Document: Điều 1 Thông tư 555-TCTK/PPCD hướng dẫn Pháp lệnh Kế toán thống kê (Phần Thống kê)

Type: {"issuing_agency": "Tổng cục Thống kê", "promulgation_date": "13/09/1988", "sign_number": "555-TCTK/PPCD", "signer": "Lê Văn Toàn", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tổng cục Thống kê", "promulgation_date": "13/09/1988", "sign_number": "555-TCTK/PPCD", "signer": "Lê Văn Toàn", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tổng cục Thống kê", "promulgation_date": "13/09/1988", "sign_number": "555-TCTK/PPCD", "signer": "Lê Văn Toàn", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tổng cục Thống kê", "promulgation_date": "13/09/1988", "sign_number": "555-TCTK/PPCD", "signer": "Lê Văn Toàn", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Tổng cục Thống kê", "promulgation_date": "13/09/1988", "sign_number": "555-TCTK/PPCD", "signer": "Lê Văn Toàn", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 1 Thông tư 555-TCTK/PPCD hướng dẫn Pháp lệnh Kế toán thống kê (Phần Thống kê) có nội dung như sau:

Điều 1. 5 của Pháp lệnh đã quy định: Tổng cục thống kê giúp Hội đồng Bộ trưởng quản lý công tác thống kê trong cả nước.
Thực hiện chức năng quản lý đó, Tổng cục thống kê tiến hành những công việc chủ yếu sau đây:
a) Xây dựng kế hoạch thu thập thông tin thống kê trong phạm vi cả nước nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin để quản lý kinh tế - xã hội các cấp, các ngành và giao cho cơ quan thống kê các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, UBND các tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương thực hiện.
b) Ban hành chế độ ghi chép ban đầu áp dụng trong các ngành kinh tế quốc dân, có sự nhất trí của Bộ Tài chính.
c) Ban hành chế độ báo cáo thống kê và báo cáo kế toán - thống kê tổng hợp áp dụng cho các đơn vị cơ sở và các cấp, các ngành.
d) Quyết định các cuộc điều tra, xây dựng phương án điều tra, hướng dẫn, kiểm tra cơ quan thống kê của các cấp thực hiện đúng phương án điều tra.
đ) Từng bước nghiên cứu hoàn thiện phương pháp chuyên môn nghiệp vụ và hướng dẫn thực hiện thống nhất ở tất cả các cấp, các ngành và đơn vị cơ sở.
e) Xây dựng và ban hành hệ thống và phương pháp tính các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu, có sự nhất trí của Uỷ ban kế hoạch Nhà nước.
g) Kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch thu thập thông tin thống kê và việc chấp hành phương pháp chuyên môn nghiệp vụ, chế độ báo cáo và điều tra thống kê của các cấp, các ngành.
h) Chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bộ trưởng về độ tin cậy của các số liệu thống kê kinh tế - xã hội tổng hợp trong phạm vi cả nước.
2. Cán bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Uỷ ban Nhân dân các cấp có trách nhiệm:
a) Lãnh đạo và thường xuyên củng cố hệ thống tổ chức thống kê, bảo đảm các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật và cán bộ nghiệp vụ cần thiết để chế độ thống kê được chấp hành đầy đủ.
b) Chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bộ trưởng về tình trạng yếu kém trong công tác thống kê, và việc vi phạm chế độ ghi chép ban đầu, chế độ báo cáo và điều tra thống kê thuộc phạm vi quản lý.
3. Thống kê các Bộ, Uỷ ban nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và UBND các cấp chịu trách nhiệm giúp lãnh đạo quản lý công tác thống kê trong phạm vi ngành, địa phương với các nhiệm vụ:
a) Tổ chức thực hiện kế hoạch thông tin hàng năm do Tổng cục Thống kê giao và chấp hành chế độ báo cáo đã qui định.
b) Hướng dẫn và kiểm tra các cơ quan thống kê cấp dưới và đơn vị cơ sở chấp hành chế độ ghi chép ban đầu, chế độ báo cáo và điều tra theo đúng phương pháp chuyên môn nghiệp vụ.
c) Xây dựng kế hoạch thông tin bổ sung và ban hành chế độ báo cáo và điều tra thống kê để thu thập thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý đặc thù của ngành, địa phương.
d) Chịu trách nhiệm trước lãnh đạo của Bộ, UBND cùng cấp về độ tin cậy của số liệu tổng hợp trong phạm vi quản lý.
4. Thủ trưởng đơn vị cơ sở có trách nhiệm:
a) Bảo đảm cho đơn vị chấp hành đầy đủ chế độ thống kê của Nhà nước và phải chịu trách nhiệm về việc đơn vị vi phạm chế độ thống kê.
b) Tạo điều kiện cần thiết bảo đảm cho công tác thống kê được thực hiện thuận lợi như: tuyển dụng đủ cán bộ thống kê, bảo đảm đủ chứng từ biểu mẫu in sẵn, trang bị phương tiện tính toán v.v..
5. Kế toán trưởng (hoặc người phụ trách công tác thống kê, kế toán) của đơn vị có trách nhiệm:
a) Giúp thủ trưởng đơn vị tổ chức, lãnh đạo thực hiện toàn bộ công tác thống kê ở đơn vị;
b) Chịu trách nhiệm trước thủ trưởng đơn vị và cơ quan thống kê cấp trên về những vi phạm trong việc chấp hành chế độ thống kê.
IV - XỬ LÝ CÁC VI PHẠM
Người nào vi phạm chế độ thống kê thì tuỳ theo mức độ nặng nhẹ sẽ bị xử phạt theo một trong các hình thức sau đây:
a) Xử phạt hành chính:
- Cảnh cáo,
- Hạ bậc lương,
- Cách chức,
- Buộc thôi việc.
b) Nếu vi phạm ở mức độ làm lộ số liệu thuộc bí mật Nhà nước, báo cáo sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng về các mặt kinh tế xã hội sẽ bị xử phạt theo Điều 176 của Bộ Luật hình sự.
V. - TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN.
1. Căn cứ vào những quy định trong Thông tư này, các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và UBND các cấp, theo chức năng và phạm vi quản lý của mình có trách nhiệm tổ chức chỉ đạo, thực hiện nghiêm chỉnh pháp lệnh kế toán và thống kê.
Trước hết cần tổ chức quán triệt, phổ biến rộng rãi mục đích và nội dung cơ bản của Pháp lệnh đến tất cả cán bộ lãnh đạo các cấp, cán bộ làm công tác kế toán, thống kê ở mỗi cấp, mỗi ngành và đơn vị cơ sở.
Từng ngành, từng địa phương cần có kế hoạch và biện pháp cụ thể để nhanh chóng kiện toàn bộ máy thống kê, ổn định đội ngũ cán bộ thống kê và bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho họ có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu đổi mới, củng cố và tăng cường công tác thống kê cơ sở, bảo đảm các điều kiện vật chất cần thiết cho công tác thống kê như phương tiện tính toán, chứng từ và biểu mẫu in sẵn, bảo đảm kinh phí để tiến hành các cuộc điều tra thống kê ghi trong kế hoạch thông tin hàng năm.
Mỗi ngành, mỗi địa phương cần chọn ra một số đơn vị để chỉ đạo thí điểm, kịp thời rút kinh nghiệm, từng bước đưa việc thực hiện các chế độ ghi chép ban đầu, chế độ báo cáo và điều tra thống kê định kỳ vào nền nếp.
2. Các Vụ ở Tổng cục Thống kê, Thống kê các cấp, các ngành và đơn vị cơ sở có trách nhiệm giúp lãnh đạo hướng dẫn cụ thể những việc cần phải làm để việc thực hiện Pháp lệnh được thuận lợi. Trước mắt, Tổng cục Thống kê và Thống kê của các cấp, các ngành cần nghiêm chỉnh đánh giá lại chế độ báo cáo và điều tra thống kê định kỳ để kịp thời xây dựng kế hoạch thông tin cho năm 1989 và có biện pháp chỉ đạo, kiểm tra để nâng cao chất lượng thông tin.
3. Bãi bỏ những quy định trước đây về công tác thống kê trái với Thông tư này.
4. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Content:
Điều 1. 5 của Pháp lệnh đã quy định: Tổng cục thống kê giúp Hội đồng Bộ trưởng quản lý công tác thống kê trong cả nước.
Thực hiện chức năng quản lý đó, Tổng cục thống kê tiến hành những công việc chủ yếu sau đây:
a) Xây dựng kế hoạch thu thập thông tin thống kê trong phạm vi cả nước nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin để quản lý kinh tế - xã hội các cấp, các ngành và giao cho cơ quan thống kê các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, UBND các tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương thực hiện.
b) Ban hành chế độ ghi chép ban đầu áp dụng trong các ngành kinh tế quốc dân, có sự nhất trí của Bộ Tài chính.
c) Ban hành chế độ báo cáo thống kê và báo cáo kế toán - thống kê tổng hợp áp dụng cho các đơn vị cơ sở và các cấp, các ngành.
d) Quyết định các cuộc điều tra, xây dựng phương án điều tra, hướng dẫn, kiểm tra cơ quan thống kê của các cấp thực hiện đúng phương án điều tra.
đ) Từng bước nghiên cứu hoàn thiện phương pháp chuyên môn nghiệp vụ và hướng dẫn thực hiện thống nhất ở tất cả các cấp, các ngành và đơn vị cơ sở.
e) Xây dựng và ban hành hệ thống và phương pháp tính các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu, có sự nhất trí của Uỷ ban kế hoạch Nhà nước.
g) Kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch thu thập thông tin thống kê và việc chấp hành phương pháp chuyên môn nghiệp vụ, chế độ báo cáo và điều tra thống kê của các cấp, các ngành.
h) Chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bộ trưởng về độ tin cậy của các số liệu thống kê kinh tế - xã hội tổng hợp trong phạm vi cả nước.
2. Cán bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Uỷ ban Nhân dân các cấp có trách nhiệm:
a) Lãnh đạo và thường xuyên củng cố hệ thống tổ chức thống kê, bảo đảm các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật và cán bộ nghiệp vụ cần thiết để chế độ thống kê được chấp hành đầy đủ.
b) Chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bộ trưởng về tình trạng yếu kém trong công tác thống kê, và việc vi phạm chế độ ghi chép ban đầu, chế độ báo cáo và điều tra thống kê thuộc phạm vi quản lý.
3. Thống kê các Bộ, Uỷ ban nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và UBND các cấp chịu trách nhiệm giúp lãnh đạo quản lý công tác thống kê trong phạm vi ngành, địa phương với các nhiệm vụ:
a) Tổ chức thực hiện kế hoạch thông tin hàng năm do Tổng cục Thống kê giao và chấp hành chế độ báo cáo đã qui định.
b) Hướng dẫn và kiểm tra các cơ quan thống kê cấp dưới và đơn vị cơ sở chấp hành chế độ ghi chép ban đầu, chế độ báo cáo và điều tra theo đúng phương pháp chuyên môn nghiệp vụ.
c) Xây dựng kế hoạch thông tin bổ sung và ban hành chế độ báo cáo và điều tra thống kê để thu thập thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý đặc thù của ngành, địa phương.
d) Chịu trách nhiệm trước lãnh đạo của Bộ, UBND cùng cấp về độ tin cậy của số liệu tổng hợp trong phạm vi quản lý.
4. Thủ trưởng đơn vị cơ sở có trách nhiệm:
a) Bảo đảm cho đơn vị chấp hành đầy đủ chế độ thống kê của Nhà nước và phải chịu trách nhiệm về việc đơn vị vi phạm chế độ thống kê.
b) Tạo điều kiện cần thiết bảo đảm cho công tác thống kê được thực hiện thuận lợi như: tuyển dụng đủ cán bộ thống kê, bảo đảm đủ chứng từ biểu mẫu in sẵn, trang bị phương tiện tính toán v.v..
5. Kế toán trưởng (hoặc người phụ trách công tác thống kê, kế toán) của đơn vị có trách nhiệm:
a) Giúp thủ trưởng đơn vị tổ chức, lãnh đạo thực hiện toàn bộ công tác thống kê ở đơn vị;
b) Chịu trách nhiệm trước thủ trưởng đơn vị và cơ quan thống kê cấp trên về những vi phạm trong việc chấp hành chế độ thống kê.
IV - XỬ LÝ CÁC VI PHẠM
Người nào vi phạm chế độ thống kê thì tuỳ theo mức độ nặng nhẹ sẽ bị xử phạt theo một trong các hình thức sau đây:
a) Xử phạt hành chính:
- Cảnh cáo,
- Hạ bậc lương,
- Cách chức,
- Buộc thôi việc.
b) Nếu vi phạm ở mức độ làm lộ số liệu thuộc bí mật Nhà nước, báo cáo sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng về các mặt kinh tế xã hội sẽ bị xử phạt theo Điều 176 của Bộ Luật hình sự.
V. - TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN.
1. Căn cứ vào những quy định trong Thông tư này, các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và UBND các cấp, theo chức năng và phạm vi quản lý của mình có trách nhiệm tổ chức chỉ đạo, thực hiện nghiêm chỉnh pháp lệnh kế toán và thống kê.
Trước hết cần tổ chức quán triệt, phổ biến rộng rãi mục đích và nội dung cơ bản của Pháp lệnh đến tất cả cán bộ lãnh đạo các cấp, cán bộ làm công tác kế toán, thống kê ở mỗi cấp, mỗi ngành và đơn vị cơ sở.
Từng ngành, từng địa phương cần có kế hoạch và biện pháp cụ thể để nhanh chóng kiện toàn bộ máy thống kê, ổn định đội ngũ cán bộ thống kê và bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho họ có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu đổi mới, củng cố và tăng cường công tác thống kê cơ sở, bảo đảm các điều kiện vật chất cần thiết cho công tác thống kê như phương tiện tính toán, chứng từ và biểu mẫu in sẵn, bảo đảm kinh phí để tiến hành các cuộc điều tra thống kê ghi trong kế hoạch thông tin hàng năm.
Mỗi ngành, mỗi địa phương cần chọn ra một số đơn vị để chỉ đạo thí điểm, kịp thời rút kinh nghiệm, từng bước đưa việc thực hiện các chế độ ghi chép ban đầu, chế độ báo cáo và điều tra thống kê định kỳ vào nền nếp.
2. Các Vụ ở Tổng cục Thống kê, Thống kê các cấp, các ngành và đơn vị cơ sở có trách nhiệm giúp lãnh đạo hướng dẫn cụ thể những việc cần phải làm để việc thực hiện Pháp lệnh được thuận lợi. Trước mắt, Tổng cục Thống kê và Thống kê của các cấp, các ngành cần nghiêm chỉnh đánh giá lại chế độ báo cáo và điều tra thống kê định kỳ để kịp thời xây dựng kế hoạch thông tin cho năm 1989 và có biện pháp chỉ đạo, kiểm tra để nâng cao chất lượng thông tin.
3. Bãi bỏ những quy định trước đây về công tác thống kê trái với Thông tư này.
4. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.