Document: Khoản 8 Điều 1 Quyết định 1971/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Đắk Nông", "promulgation_date": "31/12/2008", "sign_number": "1971/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Đức Yến", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Đắk Nông", "promulgation_date": "31/12/2008", "sign_number": "1971/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Đức Yến", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Đắk Nông", "promulgation_date": "31/12/2008", "sign_number": "1971/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Đức Yến", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Đắk Nông", "promulgation_date": "31/12/2008", "sign_number": "1971/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Đức Yến", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Đắk Nông", "promulgation_date": "31/12/2008", "sign_number": "1971/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Đức Yến", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 8 Điều 1 Quyết định 1971/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng (VLXD) tỉnh Đăk Nông đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau:
...
8. Khai thác chế biến nguyên liệu
- Duy trì khai thác chế biến của 2 cơ sở hiện có để cung cấp phụ gia cho các nhà máy thuỷ điện đang thi công.
- Tiếp tục nghiên cứu thăm dò mở rộng ra toàn bộ khu vực 50 ha của mỏ ba zan bọt xã Quảng Phú - huyện Krông Nô để có điều kiện ứng dụng triển khai công nghệ khai thác theo quy mô công nghiệp.
- Đầu tư chiều sâu, nâng tổng công suất khai thác chế biến của 2 cơ sở hiện có lên 600.000 tấn/năm vào năm 2015.
- Đầu tư mới 1 cơ sở khai thác chế biến phụ gia puzolan công suất 100.000 tấn/năm tại xã Thuận An - huyện Đăk Mil vào giai đoạn 2011 - 2015.
* Cao lanh:
Từ nay đến năm 2010 sẽ tiến hành đầu tư thăm dò nghiên cứu tỉ mỉ đối với các mỏ cao lanh trên địa bàn để đánh giá được chất lượng và trữ lượng mỏ. Trên cơ sở kết quả điều tra thăm dò khảo sát, nếu các mỏ cao lanh đạt được những yêu cầu cần thiết cho khai thác chế biến cao lanh phục vụ cho các ngành công nghiệp, dự kiến sau năm 2010 sẽ đầu tư cơ sở khai thác chế biến cao lanh tại xã Đăk Ha hoặc xã Quảng Sơn - huyện Đăk G'Long. Công suất: 30.000 tấn/năm.
IV. Những giải pháp và tổ chức thực hiện quy hoạch:
1. Giải quyết nguồn vốn đầu tư
Phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế trong tỉnh. Cần tạo điều kiện để khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất VLXD, có chính sách khuyến khích tư nhân bỏ vốn đầu tư, liên doanh với nước ngoài hoặc tiếp nhận kỹ thuật cao trong nước để tổ chức sản xuất.
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức hợp tác, liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài. Các ngân hàng cần tạo điều kiện, ưu tiên cho vay nguồn vốn tín dụng, lãi suất ưu đãi để đầu tư phát triển các lĩnh vực sản xuất VLXD có lợi thế, có thị trường tiêu thụ như gạch tuy nen, gạch không nung, ngói không nung, gạch lát bê tông, đá xây dựng… có thể và đủ khả năng thu hồi vốn. Thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất sau đầu tư cho các doanh nghiệp. Tỉnh cần hỗ trợ để các doanh nghiệp nhanh chóng hoàn tất thủ tục cấp phép xây dựng cho các dự án để có thể huy động nguồn vốn của các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.
Cần tranh thủ tối đa nguồn vốn từ ngân sách trung ương hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, xây dựng công trình cấp thoát nước, mở rộng mạng lưới giao thông, mạng lưới điện… để đầu tư ngoài hàng rào cho các nhà máy sản xuất VLXD.
