Document: Khoản 1 Điều 4 Quyết định 168/2001/QĐ-TTg định hướng dài hạn, kế hoạch 5 năm 2001-2005 giải pháp phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "30/10/2001", "sign_number": "168/2001/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "30/10/2001", "sign_number": "168/2001/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "30/10/2001", "sign_number": "168/2001/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "30/10/2001", "sign_number": "168/2001/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "30/10/2001", "sign_number": "168/2001/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 4 Quyết định 168/2001/QĐ-TTg định hướng dài hạn, kế hoạch 5 năm 2001-2005 giải pháp phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên

Điều 4. Về một số chính sách và giải pháp.
1. Chính sách đất đai:
a) Thực hiện ngay các giải pháp đối với hộ dân tộc thiểu số không có đất và thiếu đất có đất để sản xuất, theo hướng:
Khai hoang mở rộng diện tích ở những vùng có điều kiện;
Điều chỉnh lại đất của các nông, lâm trường;
Nhận giao, khoán đất của các nông, lâm trường;
Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên phải xác định số hộ đồng bào không đất và thiếu đất, có biện pháp giải quyết xong trong năm 2002;
Các địa phương phải tổ chức tốt việc giải quyết đất đai, hướng dẫn sản xuất, cho vay vốn, tiêu thụ nông sản phẩm nhằm giúp cho đồng bào có cuộc sống ổn định, định canh định cư, không du canh du cư, phá rừng, phát nương làm rẫy.
b) Hoàn thành cơ bản việc quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện, xã, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất ở để đồng bào yên tâm sản xuất.
c) Nghiêm cấm việc mua bán, chuyển nhượng đất đai trái pháp luật, nhất là đất đai của đồng bào dân tộc thiểu số. Giải quyết dứt điểm những vụ việc nổi cộm về khiếu kiện tranh chấp đất đai giữa dân với dân, giữa dân với doanh nghiệp và tổ chức của Nhà nước
2- Về đầu tư và tín dụng:
a) Về đầu tư: Vốn ngân sách nhà nước (bao gồm cả vốn ODA) hỗ trợ đầu tư chủ yếu vào các lĩnh vực hạ tầng phục vụ kinh tế - xã hội sau đây:
- Về giao thông: Phải dành sự ưu tiên thỏa đáng về vốn cho việc phát triển giao thông phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, bao gồm quốc lộ, tỉnh lộ, các xã thuộc Chương trình 135, các thôn, bản thuộc diện vùng III nhưng không ở các xã thuộc Chương trình 135.
- Về thủy lợi: Các công trình thủy lợi vừa và lớn, các công trình tạo nguồn, các công trình cấp nước sinh hoạt cho đô thị, các vùng dân cư tập trung và khu công nghiệp. Kiên cố hóa kênh mương theo Quyết định số 66/2000/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ.
- Các cơ sở hạ tầng phục vụ giáo dục, đào tạo, y tế và văn hóa.
- Trồng và chăm sóc rừng theo Quyết định số 661/1998/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ.
- Chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục, đào tạo và dạy nghề, Chương trình phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh nguy hiểm và HIV/AIDS.
- Đầu tư phát triển khoa học công nghệ và công tác khuyến nông, khuyến lâm, các cơ sở nghiên cứu khoa học, cơ sở nhân tạo giống phục vụ sản xuất (bao gồm cả việc nhập khẩu giống).
Từng địa phương có kế hoạch phân bổ và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn để quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước.
b) Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Thực hiện tốt các quy định hiện hành tại Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 6 năm 1999 của Chính phủ về việc tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và Quyết định số 02/2001/ QĐ-TTg ngày 02 tháng 01 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc chính sách hỗ trợ đầu tư từ Quỹ Hỗ trợ phát triển đối với các dự án sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu và các dự án sản xuất nông nghiệp; Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu. Cần ưu tiên thoả đáng nguồn vốn cho các dự án đầu tư ở Tây Nguyên, đặc biệt là các dự án tập trung khai thác lợi thế, tiềm năng của vùng trong lĩnh vực công nghiệp, sản xuất, chế biến nông, lâm nghiệp.
c) Vốn tín dụng: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các ngân hàng thương mại bảo đảm đủ nguồn vốn cho nhu cầu vay vốn trong vùng; tiếp tục cải tiến thủ tục vay vốn, có biện pháp cụ thể cử cán bộ tín dụng trực tiếp hướng dẫn giúp người dân lập thủ tục vay vốn, để đồng bào vay vốn được của ngân hàng. Phối hợp với Hội Nông dân mở rộng hình thức xây dựng tổ vay vốn để giúp nông dân tiếp cận tốt hơn với vốn tín dụng và sử dụng nguồn vốn vay có hiệu quả và trả được nợ.
Tăng thêm nguồn vốn cho Ngân hàng phục vụ người nghèo, Chương trình mục tiêu quốc gia giải quyết việc làm ở Tây Nguyên và tập trung cho các hộ nghèo, nhất là hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số vay vốn phát triển sản xuất, vượt nghèo.
Khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thực hiện hình thức ký hợp đồng với nông dân tiêu thụ nông sản phẩm và làm dịch vụ vốn, vật tư phục vụ cho sản xuất, trước hết các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh dựa vào vùng nguyên liệu của dân để chế biến nông, lâm sản, xây dựng phương thức tổ chức nhất thể hóa sản xuất - chế biến - tiêu thụ trong quá trình phát triển sản xuất hàng hóa trong cơ chế thị trường.
d) Khuyến khích các hình thức huy động vốn trong dân, vốn từ các doanh nghiệp để đầu tư tăng năng lực sản xuất, đầu tư phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hợp tác xã, các trang trại và hộ gia đình.
3. Chính sách trợ cước trợ giá: Giao Uỷ ban Dân tộc và Miền núi chủ trì cùng các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu đề xuất đổi mới việc trợ cước trợ giá hiện nay cho phù hợp với điều kiện và tập quán của đồng bào trong cả nước.
Trước mắt, ở các tỉnh Tây Nguyên từ năm 2001 thực hiện cấp không thu tiền 5,0 kg/người/năm muối iốt; trợ cấp tiền thuốc với mức 20.000 đồng/người/năm cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số thuộc vùng III; cấp 4 mét vải/người/năm cho những hộ đói, nghèo (theo chuẩn mực Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), già làng, trưởng bản có khó khăn, gia đình có công với nước bằng loại vải thông thường. Về ánh sáng, đối với nơi chưa có điện lưới thì được cấp dầu hỏa không thu tiền mỗi hộ 5 lít/năm, đối với nơi có điện hỗ trợ giá điện tương đương mức 5 lít dầu hỏa/năm cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số và hộ thuộc diện chính sách.
4. Chính sách hỗ trợ về nhà ở: Nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ thích hợp cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số thực sự có khó khăn về nhà ở. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng chính sách hỗ trợ cụ thể trình Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2001. Uỷ ban nhân dân các tỉnh phải có kế hoạch vận động các doanh nghiệp và nhân dân có điều kiện giúp đỡ thêm và có kế hoạch khai thác tận thu gỗ cây rừng tại các lòng hồ thủy điện, thủy lợi để giúp đồng bào làm nhà ở để sau năm 2003 cơ bản giải quyết xong nhà ở cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số có khó khăn và hộ thuộc diện chính sách.
5. Chính sách giáo dục, đào tạo: Từ năm 2002 thực hiện chính sách giáo dục đối với con em là người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên:
a) Miễn đóng góp xây dựng trường, học phí, hỗ trợ sách giáo khoa và giấy vở học tập.
b) Biên soạn giáo trình và sách giáo khoa dạy tiếng dân tộc, thực hiện việc dạy, học tiếng dân tộc tại các cấp học phù hợp đặc thù của vùng. Tiến hành dạy tiếng dân tộc cho giáo viên, y tế, cán bộ công chức nhà nước, cán bộ đoàn thể và cán bộ chính quyền xã không phải là người dân tộc làm việc ở các vùng đồng bào dân tộc.
c) Nhà nước chi phí toàn bộ tiền ăn ở, học tập cho học sinh dân tộc thiểu số tại các trường dân tộc nội trú. Đối với con em thuộc diện học ở trường nội trú nhưng không ở nội trú mà tham dự học ở các trường công lập, bán công thì được cấp học bổng bằng 50% số học bổng nội trú.
d) Thực hiện chính sách tuyển cử và sử dụng con em đồng bào dân tộc đi đào tạo nghề, học trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học, ưu tiên các đối tượng tự nguyện đi học trở về quê hương nhận công tác. Các cấp chính quyền phải có kế hoạch đào tạo và sử dụng, bố trí người dân tộc tại chỗ có đủ điều kiện vào làm việc ở các cơ quan nhà nước, tổ chức đoàn thể, chính trị, xã hội ở địa phương. Từng bước tiến tới đại bộ phận cán bộ làm công tác y tế, giáo dục đào tạo ở nông thôn vùng đồng bào dân tộc là người dân tộc thiểu số.
đ) Có chính sách giải quyết nhà ở cho giáo viên đến công tác tại các xã đặc biệt khó khăn trong vùng.
e) Có chính sách thu hút cán bộ khoa học kỹ thuật đến Tây Nguyên công tác.
6. Về y tế:
a) Nhà nước bố trí ngân sách thực hiện việc miễn phí toàn bộ tiền khám, chữa bệnh tại các trạm y tế, trung tâm y tế, bệnh viện cho đồng bào dân tộc thiểu số.
b) Đối với các hộ đói nghèo và nhân dân nói chung ở các xã vùng III không thực hiện việc dùng thẻ bảo hiểm y tế như hiện nay mà thực hiện khám, chữa bệnh miễn phí; các cơ sở y tế sẽ thực thanh thực chi từ nguồn quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo do các tỉnh thành lập và Sở Y tế quản lý thực hiện.
c) Mở lớp đào tạo bác sĩ cử tuyển hệ chính quy cho đối tượng là người dân tộc ở vùng II, vùng III. Có chế độ phụ cấp phù hợp và thực hiện chính sách nhà ở cho bác sĩ công tác tại các xã đặc biệt khó khăn trong vùng.
7. Về văn hóa:
a) Tăng cường kinh phí cho việc thực hiện chương trình văn hóa và đưa sách báo xuống tận buôn, xã, làng, công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, kể cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể.
b) Tăng thời lượng phát sóng truyền thanh, truyền hình bằng tiếng các dân tộc trong khu vực, làm báo hình bằng tiếng dân tộc.
c) Hỗ trợ kinh phí để tăng cường các đoàn nghệ thuật, các đội thông tin lưu động, chiếu bóng lưu động đến phục vụ cho đồng bào dân tộc, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
8. Về chính sách các thành phần kinh tế.
Khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư phát triển kinh tế, xã hội ở các tỉnh Tây Nguyên. Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên sau khi xin ý kiến của Tỉnh ủy, thông qua Hội đồng nhân dân tỉnh có cơ chế chính sách ưu đãi cụ thể về đất đai, thuế, hỗ trợ đào tạo,... với thủ tục đầu tư thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư của địa phương và các miền của đất nước.
a) Đối với doanh nghiệp nhà nước:
- Thực hiện tốt việc sắp xếp đổi mới và phát triển các doanh nghiệp nhà nước. Đối với các nông, lâm trường trên địa bàn, rà soát lại quỹ đất đai, trước mắt chuyển giao đất chưa sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả cho địa phương để giao cho nông dân sử dụng ổn định lâu dài. Diện tích đất còn lại phải giao, khoán theo nội dung của Nghị định số 01/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 và Nghị định số 187/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 9 năm 1999 của Chính phủ. Nông, lâm trường thực sự làm tốt nhiệm vụ dịch vụ giống, vật tư, kỹ thuật, chế biến và tiêu thụ nông sản phẩm. Các doanh nghiệp phải có trách nhiệm ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa với hộ nông dân hoặc hợp tác xã để bảo vệ quyền lợi của người sản xuất.
Trường hợp đất đai trước đây của dân nhất là đồng bào dân tộc khi vào nông, lâm trường giao cho các nông, lâm trường quản lý, sử dụng, nhưng trong quá trình thực hiện tổ chức sắp xếp lại sản xuất, một bộ phận lao động là công nhân phải nghỉ việc theo chế độ hoặc không còn tham gia lao động ở nông trường nên không có đất để sản xuất, thì nông, lâm trường phải giao cho số lao động này một số diện tích đất hợp lý hoặc giao khoán đất để dân có đất sản xuất, bảo đảm cuộc sống.
- Hỗ trợ vốn lưu động cho những doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 1998 của Chính phủ và các quy định hiện hành khác.
- Tiếp tục phát triển loại hình doanh nghiệp nhà nước kết hợp với an ninh quốc phòng, nhất là việc tiếp tục xây dựng và phát huy hiệu quả các khu kinh tế quốc phòng ở địa bàn xung yếu, dọc biên giới để thu hút dân (bao gồm cả đồng bào tại chỗ và nơi khác đến) tham gia sản xuất theo hướng dân nhận đất sản xuất gắn với cụm dân cư, thôn, bản phù hợp với phương hướng sản xuất và nhiệm vụ an ninh quốc phòng. Ưu tiên việc giao đất và hướng dẫn kỹ thuật cho đồng bào các dân tộc tại địa phương.
b) Đối với hợp tác xã: Thực hiện chuyển đổi hợp tác xã, tập đoàn sản xuất theo Luật Hợp tác xã, đồng thời từng bước hình thành các tổ chức kinh tế hợp tác, hợp tác xã do người dân thực sự tự nguyện tham gia để giúp nhau về dịch vụ kỹ thuật, giống, vật tư, tiêu thụ, chế biến nông sản phẩm, trước hết đối với một số người sản xuất tập trung chuyên canh sản xuất hàng hóa.
c) Đối với kinh tế hộ, kinh tế trang trại, doanh nghiệp dân doanh được khuyến khích và tạo điều kiện phát triển nhằm khai thác tiềm năng về vốn, kỹ thuật lao động.
9. Chính sách đối với cán bộ, xây dựng hệ hống chính trị trong sạch vững mạnh đặc biệt là cơ sở:
- Chính sách hỗ trợ thêm ngoài lương và các đãi ngộ khác đối với cán bộ tăng cường cơ sở (huyện, xã, buôn, làng), đối với giáo viên, cán bộ y tế, cán bộ đến công tác tại vùng đồng bào dân tộc.
- Chính sách ưu tiên bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ quản lý, lãnh đạo, đào tạo tiếng dân tộc cho cán bộ cơ sở nhất là khu vực nhà nước.
- Nâng mức phụ cấp đối với trưởng buôn, làng, bản và có chế độ đối với già làng.
Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu mức hỗ trợ cụ thể trình Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2001.

Content:
Chính sách đất đai:
a) Thực hiện ngay các giải pháp đối với hộ dân tộc thiểu số không có đất và thiếu đất có đất để sản xuất, theo hướng:
Khai hoang mở rộng diện tích ở những vùng có điều kiện;
Điều chỉnh lại đất của các nông, lâm trường;
Nhận giao, khoán đất của các nông, lâm trường;
Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên phải xác định số hộ đồng bào không đất và thiếu đất, có biện pháp giải quyết xong trong năm 2002;
Các địa phương phải tổ chức tốt việc giải quyết đất đai, hướng dẫn sản xuất, cho vay vốn, tiêu thụ nông sản phẩm nhằm giúp cho đồng bào có cuộc sống ổn định, định canh định cư, không du canh du cư, phá rừng, phát nương làm rẫy.
b) Hoàn thành cơ bản việc quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện, xã, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất ở để đồng bào yên tâm sản xuất.
c) Nghiêm cấm việc mua bán, chuyển nhượng đất đai trái pháp luật, nhất là đất đai của đồng bào dân tộc thiểu số. Giải quyết dứt điểm những vụ việc nổi cộm về khiếu kiện tranh chấp đất đai giữa dân với dân, giữa dân với doanh nghiệp và tổ chức của Nhà nước
2- Về đầu tư và tín dụng:
a) Về đầu tư: Vốn ngân sách nhà nước (bao gồm cả vốn ODA) hỗ trợ đầu tư chủ yếu vào các lĩnh vực hạ tầng phục vụ kinh tế - xã hội sau đây:
- Về giao thông: Phải dành sự ưu tiên thỏa đáng về vốn cho việc phát triển giao thông phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, bao gồm quốc lộ, tỉnh lộ, các xã thuộc Chương trình 135, các thôn, bản thuộc diện vùng III nhưng không ở các xã thuộc Chương trình 135.
