Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 61/2011/QĐ-UBND phê duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "08/11/2011", "sign_number": "61/2011/QĐ-UBND", "signer": "Trần Xuân Hoà", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "08/11/2011", "sign_number": "61/2011/QĐ-UBND", "signer": "Trần Xuân Hoà", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "08/11/2011", "sign_number": "61/2011/QĐ-UBND", "signer": "Trần Xuân Hoà", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "08/11/2011", "sign_number": "61/2011/QĐ-UBND", "signer": "Trần Xuân Hoà", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Ninh Thuận", "promulgation_date": "08/11/2011", "sign_number": "61/2011/QĐ-UBND", "signer": "Trần Xuân Hoà", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 61/2011/QĐ-UBND phê duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới

Điều 1. Phê duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2020 tỉnh Ninh Thuận (kèm theo Đề án), với các nội dung cụ thể như sau:
...
2. Các giải pháp thực hiện Đề án
- Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở và nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước: tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong phát triển nông thôn mới, kiện toàn hệ thống cơ quan chuyên ngành về phát triển nông thôn và tăng cường năng lực cán bộ quản lý Nhà nước về phát triển nông thôn các cấp. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Công đoàn, Hội Cựu chiến binh đóng vai trò nòng cốt trong việc xây dựng nông thôn mới tại địa phương và vận động, tổ chức hội viên, đoàn viên tham gia;
- Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và sơ, chế biến nông sản: tiếp tục triển khai các dự án ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp, các dự án đầu tư công nghệ trong sản xuất và công nghệ sau thu hoạch, các dự án giống cây trồng vật nuôi (cụ thể là 04 dự án khoa học công nghệ trong nông nghiệp đang triển khai trên địa bàn tỉnh); phổ biến sử dụng công nghệ và thiết bị bảo quản, sơ chế, chế biến sau thu hoạch, đóng gói thành phẩm quy mô hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Phát triển kinh tế tập thể (kinh tế hợp tác, câu lạc bộ, hợp tác xã, trang trại) trong nông nghiệp và nông thôn: đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động, nâng cao nhận thức về mô hình kinh tế hợp tác, câu lạc bộ, hợp tác xã; tập trung củng cố các hợp tác xã để hoạt động có hiệu quả; thực hiện đầy đủ các chính sách để xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác, câu lạc bộ, hợp tác xã ở vùng nông thôn.
- Phát triển kinh tế nông thôn:
+ Căn cứ quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch các ngành đã được phê duyệt, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố rà soát lại quy hoạch để kiến nghị điều chỉnh bổ sung hoặc làm mới các quy hoạch có liên quan làm cơ sở triển khai Đề án (quy hoạch nông nghiệp, chăn nuôi, giết mổ, thủy sản, quy hoạch ngành nghề nông thôn).
+ Chuyển đổi cơ cấu cây trồng chủ lực cho phù hợp với lợi thế của từng vùng, mở rộng quy mô sản xuất một số cây trồng chủ lực có lợi thế cạnh tranh trên thị trường, tổ chức sản xuất theo hướng tập trung, sản xuất hàng hoá lớn gắn với thị trường và các cơ sở chế biến.
+ Đẩy mạnh công tác khuyến nông, áp dụng công nghệ tiên tiến như: công nghệ sinh học, giống, cơ giới hoá, thủy lợi hoá, giống, công nghệ sản xuất sạch, công nghệ chế biến nông sản, những tiến bộ kỹ thuật canh tác nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất.
+ Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nhằm tăng sức cạnh tranh cũng như giữ vững vị thế của Việt Nam trên thị trường.
+ Tăng cường công tác khuyến ngư, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, hạn chế ô nhiễm môi trường .
+ Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức của người dân trong việc quản lý, bảo vệ, phát triển và phòng chống cháy rừng; vận động các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng.
+ Phát triển công nghiệp chế biến phù hợp với quy hoạch để phát huy thế mạnh đồng thời gắn liền với việc hình thành và phát triển các vùng nguyên liệu.
+ Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp chế biến những loại nông sản phẩm mà tỉnh có ưu thế, đảm bảo đủ sức cạnh tranh tham gia thị trường trong và ngoài nước; khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ chế biến nông - lâm - thủy sản đồng thời tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ để phát triển sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ sử dụng ít nguyên liệu, nhiều lao động.
- Về thị trường tiêu thụ sản phẩm: hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận thị trường, đẩy mạnh các hoạt động: giới thiệu sản phẩm, quảng cáo, tham gia hội chợ, xúc tiến thương mại; khuyến khích thực hiện liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong đầu tư sản xuất và tiêu thụ nông sản.