2. Chuẩn bị các điều kiện để kêu gọi đầu tư và điều tra cơ bản
Trước mắt, tỉnh cần chủ động chuẩn bị báo cáo đầu tư, trong đó có đánh giá tài nguyên, lựa chọn địa điểm cho các công trình sản xuất VLXD đã được quy hoạch, xác định một số yếu tố về thị trường… có cơ chế hỗ trợ các nhà đầu tư như: đơn giản hoá thủ tục, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, đầu tư ngoài hàng rào nhà máy như giao thông, điện, ưu đãi đầu tư theo pháp luật. Đồng thời cần tìm và sớm xác định các chủ đầu tư để họ đứng ra khảo sát thị trường, khảo sát thăm dò tài nguyên và những công việc cần thiết ban đầu.
Các đơn vị đang sản xuất VLXD cần phải xúc tiến việc tìm kiếm, khảo sát thăm dò bổ sung các nguồn nguyên liệu đang được khai thác sử dụng để đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất. Trước mắt tập trung khảo sát các khu vực nguyên liệu đất sét gạch ngói, cao lanh, ba zan bọt, đá cát xây dựng… cho sản xuất gạch ngói nung, đá, cát xây dựng, khai thác chế biến nguyên liệu.
Nâng cấp các tuyến đường giao thông vào các khu mỏ khoáng sản được khai thác làm nguyên liệu cho sản xuất VLXD, đường ra vào các khu công nghiệp, các nhà máy sản xuất VLXD, các đường vào các bãi tập kết cát.
3. Phát triển nguồn nhân lực kết hợp với phát triển khoa học công nghệ
Trong thời gian tới, tỉnh cần có kế hoạch đào tạo lực lượng lao động một cách thiết thực phù hợp với định hướng phát triển các ngành nghề sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Kết hợp đào tạo ngành nghề, đào tạo chuyên môn kỹ thuật, kiến thức quản lý kinh tế với bồi dưỡng nhận thức pháp luật, phẩm chất lao động, đạo đức xã hội để chính những người lao động và những sản phẩm họ làm ra có thể hội nhập được với nền kinh tế chung của cả nước.
Để đáp ứng kịp thời với đòi hỏi của sản xuất VLXD, cần tổ chức các lớp bồi dưỡng tại chỗ ở các cơ sở sản xuất để nâng cao trình độ kỹ thuật và tay nghề cho công nhân. Khuyến khích phát triển tài năng trẻ, sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ KHKT hiện có, tạo điều kiện cho họ thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển. Xây dựng cơ chế chính sách ưu đãi để thu hút các cán bộ KHKT có trình độ cao và lực lượng lao động có tay nghề giỏi từ các địa phương khác tới làm việc. Đồng thời có chính sách khuyến khích các học sinh trong tỉnh theo học các ngành nghề về sản xuất VLXD bằng cách hỗ trợ kinh phí học tập cho các em nghèo và tiếp nhận sinh viên, học sinh khi ra trường vào các cơ sở sản xuất VLXD.
Các hoạt động khoa học công nghệ trong lĩnh vực sản xuất VLXD cần tập trung cải tiến các khâu cơ bản trong dây chuyền sản xuất, loại bỏ dần các thiết bị công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên nhiên vật liệu và gây ô nhiễm môi trường, từng bước chuyển đổi sang công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại để kịp thời hoà nhập với trình độ khoa học kỹ thuật cao và tránh bị tụt hậu.
4. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước
- Sau khi quy hoạch được phê duyệt cần phải phổ biến rộng rãi cho các ngành, các cấp chính quyền, các tổng công ty, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Việc cấp giấy phép khai thác tài nguyên và đầu tư nhà máy sản xuất phải theo đúng quy hoạch.
- Việc quản lý đầu tư và sản xuất VLXD cần tập trung vào một đầu mối là Sở xây dựng và có sự phân cấp rõ ràng cho các cấp quản lý huyện, xã theo quy mô để quản lý chặt chẽ mọi hoạt động sản xuất VLXD. Đối với tất cả các dự án mới đầu tư phải thực hiện đánh giá tác động môi trường trước khi xây dựng và được Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định. Các dự án phải trình các biện pháp xử lý môi trường đạt tiêu chuẩn và cam kết thực hiện. Cần xem xét và phê duyệt có chọn lọc các công nghệ, thiết bị tiên tiến, phù hợp vào các khu công nghiệp mới hình thành.