- Về thủy lợi: Các công trình thủy lợi vừa và lớn, các công trình tạo nguồn, các công trình cấp nước sinh hoạt cho đô thị, các vùng dân cư tập trung và khu công nghiệp. Kiên cố hóa kênh mương theo Quyết định số 66/2000/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ.
- Các cơ sở hạ tầng phục vụ giáo dục, đào tạo, y tế và văn hóa.
- Trồng và chăm sóc rừng theo Quyết định số 661/1998/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ.
- Chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục, đào tạo và dạy nghề, Chương trình phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh nguy hiểm và HIV/AIDS.
- Đầu tư phát triển khoa học công nghệ và công tác khuyến nông, khuyến lâm, các cơ sở nghiên cứu khoa học, cơ sở nhân tạo giống phục vụ sản xuất (bao gồm cả việc nhập khẩu giống).
Từng địa phương có kế hoạch phân bổ và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn để quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước.
b) Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Thực hiện tốt các quy định hiện hành tại Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 6 năm 1999 của Chính phủ về việc tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và Quyết định số 02/2001/ QĐ-TTg ngày 02 tháng 01 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc chính sách hỗ trợ đầu tư từ Quỹ Hỗ trợ phát triển đối với các dự án sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu và các dự án sản xuất nông nghiệp; Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu. Cần ưu tiên thoả đáng nguồn vốn cho các dự án đầu tư ở Tây Nguyên, đặc biệt là các dự án tập trung khai thác lợi thế, tiềm năng của vùng trong lĩnh vực công nghiệp, sản xuất, chế biến nông, lâm nghiệp.
c) Vốn tín dụng: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các ngân hàng thương mại bảo đảm đủ nguồn vốn cho nhu cầu vay vốn trong vùng; tiếp tục cải tiến thủ tục vay vốn, có biện pháp cụ thể cử cán bộ tín dụng trực tiếp hướng dẫn giúp người dân lập thủ tục vay vốn, để đồng bào vay vốn được của ngân hàng. Phối hợp với Hội Nông dân mở rộng hình thức xây dựng tổ vay vốn để giúp nông dân tiếp cận tốt hơn với vốn tín dụng và sử dụng nguồn vốn vay có hiệu quả và trả được nợ.
Tăng thêm nguồn vốn cho Ngân hàng phục vụ người nghèo, Chương trình mục tiêu quốc gia giải quyết việc làm ở Tây Nguyên và tập trung cho các hộ nghèo, nhất là hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số vay vốn phát triển sản xuất, vượt nghèo.
Khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thực hiện hình thức ký hợp đồng với nông dân tiêu thụ nông sản phẩm và làm dịch vụ vốn, vật tư phục vụ cho sản xuất, trước hết các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh dựa vào vùng nguyên liệu của dân để chế biến nông, lâm sản, xây dựng phương thức tổ chức nhất thể hóa sản xuất - chế biến - tiêu thụ trong quá trình phát triển sản xuất hàng hóa trong cơ chế thị trường.
d) Khuyến khích các hình thức huy động vốn trong dân, vốn từ các doanh nghiệp để đầu tư tăng năng lực sản xuất, đầu tư phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hợp tác xã, các trang trại và hộ gia đình.
3. Chính sách trợ cước trợ giá: Giao Uỷ ban Dân tộc và Miền núi chủ trì cùng các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu đề xuất đổi mới việc trợ cước trợ giá hiện nay cho phù hợp với điều kiện và tập quán của đồng bào trong cả nước.
Trước mắt, ở các tỉnh Tây Nguyên từ năm 2001 thực hiện cấp không thu tiền 5,0 kg/người/năm muối iốt; trợ cấp tiền thuốc với mức 20.000 đồng/người/năm cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số thuộc vùng III; cấp 4 mét vải/người/năm cho những hộ đói, nghèo (theo chuẩn mực Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), già làng, trưởng bản có khó khăn, gia đình có công với nước bằng loại vải thông thường. Về ánh sáng, đối với nơi chưa có điện lưới thì được cấp dầu hỏa không thu tiền mỗi hộ 5 lít/năm, đối với nơi có điện hỗ trợ giá điện tương đương mức 5 lít dầu hỏa/năm cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số và hộ thuộc diện chính sách.
4. Chính sách hỗ trợ về nhà ở: Nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ thích hợp cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số thực sự có khó khăn về nhà ở. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng chính sách hỗ trợ cụ thể trình Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 200Uỷ ban nhân dân các tỉnh phải có kế hoạch vận động các doanh nghiệp và nhân dân có điều kiện giúp đỡ thêm và có kế hoạch khai thác tận thu gỗ cây rừng tại các lòng hồ thủy điện, thủy lợi để giúp đồng bào làm nhà ở để sau năm 2003 cơ bản giải quyết xong nhà ở cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số có khó khăn và hộ thuộc diện chính sách.
5. Chính sách giáo dục, đào tạo: Từ năm 2002 thực hiện chính sách giáo dục đối với con em là người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên:
a) Miễn đóng góp xây dựng trường, học phí, hỗ trợ sách giáo khoa và giấy vở học tập.
b) Biên soạn giáo trình và sách giáo khoa dạy tiếng dân tộc, thực hiện việc dạy, học tiếng dân tộc tại các cấp học phù hợp đặc thù của vùng. Tiến hành dạy tiếng dân tộc cho giáo viên, y tế, cán bộ công chức nhà nước, cán bộ đoàn thể và cán bộ chính quyền xã không phải là người dân tộc làm việc ở các vùng đồng bào dân tộc.
c) Nhà nước chi phí toàn bộ tiền ăn ở, học tập cho học sinh dân tộc thiểu số tại các trường dân tộc nội trú. Đối với con em thuộc diện học ở trường nội trú nhưng không ở nội trú mà tham dự học ở các trường công lập, bán công thì được cấp học bổng bằng 50% số học bổng nội trú.
d) Thực hiện chính sách tuyển cử và sử dụng con em đồng bào dân tộc đi đào tạo nghề, học trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học, ưu tiên các đối tượng tự nguyện đi học trở về quê hương nhận công tác. Các cấp chính quyền phải có kế hoạch đào tạo và sử dụng, bố trí người dân tộc tại chỗ có đủ điều kiện vào làm việc ở các cơ quan nhà nước, tổ chức đoàn thể, chính trị, xã hội ở địa phương. Từng bước tiến tới đại bộ phận cán bộ làm công tác y tế, giáo dục đào tạo ở nông thôn vùng đồng bào dân tộc là người dân tộc thiểu số.
đ) Có chính sách giải quyết nhà ở cho giáo viên đến công tác tại các xã đặc biệt khó khăn trong vùng.
e) Có chính sách thu hút cán bộ khoa học kỹ thuật đến Tây Nguyên công tác.
6. Về y tế:
a) Nhà nước bố trí ngân sách thực hiện việc miễn phí toàn bộ tiền khám, chữa bệnh tại các trạm y tế, trung tâm y tế, bệnh viện cho đồng bào dân tộc thiểu số.
b) Đối với các hộ đói nghèo và nhân dân nói chung ở các xã vùng III không thực hiện việc dùng thẻ bảo hiểm y tế như hiện nay mà thực hiện khám, chữa bệnh miễn phí; các cơ sở y tế sẽ thực thanh thực chi từ nguồn quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo do các tỉnh thành lập và Sở Y tế quản lý thực hiện.
c) Mở lớp đào tạo bác sĩ cử tuyển hệ chính quy cho đối tượng là người dân tộc ở vùng II, vùng III. Có chế độ phụ cấp phù hợp và thực hiện chính sách nhà ở cho bác sĩ công tác tại các xã đặc biệt khó khăn trong vùng.
7. Về văn hóa:
a) Tăng cường kinh phí cho việc thực hiện chương trình văn hóa và đưa sách báo xuống tận buôn, xã, làng, công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, kể cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể.
b) Tăng thời lượng phát sóng truyền thanh, truyền hình bằng tiếng các dân tộc trong khu vực, làm báo hình bằng tiếng dân tộc.
c) Hỗ trợ kinh phí để tăng cường các đoàn nghệ thuật, các đội thông tin lưu động, chiếu bóng lưu động đến phục vụ cho đồng bào dân tộc, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
8. Về chính sách các thành phần kinh tế.
Khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư phát triển kinh tế, xã hội ở các tỉnh Tây Nguyên. Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên sau khi xin ý kiến của Tỉnh ủy, thông qua Hội đồng nhân dân tỉnh có cơ chế chính sách ưu đãi cụ thể về đất đai, thuế, hỗ trợ đào tạo,... với thủ tục đầu tư thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư của địa phương và các miền của đất nước.
a) Đối với doanh nghiệp nhà nước:
- Thực hiện tốt việc sắp xếp đổi mới và phát triển các doanh nghiệp nhà nước. Đối với các nông, lâm trường trên địa bàn, rà soát lại quỹ đất đai, trước mắt chuyển giao đất chưa sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả cho địa phương để giao cho nông dân sử dụng ổn định lâu dài. Diện tích đất còn lại phải giao, khoán theo nội dung của Nghị định số 01/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 và Nghị định số 187/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 9 năm 1999 của Chính phủ. Nông, lâm trường thực sự làm tốt nhiệm vụ dịch vụ giống, vật tư, kỹ thuật, chế biến và tiêu thụ nông sản phẩm. Các doanh nghiệp phải có trách nhiệm ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa với hộ nông dân hoặc hợp tác xã để bảo vệ quyền lợi của người sản xuất.
Trường hợp đất đai trước đây của dân nhất là đồng bào dân tộc khi vào nông, lâm trường giao cho các nông, lâm trường quản lý, sử dụng, nhưng trong quá trình thực hiện tổ chức sắp xếp lại sản xuất, một bộ phận lao động là công nhân phải nghỉ việc theo chế độ hoặc không còn tham gia lao động ở nông trường nên không có đất để sản xuất, thì nông, lâm trường phải giao cho số lao động này một số diện tích đất hợp lý hoặc giao khoán đất để dân có đất sản xuất, bảo đảm cuộc sống.
- Hỗ trợ vốn lưu động cho những doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 1998 của Chính phủ và các quy định hiện hành khác.
- Tiếp tục phát triển loại hình doanh nghiệp nhà nước kết hợp với an ninh quốc phòng, nhất là việc tiếp tục xây dựng và phát huy hiệu quả các khu kinh tế quốc phòng ở địa bàn xung yếu, dọc biên giới để thu hút dân (bao gồm cả đồng bào tại chỗ và nơi khác đến) tham gia sản xuất theo hướng dân nhận đất sản xuất gắn với cụm dân cư, thôn, bản phù hợp với phương hướng sản xuất và nhiệm vụ an ninh quốc phòng. Ưu tiên việc giao đất và hướng dẫn kỹ thuật cho đồng bào các dân tộc tại địa phương.
b) Đối với hợp tác xã: Thực hiện chuyển đổi hợp tác xã, tập đoàn sản xuất theo Luật Hợp tác xã, đồng thời từng bước hình thành các tổ chức kinh tế hợp tác, hợp tác xã do người dân thực sự tự nguyện tham gia để giúp nhau về dịch vụ kỹ thuật, giống, vật tư, tiêu thụ, chế biến nông sản phẩm, trước hết đối với một số người sản xuất tập trung chuyên canh sản xuất hàng hóa.
c) Đối với kinh tế hộ, kinh tế trang trại, doanh nghiệp dân doanh được khuyến khích và tạo điều kiện phát triển nhằm khai thác tiềm năng về vốn, kỹ thuật lao động.
9. Chính sách đối với cán bộ, xây dựng hệ hống chính trị trong sạch vững mạnh đặc biệt là cơ sở:
- Chính sách hỗ trợ thêm ngoài lương và các đãi ngộ khác đối với cán bộ tăng cường cơ sở (huyện, xã, buôn, làng), đối với giáo viên, cán bộ y tế, cán bộ đến công tác tại vùng đồng bào dân tộc.
- Chính sách ưu tiên bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ quản lý, lãnh đạo, đào tạo tiếng dân tộc cho cán bộ cơ sở nhất là khu vực nhà nước.
- Nâng mức phụ cấp đối với trưởng buôn, làng, bản và có chế độ đối với già làng.
Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu mức hỗ trợ cụ thể trình Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2001.