Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1047/QĐ-BYT quy hoạch phát triển mạng lưới bệnh viện Việt Nam 2005-2010

Type: {"issuing_agency": "Bộ Y tế", "promulgation_date": "28/03/2002", "sign_number": "1047/QĐ-BYT", "signer": "Đỗ Nguyên Phương", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Y tế", "promulgation_date": "28/03/2002", "sign_number": "1047/QĐ-BYT", "signer": "Đỗ Nguyên Phương", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Y tế", "promulgation_date": "28/03/2002", "sign_number": "1047/QĐ-BYT", "signer": "Đỗ Nguyên Phương", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Y tế", "promulgation_date": "28/03/2002", "sign_number": "1047/QĐ-BYT", "signer": "Đỗ Nguyên Phương", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Y tế", "promulgation_date": "28/03/2002", "sign_number": "1047/QĐ-BYT", "signer": "Đỗ Nguyên Phương", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1047/QĐ-BYT quy hoạch phát triển mạng lưới bệnh viện Việt Nam 2005-2010

Điều 1. Nay phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới bệnh viện Việt Nam đến năm 2005 và 2010 với các nội dung chủ yếu như sau:
...
2. Nội dung và định hướng quy hoạch
2.1. Các bệnh viện được xây dựng và tổ chức để đảm bảo tính hệ thống và yêu cầu phục vụ theo địa bàn cụm dân cư.
. Mỗi bệnh viện phụ trách một cụm dân cư xác định, nhiều bệnh viện trong một vùng lãnh thổ xác định thành một cụm kỹ thuật theo hạng và tuyến bệnh viện, từ chăm sóc sức khoẻ ban đầu đến chuyên sâu, hỗ trợ nhau về kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ, phù hợp với điều kiện về địa lý, giao thông, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi, đồng bằng sông Cửu Long, những tỉnh, huyện có địa bàn rộng nhưng dân số thưa, đường giao thông còn nhiều khó khăn và mô hình bệnh tật của từng vùng.
. Tổ chức tuyến điều trị theo 3 cấp độ chuyên môn từ thấp đến cao trong bậc thang điều trị vừa đảm bảo sự phân cấp để đáp ứng các yêu cầu chăm sóc sức khoẻ khác. Cụ thể là:
a. Tuyến 1 (tuyến chăm sóc sức khoẻ cơ bản ban đắn hay Tuyến huyện): thực hiện các kỹ thuật chăm sóc sức khoẻ cơ bản, mang tính đa khoa;
b. Tuyến 2 (tuyến tỉnh): chăm sóc sức khoẻ với các kỹ thuật phức tạp hơn, mang tính chuyên khoa chuyên ngành; là tuyến kỹ thuật cao hơn Tuyền 1 và tiếp nhận người bệnh do Tuyến 1 chuyên đến.
c. Tuyến 3 (tuyến Trung ương): tuyến cuối cùng trong bậc thang điều trị, thực hiện các kỹ thuật chuyên khoa sâu và tiếp nhận người bệnh từ tuyến dưới chuyển đến.
2.2. Các bệnh viện được xây dựng và tổ chức nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu công bằng, chất lượng và hiệu quả trong sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
. Các bệnh viện (BV) được bố trí trên cơ sở đảm bảo sự tiếp cận của nhân dân một cách công bằng, kể cả ở thành thị cũng như vùng sâu, vùng xa. Quy mô BV được tính toán phù hợp với nhu cầu của nhân dân trong địa bàn và đảm bảo công suất sử dụng giường bệnh của BV.
. Các BV có cùng chức năng nhiệm vụ sẽ được đầu tư như nhau để đảm bảo thực hiện được chức năng nhiệm vụ của mình, đạt hiệu quả cả về chất lượng điều trị và lợi ích kinh tế, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh trong cơ chế thị trường, thời bình và thời chiến.
. Trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: bệnh viện đa khoa (BVĐK) tỉnh và bệnh viện chuyên khoa (BVCK) tỉnh (nếu có) là các cơ sở cao nhất về kỹ thuật, phục vụ cho nhân dân trong địa bàn;
. Trong phạm vi vùng (nhiều tỉnh): sẽ hình thành các Trung tâm Y tế Vùng theo các Vùng để đầu tư thích dáng, nhằm giải quyết những chăm sóc điều trị chuyên sâu mà các BV tỉnh không giải quyết được, đảm bảo công bằng, chất lượng và hiệu quả. Các BV tham gia trung tâm y tế chuyên sâu sẽ là các BV thực hành của các Trường Đại học Y - Dược.
2.3. Phát triển mạng lưới bệnh viện theo hướng đa dạng hoá các loại hình khám chữa bệnh, khuyến khích thành lập các bệnh viện bán công, dân lập, tư nhân, có vốn đầu tư của nước ngoài nhưng bệnh viện công vẫn giữ vai trò chủ đạo.
. Khuyến khích hình thành các BV tư, BV bán công, dân lập, BV có vốn đầu tư nước ngoài, nhất là BV chuyên khoa nhằm thực hiện chính sách xã hội hoá và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ y tế. Tuy nhiên, hệ thống BV công vẫn đóng vai trò chủ đạo, đặc biệt là phát triến các kỹ thuật cao, đảm bảo cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
2.4. Các bệnh viện chuyên khoa
. Thành phố hạng I trực thuộc Trung ương, các tỉnh có dân số lớn, có khả năng đảm bảo ngân sách: được thành lập các BV chuyên khoa.
. Thành phố hạng II và các tỉnh có từ trên một triệu dân, có các bệnh viện chuyên khoa: Lao, Tâm thần, Phụ Sản, Nhi.
. Các BV chuyên khoa cấp tỉnh được thành lập với quy mô nhỏ và trung bình để đáp ứng nhu cầu phát trên sự nghiệp kỹ thuật chuyên khoa, nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị.
. Các bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng (PHCN): những tỉnh đã có BV Điều dưỡng - PHCN hay cơ sở Điều dưỡng thì thực hiện việc chuyển đổi chức năng và nhiệm vụ cho phù hợp. Những tỉnh, thành phố chưa hình thành loại hình này thì củng cố và mở rông phạm vi điều trị của Khoa Phục hồi chức năng trong các bệnh viện đa khoa.
. Các khu diều trị Phong: chuyển đổi dần thành bệnh viện Phong và Da liễu hoặc chỉ hình thành Phòng khám đa khoa theo xu thế giảm dần của bệnh phong.
2.5. Bệnh viện Y học cổ truyền
. Bệnh viện Y học cổ truyền (YHCT): mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có một bệnh viện YHCT. Những tỉnh đã có bệnh viện YHCT cần tiếp tục củng cố về mọi mặt để nâng cao chất lượng điều trị, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh bằng YHCT của nhân dân trong tỉnh.
2.6. Các bệnh viện thuộc các Bộ, ngành khác (không kể các bệnh viện thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động, TBXH)
. Nguyên tắc chung để sắp xếp quy hoạch các bệnh viện thuộc các Bộ, Ngành là theo cụm dân cư, chuyển giao dần các bệnh viện thuộc các Bộ, ngành khác cho địa phương quán lý; các Trung tâm Điều dưỡng - PHCN sẽ được xem xét để chuyển đổi thành bệnh viện Điều dưỡng - PHCN để đáp ứng nhu cầu điều trị phục hồi sức khoẻ cho công nhân mang tính dặc thù của ngành trong và sau quá trình lao động, sản xuất.
. Đối với một số ngành có đặc thù riêng (như cao su, cà phê, giao thông, bưu điện...) có nhiều công nhân và gia đình họ cùng sinh sống, địa bàn làm việc ở nơi xa xôi hẻo lánh, khó tiếp cận với hệ thống y tế địa phương thì có thể vẫn duy trì các bệnh viện riêng, nhưng cần xem xét cụ thể về nhu cầu khám chữa bệnh; quy mô, địa điểm bệnh viện, chất lượng và phạm vi đối tượng phục vụ. Quá trình sắp xếp sẽ tiến hành từng bước, có sự phối hợp và thống nhất giữa địa phương và Bộ, Ngành chủ quản của bệnh viện, vừa đảm bảo nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của công nhân vừa đảm bảo thực hiện chính sách đối với cán bộ y tế.
2.7. Quy mô, tổ chức khoa phòng và phân hạng của các bệnh viện
. Phân hạng của các loại bệnh viện được thực hiện theo Quy chế bệnh viện đã ban hành (3 hạng, từ Hạng I đến Hạng III; Hạng I là cao nhất). Để thực hiện việc phân hạng theo đúng Quy chế bệnh viện, các cơ sở chưa có tên là "Bệnh viện" cần đổi tên để thống nhất gọi chung là "Bệnh viện".
. Các BV huyện và một số BV Bộ, ngành có phạm vi phục vụ hẹp: thực hiện quy mô từ 30 đến 150 giường bệnh và tổ chức khoa phòng như quy định đối với BVĐK hạng III theo Quy chế BV.
. Các BV đa khoa khu vực thuộc tỉnh, thành phố và một số BV thuộc các Bộ ngành có chức năng tương đương: quy mô từ 150-400 giường; tổ chức khoa phòng trên cơ sở như với BVĐK hạng II, có thể kết hợp các khoa để giảm đầu mối các khoa lâm sàng cho phù hợp với quy mô giường bệnh.
. Các BVĐK trung tâm tỉnh, thành phố: quy mô từ 300 đến 700 giường; tổ chức khoa phòng như với BVĐK hạng I hoặc hạng II.
. Các BVĐK thuộc Bộ Y tế, các BVĐK trong các Trung tâm y tế chuyên sâu mang tính chất vùng: quy mô từ 500-1500 giường; tổ chức các khoa phòng như với bệnh viện hạng I và có tổ chức các khoa mang tính chuyên khoa sâu theo sự phát triến của mỗi bệnh viện.
. Các bệnh viện chuyên khoa thuộc tỉnh: quy mô từ 50 đến 500 giường tuy theo tính chất chuyên khoa và phạm vi dân số;
. Các bệnh viên chuyên khoa thuộc Bộ Y tế và các bệnh viện chuyên khoa của các thành phố lớn được giao chức năng phục vụ cho một vùng, một khu vực: quy mô từ 100 đến 1000 giường, tuỳ theo tính chất chuyên khoa và chức năng nhiệm vụ của từng bệnh viện.
. Tổ chức khoa phòng của các bệnh viện chuyên khoa dựa trên chức năng nhiệm vụ của từng bệnh viện và tính chất của từng chuyên khoa. Một số khoa phòng có chức năng chung của các bệnh viện thì tổ chức như với các BVĐK tương ứng. Các khoa lâm sàng sẽ được tổ chức theo chuyên ngành sâu của chuyên khoa để phát triển kỹ thuật chuyên sâu.

Content:
Nội dung và định hướng quy hoạch
2.1. Các bệnh viện được xây dựng và tổ chức để đảm bảo tính hệ thống và yêu cầu phục vụ theo địa bàn cụm dân cư.
. Mỗi bệnh viện phụ trách một cụm dân cư xác định, nhiều bệnh viện trong một vùng lãnh thổ xác định thành một cụm kỹ thuật theo hạng và tuyến bệnh viện, từ chăm sóc sức khoẻ ban đầu đến chuyên sâu, hỗ trợ nhau về kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ, phù hợp với điều kiện về địa lý, giao thông, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi, đồng bằng sông Cửu Long, những tỉnh, huyện có địa bàn rộng nhưng dân số thưa, đường giao thông còn nhiều khó khăn và mô hình bệnh tật của từng vùng.
. Tổ chức tuyến điều trị theo 3 cấp độ chuyên môn từ thấp đến cao trong bậc thang điều trị vừa đảm bảo sự phân cấp để đáp ứng các yêu cầu chăm sóc sức khoẻ khác. Cụ thể là:
a. Tuyến 1 (tuyến chăm sóc sức khoẻ cơ bản ban đắn hay Tuyến huyện): thực hiện các kỹ thuật chăm sóc sức khoẻ cơ bản, mang tính đa khoa;
b. Tuyến 2 (tuyến tỉnh): chăm sóc sức khoẻ với các kỹ thuật phức tạp hơn, mang tính chuyên khoa chuyên ngành; là tuyến kỹ thuật cao hơn Tuyền 1 và tiếp nhận người bệnh do Tuyến 1 chuyên đến.
c. Tuyến 3 (tuyến Trung ương): tuyến cuối cùng trong bậc thang điều trị, thực hiện các kỹ thuật chuyên khoa sâu và tiếp nhận người bệnh từ tuyến dưới chuyển đến.
