Document: Điều 6 Thông tư 02-BCNN/KH chế độ quản lý hàng thiếu tiêu chuẩn phế phẩm phế liệu hướng dẫn Quyết định 63-CP

Type: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Công nghiệp nhẹ", "promulgation_date": "02/03/1961", "sign_number": "02-BCNN/KH", "signer": "Kha Vạn Cân", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 6 Thông tư 02-BCNN/KH chế độ quản lý hàng thiếu tiêu chuẩn phế phẩm phế liệu hướng dẫn Quyết định 63-CP có nội dung như sau:

Điều 6. – Các xí nghiệp, công trường thuộc Bộ phải triệt để ngăn cấm những hành động giấu phế phẩm, phế liệu và hàng thiếu tiêu chuẩn.
C. NGUYÊN TẮC SỬ DỤNG, TIÊU THỤ, ĐỊNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ TÀI VỤ ĐỐI VỚI HÀNG THIẾU TIÊU CHUẨN, PHẾ PHẨM VÀ PHẾ LIỆU.
a) Nguyên tắc về phạm vi sử dụng và tiêu thụ:
1. Đối với hàng thiếu tiêu chuẩn:
Trước hết, cần thống nhất quan niệm thế nào là hàng thiếu tiêu chuẩn:
Thông tư số 63-CP của Hội đồng Chính phủ, mục I, điểm 1 định nghĩa: hàng thiếu tiêu chuẩn gồm:
“Những hàng sản xuất ra mà chưa đạt quy cách và phẩm chất quy định cho những mặt hàng đó.
Những hàng mà phẩm chất bị kém đi, nhưng vẫn còn giá trị thương phẩm do các đơn vị thương nghiệp quản lý”.
Như vậy có nghĩa là:
- Đối với các xí nghiệp sản xuất, hàng thiếu tiêu chuẩn là những sản phẩm hoàn thành (thành phẩm) xuất xưởng mà chưa đạt được đầy đủ các tiêu chuẩn về quy cách và phẩm chất của mặt hàng đó đã quy định trong kế hoạch sản phẩm và hợp đồng tiêu thụ.
- Đối với các đơn vị thương nghiệp, hàng thiếu tiêu chuẩn cụ thể là hàng kém phẩm chất, những vẫn còn có giá trị sử dụng như một sản phẩm thương phẩm có thể bán ra thị trường tiêu thụ.
Thí dụ:
Bát bị xây xát men một vài chỗ nhỏ. Bút máy bị xây xát một chút, hoặc nhãn hiệu in lệch hoặc in mờ. Xà phòng bẹp hoặc méo một chút. Vải nhuộm hoen ố một vài chỗ, v.v…
Phân biệt hàng thiếu tiêu chuẩn với hàng đủ tiêu chuẩn ở chỗ:
- Hàng đủ tiêu chuẩn phải đạt 100% tiêu chuẩn sản phẩm quy định cho xí nghiệp sản xuất mặt hàng đó được Bộ duyệt y. Về quy cách và phẩm chất bao gồm: quy cách, mật độ (thí dụ tích cỡ vải sợi ngang bao nhiêu, sợi dọc bao nhiêu), kích thước (khổ rộng), độ bền màu, và các lỗi do quá trình sản xuất gây ra (hàng đủ tiêu chuẩn phải dệt đúng, không lỗi sợi, không dây dầu, không loang ố, v.v…). Hàng đủ tiêu chuẩn tức là hàng loại I của mặt hàng đó.
- Hàng thiếu tiêu chuẩn tuy không đạt được đầy đủ 100% các tiêu chuẩn sản phẩm quy định, nhưng về quy cách và phẩm chất thì tương đối đạt được 90% hoặc trên 90% hay dưới 90% so với hàng đủ tiêu chuẩn và vẫn đảm bảo giá trị sử dụng theo công dụng chính của nó là một sản phẩm thương phẩm thông thường. Hàng thiếu tiêu chuẩn tức là hàng loại 2 hay loại 3 của mặt hàng đó.
Nguyên tắc quản lý hàng thiếu tiêu chuẩn: Thông tư 63-CP quy định: “Tất cả hàng thiếu tiêu chuẩn đều phải giao cho ngành Mậu dịch quốc doanh tiêu thụ” (mục III, điểm I, trang 2).
2. Đối với phế phẩm và phế liệu:
- Về phế phẩm: Thông tư 63-CP của Hội đồng Chính phủ định nghĩa: “Phế phẩm là những sản phẩm không đúng với quy cách và phẩm chất quy định và không thể sử dụng theo công dụng chính của sản phẩm đó…”
Phân biệt phế phẩm và hàng thiếu tiêu chuẩn:

Phế phẩm

Hàng thiếu tiêu chuẩn

1. Không đúng
– quy cách
– phẩm chất
tức là không đạt được các tiêu chuẩn sản phẩm quy định.
2. Không thể sử dụng đúng theo công dụng chính của sản phẩm đó.
3. Có thể sửa chữa được thành sản phẩm có đủ tiêu chuẩn (thành phẩm).
4. Hoặc không thể sửa chữa được thì loại ra là phế phẩm.

1. Chưa đạt
– quy cách
– phẩm chất
tức là căn bản đạt được các tiêu chuẩn sản phẩm quy định cho mặt hàng đó, nhưng chưa đạt đầy đủ hoàn toàn cả 100% tiêu chuẩn sản phẩm quy định.
2. Vẫn còn có giá trị sử dụng của sản phẩm thương phẩm theo đúng công dụng chính của sản phẩm đó.

Nói một cách khác, phế phẩm là những sản phẩm khi sản xuất ra kiểm nghiệm thấy không đúng quy cách, phẩm chất và không có giá trị sử dụng của thương phẩm.
Có thể hiểu đơn giản “phế phẩm là sản phẩm hư hỏng do sản xuất loại ra. Có thứ phế phẩm có thể sửa chữa được thành thành phẩm. Có thứ phế phẩm không thể sửa chữa được”. Thí dụ: bát bị lồi lõm, vỡ một vài quãng men của nhà máy sắt tráng men. Bút máy bị vỡ cổ, bị nứt rạn của nhà máy Văn phòng phẩm Hồng Hà, Xà phòng bị rỗng giữa, thiếu acide béo của nhà máy Xà phòng, v.v…
- Những phế phẩm có thể sửa chữa được thành hàng đủ tiêu chuẩn thì phải cố gắng sửa chữa để đưa đi tiêu thụ. Thí dụ: Lốp xe đạp của nhà máy cao su, nếu chỉ cần đắp thêm một ít cao su vào thì lốp đó trở thành hàng đủ tiêu chuẩn và có thể bán được nguyên giá của nó (từ trước đến nay có tình trạng bán ra những hàng thiếu tiêu chuẩn về lốp xe đạp với quan niệm hễ không đủ quy cách một chút thì coi ngay là phế phẩm và bán hạ giá 75% như là 1 lốp xe đạp thành phẩm bán 16 đồng, nhưng khi là phế phẩm thì chỉ bán có 4 đồng).
- Về phế liệu: Thông tư 63-CP định nghĩa: “Phế liệu là những nguyên liệu vật liệu, loại ra trong quá trình sản xuất, nhưng vì đã mất hoàn toàn hoặc một phần phẩm chất ban đầu của nó, nên hoàn toàn không thể sử dụng đúng với giá trị sử dụng ban đầu của nguyên vật liệu đó”.
Nói một cách khác, phế liệu là những nguyên vật liệu đã mất hoàn toàn phẩm chất, hoặc đã mất một phần phẩm chất ban đầu của nó, cho nên nó không thể sử dụng được hoàn toàn đúng với giá trị sử dụng ban đầu như khi mới mua về còn nguyên chất.
Thí dụ: Sợi rối, tơ rối, bông cán, bông quét nhà do sản xuất loại ra của nhà máy dệt và nhà máy tơ Nam Định. Các đầu mẫu gỗ (bìa, bắp, đầu thừa, đuôi thẹo), bao, thùng, hòm, đai sắt, tài sản cố định sa thải hoàn toàn và đưa ra thanh toán hoặc sa thải từng bộ phận hư hỏng loại ra, huỷ bỏ để lấy đồng, gang, sắt, v.v… (máy móc già cỗi và hư hỏng toàn bộ, bánh xe mòn hết răng khế, những dụng cụ không dùng được nữa).
Phế liệu gồm có nhiều loại khác nhau:
- Nguyên liệu và vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu loại ra trong quá trình sản xuất.
- Vật dụng đóng bao và đóng gói sau khi đã bốc dỡ hết hàng (vật bao bì).
- Dụng cụ đồ nghề và những bộ phận hoặc toàn bộ tài sản cố định sa thải, không thể sử dụng được nữa.
- Những thứ linh tinh thu nhặt được (như sắt vụn, đồng vụn, v.v…).
Nguyên tắc sử dụng phế phẩm phế liệu:
- Tất cả những phế phẩm, phế liệu đều phải được sử dụng hợp lý và có lợi về mặt kinh tế cũng như về mặt tài chính, nghĩa là phải tận dụng đến mức tối đa vào sản xuất để có thể sản xuất ra những mặt hàng chính, hoặc để sản xuất ra các mặt hàng phụ theo yêu cầu của kế hoạch Nhà nước.
- Khi dùng phế phẩm và phế liệu để sản xuất ra những mặt hàng phụ, cần phải chú ý sử dụng phế phẩm và phế liệu một cách hợp lý nhất.
Phạm vi sử dụng:
- Bộ và các Cục quản lý sản xuất và xây dựng cơ bản có thể phân phối thẳng phế phẩm, phế liệu của xí nghiệp này cho xí nghiệp khác, hay của công trường này cho công trường khác (trừ những loại thuộc về vật tự do nhà nước quản lý).
- Các xí nghiệp, công trường cũng có thể giao thẳng phế phẩm, phế liệu của xí nghiệp, công trường mình cho xí nghiệp công trường khác để dùng vào sản xuất và xây dựng cơ bản. Nhưng theo kế hoạch của Bộ.
- Nguyên tắc giao dịch theo chế độ hợp đồng: nhất là đối với những phế phẩm phế liệu thường xuyên.
- Ngoài trường hợp sử dụng vào sản xuất và xây dựng cơ bản, tất cả những phế phẩm và phế liệu còn có giá trị một phần nào đều phải giao cho ngành Mậu dịch quốc doanh tiêu thụ hoặc xử lý việc tiêu thụ.
b) Nguyên tắc định giá:
Việc định giá cần nhằm khuyến khích nâng cao chất lượng sản phẩm, hạn chế việc phát sinh ra hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu và tận dụng vào sản xuất.
Hội đồng Chính phủ quy định nguyên tắc định giá theo Thông tư số 63-CP ngày 14-11-1960 như sau:
1. Đối với hàng thiếu tiêu chuẩn nguyên tắc định giá là để cho xí nghiệp có thể được hưởng một mức lãi nhỏ nhất định hoặc không có lãi.
2. Đối với phế phẩm và phế liệu thì nguyên tắc định giá là xí nghiệp không được tính lãi.
Nhà nước sẽ ấn định giá thu mua thích đáng cho xí nghiệp.
3. Đối với phế liệu là tài sản cố định sa thải đưa ra thanh toán thì nguyên tắc định giá là căn cứ vào giá trị đào thải của tài sản cố định sa thải đó và chi phí thanh toán mà định giá thu mua.
4. Đối với một số phế phẩm coi như sản phẩm phụ thì nguyên tắc định giá là sẽ để cho xí nghiệp được hưởng một mức lãi nhất định.
5. Đối với những phế phẩm và phế liệu của xí nghiệp này giao cho xí nghiệp khác thì:
- Bộ và Cục quản lý sẽ định giá đối với những thứ có giá trị lớn.
- Các đơn vị hữu quan cuàng nhau thương lượng định giá đối với những trường hợp thông thường, nhưng phải căn cứ vào nguyên tắc đã quy định ở trên.
6. Nhà nước định giá thông qua Bộ Thương nghiệp:
Trong Thông tư số 63-CP, Hội đồng Chính phủ quy định:
- Bộ Nội thương chỉ đạo giá bán lẻ những hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu.
- Bộ Nội thương Quyết định giá bán lẻ sau khi thống nhất ý kiến với Bộ (Vụ Kế hoạch) và Cục quản lý đối với những thứ sinh ra thường xuyên và có giá trị lớn.
- Bộ Nội thương có thể ủy quyền cho Ủy ban hành chính tỉnh lập một Hội đồng hoá giá gồm có đại biểu của Tài chính - Mậu dịch – và xí nghiệp để xét định giá bán lẻ những thứ không quan trọng.
- Các công ty Mậu dịch sẽ căn cứ vào các nguyên tắc định giá do Bộ Nội thương quy định mà cùng với các xí nghiệp, công trường thương lượng định giá thu mua phế phẩm và phế liệu.
c) Nguyên tắc quản lý tài vụ:
1. Nguyên tắc kinh doanh các sản phẩm chế biến bằng phế phẩm và phế liệu, nếu có lãi thì được giữ số lãi ấy làm vốn để mở rộng sản xuất (kể cả xí nghiệp Quốc doanh, xí nghiệp địa phương và công tư hợp doanh đã quy định ở mục V, trang 4 trong Thông tư số 63-CP ngày 14-11-1960 của Hội đồng Chính phủ do Phủ Thủ tướng ban hành).
2. Vụ Tài vụ có nhiệm vụ hướng dẫn các xí nghiệp, công trường tổ chức chứng từ sổ sách và hạch toán kế toán về phế phẩm, phế liệu vào tài khoản riêng để có thể theo dõi nhằm phấn đấu giảm tỷ lệ phế phẩm:
- Sau khi Bộ thống nhất ý kiến với Bộ Tài chính, hàng thiếu tiêu chuẩn trong hoàn cảnh cụ thể của các xí nghiệp nước ta hiện nay vẫn được coi như thành phẩm loại 2, loại 3, v.v… được tính trong kế hoạch sản lượng với giá thành toàn bộ của nó như các thành phẩm khác do xí nghiệp sản xuất ra và hạch toán vào tài khoản 060 – “kho thành phẩm” đối với xí nghiệp đã thi hành chế độ lệnh nhật ký của Bộ, hoặc hạch toán vào tài khoản 059 – “sản phẩm làm ra” đối với xí nghiệp chưa thi hành chế độ lệnh nhật ký. Nhưng lãnh đạo phải hết sức hạn chế sự sinh ra hàng thiếu tiêu chuẩn.
- Riêng về phế phẩm và phế liệu thì hạch toán chung vào tài khoản 030. Không mở thêm tài khoản riêng về phế phẩm nữa cho thêm phức tạp khiến việc theo dõi bị phân tán. Do đó tài khoản 030 theo Bộ Tài chính quy định là tài khoản hạch toán phế liệu, nay thay đổi danh từ là “phế phẩm và phế liệu” chia ra 2 tài khoản phụ:
030.0 – Kho phế phẩm
030.1 – Kho phế liệu
Vụ Tài vụ của Bộ sẽ liên hệ với Vụ chế độ kế toán Bộ Tài chính để thống nhất danh từ tài khoản chính 030 kể trên ban hành từ 1957 trong lúc chưa có chế độ quản lý tài vụ đối với phế phẩm và phế liệu như hiện nay.
- Những hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu nếu có lãi thì coi như vốn hoàn trả Nhà nước, hoặc nếu lỗ thì giảm giá thành sản phẩm theo đúng nguyên tắc định giá đã giải thích ở đoạn “b” kể trên, nghĩa là:
Hàng thiếu tiêu chuẩn có thể được hưởng một mức lãi nhỏ hoặc không có lãi.
Phế phẩm và phế liệu thì nguyên tắc là không được tính lãi.
III. CHẾ ĐỘ BÁO CÁO VỀ HÀNG THIẾU TIÊU CHUẨN PHẾ PHẨM VÀ PHẾ LIỆU CỦA XÍ NGHIỆP, CÔNG TRƯỜNG VÀ CÁC CƠ QUAN THUỘC BỘ CÔNG NGHIỆP NHẸ
Để Bộ có thể xét duyệt lại các chỉ tiêu kế hoạch 1961 về nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ thấp tỷ lệ hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu một cách chính xác, Bộ yêu cầu các xí nghiệp, công trường và các cơ quan cung tiêu, sự nghiệp thuộc Bộ gửi về Bộ các báo cáo dưới đây kèm theo các mẫu hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu.
1. Báo cáo tổng kết tình hình quản lý, sử dụng và tồn kho hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu từ trước đến nay (từ ngày bắt đầu sản xuất, xây dựng cơ bản, cung cấp đến hết ngày 31-12-1960). Nội dung báo cáo nêu rõ 3 phần:
I. Tình hình quản lý – Sử dụng - Tồn kho đến 31-12-1960.
II. Ưu khuyết điểm – Ảnh hưởng và tác hại – Nguyên nhân.
III. Đề nghị biện pháp giải quyết cho năm 1961.
2. Bảng tổng kiểm kê tất cả những hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu. Nội dung chia ra 3 cột:
I. Hàng thiếu tiêu chuẩn (số lượng, giá thành đơn vị, thành tiền, đề nghị giá bán hay đề nghị sửa chữa lại thành hàng đủ tiêu chuẩn, chi phí sửa chữa).
II. Phế phẩm (số lượng, giá thành đơn vị, tổng giá thành đề nghị sửa chữa, chi phí sửa chữa, giá bán, hay đề nghị đưa ra tiêu thụ).
III. Phế liệu (số lượng, giá đơn vị, trị giá tổng số, đề nghị sử dụng hoặc đề nghị giá bán. Nếu đề nghị sử dụng thì nói rõ có thể sản xuất mặt hàng gì).
3. Bảng thống kê tổng hợp các tỷ lệ phế phẩm, phế liệu của từng đơn vị sản phẩm đã sản xuất ra trong năm 1960, dự kiến tỷ lệ đề nghị áp dụng cho năm 1961, phân tích lý do vì sao dự kiến tỷ lệ đó và nêu rõ mức phấn đấu của xí nghiệp, công trường hạ thấp tỷ lệ đó bao nhiêu.
4. Bảng tiêu chuẩn sử dụng nguyên nhiên vật liệu và động lực, vật dụng đóng bao, đóng gói (bao bì), dụng cụ đồ nghề, v.v… (tức là bảng tiêu chuẩn kỹ thuật kinh tế thực tế đã thực hiện năm 1960 và đề nghị tiêu chuẩn sử dụng cho năm 1961, nói rõ lý do đề nghị).
5. Các báo cáo trên gửi về cơ quan thuộc Bộ mỗi nơi một bản: Văn phòng Bộ, Vụ Kế hoạch, Vụ Kỹ thuật, Viện nghiên cứu Công nghiệp nhẹ, Vụ Tài vụ, các Cục quản lý sản xuất.
Thời hạn báo cáo chậm nhất đến hết ngày 20-3-1961.
6. Ngoài ra, từ nay, hàng tháng các xí nghiệp, công trường gửi báo cáo về Bộ (Vụ Kế hoạch và Vụ Tài vụ):
1. Báo cáo những thiệt hại về hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm, phế liệu trong tháng (báo cáo tổng giá trị bằng tiền có tỷ lệ so sánh với giá trị tổng sản lượng. So sánh mức chỉ tiêu của Bộ quy định với mức thực tế phát sinh trong tháng báo cáo).
2. Báo cáo về những chi phí sửa chữa phế phẩm.
IV. KẾT LUẬN
Nói chung tình hình quản lý và sử dụng hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu trong các xí nghiệp, công trường thuộc Bộ từ trước đến nay có nhiều thiếu sót tác hại không ít đến tài sản và ngân sách Nhà nước do nguyên nhân:
- Hoặc là chưa quan tâm đúng mức;
- Hoặc là thiếu tinh thần trách nhiệm;
- Hoặc là nhận thức còn thiếu sót;
- Hoặc là chưa có chế độ quản lý và chế độ trách nhiệm thu thập và sử dụng hợp lý những hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu.
Trên tinh thần cần kiệm xây dựng công nghiệp, chúng ta cần quán triệt chế độ tiết kiệm và ý nghĩa quan trọng của việc quản lý hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu đã có kế hoạch sử dụng hợp lý và động viên toàn thể cán bộ công nhân viên trong xí nghiệp, công trường mình ra sức đấu tranh giảm dần tỷ lệ hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu; ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tham ô, lãng phí và hạn chế đến mức tối thiểu sự sinh ra hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu trong quá trình sản xuất và xây dựng cơ bản.
Bởi vậy, từ nay Bộ yêu cầu các xí nghiệp, công trường và các cơ quan thuộc Bộ thi hành tốt chỉ thị này và xem đây là một mặt hoạt động cần chú trọng đầy đủ để bố trí thì giờ, cán bộ và tổ chức cho thích hợp.
Các ông Giám đốc có trách nhiệm tổ chức phổ biến, giải thích rộng rãi thông tư này của Bộ cho toàn thể cán bộ công nhân và nhân viên trong đơn vị xí nghiệp, công trường và cơ quan thuộc Bộ để việc quản lý và sử dụng hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu từ nay về sau sẽ thu được kết quả tốt đẹp như mong muốn.

BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG NGHIỆP NHẸ

Content:
Điều 6. – Các xí nghiệp, công trường thuộc Bộ phải triệt để ngăn cấm những hành động giấu phế phẩm, phế liệu và hàng thiếu tiêu chuẩn.
C. NGUYÊN TẮC SỬ DỤNG, TIÊU THỤ, ĐỊNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ TÀI VỤ ĐỐI VỚI HÀNG THIẾU TIÊU CHUẨN, PHẾ PHẨM VÀ PHẾ LIỆU.
a) Nguyên tắc về phạm vi sử dụng và tiêu thụ:
1. Đối với hàng thiếu tiêu chuẩn:
Trước hết, cần thống nhất quan niệm thế nào là hàng thiếu tiêu chuẩn:
Thông tư số 63-CP của Hội đồng Chính phủ, mục I, điểm 1 định nghĩa: hàng thiếu tiêu chuẩn gồm:
“Những hàng sản xuất ra mà chưa đạt quy cách và phẩm chất quy định cho những mặt hàng đó.
Những hàng mà phẩm chất bị kém đi, nhưng vẫn còn giá trị thương phẩm do các đơn vị thương nghiệp quản lý”.
Như vậy có nghĩa là:
- Đối với các xí nghiệp sản xuất, hàng thiếu tiêu chuẩn là những sản phẩm hoàn thành (thành phẩm) xuất xưởng mà chưa đạt được đầy đủ các tiêu chuẩn về quy cách và phẩm chất của mặt hàng đó đã quy định trong kế hoạch sản phẩm và hợp đồng tiêu thụ.
- Đối với các đơn vị thương nghiệp, hàng thiếu tiêu chuẩn cụ thể là hàng kém phẩm chất, những vẫn còn có giá trị sử dụng như một sản phẩm thương phẩm có thể bán ra thị trường tiêu thụ.
Thí dụ:
Bát bị xây xát men một vài chỗ nhỏ. Bút máy bị xây xát một chút, hoặc nhãn hiệu in lệch hoặc in mờ. Xà phòng bẹp hoặc méo một chút. Vải nhuộm hoen ố một vài chỗ, v.v…
Phân biệt hàng thiếu tiêu chuẩn với hàng đủ tiêu chuẩn ở chỗ:
- Hàng đủ tiêu chuẩn phải đạt 100% tiêu chuẩn sản phẩm quy định cho xí nghiệp sản xuất mặt hàng đó được Bộ duyệt y. Về quy cách và phẩm chất bao gồm: quy cách, mật độ (thí dụ tích cỡ vải sợi ngang bao nhiêu, sợi dọc bao nhiêu), kích thước (khổ rộng), độ bền màu, và các lỗi do quá trình sản xuất gây ra (hàng đủ tiêu chuẩn phải dệt đúng, không lỗi sợi, không dây dầu, không loang ố, v.v…). Hàng đủ tiêu chuẩn tức là hàng loại I của mặt hàng đó.
- Hàng thiếu tiêu chuẩn tuy không đạt được đầy đủ 100% các tiêu chuẩn sản phẩm quy định, nhưng về quy cách và phẩm chất thì tương đối đạt được 90% hoặc trên 90% hay dưới 90% so với hàng đủ tiêu chuẩn và vẫn đảm bảo giá trị sử dụng theo công dụng chính của nó là một sản phẩm thương phẩm thông thường. Hàng thiếu tiêu chuẩn tức là hàng loại 2 hay loại 3 của mặt hàng đó.
Nguyên tắc quản lý hàng thiếu tiêu chuẩn: Thông tư 63-CP quy định: “Tất cả hàng thiếu tiêu chuẩn đều phải giao cho ngành Mậu dịch quốc doanh tiêu thụ” (mục III, điểm I, trang 2).
2. Đối với phế phẩm và phế liệu:
- Về phế phẩm: Thông tư 63-CP của Hội đồng Chính phủ định nghĩa: “Phế phẩm là những sản phẩm không đúng với quy cách và phẩm chất quy định và không thể sử dụng theo công dụng chính của sản phẩm đó…”
Phân biệt phế phẩm và hàng thiếu tiêu chuẩn:

Phế phẩm

Hàng thiếu tiêu chuẩn

1. Không đúng
– quy cách
– phẩm chất
tức là không đạt được các tiêu chuẩn sản phẩm quy định.
2. Không thể sử dụng đúng theo công dụng chính của sản phẩm đó.
3. Có thể sửa chữa được thành sản phẩm có đủ tiêu chuẩn (thành phẩm).
4. Hoặc không thể sửa chữa được thì loại ra là phế phẩm.

1. Chưa đạt
– quy cách
– phẩm chất
tức là căn bản đạt được các tiêu chuẩn sản phẩm quy định cho mặt hàng đó, nhưng chưa đạt đầy đủ hoàn toàn cả 100% tiêu chuẩn sản phẩm quy định.
2. Vẫn còn có giá trị sử dụng của sản phẩm thương phẩm theo đúng công dụng chính của sản phẩm đó.

Nói một cách khác, phế phẩm là những sản phẩm khi sản xuất ra kiểm nghiệm thấy không đúng quy cách, phẩm chất và không có giá trị sử dụng của thương phẩm.
Có thể hiểu đơn giản “phế phẩm là sản phẩm hư hỏng do sản xuất loại ra. Có thứ phế phẩm có thể sửa chữa được thành thành phẩm. Có thứ phế phẩm không thể sửa chữa được”. Thí dụ: bát bị lồi lõm, vỡ một vài quãng men của nhà máy sắt tráng men. Bút máy bị vỡ cổ, bị nứt rạn của nhà máy Văn phòng phẩm Hồng Hà, Xà phòng bị rỗng giữa, thiếu acide béo của nhà máy Xà phòng, v.v…
- Những phế phẩm có thể sửa chữa được thành hàng đủ tiêu chuẩn thì phải cố gắng sửa chữa để đưa đi tiêu thụ. Thí dụ: Lốp xe đạp của nhà máy cao su, nếu chỉ cần đắp thêm một ít cao su vào thì lốp đó trở thành hàng đủ tiêu chuẩn và có thể bán được nguyên giá của nó (từ trước đến nay có tình trạng bán ra những hàng thiếu tiêu chuẩn về lốp xe đạp với quan niệm hễ không đủ quy cách một chút thì coi ngay là phế phẩm và bán hạ giá 75% như là 1 lốp xe đạp thành phẩm bán 16 đồng, nhưng khi là phế phẩm thì chỉ bán có 4 đồng).
- Về phế liệu: Thông tư 63-CP định nghĩa: “Phế liệu là những nguyên liệu vật liệu, loại ra trong quá trình sản xuất, nhưng vì đã mất hoàn toàn hoặc một phần phẩm chất ban đầu của nó, nên hoàn toàn không thể sử dụng đúng với giá trị sử dụng ban đầu của nguyên vật liệu đó”.
Nói một cách khác, phế liệu là những nguyên vật liệu đã mất hoàn toàn phẩm chất, hoặc đã mất một phần phẩm chất ban đầu của nó, cho nên nó không thể sử dụng được hoàn toàn đúng với giá trị sử dụng ban đầu như khi mới mua về còn nguyên chất.
Thí dụ: Sợi rối, tơ rối, bông cán, bông quét nhà do sản xuất loại ra của nhà máy dệt và nhà máy tơ Nam Định. Các đầu mẫu gỗ (bìa, bắp, đầu thừa, đuôi thẹo), bao, thùng, hòm, đai sắt, tài sản cố định sa thải hoàn toàn và đưa ra thanh toán hoặc sa thải từng bộ phận hư hỏng loại ra, huỷ bỏ để lấy đồng, gang, sắt, v.v… (máy móc già cỗi và hư hỏng toàn bộ, bánh xe mòn hết răng khế, những dụng cụ không dùng được nữa).
Phế liệu gồm có nhiều loại khác nhau:
- Nguyên liệu và vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu loại ra trong quá trình sản xuất.
- Vật dụng đóng bao và đóng gói sau khi đã bốc dỡ hết hàng (vật bao bì).
- Dụng cụ đồ nghề và những bộ phận hoặc toàn bộ tài sản cố định sa thải, không thể sử dụng được nữa.
- Những thứ linh tinh thu nhặt được (như sắt vụn, đồng vụn, v.v…).
Nguyên tắc sử dụng phế phẩm phế liệu:
- Tất cả những phế phẩm, phế liệu đều phải được sử dụng hợp lý và có lợi về mặt kinh tế cũng như về mặt tài chính, nghĩa là phải tận dụng đến mức tối đa vào sản xuất để có thể sản xuất ra những mặt hàng chính, hoặc để sản xuất ra các mặt hàng phụ theo yêu cầu của kế hoạch Nhà nước.
- Khi dùng phế phẩm và phế liệu để sản xuất ra những mặt hàng phụ, cần phải chú ý sử dụng phế phẩm và phế liệu một cách hợp lý nhất.
Phạm vi sử dụng:
- Bộ và các Cục quản lý sản xuất và xây dựng cơ bản có thể phân phối thẳng phế phẩm, phế liệu của xí nghiệp này cho xí nghiệp khác, hay của công trường này cho công trường khác (trừ những loại thuộc về vật tự do nhà nước quản lý).
- Các xí nghiệp, công trường cũng có thể giao thẳng phế phẩm, phế liệu của xí nghiệp, công trường mình cho xí nghiệp công trường khác để dùng vào sản xuất và xây dựng cơ bản. Nhưng theo kế hoạch của Bộ.
- Nguyên tắc giao dịch theo chế độ hợp đồng: nhất là đối với những phế phẩm phế liệu thường xuyên.
- Ngoài trường hợp sử dụng vào sản xuất và xây dựng cơ bản, tất cả những phế phẩm và phế liệu còn có giá trị một phần nào đều phải giao cho ngành Mậu dịch quốc doanh tiêu thụ hoặc xử lý việc tiêu thụ.
b) Nguyên tắc định giá:
Việc định giá cần nhằm khuyến khích nâng cao chất lượng sản phẩm, hạn chế việc phát sinh ra hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu và tận dụng vào sản xuất.
Hội đồng Chính phủ quy định nguyên tắc định giá theo Thông tư số 63-CP ngày 14-11-1960 như sau:
1. Đối với hàng thiếu tiêu chuẩn nguyên tắc định giá là để cho xí nghiệp có thể được hưởng một mức lãi nhỏ nhất định hoặc không có lãi.
2. Đối với phế phẩm và phế liệu thì nguyên tắc định giá là xí nghiệp không được tính lãi.
Nhà nước sẽ ấn định giá thu mua thích đáng cho xí nghiệp.
3. Đối với phế liệu là tài sản cố định sa thải đưa ra thanh toán thì nguyên tắc định giá là căn cứ vào giá trị đào thải của tài sản cố định sa thải đó và chi phí thanh toán mà định giá thu mua.
4. Đối với một số phế phẩm coi như sản phẩm phụ thì nguyên tắc định giá là sẽ để cho xí nghiệp được hưởng một mức lãi nhất định.
5. Đối với những phế phẩm và phế liệu của xí nghiệp này giao cho xí nghiệp khác thì:
- Bộ và Cục quản lý sẽ định giá đối với những thứ có giá trị lớn.
- Các đơn vị hữu quan cuàng nhau thương lượng định giá đối với những trường hợp thông thường, nhưng phải căn cứ vào nguyên tắc đã quy định ở trên.
6. Nhà nước định giá thông qua Bộ Thương nghiệp:
Trong Thông tư số 63-CP, Hội đồng Chính phủ quy định:
- Bộ Nội thương chỉ đạo giá bán lẻ những hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu.
- Bộ Nội thương Quyết định giá bán lẻ sau khi thống nhất ý kiến với Bộ (Vụ Kế hoạch) và Cục quản lý đối với những thứ sinh ra thường xuyên và có giá trị lớn.
- Bộ Nội thương có thể ủy quyền cho Ủy ban hành chính tỉnh lập một Hội đồng hoá giá gồm có đại biểu của Tài chính - Mậu dịch – và xí nghiệp để xét định giá bán lẻ những thứ không quan trọng.
- Các công ty Mậu dịch sẽ căn cứ vào các nguyên tắc định giá do Bộ Nội thương quy định mà cùng với các xí nghiệp, công trường thương lượng định giá thu mua phế phẩm và phế liệu.
c) Nguyên tắc quản lý tài vụ:
1. Nguyên tắc kinh doanh các sản phẩm chế biến bằng phế phẩm và phế liệu, nếu có lãi thì được giữ số lãi ấy làm vốn để mở rộng sản xuất (kể cả xí nghiệp Quốc doanh, xí nghiệp địa phương và công tư hợp doanh đã quy định ở mục V, trang 4 trong Thông tư số 63-CP ngày 14-11-1960 của Hội đồng Chính phủ do Phủ Thủ tướng ban hành).
2. Vụ Tài vụ có nhiệm vụ hướng dẫn các xí nghiệp, công trường tổ chức chứng từ sổ sách và hạch toán kế toán về phế phẩm, phế liệu vào tài khoản riêng để có thể theo dõi nhằm phấn đấu giảm tỷ lệ phế phẩm:
- Sau khi Bộ thống nhất ý kiến với Bộ Tài chính, hàng thiếu tiêu chuẩn trong hoàn cảnh cụ thể của các xí nghiệp nước ta hiện nay vẫn được coi như thành phẩm loại 2, loại 3, v.v… được tính trong kế hoạch sản lượng với giá thành toàn bộ của nó như các thành phẩm khác do xí nghiệp sản xuất ra và hạch toán vào tài khoản 060 – “kho thành phẩm” đối với xí nghiệp đã thi hành chế độ lệnh nhật ký của Bộ, hoặc hạch toán vào tài khoản 059 – “sản phẩm làm ra” đối với xí nghiệp chưa thi hành chế độ lệnh nhật ký. Nhưng lãnh đạo phải hết sức hạn chế sự sinh ra hàng thiếu tiêu chuẩn.
- Riêng về phế phẩm và phế liệu thì hạch toán chung vào tài khoản 030. Không mở thêm tài khoản riêng về phế phẩm nữa cho thêm phức tạp khiến việc theo dõi bị phân tán. Do đó tài khoản 030 theo Bộ Tài chính quy định là tài khoản hạch toán phế liệu, nay thay đổi danh từ là “phế phẩm và phế liệu” chia ra 2 tài khoản phụ:
030.0 – Kho phế phẩm
030.1 – Kho phế liệu
Vụ Tài vụ của Bộ sẽ liên hệ với Vụ chế độ kế toán Bộ Tài chính để thống nhất danh từ tài khoản chính 030 kể trên ban hành từ 1957 trong lúc chưa có chế độ quản lý tài vụ đối với phế phẩm và phế liệu như hiện nay.
- Những hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu nếu có lãi thì coi như vốn hoàn trả Nhà nước, hoặc nếu lỗ thì giảm giá thành sản phẩm theo đúng nguyên tắc định giá đã giải thích ở đoạn “b” kể trên, nghĩa là:
Hàng thiếu tiêu chuẩn có thể được hưởng một mức lãi nhỏ hoặc không có lãi.
Phế phẩm và phế liệu thì nguyên tắc là không được tính lãi.
III. CHẾ ĐỘ BÁO CÁO VỀ HÀNG THIẾU TIÊU CHUẨN PHẾ PHẨM VÀ PHẾ LIỆU CỦA XÍ NGHIỆP, CÔNG TRƯỜNG VÀ CÁC CƠ QUAN THUỘC BỘ CÔNG NGHIỆP NHẸ
Để Bộ có thể xét duyệt lại các chỉ tiêu kế hoạch 1961 về nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ thấp tỷ lệ hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu một cách chính xác, Bộ yêu cầu các xí nghiệp, công trường và các cơ quan cung tiêu, sự nghiệp thuộc Bộ gửi về Bộ các báo cáo dưới đây kèm theo các mẫu hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu.
