Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 81/2007/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh bình dương đến năm 2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "05/06/2007", "sign_number": "81/2007/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "05/06/2007", "sign_number": "81/2007/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "05/06/2007", "sign_number": "81/2007/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "05/06/2007", "sign_number": "81/2007/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "05/06/2007", "sign_number": "81/2007/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 81/2007/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh bình dương đến năm 2020

Điều 1. Phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020" (sau đây gọi tắt là Quy hoạch) với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Phương hướng phát triển chủ yếu
a) Các ngành kinh tế:
- Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Tiếp tục thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, chú trọng công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, sử dụng nguyên liệu trong nước. Xây dựng công nghiệp đạt trình độ tiên tiến và hiện đại, sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường trong nước cũng như nước ngoài. Đến năm 2020, Bình Dương trở thành trung tâm công nghiệp lớn, tầm quốc gia và khu vực. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 30,6%/năm thời kỳ 2006 - 2010; 26%/năm thời kỳ 2011- 2015 và 24,1%/năm thời kỳ 2016 - 2020. Tăng tỷ lệ nội địa hóa từ 55% năm 2010 lên 60% năm 2015 và 70% năm 2020, giảm tỷ lệ gia công. Nâng dần hàm lượng công nghệ cao trong sản phẩm công nghiệp. Nâng tỷ lệ công nghiệp sạch từ 20% hiện nay lên 40% năm 2010; 50% năm 2015 và 60% năm 2020.
Phát triển mạnh công nghiệp nhỏ và vừa, các ngành nghề truyền thống giải quyết nhiều việc làm tại chỗ ở khu vực nông thôn và thu hút lao động từ bên ngoài vào địa bàn Tỉnh.
Củng cố và nâng cao hiệu quả của các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn, lựa chọn các ngành công nghiệp có hàm lượng nội địa hoá cao. Đến năm 2020, dự kiến toàn Tỉnh có 31 khu công nghiệp với tổng diện tích 9.360,5 ha và 23 cụm công nghiệp với tổng diện tích 2.704 ha.
- Thương mại - dịch vụ:
Phát triển thị trường nội địa thông qua mở rộng giao thương với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh: Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, các khu công nghiệp lớn tập trung trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vùng đồng bằng sông Cửu Long và các vùng khác. Đối với thị trường nước ngoài, tập trung phát triển các mặt hàng chủ lực và các sản phẩm xuất khẩu từ các khu công nghiệp nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu từ các khu công nghiệp tập trung và các sản phẩm chế biến từ cao su, hạt điều, đồ gỗ tinh chế v.v. Đồng thời, chú trọng nhập khẩu và cung ứng vật tư, thiết bị công nghệ cho sản xuất những hàng hóa phục vụ nâng cao đời sống nhân dân.
Thương nghiệp nội địa tăng 18%/năm thời kỳ 2006 - 2010 và tăng 15%/năm thời kỳ 2011 - 2010. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ năm 2010 đạt 21 tỷ đồng, năm 2020 đạt 85 tỷ đồng. Xây dựng các chợ kiên cố tại các thị xã, thị trấn, thị tứ, một số xã và cụm dân cư. Dịch vụ vận tải không ngừng tăng đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống. Tốc độ tăng giá trị vận tải thời kỳ 2006 - 2010 đạt 26%/năm, thời kỳ 2011 - 2015 đạt 25%/năm, thời kỳ 2016 - 2020 đạt 24%/năm.
Xuất khẩu được đẩy mạnh, tổng giá trị xuất khẩu đạt 8.662 triệu USD năm 2010, đạt 14.000 triệu USD năm 2015 và trên 25.000 triệu USD năm 2020. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu của các mặt hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm 80 - 85% giá trị xuất khẩu. Tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 7.527 triệu USD năm 2010, đạt 10.000 triệu USD năm 2015 và đạt 15.000 triệu USD năm 2020.
Phát triển dịch vụ nhà ở cho công nhân có thu nhập thấp ở các khu công nghiệp tập trung; thị trường nhà ở cho người có thu nhập vừa và cao theo loại hình nhà ở sinh thái tại vùng Lái Thiêu và dọc sông Sài Gòn. Trong đó, giai đoạn đầu đến năm 2010 phát triển từ Lái Thiêu lên Thủ Dầu Một, giai đoạn sau tiếp tục phát triển đến Hồ Dầu Tiếng nhằm khai thác lợi thế của sinh thái ven sông Sài Gòn.
Doanh thu du lịch tăng bình quân 13,5%/năm thời kỳ 2006 - 2010; khoảng 13%/năm thời kỳ 2011- 2015 và 12% thời kỳ 2016 - 2020. Về giá trị, năm 2010 đạt 210 tỷ đồng, năm 2015 đạt 387 tỷ đồng, năm 2020 đạt 682 tỷ đồng.
- Nông - lâm nghiệp - thuỷ sản:
Phát triển nông nghiệp ổn định, bền vững, năng suất cao trên cơ sở khai thác hợp lý các lợi thế về vị trí địa lý, các nguồn lực, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa có giá trị cao. Phát triển nông thôn mới trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Áp dụng công nghệ sinh học, chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao trong nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Đầu tư phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày như cao su; cây ăn trái, rau đậu, cây kiểng và chăn nuôi đại gia súc và gia cầm. Phát triển lâm nghiệp theo hướng khoanh nuôi, bảo vệ rừng; trồng phân tán dọc theo trục lộ, kênh mương và đất vườn ở hộ gia đình. Phát triển thuỷ sản theo hướng quy hoạch các vùng nuôi trồng thuỷ sản, kết hợp chặt chẽ khâu nuôi, bảo quản chế biến và quản lý bảo vệ môi trường.
Cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng của ngành lâm nghiệp và thuỷ sản. Tuy nhiên, tỷ trọng giá trị gia tăng ngành nông nghiệp trong giá trị gia tăng ngành nông - lâm - ngư nghiệp vẫn đạt 90% năm 2010 và giảm xuống 75% năm 2020. Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm dần từ 56% năm 2010 xuống 48% vào năm 2015 và 42% vào năm 2020. Tương ứng, tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng từ 37% năm 2010 lên 42% năm 2015 và 46% năm 2020.
Các ngành nông - lâm - ngư nghiệp thu hút 20% lao động vào năm 2010, khoảng 14% vào năm 2015 và 10% tổng số việc làm vào năm 2020.
b) Kết cấu hạ tầng kỹ thuật:
- Giao thông:
Phát triển giao thông đường bộ theo hướng kết nối với hệ thống quốc lộ hiện đại tầm cỡ khu vực, với sân bay quốc tế và cụm cảng biển Thị Vải - Vũng Tàu và hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác. Tập trung phát triển các trục giao thông đường bộ từ đại lộ Bình Dương đi cửa khẩu Hoa Lư, từ đại lộ Bình Dương đi Đồng Xoài, từ đại lộ Bình Dương đi Dầu Tiếng, đường cao tốc Mỹ Phước - Tân Vạn. Phối hợp chặt chẽ với Bộ Giao thông vận tải xây dựng các trục cắt ngang: Vành đai 3, Vành đai 4, đường Thường Tân - Tân Hưng - Hưng Hòa. Chuẩn bị kết nối hệ thống Metro (Tàu điện ngầm) từ trung tâm thành phố Hồ Chí Minh đi Thủ Dầu Một vào sau năm 2020. Mạng lưới tỉnh lộ và huyện lộ sẽ kết nối với các trục giao thông và các đường vành đai nhằm kết nối giao thông thông suốt tới các khu, cụm công nghiệp và các vùng sản xuất chuyên canh nông nghiệp. Phát huy hiệu quả các tuyến đường sắt trên địa bàn.
Đối với giao thông đường thuỷ: tiếp tục nạo vét luồng lạch sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và sông Thị Tính; cải tạo, nâng cấp và xây dựng hệ thống cảng phục vụ vận chuyển, du lịch và dân sinh.
