Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 188/2004/QĐ-TTg Quy hoạch phát triển công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đến 2010-2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "01/11/2004", "sign_number": "188/2004/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "01/11/2004", "sign_number": "188/2004/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "01/11/2004", "sign_number": "188/2004/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "01/11/2004", "sign_number": "188/2004/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "01/11/2004", "sign_number": "188/2004/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 188/2004/QĐ-TTg Quy hoạch phát triển công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đến 2010-2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010, có tính đến năm 2020, với các nội dung chủ yếu sau:
...
5. Các cơ chế, chính sách:
a) Chính sách về tài chính:
- Tập trung vốn nhà nước trong những năm tới cho các dự án công nghiệp trọng điểm, có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, thực hiện chuyển dịch có hiệu quả cơ cấu công nghiệp của thành phố.
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp, trong đó đặc biệt là các ngành công nghiệp chủ lực, các sản phẩm công nghiệp chủ lực.
- Mở rộng quyền của doanh nghiệp trong việc sử dụng đất, xây dựng biểu định giá thuê đất theo giá thị trường.
- Tăng chi từ ngân sách của thành phố cho nghiên cứu khoa học - công nghệ lên mức 3 - 5% tổng chi ngân sách hàng năm.
- Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán. Kịp thời xem xét, điều chỉnh các chính sách tài chính chưa phù hợp với cam kết AFTA và các thông lệ quốc tế.
- Tiếp tục triển khai các giải pháp hoàn thiện và củng cố hoạt động của thị trường chứng khoán, nâng cao năng lực hoạt động của thị trường giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thiện cơ chế giám sát, kiểm tra bắt buộc đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có niêm yết cổ phần trên thị trường chứng khoán.
- Xây dựng hệ thống đăng ký thế chấp vay tín dụng quốc tế của thành phố, kết nối thành mạng toàn quốc để phát triển thị trường vốn.
b) Chính sách về thuế và ưu đãi tài chính - tín dụng đối với đầu tư nước ngoài:
- Có cơ chế ưu đãi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đầu tư vào lĩnh vực trọng điểm cần khuyến khích, nhất là đối với ngành cơ khí. Khuyến khích các nhà ĐTNN góp vốn vào các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất ưu tiên, không hạn chế tỷ lệ tham gia.
- Có quy định khuyến khích tài chính cụ thể đối với các dự án FDI về chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực cho các dự án đầu tư trung và dài hạn....
c) Chính sách thị trường và tiêu thụ sản phẩm:
- Cho phép thành phố thí điểm áp dụng các chế tài đủ mạnh để hạn chế tình trạng bán phá giá, bán hàng kém chất lượng ra thị trường, gian lận thương mại; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng hàng công nghiệp.
- Tăng chi ngân sách, hỗ trợ cho các hoạt động khuyến khích xuất khẩu và xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp công nghiệp. Mức ưu đãi cao nhất giành cho các sản phẩm xuất khẩu chế biến sâu, các sản phẩm chất lượng cao, đặc biệt là những sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam, thương hiệu "Sản xuất tại thành phố Hồ Chí Minh".
d) Chính sách về khoa học - công nghệ:
- Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển khoa học - công nghệ. Các khoản thu từ việc sử dụng quỹ nghiên cứu phát triển khoa học - công nghệ để đổi mới, cải tiến công nghệ không phải chịu thuế; các khoản chi cho mục tiêu này được tính vào giá thành sản phẩm. Thành phố được dùng ngân sách để hỗ trợ một phần kinh phí cho các đề tài nghiên cứu khoa học - công nghệ của doanh nghiệp.
- Đầu tư từ ngân sách nhà nước để xây dựng Trung tâm giám định chất lượng và giá cả.
- Ưu đãi cho các dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài có chuyển giao công nghệ cao. Tiếp tục loại bỏ những trở ngại về pháp lý và chính sách đối với việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam.

Content:
Các cơ chế, chính sách:
a) Chính sách về tài chính:
- Tập trung vốn nhà nước trong những năm tới cho các dự án công nghiệp trọng điểm, có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, thực hiện chuyển dịch có hiệu quả cơ cấu công nghiệp của thành phố.
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp, trong đó đặc biệt là các ngành công nghiệp chủ lực, các sản phẩm công nghiệp chủ lực.
- Mở rộng quyền của doanh nghiệp trong việc sử dụng đất, xây dựng biểu định giá thuê đất theo giá thị trường.
- Tăng chi từ ngân sách của thành phố cho nghiên cứu khoa học - công nghệ lên mức 3 - 5% tổng chi ngân sách hàng năm.
- Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán. Kịp thời xem xét, điều chỉnh các chính sách tài chính chưa phù hợp với cam kết AFTA và các thông lệ quốc tế.
- Tiếp tục triển khai các giải pháp hoàn thiện và củng cố hoạt động của thị trường chứng khoán, nâng cao năng lực hoạt động của thị trường giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thiện cơ chế giám sát, kiểm tra bắt buộc đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có niêm yết cổ phần trên thị trường chứng khoán.
- Xây dựng hệ thống đăng ký thế chấp vay tín dụng quốc tế của thành phố, kết nối thành mạng toàn quốc để phát triển thị trường vốn.
b) Chính sách về thuế và ưu đãi tài chính - tín dụng đối với đầu tư nước ngoài:
- Có cơ chế ưu đãi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đầu tư vào lĩnh vực trọng điểm cần khuyến khích, nhất là đối với ngành cơ khí. Khuyến khích các nhà ĐTNN góp vốn vào các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất ưu tiên, không hạn chế tỷ lệ tham gia.
- Có quy định khuyến khích tài chính cụ thể đối với các dự án FDI về chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực cho các dự án đầu tư trung và dài hạn....
c) Chính sách thị trường và tiêu thụ sản phẩm:
- Cho phép thành phố thí điểm áp dụng các chế tài đủ mạnh để hạn chế tình trạng bán phá giá, bán hàng kém chất lượng ra thị trường, gian lận thương mại; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng hàng công nghiệp.
- Tăng chi ngân sách, hỗ trợ cho các hoạt động khuyến khích xuất khẩu và xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp công nghiệp. Mức ưu đãi cao nhất giành cho các sản phẩm xuất khẩu chế biến sâu, các sản phẩm chất lượng cao, đặc biệt là những sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam, thương hiệu "Sản xuất tại thành phố Hồ Chí Minh".
d) Chính sách về khoa học - công nghệ:
- Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển khoa học - công nghệ. Các khoản thu từ việc sử dụng quỹ nghiên cứu phát triển khoa học - công nghệ để đổi mới, cải tiến công nghệ không phải chịu thuế; các khoản chi cho mục tiêu này được tính vào giá thành sản phẩm. Thành phố được dùng ngân sách để hỗ trợ một phần kinh phí cho các đề tài nghiên cứu khoa học - công nghệ của doanh nghiệp.
- Đầu tư từ ngân sách nhà nước để xây dựng Trung tâm giám định chất lượng và giá cả.
- Ưu đãi cho các dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài có chuyển giao công nghệ cao. Tiếp tục loại bỏ những trở ngại về pháp lý và chính sách đối với việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam.