Document: Khoản 9 Điều 1 Quyết định 1578/QĐ-TTg 2020 Quy hoạch chung đô thị Hà Giang tỉnh Hà Giang đến 2035

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "13/10/2020", "sign_number": "1578/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "13/10/2020", "sign_number": "1578/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "13/10/2020", "sign_number": "1578/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "13/10/2020", "sign_number": "1578/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "13/10/2020", "sign_number": "1578/QĐ-TTg", "signer": "Trịnh Đình Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 9 Điều 1 Quyết định 1578/QĐ-TTg 2020 Quy hoạch chung đô thị Hà Giang tỉnh Hà Giang đến 2035

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch chung đô thị Hà Giang, tỉnh Hà Giang đến năm 2035, với những nội dung chính sau:
...
9. Định hướng phát triển các hệ thống hạ tầng kỹ thuật:
a) Hệ thống giao thông:
- Giao thông đối ngoại:
Tuyến cao tốc Hà Giang - Tuyên Quang có nút giao với đô thị thuộc địa phận xã Phú Linh, huyện Vị Xuyên; đường tránh quốc lộ 2 đi cửa khẩu Thanh Thủy qua đô thị, là đường Vành đai đô thị phía Đông và phía Bắc khu vực Phát triển đô thị; quốc lộ 4C đoạn qua đô thị Hà Giang, có điểm đầu tại đầu cầu Phong Quang và điểm cuối tại cầu Phương Tiến; quốc lộ 2C kéo dài, đoạn qua đô thị Hà Giang, là tuyến đường vành đai phía Đông, kết thúc tại Bến xe phía Bắc.
Xây dựng Bến xe phía Nam thuộc Khu đô thị Trần Phú - Minh Khai; xây dựng Bến xe phía Bắc tại vị trí cửa ngõ phía Bắc, giao điểm đường vành đai phía Đông với đường quốc lộ 2C kéo dài.
- Giao thông đô thị:
Xây dựng các tuyến đường vành đai đô thị: Vành đai phía Đông từ nút giao Minh Khai đi qua xã Ngọc Đường, đấu nối với quốc lộ 34 đi Bắc Mê, Cao Bằng; vành đai phía Bắc đi qua xã Phong Quang, kết nối với quốc lộ 4 và quốc lộ 2 đi Cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy; vành đai phía Tây là đường Hữu Nghị.
Giao thông trong khu đô thị hiện hữu cơ bản kế tục hướng tuyến và lộ giới đã quy hoạch. Xây dựng mới các tuyến: Từ ngã ba cầu Phong Quang đi Khu đô thị Hà Phương; tuyến đường ven sông Lô qua tổ 2,3 phường Quang Trung; đường Phùng Hưng kéo dài (từ cầu suối Tiên - đường Lý Thường Kiệt).
Giao thông tại các khu đô thị phát triển mới: xây dựng các trục đường chính kết nối với mạng đường vành đai và liên kết với trung tâm đô thị cũ.
Nghiên cứu tổ chức hệ thống bãi đỗ xe tại các khu trung tâm đô thị, khu vực cửa ngõ đô thị, các khu công viên, quảng trường và khu dân cư, đảm bảo đáp ứng nhu cầu sử dụng giao thông tĩnh của đô thị.
- Giao thông nông thôn khu vực ngoại thị:
Nâng cấp hệ thống đường giao thông liên kết các bản dân tộc, liên thông mạng lưới đường liên xã, làng bản với mạng lưới đường tỉnh; xây dựng các tuyến đường du lịch tiếp cận các điểm du lịch núi Hàm Hổ; núi Mỏ Neo, núi Cấm và khu vực sườn núi phía Tây thành phố Hà Giang.
- Công trình giao thông:
Xây dựng nút giao lập thể cao tốc Hà Giang - Tuyên Quang với đô thị; Tại khu vực phát triển đô thị mới, bố trí các bến bãi đỗ xe với tổng diện tích tối thiểu đạt 1,5 - 2% đất xây dựng đô thị; xây dựng và nâng cấp các cầu qua sông theo quy hoạch, gồm xây mới 06 cầu cơ giới, xây mới 02 cầu đi bộ, chỉnh trang nâng cấp 07 cầu cơ giới hiện hữu. Nghiên cứu kiến trúc công trình cầu qua sông khai thác phát huy hình thái kiến trúc đặc trưng bản sắc, góp phần làm phong phú kiến trúc đô thị bên sông.
b) Hệ thống cao độ nền, thoát nước mặt:
- Cao độ nền xây dựng:
Đối với khu vực đô thị hiện hữu: cao độ nền xây dựng cơ bản giữ nguyên theo cao độ nền xây dựng hiện trạng, cải tạo chỉnh trang cao trình xây dựng đạt cao trình thiết kế.
Đối với khu vực xây dựng mới: cao độ nền xây dựng tuân thủ theo quy chuẩn hiện hành. Tôn trọng địa hình cảnh quan tự nhiên, hạn chế san lấp lớn, chỉ san lấp cục bộ khu vực xây dựng công trình, kè taluy chống sạt lở, đảm bảo độ dốc theo quy định.
- Mạng lưới thoát nước mặt:
Phân chia địa bàn thành 03 lưu vực thoát nước chính sau:
+ Lưu vực 1 (phía Đông Bắc Đô thị): Cải tạo nâng cấp hệ thống thoát nước mưa trong khu dân cư hiện hữu. Xây dựng mới hệ thống thoát nước mưa riêng cho khu vực dân cư phát triển mới và khu công nghiệp. Hướng thoát nước về các khe tụ thủy, ra suối Bản Cưởm, suối Nậm Thấu, thoát ra sông Miện.
+ Lưu vực 2 (phía Tây Bắc Đô thị): Cải tạo nâng cấp hệ thống thoát nước mưa trong khu dân cư hiện hữu. Xây dựng mới hệ thống thoát nước riêng cho khu vực phát triển mới. Hướng thoát nước về các khe tụ thủy, ra suối Tiên, suối Nậm Tha và Nậm Lúp, thoát ra sông Lô.
+ Lưu vực 3 (phía Nam đô thị): Nâng cấp, cải tạo hệ thống thoát nước mưa tại khu dân cư hiện hữu và bổ sung xây dựng mới hệ thống thoát nước mưa còn thiếu, đảm bảo 100% đường giao thông trong nội đô có mạng lưới thoát nước mưa. Hướng thoát nước về các khe tụ thủy và suối Châng, thoát ra sông Lô.
c) Hệ thống cấp nước:
- Nhu cầu và nguồn nước:
Ưu tiên khai thác nguồn nước mặt, từng bước giảm khai thác nước ngầm. Đối với nguồn nước mặt, ngoài nguồn nước từ sông Miện (hiện có), bổ sung các nguồn nước sau:
+ Nguồn nước suối Sửu thuộc xã Phương Tiến, huyện Vị Xuyên. Nước dẫn từ đập nước tự chảy về nhà máy xử lý.
+ Nguồn nước suối Tha, thuộc xã Phương Độ, thành phố Hà Giang. Dẫn nước tự chảy từ đập dâng về bể điều hòa để cấp nước cho nhà máy nước.
+ Nguồn nước suối Châng (suối Má, thuộc xã Cao Bồ, huyện Vị Xuyên. Lấy nước từ đập dâng, dẫn nước tự chảy về nhà máy nước.
+ Nguồn nước sông Miện tại hồ thủy điện sông Miện 6, thuộc phường Quang Trung và xã Ngọc Đường, thành phố Hà Giang. Bố trí công trình thu nước ven bờ hồ thủy điện sông Miện 6 để dẫn nước về nhà máy nước.
- Công trình đầu mối:
+ Nhà máy xử lý nước Sông Miện nâng công suất thành 16.000 m3/ngày đêm (bao gồm công suất trạm xử lý nước sông Miện - OECF: 1.500 m3/ngày đêm) cấp nước cho khu vực trung tâm hiện hữu của thành phố.
+ Nhà máy nước suối Sửu (xã Phương Tiến): công suất 10.000 m3/ngày đêm cấp nước cho khu vực Tây Bắc sông Lô và khu vực Phong Quang.
+ Nhà máy nước suối Châng (xã Cao Bồ): công suất 5.000 m3/ngày đêm cấp nước cho khu vực phía Tây Nam sông Lô.
+ Nhà máy nước suối Tha (thôn Nà Thác - xã Phương Độ): công suất 5.000 m3/ngày đêm dự phòng cấp nước cho khu vực phía Tây Bắc sông Lô trong giai đoạn dài hạn.
+ Nhà máy nước sông Miện 2 (phương án cấp nước dự phòng): công suất 20.000 m3/ngày đêm cấp nước cho khu vực phát triển mới Đông sông Lô và một phần khu vực trung tâm thành phố Hà Giang.
- Mạng lưới đường ống
Cải tạo, nâng cấp, khép mạch vòng và phủ kín mạng dịch vụ cho khu vực nội thị, bổ sung mạng lưới cấp nước mạng vòng cho các khu vực đô thị mới kết nối với mạng lưới cấp nước hiện hữu. Cải tạo, nâng cấp mạng lưới đường ống hiện hữu. Xây dựng trạm bơm tăng áp và đài nước tạo áp lực cho khu vực phía Tây thành phố Hà Giang. Sử dụng hệ thống cấp nước chữa cháy áp lực thấp với đường ống cấp nước chữa cháy dùng chung với đường ống cấp nước sinh hoạt.
Các khu dân cư nông thôn nằm trên các tuyến đường giao thông chính, gần các nhà máy nước, hoặc có điều kiện tiếp cận thuận lợi với hệ thống cấp nước đô thị, sử dụng nước từ hệ thống cấp nước toàn đô thị. Các khu dân cư phân tán, không có điều kiện tiếp cận hệ thống cấp nước đô thị sử dụng hệ thống cấp nước nông thôn với nguồn kết hợp từ các suối, nước ngầm dành cho quy mô cụm, điểm dân cư và hệ thống giếng khoan mạch nông dùng cho quy mô hộ gia đình.
d) Hệ thống cấp điện:
- Nhu cầu và nguồn điện:
Tổng nhu cầu điện thành phố Hà Giang đến năm 2035 khoảng 95MW; nguồn cấp điện cho thành phố Hà Giang lấy trực tiếp từ TBA 110 KV Hà Giang, công suất hiện trạng 2x25MVA, dự kiến đến 2025 nâng lên 1x25MVA+1x40MVA, đến năm 2035 là 1x40MVA+1x63MVA.
Lưới điện 220kV: Giữ nguyên hướng tuyến các đường dây 220kV hiện có trên địa bàn. Công suất TBA 220kV Hà Giang sẽ được làm rõ theo nhu cầu sử dụng và truyền tải điện phục vụ cho vùng.
Lưới điện 110kV: Đảm bảo hành lang an toàn vận hành cho các tuyến 110kV; Xây dựng mới đường dây 110kV đấu nối từ nhà máy thủy điện Phong Quang, đấu nối chuyển tiếp từ đường dây 110kV Maomaotiao - Hà Giang; Xây dựng mới đường dây 110kV đấu nối từ trạm 220kV Hà Giang đến trạm 110kV Bắc Mê.
Lưới điện 35kV: lưới 35kV từ TBA 110kV Hà Giang liên kết giữa thành phố và các vùng lân cận.
Lưới điện 22kV: Các đường dây 22kV sau TBA 110kV Hà Giang (lộ 471, 472, 473, 474 và 476) ngầm hóa từng bước trong khu vực phát triển đô thị.
- Lưới hạ thế và chiếu sáng:
Đối với khu vực phát triển đô thị: cải tạo và xây dựng mới theo dạng cáp ngầm đồng bộ với cải tạo cảnh quan hạ tầng đô thị theo tuyến phố. Các khu vực ngoại thị có thể đi nổi, sử dụng cáp vặn xoắn.
Bổ sung hệ thống chiếu sáng đường đến cấp ngõ xóm. Nghiên cứu các loại hình chiếu sáng cảnh quan, chiếu sáng thông tin tín hiệu phục vụ du lịch.
đ) Hệ thống thoát nước thải, quản lý chất thải rắn và nghĩa trang:
- Thoát nước thải:
Hệ thống thoát nước thải toàn Đô thị Hà Giang thiết kế thoát nước riêng giữa nước mưa và nước thải. Nước thải công nghiệp phải được thu gom và xử lý riêng đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi thải ra nguồn tiếp nhận. Nước thải được thu gom bằng mạng lưới cống thoát có đường kính D300-600 mm, qua các trạm bơm nước thải và dẫn về trạm xử lý tập trung. Đối với các khu du lịch, khu ở mật độ thấp, nước thải được xử lý cục bộ đạt tiêu chuẩn môi trường theo từng công trình hoặc nhóm công trình trước khi xả ra nguồn tiếp nhận.
Khu vực quy hoạch gồm hai lưu vực là Đông sông Lô và Tây sông Lô:
- Lưu vực Đông sông Lô: mạng lưới thoát nước riêng với 03 trạm xử lý nước thải: Trạm 1 - 3.000 m3/ngày đêm, Trạm 4 - 3.200 m3/ngày đêm, Trạm 5 - 2.000 m3/ngày đêm.
- Lưu vực Tây sông Lô: mạng lưới thoát nước riêng với: Trạm 2 - 4.000 m3/ngày đêm, Trạm 3 - 1.500 m3/ngày đêm.
- Các khu vực nông thôn và khu vực dân cư phân tán, nước thải được xử lý cục bộ đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi xả ra hệ thống.
b) Quản lý chất thải rắn:
Chất thải rắn đô thị phải được phân loại tại nguồn trước khi thu gom, vận chuyển đến khu xử lý của thành phố; xây dựng nhà máy xử lý chất thải rắn mới tại xã Kim Thạch, huyện Vị Xuyên, quy mô 13,2 ha, công suất 150 - 200 tấn/ngày phục vụ cho thành phố và khu vực phụ cận.
- Quản lý nghĩa trang:
Xây dựng mới 02 nhà tang lễ thành phố: 01 tại bệnh viện đa khoa tỉnh; 01 xây mới tại nghĩa trang hiện hữu, phường Nguyễn Trãi; từng bước ngừng chôn cất hung táng tại các nghĩa trang hiện hữu trong nội thành, chỉ tiếp nhận mộ cát táng, hỏa táng; mở rộng nghĩa trang hiện có tại xã Ngọc Đường, diện tích 5,0 ha; định hướng xây dựng 01 công viên nghĩa trang mới tại xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên, quy mô 20 ha (ngoài phạm vi Đô thị Hà Giang) có dịch vụ hỏa táng.

Content:
Định hướng phát triển các hệ thống hạ tầng kỹ thuật:
a) Hệ thống giao thông:
- Giao thông đối ngoại:
Tuyến cao tốc Hà Giang - Tuyên Quang có nút giao với đô thị thuộc địa phận xã Phú Linh, huyện Vị Xuyên; đường tránh quốc lộ 2 đi cửa khẩu Thanh Thủy qua đô thị, là đường Vành đai đô thị phía Đông và phía Bắc khu vực Phát triển đô thị; quốc lộ 4C đoạn qua đô thị Hà Giang, có điểm đầu tại đầu cầu Phong Quang và điểm cuối tại cầu Phương Tiến; quốc lộ 2C kéo dài, đoạn qua đô thị Hà Giang, là tuyến đường vành đai phía Đông, kết thúc tại Bến xe phía Bắc.
Xây dựng Bến xe phía Nam thuộc Khu đô thị Trần Phú - Minh Khai; xây dựng Bến xe phía Bắc tại vị trí cửa ngõ phía Bắc, giao điểm đường vành đai phía Đông với đường quốc lộ 2C kéo dài.
- Giao thông đô thị:
Xây dựng các tuyến đường vành đai đô thị: Vành đai phía Đông từ nút giao Minh Khai đi qua xã Ngọc Đường, đấu nối với quốc lộ 34 đi Bắc Mê, Cao Bằng; vành đai phía Bắc đi qua xã Phong Quang, kết nối với quốc lộ 4 và quốc lộ 2 đi Cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy; vành đai phía Tây là đường Hữu Nghị.
Giao thông trong khu đô thị hiện hữu cơ bản kế tục hướng tuyến và lộ giới đã quy hoạch. Xây dựng mới các tuyến: Từ ngã ba cầu Phong Quang đi Khu đô thị Hà Phương; tuyến đường ven sông Lô qua tổ 2,3 phường Quang Trung; đường Phùng Hưng kéo dài (từ cầu suối Tiên - đường Lý Thường Kiệt).
Giao thông tại các khu đô thị phát triển mới: xây dựng các trục đường chính kết nối với mạng đường vành đai và liên kết với trung tâm đô thị cũ.
Nghiên cứu tổ chức hệ thống bãi đỗ xe tại các khu trung tâm đô thị, khu vực cửa ngõ đô thị, các khu công viên, quảng trường và khu dân cư, đảm bảo đáp ứng nhu cầu sử dụng giao thông tĩnh của đô thị.
- Giao thông nông thôn khu vực ngoại thị:
Nâng cấp hệ thống đường giao thông liên kết các bản dân tộc, liên thông mạng lưới đường liên xã, làng bản với mạng lưới đường tỉnh; xây dựng các tuyến đường du lịch tiếp cận các điểm du lịch núi Hàm Hổ; núi Mỏ Neo, núi Cấm và khu vực sườn núi phía Tây thành phố Hà Giang.
- Công trình giao thông:
Xây dựng nút giao lập thể cao tốc Hà Giang - Tuyên Quang với đô thị; Tại khu vực phát triển đô thị mới, bố trí các bến bãi đỗ xe với tổng diện tích tối thiểu đạt 1,5 - 2% đất xây dựng đô thị; xây dựng và nâng cấp các cầu qua sông theo quy hoạch, gồm xây mới 06 cầu cơ giới, xây mới 02 cầu đi bộ, chỉnh trang nâng cấp 07 cầu cơ giới hiện hữu. Nghiên cứu kiến trúc công trình cầu qua sông khai thác phát huy hình thái kiến trúc đặc trưng bản sắc, góp phần làm phong phú kiến trúc đô thị bên sông.
b) Hệ thống cao độ nền, thoát nước mặt:
- Cao độ nền xây dựng:
Đối với khu vực đô thị hiện hữu: cao độ nền xây dựng cơ bản giữ nguyên theo cao độ nền xây dựng hiện trạng, cải tạo chỉnh trang cao trình xây dựng đạt cao trình thiết kế.
Đối với khu vực xây dựng mới: cao độ nền xây dựng tuân thủ theo quy chuẩn hiện hành. Tôn trọng địa hình cảnh quan tự nhiên, hạn chế san lấp lớn, chỉ san lấp cục bộ khu vực xây dựng công trình, kè taluy chống sạt lở, đảm bảo độ dốc theo quy định.
- Mạng lưới thoát nước mặt:
Phân chia địa bàn thành 03 lưu vực thoát nước chính sau:
+ Lưu vực 1 (phía Đông Bắc Đô thị): Cải tạo nâng cấp hệ thống thoát nước mưa trong khu dân cư hiện hữu. Xây dựng mới hệ thống thoát nước mưa riêng cho khu vực dân cư phát triển mới và khu công nghiệp. Hướng thoát nước về các khe tụ thủy, ra suối Bản Cưởm, suối Nậm Thấu, thoát ra sông Miện.
+ Lưu vực 2 (phía Tây Bắc Đô thị): Cải tạo nâng cấp hệ thống thoát nước mưa trong khu dân cư hiện hữu. Xây dựng mới hệ thống thoát nước riêng cho khu vực phát triển mới. Hướng thoát nước về các khe tụ thủy, ra suối Tiên, suối Nậm Tha và Nậm Lúp, thoát ra sông Lô.
+ Lưu vực 3 (phía Nam đô thị): Nâng cấp, cải tạo hệ thống thoát nước mưa tại khu dân cư hiện hữu và bổ sung xây dựng mới hệ thống thoát nước mưa còn thiếu, đảm bảo 100% đường giao thông trong nội đô có mạng lưới thoát nước mưa. Hướng thoát nước về các khe tụ thủy và suối Châng, thoát ra sông Lô.
c) Hệ thống cấp nước:
- Nhu cầu và nguồn nước:
Ưu tiên khai thác nguồn nước mặt, từng bước giảm khai thác nước ngầm. Đối với nguồn nước mặt, ngoài nguồn nước từ sông Miện (hiện có), bổ sung các nguồn nước sau:
+ Nguồn nước suối Sửu thuộc xã Phương Tiến, huyện Vị Xuyên. Nước dẫn từ đập nước tự chảy về nhà máy xử lý.
