Document: Điểm c Khoản 4 Điều 1 Quyết định 373/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền quản lý, bảo vệ phát triển bền vững biển hải đảo Việt Nam

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/03/2010", "sign_number": "373/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/03/2010", "sign_number": "373/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/03/2010", "sign_number": "373/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/03/2010", "sign_number": "373/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/03/2010", "sign_number": "373/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 4 Điều 1 Quyết định 373/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền quản lý, bảo vệ phát triển bền vững biển hải đảo Việt Nam

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam” với các nội dung chủ yếu sau:
...
4. Phạm vi thực hiện của Đề án
Đề án hướng tới mục đích tuyên truyền tổng thể về biển, hải đảo. Song để bảo đảm chất lượng, hiệu quả của công tác tuyên truyền, hạn chế trùng lặp về nội dung với các đề án, nhiệm vụ tuyên truyền khác đã và đang thực hiện, Đề án này đặt trọng tâm vào vấn đề tuyên truyền phát triển kinh tế biển, khai thác sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo. Các nội dung khác được đưa vào có tính chất bổ sung, làm hoàn chỉnh tính tổng thể của Đề án.
Đề án được triển khai ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trong đó, ưu tiên một số nội dung liên quan mật thiết đến đời sống chính trị - kinh tế - xã hội của các địa phương ven biển.
Về thời gian, trước hết các mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án được xác định tập trung cho giai đoạn từ nay đến năm 2015. Trên cơ sở đánh giá, tổng kết những kết quả đã làm được, đề xuất điều chỉnh về mục tiêu, yêu cầu và các nội dung cho giai đoạn sau.
II. CÁC NỘI DUNG CHÍNH CỦA ĐỀ ÁN
1. Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo;
...
c) Hình thức, sản phẩm tuyên truyền:
- Biên soạn các đầu sách hệ thống hóa các văn bản pháp luật trong nước và quốc tế về biển; các tài liệu tra cứu, hướng dẫn thi hành, áp dụng pháp luật về biển được sử dụng thường xuyên cho các cơ quan, đơn vị chuyên ngành và các đối tượng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm việc trong các lĩnh vực liên quan khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo;
- Tập huấn, phổ biến pháp luật nhằm:
+ Phổ biến hệ thống kiến thức pháp luật cơ bản về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên và môi trường biển, hải đảo;
+ Trang bị kiến thức pháp luật chuyên sâu cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật các cấp;
+ Cập nhật các văn bản pháp luật chuyên ngành trong nước về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo cho đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị vũ trang, đơn vị sự nghiệp và ngư dân hoạt động tại các vùng biển, ven biển, hải đảo;
- Xây dựng các chuyên mục hỏi - đáp pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo trên các báo, tạp chí, các trang tin điện tử trong nước.
- Tổ chức biên tập tài liệu, phổ biến kết quả của các công trình nghiên cứu, sáng tạo về quản lý khai thác, sử dụng có hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; và trao giải thưởng cho các tổ chức, cá nhân có công trình;
- Tổ chức hoặc tham gia các diễn đàn, hội nghị, hội thảo quốc tế và các khóa bồi dưỡng ở nước ngoài về pháp luật biển quốc tế, về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo để trao đổi, chia sẻ thông tin, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè và các tổ chức quốc tế, đồng thời bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia của Việt Nam trên diễn đàn quốc tế.
2. Nâng cao nhận thức cộng đồng về khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng ven biển, hải đảo
a) Mục tiêu
- Trên 70% doanh nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hộ gia đình sinh sống tại các vùng ven biển, hải đảo có hoạt động gắn với khai thác, sử dụng tài nguyên biển, hải đảo được tuyên truyền để nhận thức được những hành vi khai thác, sử dụng quá mức, hủy diệt tài nguyên, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, hải đảo cần tránh hoặc hạn chế cũng như các giải pháp mà cộng đồng có thể chủ động khắc phục, phục hồi môi trường tự nhiên của biển;
- 100% số xã, phường, thị trấn vùng ven biển, hải đảo được tuyên truyền để nâng cao nhận thức về những vấn đề nan giải, bất cập, mâu thuẫn chủ yếu giữa mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường trong khai thác, sử dụng tài nguyên vùng ven biển, hải đảo và các nguy cơ, hiểm họa liên quan đến chính lợi ích của các cộng đồng trên địa bàn ven biển, hải đảo;
- Đối với các địa phương triển khai thực hiện phương thức quản lý tổng hợp vùng bờ ven biển (theo Quyết định số 158/2007/QĐ-TTg ngày 09 tháng 10 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quản lý tổng hợp dải ven biển vùng Bắc Trung bộ và duyên hải Trung bộ): trên 80% các hộ gia đình, doanh nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở các vùng biển được thông tin, nâng cao nhận thức, hiểu biết về phát triển bền vững nhằm thúc đẩy sự tham gia tích cực của cộng đồng vào quá trình xây dựng và giám sát thực hiện chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp vùng ven biển, hải đảo;
- Khuyến khích, động viên việc học tập, phổ biến kinh nghiệm trong cộng đồng về những điển hình đã có những thành công hoặc triển vọng trong việc tổ chức các hình thức sản xuất kinh doanh, dịch vụ khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ vùng ven biển, hải đảo; khuyến khích các địa phương ven biển thi đua trong việc xây dựng mô hình phát triển kinh tế biển bền vững, xóa đói - giảm nghèo;
- Phát huy vai trò của các tổ hòa giải cơ sở và ban công tác mặt trận ở các xã, phường, thị trấn ven biển, hải đảo trong việc giải quyết, tháo gỡ những mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích kinh tế - xã hội giữa các cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp trong khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng ven biển, hải đảo.
b) Nhiệm vụ cụ thể:
- Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển chủ động xây dựng, tổ chức triển khai kế hoạch, nhiệm vụ tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng ven biển, hải đảo (lồng ghép vào chương trình, kế hoạch hành động để thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo) của từng địa phương;
- Các Bộ, ngành, địa phương có kế hoạch tuyên truyền, cổ động trong cộng đồng xã hội về khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường phù hợp với từng nhóm đối tượng khai thác, sử dụng tài nguyên biển hoặc sinh sống ở vùng ven biển, trên các đảo (ngư dân, diêm dân, thanh - thiếu niên, doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh, cán bộ quản lý cấp xã…), gồm các nội dung chính sau đây:
+ Các kiến thức tổng hợp về vai trò, giá trị của tài nguyên biển, hải đảo trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bao gồm: các tài nguyên sinh vật biển (các loài nguy cấp quý hiếm, các hệ sinh thái biển, đất ngập nước cần được ưu tiên bảo vệ hoặc hạn chế khai thác), tài nguyên khoáng sản biển, tài nguyên vị thế và các dạng tài nguyên khác có thể tái tạo hoặc không tái tạo trên các vùng ven biển, vùng biển và hải đảo Việt Nam; ý nghĩa, sự cần thiết phải đẩy mạnh bảo vệ môi trường biển gắn với sự phát triển bền vững;
+ Vai trò, ý nghĩa của cộng đồng, nhất là các cộng đồng dân cư ven biển, đảo trong việc khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng ven biển, hải đảo; các hành động khai thác, sử dụng tài nguyên cần khuyến khích, được phép hoặc hạn chế và không được phép; các hành động bảo vệ môi trường biển cần làm ngay và các hành động hủy hoại môi trường cần bị cộng đồng loại bỏ;
+ Các chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển của các địa phương; các quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo và quy hoạch khai thác tài nguyên biển trong ngành, lĩnh vực;
+ Tình hình khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo trên quy mô cả nước, vùng, địa phương và những vấn đề tồn tại, bất cập mà cộng đồng cần lưu ý, quan tâm;
+ Nội dung lồng ghép các vấn đề về kinh tế với giải quyết các chính sách xã hội đối với các xã ven biển, hải đảo đặc biệt khó khăn, chú trọng giải quyết xóa đói - giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, bất bình đẳng giới, lao động nhập cư trái phép, di dân tự do, ổn định đời sống dân cư ra lập nghiệp trên các đảo xa bờ;
+ Hướng dẫn các địa phương trong việc tổ chức các diễn đàn, hội nghị tham vấn hằng năm về khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo;
- Các Bộ, ngành, địa phương có kế hoạch tập huấn nâng cao nhận thức cộng đồng về các biện pháp bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi trường biển trong sản xuất, xây dựng ý thức làm sạch bờ biển, hạn chế xả thải không đạt tiêu chuẩn hoặc các chất thải nguy hại ra biển .v.v...;
- Các Bộ, ngành, địa phương khảo sát nắm tình hình cơ sở, nghiên cứu - tổng kết thực tiễn và phổ biến, nhân rộng và có hình thức khen thưởng kịp thời cho tổ chức, cá nhân điển hình đã thành công hoặc có nhiều triển vọng trong việc tổ chức các hình thức sản xuất kinh doanh, dịch vụ khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; tổng kết, đánh giá và khen thưởng các địa phương (cấp huyện, cấp xã) có mô hình phát triển kinh tế biển bền vững;
- Huy động sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở Trung ương và địa phương trong việc phát động các phong trào thi đua, lập thành tích về bảo vệ môi trường biển, hải đảo và phản biện, giám sát xã hội đối với việc thực hiện các dự án, công trình khai thác, sử dụng tài nguyên biển, hải đảo;
- Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển có trách nhiệm hỗ trợ, cung cấp thông tin, tư vấn cho cộng đồng trong việc tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, ra quyết định quản lý của cơ quan chính quyền, giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa các cấp, các ngành, các địa phương trong quản lý, khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo.
c) Hình thức, sản phẩm tuyên truyền:
- Tổ chức các phong trào, các sự kiện có ý nghĩa thiết thực, tác động trực tiếp tới nhận thức chung của cộng đồng như: kỷ niệm Ngày Đại dương thế giới (8/6), Ngày Môi trường thế giới (5/6) trong Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam hàng năm;
- Tổ chức cho phóng viên báo chí, người dân, học sinh, sinh viên, ngư dân và người lao động tham quan thực tế, nghe phổ biến hoặc xem phim tài liệu về các hoạt động bảo tồn và khai thác bền vững một số hệ sinh thái biển (rạn san hô, rừng ngập mặn, đầm phá, thảm cỏ biển …), các mô hình khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển thành công, công trình xử lý môi trường có hiệu quả; tổ chức một số đoàn đại biểu của cộng đồng tham dự các hội nghị, hội thảo và tham quan, học tập kinh nghiệm về các mô hình thành công tại một số nước;
- Tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ kỹ năng xây dựng, triển khai và giám sát thực hiện các chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo và các quy hoạch, kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên biển thuộc các ngành, lĩnh vực cho các đối tượng là công chức xã, phường, thị trấn ven biển, hải đảo; cán bộ lãnh đạo tổ chức cơ sở Đảng, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở địa phương ven biển, ngư dân, các doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong các ngành nghề khai thác, sử dụng biển, hải đảo;
- Tổ chức các diễn đàn, hội nghị, hội thảo theo chủ đề, có sự tham gia của đại diện ngư dân, các tầng lớp, thành phần trong cộng đồng có liên quan đến khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo;
- Công khai hóa các thông tin trên website của chính quyền địa phương về việc đăng ký các cam kết bảo vệ môi trường và đánh giá tình hình thực hiện cam kết bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố ven biển và các huyện đảo;
- Xây dựng và phổ biến các tài liệu tuyên truyền, phổ biến kiến thức về khai thác, sử dụng bền vững một số loại tài nguyên và bảo vệ môi trường trong các ngành (lâm nghiệp, thủy sản, du lịch, công nghiệp đóng tàu, vận tải biển, kho vận, xếp dỡ hàng hóa tại cảng biển, dầu khí) và cho các lực lượng thực thi pháp luật trên biển (Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Thanh tra chuyên ngành thủy sản, môi trường, hàng hải…);
3. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển
a) Mục tiêu:
- 100% cán bộ công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về biển và hải đảo ở Trung ương và địa phương; 100% cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn vùng ven biển, hải đảo và 100% cán bộ công chức có trách nhiệm liên quan trực tiếp đến công tác tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, phòng chống lụt bão ở Trung ương và các địa phương ven biển, hải đảo và phần lớn cán bộ, quản lý, cán bộ khoa học hoạt động trên địa bàn ven biển, biển và hải đảo được tập huấn nâng cao kỹ năng tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến kiến thức đối với cộng đồng nhằm phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường trên biển;
- Cơ quan báo chí, các viện và trung tâm thông tin, phát triển khoa học - công nghệ; các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề; các tổ chức xã hội nghề nghiệp; các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, nghề kinh tế biển; chính quyền các huyện, xã ven biển, hải đảo hàng năm có kế hoạch chủ động tiến hành tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho các đối tượng liên quan, đặc biệt là ngư dân về phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển;
- Các đơn vị chức năng thuộc lực lượng Quân đội, Công an là lực lượng trực tiếp tham gia tìm kiếm cứu nạn, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển, đồng thời là lực lượng tuyên truyền quan trọng về phòng chống, kiểm soát, khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển tại các vùng ven biển và hải đảo;
- Chính quyền các địa phương ven biển có phương án huy động một cách nhanh chóng các lực lượng tình nguyện viên trong cộng đồng; làm tốt công tác động viên người dân tích cực tham gia phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường trên địa bàn.
b) Nhiệm vụ cụ thể:
- Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì việc tổ chức khảo sát tình hình thực tế, xác định nhu cầu tuyên truyền phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển trong phạm vi cả nước;
- Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giao thông vận tải, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Văn phòng Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn, Văn phòng Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương thường xuyên phối hợp tổ chức các hội thảo, tập huấn, phổ biến kiến thức phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển, cụ thể là:
+ Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường các cấp, cơ quan báo chí, các viện, trung tâm phát triển khoa học - công nghệ, thông tin khoa học - công nghệ có kế hoạch tổ chức biên tập, xuất bản và phát hành các ấn phẩm thông tin khoa học thường thức, hướng dẫn kỹ thuật về phòng ngừa thiên tai, khắc phục sự cố môi trường biển; các tài liệu tuyên truyền, hướng dẫn về việc đảm bảo an toàn cho người và phương tiện hoạt động nghề cá trên biển.
+ Các cơ quan chuyên môn, đơn vị thực thi trong hệ thống phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn các cấp có kế hoạch tổ chức tập huấn kỹ năng tuyên truyền, phổ biến kiến thức và phát tài liệu hướng dẫn, tổ chức cộng đồng dân cư tập dượt phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển.
+ Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, ngư dân, doanh nghiệp, bệnh viện, trường học và các cơ sở công lập khác tại các vùng ven biển, hải đảo có kế hoạch phổ biến kiến thức; xây dựng phương án phòng ngừa thiên tai, tham gia khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển khi được chính quyền huy động; thành lập các lực lượng tình nguyện viên trong cơ quan, đơn vị để sẵn sàng tham gia ứng cứu, khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển khi được chính quyền huy động.
- Các Bộ, ngành, địa phương từng bước xây dựng đội ngũ cộng tác viên, tổ chức các hoạt động tình nguyện, xung kích trong cộng đồng; xây dựng các cơ chế, chính sách đảm bảo hoạt động liên tục và có hiệu quả của đội ngũ tuyên truyền viên, có các hình thức động viên, khen thưởng kịp thời đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân có thành tích nổi bật trong công tác phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục thiên tai, sự cố môi trường biển.
c) Hình thức, sản phẩm tuyên truyền:
- Các ấn phẩm, phim tư liệu phục vụ công tác tuyên truyền phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển.
