Document: Điểm d Khoản 4 Điều 1 Quyết định 3239/QĐ-UBND 2021 Phương án bảo tồn Vườn Quốc gia Bến En tỉnh Thanh Hóa

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "23/08/2021", "sign_number": "3239/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Giang", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "23/08/2021", "sign_number": "3239/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Giang", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "23/08/2021", "sign_number": "3239/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Giang", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "23/08/2021", "sign_number": "3239/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Giang", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "23/08/2021", "sign_number": "3239/QĐ-UBND", "signer": "Lê Đức Giang", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 4 Điều 1 Quyết định 3239/QĐ-UBND 2021 Phương án bảo tồn Vườn Quốc gia Bến En tỉnh Thanh Hóa

Điều 1. Phê duyệt Phương án bảo tồn và phát triển bền vững Vườn Quốc gia Bến En, giai đoạn 2021 - 2030, với các nội dung chính như sau:
...
4. Nội dung và các hoạt động chính
4.1. Kế hoạch sử dụng đất
Hệ sinh thái Vườn Quốc gia Bến En bao gồm hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái đất ngập nước trong thể thống nhất không thể tách rời theo xác lập các phân khu tại Quyết định số 33/CT, ngày 27/01/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), có tổng diện tích là 14.305,09ha; trong đó:
- Hệ sinh thái trên cạn: 12.197,10ha (đất rừng đặc dụng 11.274,78ha; đất rừng sản xuất 366,65ha; đất ngoài quy hoạch 555,67ha).
- Hệ sinh thái mặt nước: 2.107,99ha với định hướng quy hoạch là đất rừng đặc dụng.
Trong kỳ kế hoạch sử dụng đất, định hướng điều chỉnh giữa các loại rừng đảm bảo phù hợp với hiện trạng, tình hình thực tế; việc điều chỉnh dựa trên nguyên tắc phù hợp với pháp luật đất đai, pháp luật lâm nghiệp; bám sát định hướng phát triển theo Nghị quyết 58-NQ/TW ngày 05/8/2020 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hoá đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Chương trình hành động của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá thực hiện Nghị quyết 58-NQ/TW; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020-2025 với định hướng sử dụng đất cụ thể:
...
d) Sản xuất, gieo ươm cây giống
- Sản xuất cây giống bản địa, cây giống phục vụ trồng rừng; thực nghiệm, ứng dụng các công nghệ tiên tiến để tạo giống trong hoạt động nghiên cứu, bảo tồn, chuyển giao giống; sản xuất cây cảnh quan, đô thị.
- Hàng năm, Ban quản lý Vườn Quốc gia Bến En xây dựng kế hoạch sản xuất giống, tạo giống lâm nghiệp với quy mô trên 10 vạn cây giống các loại; ưu tiên sản xuất, tạo giống bản địa như: Lim xanh, Vù hương, Giổi, Lát hoa, Keo, Muồng, Mai vàng, Tường vi, Móng bò, Bò khai, rau Sắng, Khôi tía, Thiên niên kiện, Hoài sơn, Thổ phục linh ....
4.2.6. Kế hoạch, nội dung thực hiện đồng quản lý
- Thực hiện các giải pháp khai thác tiềm năng của rừng, phát triển lâm đặc sản, dược liệu dưới tán rừng; phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ, tạo các nguồn thu để tái đầu tư bảo vệ rừng (phạm vi thực hiện là tại phân khu phục hồi sinh thái và phân khu dịch vụ hành chính; dự kiến khoảng 2.500ha). Ban quản lý Vườn Quốc gia Bến En xây dựng phương án trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt dựa trên nguyên tắc đảm bảo bền vững, hài hoà về kinh tế - xã hội và môi trường để tổ chức thực hiện đồng quản lý.
- Hạn chế tối đa việc khai thác lâm sản, chỉ được khai thác lâm sản bền vững theo quy định của Luật Lâm nghiệp năm 2017 và khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Thực hiện cơ chế chia sẻ hưởng lợi ích từ rừng đối với cộng đồng, người dân địa phương khi tham gia vào các hoạt động lâm nghiệp (nhận khoán bảo vệ rừng, các hoạt động lâm sinh ...) thông qua hợp đồng khoán.
4.2.7. Kế hoạch khai thác lâm sản
Hạn chế tối đa việc khai thác lâm sản trong rừng đặc dụng; chỉ khai thác trong các trường hợp đáp ứng đủ các điều kiện, đối tượng theo Điều 52 Luật lâm nghiệp, Nghị định số 156/2018/NĐ-CP của Chính phủ và các quy định của pháp luật khác có liên quan.
4.2.8. Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, thực tập, đào tạo nguồn nhân lực
a) Công tác nghiên cứu khoa học
- Tập trung nghiên cứu ứng dụng, trọng tâm là bảo tồn các loài động, thực vật quý, hiếm, nguy cấp, loài ưu tiên bảo vệ, loài cung cấp dược liệu, loài có giá trị kinh tế và kết hợp phát triển tài nguyên góp phần cải thiện sinh kế của người dân vùng đệm. Nghiên cứu, di thực, dẫn giống, cứu hộ, lưu giữ ngoài tự nhiên, trong bảo tàng phục vụ truyền thông, học tập, nghiên cứu, giáo dục.
- Xây dựng, nâng cấp, cải tạo, bổ sung dữ liệu, mẫu vật, hiện vật và nâng cao chất lượng hoạt động Nhà bảo tàng Vườn Quốc gia Bến En.
b) Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực.
Tập huấn, ứng dụng công nghệ GIS; tập huấn nâng cao kỹ năng bảo tồn và giám sát đa dạng sinh học; tập huấn nghiệp vụ cho lực lượng Kiểm lâm về thực thi pháp luật Lâm nghiệp, công tác điều tra, xử lý vi phạm. Đào tạo cán bộ sau đại học; huấn luyện nghiệp vụ cho tổ, đội quản lý bảo vệ rừng (10 cuộc, bình quân 01 cuộc/năm).
4.2.9. Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí: Lập, thẩm định, trình phê duyệt Đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí Vườn Quốc gia Bến En, giai đoạn 2021 - 2030.
4.2.10. Xây dựng hạ tầng phục vụ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng
Tiếp tục thực hiện dự án Xây dựng cơ sở hạ tầng Vườn Quốc gia Bến En” giai đoạn thực hiện 2016 - 2020 (đã được Hội đồng Nhân dân tỉnh chấp thuận chủ trương tại Văn bản số 482b/CV-HĐND, ngày 30/10/2015 và chuyển tiếp thực hiện giai đoạn 2021 - 2025).
Đề xuất mới xây dựng, sửa chữa, nâng cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng đảm bảo phục vụ tốt cho công tác quản lý, thực thi nhiệm vụ theo mục tiêu phát triển của đơn vị đến năm 2030.
4.2.11. Hoạt động dịch vụ cho cộng đồng.
- Phát triển du lịch cộng đồng tại địa phương; tổ chức cho người dân tham gia thực hiện các mô hình phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng kế hoạch cho người dân tham gia nhận khoán thực hiện công tác phát triển rừng và xây dựng các công trình phục hồi sinh thái.
- Căn cứ từng loại hình dịch vụ cụ thể để tổ chức thực hiện, đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế, đúng quy định của pháp luật như: Khoán công việc và bàn giao sản phẩm theo thỏa thuận; làm việc theo sự hướng dẫn và được nhận tiền công nhật theo thỏa thuận; người dân được chuyển giao kỹ thuật và tự tổ chức thực hiện các mô hình; người dân tự sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ văn hóa cho du khách theo cơ chế thị trường.
