Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 3195/QĐ-UBND năm 2012 phê duyệt Chương trình phát triển xuất khẩu

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "21/12/2012", "sign_number": "3195/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Vinh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "21/12/2012", "sign_number": "3195/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Vinh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "21/12/2012", "sign_number": "3195/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Vinh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "21/12/2012", "sign_number": "3195/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Vinh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Khánh Hòa", "promulgation_date": "21/12/2012", "sign_number": "3195/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Vinh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 3195/QĐ-UBND năm 2012 phê duyệt Chương trình phát triển xuất khẩu

Điều 1. Phê duyệt Chương trình phát triển xuất khẩu thủy sản đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, với những nội dung chủ yếu sau:
...
4. Các dự án ưu tiên: (phụ lục đính kèm).
C. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Giữ vững và phát triển thị trường
a) Đối với các thị trường xuất khẩu truyền thống, đặc biệt là các thị trường xuất khẩu các sản phẩm chủ lực, cần phải chú ý thực hiện các nội dung chủ yếu sau:
- Về sản phẩm xuất khẩu: Để giữ vững được uy tín đối với các sản phẩm thủy sản xuất khẩu thì trước hết phải đáp ứng được các yêu cầu của thị trường trong đó vấn đề đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm phải đặc biệt chú trọng. Bên cạnh đó cần chú trọng tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền đầy đủ về quá trình sản xuất và chất lượng của sản phẩm đến người tiêu dùng tại các thị trường.
- Chú trọng đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để từ đó tăng thị phần các loại sản phẩm giá trị gia tăng khác nhau, phù hợp với sức mua, thị hiếu của từng thị trường. Đồng thời chú trọng phát triển mạnh mạng lưới cung cấp, bán buôn đến hệ thống các siêu thị thông qua liên kết với nhà nhập khẩu, nhà cung cấp tại nước sở tại.
- Tích cực chủ động tham gia các hội chợ thủy sản trong nước cũng như quốc tế hàng năm để từ đó giới thiệu tiềm năng, thế mạnh, các sản phẩm chủ lực của Khánh Hòa với các đối tác trong và ngoài nước.
- Cần chủ động theo dõi diễn biến của thị trường, cập nhật các chính sách, các yêu cầu mới của thị trường để từ dó chủ động trong công tác.
- Cần đặc biệc chú ý tới việc đăng ký thương hiệu hàng hóa trước khi xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường này.
b) Đối với thị trường tiềm năng: Nhiệm vụ trọng tâm là nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu, sức mua và cơ cấu sản phẩm để định hướng cho sản xuất, chế biến xuất khẩu. Tiến hành công tác xúc tiến thương mại, quảng bá thông tin truyền thông rộng rãi về sản phẩm thủy sản xuất khẩu của tỉnh Khánh Hòa, đồng thời tiếp cận tạo được mối liên kết chặt chẽ với nhà nhập khẩu, nhà phân phối lớn của thị trường để thỏa thuận ký kết các hợp đồng xuất khẩu lâu dài, ổn định với các thị trường này.
2. Phát triển nguồn nguyên liệu ổn định và đảm bảo chất lượng
a) Giải pháp đối với nguyên liệu từ nuôi trồng:
- Các địa phương cần khẩn trương triển khai thực hiện tốt Quyết định số 1260/QĐ-UBND ngày 18/7/2007 của UBND tỉnh Khánh Hòa về việc “Phê duyệt quy hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản vùng mặt nước vịnh Nha Trang và vịnh Cam Ranh đến năm 2015” và Quyết định số 3102/QĐ-UBND ngày 03/12/2008 của UBND huyện Vạn Ninh về việc “Phê duyệt quy hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản vùng mặt nước vịnh Vân Phong”. Sớm xây dựng quy hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản tại thị xã Ninh Hòa và khẩn trương triển khai dự án vùng sản xuất, kiểm định tôm giống tập trung tại xã Ninh Vân (thị xã Ninh Hòa).
- Ứng dụng khoa học công nghệ trong việc tạo ra con giống cho nghề nuôi trồng thủy sản nước lợ và nước mặn. Tăng cường phối hợp với các trường đại học, các viện nghiên cứu triển khai việc chuyển giao công nghệ sản xuất các loài giống thủy sản, nhằm tạo ra nguồn giống ổn định và có chất lượng cho nuôi trồng thủy sản.
