Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 4292/QĐ-UBND 2014 Đề án tái cơ cấu kinh tế Thanh Hóa

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "05/12/2014", "sign_number": "4292/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "05/12/2014", "sign_number": "4292/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "05/12/2014", "sign_number": "4292/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "05/12/2014", "sign_number": "4292/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "05/12/2014", "sign_number": "4292/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 4292/QĐ-UBND 2014 Đề án tái cơ cấu kinh tế Thanh Hóa

Điều 1. Phê duyệt Đề án tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 (sau đây gọi tắt là đề án) với các nội dung chủ yếu sau:
...
4. Định hướng tái cơ cấu doanh nghiệp
4.1. Đối với doanh nghiệp nhà nước
a) Tiếp tục tập trung chỉ đạo hoàn thành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.
Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo Kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong 02 năm 2014 - 2015, hoàn thành cổ phần hóa 03 DNNN (Công ty TNHH MTV cấp nước Thanh Hóa; Công ty môi trường và công trình đô thị; Công ty đầu tư phát triển hạ tầng Thanh Hóa); Các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm công khai giá trị doanh nghiệp được cổ phần hóa. Kiểm soát chặt chẽ quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; ngăn chặn kịp thời các hành vi tiêu cực, sai trái trong định giá, đấu giá tài sản của doanh nghiệp, xác định tỉ lệ giá trị tài sản của Nhà nước trong giá trị tài sản doanh nghiệp cổ phần. Nâng cao chất lượng lãnh đạo tổ chức điều hành của cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh, tạo ra bước đột phá trong phát triển sản xuất, đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển ổn định bền vững.
Tiếp tục nghiên cứu xây dựng phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn 2016 - 2020; theo đó, sẽ chuyển đổi 03 doanh nghiệp là các công ty TNHH 1 thành viên Lam Sơn, Sông Âm, Yên Mỹ sang hoạt động theo mô hình các công ty TNHH nhiều thành viên; theo hướng hợp tác với các công ty chế biến, tiêu thụ sản phẩm để phát triển vùng nguyên liệu.
b) Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước
Tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực quản lý của đội ngũ lãnh đạo, đặc biệt là lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp. Đổi mới quy trình, xác định rõ quyền và trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc xem xét, quyết định nhân sự lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp nhà nước. Mở rộng diện để tiến tới áp dụng bắt buộc chế độ thi tuyển, hợp đồng có thời hạn tùy thuộc vào kết quả sản xuất, kinh doanh đối với các chức danh quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước.
- Nhóm doanh nghiệp hoạt động công ích (quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi): Tiếp tục đổi mới công tác quản lý, điều hành, đảm bảo tưới tiêu ổn định, đáp ứng yêu cầu nước phục vụ nông nghiệp và cho các hoạt động khác. Nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào khai thác để nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi. Phát triển các hình thức kinh doanh theo hướng mở rộng ngành nghề kinh doanh, phù hợp với quy mô, năng lực như: cấp nước công nghiệp, sinh hoạt; nuôi trồng thủy sản, phát điện, kinh doanh điện lực, hoạt động xây lắp công trình... nhằm tăng nguồn thu, bảo toàn và phát triển vốn, chủ động trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
- Nhóm doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh: Rà soát để cập nhật, sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các quy định nội bộ trên cơ sở chính sách pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của doanh nghiệp làm cơ sở để các đơn vị tổ chức thực hiện; tăng cường kiểm tra, giám sát để công tác quản lý, tổ chức sản xuất có hiệu quả. Phát huy mọi nguồn lực để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng sản xuất; tiếp tục mở rộng thị trường và tăng cường kết nối kinh doanh với các doanh nghiệp mạnh, có thương hiệu. Phát huy trí tuệ của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý và công nhân bậc cao; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ mới, tiên tiến đổi mới thay thế máy móc, thiết bị kém hiệu quả gắn với tăng cường công tác quản lý theo hướng tiết kiệm để hạ giá thành sản phẩm.
- Các Ban quản lý rừng phòng hộ, các lâm trường
Rà soát, đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý rừng, bảo vệ rừng của các Ban quản lý Rừng phòng hộ, các lâm trường, nhất là các lâm trường đã bàn giao cho Tổng công ty Giấy Việt Nam; xác định hiện trạng sử dụng đất đai trên bản đồ và thực địa, thu hồi diện tích sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả của các Ban quản lý Rừng phòng hộ giao lại cho chính quyền địa phương để cho các tổ chức, cá nhân thuê sử dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học, chú trọng công tác tuyển chọn giống, biện pháp đầu tư thâm canh để nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích, từng bước áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất và khai thác sản phẩm rừng trồng. Xây dựng các phương án nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp như: xây dựng mô hình chuyển hóa kinh doanh rừng trồng gỗ lớn, phương án điều chế rừng, phương án cấp chứng chỉ rừng, đa dạng hóa các loại hình kinh doanh lâm nghiệp.
Kiện toàn và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật và lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng ở các đơn vị quản lý rừng phòng hộ, nhất là các đơn vị có diện tích rừng phòng hộ có độ dốc lớn, vùng biên giới đặc biệt khó khăn.
4.2. Đối với doanh nghiệp dân doanh
- Trước hết, các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, Mặt trận, đoàn thể, phải thay đổi tư duy nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của doanh nghiệp, doanh nhân trong quá trình CNH-HĐH và tái cơ cấu nền kinh tế của tỉnh. Song, từng doanh nhân cũng phải xác định việc tái cơ cấu doanh nghiệp là việc làm cấp thiết, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp mình. Trên cơ sở đó, từng doanh nghiệp xây dựng kế hoạch cụ thể để có những điều chỉnh chiến lược, kế hoạch kinh doanh cho phù hợp với tình hình mới; trong đó, phải đặc biệt quan tâm tới việc tái cơ cấu nhân lực, tái cơ cấu tài chính; áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật,... để không ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Trong quá trình tái cơ cấu các doanh nghiệp, cấp ủy, chính quyền các cấp tiếp tục sát cánh, đồng hành cùng các DN để biến thách thức thành cơ hội, vững bước đi lên trong quá trình hội nhập và phát triển. Theo đó, trong thời gian tới, tỉnh sẽ tập trung tháo gỡ các khó khăn cho DN để thúc đẩy phát triển sản xuất - kinh doanh; hàng năm sẽ kịp thời phân bổ và giải ngân sớm các nguồn vốn đầu tư phát triển ngay từ đầu năm, tập trung giải quyết nợ đọng XDCB theo đúng lộ trình, coi trọng xử lý nợ xấu đi đôi với việc tạo thuận lợi tốt nhất cho các DN được tiếp cận nguồn vốn có lãi suất thấp; triển khai, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách miễn, giảm, giãn các loại thuế, góp phần giải quyết những khó khăn cho DN. Nghiên cứu thành lập trung tâm phát triển doanh nghiệp. Hỗ trợ cho DN về khoa học và công nghệ, xây dựng thương hiệu, đào tạo nguồn nhân lực để nâng cao năng lực cạnh tranh. Tăng cường chỉ đạo, bảo đảm thực hiện hiệu quả, thiết thực Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; nâng cao ý thức tiêu dùng hàng Việt Nam và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động để nắm bắt thông tin, phản ánh kịp thời UBND tỉnh để xử lý các khó khăn, vướng mắc cho DN và nhà đầu tư.
- Thực hiện tốt các chương trình quốc gia về phát triển, nâng cao chất lượng các doanh nghiệp dân doanh như: Chương trình hỗ trợ đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; Chương trình đào tạo và nâng cao năng lực quản lý cho các chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp; Chương trình hỗ trợ nâng cao hiệu lực quản trị công ty; Chương trình hỗ trợ nâng cao chất lượng sản phẩm; Chương trình hỗ trợ kết nối doanh nghiệp, kết nối trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức dịch vụ phát triển kinh doanh với các doanh nghiệp nhỏ và vừa,... Tiếp tục tạo điều kiện để các doanh nghiệp tham gia thực hiện cung cấp các dịch vụ công mà các cơ quan nhà nước không cần nắm giữ hoặc không có khả năng cung cấp.
- Tiếp tục triển khai các giải pháp khuyến khích thành lập doanh nghiệp đi đôi với nâng cao chất lượng doanh nghiệp. Xây dựng đề án phát triển doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân đến năm 2020. Thành lập trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp.
- Xây dựng các tiêu chí chất lượng nhà đầu tư và dự án đầu tư nước ngoài theo hướng sử dụng ít tài nguyên hơn, ít đất đai hơn, hướng đầu tư nước ngoài vào các ngành, sản phẩm công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, thúc đẩy chuyển giao công nghệ dưới các hình thức thích hợp. Không cấp đất, cho thuê đất đối với nhà đầu tư và dự án đầu tư không đáp ứng tiêu chí về chất lượng theo quy định.
III. CÁC GIẢI PHÁP TÁI CƠ CẤU KINH TẾ
1. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung, xây dựng mới quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng, các huyện, quy hoạch các ngành, lĩnh vực, sản phẩm phù hợp với định hướng tái cơ cấu kinh tế
Khẩn trương xây dựng, rà soát, điều chỉnh, bổ sung các loại quy hoạch: quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội để thực hiện các nội dung, định hướng tái cơ cấu kinh tế, nhất là tái cơ cấu ngành, lĩnh vực sản xuất, bảo đảm phát huy tiềm năng lợi thế của tỉnh, gắn kết sản xuất với tiêu thụ sản phẩm và phát triển bền vững; quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo sự thống nhất và liên kết giữa quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giữa quy hoạch chi tiết và quy hoạch tổng thể theo hướng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải tổng hợp, cân đối, phân bổ hợp lý, sử dụng hiệu quả đất đai cho các ngành, lĩnh vực, địa phương; quy hoạch xây dựng và quy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất phải phù hợp với các chỉ tiêu, tiến độ sử dụng đất được phân bổ trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thực hiện lồng ghép, quản lý chặt chẽ yêu cầu bảo vệ môi trường vào các quy hoạch.
