Document: Điểm c Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1234/QĐ-UBND 2014 Đề án xây dựng Đức Trọng Lâm Đồng đạt chuẩn nông thôn mới vào 2016

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "04/06/2014", "sign_number": "1234/QĐ-UBND", "signer": "Phạm S", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "04/06/2014", "sign_number": "1234/QĐ-UBND", "signer": "Phạm S", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "04/06/2014", "sign_number": "1234/QĐ-UBND", "signer": "Phạm S", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "04/06/2014", "sign_number": "1234/QĐ-UBND", "signer": "Phạm S", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "04/06/2014", "sign_number": "1234/QĐ-UBND", "signer": "Phạm S", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1234/QĐ-UBND 2014 Đề án xây dựng Đức Trọng Lâm Đồng đạt chuẩn nông thôn mới vào 2016

Điều 1. Phê duyệt Đề án xây dựng huyện Đức Trọng đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2016 với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Nội dung:
...
c) Về phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất, nâng cao thu nhập và giảm nghèo.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, phát triển công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, xây dựng hệ thống dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp; chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn các xã.
- Phát huy lợi thế so sánh về đất đai, khí hậu để xây dựng vùng sản xuất tập trung, chuyên canh; đến năm 2016, nâng diện tích sản xuất rau, hoa công nghệ cao lên 2.500 ha (doanh thu đạt trên 500 triệu đồng/ha/năm); tái canh, cải tạo giống cà phê 2.400 ha (doanh thu đạt trên 200 triệu đồng/ha/năm); phát triển 500 ha dâu tằm; phát triển đàn bò sữa đạt trên 10.000 con, phát triển sản xuất hàng hóa lớn và bền vững.
- Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã; phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn; liên kết giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn; đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất; đến năm 2016, toàn huyện có 20 tổ hợp tác, 15 hợp tác xã, mỗi xã có từ 2-3 trang trại hoạt động có hiệu quả, có 14/14 xã đạt tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất.
- Đến năm 2015, có 10 xã thu nhập bình quân đạt trên 45 triệu đồng/người/năm (các xã còn lại đạt 20-32 triệu đồng/người/năm); tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm còn 2%, riêng vùng dân tộc thiểu số còn 5%; lao động trong độ tuổi có việc làm thường xuyên đạt trên 90%; đến năm 2016, có 14/14 xã đạt tiêu chí thu nhập, hộ nghèo và tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên.

Content:
Về phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất, nâng cao thu nhập và giảm nghèo.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, phát triển công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, xây dựng hệ thống dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp; chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn các xã.
- Phát huy lợi thế so sánh về đất đai, khí hậu để xây dựng vùng sản xuất tập trung, chuyên canh; đến năm 2016, nâng diện tích sản xuất rau, hoa công nghệ cao lên 2.500 ha (doanh thu đạt trên 500 triệu đồng/ha/năm); tái canh, cải tạo giống cà phê 2.400 ha (doanh thu đạt trên 200 triệu đồng/ha/năm); phát triển 500 ha dâu tằm; phát triển đàn bò sữa đạt trên 10.000 con, phát triển sản xuất hàng hóa lớn và bền vững.
- Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã; phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn; liên kết giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn; đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất; đến năm 2016, toàn huyện có 20 tổ hợp tác, 15 hợp tác xã, mỗi xã có từ 2-3 trang trại hoạt động có hiệu quả, có 14/14 xã đạt tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất.
- Đến năm 2015, có 10 xã thu nhập bình quân đạt trên 45 triệu đồng/người/năm (các xã còn lại đạt 20-32 triệu đồng/người/năm); tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm còn 2%, riêng vùng dân tộc thiểu số còn 5%; lao động trong độ tuổi có việc làm thường xuyên đạt trên 90%; đến năm 2016, có 14/14 xã đạt tiêu chí thu nhập, hộ nghèo và tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên.