Document: Điều 13 Nghị định 8-HĐBT quy định chi tiết thi hành luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "30/01/1988", "sign_number": "8-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "30/01/1988", "sign_number": "8-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "30/01/1988", "sign_number": "8-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "30/01/1988", "sign_number": "8-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "30/01/1988", "sign_number": "8-HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 13 Nghị định 8-HĐBT quy định chi tiết thi hành luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch có nội dung như sau:

Điều 13. - Những tổ chức xuất nhập khẩu có hoạt động nhận uỷ thác xuất nhập khẩu hàng thì khi nộp thuế cho mỗi chuyến hàng xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng uỷ thác phải có chứng từ thanh toán riêng cho số hàng nhận uỷ thác đó.
Hải quan tỉnh khi thu thuế xuất khẩu, hoặc thuế nhập khẩu hàng mậu dịch chỉ được chấp nhận những chứng từ thanh toán đã có phân biệt riêng cho số hàng nhận uỷ thác trong từng chuyến hàng.

Content:
Điều 13. - Những tổ chức xuất nhập khẩu có hoạt động nhận uỷ thác xuất nhập khẩu hàng thì khi nộp thuế cho mỗi chuyến hàng xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng uỷ thác phải có chứng từ thanh toán riêng cho số hàng nhận uỷ thác đó.
Hải quan tỉnh khi thu thuế xuất khẩu, hoặc thuế nhập khẩu hàng mậu dịch chỉ được chấp nhận những chứng từ thanh toán đã có phân biệt riêng cho số hàng nhận uỷ thác trong từng chuyến hàng.