Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 315/QĐ-UBND 2007 quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống Y tế Lâm Đồng

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "19/01/2007", "sign_number": "315/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Đức Hòa", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "19/01/2007", "sign_number": "315/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Đức Hòa", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "19/01/2007", "sign_number": "315/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Đức Hòa", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "19/01/2007", "sign_number": "315/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Đức Hòa", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "19/01/2007", "sign_number": "315/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Đức Hòa", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 315/QĐ-UBND 2007 quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống Y tế Lâm Đồng

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống Y tế tỉnh Lâm Đồng đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau :
...
3. Nội dung quy hoạch
a) Phát triển hệ thống y tế dự phòng:
- Củng cố mạng lưới y tế dự phòng và chăm sóc sức khoẻ sinh sản: Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị hiện đại và đào tạo cán bộ chuyên môn từ tỉnh tới cơ sở để đáp ứng các nhiệm vụ nghiên cứu, dự báo, giám sát, phát hiện và khống chế các bệnh dịch, đặc biệt là HIV/AIDS, các bệnh dịch nguy hiểm và các dịch bệnh lạ mới phát sinh.
- Thành lập Viện Y học Dự phòng tỉnh Lâm Đồng trên cơ sở sát nhập các Trung tâm đầu ngành tuyến tỉnh hiện nay; nâng cấp Trung tâm Kiểm nghiệm Dược phẩm - Mỹ phẩm thành Trung tâm Kiểm nghiệm Dược phẩm, Mỹ phẩm và Thực phẩm; thành lập Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS, Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế, Trung tâm Giám định Y khoa, pháp y, phát triển Trung tâm Chăm sóc sức khoẻ sinh sản và dinh dưỡng trẻ em. Thành lập và hoàn thiện tổ chức bộ máy Trung tâm Y tế dự phòng các huyện, thị, thành phố trên cơ sở sát nhập đội y tế dự phòng và đội kế hoạch hóa gia đình. Đến năm 2010, các Trung tâm Y tế dự phòng tuyến huyện phải có các khoa Dịch tễ, khoa Phòng, chống HIV/AIDS, khoa Phòng chống các bệnh xã hội; đến năm 2020 có đầy đủ các khoa theo quy chuẩn.
- Mở rộng và triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế và nâng cao sức khỏe như: Không để xảy ra dịch sốt rét, hạn chế tối đa số mắc và tử vong do sốt rét; tiêm chủng mở rộng cho trẻ em dưới 1 tuổi, phụ nữ có thai và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đạt trên 95%, mở rộng diện tiêm chủng một số vaccin mới như: Viêm gan siêu vi B, Viêm não Nhật Bản, Quai bị .v.v.; phòng chống bệnh lao có hiệu quả, chủ động phát hiện và điều trị triệt để bệnh nhân lao mới; duy trì kết quả loại trừ bệnh phong trong cộng đồng; chủ động phòng chống dịch sốt xuất huyết; bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là thức ăn đường phố, hạn chế.tối đa các vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trên địa bàn tỉnh; duy trì độ bao phủ muối Iode trong cộng đồng trên 95%, hạ thấp ty lệ bướu cổ trẻ em 8 - 12 tuổi xuống dưới 4% vào năm 2010; phông chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi, bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng .v.v.
- Phát triển các phong trào vệ sinh, phòng bệnh, thể dục thể thao và xây dựng "Làng Văn hóa - Sức khỏe". Có biện pháp ngăn ngừa để hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đối với sức khỏe do thay đổi lối sống, môi trường và điều kiện lao động trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phòng chống hiệu quả các bệnh nghề nghiệp. Củng cố và phát triển y tế học đường. Chú trọng chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, người cao tuổi và các hoạt động phục hồi chức năng. Tăng cường sức khỏe, nâng cao chế độ dinh dưỡng, điều kiện vệ sinh cho trẻ em và bà mẹ là ưu tiên hàng đầu để tất cả trẻ em được sống khỏe mạnh, có điều kiện phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và trí tuệ.
b) Hoàn thiện mạng lưới và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh:
- Huy động các nguồn vốn đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị cho hệ thống bệnh viện, đặc biệt là bệnh viện đa khoa miến tỉnh và bệnh viện các huyện. Đến năm 2010 tổng số giường bệnh đạt mức 3.620giường, bình quân có 28,5giường bệnh/vạn dân, trong đó có 24 - 25 giường bệnh công lập.
- Nâng cấp Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng và Bệnh viện II Bảo Lộc trở thành bệnh viện hạng I có khả năng thực hiện các kỹ thuật y tế chuyên sâu. Nâng cấp và mở rộng Bệnh viện Điều dưỡng và .Phục hồi chức .năng, khu điều trị phong Di Linh. Thành lập Bệnh viện Tâm thần tỉnh Lâm Đồng, Trung tâm chẩn đoán Y khoa kỹ thuật cao, Trung tâm y học hạt nhân và xạ trị khu vực Tây Nguyên, các bệnh viện tại các khu công nghiệp, khu du lịch. Nâng cấp các bệnh viện huyện thành bệnh viện hạng III. Củng cố hoạt động các khoa phục hồi chức năng ở tuyến tỉnh và tuyến huyện, phát triển chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại 100% huyện, thị, thành vào năm 2010.
- Phát triển mạng lưới y tế cơ sở đạt chuẩn Quốc gia, từng bước nâng cao chất lượng phục vụ ở trạm y tế, phòng khám đa khoa khu vực để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho toàn dân, đặc biệt đối với người nghèo, đồng bào dân tộc, nhân dân tại các vung sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Đến năm 2010 hệ thống y tế công lập tuyến tỉnh có: 2 bệnh đa khoa, 6 bệnh viện chuyên khoa, 6 trung tâm chuyên khoa phòng bệnh, 1 Viện Y học dự phòng; tuyến huyện có: 11 bệnh viện, 13Trung tâm Y tế dự phòng, 25 phòng khám đa khoa, nhà hộ sinh khu vực; tuyến xã - phường - thị trấn: 160 trạm y tế, 30 phân trạm y tế khu dân cư; hệ thống y tế ngoài công lập: 3 bệnh viện tư nhân, 2 bệnh viện khu công nghiệp, 1 Trung tâm chẩn đoán Y khoa chất lượng cao.
- Phát triển Y tế thôn bản: mỗi thôn, bản, khu phố có 1 - 2 nhân viên y tế thôn bản và được cấp đầy đủ túi thuốc và dụng cụ cần thiết theo quy định.
- Phát triển và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ y tế của mạng lưới Y dược tư nhân, số lượng cơ sở hành nghề y dược tư nhân tăng bình quân 2 - 3%/năm, đến năm 2010 có khoảng 300/0 nhu cầu khám chữa bệnh ngoại trú và 10% nhu câu khám chữa bệnh nội trú của nhân dân Lâm Đồng được hệ thống y tế ngoài công lập đảm nhiệm chăm sóc.
- Phát triển Y dược học cổ truyền: Hoàn thiện Bệnh viện Y học cổ truyền Bảo Lộc; duy trì và củng cố các khoa đông y tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện; xây dựng mô hình xã, phường, thị trấn tiên tiến về y học cổ truyền; khai thác tiềm năng của y học dân gian; vận động, khuyến khích và hướng dẫn nhân dân nuôi, trồng và sử dụng các cây, con làm thuốc. Đến năm 2010, tất cả các trạm y tế tuyến xã đều có một phòng chẩn trị và cán bộ y học cổ truyền.
- Kết hợp quân y và dân y trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số .v.v.; chủ động phòng, chống và khắc phục hậu quả các tình huống khẩn cấp như dịch bệnh, thảm họa, thiên tai .v.v. Nâng cao hiệu quả hoạt động phòng khám quân dân y hiện có và nhân rộng mô hình này ở một số huyện trong tỉnh.
- Phát triển và hiện đại hoá ngành công nghiệp dược nhằm đảm bảo sản xuất một số mặt hàng thuốc đạt tiêu chuẩn GMP; ưu tiên bào chế một số dược phẩm từ nguồn dược liệu tại địa phương; phát triển các vùng dược liệu, các cơ sở sản xuất nguyên liệu được; củng cố và phát triển mạng lưới phân phối, cung ứng thuốc đến tận xã, phường và các khu vực đông dân cư.
- Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, tiếp cận và ứng dụng những thành tựu về khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ sinh học và công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn y tế.
c) Phát triển nguồn nhân lực y tế:
Xây dựng đội ngũ nhân lực y tế của tỉnh theo cơ cấu hợp lý, đồng bộ, chuyên môn giỏi, y đức tốt, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân trong tỉnh.
Quy hoạch đến năm 2010 tổng số cán bộ y tế có 5.085 người, trong đó tuyến tỉnh 1.779 người; tuyến huyện 1.225 người; tuyến xã, phường, thị trấn 827 người; y tế thôn bản. 1 .254 người. Đến năm 2020 tổng số cán bộ y tế có 6.113 người, trong đó tuyến tỉnh 1 .900 người; tuyến huyện 1.666 người; tuyến xã, phường, thị trấn 1.041 người; y tế thôn bản 1.506 người.
-Tăng cường đào tạo cán bộ, bên cạnh việc đào tạo đồng bộ các chuyên khoa để bố trí phù hợp, cân đối và đầy đủ trên các lĩnh vực chuyên môn, cần tập trung đào tạo các chuyên gia kỹ thuật, bảo dưỡng và vận hành trang thiết bị y tế, quản lý y tế. Nâng cấp trường Trung học Y tế Lâm Đồng lên trường Cao đẳng Y tế Lâm Đồng vào năm 2008, quy mô đào tạo 400 - 500 cán bộ y tế/năm.
- Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ y tế hiện có, đến năm 2010 từ tuyến huyện trở lên sẽ không còn cán bộ y tế có chức danh y sỹ, y tá trung sơ học, dược tá, nữ hộ sinh sơ học; Trung tâm Y tế dự phòng huyện có ít nhất 01 bác sĩ chuyên khoa cấp I về y tế cộng đồng; mỗi phòng khám đa khoa khu vực có ít nhất 03 bác sĩ chuyên khoa hẹp; 100% trưởng trạm y tế xã có trình độ chuyên môn từ cao đẳng hoặc đại học trở lên, 100% trạm y tế xã, phường,.thị trấn có bác sĩ công tác ổn định; 100% nhân viên y tế thôn được đào tạo ít nhất 03 - 06 tháng.
Đến năm 2020, 100% cán bộ quản lý y tế toàn tỉnh có trình độ sau đại học, trong số đó có trên 60% trình độ Tiến sỹ hoặc chuyên khoa cấp II đối với tuyến tỉnh và 50% cán bộ y tế có trình độ Thạc sỹ hoặc chuyên khoa cấp I đối với tuyến huyện; mỗi trung tâm y tế dự phòng có ít nhất 0 1 cử nhân y tế công cộng; có ít nhất 50% số trạm y tế xã có 02 - 03 bác sĩ.

Content:
Nội dung quy hoạch
a) Phát triển hệ thống y tế dự phòng:
- Củng cố mạng lưới y tế dự phòng và chăm sóc sức khoẻ sinh sản: Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị hiện đại và đào tạo cán bộ chuyên môn từ tỉnh tới cơ sở để đáp ứng các nhiệm vụ nghiên cứu, dự báo, giám sát, phát hiện và khống chế các bệnh dịch, đặc biệt là HIV/AIDS, các bệnh dịch nguy hiểm và các dịch bệnh lạ mới phát sinh.
- Thành lập Viện Y học Dự phòng tỉnh Lâm Đồng trên cơ sở sát nhập các Trung tâm đầu ngành tuyến tỉnh hiện nay; nâng cấp Trung tâm Kiểm nghiệm Dược phẩm - Mỹ phẩm thành Trung tâm Kiểm nghiệm Dược phẩm, Mỹ phẩm và Thực phẩm; thành lập Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS, Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế, Trung tâm Giám định Y khoa, pháp y, phát triển Trung tâm Chăm sóc sức khoẻ sinh sản và dinh dưỡng trẻ em. Thành lập và hoàn thiện tổ chức bộ máy Trung tâm Y tế dự phòng các huyện, thị, thành phố trên cơ sở sát nhập đội y tế dự phòng và đội kế hoạch hóa gia đình. Đến năm 2010, các Trung tâm Y tế dự phòng tuyến huyện phải có các khoa Dịch tễ, khoa Phòng, chống HIV/AIDS, khoa Phòng chống các bệnh xã hội; đến năm 2020 có đầy đủ các khoa theo quy chuẩn.
