Document: Điểm d Khoản 3 Điều 1 Quyết định 4795/QĐ-UBND 2022 bảo tồn phát huy tiếng nói chữ viết dân tộc thiểu số Thanh Hóa

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "31/12/2022", "sign_number": "4795/QĐ-UBND", "signer": "Đầu Thanh Tùng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "31/12/2022", "sign_number": "4795/QĐ-UBND", "signer": "Đầu Thanh Tùng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "31/12/2022", "sign_number": "4795/QĐ-UBND", "signer": "Đầu Thanh Tùng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "31/12/2022", "sign_number": "4795/QĐ-UBND", "signer": "Đầu Thanh Tùng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "31/12/2022", "sign_number": "4795/QĐ-UBND", "signer": "Đầu Thanh Tùng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 3 Điều 1 Quyết định 4795/QĐ-UBND 2022 bảo tồn phát huy tiếng nói chữ viết dân tộc thiểu số Thanh Hóa

Điều 1. Phê duyệt Đề án "Bảo tồn, phát huy và phát triển tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030" với những nội dung chính như sau:
...
3. Nhiệm vụ
3.1. Giai đoạn 2023 - 2025
...
d) Tổ chức liên hoan trang phục truyền thống của từng dân tộc và trong Ngày hội văn hoá các dân tộc:
- Tổ chức 03 cuộc liên hoan, hội diễn, biểu diễn các loại hình trang phục truyền thống của 06 dân tộc tại Ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức.
- Tổ chức 06 cuộc Liên hoan trang phục truyền thống 06 dân tộc cấp huyện và 01 cuộc trong ngày Hội văn hoá các dân tộc cấp tỉnh.
- Tổ chức 01 hội thi thiết kế và mặc trang phục truyền thống tại huyện Mường Lát; 01 Hội thi thuyết trình giới thiệu nét đẹp trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số tại huyện Ngọc Lặc; 02 triển lãm trưng bày, giới thiệu về trang phục, nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tại Thành phố Thanh Hóa và huyện Ngọc Lặc.
- Xây dựng 06 mô hình chuẩn về thêu dệt và sản xuất y phục truyền thống của 06 dân tộc ở 06 huyện.
e) Tổ chức tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số; tuyên truyền các mô hình bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết, trang phục của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa.
3.2. Giai đoạn 2026-2030
a) Số hoá 70 - 80% tài liệu tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống của các dân tộc thiểu số:
- Tổ chức điều tra, sưu tầm, phổ biến các giá trị văn hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số.
- Sưu tầm, bổ sung và tiếp tục số hóa các văn bản, tác phẩm tiêu biểu về văn học dân gian (truyện cổ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca, câu đố, bài mo, bài cúng…), nghệ thuật dân gian (âm nhạc, hội họa, kiến trúc, múa …), sử thi (trường ca, sử thi…) của 06 dân tộc thiểu số phục vụ việc nghiên cứu, bảo tồn, lưu trữ lâu dài và phát huy trong cuộc sống của đồng bào.
- Bổ sung, cập nhật và số hóa các thông tin, dữ liệu về trang phục, trang sức và nghệ thuật trang trí trang phục của 6 dân tộc thiểu số phục vụ việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị trong đời sống của đồng bào.
- Xây dựng các thước phim, đĩa DVD hướng dẫn cách thức, kỹ thuật cắt may, dệt, thêu, nghệ thuật tạo hình, trang trí, làm phụ kiện liên quan đến trang phục của đồng bào các dân tộc: Mường, Thái, Mông, Thổ, Dao, Khơ Mú để bảo tồn, quảng bá; đồng thời phục vụ mở các lớp truyền dạy cách may, mặc trang phục truyền thống.
- Bổ sung, cập nhật và số hóa những thông tin, tài liệu liên quan đến nghề truyền thống của 6 dân tộc thiểu số.
b) Xây dựng đội ngũ nghệ nhân có khả năng truyền dạy tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống trong cộng đồng các dân tộc thiểu số và quan tâm, hỗ trợ các tác giả người dân tộc thiểu số.
- Tổ chức phát động các cuộc thi sáng tác về đề tài dân tộc miền núi; đặt hàng các tác giả người dân tộc thiểu số có khả năng sáng tạo, sáng tác các tác phẩm về đề tài dân tộc, miền núi.
- Đề xuất và xây dựng hồ sơ vinh danh “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hoá phi vật thể 12 nghệ nhân là người các dân tộc có đóng góp trong việc truyền dạy tiếng nói, chữ viết; nghệ nhân truyền dạy trang phục truyền thống; nghệ nhân truyền dạy nghề truyền thống (Triển khai theo Nghị định số 62/2014/NĐ-CP ngày 25/6/2014).
- Tổ chức 06 lớp tập huấn/năm/dân tộc cho người có uy tín trong thôn/bản, các nghệ nhân người Thái, Mông, Dao về phương pháp truyền dạy tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống.
- Tổ chức 12 lớp/năm truyền dạy cho cộng đồng các dân tộc Mường, Thái, Mông, Thổ, Dao, Khơ Mú về tiếng nói, chữ viết của dân tộc; 12 lớp/năm truyền dạy tập huấn kỹ năng bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số; 12 lớp/năm truyền dạy nghề truyền thống trong cộng đồng và giới thiệu, hướng nghiệp về nghề thủ công truyền thống của các dân tộc cho học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Dân tộc nội trú.
- Tổ chức truyền dạy tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số cho cán bộ chiến sĩ, công chức, viên chức công tác trong vùng dân tộc thiểu số.
c) Xây dựng các mô hình bảo tồn và phát huy giá trị tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống của các dân tộc thiểu số:
- Xây dựng 06 mô hình truyền dạy tiếng nói, chữ viết của dân tộc Thái, Dao, Mông; 06 mô hình truyền dạy tiếng Mường, Thổ, Khơ Mú trong cộng đồng tại 11 huyện miền núi; 10 mô hình dạy tiếng nói, chữ viết cho cán bộ công chức công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số; 10 mô hình dạy tiếng dân tộc cho học sinh trường dân tộc nội trú huyện Ngọc Lặc, Quan Sơn, Cẩm Thủy, Mường Lát, Như Xuân.
- Xây dựng 06 mô hình mặc trang phục truyền thống vào các ngày trong tuần và trong các hoạt động chung, ngoại khóa…tại trường Dân tộc nội trú tỉnh và huyện Quan Hóa, Lang Chánh, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Như Xuân.
- Xây dựng 03 mô hình giới thiệu, quảng bá sản phẩm du lịch từ trang phục truyền thống dân tộc Mông, Thổ, Khơ Mú tại các khu điểm du lịch trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể về: Nghệ thuật thêu, trang trí hoa văn trên trang phục truyền thống của dân tộc Mường huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
- Xây dựng 11 mô hình cộng đồng (hợp tác xã) phát triển nghề truyền thống của 06 dân tộc trên địa bàn các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa.
- Xây dựng 2 sản phẩm du lịch nghề truyền thống được cấp văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý: Nghề nấu rượu siêu men lá dân tộc Thái tại Bá Thước và nghề dệt thổ cẩm của dân tộc Mường tại Ngọc Lặc. Xây dựng các gian hàng giới thiệu sản phẩm tại các khu điểm du lịch, tìm kiếm các thị trường giới thiệu sản phẩm làng nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, để các sản phẩm thực sự là hàng hóa góp phần phát triển kinh tế bền vững cho đồng bào.
- Xây dựng 6 mô hình chuẩn về thêu dệt và sản xuất y phục truyền thống 06 dân tộc ở 06 huyện: Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Như Xuân.
c) Tổ chức liên hoan trang phục truyền thống của từng dân tộc và trong ngày Hội văn hoá các dân tộc:
- Tổ chức 03 cuộc liên hoan, hội diễn, biểu diễn các loại hình trang phục truyền thống của 06 dân tộc tại Ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức.
