậu tránh trú bão và dịch vụ hậu cần nghề cá Sông Gianh 2 (Quảng Phúc - Quảng Trạch): 600 tàu, công suất tàu tối đa 300 CV;
- Đầu tư Khu neo đậu tránh trú bão và dịch vụ hầu cần nghề cá Nhật Lệ 1 (Cửa Phú - Bảo Ninh): 450 tàu, công suất tàu tối đa 300 CV;
- Đầu tư Khu neo đậu tránh trú bão tàu cá Nhật Lệ 2 (Vĩnh Ninh - Quảng Ninh): 200 - 300 tàu, công suất tối đa 90 CV;
- Đầu tư Khu neo đậu tránh trú bão tàu cá Cửa Roòn (Quảng Phú - Quảng Trạch): 500 tàu, công suất đến 300CV.
- Đầu tư Khu neo đậu tránh trú bão và dịch vụ hậu cần nghề cá sông Dinh (Nhân Trạch - Bố Trạch): 200 tàu, công suất đến 90CV;
- Đầu tư xây dựng chợ cá, bến cá tại các xã ven biển Quảng Phú, Cảnh Dương, Quảng Lộc, Quảng Phong, Quảng Văn, Đức Trạch, Nhân Trạch, Hải Ninh, Ngư Thủy Bắc, Ngư Thủy Trung, Ngư Thủy Nam với tổng sản lượng qua bến 10.000 - 12.000 tấn/năm;
- Đầu tư xây dựng nhà máy đóng tàu quy mô lớn tại Hòn La, Quảng Trạch;
- Đầu tư hạ tầng kỹ thuật cho các cơ sở cơ khí, đóng mới, sửa chữa tàu cá tại Cảnh Dương, Quảng Lộc, Quảng Phúc (Quảng Trạch), Thanh Trạch, Đức Trạch, Nhân Trạch (Bố Trạch), Bảo Ninh (Đồng Hới).
III. NHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ
Dự kiến vốn đầu tư cho phát triển khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 khoảng 925 tỷ đồng. Trong đó:
- Ngân sách Nhà nước 625 tỷ đồng để đầu tư hạ tầng (bao gồm các khu neo đậu, dịch vụ hậu cần nghề cá, xây dựng và quản lý các khu bảo vệ nguồn lợi hải sản), dự án chuyển đổi nghề khai thác ven bờ, dự án truyền thông về bảo vệ nguồn lợi hải sản và dự án tăng cường năng lực quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản;
- Vốn của doanh nghiệp và của dân: 89 tỷ đồng;
- Vốn tín dụng và vay thương mại: 100 tỷ đồng;
- Vốn hỗ trợ của các tổ chức: 111 tỷ đồng.
IV. GIẢI PHÁP VÀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Giải pháp về cơ chế chính sách
- Bố trí nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước để thực hiện đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật nghề cá, đóng mới tàu kiểm ngư, chuyển đổi nghề, thành lập các khu bảo vệ nguồn lợi hải sản ven bờ;
- Huy động nguồn vốn từ trong dân, doanh nghiệp, vốn vay của các tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại để đầu tư chuyển đổi nghề khai thác, phát triển kinh tế trang trại, dịch vụ, du lịch...; xây dựng nhà máy đóng tàu, đổi mới công nghệ, nâng công suất các nhà máy chế biến hàng hải sản xuất khẩu;
- Tích cực tiếp cận, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn các tổ chức quốc tế để đầu tư xây dựng các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, các công trình hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ giảm nhẹ thiên tai nghề cá;
- Xây dựng và ban hành chính sách hỗ trợ phát triển nghề cá, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vốn và công nghệ để phát triển sản xuất kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực khai thác, dịch vụ khai thác và bảo vệ môi trường, nguồn lợi hải sản; phát triển và hiện đại hóa đội tàu cá tàu cá đánh bắt xa bờ, đánh bắt ở các vùng biển xa; phát triển tàu dịch vụ thu mua hải sản và cung cấp nhiên liệu trên biển; đào tạo lao động kỹ thuật, quản lý nghề cá; phát triển kinh tế hợp tác trong khai thác và dịch vụ hải sản; hỗ trợ rủi ro trong sản xuất khai thác hải sản; xây dựng các khu bảo vệ nguồn lợi, khu sinh thái biển;
- Chính sách tín dụng vừa và nhỏ để hỗ trợ gia đình ngư dân có truyền thống làm nghề khai thác nhưng không có điều kiện để phát triển nghề khai thác hải sản xa bờ, di cư khỏi nơi cư trú để làm nghề khác; hỗ trợ lao động khai thác hải sản chuyển sang làm việc trong các ngành nghề kinh tế khác.
2. Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực
- Tiếp tục đào tạo và đào tạo lại để bổ sung, củng cố đội ngũ cán bộ quản lý, đảm bảo có đủ năng lực quản lý ngành trong quá trình phát triển;
- Tăng cường các hình thức đào tạo ngắn hạn phù hợp với trình độ, tập quán của lao động nghề cá, phấn đấu mọi lao động nghề cá đều được huấn luyện, đào tạo về tay nghề, có khả năng đáp ứng yêu cầu trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và yêu cầu của thị trường xuất khẩu lao động;
- Phát triển mạng lưới cộng tác viên khuyến ngư tới các cộng đồng ngư dân để hướng dẫn, hỗ trợ người dân thực hiện các quy định về khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản;
- Tập huấn, nâng cao năng lực quản lý, tổ chức sản xuất đối với các hình thức kinh tế tập thể, tổ hợp tác sản xuất trên biển, tổ chức quản lý cộng đồng về khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản;
- Đào tạo nghề cho lao động khai thác phải chuyển sang làm nghề khác như nuôi trồng thuỷ sản, chế biến, chăn nuôi, trồng trọt, dịch vụ, du lịch...
3. Giải pháp về khoa học công nghệ, khuyến ngư và hợp tác quốc tế
- Đẩy mạnh công tác chuyển giao, ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến trong khai thác hải sản, du nhập nghề mới để áp dụng cho địa phương nhằm tăng hiệu quả khai thác, giảm bớt cường lực khai thác; sản xuất các đối tượng hải sản đáp ứng yêu cầu về chất lượng và giá trị về kinh tế, khoa học, bảo tồn để phát triển nuôi trồng và thả bổ sung, phục hồi, phát triển nguồn lợi vùng biển ven bờ;
- Ứng dụng công nghệ tiên tiến vào công tác quản lý, giám sát hoạt động tàu cá, bảo quản sản phẩm khai thác sau thu hoạch, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin dự báo ngư trường, nguồn lợi hải sản, thông tin thương mại, phòng tránh thiên tai trên biển, phối hợp tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn nghề cá, thực thi pháp luật về khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản một cách thường xuyên, có hiệu quả;
- Tăng cường tiếp cận, hợp tác trao đổi kinh nghiệm và tranh thủ sự hỗ trợ, giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế để thiết lập, tổ chức quản lý các khu bảo vệ nguồn lợi hải sản, sinh thái biển ven bờ;
- Nghiên cứu cơ chế quản lý, phát triển mô hình liên doanh, liên kết, hợp tác khai thác, dịch vụ, chế biến hải sản với các doanh nghiệp nước ngoài, các tổ chức quốc tế.

Content:
Cơ sở hạ tầng, dịch vụ hậu cần nghề cá
- Đầu tư nâng cấp Cảng cá Sông Gianh với công suất xếp dỡ hàng hóa 22.000 tấn/năm; Khu neo đậu tránh trú bão tàu cá Cửa Gianh với công suất xếp dỡ hàng hải sản 12.000 tấn/năm.
- Đầu tư Khu neo đậu tránh trú bão và dịch vụ hậu cần nghề cá Sông Gianh 2 (Quảng Phúc - Quảng Trạch): 600 tàu, công suất tàu tối đa 300 CV;
- Đầu tư Khu neo đậu tránh trú bão và dịch vụ hầu cần nghề cá Nhật Lệ 1 (Cửa Phú - Bảo Ninh): 450 tàu, công suất tàu tối đa 300 CV;
- Đầu tư Khu neo đậu tránh trú bão tàu cá Nhật Lệ 2 (Vĩnh Ninh - Quảng Ninh): 200 - 300 tàu, công suất tối đa 90 CV;
- Đầu tư Khu neo đậu tránh trú bão tàu cá Cửa Roòn (Quảng Phú - Quảng Trạch): 500 tàu, công suất đến 300CV.
- Đầu tư Khu neo đậu tránh trú bão và dịch vụ hậu cần nghề cá sông Dinh (Nhân Trạch - Bố Trạch): 200 tàu, công suất đến 90CV;
- Đầu tư xây dựng chợ cá, bến cá tại các xã ven biển Quảng Phú, Cảnh Dương, Quảng Lộc, Quảng Phong, Quảng Văn, Đức Trạch, Nhân Trạch, Hải Ninh, Ngư Thủy Bắc, Ngư Thủy Trung, Ngư Thủy Nam với tổng sản lượng qua bến 10.000 - 12.000 tấn/năm;
- Đầu tư xây dựng nhà máy đóng tàu quy mô lớn tại Hòn La, Quảng Trạch;
- Đầu tư hạ tầng kỹ thuật cho các cơ sở cơ khí, đóng mới, sửa chữa tàu cá tại Cảnh Dương, Quảng Lộc, Quảng Phúc (Quảng Trạch), Thanh Trạch, Đức Trạch, Nhân Trạch (Bố Trạch), Bảo Ninh (Đồng Hới).
III. NHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ
Dự kiến vốn đầu tư cho phát triển khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 khoảng 925 tỷ đồng. Trong đó:
- Ngân sách Nhà nước 625 tỷ đồng để đầu tư hạ tầng (bao gồm các khu neo đậu, dịch vụ hậu cần nghề cá, xây dựng và quản lý các khu bảo vệ nguồn lợi hải sản), dự án chuyển đổi nghề khai thác ven bờ, dự án truyền thông về bảo vệ nguồn lợi hải sản và dự án tăng cường năng lực quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản;
- Vốn của doanh nghiệp và của dân: 89 tỷ đồng;
- Vốn tín dụng và vay thương mại: 100 tỷ đồng;
- Vốn hỗ trợ của các tổ chức: 111 tỷ đồng.
IV. GIẢI PHÁP VÀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Giải pháp về cơ chế chính sách
- Bố trí nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước để thực hiện đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật nghề cá, đóng mới tàu kiểm ngư, chuyển đổi nghề, thành lập các khu bảo vệ nguồn lợi hải sản ven bờ;
- Huy động nguồn vốn từ trong dân, doanh nghiệp, vốn vay của các tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại để đầu tư chuyển đổi nghề khai thác, phát triển kinh tế trang trại, dịch vụ, du lịch...; xây dựng nhà máy đóng tàu, đổi mới công nghệ, nâng công suất các nhà máy chế biến hàng hải sản xuất khẩu;
- Tích cực tiếp cận, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn các tổ chức quốc tế để đầu tư xây dựng các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, các công trình hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ giảm nhẹ thiên tai nghề cá;
- Xây dựng và ban hành chính sách hỗ trợ phát triển nghề cá, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vốn và công nghệ để phát triển sản xuất kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực khai thác, dịch vụ khai thác và bảo vệ môi trường, nguồn lợi hải sản; phát triển và hiện đại hóa đội tàu cá tàu cá đánh bắt xa bờ, đánh bắt ở các vùng biển xa; phát triển tàu dịch vụ thu mua hải sản và cung cấp nhiên liệu trên biển; đào tạo lao động kỹ thuật, quản lý nghề cá; phát triển kinh tế hợp tác trong khai thác và dịch vụ hải sản; hỗ trợ rủi ro trong sản xuất khai thác hải sản; xây dựng các khu bảo vệ nguồn lợi, khu sinh thái biển;
- Chính sách tín dụng vừa và nhỏ để hỗ trợ gia đình ngư dân có truyền thống làm nghề khai thác nhưng không có điều kiện để phát triển nghề khai thác hải sản xa bờ, di cư khỏi nơi cư trú để làm nghề khác; hỗ trợ lao động khai thác hải sản chuyển sang làm việc trong các ngành nghề kinh tế khác.
2. Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực
- Tiếp tục đào tạo và đào tạo lại để bổ sung, củng cố đội ngũ cán bộ quản lý, đảm bảo có đủ năng lực quản lý ngành trong quá trình phát triển;
- Tăng cường các hình thức đào tạo ngắn hạn phù hợp với trình độ, tập quán của lao động nghề cá, phấn đấu mọi lao động nghề cá đều được huấn luyện, đào tạo về tay nghề, có khả năng đáp ứng yêu cầu trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và yêu cầu của thị trường xuất khẩu lao động;
- Phát triển mạng lưới cộng tác viên khuyến ngư tới các cộng đồng ngư dân để hướng dẫn, hỗ trợ người dân thực hiện các quy định về khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản;
- Tập huấn, nâng cao năng lực quản lý, tổ chức sản xuất đối với các hình thức kinh tế tập thể, tổ hợp tác sản xuất trên biển, tổ chức quản lý cộng đồng về khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản;
- Đào tạo nghề cho lao động khai thác phải chuyển sang làm nghề khác như nuôi trồng thuỷ sản, chế biến, chăn nuôi, trồng trọt, dịch vụ, du lịch...
Giải pháp về khoa học công nghệ, khuyến ngư và hợp tác quốc tế
- Đẩy mạnh công tác chuyển giao, ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến trong khai thác hải sản, du nhập nghề mới để áp dụng cho địa phương nhằm tăng hiệu quả khai thác, giảm bớt cường lực khai thác; sản xuất các đối tượng hải sản đáp ứng yêu cầu về chất lượng và giá trị về kinh tế, khoa học, bảo tồn để phát triển nuôi trồng và thả bổ sung, phục hồi, phát triển nguồn lợi vùng biển ven bờ;
- Ứng dụng công nghệ tiên tiến vào công tác quản lý, giám sát hoạt động tàu cá, bảo quản sản phẩm khai thác sau thu hoạch, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin dự báo ngư trường, nguồn lợi hải sản, thông tin thương mại, phòng tránh thiên tai trên biển, phối hợp tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn nghề cá, thực thi pháp luật về khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản một cách thường xuyên, có hiệu quả;
- Tăng cường tiếp cận, hợp tác trao đổi kinh nghiệm và tranh thủ sự hỗ trợ, giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế để thiết lập, tổ chức quản lý các khu bảo vệ nguồn lợi hải sản, sinh thái biển ven bờ;
- Nghiên cứu cơ chế quản lý, phát triển mô hình liên doanh, liên kết, hợp tác khai thác, dịch vụ, chế biến hải sản với các doanh nghiệp nước ngoài, các tổ chức quốc tế.