- Trong thời gian tới tỉnh cần phải nghiên cứu các cơ chế chính sách để khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư sản xuất VLXD, đồng thời tăng cường công tác quản lý nhà nước về mọi mặt kể cả năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, nghĩa vụ của các cơ sở sản xuất kinh doanh đối với xã hội và người tiêu dùng theo đúng luật định của nhà nước. Bổ sung thêm lực lượng cán bộ chuyên ngành quản lý khai thác và sản xuất VLXD tại các cấp huyện, xã và ngay cả tại cơ quan cấp tỉnh.
5. Mở rộng và phát triển thị trường
Mở rộng thị trường tạo điều kiện cho sản xuất VLXD phát triển bằng sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý nhà nước trong tỉnh và tự bản thân hoạt động của các doanh nghiệp.
+ Tỉnh cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất VLXD trong tỉnh tham gia các hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế để cập nhật thông tin và quảng bá những sản phẩm của mình, tìm kiếm đối tác liên doanh, liên kết sản xuất và tiêu thụ.
+ Tỉnh cần thành lập Trung tâm hỗ trợ và xúc tiến thương mại cho các doanh nghiệp, đồng thời bản thân các doanh nghiệp cũng cần phải tự mở rộng hệ thống tiếp thị để tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước, có cơ chế khuyến khích môi giới bán hàng và thực hiện các nhiệm vụ hậu mãi tạo niềm tin cho người tiêu dùng.
6. Tổ chức thực hiện
Để thực hiện quy hoạch có hiệu quả, phải có sự thống nhất, phối hợp thực hiện giữa các cấp chính quyền tỉnh, các Sở ngành và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
6.1. Sở Xây dựng:
- Sau khi quy hoạch được phê duyệt, Sở Xây dựng tổ chức công bố rộng rãi cho các ngành, các cấp chính quyền, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh để nghiên cứu, quản lý và chuẩn bị lực lượng tham gia đầu tư phát triển sản xuất VLXD. Quy hoạch phát triển VLXD sẽ làm cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch 5 năm, hàng năm và lập các chương trình, dự án cụ thể để đưa vào thực hiện trong các kế hoạch.
- Tổ chức quản lý chặt chẽ việc đầu tư sản xuất VLXD nhằm đảm bảo phù hợp với quy hoạch được duyệt và theo đúng các quy định hiện hành.
- Phối hợp với các huyện, tổ chức sắp xếp lại sản xuất các cơ sở khai thác đá, cát, sản xuất gạch thủ công, hướng dẫn và tạo điều kiện cho các cơ sở liên doanh, liên kết đầu tư chuyển đổi công nghệ và thiết bị tiên tiến.
- Phối hợp với các Sở, ngành liên quan thường xuyên kiểm tra để nắm vững tình hình sản xuất của các doanh nghiệp.
- Xây dựng điều lệ, chế độ chính sách liên quan tới sản xuất và kinh doanh VLXD, nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư sản xuất VLXD đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội.
6.2. Sở Tài nguyên và Môi trường:
- Triển khai công tác điều tra, đánh giá thăm dò khoáng sản làm VLXD, cụ thể đánh giá về chất lượng, trữ lượng đối với một số mỏ khoáng sản có khả năng mang lại hiệu quả cao như cao lanh, ba zan bọt, đất sét làm gạch…
- Tổ chức điều tra, đánh giá về phân bố và trữ lượng các khu vực cát trên các sông Krông Nô, Sêrêpốc, sông Đồng Nai… để quy hoạch các khu vực khai thác đáp ứng nhu cầu xây dựng và sản xuất gạch ngói không nung.
