Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định số 2046/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch Phát triển nhân lực tỉnh An Giang

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "11/11/2011", "sign_number": "2046/QĐ-UBND", "signer": "Vương Bình Thạnh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "11/11/2011", "sign_number": "2046/QĐ-UBND", "signer": "Vương Bình Thạnh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "11/11/2011", "sign_number": "2046/QĐ-UBND", "signer": "Vương Bình Thạnh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "11/11/2011", "sign_number": "2046/QĐ-UBND", "signer": "Vương Bình Thạnh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "11/11/2011", "sign_number": "2046/QĐ-UBND", "signer": "Vương Bình Thạnh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định số 2046/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch Phát triển nhân lực tỉnh An Giang

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2020 với những nội dung chính như sau:
...
2. Mục tiêu:
a) Mục tiêu tổng quát:
Tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế nhanh và bền vững; đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhân lực quản lý nhà nước chuyên nghiệp đáp ứng những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thế giới hội nhập và biến đổi nhanh. Nhân lực khoa học công nghệ, đặc biệt là nhóm các chuyên gia, các nhà khoa học, quản lý đầu ngành có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, có đủ năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và đề xuất những giải pháp khoa học công nghệ. Đội ngũ doanh nhân, chuyên gia quản trị doanh nghiệp chuyên nghiệp, thông thạo kinh doanh trong nước và quốc tế.
Nhân lực của tỉnh đáp ứng được các yếu tố cần thiết về thái độ nghề nghiệp, có năng lực ứng xử, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, tác phong làm việc, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác, tinh thần trách nhiệm, ý thức công dân.
Xây dựng được xã hội học tập, đảm bảo tất cả các công dân có cơ hội bình đẳng trong học tập, đào tạo. Xây dựng được hệ thống các cơ sở đào tạo nhân lực tiến đến tiên tiến, hiện đại, đa dạng cơ cấu ngành nghề, năng động, liên thông giữa các cấp và các ngành đào tạo.
b) Mục tiêu cụ thể:
Đến năm 2015 dân số của tỉnh là 2.206,8 ngàn người, năm 2020 là 2.240,3 ngàn người. Tốc độ tăng dân số bình quân cho cả thời kỳ 10 năm 2011-2020 là 0,41 %/năm.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50% vào năm 2015 và đạt 65% vào năm 2020, bằng mức trung bình của vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Theo đó, tỉnh An Giang phải đào tạo, dạy nghề cho khoảng 50 ngàn lao động mỗi năm trong thời kỳ 2011-2015 và 52 ngàn lao động/năm thời kỳ 2016-2020. Đến năm 2015 toàn tỉnh sẽ có 672,8 ngàn lao động qua đào tạo, gấp 1,6 lần năm 2010; năm 2020 sẽ có 933,4 ngàn lao động qua đào tạo, gấp 2,2 lần năm 2010.
Đến năm 2015, cơ cấu lao động của tỉnh là lao động nông - thủy sản chiếm 50%, công nghiệp - xây dựng 17% và dịch vụ 33%; năm 2020 tương ứng là 35% - 25% - 40%. Năng suất lao động tăng nhanh từ 38,2 triệu đồng/lao động năm 2010 lên 77,7 triệu đồng năm 2015 và đạt 152,3 triệu đồng năm 2020. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50%, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề 40% vào năm 2015; năm 2020 tương ứng là 65% và 50%.
Đối với cán bộ công chức, viên chức: Tất cả các sở, ban ngành cấp tỉnh phải có chuyên gia có khả năng hoạch định chính sách. Tăng cường lực lượng cán bộ, công chức được đào tạo chính quy, theo hướng trẻ hóa. Đội ngũ cán bộ, công chức hành chính Nhà nước phải có kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc chuyên nghiệp. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm việc ở các xã, phường, thị trấn. Trước năm 2020, 100% cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã phải được bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ và thái độ làm việc phù hợp với vị trí đang đảm nhiệm.
II. Phương hướng phát triển nhân lực đến năm 2020:
1. Phát triển nhân lực theo bậc đào tạo:
a) Đào tạo chuyên môn kỹ thuật:
Đến năm 2015 tỉnh An Giang sẽ có 672,8 ngàn lao động được đào tạo chuyên môn kỹ thuật, bao gồm 538,2 ngàn người qua đào tạo sơ cấp và ngắn hạn dưới 3 tháng, trình độ trung cấp có 59,9 ngàn người và cao đẳng có 31,5 người và đại học trở lên có 43,2 ngàn người.
Đến năm 2020 toàn tỉnh sẽ có 933,4 ngàn lao động đã qua đào tạo, bao gồm 724,8 người qua đào tạo sơ cấp và ngắn hạn dưới 3 tháng, trình độ trung cấp có 99,9 ngàn người và cao đẳng có 51,5 ngàn người và đại học trở lên có 57,2 ngàn người.
Đến năm 2015, đào tạo ngắn hạn chiếm 66,8% tổng số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp là 13,2%, trình độ trung cấp là 8,9%, cao đẳng là 4,7% và đại học trở lên là 6,4%. Đến năm 2020, đào tạo ngắn hạn là 60,1% tổng số, trình độ sơ cấp 17,6%, trình độ trung cấp là 10,7%, cao đẳng 5,5% và đại học trở lên 6,1%.
b) Đào tạo nghề:
Thời kỳ 2011-2015 mỗi năm đào tạo mới 29,5 ngàn lao động có trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng, 4,5 - 5 ngàn lao động trình độ trung cấp nghề, 2,5 lao động trình độ cao đẳng nghề. Thời kỳ 2016-2020 mỗi năm đào tạo mới 26,5 ngàn lao động có trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng, 7 - 8 ngàn lao động trình độ trung cấp nghề, 2,8 - 3 ngàn lao động trình độ cao đẳng nghề.
c) Đào tạo chuyên nghiệp:
Thời kỳ 2011-2015 mỗi năm đào tạo mới 1.000 lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp, 1.000 - 1.200 lao động có trình độ cao đẳng và 2.300 - 2.400 lao động trình độ đại học. Thời kỳ 2016-2020 mỗi năm đào tạo mới 1.100 - 1.200 lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp, 1.200 - 1.300 lao động có trình độ cao đẳng và 2.800 - 2.900 lao động trình độ đại học.
2. Phát triển nhân lực các ngành, lĩnh vực:
a) Ngành thương mại, dịch vụ:
Trong 10 năm tới, quy mô lao động tăng lên ở tất cả các ngành dịch vụ, làm tăng tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu lao động của nền kinh tế từ 30,3% năm 2010 lên 33% năm 2015 và 40% năm 2020. Trong nội bộ khu vực dịch vụ, có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần các ngành dịch vụ hiện đại, có giá trị gia tăng cao như ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ; bất động sản; thương mại, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, du lịch…
- Ngành bán buôn, bán lẻ: Tổng lao động ngành bán buôn, bán lẻ năm 2015 khoảng 165,2 ngàn người, năm 2020 khoảng 216,3 ngàn người - chiến tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu lao động trong khu vực dịch vụ. Tỷ lệ nhân lực qua đào tạo của ngành đạt 40% năm 2015, 60% năm 2020. Trong tổng số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng chiếm khoảng 70% năm 2015, 50% năm 2020; trình độ trung cấp tương ứng là 27%, 45%; trình độ cao đẳng và đại học trở lên khoảng 3%, 5%.
- Ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống: Tổng lao động trong ngành là 95,7 ngàn người năm 2015, 131 ngàn người năm 2020; tỷ lệ nhân lực qua đào tạo tương ứng vào hai thời điểm trên là 50% - 65%. Trong tổng số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng khoảng 60%, 45% vào các năm 2015, 2020; trình độ trung cấp tương ứng 35%, 50%; trình độ cao đẳng và đại học trở lên chiếm khoảng 5% từ sau năm 2015.
- Ngành ngân hàng, tài chính, bảo hiểm: Tổng lao động làm việc trong ngành ngân hàng, tài chính, bảo hiểm năm 2015 khoảng 8,7 ngàn người, năm 2020 khoảng 13,1 ngàn người; tỷ lệ nhân lực qua đào tạo đạt trên 90% từ sau năm 2015. Trong tổng số lao động qua đào tạo, trình độ trung cấp chiếm 15% năm 2015 và 10% năm 2020; trình độ cao đẳng và đại học đạt 83% từ sau năm 2015 và trình độ sau đại học khoảng 2-5%.
- Ngành hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ: Tổng nhân lực của ngành vào năm 2015 là 6,52 ngàn người, vào năm 2020 là 14,23 ngàn người; tỷ lệ nhân lực qua đào tạo đạt 100%. Trong đó, trình độ cao đẳng và đại học trở lên đạt 65% từ sau năm 2015 và trên 70% vào năm 2020.
- Ngành thông tin và truyền thông: Tổng nhân lực của ngành tăng nhanh từ 4,3 ngàn người năm 2010 lên 5,4 ngàn năm 2015 và 7,1 ngàn người năm 2020; 100% nhân lực của ngành đều qua đào tạo trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp với ngành.
- Ngành giáo dục và đào tạo: Tổng nhân lực hoạt động trong ngành giáo dục, đào tạo, dạy nghề năm 2015 khoảng 30,4 ngàn người, năm 2020 khoảng 35,3 ngàn người; 100% nhân lực của ngành đều qua đào tạo trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp với ngành. Phát triển nhân lực của ngành giáo dục: đến năm 2020 có ít nhất 60% số giáo viên mầm non và 90% số giáo viên tiểu học đạt trình độ từ cao đẳng trở lên; 90% số giáo viên trung học cơ sở và trung học phổ thông đạt trình độ đại học trở lên; ít nhất 15% số giáo viên ở các trường trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề và 30% số giáo viên ở các trường cao đẳng nghề đạt trình độ thạc sỹ trở lên; ít nhất 50% giảng viên cao đẳng đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó có ít nhất 3% là tiến sỹ; 80% giảng viên đại học đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó có ít nhất 33% là tiến sỹ.
- Ngành y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân: Tổng nhân lực hoạt động trong ngành vào năm 2015 là 9,18 ngàn người, năm 2020 là 11,85 ngàn người; 100% nhân lực của ngành đều qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật phù hợp.
- Ngành văn hóa, thể thao, nghệ thuật: Tổng nhân lực hoạt động trong ngành đến năm 2015 là 8,7 ngàn người, năm 2020 là 11,96 ngàn người; 100% nhân lực của ngành đều qua đào tạo trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp với ngành.
Đối với lực lượng cán bộ công chức, viên chức nhóm ngành hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ; hoạt động của Đảng, tổ chức chính trị-xã hội, quản lý Nhà nước… có khoảng 30 ngàn người vào năm 2015 và 34 ngàn người năm 2020. Phấn đấu 100% cán bộ công chức, viên chức các cấp quản lý hành chính đều được đào tạo với trình độ chuyên môn phù hợp. Tỉnh xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡn cho cán bộ cấp cơ sở để cập nhật, nâng cao trình độ nghiệp vụ và các kỹ năng về tin học, ngoại ngữ… Tỉnh có cơ chế chính sách riêng, phù hợp với từng ngành, lĩnh vực theo đặc thù của tỉnh An Giang.
b) Ngành công nghiệp, xây dựng:
Tỉnh tập trung đào tạo lao động công nghiệp có trình độ chuyên môn kỹ thuật cho các ngành thế mạnh và tiềm năng của tỉnh như công nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm, chế biến thủy sản, công nghệ sau thu hoạch, bảo quản nông sản, chế biến rau quả, cơ khí phục vụ sản xuất nông nghiệp, cơ khí sửa chữa, điện công nghiệp, hóa chất, công nghiệp may mặc, da giày…
Đến năm 2015, tổng lao động công nghiệp - xây dựng là 224,1 ngàn người, chiếm 17% cơ cấu lao động của nền kinh tế và đạt 355,9 ngàn người năm 2020, chiếm 25% tổng lao động. Trong đó, ngành công nghiệp là 156,8 ngàn lao động vào năm 2015 và 256,3 lao động vào năm 2020.
Tỷ lệ nhân lực qua đào tạo vào năm 2015 là 55%, năm 2020 là 65%. Trong tổng số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng chiếm 85% năm 2015, 75% năm 2020; trình độ trung cấp tương ứng 10%, 20%; trình độ cao đẳng và đại học trở lên khoảng 5% từ sau năm 2015.
c) Ngành nông, lâm, thủy sản:
Lao động làm việc trong khu vực nông, lâm, thủy sản giảm bình quân 3,2%/năm và đến năm 2015 có 659,0 ngàn lao động, chiếm 50% cơ cấu lao động của nền kinh tế; năm 2020 còn khoảng 498,3 ngàn lao động, chiếm 35% tổng số.
Tỷ lệ nhân lực qua đào tạo vào năm 2015 là 40%, năm 2020 là 50%. Trong tổng số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng chiếm khoảng 90% năm 2015, 80% năm 2020; trình độ trung cấp tương ứng là 8%, 18%; trình độ cao đẳng và đại học trở lên khoảng 2% từ sau năm 2015.
Tỉnh tập trung đào tạo lao động nông nghiệp ở các nghề như kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, lâm sinh, kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, quản lý tưới tiêu, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường nông thôn, quản lý và dịch vụ nông nghiệp, các ngành nông nghiệp sạch, công nghệ sinh học, giống cây trồng, vật nuôi.
III. Giải pháp thực hiện quy hoạch:
1. Phát triển giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên:
Giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên đảm bảo người lao động có được nền tảng để tiếp thu trình độ học nghề, chuyên môn kỹ thuật. Tiến đến chuẩn hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, giáo viên đạt chuẩn ở tất cả các trường phổ thông. Tất cả các thành phố, thị xã, huyện có trung tâm giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp - dạy nghề, hầu hết các xã, phường, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng. Phát triển các chương trình giáo dục thường xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi người, giúp cho người học hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu công việc và nâng cao chất lượng cuộc sống.
2. Phát triển giáo dục chuyên nghiệp:
Tiếp tục đầu tư, nâng cấp, mở rộng Đại học An Giang trở thành trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao; trung tâm nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế, xã hội cho tỉnh An Giang nói riêng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Khẳng định Đại học An Giang là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao - phù hợp yêu cầu thực tiễn, ổn định, cung cấp nhân lực chủ yếu phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa của tỉnh. Trường chú trọng vào việc đào tạo cán bộ có trình độ cao cho các ngành, nghề mà tỉnh có thế mạnh và có tiềm năng phát triển như nông nghiệp, công nghiệp sinh học, công nghiệp chế biến, bảo quản lương, thực phẩm, cơ khí phục vụ nông nghiệp, phát triển nông thôn.
Hoàn thiện mạng lưới các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh, đáp ứng nhu cầu nhân lực về quy mô và cơ cấu ngành nghề đào tạo phù hợp lợi thế của tỉnh về sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng và chế biến thủy sản, kinh tế biên mậu, dịch vụ khoa học kỹ thuật - công nghệ… Khuyến khích các doanh nghiệp lớn mở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đại học. Xây mới trường cao đẳng cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực của các địa phương và nhu cầu học tập của nhân dân. Nghiên cứu khôi phục lại trường Trung cấp chuyên nghiệp tỉnh An Giang nhằm tăng cường năng lực tuyển sinh, đào tạo bậc trung cấp cho người lao động ở các nghề nông nghiệp, công nghiệp chế biến, chế tạo.

Content:
Mục tiêu:
a) Mục tiêu tổng quát:
Tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế nhanh và bền vững; đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhân lực quản lý nhà nước chuyên nghiệp đáp ứng những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thế giới hội nhập và biến đổi nhanh. Nhân lực khoa học công nghệ, đặc biệt là nhóm các chuyên gia, các nhà khoa học, quản lý đầu ngành có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, có đủ năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và đề xuất những giải pháp khoa học công nghệ. Đội ngũ doanh nhân, chuyên gia quản trị doanh nghiệp chuyên nghiệp, thông thạo kinh doanh trong nước và quốc tế.
Nhân lực của tỉnh đáp ứng được các yếu tố cần thiết về thái độ nghề nghiệp, có năng lực ứng xử, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, tác phong làm việc, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác, tinh thần trách nhiệm, ý thức công dân.
Xây dựng được xã hội học tập, đảm bảo tất cả các công dân có cơ hội bình đẳng trong học tập, đào tạo. Xây dựng được hệ thống các cơ sở đào tạo nhân lực tiến đến tiên tiến, hiện đại, đa dạng cơ cấu ngành nghề, năng động, liên thông giữa các cấp và các ngành đào tạo.
b) Mục tiêu cụ thể:
Đến năm 2015 dân số của tỉnh là 2.206,8 ngàn người, năm 2020 là 2.240,3 ngàn người. Tốc độ tăng dân số bình quân cho cả thời kỳ 10 năm 2011-2020 là 0,41 %/năm.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50% vào năm 2015 và đạt 65% vào năm 2020, bằng mức trung bình của vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Theo đó, tỉnh An Giang phải đào tạo, dạy nghề cho khoảng 50 ngàn lao động mỗi năm trong thời kỳ 2011-2015 và 52 ngàn lao động/năm thời kỳ 2016-2020. Đến năm 2015 toàn tỉnh sẽ có 672,8 ngàn lao động qua đào tạo, gấp 1,6 lần năm 2010; năm 2020 sẽ có 933,4 ngàn lao động qua đào tạo, gấp 2,2 lần năm 2010.
Đến năm 2015, cơ cấu lao động của tỉnh là lao động nông - thủy sản chiếm 50%, công nghiệp - xây dựng 17% và dịch vụ 33%; năm 2020 tương ứng là 35% - 25% - 40%. Năng suất lao động tăng nhanh từ 38,2 triệu đồng/lao động năm 2010 lên 77,7 triệu đồng năm 2015 và đạt 152,3 triệu đồng năm 2020. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50%, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề 40% vào năm 2015; năm 2020 tương ứng là 65% và 50%.
Đối với cán bộ công chức, viên chức: Tất cả các sở, ban ngành cấp tỉnh phải có chuyên gia có khả năng hoạch định chính sách. Tăng cường lực lượng cán bộ, công chức được đào tạo chính quy, theo hướng trẻ hóa. Đội ngũ cán bộ, công chức hành chính Nhà nước phải có kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc chuyên nghiệp. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm việc ở các xã, phường, thị trấn. Trước năm 2020, 100% cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã phải được bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ và thái độ làm việc phù hợp với vị trí đang đảm nhiệm.
II. Phương hướng phát triển nhân lực đến năm 2020:
1. Phát triển nhân lực theo bậc đào tạo:
a) Đào tạo chuyên môn kỹ thuật:
Đến năm 2015 tỉnh An Giang sẽ có 672,8 ngàn lao động được đào tạo chuyên môn kỹ thuật, bao gồm 538,2 ngàn người qua đào tạo sơ cấp và ngắn hạn dưới 3 tháng, trình độ trung cấp có 59,9 ngàn người và cao đẳng có 31,5 người và đại học trở lên có 43,2 ngàn người.
Đến năm 2020 toàn tỉnh sẽ có 933,4 ngàn lao động đã qua đào tạo, bao gồm 724,8 người qua đào tạo sơ cấp và ngắn hạn dưới 3 tháng, trình độ trung cấp có 99,9 ngàn người và cao đẳng có 51,5 ngàn người và đại học trở lên có 57,2 ngàn người.
Đến năm 2015, đào tạo ngắn hạn chiếm 66,8% tổng số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp là 13,2%, trình độ trung cấp là 8,9%, cao đẳng là 4,7% và đại học trở lên là 6,4%. Đến năm 2020, đào tạo ngắn hạn là 60,1% tổng số, trình độ sơ cấp 17,6%, trình độ trung cấp là 10,7%, cao đẳng 5,5% và đại học trở lên 6,1%.
b) Đào tạo nghề:
Thời kỳ 2011-2015 mỗi năm đào tạo mới 29,5 ngàn lao động có trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng, 4,5 - 5 ngàn lao động trình độ trung cấp nghề, 2,5 lao động trình độ cao đẳng nghề. Thời kỳ 2016-2020 mỗi năm đào tạo mới 26,5 ngàn lao động có trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng, 7 - 8 ngàn lao động trình độ trung cấp nghề, 2,8 - 3 ngàn lao động trình độ cao đẳng nghề.
c) Đào tạo chuyên nghiệp:
Thời kỳ 2011-2015 mỗi năm đào tạo mới 1.000 lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp, 1.000 - 1.200 lao động có trình độ cao đẳng và 2.300 - 2.400 lao động trình độ đại học. Thời kỳ 2016-2020 mỗi năm đào tạo mới 1.100 - 1.200 lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp, 1.200 - 1.300 lao động có trình độ cao đẳng và 2.800 - 2.900 lao động trình độ đại học.
Phát triển nhân lực các ngành, lĩnh vực:
a) Ngành thương mại, dịch vụ:
Trong 10 năm tới, quy mô lao động tăng lên ở tất cả các ngành dịch vụ, làm tăng tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu lao động của nền kinh tế từ 30,3% năm 2010 lên 33% năm 2015 và 40% năm 2020. Trong nội bộ khu vực dịch vụ, có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần các ngành dịch vụ hiện đại, có giá trị gia tăng cao như ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ; bất động sản; thương mại, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, du lịch…
- Ngành bán buôn, bán lẻ: Tổng lao động ngành bán buôn, bán lẻ năm 2015 khoảng 165,2 ngàn người, năm 2020 khoảng 216,3 ngàn người - chiến tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu lao động trong khu vực dịch vụ. Tỷ lệ nhân lực qua đào tạo của ngành đạt 40% năm 2015, 60% năm 2020. Trong tổng số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng chiếm khoảng 70% năm 2015, 50% năm 2020; trình độ trung cấp tương ứng là 27%, 45%; trình độ cao đẳng và đại học trở lên khoảng 3%, 5%.
- Ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống: Tổng lao động trong ngành là 95,7 ngàn người năm 2015, 131 ngàn người năm 2020; tỷ lệ nhân lực qua đào tạo tương ứng vào hai thời điểm trên là 50% - 65%. Trong tổng số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng khoảng 60%, 45% vào các năm 2015, 2020; trình độ trung cấp tương ứng 35%, 50%; trình độ cao đẳng và đại học trở lên chiếm khoảng 5% từ sau năm 2015.
- Ngành ngân hàng, tài chính, bảo hiểm: Tổng lao động làm việc trong ngành ngân hàng, tài chính, bảo hiểm năm 2015 khoảng 8,7 ngàn người, năm 2020 khoảng 13,1 ngàn người; tỷ lệ nhân lực qua đào tạo đạt trên 90% từ sau năm 2015. Trong tổng số lao động qua đào tạo, trình độ trung cấp chiếm 15% năm 2015 và 10% năm 2020; trình độ cao đẳng và đại học đạt 83% từ sau năm 2015 và trình độ sau đại học khoảng 2-5%.
- Ngành hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ: Tổng nhân lực của ngành vào năm 2015 là 6,52 ngàn người, vào năm 2020 là 14,23 ngàn người; tỷ lệ nhân lực qua đào tạo đạt 100%. Trong đó, trình độ cao đẳng và đại học trở lên đạt 65% từ sau năm 2015 và trên 70% vào năm 2020.
- Ngành thông tin và truyền thông: Tổng nhân lực của ngành tăng nhanh từ 4,3 ngàn người năm 2010 lên 5,4 ngàn năm 2015 và 7,1 ngàn người năm 2020; 100% nhân lực của ngành đều qua đào tạo trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp với ngành.
- Ngành giáo dục và đào tạo: Tổng nhân lực hoạt động trong ngành giáo dục, đào tạo, dạy nghề năm 2015 khoảng 30,4 ngàn người, năm 2020 khoảng 35,3 ngàn người; 100% nhân lực của ngành đều qua đào tạo trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp với ngành. Phát triển nhân lực của ngành giáo dục: đến năm 2020 có ít nhất 60% số giáo viên mầm non và 90% số giáo viên tiểu học đạt trình độ từ cao đẳng trở lên; 90% số giáo viên trung học cơ sở và trung học phổ thông đạt trình độ đại học trở lên; ít nhất 15% số giáo viên ở các trường trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề và 30% số giáo viên ở các trường cao đẳng nghề đạt trình độ thạc sỹ trở lên; ít nhất 50% giảng viên cao đẳng đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó có ít nhất 3% là tiến sỹ; 80% giảng viên đại học đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó có ít nhất 33% là tiến sỹ.
- Ngành y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân: Tổng nhân lực hoạt động trong ngành vào năm 2015 là 9,18 ngàn người, năm 2020 là 11,85 ngàn người; 100% nhân lực của ngành đều qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật phù hợp.
- Ngành văn hóa, thể thao, nghệ thuật: Tổng nhân lực hoạt động trong ngành đến năm 2015 là 8,7 ngàn người, năm 2020 là 11,96 ngàn người; 100% nhân lực của ngành đều qua đào tạo trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp với ngành.
Đối với lực lượng cán bộ công chức, viên chức nhóm ngành hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ; hoạt động của Đảng, tổ chức chính trị-xã hội, quản lý Nhà nước… có khoảng 30 ngàn người vào năm 2015 và 34 ngàn người năm 2020. Phấn đấu 100% cán bộ công chức, viên chức các cấp quản lý hành chính đều được đào tạo với trình độ chuyên môn phù hợp. Tỉnh xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡn cho cán bộ cấp cơ sở để cập nhật, nâng cao trình độ nghiệp vụ và các kỹ năng về tin học, ngoại ngữ… Tỉnh có cơ chế chính sách riêng, phù hợp với từng ngành, lĩnh vực theo đặc thù của tỉnh An Giang.
