Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 4157/QĐ-UBND năm 2013 Phát triển kinh tế rừng Nghệ An 2011 2015

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "18/09/2013", "sign_number": "4157/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Viết Hồng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "18/09/2013", "sign_number": "4157/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Viết Hồng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "18/09/2013", "sign_number": "4157/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Viết Hồng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "18/09/2013", "sign_number": "4157/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Viết Hồng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "18/09/2013", "sign_number": "4157/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Viết Hồng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 4157/QĐ-UBND năm 2013 Phát triển kinh tế rừng Nghệ An 2011 2015

Điều 1. Phê duyệt Đề án: Phát triển kinh tế rừng tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011 - 2015, với các nội dung chủ yếu như sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể
a) Về kinh tế.
- Trồng 74.380 ha rừng tập trung, trong đó:
+ Rừng phòng hộ, đặc dụng 4.380 ha (Mỗi năm bình quân 876,0 ha)
+ Rừng sản xuất 70.000 ha (Mỗi năm bình quân 14.000 ha)
- Trồng 24 triệu cây phân tán là cây gỗ lớn, cây gỗ quý hiếm, cây đặc sản, cây bản địa và cây nguyên liệu.
- Khai thác rừng tự nhiên trên lâm phần các Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp theo phương án quản lý rừng bền vững. Sản lượng khai thác đạt bình quân khoảng 24.000 m3/năm. Trong đó, khai thác chính đạt từ 5.000 m3- 6.000 m3; khai thác tận thu, tận dụng đạt từ 18.000m3-19.000m3.
- Khai thác rừng trồng phục vụ chế biến gỗ và sản xuất bột giấy, ván nhân tạo… khoảng 600.000 m3/năm; trong đó:
+ Sản phẩm gỗ xẻ các loại bình quân đạt: 400 nghìn m3/năm.
+ Sản phẩm giấy và bột giấy bình quân đạt: 13.173 tấn/năm.
+ Sản phẩm ván MDF bình quân đạt: 130.000 m3/năm
+ Sản phẩm ván ghép thanh bình quân đạt: 12.000 m3/ năm
+ Năng suất rừng trồng nguyên liệu đạt từ 120-130 m3/chu kỳ (7 năm).
- Tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá hiện hành bình quân/năm đạt: 1.725.000 triệu đồng.
- Cơ cấu kinh tế nội ngành chiếm 9,7% tổng cơ cấu ngành Nông - Lâm - Thủy sản.
- Tốc độ tăng trưởng tăng từ 3,5% - 4,1%.
b) Về xã hội
Xã hội hóa nghề rừng, tạo công việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, miền núi từ việc nhận khoán bảo vệ rừng, trồng rừng và các dịch vụ từ rừng. Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp để có đủ trình độ thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
c) Về môi trường.
- Tạo được vành đai bảo vệ môi trường, hạn chế tối đa lũ quét, lũ ống, điều tiết nguồn nước, hạn chế thiệt hại do gió bão, bảo vệ các công trình hạ tầng, đồng ruộng, dân cư và bảo tồn tính đa dạng sinh học.
- Phủ xanh toàn bộ diện tích đất trống hiện có bằng các loại cây có chất lượng cao, cải tạo môi trường, đưa độ che phủ của rừng đạt 55% vào năm 2015.
II. NHIỆM VỤ
1. Rà soát quy hoạch 3 loại rừng
Tổ chức đánh giá và phân định toàn bộ diện tích các loại rừng và đất rừng trên địa bàn tỉnh, hoàn thiện đóng mốc ranh giới 3 loại rừng trên thực địa, lập quy hoạch và kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng ở 3 cấp tỉnh, huyện và xã, công bố quy hoạch diện tích lâm phần ổn định đảm bảo phục vụ công tác quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp.
2. Giao, khoán rừng và đất lâm nghiệp.
Tiếp tục thực hiện công tác giao đất, giao rừng, cho thuê đất, thuê rừng cho các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, phù hợp từng đối tượng rừng và năng lực, trình độ tổ chức quản lý, sử dụng của các chủ rừng theo quy định của pháp luật. Những diện tích đã được Nhà nước giao cho các chủ rừng trước đây nhưng không đúng đối tượng, chủ rừng không đủ điều kiện và năng lực quản lý, sử dụng có hiệu quả thì phải thu hồi, điều chỉnh cho phù hợp. Đến năm 2015, cơ bản diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao có chủ hợp pháp và có cơ chế, chính sách khuyến khích các chủ rừng phát triển kinh tế rừng bền vững trên diện tích được Nhà nước giao quyền sử dụng. Cụ thể:
a) Diện tích đất do các tổ chức kinh tế của nhà nước chuyển cho chính quyền địa phương trong quá trình rà soát đất đai cần có kế hoạch giao cho hộ gia đình, cá nhân, đặc biệt ưu tiên hộ gia đình, cá nhân thiếu đất hoặc không có đất sản xuất.
b) Cần làm rõ cho mọi người dân nhận thức đầy đủ về quyền lợi và nghĩa vụ khi được giao đất, giao rừng, để người dân có trách nhiệm cao nhất, gắn bó nhất với đất với rừng được giao. Khuyến khích những chủ rừng làm tốt, có hiệu quả để nhân rộng và xử lý nghiêm những chủ rừng vi phạm các quy định của pháp luật.
c) Những dự án không thực hiện đúng luật đất đai, đúng luật bảo vệ rừng sau khi có quyết định phê duyệt của UBND tỉnh mà không triển khai thực hiện hoặc thực hiện không có hiệu quả thì nhất quyết phải thu hồi.

