Document: Điều 19 Thông tư 63/2010/TT-BCA-V24 hướng dẫn quản lý giải quyết khiếu nại, tố cáo

Type: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "29/12/2010", "sign_number": "63/2010/TT-BCA-V24", "signer": "Lê Hồng Anh", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "29/12/2010", "sign_number": "63/2010/TT-BCA-V24", "signer": "Lê Hồng Anh", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "29/12/2010", "sign_number": "63/2010/TT-BCA-V24", "signer": "Lê Hồng Anh", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "29/12/2010", "sign_number": "63/2010/TT-BCA-V24", "signer": "Lê Hồng Anh", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Công An", "promulgation_date": "29/12/2010", "sign_number": "63/2010/TT-BCA-V24", "signer": "Lê Hồng Anh", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 19 Thông tư 63/2010/TT-BCA-V24 hướng dẫn quản lý giải quyết khiếu nại, tố cáo có nội dung như sau:

Điều 19. Thủ tục tố cáo và giải quyết tố cáo
1. Người tố cáo phải viết đơn ghi rõ họ tên địa chỉ hoặc đến cơ quan có thẩm quyền để trực tiếp tố cáo, trường hợp này người tiếp nhận nội dung tố cáo phải ghi thành văn bản để người tố cáo ký hoặc điểm chỉ.
Đối với đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết, nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới thì không xem xét, giải quyết theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 38 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).
2. Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết không quá 90 ngày.
3. Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết đến người tố cáo nếu họ có yêu cầu; áp dụng kịp thời các biện pháp bảo vệ người tố cáo và ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra và xử lý người vi phạm theo quy định của pháp luật.
4. Người tố cáo nếu có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết thì có quyền tố cáo với cơ quan cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo theo quy định tại Điều 69 Luật Khiếu nại, tố cáo. Cơ quan tiếp nhận loại tố cáo này cần chú ý, tránh coi đây là việc khiếu nại, không giải quyết theo thủ tục khiếu nại mà Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo phải giao cho cơ quan Thanh tra cùng cấp xác minh, kết luận việc chấp hành pháp luật về giải quyết vụ việc tố cáo đó.
5. Người bị tố cáo có quyền khiếu nại (theo Điều 53 Luật Thanh tra) đối với quyết định hoặc hành vi của Trưởng đoàn, thành viên Đoàn xác minh khi thực hiện nhiệm vụ xác minh nội dung tố cáo nếu có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật; khiếu nại đối với Thủ trưởng cơ quan Thanh tra hoặc Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo về kết luận hoặc quyết định xử lý tố cáo khi có căn cứ cho rằng kết luận, quyết định đó là trái pháp luật.
Việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại trong trường hợp này thực hiện theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục khiếu nại, giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính. Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, người khiếu nại vẫn phải thực hiện các quyết định mà mình khiếu nại.
6. Việc xác minh, kết luận kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thực hiện theo quy định của pháp luật về Khiếu nại, tố cáo. Quyết định xử lý tố cáo chỉ ban hành khi người bị tố cáo có sai phạm, cần phải áp dụng hình thức kỷ luật hoặc các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp khác không ra quyết định xử lý tố cáo mà chỉ trả lời bằng công văn cho người tố cáo (khi họ yêu cầu), người bị tố cáo và cơ quan, cá nhân có trách nhiệm.

Content:
Điều 19. Thủ tục tố cáo và giải quyết tố cáo
1. Người tố cáo phải viết đơn ghi rõ họ tên địa chỉ hoặc đến cơ quan có thẩm quyền để trực tiếp tố cáo, trường hợp này người tiếp nhận nội dung tố cáo phải ghi thành văn bản để người tố cáo ký hoặc điểm chỉ.
Đối với đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết, nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới thì không xem xét, giải quyết theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 38 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).
2. Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết không quá 90 ngày.
3. Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết đến người tố cáo nếu họ có yêu cầu; áp dụng kịp thời các biện pháp bảo vệ người tố cáo và ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra và xử lý người vi phạm theo quy định của pháp luật.
4. Người tố cáo nếu có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết thì có quyền tố cáo với cơ quan cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo theo quy định tại Điều 69 Luật Khiếu nại, tố cáo. Cơ quan tiếp nhận loại tố cáo này cần chú ý, tránh coi đây là việc khiếu nại, không giải quyết theo thủ tục khiếu nại mà Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo phải giao cho cơ quan Thanh tra cùng cấp xác minh, kết luận việc chấp hành pháp luật về giải quyết vụ việc tố cáo đó.
5. Người bị tố cáo có quyền khiếu nại (theo Điều 53 Luật Thanh tra) đối với quyết định hoặc hành vi của Trưởng đoàn, thành viên Đoàn xác minh khi thực hiện nhiệm vụ xác minh nội dung tố cáo nếu có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật; khiếu nại đối với Thủ trưởng cơ quan Thanh tra hoặc Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo về kết luận hoặc quyết định xử lý tố cáo khi có căn cứ cho rằng kết luận, quyết định đó là trái pháp luật.
Việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại trong trường hợp này thực hiện theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục khiếu nại, giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính. Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, người khiếu nại vẫn phải thực hiện các quyết định mà mình khiếu nại.
6. Việc xác minh, kết luận kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thực hiện theo quy định của pháp luật về Khiếu nại, tố cáo. Quyết định xử lý tố cáo chỉ ban hành khi người bị tố cáo có sai phạm, cần phải áp dụng hình thức kỷ luật hoặc các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp khác không ra quyết định xử lý tố cáo mà chỉ trả lời bằng công văn cho người tố cáo (khi họ yêu cầu), người bị tố cáo và cơ quan, cá nhân có trách nhiệm.