Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1008/QĐ-TTg 2021 bảo quản tu bổ Di tích quốc gia đặc biệt An toàn khu Định Hóa

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/06/2021", "sign_number": "1008/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/06/2021", "sign_number": "1008/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/06/2021", "sign_number": "1008/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/06/2021", "sign_number": "1008/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/06/2021", "sign_number": "1008/QĐ-TTg", "signer": "Vũ Đức Đam", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1008/QĐ-TTg 2021 bảo quản tu bổ Di tích quốc gia đặc biệt An toàn khu Định Hóa

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích quốc gia đặc biệt An toàn khu (ATK) Định Hóa gắn với phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên, với những nội dung sau đây:
...
3. Định hướng phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch bền vững
a) Về các sản phẩm du lịch chủ yếu:
- Tập trung phát triển các loại hình, sản phẩm du lịch chủ đạo dựa trên tiềm năng về tài nguyên tự nhiên và văn hóa sẵn có của khu vực, gồm: Tham quan di tích văn hóa - lịch sử, di chỉ khảo cổ, du lịch sinh thái, du lịch tìm hiểu văn hóa bản địa; các sản phẩm du lịch gắn với các giá trị di sản văn hóa phi vật thể của địa phương. Khuyến khích các sản phẩm du lịch do người dân địa phương tổ chức quản lý và khai thác theo hướng mỗi bản, mỗi điểm di tích một sản phẩm du lịch đặc trưng.
- Nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm du lịch. Cải thiện, nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch hiện có, đồng thời có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ chất lượng của các sản phẩm du lịch mới phát triển. Tổ chức các hoạt động văn hóa truyền thống, sinh hoạt văn nghệ dân gian và các hoạt động mang tính định kỳ khác tại di tích nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, nâng cao trải nghiệm cho du khách.
- Tổ chức tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Khu di tích quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa: Mở rộng các chương trình giới thiệu, quảng bá khu di tích trên các phương tiện truyền thanh, truyền hình, phim, ảnh, sách báo, tạp chí, các phương tiện thông tin truyền thông ở trong và ngoài nước.
b) Về xây dựng tuyến, điểm du lịch: Lấy Cụm di tích trung tâm và các điểm di tích thành phần thuộc Di tích quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa và các di tích phụ cận là hạt nhân trong phát triển du lịch; hình thành các tuyến du lịch như sau:
- Tuyến du lịch nội tỉnh kết nối Cụm Di tích Trung tâm (xã Phú Đình) với các điểm di tích nội khu: Đồi Tỉn Keo - Đồi Pụ Đồn - Thác Khuôn Tát - Đồi Nà Đình; Đồi Tỉn Keo - Đồi Khau Tý; Đồi Đỏn Mỵ (Cơ quan Bộ Tổng tư lệnh); Thác Khuôn Tát - Bản du lịch cộng đồng người Dao; Đồi Khau Tý - Bản du lịch cộng đồng Bản Quyên - Hồ Bảo Linh;
- Tuyến du lịch chuyên đề về lễ hội kết nối Cụm Di tích Trung tâm xã Phú Đình (Lễ hội Lồng Tồng) với Hồ Núi Cốc, Lễ hội Chùa Hang (Chợ Chu).
- Tuyến du lịch ngoại tỉnh:
+ Tuyến du lịch kết nối liên vùng ATK: Định Hóa (Thái Nguyên) - Tân Trào (Tuyên Quang) - Chợ Đồn (Bắc Kạn);
+ Tuyến du lịch kết nối Di tích quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa (Thái Nguyên) với các tuyến du lịch quốc gia, quốc tế qua khu vực này kết nối tới các điểm du lịch quan trọng của khu vực và cả nước, như: hồ Ba Bể (Bắc Kạn); vườn quốc gia Na Hang (Tuyên Quang), khu di tích Đền Hùng (Phú Thọ), vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc), hồ Thủy điện Thác Bà (Yên Bái), hang Pắc Bó, thác Bản Giốc (Cao Bằng)...
c) Về xây dựng cơ sở vật chất du lịch, phát triển nguồn nhân lực:
- Thực hiện đa dạng hóa hệ thống cơ sở lưu trú: Xây dựng cơ sở lưu trú là nhà khách ATK, các khách sạn và nhà nghỉ, ngoài ra có các cơ sở lưu trú tại các hộ gia đình (homestays) trong khu vực. Phát triển hình thức du lịch cộng đồng tại các bản làng người Dao (Khuôn Tát), bản Quyên (Điềm Mặc)...
- Xây dựng các cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch tại di tích các xã Phú Đình, Điềm Mặc, Định Biên, Bảo Linh và thị trấn Chợ Chu và tại các di tích lân cận của huyện Định Hóa; cơ sở văn hóa, thể dục thể thao (sân lễ hội, các nhà văn hóa), nhà trưng bày, nhà truyền thống tại các di tích.
- Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch: Đào tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ kiến thức về văn hóa, lịch sử để hướng dẫn khách tham quan và tham gia các hoạt động trải nghiệm. Hình thành các nhóm, tổ chức cung cấp các dịch vụ và hàng hóa du lịch, các đội văn nghệ, các nhóm sinh vật cảnh, nghề truyền thống, văn hóa dân gian... Khuyến khích nhân dân trong vùng tham gia các hoạt động du lịch, phát triển du lịch cộng đồng.
d) Về bảo vệ tài nguyên du lịch:
- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan di tích thông qua quản lý quy hoạch phát triển xây dựng, kinh tế - xã hội của người dân; quản lý chặt các dự án lâm nghiệp, nông nghiệp, bảo đảm không làm thay đổi lớn hoặc mất đi vẻ đẹp thiên nhiên xung quanh di tích.
- Thực hiện tốt công tác kiểm kê, lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể tại các xã trong Khu di tích, đề xuất phương án bảo tồn, phát huy giá trị. Tăng cường quản lý nhà nước, gắn trách nhiệm của các cấp chính quyền, đoàn thể và người dân nhằm thực hiện xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
- Tăng cường tuyên truyền về bảo tồn văn hóa phi vật thể cho người dân, kết hợp với việc lồng ghép vào các chương trình giảng dạy trong nhà trường, tổ chức sinh hoạt trong cộng đồng hay tại nhà trưng bày trong di tích. Đồng thời có giải pháp bảo quản tư liệu về di sản văn hóa phi vật thể.

Content:
Định hướng phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch bền vững
a) Về các sản phẩm du lịch chủ yếu:
- Tập trung phát triển các loại hình, sản phẩm du lịch chủ đạo dựa trên tiềm năng về tài nguyên tự nhiên và văn hóa sẵn có của khu vực, gồm: Tham quan di tích văn hóa - lịch sử, di chỉ khảo cổ, du lịch sinh thái, du lịch tìm hiểu văn hóa bản địa; các sản phẩm du lịch gắn với các giá trị di sản văn hóa phi vật thể của địa phương. Khuyến khích các sản phẩm du lịch do người dân địa phương tổ chức quản lý và khai thác theo hướng mỗi bản, mỗi điểm di tích một sản phẩm du lịch đặc trưng.
- Nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm du lịch. Cải thiện, nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch hiện có, đồng thời có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ chất lượng của các sản phẩm du lịch mới phát triển. Tổ chức các hoạt động văn hóa truyền thống, sinh hoạt văn nghệ dân gian và các hoạt động mang tính định kỳ khác tại di tích nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, nâng cao trải nghiệm cho du khách.
- Tổ chức tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Khu di tích quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa: Mở rộng các chương trình giới thiệu, quảng bá khu di tích trên các phương tiện truyền thanh, truyền hình, phim, ảnh, sách báo, tạp chí, các phương tiện thông tin truyền thông ở trong và ngoài nước.
b) Về xây dựng tuyến, điểm du lịch: Lấy Cụm di tích trung tâm và các điểm di tích thành phần thuộc Di tích quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa và các di tích phụ cận là hạt nhân trong phát triển du lịch; hình thành các tuyến du lịch như sau:
- Tuyến du lịch nội tỉnh kết nối Cụm Di tích Trung tâm (xã Phú Đình) với các điểm di tích nội khu: Đồi Tỉn Keo - Đồi Pụ Đồn - Thác Khuôn Tát - Đồi Nà Đình; Đồi Tỉn Keo - Đồi Khau Tý; Đồi Đỏn Mỵ (Cơ quan Bộ Tổng tư lệnh); Thác Khuôn Tát - Bản du lịch cộng đồng người Dao; Đồi Khau Tý - Bản du lịch cộng đồng Bản Quyên - Hồ Bảo Linh;
- Tuyến du lịch chuyên đề về lễ hội kết nối Cụm Di tích Trung tâm xã Phú Đình (Lễ hội Lồng Tồng) với Hồ Núi Cốc, Lễ hội Chùa Hang (Chợ Chu).
- Tuyến du lịch ngoại tỉnh:
+ Tuyến du lịch kết nối liên vùng ATK: Định Hóa (Thái Nguyên) - Tân Trào (Tuyên Quang) - Chợ Đồn (Bắc Kạn);
+ Tuyến du lịch kết nối Di tích quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa (Thái Nguyên) với các tuyến du lịch quốc gia, quốc tế qua khu vực này kết nối tới các điểm du lịch quan trọng của khu vực và cả nước, như: hồ Ba Bể (Bắc Kạn); vườn quốc gia Na Hang (Tuyên Quang), khu di tích Đền Hùng (Phú Thọ), vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc), hồ Thủy điện Thác Bà (Yên Bái), hang Pắc Bó, thác Bản Giốc (Cao Bằng)...
c) Về xây dựng cơ sở vật chất du lịch, phát triển nguồn nhân lực:
- Thực hiện đa dạng hóa hệ thống cơ sở lưu trú: Xây dựng cơ sở lưu trú là nhà khách ATK, các khách sạn và nhà nghỉ, ngoài ra có các cơ sở lưu trú tại các hộ gia đình (homestays) trong khu vực. Phát triển hình thức du lịch cộng đồng tại các bản làng người Dao (Khuôn Tát), bản Quyên (Điềm Mặc)...
- Xây dựng các cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch tại di tích các xã Phú Đình, Điềm Mặc, Định Biên, Bảo Linh và thị trấn Chợ Chu và tại các di tích lân cận của huyện Định Hóa; cơ sở văn hóa, thể dục thể thao (sân lễ hội, các nhà văn hóa), nhà trưng bày, nhà truyền thống tại các di tích.
- Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch: Đào tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ kiến thức về văn hóa, lịch sử để hướng dẫn khách tham quan và tham gia các hoạt động trải nghiệm. Hình thành các nhóm, tổ chức cung cấp các dịch vụ và hàng hóa du lịch, các đội văn nghệ, các nhóm sinh vật cảnh, nghề truyền thống, văn hóa dân gian... Khuyến khích nhân dân trong vùng tham gia các hoạt động du lịch, phát triển du lịch cộng đồng.
d) Về bảo vệ tài nguyên du lịch:
- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan di tích thông qua quản lý quy hoạch phát triển xây dựng, kinh tế - xã hội của người dân; quản lý chặt các dự án lâm nghiệp, nông nghiệp, bảo đảm không làm thay đổi lớn hoặc mất đi vẻ đẹp thiên nhiên xung quanh di tích.
- Thực hiện tốt công tác kiểm kê, lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể tại các xã trong Khu di tích, đề xuất phương án bảo tồn, phát huy giá trị. Tăng cường quản lý nhà nước, gắn trách nhiệm của các cấp chính quyền, đoàn thể và người dân nhằm thực hiện xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
- Tăng cường tuyên truyền về bảo tồn văn hóa phi vật thể cho người dân, kết hợp với việc lồng ghép vào các chương trình giảng dạy trong nhà trường, tổ chức sinh hoạt trong cộng đồng hay tại nhà trưng bày trong di tích. Đồng thời có giải pháp bảo quản tư liệu về di sản văn hóa phi vật thể.