Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 01/2007/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch vị trí đổ bùn nạo vét trên địa bà

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "04/01/2007", "sign_number": "01/2007/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "04/01/2007", "sign_number": "01/2007/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "04/01/2007", "sign_number": "01/2007/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "04/01/2007", "sign_number": "01/2007/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", "promulgation_date": "04/01/2007", "sign_number": "01/2007/QĐ-UBND", "signer": "Trần Ngọc Thới", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 01/2007/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch vị trí đổ bùn nạo vét trên địa bà

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch các vị trí đổ bùn nạo vét trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với các nội dung chủ yếu như sau:
...
4. Giải pháp xử lý khu vực đổ đất:
4.1. Khu A - khu đổ tại vị trí ngoài khơi Vũng Tàu:
Khu vực đổ bùn được bố trí các phao báo hiệu để đánh dấu vị trí, khoảng cách giữa 2 phao là 1 km. Khu vực quy hoạch có dạng hình vuông với cạnh có chiều dài là 10 km, diện tích là 100 km2 Theo như tính toán mô hình toán về công tác đổ đất tại vị trí này ảnh hưởng tới môi trường là không đáng kể.
Đây và vị trí rất thuận lợi cho các sà lan vận chuyển và các loại tàu cuốc, tàu hút đổ đất nạo vét. Tại khu vực này, mọi phương tiện chuyên chở bằng đường thuỷ đều có thể di chuyển tới vị trí và đổ đất. Yêu cầu đối với phương pháp đổ tại vị trí này là phải có thiết bị dẫn bùn cát xuống sâu để tránh hiện tượng bùn cát khuếch tán đi xa vào các khu vực ven bờ.
4.2. Khu B - khu đổ tại phía Tây Bắc sông Rạng:
Để hạn chế tác động xấu của bùn và đất nạo vét đến môi trường xung quanh. Bãi chứa đất có bờ bao để không gây thiệt hại mùa màng, cây trồng xung quanh và không để nước đục chảy xuống kênh rạch. Bãi chứa đất nạo vét được thiết kế gồm 2 khu: khu chứa và khu lắng.
Kích thước bãi đổ không bắt buộc nhất định mà tùy theo đất có được, hình dạng cũng không nhất thiết phải vuông cạnh. Cụ thể để tăng cường độ ổn định của thân đê (nhất là ở vị trí qua hầm sâu, ao sâu) cần đóng cừ tràm và vỉ tre gia cố. Kết cấu của khu đổ bùn dùng bờ bao bằng đất tự nhiên xung quanh có hệ thống lọc nước và thoát nước.
Bùn, đất nạo vét của các dự án sẽ được vận chuyển bằng sà lan từ vị trí nạo vét tới khu vực đổ bùn theo tuyến rạch Tre, sông Mỏ Nhát và sông Rạng. Tại vị trí đổ bùn, bùn sẽ được hút từ sà lan lên bãi bằng hệ thống đường ống và trạm hút cố định hoặc phun trực tiếp từ tàu nạo vét. Qua bãi đổ gồm hỗn hợp cả bùn và nước, bùn được lắng đọng tại bãi nước được thải lại sông qua một hệ thống xử lý ô nhiễm. Sau khi bùn đất được cố kết hoặc đối với bùn đất là vật liệu rắn thì dùng máy ủi san lấp đạt mặt phẳng và chiều dày yêu cầu.

Content:
Giải pháp xử lý khu vực đổ đất:
4.1. Khu A - khu đổ tại vị trí ngoài khơi Vũng Tàu:
Khu vực đổ bùn được bố trí các phao báo hiệu để đánh dấu vị trí, khoảng cách giữa 2 phao là 1 km. Khu vực quy hoạch có dạng hình vuông với cạnh có chiều dài là 10 km, diện tích là 100 km2 Theo như tính toán mô hình toán về công tác đổ đất tại vị trí này ảnh hưởng tới môi trường là không đáng kể.
Đây và vị trí rất thuận lợi cho các sà lan vận chuyển và các loại tàu cuốc, tàu hút đổ đất nạo vét. Tại khu vực này, mọi phương tiện chuyên chở bằng đường thuỷ đều có thể di chuyển tới vị trí và đổ đất. Yêu cầu đối với phương pháp đổ tại vị trí này là phải có thiết bị dẫn bùn cát xuống sâu để tránh hiện tượng bùn cát khuếch tán đi xa vào các khu vực ven bờ.
4.2. Khu B - khu đổ tại phía Tây Bắc sông Rạng:
Để hạn chế tác động xấu của bùn và đất nạo vét đến môi trường xung quanh. Bãi chứa đất có bờ bao để không gây thiệt hại mùa màng, cây trồng xung quanh và không để nước đục chảy xuống kênh rạch. Bãi chứa đất nạo vét được thiết kế gồm 2 khu: khu chứa và khu lắng.
Kích thước bãi đổ không bắt buộc nhất định mà tùy theo đất có được, hình dạng cũng không nhất thiết phải vuông cạnh. Cụ thể để tăng cường độ ổn định của thân đê (nhất là ở vị trí qua hầm sâu, ao sâu) cần đóng cừ tràm và vỉ tre gia cố. Kết cấu của khu đổ bùn dùng bờ bao bằng đất tự nhiên xung quanh có hệ thống lọc nước và thoát nước.
Bùn, đất nạo vét của các dự án sẽ được vận chuyển bằng sà lan từ vị trí nạo vét tới khu vực đổ bùn theo tuyến rạch Tre, sông Mỏ Nhát và sông Rạng. Tại vị trí đổ bùn, bùn sẽ được hút từ sà lan lên bãi bằng hệ thống đường ống và trạm hút cố định hoặc phun trực tiếp từ tàu nạo vét. Qua bãi đổ gồm hỗn hợp cả bùn và nước, bùn được lắng đọng tại bãi nước được thải lại sông qua một hệ thống xử lý ô nhiễm. Sau khi bùn đất được cố kết hoặc đối với bùn đất là vật liệu rắn thì dùng máy ủi san lấp đạt mặt phẳng và chiều dày yêu cầu.