Document: Điều 1 Quyết định 97/2010/QĐ-UBND Phê duyệt Quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "06/12/2010", "sign_number": "97/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Đường", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "06/12/2010", "sign_number": "97/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Đường", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "06/12/2010", "sign_number": "97/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Đường", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "06/12/2010", "sign_number": "97/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Đường", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "06/12/2010", "sign_number": "97/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Đường", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 97/2010/QĐ-UBND Phê duyệt Quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An giai đoạn năm 2011 đến 2020, nội dung như sau:
1. Quan điểm quy hoạch
a) Phát triển cân đối, hợp lý, hài hòa bệnh viện đa khoa và bệnh viện chuyên khoa, giữa y tế phổ cập với y tế chuyên sâu, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền.
Tập trung đầu tư các bệnh viện tỉnh, bệnh viện vùng và bệnh viện tuyến huyện, bảo đảm thuận lợi cho mọi người dân được tiếp cận các dịch vụ khám, chữa bệnh.
b) Sắp xếp mạng lưới khám, chữa bệnh theo cụm dân cư kết hợp với phân tuyến chuyên môn kỹ thuật hợp lý. Quy mô của mỗi bệnh viện phù hợp với quy mô dân số trên từng địa bàn thuộc phạm vi quản lý.
c) Ưu tiên đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế; đổi mới cơ chế và phương thức quản lý bệnh viện nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh.
d) Xã hội hóa, đa dạng hóa các loại hình khám, chữa bệnh (Nhà nước, tập thể, dân lập, tư nhân,...). Trong đó y tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
e) Sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật và trang thiết bị y tế hiện có trên cơ sở thực hiện các phương án tiếp nhận, bàn giao các cơ sở vật chất khám, chữa bệnh.
2. Mục tiêu quy hoạch
2.1. Mục tiêu chung
Xây dựng và phát triển mạng lưới khám chữa bệnh tỉnh Nghệ An đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, từng bước hiện đại, theo hướng công bằng - hiệu quả phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và của đất nước. Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân. Phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu về sức khỏe đã đề ra trong Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, sớm đưa Nghệ An trở thành một trong những trung tâm y tế kỹ thuật cao của khu vực Bắc Trung bộ.
2.2. Mục tiêu cụ thể
a) Phát triển các dịch vụ khám chữa bệnh đảm bảo cho mọi người dân được tiếp cận các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh thuận lợi với chất lượng ngày càng cao.
+ Đến năm 2015, đạt tỷ lệ tối thiểu là 25 giường bệnh/vạn dân (trong đó có 4 giường bệnh tư nhân). Đến năm 2020 đạt tỷ lệ tối thiểu là 30 giường bệnh/vạn dân (trong đó có 6 giường bệnh tư nhân). Hiện tại đạt 15,4 giường bệnh công lập và 1,82 giường bệnh tư nhân/vạn dân.
+ Đến năm 2015, có ít nhất 90% và đến năm 2020 có 100% các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện được các kỹ thuật theo danh mục phân tuyến kỹ thuật do Bộ Y tế quy định.
+ Đến năm 2015, 100% bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Y tế, bảo đảm đủ điều kiện xử lý chất thải y tế và khả năng kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện. Đến năm 2020, những bệnh viện tại thành phố, thị xã không đảm bảo các điều kiện về xử lý chất thải phải thực hiện việc di chuyển đến địa điểm mới phù hợp hơn.
+ Đến năm 2015, tất cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải tự kiểm soát chất lượng các dịch vụ khám, chữa bệnh theo quy định của Bộ Y tế.
+ Đạt số lần khám bệnh bình quân 4 lần/người/năm vào năm 2015 (hiện nay đạt 2,8 lần/người/năm). Đến năm 2020, đạt số lần khám bệnh bình quân 5 lần/ người/ năm.
+ Đến năm 2015, 70% bệnh viện tuyến huyện và 100% bệnh viện tuyến tỉnh có kho thuốc đạt tiêu chuẩn thực hành tốt bảo quản thuốc (GSP).
b) Phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng, bao gồm các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập, đầu tư xây dựng một số cơ sở khám, chữa bệnh đáp ứng các nhu cầu về chuyên khoa còn thiếu cho nhân dân;
c) Củng cố và phát triển khám, chữa bệnh bằng YHCT từ tỉnh đến huyện, xã. Đến năm 2015, 100% bệnh viện đa khoa tuyến huyện có khoa y học cổ truyền.
3. Nội dung quy hoạch
3.1. Tổ chức mạng lưới khám chữa bệnh theo các tuyến kỹ thuật
a) Tuyến xã:
- Mỗi xã, phường, thị trấn theo đơn vị hành chính có một Trạm Y tế.
- Đối với các khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp, các doanh nghiệp hoặc nhà máy có trên 500 công nhân thì thành lập Trạm y tế có 3 - 4 cán bộ y tế, trong đó có bác sỹ phục vụ.
b) Tuyến huyện: Mỗi huyện, thành, thị theo đơn vị hành chính có một bệnh viện đa khoa với đầy đủ các khoa, phòng theo Quy định của Bộ Y tế hoặc Trung tâm Y tế có giường bệnh (cho các huyện, thị xã mới thành lập) và 22 Phòng khám đa khoa khu vực. Quy mô giường bệnh được xây dựng tương ứng với quy mô dân số từng vùng, tối thiểu là 50 giường và tối đa không quá 250 giường (trung bình 1 giường bệnh tuyến huyện phục vụ từ 1.400 đến 1.500 người dân).
c) Tuyến tỉnh: Gồm các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tỉnh, bệnh viện đa khoa khu vực (gọi chung là BV tuyến tỉnh).
d) Đẩy mạnh hoạt động xã hội hoá công tác khám bệnh, chữa bệnh để đến năm 2015, đạt tỷ lệ tối thiểu có 4 giường bệnh tư nhân/vạn dân và đến năm 2020 đạt tỷ lệ tối thiểu là 6 giường bệnh tư nhân/vạn dân.
3.2. Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh đến năm 2020
3.2.1. Cơ sở khám chữa bệnh và giường bệnh đến năm 2020 (không bao gồm giường bệnh thuộc Trạm Y tế và các bệnh viện thuộc Bộ, ngành đóng trên địa bàn).
Đến năm 2015, trên địa bàn tỉnh 50 bệnh viện và trung tâm y tế, trung tâm chuyên khoa có giường bệnh với tổng số giường bệnh là 7.620 giường. Đến năm 2020, có 54 bệnh viện và trung tâm y tế, trung tâm chuyên khoa có giường bệnh với tổng số giường bệnh là 9.930 giường (hiện tại 37 Bệnh viện và Trung tâm với 5.104 giường bệnh).
3.2.2. Tuyến tỉnh:
a) Tiếp tục củng cố và phát triển các bệnh viện hiện có:
- Bệnh viện HNĐK tỉnh, đến cuối năm 2012, hoàn thành đầu tư xây dựng bệnh viện 700 giường tại xã Nghi Phú - TP Vinh, đến 2015 phát triển đầy đủ các khoa, phòng và thực hiện đầy đủ chức năng bệnh viện hạng I.
- Bệnh viện Tâm thần, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi: đến hết năm 2012, hoàn thành việc nâng cấp sửa chữa bệnh viện theo Quyết định số 930/2009/QĐ-TTg ngày 30/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ, từng bước lựa chọn ưu tiên phát triển kỹ thuật chuyên khoa, thực hiện chăm sóc, điều trị bệnh nhân với các kỹ thuật mang tính chuyên khoa sâu để làm nhiệm vụ bệnh viện vệ tinh cho khu vực Bắc Trung bộ. Hình thành Phòng chỉ đạo tuyến gắn với các hoạt động của bệnh viện (thay thế Trạm Tâm thần, Trạm Chống Lao hiện nay).
