Document: Khoản 6 Điều 1 Quyết định 864/QĐ-TTG phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt Nam - Lào đến năm 2020 (đoạn từ Điện Biên đến Kon Tum)

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "09/07/2008", "sign_number": "864/QĐ-TTG", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "09/07/2008", "sign_number": "864/QĐ-TTG", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "09/07/2008", "sign_number": "864/QĐ-TTG", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "09/07/2008", "sign_number": "864/QĐ-TTG", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "09/07/2008", "sign_number": "864/QĐ-TTG", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 6 Điều 1 Quyết định 864/QĐ-TTG phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt Nam - Lào đến năm 2020 (đoạn từ Điện Biên đến Kon Tum)

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt Nam - Lào đến năm 2020 (đoạn từ tỉnh Điện Biên đến tỉnh Kon Tum) với những nội dung chính như sau:
...
6. Định hướng phát triển không gian khu vực giáp biên giới
a) Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chính
- Dự báo dân số vùng biên giới
+ Tổng dân số khu vực giáp biên giới dự báo đến năm 2010: khoảng 1.510.000 người. Trong đó dân số đô thị 315.000 người; dân số nông thôn 1.195.000 người.
+ Tổng dân số đến năm 2020: khoảng 1.957.000 người. Trong đó dân số đô thị 627.000 người; dân số nông thôn khoảng 1.330.000 người. Mật độ dân số đạt khoảng 45 - 50 người/km2.
- Mật độ đô thị:
+ Mật độ đô thị đến năm 2010 đạt 1,58 đô thị/1000 km2 diện tích đất tự nhiên;
+ Mật độ đô thị đến năm 2020 đạt 1,75 đô thị /1000 km2 diện tích đất tự nhiên.
b) Các định hướng phát triển vùng:
- Khung phát triển khu vực giáp biên giới
Khung phát triển chính của khu vực giáp biên giới là các hệ thống đường giao thông chiến lược quốc gia: đường hành lang biên giới, các trục đường quốc lộ theo hướng Đông Tây (quốc lộ 6, quốc lộ 279, quốc lộ 217, quốc lộ 7, quốc lộ 8A, quốc lộ 9, quốc lộ 21A, quốc lộ 14B, quốc lộ 14D, quốc lộ 40, quốc lộ 24), liên kết khu vực giáp biên giới với vùng biển phía Đông theo hướng Đông Tây, các nước ASEAN về phía Tây, và các đô thị cửa khẩu, khu kinh tế cửa khẩu gắn với các cửa khẩu quốc gia, quốc tế.
Khung phát triển thứ cấp dựa trên các trục giao thông liên tỉnh, liên huyện, liên xã, liên đô thị kết nối đến các trục giao thông chiến lược chính gắn kết các đô thị trong vùng, gắn đô thị với vùng nông thôn.
Hệ thống bảo vệ an ninh khu vực biên giới bao gồm các đường hành lang biên giới, đường tuần tra biên giới và đường ra biên giới. Trên hệ thống đường này là đồn biên phòng gắn với thôn bản, các đô thị, thị tứ và trung tâm cụm xã, các khu kinh tế quốc phòng, các cửa khẩu vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo vệ an ninh, quốc phòng và bảo vệ rừng, môi trường thiên nhiên.
- Phát triển hệ thống đô thị khu vực giáp biên giới
+ Hệ thống đô thị động lực cấp 1: phía Tây Bắc là thành phố Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên); thị xã Mộc Châu, thị xã Sông Mã (tỉnh Sơn La); khu vực phía Tây các tỉnh miền Trung là: thị xã Con Cuông (tỉnh Nghệ An), thành phố Lao Bảo (tỉnh Quảng Trị), thị xã Khâm Đức (tỉnh Quảng Nam); khu vực tỉnh Kon Tum là thành phố cửa khẩu Bờ Y (tỉnh Kon Tum); các đô thị này có chức năng là trung tâm kinh tế tổng hợp (văn hoá, dịch vụ thương mại cửa khẩu, dịch vụ du lịch, bưu chính, ngân hàng, dịch vụ vận tải, công nghiệp, giáo dục - đào tạo, y tế, hướng nghiệp dạy nghề)... thúc đẩy phát triển kinh tế vùng biên giới.
+ Hệ thống đô thị động lực cấp 2: bao gồm thị trấn Mường Nhé, Mường Chà, Pú Tửu (tỉnh Điện Biên); thị trấn Mai Sơn, Sốp Cộp, Yên Châu (tỉnh Sơn La); thị trấn Quan Sơn, Mường Lát (tỉnh Thanh Hóa); thị trấn Mường Xén, Hòa Bình, Kim Sơn (tỉnh Nghệ An); thị xã Hương Sơn, thị trấn Vũ Quang, Tây Sơn (tỉnh Hà Tĩnh); thị trấn Quy Đạt (tỉnh Quảng Bình); thành phố Lao Bảo (tỉnh Quảng Trị); thị trấn A Lưới (tỉnh Thừa Thiên Huế); thị trấn Tây Giang (tỉnh Quảng Nam); thị trấn Đăk Glêi, Sa Thầy (tỉnh Kon Tum).
Các đô thị này có chức năng là trung tâm kinh tế văn hoá, dịch vụ thương mại cửa khẩu, trung tâm bưu chính, ngân hàng, phát triển nông nghiệp - nông thôn, dịch vụ nông - lâm - công nghiệp, chăm sóc y tế, giáo dục, hướng nghiệp dạy nghề, trường dân tộc nội trú, trung tâm công nghiệp, dịch vụ vận tải, chợ đầu mối thu mua nông - lâm - sản... thúc đẩy phát triển kinh tế cho các tiểu vùng.
+ Các đô thị động lực cấp 3: gồm thị trấn Apachải (tỉnh Điện Biên), Lóong Luông, Chiềng Khương, Mường Lầm (tỉnh Sơn La); thị trấn Tén Tần (tỉnh Thanh Hoá); thị trấn Thanh Thủy, Nậm Cắn (tỉnh Nghệ An); thị trấn Tà Rụt (tỉnh Quảng Trị); thị trấn Ađớt (tỉnh Thừa Thiên Huế); thị trấn Chà Vài (tỉnh Quảng Nam).
Các đô thị này có chức năng là trung tâm dịch vụ thương mại gắn với cửa khẩu thúc đẩy phát triển khu vực dân cư các xã giáp biên.
Phân bố hệ thống đô thị khu vực giáp biên giới: hệ thống đô thị của toàn vùng đến năm 2010 là 55 đô thị trong đó có 1 đô thị loại III, 4 đô thị loại IV, 50 đô thị loại V; đến năm 2020 là 59 đô thị trong đó có: 3 đô thị loại II, 2 đô thị loại III; 8 đô thị loại IV; 46 đô thị loại V.
- Phát triển xây dựng các khu vực cửa khẩu
Nâng cấp cải tạo và xây dựng mới hệ thống giao thông lên cửa khẩu và cơ sở vật chất cho 34 cửa khẩu, nâng cấp 2 cửa khẩu từ quốc gia lên cửa khẩu quốc tế là cửa khẩu Lóong Sập và Nam Giang; 4 cửa khẩu phụ lên cửa khẩu quốc gia là Lạnh Bánh, Tén Tần, Thanh Thủy, Thông Thụ; mở mới 7 cửa khẩu phụ là Mường Lèo, Nà Khi, Sắng, Kham, Táo, Khang, N9.
Hình thành các khu kinh tế cửa khẩu: Khu kinh tế cửa khẩu Điện Biên gắn với cửa khẩu quốc tế Tây Trang (tỉnh Điện Biên); Khu kinh tế cửa khẩu Lóong Sập gắn với cửa khẩu quốc tế Lóong Sập (tỉnh Sơn La); Khu kinh tế cửa khẩu Na Mèo gắn với cửa khẩu quốc tế Na Mèo (tỉnh Thanh Hoá); Khu kinh tế cửa khẩu Nậm Cắn gắn với cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn (tỉnh Nghệ An); Khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo gắn với cửa khẩu quốc tế Cầu Treo (tỉnh Hà Tĩnh); Khu kinh tế cửa khẩu Cha Lo gắn với cửa khẩu quốc tế Cha Lo (tỉnh Quảng Bình); Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo gắn với cửa khẩu quốc tế Lao Bảo (tỉnh Quảng Trị); Khu kinh tế cửa khẩu Nam Giang gắn với cửa khẩu quốc gia Nam Giang (tỉnh Quảng Nam); Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y (tỉnh Kon Tum); Khu kinh tế cửa khẩu Ađớt (tỉnh Thừa Thiên Huế) để làm động lực thúc đẩy đồng đều sự phát triển kinh tế cho các vùng dọc theo biên giới.
- Phát triển dân cư nông thôn khu vực giáp biên giới
Ngoài dân cư hiện có, thực hiện chương trình đưa dân ra sát vùng biên giới, cụ thể đối với các tỉnh:
Tỉnh Điện Biên thực hiện di dân lòng hồ thủy điện Sơn La đến tái định cư các khu vực xã giáp biên giới thuộc huyện Mường Nhé, Mường Chà, Điện Biên. Xây dựng Khu kinh tế quốc phòng Mường Nhé và Mường Chà;
Tỉnh Sơn La di dân tái định cư lòng hồ thủy điện Sơn La ra khu vực biên giới huyện Sốp Cộp, Mộc Châu, Yên Châu. Hình thành Khu kinh tế quốc phòng sông Mã.
Tỉnh Thanh Hoá di dân nội vùng ra biên giới, ổn định dân cư và sắp xếp lại 15 xã biên giới, hình thành Khu kinh tế quốc phòng Mường Lát.
Tỉnh Nghệ An: thực hiện tái định cư cho số hộ dân di dời do xây dựng thủy điện Bản Lả. Xây dựng Khu kinh tế quốc phòng Kỳ Sơn, mô hình kinh tế hình thành các tổng đội thanh niên xung phong, các trang trại kinh tế gia đình.
Các tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam thực hiện di dân nội tỉnh, ổn định dân cư, xây dựng mô hình kinh tế trang trại nông lâm nghiệp, lập làng thanh niên lập nghiệp phát triển kinh tế lâm nghiệp, hình thành các Khu kinh tế quốc phòng Khe Sanh (tỉnh Quảng Trị), A So - A Lưới (tỉnh Thừa Thiên Huế).
Tỉnh Kon Tum, thực hiện di dân kinh tế mới từ các tỉnh phía Bắc vào huyện Sa Thầy, Đăk Glâi với số lượng lớn (khoảng 3 vạn dân) để phát triển kinh tế và giữ đất vùng biên giới. Hình thành Khu kinh tế quốc phòng Mô Rây.
c) Giao thông
Xây dựng hệ thống đường hành lang biên giới và đường đến các cụm trung tâm xã giáp biên, gồm:
- Đường hành lang biên giới:
Tuyến hành lang biên giới đoạn qua vùng biên giới Việt - Lào được xây dựng theo tiêu chuẩn đường cấp VI miền núi. Theo đó hướng tuyến sẽ đi song song với đường biên giới và cách từ 5 - 30 km. Đối với các tuyến đường hành lang biên giới là các quốc lộ, tỉnh lộ thì quy mô của các tuyến đường tuần thủ theo Quy hoạch phát triển ngành Giao thông vận tải đường bộ và dự báo lưu lượng xe trên các tuyến đó.
- Đường tuần tra và đường ra biên giới:
Thông tuyến đường tuần tra biên giới, đồng thời cải tạo các đoạn đường dân sinh hiện có đảm bảo lưu thông xe cơ giới, bố trí hệ thống rãnh dọc thoát nước, kè đá giữ đất tại các điểm có sạt lở. Những đoạn có địa hình thuận lợi có thể làm được đường ôtô thì làm theo tiêu chuẩn đường giao thông nông thôn. Đối với khu vực có địa hình đặc biệt khó khăn có thể xây dựng đường đi bộ, đường đất cho bộ đội biên phòng đi lại tuần tra đường biên, bảo đảm cho tuyến được liên hoàn.
- Các tuyến đường ra biên giới:
Dự kiến đến năm 2010: xây dựng toàn bộ đường tuần tra dọc biên giới và từ mỗi đồn biên phòng xây dựng đường ra biên giới.
Đến năm 2020: hoàn thành nâng cấp, xây dựng các tuyến đường nhánh nối từ đường vành đai biên giới đến các đồn biên phòng và các chốt trọng điểm, khu dân cư. Xây dựng toàn bộ các đường xương cá ra các cột mốc biên giới và xây dựng thêm các đường từ đồn biên phòng ra biên giới.
Đối với các đường ra biên giới là các quốc lộ, tỉnh lộ thì quy mô của các tuyến đường này tuân thủ theo Quy hoạch phát triển ngành giao thông vận tải đường bộ. Đối với các đường ra biên giới còn lại thì quy mô dự kiến là đường cấp V miền núi.
d) Chuẩn bị kỹ thuật
Thiết lập hệ thống cảnh báo sớm về các tai biến thiên nhiên, lập bản đồ dự báo các khu vực có nguy cơ cao về lũ quét, sạt lở, cháy rừng... xác định vùng lòng hồ thủy lợi, thủy điện.
Xây dựng các công trình phòng lũ như các hồ thủy lợi, thủy điện đầu nguồn. Xây dựng các công trình ổn định nền: ta luy, tường chắn có chỉ tiêu kỹ thuật đúng với cấp công trình và tính chất, đặc thù của đất.
Xây dựng hệ thống cầu, cống, đập tràn đúng cấp tại những vị trí đường giao thông đi qua địa hình chia cắt, các khe tụ thủy, tránh làm nghẽn dòng lũ.
Bảo vệ rừng, trồng mới rừng, nhằm tăng độ che phủ, điều tiết nước mặt, giảm thiểu các nguy cơ lũ, lũ quét, tránh xói lở nền công trình, hạn chế quá trình bào mòn hữu cơ của đất. Tăng cường độ che phủ, tối thiểu > 50%.
đ) Định hướng cấp nước
- Khu vực đô thị
Khai thác nước ngầm phục vụ một số đô thị khu vực biên giới. Các đô thị còn lại khai thác nguồn nước mặt. Xây dựng các hồ chứa nước nhỏ, xây dựng hồ thủy điện tại sông có tiềm năng kết hợp với việc giải quyết nước cho nông nghiệp, thủy điện và sinh hoạt.
- Khu vực nông thôn
Dùng hình thức giếng khoan đường kính nhỏ Unicef, giếng khoan, giếng đào, tại các vùng xa nguồn nước mặt. Các khu vực bị rải chất độc hoá học trong chiến tranh tại khu vực giáp biên từ Quảng Trị tới Kon Tum không dùng nước ngầm làm nguồn nước sinh hoạt.
Xây dựng các hồ chứa nước nhỏ để trữ nước. Khai thác nước tự chảy, khe suối, mạch nước, nước mưa cho ăn uống và sinh hoạt.
e) Định hướng cấp năng lượng khu vực vùng biên
- Đối với đô thị, khu kinh tế cửa khẩu: điện được cung cấp từ nguồn điện của mạng lưới quốc gia thông qua các trạm biến áp 110 KV hiện có và xây dựng mới.
- Đối với điểm dân cư nông thôn: các xã và cụm xã, vùng nông thôn được cung cấp điện từ điện lưới quốc gia, còn những khu vực cách xa nguồn điện lưới quốc gia sẽ được cung cấp tư các nguồn thủy điện nhỏ, nghiên cứu phát triển năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng Biôgas.
g) Quy hoạch thoát nước thải, vệ sinh môi trường
- Định hướng quy hoạch thoát nước thải
+ Xây dựng hệ thống thoát nước nửa riêng và riêng hoàn toàn, có trạm xử lý nước thải đối với các thành phố, thị xã, khu kinh tế cửa khẩu.
+ Xây dựng hệ thống thoát nước chung hoặc nửa riêng, xử lý nước thải bằng hồ sinh học tự nhiên đối với các thị trấn, khu dân cư vùng ven biên giới.
- Định hướng thu gom và xử lý chất thải rắn
+ Xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh có diện tích phù hợp (khoảng 1,5 - 2 ha) đối với các khu kinh tế cửa khẩu, thị trấn và các điểm dân cư vùng ven biên giới.
