Document: Khoản 6 Điều 1 Quyết định 1074/QĐ-UBND 2020 Đề án phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ tỉnh Quảng Trị

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "27/04/2020", "sign_number": "1074/QĐ-UBND", "signer": "Hà Sỹ Đồng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "27/04/2020", "sign_number": "1074/QĐ-UBND", "signer": "Hà Sỹ Đồng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "27/04/2020", "sign_number": "1074/QĐ-UBND", "signer": "Hà Sỹ Đồng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "27/04/2020", "sign_number": "1074/QĐ-UBND", "signer": "Hà Sỹ Đồng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "27/04/2020", "sign_number": "1074/QĐ-UBND", "signer": "Hà Sỹ Đồng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 6 Điều 1 Quyết định 1074/QĐ-UBND 2020 Đề án phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ tỉnh Quảng Trị

Điều 1. Phê duyệt Đề án phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ tỉnh Quảng Trị đến năm 2025 với các nội dung chủ yếu sau:
...
6. Nội dung thực hiện
6.1. Công tác tuyên truyền, vận động
- Tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp có đủ điều kiện tích cực đi đầu tham gia Đề án, tạo tiền đề chuyển đổi mô hình sản xuất nhằm phát triển gỗ và sản phẩm gỗ trên địa bàn tỉnh; khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ với cơ chế chính sách ưu đãi, thông thoáng nhất cho ngành như hỗ trợ về đất đai, thuế, đầu tư, cơ sở hạ tầng dịch vụ hậu cần, lao động, khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại.
- Tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề về sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ rộng rãi cho các đối tượng doanh nghiệp quan tâm, tham gia thảo luận đóng góp ý kiến phát triển thị trường gỗ và sản phẩm gỗ đủ sức cạnh tranh; đối thoại của các cơ quan quản lý nhà nước với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tìm giải pháp, định hướng thúc đẩy ngành gỗ phát triển.
- Tổ chức tham quan, nghiên cứu một số mô hình để lựa chọn mô hình sản xuất tối ưu triển khai tại tình như tham quan ngoài nước, tham quan một số địa phương có ngành gỗ nội thất phát triển như tỉnh Bình Định, Bình Dương, Đồng Nai, TP. HCM... Với sự chủ trì của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan. Tổ chức tham quan nhà máy sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ điển hình trên địa bàn tỉnh để các doanh nghiệp quan tâm, chọn lựa mô hình sản xuất, dòng sản phẩm và hướng đến thị trường phù hợp cho xuất khẩu hoặc tiêu dùng trong nước.
6.2. Thị trường
- Tập trung nghiên cứu, xây dựng chiến lược phát triển các sản phẩm phù hợp, ưu tiên phát triển các mặt hàng chiến lược trong từng thời kỳ phù hợp với nguồn nguyên liệu của từng vùng, từng loại nguyên liệu cụ thể. Trong đó, chú trọng sản xuất đồ nội thất tiêu thụ trong nước do nhu cầu trang bị cho các tòa nhà văn phòng, khu nghỉ dưỡng, nhà chung cư, khách sạn và hộ gia đình tại Việt Nam ngày càng nhiều và tiến đến phát triển các sản phẩm nội, ngoại thất xuất khẩu.
- Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, tăng cường hỗ trợ chi phí tham gia hội chợ triển lãm gỗ và sản phẩm gỗ, đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu theo hướng nâng mức chi thực tế và số lần tham dự so với chính sách hiện hành, áp dụng đến hết năm 2025 để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm nước ngoài, nhất là hội chợ triển lãm gỗ và sản phẩm gỗ tại Singarpore, Mỹ, EU để phát triển thị phần xuất khẩu; tham gia hội chợ triển lãm trong nước kết hợp tập trung thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” gắn mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa.
- Sở Công Thương phối hợp Cục Thương mại Điện tử và Công nghệ Thông tin - Bộ Công Thương tiếp tục hoàn thiện sàn giao dịch điện tử đồ gỗ Quảng Trị đưa vào hoạt động phát huy hiệu quả; phối hợp với Cục Xúc tiến Thương mại, VCCI và Hiệp hội Sản xuất - Xuất nhập khẩu Gỗ và Lâm sản Quảng Trị tích cực mở rộng cơ hội giao thương với khách hàng trong và ngoài nước để quảng bá hình ảnh đồ gỗ Quảng Trị.
- Tăng cường công tác thông tin thị trường, xử lý thông tin nhanh và dự báo chính xác tình hình cung - cầu, giá cả thị trường, rào cản kỹ thuật thương mại... nhằm giúp doanh nghiệp chủ động hội nhập kinh tế, giảm rủi ro trong xuất khẩu hàng hóa. Bên cạnh đó, tăng cường phối hợp với Cục Xúc tiến Thương mại - Bộ Công Thương để hỗ trợ các doanh nghiệp gửi sản phẩm giới thiệu tại các Trung tâm Thương mại Việt Nam ở nước ngoài. Phối hợp tổ chức các hội thảo, mở các lớp tập huấn về xuất khẩu các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ.
- Hiệp hội Sản xuất - Xuẩt nhập khẩu Gỗ và Lâm sản Quảng Trị là đầu mối quan hệ gắn kết chuỗi doanh nghiệp trong cung ứng, sản xuất và tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ; Cung cấp thị trường và giới thiệu khách hàng kết hợp với tư vấn pháp lý giải quyết tranh chấp và đại diện pháp lý cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
6.3. Vốn
- Doanh nghiệp tự cân đối, tính toán nguồn vốn hiệu quả để triển khai đầu tư phát triển sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ, trong đó tập trung vào năng lực cốt lõi của doanh nghiệp đảm bảo đáp ứng yêu cầu thị trường và dòng sản phẩm phù hợp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần phát triển mối quan hệ đối tác với hệ thống các ngân hàng tài trợ cho hoạt động chế biến gỗ và sản phẩm gỗ như BIDV, Vietcombank, Vietinbank, Agribank...
- Các cơ quan, tổ chức tín dụng của tỉnh cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận và vay vốn trung và dài hạn được hỗ trợ lãi; Tiếp cận các cơ chế chính sách mới (Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa) và vay vốn với lãi suất ưu đãi theo Nghị định số 106/2008/NĐ-CP ngày 19/9/2008 của Chính phủ về Tín dụng đầu tư và Tín dụng xuất khẩu của Nhà nước từ Ngân hàng Phát triển. Với tổng nhu cầu vốn đầu tư của Đề án, UBND tỉnh và Ngân hàng Phát triển - Chi nhánh Quảng Trị xem xét cấp cho các doanh nghiệp đầu tư mới máy móc thiết bị sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ hạn mức vay là 70 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi trong giai đoạn 2018 - 2022. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần xây dựng phương án sản xuất kinh doanh để tiếp cận nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh.
- Doanh nghiệp phải tập trung đẩy mạnh tái cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, vốn cần được đầu tư tập trung vào năng lực chủ yếu để đảm bảo đủ vốn đầu tư và phát triển doanh nghiệp.
6.4. Về lao động
- Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, đào tạo kiến thức và kỹ năng, tay nghề phù hợp với sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ, nâng cao trình độ vận hành máy móc, thiết bị của công nhân, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, điều hành sản xuất, kiểm soát tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm của đội ngũ quản lý cấp sơ - trung và kỹ năng quản lý, điều hành của cán bộ quản lý doanh nghiệp.
- Thực hiện công tác đào tạo giai đoạn 2018 - 2025 cho khoảng 4.000 công nhân với tổng kinh phí khoảng trên 12 tỷ đồng, bao gồm hỗ trợ kinh phí đào tạo từ ngân sách tỉnh và hỗ trợ học viên học nghề từ doanh nghiệp từ chương trình 1956 và Chương trình khuyến công tỉnh...
- Nâng cao số lượng và chất lượng công nhân được đào tạo về kỹ thuật và quản lý lực lượng lao động làm tiền đề phát triển sản xuất. Đặc biệt là chú trọng tái cấu trúc bộ máy nhân sự, nâng cao trình độ quản lý, hợp lý hóa quy trình sản xuất như: đào tạo nâng cao trình độ quản lý, giảm bộ phận thừa, trung gian không hiệu quả, nâng cao hiệu quả sản xuất; giảm cán bộ năng lực yếu thông qua thực hiện “Tăng lương - Giảm người”; chăm lo quyền lợi đội ngũ nòng cốt (đặc biệt là công nhân có tay nghề cao, giám đốc điều hành, nhân sự chủ chốt của doanh nghiệp).
6.5. Về công nghệ và quy trình sản xuất
- Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới máy móc, thiết bị, đầu tư quy trình công nghệ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất sản phẩm mới phù hợp với thị trường. Hàng năm, bố trí nguồn kinh phí khuyến công từ Chương trình khuyến công tỉnh đảm bảo nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chế biến gỗ trong đầu tư phát triển sản xuất, đổi mới máy móc thiết bị, ứng dụng khoa học công nghệ mới và sản xuất, áp dụng sản xuất sạch hơn...
- Đưa chính sách hỗ trợ khoa học công nghệ, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật công nghệ vào chương trình phát triển của tỉnh, chỉ đạo Sở Công Thương và Sở Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm thực hiện chương trình.
- Các Sở, Ban ngành phối hợp thành lập kênh thông tin hỗ trợ doanh nghiệp trong tìm kiếm thiết bị công nghệ nhập khẩu từ Châu Âu hay các nước phát triển khác, nắm bắt thông tin hội chợ công nghệ thông tin đến doanh nghiệp tạo cơ hội cho doanh nghiệp tiếp cận, cập nhật công nghệ các nước tiên tiến.
6.6. Nguyên liệu, phụ liệu phục vụ sản xuất
- Tập trung khai thác tối đa lợi thế từ nguồn nguyên liệu tại các vùng nguyên liệu trong tỉnh và sử dụng hiệu quả nguyên liệu nhập khẩu từ Lào và Campuchia. Hiệp hội Sản xuất - Xuất nhập khẩu Gỗ và Lâm sản tỉnh cần chủ động, xây dựng chiến lược vùng nguyên liệu đảm bảo đáp ứng đủ nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến cho các doanh nghiệp trong Hiệp hội. Chủ động làm việc cụ thể với các doanh nghiệp trong việc ký hợp đồng thu mua nguyên liệu từ các lâm trường, trong các hợp tác xã và trong dân. Ngoài ra, cần xây dựng chiến lược phát triển rừng phục vụ sản xuất để chủ động nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến và phát triển bền vững. Bên cạnh đó, cần tập trung nghiên cứu, phát triển các sản phẩm mới, ứng dụng khoa học chế biến gỗ vào sản xuất, thực hiện chiến lược đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm để từng bước đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
- Đẩy mạnh chương trình quy hoạch sử dụng đất, giao và cho thuê đất lâm nghiệp. Giao đất giao rừng gắn liền với quy hoạch sử dụng đất, đồng thời kết hợp với chính sách đầu tư tín dụng của nhà nước và các tổ chức phi chính phủ; Nghiên cứu ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong trồng rừng, các giải pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng gỗ rừng trồng.
- Tổ chức thực hiện tốt, lồng ghép các chương trình, đề án như: Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, Đề án 6 cây 2 con... Và các đề án khác để đẩy mạnh công tác phát triển rừng đảm bảo đáp ứng đủ 70% nhu cầu về nguyên liệu đến năm 2025 cho các doanh nghiệp chế biến gỗ trên toàn tỉnh.
- Khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong đầu tư phát triển nguyên phụ liêu, phụ kiện phục vụ chế biến gỗ xuất khẩu.
6.7. Đất đai - Mặt bằng sản xuất
Đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng và đưa vào hoạt động các khu, cụm, điểm công nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng sản xuất thu hút các dự án chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Tạo mọi điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp trong giải quyết thủ tục hành chính cấp đất, giải phóng mặt bằng trong đầu tư.
6.8. Hợp tác phát triển chuỗi giá trị:
- Đẩy mạnh hoạt động, cơ cấu lại tổ chức, phát triển thành viên, phát huy tối đa và nâng vai trò Hiệp hội Sản xuất - Xuất nhập khẩu Gỗ và Lâm sản tỉnh nhằm đưa Hiệp hội ngày càng phát triển, đóng vai trò là tổ chức đại diện cho doanh nghiệp chế biến gỗ. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức và chủ trương, định hướng của Đảng và nhà nước, vận động các doanh nghiệp tham gia Hội; đào tạo, tập huân nâng cao năng lực quản trị của các doanh nghiệp trong Hiệp hội, nâng cao chất lượng sản phẩm và nghiên cứu thị trường... Qua đó, góp phần đưa doanh nghiệp gỗ Quảng Trị từng bước phát triển và hội nhập sâu rộng vào ngành gỗ của cả nước.
- Hiệp hội gỗ phải là hạt nhân, đóng vai trò tiên phong trong việc tạo mối liên kết bền vững giữa các nhà cung cấp nguyên liệu, vật tư, phụ kiện, hóa chất, các nhà sản xuất thiết bị máy móc, các tổ chức cung cấp dịch vụ hậu cần với các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ và các nhà phân phối, các tập đoàn bán lẻ... giúp giảm giá thành, nâng sức cạnh tranh của sản phẩm và hình thành nên chuỗi giá trị ngành sản xuất đồ gỗ bền vững.
- Xây dựng chuỗi giá trị rừng từ trồng, khai thác, chế biến và xuất khẩu, trong đó tập trung phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn với doanh nghiệp thu mua chế biến để nâng cao giá trị, chất lượng và nguồn gốc sản phẩm nhằm tiến đến quy trình khép kín phục vụ cho phát triển ngành gỗ bền vững; Xây dựng môi quan hệ liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức, cá nhân trồng rừng với người sản xuất, chế biến và kinh doanh thành một chuỗi khép kín, thống nhất các tiêu chuẩn của ngành, quan tâm vấn đề lợi ích từng công đoạn và thương hiệu đầu ra của sản phẩm để đảm bảo hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh để tạo ra quy mô sản lượng lớn... đáp ứng nhu cầu của các tập đoàn mua hàng tầm cỡ thế giới.
6.9. Các chương trình hỗ trợ Đề án
- Tập trung thực hiện tốt Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững: Quy hoạch diện tích đất trồng rừng mang tính tập trung, tránh trường hợp đầu tư phân tán; thủ tục cấp đất trồng rừng thông thoáng, có quy hoạch vùng cụ thể; thực hiện chăm sóc, bảo vệ theo hướng bền vững để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cần thiết về chứng chỉ rừng (FSC) để phát triển và khai thác rừng trồng gỗ lớn. Giải quyết tốt về giống cây trồng cho năng suất cao, chất lượng gỗ tốt; tiến hành các biện pháp thâm canh theo đúng quy trình. Ưu đãi tín dụng đối với các doanh nghiệp đầu tư trồng rừng gắn với hoạt động sản xuất, chế biến gỗ. Tiến tới đạt rừng chứng chỉ FSC với quy mô, diện tích trên 60% đến năm 2025
- Chương trình phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ: cần có chủ trương chính sách kịp thời để ưu đãi phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh như chế tạo phụ kiện, đinh vít, sản xuất bao bì, hóa chất... nhằm giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ nhằm phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh. Đồng thời, từng bước xây dựng và hình thành cơ sở tập trung cho hoạt động nhập khẩu, xẻ sấy gỗ theo quy cách tiêu chuẩn phù hợp để đáp ứng cho cả thị trường đồ gỗ Quảng Trị và cả nước.
- Triển khai các hoạt động nghiên cứu công nghệ (thiết kế sản phẩm) và đào tạo nghề cho ngành chế biến gỗ. Có chính sách để ngân sách Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để thực hiện.
Lồng ghép các chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn (chương trình 1956), Chương trình Khuyến công, Chương trình Xúc tiến thương mại, Chương trình Khuyển nông, Khuyến lâm, Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp... của tỉnh để hỗ trợ khuyến khích phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ. Đặc biệt, ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp trong đầu tư đổi mới, ứng dụng máy móc, thiết bị mới vào sản xuất và chuyển giao công nghệ trong chế biến gỗ; nghiên cứu ứng dụng khoa học về giống; tìm kiếm, mở rộng và xúc tiến thị trường xuất khẩu sản phẩm.

Content:
Nội dung thực hiện
6.1. Công tác tuyên truyền, vận động
- Tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp có đủ điều kiện tích cực đi đầu tham gia Đề án, tạo tiền đề chuyển đổi mô hình sản xuất nhằm phát triển gỗ và sản phẩm gỗ trên địa bàn tỉnh; khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ với cơ chế chính sách ưu đãi, thông thoáng nhất cho ngành như hỗ trợ về đất đai, thuế, đầu tư, cơ sở hạ tầng dịch vụ hậu cần, lao động, khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại.
- Tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề về sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ rộng rãi cho các đối tượng doanh nghiệp quan tâm, tham gia thảo luận đóng góp ý kiến phát triển thị trường gỗ và sản phẩm gỗ đủ sức cạnh tranh; đối thoại của các cơ quan quản lý nhà nước với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tìm giải pháp, định hướng thúc đẩy ngành gỗ phát triển.
- Tổ chức tham quan, nghiên cứu một số mô hình để lựa chọn mô hình sản xuất tối ưu triển khai tại tình như tham quan ngoài nước, tham quan một số địa phương có ngành gỗ nội thất phát triển như tỉnh Bình Định, Bình Dương, Đồng Nai, TP. HCM... Với sự chủ trì của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan. Tổ chức tham quan nhà máy sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ điển hình trên địa bàn tỉnh để các doanh nghiệp quan tâm, chọn lựa mô hình sản xuất, dòng sản phẩm và hướng đến thị trường phù hợp cho xuất khẩu hoặc tiêu dùng trong nước.
6.2. Thị trường
- Tập trung nghiên cứu, xây dựng chiến lược phát triển các sản phẩm phù hợp, ưu tiên phát triển các mặt hàng chiến lược trong từng thời kỳ phù hợp với nguồn nguyên liệu của từng vùng, từng loại nguyên liệu cụ thể. Trong đó, chú trọng sản xuất đồ nội thất tiêu thụ trong nước do nhu cầu trang bị cho các tòa nhà văn phòng, khu nghỉ dưỡng, nhà chung cư, khách sạn và hộ gia đình tại Việt Nam ngày càng nhiều và tiến đến phát triển các sản phẩm nội, ngoại thất xuất khẩu.
- Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, tăng cường hỗ trợ chi phí tham gia hội chợ triển lãm gỗ và sản phẩm gỗ, đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu theo hướng nâng mức chi thực tế và số lần tham dự so với chính sách hiện hành, áp dụng đến hết năm 2025 để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm nước ngoài, nhất là hội chợ triển lãm gỗ và sản phẩm gỗ tại Singarpore, Mỹ, EU để phát triển thị phần xuất khẩu; tham gia hội chợ triển lãm trong nước kết hợp tập trung thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” gắn mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa.
- Sở Công Thương phối hợp Cục Thương mại Điện tử và Công nghệ Thông tin - Bộ Công Thương tiếp tục hoàn thiện sàn giao dịch điện tử đồ gỗ Quảng Trị đưa vào hoạt động phát huy hiệu quả; phối hợp với Cục Xúc tiến Thương mại, VCCI và Hiệp hội Sản xuất - Xuất nhập khẩu Gỗ và Lâm sản Quảng Trị tích cực mở rộng cơ hội giao thương với khách hàng trong và ngoài nước để quảng bá hình ảnh đồ gỗ Quảng Trị.
- Tăng cường công tác thông tin thị trường, xử lý thông tin nhanh và dự báo chính xác tình hình cung - cầu, giá cả thị trường, rào cản kỹ thuật thương mại... nhằm giúp doanh nghiệp chủ động hội nhập kinh tế, giảm rủi ro trong xuất khẩu hàng hóa. Bên cạnh đó, tăng cường phối hợp với Cục Xúc tiến Thương mại - Bộ Công Thương để hỗ trợ các doanh nghiệp gửi sản phẩm giới thiệu tại các Trung tâm Thương mại Việt Nam ở nước ngoài. Phối hợp tổ chức các hội thảo, mở các lớp tập huấn về xuất khẩu các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ.
- Hiệp hội Sản xuất - Xuẩt nhập khẩu Gỗ và Lâm sản Quảng Trị là đầu mối quan hệ gắn kết chuỗi doanh nghiệp trong cung ứng, sản xuất và tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ; Cung cấp thị trường và giới thiệu khách hàng kết hợp với tư vấn pháp lý giải quyết tranh chấp và đại diện pháp lý cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
6.3. Vốn
- Doanh nghiệp tự cân đối, tính toán nguồn vốn hiệu quả để triển khai đầu tư phát triển sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ, trong đó tập trung vào năng lực cốt lõi của doanh nghiệp đảm bảo đáp ứng yêu cầu thị trường và dòng sản phẩm phù hợp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần phát triển mối quan hệ đối tác với hệ thống các ngân hàng tài trợ cho hoạt động chế biến gỗ và sản phẩm gỗ như BIDV, Vietcombank, Vietinbank, Agribank...
- Các cơ quan, tổ chức tín dụng của tỉnh cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận và vay vốn trung và dài hạn được hỗ trợ lãi; Tiếp cận các cơ chế chính sách mới (Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa) và vay vốn với lãi suất ưu đãi theo Nghị định số 106/2008/NĐ-CP ngày 19/9/2008 của Chính phủ về Tín dụng đầu tư và Tín dụng xuất khẩu của Nhà nước từ Ngân hàng Phát triển. Với tổng nhu cầu vốn đầu tư của Đề án, UBND tỉnh và Ngân hàng Phát triển - Chi nhánh Quảng Trị xem xét cấp cho các doanh nghiệp đầu tư mới máy móc thiết bị sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ hạn mức vay là 70 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi trong giai đoạn 2018 - 2022. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần xây dựng phương án sản xuất kinh doanh để tiếp cận nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh.
- Doanh nghiệp phải tập trung đẩy mạnh tái cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, vốn cần được đầu tư tập trung vào năng lực chủ yếu để đảm bảo đủ vốn đầu tư và phát triển doanh nghiệp.
6.4. Về lao động
- Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, đào tạo kiến thức và kỹ năng, tay nghề phù hợp với sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ, nâng cao trình độ vận hành máy móc, thiết bị của công nhân, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, điều hành sản xuất, kiểm soát tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm của đội ngũ quản lý cấp sơ - trung và kỹ năng quản lý, điều hành của cán bộ quản lý doanh nghiệp.
- Thực hiện công tác đào tạo giai đoạn 2018 - 2025 cho khoảng 4.000 công nhân với tổng kinh phí khoảng trên 12 tỷ đồng, bao gồm hỗ trợ kinh phí đào tạo từ ngân sách tỉnh và hỗ trợ học viên học nghề từ doanh nghiệp từ chương trình 1956 và Chương trình khuyến công tỉnh...
- Nâng cao số lượng và chất lượng công nhân được đào tạo về kỹ thuật và quản lý lực lượng lao động làm tiền đề phát triển sản xuất. Đặc biệt là chú trọng tái cấu trúc bộ máy nhân sự, nâng cao trình độ quản lý, hợp lý hóa quy trình sản xuất như: đào tạo nâng cao trình độ quản lý, giảm bộ phận thừa, trung gian không hiệu quả, nâng cao hiệu quả sản xuất; giảm cán bộ năng lực yếu thông qua thực hiện “Tăng lương - Giảm người”; chăm lo quyền lợi đội ngũ nòng cốt (đặc biệt là công nhân có tay nghề cao, giám đốc điều hành, nhân sự chủ chốt của doanh nghiệp).