- Các hội nghị, hội thảo, tập huấn và hình thức tập dượt về phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường được thông tin rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Xây dựng, quảng bá thương hiệu Biển Việt Nam
a) Mục tiêu:
- Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả chiến lược thương hiệu của các địa phương mình, tập trung vào các nhóm thương hiệu sau đây:
+ Các sản vật tự nhiên, hoặc sản phẩm thủ công truyền thống gắn với biển, hải đảo có giá trị tiêu dùng và uy tín, chất lượng trên thị trường, có tên gọi, địa chỉ xuất xứ hàng hóa;
+ Các khu dịch vụ nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí tại các vùng biển, hải đảo có chất lượng sinh thái môi trường cao đã có thương hiệu và đạt đẳng cấp quốc tế và khu vực;
+ Các địa điểm và quần thể tham quan ven biển, trên các hải đảo có giá trị văn hóa lịch sử và thương mại, các khu bảo tồn biển, đất ngập nước;
- Cộng đồng dân cư sống ven biển, trên các đảo và cộng đồng nói chung phấn đấu trở thành “Đại sứ tiếp thị” cho thương hiệu biển Việt Nam trong việc tạo dựng và bảo vệ thương hiệu vùng miền;
- Các doanh nghiệp, hiệp hội kinh doanh các ngành, nghề khai thác biển chủ động và tích cực tham gia thực hiện chiến lược phát triển thương hiệu đối với các lĩnh vực, ngành nghề có thương hiệu, đạt đẳng cấp quốc tế hoặc khu vực;
+ Công nghiệp khai thác, chế biến, xuất khẩu và dịch vụ hậu cần dầu khí;
+ Công nghiệp đóng tàu;
+ Dịch vụ kiểm định chất lượng tàu biển, công trình biển;
+ Công nghiệp vận tải tàu biển và dịch vụ hàng hải;
+ Nuôi trồng và chế biến thủy sản.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương, Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan đại diện ngoại giao, đại diện thương mại, xúc tiến đầu tư và du lịch (có trụ sở trong nước hoặc tại nước ngoài) đóng vai trò tích cực trong việc hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp, hiệp hội kinh tế trong các ngành, nghề khai thác biển xây dựng và triển khai thành công chiến lược quảng bá thương hiệu biển Việt Nam ra thị trường quốc tế; tổ chức được các diễn đàn, hội chợ, giao lưu văn hóa - du lịch biển (các Festival và lễ hội truyền thống) định kỳ ở quy mô quốc tế và quốc gia.
b) Nhiệm vụ cụ thể:
- Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phát động cuộc thi ý tưởng và sáng tác biểu trưng Thương hiệu Quốc gia biển của Việt Nam;
- Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xác định và lồng ghép các nội dung xây dựng, quảng bá các thương hiệu biển Việt Nam trong Chương trình Thương hiệu quốc gia;
- Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, hiệp hội kinh tế trong các ngành, nghề khai thác biển định hướng cho các doanh nghiệp đổi mới chiến lược khai thác, chế biến sản phẩm từ biển phục vụ xuất khẩu dựa trên tiêu chí các thương hiệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn về phát triển bền vững và thân thiện với môi trường;
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng chương trình quảng bá các sản phẩm nông nghiệp, hải sản thân thiện với môi trường; thúc đẩy gắn Nhãn chứng nhận thân thiện với môi trường của các tổ chức quốc tế có uy tín; quảng bá các khu bảo tồn biển, các loài động vật quý hiếm, các hệ sinh thái biển và ven biển cần được bảo vệ của Việt Nam;
- Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì tổ chức các diễn đàn xây dựng, giới thiệu, quảng bá “Thương hiệu biển Việt Nam” với sản phẩm biển của các địa phương, các ngành nghề trong nước; thống nhất các tiêu chuẩn nhận diện và thừa nhận các thương hiệu địa danh biển, hải đảo Việt Nam đã đạt tới cấp độ quốc gia và đẳng cấp quốc tế;
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng kế hoạch ưu tiên xúc tiến đầu tư nước ngoài vào các ngành, nghề, địa phương có mục tiêu nâng tầm thương hiệu đạt đẳng cấp quốc tế và khu vực; phối hợp với Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển kêu gọi đầu tư khai thác các dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí trên một số hải đảo ven bờ có tiềm năng du lịch;
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, khảo sát và xây dựng phương án tổ chức một số dự kiện lớn, có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế về văn hóa - thể thao và du lịch biển ở một số thành phố ven biển; phối hợp với các Bộ: Ngoại giao, Công thương, Kế hoạch và Đầu tư tập huấn cho cán bộ các cơ quan đại diện ngoại giao, thương mại, du lịch của Việt Nam ở nước ngoài về xây dựng, quảng bá thương hiệu biển Việt Nam tại các nước đối tác có tiềm năng;
- Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, các quỹ bảo vệ môi trường của Bộ, ngành, địa phương có kế hoạch tài trợ xây dựng thương hiệu cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các sản phẩm từ biển, dịch vụ liên quan đến biển thân thiện với môi trường và khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển;
- Các doanh nghiệp, hiệp hội các ngành, nghề khai thác biển có kế hoạch tổ chức tập huấn nâng cao ý thức cho người lao động và trong cộng đồng về xây dựng, củng cố và bảo vệ thương hiệu biển.
