Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2640/QĐ-UBND 2012 tổng thể phát triển thủy sản 2020 Bà Rịa Vũng Tàu

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "05/12/2012", "sign_number": "2640/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "05/12/2012", "sign_number": "2640/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "05/12/2012", "sign_number": "2640/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "05/12/2012", "sign_number": "2640/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "05/12/2012", "sign_number": "2640/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2640/QĐ-UBND 2012 tổng thể phát triển thủy sản 2020 Bà Rịa Vũng Tàu

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau:
...
5. Chủ động hợp tác quốc tế nhằm thu hút vốn đầu tư, kỹ thuật, công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý và nắm bắt luật pháp quốc tế. Chủ động đối phó và đấu tranh với những tranh chấp, rào cản thương mại do chính sách bảo hộ của các nước nhập khẩu.
II. Mục tiêu phát triển:
1. Mục tiêu tổng quát:
Bà Rịa-Vũng Tàu sẽ trở thành trung tâm lớn về công nghiệp khai thác, dịch vụ hậu cần nghề cá, công nghiệp chế biến, nuôi trồng, sản xuất giống hải sản của vùng Đông Nam Bộ; phát triển thủy sản của tỉnh trở thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả cao, có giá trị xuất khẩu lớn, tạo nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động thủy sản và các nghề liên quan, đặc biệt là khu vực ven biển, hải đảo, đồng thời góp phần bảo đảm an ninh thực phẩm và an ninh quốc phòng trên biển.
2. Mục tiêu cụ thể:
* Đến năm 2015 và giai đoạn 5 năm (2011-2015):
- Tổng giá trị sản xuất thủy sản theo giá cố định 5 năm (2011-2015) đạt 13.258 tỷ đồng, bằng 143% so với giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng bình quân 6,7%/năm. Trong đó:
+ Tổng giá trị sản lượng khai thác thủy sản 5 năm đạt 11.651 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 6,38%/năm.
+ Tổng giá trị sản lượng nuôi trồng thủy sản 5 năm đạt 1.607 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 8,59%/năm.
- Tổng sản lượng thủy sản 5 năm đạt 1.310.000 tấn, bằng 105% so với giai đoạn 2006-2010. Trong đó: tổng sản lượng đánh bắt hải sản 5 năm: 1.195.000 tấn; tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản 5 năm đạt 115.000 tấn.
- Tổng sản phẩm chế biến hải sản xuất khẩu 5 năm: 600.000 tấn, bằng 126% so với giai đoạn 2006-2010.
- Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu hải sản 5 năm: 1 tỷ 750 triệu USD, bằng 150% so với giai đoạn 2006-2010, tăng bình quân 9,0%/năm.
- Giải quyết cho 108.910 lao động có việc làm ổn định, có thu nhập thường xuyên; trong đó phấn đấu 5% có trình độ nghề từ kỹ thuật viên, Trung cấp, Đại học và 70 - 80% lao động được tập huấn kỹ thuật chuyên ngành.
* Đến năm 2020:
- Tổng giá trị sản xuất ngành thủy sản (theo giá cố định 1994) đạt 4.819 tỷ đồng, trong đó khai thác 4.389 tỷ đồng và nuôi trồng là 430 tỷ đồng.
- Tổng sản lượng thủy sản đạt 287.160 tấn, trong đó sản lượng khai thác 260.000 tấn, nuôi trồng là 27.160 tấn.
- Tổng sản lượng thủy sản xuất khẩu đạt 150.000 tấn với giá trị kim ngạch xuất khẩu là 600 triệu USD).
- Giải quyết cho 111.200 lao động có việc làm ổn định, có thu nhập thường xuyên.
III. Quy hoạch phát triển các lĩnh vực của ngành đến năm 2020:
1. Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản:
a) Sản lượng khai thác:
Tăng sản lượng khai thác hải sản đến năm 2015 là 240.000 tấn, khai thác xa bờ chiếm 70%; năm 2020 đạt 260.000 tấn, khai thác xa bờ chiếm 75%. Ổn định sản lượng khai thác hải sản ven bờ ở mức 60.000 - 65.000 tấn/năm.
b) Năng lực tàu thuyền khai thác:
Giảm dần số lượng tàu thuyền đến năm 2015 còn 6.000 chiếc, công suất 750.000 CV, công suất bình quân 125 CV/chiếc; năm 2020 tiếp tục giảm còn 5.000 chiếc, công suất 820.000 CV, công suất bình quân 164 CV/chiếc.
- Cơ cấu tàu thuyền theo nhóm công suất:
+ Tàu cá dưới 20 CV chiếm 20,0% năm 2015 và 14,0% năm 2020;
+ Tàu cá từ 20 CV đến < 50 CV chiếm 20,8% năm 2015 và 13,0% năm 2020;
+ Tàu cá từ 50 CV đến < 90 CV chiếm 9,2% năm 2015 và 8,0% năm 2020;
+ Tàu cá từ 90 CV đến < 150 CV chiếm 10,8% năm 2015 và 14,0% năm 2020;
+ Tàu cá từ 150 CV đến < 400 CV chiếm 27,5% năm 2015 và 36,0% năm 2020;
+ Tàu cá trên 400 CV chiếm 11,7% năm 2015 và 15,0% năm 2020.
c) Nghề nghiệp khai thác:
Đẩy mạnh khai thác xa bờ, giảm dần khai thác gần bờ, chú trọng khai thác các loại hải sản giá trị kinh tế cao, thực hiện tốt bảo quản hải sản sau đánh bắt nâng cao giá trị sản phẩm; tăng cường bảo vệ nguồn lợi hải sản, nghiêm cấm các biện pháp khai thác có tính chất hủy diệt.
Điều chỉnh và sắp xếp theo cơ cấu nghề nhằm khôi phục và nâng cao năng suất đánh bắt phù hợp với đặc điểm ngư trường và mùa vụ khai thác theo hướng hạn chế phát triển nghề lưới kéo và không cho phép đóng mới, mua tàu cá có chiều dài đường nước thiết kế dưới 15m, công suất máy dưới 90 CV.
Khuyến khích, hỗ trợ ngư dân đầu tư phát triển tàu khai thác hải sản xa bờ, trang bị công nghệ hiện đại, từng bước thay vỏ tàu bằng vật liệu mới, bền và tiết kiệm gỗ. Đồng thời duy trì và phát triển những nghề có tính chọn lọc cao, thân thiện với môi trường, trên cơ sở cân đối phù hợp với năng lực tàu thuyền trên các vùng biển và quy định quản lý nghề khai thác trên các tuyến. Tăng tỷ trọng khai thác các loài cá nổi (cá thu, cá ngừ, cá kiếm, cá bạc má, cá nục, cá trích, cá cơm,...). Phát triển các họ nghề: lưới vây, lưới rê, câu; giảm các họ nghề lưới kéo, họ nghề khác.
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nghề cá, luật biển, đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng, thuyền viên, huấn luyện kỹ thuật, kỹ năng ứng dụng trang thiết bị trên tàu cá cho ngư dân. Mở rộng quan hệ hợp tác nghề cá với các nước trong khu vực tạo điều kiện ngư dân tham gia chương trình hợp tác đánh cá giữa Chính phủ Việt Nam với các nước lân cận; kết hợp sản xuất với nhiệm vụ an ninh quốc phòng.
d) Lao động khai thác:
Số lượng lao động khai thác dự kiến giảm xuống còn 35.000 người vào năm 2015 và còn 33.000 người vào năm 2020.
2. Nuôi trồng thủy sản:
a) Nuôi thủy sản nước ngọt:
Phát triển nuôi thủy sản nước ngọt trong nội đồng ở các huyện trong tỉnh, nằm chủ yếu toàn bộ huyện Châu Đức, một phần huyện Tân Thành, huyện Long Điền, huyện Đất Đỏ, huyện Xuyên Mộc, thành phố Bà Rịa,... thuộc các ao, hồ nhỏ ở trong hộ dân và các hệ thống hồ chứa lớn dùng tưới tiêu cho nông nghiệp. Đến năm 2015 diện tích nuôi nước ngọt đạt 2.098 ha, sản lượng 4.070 tấn; năm 2020 diện tích 2.540 ha, sản lượng 5.190 tấn.
Các đối tượng: cá lóc, cá trê, cá rô phi đơn tính, cá rô đồng, cá mè, cá trôi, cá trắm, cá chép và các loại thủy đặc sản như: lươn, baba, ếch,... dưới các hình thức: nuôi cá ao, hồ nhỏ, nuôi cá ruộng trũng và nuôi mặt nước lớn kết hợp với các hồ chứa nước tưới tiêu cho nông nghiệp.
b) Nuôi thủy sản nước lợ mặn:
Vùng nuôi tập trung chủ yếu tại các hạ lưu sông Thị Vải (thuộc xã Phước Hòa, xã Hội Bài) huyện Tân Thành; sông Dinh (phường Long Hương) thành phố Bà Rịa; hạ lưu sông Ray nằm các huyện Đất Đỏ (xã lộc An, xã Láng Dài), huyện Xuyên Mộc (xã Phước Thuận, xã Bình Châu) và một phần của các huyện Long Điền (xã An Ngãi, xã Phước Hưng); thành phố Vũng Tàu (phường 12, xã Long Sơn) và huyện Côn Đảo. Vùng này cho phép phát triển toàn diện, tập trung chủ yếu vào nuôi trồng thủy sản lợ, mặn, đối tượng chủ lực là con tôm.
Diện tích nuôi nước lợ mặn đến năm 2015 còn 5.142 ha và năm 2020 còn 3.860 ha. Trong đó giảm dần các hình thức: nuôi tôm BTC, QCCT, nuôi sinh thái (tôm-rừng), chú trọng phát triển nuôi tôm chân trắng, nuôi cá mặn lợ; ổn định diện tích nuôi tôm sú thâm canh khoảng 570 ha/năm; tăng dần diện tích nuôi nhuyễn thể (sò huyết, hàu). Sản lượng nuôi lợ mặn đạt 19.090 tấn năm 2015 và 19.850 tấn năm 2020.
c) Nuôi biển:
Phát triển nuôi lồng bè tại xã Long Sơn (thành phố Vũng Tàu) và Côn Đảo, với các đối tượng chính là cá mú, cá chim và cá giò. Đến năm 2015 tăng số lồng lên 4.600 chiếc, sản lượng 1.840 tấn; năm 2020 là 5.300 lồng, sản lượng 2.120 tấn. Diện tích nuôi cá biển và sinh vật cảnh đến 2020 là 500 ha; nuôi trai lấy ngọc đến năm 2020 là 100 ha.
d) Lao động nuôi trồng thủy sản:
Nhu cầu lao động nuôi trồng thủy sản năm 2015 khoảng 8.910 người và năm 2020 khoảng 8.200 người. Đối với các mô hình nuôi công nghệ cao cần thu hút lao động có trình độ về chuyên môn để có khả năng tiếp cận nhanh với những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới.
3. Chế biến và tiêu thụ thủy sản:
a) Sản lượng chế biến và cơ cấu mặt hàng:
Đến năm 2015, tổng sản lượng chế biến đạt 175.000 tấn, trong đó xuất khẩu 125.000 tấn, nội địa 50.000 tấn. Đến năm 2020, tổng sản lượng chế biến đạt 200.000 tấn, trong đó xuất khẩu chiếm 75%, còn lại là tiêu thụ nội địa. Phát triển các nhóm sản phẩm chủ lực sau:
- Nhóm hàng đông lạnh và đồ hộp: đây vẫn sẽ là nhóm hàng xuất khẩu chính của tỉnh trong thời gian tới, với tổng sản lượng đạt 118.120 tấn vào năm 2015 và đạt 137.600 tấn vào năm 2020.
- Bột cá: sản lượng đạt 30.000 tấn năm 2015, đến năm 2020 tăng sản lượng bột cá lên 35.000 tấn.
- Nhóm hàng khô: sản lượng chế biến khô đạt 26.880 tấn năm 2015, tăng lên 27.400 tấn năm 2020. Chú trọng xây dựng thương hiệu cho tôm khô, mực khô và một số sản phẩm cá khô khác cho Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Nước mắm: duy trì sản lượng nước mắm 12 triệu lít/năm từ nay đến giai đoạn 2015-2020. Cần nâng cao chất lượng nước mắm của tỉnh để có thể cạnh tranh với các thương hiệu nước mắm khác có uy tín trên thị trường.
b) Xuất khẩu thủy sản:
Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường. Chú trọng ổn định các thị trường trọng điểm của tỉnh là: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, EU, Mỹ và Ôxtrâylia.
Nâng tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tỉnh đến năm 2015 đạt 400 triệu USD, năm 2020 đạt 600 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 9,0%.
c) Nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến và tiêu thụ:
Tổng nhu cầu nguyên liệu phục vụ chế biến đến năm 2015 khoảng 480.884 tấn, trong đó cá các loại 353.200 tấn, tôm các loại 11.564 tấn, mực và bạch tuộc 43.170 tấn và thủy sản khác 72.950 tấn. Năm 2020 tổng nhu cầu nguyên liệu khoảng 542.220 tấn, trong đó cá các loại 384.850 tấn, tôm 16.020 tấn, mực và bạch tuộc 50.100 tấn và thủy sản khác 91.250 tấn.
Tăng cường công tác bảo quản sản phẩm từ khai thác và nuôi trồng để nâng tỷ trọng nguyên liệu của tỉnh có thể đưa vào chế biến đạt khoảng 60% năm 2015 và khoảng 70% vào năm 2020.
Các doanh nghiệp cần chủ động mở rộng kênh thu hút nguyên liệu từ ngoài tỉnh (chiếm khoảng 40% tổng nhu cầu), trong đó tỉnh sẽ tiếp tục thực hiện cơ chế khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu (khoảng 20%) nguyên liệu từ nước ngoài để chế biến tái xuất khẩu theo các chủ trương và hướng dẫn của Bộ chuyên ngành. Lưu ý: không cho phép mua nguyên liệu hải sản từ các địa phương khác vào tỉnh để chế biến bột cá.
d) Lao động chế biến:
Phát triển chế biến thủy sản góp phần tạo việc làm, tăng thêm thu nhập, nâng cao mức sống cho người lao động. Nhu cầu lao động chế biến đến năm 2015 là khoảng 65.000 người và con số này năm 2020 khoảng 70.000 người.
4. Dịch vụ thủy sản:
a) Cơ khí đóng, sửa tàu cá:
Từng bước hiện đại hóa các cơ sở đóng sửa tàu thuyền hiện có, thu hút các doanh nghiệp đóng tàu bằng vật liệu mới đầu tư tại các vùng trọng điểm nghề cá ở thành phố Vũng Tàu; các huyện: Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, đáp ứng nhu cầu sửa chữa, đóng mới các loại tàu cá trong tỉnh và các tỉnh lân cận.
b) Cung ứng nước đá, nhiên liệu, vật tư nghề cá:
Phát triển đồng bộ hệ thống dịch vụ nghề cá gắn với kết cấu hạ tầng cảng, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá tại các địa phương. Bố trí hợp lý mặt bằng thực hiện cung ứng các dịch vụ thiết yếu như nhiên liệu, nước đá, vật tư nghề cá và các nhu cầu khác.
Duy trì và phát triển các nhà máy sản xuất nước đá đảm bảo vệ sinh để cung ứng cho tàu thuyền trong và ngoài tỉnh bảo quản thủy sản với sản lượng nước đá đến năm 2015 khoảng 440.000 tấn và năm 2020 khoảng 480.000 tấn.
Phát triển mạnh loại hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển đội tàu thu mua trực tiếp hải sản trên biển, với số lượng đến năm 2020 khoảng 50 chiếc/30.000 CV, thu mua khoảng 40% tổng sản lượng khai thác hải sản của tỉnh và đầu tư 2 tàu chế biến với công suất 8.000 CV, tải trọng 12.000 Dwt, khả năng chế biến từ 20.000 - 30.000 tấn sản phẩm/năm.
c) Dịch vụ cung ứng giống thủy sản:
Sản xuất giống đến năm 2020 khoảng 2.777 triệu con giống các loại. Trong đó: Giống tôm sú là 1.800 triệu con, đáp ứng trên 100%; giống tôm chân trắng 900 triệu con, đáp ứng trên 100%; giống cá biển là 7 triệu con, đáp ứng là 76,1%; giống cá nước ngọt là 50 triệu con, đáp ứng 55% nhu cầu nuôi trong tỉnh.
Sớm quy hoạch và đầu tư hoàn thành khu sản xuất giống tập trung xã Phước Hải, huyện Đất Đỏ (109,02 ha) để di dời các trại giống nằm trên địa bàn phường 12, thành phố Vũng Tàu và Thị trấn Long Hải, huyện Long Điền không thuộc vùng quy hoạch phát triển giống vào khu này. Đồng thời, khẩn trương đầu tư xây dựng Trại thực nghiệm sản xuất giống nước ngọt xã Phước Hội, huyện Đất Đỏ (3,27 ha) để cung cấp giống thủy sản cho người nuôi trong và ngoài tỉnh có nhu cầu về giống thủy sản nước ngọt.
5. Kết cấu hạ tầng nghề cá:
a) Hạ tầng các khu chế biến tập trung:
- Sớm hình thành 03 khu chế biến thủy sản tại khu vực gò Ông Sầm, phường 12 (thành phố Vũng Tàu); tại xã Lộc An (huyện Đất Đỏ) và tại khu vực ấp Thèo Lèo, xã Bình Châu (huyện Xuyên Mộc) để thực hiện di dời toàn bộ các nhà máy nằm gần các khu dân cư, khu đô thị, khu du lịch ở các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh vào khu chế biến tạo tiền đề để đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ, đổi mới trang thiết bị, hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường. Không cho phép đầu tư xây dựng mới thêm các nhà máy chế biến bột cá.
- Tăng cường đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, hiện đại hóa trang thiết bị kỹ thuật, đổi mới dây chuyền công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mặt hàng, chuyển dần từ chế biến thô sang chế biến tinh, cải tiến mẫu mã bao bì sản phẩm gắn với việc xây dựng và quảng bá thương hiệu của tỉnh cho các nhóm sản phẩm chủ lực mực, bạch tuộc, cá, ghẹ, tôm,...
b) Hệ thống cảng cá, bến cá và các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá:
Đầu tư nâng cấp và mở rộng quy mô đối với các cảng và cụm cảng theo Quyết định số 346/QĐ-TTg ngày 15/03/2010 của Thủ Tướng chính phủ phê duyệt quy hoạch hệ thống cảng cá, bến cá đến năm 2020 định hướng đến năm 2030 gồm: cụm cảng Bến Đình, Cát Lở (thành phố Vũng Tàu), cảng Tân Phước (huyện Long Điền), Bến Lội (huyện Xuyên Mộc), Bến Đầm (huyện Côn Đảo) để trở thành trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá của tỉnh.
Tiếp tục nạo vét khai thông luồng lạch tạo điều kiện thuận lợi cho tàu thuyền ra vào nhanh chóng, dễ dàng tại các cửa sông, cửa biển thường xuyên bị bồi đắp như: cửa Lộc An (huyện Đất Đỏ), Cửa Lấp - xã Phước Tỉnh (huyện Long Điền), cửa Bến Lội - xã Bình Châu (huyện Xuyên Mộc), luồng lạch sông Bến Đình, Bến Đá ( thành phố Vũng tàu).
Tập trung đầu tư hoàn thành đưa vào sử dụng 05 khu tránh trú bão tàu cá cấp vùng và cấp tỉnh cụ thể gồm: khu tránh trú bão tàu cá Sông Dinh (thành phố Vũng Tàu); khu tránh trú bão tàu cá Côn Đảo; khu tránh trú bão tàu cá Cửa Lấp (huyện Long Điền); Khu tránh trú bão tàu cá Lộc An (huyện Đất Đỏ); Khu tránh trú bão tàu cá Bến Lội - Bình Châu (huyện Xuyên Mộc).
Xây dựng 02 chợ đầu mối thủy sản tại cảng cá Cát Lở và cụm cảng cá Phước Tỉnh, tiến tới hình thành sàn giao dịch thủy sản tại 02 chợ đầu mối này. Ngoài ra, các chợ cá tại các cảng cá, bến cá và điểm mua bán cá ở các chợ trong dân cũng cần được bố trí sắp xếp lại theo quy hoạch dân cư và đô thị của tỉnh và các địa phương nhằm đảm bảo vệ sinh, mỹ quan, khoa học, thuận tiện cho người mua, người bán. Chú ý đến các chợ cá ở vùng nông thôn xa trung tâm để xóa dần sự cách biệt chênh lệch khả năng tiêu dùng thủy sản giữa các địa phương trong tỉnh.
c) Hệ thống kho lạnh thủy sản:
Đối với hệ thống kho thương mại cần tăng mạnh cả về số lượng và công suất kho để đến năm 2020 đạt tổng số kho là 9 kho với tổng công suất 29.000 m3/tấn/palet; đối với kho lạnh nằm trong các xí nghiệp chế biến cần phát triển thêm 4.000 m3/tấn/palet để đưa tổng công suất lên 14.610 m3/tấn/palet; xây mới khoảng 4 kho lạnh ngoại quan, công suất 8.000 m3/tấn/palet dùng cho tập kết, lưu trữ hàng hóa xuất nhập khẩu.
Vị trí xây dựng các kho lạnh thương mại tại 03 khu chế biến thủy sản tập trung của tỉnh, khu CN Phú Mỹ I và chợ cá đầu mối Phước Tỉnh; đối với kho lạnh ngoại quan bố trí tại các cảng thương mại: Bà Rịa Serece; cảng Interflour, cảng quốc tế Thị Vải, cảng Containner Cái Mép.
IV. Các giải pháp thực hiện quy hoạch:
1. Giải pháp về tổ chức sản xuất:
- Đối với khai thác cần phát triển mạnh hệ thống cảng cá, bến cá để phục vụ tốt cho dịch vụ hậu cần. Đẩy mạnh vận động thành lập các mô hình liên kết hợp tác dưới các hình thức: Tổ hợp tác, Hợp tác xã, các nhóm sản xuất có sự tham gia của ngư dân, doanh nghiệp và nậu vựa nhằm gắn kết các khâu khai thác - dịch vụ hậu cần - thông tin ngư trường, thị trường - bảo vệ ứng cứu trên biển qua đó tăng thời gian bám biển, giảm thất thoát sau thu hoạch, bảo đảm hài hòa lợi ích khi tham gia sản xuất.
- Phát triển hệ thống Chi hội khai thác hải sản theo nghề, theo địa bàn thôn, xã; vận động, đổi mới hoạt động các tổ chức ngư dân hình thành trên cơ sở tập quán, tín ngưỡng của từng địa phương để tổ chức lại sản xuất theo quy định của pháp luật. Tổ chức thí điểm xây dựng mô hình quản lý cộng đồng trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản, trước hết là nguồn lợi nhuyễn thể hai mảnh vỏ.
- Thí điểm xây dựng mô hình quản lý cộng đồng vùng nuôi tập trung để áp dụng Tiêu chuẩn nuôi sạch (GAP, VietGAP), tiêu chuẩn thực hành nuôi tốt nhất (BAP), nuôi sinh thái và các tiêu chuẩn quốc tế khác theo yêu cầu của thị trường; tiếp cận và ứng dụng tiêu chuẩn, quy chế truy xuất nguồn gốc và sử dụng mã số, mã vạch các sản phẩm nuôi, các vùng nuôi.
- Đổi mới hoạt động của Hội nghề cá theo hướng làm tốt vai trò phối hợp, liên kết hoạt động của các doanh nghiệp để thống nhất về điều hành sản xuất, thông tin thị trường; làm đầu mối phát triển thị trường xuất khẩu và tiêu thụ nội địa; tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp, xây dựng thương hiệu dùng chung đối với các sản phẩm thủy sản truyền thống; bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên.
