Document: Khoản 6 Điều 1 Quyết định 677/QĐ-UBND năm 2011 Chiến lược phát triển xuất khẩu tỉnh Phú Yên

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "19/04/2011", "sign_number": "677/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Bá Lộc", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "19/04/2011", "sign_number": "677/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Bá Lộc", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "19/04/2011", "sign_number": "677/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Bá Lộc", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "19/04/2011", "sign_number": "677/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Bá Lộc", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "19/04/2011", "sign_number": "677/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Bá Lộc", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 6 Điều 1 Quyết định 677/QĐ-UBND năm 2011 Chiến lược phát triển xuất khẩu tỉnh Phú Yên

Điều 1. Phê duyệt dự án Chiến lược phát triển xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Phú Yên đến năm 2020, với nội dung cụ thể như sau:
...
6. Các giải pháp về phát triển mặt hàng xuất khẩu:
Trong chiến lược phát triển xuất khẩu hàng hóa, đối với những mặt hàng chủ lực, những mặt hàng xuất khẩu có lợi thế, những mặt hàng đang được hưởng những điều kiện ưu đãi do hội nhập kinh tế toàn cầu, kinh tế khu vực đưa lại. Do đó, cần phải có giải pháp phát triển cụ thể cho từng mặt hàng, nhóm hàng.
* Nhóm hàng chủ lực:
- Mặt hàng thủy sản: được coi là mặt hàng có thế mạnh của tỉnh, đồng thời cũng là một trong những mặt hàng có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Vì vậy cần phải: tổ chức tốt công tác hậu cần phục vụ đánh bắt xa bờ, tăng năng suất và hiệu quả nuôi trồng thủy sản; đa dạng hóa các sản phẩm thủy sản xuất khẩu, tăng hàm lượng chế biến xuất khẩu, giảm thuỷ sản xuất khẩu ở dạng thô. Đổi mới, hiện đại hoá công nghệ, kỹ thuật chế biến; đầu tư xây dựng các kho dự trữ, bảo quản nguyên liệu. Mở rộng thị trường tiêu thụ. Xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm thủy sản có tiềm năng, thế mạnh của tỉnh như cá ngừ đại dương, tôm hùm.
- Mặt hàng điều: Hiện nay điều là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn của tỉnh, có thị trường xuất khẩu, nhưng nguồn nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy và cơ sở chế biền còn thiếu. Vì vậy, cần có những giải pháp, đó là: rà soát lại diện tích trồng điều trên địa bàn tỉnh, áp dụng khoa học công nghệ vào trồng điều, tạo nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến; đa dạng hóa kết hợp nâng cao chất lượng sản phẩm, tận dụng các phụ phẩm từ cây điều, quan tâm đến công tác xúc tiến thương mại để tìm kiếm thị trường mới.
- Tinh bột sắn: đây là những mặt hàng sản xuất theo vùng chuyên canh gắn với nhà máy chế biến, sản lượng lớn đủ cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy trong tỉnh. Để đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này, cần thực hiện những giải pháp: tổ chức duy trì tốt vùng nguyên liệu tập trung hiện có với năng suất, trữ lượng cao để phát huy tốt năng lực sản xuất của các nhà máy hiện có; đầu tư vào một số lĩnh vực sản xuất các sản phẩm từ đường, sản xuất các sản phẩm từ bã mía...
- Hàng dệt may: tạo điều kiện để các cơ sở may công nghiệp hiện có đầu tư mở rộng dây chuyền, hiện đại hóa thiết bị, chuyển dần hình thức may gia công sang sản xuất các sản phẩm có thương hiệu đáp ứng được nhu cầu của thị trường xuất khẩu. Khuyến khích đầu tư nhà máy sản xuất nguyên, phụ liệu ngành may mặc, nhà máy sơ chế bông.
- Mặt hàng gỗ và thủ công mỹ nghệ: tăng cường đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm; nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp trong công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm gỗ; phát triển nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ gỗ như: chạm trổ, khảm xà cừ, điêu khắc...
* Nhóm mặt hàng công nghiệp có giá trị gia tăng cao: Nhóm hàng này đòi hỏi nguồn vốn lớn, sử dụng lao động trình độ cao, công nghệ tiên tiến và hàm lượng chế biến sâu.
- Mặt hàng cơ khí chế tạo, máy móc: khuyến khích mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia phát triển ngành. Nhanh chóng đi thẳng vào công nghệ tiên tiến, đồng thời tận dụng và phát huy các công nghệ thích hợp sử dụng nhiều lao động; khuyến khích các cơ sở đẩy nhanh đổi mới thiết bị, công nghệ, tăng thêm năng lực sản xuất, tiến tới tham gia xuất khẩu.
- Mặt hàng điện tử lắp ráp: Khuyến khích đầu tư nhà máy sản xuất linh kiện điện tử và lắp ráp sản phẩm điện tử gia dụng. Xây dựng chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng điện tử và linh kiện xuất khẩu, chuyển từ chiến lược thay thế nhập khẩu sang chiến lược xúc tiến xuất khẩu. Cần đẩy mạnh sự liên kết, hợp tác, liên doanh giữa các công ty đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp điện tử của tỉnh để phát huy nội lực, tiến tới làm chủ hoàn toàn sản phẩm, tham gia xuất khẩu.
- Ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản: Tích cực kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia đầu tư khai thác, chế biến khoáng sản với quy mô hợp lý nhằm tăng nhanh sản lượng, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm, tăng cường khâu chế biến sâu để nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm, tham gia xuất khẩu. Đẩy mạnh khai thác chế biến các loại nguyên liệu khoáng sản có giá trị kinh tế cao như sản phẩm từ diatimite, fluorit, vàng...

Content:
Các giải pháp về phát triển mặt hàng xuất khẩu:
Trong chiến lược phát triển xuất khẩu hàng hóa, đối với những mặt hàng chủ lực, những mặt hàng xuất khẩu có lợi thế, những mặt hàng đang được hưởng những điều kiện ưu đãi do hội nhập kinh tế toàn cầu, kinh tế khu vực đưa lại. Do đó, cần phải có giải pháp phát triển cụ thể cho từng mặt hàng, nhóm hàng.
* Nhóm hàng chủ lực:
- Mặt hàng thủy sản: được coi là mặt hàng có thế mạnh của tỉnh, đồng thời cũng là một trong những mặt hàng có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Vì vậy cần phải: tổ chức tốt công tác hậu cần phục vụ đánh bắt xa bờ, tăng năng suất và hiệu quả nuôi trồng thủy sản; đa dạng hóa các sản phẩm thủy sản xuất khẩu, tăng hàm lượng chế biến xuất khẩu, giảm thuỷ sản xuất khẩu ở dạng thô. Đổi mới, hiện đại hoá công nghệ, kỹ thuật chế biến; đầu tư xây dựng các kho dự trữ, bảo quản nguyên liệu. Mở rộng thị trường tiêu thụ. Xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm thủy sản có tiềm năng, thế mạnh của tỉnh như cá ngừ đại dương, tôm hùm.
- Mặt hàng điều: Hiện nay điều là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn của tỉnh, có thị trường xuất khẩu, nhưng nguồn nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy và cơ sở chế biền còn thiếu. Vì vậy, cần có những giải pháp, đó là: rà soát lại diện tích trồng điều trên địa bàn tỉnh, áp dụng khoa học công nghệ vào trồng điều, tạo nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến; đa dạng hóa kết hợp nâng cao chất lượng sản phẩm, tận dụng các phụ phẩm từ cây điều, quan tâm đến công tác xúc tiến thương mại để tìm kiếm thị trường mới.
- Tinh bột sắn: đây là những mặt hàng sản xuất theo vùng chuyên canh gắn với nhà máy chế biến, sản lượng lớn đủ cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy trong tỉnh. Để đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này, cần thực hiện những giải pháp: tổ chức duy trì tốt vùng nguyên liệu tập trung hiện có với năng suất, trữ lượng cao để phát huy tốt năng lực sản xuất của các nhà máy hiện có; đầu tư vào một số lĩnh vực sản xuất các sản phẩm từ đường, sản xuất các sản phẩm từ bã mía...
- Hàng dệt may: tạo điều kiện để các cơ sở may công nghiệp hiện có đầu tư mở rộng dây chuyền, hiện đại hóa thiết bị, chuyển dần hình thức may gia công sang sản xuất các sản phẩm có thương hiệu đáp ứng được nhu cầu của thị trường xuất khẩu. Khuyến khích đầu tư nhà máy sản xuất nguyên, phụ liệu ngành may mặc, nhà máy sơ chế bông.
- Mặt hàng gỗ và thủ công mỹ nghệ: tăng cường đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm; nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp trong công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm gỗ; phát triển nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ gỗ như: chạm trổ, khảm xà cừ, điêu khắc...
* Nhóm mặt hàng công nghiệp có giá trị gia tăng cao: Nhóm hàng này đòi hỏi nguồn vốn lớn, sử dụng lao động trình độ cao, công nghệ tiên tiến và hàm lượng chế biến sâu.
- Mặt hàng cơ khí chế tạo, máy móc: khuyến khích mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia phát triển ngành. Nhanh chóng đi thẳng vào công nghệ tiên tiến, đồng thời tận dụng và phát huy các công nghệ thích hợp sử dụng nhiều lao động; khuyến khích các cơ sở đẩy nhanh đổi mới thiết bị, công nghệ, tăng thêm năng lực sản xuất, tiến tới tham gia xuất khẩu.
- Mặt hàng điện tử lắp ráp: Khuyến khích đầu tư nhà máy sản xuất linh kiện điện tử và lắp ráp sản phẩm điện tử gia dụng. Xây dựng chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng điện tử và linh kiện xuất khẩu, chuyển từ chiến lược thay thế nhập khẩu sang chiến lược xúc tiến xuất khẩu. Cần đẩy mạnh sự liên kết, hợp tác, liên doanh giữa các công ty đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp điện tử của tỉnh để phát huy nội lực, tiến tới làm chủ hoàn toàn sản phẩm, tham gia xuất khẩu.
- Ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản: Tích cực kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia đầu tư khai thác, chế biến khoáng sản với quy mô hợp lý nhằm tăng nhanh sản lượng, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm, tăng cường khâu chế biến sâu để nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm, tham gia xuất khẩu. Đẩy mạnh khai thác chế biến các loại nguyên liệu khoáng sản có giá trị kinh tế cao như sản phẩm từ diatimite, fluorit, vàng...