1. Báo cáo tổng kết tình hình quản lý, sử dụng và tồn kho hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu từ trước đến nay (từ ngày bắt đầu sản xuất, xây dựng cơ bản, cung cấp đến hết ngày 31-12-1960). Nội dung báo cáo nêu rõ 3 phần:
I. Tình hình quản lý – Sử dụng - Tồn kho đến 31-12-1960.
II. Ưu khuyết điểm – Ảnh hưởng và tác hại – Nguyên nhân.
III. Đề nghị biện pháp giải quyết cho năm 1961.
2. Bảng tổng kiểm kê tất cả những hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu. Nội dung chia ra 3 cột:
I. Hàng thiếu tiêu chuẩn (số lượng, giá thành đơn vị, thành tiền, đề nghị giá bán hay đề nghị sửa chữa lại thành hàng đủ tiêu chuẩn, chi phí sửa chữa).
II. Phế phẩm (số lượng, giá thành đơn vị, tổng giá thành đề nghị sửa chữa, chi phí sửa chữa, giá bán, hay đề nghị đưa ra tiêu thụ).
III. Phế liệu (số lượng, giá đơn vị, trị giá tổng số, đề nghị sử dụng hoặc đề nghị giá bán. Nếu đề nghị sử dụng thì nói rõ có thể sản xuất mặt hàng gì).
3. Bảng thống kê tổng hợp các tỷ lệ phế phẩm, phế liệu của từng đơn vị sản phẩm đã sản xuất ra trong năm 1960, dự kiến tỷ lệ đề nghị áp dụng cho năm 1961, phân tích lý do vì sao dự kiến tỷ lệ đó và nêu rõ mức phấn đấu của xí nghiệp, công trường hạ thấp tỷ lệ đó bao nhiêu.
4. Bảng tiêu chuẩn sử dụng nguyên nhiên vật liệu và động lực, vật dụng đóng bao, đóng gói (bao bì), dụng cụ đồ nghề, v.v… (tức là bảng tiêu chuẩn kỹ thuật kinh tế thực tế đã thực hiện năm 1960 và đề nghị tiêu chuẩn sử dụng cho năm 1961, nói rõ lý do đề nghị).
5. Các báo cáo trên gửi về cơ quan thuộc Bộ mỗi nơi một bản: Văn phòng Bộ, Vụ Kế hoạch, Vụ Kỹ thuật, Viện nghiên cứu Công nghiệp nhẹ, Vụ Tài vụ, các Cục quản lý sản xuất.
Thời hạn báo cáo chậm nhất đến hết ngày 20-3-1961.
6. Ngoài ra, từ nay, hàng tháng các xí nghiệp, công trường gửi báo cáo về Bộ (Vụ Kế hoạch và Vụ Tài vụ):
1. Báo cáo những thiệt hại về hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm, phế liệu trong tháng (báo cáo tổng giá trị bằng tiền có tỷ lệ so sánh với giá trị tổng sản lượng. So sánh mức chỉ tiêu của Bộ quy định với mức thực tế phát sinh trong tháng báo cáo).
2. Báo cáo về những chi phí sửa chữa phế phẩm.
IV. KẾT LUẬN
Nói chung tình hình quản lý và sử dụng hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu trong các xí nghiệp, công trường thuộc Bộ từ trước đến nay có nhiều thiếu sót tác hại không ít đến tài sản và ngân sách Nhà nước do nguyên nhân:
- Hoặc là chưa quan tâm đúng mức;
- Hoặc là thiếu tinh thần trách nhiệm;
- Hoặc là nhận thức còn thiếu sót;
- Hoặc là chưa có chế độ quản lý và chế độ trách nhiệm thu thập và sử dụng hợp lý những hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu.
Trên tinh thần cần kiệm xây dựng công nghiệp, chúng ta cần quán triệt chế độ tiết kiệm và ý nghĩa quan trọng của việc quản lý hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu đã có kế hoạch sử dụng hợp lý và động viên toàn thể cán bộ công nhân viên trong xí nghiệp, công trường mình ra sức đấu tranh giảm dần tỷ lệ hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu; ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tham ô, lãng phí và hạn chế đến mức tối thiểu sự sinh ra hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu trong quá trình sản xuất và xây dựng cơ bản.
Bởi vậy, từ nay Bộ yêu cầu các xí nghiệp, công trường và các cơ quan thuộc Bộ thi hành tốt chỉ thị này và xem đây là một mặt hoạt động cần chú trọng đầy đủ để bố trí thì giờ, cán bộ và tổ chức cho thích hợp.
Các ông Giám đốc có trách nhiệm tổ chức phổ biến, giải thích rộng rãi thông tư này của Bộ cho toàn thể cán bộ công nhân và nhân viên trong đơn vị xí nghiệp, công trường và cơ quan thuộc Bộ để việc quản lý và sử dụng hàng thiếu tiêu chuẩn, phế phẩm và phế liệu từ nay về sau sẽ thu được kết quả tốt đẹp như mong muốn.

BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG NGHIỆP NHẸ