Document: Điều 24 Nghị định 72-CP hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động về việc làm

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "31/10/1995", "sign_number": "72-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "31/10/1995", "sign_number": "72-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "31/10/1995", "sign_number": "72-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "31/10/1995", "sign_number": "72-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "31/10/1995", "sign_number": "72-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 24 Nghị định 72-CP hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động về việc làm có nội dung như sau:

Điều 24. - Cơ sở để tính trợ cấp mất việc làm được quy định tại khoản 1, Điều 17 của Bộ Luật Lao động.
1. Mức lương để tính trợ cấp mất việc làm được quy định tại Nghị định số 197/CP ngày 31-12-1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Bộ Luật lao động về tiền lương.
2. Thời hạn để tính trợ cấp mất việc làm là thời gian làm việc liên tục cho người sử dụng lao động đó đến khi bị mất việc làm.
Trường hợp người lao động trong doanh nghiệp Nhà nước bị mất việc làm theo quy định tại khoản 1, Điều 17 của Bộ Luật lao động và Điều 25 Nghị định này mà trước đó đã có thời gian làm việc ở các đơn vị khác cũng thuộc khu vực Nhà nước nhưng chưa được nhận trợ cấp thôi việc, mất việc làm, thì thời gian đó được tính để nhận trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc được trả 1/2 tháng lương. Khoản tiền này đơn vị cũ chuyển theo thông báo của đơn vị mà người lao động đang làm việc, để đơn vị này trả cho người lao động. Trong trường hợp đơn vị cũ đã giải thể thì khoản trợ cấp thôi việc do ngân sách Nhà nước chi trả, đơn vị đang hoạt động có người mất việc làm trả thay khoản trợ cấp thôi việc này cho người lao động và được ngân sách Nhà nước cấp hoàn lại.
3. Thời gian làm việc có tháng lẻ được quy định như sau:
a) Dưới 1 tháng không được tính.
b) Từ 1 tháng đến dưới 7 tháng được tính bằng 6 tháng làm việc.
c) Từ đủ 7 tháng đến hết 12 tháng được tính bằng 1 năm làm việc.

Content:
Điều 24. - Cơ sở để tính trợ cấp mất việc làm được quy định tại khoản 1, Điều 17 của Bộ Luật Lao động.
1. Mức lương để tính trợ cấp mất việc làm được quy định tại Nghị định số 197/CP ngày 31-12-1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Bộ Luật lao động về tiền lương.
2. Thời hạn để tính trợ cấp mất việc làm là thời gian làm việc liên tục cho người sử dụng lao động đó đến khi bị mất việc làm.
Trường hợp người lao động trong doanh nghiệp Nhà nước bị mất việc làm theo quy định tại khoản 1, Điều 17 của Bộ Luật lao động và Điều 25 Nghị định này mà trước đó đã có thời gian làm việc ở các đơn vị khác cũng thuộc khu vực Nhà nước nhưng chưa được nhận trợ cấp thôi việc, mất việc làm, thì thời gian đó được tính để nhận trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc được trả 1/2 tháng lương. Khoản tiền này đơn vị cũ chuyển theo thông báo của đơn vị mà người lao động đang làm việc, để đơn vị này trả cho người lao động. Trong trường hợp đơn vị cũ đã giải thể thì khoản trợ cấp thôi việc do ngân sách Nhà nước chi trả, đơn vị đang hoạt động có người mất việc làm trả thay khoản trợ cấp thôi việc này cho người lao động và được ngân sách Nhà nước cấp hoàn lại.
3. Thời gian làm việc có tháng lẻ được quy định như sau:
a) Dưới 1 tháng không được tính.
b) Từ 1 tháng đến dưới 7 tháng được tính bằng 6 tháng làm việc.
c) Từ đủ 7 tháng đến hết 12 tháng được tính bằng 1 năm làm việc.