Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 41/QĐ-UBND 2017 phê duyệt quy hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn Kiên Giang

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "09/01/2017", "sign_number": "41/QĐ-UBND", "signer": "Mai Anh Nhịn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "09/01/2017", "sign_number": "41/QĐ-UBND", "signer": "Mai Anh Nhịn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "09/01/2017", "sign_number": "41/QĐ-UBND", "signer": "Mai Anh Nhịn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "09/01/2017", "sign_number": "41/QĐ-UBND", "signer": "Mai Anh Nhịn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "09/01/2017", "sign_number": "41/QĐ-UBND", "signer": "Mai Anh Nhịn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 41/QĐ-UBND 2017 phê duyệt quy hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn Kiên Giang

Điều 1. Phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch phát triển nông nghiệp - nông thôn gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Kiên Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Phát triển ngành thủy sản
a. Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Quy hoạch phát triển ổn định khai thác thủy sản khoảng 500 ngàn tấn/năm gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Giảm dần số lượng tàu thuyền đánh bắt còn khoảng 10.000 chiếc; tập trung đầu tư nâng công suất để phục vụ chuyển đổi cơ cấu nghề theo hướng đẩy mạnh khai thác xa bờ, hạn chế khai thác ven bờ; đến năm 2020 sản lượng khai thác xa bờ chiếm khoảng 65% và gần bờ còn khoảng 35%.
- Quy hoạch khu bảo tồn nguồn lợi thủy sản: Tăng cường năng lực quản lý khu bảo tồn biển Phú Quốc (tổng diện tích 33.657 ha, diện tích biển 18.700 ha) theo Quyết định số 742/QĐ-TTg, ngày 26/5/2010, nhằm bảo vệ các hệ sinh thái, các loài thủy sinh vật biển có giá trị kinh tế, khoa học; góp phần phát triển kinh tế biển, cải thiện sinh kế của cộng đồng ngư dân các địa phương ven biển. Đánh giá trữ lượng cá cơm vùng biển Phú Quốc để có phương án khai thác hợp lý cũng như bảo vệ và phát triển nguồn lợi này.
b. Nuôi trồng thủy sản
- Nuôi tôm nước lợ: Hình thành vùng chuyên nuôi tôm nước lợ ở vùng TGLX, thuộc địa bàn các huyện Giang Thành, Kiên Lương, thị xã Hà Tiên, một ít ở Hòn Đất và vùng UMT thuộc địa bàn huyện An Biên, An Minh và ở Vĩnh Thuận. Phát triển mạnh mô hình tôm - lúa ở vùng UMT và sau năm 2020 đẩy mạnh phát triển ở khu vực phía Nam QL80 từ Rạch Giá đến Ba Hòn - Kiên Lương. Quy mô diện tích nuôi tôm nước lợ đến năm 2020 khoảng 104.325ha, trong đó: Nuôi thâm canh - bán thâm canh (TC-BTC) 5.000ha, nuôi quảng canh cải tiến (QCCT) 19.325ha và tôm - lúa 80.000ha; đến năm 2030 khoảng 132.300ha, trong đó: Nuôi TC-BTC 15.380ha, nuôi QCCT 16.550ha và tôm - lúa 100.370ha.
- Nuôi các loại thủy sản khác: Nuôi cá kết hợp trong rừng, trong ruộng lúa và nuôi chuyên khoảng 35.000ha. Nuôi nhuyễn thể ở các vùng bãi triều khoảng 16.800ha. Nuôi cua biển kết hợp trong ruộng tôm và nuôi chuyên khoảng 60.000ha. Nuôi cá lồng, vèo đạt khoảng 3.000 lồng ở các khu vực ven biển, ven đảo. Nuôi thủy đặc sản: Quy mô diện tích khoảng 100 ha năm 2020
IV. Định hướng phát triển công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản và bảo quản sau thu hoạch
1. Phát triển công nghiệp chế biến theo hướng đầu tư thành ngành sản xuất có công nghệ tiên tiến, hiện đại; tiếp tục là ngành kinh tế mũi nhọn trong nông nghiệp,góp phần quan trọng đưa người dân nông thôn thoát nghèo, tiến lên xây dựng nông thôn mới.
2. Hình thành được chuỗi sản xuất từ vùng sản xuất nguyên liệu, chế biến và hệ thống phân phối đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm; mạng lưới các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các vùng nguyên liệu được bố trí một cách phù hợp để làm vệ tinh và có thể tận dụng lợi thế vùng nguyên liệu để phục vụ cho chế biến xuất khẩu.
3. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp chế biến sau:
- Chế biến nông sản: Phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông sản sau: Chế biến gạo; chế biến rau quả; chế biến tinh bột từ gạo vỡ (tấm); chế biến thịt gia súc, gia cầm đóng hộp.
- Chế biến thủy sản: Tập trung phát triển các ngành sau: Chế biến thủy sản đông lạnh; chế biến thủy sản tinh, thực phẩm ăn liền đóng hộp; chế biến thức ăn chăn nuôi và thủy sản; chế biến khô các loại; chế biến nước mắm.
- Chế biến lâm sản: Tổ chức hoạt động tốt nhà máy chế biến gỗ MDF ở Khu công nghiệp Thạnh Lộc, công suất chế biến 75.000m3 gỗ MDF/năm.
- Đầu tư các kho chứa lương thực, đông lạnh thủy sản: Kêu gọi đầu tư doanh nghiệp đầu tư hệ thống kho chứa lương thực, đông lạnh thủy sản để đến năm 2020 có thể đáp ứng khoảng 80-90% lượng gạo xuất khẩu và 70% thủy sản đông lạnh xuất khẩu của tỉnh.
V. Phát triển ngành nghề nông thôn
1. Mục tiêu phát triển: Khôi phục, mở rộng và phát triển các ngành nghề nông thôn, làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với phòng chống ô nhiễm môi trường làng nghề, góp phần tích cực giải quyết việc làm tăng thu nhập cho lao động và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2. Định hướng phát triển các ngành nghề: Tập trung phát triển 07 nhóm ngành nghề đã được UBND tỉnh Kiên Giang phê duyệt quy hoạch tại Quyết định số 2461/QĐ-UBND ngày 05/10/2009.
3. Định hướng phát triển làng nghề: Tiếp tục hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, thông tin thị trường cho 42 làng nghề đã được phê duyệt tại Quyết định số 2461/QĐ-UBND ngày 05/10/2009. Hỗ trợ lập hồ sơ để công nhận làng nghề, nghề truyền thống, làng nghề truyền thống khi đủ tiêu chí.
VI. Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn
1. Thủy lợi: định hướng phát triển thủy lợi theo từng vùng như sau:
- Vùng U Minh Thượng: Để khắc phục tình trạng thiếu nước ngọt đối với vùng này cần chọn giải pháp tổng hợp là trữ nước mưa và tận dụng tối đa nguồn nước ngọt từ Sông Hậu về thông qua sông Cái Lớn. Hoàn thiện hệ thống đê biển, tiếp tục xây dựng tuyến đê dọc sông Cái Lớn; xây dựng hệ thống các cống ven biển Tây, cống âu thuyền Xẻo Rô và hệ thống cống ngăn mặn ven sông Cái Lớn; Xây dựng bờ bao dọc bờ tây sông Cán Gáo để khép kín vùng nuôi tôm từ Cán gáo ra biển; mở rộng, nạo vét và bổ sung hệ thống kênh trục, cấp 1, cấp 2 để tăng khả năng lấy nước mặn cho vùng nuôi tôm, trữ ngọt cho vùng trồng rừng và vùng lúa, tăng khả năng tiêu thoát úng xổ phèn...
- Vùng Tây sông Hậu: Đây là vùng ngập nông, được kiểm soát lũ cả năm đối với khu vực dân cư và cây ăn trái; với khu sản xuất nông nghiệp mức độ ngập lũ không lớn, trong khi việc cho nước vào đồng ruộng là cần thiết để lấy phù sa và rửa rạch đồng ruộng thì không xây dựng công trình kiểm soát lũ nam Cái Sắn và không xây dựng các dự án ô bao lớn. Tuy nhiên để tiêu lũ sớm phục vụ sản xuất là cần thiết, do đó cần xây dựng các ô bao nội đồng theo hệ thống kênh cấp 2 có diện tích vừa phải để nhân dân chủ động bơm tiêu cuối lũ gieo sạ lúa đông xuân bằng hệ thống máy bơm và trạm bơm nhỏ một cách chủ động. Xây dựng tuyến đê sông Cái Lớn, Cái Bé và dọc kênh trục; xây dựng các cống thoát lũ và ngăn mặn dọc sông Cái Lớn, Cái Bé; nạo vét mở rộng các kênh trục, kênh cấp 1 nối Sông Hậu với sông Cái Lớn, Cái Bé...
- Vùng Tứ giác Long Xuyên: Đây là vùng ngập sâu, chỉ kiểm soát lũ theo thời gian (chống lũ tháng 8). Để phù hợp với diễn biến lũ và quy hoạch chuyển đổi sản xuất của vùng hiện nay cần tăng cường các công trình kiểm soát lũ và hệ thống công trình nội đồng; bổ sung các công trình ven biển để vừa thoát lũ vừa phát triển nuôi trồng thủy sản. Nạo vét mở rộng hệ thống kênh trục để tăng khả năng thoát lũ, dẫn ngọt mùa kiệt và lấy phù sa; nạo vét mở rộng các kênh thoát lũ từ kênh Rạch Giá - Hà Tiên ra biển; tăng khẩu diện thoát lũ qua QL80; tăng cường khả năng thoát lũ qua hệ thống đê biển...
- Phú Quốc và các đảo: Xây dựng hồ chứa nước, hệ thống xử lý nước, bể chứa nước tập trung, các công trình phòng chống thiên tai nhằm cấp nước sinh hoạt, phát triển kinh tế vào bảo vệ công trình trên đảo.
2. Giao thông nông thôn (GTNT): Đến năm 2020, các tuyến đường GTNT được đầu tư cứng hóa đạt tối thiểu 80%. Định hướng sau 2020, 100% đường GTNT được cứng hóa và một số tuyến đạt tiêu chuẩn cấp VI-ĐB, mặt rộng 3,5m, nền rộng 6,5m.
3. Cấp điện: Đảm bảo đưa điện đến tất cả các cụm tuyến dân cư mới theo quy hoạch, từng bước cải tạo mạng điện theo hướng chuyển dần sang 3 pha để phục vụ nhu cầu bơm tưới bằng trạm bơm điện cho vùng TGLX và TSH, sấy nông thủy sản, phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn.

Content:
Phát triển ngành thủy sản
a. Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Quy hoạch phát triển ổn định khai thác thủy sản khoảng 500 ngàn tấn/năm gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Giảm dần số lượng tàu thuyền đánh bắt còn khoảng 10.000 chiếc; tập trung đầu tư nâng công suất để phục vụ chuyển đổi cơ cấu nghề theo hướng đẩy mạnh khai thác xa bờ, hạn chế khai thác ven bờ; đến năm 2020 sản lượng khai thác xa bờ chiếm khoảng 65% và gần bờ còn khoảng 35%.
- Quy hoạch khu bảo tồn nguồn lợi thủy sản: Tăng cường năng lực quản lý khu bảo tồn biển Phú Quốc (tổng diện tích 33.657 ha, diện tích biển 18.700 ha) theo Quyết định số 742/QĐ-TTg, ngày 26/5/2010, nhằm bảo vệ các hệ sinh thái, các loài thủy sinh vật biển có giá trị kinh tế, khoa học; góp phần phát triển kinh tế biển, cải thiện sinh kế của cộng đồng ngư dân các địa phương ven biển. Đánh giá trữ lượng cá cơm vùng biển Phú Quốc để có phương án khai thác hợp lý cũng như bảo vệ và phát triển nguồn lợi này.
b. Nuôi trồng thủy sản
- Nuôi tôm nước lợ: Hình thành vùng chuyên nuôi tôm nước lợ ở vùng TGLX, thuộc địa bàn các huyện Giang Thành, Kiên Lương, thị xã Hà Tiên, một ít ở Hòn Đất và vùng UMT thuộc địa bàn huyện An Biên, An Minh và ở Vĩnh Thuận. Phát triển mạnh mô hình tôm - lúa ở vùng UMT và sau năm 2020 đẩy mạnh phát triển ở khu vực phía Nam QL80 từ Rạch Giá đến Ba Hòn - Kiên Lương. Quy mô diện tích nuôi tôm nước lợ đến năm 2020 khoảng 104.325ha, trong đó: Nuôi thâm canh - bán thâm canh (TC-BTC) 5.000ha, nuôi quảng canh cải tiến (QCCT) 19.325ha và tôm - lúa 80.000ha; đến năm 2030 khoảng 132.300ha, trong đó: Nuôi TC-BTC 15.380ha, nuôi QCCT 16.550ha và tôm - lúa 100.370ha.
- Nuôi các loại thủy sản khác: Nuôi cá kết hợp trong rừng, trong ruộng lúa và nuôi chuyên khoảng 35.000ha. Nuôi nhuyễn thể ở các vùng bãi triều khoảng 16.800ha. Nuôi cua biển kết hợp trong ruộng tôm và nuôi chuyên khoảng 60.000ha. Nuôi cá lồng, vèo đạt khoảng 3.000 lồng ở các khu vực ven biển, ven đảo. Nuôi thủy đặc sản: Quy mô diện tích khoảng 100 ha năm 2020
IV. Định hướng phát triển công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản và bảo quản sau thu hoạch
1. Phát triển công nghiệp chế biến theo hướng đầu tư thành ngành sản xuất có công nghệ tiên tiến, hiện đại; tiếp tục là ngành kinh tế mũi nhọn trong nông nghiệp,góp phần quan trọng đưa người dân nông thôn thoát nghèo, tiến lên xây dựng nông thôn mới.
2. Hình thành được chuỗi sản xuất từ vùng sản xuất nguyên liệu, chế biến và hệ thống phân phối đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm; mạng lưới các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các vùng nguyên liệu được bố trí một cách phù hợp để làm vệ tinh và có thể tận dụng lợi thế vùng nguyên liệu để phục vụ cho chế biến xuất khẩu.
Tập trung phát triển các ngành công nghiệp chế biến sau:
- Chế biến nông sản: Phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông sản sau: Chế biến gạo; chế biến rau quả; chế biến tinh bột từ gạo vỡ (tấm); chế biến thịt gia súc, gia cầm đóng hộp.
- Chế biến thủy sản: Tập trung phát triển các ngành sau: Chế biến thủy sản đông lạnh; chế biến thủy sản tinh, thực phẩm ăn liền đóng hộp; chế biến thức ăn chăn nuôi và thủy sản; chế biến khô các loại; chế biến nước mắm.
- Chế biến lâm sản: Tổ chức hoạt động tốt nhà máy chế biến gỗ MDF ở Khu công nghiệp Thạnh Lộc, công suất chế biến 75.000m3 gỗ MDF/năm.
- Đầu tư các kho chứa lương thực, đông lạnh thủy sản: Kêu gọi đầu tư doanh nghiệp đầu tư hệ thống kho chứa lương thực, đông lạnh thủy sản để đến năm 2020 có thể đáp ứng khoảng 80-90% lượng gạo xuất khẩu và 70% thủy sản đông lạnh xuất khẩu của tỉnh.
V. Phát triển ngành nghề nông thôn
1. Mục tiêu phát triển: Khôi phục, mở rộng và phát triển các ngành nghề nông thôn, làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với phòng chống ô nhiễm môi trường làng nghề, góp phần tích cực giải quyết việc làm tăng thu nhập cho lao động và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2. Định hướng phát triển các ngành nghề: Tập trung phát triển 07 nhóm ngành nghề đã được UBND tỉnh Kiên Giang phê duyệt quy hoạch tại Quyết định số 2461/QĐ-UBND ngày 05/10/2009.
Định hướng phát triển làng nghề: Tiếp tục hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, thông tin thị trường cho 42 làng nghề đã được phê duyệt tại Quyết định số 2461/QĐ-UBND ngày 05/10/2009. Hỗ trợ lập hồ sơ để công nhận làng nghề, nghề truyền thống, làng nghề truyền thống khi đủ tiêu chí.
VI. Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn
1. Thủy lợi: định hướng phát triển thủy lợi theo từng vùng như sau:
- Vùng U Minh Thượng: Để khắc phục tình trạng thiếu nước ngọt đối với vùng này cần chọn giải pháp tổng hợp là trữ nước mưa và tận dụng tối đa nguồn nước ngọt từ Sông Hậu về thông qua sông Cái Lớn. Hoàn thiện hệ thống đê biển, tiếp tục xây dựng tuyến đê dọc sông Cái Lớn; xây dựng hệ thống các cống ven biển Tây, cống âu thuyền Xẻo Rô và hệ thống cống ngăn mặn ven sông Cái Lớn; Xây dựng bờ bao dọc bờ tây sông Cán Gáo để khép kín vùng nuôi tôm từ Cán gáo ra biển; mở rộng, nạo vét và bổ sung hệ thống kênh trục, cấp 1, cấp 2 để tăng khả năng lấy nước mặn cho vùng nuôi tôm, trữ ngọt cho vùng trồng rừng và vùng lúa, tăng khả năng tiêu thoát úng xổ phèn...
- Vùng Tây sông Hậu: Đây là vùng ngập nông, được kiểm soát lũ cả năm đối với khu vực dân cư và cây ăn trái; với khu sản xuất nông nghiệp mức độ ngập lũ không lớn, trong khi việc cho nước vào đồng ruộng là cần thiết để lấy phù sa và rửa rạch đồng ruộng thì không xây dựng công trình kiểm soát lũ nam Cái Sắn và không xây dựng các dự án ô bao lớn. Tuy nhiên để tiêu lũ sớm phục vụ sản xuất là cần thiết, do đó cần xây dựng các ô bao nội đồng theo hệ thống kênh cấp 2 có diện tích vừa phải để nhân dân chủ động bơm tiêu cuối lũ gieo sạ lúa đông xuân bằng hệ thống máy bơm và trạm bơm nhỏ một cách chủ động. Xây dựng tuyến đê sông Cái Lớn, Cái Bé và dọc kênh trục; xây dựng các cống thoát lũ và ngăn mặn dọc sông Cái Lớn, Cái Bé; nạo vét mở rộng các kênh trục, kênh cấp 1 nối Sông Hậu với sông Cái Lớn, Cái Bé...
- Vùng Tứ giác Long Xuyên: Đây là vùng ngập sâu, chỉ kiểm soát lũ theo thời gian (chống lũ tháng 8). Để phù hợp với diễn biến lũ và quy hoạch chuyển đổi sản xuất của vùng hiện nay cần tăng cường các công trình kiểm soát lũ và hệ thống công trình nội đồng; bổ sung các công trình ven biển để vừa thoát lũ vừa phát triển nuôi trồng thủy sản. Nạo vét mở rộng hệ thống kênh trục để tăng khả năng thoát lũ, dẫn ngọt mùa kiệt và lấy phù sa; nạo vét mở rộng các kênh thoát lũ từ kênh Rạch Giá - Hà Tiên ra biển; tăng khẩu diện thoát lũ qua QL80; tăng cường khả năng thoát lũ qua hệ thống đê biển...
- Phú Quốc và các đảo: Xây dựng hồ chứa nước, hệ thống xử lý nước, bể chứa nước tập trung, các công trình phòng chống thiên tai nhằm cấp nước sinh hoạt, phát triển kinh tế vào bảo vệ công trình trên đảo.
2. Giao thông nông thôn (GTNT): Đến năm 2020, các tuyến đường GTNT được đầu tư cứng hóa đạt tối thiểu 80%. Định hướng sau 2020, 100% đường GTNT được cứng hóa và một số tuyến đạt tiêu chuẩn cấp VI-ĐB, mặt rộng 3,5m, nền rộng 6,5m.
Cấp điện: Đảm bảo đưa điện đến tất cả các cụm tuyến dân cư mới theo quy hoạch, từng bước cải tạo mạng điện theo hướng chuyển dần sang 3 pha để phục vụ nhu cầu bơm tưới bằng trạm bơm điện cho vùng TGLX và TSH, sấy nông thủy sản, phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn.