Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2005/QĐ-UBND năm 2010 phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "07/06/2010", "sign_number": "2005/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "07/06/2010", "sign_number": "2005/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "07/06/2010", "sign_number": "2005/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "07/06/2010", "sign_number": "2005/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "07/06/2010", "sign_number": "2005/QĐ-UBND", "signer": "Trịnh Văn Chiến", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2005/QĐ-UBND năm 2010 phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới

Điều 1. Phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 - 2020, định hướng đến năm 2030, với những nội dung chính như sau:
...
5. Xây dựng hệ thống chính trị và đảm bảo an ninh, trật tự xã hội
5.1. Xây dựng hệ thống tổ chức chính trị-xã hội vững mạnh
Tổ chức đào tạo, đào tạo lại cán bộ xã đạt chuẩn; đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội, nhân dân; Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn "trong sạch, vững mạnh"; các tổ chức đoàn thể chính trị đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên. Trong đó: Giai đoạn 2010-2015: Đào tạo 50% cán bộ các xã đạt chuẩn. Giai đoạn 2015-2020: Đào tạo 100% cán bộ các xã đạt chuẩn.
5.2. Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn:
Đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn.
IV. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các văn bản, chỉ thị, nghị quyết tạo chuyển biến sâu sắc về nhận thức của cán bộ đảng viên và nhân dân trong tỉnh, người Thanh Hoá ở tỉnh ngoài, nước ngoài về chủ trương xây dựng nông thôn mới để mọi người tự giác tham gia và vận động người khác tham gia
- Các cấp uỷ, chính quyền các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể tổ chức các hoạt động tuyên truyền, quán triệt các chỉ thị, Nghị quyết, các cơ chế chính sách về xây dựng nông thôn mới để mọi người dân hiểu, tự giác tham gia chương trình.
- Lập chuyên trang, chuyên mục trên Báo, Đài phát thanh và Truyền hình Thanh Hoá để thông tin thường xuyên về các mô hình tốt, các điển hình tiên tiến, để kịp thời động viên và khuyến khích việc học tập các mô hình, các điển hình và tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho chương trình xây dựng nông thôn mới.
- Thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin của huyện, xã để phổ biến, tuyên truyền cuộc vận động xây dựng nông thôn mới.
- Tổ chức các hội nghị bàn tròn để tranh thủ ý kiến tham gia của các tầng lớp nhân dân, các nhà quản lý, nhà khoa học về các hoạt động cụ thể trong chương trình xây dựng nông thôn mới.
2. Tổ chức điều tra, khảo sát thực trạng nông nghiệp, nông dân, nông thôn từng xã để xây dựng phê duyệt đề án, các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đối với cấp xã.
- Căn cứ hướng dẫn của các ngành, UBND các xã tổ chức điều tra, khảo sát đánh giá cụ thể, chính xác thực trạng tình hình nông thôn từng xã so với 19 tiêu chí qui định tại Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ (tại 586 xã) phục vụ cho công tác lập đề án, các quy hoạch xây dựng nông thôn mới cấp xã và kế hoạch triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở cấp tỉnh, huyện.
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm hướng dẫn cho các huyện, xã triển khai thực hiện; lập phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu xây dựng nông thôn mới phục vụ cho việc tổng hợp tình hình và lập kế hoạch xây dựng nông thôn mới hàng năm.
- Các xã phải xây dựng đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã, đánh giá đúng tình hình của xã so với các tiêu chí nông thôn mới, qua đó đề ra mục tiêu và những giải pháp xây dựng nông thôn mới theo chủ trương của Đảng, Chính phủ.
3. Tổ chức triển khai xây dựng, sớm hoàn thành các mô hình điểm để nhân rộng
Thông qua xây dựng thí điểm để hiện thực hóa mô hình nông thôn mới trên thực tế ở các vùng miền trong tỉnh, rút kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện và làm cơ sở cho việc ban hành cơ chế chính sách triển khai diện rộng.
4. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
- Tổng vốn đầu tư cho chương trình là 87.713.097 triệu đồng.
- Dự kiến cơ cấu nguồn vốn đầu tư: Vốn ngân sách và có nguồn gốc ngân sách: 35.085.239 triệu đồng; Vốn tín dụng: 26.313.929 triệu đồng, chiếm 30%; Vốn từ doanh nghiệp và HTX: 17.542.619 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 20%; Vốn huy động trực tiếp từ cộng đồng dân cư nông thôn: 8.771.310 triệu đồng chiếm 10%;
- Phân kỳ đầu tư: Giai đoạn: 2010-2015: 30.456.900 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 34,72% tổng vốn. Giai đoạn 2015-2020: 33.584.687 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 38,29%. Giai đoạn 2020-2030: 23.671.510 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 26,99%.
5. Nghiên cứu, ban hành các cơ chế, chính sách mới khuyến khích đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các hoạt động văn hoá xã hội và xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội trong nông thôn.
- Nhóm cơ chế chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp gồm: Cơ chế chính sách khuyến khích tích tụ tập trung ruộng đất; cơ chế chính sách cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp; cơ chế chính sách phát triển đàn bò thịt chất lượng cao; cơ chế chính sách nâng cao chất lượng vùng luồng tập trung; cơ chế chính sách khuyến khích phát triển vùng nuôi tôm chân trắng thâm canh...
- Nhóm cơ chế chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nông thôn gồm: cơ chế chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là các doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động...; cơ chế thực hiện xã hội hoá mạnh mẽ các dịch vụ công: cấp nước sạch, xây dựng quản lý chợ; thu gom rác; tưới tiêu...; cơ chế chính sách khuyến khích đối với các xã đạt tiêu chí xây dựng nông thôn mới (diện rộng),...
- Nhóm cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư cải tạo nâng cấp hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn gồm: cơ chế huy động đóng góp của cộng đồng dân cư trong việc đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi theo phương châm “dân bàn, dân góp, dân làm, dân hưởng thụ”; cơ chế ghi công tôn vinh những người thành đạt hỗ trợ đầu tư các công trình hạ tầng văn hoá xã hội trong nông thôn; cơ chế khai thác quĩ đất cho đầu tư hạ tầng nông thôn; cơ chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản đối với các công trình xây dựng do dân góp vốn, dân tự làm; cơ chế lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia cho xây dựng nông thôn mới; rà soát tăng phân cấp nguồn thu cho ngân sách xã để tạo điều kiện cho các xã chủ động thực hiện các nhiệm vụ về xây dựng nông thôn mới...

Content:
Xây dựng hệ thống chính trị và đảm bảo an ninh, trật tự xã hội
5.1. Xây dựng hệ thống tổ chức chính trị-xã hội vững mạnh
Tổ chức đào tạo, đào tạo lại cán bộ xã đạt chuẩn; đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội, nhân dân; Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn "trong sạch, vững mạnh"; các tổ chức đoàn thể chính trị đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên. Trong đó: Giai đoạn 2010-2015: Đào tạo 50% cán bộ các xã đạt chuẩn. Giai đoạn 2015-2020: Đào tạo 100% cán bộ các xã đạt chuẩn.
5.2. Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn:
Đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn.
IV. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các văn bản, chỉ thị, nghị quyết tạo chuyển biến sâu sắc về nhận thức của cán bộ đảng viên và nhân dân trong tỉnh, người Thanh Hoá ở tỉnh ngoài, nước ngoài về chủ trương xây dựng nông thôn mới để mọi người tự giác tham gia và vận động người khác tham gia
- Các cấp uỷ, chính quyền các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể tổ chức các hoạt động tuyên truyền, quán triệt các chỉ thị, Nghị quyết, các cơ chế chính sách về xây dựng nông thôn mới để mọi người dân hiểu, tự giác tham gia chương trình.
- Lập chuyên trang, chuyên mục trên Báo, Đài phát thanh và Truyền hình Thanh Hoá để thông tin thường xuyên về các mô hình tốt, các điển hình tiên tiến, để kịp thời động viên và khuyến khích việc học tập các mô hình, các điển hình và tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho chương trình xây dựng nông thôn mới.
- Thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin của huyện, xã để phổ biến, tuyên truyền cuộc vận động xây dựng nông thôn mới.
- Tổ chức các hội nghị bàn tròn để tranh thủ ý kiến tham gia của các tầng lớp nhân dân, các nhà quản lý, nhà khoa học về các hoạt động cụ thể trong chương trình xây dựng nông thôn mới.
2. Tổ chức điều tra, khảo sát thực trạng nông nghiệp, nông dân, nông thôn từng xã để xây dựng phê duyệt đề án, các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đối với cấp xã.
- Căn cứ hướng dẫn của các ngành, UBND các xã tổ chức điều tra, khảo sát đánh giá cụ thể, chính xác thực trạng tình hình nông thôn từng xã so với 19 tiêu chí qui định tại Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ (tại 586 xã) phục vụ cho công tác lập đề án, các quy hoạch xây dựng nông thôn mới cấp xã và kế hoạch triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở cấp tỉnh, huyện.
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm hướng dẫn cho các huyện, xã triển khai thực hiện; lập phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu xây dựng nông thôn mới phục vụ cho việc tổng hợp tình hình và lập kế hoạch xây dựng nông thôn mới hàng năm.
- Các xã phải xây dựng đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã, đánh giá đúng tình hình của xã so với các tiêu chí nông thôn mới, qua đó đề ra mục tiêu và những giải pháp xây dựng nông thôn mới theo chủ trương của Đảng, Chính phủ.
3. Tổ chức triển khai xây dựng, sớm hoàn thành các mô hình điểm để nhân rộng
Thông qua xây dựng thí điểm để hiện thực hóa mô hình nông thôn mới trên thực tế ở các vùng miền trong tỉnh, rút kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện và làm cơ sở cho việc ban hành cơ chế chính sách triển khai diện rộng.
4. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
- Tổng vốn đầu tư cho chương trình là 87.713.097 triệu đồng.
- Dự kiến cơ cấu nguồn vốn đầu tư: Vốn ngân sách và có nguồn gốc ngân sách: 35.085.239 triệu đồng; Vốn tín dụng: 26.313.929 triệu đồng, chiếm 30%; Vốn từ doanh nghiệp và HTX: 17.542.619 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 20%; Vốn huy động trực tiếp từ cộng đồng dân cư nông thôn: 8.771.310 triệu đồng chiếm 10%;
- Phân kỳ đầu tư: Giai đoạn: 2010-2015: 30.456.900 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 34,72% tổng vốn. Giai đoạn 2015-2020: 33.584.687 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 38,29%. Giai đoạn 2020-2030: 23.671.510 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 26,99%.
Nghiên cứu, ban hành các cơ chế, chính sách mới khuyến khích đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các hoạt động văn hoá xã hội và xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội trong nông thôn.
- Nhóm cơ chế chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp gồm: Cơ chế chính sách khuyến khích tích tụ tập trung ruộng đất; cơ chế chính sách cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp; cơ chế chính sách phát triển đàn bò thịt chất lượng cao; cơ chế chính sách nâng cao chất lượng vùng luồng tập trung; cơ chế chính sách khuyến khích phát triển vùng nuôi tôm chân trắng thâm canh...
- Nhóm cơ chế chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nông thôn gồm: cơ chế chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là các doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động...; cơ chế thực hiện xã hội hoá mạnh mẽ các dịch vụ công: cấp nước sạch, xây dựng quản lý chợ; thu gom rác; tưới tiêu...; cơ chế chính sách khuyến khích đối với các xã đạt tiêu chí xây dựng nông thôn mới (diện rộng),...
- Nhóm cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư cải tạo nâng cấp hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn gồm: cơ chế huy động đóng góp của cộng đồng dân cư trong việc đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi theo phương châm “dân bàn, dân góp, dân làm, dân hưởng thụ”; cơ chế ghi công tôn vinh những người thành đạt hỗ trợ đầu tư các công trình hạ tầng văn hoá xã hội trong nông thôn; cơ chế khai thác quĩ đất cho đầu tư hạ tầng nông thôn; cơ chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản đối với các công trình xây dựng do dân góp vốn, dân tự làm; cơ chế lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia cho xây dựng nông thôn mới; rà soát tăng phân cấp nguồn thu cho ngân sách xã để tạo điều kiện cho các xã chủ động thực hiện các nhiệm vụ về xây dựng nông thôn mới...