Trong quá trình rà soát, xây dựng quy hoạch phải lấy ý kiến rộng rãi của các nhà khoa học, các doanh nghiệp và người dân, đồng thời tăng cường công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, công bố công khai quy hoạch, nhất là quy hoạch thuộc các lĩnh vực: xây dựng, sử dụng đất, khai thác tài nguyên khoáng sản, sản xuất VLXD... tại nơi được quy hoạch và tại trụ sở UBND xã, phường, thị trấn để các doanh nghiệp, tổ chức và nhân dân biết, thực hiện và kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện quy hoạch.
Các cơ quan quản lý nhà nước về quy hoạch phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch ở các ngành, các cấp; kịp thời phát hiện và xử lý hoặc đề xuất với cấp có thẩm quyền xử lý trường hợp vi phạm nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực của các quy hoạch. Xác định danh mục các quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm chủ yếu phải rà soát, điều chỉnh và xây dựng mới.
2. Xây dựng mới các cơ chế, chính sách, tạo thuận lợi cho quá trình tái cơ cấu kinh tế
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt các chính sách của trung ương về phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, rà soát, sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới một số cơ chế, chính sách để thúc đẩy tái cơ cấu; thu hút tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển, gồm:
Về lĩnh vực nông; lâm, thủy sản
- Cơ chế, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, trong đó có chính sách khuyến khích doanh nghiệp xây dựng các chuỗi giá trị, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến nông sản.
- Cơ chế, chính sách phát triển nuôi tôm chân trắng thâm canh.
- Cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh doanh rừng trồng gỗ lớn.
- Cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển vùng thâm canh luồng tập trung.
- Cơ chế, chính sách hỗ trợ đóng mới, thay máy tàu cá có công suất từ 90CV trở lên khai thác hải sản xa bờ.
Về lĩnh vực công nghiệp - xây dựng
- Chính sách khuyến khích đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp.
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách khuyến khích phát triển cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
Về lĩnh vực dịch vụ:
- Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích các ngành dịch vụ ưu tiên phát triển, gồm: dịch vụ vận tải; du lịch; giáo dục, y tế; viễn thông, công nghệ thông tin; chính sách khuyến khích phát triển hạ tầng thương mại (chợ, siêu thị, trung tâm thương mại).
- Đề án cải cách thủ tục hành chính tại các cảng, trọng tâm là cảng Nghi Sơn để rút ngắn thời gian thông quan, tạo lợi thế cạnh tranh, thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tới làm các thủ tục thông quan tại Thanh Hóa.
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách khuyến khích xuất khẩu.
- Nghiên cứu thành lập “Trung tâm kinh doanh” để thực hiện hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào chuỗi liên kết với doanh nghiệp lớn; các dự án đầu tư lớn và hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng các doanh nhân.
3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế.
Phát triển mở rộng mạng lưới các cơ sở giáo dục và dạy nghề phù hợp với quy hoạch điều chỉnh mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020; mở rộng quy mô, đa dạng ngành nghề và loại hình đào tạo; gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng theo ngành nghề và trình độ đào tạo; tránh tình trạng đào tạo tràn lan, gây dư thừa lao động qua đào tạo ở ngành này và thiếu hụt lao động qua đào tạo ở ngành khác. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động; thực hiện tốt các chương trình đào tạo nghề cho lao động, nhất là đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo, đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70% lao động làm việc trong nền kinh tế.
Hoàn thành đầu tư xây dựng Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch; tập trung đầu tư xây dựng một số khoa của Trường Đại học Hồng Đức đạt chất lượng cao; tích cực đấu mối với các Bộ, ngành trung ương, các trường Đại học lớn để sớm đưa phân hiệu trường Đại học Y Hà Nội vào hoạt động; thành lập phân hiệu của một số trường Đại học lớn khác ở Hà Nội tại Thanh Hóa, như: trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Xây dựng, Đại học Kiến trúc Hà Nội,... Tiếp tục quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên theo hướng chuẩn hóa, đảm bảo đủ về số lượng, cơ cấu hợp lý theo ngành, nghề và trình độ đào tạo; huy động các nhà khoa học, nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, thợ bậc cao của các doanh nghiệp tham gia dạy nghề; tranh thủ chương trình đào tạo giảng viên có trình độ tiến sỹ cho các trường đại học, cao đẳng để nâng cao chất lượng giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục của tỉnh; Trường Đại học Hồng Đức và Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng phương án đào tạo, bồi dưỡng giáo viên để đảm bảo đủ tỷ lệ tiến sỹ theo quy định.
