Document: Điều 2 Quyết định 4445/2009/QĐ-UBND quản lý và điều hành Ngân sách 2010 Phú Thọ

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "16/12/2009", "sign_number": "4445/2009/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Doãn Khánh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "16/12/2009", "sign_number": "4445/2009/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Doãn Khánh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "16/12/2009", "sign_number": "4445/2009/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Doãn Khánh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "16/12/2009", "sign_number": "4445/2009/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Doãn Khánh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "16/12/2009", "sign_number": "4445/2009/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Doãn Khánh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định 4445/2009/QĐ-UBND quản lý và điều hành Ngân sách 2010 Phú Thọ có nội dung như sau:

Điều 2. Công tác tổ chức quản lý, điều hành ngân sách Nhà nước:
I. Về tổ chức quản lý thu ngân sách:
Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan Thuế, Hải quan và các cơ quan liên quan có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện ngay từ đầu năm công tác thu ngân sách, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định của pháp luật.
+ Theo dõi sát tình hình SXKD, đôn đốc các doanh nghiệp nộp tờ khai thuế, tờ khai quyết toán thuế và nộp các khoản thuế đúng quy định; tập trung phân tích nợ đọng và tăng cường chỉ đạo đôn đốc thu nộp hết số phát sinh và nợ đọng có khả năng thu vào NSNN.
+ Chỉ đạo đôn đốc người nộp thuế thực hiện kê khai thuế kịp thời, nộp đầy đủ số thuế phát sinh vào ngân sách; xử lý nghiêm các trường hợp nợ đọng, chậm nộp, dây dưa nộp thuế. Tăng cường kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, chấp hành pháp luật thuế của các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh, ngăn chặn kịp thời hành vi khai man, trốn thuế.
+ Đẩy mạnh thực hiện các biện pháp quản lý thu nộp phí và lệ phí trên địa bàn, đặc biệt là phí Bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản theo quy định tại Nghị định số 63/2008/NĐ-CP ngày 13/05/2008 của Chính phủ và Nghị quyết số 164/2008/NQ-HĐND ngày 16/12/2008 của HĐND tỉnh Phú Thọ.
Tập trung kiểm tra, rà soát các tổ chức, cá nhân thực tế có hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn. Đồng thời yêu cầu các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp phí thực hiện nộp phí Bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản và thuế tài nguyên vào NSNN theo đúng quy định; Xử lý nghiêm những trường hợp cố tình không kê khai, nộp phí.
- Tiếp tục thực hiện việc thu phí, lệ phí theo đúng quy định của pháp luật, các địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện Chỉ thị số 24/2007/CT-TTg ngày 01/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chấn chỉnh việc thực hiện các quy định của pháp luật về phí, lệ phí, chính sách huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân.
2. Cục Thuế tỉnh, Trung tâm phát triển quỹ đất và các huyện, thành, thị và các cơ quan liên quan rà soát xác định rõ các dự án thực hiện thu đấu giá tiền sử dụng đất từ các dự án, công trình trọng điểm (khu đô thị mới, các khu công nghiệp...) do tỉnh tập trung quản lý thu từ năm 2009 trở về trước tiếp tục thực hiện trong năm 2010 để hình thành Quỹ phát triển đất của tỉnh theo quy định tại Nghị định 69/NĐ-CP của Chính phủ.
II. Về quản lý, điều hành chi ngân sách:
1. Tổ chức điều hành dự toán chi ngân sách nhà nước:
a) Chi đầu tư XDCB:
- Đối với các công trình, dự án thuộc nguồn vốn đầu tư XDCB tập trung, nguồn bổ sung có mục tiêu theo dự toán đầu năm, KBNN thực hiện thanh toán vốn đầu tư CDCB theo Quyết định số 4039/QĐ-BTC ngày 28/12/2007 của Bộ Tài chính.
- Đối với các dự án và công trình thuộc nguồn vốn của ngân sách Trung ương bổ sung có mục tiêu trong năm; nguồn vốn tạm ứng của Ngân sách trung ương và các nguồn vốn khác của ngân sách địa phương: Căn cứ vào quyết định phân bổ của UBND tỉnh, căn cứ vào báo cáo tiến độ khối lượng thực hiện của Chủ đầu tư, của KBNN tỉnh; Sở Tài chính thực hiện chuyển vốn sang KBNN tỉnh theo danh mục công trình.
- Đối với các dự án, công trình do UBND cấp huyện, xã làm chủ đầu tư, căn cứ vào dự toán đã được phân bổ tiến bộ thực hiện, Sở Tài chính chuyển vốn từ ngân sách tỉnh bổ sung có mục tiêu cho ngân sách huyện, thành, thị.
- Đối với nguồn vốn từ tiền sử dụng đất (bao gồm cả đấu giá đất) định kỳ quý, hoặc 6 tháng theo yêu cầu điều hành của UBND các cấp, cơ quan tài chính chủ trì xác định số thu nộp thực tế vào ngân sách, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư (đối với ngân sách cấp tỉnh) và các cơ quan liên quan trình UBND cùng cấp phân bổ cụ thể các danh mục, dự án theo nguyên tắc phân bổ và giao dự toán ở Điều 1 quy định tại Quyết định này.Việc cấp phát và thanh toán được thực hiện như đối với nguồn vốn bổ sung có mục tiêu ở trên.
b) Chi thường xuyên:
- Trường hợp số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp không đạt dự toán, Ủy ban nhân dân xây dựng phương án điều chỉnh giảm chi tương ứng, tập trung cắt giảm hoặc giãn, hoãn những nhiệm vụ chi chưa thực sự cấp thiết báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
- Đối với 10% nguồn thu đấu giá tiền sử dụng đất cân đối ngân sách cấp tỉnh đảm bảo các nhiệm vụ sau: (1) chi kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng đất; (2) Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh (3) Đo đạc, lập bản đồ địa chính và xây dựng hồ sơ địa chính; (4) Điều tra, đánh giá... các vùng ngập nước; và (5) thực hiện xây dựng hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Dự toán chi thường xuyên ngân sách đã cân đối cho ngân sách cấp huyện 50% nhu cầu kinh phí đóng bảo hiểm y tế năm 2010 cho các đối tượng được hưởng theo Nghị định 67/NĐ-CP (đảm bảo các huyện, thành, thị có nguồn kinh phí thực hiện trong 6 tháng đầu năm 2010). Giao Sở Tài chính tính toán, xác định nhu cầu kinh phí thực hiện, báo cáo UBND tỉnh, Bộ Tài chính cấp bổ sung có mục tiêu cho các đơn vị.
- Trong năm nếu phát hiện các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách không đúng chế độ, chính sách, nhất là các chính sách xã hội, xóa đói giảm nghèo... ủy ban nhân dân các huyện, thành, thị cần có biện pháp xử lý kịp thời để đảm bảo các chính sách, chế độ được thực hiện đúng và hiệu quả cao.
2. Về thực hiện cấp phát, thanh toán kinh phí:
a) Đối với các đơn vị sử dụng ngân sách:
- Các khoản chi thanh toán cá nhân (lương, phụ cấp lương, trợ cấp xã hội...) đảm bảo thanh toán theo mức được hưởng hàng tháng của các đối tượng hưởng lương, trợ cấp từ ngân sách nhà nước, thực hiện việc chi trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương; Kho bạc Nhà nước phối hợp chặt chẽ với Ngân sách Nhà nước và các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán triển khai thực hiện nghiêm túc việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg ngày 24/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
- Những khoản chi có tính chất thời vụ hoặc chỉ phát sinh vào một số thời điểm như đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản có tính chất không thường xuyên khác thực hiện thanh toán theo tiến độ, khối lượng thực hiện theo chế độ quy định.
b) Năm 2010 tiếp tục thực hiện rút dự toán tại Kho bạc Nhà nước đối với các nhiệm vụ chi bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới thực hiện theo quy định như năm 2009. (Quy định tại Điểm 2 Mục II Thông tư số 115/2008/TT-BTC ngày 2/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điểm về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2009).
- Trường hợp đặc biệt cần tăng tiến độ rút dự toán, ủy ban nhân dân cấp huyện phải có văn bản đề nghị Sở Tài chính xem xét, quyết định.
- Đối với bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách dưới ở địa phương, căn cứ khả năng nguồn thu và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, ủy ban nhân dân cấp trên quy định mức rút dự toán hàng tháng của ngân sách cấp dưới cho phù hợp thực tế địa phương.
- Định kỳ hàng tháng, chậm nhất vào ngày 15 của tháng sau, Kho bạc Nhà nước tỉnh, huyện thực hiện tổng hợp, báo cáo cơ quan tài chính đồng cấp về kết quả rút dự toán chi bổ sung cân đối, bổ sung có mục tiêu của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới trong tháng trước theo quy định hiện hành.
3. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; phòng, chống tham nhũng và thực hiện công khai tài chính, ngân sách nhà nước:
+ Các cấp, các ngành và các đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện đầy đủ các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm và chống lãng phí. Đồng thời xử lý kịp thời, đầy đủ những sai phạm được phát hiện qua công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; làm rõ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân và thực hiện chế độ trách nhiệm đối với chủ trương đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước trong quản lý điều hành ngân sách khi để xảy ra thất thoát, lãng phí, sử dụng ngân sách sai chế độ, chính sách.
+ Cơ quan tài chính các cấp thực hiện chế độ công khai ngân sách nhà nước theo đúng quy định tại Thông tư số 03/2005/TT-BTC ngày 06/01/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với các cấp ngân sách Nhà nước và chế độ báo cáo tình hình thực hiện công khai tài chính, Thông tư số 54/2006/TT-BTC ngày 19/06/2006 của Bộ Tài chính về hướng dẫn Quy chế công khai tài chính đối với các khoản hỗ trợ trực tiếp của ngân sách Nhà nước đối với cá nhân, dân cư.
+ Các đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện việc công bố công khai theo đúng quy định tại Thông tư số 21/2005/TT-BTC ngày 22/3/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với các đơn vị dự toán ngân sách và các tổ chức được ngân sách Nhà nước hỗ trợ.
+ Các cơ quan, đơn vị được sử dụng nguồn vốn XDCB từ ngân sách Nhà nước thực hiện công khai theo quy định tại Thông tư số 10/2005/TT-BTC ngày 02/02/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với việc phân bổ, quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước.
+ Các cơ quan, đơn vị được giao quản lý các quỹ có nguồn từ ngân sách Nhà nước và các quỹ có nguồn từ các khoản đóng góp của nhân dân thực hiện công khai theo hướng dẫn tại Thông tư số 19/2005/TT/BTC ngày 11/03/2005 của Bộ Tài chính về việc công khai tài chính đối với các quỹ có nguồn từ ngân sách Nhà nước, và các quỹ có nguồn từ các khoản đóng góp của nhân dân.
Đồng thời để triển khai thực hiện Quyết định số 192/2004/QĐ-TTg ngày 16/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ, ngân sách Nhà nước cấp huyện, cấp xã và các đơn vị sử dụng ngân sách phải thực hiện chế độ báo cáo tình hình thực hiện quy chế công khai và gửi Sở Tài chính ngay sau khi thực hiện việc công khai dự toán ngân sách năm 2010 và quyết toán ngân sách năm 2008.

Content:
Điều 2. Công tác tổ chức quản lý, điều hành ngân sách Nhà nước:
I. Về tổ chức quản lý thu ngân sách:
Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan Thuế, Hải quan và các cơ quan liên quan có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện ngay từ đầu năm công tác thu ngân sách, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định của pháp luật.
+ Theo dõi sát tình hình SXKD, đôn đốc các doanh nghiệp nộp tờ khai thuế, tờ khai quyết toán thuế và nộp các khoản thuế đúng quy định; tập trung phân tích nợ đọng và tăng cường chỉ đạo đôn đốc thu nộp hết số phát sinh và nợ đọng có khả năng thu vào NSNN.
+ Chỉ đạo đôn đốc người nộp thuế thực hiện kê khai thuế kịp thời, nộp đầy đủ số thuế phát sinh vào ngân sách; xử lý nghiêm các trường hợp nợ đọng, chậm nộp, dây dưa nộp thuế. Tăng cường kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, chấp hành pháp luật thuế của các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh, ngăn chặn kịp thời hành vi khai man, trốn thuế.
+ Đẩy mạnh thực hiện các biện pháp quản lý thu nộp phí và lệ phí trên địa bàn, đặc biệt là phí Bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản theo quy định tại Nghị định số 63/2008/NĐ-CP ngày 13/05/2008 của Chính phủ và Nghị quyết số 164/2008/NQ-HĐND ngày 16/12/2008 của HĐND tỉnh Phú Thọ.
Tập trung kiểm tra, rà soát các tổ chức, cá nhân thực tế có hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn. Đồng thời yêu cầu các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp phí thực hiện nộp phí Bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản và thuế tài nguyên vào NSNN theo đúng quy định; Xử lý nghiêm những trường hợp cố tình không kê khai, nộp phí.
- Tiếp tục thực hiện việc thu phí, lệ phí theo đúng quy định của pháp luật, các địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện Chỉ thị số 24/2007/CT-TTg ngày 01/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chấn chỉnh việc thực hiện các quy định của pháp luật về phí, lệ phí, chính sách huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân.
2. Cục Thuế tỉnh, Trung tâm phát triển quỹ đất và các huyện, thành, thị và các cơ quan liên quan rà soát xác định rõ các dự án thực hiện thu đấu giá tiền sử dụng đất từ các dự án, công trình trọng điểm (khu đô thị mới, các khu công nghiệp...) do tỉnh tập trung quản lý thu từ năm 2009 trở về trước tiếp tục thực hiện trong năm 2010 để hình thành Quỹ phát triển đất của tỉnh theo quy định tại Nghị định 69/NĐ-CP của Chính phủ.
II. Về quản lý, điều hành chi ngân sách:
1. Tổ chức điều hành dự toán chi ngân sách nhà nước:
a) Chi đầu tư XDCB:
- Đối với các công trình, dự án thuộc nguồn vốn đầu tư XDCB tập trung, nguồn bổ sung có mục tiêu theo dự toán đầu năm, KBNN thực hiện thanh toán vốn đầu tư CDCB theo Quyết định số 4039/QĐ-BTC ngày 28/12/2007 của Bộ Tài chính.
- Đối với các dự án và công trình thuộc nguồn vốn của ngân sách Trung ương bổ sung có mục tiêu trong năm; nguồn vốn tạm ứng của Ngân sách trung ương và các nguồn vốn khác của ngân sách địa phương: Căn cứ vào quyết định phân bổ của UBND tỉnh, căn cứ vào báo cáo tiến độ khối lượng thực hiện của Chủ đầu tư, của KBNN tỉnh; Sở Tài chính thực hiện chuyển vốn sang KBNN tỉnh theo danh mục công trình.
- Đối với các dự án, công trình do UBND cấp huyện, xã làm chủ đầu tư, căn cứ vào dự toán đã được phân bổ tiến bộ thực hiện, Sở Tài chính chuyển vốn từ ngân sách tỉnh bổ sung có mục tiêu cho ngân sách huyện, thành, thị.
- Đối với nguồn vốn từ tiền sử dụng đất (bao gồm cả đấu giá đất) định kỳ quý, hoặc 6 tháng theo yêu cầu điều hành của UBND các cấp, cơ quan tài chính chủ trì xác định số thu nộp thực tế vào ngân sách, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư (đối với ngân sách cấp tỉnh) và các cơ quan liên quan trình UBND cùng cấp phân bổ cụ thể các danh mục, dự án theo nguyên tắc phân bổ và giao dự toán ở Điều 1 quy định tại Quyết định này.Việc cấp phát và thanh toán được thực hiện như đối với nguồn vốn bổ sung có mục tiêu ở trên.
b) Chi thường xuyên:
- Trường hợp số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp không đạt dự toán, Ủy ban nhân dân xây dựng phương án điều chỉnh giảm chi tương ứng, tập trung cắt giảm hoặc giãn, hoãn những nhiệm vụ chi chưa thực sự cấp thiết báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
- Đối với 10% nguồn thu đấu giá tiền sử dụng đất cân đối ngân sách cấp tỉnh đảm bảo các nhiệm vụ sau: (1) chi kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng đất; (2) Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh (3) Đo đạc, lập bản đồ địa chính và xây dựng hồ sơ địa chính; (4) Điều tra, đánh giá... các vùng ngập nước; và (5) thực hiện xây dựng hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Dự toán chi thường xuyên ngân sách đã cân đối cho ngân sách cấp huyện 50% nhu cầu kinh phí đóng bảo hiểm y tế năm 2010 cho các đối tượng được hưởng theo Nghị định 67/NĐ-CP (đảm bảo các huyện, thành, thị có nguồn kinh phí thực hiện trong 6 tháng đầu năm 2010). Giao Sở Tài chính tính toán, xác định nhu cầu kinh phí thực hiện, báo cáo UBND tỉnh, Bộ Tài chính cấp bổ sung có mục tiêu cho các đơn vị.
- Trong năm nếu phát hiện các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách không đúng chế độ, chính sách, nhất là các chính sách xã hội, xóa đói giảm nghèo... ủy ban nhân dân các huyện, thành, thị cần có biện pháp xử lý kịp thời để đảm bảo các chính sách, chế độ được thực hiện đúng và hiệu quả cao.
2. Về thực hiện cấp phát, thanh toán kinh phí:
a) Đối với các đơn vị sử dụng ngân sách:
- Các khoản chi thanh toán cá nhân (lương, phụ cấp lương, trợ cấp xã hội...) đảm bảo thanh toán theo mức được hưởng hàng tháng của các đối tượng hưởng lương, trợ cấp từ ngân sách nhà nước, thực hiện việc chi trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương; Kho bạc Nhà nước phối hợp chặt chẽ với Ngân sách Nhà nước và các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán triển khai thực hiện nghiêm túc việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg ngày 24/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
- Những khoản chi có tính chất thời vụ hoặc chỉ phát sinh vào một số thời điểm như đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản có tính chất không thường xuyên khác thực hiện thanh toán theo tiến độ, khối lượng thực hiện theo chế độ quy định.
b) Năm 2010 tiếp tục thực hiện rút dự toán tại Kho bạc Nhà nước đối với các nhiệm vụ chi bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới thực hiện theo quy định như năm 2009. (Quy định tại Điểm 2 Mục II Thông tư số 115/2008/TT-BTC ngày 2/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điểm về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2009).
- Trường hợp đặc biệt cần tăng tiến độ rút dự toán, ủy ban nhân dân cấp huyện phải có văn bản đề nghị Sở Tài chính xem xét, quyết định.
- Đối với bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách dưới ở địa phương, căn cứ khả năng nguồn thu và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, ủy ban nhân dân cấp trên quy định mức rút dự toán hàng tháng của ngân sách cấp dưới cho phù hợp thực tế địa phương.
- Định kỳ hàng tháng, chậm nhất vào ngày 15 của tháng sau, Kho bạc Nhà nước tỉnh, huyện thực hiện tổng hợp, báo cáo cơ quan tài chính đồng cấp về kết quả rút dự toán chi bổ sung cân đối, bổ sung có mục tiêu của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới trong tháng trước theo quy định hiện hành.
3. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; phòng, chống tham nhũng và thực hiện công khai tài chính, ngân sách nhà nước:
+ Các cấp, các ngành và các đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện đầy đủ các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm và chống lãng phí. Đồng thời xử lý kịp thời, đầy đủ những sai phạm được phát hiện qua công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; làm rõ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân và thực hiện chế độ trách nhiệm đối với chủ trương đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước trong quản lý điều hành ngân sách khi để xảy ra thất thoát, lãng phí, sử dụng ngân sách sai chế độ, chính sách.
+ Cơ quan tài chính các cấp thực hiện chế độ công khai ngân sách nhà nước theo đúng quy định tại Thông tư số 03/2005/TT-BTC ngày 06/01/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với các cấp ngân sách Nhà nước và chế độ báo cáo tình hình thực hiện công khai tài chính, Thông tư số 54/2006/TT-BTC ngày 19/06/2006 của Bộ Tài chính về hướng dẫn Quy chế công khai tài chính đối với các khoản hỗ trợ trực tiếp của ngân sách Nhà nước đối với cá nhân, dân cư.
+ Các đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện việc công bố công khai theo đúng quy định tại Thông tư số 21/2005/TT-BTC ngày 22/3/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với các đơn vị dự toán ngân sách và các tổ chức được ngân sách Nhà nước hỗ trợ.
+ Các cơ quan, đơn vị được sử dụng nguồn vốn XDCB từ ngân sách Nhà nước thực hiện công khai theo quy định tại Thông tư số 10/2005/TT-BTC ngày 02/02/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với việc phân bổ, quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước.
+ Các cơ quan, đơn vị được giao quản lý các quỹ có nguồn từ ngân sách Nhà nước và các quỹ có nguồn từ các khoản đóng góp của nhân dân thực hiện công khai theo hướng dẫn tại Thông tư số 19/2005/TT/BTC ngày 11/03/2005 của Bộ Tài chính về việc công khai tài chính đối với các quỹ có nguồn từ ngân sách Nhà nước, và các quỹ có nguồn từ các khoản đóng góp của nhân dân.
Đồng thời để triển khai thực hiện Quyết định số 192/2004/QĐ-TTg ngày 16/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ, ngân sách Nhà nước cấp huyện, cấp xã và các đơn vị sử dụng ngân sách phải thực hiện chế độ báo cáo tình hình thực hiện quy chế công khai và gửi Sở Tài chính ngay sau khi thực hiện việc công khai dự toán ngân sách năm 2010 và quyết toán ngân sách năm 2008.