Document: Điểm c Khoản 6 Điều 1 Quyết định 3118/QĐ-UBND 2018 quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp Hòa Bình 2020 2030

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Hòa Bình", "promulgation_date": "28/12/2018", "sign_number": "3118/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Hòa Bình", "promulgation_date": "28/12/2018", "sign_number": "3118/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Hòa Bình", "promulgation_date": "28/12/2018", "sign_number": "3118/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Hòa Bình", "promulgation_date": "28/12/2018", "sign_number": "3118/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Hòa Bình", "promulgation_date": "28/12/2018", "sign_number": "3118/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 6 Điều 1 Quyết định 3118/QĐ-UBND 2018 quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp Hòa Bình 2020 2030

Điều 1. Phê duyệt dự án rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp tỉnh Hòa Bình đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, như sau:
...
6. Mục tiêu, quan điểm
6.1 Mục tiêu
...
c) Định hướng đến năm 2030:
Tốc độ tăng trưởng tăng trên 4,5%/năm; giá trị sản xuất tăng 5,3%/năm (nông nghiệp 5,3%/năm; lâm nghiệp 5%/năm; thủy sản 8%/năm)
Cơ cấu nội ngành: Nông nghiệp 72%, lâm nghiệp 13% và thủy sản 15%.
Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất canh tác: 250 triệu đồng/ha đất canh tác trồng trọt, thủy sản 280 triệu đồng/ha mặt nước nuôi trồng thủy sản.
Thu nhập bình quân khu vực nông thôn đạt trên 60 triệu đồng.
Tiếp tục duy trì và ổn định các vùng trồng rau an toàn tập trung; Vùng trồng cây ăn quả có múi; Vùng dược liệu; Nâng cao giá trị mía ăn tươi; chăn nuôi gia súc gia cầm; nuôi cá lồng vùng hồ sông Đà; Chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ lớn; Tỷ lệ hàng hóa qua chế biến đạt trên 40% và hoàn thành chương trình nông thôn mới.
6.2 Quan điểm:
Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển ngành nông nghiệp cần đề cập toàn diện các ngành, các lĩnh vực của sản xuất nông nghiệp, bao gồm: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản. Đồng thời tập trung vào quy hoạch những ngành, sản phẩm quan trọng cần khuyến khích và ưu tiên hỗ trợ thực hiện liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, gồm: Sản phẩm trồng trọt (Rau an toàn, Cây ăn quả có múi, Mía ăn tươi, Cây dược liệu, Lúa chất lượng cao); Sản phẩm chăn nuôi, thủy sản (Trâu, Bò lai, Dê lai, Lợn bản địa, Gà đồi, Cá nuôi Lồng); Sản phẩm lâm nghiệp (Gỗ xây dựng, Lâm sản ngoài gỗ) và các lĩnh vực then chốt để tạo ra những thay đổi cơ bản cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Phù hợp với các chiến lược phát triển ngành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh, quy hoạch phải gắn liền với quá trình xây dựng nông thôn mới và đáp ứng xu thế hội nhập kinh tế vùng Tây Bắc và cả nước.
Phát triển nhanh, toàn diện nông nghiệp, nông thôn tỉnh theo hướng hiện đại, mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa các nông sản chủ lực và sản phẩm ngành nghề nông thôn, hướng mạnh vào xuất khẩu và cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xác định 5 sản phẩm chủ lực: Gạo chất lượng cao, Cam, Bưởi; Đại gia súc; Cá nuôi lồng; Gỗ xây dựng; đi đầu trong nghiên cứu, ứng dụng mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đóng góp sản phẩm và thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp của vùng và cả nước.
Nâng cao hiệu quả kinh tế trên 1 ha đất nông nghiệp, góp phần tăng thu nhập cho kinh tế hộ nông dân, giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông nghiệp và nông thôn, thực hiện giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách về thu nhập giữa thành thị và nông thôn.

Content:
Định hướng đến năm 2030:
Tốc độ tăng trưởng tăng trên 4,5%/năm; giá trị sản xuất tăng 5,3%/năm (nông nghiệp 5,3%/năm; lâm nghiệp 5%/năm; thủy sản 8%/năm)
Cơ cấu nội ngành: Nông nghiệp 72%, lâm nghiệp 13% và thủy sản 15%.
Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất canh tác: 250 triệu đồng/ha đất canh tác trồng trọt, thủy sản 280 triệu đồng/ha mặt nước nuôi trồng thủy sản.
Thu nhập bình quân khu vực nông thôn đạt trên 60 triệu đồng.
Tiếp tục duy trì và ổn định các vùng trồng rau an toàn tập trung; Vùng trồng cây ăn quả có múi; Vùng dược liệu; Nâng cao giá trị mía ăn tươi; chăn nuôi gia súc gia cầm; nuôi cá lồng vùng hồ sông Đà; Chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ lớn; Tỷ lệ hàng hóa qua chế biến đạt trên 40% và hoàn thành chương trình nông thôn mới.
6.2 Quan điểm:
Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển ngành nông nghiệp cần đề cập toàn diện các ngành, các lĩnh vực của sản xuất nông nghiệp, bao gồm: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản. Đồng thời tập trung vào quy hoạch những ngành, sản phẩm quan trọng cần khuyến khích và ưu tiên hỗ trợ thực hiện liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, gồm: Sản phẩm trồng trọt (Rau an toàn, Cây ăn quả có múi, Mía ăn tươi, Cây dược liệu, Lúa chất lượng cao); Sản phẩm chăn nuôi, thủy sản (Trâu, Bò lai, Dê lai, Lợn bản địa, Gà đồi, Cá nuôi Lồng); Sản phẩm lâm nghiệp (Gỗ xây dựng, Lâm sản ngoài gỗ) và các lĩnh vực then chốt để tạo ra những thay đổi cơ bản cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Phù hợp với các chiến lược phát triển ngành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh, quy hoạch phải gắn liền với quá trình xây dựng nông thôn mới và đáp ứng xu thế hội nhập kinh tế vùng Tây Bắc và cả nước.
Phát triển nhanh, toàn diện nông nghiệp, nông thôn tỉnh theo hướng hiện đại, mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa các nông sản chủ lực và sản phẩm ngành nghề nông thôn, hướng mạnh vào xuất khẩu và cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xác định 5 sản phẩm chủ lực: Gạo chất lượng cao, Cam, Bưởi; Đại gia súc; Cá nuôi lồng; Gỗ xây dựng; đi đầu trong nghiên cứu, ứng dụng mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đóng góp sản phẩm và thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp của vùng và cả nước.
Nâng cao hiệu quả kinh tế trên 1 ha đất nông nghiệp, góp phần tăng thu nhập cho kinh tế hộ nông dân, giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông nghiệp và nông thôn, thực hiện giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách về thu nhập giữa thành thị và nông thôn.