Document: Điểm a Khoản 8 Điều 1 Quyết định 964/QĐ-TTg 2022 phê duyệt Chiến lược An toàn An ninh mạng quốc gia đến 2025

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/08/2022", "sign_number": "964/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/08/2022", "sign_number": "964/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/08/2022", "sign_number": "964/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/08/2022", "sign_number": "964/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/08/2022", "sign_number": "964/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm a Khoản 8 Điều 1 Quyết định 964/QĐ-TTg 2022 phê duyệt Chiến lược An toàn An ninh mạng quốc gia đến 2025

Điều 1. Phê duyệt Chiến lược An toàn, An ninh mạng quốc gia, chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng đến năm 2025, tầm nhìn 2030 (sau đây gọi tắt là Chiến lược) với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
8. Làm chủ, tự chủ công nghệ, sản phẩm, dịch vụ đủ khả năng chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng
a) Làm chủ, tự chủ công nghệ
- Bộ Thông tin và Truyền thông:
+ Nghiên cứu và phát triển:
. Chỉ đạo 2 đến 3 doanh nghiệp ICT lớn phát triển Trung tâm R&D về an toàn thông tin mạng, tạo môi trường thuận lợi cho nghiên cứu, thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng mới.
. Phát triển Hệ thống đánh giá, kiểm định an toàn thông tin và công bố các sản phẩm đạt chuẩn an toàn thông tin mạng.
. Hỗ trợ một số doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu có năng lực làm chủ và sáng tạo về giải pháp công nghệ để phát triển giải pháp an toàn thông tin mạng trọng điểm.
. Thúc đẩy các ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo xuất sắc, phục vụ lợi ích quốc gia.
+ Hợp tác công tư:
. Định hướng, giao nhiệm vụ cho các doanh nghiệp giải quyết các vấn đề quốc gia về an toàn thông tin mạng.
. Thúc đẩy sứ mệnh của doanh nghiệp viễn thông giải quyết bài toán lớn của đất nước về an toàn thông tin mạng.
- Bộ Công an
+ Xây dựng chiến lược từng bước tiếp thu, kế thừa công nghệ, sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng của nước ngoài thông qua đầu tư, chuyển giao công nghệ. Khuyến khích và tôn vinh tinh thần đổi mới sáng tạo về công nghệ, sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng.
+ Xây dựng cơ chế thúc đẩy làm chủ, tự chủ có chọn lọc và lộ trình phù hợp về an ninh mạng, tiến tới làm chủ công nghệ cốt lõi về khoa học và công nghệ nhằm giải quyết những nguy cơ, thách thức về an ninh mạng và phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội.
+ Xác định, chọn lọc công nghệ an ninh mạng có tầm chiến lược quốc gia, dài hạn, với một cơ chế hợp tác dân sự - an ninh:
. Nghiên cứu, xây dựng Mạng theo dõi không gian dựa trên các công nghệ xử lý thông tin trong mọi điều kiện thời tiết, thời điểm, có tốc độ truyền và xử lý cao, kết hợp công nghệ cảm biến, theo dõi, phân tích, nhận dạng, ứng dụng thời gian thực và có độ phân giải cao.
. Hình thành hệ thống thông tin an ninh mạng gồm: hệ thống chỉ huy, hệ thống thông tin chiến lược, hệ thống cảnh báo nguy cơ không gian, biển, không gian số, vũ khí mới, hệ thống bảo vệ vùng trời, hệ thống bảo vệ vùng biển, hệ thống bảo vệ môi trường sinh học và hệ thống bảo vệ không gian mạng quốc gia theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
. Đầu tư cho các dự án bảo đảm an ninh mạng trong trí tuệ nhân tạo, xử lý dữ liệu lớn, thiết bị thông minh, mã hóa lượng tử và mạng lưới tính toán hiệu năng cao, hệ điều hành cho cấu trúc lai ghép tính toán lượng tử, mô phỏng não và máy tính số thông thường, các công nghệ xử lý lỗi, linh kiện và thiết bị ngoại vi, cảm biến lượng tử.
. Thúc đẩy ứng dụng song hành các sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng vào quá trình xây dựng, phát triển kinh tế đất nước, như: xây dựng và bảo vệ quy hoạch đô thị thông minh, kế hoạch hóa đô thị, giải quyết vấn đề giao thông, an ninh xã hội, các giải pháp cảm biến, theo dõi, tối ưu, dự báo, xử lý dữ liệu, cảnh báo sớm; bảo đảm an ninh mạng trong ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới về công nghiệp giải trí và truyền thông.
. Xây dựng và đặt các Viện nghiên cứu về an ninh mạng vào một mạng lưới nghiên cứu sử dụng chung hạ tầng nhằm cùng nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ, công nghệ an ninh mạng. Các Viện cần có năng lực và được đầu tư hạ tầng, các phòng thí nghiệm tiên tiến để tích hợp công nghệ, tri thức khoa học, chuyển giao từ cơ sở đào tạo cho doanh nghiệp.
