Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2451/QĐ-UBND năm 2007 phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "17/09/2007", "sign_number": "2451/QĐ-UBND", "signer": "Võ Kim Cự", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "17/09/2007", "sign_number": "2451/QĐ-UBND", "signer": "Võ Kim Cự", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "17/09/2007", "sign_number": "2451/QĐ-UBND", "signer": "Võ Kim Cự", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "17/09/2007", "sign_number": "2451/QĐ-UBND", "signer": "Võ Kim Cự", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Hà Tĩnh", "promulgation_date": "17/09/2007", "sign_number": "2451/QĐ-UBND", "signer": "Võ Kim Cự", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 2451/QĐ-UBND năm 2007 phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2006 - 2015, tầm nhìn đến năm 2020, với các nội dung chủ yếu sau:
...
4. Định hướng phát triển các ngành công nghiệp
4.1. Công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản
Tập trung nguồn lực để đổi mới công nghệ tại các cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản nhằm nâng cao giá trị, giảm tổn thất tài nguyên và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản phải đảm bảo các điều kiện phát triển bền vững, quản lý tốt tài nguyên, hạn chế tối đa gây ảnh hưởng tới môi trường. Đối với dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê, phấn đấu đến năm 2010 khai thác đạt công suất 4,4 triệu tấn/năm, sau năm 2010 khai thác và chế biến quặng sắt đạt công suất từ 5-10 triệu tấn /năm cung cấp cho nhà máy thép liên hợp công suất 4, 5 triệu tấn sản phẩm/năm.
4.2. Công nghiệp luyện kim
Phát triển ngành công nghiệp luyện kim Hà Tĩnh theo hướng hiện đại, bền vững; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, chú trọng đầu tư với quy mô lớn, công nghệ hiện đại, sản phẩm có chất lượng cao, chủng loại đa dạng; ưu tiên sản xuất các sản phẩm phục vụ cho ngành đóng tàu, cơ khí, xây dựng, như: thép phôi, thép cán, thép ống, thép hình, ...vv.
4.3. Công nghiệp sản xuất điện năng
Huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn trong và ngoài nước, đa dạng hóa các hình thức đầu tư để phát triển nguồn điện. Hoàn thiện quy hoạch và triển khai đầu tư Trung tâm Điện lực Vũng Áng; tiếp tục đầu tư các nhà máy thủy điện nhỏ; ưu tiên phát triển các nguồn năng lượng mới. Phát triển và hoàn thiện hệ thống lưới điện trong tỉnh nhằm nâng cao độ ổn định, tin cậy trong cung cấp điện, giảm tổn thất điện năng.
4.4. Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, thực phẩm
Đa dạng về quy mô và loại hình sản xuất chế biến, song song với việc xây dựng các cơ sở chế biến tập trung gắn với các vùng nguyên liệu, cần khuyến khích phát triển các cơ sở chế biến nhỏ của các tổ hợp gia đình, làng nghề. Xây dựng các vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy, hải sản để có thể cung ứng đủ cho các nhà máy chế biến phục vụ xuất khẩu. Phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung, bán công nghiệp và công nghiệp; tăng nhanh đàn bò, heo thịt, gia cầm; cải thiện chất lượng thịt và trọng lượng xuất chuồng; chú trọng chất lượng thực phẩm theo qui định quốc tế.
4.5. Công nghiệp cơ khí, điện tử và công nghệ thông tin
Để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2020 và những năm tiếp theo, ngành cơ khí, điện tử cần được tổ chức theo hướng tập trung phục vụ các ngành công nghiệp như đóng tàu, khai thác mỏ, luyện kim; cung cấp các loại máy móc trong sản xuất nông nghiệp; đa dạng hoá các sản phẩm kim khí phục vụ tiêu dùng và đời sống nhân dân. Mặt khác, do xuất phát điểm thấp, quy mô nhỏ bé, ngành này cần phải tiếp tục thu hút các nguồn vốn để đầu tư phát triển; quan tâm đầu tư các nhà máy chế tạo kết cấu định hình và sản phẩm đặc thù cho các KCN.
4.6. Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
Lựa chọn qui mô đầu tư và phân bố sản xuất phù hợp với nguồn tài nguyên và thị trường tiêu thụ. Tập trung phát triển các loại vật liệu có lợi thế như: Vật liệu xây, vật liệu lợp, đá, cát, sỏi xây dựng,.... Sản xuất gạch nung theo công nghệ lò tuynel, tiến tới xóa bỏ các lò gạch thủ công; phát triển các dự án sản xuất VLXD, đáp ứng kịp thời nhu cầu xây dựng của các dự án đang được triển khai, như Dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê, dự án Nhà máy thép liên hợp, cải tạo, nâng cấp quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ, xây dựng thành phố Hà Tĩnh, nâng cấp các thị trấn, thị tứ...
4.7. Công nghiệp hóa chất và sản phẩm hóa chất
Đầu tư sản xuất các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, chế biến thủy sản và nhu cầu dân dụng; quan tâm sản xuất các loại dược phẩm, thuốc chữa bệnh, phân bón và hóa chất phục vụ nông nghiệp; ưu tiên xây dựng Nhà máy chế biến Pigment, Nhà máy sản xuất Axít Sunfuaric.
4.8. Công nghiệp dệt may, da giầy
Trước mắt, phát triển các cơ sở quy mô vừa và nhỏ để sử dụng lao động tại chỗ, sản xuất các sản phẩm phục vụ tiêu dùng trong tỉnh và làm vệ tinh cho các nhà máy lớn. Đồng thời, kêu gọi thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước, đặc biệt liên doanh với Tập đoàn dệt may Việt Nam thành lập các Công ty cổ phần dệt, may, cọc sợi, ...vv. Tiến tới xây dựng Cụm công nghiệp Sợi - Dệt - May, với các sản phẩm may, sợi, dệt vải cao cấp, dệt kim, sản xuất phụ liệu theo nhiều hình thức: liên doanh, 100% vốn của nước ngoài hoặc công ty cổ phần. Nghiên cứu phát triển công nghiệp kéo sợi và đan dệt lưới đánh cá, đáp ứng nhu cầu của ngành đánh bắt thủy, hải sản trong tỉnh và khu vực. Đối với công nghiệp Da giầy, khi giao thông đã thuận tiện hơn có thể nhận gia công nguyên phụ liệu cho các DN sản xuất giầy, dép của TP.Hà Nội, Hải Phòng....
4.9. Công nghiệp khác (in, tái chế...)
Tiếp tục huy động các nguồn lực đầu tư mở rộng sản xuất các sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt của nhân dân trong tỉnh.
4.10. Phát triển TTCN
Ưu tiên phát triển những ngành nghề có lợi thế về lao động, nguyên liệu và có tiềm năng xuất khẩu như: chế biến nông, lâm, thủy hải sản, dệt may, rèn đúc, gia công cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng...
Khôi phục, phát triển các làng nghề truyền thống, trọng điểm:
- Đối với các làng nghề hiện có như mộc Thái Yên (Đức Thọ), rèn đúc Trung Lương (Hồng Lĩnh), dệt may Thạch Đồng (TP. Hà Tĩnh)... cần tập trung cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm để mở rộng thị trường và hướng tới xuất khẩu. Bên cạnh mô hình kinh tế hộ như hiện nay, cần tổ chức sản xuất theo hướng hình thành các doanh nghiệp tư nhân (DNTN), HTX, Liên hiệp HTX để có điều kiện tập trung vốn, lao động, đổi mới trang thiết bị, công nghệ đảm bảo số lượng, chất lượng, tăng sức cạnh tranh.
- Các làng nghề đan (mây, tre), làm nón, mũ lá, dệt thảm, cói, thêu ren... cần tổ chức lại sản xuất theo mô hình: Tổ hợp các hộ gia đình sản xuất tại gia theo đặt hàng của các chủ tiêu thụ (DN dịch vụ -thương mại, HTX sản xuất -dịch vụ...); tăng cường liên kết với các cơ sở ngoài tỉnh để giải quyết khâu tiêu thụ, đa dạng hoá mẫu mã...; hướng nhanh sang sản xuất hàng xuất khẩu.
- Các làng nghề chế biến hải sản truyền thống, nước mắm, ruốc (Cẩm Nhượng, Kỳ Ninh, Xuân Hội, Thạch Kim, Cương Gián...) cần tập trung mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, đa dạng chủng loại, đảm bảo vệ sinh thực phẩm, giá cả hợp lý; sớm đăng ký chất lượng và thương hiệu cho các sản phẩm. Nghiên cứu quy hoạch xây dựng các khu sản xuất tập trung để giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề.
- Phát triển các ngành cơ khí, dịch vụ sửa chữa phục vụ nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải; phát triển các điểm cơ khí, sửa chữa dịch vụ cơ, điện ở các xã, thị tứ, thị trấn đáp ứng nhu cầu nhân dân. Mỗi huyện có ít nhất từ 2-3 HTX hoặc doanh nghiệp cơ khí, riêng thành phố Hà Tĩnh và Thị xã Hồng Lĩnh phấn đấu phát triển về số lượng và mở rộng quy mô sản xuất gấp 1,5 đến 2 lần so với hiện tại.
- Khuyến khích, tạo điều kiện để du nhập các nghề TTCN mới, gắn với việc phân công lại lao động ở địa bàn nông thôn như chế biến nông, lâm, hải sản, mây tre đan, sửa chữa cơ khí, vận tải, mộc, xây dựng...
- Thúc đẩy liên kết các hộ sản xuất cùng nghề thành những cơ sở qui mô lớn hơn nhằm tích tụ nguồn vốn, tăng cường đổi mới thiết bị công nghệ, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trong sản xuất nhằm cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động và nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
4.11. Quy hoạch các khu, cụm công nghiệp - TTCN
- Đối với KCN: Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 72/2006/QĐ-TTg ngày 03/4/2006 thành lập Khu kinh tế Vũng Áng với chức năng là Khu kinh tế tổng hợp; trọng tâm là phát triển công nghiệp luyện cán thép, cảng và dịch vụ cảng biển, nhiệt điện, cơ khí đóng và sửa chữa tàu biển, các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động và có sản phẩm xuất khẩu. Ngoài khu công nghiệp trong Khu kinh tế Vũng Áng, từ nay đến năm 2020 trên địa bàn Hà Tĩnh sẽ đầu tư thêm Khu công nghiệp Hạ Vàng và Khu công nghiệp Gia Lách (theo quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020). Ngoài ra, cần chủ động và tích cực chuẩn bị mọi mặt để khi dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê đi vào hoạt động sẽ hình thành Khu công nghiệp khai thác, chế biến quặng sắt, kéo theo sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp phụ trợ khác.
- Đối với cụm CN -TTCN: đẩy nhanh quá trình đầu tư xây dựng các cụm CN -TTCN, phấn đấu đến 2015 mỗi huyện, thị xã, thành phố có từ 2 - 3 cụm CN-TTCN. Các cụm CN -TTCN dành ưu tiên cho các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống, các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Content:
Định hướng phát triển các ngành công nghiệp
4.1. Công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản
Tập trung nguồn lực để đổi mới công nghệ tại các cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản nhằm nâng cao giá trị, giảm tổn thất tài nguyên và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản phải đảm bảo các điều kiện phát triển bền vững, quản lý tốt tài nguyên, hạn chế tối đa gây ảnh hưởng tới môi trường. Đối với dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê, phấn đấu đến năm 2010 khai thác đạt công suất 4,4 triệu tấn/năm, sau năm 2010 khai thác và chế biến quặng sắt đạt công suất từ 5-10 triệu tấn /năm cung cấp cho nhà máy thép liên hợp công suất 4, 5 triệu tấn sản phẩm/năm.
4.2. Công nghiệp luyện kim
Phát triển ngành công nghiệp luyện kim Hà Tĩnh theo hướng hiện đại, bền vững; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, chú trọng đầu tư với quy mô lớn, công nghệ hiện đại, sản phẩm có chất lượng cao, chủng loại đa dạng; ưu tiên sản xuất các sản phẩm phục vụ cho ngành đóng tàu, cơ khí, xây dựng, như: thép phôi, thép cán, thép ống, thép hình, ...vv.
4.3. Công nghiệp sản xuất điện năng
Huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn trong và ngoài nước, đa dạng hóa các hình thức đầu tư để phát triển nguồn điện. Hoàn thiện quy hoạch và triển khai đầu tư Trung tâm Điện lực Vũng Áng; tiếp tục đầu tư các nhà máy thủy điện nhỏ; ưu tiên phát triển các nguồn năng lượng mới. Phát triển và hoàn thiện hệ thống lưới điện trong tỉnh nhằm nâng cao độ ổn định, tin cậy trong cung cấp điện, giảm tổn thất điện năng.
4.Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, thực phẩm
Đa dạng về quy mô và loại hình sản xuất chế biến, song song với việc xây dựng các cơ sở chế biến tập trung gắn với các vùng nguyên liệu, cần khuyến khích phát triển các cơ sở chế biến nhỏ của các tổ hợp gia đình, làng nghề. Xây dựng các vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy, hải sản để có thể cung ứng đủ cho các nhà máy chế biến phục vụ xuất khẩu. Phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung, bán công nghiệp và công nghiệp; tăng nhanh đàn bò, heo thịt, gia cầm; cải thiện chất lượng thịt và trọng lượng xuất chuồng; chú trọng chất lượng thực phẩm theo qui định quốc tế.
4.5. Công nghiệp cơ khí, điện tử và công nghệ thông tin
Để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2020 và những năm tiếp theo, ngành cơ khí, điện tử cần được tổ chức theo hướng tập trung phục vụ các ngành công nghiệp như đóng tàu, khai thác mỏ, luyện kim; cung cấp các loại máy móc trong sản xuất nông nghiệp; đa dạng hoá các sản phẩm kim khí phục vụ tiêu dùng và đời sống nhân dân. Mặt khác, do xuất phát điểm thấp, quy mô nhỏ bé, ngành này cần phải tiếp tục thu hút các nguồn vốn để đầu tư phát triển; quan tâm đầu tư các nhà máy chế tạo kết cấu định hình và sản phẩm đặc thù cho các KCN.
4.6. Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
Lựa chọn qui mô đầu tư và phân bố sản xuất phù hợp với nguồn tài nguyên và thị trường tiêu thụ. Tập trung phát triển các loại vật liệu có lợi thế như: Vật liệu xây, vật liệu lợp, đá, cát, sỏi xây dựng,.... Sản xuất gạch nung theo công nghệ lò tuynel, tiến tới xóa bỏ các lò gạch thủ công; phát triển các dự án sản xuất VLXD, đáp ứng kịp thời nhu cầu xây dựng của các dự án đang được triển khai, như Dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê, dự án Nhà máy thép liên hợp, cải tạo, nâng cấp quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ, xây dựng thành phố Hà Tĩnh, nâng cấp các thị trấn, thị tứ...
4.7. Công nghiệp hóa chất và sản phẩm hóa chất
Đầu tư sản xuất các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, chế biến thủy sản và nhu cầu dân dụng; quan tâm sản xuất các loại dược phẩm, thuốc chữa bệnh, phân bón và hóa chất phục vụ nông nghiệp; ưu tiên xây dựng Nhà máy chế biến Pigment, Nhà máy sản xuất Axít Sunfuaric.
4.8. Công nghiệp dệt may, da giầy
Trước mắt, phát triển các cơ sở quy mô vừa và nhỏ để sử dụng lao động tại chỗ, sản xuất các sản phẩm phục vụ tiêu dùng trong tỉnh và làm vệ tinh cho các nhà máy lớn. Đồng thời, kêu gọi thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước, đặc biệt liên doanh với Tập đoàn dệt may Việt Nam thành lập các Công ty cổ phần dệt, may, cọc sợi, ...vv. Tiến tới xây dựng Cụm công nghiệp Sợi - Dệt - May, với các sản phẩm may, sợi, dệt vải cao cấp, dệt kim, sản xuất phụ liệu theo nhiều hình thức: liên doanh, 100% vốn của nước ngoài hoặc công ty cổ phần. Nghiên cứu phát triển công nghiệp kéo sợi và đan dệt lưới đánh cá, đáp ứng nhu cầu của ngành đánh bắt thủy, hải sản trong tỉnh và khu vực. Đối với công nghiệp Da giầy, khi giao thông đã thuận tiện hơn có thể nhận gia công nguyên phụ liệu cho các DN sản xuất giầy, dép của TP.Hà Nội, Hải Phòng....
4.9. Công nghiệp khác (in, tái chế...)
Tiếp tục huy động các nguồn lực đầu tư mở rộng sản xuất các sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt của nhân dân trong tỉnh.
4.10. Phát triển TTCN
Ưu tiên phát triển những ngành nghề có lợi thế về lao động, nguyên liệu và có tiềm năng xuất khẩu như: chế biến nông, lâm, thủy hải sản, dệt may, rèn đúc, gia công cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng...
