Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2067/QĐ-UBND 2014 Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp Bắc Giang

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "23/12/2014", "sign_number": "2067/QĐ-UBND", "signer": "Dương Văn Thái", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "23/12/2014", "sign_number": "2067/QĐ-UBND", "signer": "Dương Văn Thái", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "23/12/2014", "sign_number": "2067/QĐ-UBND", "signer": "Dương Văn Thái", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "23/12/2014", "sign_number": "2067/QĐ-UBND", "signer": "Dương Văn Thái", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bắc Giang", "promulgation_date": "23/12/2014", "sign_number": "2067/QĐ-UBND", "signer": "Dương Văn Thái", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2067/QĐ-UBND 2014 Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp Bắc Giang

Điều 1. Phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Giang theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2015-2020, với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
3. Lĩnh vực lâm nghiệp
3.1. Định hướng phát triển
- Điều chỉnh lại cơ cấu 3 loại rừng, theo hướng giảm diện tích rừng đặc dụng cho phù hợp với hiện trạng quản lý theo Quy hoạch rừng đặc dụng cấp tỉnh đã được phê duyệt; tăng diện tích đất rừng sản xuất; tăng diện tích phòng hộ thuộc dãy núi Nham Biền; tăng diện tích rừng rừng sản xuất, trong đó bổ sung vào đất rừng sản xuất diện tích vườn quả trước đây nay đã chuyển sang trồng rừng.
- Làm giàu rừng tự nhiên với diện tích khoảng 1.000 ha; cải tạo chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt, kém chất lượng sang trồng rừng kinh tế 2.300,0 ha.
- Áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ, giống mới vào trồng rừng nhằm nâng cao năng suất rừng trồng bình quân lên 20 m3/ha/năm; mở rộng diện tích kinh doanh rừng gỗ lớn, đến năm 2020 dự kiến diện tích kinh doanh rừng gỗ lớn khoảng 7.200 ha, chiếm khoảng 10% tổng diện tích rừng trồng sản xuất của tỉnh.
- Khai thác gỗ bình quân 250.000 m3/năm vào năm 2015 và đến năm 2020 đạt 350.000 m3/năm, trong đó tỷ lệ gỗ lớn chiếm 40% tổng sản lượng khai thác.
- Sản phẩm chế biến gỗ: Tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu (gỗ dán, gỗ ghép thanh, ván MDF, đồ mộc xuất khẩu) ở mức 42,3% vào năm 2015 và lên 60 % vào năm 2020; giảm tỷ trọng sản phẩm thô, sơ chế (gỗ trụ mỏ, dăm gỗ, bột giấy, khác) ở mức 57,7% năm 2015 và giảm xuống 40,0 % vào năm 2020.
3.2. Nội dung tái cơ cấu
- Cơ cấu các loại rừng: Thực hiện rà soát, điều chỉnh lại Quy hoạch 3 loại rừng cho phù hợp với thực tiễn và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh. Dự kiến quy mô 3 loại rừng sau điều chỉnh quy hoạch như sau: rừng đặc dụng là 13.379 ha (theo hiện trạng quản lý của Quy hoạch rừng đặc dụng cấp tỉnh đã được phê duyệt); rừng phòng hộ khoảng 20.500 ha (trong đó điều chỉnh tăng khoảng 1.600 ha tại dãy núi Nham Biền); rà soát điều chỉnh tăng diện tích đất rừng sản xuất, trong đó sẽ rà soát để bổ sung khoảng 7.000 ha đất vườn quả đã chuyển sang trồng rừng để quy hoạch sang đất rừng sản xuất.
- Nâng cao chất lượng rừng:
Tiếp tục điều tra đánh giá năng suất một số loài cây trồng lâm nghiệp chính trên địa bàn tỉnh, lựa chọn giống mới, giống tiến bộ kỹ thuật đã được công nhận có năng suất cao đưa vào trồng rừng; công nhận nguồn giống một số loài cây bản địa (Lim xanh, Vôi thuốc, Dẻ,..) để phục vụ trồng rừng gỗ lớn, làm giàu rừng tự nhiên. Tập trung chỉ đạo xây dựng mô hình "cánh rừng mẫu lớn": trồng cây bản địa, cây dược liệu dưới tán rừng, xây dựng dự án mô hình trồng rừng gỗ lớn và chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn; quy hoạch vùng sản xuất kinh doanh gỗ lớn; xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ trồng rừng, chuyển hóa rừng trồng sang kinh doanh gỗ lớn trên địa bàn tỉnh.
Đối với rừng tự nhiên: Quản lý, sử dụng bền vững khoảng 56.000 ha rừng tự nhiên hiện có; cải tạo, chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt, kém chất lượng sang trồng rừng kinh tế 2.300,0 ha; xây dựng các mô hình làm giàu rừng tự nhiên bằng biện pháp trồng bổ sung cây bản địa (Lim xanh, Lát hoa, Dẻ, Vối thuốc, Giổi xanh,..), trồng cây dược liệu (Ba kích, Đinh lăng, Gấc, Địa hoàng, Địa liền, Kim tiền thảo, Sa nhân, mắt nai...); cây lâm sản ngoài gỗ (Song, mây, tre luồng,..) diện tích khoảng 1,000 ha; thu hút đầu tư xây dựng dự án trồng cây dược liệu; dự án đầu tư trồng và chế biến mây tre đan.
Đối với rừng trồng: Phát triển, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng: Từ nay đến năm 2020 thực hiện trồng khoảng 29.000 ha (trồng mới 7.000 ha, trồng lại rừng sau khai thác 22.000 ha), trong đó: Giai đoạn 2014-2015: trồng 9.300 ha, giai đoạn 2016-2020: trồng 19.700 ha. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 trồng và chuyển hóa rừng sang kinh doanh gỗ lớn khoảng 4.200 ha. Đến năm 2020 diện tích rừng kinh doanh gỗ lớn toàn tỉnh 7.200 ha, chiếm 10 % diện tích rừng trồng sản xuất của tỉnh. Tuyên truyền, vận động và hướng dẫn các chủ rừng áp dụng biện pháp tỉa thưa cây phù trợ, kéo dài chu kỳ kinh doanh đối với rừng trồng hỗn giao thông xen keo thuộc Dự án trồng rừng Việt - Đức để cung cấp gỗ lớn.
- Phát triển công nghiệp chế biến gỗ:
Cơ cấu lại sản phẩm chế biến, chuyển hướng tăng cường chế biến sản xuất sản phẩm gỗ nội thất, sản xuất ván nhân tạo phục vụ sản xuất đồ gỗ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu; từng bước hạn chế xuất khẩu dăm gỗ, sản phẩm sơ chế. Tăng cường xúc tiến thu hút đầu tư phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn với đầu tư công nghiệp chế biến; nâng cấp các cơ sở chế biến gỗ lớn trên địa bàn tỉnh để tăng công suất lên gấp đôi; quan tâm và tạo điều kiện nâng cấp một số làng nghề chế biến đồ mộc dân dụng đã hình thành ở một số địa phương hoạt động hiệu quả. Kêu gọi dự án đầu tư, xây dựng 01 nhà máy chế biến (ván MDF, ván ghép thanh, ván dăm) với công suất tiêu thụ 25.000 - 40.000 m3/năm với công nghệ hiện đại, tận dụng và tiết kiệm gỗ phục vụ cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
- Mô hình tổ chức quản lý rừng:
Các tổ chức quản lý rừng thuộc khu vực nhà nước: Ổn định cơ cấu diện tích của các tổ chức nhà nước trực tiếp quản lý diện tích rừng khoảng 31,1% diện tích đất rừng (45.798 ha), gồm toàn bộ diện tích rừng đặc dụng (13.379 ha), 95,9% đất rừng phòng hộ (18.048 ha) và 12,5 % đất rừng sản xuất. Đối với diện tích rừng do UBND cấp xã đang quản lý (khoảng 1.655 ha), xem xét tiếp tục thực hiện giao, cho thuê rừng theo quy định.
Mô hình tổ chức quản lý rừng: Đối với các BQL rừng phòng hộ, đặc dụng vẫn giữ nguyên đầu mối các tổ chức như hiện nay. Đối với các doanh nghiệp lâm nghiệp tiếp tục sắp xếp lại theo tinh thần Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị.

Content:
Lĩnh vực lâm nghiệp
3.1. Định hướng phát triển
- Điều chỉnh lại cơ cấu 3 loại rừng, theo hướng giảm diện tích rừng đặc dụng cho phù hợp với hiện trạng quản lý theo Quy hoạch rừng đặc dụng cấp tỉnh đã được phê duyệt; tăng diện tích đất rừng sản xuất; tăng diện tích phòng hộ thuộc dãy núi Nham Biền; tăng diện tích rừng rừng sản xuất, trong đó bổ sung vào đất rừng sản xuất diện tích vườn quả trước đây nay đã chuyển sang trồng rừng.
- Làm giàu rừng tự nhiên với diện tích khoảng 1.000 ha; cải tạo chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt, kém chất lượng sang trồng rừng kinh tế 2.300,0 ha.
- Áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ, giống mới vào trồng rừng nhằm nâng cao năng suất rừng trồng bình quân lên 20 m3/ha/năm; mở rộng diện tích kinh doanh rừng gỗ lớn, đến năm 2020 dự kiến diện tích kinh doanh rừng gỗ lớn khoảng 7.200 ha, chiếm khoảng 10% tổng diện tích rừng trồng sản xuất của tỉnh.
- Khai thác gỗ bình quân 250.000 m3/năm vào năm 2015 và đến năm 2020 đạt 350.000 m3/năm, trong đó tỷ lệ gỗ lớn chiếm 40% tổng sản lượng khai thác.
- Sản phẩm chế biến gỗ: Tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu (gỗ dán, gỗ ghép thanh, ván MDF, đồ mộc xuất khẩu) ở mức 42,3% vào năm 2015 và lên 60 % vào năm 2020; giảm tỷ trọng sản phẩm thô, sơ chế (gỗ trụ mỏ, dăm gỗ, bột giấy, khác) ở mức 57,7% năm 2015 và giảm xuống 40,0 % vào năm 2020.
3.2. Nội dung tái cơ cấu
- Cơ cấu các loại rừng: Thực hiện rà soát, điều chỉnh lại Quy hoạch 3 loại rừng cho phù hợp với thực tiễn và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh. Dự kiến quy mô 3 loại rừng sau điều chỉnh quy hoạch như sau: rừng đặc dụng là 13.379 ha (theo hiện trạng quản lý của Quy hoạch rừng đặc dụng cấp tỉnh đã được phê duyệt); rừng phòng hộ khoảng 20.500 ha (trong đó điều chỉnh tăng khoảng 1.600 ha tại dãy núi Nham Biền); rà soát điều chỉnh tăng diện tích đất rừng sản xuất, trong đó sẽ rà soát để bổ sung khoảng 7.000 ha đất vườn quả đã chuyển sang trồng rừng để quy hoạch sang đất rừng sản xuất.
- Nâng cao chất lượng rừng:
Tiếp tục điều tra đánh giá năng suất một số loài cây trồng lâm nghiệp chính trên địa bàn tỉnh, lựa chọn giống mới, giống tiến bộ kỹ thuật đã được công nhận có năng suất cao đưa vào trồng rừng; công nhận nguồn giống một số loài cây bản địa (Lim xanh, Vôi thuốc, Dẻ,..) để phục vụ trồng rừng gỗ lớn, làm giàu rừng tự nhiên. Tập trung chỉ đạo xây dựng mô hình "cánh rừng mẫu lớn": trồng cây bản địa, cây dược liệu dưới tán rừng, xây dựng dự án mô hình trồng rừng gỗ lớn và chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn; quy hoạch vùng sản xuất kinh doanh gỗ lớn; xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ trồng rừng, chuyển hóa rừng trồng sang kinh doanh gỗ lớn trên địa bàn tỉnh.
Đối với rừng tự nhiên: Quản lý, sử dụng bền vững khoảng 56.000 ha rừng tự nhiên hiện có; cải tạo, chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt, kém chất lượng sang trồng rừng kinh tế 2.300,0 ha; xây dựng các mô hình làm giàu rừng tự nhiên bằng biện pháp trồng bổ sung cây bản địa (Lim xanh, Lát hoa, Dẻ, Vối thuốc, Giổi xanh,..), trồng cây dược liệu (Ba kích, Đinh lăng, Gấc, Địa hoàng, Địa liền, Kim tiền thảo, Sa nhân, mắt nai...); cây lâm sản ngoài gỗ (Song, mây, tre luồng,..) diện tích khoảng 1,000 ha; thu hút đầu tư xây dựng dự án trồng cây dược liệu; dự án đầu tư trồng và chế biến mây tre đan.
Đối với rừng trồng: Phát triển, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng: Từ nay đến năm 2020 thực hiện trồng khoảng 29.000 ha (trồng mới 7.000 ha, trồng lại rừng sau khai thác 22.000 ha), trong đó: Giai đoạn 2014-2015: trồng 9.300 ha, giai đoạn 2016-2020: trồng 19.700 ha. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 trồng và chuyển hóa rừng sang kinh doanh gỗ lớn khoảng 4.200 ha. Đến năm 2020 diện tích rừng kinh doanh gỗ lớn toàn tỉnh 7.200 ha, chiếm 10 % diện tích rừng trồng sản xuất của tỉnh. Tuyên truyền, vận động và hướng dẫn các chủ rừng áp dụng biện pháp tỉa thưa cây phù trợ, kéo dài chu kỳ kinh doanh đối với rừng trồng hỗn giao thông xen keo thuộc Dự án trồng rừng Việt - Đức để cung cấp gỗ lớn.
- Phát triển công nghiệp chế biến gỗ:
Cơ cấu lại sản phẩm chế biến, chuyển hướng tăng cường chế biến sản xuất sản phẩm gỗ nội thất, sản xuất ván nhân tạo phục vụ sản xuất đồ gỗ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu; từng bước hạn chế xuất khẩu dăm gỗ, sản phẩm sơ chế. Tăng cường xúc tiến thu hút đầu tư phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn với đầu tư công nghiệp chế biến; nâng cấp các cơ sở chế biến gỗ lớn trên địa bàn tỉnh để tăng công suất lên gấp đôi; quan tâm và tạo điều kiện nâng cấp một số làng nghề chế biến đồ mộc dân dụng đã hình thành ở một số địa phương hoạt động hiệu quả. Kêu gọi dự án đầu tư, xây dựng 01 nhà máy chế biến (ván MDF, ván ghép thanh, ván dăm) với công suất tiêu thụ 25.000 - 40.000 m3/năm với công nghệ hiện đại, tận dụng và tiết kiệm gỗ phục vụ cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
- Mô hình tổ chức quản lý rừng:
Các tổ chức quản lý rừng thuộc khu vực nhà nước: Ổn định cơ cấu diện tích của các tổ chức nhà nước trực tiếp quản lý diện tích rừng khoảng 31,1% diện tích đất rừng (45.798 ha), gồm toàn bộ diện tích rừng đặc dụng (13.379 ha), 95,9% đất rừng phòng hộ (18.048 ha) và 12,5 % đất rừng sản xuất. Đối với diện tích rừng do UBND cấp xã đang quản lý (khoảng 1.655 ha), xem xét tiếp tục thực hiện giao, cho thuê rừng theo quy định.
Mô hình tổ chức quản lý rừng: Đối với các BQL rừng phòng hộ, đặc dụng vẫn giữ nguyên đầu mối các tổ chức như hiện nay. Đối với các doanh nghiệp lâm nghiệp tiếp tục sắp xếp lại theo tinh thần Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị.