Document: Khoản 1 Điều 1 Quyết định 3143/QĐ-UBND 2008 Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Ninh Thuận đến 2010

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "21/05/2008", "sign_number": "3143/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Thị Út Lan", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "21/05/2008", "sign_number": "3143/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Thị Út Lan", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "21/05/2008", "sign_number": "3143/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Thị Út Lan", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "21/05/2008", "sign_number": "3143/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Thị Út Lan", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "21/05/2008", "sign_number": "3143/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Thị Út Lan", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 1 Quyết định 3143/QĐ-UBND 2008 Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Ninh Thuận đến 2010

Điều 1. Ban hành Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Ninh Thuận giai đoạn đến 2010 với những nội dung chủ yếu như sau:
1. Về đào tạo nghề:
a) Trình độ và loại hình đào tạo: đào tạo lao động kỹ thuật, thời gian đào tạo ngắn hạn dưới một năm và dài hạn từ một đến ba năm, đảm bảo tỷ lệ đào tạo giữa các trình độ và tình hình phát triển công nghệ. Đa dạng hoá loại hình đào tạo phù hợp điều kiện thực tế và nhu cầu: đào tạo theo các mô hình liên kết, đặt hàng, tín chỉ, vừa làm vừa học; đào tạo mới và đào tạo lại; đào tạo tại chỗ, đào tạo nghề nông thôn, doanh nghiệp tự đào tạo, tái đào tạo theo mục đích sử dụng lao động;
b) Quy mô, cơ cấu đào tạo: tăng quy mô đào tạo nghề hằng năm cho người lao động, đặc biệt chú ý đào tạo nghề dài hạn, giai đoạn 2008 - 2010 đào tạo 23.000 người trong đó đào tạo nghề ngắn hạn 21.000 người, đào tạo dài hạn 2.000 người. Cơ cấu ngành nghề đào tạo phải phù hợp với nhu cầu lao động trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, thương mại và dịch vụ; tập trung đào tạo các ngành nghề cho các khu, cụm công nghiệp, các ngành kinh tế mũi nhọn, ngành có sử dụng số lượng lao động lớn, các nghề phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, phát triển nông thôn và xuất khẩu lao động;
c) Mạng lưới dạy nghề: phát triển mạng lưới dạy nghề theo hướng đẩy mạnh xã hội hoá, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề để tăng năng lực và chất lượng dạy nghề góp phần bảo đảm cơ cấu nguồn nhân lực. Giai đoạn đến năm 2010, tập trung đầu tư cơ sở 2 Trường Trung cấp Nghề và Trung tâm Dạy nghề các huyện Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước để đáp ứng nhu cầu học nghề của người lao động, xuất khẩu lao động và phổ cập nghề cho thanh niên; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cơ sở dạy nghề tư nhân trên địa bàn các huyện thành phố, tại các khu, cụm công nghiệp, doanh nghiệp và các loại hình dạy nghề khác. Tổng vốn đầu tư xây dựng các cơ sở dạy nghề là 85 (tám mươi lăm) tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ 40 (bốn mươi) tỷ đồng; ngân sách địa phương 30 (ba mươi) tỷ đồng; các thành phần kinh tế 15 (mười lăm) tỷ đồng;
d) Đội ngũ giáo viên và các hoạt động nghiên cứu: đội ngũ giáo viên là người quyết định chất lượng đào tạo, phải bảo đảm về số lượng và chất lượng; tiếp tục chuẩn hoá, đào tạo bồi dưỡng và tuyển dụng giáo viên dạy nghề đáp ứng nhu cầu đào tạo; xây dựng đội ngũ giáo viên giỏi, bố trí đủ cho Trường Trung cấp Nghề và các Trung tâm Dạy nghề. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, thực hành, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất để phục vụ công tác giảng dạy và học tập; khuyến khích hình thành các cơ sở sản xuất, dịch vụ phù hợp với ngành nghề đào tạo và giải quyết việc làm cho người lao động;
e) Về quản lý: nâng cao năng lực và chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý dạy nghề; tăng cường công tác lập kế hoạch, dự kiến nhu cầu nhân lực và cơ cấu ngành nghề đào tạo. Tăng cường quản lý Nhà nước về đào tạo nghề, nhất là quản lý chất lượng đào tạo nghề đối với chương trình, giáo trình, quy chế học tập, thi cử, văn bằng, tiêu chuẩn giáo viên.

Content:
Về đào tạo nghề:
a) Trình độ và loại hình đào tạo: đào tạo lao động kỹ thuật, thời gian đào tạo ngắn hạn dưới một năm và dài hạn từ một đến ba năm, đảm bảo tỷ lệ đào tạo giữa các trình độ và tình hình phát triển công nghệ. Đa dạng hoá loại hình đào tạo phù hợp điều kiện thực tế và nhu cầu: đào tạo theo các mô hình liên kết, đặt hàng, tín chỉ, vừa làm vừa học; đào tạo mới và đào tạo lại; đào tạo tại chỗ, đào tạo nghề nông thôn, doanh nghiệp tự đào tạo, tái đào tạo theo mục đích sử dụng lao động;
b) Quy mô, cơ cấu đào tạo: tăng quy mô đào tạo nghề hằng năm cho người lao động, đặc biệt chú ý đào tạo nghề dài hạn, giai đoạn 2008 - 2010 đào tạo 23.000 người trong đó đào tạo nghề ngắn hạn 21.000 người, đào tạo dài hạn 2.000 người. Cơ cấu ngành nghề đào tạo phải phù hợp với nhu cầu lao động trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, thương mại và dịch vụ; tập trung đào tạo các ngành nghề cho các khu, cụm công nghiệp, các ngành kinh tế mũi nhọn, ngành có sử dụng số lượng lao động lớn, các nghề phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, phát triển nông thôn và xuất khẩu lao động;
c) Mạng lưới dạy nghề: phát triển mạng lưới dạy nghề theo hướng đẩy mạnh xã hội hoá, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề để tăng năng lực và chất lượng dạy nghề góp phần bảo đảm cơ cấu nguồn nhân lực. Giai đoạn đến năm 2010, tập trung đầu tư cơ sở 2 Trường Trung cấp Nghề và Trung tâm Dạy nghề các huyện Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước để đáp ứng nhu cầu học nghề của người lao động, xuất khẩu lao động và phổ cập nghề cho thanh niên; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cơ sở dạy nghề tư nhân trên địa bàn các huyện thành phố, tại các khu, cụm công nghiệp, doanh nghiệp và các loại hình dạy nghề khác. Tổng vốn đầu tư xây dựng các cơ sở dạy nghề là 85 (tám mươi lăm) tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ 40 (bốn mươi) tỷ đồng; ngân sách địa phương 30 (ba mươi) tỷ đồng; các thành phần kinh tế 15 (mười lăm) tỷ đồng;
d) Đội ngũ giáo viên và các hoạt động nghiên cứu: đội ngũ giáo viên là người quyết định chất lượng đào tạo, phải bảo đảm về số lượng và chất lượng; tiếp tục chuẩn hoá, đào tạo bồi dưỡng và tuyển dụng giáo viên dạy nghề đáp ứng nhu cầu đào tạo; xây dựng đội ngũ giáo viên giỏi, bố trí đủ cho Trường Trung cấp Nghề và các Trung tâm Dạy nghề. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, thực hành, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất để phục vụ công tác giảng dạy và học tập; khuyến khích hình thành các cơ sở sản xuất, dịch vụ phù hợp với ngành nghề đào tạo và giải quyết việc làm cho người lao động;
e) Về quản lý: nâng cao năng lực và chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý dạy nghề; tăng cường công tác lập kế hoạch, dự kiến nhu cầu nhân lực và cơ cấu ngành nghề đào tạo. Tăng cường quản lý Nhà nước về đào tạo nghề, nhất là quản lý chất lượng đào tạo nghề đối với chương trình, giáo trình, quy chế học tập, thi cử, văn bằng, tiêu chuẩn giáo viên.