- Khuyến khích phát triển mô hình tổ chức sản xuất có quy mô tích tụ vốn lớn dưới hình thức tập đoàn sản xuất, công ty tư nhân hoạt động trên các lĩnh vực: khai thác và hậu cần dịch vụ ở tuyến khơi, vùng biển công hải và viễn dương; chế biến xuất khẩu; nuôi trồng và sản xuất giống.
2. Giải pháp về cơ chế, chính sách:
Tiếp tục vận dụng tốt các cơ chế, chính sách mà Trung ương và tỉnh đã ban hành trong phát triển nông lâm ngư nghiệp, trong đó xem xét ưu tiên thực hiện các Quyết định, Nghị định sau:
- Quyết định số 126/2005/QĐ-TTg ngày 01/06/2005 về một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy hải sản trên biển và hải đảo.
- Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 23/09/2009 của Chính phủ về cơ chế, chính sách giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản.
- Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản.
- Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 của Chính phủ về Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/06/2010 của Chính phủ về Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
- Quyết định số 57/2010/QĐ-TTg ngày 17/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ về miễn tiền thuê đất đối với các dự án xây dựng kho dự trữ 4 triệu tấn lúa, ngô, kho lạnh bảo quản thủy sản, rau quả và kho tạm trữ cà phê theo quy định.
- Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/06/2002 của Thủ tướng Chính phủ khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng.
- Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg, ngày 13/07/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa.
- Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và Nghị định số 106/2008/NĐ-CP ngày 19/8/2008 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 151/2006/NĐ-CP đối với việc đầu tư mới và đầu tư nâng cấp các cơ sở chế biến thủy sản đủ điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và cơ sở áp dụng công nghệ chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng đạt trình độ tiên tiến.
- Quyết định số 142/2009/QĐ-TTg ngày 31/12/2009 của Thủ Tướng Chính Phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ giống cây trồng vật nuôi, thủy sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh.
- Quyết định số 2194/QĐ-TTg ngày 25/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020 (kèm theo Thông tư liên tịch số 11/2012/TTLT-BNNPTNT-BTC- BKHĐT ngày 01/03/2012 của Liên Bộ NN&PTNT-TC-KHĐT ban hành hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước chi cho Đề án giống, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/04/2012).
Bên cạnh những chính sách của Trung ương, tỉnh sẽ ban hành những chính sách riêng nhằm tháo gỡ những khó khăn và đẩy mạnh sản xuất trong từng điều kiện cụ thể ở địa phương, đặc biệt lưu ý những chính sách cấp bách như đền bù giải phóng mặt bằng các khu chế biến tập trung, chính sách hỗ trợ di dời các cơ sở chế biến, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ chế biến sản phẩm giá trị gia tăng, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng và duy trì vận hành hệ thống xử lý chất thải,... bên cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo ra môi trường hấp dẫn các nhà đầu tư.
3. Giải pháp về khoa học và công nghệ:
- Xây dựng và áp dụng các chương trình quản lý chất lượng theo các tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế và các nước nhập khẩu, như: HACCP, ISO; thực hiện quản lý môi trường theo ISO 14000 nhằm đảm bảo yêu cầu của các thị trường nhập khẩu cũng như cung cấp sản phẩm chất lượng cao cho tiêu dùng trong nước.
- Ưu tiên thực hiện các đề tài ứng dụng gắn với sản xuất, phục vụ sản xuất nhằm thúc đẩy sản xuất, nâng dần tỷ lệ ứng dụng khoa học - công nghệ trong các sản phẩm chủ yếu của ngành. Cụ thể là:
+ Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nghiên cứu trong việc điều tra, dự báo, đánh giá trữ lượng, khả năng khai thác nguồn lợi hải sản, đặc biệt là các loại hải sản có lợi thế của tỉnh như mực, cá nổi, nhuyễn thể,... làm cơ sở cho việc chỉ đạo khai thác, quy hoạch phát triển nghề cá của tỉnh.
+ Tiếp cận và ứng dụng công nghệ hiện đại trong thăm dò, phát hiện đàn cá. Cải tiến các nghề khai thác ven bờ để nâng cao hiệu quả gắn với BVNL thủy sản. Thử nghiệm các nghề khai thác tiên tiến của các nước để đánh bắt các loại hải sản trên tuyến khơi, xa bờ và vùng biển công hải.
+ Ứng dụng quy trình bảo quản sau thu hoạch tiên tiến trên tàu thuyền khai thác xa bờ, tàu thuyền dịch vụ; các cơ sở thu gom, vận chuyển; bảo quản sản phẩm chế biến.
+ Nghiên cứu lắp đặt các máy làm lạnh có công suất nhỏ (tiêu hao dầu ít) nhằm làm lạnh cho lượng đá bảo quản trên tàu, giảm quá trình tan chảy của nước đá.
+ Phát triển công nghệ đóng sửa tàu thuyền, vật liệu mới thay thế gỗ trong đóng sửa tàu thuyền nghề cá (composit, hợp kim nhôm...).
+ Áp dụng công nghệ tiên tiến trong xây dựng công trình nuôi; Công nghệ nuôi sạch, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường.
- Ứng dụng công nghệ mới trong hoạt động sản xuất giống thủy sản nhân tạo, nhất là các giống hải đặc sản biển phục vụ nghề nuôi hướng xuất khẩu.
- Tăng cường liên kết với các Viện nghiên cứu, Trường Đại học để nhận chuyển giao công nghệ chế biến các sản phẩm mới, có giá trị gia tăng cao; Nghiên cứu tận dụng phế thải từ chế biến thủy sản để chế biến thành các sản phẩm có ích (như sản xuất chitin, chitozan từ vỏ tôm, cua; chiết rút dầu cá từ nội tạng cá; chế biến bột đạm cô đặc từ đầu, vây, vảy, nội tạng của các loài thủy sản,...).
- Ứng dụng công nghệ mới trong xử lý nước thải, chất thải ở các khu quy hoạch sản xuất chế biến, sản xuất giống, dịch vụ nghề cá tập trung.
- Đẩy mạnh công tác khuyến ngư, hoạt động thông tin khoa học - kỹ thuật, thương mại chuyên ngành để hỗ trợ các thành phần kinh tế về khoa học, công nghệ, thị trường, định hướng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Ứng dụng thông tin điện tử (lập trang thông tin điện tử chuyên ngành về chế biến xuất khẩu) nắm bắt kịp thời nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng để chủ động đáp ứng, nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm thủy sản của tỉnh trên thị trường trong và ngoài nước.
4. Giải pháp về vốn đầu tư:
Nhu cầu vốn thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thời kỷ 2011-2020 và cơ cấu nguồn vốn thực hiện như sau:

