Document: Khoản 15 Điều 1 Quyết định 170-VH/QĐ  chế độ nhuận bút sách và nhuận bút ngành sân khấu, múa, xiếc, điện ảnh, âm nhạc, hội họa, điêu khắc,mỹ nghệ, nhiếp ảnh,báo chí

Type: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá", "promulgation_date": "20/04/1961", "sign_number": "170-VH/QĐ", "signer": "Hoàng Minh Giám", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá", "promulgation_date": "20/04/1961", "sign_number": "170-VH/QĐ", "signer": "Hoàng Minh Giám", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá", "promulgation_date": "20/04/1961", "sign_number": "170-VH/QĐ", "signer": "Hoàng Minh Giám", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá", "promulgation_date": "20/04/1961", "sign_number": "170-VH/QĐ", "signer": "Hoàng Minh Giám", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Văn hoá", "promulgation_date": "20/04/1961", "sign_number": "170-VH/QĐ", "signer": "Hoàng Minh Giám", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 15 Điều 1 Quyết định 170-VH/QĐ  chế độ nhuận bút sách và nhuận bút ngành sân khấu, múa, xiếc, điện ảnh, âm nhạc, hội họa, điêu khắc,mỹ nghệ, nhiếp ảnh,báo chí

Điều 1. – Ban hành chế độ nhuận bút sách và nhuận bút của các ngành sân khấu, múa, xiếc, điện ảnh, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, mỹ nghệ, nhiếp ảnh, báo chí như quy định ở dưới đây:
...
15. Đối với những điệu múa có giá trị hiện nay vẫn còn đang sử dụng và có doanh thu mà trước đây chưa được trả tiền nhuận bút thì các cơ quan có kinh doanh sử dụng những điệu múa đó căn cứ vào quy định này mà trả nhuận bút cơ bản hoặc thù lao cho tác giả có điệu múa đó được hợp lý.
IV. NHUẬN BÚT CỦA NGÀNH XIẾC
1. Đối với các tiết mục xiếc được đoàn xiếc trung ương biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận thì tùy theo chất lượng là chủ yếu mà trả tiền nhuận bút cơ bản theo những quy định dưới đây:
2. Các tiết mục người biểu diễn và thú vật biểu diễn.
a) Sáng tác tiết mục xiếc từ 3 đến 6 động tác, biểu diễn từ 3 đến 5 phút, tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức:
50đ, 68đ, 82đ, 100đ.
b) Sác tác tiết mục xiếc từ 7 động tác đến 10 động tác biểu diễn từ 6 đến 10 phút, tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức:
80đ, 110đ, 130đ, 160đ.
c) Sáng tác tiết mục xiếc từ 11 động tác trở lên biểu diễn từ 11 đến 20 phút, tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức :
90đ, 130đ, 160đ, 200đ.
d) Sáng tác tiết mục xiếc có tình tiết, có nội dung biểu diễn từ 10 phút trở lên tuìy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức:
200đ, 310đ, 390đ, 500đ.
3. Các tiết mục xiếc hề.
a) Sáng tác hề xen vào tiết mục có kỹ xảo (ví dụ: hề xe đạp, hề leo cột) tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức:
20đ, 31đ, 39đ, 50đ.
b) Sáng tác hề thành tiết mục độc lập và kỹ xảo (ví dụ hề tranh ghế) từ 5 đến 15 phút tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức: 50đ, 68đ, 82đ, 100đ
c) Sáng tác hề câm có nội dung giáo dục từ 5 đến 15 phút tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức:
80đ, 110đ, 130đ, 160đ.
d) Sáng tác hề câm có nội dung giáo dục, có tình tiết từ 5 đến 15 phút tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức:
100đ, 135đ, 165đ, 200đ.
4. Các tiết mục ảo thuật xem một mặt sân khấu vuông.
a) Sáng tác tiết mục nhỏ làm bằng nhanh tay hoặc bằng những dụng cụ nhỏ chỉ xem gần được (ví dụ: xé giấy vụn ra lại lành) tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức:
10đ - 17đ - 23đ - 30đ.
b) Sáng tác tiết mục trung bình làm bằng nhanh tay và dụng cụ nhỏ ở xa cũng xem được (ví dụ: chai biến đổi, bóng hóa bồ câu) tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chai làm 4 mức:
40đ, 51đ, 59đ, 70đ.
c) Sáng tác tiết mục lớn dùng dụng cụ lớn ở xa xem được rõ (ví dụ: biến người trong hợp, cưa người làm 2 đoạn) tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức:
50đ, 68đ, 82đ, 100đ.
Trường hợp xây dựng tiết mục ảo thuật biểu diễn ở sân khấu tròn xem cả 4 mặt xung quanh, tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản gấp đôi ảo thuật xây dựng biểu diễn một mặt ở sân khấu vuông vì phải mất nhiều công phu xây dựng cơ bản hơn.
5. Các tiết mục xiếc thuộc loại cải biên phóng tác, chỉnh lý thì tùy theo chất lượng cao hay thấp là chủ yếu và công phu nhiều hay ít mà trả nhuận bút bằng từ 40% đến 60% số tiền nhuận bút cơ bản của sáng tác xiếc.
6. Đối với các tiết mục xiếc nói trên ngoài việc được trả tiền nhuận bút cơ bản rồi còn được trả tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn. Vụ Nghệ thuật sẽ căn cứ vào số lượt biểu diễn nhiều hay ít mà hàng năm trả thêm tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn cho tác giả chia làm 3 mức tính theo tỷ lệ % (phần trăm) của nhuận bút cơ bản giảm dần xuống.
Cụ thể từng năm được trả tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn như dưới đây:

Năm thứ nhất

Năm thứ hai

Năm thứ ba trở đi

Nhuận bút cơ bản

Số lượt tiết mục xiếc biểu diễn nhiều được trả thêm
Số lượt tiết mục xiếc biểu diễn trung bình được trả thêm
Số lượt tiết mục xiếc biểu diễn ít được trả thêm