Đổi mới nội dung chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, tiếp thu có chọn lọc những chương trình đào tạo tiên tiến, phục vụ thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; đổi mới phương pháp đào tạo nhằm phát huy tính chủ động của người học. Đẩy mạnh việc dạy và học tiếng Anh ở các trường THPT, tạo tiền đề tốt cho các em học sinh khi học ở các trường Đại học, cao đẳng, THCN.
Đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội, gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế; xây dựng cơ chế, chính sách liên kết các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo, huy động tối đa sự tham gia của các doanh nghiệp trong việc xác định nhu cầu đào tạo, tổ chức đào tạo và tuyển dụng lao động. Trong đó, đặc biệt coi trọng đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ doanh nhân; ưu tiên đào tạo lao động cho các ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, như: lọc hóa dầu, sản xuất thép, quản lý và vận hành các nhà máy nhiệt điện, thủy điện, sản xuất, lắp ráp linh kiện thiết bị điện tử, sản xuất phần mềm, tự động hóa, nông nghiệp công nghệ cao; du lịch.... đảm bảo đáp ứng nhu cầu nhân lực về số lượng, chất lượng cho các doanh nghiệp tại KKT Nghi Sơn, các KCN, Khu nông nghiệp công nghệ cao Lam Sơn - Sao Vàng.
Thực hiện có hiệu quả các chính sách đã ban hành như chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức; chính sách thu hút cán bộ có trình độ đại học trở lên về công tác tại xã, phường, thị trấn,... để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Tăng tỷ lệ đầu tư hàng năm từ ngân sách tỉnh cho đào tạo nguồn nhân lực. Tranh thủ sự hỗ trợ của các Bộ, ngành Trung ương để thu hút các nguồn vốn ODA, FDI, vốn ngân sách Trung ương đầu tư để phát triển giáo dục, đào tạo; khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực; đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa lĩnh vực giáo dục, đào tạo; khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư cho giáo dục và đào tạo, dạy nghề.
4. Giải pháp về phát triển khoa học công nghệ
Xác định phát triển khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực để đổi mới mô hình tăng trưởng; là tiêu chí nâng cao sức mạnh tổng hợp, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; là một trong những khâu đột phá để tăng trưởng nhanh và bền vững. Theo đó, sẽ tăng mức đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ bảo đảm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách của tỉnh hàng năm. Tiếp tục đổi mới các cơ chế hoạt động khoa học và công nghệ từ hành chính, bao cấp sang cơ chế thị trường; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất kinh doanh với nghiên cứu, đào tạo; trong đó doanh nghiệp đóng vai trò là trung tâm ứng dụng và đổi mới công nghệ. Nghiên cứu, xem xét thành lập Viện nghiên cứu phát triển Thanh Hóa trực thuộc UBND tỉnh; Xây dựng và phát triển Sàn Giao dịch công nghệ và thiết bị tỉnh thành sàn giao dịch trung tâm của vùng Bắc trung bộ. Khuyến khích, hỗ trợ thành lập và phát triển các doanh nghiệp nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trong đó trọng tâm là các doanh nghiệp công nghệ thông tin để đưa nhanh các kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ vào sản xuất kinh doanh.
Tiếp tục tập trung đầu tư đồng bộ một số phòng thí nghiệm, thử nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc gia và các nước trong khu vực ở trường Đại học Hồng Đức, Trường Cao đẳng y tế, Trường Cao đẳng nghề công nghiệp Thanh Hóa, Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng... để đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Xây dựng các cơ chế nhằm khuyến khích, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, hỗ trợ ứng dụng kết quả vào thực tiễn sản xuất và đời sống theo hướng tạo môi trường thuận lợi, gắn kết giữa các cơ quan nghiên cứu với doanh nghiệp trên cơ sở phân chia lợi ích để nâng cao tính thực tiễn theo cơ chế thị trường.
Tập trung đầu tư cho các chương trình trọng điểm nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm các sản phẩm mới, triển khai ứng dụng các quy trình công nghệ mới tạo chuyển biến mạnh về ứng dụng tiến bộ công nghệ, trong đó trọng tâm là: sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, mía đường, rau an toàn, thủy sản, bò sữa, lợn, gia cầm; cơ khí chế tạo; điện tử, điện lạnh, tin học; công nghiệp hóa chất, lọc, hóa dầu; nhiệt điện; luyện kim, cán thép; vật liệu xây dựng; dệt - may, giầy dép. Tiến tới hình thành được một số sản phẩm có thương hiệu mạnh.
Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao, có tâm huyết, trung thực, tận tụy; có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất và năng lực tốt, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế của tỉnh, trong đó đặc biệt chú ý đến việc đào tạo, bồi dưỡng trong việc phát triển đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật trong các doanh nghiệp. Nghiên cứu đề xuất các chính sách đào tạo, sử dụng, thu hút, trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về phát triển nhân lực khoa học và công nghệ.

Content:
Định hướng tái cơ cấu doanh nghiệp
4.1. Đối với doanh nghiệp nhà nước
a) Tiếp tục tập trung chỉ đạo hoàn thành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.
Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo Kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong 02 năm 2014 - 2015, hoàn thành cổ phần hóa 03 DNNN (Công ty TNHH MTV cấp nước Thanh Hóa; Công ty môi trường và công trình đô thị; Công ty đầu tư phát triển hạ tầng Thanh Hóa); Các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm công khai giá trị doanh nghiệp được cổ phần hóa. Kiểm soát chặt chẽ quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; ngăn chặn kịp thời các hành vi tiêu cực, sai trái trong định giá, đấu giá tài sản của doanh nghiệp, xác định tỉ lệ giá trị tài sản của Nhà nước trong giá trị tài sản doanh nghiệp cổ phần. Nâng cao chất lượng lãnh đạo tổ chức điều hành của cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh, tạo ra bước đột phá trong phát triển sản xuất, đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển ổn định bền vững.
Tiếp tục nghiên cứu xây dựng phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn 2016 - 2020; theo đó, sẽ chuyển đổi 03 doanh nghiệp là các công ty TNHH 1 thành viên Lam Sơn, Sông Âm, Yên Mỹ sang hoạt động theo mô hình các công ty TNHH nhiều thành viên; theo hướng hợp tác với các công ty chế biến, tiêu thụ sản phẩm để phát triển vùng nguyên liệu.
b) Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước
Tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực quản lý của đội ngũ lãnh đạo, đặc biệt là lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp. Đổi mới quy trình, xác định rõ quyền và trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc xem xét, quyết định nhân sự lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp nhà nước. Mở rộng diện để tiến tới áp dụng bắt buộc chế độ thi tuyển, hợp đồng có thời hạn tùy thuộc vào kết quả sản xuất, kinh doanh đối với các chức danh quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước.
- Nhóm doanh nghiệp hoạt động công ích (quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi): Tiếp tục đổi mới công tác quản lý, điều hành, đảm bảo tưới tiêu ổn định, đáp ứng yêu cầu nước phục vụ nông nghiệp và cho các hoạt động khác. Nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào khai thác để nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi. Phát triển các hình thức kinh doanh theo hướng mở rộng ngành nghề kinh doanh, phù hợp với quy mô, năng lực như: cấp nước công nghiệp, sinh hoạt; nuôi trồng thủy sản, phát điện, kinh doanh điện lực, hoạt động xây lắp công trình... nhằm tăng nguồn thu, bảo toàn và phát triển vốn, chủ động trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
- Nhóm doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh: Rà soát để cập nhật, sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các quy định nội bộ trên cơ sở chính sách pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của doanh nghiệp làm cơ sở để các đơn vị tổ chức thực hiện; tăng cường kiểm tra, giám sát để công tác quản lý, tổ chức sản xuất có hiệu quả. Phát huy mọi nguồn lực để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng sản xuất; tiếp tục mở rộng thị trường và tăng cường kết nối kinh doanh với các doanh nghiệp mạnh, có thương hiệu. Phát huy trí tuệ của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý và công nhân bậc cao; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ mới, tiên tiến đổi mới thay thế máy móc, thiết bị kém hiệu quả gắn với tăng cường công tác quản lý theo hướng tiết kiệm để hạ giá thành sản phẩm.
- Các Ban quản lý rừng phòng hộ, các lâm trường
Rà soát, đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý rừng, bảo vệ rừng của các Ban quản lý Rừng phòng hộ, các lâm trường, nhất là các lâm trường đã bàn giao cho Tổng công ty Giấy Việt Nam; xác định hiện trạng sử dụng đất đai trên bản đồ và thực địa, thu hồi diện tích sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả của các Ban quản lý Rừng phòng hộ giao lại cho chính quyền địa phương để cho các tổ chức, cá nhân thuê sử dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học, chú trọng công tác tuyển chọn giống, biện pháp đầu tư thâm canh để nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích, từng bước áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất và khai thác sản phẩm rừng trồng. Xây dựng các phương án nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp như: xây dựng mô hình chuyển hóa kinh doanh rừng trồng gỗ lớn, phương án điều chế rừng, phương án cấp chứng chỉ rừng, đa dạng hóa các loại hình kinh doanh lâm nghiệp.
Kiện toàn và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật và lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng ở các đơn vị quản lý rừng phòng hộ, nhất là các đơn vị có diện tích rừng phòng hộ có độ dốc lớn, vùng biên giới đặc biệt khó khăn.
