Document: Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1558/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "18/08/2010", "sign_number": "1558/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "18/08/2010", "sign_number": "1558/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "18/08/2010", "sign_number": "1558/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "18/08/2010", "sign_number": "1558/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "18/08/2010", "sign_number": "1558/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1558/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử” với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
2. Mục tiêu cụ thể
...
b) Đến năm 2020
Đào tạo được nguồn nhân lực đủ về số lượng và chất lượng để phục vụ quản lý, ứng dụng và bảo đảm an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử đảm bảo khả năng tiếp nhận chuyển giao công nghệ, vận hành, duy tu, bảo dưỡng, quản lý nhà máy điện hạt nhân, tiến tới từng bước nội địa hóa, tự chủ về công nghệ, cụ thể như sau:
- Nhân lực phục vụ nhà máy điện hạt nhân: mỗi năm đào tạo 240 kỹ sư, cử nhân; 35 thạc sĩ, tiến sĩ (trong đó đào tạo tại nước ngoài 20 kỹ sư, cử nhân; 15 thạc sĩ, tiến sĩ). Đến năm 2020 đào tạo được 2.400 kỹ sư, 350 thạc sĩ và tiến sĩ các chuyên ngành điện hạt nhân (trong đó 200 kỹ sư, 150 thạc sĩ và tiến sĩ đào tạo tại nước ngoài);
- Nhân lực phục vụ nghiên cứu, ứng dụng và bảo đảm an toàn an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử: mỗi năm đào tạo 65 kỹ sư, cử nhân; 35 thạc sĩ, tiến sĩ (trong đó đào tạo tại nước ngoài 30 kỹ sư, cử nhân; 17 thạc sĩ, tiến sĩ). Đến năm 2020 đào tạo được 650 kỹ sư, 250 thạc sĩ và tiến sĩ các chuyên ngành quản lý, ứng dụng và bảo đảm an toàn an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử (trong đó, 150 kỹ sư, 100 thạc sĩ và tiến sĩ đào tạo ở nước ngoài).
- Nhân lực phục vụ đào tạo, giảng dạy: đào tạo mới 100 thạc sĩ và tiến sĩ làm công tác giảng dạy trong các cơ sở đào tạo;
- Cử 500 lượt các nhà quản lý, khoa học đi khảo sát, học tập kinh nghiệm và tham gia các khóa bồi dưỡng, thực tập ngắn hạn về nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ tại các nước phát triển về năng lượng nguyên tử.
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các Bộ, ngành, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, trường đại học và viện nghiên cứu có đào tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử xây dựng các dự án chi tiết, tổ chức thực hiện các giải pháp:
1. Kiện toàn và nâng cao hiệu quả hệ thống tổ chức, quản lý
a) Thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia do Phó Thủ tướng làm Trưởng ban, tập trung chỉ đạo thống nhất về đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
b) Các ngành, các cấp, các cơ sở giáo dục triển khai lập kế hoạch dài hạn và kế hoạch hàng năm đào tạo nguồn nhân lực, tổ chức triển khai thực hiện, tiến hành kiểm tra, đánh giá. Mỗi cấp quản lý, mỗi cơ sở giáo dục đều có cán bộ lãnh đạo chịu trách nhiệm, có bộ phận chức năng làm đầu mối quản lý về lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
Hoàn thiện cơ chế chính sách
a) Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích người dạy, người học, người làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
b) Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp, các cơ sở giáo dục về nhiệm vụ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.

Content:
Đến năm 2020
Đào tạo được nguồn nhân lực đủ về số lượng và chất lượng để phục vụ quản lý, ứng dụng và bảo đảm an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử đảm bảo khả năng tiếp nhận chuyển giao công nghệ, vận hành, duy tu, bảo dưỡng, quản lý nhà máy điện hạt nhân, tiến tới từng bước nội địa hóa, tự chủ về công nghệ, cụ thể như sau:
- Nhân lực phục vụ nhà máy điện hạt nhân: mỗi năm đào tạo 240 kỹ sư, cử nhân; 35 thạc sĩ, tiến sĩ (trong đó đào tạo tại nước ngoài 20 kỹ sư, cử nhân; 15 thạc sĩ, tiến sĩ). Đến năm 2020 đào tạo được 2.400 kỹ sư, 350 thạc sĩ và tiến sĩ các chuyên ngành điện hạt nhân (trong đó 200 kỹ sư, 150 thạc sĩ và tiến sĩ đào tạo tại nước ngoài);
- Nhân lực phục vụ nghiên cứu, ứng dụng và bảo đảm an toàn an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử: mỗi năm đào tạo 65 kỹ sư, cử nhân; 35 thạc sĩ, tiến sĩ (trong đó đào tạo tại nước ngoài 30 kỹ sư, cử nhân; 17 thạc sĩ, tiến sĩ). Đến năm 2020 đào tạo được 650 kỹ sư, 250 thạc sĩ và tiến sĩ các chuyên ngành quản lý, ứng dụng và bảo đảm an toàn an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử (trong đó, 150 kỹ sư, 100 thạc sĩ và tiến sĩ đào tạo ở nước ngoài).
- Nhân lực phục vụ đào tạo, giảng dạy: đào tạo mới 100 thạc sĩ và tiến sĩ làm công tác giảng dạy trong các cơ sở đào tạo;
- Cử 500 lượt các nhà quản lý, khoa học đi khảo sát, học tập kinh nghiệm và tham gia các khóa bồi dưỡng, thực tập ngắn hạn về nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ tại các nước phát triển về năng lượng nguyên tử.
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các Bộ, ngành, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, trường đại học và viện nghiên cứu có đào tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử xây dựng các dự án chi tiết, tổ chức thực hiện các giải pháp:
1. Kiện toàn và nâng cao hiệu quả hệ thống tổ chức, quản lý
a) Thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia do Phó Thủ tướng làm Trưởng ban, tập trung chỉ đạo thống nhất về đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
Các ngành, các cấp, các cơ sở giáo dục triển khai lập kế hoạch dài hạn và kế hoạch hàng năm đào tạo nguồn nhân lực, tổ chức triển khai thực hiện, tiến hành kiểm tra, đánh giá. Mỗi cấp quản lý, mỗi cơ sở giáo dục đều có cán bộ lãnh đạo chịu trách nhiệm, có bộ phận chức năng làm đầu mối quản lý về lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
Hoàn thiện cơ chế chính sách
a) Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích người dạy, người học, người làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp, các cơ sở giáo dục về nhiệm vụ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.