50%

40%

30%

40%

30%

20%

30%

20%

10%

của nhuận bút cơ bản
nt

nt

Trường hợp năm thứ nhất cũng như những năm sau mà những tiết mục xiếc nói trên, được sử dụng biểu diễn sử dụng quá ít thì nơi sử dụng sẽ không phải trả nhuận bút về số lượt biểu diễn như đã quy định ở trên.
7. Sáng tác các tiết mục xiếc được xưởng phim Việt nam công nhận và cho quay thành phim thì các tiết mục xiếc đó, được trả tiền nhuận bút cơ bản như những điểm đã quy định ở trên. Ngoài ra còn được trả tiền nhuận bút về số lượng phát hành như đã nói ở điểm 4 trong quy định trả nhuận bút kịch bản của ngành điện ảnh.
8. Đối với các tiết mục xiếc được các đội xiếc ở địa phương biểu diễn có doanh thu và được các Sở, Ty Văn hóa công nhận thì tùy theo chất lượng của các tiết mục xiếc là chủ yếu và thời gian biểu diễn mà trả tiền thù lao bằng từ 30% đến 80% tiền nhuận bút cơ bản theo như những điểm đã quy định ở trên.
Nếu tiết mục xiếc nào đã biểu diễn cho công chúng xem ở các địa phương có giá trị và có thể phổ biến chung được thì các Sở, Ty văn hóa sẽ gửi các điệu múa đó cho Vụ Nghệ thuật. Khi Vụ Nghệ thuật công nhận và trả tiền nhuận bút cơ bản theo mức của trung ương như những điểm đã quy định ở trên thì sẽ trừ số tiền thù lao mà các Sở, Ty Văn hóa đã trả cho tác giả trước đây.
Còn tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn của các tiết mục xiếc được các đội xiếc địa phương biểu diễn có doanh thu và được Sở hoặc Ty Văn hóa địa phương công nhận thì hiện nay chưa đặt ra vì chưa có điều kiện theo dõi để tính nhuận bút về số lượt biểu diễn đó.
9. Đối với các tiết mục xiếc có giá trị hiện nay vẫn đang sử dụng và có doanh thu mà trước đây chưa trả tiền nhuận bút thì các cơ quan có kinh doanh sử dụng những tiết mục xiếc đó căn cứ vào quy định này mà trả nhuận bút cơ bản hoặc thù lao cho tác giả có tiết mục xiếc đó được hợp lý.
V. NHUẬN BÚT KỊCH BẢN CỦA NGÀNH ĐIỆN ẢNH
1. Đối với sáng tác kịch bản phim truyện được xưởng phim Việt nam công nhận thì tùy theo chất lượng là chủ yếu và số cuốn của mỗi kịch bản mà trả tiền nhuận bút cơ bản từ 500đ đến 2.000đ và chia làm 3 loại như dưới đây:
- Loại phim truyện dài từ 9 đến 12 cuốn được trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức:
1.200đ, 1.450đ, 1.600đ, 1.750đ, 2.000đ.
- Loại phim truyện trung bình từ 6 đến 8 cuốn được trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức:
800đ, 970đ, 1.100đ, 1.230đ, 1.400đ.
- Loại phim truyện ngắn từ 3 đến 5 cuốn được trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức:
500đ, 630đ, 750đ, 870đ, 1.000đ.
2. Đối với sáng tác kịch bản phim tài liệu được xưởng phim Việt nam công nhận tùy theo chất lượng là chủ yếu và số cuốn của mỗi kịch bản mà trả tiền nhuận bút cơ bản từ 60đ đến 1.000đ và được chia làm 3 loại như dưới đây:
- Loại phim tài liệu dài từ 6 đến 8 cuốn được trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức:
500đ, 630đ, 750đ, 870đ, 1.000đ.
- Loại phim tài liệu trung bình từ 3 đến 5 cuốn được trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức:
250đ, 350đ, 425đ, 500đ, 600đ.
- Loại phim tài liệu ngắn từ 1 đến 2 cuốn được trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức:
60đ, 110đ, 180đ, 250đ, 300đ.
3. Đối với mỗi vấn đề viết tin cho phim thời sự được xưởng phim Việt nam công nhận và sử dụng quay thành phim thì tùy theo chất lượng của vấn đề đó là chủ yếu mà trả tiền thù lao cho người viết tin cho phim thời sự ấy chia làm 5 mức:
2đ, 3đ, 4đ, 6đ, 8đ.
4. Đối với sáng tác các thể loại đề tài hoạt họa, múa rối, khoa học,v.v… cũng được trả tiền nhuận bút cơ bản như điều 1 và 2 đã quy định ở trên.
5. Đối với kịch bản phim truyện cũng như kịch bản phim tài liệu thuộc loại cải biên, phóng tác, chuyển thể thì tùy theo chất lượng là chủ yếu và công phu nhiều hay ít mà trả tiền nhuận bút bằng từ 40% đến 60% số tiền nhuận bút cơ bản của kịch bản đó.
6. Đối với những bộ phim truyện cũng như những bộ phim tài liệu được phát hành làm nhiều bản thì ngoài việc được trả tiền nhuận bút cơ bản về phần kịch bản cũng như về phần sáng tác nhạc rồi, còn được trả thêm tiền nhuận bút về số lượng phát hành dưới đây:
- Phát hành từ 1 đến 20 bản, mỗi 10 bản được trả thêm 6% số tinề nhuận bút cơ bản.
- Phát hành từ 21 đến 50 bản, mỗi 10 bản được trả thêm 4% số tiền nhuận bút cơ bản.
- Phát hành từ 51 bản trở lên, mỗi 10 bản được trả thêm 2% số tiền nhuận bút cơ bản.
7. Đối với các loại kịch bản văn học điện ảnh được xưởng phim Việt nam công nhận thì Xưởng sẽ căn cứ vào chất lượng là chủ yếu và số cuốn của kịch bản đó mà sơ bộ định giá trả 50% số tiền nhuận bút cơ bản trước và đặt trách nhiệm cho tác giả sửa chữa kịch bản đó cho tới khi bộ phim theo kịch bản đó được thể hiện trên màn ảnh bản đầu tiên và sau khi đã được cấp trên xét duyệt thì xưởng sẽ chính thức định giá và trả nốt, nhưng nếu vì một lý do chính đáng nào đó mà bộ phim theo kịch bản đó không chiếu được thì tác giả vẫn được hưởng tối thiểu là 50% số tiền nhuận bút cơ bản và xưởng sẽ thương lượng với tác giả đó, nếu sau này kịch bản đó được sử dụng quay thành phim thì sẽ được tính trả thêm cho đủ mức tiền nhuận bút cơ bản đã quy định.
Trường hợp kịch bản nào đã được xưởng phim Việt nam công nhận và bộ phim theo kịch bản đó được thể hiện trên màn ảnh bản đầu tiên và sau khi đã được cấp trên xét duyệt nếu sau này xưởng lại yêu cầu tác giả chỉnh lý cho kịch bản được tốt hơn thì xưởng sẽ căn cứ vào công phu nhiều hay ít và chất lượng của kịch bản đó được nâng cao hơn trước nhiều hay ít mà trả thêm cho tác giả một số tiền thù lao bằng từ 5% đến 20% số tiền nhuận bút cơ bản.
8. Đối với những kịch bản mà tác giả thỏa thuận viết theo đề cương đã được xưởng phim Việt nam thông qua thì giữa xưởng và tác giả ký kết hợp đồng.
Sau khi đã ký hợp đồng đó rồi thì xưởng có thể tạm ứng trước cho tác giả từ 20% đến 50% số tiền nhuận bút cơ bản cho tới khi bộ phim theo kịch bản đó được thể hiện trên màn ảnh bản đầu tiên và sau khi đã được cấp trên xét duyệt thì xưởng sẽ định giá chính thức và trả nốt số tiền nhuận bút cơ bản còn lại.
9. Đối với những người viết thuyết minh cho các loại phim do xưởng phim Việt nam sản xuất thì tùy theo chất lượng là chủ yếu và số cuốn của mỗi kịch bản mà trả tiền thù lao bằng từ 5 đến 15% số tiền nhuận bút cơ bản.
10. Đối với mỗi vấn đề viết cho phim đèn chiếu sau khi được xưởng phim đèn chiếu công nhận và được sử dụng chụp thành phim đèn chiếu thì tùy theo chất lượng của vấn đề đó là chủ yếu mà trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 6 mức:
3đ, 4đ, 6đ, 8đ, 10đ, 12đ.
11. Đối với tất cả các phim truyện và một số kịch bản phim tài liệu có giá trị được xưởng phim Việt nam công nhận trước 01-03-1961 mà hiện nay những bộ phim theo kịch bản đó vẫn được sử dụng và có doanh thu thì xưởng sẽ định giá những kịch bản đó mà trả tiền nhuận bút cơ bản cho tác giả theo những điểm đã quy định ở trên, đồng thời trừ số tiền mà xưởng đã tạm ứng cho tác giả có kịch bản đó trước đây.
12. Bộ Văn hóa ủy nhiệm cho xưởng phim Việt nam căn cứ vào quy định trả nhuận bút kịch bản, múa, xiếc, âm nhạc,v.v… sử dụng dụng bằng hình thức điện ảnh mà trả nhuận bút cho được đúng mức và thích hợp, sau khi đã được Bộ văn hóa thông qua.
VI. NHUẬN BÚT CỦA NGÀNH ÂM NHẠC
1. Đối với những ca khúc thuộc loại sáng tác được Đài phát thanh tiếng nói Việt nam công nhận thì tùy theo chất lượng mà trả tiền nhuận bút cơ bản cho 1ca khúc chia làm 5 mức:
5đ, 8đ, 15đ, 20đ, 25đ.
- Đối với bản nhạc hợp xướng lớn gồm nhiều chương (thường gọi là mouvement) mỗi chương coi như một ca khúc được trả tiền nhuận bút cơ bản cho 1 chương chia làm 5 mức:
5đ, 8đ, 15đ, 20đ, 25đ.
- Đối với một bản nhạc không lời, nếu là nhạc cắt thì tùy theo chất lượng mà trả tiền nhuận bút cơ bản cho một phút nhạc chia làm 5 mức:
4đ, 6đ, 8đ, 10đ.
- Đối với những ca khúc cũng như những bản nhạc nói trên nếu có phối khí, viết đệm hoặc có 3 bè hợp xướng trở lên được trả thêm tiền nhuận bút bằng từ 10% đến 30% số tiền nhuận bút cơ bản của sáng tác ca khúc, hoặc của bản nhạc hợp xướng nói trên.
2. Đối với những bản nhạc sáng tác (kể cả phối khí) được xưởng phimViệt nam công nhận và quay thành phim thì tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả tiền nhuận bút cơ bản cho một phút nhạc từ 4đ đến 32đ và phân loại như dưới đây:
- Sáng tác nhạc cho phim truyện và các loại phim tài liệu dài (trên 1.500 thước) 5 phút đầu được trả làm 3 mức: 22đ, 27đ, 32đ một phút. Từ phút thứ 6 trở đi được trả làm 3 mức: 16đ, 21đ, 26đ một phút.
- Sáng tác nhạc cho phim tài liệu trung bình 5 phút đầu được trả làm 3 mức: 16đ, 21đ, 26đ một phút. Từ phút thứ 6 trở đi đảm bảo trả làm 3 mức: 12đ, 17đ, 22đ một phút.
- Sáng tác nhạc cho phim thời sự và các loại phim tài liệu ngắn (dưới 300 thước) được trả làm 3 mức: 8d0, 12đ, 16đ một phút.
- Đối với những bản nhạc thuộc loại sáng tác đã có sẵn được chọn vào phim thì tùy theo chất lượng mà trả tiền nhuận bút cơ bản cho mỗi phút nhạc chia làm 3 mức: 3đ, 6đ, 9đ.
- Đối với những đoạn nhắc lại (reprise) nguyên như trước thì không được tính tiền nhuận bút, nhưng nếu nhắc lại có thay đổi phối khí hoặc hòa thanh thì vẫn được tính tiền nhuận bút về phối khí hoặc hòa thanh.