- Tổ chức 03 cuộc liên hoan cấp tỉnh về biểu diễn loại hình văn hóa dân gian bằng tiếng dân tộc của đồng bào 06 dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.
- Tổ chức 06 cuộc liên hoan trang phục truyền thống các dân tộc trong Ngày hội văn hoá các dân tộc cấp tỉnh và cấp huyện.
- Tổ chức 01 cuộc triển lãm ảnh về trang phục, nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tại Thành phố Thanh Hóa.
d) Tổ chức tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số; tuyên truyền các mô hình bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết, trang phục của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa.

Content:
Tổ chức liên hoan trang phục truyền thống của từng dân tộc và trong Ngày hội văn hoá các dân tộc:
- Tổ chức 03 cuộc liên hoan, hội diễn, biểu diễn các loại hình trang phục truyền thống của 06 dân tộc tại Ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức.
- Tổ chức 06 cuộc Liên hoan trang phục truyền thống 06 dân tộc cấp huyện và 01 cuộc trong ngày Hội văn hoá các dân tộc cấp tỉnh.
- Tổ chức 01 hội thi thiết kế và mặc trang phục truyền thống tại huyện Mường Lát; 01 Hội thi thuyết trình giới thiệu nét đẹp trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số tại huyện Ngọc Lặc; 02 triển lãm trưng bày, giới thiệu về trang phục, nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tại Thành phố Thanh Hóa và huyện Ngọc Lặc.
- Xây dựng 06 mô hình chuẩn về thêu dệt và sản xuất y phục truyền thống của 06 dân tộc ở 06 huyện.
e) Tổ chức tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số; tuyên truyền các mô hình bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết, trang phục của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa.
3.2. Giai đoạn 2026-2030
a) Số hoá 70 - 80% tài liệu tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống của các dân tộc thiểu số:
- Tổ chức điều tra, sưu tầm, phổ biến các giá trị văn hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số.
- Sưu tầm, bổ sung và tiếp tục số hóa các văn bản, tác phẩm tiêu biểu về văn học dân gian (truyện cổ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca, câu đố, bài mo, bài cúng…), nghệ thuật dân gian (âm nhạc, hội họa, kiến trúc, múa …), sử thi (trường ca, sử thi…) của 06 dân tộc thiểu số phục vụ việc nghiên cứu, bảo tồn, lưu trữ lâu dài và phát huy trong cuộc sống của đồng bào.
- Bổ sung, cập nhật và số hóa các thông tin, dữ liệu về trang phục, trang sức và nghệ thuật trang trí trang phục của 6 dân tộc thiểu số phục vụ việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị trong đời sống của đồng bào.
- Xây dựng các thước phim, đĩa DVD hướng dẫn cách thức, kỹ thuật cắt may, dệt, thêu, nghệ thuật tạo hình, trang trí, làm phụ kiện liên quan đến trang phục của đồng bào các dân tộc: Mường, Thái, Mông, Thổ, Dao, Khơ Mú để bảo tồn, quảng bá; đồng thời phục vụ mở các lớp truyền dạy cách may, mặc trang phục truyền thống.
- Bổ sung, cập nhật và số hóa những thông tin, tài liệu liên quan đến nghề truyền thống của 6 dân tộc thiểu số.
b) Xây dựng đội ngũ nghệ nhân có khả năng truyền dạy tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống trong cộng đồng các dân tộc thiểu số và quan tâm, hỗ trợ các tác giả người dân tộc thiểu số.
- Tổ chức phát động các cuộc thi sáng tác về đề tài dân tộc miền núi; đặt hàng các tác giả người dân tộc thiểu số có khả năng sáng tạo, sáng tác các tác phẩm về đề tài dân tộc, miền núi.
- Đề xuất và xây dựng hồ sơ vinh danh “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hoá phi vật thể 12 nghệ nhân là người các dân tộc có đóng góp trong việc truyền dạy tiếng nói, chữ viết; nghệ nhân truyền dạy trang phục truyền thống; nghệ nhân truyền dạy nghề truyền thống (Triển khai theo Nghị định số 62/2014/NĐ-CP ngày 25/6/2014).
- Tổ chức 06 lớp tập huấn/năm/dân tộc cho người có uy tín trong thôn/bản, các nghệ nhân người Thái, Mông, Dao về phương pháp truyền dạy tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống.
- Tổ chức 12 lớp/năm truyền dạy cho cộng đồng các dân tộc Mường, Thái, Mông, Thổ, Dao, Khơ Mú về tiếng nói, chữ viết của dân tộc; 12 lớp/năm truyền dạy tập huấn kỹ năng bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số; 12 lớp/năm truyền dạy nghề truyền thống trong cộng đồng và giới thiệu, hướng nghiệp về nghề thủ công truyền thống của các dân tộc cho học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Dân tộc nội trú.
- Tổ chức truyền dạy tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số cho cán bộ chiến sĩ, công chức, viên chức công tác trong vùng dân tộc thiểu số.
c) Xây dựng các mô hình bảo tồn và phát huy giá trị tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống của các dân tộc thiểu số:
- Xây dựng 06 mô hình truyền dạy tiếng nói, chữ viết của dân tộc Thái, Dao, Mông; 06 mô hình truyền dạy tiếng Mường, Thổ, Khơ Mú trong cộng đồng tại 11 huyện miền núi; 10 mô hình dạy tiếng nói, chữ viết cho cán bộ công chức công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số; 10 mô hình dạy tiếng dân tộc cho học sinh trường dân tộc nội trú huyện Ngọc Lặc, Quan Sơn, Cẩm Thủy, Mường Lát, Như Xuân.
- Xây dựng 06 mô hình mặc trang phục truyền thống vào các ngày trong tuần và trong các hoạt động chung, ngoại khóa…tại trường Dân tộc nội trú tỉnh và huyện Quan Hóa, Lang Chánh, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Như Xuân.
- Xây dựng 03 mô hình giới thiệu, quảng bá sản phẩm du lịch từ trang phục truyền thống dân tộc Mông, Thổ, Khơ Mú tại các khu điểm du lịch trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể về: Nghệ thuật thêu, trang trí hoa văn trên trang phục truyền thống của dân tộc Mường huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
- Xây dựng 11 mô hình cộng đồng (hợp tác xã) phát triển nghề truyền thống của 06 dân tộc trên địa bàn các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa.
- Xây dựng 2 sản phẩm du lịch nghề truyền thống được cấp văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý: Nghề nấu rượu siêu men lá dân tộc Thái tại Bá Thước và nghề dệt thổ cẩm của dân tộc Mường tại Ngọc Lặc. Xây dựng các gian hàng giới thiệu sản phẩm tại các khu điểm du lịch, tìm kiếm các thị trường giới thiệu sản phẩm làng nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, để các sản phẩm thực sự là hàng hóa góp phần phát triển kinh tế bền vững cho đồng bào.
- Xây dựng 6 mô hình chuẩn về thêu dệt và sản xuất y phục truyền thống 06 dân tộc ở 06 huyện: Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Như Xuân.
c) Tổ chức liên hoan trang phục truyền thống của từng dân tộc và trong ngày Hội văn hoá các dân tộc:
- Tổ chức 03 cuộc liên hoan, hội diễn, biểu diễn các loại hình trang phục truyền thống của 06 dân tộc tại Ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức.
- Tổ chức 03 cuộc liên hoan cấp tỉnh về biểu diễn loại hình văn hóa dân gian bằng tiếng dân tộc của đồng bào 06 dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.
- Tổ chức 06 cuộc liên hoan trang phục truyền thống các dân tộc trong Ngày hội văn hoá các dân tộc cấp tỉnh và cấp huyện.
- Tổ chức 01 cuộc triển lãm ảnh về trang phục, nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tại Thành phố Thanh Hóa.
Tổ chức tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số; tuyên truyền các mô hình bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết, trang phục của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa.