Document: Điểm b Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2641/QĐ-UBND 2012 Quy hoạch chế biến tiêu thụ thủy sản 2020 Bà Rịa Vũng Tàu

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "05/12/2012", "sign_number": "2641/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "05/12/2012", "sign_number": "2641/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "05/12/2012", "sign_number": "2641/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "05/12/2012", "sign_number": "2641/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "05/12/2012", "sign_number": "2641/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2641/QĐ-UBND 2012 Quy hoạch chế biến tiêu thụ thủy sản 2020 Bà Rịa Vũng Tàu

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển chế biến và tiêu thụ thủy sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau:
...
4. Phát triển chế biến tiêu thụ thủy sản theo hướng thị trường, trên cơ sở phát huy lợi thế từ các nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực có thị phần lớn và có lợi thế cạnh tranh cao. Chú trọng cả thị trường tiêu thụ nội địa, không ngừng mở rộng và đổi mới phương thức phân phối, quảng bá, tiếp thị sản phẩm, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng.
II. Mục tiêu phát triển:
1. Mục tiêu tổng quát:
Xây dựng hệ thống chế biến thủy sản phát triển bền vững theo hướng hiện đại, tập trung, đồng bộ từ sản xuất, cung ứng nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm với khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong nước, đến năm 2020 công nghiệp chế biến thủy sản của tỉnh đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới.
2. Mục tiêu cụ thể:
- Tổng sản lượng thủy sản chế biến đến năm 2015 đạt 175.000 tấn, năm 2020 đạt 200.000 tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 2,1%/năm trong giai đoạn 2011-2015 và đạt 2,7%/năm trong giai đoạn 2016-2020.
- Sản lượng chế biến xuất khẩu đến năm 2015 đạt 125.000 tấn (tổng 5 năm từ 2011-2015 đạt 600.000 tấn) với giá trị kim ngạch xuất khẩu là 400 triệu USD (tổng 5 năm từ 2011-2015 đạt 1 tỷ 750 triệu USD); đến năm 2020 sản lượng chế biến xuất khẩu đạt 150.000 tấn với giá trị 600 triệu USD.
- Sản lượng chế biến tiêu thụ nội địa đến năm 2020 khoảng 50.000 tấn/năm với giá trị khoảng 1.500 tỷ đồng/năm.
- Giá trị sản xuất chế biến thủy sản (cả nội địa và xuất khẩu) theo giá hiện hành đến năm 2015 đạt 11.471 tỷ đồng, năm 2020 đạt 13.471 tỷ đồng. Giá trị tăng thêm chế biến thủy sản năm 2015 đạt 3.441 tỷ đồng và năm 2020 đạt 4.041 tỷ đồng.
- Đảm bảo số lượng lao động chế biến thủy sản đến năm 2015 là 65.000 lao động và con số này năm 2020 khoảng 70.000 lao động.
III. Quy hoạch phát triển chế biến và tiêu thụ thủy sản đến năm 2020:
1. Nhiệm vụ chung:
- Sớm hình thành các khu chế biến thủy sản tập trung trên địa bàn tỉnh để thực hiện di dời toàn bộ các nhà máy nằm gần các khu dân cư, khu đô thị, khu du lịch ở các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh vào khu chế biến, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi thu hút các dự án đầu tư vào lĩnh vực chế biến thủy sản, đổi mới dây chuyền công nghệ, thay thế dần công nghệ cũ bằng công nghệ mới hiện đại để tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng hàng hóa, đa dạng hóa mặt hàng, cải tiến mẫu mã bao bì gắn với việc xây dựng và quảng bá thương hiệu các nhóm sản phẩm thủy sản chủ lực của tỉnh.
- Khuyến khích và hỗ trợ cho các tổ chức cá nhân hoạt động trong lĩnh vực chế biến, xuất khẩu thủy sản áp dụng các chương trình quản lý chất lượng theo các tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế và các nước nhập khẩu, như: HACCP, ISO; đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải, khí thải đạt tiêu chuẩn môi trường theo quy chuẩn quốc gia, tiến tới xây dựng hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000. Không cho phép đầu tư xây dựng mới các nhà máy chế biến bột cá trên địa bàn tỉnh.
- Chủ động tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước, nắm bắt các thông tin về nhu cầu, luật lệ, đối thủ cạnh tranh; làm tốt công tác thu thập, phân tích, dự báo thị trường... Tiếp tục duy trì các thị trường xuất khẩu truyền thống như Nhật, Mỹ, Hàn Quốc, EU..., tăng cường mở rộng thị trường mới như Bắc Âu, Đông Âu, Châu Úc, Châu Phi. Chú trọng thị trường nội địa, xây dựng mối liên kết, hợp tác kinh doanh với các nhà phân phối lớn, các hệ thống siêu thị và các tổ chức dịch vụ theo hướng tiện lợi cho người sử dụng, đảm bảo chất lượng và giá thành cạnh tranh.
- Quản lý chặt chẽ hệ thống nậu vựa, tiến tới xây dựng chợ đầu mối gắn với hình thành sàn đấu giá để quản lý tốt thị trường nguyên liệu phục vụ cho chế biến thủy sản, chú trọng nhập khẩu nguyên liệu để chế biến tái xuất khẩu. Tăng cường công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là việc kiểm tra, kiểm soát sử dụng hóa chất kháng sinh trong bảo quản, sơ chế thủy sản tại các cơ sở nuôi, tàu cá, cơ sở thu mua, sơ chế nguyên liệu thủy sản, để đến năm 2020 có trên 90% sản phẩm thủy hải sản được quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn HACCP.
2. Nhiệm vụ cụ thể:
2.1. Về sản lượng chế biến và cơ cấu mặt hàng:
Đến năm 2015, tổng sản lượng chế biến đạt 175.000 tấn, trong đó xuất khẩu 125.000 tấn, nội địa 50.000 tấn. Đến năm 2020, tổng sản lượng chế biến đạt 200.000 tấn, trong đó xuất khẩu chiếm 75%, còn lại là tiêu thụ nội địa. Phát triển các nhóm sản phẩm chủ lực sau:
- Nhóm hàng đông lạnh và đồ hộp: đây vẫn sẽ là nhóm hàng xuất khẩu chính của tỉnh trong thời gian tới, với tổng sản lượng đạt 118.120 tấn vào năm 2015 và đạt 137.600 tấn vào năm 2020. Trong nhóm này, ngoài mực và bạch tuộc hiện là mặt hàng chủ lực, cần chú trọng tăng tỷ trọng sản phẩm từ cá để tận dụng triệt để nguồn cá biển khai thác được, trong đó phát triển sản phẩm Surimi để tận dụng các loài cá kém chất lượng và có giá trị kinh tế không cao để chế biến thành các sản phẩm mô phỏng có giá trị gia tăng cao.
- Nhóm hàng khô: sản lượng chế biến khô đạt 26.880 tấn năm 2015, tăng lên 25.400 tấn năm 2020. Đây là nhóm hàng tiềm năng của tỉnh, cần chú trọng xây dựng thương hiệu cho tôm khô, mực khô và một số sản phẩm cá khô khác cho Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Bột cá: đây là nhóm hàng không khuyến khích phát triển sản xuất, do vậy chỉ duy trì ổn định ở mức sản lượng đạt 30.000 tấn năm 2015. Đến năm 2020 đạt sản lượng bột cá lên 35.000 tấn.
- Nước mắm: duy trì sản lượng nước mắm khoảng 12 triệu lít/năm trong giai đoạn 2015-2020. Cần nâng cao chất lượng nước mắm của tỉnh để có thể cạnh tranh với các thương hiệu nước mắm khác có uy tín trên thị trường, tiến tới xuất khẩu nước mắm vào thị trường nước ngoài.
2.2. Về cơ cấu thị trường và kim ngạch xuất khẩu:
Đa dạng hóa thị trường, duy trì và củng cố vị trí ở các thị trường truyền thống, mở rộng thị trường mới, giảm bớt thị trường trung gian. Thường xuyên điều chỉnh không lệ thuộc hoặc tập trung quá mức vào một thị trường. Chọn lọc thị trường trọng điểm trên hai tiêu chuẩn cơ bản: có nhu cầu nhập khẩu thủy sản nhiều, có nền công nghệ cao. Các thị trường trọng điểm là: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, EU, Mỹ và Úc. Hướng chuyển đổi cơ cấu thị trường: tất cả các thị trường đều tăng nhưng thay đổi về cơ cấu, giảm dần ở Châu Á, Châu Mỹ, tăng dần ở Châu Âu, Úc và các nước khác.
Nâng tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tỉnh đến năm 2015 đạt 400 triệu USD, năm 2020 đạt 600 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 9,0%.
2.3. Về cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần phục vụ chế biến và tiêu thụ thủy sản:
...
b) Chợ đầu mối thủy sản:
Xây dựng 2 chợ đầu mối thủy sản tại cảng cá Cát Lở và cảng cá Phước Tỉnh, tiến tới hình thành sàn giao dịch thủy sản tại 2 chợ đầu mối này. Ngoài ra, các chợ cá tại các cảng cá, bến cá và điểm mua bán cá ở các chợ trong dân cũng cần được bố trí sắp xếp lại theo quy hoạch dân cư và đô thị của tỉnh và các địa phương nhằm đảm bảo vệ sinh, mỹ quan, khoa học, thuận tiện cho người mua, người bán. Chú ý đến các chợ cá ở vùng nông thôn xa trung tâm để xóa dần sự cách biệt chênh lệch khả năng tiêu dùng thủy sản giữa các địa phương trong tỉnh.

Content:
Chợ đầu mối thủy sản:
Xây dựng 2 chợ đầu mối thủy sản tại cảng cá Cát Lở và cảng cá Phước Tỉnh, tiến tới hình thành sàn giao dịch thủy sản tại 2 chợ đầu mối này. Ngoài ra, các chợ cá tại các cảng cá, bến cá và điểm mua bán cá ở các chợ trong dân cũng cần được bố trí sắp xếp lại theo quy hoạch dân cư và đô thị của tỉnh và các địa phương nhằm đảm bảo vệ sinh, mỹ quan, khoa học, thuận tiện cho người mua, người bán. Chú ý đến các chợ cá ở vùng nông thôn xa trung tâm để xóa dần sự cách biệt chênh lệch khả năng tiêu dùng thủy sản giữa các địa phương trong tỉnh.