Document: Điều 4 Nghị định 631-TTg quản lý vàng bạc

Type: {"issuing_agency": "Phủ Thủ tướng", "promulgation_date": "13/12/1955", "sign_number": "631-TTg", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Phủ Thủ tướng", "promulgation_date": "13/12/1955", "sign_number": "631-TTg", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Phủ Thủ tướng", "promulgation_date": "13/12/1955", "sign_number": "631-TTg", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Phủ Thủ tướng", "promulgation_date": "13/12/1955", "sign_number": "631-TTg", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Phủ Thủ tướng", "promulgation_date": "13/12/1955", "sign_number": "631-TTg", "signer": "Phạm Văn Đồng", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 4 Nghị định 631-TTg quản lý vàng bạc có nội dung như sau:

Điều 4. Các cửa hiệu vàng bạc phải chịu sự kiểm soát của Ngân hàng quốc gia Việt Nam.
Các cửa hiệu vàng bạc chỉ được mua và bán vàng bạc đối với những người có giấy phép của Ngân hàng quốc gia Việt Nam và có nhiệm vụ:
1. Kê khai tất cả số vàng bạc hiện có ngay sau khi Ngân hàng quốc gia Việt Nam công bố thi hành nghị định này.
2. Ghi sổ tất cả số vàng bạc xuất nhập hàng ngày theo thể thức do Ngân hàng quốc gia Việt Nam ấn định.
3. Thường xuyên cứ 15 ngày một lần trình sổ sách và các giấy tờ cần thiết cho Ngân hàng quốc gia Việt Nam hay cho cơ quan được Ngân hàng quốc gia Việt Nam ủy nhiệm để kiểm soát. Ngân hàng quốc gia Việt Nam hay cơ quan được Ngân hàng quốc gia Việt Nam ủy nhiệm có quyền kiểm soát bất thường mỗi lúc xét cần thiết.

Content:
Điều 4. Các cửa hiệu vàng bạc phải chịu sự kiểm soát của Ngân hàng quốc gia Việt Nam.
Các cửa hiệu vàng bạc chỉ được mua và bán vàng bạc đối với những người có giấy phép của Ngân hàng quốc gia Việt Nam và có nhiệm vụ:
1. Kê khai tất cả số vàng bạc hiện có ngay sau khi Ngân hàng quốc gia Việt Nam công bố thi hành nghị định này.
2. Ghi sổ tất cả số vàng bạc xuất nhập hàng ngày theo thể thức do Ngân hàng quốc gia Việt Nam ấn định.
3. Thường xuyên cứ 15 ngày một lần trình sổ sách và các giấy tờ cần thiết cho Ngân hàng quốc gia Việt Nam hay cho cơ quan được Ngân hàng quốc gia Việt Nam ủy nhiệm để kiểm soát. Ngân hàng quốc gia Việt Nam hay cơ quan được Ngân hàng quốc gia Việt Nam ủy nhiệm có quyền kiểm soát bất thường mỗi lúc xét cần thiết.