- Bệnh viện Nội Tiết: đến năm 2015, hoàn thành bệnh viện 150 giường tại địa điểm số 11, đường Mai Hắc Đế - TP Vinh, phát triển đầy đủ chuyên môn của bệnh viện hạng II chuyên khoa.
- Bệnh viện Y học cổ truyền: tiếp tục đầu tư nâng cấp, sửa chữa cải tạo bệnh viện tại địa điểm: số 1, đường Tuệ Tĩnh - TP Vinh, phát triển chuyên môn đạt tiêu chuẩn kỹ thuật bệnh viện hạng I, thực hiện chức năng bệnh viện đầu ngành về Y Dược học cổ truyền, hỗ trợ về chuyên môn kỹ thuật cho sự phát triển y học cổ truyền tuyến dưới, đồng thời là cơ sở thực hành về YHCT cho các cơ sở đào tạo trong tỉnh. Đến năm 2015, hoàn thành đề án xây dựng Bệnh viện Đông y hoàn chỉnh với đầy đủ chức năng khám bệnh, chữa bệnh và nghỉ dưỡng tại địa điểm mới.
- Bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Cửa Lò: Từng bước lựa chọn ưu tiên phát triển kỹ thuật điều trị phục hồi chức năng, các phương pháp trị liệu nâng cao sức khỏe không phải dùng thuốc.
- Các trung tâm chuyên khoa có giường bệnh: Trung tâm Chăm sóc Sức khoẻ sinh sản 30 giường, Trung tâm Mắt 20 giường bệnh, Trung tâm Phòng chống Sốt rét - Ký sinh trùng và Côn trùng 5 giường bệnh, tiếp tục củng cố và phát triển theo hướng sáp nhập hình thành các bệnh viện chuyên khoa.
b) Thành lập mới các bệnh viện và trung tâm có giường bệnh:
- Bệnh viện Sản Nhi: trên cơ sở sáp nhập bệnh viện Nhi và Khoa sản bệnh viện HNĐK tỉnh: Giai đoạn 2010 - 2011, xây dựng và phê duyệt đề án thành lập Bệnh viện Sản Nhi. Đến hết năm 2012 tiếp quản cơ sở vật chất của Bệnh viện HNĐK tỉnh hiện nay và phát triển thành Bệnh viện Sản Nhi hoàn chỉnh đạt tiêu chuẩn kỹ thuật bệnh viện hạng I với quy mô 600 giường bệnh.
- Bệnh viện đa khoa Trường Đại học Y khoa Vinh: Triển khai thực hiện Đề án thành lập bệnh viện đa khoa thực hành (theo Quyết định số 2505/QĐ-UBND ngày 11/6/2010) trên cơ sở nâng cấp, mở rộng Phòng khám đa khoa của trường hiện nay thành bệnh viện thực hành với quy mô 100 giường vào năm 2015 và 200 giường vào năm 2020.
- Bệnh viện Ung Bướu (đã được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt Đề án thành lập tại Quyết định số 3825/QĐ-UBND ngày 27/8/2010): Triển khai thực hiện các thủ tục pháp lý đầu tư xây dựng Bệnh viện Ung bướu Nghệ An (Địa điểm: Tại xã Nghi Đức, trên trục đường Vinh - Cửa Hội). Giai đoạn từ 2010 - 2015, thành lập Bệnh viện Ung bướu Nghệ An, triển khai hoạt động trong khuôn viên Bệnh viện HNĐK tỉnh với quy mô 50 giường, vừa thu dung điều trị bệnh nhân vừa tuyển chọn cán bộ đi đào tạo. Đến hết năm 2015 chuyển ra tiếp quản cơ sở Bệnh viện Ung bướu mới, với quy mô 500 giường.
- Bệnh viện Mắt Nghệ An 100 giường tại địa điểm mới xã Nghi Phú (sau bệnh viện Đa khoa 115) trên cơ sở nâng cấp, mở rộng Trung tâm Mắt và sáp nhập Khoa mắt Bệnh viện HNĐK tỉnh.
- Trung tâm Huyết học - Truyền máu 50 giường (đã phê duyệt Đề án thành lập tại Quyết định số 39/2010/QĐ-UBND ngày 05/7/2010 của UBND tỉnh): Đầu tư phát triển kỹ thuật chuyên sâu (gắn với Bệnh viện HNĐK tỉnh) làm nhiệm vụ hỗ trợ lĩnh vực huyết học và truyền máu cho các đơn vị khám, chữa bệnh trong tỉnh.
- Thành lập Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình 200 giường và Trung tâm Vận chuyển cấp cứu bệnh nhân trên cơ sở nâng cấp, mở rộng khoa Chấn thương Bệnh viện HNĐK tỉnh. Sau năm 2012, tiếp quản cơ sở vật chất của Bệnh viện Nhi hiện nay.
- Thành lập Trung tâm Tim mạch 100 giường gắn với Bệnh viện HNĐK tỉnh trên cơ sở nâng cấp, mở rộng Khoa Tim mạch Bệnh viện HNĐK tỉnh.
- Đối với Bệnh viện Đa khoa Khu vực (Tây Bắc tại Nghĩa Đàn và Tây Nam tại Con Cuông): Đang đầu tư xây dựng mới (dự kiến hoàn thành vào năm 2013). Trong lúc chờ hoàn thiện, cần tiếp tục đào tạo phát triển nguồn nhân lực, phát triển kỹ thuật nâng cao chất lượng khám và điều trị. Từng bước hoàn chỉnh các khoa, phòng tương đương bệnh viện hạng II,
3.2.3. Tuyến huyện:
a) Địa bàn các huyện, thị xã:
- Đến hết năm 2012 hoàn thành việc đầu tư, cải tạo nâng cấp bệnh viện theo Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg ngày 24/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ. Tập trung đầu tư phát triển mọi mặt cho bệnh viện huyện: Diễn Châu, Nghi Lộc, Thanh Chương, Đô Lương, Quỳnh Lưu và Yên Thành đảm bảo các dịch vụ kỹ thuật bệnh viện hạng II. Các huyện còn lại phát triển dịch vụ kỹ thuật đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng III vào năm 2015, và hạng II vào năm 2020.
- Đối với các huyện, thị xã mới chia tách thì thành lập Trung tâm Y tế có giường bệnh, thực hiện cả chức năng phòng bệnh và chữa bệnh:
+ Trung tâm Y tế huyện Nghĩa Đàn 80 giường bệnh, hiện đang xây dựng mới tại xã Nghĩa Bình (nơi xây dựng trung tâm hành chính của huyện Nghĩa Đàn).
+ Thành lập Trung tâm Y tế thị xã Thái Hoà 50 giường bệnh, sau năm 2013 tiếp quản cơ sở vật chất của Bệnh viện đa khoa Tây Bắc hiện nay.
+ Thành lập Trung tâm Y tế thị xã Con Cuông 50 giường bệnh, sau năm 2013 tiếp quản cơ sở vật chất Bệnh viện đa khoa khu vực Tây Nam hiện nay;
+ Thành lập Trung tâm Y tế thị xã Hoàng Mai 80 giường bệnh, trên cơ sở tiếp quản cơ sở vật chất Phòng khám đa khoa Khu vực Hoàng Mai.
+ Thành lập Trung tâm Y tế huyện Con Cuông 50 giường bệnh, sau năm 2015, đầu tư xây dựng tại Khe Choăng (TT hành chính mới của huyện Con Cuông).
- Củng cố và duy trì ổn định phát triển 22 phòng khám đa khoa khu vực (thuộc sự quản lý của bệnh viện đa khoa huyện), để có đủ khả năng thực hiện được các kỹ thuật, dịch vụ khám chữa bệnh thông thường. Quy mô phòng khám đa khoa ở huyện miền núi là 15 giường và ở huyện đồng bằng là 20 giường.
b) Địa bàn thành phố Vinh:
- Đến hết năm 2012 hoàn thành việc đầu tư, cải tạo nâng cấp Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh theo Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ưu tiên phát triển dịch vụ kỹ thuật của bệnh viện hạng II, đảm bảo các điều kiện về xử lý chất thải y tế theo quy định của Bộ Y tế.
- Bắt đầu từ năm 2016, gắn liền sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Vinh với nhu cầu phát triển kỹ thuật và quy mô giường bệnh của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, lập phương án di chuyển Bệnh viện đến địa điểm mới (hoặc mở rộng diện tích) để có đủ quỹ đất đầu tư xây dựng, phát triển và hoàn thành đưa vào sử dụng trước năm 2020.
3.2.4. Tuyến xã: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các Trạm Y tế xã theo quy hoạch và thiết kế mẫu được duyệt. Đảm bảo mỗi Trạm Y tế có đủ các phòng chức năng và trang thiết bị thiết yếu và bố trí đủ cán bộ y tế theo chức danh do Bộ Y tế quy định (theo Thông tư liên tịch số 08/TTLT-BNV-BYT ngày 05/6/2007 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ về việc Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước), đạt Chuẩn Quốc gia về y tế để làm nhiệm vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.
3.2.5. Phát triển hệ thống khám, chữa bệnh ngoài công lập:
Tiếp tục duy trì, nâng cao và phát triển các dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu, mở rộng quy mô giường bệnh các bệnh viện hiện có, gồm 08 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa: Bệnh viện 115, Thái An, Thành An, Cửa Đông, Đông Âu, Phủ Diễn, Minh Hồng và Bệnh viện Mắt Sài Gòn (với tổng số 539 giường bệnh). Từ nay đến năm 2020, khuyến khích xã hội hóa đầu tư xây dựng một số bệnh viện chuyên khoa, đa khoa tư nhân theo quy hoạch được duyệt.
a) Địa bàn các huyện, thị:
- Từ nay đến năm 2015, phát triển một số bệnh viện tư nhân sau:
+ Bệnh viện Đa khoa tư nhân Phủ Quỳ tại Quỳ Hợp, quy mô 150 giường.
+ Bệnh viện ĐK tư nhân Hoàng Mai tại Quỳnh Lưu, quy mô 100 giường.
+ Bệnh viện ĐK tư nhân Thịnh Sơn tại Đô Lương, quy mô 100 giường.
- Từ năm 2016 - 2020, căn cứ vào tình hình thực tế cần phát triển một số bệnh viện đa khoa tư nhân tại các huyện có dân số đông như: Thanh Chương, Yên Thành,... Phát triển Bệnh viện đa khoa Quốc tế quy mô 500 giường, Bệnh viện phục hồi chức năng quy mô 300 giường (tại thị xã Cửa Lò).
b) Địa bàn thành phố Vinh:
- Từ nay đến năm 2015, Ưu tiên đầu tư và khuyến khích các thành phần kinh tế có năng lực tài chính đầu tư xây dựng một số bệnh viện ngoài công lập, gồm:
+ Bệnh viện Phụ sản Quốc tế Vinh (đang xây dựng), quy mô 300 giường.
+ Bệnh viện Răng Hàm Mặt, quy mô 50 giường.
+ Bệnh viện Đông y (hoàn chỉnh cao cấp), quy mô 300 giường.
+ Bệnh viện Tai Mũi Họng, quy mô 50 giường.
+ Bệnh viện Da liễu, quy mô 50 giường.
- Từ năm 2016 - 2020, phát triển một số bệnh viện chuyên khoa khi có nhu cầu và có đối tác đầu tư, mở rộng quy mô bệnh viện hiện có theo đề án được duyệt. Những bệnh viện công lập và ngoài công lập xây mới, từ nay đến năm 2020, phải định vị tại vùng quy hoạch được duyệt và phải đảm bảo các điều kiện tối ưu về xử lý chất thải.
3.2.6. Phát triển mạng lưới cấp cứu và vận chuyển cấp cứu:
a) Thiết lập lại hệ thống dịch vụ vận chuyển cấp cứu 115 (tiền thân trước đây là đội cấp cứu 05 đã giải thể). Trước mắt giao cho Bệnh viện HNĐK tỉnh quản lý và thực hiện, sau này khi thành lập Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình thì gắn với Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình và hình thành Trung tâm vận chuyển cấp cứu, thực hiện chức năng, nhiệm vụ vận chuyển cấp cứu bệnh nhân 24/24 giờ.
b) Khuyến khích y tế tư nhân phát triển 03 cơ sở vận chuyển cấp cứu tư nhân tại huyện Nghĩa Đàn, Con Cuông và Thanh Chương.
4. Các giải pháp thực hiện quy hoạch
4.1. Phát triển nguồn nhân lực
a) Tăng cường công tác đào tạo và đào tạo liên tục kể cả về chuyên môn và quản lý. Quan tâm tuyển sinh đào tạo cho người dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, đào tạo theo địa chỉ sử dụng cho khu vực miền núi.
b) Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao bằng cách cử các cán bộ trẻ có năng lực bồi dưỡng ngoại ngữ và bố trí thành các ê kíp chuyên môn kỹ thuật đi học dài hạn trong và ngoài nước theo các lĩnh vực kỹ thuật chuyên sâu.
c) Có cơ chế chính sách mang tính đặt thù khuyến khích đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho ngành y tế, về thu hút nhân tài, về chế độ đãi ngộ cho cán bộ y tế công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn thiệt thòi, cho các chuyên ngành điều kiện công tác khó khăn, độc hại thu nhập thấp như các chuyên khoa Lao, Tâm thần, Da Liễu, phòng chống các bệnh xã hội và các bệnh dịch nguy hiểm kể cả HIV/AIDS.
d) Thực hiện đúng quy chế luân chuyển, điều động cán bộ, điều chỉnh hợp lý cán bộ y tế từ nơi thừa đến nơi thiếu.
4.2. Đổi mới cơ chế quản lý bệnh viện
a) Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý bệnh viện công lập theo hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính cho các đơn vị cơ sở.
b) Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện công khai, minh bạch trong khám chữa bệnh và thu phí, nhất là cải cách thủ tục hành chính thuận lợi cho người bệnh.
4.3. Đẩy mạnh xã hội hoá công tác khám, chữa bệnh: Đa dạng hoá, xã hội hóa các loại hình khám chữa bệnh. Bảo đảm để các cơ sở khám chữa bệnh của nhà nước và tư nhân đều bình đẳng về mọi mặt, không ngừng nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân.
4.4. Giải pháp về khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường
- Tăng cường hợp tác đào tạo, chuyển giao, ứng dụng kỹ thuật mới, hiện đại phục vụ công tác khám chữa bệnh.
- Thực hiện kiểm soát chất lượng các dịch vụ y tế tại các cơ sở khám, chữa bệnh theo quy định của Bộ Y tế. Phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, quản trị bệnh viện.
- Chú trọng nghiên cứu, khảo sát, đánh giá tác động của môi trường xung quanh đối với sức khỏe người dân trước khi đề xuất các dự án đầu tư xây mới hoặc nâng cấp, cải tạo mở rộng bệnh viện.
4.5. Giải pháp về tài chính và đầu tư
a) Giải pháp về tài chính:
- Tăng cường huy động các nguồn vốn hợp pháp cho phát triển mạng lưới khám chữa bệnh, đặc biệt là từ ngân sách nhà nước, các nguồn vốn hỗ trợ phát triển ODA, NGO và các nguồn vốn hợp pháp khác trong xã hội để thực hiện quy hoạch;
- Đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các cơ sở y tế công lập theo quy định của Nhà nước nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo, nâng cao tinh thần trách nhiệm và hiệu quả công tác của cơ sở.
- Các bệnh viện công lập cần thực hiện đúng quy định hiện hành trong liên danh, liên kết với các thành phần kinh tế hoặc vay vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và mua sắm trang thiết bị y tế.
4.6. Giải pháp về đất đai
Chỉ tiêu diện tích đất dành cho phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh:
- Diện tích đất trung bình dành cho Trạm Y tế miền núi từ 600m2 - 1000m2; Trạm Y tế đồng bằng từ 1000m2 - 1400m2.
- Diện tích đất trung bình dành cho Bệnh viện đa khoa tuyến huyện 100m2- 120m2/giường bệnh (kể cả phòng khám đa khoa khu vực).
- Diện tích đất trung bình dành cho Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh 130m2 - 140m2/giường bệnh.
Trong đó có ít nhất 25% diện tích đất dành cho cây xanh.
- Diện tích sàn bình quân/giường bệnh đạt tối thiểu:
+ Bệnh viện đa khoa hạng 3: 50 - 60 m2
+ Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa hạng 2: 60 - 80 m2
+ Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa hạng 1: 80 - 100 m2
Trong đó có ít nhất 20% diện tích sàn dành cho không gian lưu không.
5. Tổ chức thực hiện quy hoạch
5.1. Lộ trình thực hiện
a) Giai đoạn từ 2010 - 2012:
- Tập trung ưu tiên nguồn vốn đầu tư xây dựng Bệnh viện đa khoa tỉnh 700 giường. Hoàn thành, bàn giao Bệnh viện HNĐK tiếp quản đưa vào sử dụng.
- Hoàn thành các dự án nâng cấp, cải tạo bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện sử dụng nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ theo Quyết định 930/2009/QĐ- TTg và 47/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
- Hoàn thành dự án nâng cấp, mở rộng Bệnh viện Nội Tiết (giai đoạn 2: 150 giường).
- Triển khai thực hiện đề án phát triển Trung tâm Huyết học - Truyền máu;
- Nâng cấp, cải tạo các Trạm Y tế xã theo danh mục được duyệt (sẽ có danh mục cụ thể và theo lộ trình riêng).
- Xây dựng Đề án thành lập Bệnh viện Sản Nhi. Đến năm 2012, tiếp quản toàn bộ cơ sở vật chất của Bệnh viện HNĐK tỉnh.
- Thành lập Bệnh viện Ung bướu 50 giường trong khuôn viên Bệnh viện HNĐK tỉnh, từng bước phát triển kỹ thuật, đồng thời tuyển chọn đào tạo phát triển nguồn nhân lực đáp ứng khi chuyển ra cơ sở mới.
- Lập Dự án khả thi xây dựng một số bệnh viện mới: Bệnh viện Ung bướu Nghệ
An 500 giường; Bệnh viện Mắt Nghệ An 100 giường; Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình 200 giường (Tiếp quản cơ sở vật chất của Bệnh viện Nhi hiện nay); thành lập Trung tâm Vận chuyển cấp cứu gắn với Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình.
- Triển khai thực hiện Đề án thành lập Bệnh viện Trường Đại học Y khoa Vinh giai đoạn 1: 100 giường.
b) Giai đoạn từ 2013 - 2015:
- Hoàn thành dự án và ổn định phát triển Bệnh viện Sản Nhi 600 giường bệnh tại cơ sở Bệnh viện HNĐK tỉnh.
- Tiếp tục đầu tư xây dựng Bệnh viện Ung bướu Nghệ An 500 giường tại xã Nghi Đức, đồng thời từng bước phát triển kỹ thuật, tuyển chọn đào tạo phát triển nguồn nhân lực đáp ứng khi chuyển ra cơ sở mới.
- Bắt đầu đi vào hoàn thành dự án Bệnh viện Mắt 100 giường.
- Hoàn thành, tiếp nhận, bàn giao đi vào hoạt động các Trung tâm Y tế có giường bệnh, gồm: Trung tâm Y tế huyện Nghĩa Đàn, Trung tâm Y tế thị xã Thái Hòa, Trung tâm Y tế thị xã Con Cuông.
- Hoàn thành nâng cấp, cải tạo Phòng khám đa khoa khu vực.
- Kêu gọi xã hội hóa đầu tư xây dựng một số bệnh viện chuyên khoa tư nhân: Da liễu, Bệnh viện Đông y hoàn chỉnh, Bệnh viện đa khoa tại huyện Nghĩa Đàn, Thanh Chương,...
c) Giai đoạn từ 2016 - 2020:
- Hoàn thành và đưa vào sử dụng các bệnh viện: Bệnh viện Ung bướu 500 giường, Bệnh viện đa khoa Trường Đại học Y khoa Vinh 200 giường.
- Thành lập Trung tâm Tim mạch 100 giường bệnh (gắn với Bệnh viện HNĐK tỉnh).
- Hoàn thành, tiếp nhận, bàn giao đi vào hoạt động các Trung tâm Y tế có giường bệnh, gồm: Trung tâm Y tế thị xã Hoàng Mai, Trung tâm Y tế Con Cuông.
- Kêu gọi xã hội hóa đầu tư xây dựng một số bệnh viện tư nhân: Bệnh viện đa khoa Quốc tế, Bệnh viện phục hồi chức năng (tại Cửa Lò), một số cơ sở vận chuyển cấp cứu tư nhân tại huyện: Nghĩa Đàn, Thanh Chương, Con Cuông,...
5.2. Trách nhiệm tổ chức thực hiện
a) Sở Y tế: Chịu trách nhiệm chỉ đạo hướng dẫn các đơn vị trực thuộc Sở triển khai thực hiện quy hoạch. Định kỳ báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh về kết quả, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch; chủ trì phối hợp với Sở Nội vụ xây dựng định mức biên chế và bổ sung nhân lực cho các đơn vị mới hình thành, đồng thời tham mưu chính sách thu hút cán bộ y tế có trình độ chuyên môn cao về công tác tại Nghệ An.
b) Sở Kế hoạch và Đầu tư: Chịu trách nhiệm huy động và cân đối các nguồn lực đầu tư cho y tế để thực hiện quy hoạch theo đúng tiến độ thời gian. Giám sát việc thực hiện Quy hoạch.
c) Sở Tài chính: Căn cứ khả năng ngân sách địa phương, chịu trách nhiệm tham mưu báo cáo UBND tỉnh bảo đảm nguồn kinh phí cấp cho ngành y tế theo kế hoạch hàng năm và 5 năm. Phối hợp với Sở Y tế cân đối ngân sách đầu tư cho y tế và cho các lĩnh vực ưu tiên trong thực hiện Quy hoạch.
d) Sở Nội vụ: Chủ trì xây dựng kế hoạch biên chế, phối hợp với Sở Y tế trong xây dựng định mức biên chế và bổ sung nhân lực cho mỗi đơn vị khám chữa bệnh trên cơ sở quy mô giường bệnh và nhu cầu đầu tư dự án thuộc quy hoạch phát triển.
e) Sở Xây dựng: Chịu trách nhiệm xây dựng quy hoạch tổng thể cho các công trình y tế phù với quy hoạch chung của tỉnh, phối hợp với Sở Y tế, Sở Tài Nguyên và Môi trường trong việc giải quyết thủ tục đất đai và giám sát việc thực hiện Quy hoạch.
f) Sở Tài nguyên và Môi trường: Chịu trách nhiệm chính về bố trí đất đai cho xây dựng các công trình y tế, phối hợp với các Sở, ngành liên quan giải quyết thủ tục giao đất thực hiện quy hoạch.
g) Các Sở, ngành liên quan chịu trách nhiệm phối hợp với Sở Y tế tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển mạng lưới, củng cố và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế nhằm bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
h) Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã chịu trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện Quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh trong phạm vi quản lý của địa phương.

Content:
Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An giai đoạn năm 2011 đến 2020, nội dung như sau:
1. Quan điểm quy hoạch
a) Phát triển cân đối, hợp lý, hài hòa bệnh viện đa khoa và bệnh viện chuyên khoa, giữa y tế phổ cập với y tế chuyên sâu, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền.
Tập trung đầu tư các bệnh viện tỉnh, bệnh viện vùng và bệnh viện tuyến huyện, bảo đảm thuận lợi cho mọi người dân được tiếp cận các dịch vụ khám, chữa bệnh.
b) Sắp xếp mạng lưới khám, chữa bệnh theo cụm dân cư kết hợp với phân tuyến chuyên môn kỹ thuật hợp lý. Quy mô của mỗi bệnh viện phù hợp với quy mô dân số trên từng địa bàn thuộc phạm vi quản lý.
c) Ưu tiên đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế; đổi mới cơ chế và phương thức quản lý bệnh viện nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh.
d) Xã hội hóa, đa dạng hóa các loại hình khám, chữa bệnh (Nhà nước, tập thể, dân lập, tư nhân,...). Trong đó y tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
e) Sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật và trang thiết bị y tế hiện có trên cơ sở thực hiện các phương án tiếp nhận, bàn giao các cơ sở vật chất khám, chữa bệnh.
2. Mục tiêu quy hoạch
2.1. Mục tiêu chung
Xây dựng và phát triển mạng lưới khám chữa bệnh tỉnh Nghệ An đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, từng bước hiện đại, theo hướng công bằng - hiệu quả phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và của đất nước. Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân. Phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu về sức khỏe đã đề ra trong Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, sớm đưa Nghệ An trở thành một trong những trung tâm y tế kỹ thuật cao của khu vực Bắc Trung bộ.
2.2. Mục tiêu cụ thể
a) Phát triển các dịch vụ khám chữa bệnh đảm bảo cho mọi người dân được tiếp cận các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh thuận lợi với chất lượng ngày càng cao.
+ Đến năm 2015, đạt tỷ lệ tối thiểu là 25 giường bệnh/vạn dân (trong đó có 4 giường bệnh tư nhân). Đến năm 2020 đạt tỷ lệ tối thiểu là 30 giường bệnh/vạn dân (trong đó có 6 giường bệnh tư nhân). Hiện tại đạt 15,4 giường bệnh công lập và 1,82 giường bệnh tư nhân/vạn dân.
+ Đến năm 2015, có ít nhất 90% và đến năm 2020 có 100% các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện được các kỹ thuật theo danh mục phân tuyến kỹ thuật do Bộ Y tế quy định.
+ Đến năm 2015, 100% bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Y tế, bảo đảm đủ điều kiện xử lý chất thải y tế và khả năng kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện. Đến năm 2020, những bệnh viện tại thành phố, thị xã không đảm bảo các điều kiện về xử lý chất thải phải thực hiện việc di chuyển đến địa điểm mới phù hợp hơn.
+ Đến năm 2015, tất cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải tự kiểm soát chất lượng các dịch vụ khám, chữa bệnh theo quy định của Bộ Y tế.
+ Đạt số lần khám bệnh bình quân 4 lần/người/năm vào năm 2015 (hiện nay đạt 2,8 lần/người/năm). Đến năm 2020, đạt số lần khám bệnh bình quân 5 lần/ người/ năm.
+ Đến năm 2015, 70% bệnh viện tuyến huyện và 100% bệnh viện tuyến tỉnh có kho thuốc đạt tiêu chuẩn thực hành tốt bảo quản thuốc (GSP).
b) Phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng, bao gồm các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập, đầu tư xây dựng một số cơ sở khám, chữa bệnh đáp ứng các nhu cầu về chuyên khoa còn thiếu cho nhân dân;
c) Củng cố và phát triển khám, chữa bệnh bằng YHCT từ tỉnh đến huyện, xã. Đến năm 2015, 100% bệnh viện đa khoa tuyến huyện có khoa y học cổ truyền.
3. Nội dung quy hoạch
3.1. Tổ chức mạng lưới khám chữa bệnh theo các tuyến kỹ thuật
a) Tuyến xã:
- Mỗi xã, phường, thị trấn theo đơn vị hành chính có một Trạm Y tế.
- Đối với các khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp, các doanh nghiệp hoặc nhà máy có trên 500 công nhân thì thành lập Trạm y tế có 3 - 4 cán bộ y tế, trong đó có bác sỹ phục vụ.
b) Tuyến huyện: Mỗi huyện, thành, thị theo đơn vị hành chính có một bệnh viện đa khoa với đầy đủ các khoa, phòng theo Quy định của Bộ Y tế hoặc Trung tâm Y tế có giường bệnh (cho các huyện, thị xã mới thành lập) và 22 Phòng khám đa khoa khu vực. Quy mô giường bệnh được xây dựng tương ứng với quy mô dân số từng vùng, tối thiểu là 50 giường và tối đa không quá 250 giường (trung bình 1 giường bệnh tuyến huyện phục vụ từ 1.400 đến 1.500 người dân).
c) Tuyến tỉnh: Gồm các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tỉnh, bệnh viện đa khoa khu vực (gọi chung là BV tuyến tỉnh).
d) Đẩy mạnh hoạt động xã hội hoá công tác khám bệnh, chữa bệnh để đến năm 2015, đạt tỷ lệ tối thiểu có 4 giường bệnh tư nhân/vạn dân và đến năm 2020 đạt tỷ lệ tối thiểu là 6 giường bệnh tư nhân/vạn dân.
3.2. Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh đến năm 2020
3.2.1. Cơ sở khám chữa bệnh và giường bệnh đến năm 2020 (không bao gồm giường bệnh thuộc Trạm Y tế và các bệnh viện thuộc Bộ, ngành đóng trên địa bàn).
Đến năm 2015, trên địa bàn tỉnh 50 bệnh viện và trung tâm y tế, trung tâm chuyên khoa có giường bệnh với tổng số giường bệnh là 7.620 giường. Đến năm 2020, có 54 bệnh viện và trung tâm y tế, trung tâm chuyên khoa có giường bệnh với tổng số giường bệnh là 9.930 giường (hiện tại 37 Bệnh viện và Trung tâm với 5.104 giường bệnh).
3.2.2. Tuyến tỉnh:
a) Tiếp tục củng cố và phát triển các bệnh viện hiện có:
- Bệnh viện HNĐK tỉnh, đến cuối năm 2012, hoàn thành đầu tư xây dựng bệnh viện 700 giường tại xã Nghi Phú - TP Vinh, đến 2015 phát triển đầy đủ các khoa, phòng và thực hiện đầy đủ chức năng bệnh viện hạng I.
- Bệnh viện Tâm thần, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi: đến hết năm 2012, hoàn thành việc nâng cấp sửa chữa bệnh viện theo Quyết định số 930/2009/QĐ-TTg ngày 30/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ, từng bước lựa chọn ưu tiên phát triển kỹ thuật chuyên khoa, thực hiện chăm sóc, điều trị bệnh nhân với các kỹ thuật mang tính chuyên khoa sâu để làm nhiệm vụ bệnh viện vệ tinh cho khu vực Bắc Trung bộ. Hình thành Phòng chỉ đạo tuyến gắn với các hoạt động của bệnh viện (thay thế Trạm Tâm thần, Trạm Chống Lao hiện nay).
- Bệnh viện Nội Tiết: đến năm 2015, hoàn thành bệnh viện 150 giường tại địa điểm số 11, đường Mai Hắc Đế - TP Vinh, phát triển đầy đủ chuyên môn của bệnh viện hạng II chuyên khoa.
- Bệnh viện Y học cổ truyền: tiếp tục đầu tư nâng cấp, sửa chữa cải tạo bệnh viện tại địa điểm: số 1, đường Tuệ Tĩnh - TP Vinh, phát triển chuyên môn đạt tiêu chuẩn kỹ thuật bệnh viện hạng I, thực hiện chức năng bệnh viện đầu ngành về Y Dược học cổ truyền, hỗ trợ về chuyên môn kỹ thuật cho sự phát triển y học cổ truyền tuyến dưới, đồng thời là cơ sở thực hành về YHCT cho các cơ sở đào tạo trong tỉnh. Đến năm 2015, hoàn thành đề án xây dựng Bệnh viện Đông y hoàn chỉnh với đầy đủ chức năng khám bệnh, chữa bệnh và nghỉ dưỡng tại địa điểm mới.
- Bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Cửa Lò: Từng bước lựa chọn ưu tiên phát triển kỹ thuật điều trị phục hồi chức năng, các phương pháp trị liệu nâng cao sức khỏe không phải dùng thuốc.
- Các trung tâm chuyên khoa có giường bệnh: Trung tâm Chăm sóc Sức khoẻ sinh sản 30 giường, Trung tâm Mắt 20 giường bệnh, Trung tâm Phòng chống Sốt rét - Ký sinh trùng và Côn trùng 5 giường bệnh, tiếp tục củng cố và phát triển theo hướng sáp nhập hình thành các bệnh viện chuyên khoa.
b) Thành lập mới các bệnh viện và trung tâm có giường bệnh:
- Bệnh viện Sản Nhi: trên cơ sở sáp nhập bệnh viện Nhi và Khoa sản bệnh viện HNĐK tỉnh: Giai đoạn 2010 - 2011, xây dựng và phê duyệt đề án thành lập Bệnh viện Sản Nhi. Đến hết năm 2012 tiếp quản cơ sở vật chất của Bệnh viện HNĐK tỉnh hiện nay và phát triển thành Bệnh viện Sản Nhi hoàn chỉnh đạt tiêu chuẩn kỹ thuật bệnh viện hạng I với quy mô 600 giường bệnh.
- Bệnh viện đa khoa Trường Đại học Y khoa Vinh: Triển khai thực hiện Đề án thành lập bệnh viện đa khoa thực hành (theo Quyết định số 2505/QĐ-UBND ngày 11/6/2010) trên cơ sở nâng cấp, mở rộng Phòng khám đa khoa của trường hiện nay thành bệnh viện thực hành với quy mô 100 giường vào năm 2015 và 200 giường vào năm 2020.
- Bệnh viện Ung Bướu (đã được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt Đề án thành lập tại Quyết định số 3825/QĐ-UBND ngày 27/8/2010): Triển khai thực hiện các thủ tục pháp lý đầu tư xây dựng Bệnh viện Ung bướu Nghệ An (Địa điểm: Tại xã Nghi Đức, trên trục đường Vinh - Cửa Hội). Giai đoạn từ 2010 - 2015, thành lập Bệnh viện Ung bướu Nghệ An, triển khai hoạt động trong khuôn viên Bệnh viện HNĐK tỉnh với quy mô 50 giường, vừa thu dung điều trị bệnh nhân vừa tuyển chọn cán bộ đi đào tạo. Đến hết năm 2015 chuyển ra tiếp quản cơ sở Bệnh viện Ung bướu mới, với quy mô 500 giường.
- Bệnh viện Mắt Nghệ An 100 giường tại địa điểm mới xã Nghi Phú (sau bệnh viện Đa khoa 115) trên cơ sở nâng cấp, mở rộng Trung tâm Mắt và sáp nhập Khoa mắt Bệnh viện HNĐK tỉnh.
- Trung tâm Huyết học - Truyền máu 50 giường (đã phê duyệt Đề án thành lập tại Quyết định số 39/2010/QĐ-UBND ngày 05/7/2010 của UBND tỉnh): Đầu tư phát triển kỹ thuật chuyên sâu (gắn với Bệnh viện HNĐK tỉnh) làm nhiệm vụ hỗ trợ lĩnh vực huyết học và truyền máu cho các đơn vị khám, chữa bệnh trong tỉnh.
- Thành lập Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình 200 giường và Trung tâm Vận chuyển cấp cứu bệnh nhân trên cơ sở nâng cấp, mở rộng khoa Chấn thương Bệnh viện HNĐK tỉnh. Sau năm 2012, tiếp quản cơ sở vật chất của Bệnh viện Nhi hiện nay.
- Thành lập Trung tâm Tim mạch 100 giường gắn với Bệnh viện HNĐK tỉnh trên cơ sở nâng cấp, mở rộng Khoa Tim mạch Bệnh viện HNĐK tỉnh.
- Đối với Bệnh viện Đa khoa Khu vực (Tây Bắc tại Nghĩa Đàn và Tây Nam tại Con Cuông): Đang đầu tư xây dựng mới (dự kiến hoàn thành vào năm 2013). Trong lúc chờ hoàn thiện, cần tiếp tục đào tạo phát triển nguồn nhân lực, phát triển kỹ thuật nâng cao chất lượng khám và điều trị. Từng bước hoàn chỉnh các khoa, phòng tương đương bệnh viện hạng II,
3.2.3. Tuyến huyện:
a) Địa bàn các huyện, thị xã:
- Đến hết năm 2012 hoàn thành việc đầu tư, cải tạo nâng cấp bệnh viện theo Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg ngày 24/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ. Tập trung đầu tư phát triển mọi mặt cho bệnh viện huyện: Diễn Châu, Nghi Lộc, Thanh Chương, Đô Lương, Quỳnh Lưu và Yên Thành đảm bảo các dịch vụ kỹ thuật bệnh viện hạng II. Các huyện còn lại phát triển dịch vụ kỹ thuật đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng III vào năm 2015, và hạng II vào năm 2020.
- Đối với các huyện, thị xã mới chia tách thì thành lập Trung tâm Y tế có giường bệnh, thực hiện cả chức năng phòng bệnh và chữa bệnh:
+ Trung tâm Y tế huyện Nghĩa Đàn 80 giường bệnh, hiện đang xây dựng mới tại xã Nghĩa Bình (nơi xây dựng trung tâm hành chính của huyện Nghĩa Đàn).
+ Thành lập Trung tâm Y tế thị xã Thái Hoà 50 giường bệnh, sau năm 2013 tiếp quản cơ sở vật chất của Bệnh viện đa khoa Tây Bắc hiện nay.
+ Thành lập Trung tâm Y tế thị xã Con Cuông 50 giường bệnh, sau năm 2013 tiếp quản cơ sở vật chất Bệnh viện đa khoa khu vực Tây Nam hiện nay;
+ Thành lập Trung tâm Y tế thị xã Hoàng Mai 80 giường bệnh, trên cơ sở tiếp quản cơ sở vật chất Phòng khám đa khoa Khu vực Hoàng Mai.
+ Thành lập Trung tâm Y tế huyện Con Cuông 50 giường bệnh, sau năm 2015, đầu tư xây dựng tại Khe Choăng (TT hành chính mới của huyện Con Cuông).
- Củng cố và duy trì ổn định phát triển 22 phòng khám đa khoa khu vực (thuộc sự quản lý của bệnh viện đa khoa huyện), để có đủ khả năng thực hiện được các kỹ thuật, dịch vụ khám chữa bệnh thông thường. Quy mô phòng khám đa khoa ở huyện miền núi là 15 giường và ở huyện đồng bằng là 20 giường.
b) Địa bàn thành phố Vinh:
- Đến hết năm 2012 hoàn thành việc đầu tư, cải tạo nâng cấp Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh theo Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ưu tiên phát triển dịch vụ kỹ thuật của bệnh viện hạng II, đảm bảo các điều kiện về xử lý chất thải y tế theo quy định của Bộ Y tế.
- Bắt đầu từ năm 2016, gắn liền sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Vinh với nhu cầu phát triển kỹ thuật và quy mô giường bệnh của Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, lập phương án di chuyển Bệnh viện đến địa điểm mới (hoặc mở rộng diện tích) để có đủ quỹ đất đầu tư xây dựng, phát triển và hoàn thành đưa vào sử dụng trước năm 2020.
3.2.4. Tuyến xã: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các Trạm Y tế xã theo quy hoạch và thiết kế mẫu được duyệt. Đảm bảo mỗi Trạm Y tế có đủ các phòng chức năng và trang thiết bị thiết yếu và bố trí đủ cán bộ y tế theo chức danh do Bộ Y tế quy định (theo Thông tư liên tịch số 08/TTLT-BNV-BYT ngày 05/6/2007 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ về việc Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước), đạt Chuẩn Quốc gia về y tế để làm nhiệm vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.
3.2.5. Phát triển hệ thống khám, chữa bệnh ngoài công lập:
Tiếp tục duy trì, nâng cao và phát triển các dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu, mở rộng quy mô giường bệnh các bệnh viện hiện có, gồm 08 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa: Bệnh viện 115, Thái An, Thành An, Cửa Đông, Đông Âu, Phủ Diễn, Minh Hồng và Bệnh viện Mắt Sài Gòn (với tổng số 539 giường bệnh). Từ nay đến năm 2020, khuyến khích xã hội hóa đầu tư xây dựng một số bệnh viện chuyên khoa, đa khoa tư nhân theo quy hoạch được duyệt.
a) Địa bàn các huyện, thị:
- Từ nay đến năm 2015, phát triển một số bệnh viện tư nhân sau:
+ Bệnh viện Đa khoa tư nhân Phủ Quỳ tại Quỳ Hợp, quy mô 150 giường.
+ Bệnh viện ĐK tư nhân Hoàng Mai tại Quỳnh Lưu, quy mô 100 giường.
+ Bệnh viện ĐK tư nhân Thịnh Sơn tại Đô Lương, quy mô 100 giường.
- Từ năm 2016 - 2020, căn cứ vào tình hình thực tế cần phát triển một số bệnh viện đa khoa tư nhân tại các huyện có dân số đông như: Thanh Chương, Yên Thành,... Phát triển Bệnh viện đa khoa Quốc tế quy mô 500 giường, Bệnh viện phục hồi chức năng quy mô 300 giường (tại thị xã Cửa Lò).
b) Địa bàn thành phố Vinh:
- Từ nay đến năm 2015, Ưu tiên đầu tư và khuyến khích các thành phần kinh tế có năng lực tài chính đầu tư xây dựng một số bệnh viện ngoài công lập, gồm:
+ Bệnh viện Phụ sản Quốc tế Vinh (đang xây dựng), quy mô 300 giường.
+ Bệnh viện Răng Hàm Mặt, quy mô 50 giường.
+ Bệnh viện Đông y (hoàn chỉnh cao cấp), quy mô 300 giường.
+ Bệnh viện Tai Mũi Họng, quy mô 50 giường.
+ Bệnh viện Da liễu, quy mô 50 giường.
- Từ năm 2016 - 2020, phát triển một số bệnh viện chuyên khoa khi có nhu cầu và có đối tác đầu tư, mở rộng quy mô bệnh viện hiện có theo đề án được duyệt. Những bệnh viện công lập và ngoài công lập xây mới, từ nay đến năm 2020, phải định vị tại vùng quy hoạch được duyệt và phải đảm bảo các điều kiện tối ưu về xử lý chất thải.
3.2.6. Phát triển mạng lưới cấp cứu và vận chuyển cấp cứu:
a) Thiết lập lại hệ thống dịch vụ vận chuyển cấp cứu 115 (tiền thân trước đây là đội cấp cứu 05 đã giải thể). Trước mắt giao cho Bệnh viện HNĐK tỉnh quản lý và thực hiện, sau này khi thành lập Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình thì gắn với Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình và hình thành Trung tâm vận chuyển cấp cứu, thực hiện chức năng, nhiệm vụ vận chuyển cấp cứu bệnh nhân 24/24 giờ.
b) Khuyến khích y tế tư nhân phát triển 03 cơ sở vận chuyển cấp cứu tư nhân tại huyện Nghĩa Đàn, Con Cuông và Thanh Chương.
4. Các giải pháp thực hiện quy hoạch
4.1. Phát triển nguồn nhân lực
a) Tăng cường công tác đào tạo và đào tạo liên tục kể cả về chuyên môn và quản lý. Quan tâm tuyển sinh đào tạo cho người dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, đào tạo theo địa chỉ sử dụng cho khu vực miền núi.
b) Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao bằng cách cử các cán bộ trẻ có năng lực bồi dưỡng ngoại ngữ và bố trí thành các ê kíp chuyên môn kỹ thuật đi học dài hạn trong và ngoài nước theo các lĩnh vực kỹ thuật chuyên sâu.
c) Có cơ chế chính sách mang tính đặt thù khuyến khích đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho ngành y tế, về thu hút nhân tài, về chế độ đãi ngộ cho cán bộ y tế công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn thiệt thòi, cho các chuyên ngành điều kiện công tác khó khăn, độc hại thu nhập thấp như các chuyên khoa Lao, Tâm thần, Da Liễu, phòng chống các bệnh xã hội và các bệnh dịch nguy hiểm kể cả HIV/AIDS.
d) Thực hiện đúng quy chế luân chuyển, điều động cán bộ, điều chỉnh hợp lý cán bộ y tế từ nơi thừa đến nơi thiếu.
4.2. Đổi mới cơ chế quản lý bệnh viện
a) Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý bệnh viện công lập theo hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính cho các đơn vị cơ sở.
b) Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện công khai, minh bạch trong khám chữa bệnh và thu phí, nhất là cải cách thủ tục hành chính thuận lợi cho người bệnh.
4.3. Đẩy mạnh xã hội hoá công tác khám, chữa bệnh: Đa dạng hoá, xã hội hóa các loại hình khám chữa bệnh. Bảo đảm để các cơ sở khám chữa bệnh của nhà nước và tư nhân đều bình đẳng về mọi mặt, không ngừng nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân.
4.4. Giải pháp về khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường
- Tăng cường hợp tác đào tạo, chuyển giao, ứng dụng kỹ thuật mới, hiện đại phục vụ công tác khám chữa bệnh.
- Thực hiện kiểm soát chất lượng các dịch vụ y tế tại các cơ sở khám, chữa bệnh theo quy định của Bộ Y tế. Phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, quản trị bệnh viện.
- Chú trọng nghiên cứu, khảo sát, đánh giá tác động của môi trường xung quanh đối với sức khỏe người dân trước khi đề xuất các dự án đầu tư xây mới hoặc nâng cấp, cải tạo mở rộng bệnh viện.
4.5. Giải pháp về tài chính và đầu tư
a) Giải pháp về tài chính:
- Tăng cường huy động các nguồn vốn hợp pháp cho phát triển mạng lưới khám chữa bệnh, đặc biệt là từ ngân sách nhà nước, các nguồn vốn hỗ trợ phát triển ODA, NGO và các nguồn vốn hợp pháp khác trong xã hội để thực hiện quy hoạch;
- Đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các cơ sở y tế công lập theo quy định của Nhà nước nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo, nâng cao tinh thần trách nhiệm và hiệu quả công tác của cơ sở.
- Các bệnh viện công lập cần thực hiện đúng quy định hiện hành trong liên danh, liên kết với các thành phần kinh tế hoặc vay vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và mua sắm trang thiết bị y tế.
4.6. Giải pháp về đất đai
Chỉ tiêu diện tích đất dành cho phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh:
- Diện tích đất trung bình dành cho Trạm Y tế miền núi từ 600m2 - 1000m2; Trạm Y tế đồng bằng từ 1000m2 - 1400m2.
- Diện tích đất trung bình dành cho Bệnh viện đa khoa tuyến huyện 100m2- 120m2/giường bệnh (kể cả phòng khám đa khoa khu vực).
- Diện tích đất trung bình dành cho Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh 130m2 - 140m2/giường bệnh.
Trong đó có ít nhất 25% diện tích đất dành cho cây xanh.
- Diện tích sàn bình quân/giường bệnh đạt tối thiểu:
+ Bệnh viện đa khoa hạng 3: 50 - 60 m2
+ Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa hạng 2: 60 - 80 m2
+ Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa hạng 1: 80 - 100 m2
Trong đó có ít nhất 20% diện tích sàn dành cho không gian lưu không.
5. Tổ chức thực hiện quy hoạch
5.1. Lộ trình thực hiện
a) Giai đoạn từ 2010 - 2012:
- Tập trung ưu tiên nguồn vốn đầu tư xây dựng Bệnh viện đa khoa tỉnh 700 giường. Hoàn thành, bàn giao Bệnh viện HNĐK tiếp quản đưa vào sử dụng.
- Hoàn thành các dự án nâng cấp, cải tạo bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện sử dụng nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ theo Quyết định 930/2009/QĐ- TTg và 47/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
- Hoàn thành dự án nâng cấp, mở rộng Bệnh viện Nội Tiết (giai đoạn 2: 150 giường).
- Triển khai thực hiện đề án phát triển Trung tâm Huyết học - Truyền máu;
- Nâng cấp, cải tạo các Trạm Y tế xã theo danh mục được duyệt (sẽ có danh mục cụ thể và theo lộ trình riêng).
- Xây dựng Đề án thành lập Bệnh viện Sản Nhi. Đến năm 2012, tiếp quản toàn bộ cơ sở vật chất của Bệnh viện HNĐK tỉnh.
- Thành lập Bệnh viện Ung bướu 50 giường trong khuôn viên Bệnh viện HNĐK tỉnh, từng bước phát triển kỹ thuật, đồng thời tuyển chọn đào tạo phát triển nguồn nhân lực đáp ứng khi chuyển ra cơ sở mới.
- Lập Dự án khả thi xây dựng một số bệnh viện mới: Bệnh viện Ung bướu Nghệ
An 500 giường; Bệnh viện Mắt Nghệ An 100 giường; Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình 200 giường (Tiếp quản cơ sở vật chất của Bệnh viện Nhi hiện nay); thành lập Trung tâm Vận chuyển cấp cứu gắn với Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình.
- Triển khai thực hiện Đề án thành lập Bệnh viện Trường Đại học Y khoa Vinh giai đoạn 1: 100 giường.
b) Giai đoạn từ 2013 - 2015:
- Hoàn thành dự án và ổn định phát triển Bệnh viện Sản Nhi 600 giường bệnh tại cơ sở Bệnh viện HNĐK tỉnh.
- Tiếp tục đầu tư xây dựng Bệnh viện Ung bướu Nghệ An 500 giường tại xã Nghi Đức, đồng thời từng bước phát triển kỹ thuật, tuyển chọn đào tạo phát triển nguồn nhân lực đáp ứng khi chuyển ra cơ sở mới.
- Bắt đầu đi vào hoàn thành dự án Bệnh viện Mắt 100 giường.
- Hoàn thành, tiếp nhận, bàn giao đi vào hoạt động các Trung tâm Y tế có giường bệnh, gồm: Trung tâm Y tế huyện Nghĩa Đàn, Trung tâm Y tế thị xã Thái Hòa, Trung tâm Y tế thị xã Con Cuông.
- Hoàn thành nâng cấp, cải tạo Phòng khám đa khoa khu vực.
- Kêu gọi xã hội hóa đầu tư xây dựng một số bệnh viện chuyên khoa tư nhân: Da liễu, Bệnh viện Đông y hoàn chỉnh, Bệnh viện đa khoa tại huyện Nghĩa Đàn, Thanh Chương,...
c) Giai đoạn từ 2016 - 2020:
- Hoàn thành và đưa vào sử dụng các bệnh viện: Bệnh viện Ung bướu 500 giường, Bệnh viện đa khoa Trường Đại học Y khoa Vinh 200 giường.
- Thành lập Trung tâm Tim mạch 100 giường bệnh (gắn với Bệnh viện HNĐK tỉnh).
- Hoàn thành, tiếp nhận, bàn giao đi vào hoạt động các Trung tâm Y tế có giường bệnh, gồm: Trung tâm Y tế thị xã Hoàng Mai, Trung tâm Y tế Con Cuông.
- Kêu gọi xã hội hóa đầu tư xây dựng một số bệnh viện tư nhân: Bệnh viện đa khoa Quốc tế, Bệnh viện phục hồi chức năng (tại Cửa Lò), một số cơ sở vận chuyển cấp cứu tư nhân tại huyện: Nghĩa Đàn, Thanh Chương, Con Cuông,...
5.2. Trách nhiệm tổ chức thực hiện
a) Sở Y tế: Chịu trách nhiệm chỉ đạo hướng dẫn các đơn vị trực thuộc Sở triển khai thực hiện quy hoạch. Định kỳ báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh về kết quả, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch; chủ trì phối hợp với Sở Nội vụ xây dựng định mức biên chế và bổ sung nhân lực cho các đơn vị mới hình thành, đồng thời tham mưu chính sách thu hút cán bộ y tế có trình độ chuyên môn cao về công tác tại Nghệ An.
b) Sở Kế hoạch và Đầu tư: Chịu trách nhiệm huy động và cân đối các nguồn lực đầu tư cho y tế để thực hiện quy hoạch theo đúng tiến độ thời gian. Giám sát việc thực hiện Quy hoạch.
c) Sở Tài chính: Căn cứ khả năng ngân sách địa phương, chịu trách nhiệm tham mưu báo cáo UBND tỉnh bảo đảm nguồn kinh phí cấp cho ngành y tế theo kế hoạch hàng năm và 5 năm. Phối hợp với Sở Y tế cân đối ngân sách đầu tư cho y tế và cho các lĩnh vực ưu tiên trong thực hiện Quy hoạch.
d) Sở Nội vụ: Chủ trì xây dựng kế hoạch biên chế, phối hợp với Sở Y tế trong xây dựng định mức biên chế và bổ sung nhân lực cho mỗi đơn vị khám chữa bệnh trên cơ sở quy mô giường bệnh và nhu cầu đầu tư dự án thuộc quy hoạch phát triển.
e) Sở Xây dựng: Chịu trách nhiệm xây dựng quy hoạch tổng thể cho các công trình y tế phù với quy hoạch chung của tỉnh, phối hợp với Sở Y tế, Sở Tài Nguyên và Môi trường trong việc giải quyết thủ tục đất đai và giám sát việc thực hiện Quy hoạch.
f) Sở Tài nguyên và Môi trường: Chịu trách nhiệm chính về bố trí đất đai cho xây dựng các công trình y tế, phối hợp với các Sở, ngành liên quan giải quyết thủ tục giao đất thực hiện quy hoạch.
g) Các Sở, ngành liên quan chịu trách nhiệm phối hợp với Sở Y tế tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển mạng lưới, củng cố và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế nhằm bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
h) Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã chịu trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện Quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh trong phạm vi quản lý của địa phương.