Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 3503/QĐ-UBND.VX năm 2007 phê duyệt phát triển hệ thống Y tế tỉnh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "11/09/2007", "sign_number": "3503/QĐ-UBND.VX", "signer": "Hoàng Ky", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "11/09/2007", "sign_number": "3503/QĐ-UBND.VX", "signer": "Hoàng Ky", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "11/09/2007", "sign_number": "3503/QĐ-UBND.VX", "signer": "Hoàng Ky", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "11/09/2007", "sign_number": "3503/QĐ-UBND.VX", "signer": "Hoàng Ky", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "11/09/2007", "sign_number": "3503/QĐ-UBND.VX", "signer": "Hoàng Ky", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 3503/QĐ-UBND.VX năm 2007 phê duyệt phát triển hệ thống Y tế tỉnh

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống Y tế tỉnh Nghệ An giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
4. Nội dung quy hoạch phát triển hệ thống Y tế tỉnh Nghệ An
Phát triển hệ thống Y tế tỉnh Nghệ An theo hướng tăng cường xã hội hóa công tác y tế, trong đó y tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo; về cơ bản đủ khả năng đáp ứng nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong từng thời kỳ với chất lượng ngày càng cao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội; hướng tới sự công bằng và đạt được hiệu quả trong cung cấp và sử dụng các dịch vụ y tế.
a) Củng cố và phát triển mạng lưới y tế dự phòng:
- Các cơ sở y tế dự phòng tuyến tỉnh:
Từng bước phát triển hệ thống y tế dự phòng tuyến tỉnh đủ khả năng kiểm soát các bệnh truyền nhiễm, vệ sinh an toàn thực phẩm, y tế lao động và vệ sinh môi trường, sức khỏe trường học và dinh dưỡng. Nâng cấp và chuẩn hóa các phòng xét nghiệm thuộc trung tâm y tế dự phòng tuyến tỉnh đạt tiêu chuẩn labo an toàn sinh học cấp 2, bảo đảm đủ khả năng giải quyết các vấn đề về y tế dự phòng của tỉnh, đồng thời hỗ trợ kỹ thuật và chuyên môn cho Trung tâm y tế dự phòng các tỉnh khác trong vùng khi cần thiết.
Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh có đầy đủ các khoa, phòng chuyên ngành chính là: dịch tễ, y tế lao động, an toàn vệ sinh thực phẩm và dinh dưỡng, vệ sinh môi trường, Y tế trường học. Củng cố và phát triển Trung tâm Kiểm dịch biên giới, Cảng biển Cửa Lò, Cảng hàng không sân bay Vinh,…
Phát triển các Trung tâm kiểm soát và phòng chống HIV /AIDS trên cơ sở các tổ chức đang thực hiện công tác phòng chống HIV /AIDS hiện nay; ưu tiên đầu tư phát triển cao hơn, nhằm ngăn chặn tình trạng gia tăng lây nhiễm HIV /AIDS trong tỉnh, đồng thời hỗ trợ kỹ thuật cho trung tâm kiểm soát và phòng chống HIV /AIDS tại các tỉnh khác.
Nâng cấp Trung tâm phòng chống sốt rét. Nếu sau năm 2010 tỉnh ta khống chế và duy trì tỷ lệ mắc mới sốt rét trong 5 năm liền là dưới 100 bệnh nhân /100.000 dân, sẽ sáp nhập vào Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quản lý bệnh nhân sốt rét và giám sát dịch.
- Các cơ sở y tế dự phòng tuyến huyện:
Xây dựng và phát triển các trung tâm y tế dự phòng huyện để làm nhiệm vụ: vệ sinh phòng bệnh, giám sát, phát hiện và phòng chống dịch, kiểm soát và phòng chống HIV/AIDS, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, chăm sóc sức khỏe sinh sản, truyền thông giáo dục sức khỏe và tham gia xây dựng làng văn hóa sức khỏe trên địa bàn.
b) Phát triển mạng lưới khám chữa bệnh - phục hồi chức năng:
- Hình thành mạng lưới khám, chữa bệnh theo các tuyến kỹ thuật từ thấp đến cao, bảo đảm tính liên tục về cấp độ chuyên môn. Mỗi cơ sở đảm bảo việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho một cụm dân cư, bảo đảm tiêu chuẩn xếp hạng bệnh viện theo quy định của Bộ Y tế cho từng tuyến.
+ Tuyến 1: Bao gồm các bệnh viện đa khoa huyện, thành, thị xã, bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện, một số bệnh viện ngành và bệnh viện tư nhân, cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh cơ bản; tiếp nhận bệnh nhân từ cộng đồng hay từ các trạm y tế cơ sở chuyển đến.
