Document: Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự 1988 7-LCT/HĐNN8

Type: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "28/06/1988", "sign_number": "7-LCT/HĐNN8", "signer": "Võ Chí Công", "type": "Luật"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "28/06/1988", "sign_number": "7-LCT/HĐNN8", "signer": "Võ Chí Công", "type": "Luật"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "28/06/1988", "sign_number": "7-LCT/HĐNN8", "signer": "Võ Chí Công", "type": "Luật"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "28/06/1988", "sign_number": "7-LCT/HĐNN8", "signer": "Võ Chí Công", "type": "Luật"}
Signer: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "28/06/1988", "sign_number": "7-LCT/HĐNN8", "signer": "Võ Chí Công", "type": "Luật"}

Full Text:
Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự 1988 7-LCT/HĐNN8 có nội dung như sau:

Điều 196. Nghị án.
1- Chỉ có thẩm phán và hội thẩm nhân dân mới có quyền nghị án. Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một. Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được để vào hồ sơ.
2- Trong trường hợp kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử vẫn giải quyết những vấn đề của vụ án theo trình tự quy định tại khoản 1 Điều này. Nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội thì Hội đồng xét xử tuyên bố vô tội; nếu thấy việc rút truy tố không có căn cứ thì quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên.
3- Khi nghị án, chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà.
4- Khi nghị án phải có biên bản ghi lại các ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử.

Content:
Điều 196. Nghị án.
1- Chỉ có thẩm phán và hội thẩm nhân dân mới có quyền nghị án. Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một. Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được để vào hồ sơ.
2- Trong trường hợp kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử vẫn giải quyết những vấn đề của vụ án theo trình tự quy định tại khoản 1 Điều này. Nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội thì Hội đồng xét xử tuyên bố vô tội; nếu thấy việc rút truy tố không có căn cứ thì quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên.
3- Khi nghị án, chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà.
4- Khi nghị án phải có biên bản ghi lại các ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử.