Document: Điểm e Khoản 5 Điều 1 Quyết định 1307/QĐ-UBND 2009 Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn Trà Vinh 2015 tầm nhìn 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Trà Vinh", "promulgation_date": "10/07/2009", "sign_number": "1307/QĐ-UBND", "signer": "Trần Khiêu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Trà Vinh", "promulgation_date": "10/07/2009", "sign_number": "1307/QĐ-UBND", "signer": "Trần Khiêu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Trà Vinh", "promulgation_date": "10/07/2009", "sign_number": "1307/QĐ-UBND", "signer": "Trần Khiêu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Trà Vinh", "promulgation_date": "10/07/2009", "sign_number": "1307/QĐ-UBND", "signer": "Trần Khiêu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Trà Vinh", "promulgation_date": "10/07/2009", "sign_number": "1307/QĐ-UBND", "signer": "Trần Khiêu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm e Khoản 5 Điều 1 Quyết định 1307/QĐ-UBND 2009 Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn Trà Vinh 2015 tầm nhìn 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Trà Vinh đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau:
...
5. Tuân thủ nghiêm ngặt những quy định về bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa của từng địa phương, chuyển đổi công nghệ, tiến hành di dời hoặc ngưng hoạt động các cơ sở ngành nghề gây ô nhiễm môi trường.
II. Mục tiêu quy hoạch
1. Mục tiêu chung
Tập trung phát triển ngành nghề nông thôn nhằm sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, nâng cao giá trị nguồn nguyên liệu tại chỗ, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân nông thôn. Khôi phục và phát triển các nghề truyền thống, xây dựng các làng nghề, đa dạng hóa sản phẩm ngành nghề góp phần tích cực vào phát triển du lịch và quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
2. Mục tiêu cụ thể
...
e) Bảo tồn và phát triển các làng nghề, nghề truyền thống. Xây dựng các làng nghề mới, làm hạt nhân cho phát triển ngành nghề. Vực dậy những cơ sở sản xuất “cầm chừng” và mở thêm các ngành nghề mới mà tỉnh có thế mạnh về nguyên liệu và triển vọng thị trường.
III. Định hướng phát triển
1. Quy hoạch phát triển nhóm ngành nghề chế biến nông - lâm - thủy sản
a) Xay xát gạo: Phát triển ở tốc độ trung bình, thấp khoảng 3 - 4%/năm. Năm 2015 sử dụng 2.050 lao động, tạo ra giá trị sản lượng khoảng 90,8 tỷ đồng; năm 2020 sử dụng khoảng 2.020 lao động, giá trị sản lượng khoảng 102,7 tỷ đồng. Các cơ sở cần chủ động đổi mới công nghệ, đầu tư các dây chuyền xay xát hiện đại, tỷ lệ gạo thành phẩm cao, giảm thất thoát và các dây chuyền lau bóng gạo đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Từng bước di dời các cơ sở hiện có sang các khu, cụm công nghiệp đã được quy hoạch ở các huyện để giảm ô nhiễm môi trường, thuận lợi trong vận chuyển sản phẩm.
b) Nấu rượu: Tăng trưởng ở mức cao hơn tốc độ tăng dân số, khoảng 1,6 - 1,7%/năm. Đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ về khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất rượu, đăng ký chất lượng sản phẩm, các ngành chức năng cần tiến hành kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng rượu, xây dựng thương hiệu… đặc biệt làm thủ tục công nhận nghề truyền thống và thương hiệu rượu Xuân Thạnh - Trà Vinh.
c) Các nghề làm bánh, bún (Bánh tráng, bánh tét, bún - hủ tíu…)
- Bánh tráng: Định hướng đến năm 2020 sản xuất bánh tráng sẽ phát triển với tốc độ từ 8 - 10%/năm, sử dụng khoảng 290 lao động và tạo ra giá trị sản xuất khoảng 9,1 tỷ đồng, tập trung chủ yếu ở Cầu Ngang và Châu Thành.
- Bánh tét: Hiện tại toàn tỉnh có 27 cơ sở, tập trung chủ yếu ở khu vực Trà Cuôn - Cầu Ngang. Trong những năm tới sẽ xây dựng thương hiệu, công nhận nghề truyền thống “Bánh tét Trà Cuôn”. Dự kiến đến năm 2020 sử dụng 230 lao động và tạo ra giá trị sản xuất 6,2 tỷ đồng.
- Bún - hủ tíu: Phát triển ở tốc độ 8 - 9%/năm, năm 2015 sử dụng khoảng 1.310 lao động, tạo ra giá trị sản lượng khoảng 129,6 tỷ đồng, năm 2020 sử dụng 1.680 lao động, giá trị sản lượng đạt 199,4 tỷ đồng.
d) Nghề làm bánh kẹo: Sẽ bị cạnh tranh gay gắt từ sản phẩm công nghiệp và có khả năng bị mai một, để có thể tồn tại và phát triển các cơ sở phải từng bước chuyển đổi hình thức tổ chức sản xuất thành các doanh nghiệp, công ty sản xuất. Các cơ sở sản xuất bánh kẹo cần tăng cường ứng dụng các tiến bộ về khoa học, kỹ thuật và công nghệ, đăng ký chất lượng sản phẩm; các ngành chức năng tiến hành kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, xây dựng thương hiệu,…
đ) Nghề giết mổ và chế biến sản phẩm từ thịt: Tăng giá trị sản lượng khoảng 6%/năm trong giai đoạn từ nay đến năm 2020. Năm 2015 sử dụng 1.600 lao động, tạo ra giá trị sản lượng khoảng 80,6 tỷ đồng; năm 2020 sử dụng 1.850 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 113 tỷ đồng. Tiến hành quy hoạch các điểm giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, vị trí khu giết mổ tập trung đảm bảo theo đúng quy định của Pháp lệnh Thú y, nằm cách xa khu dân cư, đảm bảo khoảng cách tối thiểu về môi trường,…
e) Chế biến thủy hải sản: Tiến hành lập thủ tục để công nhận làng nghề truyền thống tôm khô Vinh Kim thuộc xã Vinh Kim, huyện Cầu Ngang, nghề truyền thống chế biến thủy hải sản ấp Động Cao, xã Đông Hải, huyện Duyên Hải. Dự kiến nhóm ngành chế biến thủy hải sản sẽ tăng trưởng ở tốc độ cao, khoảng 9 - 10%/năm. Năm 2015 sử dụng 810 lao động, tạo ra giá trị sản lượng khoảng 268,8 tỷ đồng; năm 2020 sử dụng 1.360 lao động, giá trị sản lượng đạt 477,3 tỷ đồng.

Content:
Bảo tồn và phát triển các làng nghề, nghề truyền thống. Xây dựng các làng nghề mới, làm hạt nhân cho phát triển ngành nghề. Vực dậy những cơ sở sản xuất “cầm chừng” và mở thêm các ngành nghề mới mà tỉnh có thế mạnh về nguyên liệu và triển vọng thị trường.
III. Định hướng phát triển
1. Quy hoạch phát triển nhóm ngành nghề chế biến nông - lâm - thủy sản
a) Xay xát gạo: Phát triển ở tốc độ trung bình, thấp khoảng 3 - 4%/năm. Năm 2015 sử dụng 2.050 lao động, tạo ra giá trị sản lượng khoảng 90,8 tỷ đồng; năm 2020 sử dụng khoảng 2.020 lao động, giá trị sản lượng khoảng 102,7 tỷ đồng. Các cơ sở cần chủ động đổi mới công nghệ, đầu tư các dây chuyền xay xát hiện đại, tỷ lệ gạo thành phẩm cao, giảm thất thoát và các dây chuyền lau bóng gạo đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Từng bước di dời các cơ sở hiện có sang các khu, cụm công nghiệp đã được quy hoạch ở các huyện để giảm ô nhiễm môi trường, thuận lợi trong vận chuyển sản phẩm.
b) Nấu rượu: Tăng trưởng ở mức cao hơn tốc độ tăng dân số, khoảng 1,6 - 1,7%/năm. Đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ về khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất rượu, đăng ký chất lượng sản phẩm, các ngành chức năng cần tiến hành kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng rượu, xây dựng thương hiệu… đặc biệt làm thủ tục công nhận nghề truyền thống và thương hiệu rượu Xuân Thạnh - Trà Vinh.
c) Các nghề làm bánh, bún (Bánh tráng, bánh tét, bún - hủ tíu…)
- Bánh tráng: Định hướng đến năm 2020 sản xuất bánh tráng sẽ phát triển với tốc độ từ 8 - 10%/năm, sử dụng khoảng 290 lao động và tạo ra giá trị sản xuất khoảng 9,1 tỷ đồng, tập trung chủ yếu ở Cầu Ngang và Châu Thành.
- Bánh tét: Hiện tại toàn tỉnh có 27 cơ sở, tập trung chủ yếu ở khu vực Trà Cuôn - Cầu Ngang. Trong những năm tới sẽ xây dựng thương hiệu, công nhận nghề truyền thống “Bánh tét Trà Cuôn”. Dự kiến đến năm 2020 sử dụng 230 lao động và tạo ra giá trị sản xuất 6,2 tỷ đồng.
- Bún - hủ tíu: Phát triển ở tốc độ 8 - 9%/năm, năm 2015 sử dụng khoảng 1.310 lao động, tạo ra giá trị sản lượng khoảng 129,6 tỷ đồng, năm 2020 sử dụng 1.680 lao động, giá trị sản lượng đạt 199,4 tỷ đồng.
d) Nghề làm bánh kẹo: Sẽ bị cạnh tranh gay gắt từ sản phẩm công nghiệp và có khả năng bị mai một, để có thể tồn tại và phát triển các cơ sở phải từng bước chuyển đổi hình thức tổ chức sản xuất thành các doanh nghiệp, công ty sản xuất. Các cơ sở sản xuất bánh kẹo cần tăng cường ứng dụng các tiến bộ về khoa học, kỹ thuật và công nghệ, đăng ký chất lượng sản phẩm; các ngành chức năng tiến hành kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, xây dựng thương hiệu,…
đ) Nghề giết mổ và chế biến sản phẩm từ thịt: Tăng giá trị sản lượng khoảng 6%/năm trong giai đoạn từ nay đến năm 2020. Năm 2015 sử dụng 1.600 lao động, tạo ra giá trị sản lượng khoảng 80,6 tỷ đồng; năm 2020 sử dụng 1.850 lao động, giá trị sản lượng đạt khoảng 113 tỷ đồng. Tiến hành quy hoạch các điểm giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, vị trí khu giết mổ tập trung đảm bảo theo đúng quy định của Pháp lệnh Thú y, nằm cách xa khu dân cư, đảm bảo khoảng cách tối thiểu về môi trường,…
Chế biến thủy hải sản: Tiến hành lập thủ tục để công nhận làng nghề truyền thống tôm khô Vinh Kim thuộc xã Vinh Kim, huyện Cầu Ngang, nghề truyền thống chế biến thủy hải sản ấp Động Cao, xã Đông Hải, huyện Duyên Hải. Dự kiến nhóm ngành chế biến thủy hải sản sẽ tăng trưởng ở tốc độ cao, khoảng 9 - 10%/năm. Năm 2015 sử dụng 810 lao động, tạo ra giá trị sản lượng khoảng 268,8 tỷ đồng; năm 2020 sử dụng 1.360 lao động, giá trị sản lượng đạt 477,3 tỷ đồng.