Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 494/QĐ-UBND 2011 Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn Quảng Nam 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "15/02/2011", "sign_number": "494/QĐ-UBND", "signer": "Trần Minh Cả", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "15/02/2011", "sign_number": "494/QĐ-UBND", "signer": "Trần Minh Cả", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "15/02/2011", "sign_number": "494/QĐ-UBND", "signer": "Trần Minh Cả", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "15/02/2011", "sign_number": "494/QĐ-UBND", "signer": "Trần Minh Cả", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "15/02/2011", "sign_number": "494/QĐ-UBND", "signer": "Trần Minh Cả", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 494/QĐ-UBND 2011 Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn Quảng Nam 2020

Điều 1. Phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Quảng Nam đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
2. Mục tiêu:
a) Mục tiêu tổng quát:
- Bình quân hàng năm, đào tạo nghề cho khoảng 16.500 lao động nông thôn; góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu về lao động qua đào tạo, lao động qua đào tạo nghề của tỉnh;
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
b) Mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn:
- Giai đoạn 2011 - 2015:
+ Đào tạo nghề cho khoảng 75.000 lao động nông thôn (35.000 người học nghề nông nghiệp, 40.000 người học nghề phi nông nghiệp); trong đó có khoảng 16.500 người thuộc diện người có công cách mạng, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, người tàn tật, lao động nông thôn bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế;
+ Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này đạt trên 70%.
- Giai đoạn 2016 - 2020:
+ Dạy nghề cho khoảng 90.000 lao động nông thôn (30.000 người học nghề nông nghiệp; 60.000 người học nghề phi nông nghiệp), trong đó có khoảng 16.000 người thuộc diện người có công cách mạng, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, người tàn tật, lao động nông thôn bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế;
+ Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này đạt trên 80%.
II. Đối tượng của Đề án:
Lao động nông thôn trong độ tuổi lao động, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học. Ưu tiên dạy nghề cho người thuộc diện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác; dạy nghề theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và dịch vụ; dạy nghề cho những người có cam kết làm việc ổn định tại địa phương sau khi tốt nghiệp các khóa học nghề.
III. Chính sách của Đề án:
1. Chính sách đối với người học nghề:
a) Chính sách hỗ trợ học nghề trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng:
- Lao động nông thôn thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác: hỗ trợ chi phí học nghề tối đa 03 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế); hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000 đồng/ngày thực học/người; hỗ trợ tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000 đồng/người/khóa học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15 km trở lên;
- Lao động nông thôn thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo: hỗ trợ chi phí học nghề tối đa 2,5 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế);
- Lao động nông thôn khác: hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn tối đa 02 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế).
b) Chính sách hỗ trợ học nghề nội trú:
Lao động nông thôn là người dân tộc thiểu số tham gia các khóa học nghề trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề được hưởng chính sách hỗ trợ học nghề như đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú.
c) Chính sách tín dụng:
- Lao động nông thôn học nghề được vay tiền để học theo quy định hiện hành về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Lao động nông thôn sau khi tốt nghiệp các khóa học nghề làm việc ổn định tại nông thôn được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoản vay để học nghề;
- Lao động nông thôn sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm.
d) Mỗi lao động nông thôn chỉ được hỗ trợ học nghề một lần theo chính sách của Đề án này. Những người đã được hỗ trợ học nghề theo các chính sách khác của Nhà nước thì không được tiếp tục hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề án này. Riêng những người đã được hỗ trợ học nghề nhưng bị mất việc làm do nguyên nhân khách quan thì UBND tỉnh sẽ xem xét, quyết định tiếp tục hỗ trợ học nghề để chuyển đổi việc làm theo chính sách của Đề án này nhưng tối đa không quá 03 lần.
2. Chính sách đối với giáo viên, giảng viên và người dạy nghề:
- Giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề thường xuyên phải xuống thôn, bản thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để dạy nghề với thời gian từ 15 ngày trở lên trong tháng được hưởng phụ cấp lưu động hệ số 0,2 so với mức lương tối thiểu chung;
- Giáo viên của các cơ sở dạy nghề công lập ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, xã đảo Tân Hiệp (Cù Lao Chàm), vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số được giải quyết nhà công vụ và được luân chuyển về vùng đồng bằng theo Đề án luân chuyển giáo viên của tỉnh nếu có nguyện vọng;
- Những người có nguyện vọng làm giáo viên dạy nghề và tự nguyện công tác tại các huyện miền núi, xã đảo Tân Hiệp (Cù Lao Chàm), vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số được hưởng chính sách cử tuyển đào tạo chuyên môn phù hợp;
- Người dạy nghề (cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề lao động nông thôn) được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 25.000 đồng/giờ; người dạy nghề là các tiến sĩ khoa học, tiến sĩ trong lĩnh vực nông nghiệp, nghệ nhân cấp tỉnh trở lên được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 300.000 đồng/buổi. Mức cụ thể do cơ sở dạy nghề quyết định;
- Cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao có nhu cầu tham gia làm giáo viên dạy nghề được ngân sách hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ;
- Các giáo viên dạy nghề cho lao động nông thôn được tham gia các khóa đào tạo đạt chuẩn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Content:
Mục tiêu:
a) Mục tiêu tổng quát:
- Bình quân hàng năm, đào tạo nghề cho khoảng 16.500 lao động nông thôn; góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu về lao động qua đào tạo, lao động qua đào tạo nghề của tỉnh;
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
b) Mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn:
- Giai đoạn 2011 - 2015:
+ Đào tạo nghề cho khoảng 75.000 lao động nông thôn (35.000 người học nghề nông nghiệp, 40.000 người học nghề phi nông nghiệp); trong đó có khoảng 16.500 người thuộc diện người có công cách mạng, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, người tàn tật, lao động nông thôn bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế;
+ Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này đạt trên 70%.
- Giai đoạn 2016 - 2020:
+ Dạy nghề cho khoảng 90.000 lao động nông thôn (30.000 người học nghề nông nghiệp; 60.000 người học nghề phi nông nghiệp), trong đó có khoảng 16.000 người thuộc diện người có công cách mạng, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, người tàn tật, lao động nông thôn bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế;
+ Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này đạt trên 80%.
II. Đối tượng của Đề án:
Lao động nông thôn trong độ tuổi lao động, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học. Ưu tiên dạy nghề cho người thuộc diện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác; dạy nghề theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và dịch vụ; dạy nghề cho những người có cam kết làm việc ổn định tại địa phương sau khi tốt nghiệp các khóa học nghề.
III. Chính sách của Đề án:
1. Chính sách đối với người học nghề:
a) Chính sách hỗ trợ học nghề trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng:
- Lao động nông thôn thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác: hỗ trợ chi phí học nghề tối đa 03 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế); hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000 đồng/ngày thực học/người; hỗ trợ tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000 đồng/người/khóa học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15 km trở lên;
- Lao động nông thôn thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo: hỗ trợ chi phí học nghề tối đa 2,5 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế);
- Lao động nông thôn khác: hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn tối đa 02 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế).
b) Chính sách hỗ trợ học nghề nội trú:
Lao động nông thôn là người dân tộc thiểu số tham gia các khóa học nghề trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề được hưởng chính sách hỗ trợ học nghề như đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú.
c) Chính sách tín dụng:
- Lao động nông thôn học nghề được vay tiền để học theo quy định hiện hành về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Lao động nông thôn sau khi tốt nghiệp các khóa học nghề làm việc ổn định tại nông thôn được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoản vay để học nghề;
- Lao động nông thôn sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm.
d) Mỗi lao động nông thôn chỉ được hỗ trợ học nghề một lần theo chính sách của Đề án này. Những người đã được hỗ trợ học nghề theo các chính sách khác của Nhà nước thì không được tiếp tục hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề án này. Riêng những người đã được hỗ trợ học nghề nhưng bị mất việc làm do nguyên nhân khách quan thì UBND tỉnh sẽ xem xét, quyết định tiếp tục hỗ trợ học nghề để chuyển đổi việc làm theo chính sách của Đề án này nhưng tối đa không quá 03 lần.
Chính sách đối với giáo viên, giảng viên và người dạy nghề:
- Giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề thường xuyên phải xuống thôn, bản thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để dạy nghề với thời gian từ 15 ngày trở lên trong tháng được hưởng phụ cấp lưu động hệ số 0,2 so với mức lương tối thiểu chung;
- Giáo viên của các cơ sở dạy nghề công lập ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, xã đảo Tân Hiệp (Cù Lao Chàm), vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số được giải quyết nhà công vụ và được luân chuyển về vùng đồng bằng theo Đề án luân chuyển giáo viên của tỉnh nếu có nguyện vọng;
- Những người có nguyện vọng làm giáo viên dạy nghề và tự nguyện công tác tại các huyện miền núi, xã đảo Tân Hiệp (Cù Lao Chàm), vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số được hưởng chính sách cử tuyển đào tạo chuyên môn phù hợp;
- Người dạy nghề (cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề lao động nông thôn) được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 25.000 đồng/giờ; người dạy nghề là các tiến sĩ khoa học, tiến sĩ trong lĩnh vực nông nghiệp, nghệ nhân cấp tỉnh trở lên được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 300.000 đồng/buổi. Mức cụ thể do cơ sở dạy nghề quyết định;
- Cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao có nhu cầu tham gia làm giáo viên dạy nghề được ngân sách hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ;
- Các giáo viên dạy nghề cho lao động nông thôn được tham gia các khóa đào tạo đạt chuẩn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.