Document: Điểm m Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1834/QĐ-BGTVT Chiến lược phát triển Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam 2020 2014

Type: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "15/05/2014", "sign_number": "1834/QĐ-BGTVT", "signer": "Phạm Quý Tiêu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "15/05/2014", "sign_number": "1834/QĐ-BGTVT", "signer": "Phạm Quý Tiêu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "15/05/2014", "sign_number": "1834/QĐ-BGTVT", "signer": "Phạm Quý Tiêu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "15/05/2014", "sign_number": "1834/QĐ-BGTVT", "signer": "Phạm Quý Tiêu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "15/05/2014", "sign_number": "1834/QĐ-BGTVT", "signer": "Phạm Quý Tiêu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm m Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1834/QĐ-BGTVT Chiến lược phát triển Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam 2020 2014

Điều 1. Phê duyệt Chiến lược phát triển Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 (sau đây gọi tắt là Tổng công ty) với những nội dung cơ bản như sau:
...
2. Xác định cung cấp các dịch vụ bảo đảm hoạt động bay trong các vùng thông báo bay (FIR) do Việt Nam quản lý, các hoạt động bay đi đến các cảng hàng không sân bay trong nước là hoạt động sản xuất, kinh doanh cốt lõi. Đồng thời, sẵn sàng cho các cơ hội đầu tư, phát triển các sản phẩm, ngành nghề, dịch vụ trong lĩnh vực công nghiệp hàng không phù hợp với năng lực, điều kiện của Tổng công ty và nhu cầu của xã hội.
II. MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC
1. Mục tiêu tổng quát
Phấn đấu đến năm 2030, Tổng công ty trở thành “một trong những Nhà cung cấp các dịch vụ bảo đảm hoạt động bay hàng đầu khu vực Đông Nam Á trên cả hai tiêu chí: năng lực điều hành bay và chất lượng các dịch vụ; có hệ thống quản lý an toàn tin cậy; áp dụng công nghệ hiện đại và giải pháp quản lý không lưu tiên tiến, hiệu lực, hiệu quả; đảm bảo thu nhập cho tập thể người lao động, đóng góp xứng đáng cho ngân sách nhà nước năm sau cao hơn năm trước”.
2. Mục tiêu cụ thể
...
m) Về phát triển công nghiệp hàng không:
Đẩy mạnh việc phát triển sản xuất công nghiệp hàng không trong phạm vi sản xuất, chế tạo vật tư, thiết bị chuyên ngành bảo đảm hoạt động bay.
IV. KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
1. Về quản lý không lưu
a) Thực hiện phương án tổ chức lại vùng trời theo lộ trình:
- Năm 2014: Điều chỉnh lại cấu trúc vùng TMA Tân Sơn Nhất, trong đó điều chỉnh giới hạn cao của khu vực trách nhiệm APP Tân Sơn Nhất song song với việc thiết lập thêm phân khu giải trợ trong giai đoạn ngắn hạn cho Phân khu 2 của ACC Hồ Chí Minh.
- Đến năm 2015, ưu tiên xây dựng và áp dụng các phương thức bay đi, đến không giao cắt tại các cảng hàng không Nội Bài, Tân Sơn Nhất để tăng khả năng thông qua và giảm rủi ro về an toàn bay.
- Năm 2015: Sau khi ACC Hà Nội mới được đưa vào khai thác, điều chỉnh khu vực trách nhiệm của ACC Hà Nội (03 phân khu), ACC Hồ Chí Minh (04 phân khu), APP vùng Nội Bài theo năng lực của Hệ thống quản lý không lưu (ATM) mới.
- Từ năm 2015 đến năm 2020: Sau khi Trung tâm Kiểm soát đường dài Hà Nội mới được đưa vào khai thác tiếp tục rà soát, điều chỉnh khu vực trách nhiệm của ACC Hà Nội (04 phân khu), ACC Hồ Chí Minh (05 phân khu), APP vùng Nội Bài theo năng lực; Thiết lập khu vực trách nhiệm của APP Phú Bài, Cát Bi Cam Ranh, các Đài kiểm soát tại sân bay (TWR) Long Thành.
- Từ sau năm 2020: Tiếp tục rà soát lại, điều chỉnh khu vực trách nhiệm của ACC Hà Nội, ACC Hồ Chí Minh, thiết lập APP Cát Bi, Côn Sơn, Pleiku, Phù Cát.
- Về hệ thống đường hàng không: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống đường hàng không theo hướng xây dựng hệ thống đường bay một chiều, song song nội địa và quốc tế nhằm giảm thời gian bay và giảm tắc nghẽn trên không.
- Đến năm 2020, nghiên cứu áp dụng một số tuyến đường bay một chiều trên trục Bắc - Nam để tăng khả năng thông qua của hệ thống đường bay.
- Phối hợp với các cơ quan của Bộ Quốc phòng thực hiện việc điều chỉnh, thiết lập mới các đường hàng không, điều chỉnh vị trí, kích thước và dồn dịch các khu vực cấm, khu vực hạn chế bay trong khu vực các sân bay có hoạt động hàng không dân dụng nhằm tạo thuận lợi về khai thác vùng trời, ưu tiên cho các hoạt động bay dân dụng
b) Về áp dụng PBN:
- Năm 2014: Áp dụng đặc tính dẫn đường theo yêu cầu - 4 (RNP4; 30/30 NM) đối với 02 đường bay song song trên biển Đông là L642 và M771. Những năm tiếp theo sẽ áp dụng cho 02 đường bay song song còn lại là N892 và L625.
- Áp dụng đặc tính dẫn đường khu vực 5 (RNAV5) đối với các đường bay giữa các sân bay chính; RNAV1 đối với phương thức khởi hành tiêu chuẩn (SID)/đến tiêu chuẩn (STAR) tại các sân bay có ra đa giám sát; RNP1 cơ sở SID/STAR đối với các sân bay không có ra đa; tiếp cận RNP với dẫn đường theo chiều cao (VNAV) xác định bằng khí áp ở các sân bay phù hợp;
- Đến năm 2015, xây dựng và đưa vào khai thác phương thức bay PBN tại một số cảng hàng không như: Phú Bài, Phú Quốc; sau năm 2015 đến năm 2020 xây dựng và đưa vào khai thác phương thức bay RNP AR đối với các sân bay miền núi có địa hình phức tạp và các sân bay hiện nay chỉ tiếp cận chủ yếu từ một hướng cất hạ cánh như: Điện Biên, Cam Ranh, Côn Sơn, Liên Khương, Huế, Tuy Hòa, Phù Cát.
- Từ năm 2016: Bắt buộc khai thác RNAV1 hoặc RNAV2 đối với tàu bay hoạt động tại/hoặc trên mực bay (FL) 290 và RNAV1 hoặc RNP1 cơ bản đối với tàu bay hoạt động ở vùng TMA có mật độ cao; Tiếp cận RNP với VNAV xác định bằng khí áp ở tất cả đường cất hạ cánh tại các sân bay có hoạt động hàng không dân dụng.
- Về trục đường bay Bắc-Nam: từ năm 2014 đến năm 2020 áp dụng tính năng dẫn đường RNAV 5 tiến hành đồng thời với tiến trình triển khai áp dụng phương thức dẫn đường PBN.
c) Về giảm thiểu phân cách:
Đến năm 2020, từng bước nghiên cứu, trình Cục Hàng không Việt Nam phương án giảm thiểu phân cách dọc sử dụng ra đa từ phân cách tối thiểu 10NM ngoài vùng TMA xuống còn 05NM, trong vùng TMA từ 05NM xuống còn 03NM.
d) Về Quản lý dịch vụ không lưu:
- Từ năm 2013 - 2016:
+ Đầu tư và khai thác Hệ thống tự động giám sát tính toàn vẹn (RAIM) đối với tín hiệu của Hệ thống dẫn đường vệ tinh toàn cầu (GNSS);
+ Hoàn thiện cơ sở dữ liệu hệ tọa độ toàn cầu (WGS-84).
- Từ năm 2014 - 2020:
+ Thực hiện nâng cấp hoặc thay thế hệ thống ATM của ACC Hồ Chí Minh và khai thác hiệu quả tính năng của hệ thống ATM Hà Nội;
+ Áp dụng quản lý luồng không lưu và quản lý vùng trời tại thời điểm phù hợp với sự tham gia của các cơ quan điều hành bay và quản lý, bảo vệ vùng trời.
đ) Về quản lý dịch vụ thông báo tin tức hàng không:
- Từ năm 2014: Xây dựng và thực hiện hệ thống quản lý chất lượng thông báo tin tức hàng không theo yêu cầu của ICAO. Triển khai áp dụng cơ sở dữ liệu địa hình điện tử (eTOD).
- Đến năm 2015: Lập và khai thác cơ sở dữ liệu eTOD cho 2 sân bay: Nội Bài, Tân Sơn Nhất. Từ sau năm 2015 đến năm 2020 lập và khai thác cơ sở dữ liệu eTOD cho các sân bay có mật độ bay cao và ứng dụng các phương thức bay PBN như: Đà Nẵng, Cát Bi, Cam Ranh, Phú Quốc, Long Thành.
- Năm 2020: Hoàn thiện việc chuyển đổi và thực hiện quản lý thông báo tin tức hàng không.
Về kỹ thuật - công nghệ
a) Đối với việc đầu tư, tái đầu tư, duy trì các công nghệ CNS hiện tại:
- Đầu tư mới và nâng cấp các hệ thống ATM tại ACC Hà Nội, APP Đà Nẵng và ACC Hồ Chí Minh.
- Duy trì liên lạc VHF là phương tiện chính, thiết lập mới hoặc thay thế từng phần các thiết bị VHF A/G, HF A/G từ năm 2020, đảm bảo dự phòng về trạm thông tin trong các phân khu và trong điều kiện khẩn nguy.
- Từng bước áp dụng có chọn lọc công nghệ liên lạc dữ liệu VHF và nối mạng viễn thông hàng không (ATN) trong hai vùng thông báo bay.
- Mở rộng và tăng cường năng lực của mạng thông tin vệ tinh điểm đối điểm trên tuyến trục (Bắc - Trung - Nam) và đi/đến các trạm thông tin, các cảng hàng không nội địa.
- Xây lắp các đài dẫn đường mới, thay thế các đài dẫn đường cũ tại các sân bay và các điểm trọng yếu trên hệ thống các đường bay bằng phương tiện dẫn đường DVOR/DME nhằm mở rộng và tăng cường diện phủ sóng phù trợ dẫn đường hàng tuyến và đi/đến các sân bay.
- Từng bước tiếp cận công nghệ dẫn đường mới theo lộ trình áp dụng dẫn đường PBN.
- Tiếp tục duy trì đài dẫn đường vô hướng (NDB) đến năm 2020 và loại bỏ theo vòng đời thiết bị, không thực hiện đầu tư lắp đặt mới.
- Duy trì và tăng cường năng lực hệ thống giám sát hàng không theo công nghệ truyền thống (Radar); áp dụng rộng rãi công nghệ giám sát mới phù hợp với tiến độ của ICAO để thay thế cho các radar thứ cấp.
- Áp dụng các tiêu chuẩn bảo dưỡng; thực hiện kế hoạch thay thế thiết bị và bảo dưỡng phòng ngừa; đảm bảo ngân sách hoạt động cho công tác bảo dưỡng; thực hiện bay kiểm tra, hiệu chuẩn theo khuyến cáo của ICAO.
b) Đối với việc áp dụng các công nghệ mới:
- Về AIDC: Từ nay đến năm 2020, áp dụng AIDC theo lộ trình cam kết với ICAO, kết nối các Trung tâm điều hành bay của Việt Nam với các nước trong khu vực, trên hạ tầng mạng viễn thông hàng không, cố định (AFTN) hiện nay và từng bước áp dụng AIDC trên hạ tầng mạng viễn thông hàng không (ATN).
- Về AMHS: Từ nay đến năm 2020, xây dựng hệ thống AMHS trên toàn quốc, chuyển các hệ thống chuyển điện văn tự động từ AFTN sang ATN/AMHS tại tất cả các sân bay trong toàn quốc, thay thế AFTN/AMHS bằng ATN/AMHS tại Tân Sơn Nhất, Hà Nội/Gia Lâm, Đà Nẵng. Đến năm 2015, thực hiện kết nối với các quốc gia lân cận trong khu vực.
- Về chuyển đổi Trạm vệ tinh mặt đất VSAT sang sử dụng vệ tinh Vinasat: Từng bước thực hiện công tác chuyển đổi, trong đó:
+ Sau khi dự án Trung tâm Kiểm soát không lưu Hà Nội hoàn thành (dự kiến năm 2014), tiến hành đầu tư mới 07 trạm mặt đất tại: Gia Lâm, Mộc Châu, Vinh, Điện Biên, Cát Bi, Đồng Hới, Viêng Chăn;
+ Đầu tư thay thế Anten và thiết bị cao tần tại các trạm VSAT khu vực miền Trung, miền Nam để sẵn sàng chuyển sang hoạt động trên băng tần C và C mở rộng, modem vẫn dùng thiết bị cũ;
+ Đầu tư thay thế thiết bị Modem, ghép kênh MUX tại các trạm khu vực miền Trung, miền Nam.
- Xây dựng mạng ADS-B: Từng bước đầu tư các trạm ADS-B mặt đất nhằm đảm bảo tăng khả năng giám sát, đặc biệt là giám sát các hoạt động bay tầm thấp có hiệu quả. Áp dụng giám sát phụ thuộc tự động, triển khai các trạm ADS-B mặt đất, tiến tới hoàn thành phủ sóng ADS-B trên toàn quốc sau năm 2020.
- Xem xét nghiên cứu sử dụng ra đa giám sát thứ cấp Mode S, có khả năng truyền phát dữ liệu số trên không và mặt đất cho việc giám sát vùng thời có lưu lượng bay dày đặc.

Content:
Về phát triển công nghiệp hàng không:
Đẩy mạnh việc phát triển sản xuất công nghiệp hàng không trong phạm vi sản xuất, chế tạo vật tư, thiết bị chuyên ngành bảo đảm hoạt động bay.
IV. KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
1. Về quản lý không lưu
a) Thực hiện phương án tổ chức lại vùng trời theo lộ trình:
- Năm 2014: Điều chỉnh lại cấu trúc vùng TMA Tân Sơn Nhất, trong đó điều chỉnh giới hạn cao của khu vực trách nhiệm APP Tân Sơn Nhất song song với việc thiết lập thêm phân khu giải trợ trong giai đoạn ngắn hạn cho Phân khu 2 của ACC Hồ Chí Minh.
- Đến năm 2015, ưu tiên xây dựng và áp dụng các phương thức bay đi, đến không giao cắt tại các cảng hàng không Nội Bài, Tân Sơn Nhất để tăng khả năng thông qua và giảm rủi ro về an toàn bay.
- Năm 2015: Sau khi ACC Hà Nội mới được đưa vào khai thác, điều chỉnh khu vực trách nhiệm của ACC Hà Nội (03 phân khu), ACC Hồ Chí Minh (04 phân khu), APP vùng Nội Bài theo năng lực của Hệ thống quản lý không lưu (ATM) mới.
- Từ năm 2015 đến năm 2020: Sau khi Trung tâm Kiểm soát đường dài Hà Nội mới được đưa vào khai thác tiếp tục rà soát, điều chỉnh khu vực trách nhiệm của ACC Hà Nội (04 phân khu), ACC Hồ Chí Minh (05 phân khu), APP vùng Nội Bài theo năng lực; Thiết lập khu vực trách nhiệm của APP Phú Bài, Cát Bi Cam Ranh, các Đài kiểm soát tại sân bay (TWR) Long Thành.
- Từ sau năm 2020: Tiếp tục rà soát lại, điều chỉnh khu vực trách nhiệm của ACC Hà Nội, ACC Hồ Chí Minh, thiết lập APP Cát Bi, Côn Sơn, Pleiku, Phù Cát.
- Về hệ thống đường hàng không: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống đường hàng không theo hướng xây dựng hệ thống đường bay một chiều, song song nội địa và quốc tế nhằm giảm thời gian bay và giảm tắc nghẽn trên không.
- Đến năm 2020, nghiên cứu áp dụng một số tuyến đường bay một chiều trên trục Bắc - Nam để tăng khả năng thông qua của hệ thống đường bay.
- Phối hợp với các cơ quan của Bộ Quốc phòng thực hiện việc điều chỉnh, thiết lập mới các đường hàng không, điều chỉnh vị trí, kích thước và dồn dịch các khu vực cấm, khu vực hạn chế bay trong khu vực các sân bay có hoạt động hàng không dân dụng nhằm tạo thuận lợi về khai thác vùng trời, ưu tiên cho các hoạt động bay dân dụng
b) Về áp dụng PBN:
- Năm 2014: Áp dụng đặc tính dẫn đường theo yêu cầu - 4 (RNP4; 30/30 NM) đối với 02 đường bay song song trên biển Đông là L642 và M771. Những năm tiếp theo sẽ áp dụng cho 02 đường bay song song còn lại là N892 và L625.
- Áp dụng đặc tính dẫn đường khu vực 5 (RNAV5) đối với các đường bay giữa các sân bay chính; RNAV1 đối với phương thức khởi hành tiêu chuẩn (SID)/đến tiêu chuẩn (STAR) tại các sân bay có ra đa giám sát; RNP1 cơ sở SID/STAR đối với các sân bay không có ra đa; tiếp cận RNP với dẫn đường theo chiều cao (VNAV) xác định bằng khí áp ở các sân bay phù hợp;
- Đến năm 2015, xây dựng và đưa vào khai thác phương thức bay PBN tại một số cảng hàng không như: Phú Bài, Phú Quốc; sau năm 2015 đến năm 2020 xây dựng và đưa vào khai thác phương thức bay RNP AR đối với các sân bay miền núi có địa hình phức tạp và các sân bay hiện nay chỉ tiếp cận chủ yếu từ một hướng cất hạ cánh như: Điện Biên, Cam Ranh, Côn Sơn, Liên Khương, Huế, Tuy Hòa, Phù Cát.
- Từ năm 2016: Bắt buộc khai thác RNAV1 hoặc RNAV2 đối với tàu bay hoạt động tại/hoặc trên mực bay (FL) 290 và RNAV1 hoặc RNP1 cơ bản đối với tàu bay hoạt động ở vùng TMA có mật độ cao; Tiếp cận RNP với VNAV xác định bằng khí áp ở tất cả đường cất hạ cánh tại các sân bay có hoạt động hàng không dân dụng.
- Về trục đường bay Bắc-Nam: từ năm 2014 đến năm 2020 áp dụng tính năng dẫn đường RNAV 5 tiến hành đồng thời với tiến trình triển khai áp dụng phương thức dẫn đường PBN.
c) Về giảm thiểu phân cách:
Đến năm 2020, từng bước nghiên cứu, trình Cục Hàng không Việt Nam phương án giảm thiểu phân cách dọc sử dụng ra đa từ phân cách tối thiểu 10NM ngoài vùng TMA xuống còn 05NM, trong vùng TMA từ 05NM xuống còn 03NM.
d) Về Quản lý dịch vụ không lưu:
- Từ năm 2013 - 2016:
+ Đầu tư và khai thác Hệ thống tự động giám sát tính toàn vẹn (RAIM) đối với tín hiệu của Hệ thống dẫn đường vệ tinh toàn cầu (GNSS);
+ Hoàn thiện cơ sở dữ liệu hệ tọa độ toàn cầu (WGS-84).
- Từ năm 2014 - 2020:
+ Thực hiện nâng cấp hoặc thay thế hệ thống ATM của ACC Hồ Chí Minh và khai thác hiệu quả tính năng của hệ thống ATM Hà Nội;
+ Áp dụng quản lý luồng không lưu và quản lý vùng trời tại thời điểm phù hợp với sự tham gia của các cơ quan điều hành bay và quản lý, bảo vệ vùng trời.
đ) Về quản lý dịch vụ thông báo tin tức hàng không:
- Từ năm 2014: Xây dựng và thực hiện hệ thống quản lý chất lượng thông báo tin tức hàng không theo yêu cầu của ICAO. Triển khai áp dụng cơ sở dữ liệu địa hình điện tử (eTOD).
- Đến năm 2015: Lập và khai thác cơ sở dữ liệu eTOD cho 2 sân bay: Nội Bài, Tân Sơn Nhất. Từ sau năm 2015 đến năm 2020 lập và khai thác cơ sở dữ liệu eTOD cho các sân bay có mật độ bay cao và ứng dụng các phương thức bay PBN như: Đà Nẵng, Cát Bi, Cam Ranh, Phú Quốc, Long Thành.
- Năm 2020: Hoàn thiện việc chuyển đổi và thực hiện quản lý thông báo tin tức hàng không.
Về kỹ thuật - công nghệ
a) Đối với việc đầu tư, tái đầu tư, duy trì các công nghệ CNS hiện tại:
- Đầu tư mới và nâng cấp các hệ thống ATM tại ACC Hà Nội, APP Đà Nẵng và ACC Hồ Chí Minh.
