Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 147/2005/QĐ-TTg Đề án Phát triển kinh tế - xã hội miền Tây tỉnh Nghệ An đến năm 2010

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/06/2005", "sign_number": "147/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/06/2005", "sign_number": "147/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/06/2005", "sign_number": "147/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/06/2005", "sign_number": "147/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "15/06/2005", "sign_number": "147/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 147/2005/QĐ-TTg Đề án Phát triển kinh tế - xã hội miền Tây tỉnh Nghệ An đến năm 2010

Điều 1. Phê duyệt Đề án "Phát triển kinh tế - xã hội miền Tây tỉnh Nghệ An đến năm 2010" với những nội dung chủ yếu như sau:
...
4. Phương hướng phát triển các ngành và lĩnh vực
­a) Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội:
- Giao thông:
+ Xây dựng các tuyến đường kinh tế kết hợp với quốc phòng như:
­. Đường nối quốc lộ 7 với quốc lộ 48 dài 106 km;
. Tuyến đường Tây Nghệ An - Thanh Hoá (Mường Xén - Tri Lệ - Thông Thụ - Thanh Hoá) dài 240 km.
+ Các tuyến đường ra biên giới (dài 180 km):
. Tuyến Châu Kim - Nậm Giải, Ta Đo - Khe Kiền;
. Tuyến Vẽ - Hữu Khuông - Tam Thái;
. Tuyến Châu Kim - Nậm Giải;
. Tuyến Kẻ Bọn - Châu Phong;
. Tuyến Đôn Phục - Bình Chuẩn.
+ Xây dựng mới tuyến giao thông biên giới dài trên 400 km;
+ Nâng cấp và hoàn chỉnh các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và hệ thống giao thông vùng cây nguyên liệu, hệ thống giao thông phục vụ du lịch trên địa bàn miền núi (quốc lộ 7A, 48, 15A, 46 và đường Hồ Chí Minh, tổng chiều dài 748 km, trong đó đi qua địa phận 10 huyện miền núi là 568 km; 12 tuyến tỉnh lộ dài 794 km);
+ Nâng cấp mặt đường các tuyến đường huyện đi vào các trung tâm xã, đồng thời đầu tư xây dựng mới nền đường và các công trình trên tuyến vào 10 xã chưa có đường ô tô, dài 167 km.
- Thuỷ lợi:
+ Đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi kết hợp thuỷ điện Bản Mồng (huyện Quỳ Hợp) quy mô 400 triệu m3 nước và 60 MW để tưới và giữ ẩm cho vùng Tây Bắc;
+ Khôi phục và nâng cấp 136 công trình và xây dựng mới 278 công trình để đảm bảo tưới cho 32.800 ha. Trong đó, tưới cho lúa 19.000 ha, tưới cho cây trồng cạn 13.800 ha;
+ Kiên cố hoá kênh mương mới 1.106 km;
+ Xây dựng mới 195 công trình cấp nước sinh hoạt, giải quyết nước sinh hoạt cho 890.000 người.
- Điện:
+ Hoàn chỉnh quy hoạch lưới điện trên địa bàn miền núi, nâng công suất các trạm biến thế; phát triển lưới điện 35 KV, 22 KV sau trạm 110 KV đến các xã có điều kiện;
+ Tiếp tục phát triển lưới điện đến tận xã đối với các xã có khả năng kỹ thuật cho phép. Đầu tư cải tạo và nâng cấp các trạm biến áp và đường dây đã có, đồng thời phát triển thuỷ điện nhỏ hoặc pin mặt trời;
+ Xây dựng xong nhà máy thuỷ điện Bản Vẽ 320 MW, nhà máy thuỷ điện Khe Bố 96 MW, nhà máy thủy điện Hủa Na 180 - 200 MW nhà máy thuỷ điện kết hợp thuỷ lợi Thác Muối 40 MW, các nhà máy khác: Bản Cốc, Sao Va, Nhạn Hạc công suất từ 5 - 20 MW và một số nhà máy thủy điện.
Đến năm 2010: đưa tỷ lệ hộ được sử dụng điện (điện lưới quốc gia, thuỷ điện nhỏ, pin...) lên 100%.
- Phát triển đô thị:
+ Hình thành và phát triển 2 thị xã mới: thị xã Con Cuông, quy mô 2 - 3 vạn dân; thị xã Thái Hoà, quy mô 3 - 5 vạn dân;
+ Hình thành thêm 7 thị trấn mới: Đỉnh Sơn (huyện Anh Sơn); Chợ Cồn, Chợ Chùa, Võ Liệt, Thanh Thuỷ (huyện Thanh Chương); thị trấn 3/2 (huyện Quỳ Hợp); Đông Hiếu (huyện Nghĩa Đàn), Châu Khê (huyện Con Cuông);
+ Phát triển 11 điểm đô thị, thị tứ dọc tuyến đường Hồ Chí Minh: huyện Nghĩa Đàn: 4 điểm (Nghĩa Sơn, Nghĩa Lộc, Nghĩa Trung, Đông Hiếu); huyện Tân Kỳ: 3 điểm (thị trấn Lạt, Nghĩa Bình, Kỳ Sơn); huyện Anh Sơn: 1 điểm (thị trấn Tri Lễ); huyện Thanh Chương: 3 điểm (Thanh Thuỷ, Thanh Mai, Hạnh Lâm);
+ Phát triển mới 58 thị tứ gắn với phát triển chợ nông thôn: huyện Kỳ Sơn 6 thị tứ; huyện Tương Dương 2 thị tứ; huyện Con Cuông 5 thị tứ; huyện Anh Sơn 3 thị tứ; huyện Thanh Chương 16 thị tứ; huyện Quế Phong 4 thị tứ; huyện Quỳ Châu 7 thị tứ; huyện Quỳ Hợp 7 thị tứ; huyện Tân Kỳ 2 thị tứ; huyện Nghĩa Đàn 7 thị tứ.
- Xây dựng khu công nghiệp: xây dựng khu công nghiệp Phủ Quỳ 400 ha tại xã Nghĩa Thuận, phát triển các ngành nghề chế biến nông, lâm sản, dệt may, lắp máy, sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất vật liệu xây dựng.
Hình thành các cụm sản xuất tiểu, thủ công nghiệp trên địa bàn 10 huyện miền núi để khai thác tiềm năng nguyên vật liệu sẵn có và khôi phục phát triển các làng nghề, ngành nghề truyền thống trên địa bàn.
- Phát triển kinh tế cửa khẩu: hoàn thành xây dựng cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn (huyện Kỳ Sơn). Xây dựng cửa khẩu Thanh Thuỷ (Thanh Chương) thành cửa khẩu quốc gia; chuẩn bị đầu tư mở thêm cửa khẩu Thông Thụ (Quế Phong) để giao lưu với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và các nước trong khu vực.
Xây dựng 2 chợ cửa khẩu tạo nguồn hàng hoá, đẩy mạnh hợp tác giao lưu với nước Lào và các tỉnh vùng Đông Bắc Thái Lan.
b) Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp:
- Lâm nghiệp:
+ Quản lý bảo vệ và phát triển 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất) để tạo hệ sinh thái bền vững nhằm bảo vệ đất, nguồn nước, quỹ gen, môi trường và cảnh quan thiên nhiên;
+ Đổi mới cơ chế quản lý lâm nghiệp, thực hiện triệt để giao đất, khoán rừng phù hợp với từng địa bàn dân cư, tạo việc làm tại chỗ ở các lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp. Từng bước ổn định đời sống dân cư, xoá đói giảm nghèo;
+ Quản lý, bảo vệ 656.391 ha rừng hiện có;
+ Tạo các vùng trồng rừng tập trung quy mô lớn: rừng nguyên liệu giấy 72.500 ha, rừng nguyên liệu MDF 5.000 ha, rừng sở 15.000 ha, quế 10.000 ha, cây chủ cánh kiến 7.000 ha, tre, trúc lấy măng 5.000 ha.
- Nông nghiệp: đảm bảo an ninh lương thực ở các huyện núi cao, biên giới trên cơ sở thâm canh diện tích lúa nước hiện có kết hợp mở rộng diện tích ở những nơi có công trình thuỷ lợi mới và giảm mạnh diện tích lúa rẫy. Phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả kết hợp với đầu tư phát triển thuỷ lợi, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi, sản xuất thâm canh, tăng năng suất.
+ Cây lương thực: đến năm 2010 khai hoang ruộng nước ở các huyện núi cao 2.000 ha, giảm 6.000 ha diện tích rẫy. ổn định diện tích gieo trồng lúa 57.610 ha (trong đó rẫy luân canh 10.000 ha), ngô 29.700 ha, đưa năng suất lúa đạt 44 tạ/ha, ngô đạt 36 tạ/ha vào năm 2010. Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2010 đạt 354.284 tấn;
+ Cây sắn nguyên liệu: đến năm 2010 bố trí diện tích sắn 5.000 ha, đảm bảo nguyên liệu cho 2 nhà máy sắn công suất 100 tấn bột/ngày. Đầu tư thâm canh giống mới để đạt năng suất 500 tạ/ha;
+ Cây mía: ổn định diện tích trồng mía 25.000 ha vào năm 2010; thâm canh để đạt năng suất bình quân 70 - 80 tấn/ha;
+ Cây lạc: diện tích 9.000 ha vào năm 2010 trên cơ sở chuyển từ đất trồng lúa, khoai kém hiệu quả. ứng dụng trồng lạc phủ nilông, đầu tư thâm canh sử dụng các giống mới có năng suất cao như giống L14, L08, LVT v.v... để đạt năng suất bình quân 25 tạ/ha;
+ Cây vừng: diện tích 6.000 ha, chủ yếu là vừng V6, năng suất 7 tạ/ha, sản lượng 4.200 tấn;
+ Cây chè: quy mô diện tích 13.000 ha, hiện có 6.800 ha, trồng mới thêm 5.200 ha (Phân bố dọc tuyến đường Hồ Chí Minh 4.500 ha chè búp, 500 - 700 ha chè tuyết ở huyện Kỳ Sơn); năng suất 15 tấn/ha;
+ Cây cà phê: quy mô diện tích 3.500 ha bằng giống cà phê chè Catimor, năng suất 1,5 - 2 tấn/ha. Đã có 2.400 ha, trồng mới thêm 1.100 ha;
+ Cây cao su: quy mô diện tích 7.000 ha, hiện có 3.218 ha, trồng mới thêm 3.382 ha (chủ yếu trồng dọc tuyến đường Hồ Chí Minh). Sản phẩm mủ đạt 5.200 tấn năm 2010;
+ Cây cam: quy mô diện tích 5.000 ha (chủ yếu ở 4 huyện: Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Con Cuông). Bình quân mỗi năm trồng 500 - 600 ha, đưa năng suất lên 25 - 30 tấn quả/ha, vùng thâm canh đạt 40 - 50 tấn quả/ha;
+ Cây dứa: quy mô 10.000 ha, đã có 3.200 ha, trồng mới thêm 6.800 ha (mở rộng diện tích trồng dứa ở 3 huyện: Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và Anh Sơn), đáp ứng nguyên liệu cho nhà máy dứa ở Quỳnh Châu (Quỳnh Lưu) và dự kiến xây dựng thêm 1 nhà máy nước dứa cô đặc ở huyện Tân Kỳ hoặc Yên Thành công suất 5.000 tấn/năm;
+ Phát triển chăn nuôi: tăng nhanh tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp từ 30% năm 2005 và 40% năm 2010 (tập trung chăn nuôi trang trại theo hướng công nghiệp hoá từ khâu sản xuất thức ăn đến chuồng trại).
­. Đàn lợn: đẩy mạnh tốc độ phát triển đàn lợn lên 4,5 - 5% giai đoạn (2006 - 2010) để có tổng đàn 583.660 con vào năm 2010. Trong đó tỷ lệ lợn hướng nạc chiếm 60 - 70%;
. Đàn trâu, bò: đẩy mạnh tốc độ phát triển đàn trâu, bò. Đưa tốc độ phát triển đàn trâu lên 3,2% giai đoạn (2006 - 2010) để có tổng đàn 244.000 con và tốc độ phát triển đàn bò đạt 5,6% để có tổng đàn 228.210 con vào năm 2010, trong đó có 68% là bò lai Sind. Khuyến khích phát triển đàn bò sữa ở các huyện có điều kiện và cân đối đủ diện tích trồng cỏ.
Ngoài ra, phát triển chăn nuôi một số loại đặc sản khác: nuôi ong lấy mật, nuôi thả cánh kiến đỏ, nuôi ba ba v.v...
- Thuỷ sản: chuyển đổi một số diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi cá rô phi đơn tính và phát triển hình thức nuôi cá - lúa luân canh trên diện tích trồng lúa chủ động nước. Tận dụng khai thác tốt các lòng hồ sẵn có để nuôi trồng thuỷ sản. Đến năm 2010 diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 14.900 ha, sản lượng đạt 12.140 tấn.
c) Công nghiệp - xây dựng: phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế và khả năng khai thác gắn với vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ sản phẩm.
- Công nghiệp mía đường: giữ nguyên công suất 2 nhà máy đường: Sông Con (Tân Kỳ) 1.250 tấn/ngày, Sông Lam (Anh Sơn) 500 tấn/ngày, mở rộng công suất nhà máy đường NAT&L lên 12.000 tấn mía/ngày; sản lượng đường đạt 180 - 200 nghìn tấn năm 2010;
- Chế biến chè: đầu tư thêm một số dây chuyền sản xuất và nâng cấp các cơ sở sản xuất hiện có để đạt công suất chế biến chè búp khô đạt 12.000 tấn;
- Chế biến cà phê: xây dựng xí nghiệp chế biến công suất 2.000 tấn/năm với thiết bị đồng bộ vừa phục vụ tiêu dùng vừa xuất khẩu để đáp ứng chế biến 6.000 tấn sản phẩm;
- Chế biến cao su: nâng cấp các cơ sở cũ đã có để đảm bảo chế biến mủ khô đạt 5.000 tấn;
- Chế biến hoa quả: xây dựng mới nhà máy chế biến nước dứa cô đặc công suất 5.000 tấn/năm tại huyện Tân Kỳ hoặc Yên Thành vào năm 2007 để khai thác tiềm năng vùng đất trồng dứa ở Tân Kỳ và các xã miền núi huyện Yên Thành dọc tuyến đường Hồ Chí Minh;
- Chế biến lâm sản: xúc tiến đầu tư và tìm đối tác xây dựng nhà máy sản xuất bột giấy công suất 130.000 tấn/năm;
- Các sản phẩm chế biến khác: xúc tiến đầu tư xây dựng các nhà máy, các cơ sở sản xuất nhỏ như: chế biến thức ăn gia súc tại Con Cuông, nhà máy sơ chế bột giấy tại Khe Bố (Tương Dương), cơ sở chế biến tinh dầu quế 5.000 tấn/năm tại Mường Nọc (Quế Phong); nâng công suất nhà máy nước khoáng ở Quỳ Hợp lên 5 triệu lít/năm;
- Khai thác khoáng sản: sản lượng khai thác thiếc tinh luyện 800 tấn/năm; đá trắng xuất khẩu 350.000 tấn/năm; đá bazan 150.000 tấn/năm; than 25.000 tấn/năm; đá xây dựng 300.000 m3/năm, cát sỏi sạn 1,0 triệu m3/năm;
- Vật liệu xây dựng: quy hoạch vùng Anh Sơn và Đô Lương thành một trọng điểm sản xuất xi măng; mở rộng quy mô sản xuất và đổi mới công nghệ sản xuất xi măng lò đứng của 2 nhà máy sản xuất xi măng Anh Sơn lên 400.000 tấn/năm bằng công nghệ lò quay, đồng thời chuẩn bị xây dựng thêm 1 nhà máy xi măng lò quay công suất 1,4 triệu tấn/năm; xây dựng nhà máy chế biến đá granit công suất 1 triệu m2/năm tại Tân Kỳ và một số cơ sở sản xuất tấm lợp với tổng công suất 1 triệu m2/năm, xây dựng nhà máy xi măng Đô Lương công xuất 2,4 triệu tấn/năm; xây dựng các cơ sở sản xuất gạch không nung ở huyện Anh Sơn, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn công suất 90 - 100 triệu viên/năm để đưa sản lượng gạch nung đạt 100 triệu viên, ngói 35 triệu viên/năm.
d) Dịch vụ thương mại, du lịch.
- Thương mại: hình thành các trung tâm thương mại tại các huyện lỵ, các thị trấn, thị tứ, hệ thống chợ, hệ thống mạng lưới bán lẻ xăng, dầu miền núi trên địa bàn vùng, xã, hệ thống chợ đường biên. Tăng cường sự hợp tác toàn diện với các tỉnh bạn Lào để có thị trường trao đổi hàng hoá qua Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan;
Phấn đấu đạt nhịp độ phát triển bình quân về tổng mức luân chuyển hàng hoá bán lẻ trên thị trường 10 huyện miền núi tăng bình quân giai đoạn (2006 - 2010) là 10,85%; tổng mức luân chuyển hàng hoá bán lẻ đạt 2.200 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt 45 triệu USD vào năm 2010.
- Dịch vụ du lịch: khai thác tốt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, danh thắng, di tích văn hoá truyền thống, dân tộc, đưa miền Tây Nghệ An trở thành các điểm du lịch sinh thái, danh thắng, văn hoá, dân tộc hấp dẫn gắn với hệ thống du lịch chung của tỉnh. Đến năm 2010, lượng khách du lịch đến địa bàn miền núi đạt 200.000 lượt khách; doanh thu dịch vụ du lịch đạt 30.000 triệu đồng.
đ) Văn hoá - xã hội:
- Dân số, lao động và đời sống xã hội:
+ Gắn các chương trình di dân, tái định cư, khu kinh tế quốc phòng với các chương trình, dự án phát triển sản xuất để điều chỉnh lại dân cư;
+ Phát triển và hình thành các cụm dân cư mới tập trung theo các tuyến giao thông trục chính và tuyến biên giới Việt - Lào. Các thị trấn, thị tứ và khu dân cư dọc theo tuyến đường Hồ Chí Minh, gắn với phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ;
+ Tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ lên 30 - 40%, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên đạt 90% vào năm 2010;
+ Giảm tỷ lệ hộ đói nghèo xuống dưới 10% vào năm 2010.
- Giáo dục và đào tạo: thu hút 50 - 60% trẻ em trong độ tuổi đến các nhà trẻ, nhóm trẻ. Ở các bản vùng sâu, vùng xa, tổ chức cho trẻ 5 tuổi và trên 5 tuổi chưa đến lớp mầm non học chương trình mẫu giáo 36 buổi trước khi vào lớp 1.
+ ổn định số trường mầm non hiện có, phát triển thêm các nhóm trẻ, các lớp mẫu giáo ở các bản. Đưa tỷ lệ trường mầm non đạt chuẩn quốc gia lên 10%;
+ ổn định hệ thống trường tiểu học trên địa bàn. Đến năm 2005 toàn vùng thực hiện phổ cập tiểu học đúng độ tuổi;
+ Đến năm 2007 phổ cập xong trung học cơ sở, năm 2010 có 10% số trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia;
+ Xây dựng hai trường trung học dạy nghề ở huyện Thái Hà và Con Cuông để đào tạo cho đồng bào các dân tộc thiểu số.
- Y tế:
+ Đầu tư xây dựng mới 2 bệnh viện vùng ở thị xã Con Cuông 150 giường bệnh và thị xã Thái Hoà quy mô 250 giường bệnh;
+ Cơ bản giữ nguyên số giường bệnh ở các trung tâm y tế, các phòng khám đa khoa khu vực và trạm y tế xã. Đầu tư xây dựng tăng số phòng khám đa khoa khu vực một số huyện đông dân, vùng sâu, vùng xa. Nâng tỷ lệ số giường bệnh lên 22 giường/ 1vạn dân.
­­­. Kiên cố hoá 100% các phòng khám đa khoa khu vực và các trạm y tế; các xã đều có bác sĩ, y sĩ sản nhi, y tá trung học, nữ hộ sinh. Đưa tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế lên 40 - 50%;
. Hạ tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em xuống dưới 30%, hạ tỷ lệ bướu cổ xuống dưới 10%.
­­- Văn hoá thông tin - phát thanh truyền hình:
+ Đưa tỷ lệ làng, bản được phủ sóng phát thanh lên 100%, truyền hình lên 90%. Nâng cao chất lượng và thời lượng phát thanh bằng tiếng Thái. Xây dựng thêm chương trình phát thanh tiếng Mông. Các huyện đều có đội thông tin lưu động, 100% số xã, thị trấn có hệ thống truyền thanh công cộng;
+ Tăng tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá lên 85%;
+ Nâng tỷ lệ số xã có điểm bưu điện văn hoá lên 100%.
. Phát triển mạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng, xây dựng gia đình thể thao để có 15% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao.
. Mỗi huyện có một sân vận động đa chức năng, 1 nhà tập luyện và thi đấu. Các trung tâm cụm xã và các xã có sân vận động đa chức năng.
. Đảm bảo 100% số cán bộ văn hoá - thông tin - thể dục thể thao miền núi được đào tạo.
- Khoa học và công nghệ: đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất. Thành lập Trung tâm ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ vùng phục vụ sản xuất nông - lâm nghiệp: vừa là cơ quan nghiên cứu, triển khai ứng dụng các tiến bộ khoa học trên địa bàn, vừa là nơi cung ứng các nguồn giống và kỹ thuật cho nhân dân, góp phần đẩy mạnh sản xuất nông - lâm nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

Content:
Phương hướng phát triển các ngành và lĩnh vực
­a) Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội:
- Giao thông:
+ Xây dựng các tuyến đường kinh tế kết hợp với quốc phòng như:
­. Đường nối quốc lộ 7 với quốc lộ 48 dài 106 km;
. Tuyến đường Tây Nghệ An - Thanh Hoá (Mường Xén - Tri Lệ - Thông Thụ - Thanh Hoá) dài 240 km.
+ Các tuyến đường ra biên giới (dài 180 km):
. Tuyến Châu Kim - Nậm Giải, Ta Đo - Khe Kiền;
. Tuyến Vẽ - Hữu Khuông - Tam Thái;
. Tuyến Châu Kim - Nậm Giải;
. Tuyến Kẻ Bọn - Châu Phong;
. Tuyến Đôn Phục - Bình Chuẩn.
+ Xây dựng mới tuyến giao thông biên giới dài trên 400 km;
+ Nâng cấp và hoàn chỉnh các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và hệ thống giao thông vùng cây nguyên liệu, hệ thống giao thông phục vụ du lịch trên địa bàn miền núi (quốc lộ 7A, 48, 15A, 46 và đường Hồ Chí Minh, tổng chiều dài 748 km, trong đó đi qua địa phận 10 huyện miền núi là 568 km; 12 tuyến tỉnh lộ dài 794 km);
+ Nâng cấp mặt đường các tuyến đường huyện đi vào các trung tâm xã, đồng thời đầu tư xây dựng mới nền đường và các công trình trên tuyến vào 10 xã chưa có đường ô tô, dài 167 km.
- Thuỷ lợi:
+ Đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi kết hợp thuỷ điện Bản Mồng (huyện Quỳ Hợp) quy mô 400 triệu m3 nước và 60 MW để tưới và giữ ẩm cho vùng Tây Bắc;
+ Khôi phục và nâng cấp 136 công trình và xây dựng mới 278 công trình để đảm bảo tưới cho 32.800 ha. Trong đó, tưới cho lúa 19.000 ha, tưới cho cây trồng cạn 13.800 ha;
+ Kiên cố hoá kênh mương mới 1.106 km;
+ Xây dựng mới 195 công trình cấp nước sinh hoạt, giải quyết nước sinh hoạt cho 890.000 người.
- Điện:
+ Hoàn chỉnh quy hoạch lưới điện trên địa bàn miền núi, nâng công suất các trạm biến thế; phát triển lưới điện 35 KV, 22 KV sau trạm 110 KV đến các xã có điều kiện;
+ Tiếp tục phát triển lưới điện đến tận xã đối với các xã có khả năng kỹ thuật cho phép. Đầu tư cải tạo và nâng cấp các trạm biến áp và đường dây đã có, đồng thời phát triển thuỷ điện nhỏ hoặc pin mặt trời;
+ Xây dựng xong nhà máy thuỷ điện Bản Vẽ 320 MW, nhà máy thuỷ điện Khe Bố 96 MW, nhà máy thủy điện Hủa Na 180 - 200 MW nhà máy thuỷ điện kết hợp thuỷ lợi Thác Muối 40 MW, các nhà máy khác: Bản Cốc, Sao Va, Nhạn Hạc công suất từ 5 - 20 MW và một số nhà máy thủy điện.
Đến năm 2010: đưa tỷ lệ hộ được sử dụng điện (điện lưới quốc gia, thuỷ điện nhỏ, pin...) lên 100%.
- Phát triển đô thị:
+ Hình thành và phát triển 2 thị xã mới: thị xã Con Cuông, quy mô 2 - 3 vạn dân; thị xã Thái Hoà, quy mô 3 - 5 vạn dân;
+ Hình thành thêm 7 thị trấn mới: Đỉnh Sơn (huyện Anh Sơn); Chợ Cồn, Chợ Chùa, Võ Liệt, Thanh Thuỷ (huyện Thanh Chương); thị trấn 3/2 (huyện Quỳ Hợp); Đông Hiếu (huyện Nghĩa Đàn), Châu Khê (huyện Con Cuông);
+ Phát triển 11 điểm đô thị, thị tứ dọc tuyến đường Hồ Chí Minh: huyện Nghĩa Đàn: 4 điểm (Nghĩa Sơn, Nghĩa Lộc, Nghĩa Trung, Đông Hiếu); huyện Tân Kỳ: 3 điểm (thị trấn Lạt, Nghĩa Bình, Kỳ Sơn); huyện Anh Sơn: 1 điểm (thị trấn Tri Lễ); huyện Thanh Chương: 3 điểm (Thanh Thuỷ, Thanh Mai, Hạnh Lâm);
+ Phát triển mới 58 thị tứ gắn với phát triển chợ nông thôn: huyện Kỳ Sơn 6 thị tứ; huyện Tương Dương 2 thị tứ; huyện Con Cuông 5 thị tứ; huyện Anh Sơn 3 thị tứ; huyện Thanh Chương 16 thị tứ; huyện Quế Phong 4 thị tứ; huyện Quỳ Châu 7 thị tứ; huyện Quỳ Hợp 7 thị tứ; huyện Tân Kỳ 2 thị tứ; huyện Nghĩa Đàn 7 thị tứ.
- Xây dựng khu công nghiệp: xây dựng khu công nghiệp Phủ Quỳ 400 ha tại xã Nghĩa Thuận, phát triển các ngành nghề chế biến nông, lâm sản, dệt may, lắp máy, sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất vật liệu xây dựng.
Hình thành các cụm sản xuất tiểu, thủ công nghiệp trên địa bàn 10 huyện miền núi để khai thác tiềm năng nguyên vật liệu sẵn có và khôi phục phát triển các làng nghề, ngành nghề truyền thống trên địa bàn.
- Phát triển kinh tế cửa khẩu: hoàn thành xây dựng cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn (huyện Kỳ Sơn). Xây dựng cửa khẩu Thanh Thuỷ (Thanh Chương) thành cửa khẩu quốc gia; chuẩn bị đầu tư mở thêm cửa khẩu Thông Thụ (Quế Phong) để giao lưu với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và các nước trong khu vực.
Xây dựng 2 chợ cửa khẩu tạo nguồn hàng hoá, đẩy mạnh hợp tác giao lưu với nước Lào và các tỉnh vùng Đông Bắc Thái Lan.
b) Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp:
- Lâm nghiệp:
+ Quản lý bảo vệ và phát triển 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất) để tạo hệ sinh thái bền vững nhằm bảo vệ đất, nguồn nước, quỹ gen, môi trường và cảnh quan thiên nhiên;
+ Đổi mới cơ chế quản lý lâm nghiệp, thực hiện triệt để giao đất, khoán rừng phù hợp với từng địa bàn dân cư, tạo việc làm tại chỗ ở các lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp. Từng bước ổn định đời sống dân cư, xoá đói giảm nghèo;
+ Quản lý, bảo vệ 656.391 ha rừng hiện có;
+ Tạo các vùng trồng rừng tập trung quy mô lớn: rừng nguyên liệu giấy 72.500 ha, rừng nguyên liệu MDF 5.000 ha, rừng sở 15.000 ha, quế 10.000 ha, cây chủ cánh kiến 7.000 ha, tre, trúc lấy măng 5.000 ha.
- Nông nghiệp: đảm bảo an ninh lương thực ở các huyện núi cao, biên giới trên cơ sở thâm canh diện tích lúa nước hiện có kết hợp mở rộng diện tích ở những nơi có công trình thuỷ lợi mới và giảm mạnh diện tích lúa rẫy. Phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả kết hợp với đầu tư phát triển thuỷ lợi, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi, sản xuất thâm canh, tăng năng suất.
+ Cây lương thực: đến năm 2010 khai hoang ruộng nước ở các huyện núi cao 2.000 ha, giảm 6.000 ha diện tích rẫy. ổn định diện tích gieo trồng lúa 57.610 ha (trong đó rẫy luân canh 10.000 ha), ngô 29.700 ha, đưa năng suất lúa đạt 44 tạ/ha, ngô đạt 36 tạ/ha vào năm 2010. Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2010 đạt 354.284 tấn;
+ Cây sắn nguyên liệu: đến năm 2010 bố trí diện tích sắn 5.000 ha, đảm bảo nguyên liệu cho 2 nhà máy sắn công suất 100 tấn bột/ngày. Đầu tư thâm canh giống mới để đạt năng suất 500 tạ/ha;
+ Cây mía: ổn định diện tích trồng mía 25.000 ha vào năm 2010; thâm canh để đạt năng suất bình quân 70 - 80 tấn/ha;
+ Cây lạc: diện tích 9.000 ha vào năm 2010 trên cơ sở chuyển từ đất trồng lúa, khoai kém hiệu quả. ứng dụng trồng lạc phủ nilông, đầu tư thâm canh sử dụng các giống mới có năng suất cao như giống L14, L08, LVT v.v... để đạt năng suất bình quân 25 tạ/ha;
+ Cây vừng: diện tích 6.000 ha, chủ yếu là vừng V6, năng suất 7 tạ/ha, sản lượng 4.200 tấn;
+ Cây chè: quy mô diện tích 13.000 ha, hiện có 6.800 ha, trồng mới thêm 5.200 ha (Phân bố dọc tuyến đường Hồ Chí Minh 4.500 ha chè búp, 500 - 700 ha chè tuyết ở huyện Kỳ Sơn); năng suất 15 tấn/ha;
+ Cây cà phê: quy mô diện tích 3.500 ha bằng giống cà phê chè Catimor, năng suất 1,5 - 2 tấn/ha. Đã có 2.400 ha, trồng mới thêm 1.100 ha;
+ Cây cao su: quy mô diện tích 7.000 ha, hiện có 3.218 ha, trồng mới thêm 3.382 ha (chủ yếu trồng dọc tuyến đường Hồ Chí Minh). Sản phẩm mủ đạt 5.200 tấn năm 2010;
+ Cây cam: quy mô diện tích 5.000 ha (chủ yếu ở 4 huyện: Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Con Cuông). Bình quân mỗi năm trồng 500 - 600 ha, đưa năng suất lên 25 - 30 tấn quả/ha, vùng thâm canh đạt 40 - 50 tấn quả/ha;
+ Cây dứa: quy mô 10.000 ha, đã có 3.200 ha, trồng mới thêm 6.800 ha (mở rộng diện tích trồng dứa ở 3 huyện: Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và Anh Sơn), đáp ứng nguyên liệu cho nhà máy dứa ở Quỳnh Châu (Quỳnh Lưu) và dự kiến xây dựng thêm 1 nhà máy nước dứa cô đặc ở huyện Tân Kỳ hoặc Yên Thành công suất 5.000 tấn/năm;
+ Phát triển chăn nuôi: tăng nhanh tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp từ 30% năm 2005 và 40% năm 2010 (tập trung chăn nuôi trang trại theo hướng công nghiệp hoá từ khâu sản xuất thức ăn đến chuồng trại).
­. Đàn lợn: đẩy mạnh tốc độ phát triển đàn lợn lên 4,5 - 5% giai đoạn (2006 - 2010) để có tổng đàn 583.660 con vào năm 2010. Trong đó tỷ lệ lợn hướng nạc chiếm 60 - 70%;
. Đàn trâu, bò: đẩy mạnh tốc độ phát triển đàn trâu, bò. Đưa tốc độ phát triển đàn trâu lên 3,2% giai đoạn (2006 - 2010) để có tổng đàn 244.000 con và tốc độ phát triển đàn bò đạt 5,6% để có tổng đàn 228.210 con vào năm 2010, trong đó có 68% là bò lai Sind. Khuyến khích phát triển đàn bò sữa ở các huyện có điều kiện và cân đối đủ diện tích trồng cỏ.
Ngoài ra, phát triển chăn nuôi một số loại đặc sản khác: nuôi ong lấy mật, nuôi thả cánh kiến đỏ, nuôi ba ba v.v...
- Thuỷ sản: chuyển đổi một số diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi cá rô phi đơn tính và phát triển hình thức nuôi cá - lúa luân canh trên diện tích trồng lúa chủ động nước. Tận dụng khai thác tốt các lòng hồ sẵn có để nuôi trồng thuỷ sản. Đến năm 2010 diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 14.900 ha, sản lượng đạt 12.140 tấn.
c) Công nghiệp - xây dựng: phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế và khả năng khai thác gắn với vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ sản phẩm.
- Công nghiệp mía đường: giữ nguyên công suất 2 nhà máy đường: Sông Con (Tân Kỳ) 1.250 tấn/ngày, Sông Lam (Anh Sơn) 500 tấn/ngày, mở rộng công suất nhà máy đường NAT&L lên 12.000 tấn mía/ngày; sản lượng đường đạt 180 - 200 nghìn tấn năm 2010;
- Chế biến chè: đầu tư thêm một số dây chuyền sản xuất và nâng cấp các cơ sở sản xuất hiện có để đạt công suất chế biến chè búp khô đạt 12.000 tấn;
- Chế biến cà phê: xây dựng xí nghiệp chế biến công suất 2.000 tấn/năm với thiết bị đồng bộ vừa phục vụ tiêu dùng vừa xuất khẩu để đáp ứng chế biến 6.000 tấn sản phẩm;
- Chế biến cao su: nâng cấp các cơ sở cũ đã có để đảm bảo chế biến mủ khô đạt 5.000 tấn;
- Chế biến hoa quả: xây dựng mới nhà máy chế biến nước dứa cô đặc công suất 5.000 tấn/năm tại huyện Tân Kỳ hoặc Yên Thành vào năm 2007 để khai thác tiềm năng vùng đất trồng dứa ở Tân Kỳ và các xã miền núi huyện Yên Thành dọc tuyến đường Hồ Chí Minh;
- Chế biến lâm sản: xúc tiến đầu tư và tìm đối tác xây dựng nhà máy sản xuất bột giấy công suất 130.000 tấn/năm;
- Các sản phẩm chế biến khác: xúc tiến đầu tư xây dựng các nhà máy, các cơ sở sản xuất nhỏ như: chế biến thức ăn gia súc tại Con Cuông, nhà máy sơ chế bột giấy tại Khe Bố (Tương Dương), cơ sở chế biến tinh dầu quế 5.000 tấn/năm tại Mường Nọc (Quế Phong); nâng công suất nhà máy nước khoáng ở Quỳ Hợp lên 5 triệu lít/năm;
- Khai thác khoáng sản: sản lượng khai thác thiếc tinh luyện 800 tấn/năm; đá trắng xuất khẩu 350.000 tấn/năm; đá bazan 150.000 tấn/năm; than 25.000 tấn/năm; đá xây dựng 300.000 m3/năm, cát sỏi sạn 1,0 triệu m3/năm;
- Vật liệu xây dựng: quy hoạch vùng Anh Sơn và Đô Lương thành một trọng điểm sản xuất xi măng; mở rộng quy mô sản xuất và đổi mới công nghệ sản xuất xi măng lò đứng của 2 nhà máy sản xuất xi măng Anh Sơn lên 400.000 tấn/năm bằng công nghệ lò quay, đồng thời chuẩn bị xây dựng thêm 1 nhà máy xi măng lò quay công suất 1,4 triệu tấn/năm; xây dựng nhà máy chế biến đá granit công suất 1 triệu m2/năm tại Tân Kỳ và một số cơ sở sản xuất tấm lợp với tổng công suất 1 triệu m2/năm, xây dựng nhà máy xi măng Đô Lương công xuất 2,4 triệu tấn/năm; xây dựng các cơ sở sản xuất gạch không nung ở huyện Anh Sơn, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn công suất 90 - 100 triệu viên/năm để đưa sản lượng gạch nung đạt 100 triệu viên, ngói 35 triệu viên/năm.
d) Dịch vụ thương mại, du lịch.
- Thương mại: hình thành các trung tâm thương mại tại các huyện lỵ, các thị trấn, thị tứ, hệ thống chợ, hệ thống mạng lưới bán lẻ xăng, dầu miền núi trên địa bàn vùng, xã, hệ thống chợ đường biên. Tăng cường sự hợp tác toàn diện với các tỉnh bạn Lào để có thị trường trao đổi hàng hoá qua Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan;
Phấn đấu đạt nhịp độ phát triển bình quân về tổng mức luân chuyển hàng hoá bán lẻ trên thị trường 10 huyện miền núi tăng bình quân giai đoạn (2006 - 2010) là 10,85%; tổng mức luân chuyển hàng hoá bán lẻ đạt 2.200 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt 45 triệu USD vào năm 2010.
- Dịch vụ du lịch: khai thác tốt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, danh thắng, di tích văn hoá truyền thống, dân tộc, đưa miền Tây Nghệ An trở thành các điểm du lịch sinh thái, danh thắng, văn hoá, dân tộc hấp dẫn gắn với hệ thống du lịch chung của tỉnh. Đến năm 2010, lượng khách du lịch đến địa bàn miền núi đạt 200.000 lượt khách; doanh thu dịch vụ du lịch đạt 30.000 triệu đồng.
đ) Văn hoá - xã hội:
- Dân số, lao động và đời sống xã hội:
+ Gắn các chương trình di dân, tái định cư, khu kinh tế quốc phòng với các chương trình, dự án phát triển sản xuất để điều chỉnh lại dân cư;
+ Phát triển và hình thành các cụm dân cư mới tập trung theo các tuyến giao thông trục chính và tuyến biên giới Việt - Lào. Các thị trấn, thị tứ và khu dân cư dọc theo tuyến đường Hồ Chí Minh, gắn với phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ;
+ Tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ lên 30 - 40%, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên đạt 90% vào năm 2010;
+ Giảm tỷ lệ hộ đói nghèo xuống dưới 10% vào năm 2010.
- Giáo dục và đào tạo: thu hút 50 - 60% trẻ em trong độ tuổi đến các nhà trẻ, nhóm trẻ. Ở các bản vùng sâu, vùng xa, tổ chức cho trẻ 5 tuổi và trên 5 tuổi chưa đến lớp mầm non học chương trình mẫu giáo 36 buổi trước khi vào lớp 1.
+ ổn định số trường mầm non hiện có, phát triển thêm các nhóm trẻ, các lớp mẫu giáo ở các bản. Đưa tỷ lệ trường mầm non đạt chuẩn quốc gia lên 10%;
+ ổn định hệ thống trường tiểu học trên địa bàn. Đến năm 2005 toàn vùng thực hiện phổ cập tiểu học đúng độ tuổi;
+ Đến năm 2007 phổ cập xong trung học cơ sở, năm 2010 có 10% số trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia;
+ Xây dựng hai trường trung học dạy nghề ở huyện Thái Hà và Con Cuông để đào tạo cho đồng bào các dân tộc thiểu số.
- Y tế:
+ Đầu tư xây dựng mới 2 bệnh viện vùng ở thị xã Con Cuông 150 giường bệnh và thị xã Thái Hoà quy mô 250 giường bệnh;
+ Cơ bản giữ nguyên số giường bệnh ở các trung tâm y tế, các phòng khám đa khoa khu vực và trạm y tế xã. Đầu tư xây dựng tăng số phòng khám đa khoa khu vực một số huyện đông dân, vùng sâu, vùng xa. Nâng tỷ lệ số giường bệnh lên 22 giường/ 1vạn dân.
­­­. Kiên cố hoá 100% các phòng khám đa khoa khu vực và các trạm y tế; các xã đều có bác sĩ, y sĩ sản nhi, y tá trung học, nữ hộ sinh. Đưa tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế lên 40 - 50%;
. Hạ tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em xuống dưới 30%, hạ tỷ lệ bướu cổ xuống dưới 10%.
­­- Văn hoá thông tin - phát thanh truyền hình:
+ Đưa tỷ lệ làng, bản được phủ sóng phát thanh lên 100%, truyền hình lên 90%. Nâng cao chất lượng và thời lượng phát thanh bằng tiếng Thái. Xây dựng thêm chương trình phát thanh tiếng Mông. Các huyện đều có đội thông tin lưu động, 100% số xã, thị trấn có hệ thống truyền thanh công cộng;
+ Tăng tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá lên 85%;
+ Nâng tỷ lệ số xã có điểm bưu điện văn hoá lên 100%.
. Phát triển mạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng, xây dựng gia đình thể thao để có 15% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao.
. Mỗi huyện có một sân vận động đa chức năng, 1 nhà tập luyện và thi đấu. Các trung tâm cụm xã và các xã có sân vận động đa chức năng.
. Đảm bảo 100% số cán bộ văn hoá - thông tin - thể dục thể thao miền núi được đào tạo.
- Khoa học và công nghệ: đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất. Thành lập Trung tâm ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ vùng phục vụ sản xuất nông - lâm nghiệp: vừa là cơ quan nghiên cứu, triển khai ứng dụng các tiến bộ khoa học trên địa bàn, vừa là nơi cung ứng các nguồn giống và kỹ thuật cho nhân dân, góp phần đẩy mạnh sản xuất nông - lâm nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.