Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 364/QĐ-UBND 2011 phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng Hà Nam

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Nam", "promulgation_date": "25/03/2011", "sign_number": "364/QĐ-UBND", "signer": "Mai Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Nam", "promulgation_date": "25/03/2011", "sign_number": "364/QĐ-UBND", "signer": "Mai Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Nam", "promulgation_date": "25/03/2011", "sign_number": "364/QĐ-UBND", "signer": "Mai Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Nam", "promulgation_date": "25/03/2011", "sign_number": "364/QĐ-UBND", "signer": "Mai Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Nam", "promulgation_date": "25/03/2011", "sign_number": "364/QĐ-UBND", "signer": "Mai Tiến Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 364/QĐ-UBND 2011 phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng Hà Nam

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Hà Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, với những nội dung chủ yếu như sau:
...
5. Định hướng phát triển không gian vùng
5.1. Định hướng phát triển không gian vùng tỉnh Hà Nam:
- Vùng động lực phát triển (HaNamBoulevard): Được giới hạn từ đường Cao tốc Cầu Giẽ-Ninh Bình tới lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy, từ Hà Nội đến Ninh Bình. Đây là vùng phát triển kinh tế chính và là động lực phát triển KTXH của tỉnh. Trong vùng này phát triển công nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực và dịch vụ-đô thị theo mô hình đô thị nén; đảm bảo hài hoà giữa không gian sống, sản xuất mà trung tâm là thành phố Phủ Lý.
- Vùng phát triển du lịch: Nằm dọc theo lưu vực sông Đáy, sông Châu; Kết nối các khu, điểm du lịch chính trong tỉnh với chùa Hương - thành phố Phủ Lý - ra sông Hồng. Hình thành dải cây xanh mặt nước liên hoàn gắn với các sản phẩm du lịch sinh thái nghỉ dưỡng - lịch sử - văn hóa, làng nghề và sản phẩm đặc sản nông nghiệp của vùng. Tạo thành trục ngang (Đông - Tây) phát triển kinh tế - du lịch - dịch vụ của vùng.
- Vùng phát triển công nghiệp VLXD (vùng núi đá phía Tây, trên địa bàn huyện Thanh Liêm, Kim Bảng): Khai thác tốt tiềm năng sẵn có để phát triển công nghiệp xi măng và VLXD gắn với bảo vệ môi trường cảnh quan.
- Vùng phát triển nông nghiệp: Bao gồm các khu vực còn lại. Vùng này chủ yếu phát triển nông nghiệp gắn với phát triển nông nghiệp công nghệ cao, tạo ra các sản phẩm có tính hàng hóa, phục vụ nhu cầu trong và ngoài tỉnh.
5.2. Phân vùng chức năng và tổ chức không gian vùng:
- Các tuyến và khu du lịch:
+ Các tuyến du lịch nội tỉnh được kết nối với các điểm cảnh quan, di tích lịch sử, làng nghề, kết nối với khu du lịch Tràng An (Ninh Bình), Chùa Hương (Hà Nội), Đền Trần (Nam Định), Quan Sơn (Thanh Hóa), Phố Hiến (Hưng Yên), với Thủ đô Hà Nội và với du lịch biển.
- Phát triển và hình thành các điểm du lịch trọng tâm trong tỉnh như khu du lịch Tam Chúc Ba Sao, trung tâm lễ hội Đền Trần Thương, Ngũ Động Thi Sơn, điểm du lịch sinh thái và vui chơi giải trí Hồ Ba Hang, cùng các điểm văn hóa lịch sử, lễ hội truyền thống của tỉnh Hà Nam.
- Các khu, cụm công nghiệp:
+ Hà Nam được xác định là vùng công nghiệp phía Nam của vùng thủ đô Hà Nội. Các khu công nghiệp được chia thành 2 vùng phát triển chính là vùng phía Bắc và vùng phía Nam của tỉnh. Hai vùng này đều nằm trên trục động lực phát triển. Trong đó chủ yếu phát triển công nghiệp sạch.
