Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 20/QĐ-UBND Quy hoạch chế biến lâm sản Lâm Đồng 2016

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "06/01/2016", "sign_number": "20/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "06/01/2016", "sign_number": "20/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "06/01/2016", "sign_number": "20/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "06/01/2016", "sign_number": "20/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "06/01/2016", "sign_number": "20/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 20/QĐ-UBND Quy hoạch chế biến lâm sản Lâm Đồng 2016

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch chế biến lâm sản tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu như sau:
...
5. Ổn định các cơ sở chế biến hàng mộc với tổng khối lượng sản xuất hàng năm khoảng 4.500 - 5.000 m3 sản phẩm/năm; tăng trưởng bình quân từ 16 - 18%/năm, giá trị sản xuất đạt 719 - 720 tỷ đồng vào năm 2020, tập trung vào hàng gỗ dân dụng và gỗ mỹ nghệ.
III. Nội dung quy hoạch
1. Quy hoạch sản phẩm:
a) Sản phẩm gỗ: Giảm tỷ lệ sản phẩm gỗ xẻ thô xuống còn khoảng 15% và nâng dần tỷ lệ sản phẩm chế biến tinh lên 85% với tổng sản lượng gỗ chế biến. Từng bước phát triển sản phẩm có hàm lượng khoa học công nghệ, giá trị gia tăng cao bằng việc áp dụng công nghệ tẩm, sấy, trang trí bề mặt... để sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh với các nhóm sản phẩm chính, như:
- Nhóm 1: Nhóm sản phẩm đồ mộc ngoài trời (các loại bàn ghế vườn, ghế băng, dù che nắng, ghế xích đu,...) được chế biến từ gỗ hoặc gỗ kết hợp với các vật liệu khác (sắt, nhôm, nhựa,...);
- Nhóm 2: Nhóm sản phẩm đồ mộc trong nhà (các loại bàn ghế, giường, tủ, giá kệ sách, đồ chơi,..) được chế biến từ gỗ hay gỗ kết hợp với các vật liệu khác (da, vải,...);
- Nhóm 3: Nhóm đồ mỹ nghệ chế biến chủ yếu từ gỗ nhóm I, II nhập khẩu (bàn, ghế, tủ, giường,...) và áp dụng các công nghệ chạm, khắc, khảm,...;
- Nhóm 4: Sản phẩm ván ép từ gỗ rừng trồng.
b) Sản phẩm lâm sản khác:
- Sản phẩm viên nén nhiên liệu hoặc gỗ dăm,... được tận dụng từ sản phẩm cành, nhánh, bìa, bắp, mùn cưa,...trong quá trình khai thác và chế biến, tinh chế gỗ.
- Sản phẩm mây, tre tập trung ở các huyện phía Nam của tỉnh với giá trị sản xuất tăng bình quân từ 17%/năm trở lên, giá trị sản xuất đạt khoảng 232 tỷ đồng vào năm 2020, thu hút từ 1.800 - 2.000 lao động.
c) Giá trị sản xuất:
- Giá trị sản xuất đạt 1.260 - 1.280 tỷ đồng/năm.
- Tổng giá trị xuất khẩu chiếm 40 - 45% giá trị sản xuất.
- Đến năm 2020, phấn đấu đạt tỷ lệ giá trị gia tăng/giá trị sản xuất (VAT/GO) khoảng 50 - 55% (năm 2015: 45%).
2. Rà soát, di dời các xưởng chế biến lâm sản hiện có:
a) Các cơ sở chế biến không phải di dời: gồm 44 cơ sở (chi tiết theo Phụ lục I đính kèm).
b) Các cơ sở chế biến gỗ phải di chuyển vào các khu/cụm công nghiệp hoàn thành trước năm 2020: gồm 10 cơ sở (chi tiết theo Phụ lục II đính kèm).
c) Các cơ sở chế biến gỗ chấm dứt hoạt động chậm nhất là đến năm 2020: gồm 47 cơ sở (chi tiết theo Phụ lục III đính kèm).
d) Các cơ sở chế biến hiện có nằm ngoài các khu, cụm công nghiệp:
- Ở vị trí cách ranh giới (bìa rừng) rừng tự nhiên từ 2,0 km trở lên (ngoại trừ các công ty TNHH MTV lâm nghiệp và các khu/cụm công nghiệp) thì trước mắt vẫn được tiếp tục hoạt động hoặc phải di dời theo lộ trình (quy định tại tiết b, điểm 2, mục III Quyết định này).
- Có vị trí cách ranh giới (bìa rừng) rừng tự nhiên dưới 2,0 km; các cơ sở chế biến lâm sản trong khu vực dân cư, gây ô nhiễm môi trường (tiếng ồn, không khí, nước thải, hóa chất,...), không đảm bảo yêu cầu về phòng cháy chữa cháy, không có đầy đủ các thủ tục về xây dựng và không có nguồn nguyên liệu ổn định,...thì phải di dời theo lộ trình từ 3 - 5 năm; chậm nhất đến năm 2020 các cơ sở chế biến lâm sản này phải di dời vào các khu/cụm công nghiệp hoặc phải chấm dứt hoạt động nếu không chấp hành việc di dời (quy định tại tiết b, tiết c, điểm 2, mục III Quyết định này).
3. Quy hoạch cơ sở chế biến:
- Khu Công nghiệp Phú Hội, huyện Đức Trọng: Đầu tư từ 02 - 03 nhà máy chế biến, tinh chế gỗ (chủ yếu là gỗ thông) khoảng 50.000 m3 gỗ tròn/năm trở lên để sản xuất các sản phẩm hàng mộc nội thất, ngoại thất; ván ghép thanh, ván ép phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
- Khu Công nghiệp Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc: Đầu tư từ 01 - 02 nhà máy chế biến, tinh chế gỗ (gỗ thông và các loại gỗ khác) khoảng 40.000 m3 gỗ/năm trở lên để sản xuất các sản phẩm hàng mộc, ván ghép thanh, ván ép phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
- Di chuyển các nhà xưởng không nằm trong quy hoạch vào các cụm công nghiệp hoặc đầu tư mới tại các cụm công nghiệp của các huyện như: Đạ Huoai, Đam Rông, Di Linh, Bảo Lâm,... với công suất phù hợp để sản xuất các sản phẩm ván ghép thanh, hàng mộc nội thất, ngoại thất, ván ép phục vụ tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu.
- Đối với các nhà máy, cơ sở chế biến gỗ đầu tư mới thì phải đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp theo quy hoạch; trường hợp đặc biệt đầu tư ngoài các khu, cụm công nghiệp thì phải có ý kiến thống nhất của UBND tỉnh.
- Phát triển các cơ sở sản xuất chế biến viên nén nhiên liệu hoặc gỗ dăm: Quy hoạch đến năm 2020 đầu tư 01 cơ sở sản xuất chế biến viên nén nhiên liệu hoặc gỗ dăm tại Khu công nghiệp Phú Hội, với công suất 20.000 tấn/năm.
- Phát triển các cơ sở mộc gia dụng: Ổn định, có điều chỉnh phù hợp các cơ sở mộc gia dụng hiện có. Đây là nhu cầu của xã hội nên cần phải đáp ứng, nguồn gỗ (ván xẻ, ván ghép) từ các cơ sở chế biến gỗ, nhu cầu bình quân 08 - 10 m3 gỗ/năm; tổng khối lượng sản xuất hàng năm khoảng 4.500 - 5.000 m3 sản phẩm hàng mộc; ngoài ra, cần nhập khẩu khoảng 1.000 m3
gỗ nhóm I/năm để sản xuất hàng mộc cao cấp.
4. Quy hoạch nguyên liệu và vùng nguyên liệu giai đoạn 2016 - 2020:
a) Khối lượng gỗ tròn khai thác trong tỉnh đưa vào chế biến bình quân khoảng 205.000 m3/năm; trong đó:
- Khai thác trắng rừng trồng thông 3 lá: 49.072 m3/năm;
- Khai thác tỉa thưa rừng thông 3 lá: 31.871 m3/năm;
- Khai thác gỗ rừng trồng trên đất nông nghiệp của nhân dân và các doanh nghiệp: 124.000 m3/năm.
b) Khối lượng gỗ nhập khẩu và mua từ ngoài tỉnh: 1.000 m3/năm trở lên.
c) Quy hoạch các khu, vùng diện tích để tập trung trồng rừng, phát triển nguồn nguyên liệu cung cấp ổn định cho hoạt động sản xuất, chế biến lâm sản ổn định theo kế hoạch gắn với quy hoạch lại 3 loại rừng của tỉnh, rà soát diện tích rừng phòng hộ ít xung yếu chuyển sang phát triển rừng sản xuất.
IV. Vốn đầu tư
1. Tổng vốn đầu tư đến năm 2020: 3.842 tỷ đồng
- Giai đoạn 2014 - 2015: 905 tỷ đồng;
- Giai đoạn 2016 - 2020: 2.937 tỷ đồng.
2. Nguồn vốn:
- Vốn ngân sách: 192 tỷ đồng (chiếm 5%);
- Vốn vay tín dụng: 1.232 tỷ đồng (chiếm 33%);
- Vốn tự có của các doanh nghiệp, cơ sở chế biến, tinh chế gỗ: 2.421 tỷ đồng (chiếm 62%).
V. Các giải pháp thực hiện quy hoạch
1. Về cơ chế chính sách:
a) Khuyến khích và hỗ trợ di dời các cơ sở nằm cách bìa rừng dưới 2,0 km theo 2 tiêu chí là tỷ lệ chế biến tinh và công nghệ; theo đó, những cơ sở có tỷ lệ chế biến tinh thấp và công nghệ lạc hậu sẽ di dời trước, và di dời dứt điểm vào năm 2020. Các cơ sở di dời vào khu/cụm công nghiệp sẽ được giảm tiền thuê đất và miễn thuế doanh nghiệp từ 3 - 5 năm; được hỗ trợ xúc tiến thương mại và giới thiệu sản phẩm.
b) Tạo điều kiện và hỗ trợ các chủ cơ sở di dời tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi trong nước; hỗ trợ chi phí xây dựng cơ sở mới.
c) Xây dựng, bổ sung hệ thống chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến lâm sản phù hợp với điều kiện thực tế; chú trọng đến chính sách giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu, máy móc thiết bị hiện đại và các vật tư kỹ thuật có liên quan đến chế biến lâm sản để các cơ sở có cơ hội đổi mới công nghệ chế biến.
2. Về huy động vốn đầu tư:
a) Xây dựng danh mục các dự án, các thông tin chi tiết về từng dự án và các cơ chế, chính sách ưu đãi của tỉnh để thu hút đầu tư các doanh nghiệp trong tỉnh, trong nước, nước ngoài và nhân dân.
b) Mở rộng hình thức liên doanh, liên kết giữa doanh nghiệp ngoài Nhà nước (ưu tiên doanh nghiệp trong tỉnh) với doanh nghiệp Nhà nước và người dân để hình thành chuỗi liên kết từ khâu sản xuất nguyên liệu đến khâu tiêu dùng cuối cùng để xây dựng ngành chế biến lâm sản của tỉnh phát triển.
3. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ mới, phương tiện, máy móc, thiết bị hiện đại, tiên tiến vào sản xuất:
- Huy động nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ mới, máy móc thiết bị hiện đại, ít ô nhiễm môi trường vào sản xuất; tăng cường hợp tác với các Viện nghiên cứu để tiếp cận và chuyển giao các công nghệ mới.
- Đẩy mạnh áp dụng công nghệ, dây chuyền sản xuất tiên tiến của các nước phát triển với công suất thiết bị đủ lớn; cụ thể:
+ Đối với công nghệ sấy, xẻ gỗ: Ứng dụng một số hệ thống tiên tiến như sấy bằng bơm nhiệt, bằng năng lượng mặt trời, sấy chân không.
+ Đối với công nghệ ván ghép: Ứng dụng các hệ thống tự động hóa hoàn toàn từ đầu vào (gỗ đã sấy) đến đầu ra (ván ghép thành phẩm); ứng dụng các công nghệ phun sơn chống cháy, xử lý chống biến dạng khi gặp nước, công nghệ sản xuất keo dán và chất phủ mặt đáp ứng yêu cầu môi trường.
+ Công nghệ trong sản xuất đồ gỗ: Sử dụng các thiết bị ghép nối dài, nối rộng nguyên liệu gỗ nhằm tiết kiệm gỗ; máy định hình hiện đại giúp tạo sản phẩm đồng đều, chất lượng cao; sử dụng máy bào 4 mặt; sử dụng công nghệ sơn tĩnh điện kết hợp băng chuyền sấy sơn, đảm bảo chất lượng đồng đều; xây dựng hệ thống hút bụi, mùn cưa để đảm bảo môi trường và phòng chống cháy nổ.
+ Dây chuyền sản xuất ván ép: Gồm những thiết bị chính như: máy bóc (lạng) gỗ; hệ thống sấy gỗ, ép gỗ, dán gỗ, xử lý quy cách, đóng gói sản phẩm.
+ Dây chuyền sản xuất viên nén nhiên liệu: Gồm những thiết bị chính như máy băm gỗ, máy nghiền dăm gỗ thành mùn cưa, máy sấy mùn cưa, máy ép, máy làm mát, máy sàng viên nén, máy sàng mùn cưa, vít tải, băng tải và các thiết bị phụ khác. Đầu tư máy móc băm gỗ và ép thủy lực để tiêu thụ trong nước, xuất khẩu.
- Phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh... nhằm cung cấp kịp thời theo phát triển của thị trường, giá cả cho các cơ sở chế biến lâm sản.
4. Bảo đảm nguồn nguyên liệu cho chế biến lâm sản ổn định, bền vững:
- Quy hoạch các vùng rừng sản xuất nguyên liệu gỗ, mây, tre để khai thác tối đa tiềm năng về các giá trị lâm nghiệp của tỉnh. Tổ chức trồng rừng, kinh doanh rừng đảm bảo bền vững, thiết lập hệ thống kiểm soát, quản lý để được cấp chứng chỉ quản lý rừng tự nhiên bền vững toàn phần (FSC), chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm (COC) nhằm gia tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm lâm sản.
- Khuyến khích người sản xuất nguyên liệu góp vốn (hoặc góp cổ phần) vào nhà máy. Đồng thời các doanh nghiệp có nhà máy chế biến trong các khu/cụm công nghiệp phải có đề án xây dựng phát triển vùng nguyên liệu với quy mô, tính chất phù hợp với công suất của nhà máy chế biến đảm bảo ổn định lâu dài, có tính cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
5. Đào tạo nguồn nhân lực:
- Tăng cường hợp tác, liên kết giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp, gắn đào tạo với sử dụng lao động tại chỗ để nâng cao tay nghề cho công nhân và cán bộ kỹ thuật đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp; chú trọng đào tạo cán bộ nghiên cứu và lao động kỹ thuật trình độ chuyên môn cao.
- Đối với hàng mộc: Tăng cường đào tạo đội ngũ thiết kế theo hướng chuyên sâu để phục vụ định hướng sản xuất các mặt hàng chất lượng cao; tổ chức các lớp tập huấn về quản lý, kỹ thuật, trang trí mẫu mã, phương pháp tiếp cận thị trường cho các cơ sở chế biến lâm sản.
- Thu hút nghệ nhân giỏi ở trong tỉnh và các địa phương trong nước tham gia truyền nghề, đào tạo nghề lồng ghép với nguồn vốn đào tạo nghề của chương trình nông thôn mới.
- Phương thức đào tạo sát với thực tế, có chọn lọc, đạt chất lượng, phấn đấu đến năm 2020 ngành chế biến lâm sản tỉnh Lâm Đồng được sản xuất, quản lý và kinh doanh bởi đội ngũ lao động, cán bộ có kiến thức, chuyên nghiệp, có trách nhiệm,... đem lại hiệu quả cao và phát triển ngành chế biến lâm sản của tỉnh một cách bền vững.

Content:
Ổn định các cơ sở chế biến hàng mộc với tổng khối lượng sản xuất hàng năm khoảng 4.500 - 5.000 m3 sản phẩm/năm; tăng trưởng bình quân từ 16 - 18%/năm, giá trị sản xuất đạt 719 - 720 tỷ đồng vào năm 2020, tập trung vào hàng gỗ dân dụng và gỗ mỹ nghệ.
III. Nội dung quy hoạch
1. Quy hoạch sản phẩm:
a) Sản phẩm gỗ: Giảm tỷ lệ sản phẩm gỗ xẻ thô xuống còn khoảng 15% và nâng dần tỷ lệ sản phẩm chế biến tinh lên 85% với tổng sản lượng gỗ chế biến. Từng bước phát triển sản phẩm có hàm lượng khoa học công nghệ, giá trị gia tăng cao bằng việc áp dụng công nghệ tẩm, sấy, trang trí bề mặt... để sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh với các nhóm sản phẩm chính, như:
- Nhóm 1: Nhóm sản phẩm đồ mộc ngoài trời (các loại bàn ghế vườn, ghế băng, dù che nắng, ghế xích đu,...) được chế biến từ gỗ hoặc gỗ kết hợp với các vật liệu khác (sắt, nhôm, nhựa,...);
- Nhóm 2: Nhóm sản phẩm đồ mộc trong nhà (các loại bàn ghế, giường, tủ, giá kệ sách, đồ chơi,..) được chế biến từ gỗ hay gỗ kết hợp với các vật liệu khác (da, vải,...);
- Nhóm 3: Nhóm đồ mỹ nghệ chế biến chủ yếu từ gỗ nhóm I, II nhập khẩu (bàn, ghế, tủ, giường,...) và áp dụng các công nghệ chạm, khắc, khảm,...;
- Nhóm 4: Sản phẩm ván ép từ gỗ rừng trồng.
b) Sản phẩm lâm sản khác:
- Sản phẩm viên nén nhiên liệu hoặc gỗ dăm,... được tận dụng từ sản phẩm cành, nhánh, bìa, bắp, mùn cưa,...trong quá trình khai thác và chế biến, tinh chế gỗ.
- Sản phẩm mây, tre tập trung ở các huyện phía Nam của tỉnh với giá trị sản xuất tăng bình quân từ 17%/năm trở lên, giá trị sản xuất đạt khoảng 232 tỷ đồng vào năm 2020, thu hút từ 1.800 - 2.000 lao động.
c) Giá trị sản xuất:
- Giá trị sản xuất đạt 1.260 - 1.280 tỷ đồng/năm.
- Tổng giá trị xuất khẩu chiếm 40 - 45% giá trị sản xuất.
- Đến năm 2020, phấn đấu đạt tỷ lệ giá trị gia tăng/giá trị sản xuất (VAT/GO) khoảng 50 - 55% (năm 2015: 45%).
2. Rà soát, di dời các xưởng chế biến lâm sản hiện có:
a) Các cơ sở chế biến không phải di dời: gồm 44 cơ sở (chi tiết theo Phụ lục I đính kèm).
b) Các cơ sở chế biến gỗ phải di chuyển vào các khu/cụm công nghiệp hoàn thành trước năm 2020: gồm 10 cơ sở (chi tiết theo Phụ lục II đính kèm).
c) Các cơ sở chế biến gỗ chấm dứt hoạt động chậm nhất là đến năm 2020: gồm 47 cơ sở (chi tiết theo Phụ lục III đính kèm).
d) Các cơ sở chế biến hiện có nằm ngoài các khu, cụm công nghiệp:
- Ở vị trí cách ranh giới (bìa rừng) rừng tự nhiên từ 2,0 km trở lên (ngoại trừ các công ty TNHH MTV lâm nghiệp và các khu/cụm công nghiệp) thì trước mắt vẫn được tiếp tục hoạt động hoặc phải di dời theo lộ trình (quy định tại tiết b, điểm 2, mục III Quyết định này).
- Có vị trí cách ranh giới (bìa rừng) rừng tự nhiên dưới 2,0 km; các cơ sở chế biến lâm sản trong khu vực dân cư, gây ô nhiễm môi trường (tiếng ồn, không khí, nước thải, hóa chất,...), không đảm bảo yêu cầu về phòng cháy chữa cháy, không có đầy đủ các thủ tục về xây dựng và không có nguồn nguyên liệu ổn định,...thì phải di dời theo lộ trình từ 3 - 5 năm; chậm nhất đến năm 2020 các cơ sở chế biến lâm sản này phải di dời vào các khu/cụm công nghiệp hoặc phải chấm dứt hoạt động nếu không chấp hành việc di dời (quy định tại tiết b, tiết c, điểm 2, mục III Quyết định này).
3. Quy hoạch cơ sở chế biến:
- Khu Công nghiệp Phú Hội, huyện Đức Trọng: Đầu tư từ 02 - 03 nhà máy chế biến, tinh chế gỗ (chủ yếu là gỗ thông) khoảng 50.000 m3 gỗ tròn/năm trở lên để sản xuất các sản phẩm hàng mộc nội thất, ngoại thất; ván ghép thanh, ván ép phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
- Khu Công nghiệp Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc: Đầu tư từ 01 - 02 nhà máy chế biến, tinh chế gỗ (gỗ thông và các loại gỗ khác) khoảng 40.000 m3 gỗ/năm trở lên để sản xuất các sản phẩm hàng mộc, ván ghép thanh, ván ép phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
- Di chuyển các nhà xưởng không nằm trong quy hoạch vào các cụm công nghiệp hoặc đầu tư mới tại các cụm công nghiệp của các huyện như: Đạ Huoai, Đam Rông, Di Linh, Bảo Lâm,... với công suất phù hợp để sản xuất các sản phẩm ván ghép thanh, hàng mộc nội thất, ngoại thất, ván ép phục vụ tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu.
- Đối với các nhà máy, cơ sở chế biến gỗ đầu tư mới thì phải đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp theo quy hoạch; trường hợp đặc biệt đầu tư ngoài các khu, cụm công nghiệp thì phải có ý kiến thống nhất của UBND tỉnh.
- Phát triển các cơ sở sản xuất chế biến viên nén nhiên liệu hoặc gỗ dăm: Quy hoạch đến năm 2020 đầu tư 01 cơ sở sản xuất chế biến viên nén nhiên liệu hoặc gỗ dăm tại Khu công nghiệp Phú Hội, với công suất 20.000 tấn/năm.
- Phát triển các cơ sở mộc gia dụng: Ổn định, có điều chỉnh phù hợp các cơ sở mộc gia dụng hiện có. Đây là nhu cầu của xã hội nên cần phải đáp ứng, nguồn gỗ (ván xẻ, ván ghép) từ các cơ sở chế biến gỗ, nhu cầu bình quân 08 - 10 m3 gỗ/năm; tổng khối lượng sản xuất hàng năm khoảng 4.500 - 5.000 m3 sản phẩm hàng mộc; ngoài ra, cần nhập khẩu khoảng 1.000 m3
gỗ nhóm I/năm để sản xuất hàng mộc cao cấp.
4. Quy hoạch nguyên liệu và vùng nguyên liệu giai đoạn 2016 - 2020:
a) Khối lượng gỗ tròn khai thác trong tỉnh đưa vào chế biến bình quân khoảng 205.000 m3/năm; trong đó:
- Khai thác trắng rừng trồng thông 3 lá: 49.072 m3/năm;
- Khai thác tỉa thưa rừng thông 3 lá: 31.871 m3/năm;
- Khai thác gỗ rừng trồng trên đất nông nghiệp của nhân dân và các doanh nghiệp: 124.000 m3/năm.
b) Khối lượng gỗ nhập khẩu và mua từ ngoài tỉnh: 1.000 m3/năm trở lên.
c) Quy hoạch các khu, vùng diện tích để tập trung trồng rừng, phát triển nguồn nguyên liệu cung cấp ổn định cho hoạt động sản xuất, chế biến lâm sản ổn định theo kế hoạch gắn với quy hoạch lại 3 loại rừng của tỉnh, rà soát diện tích rừng phòng hộ ít xung yếu chuyển sang phát triển rừng sản xuất.
IV. Vốn đầu tư
1. Tổng vốn đầu tư đến năm 2020: 3.842 tỷ đồng
- Giai đoạn 2014 - 2015: 905 tỷ đồng;
- Giai đoạn 2016 - 2020: 2.937 tỷ đồng.
2. Nguồn vốn:
- Vốn ngân sách: 192 tỷ đồng (chiếm 5%);
- Vốn vay tín dụng: 1.232 tỷ đồng (chiếm 33%);
- Vốn tự có của các doanh nghiệp, cơ sở chế biến, tinh chế gỗ: 2.421 tỷ đồng (chiếm 62%).
V. Các giải pháp thực hiện quy hoạch
1. Về cơ chế chính sách:
a) Khuyến khích và hỗ trợ di dời các cơ sở nằm cách bìa rừng dưới 2,0 km theo 2 tiêu chí là tỷ lệ chế biến tinh và công nghệ; theo đó, những cơ sở có tỷ lệ chế biến tinh thấp và công nghệ lạc hậu sẽ di dời trước, và di dời dứt điểm vào năm 2020. Các cơ sở di dời vào khu/cụm công nghiệp sẽ được giảm tiền thuê đất và miễn thuế doanh nghiệp từ 3 - 5 năm; được hỗ trợ xúc tiến thương mại và giới thiệu sản phẩm.
b) Tạo điều kiện và hỗ trợ các chủ cơ sở di dời tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi trong nước; hỗ trợ chi phí xây dựng cơ sở mới.
c) Xây dựng, bổ sung hệ thống chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến lâm sản phù hợp với điều kiện thực tế; chú trọng đến chính sách giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu, máy móc thiết bị hiện đại và các vật tư kỹ thuật có liên quan đến chế biến lâm sản để các cơ sở có cơ hội đổi mới công nghệ chế biến.
2. Về huy động vốn đầu tư:
a) Xây dựng danh mục các dự án, các thông tin chi tiết về từng dự án và các cơ chế, chính sách ưu đãi của tỉnh để thu hút đầu tư các doanh nghiệp trong tỉnh, trong nước, nước ngoài và nhân dân.
b) Mở rộng hình thức liên doanh, liên kết giữa doanh nghiệp ngoài Nhà nước (ưu tiên doanh nghiệp trong tỉnh) với doanh nghiệp Nhà nước và người dân để hình thành chuỗi liên kết từ khâu sản xuất nguyên liệu đến khâu tiêu dùng cuối cùng để xây dựng ngành chế biến lâm sản của tỉnh phát triển.
3. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ mới, phương tiện, máy móc, thiết bị hiện đại, tiên tiến vào sản xuất:
- Huy động nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ mới, máy móc thiết bị hiện đại, ít ô nhiễm môi trường vào sản xuất; tăng cường hợp tác với các Viện nghiên cứu để tiếp cận và chuyển giao các công nghệ mới.
- Đẩy mạnh áp dụng công nghệ, dây chuyền sản xuất tiên tiến của các nước phát triển với công suất thiết bị đủ lớn; cụ thể:
+ Đối với công nghệ sấy, xẻ gỗ: Ứng dụng một số hệ thống tiên tiến như sấy bằng bơm nhiệt, bằng năng lượng mặt trời, sấy chân không.
+ Đối với công nghệ ván ghép: Ứng dụng các hệ thống tự động hóa hoàn toàn từ đầu vào (gỗ đã sấy) đến đầu ra (ván ghép thành phẩm); ứng dụng các công nghệ phun sơn chống cháy, xử lý chống biến dạng khi gặp nước, công nghệ sản xuất keo dán và chất phủ mặt đáp ứng yêu cầu môi trường.
+ Công nghệ trong sản xuất đồ gỗ: Sử dụng các thiết bị ghép nối dài, nối rộng nguyên liệu gỗ nhằm tiết kiệm gỗ; máy định hình hiện đại giúp tạo sản phẩm đồng đều, chất lượng cao; sử dụng máy bào 4 mặt; sử dụng công nghệ sơn tĩnh điện kết hợp băng chuyền sấy sơn, đảm bảo chất lượng đồng đều; xây dựng hệ thống hút bụi, mùn cưa để đảm bảo môi trường và phòng chống cháy nổ.
+ Dây chuyền sản xuất ván ép: Gồm những thiết bị chính như: máy bóc (lạng) gỗ; hệ thống sấy gỗ, ép gỗ, dán gỗ, xử lý quy cách, đóng gói sản phẩm.
+ Dây chuyền sản xuất viên nén nhiên liệu: Gồm những thiết bị chính như máy băm gỗ, máy nghiền dăm gỗ thành mùn cưa, máy sấy mùn cưa, máy ép, máy làm mát, máy sàng viên nén, máy sàng mùn cưa, vít tải, băng tải và các thiết bị phụ khác. Đầu tư máy móc băm gỗ và ép thủy lực để tiêu thụ trong nước, xuất khẩu.
- Phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh... nhằm cung cấp kịp thời theo phát triển của thị trường, giá cả cho các cơ sở chế biến lâm sản.
4. Bảo đảm nguồn nguyên liệu cho chế biến lâm sản ổn định, bền vững:
- Quy hoạch các vùng rừng sản xuất nguyên liệu gỗ, mây, tre để khai thác tối đa tiềm năng về các giá trị lâm nghiệp của tỉnh. Tổ chức trồng rừng, kinh doanh rừng đảm bảo bền vững, thiết lập hệ thống kiểm soát, quản lý để được cấp chứng chỉ quản lý rừng tự nhiên bền vững toàn phần (FSC), chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm (COC) nhằm gia tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm lâm sản.
- Khuyến khích người sản xuất nguyên liệu góp vốn (hoặc góp cổ phần) vào nhà máy. Đồng thời các doanh nghiệp có nhà máy chế biến trong các khu/cụm công nghiệp phải có đề án xây dựng phát triển vùng nguyên liệu với quy mô, tính chất phù hợp với công suất của nhà máy chế biến đảm bảo ổn định lâu dài, có tính cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
Đào tạo nguồn nhân lực:
- Tăng cường hợp tác, liên kết giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp, gắn đào tạo với sử dụng lao động tại chỗ để nâng cao tay nghề cho công nhân và cán bộ kỹ thuật đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp; chú trọng đào tạo cán bộ nghiên cứu và lao động kỹ thuật trình độ chuyên môn cao.
- Đối với hàng mộc: Tăng cường đào tạo đội ngũ thiết kế theo hướng chuyên sâu để phục vụ định hướng sản xuất các mặt hàng chất lượng cao; tổ chức các lớp tập huấn về quản lý, kỹ thuật, trang trí mẫu mã, phương pháp tiếp cận thị trường cho các cơ sở chế biến lâm sản.
- Thu hút nghệ nhân giỏi ở trong tỉnh và các địa phương trong nước tham gia truyền nghề, đào tạo nghề lồng ghép với nguồn vốn đào tạo nghề của chương trình nông thôn mới.
- Phương thức đào tạo sát với thực tế, có chọn lọc, đạt chất lượng, phấn đấu đến năm 2020 ngành chế biến lâm sản tỉnh Lâm Đồng được sản xuất, quản lý và kinh doanh bởi đội ngũ lao động, cán bộ có kiến thức, chuyên nghiệp, có trách nhiệm,... đem lại hiệu quả cao và phát triển ngành chế biến lâm sản của tỉnh một cách bền vững.