Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 199/QĐ-UBND phê duyệt Đề án đẩy mạnh phát triển công nghiệp

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "07/10/2011", "sign_number": "199/QĐ-UBND", "signer": "Cao Khoa", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "07/10/2011", "sign_number": "199/QĐ-UBND", "signer": "Cao Khoa", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "07/10/2011", "sign_number": "199/QĐ-UBND", "signer": "Cao Khoa", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "07/10/2011", "sign_number": "199/QĐ-UBND", "signer": "Cao Khoa", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "07/10/2011", "sign_number": "199/QĐ-UBND", "signer": "Cao Khoa", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 199/QĐ-UBND phê duyệt Đề án đẩy mạnh phát triển công nghiệp

Điều 1. Phê duyệt Đề án đẩy mạnh phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020, với những nội dung chính như sau:
...
2. Các chỉ tiêu chủ yếu:
a) Đến năm 2015, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP đạt 61-62%; trong đó tỷ trọng công nghiệp đạt khoảng 52%. Đến năm 2020, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP đạt 67,3%; trong đó tỷ trọng công nghiệp đạt 60%.
b) Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 17 - 18%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 10%/năm; giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2015 là 40.000 tỷ đồng (năm 2011 đạt 17.225 tỷ đồng; năm 2012 đạt 20.000 tỷ đồng; năm 2013 đạt 25.000 tỷ đồng; năm 2014 đạt 32.000 tỷ đồng và năm 2015 đạt 40.000 tỷ đồng) và đến năm 2020 là 64.000 tỷ đồng.
c) Đến năm 2015, lao động trong ngành công nghiệp đạt khoảng 120.000 người, chiếm khoảng 16,5 - 17% trong tổng số lao động và đến năm 2020 đạt khoảng 200.000 người, chiếm khoảng 20 - 21% trong tổng số lao động.
II. Các nhiệm vụ chủ yếu:
1. Giai đoạn 2011 - 2015:
1.1. Phát triển công nghiệp theo ngành:
a) Phát huy tiềm năng về đất đai, tài nguyên, lao động, đặc biệt là lợi thế của cảng nước sâu để phát triển các ngành công nghiệp nặng có ý nghĩa chiến lược, có giá trị gia tăng cao, đồng thời phát triển công nghiệp nhẹ với các ngành sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu tại chỗ.
- Công nghiệp lọc hoá dầu, hoá chất: Phát triển nhanh ngành công nghiệp lọc hoá dầu và các sản phẩm từ dầu khí hoá lỏng. Ổn định và phát triển mới các doanh nghiệp phân bón; đầu tư xây dựng mới nhà máy khí ga công nghiệp và thiết bị hàn, sản xuất nhựa polystylen, N-parafin, LAB, ga hoá lỏng, carbon black (than đen), lốp cao su...
- Công nghiệp gia công kim loại, đóng tàu biển, điện tử, công nghệ thông tin: Phát triển sản xuất các trang thiết bị cơ khí; điện, điện tử cao cấp; gia công các thiết bị phi tiêu chuẩn cho nhu cầu phát triển công nghiệp và Khu kinh tế Dung Quất; phát triển công nghệ thông tin theo hướng gia công phần mềm, tích hợp hệ thống để hỗ trợ cho các ngành sản xuất khác ngay trên địa bàn. Tiếp tục phát triển công nghiệp tàu thủy, hoàn thành xây dựng cụm công nghiệp tàu thủy Dung Quất, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư, triển khai, nâng công suất các dự án, cơ sở công nghiệp luyện, cán thép, cơ khí chế tạo ...
- Công nghiệp khai khoáng, chế biến khoáng sản: Quản lý chặt chẽ, sử dụng hợp lý, triệt để tiết kiệm khoáng sản; ưu tiên các doanh nghiệp trong tỉnh đầu tư các dự án khai thác, chế biến khoáng sản có công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường. Hạn chế và tiến tới sớm chấm dứt tình trạng đầu tư khai thác khoáng sản manh mún, nhỏ lẻ, kém hiệu quả, xuất khẩu khoáng sản thô. Tiếp tục điều tra, khảo sát, đánh giá trữ lượng các mỏ, điểm quặng, xây dựng quy hoạch khoáng sản trên địa bàn tỉnh.
- Công nghiệp vật liệu xây dựng: Phát triển đa dạng chủng loại, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, xuất khẩu. Phát triển các loại vật liệu xây dựng như khai thác đá khối, đá ốp lát, gạch ốp lát các loại, xi măng, gạch tuy nen, vật liệu lợp, chống thấm, gốm, sứ, thủy tinh... đồng thời khuyến khích phát triển một số vật liệu mới; tăng cường đầu tư công nghệ để sản xuất một số sản phẩm cao cấp phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.
- Công nghiệp dệt - may, da - giày: Đẩy mạnh thu hút, phát triển theo hướng xuất khẩu là chủ yếu nhằm giải quyết nhiều việc làm cho lao động; khuyến khích phát triển mở rộng quy mô, công suất của các cơ sở dệt - may hiện có.
- Công nghiệp điện, sản xuất và phân phối nước:
Đẩy mạnh phát triển điện lực bền vững trên cơ sở khai thác tối ưu mọi nguồn lực đáp ứng nhu cầu điện năng, phục vụ đời sống nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện đồng bộ các giải pháp tiết kiệm điện, nâng cao chất lượng điện năng, bảo đảm an toàn, ổn định, tin cậy trong cung cấp điện. Ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo, các công trình thủy điện đa mục tiêu. Khuyến khích đầu tư, đưa vào vận hành các nhà máy thủy điện như Đakring, Nước Trong, các dự án thủy điện vừa và nhỏ, dự án nguồn điện tại huyện Lý Sơn. Tiếp tục đầu tư, cải tạo, nâng cấp mở rộng lưới điện nhất là khu vực nông thôn và miền núi. Tổng kết đề án chuyển đổi mô hình quản lý điện nông thôn.
Tiếp tục đầu tư, cải tạo hệ thống cấp nước và nâng công suất của nhà máy nước tại thành phố Quảng Ngãi; hoàn chỉnh giai đoạn II Nhà máy nước Dung Quất. Đầu tư nhà máy nước phục vụ công nghiệp luyện thép và nhà máy nước để phục vụ cho Khu công nghiệp Phổ Phong.
- Công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản: Phát triển mạnh các cơ sở chế biến nông, lâm, thuỷ sản trên cơ sở tiềm năng về đất đai, lao động, phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; khuyến khích chế biến sâu, hạn chế chế biến thô nhằm tăng giá trị sản phẩm; tập trung các ngành chế biến thủy sản, súc sản, lúa gạo, mỳ, mía, bột giấy, cao su, gỗ, sản phẩm từ các cây trồng ngắn ngày...
- Công nghiệp thực phẩm và đồ uống: Phát triển theo hướng áp dụng công nghệ tiên tiến, đa dạng hoá sản phẩm, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế, tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm đáp ứng cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Tiếp tục mở rộng sản xuất, thị trường các sản phẩm có thương hiệu, uy tín như đường RS, bia, sữa đậu nành, bánh kẹo, nước khoáng...
b) Phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn; công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn, góp phần thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 của Chính phủ:
- Phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn trước hết là các ngành chế biến nông, lâm, thủy sản; sản xuất sản phẩm mới, hàng thay thế nhập khẩu, hàng xuất khẩu sử dụng chủ yếu nguyên liệu trong tỉnh; sản xuất sản phẩm, phụ tùng, lắp ráp và sửa chữa máy cơ khí nông nghiệp; sản xuất, gia công chi tiết, bán thành phẩm và dịch vụ cho các sản phẩm hoàn chỉnh… Tiếp tục khuyến khích, hỗ trợ khôi phục và phát triển các làng nghề, ngành nghề truyền thống của tỉnh.
- Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là công nghiệp sản xuất trang thiết bị, máy móc làm đất, thu hoạch, chế biến sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, xuất khẩu và góp phần thay thế hàng nhập khẩu.
c) Công nghiệp hỗ trợ: Từng bước hình thành một số ngành công nghiệp hỗ trợ để không ngừng nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm công nghiệp trên địa bàn tỉnh, tập trung vào các ngành cơ khí, chế tạo, dệt - may, da - giày, điện tử, tin học, công nghiệp công nghệ cao...
1.2. Phát triển công nghiệp theo vùng:
a) Phát triển công nghiệp ở Khu kinh tế Dung Quất: Tiếp tục phát triển mạnh các ngành công nghiệp ở Khu kinh tế Dung Quất, trọng tâm là thu hút đầu tư trên các lĩnh vực lọc hóa dầu, cơ khí chế tạo, hoá chất, luyện cán thép, đóng tàu và một số ngành công nghiệp chủ lực khác theo quy hoạch gắn với phát huy lợi thế cảng nước sâu, góp phần đưa Khu kinh tế Dung Quất thành Khu kinh tế tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực.
Phối hợp chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi để Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đầu tư mở rộng, nâng công suất Nhà máy lọc dầu hiện nay lên trên 10 triệu tấn/năm và các dự án hoá dầu, hình thành tổ hợp lọc hóa dầu ở Khu kinh tế Dung Quất.
Phấn đấu đến năm 2015, thu hút đầu tư đạt khoảng 13 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện khoảng 8 tỷ USD; thu ngân sách đạt trên 15.000 tỷ đồng; hàng hoá qua cảng khoảng 25 triệu tấn; giải quyết việc làm cho khoảng 20.000 lao động.
b) Phát triển các khu công nghiệp: Tập trung đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng công nghiệp tại khu công nghiệp Tịnh Phong và Quảng Phú theo quy hoạch, đẩy nhanh đầu tư hoàn thiện hạ tầng Khu công nghiệp Phổ Phong; nghiên cứu quy hoạch mở rộng và đầu tư các cụm công nghiệp có điều kiện để thành lập khu công nghiệp mới nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư, di dời một số cơ sở công nghiệp tại thành phố Quảng Ngãi. Khuyến khích đầu tư các ngành công nghiệp nhẹ: chế biến, nông, lâm sản; dệt - may, da - giày; sản xuất vật liệu xây dựng; công nghiệp hỗ trợ; sản xuất các sản phẩm công nghiệp thay thế nhập khẩu, có lợi thế cạnh tranh, sử dụng công nghệ sạch và nhiều lao động.
Phấn đấu giai đoạn 2011 - 2015, thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp đạt khoảng 1.400 tỷ đồng; tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp Tịnh Phong, Quảng Phú đạt 100%, Khu công nghiệp Phổ Phong đạt 35%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân từ 17 - 18%/năm; giải quyết việc làm mới đạt 8.000 lao động.
c) Phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề và công nghiệp nông thôn: Tiếp tục đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng các cụm công nghiệp, làng nghề, chú trọng các cụm công nghiệp, làng nghề đã có nhiều dự án đi vào sản xuất, mở rộng các cụm công nghiệp khi có nhu cầu đầu tư, phát triển và đạt các tiêu chuẩn cần thiết. Khuyến khích thu hút các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư các ngành nghề: cơ khí phục vụ nông nghiệp và nông thôn; công nghiệp hỗ trợ sản xuất vật liệu xây dựng; chế biến nông, lâm, thủy sản; sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, sử dụng nhiều nguyên liệu, lao động tại chỗ.
2. Giai đoạn 2016 - 2020:
2.1. Tiếp tục phát huy các tiềm năng và lợi thế, đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp có thiết bị công nghệ tiên tiến, ít ô nhiễm môi trường, có giá trị gia tăng cao. Từng bước mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, tăng năng lực sản xuất đối với các nhà máy, xí nghiệp hiện có:
- Công nghiệp lọc hoá dầu: phát triển tổ hợp lọc hoá dầu mới, nâng tổng giá trị sản phẩm dầu lên 1,5 - 2 lần so với năm 2015 và giá trị gia tăng của phân ngành lên 3 lần so với năm 2015.
- Các ngành công nghiệp: cơ khí chế tạo, gia công kim loại; đóng tàu; điện; điện tử; công nghệ thông tin; chế biến nông, lâm, thủy sản; vật liệu xây dựng, gốm, sứ, thủy tinh; khai khoáng; dệt - may, da – giày; phân phối nước; thực phẩm, đồ uống; hỗ trợ... phát triển theo hướng công nghiệp công nghệ mới, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp môi trường.
2.2. Tiếp tục phát triển mạnh công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn, góp phần thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 của Chính phủ:
- Phát triển mạnh các ngành công nghiệp ở nông thôn, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, ngành nghề truyền thống để khai thác tài nguyên, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động tại chỗ.
- Phát triển mạnh công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn; xây dựng nền nông nghiệp của tỉnh phát triển toàn diện theo hướng hiện đại.
2.3. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ để phục vụ cho công nghiệp sản xuất và lắp ráp như cơ khí chế tạo, đóng tàu, dệt - may...
2.4. Phát triển công nghiệp ở Khu kinh tế Dung Quất: Các ngành công nghiệp ở Khu kinh tế Dung Quất tiếp tục được phát triển cơ bản theo định hướng phát triển của giai đoạn 2011 - 2015, chủ yếu mở rộng về quy mô với chất lượng mới, tăng trưởng với tốc độ cao hơn.
Phấn đấu đến năm 2020, thu hút đầu tư đạt khoảng 16 tỷ USD; thu ngân sách đạt trên 25.000 tỷ đồng; hàng hóa qua cảng đạt 34 triệu tấn; giải quyết việc làm cho khoảng 50.000 lao động.
2.5. Phát triển công nghiệp ở các khu, cụm công nghiệp, làng nghề: Tiếp tục đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư các ngành nghề theo định hướng, kịp thời mở rộng và phát triển mới một số khu, cụm công nghiệp, làng nghề khi có đủ điều kiện, khuyến khích mở rộng quy mô, chất lượng, nâng cao tính cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp.
Phấn đấu thu hút đầu tư tại các khu công nghiệp giai đoạn 2016 - 2020 đạt khoảng 1.600 tỷ đồng; đến năm 2020, tỷ lệ lấp đầy tại Khu công nghiệp Phổ Phong đạt 100% diện tích (quy hoạch khoảng 300 ha), tổng diện tích sử dụng các cụm công nghiệp, làng nghề đạt khoảng 560 ha.
III. Các giải pháp chủ yếu:
1. Tuyên truyền giáo dục: Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ đột phá và giải pháp về phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
2. Nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước đối với ngành công nghiệp:
- Quy định rõ, hợp lý chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Sở Công Thương, Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất, Ban Quản lý các khu công nghiệp Quảng Ngãi và hoàn thiện tổ chức, quản lý các cụm công nghiệp huyện, thành phố; kiện toàn tổ chức và hoạt động của Trung tâm xúc tiến đầu tư tỉnh.
- Nghiên cứu thành lập doanh nghiệp Nhà nước trên cơ sở một số công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hiện có để đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng nhằm tạo đột phá mới trong phục vụ phát triển công nghiệp và phát triển đô thị, nhất là ở Khu kinh tế Dung Quất.
- Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các cấp ngang tầm với yêu cầu quản lý nhà nước đối với ngành công nghiệp. Đào tạo bồi dưỡng, thu hút đội ngũ cán bộ chuyên môn có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực thực tiễn để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu cho các cấp chính quyền trong công tác quản lý ngành.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút đầu tư, kinh doanh, mở rộng thị trường, trọng tâm là thủ tục hành chính, nhất là thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, đất đai, thành lập doanh nghiệp.
+ Các sở, ban ngành chức năng tổ chức rà soát, thống kê các thủ tục hành chính, dịch vụ công phục vụ doanh nghiệp và người dân; rà soát các chỉ số thành phần, lĩnh vực yếu kém và trung bình trong báo cáo chỉ số PCI năm 2010, đề xuất và triển khai các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Thực hiện công khai các biểu mẫu, hướng dẫn; chủ động đề xuất với UBND tỉnh các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp tiếp cận kế hoạch kinh tế - xã hội, các văn bản cần thiết cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng mới.
+ Nâng cao độ mở, tính tiện ích của trang tin điện tử của tỉnh và các sở, ngành. Đồng thời thường xuyên khảo sát, đánh giá chất lượng công việc của các sở, ban ngành chức năng, kiên quyết xử lý những trường hợp nhũng nhiễu gây phiền hà cho doanh nghiệp và người dân, xây dựng môi trường kinh doanh thân thiện và hiệu quả.

Content:
Các chỉ tiêu chủ yếu:
a) Đến năm 2015, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP đạt 61-62%; trong đó tỷ trọng công nghiệp đạt khoảng 52%. Đến năm 2020, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP đạt 67,3%; trong đó tỷ trọng công nghiệp đạt 60%.
b) Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 17 - 18%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 10%/năm; giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2015 là 40.000 tỷ đồng (năm 2011 đạt 17.225 tỷ đồng; năm 2012 đạt 20.000 tỷ đồng; năm 2013 đạt 25.000 tỷ đồng; năm 2014 đạt 32.000 tỷ đồng và năm 2015 đạt 40.000 tỷ đồng) và đến năm 2020 là 64.000 tỷ đồng.
c) Đến năm 2015, lao động trong ngành công nghiệp đạt khoảng 120.000 người, chiếm khoảng 16,5 - 17% trong tổng số lao động và đến năm 2020 đạt khoảng 200.000 người, chiếm khoảng 20 - 21% trong tổng số lao động.
II. Các nhiệm vụ chủ yếu:
1. Giai đoạn 2011 - 2015:
1.1. Phát triển công nghiệp theo ngành:
a) Phát huy tiềm năng về đất đai, tài nguyên, lao động, đặc biệt là lợi thế của cảng nước sâu để phát triển các ngành công nghiệp nặng có ý nghĩa chiến lược, có giá trị gia tăng cao, đồng thời phát triển công nghiệp nhẹ với các ngành sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu tại chỗ.
- Công nghiệp lọc hoá dầu, hoá chất: Phát triển nhanh ngành công nghiệp lọc hoá dầu và các sản phẩm từ dầu khí hoá lỏng. Ổn định và phát triển mới các doanh nghiệp phân bón; đầu tư xây dựng mới nhà máy khí ga công nghiệp và thiết bị hàn, sản xuất nhựa polystylen, N-parafin, LAB, ga hoá lỏng, carbon black (than đen), lốp cao su...
- Công nghiệp gia công kim loại, đóng tàu biển, điện tử, công nghệ thông tin: Phát triển sản xuất các trang thiết bị cơ khí; điện, điện tử cao cấp; gia công các thiết bị phi tiêu chuẩn cho nhu cầu phát triển công nghiệp và Khu kinh tế Dung Quất; phát triển công nghệ thông tin theo hướng gia công phần mềm, tích hợp hệ thống để hỗ trợ cho các ngành sản xuất khác ngay trên địa bàn. Tiếp tục phát triển công nghiệp tàu thủy, hoàn thành xây dựng cụm công nghiệp tàu thủy Dung Quất, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư, triển khai, nâng công suất các dự án, cơ sở công nghiệp luyện, cán thép, cơ khí chế tạo ...
- Công nghiệp khai khoáng, chế biến khoáng sản: Quản lý chặt chẽ, sử dụng hợp lý, triệt để tiết kiệm khoáng sản; ưu tiên các doanh nghiệp trong tỉnh đầu tư các dự án khai thác, chế biến khoáng sản có công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường. Hạn chế và tiến tới sớm chấm dứt tình trạng đầu tư khai thác khoáng sản manh mún, nhỏ lẻ, kém hiệu quả, xuất khẩu khoáng sản thô. Tiếp tục điều tra, khảo sát, đánh giá trữ lượng các mỏ, điểm quặng, xây dựng quy hoạch khoáng sản trên địa bàn tỉnh.
- Công nghiệp vật liệu xây dựng: Phát triển đa dạng chủng loại, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, xuất khẩu. Phát triển các loại vật liệu xây dựng như khai thác đá khối, đá ốp lát, gạch ốp lát các loại, xi măng, gạch tuy nen, vật liệu lợp, chống thấm, gốm, sứ, thủy tinh... đồng thời khuyến khích phát triển một số vật liệu mới; tăng cường đầu tư công nghệ để sản xuất một số sản phẩm cao cấp phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.
- Công nghiệp dệt - may, da - giày: Đẩy mạnh thu hút, phát triển theo hướng xuất khẩu là chủ yếu nhằm giải quyết nhiều việc làm cho lao động; khuyến khích phát triển mở rộng quy mô, công suất của các cơ sở dệt - may hiện có.
- Công nghiệp điện, sản xuất và phân phối nước:
Đẩy mạnh phát triển điện lực bền vững trên cơ sở khai thác tối ưu mọi nguồn lực đáp ứng nhu cầu điện năng, phục vụ đời sống nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện đồng bộ các giải pháp tiết kiệm điện, nâng cao chất lượng điện năng, bảo đảm an toàn, ổn định, tin cậy trong cung cấp điện. Ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo, các công trình thủy điện đa mục tiêu. Khuyến khích đầu tư, đưa vào vận hành các nhà máy thủy điện như Đakring, Nước Trong, các dự án thủy điện vừa và nhỏ, dự án nguồn điện tại huyện Lý Sơn. Tiếp tục đầu tư, cải tạo, nâng cấp mở rộng lưới điện nhất là khu vực nông thôn và miền núi. Tổng kết đề án chuyển đổi mô hình quản lý điện nông thôn.
Tiếp tục đầu tư, cải tạo hệ thống cấp nước và nâng công suất của nhà máy nước tại thành phố Quảng Ngãi; hoàn chỉnh giai đoạn II Nhà máy nước Dung Quất. Đầu tư nhà máy nước phục vụ công nghiệp luyện thép và nhà máy nước để phục vụ cho Khu công nghiệp Phổ Phong.
- Công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản: Phát triển mạnh các cơ sở chế biến nông, lâm, thuỷ sản trên cơ sở tiềm năng về đất đai, lao động, phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; khuyến khích chế biến sâu, hạn chế chế biến thô nhằm tăng giá trị sản phẩm; tập trung các ngành chế biến thủy sản, súc sản, lúa gạo, mỳ, mía, bột giấy, cao su, gỗ, sản phẩm từ các cây trồng ngắn ngày...
- Công nghiệp thực phẩm và đồ uống: Phát triển theo hướng áp dụng công nghệ tiên tiến, đa dạng hoá sản phẩm, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế, tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm đáp ứng cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Tiếp tục mở rộng sản xuất, thị trường các sản phẩm có thương hiệu, uy tín như đường RS, bia, sữa đậu nành, bánh kẹo, nước khoáng...
b) Phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn; công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn, góp phần thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 của Chính phủ:
- Phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn trước hết là các ngành chế biến nông, lâm, thủy sản; sản xuất sản phẩm mới, hàng thay thế nhập khẩu, hàng xuất khẩu sử dụng chủ yếu nguyên liệu trong tỉnh; sản xuất sản phẩm, phụ tùng, lắp ráp và sửa chữa máy cơ khí nông nghiệp; sản xuất, gia công chi tiết, bán thành phẩm và dịch vụ cho các sản phẩm hoàn chỉnh… Tiếp tục khuyến khích, hỗ trợ khôi phục và phát triển các làng nghề, ngành nghề truyền thống của tỉnh.
- Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là công nghiệp sản xuất trang thiết bị, máy móc làm đất, thu hoạch, chế biến sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, xuất khẩu và góp phần thay thế hàng nhập khẩu.
c) Công nghiệp hỗ trợ: Từng bước hình thành một số ngành công nghiệp hỗ trợ để không ngừng nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm công nghiệp trên địa bàn tỉnh, tập trung vào các ngành cơ khí, chế tạo, dệt - may, da - giày, điện tử, tin học, công nghiệp công nghệ cao...
1.Phát triển công nghiệp theo vùng:
a) Phát triển công nghiệp ở Khu kinh tế Dung Quất: Tiếp tục phát triển mạnh các ngành công nghiệp ở Khu kinh tế Dung Quất, trọng tâm là thu hút đầu tư trên các lĩnh vực lọc hóa dầu, cơ khí chế tạo, hoá chất, luyện cán thép, đóng tàu và một số ngành công nghiệp chủ lực khác theo quy hoạch gắn với phát huy lợi thế cảng nước sâu, góp phần đưa Khu kinh tế Dung Quất thành Khu kinh tế tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực.
Phối hợp chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi để Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đầu tư mở rộng, nâng công suất Nhà máy lọc dầu hiện nay lên trên 10 triệu tấn/năm và các dự án hoá dầu, hình thành tổ hợp lọc hóa dầu ở Khu kinh tế Dung Quất.
Phấn đấu đến năm 2015, thu hút đầu tư đạt khoảng 13 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện khoảng 8 tỷ USD; thu ngân sách đạt trên 15.000 tỷ đồng; hàng hoá qua cảng khoảng 25 triệu tấn; giải quyết việc làm cho khoảng 20.000 lao động.
b) Phát triển các khu công nghiệp: Tập trung đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng công nghiệp tại khu công nghiệp Tịnh Phong và Quảng Phú theo quy hoạch, đẩy nhanh đầu tư hoàn thiện hạ tầng Khu công nghiệp Phổ Phong; nghiên cứu quy hoạch mở rộng và đầu tư các cụm công nghiệp có điều kiện để thành lập khu công nghiệp mới nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư, di dời một số cơ sở công nghiệp tại thành phố Quảng Ngãi. Khuyến khích đầu tư các ngành công nghiệp nhẹ: chế biến, nông, lâm sản; dệt - may, da - giày; sản xuất vật liệu xây dựng; công nghiệp hỗ trợ; sản xuất các sản phẩm công nghiệp thay thế nhập khẩu, có lợi thế cạnh tranh, sử dụng công nghệ sạch và nhiều lao động.
Phấn đấu giai đoạn 2011 - 2015, thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp đạt khoảng 1.400 tỷ đồng; tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp Tịnh Phong, Quảng Phú đạt 100%, Khu công nghiệp Phổ Phong đạt 35%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân từ 17 - 18%/năm; giải quyết việc làm mới đạt 8.000 lao động.
c) Phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề và công nghiệp nông thôn: Tiếp tục đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng các cụm công nghiệp, làng nghề, chú trọng các cụm công nghiệp, làng nghề đã có nhiều dự án đi vào sản xuất, mở rộng các cụm công nghiệp khi có nhu cầu đầu tư, phát triển và đạt các tiêu chuẩn cần thiết. Khuyến khích thu hút các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư các ngành nghề: cơ khí phục vụ nông nghiệp và nông thôn; công nghiệp hỗ trợ sản xuất vật liệu xây dựng; chế biến nông, lâm, thủy sản; sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, sử dụng nhiều nguyên liệu, lao động tại chỗ.
Giai đoạn 2016 - 2020:
2.1. Tiếp tục phát huy các tiềm năng và lợi thế, đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp có thiết bị công nghệ tiên tiến, ít ô nhiễm môi trường, có giá trị gia tăng cao. Từng bước mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, tăng năng lực sản xuất đối với các nhà máy, xí nghiệp hiện có:
- Công nghiệp lọc hoá dầu: phát triển tổ hợp lọc hoá dầu mới, nâng tổng giá trị sản phẩm dầu lên 1,5 - 2 lần so với năm 2015 và giá trị gia tăng của phân ngành lên 3 lần so với năm 2015.
- Các ngành công nghiệp: cơ khí chế tạo, gia công kim loại; đóng tàu; điện; điện tử; công nghệ thông tin; chế biến nông, lâm, thủy sản; vật liệu xây dựng, gốm, sứ, thủy tinh; khai khoáng; dệt - may, da – giày; phân phối nước; thực phẩm, đồ uống; hỗ trợ... phát triển theo hướng công nghiệp công nghệ mới, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp môi trường.