+ Chất thải rắn công nghiệp, chất thải rắn nguy hại phát sinh trong khu vực này sẽ đưa về các khu xử lý chất thải rắn cấp vùng liên tỉnh, cấp vùng tỉnh.
- Định hướng quy hoạch nghĩa trang tập trung
Các thị trấn và các điểm dân cư vùng ven biên giới sẽ quy hoạch nghĩa trang tập trung có diện tích 1 - 1,5 ha.

Content:
Định hướng phát triển không gian khu vực giáp biên giới
a) Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chính
- Dự báo dân số vùng biên giới
+ Tổng dân số khu vực giáp biên giới dự báo đến năm 2010: khoảng 1.510.000 người. Trong đó dân số đô thị 315.000 người; dân số nông thôn 1.195.000 người.
+ Tổng dân số đến năm 2020: khoảng 1.957.000 người. Trong đó dân số đô thị 627.000 người; dân số nông thôn khoảng 1.330.000 người. Mật độ dân số đạt khoảng 45 - 50 người/km2.
- Mật độ đô thị:
+ Mật độ đô thị đến năm 2010 đạt 1,58 đô thị/1000 km2 diện tích đất tự nhiên;
+ Mật độ đô thị đến năm 2020 đạt 1,75 đô thị /1000 km2 diện tích đất tự nhiên.
b) Các định hướng phát triển vùng:
- Khung phát triển khu vực giáp biên giới
Khung phát triển chính của khu vực giáp biên giới là các hệ thống đường giao thông chiến lược quốc gia: đường hành lang biên giới, các trục đường quốc lộ theo hướng Đông Tây (quốc lộ 6, quốc lộ 279, quốc lộ 217, quốc lộ 7, quốc lộ 8A, quốc lộ 9, quốc lộ 21A, quốc lộ 14B, quốc lộ 14D, quốc lộ 40, quốc lộ 24), liên kết khu vực giáp biên giới với vùng biển phía Đông theo hướng Đông Tây, các nước ASEAN về phía Tây, và các đô thị cửa khẩu, khu kinh tế cửa khẩu gắn với các cửa khẩu quốc gia, quốc tế.
Khung phát triển thứ cấp dựa trên các trục giao thông liên tỉnh, liên huyện, liên xã, liên đô thị kết nối đến các trục giao thông chiến lược chính gắn kết các đô thị trong vùng, gắn đô thị với vùng nông thôn.
Hệ thống bảo vệ an ninh khu vực biên giới bao gồm các đường hành lang biên giới, đường tuần tra biên giới và đường ra biên giới. Trên hệ thống đường này là đồn biên phòng gắn với thôn bản, các đô thị, thị tứ và trung tâm cụm xã, các khu kinh tế quốc phòng, các cửa khẩu vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo vệ an ninh, quốc phòng và bảo vệ rừng, môi trường thiên nhiên.
- Phát triển hệ thống đô thị khu vực giáp biên giới
+ Hệ thống đô thị động lực cấp 1: phía Tây Bắc là thành phố Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên); thị xã Mộc Châu, thị xã Sông Mã (tỉnh Sơn La); khu vực phía Tây các tỉnh miền Trung là: thị xã Con Cuông (tỉnh Nghệ An), thành phố Lao Bảo (tỉnh Quảng Trị), thị xã Khâm Đức (tỉnh Quảng Nam); khu vực tỉnh Kon Tum là thành phố cửa khẩu Bờ Y (tỉnh Kon Tum); các đô thị này có chức năng là trung tâm kinh tế tổng hợp (văn hoá, dịch vụ thương mại cửa khẩu, dịch vụ du lịch, bưu chính, ngân hàng, dịch vụ vận tải, công nghiệp, giáo dục - đào tạo, y tế, hướng nghiệp dạy nghề)... thúc đẩy phát triển kinh tế vùng biên giới.
