Document: Khoản 3 Điều 1 Thông tư 10-TT/LĐ cấp phát sổ lao động hướng dẫn Nghị định 7/CP

Type: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "16/05/1960", "sign_number": "10-TT/LĐ", "signer": "Nguyễn Văn Tạo", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "16/05/1960", "sign_number": "10-TT/LĐ", "signer": "Nguyễn Văn Tạo", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "16/05/1960", "sign_number": "10-TT/LĐ", "signer": "Nguyễn Văn Tạo", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "16/05/1960", "sign_number": "10-TT/LĐ", "signer": "Nguyễn Văn Tạo", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Lao động", "promulgation_date": "16/05/1960", "sign_number": "10-TT/LĐ", "signer": "Nguyễn Văn Tạo", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Thông tư 10-TT/LĐ cấp phát sổ lao động hướng dẫn Nghị định 7/CP

Điều 1. của Nghị định số 7/CP đã quy định "sổ Lao động cấp cho những người lao động trong biên chế các xí nghiệp, công, nông lâm trường, các tổ chức kinh tế, các cơ quan của Nhà nước và các đoàn thể nhân dân". Thông tư này nói rõ thêm:
...
3. Đối với các cơ sở quốc phòng chỉ cấp sổ cho những người công nhân, lao động hưởng theo chế lao động, gồm những người trong biên chế, những người thuộc lực lượng cố định, thường trực hay thường xuyên.
Riêng số công nhân tại ngũ hưởng theo chế độ quân nhân vẫn dùng các loại giấy tờ do Bộ Quốc phòng cấp, khi được chuyển ngành hoặc giải ngũ trở về làm nghề cũ thì được xét và cấp sổ lao động.
Vì điều kiện hiện nay chưa thể tổ chức cấp phát ngay một lượt cho tất cả các anh chị em lao động nên đợt này chỉ tiến hành cấp phát sổ trong xí nghiệp, công, nông lâm trường và các cơ sở khác theo quy định trên. Các xí nghiệp công tư hợp doanh, các xí nghiệp tư doanh và những cán bộ, nhân viên khác sẽ nghiêncứu và có kế hoạch hướng dẫn tiến hành cấp phát sau.
III. HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG SỔ LAO ĐỘNG
Về hình thức và nội dung sổ lao động điều 1 Nghị định đã quy định: "sổ lao động làm theo mẫu thống nhất", thông tư này nói rõ thêm:
Sổ Lao động có 48 trang (đánh số từ 1 đến 48) và có thể có những tờ rời để bổ sung thêm khi hết chỗ để ghi chép, có dán ảnh 4 x 6, có đóng dấu nổi và có số hiệu của từng địa phương.
Về nội dung sổ lao động gồm có 10 mục lớn. Nay giải thích yêu cầu của những mục chủ yếu như sau:
- Mục thứ nhất và mục thứ hai: Tóm tắt lý lịch và tình hình hoàn cảnh gia đình của người lao động. Hai mục này nhằm nắm được một cách khái quát về lý lịch và hoàn cảnh gia đình: cha mẹ, vợ con.
- Mục thứ ba: Quá trình làm việc. Mục này nói về tuổi nghề thâm niên, cấp bậc, lương bổng v.v... để theo dõi liên tục về thay đổi việc làm, cấp bậc, tiền lương của người lao động, nghiên cứu các chế độ xã hội phúc lợi.
- Mục thứ tư: Quá trình đào tạo. Mục này nói về quá trình học nghề, thành nghề và sự tiến bộ về trình độ văn hoá cũng như chính trị của người lao động, để biết được người lao động đã được bồi dưỡng về mặt nào và đến mức độ nào, nghiên cứu kế hoạch đào tạo và nâng cao trình độ kỹ thuật, văn hoá, chính trị.
- Mục thứ năm: Tình hình thể lực và rèn luyện thân thể. Mục này nêu rõ tình hình thể lực của người lao động một cách toàn diện, biết được tình hình sức khoẻ của người lao động qua một quá trình lao động, sản xuất, để nghiên cứu biện pháp nâng cao thể lực của người lao động làm cho người lao động có đủ sức khoẻ tiếp tục lao động kiến thiết xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc.
- Mục thứ sáu: Tình hình bệnh tật và tai nạn lao động. Mục này là để biết người lao động sau khi bị bệnh về nghề nghiệp, bị mắc các bệnh khác hoặc bị tai nạn làm giảm sút sức khoẻ đến mức nào để bố trí sắp xếp công việc, hợp với khả năng và tình hình sức khoẻ hiện có.
- Mục thứ bảy: Khen thưởng. Mục này nhằm giúp cho đơn vị sử dụng và cơ quan quản lý biết được thành tích và sự cống hiến của ngươì lao động mà tiếp tục động viên, giáo dục và bồi dưỡng tiến bộ thêm.
- Mục thứ tám: Kỷ luật. Mục này để các đơn vị sử dụng giúp đỡ, giáo dục. Tuyệt đối không vì những sai lầm khuyết điểm mà ra thành kiến, nghi kỵ, không sử dụng. Mặt khác cũng giúp người lao động thấy được sai phạm của mình đã qua mà ra sức khắc phục sửa chữa. Do đó, các đơn vị sử dụng phải hết sức thận trọng trong khi ghi chép. Những trường hợp quyết định dứt khoát thi hành kỷ luật mới ghi vào sổ lao động.
IV. NHIỆM VỤ CỦA UỶ BAN HÀNH CHÍNH, CƠ QUAN LAO ĐỘNG KHU, THÀNH PHỐ, TỈNH VÀ CÁC ĐƠN VỊ SỬ DỤNG TRONG VIỆC CẤP PHÁT SỔ LAO ĐỘNG
1. Nhiệm vụ Uỷ ban hành chính khu, thành phố, tỉnh:
Theo Điều 2 của Nghị định thì Uỷ ban hành chính khu, thành phố, tỉnh có nhiệm vụ cấp sổ lao động cho những người lao động làm việc ở xí nghiệp, công, nông, lâm trường, các tổ chức kinh tế và các cơ quan chính quyền, đoàn thể thuộc địa phương mình không phân biệt đơn vị do trung ương hay do địa phương quản lý, không phân biệt đơn vị công tác lưu động hay tĩnh tại (lưu động ra ngoài địa phương như Đoàn thăm dò, khảo sát, Đội công vụ đoạn đường sắt, Đội chiếu bóng lưu động v.v...).
Uỷ ban hành chính khu, thành phố ,tỉnh có trách nhiệm lãnh đạo toàn bộ việc cấp phát sổ lao động trong địa phương mình và có thể uỷ quyền cho thủ trưởng cơ quan Lao độngđịa phương làm việc cấp phát sổ.
2.Nhiệm vụ cơ quan Lao động:
Các Sở, Ty, phòng Lao động, có nhiệm vụ giúp đỡ Uỷ ban hành chính địa phương hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc cấp sở lao động và giữ các bản khai của người lao động để đối chiếu, cấp bản sao khi cần thiết và nghiên cứu thi hành những biện pháp quản lý, điều phối.
3. Nhiệm vụ đơn vị sử dụng:
Theo Điều 3 của nghị định thì đơn vị sử dụng có trách nhiệm:
- Tổ chức thực hiện theo kế haọch của Uỷ ban hành chính khu, thành phố, tỉnh về việc cấp sổ lao động trong đơn vị mình dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban hành chính và theo sự hướng dẫn của cơ quan Lao động địa phương.
- Thanh toán các khoản chi phí cần thiết cho việc cấp sổ lao động như in sổ và bản khai, chi phí về tổ chức cấp phát v.v... (trừ tiền ảnh do người lao động chịu).
- Quản lý sổ lao động và ghi chép vào sổ sự tiến bộ về nghề nghiệp, văn hoá, chính trịa, khen thưởng, đề bạt v.v... trong thời gian người lao động làm việc ở đơn vị. Nếu cho thuyên chuyển hay cho thôi việc thì trả sổ cho người lao động sau khi đã ghi chép đầy đủ vào sổ theo quy định và báo cáo cho cơ quan Lao động địa phương biết những điều đã ghi trong sổ ấy.
- Sau khi đã cấp phát xong sổ lao động và giấy đăng ký, các đơn vị muốn tuyển dụng người làm thì phải tuyển những người lao động đã có sổ hay có giấy đăng ký. Trường hợp đặc biệt sử dụng những ngưòi chưa có sổ hoặc chưa có giấy đăng ký thì phải báo cho Uỷ ban hành chính và cơ quan Lao động địa phương để xin cấp sổ hoặc giấy đăng ký.
- Phải báo cáo thường xuyên 3 tháng một lần về tình hình số lượng tăng giảm của đơn vị mình cho cơ quan Lao động địa phương.
Để giúp các đơn vị sử dụng nhân công thi hành đầy đủ Nghị định của Hội đồng Chính phủ, các Bộ, các ngành cần có chỉ thị quy định cụ thể những đối tượng được cấp sổ cho các đơn vị thuộc ngành mình, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện ở các đơn vị, nắm tình hình và góp ý kiến với Bộ Lao động để lãnh đạo việc cấp phát sổ lao động được tốt.
V. QUYỀN LỢI, NHIỆM VỤ NGƯỜI ĐƯỢC CẤP SỔ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI GIỮ SỔ
Để đảm bảo tác dụng và giá trị của sổ lao động, việc giữ gìn sổ lao động phải cẩn thận. Các đơn vị sử dụng nhân công cần phải phổ biến kỹ các điều 4 và 5 của Nghị định cho những nguời được cấp sổ và những người giữ sổ nắm vững và thi hành đúng theo quy định, cụ thể là :
1. Người được cấp sổ trả tiền ảnh dán vào sổ lao động
2. Người lao động đến xin việc hay được chuyển đến làm việc ở một cơ sở nào thì phải trình sổ lao động và các giấy tờ cần thiết khác cho đơn vị ấy .Nếu được nhận vào làm việc thì nộp sổ lao động cho đơn vị quẩn lý . khi được thuyên chuyển hay thôi việc thì người lao động được nhận sổ của mình do đơn vị giao lại sau khi đã ghi đầy đủ theo các mục trong sổ. Nếu đơn vị ghi còn thiếu sót thì người lao động có quyền yêu cầu ghi thêm cho đầy đủ như tăng bậc, khen thưởng, tiến bộ về nghề nghiệp, văn hoá v.v... trong thời gian làm việc ở đơn vị.
3. Người được cấp sổ có nhiệm vụ giữ gìn cần thận, sạch sẽ, không để hư hỏng, mất mát, không được tự ý tẩy chữa, bôi xoá thêm bớt những điều đã ghi trong sổ. Không được cho mượn hoặc nhường sổ lao động cho người khác; khi mất sổ phải báo ngay với cơ quan Công an và cơ quan Lao động địa phương.
Khi sổ bị hư hỏng, rách nát, không thể dùng được nữa hoặc bị mất, được cơ quan có trách nhiệm xác nhận thì người lao động được xin cấp bản khác ở Uỷ ban hành chính thành phố, tỉnh hay cơ quan Lao động nơi mình đã được cấp sổ.

Content:
Đối với các cơ sở quốc phòng chỉ cấp sổ cho những người công nhân, lao động hưởng theo chế lao động, gồm những người trong biên chế, những người thuộc lực lượng cố định, thường trực hay thường xuyên.
Riêng số công nhân tại ngũ hưởng theo chế độ quân nhân vẫn dùng các loại giấy tờ do Bộ Quốc phòng cấp, khi được chuyển ngành hoặc giải ngũ trở về làm nghề cũ thì được xét và cấp sổ lao động.
Vì điều kiện hiện nay chưa thể tổ chức cấp phát ngay một lượt cho tất cả các anh chị em lao động nên đợt này chỉ tiến hành cấp phát sổ trong xí nghiệp, công, nông lâm trường và các cơ sở khác theo quy định trên. Các xí nghiệp công tư hợp doanh, các xí nghiệp tư doanh và những cán bộ, nhân viên khác sẽ nghiêncứu và có kế hoạch hướng dẫn tiến hành cấp phát sau.
III. HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG SỔ LAO ĐỘNG
Về hình thức và nội dung sổ lao động điều 1 Nghị định đã quy định: "sổ lao động làm theo mẫu thống nhất", thông tư này nói rõ thêm:
Sổ Lao động có 48 trang (đánh số từ 1 đến 48) và có thể có những tờ rời để bổ sung thêm khi hết chỗ để ghi chép, có dán ảnh 4 x 6, có đóng dấu nổi và có số hiệu của từng địa phương.
