Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 20/2005/QĐ-BGD&ĐT Đề án Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005 - 2010

Type: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục và Đào tạo", "promulgation_date": "24/06/2005", "sign_number": "20/2005/QĐ-BGD&ĐT", "signer": "Nguyễn Minh Hiển", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục và Đào tạo", "promulgation_date": "24/06/2005", "sign_number": "20/2005/QĐ-BGD&ĐT", "signer": "Nguyễn Minh Hiển", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục và Đào tạo", "promulgation_date": "24/06/2005", "sign_number": "20/2005/QĐ-BGD&ĐT", "signer": "Nguyễn Minh Hiển", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục và Đào tạo", "promulgation_date": "24/06/2005", "sign_number": "20/2005/QĐ-BGD&ĐT", "signer": "Nguyễn Minh Hiển", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục và Đào tạo", "promulgation_date": "24/06/2005", "sign_number": "20/2005/QĐ-BGD&ĐT", "signer": "Nguyễn Minh Hiển", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 20/2005/QĐ-BGD&ĐT Đề án Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005 - 2010

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005-2010”, với những nội dung như sau:
...
4. Các giải pháp và cơ chế chính sách đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục:
a. Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động và cung cấp thông tin về xã hội hoá giáo dục để nâng cao nhận thức cho toàn xã hội.
Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự chỉ đạo và quản lý của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp; phát huy vai trò của các tổ chức Công đoàn, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên tiền phong, Hội sinh viên, Hội Khuyến học và các đoàn thể, tổ chức xã hội khác huy động nguồn lực xã hội tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục.
Tuyên truyền sâu rộng chủ trương chính sách về xã hội hoá giáo dục để các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, các cơ sở giáo dục công lập, ngoài công lập và nhân dân có nhận thức đúng, đầy đủ, thực hiện có hiệu quả chủ trương xã hội hóa giáo dục.
Tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, làm rõ các vấn đề sở hữu, về tính chất hoạt động lợi nhuận và hoạt động phi lợi nhuận, về trách nhiệm xã hội của các tổ chức, về hình thức xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục.
b. Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách và quản lý nhà nước về giáo dục.
Để đẩy nhanh tiến độ
xã hội hoá, trước hết cần tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, đổi mới tư duy và phương thức quản lý. Nhanh chóng điều chỉnh, sửa đổi những cơ chế, chính sách, phương thức quản lý không phù hợp và kém hiệu quả. Ban hành những chính sách mới đáp ứng nhu cầu phát triển, tập trung vào các cơ chế, chính sách sau:
b1. Về chính sách đầu tư của nhà nước, huy động vốn, thuế và tín dụng:
Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực giáo dục. Đầu tư của Nhà nước tập trung cho các hướng trọng điểm, then chốt có tính chiến lược, không dàn trải; đặc biệt chú ý đến hiệu quả, đảm bảo vai trò chủ đạo của các trường công lập, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; ưu tiên những người có công, trợ giúp người nghèo, những người thuộc diện chính sách, những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Nghiên cứu xây dựng và từng bước thực hiện chính sách đấu thầu cung cấp dịch vụ giáo dục do nhà nước đặt hàng; khuyến khích các cơ sở thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển giáo dục.
Khuyến khích và thực hiện hỗ trợ ban đầu có thời hạn của nhà nước cho các cơ sở giáo dục công lập chuyển sang loại hình ngoài công lập; khuyến khích và hỗ trợ các cơ sở giáo dục ngoài công lập đăng ký hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận. Các cơ sở ngoài công lập được tham gia bình đẳng trong việc nhận thầu các dịch vụ nhà nước đặt hàng.
Thí điểm việc Nhà nước cho các trường ngoài công lập (nhất là các vùng khó khăn, vùng kém phát triển) thuê dài hạn cơ sở hạ tầng.
Ban hành quy định về việc các cơ sở giáo dục công lập hợp tác, liên kết với các ngành, địa phương, doanh nghiệp, cá nhân trong việc xây dựng cơ sở vật chất các cơ sở ngoài công lập được huy động vốn để đầu tư phát triển cơ sở vật chất và hoàn trả theo thoả thuận. Thí điểm huy động vốn của cán bộ nhân viên, thí điểm việc chuyển một số trường công lập sang loại hình dân lập hoặc cổ phần hoá khi đủ điều kiện.
Ban hành chính sách bảo đảm lợi ích chính đáng, hợp pháp về vật chất và tinh thần, về quyền sở hữu và thừa kế đối với phần vốn góp và lợi tức của các cá nhân, tập thể thuộc các thành phần kinh tế, các tầng lớp xã hội hóa giáo dục và chính sách ưu đãi tín dụng từ Quỹ hỗ trợ phát triển của Nhà nước. Tiếp tục phát triển các loại quỹ khuyến học.
Tiếp tục có chính sách thuế ưu đãi đối và các cơ sở giáo dục ngoài công lập, đặc biệt là đối với các cơ sở hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận (tiếp tục thực hiện chính sách miễn giảm thuế; không áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận).
b2. Về chính sách đất đai:
Các địa phương có kế hoạch và quy hoạch cụ thể, thực hiện công khai hoá, đơn giản hóa thủ tục thuê đất giao đất để thực hiện chủ trương của Chính phủ, ưu tiên dành đất cho các trường học công lập và ngoài công lập.
Thực hiện việc miễn tiền thuế sử dụng đất, thuê đất đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận.
b3. Về chính sách học phí.
Đổi mới cơ bản chế độ học phí: ngoài phần hỗ trợ của Nhà nước theo khả năng ngân sách, học phí do bảo đảm trang trải chi phí cần thiết cho giảng dạy, học tập và có tích luỹ để đầu tư phát triển nhà trường; bước đầu đủ bù đắp chi phi thường xuyên. Xóa bỏ mọi khoản thu khác ngoài học phí.
Nhà nước có chính sách trợ cấp học phí hoặc học bổng cho học sinh giáo dục phổ cập, cho người học là đối tượng chính sách, những người ở vùng khó khăn, những người nghèo và những người học xuất sắc, không phân biệt học ở trường công lập hay ngoài công lập.
b4. Về chính sách nhân lực:
Thực hiện chính sách bình đẳng giữa các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập về thi đua khen thưởng, về công nhận danh hiệu nhà nước, về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, về tiếp nhận, thuyên chuyển cán bộ từ khu vực công lập sang ngoài công lập và ngược lại. Từng bước xoá bỏ khái niệm "biên chế" trong các cơ sở công lập, chuyển dần sang chế độ "hợp đồng" lao động dài hạn.
Ban hành chính sách đối với các nhà giáo và cán bộ, viên chức nhà nước tham gia giảng dạy, làm việc trong các cơ sở giáo dục ngoài công lập; quy định trách nhiệm của các cơ sở giáo dục ngoài công lập đảm bảo về chất lượng và số lượng giáo viên, giảng viên cơ hữu, kiêm nhiệm phù hợp với quy mô và ngành nghề, đảm bảo chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
Ban hành chính sách đào tạo lại, trẻ hóa đội ngũ nhà giáo trong giai đoạn chuyển đổi loại hình hoặc chuyển đổi cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục công lập, chính sách đào tạo và hỗ trợ của Nhà nước trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý của các cơ sở giáo dục ngoài công lập, chính sách hỗ trợ các cơ sở ngoài công lập tự đào tạo, phát triển nhân lực, kể cả việc đào tạo ở nước ngoài và thu hút nhân tài, chuyên gia, nhà quản lý nước ngoài đến làm việc.
Nhà nước thực hiện chế độ đãi ngộ, khuyến khích đối với cán bộ trong độ tuổi
lao động chuyển sang công tác tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập.
b5. Đổi mới quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính:
Nhà nước quản lý thống nhất đối với các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập và ngoài công lập; tạo điều kiện để các cơ sở đó cùng phát triển ổn định, lâu dài; bảo đảm lợi ích của từng cá nhân, tập thể và toàn xã hội; phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm của từng cấp quản lý giáo dục, của tập thể và cá nhân người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước các cấp; gắn phân cấp nhiệm vụ với phân cấp quản lý về tài chính, tổ chức nhân sự và bảo đảm các điều kiện vật chất khác
Tách bạch quản lý nhà nước khỏi việc điều hành công việc thường xuyên của cơ sở. Một mặt trao cho cơ sở giáo dục đầy đủ quyền tự chủ và trách nhiệm; mặt khác bảo đảm quyền sở hữu và vai trò của đại diện chủ sở hữu trong các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập.
Thực hiện phân cấp mạnh theo Nghị quyết số 08/2004/NQ-
CP ngày 30 tháng 6 năm 2004 của Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tăng quyền chủ động và trách nhiệm quản lý của các địa phương đối với giáo dục. Các tỉnh, thành phố căn cứ vào cơ chế, chính sách chung của Nhà nước, quyết định cơ chế, chính sách xã hội hoá giáo dục áp dụng cụ thể cho địa phương.
Tăng cường thực hiện dân chủ trong giáo dục và đào tạo, xây dựng một hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch và thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong việc thành lập các cơ sở giáo dục, tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia một cách thuận lợi vào quá trình xă hội hoá. Cụ thể là:
- Công bố công khai, rộng rãi quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục; công bố dự báo phát triển và nhu cầu huy động nguồn lực đầu tư thực hiện quy hoạch để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
- Sửa đổi bổ sung, hoàn thiện phương thức phân bổ vốn đầu tư, đặt hàng, hỗ trợ ngân sách đối với giáo dục và đào tạo ở các vùng miền khác nhau, gắn kết với hiệu quả sử dụng ngân sách; tạo cơ hội cho các cơ sở giáo dục ngoài công lập được tiếp cận các nguồn tài chính của nhà nước trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh nâng cao chất lượng giáo dục.
- Ban hành chính sách đảm bảo lợi ích chính đáng, hợp pháp về vật chất và tinh thần, về quyền sở hữu và thừa kế của các cá nhân, tập thể thuộc các thành phần kinh tế, các tầng lớp xã hội tham gia thực hiện xã hội hoá giáo dục.
- Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng giáo dục các cấp, của Ban đại diện cha mẹ học sinh. Thể chế hoá vai trò và chức năng của các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp tham gia vào quá trình xã hội hoá.
- Quy định chế độ và trách nhiệm thanh tra, kiểm tra của các cấp quản lý, đồng thời xây dựng thiết chế dân chủ ở cơ sở (tại địa phương và các cơ sở giáo dục công lập, ngoài công lập) giám sát công việc quản lý của các cấp, chất lượng chuyên môn của nhà trường.
Bổ
sung và hoàn thiện văn bản pháp quy, chính sách vĩ mô để triển khai thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục bao gồm:
- Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện phân cấp quản lý giáo dục và đào tạo; hướng dẫn thực hiện Quy chế trường Đại học tư thục, giảm bớt thủ tục xin thành lập các cơ sở giáo dục ngoài công lập trên cơ sở quy định chặt chẽ, hướng dẫn chi tiết điều kiện thành lập, điều kiện hành nghề.
- Sửa đổi Quy chế trường Đại học dân lập; sửa đổi, bổ sung các chính sách ưu đãi cho các cơ sở giáo dục ngoài công lập (chính sách sử dụng đất, chính sách miễn giảm các loại thuế cho các trường học có các hoạt động liên quan đến thuế, chính sách vay vốn của các cơ sở giáo dục ngoài công lập); chính sách đối với giáo viên và cán bộ quản lý trong các cơ sở giáo dục ngoài công lập (chế độ lao động, lương, bảo hiểm xã hội...); chính sách đối với học sinh, sinh viên ngoài công lập (chính sách tín dụng cho sinh viên).
- Ban hành các quy định về kiểm định chất lượng đào tạo ở các trường công lập và ngoài công lập; về kiểm tra, đánh giá, về quản lý tài chính, tài sản và tự kiểm tra tài chính, kế toán và kiểm toán.
c. Đa dạng hoá chương trình, hình thức đào tạo.
Đa dạng hoá chương trình, hình thức đào tạo trên cơ sở chuẩn hoá về chất lượng và nâng cao hiệu quả để tạo thuận là cho mọi cá nhân có cơ hội tiếp nhận giáo dục ở địa điểm và thời gian thích hợp; đáp ứng nhu cầu thay đổi của người học.
Xây dựng một hệ thống chương trình đào tạo mềm dẻo, linh hoạt, liên thông và được kiểm định.
Phát triển mạng lưới phổ biến kiến thức và tư vấn nuôi dạy trẻ đến các gia đình và phát triển giáo dục từ xa, Nhà nước dành một phần ngân sách, vốn vay hoặc tiền viện trợ để xây dựng hạ tầng cơ sở, trang thiết bị cho các cơ sở giáo dục này để chuyển tải chương trình và tổ chức mạng lưới giáo dục từ xa, tạo điều kiện cho dân cư nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa có thể tiếp nhận các chương trình giáo dục và phổ biến kiến thức.
Cải cách hệ thống thi cử, kiểm tra, đánh giá, kiểm định để có thể quản lý và đảm bảo chất lượng của mọi loại hình giáo dục, mọi loại hình trường, lớp.
Xây dựng chương trình chuẩn hoá đội ngũ giáo viên, cản bộ lãnh đạo, quản lý, công chức nhà nước. Xây dựng chương trình chuyển tiếp, đa giai đoạn, chương trình đào tạo lại, bồi dưỡng định kỳ, thường xuyên cho người lao động.
d. Phát triển mạng lưới các trường ngoài công lập.
Khuyến khích và có chính sách ưu đãi các trường đại học, cao đẳng công lập tự đảm bảo phần lớn kinh phí họat động thường xuyên chuyển sang loại hình ngoài công lập.
Ưu tiên cấp phép mở các trường đại học, cao đẳng kỹ thuật - công nghệ ngoài công lập, các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài ở những lĩnh vực thị trường lao động đang có nhu cầu lớn.
Xây dựng chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với cơ sở giáo dục ngoài công lập trong các lĩnh vực về đầu tư, miễn giảm các loại thuế, chính sách với người dạy, người học.
Văn bằng các cấp học có giá trị như nhau để học lên hoặc để tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội không phụ thuộc vào loại hình cơ sở giáo dục là công lập hay ngoài công lập.
đ. Tăng cường nguồn lực ngoài ngân sách Nhà nước.
Cùng với việc nâng dần tỷ lệ ngân sách nhà nước chi cho phát triển giáo dục và tiếp tục đổi mới phương thức phân bổ ngân sách giáo dục, nhằm tăng hiệu quả sử dụng ngân sách và huy động thêm nguồn kinh phí cho giáo dục cần thực hiện các biện pháp sau:
- Xác định chi phí đơn vị của từng cấp học để có căn cứ điều chỉnh học phí, tăng khả năng thu hồi chi phí phù hợp với mỗi cấp học, đảm bảo tính công bằng trong hưởng thụ giáo dục. Xây dựng chế độ học phí mới thay thế chế độ học phí tại Quyết định số 70/1998/QĐ-TTg ngày 31 tháng 3 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ theo hướng bao gồm cho cả loại hình công lập và ngoài công lập, phù hợp với chi phí đào tạo của các vùng miền, khu vực và loại hình đào tạo khác nhau; mở rộng chế độ miễn, giảm học phí để đảm bảo học sinh, sinh viên thuộc diện chính sách xã hội, người dân tộc thiểu số, con các gia đình nghèo, các vùng kinh tế khó khăn yên tâm học tập.
- Đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư; động viên các khoản đóng góp tự nguyện, từ thiện cho giáo dục; mở rộng các quỹ khuyến học; khuyến khích cá nhân và tập thể đầu tư mở thêm trường học mới. Huy động góp vốn cổ phần để thành lập các trường dân lập, tư thục ở các cấp học. Thành lập quỹ đào tạo ở các ngành sản xuất kinh doanh nhằm hỗ trợ cho việc nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của cán bộ trong ngành, trợ cấp cho cán bộ công nhân viên đi học, mở các khoá bồi dưỡng ngắn hạn về các chuyên đề khoa học, kinh tế, kỹ thuật của ngành. Quỹ này được hình thành trên cơ sở đóng góp của các cơ sở sản xuất kinh doanh của ngành và của các nhà tài trợ
- Phát triển hợp tác quốc tế để tăng nguồn lực cho giáo dục và đào tạo; quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả các dự án vốn vay của các tổ chức tài chính quốc tế đầu tư cho giáo dục và đào tạo. Tranh thủ viện trợ của các nước và các tổ chức quốc tế để gửi cán bộ, học sinh, sinh viên đi học tập ở nước ngoài và thực hiện các đề án nghiên cứu khoa học. Nhà nước dành một phần ngân sách hoặc tiền viện trợ để cử người đi học tập ở nước ngoài về một số ngành, nghề mũi nhọn theo chiến lược phát triển giáo dục và khoa học công nghệ. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người đi học nước ngoài theo con đường du học tự túc, cung cấp thông tin và định hướng cho họ lựa chọn ngành nghề theo yêu cầu phát triển quốc gia. Cho phép các trường đại học hoặc tổ chức giáo dục nước ngoài, người Việt Nam sống ở nước ngoài mở trường tại Việt Nam và các trường đại học trong nước mời giảng viên nước ngoài giảng dạy.
e) Xây dựng nhà trường thực sự trở thành trung tâm văn hoá, môi trường giáo dục lành mạnh.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện liên kết các lực lượng xã hội (Mặt trận Tổ quốc, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn TN CS HCM, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân, Hội Khuyến học, Hội Cựu chiến binh, Ban đại diện cha mẹ học sinh....) để tạo ra ảnh hưởng tích cực đối với giáo dục và đào tạo, tập hợp các lực lượng xã hội tham gia xây dựng môi trường nhà trường từ cơ sở hạ tầng, cảnh quan, nề nếp kỷ cương dạy - học đến các mối quan hệ bên trong nhà trường và quan hệ nhà trường với xã hội, hỗ trợ nhà trường tổ chức các hoạt động ngoại khoá, các hoạt động xã hội.
Củng cố và phát triển diễn đàn Đại hội giáo dục các cấp để thu thập ý kiến đóng góp của mọi lực lượng xã hội, thể hiện trách nhiệm của xã hội đối với sự nghiệp phát triển giáo dục.

Content:
Các giải pháp và cơ chế chính sách đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục:
a. Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động và cung cấp thông tin về xã hội hoá giáo dục để nâng cao nhận thức cho toàn xã hội.
Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự chỉ đạo và quản lý của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp; phát huy vai trò của các tổ chức Công đoàn, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên tiền phong, Hội sinh viên, Hội Khuyến học và các đoàn thể, tổ chức xã hội khác huy động nguồn lực xã hội tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục.
Tuyên truyền sâu rộng chủ trương chính sách về xã hội hoá giáo dục để các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, các cơ sở giáo dục công lập, ngoài công lập và nhân dân có nhận thức đúng, đầy đủ, thực hiện có hiệu quả chủ trương xã hội hóa giáo dục.
Tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, làm rõ các vấn đề sở hữu, về tính chất hoạt động lợi nhuận và hoạt động phi lợi nhuận, về trách nhiệm xã hội của các tổ chức, về hình thức xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục.
b. Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách và quản lý nhà nước về giáo dục.
Để đẩy nhanh tiến độ
xã hội hoá, trước hết cần tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, đổi mới tư duy và phương thức quản lý. Nhanh chóng điều chỉnh, sửa đổi những cơ chế, chính sách, phương thức quản lý không phù hợp và kém hiệu quả. Ban hành những chính sách mới đáp ứng nhu cầu phát triển, tập trung vào các cơ chế, chính sách sau:
b1. Về chính sách đầu tư của nhà nước, huy động vốn, thuế và tín dụng:
Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực giáo dục. Đầu tư của Nhà nước tập trung cho các hướng trọng điểm, then chốt có tính chiến lược, không dàn trải; đặc biệt chú ý đến hiệu quả, đảm bảo vai trò chủ đạo của các trường công lập, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; ưu tiên những người có công, trợ giúp người nghèo, những người thuộc diện chính sách, những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Nghiên cứu xây dựng và từng bước thực hiện chính sách đấu thầu cung cấp dịch vụ giáo dục do nhà nước đặt hàng; khuyến khích các cơ sở thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển giáo dục.
Khuyến khích và thực hiện hỗ trợ ban đầu có thời hạn của nhà nước cho các cơ sở giáo dục công lập chuyển sang loại hình ngoài công lập; khuyến khích và hỗ trợ các cơ sở giáo dục ngoài công lập đăng ký hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận. Các cơ sở ngoài công lập được tham gia bình đẳng trong việc nhận thầu các dịch vụ nhà nước đặt hàng.
Thí điểm việc Nhà nước cho các trường ngoài công lập (nhất là các vùng khó khăn, vùng kém phát triển) thuê dài hạn cơ sở hạ tầng.
Ban hành quy định về việc các cơ sở giáo dục công lập hợp tác, liên kết với các ngành, địa phương, doanh nghiệp, cá nhân trong việc xây dựng cơ sở vật chất các cơ sở ngoài công lập được huy động vốn để đầu tư phát triển cơ sở vật chất và hoàn trả theo thoả thuận. Thí điểm huy động vốn của cán bộ nhân viên, thí điểm việc chuyển một số trường công lập sang loại hình dân lập hoặc cổ phần hoá khi đủ điều kiện.
Ban hành chính sách bảo đảm lợi ích chính đáng, hợp pháp về vật chất và tinh thần, về quyền sở hữu và thừa kế đối với phần vốn góp và lợi tức của các cá nhân, tập thể thuộc các thành phần kinh tế, các tầng lớp xã hội hóa giáo dục và chính sách ưu đãi tín dụng từ Quỹ hỗ trợ phát triển của Nhà nước. Tiếp tục phát triển các loại quỹ khuyến học.
Tiếp tục có chính sách thuế ưu đãi đối và các cơ sở giáo dục ngoài công lập, đặc biệt là đối với các cơ sở hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận (tiếp tục thực hiện chính sách miễn giảm thuế; không áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận).
b2. Về chính sách đất đai:
Các địa phương có kế hoạch và quy hoạch cụ thể, thực hiện công khai hoá, đơn giản hóa thủ tục thuê đất giao đất để thực hiện chủ trương của Chính phủ, ưu tiên dành đất cho các trường học công lập và ngoài công lập.
Thực hiện việc miễn tiền thuế sử dụng đất, thuê đất đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận.
b3. Về chính sách học phí.
Đổi mới cơ bản chế độ học phí: ngoài phần hỗ trợ của Nhà nước theo khả năng ngân sách, học phí do bảo đảm trang trải chi phí cần thiết cho giảng dạy, học tập và có tích luỹ để đầu tư phát triển nhà trường; bước đầu đủ bù đắp chi phi thường xuyên. Xóa bỏ mọi khoản thu khác ngoài học phí.
Nhà nước có chính sách trợ cấp học phí hoặc học bổng cho học sinh giáo dục phổ cập, cho người học là đối tượng chính sách, những người ở vùng khó khăn, những người nghèo và những người học xuất sắc, không phân biệt học ở trường công lập hay ngoài công lập.
bVề chính sách nhân lực:
Thực hiện chính sách bình đẳng giữa các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập về thi đua khen thưởng, về công nhận danh hiệu nhà nước, về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, về tiếp nhận, thuyên chuyển cán bộ từ khu vực công lập sang ngoài công lập và ngược lại. Từng bước xoá bỏ khái niệm "biên chế" trong các cơ sở công lập, chuyển dần sang chế độ "hợp đồng" lao động dài hạn.
Ban hành chính sách đối với các nhà giáo và cán bộ, viên chức nhà nước tham gia giảng dạy, làm việc trong các cơ sở giáo dục ngoài công lập; quy định trách nhiệm của các cơ sở giáo dục ngoài công lập đảm bảo về chất lượng và số lượng giáo viên, giảng viên cơ hữu, kiêm nhiệm phù hợp với quy mô và ngành nghề, đảm bảo chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
Ban hành chính sách đào tạo lại, trẻ hóa đội ngũ nhà giáo trong giai đoạn chuyển đổi loại hình hoặc chuyển đổi cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục công lập, chính sách đào tạo và hỗ trợ của Nhà nước trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý của các cơ sở giáo dục ngoài công lập, chính sách hỗ trợ các cơ sở ngoài công lập tự đào tạo, phát triển nhân lực, kể cả việc đào tạo ở nước ngoài và thu hút nhân tài, chuyên gia, nhà quản lý nước ngoài đến làm việc.
Nhà nước thực hiện chế độ đãi ngộ, khuyến khích đối với cán bộ trong độ tuổi
lao động chuyển sang công tác tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập.
b5. Đổi mới quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính:
Nhà nước quản lý thống nhất đối với các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập và ngoài công lập; tạo điều kiện để các cơ sở đó cùng phát triển ổn định, lâu dài; bảo đảm lợi ích của từng cá nhân, tập thể và toàn xã hội; phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm của từng cấp quản lý giáo dục, của tập thể và cá nhân người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước các cấp; gắn phân cấp nhiệm vụ với phân cấp quản lý về tài chính, tổ chức nhân sự và bảo đảm các điều kiện vật chất khác
Tách bạch quản lý nhà nước khỏi việc điều hành công việc thường xuyên của cơ sở. Một mặt trao cho cơ sở giáo dục đầy đủ quyền tự chủ và trách nhiệm; mặt khác bảo đảm quyền sở hữu và vai trò của đại diện chủ sở hữu trong các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập.
Thực hiện phân cấp mạnh theo Nghị quyết số 08/2004/NQ-
CP ngày 30 tháng 6 năm 2004 của Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tăng quyền chủ động và trách nhiệm quản lý của các địa phương đối với giáo dục. Các tỉnh, thành phố căn cứ vào cơ chế, chính sách chung của Nhà nước, quyết định cơ chế, chính sách xã hội hoá giáo dục áp dụng cụ thể cho địa phương.
Tăng cường thực hiện dân chủ trong giáo dục và đào tạo, xây dựng một hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch và thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong việc thành lập các cơ sở giáo dục, tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia một cách thuận lợi vào quá trình xă hội hoá. Cụ thể là:
- Công bố công khai, rộng rãi quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục; công bố dự báo phát triển và nhu cầu huy động nguồn lực đầu tư thực hiện quy hoạch để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
- Sửa đổi bổ sung, hoàn thiện phương thức phân bổ vốn đầu tư, đặt hàng, hỗ trợ ngân sách đối với giáo dục và đào tạo ở các vùng miền khác nhau, gắn kết với hiệu quả sử dụng ngân sách; tạo cơ hội cho các cơ sở giáo dục ngoài công lập được tiếp cận các nguồn tài chính của nhà nước trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh nâng cao chất lượng giáo dục.
- Ban hành chính sách đảm bảo lợi ích chính đáng, hợp pháp về vật chất và tinh thần, về quyền sở hữu và thừa kế của các cá nhân, tập thể thuộc các thành phần kinh tế, các tầng lớp xã hội tham gia thực hiện xã hội hoá giáo dục.
- Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng giáo dục các cấp, của Ban đại diện cha mẹ học sinh. Thể chế hoá vai trò và chức năng của các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp tham gia vào quá trình xã hội hoá.
- Quy định chế độ và trách nhiệm thanh tra, kiểm tra của các cấp quản lý, đồng thời xây dựng thiết chế dân chủ ở cơ sở (tại địa phương và các cơ sở giáo dục công lập, ngoài công lập) giám sát công việc quản lý của các cấp, chất lượng chuyên môn của nhà trường.
Bổ
sung và hoàn thiện văn bản pháp quy, chính sách vĩ mô để triển khai thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục bao gồm:
- Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện phân cấp quản lý giáo dục và đào tạo; hướng dẫn thực hiện Quy chế trường Đại học tư thục, giảm bớt thủ tục xin thành lập các cơ sở giáo dục ngoài công lập trên cơ sở quy định chặt chẽ, hướng dẫn chi tiết điều kiện thành lập, điều kiện hành nghề.
- Sửa đổi Quy chế trường Đại học dân lập; sửa đổi, bổ sung các chính sách ưu đãi cho các cơ sở giáo dục ngoài công lập (chính sách sử dụng đất, chính sách miễn giảm các loại thuế cho các trường học có các hoạt động liên quan đến thuế, chính sách vay vốn của các cơ sở giáo dục ngoài công lập); chính sách đối với giáo viên và cán bộ quản lý trong các cơ sở giáo dục ngoài công lập (chế độ lao động, lương, bảo hiểm xã hội...); chính sách đối với học sinh, sinh viên ngoài công lập (chính sách tín dụng cho sinh viên).
- Ban hành các quy định về kiểm định chất lượng đào tạo ở các trường công lập và ngoài công lập; về kiểm tra, đánh giá, về quản lý tài chính, tài sản và tự kiểm tra tài chính, kế toán và kiểm toán.
c. Đa dạng hoá chương trình, hình thức đào tạo.
Đa dạng hoá chương trình, hình thức đào tạo trên cơ sở chuẩn hoá về chất lượng và nâng cao hiệu quả để tạo thuận là cho mọi cá nhân có cơ hội tiếp nhận giáo dục ở địa điểm và thời gian thích hợp; đáp ứng nhu cầu thay đổi của người học.
Xây dựng một hệ thống chương trình đào tạo mềm dẻo, linh hoạt, liên thông và được kiểm định.
Phát triển mạng lưới phổ biến kiến thức và tư vấn nuôi dạy trẻ đến các gia đình và phát triển giáo dục từ xa, Nhà nước dành một phần ngân sách, vốn vay hoặc tiền viện trợ để xây dựng hạ tầng cơ sở, trang thiết bị cho các cơ sở giáo dục này để chuyển tải chương trình và tổ chức mạng lưới giáo dục từ xa, tạo điều kiện cho dân cư nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa có thể tiếp nhận các chương trình giáo dục và phổ biến kiến thức.
Cải cách hệ thống thi cử, kiểm tra, đánh giá, kiểm định để có thể quản lý và đảm bảo chất lượng của mọi loại hình giáo dục, mọi loại hình trường, lớp.
Xây dựng chương trình chuẩn hoá đội ngũ giáo viên, cản bộ lãnh đạo, quản lý, công chức nhà nước. Xây dựng chương trình chuyển tiếp, đa giai đoạn, chương trình đào tạo lại, bồi dưỡng định kỳ, thường xuyên cho người lao động.
d. Phát triển mạng lưới các trường ngoài công lập.
Khuyến khích và có chính sách ưu đãi các trường đại học, cao đẳng công lập tự đảm bảo phần lớn kinh phí họat động thường xuyên chuyển sang loại hình ngoài công lập.
Ưu tiên cấp phép mở các trường đại học, cao đẳng kỹ thuật - công nghệ ngoài công lập, các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài ở những lĩnh vực thị trường lao động đang có nhu cầu lớn.
Xây dựng chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với cơ sở giáo dục ngoài công lập trong các lĩnh vực về đầu tư, miễn giảm các loại thuế, chính sách với người dạy, người học.
Văn bằng các cấp học có giá trị như nhau để học lên hoặc để tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội không phụ thuộc vào loại hình cơ sở giáo dục là công lập hay ngoài công lập.
đ. Tăng cường nguồn lực ngoài ngân sách Nhà nước.
Cùng với việc nâng dần tỷ lệ ngân sách nhà nước chi cho phát triển giáo dục và tiếp tục đổi mới phương thức phân bổ ngân sách giáo dục, nhằm tăng hiệu quả sử dụng ngân sách và huy động thêm nguồn kinh phí cho giáo dục cần thực hiện các biện pháp sau:
- Xác định chi phí đơn vị của từng cấp học để có căn cứ điều chỉnh học phí, tăng khả năng thu hồi chi phí phù hợp với mỗi cấp học, đảm bảo tính công bằng trong hưởng thụ giáo dục. Xây dựng chế độ học phí mới thay thế chế độ học phí tại Quyết định số 70/1998/QĐ-TTg ngày 31 tháng 3 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ theo hướng bao gồm cho cả loại hình công lập và ngoài công lập, phù hợp với chi phí đào tạo của các vùng miền, khu vực và loại hình đào tạo khác nhau; mở rộng chế độ miễn, giảm học phí để đảm bảo học sinh, sinh viên thuộc diện chính sách xã hội, người dân tộc thiểu số, con các gia đình nghèo, các vùng kinh tế khó khăn yên tâm học tập.
- Đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư; động viên các khoản đóng góp tự nguyện, từ thiện cho giáo dục; mở rộng các quỹ khuyến học; khuyến khích cá nhân và tập thể đầu tư mở thêm trường học mới. Huy động góp vốn cổ phần để thành lập các trường dân lập, tư thục ở các cấp học. Thành lập quỹ đào tạo ở các ngành sản xuất kinh doanh nhằm hỗ trợ cho việc nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của cán bộ trong ngành, trợ cấp cho cán bộ công nhân viên đi học, mở các khoá bồi dưỡng ngắn hạn về các chuyên đề khoa học, kinh tế, kỹ thuật của ngành. Quỹ này được hình thành trên cơ sở đóng góp của các cơ sở sản xuất kinh doanh của ngành và của các nhà tài trợ
- Phát triển hợp tác quốc tế để tăng nguồn lực cho giáo dục và đào tạo; quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả các dự án vốn vay của các tổ chức tài chính quốc tế đầu tư cho giáo dục và đào tạo. Tranh thủ viện trợ của các nước và các tổ chức quốc tế để gửi cán bộ, học sinh, sinh viên đi học tập ở nước ngoài và thực hiện các đề án nghiên cứu khoa học. Nhà nước dành một phần ngân sách hoặc tiền viện trợ để cử người đi học tập ở nước ngoài về một số ngành, nghề mũi nhọn theo chiến lược phát triển giáo dục và khoa học công nghệ. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người đi học nước ngoài theo con đường du học tự túc, cung cấp thông tin và định hướng cho họ lựa chọn ngành nghề theo yêu cầu phát triển quốc gia. Cho phép các trường đại học hoặc tổ chức giáo dục nước ngoài, người Việt Nam sống ở nước ngoài mở trường tại Việt Nam và các trường đại học trong nước mời giảng viên nước ngoài giảng dạy.
e) Xây dựng nhà trường thực sự trở thành trung tâm văn hoá, môi trường giáo dục lành mạnh.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện liên kết các lực lượng xã hội (Mặt trận Tổ quốc, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn TN CS HCM, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân, Hội Khuyến học, Hội Cựu chiến binh, Ban đại diện cha mẹ học sinh....) để tạo ra ảnh hưởng tích cực đối với giáo dục và đào tạo, tập hợp các lực lượng xã hội tham gia xây dựng môi trường nhà trường từ cơ sở hạ tầng, cảnh quan, nề nếp kỷ cương dạy - học đến các mối quan hệ bên trong nhà trường và quan hệ nhà trường với xã hội, hỗ trợ nhà trường tổ chức các hoạt động ngoại khoá, các hoạt động xã hội.
Củng cố và phát triển diễn đàn Đại hội giáo dục các cấp để thu thập ý kiến đóng góp của mọi lực lượng xã hội, thể hiện trách nhiệm của xã hội đối với sự nghiệp phát triển giáo dục.