Document: Điều 6 Quyết định 960-TTg định hướng dài hạn kế hoạch 5 năm 1996-2000 phát triển kinh tế - xã hội miền núi phía Bắc

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/12/1996", "sign_number": "960-TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/12/1996", "sign_number": "960-TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/12/1996", "sign_number": "960-TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/12/1996", "sign_number": "960-TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "24/12/1996", "sign_number": "960-TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 6 Quyết định 960-TTg định hướng dài hạn kế hoạch 5 năm 1996-2000 phát triển kinh tế - xã hội miền núi phía Bắc có nội dung như sau:

Điều 6. Phát triển giáo dục, y tế, văn hoá.
1- Giáo dục: tập trung một số nội dung chủ yếu sau đây:
- Tập trung đầu tư xây dựng các trường lớp theo hướng trường ra trường, lớp ra lớp, trước hết là trường tiểu học để đến năm 2.000 đạt 100% số xã có trường tiểu học. Khuyến khích việc mở rộng các lớp nội trú, bán trú đối với những nơi dân sống phân tán theo phương thức bán công "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Đối với những nơi chưa có điều kiện xây dựng kiến cố thì tận dụng nguyên liệu tại chố như gỗ, tre, nữa, lá gồi để xây dựng nhưng phải khang trang, gọn đẹp ấm về mùa đông, mát về mùa hè và nhất thiết mỗi trường học phải có sân chơi, cây xanh tạo cảnh quan môi trường.
- Mở rộng mô hình các trường dân tộc nội trú ở tỉnh, huyện để đào tạo cán bộ từ con em đồng bào dân tộc đáp ứng được yêu cầu phục vụ trước mắt và lâu dài ở địa phương. Đổi mới nội dung đào tạo gắn việc học văn hoá với dạy nghề cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội miền núi.
- Bộ giáo dục và Đào tạo nghiên cứu mô hình trường đại học kết hợp với các trường trung cấp dạy nghề theo hướng đa ngành để đào tạo cán bộ có trình độ đáp ứng yêu cầu tại chỗ cho vùng.
2. Về y tế:
Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và nâng cao chất lượng phòng bệnh chữa bệnh của các cơ sở y tế huyện, Trung tâm cụm xã, cung cấp đủ muôi i ốt cho mọi người dân để giảm bệnh bướu cổ xuống dưới 20% khống chế sốt rét, thanh toán bệnh phong, thực hiện rộng rãi kế hoạch hoá gia đình.
3. Truyền thanh, truyền hình là lĩnh vực có thể thực hiện sớm nhất để thu hẹp khoảng cách miền núi và các vùng khác trong cả nước.
- Ưu tiên chương trình phủ sóng truyền thanh, truyền hình, thực hiện trước ở vùng cao, vùng sâu, vùng biên giới, lựa chọn thiết bị phù hợp xây dựng các trạm phát hình, phát thanh có hiệu quả, phục vụ thiết thực cho đồng bào ở các tiểu vùng, trung tâm cụm xã, các tụ điểm dân cư.
- Đài phát thanh, phát hình Trung ương và địa phương, cần tăng thời lượng phát bằng tiếng dân tộc về những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
4. Khuyến khích việc phục hồi các lễ hội truyền thống mang tính bản sắc dân tộc, các hình thức giao lưu văn hoá như chợ phiên, tết cổ truyền, hội hè ... nhưng phải chống các hủ tục lạc hậu và mê tín di đoan, các tệ nạn xã hội, nhất là việc chuyển hướng sản xuất thay thế cây thuốc phiện để bài trừ tệ nạn nghiện hút trong đồng bào, nhằm xây dựng bản, làng văn minh, văn hoá và mang tính bản sắc dân tộc.

Content:
Điều 6. Phát triển giáo dục, y tế, văn hoá.
1- Giáo dục: tập trung một số nội dung chủ yếu sau đây:
- Tập trung đầu tư xây dựng các trường lớp theo hướng trường ra trường, lớp ra lớp, trước hết là trường tiểu học để đến năm 2.000 đạt 100% số xã có trường tiểu học. Khuyến khích việc mở rộng các lớp nội trú, bán trú đối với những nơi dân sống phân tán theo phương thức bán công "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Đối với những nơi chưa có điều kiện xây dựng kiến cố thì tận dụng nguyên liệu tại chố như gỗ, tre, nữa, lá gồi để xây dựng nhưng phải khang trang, gọn đẹp ấm về mùa đông, mát về mùa hè và nhất thiết mỗi trường học phải có sân chơi, cây xanh tạo cảnh quan môi trường.
- Mở rộng mô hình các trường dân tộc nội trú ở tỉnh, huyện để đào tạo cán bộ từ con em đồng bào dân tộc đáp ứng được yêu cầu phục vụ trước mắt và lâu dài ở địa phương. Đổi mới nội dung đào tạo gắn việc học văn hoá với dạy nghề cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội miền núi.
- Bộ giáo dục và Đào tạo nghiên cứu mô hình trường đại học kết hợp với các trường trung cấp dạy nghề theo hướng đa ngành để đào tạo cán bộ có trình độ đáp ứng yêu cầu tại chỗ cho vùng.
2. Về y tế:
Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và nâng cao chất lượng phòng bệnh chữa bệnh của các cơ sở y tế huyện, Trung tâm cụm xã, cung cấp đủ muôi i ốt cho mọi người dân để giảm bệnh bướu cổ xuống dưới 20% khống chế sốt rét, thanh toán bệnh phong, thực hiện rộng rãi kế hoạch hoá gia đình.
3. Truyền thanh, truyền hình là lĩnh vực có thể thực hiện sớm nhất để thu hẹp khoảng cách miền núi và các vùng khác trong cả nước.
- Ưu tiên chương trình phủ sóng truyền thanh, truyền hình, thực hiện trước ở vùng cao, vùng sâu, vùng biên giới, lựa chọn thiết bị phù hợp xây dựng các trạm phát hình, phát thanh có hiệu quả, phục vụ thiết thực cho đồng bào ở các tiểu vùng, trung tâm cụm xã, các tụ điểm dân cư.
- Đài phát thanh, phát hình Trung ương và địa phương, cần tăng thời lượng phát bằng tiếng dân tộc về những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
4. Khuyến khích việc phục hồi các lễ hội truyền thống mang tính bản sắc dân tộc, các hình thức giao lưu văn hoá như chợ phiên, tết cổ truyền, hội hè ... nhưng phải chống các hủ tục lạc hậu và mê tín di đoan, các tệ nạn xã hội, nhất là việc chuyển hướng sản xuất thay thế cây thuốc phiện để bài trừ tệ nạn nghiện hút trong đồng bào, nhằm xây dựng bản, làng văn minh, văn hoá và mang tính bản sắc dân tộc.