Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1515/QĐ-UBND 2014 điều chỉnh 1307/QĐ-UBND phát triển ngành nghề nông thôn Trà Vinh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Trà Vinh", "promulgation_date": "15/09/2014", "sign_number": "1515/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Phong", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Trà Vinh", "promulgation_date": "15/09/2014", "sign_number": "1515/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Phong", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Trà Vinh", "promulgation_date": "15/09/2014", "sign_number": "1515/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Phong", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Trà Vinh", "promulgation_date": "15/09/2014", "sign_number": "1515/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Phong", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Trà Vinh", "promulgation_date": "15/09/2014", "sign_number": "1515/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Phong", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1515/QĐ-UBND 2014 điều chỉnh 1307/QĐ-UBND phát triển ngành nghề nông thôn Trà Vinh

Điều 1. Điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 1307/QĐ-UBND ngày 10/7/2009 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh, với các nội dung chủ yếu sau:
...
2. Tại khoản III Điều 1
“ 1. Quy hoạch phát triển nhóm ngành nghề chế biến nông - lâm - thủy sản
a) Xay xát gạo: Phát triển ở tốc độ trung bình, thấp khoảng 4%/năm. Năm 2015 sử dụng 2.860 lao động, tạo ra giá trị sản lượng khoảng 258,9 tỷ đồng; năm 2020 sử dụng khoảng 3.020 lao động, giá trị sản lượng khoảng 322,47 tỷ đồng.
b) Nấu rượu: Tăng trưởng ở mức trung bình, khoảng 3%/năm. Đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ về khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất rượu, đăng ký chất lượng sản phẩm, chất lượng rượu, xây dựng thương hiệu… đặc biệt làm thủ tục xây dựng nhãn hiệu độc quyền, nhãn hiệu tập thể Xuân Thạnh - Trà Vinh.
c) Các nghề làm bánh, bún (Bánh tráng, bánh tét, bún - hủ tiếu)
- Bánh tráng: Định hướng đến năm 2020 sản xuất bánh tráng sẽ phát triển với tốc độ khoảng 8%/năm, sử dụng khoảng 300 lao động và tạo ra giá trị sản xuất khoảng 10 tỷ đồng, tập trung chủ yếu ở Cầu Ngang và Châu Thành.
- Bánh tét: Hiện tại toàn tỉnh có 07 cơ sở và 135 hộ nấu bánh tét, tập trung chủ yếu ở khu vực Trà Cuôn - Cầu Ngang. Trong những năm tới sẽ xây dựng nhãn hiệu độc quyền, nhãn hiệu tập thể tiến tới tạo thành thương hiệu “Bánh tét Trà Cuôn”. Dự kiến đến năm 2020 sử dụng 300 lao động và tạo ra giá trị sản xuất 25 tỷ đồng.
- Bún - hủ tíu: Phát triển ở tốc độ khoảng 8%/năm, năm 2015 sử dụng khoảng 1.500 lao động, tạo ra giá trị sản lượng khoảng 144,38 tỷ đồng, năm 2020 sử dụng 1.600 lao động, giá trị sản lượng đạt 147,57 tỷ đồng.
d) Nghề làm bánh kẹo: Phát triển ở tốc độ thấp khoảng 1 - 2%/năm. Năm 2015 sử dụng khoảng 600 lao động, tạo ra giá trị sản lượng khoảng 119,42 tỷ đồng; năm 2020 sử dụng khoảng 685 lao động, giá trị sản lượng khoảng 126,47 tỷ đồng. Tuy nhiên, sẽ bị cạnh tranh gay gắt từ sản phẩm công nghiệp. Để có thể tồn tại và phát triển cơ sở phải từng bước chuyển đổi hình thức tổ chức sản xuất bánh kẹo cần tăng cường ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ, đăng ký chất lượng sản phẩm; các ngành chức năng tiến hành kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, xây dựng nhãn hiệu độc quyền, nhãn hiệu tập thể tiến tới tạo thành thương hiệu,…
đ) Nghề giết mổ và chế biến sản phẩm từ thịt: Tăng giá trị sản lượng khoảng 4 - 5%/năm trong giai đoạn từ nay đến năm 2020. Năm 2015 sử dụng 1.640 lao động tạo ra giá trị sản lượng khoảng 83,14 tỷ động; năm 2020 sử dụng 1.810 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 105,68 tỷ đồng. Đẩy mạnh kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung theo Quy hoạch chi tiết phát triển chăn nuôi, các khu vực phát triển chăn nuôi tập trung và giết mổ gia súc, gia cầm tập trung tỉnh Trà Vinh đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
e) Chế biến thủy hải sản: Tiến hành lập thủ tục để công nhận làng nghề tôm khô Vinh Kim thuộc xã Vinh Kim, huyện Cầu Ngang và đẩy mạnh phát triển làng nghề sơ chế biến thủy sản Xóm Đáy xã Đông Hải, huyện Duyên Hải. Dự kiến nhóm ngành chế biến thủy hải sản sẽ tăng trưởng ở tốc độ trung bình khoảng 4-5%/năm. Năm 2015 sử dụng 1.180 lao động, tạo ra giá trị sản lượng khoảng 447,53 tỷ đồng; năm 2020 sử dụng 1.690 lao động, giá trị sản lượng đạt 554,68 tỷ đồng.