4.2.12. Hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng, thuê môi trường rừng
- Chi trả dịch vụ môi trường rừng: Tiếp tục triển khai hiệu quả nhiệm vụ chi trả dịch vụ môi trường rừng lưu vực lòng hồ sông Mực do Nhà máy thủy điện Sông Mực chi trả với diện tích lưu vực thuộc đối tượng rừng đặc dụng khoảng 10.800ha.
- Cho thuê môi trường rừng: Triển khai thực hiện cho thuê môi trường rừng (khoảng 900ha); kinh doanh du lịch sinh thái (khoảng trên 700ha); nuôi trồng phát triển cây dược liệu (khoảng 150ha) khi được phê duyệt.
- Cho thuê mặt nước để nuôi trồng và khai thác thủy hải sản: Tiếp tục thực hiện đề án cho thuê mặt nước theo phê duyệt của cấp thẩm quyền với diện tích 1.500ha.
- Chi trả dịch vụ hấp thụ cacbon: Xác định phạm vi, đối tượng, trạng thái rừng áp dụng; xác định mức giá dịch vụ đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của các bên tham gia khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt thực hiện (dự kiến có khoảng 11.100ha rừng).
4.2.13. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng
- Tổ chức hoạt động ngoại khóa và các câu lạc bộ để tổ chức tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học cho các trường học, trung tâm là duy trì hoạt động ở 10 Trường Trung học cơ sở trên địa bàn hàng năm.
- Đào tạo, nâng cao nhận thức, phổ biến kiến thức pháp luật quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học cho cán bộ xã, thôn, bản và người dân, bình quân 50 lượt người/năm.
- Tuyên truyền cho người dân vùng đệm Vườn Quốc gia Bến En, bình quân 2.720 lượt người/năm (34 cuộc/năm, bình quân 80 người/cuộc); xây dựng các pano, poster ... tuyên truyền.
- Đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho các tổ đội bảo vệ rừng, bình quân 100 lượt người/năm.
- Phối hợp, tổ chức các 10 cuộc thi tìm hiểu về rừng, bảo vệ môi trường sống trong các trường học trên địa bàn vùng đệm Vườn Quốc gia Bến En.
4.2.1Theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, đa dạng sinh học; điều tra, kiểm kê rừng.
- Thường xuyên thực hiện theo dõi diễn biến tài nguyên rừng theo Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT , ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kịp thời cập nhật chính xác đầy đủ thông tin về số lượng, chất lượng cũng như dự đoán xu hướng diễn biến tài nguyên rừng.
- Điều tra, kiểm kê rừng: Điều tra, đánh giá trữ lượng từng loại trạng thái rừng theo hệ thống ô tiêu chuẩn cố định 05 năm/lần đối với rừng tự nhiên; kiểm tra hiện trường để hiệu chỉnh vị trí, ranh giới và những thông tin thuộc tính vào từng lô kiểm kê trên bản đồ số trong trường hợp có sự thay đổi; biên tập và hoàn thiện bản đồ kiểm kê rừng cấp xã, lập hồ sơ quản lý rừng theo quy định.
- Theo dõi diễn biến quần thể một số loài (loài quý hiếm, đặc hữu, loài ưu tiên bảo vệ); giám sát động, thực vật rừng; giám sát các nguy cơ, tác động của giao thông, du lịch; giám sát chăn thả gia súc, săn bắn động vật hoang dã ... Cập nhật, bổ sung khi biến động trạng thái rừng, trồng rừng, diễn thế hệ sinh thái; phát hiện mới các loài động vật, thực vật rừng phục vụ công tác bảo tồn.
- Thực hiện điều tra đánh giá biến động tài nguyên và cập nhật hồ sơ tiểu khu hàng năm; ứng dụng khoa học - kỹ thuật để quan trắc, phát hiện cháy rừng và giám sát tài nguyên từng trong Vườn Quốc gia Bến En.
4.2.15. Rà soát xác định và hỗ trợ phát triển vùng đệm.
Phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nước để thu hút các dự án, mô hình sản xuất, chương trình khuyến nông, khuyến lâm, các công trình thủy lợi để khai hoang sản xuất. Các hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực phát triển sản xuất vùng đệm như:
- Tổ chức các lớp tập huấn, lập kế hoạch định hướng phát triển kinh tế thôn (bản).
- Hướng dẫn các hộ dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, thâm canh tăng vụ trên đất nông nghiệp, sử dụng giống mới, kỹ thuật thâm canh để tăng năng suất, tăng giá trị sản xuất nông nghiệp.
- Hỗ trợ người dân các mô hình sản xuất; phát triển ngành nghề thủ công, đan lát, thêu thùa, dệt thổ cẩm...
- Thu hút người dân tham gia vào các hoạt động dịch vụ du lịch sinh thái như: nhà nghỉ cộng đồng, làm người đưa đường, các dịch vụ khác ...
- Hỗ trợ vật liệu xây dựng cho thôn bản (đối với các công trình công cộng của cộng đồng như nước sạch, điện chiếu sáng, thông tin liên lạc, đường giao thông thôn bản, nhà văn hóa ...).
(Chi tiết các thôn vùng đệm có Phụ biểu số VIII kèm theo)

Content:
Sản xuất, gieo ươm cây giống
- Sản xuất cây giống bản địa, cây giống phục vụ trồng rừng; thực nghiệm, ứng dụng các công nghệ tiên tiến để tạo giống trong hoạt động nghiên cứu, bảo tồn, chuyển giao giống; sản xuất cây cảnh quan, đô thị.
- Hàng năm, Ban quản lý Vườn Quốc gia Bến En xây dựng kế hoạch sản xuất giống, tạo giống lâm nghiệp với quy mô trên 10 vạn cây giống các loại; ưu tiên sản xuất, tạo giống bản địa như: Lim xanh, Vù hương, Giổi, Lát hoa, Keo, Muồng, Mai vàng, Tường vi, Móng bò, Bò khai, rau Sắng, Khôi tía, Thiên niên kiện, Hoài sơn, Thổ phục linh ....
4.2.6. Kế hoạch, nội dung thực hiện đồng quản lý
- Thực hiện các giải pháp khai thác tiềm năng của rừng, phát triển lâm đặc sản, dược liệu dưới tán rừng; phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ, tạo các nguồn thu để tái đầu tư bảo vệ rừng (phạm vi thực hiện là tại phân khu phục hồi sinh thái và phân khu dịch vụ hành chính; dự kiến khoảng 2.500ha). Ban quản lý Vườn Quốc gia Bến En xây dựng phương án trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt dựa trên nguyên tắc đảm bảo bền vững, hài hoà về kinh tế - xã hội và môi trường để tổ chức thực hiện đồng quản lý.
- Hạn chế tối đa việc khai thác lâm sản, chỉ được khai thác lâm sản bền vững theo quy định của Luật Lâm nghiệp năm 2017 và khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Thực hiện cơ chế chia sẻ hưởng lợi ích từ rừng đối với cộng đồng, người dân địa phương khi tham gia vào các hoạt động lâm nghiệp (nhận khoán bảo vệ rừng, các hoạt động lâm sinh ...) thông qua hợp đồng khoán.
4.2.7. Kế hoạch khai thác lâm sản
Hạn chế tối đa việc khai thác lâm sản trong rừng đặc dụng; chỉ khai thác trong các trường hợp đáp ứng đủ các điều kiện, đối tượng theo Điều 52 Luật lâm nghiệp, Nghị định số 156/2018/NĐ-CP của Chính phủ và các quy định của pháp luật khác có liên quan.
4.2.8. Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, thực tập, đào tạo nguồn nhân lực
a) Công tác nghiên cứu khoa học
- Tập trung nghiên cứu ứng dụng, trọng tâm là bảo tồn các loài động, thực vật quý, hiếm, nguy cấp, loài ưu tiên bảo vệ, loài cung cấp dược liệu, loài có giá trị kinh tế và kết hợp phát triển tài nguyên góp phần cải thiện sinh kế của người dân vùng đệm. Nghiên cứu, di thực, dẫn giống, cứu hộ, lưu giữ ngoài tự nhiên, trong bảo tàng phục vụ truyền thông, học tập, nghiên cứu, giáo dục.
- Xây dựng, nâng cấp, cải tạo, bổ sung dữ liệu, mẫu vật, hiện vật và nâng cao chất lượng hoạt động Nhà bảo tàng Vườn Quốc gia Bến En.
b) Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực.
Tập huấn, ứng dụng công nghệ GIS; tập huấn nâng cao kỹ năng bảo tồn và giám sát đa dạng sinh học; tập huấn nghiệp vụ cho lực lượng Kiểm lâm về thực thi pháp luật Lâm nghiệp, công tác điều tra, xử lý vi phạm. Đào tạo cán bộ sau đại học; huấn luyện nghiệp vụ cho tổ, đội quản lý bảo vệ rừng (10 cuộc, bình quân 01 cuộc/năm).
4.2.9. Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí: Lập, thẩm định, trình phê duyệt Đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí Vườn Quốc gia Bến En, giai đoạn 2021 - 2030.
4.2.10. Xây dựng hạ tầng phục vụ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng
Tiếp tục thực hiện dự án Xây dựng cơ sở hạ tầng Vườn Quốc gia Bến En” giai đoạn thực hiện 2016 - 2020 (đã được Hội đồng Nhân dân tỉnh chấp thuận chủ trương tại Văn bản số 482b/CV-HĐND, ngày 30/10/2015 và chuyển tiếp thực hiện giai đoạn 2021 - 2025).
Đề xuất mới xây dựng, sửa chữa, nâng cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng đảm bảo phục vụ tốt cho công tác quản lý, thực thi nhiệm vụ theo mục tiêu phát triển của đơn vị đến năm 2030.
4.2.11. Hoạt động dịch vụ cho cộng đồng.
- Phát triển du lịch cộng đồng tại địa phương; tổ chức cho người dân tham gia thực hiện các mô hình phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng kế hoạch cho người dân tham gia nhận khoán thực hiện công tác phát triển rừng và xây dựng các công trình phục hồi sinh thái.
- Căn cứ từng loại hình dịch vụ cụ thể để tổ chức thực hiện, đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế, đúng quy định của pháp luật như: Khoán công việc và bàn giao sản phẩm theo thỏa thuận; làm việc theo sự hướng dẫn và được nhận tiền công nhật theo thỏa thuận; người dân được chuyển giao kỹ thuật và tự tổ chức thực hiện các mô hình; người dân tự sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ văn hóa cho du khách theo cơ chế thị trường.
4.2.12. Hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng, thuê môi trường rừng
- Chi trả dịch vụ môi trường rừng: Tiếp tục triển khai hiệu quả nhiệm vụ chi trả dịch vụ môi trường rừng lưu vực lòng hồ sông Mực do Nhà máy thủy điện Sông Mực chi trả với diện tích lưu vực thuộc đối tượng rừng đặc dụng khoảng 10.800ha.
- Cho thuê môi trường rừng: Triển khai thực hiện cho thuê môi trường rừng (khoảng 900ha); kinh doanh du lịch sinh thái (khoảng trên 700ha); nuôi trồng phát triển cây dược liệu (khoảng 150ha) khi được phê duyệt.
- Cho thuê mặt nước để nuôi trồng và khai thác thủy hải sản: Tiếp tục thực hiện đề án cho thuê mặt nước theo phê duyệt của cấp thẩm quyền với diện tích 1.500ha.
- Chi trả dịch vụ hấp thụ cacbon: Xác định phạm vi, đối tượng, trạng thái rừng áp dụng; xác định mức giá dịch vụ đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của các bên tham gia khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt thực hiện (dự kiến có khoảng 11.100ha rừng).
4.2.13. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng
- Tổ chức hoạt động ngoại khóa và các câu lạc bộ để tổ chức tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học cho các trường học, trung tâm là duy trì hoạt động ở 10 Trường Trung học cơ sở trên địa bàn hàng năm.
- Đào tạo, nâng cao nhận thức, phổ biến kiến thức pháp luật quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học cho cán bộ xã, thôn, bản và người dân, bình quân 50 lượt người/năm.
- Tuyên truyền cho người dân vùng đệm Vườn Quốc gia Bến En, bình quân 2.720 lượt người/năm (34 cuộc/năm, bình quân 80 người/cuộc); xây dựng các pano, poster ... tuyên truyền.
- Đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho các tổ đội bảo vệ rừng, bình quân 100 lượt người/năm.
- Phối hợp, tổ chức các 10 cuộc thi tìm hiểu về rừng, bảo vệ môi trường sống trong các trường học trên địa bàn vùng đệm Vườn Quốc gia Bến En.
4.2.1Theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, đa dạng sinh học; điều tra, kiểm kê rừng.
- Thường xuyên thực hiện theo dõi diễn biến tài nguyên rừng theo Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT , ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kịp thời cập nhật chính xác đầy đủ thông tin về số lượng, chất lượng cũng như dự đoán xu hướng diễn biến tài nguyên rừng.
- Điều tra, kiểm kê rừng: Điều tra, đánh giá trữ lượng từng loại trạng thái rừng theo hệ thống ô tiêu chuẩn cố định 05 năm/lần đối với rừng tự nhiên; kiểm tra hiện trường để hiệu chỉnh vị trí, ranh giới và những thông tin thuộc tính vào từng lô kiểm kê trên bản đồ số trong trường hợp có sự thay đổi; biên tập và hoàn thiện bản đồ kiểm kê rừng cấp xã, lập hồ sơ quản lý rừng theo quy định.
- Theo dõi diễn biến quần thể một số loài (loài quý hiếm, đặc hữu, loài ưu tiên bảo vệ); giám sát động, thực vật rừng; giám sát các nguy cơ, tác động của giao thông, du lịch; giám sát chăn thả gia súc, săn bắn động vật hoang dã ... Cập nhật, bổ sung khi biến động trạng thái rừng, trồng rừng, diễn thế hệ sinh thái; phát hiện mới các loài động vật, thực vật rừng phục vụ công tác bảo tồn.
- Thực hiện điều tra đánh giá biến động tài nguyên và cập nhật hồ sơ tiểu khu hàng năm; ứng dụng khoa học - kỹ thuật để quan trắc, phát hiện cháy rừng và giám sát tài nguyên từng trong Vườn Quốc gia Bến En.
4.2.15. Rà soát xác định và hỗ trợ phát triển vùng đệm.
Phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nước để thu hút các dự án, mô hình sản xuất, chương trình khuyến nông, khuyến lâm, các công trình thủy lợi để khai hoang sản xuất. Các hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực phát triển sản xuất vùng đệm như:
- Tổ chức các lớp tập huấn, lập kế hoạch định hướng phát triển kinh tế thôn (bản).
- Hướng dẫn các hộ dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, thâm canh tăng vụ trên đất nông nghiệp, sử dụng giống mới, kỹ thuật thâm canh để tăng năng suất, tăng giá trị sản xuất nông nghiệp.
- Hỗ trợ người dân các mô hình sản xuất; phát triển ngành nghề thủ công, đan lát, thêu thùa, dệt thổ cẩm...
- Thu hút người dân tham gia vào các hoạt động dịch vụ du lịch sinh thái như: nhà nghỉ cộng đồng, làm người đưa đường, các dịch vụ khác ...
- Hỗ trợ vật liệu xây dựng cho thôn bản (đối với các công trình công cộng của cộng đồng như nước sạch, điện chiếu sáng, thông tin liên lạc, đường giao thông thôn bản, nhà văn hóa ...).
(Chi tiết các thôn vùng đệm có Phụ biểu số VIII kèm theo)