Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1906/QĐ-UBND Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Si Ma Cai Lào Cai 2015

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "24/06/2015", "sign_number": "1906/QĐ-UBND", "signer": "Doãn Văn Hưởng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "24/06/2015", "sign_number": "1906/QĐ-UBND", "signer": "Doãn Văn Hưởng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "24/06/2015", "sign_number": "1906/QĐ-UBND", "signer": "Doãn Văn Hưởng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "24/06/2015", "sign_number": "1906/QĐ-UBND", "signer": "Doãn Văn Hưởng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "24/06/2015", "sign_number": "1906/QĐ-UBND", "signer": "Doãn Văn Hưởng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1906/QĐ-UBND Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Si Ma Cai Lào Cai 2015

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, với những nội dung sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể
a) Về phát triển kinh tế
Về giá trị sản xuất:
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất giai đoạn 2011 - 2015 (tính theo giá so sánh 2010) là 12,52%/năm và giai đoạn 2016 - 2020 tăng bình quân 9,17%/năm; tốc độ tăng trưởng đều thấp hơn Quy hoạch cũ năm 2011 (số liệu báo cáo quy hoạch cũ theo giá so sánh là 15,8%/năm, 14,2%/năm). Về quy mô kinh tế, giá trị sản xuất (theo giá thực tế) đến năm 2015 đạt 1,142 tỷ đồng và đến năm 2020 đạt 2.000 tỷ đồng.
Về thu nhập: Mức thu nhập bình quân đầu người tăng từ 10,44 triệu đồng/người năm 2014 lên thành 12 triệu đồng/người vào năm 2015 và đạt 20 triệu đồng/người vào năm 2020. Phấn đấu đến năm 2030, thu nhập bình quân/người đạt trên 45 triệu đồng.
Cơ cấu kinh tế: Có sự dịch chuyển theo hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp, tăng tỷ trọng dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng.
b) Về phát triển xã hội
- Về xã hội: Phấn đấu giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 2,11%/năm trong giai đoạn 2010 - 2014 xuống còn 1,40%/năm vào năm 2020. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 7-10%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020. Phấn đấu tạo việc làm mới bình quân 800 lao động/năm trong giai đoạn 2016 - 2020. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho người lao động, đến năm 2020 có 37% số lao động qua đào tạo, tập huấn nghề.
- Về giáo dục: Đến năm 2020, tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường mẫu giáo đạt 99,8%, tiểu học: đạt 100%, trung học cơ sở: 100%; tỷ lệ học sinh vào các trường trung học phổ thông đạt 80%; Phấn đấu 90% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông tham gia đào tạo nghề và học trung học chuyên nghiệp. Phấn đấu đến năm 2020 giáo viên đạt trên chuẩn đạt trên 95%, tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia là 59,18% (29/49 trường).
- Về y tế: Các cơ sở y tế xã đáp ứng yêu cầu theo dõi và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân với 100% xã đạt bộ tiêu chí quốc gia vào năm 2020. Y tế huyện được kiện toàn đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh nhân dân trong huyện, giảm tải cho bệnh viện cấp trên. Tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng giảm xuống còn dưới 15% vào năm 2020. Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Không ngừng nâng cao mức hưởng thụ về đời sống văn hóa, thông tin, thể thao cho người dân.
- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phục vụ cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện: 100% số thôn bản có điện lưới quốc gia; 95% số hộ được dùng điện, lưới; Tỷ lệ phủ sóng truyền hình đạt trên 100% địa bàn dân cư.
- Về môi trường: Nâng độ che phủ rừng lên 39% vào năm 2020; bảo vệ tốt môi trường ở trung tâm huyện, các trung tâm cụm xã, các khu dân cư, các khu vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển; kết hợp khai thác du lịch sinh thái với bảo tồn sinh học rừng, ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Xây dựng nông thôn mới: Phấn đấu đến năm 2020 có tổng số 4 xã đạt tiêu chí về nông thôn mới.
- Về quốc phòng, an ninh và đối ngoại: Bảo vệ vững chắc đường biên, mốc giới quốc gia, xây dựng, củng cố tuyến phòng thủ huyện vững mạnh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; tăng cường hợp tác với huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam trong các lĩnh vực trên cơ sở thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
III. Lựa chọn các lĩnh vực trọng điểm có tính đột phá đến năm 2020
1. Tiêu chuẩn lựa chọn các lĩnh vực trọng điểm
- Có tiền đề và lợi thế phát triển.
- Có vai trò to lớn đối với nền kinh tế trong lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa: tạo ra đóng góp lớn về giá trị sản xuất, về ngân sách, về tích lũy và khả năng thu hút lao động.
- Phù hợp Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Lào Cai, Quy hoạch các ngành, các lĩnh vực của tỉnh.
- Đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường, góp phần phát triển bền vững.
2. Các lĩnh vực trọng điểm dự kiến
- Phát triển nông nghiệp với việc đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm của trồng trọt, chăn nuôi có chất lượng cao, đặc biệt đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đại gia súc (Trâu Si Ma Cai, Bò của người Mông, Ngựa bạch). Gắn sản xuất hàng hóa với xây dựng thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm.
- Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, trước hết là hạ tầng cơ sở phục vụ phát triển sản xuất được coi là khâu đột phá để một mặt Si Ma Cai sớm trở thành một huyện có hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ tạo điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm xây dựng huyện biên giới trở thành khu vực phòng thủ vững chắc; mặt khác, tạo sức thu hút và đột phá cho phát triển kinh tế.
- Tập trung cho đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn lực chất lượng cao đáp ứng tốt các yêu cầu chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế. Tạo thêm việc làm cho người lao động.
- Xây dựng hệ thống chợ nông thôn, trung tâm thương mại, khu kinh tế cửa khẩu tại xã Nàn Sán, lối mở Mốc 171.2 và các cơ sở hạ tầng phục vụ dịch vụ.
- Phát triển du lịch văn hóa, du lịch sinh thái - cộng đồng.
IV. Phương hướng phát triển các ngành và lĩnh vực
1. Phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản
Phấn đấu đưa tốc độ phát triển bình quân giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp giai đoạn 2016 - 2020 đạt 9,82%/năm, trong đó nông nghiệp tăng 9,30%/năm, lâm nghiệp tăng 19,53%/năm, thủy sản tăng 18,50%. Giá trị sản xuất năm 2020 đạt 953,040 tỷ đồng.
Trong nội bộ ngành nông nghiệp; giai đoạn 2016 - 2020, trồng trọt tăng bình quân 7,98%/năm, chăn nuôi tăng 10,94%/năm. Cơ cấu trồng trọt - chăn nuôi chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng trồng trọt, tăng dần tỷ trọng chăn nuôi. Đến năm 2020, trồng trọt chiếm 52,88%, chăn nuôi chiếm 47,12%.
+ Tập trung phát triển sản xuất lương thực nhằm đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn huyện và có sản phẩm hàng hóa xuất bán ra bên ngoài.
+ Đẩy mạnh quá trình, chuyển đổi nông, lâm nghiệp sang sản xuất hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn liền với hình thành các tiểu vùng chuyên canh những sản phẩm mũi nhọn, có tiềm năng của huyện như vùng sản xuất lúa đặc sản, ngô hàng hóa, đậu tương, lạc, dong giềng, rau đậu các loại, cây dược liệu, cây ăn quả, cây lâm nghiệp...; chăn nuôi gia súc, gia cầm đặc sản bản địa.
+ Phát triển nông, lâm nghiệp huyện Si Ma Cai theo hướng sinh thái bền vững; Xây dựng các mô hình kinh tế trang trại sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao, đặc sản, sạch, an toàn có giá trị kinh tế cao đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng tăng.
+ Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, nhất là chăn nuôi đại gia súc. Phát triển cân đối giữa nông nghiệp với lâm nghiệp trên cơ sở khai thác lợi thế của từng ngành và mối quan hệ giữa các ngành để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
+ Phát triển nông, lâm nghiệp của huyện gắn liền với phát triển các ngành nghề nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến nông lâm sản (sử dụng các dây chuyền, thiết bị công nghệ mới quy mô nhỏ và vừa) tạo việc làm và tăng thêm giá trị của các sản phẩm nông sản.
+ Gắn việc phát triển nông, lâm nghiệp với du lịch, để một mặt tạo sức hấp dẫn cho du lịch, mặt khác tạo thị trường tiêu thụ nông sản phẩm; qua đó, thực hiện phân công lại lao động trong nông thôn, khai thác tối đa các tiềm năng của huyện, nâng cao hiệu quả sản xuất.
+ Ứng dụng khoa học, kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất: Chọn lọc và đưa giống cây, con có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng vào sản xuất.
+ Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp, trong đó ưu tiên về giao thông, thủy lợi, cơ sở chế biến.
+ Tiếp tục thực hiện chính sách khuyến nông, khuyến lâm, kiên cố hóa kênh mương, chính sách trợ cước, trợ giá và tiêu thụ nông sản phẩm.
2. Phát triển công nghiệp, xây dựng
Phấn đấu giá trị sản xuất ngành công nghiệp, xây dựng trên địa bàn giai đoạn 2016 - 2020 tăng bình quân 10,03%/năm, trong đó công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 11,29%/năm và xây dựng đạt 9,69%/năm (theo giá so sánh 2010).
Về quy mô giá trị sản xuất: Năm 2020, giá trị sản xuất toàn ngành đạt 443,85 tỷ đồng (giá hiện hành).
+ Tập trung phát triển các ngành có tiềm năng như công nghiệp chế biến nông, lâm sản; khai thác vật liệu xây dựng; đầu tư, khai thác thủy điện; chế biến thức ăn gia súc; cơ khí chế biến và sửa chữa nông cụ,... nhằm khai thác các nguồn lực, tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của huyện.
+ Khôi phục và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống, trước hết xây dựng 2 làng nghề truyền thống là dệt, thêu ở xã Cán Cấu và sản xuất ngói máng ở xã Sín Chéng. Chủ động tìm tòi các ngành nghề thủ công mới nhằm phát triển các ngành nghề thủ công ở tất cả các xã trong huyện như: nghề nấu rượu, làm đậu phụ, làm miến dong riềng...
+ Xây dựng cơ chế hợp lý, khai thác các nguồn lực bên ngoài hình thành các cụm tiểu thủ công nghiệp tập trung quy mô nhỏ, trước tiên là cụm tiểu thủ công nghiệp Nàn Sán.
+ Phát huy sức mạnh của mọi thành phần kinh tế, nhất là kinh tế ngoài quốc doanh (kinh tế hộ, kinh tế tư nhân, kinh tế HTX) để phát triển công nghiệp, TTCN và xây dựng.

Content:
Mục tiêu cụ thể
a) Về phát triển kinh tế
Về giá trị sản xuất:
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất giai đoạn 2011 - 2015 (tính theo giá so sánh 2010) là 12,52%/năm và giai đoạn 2016 - 2020 tăng bình quân 9,17%/năm; tốc độ tăng trưởng đều thấp hơn Quy hoạch cũ năm 2011 (số liệu báo cáo quy hoạch cũ theo giá so sánh là 15,8%/năm, 14,2%/năm). Về quy mô kinh tế, giá trị sản xuất (theo giá thực tế) đến năm 2015 đạt 1,142 tỷ đồng và đến năm 2020 đạt 2.000 tỷ đồng.
Về thu nhập: Mức thu nhập bình quân đầu người tăng từ 10,44 triệu đồng/người năm 2014 lên thành 12 triệu đồng/người vào năm 2015 và đạt 20 triệu đồng/người vào năm 2020. Phấn đấu đến năm 2030, thu nhập bình quân/người đạt trên 45 triệu đồng.
Cơ cấu kinh tế: Có sự dịch chuyển theo hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp, tăng tỷ trọng dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng.
b) Về phát triển xã hội
- Về xã hội: Phấn đấu giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 2,11%/năm trong giai đoạn 2010 - 2014 xuống còn 1,40%/năm vào năm 2020. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 7-10%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020. Phấn đấu tạo việc làm mới bình quân 800 lao động/năm trong giai đoạn 2016 - 2020. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho người lao động, đến năm 2020 có 37% số lao động qua đào tạo, tập huấn nghề.