Content:
Mục tiêu cụ thể
a) Về kinh tế.
- Trồng 74.380 ha rừng tập trung, trong đó:
+ Rừng phòng hộ, đặc dụng 4.380 ha (Mỗi năm bình quân 876,0 ha)
+ Rừng sản xuất 70.000 ha (Mỗi năm bình quân 14.000 ha)
- Trồng 24 triệu cây phân tán là cây gỗ lớn, cây gỗ quý hiếm, cây đặc sản, cây bản địa và cây nguyên liệu.
- Khai thác rừng tự nhiên trên lâm phần các Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp theo phương án quản lý rừng bền vững. Sản lượng khai thác đạt bình quân khoảng 24.000 m3/năm. Trong đó, khai thác chính đạt từ 5.000 m3- 6.000 m3; khai thác tận thu, tận dụng đạt từ 18.000m3-19.000m3.
- Khai thác rừng trồng phục vụ chế biến gỗ và sản xuất bột giấy, ván nhân tạo… khoảng 600.000 m3/năm; trong đó:
+ Sản phẩm gỗ xẻ các loại bình quân đạt: 400 nghìn m3/năm.
+ Sản phẩm giấy và bột giấy bình quân đạt: 13.173 tấn/năm.
+ Sản phẩm ván MDF bình quân đạt: 130.000 m3/năm
+ Sản phẩm ván ghép thanh bình quân đạt: 12.000 m3/ năm
+ Năng suất rừng trồng nguyên liệu đạt từ 120-130 m3/chu kỳ (7 năm).
- Tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá hiện hành bình quân/năm đạt: 1.725.000 triệu đồng.
- Cơ cấu kinh tế nội ngành chiếm 9,7% tổng cơ cấu ngành Nông - Lâm - Thủy sản.
- Tốc độ tăng trưởng tăng từ 3,5% - 4,1%.
b) Về xã hội
Xã hội hóa nghề rừng, tạo công việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, miền núi từ việc nhận khoán bảo vệ rừng, trồng rừng và các dịch vụ từ rừng. Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp để có đủ trình độ thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
c) Về môi trường.
- Tạo được vành đai bảo vệ môi trường, hạn chế tối đa lũ quét, lũ ống, điều tiết nguồn nước, hạn chế thiệt hại do gió bão, bảo vệ các công trình hạ tầng, đồng ruộng, dân cư và bảo tồn tính đa dạng sinh học.
- Phủ xanh toàn bộ diện tích đất trống hiện có bằng các loại cây có chất lượng cao, cải tạo môi trường, đưa độ che phủ của rừng đạt 55% vào năm 2015.
II. NHIỆM VỤ
1. Rà soát quy hoạch 3 loại rừng
Tổ chức đánh giá và phân định toàn bộ diện tích các loại rừng và đất rừng trên địa bàn tỉnh, hoàn thiện đóng mốc ranh giới 3 loại rừng trên thực địa, lập quy hoạch và kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng ở 3 cấp tỉnh, huyện và xã, công bố quy hoạch diện tích lâm phần ổn định đảm bảo phục vụ công tác quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp.
Giao, khoán rừng và đất lâm nghiệp.
Tiếp tục thực hiện công tác giao đất, giao rừng, cho thuê đất, thuê rừng cho các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, phù hợp từng đối tượng rừng và năng lực, trình độ tổ chức quản lý, sử dụng của các chủ rừng theo quy định của pháp luật. Những diện tích đã được Nhà nước giao cho các chủ rừng trước đây nhưng không đúng đối tượng, chủ rừng không đủ điều kiện và năng lực quản lý, sử dụng có hiệu quả thì phải thu hồi, điều chỉnh cho phù hợp. Đến năm 2015, cơ bản diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao có chủ hợp pháp và có cơ chế, chính sách khuyến khích các chủ rừng phát triển kinh tế rừng bền vững trên diện tích được Nhà nước giao quyền sử dụng. Cụ thể:
a) Diện tích đất do các tổ chức kinh tế của nhà nước chuyển cho chính quyền địa phương trong quá trình rà soát đất đai cần có kế hoạch giao cho hộ gia đình, cá nhân, đặc biệt ưu tiên hộ gia đình, cá nhân thiếu đất hoặc không có đất sản xuất.
b) Cần làm rõ cho mọi người dân nhận thức đầy đủ về quyền lợi và nghĩa vụ khi được giao đất, giao rừng, để người dân có trách nhiệm cao nhất, gắn bó nhất với đất với rừng được giao. Khuyến khích những chủ rừng làm tốt, có hiệu quả để nhân rộng và xử lý nghiêm những chủ rừng vi phạm các quy định của pháp luật.
c) Những dự án không thực hiện đúng luật đất đai, đúng luật bảo vệ rừng sau khi có quyết định phê duyệt của UBND tỉnh mà không triển khai thực hiện hoặc thực hiện không có hiệu quả thì nhất quyết phải thu hồi.