Về nội dung sổ lao động gồm có 10 mục lớn. Nay giải thích yêu cầu của những mục chủ yếu như sau:
- Mục thứ nhất và mục thứ hai: Tóm tắt lý lịch và tình hình hoàn cảnh gia đình của người lao động. Hai mục này nhằm nắm được một cách khái quát về lý lịch và hoàn cảnh gia đình: cha mẹ, vợ con.
- Mục thứ ba: Quá trình làm việc. Mục này nói về tuổi nghề thâm niên, cấp bậc, lương bổng v.v... để theo dõi liên tục về thay đổi việc làm, cấp bậc, tiền lương của người lao động, nghiên cứu các chế độ xã hội phúc lợi.
- Mục thứ tư: Quá trình đào tạo. Mục này nói về quá trình học nghề, thành nghề và sự tiến bộ về trình độ văn hoá cũng như chính trị của người lao động, để biết được người lao động đã được bồi dưỡng về mặt nào và đến mức độ nào, nghiên cứu kế hoạch đào tạo và nâng cao trình độ kỹ thuật, văn hoá, chính trị.
- Mục thứ năm: Tình hình thể lực và rèn luyện thân thể. Mục này nêu rõ tình hình thể lực của người lao động một cách toàn diện, biết được tình hình sức khoẻ của người lao động qua một quá trình lao động, sản xuất, để nghiên cứu biện pháp nâng cao thể lực của người lao động làm cho người lao động có đủ sức khoẻ tiếp tục lao động kiến thiết xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc.
- Mục thứ sáu: Tình hình bệnh tật và tai nạn lao động. Mục này là để biết người lao động sau khi bị bệnh về nghề nghiệp, bị mắc các bệnh khác hoặc bị tai nạn làm giảm sút sức khoẻ đến mức nào để bố trí sắp xếp công việc, hợp với khả năng và tình hình sức khoẻ hiện có.
- Mục thứ bảy: Khen thưởng. Mục này nhằm giúp cho đơn vị sử dụng và cơ quan quản lý biết được thành tích và sự cống hiến của ngươì lao động mà tiếp tục động viên, giáo dục và bồi dưỡng tiến bộ thêm.
- Mục thứ tám: Kỷ luật. Mục này để các đơn vị sử dụng giúp đỡ, giáo dục. Tuyệt đối không vì những sai lầm khuyết điểm mà ra thành kiến, nghi kỵ, không sử dụng. Mặt khác cũng giúp người lao động thấy được sai phạm của mình đã qua mà ra sức khắc phục sửa chữa. Do đó, các đơn vị sử dụng phải hết sức thận trọng trong khi ghi chép. Những trường hợp quyết định dứt khoát thi hành kỷ luật mới ghi vào sổ lao động.
IV. NHIỆM VỤ CỦA UỶ BAN HÀNH CHÍNH, CƠ QUAN LAO ĐỘNG KHU, THÀNH PHỐ, TỈNH VÀ CÁC ĐƠN VỊ SỬ DỤNG TRONG VIỆC CẤP PHÁT SỔ LAO ĐỘNG
1. Nhiệm vụ Uỷ ban hành chính khu, thành phố, tỉnh:
Theo Điều 2 của Nghị định thì Uỷ ban hành chính khu, thành phố, tỉnh có nhiệm vụ cấp sổ lao động cho những người lao động làm việc ở xí nghiệp, công, nông, lâm trường, các tổ chức kinh tế và các cơ quan chính quyền, đoàn thể thuộc địa phương mình không phân biệt đơn vị do trung ương hay do địa phương quản lý, không phân biệt đơn vị công tác lưu động hay tĩnh tại (lưu động ra ngoài địa phương như Đoàn thăm dò, khảo sát, Đội công vụ đoạn đường sắt, Đội chiếu bóng lưu động v.v...).
Uỷ ban hành chính khu, thành phố ,tỉnh có trách nhiệm lãnh đạo toàn bộ việc cấp phát sổ lao động trong địa phương mình và có thể uỷ quyền cho thủ trưởng cơ quan Lao độngđịa phương làm việc cấp phát sổ.
2.Nhiệm vụ cơ quan Lao động:
Các Sở, Ty, phòng Lao động, có nhiệm vụ giúp đỡ Uỷ ban hành chính địa phương hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc cấp sở lao động và giữ các bản khai của người lao động để đối chiếu, cấp bản sao khi cần thiết và nghiên cứu thi hành những biện pháp quản lý, điều phối.
