Document: Điều 7 Thông tư 33/2010/TT-BTNMT thăm dò phân cấp trữ lượng tài nguyên mới nhất

Type: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "09/12/2010", "sign_number": "33/2010/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "09/12/2010", "sign_number": "33/2010/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "09/12/2010", "sign_number": "33/2010/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "09/12/2010", "sign_number": "33/2010/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "09/12/2010", "sign_number": "33/2010/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 7 Thông tư 33/2010/TT-BTNMT thăm dò phân cấp trữ lượng tài nguyên mới nhất có nội dung như sau:

Điều 7. Yêu cầu về mức độ nghiên cứu và khoanh nối cấp trữ lượng 122
1. Mức độ nghiên cứu địa chất
a) Phải xác định cơ bản điều kiện thế nằm, hình dạng của thân quặng sắt, cũng như sự có mặt của các đứt gãy làm dịch chuyển quặng;
b) Phải phát hiện đầy đủ các dạng, các kiểu tự nhiên chính của quặng sắt. Tuy nhiên, có thể khoanh định chưa chi tiết sự phân bố của chúng trong không gian;
c) Phải xác định được chiều dày trung bình của thân quặng sắt, số lượng các lớp đá kẹp không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng bên trong thân quặng sắt nhưng chưa đòi hỏi khoanh nối chúng một cách chính xác trong không gian;
d) Chất lượng quặng sắt đã được khẳng định một cách tin cậy và thỏa mãn chỉ tiêu tính trữ lượng cho từng khối; đã phân chia được các kiểu, các hạng công nghiệp của quặng sắt nhưng chưa yêu cầu khoanh định chính xác diện phân bố của chúng; các tính chất công nghệ của quặng sắt được nghiên cứu đến mức cho phép xác định được sơ đồ công nghệ chế biến quặng với việc thu hồi tổng hợp hàm lượng các thành phần có giá trị công nghiệp trong quặng;
đ) Đặc điểm địa chất thủy văn, địa chất công trình và điều kiện kỹ thuật khai thác mỏ phải được nghiên cứu tới mức cho phép xác định được số lượng các tầng chứa nước và mức độ giàu nước của chúng, dự kiến được lượng nước có khả năng chảy van công trình khai thác, xác định được thể tích đá bóc mặc dù chưa xác định chi tiết sự phân bố của chúng trên diện tích mỏ;
e) Mức độ tin cậy của trữ lượng bảo đảm tối thiểu 50%.
2. Khoanh nối ranh giới tính trữ lượng
Ranh giới tính trữ lượng được khoanh định trong phạm vi các công trình thăm dò và kết quả lấy mẫu chi tiết tại các công trình. Đối với các mỏ có cấu trúc địa chất không phức tạp, chiều dày và chất lượng tương đối ổn định được phép ngoại suy theo tài liệu địa chất, địa vật lý từ công trình gặp quặng hoặc từ ranh giới trữ lượng cấp cao hơn. Khoảng cách ngoại suy không được vượt quá một phần hai khoảng cách giữa các công trình thăm dò đã xác định cho cấp trữ lượng này.
3. Mức độ nghiên cứu đầu tư xây dựng công trình mỏ và Mức độ hiệu quả kinh tế thực hiện theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 6 của Thông tư này.

Content:
Điều 7. Yêu cầu về mức độ nghiên cứu và khoanh nối cấp trữ lượng 122
1. Mức độ nghiên cứu địa chất
a) Phải xác định cơ bản điều kiện thế nằm, hình dạng của thân quặng sắt, cũng như sự có mặt của các đứt gãy làm dịch chuyển quặng;
b) Phải phát hiện đầy đủ các dạng, các kiểu tự nhiên chính của quặng sắt. Tuy nhiên, có thể khoanh định chưa chi tiết sự phân bố của chúng trong không gian;
c) Phải xác định được chiều dày trung bình của thân quặng sắt, số lượng các lớp đá kẹp không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng bên trong thân quặng sắt nhưng chưa đòi hỏi khoanh nối chúng một cách chính xác trong không gian;
d) Chất lượng quặng sắt đã được khẳng định một cách tin cậy và thỏa mãn chỉ tiêu tính trữ lượng cho từng khối; đã phân chia được các kiểu, các hạng công nghiệp của quặng sắt nhưng chưa yêu cầu khoanh định chính xác diện phân bố của chúng; các tính chất công nghệ của quặng sắt được nghiên cứu đến mức cho phép xác định được sơ đồ công nghệ chế biến quặng với việc thu hồi tổng hợp hàm lượng các thành phần có giá trị công nghiệp trong quặng;
đ) Đặc điểm địa chất thủy văn, địa chất công trình và điều kiện kỹ thuật khai thác mỏ phải được nghiên cứu tới mức cho phép xác định được số lượng các tầng chứa nước và mức độ giàu nước của chúng, dự kiến được lượng nước có khả năng chảy van công trình khai thác, xác định được thể tích đá bóc mặc dù chưa xác định chi tiết sự phân bố của chúng trên diện tích mỏ;
e) Mức độ tin cậy của trữ lượng bảo đảm tối thiểu 50%.
2. Khoanh nối ranh giới tính trữ lượng
Ranh giới tính trữ lượng được khoanh định trong phạm vi các công trình thăm dò và kết quả lấy mẫu chi tiết tại các công trình. Đối với các mỏ có cấu trúc địa chất không phức tạp, chiều dày và chất lượng tương đối ổn định được phép ngoại suy theo tài liệu địa chất, địa vật lý từ công trình gặp quặng hoặc từ ranh giới trữ lượng cấp cao hơn. Khoảng cách ngoại suy không được vượt quá một phần hai khoảng cách giữa các công trình thăm dò đã xác định cho cấp trữ lượng này.
3. Mức độ nghiên cứu đầu tư xây dựng công trình mỏ và Mức độ hiệu quả kinh tế thực hiện theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 6 của Thông tư này.