Document: Điểm b Khoản 3 Điều 1 Quyết định 3612/QĐ-UBND phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển nhân lực Thanh Hóa 2020 2030

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "21/09/2015", "sign_number": "3612/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đình Xứng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "21/09/2015", "sign_number": "3612/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đình Xứng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "21/09/2015", "sign_number": "3612/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đình Xứng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "21/09/2015", "sign_number": "3612/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đình Xứng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "21/09/2015", "sign_number": "3612/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đình Xứng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 3 Điều 1 Quyết định 3612/QĐ-UBND phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển nhân lực Thanh Hóa 2020 2030

Điều 1. Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Định hướng phát triển nhân lực đến năm 2020
3.1. Hướng ưu tiên phát triển
Tập trung ưu tiên phát triển nhân lực theo hướng: Nâng cao chất lượng nhân lực trong lĩnh vực nông nghiệp; ưu tiên phát triển nhân lực phục vụ các ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh; phát triển nhân lực chất lượng cao; nâng cao chất lượng đào tạo:
- Tập trung đào tạo nghề cho lao động nông thôn để nâng cao chất lượng nhân lực trong lĩnh vực nông nghiệp và chuyển dịch nhanh lao động từ lĩnh vực này sang lĩnh vực phi nông nghiệp;
- Ưu tiên phát triển nhân lực phục vụ các ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh thuộc các lĩnh vực: Lọc hóa dầu; may mặc, da giày; vật liệu xây dựng; cơ khí chế tạo; điện; điện tử - công nghệ thông tin; dược phẩm; công nghệ sinh học; du lịch, dịch vụ cảng biển và logistics; sản xuất, chế biến nông, lâm, thủy sản; chăn nuôi, thú y; cơ khí nông, lâm nghiệp; nuôi trồng, khai thác thủy, hải sản...;
- Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng thích ứng nhanh với môi trường lao động và với tiến bộ khoa học công nghệ mới, có năng lực chuyên môn và trình độ thành thạo nghiệp vụ cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa của tỉnh.
- Nâng cao chất lượng đào tạo; gắn đào tạo với sử dụng và đào tạo theo nhu cầu xã hội.
3.2. Phát triển nhân lực theo bậc đào tạo
Tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo trong nền kinh tế với cơ cấu hợp lý. Đến năm 2015, tổng lao động qua đào tạo đạt khoảng 1.200,4 nghìn người, chiếm 55%; năm 2020 khoảng 1.596 nghìn người, chiếm 70% lao động làm việc trong nền kinh tế.
Về cơ cấu bậc đào tạo: Năm 2015 số lao động qua đào tạo dưới 3 tháng khoảng 760 nghìn người, chiếm 63,3% tổng số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp khoảng 56,7 nghìn người, chiếm 4,7%, trung cấp khoảng 201,8 nghìn người, chiếm 16,8%; cao đẳng khoảng 82,7 nghìn người, chiếm 6,9%; đại học khoảng 93,6 nghìn người, chiếm 7,8%; trên đại học khoảng 5,6 nghìn người, chiếm 0,47%. Năm 2020, số lao động qua đào tạo dưới 3 tháng khoảng 989,8 nghìn người, chiếm 62%; trình độ sơ cấp khoảng 78,2 nghìn người, chiếm 4,9%, trung cấp khoảng 271,2 nghìn người, chiếm 17%; cao đẳng khoảng 118 nghìn người, chiếm 7,4%; đại học khoảng 129,2 nghìn người, chiếm 8,1% và trên đại học khoảng 9,3 nghìn người, chiếm 0,6% tổng số lao động qua đào tạo.
3.3. Phát triển nhân lực trong các ngành, lĩnh vực
...
b) Phát triển nhân lực trong ngành công nghiệp - xây dựng
Dự kiến tốc độ tăng trưởng khu vực II (công nghiệp - xây dựng) bình quân hàng năm giai đoạn 2011 - 2020 đạt 15,2%, trong đó giai đoạn 2016 - 2020 đạt 18-19%/năm. Tỷ lệ lao động nhóm ngành công nghiệp - xây dựng trong tổng lao động của nền kinh tế năm 2015 là 27,5%, năm 2020 là 35%.
Dự kiến, lao động khu vực II đến năm 2015 khoảng 600,2 nghìn người, trong đó: Lao động công nghiệp khai khoáng khoảng 28,2 nghìn người, công nghiệp chế biến 367,9 nghìn người, công nghiệp phân phối điện nước 7,8 nghìn người, xây dựng 196,3 nghìn người. Đến năm 2020, lao động khu vực II là 798 nghìn người, trong đó: Công nghiệp khai thác mỏ 35,5 nghìn người, công nghiệp chế biến 471 nghìn người, công nghiệp phân phối điện nước gần 16 nghìn người, xây dựng 275,5 nghìn người.
Dự kiến, số lao động qua đào tạo khu vực II đạt 64,1% vào năm 2015 và 69% năm 2020, tương ứng với 385 nghìn người (công nghiệp khai thác mỏ 17,8 nghìn người, công nghiệp chế biến 236 nghìn người, công nghiệp phân phối điện nước 4,5 nghìn người, xây dựng 126,7 nghìn người) năm 2015 và 550,6 nghìn người (công nghiệp khai thác mỏ 24,5 nghìn người, công nghiệp chế biến 329,1 nghìn người, công nghiệp phân phối điện nước 10,7 nghìn người, xây dựng 186,2 nghìn người) năm 2020.
Trong số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 260,2 nghìn người (chiếm 67,6%) năm 2015 và khoảng 367,8 nghìn người (chiếm 66,8%) năm 2020; tương ứng trung cấp khoảng 74,6 nghìn người (chiếm 19,4%) và khoảng 107,9 nghìn người (chiếm 19,6%); cao đẳng khoảng 22,1 nghìn người (chiếm 5,7%) và khoảng 34,1 nghìn người (chiếm 6,2%); đại học trở lên khoảng 28,1 nghìn người, (chiếm 7,3%) và khoảng 40,7 nghìn người (chiếm 7,4%).
Tỷ lệ lao động khu vực II cần đào tạo bồi dưỡng lại khoảng từ 30 - 35% tổng số lao động đã qua đào tạo của ngành do KHCN và kỹ thuật thay đổi nhanh nên cần được đào tạo, bồi dưỡng để bổ sung kiến thức, công nghệ mới.

