Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 683/QĐ-UBND Đào tạo nghề cho lao động nông thôn Lâm Đồng 2014 - 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "04/04/2014", "sign_number": "683/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "04/04/2014", "sign_number": "683/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "04/04/2014", "sign_number": "683/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "04/04/2014", "sign_number": "683/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "04/04/2014", "sign_number": "683/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 683/QĐ-UBND Đào tạo nghề cho lao động nông thôn Lâm Đồng 2014 - 2020

Điều 1. Phê duyệt Đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 - 2020" với các nội dung như sau:
...
2. Mục tiêu cụ thể
a) Trong giai đoạn 2004 - 2020, mỗi năm đào tạo nghề từ 7.000 - 10.000 lao động nông thôn, trong đó:
- 60% để phục vụ sản xuất nông nghiệp;
- 40% để chuyển đổi ngành nghề, cung ứng cho các khu công nghiệp, các ngành sản xuất phi nông nghiệp và cho xuất khẩu lao động;
- Đảm bảo ít nhất 80% người học nghề có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ nhưng có năng suất, thu nhập cao hơn trước khi học nghề.
b) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực quản lý hành chính, quản lý kinh tế - xã hội theo chức danh, vị trí làm việc đáp ứng yêu cầu của công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành và thực thi công vụ cho 500 - 700 lượt cán bộ, công chức xã mỗi năm.
II. ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ ÁN
1. Lao động nông thôn trong độ tuổi lao động, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học. Trong đó ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác.
2. Cán bộ chuyên trách đảng, đoàn thể chính trị - xã hội, chính quyền và công chức chuyên môn xã; cán bộ nguồn bổ sung thay thế cho cán bộ, công chức xã đến tuổi nghỉ công tác hoặc thiếu hụt do cơ học có độ tuổi phù hợp với quy hoạch cán bộ đến năm 2015 và đến năm 2020.
III. CHÍNH SÁCH CỦA ĐỀ ÁN
1. Chính sách đối với người học nghề
a) Lao động thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 3.000.000 đồng/người/khóa học.
Ngoài ra, được hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000 đồng/ngày thực học/người và đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15 km trở lên hỗ trợ tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000 đồng/người/khóa học.
b) Lao động thuộc hộ cận nghèo được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn với mức tối đa 2.500.000 đồng/người/khóa học;
c) Lao động khác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn với mức tối đa 2.000.000 đồng/người/khóa học.
d) Mỗi lao động chỉ được học một nghề theo chính sách của Đề án này. Những người đã được hỗ trợ học nghề theo các chính sách khác của Nhà nước thì không được hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề án này. Riêng những người đã được hỗ trợ học nghề nhưng bị mất việc làm do nguyên nhân khách quan thì Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định tiếp tục hỗ trợ học nghề khác để chuyển đổi việc làm theo chính sách của Đề án này nhưng tối đa không quá 03 lần
đ) Mức hỗ trợ học nghề của từng nghề do UBND tỉnh phê duyệt theo đề nghị của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội và Sở Tài chính.
Các địa phương có thể lựa chọn một số mô-đun của chương trình dạy nghề phù hợp với nhu cầu người học nghề và thời điểm tổ chức lớp dạy nghề.
Đối với những nghề có mức chi phí cho khóa học cao hơn mức hỗ trợ học nghề: học viên phải nộp đủ chi phí chênh lệch giữa mức học phí cho toàn khóa học so với mức hỗ trợ học nghề.
2. Chính sách đối với giáo viên dạy nghề
- Giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề thường xuyên phải xuống thôn hoặc xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để dạy nghề với thời gian từ 15 ngày trở lên trong tháng được hưởng phụ cấp lưu động hệ số 0,2 so với mức lương tối thiểu chung;
- Người dạy nghề (cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các trung tâm khuyến nông, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn) được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 25.000 đồng/giờ; người dạy nghề là tiến sĩ khoa học, tiến sĩ trong lĩnh vực nông nghiệp, nghệ nhân cấp tỉnh trở lên được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 300.000 đồng/buổi. Mức cụ thể do cơ sở dạy nghề quyết định.

Content:
Mục tiêu cụ thể
a) Trong giai đoạn 2004 - 2020, mỗi năm đào tạo nghề từ 7.000 - 10.000 lao động nông thôn, trong đó:
- 60% để phục vụ sản xuất nông nghiệp;
- 40% để chuyển đổi ngành nghề, cung ứng cho các khu công nghiệp, các ngành sản xuất phi nông nghiệp và cho xuất khẩu lao động;
- Đảm bảo ít nhất 80% người học nghề có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ nhưng có năng suất, thu nhập cao hơn trước khi học nghề.
b) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực quản lý hành chính, quản lý kinh tế - xã hội theo chức danh, vị trí làm việc đáp ứng yêu cầu của công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành và thực thi công vụ cho 500 - 700 lượt cán bộ, công chức xã mỗi năm.
II. ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ ÁN
1. Lao động nông thôn trong độ tuổi lao động, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học. Trong đó ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác.
Cán bộ chuyên trách đảng, đoàn thể chính trị - xã hội, chính quyền và công chức chuyên môn xã; cán bộ nguồn bổ sung thay thế cho cán bộ, công chức xã đến tuổi nghỉ công tác hoặc thiếu hụt do cơ học có độ tuổi phù hợp với quy hoạch cán bộ đến năm 2015 và đến năm 2020.
III. CHÍNH SÁCH CỦA ĐỀ ÁN
1. Chính sách đối với người học nghề
a) Lao động thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 3.000.000 đồng/người/khóa học.
Ngoài ra, được hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000 đồng/ngày thực học/người và đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15 km trở lên hỗ trợ tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000 đồng/người/khóa học.
b) Lao động thuộc hộ cận nghèo được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn với mức tối đa 2.500.000 đồng/người/khóa học;
c) Lao động khác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn với mức tối đa 2.000.000 đồng/người/khóa học.
d) Mỗi lao động chỉ được học một nghề theo chính sách của Đề án này. Những người đã được hỗ trợ học nghề theo các chính sách khác của Nhà nước thì không được hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề án này. Riêng những người đã được hỗ trợ học nghề nhưng bị mất việc làm do nguyên nhân khách quan thì Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định tiếp tục hỗ trợ học nghề khác để chuyển đổi việc làm theo chính sách của Đề án này nhưng tối đa không quá 03 lần
đ) Mức hỗ trợ học nghề của từng nghề do UBND tỉnh phê duyệt theo đề nghị của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội và Sở Tài chính.
Các địa phương có thể lựa chọn một số mô-đun của chương trình dạy nghề phù hợp với nhu cầu người học nghề và thời điểm tổ chức lớp dạy nghề.
Đối với những nghề có mức chi phí cho khóa học cao hơn mức hỗ trợ học nghề: học viên phải nộp đủ chi phí chênh lệch giữa mức học phí cho toàn khóa học so với mức hỗ trợ học nghề.
Chính sách đối với giáo viên dạy nghề
- Giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề thường xuyên phải xuống thôn hoặc xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để dạy nghề với thời gian từ 15 ngày trở lên trong tháng được hưởng phụ cấp lưu động hệ số 0,2 so với mức lương tối thiểu chung;
- Người dạy nghề (cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các trung tâm khuyến nông, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn) được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 25.000 đồng/giờ; người dạy nghề là tiến sĩ khoa học, tiến sĩ trong lĩnh vực nông nghiệp, nghệ nhân cấp tỉnh trở lên được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 300.000 đồng/buổi. Mức cụ thể do cơ sở dạy nghề quyết định.