Document: Điều 15 Thông tư 29/2019/TT-BYT xây dựng ban hành và tổ chức triển khai thi hành văn bản pháp luật y tế mới nhất

Type: {"issuing_agency": "Bộ Y tế", "promulgation_date": "29/11/2019", "sign_number": "29/2019/TT-BYT", "signer": "Nguyễn Trường Sơn", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Y tế", "promulgation_date": "29/11/2019", "sign_number": "29/2019/TT-BYT", "signer": "Nguyễn Trường Sơn", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Y tế", "promulgation_date": "29/11/2019", "sign_number": "29/2019/TT-BYT", "signer": "Nguyễn Trường Sơn", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Y tế", "promulgation_date": "29/11/2019", "sign_number": "29/2019/TT-BYT", "signer": "Nguyễn Trường Sơn", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Y tế", "promulgation_date": "29/11/2019", "sign_number": "29/2019/TT-BYT", "signer": "Nguyễn Trường Sơn", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 15 Thông tư 29/2019/TT-BYT xây dựng ban hành và tổ chức triển khai thi hành văn bản pháp luật y tế mới nhất có nội dung như sau:

Điều 15. Đề nghị xây dựng nghị định quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật, quyết định của Thủ tướng Chính phủ
1. Đối với nghị định quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật, hồ sơ đề nghị xây dựng bao gồm:
a) Thuyết minh về đề nghị xây dựng nghị định, trong đó nêu rõ tên văn bản; sự cần thiết, căn cứ pháp lý ban hành văn bản; chính sách cơ bản, nội dung chính của văn bản; các đề xuất về sửa đổi, bổ sung, thay thế ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện đầu tư kinh doanh theo quy định tại Điều 6 Thông tư này;
b) Đề cương dự thảo nghị định và thông tin về cơ quan chủ trì soạn thảo, nguồn lực bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản, thời gian dự kiến trình Chính phủ (cụ thể đến tháng);
c) Bản đánh giá thủ tục hành chính (nếu có thủ tục hành chính);
d) Ý kiến của các cơ quan, đơn vị theo quy định tại Khoản 3 Điều này.
2. Đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ, hồ sơ đề nghị xây dựng bao gồm:
a) Thuyết minh về đề nghị xây dựng quyết định, trong đó nêu rõ tên văn bản; sự cần thiết, căn cứ pháp lý ban hành văn bản; nội dung chính của văn bản;
b) Đề cương dự thảo quyết định và thông tin về cơ quan chủ trì soạn thảo, nguồn lực bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản, thời gian dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ (cụ thể đến tháng);
c) Bản đánh giá thủ tục hành chính dự kiến (nếu có);
d) Ý kiến của các cơ quan, đơn vị theo quy định tại Khoản 3 Điều này.
3. Trước khi gửi Vụ Pháp chế để thẩm định nội bộ, đơn vị đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này có trách nhiệm gửi hồ sơ đến các cơ quan, đơn vị theo quy định tại Điều 5 Thông tư này để lấy ý kiến nếu có nội dung liên quan đến thủ tục hành chính; gửi hồ sơ để lấy ý kiến nếu có nội dung liên quan đến ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, điều kiện đầu tư kinh doanh theo quy định tại Điều 6 Thông tư này.
4. Vụ Pháp chế có trách nhiệm thẩm định nội bộ hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ của các đơn vị thuộc Bộ trước khi gửi Bộ Tư pháp để thẩm định. Trong trường hợp cần thiết, để bảo đảm tính chủ động và nâng cao chất lượng thẩm định, Vụ Pháp chế tổ chức đánh giá, nghiên cứu, khảo sát, lấy ý kiến độc lập đối với hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Hồ sơ gửi Vụ Pháp chế thẩm định gồm các tài liệu quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.
5. Vụ Pháp chế thẩm định nội bộ hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ do đơn vị đề nghị xây dựng gửi đến.
Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề quy định tại khoản 3 Điều 88 của Luật. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của Vụ Pháp chế về việc hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ đủ điều kiện, cần tiếp tục hoàn thiện hoặc không đủ điều kiện gửi Bộ Tư pháp để thẩm định trước khi trình Chính phủ xem xét, thông qua theo Mẫu quy định tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này.
6. Đơn vị đề nghị xây dựng có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định của Vụ Pháp chế để chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ và trình Lãnh đạo Bộ gửi Bộ Tư pháp để thẩm định theo quy định tại khoản 2 Điều 88 của Luật.
7. Trên cơ sở nghiên cứu, giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, đơn vị đề nghị xây dựng nghị định có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Vụ Pháp chế chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ trình Lãnh đạo Bộ phê duyệt trước khi trình Chính phủ xem xét, thông qua theo quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật.

Content:
Điều 15. Đề nghị xây dựng nghị định quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật, quyết định của Thủ tướng Chính phủ
1. Đối với nghị định quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật, hồ sơ đề nghị xây dựng bao gồm:
a) Thuyết minh về đề nghị xây dựng nghị định, trong đó nêu rõ tên văn bản; sự cần thiết, căn cứ pháp lý ban hành văn bản; chính sách cơ bản, nội dung chính của văn bản; các đề xuất về sửa đổi, bổ sung, thay thế ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện đầu tư kinh doanh theo quy định tại Điều 6 Thông tư này;
b) Đề cương dự thảo nghị định và thông tin về cơ quan chủ trì soạn thảo, nguồn lực bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản, thời gian dự kiến trình Chính phủ (cụ thể đến tháng);
c) Bản đánh giá thủ tục hành chính (nếu có thủ tục hành chính);
d) Ý kiến của các cơ quan, đơn vị theo quy định tại Khoản 3 Điều này.
2. Đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ, hồ sơ đề nghị xây dựng bao gồm:
a) Thuyết minh về đề nghị xây dựng quyết định, trong đó nêu rõ tên văn bản; sự cần thiết, căn cứ pháp lý ban hành văn bản; nội dung chính của văn bản;
b) Đề cương dự thảo quyết định và thông tin về cơ quan chủ trì soạn thảo, nguồn lực bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản, thời gian dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ (cụ thể đến tháng);
c) Bản đánh giá thủ tục hành chính dự kiến (nếu có);
d) Ý kiến của các cơ quan, đơn vị theo quy định tại Khoản 3 Điều này.
3. Trước khi gửi Vụ Pháp chế để thẩm định nội bộ, đơn vị đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này có trách nhiệm gửi hồ sơ đến các cơ quan, đơn vị theo quy định tại Điều 5 Thông tư này để lấy ý kiến nếu có nội dung liên quan đến thủ tục hành chính; gửi hồ sơ để lấy ý kiến nếu có nội dung liên quan đến ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, điều kiện đầu tư kinh doanh theo quy định tại Điều 6 Thông tư này.
4. Vụ Pháp chế có trách nhiệm thẩm định nội bộ hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ của các đơn vị thuộc Bộ trước khi gửi Bộ Tư pháp để thẩm định. Trong trường hợp cần thiết, để bảo đảm tính chủ động và nâng cao chất lượng thẩm định, Vụ Pháp chế tổ chức đánh giá, nghiên cứu, khảo sát, lấy ý kiến độc lập đối với hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Hồ sơ gửi Vụ Pháp chế thẩm định gồm các tài liệu quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.
5. Vụ Pháp chế thẩm định nội bộ hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ do đơn vị đề nghị xây dựng gửi đến.
Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề quy định tại khoản 3 Điều 88 của Luật. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của Vụ Pháp chế về việc hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ đủ điều kiện, cần tiếp tục hoàn thiện hoặc không đủ điều kiện gửi Bộ Tư pháp để thẩm định trước khi trình Chính phủ xem xét, thông qua theo Mẫu quy định tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này.
6. Đơn vị đề nghị xây dựng có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định của Vụ Pháp chế để chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ và trình Lãnh đạo Bộ gửi Bộ Tư pháp để thẩm định theo quy định tại khoản 2 Điều 88 của Luật.
7. Trên cơ sở nghiên cứu, giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, đơn vị đề nghị xây dựng nghị định có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Vụ Pháp chế chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ trình Lãnh đạo Bộ phê duyệt trước khi trình Chính phủ xem xét, thông qua theo quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật.