Document: Điểm b Khoản 4 Điều 1 Quyết định 3238/QĐ-UBND 2023 Đề án bảo tồn làng nghề Nghệ An 2023 2030

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "10/10/2023", "sign_number": "3238/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đệ", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "10/10/2023", "sign_number": "3238/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đệ", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "10/10/2023", "sign_number": "3238/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đệ", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "10/10/2023", "sign_number": "3238/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đệ", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "10/10/2023", "sign_number": "3238/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Đệ", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 4 Điều 1 Quyết định 3238/QĐ-UBND 2023 Đề án bảo tồn làng nghề Nghệ An 2023 2030

Điều 1. Phê duyệt Đề án Bảo tồn và phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2023-2030 (sau đây gọi tắt là Đề án), với những nội dung sau:
...
4. Huy động tối đa các nguồn lực xã hội và sự hỗ trợ của Nhà nước để bảo tồn và phát triển làng nghề. Phát triển hài hòa các cơ sở ngành nghề quy mô vừa và nhỏ, đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề, kết hợp công nghệ hiện đại với công nghệ truyền thống để phát huy hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
Bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề nhằm gìn giữ và phát huy các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của làng nghề tỉnh Nghệ An, thúc đẩy phát triển sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, giá trị gia tăng cho các sản phẩm làng nghề; tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân; bảo vệ cảnh quan, không gian và môi trường, xây dựng các khu dân cư, làng văn hóa, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn bền vững.
2. Mục tiêu cụ thể
...
b) Đến năm 2030
- Khôi phục, bảo tồn được ít nhất 02 nghề truyền thống và 02 làng nghề truyền thống có nguy cơ mai một, thất truyền;
- Công nhận mới ít nhất 30 làng nghề, 3 làng nghề truyền thống, trong đó có 04 làng nghề gắn với du lịch.
- Trên 80% làng nghề, làng nghề truyền thống hoạt động có hiệu quả;
- Có ít nhất 95% người lao động trong làng nghề được đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng nghề, kỹ năng vệ sinh an toàn lao động và kiến thức công nghệ thông tin cơ bản; Phấn đấu mỗi năm tổ chức từ 02 - 03 lớp dạy nghề, truyền nghề tại các làng nghề;
- Có ít nhất 01 làng nghề truyền thống và 12 làng nghề có sản phẩm được phân hạng theo Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP);
- Có ít nhất 20% số làng nghề có sản phẩm được bảo hộ sở hữu thương hiệu; thành lập ít nhất 20 Hợp tác xã trong làng nghề để đẩy mạnh liên kết theo chuỗi giá trị;
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân các làng nghề đạt khoảng 10%/năm;
- Thu nhập bình quân của lao động tăng ít nhất 2 lần so với năm 2020;
- Nâng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề đạt khoảng 8,5 triệu USD/năm;
- 100% cơ sở, hộ gia đình sản xuất trong làng nghề đáp ứng các quy định về bảo vệ môi trường.
(Có Phụ biểu 01 kèm theo)
III. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ ÁN
1. Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, chính quyền các cấp và vai trò nghệ nhân, thợ giỏi
- Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, chính quyền các cấp trong việc bảo tồn và phát triển làng nghề; coi đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên trong việc tạo việc làm, phát triển kinh tế của địa phương, đặc biệt vùng nông thôn.
- Duy trì và phát triển đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi, tạo nòng cốt thúc đẩy công tác đào tạo, truyền nghề, thực hành nghề thủ công truyền thông, lan tỏa các giá trị của di sản văn hóa nghề truyền thống trong cộng đồng, đặc biệt đối với thế hệ trẻ; bảo tồn, phát triển kỹ năng nghề truyền thống, sáng tạo thêm nhiều sản phẩm, tác phẩm mới có giá trị.
- Sưu tầm, lưu giữ và tổ chức trưng bày các tác phẩm tiêu biểu, đặc sắc của các nghệ nhân, thợ giỏi, nghệ nhân tiêu biểu các cấp.
- Tổ chức lựa chọn để đề nghị Trung ương phong tặng, tôn vinh các danh hiệu thợ giỏi, nghệ nhân, bảng vàng gia tộc nghề truyền thống Việt Nam và các sản phẩm làng nghề tiêu biểu.
2. Bảo tồn và phát triển làng nghề gắn với nông nghiệp, nông dân, nông thôn một cách bền vững và đảm bảo môi trường sinh thái
- Gắn quy hoạch bảo tồn, phát triển các làng nghề với quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại mỗi địa phương, xây dựng vùng nguyên liệu ổn định cho các làng nghề phát triển một cách bền vững và đảm bảo môi trường sinh thái.
- Thực hiện sưu tầm, thu thập và bảo tồn, lưu giữ tư liệu về giá trị truyền thống của các làng nghề.
- Rà soát chuyển đổi một số làng nghề khó khăn về thị trường thông qua sự hỗ trợ về vốn đầu tư, đào tạo nghề, tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện cho các làng nghề được phục hồi và phát triển.
- Hỗ trợ việc chuyển giao công nghệ, cải tiến mẫu mã, kiểm tra chất lượng sản phẩm; tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước thông qua các hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm, cung cấp thông tin thị trường.
- Xây dựng nguồn nhân lực cho các làng nghề, khuyến khích, hỗ trợ kinh phí để các địa phương có nghề truyền thống mở các lớp đào tạo tại thôn, bản để người có tay nghề cao, các nghệ nhân truyền dạy, đào tạo cho các thế hệ trẻ để trở thành lớp kế cận.
3. Bảo tồn và phát triển làng nghề đảm bảo các giá trị văn hóa truyền thống gắn với du lịch cộng đồng và xây dựng nông thôn mới
- Phục hồi, tôn tạo các di tích liên quan đến giá trị văn hóa nghề, làng nghề truyền thống (không gian làm nghề, cảnh quan làng nghề,...); khôi phục, tổ chức các lễ hội, hoạt động văn hóa dân gian, phát huy các giá trị văn hóa của nghề và làng nghề trong xây dựng môi trường du lịch văn hóa. Sản phẩm có đóng góp vào bảo tồn văn hóa truyền thống như: Dệt Thổ Cẩm, Đan lát, Các lễ hội: Pu Nhạ Thầu Kỳ Sơn; Đền 9 Gian Quế Phong; Đền Vạn Tương Dương; Làng Vạc thị xã Thái Hòa; sản xuất muối ở Quỳnh Lưu...
- Phát triển các đặc sản, sản phẩm làng nghề gắn với lợi thế về điều kiện sản xuất, giá trị văn hóa địa phương, như: Các sản phẩm Mây tre đan, Thổ cẩm ở các huyện miền núi; Rươi ở huyện Hưng Nguyên; Nhút, Trám Thanh Chương; Lươn Yên Thành; Tương Nam Đàn. Các sản phẩm chế biến từ tôm, cá biển, nước mắm, lạc ở Diễn Châu, Quỳnh Lưu và Thị xã Hoàng Mai,... gắn với phát triển du lịch và góp phần xây dựng nông thôn mới của địa phương.
- Khuyến khích các làng nghề khai thác tiềm năng về đất đai, sản vật, lợi thế so sánh của các địa phương, đặc biệt là các giá trị truyền thống mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao giá trị hàng hóa làm tăng thu nhập và góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân khu vực nông thôn.
Bảo tồn và phát triển các làng nghề phải mang tính đa giá trị và gắn với thị trường tiêu thụ
- Thúc đẩy phát triển ngành nghề sản xuất, kinh doanh các sản phẩm theo nhu cầu của thị trường, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương thông qua các hình thức du nhập, học tập, phổ biến, nhân rộng từ các mô hình, làng nghề, làng nghề truyền thống đang hoạt động có hiệu quả.
- Khôi phục, bảo tồn, lưu giữ nét văn hóa truyền thống trong sản phẩm, bí quyết nghề, đồng thời thiết kế những sản phẩm mới phù hợp với thị trường, nâng cao năng lực sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và bảo vệ cảnh quan, môi trường làng nghề.
- Đẩy mạnh phát triển ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn, trước hết tập trung phát triển làng nghề mới, ngành nghề mới từ những làng nghề thuần nông, làng nghề muối, nghề phi nông nghiệp...
- Khôi phục và phát triển nghề sản xuất phi nông nghiệp phù hợp với điều kiện địa lý, kinh tế và hướng phát triển của địa phương
+ Trong giai đoạn 2023-2025: Có ít nhất 18 làng nghề được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận, tập trung ở các huyện Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Kỳ Sơn...
+ Trong giai đoạn 2026-2030: Có ít nhất 30 làng nghề được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận, tập trung ở các huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Kỳ Sơn...
(Có Phụ biểu 02 kèm theo)
IV. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức về Bảo tồn và phát triển làng nghề trên các phương tiện thông tin đại chúng từ tỉnh đến cơ sở; gắn kết và lồng ghép với hoạt động tuyên truyền trong xây dựng nông thôn mới để cán bộ, người dân, nhất là các thành viên làng nghề, các cơ sở sản xuất, kinh doanh hiểu rõ lợi ích, giá trị kinh tế đặc biệt là ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm, phong trào chống rác thải nhựa và sử dụng sản phẩm truyền thống, thân thiện với môi trường nhằm bảo vệ sức khỏe cho người lao động và cộng đồng dân cư để tích cực tham gia thực hiện bảo tồn và phát triển làng nghề.
- Đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền qua báo, đài phát thanh và truyền hình, hội nghị, hội thảo, chia sẻ kinh nghiệm; xây dựng các chuyên mục, các trang thông tin điện tử về gương điển hình, mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả của các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt về làng nghề, nghề truyền thống, làng nghề truyền thống dưới các hình thức sách, báo, tờ gấp, đĩa CD, VCD, DVD, bảng tuyên truyền, chỉ dẫn làng nghề để quảng bá những sản phẩm với cộng đồng và khách du lịch.
2. Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho các làng nghề
- Tập trung hỗ trợ, tạo điều kiện cho các nghệ nhân, thợ giỏi tham gia các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng dạy học, thiết kế mẫu mã sản phẩm và xu hướng thị trường; khuyến khích, hỗ trợ nghệ nhân, thợ giỏi tham gia đào tạo, truyền nghề cho người lao động, đặc biệt là thế hệ trẻ và những người có nhu cầu học nghề nhằm duy trì, bảo tồn giá trị truyền thống của các làng nghề.
- Hỗ trợ đào tạo cho người lao động tại làng nghề nâng cao trình độ kỹ năng nghề, vệ sinh an toàn lao động, kiến thức công nghệ thông tin cơ bản; hỗ trợ, đào tạo người sử dụng lao động tại làng nghề nâng cao kỹ năng quản lý, chuyển đổi số kiến thức kinh doanh.
- Phát triển mô hình liên kết giữa các hiệp hội chuyên ngành, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo nghề để thực hiện công tác đào tạo nguồn nhân lực.
- Lồng ghép đào tạo nâng cao năng lực quản trị cho các chủ thể là các doanh nghiệp, Hợp tác xã, Tổ hợp tác, Hộ kinh doanh của các làng nghề tham gia chương trình OCOP.
3. Tăng cường ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ tiên tiến, khuyến khích sự sáng tạo trong các làng nghề
- Đẩy mạnh khuyến khích áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, công nghệ mới, công nghệ theo hướng bền vững vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, đặc biệt là áp dụng khoa học kỹ thuật mới nhằm giảm sức lao động trong sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Hỗ trợ đầu tư mua trang thiết bị máy móc tiên tiến, sử dụng nguyên liệu thân thiện với môi trường nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề.
- Tăng cường cơ chế hỗ trợ vốn đầu tư phục vụ mục đích đổi mới công nghệ, thực hiện ưu đãi tín dụng và hỗ trợ vốn đối với những ngành nghề và cơ sở sản xuất áp dụng công nghệ tiên tiến. Phát triển các hoạt động thông tin tư vấn và chuyển giao công nghệ trong sản xuất làng nghề.
- Khuyến khích các tổ chức, đơn vị, cá nhân tham gia các chương trình, đề tài khoa học, dự án khôi phục kỹ thuật nghề truyền thống, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ kết hợp với sử dụng kỹ thuật, công nghệ truyền thống, nghiên cứu, thử nghiệm sản phẩm mới của làng nghề.
- Xây dựng kế hoạch, lộ trình để từng bước tiến tới thực hiện triệt để việc tách khu sản xuất của các làng nghề ra khỏi khu dân cư. Triển khai thực hiện việc di dời các cơ sở sản xuất ra khu, cụm công nghiệp làng nghề.
- Tập trung chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện phương án bảo vệ môi trường làng nghề đối với các địa phương có làng nghề.
- Hỗ trợ các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp cải thiện điều kiện sản xuất, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc tế đối với các sản phẩm xuất khẩu chủ lực.
Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, cải tiến mẫu mã, hoàn thiện sản phẩm của làng nghề, nghề truyền thống gắn với phát triển sản phẩm OCOP và phát triển du lịch
- Triển khai các hoạt động tuyên truyền, quảng bá cho các sản phẩm làng nghề dưới nhiều hình thức trên các phương tiện thông tin đại chúng, chú trọng quảng bá trên trang web, fanpage trên mạng xã hội nhằm quảng bá cho các sản phẩm; xây dựng ấn phẩm, tờ rơi, panô, khẩu hiệu, băng hình (video, clip) để tăng cường nội dung thông tin, tuyên truyền,...đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề thông qua các hoạt động như: Hội nghị kết nối cung - cầu, hội chợ, triển lãm, sự kiện,...
- Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế, xây dựng và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm làng nghề theo các chương trình, kế hoạch xúc tiến thương mại, Chương trình OCOP; hỗ trợ các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp tại làng nghề xây dựng trang thông tin điện tử giới thiệu, quảng bá sản phẩm, bán hàng trực tuyến.
- Khuyến khích, tạo điều kiện để đưa các sản phẩm làng nghề vào các điểm giới thiệu và bán hàng sản phẩm OCOP.
- Hỗ trợ các cơ sở sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, hệ thống truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn địa lý, bộ nhận diện thương hiệu cho các sản phẩm; hướng dẫn, hỗ trợ các chủ thể sản xuất tại các làng nghề lập hồ sơ tham gia đánh giá, xếp hạng sản phẩm OCOP.
- Tổ chức các hoạt động du lịch trong không gian văn hóa của làng nghề, kết nối các đơn vị lữ hành để xây dựng và giới các tour tham quan du lịch làng nghề (tour du lịch trải nghiệm, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái,…) và gắn với việc giới thiệu, quảng bá các sản phẩm của làng nghề nhằm hoàn thiện các sản phẩm quà tặng đặc trưng và hình thành các tour du lịch về các làng nghề trong tỉnh”.

Content:
Đến năm 2030
- Khôi phục, bảo tồn được ít nhất 02 nghề truyền thống và 02 làng nghề truyền thống có nguy cơ mai một, thất truyền;
- Công nhận mới ít nhất 30 làng nghề, 3 làng nghề truyền thống, trong đó có 04 làng nghề gắn với du lịch.
- Trên 80% làng nghề, làng nghề truyền thống hoạt động có hiệu quả;
- Có ít nhất 95% người lao động trong làng nghề được đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng nghề, kỹ năng vệ sinh an toàn lao động và kiến thức công nghệ thông tin cơ bản; Phấn đấu mỗi năm tổ chức từ 02 - 03 lớp dạy nghề, truyền nghề tại các làng nghề;
- Có ít nhất 01 làng nghề truyền thống và 12 làng nghề có sản phẩm được phân hạng theo Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP);
- Có ít nhất 20% số làng nghề có sản phẩm được bảo hộ sở hữu thương hiệu; thành lập ít nhất 20 Hợp tác xã trong làng nghề để đẩy mạnh liên kết theo chuỗi giá trị;
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân các làng nghề đạt khoảng 10%/năm;
- Thu nhập bình quân của lao động tăng ít nhất 2 lần so với năm 2020;
- Nâng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề đạt khoảng 8,5 triệu USD/năm;
- 100% cơ sở, hộ gia đình sản xuất trong làng nghề đáp ứng các quy định về bảo vệ môi trường.
