Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 640/QĐ-UBND quy hoạch phát triển nuôi cá lồng trên sông Thái Bình 2016 2020 2025

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Bình", "promulgation_date": "15/03/2016", "sign_number": "640/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Văn Ca", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Bình", "promulgation_date": "15/03/2016", "sign_number": "640/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Văn Ca", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Bình", "promulgation_date": "15/03/2016", "sign_number": "640/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Văn Ca", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Bình", "promulgation_date": "15/03/2016", "sign_number": "640/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Văn Ca", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Bình", "promulgation_date": "15/03/2016", "sign_number": "640/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Văn Ca", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 640/QĐ-UBND quy hoạch phát triển nuôi cá lồng trên sông Thái Bình 2016 2020 2025

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển nuôi cá lồng trên sông giai đoạn 2016 - 2020, định hướng 2025, tỉnh Thái Bình, với các nội dung sau:
...
5. Hiệu quả kinh tế xã hội:
- Phát triển nuôi cá lồng trên sông khai thác được tiềm năng thế mạnh của đất ngập nước, tạo thêm quỹ đất cho nuôi trồng thủy sản, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân; giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 3.000 lao động trực tiếp và hàng ngàn lao động dịch vụ.
- Sản lượng nuôi cá lồng đến năm 2025 đạt trên 11.000 tấn, tương đương với diện tích nuôi trong nội đồng khoảng 3.000 ha.
IV. KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ LỒNG TRÊN SÔNG GIAI ĐOẠN 2016-2020:
Để đảm bảo mục tiêu quy hoạch và phù hợp với thực tế điều kiện kinh tế xã hội của các địa phương, kế hoạch phát triển nuôi cá lồng trên sông giai đoạn 2016-2020 của tỉnh như sau:
- Năm 2016: Triển khai nuôi 300 lồng tăng 70 lồng so với năm 2015.
- Năm 2017: Triển khai nuôi 450 lồng tăng 150 lồng so với năm 2016.
- Năm 2018: Triển khai nuôi 680 lồng tăng 230 lồng so với năm 2017.
- Năm 2019: Triển khai nuôi 1.020 lồng tăng 340 lồng so với năm 2018.
- Năm 2020: Triển khai nuôi 1.500 lồng tăng 480 lồng so với năm 2019.
(Chi tiết tại Phụ lục 4)
V. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN QUY HOẠCH:
1. Giải pháp kỹ thuật nuôi:
- Khuyến khích các hộ sản xuất kinh doanh phát triển nuôi cá lồng theo hướng tập trung, thâm canh công nghiệp. Khung lồng bằng thép sơn chống gỉ hoặc thép mạ, lưới PE, phao nhựa. Bè được ghép bởi nhiều lồng nên có quy mô phù hợp từ 10 đến 20 lồng trở lên, bố trí lồng tam giác phía thượng lưu, phía ngoài có hệ thống đèn báo, phao tiêu.
- Giống cá nuôi lồng gồm cá thường, cá đặc sản nhưng không được nuôi những giống chưa được khảo nghiệm hoặc giống cá hủy diệt thủy sản, thủy sinh bản địa.
- Thức ăn cho cá: Sử dụng loại thức ăn công nghiệp dạng viên nổi, không được sử dụng chất cấm.
- Thuốc thú y: Chỉ sử dụng loại thuốc được phép, khuyến khích sử dụng chế phẩm sinh học thân thiện với môi trường.
2. Giải pháp về đất đai:
Căn cứ Quy hoạch phát triển nuôi cá lồng trên sông được phê duyệt và các quy định hiện hành của nhà nước, Ủy ban nhân dân các huyện: Vũ Thư, Hưng Hà, Đông Hưng, Kiến Xương, Quỳnh Phụ phối hợp với các cấp, các ngành có liên quan, rà soát kiểm tra thực trạng sử dụng đất có mặt nước của các sông (sau đây gọi tắt là đất sông); trên cơ sở đó xây dựng Kế hoạch sử dụng đất hàng năm, phương án sử dụng đất có mặt nước phục vụ cho nuôi cá lồng giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến 2025 trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện.
- Đối với diện tích đất sông hiện nay đang nuôi cá lồng, Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo đơn vị chức năng rà soát lại diện tích thực tế của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, phân loại và xử lý theo hướng:
+ Diện tích nuôi phù hợp quy hoạch mà có hợp đồng thuê đất sông thì giữ nguyên hợp đồng đã ký cho đến khi hết thời hạn. Khi hết thời hạn hợp đồng, Ủy ban nhân dân huyện tiến hành cho thuê theo thẩm quyền, hoặc báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định đối với trường hợp người thuê đất sông là tổ chức.
+ Diện tích nuôi phù hợp quy hoạch mà không có hợp đồng thuê đất sông, thì tiến hành kiểm tra diện tích thực tế, yêu cầu chủ hộ làm các thủ tục thuê đất sông theo quy định hiện hành của Nhà nước. Nếu chủ hộ không chấp hành thì tiến hành thu hồi đất, cho các tổ chức, cá nhân khác thuê đất theo quy định.
+ Diện tích nuôi không nằm trong quy hoạch mà có hợp đồng thuê đất sông thì cho phép sử dụng đến hết thời hạn hợp đồng, sau đó tiến hành thu hồi đất theo quy định.
+ Diện tích nuôi không nằm trong quy hoạch mà không có hợp đồng thuê đất sông thì tiến hành thu hồi đất theo quy định.
- Đối với diện tích nằm trong quy hoạch nuôi cá lồng giai đoạn 2016 - 2020 mà chưa được tổ chức nuôi thì tiến hành xác định đơn giá, hạn mức, đối tượng và thời gian thuê đất. Trong đó, cần lưu ý một số điểm sau:
+ Đối tượng thuê đất sông là hộ gia đình, cá nhân hoặc tổ chức; trong đó ưu tiên cho các hộ gia đình, cá nhân sinh sống tại địa phương có khả năng về vốn và nhân lực.
+ Thời gian thuê đất: 5 năm.
+ Hạn mức sử dụng đất sông: Theo quy định của Luật Đất đai.
+ Thẩm quyền cho thuê đất sông: Theo quy định của Luật Đất đai.
3. Giải pháp nguồn nhân lực
- Các huyện xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn kỹ thuật, quản lý đầu tư (trong tất cả các khâu từ sản xuất giống, nuôi cá thịt đến thu hoạch bảo quản sản phẩm) cho các hộ nuôi.
- Bằng nguồn vốn khuyến nông - khuyến ngư, tăng cường tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật, xây dựng các mô hình trình diễn, chuyển giao giao kỹ thuật cho những người trực tiếp tham gia nuôi cá lồng.
4. Huy động vốn:
Tổng nguồn vốn đầu tư đến năm 2020 ước khoảng 141,2 tỷ đồng, trong đó:
- Nguồn vốn tự huy động của hộ nuôi là chủ yếu, chiếm khoảng 89,79%. Nguồn vốn này để đầu tư làm lồng (lắp, hàn, hạ lồng), mua con giống, thức ăn, điện, thuốc phòng trừ bệnh, vôi, nhà bảo vệ trên lồng;
- Ngân sách nhà nước hỗ trợ chiếm khoảng 10,21% trong tổng vốn đầu tư phục vụ cho công tác quy hoạch, lắp đặt hệ thống phao tiêu, biển báo; mô hình khuyến ngư, tập huấn kỹ thuật, xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, đào tạo nguồn nhân lực; hỗ trợ tiếp nhận và chuyển giao khoa học công nghệ; hỗ trợ xây dựng công trình kết cấu hạ tầng đường giao thông và tuyến đường điện kết nối vùng nuôi cá lồng với hạ tầng kỹ thuật của các địa phương; hỗ trợ lãi suất tiền vay.
5. Về khoa học công nghệ
Tập trung nghiên cứu một số đề tài khoa học trong lĩnh vực nuôi cá lồng như: sử dụng hóa chất, chế phẩm sinh học để xử lý môi trường nước trong quá trình nuôi cá; nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự sinh trưởng, phát triển của cá; nghiên cứu thức ăn tự chế; nghiên cứu các bệnh trên cá nuôi, ứng dụng các biện pháp tiên tiến trong phòng và trị bệnh cho cá lồng.
Ngoài nguồn vốn khoa học của tỉnh, cần tranh thủ các nguồn vốn khoa học của trung ương, để nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển nuôi cá lồng. Tăng cường và mở rộng hợp tác trong ngoài nước nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ phát triển nuôi cá lồng, nhất là đối với các nước, các tỉnh có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Nghiên cứu khảo nghiệm sản xuất cá giống và nuôi cá thương phẩm trong lồng các đối tượng cá có giá trị kinh tế gồm cá diêu hồng, cá lăng, cá trắm lai, cá ngạnh. Tạo điều kiện hỗ trợ cho các cơ sở sinh sản nhân tạo giống được tiếp nhận và chuyển giao công nghệ sinh sản nhân tạo. Tiếp nhận công nghệ sản xuất giống từ các địa phương khác, tiếp nhận đàn cá bố mẹ có chất lượng, sức sinh sản tốt để chủ động giải quyết nhu cầu con giống tại chỗ cho người nuôi.
Nghiên cứu cải tiến chất liệu kết cấu lồng có tuổi thọ cao hơn nữa, chi phí thấp nhằm tăng giá trị cạnh tranh cho sản phẩm cá lồng.

Content:
Hiệu quả kinh tế xã hội:
- Phát triển nuôi cá lồng trên sông khai thác được tiềm năng thế mạnh của đất ngập nước, tạo thêm quỹ đất cho nuôi trồng thủy sản, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân; giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 3.000 lao động trực tiếp và hàng ngàn lao động dịch vụ.
- Sản lượng nuôi cá lồng đến năm 2025 đạt trên 11.000 tấn, tương đương với diện tích nuôi trong nội đồng khoảng 3.000 ha.
IV. KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ LỒNG TRÊN SÔNG GIAI ĐOẠN 2016-2020:
Để đảm bảo mục tiêu quy hoạch và phù hợp với thực tế điều kiện kinh tế xã hội của các địa phương, kế hoạch phát triển nuôi cá lồng trên sông giai đoạn 2016-2020 của tỉnh như sau:
- Năm 2016: Triển khai nuôi 300 lồng tăng 70 lồng so với năm 2015.
- Năm 2017: Triển khai nuôi 450 lồng tăng 150 lồng so với năm 2016.
- Năm 2018: Triển khai nuôi 680 lồng tăng 230 lồng so với năm 2017.
- Năm 2019: Triển khai nuôi 1.020 lồng tăng 340 lồng so với năm 2018.
- Năm 2020: Triển khai nuôi 1.500 lồng tăng 480 lồng so với năm 2019.
(Chi tiết tại Phụ lục 4)
V. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN QUY HOẠCH:
1. Giải pháp kỹ thuật nuôi:
- Khuyến khích các hộ sản xuất kinh doanh phát triển nuôi cá lồng theo hướng tập trung, thâm canh công nghiệp. Khung lồng bằng thép sơn chống gỉ hoặc thép mạ, lưới PE, phao nhựa. Bè được ghép bởi nhiều lồng nên có quy mô phù hợp từ 10 đến 20 lồng trở lên, bố trí lồng tam giác phía thượng lưu, phía ngoài có hệ thống đèn báo, phao tiêu.
- Giống cá nuôi lồng gồm cá thường, cá đặc sản nhưng không được nuôi những giống chưa được khảo nghiệm hoặc giống cá hủy diệt thủy sản, thủy sinh bản địa.
- Thức ăn cho cá: Sử dụng loại thức ăn công nghiệp dạng viên nổi, không được sử dụng chất cấm.
- Thuốc thú y: Chỉ sử dụng loại thuốc được phép, khuyến khích sử dụng chế phẩm sinh học thân thiện với môi trường.
2. Giải pháp về đất đai:
Căn cứ Quy hoạch phát triển nuôi cá lồng trên sông được phê duyệt và các quy định hiện hành của nhà nước, Ủy ban nhân dân các huyện: Vũ Thư, Hưng Hà, Đông Hưng, Kiến Xương, Quỳnh Phụ phối hợp với các cấp, các ngành có liên quan, rà soát kiểm tra thực trạng sử dụng đất có mặt nước của các sông (sau đây gọi tắt là đất sông); trên cơ sở đó xây dựng Kế hoạch sử dụng đất hàng năm, phương án sử dụng đất có mặt nước phục vụ cho nuôi cá lồng giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến 2025 trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện.
- Đối với diện tích đất sông hiện nay đang nuôi cá lồng, Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo đơn vị chức năng rà soát lại diện tích thực tế của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, phân loại và xử lý theo hướng:
+ Diện tích nuôi phù hợp quy hoạch mà có hợp đồng thuê đất sông thì giữ nguyên hợp đồng đã ký cho đến khi hết thời hạn. Khi hết thời hạn hợp đồng, Ủy ban nhân dân huyện tiến hành cho thuê theo thẩm quyền, hoặc báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định đối với trường hợp người thuê đất sông là tổ chức.
+ Diện tích nuôi phù hợp quy hoạch mà không có hợp đồng thuê đất sông, thì tiến hành kiểm tra diện tích thực tế, yêu cầu chủ hộ làm các thủ tục thuê đất sông theo quy định hiện hành của Nhà nước. Nếu chủ hộ không chấp hành thì tiến hành thu hồi đất, cho các tổ chức, cá nhân khác thuê đất theo quy định.
+ Diện tích nuôi không nằm trong quy hoạch mà có hợp đồng thuê đất sông thì cho phép sử dụng đến hết thời hạn hợp đồng, sau đó tiến hành thu hồi đất theo quy định.
+ Diện tích nuôi không nằm trong quy hoạch mà không có hợp đồng thuê đất sông thì tiến hành thu hồi đất theo quy định.
- Đối với diện tích nằm trong quy hoạch nuôi cá lồng giai đoạn 2016 - 2020 mà chưa được tổ chức nuôi thì tiến hành xác định đơn giá, hạn mức, đối tượng và thời gian thuê đất. Trong đó, cần lưu ý một số điểm sau:
+ Đối tượng thuê đất sông là hộ gia đình, cá nhân hoặc tổ chức; trong đó ưu tiên cho các hộ gia đình, cá nhân sinh sống tại địa phương có khả năng về vốn và nhân lực.
+ Thời gian thuê đất: 5 năm.
+ Hạn mức sử dụng đất sông: Theo quy định của Luật Đất đai.
+ Thẩm quyền cho thuê đất sông: Theo quy định của Luật Đất đai.
3. Giải pháp nguồn nhân lực
- Các huyện xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn kỹ thuật, quản lý đầu tư (trong tất cả các khâu từ sản xuất giống, nuôi cá thịt đến thu hoạch bảo quản sản phẩm) cho các hộ nuôi.
- Bằng nguồn vốn khuyến nông - khuyến ngư, tăng cường tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật, xây dựng các mô hình trình diễn, chuyển giao giao kỹ thuật cho những người trực tiếp tham gia nuôi cá lồng.
4. Huy động vốn:
Tổng nguồn vốn đầu tư đến năm 2020 ước khoảng 141,2 tỷ đồng, trong đó:
- Nguồn vốn tự huy động của hộ nuôi là chủ yếu, chiếm khoảng 89,79%. Nguồn vốn này để đầu tư làm lồng (lắp, hàn, hạ lồng), mua con giống, thức ăn, điện, thuốc phòng trừ bệnh, vôi, nhà bảo vệ trên lồng;
- Ngân sách nhà nước hỗ trợ chiếm khoảng 10,21% trong tổng vốn đầu tư phục vụ cho công tác quy hoạch, lắp đặt hệ thống phao tiêu, biển báo; mô hình khuyến ngư, tập huấn kỹ thuật, xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, đào tạo nguồn nhân lực; hỗ trợ tiếp nhận và chuyển giao khoa học công nghệ; hỗ trợ xây dựng công trình kết cấu hạ tầng đường giao thông và tuyến đường điện kết nối vùng nuôi cá lồng với hạ tầng kỹ thuật của các địa phương; hỗ trợ lãi suất tiền vay.
Về khoa học công nghệ
Tập trung nghiên cứu một số đề tài khoa học trong lĩnh vực nuôi cá lồng như: sử dụng hóa chất, chế phẩm sinh học để xử lý môi trường nước trong quá trình nuôi cá; nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự sinh trưởng, phát triển của cá; nghiên cứu thức ăn tự chế; nghiên cứu các bệnh trên cá nuôi, ứng dụng các biện pháp tiên tiến trong phòng và trị bệnh cho cá lồng.
Ngoài nguồn vốn khoa học của tỉnh, cần tranh thủ các nguồn vốn khoa học của trung ương, để nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển nuôi cá lồng. Tăng cường và mở rộng hợp tác trong ngoài nước nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ phát triển nuôi cá lồng, nhất là đối với các nước, các tỉnh có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Nghiên cứu khảo nghiệm sản xuất cá giống và nuôi cá thương phẩm trong lồng các đối tượng cá có giá trị kinh tế gồm cá diêu hồng, cá lăng, cá trắm lai, cá ngạnh. Tạo điều kiện hỗ trợ cho các cơ sở sinh sản nhân tạo giống được tiếp nhận và chuyển giao công nghệ sinh sản nhân tạo. Tiếp nhận công nghệ sản xuất giống từ các địa phương khác, tiếp nhận đàn cá bố mẹ có chất lượng, sức sinh sản tốt để chủ động giải quyết nhu cầu con giống tại chỗ cho người nuôi.
Nghiên cứu cải tiến chất liệu kết cấu lồng có tuổi thọ cao hơn nữa, chi phí thấp nhằm tăng giá trị cạnh tranh cho sản phẩm cá lồng.