- Phối hợp với các Sở, Ngành, UBND các huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn thường xuyên thanh tra, kiểm tra hoạt động khai thác, sản xuất VLXD trên địa bàn nhằm chấn chỉnh, xử lý kịp thời những sai phạm theo đúng pháp luật.
- Phối hợp với Sở Xây dựng trong việc rà soát các cơ sở sản xuất và khai thác chế biến khoáng sản làm VLXD gây ô nhiểm môi trường để kiến nghị UBND tỉnh xử lý.
6.3. Sở Khoa học và Công nghệ:
- Thường xuyên tổ chức việc kiểm tra máy móc, thiết bị, các dây chuyền công nghệ đang hoạt động trên địa bàn.
- Tổ chức chứng nhận về công nghệ các dự án đầu tư phát triển VLXD mới, đảm bảo công nghệ tiên tiến, không gây ô nhiễm môi trường.
- Tổ chức các hoạt động khoa học kỹ thuật để giới thiệu và phổ biến những công nghệ hiện đại trong nước và thế giới.
- Lập chương trình khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở chuyển đổi công nghệ sản xuất thủ công, lạc hậu sang công nghệ tiên tiến, hiện đại.
- Tuyên truyền, quảng cáo, khuyến khích sản xuất và sử dụng vật liệu xây dựng thân thiện với môi trường.
6.4. UBND các huyện, thị xã Gia Nghĩa:
- Phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, môi trường, an toàn lao động; giải quyết theo thẩm quyền, thủ tục cho thuê đất, giao đất, sử dụng cơ sở hạ tầng cho tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản tại địa phương. Xử lý vi phạm thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Có trách nhiệm quản lý, theo dõi thống kê về hoạt động của các doanh nghiệp khai thác và sản xuất VLXD trên địa bàn, hàng quý gửi báo cáo về Sở Xây dựng và các Sở ngành liên quan.
6.5. UBND các xã, phường, thị trấn:
Tổ chức tuyên truyền, giáo dục và giám sát việc thi hành pháp luật của các cơ sở khai thác, sản xuất VLXD; Cùng cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đình chỉ, giải toả các tổ chức cá nhân hoạt động sản xuất khai thác VLXD trái phép, không đúng quy định; thực hiện các thủ tục thu hồi đất, giao đất, bồi thường giải phóng mặt bằng cho các tổ chức cá nhân được phép sản xuất và khai thác VLXD tại địa phương.

Content:
Khai thác chế biến nguyên liệu
- Duy trì khai thác chế biến của 2 cơ sở hiện có để cung cấp phụ gia cho các nhà máy thuỷ điện đang thi công.
- Tiếp tục nghiên cứu thăm dò mở rộng ra toàn bộ khu vực 50 ha của mỏ ba zan bọt xã Quảng Phú - huyện Krông Nô để có điều kiện ứng dụng triển khai công nghệ khai thác theo quy mô công nghiệp.
- Đầu tư chiều sâu, nâng tổng công suất khai thác chế biến của 2 cơ sở hiện có lên 600.000 tấn/năm vào năm 2015.
- Đầu tư mới 1 cơ sở khai thác chế biến phụ gia puzolan công suất 100.000 tấn/năm tại xã Thuận An - huyện Đăk Mil vào giai đoạn 2011 - 2015.
* Cao lanh:
Từ nay đến năm 2010 sẽ tiến hành đầu tư thăm dò nghiên cứu tỉ mỉ đối với các mỏ cao lanh trên địa bàn để đánh giá được chất lượng và trữ lượng mỏ. Trên cơ sở kết quả điều tra thăm dò khảo sát, nếu các mỏ cao lanh đạt được những yêu cầu cần thiết cho khai thác chế biến cao lanh phục vụ cho các ngành công nghiệp, dự kiến sau năm 2010 sẽ đầu tư cơ sở khai thác chế biến cao lanh tại xã Đăk Ha hoặc xã Quảng Sơn - huyện Đăk G'Long. Công suất: 30.000 tấn/năm.
IV. Những giải pháp và tổ chức thực hiện quy hoạch:
1. Giải quyết nguồn vốn đầu tư
Phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế trong tỉnh. Cần tạo điều kiện để khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất VLXD, có chính sách khuyến khích tư nhân bỏ vốn đầu tư, liên doanh với nước ngoài hoặc tiếp nhận kỹ thuật cao trong nước để tổ chức sản xuất.
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức hợp tác, liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài. Các ngân hàng cần tạo điều kiện, ưu tiên cho vay nguồn vốn tín dụng, lãi suất ưu đãi để đầu tư phát triển các lĩnh vực sản xuất VLXD có lợi thế, có thị trường tiêu thụ như gạch tuy nen, gạch không nung, ngói không nung, gạch lát bê tông, đá xây dựng… có thể và đủ khả năng thu hồi vốn. Thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất sau đầu tư cho các doanh nghiệp. Tỉnh cần hỗ trợ để các doanh nghiệp nhanh chóng hoàn tất thủ tục cấp phép xây dựng cho các dự án để có thể huy động nguồn vốn của các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.
Cần tranh thủ tối đa nguồn vốn từ ngân sách trung ương hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, xây dựng công trình cấp thoát nước, mở rộng mạng lưới giao thông, mạng lưới điện… để đầu tư ngoài hàng rào cho các nhà máy sản xuất VLXD.
2. Chuẩn bị các điều kiện để kêu gọi đầu tư và điều tra cơ bản
Trước mắt, tỉnh cần chủ động chuẩn bị báo cáo đầu tư, trong đó có đánh giá tài nguyên, lựa chọn địa điểm cho các công trình sản xuất VLXD đã được quy hoạch, xác định một số yếu tố về thị trường… có cơ chế hỗ trợ các nhà đầu tư như: đơn giản hoá thủ tục, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, đầu tư ngoài hàng rào nhà máy như giao thông, điện, ưu đãi đầu tư theo pháp luật. Đồng thời cần tìm và sớm xác định các chủ đầu tư để họ đứng ra khảo sát thị trường, khảo sát thăm dò tài nguyên và những công việc cần thiết ban đầu.
Các đơn vị đang sản xuất VLXD cần phải xúc tiến việc tìm kiếm, khảo sát thăm dò bổ sung các nguồn nguyên liệu đang được khai thác sử dụng để đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất. Trước mắt tập trung khảo sát các khu vực nguyên liệu đất sét gạch ngói, cao lanh, ba zan bọt, đá cát xây dựng… cho sản xuất gạch ngói nung, đá, cát xây dựng, khai thác chế biến nguyên liệu.
Nâng cấp các tuyến đường giao thông vào các khu mỏ khoáng sản được khai thác làm nguyên liệu cho sản xuất VLXD, đường ra vào các khu công nghiệp, các nhà máy sản xuất VLXD, các đường vào các bãi tập kết cát.
3. Phát triển nguồn nhân lực kết hợp với phát triển khoa học công nghệ
Trong thời gian tới, tỉnh cần có kế hoạch đào tạo lực lượng lao động một cách thiết thực phù hợp với định hướng phát triển các ngành nghề sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Kết hợp đào tạo ngành nghề, đào tạo chuyên môn kỹ thuật, kiến thức quản lý kinh tế với bồi dưỡng nhận thức pháp luật, phẩm chất lao động, đạo đức xã hội để chính những người lao động và những sản phẩm họ làm ra có thể hội nhập được với nền kinh tế chung của cả nước.
Để đáp ứng kịp thời với đòi hỏi của sản xuất VLXD, cần tổ chức các lớp bồi dưỡng tại chỗ ở các cơ sở sản xuất để nâng cao trình độ kỹ thuật và tay nghề cho công nhân. Khuyến khích phát triển tài năng trẻ, sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ KHKT hiện có, tạo điều kiện cho họ thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển. Xây dựng cơ chế chính sách ưu đãi để thu hút các cán bộ KHKT có trình độ cao và lực lượng lao động có tay nghề giỏi từ các địa phương khác tới làm việc. Đồng thời có chính sách khuyến khích các học sinh trong tỉnh theo học các ngành nghề về sản xuất VLXD bằng cách hỗ trợ kinh phí học tập cho các em nghèo và tiếp nhận sinh viên, học sinh khi ra trường vào các cơ sở sản xuất VLXD.
