Document: Điểm c Khoản 2 Điều 1 Thông tư 3-TS/TT sửa đổi điều lệ hợp tác xã thuỷ sản

Type: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ sản", "promulgation_date": "19/03/1987", "sign_number": "3-TS/TT", "signer": "Võ Văn Trác", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ sản", "promulgation_date": "19/03/1987", "sign_number": "3-TS/TT", "signer": "Võ Văn Trác", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ sản", "promulgation_date": "19/03/1987", "sign_number": "3-TS/TT", "signer": "Võ Văn Trác", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ sản", "promulgation_date": "19/03/1987", "sign_number": "3-TS/TT", "signer": "Võ Văn Trác", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ sản", "promulgation_date": "19/03/1987", "sign_number": "3-TS/TT", "signer": "Võ Văn Trác", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điểm c Khoản 2 Điều 1 Thông tư 3-TS/TT sửa đổi điều lệ hợp tác xã thuỷ sản

Điều 1. 9 mới chương 4 của Điều lệ Hợp tác xã Thuỷ sản: "Mọi người khi vào hợp tác xã có tư liệu sản xuất cần thiết cho nghề cá đều được định giá thành tiền và được tập thể hoá.
...
2. Thanh toán cổ phần:
Để bảo đảm được giá trị của cổ phần không bị giảm sút theo sự biến động phức tạp của giá cả, tiền tệ đồng thời bảo đảm mối quan hệ công bằng, hợp lý, bình đẳng về kinh tế giữa các xã viên; các hợp tác xã cũ cũng như hợp tác xã mới thành lập đều phải quy đổi mức cổ phần bằng tiền ra mức cổ phần bằng sản phẩm tương ứng bằng cách lấy cổ phần bằng tiền chia cho giá cá của Nhà nước (giá bình quân hoặc giá một loại cá) ở thời điểm xác định mức cổ phần để làm cơ sở cho việc thanh toán đóng mới cổ phần, thu cổ phần còn thiếu, trả cổ phần cho xã viên ra khỏi hợp tác xã.
( Chú ý: Mức cổ phần bằng tiền đối với hợp tác xã cũ là mức cổ phần bằng tiền đã xác định mức trước đây hoặc sau khi đã được điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu sản xuất).
...
c) Xã viên rút cổ phần xin ra hợp tác xã:
- Đối với những hợp tác xã có giá trị tài sản cân đối lớn hơn dư nợ dài hạn và còn nguyên vốn cổ phần.
Căn cứ vào mức cổ phần đã quy đổi thành sản phẩm trước đây và giá cá của Nhà nước ở thời điểm xã viên xin ra hợp tác xã để tính toán tiền cổ phần phải trả cho họ.
Thí dụ: Cổ phần năm 1983 là 800 đồng tương ứng với 200kg cá. Nay giá cá bình quân của Nhà nước là 44đ/kg thì người xin ra được trả tiền cổ phần là:
200 x 44 = 8.800 đồng.
Trường hợp người xin ra chưa đóng góp đủ cổ phần thì phải trừ phần còn thiếu (như hướng dẫn ở trên).
Trường hợp người xin ra còn nợ thiếu khoán thì phải trừ phần nợ thiếu khoán và số tiền nợ thiếu khoán của năm nào được quy đổi ra số lượng sản phẩm tương ứng theo giá cá của Nhà nước năm đó, rồi căn cứ vào giá cá của Nhà nước ở thời điểm hiện tại để tính ra số tiền nợ thiếu khoán của xã viên.
- Đối với những hợp tác xã không còn vốn tự có (giá trị tài sản cố định tương đương với dư nợ dài hạn).
Những hợp tác xã này vốn cổ phần của xã viên đã đóng góp không còn nữa, nên những người xin ra hợp tác xã không được rút cổ phần và thực tế không còn cổ phần để rút. Nếu người xin ra hợp tác xã chưa đóng đủ cổ phần hoặc còn nợ thiếu khoán thì vẫn phải nộp đủ cho hợp tác xã số tiền còn thiếu và tiền lãi (cách tính như ở phần trên).
- Đối với những hợp tác xã có giá trị tài sản cố định thấp hơn dư nợ dài hạn hoặc cao hơn dư nợ dài hạn nhưng không còn nguyên vẹn vốn cổ phần như trước.
Những hợp tác xã có giá trị tài sản cố định thấp hơn dư nợ dài hạn thực chất là kinh doanh thua lỗ, ăn hết cả vốn cổ phần đã góp thì người xin ra hợp tác xã không những không được rút cổ phần mà còn chịu phần chia lỗ có thể căn cứ vào số tiền bị lỗ từng năm số xã viên tham gia trong các năm đó để tính chia lỗ. Hoặc cụ thể lấy tổng số lỗ chia cho tổng số xã viên ở thời điểm người xã viên xin ra.
Thí dụ: Năm 1986 hợp tác xã có giá trị tài sản cố định là 650.000 đồng, dư nợ dài hạn là 750.000 đồng, số xã viên có 100 người. Như vậy hợp tác xã bị lỗ 750.000 - 650.000 = 100.000 đồng. Mỗi xã viên chịu lỗ:
100.000
----------- = 1000 đồng
100
Người xin ra phải trả cho hợp tác xã 100 đồng tiền chia lỗ. Ngoài ra nếu còn nợ thiếu khoán thì vẫn phải nộp đủ số tiền còn thiếu.
Những hợp tác xã có giá trị tài sản cố định tuy lớn hơn dư nợ dài hạn nhưng không còn nguyên vẹn vốn cổ phần thực chất là đã ăn mất một phần vốn cổ phần thì người xin ra hợp tác xã được rút phần còn lại của cổ phần.
Thí dụ: Hợp tác xã A có giá trị tài sản cố định hiện nay là 770.000 đồng (trong đó vốn cổ phần là 70.000 đồng) dư nợ dài hạn là 720.000 đồng, số xã viên hiện có là 100 người. Như vậy số vốn cổ phần của xã viên đóng góp chỉ còn 770.000 - 720.000 = 50.000 đồng. Người xin ra hợp tác xã được rút phần còn lại của cổ phần là
50.000
--------- = 500 đồng
100
Nếu người xin ra còn nợ thiếu khoán thì vẫn nộp đủ số tiền thiếu khoán cho hợp tác xã.

Content:
Xã viên rút cổ phần xin ra hợp tác xã:
- Đối với những hợp tác xã có giá trị tài sản cân đối lớn hơn dư nợ dài hạn và còn nguyên vốn cổ phần.
Căn cứ vào mức cổ phần đã quy đổi thành sản phẩm trước đây và giá cá của Nhà nước ở thời điểm xã viên xin ra hợp tác xã để tính toán tiền cổ phần phải trả cho họ.
Thí dụ: Cổ phần năm 1983 là 800 đồng tương ứng với 200kg cá. Nay giá cá bình quân của Nhà nước là 44đ/kg thì người xin ra được trả tiền cổ phần là:
200 x 44 = 8.800 đồng.
Trường hợp người xin ra chưa đóng góp đủ cổ phần thì phải trừ phần còn thiếu (như hướng dẫn ở trên).
Trường hợp người xin ra còn nợ thiếu khoán thì phải trừ phần nợ thiếu khoán và số tiền nợ thiếu khoán của năm nào được quy đổi ra số lượng sản phẩm tương ứng theo giá cá của Nhà nước năm đó, rồi căn cứ vào giá cá của Nhà nước ở thời điểm hiện tại để tính ra số tiền nợ thiếu khoán của xã viên.
- Đối với những hợp tác xã không còn vốn tự có (giá trị tài sản cố định tương đương với dư nợ dài hạn).
Những hợp tác xã này vốn cổ phần của xã viên đã đóng góp không còn nữa, nên những người xin ra hợp tác xã không được rút cổ phần và thực tế không còn cổ phần để rút. Nếu người xin ra hợp tác xã chưa đóng đủ cổ phần hoặc còn nợ thiếu khoán thì vẫn phải nộp đủ cho hợp tác xã số tiền còn thiếu và tiền lãi (cách tính như ở phần trên).
- Đối với những hợp tác xã có giá trị tài sản cố định thấp hơn dư nợ dài hạn hoặc cao hơn dư nợ dài hạn nhưng không còn nguyên vẹn vốn cổ phần như trước.
Những hợp tác xã có giá trị tài sản cố định thấp hơn dư nợ dài hạn thực chất là kinh doanh thua lỗ, ăn hết cả vốn cổ phần đã góp thì người xin ra hợp tác xã không những không được rút cổ phần mà còn chịu phần chia lỗ có thể căn cứ vào số tiền bị lỗ từng năm số xã viên tham gia trong các năm đó để tính chia lỗ. Hoặc cụ thể lấy tổng số lỗ chia cho tổng số xã viên ở thời điểm người xã viên xin ra.
Thí dụ: Năm 1986 hợp tác xã có giá trị tài sản cố định là 650.000 đồng, dư nợ dài hạn là 750.000 đồng, số xã viên có 100 người. Như vậy hợp tác xã bị lỗ 750.000 - 650.000 = 100.000 đồng. Mỗi xã viên chịu lỗ:
100.000
----------- = 1000 đồng
100
Người xin ra phải trả cho hợp tác xã 100 đồng tiền chia lỗ. Ngoài ra nếu còn nợ thiếu khoán thì vẫn phải nộp đủ số tiền còn thiếu.
Những hợp tác xã có giá trị tài sản cố định tuy lớn hơn dư nợ dài hạn nhưng không còn nguyên vẹn vốn cổ phần thực chất là đã ăn mất một phần vốn cổ phần thì người xin ra hợp tác xã được rút phần còn lại của cổ phần.
Thí dụ: Hợp tác xã A có giá trị tài sản cố định hiện nay là 770.000 đồng (trong đó vốn cổ phần là 70.000 đồng) dư nợ dài hạn là 720.000 đồng, số xã viên hiện có là 100 người. Như vậy số vốn cổ phần của xã viên đóng góp chỉ còn 770.000 - 720.000 = 50.000 đồng. Người xin ra hợp tác xã được rút phần còn lại của cổ phần là
50.000
--------- = 500 đồng
100
Nếu người xin ra còn nợ thiếu khoán thì vẫn nộp đủ số tiền thiếu khoán cho hợp tác xã.