- Cấp điện, cấp nước:
Đầu tư đồng bộ nâng cấp, xây mới hệ thống cấp điện, cấp nước đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân, đặc biệt là ở các khu công nghiệp và đô thị tập trung. Tốc độ tăng trưởng điện năng tăng trung bình 24%/năm giai đoạn 2006 - 2010 và giảm xuống còn 13%/năm giai đoạn 2011- 2015. Tổng nhu cầu điện năng tiêu thụ 6.700 GWh đến năm 2010 và 12.400 GWh đến 2015. Thành phần phụ tải cho sản xuất và tiêu dùng khoảng 20% thời kỳ đến 2015 và 18% thời kỳ đến 2020. Thành phần phụ tải phục vụ phát triển các ngành dịch vụ khoảng 36% thời kỳ 2006 - 2015 và ổn định 30% thời kỳ sau 2015. Đến năm 2010, ngành nước phải xử lý 247.000 m3/ngày đêm và đến năm 2020 xử lý 462.000 m3/ngày đêm. Bảo đảm 95 - 97% hộ nông thôn được dùng điện và nước sạch năm 2010 và tỷ lệ này đạt 100% vào năm 2020.
- Thông tin liên lạc:
Phát triển ngành bưu chính viễn thông hiện đại, đồng bộ theo tiêu chuẩn kỹ thuật số hoá và tự động hoá nhằm bảo đảm thông tin thông suốt toàn tỉnh, gắn kết với Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Mật độ điện thoại năm 2010 đạt 42 máy/100 dân, năm 2015 đạt 50 máy/100 dân và năm 2020 đạt 60 máy/100 dân; tăng nhanh số người được sử dụng mạng internet.
c) Phát triển các ngành văn hoá - xã hội:
- Dân số:
Dân số tăng bình quân 4,2%/năm giai đoạn 2006 - 2010, tăng 5,9%/năm giai đoạn 2011 - 2015 và 4,6%/năm giai đoạn 2015 - 2020; trong đó, tốc độ tăng dân số tự nhiên giảm, tốc độ tăng cơ học được duy trì ở mức hợp lý. Dự báo dân số đạt 1,2 triệu người năm 2010; đạt 1,6 triệu người năm 2015 và khoảng 2 triệu người năm 2020 (quy mô dân số đạt mức đô thị loại I).
- Giáo dục - đào tạo:
Phát triển giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ chiến lược nhằm nâng cao nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu phát triển mạnh mẽ của sản xuất. Phát triển giáo dục phải đồng bộ ở tất cả các cấp học từ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Tiếp tục xây dựng các trường mầm non và tiểu học ở những xã, phường, thị trấn chưa có. Tách hệ trung học cơ sở và hệ trung học phổ thông theo mô hình thống nhất của cả nước vào cuối 2007. Năm 2010, bảo đảm mỗi xã, phường có ít nhất một trường trung học cơ sở. Tiếp tục kiên cố hoá hệ thống trường học, phấn đấu đạt chuẩn quốc gia về thiết bị dạy học trong tất cả các trường của Tỉnh.
Phát triển trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và đại học hợp lý trên cơ sở quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trên địa bàn Tỉnh. Quán triệt phương châm xã hội hoá công tác đào tạo, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tích cực tham gia đào tạo phát triển nguồn nhân lực theo các mô hình đào tạo khác nhau: công lập, tư thục và dân lập. Chú trọng đào tạo lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật cao cho các ngành công nghệ cao.
Phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu các khu công nghiệp của Tỉnh và các tỉnh khác trong Vùng, tiến tới đào tạo lao động cho xuất khẩu.
- Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân:
Phát triển đồng bộ và hoàn thiện mạng lưới y tế từ tỉnh xuống cơ sở, bảo đảm thực hiện đầy đủ các chương trình, chính sách y tế của Nhà nước. Không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cộng đồng, giải quyết tốt vấn đề chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Củng cố và phát triển hệ thống y tế dự phòng. Coi trọng việc phát triển nguồn dược liệu đặc hữu tại địa phương để phục vụ cho công tác chữa bệnh, nhất là trong lĩnh vực y học cổ truyền. Phấn đấu đến năm 2010 tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn dưới 10%; đến năm 2020 cơ bản không còn trẻ em suy dinh dưỡng. Tuổi thọ trung bình đạt 75 tuổi vào năm 2010; 77 tuổi vào năm 2015 và 80 tuổi vào năm 2020.
Đẩy mạnh công tác xã hội hoá y tế. Tăng cường đầu tư phát triển toàn diện ngành y tế cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực. Từng bước hiện đại hoá thiết bị chẩn đoán, điều trị cho bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế. Đầu tư xây dựng mới một số bệnh viện đa khoa khu vực phục vụ cho chuyên gia và các khu công nghiệp. Khuyến khích đầu tư một số bệnh viện ngoài công lập theo hình thức xã hội hóa nhằm thu hút nguồn lực từ các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển y tế, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của nhân dân trong tỉnh, trong vùng và người nước ngoài. Số cán bộ y tế (CBYT) 27 CBYT/vạn dân vào năm 2010, trong đó có 8 bác sĩ/vạn dân; tăng lên 38 CBYT/vạn dân, trong đó có 15 bác sĩ/vạn dân vào năm 2015. Đến năm 2020, đạt 55CBYT/vạn dân, trong đó có 30 bác sĩ/vạn dân.
Phát triển mạnh mẽ các cơ sở cung ứng dịch vụ chất lượng cao để chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng tốt hơn. Đặc biệt chú trọng việc xây dựng bệnh viện đa khoa và bệnh viện phụ sản đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm giảm tải cho các bệnh viện lớn ở thành phố Hồ Chí Minh, góp phần tăng nhanh cơ cấu cung ứng dịch vụ an sinh xã hội của Tỉnh thời kỳ sau năm 2015.
- Văn hóa thông tin, thể dục - thể thao:
Phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa thông tin, thể dục - thể thao. Chú trọng phát triển các hoạt động này ở vùng nông thôn. Củng cố và phát triển thư viện ở các cấp, từ đô thị đến nông thôn. Nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình; xây dựng Đài phát thanh truyền hình tỉnh và các trạm cơ sở với quy mô phù hợp điều kiện thực tế và theo đúng quy hoạch chung hệ thống phát thanh, truyền hình trong cả nước. Phát triển, củng cố hoạt động bảo tồn, bảo tàng nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị di sản văn hoá, di tích lịch sử và phát huy bản sắc dân tộc.
Phấn đấu đến năm 2010 có 91% gia đình văn hóa, 73% số ấp, khu phố đạt danh hiệu và tiêu chuẩn văn hóa; năm 2020 tỷ lệ tương ứng là 96% và 85%.
- Giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và chính sách đối với người có công:
Cơ cấu lao động chuyển dịch phù hợp với cơ cấu kinh tế theo hướng giảm lao động làm việc trong các ngành có năng suất thấp sang các ngành có năng suất, hiệu quả cao hơn. Hàng năm, tạo thêm việc làm cho lực lượng lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 4,4% năm 2010; 4,2% năm 2015; 4% vào năm 2020 và trên 70% lao động qua đào tạo vào năm 2020.
Nâng cao thu nhập của người lao động trên cơ sở tăng nhanh tốc độ phát triển đạt mức bình quân của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vào năm 2015 và vượt mức bình quân của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vào năm 2020. Thực hiện đồng bộ các chương trình, dự án xoá đói, giảm nghèo, tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận với các chính sách trợ giúp về tín dụng, việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản. Đồng thời, nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm, tinh thần tự lực vươn lên thoát nghèo; quan tâm, giúp đỡ các hộ diện chính sách, các đối tượng có công với cách mạng.
d) Môi trường:
Quan điểm chung tăng trưởng kinh tế kết hợp với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Mục tiêu phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, trước hết phải thẩm định quy hoạch thoát nước và vệ sinh môi trường trong quy trình xét duyệt, cấp giấy phép cho dự án đầu tư. Trong các khu công nghiệp, hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường phải bảo đảm tiêu chuẩn. Năm 2010 thu gom được 90% tổng lượng chất thải rắn; cơ bản hoàn thành cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước và xử lý nước thải, hệ thống thu gom rác thải đúng quy hoạch; bảo đảm 50% các khu dân cư, cụm công nghiệp có hệ thống thoát nước, xử lý nước thải, thu gom rác theo đúng quy hoạch. Thực hiện xong quy hoạch thoát nước và vệ sinh môi trường khu vực Nam Bình Dương đã được phê duyệt. Đến năm 2020, các vấn đề nêu trên được hoàn chỉnh và đồng bộ.
đ) Kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh:
Xây dựng Tỉnh, huyện thành khu vực phòng thủ vững chắc. Rà soát quy hoạch và điều chỉnh đất quốc phòng, an ninh đáp ứng yêu cầu thế bố trí trong khu vực phòng thủ, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội. Ngăn chặn kịp thời, đấu tranh có hiệu quả với các thế lực thù địch, giải quyết kịp thời mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, kiên quyết không để xảy ra điểm nóng trên địa bàn; có nhiều biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu các vụ tai nạn giao thông.

Content:
Phương hướng phát triển chủ yếu
a) Các ngành kinh tế:
- Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Tiếp tục thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, chú trọng công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, sử dụng nguyên liệu trong nước. Xây dựng công nghiệp đạt trình độ tiên tiến và hiện đại, sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường trong nước cũng như nước ngoài. Đến năm 2020, Bình Dương trở thành trung tâm công nghiệp lớn, tầm quốc gia và khu vực. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 30,6%/năm thời kỳ 2006 - 2010; 26%/năm thời kỳ 2011- 2015 và 24,1%/năm thời kỳ 2016 - 2020. Tăng tỷ lệ nội địa hóa từ 55% năm 2010 lên 60% năm 2015 và 70% năm 2020, giảm tỷ lệ gia công. Nâng dần hàm lượng công nghệ cao trong sản phẩm công nghiệp. Nâng tỷ lệ công nghiệp sạch từ 20% hiện nay lên 40% năm 2010; 50% năm 2015 và 60% năm 2020.
Phát triển mạnh công nghiệp nhỏ và vừa, các ngành nghề truyền thống giải quyết nhiều việc làm tại chỗ ở khu vực nông thôn và thu hút lao động từ bên ngoài vào địa bàn Tỉnh.
Củng cố và nâng cao hiệu quả của các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn, lựa chọn các ngành công nghiệp có hàm lượng nội địa hoá cao. Đến năm 2020, dự kiến toàn Tỉnh có 31 khu công nghiệp với tổng diện tích 9.360,5 ha và 23 cụm công nghiệp với tổng diện tích 2.704 ha.
- Thương mại - dịch vụ:
Phát triển thị trường nội địa thông qua mở rộng giao thương với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh: Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, các khu công nghiệp lớn tập trung trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vùng đồng bằng sông Cửu Long và các vùng khác. Đối với thị trường nước ngoài, tập trung phát triển các mặt hàng chủ lực và các sản phẩm xuất khẩu từ các khu công nghiệp nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu từ các khu công nghiệp tập trung và các sản phẩm chế biến từ cao su, hạt điều, đồ gỗ tinh chế v.v. Đồng thời, chú trọng nhập khẩu và cung ứng vật tư, thiết bị công nghệ cho sản xuất những hàng hóa phục vụ nâng cao đời sống nhân dân.
Thương nghiệp nội địa tăng 18%/năm thời kỳ 2006 - 2010 và tăng 15%/năm thời kỳ 2011 - 2010. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ năm 2010 đạt 21 tỷ đồng, năm 2020 đạt 85 tỷ đồng. Xây dựng các chợ kiên cố tại các thị xã, thị trấn, thị tứ, một số xã và cụm dân cư. Dịch vụ vận tải không ngừng tăng đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống. Tốc độ tăng giá trị vận tải thời kỳ 2006 - 2010 đạt 26%/năm, thời kỳ 2011 - 2015 đạt 25%/năm, thời kỳ 2016 - 2020 đạt 24%/năm.
Xuất khẩu được đẩy mạnh, tổng giá trị xuất khẩu đạt 8.662 triệu USD năm 2010, đạt 14.000 triệu USD năm 2015 và trên 25.000 triệu USD năm 2020. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu của các mặt hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm 80 - 85% giá trị xuất khẩu. Tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 7.527 triệu USD năm 2010, đạt 10.000 triệu USD năm 2015 và đạt 15.000 triệu USD năm 2020.
Phát triển dịch vụ nhà ở cho công nhân có thu nhập thấp ở các khu công nghiệp tập trung; thị trường nhà ở cho người có thu nhập vừa và cao theo loại hình nhà ở sinh thái tại vùng Lái Thiêu và dọc sông Sài Gòn. Trong đó, giai đoạn đầu đến năm 2010 phát triển từ Lái Thiêu lên Thủ Dầu Một, giai đoạn sau tiếp tục phát triển đến Hồ Dầu Tiếng nhằm khai thác lợi thế của sinh thái ven sông Sài Gòn.
Doanh thu du lịch tăng bình quân 13,5%/năm thời kỳ 2006 - 2010; khoảng 13%/năm thời kỳ 2011- 2015 và 12% thời kỳ 2016 - 2020. Về giá trị, năm 2010 đạt 210 tỷ đồng, năm 2015 đạt 387 tỷ đồng, năm 2020 đạt 682 tỷ đồng.
- Nông - lâm nghiệp - thuỷ sản:
Phát triển nông nghiệp ổn định, bền vững, năng suất cao trên cơ sở khai thác hợp lý các lợi thế về vị trí địa lý, các nguồn lực, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa có giá trị cao. Phát triển nông thôn mới trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Áp dụng công nghệ sinh học, chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao trong nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Đầu tư phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày như cao su; cây ăn trái, rau đậu, cây kiểng và chăn nuôi đại gia súc và gia cầm. Phát triển lâm nghiệp theo hướng khoanh nuôi, bảo vệ rừng; trồng phân tán dọc theo trục lộ, kênh mương và đất vườn ở hộ gia đình. Phát triển thuỷ sản theo hướng quy hoạch các vùng nuôi trồng thuỷ sản, kết hợp chặt chẽ khâu nuôi, bảo quản chế biến và quản lý bảo vệ môi trường.
Cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng của ngành lâm nghiệp và thuỷ sản. Tuy nhiên, tỷ trọng giá trị gia tăng ngành nông nghiệp trong giá trị gia tăng ngành nông - lâm - ngư nghiệp vẫn đạt 90% năm 2010 và giảm xuống 75% năm 2020. Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm dần từ 56% năm 2010 xuống 48% vào năm 2015 và 42% vào năm 2020. Tương ứng, tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng từ 37% năm 2010 lên 42% năm 2015 và 46% năm 2020.
Các ngành nông - lâm - ngư nghiệp thu hút 20% lao động vào năm 2010, khoảng 14% vào năm 2015 và 10% tổng số việc làm vào năm 2020.
b) Kết cấu hạ tầng kỹ thuật:
- Giao thông:
Phát triển giao thông đường bộ theo hướng kết nối với hệ thống quốc lộ hiện đại tầm cỡ khu vực, với sân bay quốc tế và cụm cảng biển Thị Vải - Vũng Tàu và hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác. Tập trung phát triển các trục giao thông đường bộ từ đại lộ Bình Dương đi cửa khẩu Hoa Lư, từ đại lộ Bình Dương đi Đồng Xoài, từ đại lộ Bình Dương đi Dầu Tiếng, đường cao tốc Mỹ Phước - Tân Vạn. Phối hợp chặt chẽ với Bộ Giao thông vận tải xây dựng các trục cắt ngang: Vành đai 3, Vành đai 4, đường Thường Tân - Tân Hưng - Hưng Hòa. Chuẩn bị kết nối hệ thống Metro (Tàu điện ngầm) từ trung tâm thành phố Hồ Chí Minh đi Thủ Dầu Một vào sau năm 2020. Mạng lưới tỉnh lộ và huyện lộ sẽ kết nối với các trục giao thông và các đường vành đai nhằm kết nối giao thông thông suốt tới các khu, cụm công nghiệp và các vùng sản xuất chuyên canh nông nghiệp. Phát huy hiệu quả các tuyến đường sắt trên địa bàn.
Đối với giao thông đường thuỷ: tiếp tục nạo vét luồng lạch sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và sông Thị Tính; cải tạo, nâng cấp và xây dựng hệ thống cảng phục vụ vận chuyển, du lịch và dân sinh.
- Cấp điện, cấp nước:
Đầu tư đồng bộ nâng cấp, xây mới hệ thống cấp điện, cấp nước đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân, đặc biệt là ở các khu công nghiệp và đô thị tập trung. Tốc độ tăng trưởng điện năng tăng trung bình 24%/năm giai đoạn 2006 - 2010 và giảm xuống còn 13%/năm giai đoạn 2011- 2015. Tổng nhu cầu điện năng tiêu thụ 6.700 GWh đến năm 2010 và 12.400 GWh đến 2015. Thành phần phụ tải cho sản xuất và tiêu dùng khoảng 20% thời kỳ đến 2015 và 18% thời kỳ đến 2020. Thành phần phụ tải phục vụ phát triển các ngành dịch vụ khoảng 36% thời kỳ 2006 - 2015 và ổn định 30% thời kỳ sau 2015. Đến năm 2010, ngành nước phải xử lý 247.000 m3/ngày đêm và đến năm 2020 xử lý 462.000 m3/ngày đêm. Bảo đảm 95 - 97% hộ nông thôn được dùng điện và nước sạch năm 2010 và tỷ lệ này đạt 100% vào năm 2020.
- Thông tin liên lạc:
Phát triển ngành bưu chính viễn thông hiện đại, đồng bộ theo tiêu chuẩn kỹ thuật số hoá và tự động hoá nhằm bảo đảm thông tin thông suốt toàn tỉnh, gắn kết với Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Mật độ điện thoại năm 2010 đạt 42 máy/100 dân, năm 2015 đạt 50 máy/100 dân và năm 2020 đạt 60 máy/100 dân; tăng nhanh số người được sử dụng mạng internet.
c) Phát triển các ngành văn hoá - xã hội:
- Dân số:
Dân số tăng bình quân 4,2%/năm giai đoạn 2006 - 2010, tăng 5,9%/năm giai đoạn 2011 - 2015 và 4,6%/năm giai đoạn 2015 - 2020; trong đó, tốc độ tăng dân số tự nhiên giảm, tốc độ tăng cơ học được duy trì ở mức hợp lý. Dự báo dân số đạt 1,2 triệu người năm 2010; đạt 1,6 triệu người năm 2015 và khoảng 2 triệu người năm 2020 (quy mô dân số đạt mức đô thị loại I).
- Giáo dục - đào tạo:
Phát triển giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ chiến lược nhằm nâng cao nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu phát triển mạnh mẽ của sản xuất. Phát triển giáo dục phải đồng bộ ở tất cả các cấp học từ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Tiếp tục xây dựng các trường mầm non và tiểu học ở những xã, phường, thị trấn chưa có. Tách hệ trung học cơ sở và hệ trung học phổ thông theo mô hình thống nhất của cả nước vào cuối 2007. Năm 2010, bảo đảm mỗi xã, phường có ít nhất một trường trung học cơ sở. Tiếp tục kiên cố hoá hệ thống trường học, phấn đấu đạt chuẩn quốc gia về thiết bị dạy học trong tất cả các trường của Tỉnh.
Phát triển trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và đại học hợp lý trên cơ sở quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trên địa bàn Tỉnh. Quán triệt phương châm xã hội hoá công tác đào tạo, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tích cực tham gia đào tạo phát triển nguồn nhân lực theo các mô hình đào tạo khác nhau: công lập, tư thục và dân lập. Chú trọng đào tạo lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật cao cho các ngành công nghệ cao.
Phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu các khu công nghiệp của Tỉnh và các tỉnh khác trong Vùng, tiến tới đào tạo lao động cho xuất khẩu.
- Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân:
Phát triển đồng bộ và hoàn thiện mạng lưới y tế từ tỉnh xuống cơ sở, bảo đảm thực hiện đầy đủ các chương trình, chính sách y tế của Nhà nước. Không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cộng đồng, giải quyết tốt vấn đề chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Củng cố và phát triển hệ thống y tế dự phòng. Coi trọng việc phát triển nguồn dược liệu đặc hữu tại địa phương để phục vụ cho công tác chữa bệnh, nhất là trong lĩnh vực y học cổ truyền. Phấn đấu đến năm 2010 tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn dưới 10%; đến năm 2020 cơ bản không còn trẻ em suy dinh dưỡng. Tuổi thọ trung bình đạt 75 tuổi vào năm 2010; 77 tuổi vào năm 2015 và 80 tuổi vào năm 2020.
Đẩy mạnh công tác xã hội hoá y tế. Tăng cường đầu tư phát triển toàn diện ngành y tế cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực. Từng bước hiện đại hoá thiết bị chẩn đoán, điều trị cho bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế. Đầu tư xây dựng mới một số bệnh viện đa khoa khu vực phục vụ cho chuyên gia và các khu công nghiệp. Khuyến khích đầu tư một số bệnh viện ngoài công lập theo hình thức xã hội hóa nhằm thu hút nguồn lực từ các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển y tế, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của nhân dân trong tỉnh, trong vùng và người nước ngoài. Số cán bộ y tế (CBYT) 27 CBYT/vạn dân vào năm 2010, trong đó có 8 bác sĩ/vạn dân; tăng lên 38 CBYT/vạn dân, trong đó có 15 bác sĩ/vạn dân vào năm 2015. Đến năm 2020, đạt 55CBYT/vạn dân, trong đó có 30 bác sĩ/vạn dân.
Phát triển mạnh mẽ các cơ sở cung ứng dịch vụ chất lượng cao để chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng tốt hơn. Đặc biệt chú trọng việc xây dựng bệnh viện đa khoa và bệnh viện phụ sản đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm giảm tải cho các bệnh viện lớn ở thành phố Hồ Chí Minh, góp phần tăng nhanh cơ cấu cung ứng dịch vụ an sinh xã hội của Tỉnh thời kỳ sau năm 2015.
- Văn hóa thông tin, thể dục - thể thao:
Phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa thông tin, thể dục - thể thao. Chú trọng phát triển các hoạt động này ở vùng nông thôn. Củng cố và phát triển thư viện ở các cấp, từ đô thị đến nông thôn. Nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình; xây dựng Đài phát thanh truyền hình tỉnh và các trạm cơ sở với quy mô phù hợp điều kiện thực tế và theo đúng quy hoạch chung hệ thống phát thanh, truyền hình trong cả nước. Phát triển, củng cố hoạt động bảo tồn, bảo tàng nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị di sản văn hoá, di tích lịch sử và phát huy bản sắc dân tộc.
Phấn đấu đến năm 2010 có 91% gia đình văn hóa, 73% số ấp, khu phố đạt danh hiệu và tiêu chuẩn văn hóa; năm 2020 tỷ lệ tương ứng là 96% và 85%.
- Giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và chính sách đối với người có công:
Cơ cấu lao động chuyển dịch phù hợp với cơ cấu kinh tế theo hướng giảm lao động làm việc trong các ngành có năng suất thấp sang các ngành có năng suất, hiệu quả cao hơn. Hàng năm, tạo thêm việc làm cho lực lượng lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 4,4% năm 2010; 4,2% năm 2015; 4% vào năm 2020 và trên 70% lao động qua đào tạo vào năm 2020.
Nâng cao thu nhập của người lao động trên cơ sở tăng nhanh tốc độ phát triển đạt mức bình quân của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vào năm 2015 và vượt mức bình quân của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vào năm 2020. Thực hiện đồng bộ các chương trình, dự án xoá đói, giảm nghèo, tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận với các chính sách trợ giúp về tín dụng, việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản. Đồng thời, nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm, tinh thần tự lực vươn lên thoát nghèo; quan tâm, giúp đỡ các hộ diện chính sách, các đối tượng có công với cách mạng.
d) Môi trường:
Quan điểm chung tăng trưởng kinh tế kết hợp với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Mục tiêu phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, trước hết phải thẩm định quy hoạch thoát nước và vệ sinh môi trường trong quy trình xét duyệt, cấp giấy phép cho dự án đầu tư. Trong các khu công nghiệp, hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường phải bảo đảm tiêu chuẩn. Năm 2010 thu gom được 90% tổng lượng chất thải rắn; cơ bản hoàn thành cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước và xử lý nước thải, hệ thống thu gom rác thải đúng quy hoạch; bảo đảm 50% các khu dân cư, cụm công nghiệp có hệ thống thoát nước, xử lý nước thải, thu gom rác theo đúng quy hoạch. Thực hiện xong quy hoạch thoát nước và vệ sinh môi trường khu vực Nam Bình Dương đã được phê duyệt. Đến năm 2020, các vấn đề nêu trên được hoàn chỉnh và đồng bộ.
đ) Kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh:
Xây dựng Tỉnh, huyện thành khu vực phòng thủ vững chắc. Rà soát quy hoạch và điều chỉnh đất quốc phòng, an ninh đáp ứng yêu cầu thế bố trí trong khu vực phòng thủ, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội. Ngăn chặn kịp thời, đấu tranh có hiệu quả với các thế lực thù địch, giải quyết kịp thời mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, kiên quyết không để xảy ra điểm nóng trên địa bàn; có nhiều biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu các vụ tai nạn giao thông.