Danh mục

ĐVT

Giai đoạn 2011-2015

Giai đoạn 2016-2020

Thời kỳ 2011-2020

I. Tổng nhu cầu vốn

Tỷ đồng

10.626

13.193

23.819

1. Khai thác

nt

Content:
Chủ động hợp tác quốc tế nhằm thu hút vốn đầu tư, kỹ thuật, công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý và nắm bắt luật pháp quốc tế. Chủ động đối phó và đấu tranh với những tranh chấp, rào cản thương mại do chính sách bảo hộ của các nước nhập khẩu.
II. Mục tiêu phát triển:
1. Mục tiêu tổng quát:
Bà Rịa-Vũng Tàu sẽ trở thành trung tâm lớn về công nghiệp khai thác, dịch vụ hậu cần nghề cá, công nghiệp chế biến, nuôi trồng, sản xuất giống hải sản của vùng Đông Nam Bộ; phát triển thủy sản của tỉnh trở thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả cao, có giá trị xuất khẩu lớn, tạo nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động thủy sản và các nghề liên quan, đặc biệt là khu vực ven biển, hải đảo, đồng thời góp phần bảo đảm an ninh thực phẩm và an ninh quốc phòng trên biển.
2. Mục tiêu cụ thể:
* Đến năm 2015 và giai đoạn 5 năm (2011-2015):
- Tổng giá trị sản xuất thủy sản theo giá cố định 5 năm (2011-2015) đạt 13.258 tỷ đồng, bằng 143% so với giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng bình quân 6,7%/năm. Trong đó:
+ Tổng giá trị sản lượng khai thác thủy sản 5 năm đạt 11.651 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 6,38%/năm.
+ Tổng giá trị sản lượng nuôi trồng thủy sản 5 năm đạt 1.607 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 8,59%/năm.
- Tổng sản lượng thủy sản 5 năm đạt 1.310.000 tấn, bằng 105% so với giai đoạn 2006-2010. Trong đó: tổng sản lượng đánh bắt hải sản 5 năm: 1.195.000 tấn; tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản 5 năm đạt 115.000 tấn.
- Tổng sản phẩm chế biến hải sản xuất khẩu 5 năm: 600.000 tấn, bằng 126% so với giai đoạn 2006-2010.
- Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu hải sản 5 năm: 1 tỷ 750 triệu USD, bằng 150% so với giai đoạn 2006-2010, tăng bình quân 9,0%/năm.
- Giải quyết cho 108.910 lao động có việc làm ổn định, có thu nhập thường xuyên; trong đó phấn đấu 5% có trình độ nghề từ kỹ thuật viên, Trung cấp, Đại học và 70 - 80% lao động được tập huấn kỹ thuật chuyên ngành.
* Đến năm 2020:
- Tổng giá trị sản xuất ngành thủy sản (theo giá cố định 1994) đạt 4.819 tỷ đồng, trong đó khai thác 4.389 tỷ đồng và nuôi trồng là 430 tỷ đồng.
- Tổng sản lượng thủy sản đạt 287.160 tấn, trong đó sản lượng khai thác 260.000 tấn, nuôi trồng là 27.160 tấn.
- Tổng sản lượng thủy sản xuất khẩu đạt 150.000 tấn với giá trị kim ngạch xuất khẩu là 600 triệu USD).
- Giải quyết cho 111.200 lao động có việc làm ổn định, có thu nhập thường xuyên.
III. Quy hoạch phát triển các lĩnh vực của ngành đến năm 2020:
1. Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản:
a) Sản lượng khai thác:
Tăng sản lượng khai thác hải sản đến năm 2015 là 240.000 tấn, khai thác xa bờ chiếm 70%; năm 2020 đạt 260.000 tấn, khai thác xa bờ chiếm 75%. Ổn định sản lượng khai thác hải sản ven bờ ở mức 60.000 - 65.000 tấn/năm.
b) Năng lực tàu thuyền khai thác:
Giảm dần số lượng tàu thuyền đến năm 2015 còn 6.000 chiếc, công suất 750.000 CV, công suất bình quân 125 CV/chiếc; năm 2020 tiếp tục giảm còn 5.000 chiếc, công suất 820.000 CV, công suất bình quân 164 CV/chiếc.
- Cơ cấu tàu thuyền theo nhóm công suất:
+ Tàu cá dưới 20 CV chiếm 20,0% năm 2015 và 14,0% năm 2020;
+ Tàu cá từ 20 CV đến < 50 CV chiếm 20,8% năm 2015 và 13,0% năm 2020;
+ Tàu cá từ 50 CV đến < 90 CV chiếm 9,2% năm 2015 và 8,0% năm 2020;
+ Tàu cá từ 90 CV đến < 150 CV chiếm 10,8% năm 2015 và 14,0% năm 2020;
+ Tàu cá từ 150 CV đến < 400 CV chiếm 27,5% năm 2015 và 36,0% năm 2020;
+ Tàu cá trên 400 CV chiếm 11,7% năm 2015 và 15,0% năm 2020.
c) Nghề nghiệp khai thác:
Đẩy mạnh khai thác xa bờ, giảm dần khai thác gần bờ, chú trọng khai thác các loại hải sản giá trị kinh tế cao, thực hiện tốt bảo quản hải sản sau đánh bắt nâng cao giá trị sản phẩm; tăng cường bảo vệ nguồn lợi hải sản, nghiêm cấm các biện pháp khai thác có tính chất hủy diệt.
Điều chỉnh và sắp xếp theo cơ cấu nghề nhằm khôi phục và nâng cao năng suất đánh bắt phù hợp với đặc điểm ngư trường và mùa vụ khai thác theo hướng hạn chế phát triển nghề lưới kéo và không cho phép đóng mới, mua tàu cá có chiều dài đường nước thiết kế dưới 15m, công suất máy dưới 90 CV.
Khuyến khích, hỗ trợ ngư dân đầu tư phát triển tàu khai thác hải sản xa bờ, trang bị công nghệ hiện đại, từng bước thay vỏ tàu bằng vật liệu mới, bền và tiết kiệm gỗ. Đồng thời duy trì và phát triển những nghề có tính chọn lọc cao, thân thiện với môi trường, trên cơ sở cân đối phù hợp với năng lực tàu thuyền trên các vùng biển và quy định quản lý nghề khai thác trên các tuyến. Tăng tỷ trọng khai thác các loài cá nổi (cá thu, cá ngừ, cá kiếm, cá bạc má, cá nục, cá trích, cá cơm,...). Phát triển các họ nghề: lưới vây, lưới rê, câu; giảm các họ nghề lưới kéo, họ nghề khác.
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nghề cá, luật biển, đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng, thuyền viên, huấn luyện kỹ thuật, kỹ năng ứng dụng trang thiết bị trên tàu cá cho ngư dân. Mở rộng quan hệ hợp tác nghề cá với các nước trong khu vực tạo điều kiện ngư dân tham gia chương trình hợp tác đánh cá giữa Chính phủ Việt Nam với các nước lân cận; kết hợp sản xuất với nhiệm vụ an ninh quốc phòng.
d) Lao động khai thác:
Số lượng lao động khai thác dự kiến giảm xuống còn 35.000 người vào năm 2015 và còn 33.000 người vào năm 2020.
2. Nuôi trồng thủy sản:
a) Nuôi thủy sản nước ngọt:
Phát triển nuôi thủy sản nước ngọt trong nội đồng ở các huyện trong tỉnh, nằm chủ yếu toàn bộ huyện Châu Đức, một phần huyện Tân Thành, huyện Long Điền, huyện Đất Đỏ, huyện Xuyên Mộc, thành phố Bà Rịa,... thuộc các ao, hồ nhỏ ở trong hộ dân và các hệ thống hồ chứa lớn dùng tưới tiêu cho nông nghiệp. Đến năm 2015 diện tích nuôi nước ngọt đạt 2.098 ha, sản lượng 4.070 tấn; năm 2020 diện tích 2.540 ha, sản lượng 5.190 tấn.
Các đối tượng: cá lóc, cá trê, cá rô phi đơn tính, cá rô đồng, cá mè, cá trôi, cá trắm, cá chép và các loại thủy đặc sản như: lươn, baba, ếch,... dưới các hình thức: nuôi cá ao, hồ nhỏ, nuôi cá ruộng trũng và nuôi mặt nước lớn kết hợp với các hồ chứa nước tưới tiêu cho nông nghiệp.
b) Nuôi thủy sản nước lợ mặn:
Vùng nuôi tập trung chủ yếu tại các hạ lưu sông Thị Vải (thuộc xã Phước Hòa, xã Hội Bài) huyện Tân Thành; sông Dinh (phường Long Hương) thành phố Bà Rịa; hạ lưu sông Ray nằm các huyện Đất Đỏ (xã lộc An, xã Láng Dài), huyện Xuyên Mộc (xã Phước Thuận, xã Bình Châu) và một phần của các huyện Long Điền (xã An Ngãi, xã Phước Hưng); thành phố Vũng Tàu (phường 12, xã Long Sơn) và huyện Côn Đảo. Vùng này cho phép phát triển toàn diện, tập trung chủ yếu vào nuôi trồng thủy sản lợ, mặn, đối tượng chủ lực là con tôm.
Diện tích nuôi nước lợ mặn đến năm 2015 còn 5.142 ha và năm 2020 còn 3.860 ha. Trong đó giảm dần các hình thức: nuôi tôm BTC, QCCT, nuôi sinh thái (tôm-rừng), chú trọng phát triển nuôi tôm chân trắng, nuôi cá mặn lợ; ổn định diện tích nuôi tôm sú thâm canh khoảng 570 ha/năm; tăng dần diện tích nuôi nhuyễn thể (sò huyết, hàu). Sản lượng nuôi lợ mặn đạt 19.090 tấn năm 2015 và 19.850 tấn năm 2020.
c) Nuôi biển:
Phát triển nuôi lồng bè tại xã Long Sơn (thành phố Vũng Tàu) và Côn Đảo, với các đối tượng chính là cá mú, cá chim và cá giò. Đến năm 2015 tăng số lồng lên 4.600 chiếc, sản lượng 1.840 tấn; năm 2020 là 5.300 lồng, sản lượng 2.120 tấn. Diện tích nuôi cá biển và sinh vật cảnh đến 2020 là 500 ha; nuôi trai lấy ngọc đến năm 2020 là 100 ha.
d) Lao động nuôi trồng thủy sản:
Nhu cầu lao động nuôi trồng thủy sản năm 2015 khoảng 8.910 người và năm 2020 khoảng 8.200 người. Đối với các mô hình nuôi công nghệ cao cần thu hút lao động có trình độ về chuyên môn để có khả năng tiếp cận nhanh với những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới.
3. Chế biến và tiêu thụ thủy sản:
a) Sản lượng chế biến và cơ cấu mặt hàng:
Đến năm 2015, tổng sản lượng chế biến đạt 175.000 tấn, trong đó xuất khẩu 125.000 tấn, nội địa 50.000 tấn. Đến năm 2020, tổng sản lượng chế biến đạt 200.000 tấn, trong đó xuất khẩu chiếm 75%, còn lại là tiêu thụ nội địa. Phát triển các nhóm sản phẩm chủ lực sau:
- Nhóm hàng đông lạnh và đồ hộp: đây vẫn sẽ là nhóm hàng xuất khẩu chính của tỉnh trong thời gian tới, với tổng sản lượng đạt 118.120 tấn vào năm 2015 và đạt 137.600 tấn vào năm 2020.
- Bột cá: sản lượng đạt 30.000 tấn năm 2015, đến năm 2020 tăng sản lượng bột cá lên 35.000 tấn.
- Nhóm hàng khô: sản lượng chế biến khô đạt 26.880 tấn năm 2015, tăng lên 27.400 tấn năm 2020. Chú trọng xây dựng thương hiệu cho tôm khô, mực khô và một số sản phẩm cá khô khác cho Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Nước mắm: duy trì sản lượng nước mắm 12 triệu lít/năm từ nay đến giai đoạn 2015-2020. Cần nâng cao chất lượng nước mắm của tỉnh để có thể cạnh tranh với các thương hiệu nước mắm khác có uy tín trên thị trường.
b) Xuất khẩu thủy sản:
Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường. Chú trọng ổn định các thị trường trọng điểm của tỉnh là: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, EU, Mỹ và Ôxtrâylia.
Nâng tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tỉnh đến năm 2015 đạt 400 triệu USD, năm 2020 đạt 600 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 9,0%.
c) Nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến và tiêu thụ:
Tổng nhu cầu nguyên liệu phục vụ chế biến đến năm 2015 khoảng 480.884 tấn, trong đó cá các loại 353.200 tấn, tôm các loại 11.564 tấn, mực và bạch tuộc 43.170 tấn và thủy sản khác 72.950 tấn. Năm 2020 tổng nhu cầu nguyên liệu khoảng 542.220 tấn, trong đó cá các loại 384.850 tấn, tôm 16.020 tấn, mực và bạch tuộc 50.100 tấn và thủy sản khác 91.250 tấn.
Tăng cường công tác bảo quản sản phẩm từ khai thác và nuôi trồng để nâng tỷ trọng nguyên liệu của tỉnh có thể đưa vào chế biến đạt khoảng 60% năm 2015 và khoảng 70% vào năm 2020.
Các doanh nghiệp cần chủ động mở rộng kênh thu hút nguyên liệu từ ngoài tỉnh (chiếm khoảng 40% tổng nhu cầu), trong đó tỉnh sẽ tiếp tục thực hiện cơ chế khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu (khoảng 20%) nguyên liệu từ nước ngoài để chế biến tái xuất khẩu theo các chủ trương và hướng dẫn của Bộ chuyên ngành. Lưu ý: không cho phép mua nguyên liệu hải sản từ các địa phương khác vào tỉnh để chế biến bột cá.
d) Lao động chế biến:
Phát triển chế biến thủy sản góp phần tạo việc làm, tăng thêm thu nhập, nâng cao mức sống cho người lao động. Nhu cầu lao động chế biến đến năm 2015 là khoảng 65.000 người và con số này năm 2020 khoảng 70.000 người.
4. Dịch vụ thủy sản:
a) Cơ khí đóng, sửa tàu cá:
Từng bước hiện đại hóa các cơ sở đóng sửa tàu thuyền hiện có, thu hút các doanh nghiệp đóng tàu bằng vật liệu mới đầu tư tại các vùng trọng điểm nghề cá ở thành phố Vũng Tàu; các huyện: Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, đáp ứng nhu cầu sửa chữa, đóng mới các loại tàu cá trong tỉnh và các tỉnh lân cận.
b) Cung ứng nước đá, nhiên liệu, vật tư nghề cá:
Phát triển đồng bộ hệ thống dịch vụ nghề cá gắn với kết cấu hạ tầng cảng, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá tại các địa phương. Bố trí hợp lý mặt bằng thực hiện cung ứng các dịch vụ thiết yếu như nhiên liệu, nước đá, vật tư nghề cá và các nhu cầu khác.
Duy trì và phát triển các nhà máy sản xuất nước đá đảm bảo vệ sinh để cung ứng cho tàu thuyền trong và ngoài tỉnh bảo quản thủy sản với sản lượng nước đá đến năm 2015 khoảng 440.000 tấn và năm 2020 khoảng 480.000 tấn.
Phát triển mạnh loại hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển đội tàu thu mua trực tiếp hải sản trên biển, với số lượng đến năm 2020 khoảng 50 chiếc/30.000 CV, thu mua khoảng 40% tổng sản lượng khai thác hải sản của tỉnh và đầu tư 2 tàu chế biến với công suất 8.000 CV, tải trọng 12.000 Dwt, khả năng chế biến từ 20.000 - 30.000 tấn sản phẩm/năm.
c) Dịch vụ cung ứng giống thủy sản:
Sản xuất giống đến năm 2020 khoảng 2.777 triệu con giống các loại. Trong đó: Giống tôm sú là 1.800 triệu con, đáp ứng trên 100%; giống tôm chân trắng 900 triệu con, đáp ứng trên 100%; giống cá biển là 7 triệu con, đáp ứng là 76,1%; giống cá nước ngọt là 50 triệu con, đáp ứng 55% nhu cầu nuôi trong tỉnh.