Nhiệm vụ đơn vị sử dụng:
Theo Điều 3 của nghị định thì đơn vị sử dụng có trách nhiệm:
- Tổ chức thực hiện theo kế haọch của Uỷ ban hành chính khu, thành phố, tỉnh về việc cấp sổ lao động trong đơn vị mình dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban hành chính và theo sự hướng dẫn của cơ quan Lao động địa phương.
- Thanh toán các khoản chi phí cần thiết cho việc cấp sổ lao động như in sổ và bản khai, chi phí về tổ chức cấp phát v.v... (trừ tiền ảnh do người lao động chịu).
- Quản lý sổ lao động và ghi chép vào sổ sự tiến bộ về nghề nghiệp, văn hoá, chính trịa, khen thưởng, đề bạt v.v... trong thời gian người lao động làm việc ở đơn vị. Nếu cho thuyên chuyển hay cho thôi việc thì trả sổ cho người lao động sau khi đã ghi chép đầy đủ vào sổ theo quy định và báo cáo cho cơ quan Lao động địa phương biết những điều đã ghi trong sổ ấy.
- Sau khi đã cấp phát xong sổ lao động và giấy đăng ký, các đơn vị muốn tuyển dụng người làm thì phải tuyển những người lao động đã có sổ hay có giấy đăng ký. Trường hợp đặc biệt sử dụng những ngưòi chưa có sổ hoặc chưa có giấy đăng ký thì phải báo cho Uỷ ban hành chính và cơ quan Lao động địa phương để xin cấp sổ hoặc giấy đăng ký.
- Phải báo cáo thường xuyên 3 tháng một lần về tình hình số lượng tăng giảm của đơn vị mình cho cơ quan Lao động địa phương.
Để giúp các đơn vị sử dụng nhân công thi hành đầy đủ Nghị định của Hội đồng Chính phủ, các Bộ, các ngành cần có chỉ thị quy định cụ thể những đối tượng được cấp sổ cho các đơn vị thuộc ngành mình, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện ở các đơn vị, nắm tình hình và góp ý kiến với Bộ Lao động để lãnh đạo việc cấp phát sổ lao động được tốt.
V. QUYỀN LỢI, NHIỆM VỤ NGƯỜI ĐƯỢC CẤP SỔ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI GIỮ SỔ
Để đảm bảo tác dụng và giá trị của sổ lao động, việc giữ gìn sổ lao động phải cẩn thận. Các đơn vị sử dụng nhân công cần phải phổ biến kỹ các điều 4 và 5 của Nghị định cho những nguời được cấp sổ và những người giữ sổ nắm vững và thi hành đúng theo quy định, cụ thể là :
1. Người được cấp sổ trả tiền ảnh dán vào sổ lao động
2. Người lao động đến xin việc hay được chuyển đến làm việc ở một cơ sở nào thì phải trình sổ lao động và các giấy tờ cần thiết khác cho đơn vị ấy .Nếu được nhận vào làm việc thì nộp sổ lao động cho đơn vị quẩn lý . khi được thuyên chuyển hay thôi việc thì người lao động được nhận sổ của mình do đơn vị giao lại sau khi đã ghi đầy đủ theo các mục trong sổ. Nếu đơn vị ghi còn thiếu sót thì người lao động có quyền yêu cầu ghi thêm cho đầy đủ như tăng bậc, khen thưởng, tiến bộ về nghề nghiệp, văn hoá v.v... trong thời gian làm việc ở đơn vị.
Người được cấp sổ có nhiệm vụ giữ gìn cần thận, sạch sẽ, không để hư hỏng, mất mát, không được tự ý tẩy chữa, bôi xoá thêm bớt những điều đã ghi trong sổ. Không được cho mượn hoặc nhường sổ lao động cho người khác; khi mất sổ phải báo ngay với cơ quan Công an và cơ quan Lao động địa phương.
Khi sổ bị hư hỏng, rách nát, không thể dùng được nữa hoặc bị mất, được cơ quan có trách nhiệm xác nhận thì người lao động được xin cấp bản khác ở Uỷ ban hành chính thành phố, tỉnh hay cơ quan Lao động nơi mình đã được cấp sổ.