- Mở rộng và triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế và nâng cao sức khỏe như: Không để xảy ra dịch sốt rét, hạn chế tối đa số mắc và tử vong do sốt rét; tiêm chủng mở rộng cho trẻ em dưới 1 tuổi, phụ nữ có thai và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đạt trên 95%, mở rộng diện tiêm chủng một số vaccin mới như: Viêm gan siêu vi B, Viêm não Nhật Bản, Quai bị .v.v.; phòng chống bệnh lao có hiệu quả, chủ động phát hiện và điều trị triệt để bệnh nhân lao mới; duy trì kết quả loại trừ bệnh phong trong cộng đồng; chủ động phòng chống dịch sốt xuất huyết; bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là thức ăn đường phố, hạn chế.tối đa các vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trên địa bàn tỉnh; duy trì độ bao phủ muối Iode trong cộng đồng trên 95%, hạ thấp ty lệ bướu cổ trẻ em 8 - 12 tuổi xuống dưới 4% vào năm 2010; phông chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi, bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng .v.v.
- Phát triển các phong trào vệ sinh, phòng bệnh, thể dục thể thao và xây dựng "Làng Văn hóa - Sức khỏe". Có biện pháp ngăn ngừa để hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đối với sức khỏe do thay đổi lối sống, môi trường và điều kiện lao động trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phòng chống hiệu quả các bệnh nghề nghiệp. Củng cố và phát triển y tế học đường. Chú trọng chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, người cao tuổi và các hoạt động phục hồi chức năng. Tăng cường sức khỏe, nâng cao chế độ dinh dưỡng, điều kiện vệ sinh cho trẻ em và bà mẹ là ưu tiên hàng đầu để tất cả trẻ em được sống khỏe mạnh, có điều kiện phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và trí tuệ.
b) Hoàn thiện mạng lưới và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh:
- Huy động các nguồn vốn đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị cho hệ thống bệnh viện, đặc biệt là bệnh viện đa khoa miến tỉnh và bệnh viện các huyện. Đến năm 2010 tổng số giường bệnh đạt mức 3.620giường, bình quân có 28,5giường bệnh/vạn dân, trong đó có 24 - 25 giường bệnh công lập.
- Nâng cấp Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng và Bệnh viện II Bảo Lộc trở thành bệnh viện hạng I có khả năng thực hiện các kỹ thuật y tế chuyên sâu. Nâng cấp và mở rộng Bệnh viện Điều dưỡng và .Phục hồi chức .năng, khu điều trị phong Di Linh. Thành lập Bệnh viện Tâm thần tỉnh Lâm Đồng, Trung tâm chẩn đoán Y khoa kỹ thuật cao, Trung tâm y học hạt nhân và xạ trị khu vực Tây Nguyên, các bệnh viện tại các khu công nghiệp, khu du lịch. Nâng cấp các bệnh viện huyện thành bệnh viện hạng III. Củng cố hoạt động các khoa phục hồi chức năng ở tuyến tỉnh và tuyến huyện, phát triển chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại 100% huyện, thị, thành vào năm 2010.
- Phát triển mạng lưới y tế cơ sở đạt chuẩn Quốc gia, từng bước nâng cao chất lượng phục vụ ở trạm y tế, phòng khám đa khoa khu vực để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho toàn dân, đặc biệt đối với người nghèo, đồng bào dân tộc, nhân dân tại các vung sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Đến năm 2010 hệ thống y tế công lập tuyến tỉnh có: 2 bệnh đa khoa, 6 bệnh viện chuyên khoa, 6 trung tâm chuyên khoa phòng bệnh, 1 Viện Y học dự phòng; tuyến huyện có: 11 bệnh viện, 13Trung tâm Y tế dự phòng, 25 phòng khám đa khoa, nhà hộ sinh khu vực; tuyến xã - phường - thị trấn: 160 trạm y tế, 30 phân trạm y tế khu dân cư; hệ thống y tế ngoài công lập: 3 bệnh viện tư nhân, 2 bệnh viện khu công nghiệp, 1 Trung tâm chẩn đoán Y khoa chất lượng cao.
- Phát triển Y tế thôn bản: mỗi thôn, bản, khu phố có 1 - 2 nhân viên y tế thôn bản và được cấp đầy đủ túi thuốc và dụng cụ cần thiết theo quy định.
- Phát triển và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ y tế của mạng lưới Y dược tư nhân, số lượng cơ sở hành nghề y dược tư nhân tăng bình quân 2 - 3%/năm, đến năm 2010 có khoảng 300/0 nhu cầu khám chữa bệnh ngoại trú và 10% nhu câu khám chữa bệnh nội trú của nhân dân Lâm Đồng được hệ thống y tế ngoài công lập đảm nhiệm chăm sóc.
