Document: Điểm c Khoản 8 Điều 1 Quyết định 1865/QĐ-UBND 2014 phát triển ngành y tế Hồ Chí Minh đến 2020 tầm nhìn 2025

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "16/04/2014", "sign_number": "1865/QĐ-UBND", "signer": "Hứa Ngọc Thuận", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "16/04/2014", "sign_number": "1865/QĐ-UBND", "signer": "Hứa Ngọc Thuận", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "16/04/2014", "sign_number": "1865/QĐ-UBND", "signer": "Hứa Ngọc Thuận", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "16/04/2014", "sign_number": "1865/QĐ-UBND", "signer": "Hứa Ngọc Thuận", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "16/04/2014", "sign_number": "1865/QĐ-UBND", "signer": "Hứa Ngọc Thuận", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 8 Điều 1 Quyết định 1865/QĐ-UBND 2014 phát triển ngành y tế Hồ Chí Minh đến 2020 tầm nhìn 2025

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành y tế Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025 với các nội dung chủ yếu sau:
...
8. Tổng hợp nguồn lực thực hiện mục tiêu
...
c) Nhu cầu về vốn đầu tư:
- Giai đoạn 2013 - 2015 cần 20.746 tỷ đồng, trong đó:
· Vốn đầu tư các bệnh viện chuyên khoa và đa khoa Thành phố:
Tổng vốn đầu tư 4.708 tỷ đồng, sử dụng nguồn vốn ngân sách và nguồn vốn vay kích cầu.
· Vốn đầu tư các bệnh viện quận - huyện:
Tổng vốn đầu tư: 2.040 tỷ đồng, sử dụng nguồn vốn ngân sách và các nguồn vốn hợp pháp khác, theo nhu cầu và tiến độ thực hiện.
· Nguồn vốn đầu tư xây dựng một số bệnh viện mới (gồm bệnh viện Nhi Đồng Thành phố, bệnh viện đa khoa khu vực Thủ Đức, bệnh viện đa khoa khu vực Củ Chi, bệnh viện đa khoa khu vực Hóc Môn, bệnh viện Chấn thương chỉnh hình, bệnh viện Ung bướu cơ sở 2...):
+ Tổng mức đầu tư: 12.900 tỷ đồng.
+ Sử dụng nguồn vốn Trung ương (gồm bệnh viện Nhi Đồng Thành phố, bệnh viện Ung bướu cơ sở 2), đầu tư theo hình thức BT hoặc vốn vay kích cầu (Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình) và nguồn vốn ngân sách nhà nước, các nguồn vốn hợp pháp khác.
Đen năm 2015, Hoàn thành việc đầu tư xây dựng mới 5 bệnh viện cửa ngõ theo thứ tự ưu tiên: Bệnh viện Nhi đồng Thành phố (tại xã Tân Kiên - xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh), Bệnh viện Ung bướu (cơ sở 2 tại Quận 9), Bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi, Bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức, Bệnh viện Đa khoa khu vực Hóc Môn.
* Vốn đầu tư các đơn vị thuộc khối dự phòng:
Tổng vốn đầu tư: 1.098 tỷ đồng, sử dụng nguồn vốn ngân sách và các nguồn vốn hợp pháp khác.
- Giai đoạn 2016 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2025: nhu cầu vốn để Hoàn tất dự án trọng điểm là 4.200 tỷ đồng, tiếp tục đầu tư để có thêm 1.000 giường bệnh từ các cơ sở công lập và dự kiến 3.000 giường bệnh từ các bệnh viện tư nhân tham gia đầu tư.
VI. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Về đào tạo nguồn nhân lực:
Xây dựng mô hình kết hợp viện trường giữa Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch với Bệnh viện Nhân dân 115 (để phát triển cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, cơ sở thực hành và tăng cường đội ngũ giảng viên giỏi về lý thuyết và thực hành). Nâng cấp Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch đủ sức đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực y tế Thành phố và đào tạo nguồn nhân lực y tế có trình độ chuyên môn cao, đào tạo nguồn nhân lực theo chuẩn Châu Âu. Tiếp tục phát triển xây dựng bệnh viện thực hành của Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch ở xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh bằng nguồn ngân sách Nhà nước.
Tăng cường hợp tác, liên kết đào tạo giữa các trường đại học y, dược theo hình thức đào tạo hợp đồng theo địa chỉ sử dụng để có đủ số cán bộ theo định biên.
Tăng quy mô đào tạo đại học hệ chính quy tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch. Thành lập khoa Dược, khoa Y học cổ truyền và khoa Y tế công cộng ở Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch để đào tạo Dược sĩ đại học, Bác sĩ Y học cổ truyền và Bác sĩ chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, tuyển sinh đào tạo Bác sĩ Răng Hàm Mặt (hiện nay đã đủ điều kiện về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ giảng để đáp ứng chỉ tiêu đề ra).
Khuyến khích các nguồn lực xã hội hóa để đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Mở thêm mã ngành đào tạo trung cấp chuyên nghiệp: y học dự phòng, vệ sinh an toàn thực phẩm, dân số - kế hoạch hóa gia đình để bổ sung đội ngũ cán bộ y tế.
Thực hiện Chương trình đào tạo 300 Thạc sĩ - Tiến sĩ y khoa của Thành phố, đào tạo phối hợp hai giai đoạn (trong nước và nước ngoài) để đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao; nguồn nhân lực theo chuẩn Châu Âu. Các cơ sở y tế, đặc biệt là các bệnh viện hạng 1 phải có kế hoạch ưu tiên phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy cho sinh viên thực hành, đồng thời xây dựng kế hoạch đào tạo liên tục, bố trí kinh phí và tổ chức thực hiện nghiêm túc.
Chú trọng đào tạo cán bộ quản lý y tế, nhất là cán bộ quản lý bệnh viện. Xây dựng chương trình đào tạo chuẩn cho cán bộ quản lý bệnh viện, cơ sở y tế (quản lý chất lượng, quản lý kinh tế y tế, quản lý chuyên môn...).
Mời các chuyên gia giỏi, giảng viên có trình độ và kinh nghiệm nước ngoài tham gia giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu khoa học. Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư xây dựng trường đào tạo nhân lực y tế chất lượng cao trong phạm vi lĩnh vực của ngành; Ưu tiên các dự án mở trường theo tiêu chuẩn quốc tế.
Lồng ghép nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức vào các dự án do nước ngoài tài trợ từ các chương trình, dự án tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ.
Kiện toàn, củng cố nâng cao năng lực đào tạo cho các cơ sở đào tạo.
Phối hợp với các Hội nghề nghiệp, Hội quần chúng (Hội Y học, Hội Dược học Thành phố Hồ Chí Minh, Hội Đông Y) để mở các lớp bồi dưỡng chuyên ngành cơ bản và nâng cao cho lực lượng cán bộ y tế.
Phân công cán bộ y tế tốt nghiệp đại học, trung cấp về nhận nhiệm sở tại các đơn vị y tế quận - huyện, phường - xã, thị trấn.
Phối hợp Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Giáo dục và Đào tạo để đào tạo hỗ trợ cung ứng nguồn nhân lực có chất lượng cao cho các Trạm Y tế cơ quan xí nghiệp, y tế trường học, y tế trong các trung tâm thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Lực lượng Thanh niên xung phong Thành phố.
2. Về nhu cầu sử dụng đất:
Đối với việc tái cấu trúc các bệnh viện cụm trung tâm: không mở rộng thêm diện tích đất. Tái cấu trúc bệnh viện theo hướng hợp khối, phát triển cao tầng để giảm mật độ xây dựng, tạo thêm diện tích giao thông và cây xanh.
Đối với các dự án tại các cụm Bệnh viện cửa ngõ: Bố trí quỹ đất hợp lý theo đúng tiêu chuẩn thiết kế, đảm bảo đủ điều kiện để kết nối giao thông thuận tiện và thiết kế bệnh viện hiện đại. Có đất dự phòng cho nhu cầu phát triển.
Đối với các dự án xây dựng Trung tâm Y tế dự phòng quận - huyện, các Trạm Y tế: Bố trí quỹ đất đủ để xây dựng thiết kế chuẩn cho Trung tâm Y tế dự phòng, Trạm Y tế xã - phường, thị trấn.
Các dự án đầu tư cơ sở y tế phải được xây dựng theo tiêu chuẩn hiện đại, phù hợp với tiêu chuẩn kiến trúc và đảm bảo về môi trường theo quy định.
3. Về kinh phí đầu tư:
Nguồn Ngân sách Trung ương, nguồn ngân sách Thành phố, vốn vay ODA, vốn phát hành trái phiếu: đầu tư các bệnh viện cửa ngõ (Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, Bệnh viện Ung bướu cơ sở 2, Bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi, Bệnh viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức).
Nguồn vốn Ngân sách Thành phố: đầu tư Hoàn chỉnh hệ thống y tế dự phòng (các Trung tâm y tế dự phòng quận - huyện, các Trạm Y tế phường - xã, thị trấn); xây dựng Hoàn chỉnh cơ sở vật chất các bệnh viện.
Nguồn vốn vay kích cầu: Các bệnh viện chuyên khoa và đa khoa thực hiện tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ.
Nguồn vốn đầu tư khác như Xây dựng - Chuyển giao (BT), Xây dựng - sử dụng - chuyển giao (BOT), Hợp tác công tư (PPP).
4. Hoạt động xã hội hóa:
Xây dựng các cơ chế chính sách để khuyến khích các nhà đầu tư tham gia trong các hoạt động khám chữa bệnh, hoạt động cấp cứu ngoại viện, hoạt động dự phòng, hoạt động đào tạo...
Triển khai các mô hình xã hội hóa y tế theo hướng mở rộng với nhiều hình thức đa dạng như: Mô hình Cơ sở cung ứng dịch vụ y tế kỹ thuật cao - phi lợi nhuận hưởng chính sách theo quy định hiện hành về khuyến khích phát triển xã hội hóa y tế (tại đơn vị hoặc thành lập các cơ sở 2); Hoạt động liên doanh - liên kết; Hoạt động xã hội hóa theo hình thức vay vốn; Huy động nguồn lực xã hội, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đầu tư y tế (trong lĩnh vực khám chữa bệnh, trong đào tạo nguồn nhân lực, trong hoạt động y tế công cộng).
Giải pháp huy động sức mạnh của cộng đồng: Phát huy vai trò của các tổ chức hội, đoàn thể (Thanh niên, Phụ nữ, Cựu chiến binh, Chữ thập đỏ...), các Hội nghề nghiệp (Hội Y học, Hội Dược, Hội Đông Y, Châm cứu...), Hội quần chúng và các tổ chức từ thiện trong hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe, tư vấn cho cộng đồng để tăng cường kiến thức y tế, thực hiện những biện pháp phòng bệnh chủ động, khuyến khích cộng đồng phát triển các hình thức tập luyện để nâng cao sức khỏe tinh thần và thể chất. Xây dựng quy chế phối hợp trong các hoạt động chung của ngành y tế.
5. Về cơ chế chính sách:
Từ đầu năm 2014, xây dựng và ban hành chế độ đãi ngộ cán bộ y tế về công tác tại các xã vùng xa, còn khó khăn về các điều kiện sinh hoạt, cán bộ làm công tác y tế dự phòng; về nâng mức phụ cấp cho cán bộ, công chức, viên chức công chức tại Trạm Y tế phường - xã, thị trấn trên địa bàn Thành phố và về chính sách đối với cán bộ, viên chức, nhân viên ngành y tế trên địa bàn quận - huyện thuộc Thành phố (áp dụng cho 05 huyện) được điều chỉnh tăng theo tỷ lệ mức tăng lương cơ bản do Nhà nước quy định.
Phát triển cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp. Hướng đến giao tự chủ toàn phần, toàn diện cho đơn vị trong việc quản lý sử dụng tài sản và quyết định đầu tư.
Kêu gọi đầu tư xã hội hóa: xác định quy hoạch sử dụng đất và xác định các mô hình kêu gọi đầu tư. Xây dựng cơ chế, chính sách để kêu gọi và thu hút đầu tư đối với các dự án bệnh viện ở các cụm cửa ngõ (như giao đất đã được bồi thường giải phóng mặt bằng cho nhà đầu tư để xây dựng bệnh viện theo quy hoạch ngành...).
Xây dựng quy chế phối hợp với các Sở - ngành, quận - huyện, các cơ quan truyền thông trong hoạt động truyền thông sức khỏe, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe. Chú trọng phối hợp với các tỉnh, thành phố trong khu vực và cả nước để thực hiện đồng bộ hoạt động phòng chống dịch bệnh và nâng chất lượng khám chữa bệnh phục vụ nhân dân.
Mô hình quản lý: Xây dựng cơ chế quản lý, cơ chế phối hợp và các hoạt động hỗ trợ giữa các tuyến điều trị của Thành phố, quận - huyện và cơ sở (Trạm Y tế). Cho phép thí điểm Trạm Y tế được chủ động trong việc tổ chức khám chữa bệnh ban đầu (có con dấu riêng). Thành lập Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình quận - huyện trực thuộc Ủy ban nhân dân quận - huyện.
Triển khai thực hiện tốt các quy định về chuyên môn trong hoạt động y tế.
6. Về tổ chức thực hiện quy hoạch:
Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và sự quan tâm hỗ trợ của các ngành, các cấp, các đơn vị trong việc tổ chức thực hiện quy hoạch ngành.
Thành lập Ban Chỉ đạo tổ chức thực hiện quy hoạch do lãnh đạo Ủy ban nhân dân Thành phố làm Trưởng ban, lãnh đạo Sở Y tế làm Phó Trưởng ban thường trực và các thành viên là lãnh đạo các Sở, ban, ngành liên quan; Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo gồm các tổ tuyên truyền, tổ triển khai, tổ kiểm tra giám sát, tổ cơ chế chính sách, tổ đánh giá chất lượng nội bộ... Ban Chỉ đạo ban hành quy chế làm việc để điều hành quá trình tổ chức thực hiện, ban hành chế độ kiểm tra, giám sát, đánh giá và khen thưởng việc quy hoạch.
Xây dựng các Chương trình hành động nhằm triển khai hiệu quả các nội dung quy hoạch đã được phê duyệt, xác định các chương trình trọng tâm, trọng điểm (Củng cố và phát triển mạng lưới y tế cơ sở; Quy hoạch các bệnh viện chuyên sâu ở trung tâm và các bệnh viện nòng cốt tại các cửa ngõ; Hoàn chỉnh mạng lưới cấp cứu ngoại viện của Thành phố; Phát triển ngành Dược và Y dược học cổ truyền; Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, giáo dục y đức cho cán bộ ngành y tế; Tăng cường hợp tác quốc tế; Đẩy mạnh công tác truyền thông và giáo dục sức khỏe,..
Công khai quy hoạch, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, thực hiện truyền thông và các nội dung quy hoạch đã được phê duyệt.

Content:
Nhu cầu về vốn đầu tư:
- Giai đoạn 2013 - 2015 cần 20.746 tỷ đồng, trong đó:
· Vốn đầu tư các bệnh viện chuyên khoa và đa khoa Thành phố:
Tổng vốn đầu tư 4.708 tỷ đồng, sử dụng nguồn vốn ngân sách và nguồn vốn vay kích cầu.
· Vốn đầu tư các bệnh viện quận - huyện:
Tổng vốn đầu tư: 2.040 tỷ đồng, sử dụng nguồn vốn ngân sách và các nguồn vốn hợp pháp khác, theo nhu cầu và tiến độ thực hiện.
· Nguồn vốn đầu tư xây dựng một số bệnh viện mới (gồm bệnh viện Nhi Đồng Thành phố, bệnh viện đa khoa khu vực Thủ Đức, bệnh viện đa khoa khu vực Củ Chi, bệnh viện đa khoa khu vực Hóc Môn, bệnh viện Chấn thương chỉnh hình, bệnh viện Ung bướu cơ sở 2...):
+ Tổng mức đầu tư: 12.900 tỷ đồng.
+ Sử dụng nguồn vốn Trung ương (gồm bệnh viện Nhi Đồng Thành phố, bệnh viện Ung bướu cơ sở 2), đầu tư theo hình thức BT hoặc vốn vay kích cầu (Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình) và nguồn vốn ngân sách nhà nước, các nguồn vốn hợp pháp khác.
Đen năm 2015, Hoàn thành việc đầu tư xây dựng mới 5 bệnh viện cửa ngõ theo thứ tự ưu tiên: Bệnh viện Nhi đồng Thành phố (tại xã Tân Kiên - xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh), Bệnh viện Ung bướu (cơ sở 2 tại Quận 9), Bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi, Bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức, Bệnh viện Đa khoa khu vực Hóc Môn.
* Vốn đầu tư các đơn vị thuộc khối dự phòng:
Tổng vốn đầu tư: 1.098 tỷ đồng, sử dụng nguồn vốn ngân sách và các nguồn vốn hợp pháp khác.
- Giai đoạn 2016 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2025: nhu cầu vốn để Hoàn tất dự án trọng điểm là 4.200 tỷ đồng, tiếp tục đầu tư để có thêm 1.000 giường bệnh từ các cơ sở công lập và dự kiến 3.000 giường bệnh từ các bệnh viện tư nhân tham gia đầu tư.
VI. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Về đào tạo nguồn nhân lực:
Xây dựng mô hình kết hợp viện trường giữa Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch với Bệnh viện Nhân dân 115 (để phát triển cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, cơ sở thực hành và tăng cường đội ngũ giảng viên giỏi về lý thuyết và thực hành). Nâng cấp Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch đủ sức đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực y tế Thành phố và đào tạo nguồn nhân lực y tế có trình độ chuyên môn cao, đào tạo nguồn nhân lực theo chuẩn Châu Âu. Tiếp tục phát triển xây dựng bệnh viện thực hành của Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch ở xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh bằng nguồn ngân sách Nhà nước.
Tăng cường hợp tác, liên kết đào tạo giữa các trường đại học y, dược theo hình thức đào tạo hợp đồng theo địa chỉ sử dụng để có đủ số cán bộ theo định biên.
Tăng quy mô đào tạo đại học hệ chính quy tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch. Thành lập khoa Dược, khoa Y học cổ truyền và khoa Y tế công cộng ở Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch để đào tạo Dược sĩ đại học, Bác sĩ Y học cổ truyền và Bác sĩ chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, tuyển sinh đào tạo Bác sĩ Răng Hàm Mặt (hiện nay đã đủ điều kiện về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ giảng để đáp ứng chỉ tiêu đề ra).
Khuyến khích các nguồn lực xã hội hóa để đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Mở thêm mã ngành đào tạo trung cấp chuyên nghiệp: y học dự phòng, vệ sinh an toàn thực phẩm, dân số - kế hoạch hóa gia đình để bổ sung đội ngũ cán bộ y tế.
Thực hiện Chương trình đào tạo 300 Thạc sĩ - Tiến sĩ y khoa của Thành phố, đào tạo phối hợp hai giai đoạn (trong nước và nước ngoài) để đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao; nguồn nhân lực theo chuẩn Châu Âu. Các cơ sở y tế, đặc biệt là các bệnh viện hạng 1 phải có kế hoạch ưu tiên phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy cho sinh viên thực hành, đồng thời xây dựng kế hoạch đào tạo liên tục, bố trí kinh phí và tổ chức thực hiện nghiêm túc.
Chú trọng đào tạo cán bộ quản lý y tế, nhất là cán bộ quản lý bệnh viện. Xây dựng chương trình đào tạo chuẩn cho cán bộ quản lý bệnh viện, cơ sở y tế (quản lý chất lượng, quản lý kinh tế y tế, quản lý chuyên môn...).
Mời các chuyên gia giỏi, giảng viên có trình độ và kinh nghiệm nước ngoài tham gia giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu khoa học. Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư xây dựng trường đào tạo nhân lực y tế chất lượng cao trong phạm vi lĩnh vực của ngành; Ưu tiên các dự án mở trường theo tiêu chuẩn quốc tế.
Lồng ghép nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức vào các dự án do nước ngoài tài trợ từ các chương trình, dự án tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ.
Kiện toàn, củng cố nâng cao năng lực đào tạo cho các cơ sở đào tạo.
Phối hợp với các Hội nghề nghiệp, Hội quần chúng (Hội Y học, Hội Dược học Thành phố Hồ Chí Minh, Hội Đông Y) để mở các lớp bồi dưỡng chuyên ngành cơ bản và nâng cao cho lực lượng cán bộ y tế.
Phân công cán bộ y tế tốt nghiệp đại học, trung cấp về nhận nhiệm sở tại các đơn vị y tế quận - huyện, phường - xã, thị trấn.
Phối hợp Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Giáo dục và Đào tạo để đào tạo hỗ trợ cung ứng nguồn nhân lực có chất lượng cao cho các Trạm Y tế cơ quan xí nghiệp, y tế trường học, y tế trong các trung tâm thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Lực lượng Thanh niên xung phong Thành phố.
2. Về nhu cầu sử dụng đất:
Đối với việc tái cấu trúc các bệnh viện cụm trung tâm: không mở rộng thêm diện tích đất. Tái cấu trúc bệnh viện theo hướng hợp khối, phát triển cao tầng để giảm mật độ xây dựng, tạo thêm diện tích giao thông và cây xanh.
Đối với các dự án tại các cụm Bệnh viện cửa ngõ: Bố trí quỹ đất hợp lý theo đúng tiêu chuẩn thiết kế, đảm bảo đủ điều kiện để kết nối giao thông thuận tiện và thiết kế bệnh viện hiện đại. Có đất dự phòng cho nhu cầu phát triển.
Đối với các dự án xây dựng Trung tâm Y tế dự phòng quận - huyện, các Trạm Y tế: Bố trí quỹ đất đủ để xây dựng thiết kế chuẩn cho Trung tâm Y tế dự phòng, Trạm Y tế xã - phường, thị trấn.
Các dự án đầu tư cơ sở y tế phải được xây dựng theo tiêu chuẩn hiện đại, phù hợp với tiêu chuẩn kiến trúc và đảm bảo về môi trường theo quy định.
3. Về kinh phí đầu tư:
Nguồn Ngân sách Trung ương, nguồn ngân sách Thành phố, vốn vay ODA, vốn phát hành trái phiếu: đầu tư các bệnh viện cửa ngõ (Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, Bệnh viện Ung bướu cơ sở 2, Bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi, Bệnh viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức).
Nguồn vốn Ngân sách Thành phố: đầu tư Hoàn chỉnh hệ thống y tế dự phòng (các Trung tâm y tế dự phòng quận - huyện, các Trạm Y tế phường - xã, thị trấn); xây dựng Hoàn chỉnh cơ sở vật chất các bệnh viện.
Nguồn vốn vay kích cầu: Các bệnh viện chuyên khoa và đa khoa thực hiện tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ.
Nguồn vốn đầu tư khác như Xây dựng - Chuyển giao (BT), Xây dựng - sử dụng - chuyển giao (BOT), Hợp tác công tư (PPP).
4. Hoạt động xã hội hóa:
Xây dựng các cơ chế chính sách để khuyến khích các nhà đầu tư tham gia trong các hoạt động khám chữa bệnh, hoạt động cấp cứu ngoại viện, hoạt động dự phòng, hoạt động đào tạo...
Triển khai các mô hình xã hội hóa y tế theo hướng mở rộng với nhiều hình thức đa dạng như: Mô hình Cơ sở cung ứng dịch vụ y tế kỹ thuật cao - phi lợi nhuận hưởng chính sách theo quy định hiện hành về khuyến khích phát triển xã hội hóa y tế (tại đơn vị hoặc thành lập các cơ sở 2); Hoạt động liên doanh - liên kết; Hoạt động xã hội hóa theo hình thức vay vốn; Huy động nguồn lực xã hội, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đầu tư y tế (trong lĩnh vực khám chữa bệnh, trong đào tạo nguồn nhân lực, trong hoạt động y tế công cộng).
Giải pháp huy động sức mạnh của cộng đồng: Phát huy vai trò của các tổ chức hội, đoàn thể (Thanh niên, Phụ nữ, Cựu chiến binh, Chữ thập đỏ...), các Hội nghề nghiệp (Hội Y học, Hội Dược, Hội Đông Y, Châm cứu...), Hội quần chúng và các tổ chức từ thiện trong hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe, tư vấn cho cộng đồng để tăng cường kiến thức y tế, thực hiện những biện pháp phòng bệnh chủ động, khuyến khích cộng đồng phát triển các hình thức tập luyện để nâng cao sức khỏe tinh thần và thể chất. Xây dựng quy chế phối hợp trong các hoạt động chung của ngành y tế.
5. Về cơ chế chính sách:
Từ đầu năm 2014, xây dựng và ban hành chế độ đãi ngộ cán bộ y tế về công tác tại các xã vùng xa, còn khó khăn về các điều kiện sinh hoạt, cán bộ làm công tác y tế dự phòng; về nâng mức phụ cấp cho cán bộ, công chức, viên chức công chức tại Trạm Y tế phường - xã, thị trấn trên địa bàn Thành phố và về chính sách đối với cán bộ, viên chức, nhân viên ngành y tế trên địa bàn quận - huyện thuộc Thành phố (áp dụng cho 05 huyện) được điều chỉnh tăng theo tỷ lệ mức tăng lương cơ bản do Nhà nước quy định.
Phát triển cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp. Hướng đến giao tự chủ toàn phần, toàn diện cho đơn vị trong việc quản lý sử dụng tài sản và quyết định đầu tư.
Kêu gọi đầu tư xã hội hóa: xác định quy hoạch sử dụng đất và xác định các mô hình kêu gọi đầu tư. Xây dựng cơ chế, chính sách để kêu gọi và thu hút đầu tư đối với các dự án bệnh viện ở các cụm cửa ngõ (như giao đất đã được bồi thường giải phóng mặt bằng cho nhà đầu tư để xây dựng bệnh viện theo quy hoạch ngành...).
Xây dựng quy chế phối hợp với các Sở - ngành, quận - huyện, các cơ quan truyền thông trong hoạt động truyền thông sức khỏe, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe. Chú trọng phối hợp với các tỉnh, thành phố trong khu vực và cả nước để thực hiện đồng bộ hoạt động phòng chống dịch bệnh và nâng chất lượng khám chữa bệnh phục vụ nhân dân.
Mô hình quản lý: Xây dựng cơ chế quản lý, cơ chế phối hợp và các hoạt động hỗ trợ giữa các tuyến điều trị của Thành phố, quận - huyện và cơ sở (Trạm Y tế). Cho phép thí điểm Trạm Y tế được chủ động trong việc tổ chức khám chữa bệnh ban đầu (có con dấu riêng). Thành lập Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình quận - huyện trực thuộc Ủy ban nhân dân quận - huyện.
Triển khai thực hiện tốt các quy định về chuyên môn trong hoạt động y tế.
6. Về tổ chức thực hiện quy hoạch:
Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và sự quan tâm hỗ trợ của các ngành, các cấp, các đơn vị trong việc tổ chức thực hiện quy hoạch ngành.
Thành lập Ban Chỉ đạo tổ chức thực hiện quy hoạch do lãnh đạo Ủy ban nhân dân Thành phố làm Trưởng ban, lãnh đạo Sở Y tế làm Phó Trưởng ban thường trực và các thành viên là lãnh đạo các Sở, ban, ngành liên quan; Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo gồm các tổ tuyên truyền, tổ triển khai, tổ kiểm tra giám sát, tổ cơ chế chính sách, tổ đánh giá chất lượng nội bộ... Ban Chỉ đạo ban hành quy chế làm việc để điều hành quá trình tổ chức thực hiện, ban hành chế độ kiểm tra, giám sát, đánh giá và khen thưởng việc quy hoạch.
Xây dựng các Chương trình hành động nhằm triển khai hiệu quả các nội dung quy hoạch đã được phê duyệt, xác định các chương trình trọng tâm, trọng điểm (Củng cố và phát triển mạng lưới y tế cơ sở; Quy hoạch các bệnh viện chuyên sâu ở trung tâm và các bệnh viện nòng cốt tại các cửa ngõ; Hoàn chỉnh mạng lưới cấp cứu ngoại viện của Thành phố; Phát triển ngành Dược và Y dược học cổ truyền; Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, giáo dục y đức cho cán bộ ngành y tế; Tăng cường hợp tác quốc tế; Đẩy mạnh công tác truyền thông và giáo dục sức khỏe,..
Công khai quy hoạch, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, thực hiện truyền thông và các nội dung quy hoạch đã được phê duyệt.