Document: Khoản 6 Điều 1 Quyết định 2635/QĐ-BNN-CB  phê duyệt đề án Nâng cao năng lực cạnh tranh

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "26/08/2008", "sign_number": "2635/QĐ-BNN-CB", "signer": "Diệp Kỉnh Tần", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "26/08/2008", "sign_number": "2635/QĐ-BNN-CB", "signer": "Diệp Kỉnh Tần", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "26/08/2008", "sign_number": "2635/QĐ-BNN-CB", "signer": "Diệp Kỉnh Tần", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "26/08/2008", "sign_number": "2635/QĐ-BNN-CB", "signer": "Diệp Kỉnh Tần", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "26/08/2008", "sign_number": "2635/QĐ-BNN-CB", "signer": "Diệp Kỉnh Tần", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 6 Điều 1 Quyết định 2635/QĐ-BNN-CB  phê duyệt đề án Nâng cao năng lực cạnh tranh

Điều 1. Phê duyệt đề án Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê đến 2015 và định hướng 2020 với nội dung chính sau:
...
6. Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách hỗ trợ ngành cà phê phát triển, nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh
6.1. Chính sách đất đai
Phối hợp với các cơ quan hữu quan, nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ các chính sách khuyến khích, hỗ trợ nông dân, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tổ chức sản xuất lớn, an toàn, bền vững, như:
- Khuyến khích các hộ nông dân trồng cà phê liên kết sản xuất dưới các hình thức tổ hợp tác, HTX để sản xuất, sơ chế và kinh doanh.
- Người trồng cà phê trong vùng quy hoạch được dùng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để góp cổ phần hoặc chuyển nhượng để hình thành các doanh nghiệp nông nghiệp, hoặc liên doanh liên kết sản xuất với các doanh nghiệp chế biến cùng kinh doanh và hưởng lợi.
- Xây dựng các chính sách hỗ trợ nông dân xây dựng sân phơi cà phê.
- Phối hợp với các địa phương giám sát việc trồng mới cà phê; những diện tích cà phê không theo quy hoạch sẽ không được hưởng các quyền lợi, chính sách từ phía Nhà nước và doanh nghiệp.
6.2. Về nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ và đào tạo
- Tăng đầu tư ngân sách cho nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học để chọn tạo ra các giống cà phê có năng suất, chất lượng ổn định, kháng được bệnh gỉ sắt, chín muộn và đồng đều (tránh thời điểm thu hoạch vào cuối mùa mưa và khắc phục tình trạng hái “tuốt cành”); hỗ trợ các nghiên cứu để đẩy mạnh cơ giới hóa các khâu chăm sóc và thu hái cà phê; nghiên cứu các giải pháp tưới tiết kiệm nước.
- Hỗ trợ thích đáng từ nguồn vốn sự nghiệp khoa học cho nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các dây chuyền thiết bị chế biến cà phê có đặc tính kỹ thuật tương đương với các thiết bị tiên tiến của Thế giới, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa công nghệ chế biến cà phê theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.
- Triển khai và sớm ban hành hệ thống các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế để hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện.
- Đẩy mạnh công tác khuyến nông và khuyến công đối với lĩnh vực trồng và chế biến cà phê, nhất là khâu sơ chế trong dân.
- Tổ chức đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý thích ứng với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; cán bộ kỹ thuật và công nhân để tiếp thu và làm chủ các công nghệ, thiết bị hiện đại. Thông qua Chương trình khuyến nông tiến hành đào tạo nông dân về quy trình canh tác bền vững và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong sơ chế, bảo quản cà phê thóc.
6.3. Về thương mại
- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để hình thành hệ thống giao dịch, ký, gửi cà phê đảm bảo đầy đủ tính pháp lý, công khai, minh bạch, tạo điều kiện mang lại nhiều giá trị hơn cho người trồng cà phê. Mở rộng và nâng cấp hệ thống thông tin chuyên ngành để giúp cho người dân, doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị trường và tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả.
- Tiếp tục hoàn thiện chính sách, hỗ trợ xúc tiến thương mại, khuyến khích xuất khẩu thông qua Hiệp hội ngành hàng. Chuyển từ chính sách can thiệp thị trường, trợ cấp xuất khẩu sang hỗ trợ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của cà phê trên thị trường trong nước, khu vực và quốc tế, như: thành lập các trung tâm giới thiệu sản phẩm ở nước ngoài, tham gia hội chợ, triển lãm, quảng bá sản phẩm.
- Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê thành lập Quỹ xúc tiến thương mại, Quỹ bảo hiểm ngành hàng để thực hiện các chương trình quảng cáo kích cầu cà phê trong nước và khắc phục rủi ro trong sản xuất – kinh doanh, đặc biệt trước những biến động tiêu cực của thị trường cà phê thế giới.
6.4. Chính sách tài chính, tín dụng:
- Phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất: Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, trong đó ngân sách Nhà nước đóng góp tỷ lệ đáng kể kết hợp với sự tham gia của doanh nghiệp và người dân trên địa bàn để đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế cho các vùng sản xuất cà phê. Trước hết là giải quyết giao thông thông suốt 4 mùa ở các tỉnh Tây Nguyên và vùng trồng cà phê ở Trung bộ và Tây Bắc, tạo điều kiện giao thương, phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn; đầu tư các hồ chứa nước, hệ thống kênh mương, đảm bảo đến năm 2015 đạt 75% và năm 2020 đạt 100% diện tích cà phê được tưới nước chủ động, tiết kiệm.
Nhà nước hỗ trợ kinh phí lập dự án phát triển hạ tầng thương mại đối với cà phê; thực hiện việc hỗ trợ doanh nghiệp được vay vốn tín dụng ưu đãi để xây dựng các sàn giao dịch, các trung tâm ký, gửi cà phê.
- Đối với sản xuất nông nghiệp:
Tăng cường nguồn vốn ngân sách cải tạo, nâng cấp và đầu tư mới các trung tâm nhân giống vùng và trạm giống khu vực. Nhà nước hỗ trợ đầu tư phát triển giống cà phê bằng chính sách quy định tại Quyết định số 17/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; ưu tiên sử dụng các nguồn vốn ODA để sản xuất cà phê bền vững, đầu tư thâm canh trọng điểm 200.000 ha cà phê vối ở Đaklak, Lâm Đồng, Gia Lai, Đaknông và 6.000 ha cà phê chè ở các tỉnh Lâm Đồng, miền Tây Quảng trị, Thừa Thiên Huế và Sơn La.
Đồng thời, có những chính sách tín dụng và tài trợ để người dân đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm đạt được những hiệu quả cao như chất lượng sản phẩm nông nghiệp được cải thiện, giá thành hạ, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
- Đối với lĩnh vực chế biến công nghiệp:
+ Triển khai chính sách hỗ trợ, khuyến khích người dân đầu tư máy móc, thiết bị, sân phơi xi măng phục vụ sơ chế - bảo quản bằng các hình thức hỗ trợ lãi suất hoặc hỗ trợ nguồn vốn vay từ Ngân hàng chính sách xã hội.
+ Xây dựng các chính sách ưu đãi (như vay vốn từ ngân hàng đầu tư phát triển, hoặc tham gia chương trình cơ khí trọng điểm) nhằm khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư thiết bị đồng bộ, hiện đại ở các khâu xát, tách mầu, phân loại, đánh bóng, máy sấy, đóng gói trong chế biến cà phê nhân xuất khẩu; các doanh nghiệp đầu tư chế biến cà phê hòa tan và các sản phẩm cà phê khác như cà phê dạng lỏng, cà phê khử cafein, cà phê hảo hạng, cà phê đặc biệt…Bổ sung các dự án đầu tư sản xuất, chế biến cà phê vào danh mục các dự án vay vốn tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ, theo đó Ngân hàng phát triển cho vay, bảo lãnh những dự án đầu tư, hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu hàng hoá do Việt Nam sản xuất có thu hồi vốn trực tiếp.
+ Tiếp tục thực hiện việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho cơ sở kinh doanh sử dụng nhiều lao động, lao động là người dân tộc thiểu số; miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập từ hoạt động dạy nghề giành riêng cho người dân tộc thiểu số.
+ Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách khuyến khích tiêu thụ cà phê thông qua hợp đồng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế với người sản xuất (Hợp tác xã, hộ nông dân, trang trại, đại diện hộ nông dân) theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
6.5. Tổng dự toán vốn đầu tư toàn xã hội để thực hiện Đề án nâng cao năng lực cạnh tranh cà phê Việt Nam đến 2015 là 32.759 tỷ đồng (có phụ lục kèm theo).
Trong đó, nguồn vốn được phân bổ:
- Từ Ngân sách nhà nước, tập trung chủ yếu cho đầu tư kết cấu hạ tầng (giao thông, thủy lợi, phục vụ sản xuất, hỗ trợ xây dựng hạ tầng thương mại…); nghiên cứu khoa học, khuyến nông, xúc tiến thương mại: 469 tỷ đồng, chiếm 1,5 %;
- Từ nguồn tài trợ ODA cho đầu tư cải tạo, thâm canh, thực hiện sản xuất an toàn, bền vững: 13.705 tỷ đồng, chiếm 41,8%;
- Nguồn vốn tự có của các doanh nghiệp và nông dân: 18.585 tỷ đồng, chiếm 56,7%.

Content:
Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách hỗ trợ ngành cà phê phát triển, nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh
6.1. Chính sách đất đai
Phối hợp với các cơ quan hữu quan, nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ các chính sách khuyến khích, hỗ trợ nông dân, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tổ chức sản xuất lớn, an toàn, bền vững, như:
- Khuyến khích các hộ nông dân trồng cà phê liên kết sản xuất dưới các hình thức tổ hợp tác, HTX để sản xuất, sơ chế và kinh doanh.
- Người trồng cà phê trong vùng quy hoạch được dùng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để góp cổ phần hoặc chuyển nhượng để hình thành các doanh nghiệp nông nghiệp, hoặc liên doanh liên kết sản xuất với các doanh nghiệp chế biến cùng kinh doanh và hưởng lợi.
- Xây dựng các chính sách hỗ trợ nông dân xây dựng sân phơi cà phê.
- Phối hợp với các địa phương giám sát việc trồng mới cà phê; những diện tích cà phê không theo quy hoạch sẽ không được hưởng các quyền lợi, chính sách từ phía Nhà nước và doanh nghiệp.
6.2. Về nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ và đào tạo
- Tăng đầu tư ngân sách cho nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học để chọn tạo ra các giống cà phê có năng suất, chất lượng ổn định, kháng được bệnh gỉ sắt, chín muộn và đồng đều (tránh thời điểm thu hoạch vào cuối mùa mưa và khắc phục tình trạng hái “tuốt cành”); hỗ trợ các nghiên cứu để đẩy mạnh cơ giới hóa các khâu chăm sóc và thu hái cà phê; nghiên cứu các giải pháp tưới tiết kiệm nước.
- Hỗ trợ thích đáng từ nguồn vốn sự nghiệp khoa học cho nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các dây chuyền thiết bị chế biến cà phê có đặc tính kỹ thuật tương đương với các thiết bị tiên tiến của Thế giới, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa công nghệ chế biến cà phê theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.
- Triển khai và sớm ban hành hệ thống các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế để hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện.
- Đẩy mạnh công tác khuyến nông và khuyến công đối với lĩnh vực trồng và chế biến cà phê, nhất là khâu sơ chế trong dân.
- Tổ chức đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý thích ứng với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; cán bộ kỹ thuật và công nhân để tiếp thu và làm chủ các công nghệ, thiết bị hiện đại. Thông qua Chương trình khuyến nông tiến hành đào tạo nông dân về quy trình canh tác bền vững và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong sơ chế, bảo quản cà phê thóc.
6.3. Về thương mại
- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để hình thành hệ thống giao dịch, ký, gửi cà phê đảm bảo đầy đủ tính pháp lý, công khai, minh bạch, tạo điều kiện mang lại nhiều giá trị hơn cho người trồng cà phê. Mở rộng và nâng cấp hệ thống thông tin chuyên ngành để giúp cho người dân, doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị trường và tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả.
- Tiếp tục hoàn thiện chính sách, hỗ trợ xúc tiến thương mại, khuyến khích xuất khẩu thông qua Hiệp hội ngành hàng. Chuyển từ chính sách can thiệp thị trường, trợ cấp xuất khẩu sang hỗ trợ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của cà phê trên thị trường trong nước, khu vực và quốc tế, như: thành lập các trung tâm giới thiệu sản phẩm ở nước ngoài, tham gia hội chợ, triển lãm, quảng bá sản phẩm.
- Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê thành lập Quỹ xúc tiến thương mại, Quỹ bảo hiểm ngành hàng để thực hiện các chương trình quảng cáo kích cầu cà phê trong nước và khắc phục rủi ro trong sản xuất – kinh doanh, đặc biệt trước những biến động tiêu cực của thị trường cà phê thế giới.
6.4. Chính sách tài chính, tín dụng:
- Phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất: Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, trong đó ngân sách Nhà nước đóng góp tỷ lệ đáng kể kết hợp với sự tham gia của doanh nghiệp và người dân trên địa bàn để đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế cho các vùng sản xuất cà phê. Trước hết là giải quyết giao thông thông suốt 4 mùa ở các tỉnh Tây Nguyên và vùng trồng cà phê ở Trung bộ và Tây Bắc, tạo điều kiện giao thương, phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn; đầu tư các hồ chứa nước, hệ thống kênh mương, đảm bảo đến năm 2015 đạt 75% và năm 2020 đạt 100% diện tích cà phê được tưới nước chủ động, tiết kiệm.
Nhà nước hỗ trợ kinh phí lập dự án phát triển hạ tầng thương mại đối với cà phê; thực hiện việc hỗ trợ doanh nghiệp được vay vốn tín dụng ưu đãi để xây dựng các sàn giao dịch, các trung tâm ký, gửi cà phê.
- Đối với sản xuất nông nghiệp:
Tăng cường nguồn vốn ngân sách cải tạo, nâng cấp và đầu tư mới các trung tâm nhân giống vùng và trạm giống khu vực. Nhà nước hỗ trợ đầu tư phát triển giống cà phê bằng chính sách quy định tại Quyết định số 17/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; ưu tiên sử dụng các nguồn vốn ODA để sản xuất cà phê bền vững, đầu tư thâm canh trọng điểm 200.000 ha cà phê vối ở Đaklak, Lâm Đồng, Gia Lai, Đaknông và 6.000 ha cà phê chè ở các tỉnh Lâm Đồng, miền Tây Quảng trị, Thừa Thiên Huế và Sơn La.
Đồng thời, có những chính sách tín dụng và tài trợ để người dân đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm đạt được những hiệu quả cao như chất lượng sản phẩm nông nghiệp được cải thiện, giá thành hạ, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
- Đối với lĩnh vực chế biến công nghiệp:
+ Triển khai chính sách hỗ trợ, khuyến khích người dân đầu tư máy móc, thiết bị, sân phơi xi măng phục vụ sơ chế - bảo quản bằng các hình thức hỗ trợ lãi suất hoặc hỗ trợ nguồn vốn vay từ Ngân hàng chính sách xã hội.
+ Xây dựng các chính sách ưu đãi (như vay vốn từ ngân hàng đầu tư phát triển, hoặc tham gia chương trình cơ khí trọng điểm) nhằm khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư thiết bị đồng bộ, hiện đại ở các khâu xát, tách mầu, phân loại, đánh bóng, máy sấy, đóng gói trong chế biến cà phê nhân xuất khẩu; các doanh nghiệp đầu tư chế biến cà phê hòa tan và các sản phẩm cà phê khác như cà phê dạng lỏng, cà phê khử cafein, cà phê hảo hạng, cà phê đặc biệt…Bổ sung các dự án đầu tư sản xuất, chế biến cà phê vào danh mục các dự án vay vốn tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ, theo đó Ngân hàng phát triển cho vay, bảo lãnh những dự án đầu tư, hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu hàng hoá do Việt Nam sản xuất có thu hồi vốn trực tiếp.
+ Tiếp tục thực hiện việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho cơ sở kinh doanh sử dụng nhiều lao động, lao động là người dân tộc thiểu số; miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập từ hoạt động dạy nghề giành riêng cho người dân tộc thiểu số.
+ Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách khuyến khích tiêu thụ cà phê thông qua hợp đồng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế với người sản xuất (Hợp tác xã, hộ nông dân, trang trại, đại diện hộ nông dân) theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
6.5. Tổng dự toán vốn đầu tư toàn xã hội để thực hiện Đề án nâng cao năng lực cạnh tranh cà phê Việt Nam đến 2015 là 32.759 tỷ đồng (có phụ lục kèm theo).
Trong đó, nguồn vốn được phân bổ:
- Từ Ngân sách nhà nước, tập trung chủ yếu cho đầu tư kết cấu hạ tầng (giao thông, thủy lợi, phục vụ sản xuất, hỗ trợ xây dựng hạ tầng thương mại…); nghiên cứu khoa học, khuyến nông, xúc tiến thương mại: 469 tỷ đồng, chiếm 1,5 %;
- Từ nguồn tài trợ ODA cho đầu tư cải tạo, thâm canh, thực hiện sản xuất an toàn, bền vững: 13.705 tỷ đồng, chiếm 41,8%;
- Nguồn vốn tự có của các doanh nghiệp và nông dân: 18.585 tỷ đồng, chiếm 56,7%.