Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 1065/QĐ-UBND 2022 Chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững Lâm Đồng

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "15/06/2022", "sign_number": "1065/QĐ-UBND", "signer": "Trần Văn Hiệp", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "15/06/2022", "sign_number": "1065/QĐ-UBND", "signer": "Trần Văn Hiệp", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "15/06/2022", "sign_number": "1065/QĐ-UBND", "signer": "Trần Văn Hiệp", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "15/06/2022", "sign_number": "1065/QĐ-UBND", "signer": "Trần Văn Hiệp", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "15/06/2022", "sign_number": "1065/QĐ-UBND", "signer": "Trần Văn Hiệp", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 1065/QĐ-UBND 2022 Chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững Lâm Đồng

Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2022-2030, tầm nhìn đến năm 2050, với các nội dung chính như sau:
...
5. Phát triển hệ thống thủy lợi, nước sạch và hiện đại hóa kết cấu hạ tầng nông thôn
- Củng cố nâng cấp, phát triển hạ tầng nông thôn theo hướng hiện đại, đồng bộ, kết nối để đáp ứng tốt hơn yêu cầu cho phát triển kinh tế - xã hội; trong đó ưu tiên hoàn thiện hệ đường giao thông nông thôn, hệ thống lưới điện phục vụ sản xuất, các công trình thủy lợi, cấp nước sinh hoạt, hệ thống các công trình đảm chuẩn hóa về giáo dục, văn hóa, thể thao, môi trường; thực hiện tốt công tác duy tu, bảo trì nâng cao hiệu quả của hệ thống cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã. Đến năm 2030 trên 90% đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng được cứng hóa; 75% diện tích canh tác được tưới, trong đó có 35-40% diện tích tưới tiên tiến, tiết kiệm; cơ bản hộ dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, tối thiểu 60 lít/người/ngày, 40% hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn.
- Sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước và đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình thủy lợi trọng điểm của tỉnh như Ta Hoét, Đông Thanh, Kazam và các công trình khác; tiếp tục thực hiện Kế hoạch Phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng và tưới tiên tiến tiết kiệm nước.
- Nâng cao năng lực quản lý khai thác cho các tổ chức thủy lợi cơ sở; chủ động ứng phó có hiệu quả với các tình huống bất lợi; nâng cao mức phòng, chống hạn hán, thiếu nước, ngập lụt, úng, sạt lở bờ sông; bảo đảm an toàn công trình và vùng hạ du đập, hồ chứa nước thủy lợi.
- Tiếp tục rà soát, cải tạo các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn hiện có băng các dây chuyền công nghệ xử lý nước tiên tiến; thanh lý các công trình hư hỏng, không thể cải tạo và người dân không còn nhu cầu sử dụng.
- Xây dựng các nhà máy cấp nước liên khu vực, có công suất lớn; ưu tiên đấu nối mở rộng từ các công trình cấp nước đã hoạt động bền vững (từ các nhà máy cấp nước đô thị để cấp nước cho vùng nông thôn). Lấy nước từ các công trình hồ chứa thủy lợi, nơi có nguồn cung tương đối ổn định về trữ lượng và chất lượng nước để cấp nước sinh hoạt cho người dân. Từ nay đến năm 2030 hạn chế sử dụng nước ngầm và giai đoạn từ 2030 đến 2050 ưu tiên sử dụng hoàn toàn nước mặt.
- Hạn chế xây dựng các công trình cấp nước nhỏ lẻ, các công trình cấp nước tập trung quy mô nhỏ. Đối với những vùng khó khăn, dân cư phân tán khuyến khích, hỗ trợ người dân mua sắm thiết bị lọc, xây dựng bể chứa nước quy mô hộ gia đình, tích trữ nước trong mùa mưa để sử dụng kết hợp với mô hình thủy lợi, ao hồ nhỏ để chủ động nguồn nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất.

Content:
Phát triển hệ thống thủy lợi, nước sạch và hiện đại hóa kết cấu hạ tầng nông thôn
- Củng cố nâng cấp, phát triển hạ tầng nông thôn theo hướng hiện đại, đồng bộ, kết nối để đáp ứng tốt hơn yêu cầu cho phát triển kinh tế - xã hội; trong đó ưu tiên hoàn thiện hệ đường giao thông nông thôn, hệ thống lưới điện phục vụ sản xuất, các công trình thủy lợi, cấp nước sinh hoạt, hệ thống các công trình đảm chuẩn hóa về giáo dục, văn hóa, thể thao, môi trường; thực hiện tốt công tác duy tu, bảo trì nâng cao hiệu quả của hệ thống cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã. Đến năm 2030 trên 90% đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng được cứng hóa; 75% diện tích canh tác được tưới, trong đó có 35-40% diện tích tưới tiên tiến, tiết kiệm; cơ bản hộ dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, tối thiểu 60 lít/người/ngày, 40% hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn.
- Sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước và đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình thủy lợi trọng điểm của tỉnh như Ta Hoét, Đông Thanh, Kazam và các công trình khác; tiếp tục thực hiện Kế hoạch Phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng và tưới tiên tiến tiết kiệm nước.
- Nâng cao năng lực quản lý khai thác cho các tổ chức thủy lợi cơ sở; chủ động ứng phó có hiệu quả với các tình huống bất lợi; nâng cao mức phòng, chống hạn hán, thiếu nước, ngập lụt, úng, sạt lở bờ sông; bảo đảm an toàn công trình và vùng hạ du đập, hồ chứa nước thủy lợi.
- Tiếp tục rà soát, cải tạo các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn hiện có băng các dây chuyền công nghệ xử lý nước tiên tiến; thanh lý các công trình hư hỏng, không thể cải tạo và người dân không còn nhu cầu sử dụng.
- Xây dựng các nhà máy cấp nước liên khu vực, có công suất lớn; ưu tiên đấu nối mở rộng từ các công trình cấp nước đã hoạt động bền vững (từ các nhà máy cấp nước đô thị để cấp nước cho vùng nông thôn). Lấy nước từ các công trình hồ chứa thủy lợi, nơi có nguồn cung tương đối ổn định về trữ lượng và chất lượng nước để cấp nước sinh hoạt cho người dân. Từ nay đến năm 2030 hạn chế sử dụng nước ngầm và giai đoạn từ 2030 đến 2050 ưu tiên sử dụng hoàn toàn nước mặt.
- Hạn chế xây dựng các công trình cấp nước nhỏ lẻ, các công trình cấp nước tập trung quy mô nhỏ. Đối với những vùng khó khăn, dân cư phân tán khuyến khích, hỗ trợ người dân mua sắm thiết bị lọc, xây dựng bể chứa nước quy mô hộ gia đình, tích trữ nước trong mùa mưa để sử dụng kết hợp với mô hình thủy lợi, ao hồ nhỏ để chủ động nguồn nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất.