Document: Điều 1 Quyết định 288/2005/QĐ-TTg điều chỉnh Quy hoạch khu neo đậu tránh trú bão tàu cá đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "08/11/2005", "sign_number": "288/2005/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "08/11/2005", "sign_number": "288/2005/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "08/11/2005", "sign_number": "288/2005/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "08/11/2005", "sign_number": "288/2005/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "08/11/2005", "sign_number": "288/2005/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 288/2005/QĐ-TTg điều chỉnh Quy hoạch khu neo đậu tránh trú bão tàu cá đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu sau:
1. Mục tiêu và quan điểm quy hoạch:
Các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá được xây dựng thành một hệ thống, trên cơ sở lợi dụng tối đa các địa điểm có điều kiện tự nhiên thuận lợi, gần các ngư trường, vùng biển có tần suất bão cao, phù hợp tập quán của ngư dân, đảm bảo an toàn cho người và tàu cá, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do bão gây ra, đồng thời có khả năng kết hợp với việc cung cấp dịch vụ cho tàu cá ở những nơi có điều kiện, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng.
2. Phạm vi điều chỉnh quy hoạch:
Điều chỉnh vị trí các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá tại các tỉnh, thành phố ven biển và một số đảo.
Thời gian điều chỉnh quy hoạch: đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
3. Phân loại và định hướng tiêu chí xây dựng khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá:
Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, tập quán của ngư dân, hệ thống các khu neo đậu tránh trú bão được phân loại theo các tiêu chí lựa chọn sau:
a) Khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng, đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
- Gần ngư trường trọng điểm, tập trung tàu cá của nhiều tỉnh, đáp ứng thời gian di chuyển nhanh nhất tàu cá vào tránh trú bão.
- Vùng biển có tần suất bão cao.
- Có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đảm bảo an toàn cho tàu cá neo đậu tránh trú bão.
- Có khả năng neo đậu được khoảng 800 - 1.000 tàu cá các loại trở lên (kể cả loại tàu có công suất đến 1000 CV và tàu cá nước ngoài).
b) Khu neo đậu tránh trú bão cấp tỉnh, thành phố, đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
- Gần ngư trường truyền thống của địa phương, đáp ứng thời gian di chuyển nhanh nhất cho tàu cá vào tránh trú bão.
- Có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đảm bảo an toàn cho tàu cá neo đậu tránh trú bão.
- Đáp ứng cho các loại tàu cá của địa phương neo đậu tránh trú bão.
4. Quy hoạch hệ thống các khu neo đậu tránh trú bão đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 (có danh mục kèm theo Quyết định này):
a) Quy hoạch theo tiêu chí:
- Giai đoạn 2006 - 2010: có 75 khu neo đậu tránh trú bão. Trong đó: có 13 khu neo đậu cấp vùng, có 62 khu neo đậu cấp tỉnh.
- Định hướng đến năm 2020: tổng số có 98 khu neo đậu tránh trú bão. Trong đó: có 13 khu neo đậu cấp vùng, 85 khu neo đậu cấp tỉnh.
b) Quy hoạch theo vùng biển:
- Vùng biển vịnh Bắc Bộ: có 28 khu neo đậu, trong đó có 25 khu neo đậu ven bờ và 03 khu neo đậu ở đảo (Cô Tô - Thanh Lân, Cát Bà và Bạch Long Vỹ).
- Vùng biển miền Trung: có 39 khu neo đậu, trong đó có 34 khu neo đậu ven bờ và 5 khu neo đậu ở đảo (Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Đá Tây, Phú Quý).
- Vùng biển Đông Nam Bộ: có 19 khu neo đậu, trong đó có 17 khu neo đậu ven bờ và 2 khu neo đậu ở đảo (Côn Đảo và Hòn Khoai).
- Vùng biển Tây Nam Bộ: có 12 khu neo đậu, trong đó có 7 khu neo đậu ven bờ và 5 khu neo đậu ở đảo (Nam Du, Hòn Tre và 3 khu ở Phú Quốc: An Thới, Mũi Gành Dầu, Vũng Trâu Nằm).
5. Về cơ chế chính sách đầu tư
a) Ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư xây dựng các hạng mục công trình chủ yếu: nạo vét luồng vào, xây dựng đê chắn sóng, chắn cát, trụ neo, phao neo, hệ thống đèn tín hiệu.
Nguồn vốn ngân sách trung ương được bố trí trong kế hoạch 5 năm, hàng năm và theo chương trình mục tiêu, trên cơ sở các dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật.
b) Ngân sách địa phương bố trí vốn hàng năm để thực hiện duy tu các hạng mục công trình hạ tầng của khu neo đậu tránh trú bão và chi phí quản lý sau đầu tư.
c) Huy động vốn của các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng các hạng mục công trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nghề cá theo quy hoạch.
d) Quản lý thực hiện đầu tư và xây dựng:
- Bộ Thủy sản trực tiếp quản lý thực hiện đầu tư xây dựng đối với các khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực tiếp quản lý thực hiện đầu tư xây dựng đối với các khu neo đậu tránh trú bão cấp tỉnh, thành phố.
6. Các dự án ưu tiên:
Trong giai đoạn 2006 - 2010: ưu tiên đầu tư xây dựng các khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng và các dự án đang đầu tư dở dang, có tính cấp thiết.

Content:
Điều 1. Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu sau:
1. Mục tiêu và quan điểm quy hoạch:
Các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá được xây dựng thành một hệ thống, trên cơ sở lợi dụng tối đa các địa điểm có điều kiện tự nhiên thuận lợi, gần các ngư trường, vùng biển có tần suất bão cao, phù hợp tập quán của ngư dân, đảm bảo an toàn cho người và tàu cá, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do bão gây ra, đồng thời có khả năng kết hợp với việc cung cấp dịch vụ cho tàu cá ở những nơi có điều kiện, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng.
2. Phạm vi điều chỉnh quy hoạch:
Điều chỉnh vị trí các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá tại các tỉnh, thành phố ven biển và một số đảo.
Thời gian điều chỉnh quy hoạch: đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
3. Phân loại và định hướng tiêu chí xây dựng khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá:
Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, tập quán của ngư dân, hệ thống các khu neo đậu tránh trú bão được phân loại theo các tiêu chí lựa chọn sau:
a) Khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng, đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
- Gần ngư trường trọng điểm, tập trung tàu cá của nhiều tỉnh, đáp ứng thời gian di chuyển nhanh nhất tàu cá vào tránh trú bão.
- Vùng biển có tần suất bão cao.
- Có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đảm bảo an toàn cho tàu cá neo đậu tránh trú bão.
- Có khả năng neo đậu được khoảng 800 - 1.000 tàu cá các loại trở lên (kể cả loại tàu có công suất đến 1000 CV và tàu cá nước ngoài).
b) Khu neo đậu tránh trú bão cấp tỉnh, thành phố, đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
- Gần ngư trường truyền thống của địa phương, đáp ứng thời gian di chuyển nhanh nhất cho tàu cá vào tránh trú bão.
- Có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đảm bảo an toàn cho tàu cá neo đậu tránh trú bão.
- Đáp ứng cho các loại tàu cá của địa phương neo đậu tránh trú bão.
4. Quy hoạch hệ thống các khu neo đậu tránh trú bão đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 (có danh mục kèm theo Quyết định này):
a) Quy hoạch theo tiêu chí:
- Giai đoạn 2006 - 2010: có 75 khu neo đậu tránh trú bão. Trong đó: có 13 khu neo đậu cấp vùng, có 62 khu neo đậu cấp tỉnh.
- Định hướng đến năm 2020: tổng số có 98 khu neo đậu tránh trú bão. Trong đó: có 13 khu neo đậu cấp vùng, 85 khu neo đậu cấp tỉnh.
b) Quy hoạch theo vùng biển:
- Vùng biển vịnh Bắc Bộ: có 28 khu neo đậu, trong đó có 25 khu neo đậu ven bờ và 03 khu neo đậu ở đảo (Cô Tô - Thanh Lân, Cát Bà và Bạch Long Vỹ).
- Vùng biển miền Trung: có 39 khu neo đậu, trong đó có 34 khu neo đậu ven bờ và 5 khu neo đậu ở đảo (Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Đá Tây, Phú Quý).
- Vùng biển Đông Nam Bộ: có 19 khu neo đậu, trong đó có 17 khu neo đậu ven bờ và 2 khu neo đậu ở đảo (Côn Đảo và Hòn Khoai).
- Vùng biển Tây Nam Bộ: có 12 khu neo đậu, trong đó có 7 khu neo đậu ven bờ và 5 khu neo đậu ở đảo (Nam Du, Hòn Tre và 3 khu ở Phú Quốc: An Thới, Mũi Gành Dầu, Vũng Trâu Nằm).
5. Về cơ chế chính sách đầu tư
a) Ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư xây dựng các hạng mục công trình chủ yếu: nạo vét luồng vào, xây dựng đê chắn sóng, chắn cát, trụ neo, phao neo, hệ thống đèn tín hiệu.
Nguồn vốn ngân sách trung ương được bố trí trong kế hoạch 5 năm, hàng năm và theo chương trình mục tiêu, trên cơ sở các dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật.
b) Ngân sách địa phương bố trí vốn hàng năm để thực hiện duy tu các hạng mục công trình hạ tầng của khu neo đậu tránh trú bão và chi phí quản lý sau đầu tư.
c) Huy động vốn của các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng các hạng mục công trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nghề cá theo quy hoạch.
d) Quản lý thực hiện đầu tư và xây dựng:
- Bộ Thủy sản trực tiếp quản lý thực hiện đầu tư xây dựng đối với các khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực tiếp quản lý thực hiện đầu tư xây dựng đối với các khu neo đậu tránh trú bão cấp tỉnh, thành phố.
6. Các dự án ưu tiên:
Trong giai đoạn 2006 - 2010: ưu tiên đầu tư xây dựng các khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng và các dự án đang đầu tư dở dang, có tính cấp thiết.