Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 3486/QĐ-UBND năm 2012 quản lý sử dụng nguồn thu từ xử lý vi phạm

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "31/10/2012", "sign_number": "3486/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Quang", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "31/10/2012", "sign_number": "3486/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Quang", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "31/10/2012", "sign_number": "3486/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Quang", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "31/10/2012", "sign_number": "3486/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Quang", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "31/10/2012", "sign_number": "3486/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Quang", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 3486/QĐ-UBND năm 2012 quản lý sử dụng nguồn thu từ xử lý vi phạm

Điều 1. Ban hành Quy định quản lý, sử dụng nguồn thu từ xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, với các nội dung chính sau:
...
4. Nội dung chi phí ngoài mức khoán: Sau khi trừ tỷ lệ % (phần trăm) mức khoán chi phí tại Điều 2 cho cơ quan, đơn vị có liên quan; số tiền thu còn lại được trích kinh phí chi cho cơ quan, đơn vị chủ trì ra quyết định hoặc cơ quan, đơn vị trực tiếp tham mưu cấp có thẩm quyền ra quyết định xử lý vi phạm hành chính, vi phạm pháp luật hình sự trong lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và được quản lý, sử dụng theo Khoản 3, Điều 1, Thông tư số 51/2010/TT-BTC ngày 14/4/2010 của Bộ Tài chính như sau:
a) Đối với vụ chống hàng giả cơ quan chủ trì được sử dụng 100% tổng số tiền đã thu, nộp.
b) Đối với vụ chống buôn lậu, gian lận thương mại cơ quan chủ trì được sử dụng 50% tổng số tiền đã thu, nộp.
Đối với các vụ chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả việc phát hiện, điều tra, xử lý có sự tham gia của hai lực lượng trở lên (kể cả đối với lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng) chuyển hồ sơ vụ việc, tài sản cho cơ quan, đơn vị chủ trì xử lý ra quyết định xử phạt, tịch thu tài sản hoặc tham mưu cấp thẩm quyền quyết định xử phạt, tịch thu tài sản; sau khi trừ mức khoán chi phí cho cơ quan, đơn vị có liên quan tại Điều 2. Số tiền: phạt vi phạm hành chính, tiền bán tài sản tịch thu còn lại được trích kinh phí chi cho cơ quan, đơn vị chủ trì xử lý; thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì xử lý có trách nhiệm căn cứ vào tính chất phức tạp của vụ việc và mức độ tham gia của từng cơ quan, đơn vị và ra quyết định phân chia kinh phí được sử dụng 100% đối với vụ hàng giả, 50% đối với kinh phí được sử dụng chống buôn lậu, gian lận thương mại; số kinh phí phân chia để quản lý, sử dụng tại khoản 1, Điều này phải đảm bảo công khai, dân chủ.
c) Số kinh phí trích theo điểm a, điểm b, khoản 1, Điều này được coi là 100% và được quản lý, sử dụng theo điểm a, điểm b, Khoản 3, Thông tư số 51/2010/TT- BTC ngày 14/4/2010 của Bộ Tài chính.
Số thu từ tiền phạt vi phạm hành chính, tiền bán tài sản tịch thu và các khoản thu khác còn lại sau khi khoán chi phí tại Điều 2 và trích kinh phí cho cơ quan, đơn vị chủ trì xử lý chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả để quản lý, sử dụng tại Điều này; nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định.
Riêng, tiền phạt vi phạm hành chính, tiền bán gỗ, lâm sản, tang vật, phương tiện, vật phẩm,… trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng; sau khi trừ mức khoán chi phí, trích kinh phí sử dụng tại điểm b, khoản 1, Điều này; còn lại nộp ngân sách của từng cấp do UBND (tỉnh hoặc huyện, thành phố) quyết định chi cho công tác quản lý, bảo vệ rừng theo chủ trương của UBND tỉnh.

Content:
Nội dung chi phí ngoài mức khoán: Sau khi trừ tỷ lệ % (phần trăm) mức khoán chi phí tại Điều 2 cho cơ quan, đơn vị có liên quan; số tiền thu còn lại được trích kinh phí chi cho cơ quan, đơn vị chủ trì ra quyết định hoặc cơ quan, đơn vị trực tiếp tham mưu cấp có thẩm quyền ra quyết định xử lý vi phạm hành chính, vi phạm pháp luật hình sự trong lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và được quản lý, sử dụng theo Khoản 3, Điều 1, Thông tư số 51/2010/TT-BTC ngày 14/4/2010 của Bộ Tài chính như sau:
a) Đối với vụ chống hàng giả cơ quan chủ trì được sử dụng 100% tổng số tiền đã thu, nộp.
b) Đối với vụ chống buôn lậu, gian lận thương mại cơ quan chủ trì được sử dụng 50% tổng số tiền đã thu, nộp.
Đối với các vụ chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả việc phát hiện, điều tra, xử lý có sự tham gia của hai lực lượng trở lên (kể cả đối với lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng) chuyển hồ sơ vụ việc, tài sản cho cơ quan, đơn vị chủ trì xử lý ra quyết định xử phạt, tịch thu tài sản hoặc tham mưu cấp thẩm quyền quyết định xử phạt, tịch thu tài sản; sau khi trừ mức khoán chi phí cho cơ quan, đơn vị có liên quan tại Điều 2. Số tiền: phạt vi phạm hành chính, tiền bán tài sản tịch thu còn lại được trích kinh phí chi cho cơ quan, đơn vị chủ trì xử lý; thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì xử lý có trách nhiệm căn cứ vào tính chất phức tạp của vụ việc và mức độ tham gia của từng cơ quan, đơn vị và ra quyết định phân chia kinh phí được sử dụng 100% đối với vụ hàng giả, 50% đối với kinh phí được sử dụng chống buôn lậu, gian lận thương mại; số kinh phí phân chia để quản lý, sử dụng tại khoản 1, Điều này phải đảm bảo công khai, dân chủ.
c) Số kinh phí trích theo điểm a, điểm b, khoản 1, Điều này được coi là 100% và được quản lý, sử dụng theo điểm a, điểm b, Khoản 3, Thông tư số 51/2010/TT- BTC ngày 14/4/2010 của Bộ Tài chính.
Số thu từ tiền phạt vi phạm hành chính, tiền bán tài sản tịch thu và các khoản thu khác còn lại sau khi khoán chi phí tại Điều 2 và trích kinh phí cho cơ quan, đơn vị chủ trì xử lý chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả để quản lý, sử dụng tại Điều này; nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định.
Riêng, tiền phạt vi phạm hành chính, tiền bán gỗ, lâm sản, tang vật, phương tiện, vật phẩm,… trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng; sau khi trừ mức khoán chi phí, trích kinh phí sử dụng tại điểm b, khoản 1, Điều này; còn lại nộp ngân sách của từng cấp do UBND (tỉnh hoặc huyện, thành phố) quyết định chi cho công tác quản lý, bảo vệ rừng theo chủ trương của UBND tỉnh.