Khôi phục, phát triển các làng nghề truyền thống, trọng điểm:
- Đối với các làng nghề hiện có như mộc Thái Yên (Đức Thọ), rèn đúc Trung Lương (Hồng Lĩnh), dệt may Thạch Đồng (TP. Hà Tĩnh)... cần tập trung cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm để mở rộng thị trường và hướng tới xuất khẩu. Bên cạnh mô hình kinh tế hộ như hiện nay, cần tổ chức sản xuất theo hướng hình thành các doanh nghiệp tư nhân (DNTN), HTX, Liên hiệp HTX để có điều kiện tập trung vốn, lao động, đổi mới trang thiết bị, công nghệ đảm bảo số lượng, chất lượng, tăng sức cạnh tranh.
- Các làng nghề đan (mây, tre), làm nón, mũ lá, dệt thảm, cói, thêu ren... cần tổ chức lại sản xuất theo mô hình: Tổ hợp các hộ gia đình sản xuất tại gia theo đặt hàng của các chủ tiêu thụ (DN dịch vụ -thương mại, HTX sản xuất -dịch vụ...); tăng cường liên kết với các cơ sở ngoài tỉnh để giải quyết khâu tiêu thụ, đa dạng hoá mẫu mã...; hướng nhanh sang sản xuất hàng xuất khẩu.
- Các làng nghề chế biến hải sản truyền thống, nước mắm, ruốc (Cẩm Nhượng, Kỳ Ninh, Xuân Hội, Thạch Kim, Cương Gián...) cần tập trung mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, đa dạng chủng loại, đảm bảo vệ sinh thực phẩm, giá cả hợp lý; sớm đăng ký chất lượng và thương hiệu cho các sản phẩm. Nghiên cứu quy hoạch xây dựng các khu sản xuất tập trung để giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề.
- Phát triển các ngành cơ khí, dịch vụ sửa chữa phục vụ nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải; phát triển các điểm cơ khí, sửa chữa dịch vụ cơ, điện ở các xã, thị tứ, thị trấn đáp ứng nhu cầu nhân dân. Mỗi huyện có ít nhất từ 2-3 HTX hoặc doanh nghiệp cơ khí, riêng thành phố Hà Tĩnh và Thị xã Hồng Lĩnh phấn đấu phát triển về số lượng và mở rộng quy mô sản xuất gấp 1,5 đến 2 lần so với hiện tại.
- Khuyến khích, tạo điều kiện để du nhập các nghề TTCN mới, gắn với việc phân công lại lao động ở địa bàn nông thôn như chế biến nông, lâm, hải sản, mây tre đan, sửa chữa cơ khí, vận tải, mộc, xây dựng...
- Thúc đẩy liên kết các hộ sản xuất cùng nghề thành những cơ sở qui mô lớn hơn nhằm tích tụ nguồn vốn, tăng cường đổi mới thiết bị công nghệ, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trong sản xuất nhằm cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động và nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
4.11. Quy hoạch các khu, cụm công nghiệp - TTCN
- Đối với KCN: Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 72/2006/QĐ-TTg ngày 03/4/2006 thành lập Khu kinh tế Vũng Áng với chức năng là Khu kinh tế tổng hợp; trọng tâm là phát triển công nghiệp luyện cán thép, cảng và dịch vụ cảng biển, nhiệt điện, cơ khí đóng và sửa chữa tàu biển, các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động và có sản phẩm xuất khẩu. Ngoài khu công nghiệp trong Khu kinh tế Vũng Áng, từ nay đến năm 2020 trên địa bàn Hà Tĩnh sẽ đầu tư thêm Khu công nghiệp Hạ Vàng và Khu công nghiệp Gia Lách (theo quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020). Ngoài ra, cần chủ động và tích cực chuẩn bị mọi mặt để khi dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê đi vào hoạt động sẽ hình thành Khu công nghiệp khai thác, chế biến quặng sắt, kéo theo sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp phụ trợ khác.
- Đối với cụm CN -TTCN: đẩy nhanh quá trình đầu tư xây dựng các cụm CN -TTCN, phấn đấu đến 2015 mỗi huyện, thị xã, thành phố có từ 2 - 3 cụm CN-TTCN. Các cụm CN -TTCN dành ưu tiên cho các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống, các doanh nghiệp vừa và nhỏ.