Document: Điều 2 Quyết định 1202/QĐ-TTg thí điểm cơ chế, chính sách áp dụng dự án đầu tư khai thác đường bộ cao tốcCông ty Đầu tư phát triển đường cao tốc đầu tư

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/09/2007", "sign_number": "1202/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Sinh Hùng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/09/2007", "sign_number": "1202/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Sinh Hùng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/09/2007", "sign_number": "1202/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Sinh Hùng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/09/2007", "sign_number": "1202/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Sinh Hùng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "10/09/2007", "sign_number": "1202/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Sinh Hùng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định 1202/QĐ-TTg thí điểm cơ chế, chính sách áp dụng dự án đầu tư khai thác đường bộ cao tốcCông ty Đầu tư phát triển đường cao tốc đầu tư có nội dung như sau:

Điều 2. Nội dung các cơ chế, chính sách thí điểm được phép áp dụng
1. Đối với các dự án đường cao tốc được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định là có hiệu quả, có khả năng hoàn vốn thì được áp dụng cơ chế cho vay lại từ nguồn vốn vay ODA của Chính phủ; từ nguồn vốn vay thông thường hoặc vay thương mại của các Chính phủ, các tổ chức tín dụng quốc tế; từ nguồn vốn phát hành trái phiếu quốc tế dài hạn của Chính phủ.
2. Tùy theo từng dự án đầu tư đường cao tốc, VEC được phát hành trái phiếu công trình trong nước và quốc tế theo quy định, do Chính phủ bảo lãnh. Trường hợp trong thời gian hoàn vốn của dự án, VEC chưa thu hồi đủ vốn từ nguồn thu của dự án và các nguồn thu khác để trả các khoản vay, thì được phát hành thêm trái phiếu để hoàn trả. Bộ Tài chính xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ từng trường hợp cụ thể.
3. VEC được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển theo quy định tại Nghị định 151/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, để đầu tư các dự án đường cao tốc.
4. VEC quyết định mức thu phí đường cao tốc do VEC làm chủ đầu tư, đảm bảo yêu cầu hoàn vốn của dự án (trừ các dự án cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu áp dụng mức thu phí do Nhà nước quy định).
5. Giao cho VEC khai thác các dịch vụ dọc tuyến đường cao tốc do VEC làm chủ đầu tư liên quan đến khai thác tuyến (trạm xăng dầu, trạm dừng xe, quảng cáo, các công trình khác) theo quy định của pháp luật. Hiệu quả thu được từ khai thác các dịch vụ này (nếu có) sẽ được tính vào hiệu quả đầu tư của dự án.
6. Đối với những dự án đầu tư đường cao tốc do Nhà nước yêu cầu đầu tư nhưng khả năng thu phí hoàn vốn thấp, Chính phủ có thể xem xét hỗ trợ chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng.
7. VEC được sử dụng vốn điều lệ của mình theo nguyên tắc tập trung hoàn thành nhiệm vụ đầu tư và khai thác các tuyến đường cao tốc được giao làm chủ đầu tư, đồng thời cân đối để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh theo ngành nghề kinh doanh đã được quy định.
Trong thời gian thu phí hoàn vốn của từng dự án, nguồn kinh phí để hoàn vốn đầu tư từ thu phí hoặc nhượng quyền khai thác được ưu tiên sử dụng để hoàn trả các khoản vốn do VEC vay hoặc huy động.
8. Bộ Tài chính bổ sung vốn điều lệ còn thiếu cho VEC, bảo đảm đến năm 2008 đủ số vốn điều lệ 1000 tỷ đồng. Từ năm 2009, căn cứ tình hình sản xuất kinh doanh và nhu cầu vốn của VEC, hàng năm Bộ Tài chính xem xét bổ sung vốn điều lệ cho VEC theo quy định.
9. Trong giai đoạn đầu tư xây dựng và thu phí hoàn vốn vay, trường hợp trong năm tài chính VEC không có lợi nhuận từ tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thì được trích lập 2 (hai) quỹ khen thưởng và phúc lợi với mức trích tối đa không quá 2 (hai) tháng lương thực tế và được hạch toán vào chi phí quản lý, điều hành dự án và chi phí quản lý thu phí.

Content:
Điều 2. Nội dung các cơ chế, chính sách thí điểm được phép áp dụng
1. Đối với các dự án đường cao tốc được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định là có hiệu quả, có khả năng hoàn vốn thì được áp dụng cơ chế cho vay lại từ nguồn vốn vay ODA của Chính phủ; từ nguồn vốn vay thông thường hoặc vay thương mại của các Chính phủ, các tổ chức tín dụng quốc tế; từ nguồn vốn phát hành trái phiếu quốc tế dài hạn của Chính phủ.
2. Tùy theo từng dự án đầu tư đường cao tốc, VEC được phát hành trái phiếu công trình trong nước và quốc tế theo quy định, do Chính phủ bảo lãnh. Trường hợp trong thời gian hoàn vốn của dự án, VEC chưa thu hồi đủ vốn từ nguồn thu của dự án và các nguồn thu khác để trả các khoản vay, thì được phát hành thêm trái phiếu để hoàn trả. Bộ Tài chính xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ từng trường hợp cụ thể.
3. VEC được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển theo quy định tại Nghị định 151/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, để đầu tư các dự án đường cao tốc.
4. VEC quyết định mức thu phí đường cao tốc do VEC làm chủ đầu tư, đảm bảo yêu cầu hoàn vốn của dự án (trừ các dự án cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu áp dụng mức thu phí do Nhà nước quy định).
5. Giao cho VEC khai thác các dịch vụ dọc tuyến đường cao tốc do VEC làm chủ đầu tư liên quan đến khai thác tuyến (trạm xăng dầu, trạm dừng xe, quảng cáo, các công trình khác) theo quy định của pháp luật. Hiệu quả thu được từ khai thác các dịch vụ này (nếu có) sẽ được tính vào hiệu quả đầu tư của dự án.
6. Đối với những dự án đầu tư đường cao tốc do Nhà nước yêu cầu đầu tư nhưng khả năng thu phí hoàn vốn thấp, Chính phủ có thể xem xét hỗ trợ chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng.
7. VEC được sử dụng vốn điều lệ của mình theo nguyên tắc tập trung hoàn thành nhiệm vụ đầu tư và khai thác các tuyến đường cao tốc được giao làm chủ đầu tư, đồng thời cân đối để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh theo ngành nghề kinh doanh đã được quy định.
Trong thời gian thu phí hoàn vốn của từng dự án, nguồn kinh phí để hoàn vốn đầu tư từ thu phí hoặc nhượng quyền khai thác được ưu tiên sử dụng để hoàn trả các khoản vốn do VEC vay hoặc huy động.
8. Bộ Tài chính bổ sung vốn điều lệ còn thiếu cho VEC, bảo đảm đến năm 2008 đủ số vốn điều lệ 1000 tỷ đồng. Từ năm 2009, căn cứ tình hình sản xuất kinh doanh và nhu cầu vốn của VEC, hàng năm Bộ Tài chính xem xét bổ sung vốn điều lệ cho VEC theo quy định.
9. Trong giai đoạn đầu tư xây dựng và thu phí hoàn vốn vay, trường hợp trong năm tài chính VEC không có lợi nhuận từ tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thì được trích lập 2 (hai) quỹ khen thưởng và phúc lợi với mức trích tối đa không quá 2 (hai) tháng lương thực tế và được hạch toán vào chi phí quản lý, điều hành dự án và chi phí quản lý thu phí.