+ Hệ thống đô thị động lực cấp 2: bao gồm thị trấn Mường Nhé, Mường Chà, Pú Tửu (tỉnh Điện Biên); thị trấn Mai Sơn, Sốp Cộp, Yên Châu (tỉnh Sơn La); thị trấn Quan Sơn, Mường Lát (tỉnh Thanh Hóa); thị trấn Mường Xén, Hòa Bình, Kim Sơn (tỉnh Nghệ An); thị xã Hương Sơn, thị trấn Vũ Quang, Tây Sơn (tỉnh Hà Tĩnh); thị trấn Quy Đạt (tỉnh Quảng Bình); thành phố Lao Bảo (tỉnh Quảng Trị); thị trấn A Lưới (tỉnh Thừa Thiên Huế); thị trấn Tây Giang (tỉnh Quảng Nam); thị trấn Đăk Glêi, Sa Thầy (tỉnh Kon Tum).
Các đô thị này có chức năng là trung tâm kinh tế văn hoá, dịch vụ thương mại cửa khẩu, trung tâm bưu chính, ngân hàng, phát triển nông nghiệp - nông thôn, dịch vụ nông - lâm - công nghiệp, chăm sóc y tế, giáo dục, hướng nghiệp dạy nghề, trường dân tộc nội trú, trung tâm công nghiệp, dịch vụ vận tải, chợ đầu mối thu mua nông - lâm - sản... thúc đẩy phát triển kinh tế cho các tiểu vùng.
+ Các đô thị động lực cấp 3: gồm thị trấn Apachải (tỉnh Điện Biên), Lóong Luông, Chiềng Khương, Mường Lầm (tỉnh Sơn La); thị trấn Tén Tần (tỉnh Thanh Hoá); thị trấn Thanh Thủy, Nậm Cắn (tỉnh Nghệ An); thị trấn Tà Rụt (tỉnh Quảng Trị); thị trấn Ađớt (tỉnh Thừa Thiên Huế); thị trấn Chà Vài (tỉnh Quảng Nam).
Các đô thị này có chức năng là trung tâm dịch vụ thương mại gắn với cửa khẩu thúc đẩy phát triển khu vực dân cư các xã giáp biên.
Phân bố hệ thống đô thị khu vực giáp biên giới: hệ thống đô thị của toàn vùng đến năm 2010 là 55 đô thị trong đó có 1 đô thị loại III, 4 đô thị loại IV, 50 đô thị loại V; đến năm 2020 là 59 đô thị trong đó có: 3 đô thị loại II, 2 đô thị loại III; 8 đô thị loại IV; 46 đô thị loại V.
- Phát triển xây dựng các khu vực cửa khẩu
Nâng cấp cải tạo và xây dựng mới hệ thống giao thông lên cửa khẩu và cơ sở vật chất cho 34 cửa khẩu, nâng cấp 2 cửa khẩu từ quốc gia lên cửa khẩu quốc tế là cửa khẩu Lóong Sập và Nam Giang; 4 cửa khẩu phụ lên cửa khẩu quốc gia là Lạnh Bánh, Tén Tần, Thanh Thủy, Thông Thụ; mở mới 7 cửa khẩu phụ là Mường Lèo, Nà Khi, Sắng, Kham, Táo, Khang, N9.
Hình thành các khu kinh tế cửa khẩu: Khu kinh tế cửa khẩu Điện Biên gắn với cửa khẩu quốc tế Tây Trang (tỉnh Điện Biên); Khu kinh tế cửa khẩu Lóong Sập gắn với cửa khẩu quốc tế Lóong Sập (tỉnh Sơn La); Khu kinh tế cửa khẩu Na Mèo gắn với cửa khẩu quốc tế Na Mèo (tỉnh Thanh Hoá); Khu kinh tế cửa khẩu Nậm Cắn gắn với cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn (tỉnh Nghệ An); Khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo gắn với cửa khẩu quốc tế Cầu Treo (tỉnh Hà Tĩnh); Khu kinh tế cửa khẩu Cha Lo gắn với cửa khẩu quốc tế Cha Lo (tỉnh Quảng Bình); Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo gắn với cửa khẩu quốc tế Lao Bảo (tỉnh Quảng Trị); Khu kinh tế cửa khẩu Nam Giang gắn với cửa khẩu quốc gia Nam Giang (tỉnh Quảng Nam); Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y (tỉnh Kon Tum); Khu kinh tế cửa khẩu Ađớt (tỉnh Thừa Thiên Huế) để làm động lực thúc đẩy đồng đều sự phát triển kinh tế cho các vùng dọc theo biên giới.
- Phát triển dân cư nông thôn khu vực giáp biên giới
Ngoài dân cư hiện có, thực hiện chương trình đưa dân ra sát vùng biên giới, cụ thể đối với các tỉnh:
Tỉnh Điện Biên thực hiện di dân lòng hồ thủy điện Sơn La đến tái định cư các khu vực xã giáp biên giới thuộc huyện Mường Nhé, Mường Chà, Điện Biên. Xây dựng Khu kinh tế quốc phòng Mường Nhé và Mường Chà;
Tỉnh Sơn La di dân tái định cư lòng hồ thủy điện Sơn La ra khu vực biên giới huyện Sốp Cộp, Mộc Châu, Yên Châu. Hình thành Khu kinh tế quốc phòng sông Mã.
Tỉnh Thanh Hoá di dân nội vùng ra biên giới, ổn định dân cư và sắp xếp lại 15 xã biên giới, hình thành Khu kinh tế quốc phòng Mường Lát.
Tỉnh Nghệ An: thực hiện tái định cư cho số hộ dân di dời do xây dựng thủy điện Bản Lả. Xây dựng Khu kinh tế quốc phòng Kỳ Sơn, mô hình kinh tế hình thành các tổng đội thanh niên xung phong, các trang trại kinh tế gia đình.
Các tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam thực hiện di dân nội tỉnh, ổn định dân cư, xây dựng mô hình kinh tế trang trại nông lâm nghiệp, lập làng thanh niên lập nghiệp phát triển kinh tế lâm nghiệp, hình thành các Khu kinh tế quốc phòng Khe Sanh (tỉnh Quảng Trị), A So - A Lưới (tỉnh Thừa Thiên Huế).
Tỉnh Kon Tum, thực hiện di dân kinh tế mới từ các tỉnh phía Bắc vào huyện Sa Thầy, Đăk Glâi với số lượng lớn (khoảng 3 vạn dân) để phát triển kinh tế và giữ đất vùng biên giới. Hình thành Khu kinh tế quốc phòng Mô Rây.
c) Giao thông
Xây dựng hệ thống đường hành lang biên giới và đường đến các cụm trung tâm xã giáp biên, gồm:
- Đường hành lang biên giới:
Tuyến hành lang biên giới đoạn qua vùng biên giới Việt - Lào được xây dựng theo tiêu chuẩn đường cấp VI miền núi. Theo đó hướng tuyến sẽ đi song song với đường biên giới và cách từ 5 - 30 km. Đối với các tuyến đường hành lang biên giới là các quốc lộ, tỉnh lộ thì quy mô của các tuyến đường tuần thủ theo Quy hoạch phát triển ngành Giao thông vận tải đường bộ và dự báo lưu lượng xe trên các tuyến đó.
- Đường tuần tra và đường ra biên giới:
Thông tuyến đường tuần tra biên giới, đồng thời cải tạo các đoạn đường dân sinh hiện có đảm bảo lưu thông xe cơ giới, bố trí hệ thống rãnh dọc thoát nước, kè đá giữ đất tại các điểm có sạt lở. Những đoạn có địa hình thuận lợi có thể làm được đường ôtô thì làm theo tiêu chuẩn đường giao thông nông thôn. Đối với khu vực có địa hình đặc biệt khó khăn có thể xây dựng đường đi bộ, đường đất cho bộ đội biên phòng đi lại tuần tra đường biên, bảo đảm cho tuyến được liên hoàn.
- Các tuyến đường ra biên giới:
Dự kiến đến năm 2010: xây dựng toàn bộ đường tuần tra dọc biên giới và từ mỗi đồn biên phòng xây dựng đường ra biên giới.
Đến năm 2020: hoàn thành nâng cấp, xây dựng các tuyến đường nhánh nối từ đường vành đai biên giới đến các đồn biên phòng và các chốt trọng điểm, khu dân cư. Xây dựng toàn bộ các đường xương cá ra các cột mốc biên giới và xây dựng thêm các đường từ đồn biên phòng ra biên giới.
Đối với các đường ra biên giới là các quốc lộ, tỉnh lộ thì quy mô của các tuyến đường này tuân thủ theo Quy hoạch phát triển ngành giao thông vận tải đường bộ. Đối với các đường ra biên giới còn lại thì quy mô dự kiến là đường cấp V miền núi.
d) Chuẩn bị kỹ thuật
Thiết lập hệ thống cảnh báo sớm về các tai biến thiên nhiên, lập bản đồ dự báo các khu vực có nguy cơ cao về lũ quét, sạt lở, cháy rừng... xác định vùng lòng hồ thủy lợi, thủy điện.
Xây dựng các công trình phòng lũ như các hồ thủy lợi, thủy điện đầu nguồn. Xây dựng các công trình ổn định nền: ta luy, tường chắn có chỉ tiêu kỹ thuật đúng với cấp công trình và tính chất, đặc thù của đất.
Xây dựng hệ thống cầu, cống, đập tràn đúng cấp tại những vị trí đường giao thông đi qua địa hình chia cắt, các khe tụ thủy, tránh làm nghẽn dòng lũ.
Bảo vệ rừng, trồng mới rừng, nhằm tăng độ che phủ, điều tiết nước mặt, giảm thiểu các nguy cơ lũ, lũ quét, tránh xói lở nền công trình, hạn chế quá trình bào mòn hữu cơ của đất. Tăng cường độ che phủ, tối thiểu > 50%.
đ) Định hướng cấp nước
- Khu vực đô thị
Khai thác nước ngầm phục vụ một số đô thị khu vực biên giới. Các đô thị còn lại khai thác nguồn nước mặt. Xây dựng các hồ chứa nước nhỏ, xây dựng hồ thủy điện tại sông có tiềm năng kết hợp với việc giải quyết nước cho nông nghiệp, thủy điện và sinh hoạt.
- Khu vực nông thôn
Dùng hình thức giếng khoan đường kính nhỏ Unicef, giếng khoan, giếng đào, tại các vùng xa nguồn nước mặt. Các khu vực bị rải chất độc hoá học trong chiến tranh tại khu vực giáp biên từ Quảng Trị tới Kon Tum không dùng nước ngầm làm nguồn nước sinh hoạt.
Xây dựng các hồ chứa nước nhỏ để trữ nước. Khai thác nước tự chảy, khe suối, mạch nước, nước mưa cho ăn uống và sinh hoạt.
e) Định hướng cấp năng lượng khu vực vùng biên
- Đối với đô thị, khu kinh tế cửa khẩu: điện được cung cấp từ nguồn điện của mạng lưới quốc gia thông qua các trạm biến áp 110 KV hiện có và xây dựng mới.
- Đối với điểm dân cư nông thôn: các xã và cụm xã, vùng nông thôn được cung cấp điện từ điện lưới quốc gia, còn những khu vực cách xa nguồn điện lưới quốc gia sẽ được cung cấp tư các nguồn thủy điện nhỏ, nghiên cứu phát triển năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng Biôgas.
g) Quy hoạch thoát nước thải, vệ sinh môi trường
- Định hướng quy hoạch thoát nước thải
+ Xây dựng hệ thống thoát nước nửa riêng và riêng hoàn toàn, có trạm xử lý nước thải đối với các thành phố, thị xã, khu kinh tế cửa khẩu.
+ Xây dựng hệ thống thoát nước chung hoặc nửa riêng, xử lý nước thải bằng hồ sinh học tự nhiên đối với các thị trấn, khu dân cư vùng ven biên giới.
- Định hướng thu gom và xử lý chất thải rắn
+ Xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh có diện tích phù hợp (khoảng 1,5 - 2 ha) đối với các khu kinh tế cửa khẩu, thị trấn và các điểm dân cư vùng ven biên giới.
+ Chất thải rắn công nghiệp, chất thải rắn nguy hại phát sinh trong khu vực này sẽ đưa về các khu xử lý chất thải rắn cấp vùng liên tỉnh, cấp vùng tỉnh.
- Định hướng quy hoạch nghĩa trang tập trung
Các thị trấn và các điểm dân cư vùng ven biên giới sẽ quy hoạch nghĩa trang tập trung có diện tích 1 - 1,5 ha.