Document: Khoản 9 Điều 1 Quyết định 21/2006/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bạc Liêu giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn năm 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bạc Liêu", "promulgation_date": "14/09/2006", "sign_number": "21/2006/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Hoàng Bê", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bạc Liêu", "promulgation_date": "14/09/2006", "sign_number": "21/2006/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Hoàng Bê", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bạc Liêu", "promulgation_date": "14/09/2006", "sign_number": "21/2006/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Hoàng Bê", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bạc Liêu", "promulgation_date": "14/09/2006", "sign_number": "21/2006/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Hoàng Bê", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bạc Liêu", "promulgation_date": "14/09/2006", "sign_number": "21/2006/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Hoàng Bê", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 9 Điều 1 Quyết định 21/2006/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bạc Liêu giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn năm 2020

Điều 1. Phê duyệt “Quy hoạch phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) tỉnh Bạc Liêu giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn năm 2020”, với những nội dung chủ yếu sau:
...
9. Những giải pháp chủ yếu thực hiện quy hoạch:
a) Giải pháp về vốn:
- Để tạo ra nguồn vốn cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần phải huy động tổng lực các nguồn: Vốn từ ngân sách, vốn từ quỹ đất đai, vốn từ dân và doanh nghiệp, vốn vay và nơi khác đầu tư, thuê mua tài chính, thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), nguồn vốn vay nước ngoài (ODA),
- Vốn ngân sách Nhà nước chủ yếu đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng, vốn đối ứng cho các công trình và có tác động làm “mồi” để huy động vốn đầu tư phát triển từ các thành phần kinh tế khác;
- Vốn vay ODA để đầu tư cơ sở hạ tầng, tập trung cho giao thông, thủy lợi, cảng cá, khu trú, đậu tàu thuyền tránh bão, cấp nước sản xuất, nước sinh hoạt ... tạo môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư.
- Vốn tín dụng dùng đầu tư phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến và các hộ dân vay phát triển kinh tế, xây dựng nhà ở, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư; …
- Nguồn vốn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế tỉnh để phát triển công nghiệp trong thời kỳ dự tính chỉ đáp ứng được khoảng 10-15% nhu cầu về vốn đầu tư phát triển công nghiệp. Số vốn thiếu hụt còn lại có thể huy động từ các nguồn như vốn từ doanh nghiệp quốc doanh 3-5%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hộ gia đình ước khoảng 57-59%, vốn đầu tư viện trợ phát triển (ODA) khoảng 3-5%, còn lại là các nguồn vốn khác bao gồm vốn tín dụng, vốn đầu tư trong nước (trung ương và các tỉnh ngoài) và vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
b) Giải pháp khoa học & công nghệ:
- Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đổi mới công nghệ trong các ngành. Ưu tiên ứng dụng công nghệ tự động hoá có chọn lọc tạo ra năng suất cao làm tăng trưởng nhanh của các ngành, làm động lực quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế;
- Trong điều kiện thiếu vốn, cần có sự lựa chọn tiến bộ kỹ thuật và công nghệ. Trong nông nghiệp và thuỷ sản khuyến khích sử dụng các giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất cao, chất lượng tốt, ứng dụng phòng trừ diệt hại tổng hợp IPM, công nghệ sinh học, cơ giới hóa sản xuất... Trong công nghiệp cần ưu tiên lựa chọn công nghệ thích hợp cho công nghiệp chế biến nông thủy sản, tập trung vào công đoạn tinh chế để nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của các mặt hàng công nghiệp đáp ứng nhu cầu nội địa và hướng tới xuất khẩu;
- Hình thành và ứng dụng hệ thống thông tin tư vấn giám định công nghệ và kỹ thuật, tư vấn có hiệu quả cho sản xuất kinh doanh;
- Tăng cường hợp tác nghiên cứu với các Viện, trung tâm của Trung ương và thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ để giải quyết các vấn đề vướng mắc về khoa học công nghệ cho doanh nghiệp và phục vụ phát triển ngành;
- Chuyển giao công nghệ có thể thực hiện bằng cách mua, thuê mua tài chính có sự hỗ trợ của nhà nước, liên kết liên doanh để thu hút công nghệ mới…;
- Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới… trong các lĩnh vực sản xuất và quản lý phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh và ngành;
- Thành lập quỹ hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ để mở rộng nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh.
c) Giải pháp về nguồn nhân lực:
- Nguồn nhân lực giữ vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Đối với Bạc Liêu đào tạo nguồn nhân lực vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt vừa có ý nghĩa lâu dài. Lực lượng lao động với trình độ chuyên môn cao tác động quan trọng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng suất lao động.
- Huy động mọi nguồn lực phát triển sự nghiệp giáo dục. Tăng cường công tác đào tạo, mở rộng các hình thức đào tạo, tín dụng đào tạo ưu đãi, lập quỹ đào tạo nhân tài.
- Xây dựng chương trình giải quyết việc làm trên cơ sở phát triển sản xuất kinh doanh ở thành thị và nông thôn, hình thành các trung tâm tư vấn việc làm gắn với các trung tâm đào tạo, các cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Cần đảm bảo tiền lương và những điều kiện lao động, sinh hoạt cho người lao động.
d) Củng cố và mở rộng thị trường:
- Thị trường tác động đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, do đó cần phải đảm bảo “đầu vào” cũng như “đầu ra” cho sản xuất:
+ Để đảm bảo “đầu vào” cho sản xuất cần phải tìm kiếm các nguồn cung cấp tin cậy (Xây dựng mạng lưới phân phối vật tư hợp lý, bao gồm các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu vật tư và các hợp tác xã dịch vụ, thực hiện giá bán vật tư theo quan hệ cung - cầu trên thị trường). Tuy nhiên cần xây dựng khung định mức giá và trợ giá khi cần thiết.
+ Để đảm bảo “đầu ra” cho sản xuất, các cơ quan quản lý, doanh nghiệp cần nâng cao trình độ dự báo nhu cầu thị trường để định hướng đúng loại sản phẩm hàng hóa cần sản xuất về quy mô, chất lượng và tốc độ phát triển và đối tượng sử dụng... Cần tổ chức các trung tâm thông tin chuyên ngành thu thập xử lý các số liệu thành những thông tin thiết thực. Nguồn kinh phí cung cấp cho các trung tâm do các thành viên đóng góp một khoản nhất định thường kỳ hoặc thu dịch vụ phí. Ngoài ra ở các công ty, doanh nghiệp cần tổ chức bộ phận marketing có nhiệm vụ thu thập, phân tích và khai thác thị trường; Nhà nước hỗ trợ làm đầu mối để doanh nghiệp có cơ hội tham gia các hoạt động xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước.
- Đối với sản phẩm công nghiệp nông thôn do sản xuất phân tán, nhỏ lẻ cần tổ chức mạng lưới thu gom theo hình thức liên kết liên doanh với các doanh nghiệp lớn ở các khu công nghiệp, ở thành thị dưới dạng hợp đồng, chi nhánh thầu phụ hoặc gắn với công ty thương mại;
- Hỗ trợ một phần chi phí cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm, tham gia các hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước.
đ) Phát triển vùng nguyên liệu:
- Quy hoạch tập trung các vùng nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến như: cây lương thực, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ hải sản tuỳ theo đặc điểm địa hình và điều kiện thổ nhưỡng, môi trường.
- Các nhà đầu tư phát triển vùng nguyên liệu tập trung theo quy hoạch được hưởng các chính sách ưu đãi của tỉnh; Tỉnh hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ chế, chính sách cho vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất.
- Xây dựng các chính sách thu hút vốn từ bên ngoài đầu tư vào địa phương để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trên lĩnh vực đầu tư sản xuất con giống, chế biến thủy sản theo hướng tinh chế có giá trị gia tăng cao;
- Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào các mô hình sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ hải sản hiệu quả kinh tế cao, nâng cao giá trị và năng suất canh tác, đầu tư thêm công suất chế biến thuỷ hải sản, nâng cao tỷ lệ chế biến nguyên liệu.
e) Chính sách khuyến khích- thu hút đầu tư:
- Khuyến khích các hình thức đầu tư độc lập hoặc liên doanh, liên kết phát triển sản xuất kinh doanh của tất cả các thành phần kinh tế:
- Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính theo hướng thuận lợi, nhanh chóng;
- Tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng, cơ sở hạ tầng, nguồn cung cấp điện, nước;
- Xây dựng các cơ chế chính sách về tài chính như: vốn, tín dụng, thuế...
- Hỗ trợ, tư vấn về khoa học công nghệ, sản xuất;
- Có các biện pháp đảm bảo về nguồn cung nguyên liệu đầu vào và thị trường sản phẩm đầu ra. Tạo điều kiện, khuyến khích và hỗ trợ các dự án công nghiệp thu hút nhiều lao động địa phương như dệt may - da giày, sản xuất hàng tiêu dùng...
g) Về tổ chức quản lý:
- Thống nhất một đầu mối quản lý nhà nước về công nghiệp cần được mở rộng, bao quát tất cả các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp không phân biệt các thành phần kinh tế hoặc mức độ trực thuộc chuyên ngành, lĩnh vực.
- Tập trung quản lý, khắc phục sự trì trệ, lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản.
- Tăng cường công tác cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi cho kêu gọi và xúc tiến đầu tư trên địa bàn, tạo tâm lý ổn định và an tâm cho các doanh nghiệp đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực hiện cơ chế hành chính “'một cửa”' tại tất cả cơ quan công quyền, tăng cường chức năng giám sát của các tổ chức đoàn thể đối cán bộ công chức, kiên quyết xử lý mọi hiện tượng vòi vĩnh, sách nhiễu.
- Đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ, mối quan hệ thân thiện giữa các cơ quan quản lý Nhà nước trên địa bàn với nhà đầu tư sản xuất kinh doanh.
h) Bảo vệ môi trường:
- Tăng cường công tác quản lý môi trường, đề xuất các biện pháp ngăn ngừa, xử lý các trường hợp cố tình vi phạm Luật bảo vệ môi trường.
- Khuyến khích các nhà đầu tư quan tâm đến áp dụng công nghệ sạch, xây dựng và thực hiện các dự án cải tạo bảo vệ môi trường; Dần loại bỏ các công nghệ lạc hậu, các ngành gây ô nhiễm môi trường; Chỉ cấp phép đầu tư cho các dự án có sự quan tâm đúng mức đến vấn đề xử lý chất thải.

Content:
Những giải pháp chủ yếu thực hiện quy hoạch:
a) Giải pháp về vốn:
- Để tạo ra nguồn vốn cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần phải huy động tổng lực các nguồn: Vốn từ ngân sách, vốn từ quỹ đất đai, vốn từ dân và doanh nghiệp, vốn vay và nơi khác đầu tư, thuê mua tài chính, thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), nguồn vốn vay nước ngoài (ODA),
- Vốn ngân sách Nhà nước chủ yếu đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng, vốn đối ứng cho các công trình và có tác động làm “mồi” để huy động vốn đầu tư phát triển từ các thành phần kinh tế khác;
- Vốn vay ODA để đầu tư cơ sở hạ tầng, tập trung cho giao thông, thủy lợi, cảng cá, khu trú, đậu tàu thuyền tránh bão, cấp nước sản xuất, nước sinh hoạt ... tạo môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư.
- Vốn tín dụng dùng đầu tư phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến và các hộ dân vay phát triển kinh tế, xây dựng nhà ở, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư; …
- Nguồn vốn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế tỉnh để phát triển công nghiệp trong thời kỳ dự tính chỉ đáp ứng được khoảng 10-15% nhu cầu về vốn đầu tư phát triển công nghiệp. Số vốn thiếu hụt còn lại có thể huy động từ các nguồn như vốn từ doanh nghiệp quốc doanh 3-5%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hộ gia đình ước khoảng 57-59%, vốn đầu tư viện trợ phát triển (ODA) khoảng 3-5%, còn lại là các nguồn vốn khác bao gồm vốn tín dụng, vốn đầu tư trong nước (trung ương và các tỉnh ngoài) và vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
b) Giải pháp khoa học & công nghệ:
- Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đổi mới công nghệ trong các ngành. Ưu tiên ứng dụng công nghệ tự động hoá có chọn lọc tạo ra năng suất cao làm tăng trưởng nhanh của các ngành, làm động lực quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế;
- Trong điều kiện thiếu vốn, cần có sự lựa chọn tiến bộ kỹ thuật và công nghệ. Trong nông nghiệp và thuỷ sản khuyến khích sử dụng các giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất cao, chất lượng tốt, ứng dụng phòng trừ diệt hại tổng hợp IPM, công nghệ sinh học, cơ giới hóa sản xuất... Trong công nghiệp cần ưu tiên lựa chọn công nghệ thích hợp cho công nghiệp chế biến nông thủy sản, tập trung vào công đoạn tinh chế để nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của các mặt hàng công nghiệp đáp ứng nhu cầu nội địa và hướng tới xuất khẩu;
- Hình thành và ứng dụng hệ thống thông tin tư vấn giám định công nghệ và kỹ thuật, tư vấn có hiệu quả cho sản xuất kinh doanh;
- Tăng cường hợp tác nghiên cứu với các Viện, trung tâm của Trung ương và thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ để giải quyết các vấn đề vướng mắc về khoa học công nghệ cho doanh nghiệp và phục vụ phát triển ngành;
- Chuyển giao công nghệ có thể thực hiện bằng cách mua, thuê mua tài chính có sự hỗ trợ của nhà nước, liên kết liên doanh để thu hút công nghệ mới…;
- Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới… trong các lĩnh vực sản xuất và quản lý phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh và ngành;
- Thành lập quỹ hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ để mở rộng nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh.
c) Giải pháp về nguồn nhân lực:
- Nguồn nhân lực giữ vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Đối với Bạc Liêu đào tạo nguồn nhân lực vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt vừa có ý nghĩa lâu dài. Lực lượng lao động với trình độ chuyên môn cao tác động quan trọng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng suất lao động.
- Huy động mọi nguồn lực phát triển sự nghiệp giáo dục. Tăng cường công tác đào tạo, mở rộng các hình thức đào tạo, tín dụng đào tạo ưu đãi, lập quỹ đào tạo nhân tài.
- Xây dựng chương trình giải quyết việc làm trên cơ sở phát triển sản xuất kinh doanh ở thành thị và nông thôn, hình thành các trung tâm tư vấn việc làm gắn với các trung tâm đào tạo, các cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Cần đảm bảo tiền lương và những điều kiện lao động, sinh hoạt cho người lao động.
d) Củng cố và mở rộng thị trường:
- Thị trường tác động đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, do đó cần phải đảm bảo “đầu vào” cũng như “đầu ra” cho sản xuất:
+ Để đảm bảo “đầu vào” cho sản xuất cần phải tìm kiếm các nguồn cung cấp tin cậy (Xây dựng mạng lưới phân phối vật tư hợp lý, bao gồm các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu vật tư và các hợp tác xã dịch vụ, thực hiện giá bán vật tư theo quan hệ cung - cầu trên thị trường). Tuy nhiên cần xây dựng khung định mức giá và trợ giá khi cần thiết.
+ Để đảm bảo “đầu ra” cho sản xuất, các cơ quan quản lý, doanh nghiệp cần nâng cao trình độ dự báo nhu cầu thị trường để định hướng đúng loại sản phẩm hàng hóa cần sản xuất về quy mô, chất lượng và tốc độ phát triển và đối tượng sử dụng... Cần tổ chức các trung tâm thông tin chuyên ngành thu thập xử lý các số liệu thành những thông tin thiết thực. Nguồn kinh phí cung cấp cho các trung tâm do các thành viên đóng góp một khoản nhất định thường kỳ hoặc thu dịch vụ phí. Ngoài ra ở các công ty, doanh nghiệp cần tổ chức bộ phận marketing có nhiệm vụ thu thập, phân tích và khai thác thị trường; Nhà nước hỗ trợ làm đầu mối để doanh nghiệp có cơ hội tham gia các hoạt động xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước.
- Đối với sản phẩm công nghiệp nông thôn do sản xuất phân tán, nhỏ lẻ cần tổ chức mạng lưới thu gom theo hình thức liên kết liên doanh với các doanh nghiệp lớn ở các khu công nghiệp, ở thành thị dưới dạng hợp đồng, chi nhánh thầu phụ hoặc gắn với công ty thương mại;
- Hỗ trợ một phần chi phí cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm, tham gia các hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước.
đ) Phát triển vùng nguyên liệu:
- Quy hoạch tập trung các vùng nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến như: cây lương thực, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ hải sản tuỳ theo đặc điểm địa hình và điều kiện thổ nhưỡng, môi trường.
- Các nhà đầu tư phát triển vùng nguyên liệu tập trung theo quy hoạch được hưởng các chính sách ưu đãi của tỉnh; Tỉnh hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ chế, chính sách cho vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất.
- Xây dựng các chính sách thu hút vốn từ bên ngoài đầu tư vào địa phương để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trên lĩnh vực đầu tư sản xuất con giống, chế biến thủy sản theo hướng tinh chế có giá trị gia tăng cao;
- Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào các mô hình sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ hải sản hiệu quả kinh tế cao, nâng cao giá trị và năng suất canh tác, đầu tư thêm công suất chế biến thuỷ hải sản, nâng cao tỷ lệ chế biến nguyên liệu.
e) Chính sách khuyến khích- thu hút đầu tư:
- Khuyến khích các hình thức đầu tư độc lập hoặc liên doanh, liên kết phát triển sản xuất kinh doanh của tất cả các thành phần kinh tế:
- Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính theo hướng thuận lợi, nhanh chóng;
- Tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng, cơ sở hạ tầng, nguồn cung cấp điện, nước;
- Xây dựng các cơ chế chính sách về tài chính như: vốn, tín dụng, thuế...
- Hỗ trợ, tư vấn về khoa học công nghệ, sản xuất;
- Có các biện pháp đảm bảo về nguồn cung nguyên liệu đầu vào và thị trường sản phẩm đầu ra. Tạo điều kiện, khuyến khích và hỗ trợ các dự án công nghiệp thu hút nhiều lao động địa phương như dệt may - da giày, sản xuất hàng tiêu dùng...
g) Về tổ chức quản lý:
- Thống nhất một đầu mối quản lý nhà nước về công nghiệp cần được mở rộng, bao quát tất cả các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp không phân biệt các thành phần kinh tế hoặc mức độ trực thuộc chuyên ngành, lĩnh vực.
- Tập trung quản lý, khắc phục sự trì trệ, lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản.
- Tăng cường công tác cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi cho kêu gọi và xúc tiến đầu tư trên địa bàn, tạo tâm lý ổn định và an tâm cho các doanh nghiệp đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực hiện cơ chế hành chính “'một cửa”' tại tất cả cơ quan công quyền, tăng cường chức năng giám sát của các tổ chức đoàn thể đối cán bộ công chức, kiên quyết xử lý mọi hiện tượng vòi vĩnh, sách nhiễu.
- Đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ, mối quan hệ thân thiện giữa các cơ quan quản lý Nhà nước trên địa bàn với nhà đầu tư sản xuất kinh doanh.
h) Bảo vệ môi trường:
- Tăng cường công tác quản lý môi trường, đề xuất các biện pháp ngăn ngừa, xử lý các trường hợp cố tình vi phạm Luật bảo vệ môi trường.
- Khuyến khích các nhà đầu tư quan tâm đến áp dụng công nghệ sạch, xây dựng và thực hiện các dự án cải tạo bảo vệ môi trường; Dần loại bỏ các công nghệ lạc hậu, các ngành gây ô nhiễm môi trường; Chỉ cấp phép đầu tư cho các dự án có sự quan tâm đúng mức đến vấn đề xử lý chất thải.