Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 3511/QĐ-UBND 2009 phát triển kinh tế xã hội huyện Điện Bàn Quảng Nam 2015 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "16/10/2009", "sign_number": "3511/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "16/10/2009", "sign_number": "3511/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "16/10/2009", "sign_number": "3511/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "16/10/2009", "sign_number": "3511/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "16/10/2009", "sign_number": "3511/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 3511/QĐ-UBND 2009 phát triển kinh tế xã hội huyện Điện Bàn Quảng Nam 2015 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Điện Bàn, đến năm 2015 tầm nhìn đến năm 2020 với các nội dung chính như sau:
...
5. Dân số, lao động, việc làm và các vấn đề xã hội
5.1 Dân số và nguồn lao động: tốc độ tăng dân số tự nhiên khoảng 0,7- 0,8%/năm. Đến năm 2010 dân số toàn huyện khoảng 207 nghìn người, năm 2020 có khoảng 223 nghìn người, trong đó dân số thành thị tăng từ 9,7% năm 2010 lên 20% năm 2015, lên 44,3% năm 2020. Dân số phi nông nghiệp (bao gồm cả dân số thành thị) chiếm 35% vào năm 2010 tăng lên 43% vào năm 2015, tăng lên 55% vào năm 2020. Đến năm 2010, số người trong độ tuổi lao động toàn huyện khoảng 122,1 nghìn người, năm 2015 khoảng 127,9 nghìn người, năm 2020 có khoảng 133,8 nghìn người. Trong đó số lao động có nhu cầu việc làm năm 2010 là 117,2 nghìn người, năm 2015 có 123,4 nghìn người, năm 2020 có khoảng 129,8 nghìn người. Dự kiến đến năm 2010, lao động phi nông nghiệp chiếm 59,6% (lao động công nghiệp-xây dựng chiếm 35,6%, lao động ngành thương mại, dịch vụ, du lịch chiếm 24,1%), đến năm 2020 chiếm 80 % lao động toàn xã hội (Lao động công nghiệp-xây dựng chiếm 48,4%, lao động ngành thương mại, dịch vụ, du lịch chiếm 31,6%). Đến năm 2010, tỉ lệ lao động đến tuổi hàng năm được đào tạo nghề đạt từ 60% trở lên và tiếp tục nâng cao tỉ lệ này trong những năm tiếp theo. Hàng năm đào tạo tập trung (dài hạn và ngắn hạn) cho 3.000-5.000 người.
5.2. Các lĩnh vực văn hóa- xã hội
- Giáo dục - đào tạo: giữ vững phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở. Phấn đấu đến năm 2010 có 50% số xã phổ cập giáo dục trung học, đến năm 2014 hoàn thành phổ cập trung học cho 100% số xã. Năm 2010 xây dựng 100% trường tiểu học đạt chuẩn mức 2, 100% trường trung học cơ sở và 50% trường mầm non đạt chuẩn mức 1. Nâng cấp hoàn chỉnh cơ sở vật chất trường học, có các phòng chuyên đề, đầy đủ trang thiết dạy và học, đưa công nghệ thông tin, internet vào trường học... Đến năm 2010 có 100% số xã - thị trấn xây dựng trung tâm học tập cộng đồng. Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục.
- Y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
Thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, nâng cao sức khoẻ cộng đồng, giảm tỷ suất sinh thô từ 0,4- 0,5‰/năm; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn dưới 15% năm 2010; xây dựng 100% số xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế vào năm 2010. Hoàn thành cơ bản thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân.
Thời kỳ 2006-2010: Đầu tư nâng cấp, xây dựng bệnh viện Đa khoa Bắc Quảng Nam theo qui mô hiện đại; đầu tư xây dựng các trạm y tế cho các xã Điện Nam Bắc, Điện Nam Đông, Điện Thắng Nam, Điện Thắng Trung; tầng hóa trạm y tế xã Điện An; nâng cấp trạm y tế xã Điện Hòa, Điện Ngọc.
Sau năm 2010: tiếp tục nâng cấp, tăng cường trang thiết bị cho các trạm y tế cơ sở. Xã hội hóa đầu tư trong lĩnh vực y tế, đầu tư xây dựng Bệnh viện Khu vực tại Khu đô thị Điện Nam - Điện Ngọc.
Tăng cường xã hội hoá ngành y tế. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tập thể, cá nhân mở các cơ sở khám, chữa bệnh trên cơ sở tuân thủ đúng các qui định chung của pháp luật.
- Văn hóa, phát thanh truyền hình: đến năm 2010 có 95% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, 70% đạt thôn văn hóa, 100% đạt cơ quan văn hóa, 30-40% xã văn hóa. Từng bước đầu tư xây dựng các thể chế văn hóa, nâng cấp các công trình di tích lịch sử, văn hóa. Xây dựng Điện Bàn trở thành huyện văn hoá vào năm 2015. Thực hiện tốt việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của huyện. Khôi phục các lễ hội văn hóa truyền thống tích cực. Đầu tư xây dựng khuôn viên Bảo tàng huyện thành Công viên bảo tàng Điện Bàn; nâng cấp thư viện huyện. Tiếp tục đầu tư, nâng cấp hệ thống truyền thanh từ huyện đến cơ sở. Phát triển mạng truyền hình cáp và truyền hình kỹ thuật số. Phấn đấu đến năm 2010 có từ 95% trở lên số hộ được xem truyền hình và nghe đài 4 cấp. Thường xuyên củng cố và duy trì nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh địa phương.
- Thể dục - thể thao: xây dựng phong trào thể dục, thể thao quần chúng, rèn luyện nâng cao thể chất. Thời kỳ 2006 - 2010, xây dựng trung tâm thi đấu thể thao huyện tại khối 3 thị trấn Vĩnh Điện; qui hoạch xây dựng sân vận động và câu lạc bộ thể dục thể thao cơ sở, có hình thức tổ chức sinh hoạt, rèn luyện phù hợp và thường xuyên. Bồi dưỡng những hạt nhân tiêu biểu để tham gia thi đấu các giải ở các cấp cao hơn. Xây mới nhà văn hóa, sân vận động trung tâm cho các khu đô thị, các xã và thị trấn.

Content:
Dân số, lao động, việc làm và các vấn đề xã hội
5.1 Dân số và nguồn lao động: tốc độ tăng dân số tự nhiên khoảng 0,7- 0,8%/năm. Đến năm 2010 dân số toàn huyện khoảng 207 nghìn người, năm 2020 có khoảng 223 nghìn người, trong đó dân số thành thị tăng từ 9,7% năm 2010 lên 20% năm 2015, lên 44,3% năm 2020. Dân số phi nông nghiệp (bao gồm cả dân số thành thị) chiếm 35% vào năm 2010 tăng lên 43% vào năm 2015, tăng lên 55% vào năm 2020. Đến năm 2010, số người trong độ tuổi lao động toàn huyện khoảng 122,1 nghìn người, năm 2015 khoảng 127,9 nghìn người, năm 2020 có khoảng 133,8 nghìn người. Trong đó số lao động có nhu cầu việc làm năm 2010 là 117,2 nghìn người, năm 2015 có 123,4 nghìn người, năm 2020 có khoảng 129,8 nghìn người. Dự kiến đến năm 2010, lao động phi nông nghiệp chiếm 59,6% (lao động công nghiệp-xây dựng chiếm 35,6%, lao động ngành thương mại, dịch vụ, du lịch chiếm 24,1%), đến năm 2020 chiếm 80 % lao động toàn xã hội (Lao động công nghiệp-xây dựng chiếm 48,4%, lao động ngành thương mại, dịch vụ, du lịch chiếm 31,6%). Đến năm 2010, tỉ lệ lao động đến tuổi hàng năm được đào tạo nghề đạt từ 60% trở lên và tiếp tục nâng cao tỉ lệ này trong những năm tiếp theo. Hàng năm đào tạo tập trung (dài hạn và ngắn hạn) cho 3.000-5.000 người.
5.2. Các lĩnh vực văn hóa- xã hội
- Giáo dục - đào tạo: giữ vững phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở. Phấn đấu đến năm 2010 có 50% số xã phổ cập giáo dục trung học, đến năm 2014 hoàn thành phổ cập trung học cho 100% số xã. Năm 2010 xây dựng 100% trường tiểu học đạt chuẩn mức 2, 100% trường trung học cơ sở và 50% trường mầm non đạt chuẩn mức 1. Nâng cấp hoàn chỉnh cơ sở vật chất trường học, có các phòng chuyên đề, đầy đủ trang thiết dạy và học, đưa công nghệ thông tin, internet vào trường học... Đến năm 2010 có 100% số xã - thị trấn xây dựng trung tâm học tập cộng đồng. Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục.
- Y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
Thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, nâng cao sức khoẻ cộng đồng, giảm tỷ suất sinh thô từ 0,4- 0,5‰/năm; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn dưới 15% năm 2010; xây dựng 100% số xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế vào năm 2010. Hoàn thành cơ bản thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân.
Thời kỳ 2006-2010: Đầu tư nâng cấp, xây dựng bệnh viện Đa khoa Bắc Quảng Nam theo qui mô hiện đại; đầu tư xây dựng các trạm y tế cho các xã Điện Nam Bắc, Điện Nam Đông, Điện Thắng Nam, Điện Thắng Trung; tầng hóa trạm y tế xã Điện An; nâng cấp trạm y tế xã Điện Hòa, Điện Ngọc.
Sau năm 2010: tiếp tục nâng cấp, tăng cường trang thiết bị cho các trạm y tế cơ sở. Xã hội hóa đầu tư trong lĩnh vực y tế, đầu tư xây dựng Bệnh viện Khu vực tại Khu đô thị Điện Nam - Điện Ngọc.
Tăng cường xã hội hoá ngành y tế. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tập thể, cá nhân mở các cơ sở khám, chữa bệnh trên cơ sở tuân thủ đúng các qui định chung của pháp luật.
- Văn hóa, phát thanh truyền hình: đến năm 2010 có 95% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, 70% đạt thôn văn hóa, 100% đạt cơ quan văn hóa, 30-40% xã văn hóa. Từng bước đầu tư xây dựng các thể chế văn hóa, nâng cấp các công trình di tích lịch sử, văn hóa. Xây dựng Điện Bàn trở thành huyện văn hoá vào năm 201Thực hiện tốt việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của huyện. Khôi phục các lễ hội văn hóa truyền thống tích cực. Đầu tư xây dựng khuôn viên Bảo tàng huyện thành Công viên bảo tàng Điện Bàn; nâng cấp thư viện huyện. Tiếp tục đầu tư, nâng cấp hệ thống truyền thanh từ huyện đến cơ sở. Phát triển mạng truyền hình cáp và truyền hình kỹ thuật số. Phấn đấu đến năm 2010 có từ 95% trở lên số hộ được xem truyền hình và nghe đài 4 cấp. Thường xuyên củng cố và duy trì nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh địa phương.
- Thể dục - thể thao: xây dựng phong trào thể dục, thể thao quần chúng, rèn luyện nâng cao thể chất. Thời kỳ 2006 - 2010, xây dựng trung tâm thi đấu thể thao huyện tại khối 3 thị trấn Vĩnh Điện; qui hoạch xây dựng sân vận động và câu lạc bộ thể dục thể thao cơ sở, có hình thức tổ chức sinh hoạt, rèn luyện phù hợp và thường xuyên. Bồi dưỡng những hạt nhân tiêu biểu để tham gia thi đấu các giải ở các cấp cao hơn. Xây mới nhà văn hóa, sân vận động trung tâm cho các khu đô thị, các xã và thị trấn.