Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1185/QĐ-UBND 2018 Kế hoạch bảo đảm an toàn thực phẩm trong nông nghiệp An Giang

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "28/05/2018", "sign_number": "1185/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "28/05/2018", "sign_number": "1185/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "28/05/2018", "sign_number": "1185/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "28/05/2018", "sign_number": "1185/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "28/05/2018", "sign_number": "1185/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1185/QĐ-UBND 2018 Kế hoạch bảo đảm an toàn thực phẩm trong nông nghiệp An Giang

Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch hành động bảo đảm an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp năm 2018, với các nội dung chủ yếu như sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể:
- 90% cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp, sản phẩm nông nông lâm thủy sản đủ điều kiện an toàn thực phẩm được phổ biến, cập nhật các quy định về chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm (ATTP).
- Tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản được kiểm tra đạt yêu cầu về điều kiện đảm bảo ATTP (xếp loại A, B) tăng 10% so với năm 2017 là 204 cơ sở.
- 100% cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản được kiểm tra xếp loại định kỳ theo quy định.
- Các huyện, thị xã, thành phố triển khai điều tra thống kê 100% cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ và có 90% cơ sở được ký cam kết sản xuất đảm bảo an toàn theo Thông tư số 51/2014/TT- BNNPTNT ngày 27/12/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Quy định điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và phương thức quản lý đối với các cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ.
- Tỷ lệ mẫu giám sát vi phạm quy định về tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong rau; tồn dư chất bảo quản, kháng sinh trong sản phẩm thịt gia súc, gia cầm, thủy sản nuôi; ô nhiễm vi sinh trong thịt gia súc, gia cầm giảm 10% so với năm 2017 là 11,3%.
- Phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi sử dụng chất cấm trong chăn nuôi; sử dụng kháng sinh cấm trong nuôi trồng thủy sản, bảo quản, chế biến thủy sản; sử dụng hóa chất, phụ gia thực phẩm ngoài danh mục. Chấn chỉnh việc giết mổ, vận chuyển, kinh doanh thịt gia súc, gia cầm nhằm giảm thiểu ô nhiễm vi sinh vật có hại.
- Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan cấp tỉnh và cấp huyện; các Hội, Tổ chức đoàn thể về công tác quản lý an toàn thực phẩm được tăng cường và có hiệu quả.
II. CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM, TRỌNG ĐIỂM
1. Công tác chỉ đạo, điều hành và xây dựng cơ chế chính sách
Tăng cường triển khai thực hiện tốt các văn bản: Chỉ thị số 09/CT-TU ngày 08/8/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh; Chỉ thị số: 13/CT-TTg ngày 09/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường trách nhiệm quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm. Gắn kết chặt chẽ việc chỉ đạo điều hành công tác quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản với nhiệm vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, cụ thể:
- Tiếp tục đẩy mạnh tổ chức sản xuất tập trung các sản phẩm chủ lực theo chuỗi giá trị gắn với ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (GAP, HACCP, ISO 22000...).
- Phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tỉnh thực hiện tốt các chương trình phối hợp, tuyên truyền, vận động, giám sát sản xuất, kinh doanh nông sản an toàn; trọng điểm là các hộ sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ; các xã triển khai thực hiện tốt chỉ tiêu 17.8 tỷ lệ hộ gia đình và cơ sở sản xuất kinh doanh tuân thủ các quy định về an toàn thực phẩm.
- Triển khai kịp thời đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản chỉ đạo về chất lượng vật tư nông nghiệp và an toàn thực phẩm nông lâm thuỷ sản. Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp liên ngành trong các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng an toàn thực phẩm nông lâm thuỷ sản.
2. Thông tin, truyền thông về an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn
- Tuyên truyền, phổ biến các văn bản liên quan đến an toàn thực phẩm, các quy định, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về sản xuất kinh doanh nông sản thực phẩm an toàn cũng như các quy định về xử phạt hành chính, xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm về an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật.
- Tuyên truyền, tập huấn, hỗ trợ, vận động tổ chức, cá nhân áp dụng các quy trình quản lý chất lượng tiên tiến như VietGAP, GMP, SSOP… trong sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản. Công khai kết quả kiểm tra xếp loại và định kỳ các cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm thực phẩm nông lâm thủy sản trên cổng thông tin điện tử các cơ quan chức năng.
- Chủ động phối hợp với các cơ quan truyền thông cung cấp thông tin đầy đủ kịp thời phản ánh đúng đắn công tác quản lý vật tư nông nghiệp và bảo đảm an toàn thực phẩm; tăng cường truyền thông, quảng bá nông sản thực phẩm an toàn được kiểm soát theo chuỗi trên các phương tiện thông tin đại chúng để người tiêu dùng biết và lựa chọn; đồng thời công bố đầy đủ kết quả điều tra, truy xuất và xử lý các vụ việc vi phạm được phát hiện về an toàn thực phẩm nông lâm thuỷ sản; phối hợp chặt chẽ với Đài Phát thanh và Truyền hình An Giang, các cơ quan truyền thông đại chúng công khai các cơ sở, sản phẩm vi phạm quy định về an toàn thực phẩm.

Content:
Mục tiêu cụ thể:
- 90% cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp, sản phẩm nông nông lâm thủy sản đủ điều kiện an toàn thực phẩm được phổ biến, cập nhật các quy định về chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm (ATTP).
- Tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản được kiểm tra đạt yêu cầu về điều kiện đảm bảo ATTP (xếp loại A, B) tăng 10% so với năm 2017 là 204 cơ sở.
- 100% cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản được kiểm tra xếp loại định kỳ theo quy định.
- Các huyện, thị xã, thành phố triển khai điều tra thống kê 100% cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ và có 90% cơ sở được ký cam kết sản xuất đảm bảo an toàn theo Thông tư số 51/2014/TT- BNNPTNT ngày 27/12/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Quy định điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và phương thức quản lý đối với các cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ.
- Tỷ lệ mẫu giám sát vi phạm quy định về tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong rau; tồn dư chất bảo quản, kháng sinh trong sản phẩm thịt gia súc, gia cầm, thủy sản nuôi; ô nhiễm vi sinh trong thịt gia súc, gia cầm giảm 10% so với năm 2017 là 11,3%.
- Phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi sử dụng chất cấm trong chăn nuôi; sử dụng kháng sinh cấm trong nuôi trồng thủy sản, bảo quản, chế biến thủy sản; sử dụng hóa chất, phụ gia thực phẩm ngoài danh mục. Chấn chỉnh việc giết mổ, vận chuyển, kinh doanh thịt gia súc, gia cầm nhằm giảm thiểu ô nhiễm vi sinh vật có hại.
- Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan cấp tỉnh và cấp huyện; các Hội, Tổ chức đoàn thể về công tác quản lý an toàn thực phẩm được tăng cường và có hiệu quả.
II. CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM, TRỌNG ĐIỂM
1. Công tác chỉ đạo, điều hành và xây dựng cơ chế chính sách
Tăng cường triển khai thực hiện tốt các văn bản: Chỉ thị số 09/CT-TU ngày 08/8/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh; Chỉ thị số: 13/CT-TTg ngày 09/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường trách nhiệm quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm. Gắn kết chặt chẽ việc chỉ đạo điều hành công tác quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản với nhiệm vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, cụ thể:
- Tiếp tục đẩy mạnh tổ chức sản xuất tập trung các sản phẩm chủ lực theo chuỗi giá trị gắn với ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (GAP, HACCP, ISO 22000...).
- Phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tỉnh thực hiện tốt các chương trình phối hợp, tuyên truyền, vận động, giám sát sản xuất, kinh doanh nông sản an toàn; trọng điểm là các hộ sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ; các xã triển khai thực hiện tốt chỉ tiêu 17.8 tỷ lệ hộ gia đình và cơ sở sản xuất kinh doanh tuân thủ các quy định về an toàn thực phẩm.
- Triển khai kịp thời đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản chỉ đạo về chất lượng vật tư nông nghiệp và an toàn thực phẩm nông lâm thuỷ sản. Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp liên ngành trong các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng an toàn thực phẩm nông lâm thuỷ sản.
Thông tin, truyền thông về an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn
- Tuyên truyền, phổ biến các văn bản liên quan đến an toàn thực phẩm, các quy định, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về sản xuất kinh doanh nông sản thực phẩm an toàn cũng như các quy định về xử phạt hành chính, xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm về an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật.
- Tuyên truyền, tập huấn, hỗ trợ, vận động tổ chức, cá nhân áp dụng các quy trình quản lý chất lượng tiên tiến như VietGAP, GMP, SSOP… trong sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản. Công khai kết quả kiểm tra xếp loại và định kỳ các cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm thực phẩm nông lâm thủy sản trên cổng thông tin điện tử các cơ quan chức năng.
- Chủ động phối hợp với các cơ quan truyền thông cung cấp thông tin đầy đủ kịp thời phản ánh đúng đắn công tác quản lý vật tư nông nghiệp và bảo đảm an toàn thực phẩm; tăng cường truyền thông, quảng bá nông sản thực phẩm an toàn được kiểm soát theo chuỗi trên các phương tiện thông tin đại chúng để người tiêu dùng biết và lựa chọn; đồng thời công bố đầy đủ kết quả điều tra, truy xuất và xử lý các vụ việc vi phạm được phát hiện về an toàn thực phẩm nông lâm thuỷ sản; phối hợp chặt chẽ với Đài Phát thanh và Truyền hình An Giang, các cơ quan truyền thông đại chúng công khai các cơ sở, sản phẩm vi phạm quy định về an toàn thực phẩm.