2.Các bệnh viện được xây dựng và tổ chức nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu công bằng, chất lượng và hiệu quả trong sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
. Các bệnh viện (BV) được bố trí trên cơ sở đảm bảo sự tiếp cận của nhân dân một cách công bằng, kể cả ở thành thị cũng như vùng sâu, vùng xa. Quy mô BV được tính toán phù hợp với nhu cầu của nhân dân trong địa bàn và đảm bảo công suất sử dụng giường bệnh của BV.
. Các BV có cùng chức năng nhiệm vụ sẽ được đầu tư như nhau để đảm bảo thực hiện được chức năng nhiệm vụ của mình, đạt hiệu quả cả về chất lượng điều trị và lợi ích kinh tế, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh trong cơ chế thị trường, thời bình và thời chiến.
. Trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: bệnh viện đa khoa (BVĐK) tỉnh và bệnh viện chuyên khoa (BVCK) tỉnh (nếu có) là các cơ sở cao nhất về kỹ thuật, phục vụ cho nhân dân trong địa bàn;
. Trong phạm vi vùng (nhiều tỉnh): sẽ hình thành các Trung tâm Y tế Vùng theo các Vùng để đầu tư thích dáng, nhằm giải quyết những chăm sóc điều trị chuyên sâu mà các BV tỉnh không giải quyết được, đảm bảo công bằng, chất lượng và hiệu quả. Các BV tham gia trung tâm y tế chuyên sâu sẽ là các BV thực hành của các Trường Đại học Y - Dược.
2.3. Phát triển mạng lưới bệnh viện theo hướng đa dạng hoá các loại hình khám chữa bệnh, khuyến khích thành lập các bệnh viện bán công, dân lập, tư nhân, có vốn đầu tư của nước ngoài nhưng bệnh viện công vẫn giữ vai trò chủ đạo.
. Khuyến khích hình thành các BV tư, BV bán công, dân lập, BV có vốn đầu tư nước ngoài, nhất là BV chuyên khoa nhằm thực hiện chính sách xã hội hoá và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ y tế. Tuy nhiên, hệ thống BV công vẫn đóng vai trò chủ đạo, đặc biệt là phát triến các kỹ thuật cao, đảm bảo cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
2.4. Các bệnh viện chuyên khoa
. Thành phố hạng I trực thuộc Trung ương, các tỉnh có dân số lớn, có khả năng đảm bảo ngân sách: được thành lập các BV chuyên khoa.
. Thành phố hạng II và các tỉnh có từ trên một triệu dân, có các bệnh viện chuyên khoa: Lao, Tâm thần, Phụ Sản, Nhi.
. Các BV chuyên khoa cấp tỉnh được thành lập với quy mô nhỏ và trung bình để đáp ứng nhu cầu phát trên sự nghiệp kỹ thuật chuyên khoa, nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị.
. Các bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng (PHCN): những tỉnh đã có BV Điều dưỡng - PHCN hay cơ sở Điều dưỡng thì thực hiện việc chuyển đổi chức năng và nhiệm vụ cho phù hợp. Những tỉnh, thành phố chưa hình thành loại hình này thì củng cố và mở rông phạm vi điều trị của Khoa Phục hồi chức năng trong các bệnh viện đa khoa.
. Các khu diều trị Phong: chuyển đổi dần thành bệnh viện Phong và Da liễu hoặc chỉ hình thành Phòng khám đa khoa theo xu thế giảm dần của bệnh phong.
2.5. Bệnh viện Y học cổ truyền
. Bệnh viện Y học cổ truyền (YHCT): mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có một bệnh viện YHCT. Những tỉnh đã có bệnh viện YHCT cần tiếp tục củng cố về mọi mặt để nâng cao chất lượng điều trị, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh bằng YHCT của nhân dân trong tỉnh.
2.6. Các bệnh viện thuộc các Bộ, ngành khác (không kể các bệnh viện thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động, TBXH)
. Nguyên tắc chung để sắp xếp quy hoạch các bệnh viện thuộc các Bộ, Ngành là theo cụm dân cư, chuyển giao dần các bệnh viện thuộc các Bộ, ngành khác cho địa phương quán lý; các Trung tâm Điều dưỡng - PHCN sẽ được xem xét để chuyển đổi thành bệnh viện Điều dưỡng - PHCN để đáp ứng nhu cầu điều trị phục hồi sức khoẻ cho công nhân mang tính dặc thù của ngành trong và sau quá trình lao động, sản xuất.
. Đối với một số ngành có đặc thù riêng (như cao su, cà phê, giao thông, bưu điện...) có nhiều công nhân và gia đình họ cùng sinh sống, địa bàn làm việc ở nơi xa xôi hẻo lánh, khó tiếp cận với hệ thống y tế địa phương thì có thể vẫn duy trì các bệnh viện riêng, nhưng cần xem xét cụ thể về nhu cầu khám chữa bệnh; quy mô, địa điểm bệnh viện, chất lượng và phạm vi đối tượng phục vụ. Quá trình sắp xếp sẽ tiến hành từng bước, có sự phối hợp và thống nhất giữa địa phương và Bộ, Ngành chủ quản của bệnh viện, vừa đảm bảo nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của công nhân vừa đảm bảo thực hiện chính sách đối với cán bộ y tế.
2.7. Quy mô, tổ chức khoa phòng và phân hạng của các bệnh viện
. Phân hạng của các loại bệnh viện được thực hiện theo Quy chế bệnh viện đã ban hành (3 hạng, từ Hạng I đến Hạng III; Hạng I là cao nhất). Để thực hiện việc phân hạng theo đúng Quy chế bệnh viện, các cơ sở chưa có tên là "Bệnh viện" cần đổi tên để thống nhất gọi chung là "Bệnh viện".
. Các BV huyện và một số BV Bộ, ngành có phạm vi phục vụ hẹp: thực hiện quy mô từ 30 đến 150 giường bệnh và tổ chức khoa phòng như quy định đối với BVĐK hạng III theo Quy chế BV.
. Các BV đa khoa khu vực thuộc tỉnh, thành phố và một số BV thuộc các Bộ ngành có chức năng tương đương: quy mô từ 150-400 giường; tổ chức khoa phòng trên cơ sở như với BVĐK hạng II, có thể kết hợp các khoa để giảm đầu mối các khoa lâm sàng cho phù hợp với quy mô giường bệnh.
. Các BVĐK trung tâm tỉnh, thành phố: quy mô từ 300 đến 700 giường; tổ chức khoa phòng như với BVĐK hạng I hoặc hạng II.
. Các BVĐK thuộc Bộ Y tế, các BVĐK trong các Trung tâm y tế chuyên sâu mang tính chất vùng: quy mô từ 500-1500 giường; tổ chức các khoa phòng như với bệnh viện hạng I và có tổ chức các khoa mang tính chuyên khoa sâu theo sự phát triến của mỗi bệnh viện.
. Các bệnh viện chuyên khoa thuộc tỉnh: quy mô từ 50 đến 500 giường tuy theo tính chất chuyên khoa và phạm vi dân số;
. Các bệnh viên chuyên khoa thuộc Bộ Y tế và các bệnh viện chuyên khoa của các thành phố lớn được giao chức năng phục vụ cho một vùng, một khu vực: quy mô từ 100 đến 1000 giường, tuỳ theo tính chất chuyên khoa và chức năng nhiệm vụ của từng bệnh viện.
. Tổ chức khoa phòng của các bệnh viện chuyên khoa dựa trên chức năng nhiệm vụ của từng bệnh viện và tính chất của từng chuyên khoa. Một số khoa phòng có chức năng chung của các bệnh viện thì tổ chức như với các BVĐK tương ứng. Các khoa lâm sàng sẽ được tổ chức theo chuyên ngành sâu của chuyên khoa để phát triển kỹ thuật chuyên sâu.