Document: Khoản 10 Điều 1 Quyết định 1140/QĐ.UB năm 1995 miễn giảm trợ cấp khi sử dụng đất đô thị Lào Cai

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "21/08/1995", "sign_number": "1140/QĐ.UB", "signer": "Nguyễn Quý Đăng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "21/08/1995", "sign_number": "1140/QĐ.UB", "signer": "Nguyễn Quý Đăng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "21/08/1995", "sign_number": "1140/QĐ.UB", "signer": "Nguyễn Quý Đăng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "21/08/1995", "sign_number": "1140/QĐ.UB", "signer": "Nguyễn Quý Đăng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "21/08/1995", "sign_number": "1140/QĐ.UB", "signer": "Nguyễn Quý Đăng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 10 Điều 1 Quyết định 1140/QĐ.UB năm 1995 miễn giảm trợ cấp khi sử dụng đất đô thị Lào Cai

Điều 1. Các đối tượng sau đây khi được giao đất để làm nhà ở tại thị xã Lào Cai được xét miễn, giảm và trợ cấp tiền sử dụng đất:
...
10. Đối tượng là cán bộ công nhân viên chức công tác ở thị xã Lào Cai trước tháng 2/1979 đã nghỉ hưu đã đăng ký hộ khẩu thường trú tại thị xã thời điểm từ 01/10/1991 đến 16/8/1994 và đã có quyết định cấp đất của UBND tỉnh đến ngày 16/8/1994 khi được giao đất phải nộp tiền sử dụng đất theo Quyết định 186/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và được xét giảm tiền sử dụng đất theo tiêu chuẩn của cán bộ công nhân viên chức. Các tiêu thức tính lấy đến thời điểm nghỉ hưu trí.
Trường hợp mới có thông báo của Sở Xây dựng hoặc UBND thị xã Lào Cai đến 16/8/1994 UBND thị xã lập báo cáo trình tỉnh xem xét.
Đối tượng trên nếu đã đăng ký hộ khẩu thường trú từ thời điểm từ 17/8/1994 trở về sau, khi được giao đất phải nộp tiền sử dụng đất theo Điều 7 của Quyết định số 479/QĐ.UB ngày 01/12/1994 của UBND tỉnh.
Đối tượng là cán bộ xã, phường đương chức (các chức danh theo Nghị định 46/HĐBT ngày 23/6/1993) đang hưởng chế độ sinh hoạt phí được tính trợ cấp bằng mức lương tối thiểu là 220.000 đồng về thời gian công tác thì lấy số năm công tác ỏ xã, phường để làm căn cứ tính trợ cấp.
Đối tượng là cán bộ công nhân viên chức đã nghỉ hưu, nay tiếp tục tham gia công tác xã, phường thì lấy mức lương khi nghỉ hưu, còn thời gian công tác được cộng thêm số năm công tác ở xã, phường, để làm căn cứ tính toán.
Thời điểm áp dụng cho các đối tượng trên đến ngày 30/6/1995. Còn từ thời điểm sau đó thì áp dụng theo điều 7 Quyết định số 479/QĐ.UB ngày 01/12/1994 của UBND tỉnh.
12. Tất cả các đối tượng chính sách và nhân dân nêu ở trên khi tính toán trợ cấp được phép chọn tiêu chuẩn cao nhất, trường hợp giá trị trợ cấp thừa so với giá trị lô đất sẽ không được lấy ra, thiếu phải nộp vào.
Trường hợp trong một hộ có nhiều đối tượng được hưởng trợ cấp, thì lấy người tiêu chuẩn cao nhất để tính, được cộng thêm 10% giá trị trợ cấp của đối tượng trong hộ đó, nhưng tổng mức cộng thêm không quá 30% của đối tượng tiêu chuẩn cao nhất. Nếu thiếu phải nộp thêm, nếu thừa không được lấy ra.
Trường hợp diện tích thực tế sử dụng chênh lệch so với quyết định cấp đất thì tính tiền sử dụng đất như sau:
- Nếu giảm thì áp dụng bình thường theo các thời điểm như trong Quyết định 479/QĐ.UB ngày 01/12/1994 của UBND tỉnh.
- Nếu tăng thì phần tăng phải tính như Điều 7 Quyết định 479/QĐ.UB ngày 01/12/1994 của UBND tỉnh.

Content:
Đối tượng là cán bộ công nhân viên chức công tác ở thị xã Lào Cai trước tháng 2/1979 đã nghỉ hưu đã đăng ký hộ khẩu thường trú tại thị xã thời điểm từ 01/10/1991 đến 16/8/1994 và đã có quyết định cấp đất của UBND tỉnh đến ngày 16/8/1994 khi được giao đất phải nộp tiền sử dụng đất theo Quyết định 186/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và được xét giảm tiền sử dụng đất theo tiêu chuẩn của cán bộ công nhân viên chức. Các tiêu thức tính lấy đến thời điểm nghỉ hưu trí.
Trường hợp mới có thông báo của Sở Xây dựng hoặc UBND thị xã Lào Cai đến 16/8/1994 UBND thị xã lập báo cáo trình tỉnh xem xét.
Đối tượng trên nếu đã đăng ký hộ khẩu thường trú từ thời điểm từ 17/8/1994 trở về sau, khi được giao đất phải nộp tiền sử dụng đất theo Điều 7 của Quyết định số 479/QĐ.UB ngày 01/12/1994 của UBND tỉnh.
Đối tượng là cán bộ xã, phường đương chức (các chức danh theo Nghị định 46/HĐBT ngày 23/6/1993) đang hưởng chế độ sinh hoạt phí được tính trợ cấp bằng mức lương tối thiểu là 220.000 đồng về thời gian công tác thì lấy số năm công tác ỏ xã, phường để làm căn cứ tính trợ cấp.
Đối tượng là cán bộ công nhân viên chức đã nghỉ hưu, nay tiếp tục tham gia công tác xã, phường thì lấy mức lương khi nghỉ hưu, còn thời gian công tác được cộng thêm số năm công tác ở xã, phường, để làm căn cứ tính toán.
Thời điểm áp dụng cho các đối tượng trên đến ngày 30/6/1995. Còn từ thời điểm sau đó thì áp dụng theo điều 7 Quyết định số 479/QĐ.UB ngày 01/12/1994 của UBND tỉnh.
12. Tất cả các đối tượng chính sách và nhân dân nêu ở trên khi tính toán trợ cấp được phép chọn tiêu chuẩn cao nhất, trường hợp giá trị trợ cấp thừa so với giá trị lô đất sẽ không được lấy ra, thiếu phải nộp vào.
Trường hợp trong một hộ có nhiều đối tượng được hưởng trợ cấp, thì lấy người tiêu chuẩn cao nhất để tính, được cộng thêm 10% giá trị trợ cấp của đối tượng trong hộ đó, nhưng tổng mức cộng thêm không quá 30% của đối tượng tiêu chuẩn cao nhất. Nếu thiếu phải nộp thêm, nếu thừa không được lấy ra.
Trường hợp diện tích thực tế sử dụng chênh lệch so với quyết định cấp đất thì tính tiền sử dụng đất như sau:
- Nếu giảm thì áp dụng bình thường theo các thời điểm như trong Quyết định 479/QĐ.UB ngày 01/12/1994 của UBND tỉnh.
- Nếu tăng thì phần tăng phải tính như Điều 7 Quyết định 479/QĐ.UB ngày 01/12/1994 của UBND tỉnh.