Document: Điều 4 Nghị định 11/2002/NĐ-CP quản lý hoạt động xuất nhập khẩu quá cảnh động thực vật hoang dã

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "22/01/2002", "sign_number": "11/2002/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "22/01/2002", "sign_number": "11/2002/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "22/01/2002", "sign_number": "11/2002/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "22/01/2002", "sign_number": "11/2002/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "22/01/2002", "sign_number": "11/2002/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 4 Nghị định 11/2002/NĐ-CP quản lý hoạt động xuất nhập khẩu quá cảnh động thực vật hoang dã có nội dung như sau:

Điều 4. 1. Việc xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu và nhập nội từ biển mẫu vật của các loài động vật, thực vật hoang dã được quy định trong Phụ lục II của Công ước CITES chỉ được thực hiện khi có giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu và nhập nội từ biển do Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam cấp.
2. Việc cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu và nhập nội từ biển mẫu vật của các loài động vật, thực vật hoang dã được quy định Phụ lục II của Công ước CITES và khoản 1 Điều này chỉ được thực hiện khi đáp ứng đủ những điều kiện sau:
a) Xuất khẩu:
Cơ quan thẩm quyền khoa học CITES Việt Nam tư vấn rằng việc xuất khẩu không ảnh hưởng đến sự tồn tại bền vững của loài đó trong thiên nhiên;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam thừa nhận mẫu vật được khai thác hợp pháp theo luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác nhận việc vận chuyển mẫu vật sống phải được chuẩn bị tốt để bảo đảm giảm tối đa những nguy hiểm, thương tích đối với mẫu vật.
b) Nhập khẩu:
Có giấy phép xuất khẩu của Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES của nước xuất khẩu cấp;
Cơ quan thẩm quyền khoa học CITES Việt Nam tư vấn rằng việc nhập khẩu các loài này vào Việt Nam không ảnh hưởng đến sự tồn tại bền vững của loài đó và các loài khác hiện có trong thiên nhiên;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác nhận việc vận chuyển mẫu vật sống phải được chuẩn bị tốt để bảo đảm giảm tối đa những nguy hiểm, thương tích đối với mẫu vật.
c) Tái xuất khẩu:
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam thừa nhận mẫu vật được nhập khẩu vào Việt Nam theo đúng các quy định của Công ước CITES và pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác nhận việc vận chuyển mẫu vật sống phải được chuẩn bị tốt để bảo đảm giảm tối đa những nguy hiểm, gây thương tích đối với mẫu vật.
d) Nhập nội từ biển:
Cơ quan thẩm quyền khoa học CITES Việt Nam tư vấn rằng việc nhập nội không ảnh hưởng đến sự tồn tại bền vững của các loài đó và các loài khác hiện có trong thiên nhiên;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác nhận việc vận chuyển mẫu vật sống phải được chuẩn bị tốt để bảo đảm giảm tối đa những nguy hiểm, thương tích đối với mẫu vật.

Content:
Điều 4. 1. Việc xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu và nhập nội từ biển mẫu vật của các loài động vật, thực vật hoang dã được quy định trong Phụ lục II của Công ước CITES chỉ được thực hiện khi có giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu và nhập nội từ biển do Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam cấp.
2. Việc cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu và nhập nội từ biển mẫu vật của các loài động vật, thực vật hoang dã được quy định Phụ lục II của Công ước CITES và khoản 1 Điều này chỉ được thực hiện khi đáp ứng đủ những điều kiện sau:
a) Xuất khẩu:
Cơ quan thẩm quyền khoa học CITES Việt Nam tư vấn rằng việc xuất khẩu không ảnh hưởng đến sự tồn tại bền vững của loài đó trong thiên nhiên;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam thừa nhận mẫu vật được khai thác hợp pháp theo luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác nhận việc vận chuyển mẫu vật sống phải được chuẩn bị tốt để bảo đảm giảm tối đa những nguy hiểm, thương tích đối với mẫu vật.
b) Nhập khẩu:
Có giấy phép xuất khẩu của Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES của nước xuất khẩu cấp;
Cơ quan thẩm quyền khoa học CITES Việt Nam tư vấn rằng việc nhập khẩu các loài này vào Việt Nam không ảnh hưởng đến sự tồn tại bền vững của loài đó và các loài khác hiện có trong thiên nhiên;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác nhận việc vận chuyển mẫu vật sống phải được chuẩn bị tốt để bảo đảm giảm tối đa những nguy hiểm, thương tích đối với mẫu vật.
c) Tái xuất khẩu:
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam thừa nhận mẫu vật được nhập khẩu vào Việt Nam theo đúng các quy định của Công ước CITES và pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác nhận việc vận chuyển mẫu vật sống phải được chuẩn bị tốt để bảo đảm giảm tối đa những nguy hiểm, gây thương tích đối với mẫu vật.
d) Nhập nội từ biển:
Cơ quan thẩm quyền khoa học CITES Việt Nam tư vấn rằng việc nhập nội không ảnh hưởng đến sự tồn tại bền vững của các loài đó và các loài khác hiện có trong thiên nhiên;
Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam xác nhận việc vận chuyển mẫu vật sống phải được chuẩn bị tốt để bảo đảm giảm tối đa những nguy hiểm, thương tích đối với mẫu vật.