c) Hình thức, sản phẩm tuyên truyền:
- Tổ chức sự kiện kinh tế, văn hóa thể thao và du lịch tại các địa phương ven biển; tổ chức các cuộc thi sáng tác biểu tượng, nhãn hiệu thương mại; các giải thưởng hàng năm của Nhà nước hoặc các Hiệp hội kinh tế trên cơ sở các mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường biển;
- Tổ chức các lớp tập huấn, phổ biến kiến thức về thương hiệu biển cho các cơ quan, đơn vị ở Trung ương, địa phương;
- Các tin bài và ấn phẩm để quảng bá thương hiệu biển cho các địa phương và doanh nghiệp Việt Nam.

Content:
Hình thức, sản phẩm tuyên truyền:
- Biên soạn các đầu sách hệ thống hóa các văn bản pháp luật trong nước và quốc tế về biển; các tài liệu tra cứu, hướng dẫn thi hành, áp dụng pháp luật về biển được sử dụng thường xuyên cho các cơ quan, đơn vị chuyên ngành và các đối tượng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm việc trong các lĩnh vực liên quan khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo;
- Tập huấn, phổ biến pháp luật nhằm:
+ Phổ biến hệ thống kiến thức pháp luật cơ bản về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên và môi trường biển, hải đảo;
+ Trang bị kiến thức pháp luật chuyên sâu cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật các cấp;
+ Cập nhật các văn bản pháp luật chuyên ngành trong nước về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo cho đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị vũ trang, đơn vị sự nghiệp và ngư dân hoạt động tại các vùng biển, ven biển, hải đảo;
- Xây dựng các chuyên mục hỏi - đáp pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo trên các báo, tạp chí, các trang tin điện tử trong nước.
- Tổ chức biên tập tài liệu, phổ biến kết quả của các công trình nghiên cứu, sáng tạo về quản lý khai thác, sử dụng có hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; và trao giải thưởng cho các tổ chức, cá nhân có công trình;
- Tổ chức hoặc tham gia các diễn đàn, hội nghị, hội thảo quốc tế và các khóa bồi dưỡng ở nước ngoài về pháp luật biển quốc tế, về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo để trao đổi, chia sẻ thông tin, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè và các tổ chức quốc tế, đồng thời bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia của Việt Nam trên diễn đàn quốc tế.
2. Nâng cao nhận thức cộng đồng về khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng ven biển, hải đảo
a) Mục tiêu
- Trên 70% doanh nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hộ gia đình sinh sống tại các vùng ven biển, hải đảo có hoạt động gắn với khai thác, sử dụng tài nguyên biển, hải đảo được tuyên truyền để nhận thức được những hành vi khai thác, sử dụng quá mức, hủy diệt tài nguyên, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, hải đảo cần tránh hoặc hạn chế cũng như các giải pháp mà cộng đồng có thể chủ động khắc phục, phục hồi môi trường tự nhiên của biển;
- 100% số xã, phường, thị trấn vùng ven biển, hải đảo được tuyên truyền để nâng cao nhận thức về những vấn đề nan giải, bất cập, mâu thuẫn chủ yếu giữa mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường trong khai thác, sử dụng tài nguyên vùng ven biển, hải đảo và các nguy cơ, hiểm họa liên quan đến chính lợi ích của các cộng đồng trên địa bàn ven biển, hải đảo;
- Đối với các địa phương triển khai thực hiện phương thức quản lý tổng hợp vùng bờ ven biển (theo Quyết định số 158/2007/QĐ-TTg ngày 09 tháng 10 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quản lý tổng hợp dải ven biển vùng Bắc Trung bộ và duyên hải Trung bộ): trên 80% các hộ gia đình, doanh nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở các vùng biển được thông tin, nâng cao nhận thức, hiểu biết về phát triển bền vững nhằm thúc đẩy sự tham gia tích cực của cộng đồng vào quá trình xây dựng và giám sát thực hiện chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp vùng ven biển, hải đảo;
- Khuyến khích, động viên việc học tập, phổ biến kinh nghiệm trong cộng đồng về những điển hình đã có những thành công hoặc triển vọng trong việc tổ chức các hình thức sản xuất kinh doanh, dịch vụ khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ vùng ven biển, hải đảo; khuyến khích các địa phương ven biển thi đua trong việc xây dựng mô hình phát triển kinh tế biển bền vững, xóa đói - giảm nghèo;
- Phát huy vai trò của các tổ hòa giải cơ sở và ban công tác mặt trận ở các xã, phường, thị trấn ven biển, hải đảo trong việc giải quyết, tháo gỡ những mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích kinh tế - xã hội giữa các cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp trong khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng ven biển, hải đảo.
b) Nhiệm vụ cụ thể:
- Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển chủ động xây dựng, tổ chức triển khai kế hoạch, nhiệm vụ tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng ven biển, hải đảo (lồng ghép vào chương trình, kế hoạch hành động để thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo) của từng địa phương;
- Các Bộ, ngành, địa phương có kế hoạch tuyên truyền, cổ động trong cộng đồng xã hội về khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường phù hợp với từng nhóm đối tượng khai thác, sử dụng tài nguyên biển hoặc sinh sống ở vùng ven biển, trên các đảo (ngư dân, diêm dân, thanh - thiếu niên, doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh, cán bộ quản lý cấp xã…), gồm các nội dung chính sau đây:
+ Các kiến thức tổng hợp về vai trò, giá trị của tài nguyên biển, hải đảo trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bao gồm: các tài nguyên sinh vật biển (các loài nguy cấp quý hiếm, các hệ sinh thái biển, đất ngập nước cần được ưu tiên bảo vệ hoặc hạn chế khai thác), tài nguyên khoáng sản biển, tài nguyên vị thế và các dạng tài nguyên khác có thể tái tạo hoặc không tái tạo trên các vùng ven biển, vùng biển và hải đảo Việt Nam; ý nghĩa, sự cần thiết phải đẩy mạnh bảo vệ môi trường biển gắn với sự phát triển bền vững;
+ Vai trò, ý nghĩa của cộng đồng, nhất là các cộng đồng dân cư ven biển, đảo trong việc khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng ven biển, hải đảo; các hành động khai thác, sử dụng tài nguyên cần khuyến khích, được phép hoặc hạn chế và không được phép; các hành động bảo vệ môi trường biển cần làm ngay và các hành động hủy hoại môi trường cần bị cộng đồng loại bỏ;
+ Các chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển của các địa phương; các quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo và quy hoạch khai thác tài nguyên biển trong ngành, lĩnh vực;
+ Tình hình khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo trên quy mô cả nước, vùng, địa phương và những vấn đề tồn tại, bất cập mà cộng đồng cần lưu ý, quan tâm;
+ Nội dung lồng ghép các vấn đề về kinh tế với giải quyết các chính sách xã hội đối với các xã ven biển, hải đảo đặc biệt khó khăn, chú trọng giải quyết xóa đói - giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, bất bình đẳng giới, lao động nhập cư trái phép, di dân tự do, ổn định đời sống dân cư ra lập nghiệp trên các đảo xa bờ;
+ Hướng dẫn các địa phương trong việc tổ chức các diễn đàn, hội nghị tham vấn hằng năm về khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo;
- Các Bộ, ngành, địa phương có kế hoạch tập huấn nâng cao nhận thức cộng đồng về các biện pháp bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi trường biển trong sản xuất, xây dựng ý thức làm sạch bờ biển, hạn chế xả thải không đạt tiêu chuẩn hoặc các chất thải nguy hại ra biển .v.v...;
- Các Bộ, ngành, địa phương khảo sát nắm tình hình cơ sở, nghiên cứu - tổng kết thực tiễn và phổ biến, nhân rộng và có hình thức khen thưởng kịp thời cho tổ chức, cá nhân điển hình đã thành công hoặc có nhiều triển vọng trong việc tổ chức các hình thức sản xuất kinh doanh, dịch vụ khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; tổng kết, đánh giá và khen thưởng các địa phương (cấp huyện, cấp xã) có mô hình phát triển kinh tế biển bền vững;
- Huy động sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở Trung ương và địa phương trong việc phát động các phong trào thi đua, lập thành tích về bảo vệ môi trường biển, hải đảo và phản biện, giám sát xã hội đối với việc thực hiện các dự án, công trình khai thác, sử dụng tài nguyên biển, hải đảo;
- Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển có trách nhiệm hỗ trợ, cung cấp thông tin, tư vấn cho cộng đồng trong việc tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, ra quyết định quản lý của cơ quan chính quyền, giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa các cấp, các ngành, các địa phương trong quản lý, khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo.
Hình thức, sản phẩm tuyên truyền:
- Tổ chức các phong trào, các sự kiện có ý nghĩa thiết thực, tác động trực tiếp tới nhận thức chung của cộng đồng như: kỷ niệm Ngày Đại dương thế giới (8/6), Ngày Môi trường thế giới (5/6) trong Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam hàng năm;
- Tổ chức cho phóng viên báo chí, người dân, học sinh, sinh viên, ngư dân và người lao động tham quan thực tế, nghe phổ biến hoặc xem phim tài liệu về các hoạt động bảo tồn và khai thác bền vững một số hệ sinh thái biển (rạn san hô, rừng ngập mặn, đầm phá, thảm cỏ biển …), các mô hình khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển thành công, công trình xử lý môi trường có hiệu quả; tổ chức một số đoàn đại biểu của cộng đồng tham dự các hội nghị, hội thảo và tham quan, học tập kinh nghiệm về các mô hình thành công tại một số nước;
- Tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ kỹ năng xây dựng, triển khai và giám sát thực hiện các chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo và các quy hoạch, kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên biển thuộc các ngành, lĩnh vực cho các đối tượng là công chức xã, phường, thị trấn ven biển, hải đảo; cán bộ lãnh đạo tổ chức cơ sở Đảng, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở địa phương ven biển, ngư dân, các doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong các ngành nghề khai thác, sử dụng biển, hải đảo;
- Tổ chức các diễn đàn, hội nghị, hội thảo theo chủ đề, có sự tham gia của đại diện ngư dân, các tầng lớp, thành phần trong cộng đồng có liên quan đến khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo;
- Công khai hóa các thông tin trên website của chính quyền địa phương về việc đăng ký các cam kết bảo vệ môi trường và đánh giá tình hình thực hiện cam kết bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố ven biển và các huyện đảo;
- Xây dựng và phổ biến các tài liệu tuyên truyền, phổ biến kiến thức về khai thác, sử dụng bền vững một số loại tài nguyên và bảo vệ môi trường trong các ngành (lâm nghiệp, thủy sản, du lịch, công nghiệp đóng tàu, vận tải biển, kho vận, xếp dỡ hàng hóa tại cảng biển, dầu khí) và cho các lực lượng thực thi pháp luật trên biển (Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Thanh tra chuyên ngành thủy sản, môi trường, hàng hải…);
3. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển
a) Mục tiêu:
- 100% cán bộ công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về biển và hải đảo ở Trung ương và địa phương; 100% cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn vùng ven biển, hải đảo và 100% cán bộ công chức có trách nhiệm liên quan trực tiếp đến công tác tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, phòng chống lụt bão ở Trung ương và các địa phương ven biển, hải đảo và phần lớn cán bộ, quản lý, cán bộ khoa học hoạt động trên địa bàn ven biển, biển và hải đảo được tập huấn nâng cao kỹ năng tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến kiến thức đối với cộng đồng nhằm phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường trên biển;
- Cơ quan báo chí, các viện và trung tâm thông tin, phát triển khoa học - công nghệ; các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề; các tổ chức xã hội nghề nghiệp; các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, nghề kinh tế biển; chính quyền các huyện, xã ven biển, hải đảo hàng năm có kế hoạch chủ động tiến hành tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho các đối tượng liên quan, đặc biệt là ngư dân về phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển;
- Các đơn vị chức năng thuộc lực lượng Quân đội, Công an là lực lượng trực tiếp tham gia tìm kiếm cứu nạn, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển, đồng thời là lực lượng tuyên truyền quan trọng về phòng chống, kiểm soát, khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển tại các vùng ven biển và hải đảo;
- Chính quyền các địa phương ven biển có phương án huy động một cách nhanh chóng các lực lượng tình nguyện viên trong cộng đồng; làm tốt công tác động viên người dân tích cực tham gia phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường trên địa bàn.
b) Nhiệm vụ cụ thể:
- Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì việc tổ chức khảo sát tình hình thực tế, xác định nhu cầu tuyên truyền phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển trong phạm vi cả nước;
- Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giao thông vận tải, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Văn phòng Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn, Văn phòng Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương thường xuyên phối hợp tổ chức các hội thảo, tập huấn, phổ biến kiến thức phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển, cụ thể là:
+ Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường các cấp, cơ quan báo chí, các viện, trung tâm phát triển khoa học - công nghệ, thông tin khoa học - công nghệ có kế hoạch tổ chức biên tập, xuất bản và phát hành các ấn phẩm thông tin khoa học thường thức, hướng dẫn kỹ thuật về phòng ngừa thiên tai, khắc phục sự cố môi trường biển; các tài liệu tuyên truyền, hướng dẫn về việc đảm bảo an toàn cho người và phương tiện hoạt động nghề cá trên biển.
+ Các cơ quan chuyên môn, đơn vị thực thi trong hệ thống phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn các cấp có kế hoạch tổ chức tập huấn kỹ năng tuyên truyền, phổ biến kiến thức và phát tài liệu hướng dẫn, tổ chức cộng đồng dân cư tập dượt phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển.
+ Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, ngư dân, doanh nghiệp, bệnh viện, trường học và các cơ sở công lập khác tại các vùng ven biển, hải đảo có kế hoạch phổ biến kiến thức; xây dựng phương án phòng ngừa thiên tai, tham gia khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển khi được chính quyền huy động; thành lập các lực lượng tình nguyện viên trong cơ quan, đơn vị để sẵn sàng tham gia ứng cứu, khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển khi được chính quyền huy động.
- Các Bộ, ngành, địa phương từng bước xây dựng đội ngũ cộng tác viên, tổ chức các hoạt động tình nguyện, xung kích trong cộng đồng; xây dựng các cơ chế, chính sách đảm bảo hoạt động liên tục và có hiệu quả của đội ngũ tuyên truyền viên, có các hình thức động viên, khen thưởng kịp thời đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân có thành tích nổi bật trong công tác phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục thiên tai, sự cố môi trường biển.
Hình thức, sản phẩm tuyên truyền:
- Các ấn phẩm, phim tư liệu phục vụ công tác tuyên truyền phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển.
- Các hội nghị, hội thảo, tập huấn và hình thức tập dượt về phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường được thông tin rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Xây dựng, quảng bá thương hiệu Biển Việt Nam
a) Mục tiêu:
- Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả chiến lược thương hiệu của các địa phương mình, tập trung vào các nhóm thương hiệu sau đây:
+ Các sản vật tự nhiên, hoặc sản phẩm thủ công truyền thống gắn với biển, hải đảo có giá trị tiêu dùng và uy tín, chất lượng trên thị trường, có tên gọi, địa chỉ xuất xứ hàng hóa;
+ Các khu dịch vụ nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí tại các vùng biển, hải đảo có chất lượng sinh thái môi trường cao đã có thương hiệu và đạt đẳng cấp quốc tế và khu vực;
+ Các địa điểm và quần thể tham quan ven biển, trên các hải đảo có giá trị văn hóa lịch sử và thương mại, các khu bảo tồn biển, đất ngập nước;
- Cộng đồng dân cư sống ven biển, trên các đảo và cộng đồng nói chung phấn đấu trở thành “Đại sứ tiếp thị” cho thương hiệu biển Việt Nam trong việc tạo dựng và bảo vệ thương hiệu vùng miền;
- Các doanh nghiệp, hiệp hội kinh doanh các ngành, nghề khai thác biển chủ động và tích cực tham gia thực hiện chiến lược phát triển thương hiệu đối với các lĩnh vực, ngành nghề có thương hiệu, đạt đẳng cấp quốc tế hoặc khu vực;
+ Công nghiệp khai thác, chế biến, xuất khẩu và dịch vụ hậu cần dầu khí;
+ Công nghiệp đóng tàu;
+ Dịch vụ kiểm định chất lượng tàu biển, công trình biển;
+ Công nghiệp vận tải tàu biển và dịch vụ hàng hải;
+ Nuôi trồng và chế biến thủy sản.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương, Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan đại diện ngoại giao, đại diện thương mại, xúc tiến đầu tư và du lịch (có trụ sở trong nước hoặc tại nước ngoài) đóng vai trò tích cực trong việc hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp, hiệp hội kinh tế trong các ngành, nghề khai thác biển xây dựng và triển khai thành công chiến lược quảng bá thương hiệu biển Việt Nam ra thị trường quốc tế; tổ chức được các diễn đàn, hội chợ, giao lưu văn hóa - du lịch biển (các Festival và lễ hội truyền thống) định kỳ ở quy mô quốc tế và quốc gia.
b) Nhiệm vụ cụ thể:
- Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phát động cuộc thi ý tưởng và sáng tác biểu trưng Thương hiệu Quốc gia biển của Việt Nam;
- Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xác định và lồng ghép các nội dung xây dựng, quảng bá các thương hiệu biển Việt Nam trong Chương trình Thương hiệu quốc gia;
- Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, hiệp hội kinh tế trong các ngành, nghề khai thác biển định hướng cho các doanh nghiệp đổi mới chiến lược khai thác, chế biến sản phẩm từ biển phục vụ xuất khẩu dựa trên tiêu chí các thương hiệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn về phát triển bền vững và thân thiện với môi trường;
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng chương trình quảng bá các sản phẩm nông nghiệp, hải sản thân thiện với môi trường; thúc đẩy gắn Nhãn chứng nhận thân thiện với môi trường của các tổ chức quốc tế có uy tín; quảng bá các khu bảo tồn biển, các loài động vật quý hiếm, các hệ sinh thái biển và ven biển cần được bảo vệ của Việt Nam;
- Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì tổ chức các diễn đàn xây dựng, giới thiệu, quảng bá “Thương hiệu biển Việt Nam” với sản phẩm biển của các địa phương, các ngành nghề trong nước; thống nhất các tiêu chuẩn nhận diện và thừa nhận các thương hiệu địa danh biển, hải đảo Việt Nam đã đạt tới cấp độ quốc gia và đẳng cấp quốc tế;
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng kế hoạch ưu tiên xúc tiến đầu tư nước ngoài vào các ngành, nghề, địa phương có mục tiêu nâng tầm thương hiệu đạt đẳng cấp quốc tế và khu vực; phối hợp với Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển kêu gọi đầu tư khai thác các dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí trên một số hải đảo ven bờ có tiềm năng du lịch;
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, khảo sát và xây dựng phương án tổ chức một số dự kiện lớn, có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế về văn hóa - thể thao và du lịch biển ở một số thành phố ven biển; phối hợp với các Bộ: Ngoại giao, Công thương, Kế hoạch và Đầu tư tập huấn cho cán bộ các cơ quan đại diện ngoại giao, thương mại, du lịch của Việt Nam ở nước ngoài về xây dựng, quảng bá thương hiệu biển Việt Nam tại các nước đối tác có tiềm năng;
- Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, các quỹ bảo vệ môi trường của Bộ, ngành, địa phương có kế hoạch tài trợ xây dựng thương hiệu cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các sản phẩm từ biển, dịch vụ liên quan đến biển thân thiện với môi trường và khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển;
- Các doanh nghiệp, hiệp hội các ngành, nghề khai thác biển có kế hoạch tổ chức tập huấn nâng cao ý thức cho người lao động và trong cộng đồng về xây dựng, củng cố và bảo vệ thương hiệu biển.
Hình thức, sản phẩm tuyên truyền:
- Tổ chức sự kiện kinh tế, văn hóa thể thao và du lịch tại các địa phương ven biển; tổ chức các cuộc thi sáng tác biểu tượng, nhãn hiệu thương mại; các giải thưởng hàng năm của Nhà nước hoặc các Hiệp hội kinh tế trên cơ sở các mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường biển;
- Tổ chức các lớp tập huấn, phổ biến kiến thức về thương hiệu biển cho các cơ quan, đơn vị ở Trung ương, địa phương;
- Các tin bài và ấn phẩm để quảng bá thương hiệu biển cho các địa phương và doanh nghiệp Việt Nam.