Document: Điều 3 Thông tư 08/2013/TT-BVHTTDL thủ tục xây dựng ban hành văn bản pháp luật

Type: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch", "promulgation_date": "20/11/2013", "sign_number": "08/2013/TT-BVHTTDL", "signer": "Hoàng Tuấn Anh", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch", "promulgation_date": "20/11/2013", "sign_number": "08/2013/TT-BVHTTDL", "signer": "Hoàng Tuấn Anh", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch", "promulgation_date": "20/11/2013", "sign_number": "08/2013/TT-BVHTTDL", "signer": "Hoàng Tuấn Anh", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch", "promulgation_date": "20/11/2013", "sign_number": "08/2013/TT-BVHTTDL", "signer": "Hoàng Tuấn Anh", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch", "promulgation_date": "20/11/2013", "sign_number": "08/2013/TT-BVHTTDL", "signer": "Hoàng Tuấn Anh", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 3 Thông tư 08/2013/TT-BVHTTDL thủ tục xây dựng ban hành văn bản pháp luật có nội dung như sau:

Điều 3. Đề nghị của các cơ quan thuộc Bộ về việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
1. Hàng năm, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình và kiến nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến phạm vi tham mưu quản lý nhà nước của cơ quan mình, các cơ quan thuộc Bộ đề nghị bằng văn bản về việc xây dựng Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (sau đây gọi chung là Luật, Pháp lệnh); Nghị định của Chính phủ; Thông tư của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng Bộ Văn hóa , Thể thao và Du lịch với các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (sau đây gọi chung là Thông tư).
Văn bản đề nghị gửi Vụ Pháp chế để tổng hợp báo cáo Bộ trưởng theo thời hạn sau:
Đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh theo nhiệm kỳ của Quốc hội phải được gửi chậm nhất là ngày 02 tháng 01 của năm đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội;
Đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh hàng năm trên cơ sở Chương trình của cả nhiệm kỳ Quốc hội phải được gửi chậm nhất 170 ngày trước ngày 01 tháng 3 của năm trước năm dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh hàng năm chưa có trong Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của cả nhiệm kỳ Quốc hội phải được gửi chậm nhất 170 ngày trước ngày 01 tháng 3 của năm trước năm dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Đề nghị xây dựng Nghị định hàng năm phải được gửi chậm nhất là ngày 01 tháng 6 của năm trước năm dự kiến trình Chính phủ;
đ) Đề nghị xây dựng Thông tư hàng năm phải được gửi chậm nhất là ngày 01 tháng 8 của năm trước năm dự kiến ban hành.
2. Văn bản đề nghị gửi Vụ Pháp chế có những nội dung cơ bản sau:
a) Văn bản đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản, những quan điểm, chính sách cơ bản, nội dung chính của văn bản; dự kiến nguồn lực, điều kiện đảm bảo cho việc soạn thảo văn bản; báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản và dự kiến thời gian trình văn bản;
b) Văn bản đề nghị xây dựng Nghị định phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; nội dung chính sách cơ bản của văn bản, báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản và dự kiến thời gian trình văn bản;
c) Văn bản đề nghị xây dựng Thông tư phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, căn cứ pháp lý, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nội dung chủ yếu của văn bản; tên cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp và dự kiến thời gian trình văn bản.
3. Đối với đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định, ngoài việc gửi văn bản đề nghị quy định tại các Điểm a và b Khoản 2 Điều này, các cơ quan thuộc Bộ còn phải thực hiện các công việc sau:
a) Tổ chức lấy ý kiến các cơ quan có liên quan về đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định; đăng tải bản thuyết minh về đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định và báo cáo đánh giá tác động sơ bộ trên trang thông tin điện tử của Bộ theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 3 và Điểm a Khoản 4 Điều 14 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP;
b) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu, lập hồ sơ đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định; hoàn thiện hồ sơ trên cơ sở các ý kiến góp ý; gửi hồ sơ đề nghị đến Vụ Pháp chế để tổng hợp. Thành phần hồ sơ thực hiện theo quy định tại Điều 4 và Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP.
Trường hợp đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh và Nghị định (trừ Nghị định quy định chi tiết theo Điểm a Khoản 2 Điều 14 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP) có quy định liên quan đến nguồn tài chính và nguồn nhân lực, phải đề xuất Lãnh đạo Bộ gửi hồ sơ đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định đến Bộ Tài chính để lấy ý kiến về tính hợp lý của nguồn tài chính dự kiến và Bộ Nội vụ để lấy ý kiến về tính hợp lý của nguồn nhân lực dự kiến.
4. Đối với đề nghị xây dựng Nghị định quy định những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành Luật hoặc Pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, cơ quan đề nghị phải trình Bộ trưởng để phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp chuẩn bị hồ sơ, xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc ban hành Nghị định theo quy định tại Khoản 4 Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Content:
Điều 3. Đề nghị của các cơ quan thuộc Bộ về việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
1. Hàng năm, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình và kiến nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến phạm vi tham mưu quản lý nhà nước của cơ quan mình, các cơ quan thuộc Bộ đề nghị bằng văn bản về việc xây dựng Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (sau đây gọi chung là Luật, Pháp lệnh); Nghị định của Chính phủ; Thông tư của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng Bộ Văn hóa , Thể thao và Du lịch với các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (sau đây gọi chung là Thông tư).
Văn bản đề nghị gửi Vụ Pháp chế để tổng hợp báo cáo Bộ trưởng theo thời hạn sau:
Đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh theo nhiệm kỳ của Quốc hội phải được gửi chậm nhất là ngày 02 tháng 01 của năm đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội;
Đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh hàng năm trên cơ sở Chương trình của cả nhiệm kỳ Quốc hội phải được gửi chậm nhất 170 ngày trước ngày 01 tháng 3 của năm trước năm dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh hàng năm chưa có trong Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của cả nhiệm kỳ Quốc hội phải được gửi chậm nhất 170 ngày trước ngày 01 tháng 3 của năm trước năm dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Đề nghị xây dựng Nghị định hàng năm phải được gửi chậm nhất là ngày 01 tháng 6 của năm trước năm dự kiến trình Chính phủ;
đ) Đề nghị xây dựng Thông tư hàng năm phải được gửi chậm nhất là ngày 01 tháng 8 của năm trước năm dự kiến ban hành.
2. Văn bản đề nghị gửi Vụ Pháp chế có những nội dung cơ bản sau:
a) Văn bản đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản, những quan điểm, chính sách cơ bản, nội dung chính của văn bản; dự kiến nguồn lực, điều kiện đảm bảo cho việc soạn thảo văn bản; báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản và dự kiến thời gian trình văn bản;
b) Văn bản đề nghị xây dựng Nghị định phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; nội dung chính sách cơ bản của văn bản, báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản và dự kiến thời gian trình văn bản;
c) Văn bản đề nghị xây dựng Thông tư phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, căn cứ pháp lý, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nội dung chủ yếu của văn bản; tên cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp và dự kiến thời gian trình văn bản.
3. Đối với đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định, ngoài việc gửi văn bản đề nghị quy định tại các Điểm a và b Khoản 2 Điều này, các cơ quan thuộc Bộ còn phải thực hiện các công việc sau:
a) Tổ chức lấy ý kiến các cơ quan có liên quan về đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định; đăng tải bản thuyết minh về đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định và báo cáo đánh giá tác động sơ bộ trên trang thông tin điện tử của Bộ theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 3 và Điểm a Khoản 4 Điều 14 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP;
b) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu, lập hồ sơ đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định; hoàn thiện hồ sơ trên cơ sở các ý kiến góp ý; gửi hồ sơ đề nghị đến Vụ Pháp chế để tổng hợp. Thành phần hồ sơ thực hiện theo quy định tại Điều 4 và Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP.
Trường hợp đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh và Nghị định (trừ Nghị định quy định chi tiết theo Điểm a Khoản 2 Điều 14 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP) có quy định liên quan đến nguồn tài chính và nguồn nhân lực, phải đề xuất Lãnh đạo Bộ gửi hồ sơ đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định đến Bộ Tài chính để lấy ý kiến về tính hợp lý của nguồn tài chính dự kiến và Bộ Nội vụ để lấy ý kiến về tính hợp lý của nguồn nhân lực dự kiến.
4. Đối với đề nghị xây dựng Nghị định quy định những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành Luật hoặc Pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, cơ quan đề nghị phải trình Bộ trưởng để phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp chuẩn bị hồ sơ, xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc ban hành Nghị định theo quy định tại Khoản 4 Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.