Document: Điều 3 Thông tư 28-TL-ĐĐ giải thích hướng dẫn Nghị định 173-CP điều lệ bảo vệ đê điều

Type: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "29/09/1964", "sign_number": "28-TL-ĐĐ", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "29/09/1964", "sign_number": "28-TL-ĐĐ", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "29/09/1964", "sign_number": "28-TL-ĐĐ", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "29/09/1964", "sign_number": "28-TL-ĐĐ", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "29/09/1964", "sign_number": "28-TL-ĐĐ", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 3 Thông tư 28-TL-ĐĐ giải thích hướng dẫn Nghị định 173-CP điều lệ bảo vệ đê điều có nội dung như sau:

Điều 3. của điều lệ nói về việc xây dựng các công trình trong phạm vi bảo vệ đê điều là phát triển cụ thể của điều 2, nêu những quy định chi tiết trên và dưới mặt đất:
a) Cấm xây dựng bất kỳ công trình gì trên mặt đất hoặc đào sâu xuống đất trong phạm vi bảo vệ đê điều, trừ trường hợp đặc biệt phải được Bộ Thủy lợi cho phép. Những trường hợp đặc biệt này là quá cần thiết không thể tránh được như: xây cột điện cao thế vượt sông, xây cống, xây trạm bơm, làm mổ cầu hoặc đường giao thông qua đê. Đứng về nguyên tắc thì đây là những vi phạm điều lệ và ảnh hưởng đến an toàn của đê điều. Nhưng vì lý do quá cần thiết, Bộ Thủy lợi sẽ căn cứ vào đồ án thiết kế kỹ thuật các công trình của từng trường hợp mà xét về mặt an toàn đối với chống lụt, bão và có thể cho phép xây dựng với một số điều kiện nhất định.
b) Phần b điều 3 của điều lệ nói rõ: ngoài phạm vi bảo vệ, muốn đào ao, giếng, kênh, mương… ở phía trong đê (phía đồng) thì cứ đào sâu một thước phải cách xây dựng lán trại và kho thêm 10 thước, đào sâu hai thước phải cách xa thêm 20 thước, v.v... Đây là những số liệu đã tính toán để đảm bảo an toàn cho đê điều khi nước lũ lên cao. Vì địa chất vùng gần đê phần lớn là đất cát, nếu đào sâu xuống mà không tôn trọng phạm vi đã quy định ấy thì có thể tạo điều kiện phát sinh thẩm lậu hoặc vòi nước nghiêm trọng khi có lũ lớn. Tuy nhiên trong một số trường hợp cần thiết phải đào công trình tương đối sâu mà vị trí lại nằm trong phạm vi nguy hiểm như đào móng một số công trình, đào giếng lấy nước cung cấp cho thành phố, công trường, xí nghiệp lớn… thì Bộ Thủy lợi sẽ căn cứ vào đồ án thiết kế của từng công trình và các biện pháp xử lý có thể dự kiến đối phó được mà cho phép thực hiện với một số điều kiện nhất định.
Trong trường hợp đào sâu và tôn trọng điều lệ chung mà khi đào gặp điều kiện địa chất xấu như bùn, cát cháy… thì phải đình chỉ việc đào để báo cáo Bộ Thủy lợi xét. Nếu muốn tiếp tục đào thêm thì phải được sự đồng ý của Bộ Thủy lợi, nếu không có thể gây trượt lún các tầng lớp đất phía dưới làm mất thế ổn định tự nhiên của vùng này, ảnh hưởng đến an toàn của đê điều ở gần đấy.
Điểm C của điều 3 quy định biện pháp giải quyết đối với những công trình (nhà cửa, kho tàng, hàng quán, ao giếng) của các cơ quan và nhân dân đã sẵn có trong phạm vi bảo vệ. Nói chung, những công trình này đều ít nhiều gây trở ngại cho việc bảo vệ đê điều, nhưng hiện nay chưa thể ngay trong một lúc di chuyển đi hết được, trừ một số trường hợp thật cần thiết. Điêu lệ quy định như sau:
1. Điểm C – 1 của điều 3 quy định:
- Loại xây dựng đã lâu mà xét không ảnh hưởng lớn đến việc bảo vệ đê điều như: đình chùa, miếu, di tích lịch sử v.v... có móng vững chắc thì Ủy ban hành chính các tỉnh, thành sẽ xét lập danh sách theo thứ tự vị trí để đề nghị Bộ Thủy lợi cho phép được giữ nguyên như cũ.
- Đối với nhà cửa, hàng quán, tài sản sẵn có của nhân dân nằm trong phạm vi bảo vệ đê điềum, nói chung, chưa đặt thành vấn đề di chuyển, trừ những trường hợp quy định ở điểm C – 2, C – 3, C – 4 của điều 3 sẽ nói rõ sau đây.
2. Điểm C – 2 của điều 3 quy định cho loại xét có ảnh hưởng lớn đến việc bảo vệ đê điều trừ những loại có thể gây sạt lở, lún, tổn hại đến tính ổn định của đê, kè, cống hoặc trở ngại lớn cho việc phòng chống lụt, bão như những nhà cửa, đồn vọng gác, trạm bơm, cột điện, công sự cũ, v.v... xây dựng trên mặt đê, mái đê, cơ đê, thì phải di chuyển dần đi nơi khác trong thời hạn không quá ba năm, tính từ khi ban hành thông tư này. Trong khi thi hành, Ủy ban hành chính tinh thần nghiên cứu cụ thể để xét châm chước cho một số ít trường hợp cá biệt có thể để lại, di chuyển sau, như trạm bơm, cột điện, các công trình nhả cửa kiên cố của Nhà nước và của nhân dân, v.v... với một số điều kiện nhất định.
3. Điểm C – 3 của điều 3 quy định cho những loại trực tiếtp gây nguy hiểm cho việc bảo vệ đê điều như: những nhà cửa, công trình, kho tàng ở gần đê, kè, cống; có loại xây bằng gạch đá nhưng bị nứt thành vết to ở tường, ở nền, móng, v.v... có loại bằng gỗ, tre, nứa bị mối mọt đục khoét, loại ở gần đê kè xung yếu đang sạt lở, hay những cây cối sắp đổ ngã. Những loại này có thể đột biến gây sạt lở nguy hiểm cho đê, kè, cống nên hàng năm phải kiểm tra lại kỹ và nếu có diễn biến thì phải nhanh chóng di chuyển đi nơi khác trước mua lụt, bão hàng năm.
4. Điểm C – 4 của điều 3 đã quy định rõ những trường hợp cần phải di chuyên để bảo vệ đê, kè, cống, bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân và tài sản của Nhà nước. Thông tư này không phát triển thêm.
Việc di chuyển những công trình của Nhà nước thuộc cơ quan hay ngành nào, địa phương nào thi do cơ quan hay ngành đó, địa phương đó đảm nhận và phải liên hệ với Ủy ban hành chính tỉnh nơi có công trình và nơi sẽ di chuyển đến để được giúp đỡ và bố trí sắp xếp. Nếu là những công trình mang tính chất lịch sử thì phải báo cáo và có ý kiến của Bộ Văn hóa.
Việc lấp hồ, ao ở gần đê của địa phương nào sẽ do địa phương đó đảm nhận.
Việc di chuyển tài sản của nhân dân, của cá nhân, của hợp tác xã thì do nhân dân, hợp tác xã đảm nhận, không có trợ cấp đền bù, nhưng chính quyền địa phương có trách nhiệm giúp đỡ về tổ chức, liên hệ sắp xếp với Ủy ban hành chính nơi di chuyển đến, động viên hợp tác xã và nhân dân địa phương giúp đỡ một phần về nhân lực và phương tiện.
Trên đây là một số điểm cơ bản về việc di chuyển các công trình, nhà cửa, kho tàng trong phạm vi bảo vệ đê điều. Ủy ban hành chính tỉnh và Ty Thủy lợi dựa và đây mà nghiên cứu kế hoạch, biện pháp thực hiện cho từng trường hợp cụ thể phù hợp với tình hình địa phương và nếu gặp khó khăn trở ngại gì thì báo cáo lên Bộ Thủy lợi góp thêm ý kiến.

Content:
Điều 3. của điều lệ nói về việc xây dựng các công trình trong phạm vi bảo vệ đê điều là phát triển cụ thể của điều 2, nêu những quy định chi tiết trên và dưới mặt đất:
a) Cấm xây dựng bất kỳ công trình gì trên mặt đất hoặc đào sâu xuống đất trong phạm vi bảo vệ đê điều, trừ trường hợp đặc biệt phải được Bộ Thủy lợi cho phép. Những trường hợp đặc biệt này là quá cần thiết không thể tránh được như: xây cột điện cao thế vượt sông, xây cống, xây trạm bơm, làm mổ cầu hoặc đường giao thông qua đê. Đứng về nguyên tắc thì đây là những vi phạm điều lệ và ảnh hưởng đến an toàn của đê điều. Nhưng vì lý do quá cần thiết, Bộ Thủy lợi sẽ căn cứ vào đồ án thiết kế kỹ thuật các công trình của từng trường hợp mà xét về mặt an toàn đối với chống lụt, bão và có thể cho phép xây dựng với một số điều kiện nhất định.
b) Phần b điều 3 của điều lệ nói rõ: ngoài phạm vi bảo vệ, muốn đào ao, giếng, kênh, mương… ở phía trong đê (phía đồng) thì cứ đào sâu một thước phải cách xây dựng lán trại và kho thêm 10 thước, đào sâu hai thước phải cách xa thêm 20 thước, v.v... Đây là những số liệu đã tính toán để đảm bảo an toàn cho đê điều khi nước lũ lên cao. Vì địa chất vùng gần đê phần lớn là đất cát, nếu đào sâu xuống mà không tôn trọng phạm vi đã quy định ấy thì có thể tạo điều kiện phát sinh thẩm lậu hoặc vòi nước nghiêm trọng khi có lũ lớn. Tuy nhiên trong một số trường hợp cần thiết phải đào công trình tương đối sâu mà vị trí lại nằm trong phạm vi nguy hiểm như đào móng một số công trình, đào giếng lấy nước cung cấp cho thành phố, công trường, xí nghiệp lớn… thì Bộ Thủy lợi sẽ căn cứ vào đồ án thiết kế của từng công trình và các biện pháp xử lý có thể dự kiến đối phó được mà cho phép thực hiện với một số điều kiện nhất định.
Trong trường hợp đào sâu và tôn trọng điều lệ chung mà khi đào gặp điều kiện địa chất xấu như bùn, cát cháy… thì phải đình chỉ việc đào để báo cáo Bộ Thủy lợi xét. Nếu muốn tiếp tục đào thêm thì phải được sự đồng ý của Bộ Thủy lợi, nếu không có thể gây trượt lún các tầng lớp đất phía dưới làm mất thế ổn định tự nhiên của vùng này, ảnh hưởng đến an toàn của đê điều ở gần đấy.
Điểm C của điều 3 quy định biện pháp giải quyết đối với những công trình (nhà cửa, kho tàng, hàng quán, ao giếng) của các cơ quan và nhân dân đã sẵn có trong phạm vi bảo vệ. Nói chung, những công trình này đều ít nhiều gây trở ngại cho việc bảo vệ đê điều, nhưng hiện nay chưa thể ngay trong một lúc di chuyển đi hết được, trừ một số trường hợp thật cần thiết. Điêu lệ quy định như sau:
1. Điểm C – 1 của điều 3 quy định:
- Loại xây dựng đã lâu mà xét không ảnh hưởng lớn đến việc bảo vệ đê điều như: đình chùa, miếu, di tích lịch sử v.v... có móng vững chắc thì Ủy ban hành chính các tỉnh, thành sẽ xét lập danh sách theo thứ tự vị trí để đề nghị Bộ Thủy lợi cho phép được giữ nguyên như cũ.
- Đối với nhà cửa, hàng quán, tài sản sẵn có của nhân dân nằm trong phạm vi bảo vệ đê điềum, nói chung, chưa đặt thành vấn đề di chuyển, trừ những trường hợp quy định ở điểm C – 2, C – 3, C – 4 của điều 3 sẽ nói rõ sau đây.
2. Điểm C – 2 của điều 3 quy định cho loại xét có ảnh hưởng lớn đến việc bảo vệ đê điều trừ những loại có thể gây sạt lở, lún, tổn hại đến tính ổn định của đê, kè, cống hoặc trở ngại lớn cho việc phòng chống lụt, bão như những nhà cửa, đồn vọng gác, trạm bơm, cột điện, công sự cũ, v.v... xây dựng trên mặt đê, mái đê, cơ đê, thì phải di chuyển dần đi nơi khác trong thời hạn không quá ba năm, tính từ khi ban hành thông tư này. Trong khi thi hành, Ủy ban hành chính tinh thần nghiên cứu cụ thể để xét châm chước cho một số ít trường hợp cá biệt có thể để lại, di chuyển sau, như trạm bơm, cột điện, các công trình nhả cửa kiên cố của Nhà nước và của nhân dân, v.v... với một số điều kiện nhất định.
3. Điểm C – 3 của điều 3 quy định cho những loại trực tiếtp gây nguy hiểm cho việc bảo vệ đê điều như: những nhà cửa, công trình, kho tàng ở gần đê, kè, cống; có loại xây bằng gạch đá nhưng bị nứt thành vết to ở tường, ở nền, móng, v.v... có loại bằng gỗ, tre, nứa bị mối mọt đục khoét, loại ở gần đê kè xung yếu đang sạt lở, hay những cây cối sắp đổ ngã. Những loại này có thể đột biến gây sạt lở nguy hiểm cho đê, kè, cống nên hàng năm phải kiểm tra lại kỹ và nếu có diễn biến thì phải nhanh chóng di chuyển đi nơi khác trước mua lụt, bão hàng năm.
4. Điểm C – 4 của điều 3 đã quy định rõ những trường hợp cần phải di chuyên để bảo vệ đê, kè, cống, bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân và tài sản của Nhà nước. Thông tư này không phát triển thêm.
Việc di chuyển những công trình của Nhà nước thuộc cơ quan hay ngành nào, địa phương nào thi do cơ quan hay ngành đó, địa phương đó đảm nhận và phải liên hệ với Ủy ban hành chính tỉnh nơi có công trình và nơi sẽ di chuyển đến để được giúp đỡ và bố trí sắp xếp. Nếu là những công trình mang tính chất lịch sử thì phải báo cáo và có ý kiến của Bộ Văn hóa.
Việc lấp hồ, ao ở gần đê của địa phương nào sẽ do địa phương đó đảm nhận.
Việc di chuyển tài sản của nhân dân, của cá nhân, của hợp tác xã thì do nhân dân, hợp tác xã đảm nhận, không có trợ cấp đền bù, nhưng chính quyền địa phương có trách nhiệm giúp đỡ về tổ chức, liên hệ sắp xếp với Ủy ban hành chính nơi di chuyển đến, động viên hợp tác xã và nhân dân địa phương giúp đỡ một phần về nhân lực và phương tiện.
Trên đây là một số điểm cơ bản về việc di chuyển các công trình, nhà cửa, kho tàng trong phạm vi bảo vệ đê điều. Ủy ban hành chính tỉnh và Ty Thủy lợi dựa và đây mà nghiên cứu kế hoạch, biện pháp thực hiện cho từng trường hợp cụ thể phù hợp với tình hình địa phương và nếu gặp khó khăn trở ngại gì thì báo cáo lên Bộ Thủy lợi góp thêm ý kiến.