b) Ngành công nghiệp, xây dựng:
Tỉnh tập trung đào tạo lao động công nghiệp có trình độ chuyên môn kỹ thuật cho các ngành thế mạnh và tiềm năng của tỉnh như công nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm, chế biến thủy sản, công nghệ sau thu hoạch, bảo quản nông sản, chế biến rau quả, cơ khí phục vụ sản xuất nông nghiệp, cơ khí sửa chữa, điện công nghiệp, hóa chất, công nghiệp may mặc, da giày…
Đến năm 2015, tổng lao động công nghiệp - xây dựng là 224,1 ngàn người, chiếm 17% cơ cấu lao động của nền kinh tế và đạt 355,9 ngàn người năm 2020, chiếm 25% tổng lao động. Trong đó, ngành công nghiệp là 156,8 ngàn lao động vào năm 2015 và 256,3 lao động vào năm 2020.
Tỷ lệ nhân lực qua đào tạo vào năm 2015 là 55%, năm 2020 là 65%. Trong tổng số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng chiếm 85% năm 2015, 75% năm 2020; trình độ trung cấp tương ứng 10%, 20%; trình độ cao đẳng và đại học trở lên khoảng 5% từ sau năm 2015.
c) Ngành nông, lâm, thủy sản:
Lao động làm việc trong khu vực nông, lâm, thủy sản giảm bình quân 3,2%/năm và đến năm 2015 có 659,0 ngàn lao động, chiếm 50% cơ cấu lao động của nền kinh tế; năm 2020 còn khoảng 498,3 ngàn lao động, chiếm 35% tổng số.
Tỷ lệ nhân lực qua đào tạo vào năm 2015 là 40%, năm 2020 là 50%. Trong tổng số lao động qua đào tạo, trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng chiếm khoảng 90% năm 2015, 80% năm 2020; trình độ trung cấp tương ứng là 8%, 18%; trình độ cao đẳng và đại học trở lên khoảng 2% từ sau năm 2015.
Tỉnh tập trung đào tạo lao động nông nghiệp ở các nghề như kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, lâm sinh, kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, quản lý tưới tiêu, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường nông thôn, quản lý và dịch vụ nông nghiệp, các ngành nông nghiệp sạch, công nghệ sinh học, giống cây trồng, vật nuôi.
III. Giải pháp thực hiện quy hoạch:
1. Phát triển giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên:
Giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên đảm bảo người lao động có được nền tảng để tiếp thu trình độ học nghề, chuyên môn kỹ thuật. Tiến đến chuẩn hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, giáo viên đạt chuẩn ở tất cả các trường phổ thông. Tất cả các thành phố, thị xã, huyện có trung tâm giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp - dạy nghề, hầu hết các xã, phường, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng. Phát triển các chương trình giáo dục thường xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi người, giúp cho người học hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu công việc và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Phát triển giáo dục chuyên nghiệp:
Tiếp tục đầu tư, nâng cấp, mở rộng Đại học An Giang trở thành trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao; trung tâm nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế, xã hội cho tỉnh An Giang nói riêng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Khẳng định Đại học An Giang là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao - phù hợp yêu cầu thực tiễn, ổn định, cung cấp nhân lực chủ yếu phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa của tỉnh. Trường chú trọng vào việc đào tạo cán bộ có trình độ cao cho các ngành, nghề mà tỉnh có thế mạnh và có tiềm năng phát triển như nông nghiệp, công nghiệp sinh học, công nghiệp chế biến, bảo quản lương, thực phẩm, cơ khí phục vụ nông nghiệp, phát triển nông thôn.
Hoàn thiện mạng lưới các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh, đáp ứng nhu cầu nhân lực về quy mô và cơ cấu ngành nghề đào tạo phù hợp lợi thế của tỉnh về sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng và chế biến thủy sản, kinh tế biên mậu, dịch vụ khoa học kỹ thuật - công nghệ… Khuyến khích các doanh nghiệp lớn mở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đại học. Xây mới trường cao đẳng cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực của các địa phương và nhu cầu học tập của nhân dân. Nghiên cứu khôi phục lại trường Trung cấp chuyên nghiệp tỉnh An Giang nhằm tăng cường năng lực tuyển sinh, đào tạo bậc trung cấp cho người lao động ở các nghề nông nghiệp, công nghiệp chế biến, chế tạo.