Document: Khoản 8 Điều 1 Quyết định 1151/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt Trung đến năm 2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "30/08/2007", "sign_number": "1151/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "30/08/2007", "sign_number": "1151/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "30/08/2007", "sign_number": "1151/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "30/08/2007", "sign_number": "1151/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "30/08/2007", "sign_number": "1151/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 8 Điều 1 Quyết định 1151/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt Trung đến năm 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt - Trung đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau:
...
8. Định hướng phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật:
a) Định hướng quy hoạch giao thông:
- Đường bộ:
+ Hệ thống đường vành đai:
Đường vành đai nâng cấp: hoàn chỉnh toàn tuyến vành đai 1 trên cơ sở hệ thống quốc lộ 4 (4C, 4D, 4E), quốc lộ 34; xây dựng thêm một số đoạn tuyến để thông tuyến liên tục; hoàn chỉnh vành đai 2 theo tuyến quốc lộ 279 hiện nay.
Đường vành đai xây dựng mới: hoàn chỉnh tuyến đường hành lang biên giới theo dự án đường biên giới do Bộ Quốc phòng đang triển khai; xây dựng mới 2 đoạn tuyến trên hệ thống đường vành đai 1, bao gồm: đoạn nối từ Bảo Lạc (Cao Bằng) sang Mèo Vạc (Hà Giang) và đoạn từ Hà Giang sang Lai Chuâ; tuyến kéo dài đường hành lang biên giới từ Leng Su Sin qua Mường Nhé, Nậm Chẩn, Nà Khoa, hướng theo tỉnh lộ 131 về thị xã Mường Chà mới (điểm giao với quốc lộ 12); tuyến vành đai 1-2 nối quốc lộ 4D với quốc lộ 12 qua thị xã Mường Lay (quốc lộ 12), Nạm Mạ, Nậm Béo, Nà Hum, Huổi Ke (quốc lộ 4D); tạo tuyến vành đai phụ nối từ Lào Cai sang Lai Châu tới Điện Biên.
+ Hệ thống đường nan quạt:
Nâng cấp cải tạo các quốc lộ 18, lA, 3, 2, 70, 6, 12, 18C, 31, 1B, 3B;
Xây dựng mới tuyến cao tốc Hà Nội-Việt Trì-Yên Bái-Lào Cai, tuyến quốc lộ 6 kéo dài (từ tỉnh lộ 127 hiện tại nhập với tuyến hành lang biên giới tại Mường Tè, qua Pắc Ma đi cửa khẩu Nậm Là) và tuyến quốc lộ mới (nối quốc lộ 6 với quốc lộ 279 đi cửa khẩu Tây Trang);
Sớm xây dựng hoàn chỉnh đường Hồ Chí Minh, đoạn tuyến quốc lộ 3 và tỉnh lộ 230 nối từ thị xã Cao Bằng đi Pắc Bó;
Các tuyến quốc lộ mới hình thành trên cơ sở nâng cấp và xây dựng mới một số đoạn: quốc lộ mới-nhánh quốc lộ 31; quốc lộ 1B kéo dài; xây dựng mới kết hợp nâng cấp tỉnh lộ 208, một phần tỉnh lộ 227; nâng cấp cải tạo đoạn tỉnh lộ 227-Lạng Sơn và tỉnh lộ 208-Cao Bằng; xây dựng mới đoạn từ thị trấn Đông Khê sang Cao Minh-huyện Tràng Định; xây dựng mới kết hợp nâng cấp tỉnh lộ 212, một phần tỉnh lộ 204; nâng cấp, cải tạo đoạn tỉnh lộ 204 từ thị trấn Thông Nông sang Cần Yên và tỉnh lộ 212 từ quốc lộ 34 từ thị trấn Nguyên Bình nối với đường vành đai 2 sang quốc lộ 279 thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn; xây dựng mới đoạn từ thị trấn Nguyên Bình sang thị trấn Thông Nông; nâng cấp và kéo dài tỉnh lộ 176 từ tỉnh Tuyên Quang tới Bắc Mê để nối kết giữa vành đai 2 và vành đai 1; nâng cấp tỉnh lộ 176 từ huyện Bắc Mê, gắn kết các điểm dân cư vùng núi cao, qua Yên Minh, Mèo Vạc rồi nhập với tuyến hành lang biên giới; nâng cấp tỉnh lộ 178 nối giữa đường vành đai 1 với vành đai 2;
+ Hệ thống đường giao thông nội vùng: tăng cường số lượng đường ra biên giới và tăng cấp hạng kỹ thuật gắn với quy hoạch bố trí các điểm dân cư, hệ thống các cửa khẩu địa phương, chợ đường biên, trạm biên phòng. Bảo đảm giao thông thuận lợi trong cả mùa mưa lũ và tính liên hoàn giữa đường tuần tra với đường hành lang biên giới; xây dựng hoàn chỉnh mạng lưới bến xe đối ngoại theo cấp vùng, cấp tỉnh và mạng lưới bến xe cấp huyện;
+ Giao thông đô thị: ưu tiên hoàn chỉnh quy hoạch và đầu tư xây dựng hệ thống giao thông trong các đô thị, tạo điền kiện cho các đô thị phát triển nhanh, phát huy vai trò hạt nhân, đầu tầu trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng.
- Đường sắt:
+ Nâng cấp cải tạo tuyến Hà Nội - Lạng Sơn và Hà Nội - Lào Cai;
+ Xây dựng mới tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - Quảng Ninh, Hà Nội - Lào Cai; Xây dựng mới tuyến chạy song song với quốc lộ 4B, nối từ Lạng Sơn sang Quảng Ninh tới cảng Mũi Chùa;
+ Nâng cấp mở rộng ga Lạng Sơn, ga Lào Cai thành ga đường sắt đầu mối mang chức năng cấp vùng.
- Đường thuỷ:
Xây dựng hoàn chỉnh cảng nước sâu Cái Lân; nâng cấp cải tạo, mở rộng cảng Mũi Chùa; hoàn chỉnh các tuyến giao thông thuỷ trên sông Hồng đoạn Lào Cai - Hà Nội, trên sông Đà đoạn Sơn La - Hòa Bình - Hà Nội, trên sông Lô đoạn Hà Giang - Tuyên Quang - Phú Thọ.
- Đường hàng không:
Xây dựng mới cảng hàng không quốc tế Vân Đồn (Quảng Ninh) và các cảng hàng không nội địa tại Cao Bằng, Lào Cai, Hà Giang và Lai Châu.
b) San nền, thoát nước mưa:
- San nền: cần tôn trọng địa hình; san nền giật cấp các khu vực có độ dốc từ 10% đến 20%, kè các mái dốc tạo mặt bằng đủ để xây dựng công trình; lựa chọn cao độ nền cho từng đô thị, điểm dân cư nông thôn bảo đảm không bị ngập úng, ngập lũ, thuận tiện giao thông và thoát nước mưa;
- Thoát nước mưa: chỉ tiêu tại các thành phố, thị xã đạt 100 - 140 m cống/ha xây dựng; chỉ tiêu tại các thị trấn đạt 80 - 100 m cống/ha xây dựng. Đối với các đô thị cải tạo nâng cấp hoặc xây dựng mới, tuỳ điều kiện cụ thể có thể sử dụng hệ thống thoát nước chung hoặc riêng. Mạng lưới cống xây dựng phân tán theo địa hình tự nhiên, phân bổ đều trên toàn bộ diện tích xây đựng đô thị nhằm thoát nước nhanh, tránh úng ngập cục bộ, đảm bảo vệ sinh môi trường. Các khu công nghiệp, khai thác quặng, khoáng sản phải xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi xả ra môi trường. Đối với các điểm dân cư nông thôn có quy mô lớn hơn 50 hộ gia đình cần xây dựng hệ thống thoát nước mặt; các cụm dân cư tập trung ven trục đường cần xây dựng mương nắp đan để thoát nước chung; các điểm dân cư nông thôn xây dựng sát chân núi và trên các sườn núi phải có mương xây hở đón nước, không để nước chảy qua khu dân cư.
Xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện đầu nguồn các sông: sông Đà, Nậm Mức, Nậm Nhùn, sông Mã, sông Lô, sông Gâm, sông Bạc, sông Nho Quế và các sông khác. Xây dựng mới các hồi Nà Danh, Co Po, Nà Lái, Khuổi Kỳ, Khuổi Khoán, Khon Pàng và Khuổi Pác. Khôi phục và mở rộng mương Co Páo, Nà ít. Xây dụng mới mương Cốc Chủ, Nặm Phản và đập Ngườm Ngào.
Tăng cường công tác trồng và quản lý rừng đầu nguồn để chống xói lở và lũ quét, tăng độ che phủ rừng phòng hộ đầu nguồn các sông có hồ thủy điện Hòa Bình, hồ Sơn La, hồ Na Hang, hồ sông Bạc, hồ Thác Bà và các hồ thủy điện khác.
c) Cấp điện:
- Nguồn thủy điện: trong vùng có tiềm năng lớn về thủy điện như: thủy điện Sơn La 1 công suất 2.400 MW, Sơn La 2 (Lai Châu) công suất 1.100 MW, Na Hang (Tuyên Quang) công suất 342 MW, Huội Quảng (Sơn La) công suất 540 MW, Na Le (Lào Cai) công suất 90 MW, Nho Quế 1 (Hà Giang) công suất 145 MW, Bắc Mê (Hà Giang) công suất 280 MW, Thái An (Hà Giang) công suất 80 MW và một số cụm thủy điện vừa và nhỏ khác;
- Nguồn nhiệt điện: các nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh 1 công suất 600 MW, Quảng Ninh 2 công suất 600-1.000 MW, Mông Dương (Quảng Ninh) công suất 1.000MW, Uông Bí mở rộng đợt 1 công suất 600 MW, Cẩm Phả 1 công suất 300 MW;
- Nguồn điện nhập của Trung Quốc: từ Thiên Bảo qua khu vực Thanh Thủy (Hà Giang) công suất 70 MW, từ Hà Khẩu qua khu vực Duyên Hải (Lào Cai) công suất 70 MW, từ Châu Hồng Hà qua khu vực Lào Cai công suất trên 200 MW, từ Đông Hưng qua khu vực Móng Cái (Quảng Ninh) công suất 40-50 MW; từ Bằng Tường qua khu vực Hữu Nghị Quan (Lạng Sơn) công suất 70 MW;
- Đường dây truyền tải điện: phát triển lưới điện đấu nối với hệ thống điện quốc gia để khai thác có hiệu quả các công trình thuỷ điện, tiếp nhận điện nhập từ Trung Quốc theo thoả thuận của EVN và cung cấp điện cho các phụ tải điện lớn trong vùng. Đồng thời với việc mở rộng nâng công suất các công trình điện hiện có cần sớm phát triển lưới điện 500 KV và 220 V cùng các trạm 500 KV, 220 KV trên địa bàn các tỉnh trong vùng;
- Sử dụng các nguồn năng lượng khác: nghiên cứu phát triển nguồn điện năng lượng mặt trời, năng lượng gió, khí biôga và các nguồn năng lượng khác nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân các dân tộc, đặc biệt là đối với các thôn bản vùng cao, vùng xa, vùng sâu, vùng không có điều kiện để xây dựng thuỷ điện và phải đầu tư quá cao trong xây dựng đường dây truyền tải điện;
- Định hướng cấp điện: đến năm 2010, 100% dân cư đô thị được cấp điện sinh hoạt; 100% số xã, 96% số thôn, bản (điểm dân cư có từ 20 hộ trở lên), 85% số hộ dân cư nông thôn được sử dụng điện lưới, 100% số hộ được sử dụng điện.
d) Cấp nước:
- Nguồn nước mặt: toàn vùng có tổng lượng nước hàng năm khoảng 29.564 tỷ m3. Tuy nhiên do các sông, suối phần lớn nằm ở thượng nguồn có độ dốc lớn, mưa phân bố không đều trong năm, cần đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi để giữ, điều hòa nước;
- Nguồn nước ngầm: nước ngầm và nước khoáng chưa được thăm dò đầy đủ, cần thăm dò trữ tượng để khai thác, cấp nước cho đô thị.
- Định hướng cấp nước:
+ Đến năm 2010, 85 - 90% số dân tại các thành phố, thị xã và 85% số dân tại các thị trấn được cấp nước sạch sinh hoạt;
+ Đến năm 2020, 95 - 100% số dân tại các thành phố, thị xã và 95% số dân tại các thị trấn được cấp nước sạch sinh hoạn
+ Tại các điểm dân cư nông thôn, tỷ lệ cấp nước sạch khoảng 85 - 95%.
đ) Thoát nước thải sinh hoạt, vệ sinh môi trường:
- Thoát nước thải sinh hoạt: nước thải sinh hoạt tại các thành phố và thị xã, thị trấn phải dược xử lý trước khi xả ra môi trường. Giai đoạn đầu có thể kết hợp với các sông, hồ sẵn có, hoặc đào hồ sinh học để xử lý nước thải bằng phương pháp tự làm sạch sinh học. Tương lai sẽ xây dựng các nhà máy xử lý nước thải cho thị xã và các thị trấn đạt tiêu chuẩn loại B (TCVN 5942-1995); tại các thị tứ và các cụm dân cư nông thôn nước thải được xử lý bằng phương pháp tự làm sạch; khuyến khích người dân sử dụng hố xí tự hoại và xí thấm; nước thải của các xí nghiệp công nghiệp xây dựng phân tán được xử lý cục bộ đạt tiêu chuẩn loại B (TCVN 5945-1995) và nước thải của các khu công nghiệp tập trung phải được xử lý tại trạm xử lý nước thải công nghiệp đạt tiêu chuẩn loại B (TCVN 5945-1995) trước khi xả ra môi trường;
- Thu gom xử lý chất thải rắn: xây dựng khu xử lý chất thải rắn có nhà máy chế biến phân hữu cơ tại các đô thị lớn hoặc vùng liên đô thị; tại các thị xã, thị trấn sử dụng bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh quy mô từ 3 - 5 ha; bãi chôn lấp tại các thị tứ có quy mô khoảng 1 ha; các điểm dân cư riêng lẻ cần bố trí điểm tập trung chất thải rắn hoặc sử dụng các biện pháp chôn ủ để phân huỷ yếm khí chất thải rắn cung cấp phân bón cho nông nghiệp. Các điểm chôn ủ chất thải rắn phải tuân thủ các quy định về vệ sinh môi trường;
Chất thải rắn công nghiệp được phân loại để xử lý và tái chế; đầu tư xây dựng tại bệnh viện đa khoa cấp tỉnh một trạm thiêu đốt chất thải y tế bảo đảm các tiêu chuẩn về môi trường để phục vụ chung cho các cơ sở y tế trong tỉnh;
- Nghĩa trang: mỗi đô thị, mỗi xã trong vùng cần qui hoạch khu nghĩa trang, bố trí xa dân cư, nguồn nước; quy mô nghĩa trang đô thị khoảng 2,5 - 15 ha, ở các xã khoảng 0,5 - 1 ha.

Content:
Định hướng phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật:
a) Định hướng quy hoạch giao thông:
- Đường bộ:
+ Hệ thống đường vành đai:
Đường vành đai nâng cấp: hoàn chỉnh toàn tuyến vành đai 1 trên cơ sở hệ thống quốc lộ 4 (4C, 4D, 4E), quốc lộ 34; xây dựng thêm một số đoạn tuyến để thông tuyến liên tục; hoàn chỉnh vành đai 2 theo tuyến quốc lộ 279 hiện nay.
Đường vành đai xây dựng mới: hoàn chỉnh tuyến đường hành lang biên giới theo dự án đường biên giới do Bộ Quốc phòng đang triển khai; xây dựng mới 2 đoạn tuyến trên hệ thống đường vành đai 1, bao gồm: đoạn nối từ Bảo Lạc (Cao Bằng) sang Mèo Vạc (Hà Giang) và đoạn từ Hà Giang sang Lai Chuâ; tuyến kéo dài đường hành lang biên giới từ Leng Su Sin qua Mường Nhé, Nậm Chẩn, Nà Khoa, hướng theo tỉnh lộ 131 về thị xã Mường Chà mới (điểm giao với quốc lộ 12); tuyến vành đai 1-2 nối quốc lộ 4D với quốc lộ 12 qua thị xã Mường Lay (quốc lộ 12), Nạm Mạ, Nậm Béo, Nà Hum, Huổi Ke (quốc lộ 4D); tạo tuyến vành đai phụ nối từ Lào Cai sang Lai Châu tới Điện Biên.
+ Hệ thống đường nan quạt:
Nâng cấp cải tạo các quốc lộ 18, lA, 3, 2, 70, 6, 12, 18C, 31, 1B, 3B;
Xây dựng mới tuyến cao tốc Hà Nội-Việt Trì-Yên Bái-Lào Cai, tuyến quốc lộ 6 kéo dài (từ tỉnh lộ 127 hiện tại nhập với tuyến hành lang biên giới tại Mường Tè, qua Pắc Ma đi cửa khẩu Nậm Là) và tuyến quốc lộ mới (nối quốc lộ 6 với quốc lộ 279 đi cửa khẩu Tây Trang);
Sớm xây dựng hoàn chỉnh đường Hồ Chí Minh, đoạn tuyến quốc lộ 3 và tỉnh lộ 230 nối từ thị xã Cao Bằng đi Pắc Bó;
Các tuyến quốc lộ mới hình thành trên cơ sở nâng cấp và xây dựng mới một số đoạn: quốc lộ mới-nhánh quốc lộ 31; quốc lộ 1B kéo dài; xây dựng mới kết hợp nâng cấp tỉnh lộ 208, một phần tỉnh lộ 227; nâng cấp cải tạo đoạn tỉnh lộ 227-Lạng Sơn và tỉnh lộ 208-Cao Bằng; xây dựng mới đoạn từ thị trấn Đông Khê sang Cao Minh-huyện Tràng Định; xây dựng mới kết hợp nâng cấp tỉnh lộ 212, một phần tỉnh lộ 204; nâng cấp, cải tạo đoạn tỉnh lộ 204 từ thị trấn Thông Nông sang Cần Yên và tỉnh lộ 212 từ quốc lộ 34 từ thị trấn Nguyên Bình nối với đường vành đai 2 sang quốc lộ 279 thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn; xây dựng mới đoạn từ thị trấn Nguyên Bình sang thị trấn Thông Nông; nâng cấp và kéo dài tỉnh lộ 176 từ tỉnh Tuyên Quang tới Bắc Mê để nối kết giữa vành đai 2 và vành đai 1; nâng cấp tỉnh lộ 176 từ huyện Bắc Mê, gắn kết các điểm dân cư vùng núi cao, qua Yên Minh, Mèo Vạc rồi nhập với tuyến hành lang biên giới; nâng cấp tỉnh lộ 178 nối giữa đường vành đai 1 với vành đai 2;
+ Hệ thống đường giao thông nội vùng: tăng cường số lượng đường ra biên giới và tăng cấp hạng kỹ thuật gắn với quy hoạch bố trí các điểm dân cư, hệ thống các cửa khẩu địa phương, chợ đường biên, trạm biên phòng. Bảo đảm giao thông thuận lợi trong cả mùa mưa lũ và tính liên hoàn giữa đường tuần tra với đường hành lang biên giới; xây dựng hoàn chỉnh mạng lưới bến xe đối ngoại theo cấp vùng, cấp tỉnh và mạng lưới bến xe cấp huyện;
+ Giao thông đô thị: ưu tiên hoàn chỉnh quy hoạch và đầu tư xây dựng hệ thống giao thông trong các đô thị, tạo điền kiện cho các đô thị phát triển nhanh, phát huy vai trò hạt nhân, đầu tầu trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng.
- Đường sắt:
+ Nâng cấp cải tạo tuyến Hà Nội - Lạng Sơn và Hà Nội - Lào Cai;
+ Xây dựng mới tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - Quảng Ninh, Hà Nội - Lào Cai; Xây dựng mới tuyến chạy song song với quốc lộ 4B, nối từ Lạng Sơn sang Quảng Ninh tới cảng Mũi Chùa;
+ Nâng cấp mở rộng ga Lạng Sơn, ga Lào Cai thành ga đường sắt đầu mối mang chức năng cấp vùng.
- Đường thuỷ:
Xây dựng hoàn chỉnh cảng nước sâu Cái Lân; nâng cấp cải tạo, mở rộng cảng Mũi Chùa; hoàn chỉnh các tuyến giao thông thuỷ trên sông Hồng đoạn Lào Cai - Hà Nội, trên sông Đà đoạn Sơn La - Hòa Bình - Hà Nội, trên sông Lô đoạn Hà Giang - Tuyên Quang - Phú Thọ.
- Đường hàng không:
Xây dựng mới cảng hàng không quốc tế Vân Đồn (Quảng Ninh) và các cảng hàng không nội địa tại Cao Bằng, Lào Cai, Hà Giang và Lai Châu.
b) San nền, thoát nước mưa:
- San nền: cần tôn trọng địa hình; san nền giật cấp các khu vực có độ dốc từ 10% đến 20%, kè các mái dốc tạo mặt bằng đủ để xây dựng công trình; lựa chọn cao độ nền cho từng đô thị, điểm dân cư nông thôn bảo đảm không bị ngập úng, ngập lũ, thuận tiện giao thông và thoát nước mưa;
- Thoát nước mưa: chỉ tiêu tại các thành phố, thị xã đạt 100 - 140 m cống/ha xây dựng; chỉ tiêu tại các thị trấn đạt 80 - 100 m cống/ha xây dựng. Đối với các đô thị cải tạo nâng cấp hoặc xây dựng mới, tuỳ điều kiện cụ thể có thể sử dụng hệ thống thoát nước chung hoặc riêng. Mạng lưới cống xây dựng phân tán theo địa hình tự nhiên, phân bổ đều trên toàn bộ diện tích xây đựng đô thị nhằm thoát nước nhanh, tránh úng ngập cục bộ, đảm bảo vệ sinh môi trường. Các khu công nghiệp, khai thác quặng, khoáng sản phải xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi xả ra môi trường. Đối với các điểm dân cư nông thôn có quy mô lớn hơn 50 hộ gia đình cần xây dựng hệ thống thoát nước mặt; các cụm dân cư tập trung ven trục đường cần xây dựng mương nắp đan để thoát nước chung; các điểm dân cư nông thôn xây dựng sát chân núi và trên các sườn núi phải có mương xây hở đón nước, không để nước chảy qua khu dân cư.
Xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện đầu nguồn các sông: sông Đà, Nậm Mức, Nậm Nhùn, sông Mã, sông Lô, sông Gâm, sông Bạc, sông Nho Quế và các sông khác. Xây dựng mới các hồi Nà Danh, Co Po, Nà Lái, Khuổi Kỳ, Khuổi Khoán, Khon Pàng và Khuổi Pác. Khôi phục và mở rộng mương Co Páo, Nà ít. Xây dụng mới mương Cốc Chủ, Nặm Phản và đập Ngườm Ngào.
Tăng cường công tác trồng và quản lý rừng đầu nguồn để chống xói lở và lũ quét, tăng độ che phủ rừng phòng hộ đầu nguồn các sông có hồ thủy điện Hòa Bình, hồ Sơn La, hồ Na Hang, hồ sông Bạc, hồ Thác Bà và các hồ thủy điện khác.
c) Cấp điện:
- Nguồn thủy điện: trong vùng có tiềm năng lớn về thủy điện như: thủy điện Sơn La 1 công suất 2.400 MW, Sơn La 2 (Lai Châu) công suất 1.100 MW, Na Hang (Tuyên Quang) công suất 342 MW, Huội Quảng (Sơn La) công suất 540 MW, Na Le (Lào Cai) công suất 90 MW, Nho Quế 1 (Hà Giang) công suất 145 MW, Bắc Mê (Hà Giang) công suất 280 MW, Thái An (Hà Giang) công suất 80 MW và một số cụm thủy điện vừa và nhỏ khác;
- Nguồn nhiệt điện: các nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh 1 công suất 600 MW, Quảng Ninh 2 công suất 600-1.000 MW, Mông Dương (Quảng Ninh) công suất 1.000MW, Uông Bí mở rộng đợt 1 công suất 600 MW, Cẩm Phả 1 công suất 300 MW;
- Nguồn điện nhập của Trung Quốc: từ Thiên Bảo qua khu vực Thanh Thủy (Hà Giang) công suất 70 MW, từ Hà Khẩu qua khu vực Duyên Hải (Lào Cai) công suất 70 MW, từ Châu Hồng Hà qua khu vực Lào Cai công suất trên 200 MW, từ Đông Hưng qua khu vực Móng Cái (Quảng Ninh) công suất 40-50 MW; từ Bằng Tường qua khu vực Hữu Nghị Quan (Lạng Sơn) công suất 70 MW;
- Đường dây truyền tải điện: phát triển lưới điện đấu nối với hệ thống điện quốc gia để khai thác có hiệu quả các công trình thuỷ điện, tiếp nhận điện nhập từ Trung Quốc theo thoả thuận của EVN và cung cấp điện cho các phụ tải điện lớn trong vùng. Đồng thời với việc mở rộng nâng công suất các công trình điện hiện có cần sớm phát triển lưới điện 500 KV và 220 V cùng các trạm 500 KV, 220 KV trên địa bàn các tỉnh trong vùng;
- Sử dụng các nguồn năng lượng khác: nghiên cứu phát triển nguồn điện năng lượng mặt trời, năng lượng gió, khí biôga và các nguồn năng lượng khác nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân các dân tộc, đặc biệt là đối với các thôn bản vùng cao, vùng xa, vùng sâu, vùng không có điều kiện để xây dựng thuỷ điện và phải đầu tư quá cao trong xây dựng đường dây truyền tải điện;
- Định hướng cấp điện: đến năm 2010, 100% dân cư đô thị được cấp điện sinh hoạt; 100% số xã, 96% số thôn, bản (điểm dân cư có từ 20 hộ trở lên), 85% số hộ dân cư nông thôn được sử dụng điện lưới, 100% số hộ được sử dụng điện.
d) Cấp nước:
- Nguồn nước mặt: toàn vùng có tổng lượng nước hàng năm khoảng 29.564 tỷ m3. Tuy nhiên do các sông, suối phần lớn nằm ở thượng nguồn có độ dốc lớn, mưa phân bố không đều trong năm, cần đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi để giữ, điều hòa nước;
- Nguồn nước ngầm: nước ngầm và nước khoáng chưa được thăm dò đầy đủ, cần thăm dò trữ tượng để khai thác, cấp nước cho đô thị.
- Định hướng cấp nước:
+ Đến năm 2010, 85 - 90% số dân tại các thành phố, thị xã và 85% số dân tại các thị trấn được cấp nước sạch sinh hoạt;
+ Đến năm 2020, 95 - 100% số dân tại các thành phố, thị xã và 95% số dân tại các thị trấn được cấp nước sạch sinh hoạn
+ Tại các điểm dân cư nông thôn, tỷ lệ cấp nước sạch khoảng 85 - 95%.
đ) Thoát nước thải sinh hoạt, vệ sinh môi trường:
- Thoát nước thải sinh hoạt: nước thải sinh hoạt tại các thành phố và thị xã, thị trấn phải dược xử lý trước khi xả ra môi trường. Giai đoạn đầu có thể kết hợp với các sông, hồ sẵn có, hoặc đào hồ sinh học để xử lý nước thải bằng phương pháp tự làm sạch sinh học. Tương lai sẽ xây dựng các nhà máy xử lý nước thải cho thị xã và các thị trấn đạt tiêu chuẩn loại B (TCVN 5942-1995); tại các thị tứ và các cụm dân cư nông thôn nước thải được xử lý bằng phương pháp tự làm sạch; khuyến khích người dân sử dụng hố xí tự hoại và xí thấm; nước thải của các xí nghiệp công nghiệp xây dựng phân tán được xử lý cục bộ đạt tiêu chuẩn loại B (TCVN 5945-1995) và nước thải của các khu công nghiệp tập trung phải được xử lý tại trạm xử lý nước thải công nghiệp đạt tiêu chuẩn loại B (TCVN 5945-1995) trước khi xả ra môi trường;
- Thu gom xử lý chất thải rắn: xây dựng khu xử lý chất thải rắn có nhà máy chế biến phân hữu cơ tại các đô thị lớn hoặc vùng liên đô thị; tại các thị xã, thị trấn sử dụng bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh quy mô từ 3 - 5 ha; bãi chôn lấp tại các thị tứ có quy mô khoảng 1 ha; các điểm dân cư riêng lẻ cần bố trí điểm tập trung chất thải rắn hoặc sử dụng các biện pháp chôn ủ để phân huỷ yếm khí chất thải rắn cung cấp phân bón cho nông nghiệp. Các điểm chôn ủ chất thải rắn phải tuân thủ các quy định về vệ sinh môi trường;
Chất thải rắn công nghiệp được phân loại để xử lý và tái chế; đầu tư xây dựng tại bệnh viện đa khoa cấp tỉnh một trạm thiêu đốt chất thải y tế bảo đảm các tiêu chuẩn về môi trường để phục vụ chung cho các cơ sở y tế trong tỉnh;
- Nghĩa trang: mỗi đô thị, mỗi xã trong vùng cần qui hoạch khu nghĩa trang, bố trí xa dân cư, nguồn nước; quy mô nghĩa trang đô thị khoảng 2,5 - 15 ha, ở các xã khoảng 0,5 - 1 ha.