- Tổ chức lại sản xuất các vùng nuôi thủy sản, đặc biệt vùng nuôi các sản phẩm chủ lực như tôm thẻ chân trắng, ốc hương, tôm hùm, cá mú,..., theo hướng tạo mối liên kết chặt chẽ, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa người nuôi và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu. Đồng thời từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm tạo ra vùng nuôi có sản lượng lớn, chất lượng cao và ổn định. Phát triển các mô hình sản xuất kinh tế tập thể vừa đảm bảo phát triển theo quy hoạch vùng sản xuất nguyên liệu có sản lượng lớn, vừa có điều kiện áp dụng các chương trình nuôi cải tiến và bảo vệ môi trường vùng nuôi.
- Khuyến khích các cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu phối hợp với người sản xuất nguyên liệu theo cách ứng vốn thu sản phẩm, liên kết với người sản xuất nguyên liệu trong quá trình sản xuất như chọn giống loài nuôi, đầu tư kỹ thuật nuôi, kiểm tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm từ khâu thả giống, nuôi lớn, thu hoạch.
- Tăng cường quản lý việc thực hiện các quy định về điều kiện sản xuất, việc thực hiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn bắt buộc trong nuôi trồng thủy sản và thực hiện việc truy xuất nguồn gốc đối với các cơ sở nuôi thủy sản, cơ sở bảo quản, sơ chế nhằm đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm ngay từ khâu sản xuất giống đến nuôi thương phẩm, cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu.
- Đẩy mạnh các hoạt động khuyến ngư trên cơ sở áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong nuôi trồng thủy sản, sản xuất giống để chuyển giao tới người dân. Mặt khác, trên cơ sở nghiên cứu thị trường, các cơ quan khuyến ngư phải có chương trình, kế hoạch cụ thể, nhanh chóng hướng dẫn người nuôi chủ động sản xuất từ con giống; đến nuôi thương phẩm, các đối tượng nuôi có lợi thế cạnh tranh, có hiệu quả và đảm bảo chất lượng, cung cấp sản lượng lớn cho chế biến xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu thị trường theo từng thời kỳ.
- Tổ chức lại hệ thống nậu vựa, các đầu mối thu gom sản phẩm nguyên liệu, là cầu nối quan trọng giữa người nuôi với doanh nghiệp, phát huy vai trò tích cực và hạn chế các mặt tiêu cực của hệ thống này để từ đó từng bước quản lý tốt thị trường nguyên liệu đồng thời đảm bảo chất lượng của sản phẩm nguyên liệu sau thu hoạch.
- Trong xu thế đô thị hóa và phát triển du lịch, diện tích nuôi trồng thủy sản ven bờ ngày càng bị thu hẹp. Do đó cần có chính sách hỗ trợ khuyến khích các doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản áp dụng các mô hình nuôi trồng tiên tiến, vươn ra nuôi tại các vùng nước sâu.
b) Đối với nguyên liệu từ khai thác:
- Tăng giá trị và chất lượng các loại sản phẩm nguyên liệu từ khai thác, thông qua việc tập trung phát triển hệ thống dịch vụ hậu cần ở các cảng cá và áp dụng công nghệ mới trong bảo quản sản phẩm nhằm nâng cao chất lượng các sản phẩm sau khai thác.
- Khuyến khích phát triển, tổ chức lại hoạt động các tổ, đội tàu khai thác xa bờ, giảm khai thác ven bờ vừa để bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đồng thời thay đổi được cơ cấu sản phẩm khai thác, từ các loài thủy sản có kinh tế thấp sang các đối tượng khác có giá trị kinh tế cao, có sản lượng lớn phục vụ chế biến xuất khẩu. Đầu tư thiết bị và dụng cụ bảo quản trên tàu cá đánh bắt xa bờ đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để nâng cao chất lượng sản phẩm sau khai thác.
- Khuyến khích các doanh nghiệp chế biến thủy sản liên kết, hỗ trợ vốn hoạt động cho các chủ tàu khai thác xa bờ.
- Triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tỉnh Khánh Hòa đã được UBND tỉnh phê duyệt.
- Tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động khai thác phát triển và thu hút nguồn nguyên liệu từ các địa phương khác.
- Áp dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến đảm bảo các sản phẩm từ khai thác tuân thủ các quy định quốc tế về bảo vệ nguồn lợi và chống đánh bắt bất hợp pháp.
c) Đối với nguyên liệu từ địa phương khác:
- Liên hệ nắm bắt tình hình khai thác của các đội tàu khai thác và khu nuôi trồng thủy sản, đặc biệt chú trọng các đội tàu khai thác xa bờ, các vùng nuôi tôm sú thương phẩm để chủ động nguồn vốn cho việc thu mua sản phẩm.
- Khuyến khích các liên kết ứng vốn, trực tiếp tham gia đầu tư của các cơ sở chế biến với các chủ tàu khai thác, các nậu vựa, các hộ nuôi trồng thủy sản của các địa phương để tạo ra nguồn nguyên liệu vững chắc từ khâu nuôi trồng, khai thác.
- Có chính sách ưu đãi các tàu khai thác của địa phương khác tới thương mại thủy sản tại các cảng cá, bến cá của địa phương mình (như phí, lệ phí cập cảng, mức giá cung cấp nhu yếu phẩm, thuế thu nhập...).
d) Đối với nguyên liệu nhập khẩu:
- Cần phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, đồng thời cân đối cơ cấu nguyên liệu nhập khẩu với nguyên liệu trong tỉnh cho thích hợp để vừa đáp ứng năng lực sản xuất của các nhà máy chế biến vừa để không làm dư thừa nguồn nguyên liệu trong tỉnh.
- Tiếp tục nhập khẩu các loài thủy sản không có trong tỉnh, trong nước hoặc không đáp ứng đủ yêu cầu về cơ cấu và số lượng thủy sản nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu theo nhu cầu của thị trường, đồng thời nâng cao hiệu suất sử dụng của các nhà máy chế biến.
3. Hệ thống thương mại xuất khẩu thủy sản
a) Đối với nhóm hàng xuất khẩu đông lạnh:
- Phát triển mạng lưới thông tin thương mại xuất khẩu đến từng cơ sở sản xuất, lập các website của từng cơ sở để thực hiện maketing trên toàn cầu, thu thập thông tin về thị trường thông qua các kênh thông tin, qua mạng Internet.
- Phối hợp chặt chẽ và vận động mọi cơ sở sản xuất thủy sản đông lạnh xuất khẩu tham gia Hiệp hội Chế biến thủy sản Việt Nam.
- Khuyến khích xây dựng mới các cơ sở sản xuất với công nghệ tiên tiến, cùng với việc đầu tư nâng cao năng lực chế biến, đa dạng hóa sản phẩm, mẫu mã bao bì đẹp.
- Yêu cầu tất cả các cơ sở chế biến xuất khẩu đông lạnh phải áp dụng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm để sản xuất theo yêu cầu của các thị trường Nhật, Mỹ, EU.
- Khuyến khích xuất khẩu trực tiếp.
b) Đối với nhóm hàng xuất khẩu khô: đây là nhóm hàng chủ yếu xuất khẩu sang thị trường châu Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và các nước Asean) do đó ngoài việc cần thực hiện thương mại như hàng chế biến đông lạnh xuất khẩu cần liên kết với các hiệp hội thương mại để tạo thêm các thị trường mới. Tăng cường việc tìm hiểu thị hiếu khách hàng để sản xuất các mặt hàng có giá trị gia tăng cao tránh việc xuất khẩu nguyên liệu.
c) Đối với nhóm hàng xuất khẩu sống: Thực hiện theo hình thức đặt hàng giữ sống xuất khẩu sang thị trường có nhu cầu ăn sống (Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan…).
4. Tập trung đầu tư phát triển chế biến thủy sản theo chiều sâu
a) Cần chủ trọng đầu tư, nâng cấp, cải tạo các cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu để đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia và quốc tế, đáp ứng tốt các yêu cầu ngày càng cao của thị trường nhập khẩu.
b) Khuyến khích đầu tư công nghệ mới, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, trong đó ưu tiên đổi mới dây chuyền, thiết bị chế biến hiện đại, công nghệ tiên tiến, cải tiến mẫu mã, bao bì,... để đổi mới sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm chế biến xuất khẩu, tận dụng các loại phụ phẩm để chế biến các loại sản phẩm xuất khẩu, và tiêu dùng, cần quy hoạch thêm các khu chế xuất để các doanh nghiệp có đủ diện tích, ổn định, an tâm đầu tư áp dụng dây chuyền sản xuất hiện đại nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
c) Tăng cường mở rộng hợp tác giữa các cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu với các trường đại học, các viện nghiên cứu để tạo ra các sản phẩm mới, đặc biệt các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, giảm tỷ trọng hàng sơ chế, hàng có giá trị gia tăng thấp, phù hợp với thị hiếu tiêu dùng và nhu cầu của thị trường nhập khẩu.

Content:
Các dự án ưu tiên: (phụ lục đính kèm).
C. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Giữ vững và phát triển thị trường
a) Đối với các thị trường xuất khẩu truyền thống, đặc biệt là các thị trường xuất khẩu các sản phẩm chủ lực, cần phải chú ý thực hiện các nội dung chủ yếu sau:
- Về sản phẩm xuất khẩu: Để giữ vững được uy tín đối với các sản phẩm thủy sản xuất khẩu thì trước hết phải đáp ứng được các yêu cầu của thị trường trong đó vấn đề đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm phải đặc biệt chú trọng. Bên cạnh đó cần chú trọng tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền đầy đủ về quá trình sản xuất và chất lượng của sản phẩm đến người tiêu dùng tại các thị trường.
- Chú trọng đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để từ đó tăng thị phần các loại sản phẩm giá trị gia tăng khác nhau, phù hợp với sức mua, thị hiếu của từng thị trường. Đồng thời chú trọng phát triển mạnh mạng lưới cung cấp, bán buôn đến hệ thống các siêu thị thông qua liên kết với nhà nhập khẩu, nhà cung cấp tại nước sở tại.
- Tích cực chủ động tham gia các hội chợ thủy sản trong nước cũng như quốc tế hàng năm để từ đó giới thiệu tiềm năng, thế mạnh, các sản phẩm chủ lực của Khánh Hòa với các đối tác trong và ngoài nước.
- Cần chủ động theo dõi diễn biến của thị trường, cập nhật các chính sách, các yêu cầu mới của thị trường để từ dó chủ động trong công tác.
- Cần đặc biệc chú ý tới việc đăng ký thương hiệu hàng hóa trước khi xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường này.
b) Đối với thị trường tiềm năng: Nhiệm vụ trọng tâm là nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu, sức mua và cơ cấu sản phẩm để định hướng cho sản xuất, chế biến xuất khẩu. Tiến hành công tác xúc tiến thương mại, quảng bá thông tin truyền thông rộng rãi về sản phẩm thủy sản xuất khẩu của tỉnh Khánh Hòa, đồng thời tiếp cận tạo được mối liên kết chặt chẽ với nhà nhập khẩu, nhà phân phối lớn của thị trường để thỏa thuận ký kết các hợp đồng xuất khẩu lâu dài, ổn định với các thị trường này.
2. Phát triển nguồn nguyên liệu ổn định và đảm bảo chất lượng
a) Giải pháp đối với nguyên liệu từ nuôi trồng:
- Các địa phương cần khẩn trương triển khai thực hiện tốt Quyết định số 1260/QĐ-UBND ngày 18/7/2007 của UBND tỉnh Khánh Hòa về việc “Phê duyệt quy hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản vùng mặt nước vịnh Nha Trang và vịnh Cam Ranh đến năm 2015” và Quyết định số 3102/QĐ-UBND ngày 03/12/2008 của UBND huyện Vạn Ninh về việc “Phê duyệt quy hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản vùng mặt nước vịnh Vân Phong”. Sớm xây dựng quy hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản tại thị xã Ninh Hòa và khẩn trương triển khai dự án vùng sản xuất, kiểm định tôm giống tập trung tại xã Ninh Vân (thị xã Ninh Hòa).
- Ứng dụng khoa học công nghệ trong việc tạo ra con giống cho nghề nuôi trồng thủy sản nước lợ và nước mặn. Tăng cường phối hợp với các trường đại học, các viện nghiên cứu triển khai việc chuyển giao công nghệ sản xuất các loài giống thủy sản, nhằm tạo ra nguồn giống ổn định và có chất lượng cho nuôi trồng thủy sản.
- Tổ chức lại sản xuất các vùng nuôi thủy sản, đặc biệt vùng nuôi các sản phẩm chủ lực như tôm thẻ chân trắng, ốc hương, tôm hùm, cá mú,..., theo hướng tạo mối liên kết chặt chẽ, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa người nuôi và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu. Đồng thời từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm tạo ra vùng nuôi có sản lượng lớn, chất lượng cao và ổn định. Phát triển các mô hình sản xuất kinh tế tập thể vừa đảm bảo phát triển theo quy hoạch vùng sản xuất nguyên liệu có sản lượng lớn, vừa có điều kiện áp dụng các chương trình nuôi cải tiến và bảo vệ môi trường vùng nuôi.
- Khuyến khích các cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu phối hợp với người sản xuất nguyên liệu theo cách ứng vốn thu sản phẩm, liên kết với người sản xuất nguyên liệu trong quá trình sản xuất như chọn giống loài nuôi, đầu tư kỹ thuật nuôi, kiểm tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm từ khâu thả giống, nuôi lớn, thu hoạch.
- Tăng cường quản lý việc thực hiện các quy định về điều kiện sản xuất, việc thực hiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn bắt buộc trong nuôi trồng thủy sản và thực hiện việc truy xuất nguồn gốc đối với các cơ sở nuôi thủy sản, cơ sở bảo quản, sơ chế nhằm đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm ngay từ khâu sản xuất giống đến nuôi thương phẩm, cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu.
- Đẩy mạnh các hoạt động khuyến ngư trên cơ sở áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong nuôi trồng thủy sản, sản xuất giống để chuyển giao tới người dân. Mặt khác, trên cơ sở nghiên cứu thị trường, các cơ quan khuyến ngư phải có chương trình, kế hoạch cụ thể, nhanh chóng hướng dẫn người nuôi chủ động sản xuất từ con giống; đến nuôi thương phẩm, các đối tượng nuôi có lợi thế cạnh tranh, có hiệu quả và đảm bảo chất lượng, cung cấp sản lượng lớn cho chế biến xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu thị trường theo từng thời kỳ.
- Tổ chức lại hệ thống nậu vựa, các đầu mối thu gom sản phẩm nguyên liệu, là cầu nối quan trọng giữa người nuôi với doanh nghiệp, phát huy vai trò tích cực và hạn chế các mặt tiêu cực của hệ thống này để từ đó từng bước quản lý tốt thị trường nguyên liệu đồng thời đảm bảo chất lượng của sản phẩm nguyên liệu sau thu hoạch.
- Trong xu thế đô thị hóa và phát triển du lịch, diện tích nuôi trồng thủy sản ven bờ ngày càng bị thu hẹp. Do đó cần có chính sách hỗ trợ khuyến khích các doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản áp dụng các mô hình nuôi trồng tiên tiến, vươn ra nuôi tại các vùng nước sâu.
b) Đối với nguyên liệu từ khai thác:
- Tăng giá trị và chất lượng các loại sản phẩm nguyên liệu từ khai thác, thông qua việc tập trung phát triển hệ thống dịch vụ hậu cần ở các cảng cá và áp dụng công nghệ mới trong bảo quản sản phẩm nhằm nâng cao chất lượng các sản phẩm sau khai thác.
- Khuyến khích phát triển, tổ chức lại hoạt động các tổ, đội tàu khai thác xa bờ, giảm khai thác ven bờ vừa để bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đồng thời thay đổi được cơ cấu sản phẩm khai thác, từ các loài thủy sản có kinh tế thấp sang các đối tượng khác có giá trị kinh tế cao, có sản lượng lớn phục vụ chế biến xuất khẩu. Đầu tư thiết bị và dụng cụ bảo quản trên tàu cá đánh bắt xa bờ đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để nâng cao chất lượng sản phẩm sau khai thác.
- Khuyến khích các doanh nghiệp chế biến thủy sản liên kết, hỗ trợ vốn hoạt động cho các chủ tàu khai thác xa bờ.
- Triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tỉnh Khánh Hòa đã được UBND tỉnh phê duyệt.
- Tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động khai thác phát triển và thu hút nguồn nguyên liệu từ các địa phương khác.
- Áp dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến đảm bảo các sản phẩm từ khai thác tuân thủ các quy định quốc tế về bảo vệ nguồn lợi và chống đánh bắt bất hợp pháp.
c) Đối với nguyên liệu từ địa phương khác:
- Liên hệ nắm bắt tình hình khai thác của các đội tàu khai thác và khu nuôi trồng thủy sản, đặc biệt chú trọng các đội tàu khai thác xa bờ, các vùng nuôi tôm sú thương phẩm để chủ động nguồn vốn cho việc thu mua sản phẩm.
- Khuyến khích các liên kết ứng vốn, trực tiếp tham gia đầu tư của các cơ sở chế biến với các chủ tàu khai thác, các nậu vựa, các hộ nuôi trồng thủy sản của các địa phương để tạo ra nguồn nguyên liệu vững chắc từ khâu nuôi trồng, khai thác.
- Có chính sách ưu đãi các tàu khai thác của địa phương khác tới thương mại thủy sản tại các cảng cá, bến cá của địa phương mình (như phí, lệ phí cập cảng, mức giá cung cấp nhu yếu phẩm, thuế thu nhập...).
d) Đối với nguyên liệu nhập khẩu:
- Cần phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, đồng thời cân đối cơ cấu nguyên liệu nhập khẩu với nguyên liệu trong tỉnh cho thích hợp để vừa đáp ứng năng lực sản xuất của các nhà máy chế biến vừa để không làm dư thừa nguồn nguyên liệu trong tỉnh.
- Tiếp tục nhập khẩu các loài thủy sản không có trong tỉnh, trong nước hoặc không đáp ứng đủ yêu cầu về cơ cấu và số lượng thủy sản nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu theo nhu cầu của thị trường, đồng thời nâng cao hiệu suất sử dụng của các nhà máy chế biến.
3. Hệ thống thương mại xuất khẩu thủy sản
a) Đối với nhóm hàng xuất khẩu đông lạnh:
- Phát triển mạng lưới thông tin thương mại xuất khẩu đến từng cơ sở sản xuất, lập các website của từng cơ sở để thực hiện maketing trên toàn cầu, thu thập thông tin về thị trường thông qua các kênh thông tin, qua mạng Internet.
- Phối hợp chặt chẽ và vận động mọi cơ sở sản xuất thủy sản đông lạnh xuất khẩu tham gia Hiệp hội Chế biến thủy sản Việt Nam.
- Khuyến khích xây dựng mới các cơ sở sản xuất với công nghệ tiên tiến, cùng với việc đầu tư nâng cao năng lực chế biến, đa dạng hóa sản phẩm, mẫu mã bao bì đẹp.
- Yêu cầu tất cả các cơ sở chế biến xuất khẩu đông lạnh phải áp dụng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm để sản xuất theo yêu cầu của các thị trường Nhật, Mỹ, EU.
- Khuyến khích xuất khẩu trực tiếp.
b) Đối với nhóm hàng xuất khẩu khô: đây là nhóm hàng chủ yếu xuất khẩu sang thị trường châu Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và các nước Asean) do đó ngoài việc cần thực hiện thương mại như hàng chế biến đông lạnh xuất khẩu cần liên kết với các hiệp hội thương mại để tạo thêm các thị trường mới. Tăng cường việc tìm hiểu thị hiếu khách hàng để sản xuất các mặt hàng có giá trị gia tăng cao tránh việc xuất khẩu nguyên liệu.
c) Đối với nhóm hàng xuất khẩu sống: Thực hiện theo hình thức đặt hàng giữ sống xuất khẩu sang thị trường có nhu cầu ăn sống (Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan…).
Tập trung đầu tư phát triển chế biến thủy sản theo chiều sâu
a) Cần chủ trọng đầu tư, nâng cấp, cải tạo các cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu để đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia và quốc tế, đáp ứng tốt các yêu cầu ngày càng cao của thị trường nhập khẩu.
b) Khuyến khích đầu tư công nghệ mới, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, trong đó ưu tiên đổi mới dây chuyền, thiết bị chế biến hiện đại, công nghệ tiên tiến, cải tiến mẫu mã, bao bì,... để đổi mới sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm chế biến xuất khẩu, tận dụng các loại phụ phẩm để chế biến các loại sản phẩm xuất khẩu, và tiêu dùng, cần quy hoạch thêm các khu chế xuất để các doanh nghiệp có đủ diện tích, ổn định, an tâm đầu tư áp dụng dây chuyền sản xuất hiện đại nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
c) Tăng cường mở rộng hợp tác giữa các cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu với các trường đại học, các viện nghiên cứu để tạo ra các sản phẩm mới, đặc biệt các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, giảm tỷ trọng hàng sơ chế, hàng có giá trị gia tăng thấp, phù hợp với thị hiếu tiêu dùng và nhu cầu của thị trường nhập khẩu.