+ Nguồn nước suối Tha, thuộc xã Phương Độ, thành phố Hà Giang. Dẫn nước tự chảy từ đập dâng về bể điều hòa để cấp nước cho nhà máy nước.
+ Nguồn nước suối Châng (suối Má, thuộc xã Cao Bồ, huyện Vị Xuyên. Lấy nước từ đập dâng, dẫn nước tự chảy về nhà máy nước.
+ Nguồn nước sông Miện tại hồ thủy điện sông Miện 6, thuộc phường Quang Trung và xã Ngọc Đường, thành phố Hà Giang. Bố trí công trình thu nước ven bờ hồ thủy điện sông Miện 6 để dẫn nước về nhà máy nước.
- Công trình đầu mối:
+ Nhà máy xử lý nước Sông Miện nâng công suất thành 16.000 m3/ngày đêm (bao gồm công suất trạm xử lý nước sông Miện - OECF: 1.500 m3/ngày đêm) cấp nước cho khu vực trung tâm hiện hữu của thành phố.
+ Nhà máy nước suối Sửu (xã Phương Tiến): công suất 10.000 m3/ngày đêm cấp nước cho khu vực Tây Bắc sông Lô và khu vực Phong Quang.
+ Nhà máy nước suối Châng (xã Cao Bồ): công suất 5.000 m3/ngày đêm cấp nước cho khu vực phía Tây Nam sông Lô.
+ Nhà máy nước suối Tha (thôn Nà Thác - xã Phương Độ): công suất 5.000 m3/ngày đêm dự phòng cấp nước cho khu vực phía Tây Bắc sông Lô trong giai đoạn dài hạn.
+ Nhà máy nước sông Miện 2 (phương án cấp nước dự phòng): công suất 20.000 m3/ngày đêm cấp nước cho khu vực phát triển mới Đông sông Lô và một phần khu vực trung tâm thành phố Hà Giang.
- Mạng lưới đường ống
Cải tạo, nâng cấp, khép mạch vòng và phủ kín mạng dịch vụ cho khu vực nội thị, bổ sung mạng lưới cấp nước mạng vòng cho các khu vực đô thị mới kết nối với mạng lưới cấp nước hiện hữu. Cải tạo, nâng cấp mạng lưới đường ống hiện hữu. Xây dựng trạm bơm tăng áp và đài nước tạo áp lực cho khu vực phía Tây thành phố Hà Giang. Sử dụng hệ thống cấp nước chữa cháy áp lực thấp với đường ống cấp nước chữa cháy dùng chung với đường ống cấp nước sinh hoạt.
Các khu dân cư nông thôn nằm trên các tuyến đường giao thông chính, gần các nhà máy nước, hoặc có điều kiện tiếp cận thuận lợi với hệ thống cấp nước đô thị, sử dụng nước từ hệ thống cấp nước toàn đô thị. Các khu dân cư phân tán, không có điều kiện tiếp cận hệ thống cấp nước đô thị sử dụng hệ thống cấp nước nông thôn với nguồn kết hợp từ các suối, nước ngầm dành cho quy mô cụm, điểm dân cư và hệ thống giếng khoan mạch nông dùng cho quy mô hộ gia đình.
d) Hệ thống cấp điện:
- Nhu cầu và nguồn điện:
Tổng nhu cầu điện thành phố Hà Giang đến năm 2035 khoảng 95MW; nguồn cấp điện cho thành phố Hà Giang lấy trực tiếp từ TBA 110 KV Hà Giang, công suất hiện trạng 2x25MVA, dự kiến đến 2025 nâng lên 1x25MVA+1x40MVA, đến năm 2035 là 1x40MVA+1x63MVA.
Lưới điện 220kV: Giữ nguyên hướng tuyến các đường dây 220kV hiện có trên địa bàn. Công suất TBA 220kV Hà Giang sẽ được làm rõ theo nhu cầu sử dụng và truyền tải điện phục vụ cho vùng.
Lưới điện 110kV: Đảm bảo hành lang an toàn vận hành cho các tuyến 110kV; Xây dựng mới đường dây 110kV đấu nối từ nhà máy thủy điện Phong Quang, đấu nối chuyển tiếp từ đường dây 110kV Maomaotiao - Hà Giang; Xây dựng mới đường dây 110kV đấu nối từ trạm 220kV Hà Giang đến trạm 110kV Bắc Mê.
Lưới điện 35kV: lưới 35kV từ TBA 110kV Hà Giang liên kết giữa thành phố và các vùng lân cận.
Lưới điện 22kV: Các đường dây 22kV sau TBA 110kV Hà Giang (lộ 471, 472, 473, 474 và 476) ngầm hóa từng bước trong khu vực phát triển đô thị.
- Lưới hạ thế và chiếu sáng:
Đối với khu vực phát triển đô thị: cải tạo và xây dựng mới theo dạng cáp ngầm đồng bộ với cải tạo cảnh quan hạ tầng đô thị theo tuyến phố. Các khu vực ngoại thị có thể đi nổi, sử dụng cáp vặn xoắn.
Bổ sung hệ thống chiếu sáng đường đến cấp ngõ xóm. Nghiên cứu các loại hình chiếu sáng cảnh quan, chiếu sáng thông tin tín hiệu phục vụ du lịch.
đ) Hệ thống thoát nước thải, quản lý chất thải rắn và nghĩa trang:
- Thoát nước thải:
Hệ thống thoát nước thải toàn Đô thị Hà Giang thiết kế thoát nước riêng giữa nước mưa và nước thải. Nước thải công nghiệp phải được thu gom và xử lý riêng đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi thải ra nguồn tiếp nhận. Nước thải được thu gom bằng mạng lưới cống thoát có đường kính D300-600 mm, qua các trạm bơm nước thải và dẫn về trạm xử lý tập trung. Đối với các khu du lịch, khu ở mật độ thấp, nước thải được xử lý cục bộ đạt tiêu chuẩn môi trường theo từng công trình hoặc nhóm công trình trước khi xả ra nguồn tiếp nhận.
Khu vực quy hoạch gồm hai lưu vực là Đông sông Lô và Tây sông Lô:
- Lưu vực Đông sông Lô: mạng lưới thoát nước riêng với 03 trạm xử lý nước thải: Trạm 1 - 3.000 m3/ngày đêm, Trạm 4 - 3.200 m3/ngày đêm, Trạm 5 - 2.000 m3/ngày đêm.
- Lưu vực Tây sông Lô: mạng lưới thoát nước riêng với: Trạm 2 - 4.000 m3/ngày đêm, Trạm 3 - 1.500 m3/ngày đêm.
- Các khu vực nông thôn và khu vực dân cư phân tán, nước thải được xử lý cục bộ đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi xả ra hệ thống.
b) Quản lý chất thải rắn:
Chất thải rắn đô thị phải được phân loại tại nguồn trước khi thu gom, vận chuyển đến khu xử lý của thành phố; xây dựng nhà máy xử lý chất thải rắn mới tại xã Kim Thạch, huyện Vị Xuyên, quy mô 13,2 ha, công suất 150 - 200 tấn/ngày phục vụ cho thành phố và khu vực phụ cận.
- Quản lý nghĩa trang:
Xây dựng mới 02 nhà tang lễ thành phố: 01 tại bệnh viện đa khoa tỉnh; 01 xây mới tại nghĩa trang hiện hữu, phường Nguyễn Trãi; từng bước ngừng chôn cất hung táng tại các nghĩa trang hiện hữu trong nội thành, chỉ tiếp nhận mộ cát táng, hỏa táng; mở rộng nghĩa trang hiện có tại xã Ngọc Đường, diện tích 5,0 ha; định hướng xây dựng 01 công viên nghĩa trang mới tại xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên, quy mô 20 ha (ngoài phạm vi Đô thị Hà Giang) có dịch vụ hỏa táng.