Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 2067/QĐ-UBND 2014 Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp Bắc Giang

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "23/12/2014", "sign_number": "2067/QĐ-UBND", "signer": "Dương Văn Thái", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "23/12/2014", "sign_number": "2067/QĐ-UBND", "signer": "Dương Văn Thái", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "23/12/2014", "sign_number": "2067/QĐ-UBND", "signer": "Dương Văn Thái", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "23/12/2014", "sign_number": "2067/QĐ-UBND", "signer": "Dương Văn Thái", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "23/12/2014", "sign_number": "2067/QĐ-UBND", "signer": "Dương Văn Thái", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 2067/QĐ-UBND 2014 Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp Bắc Giang

Điều 1. Phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Giang theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2015-2020, với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
2. Quan điểm
- Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế của tỉnh, phù hợp với Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp cả nước và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; gắn với phát triển kinh tế - xã hội, hiện đại hóa nông thôn và bảo vệ môi trường để bảo đảm phát triển bền vững;
- Thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp vừa phải theo cơ chế thị trường, vừa phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về phúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng; chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng lấy số lượng làm mục tiêu phấn đấu sang nâng cao chất lượng, hiệu quả thể hiện bằng giá trị, lợi nhuận;
- Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của các thành phần kinh tế; tập trung hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và chuyển giao khoa học, công nghệ, phát triển thị trường, kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống, cung cấp thông tin, dịch vụ.
- Tăng cường sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế trong quá trình tái cơ cấu ngành. Khuyến khích nông dân và doanh nghiệp trực tiếp đầu tư đổi mới quy trình sản xuất, công nghệ và thiết bị để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn.
- Tái cơ cấu là một quá trình phức tạp, khó khăn và lâu dài cần được thường xuyên đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm để điều chỉnh phù hợp với thực tế.
II. NỘI DUNG TÁI CƠ CẤU TRONG CÁC LĨNH VỰC
1. Trồng trọt
1.1. Định hướng cây trồng chủ lực
- Đến năm 2015: Sản xuất lúa nhằm đảm bảo giữ vững an ninh lương thực, một phần phục vụ làm hàng hóa; duy trì diện tích gieo trồng lúa cả năm khoảng 110.000 ha/năm, sản lượng 615.000 tấn, trong đó diện tích lúa chất lượng 26.000 ha chiếm 23,6% diện tích gieo cấy; diện tích ngô 9.000 ha, sản lượng 34.200 tấn, sản lượng lương thực có hạt đạt trên 640.000 tấn. Diện tích lạc: 12.500 ha, sản lượng 33.750 tấn. Diện tích nhóm rau, đậu thực phẩm đạt 25.600 ha, sản lượng 381.400 tấn, trong đó: diện tích rau chế biến, rau an toàn 4.000 ha, diện tích cây khoai tây 2.000 ha. Diện tích cây ăn quả 43.000 ha, trong đó diện tích cây vải 32.000 ha, sản lượng duy trì khoảng 150.000 tấn, trong đó diện tích vải sản xuất theo hướng VietGAP và GlobalGAP là 10.500 ha, sản lượng 49 nghìn tấn; cam Đường Canh 600 ha, sản lượng 16.200 tấn; bưởi Diễn 450 ha, sản lượng 5.085 tấn; nấm ăn, sản lượng 5.000 tấn.
- Giai đoạn 2015-2020: Chuyển đổi khoảng 1.500 ha sản xuất lúa không ăn chắc, kém hiệu quả sang cây mầu, cây trồng khác và nuôi trồng thủy sản; diện tích gieo trồng lúa 109.000 ha/năm, năng suất 58 tạ/ha, sản lượng đạt 632.200 tấn, trong đó diện tích lúa chất lượng lên 35.000 ha chiếm 32,1% tổng diện tích gieo trồng. Diện tích ngô 10.000 ha, sản lượng 38.000 tấn. Diện tích lạc 13.000 ha, sản lượng 35,230 tấn. Diện tích nhóm cây rau, đậu thực phẩm 26.000 ha, sản lượng 388.700 tấn, trong đó diện tích rau chế biến, rau an toàn 8.000 ha. Diện tích cây ăn quả ổn định 42.500 ha, trong đó diện tích cây vải 31.000 ha, sản lượng duy trì khoảng 150.000 - 200.000 tấn; diện tích vải an toàn 15.000 ha, sản lượng 75.000 tấn; cam Đường canh 900 ha, sản lượng 24.300 tấn; bưởi Diễn 600 ha, sản lượng 6.900 tấn; nấm tươi đạt sản lượng từ 8.000 - 10.000 tấn.
