Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 457/QĐ-BKHĐT phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế

Type: {"issuing_agency": "Bộ Kế hoạch và Đầu tư", "promulgation_date": "05/04/2011", "sign_number": "457/QĐ-BKHĐT", "signer": "Võ Hồng Phúc", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Kế hoạch và Đầu tư", "promulgation_date": "05/04/2011", "sign_number": "457/QĐ-BKHĐT", "signer": "Võ Hồng Phúc", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Kế hoạch và Đầu tư", "promulgation_date": "05/04/2011", "sign_number": "457/QĐ-BKHĐT", "signer": "Võ Hồng Phúc", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Kế hoạch và Đầu tư", "promulgation_date": "05/04/2011", "sign_number": "457/QĐ-BKHĐT", "signer": "Võ Hồng Phúc", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Kế hoạch và Đầu tư", "promulgation_date": "05/04/2011", "sign_number": "457/QĐ-BKHĐT", "signer": "Võ Hồng Phúc", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 457/QĐ-BKHĐT phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 (sau đây gọi tắt là quy hoạch vùng) với những nội dung chủ yếu sau:
...
2. Mục tiêu phát triển:
2.1. Mục tiêu chung:
Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững vùng biển đảo Cô Tô để sóm thoát khỏi tình trạng khó khăn, chậm phát triển hiện nay, tiến tới xây dựng Cô Tô thành một vùng đảo có kinh tế năng động, một trọng điểm phát triển trong chiến lược phát triển kinh tế biển đảo của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và Chiến lược biển cả nước nói chung; đồng thời là căn cứ vững chắc để bảo vệ quốc phòng an ninh và chủ quyền quốc gia vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Trong đó, giai đoạn đầu chủ yếu phát triển thủy sản, sau chuyển dần sang du lịch – dịch vụ, nhất là dịch vụ biển và công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
2.2. Một số mục tiêu cụ thể:
- Đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 17% - 18%/năm, trong đó giai đoạn 2011 – 2015 đạt 20%/năm và giai đoạn 2016 – 2020 khoảng 15% - 16%/năm; nâng mức thu nhập bình quân đầu người từ 4,9 triệu đồng hiện nay lên hơn 10 triệu đồng năm 2015 và 17 triệu đồng vào năm 2020.
- Tạo sự chuyển biến căn bản và vững chắc trong cơ cấu kinh tế của vùng theo hướng hiện đại, giảm mạnh tỷ trọng nông lâm nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng các ngành dịch vụ (đặc biệt là du lịch) và công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp. Đến năm 2015, giá trị gia tăng khu vực dịch vụ chiếm khoảng 25,4% (riêng du lịch chiếm 17%); công nghiệp – xây dựng chiếm 29,1% (riêng công nghiệp chiếm gần 18%); ngành nông lâm nghiệp (trừ thủy sản) giảm mạnh chỉ còn khoảng 6,4% trong tổng giá trị gia tăng toàn vùng. Năm 2020 dịch vụ chiếm 33,7% (riêng du lịch chiếm 24,2%); công nghiệp – xây dựng chiếm 30,5% (riêng công nghiệp chiếm 21,4%) và nông lâm nghiệp chỉ còn 3,7% (trừ thủy sản).
- Duy trì và củng cố vững chắc thành quả phổ cập trung học cơ sở đúng độ tuổi, từng bước thực hiện phổ cập trung học phổ thông trong vùng đảo. Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của vùng lên hơn 20% năm 2015 và 45 – 50% vào năm 2020, đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh của vùng, nhất là phát triển du lịch.
- Hoàn thiện mạng lưới y tế cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và cán bộ y tế. Đến năm 2020 toàn bộ các trạm y tế cơ sở trong vùng có bác sỹ.
- Đến năm 2020 về cơ bản hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu trên vùng đảo. Xây dựng hoàn chỉnh các bến cảng và các tuyến giao thông chính trên các đảo, bảo đảm đi lại thuận tiện giữa các đảo và giữa vùng đảo với đất tiền. Hoàn thành các công trình cấp điện và nước ngọt, đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng an ninh của vùng.
- Nâng tỷ lệ che phủ rừng năm 2020 lên khoảng 60%, bảo đảm chức năng phòng hộ duy trì nguồn nước và đóng góp ngày càng nhiều cho nền kinh tế. Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, bảo đảm phát triển bền vững. Bảo vệ môi trường sinh thái trên các đảo, nhất là các khu du lịch và môi trường biển, ven biển.
- Bảo đảm quốc phòng an ninh, giữ vững an ninh chính trị và chủ quyền quốc gia trên vùng biển đảo Đông Bắc. Ngăn chặn kịp thời các hoạt động buôn lậu và xâm phạm chủ quyền của tầu thuyền nước ngoài đánh bắt trộm hải sản.
- Đến năm 2015 cơ bản hoàn thành các công trình hạ tầng thiết yếu trên vùng đảo như: các công trình cấp điện, cấp nước ngọt, các bến cảng, các tuyến giao thông chính trên các đảo, các trường học, bệnh viện, hạ tầng thông tin – truyền thông… bảo đảm đáp ứng đủ nhu cầu cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng an ninh của vùng.

Content:
Mục tiêu phát triển:
2.1. Mục tiêu chung:
Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững vùng biển đảo Cô Tô để sóm thoát khỏi tình trạng khó khăn, chậm phát triển hiện nay, tiến tới xây dựng Cô Tô thành một vùng đảo có kinh tế năng động, một trọng điểm phát triển trong chiến lược phát triển kinh tế biển đảo của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và Chiến lược biển cả nước nói chung; đồng thời là căn cứ vững chắc để bảo vệ quốc phòng an ninh và chủ quyền quốc gia vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Trong đó, giai đoạn đầu chủ yếu phát triển thủy sản, sau chuyển dần sang du lịch – dịch vụ, nhất là dịch vụ biển và công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
2.Một số mục tiêu cụ thể:
- Đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 17% - 18%/năm, trong đó giai đoạn 2011 – 2015 đạt 20%/năm và giai đoạn 2016 – 2020 khoảng 15% - 16%/năm; nâng mức thu nhập bình quân đầu người từ 4,9 triệu đồng hiện nay lên hơn 10 triệu đồng năm 2015 và 17 triệu đồng vào năm 2020.
- Tạo sự chuyển biến căn bản và vững chắc trong cơ cấu kinh tế của vùng theo hướng hiện đại, giảm mạnh tỷ trọng nông lâm nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng các ngành dịch vụ (đặc biệt là du lịch) và công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp. Đến năm 2015, giá trị gia tăng khu vực dịch vụ chiếm khoảng 25,4% (riêng du lịch chiếm 17%); công nghiệp – xây dựng chiếm 29,1% (riêng công nghiệp chiếm gần 18%); ngành nông lâm nghiệp (trừ thủy sản) giảm mạnh chỉ còn khoảng 6,4% trong tổng giá trị gia tăng toàn vùng. Năm 2020 dịch vụ chiếm 33,7% (riêng du lịch chiếm 24,2%); công nghiệp – xây dựng chiếm 30,5% (riêng công nghiệp chiếm 21,4%) và nông lâm nghiệp chỉ còn 3,7% (trừ thủy sản).
- Duy trì và củng cố vững chắc thành quả phổ cập trung học cơ sở đúng độ tuổi, từng bước thực hiện phổ cập trung học phổ thông trong vùng đảo. Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của vùng lên hơn 20% năm 2015 và 45 – 50% vào năm 2020, đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh của vùng, nhất là phát triển du lịch.
- Hoàn thiện mạng lưới y tế cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và cán bộ y tế. Đến năm 2020 toàn bộ các trạm y tế cơ sở trong vùng có bác sỹ.
- Đến năm 2020 về cơ bản hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu trên vùng đảo. Xây dựng hoàn chỉnh các bến cảng và các tuyến giao thông chính trên các đảo, bảo đảm đi lại thuận tiện giữa các đảo và giữa vùng đảo với đất tiền. Hoàn thành các công trình cấp điện và nước ngọt, đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng an ninh của vùng.
- Nâng tỷ lệ che phủ rừng năm 2020 lên khoảng 60%, bảo đảm chức năng phòng hộ duy trì nguồn nước và đóng góp ngày càng nhiều cho nền kinh tế. Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, bảo đảm phát triển bền vững. Bảo vệ môi trường sinh thái trên các đảo, nhất là các khu du lịch và môi trường biển, ven biển.
- Bảo đảm quốc phòng an ninh, giữ vững an ninh chính trị và chủ quyền quốc gia trên vùng biển đảo Đông Bắc. Ngăn chặn kịp thời các hoạt động buôn lậu và xâm phạm chủ quyền của tầu thuyền nước ngoài đánh bắt trộm hải sản.
- Đến năm 2015 cơ bản hoàn thành các công trình hạ tầng thiết yếu trên vùng đảo như: các công trình cấp điện, cấp nước ngọt, các bến cảng, các tuyến giao thông chính trên các đảo, các trường học, bệnh viện, hạ tầng thông tin – truyền thông… bảo đảm đáp ứng đủ nhu cầu cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng an ninh của vùng.