6.5. Về công nghệ và quy trình sản xuất
- Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới máy móc, thiết bị, đầu tư quy trình công nghệ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất sản phẩm mới phù hợp với thị trường. Hàng năm, bố trí nguồn kinh phí khuyến công từ Chương trình khuyến công tỉnh đảm bảo nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chế biến gỗ trong đầu tư phát triển sản xuất, đổi mới máy móc thiết bị, ứng dụng khoa học công nghệ mới và sản xuất, áp dụng sản xuất sạch hơn...
- Đưa chính sách hỗ trợ khoa học công nghệ, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật công nghệ vào chương trình phát triển của tỉnh, chỉ đạo Sở Công Thương và Sở Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm thực hiện chương trình.
- Các Sở, Ban ngành phối hợp thành lập kênh thông tin hỗ trợ doanh nghiệp trong tìm kiếm thiết bị công nghệ nhập khẩu từ Châu Âu hay các nước phát triển khác, nắm bắt thông tin hội chợ công nghệ thông tin đến doanh nghiệp tạo cơ hội cho doanh nghiệp tiếp cận, cập nhật công nghệ các nước tiên tiến.
6.Nguyên liệu, phụ liệu phục vụ sản xuất
- Tập trung khai thác tối đa lợi thế từ nguồn nguyên liệu tại các vùng nguyên liệu trong tỉnh và sử dụng hiệu quả nguyên liệu nhập khẩu từ Lào và Campuchia. Hiệp hội Sản xuất - Xuất nhập khẩu Gỗ và Lâm sản tỉnh cần chủ động, xây dựng chiến lược vùng nguyên liệu đảm bảo đáp ứng đủ nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến cho các doanh nghiệp trong Hiệp hội. Chủ động làm việc cụ thể với các doanh nghiệp trong việc ký hợp đồng thu mua nguyên liệu từ các lâm trường, trong các hợp tác xã và trong dân. Ngoài ra, cần xây dựng chiến lược phát triển rừng phục vụ sản xuất để chủ động nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến và phát triển bền vững. Bên cạnh đó, cần tập trung nghiên cứu, phát triển các sản phẩm mới, ứng dụng khoa học chế biến gỗ vào sản xuất, thực hiện chiến lược đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm để từng bước đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
- Đẩy mạnh chương trình quy hoạch sử dụng đất, giao và cho thuê đất lâm nghiệp. Giao đất giao rừng gắn liền với quy hoạch sử dụng đất, đồng thời kết hợp với chính sách đầu tư tín dụng của nhà nước và các tổ chức phi chính phủ; Nghiên cứu ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong trồng rừng, các giải pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng gỗ rừng trồng.
- Tổ chức thực hiện tốt, lồng ghép các chương trình, đề án như: Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, Đề án 6 cây 2 con... Và các đề án khác để đẩy mạnh công tác phát triển rừng đảm bảo đáp ứng đủ 70% nhu cầu về nguyên liệu đến năm 2025 cho các doanh nghiệp chế biến gỗ trên toàn tỉnh.
- Khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong đầu tư phát triển nguyên phụ liêu, phụ kiện phục vụ chế biến gỗ xuất khẩu.
6.7. Đất đai - Mặt bằng sản xuất
Đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng và đưa vào hoạt động các khu, cụm, điểm công nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng sản xuất thu hút các dự án chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Tạo mọi điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp trong giải quyết thủ tục hành chính cấp đất, giải phóng mặt bằng trong đầu tư.
6.8. Hợp tác phát triển chuỗi giá trị:
- Đẩy mạnh hoạt động, cơ cấu lại tổ chức, phát triển thành viên, phát huy tối đa và nâng vai trò Hiệp hội Sản xuất - Xuất nhập khẩu Gỗ và Lâm sản tỉnh nhằm đưa Hiệp hội ngày càng phát triển, đóng vai trò là tổ chức đại diện cho doanh nghiệp chế biến gỗ. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức và chủ trương, định hướng của Đảng và nhà nước, vận động các doanh nghiệp tham gia Hội; đào tạo, tập huân nâng cao năng lực quản trị của các doanh nghiệp trong Hiệp hội, nâng cao chất lượng sản phẩm và nghiên cứu thị trường... Qua đó, góp phần đưa doanh nghiệp gỗ Quảng Trị từng bước phát triển và hội nhập sâu rộng vào ngành gỗ của cả nước.
- Hiệp hội gỗ phải là hạt nhân, đóng vai trò tiên phong trong việc tạo mối liên kết bền vững giữa các nhà cung cấp nguyên liệu, vật tư, phụ kiện, hóa chất, các nhà sản xuất thiết bị máy móc, các tổ chức cung cấp dịch vụ hậu cần với các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ và các nhà phân phối, các tập đoàn bán lẻ... giúp giảm giá thành, nâng sức cạnh tranh của sản phẩm và hình thành nên chuỗi giá trị ngành sản xuất đồ gỗ bền vững.
- Xây dựng chuỗi giá trị rừng từ trồng, khai thác, chế biến và xuất khẩu, trong đó tập trung phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn với doanh nghiệp thu mua chế biến để nâng cao giá trị, chất lượng và nguồn gốc sản phẩm nhằm tiến đến quy trình khép kín phục vụ cho phát triển ngành gỗ bền vững; Xây dựng môi quan hệ liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức, cá nhân trồng rừng với người sản xuất, chế biến và kinh doanh thành một chuỗi khép kín, thống nhất các tiêu chuẩn của ngành, quan tâm vấn đề lợi ích từng công đoạn và thương hiệu đầu ra của sản phẩm để đảm bảo hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh để tạo ra quy mô sản lượng lớn... đáp ứng nhu cầu của các tập đoàn mua hàng tầm cỡ thế giới.
6.9. Các chương trình hỗ trợ Đề án
- Tập trung thực hiện tốt Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững: Quy hoạch diện tích đất trồng rừng mang tính tập trung, tránh trường hợp đầu tư phân tán; thủ tục cấp đất trồng rừng thông thoáng, có quy hoạch vùng cụ thể; thực hiện chăm sóc, bảo vệ theo hướng bền vững để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cần thiết về chứng chỉ rừng (FSC) để phát triển và khai thác rừng trồng gỗ lớn. Giải quyết tốt về giống cây trồng cho năng suất cao, chất lượng gỗ tốt; tiến hành các biện pháp thâm canh theo đúng quy trình. Ưu đãi tín dụng đối với các doanh nghiệp đầu tư trồng rừng gắn với hoạt động sản xuất, chế biến gỗ. Tiến tới đạt rừng chứng chỉ FSC với quy mô, diện tích trên 60% đến năm 2025
- Chương trình phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ: cần có chủ trương chính sách kịp thời để ưu đãi phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh như chế tạo phụ kiện, đinh vít, sản xuất bao bì, hóa chất... nhằm giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ nhằm phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh. Đồng thời, từng bước xây dựng và hình thành cơ sở tập trung cho hoạt động nhập khẩu, xẻ sấy gỗ theo quy cách tiêu chuẩn phù hợp để đáp ứng cho cả thị trường đồ gỗ Quảng Trị và cả nước.
- Triển khai các hoạt động nghiên cứu công nghệ (thiết kế sản phẩm) và đào tạo nghề cho ngành chế biến gỗ. Có chính sách để ngân sách Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để thực hiện.
Lồng ghép các chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn (chương trình 1956), Chương trình Khuyến công, Chương trình Xúc tiến thương mại, Chương trình Khuyển nông, Khuyến lâm, Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp... của tỉnh để hỗ trợ khuyến khích phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ. Đặc biệt, ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp trong đầu tư đổi mới, ứng dụng máy móc, thiết bị mới vào sản xuất và chuyển giao công nghệ trong chế biến gỗ; nghiên cứu ứng dụng khoa học về giống; tìm kiếm, mở rộng và xúc tiến thị trường xuất khẩu sản phẩm.