1.2. Nội dung tái cơ cấu
- Quy hoạch trồng trọt, trong đó rà soát, xác định vùng chuyên trồng lúa nước, vùng chuyên canh cây ăn quả, cây công nghiệp và cây rau chế biến, rau an toàn để đầu tư kết cấu hạ tầng, dịch vụ phục vụ sản xuất. Chuyển đổi một phần diện tích đất trồng lúa (khoảng 1.500 ha) kém hiệu quả sang trồng cây rau màu ngắn ngày và nuôi thủy sản, hoặc cây ăn quả có hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa; chuyển đổi khoảng 3.000 ha cây ăn quả (chủ yếu là cây vải hiệu quả kinh tế thấp) sang trồng các cây ăn quả khác và cây lâm nghiệp.
- Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, theo hướng phát triển các loại cây có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ ổn định. Mở rộng diện tích trồng các giống lúa chất lượng có tiềm năng; diện tích trồng rau chế biến, rau an toàn; diện tích trồng lạc giống; cây vải VietGAP, GlobalGAP và một số loại cây có múi như cam, bưởi... Nghiên cứu các mô hình, công thức luân canh cây trồng có hiệu quả cao nhất để nhân rộng.
- Đẩy mạnh áp dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ, nhất là công nghệ cao và cơ giới hóa nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông sản; chú trọng các khâu công nghệ sau thu hoạch như bảo quản, chế biến, đặc biệt chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng; đẩy mạnh áp dụng các biện pháp kỹ thuật sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, hướng tới sản xuất theo tiêu chuẩn GlobalGAP phục vụ xuất khẩu sang các thị trường Châu Âu, Nhật Bản, Mỹ...; xây dựng và quảng bá thương hiệu cho các sản phẩm có thế mạnh của tỉnh như: vải, cam đường canh, bưởi Diễn, lúa chất lượng, rau chế biến, rau an toàn, nấm...
- Hỗ trợ, đẩy nhanh công tác đồn điền đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu, sắp xếp lại hệ thống tổ chức sản xuất, dịch vụ thu mua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị; khuyến khích, hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản cho nông dân.
2. Chăn nuôi
2.2. Định hướng các vật nuôi chủ lực
- Đến năm 2015, phát triển mạnh con gà và con lợn, với quy mô đàn lợn 1,25 triệu con, đàn gà 14,7 triệu con và duy trì ổn định đàn bò 128 nghìn con, đàn trâu 62 nghìn con. Tỷ trọng chăn nuôi theo quy mô trang trại, gia trại và an toàn sinh học đối với đàn gia cầm đạt 30% tổng đàn và đối với đàn lợn đạt 20% tổng đàn. Sản lượng thịt hơi các loại 244.872 tấn.
- Giai đoạn 2016 - 2020, quy mô đàn vật nuôi của tỉnh: đàn lợn 1,3-1,4 triệu con; đàn gia cầm 17-18 triệu con, trong đó đàn gà là 15-16 triệu con; đàn bò 120 nghìn con, trâu 60 nghìn con. Tỷ trọng chăn nuôi theo quy mô trang trại, gia trại và an toàn sinh học đối với đàn gia cầm đạt 40% tổng đàn và đối với đần lợn đạt 30% tổng đàn. Sản lượng thịt hơi các loại 275.094 tấn. Xây dựng từ 10-15 mô hình chăn nuôi an toàn dịch bệnh
2.2. Nội dung tái cơ cấu
- Nâng cao chất lượng giống vật nuôi: Thành lập Trung tâm Giống vật nuôi của tỉnh để sản xuất, cung ứng con giống và chuyển giao ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; hỗ trợ đầu tư các cơ sở sản xuất giống vật nuôi trên địa bàn tỉnh; tăng cường công tác thụ tinh nhân tạo cho đàn lợn, trâu, bò; đồng thời quản lý chặt chẽ đàn lợn, trâu, bò đực phối giống trực tiếp trong nông hộ; hỗ trợ, ưu đãi đầu tư doanh nghiệp xây dựng trại sản xuất giống gia cầm cấp ông bà với quy mô 10.000 con để chủ động cung ứng giống cho sản xuất.
- Chuyển dịch cơ cấu đàn vật nuôi: phát triển đàn vật nuôi theo hướng tăng tỷ trọng gia cầm (gà đồi) và lợn thịt. Đàn gia cầm khuyến khích tăng số lượng và sản lượng, tập trung phát triển gà thả vườn, thả đôi có kiểm soát. Đối với đàn lợn tăng tổng đàn kết hợp với tăng quay vòng, tăng quy mô đàn lợn cao sản, cải thiện nâng cao năng suất sinh sản đàn lợn nái, tăng số lượng và khối lượng lợn xuất chuồng để duy trì mức tăng trưởng về sản lượng thịt lợn hơi. Đàn trâu, bò thịt phát triển theo hướng nâng cao tỷ lệ giống bò lai chuyên thịt và cải thiện tầm vóc của trâu.
- Phát triển chăn nuôi theo lợi thế vùng: phát triển loại vật nuôi theo lợi thế vùng, xác định các vùng chăn nuôi tập trung, thâm canh cao, an toàn dịch bệnh (xã, huyện, liên xã, liên huyện), vùng hạn chế chăn nuôi, vùng không chăn nuôi theo quy hoạch đã được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt. Chuyển dịch dần chăn nuôi từ vùng có mật độ dân số cao sang vùng có mật độ dân số thấp, hình thành các vùng chăn nuôi xa thành phố, khu dân cư. Khuyến khích phát triển những loại vật nuôi của tỉnh có lợi thế so sánh với các tỉnh, thành phố khác trên toàn quốc.
- Tổ chức sản xuất: Trước mắt duy trì chăn nuôi nông hộ nhưng tổ chức lại theo các Nhóm, Tổ, Hội, Hợp tác xã chăn nuôi theo hướng có kiểm soát. Thời gian tới, mở rộng hình thức chăn nuôi trang trại, gia trại, chăn nuôi tập trung theo chuỗi giá trị để giảm giá thành, giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường, nâng cao giá trị gia tăng. Khuyến khích đầu tư các cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm tập trung theo hướng bán công nghiệp và công nghiệp để kiểm soát vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm, phòng lây lan dịch bệnh và bảo vệ môi trường.

Content:
Quan điểm
- Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế của tỉnh, phù hợp với Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp cả nước và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; gắn với phát triển kinh tế - xã hội, hiện đại hóa nông thôn và bảo vệ môi trường để bảo đảm phát triển bền vững;
- Thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp vừa phải theo cơ chế thị trường, vừa phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về phúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng; chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng lấy số lượng làm mục tiêu phấn đấu sang nâng cao chất lượng, hiệu quả thể hiện bằng giá trị, lợi nhuận;
- Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của các thành phần kinh tế; tập trung hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và chuyển giao khoa học, công nghệ, phát triển thị trường, kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống, cung cấp thông tin, dịch vụ.
- Tăng cường sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế trong quá trình tái cơ cấu ngành. Khuyến khích nông dân và doanh nghiệp trực tiếp đầu tư đổi mới quy trình sản xuất, công nghệ và thiết bị để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn.
- Tái cơ cấu là một quá trình phức tạp, khó khăn và lâu dài cần được thường xuyên đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm để điều chỉnh phù hợp với thực tế.
II. NỘI DUNG TÁI CƠ CẤU TRONG CÁC LĨNH VỰC
1. Trồng trọt
1.1. Định hướng cây trồng chủ lực
- Đến năm 2015: Sản xuất lúa nhằm đảm bảo giữ vững an ninh lương thực, một phần phục vụ làm hàng hóa; duy trì diện tích gieo trồng lúa cả năm khoảng 110.000 ha/năm, sản lượng 615.000 tấn, trong đó diện tích lúa chất lượng 26.000 ha chiếm 23,6% diện tích gieo cấy; diện tích ngô 9.000 ha, sản lượng 34.200 tấn, sản lượng lương thực có hạt đạt trên 640.000 tấn. Diện tích lạc: 12.500 ha, sản lượng 33.750 tấn. Diện tích nhóm rau, đậu thực phẩm đạt 25.600 ha, sản lượng 381.400 tấn, trong đó: diện tích rau chế biến, rau an toàn 4.000 ha, diện tích cây khoai tây 2.000 ha. Diện tích cây ăn quả 43.000 ha, trong đó diện tích cây vải 32.000 ha, sản lượng duy trì khoảng 150.000 tấn, trong đó diện tích vải sản xuất theo hướng VietGAP và GlobalGAP là 10.500 ha, sản lượng 49 nghìn tấn; cam Đường Canh 600 ha, sản lượng 16.200 tấn; bưởi Diễn 450 ha, sản lượng 5.085 tấn; nấm ăn, sản lượng 5.000 tấn.
- Giai đoạn 2015-2020: Chuyển đổi khoảng 1.500 ha sản xuất lúa không ăn chắc, kém hiệu quả sang cây mầu, cây trồng khác và nuôi trồng thủy sản; diện tích gieo trồng lúa 109.000 ha/năm, năng suất 58 tạ/ha, sản lượng đạt 632.200 tấn, trong đó diện tích lúa chất lượng lên 35.000 ha chiếm 32,1% tổng diện tích gieo trồng. Diện tích ngô 10.000 ha, sản lượng 38.000 tấn. Diện tích lạc 13.000 ha, sản lượng 35,230 tấn. Diện tích nhóm cây rau, đậu thực phẩm 26.000 ha, sản lượng 388.700 tấn, trong đó diện tích rau chế biến, rau an toàn 8.000 ha. Diện tích cây ăn quả ổn định 42.500 ha, trong đó diện tích cây vải 31.000 ha, sản lượng duy trì khoảng 150.000 - 200.000 tấn; diện tích vải an toàn 15.000 ha, sản lượng 75.000 tấn; cam Đường canh 900 ha, sản lượng 24.300 tấn; bưởi Diễn 600 ha, sản lượng 6.900 tấn; nấm tươi đạt sản lượng từ 8.000 - 10.000 tấn.
1.Nội dung tái cơ cấu
- Quy hoạch trồng trọt, trong đó rà soát, xác định vùng chuyên trồng lúa nước, vùng chuyên canh cây ăn quả, cây công nghiệp và cây rau chế biến, rau an toàn để đầu tư kết cấu hạ tầng, dịch vụ phục vụ sản xuất. Chuyển đổi một phần diện tích đất trồng lúa (khoảng 1.500 ha) kém hiệu quả sang trồng cây rau màu ngắn ngày và nuôi thủy sản, hoặc cây ăn quả có hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa; chuyển đổi khoảng 3.000 ha cây ăn quả (chủ yếu là cây vải hiệu quả kinh tế thấp) sang trồng các cây ăn quả khác và cây lâm nghiệp.
- Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, theo hướng phát triển các loại cây có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ ổn định. Mở rộng diện tích trồng các giống lúa chất lượng có tiềm năng; diện tích trồng rau chế biến, rau an toàn; diện tích trồng lạc giống; cây vải VietGAP, GlobalGAP và một số loại cây có múi như cam, bưởi... Nghiên cứu các mô hình, công thức luân canh cây trồng có hiệu quả cao nhất để nhân rộng.
- Đẩy mạnh áp dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ, nhất là công nghệ cao và cơ giới hóa nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông sản; chú trọng các khâu công nghệ sau thu hoạch như bảo quản, chế biến, đặc biệt chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng; đẩy mạnh áp dụng các biện pháp kỹ thuật sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, hướng tới sản xuất theo tiêu chuẩn GlobalGAP phục vụ xuất khẩu sang các thị trường Châu Âu, Nhật Bản, Mỹ...; xây dựng và quảng bá thương hiệu cho các sản phẩm có thế mạnh của tỉnh như: vải, cam đường canh, bưởi Diễn, lúa chất lượng, rau chế biến, rau an toàn, nấm...
- Hỗ trợ, đẩy nhanh công tác đồn điền đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu, sắp xếp lại hệ thống tổ chức sản xuất, dịch vụ thu mua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị; khuyến khích, hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản cho nông dân.
Chăn nuôi
2.Định hướng các vật nuôi chủ lực
- Đến năm 2015, phát triển mạnh con gà và con lợn, với quy mô đàn lợn 1,25 triệu con, đàn gà 14,7 triệu con và duy trì ổn định đàn bò 128 nghìn con, đàn trâu 62 nghìn con. Tỷ trọng chăn nuôi theo quy mô trang trại, gia trại và an toàn sinh học đối với đàn gia cầm đạt 30% tổng đàn và đối với đàn lợn đạt 20% tổng đàn. Sản lượng thịt hơi các loại 244.872 tấn.
- Giai đoạn 2016 - 2020, quy mô đàn vật nuôi của tỉnh: đàn lợn 1,3-1,4 triệu con; đàn gia cầm 17-18 triệu con, trong đó đàn gà là 15-16 triệu con; đàn bò 120 nghìn con, trâu 60 nghìn con. Tỷ trọng chăn nuôi theo quy mô trang trại, gia trại và an toàn sinh học đối với đàn gia cầm đạt 40% tổng đàn và đối với đần lợn đạt 30% tổng đàn. Sản lượng thịt hơi các loại 275.094 tấn. Xây dựng từ 10-15 mô hình chăn nuôi an toàn dịch bệnh
2.Nội dung tái cơ cấu
- Nâng cao chất lượng giống vật nuôi: Thành lập Trung tâm Giống vật nuôi của tỉnh để sản xuất, cung ứng con giống và chuyển giao ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; hỗ trợ đầu tư các cơ sở sản xuất giống vật nuôi trên địa bàn tỉnh; tăng cường công tác thụ tinh nhân tạo cho đàn lợn, trâu, bò; đồng thời quản lý chặt chẽ đàn lợn, trâu, bò đực phối giống trực tiếp trong nông hộ; hỗ trợ, ưu đãi đầu tư doanh nghiệp xây dựng trại sản xuất giống gia cầm cấp ông bà với quy mô 10.000 con để chủ động cung ứng giống cho sản xuất.
- Chuyển dịch cơ cấu đàn vật nuôi: phát triển đàn vật nuôi theo hướng tăng tỷ trọng gia cầm (gà đồi) và lợn thịt. Đàn gia cầm khuyến khích tăng số lượng và sản lượng, tập trung phát triển gà thả vườn, thả đôi có kiểm soát. Đối với đàn lợn tăng tổng đàn kết hợp với tăng quay vòng, tăng quy mô đàn lợn cao sản, cải thiện nâng cao năng suất sinh sản đàn lợn nái, tăng số lượng và khối lượng lợn xuất chuồng để duy trì mức tăng trưởng về sản lượng thịt lợn hơi. Đàn trâu, bò thịt phát triển theo hướng nâng cao tỷ lệ giống bò lai chuyên thịt và cải thiện tầm vóc của trâu.
- Phát triển chăn nuôi theo lợi thế vùng: phát triển loại vật nuôi theo lợi thế vùng, xác định các vùng chăn nuôi tập trung, thâm canh cao, an toàn dịch bệnh (xã, huyện, liên xã, liên huyện), vùng hạn chế chăn nuôi, vùng không chăn nuôi theo quy hoạch đã được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt. Chuyển dịch dần chăn nuôi từ vùng có mật độ dân số cao sang vùng có mật độ dân số thấp, hình thành các vùng chăn nuôi xa thành phố, khu dân cư. Khuyến khích phát triển những loại vật nuôi của tỉnh có lợi thế so sánh với các tỉnh, thành phố khác trên toàn quốc.
- Tổ chức sản xuất: Trước mắt duy trì chăn nuôi nông hộ nhưng tổ chức lại theo các Nhóm, Tổ, Hội, Hợp tác xã chăn nuôi theo hướng có kiểm soát. Thời gian tới, mở rộng hình thức chăn nuôi trang trại, gia trại, chăn nuôi tập trung theo chuỗi giá trị để giảm giá thành, giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường, nâng cao giá trị gia tăng. Khuyến khích đầu tư các cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm tập trung theo hướng bán công nghiệp và công nghiệp để kiểm soát vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm, phòng lây lan dịch bệnh và bảo vệ môi trường.