2.Tiếp tục phát triển mạnh công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn, góp phần thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 của Chính phủ:
- Phát triển mạnh các ngành công nghiệp ở nông thôn, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, ngành nghề truyền thống để khai thác tài nguyên, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động tại chỗ.
- Phát triển mạnh công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn; xây dựng nền nông nghiệp của tỉnh phát triển toàn diện theo hướng hiện đại.
2.3. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ để phục vụ cho công nghiệp sản xuất và lắp ráp như cơ khí chế tạo, đóng tàu, dệt - may...
2.4. Phát triển công nghiệp ở Khu kinh tế Dung Quất: Các ngành công nghiệp ở Khu kinh tế Dung Quất tiếp tục được phát triển cơ bản theo định hướng phát triển của giai đoạn 2011 - 2015, chủ yếu mở rộng về quy mô với chất lượng mới, tăng trưởng với tốc độ cao hơn.
Phấn đấu đến năm 2020, thu hút đầu tư đạt khoảng 16 tỷ USD; thu ngân sách đạt trên 25.000 tỷ đồng; hàng hóa qua cảng đạt 34 triệu tấn; giải quyết việc làm cho khoảng 50.000 lao động.
2.5. Phát triển công nghiệp ở các khu, cụm công nghiệp, làng nghề: Tiếp tục đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư các ngành nghề theo định hướng, kịp thời mở rộng và phát triển mới một số khu, cụm công nghiệp, làng nghề khi có đủ điều kiện, khuyến khích mở rộng quy mô, chất lượng, nâng cao tính cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp.
Phấn đấu thu hút đầu tư tại các khu công nghiệp giai đoạn 2016 - 2020 đạt khoảng 1.600 tỷ đồng; đến năm 2020, tỷ lệ lấp đầy tại Khu công nghiệp Phổ Phong đạt 100% diện tích (quy hoạch khoảng 300 ha), tổng diện tích sử dụng các cụm công nghiệp, làng nghề đạt khoảng 560 ha.
III. Các giải pháp chủ yếu:
1. Tuyên truyền giáo dục: Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ đột phá và giải pháp về phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước đối với ngành công nghiệp:
- Quy định rõ, hợp lý chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Sở Công Thương, Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất, Ban Quản lý các khu công nghiệp Quảng Ngãi và hoàn thiện tổ chức, quản lý các cụm công nghiệp huyện, thành phố; kiện toàn tổ chức và hoạt động của Trung tâm xúc tiến đầu tư tỉnh.
- Nghiên cứu thành lập doanh nghiệp Nhà nước trên cơ sở một số công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hiện có để đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng nhằm tạo đột phá mới trong phục vụ phát triển công nghiệp và phát triển đô thị, nhất là ở Khu kinh tế Dung Quất.
- Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các cấp ngang tầm với yêu cầu quản lý nhà nước đối với ngành công nghiệp. Đào tạo bồi dưỡng, thu hút đội ngũ cán bộ chuyên môn có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực thực tiễn để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu cho các cấp chính quyền trong công tác quản lý ngành.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút đầu tư, kinh doanh, mở rộng thị trường, trọng tâm là thủ tục hành chính, nhất là thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, đất đai, thành lập doanh nghiệp.
+ Các sở, ban ngành chức năng tổ chức rà soát, thống kê các thủ tục hành chính, dịch vụ công phục vụ doanh nghiệp và người dân; rà soát các chỉ số thành phần, lĩnh vực yếu kém và trung bình trong báo cáo chỉ số PCI năm 2010, đề xuất và triển khai các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Thực hiện công khai các biểu mẫu, hướng dẫn; chủ động đề xuất với UBND tỉnh các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp tiếp cận kế hoạch kinh tế - xã hội, các văn bản cần thiết cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng mới.
+ Nâng cao độ mở, tính tiện ích của trang tin điện tử của tỉnh và các sở, ngành. Đồng thời thường xuyên khảo sát, đánh giá chất lượng công việc của các sở, ban ngành chức năng, kiên quyết xử lý những trường hợp nhũng nhiễu gây phiền hà cho doanh nghiệp và người dân, xây dựng môi trường kinh doanh thân thiện và hiệu quả.