Document: Điểm a Khoản 3 Điều 1 Quyết định 495/QĐ-TTg 2022 lập Quy hoạch vùng trung du và miền núi phía Bắc 2021 2030

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "20/04/2022", "sign_number": "495/QĐ-TTg", "signer": "Lê Văn Thành", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "20/04/2022", "sign_number": "495/QĐ-TTg", "signer": "Lê Văn Thành", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "20/04/2022", "sign_number": "495/QĐ-TTg", "signer": "Lê Văn Thành", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "20/04/2022", "sign_number": "495/QĐ-TTg", "signer": "Lê Văn Thành", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "20/04/2022", "sign_number": "495/QĐ-TTg", "signer": "Lê Văn Thành", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm a Khoản 3 Điều 1 Quyết định 495/QĐ-TTg 2022 lập Quy hoạch vùng trung du và miền núi phía Bắc 2021 2030

Điều 1. Phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch vùng trung du và miền núi phía Bắc thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với những nội dung chính sau:
...
3. Phương pháp tiếp cận và yêu cầu đối với phương pháp lập quy hoạch
a) Phương pháp tiếp cận lập quy hoạch:
Việc lập quy hoạch vùng trung du và miền núi phía Bắc được thực hiện dựa trên các phương pháp tiếp cận sau:
- Phương pháp tiếp cận từ đánh giá, dự báo về các yếu tố, điều kiện phát triển đặc thù của vùng, thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất, hiện trạng hệ thống đô thị, nông thôn, trong đó tập trung đánh giá các tiềm năng của vùng và chỉ ra được khả năng, các điều kiện cần thiết để khai thác các tiềm năng, điều kiện phát triển đặc thù của vùng về: Vị trí địa kinh tế - chính trị; vai trò, vị thế của vùng trung du và miền núi phía Bắc với các vùng khác và cả nước; các cơ hội phát triển, liên kết giữa vùng trung du và miền núi phía Bắc với vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, các vùng khác và khu vực các nước Lào, Trung Quốc.
- Phương pháp tiếp cận cân đối tổng thể, yêu cầu đặt ra trong quá trình xây dựng các mục tiêu, phương án phát triển là cần xem xét sự tương thích giữa các mục tiêu và cân bằng tổng thể của kinh tế vùng trung du và miền núi phía Bắc, nhằm đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong quá trình thực hiện quy hoạch.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành được sử dụng để tính hiệu quả kinh tế, xã hội tổng hợp cho từng ngành và sau đó tiến hành so sánh giữa các ngành để lựa chọn ngành có hiệu quả cao nhất. Phương pháp tiếp cận liên ngành sử dụng mô hình cân đối liên ngành để lượng hóa tác động của mỗi ngành đối với tổng thể kinh tế, xã hội, rồi sau đó so sánh lựa chọn ngành. Trong một số trường hợp có thể sử dụng phương pháp chồng lớp bản đồ, công cụ GIS để lựa chọn, nhất là lựa chọn trong ngành lâm nghiệp và nông nghiệp. Ngoài ra, có thể sử dụng thêm phương pháp chuyên gia, tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, tham vấn cộng đồng, các quy chuẩn, quy phạm ngành.
- Tiếp cận liên vùng, liên tỉnh được sử dụng để xử lý các vấn đề liên vùng, liên tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, nâng cao hiệu quả phân bổ, khai thác, sử dụng hợp lý các yếu tố, điều kiện, nguồn lực cho phát triển và bảo vệ môi trường có tính liên vùng, liên tỉnh.
- Tiếp cận hai chiều từ trên xuống, từ dưới lên: Quy hoạch vùng phải cập nhật, cụ thể hóa các mục tiêu, phương án phát triển của quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch ngành cấp quốc gia, mặt khác gắn liền với những chủ trương, định hướng phát triển vùng; quá trình quy hoạch phải đảm bảo luôn được thực hiện theo nguyên tắc hai chiều, từ trên xuống và từ dưới lên.
- Tiếp cận đảm bảo nguyên tắc thị trường được sử dụng để đảm bảo quá trình lập quy hoạch vùng sẽ không tính toán quy mô, khối lượng các sản phẩm hàng hóa để đưa vào mục tiêu quy hoạch (chỉ đưa vào trong quá trình phân tích). Chỉ xác định các chức năng sử dụng chung, không xác định rõ tên dự án riêng theo chủ sở hữu. Các nội dung định hướng, dự báo, dự liệu những khả năng có thể xảy ra là các nội dung có tính chất sử dụng để tham khảo định tính, nắm bắt xu hướng như một yếu tố cấu thành để lựa chọn phương án tổng thể. Phương pháp tiếp cận này cũng đảm bảo tính “thông qua” của các yếu tố luân chuyển trong không gian quy hoạch, tạo thuận lợi cho quá trình liên kết và đảm bảo tính tự điều chỉnh về “cung - cầu”.
- Tiếp cận hội nhập quốc tế, theo đó, quy hoạch vùng là cơ sở, định hướng cho hội nhập quốc tế, đồng thời thích ứng với yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước và tình hình thế giới. Quy hoạch vùng trung du và miền núi phía Bắc phải gắn với hội nhập quốc tế, đóng góp tích cực vào nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và liên kết kinh tế quốc tế của vùng và đất nước. Đồng thời, quy hoạch cũng cần bảo đảm phù hợp với các cam kết quốc tế, điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, từng bước tiếp cận và đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc tế.

Content:
Phương pháp tiếp cận lập quy hoạch:
Việc lập quy hoạch vùng trung du và miền núi phía Bắc được thực hiện dựa trên các phương pháp tiếp cận sau:
- Phương pháp tiếp cận từ đánh giá, dự báo về các yếu tố, điều kiện phát triển đặc thù của vùng, thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất, hiện trạng hệ thống đô thị, nông thôn, trong đó tập trung đánh giá các tiềm năng của vùng và chỉ ra được khả năng, các điều kiện cần thiết để khai thác các tiềm năng, điều kiện phát triển đặc thù của vùng về: Vị trí địa kinh tế - chính trị; vai trò, vị thế của vùng trung du và miền núi phía Bắc với các vùng khác và cả nước; các cơ hội phát triển, liên kết giữa vùng trung du và miền núi phía Bắc với vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, các vùng khác và khu vực các nước Lào, Trung Quốc.
- Phương pháp tiếp cận cân đối tổng thể, yêu cầu đặt ra trong quá trình xây dựng các mục tiêu, phương án phát triển là cần xem xét sự tương thích giữa các mục tiêu và cân bằng tổng thể của kinh tế vùng trung du và miền núi phía Bắc, nhằm đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong quá trình thực hiện quy hoạch.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành được sử dụng để tính hiệu quả kinh tế, xã hội tổng hợp cho từng ngành và sau đó tiến hành so sánh giữa các ngành để lựa chọn ngành có hiệu quả cao nhất. Phương pháp tiếp cận liên ngành sử dụng mô hình cân đối liên ngành để lượng hóa tác động của mỗi ngành đối với tổng thể kinh tế, xã hội, rồi sau đó so sánh lựa chọn ngành. Trong một số trường hợp có thể sử dụng phương pháp chồng lớp bản đồ, công cụ GIS để lựa chọn, nhất là lựa chọn trong ngành lâm nghiệp và nông nghiệp. Ngoài ra, có thể sử dụng thêm phương pháp chuyên gia, tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, tham vấn cộng đồng, các quy chuẩn, quy phạm ngành.
- Tiếp cận liên vùng, liên tỉnh được sử dụng để xử lý các vấn đề liên vùng, liên tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, nâng cao hiệu quả phân bổ, khai thác, sử dụng hợp lý các yếu tố, điều kiện, nguồn lực cho phát triển và bảo vệ môi trường có tính liên vùng, liên tỉnh.
- Tiếp cận hai chiều từ trên xuống, từ dưới lên: Quy hoạch vùng phải cập nhật, cụ thể hóa các mục tiêu, phương án phát triển của quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch ngành cấp quốc gia, mặt khác gắn liền với những chủ trương, định hướng phát triển vùng; quá trình quy hoạch phải đảm bảo luôn được thực hiện theo nguyên tắc hai chiều, từ trên xuống và từ dưới lên.
- Tiếp cận đảm bảo nguyên tắc thị trường được sử dụng để đảm bảo quá trình lập quy hoạch vùng sẽ không tính toán quy mô, khối lượng các sản phẩm hàng hóa để đưa vào mục tiêu quy hoạch (chỉ đưa vào trong quá trình phân tích). Chỉ xác định các chức năng sử dụng chung, không xác định rõ tên dự án riêng theo chủ sở hữu. Các nội dung định hướng, dự báo, dự liệu những khả năng có thể xảy ra là các nội dung có tính chất sử dụng để tham khảo định tính, nắm bắt xu hướng như một yếu tố cấu thành để lựa chọn phương án tổng thể. Phương pháp tiếp cận này cũng đảm bảo tính “thông qua” của các yếu tố luân chuyển trong không gian quy hoạch, tạo thuận lợi cho quá trình liên kết và đảm bảo tính tự điều chỉnh về “cung - cầu”.
- Tiếp cận hội nhập quốc tế, theo đó, quy hoạch vùng là cơ sở, định hướng cho hội nhập quốc tế, đồng thời thích ứng với yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước và tình hình thế giới. Quy hoạch vùng trung du và miền núi phía Bắc phải gắn với hội nhập quốc tế, đóng góp tích cực vào nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và liên kết kinh tế quốc tế của vùng và đất nước. Đồng thời, quy hoạch cũng cần bảo đảm phù hợp với các cam kết quốc tế, điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, từng bước tiếp cận và đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc tế.