Mỗi khu vực cụm dân cư huyện hoặc liên huyện có một bệnh viện huyện hoặc bệnh viện đa khoa khu vực. Quy mô giường bệnh tuyến 1 tối thiểu là 50 giường và tối đa không quá 200 giường tuỳ theo mật độ dân cư trong cụm dân cư phục vụ.
(Riêng huyện Quỳnh Lưu do dân số trên 35 vạn có thể có quy mô trên 200 giường). Trung bình cứ 1 giường bệnh phục vụ từ 1.500 đến 1.700 dân.
Duy trì và phát triển Phòng khám đa khoa khu vực thuộc bệnh viện huyện tại các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, bảo đảm cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản cho nhân dân địa phương.
+ Tuyến 2: Bao gồm các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh, bệnh viện tư nhân và một số bệnh viện ngành đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng II trở lên; cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh với các kỹ thuật chuyên khoa, chuyên ngành, đáp ứng hầu hết các nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân; là cơ sở thực hành cho học sinh các trường y - dược trong tỉnh.
Hiện tại, Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng II; sau năm 2010 phấn đấu đạt bệnh viện hạng I (tương đương Bệnh viện Trung ương). Trung bình cứ 1 giường bệnh tuyến 2 (bao gồm cả các bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh) phục vụ từ 900 đến 1.000 dân trong tỉnh và khu vực lân cận.
Trong giai đoạn tới, tiếp tục củng cố và phát triển các Trung tâm chuyên khoa Nội tiết, Mắt thành Bệnh viện chuyên khoa Nội tiết, Bệnh viện chuyên khoa Mắt. Từ năm 2010 thành lập Bệnh viện Phụ sản quy mô từ 200 - 300 giường bệnh.
Củng cố và phát triển Bệnh viện Điều dưỡng - phục hồi chức năng trên cơ sở tự bảo đảm, cân đối ngân sách cho hoạt động có hiệu quả của bệnh viện, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về phục hồi chức năng của nhân dân và người lao động.
c) Củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở:
- Tiếp tục củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và cán bộ y tế, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tuyến cơ sở, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cơ bản của toàn dân, đồng thời thực hiện được một số kỹ thuật đơn giản trong khám, điều trị.
- Củng cố tổ chức, mạng lưới và hoạt động chuyên môn của y tế xã. Đến năm 2010, hầu hết các xã, phường có trạm y tế kiên cố phù hợp với điều kiện kinh tế, địa lý, môi trường sinh thái và nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân trên địa bàn.
- Bảo đảm 90% số Trạm y tế xã có bác sỹ, trong đó có 100% các Trạm y tế xã ở đồng bằng và 80% các Trạm y tế xã ở miền núi có bác sỹ; 100% Trạm Y tế xã có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản, nhi, trong đó 80% là nữ hộ sinh trung học; 80% trạm y tế xã có cán bộ làm công tác y dược học cổ truyền; trung bình mỗi cán bộ trạm y tế xã phục vụ từ 1.000 đến 1.200 dân. Bảo đảm tối thiểu có 5 cán bộ y tế theo chức danh do Bộ Y tế quy định cho 1 trạm y tế xã. ở các thành phố lớn, số lượng cán bộ y tế được cân đối theo tỷ lệ cứ 1.400 đến 1.500 dân có một cán bộ trạm y tế phường phục vụ. Phấn đấu đến hết năm 2010 có 75% số xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế xã.
- Đảm bảo mỗi thôn, bản có từ 1 đến 2 nhân viên y tế có trình độ từ sơ học y trở lên hoạt động.
- Các doanh nghiệp có số lượng công nhân từ 200 đến dưới 500 người phải có từ 01 - 03 cán bộ y tế phục vụ. Các doanh nghiệp có từ 500 công nhân trở lên phải thành lập trạm y tế của doanh nghiệp.
- Bảo đảm mỗi trường phổ thông có từ 01 – 02 cán bộ y tế phục vụ. Các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có trạm y tế cơ sở.
d) Củng cố và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về dược, phát triển hệ thống sản xuất, lưu thông phân phối và cung ứng thuốc. Bảo đảm anh toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm.
- Kiện toàn và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về dược phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm từ tỉnh đến cơ sở.
- Quy hoạch và phát triển ngành dược trở thành một ngành kinh tế – kỹ thuật mũi nhọn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
+ Quy hoạch và phát triển toàn diện cả về công nghiệp bào chế thuốc, công nghiệp sản xuất thuốc từ dược liệu, các vùng nuôi, trồng dược liệu trọng điểm, công nghiệp sản xuất nguyên liệu hoá dược và nguyên liệu kháng sinh làm thuốc.
+ Quy hoạch, tổ chức lại và phát triển hệ thống phân phối, cung ứng thuốc, bảo đảm ổn định thị trường thuốc với giá cả hợp lý, bảo đảm chất lượng phục vụ công tác phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân.

Content:
Nội dung quy hoạch phát triển hệ thống Y tế tỉnh Nghệ An
Phát triển hệ thống Y tế tỉnh Nghệ An theo hướng tăng cường xã hội hóa công tác y tế, trong đó y tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo; về cơ bản đủ khả năng đáp ứng nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong từng thời kỳ với chất lượng ngày càng cao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội; hướng tới sự công bằng và đạt được hiệu quả trong cung cấp và sử dụng các dịch vụ y tế.
a) Củng cố và phát triển mạng lưới y tế dự phòng:
- Các cơ sở y tế dự phòng tuyến tỉnh:
Từng bước phát triển hệ thống y tế dự phòng tuyến tỉnh đủ khả năng kiểm soát các bệnh truyền nhiễm, vệ sinh an toàn thực phẩm, y tế lao động và vệ sinh môi trường, sức khỏe trường học và dinh dưỡng. Nâng cấp và chuẩn hóa các phòng xét nghiệm thuộc trung tâm y tế dự phòng tuyến tỉnh đạt tiêu chuẩn labo an toàn sinh học cấp 2, bảo đảm đủ khả năng giải quyết các vấn đề về y tế dự phòng của tỉnh, đồng thời hỗ trợ kỹ thuật và chuyên môn cho Trung tâm y tế dự phòng các tỉnh khác trong vùng khi cần thiết.
Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh có đầy đủ các khoa, phòng chuyên ngành chính là: dịch tễ, y tế lao động, an toàn vệ sinh thực phẩm và dinh dưỡng, vệ sinh môi trường, Y tế trường học. Củng cố và phát triển Trung tâm Kiểm dịch biên giới, Cảng biển Cửa Lò, Cảng hàng không sân bay Vinh,…
Phát triển các Trung tâm kiểm soát và phòng chống HIV /AIDS trên cơ sở các tổ chức đang thực hiện công tác phòng chống HIV /AIDS hiện nay; ưu tiên đầu tư phát triển cao hơn, nhằm ngăn chặn tình trạng gia tăng lây nhiễm HIV /AIDS trong tỉnh, đồng thời hỗ trợ kỹ thuật cho trung tâm kiểm soát và phòng chống HIV /AIDS tại các tỉnh khác.
Nâng cấp Trung tâm phòng chống sốt rét. Nếu sau năm 2010 tỉnh ta khống chế và duy trì tỷ lệ mắc mới sốt rét trong 5 năm liền là dưới 100 bệnh nhân /100.000 dân, sẽ sáp nhập vào Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quản lý bệnh nhân sốt rét và giám sát dịch.
- Các cơ sở y tế dự phòng tuyến huyện:
Xây dựng và phát triển các trung tâm y tế dự phòng huyện để làm nhiệm vụ: vệ sinh phòng bệnh, giám sát, phát hiện và phòng chống dịch, kiểm soát và phòng chống HIV/AIDS, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, chăm sóc sức khỏe sinh sản, truyền thông giáo dục sức khỏe và tham gia xây dựng làng văn hóa sức khỏe trên địa bàn.
b) Phát triển mạng lưới khám chữa bệnh - phục hồi chức năng:
- Hình thành mạng lưới khám, chữa bệnh theo các tuyến kỹ thuật từ thấp đến cao, bảo đảm tính liên tục về cấp độ chuyên môn. Mỗi cơ sở đảm bảo việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho một cụm dân cư, bảo đảm tiêu chuẩn xếp hạng bệnh viện theo quy định của Bộ Y tế cho từng tuyến.
+ Tuyến 1: Bao gồm các bệnh viện đa khoa huyện, thành, thị xã, bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện, một số bệnh viện ngành và bệnh viện tư nhân, cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh cơ bản; tiếp nhận bệnh nhân từ cộng đồng hay từ các trạm y tế cơ sở chuyển đến.
Mỗi khu vực cụm dân cư huyện hoặc liên huyện có một bệnh viện huyện hoặc bệnh viện đa khoa khu vực. Quy mô giường bệnh tuyến 1 tối thiểu là 50 giường và tối đa không quá 200 giường tuỳ theo mật độ dân cư trong cụm dân cư phục vụ.
(Riêng huyện Quỳnh Lưu do dân số trên 35 vạn có thể có quy mô trên 200 giường). Trung bình cứ 1 giường bệnh phục vụ từ 1.500 đến 1.700 dân.
Duy trì và phát triển Phòng khám đa khoa khu vực thuộc bệnh viện huyện tại các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, bảo đảm cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản cho nhân dân địa phương.
+ Tuyến 2: Bao gồm các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh, bệnh viện tư nhân và một số bệnh viện ngành đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng II trở lên; cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh với các kỹ thuật chuyên khoa, chuyên ngành, đáp ứng hầu hết các nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân; là cơ sở thực hành cho học sinh các trường y - dược trong tỉnh.
Hiện tại, Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng II; sau năm 2010 phấn đấu đạt bệnh viện hạng I (tương đương Bệnh viện Trung ương). Trung bình cứ 1 giường bệnh tuyến 2 (bao gồm cả các bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh) phục vụ từ 900 đến 1.000 dân trong tỉnh và khu vực lân cận.
Trong giai đoạn tới, tiếp tục củng cố và phát triển các Trung tâm chuyên khoa Nội tiết, Mắt thành Bệnh viện chuyên khoa Nội tiết, Bệnh viện chuyên khoa Mắt. Từ năm 2010 thành lập Bệnh viện Phụ sản quy mô từ 200 - 300 giường bệnh.
Củng cố và phát triển Bệnh viện Điều dưỡng - phục hồi chức năng trên cơ sở tự bảo đảm, cân đối ngân sách cho hoạt động có hiệu quả của bệnh viện, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về phục hồi chức năng của nhân dân và người lao động.
c) Củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở:
- Tiếp tục củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và cán bộ y tế, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tuyến cơ sở, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cơ bản của toàn dân, đồng thời thực hiện được một số kỹ thuật đơn giản trong khám, điều trị.
- Củng cố tổ chức, mạng lưới và hoạt động chuyên môn của y tế xã. Đến năm 2010, hầu hết các xã, phường có trạm y tế kiên cố phù hợp với điều kiện kinh tế, địa lý, môi trường sinh thái và nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân trên địa bàn.
- Bảo đảm 90% số Trạm y tế xã có bác sỹ, trong đó có 100% các Trạm y tế xã ở đồng bằng và 80% các Trạm y tế xã ở miền núi có bác sỹ; 100% Trạm Y tế xã có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản, nhi, trong đó 80% là nữ hộ sinh trung học; 80% trạm y tế xã có cán bộ làm công tác y dược học cổ truyền; trung bình mỗi cán bộ trạm y tế xã phục vụ từ 1.000 đến 1.200 dân. Bảo đảm tối thiểu có 5 cán bộ y tế theo chức danh do Bộ Y tế quy định cho 1 trạm y tế xã. ở các thành phố lớn, số lượng cán bộ y tế được cân đối theo tỷ lệ cứ 1.400 đến 1.500 dân có một cán bộ trạm y tế phường phục vụ. Phấn đấu đến hết năm 2010 có 75% số xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế xã.
- Đảm bảo mỗi thôn, bản có từ 1 đến 2 nhân viên y tế có trình độ từ sơ học y trở lên hoạt động.
- Các doanh nghiệp có số lượng công nhân từ 200 đến dưới 500 người phải có từ 01 - 03 cán bộ y tế phục vụ. Các doanh nghiệp có từ 500 công nhân trở lên phải thành lập trạm y tế của doanh nghiệp.
- Bảo đảm mỗi trường phổ thông có từ 01 – 02 cán bộ y tế phục vụ. Các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có trạm y tế cơ sở.
d) Củng cố và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về dược, phát triển hệ thống sản xuất, lưu thông phân phối và cung ứng thuốc. Bảo đảm anh toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm.
- Kiện toàn và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về dược phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm từ tỉnh đến cơ sở.
- Quy hoạch và phát triển ngành dược trở thành một ngành kinh tế – kỹ thuật mũi nhọn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
+ Quy hoạch và phát triển toàn diện cả về công nghiệp bào chế thuốc, công nghiệp sản xuất thuốc từ dược liệu, các vùng nuôi, trồng dược liệu trọng điểm, công nghiệp sản xuất nguyên liệu hoá dược và nguyên liệu kháng sinh làm thuốc.
+ Quy hoạch, tổ chức lại và phát triển hệ thống phân phối, cung ứng thuốc, bảo đảm ổn định thị trường thuốc với giá cả hợp lý, bảo đảm chất lượng phục vụ công tác phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân.