Document: Điểm d Khoản 4 Điều 1 Quyết định 568/QĐ-TTg  Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/04/2010", "sign_number": "568/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/04/2010", "sign_number": "568/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/04/2010", "sign_number": "568/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/04/2010", "sign_number": "568/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "28/04/2010", "sign_number": "568/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 4 Điều 1 Quyết định 568/QĐ-TTg  Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau:
...
4. Tạo sự chuyển biến căn bản và vững chắc trong cơ cấu kinh tế đảo. Hình thành và phát triển một số ngành mũi nhọn phù hợp với lợi thế của vùng đảo như du lịch, dịch vụ biển, khai thác và nuôi trồng hải sản … để kinh tế đảo (theo giá trị gia tăng) đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 14 – 15%/năm thời kỳ 2010 – 2020, trong đó du lịch - dịch vụ tăng trên 20%/năm, nâng mức đóng góp của kinh tế đảo trong kinh tế cả nước từ 0,2% hiện nay lên khoảng 0,5% vào năm 2020.
II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2020
1. Xây dựng nhanh kết cấu hạ tầng để thu hút đầu tư
Tập trung xây dựng nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng trên các đảo, coi đây là khâu đột phá chính để thu hút đầu tư và khuyến khích dân ra định cư lâu dài trên các đảo, vừa phát triển kinh tế, vừa góp phần bảo vệ an ninh chủ quyền vùng biển, đảo.
...
d) Về hạ tầng thông tin – truyền thông: phát triển cơ sở hạ tầng thông tin – truyền thông trên các đảo với công nghệ hiện đại, có độ bao phủ rộng, tốc độ nhanh. Tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng viễn thông trên các đảo có dân sinh sống gồm: các tổng đài cố định, hệ thống truy cập Internet và các trạm truy cập vệ tinh nhằm bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt trong mọi điều kiện thời tiết. Đối với các đảo đông dân, xây dựng các tuyến viba có dung lượng lớn hoặc cáp quang biển; đối với các đảo xa đất liền sử dụng thông tin vệ tinh. Mở rộng vùng phủ sóng phát thanh truyền hình phục vụ thông tin biển, đảo. Phấn đấu đến năm 2015, hầu hết các đảo có dân sinh sống được phủ sóng di động và được cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông và Internet, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng an ninh và phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn …
2. Tập trung phát triển một số ngành chủ lực, có lợi thế
a) Phát triển ngành hải sản
Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu sản xuất hợp lý, phát triển mạnh khai thác xa bờ, nuôi biển và dịch vụ nghề cá, trên cơ sở từng bước được hiện đại hóa, phấn đấu trở thành ngành sản xuất hàng hóa, có năng suất và hiệu quả cao. Đến năm 2020 tổng sản lượng hải sản của vùng đảo đạt 300 – 350 ngàn tấn, trong đó khai thác 280 – 300 ngàn tấn; giá trị sản xuất ngành hải sản đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 7 – 8%/năm thời kỳ 2011 – 2020.
Chuyển hướng mạnh mẽ cơ cấu sản xuất từ nghề cá gần bờ, ven đảo sang nghề cá xa bờ, gắn với bảo vệ và tái tạo nguồn lợi. Tăng cường năng lực khai thác xa bờ cho các đảo có điều kiện thuận lợi như Cát Bà, Lý Sơn, Phú Quý, Thổ Chu, Phú Quốc và một số đảo khu vực Trường Sa …. Phát triển các đội tàu công suất lớn, trang bị hiện đại để vươn ra khai thác các vùng biển khơi, kết hợp bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác ở khu vực gần bờ, ven các đảo; đồng thời giảm mạnh số phương tiện và sản lượng đánh bắt ven đảo chuyển sang các ngành nghề khác như khai thác xa bờ, nuôi trồng hải sản, dịch vụ du lịch, … để bảo vệ nguồn lợi và ổn định đời sống của ngư dân.
Khai thác tối đa các loại hình mặt nước biển ven đảo của các đảo có điều kiện tự nhiên thuận lợi ở khu vực Quảng Ninh – Hải Phòng, Phú Yên – Khánh Hòa và Kiên Giang … vào nuôi trồng hải sản. Tập trung phát triển nuôi hải sản vùng triều và nuôi biển, trong đó lấy nuôi biển làm mũi nhọn. Ưu tiên phát triển các mô hình nuôi sinh thái, thân thiện với môi trường bảo đảm phát triển bền vững. Xây dựng các vùng nuôi hải sản tập trung theo hướng hiện đại, năng suất cao ở các đảo có điều kiện thuận lợi, tạo khối lượng hàng hóa lớn phục vụ xuất khẩu và phục vụ du lịch như các nghề nuôi tôm hùm, nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ bằng giàn treo và các đặc sản khác… Khuyến khích và hỗ trợ nhân dân trên các đảo phát triển nuôi cá biển theo hình thức ô lồng nhỏ. Đẩy mạnh thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển nuôi biển theo hướng công nghiệp, gắn với công nghiệp chế biến xuất khẩu.
Xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng nghề cá trên các đảo: cảng cá, bến cá, khu dịch vụ hậu cần nghề cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền và hạ tầng nuôi trồng hải sản … đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, đồng thời bảo đảm an toàn cho tàu thuyền và ngư dân.
b) Phát triển ngành du lịch
Phát triển nhanh và bền vững du lịch vùng đảo trong sự gắn kết với các trung tâm đô thị, các khu du lịch lớn ven biển, sớm đưa du lịch đảo thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Coi phát triển du lịch là hướng trọng điểm, mang tính đột phá trong phát triển kinh tế đảo trong những năm tới.
Tập trung xây dựng một số trung tâm du lịch, vui chơi giải trí lớn và hiện đại trên một số đảo lớn, có giá trị quốc gia và quốc tế (Vân Đồn, Cô Tô, Cát Bà, Côn Đảo, Phú Quốc...). Trước mắt, phát triển nhanh du lịch ở Phú Quốc và Vân Đồn, sớm hình thành 2 khu du lịch sinh thái biển đảo lớn, chất lượng cao tầm cỡ khu vực và thế giới tạo sự bứt phá cho du lịch biển, đảo nói riêng và du lịch cả nước nói chung. Phát triển đa dạng các loại hình du lịch, thể thao, vui chơi giải trí cả trên biển, trên các đảo và kết nối với đất liền, tạo ra những sản phẩm du lịch có uy tín cao trên thị trường trong nước và khu vực. Chú trọng phát triển các sản phẩm du lịch cao cấp, đặc trưng của vùng đảo như lặn biển, câu cá cảnh, du thuyền có đáy kính để ngắm san hô … gắn với các khu đảo tồn biển, đảo.
Tiếp tục nâng cấp hiện đại hóa các khu du lịch Cát Bà, Côn Đảo, phát triển du lịch ở một số đảo khác như Vĩnh Thực, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Hòn Mê, Hòn Ngư, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Xuân Đài, một số đảo khu vực ven biển miền Trung và bán đảo Hà Tiên... để tổ chức các tuyến du lịch kết nối đảo với các trung tâm du lịch lớn ven biển và với các nước trong khu vực. Nghiên cứu tổ chức các tuyến du lịch quốc gia và quốc tế ra Trường Sa, đồng thời xây dựng khu bảo tồn biển để từng bước khai thác tiềm năng còn rất lớn của quần đảo này.
Đẩy mạnh thu hút đầu tư trong và ngoài nước đầu tư xây dựng và hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ du lịch, nhất là các khu vui chơi giải trí tổng hợp, chất lượng cao và các khách sạn hiện đại … trên các đảo trọng điểm về du lịch. Tổ chức các đội tàu cao tốc từ đất liền ra đảo, đồng thời nghiên cứu xây dựng sân bay du lịch hoặc bến thủy phi cơ cho một số đảo trọng điểm có điều kiện để thu hút khách. Phấn đấu đến năm 2020 du lịch vùng đảo thu hút khoảng 2,7 – 2,8 triệu lượt khách, trong đó có 700 – 850 ngàn lượt khách quốc tế; đạt tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2011 – 2020 khoảng 12,5%/năm, trong đó khách quốc tế tăng 18,6%/năm.
Gắn phát triển du lịch với bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, xây dựng hệ thống khu bảo tồn biển và bảo vệ môi trường biển, đảo. Tiếp tục đầu tư tôn tạo các di tích lịch sử quan trọng trên các đảo, đặc biệt là ở Côn Đảo, Phú Quốc … để bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa, vừa là các điểm nhấn, vừa mang tính tuyên truyền giáo dục đối với khách tham quan du lịch. Đẩy mạnh công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao cho các đảo, đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch với tốc độ nhanh trong thời gian tới.
c) Phát triển các ngành dịch vụ
- Phát triển mạnh dịch vụ nghề cá để hỗ trợ, thúc đẩy nghề khai thác xa bờ. Xây dựng một số trung tâm dịch vụ nghề cá trên các đảo có điều kiện để đảm nhiệm chức năng dịch vụ hậu cần cho các tàu thuyền hoạt động khai thác trong từng khu vực. Trước mắt nâng cấp hoàn chỉnh các trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá hiện có tại Bạch Long Vỹ, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Đá Tây (Trường Sa) …; đẩy nhanh tiến độ xây dựng Khu dịch vụ hậu cần nghề cá phía Bắc Vịnh Bắc Bộ tại Cô Tô (Quảng Ninh), Trân Châu (Cát Bà); triển khai xây dựng một số dịch vụ hậu cần nghề cá tại Côn Đảo, Hòn Chuối, Thổ Chu, Phú Quốc … đảm nhiệm chức năng dịch vụ hậu cần cho các tàu thuyền hoạt động khai thác vùng biển Tây Nam Bộ. Củng cố và duy trì hoạt động có hiệu quả của các chợ cá đầu mối trên một số đảo lớn, có điều kiện. Phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ như cung ứng xăng dầu, ngư lưới cụ, nước đá, nước ngọt, lương thực – thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng, sửa chữa tàu thuyền, thu gom sản phẩm … đáp ứng yêu cầu sản xuất và sinh hoạt của tàu thuyền và ngư dân.
- Củng cố và nâng cao chất lượng vận tải biển. Kết hợp nâng cấp, xây dựng mới cảng biển với tăng cường phương tiện vận tải chất lượng cao cho các tuyến vận tải giữa đảo và đất liền. Trước mắt nâng cấp, mở rộng các cảng hiện có tại các đảo lớn, đông dân. Trang bị các phương tiện vận tải chất lượng cao, nhất là tàu khách cao tốc cho các đảo trọng điểm như Cô Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc …. Mở thêm các tuyến vận chuyển hành khách bằng tàu cao tốc giữa các đảo có ưu thế về du lịch với các đảo khác và các trung tâm đô thị, du lịch ven biển để gắn kết vùng đảo với đất liền và thu hút khách du lịch.
- Đẩy mạnh các dịch vụ tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, bảo đảm an toàn cho người và các phương tiện hoạt động trên biển. Đầu tư xây dựng một số Trung tâm tìm kiếm cứu nạn cấp vùng tại các đảo có vị trí quan trọng như Cô Tô, Cát Bà, Bạch Long Vỹ, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Thổ Chu, Phú Quốc, Trường Sa … và các trạm phối hợp tìm kiếm cứu nạn thuộc các lực lượng vũ trang trên các đảo, đáp ứng yêu cầu của công tác tìm kiếm cứu nạn, ứng phó kịp thời, tại chỗ trên các đảo và trên các vùng biển khi có thiên tai xảy ra.
- Phát triển mạnh các ngành dịch vụ khác như thương mại, tài chính ngân hàng, thông tin – truyền thông và các dịch vụ xã hội … trên các đảo theo hướng đa dạng hóa thành phần kinh tế, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của kinh tế đảo trong thời gian tới.
3. Phát triển các ngành kinh tế khác
a) Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Tranh thủ tối đa các điều kiện và khả năng có thể của từng đảo để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Tập trung phát triển các ngành phục vụ trực tiếp sản xuất và đời sống của dân cư trên đảo như sản xuất điện, nước ngọt, chế biến và sơ chế hải sản, cơ khí sửa chữa tàu thuyền, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch …. Ưu tiên phát triển các ngành ít gây ô nhiễm môi trường và không sử dụng nhiều nước ngọt.
Tận dụng nguồn nguyên liệu thủy sản, nhất là các đảo có trung tâm dịch vụ nghề cá để phát triển sơ chế và chế biến hải sản. Nâng cấp hiện đại hóa các cơ sở sơ chế, chế biến thủy sản để sơ chế các sản phẩm đặc sản có giá trị cao, cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến xuất khẩu trong đất liền. Khôi phục và phát triển các sản phẩm chế biến đã có thương hiệu của một số đảo như: nước mắm cá cơm Phú Quốc, nước mắm Cái Bầu, Cát Hải ... Xây dựng một số cơ sở mới với công nghệ tiên tiến, chất lượng cao để cung cấp sản phẩm thủy sản cho thị trường trong nước và xuất khẩu như: chế biến tôm, cá, nhuyễn thể, mực khô và đặc sản khác … để nâng cao giá trị sản phẩm và giải quyết lao động tại chỗ.
Nâng cấp các cơ sở đóng và sửa chữa tàu thuyền hiện có tại Vân Đồn, Cát Bà, Phú Quý, Phú Quốc …. Xây dựng một số cơ sở mới với quy mô phù hợp tại Cô Tô, Lý Sơn, Hòn Tre, Hòn Chuối và một số đảo khác … gắn với các Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá nhằm đáp ứng một phần nhu cầu đóng mới và sửa chữa tàu cá các loại hoạt động trong khu vực. Phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp khác, nhất là các nghề thủ công mỹ nghệ, sản xuất đồ lưu niệm từ các sản phẩm biển phục vụ khách du lịch.
b) Phát triển nông, lâm nghiệp
Phát triển nền nông nghiệp sinh thái, bền vững. Chuyển diện tích cây lương thực nâng suất thấp sang trồng cây ăn quả, cây thực phẩm, rau, hoa … Từ nay đến năm 2020 duy trì diện tích gieo trồng lúa khoảng 1.300 ha (chủ yếu ở Cô Tô, Vân Đồn) để đáp ứng một phần nhu cầu tại chỗ, từng bước thu hẹp dần để phát triển du lịch, dịch vụ. Ưu tiên phát triển các mô hình trang trại, vườn đồi … tại các đảo tương đối lớn, có điều kiện, từng bước hình thành các vườn cây ăn quả sinh thái có năng suất cao và cảnh quan đẹp, kết hợp tham quan du lịch. Đẩy mạnh trồng rau đậu thực phẩm phù hợp với điều kiện của từng đảo, nhất là các đảo lớn đông dân cư. Khuyến khích trồng rau sạch, rau an toàn và trồng hoa, cây cảnh tại các đảo trọng điểm về du lịch như Vân Đồn, Cát Bà, Côn Đảo, Phú Quốc …. Phát triển mạnh các cây đặc sản có ưu thế trên một số đảo như hành, tỏi xuất khẩu ở Lý Sơn, hồ tiêu ở Phú Quốc; khôi phục và phát triển trồng cam ở Thanh Lân …
Phát triển mạnh chăn nuôi cả về số lượng và chất lượng. Lấy chăn nuôi làm hướng phát triển chính trong sản xuất nông nghiệp của các đảo. Khôi phục và phát triển nhanh đàn trâu bò, chú trọng chăn nuôi bò thịt chất lượng cao gắn với kinh tế vườn đồi, vườn rừng …, đẩy mạnh chăn nuôi lợn và gia cầm. Phấn đấu đến năm 2020 tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp của vùng đảo chiếm khoảng 45%. Phát triển nuôi dê, khỉ, ong mật … theo hình thức bán tự nhiên trên các đảo có điều kiện để xuất khẩu và phục vụ du lịch.
Khôi phục và phát triển rừng trên các đảo theo hướng kết hợp giữa mục tiêu phòng hộ với mục tiêu kinh tế và tham gia vào hoạt động du lịch. Lấy bảo vệ và phát triển rừng làm nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để tăng tỷ lệ che phủ của rừng lên trên 65% năm 2020, đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước trên các đảo. Tiếp tục thực hiện Chương trình 661 để phát triển trồng rừng trên các đảo. Tập trung phát triển rừng phòng hộ, kết hợp trồng rừng sản xuất theo hướng thâm canh ở một số đảo có điều kiện như Thanh Lân, Vân Đồn, Cát Bà, Phú Quốc … để cung cấp gỗ cho nhu cầu tại chỗ. Quản lý chặt chẽ rừng đặc dụng tại các vườn Quốc gia, các khu bảo tồn, khu dự trữ sinh quyển hiện có (Ba Mùn, Cát Bà, Hòn Mun, Cù Lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quốc …); xây dựng mới các khu bảo tồn khác kết hợp với tham quan du lịch và nghiên cứu khoa học.
Phát triển các lĩnh vực xã hội
a) Về giáo dục – đào tạo: duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập THCS đúng độ tuổi của các huyện đảo, từng bước thực hiện phổ cập THCS đến các xã đảo và phổ cập PTTH ở các khu vực thị trấn trung tâm đảo. Hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng cường trang thiết bị giảng dạy cho hệ thống trường học hiện có, đầu tư xây dựng thêm trường mới cho các xã đảo còn thiếu để đến năm 2020 mỗi huyện đảo có ít nhất 1 – 2 trường PTTH, mỗi xã đảo đều có hệ thống trường hoàn chỉnh từ bậc mầm non đến THCS (hoặc phân hiệu PTCS cho các đảo độc lập); 100% trường học trên các đảo được kiên cố hóa, trong đó khoảng 40 – 50% số trường đạt chuẩn quốc gia.
Đẩy mạnh đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho các đảo. Đầu tư xây dựng trường Cao đẳng nghề tại Phú Quốc, trường Trung cấp nghề tại Cát Bà, Côn Đảo và Trung tâm kỹ thuật dạy nghề tổng hợp cho một số đảo lớn, đông dân khác. Liên kết chặt chẽ giữa đảo với các cơ sở đào tạo trong đất liền để đào tạo nghề cho con em vùng đảo. Phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo của hệ thống đảo đạt 40 – 45%.
b) Về y tế: từng bước hoàn thiện mạng lưới y tế trên các huyện đảo cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và cán bộ y tế … đạt tiêu chuẩn quy định. Đầu tư xây dựng một số bệnh viện, trang bị tương đối hiện đại tại các đảo đông dân, trọng điểm về du lịch, như Cái Bầu, Cát Bà, Côn Đảo, Phú Quốc … đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho dân cư và khách du lịch, kể cả khách quốc tế. Tăng cường cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ y tế cho mạng lưới y tế cơ sở trên các đảo. Có cơ chế chính sách ưu đãi thỏa đáng để thu hút cán bộ y tế, nhất là các cán bộ có trình độ ra công tác ngoài đảo. Kết hợp chặt chẽ mạng lưới y tế dân sự với các cơ sở y tế của quân đội trong việc khám chữa bệnh cho nhân dân.
c) Về các lĩnh vực xã hội khác: phát triển văn hóa, thể dục thể thao và các lĩnh vực xã hội khác để nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân vùng đảo. Quan tâm đầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa đồng bộ cho các huyện đảo, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và hoạt động văn hóa, thể thao của nhân dân.

Content:
Về hạ tầng thông tin – truyền thông: phát triển cơ sở hạ tầng thông tin – truyền thông trên các đảo với công nghệ hiện đại, có độ bao phủ rộng, tốc độ nhanh. Tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng viễn thông trên các đảo có dân sinh sống gồm: các tổng đài cố định, hệ thống truy cập Internet và các trạm truy cập vệ tinh nhằm bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt trong mọi điều kiện thời tiết. Đối với các đảo đông dân, xây dựng các tuyến viba có dung lượng lớn hoặc cáp quang biển; đối với các đảo xa đất liền sử dụng thông tin vệ tinh. Mở rộng vùng phủ sóng phát thanh truyền hình phục vụ thông tin biển, đảo. Phấn đấu đến năm 2015, hầu hết các đảo có dân sinh sống được phủ sóng di động và được cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông và Internet, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng an ninh và phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn …
2. Tập trung phát triển một số ngành chủ lực, có lợi thế
a) Phát triển ngành hải sản
Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu sản xuất hợp lý, phát triển mạnh khai thác xa bờ, nuôi biển và dịch vụ nghề cá, trên cơ sở từng bước được hiện đại hóa, phấn đấu trở thành ngành sản xuất hàng hóa, có năng suất và hiệu quả cao. Đến năm 2020 tổng sản lượng hải sản của vùng đảo đạt 300 – 350 ngàn tấn, trong đó khai thác 280 – 300 ngàn tấn; giá trị sản xuất ngành hải sản đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 7 – 8%/năm thời kỳ 2011 – 2020.
Chuyển hướng mạnh mẽ cơ cấu sản xuất từ nghề cá gần bờ, ven đảo sang nghề cá xa bờ, gắn với bảo vệ và tái tạo nguồn lợi. Tăng cường năng lực khai thác xa bờ cho các đảo có điều kiện thuận lợi như Cát Bà, Lý Sơn, Phú Quý, Thổ Chu, Phú Quốc và một số đảo khu vực Trường Sa …. Phát triển các đội tàu công suất lớn, trang bị hiện đại để vươn ra khai thác các vùng biển khơi, kết hợp bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác ở khu vực gần bờ, ven các đảo; đồng thời giảm mạnh số phương tiện và sản lượng đánh bắt ven đảo chuyển sang các ngành nghề khác như khai thác xa bờ, nuôi trồng hải sản, dịch vụ du lịch, … để bảo vệ nguồn lợi và ổn định đời sống của ngư dân.
Khai thác tối đa các loại hình mặt nước biển ven đảo của các đảo có điều kiện tự nhiên thuận lợi ở khu vực Quảng Ninh – Hải Phòng, Phú Yên – Khánh Hòa và Kiên Giang … vào nuôi trồng hải sản. Tập trung phát triển nuôi hải sản vùng triều và nuôi biển, trong đó lấy nuôi biển làm mũi nhọn. Ưu tiên phát triển các mô hình nuôi sinh thái, thân thiện với môi trường bảo đảm phát triển bền vững. Xây dựng các vùng nuôi hải sản tập trung theo hướng hiện đại, năng suất cao ở các đảo có điều kiện thuận lợi, tạo khối lượng hàng hóa lớn phục vụ xuất khẩu và phục vụ du lịch như các nghề nuôi tôm hùm, nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ bằng giàn treo và các đặc sản khác… Khuyến khích và hỗ trợ nhân dân trên các đảo phát triển nuôi cá biển theo hình thức ô lồng nhỏ. Đẩy mạnh thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển nuôi biển theo hướng công nghiệp, gắn với công nghiệp chế biến xuất khẩu.
Xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng nghề cá trên các đảo: cảng cá, bến cá, khu dịch vụ hậu cần nghề cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền và hạ tầng nuôi trồng hải sản … đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, đồng thời bảo đảm an toàn cho tàu thuyền và ngư dân.
b) Phát triển ngành du lịch
Phát triển nhanh và bền vững du lịch vùng đảo trong sự gắn kết với các trung tâm đô thị, các khu du lịch lớn ven biển, sớm đưa du lịch đảo thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Coi phát triển du lịch là hướng trọng điểm, mang tính đột phá trong phát triển kinh tế đảo trong những năm tới.
Tập trung xây dựng một số trung tâm du lịch, vui chơi giải trí lớn và hiện đại trên một số đảo lớn, có giá trị quốc gia và quốc tế (Vân Đồn, Cô Tô, Cát Bà, Côn Đảo, Phú Quốc...). Trước mắt, phát triển nhanh du lịch ở Phú Quốc và Vân Đồn, sớm hình thành 2 khu du lịch sinh thái biển đảo lớn, chất lượng cao tầm cỡ khu vực và thế giới tạo sự bứt phá cho du lịch biển, đảo nói riêng và du lịch cả nước nói chung. Phát triển đa dạng các loại hình du lịch, thể thao, vui chơi giải trí cả trên biển, trên các đảo và kết nối với đất liền, tạo ra những sản phẩm du lịch có uy tín cao trên thị trường trong nước và khu vực. Chú trọng phát triển các sản phẩm du lịch cao cấp, đặc trưng của vùng đảo như lặn biển, câu cá cảnh, du thuyền có đáy kính để ngắm san hô … gắn với các khu đảo tồn biển, đảo.
Tiếp tục nâng cấp hiện đại hóa các khu du lịch Cát Bà, Côn Đảo, phát triển du lịch ở một số đảo khác như Vĩnh Thực, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Hòn Mê, Hòn Ngư, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Xuân Đài, một số đảo khu vực ven biển miền Trung và bán đảo Hà Tiên... để tổ chức các tuyến du lịch kết nối đảo với các trung tâm du lịch lớn ven biển và với các nước trong khu vực. Nghiên cứu tổ chức các tuyến du lịch quốc gia và quốc tế ra Trường Sa, đồng thời xây dựng khu bảo tồn biển để từng bước khai thác tiềm năng còn rất lớn của quần đảo này.
Đẩy mạnh thu hút đầu tư trong và ngoài nước đầu tư xây dựng và hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ du lịch, nhất là các khu vui chơi giải trí tổng hợp, chất lượng cao và các khách sạn hiện đại … trên các đảo trọng điểm về du lịch. Tổ chức các đội tàu cao tốc từ đất liền ra đảo, đồng thời nghiên cứu xây dựng sân bay du lịch hoặc bến thủy phi cơ cho một số đảo trọng điểm có điều kiện để thu hút khách. Phấn đấu đến năm 2020 du lịch vùng đảo thu hút khoảng 2,7 – 2,8 triệu lượt khách, trong đó có 700 – 850 ngàn lượt khách quốc tế; đạt tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2011 – 2020 khoảng 12,5%/năm, trong đó khách quốc tế tăng 18,6%/năm.
Gắn phát triển du lịch với bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, xây dựng hệ thống khu bảo tồn biển và bảo vệ môi trường biển, đảo. Tiếp tục đầu tư tôn tạo các di tích lịch sử quan trọng trên các đảo, đặc biệt là ở Côn Đảo, Phú Quốc … để bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa, vừa là các điểm nhấn, vừa mang tính tuyên truyền giáo dục đối với khách tham quan du lịch. Đẩy mạnh công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao cho các đảo, đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch với tốc độ nhanh trong thời gian tới.
c) Phát triển các ngành dịch vụ
- Phát triển mạnh dịch vụ nghề cá để hỗ trợ, thúc đẩy nghề khai thác xa bờ. Xây dựng một số trung tâm dịch vụ nghề cá trên các đảo có điều kiện để đảm nhiệm chức năng dịch vụ hậu cần cho các tàu thuyền hoạt động khai thác trong từng khu vực. Trước mắt nâng cấp hoàn chỉnh các trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá hiện có tại Bạch Long Vỹ, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Đá Tây (Trường Sa) …; đẩy nhanh tiến độ xây dựng Khu dịch vụ hậu cần nghề cá phía Bắc Vịnh Bắc Bộ tại Cô Tô (Quảng Ninh), Trân Châu (Cát Bà); triển khai xây dựng một số dịch vụ hậu cần nghề cá tại Côn Đảo, Hòn Chuối, Thổ Chu, Phú Quốc … đảm nhiệm chức năng dịch vụ hậu cần cho các tàu thuyền hoạt động khai thác vùng biển Tây Nam Bộ. Củng cố và duy trì hoạt động có hiệu quả của các chợ cá đầu mối trên một số đảo lớn, có điều kiện. Phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ như cung ứng xăng dầu, ngư lưới cụ, nước đá, nước ngọt, lương thực – thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng, sửa chữa tàu thuyền, thu gom sản phẩm … đáp ứng yêu cầu sản xuất và sinh hoạt của tàu thuyền và ngư dân.
- Củng cố và nâng cao chất lượng vận tải biển. Kết hợp nâng cấp, xây dựng mới cảng biển với tăng cường phương tiện vận tải chất lượng cao cho các tuyến vận tải giữa đảo và đất liền. Trước mắt nâng cấp, mở rộng các cảng hiện có tại các đảo lớn, đông dân. Trang bị các phương tiện vận tải chất lượng cao, nhất là tàu khách cao tốc cho các đảo trọng điểm như Cô Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc …. Mở thêm các tuyến vận chuyển hành khách bằng tàu cao tốc giữa các đảo có ưu thế về du lịch với các đảo khác và các trung tâm đô thị, du lịch ven biển để gắn kết vùng đảo với đất liền và thu hút khách du lịch.
- Đẩy mạnh các dịch vụ tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, bảo đảm an toàn cho người và các phương tiện hoạt động trên biển. Đầu tư xây dựng một số Trung tâm tìm kiếm cứu nạn cấp vùng tại các đảo có vị trí quan trọng như Cô Tô, Cát Bà, Bạch Long Vỹ, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Thổ Chu, Phú Quốc, Trường Sa … và các trạm phối hợp tìm kiếm cứu nạn thuộc các lực lượng vũ trang trên các đảo, đáp ứng yêu cầu của công tác tìm kiếm cứu nạn, ứng phó kịp thời, tại chỗ trên các đảo và trên các vùng biển khi có thiên tai xảy ra.
- Phát triển mạnh các ngành dịch vụ khác như thương mại, tài chính ngân hàng, thông tin – truyền thông và các dịch vụ xã hội … trên các đảo theo hướng đa dạng hóa thành phần kinh tế, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của kinh tế đảo trong thời gian tới.
3. Phát triển các ngành kinh tế khác
a) Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Tranh thủ tối đa các điều kiện và khả năng có thể của từng đảo để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Tập trung phát triển các ngành phục vụ trực tiếp sản xuất và đời sống của dân cư trên đảo như sản xuất điện, nước ngọt, chế biến và sơ chế hải sản, cơ khí sửa chữa tàu thuyền, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch …. Ưu tiên phát triển các ngành ít gây ô nhiễm môi trường và không sử dụng nhiều nước ngọt.
Tận dụng nguồn nguyên liệu thủy sản, nhất là các đảo có trung tâm dịch vụ nghề cá để phát triển sơ chế và chế biến hải sản. Nâng cấp hiện đại hóa các cơ sở sơ chế, chế biến thủy sản để sơ chế các sản phẩm đặc sản có giá trị cao, cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến xuất khẩu trong đất liền. Khôi phục và phát triển các sản phẩm chế biến đã có thương hiệu của một số đảo như: nước mắm cá cơm Phú Quốc, nước mắm Cái Bầu, Cát Hải ... Xây dựng một số cơ sở mới với công nghệ tiên tiến, chất lượng cao để cung cấp sản phẩm thủy sản cho thị trường trong nước và xuất khẩu như: chế biến tôm, cá, nhuyễn thể, mực khô và đặc sản khác … để nâng cao giá trị sản phẩm và giải quyết lao động tại chỗ.
Nâng cấp các cơ sở đóng và sửa chữa tàu thuyền hiện có tại Vân Đồn, Cát Bà, Phú Quý, Phú Quốc …. Xây dựng một số cơ sở mới với quy mô phù hợp tại Cô Tô, Lý Sơn, Hòn Tre, Hòn Chuối và một số đảo khác … gắn với các Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá nhằm đáp ứng một phần nhu cầu đóng mới và sửa chữa tàu cá các loại hoạt động trong khu vực. Phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp khác, nhất là các nghề thủ công mỹ nghệ, sản xuất đồ lưu niệm từ các sản phẩm biển phục vụ khách du lịch.
b) Phát triển nông, lâm nghiệp
Phát triển nền nông nghiệp sinh thái, bền vững. Chuyển diện tích cây lương thực nâng suất thấp sang trồng cây ăn quả, cây thực phẩm, rau, hoa … Từ nay đến năm 2020 duy trì diện tích gieo trồng lúa khoảng 1.300 ha (chủ yếu ở Cô Tô, Vân Đồn) để đáp ứng một phần nhu cầu tại chỗ, từng bước thu hẹp dần để phát triển du lịch, dịch vụ. Ưu tiên phát triển các mô hình trang trại, vườn đồi … tại các đảo tương đối lớn, có điều kiện, từng bước hình thành các vườn cây ăn quả sinh thái có năng suất cao và cảnh quan đẹp, kết hợp tham quan du lịch. Đẩy mạnh trồng rau đậu thực phẩm phù hợp với điều kiện của từng đảo, nhất là các đảo lớn đông dân cư. Khuyến khích trồng rau sạch, rau an toàn và trồng hoa, cây cảnh tại các đảo trọng điểm về du lịch như Vân Đồn, Cát Bà, Côn Đảo, Phú Quốc …. Phát triển mạnh các cây đặc sản có ưu thế trên một số đảo như hành, tỏi xuất khẩu ở Lý Sơn, hồ tiêu ở Phú Quốc; khôi phục và phát triển trồng cam ở Thanh Lân …
Phát triển mạnh chăn nuôi cả về số lượng và chất lượng. Lấy chăn nuôi làm hướng phát triển chính trong sản xuất nông nghiệp của các đảo. Khôi phục và phát triển nhanh đàn trâu bò, chú trọng chăn nuôi bò thịt chất lượng cao gắn với kinh tế vườn đồi, vườn rừng …, đẩy mạnh chăn nuôi lợn và gia cầm. Phấn đấu đến năm 2020 tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp của vùng đảo chiếm khoảng 45%. Phát triển nuôi dê, khỉ, ong mật … theo hình thức bán tự nhiên trên các đảo có điều kiện để xuất khẩu và phục vụ du lịch.
Khôi phục và phát triển rừng trên các đảo theo hướng kết hợp giữa mục tiêu phòng hộ với mục tiêu kinh tế và tham gia vào hoạt động du lịch. Lấy bảo vệ và phát triển rừng làm nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để tăng tỷ lệ che phủ của rừng lên trên 65% năm 2020, đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước trên các đảo. Tiếp tục thực hiện Chương trình 661 để phát triển trồng rừng trên các đảo. Tập trung phát triển rừng phòng hộ, kết hợp trồng rừng sản xuất theo hướng thâm canh ở một số đảo có điều kiện như Thanh Lân, Vân Đồn, Cát Bà, Phú Quốc … để cung cấp gỗ cho nhu cầu tại chỗ. Quản lý chặt chẽ rừng đặc dụng tại các vườn Quốc gia, các khu bảo tồn, khu dự trữ sinh quyển hiện có (Ba Mùn, Cát Bà, Hòn Mun, Cù Lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quốc …); xây dựng mới các khu bảo tồn khác kết hợp với tham quan du lịch và nghiên cứu khoa học.
Phát triển các lĩnh vực xã hội
a) Về giáo dục – đào tạo: duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập THCS đúng độ tuổi của các huyện đảo, từng bước thực hiện phổ cập THCS đến các xã đảo và phổ cập PTTH ở các khu vực thị trấn trung tâm đảo. Hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng cường trang thiết bị giảng dạy cho hệ thống trường học hiện có, đầu tư xây dựng thêm trường mới cho các xã đảo còn thiếu để đến năm 2020 mỗi huyện đảo có ít nhất 1 – 2 trường PTTH, mỗi xã đảo đều có hệ thống trường hoàn chỉnh từ bậc mầm non đến THCS (hoặc phân hiệu PTCS cho các đảo độc lập); 100% trường học trên các đảo được kiên cố hóa, trong đó khoảng 40 – 50% số trường đạt chuẩn quốc gia.
Đẩy mạnh đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho các đảo. Đầu tư xây dựng trường Cao đẳng nghề tại Phú Quốc, trường Trung cấp nghề tại Cát Bà, Côn Đảo và Trung tâm kỹ thuật dạy nghề tổng hợp cho một số đảo lớn, đông dân khác. Liên kết chặt chẽ giữa đảo với các cơ sở đào tạo trong đất liền để đào tạo nghề cho con em vùng đảo. Phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo của hệ thống đảo đạt 40 – 45%.
b) Về y tế: từng bước hoàn thiện mạng lưới y tế trên các huyện đảo cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và cán bộ y tế … đạt tiêu chuẩn quy định. Đầu tư xây dựng một số bệnh viện, trang bị tương đối hiện đại tại các đảo đông dân, trọng điểm về du lịch, như Cái Bầu, Cát Bà, Côn Đảo, Phú Quốc … đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho dân cư và khách du lịch, kể cả khách quốc tế. Tăng cường cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ y tế cho mạng lưới y tế cơ sở trên các đảo. Có cơ chế chính sách ưu đãi thỏa đáng để thu hút cán bộ y tế, nhất là các cán bộ có trình độ ra công tác ngoài đảo. Kết hợp chặt chẽ mạng lưới y tế dân sự với các cơ sở y tế của quân đội trong việc khám chữa bệnh cho nhân dân.
c) Về các lĩnh vực xã hội khác: phát triển văn hóa, thể dục thể thao và các lĩnh vực xã hội khác để nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân vùng đảo. Quan tâm đầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa đồng bộ cho các huyện đảo, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và hoạt động văn hóa, thể thao của nhân dân.