Document: Điều 1 Quyết định 59/1999/QĐ-UB chính sách phát triển cây ăn quả Lạng Sơn

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lạng Sơn", "promulgation_date": "13/10/1999", "sign_number": "59/1999/QĐ-UB", "signer": "Dương Công Đá", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lạng Sơn", "promulgation_date": "13/10/1999", "sign_number": "59/1999/QĐ-UB", "signer": "Dương Công Đá", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lạng Sơn", "promulgation_date": "13/10/1999", "sign_number": "59/1999/QĐ-UB", "signer": "Dương Công Đá", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lạng Sơn", "promulgation_date": "13/10/1999", "sign_number": "59/1999/QĐ-UB", "signer": "Dương Công Đá", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lạng Sơn", "promulgation_date": "13/10/1999", "sign_number": "59/1999/QĐ-UB", "signer": "Dương Công Đá", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 59/1999/QĐ-UB chính sách phát triển cây ăn quả Lạng Sơn có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt chương trình phát triển cây ăn quả thời kỳ 1999- 2010 với các nội dung chủ yếu sau:
1- Phương hướng mục tiêu:
Phát triển sản xuất một số cây ăn quả phục vụ nhu cầu của thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu với quy mô:
+ Diện tích: 24.100 ha.
+ Sản lượng: 140.250 tấn (Bình quân 100 kg quả/người/năm).
+ Cây chủ yếu là: Nhãn, Quýt, Hồng, Vải thiều, Na và những loại cây ăn quả đặc sản theo vùng đất đai, khí hậu thích hợp.
2- Về giải pháp:
a- Quy hoạch phát triển vùng cây ăn quả:
Trên cơ sở điều kiện khí hậu, đất đai và tập quán canh tác, bố trí:
- Vùng vải thiều, nhãn ở huyện Hữu Lũng, Nam Chi Lăng.
- Vùng quýt ở Bắc Sơn, Bình Gia.
- Vùng nhãn, vải thiều ở huyện Lộc Bình, Đình Lập.
- Vùng hồng ở huyện Cao Lộc, Văn Lãng, Thị xã.
- Vùng mận, mơ, lê ở Văn Quan, Bình Gia, Tràng Định.
- Vùng na ở huyện Chi Lăng, Hữu Lũng.
- Các vùng sâu, vùng xa, núi đá vôi trồng cây mác mặt và một số loại quả đặc sản dễ sơ chế, vận chuyển.
b- Về thị trường:
Chủ yếu tiêu thụ ở thị trường trong nước, đồng thời chuẩn bị tốt các điều kiện để sau năm 2010 có sản phẩm xuất khẩu sang các nước lân cận.
c- Về chính sách đầu tư và tín dụng:
- Mức đầu tư từ 15 - 20 triệu đồng/ha. Vốn đầu tư được huy động từ các nguồn vốn ngân sách, tín dụng, vốn tự có của nhân dân và các nguồn vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế,
- Vốn ngân sách hỗ trợ:
+ Xây dựng các vườn ươm cây giống tại các huyện và cụm xã có sản xuất cây ăn quả tập trung để cung cấp cây giống tại chỗ, giá thấp.
+ Điều tra, mở các hội thi tuyển chọn cây giống đầu dòng theo từng vùng, in ấn tài liệu, tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về cây ăn quả, hỗ trợ chi phí vận chuyển cây giống và quản lý dự án v.v...
+ Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như giao thông, thủy lợi, điện, công nghệ bảo quản, chế biến, ưu tiên cho các vùng sản xuất cây ăn quả tập trung.
- Vốn tín dụng:
+ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ngân hàng phục vụ Người nghèo cho vay ưu đãi trong thời kỳ kiến thiết cơ bản chưa phải trả gốc và lãi đối với vườn cây ăn quả có diện tích từ 2 ha trở lên. Khi có sản phẩm thu hoạch sẽ trả dần theo thời hạn cả gốc và lãi cụ thể đối với từng loại cây ăn quả (Nhãn 6 năm, vải, quýt, hồng 5 năm... Cây ăn quả ngắn ngày: Mận, Na... 3 năm) v.v...
+ Khuyến khích các doanh nghiệp và các hộ tư nhân đầu tư trồng, chế biến cây ăn quả, các doanh nghiệp và hộ tư nhân nếu có dự án về trồng, chế biến cây ăn quả được tỉnh phê duyệt được vay vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà nước.
d- Về khoa học kỹ thuật:
Trung tâm khuyến nông, Chi cục phát triển lâm nghiệp, Hội làm vườn và các cơ quan, tổ chức có chức năng chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật được ưu tiên sử dụng vốn ngân sách theo các dự án để tuyển chọn, nhân các giống cây ăn quả có chất lượng cao, chuyển giao đến các chủ vườn cây ăn quả và tổ chức bảo hiểm về giống cây ăn quả cho hộ nông dân. Sở Khoa học công nghệ và Môi trường cân đối nguồn vốn khoa học hàng năm để tuyển chọn và nhân các loại giống có năng suất và chất lượng cao.

Content:
Điều 1. Phê duyệt chương trình phát triển cây ăn quả thời kỳ 1999- 2010 với các nội dung chủ yếu sau:
1- Phương hướng mục tiêu:
Phát triển sản xuất một số cây ăn quả phục vụ nhu cầu của thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu với quy mô:
+ Diện tích: 24.100 ha.
+ Sản lượng: 140.250 tấn (Bình quân 100 kg quả/người/năm).
+ Cây chủ yếu là: Nhãn, Quýt, Hồng, Vải thiều, Na và những loại cây ăn quả đặc sản theo vùng đất đai, khí hậu thích hợp.
2- Về giải pháp:
a- Quy hoạch phát triển vùng cây ăn quả:
Trên cơ sở điều kiện khí hậu, đất đai và tập quán canh tác, bố trí:
- Vùng vải thiều, nhãn ở huyện Hữu Lũng, Nam Chi Lăng.
- Vùng quýt ở Bắc Sơn, Bình Gia.
- Vùng nhãn, vải thiều ở huyện Lộc Bình, Đình Lập.
- Vùng hồng ở huyện Cao Lộc, Văn Lãng, Thị xã.
- Vùng mận, mơ, lê ở Văn Quan, Bình Gia, Tràng Định.
- Vùng na ở huyện Chi Lăng, Hữu Lũng.
- Các vùng sâu, vùng xa, núi đá vôi trồng cây mác mặt và một số loại quả đặc sản dễ sơ chế, vận chuyển.
b- Về thị trường:
Chủ yếu tiêu thụ ở thị trường trong nước, đồng thời chuẩn bị tốt các điều kiện để sau năm 2010 có sản phẩm xuất khẩu sang các nước lân cận.
c- Về chính sách đầu tư và tín dụng:
- Mức đầu tư từ 15 - 20 triệu đồng/ha. Vốn đầu tư được huy động từ các nguồn vốn ngân sách, tín dụng, vốn tự có của nhân dân và các nguồn vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế,
- Vốn ngân sách hỗ trợ:
+ Xây dựng các vườn ươm cây giống tại các huyện và cụm xã có sản xuất cây ăn quả tập trung để cung cấp cây giống tại chỗ, giá thấp.
+ Điều tra, mở các hội thi tuyển chọn cây giống đầu dòng theo từng vùng, in ấn tài liệu, tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về cây ăn quả, hỗ trợ chi phí vận chuyển cây giống và quản lý dự án v.v...
+ Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như giao thông, thủy lợi, điện, công nghệ bảo quản, chế biến, ưu tiên cho các vùng sản xuất cây ăn quả tập trung.
- Vốn tín dụng:
+ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ngân hàng phục vụ Người nghèo cho vay ưu đãi trong thời kỳ kiến thiết cơ bản chưa phải trả gốc và lãi đối với vườn cây ăn quả có diện tích từ 2 ha trở lên. Khi có sản phẩm thu hoạch sẽ trả dần theo thời hạn cả gốc và lãi cụ thể đối với từng loại cây ăn quả (Nhãn 6 năm, vải, quýt, hồng 5 năm... Cây ăn quả ngắn ngày: Mận, Na... 3 năm) v.v...
+ Khuyến khích các doanh nghiệp và các hộ tư nhân đầu tư trồng, chế biến cây ăn quả, các doanh nghiệp và hộ tư nhân nếu có dự án về trồng, chế biến cây ăn quả được tỉnh phê duyệt được vay vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà nước.
d- Về khoa học kỹ thuật:
Trung tâm khuyến nông, Chi cục phát triển lâm nghiệp, Hội làm vườn và các cơ quan, tổ chức có chức năng chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật được ưu tiên sử dụng vốn ngân sách theo các dự án để tuyển chọn, nhân các giống cây ăn quả có chất lượng cao, chuyển giao đến các chủ vườn cây ăn quả và tổ chức bảo hiểm về giống cây ăn quả cho hộ nông dân. Sở Khoa học công nghệ và Môi trường cân đối nguồn vốn khoa học hàng năm để tuyển chọn và nhân các loại giống có năng suất và chất lượng cao.