Ngoài việc hưởng tiền nhuận bút cơ bản nói trên, những bản nhạc sáng tác cho phim còn được hưởng tiền nhuận bút về số lượng phát hành như đã nói ở điểm 4 trong quy định trả nhuận bút kịch bản của ngành điện ảnh.
3. Đối với những bản nhạc thuộc loại sáng tác (kể cả lời) được in thành sách hoặc thành bản rồi được Nhà xuất bản âm nhạc công nhận thì tùy theo chất lượng là chủ yếu và số trang mà trả tiền nhuận bút cho một trang nhạc chia làm 5 mức:
10đ, 12đ50, 14đ, 15đ50, 18đ.
Từ trang thứ 3 trở đi, tiền nhuận bút cơ bản sẽ giảm đi 1/3 so với 2 trang đầu.
(Bị chú) một trang nhạc:
Hoặc là 16 nhịp 2/4 3/8 6/8 3/4 hoặc là 8 nhịp 4/4 6/4 9/8 12/8.
- Đối với bản nhạc thuộc loại sáng tác được thu vào đĩa và được Nhà sản xuất âm nhạc công nhận thì tùy theo chất lượng mà trả tiền nhuận bút cơ bản cho 1 trang nhạc chia làm 4 mức: 60đ, 75đ, 95đ, 110đ.
- Đối với bản nhạc in thành sách, thành bản rồi, thu vào đĩa nói trên nếu có phối khí, viết đệm hoặc có 3 bè hợp xướng trở lên trả thêm tiền nhuận bút cơ bản từ 10% đến 30% số tiền nhuận bút cơ bản của phần sáng tác nhạc.
4. Đối với những bản nhạc được in thành sách, thành bản rồi thu vào đĩa, ngaòi việc được hưởng 30% tiền nhuận bút cơ bản rồi còn được hưởng thêm tiền nhuận bút về số lượng in hoặc số lượng sản xuất tính theo tỷ lệ % (phần trăm) của nhuận bút cơ bản và giảm dần xuống như quy định dưới đây:
Từ 1.000 đến 3.000, mỗi 1.000 được trả thêm 5% tiền nhuận bút cơ bản.
Từ 3.001 đến 6.000, mỗi 1.000 được trả thêm 4% tiền nhuận bút cơ bản.
Từ 6.001 đến 9.000, mỗi 1.000 được trả thêm 3% tiền nhuận bút cơ bản.
Từ 9.001 trở lên, mỗi 1.000 được trả thêm 2% tiền nhuận bút cơ bản.
5. Đối với những ca khúc thuộc loại sáng tác được các đoàn văn công trung ương biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận, thì tùy theo chất lượng mà trả tiền nhuận bút cơ bản cho một cải biên, phóng tác, chỉnh lý, chuyển thể, dịch khúc chia làm 5 mức: 20đ, 27đ, 33đ, 39đ, 46đ (một bài trường ca được trả gấp đôi tiền nhuận bút cơ bản của một ca khúc).
Nếu những ca khúc đó có phối khí, viết đệm hoặc có từ 3 bè hợp xướng trở lên được trả thêm tiền nhuận bút bằng từ 10% đến 30% số tiền nhuận bút của sáng tác ca khúc đó.
6. Đối với những bản nhạc sáng tác cho kịch hát như tuồng, chèo, cải lương v.v… và cho xiếc có nội dung, có tình tiết gắn liền với các tiết mục của kịch hát và tiết mục xiếc được đoàn văn công trung ương biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận thì tùy theo chất lượng mà trả tiền nhuận bút cơ bản cho một phút nhạc chia làm 4 mức: 12đ, 17đ, 21đ, 26đ.
Nếu chỉ là bản nhạc phụ họa thêm cho các tiết mục của kịch hát và tiết mục xiếc thì tùy theo chất lượng mà trả nhuận bút cơ bản cho một phút nhạc chia làm 3 mức: 8đ, 12đ, 16đ.
- Đối với những bản nhạc thuộc loại sáng tác đã có sẵn có được chọn cho kịch hát, và xiếc thì tùy theo chất lượng mà trả tiền nhuận bút cơ bản cho mỗi phút nhạc chia làm 3 mức: 3đ, 6đ, 9đ.
- Đối với những đoạn nhạc nhắc lại (reprise) nguyên như trước thì không được tính tiền nhuận bút, nhưng nhắc lại có thay đổi phối khí hoặc hòa thanh thì vẫn được tính tiền nhuận bút về phần phối khí hoặc hòa thanh.
7. a) Đối với những sáng tác nhạc kịch và sáng tác nhạc cho kịch, múa diễn trọn một tối (trên dưới 2 tiếng) được các đoàn văn công trung ương biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận, thì tùy theo chất lượng nhạc là chủ yếu và thời gian biểu diễn mà trả tiền nhuận bút cơ bản về phần nhạc chia làm 5 mức: 1.200đ, 1.450đ, 1.600đ, 1.750đ, 2.000đ.
b) Đối với những sáng tác nhạc kịch và sáng tác nhạc cho kịch múa, không diễn trọn một tối (trên dưới 1 tiếng) được các đoàn văn công trung ương biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận, thì tùy theo chất lượng nhạc là chủ yếu và thời gian biểu diễn mà trả tiền nhuận bút cơ bản về phần nhạc bằng từ 20% đến 80% số tiền nhuận bút cơ bản của sáng tác nhạc kịch và sáng tác nhạc cho kịch múa diễn trọn một tối.
c) Trên đây mới trả tiền nhuận bút cơ bản về phần sáng tác nhạc, còn phần sáng tác cốt truyện và lời ca của nhạc kịch mỗi loại được trả thêm tiền nhuận bút bằng từ 50% số tiền nhuận bút cơ bản của phần sáng tác nhạc. Riêng phần sáng tác kịch bản cho kịch múa được trả thêm tiền nhuận bút bằng 40% số tiền nhuận bút cơ bản của phần sáng tác nhạc.
d) Ngoài việc được hưởng tiền nhuận bút cơ bản về phần sáng tác nhạc và sáng tác cốt truyện, lời cho nhạc kịch cũng như sáng tác kịch bản cho kịch múa rồi còn được hưởng thêm tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn như đã nói ở điểm 4 trong quy định trả nhuận bút kịch bản của ngành sân khấu.
8. Đối với các bản nhạc thuộc loại sáng tác được các đoàn văn công trung ương cũng như được đoàn giao hưởng trung ương (orchestre sym-phonique) biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận thì căn cứ vào chất lượng là chủ yếu và thời gian biểu diễn của mỗi bản nhạc mà trả nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức như dưới đây:
a) Bản nhạc giao hưởng (symphonie) biểu dinễ từ 30 phút trở lên được trả nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức: 800đ, 1.000đ, 1.150đ, 1.300đ, 1.500đ.
b) Bản nhạc mở đầu (oucerture) tổ khúc (suite) thơ giao hưởng (symphonie pòeme) bản nhạc công xec-tô (concerto) có phần đệm cho dàn nhạc giao hưởng (orchestre symphonieque) biểu diễn từ 16 đến 30 phút trả nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức: 400đ, 550đ, 650đ, 750đ, 900đ.
c) Bản nhạc mở đầu (oucerture) tổ khúc (suite) thơ giao hưởng (symphonie pòeme) bản nhạc công xec-tô (concerto) có phần đệm cho dàn nhạc giao hưởng (orchestre symphonieque) biểu diễn từ 6 đến 15 phút trả nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức: 200đ, 350đ, 450đ, 550đ, 700đ.
d) Bản nhạc nhỏ không lời kể cả phối khí biểu diễn từ 3 đến 8 phút được trả nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức: 70đ, 120đ, 160đ, 200đ, 250đ.
e) Bản nhạc độc tấu (solo) song tấu (duo) tam tấu (trio) viết theo thể xô-nát (sonate) và bản nhạc viết đệm cho độc tấu (solo) hoặc hợp xướng được trả nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức: 80đ, 140đ, 190đ, 240đ, 300đ.
g) Bản nhạc độc tấu (solo) song tấu (duo) tam tấu (trio) viết theo thể xô-nát (sonate) và những ca khúc (sẵn có) kết hợp lại viết thành tổ khúc (suite) được trả nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức: 60đ, 100đ, 130đ, 160đ, 200đ.
h) Bản nhạc độc tấu (solo) song tấu (duo) tam tấu (trio) có đánh đệm viết theo lối tự do của bản nhạc nhỏ không lời và những ca khúc có cả phối khí được trả nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức: 30đ, 55đ, 75đ, 95đ, 120đ.
9. Đối với sáng tác nhạc kịch cũng như sáng tác nhạc cho kịch múa và những bản nhạc sáng tác cho kịch múa và những bản nhạc sáng tác cho các đoàn kịch hát, cho xiếc, cho dàn nhạc giao hưởng, được các đoàn văn công và đoàn nhạc giao hưởng trung ương biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận cũng như những bản nhạc sáng tác cho các loại phim được xưởng phim Việt nam công nhận, nếu tác giả sáng tác nhạc kiêm cả phối khí thì tác giả đó được hưởng đủ 100% tiền nhuận bút cơ bản như điểm 2, điểm 6, điểm 7 và điểm 8 đã nói ở trên, nhưng nếu người khác phối khí thì người ấy được hưởng 30% còn tác giả sáng tác nhạc được hưởng 70% tiền nhuận bút cơ bản.
10. a) Đối với những ca khúc thuộc loại sáng tác được biểu diễn trên các sân khấu hoặc phát thanh trên đài và những bản nhạc sáng tác (kể cả lời) được in thành sách, thành bản rồi hoặc thu vào đĩa thì phần sáng tác nhạc được hưởng 2/3 nhuận bút cơ bản còn phần sáng tác lời thì được hưởng 1/3 nhuận bút cơ bản.
b) Dựa vào dân ca, nhạc cổ, làm lời mới được hưởng 1/3 nhuận bút cơ bản, nhưng nếu lời mới đó làm theo thể ca dao lục bát thì hưởng 1/4 nhuận bút cơ bản.
c) Thơ được phổ nhạc thì người có thơ được hưởng 1/3 nhuận bút cơ bản.
d) Lời dịch đúng như tác phẩm nguyên bản được hưởng 1/3 nhuận bút cơ bản, nhưng nếu lời dịch phỏng theo tác phẩm nguyên bản thì hưởng 1/4 nhuận bút cơ bản.
e) Nhạc cổ và dân ca ghi lại theo nốt nhạc mới thì người ghi nốt đó được hưởng 1/4 nhuận bút cơ bản.
g) Một bài hát có nhiều đoạn lời thì kể từ đoạn thứ 3 trở đi mỗi đoạn lời được hưởng thêm 50% số tiền nhuận bút cơ bản về phần lời.
11. Đối với những ca khúc, những bản nhạc sáng tác cho kịch hát, cho múa, cho xiếc, cho dàn nhạc giao hưởng được các đoàn văn công trung ương cũng như được các đoàn giao hưởng trung ương biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận thì ngoài việc hưởng tiền nhuận bút cơ bản như điểm 5, điểm 6, điểm 8 đã nói ở trên, còn được hưởng thêm tiền nhuận bút cơ bản về số lượt biểu diễn .
Vụ Nghệ thuật sẽ căn cứ vào số lượt biểu diễn nhiều hay ít mà hàng năm trả thêm tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn cho tác giả chia làm 3 mức tính theo tỷ lệ % (phần trăm) của nhuận bút cơ bản giảm dần xuống.
Cụ thể từng năm một được trả tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn như dưới đây:

