Document: Điều 16 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981 3-LCT/HĐNN7

Type: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "04/07/1981", "sign_number": "3-LCT/HĐNN7", "signer": "Nguyễn Hữu Thọ", "type": "Luật"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "04/07/1981", "sign_number": "3-LCT/HĐNN7", "signer": "Nguyễn Hữu Thọ", "type": "Luật"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "04/07/1981", "sign_number": "3-LCT/HĐNN7", "signer": "Nguyễn Hữu Thọ", "type": "Luật"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "04/07/1981", "sign_number": "3-LCT/HĐNN7", "signer": "Nguyễn Hữu Thọ", "type": "Luật"}
Signer: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "04/07/1981", "sign_number": "3-LCT/HĐNN7", "signer": "Nguyễn Hữu Thọ", "type": "Luật"}

Full Text:
Điều 16 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981 3-LCT/HĐNN7 có nội dung như sau:

Điều 16. Khi thực hiện công tác kiểm sát chấp hành án, các Viện kiểm sát nhân dân có quyền:
1/ Yêu cầu cơ quan chấp hành án và đơn vị hữu quan:
a) Tự kiểm tra việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân biết;
b) Cung cấp những tài liệu, văn bản hoặc xuất trình các hồ sơ, sổ sách, giấy tờ có liên quan đến việc chấp hành án;
c) Chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật mà chưa được chấp hành.
2/ Kiểm sát tại chỗ việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vi và người hữu quan trong việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vi đó trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân đối với việc chấp hành án.
3/ Kiến nghị hoặc kháng nghị với các cơ quan, đơn vị hữu quan, yêu cầu sửa đổi, bãi bỏ hoặc đình chỉ những văn bản, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc chấp hành án; xử lý hành chính người chịu trách nhiệm về việc làm vi phạm pháp luật đó.
Trong trường hợp cần thiết thì khởi tố dân sự hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Content:
Điều 16. Khi thực hiện công tác kiểm sát chấp hành án, các Viện kiểm sát nhân dân có quyền:
1/ Yêu cầu cơ quan chấp hành án và đơn vị hữu quan:
a) Tự kiểm tra việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân biết;
b) Cung cấp những tài liệu, văn bản hoặc xuất trình các hồ sơ, sổ sách, giấy tờ có liên quan đến việc chấp hành án;
c) Chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật mà chưa được chấp hành.
2/ Kiểm sát tại chỗ việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vi và người hữu quan trong việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vi đó trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân đối với việc chấp hành án.
3/ Kiến nghị hoặc kháng nghị với các cơ quan, đơn vị hữu quan, yêu cầu sửa đổi, bãi bỏ hoặc đình chỉ những văn bản, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc chấp hành án; xử lý hành chính người chịu trách nhiệm về việc làm vi phạm pháp luật đó.
Trong trường hợp cần thiết thì khởi tố dân sự hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.