Document: Điều 18 Nghị định 161/2005/NĐ-CP hướng dẫn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Luật sửa đổi

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "27/12/2005", "sign_number": "161/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "27/12/2005", "sign_number": "161/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "27/12/2005", "sign_number": "161/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "27/12/2005", "sign_number": "161/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "27/12/2005", "sign_number": "161/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 18 Nghị định 161/2005/NĐ-CP hướng dẫn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Luật sửa đổi có nội dung như sau:

Điều 18. Lập chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ

1. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan lập Dự kiến chương trình ba tháng, sáu tháng và cả năm về xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

2. Chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ được xây dựng trên những căn cứ sau:

a) Nhiệm vụ thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

b) Nhiệm vụ quản lý nhà nước của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

c) Các đề xuất, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ.

3. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp có sự tham gia của đại diện các cơ quan, tổ chức liên quan để xem xét đề nghị, kiến nghị xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ. Cơ quan, tổ chức có đề nghị xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ cử đại diện để thuyết trình về những vấn đề liên quan đến đề nghị, kiến nghị của mình.

4. Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc cuộc họp quy định tại khoản 3 Điều này, Văn phòng Chính phủ lập Dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ và gửi đến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để lấy ý kiến tham gia.

Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải gửi ý kiến tham gia bằng văn bản đến Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp.

5. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp chỉnh lý dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ trình Chính phủ tại phiên họp thường kỳ cuối năm.

6. Sau khi Chính phủ thông qua chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ, Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm gửi chương trình tới Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ để thực hiện.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính Phủ phải bảo đảm đúng tiến độ và chất lượng soạn thảo theo Chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

Ba tháng một lần, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tiến độ thực hiện Chương trình.

Content:
Điều 18. Lập chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ

1. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan lập Dự kiến chương trình ba tháng, sáu tháng và cả năm về xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

2. Chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ được xây dựng trên những căn cứ sau:

a) Nhiệm vụ thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

b) Nhiệm vụ quản lý nhà nước của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

c) Các đề xuất, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ.

3. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp có sự tham gia của đại diện các cơ quan, tổ chức liên quan để xem xét đề nghị, kiến nghị xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ. Cơ quan, tổ chức có đề nghị xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ cử đại diện để thuyết trình về những vấn đề liên quan đến đề nghị, kiến nghị của mình.

4. Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc cuộc họp quy định tại khoản 3 Điều này, Văn phòng Chính phủ lập Dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ và gửi đến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để lấy ý kiến tham gia.

Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải gửi ý kiến tham gia bằng văn bản đến Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp.

5. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp chỉnh lý dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ trình Chính phủ tại phiên họp thường kỳ cuối năm.

6. Sau khi Chính phủ thông qua chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ, Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm gửi chương trình tới Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ để thực hiện.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính Phủ phải bảo đảm đúng tiến độ và chất lượng soạn thảo theo Chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ.

Ba tháng một lần, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tiến độ thực hiện Chương trình.