Sớm quy hoạch và đầu tư hoàn thành khu sản xuất giống tập trung xã Phước Hải, huyện Đất Đỏ (109,02 ha) để di dời các trại giống nằm trên địa bàn phường 12, thành phố Vũng Tàu và Thị trấn Long Hải, huyện Long Điền không thuộc vùng quy hoạch phát triển giống vào khu này. Đồng thời, khẩn trương đầu tư xây dựng Trại thực nghiệm sản xuất giống nước ngọt xã Phước Hội, huyện Đất Đỏ (3,27 ha) để cung cấp giống thủy sản cho người nuôi trong và ngoài tỉnh có nhu cầu về giống thủy sản nước ngọt.
Kết cấu hạ tầng nghề cá:
a) Hạ tầng các khu chế biến tập trung:
- Sớm hình thành 03 khu chế biến thủy sản tại khu vực gò Ông Sầm, phường 12 (thành phố Vũng Tàu); tại xã Lộc An (huyện Đất Đỏ) và tại khu vực ấp Thèo Lèo, xã Bình Châu (huyện Xuyên Mộc) để thực hiện di dời toàn bộ các nhà máy nằm gần các khu dân cư, khu đô thị, khu du lịch ở các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh vào khu chế biến tạo tiền đề để đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ, đổi mới trang thiết bị, hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường. Không cho phép đầu tư xây dựng mới thêm các nhà máy chế biến bột cá.
- Tăng cường đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, hiện đại hóa trang thiết bị kỹ thuật, đổi mới dây chuyền công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mặt hàng, chuyển dần từ chế biến thô sang chế biến tinh, cải tiến mẫu mã bao bì sản phẩm gắn với việc xây dựng và quảng bá thương hiệu của tỉnh cho các nhóm sản phẩm chủ lực mực, bạch tuộc, cá, ghẹ, tôm,...
b) Hệ thống cảng cá, bến cá và các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá:
Đầu tư nâng cấp và mở rộng quy mô đối với các cảng và cụm cảng theo Quyết định số 346/QĐ-TTg ngày 15/03/2010 của Thủ Tướng chính phủ phê duyệt quy hoạch hệ thống cảng cá, bến cá đến năm 2020 định hướng đến năm 2030 gồm: cụm cảng Bến Đình, Cát Lở (thành phố Vũng Tàu), cảng Tân Phước (huyện Long Điền), Bến Lội (huyện Xuyên Mộc), Bến Đầm (huyện Côn Đảo) để trở thành trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá của tỉnh.
Tiếp tục nạo vét khai thông luồng lạch tạo điều kiện thuận lợi cho tàu thuyền ra vào nhanh chóng, dễ dàng tại các cửa sông, cửa biển thường xuyên bị bồi đắp như: cửa Lộc An (huyện Đất Đỏ), Cửa Lấp - xã Phước Tỉnh (huyện Long Điền), cửa Bến Lội - xã Bình Châu (huyện Xuyên Mộc), luồng lạch sông Bến Đình, Bến Đá ( thành phố Vũng tàu).
Tập trung đầu tư hoàn thành đưa vào sử dụng 05 khu tránh trú bão tàu cá cấp vùng và cấp tỉnh cụ thể gồm: khu tránh trú bão tàu cá Sông Dinh (thành phố Vũng Tàu); khu tránh trú bão tàu cá Côn Đảo; khu tránh trú bão tàu cá Cửa Lấp (huyện Long Điền); Khu tránh trú bão tàu cá Lộc An (huyện Đất Đỏ); Khu tránh trú bão tàu cá Bến Lội - Bình Châu (huyện Xuyên Mộc).
Xây dựng 02 chợ đầu mối thủy sản tại cảng cá Cát Lở và cụm cảng cá Phước Tỉnh, tiến tới hình thành sàn giao dịch thủy sản tại 02 chợ đầu mối này. Ngoài ra, các chợ cá tại các cảng cá, bến cá và điểm mua bán cá ở các chợ trong dân cũng cần được bố trí sắp xếp lại theo quy hoạch dân cư và đô thị của tỉnh và các địa phương nhằm đảm bảo vệ sinh, mỹ quan, khoa học, thuận tiện cho người mua, người bán. Chú ý đến các chợ cá ở vùng nông thôn xa trung tâm để xóa dần sự cách biệt chênh lệch khả năng tiêu dùng thủy sản giữa các địa phương trong tỉnh.
c) Hệ thống kho lạnh thủy sản:
Đối với hệ thống kho thương mại cần tăng mạnh cả về số lượng và công suất kho để đến năm 2020 đạt tổng số kho là 9 kho với tổng công suất 29.000 m3/tấn/palet; đối với kho lạnh nằm trong các xí nghiệp chế biến cần phát triển thêm 4.000 m3/tấn/palet để đưa tổng công suất lên 14.610 m3/tấn/palet; xây mới khoảng 4 kho lạnh ngoại quan, công suất 8.000 m3/tấn/palet dùng cho tập kết, lưu trữ hàng hóa xuất nhập khẩu.
Vị trí xây dựng các kho lạnh thương mại tại 03 khu chế biến thủy sản tập trung của tỉnh, khu CN Phú Mỹ I và chợ cá đầu mối Phước Tỉnh; đối với kho lạnh ngoại quan bố trí tại các cảng thương mại: Bà Rịa Serece; cảng Interflour, cảng quốc tế Thị Vải, cảng Containner Cái Mép.
IV. Các giải pháp thực hiện quy hoạch:
1. Giải pháp về tổ chức sản xuất:
- Đối với khai thác cần phát triển mạnh hệ thống cảng cá, bến cá để phục vụ tốt cho dịch vụ hậu cần. Đẩy mạnh vận động thành lập các mô hình liên kết hợp tác dưới các hình thức: Tổ hợp tác, Hợp tác xã, các nhóm sản xuất có sự tham gia của ngư dân, doanh nghiệp và nậu vựa nhằm gắn kết các khâu khai thác - dịch vụ hậu cần - thông tin ngư trường, thị trường - bảo vệ ứng cứu trên biển qua đó tăng thời gian bám biển, giảm thất thoát sau thu hoạch, bảo đảm hài hòa lợi ích khi tham gia sản xuất.
- Phát triển hệ thống Chi hội khai thác hải sản theo nghề, theo địa bàn thôn, xã; vận động, đổi mới hoạt động các tổ chức ngư dân hình thành trên cơ sở tập quán, tín ngưỡng của từng địa phương để tổ chức lại sản xuất theo quy định của pháp luật. Tổ chức thí điểm xây dựng mô hình quản lý cộng đồng trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản, trước hết là nguồn lợi nhuyễn thể hai mảnh vỏ.
- Thí điểm xây dựng mô hình quản lý cộng đồng vùng nuôi tập trung để áp dụng Tiêu chuẩn nuôi sạch (GAP, VietGAP), tiêu chuẩn thực hành nuôi tốt nhất (BAP), nuôi sinh thái và các tiêu chuẩn quốc tế khác theo yêu cầu của thị trường; tiếp cận và ứng dụng tiêu chuẩn, quy chế truy xuất nguồn gốc và sử dụng mã số, mã vạch các sản phẩm nuôi, các vùng nuôi.
- Đổi mới hoạt động của Hội nghề cá theo hướng làm tốt vai trò phối hợp, liên kết hoạt động của các doanh nghiệp để thống nhất về điều hành sản xuất, thông tin thị trường; làm đầu mối phát triển thị trường xuất khẩu và tiêu thụ nội địa; tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp, xây dựng thương hiệu dùng chung đối với các sản phẩm thủy sản truyền thống; bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên.
- Khuyến khích phát triển mô hình tổ chức sản xuất có quy mô tích tụ vốn lớn dưới hình thức tập đoàn sản xuất, công ty tư nhân hoạt động trên các lĩnh vực: khai thác và hậu cần dịch vụ ở tuyến khơi, vùng biển công hải và viễn dương; chế biến xuất khẩu; nuôi trồng và sản xuất giống.
2. Giải pháp về cơ chế, chính sách:
Tiếp tục vận dụng tốt các cơ chế, chính sách mà Trung ương và tỉnh đã ban hành trong phát triển nông lâm ngư nghiệp, trong đó xem xét ưu tiên thực hiện các Quyết định, Nghị định sau:
- Quyết định số 126/2005/QĐ-TTg ngày 01/06/2005 về một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy hải sản trên biển và hải đảo.
- Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 23/09/2009 của Chính phủ về cơ chế, chính sách giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản.
- Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản.
- Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 của Chính phủ về Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/06/2010 của Chính phủ về Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
- Quyết định số 57/2010/QĐ-TTg ngày 17/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ về miễn tiền thuê đất đối với các dự án xây dựng kho dự trữ 4 triệu tấn lúa, ngô, kho lạnh bảo quản thủy sản, rau quả và kho tạm trữ cà phê theo quy định.
- Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/06/2002 của Thủ tướng Chính phủ khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng.
- Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg, ngày 13/07/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa.
- Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và Nghị định số 106/2008/NĐ-CP ngày 19/8/2008 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 151/2006/NĐ-CP đối với việc đầu tư mới và đầu tư nâng cấp các cơ sở chế biến thủy sản đủ điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và cơ sở áp dụng công nghệ chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng đạt trình độ tiên tiến.
- Quyết định số 142/2009/QĐ-TTg ngày 31/12/2009 của Thủ Tướng Chính Phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ giống cây trồng vật nuôi, thủy sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh.
- Quyết định số 2194/QĐ-TTg ngày 25/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020 (kèm theo Thông tư liên tịch số 11/2012/TTLT-BNNPTNT-BTC- BKHĐT ngày 01/03/2012 của Liên Bộ NN&PTNT-TC-KHĐT ban hành hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước chi cho Đề án giống, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/04/2012).
Bên cạnh những chính sách của Trung ương, tỉnh sẽ ban hành những chính sách riêng nhằm tháo gỡ những khó khăn và đẩy mạnh sản xuất trong từng điều kiện cụ thể ở địa phương, đặc biệt lưu ý những chính sách cấp bách như đền bù giải phóng mặt bằng các khu chế biến tập trung, chính sách hỗ trợ di dời các cơ sở chế biến, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ chế biến sản phẩm giá trị gia tăng, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng và duy trì vận hành hệ thống xử lý chất thải,... bên cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo ra môi trường hấp dẫn các nhà đầu tư.
3. Giải pháp về khoa học và công nghệ:
- Xây dựng và áp dụng các chương trình quản lý chất lượng theo các tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế và các nước nhập khẩu, như: HACCP, ISO; thực hiện quản lý môi trường theo ISO 14000 nhằm đảm bảo yêu cầu của các thị trường nhập khẩu cũng như cung cấp sản phẩm chất lượng cao cho tiêu dùng trong nước.
- Ưu tiên thực hiện các đề tài ứng dụng gắn với sản xuất, phục vụ sản xuất nhằm thúc đẩy sản xuất, nâng dần tỷ lệ ứng dụng khoa học - công nghệ trong các sản phẩm chủ yếu của ngành. Cụ thể là:
+ Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nghiên cứu trong việc điều tra, dự báo, đánh giá trữ lượng, khả năng khai thác nguồn lợi hải sản, đặc biệt là các loại hải sản có lợi thế của tỉnh như mực, cá nổi, nhuyễn thể,... làm cơ sở cho việc chỉ đạo khai thác, quy hoạch phát triển nghề cá của tỉnh.
+ Tiếp cận và ứng dụng công nghệ hiện đại trong thăm dò, phát hiện đàn cá. Cải tiến các nghề khai thác ven bờ để nâng cao hiệu quả gắn với BVNL thủy sản. Thử nghiệm các nghề khai thác tiên tiến của các nước để đánh bắt các loại hải sản trên tuyến khơi, xa bờ và vùng biển công hải.
+ Ứng dụng quy trình bảo quản sau thu hoạch tiên tiến trên tàu thuyền khai thác xa bờ, tàu thuyền dịch vụ; các cơ sở thu gom, vận chuyển; bảo quản sản phẩm chế biến.
+ Nghiên cứu lắp đặt các máy làm lạnh có công suất nhỏ (tiêu hao dầu ít) nhằm làm lạnh cho lượng đá bảo quản trên tàu, giảm quá trình tan chảy của nước đá.
+ Phát triển công nghệ đóng sửa tàu thuyền, vật liệu mới thay thế gỗ trong đóng sửa tàu thuyền nghề cá (composit, hợp kim nhôm...).
+ Áp dụng công nghệ tiên tiến trong xây dựng công trình nuôi; Công nghệ nuôi sạch, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường.
- Ứng dụng công nghệ mới trong hoạt động sản xuất giống thủy sản nhân tạo, nhất là các giống hải đặc sản biển phục vụ nghề nuôi hướng xuất khẩu.
- Tăng cường liên kết với các Viện nghiên cứu, Trường Đại học để nhận chuyển giao công nghệ chế biến các sản phẩm mới, có giá trị gia tăng cao; Nghiên cứu tận dụng phế thải từ chế biến thủy sản để chế biến thành các sản phẩm có ích (như sản xuất chitin, chitozan từ vỏ tôm, cua; chiết rút dầu cá từ nội tạng cá; chế biến bột đạm cô đặc từ đầu, vây, vảy, nội tạng của các loài thủy sản,...).
- Ứng dụng công nghệ mới trong xử lý nước thải, chất thải ở các khu quy hoạch sản xuất chế biến, sản xuất giống, dịch vụ nghề cá tập trung.
- Đẩy mạnh công tác khuyến ngư, hoạt động thông tin khoa học - kỹ thuật, thương mại chuyên ngành để hỗ trợ các thành phần kinh tế về khoa học, công nghệ, thị trường, định hướng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Ứng dụng thông tin điện tử (lập trang thông tin điện tử chuyên ngành về chế biến xuất khẩu) nắm bắt kịp thời nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng để chủ động đáp ứng, nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm thủy sản của tỉnh trên thị trường trong và ngoài nước.
4. Giải pháp về vốn đầu tư:
Nhu cầu vốn thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thời kỷ 2011-2020 và cơ cấu nguồn vốn thực hiện như sau:

Danh mục

ĐVT

Giai đoạn 2011-2015

Giai đoạn 2016-2020

Thời kỳ 2011-2020

I. Tổng nhu cầu vốn

Tỷ đồng

10.626

13.193

23.819

1. Khai thác

nt