4.2. Đối với doanh nghiệp dân doanh
- Trước hết, các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, Mặt trận, đoàn thể, phải thay đổi tư duy nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của doanh nghiệp, doanh nhân trong quá trình CNH-HĐH và tái cơ cấu nền kinh tế của tỉnh. Song, từng doanh nhân cũng phải xác định việc tái cơ cấu doanh nghiệp là việc làm cấp thiết, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp mình. Trên cơ sở đó, từng doanh nghiệp xây dựng kế hoạch cụ thể để có những điều chỉnh chiến lược, kế hoạch kinh doanh cho phù hợp với tình hình mới; trong đó, phải đặc biệt quan tâm tới việc tái cơ cấu nhân lực, tái cơ cấu tài chính; áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật,... để không ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Trong quá trình tái cơ cấu các doanh nghiệp, cấp ủy, chính quyền các cấp tiếp tục sát cánh, đồng hành cùng các DN để biến thách thức thành cơ hội, vững bước đi lên trong quá trình hội nhập và phát triển. Theo đó, trong thời gian tới, tỉnh sẽ tập trung tháo gỡ các khó khăn cho DN để thúc đẩy phát triển sản xuất - kinh doanh; hàng năm sẽ kịp thời phân bổ và giải ngân sớm các nguồn vốn đầu tư phát triển ngay từ đầu năm, tập trung giải quyết nợ đọng XDCB theo đúng lộ trình, coi trọng xử lý nợ xấu đi đôi với việc tạo thuận lợi tốt nhất cho các DN được tiếp cận nguồn vốn có lãi suất thấp; triển khai, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách miễn, giảm, giãn các loại thuế, góp phần giải quyết những khó khăn cho DN. Nghiên cứu thành lập trung tâm phát triển doanh nghiệp. Hỗ trợ cho DN về khoa học và công nghệ, xây dựng thương hiệu, đào tạo nguồn nhân lực để nâng cao năng lực cạnh tranh. Tăng cường chỉ đạo, bảo đảm thực hiện hiệu quả, thiết thực Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; nâng cao ý thức tiêu dùng hàng Việt Nam và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động để nắm bắt thông tin, phản ánh kịp thời UBND tỉnh để xử lý các khó khăn, vướng mắc cho DN và nhà đầu tư.
- Thực hiện tốt các chương trình quốc gia về phát triển, nâng cao chất lượng các doanh nghiệp dân doanh như: Chương trình hỗ trợ đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; Chương trình đào tạo và nâng cao năng lực quản lý cho các chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp; Chương trình hỗ trợ nâng cao hiệu lực quản trị công ty; Chương trình hỗ trợ nâng cao chất lượng sản phẩm; Chương trình hỗ trợ kết nối doanh nghiệp, kết nối trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức dịch vụ phát triển kinh doanh với các doanh nghiệp nhỏ và vừa,... Tiếp tục tạo điều kiện để các doanh nghiệp tham gia thực hiện cung cấp các dịch vụ công mà các cơ quan nhà nước không cần nắm giữ hoặc không có khả năng cung cấp.
- Tiếp tục triển khai các giải pháp khuyến khích thành lập doanh nghiệp đi đôi với nâng cao chất lượng doanh nghiệp. Xây dựng đề án phát triển doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân đến năm 2020. Thành lập trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp.
- Xây dựng các tiêu chí chất lượng nhà đầu tư và dự án đầu tư nước ngoài theo hướng sử dụng ít tài nguyên hơn, ít đất đai hơn, hướng đầu tư nước ngoài vào các ngành, sản phẩm công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, thúc đẩy chuyển giao công nghệ dưới các hình thức thích hợp. Không cấp đất, cho thuê đất đối với nhà đầu tư và dự án đầu tư không đáp ứng tiêu chí về chất lượng theo quy định.
III. CÁC GIẢI PHÁP TÁI CƠ CẤU KINH TẾ
1. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung, xây dựng mới quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng, các huyện, quy hoạch các ngành, lĩnh vực, sản phẩm phù hợp với định hướng tái cơ cấu kinh tế
Khẩn trương xây dựng, rà soát, điều chỉnh, bổ sung các loại quy hoạch: quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội để thực hiện các nội dung, định hướng tái cơ cấu kinh tế, nhất là tái cơ cấu ngành, lĩnh vực sản xuất, bảo đảm phát huy tiềm năng lợi thế của tỉnh, gắn kết sản xuất với tiêu thụ sản phẩm và phát triển bền vững; quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo sự thống nhất và liên kết giữa quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giữa quy hoạch chi tiết và quy hoạch tổng thể theo hướng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải tổng hợp, cân đối, phân bổ hợp lý, sử dụng hiệu quả đất đai cho các ngành, lĩnh vực, địa phương; quy hoạch xây dựng và quy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất phải phù hợp với các chỉ tiêu, tiến độ sử dụng đất được phân bổ trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thực hiện lồng ghép, quản lý chặt chẽ yêu cầu bảo vệ môi trường vào các quy hoạch.
Trong quá trình rà soát, xây dựng quy hoạch phải lấy ý kiến rộng rãi của các nhà khoa học, các doanh nghiệp và người dân, đồng thời tăng cường công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, công bố công khai quy hoạch, nhất là quy hoạch thuộc các lĩnh vực: xây dựng, sử dụng đất, khai thác tài nguyên khoáng sản, sản xuất VLXD... tại nơi được quy hoạch và tại trụ sở UBND xã, phường, thị trấn để các doanh nghiệp, tổ chức và nhân dân biết, thực hiện và kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện quy hoạch.
Các cơ quan quản lý nhà nước về quy hoạch phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch ở các ngành, các cấp; kịp thời phát hiện và xử lý hoặc đề xuất với cấp có thẩm quyền xử lý trường hợp vi phạm nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực của các quy hoạch. Xác định danh mục các quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm chủ yếu phải rà soát, điều chỉnh và xây dựng mới.
2. Xây dựng mới các cơ chế, chính sách, tạo thuận lợi cho quá trình tái cơ cấu kinh tế
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt các chính sách của trung ương về phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, rà soát, sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới một số cơ chế, chính sách để thúc đẩy tái cơ cấu; thu hút tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển, gồm:
Về lĩnh vực nông; lâm, thủy sản
- Cơ chế, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, trong đó có chính sách khuyến khích doanh nghiệp xây dựng các chuỗi giá trị, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến nông sản.
- Cơ chế, chính sách phát triển nuôi tôm chân trắng thâm canh.
- Cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh doanh rừng trồng gỗ lớn.
- Cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển vùng thâm canh luồng tập trung.
- Cơ chế, chính sách hỗ trợ đóng mới, thay máy tàu cá có công suất từ 90CV trở lên khai thác hải sản xa bờ.
Về lĩnh vực công nghiệp - xây dựng
- Chính sách khuyến khích đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp.
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách khuyến khích phát triển cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
Về lĩnh vực dịch vụ:
- Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích các ngành dịch vụ ưu tiên phát triển, gồm: dịch vụ vận tải; du lịch; giáo dục, y tế; viễn thông, công nghệ thông tin; chính sách khuyến khích phát triển hạ tầng thương mại (chợ, siêu thị, trung tâm thương mại).
- Đề án cải cách thủ tục hành chính tại các cảng, trọng tâm là cảng Nghi Sơn để rút ngắn thời gian thông quan, tạo lợi thế cạnh tranh, thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tới làm các thủ tục thông quan tại Thanh Hóa.
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách khuyến khích xuất khẩu.
- Nghiên cứu thành lập “Trung tâm kinh doanh” để thực hiện hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào chuỗi liên kết với doanh nghiệp lớn; các dự án đầu tư lớn và hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng các doanh nhân.
3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế.
Phát triển mở rộng mạng lưới các cơ sở giáo dục và dạy nghề phù hợp với quy hoạch điều chỉnh mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020; mở rộng quy mô, đa dạng ngành nghề và loại hình đào tạo; gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng theo ngành nghề và trình độ đào tạo; tránh tình trạng đào tạo tràn lan, gây dư thừa lao động qua đào tạo ở ngành này và thiếu hụt lao động qua đào tạo ở ngành khác. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động; thực hiện tốt các chương trình đào tạo nghề cho lao động, nhất là đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo, đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70% lao động làm việc trong nền kinh tế.
Hoàn thành đầu tư xây dựng Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch; tập trung đầu tư xây dựng một số khoa của Trường Đại học Hồng Đức đạt chất lượng cao; tích cực đấu mối với các Bộ, ngành trung ương, các trường Đại học lớn để sớm đưa phân hiệu trường Đại học Y Hà Nội vào hoạt động; thành lập phân hiệu của một số trường Đại học lớn khác ở Hà Nội tại Thanh Hóa, như: trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Xây dựng, Đại học Kiến trúc Hà Nội,... Tiếp tục quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên theo hướng chuẩn hóa, đảm bảo đủ về số lượng, cơ cấu hợp lý theo ngành, nghề và trình độ đào tạo; huy động các nhà khoa học, nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, thợ bậc cao của các doanh nghiệp tham gia dạy nghề; tranh thủ chương trình đào tạo giảng viên có trình độ tiến sỹ cho các trường đại học, cao đẳng để nâng cao chất lượng giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục của tỉnh; Trường Đại học Hồng Đức và Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng phương án đào tạo, bồi dưỡng giáo viên để đảm bảo đủ tỷ lệ tiến sỹ theo quy định.