- Duy trì liên lạc VHF là phương tiện chính, thiết lập mới hoặc thay thế từng phần các thiết bị VHF A/G, HF A/G từ năm 2020, đảm bảo dự phòng về trạm thông tin trong các phân khu và trong điều kiện khẩn nguy.
- Từng bước áp dụng có chọn lọc công nghệ liên lạc dữ liệu VHF và nối mạng viễn thông hàng không (ATN) trong hai vùng thông báo bay.
- Mở rộng và tăng cường năng lực của mạng thông tin vệ tinh điểm đối điểm trên tuyến trục (Bắc - Trung - Navà đi/đến các trạm thông tin, các cảng hàng không nội địa.
- Xây lắp các đài dẫn đường mới, thay thế các đài dẫn đường cũ tại các sân bay và các điểm trọng yếu trên hệ thống các đường bay bằng phương tiện dẫn đường DVOR/DME nhằm mở rộng và tăng cường diện phủ sóng phù trợ dẫn đường hàng tuyến và đi/đến các sân bay.
- Từng bước tiếp cận công nghệ dẫn đường mới theo lộ trình áp dụng dẫn đường PBN.
- Tiếp tục duy trì đài dẫn đường vô hướng (NDB) đến năm 2020 và loại bỏ theo vòng đời thiết bị, không thực hiện đầu tư lắp đặt mới.
- Duy trì và tăng cường năng lực hệ thống giám sát hàng không theo công nghệ truyền thống (Radar); áp dụng rộng rãi công nghệ giám sát mới phù hợp với tiến độ của ICAO để thay thế cho các radar thứ cấp.
- Áp dụng các tiêu chuẩn bảo dưỡng; thực hiện kế hoạch thay thế thiết bị và bảo dưỡng phòng ngừa; đảm bảo ngân sách hoạt động cho công tác bảo dưỡng; thực hiện bay kiểm tra, hiệu chuẩn theo khuyến cáo của ICAO.
b) Đối với việc áp dụng các công nghệ mới:
- Về AIDC: Từ nay đến năm 2020, áp dụng AIDC theo lộ trình cam kết với ICAO, kết nối các Trung tâm điều hành bay của Việt Nam với các nước trong khu vực, trên hạ tầng mạng viễn thông hàng không, cố định (AFTN) hiện nay và từng bước áp dụng AIDC trên hạ tầng mạng viễn thông hàng không (ATN).
- Về AMHS: Từ nay đến năm 2020, xây dựng hệ thống AMHS trên toàn quốc, chuyển các hệ thống chuyển điện văn tự động từ AFTN sang ATN/AMHS tại tất cả các sân bay trong toàn quốc, thay thế AFTN/AMHS bằng ATN/AMHS tại Tân Sơn Nhất, Hà Nội/Gia Lâm, Đà Nẵng. Đến năm 2015, thực hiện kết nối với các quốc gia lân cận trong khu vực.
- Về chuyển đổi Trạm vệ tinh mặt đất VSAT sang sử dụng vệ tinh Vinasat: Từng bước thực hiện công tác chuyển đổi, trong đó:
+ Sau khi dự án Trung tâm Kiểm soát không lưu Hà Nội hoàn thành (dự kiến năm 2014), tiến hành đầu tư mới 07 trạm mặt đất tại: Gia Lâm, Mộc Châu, Vinh, Điện Biên, Cát Bi, Đồng Hới, Viêng Chăn;
+ Đầu tư thay thế Anten và thiết bị cao tần tại các trạm VSAT khu vực miền Trung, miền Nam để sẵn sàng chuyển sang hoạt động trên băng tần C và C mở rộng, modem vẫn dùng thiết bị cũ;
+ Đầu tư thay thế thiết bị Modem, ghép kênh MUX tại các trạm khu vực miền Trung, miền Nam.
- Xây dựng mạng ADS-B: Từng bước đầu tư các trạm ADS-B mặt đất nhằm đảm bảo tăng khả năng giám sát, đặc biệt là giám sát các hoạt động bay tầm thấp có hiệu quả. Áp dụng giám sát phụ thuộc tự động, triển khai các trạm ADS-B mặt đất, tiến tới hoàn thành phủ sóng ADS-B trên toàn quốc sau năm 2020.
- Xem xét nghiên cứu sử dụng ra đa giám sát thứ cấp Mode S, có khả năng truyền phát dữ liệu số trên không và mặt đất cho việc giám sát vùng thời có lưu lượng bay dày đặc.