Content:
Phát triển nhân lực trong ngành công nghiệp - xây dựng
Dự kiến tốc độ tăng trưởng khu vực II (công nghiệp - xây dựng) bình quân hàng năm giai đoạn 2011 - 2020 đạt 15,2%, trong đó giai đoạn 2016 - 2020 đạt 18-19%/năm. Tỷ lệ lao động nhóm ngành công nghiệp - xây dựng trong tổng lao động của nền kinh tế năm 2015 là 27,5%, năm 2020 là 35%.
Dự kiến, lao động khu vực II đến năm 2015 khoảng 600,2 nghìn người, trong đó: Lao động công nghiệp khai khoáng khoảng 28,2 nghìn người, công nghiệp chế biến 367,9 nghìn người, công nghiệp phân phối điện nước 7,8 nghìn người, xây dựng 196,3 nghìn người. Đến năm 2020, lao động khu vực II là 798 nghìn người, trong đó: Công nghiệp khai thác mỏ 35,5 nghìn người, công nghiệp chế biến 471 nghìn người, công nghiệp phân phối điện nước gần 16 nghìn người, xây dựng 275,5 nghìn người.
Dự kiến, số lao động qua đào tạo khu vực II đạt 64,1% vào năm 2015 và 69% năm 2020, tương ứng với 385 nghìn người (công nghiệp khai thác mỏ 17,8 nghìn người, công nghiệp chế biến 236 nghìn người, công nghiệp phân phối điện nước 4,5 nghìn người, xây dựng 126,7 nghìn người) năm 2015 và 550,6 nghìn người (công nghiệp khai thác mỏ 24,5 nghìn người, công nghiệp chế biến 329,1 nghìn người, công nghiệp phân phối điện nước 10,7 nghìn người, xây dựng 186,2 nghìn người) năm 2020.
Trong số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 260,2 nghìn người (chiếm 67,6%) năm 2015 và khoảng 367,8 nghìn người (chiếm 66,8%) năm 2020; tương ứng trung cấp khoảng 74,6 nghìn người (chiếm 19,4%) và khoảng 107,9 nghìn người (chiếm 19,6%); cao đẳng khoảng 22,1 nghìn người (chiếm 5,7%) và khoảng 34,1 nghìn người (chiếm 6,2%); đại học trở lên khoảng 28,1 nghìn người, (chiếm 7,3%) và khoảng 40,7 nghìn người (chiếm 7,4%).
Tỷ lệ lao động khu vực II cần đào tạo bồi dưỡng lại khoảng từ 30 - 35% tổng số lao động đã qua đào tạo của ngành do KHCN và kỹ thuật thay đổi nhanh nên cần được đào tạo, bồi dưỡng để bổ sung kiến thức, công nghệ mới.