Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 5025/QĐ-UBND 2019 Đề án phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ tỉnh Bình Định

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "31/12/2019", "sign_number": "5025/QĐ-UBND", "signer": "Phan Cao Thắng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "31/12/2019", "sign_number": "5025/QĐ-UBND", "signer": "Phan Cao Thắng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "31/12/2019", "sign_number": "5025/QĐ-UBND", "signer": "Phan Cao Thắng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "31/12/2019", "sign_number": "5025/QĐ-UBND", "signer": "Phan Cao Thắng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Định", "promulgation_date": "31/12/2019", "sign_number": "5025/QĐ-UBND", "signer": "Phan Cao Thắng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 5025/QĐ-UBND 2019 Đề án phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ tỉnh Bình Định

Điều 1. Phê duyệt Đề án phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ tỉnh Bình Định đến năm 2025, định hướng đến năm 2035, với các nội dung chủ yếu như sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể
Đến năm 2025: Từng bước tăng tỷ trọng sản xuất và xuất khẩu sản phẩm được chế biến sâu. Phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu sản phẩm từ gỗ năm 2025 đạt 750 triệu USD. Tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm 5%; trong đó, chế biến đồ gỗ 6%, chế biến gỗ khác 3,3%.
Đến năm 2035: Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu sản phẩm từ gỗ đạt 1,5 tỷ USD. Tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm 4,8%; trong đó, chế biến đồ gỗ 6%, chế biến gỗ khác 2,3%.
II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
1. Nâng cao giá trị gia tăng của ngành
1.1. Nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến
- Nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến
+ Thực hiện nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến với định hướng phát triển công nghiệp chế biến gỗ thành ngành sản xuất có công nghệ tiên tiến, hiện đại theo hướng tự động hóa; đồng bộ từ các khâu sản xuất, cung ứng nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Trong chế biến sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm chú trọng phát triển sang các khâu đầu và khâu cuối của chuỗi giá trị sản phẩm (khâu có giá trị gia tăng cao).
+ Phát triển công nghiệp chế biến gỗ theo hướng xuất khẩu các sản phẩm gỗ nội thất, gỗ ngoài trời, các mặt hàng đồ thủ công mỹ nghệ; ưu tiên phát triển các nhà máy chế biến ván gỗ, sản phẩm gỗ nguyên khối để tăng nhanh giá trị sản xuất công nghiệp; đồng thời, gắn với xây dựng diện tích rừng trồng đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững, phát triển rừng trồng cây gỗ lớn gắn với các nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh; hạn chế tối đa các nhà máy sản xuất dăm gỗ, viên nén gỗ xuất khẩu.
+ Nâng cao tỷ lệ sử dụng gỗ nguyên liệu trong tỉnh, khuyến khích dùng gỗ rừng trồng đạt tiêu chuẩn FSC, PEFC; giảm dần tỷ lệ gỗ nguyên liệu nhập khẩu dùng cho công nghiệp chế biến đồ gỗ.
- Điều chỉnh cơ cấu ngành công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh chủ yếu tập trung vào điều chỉnh cơ cấu sản phẩm gỗ, nhất là các sản phẩm xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng giá trị lâm sản sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước; phát triển hài hòa cả sản xuất đồ gỗ ngoại thất, nội thất, ván gỗ; đồng thời, hạn chế tối đa xuất khẩu sản phẩm thô.
+ Điều chỉnh cơ cấu nhóm sản phẩm gỗ và sản phẩm từ gỗ theo hướng khuyến khích phát triển doanh nghiệp đầu tư chế biến đồ gỗ nội, ngoại thất, nhất là đầu tư chuyển đổi từ sản xuất đồ gỗ ngoài trời sang phát triển sản xuất đồ gỗ nội thất, từng bước phát triển các dòng sản phẩm mới và xây dựng thương hiệu đồ gỗ riêng của từng doanh nghiệp; đồng thời, hạn chế phát triển mới doanh nghiệp chế biến sản phẩm thô để ưu tiên phát triển các nhà máy chế biến ván gỗ, sản phẩm gỗ nguyên khối và gia tăng giá trị trên mỗi m3 gỗ sản phẩm.
Đến năm 2025, giá trị xuất khẩu nhóm sản phẩm đồ gỗ đạt 525 triệu USD (riêng gỗ nội thất đạt 150 triệu USD), chiếm tỷ lệ 70%; nhóm sản phẩm từ gỗ khác (dăm gỗ, viên nén gỗ, nguyên liệu gỗ, ván gỗ…) đạt 225 triệu USD, chiếm tỷ lệ 30% so tổng giá trị xuất khẩu.
Đến năm 2035, giá trị xuất khẩu nhóm sản phẩm đồ gỗ đạt 1.200 triệu USD (riêng gỗ nội thất đạt 420 triệu USD), chiếm tỷ lệ 80%; nhóm sản phẩm từ gỗ khác đạt 300 triệu USD, chiếm tỷ lệ 20% so tổng giá trị xuất khẩu.
+ Về điều chỉnh cơ cấu vốn và lao động: Thực hiện rà soát, củng cố và nâng cấp hệ thống cơ sở chế biến gỗ quy mô nhỏ và vừa; đồng thời, phát triển cơ sở chế biến gỗ quy mô lớn.
Đến năm 2025, phát triển lên 300 doanh nghiệp chế biến gỗ; trong đó, có 75 doanh nghiệp có quy mô vốn từ 50 tỷ đồng trở lên (có khoảng 20 doanh nghiệp có quy mô vốn từ 200 tỷ đồng trở lên); có 42 doanh nghiệp có quy mô lao động từ 200 người trở lên.
Đến năm 2035, phát triển lên 400 doanh nghiệp chế biến gỗ; trong đó, có 100 doanh nghiệp có quy mô vốn từ 50 tỷ đồng trở lên (có khoảng 25 doanh nghiệp có quy mô vốn từ 200 tỷ đồng trở lên); có 55 doanh nghiệp có quy mô lao động từ 200 người trở lên.
+ Điều chỉnh cơ cấu thị trường: Để nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ, cần điều chỉnh cơ cấu thị trường ngành gỗ theo các hướng sau:
Một là, tận dụng cơ hội đến từ các FTAs, các doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu của thị trường nhập khẩu như yêu cầu về nguồn gốc, xuất xứ của gỗ và các sản phẩm gỗ, tìm hiểu kỹ các cam kết như thuế quan, biện pháp kỹ thuật, biện pháp phòng vệ… để có chiến lược thâm nhập hiệu quả vào các thị trường đã tham gia FTAs.
Hai là, điều chỉnh cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm từ gỗ rừng trồng trong nước, sử dụng gỗ hợp pháp, bền vững ở các thị trường lớn; cải tiến mẫu mã, chất lượng, công nghệ và xây dựng thương hiệu sản phẩm với chất lượng cao và giá cả phù hợp.
Ba là, phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu gỗ, đổi mới công tác xúc tiến thương mại, nghiên cứu, đánh giá xu hướng thị trường, tìm kiếm đối tác thông qua việc xây dựng các chương trình quảng bá về gỗ Việt, các hội chợ, diễn đàn thương mại gỗ quốc tế và trong nước…
Bốn là, tăng cường các hoạt động nghiên cứu, xây dựng chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại, thân thiện với môi trường; hỗ trợ tập huấn về công nghệ thông tin, xây dựng và áp dụng chứng chỉ FSC, CoC… cho doanh nghiệp chế biến và người trồng rừng; xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật để kiểm soát gỗ nhập khẩu vào Việt Nam; kiểm soát, ngăn chặn sản phẩm gỗ chế biến chất lượng kém nhập khẩu vào thị trường Việt Nam.
1.2. Nâng cao chất lượng và giá trị rừng
- Phát triển trồng cây gỗ lớn trên địa bàn tỉnh để đến năm 2025 đáp ứng khoảng 50% nhu cầu nguyên liệu phục vụ các nhà máy chế biến đồ gỗ của tỉnh và đến năm 2035 cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu gỗ nguyên liệu; từng bước xây dựng và phát triển chuỗi giá trị ngành hàng rừng trồng kinh doanh gỗ lớn của tỉnh.
- Nâng cao năng suất tăng trưởng rừng trồng mới và rừng trồng lại đạt bình quân từ 25-30 m3/ha/năm đối với cây gỗ lớn.
- Hình thành mạng lưới sản xuất và cung ứng giống theo hướng xã hội hóa với nhiều thành phần kinh tế tham gia dưới sự quản lý, giám sát chặt chẽ về chất lượng giống của các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện.
- Đưa tỷ lệ giống cây trồng lâm nghiệp được kiểm soát về chất lượng vào trồng rừng đạt 70-80% vào năm 2025 (trong đó cây giống được sản xuất bằng phương pháp nuôi cấy mô chiếm 30%), đảm bảo cung ứng đủ giống có chất lượng, góp phần tăng năng suất rừng trồng vào năm 2025 đạt từ 20% trở lên.
- Ổn định diện tích rừng sản xuất từ nay đến năm 2025 là 168.714 ha, mỗi năm khai thác và trồng lại từ 8.000-8.500 ha. Nâng cao năng suất rừng trồng để đạt năng suất bình quân 20 m3/ha/năm với trữ lượng gỗ lớn 190-240 m3/ha chu kỳ bình quân 12 năm và gỗ nhỏ 100-120 m3/ha chu kỳ bình quân 7 năm. Nâng cao chất lượng rừng để sản lượng gỗ đạt 80-90% trữ lượng; trong đó, sản lượng gỗ lớn bình quân đạt tỷ lệ 50-60%.
2. Xác định thị trường theo nhóm sản phẩm
2.1. Thị trường xuất khẩu
Tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giữ vững thị trường truyền thống, tập trung thị trường trọng điểm; củng cố, mở rộng thị trường hiện có; khai thác thị trường mới như Châu Phi, Tây Á, Nam Mỹ. Đẩy mạnh thiết kế mẫu mã, nhãn mác sản phẩm, đăng ký sở hữu nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý sản phẩm, xây dựng thương hiệu và đăng ký với các thị trường xuất khẩu; tham gia các chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia; ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động sản xuất kinh doanh; quảng bá sản phẩm, doanh nghiệp trên các cổng thông tin quốc gia, của tỉnh; áp dụng các phương thức kinh doanh tiên tiến… tạo cơ hội tập trung xuất khẩu vào các thị trường truyền thống và trọng điểm.
2.2. Thị trường trong nước
Tạo kênh phân phối để phát triển thị trường nội địa. Thực hiện khảo sát, đánh giá thị trường nội địa về hệ thống phân phối đồ gỗ trang trí nội thất, thị hiếu, dòng sản phẩm, phân khúc thị trường, xu hướng phát triển. Nghiên cứu mô hình liên kết giữa nhà sản xuất và nhà phân phối. Hỗ trợ các hiệp hội, doanh nghiệp thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại gỗ và sản phẩm gỗ thông qua các hội chợ. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức người tiêu dùng Việt Nam về hàng nội thất Việt.
III. NHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ
Tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ tỉnh Bình Định đến năm 2025, định hướng đến năm 2035 khoảng 5.123 tỷ đồng; giai đoạn 2019-2025: 1.921 tỷ đồng và giai đoạn 2026-2035: 3.202 tỷ đồng; trong đó:
- Vốn ngân sách: 18 tỷ đồng (giai đoạn 2019-2025: 6 tỷ đồng; giai đoạn 2026-2035: 12 tỷ đồng); chủ yếu hỗ trợ mặt bằng sản xuất, hoạt động khuyến công, đào tạo lao động, xúc tiến thương mại, công nghiệp hỗ trợ... theo các chính sách đã ban hành.
- Vốn doanh nghiệp (vốn chủ sở hữu): 1.680 tỷ đồng (giai đoạn 2019-2025: 630 tỷ đồng; giai đoạn 2026-2035: 1.050 tỷ đồng).
- Vốn đầu tư khác (vốn vay): 3.425 tỷ đồng (giai đoạn 2019-2025: 1.285 tỷ đồng; giai đoạn 2026-2035: 2.140 tỷ đồng).
IV. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức
- Tăng cường công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức, hiểu biết về vai trò và các giá trị của rừng trong phát triển kinh tế, nhất là lợi ích về lâu dài, có tính bền vững từ trồng rừng cây gỗ lớn.
- Tuyên truyền sâu rộng các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, các quy hoạch, kế hoạch của tỉnh về phát triển lâm nghiệp, chính sách thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu gỗ, chính sách về tín dụng ưu đãi đầu tư, xuất khẩu cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu; các hiệp định thương mại tự do, các Chương trình quốc tế về hội nhập, hợp tác phát triển có liên quan.
- Tuyên truyền, quảng bá, vận động người dân và doanh nghiệp thay đổi nhận thức về sử dụng gỗ hợp pháp và tập quán sử dụng gỗ rừng tự nhiên sang sử dụng gỗ từ rừng trồng; từ trồng rừng quảng canh sang thâm canh, kết hợp sản xuất gỗ nhỏ và gỗ lớn, đa dạng hóa sản phẩm… Sản phẩm đồ gỗ được mua sắm từ vốn ngân sách nhà nước ưu tiên sử dụng sản phẩm gỗ có nguồn gốc hợp pháp và bền vững môi trường từ gỗ rừng trồng trong nước, được sản xuất trên địa bàn tỉnh.
2. Về nguyên liệu
- Phát triển vùng nguyên liệu ổn định; ban hành chính sách hỗ trợ đẩy mạnh đầu tư trồng rừng gỗ lớn, hỗ trợ xây dựng các chứng chỉ quản lý rừng bền vững nhằm chủ động cung cấp gỗ nguyên liệu chất lượng, có giá trị kinh tế cao; nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nguyên liệu, từ chọn, tạo giống, kiểm soát, đảm bảo chất lượng giống cho trồng rừng, đến trồng rừng thâm canh, chăm sóc rừng, khai thác gỗ. Ưu tiên nhập khẩu gỗ từ các nước trong nội khối CPTPP; tăng cường nhập khẩu gỗ nguyên liệu có xuất xứ, nguồn gốc hợp pháp từ Mỹ để đảm bảo cán cân thương mại hai chiều. Tổ chức rà soát, xác định thực trạng sử dụng rừng và đất lâm nghiệp thuộc các chủ quản lý, điều chỉnh và thu hồi đất của các tổ chức, cá nhân đã được giao nhưng sử dụng không hiệu quả, sử dụng không đúng mục đích; các dự án đã hết thời hạn cấp phép… để tập trung đầu tư phát triển trồng rừng gỗ lớn.
- Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp liên kết nhằm tạo khu vực cung ứng, chế biến gỗ tập trung; khuyến khích đầu tư xây dựng chợ đầu mối gỗ nguyên liệu làm nhiệm vụ cung ứng nguyên liệu cho các cơ sở chế biến gắn kết với các khu, cụm công nghiệp, làng nghề chế biến gỗ ở vị trí thuận lợi.
- Trên cơ sở tiêu chuẩn kỹ thuật của Trung ương ban hành, triển khai việc kiểm soát gỗ nhập khẩu vào Việt Nam; kiểm soát, ngăn chặn sản phẩm gỗ chế biến chất lượng kém nhập khẩu vào thị trường Việt Nam.

Content:
Mục tiêu cụ thể
Đến năm 2025: Từng bước tăng tỷ trọng sản xuất và xuất khẩu sản phẩm được chế biến sâu. Phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu sản phẩm từ gỗ năm 2025 đạt 750 triệu USD. Tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm 5%; trong đó, chế biến đồ gỗ 6%, chế biến gỗ khác 3,3%.
Đến năm 2035: Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu sản phẩm từ gỗ đạt 1,5 tỷ USD. Tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm 4,8%; trong đó, chế biến đồ gỗ 6%, chế biến gỗ khác 2,3%.
II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
1. Nâng cao giá trị gia tăng của ngành
1.1. Nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến
- Nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến
+ Thực hiện nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến với định hướng phát triển công nghiệp chế biến gỗ thành ngành sản xuất có công nghệ tiên tiến, hiện đại theo hướng tự động hóa; đồng bộ từ các khâu sản xuất, cung ứng nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Trong chế biến sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm chú trọng phát triển sang các khâu đầu và khâu cuối của chuỗi giá trị sản phẩm (khâu có giá trị gia tăng cao).
+ Phát triển công nghiệp chế biến gỗ theo hướng xuất khẩu các sản phẩm gỗ nội thất, gỗ ngoài trời, các mặt hàng đồ thủ công mỹ nghệ; ưu tiên phát triển các nhà máy chế biến ván gỗ, sản phẩm gỗ nguyên khối để tăng nhanh giá trị sản xuất công nghiệp; đồng thời, gắn với xây dựng diện tích rừng trồng đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững, phát triển rừng trồng cây gỗ lớn gắn với các nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh; hạn chế tối đa các nhà máy sản xuất dăm gỗ, viên nén gỗ xuất khẩu.
