Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 70/2002/QĐ-UB quy hoạch phát triển Thủy sản Ninh Thuận

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "25/06/2002", "sign_number": "70/2002/QĐ-UB", "signer": "***", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "25/06/2002", "sign_number": "70/2002/QĐ-UB", "signer": "***", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "25/06/2002", "sign_number": "70/2002/QĐ-UB", "signer": "***", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "25/06/2002", "sign_number": "70/2002/QĐ-UB", "signer": "***", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "25/06/2002", "sign_number": "70/2002/QĐ-UB", "signer": "***", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 70/2002/QĐ-UB quy hoạch phát triển Thủy sản Ninh Thuận

Điều 1. Phê duyệt (điều chỉnh) quy hoạch phát triển ngành Thủy sản giai đoạn 2001 - 2010 với những nội dung như sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể:
Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành Thủy sản cả giai đoạn 11,8% trong đó giai đoạn đến năm 2005: 13 - 14%. Giá trị GDP tăng gấp 1,62 lần so với năm 2000.
Chuyển đổi cơ cấu trong ngành Thủy sản theo hướng tăng tỷ trọng nuôi trồng. Phấn đấu đến năm 2005 giá trị ngành nuôi trồng chiếm 60 - 60,5%, khai thác chiếm 40 - 40,5% và đến năm 2010 nuôi trồng chiếm 76%, khai thác chiếm 24% trong cơ cấu giá trị sản xuất của ngành Thủy sản.
Giá trị kim ngạch xuất khẩu 40 - 42 triệu USD năm 2010, trong đó đến năm 2005 đạt 20 triệu USD tăng bình quân hàng năm 28%.
Tổng sản lượng khai thác thủy sản đến năm 2005: 46.000 tấn, trong đó khai thác 40.000 tấn, tăng bình quân năm 6,6%, nuôi trống 6.000 tấn tăng bình quân 26,8%. Giai đoạn đến 2010 tổng sản lượng thủy sản: 57.000 tấn, trong đó khai thác 45.000 tấn, tăng bình quân 4,49%, nuôi trồng 12.000 tấn, tăng bình quân 20,6%.
Sản lượng tôm giống đến năm 2005: 3,5 tỷ con, tăng bình quân 21,9%. Đến năm 2010: 4,5 - 5 tỷ con, tăng bình quân 13,2%.
II - Nội dung quy hoạch:
1. Khai thác hải sản:
a) Mục tiêu: Sản lượng khai thác hải sản đến năm 2005 đạt 40.000 tấn và đến năm 2010 đạt 45.000 tấn tăng bình quân 4,49%.
b) Nhiệm vụ:
Chuyển đổi cơ cấu tàu thuyền: Tập trung chuyển dịch cơ cấu thuyền nghề để vươn khơi theo hướng CNH - HĐH. Khuyến khích ngư dân đóng mới tàu cá công suất lớn tăng khả năng đánh bắt quanh năm trên ngư trường cả nước.
Chuyển đổi cơ cấu nghề: Hạn chế nghề khai thác ven bờ, khuyến khích phát triển các nghề đánh bắt xa bờ. Đồng thời trang bị nhiều nghề trên một đơn vị thuyền để tăng hiệu quả khai thác, gắn với chuyển đổi cơ cấu sản phẩm tạo nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu.
Thực hiện cơ giới hóa từng bước HĐH khâu khai thác để sản xuất, bảo quản sản phẩm, trang bị an toàn trên biển.
Tổ chức sản xuất: Phải gắn với việc bảo vệ nguồn lợi hải sản nhất là các hải đặc sản có giá trị kinh tế cao như các bãi tôm sú giống, tôm hùm giống, các rạn san hô...