Các hoạt động khoa học công nghệ trong lĩnh vực sản xuất VLXD cần tập trung cải tiến các khâu cơ bản trong dây chuyền sản xuất, loại bỏ dần các thiết bị công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên nhiên vật liệu và gây ô nhiễm môi trường, từng bước chuyển đổi sang công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại để kịp thời hoà nhập với trình độ khoa học kỹ thuật cao và tránh bị tụt hậu.
4. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước
- Sau khi quy hoạch được phê duyệt cần phải phổ biến rộng rãi cho các ngành, các cấp chính quyền, các tổng công ty, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Việc cấp giấy phép khai thác tài nguyên và đầu tư nhà máy sản xuất phải theo đúng quy hoạch.
- Việc quản lý đầu tư và sản xuất VLXD cần tập trung vào một đầu mối là Sở xây dựng và có sự phân cấp rõ ràng cho các cấp quản lý huyện, xã theo quy mô để quản lý chặt chẽ mọi hoạt động sản xuất VLXD. Đối với tất cả các dự án mới đầu tư phải thực hiện đánh giá tác động môi trường trước khi xây dựng và được Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định. Các dự án phải trình các biện pháp xử lý môi trường đạt tiêu chuẩn và cam kết thực hiện. Cần xem xét và phê duyệt có chọn lọc các công nghệ, thiết bị tiên tiến, phù hợp vào các khu công nghiệp mới hình thành.
- Trong thời gian tới tỉnh cần phải nghiên cứu các cơ chế chính sách để khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư sản xuất VLXD, đồng thời tăng cường công tác quản lý nhà nước về mọi mặt kể cả năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, nghĩa vụ của các cơ sở sản xuất kinh doanh đối với xã hội và người tiêu dùng theo đúng luật định của nhà nước. Bổ sung thêm lực lượng cán bộ chuyên ngành quản lý khai thác và sản xuất VLXD tại các cấp huyện, xã và ngay cả tại cơ quan cấp tỉnh.
5. Mở rộng và phát triển thị trường
Mở rộng thị trường tạo điều kiện cho sản xuất VLXD phát triển bằng sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý nhà nước trong tỉnh và tự bản thân hoạt động của các doanh nghiệp.
+ Tỉnh cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất VLXD trong tỉnh tham gia các hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế để cập nhật thông tin và quảng bá những sản phẩm của mình, tìm kiếm đối tác liên doanh, liên kết sản xuất và tiêu thụ.
+ Tỉnh cần thành lập Trung tâm hỗ trợ và xúc tiến thương mại cho các doanh nghiệp, đồng thời bản thân các doanh nghiệp cũng cần phải tự mở rộng hệ thống tiếp thị để tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước, có cơ chế khuyến khích môi giới bán hàng và thực hiện các nhiệm vụ hậu mãi tạo niềm tin cho người tiêu dùng.
6. Tổ chức thực hiện
Để thực hiện quy hoạch có hiệu quả, phải có sự thống nhất, phối hợp thực hiện giữa các cấp chính quyền tỉnh, các Sở ngành và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
6.1. Sở Xây dựng:
- Sau khi quy hoạch được phê duyệt, Sở Xây dựng tổ chức công bố rộng rãi cho các ngành, các cấp chính quyền, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh để nghiên cứu, quản lý và chuẩn bị lực lượng tham gia đầu tư phát triển sản xuất VLXD. Quy hoạch phát triển VLXD sẽ làm cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch 5 năm, hàng năm và lập các chương trình, dự án cụ thể để đưa vào thực hiện trong các kế hoạch.
- Tổ chức quản lý chặt chẽ việc đầu tư sản xuất VLXD nhằm đảm bảo phù hợp với quy hoạch được duyệt và theo đúng các quy định hiện hành.
- Phối hợp với các huyện, tổ chức sắp xếp lại sản xuất các cơ sở khai thác đá, cát, sản xuất gạch thủ công, hướng dẫn và tạo điều kiện cho các cơ sở liên doanh, liên kết đầu tư chuyển đổi công nghệ và thiết bị tiên tiến.
- Phối hợp với các Sở, ngành liên quan thường xuyên kiểm tra để nắm vững tình hình sản xuất của các doanh nghiệp.
- Xây dựng điều lệ, chế độ chính sách liên quan tới sản xuất và kinh doanh VLXD, nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư sản xuất VLXD đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội.
6.2. Sở Tài nguyên và Môi trường:
- Triển khai công tác điều tra, đánh giá thăm dò khoáng sản làm VLXD, cụ thể đánh giá về chất lượng, trữ lượng đối với một số mỏ khoáng sản có khả năng mang lại hiệu quả cao như cao lanh, ba zan bọt, đất sét làm gạch…
- Tổ chức điều tra, đánh giá về phân bố và trữ lượng các khu vực cát trên các sông Krông Nô, Sêrêpốc, sông Đồng Nai… để quy hoạch các khu vực khai thác đáp ứng nhu cầu xây dựng và sản xuất gạch ngói không nung.
- Phối hợp với các Sở, Ngành, UBND các huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn thường xuyên thanh tra, kiểm tra hoạt động khai thác, sản xuất VLXD trên địa bàn nhằm chấn chỉnh, xử lý kịp thời những sai phạm theo đúng pháp luật.
- Phối hợp với Sở Xây dựng trong việc rà soát các cơ sở sản xuất và khai thác chế biến khoáng sản làm VLXD gây ô nhiểm môi trường để kiến nghị UBND tỉnh xử lý.
6.3. Sở Khoa học và Công nghệ:
- Thường xuyên tổ chức việc kiểm tra máy móc, thiết bị, các dây chuyền công nghệ đang hoạt động trên địa bàn.
- Tổ chức chứng nhận về công nghệ các dự án đầu tư phát triển VLXD mới, đảm bảo công nghệ tiên tiến, không gây ô nhiễm môi trường.
- Tổ chức các hoạt động khoa học kỹ thuật để giới thiệu và phổ biến những công nghệ hiện đại trong nước và thế giới.
- Lập chương trình khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở chuyển đổi công nghệ sản xuất thủ công, lạc hậu sang công nghệ tiên tiến, hiện đại.
- Tuyên truyền, quảng cáo, khuyến khích sản xuất và sử dụng vật liệu xây dựng thân thiện với môi trường.
6.4. UBND các huyện, thị xã Gia Nghĩa:
- Phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, môi trường, an toàn lao động; giải quyết theo thẩm quyền, thủ tục cho thuê đất, giao đất, sử dụng cơ sở hạ tầng cho tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản tại địa phương. Xử lý vi phạm thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Có trách nhiệm quản lý, theo dõi thống kê về hoạt động của các doanh nghiệp khai thác và sản xuất VLXD trên địa bàn, hàng quý gửi báo cáo về Sở Xây dựng và các Sở ngành liên quan.
6.5. UBND các xã, phường, thị trấn:
Tổ chức tuyên truyền, giáo dục và giám sát việc thi hành pháp luật của các cơ sở khai thác, sản xuất VLXD; Cùng cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đình chỉ, giải toả các tổ chức cá nhân hoạt động sản xuất khai thác VLXD trái phép, không đúng quy định; thực hiện các thủ tục thu hồi đất, giao đất, bồi thường giải phóng mặt bằng cho các tổ chức cá nhân được phép sản xuất và khai thác VLXD tại địa phương.