Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 1379/QĐ-UBND 2021 phê duyệt Đề án sản xuất lâm sản bền vững tỉnh Đồng Nai

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "26/04/2021", "sign_number": "1379/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Phi", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "26/04/2021", "sign_number": "1379/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Phi", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "26/04/2021", "sign_number": "1379/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Phi", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "26/04/2021", "sign_number": "1379/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Phi", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "26/04/2021", "sign_number": "1379/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Phi", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 1379/QĐ-UBND 2021 phê duyệt Đề án sản xuất lâm sản bền vững tỉnh Đồng Nai

Điều 1. Phê duyệt Đề án sản xuất, chế biến lâm sản bền vững đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 tỉnh Đồng Nai (kèm theo Đề án), với các nội dung chủ yếu sau:
...
4. Định hướng phát triển
a) Định hướng về sản phẩm
Căn cứ tình hình thực tế của địa phương cũng như xu hướng thị trường trong nước và trên thế giới. Ngành chế biến gỗ tỉnh Đồng Nai cần tập trung vào một số nhóm sản phẩm như sau:
- Nhóm đồ gỗ nội thất: Các sản phẩm bàn ghế, giường tủ, giá kệ sách, ván sàn và ván nhân tạo.
- Nhóm đồ gỗ ngoài trời: Các loại sản phẩm đồ mộc kiểu Âu Châu, thường dùng để ngoài vườn như: bàn ghế, ghế băng, dù che nắng, ghế xích đu, cầu trượt,...được sản xuất từ các loại gỗ rừng trồng.
- Nhóm đồ gỗ mỹ nghệ: Đồ gỗ mỹ nghệ sẽ là những mặt hàng có khả năng tiêu thụ tốt trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu, vì vậy khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế đầu tư, phát triển mặt hàng này. Các loại sản phẩm chủ yếu: Sơn mài, các loại tượng bằng gỗ, các sản phẩm bằng gốc và rễ cây, tranh gỗ; đồ lưu niệm, bàn ghế giường tủ các loại, gỗ mỹ nghệ kết hợp song, mây, tre, trúc, vật liệu khác.
- Nhóm sản phẩm gỗ ván nhân tạo: Ván nhân tạo là một trong những mặt hàng có nhu cầu cao trên thị trường. Các sản phẩm chủ yếu: Ván ghép thanh, ván dán, ván dăm, ván sợi.
- Nhóm sản phẩm gỗ kết hợp với các loại vật liệu khác: Song mây, kim lọai, nhựa, vải, giả da... không những làm cho sản phẩm có tính thẩm mỹ, tăng độ bền chắc... mà còn có ý nghĩa tiết kiệm gỗ.
b) Định hướng thị trường
- Đối với thị trường trong nước: Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước về số lượng, chất lượng, chủng loại, mẫu mã và dịch vụ bán hàng của các nhóm sản phẩm phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình, đồ gỗ phục vụ cho giáo dục, y tế, văn hóa của nhân dân. Trong đó, hướng đến đáp ứng nhu cầu của các cụm dân cư mới, khu đô thị, chung cư mới được xây dựng, các khu du lịch, dịch vụ, bệnh viện, trường học.
- Đối với thị trường thế giới: tiếp tục duy trì các thị trường truyền thống có sức mua lớn như Hoa Kỳ, Liên minh Châu âu, Nhật Bản, đồng thời tìm kiếm thị trường mới có tiềm năng với các sản phẩm chủ yếu thuộc nhóm nội thất và sản phẩm ngoài trời. Nắm bắt được thị trường thông qua các cơ quan đại diện tại các nước, qua mạng Internet, qua hội chợ quốc tế, đồng thời thông qua các hiệp hội chế biến gỗ để thiết lập thị trường ổn định lâu dài và có kế hoạch định hướng đầu tư công nghệ, máy móc thiết bị phát triển sản xuất của doanh nghiệp.
c) Định hướng quy mô sản xuất và loại hình công nghệ
- Tập trung rà soát, củng cố và nâng cấp hệ thống cơ sở chế biến gỗ quy mô vừa và nhỏ, đồng thời phát triển công nghiệp chế biến gỗ quy mô lớn. Xây dựng và mở rộng các Khu công nghiệp chế biến gỗ ở các vùng có khả năng cung cấp đủ nguyên liệu, ổn định, thuận lợi về cơ sở hạ tầng, đảm bảo có lợi nhuận và cạnh tranh được trên thị trường khu vực và quốc tế. Hình thành cụm, điểm chế biến gỗ, có quy mô thích hợp để liên doanh, liên kết sản xuất theo hướng chuyên môn hóa, vừa tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu, vừa sản xuất các phụ kiện cho các cơ sở sản xuất khác trong vùng và là nơi đào tạo nguồn nhân lực của ngành.
- Sử dụng công nghệ, thiết bị phù hợp từng loại sản phẩm, chú trọng áp dụng công nghệ xử lý nâng cao chất lượng sản phẩm gỗ; công nghệ tạo sản phẩm mới; công nghệ sản xuất keo dán và chất phủ mặt đáp ứng yêu cầu môi trường; các công nghệ tiên tiến, tiết kiệm nguyên liệu trong sản xuất đồ gỗ, ván nhân tạo; công nghệ sử dụng phế liệu nông, lâm nghiệp, chất thải để làm nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ; công nghệ sử dụng phế, phụ liệu của công nghiệp chế biến gỗ; bảo vệ môi trường, an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp.
d) Định hướng về phát triển cơ sở chế biến lâm sản
- Tổ chức sắp xếp, củng cố lại các cơ sở hiện có, chỉ để lại các cơ sở đảm bảo tiêu chí hoặc sẽ đảm bảo các tiêu chí. Đối với những cơ sở chế biến gỗ không nằm trong các khu, cụm, điểm công nghiệp, định hướng thu hút vào các khu, cụm, điểm công nghiệp địa phương bảo đảm sản xuất không gây ô nhiễm môi trường, phân bố hợp lý trên địa bàn toàn tỉnh.
- Kêu gọi đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất với công nghệ hiện đại, tạo sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Hình thành các khu chế biến gỗ tập trung tại các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
đ) Hình thành mạng lưới cơ sở sản xuất, chế biến theo nhóm sản phẩm
- Mạng lưới cơ sở sản xuất, chế biến gỗ xẻ: Bố trí gần nguồn nguyên liệu. Quy mô của các xưởng sơ chế gỗ xẻ tùy thuộc vào nhu cầu, tiềm năng cung cấp nguyên liệu và khả năng đáp ứng về đầu tư, lao động... Phân bố trên địa bàn thành phố Biên Hòa, huyện Long Thành, huyện Nhơn Trạch, huyện Vĩnh Cửu và huyện Trảng Bom.
- Mạng lưới cơ sở sản xuất đồ mộc: Phát triển một số cơ sở doanh nghiệp sản xuất đồ mộc để tăng giá trị ngành gỗ gắn với phát triển các cơ sở sản xuất công nghiệp hỗ trợ. Quy mô của các cơ sở sản xuất tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng đáp ứng về đầu tư, lao động...Các cơ sở bố trí trên địa bàn thành phố Biên Hòa, huyện Trảng Bom, huyện Vĩnh Cửu, huyện Long Thành, huyện Nhơn Trạch, huyện Cẩm Mỹ và huyện Xuân Lộc.
- Mạng lưới các cơ sở sản xuất dăm gỗ: Hạn chế việc sản xuất dăm thô trên cơ sở chỉ sử dụng nguyên liệu gỗ nhỏ loại thải của rừng trồng nguyên liệu gỗ lớn, những cây cong vênh và tận thu cành ngọn, tăng cường sản xuất đồ mộc, cây gỗ lớn phục vụ sản xuất ván ghép và đồ mộc; không phát triển các cơ sở dăm gỗ mới và tiến tới giảm dần các cơ sở dăm gỗ.
- Mạng lưới sản xuất ván nhân tạo: theo xu hướng tiêu dùng sản phẩm gỗ, Việt Nam sẽ tập trung phát triển sản xuất ván nhân tạo phục vụ sản xuất đồ gỗ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Trong giai đoạn tới sẽ tiếp tục phát triển tăng thêm một số cơ sở sản xuất ván nhân tạo ở các địa phương có điều kiện gần nguồn nguyên liệu. Các cơ sở sản xuất ván nhân tạo được bố trí ở thành phố Biên Hòa, thành phố Long Khánh, huyện Trảng Bom, huyện Vĩnh Cửu, huyện Cẩm Mỹ và huyện Xuân Lộc.
- Mạng lưới các cơ sở sản xuất đồ gỗ thủ công mỹ nghệ: Thị trường tiêu thụ đồ gỗ Thủ công mỹ nghệ ngày càng được mở rộng, cả trong nước và xuất khẩu. Trong giai đoạn đến năm 2030 cần phát triển các cơ sở sản xuất đồ gỗ thủ công mỹ nghệ. Các cơ sở sản xuất đồ gỗ Thủ công mỹ nghệ được bố trí ở thành phố Biên Hòa, huyện Trảng Bom, huyện Vĩnh Cửu, huyện Long Thành và huyện Định Quán.
- Mạng lưới sản xuất viên nhiên liệu: thị trường tiêu thụ viên nhiên liệu khá lớn, hàng năm châu Âu nhập khẩu hàng triệu tấn viên nhiên liệu từ các nước Bắc Mĩ. Vì vậy, trong giai đoạn đến năm 2030 cần phát triển các cơ sở sản xuất viên nhiên liệu. Các cơ sở sản xuất viên nhiên liệu được bố trí ở thành phố Biên Hòa, huyện Trảng Bom, huyện Vĩnh Cửu và huyện Xuân Lộc.
e) Định hướng mạng lưới sản xuất, chế biến theo khu, cụm công nghiệp
Trên cơ sở thực trạng mạng lưới các cơ sở chế biến gỗ theo nhóm sản phẩm và thực trạng đầu tư, phát triển của 32 khu công nghiệp và 27 cụm công nghiệp đã được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch. Với tỷ lệ lấp đầy bình quân khoảng 81% của các khu công nghiệp 68% của cụm công nghiệp như hiện nay và đang triển khai xây dựng 03 khu công nghiệp mới, mở rộng 05 khu công nghiệp. Trong thời gian tới, dự kiến sẽ sắp xếp, di dời và thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ kinh doanh cá thể nằm xen lẫn trong các khu dân cư, khu đô thị, phân bố không theo quy hoạch phát triển đô thị và công nghiệp, gây ô nhiễm môi trường, tiếng ồn, nguy cơ xảy ra cháy nổ cao, thiếu hụt các nguồn lực cần thiết để xử lý chất thải, không bảo đảm chất lượng môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, người dân... vào đầu tư sản xuất, kinh doanh trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp theo hướng phát triển bền vững, cụ thể:
- Khu vực I: Định hướng các nhà máy chế biến gỗ nằm trong các khu công nghiệp chưa có tỷ lệ lắp đầy như: An Phước, Long Đức huyện Long Thành; Nhơn Trạch VI, huyện Nhơn Trạch; Cẩm Mỹ huyện Cẩm Mỹ và cụm công nghiệp Long Phước 1, huyện Long Thành. Và định hướng các nhà máy chế biến gỗ vào các khu công nghiệp đã được lắp đầy nhưng được quy hoạch mở rộng diện tích như: Hố Nai, Sông Mây huyện Trảng Bom và Khu công nghiệp được xây dựng mới là Xuân Quế - Sông Nhạn huyện Cẩm Mỹ.
- Khu vực II: Định hướng các nhà máy chế biến gỗ nằm trong các khu công nghiệp chưa có tỷ lệ lắp đầy như: Giang Điền huyện Trảng Bom; Thạnh Phú huyện Vĩnh Cửu và cụm công nghiệp Dốc 47, Long Bình, Phước Tân thành phố Biên Hòa; Thạnh Phú - Thiện Tân, Thiện Tân, Tân An, Trị An huyện Vĩnh Cửu; An Viễn, Hưng Thịnh huyện Trảng Bom, trong đó có cụm công nghiệp An Viễn và Thiện Tân là 02 cụm công nghiệp chuyên ngành chế biến gỗ. Và định hướng các nhà máy chế biến gỗ vào các khu công nghiệp đã được lắp đầy nhưng được quy hoạch mở rộng diện tích như: Hố Nai, Sông Mây huyện Trảng Bom và Khu công nghiệp được xây dựng mới là Long Đức 3, Bàu Cạn - Tân Hiệp huyện Long Thành. Di chuyển một số cơ sở có sản xuất gỗ lớn vào các Khu công nghiệp và hình thành trung tâm triển lãm đồ gỗ để phục vụ nhu cầu sử dụng gỗ của các doanh nghiệp và cơ sở chế biến gỗ.
- Khu vực III: Định hướng phát triển các nhà máy chế biến gỗ nằm trong các khu công nghiệp chưa có tỷ lệ lắp đầy như: Dầu Giây huyện Thống Nhất, Suối Tre thành phố Long Khánh và Cụm công nghiệp Xuân Hưng huyện Xuân Lộc. Và định hướng các nhà máy chế biến gỗ vào các khu công nghiệp đã được lắp đầy nhưng được quy hoạch mở rộng diện tích như: Xuân Lộc huyện Xuân Lộc.
g) Định hướng làng nghề sản xuất đồ mộc và thủ công mỹ nghệ
Tỉnh Đồng Nai có 03 khu vực truyền thống sản xuất đồ mộc và Thủ công mỹ nghệ là Hố Nai (thành phố Biên Hòa), Bình Minh (huyện Trảng Bom) và làng mộc mỹ nghệ Xuân Lộc. Trong giai đoạn đến năm 2030 sẽ không phát triển mở rộng các khu vực sản xuất truyền thống đồ mộc và thủ công mỹ nghệ. Đối với khu vực sản xuất ở phường Hố Nai sẽ từng bước thu hút và di dời vào cụm công nghiệp chuyên ngành chế biến gỗ để đảm bảo về môi trường.
h) Định hướng mạng lưới liên kết
- Để ngành gỗ của tỉnh Đồng Nai nói riêng và vùng Đông Nam Bộ nói chung phát triển sản phẩm gỗ và xuất khẩu ngày càng lớn hơn thì liên kết hợp tác hình thành liên minh Hiệp hội Gỗ Đông Nam Bộ (Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai) là vô cùng quan trọng vì sự phát triển của cộng đồng Doanh nghiệp chế biến gỗ vùng Đông Nam Bộ; thúc đẩy phát triển sản xuất, xuất khẩu gỗ và đồ mộc thủ công mỹ nghệ; Hình thành chuỗi liên kết sản xuất theo hướng chuyên môn hóa giữa các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ từ khâu khai thác gỗ, sơ chế, sản xuất sản phẩm gỗ hoàn chỉnh; trao đổi, chia sẽ thông qua các doanh nghiệp hoặc hiệp hội như: Thông tin thị trường, khách hàng, nguồn nguyên liệu, vật tư, máy móc thiết bị, công nghệ, kỹ thuật, yêu cầu chất luợng.
- Định hướng xây dựng 01 trung tâm triển lãm đồ gỗ liên vùng quy mô lớn với tên gọi “Khu Lâm nghiệp công nghệ cao” trên địa bàn xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai với định hướng: Khu trung tâm sản xuất giống cây lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao; Khu sản xuất chế biến gỗ ứng dụng công nghệ cao và sàn giao dịch kết hợp triển lãm giới thiệu gỗ nguyên liệu và các sản phẩm chế biến từ gỗ.
j) Định hướng nguồn nguyên liệu phục vụ ngành chế biến lâm sản
- Kết hợp các nguồn nguyên liệu gỗ khác nhau để phát triển công nghiệp chế biến: Nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến vẫn bao gồm gỗ nhập khẩu, gỗ khai thác trong nước và trong tỉnh từ rừng trồng được quản lý và sử dụng bền vững. Đến năm 2030, trên 80% lượng gỗ khai thác trong tỉnh được đưa vào chế biến công nghiệp.
- Quản lý bền vững và khai thác có hiệu quả diện tích quy hoạch rừng sản xuất trên địa bàn toàn tỉnh là 29.525 ha, trong đó có 3.574 ha rừng tự nhiên và 20.325 ha rừng trồng. Phấn đấu ít nhất có được 50% diện tích rừng sản xuất có chứng chỉ rừng.
k) Định hướng phát triển rừng sản xuất, hệ thống giống cây rừng
- Về phát triển rừng sản xuất: tổ chức rà soát, đánh giá diện tích đất trống và rừng trồng sản xuất hiện có để xác định: diện tích rừng có thể chuyển hóa để kinh doanh gỗ lớn; diện tích rừng đến tuổi khai thác, có điều kiện lập địa phù hợp có thể trồng lại rừng theo hướng thâm canh để kinh doanh gỗ lớn; diện tích đất trống có khả năng đưa vào trồng mới theo hướng thâm canh để kinh doanh rừng gỗ lớn gắn với các cơ sở chế biến.
- Về giống cây trồng lâm nghiệp: rà soát, đề xuất loại bỏ những giống cây trồng lâm nghiệp có năng suất, chất lượng thấp không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và thị trường; lập danh mục cơ cấu loài và giống cây trồng lâm nghiệp có năng suất cao, phù hợp với từng điều kiện lập địa, đáp ứng được yêu cầu của thị trường để đưa vào trồng rừng.
-Phối hợp với các Trung tâm ứng dụng, Viện, Trường nghiên cứu chọn tạo giống mới, khảo nghiệm các giống cây trồng lâm nghiệp đã được công nhận theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng đáp ứng yêu cầu kinh doanh gỗ lớn và thúc đẩy hoạt động chuyển giao các giống mới vào sản xuất.

Content:
Định hướng phát triển
a) Định hướng về sản phẩm
Căn cứ tình hình thực tế của địa phương cũng như xu hướng thị trường trong nước và trên thế giới. Ngành chế biến gỗ tỉnh Đồng Nai cần tập trung vào một số nhóm sản phẩm như sau:
- Nhóm đồ gỗ nội thất: Các sản phẩm bàn ghế, giường tủ, giá kệ sách, ván sàn và ván nhân tạo.
- Nhóm đồ gỗ ngoài trời: Các loại sản phẩm đồ mộc kiểu Âu Châu, thường dùng để ngoài vườn như: bàn ghế, ghế băng, dù che nắng, ghế xích đu, cầu trượt,...được sản xuất từ các loại gỗ rừng trồng.
- Nhóm đồ gỗ mỹ nghệ: Đồ gỗ mỹ nghệ sẽ là những mặt hàng có khả năng tiêu thụ tốt trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu, vì vậy khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế đầu tư, phát triển mặt hàng này. Các loại sản phẩm chủ yếu: Sơn mài, các loại tượng bằng gỗ, các sản phẩm bằng gốc và rễ cây, tranh gỗ; đồ lưu niệm, bàn ghế giường tủ các loại, gỗ mỹ nghệ kết hợp song, mây, tre, trúc, vật liệu khác.
- Nhóm sản phẩm gỗ ván nhân tạo: Ván nhân tạo là một trong những mặt hàng có nhu cầu cao trên thị trường. Các sản phẩm chủ yếu: Ván ghép thanh, ván dán, ván dăm, ván sợi.
- Nhóm sản phẩm gỗ kết hợp với các loại vật liệu khác: Song mây, kim lọai, nhựa, vải, giả da... không những làm cho sản phẩm có tính thẩm mỹ, tăng độ bền chắc... mà còn có ý nghĩa tiết kiệm gỗ.
b) Định hướng thị trường
- Đối với thị trường trong nước: Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước về số lượng, chất lượng, chủng loại, mẫu mã và dịch vụ bán hàng của các nhóm sản phẩm phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình, đồ gỗ phục vụ cho giáo dục, y tế, văn hóa của nhân dân. Trong đó, hướng đến đáp ứng nhu cầu của các cụm dân cư mới, khu đô thị, chung cư mới được xây dựng, các khu du lịch, dịch vụ, bệnh viện, trường học.
- Đối với thị trường thế giới: tiếp tục duy trì các thị trường truyền thống có sức mua lớn như Hoa Kỳ, Liên minh Châu âu, Nhật Bản, đồng thời tìm kiếm thị trường mới có tiềm năng với các sản phẩm chủ yếu thuộc nhóm nội thất và sản phẩm ngoài trời. Nắm bắt được thị trường thông qua các cơ quan đại diện tại các nước, qua mạng Internet, qua hội chợ quốc tế, đồng thời thông qua các hiệp hội chế biến gỗ để thiết lập thị trường ổn định lâu dài và có kế hoạch định hướng đầu tư công nghệ, máy móc thiết bị phát triển sản xuất của doanh nghiệp.
c) Định hướng quy mô sản xuất và loại hình công nghệ
- Tập trung rà soát, củng cố và nâng cấp hệ thống cơ sở chế biến gỗ quy mô vừa và nhỏ, đồng thời phát triển công nghiệp chế biến gỗ quy mô lớn. Xây dựng và mở rộng các Khu công nghiệp chế biến gỗ ở các vùng có khả năng cung cấp đủ nguyên liệu, ổn định, thuận lợi về cơ sở hạ tầng, đảm bảo có lợi nhuận và cạnh tranh được trên thị trường khu vực và quốc tế. Hình thành cụm, điểm chế biến gỗ, có quy mô thích hợp để liên doanh, liên kết sản xuất theo hướng chuyên môn hóa, vừa tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu, vừa sản xuất các phụ kiện cho các cơ sở sản xuất khác trong vùng và là nơi đào tạo nguồn nhân lực của ngành.
