Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 1362/QĐ-UBND năm 2010 quy hoạch phát triển cụm công nghiệp Quảng Ninh đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "12/05/2010", "sign_number": "1362/QĐ-UBND", "signer": "Đỗ Thông", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "12/05/2010", "sign_number": "1362/QĐ-UBND", "signer": "Đỗ Thông", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "12/05/2010", "sign_number": "1362/QĐ-UBND", "signer": "Đỗ Thông", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "12/05/2010", "sign_number": "1362/QĐ-UBND", "signer": "Đỗ Thông", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "12/05/2010", "sign_number": "1362/QĐ-UBND", "signer": "Đỗ Thông", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 1362/QĐ-UBND năm 2010 quy hoạch phát triển cụm công nghiệp Quảng Ninh đến 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 với nội dung sau:
...
4. Những giải pháp chủ yếu:
4.1. Các giải pháp về vốn và nguồn vốn thực hiện quy hoạch:
- Tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư, thu hút các tập đoàn, doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng lớn, có tiềm lực về vốn, công nghệ, thương hiệu đầu tư vào cơ sở hạ tầng các cụm công nghiệp trên địa bàn; Tập trung huy động vốn như vốn từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước, vốn tín dụng, lập Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển các cụm công nghiệp chủ yếu từ 2 nguồn: các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài.
- Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư vào cụm công nghiệp theo một đầu mối tổ chức thống nhất, có sự tham gia của các ban, ngành, có trọng tâm, trọng điểm riêng cho từng đối tượng cần thu hút vốn. Thành lập các đại diện xúc tiến đầu tư ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng... để thu hút những doanh nghiệp quan tâm đến tiềm năng của Quảng Ninh.
- Tỉnh hỗ trợ một phần kinh phí cho các dự án xây dựng cụm công nghiệp ở các huyện là địa bàn có khó khăn.
- Các cụm công nghiệp khác chưa được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng để đáp ứng được nhu cầu phát triển, có thể cho các nhà đầu tư là các doanh nghiệp mạnh được bỏ vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và kinh doanh cho thuê đất sản xuất. Nhà đầu tư ứng vốn làm hạ tầng sẽ được giành một phần nguồn thu công nghiệp để hoàn vốn.
4.2. Các giải pháp về đất đai:
- Tăng cường hiệu lực của các quy định pháp luật về chính sách đất đai kết hợp giữa thuyết phục, tuyên truyền ý thức pháp luật và cưỡng chế, đặc biệt là những khu vực và các địa bàn dự kiến sẽ có những khó khăn khi triển khai xây dựng các cụm công nghiệp theo quy hoạch.
- Xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện ưu đãi về miễn, giảm tiền thuê đất cho doanh nghiệp thuê đất trong cụm công nghiệp. Đồng thời bổ sung cơ chế cho các doanh nghiệp thuê đất trong các cụm công nghiệp được hưởng ưu đãi về tiền thuê đất theo quy định của Luật đầu tư.
4.3. Các giải pháp về lao động, xã hội:
4.3.1. Giải pháp về tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho các cụm công nghiệp:
Doanh nghiệp trong các cụm công nghiệp cần cam kết và thực hiện tuyển dụng lao động tại địa phương nơi có cụm công nghiệp; Đặc biệt ưu tiên lao động bị mất đất sản xuất. Đồng thời với việc đảm bảo chất lượng lao động, việc tuyển dụng để đào tạo và đào tạo lại cũng cần tập trung vào các đối tượng này.
4.3.2. Về đào tạo nguồn nhân lực cho các cụm công nghiệp:
Tạo dựng mối quan hệ liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp trong các cụm công nghiệp Quảng Ninh với trường đại học, trường dạy nghề trên địa bàn và vùng để đào tạo nhân lực đáp ứng đúng nhu cầu của doanh nghiệp về các ngành nghề kinh doanh. Hàng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho các trường dạy nghề đóng trên địa bàn một số chỉ tiêu định hướng dành cho các cụm công nghiệp, hoặc theo đăng ký của các Ban quản lý cụm công nghiệp với các cơ chế ưu đãi kèm theo và chế độ tuyển dụng sau khi tốt nghiệp cụ thể.
4.3.3. Về dịch vụ tư vấn cung cấp lao động:
Để phát triển nguồn nhân lực và các cụm công nghiệp Quảng Ninh theo hướng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, việc hình thành và phát triển thị trường lao động là một điều kiện quan trọng. Thành lập Trung tâm tư vấn dịch vụ cung ứng nhân lực hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp có thu, với chức năng là nơi tiếp cận giữa nhu cầu sử dụng lao động và nguồn lao động.
4.3.4. Đối với doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong các cụm công nghiệp:
Doanh nghiệp cần phải có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực riêng để chủ động trong việc tổ chức đào tạo cả về quy mô, trình độ và cơ cấu ngành nghề, chú ý vấn đề kèm cặp nâng cao tay nghề tại chỗ; Doanh nghiệp cần phải có bộ máy chuyên trách về quản lý nguồn nhân lực.
4.3.5. Xây dựng cơ chế, chính sách về thu hút lao động vào các cụm công nghiệp tập trung; cơ chế, chính sách hỗ trợ giải quyết chỗ ở cho lao động tại các cụm công nghiệp; cơ chế hỗ trợ công tác đào tạo tại chỗ nguồn lực lao động cho các cụm công nghiệp.
4.4. Các giải pháp về cơ sở hạ tầng và dịch vụ công:
- Xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ từ giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, xử lý môi trường và dứt điểm cho từng cụm công nghiệp để khi các nhà máy đi vào hoạt động thì chấm dứt hoạt động xây dựng hạ tầng cả trong và ngoài hàng rào CCN.
- Trong trường hợp vừa giao đất, vừa xây dựng hạ tầng thì cần có lộ trình, tiến độ hoàn thành cụ thể từng hạng mục theo dạng cuốn chiếu một cách hợp lý.
- Tổ chức tốt các dịch vụ về tài chính, Hải quan, bưu chính viễn thông tại các cụm công nghiệp để hỗ trợ cho các doanh nghiệp công nghiệp đầu tư vào đây có nhiều thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
4.5. Các giải pháp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững:
4.5.1. Tăng cường công tác quản lý môi trường trong cụm công nghiệp:
- Hạn chế tối đa các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm nặng, tuy nhiên nếu có thì phải thỏa thuận đáp ứng được các mục tiêu nhất định về môi trường và phải tìm được cách xử lý, sử dụng lại các vật liệu thải, nhiệt thải.
- Khuyến khích triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất của cụm công nghiệp.
4.5.2. Thực hiện quy hoạch môi trường cụm công nghiệp:
Đối với cụm công nghiệp mới xây dựng, việc quy hoạch tổng thể bảo vệ môi trường ngay từ khi lập dự án đóng vai trò rất quan trọng. Trong quy hoạch ngoài việc bố trí mặt bằng cho các nhà máy, nhất thiết phải đề cập đến phương án bảo vệ môi trường.
4.5.3. Xây dựng khu xử lý môi trường tập trung:
Đây là yêu cầu bắt buộc khi xây dựng cụm công nghiệp. Một hệ thống xử lý nước thải tập trung được xây dựng để xử lý một khối lượng nước thải cùng loại của nhiều cơ sở sản xuất sẽ tiết kiệm nhiều hơn từ chi phí xây dựng, thi công, đến vận hành và bảo dưỡng hệ thống này. Tại các khu vực mà nhiều ngành công nghiệp phát sinh ra cùng loại nước thải, thì việc bố trí địa điểm cho các ngành công nghiệp này trong một khu sẽ giúp xử lý nước thải dễ dàng hơn.
4.5.4. Thiết lập hệ thống quan trắc môi trường trong cụm công nghiệp:
Cần xây dựng và đầu tư nâng cấp năng lực hoạt động của hệ thống quan trắc môi trường (Monitoring) của cụm công nghiệp. Thông qua một hệ thống quan trắc môi trường này có thể đánh giá kịp thời chính xác, và kiểm soát được chặt chẽ tình trạng chất lượng môi trường cũng như mức độ ô nhiễm môi trường không khí, nước, mùi, tiếng ồn, trong khu và tác động của nó đối với vùng kế cận. Từ đó có giải pháp kỹ thuật xử lý kịp thời có hiệu quả, đảm bảo chất lượng môi trường nói chung.
4.5.5. Thành lập doanh nghiệp dịch vụ môi trường CCN:
- Ban quản lý cụm công nghiệp có thể tổ chức, cung cấp các dịch vụ về môi trường nhằm đạt các mục tiêu về môi trường, tạo ra thu nhập mới và nâng cao sức hấp dẫn của cụm công nghiệp đối với các chủ đầu tư.
- Ban quản lý cụm công nghiệp có thể tổ chức và hỗ trợ cho các dịch vụ môi trường của các cụm công nghiệp. Các khoản này có thể được bù lại khi thu phí xử lý nước thải, thu hồi và xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hiểm kiểm tra đánh giá chất lượng nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra theo mục tiêu môi trường, đào tạo về môi trường, các dịch vụ tư vấn kỹ thuật. Nhưng dịch vụ này có thể giao doanh nghiệp dịch vụ môi trường thực hiện nhưng Ban quản lý cụm công nghiệp cần phải điều phối, giám sát các hoạt động này.
4.6. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước ngành công nghiệp trên địa bàn trong lĩnh vực quản lý và phát triển cụm công nghiệp:
- Thành lập các tổ chức và tăng nhân sự quản lý nhà nước đối với các cụm công nghiệp do tỉnh quyết định thành lập.
- Xác định rõ thêm chức năng làm đầu mối quản lý quy hoạch phát triển và theo dõi tổng hợp hoạt động các cụm công nghiệp do tỉnh thành lập cho Sở Công thương, có thể tăng cường biên chế để làm tốt việc này.
- Để thực hiện chức năng quản lý toàn diện đối với cụm công nghiệp, các huyện, thị có thể thành lập Ban quản lý cụm công nghiệp thực hiện chức năng quản lý toàn diện đối với cụm công nghiệp với biên chế chuyên trách từ 3 - 5 người, tùy theo mức độ phát triển về quy mô và số cụm công nghiệp, có thể bổ sung nhân sự kiêm nhiệm.
- Các Ban quản lý CCN hoạt động theo quy chế riêng do UBND huyện phê duyệt với thỏa thuận của các Sở, ngành liên quan, trên cơ sở quy chế khung mẫu của tỉnh ban hành.
- Các Ban quản lý CCN chịu sự lãnh đạo trực tiếp của UBND huyện, thị xã và chịu sự chi phối về chuyên môn, nghiệp vụ từ Sở Công Thương và các Sở, ban ngành liên quan của tỉnh.
- Tỉnh phân cấp, hoặc ủy quyền cho UBND huyện, thị, Ban quản lý CCN giải quyết và tự chịu trách nhiệm trong một số lĩnh vực đối với một số dự án đầu tư tiểu thủ công nghiệp, di chuyển sản xuất làng nghề vào cụm công nghiệp.

Content:
Những giải pháp chủ yếu:
4.1. Các giải pháp về vốn và nguồn vốn thực hiện quy hoạch:
- Tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư, thu hút các tập đoàn, doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng lớn, có tiềm lực về vốn, công nghệ, thương hiệu đầu tư vào cơ sở hạ tầng các cụm công nghiệp trên địa bàn; Tập trung huy động vốn như vốn từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước, vốn tín dụng, lập Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển các cụm công nghiệp chủ yếu từ 2 nguồn: các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài.
- Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư vào cụm công nghiệp theo một đầu mối tổ chức thống nhất, có sự tham gia của các ban, ngành, có trọng tâm, trọng điểm riêng cho từng đối tượng cần thu hút vốn. Thành lập các đại diện xúc tiến đầu tư ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng... để thu hút những doanh nghiệp quan tâm đến tiềm năng của Quảng Ninh.
- Tỉnh hỗ trợ một phần kinh phí cho các dự án xây dựng cụm công nghiệp ở các huyện là địa bàn có khó khăn.
- Các cụm công nghiệp khác chưa được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng để đáp ứng được nhu cầu phát triển, có thể cho các nhà đầu tư là các doanh nghiệp mạnh được bỏ vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và kinh doanh cho thuê đất sản xuất. Nhà đầu tư ứng vốn làm hạ tầng sẽ được giành một phần nguồn thu công nghiệp để hoàn vốn.
4.2. Các giải pháp về đất đai:
- Tăng cường hiệu lực của các quy định pháp luật về chính sách đất đai kết hợp giữa thuyết phục, tuyên truyền ý thức pháp luật và cưỡng chế, đặc biệt là những khu vực và các địa bàn dự kiến sẽ có những khó khăn khi triển khai xây dựng các cụm công nghiệp theo quy hoạch.
- Xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện ưu đãi về miễn, giảm tiền thuê đất cho doanh nghiệp thuê đất trong cụm công nghiệp. Đồng thời bổ sung cơ chế cho các doanh nghiệp thuê đất trong các cụm công nghiệp được hưởng ưu đãi về tiền thuê đất theo quy định của Luật đầu tư.
4.3. Các giải pháp về lao động, xã hội:
4.3.1. Giải pháp về tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho các cụm công nghiệp:
Doanh nghiệp trong các cụm công nghiệp cần cam kết và thực hiện tuyển dụng lao động tại địa phương nơi có cụm công nghiệp; Đặc biệt ưu tiên lao động bị mất đất sản xuất. Đồng thời với việc đảm bảo chất lượng lao động, việc tuyển dụng để đào tạo và đào tạo lại cũng cần tập trung vào các đối tượng này.
4.3.2. Về đào tạo nguồn nhân lực cho các cụm công nghiệp:
Tạo dựng mối quan hệ liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp trong các cụm công nghiệp Quảng Ninh với trường đại học, trường dạy nghề trên địa bàn và vùng để đào tạo nhân lực đáp ứng đúng nhu cầu của doanh nghiệp về các ngành nghề kinh doanh. Hàng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho các trường dạy nghề đóng trên địa bàn một số chỉ tiêu định hướng dành cho các cụm công nghiệp, hoặc theo đăng ký của các Ban quản lý cụm công nghiệp với các cơ chế ưu đãi kèm theo và chế độ tuyển dụng sau khi tốt nghiệp cụ thể.
4.3.3. Về dịch vụ tư vấn cung cấp lao động:
Để phát triển nguồn nhân lực và các cụm công nghiệp Quảng Ninh theo hướng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, việc hình thành và phát triển thị trường lao động là một điều kiện quan trọng. Thành lập Trung tâm tư vấn dịch vụ cung ứng nhân lực hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp có thu, với chức năng là nơi tiếp cận giữa nhu cầu sử dụng lao động và nguồn lao động.
4.3.Đối với doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong các cụm công nghiệp:
Doanh nghiệp cần phải có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực riêng để chủ động trong việc tổ chức đào tạo cả về quy mô, trình độ và cơ cấu ngành nghề, chú ý vấn đề kèm cặp nâng cao tay nghề tại chỗ; Doanh nghiệp cần phải có bộ máy chuyên trách về quản lý nguồn nhân lực.
4.3.5. Xây dựng cơ chế, chính sách về thu hút lao động vào các cụm công nghiệp tập trung; cơ chế, chính sách hỗ trợ giải quyết chỗ ở cho lao động tại các cụm công nghiệp; cơ chế hỗ trợ công tác đào tạo tại chỗ nguồn lực lao động cho các cụm công nghiệp.
4.Các giải pháp về cơ sở hạ tầng và dịch vụ công:
- Xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ từ giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, xử lý môi trường và dứt điểm cho từng cụm công nghiệp để khi các nhà máy đi vào hoạt động thì chấm dứt hoạt động xây dựng hạ tầng cả trong và ngoài hàng rào CCN.
- Trong trường hợp vừa giao đất, vừa xây dựng hạ tầng thì cần có lộ trình, tiến độ hoàn thành cụ thể từng hạng mục theo dạng cuốn chiếu một cách hợp lý.
- Tổ chức tốt các dịch vụ về tài chính, Hải quan, bưu chính viễn thông tại các cụm công nghiệp để hỗ trợ cho các doanh nghiệp công nghiệp đầu tư vào đây có nhiều thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
4.5. Các giải pháp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững:
4.5.1. Tăng cường công tác quản lý môi trường trong cụm công nghiệp:
- Hạn chế tối đa các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm nặng, tuy nhiên nếu có thì phải thỏa thuận đáp ứng được các mục tiêu nhất định về môi trường và phải tìm được cách xử lý, sử dụng lại các vật liệu thải, nhiệt thải.
- Khuyến khích triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất của cụm công nghiệp.
4.5.2. Thực hiện quy hoạch môi trường cụm công nghiệp:
Đối với cụm công nghiệp mới xây dựng, việc quy hoạch tổng thể bảo vệ môi trường ngay từ khi lập dự án đóng vai trò rất quan trọng. Trong quy hoạch ngoài việc bố trí mặt bằng cho các nhà máy, nhất thiết phải đề cập đến phương án bảo vệ môi trường.
4.5.3. Xây dựng khu xử lý môi trường tập trung:
Đây là yêu cầu bắt buộc khi xây dựng cụm công nghiệp. Một hệ thống xử lý nước thải tập trung được xây dựng để xử lý một khối lượng nước thải cùng loại của nhiều cơ sở sản xuất sẽ tiết kiệm nhiều hơn từ chi phí xây dựng, thi công, đến vận hành và bảo dưỡng hệ thống này. Tại các khu vực mà nhiều ngành công nghiệp phát sinh ra cùng loại nước thải, thì việc bố trí địa điểm cho các ngành công nghiệp này trong một khu sẽ giúp xử lý nước thải dễ dàng hơn.
4.5.Thiết lập hệ thống quan trắc môi trường trong cụm công nghiệp:
Cần xây dựng và đầu tư nâng cấp năng lực hoạt động của hệ thống quan trắc môi trường (Monitoring) của cụm công nghiệp. Thông qua một hệ thống quan trắc môi trường này có thể đánh giá kịp thời chính xác, và kiểm soát được chặt chẽ tình trạng chất lượng môi trường cũng như mức độ ô nhiễm môi trường không khí, nước, mùi, tiếng ồn, trong khu và tác động của nó đối với vùng kế cận. Từ đó có giải pháp kỹ thuật xử lý kịp thời có hiệu quả, đảm bảo chất lượng môi trường nói chung.
4.5.5. Thành lập doanh nghiệp dịch vụ môi trường CCN:
- Ban quản lý cụm công nghiệp có thể tổ chức, cung cấp các dịch vụ về môi trường nhằm đạt các mục tiêu về môi trường, tạo ra thu nhập mới và nâng cao sức hấp dẫn của cụm công nghiệp đối với các chủ đầu tư.
- Ban quản lý cụm công nghiệp có thể tổ chức và hỗ trợ cho các dịch vụ môi trường của các cụm công nghiệp. Các khoản này có thể được bù lại khi thu phí xử lý nước thải, thu hồi và xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hiểm kiểm tra đánh giá chất lượng nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra theo mục tiêu môi trường, đào tạo về môi trường, các dịch vụ tư vấn kỹ thuật. Nhưng dịch vụ này có thể giao doanh nghiệp dịch vụ môi trường thực hiện nhưng Ban quản lý cụm công nghiệp cần phải điều phối, giám sát các hoạt động này.
4.6. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước ngành công nghiệp trên địa bàn trong lĩnh vực quản lý và phát triển cụm công nghiệp:
- Thành lập các tổ chức và tăng nhân sự quản lý nhà nước đối với các cụm công nghiệp do tỉnh quyết định thành lập.
- Xác định rõ thêm chức năng làm đầu mối quản lý quy hoạch phát triển và theo dõi tổng hợp hoạt động các cụm công nghiệp do tỉnh thành lập cho Sở Công thương, có thể tăng cường biên chế để làm tốt việc này.
- Để thực hiện chức năng quản lý toàn diện đối với cụm công nghiệp, các huyện, thị có thể thành lập Ban quản lý cụm công nghiệp thực hiện chức năng quản lý toàn diện đối với cụm công nghiệp với biên chế chuyên trách từ 3 - 5 người, tùy theo mức độ phát triển về quy mô và số cụm công nghiệp, có thể bổ sung nhân sự kiêm nhiệm.
- Các Ban quản lý CCN hoạt động theo quy chế riêng do UBND huyện phê duyệt với thỏa thuận của các Sở, ngành liên quan, trên cơ sở quy chế khung mẫu của tỉnh ban hành.
- Các Ban quản lý CCN chịu sự lãnh đạo trực tiếp của UBND huyện, thị xã và chịu sự chi phối về chuyên môn, nghiệp vụ từ Sở Công Thương và các Sở, ban ngành liên quan của tỉnh.
- Tỉnh phân cấp, hoặc ủy quyền cho UBND huyện, thị, Ban quản lý CCN giải quyết và tự chịu trách nhiệm trong một số lĩnh vực đối với một số dự án đầu tư tiểu thủ công nghiệp, di chuyển sản xuất làng nghề vào cụm công nghiệp.