Năm thứ nhất

Năm thứ hai

Năm thứ ba trở đi

Nhuận bút cơ bản

Số lượt nhạc được biểu diễn nhiều được trả thêm
Số lượt nhạc được biểu diễn trung bình được trả thêm
Số lượng nhạc biểu diễn ít được trả thêm

50%

40%

30%

40%

30%

20%

30%

20%

10%

Của nhuận bút cơ bản
-
-

Trường hợp năm thứ nhất cũng như những năm sau mà những ca khúc, những bản nhạc nói trên được sử dụng biểu diễn quá ít thì nơi sử dụng nhạc không phải trả nhuận bút về số lượt biểu diễn như đã quy định ở trên.
12. Đối với những ca khúc, những bản nhạc được các đội văn công cũng như các đoàn kịch dân doanh địa phương biểu diễn có doanh thu và được Sở hoặc Ty Văn hóa công nhận, thì tùy theo chất lượng của ca khúc và của bản nhạc đó là chủ yếu mà trả thù lao bằng từ 30% đến 80% số tiền nhuận bút cơ bản theo những điểm đã quy định ở trên.
Nếu ca khúc và bản nhạc nào đã công diễn ở địa phương có giá trị và có thể phổ biến chung được thì các Sở, Ty Văn hóa sẽ gửi những ca khúc, những bản nhạc đó cho Vụ Nghệ thuật. Khi Vụ Nghệ thuật công nhận và trả tiền nhuận bút cơ bản theo mức của trung ương theo những điểm đã quy định ở trên thì sẽ trừ số tiền thù lao mà các Sở hoặc Ty Văn hóa đã trả cho tác giả trước đây.
Còn tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn của những ca khúc, những bản nhạc được các đội văn công cũng như các đoàn kịch dân doanh địa phương biểu diễn có doanh thu và được Sở hoặc Ty Văn hóa địa phương công nhận thì hiện nay chưa đặt ra vì chưa có điều kiện theo dõi để tính tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn.
13. Đối với những ca khúc, những bản nhạc thuộc loại cải biên, chỉnh lý, phóng tác thì tùy theo chất lượng cao hay thấp, công phu nhiều hay ít mà tiền nhuận bút bằng từ 40% đến 60% số tiền nhuận bút cơ bản của những ca khúc, những bản nhạc thuộc loại sáng tác.
14. Đối với những ca khúc, những bản nhạc viết cho thiếu nhi và đặt lời bằng các tiếng dân tộc miền núi được in ra thành sách hoặc bản rời, thu vào đĩa, biểu diễn trên sân khấu, phát thanh ở Đài tiếng nói Việt nam, thu vào phim v.v… ngoài việc hưởng đủ tiền nhuận bút cơ bản rồi còn được trả thêm 10% của số tiền nhuận bút cơ bản đó nữa, vì cần được khuyến khích hơn.
15. a) Đối với những bản nhạc do các trường nghệ thuật thuộc Bộ Văn hóa yêu cầu tác giả sáng tác để dùng làm bài tập cho học sinh. Sau khi đã được Bộ Văn hóa công nhận thì tùy theo chất lượng mà trả thù lao cho một trang nhạc chia làm 3 mức: 1đ, 2đ, 3đ.
Những bản nhạc nối trên nếu có phối khí, phối âm được trả thêm tiền thù lao bằng từ 10% đến 30% số tiền thù lao của phần sáng tác nhạc.
b) Đối với những giáo trình do các trường nghệ thuật thuộc Bộ Văn hóa yêu cầu viết thành văn bản để dùng làm tài liệu giảng dạy. Sau khi đã được Bộ Văn hóa công nhận thì tùy theo chất lượng mà trả tiền thù lao cho một trang (tức là 1.000 chữ văn xuôi) chia làm 4 mức: 2đ, 3đ, 4đ, 5đ.
(Số tiền thù lao ở mục a và b nói trên tạm trích ở quỹ trả nhuận bút của ngành sân khấu ở trung ương).

Content:
Đối với những điệu múa có giá trị hiện nay vẫn còn đang sử dụng và có doanh thu mà trước đây chưa được trả tiền nhuận bút thì các cơ quan có kinh doanh sử dụng những điệu múa đó căn cứ vào quy định này mà trả nhuận bút cơ bản hoặc thù lao cho tác giả có điệu múa đó được hợp lý.
IV. NHUẬN BÚT CỦA NGÀNH XIẾC
1. Đối với các tiết mục xiếc được đoàn xiếc trung ương biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận thì tùy theo chất lượng là chủ yếu mà trả tiền nhuận bút cơ bản theo những quy định dưới đây:
2. Các tiết mục người biểu diễn và thú vật biểu diễn.
a) Sáng tác tiết mục xiếc từ 3 đến 6 động tác, biểu diễn từ 3 đến 5 phút, tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức:
50đ, 68đ, 82đ, 100đ.
b) Sác tác tiết mục xiếc từ 7 động tác đến 10 động tác biểu diễn từ 6 đến 10 phút, tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức:
80đ, 110đ, 130đ, 160đ.
c) Sáng tác tiết mục xiếc từ 11 động tác trở lên biểu diễn từ 11 đến 20 phút, tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức :
90đ, 130đ, 160đ, 200đ.
d) Sáng tác tiết mục xiếc có tình tiết, có nội dung biểu diễn từ 10 phút trở lên tuìy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức:
200đ, 310đ, 390đ, 500đ.
3. Các tiết mục xiếc hề.
a) Sáng tác hề xen vào tiết mục có kỹ xảo (ví dụ: hề xe đạp, hề leo cột) tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức:
20đ, 31đ, 39đ, 50đ.
b) Sáng tác hề thành tiết mục độc lập và kỹ xảo (ví dụ hề tranh ghế) từ 5 đến 15 phút tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức: 50đ, 68đ, 82đ, 100đ
c) Sáng tác hề câm có nội dung giáo dục từ 5 đến 15 phút tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức:
80đ, 110đ, 130đ, 160đ.
d) Sáng tác hề câm có nội dung giáo dục, có tình tiết từ 5 đến 15 phút tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức:
100đ, 135đ, 165đ, 200đ.
4. Các tiết mục ảo thuật xem một mặt sân khấu vuông.
a) Sáng tác tiết mục nhỏ làm bằng nhanh tay hoặc bằng những dụng cụ nhỏ chỉ xem gần được (ví dụ: xé giấy vụn ra lại lành) tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức:
10đ - 17đ - 23đ - 30đ.
b) Sáng tác tiết mục trung bình làm bằng nhanh tay và dụng cụ nhỏ ở xa cũng xem được (ví dụ: chai biến đổi, bóng hóa bồ câu) tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chai làm 4 mức:
40đ, 51đ, 59đ, 70đ.
c) Sáng tác tiết mục lớn dùng dụng cụ lớn ở xa xem được rõ (ví dụ: biến người trong hợp, cưa người làm 2 đoạn) tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản chia làm 4 mức:
50đ, 68đ, 82đ, 100đ.
Trường hợp xây dựng tiết mục ảo thuật biểu diễn ở sân khấu tròn xem cả 4 mặt xung quanh, tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả nhuận bút cơ bản gấp đôi ảo thuật xây dựng biểu diễn một mặt ở sân khấu vuông vì phải mất nhiều công phu xây dựng cơ bản hơn.
5. Các tiết mục xiếc thuộc loại cải biên phóng tác, chỉnh lý thì tùy theo chất lượng cao hay thấp là chủ yếu và công phu nhiều hay ít mà trả nhuận bút bằng từ 40% đến 60% số tiền nhuận bút cơ bản của sáng tác xiếc.
6. Đối với các tiết mục xiếc nói trên ngoài việc được trả tiền nhuận bút cơ bản rồi còn được trả tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn. Vụ Nghệ thuật sẽ căn cứ vào số lượt biểu diễn nhiều hay ít mà hàng năm trả thêm tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn cho tác giả chia làm 3 mức tính theo tỷ lệ % (phần trăm) của nhuận bút cơ bản giảm dần xuống.
Cụ thể từng năm được trả tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn như dưới đây:

Năm thứ nhất

Năm thứ hai

Năm thứ ba trở đi

Nhuận bút cơ bản

Số lượt tiết mục xiếc biểu diễn nhiều được trả thêm
Số lượt tiết mục xiếc biểu diễn trung bình được trả thêm
Số lượt tiết mục xiếc biểu diễn ít được trả thêm

50%

40%

30%

40%

30%

20%

30%

20%

10%

của nhuận bút cơ bản
nt

nt

Trường hợp năm thứ nhất cũng như những năm sau mà những tiết mục xiếc nói trên, được sử dụng biểu diễn sử dụng quá ít thì nơi sử dụng sẽ không phải trả nhuận bút về số lượt biểu diễn như đã quy định ở trên.
7. Sáng tác các tiết mục xiếc được xưởng phim Việt nam công nhận và cho quay thành phim thì các tiết mục xiếc đó, được trả tiền nhuận bút cơ bản như những điểm đã quy định ở trên. Ngoài ra còn được trả tiền nhuận bút về số lượng phát hành như đã nói ở điểm 4 trong quy định trả nhuận bút kịch bản của ngành điện ảnh.
8. Đối với các tiết mục xiếc được các đội xiếc ở địa phương biểu diễn có doanh thu và được các Sở, Ty Văn hóa công nhận thì tùy theo chất lượng của các tiết mục xiếc là chủ yếu và thời gian biểu diễn mà trả tiền thù lao bằng từ 30% đến 80% tiền nhuận bút cơ bản theo như những điểm đã quy định ở trên.
Nếu tiết mục xiếc nào đã biểu diễn cho công chúng xem ở các địa phương có giá trị và có thể phổ biến chung được thì các Sở, Ty văn hóa sẽ gửi các điệu múa đó cho Vụ Nghệ thuật. Khi Vụ Nghệ thuật công nhận và trả tiền nhuận bút cơ bản theo mức của trung ương như những điểm đã quy định ở trên thì sẽ trừ số tiền thù lao mà các Sở, Ty Văn hóa đã trả cho tác giả trước đây.
Còn tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn của các tiết mục xiếc được các đội xiếc địa phương biểu diễn có doanh thu và được Sở hoặc Ty Văn hóa địa phương công nhận thì hiện nay chưa đặt ra vì chưa có điều kiện theo dõi để tính nhuận bút về số lượt biểu diễn đó.
9. Đối với các tiết mục xiếc có giá trị hiện nay vẫn đang sử dụng và có doanh thu mà trước đây chưa trả tiền nhuận bút thì các cơ quan có kinh doanh sử dụng những tiết mục xiếc đó căn cứ vào quy định này mà trả nhuận bút cơ bản hoặc thù lao cho tác giả có tiết mục xiếc đó được hợp lý.
V. NHUẬN BÚT KỊCH BẢN CỦA NGÀNH ĐIỆN ẢNH
1. Đối với sáng tác kịch bản phim truyện được xưởng phim Việt nam công nhận thì tùy theo chất lượng là chủ yếu và số cuốn của mỗi kịch bản mà trả tiền nhuận bút cơ bản từ 500đ đến 2.000đ và chia làm 3 loại như dưới đây:
- Loại phim truyện dài từ 9 đến 12 cuốn được trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức:
1.200đ, 1.450đ, 1.600đ, 1.750đ, 2.000đ.
- Loại phim truyện trung bình từ 6 đến 8 cuốn được trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức:
800đ, 970đ, 1.100đ, 1.230đ, 1.400đ.
- Loại phim truyện ngắn từ 3 đến 5 cuốn được trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức:
500đ, 630đ, 750đ, 870đ, 1.000đ.
2. Đối với sáng tác kịch bản phim tài liệu được xưởng phim Việt nam công nhận tùy theo chất lượng là chủ yếu và số cuốn của mỗi kịch bản mà trả tiền nhuận bút cơ bản từ 60đ đến 1.000đ và được chia làm 3 loại như dưới đây:
- Loại phim tài liệu dài từ 6 đến 8 cuốn được trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức:
500đ, 630đ, 750đ, 870đ, 1.000đ.
- Loại phim tài liệu trung bình từ 3 đến 5 cuốn được trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức:
250đ, 350đ, 425đ, 500đ, 600đ.
- Loại phim tài liệu ngắn từ 1 đến 2 cuốn được trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức:
60đ, 110đ, 180đ, 250đ, 300đ.
3. Đối với mỗi vấn đề viết tin cho phim thời sự được xưởng phim Việt nam công nhận và sử dụng quay thành phim thì tùy theo chất lượng của vấn đề đó là chủ yếu mà trả tiền thù lao cho người viết tin cho phim thời sự ấy chia làm 5 mức:
2đ, 3đ, 4đ, 6đ, 8đ.
4. Đối với sáng tác các thể loại đề tài hoạt họa, múa rối, khoa học,v.v… cũng được trả tiền nhuận bút cơ bản như điều 1 và 2 đã quy định ở trên.
5. Đối với kịch bản phim truyện cũng như kịch bản phim tài liệu thuộc loại cải biên, phóng tác, chuyển thể thì tùy theo chất lượng là chủ yếu và công phu nhiều hay ít mà trả tiền nhuận bút bằng từ 40% đến 60% số tiền nhuận bút cơ bản của kịch bản đó.
6. Đối với những bộ phim truyện cũng như những bộ phim tài liệu được phát hành làm nhiều bản thì ngoài việc được trả tiền nhuận bút cơ bản về phần kịch bản cũng như về phần sáng tác nhạc rồi, còn được trả thêm tiền nhuận bút về số lượng phát hành dưới đây:
- Phát hành từ 1 đến 20 bản, mỗi 10 bản được trả thêm 6% số tinề nhuận bút cơ bản.
- Phát hành từ 21 đến 50 bản, mỗi 10 bản được trả thêm 4% số tiền nhuận bút cơ bản.
- Phát hành từ 51 bản trở lên, mỗi 10 bản được trả thêm 2% số tiền nhuận bút cơ bản.
7. Đối với các loại kịch bản văn học điện ảnh được xưởng phim Việt nam công nhận thì Xưởng sẽ căn cứ vào chất lượng là chủ yếu và số cuốn của kịch bản đó mà sơ bộ định giá trả 50% số tiền nhuận bút cơ bản trước và đặt trách nhiệm cho tác giả sửa chữa kịch bản đó cho tới khi bộ phim theo kịch bản đó được thể hiện trên màn ảnh bản đầu tiên và sau khi đã được cấp trên xét duyệt thì xưởng sẽ chính thức định giá và trả nốt, nhưng nếu vì một lý do chính đáng nào đó mà bộ phim theo kịch bản đó không chiếu được thì tác giả vẫn được hưởng tối thiểu là 50% số tiền nhuận bút cơ bản và xưởng sẽ thương lượng với tác giả đó, nếu sau này kịch bản đó được sử dụng quay thành phim thì sẽ được tính trả thêm cho đủ mức tiền nhuận bút cơ bản đã quy định.
Trường hợp kịch bản nào đã được xưởng phim Việt nam công nhận và bộ phim theo kịch bản đó được thể hiện trên màn ảnh bản đầu tiên và sau khi đã được cấp trên xét duyệt nếu sau này xưởng lại yêu cầu tác giả chỉnh lý cho kịch bản được tốt hơn thì xưởng sẽ căn cứ vào công phu nhiều hay ít và chất lượng của kịch bản đó được nâng cao hơn trước nhiều hay ít mà trả thêm cho tác giả một số tiền thù lao bằng từ 5% đến 20% số tiền nhuận bút cơ bản.
8. Đối với những kịch bản mà tác giả thỏa thuận viết theo đề cương đã được xưởng phim Việt nam thông qua thì giữa xưởng và tác giả ký kết hợp đồng.
Sau khi đã ký hợp đồng đó rồi thì xưởng có thể tạm ứng trước cho tác giả từ 20% đến 50% số tiền nhuận bút cơ bản cho tới khi bộ phim theo kịch bản đó được thể hiện trên màn ảnh bản đầu tiên và sau khi đã được cấp trên xét duyệt thì xưởng sẽ định giá chính thức và trả nốt số tiền nhuận bút cơ bản còn lại.
9. Đối với những người viết thuyết minh cho các loại phim do xưởng phim Việt nam sản xuất thì tùy theo chất lượng là chủ yếu và số cuốn của mỗi kịch bản mà trả tiền thù lao bằng từ 5 đến 15% số tiền nhuận bút cơ bản.
10. Đối với mỗi vấn đề viết cho phim đèn chiếu sau khi được xưởng phim đèn chiếu công nhận và được sử dụng chụp thành phim đèn chiếu thì tùy theo chất lượng của vấn đề đó là chủ yếu mà trả tiền nhuận bút cơ bản chia làm 6 mức:
3đ, 4đ, 6đ, 8đ, 10đ, 12đ.
11. Đối với tất cả các phim truyện và một số kịch bản phim tài liệu có giá trị được xưởng phim Việt nam công nhận trước 01-03-1961 mà hiện nay những bộ phim theo kịch bản đó vẫn được sử dụng và có doanh thu thì xưởng sẽ định giá những kịch bản đó mà trả tiền nhuận bút cơ bản cho tác giả theo những điểm đã quy định ở trên, đồng thời trừ số tiền mà xưởng đã tạm ứng cho tác giả có kịch bản đó trước đây.
12. Bộ Văn hóa ủy nhiệm cho xưởng phim Việt nam căn cứ vào quy định trả nhuận bút kịch bản, múa, xiếc, âm nhạc,v.v… sử dụng dụng bằng hình thức điện ảnh mà trả nhuận bút cho được đúng mức và thích hợp, sau khi đã được Bộ văn hóa thông qua.
VI. NHUẬN BÚT CỦA NGÀNH ÂM NHẠC
1. Đối với những ca khúc thuộc loại sáng tác được Đài phát thanh tiếng nói Việt nam công nhận thì tùy theo chất lượng mà trả tiền nhuận bút cơ bản cho 1ca khúc chia làm 5 mức:
5đ, 8đ, 15đ, 20đ, 25đ.
- Đối với bản nhạc hợp xướng lớn gồm nhiều chương (thường gọi là mouvement) mỗi chương coi như một ca khúc được trả tiền nhuận bút cơ bản cho 1 chương chia làm 5 mức:
5đ, 8đ, 15đ, 20đ, 25đ.
- Đối với một bản nhạc không lời, nếu là nhạc cắt thì tùy theo chất lượng mà trả tiền nhuận bút cơ bản cho một phút nhạc chia làm 5 mức:
4đ, 6đ, 8đ, 10đ.
- Đối với những ca khúc cũng như những bản nhạc nói trên nếu có phối khí, viết đệm hoặc có 3 bè hợp xướng trở lên được trả thêm tiền nhuận bút bằng từ 10% đến 30% số tiền nhuận bút cơ bản của sáng tác ca khúc, hoặc của bản nhạc hợp xướng nói trên.
2. Đối với những bản nhạc sáng tác (kể cả phối khí) được xưởng phimViệt nam công nhận và quay thành phim thì tùy theo chất lượng là chủ yếu được trả tiền nhuận bút cơ bản cho một phút nhạc từ 4đ đến 32đ và phân loại như dưới đây:
- Sáng tác nhạc cho phim truyện và các loại phim tài liệu dài (trên 1.500 thước) 5 phút đầu được trả làm 3 mức: 22đ, 27đ, 32đ một phút. Từ phút thứ 6 trở đi được trả làm 3 mức: 16đ, 21đ, 26đ một phút.
- Sáng tác nhạc cho phim tài liệu trung bình 5 phút đầu được trả làm 3 mức: 16đ, 21đ, 26đ một phút. Từ phút thứ 6 trở đi đảm bảo trả làm 3 mức: 12đ, 17đ, 22đ một phút.
- Sáng tác nhạc cho phim thời sự và các loại phim tài liệu ngắn (dưới 300 thước) được trả làm 3 mức: 8d0, 12đ, 16đ một phút.
- Đối với những bản nhạc thuộc loại sáng tác đã có sẵn được chọn vào phim thì tùy theo chất lượng mà trả tiền nhuận bút cơ bản cho mỗi phút nhạc chia làm 3 mức: 3đ, 6đ, 9đ.
- Đối với những đoạn nhắc lại (reprise) nguyên như trước thì không được tính tiền nhuận bút, nhưng nếu nhắc lại có thay đổi phối khí hoặc hòa thanh thì vẫn được tính tiền nhuận bút về phối khí hoặc hòa thanh.
Ngoài việc hưởng tiền nhuận bút cơ bản nói trên, những bản nhạc sáng tác cho phim còn được hưởng tiền nhuận bút về số lượng phát hành như đã nói ở điểm 4 trong quy định trả nhuận bút kịch bản của ngành điện ảnh.
3. Đối với những bản nhạc thuộc loại sáng tác (kể cả lời) được in thành sách hoặc thành bản rồi được Nhà xuất bản âm nhạc công nhận thì tùy theo chất lượng là chủ yếu và số trang mà trả tiền nhuận bút cho một trang nhạc chia làm 5 mức:
10đ, 12đ50, 14đ, 15đ50, 18đ.
Từ trang thứ 3 trở đi, tiền nhuận bút cơ bản sẽ giảm đi 1/3 so với 2 trang đầu.
(Bị chú) một trang nhạc:
Hoặc là 16 nhịp 2/4 3/8 6/8 3/4 hoặc là 8 nhịp 4/4 6/4 9/8 12/8.
- Đối với bản nhạc thuộc loại sáng tác được thu vào đĩa và được Nhà sản xuất âm nhạc công nhận thì tùy theo chất lượng mà trả tiền nhuận bút cơ bản cho 1 trang nhạc chia làm 4 mức: 60đ, 75đ, 95đ, 110đ.
- Đối với bản nhạc in thành sách, thành bản rồi, thu vào đĩa nói trên nếu có phối khí, viết đệm hoặc có 3 bè hợp xướng trở lên trả thêm tiền nhuận bút cơ bản từ 10% đến 30% số tiền nhuận bút cơ bản của phần sáng tác nhạc.
4. Đối với những bản nhạc được in thành sách, thành bản rồi thu vào đĩa, ngaòi việc được hưởng 30% tiền nhuận bút cơ bản rồi còn được hưởng thêm tiền nhuận bút về số lượng in hoặc số lượng sản xuất tính theo tỷ lệ % (phần trăm) của nhuận bút cơ bản và giảm dần xuống như quy định dưới đây:
Từ 1.000 đến 3.000, mỗi 1.000 được trả thêm 5% tiền nhuận bút cơ bản.
Từ 3.001 đến 6.000, mỗi 1.000 được trả thêm 4% tiền nhuận bút cơ bản.
Từ 6.001 đến 9.000, mỗi 1.000 được trả thêm 3% tiền nhuận bút cơ bản.
Từ 9.001 trở lên, mỗi 1.000 được trả thêm 2% tiền nhuận bút cơ bản.
5. Đối với những ca khúc thuộc loại sáng tác được các đoàn văn công trung ương biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận, thì tùy theo chất lượng mà trả tiền nhuận bút cơ bản cho một cải biên, phóng tác, chỉnh lý, chuyển thể, dịch khúc chia làm 5 mức: 20đ, 27đ, 33đ, 39đ, 46đ (một bài trường ca được trả gấp đôi tiền nhuận bút cơ bản của một ca khúc).
Nếu những ca khúc đó có phối khí, viết đệm hoặc có từ 3 bè hợp xướng trở lên được trả thêm tiền nhuận bút bằng từ 10% đến 30% số tiền nhuận bút của sáng tác ca khúc đó.
6. Đối với những bản nhạc sáng tác cho kịch hát như tuồng, chèo, cải lương v.v… và cho xiếc có nội dung, có tình tiết gắn liền với các tiết mục của kịch hát và tiết mục xiếc được đoàn văn công trung ương biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận thì tùy theo chất lượng mà trả tiền nhuận bút cơ bản cho một phút nhạc chia làm 4 mức: 12đ, 17đ, 21đ, 26đ.
Nếu chỉ là bản nhạc phụ họa thêm cho các tiết mục của kịch hát và tiết mục xiếc thì tùy theo chất lượng mà trả nhuận bút cơ bản cho một phút nhạc chia làm 3 mức: 8đ, 12đ, 16đ.
- Đối với những bản nhạc thuộc loại sáng tác đã có sẵn có được chọn cho kịch hát, và xiếc thì tùy theo chất lượng mà trả tiền nhuận bút cơ bản cho mỗi phút nhạc chia làm 3 mức: 3đ, 6đ, 9đ.
- Đối với những đoạn nhạc nhắc lại (reprise) nguyên như trước thì không được tính tiền nhuận bút, nhưng nhắc lại có thay đổi phối khí hoặc hòa thanh thì vẫn được tính tiền nhuận bút về phần phối khí hoặc hòa thanh.
7. a) Đối với những sáng tác nhạc kịch và sáng tác nhạc cho kịch, múa diễn trọn một tối (trên dưới 2 tiếng) được các đoàn văn công trung ương biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận, thì tùy theo chất lượng nhạc là chủ yếu và thời gian biểu diễn mà trả tiền nhuận bút cơ bản về phần nhạc chia làm 5 mức: 1.200đ, 1.450đ, 1.600đ, 1.750đ, 2.000đ.
b) Đối với những sáng tác nhạc kịch và sáng tác nhạc cho kịch múa, không diễn trọn một tối (trên dưới 1 tiếng) được các đoàn văn công trung ương biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận, thì tùy theo chất lượng nhạc là chủ yếu và thời gian biểu diễn mà trả tiền nhuận bút cơ bản về phần nhạc bằng từ 20% đến 80% số tiền nhuận bút cơ bản của sáng tác nhạc kịch và sáng tác nhạc cho kịch múa diễn trọn một tối.
c) Trên đây mới trả tiền nhuận bút cơ bản về phần sáng tác nhạc, còn phần sáng tác cốt truyện và lời ca của nhạc kịch mỗi loại được trả thêm tiền nhuận bút bằng từ 50% số tiền nhuận bút cơ bản của phần sáng tác nhạc. Riêng phần sáng tác kịch bản cho kịch múa được trả thêm tiền nhuận bút bằng 40% số tiền nhuận bút cơ bản của phần sáng tác nhạc.
d) Ngoài việc được hưởng tiền nhuận bút cơ bản về phần sáng tác nhạc và sáng tác cốt truyện, lời cho nhạc kịch cũng như sáng tác kịch bản cho kịch múa rồi còn được hưởng thêm tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn như đã nói ở điểm 4 trong quy định trả nhuận bút kịch bản của ngành sân khấu.
8. Đối với các bản nhạc thuộc loại sáng tác được các đoàn văn công trung ương cũng như được đoàn giao hưởng trung ương (orchestre sym-phonique) biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận thì căn cứ vào chất lượng là chủ yếu và thời gian biểu diễn của mỗi bản nhạc mà trả nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức như dưới đây:
a) Bản nhạc giao hưởng (symphonie) biểu dinễ từ 30 phút trở lên được trả nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức: 800đ, 1.000đ, 1.150đ, 1.300đ, 1.500đ.
b) Bản nhạc mở đầu (oucerture) tổ khúc (suite) thơ giao hưởng (symphonie pòeme) bản nhạc công xec-tô (concerto) có phần đệm cho dàn nhạc giao hưởng (orchestre symphonieque) biểu diễn từ 16 đến 30 phút trả nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức: 400đ, 550đ, 650đ, 750đ, 900đ.
c) Bản nhạc mở đầu (oucerture) tổ khúc (suite) thơ giao hưởng (symphonie pòeme) bản nhạc công xec-tô (concerto) có phần đệm cho dàn nhạc giao hưởng (orchestre symphonieque) biểu diễn từ 6 đến 15 phút trả nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức: 200đ, 350đ, 450đ, 550đ, 700đ.
d) Bản nhạc nhỏ không lời kể cả phối khí biểu diễn từ 3 đến 8 phút được trả nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức: 70đ, 120đ, 160đ, 200đ, 250đ.
e) Bản nhạc độc tấu (solo) song tấu (duo) tam tấu (trio) viết theo thể xô-nát (sonate) và bản nhạc viết đệm cho độc tấu (solo) hoặc hợp xướng được trả nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức: 80đ, 140đ, 190đ, 240đ, 300đ.
g) Bản nhạc độc tấu (solo) song tấu (duo) tam tấu (trio) viết theo thể xô-nát (sonate) và những ca khúc (sẵn có) kết hợp lại viết thành tổ khúc (suite) được trả nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức: 60đ, 100đ, 130đ, 160đ, 200đ.
h) Bản nhạc độc tấu (solo) song tấu (duo) tam tấu (trio) có đánh đệm viết theo lối tự do của bản nhạc nhỏ không lời và những ca khúc có cả phối khí được trả nhuận bút cơ bản chia làm 5 mức: 30đ, 55đ, 75đ, 95đ, 120đ.
9. Đối với sáng tác nhạc kịch cũng như sáng tác nhạc cho kịch múa và những bản nhạc sáng tác cho kịch múa và những bản nhạc sáng tác cho các đoàn kịch hát, cho xiếc, cho dàn nhạc giao hưởng, được các đoàn văn công và đoàn nhạc giao hưởng trung ương biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận cũng như những bản nhạc sáng tác cho các loại phim được xưởng phim Việt nam công nhận, nếu tác giả sáng tác nhạc kiêm cả phối khí thì tác giả đó được hưởng đủ 100% tiền nhuận bút cơ bản như điểm 2, điểm 6, điểm 7 và điểm 8 đã nói ở trên, nhưng nếu người khác phối khí thì người ấy được hưởng 30% còn tác giả sáng tác nhạc được hưởng 70% tiền nhuận bút cơ bản.
10. a) Đối với những ca khúc thuộc loại sáng tác được biểu diễn trên các sân khấu hoặc phát thanh trên đài và những bản nhạc sáng tác (kể cả lời) được in thành sách, thành bản rồi hoặc thu vào đĩa thì phần sáng tác nhạc được hưởng 2/3 nhuận bút cơ bản còn phần sáng tác lời thì được hưởng 1/3 nhuận bút cơ bản.
b) Dựa vào dân ca, nhạc cổ, làm lời mới được hưởng 1/3 nhuận bút cơ bản, nhưng nếu lời mới đó làm theo thể ca dao lục bát thì hưởng 1/4 nhuận bút cơ bản.
c) Thơ được phổ nhạc thì người có thơ được hưởng 1/3 nhuận bút cơ bản.
d) Lời dịch đúng như tác phẩm nguyên bản được hưởng 1/3 nhuận bút cơ bản, nhưng nếu lời dịch phỏng theo tác phẩm nguyên bản thì hưởng 1/4 nhuận bút cơ bản.
e) Nhạc cổ và dân ca ghi lại theo nốt nhạc mới thì người ghi nốt đó được hưởng 1/4 nhuận bút cơ bản.
g) Một bài hát có nhiều đoạn lời thì kể từ đoạn thứ 3 trở đi mỗi đoạn lời được hưởng thêm 50% số tiền nhuận bút cơ bản về phần lời.
11. Đối với những ca khúc, những bản nhạc sáng tác cho kịch hát, cho múa, cho xiếc, cho dàn nhạc giao hưởng được các đoàn văn công trung ương cũng như được các đoàn giao hưởng trung ương biểu diễn có doanh thu và được Vụ Nghệ thuật công nhận thì ngoài việc hưởng tiền nhuận bút cơ bản như điểm 5, điểm 6, điểm 8 đã nói ở trên, còn được hưởng thêm tiền nhuận bút cơ bản về số lượt biểu diễn .
Vụ Nghệ thuật sẽ căn cứ vào số lượt biểu diễn nhiều hay ít mà hàng năm trả thêm tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn cho tác giả chia làm 3 mức tính theo tỷ lệ % (phần trăm) của nhuận bút cơ bản giảm dần xuống.
Cụ thể từng năm một được trả tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn như dưới đây:

Năm thứ nhất

Năm thứ hai

Năm thứ ba trở đi

Nhuận bút cơ bản

Số lượt nhạc được biểu diễn nhiều được trả thêm
Số lượt nhạc được biểu diễn trung bình được trả thêm
Số lượng nhạc biểu diễn ít được trả thêm

50%

40%

30%

40%

30%

20%

30%

20%

10%

Của nhuận bút cơ bản
-
-

Trường hợp năm thứ nhất cũng như những năm sau mà những ca khúc, những bản nhạc nói trên được sử dụng biểu diễn quá ít thì nơi sử dụng nhạc không phải trả nhuận bút về số lượt biểu diễn như đã quy định ở trên.
12. Đối với những ca khúc, những bản nhạc được các đội văn công cũng như các đoàn kịch dân doanh địa phương biểu diễn có doanh thu và được Sở hoặc Ty Văn hóa công nhận, thì tùy theo chất lượng của ca khúc và của bản nhạc đó là chủ yếu mà trả thù lao bằng từ 30% đến 80% số tiền nhuận bút cơ bản theo những điểm đã quy định ở trên.
Nếu ca khúc và bản nhạc nào đã công diễn ở địa phương có giá trị và có thể phổ biến chung được thì các Sở, Ty Văn hóa sẽ gửi những ca khúc, những bản nhạc đó cho Vụ Nghệ thuật. Khi Vụ Nghệ thuật công nhận và trả tiền nhuận bút cơ bản theo mức của trung ương theo những điểm đã quy định ở trên thì sẽ trừ số tiền thù lao mà các Sở hoặc Ty Văn hóa đã trả cho tác giả trước đây.
Còn tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn của những ca khúc, những bản nhạc được các đội văn công cũng như các đoàn kịch dân doanh địa phương biểu diễn có doanh thu và được Sở hoặc Ty Văn hóa địa phương công nhận thì hiện nay chưa đặt ra vì chưa có điều kiện theo dõi để tính tiền nhuận bút về số lượt biểu diễn.
13. Đối với những ca khúc, những bản nhạc thuộc loại cải biên, chỉnh lý, phóng tác thì tùy theo chất lượng cao hay thấp, công phu nhiều hay ít mà tiền nhuận bút bằng từ 40% đến 60% số tiền nhuận bút cơ bản của những ca khúc, những bản nhạc thuộc loại sáng tác.
14. Đối với những ca khúc, những bản nhạc viết cho thiếu nhi và đặt lời bằng các tiếng dân tộc miền núi được in ra thành sách hoặc bản rời, thu vào đĩa, biểu diễn trên sân khấu, phát thanh ở Đài tiếng nói Việt nam, thu vào phim v.v… ngoài việc hưởng đủ tiền nhuận bút cơ bản rồi còn được trả thêm 10% của số tiền nhuận bút cơ bản đó nữa, vì cần được khuyến khích hơn.
a) Đối với những bản nhạc do các trường nghệ thuật thuộc Bộ Văn hóa yêu cầu tác giả sáng tác để dùng làm bài tập cho học sinh. Sau khi đã được Bộ Văn hóa công nhận thì tùy theo chất lượng mà trả thù lao cho một trang nhạc chia làm 3 mức: 1đ, 2đ, 3đ.
Những bản nhạc nối trên nếu có phối khí, phối âm được trả thêm tiền thù lao bằng từ 10% đến 30% số tiền thù lao của phần sáng tác nhạc.
b) Đối với những giáo trình do các trường nghệ thuật thuộc Bộ Văn hóa yêu cầu viết thành văn bản để dùng làm tài liệu giảng dạy. Sau khi đã được Bộ Văn hóa công nhận thì tùy theo chất lượng mà trả tiền thù lao cho một trang (tức là 1.000 chữ văn xuôi) chia làm 4 mức: 2đ, 3đ, 4đ, 5đ.
(Số tiền thù lao ở mục a và b nói trên tạm trích ở quỹ trả nhuận bút của ngành sân khấu ở trung ương).