- Sử dụng công nghệ, thiết bị phù hợp từng loại sản phẩm, chú trọng áp dụng công nghệ xử lý nâng cao chất lượng sản phẩm gỗ; công nghệ tạo sản phẩm mới; công nghệ sản xuất keo dán và chất phủ mặt đáp ứng yêu cầu môi trường; các công nghệ tiên tiến, tiết kiệm nguyên liệu trong sản xuất đồ gỗ, ván nhân tạo; công nghệ sử dụng phế liệu nông, lâm nghiệp, chất thải để làm nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ; công nghệ sử dụng phế, phụ liệu của công nghiệp chế biến gỗ; bảo vệ môi trường, an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp.
d) Định hướng về phát triển cơ sở chế biến lâm sản
- Tổ chức sắp xếp, củng cố lại các cơ sở hiện có, chỉ để lại các cơ sở đảm bảo tiêu chí hoặc sẽ đảm bảo các tiêu chí. Đối với những cơ sở chế biến gỗ không nằm trong các khu, cụm, điểm công nghiệp, định hướng thu hút vào các khu, cụm, điểm công nghiệp địa phương bảo đảm sản xuất không gây ô nhiễm môi trường, phân bố hợp lý trên địa bàn toàn tỉnh.
- Kêu gọi đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất với công nghệ hiện đại, tạo sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Hình thành các khu chế biến gỗ tập trung tại các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
đ) Hình thành mạng lưới cơ sở sản xuất, chế biến theo nhóm sản phẩm
- Mạng lưới cơ sở sản xuất, chế biến gỗ xẻ: Bố trí gần nguồn nguyên liệu. Quy mô của các xưởng sơ chế gỗ xẻ tùy thuộc vào nhu cầu, tiềm năng cung cấp nguyên liệu và khả năng đáp ứng về đầu tư, lao động... Phân bố trên địa bàn thành phố Biên Hòa, huyện Long Thành, huyện Nhơn Trạch, huyện Vĩnh Cửu và huyện Trảng Bom.
- Mạng lưới cơ sở sản xuất đồ mộc: Phát triển một số cơ sở doanh nghiệp sản xuất đồ mộc để tăng giá trị ngành gỗ gắn với phát triển các cơ sở sản xuất công nghiệp hỗ trợ. Quy mô của các cơ sở sản xuất tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng đáp ứng về đầu tư, lao động...Các cơ sở bố trí trên địa bàn thành phố Biên Hòa, huyện Trảng Bom, huyện Vĩnh Cửu, huyện Long Thành, huyện Nhơn Trạch, huyện Cẩm Mỹ và huyện Xuân Lộc.
- Mạng lưới các cơ sở sản xuất dăm gỗ: Hạn chế việc sản xuất dăm thô trên cơ sở chỉ sử dụng nguyên liệu gỗ nhỏ loại thải của rừng trồng nguyên liệu gỗ lớn, những cây cong vênh và tận thu cành ngọn, tăng cường sản xuất đồ mộc, cây gỗ lớn phục vụ sản xuất ván ghép và đồ mộc; không phát triển các cơ sở dăm gỗ mới và tiến tới giảm dần các cơ sở dăm gỗ.
- Mạng lưới sản xuất ván nhân tạo: theo xu hướng tiêu dùng sản phẩm gỗ, Việt Nam sẽ tập trung phát triển sản xuất ván nhân tạo phục vụ sản xuất đồ gỗ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Trong giai đoạn tới sẽ tiếp tục phát triển tăng thêm một số cơ sở sản xuất ván nhân tạo ở các địa phương có điều kiện gần nguồn nguyên liệu. Các cơ sở sản xuất ván nhân tạo được bố trí ở thành phố Biên Hòa, thành phố Long Khánh, huyện Trảng Bom, huyện Vĩnh Cửu, huyện Cẩm Mỹ và huyện Xuân Lộc.
- Mạng lưới các cơ sở sản xuất đồ gỗ thủ công mỹ nghệ: Thị trường tiêu thụ đồ gỗ Thủ công mỹ nghệ ngày càng được mở rộng, cả trong nước và xuất khẩu. Trong giai đoạn đến năm 2030 cần phát triển các cơ sở sản xuất đồ gỗ thủ công mỹ nghệ. Các cơ sở sản xuất đồ gỗ Thủ công mỹ nghệ được bố trí ở thành phố Biên Hòa, huyện Trảng Bom, huyện Vĩnh Cửu, huyện Long Thành và huyện Định Quán.
- Mạng lưới sản xuất viên nhiên liệu: thị trường tiêu thụ viên nhiên liệu khá lớn, hàng năm châu Âu nhập khẩu hàng triệu tấn viên nhiên liệu từ các nước Bắc Mĩ. Vì vậy, trong giai đoạn đến năm 2030 cần phát triển các cơ sở sản xuất viên nhiên liệu. Các cơ sở sản xuất viên nhiên liệu được bố trí ở thành phố Biên Hòa, huyện Trảng Bom, huyện Vĩnh Cửu và huyện Xuân Lộc.
e) Định hướng mạng lưới sản xuất, chế biến theo khu, cụm công nghiệp
Trên cơ sở thực trạng mạng lưới các cơ sở chế biến gỗ theo nhóm sản phẩm và thực trạng đầu tư, phát triển của 32 khu công nghiệp và 27 cụm công nghiệp đã được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch. Với tỷ lệ lấp đầy bình quân khoảng 81% của các khu công nghiệp 68% của cụm công nghiệp như hiện nay và đang triển khai xây dựng 03 khu công nghiệp mới, mở rộng 05 khu công nghiệp. Trong thời gian tới, dự kiến sẽ sắp xếp, di dời và thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ kinh doanh cá thể nằm xen lẫn trong các khu dân cư, khu đô thị, phân bố không theo quy hoạch phát triển đô thị và công nghiệp, gây ô nhiễm môi trường, tiếng ồn, nguy cơ xảy ra cháy nổ cao, thiếu hụt các nguồn lực cần thiết để xử lý chất thải, không bảo đảm chất lượng môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, người dân... vào đầu tư sản xuất, kinh doanh trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp theo hướng phát triển bền vững, cụ thể:
- Khu vực I: Định hướng các nhà máy chế biến gỗ nằm trong các khu công nghiệp chưa có tỷ lệ lắp đầy như: An Phước, Long Đức huyện Long Thành; Nhơn Trạch VI, huyện Nhơn Trạch; Cẩm Mỹ huyện Cẩm Mỹ và cụm công nghiệp Long Phước 1, huyện Long Thành. Và định hướng các nhà máy chế biến gỗ vào các khu công nghiệp đã được lắp đầy nhưng được quy hoạch mở rộng diện tích như: Hố Nai, Sông Mây huyện Trảng Bom và Khu công nghiệp được xây dựng mới là Xuân Quế - Sông Nhạn huyện Cẩm Mỹ.
- Khu vực II: Định hướng các nhà máy chế biến gỗ nằm trong các khu công nghiệp chưa có tỷ lệ lắp đầy như: Giang Điền huyện Trảng Bom; Thạnh Phú huyện Vĩnh Cửu và cụm công nghiệp Dốc 47, Long Bình, Phước Tân thành phố Biên Hòa; Thạnh Phú - Thiện Tân, Thiện Tân, Tân An, Trị An huyện Vĩnh Cửu; An Viễn, Hưng Thịnh huyện Trảng Bom, trong đó có cụm công nghiệp An Viễn và Thiện Tân là 02 cụm công nghiệp chuyên ngành chế biến gỗ. Và định hướng các nhà máy chế biến gỗ vào các khu công nghiệp đã được lắp đầy nhưng được quy hoạch mở rộng diện tích như: Hố Nai, Sông Mây huyện Trảng Bom và Khu công nghiệp được xây dựng mới là Long Đức 3, Bàu Cạn - Tân Hiệp huyện Long Thành. Di chuyển một số cơ sở có sản xuất gỗ lớn vào các Khu công nghiệp và hình thành trung tâm triển lãm đồ gỗ để phục vụ nhu cầu sử dụng gỗ của các doanh nghiệp và cơ sở chế biến gỗ.
- Khu vực III: Định hướng phát triển các nhà máy chế biến gỗ nằm trong các khu công nghiệp chưa có tỷ lệ lắp đầy như: Dầu Giây huyện Thống Nhất, Suối Tre thành phố Long Khánh và Cụm công nghiệp Xuân Hưng huyện Xuân Lộc. Và định hướng các nhà máy chế biến gỗ vào các khu công nghiệp đã được lắp đầy nhưng được quy hoạch mở rộng diện tích như: Xuân Lộc huyện Xuân Lộc.
g) Định hướng làng nghề sản xuất đồ mộc và thủ công mỹ nghệ
Tỉnh Đồng Nai có 03 khu vực truyền thống sản xuất đồ mộc và Thủ công mỹ nghệ là Hố Nai (thành phố Biên Hòa), Bình Minh (huyện Trảng Bom) và làng mộc mỹ nghệ Xuân Lộc. Trong giai đoạn đến năm 2030 sẽ không phát triển mở rộng các khu vực sản xuất truyền thống đồ mộc và thủ công mỹ nghệ. Đối với khu vực sản xuất ở phường Hố Nai sẽ từng bước thu hút và di dời vào cụm công nghiệp chuyên ngành chế biến gỗ để đảm bảo về môi trường.
h) Định hướng mạng lưới liên kết
- Để ngành gỗ của tỉnh Đồng Nai nói riêng và vùng Đông Nam Bộ nói chung phát triển sản phẩm gỗ và xuất khẩu ngày càng lớn hơn thì liên kết hợp tác hình thành liên minh Hiệp hội Gỗ Đông Nam Bộ (Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai) là vô cùng quan trọng vì sự phát triển của cộng đồng Doanh nghiệp chế biến gỗ vùng Đông Nam Bộ; thúc đẩy phát triển sản xuất, xuất khẩu gỗ và đồ mộc thủ công mỹ nghệ; Hình thành chuỗi liên kết sản xuất theo hướng chuyên môn hóa giữa các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ từ khâu khai thác gỗ, sơ chế, sản xuất sản phẩm gỗ hoàn chỉnh; trao đổi, chia sẽ thông qua các doanh nghiệp hoặc hiệp hội như: Thông tin thị trường, khách hàng, nguồn nguyên liệu, vật tư, máy móc thiết bị, công nghệ, kỹ thuật, yêu cầu chất luợng.
- Định hướng xây dựng 01 trung tâm triển lãm đồ gỗ liên vùng quy mô lớn với tên gọi “Khu Lâm nghiệp công nghệ cao” trên địa bàn xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai với định hướng: Khu trung tâm sản xuất giống cây lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao; Khu sản xuất chế biến gỗ ứng dụng công nghệ cao và sàn giao dịch kết hợp triển lãm giới thiệu gỗ nguyên liệu và các sản phẩm chế biến từ gỗ.
j) Định hướng nguồn nguyên liệu phục vụ ngành chế biến lâm sản
- Kết hợp các nguồn nguyên liệu gỗ khác nhau để phát triển công nghiệp chế biến: Nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến vẫn bao gồm gỗ nhập khẩu, gỗ khai thác trong nước và trong tỉnh từ rừng trồng được quản lý và sử dụng bền vững. Đến năm 2030, trên 80% lượng gỗ khai thác trong tỉnh được đưa vào chế biến công nghiệp.
- Quản lý bền vững và khai thác có hiệu quả diện tích quy hoạch rừng sản xuất trên địa bàn toàn tỉnh là 29.525 ha, trong đó có 3.574 ha rừng tự nhiên và 20.325 ha rừng trồng. Phấn đấu ít nhất có được 50% diện tích rừng sản xuất có chứng chỉ rừng.
k) Định hướng phát triển rừng sản xuất, hệ thống giống cây rừng
- Về phát triển rừng sản xuất: tổ chức rà soát, đánh giá diện tích đất trống và rừng trồng sản xuất hiện có để xác định: diện tích rừng có thể chuyển hóa để kinh doanh gỗ lớn; diện tích rừng đến tuổi khai thác, có điều kiện lập địa phù hợp có thể trồng lại rừng theo hướng thâm canh để kinh doanh gỗ lớn; diện tích đất trống có khả năng đưa vào trồng mới theo hướng thâm canh để kinh doanh rừng gỗ lớn gắn với các cơ sở chế biến.
- Về giống cây trồng lâm nghiệp: rà soát, đề xuất loại bỏ những giống cây trồng lâm nghiệp có năng suất, chất lượng thấp không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và thị trường; lập danh mục cơ cấu loài và giống cây trồng lâm nghiệp có năng suất cao, phù hợp với từng điều kiện lập địa, đáp ứng được yêu cầu của thị trường để đưa vào trồng rừng.
-Phối hợp với các Trung tâm ứng dụng, Viện, Trường nghiên cứu chọn tạo giống mới, khảo nghiệm các giống cây trồng lâm nghiệp đã được công nhận theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng đáp ứng yêu cầu kinh doanh gỗ lớn và thúc đẩy hoạt động chuyển giao các giống mới vào sản xuất.