+ Tiểu vùng phía Tây sông Đáy phát triển công nghiệp VLXD trong đó xi măng là sản phẩm chủ lực đến năm 2020.
+ Các trung tâm huyện hình thành các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với quy mô từ 40ha đến 50 ha nhằm khai thác nguồn nhân lực sẵn có của địa phương.
- Các khu hành chính: Đến năm 2030 cấu trúc đơn vị hành chính của tỉnh sẽ bao gồm: 01 thành phố, 01 thị xã, 05 huyện và 11 thị trấn. Phủ Lý là trung tâm hành chính chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh.
- Các khu thương mại tập trung: Hình thành khu trung tâm thương mại đầu mối nông sản lớn trên trục động lực, nằm ở khu vực nhà ga đường sắt mới phía Đông đường cao tốc, thuận tiện về giao thông, đồng thời kết hợp với khu cảng nội địa có vai trò phát tuyến, điều hoà phân phối hàng hóa trong vùng và khu vực lân cận. Quy mô khoảng 100ha.
+ Tại thị trấn Vĩnh Trụ được định hướng phát triển thêm 1 khu trung tâm thương mại dịch vụ để phục vụ nhu cầu của khu vực phía Đông tỉnh với quy mô khoảng 20ha.
+ Tại thị xã Duy Hà được định hướng phát triển 1 khu trung tâm thương mại dịch vụ để phục vụ nhu cầu của khu vực phía Bắc tỉnh với quy mô khoảng 30ha.
+ Tại thị trấn Phố Cà được định hướng phát triển 1 khu trung tâm thương mại dịch vụ để phục vụ nhu cầu của khu vực phía Nam tỉnh với quy mô khoảng 20ha.
Ngoài ra, tại mỗi huyện, mỗi đô thị cũng được quy hoạch các trung tâm thương mại quy mô vừa và nhỏ để phục vụ nhu cầu của người dân trong khu vực đồng thời thúc đẩy du lịch, dịch vụ, sản xuất phát triển.
- Các khu giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, y tế vùng:
+ Các khu giáo dục đào tạo Tổ chức, phân bố các trường đào tạo trong vùng tạo động lực cho các đô thị phát triển và tạo điều kiện cho các trường đầu tư phát triển cơ sở đào tạo, khu nhà ở cho sinh viên theo mô hình môi trường đào tạo tiên tiến gắn kết với các dịch vụ đô thị hiện tại.
+ Các khu giáo dục đào tạo được phân bố chủ yếu ở phía Bắc tỉnh thuộc khu vực thành phố Phủ Lý và huyện Duy Tiên với tổng quy mô khoảng 1.247ha, trong đó khu đô thị đại học được quy hoạch nằm trong trục động lực phát triển có quy mô 1.000ha. Toàn tỉnh bố trí khoảng 20 trường đại học đào tạo đa ngành, trường cao đẳng chuyên nghiệp, dạy nghề và khoảng 10 trường trung cấp nghề.
+ Hệ thống y tế: Xây dựng các trung tâm y tế chất lượng cao quy mô vùng nhằm giảm sự quá tải các bệnh viện đầu ngành tại nội thành Hà Nội, đồng thời đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân trong vùng. Trung tâm y tế chất lượng cao có tính chất vùng được quy hoạch ở khu vực trung tâm thị xã Duy Hà với quy mô 200ha. Bệnh viện quốc tế Bình An ở thành phố Phủ Lý với quy mô 20ha (700 giường).
- Không gian hệ thống đô thị: Hình thành mạng lưới đô thị đa chức năng.
+ Đô thị trung tâm cấp tỉnh:
Thành phố Phủ Lý: Là đô thị đối trọng phía Nam của vùng thủ đô Hà Nội, là đô thị trung tâm tỉnh, trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh. Dự kiến đến trước năm 2020 cơ bản đáp ứng các tiêu chí đô thị loại II.
Phía Đông Bắc tỉnh hình thành thị xã Duy Hà, là đô thị công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, thương mại, trung tâm đào tạo và y tế (trên cơ sở sát nhập thị trấn Đồng Văn, thị trấn Hòa Mạc - huyện Duy Tiên). Dự kiến đến năm 2030 lên đô thị loại III.
+ Đô thị trung tâm cấp huyện: Đến năm 2030 toàn tỉnh có 16 đô thị trung tâm cấp huyện bao gồm: Thị trấn Quế, thị trấn Ba Sao, thị trấn Tượng Lĩnh, thị trấn Nhật Tân - huyện Kim Bảng; Thị trấn Bình Mỹ, thị trấn Đô Hai, thị trấn Chợ Sông, thị trấn Ba Hàng - huyện Bình Lục; Thị trấn Vĩnh Trụ, thị trấn Nhân Hậu, thị trấn Nhân Mỹ, hình thành thị trấn mới tại khu vực nút giao giữa đường ĐT 499 và tuyến đường đi Hưng Yên trên địa bàn xã Đạo Lý - huyện Lý Nhân; Thị trấn Thanh Liêm, thị trấn Phố Cà, thị trấn Kiện Khê - huyện Thanh Liêm; Thị trấn Đọi Sơn, huyện Duy Tiên.
+ Mô hình phát triển hệ thống đô thị có hai phần chính được liên kết với nhau bằng hệ thống đường Quốc lộ và đường tỉnh.
Tập trung phát triển mạnh hành lang động lực kinh tế dọc theo Quốc lộ 1A và đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, đồng thời kết hợp chuỗi đô thị dọc theo quốc lộ 38. Chuỗi và dải đô thị này được tạo lập bởi 2 đô thị trọng tâm là Phủ Lý và thị xã Duy Hà.
Hệ thống các đô thị trung tâm huyện và chuyên ngành nằm trên phần địa bàn còn lại tạo thành mạng lưới hỗ trợ cho vùng kinh tế động lực của tỉnh đồng thời đảm bảo yêu cầu phục vụ trên địa bàn, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa trên địa bàn toàn tỉnh.
- Không gian hệ thống khu dân cư nông thôn.
+ Các khu dân cư nông thôn sẽ được phát triển duy trì sự ổn định của hệ thống dân cư sẵn có. Đồng thời phát triển các khu vực dân cư mở rộng (các khu giãn dân, các trung tâm xã), nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại. Đối với các điểm dân cư nằm trong hành lang du lịch: Các lô đất ở thường có quy mô khá lớn từ 250-500m2/lô. Để phát triển du lịch thì quy mô các lô đất này cần được giữ nguyên để phát triển các loại hình trồng cây đặc sản kết hợp mô hình sinh thái. Đối với các khu vực làng nghề: cần được bảo tồn và phát triển để có thể kết hợp phát triển du lịch.
5.3. Các trục hành lang và cực phát triển của vùng.
- Trục hành lang kinh tế Bắc Nam của tỉnh: Là trục phát triển kinh tế chủ đạo, chạy dọc từ phía Bắc tới phía Nam của tỉnh theo trục quốc lộ 1A và trục đường cao tốc đi qua các đô thị Đồng Văn, Phủ Lý, Thanh Liêm. Trên trục tập trung phát triển các khu công nghiệp, đào tạo, dịch vụ thương mại và đô thị.
- Hành lang xanh Đông Tây: Nhằm dành quỹ đất và kết hợp với hành lang sinh thái, các khu vực nghiên cứu phục vụ nông nghiệp. Giới thiệu các mô hình truyền thống của Việt Nam trong thời đại mới. Đồng thời, trong hành lang này cũng phát triển một trục du lịch nối từ sông Đáy qua Phủ Lý tới sông Châu.
- Các vùng phát triển kinh tế.
+ Tiểu vùng phía Tây Bắc: gồm các huyện Duy Tiên, Kim Bảng, Thanh Liêm tập trung phát triển công nghiệp, khu công nghiệp tập trung và phát triển du lịch để tận dụng các lợi thế về địa hình, cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý và hệ thống giao thông.
+ Tiểu vùng phía Đông Nam: gồm các huyện Bình Lục, Lý Nhân và một phần huyện Thanh Liêm tập trung phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và du lịch sinh thái.
+ Tiểu vùng trung tâm thành phố Phủ Lý: phát triển thương mại dịch vụ, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển đô thị, dịch vụ đô thị.

Content:
Định hướng phát triển không gian vùng
5.1. Định hướng phát triển không gian vùng tỉnh Hà Nam:
- Vùng động lực phát triển (HaNamBoulevard): Được giới hạn từ đường Cao tốc Cầu Giẽ-Ninh Bình tới lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy, từ Hà Nội đến Ninh Bình. Đây là vùng phát triển kinh tế chính và là động lực phát triển KTXH của tỉnh. Trong vùng này phát triển công nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực và dịch vụ-đô thị theo mô hình đô thị nén; đảm bảo hài hoà giữa không gian sống, sản xuất mà trung tâm là thành phố Phủ Lý.
- Vùng phát triển du lịch: Nằm dọc theo lưu vực sông Đáy, sông Châu; Kết nối các khu, điểm du lịch chính trong tỉnh với chùa Hương - thành phố Phủ Lý - ra sông Hồng. Hình thành dải cây xanh mặt nước liên hoàn gắn với các sản phẩm du lịch sinh thái nghỉ dưỡng - lịch sử - văn hóa, làng nghề và sản phẩm đặc sản nông nghiệp của vùng. Tạo thành trục ngang (Đông - Tây) phát triển kinh tế - du lịch - dịch vụ của vùng.
- Vùng phát triển công nghiệp VLXD (vùng núi đá phía Tây, trên địa bàn huyện Thanh Liêm, Kim Bảng): Khai thác tốt tiềm năng sẵn có để phát triển công nghiệp xi măng và VLXD gắn với bảo vệ môi trường cảnh quan.
- Vùng phát triển nông nghiệp: Bao gồm các khu vực còn lại. Vùng này chủ yếu phát triển nông nghiệp gắn với phát triển nông nghiệp công nghệ cao, tạo ra các sản phẩm có tính hàng hóa, phục vụ nhu cầu trong và ngoài tỉnh.
5.2. Phân vùng chức năng và tổ chức không gian vùng:
- Các tuyến và khu du lịch:
+ Các tuyến du lịch nội tỉnh được kết nối với các điểm cảnh quan, di tích lịch sử, làng nghề, kết nối với khu du lịch Tràng An (Ninh Bình), Chùa Hương (Hà Nội), Đền Trần (Nam Định), Quan Sơn (Thanh Hóa), Phố Hiến (Hưng Yên), với Thủ đô Hà Nội và với du lịch biển.
- Phát triển và hình thành các điểm du lịch trọng tâm trong tỉnh như khu du lịch Tam Chúc Ba Sao, trung tâm lễ hội Đền Trần Thương, Ngũ Động Thi Sơn, điểm du lịch sinh thái và vui chơi giải trí Hồ Ba Hang, cùng các điểm văn hóa lịch sử, lễ hội truyền thống của tỉnh Hà Nam.
- Các khu, cụm công nghiệp:
+ Hà Nam được xác định là vùng công nghiệp phía Nam của vùng thủ đô Hà Nội. Các khu công nghiệp được chia thành 2 vùng phát triển chính là vùng phía Bắc và vùng phía Nam của tỉnh. Hai vùng này đều nằm trên trục động lực phát triển. Trong đó chủ yếu phát triển công nghiệp sạch.
+ Tiểu vùng phía Tây sông Đáy phát triển công nghiệp VLXD trong đó xi măng là sản phẩm chủ lực đến năm 2020.
+ Các trung tâm huyện hình thành các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với quy mô từ 40ha đến 50 ha nhằm khai thác nguồn nhân lực sẵn có của địa phương.
- Các khu hành chính: Đến năm 2030 cấu trúc đơn vị hành chính của tỉnh sẽ bao gồm: 01 thành phố, 01 thị xã, 05 huyện và 11 thị trấn. Phủ Lý là trung tâm hành chính chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh.
- Các khu thương mại tập trung: Hình thành khu trung tâm thương mại đầu mối nông sản lớn trên trục động lực, nằm ở khu vực nhà ga đường sắt mới phía Đông đường cao tốc, thuận tiện về giao thông, đồng thời kết hợp với khu cảng nội địa có vai trò phát tuyến, điều hoà phân phối hàng hóa trong vùng và khu vực lân cận. Quy mô khoảng 100ha.
+ Tại thị trấn Vĩnh Trụ được định hướng phát triển thêm 1 khu trung tâm thương mại dịch vụ để phục vụ nhu cầu của khu vực phía Đông tỉnh với quy mô khoảng 20ha.
+ Tại thị xã Duy Hà được định hướng phát triển 1 khu trung tâm thương mại dịch vụ để phục vụ nhu cầu của khu vực phía Bắc tỉnh với quy mô khoảng 30ha.
+ Tại thị trấn Phố Cà được định hướng phát triển 1 khu trung tâm thương mại dịch vụ để phục vụ nhu cầu của khu vực phía Nam tỉnh với quy mô khoảng 20ha.
Ngoài ra, tại mỗi huyện, mỗi đô thị cũng được quy hoạch các trung tâm thương mại quy mô vừa và nhỏ để phục vụ nhu cầu của người dân trong khu vực đồng thời thúc đẩy du lịch, dịch vụ, sản xuất phát triển.
- Các khu giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, y tế vùng:
+ Các khu giáo dục đào tạo Tổ chức, phân bố các trường đào tạo trong vùng tạo động lực cho các đô thị phát triển và tạo điều kiện cho các trường đầu tư phát triển cơ sở đào tạo, khu nhà ở cho sinh viên theo mô hình môi trường đào tạo tiên tiến gắn kết với các dịch vụ đô thị hiện tại.
+ Các khu giáo dục đào tạo được phân bố chủ yếu ở phía Bắc tỉnh thuộc khu vực thành phố Phủ Lý và huyện Duy Tiên với tổng quy mô khoảng 1.247ha, trong đó khu đô thị đại học được quy hoạch nằm trong trục động lực phát triển có quy mô 1.000ha. Toàn tỉnh bố trí khoảng 20 trường đại học đào tạo đa ngành, trường cao đẳng chuyên nghiệp, dạy nghề và khoảng 10 trường trung cấp nghề.
+ Hệ thống y tế: Xây dựng các trung tâm y tế chất lượng cao quy mô vùng nhằm giảm sự quá tải các bệnh viện đầu ngành tại nội thành Hà Nội, đồng thời đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân trong vùng. Trung tâm y tế chất lượng cao có tính chất vùng được quy hoạch ở khu vực trung tâm thị xã Duy Hà với quy mô 200ha. Bệnh viện quốc tế Bình An ở thành phố Phủ Lý với quy mô 20ha (700 giường).
- Không gian hệ thống đô thị: Hình thành mạng lưới đô thị đa chức năng.
+ Đô thị trung tâm cấp tỉnh:
Thành phố Phủ Lý: Là đô thị đối trọng phía Nam của vùng thủ đô Hà Nội, là đô thị trung tâm tỉnh, trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh. Dự kiến đến trước năm 2020 cơ bản đáp ứng các tiêu chí đô thị loại II.
Phía Đông Bắc tỉnh hình thành thị xã Duy Hà, là đô thị công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, thương mại, trung tâm đào tạo và y tế (trên cơ sở sát nhập thị trấn Đồng Văn, thị trấn Hòa Mạc - huyện Duy Tiên). Dự kiến đến năm 2030 lên đô thị loại III.
+ Đô thị trung tâm cấp huyện: Đến năm 2030 toàn tỉnh có 16 đô thị trung tâm cấp huyện bao gồm: Thị trấn Quế, thị trấn Ba Sao, thị trấn Tượng Lĩnh, thị trấn Nhật Tân - huyện Kim Bảng; Thị trấn Bình Mỹ, thị trấn Đô Hai, thị trấn Chợ Sông, thị trấn Ba Hàng - huyện Bình Lục; Thị trấn Vĩnh Trụ, thị trấn Nhân Hậu, thị trấn Nhân Mỹ, hình thành thị trấn mới tại khu vực nút giao giữa đường ĐT 499 và tuyến đường đi Hưng Yên trên địa bàn xã Đạo Lý - huyện Lý Nhân; Thị trấn Thanh Liêm, thị trấn Phố Cà, thị trấn Kiện Khê - huyện Thanh Liêm; Thị trấn Đọi Sơn, huyện Duy Tiên.
+ Mô hình phát triển hệ thống đô thị có hai phần chính được liên kết với nhau bằng hệ thống đường Quốc lộ và đường tỉnh.
Tập trung phát triển mạnh hành lang động lực kinh tế dọc theo Quốc lộ 1A và đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, đồng thời kết hợp chuỗi đô thị dọc theo quốc lộ 38. Chuỗi và dải đô thị này được tạo lập bởi 2 đô thị trọng tâm là Phủ Lý và thị xã Duy Hà.
Hệ thống các đô thị trung tâm huyện và chuyên ngành nằm trên phần địa bàn còn lại tạo thành mạng lưới hỗ trợ cho vùng kinh tế động lực của tỉnh đồng thời đảm bảo yêu cầu phục vụ trên địa bàn, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa trên địa bàn toàn tỉnh.
- Không gian hệ thống khu dân cư nông thôn.
+ Các khu dân cư nông thôn sẽ được phát triển duy trì sự ổn định của hệ thống dân cư sẵn có. Đồng thời phát triển các khu vực dân cư mở rộng (các khu giãn dân, các trung tâm xã), nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại. Đối với các điểm dân cư nằm trong hành lang du lịch: Các lô đất ở thường có quy mô khá lớn từ 250-500m2/lô. Để phát triển du lịch thì quy mô các lô đất này cần được giữ nguyên để phát triển các loại hình trồng cây đặc sản kết hợp mô hình sinh thái. Đối với các khu vực làng nghề: cần được bảo tồn và phát triển để có thể kết hợp phát triển du lịch.
5.3. Các trục hành lang và cực phát triển của vùng.
- Trục hành lang kinh tế Bắc Nam của tỉnh: Là trục phát triển kinh tế chủ đạo, chạy dọc từ phía Bắc tới phía Nam của tỉnh theo trục quốc lộ 1A và trục đường cao tốc đi qua các đô thị Đồng Văn, Phủ Lý, Thanh Liêm. Trên trục tập trung phát triển các khu công nghiệp, đào tạo, dịch vụ thương mại và đô thị.
- Hành lang xanh Đông Tây: Nhằm dành quỹ đất và kết hợp với hành lang sinh thái, các khu vực nghiên cứu phục vụ nông nghiệp. Giới thiệu các mô hình truyền thống của Việt Nam trong thời đại mới. Đồng thời, trong hành lang này cũng phát triển một trục du lịch nối từ sông Đáy qua Phủ Lý tới sông Châu.
- Các vùng phát triển kinh tế.
+ Tiểu vùng phía Tây Bắc: gồm các huyện Duy Tiên, Kim Bảng, Thanh Liêm tập trung phát triển công nghiệp, khu công nghiệp tập trung và phát triển du lịch để tận dụng các lợi thế về địa hình, cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý và hệ thống giao thông.
+ Tiểu vùng phía Đông Nam: gồm các huyện Bình Lục, Lý Nhân và một phần huyện Thanh Liêm tập trung phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và du lịch sinh thái.
+ Tiểu vùng trung tâm thành phố Phủ Lý: phát triển thương mại dịch vụ, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển đô thị, dịch vụ đô thị.