+ Nâng cao tỷ lệ sử dụng gỗ nguyên liệu trong tỉnh, khuyến khích dùng gỗ rừng trồng đạt tiêu chuẩn FSC, PEFC; giảm dần tỷ lệ gỗ nguyên liệu nhập khẩu dùng cho công nghiệp chế biến đồ gỗ.
- Điều chỉnh cơ cấu ngành công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh chủ yếu tập trung vào điều chỉnh cơ cấu sản phẩm gỗ, nhất là các sản phẩm xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng giá trị lâm sản sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước; phát triển hài hòa cả sản xuất đồ gỗ ngoại thất, nội thất, ván gỗ; đồng thời, hạn chế tối đa xuất khẩu sản phẩm thô.
+ Điều chỉnh cơ cấu nhóm sản phẩm gỗ và sản phẩm từ gỗ theo hướng khuyến khích phát triển doanh nghiệp đầu tư chế biến đồ gỗ nội, ngoại thất, nhất là đầu tư chuyển đổi từ sản xuất đồ gỗ ngoài trời sang phát triển sản xuất đồ gỗ nội thất, từng bước phát triển các dòng sản phẩm mới và xây dựng thương hiệu đồ gỗ riêng của từng doanh nghiệp; đồng thời, hạn chế phát triển mới doanh nghiệp chế biến sản phẩm thô để ưu tiên phát triển các nhà máy chế biến ván gỗ, sản phẩm gỗ nguyên khối và gia tăng giá trị trên mỗi m3 gỗ sản phẩm.
Đến năm 2025, giá trị xuất khẩu nhóm sản phẩm đồ gỗ đạt 525 triệu USD (riêng gỗ nội thất đạt 150 triệu USD), chiếm tỷ lệ 70%; nhóm sản phẩm từ gỗ khác (dăm gỗ, viên nén gỗ, nguyên liệu gỗ, ván gỗ…) đạt 225 triệu USD, chiếm tỷ lệ 30% so tổng giá trị xuất khẩu.
Đến năm 2035, giá trị xuất khẩu nhóm sản phẩm đồ gỗ đạt 1.200 triệu USD (riêng gỗ nội thất đạt 420 triệu USD), chiếm tỷ lệ 80%; nhóm sản phẩm từ gỗ khác đạt 300 triệu USD, chiếm tỷ lệ 20% so tổng giá trị xuất khẩu.
+ Về điều chỉnh cơ cấu vốn và lao động: Thực hiện rà soát, củng cố và nâng cấp hệ thống cơ sở chế biến gỗ quy mô nhỏ và vừa; đồng thời, phát triển cơ sở chế biến gỗ quy mô lớn.
Đến năm 2025, phát triển lên 300 doanh nghiệp chế biến gỗ; trong đó, có 75 doanh nghiệp có quy mô vốn từ 50 tỷ đồng trở lên (có khoảng 20 doanh nghiệp có quy mô vốn từ 200 tỷ đồng trở lên); có 42 doanh nghiệp có quy mô lao động từ 200 người trở lên.
Đến năm 2035, phát triển lên 400 doanh nghiệp chế biến gỗ; trong đó, có 100 doanh nghiệp có quy mô vốn từ 50 tỷ đồng trở lên (có khoảng 25 doanh nghiệp có quy mô vốn từ 200 tỷ đồng trở lên); có 55 doanh nghiệp có quy mô lao động từ 200 người trở lên.
+ Điều chỉnh cơ cấu thị trường: Để nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ, cần điều chỉnh cơ cấu thị trường ngành gỗ theo các hướng sau:
Một là, tận dụng cơ hội đến từ các FTAs, các doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu của thị trường nhập khẩu như yêu cầu về nguồn gốc, xuất xứ của gỗ và các sản phẩm gỗ, tìm hiểu kỹ các cam kết như thuế quan, biện pháp kỹ thuật, biện pháp phòng vệ… để có chiến lược thâm nhập hiệu quả vào các thị trường đã tham gia FTAs.
Hai là, điều chỉnh cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm từ gỗ rừng trồng trong nước, sử dụng gỗ hợp pháp, bền vững ở các thị trường lớn; cải tiến mẫu mã, chất lượng, công nghệ và xây dựng thương hiệu sản phẩm với chất lượng cao và giá cả phù hợp.
Ba là, phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu gỗ, đổi mới công tác xúc tiến thương mại, nghiên cứu, đánh giá xu hướng thị trường, tìm kiếm đối tác thông qua việc xây dựng các chương trình quảng bá về gỗ Việt, các hội chợ, diễn đàn thương mại gỗ quốc tế và trong nước…
Bốn là, tăng cường các hoạt động nghiên cứu, xây dựng chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại, thân thiện với môi trường; hỗ trợ tập huấn về công nghệ thông tin, xây dựng và áp dụng chứng chỉ FSC, CoC… cho doanh nghiệp chế biến và người trồng rừng; xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật để kiểm soát gỗ nhập khẩu vào Việt Nam; kiểm soát, ngăn chặn sản phẩm gỗ chế biến chất lượng kém nhập khẩu vào thị trường Việt Nam.
1.Nâng cao chất lượng và giá trị rừng
- Phát triển trồng cây gỗ lớn trên địa bàn tỉnh để đến năm 2025 đáp ứng khoảng 50% nhu cầu nguyên liệu phục vụ các nhà máy chế biến đồ gỗ của tỉnh và đến năm 2035 cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu gỗ nguyên liệu; từng bước xây dựng và phát triển chuỗi giá trị ngành hàng rừng trồng kinh doanh gỗ lớn của tỉnh.
- Nâng cao năng suất tăng trưởng rừng trồng mới và rừng trồng lại đạt bình quân từ 25-30 m3/ha/năm đối với cây gỗ lớn.
- Hình thành mạng lưới sản xuất và cung ứng giống theo hướng xã hội hóa với nhiều thành phần kinh tế tham gia dưới sự quản lý, giám sát chặt chẽ về chất lượng giống của các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện.
- Đưa tỷ lệ giống cây trồng lâm nghiệp được kiểm soát về chất lượng vào trồng rừng đạt 70-80% vào năm 2025 (trong đó cây giống được sản xuất bằng phương pháp nuôi cấy mô chiếm 30%), đảm bảo cung ứng đủ giống có chất lượng, góp phần tăng năng suất rừng trồng vào năm 2025 đạt từ 20% trở lên.
- Ổn định diện tích rừng sản xuất từ nay đến năm 2025 là 168.714 ha, mỗi năm khai thác và trồng lại từ 8.000-8.500 ha. Nâng cao năng suất rừng trồng để đạt năng suất bình quân 20 m3/ha/năm với trữ lượng gỗ lớn 190-240 m3/ha chu kỳ bình quân 12 năm và gỗ nhỏ 100-120 m3/ha chu kỳ bình quân 7 năm. Nâng cao chất lượng rừng để sản lượng gỗ đạt 80-90% trữ lượng; trong đó, sản lượng gỗ lớn bình quân đạt tỷ lệ 50-60%.
Xác định thị trường theo nhóm sản phẩm
2.1. Thị trường xuất khẩu
Tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giữ vững thị trường truyền thống, tập trung thị trường trọng điểm; củng cố, mở rộng thị trường hiện có; khai thác thị trường mới như Châu Phi, Tây Á, Nam Mỹ. Đẩy mạnh thiết kế mẫu mã, nhãn mác sản phẩm, đăng ký sở hữu nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý sản phẩm, xây dựng thương hiệu và đăng ký với các thị trường xuất khẩu; tham gia các chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia; ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động sản xuất kinh doanh; quảng bá sản phẩm, doanh nghiệp trên các cổng thông tin quốc gia, của tỉnh; áp dụng các phương thức kinh doanh tiên tiến… tạo cơ hội tập trung xuất khẩu vào các thị trường truyền thống và trọng điểm.
2.Thị trường trong nước
Tạo kênh phân phối để phát triển thị trường nội địa. Thực hiện khảo sát, đánh giá thị trường nội địa về hệ thống phân phối đồ gỗ trang trí nội thất, thị hiếu, dòng sản phẩm, phân khúc thị trường, xu hướng phát triển. Nghiên cứu mô hình liên kết giữa nhà sản xuất và nhà phân phối. Hỗ trợ các hiệp hội, doanh nghiệp thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại gỗ và sản phẩm gỗ thông qua các hội chợ. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức người tiêu dùng Việt Nam về hàng nội thất Việt.
III. NHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ
Tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ tỉnh Bình Định đến năm 2025, định hướng đến năm 2035 khoảng 5.123 tỷ đồng; giai đoạn 2019-2025: 1.921 tỷ đồng và giai đoạn 2026-2035: 3.202 tỷ đồng; trong đó:
- Vốn ngân sách: 18 tỷ đồng (giai đoạn 2019-2025: 6 tỷ đồng; giai đoạn 2026-2035: 12 tỷ đồng); chủ yếu hỗ trợ mặt bằng sản xuất, hoạt động khuyến công, đào tạo lao động, xúc tiến thương mại, công nghiệp hỗ trợ... theo các chính sách đã ban hành.
- Vốn doanh nghiệp (vốn chủ sở hữu): 1.680 tỷ đồng (giai đoạn 2019-2025: 630 tỷ đồng; giai đoạn 2026-2035: 1.050 tỷ đồng).
- Vốn đầu tư khác (vốn vay): 3.425 tỷ đồng (giai đoạn 2019-2025: 1.285 tỷ đồng; giai đoạn 2026-2035: 2.140 tỷ đồng).
IV. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức
- Tăng cường công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức, hiểu biết về vai trò và các giá trị của rừng trong phát triển kinh tế, nhất là lợi ích về lâu dài, có tính bền vững từ trồng rừng cây gỗ lớn.
- Tuyên truyền sâu rộng các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, các quy hoạch, kế hoạch của tỉnh về phát triển lâm nghiệp, chính sách thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu gỗ, chính sách về tín dụng ưu đãi đầu tư, xuất khẩu cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu; các hiệp định thương mại tự do, các Chương trình quốc tế về hội nhập, hợp tác phát triển có liên quan.
- Tuyên truyền, quảng bá, vận động người dân và doanh nghiệp thay đổi nhận thức về sử dụng gỗ hợp pháp và tập quán sử dụng gỗ rừng tự nhiên sang sử dụng gỗ từ rừng trồng; từ trồng rừng quảng canh sang thâm canh, kết hợp sản xuất gỗ nhỏ và gỗ lớn, đa dạng hóa sản phẩm… Sản phẩm đồ gỗ được mua sắm từ vốn ngân sách nhà nước ưu tiên sử dụng sản phẩm gỗ có nguồn gốc hợp pháp và bền vững môi trường từ gỗ rừng trồng trong nước, được sản xuất trên địa bàn tỉnh.
Về nguyên liệu
- Phát triển vùng nguyên liệu ổn định; ban hành chính sách hỗ trợ đẩy mạnh đầu tư trồng rừng gỗ lớn, hỗ trợ xây dựng các chứng chỉ quản lý rừng bền vững nhằm chủ động cung cấp gỗ nguyên liệu chất lượng, có giá trị kinh tế cao; nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nguyên liệu, từ chọn, tạo giống, kiểm soát, đảm bảo chất lượng giống cho trồng rừng, đến trồng rừng thâm canh, chăm sóc rừng, khai thác gỗ. Ưu tiên nhập khẩu gỗ từ các nước trong nội khối CPTPP; tăng cường nhập khẩu gỗ nguyên liệu có xuất xứ, nguồn gốc hợp pháp từ Mỹ để đảm bảo cán cân thương mại hai chiều. Tổ chức rà soát, xác định thực trạng sử dụng rừng và đất lâm nghiệp thuộc các chủ quản lý, điều chỉnh và thu hồi đất của các tổ chức, cá nhân đã được giao nhưng sử dụng không hiệu quả, sử dụng không đúng mục đích; các dự án đã hết thời hạn cấp phép… để tập trung đầu tư phát triển trồng rừng gỗ lớn.
- Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp liên kết nhằm tạo khu vực cung ứng, chế biến gỗ tập trung; khuyến khích đầu tư xây dựng chợ đầu mối gỗ nguyên liệu làm nhiệm vụ cung ứng nguyên liệu cho các cơ sở chế biến gắn kết với các khu, cụm công nghiệp, làng nghề chế biến gỗ ở vị trí thuận lợi.
- Trên cơ sở tiêu chuẩn kỹ thuật của Trung ương ban hành, triển khai việc kiểm soát gỗ nhập khẩu vào Việt Nam; kiểm soát, ngăn chặn sản phẩm gỗ chế biến chất lượng kém nhập khẩu vào thị trường Việt Nam.