- Về giáo dục: Đến năm 2020, tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường mẫu giáo đạt 99,8%, tiểu học: đạt 100%, trung học cơ sở: 100%; tỷ lệ học sinh vào các trường trung học phổ thông đạt 80%; Phấn đấu 90% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông tham gia đào tạo nghề và học trung học chuyên nghiệp. Phấn đấu đến năm 2020 giáo viên đạt trên chuẩn đạt trên 95%, tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia là 59,18% (29/49 trường).
- Về y tế: Các cơ sở y tế xã đáp ứng yêu cầu theo dõi và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân với 100% xã đạt bộ tiêu chí quốc gia vào năm 2020. Y tế huyện được kiện toàn đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh nhân dân trong huyện, giảm tải cho bệnh viện cấp trên. Tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng giảm xuống còn dưới 15% vào năm 2020. Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Không ngừng nâng cao mức hưởng thụ về đời sống văn hóa, thông tin, thể thao cho người dân.
- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phục vụ cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện: 100% số thôn bản có điện lưới quốc gia; 95% số hộ được dùng điện, lưới; Tỷ lệ phủ sóng truyền hình đạt trên 100% địa bàn dân cư.
- Về môi trường: Nâng độ che phủ rừng lên 39% vào năm 2020; bảo vệ tốt môi trường ở trung tâm huyện, các trung tâm cụm xã, các khu dân cư, các khu vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển; kết hợp khai thác du lịch sinh thái với bảo tồn sinh học rừng, ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Xây dựng nông thôn mới: Phấn đấu đến năm 2020 có tổng số 4 xã đạt tiêu chí về nông thôn mới.
- Về quốc phòng, an ninh và đối ngoại: Bảo vệ vững chắc đường biên, mốc giới quốc gia, xây dựng, củng cố tuyến phòng thủ huyện vững mạnh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; tăng cường hợp tác với huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam trong các lĩnh vực trên cơ sở thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
III. Lựa chọn các lĩnh vực trọng điểm có tính đột phá đến năm 2020
1. Tiêu chuẩn lựa chọn các lĩnh vực trọng điểm
- Có tiền đề và lợi thế phát triển.
- Có vai trò to lớn đối với nền kinh tế trong lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa: tạo ra đóng góp lớn về giá trị sản xuất, về ngân sách, về tích lũy và khả năng thu hút lao động.
- Phù hợp Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Lào Cai, Quy hoạch các ngành, các lĩnh vực của tỉnh.
- Đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường, góp phần phát triển bền vững.
Các lĩnh vực trọng điểm dự kiến
- Phát triển nông nghiệp với việc đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm của trồng trọt, chăn nuôi có chất lượng cao, đặc biệt đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đại gia súc (Trâu Si Ma Cai, Bò của người Mông, Ngựa bạch). Gắn sản xuất hàng hóa với xây dựng thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm.
- Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, trước hết là hạ tầng cơ sở phục vụ phát triển sản xuất được coi là khâu đột phá để một mặt Si Ma Cai sớm trở thành một huyện có hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ tạo điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm xây dựng huyện biên giới trở thành khu vực phòng thủ vững chắc; mặt khác, tạo sức thu hút và đột phá cho phát triển kinh tế.
- Tập trung cho đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn lực chất lượng cao đáp ứng tốt các yêu cầu chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế. Tạo thêm việc làm cho người lao động.
- Xây dựng hệ thống chợ nông thôn, trung tâm thương mại, khu kinh tế cửa khẩu tại xã Nàn Sán, lối mở Mốc 171.2 và các cơ sở hạ tầng phục vụ dịch vụ.
- Phát triển du lịch văn hóa, du lịch sinh thái - cộng đồng.
IV. Phương hướng phát triển các ngành và lĩnh vực
1. Phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản
Phấn đấu đưa tốc độ phát triển bình quân giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp giai đoạn 2016 - 2020 đạt 9,82%/năm, trong đó nông nghiệp tăng 9,30%/năm, lâm nghiệp tăng 19,53%/năm, thủy sản tăng 18,50%. Giá trị sản xuất năm 2020 đạt 953,040 tỷ đồng.
Trong nội bộ ngành nông nghiệp; giai đoạn 2016 - 2020, trồng trọt tăng bình quân 7,98%/năm, chăn nuôi tăng 10,94%/năm. Cơ cấu trồng trọt - chăn nuôi chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng trồng trọt, tăng dần tỷ trọng chăn nuôi. Đến năm 2020, trồng trọt chiếm 52,88%, chăn nuôi chiếm 47,12%.
+ Tập trung phát triển sản xuất lương thực nhằm đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn huyện và có sản phẩm hàng hóa xuất bán ra bên ngoài.
+ Đẩy mạnh quá trình, chuyển đổi nông, lâm nghiệp sang sản xuất hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn liền với hình thành các tiểu vùng chuyên canh những sản phẩm mũi nhọn, có tiềm năng của huyện như vùng sản xuất lúa đặc sản, ngô hàng hóa, đậu tương, lạc, dong giềng, rau đậu các loại, cây dược liệu, cây ăn quả, cây lâm nghiệp...; chăn nuôi gia súc, gia cầm đặc sản bản địa.
+ Phát triển nông, lâm nghiệp huyện Si Ma Cai theo hướng sinh thái bền vững; Xây dựng các mô hình kinh tế trang trại sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao, đặc sản, sạch, an toàn có giá trị kinh tế cao đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng tăng.
+ Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, nhất là chăn nuôi đại gia súc. Phát triển cân đối giữa nông nghiệp với lâm nghiệp trên cơ sở khai thác lợi thế của từng ngành và mối quan hệ giữa các ngành để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
+ Phát triển nông, lâm nghiệp của huyện gắn liền với phát triển các ngành nghề nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến nông lâm sản (sử dụng các dây chuyền, thiết bị công nghệ mới quy mô nhỏ và vừa) tạo việc làm và tăng thêm giá trị của các sản phẩm nông sản.
+ Gắn việc phát triển nông, lâm nghiệp với du lịch, để một mặt tạo sức hấp dẫn cho du lịch, mặt khác tạo thị trường tiêu thụ nông sản phẩm; qua đó, thực hiện phân công lại lao động trong nông thôn, khai thác tối đa các tiềm năng của huyện, nâng cao hiệu quả sản xuất.
+ Ứng dụng khoa học, kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất: Chọn lọc và đưa giống cây, con có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng vào sản xuất.
+ Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp, trong đó ưu tiên về giao thông, thủy lợi, cơ sở chế biến.
+ Tiếp tục thực hiện chính sách khuyến nông, khuyến lâm, kiên cố hóa kênh mương, chính sách trợ cước, trợ giá và tiêu thụ nông sản phẩm.
Phát triển công nghiệp, xây dựng
Phấn đấu giá trị sản xuất ngành công nghiệp, xây dựng trên địa bàn giai đoạn 2016 - 2020 tăng bình quân 10,03%/năm, trong đó công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 11,29%/năm và xây dựng đạt 9,69%/năm (theo giá so sánh 2010).
Về quy mô giá trị sản xuất: Năm 2020, giá trị sản xuất toàn ngành đạt 443,85 tỷ đồng (giá hiện hành).
+ Tập trung phát triển các ngành có tiềm năng như công nghiệp chế biến nông, lâm sản; khai thác vật liệu xây dựng; đầu tư, khai thác thủy điện; chế biến thức ăn gia súc; cơ khí chế biến và sửa chữa nông cụ,... nhằm khai thác các nguồn lực, tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của huyện.
+ Khôi phục và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống, trước hết xây dựng 2 làng nghề truyền thống là dệt, thêu ở xã Cán Cấu và sản xuất ngói máng ở xã Sín Chéng. Chủ động tìm tòi các ngành nghề thủ công mới nhằm phát triển các ngành nghề thủ công ở tất cả các xã trong huyện như: nghề nấu rượu, làm đậu phụ, làm miến dong riềng...
+ Xây dựng cơ chế hợp lý, khai thác các nguồn lực bên ngoài hình thành các cụm tiểu thủ công nghiệp tập trung quy mô nhỏ, trước tiên là cụm tiểu thủ công nghiệp Nàn Sán.
+ Phát huy sức mạnh của mọi thành phần kinh tế, nhất là kinh tế ngoài quốc doanh (kinh tế hộ, kinh tế tư nhân, kinh tế HTX) để phát triển công nghiệp, TTCN và xây dựng.