- Phát triển Y dược học cổ truyền: Hoàn thiện Bệnh viện Y học cổ truyền Bảo Lộc; duy trì và củng cố các khoa đông y tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện; xây dựng mô hình xã, phường, thị trấn tiên tiến về y học cổ truyền; khai thác tiềm năng của y học dân gian; vận động, khuyến khích và hướng dẫn nhân dân nuôi, trồng và sử dụng các cây, con làm thuốc. Đến năm 2010, tất cả các trạm y tế tuyến xã đều có một phòng chẩn trị và cán bộ y học cổ truyền.
- Kết hợp quân y và dân y trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số .v.v.; chủ động phòng, chống và khắc phục hậu quả các tình huống khẩn cấp như dịch bệnh, thảm họa, thiên tai .v.v. Nâng cao hiệu quả hoạt động phòng khám quân dân y hiện có và nhân rộng mô hình này ở một số huyện trong tỉnh.
- Phát triển và hiện đại hoá ngành công nghiệp dược nhằm đảm bảo sản xuất một số mặt hàng thuốc đạt tiêu chuẩn GMP; ưu tiên bào chế một số dược phẩm từ nguồn dược liệu tại địa phương; phát triển các vùng dược liệu, các cơ sở sản xuất nguyên liệu được; củng cố và phát triển mạng lưới phân phối, cung ứng thuốc đến tận xã, phường và các khu vực đông dân cư.
- Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, tiếp cận và ứng dụng những thành tựu về khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ sinh học và công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn y tế.
c) Phát triển nguồn nhân lực y tế:
Xây dựng đội ngũ nhân lực y tế của tỉnh theo cơ cấu hợp lý, đồng bộ, chuyên môn giỏi, y đức tốt, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân trong tỉnh.
Quy hoạch đến năm 2010 tổng số cán bộ y tế có 5.085 người, trong đó tuyến tỉnh 1.779 người; tuyến huyện 1.225 người; tuyến xã, phường, thị trấn 827 người; y tế thôn bản. 1 .254 người. Đến năm 2020 tổng số cán bộ y tế có 6.113 người, trong đó tuyến tỉnh 1 .900 người; tuyến huyện 1.666 người; tuyến xã, phường, thị trấn 1.041 người; y tế thôn bản 1.506 người.
-Tăng cường đào tạo cán bộ, bên cạnh việc đào tạo đồng bộ các chuyên khoa để bố trí phù hợp, cân đối và đầy đủ trên các lĩnh vực chuyên môn, cần tập trung đào tạo các chuyên gia kỹ thuật, bảo dưỡng và vận hành trang thiết bị y tế, quản lý y tế. Nâng cấp trường Trung học Y tế Lâm Đồng lên trường Cao đẳng Y tế Lâm Đồng vào năm 2008, quy mô đào tạo 400 - 500 cán bộ y tế/năm.
- Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ y tế hiện có, đến năm 2010 từ tuyến huyện trở lên sẽ không còn cán bộ y tế có chức danh y sỹ, y tá trung sơ học, dược tá, nữ hộ sinh sơ học; Trung tâm Y tế dự phòng huyện có ít nhất 01 bác sĩ chuyên khoa cấp I về y tế cộng đồng; mỗi phòng khám đa khoa khu vực có ít nhất 03 bác sĩ chuyên khoa hẹp; 100% trưởng trạm y tế xã có trình độ chuyên môn từ cao đẳng hoặc đại học trở lên, 100% trạm y tế xã, phường,.thị trấn có bác sĩ công tác ổn định; 100% nhân viên y tế thôn được đào tạo ít nhất 03 - 06 tháng.
Đến năm 2020, 100% cán bộ quản lý y tế toàn tỉnh có trình độ sau đại học, trong số đó có trên 60% trình độ Tiến sỹ hoặc chuyên khoa cấp II đối với tuyến tỉnh và 50% cán bộ y tế có trình độ Thạc sỹ hoặc chuyên khoa cấp I đối với tuyến huyện; mỗi trung tâm y tế dự phòng có ít nhất 0 1 cử nhân y tế công cộng; có ít nhất 50% số trạm y tế xã có 02 - 03 bác sĩ.