(Có Phụ biểu 01 kèm theo)
III. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ ÁN
1. Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, chính quyền các cấp và vai trò nghệ nhân, thợ giỏi
- Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, chính quyền các cấp trong việc bảo tồn và phát triển làng nghề; coi đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên trong việc tạo việc làm, phát triển kinh tế của địa phương, đặc biệt vùng nông thôn.
- Duy trì và phát triển đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi, tạo nòng cốt thúc đẩy công tác đào tạo, truyền nghề, thực hành nghề thủ công truyền thông, lan tỏa các giá trị của di sản văn hóa nghề truyền thống trong cộng đồng, đặc biệt đối với thế hệ trẻ; bảo tồn, phát triển kỹ năng nghề truyền thống, sáng tạo thêm nhiều sản phẩm, tác phẩm mới có giá trị.
- Sưu tầm, lưu giữ và tổ chức trưng bày các tác phẩm tiêu biểu, đặc sắc của các nghệ nhân, thợ giỏi, nghệ nhân tiêu biểu các cấp.
- Tổ chức lựa chọn để đề nghị Trung ương phong tặng, tôn vinh các danh hiệu thợ giỏi, nghệ nhân, bảng vàng gia tộc nghề truyền thống Việt Nam và các sản phẩm làng nghề tiêu biểu.
2. Bảo tồn và phát triển làng nghề gắn với nông nghiệp, nông dân, nông thôn một cách bền vững và đảm bảo môi trường sinh thái
- Gắn quy hoạch bảo tồn, phát triển các làng nghề với quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại mỗi địa phương, xây dựng vùng nguyên liệu ổn định cho các làng nghề phát triển một cách bền vững và đảm bảo môi trường sinh thái.
- Thực hiện sưu tầm, thu thập và bảo tồn, lưu giữ tư liệu về giá trị truyền thống của các làng nghề.
- Rà soát chuyển đổi một số làng nghề khó khăn về thị trường thông qua sự hỗ trợ về vốn đầu tư, đào tạo nghề, tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện cho các làng nghề được phục hồi và phát triển.
- Hỗ trợ việc chuyển giao công nghệ, cải tiến mẫu mã, kiểm tra chất lượng sản phẩm; tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước thông qua các hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm, cung cấp thông tin thị trường.
- Xây dựng nguồn nhân lực cho các làng nghề, khuyến khích, hỗ trợ kinh phí để các địa phương có nghề truyền thống mở các lớp đào tạo tại thôn, bản để người có tay nghề cao, các nghệ nhân truyền dạy, đào tạo cho các thế hệ trẻ để trở thành lớp kế cận.
3. Bảo tồn và phát triển làng nghề đảm bảo các giá trị văn hóa truyền thống gắn với du lịch cộng đồng và xây dựng nông thôn mới
- Phục hồi, tôn tạo các di tích liên quan đến giá trị văn hóa nghề, làng nghề truyền thống (không gian làm nghề, cảnh quan làng nghề,...); khôi phục, tổ chức các lễ hội, hoạt động văn hóa dân gian, phát huy các giá trị văn hóa của nghề và làng nghề trong xây dựng môi trường du lịch văn hóa. Sản phẩm có đóng góp vào bảo tồn văn hóa truyền thống như: Dệt Thổ Cẩm, Đan lát, Các lễ hội: Pu Nhạ Thầu Kỳ Sơn; Đền 9 Gian Quế Phong; Đền Vạn Tương Dương; Làng Vạc thị xã Thái Hòa; sản xuất muối ở Quỳnh Lưu...
- Phát triển các đặc sản, sản phẩm làng nghề gắn với lợi thế về điều kiện sản xuất, giá trị văn hóa địa phương, như: Các sản phẩm Mây tre đan, Thổ cẩm ở các huyện miền núi; Rươi ở huyện Hưng Nguyên; Nhút, Trám Thanh Chương; Lươn Yên Thành; Tương Nam Đàn. Các sản phẩm chế biến từ tôm, cá biển, nước mắm, lạc ở Diễn Châu, Quỳnh Lưu và Thị xã Hoàng Mai,... gắn với phát triển du lịch và góp phần xây dựng nông thôn mới của địa phương.
- Khuyến khích các làng nghề khai thác tiềm năng về đất đai, sản vật, lợi thế so sánh của các địa phương, đặc biệt là các giá trị truyền thống mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao giá trị hàng hóa làm tăng thu nhập và góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân khu vực nông thôn.
Bảo tồn và phát triển các làng nghề phải mang tính đa giá trị và gắn với thị trường tiêu thụ
- Thúc đẩy phát triển ngành nghề sản xuất, kinh doanh các sản phẩm theo nhu cầu của thị trường, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương thông qua các hình thức du nhập, học tập, phổ biến, nhân rộng từ các mô hình, làng nghề, làng nghề truyền thống đang hoạt động có hiệu quả.
- Khôi phục, bảo tồn, lưu giữ nét văn hóa truyền thống trong sản phẩm, bí quyết nghề, đồng thời thiết kế những sản phẩm mới phù hợp với thị trường, nâng cao năng lực sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và bảo vệ cảnh quan, môi trường làng nghề.
- Đẩy mạnh phát triển ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn, trước hết tập trung phát triển làng nghề mới, ngành nghề mới từ những làng nghề thuần nông, làng nghề muối, nghề phi nông nghiệp...
- Khôi phục và phát triển nghề sản xuất phi nông nghiệp phù hợp với điều kiện địa lý, kinh tế và hướng phát triển của địa phương
+ Trong giai đoạn 2023-2025: Có ít nhất 18 làng nghề được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận, tập trung ở các huyện Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Kỳ Sơn...
+ Trong giai đoạn 2026-2030: Có ít nhất 30 làng nghề được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận, tập trung ở các huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Kỳ Sơn...
(Có Phụ biểu 02 kèm theo)
IV. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức về Bảo tồn và phát triển làng nghề trên các phương tiện thông tin đại chúng từ tỉnh đến cơ sở; gắn kết và lồng ghép với hoạt động tuyên truyền trong xây dựng nông thôn mới để cán bộ, người dân, nhất là các thành viên làng nghề, các cơ sở sản xuất, kinh doanh hiểu rõ lợi ích, giá trị kinh tế đặc biệt là ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm, phong trào chống rác thải nhựa và sử dụng sản phẩm truyền thống, thân thiện với môi trường nhằm bảo vệ sức khỏe cho người lao động và cộng đồng dân cư để tích cực tham gia thực hiện bảo tồn và phát triển làng nghề.
- Đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền qua báo, đài phát thanh và truyền hình, hội nghị, hội thảo, chia sẻ kinh nghiệm; xây dựng các chuyên mục, các trang thông tin điện tử về gương điển hình, mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả của các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt về làng nghề, nghề truyền thống, làng nghề truyền thống dưới các hình thức sách, báo, tờ gấp, đĩa CD, VCD, DVD, bảng tuyên truyền, chỉ dẫn làng nghề để quảng bá những sản phẩm với cộng đồng và khách du lịch.
2. Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho các làng nghề
- Tập trung hỗ trợ, tạo điều kiện cho các nghệ nhân, thợ giỏi tham gia các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng dạy học, thiết kế mẫu mã sản phẩm và xu hướng thị trường; khuyến khích, hỗ trợ nghệ nhân, thợ giỏi tham gia đào tạo, truyền nghề cho người lao động, đặc biệt là thế hệ trẻ và những người có nhu cầu học nghề nhằm duy trì, bảo tồn giá trị truyền thống của các làng nghề.
- Hỗ trợ đào tạo cho người lao động tại làng nghề nâng cao trình độ kỹ năng nghề, vệ sinh an toàn lao động, kiến thức công nghệ thông tin cơ bản; hỗ trợ, đào tạo người sử dụng lao động tại làng nghề nâng cao kỹ năng quản lý, chuyển đổi số kiến thức kinh doanh.
- Phát triển mô hình liên kết giữa các hiệp hội chuyên ngành, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo nghề để thực hiện công tác đào tạo nguồn nhân lực.
- Lồng ghép đào tạo nâng cao năng lực quản trị cho các chủ thể là các doanh nghiệp, Hợp tác xã, Tổ hợp tác, Hộ kinh doanh của các làng nghề tham gia chương trình OCOP.
3. Tăng cường ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ tiên tiến, khuyến khích sự sáng tạo trong các làng nghề
- Đẩy mạnh khuyến khích áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, công nghệ mới, công nghệ theo hướng bền vững vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, đặc biệt là áp dụng khoa học kỹ thuật mới nhằm giảm sức lao động trong sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Hỗ trợ đầu tư mua trang thiết bị máy móc tiên tiến, sử dụng nguyên liệu thân thiện với môi trường nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề.
- Tăng cường cơ chế hỗ trợ vốn đầu tư phục vụ mục đích đổi mới công nghệ, thực hiện ưu đãi tín dụng và hỗ trợ vốn đối với những ngành nghề và cơ sở sản xuất áp dụng công nghệ tiên tiến. Phát triển các hoạt động thông tin tư vấn và chuyển giao công nghệ trong sản xuất làng nghề.
- Khuyến khích các tổ chức, đơn vị, cá nhân tham gia các chương trình, đề tài khoa học, dự án khôi phục kỹ thuật nghề truyền thống, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ kết hợp với sử dụng kỹ thuật, công nghệ truyền thống, nghiên cứu, thử nghiệm sản phẩm mới của làng nghề.
- Xây dựng kế hoạch, lộ trình để từng bước tiến tới thực hiện triệt để việc tách khu sản xuất của các làng nghề ra khỏi khu dân cư. Triển khai thực hiện việc di dời các cơ sở sản xuất ra khu, cụm công nghiệp làng nghề.
- Tập trung chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện phương án bảo vệ môi trường làng nghề đối với các địa phương có làng nghề.
- Hỗ trợ các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp cải thiện điều kiện sản xuất, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc tế đối với các sản phẩm xuất khẩu chủ lực.
Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, cải tiến mẫu mã, hoàn thiện sản phẩm của làng nghề, nghề truyền thống gắn với phát triển sản phẩm OCOP và phát triển du lịch
- Triển khai các hoạt động tuyên truyền, quảng bá cho các sản phẩm làng nghề dưới nhiều hình thức trên các phương tiện thông tin đại chúng, chú trọng quảng bá trên trang web, fanpage trên mạng xã hội nhằm quảng bá cho các sản phẩm; xây dựng ấn phẩm, tờ rơi, panô, khẩu hiệu, băng hình (video, clip) để tăng cường nội dung thông tin, tuyên truyền,...đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề thông qua các hoạt động như: Hội nghị kết nối cung - cầu, hội chợ, triển lãm, sự kiện,...
- Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế, xây dựng và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm làng nghề theo các chương trình, kế hoạch xúc tiến thương mại, Chương trình OCOP; hỗ trợ các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp tại làng nghề xây dựng trang thông tin điện tử giới thiệu, quảng bá sản phẩm, bán hàng trực tuyến.
- Khuyến khích, tạo điều kiện để đưa các sản phẩm làng nghề vào các điểm giới thiệu và bán hàng sản phẩm OCOP.
- Hỗ trợ các cơ sở sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, hệ thống truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn địa lý, bộ nhận diện thương hiệu cho các sản phẩm; hướng dẫn, hỗ trợ các chủ thể sản xuất tại các làng nghề lập hồ sơ tham gia đánh giá, xếp hạng sản phẩm OCOP.
- Tổ chức các hoạt động du lịch trong không gian văn hóa của làng nghề, kết nối các đơn vị lữ hành để xây dựng và giới các tour tham quan du lịch làng nghề (tour du lịch trải nghiệm, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái,…) và gắn với việc giới thiệu, quảng bá các sản phẩm của làng nghề nhằm hoàn thiện các sản phẩm quà tặng đặc trưng và hình thành các tour du lịch về các làng nghề trong tỉnh”.