Document: Điều 1 Quyết định 75/2001/QĐ-UB bộ đơn giá công tác sửa chữa trong xây dựng cơ bản thành phố Hồ Chí Minh

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "10/09/2001", "sign_number": "75/2001/QĐ-UB", "signer": "Vũ Hùng Việt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "10/09/2001", "sign_number": "75/2001/QĐ-UB", "signer": "Vũ Hùng Việt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "10/09/2001", "sign_number": "75/2001/QĐ-UB", "signer": "Vũ Hùng Việt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "10/09/2001", "sign_number": "75/2001/QĐ-UB", "signer": "Vũ Hùng Việt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "10/09/2001", "sign_number": "75/2001/QĐ-UB", "signer": "Vũ Hùng Việt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 75/2001/QĐ-UB bộ đơn giá công tác sửa chữa trong xây dựng cơ bản thành phố Hồ Chí Minh có nội dung như sau:

Điều 1. - Nay ban hành “Đơn giá công tác sửa chữa trong xây dựng cơ bản thành phố Hồ Chí Minh” gồm 3 phần :
Phần 1 : Đơn giá sửa chữa nhà cửa, vật kiến trúc.
Phần 2 : Đơn giá sửa chữa cầu, đường bộ.
Phần 3 : Đơn giá sửa chữa cầu, đường sắt.
Đơn giá công tác sửa chữa trong xây dựng cơ bản thành phố Hồ Chí Minh là cơ sở để lập, thẩm tra, xét duyệt dự án đầu tư, lập kế hoạch đầu tư, lập dự toán và thanh quyết toán các khối lượng sửa chữa hoàn thành trong xây dựng cơ bản tại thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với những công trình có tính chất đặc biệt của thành phố được áp dụng đơn giá riêng, Ủy ban nhân dân thành phố ủy quyền cho Sở Xây dựng xem xét cụ thể. Sở Xây dựng có trách nhiệm tập hợp lại các đơn giá riêng thực hiện trong 1 năm trình Bộ Xây dựng ban hành áp dụng để rộng rãi trên địa bàn thành phố.
Đối với những công tác xây lắp chưa có đơn giá, hoặc có điều kiện kỹ thuật, biện pháp thi công, điều kiện cung ứng vật liệu khác biệt với quy định trong đơn giá công tác sửa chữa trong xây dựng cơ bản thì chủ đầu tư cùng các bên nhận thầu căn cứ vào thiết kế, điều kiện thi công và các định mức chi tiết (định mức thi công) để lập đơn giá của các loại công tác đó gởi cho Sở Xây dựng thành phố xem xét giải quyết cụ thể làm cơ sở thanh toán. Trong 6 tháng Sở Xây dựng tập hợp trình Bộ Xây dựng thỏa thuận để Ủy ban nhân dân thành phố ban hành áp dụng.
Đối với những công trình sử dụng nguồn vốn của thành phố, nhưng xây dựng ở những địa phương khác, sẽ áp dụng đơn giá công tác sửa chữa trong xây dựng cơ bản thành phố Hồ Chí Minh. Riêng giá vật liệu sẽ áp dụng theo đơn giá của địa phương có công trình của thành phố xây dựng.
Khi có biến động về giá, Ủy ban nhân dân thành phố ủy quyền cho Liên Sở Tài chánh-Vật giá - Xây dựng ban hành hệ số điều chỉnh đơn giá thích hợp, có tham khảo ý kiến của các ngành quản lý tổng hợp về xây dựng cơ bản. Trường hợp xét thấy cần thiết, Ủy ban nhân dân thành phố sẽ ban hành bộ đơn giá công tác sửa chữa trong xây dựng cơ bản mới.
Đối với công tác sửa chữa nhà, duy tu cầu, đường bộ, vỉa hè trong tập đơn giá đã ban hành theo quyết định số 4232/QĐ-UB-QLĐT ngày 27/7/1999 của Ủy ban nhân dân thành phố, nếu danh mục đơn giá của các công tác này trùng với danh mục trong bộ đơn giá này thì áp dụng theo bộ đơn giá này.
Giám đốc Sở Xây dựng chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện bộ đơn giá này.
Giao Giám đốc Sở Xây dựng in ấn và phát hành đơn giá công tác sửa chữa trong xây dựng cơ bản, theo tinh thần Thông báo số 45/TB-VP ngày 6/4/2001 của Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố (mục 8).