2. Nuôi trồng thủy sản:
a) Mục tiêu: Tập trung phát triển ổn định, bền vững. Phấn đấu đến năm 2005 sản lượng nuôi đạt 6.000 tấn trong đó tôm sú 5.200 tấn, tôm giống 3 tỷ con, cá nước ngọt 100 tấn. Năm 2010 sản lượng nuôi 12.000 tấn có 10.000 tấn tôm sú, sản lượng tôm giống 4,5 - 5 tỷ con, cá nước ngọt khoảng 250 tấn.
b) Nhiệm vụ: Thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nội bộ ngành Thủy sản theo hướng tăng nuôi trồng. Tập trung phát triển nuôi tôm thịt và sản xuất tôm giống, đưa tỷ trọng nuôi trồng thủy sản lên 60% năm 2005 và 76% vào năm 2010. Cụ thể:
Nuôi tôm thịt: Tập trung đầu tư hạ tầng, hình thành vùng sản xuất tôm thịt tập trung có quy mô lớn ở các vùng Sơn Hải, Từ Thiện, Phú Thọ, Đầm Nại, Thái An. Hạn chế mở rộng diện tích nuôi xung quanh Đầm Nại để đảm bảo vấn đề môi trường. Phấn đấu đưa diện tích nuôi tôm đến năm 2005: 2.200 ha và đến năm 2010: 3.000 - 3.500 ha.
Sản xuất tôm giống: Đầu tư xây dựng Ninh Thuận trở thành trung tâm sản xuất tôm giống của cả nước. Trước hết là đầu tư hạ tầng các vùng nuôi tôm giống hiện có như An Hải, Tri Hải, Khánh Nhơn, Mỹ Hòa để đảm bảo sản xuất đủ giống phục vụ nuôi tôm sú cho nhân dân trong và ngoài tỉnh, tăng cường công tác quản lý chất lượng tôm giống.
Riêng khu vực sản xuất tôm giống Bình Sơn đã được quy hoạch phát triển du lịch. Vì vậy trước hết là ổn định sản xuất như hiện trạng, nhưng khi có nhu cầu phát triển du lịch và có các dự án đầu tư cụ thể được UBND tỉnh có chủ trương cho xây dựng thì Nhà nước sẽ thu hồi và giải tỏa.
Phát triển nuôi nước ngọt: Chủ yếu phát triển nuôi cá tại các hồ chứa nước được xây dựng gắn với phát triển du lịch sinh thái đáp ứng nhu cầu thực phẩm tại chổ cho nhân dân địa phương nhất là ở vùng miền núi.

Content:
Mục tiêu cụ thể:
Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành Thủy sản cả giai đoạn 11,8% trong đó giai đoạn đến năm 2005: 13 - 14%. Giá trị GDP tăng gấp 1,62 lần so với năm 2000.
Chuyển đổi cơ cấu trong ngành Thủy sản theo hướng tăng tỷ trọng nuôi trồng. Phấn đấu đến năm 2005 giá trị ngành nuôi trồng chiếm 60 - 60,5%, khai thác chiếm 40 - 40,5% và đến năm 2010 nuôi trồng chiếm 76%, khai thác chiếm 24% trong cơ cấu giá trị sản xuất của ngành Thủy sản.
Giá trị kim ngạch xuất khẩu 40 - 42 triệu USD năm 2010, trong đó đến năm 2005 đạt 20 triệu USD tăng bình quân hàng năm 28%.
Tổng sản lượng khai thác thủy sản đến năm 2005: 46.000 tấn, trong đó khai thác 40.000 tấn, tăng bình quân năm 6,6%, nuôi trống 6.000 tấn tăng bình quân 26,8%. Giai đoạn đến 2010 tổng sản lượng thủy sản: 57.000 tấn, trong đó khai thác 45.000 tấn, tăng bình quân 4,49%, nuôi trồng 12.000 tấn, tăng bình quân 20,6%.
Sản lượng tôm giống đến năm 2005: 3,5 tỷ con, tăng bình quân 21,9%. Đến năm 2010: 4,5 - 5 tỷ con, tăng bình quân 13,2%.
II - Nội dung quy hoạch:
1. Khai thác hải sản:
a) Mục tiêu: Sản lượng khai thác hải sản đến năm 2005 đạt 40.000 tấn và đến năm 2010 đạt 45.000 tấn tăng bình quân 4,49%.
b) Nhiệm vụ:
Chuyển đổi cơ cấu tàu thuyền: Tập trung chuyển dịch cơ cấu thuyền nghề để vươn khơi theo hướng CNH - HĐH. Khuyến khích ngư dân đóng mới tàu cá công suất lớn tăng khả năng đánh bắt quanh năm trên ngư trường cả nước.
Chuyển đổi cơ cấu nghề: Hạn chế nghề khai thác ven bờ, khuyến khích phát triển các nghề đánh bắt xa bờ. Đồng thời trang bị nhiều nghề trên một đơn vị thuyền để tăng hiệu quả khai thác, gắn với chuyển đổi cơ cấu sản phẩm tạo nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu.
Thực hiện cơ giới hóa từng bước HĐH khâu khai thác để sản xuất, bảo quản sản phẩm, trang bị an toàn trên biển.
Tổ chức sản xuất: Phải gắn với việc bảo vệ nguồn lợi hải sản nhất là các hải đặc sản có giá trị kinh tế cao như các bãi tôm sú giống, tôm hùm giống, các rạn san hô...
Nuôi trồng thủy sản:
a) Mục tiêu: Tập trung phát triển ổn định, bền vững. Phấn đấu đến năm 2005 sản lượng nuôi đạt 6.000 tấn trong đó tôm sú 5.200 tấn, tôm giống 3 tỷ con, cá nước ngọt 100 tấn. Năm 2010 sản lượng nuôi 12.000 tấn có 10.000 tấn tôm sú, sản lượng tôm giống 4,5 - 5 tỷ con, cá nước ngọt khoảng 250 tấn.
b) Nhiệm vụ: Thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nội bộ ngành Thủy sản theo hướng tăng nuôi trồng. Tập trung phát triển nuôi tôm thịt và sản xuất tôm giống, đưa tỷ trọng nuôi trồng thủy sản lên 60% năm 2005 và 76% vào năm 2010. Cụ thể:
Nuôi tôm thịt: Tập trung đầu tư hạ tầng, hình thành vùng sản xuất tôm thịt tập trung có quy mô lớn ở các vùng Sơn Hải, Từ Thiện, Phú Thọ, Đầm Nại, Thái An. Hạn chế mở rộng diện tích nuôi xung quanh Đầm Nại để đảm bảo vấn đề môi trường. Phấn đấu đưa diện tích nuôi tôm đến năm 2005: 2.200 ha và đến năm 2010: 3.000 - 3.500 ha.
Sản xuất tôm giống: Đầu tư xây dựng Ninh Thuận trở thành trung tâm sản xuất tôm giống của cả nước. Trước hết là đầu tư hạ tầng các vùng nuôi tôm giống hiện có như An Hải, Tri Hải, Khánh Nhơn, Mỹ Hòa để đảm bảo sản xuất đủ giống phục vụ nuôi tôm sú cho nhân dân trong và ngoài tỉnh, tăng cường công tác quản lý chất lượng tôm giống.
Riêng khu vực sản xuất tôm giống Bình Sơn đã được quy hoạch phát triển du lịch. Vì vậy trước hết là ổn định sản xuất như hiện trạng, nhưng khi có nhu cầu phát triển du lịch và có các dự án đầu tư cụ thể được UBND tỉnh có chủ trương cho xây dựng thì Nhà nước sẽ thu hồi và giải tỏa.
Phát triển nuôi nước ngọt: Chủ yếu phát triển nuôi cá tại các hồ chứa nước được xây dựng gắn với phát triển du lịch sinh thái đáp ứng nhu cầu thực phẩm tại chổ cho nhân dân địa phương nhất là ở vùng miền núi.