g) Sản xuất nước đá, nước uống: Tốc độ tăng giá trị sản lượng khoảng 5-6%/năm. Giá trị sản lượng tăng từ 65,61 tỷ đồng năm 2012 lên 77,57 tỷ đồng năm 2015 và lên 100,37 tỷ đồng năm 2020. Năm 2015 sử dụng 1.425 lao động, năm 2020 sử dụng 1.630 người.
h) Chế biến bảo quản rau quả: Phấn đấu đến năm 2020 mỗi huyện, thành phố có từ 3 - 5 cơ sở, thu hút khoảng 135 lao động tham gia, giá trị sản xuất đạt khoảng 4,2 tỷ đồng. Tốc độ tăng giá trị sản xuất thời kỳ 2014 - 2020 khoảng 34,17%/năm.
2. Nhóm ngành nghề sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, đan đát, dệt may, cơ khí
a) Nghề đan đát và xe sợi tơ xơ dừa: Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng của nhóm nghề này khoảng 8 - 9%/năm, giá trị sản lượng năm 2015 đạt 101,89 tỷ đồng và năm 2020 đạt 149,76 tỷ đồng. Lao động đến năm 2020 khoảng 8.565 người, tăng 4.079 người so với năm 2012.
b) Nhóm nghề đồ gỗ, mộc gia dụng, đóng xuồng ghe: Nhóm ngành này sẽ phát triển với tốc độ trung bình từ 8 - 9%/năm.
- Đồ gỗ và mộc gia dụng: Tốc độ phát triển trong giai đoạn 2014 - 2020 khoảng 7,5%/năm, trong đó thời kỳ 2014 - 2015 khoảng 10%/năm và thời kỳ 2016-2020 khoảng 6,3%/năm. Đến năm 2020 sử dụng khoảng 1.275 lao động, giá trị sản xuất đạt 112,63 tỷ đồng.
- Đóng xuồng ghe: Tốc độ phát triển trong giai đoạn 2014 - 2020 khoảng trên 12%/năm, trong đó thời kỳ 2014 - 2015 khoảng trên 16%/năm và thời kỳ 2016 - 2020 khoảng trên 10%/năm. Đến năm 2020 sử dụng khoảng 315 lao động, giá trị sản xuất đạt 13,63 tỷ đồng.
c) Dệt may: Tốc độ tăng giá trị sản lượng khoảng 5-6%/năm. Giá trị sản lượng tăng từ 118,02 tỷ đồng năm 2012 lên 138,27 tỷ đồng năm 2015 và lên 178,16 tỷ đồng năm 2020. Năm 2015 sử dụng 5.948 lao động, năm 2020 sử dụng 6.418 người.
d) Cơ khí, sản xuất các sản phẩm từ kim loại: Trong những năm tới nghề này phát triển với tốc độ trung bình khoảng 6%/năm, tập trung đầu tư công nghệ, cải tiến chất lượng và mẫu mã sản phẩm. Năm 2020 giá trị sản lượng đạt khoảng 200,75 tỷ đồng, lao động 1.820 ngàn người, tăng 74,03 tỷ đồng và 500 lao động so với năm 2012.
đ) Nghề sản xuất gạch và vật liệu xây dựng
- Sản xuất gạch: Phát triển ở tốc độ 15,79%/năm trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, giá trị sản lượng đạt được khoảng 32,97 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần so với năm 2012. Ưu tiên phát triển gạch không nung thực hiện theo Quyết định số 251/QĐ-UBND ngày 26/02/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Sản xuất vật liệu xây dựng và các vật liệu khác: Tiếp tục tăng trưởng khá trong những năm tới với tốc độ tăng trên 16,63%/năm trong cả giai đoạn 2014-2020, năm 2020 thu hút 350 lao động và tạo giá trị sản xuất khoảng 29,12 tỷ đồng.

Content:
Tại khoản III Điều 1
“ 1. Quy hoạch phát triển nhóm ngành nghề chế biến nông - lâm - thủy sản
a) Xay xát gạo: Phát triển ở tốc độ trung bình, thấp khoảng 4%/năm. Năm 2015 sử dụng 2.860 lao động, tạo ra giá trị sản lượng khoảng 258,9 tỷ đồng; năm 2020 sử dụng khoảng 3.020 lao động, giá trị sản lượng khoảng 322,47 tỷ đồng.
b) Nấu rượu: Tăng trưởng ở mức trung bình, khoảng 3%/năm. Đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ về khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất rượu, đăng ký chất lượng sản phẩm, chất lượng rượu, xây dựng thương hiệu… đặc biệt làm thủ tục xây dựng nhãn hiệu độc quyền, nhãn hiệu tập thể Xuân Thạnh - Trà Vinh.
c) Các nghề làm bánh, bún (Bánh tráng, bánh tét, bún - hủ tiếu)
- Bánh tráng: Định hướng đến năm 2020 sản xuất bánh tráng sẽ phát triển với tốc độ khoảng 8%/năm, sử dụng khoảng 300 lao động và tạo ra giá trị sản xuất khoảng 10 tỷ đồng, tập trung chủ yếu ở Cầu Ngang và Châu Thành.
- Bánh tét: Hiện tại toàn tỉnh có 07 cơ sở và 135 hộ nấu bánh tét, tập trung chủ yếu ở khu vực Trà Cuôn - Cầu Ngang. Trong những năm tới sẽ xây dựng nhãn hiệu độc quyền, nhãn hiệu tập thể tiến tới tạo thành thương hiệu “Bánh tét Trà Cuôn”. Dự kiến đến năm 2020 sử dụng 300 lao động và tạo ra giá trị sản xuất 25 tỷ đồng.
- Bún - hủ tíu: Phát triển ở tốc độ khoảng 8%/năm, năm 2015 sử dụng khoảng 1.500 lao động, tạo ra giá trị sản lượng khoảng 144,38 tỷ đồng, năm 2020 sử dụng 1.600 lao động, giá trị sản lượng đạt 147,57 tỷ đồng.
d) Nghề làm bánh kẹo: Phát triển ở tốc độ thấp khoảng 1 - 2%/năm. Năm 2015 sử dụng khoảng 600 lao động, tạo ra giá trị sản lượng khoảng 119,42 tỷ đồng; năm 2020 sử dụng khoảng 685 lao động, giá trị sản lượng khoảng 126,47 tỷ đồng. Tuy nhiên, sẽ bị cạnh tranh gay gắt từ sản phẩm công nghiệp. Để có thể tồn tại và phát triển cơ sở phải từng bước chuyển đổi hình thức tổ chức sản xuất bánh kẹo cần tăng cường ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ, đăng ký chất lượng sản phẩm; các ngành chức năng tiến hành kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, xây dựng nhãn hiệu độc quyền, nhãn hiệu tập thể tiến tới tạo thành thương hiệu,…
đ) Nghề giết mổ và chế biến sản phẩm từ thịt: Tăng giá trị sản lượng khoảng 4 - 5%/năm trong giai đoạn từ nay đến năm 2020. Năm 2015 sử dụng 1.640 lao động tạo ra giá trị sản lượng khoảng 83,14 tỷ động; năm 2020 sử dụng 1.810 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 105,68 tỷ đồng. Đẩy mạnh kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung theo Quy hoạch chi tiết phát triển chăn nuôi, các khu vực phát triển chăn nuôi tập trung và giết mổ gia súc, gia cầm tập trung tỉnh Trà Vinh đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
e) Chế biến thủy hải sản: Tiến hành lập thủ tục để công nhận làng nghề tôm khô Vinh Kim thuộc xã Vinh Kim, huyện Cầu Ngang và đẩy mạnh phát triển làng nghề sơ chế biến thủy sản Xóm Đáy xã Đông Hải, huyện Duyên Hải. Dự kiến nhóm ngành chế biến thủy hải sản sẽ tăng trưởng ở tốc độ trung bình khoảng 4-5%/năm. Năm 2015 sử dụng 1.180 lao động, tạo ra giá trị sản lượng khoảng 447,53 tỷ đồng; năm 2020 sử dụng 1.690 lao động, giá trị sản lượng đạt 554,68 tỷ đồng.
g) Sản xuất nước đá, nước uống: Tốc độ tăng giá trị sản lượng khoảng 5-6%/năm. Giá trị sản lượng tăng từ 65,61 tỷ đồng năm 2012 lên 77,57 tỷ đồng năm 2015 và lên 100,37 tỷ đồng năm 2020. Năm 2015 sử dụng 1.425 lao động, năm 2020 sử dụng 1.630 người.
h) Chế biến bảo quản rau quả: Phấn đấu đến năm 2020 mỗi huyện, thành phố có từ 3 - 5 cơ sở, thu hút khoảng 135 lao động tham gia, giá trị sản xuất đạt khoảng 4,2 tỷ đồng. Tốc độ tăng giá trị sản xuất thời kỳ 2014 - 2020 khoảng 34,17%/năm.
Nhóm ngành nghề sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, đan đát, dệt may, cơ khí
a) Nghề đan đát và xe sợi tơ xơ dừa: Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng của nhóm nghề này khoảng 8 - 9%/năm, giá trị sản lượng năm 2015 đạt 101,89 tỷ đồng và năm 2020 đạt 149,76 tỷ đồng. Lao động đến năm 2020 khoảng 8.565 người, tăng 4.079 người so với năm 2012.
b) Nhóm nghề đồ gỗ, mộc gia dụng, đóng xuồng ghe: Nhóm ngành này sẽ phát triển với tốc độ trung bình từ 8 - 9%/năm.
- Đồ gỗ và mộc gia dụng: Tốc độ phát triển trong giai đoạn 2014 - 2020 khoảng 7,5%/năm, trong đó thời kỳ 2014 - 2015 khoảng 10%/năm và thời kỳ 2016-2020 khoảng 6,3%/năm. Đến năm 2020 sử dụng khoảng 1.275 lao động, giá trị sản xuất đạt 112,63 tỷ đồng.
- Đóng xuồng ghe: Tốc độ phát triển trong giai đoạn 2014 - 2020 khoảng trên 12%/năm, trong đó thời kỳ 2014 - 2015 khoảng trên 16%/năm và thời kỳ 2016 - 2020 khoảng trên 10%/năm. Đến năm 2020 sử dụng khoảng 315 lao động, giá trị sản xuất đạt 13,63 tỷ đồng.
c) Dệt may: Tốc độ tăng giá trị sản lượng khoảng 5-6%/năm. Giá trị sản lượng tăng từ 118,02 tỷ đồng năm 2012 lên 138,27 tỷ đồng năm 2015 và lên 178,16 tỷ đồng năm 2020. Năm 2015 sử dụng 5.948 lao động, năm 2020 sử dụng 6.418 người.
d) Cơ khí, sản xuất các sản phẩm từ kim loại: Trong những năm tới nghề này phát triển với tốc độ trung bình khoảng 6%/năm, tập trung đầu tư công nghệ, cải tiến chất lượng và mẫu mã sản phẩm. Năm 2020 giá trị sản lượng đạt khoảng 200,75 tỷ đồng, lao động 1.820 ngàn người, tăng 74,03 tỷ đồng và 500 lao động so với năm 2012.
đ) Nghề sản xuất gạch và vật liệu xây dựng
- Sản xuất gạch: Phát triển ở tốc độ 15,79%/năm trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, giá trị sản lượng đạt được khoảng 32,97 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần so với năm 201Ưu tiên phát triển gạch không nung thực hiện theo Quyết định số 251/QĐ-UBND ngày 26/02/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Sản xuất vật liệu xây dựng và các vật liệu khác: Tiếp tục tăng trưởng khá trong những năm tới với tốc độ tăng trên 16,63%/năm trong cả giai đoạn 2014-2020, năm 2020 thu hút 350 lao động và tạo giá trị sản xuất khoảng 29,12 tỷ đồng.