. Xây dựng và vận hành các phòng thí nghiệm quốc gia về an ninh mạng tiên tiến theo nguyên tắc cung cấp dịch vụ, hoạt động theo cơ chế mở, dùng chung. Có chính sách chia sẻ quyền sở hữu công bằng và hợp lý đối với kết quả nghiên cứu tại phòng thí nghiệm về an ninh mạng, sử dụng vốn ngân sách và sử dụng hỗn hợp ngân sách cùng với vốn đầu tư từ doanh nghiệp.
. Xây dựng cơ chế thu hút các doanh nghiệp, viện trường tham gia phát triển công nghệ về an ninh mạng. Đầu tư một số dự án nghiên cứu cơ bản hoặc phát triển công nghệ cốt lõi về an ninh mạng có tầm quan trọng chiến lược từ nguồn kinh phí quốc phòng - an ninh, theo cơ chế tài chính đặc biệt.
. Huy động và triển khai hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của các doanh nghiệp thành viên “Hiệp hội An ninh mạng quốc gia”, gồm các cá nhân, tổ chức hàng đầu của Việt Nam về công nghệ cốt lõi để trở thành “cánh tay nối dài” trong sự nghiệp làm chủ, tiến tới tự chủ, tự cường của đất nước.
. Xây dựng Danh mục công nghệ, sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng ưu tiên làm chủ, tự chủ.
- Bộ Quốc phòng
+ Hình thành hệ thống thông tin phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trên không gian mạng, gồm: hệ thống chỉ huy, hệ thống thông tin chiến lược, hệ thống cảnh báo nguy cơ không gian, biển, không gian số, vũ khí mới, hệ thống bảo vệ vùng trời, hệ thống bảo vệ vùng biển, hệ thống bảo vệ môi trường sinh học và hệ thống bảo vệ không gian mạng quốc gia theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
+ Tạo điều kiện về cơ chế, chính sách, ưu tiên đầu tư cho các Viện nghiên cứu về sản phẩm, dịch vụ an toàn, an ninh mạng gắn với thực hiện nhiệm vụ quốc phòng trên không gian mạng.
+ Thúc đẩy các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trực thuộc nghiên cứu, sản xuất sản phẩm, dịch vụ an toàn, an ninh mạng phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp quốc phòng.
- Doanh nghiệp an toàn, an ninh mạng
+ Nghiên cứu, phát triển, tiếp nhận chuyển giao và làm chủ công nghệ an toàn, an ninh mạng.
+ Khuyến khích nghiên cứu, giải mã, phát triển, làm chủ được các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ bảo đảm an toàn, an ninh mạng, bao gồm: các sản phẩm, dịch vụ truyền tải viễn thông, Internet và cung cấp dịch vụ nội dung trên mạng; các sản phẩm, dịch vụ, biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh mạng; phòng, chống khủng bố mạng; các hệ thống giám sát an toàn, an ninh mạng diện rộng; các sản phẩm, dịch vụ an toàn, an ninh mạng tham gia giải quyết bài toán của xã hội.

Content:
Làm chủ, tự chủ công nghệ
- Bộ Thông tin và Truyền thông:
+ Nghiên cứu và phát triển:
. Chỉ đạo 2 đến 3 doanh nghiệp ICT lớn phát triển Trung tâm R&D về an toàn thông tin mạng, tạo môi trường thuận lợi cho nghiên cứu, thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng mới.
. Phát triển Hệ thống đánh giá, kiểm định an toàn thông tin và công bố các sản phẩm đạt chuẩn an toàn thông tin mạng.
. Hỗ trợ một số doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu có năng lực làm chủ và sáng tạo về giải pháp công nghệ để phát triển giải pháp an toàn thông tin mạng trọng điểm.
. Thúc đẩy các ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo xuất sắc, phục vụ lợi ích quốc gia.
+ Hợp tác công tư:
. Định hướng, giao nhiệm vụ cho các doanh nghiệp giải quyết các vấn đề quốc gia về an toàn thông tin mạng.
. Thúc đẩy sứ mệnh của doanh nghiệp viễn thông giải quyết bài toán lớn của đất nước về an toàn thông tin mạng.
- Bộ Công an
+ Xây dựng chiến lược từng bước tiếp thu, kế thừa công nghệ, sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng của nước ngoài thông qua đầu tư, chuyển giao công nghệ. Khuyến khích và tôn vinh tinh thần đổi mới sáng tạo về công nghệ, sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng.
+ Xây dựng cơ chế thúc đẩy làm chủ, tự chủ có chọn lọc và lộ trình phù hợp về an ninh mạng, tiến tới làm chủ công nghệ cốt lõi về khoa học và công nghệ nhằm giải quyết những nguy cơ, thách thức về an ninh mạng và phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội.
+ Xác định, chọn lọc công nghệ an ninh mạng có tầm chiến lược quốc gia, dài hạn, với một cơ chế hợp tác dân sự - an ninh:
. Nghiên cứu, xây dựng Mạng theo dõi không gian dựa trên các công nghệ xử lý thông tin trong mọi điều kiện thời tiết, thời điểm, có tốc độ truyền và xử lý cao, kết hợp công nghệ cảm biến, theo dõi, phân tích, nhận dạng, ứng dụng thời gian thực và có độ phân giải cao.
. Hình thành hệ thống thông tin an ninh mạng gồm: hệ thống chỉ huy, hệ thống thông tin chiến lược, hệ thống cảnh báo nguy cơ không gian, biển, không gian số, vũ khí mới, hệ thống bảo vệ vùng trời, hệ thống bảo vệ vùng biển, hệ thống bảo vệ môi trường sinh học và hệ thống bảo vệ không gian mạng quốc gia theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
. Đầu tư cho các dự án bảo đảm an ninh mạng trong trí tuệ nhân tạo, xử lý dữ liệu lớn, thiết bị thông minh, mã hóa lượng tử và mạng lưới tính toán hiệu năng cao, hệ điều hành cho cấu trúc lai ghép tính toán lượng tử, mô phỏng não và máy tính số thông thường, các công nghệ xử lý lỗi, linh kiện và thiết bị ngoại vi, cảm biến lượng tử.
. Thúc đẩy ứng dụng song hành các sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng vào quá trình xây dựng, phát triển kinh tế đất nước, như: xây dựng và bảo vệ quy hoạch đô thị thông minh, kế hoạch hóa đô thị, giải quyết vấn đề giao thông, an ninh xã hội, các giải pháp cảm biến, theo dõi, tối ưu, dự báo, xử lý dữ liệu, cảnh báo sớm; bảo đảm an ninh mạng trong ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới về công nghiệp giải trí và truyền thông.
. Xây dựng và đặt các Viện nghiên cứu về an ninh mạng vào một mạng lưới nghiên cứu sử dụng chung hạ tầng nhằm cùng nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ, công nghệ an ninh mạng. Các Viện cần có năng lực và được đầu tư hạ tầng, các phòng thí nghiệm tiên tiến để tích hợp công nghệ, tri thức khoa học, chuyển giao từ cơ sở đào tạo cho doanh nghiệp.
. Xây dựng và vận hành các phòng thí nghiệm quốc gia về an ninh mạng tiên tiến theo nguyên tắc cung cấp dịch vụ, hoạt động theo cơ chế mở, dùng chung. Có chính sách chia sẻ quyền sở hữu công bằng và hợp lý đối với kết quả nghiên cứu tại phòng thí nghiệm về an ninh mạng, sử dụng vốn ngân sách và sử dụng hỗn hợp ngân sách cùng với vốn đầu tư từ doanh nghiệp.
. Xây dựng cơ chế thu hút các doanh nghiệp, viện trường tham gia phát triển công nghệ về an ninh mạng. Đầu tư một số dự án nghiên cứu cơ bản hoặc phát triển công nghệ cốt lõi về an ninh mạng có tầm quan trọng chiến lược từ nguồn kinh phí quốc phòng - an ninh, theo cơ chế tài chính đặc biệt.
. Huy động và triển khai hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của các doanh nghiệp thành viên “Hiệp hội An ninh mạng quốc gia”, gồm các cá nhân, tổ chức hàng đầu của Việt Nam về công nghệ cốt lõi để trở thành “cánh tay nối dài” trong sự nghiệp làm chủ, tiến tới tự chủ, tự cường của đất nước.
. Xây dựng Danh mục công nghệ, sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng ưu tiên làm chủ, tự chủ.
- Bộ Quốc phòng
+ Hình thành hệ thống thông tin phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trên không gian mạng, gồm: hệ thống chỉ huy, hệ thống thông tin chiến lược, hệ thống cảnh báo nguy cơ không gian, biển, không gian số, vũ khí mới, hệ thống bảo vệ vùng trời, hệ thống bảo vệ vùng biển, hệ thống bảo vệ môi trường sinh học và hệ thống bảo vệ không gian mạng quốc gia theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
+ Tạo điều kiện về cơ chế, chính sách, ưu tiên đầu tư cho các Viện nghiên cứu về sản phẩm, dịch vụ an toàn, an ninh mạng gắn với thực hiện nhiệm vụ quốc phòng trên không gian mạng.
+ Thúc đẩy các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trực thuộc nghiên cứu, sản xuất sản phẩm, dịch vụ an toàn, an ninh mạng phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp quốc phòng.
- Doanh nghiệp an toàn, an ninh mạng
+ Nghiên cứu, phát triển, tiếp nhận chuyển giao và làm chủ công nghệ an toàn, an ninh mạng.
+ Khuyến khích nghiên cứu, giải mã, phát triển, làm chủ được các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ bảo đảm an toàn, an ninh mạng, bao gồm: các sản phẩm, dịch vụ truyền tải viễn thông, Internet và cung cấp dịch vụ nội dung trên mạng; các sản phẩm, dịch vụ, biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh mạng; phòng, chống khủng bố mạng; các hệ thống giám sát an toàn, an ninh mạng diện rộng; các sản phẩm, dịch vụ an toàn, an ninh mạng tham gia giải quyết bài toán của xã hội.