Đổi mới nội dung chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, tiếp thu có chọn lọc những chương trình đào tạo tiên tiến, phục vụ thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; đổi mới phương pháp đào tạo nhằm phát huy tính chủ động của người học. Đẩy mạnh việc dạy và học tiếng Anh ở các trường THPT, tạo tiền đề tốt cho các em học sinh khi học ở các trường Đại học, cao đẳng, THCN.
Đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội, gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế; xây dựng cơ chế, chính sách liên kết các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo, huy động tối đa sự tham gia của các doanh nghiệp trong việc xác định nhu cầu đào tạo, tổ chức đào tạo và tuyển dụng lao động. Trong đó, đặc biệt coi trọng đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ doanh nhân; ưu tiên đào tạo lao động cho các ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, như: lọc hóa dầu, sản xuất thép, quản lý và vận hành các nhà máy nhiệt điện, thủy điện, sản xuất, lắp ráp linh kiện thiết bị điện tử, sản xuất phần mềm, tự động hóa, nông nghiệp công nghệ cao; du lịch.... đảm bảo đáp ứng nhu cầu nhân lực về số lượng, chất lượng cho các doanh nghiệp tại KKT Nghi Sơn, các KCN, Khu nông nghiệp công nghệ cao Lam Sơn - Sao Vàng.
Thực hiện có hiệu quả các chính sách đã ban hành như chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức; chính sách thu hút cán bộ có trình độ đại học trở lên về công tác tại xã, phường, thị trấn,... để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Tăng tỷ lệ đầu tư hàng năm từ ngân sách tỉnh cho đào tạo nguồn nhân lực. Tranh thủ sự hỗ trợ của các Bộ, ngành Trung ương để thu hút các nguồn vốn ODA, FDI, vốn ngân sách Trung ương đầu tư để phát triển giáo dục, đào tạo; khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực; đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa lĩnh vực giáo dục, đào tạo; khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư cho giáo dục và đào tạo, dạy nghề.
Giải pháp về phát triển khoa học công nghệ
Xác định phát triển khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực để đổi mới mô hình tăng trưởng; là tiêu chí nâng cao sức mạnh tổng hợp, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; là một trong những khâu đột phá để tăng trưởng nhanh và bền vững. Theo đó, sẽ tăng mức đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ bảo đảm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách của tỉnh hàng năm. Tiếp tục đổi mới các cơ chế hoạt động khoa học và công nghệ từ hành chính, bao cấp sang cơ chế thị trường; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất kinh doanh với nghiên cứu, đào tạo; trong đó doanh nghiệp đóng vai trò là trung tâm ứng dụng và đổi mới công nghệ. Nghiên cứu, xem xét thành lập Viện nghiên cứu phát triển Thanh Hóa trực thuộc UBND tỉnh; Xây dựng và phát triển Sàn Giao dịch công nghệ và thiết bị tỉnh thành sàn giao dịch trung tâm của vùng Bắc trung bộ. Khuyến khích, hỗ trợ thành lập và phát triển các doanh nghiệp nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trong đó trọng tâm là các doanh nghiệp công nghệ thông tin để đưa nhanh các kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ vào sản xuất kinh doanh.
Tiếp tục tập trung đầu tư đồng bộ một số phòng thí nghiệm, thử nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc gia và các nước trong khu vực ở trường Đại học Hồng Đức, Trường Cao đẳng y tế, Trường Cao đẳng nghề công nghiệp Thanh Hóa, Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng... để đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Xây dựng các cơ chế nhằm khuyến khích, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, hỗ trợ ứng dụng kết quả vào thực tiễn sản xuất và đời sống theo hướng tạo môi trường thuận lợi, gắn kết giữa các cơ quan nghiên cứu với doanh nghiệp trên cơ sở phân chia lợi ích để nâng cao tính thực tiễn theo cơ chế thị trường.
Tập trung đầu tư cho các chương trình trọng điểm nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm các sản phẩm mới, triển khai ứng dụng các quy trình công nghệ mới tạo chuyển biến mạnh về ứng dụng tiến bộ công nghệ, trong đó trọng tâm là: sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, mía đường, rau an toàn, thủy sản, bò sữa, lợn, gia cầm; cơ khí chế tạo; điện tử, điện lạnh, tin học; công nghiệp hóa chất, lọc, hóa dầu; nhiệt điện; luyện kim, cán thép; vật liệu xây dựng; dệt - may, giầy dép. Tiến tới hình thành được một số sản phẩm có thương hiệu mạnh.
Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao, có tâm huyết, trung thực, tận tụy; có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất và năng lực tốt, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế của tỉnh, trong đó đặc biệt chú ý đến việc đào tạo, bồi dưỡng trong việc phát triển đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật trong các doanh nghiệp. Nghiên cứu đề xuất các chính sách đào tạo, sử dụng, thu hút, trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về phát triển nhân lực khoa học và công nghệ.