Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 413/QĐ-UBND năm 2009 phê duyệt Quy hoạch thăm dò khai thác chế biến

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "11/03/2009", "sign_number": "413/QĐ-UBND", "signer": "Trần Thị Hà", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "11/03/2009", "sign_number": "413/QĐ-UBND", "signer": "Trần Thị Hà", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "11/03/2009", "sign_number": "413/QĐ-UBND", "signer": "Trần Thị Hà", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "11/03/2009", "sign_number": "413/QĐ-UBND", "signer": "Trần Thị Hà", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Yên", "promulgation_date": "11/03/2009", "sign_number": "413/QĐ-UBND", "signer": "Trần Thị Hà", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 413/QĐ-UBND năm 2009 phê duyệt Quy hoạch thăm dò khai thác chế biến

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường tỉnh Phú Yên đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
4.400.000

4. Định hướng quy hoạch: (phụ lục đính kèm).
a) Đá xây dựng:
Tiếp tục mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới các cơ sở khai thác đá xây dựng đáp ứng yêu cầu thị trường trong tỉnh hoặc có thể cung cấp cho thị trường ngoài tỉnh, đặc biệt là nhu cầu đá xây dựng cho các khu vực kinh tế trọng điểm của tỉnh, đồng thời kiên quyết tiến hành đóng cửa các mỏ đá có vị trí thuộc ranh giới quy hoạch xây dựng đô thị và điểm dân cư nông thôn;
Các cơ sở sản xuất đá xây dựng phải đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, cảnh quan du lịch, di tích lịch sử, văn hóa và từng bước hiện đại hóa công nghiệp sản xuất đá xây dựng.
b) Cát, sỏi lòng sông:
Tổ chức sắp xếp lại các điểm khai thác cát, sỏi trên địa bàn tỉnh; phân vùng khai thác hợp lý để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, các công trình thủy lợi, công trình giao thông, dòng chảy của các sông;
Tổ chức các khu bãi chứa cát, sỏi tập trung và có kế hoạch cung ứng cát, sỏi cho phù hợp với từng địa phương.
c) Đất sét: tổ chức lại sản xuất kinh doanh vật liệu xây thủ công ở các địa phương, nhằm giảm tối đa sử dụng đất canh tác và các lò gạch thủ công gây ô nhiễm môi trường;
Từng bước phát triển sản phẩm gạch không nung ở những vùng không có nguyên liệu nung, tiến tới xóa bỏ việc sản xuất gạch đất sét nung bằng lò thủ công;
Tiếp tục hoàn thiện công nghệ và ổn định sản xuất cho cơ sở gạch Tuynen hiện có và khuyến khích đầu tư các cơ sở sản xuất gạch Tuynen 30-:-50 triệu viên/năm. Đồng thời, đầu tư xây dựng thêm một số dây chuyền gạch Tuynen quy mô nhỏ với công suất 7 hoặc 10 triệu viên/năm bằng thiết bị công nghệ lò đứng liên tục;
Từ nay đến năm 2020 sẽ đầu tư mới một số dây chuyền sản xuất gạch Tuynen tại một số huyện Tuy An (xã An Định), huyện Tây Hòa (xã Sơn Thành Tây), huyện Phú Hòa (xã Hòa Định Đông);
Đầu tư xây dựng một số cơ sở sản xuất gạch Block công suất mỗi cơ sở 10 triệu tấn sản phẩm/năm ở Khu công nghiệp Hòa Hiệp và Đông Bắc Sông Cầu;
Đến năm 2020 năng lực sản xuất gạch ngói của tỉnh đạt là 380 triệu sản phẩm, trong đó: gạch nung lò Tuynen 200 triệu viên; gạch nung lò đứng liên tục 40 triệu viên; gạch Block 140 triệu viên.
d) Đất (cát) san nền:
Hiện trạng thực tế đã cho thấy vấn đề đất (cát) san nền rất cần thiết cho việc xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông... Nhằm đảm bảo ít ảnh hưởng đến môi trường cảnh quan thiên nhiên, đô thị và các công trình văn hóa, di tích lịch sử..., cần phải quy hoạch thăm dò sắp xếp lại các điểm khai thác cho phù hợp;
Trên cơ sở của hiện trạng đã có tổ chức thăm dò trữ lượng, địa điểm khai thác, dự báo nhu cầu đến năm 2020. Phân bố đều cho từng địa phương nhằm tiết kiệm chi phí vận chuyển, định hướng khu vực sau khi khai thác sẽ hình thành các khu dân cư, khu sản xuất.

Content:
4.400.000

Định hướng quy hoạch: (phụ lục đính kèm).
a) Đá xây dựng:
Tiếp tục mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới các cơ sở khai thác đá xây dựng đáp ứng yêu cầu thị trường trong tỉnh hoặc có thể cung cấp cho thị trường ngoài tỉnh, đặc biệt là nhu cầu đá xây dựng cho các khu vực kinh tế trọng điểm của tỉnh, đồng thời kiên quyết tiến hành đóng cửa các mỏ đá có vị trí thuộc ranh giới quy hoạch xây dựng đô thị và điểm dân cư nông thôn;
Các cơ sở sản xuất đá xây dựng phải đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, cảnh quan du lịch, di tích lịch sử, văn hóa và từng bước hiện đại hóa công nghiệp sản xuất đá xây dựng.
b) Cát, sỏi lòng sông:
Tổ chức sắp xếp lại các điểm khai thác cát, sỏi trên địa bàn tỉnh; phân vùng khai thác hợp lý để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, các công trình thủy lợi, công trình giao thông, dòng chảy của các sông;
Tổ chức các khu bãi chứa cát, sỏi tập trung và có kế hoạch cung ứng cát, sỏi cho phù hợp với từng địa phương.
c) Đất sét: tổ chức lại sản xuất kinh doanh vật liệu xây thủ công ở các địa phương, nhằm giảm tối đa sử dụng đất canh tác và các lò gạch thủ công gây ô nhiễm môi trường;
Từng bước phát triển sản phẩm gạch không nung ở những vùng không có nguyên liệu nung, tiến tới xóa bỏ việc sản xuất gạch đất sét nung bằng lò thủ công;
Tiếp tục hoàn thiện công nghệ và ổn định sản xuất cho cơ sở gạch Tuynen hiện có và khuyến khích đầu tư các cơ sở sản xuất gạch Tuynen 30-:-50 triệu viên/năm. Đồng thời, đầu tư xây dựng thêm một số dây chuyền gạch Tuynen quy mô nhỏ với công suất 7 hoặc 10 triệu viên/năm bằng thiết bị công nghệ lò đứng liên tục;
Từ nay đến năm 2020 sẽ đầu tư mới một số dây chuyền sản xuất gạch Tuynen tại một số huyện Tuy An (xã An Định), huyện Tây Hòa (xã Sơn Thành Tây), huyện Phú Hòa (xã Hòa Định Đông);
Đầu tư xây dựng một số cơ sở sản xuất gạch Block công suất mỗi cơ sở 10 triệu tấn sản phẩm/năm ở Khu công nghiệp Hòa Hiệp và Đông Bắc Sông Cầu;
Đến năm 2020 năng lực sản xuất gạch ngói của tỉnh đạt là 380 triệu sản phẩm, trong đó: gạch nung lò Tuynen 200 triệu viên; gạch nung lò đứng liên tục 40 triệu viên; gạch Block 140 triệu viên.
d) Đất (cát) san nền:
Hiện trạng thực tế đã cho thấy vấn đề đất (cát) san nền rất cần thiết cho việc xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông... Nhằm đảm bảo ít ảnh hưởng đến môi trường cảnh quan thiên nhiên, đô thị và các công trình văn hóa, di tích lịch sử..., cần phải quy hoạch thăm dò sắp xếp lại các điểm khai thác cho phù hợp;
Trên cơ sở của hiện trạng đã có tổ chức thăm dò trữ lượng, địa điểm khai thác, dự báo nhu cầu đến năm 2020. Phân bố đều cho từng địa phương nhằm tiết kiệm chi phí vận chuyển, định hướng khu vực sau khi khai thác sẽ hình thành các khu dân cư, khu sản xuất.