Document: Khoản 8 Điều 1 Quyết định 1233/QĐ-UBND phê duyệt dự án Quy hoạch sản xuất nông, lâm

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Điện Biên", "promulgation_date": "07/12/2011", "sign_number": "1233/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Văn Nhân", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Điện Biên", "promulgation_date": "07/12/2011", "sign_number": "1233/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Văn Nhân", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Điện Biên", "promulgation_date": "07/12/2011", "sign_number": "1233/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Văn Nhân", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Điện Biên", "promulgation_date": "07/12/2011", "sign_number": "1233/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Văn Nhân", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Điện Biên", "promulgation_date": "07/12/2011", "sign_number": "1233/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Văn Nhân", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 8 Điều 1 Quyết định 1233/QĐ-UBND phê duyệt dự án Quy hoạch sản xuất nông, lâm

Điều 1. Phê duyệt dự án Quy hoạch sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và sắp xếp bố trí dân cư huyện Điện Biên Đông đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu như sau:
...
8. Hiệu quả đầu tư dự án
a. Hiệu quả kinh tế
- Sản lượng lương thực toàn huyện từ 28.471 tấn năm 2009 lên 36.579 tấn năm 2015 và lên 40.101 tấn năm 2020. Trong đó: Sản lượng lúa từ 15.681 tấn năm 2009 lên 20.071 tấn năm 2015 và lên 21.953 tấn. Sản lượng ngô từ 1.680 tấn năm 2009 lên 2.150 tấn năm 2015 và lên 2.352 tấn năm 2020, còn lại là các loại khác như sắn, khoai...
- Sản lượng đậu tương từ 2.274 tấn năm 2009 lên 2.558 tấn năm 2015 và lên 4.121 tấn vào năm 2020.
- Diện tích chè 76 ha năm 2009 lên 317 ha năm 2015 và lên 421ha năm 2020. Sản lượng chè từ 20 tấn năm 2009 lên 120 tấn năm 2015 và 164 tấn vào năm 2020. Đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
- Đàn trâu, bò từ 21.250 con năm 2009 tăng lên 29.300 con năm 2015 và lên 35.300 con năm 2020 và cho sản lượng thịt trâu, bò hơi từ 206 tấn năm 2009 lên 439 tấn năm 2015 và 604 tấn vào năm 2020.
- Đàn lợn từ 36.030 con năm 2015 lên 49.264 con năm 2015 và lên 59.570 con năm 2020. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng từ 1.826 tấn năm 2009 lên 2.530 tấn năm 2015 và 2.976 tấn năm 2020.
- Đàn gia cầm từ 150 ngàn con năm 2009 lên 197,5 ngàn con năm 2015 và lên 252 ngàn con năm 2020. Sản lượng thịt gia cầm 131 tấn năm 2009 lên 171 tấn năm 2015 và lên 220 tấn vào năm 2020.
- Diện tích rừng trồng trong 11 năm được 13.219 ha. Trong đó: Rừng phòng hộ được 7.148 ha, Rừng sản xuất 6.071ha. Khoanh nuôi tái sinh thành rừng tự nhiên 9751 ha, trong đó thành rừng tự nhiên phòng hộ: 9.751ha.
Diện tích nuôi trồng thủy sản từ 121 ha năm 2009 lên 163 năm 2015 và lên 202 ha năm 2020. Sản lượng thủy sản (cả nuôi trồng và đánh bắt) từ 181 tấn năm 2009 lên 243 tấn năm 2015 và lên 341 tấn năm 2020.
- Giá trị sản xuất ngành nông lâm thủy sản tính theo đơn giá năm 2009 tăng từ 22,7 tỷ đồng năm 2009 lên 63 tỷ năm 2015 và lên 94 tỷ đồng năm 2020. Thu nhập bình quân đầu người /năm từ 4,7 triệu năm 2009 lên 10 triệu năm 2015 và lên 14 triệu năm 2020, theo đơn giá năm 2009.
b. Hiệu quả môi trường
- Hình thành các khu dân cư gắn với sản xuất nông nghiệp ổn định góp phần bảo vệ diện tích rừng hiện có, hạn chế và tiến tới chấm dứt đốt phá rừng.
- Trong công tác khuyến nông xây dựng các mô hình sản xuất giúp cho người dân áp dụng các biện pháp canh tác trên đất dốc, trồng các loại cây lâu năm (cà phê, cao su). Có tác dụng giảm sự rửa trôi, xói mòn đất, bảo vệ nguồn sinh thuỷ trong vùng.
- Trong công tác khuyến lâm xây dựng mô hình khoanh nuôi làm giàu rừng tự nhiên, rừng phòng hộ đầu nguồn, mô hình trồng cây phân tán góp phần tăng độ che phủ của rừng bảo vệ rừng đầu nguồn.
- Tăng độ che phủ của rừng từ 34,5% năm 2009 lên 52% vào năm 2020, hạn chế các tác hại do thiên tai gây ra như: chống xói mòn, rửa trôi, điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân, đảm bảo phát triển bền vững.
c. Hiệu quả về xã hội
- Thu hút thêm lực lượng lao động lớn lên đến hàng ngàn người góp phần phân bố lại lực lượng lao động của huyện, tỉnh và các các vùng lân cận.
- Bố trí xắp xếp lại dân cư theo quy hoạch gắn với đất sản xuất, và xây dựng cơ sở hạ tầng góp phần ổn định trực tiếp đồng bào dân tộc tại chỗ, chấn chỉnh hiện tượng di cư tự do, phá rừng làm nương rẫy, đồng thời hình thành các điểm dân cư mới, cùng với các điểm dân cư cũ tại chỗ phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
- Thực hiện xoá đói giảm nghèo nhanh và bền vững cho nhân dân các xã của huyện Điện Biên Đông, giúp cho người dân có điều kiện tốt hơn về ăn, ở, học hành, khám chữa bệnh và các phúc lợi công cộng khác.
- Kết quả áp dụng và chuyển giao công nghệ vào sản xuất nông nghiệp đã tạo cho người nông dân chủ động đổi mới phương thức canh tác theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng nông phẩm và sản xuất phải luôn gắn với thị trường tiêu thụ, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Content:
Hiệu quả đầu tư dự án
a. Hiệu quả kinh tế
- Sản lượng lương thực toàn huyện từ 28.471 tấn năm 2009 lên 36.579 tấn năm 2015 và lên 40.101 tấn năm 2020. Trong đó: Sản lượng lúa từ 15.681 tấn năm 2009 lên 20.071 tấn năm 2015 và lên 21.953 tấn. Sản lượng ngô từ 1.680 tấn năm 2009 lên 2.150 tấn năm 2015 và lên 2.352 tấn năm 2020, còn lại là các loại khác như sắn, khoai...
- Sản lượng đậu tương từ 2.274 tấn năm 2009 lên 2.558 tấn năm 2015 và lên 4.121 tấn vào năm 2020.
- Diện tích chè 76 ha năm 2009 lên 317 ha năm 2015 và lên 421ha năm 2020. Sản lượng chè từ 20 tấn năm 2009 lên 120 tấn năm 2015 và 164 tấn vào năm 2020. Đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
- Đàn trâu, bò từ 21.250 con năm 2009 tăng lên 29.300 con năm 2015 và lên 35.300 con năm 2020 và cho sản lượng thịt trâu, bò hơi từ 206 tấn năm 2009 lên 439 tấn năm 2015 và 604 tấn vào năm 2020.
- Đàn lợn từ 36.030 con năm 2015 lên 49.264 con năm 2015 và lên 59.570 con năm 2020. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng từ 1.826 tấn năm 2009 lên 2.530 tấn năm 2015 và 2.976 tấn năm 2020.
- Đàn gia cầm từ 150 ngàn con năm 2009 lên 197,5 ngàn con năm 2015 và lên 252 ngàn con năm 2020. Sản lượng thịt gia cầm 131 tấn năm 2009 lên 171 tấn năm 2015 và lên 220 tấn vào năm 2020.
- Diện tích rừng trồng trong 11 năm được 13.219 ha. Trong đó: Rừng phòng hộ được 7.148 ha, Rừng sản xuất 6.071ha. Khoanh nuôi tái sinh thành rừng tự nhiên 9751 ha, trong đó thành rừng tự nhiên phòng hộ: 9.751ha.
Diện tích nuôi trồng thủy sản từ 121 ha năm 2009 lên 163 năm 2015 và lên 202 ha năm 2020. Sản lượng thủy sản (cả nuôi trồng và đánh bắt) từ 181 tấn năm 2009 lên 243 tấn năm 2015 và lên 341 tấn năm 2020.
- Giá trị sản xuất ngành nông lâm thủy sản tính theo đơn giá năm 2009 tăng từ 22,7 tỷ đồng năm 2009 lên 63 tỷ năm 2015 và lên 94 tỷ đồng năm 2020. Thu nhập bình quân đầu người /năm từ 4,7 triệu năm 2009 lên 10 triệu năm 2015 và lên 14 triệu năm 2020, theo đơn giá năm 2009.
b. Hiệu quả môi trường
- Hình thành các khu dân cư gắn với sản xuất nông nghiệp ổn định góp phần bảo vệ diện tích rừng hiện có, hạn chế và tiến tới chấm dứt đốt phá rừng.
- Trong công tác khuyến nông xây dựng các mô hình sản xuất giúp cho người dân áp dụng các biện pháp canh tác trên đất dốc, trồng các loại cây lâu năm (cà phê, cao su). Có tác dụng giảm sự rửa trôi, xói mòn đất, bảo vệ nguồn sinh thuỷ trong vùng.
- Trong công tác khuyến lâm xây dựng mô hình khoanh nuôi làm giàu rừng tự nhiên, rừng phòng hộ đầu nguồn, mô hình trồng cây phân tán góp phần tăng độ che phủ của rừng bảo vệ rừng đầu nguồn.
- Tăng độ che phủ của rừng từ 34,5% năm 2009 lên 52% vào năm 2020, hạn chế các tác hại do thiên tai gây ra như: chống xói mòn, rửa trôi, điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân, đảm bảo phát triển bền vững.
c. Hiệu quả về xã hội
- Thu hút thêm lực lượng lao động lớn lên đến hàng ngàn người góp phần phân bố lại lực lượng lao động của huyện, tỉnh và các các vùng lân cận.
- Bố trí xắp xếp lại dân cư theo quy hoạch gắn với đất sản xuất, và xây dựng cơ sở hạ tầng góp phần ổn định trực tiếp đồng bào dân tộc tại chỗ, chấn chỉnh hiện tượng di cư tự do, phá rừng làm nương rẫy, đồng thời hình thành các điểm dân cư mới, cùng với các điểm dân cư cũ tại chỗ phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
- Thực hiện xoá đói giảm nghèo nhanh và bền vững cho nhân dân các xã của huyện Điện Biên Đông, giúp cho người dân có điều kiện tốt hơn về ăn, ở, học hành, khám chữa bệnh và các phúc lợi công cộng khác.
- Kết quả áp dụng và chuyển giao công nghệ vào sản xuất nông nghiệp đã tạo cho người nông dân chủ động đổi mới phương thức canh tác theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng nông phẩm và sản xuất phải luôn gắn với thị trường tiêu thụ, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.