Content:
Điều 1. - Nay ban hành “Đơn giá công tác sửa chữa trong xây dựng cơ bản thành phố Hồ Chí Minh” gồm 3 phần :
Phần 1 : Đơn giá sửa chữa nhà cửa, vật kiến trúc.
Phần 2 : Đơn giá sửa chữa cầu, đường bộ.
Phần 3 : Đơn giá sửa chữa cầu, đường sắt.
Đơn giá công tác sửa chữa trong xây dựng cơ bản thành phố Hồ Chí Minh là cơ sở để lập, thẩm tra, xét duyệt dự án đầu tư, lập kế hoạch đầu tư, lập dự toán và thanh quyết toán các khối lượng sửa chữa hoàn thành trong xây dựng cơ bản tại thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với những công trình có tính chất đặc biệt của thành phố được áp dụng đơn giá riêng, Ủy ban nhân dân thành phố ủy quyền cho Sở Xây dựng xem xét cụ thể. Sở Xây dựng có trách nhiệm tập hợp lại các đơn giá riêng thực hiện trong 1 năm trình Bộ Xây dựng ban hành áp dụng để rộng rãi trên địa bàn thành phố.
Đối với những công tác xây lắp chưa có đơn giá, hoặc có điều kiện kỹ thuật, biện pháp thi công, điều kiện cung ứng vật liệu khác biệt với quy định trong đơn giá công tác sửa chữa trong xây dựng cơ bản thì chủ đầu tư cùng các bên nhận thầu căn cứ vào thiết kế, điều kiện thi công và các định mức chi tiết (định mức thi công) để lập đơn giá của các loại công tác đó gởi cho Sở Xây dựng thành phố xem xét giải quyết cụ thể làm cơ sở thanh toán. Trong 6 tháng Sở Xây dựng tập hợp trình Bộ Xây dựng thỏa thuận để Ủy ban nhân dân thành phố ban hành áp dụng.
Đối với những công trình sử dụng nguồn vốn của thành phố, nhưng xây dựng ở những địa phương khác, sẽ áp dụng đơn giá công tác sửa chữa trong xây dựng cơ bản thành phố Hồ Chí Minh. Riêng giá vật liệu sẽ áp dụng theo đơn giá của địa phương có công trình của thành phố xây dựng.
Khi có biến động về giá, Ủy ban nhân dân thành phố ủy quyền cho Liên Sở Tài chánh-Vật giá - Xây dựng ban hành hệ số điều chỉnh đơn giá thích hợp, có tham khảo ý kiến của các ngành quản lý tổng hợp về xây dựng cơ bản. Trường hợp xét thấy cần thiết, Ủy ban nhân dân thành phố sẽ ban hành bộ đơn giá công tác sửa chữa trong xây dựng cơ bản mới.
Đối với công tác sửa chữa nhà, duy tu cầu, đường bộ, vỉa hè trong tập đơn giá đã ban hành theo quyết định số 4232/QĐ-UB-QLĐT ngày 27/7/1999 của Ủy ban nhân dân thành phố, nếu danh mục đơn giá của các công tác này trùng với danh mục trong bộ đơn giá này thì áp dụng theo bộ đơn giá này.
Giám đốc Sở Xây dựng chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện bộ đơn giá này.
Giao Giám đốc Sở Xây dựng in ấn và phát hành đơn giá công tác sửa chữa trong xây dựng cơ bản, theo tinh thần Thông báo số 45/TB-VP ngày 6/4/2001 của Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố (mục 8).