- Về quản lý sử dụng đất đai: khai thác có hiệu quả quỹ đất chưa sử dụng, thu hồi đất đã giao cho các tổ chức nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích đưa vào sản xuất có hiệu quả; ưu tiên dành quỹ đất cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo không có đất sản xuất và cho việc phát triển văn hoá thể dục thể thao, y tế, giáo dục ở nông thôn; hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh.
- Về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn:
+ Giao thông nông thôn: tổ chức tốt việc lồng ghép các dự án giao thông trên địa bàn xã đồng thời đẩy mạnh công tác xã hội hoá giao thông huy động sự đóng góp của nhân dân và các doanh nghiệp trên địa bàn.
+ Giáo dục - đào tạo: đa dạng hoá các loại hình đào tạo ở tất cả các cấp theo hướng xã hội hoá; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trường lớp đạt chuẩn quốc gia; củng cố các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý ngành giáo dục đảm bảo đủ về số lượng và cơ cấu cho các môn học; tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học.
+ Y tế: tiếp tục củng cố và phát triển mạng lưới y tế ở cơ sở; nâng cấp các trung tâm y tế và trạm y tế; đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân; tăng cường công tác tuyên truyền; đẩy mạnh kiểm tra công tác sử dụng an toàn hợp lý về thuốc trong các cơ sở điều trị Nhà nước và tư nhân.
+ Văn hoá - thể thao: huy động các nguồn lực xã hội để đầu tư cơ sở vật chất cho phát triển văn hoá, thể thao ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đồng thời đẩy mạnh hoạt động các lĩnh vực văn hoá, thể thao phục vụ lợi ích và nhu cầu của nhân dân địa phương; xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động các thiết chế văn hoá, thể thao.
+ Bưu chính, viễn thông, thông tin liên lạc: đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ thông tin, đưa công nghệ thông tin về nông thôn, vùng sâu, vùng xa và chú trọng phát triển hệ thống các điểm văn hoá ấp, xã với truy cập internet công cộng; cung cấp thông tin khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đến các huyện, xã trong tỉnh.
+ Thương mại, dịch vụ và du lịch: phát triển mạng lưới chợ nông thôn, các điểm dịch vụ cung ứng vật tư sản xuất, thu mua nông sản thực phẩm; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển thương mại dịch vụ, thúc đẩy lưu thông hàng hoá; nâng cấp và xây dựng mạng lưới chợ theo quy hoạch; huy động vốn đầu tư từ nhiều nguồn để mở rộng mạng lưới phát triển dịch vụ du lịch về vùng nông thôn, đặc biệt là du lịch sinh thái gắn liền với việc giới thiệu những sản phẩm truyền thống mang thương hiệu nổi tiếng.
+ Thủy lợi: đẩy mạnh phân cấp quản lý đầu tư xây dựng và quản lý khai thác công trình thủy lợi cho các địa phương gắn liền với tổ chức bộ máy và năng lực cán bộ thực hiện; đẩy mạnh quá trình quản lý thủy lợi theo mô hình có sự tham gia của người dân (PIM) đối với vùng tưới các hồ đập thủy lợi của tỉnh; huy động sự đóng góp của nhân dân và các tổ chức trong việc đầu tư xây dựng những công trình thủy lợi nhỏ và hệ thống kênh mương nội đồng.
+ Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn: nâng cao nhận thức cho người dân về lợi ích sử dụng nước sạch và trách nhiệm trong việc khai thác và bảo vệ tài nguyên môi trường, bảo vệ các công trình cấp nước; phổ biến kiến thức, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong việc khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn nước sinh hoạt; lồng ghép các chương trình, dự án, huy động các nguồn lực để giải quyết việc sử dụng nước sạch ở vùng nông thôn; đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả phòng ngừa, kiểm soát xử lý ô nhiễm do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón trong trồng trọt, chất thải trong chăn nuôi, quản lý và bảo vệ bền vững tài nguyên đất.
- Công tác xoá đói giảm nghèo: tiếp tục nâng cao nhận thức, ý chí quyết tâm phấn đấu vượt nghèo của các hộ nghèo; xã nghèo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tham gia công tác giảm nghèo; tăng cường sự giám sát của cơ quan dân cử, các tổ chức chính trị, đoàn thể; huy động nguồn lực: ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương, các nguồn tài trợ từ cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, tổ chức lồng ghép các chương trình để hỗ trợ cho người nghèo, xã nghèo.
- Về đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực: đẩy mạnh các hoạt động dạy nghề, nâng cao số lượng và chất lượng lao động cả 4 cấp trình độ: cao đẳng nghề, trung cấp nghề, sơ cấp nghề và đào tạo ngắn hạn, gắn với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động.
- Giải pháp khác: phát động phong trào và tổ chức nông dân thực hiện các chương trình xã hội hoá đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và nâng cao đời sống. Ngoài các giải pháp nói trên, các ngành các cấp căn cứ vào giải pháp thực hiện của các chương trình phát triển kinh tế - xã hội có liên quan đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt để lồng ghép triển khai thực hiện Đề án nông thôn mới.

Content:
Các giải pháp thực hiện Đề án
- Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở và nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước: tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong phát triển nông thôn mới, kiện toàn hệ thống cơ quan chuyên ngành về phát triển nông thôn và tăng cường năng lực cán bộ quản lý Nhà nước về phát triển nông thôn các cấp. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Công đoàn, Hội Cựu chiến binh đóng vai trò nòng cốt trong việc xây dựng nông thôn mới tại địa phương và vận động, tổ chức hội viên, đoàn viên tham gia;
- Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và sơ, chế biến nông sản: tiếp tục triển khai các dự án ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp, các dự án đầu tư công nghệ trong sản xuất và công nghệ sau thu hoạch, các dự án giống cây trồng vật nuôi (cụ thể là 04 dự án khoa học công nghệ trong nông nghiệp đang triển khai trên địa bàn tỉnh); phổ biến sử dụng công nghệ và thiết bị bảo quản, sơ chế, chế biến sau thu hoạch, đóng gói thành phẩm quy mô hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Phát triển kinh tế tập thể (kinh tế hợp tác, câu lạc bộ, hợp tác xã, trang trại) trong nông nghiệp và nông thôn: đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động, nâng cao nhận thức về mô hình kinh tế hợp tác, câu lạc bộ, hợp tác xã; tập trung củng cố các hợp tác xã để hoạt động có hiệu quả; thực hiện đầy đủ các chính sách để xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác, câu lạc bộ, hợp tác xã ở vùng nông thôn.
- Phát triển kinh tế nông thôn:
+ Căn cứ quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch các ngành đã được phê duyệt, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố rà soát lại quy hoạch để kiến nghị điều chỉnh bổ sung hoặc làm mới các quy hoạch có liên quan làm cơ sở triển khai Đề án (quy hoạch nông nghiệp, chăn nuôi, giết mổ, thủy sản, quy hoạch ngành nghề nông thôn).
+ Chuyển đổi cơ cấu cây trồng chủ lực cho phù hợp với lợi thế của từng vùng, mở rộng quy mô sản xuất một số cây trồng chủ lực có lợi thế cạnh tranh trên thị trường, tổ chức sản xuất theo hướng tập trung, sản xuất hàng hoá lớn gắn với thị trường và các cơ sở chế biến.
+ Đẩy mạnh công tác khuyến nông, áp dụng công nghệ tiên tiến như: công nghệ sinh học, giống, cơ giới hoá, thủy lợi hoá, giống, công nghệ sản xuất sạch, công nghệ chế biến nông sản, những tiến bộ kỹ thuật canh tác nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất.
+ Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nhằm tăng sức cạnh tranh cũng như giữ vững vị thế của Việt Nam trên thị trường.
+ Tăng cường công tác khuyến ngư, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, hạn chế ô nhiễm môi trường .
+ Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức của người dân trong việc quản lý, bảo vệ, phát triển và phòng chống cháy rừng; vận động các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng.
+ Phát triển công nghiệp chế biến phù hợp với quy hoạch để phát huy thế mạnh đồng thời gắn liền với việc hình thành và phát triển các vùng nguyên liệu.
+ Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp chế biến những loại nông sản phẩm mà tỉnh có ưu thế, đảm bảo đủ sức cạnh tranh tham gia thị trường trong và ngoài nước; khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ chế biến nông - lâm - thủy sản đồng thời tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ để phát triển sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ sử dụng ít nguyên liệu, nhiều lao động.
- Về thị trường tiêu thụ sản phẩm: hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận thị trường, đẩy mạnh các hoạt động: giới thiệu sản phẩm, quảng cáo, tham gia hội chợ, xúc tiến thương mại; khuyến khích thực hiện liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong đầu tư sản xuất và tiêu thụ nông sản.
- Về quản lý sử dụng đất đai: khai thác có hiệu quả quỹ đất chưa sử dụng, thu hồi đất đã giao cho các tổ chức nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích đưa vào sản xuất có hiệu quả; ưu tiên dành quỹ đất cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo không có đất sản xuất và cho việc phát triển văn hoá thể dục thể thao, y tế, giáo dục ở nông thôn; hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh.
- Về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn:
+ Giao thông nông thôn: tổ chức tốt việc lồng ghép các dự án giao thông trên địa bàn xã đồng thời đẩy mạnh công tác xã hội hoá giao thông huy động sự đóng góp của nhân dân và các doanh nghiệp trên địa bàn.
+ Giáo dục - đào tạo: đa dạng hoá các loại hình đào tạo ở tất cả các cấp theo hướng xã hội hoá; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trường lớp đạt chuẩn quốc gia; củng cố các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý ngành giáo dục đảm bảo đủ về số lượng và cơ cấu cho các môn học; tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học.
+ Y tế: tiếp tục củng cố và phát triển mạng lưới y tế ở cơ sở; nâng cấp các trung tâm y tế và trạm y tế; đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân; tăng cường công tác tuyên truyền; đẩy mạnh kiểm tra công tác sử dụng an toàn hợp lý về thuốc trong các cơ sở điều trị Nhà nước và tư nhân.
+ Văn hoá - thể thao: huy động các nguồn lực xã hội để đầu tư cơ sở vật chất cho phát triển văn hoá, thể thao ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đồng thời đẩy mạnh hoạt động các lĩnh vực văn hoá, thể thao phục vụ lợi ích và nhu cầu của nhân dân địa phương; xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động các thiết chế văn hoá, thể thao.
+ Bưu chính, viễn thông, thông tin liên lạc: đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ thông tin, đưa công nghệ thông tin về nông thôn, vùng sâu, vùng xa và chú trọng phát triển hệ thống các điểm văn hoá ấp, xã với truy cập internet công cộng; cung cấp thông tin khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đến các huyện, xã trong tỉnh.
+ Thương mại, dịch vụ và du lịch: phát triển mạng lưới chợ nông thôn, các điểm dịch vụ cung ứng vật tư sản xuất, thu mua nông sản thực phẩm; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển thương mại dịch vụ, thúc đẩy lưu thông hàng hoá; nâng cấp và xây dựng mạng lưới chợ theo quy hoạch; huy động vốn đầu tư từ nhiều nguồn để mở rộng mạng lưới phát triển dịch vụ du lịch về vùng nông thôn, đặc biệt là du lịch sinh thái gắn liền với việc giới thiệu những sản phẩm truyền thống mang thương hiệu nổi tiếng.
+ Thủy lợi: đẩy mạnh phân cấp quản lý đầu tư xây dựng và quản lý khai thác công trình thủy lợi cho các địa phương gắn liền với tổ chức bộ máy và năng lực cán bộ thực hiện; đẩy mạnh quá trình quản lý thủy lợi theo mô hình có sự tham gia của người dân (PIM) đối với vùng tưới các hồ đập thủy lợi của tỉnh; huy động sự đóng góp của nhân dân và các tổ chức trong việc đầu tư xây dựng những công trình thủy lợi nhỏ và hệ thống kênh mương nội đồng.
+ Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn: nâng cao nhận thức cho người dân về lợi ích sử dụng nước sạch và trách nhiệm trong việc khai thác và bảo vệ tài nguyên môi trường, bảo vệ các công trình cấp nước; phổ biến kiến thức, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong việc khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn nước sinh hoạt; lồng ghép các chương trình, dự án, huy động các nguồn lực để giải quyết việc sử dụng nước sạch ở vùng nông thôn; đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả phòng ngừa, kiểm soát xử lý ô nhiễm do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón trong trồng trọt, chất thải trong chăn nuôi, quản lý và bảo vệ bền vững tài nguyên đất.
- Công tác xoá đói giảm nghèo: tiếp tục nâng cao nhận thức, ý chí quyết tâm phấn đấu vượt nghèo của các hộ nghèo; xã nghèo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tham gia công tác giảm nghèo; tăng cường sự giám sát của cơ quan dân cử, các tổ chức chính trị, đoàn thể; huy động nguồn lực: ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương, các nguồn tài trợ từ cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, tổ chức lồng ghép các chương trình để hỗ trợ cho người nghèo, xã nghèo.
- Về đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực: đẩy mạnh các hoạt động dạy nghề, nâng cao số lượng và chất lượng lao động cả 4 cấp trình độ: cao đẳng nghề, trung cấp nghề, sơ cấp nghề và đào tạo ngắn hạn, gắn với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động.
- Giải pháp khác: phát động phong trào và tổ chức nông dân thực hiện các chương trình xã hội hoá đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và nâng cao đời sống. Ngoài các giải pháp nói trên, các ngành các cấp căn cứ vào giải pháp thực hiện của các chương trình phát triển kinh tế - xã hội có liên quan đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt để lồng ghép triển khai thực hiện Đề án nông thôn mới.