Document: Điều 1 Quyết định 640/QĐ-UBND quy hoạch phát triển nuôi cá lồng trên sông Thái Bình 2016 2020 2025

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Bình", "promulgation_date": "15/03/2016", "sign_number": "640/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Văn Ca", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Bình", "promulgation_date": "15/03/2016", "sign_number": "640/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Văn Ca", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Bình", "promulgation_date": "15/03/2016", "sign_number": "640/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Văn Ca", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Bình", "promulgation_date": "15/03/2016", "sign_number": "640/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Văn Ca", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Bình", "promulgation_date": "15/03/2016", "sign_number": "640/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Văn Ca", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 640/QĐ-UBND quy hoạch phát triển nuôi cá lồng trên sông Thái Bình 2016 2020 2025 có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển nuôi cá lồng trên sông giai đoạn 2016 - 2020, định hướng 2025, tỉnh Thái Bình, với các nội dung sau:
I. QUAN ĐIỂM:
- Khai thác tốt tiềm năng lợi thế của đất ngập nước, đẩy mạnh nuôi cá lồng trên sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Hóa theo hướng tập trung, công nghiệp, bền vững, hiệu quả.
- Phát triển nuôi cá lồng không chồng lấn với các Quy hoạch khác như: giao thông thủy, bến bãi vật liệu, bến đò, bến phà, điểm lấy nước sạch tập trung, cửa cống tưới tiêu nước; không ảnh hưởng đến an toàn của công trình đê điều.
- Phát triển cá lồng trên sông phải tuân thủ quy hoạch được cấp thẩm quyền phê duyệt, chấp hành nghiêm chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước; đẩy mạnh áp dụng khoa học, công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh, thực hiện quy trình nuôi và kiểm soát dịch bệnh theo mô hình VietGAP tạo sản phẩm sạch phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
- Phát triển nuôi cá lồng trên sông phải có bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của hộ sản xuất kinh doanh, tình hình thực tế, nhu cầu thị trường, tránh chủ quan, nóng vội.
- Nguồn lực cho phát triển chủ yếu do các chủ hộ tự huy động, Nhà nước tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ đầu tư xây dựng một số công trình hạ tầng thiết yếu và lãi suất tiền vay, tiền thuê đất mặt nước, chuyển giao khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực; hướng dẫn tập huấn về kỹ thuật, phòng chống thiên tai, cảnh báo môi trường...
II. MỤC TIÊU:
- Năm 2016: Triển khai nuôi 300 lồng (trong đó đã triển khai năm 2015: 230 lồng), với tổng thể tích 32.128 m3, sản lượng cá thương phẩm 899,6 tấn; giá trị sản xuất 28,013 tỷ đồng.
- Năm 2017: Triển khai nuôi 450 lồng, với tổng thể tích 48.328 m3, sản lượng cá thương phẩm 1401,5 tấn; giá trị sản xuất 48,309 tỷ đồng.
- Năm 2018: Triển khai nuôi 680 lồng, với tổng thể tích 73.168 m3, sản lượng cá thương phẩm 2.195,0 tấn; giá trị sản xuất 82,97 tỷ đồng.
- Năm 2019: Triển khai nuôi 1.020 lồng, với tổng thể tích 109.888 m3, sản lượng cá thương phẩm 3.406,5 tấn; giá trị sản xuất 140,14 tỷ đồng.
- Năm 2020: Triển khai nuôi 1.500 lồng, với tổng thể tích 161.728 m3, sản lượng cá thương phẩm 5.175,3 tấn; giá trị sản xuất 230,197 tỷ đồng.
- Đến năm 2025: Triển khai nuôi 3.000 đến 3.496 lồng, sản lượng cá thương phẩm 10.997,5 -12.698 tấn; giá trị sản xuất 659,851 tỷ - 761,0 tỷ đồng.
III. PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH:
1. Yêu cầu kỹ thuật khi xác định vị trí nuôi cá lồng:
- Bố trí nuôi cá lồng ở phía bờ lồi của các sông.
- Theo chiều dòng chảy: Lồng bè phải cách tối thiểu 50 m đối với cống tưới tiêu, 100 m đối với bến phà, 50 m đối với bến đò, 50 m đối với bãi vật liệu, 100 m đối với khu neo đậu tầu thuyền, chân hàng, cảng sông; đối với điểm lấy nước sạch nông thôn tập trung: Cách về phía thượng lưu 200m, về phía hạ lưu 100m;
- Khoảng cách của hai bè nuôi cá lồng là 100m.
- Theo chiều ngang sông: Lồng, bè chỉ được thả tại vị trí mặt nước nơi chiều sâu nước sông trong mùa nuôi từ 3m đến 3,5m trở lên; sông Hồng: Quy hoạch 04 hàng lồng, chiều rộng 28,5m; sông Luộc, sông Trà Lý và lạch sông Hồng: Quy hoạch 03 hàng lồng chiều, rộng 21m; sông Hóa: Quy hoạch 01 hàng lồng, chiều rộng 6,0m; lồng bè phải cách bờ sông, bờ đê một khoảng cách an toàn tối thiểu 10m.
2. Số lượng lồng phân bổ theo khu vực trên các sông và mốc chỉ giới quy hoạch phát triển nuôi cá lồng:
2.1. Số lượng lồng phân bổ theo khu vực trên các sông:
Quy hoạch phát triển nuôi cá lồng theo chiều dọc sông của 4 con sông: Sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Hóa, tại 28 khu vực với 3.496 lồng; bao gồm sông Hồng: 12 khu vực, 1.881 lồng; sông Luộc: 9 khu vực, 945 lồng; sông Trà: 6 khu vực, 625 lồng; sông Hóa: 1 khu vực, 45 lồng,
Phân theo các huyện: Vũ Thư: 10 khu vực, 1.584 lồng; Hưng Hà: 7 khu vực, 847 lồng; Quỳnh Phụ: 6 khu vực, 546 lồng; Đông Hưng: 3 khu vực, 254 lồng; Kiến Xương: 2 khu vực, 265 lồng,
(Chi tiết tại Phụ lục 1)
2.2. Mốc chỉ giới quy hoạch phát triển nuôi cá lồng:
Mốc chỉ giới quy hoạch phát triển nuôi cá lồng chi tiết từng khu vực (28 khu vực) trên các sông được thể hiện tại Phụ lục 2.
3. Quy hoạch đường giao thông và đường điện phục vụ phát triển nuôi cá lồng:
Quy hoạch và xây dựng 84 tuyến đường giao thông dài 43,75km; 88 tuyến đường điện dài 50,96km nhằm kết nối giao thông và điện giữa khu vực phát triển nuôi cá lồng trên sông với hệ thống hạ tầng của địa phương, nhằm hỗ trợ các khu vực sản xuất, kinh doanh phát triển cá lồng đạt năng suất, hiệu quả cao.
(Chi tiết tại Phụ lục 3)
4. Nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2016 - 2020: 141,2 tỷ đồng.
5. Hiệu quả kinh tế xã hội:
- Phát triển nuôi cá lồng trên sông khai thác được tiềm năng thế mạnh của đất ngập nước, tạo thêm quỹ đất cho nuôi trồng thủy sản, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân; giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 3.000 lao động trực tiếp và hàng ngàn lao động dịch vụ.
- Sản lượng nuôi cá lồng đến năm 2025 đạt trên 11.000 tấn, tương đương với diện tích nuôi trong nội đồng khoảng 3.000 ha.
IV. KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ LỒNG TRÊN SÔNG GIAI ĐOẠN 2016-2020:
Để đảm bảo mục tiêu quy hoạch và phù hợp với thực tế điều kiện kinh tế xã hội của các địa phương, kế hoạch phát triển nuôi cá lồng trên sông giai đoạn 2016-2020 của tỉnh như sau:
- Năm 2016: Triển khai nuôi 300 lồng tăng 70 lồng so với năm 2015.
- Năm 2017: Triển khai nuôi 450 lồng tăng 150 lồng so với năm 2016.
- Năm 2018: Triển khai nuôi 680 lồng tăng 230 lồng so với năm 2017.
- Năm 2019: Triển khai nuôi 1.020 lồng tăng 340 lồng so với năm 2018.
- Năm 2020: Triển khai nuôi 1.500 lồng tăng 480 lồng so với năm 2019.
(Chi tiết tại Phụ lục 4)
V. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN QUY HOẠCH:
1. Giải pháp kỹ thuật nuôi:
- Khuyến khích các hộ sản xuất kinh doanh phát triển nuôi cá lồng theo hướng tập trung, thâm canh công nghiệp. Khung lồng bằng thép sơn chống gỉ hoặc thép mạ, lưới PE, phao nhựa. Bè được ghép bởi nhiều lồng nên có quy mô phù hợp từ 10 đến 20 lồng trở lên, bố trí lồng tam giác phía thượng lưu, phía ngoài có hệ thống đèn báo, phao tiêu.
- Giống cá nuôi lồng gồm cá thường, cá đặc sản nhưng không được nuôi những giống chưa được khảo nghiệm hoặc giống cá hủy diệt thủy sản, thủy sinh bản địa.
- Thức ăn cho cá: Sử dụng loại thức ăn công nghiệp dạng viên nổi, không được sử dụng chất cấm.
- Thuốc thú y: Chỉ sử dụng loại thuốc được phép, khuyến khích sử dụng chế phẩm sinh học thân thiện với môi trường.
2. Giải pháp về đất đai:
Căn cứ Quy hoạch phát triển nuôi cá lồng trên sông được phê duyệt và các quy định hiện hành của nhà nước, Ủy ban nhân dân các huyện: Vũ Thư, Hưng Hà, Đông Hưng, Kiến Xương, Quỳnh Phụ phối hợp với các cấp, các ngành có liên quan, rà soát kiểm tra thực trạng sử dụng đất có mặt nước của các sông (sau đây gọi tắt là đất sông); trên cơ sở đó xây dựng Kế hoạch sử dụng đất hàng năm, phương án sử dụng đất có mặt nước phục vụ cho nuôi cá lồng giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến 2025 trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện.
- Đối với diện tích đất sông hiện nay đang nuôi cá lồng, Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo đơn vị chức năng rà soát lại diện tích thực tế của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, phân loại và xử lý theo hướng:
+ Diện tích nuôi phù hợp quy hoạch mà có hợp đồng thuê đất sông thì giữ nguyên hợp đồng đã ký cho đến khi hết thời hạn. Khi hết thời hạn hợp đồng, Ủy ban nhân dân huyện tiến hành cho thuê theo thẩm quyền, hoặc báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định đối với trường hợp người thuê đất sông là tổ chức.
+ Diện tích nuôi phù hợp quy hoạch mà không có hợp đồng thuê đất sông, thì tiến hành kiểm tra diện tích thực tế, yêu cầu chủ hộ làm các thủ tục thuê đất sông theo quy định hiện hành của Nhà nước. Nếu chủ hộ không chấp hành thì tiến hành thu hồi đất, cho các tổ chức, cá nhân khác thuê đất theo quy định.
+ Diện tích nuôi không nằm trong quy hoạch mà có hợp đồng thuê đất sông thì cho phép sử dụng đến hết thời hạn hợp đồng, sau đó tiến hành thu hồi đất theo quy định.
+ Diện tích nuôi không nằm trong quy hoạch mà không có hợp đồng thuê đất sông thì tiến hành thu hồi đất theo quy định.
- Đối với diện tích nằm trong quy hoạch nuôi cá lồng giai đoạn 2016 - 2020 mà chưa được tổ chức nuôi thì tiến hành xác định đơn giá, hạn mức, đối tượng và thời gian thuê đất. Trong đó, cần lưu ý một số điểm sau:
+ Đối tượng thuê đất sông là hộ gia đình, cá nhân hoặc tổ chức; trong đó ưu tiên cho các hộ gia đình, cá nhân sinh sống tại địa phương có khả năng về vốn và nhân lực.
+ Thời gian thuê đất: 5 năm.
+ Hạn mức sử dụng đất sông: Theo quy định của Luật Đất đai.
+ Thẩm quyền cho thuê đất sông: Theo quy định của Luật Đất đai.
3. Giải pháp nguồn nhân lực
- Các huyện xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn kỹ thuật, quản lý đầu tư (trong tất cả các khâu từ sản xuất giống, nuôi cá thịt đến thu hoạch bảo quản sản phẩm) cho các hộ nuôi.
- Bằng nguồn vốn khuyến nông - khuyến ngư, tăng cường tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật, xây dựng các mô hình trình diễn, chuyển giao giao kỹ thuật cho những người trực tiếp tham gia nuôi cá lồng.
4. Huy động vốn:
Tổng nguồn vốn đầu tư đến năm 2020 ước khoảng 141,2 tỷ đồng, trong đó:
- Nguồn vốn tự huy động của hộ nuôi là chủ yếu, chiếm khoảng 89,79%. Nguồn vốn này để đầu tư làm lồng (lắp, hàn, hạ lồng), mua con giống, thức ăn, điện, thuốc phòng trừ bệnh, vôi, nhà bảo vệ trên lồng;
- Ngân sách nhà nước hỗ trợ chiếm khoảng 10,21% trong tổng vốn đầu tư phục vụ cho công tác quy hoạch, lắp đặt hệ thống phao tiêu, biển báo; mô hình khuyến ngư, tập huấn kỹ thuật, xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, đào tạo nguồn nhân lực; hỗ trợ tiếp nhận và chuyển giao khoa học công nghệ; hỗ trợ xây dựng công trình kết cấu hạ tầng đường giao thông và tuyến đường điện kết nối vùng nuôi cá lồng với hạ tầng kỹ thuật của các địa phương; hỗ trợ lãi suất tiền vay.
5. Về khoa học công nghệ
Tập trung nghiên cứu một số đề tài khoa học trong lĩnh vực nuôi cá lồng như: sử dụng hóa chất, chế phẩm sinh học để xử lý môi trường nước trong quá trình nuôi cá; nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự sinh trưởng, phát triển của cá; nghiên cứu thức ăn tự chế; nghiên cứu các bệnh trên cá nuôi, ứng dụng các biện pháp tiên tiến trong phòng và trị bệnh cho cá lồng.
Ngoài nguồn vốn khoa học của tỉnh, cần tranh thủ các nguồn vốn khoa học của trung ương, để nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển nuôi cá lồng. Tăng cường và mở rộng hợp tác trong ngoài nước nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ phát triển nuôi cá lồng, nhất là đối với các nước, các tỉnh có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Nghiên cứu khảo nghiệm sản xuất cá giống và nuôi cá thương phẩm trong lồng các đối tượng cá có giá trị kinh tế gồm cá diêu hồng, cá lăng, cá trắm lai, cá ngạnh. Tạo điều kiện hỗ trợ cho các cơ sở sinh sản nhân tạo giống được tiếp nhận và chuyển giao công nghệ sinh sản nhân tạo. Tiếp nhận công nghệ sản xuất giống từ các địa phương khác, tiếp nhận đàn cá bố mẹ có chất lượng, sức sinh sản tốt để chủ động giải quyết nhu cầu con giống tại chỗ cho người nuôi.
Nghiên cứu cải tiến chất liệu kết cấu lồng có tuổi thọ cao hơn nữa, chi phí thấp nhằm tăng giá trị cạnh tranh cho sản phẩm cá lồng.
6. Tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm:
a. Tổ chức sản xuất:
- Xây dựng và ban hành quy chế quản lý vùng nuôi để tăng cường quản lý nhà nước, đảm bảo an ninh trật tự đối với hoạt động nuôi cá lồng.
- Phát triển kinh tế hộ là chủ yếu, bên cạnh đó thực hiện thí điểm mô hình liên kết giữa doanh nghiệp với các hộ dân để sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn theo phương thức công nghiệp, hiện đại. Khuyến khích và tạo điều kiện để các hộ gia đình hình thành các nhóm, tổ hợp tác nuôi cá lồng nhằm giúp nhau chia sẻ kinh nghiệm, khoa học kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm và bảo vệ sản xuất.
- Việc chọn hộ nuôi cá lồng phải đáp ứng được các tiêu chí sau: Có khả năng về vốn, chấp hành tốt chủ trương chính sách, pháp luật của nhà nước, cam kết chấp hành quy chế cùng nuôi và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước, cam kết bảo vệ môi trường.
b. Tiêu thụ sản phẩm:
- Tăng cường công tác thông tin về thị trường, hướng dẫn các biện pháp kỹ thuật trong thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; làm tốt công tác xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm cá lồng của tỉnh; xây dựng và đăng ký thương hiệu cá lồng Thái Bình.
- Khuyến cáo các doanh nghiệp đầu tư bao tiêu sản phẩm nuôi trong tỉnh, tạo thị trường tiêu thụ ổn định cho các hộ nuôi.
7. Công tác bảo vệ môi trường, phòng chống lũ, bão
Khi thuê đất các chủ hộ phải tiến hành đánh giá tác động môi trường, hoặc cam kết bảo vệ môi trường theo quy định hiện hành, trình cấp thẩm quyền phê duyệt.
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; quản lý chặt chẽ các nguồn nước thải từ các nhà máy, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu dân cư trước khi đổ ra hệ thống sông tiêu của tỉnh. Thực hiện định kỳ quan trắc và cảnh báo môi trường ven sông, thông báo kịp thời cho người nuôi cá về diễn biến của môi trường để có phương án thu hoạch, bảo vệ cá nuôi cho phù hợp. Khi cá bị chết, thực hiện thu gom, vận chuyển ra khỏi vùng nuôi đưa vào đất liền chôn lấp hoặc tiêu hủy, đồng thời tiến hành vệ sinh đảm bảo không ô nhiễm môi trường.
Thực hiện tốt các biện pháp phòng chống lũ, bão, áp thấp nhiệt đới. Thông báo kịp thời diễn biến của bão, áp thấp nhiệt đới để nhân dân gia cố, bảo vệ lồng nuôi và kịp thời di chuyển người đến nơi an toàn trước khi bão, áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào.
8. Cơ chế chính sách khuyến khích phát triển:
Xây dựng và ban hành chính sách phát triển nuôi cá lồng giai đoạn 2016 - 2020, bao gồm: Chính sách huy động vốn và mức hỗ trợ của ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng vùng sản xuất; hỗ trợ chuyển giao khoa học công nghệ trong sản xuất giống và nuôi cá thương phẩm; hỗ trợ phát triển thị trường cung cấp thông tin; hỗ trợ đào tạo, tập huấn nguồn nhân lực; chính sách về đất đai và tín dụng.
VI. CHƯƠNG TRÌNH DỰ ÁN ƯU TIÊN ĐẦU TƯ
- Xây dựng quy trình phát triển nuôi cá lồng, tập huấn, đào tạo nguồn nhân lực quản lý và lao động trực tiếp sản xuất.
- Tiếp thu, chuyển giao công nghệ sản xuất giống cá phổ thông và cá đặc sản phục vụ cho nhu cầu giống cá nuôi lồng của tỉnh.
- Đầu tư các mô hình trình diễn sản xuất cá lồng thương phẩm, đặc sản.
- Đầu tư công trình kết cấu hạ tầng đường giao thông và điện phục vụ phát triển nuôi cá lồng theo quy hoạch.
VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1. Đối với các sở, ngành của tỉnh
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: cắm mốc chỉ giới quy hoạch và bàn giao quy hoạch nuôi cá lồng cho các địa phương triển khai thực hiện; hướng dẫn các địa phương, tổ chức, cá nhân về chuyển giao khoa học công nghệ, quản lý dịch bệnh; tập huấn kỹ thuật nuôi và phòng trừ dịch bệnh, xử lý môi trường; tổ chức xây dựng mô hình nuôi cá lồng thương phẩm; phối hợp với các ngành liên quan trong việc kiểm tra, giám sát các quy định nhà nước về nuôi cá lồng trên sông; trực tiếp triển khai thực hiện các dự án, các chương trình phát triển nuôi cá lồng do Sở làm chủ đầu tư.
- Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các sở, ngành chức năng xây dựng cơ chế, chính sách cho phát triển nuôi cá lồng. Bố trí ngân sách quy hoạch vùng nuôi cá lồng, ngân sách hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng của khu nuôi, công trình chính của các cơ sở sản xuất giống, mua đàn cá bố mẹ, ngân sách nghiên cứu khoa học. Bố trí vốn khuyến ngư xây dựng mô hình, tập huấn kỹ thuật nuôi, chuyển giao tiến bộ khoa học về sản xuất giống.
- Sở Công thương phối hợp với sở, ngành hữu quan hỗ trợ xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm cá lồng.
- Sở Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn Ủy ban nhân dân các huyện xây dựng phương án cho thuê đất mặt nước trên sông để phát triển nuôi cá lồng.
- Sở Khoa học và Công nghệ căn cứ nguồn vốn hàng năm bố trí kinh phí chuyển giao công nghệ sản xuất giống một số đối tượng có giá trị kinh tế; kinh phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học về sản xuất giống, công nghệ xử lý sau thu hoạch để nâng cao chất lượng sản phẩm.
- Sở Giao thông Vận tải phối hợp Cục quản lý đường sông hỗ trợ, hướng dẫn cắm phao tiêu, biển báo để đảm bảo an toàn giao thông đường thủy nội địa.
- Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Thái Bình chỉ đạo các tổ chức tín dụng khai thác nguồn vốn, tạo điều kiện cho các hộ dân, các tổ chức vay vốn để phát triển nuôi cá lồng.
- Đài Phát thanh Truyền hình Thái Bình, Báo Thái Bình, các tổ chức đoàn thể tuyên truyền Đề án phát triển nuôi cá lồng của tỉnh.
- Công an đường thủy căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao xây dựng phương án giữ gìn trật tự an ninh tại địa phương khi triển khai thực hiện Đề án.
2. Ủy ban nhân dân các huyện có diện tích mặt nước phát triển nuôi cá lồng.
- Chịu trách nhiệm trực tiếp triển khai, chỉ đạo thực hiện quy hoạch và tổ chức quản lý, kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện quy hoạch nuôi cá lồng ở địa phương.
- Xây dựng quy chế quản lý vùng nuôi trình cấp thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện; rà soát thực trạng sử dụng đất vùng đất ngập nước trên các sông, xây dựng phương án sử dụng đất mặt nước giai đoạn 2016 - 2020, kế hoạch sử dụng đất hàng năm trình cấp thẩm quyền phê duyệt và triển khai thực hiện theo quy định.
- Xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực; cử cán bộ hướng dẫn kỹ thuật cho các cơ sở sản xuất, các hộ gia đình.
- Bố trí nguồn lực của địa phương để hỗ trợ phát triển nuôi cá lồng theo quy định.
3. Ủy ban nhân dân các xã có diện tích mặt nước phát triển nuôi cá lồng:
- Được Ủy ban nhân dân huyện ủy quyền triển khai thực hiện quy hoạch chi tiết khu vực nuôi cá lồng; xây dựng phương án sản xuất trình Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt.
- Thực hiện công khai quy hoạch nuôi cá lồng trong phạm vi của xã quản lý, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Nhà nước về nuôi cá lồng trên sông tới nhân dân; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tỉnh, huyện tuyên truyền và thực hiện tốt nội dung Thông tư 14/2011/TT-BNNPTNT ngày 29/03/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc kiểm tra, đánh giá phân loại các cơ sở nuôi cá lồng bè, tạo sản phẩm an toàn cho người sử dụng.
- Phối hợp với lực lượng chức năng đảm bảo an ninh, trật tự xã hội, an toàn về người, tài sản, đê điều, môi trường trên sông thuộc phạm vi quản lý của xã.

Content:
Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển nuôi cá lồng trên sông giai đoạn 2016 - 2020, định hướng 2025, tỉnh Thái Bình, với các nội dung sau:
I. QUAN ĐIỂM:
- Khai thác tốt tiềm năng lợi thế của đất ngập nước, đẩy mạnh nuôi cá lồng trên sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Hóa theo hướng tập trung, công nghiệp, bền vững, hiệu quả.
- Phát triển nuôi cá lồng không chồng lấn với các Quy hoạch khác như: giao thông thủy, bến bãi vật liệu, bến đò, bến phà, điểm lấy nước sạch tập trung, cửa cống tưới tiêu nước; không ảnh hưởng đến an toàn của công trình đê điều.
- Phát triển cá lồng trên sông phải tuân thủ quy hoạch được cấp thẩm quyền phê duyệt, chấp hành nghiêm chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước; đẩy mạnh áp dụng khoa học, công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh, thực hiện quy trình nuôi và kiểm soát dịch bệnh theo mô hình VietGAP tạo sản phẩm sạch phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
- Phát triển nuôi cá lồng trên sông phải có bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của hộ sản xuất kinh doanh, tình hình thực tế, nhu cầu thị trường, tránh chủ quan, nóng vội.
- Nguồn lực cho phát triển chủ yếu do các chủ hộ tự huy động, Nhà nước tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ đầu tư xây dựng một số công trình hạ tầng thiết yếu và lãi suất tiền vay, tiền thuê đất mặt nước, chuyển giao khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực; hướng dẫn tập huấn về kỹ thuật, phòng chống thiên tai, cảnh báo môi trường...
II. MỤC TIÊU:
- Năm 2016: Triển khai nuôi 300 lồng (trong đó đã triển khai năm 2015: 230 lồng), với tổng thể tích 32.128 m3, sản lượng cá thương phẩm 899,6 tấn; giá trị sản xuất 28,013 tỷ đồng.
- Năm 2017: Triển khai nuôi 450 lồng, với tổng thể tích 48.328 m3, sản lượng cá thương phẩm 1401,5 tấn; giá trị sản xuất 48,309 tỷ đồng.
- Năm 2018: Triển khai nuôi 680 lồng, với tổng thể tích 73.168 m3, sản lượng cá thương phẩm 2.195,0 tấn; giá trị sản xuất 82,97 tỷ đồng.
- Năm 2019: Triển khai nuôi 1.020 lồng, với tổng thể tích 109.888 m3, sản lượng cá thương phẩm 3.406,5 tấn; giá trị sản xuất 140,14 tỷ đồng.
- Năm 2020: Triển khai nuôi 1.500 lồng, với tổng thể tích 161.728 m3, sản lượng cá thương phẩm 5.175,3 tấn; giá trị sản xuất 230,197 tỷ đồng.
- Đến năm 2025: Triển khai nuôi 3.000 đến 3.496 lồng, sản lượng cá thương phẩm 10.997,5 -12.698 tấn; giá trị sản xuất 659,851 tỷ - 761,0 tỷ đồng.
III. PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH:
1. Yêu cầu kỹ thuật khi xác định vị trí nuôi cá lồng:
- Bố trí nuôi cá lồng ở phía bờ lồi của các sông.
- Theo chiều dòng chảy: Lồng bè phải cách tối thiểu 50 m đối với cống tưới tiêu, 100 m đối với bến phà, 50 m đối với bến đò, 50 m đối với bãi vật liệu, 100 m đối với khu neo đậu tầu thuyền, chân hàng, cảng sông; đối với điểm lấy nước sạch nông thôn tập trung: Cách về phía thượng lưu 200m, về phía hạ lưu 100m;
- Khoảng cách của hai bè nuôi cá lồng là 100m.
- Theo chiều ngang sông: Lồng, bè chỉ được thả tại vị trí mặt nước nơi chiều sâu nước sông trong mùa nuôi từ 3m đến 3,5m trở lên; sông Hồng: Quy hoạch 04 hàng lồng, chiều rộng 28,5m; sông Luộc, sông Trà Lý và lạch sông Hồng: Quy hoạch 03 hàng lồng chiều, rộng 21m; sông Hóa: Quy hoạch 01 hàng lồng, chiều rộng 6,0m; lồng bè phải cách bờ sông, bờ đê một khoảng cách an toàn tối thiểu 10m.
2. Số lượng lồng phân bổ theo khu vực trên các sông và mốc chỉ giới quy hoạch phát triển nuôi cá lồng:
2.1. Số lượng lồng phân bổ theo khu vực trên các sông:
Quy hoạch phát triển nuôi cá lồng theo chiều dọc sông của 4 con sông: Sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Hóa, tại 28 khu vực với 3.496 lồng; bao gồm sông Hồng: 12 khu vực, 1.881 lồng; sông Luộc: 9 khu vực, 945 lồng; sông Trà: 6 khu vực, 625 lồng; sông Hóa: 1 khu vực, 45 lồng,
Phân theo các huyện: Vũ Thư: 10 khu vực, 1.584 lồng; Hưng Hà: 7 khu vực, 847 lồng; Quỳnh Phụ: 6 khu vực, 546 lồng; Đông Hưng: 3 khu vực, 254 lồng; Kiến Xương: 2 khu vực, 265 lồng,
(Chi tiết tại Phụ lục 1)
2.2. Mốc chỉ giới quy hoạch phát triển nuôi cá lồng:
Mốc chỉ giới quy hoạch phát triển nuôi cá lồng chi tiết từng khu vực (28 khu vực) trên các sông được thể hiện tại Phụ lục 2.
3. Quy hoạch đường giao thông và đường điện phục vụ phát triển nuôi cá lồng:
Quy hoạch và xây dựng 84 tuyến đường giao thông dài 43,75km; 88 tuyến đường điện dài 50,96km nhằm kết nối giao thông và điện giữa khu vực phát triển nuôi cá lồng trên sông với hệ thống hạ tầng của địa phương, nhằm hỗ trợ các khu vực sản xuất, kinh doanh phát triển cá lồng đạt năng suất, hiệu quả cao.
(Chi tiết tại Phụ lục 3)
4. Nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2016 - 2020: 141,2 tỷ đồng.
5. Hiệu quả kinh tế xã hội:
- Phát triển nuôi cá lồng trên sông khai thác được tiềm năng thế mạnh của đất ngập nước, tạo thêm quỹ đất cho nuôi trồng thủy sản, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân; giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 3.000 lao động trực tiếp và hàng ngàn lao động dịch vụ.
- Sản lượng nuôi cá lồng đến năm 2025 đạt trên 11.000 tấn, tương đương với diện tích nuôi trong nội đồng khoảng 3.000 ha.
IV. KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ LỒNG TRÊN SÔNG GIAI ĐOẠN 2016-2020:
Để đảm bảo mục tiêu quy hoạch và phù hợp với thực tế điều kiện kinh tế xã hội của các địa phương, kế hoạch phát triển nuôi cá lồng trên sông giai đoạn 2016-2020 của tỉnh như sau:
- Năm 2016: Triển khai nuôi 300 lồng tăng 70 lồng so với năm 2015.
- Năm 2017: Triển khai nuôi 450 lồng tăng 150 lồng so với năm 2016.
- Năm 2018: Triển khai nuôi 680 lồng tăng 230 lồng so với năm 2017.
- Năm 2019: Triển khai nuôi 1.020 lồng tăng 340 lồng so với năm 2018.
- Năm 2020: Triển khai nuôi 1.500 lồng tăng 480 lồng so với năm 2019.
(Chi tiết tại Phụ lục 4)
V. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN QUY HOẠCH:
1. Giải pháp kỹ thuật nuôi:
- Khuyến khích các hộ sản xuất kinh doanh phát triển nuôi cá lồng theo hướng tập trung, thâm canh công nghiệp. Khung lồng bằng thép sơn chống gỉ hoặc thép mạ, lưới PE, phao nhựa. Bè được ghép bởi nhiều lồng nên có quy mô phù hợp từ 10 đến 20 lồng trở lên, bố trí lồng tam giác phía thượng lưu, phía ngoài có hệ thống đèn báo, phao tiêu.
- Giống cá nuôi lồng gồm cá thường, cá đặc sản nhưng không được nuôi những giống chưa được khảo nghiệm hoặc giống cá hủy diệt thủy sản, thủy sinh bản địa.
- Thức ăn cho cá: Sử dụng loại thức ăn công nghiệp dạng viên nổi, không được sử dụng chất cấm.
- Thuốc thú y: Chỉ sử dụng loại thuốc được phép, khuyến khích sử dụng chế phẩm sinh học thân thiện với môi trường.
2. Giải pháp về đất đai:
Căn cứ Quy hoạch phát triển nuôi cá lồng trên sông được phê duyệt và các quy định hiện hành của nhà nước, Ủy ban nhân dân các huyện: Vũ Thư, Hưng Hà, Đông Hưng, Kiến Xương, Quỳnh Phụ phối hợp với các cấp, các ngành có liên quan, rà soát kiểm tra thực trạng sử dụng đất có mặt nước của các sông (sau đây gọi tắt là đất sông); trên cơ sở đó xây dựng Kế hoạch sử dụng đất hàng năm, phương án sử dụng đất có mặt nước phục vụ cho nuôi cá lồng giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến 2025 trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện.
- Đối với diện tích đất sông hiện nay đang nuôi cá lồng, Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo đơn vị chức năng rà soát lại diện tích thực tế của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, phân loại và xử lý theo hướng:
+ Diện tích nuôi phù hợp quy hoạch mà có hợp đồng thuê đất sông thì giữ nguyên hợp đồng đã ký cho đến khi hết thời hạn. Khi hết thời hạn hợp đồng, Ủy ban nhân dân huyện tiến hành cho thuê theo thẩm quyền, hoặc báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định đối với trường hợp người thuê đất sông là tổ chức.
+ Diện tích nuôi phù hợp quy hoạch mà không có hợp đồng thuê đất sông, thì tiến hành kiểm tra diện tích thực tế, yêu cầu chủ hộ làm các thủ tục thuê đất sông theo quy định hiện hành của Nhà nước. Nếu chủ hộ không chấp hành thì tiến hành thu hồi đất, cho các tổ chức, cá nhân khác thuê đất theo quy định.
+ Diện tích nuôi không nằm trong quy hoạch mà có hợp đồng thuê đất sông thì cho phép sử dụng đến hết thời hạn hợp đồng, sau đó tiến hành thu hồi đất theo quy định.
+ Diện tích nuôi không nằm trong quy hoạch mà không có hợp đồng thuê đất sông thì tiến hành thu hồi đất theo quy định.
- Đối với diện tích nằm trong quy hoạch nuôi cá lồng giai đoạn 2016 - 2020 mà chưa được tổ chức nuôi thì tiến hành xác định đơn giá, hạn mức, đối tượng và thời gian thuê đất. Trong đó, cần lưu ý một số điểm sau:
+ Đối tượng thuê đất sông là hộ gia đình, cá nhân hoặc tổ chức; trong đó ưu tiên cho các hộ gia đình, cá nhân sinh sống tại địa phương có khả năng về vốn và nhân lực.
+ Thời gian thuê đất: 5 năm.
+ Hạn mức sử dụng đất sông: Theo quy định của Luật Đất đai.
+ Thẩm quyền cho thuê đất sông: Theo quy định của Luật Đất đai.
3. Giải pháp nguồn nhân lực
- Các huyện xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn kỹ thuật, quản lý đầu tư (trong tất cả các khâu từ sản xuất giống, nuôi cá thịt đến thu hoạch bảo quản sản phẩm) cho các hộ nuôi.
- Bằng nguồn vốn khuyến nông - khuyến ngư, tăng cường tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật, xây dựng các mô hình trình diễn, chuyển giao giao kỹ thuật cho những người trực tiếp tham gia nuôi cá lồng.
4. Huy động vốn:
Tổng nguồn vốn đầu tư đến năm 2020 ước khoảng 141,2 tỷ đồng, trong đó:
- Nguồn vốn tự huy động của hộ nuôi là chủ yếu, chiếm khoảng 89,79%. Nguồn vốn này để đầu tư làm lồng (lắp, hàn, hạ lồng), mua con giống, thức ăn, điện, thuốc phòng trừ bệnh, vôi, nhà bảo vệ trên lồng;
- Ngân sách nhà nước hỗ trợ chiếm khoảng 10,21% trong tổng vốn đầu tư phục vụ cho công tác quy hoạch, lắp đặt hệ thống phao tiêu, biển báo; mô hình khuyến ngư, tập huấn kỹ thuật, xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, đào tạo nguồn nhân lực; hỗ trợ tiếp nhận và chuyển giao khoa học công nghệ; hỗ trợ xây dựng công trình kết cấu hạ tầng đường giao thông và tuyến đường điện kết nối vùng nuôi cá lồng với hạ tầng kỹ thuật của các địa phương; hỗ trợ lãi suất tiền vay.
5. Về khoa học công nghệ
Tập trung nghiên cứu một số đề tài khoa học trong lĩnh vực nuôi cá lồng như: sử dụng hóa chất, chế phẩm sinh học để xử lý môi trường nước trong quá trình nuôi cá; nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự sinh trưởng, phát triển của cá; nghiên cứu thức ăn tự chế; nghiên cứu các bệnh trên cá nuôi, ứng dụng các biện pháp tiên tiến trong phòng và trị bệnh cho cá lồng.
Ngoài nguồn vốn khoa học của tỉnh, cần tranh thủ các nguồn vốn khoa học của trung ương, để nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển nuôi cá lồng. Tăng cường và mở rộng hợp tác trong ngoài nước nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ phát triển nuôi cá lồng, nhất là đối với các nước, các tỉnh có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Nghiên cứu khảo nghiệm sản xuất cá giống và nuôi cá thương phẩm trong lồng các đối tượng cá có giá trị kinh tế gồm cá diêu hồng, cá lăng, cá trắm lai, cá ngạnh. Tạo điều kiện hỗ trợ cho các cơ sở sinh sản nhân tạo giống được tiếp nhận và chuyển giao công nghệ sinh sản nhân tạo. Tiếp nhận công nghệ sản xuất giống từ các địa phương khác, tiếp nhận đàn cá bố mẹ có chất lượng, sức sinh sản tốt để chủ động giải quyết nhu cầu con giống tại chỗ cho người nuôi.
Nghiên cứu cải tiến chất liệu kết cấu lồng có tuổi thọ cao hơn nữa, chi phí thấp nhằm tăng giá trị cạnh tranh cho sản phẩm cá lồng.
6. Tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm:
a. Tổ chức sản xuất:
- Xây dựng và ban hành quy chế quản lý vùng nuôi để tăng cường quản lý nhà nước, đảm bảo an ninh trật tự đối với hoạt động nuôi cá lồng.
- Phát triển kinh tế hộ là chủ yếu, bên cạnh đó thực hiện thí điểm mô hình liên kết giữa doanh nghiệp với các hộ dân để sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn theo phương thức công nghiệp, hiện đại. Khuyến khích và tạo điều kiện để các hộ gia đình hình thành các nhóm, tổ hợp tác nuôi cá lồng nhằm giúp nhau chia sẻ kinh nghiệm, khoa học kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm và bảo vệ sản xuất.
- Việc chọn hộ nuôi cá lồng phải đáp ứng được các tiêu chí sau: Có khả năng về vốn, chấp hành tốt chủ trương chính sách, pháp luật của nhà nước, cam kết chấp hành quy chế cùng nuôi và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước, cam kết bảo vệ môi trường.
b. Tiêu thụ sản phẩm:
- Tăng cường công tác thông tin về thị trường, hướng dẫn các biện pháp kỹ thuật trong thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; làm tốt công tác xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm cá lồng của tỉnh; xây dựng và đăng ký thương hiệu cá lồng Thái Bình.
- Khuyến cáo các doanh nghiệp đầu tư bao tiêu sản phẩm nuôi trong tỉnh, tạo thị trường tiêu thụ ổn định cho các hộ nuôi.
7. Công tác bảo vệ môi trường, phòng chống lũ, bão
Khi thuê đất các chủ hộ phải tiến hành đánh giá tác động môi trường, hoặc cam kết bảo vệ môi trường theo quy định hiện hành, trình cấp thẩm quyền phê duyệt.
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; quản lý chặt chẽ các nguồn nước thải từ các nhà máy, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu dân cư trước khi đổ ra hệ thống sông tiêu của tỉnh. Thực hiện định kỳ quan trắc và cảnh báo môi trường ven sông, thông báo kịp thời cho người nuôi cá về diễn biến của môi trường để có phương án thu hoạch, bảo vệ cá nuôi cho phù hợp. Khi cá bị chết, thực hiện thu gom, vận chuyển ra khỏi vùng nuôi đưa vào đất liền chôn lấp hoặc tiêu hủy, đồng thời tiến hành vệ sinh đảm bảo không ô nhiễm môi trường.
Thực hiện tốt các biện pháp phòng chống lũ, bão, áp thấp nhiệt đới. Thông báo kịp thời diễn biến của bão, áp thấp nhiệt đới để nhân dân gia cố, bảo vệ lồng nuôi và kịp thời di chuyển người đến nơi an toàn trước khi bão, áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào.
8. Cơ chế chính sách khuyến khích phát triển:
Xây dựng và ban hành chính sách phát triển nuôi cá lồng giai đoạn 2016 - 2020, bao gồm: Chính sách huy động vốn và mức hỗ trợ của ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng vùng sản xuất; hỗ trợ chuyển giao khoa học công nghệ trong sản xuất giống và nuôi cá thương phẩm; hỗ trợ phát triển thị trường cung cấp thông tin; hỗ trợ đào tạo, tập huấn nguồn nhân lực; chính sách về đất đai và tín dụng.
VI. CHƯƠNG TRÌNH DỰ ÁN ƯU TIÊN ĐẦU TƯ
- Xây dựng quy trình phát triển nuôi cá lồng, tập huấn, đào tạo nguồn nhân lực quản lý và lao động trực tiếp sản xuất.
- Tiếp thu, chuyển giao công nghệ sản xuất giống cá phổ thông và cá đặc sản phục vụ cho nhu cầu giống cá nuôi lồng của tỉnh.
- Đầu tư các mô hình trình diễn sản xuất cá lồng thương phẩm, đặc sản.
- Đầu tư công trình kết cấu hạ tầng đường giao thông và điện phục vụ phát triển nuôi cá lồng theo quy hoạch.
VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1. Đối với các sở, ngành của tỉnh
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: cắm mốc chỉ giới quy hoạch và bàn giao quy hoạch nuôi cá lồng cho các địa phương triển khai thực hiện; hướng dẫn các địa phương, tổ chức, cá nhân về chuyển giao khoa học công nghệ, quản lý dịch bệnh; tập huấn kỹ thuật nuôi và phòng trừ dịch bệnh, xử lý môi trường; tổ chức xây dựng mô hình nuôi cá lồng thương phẩm; phối hợp với các ngành liên quan trong việc kiểm tra, giám sát các quy định nhà nước về nuôi cá lồng trên sông; trực tiếp triển khai thực hiện các dự án, các chương trình phát triển nuôi cá lồng do Sở làm chủ đầu tư.
- Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các sở, ngành chức năng xây dựng cơ chế, chính sách cho phát triển nuôi cá lồng. Bố trí ngân sách quy hoạch vùng nuôi cá lồng, ngân sách hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng của khu nuôi, công trình chính của các cơ sở sản xuất giống, mua đàn cá bố mẹ, ngân sách nghiên cứu khoa học. Bố trí vốn khuyến ngư xây dựng mô hình, tập huấn kỹ thuật nuôi, chuyển giao tiến bộ khoa học về sản xuất giống.
- Sở Công thương phối hợp với sở, ngành hữu quan hỗ trợ xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm cá lồng.
- Sở Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn Ủy ban nhân dân các huyện xây dựng phương án cho thuê đất mặt nước trên sông để phát triển nuôi cá lồng.
- Sở Khoa học và Công nghệ căn cứ nguồn vốn hàng năm bố trí kinh phí chuyển giao công nghệ sản xuất giống một số đối tượng có giá trị kinh tế; kinh phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học về sản xuất giống, công nghệ xử lý sau thu hoạch để nâng cao chất lượng sản phẩm.
- Sở Giao thông Vận tải phối hợp Cục quản lý đường sông hỗ trợ, hướng dẫn cắm phao tiêu, biển báo để đảm bảo an toàn giao thông đường thủy nội địa.
- Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Thái Bình chỉ đạo các tổ chức tín dụng khai thác nguồn vốn, tạo điều kiện cho các hộ dân, các tổ chức vay vốn để phát triển nuôi cá lồng.
- Đài Phát thanh Truyền hình Thái Bình, Báo Thái Bình, các tổ chức đoàn thể tuyên truyền Đề án phát triển nuôi cá lồng của tỉnh.
- Công an đường thủy căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao xây dựng phương án giữ gìn trật tự an ninh tại địa phương khi triển khai thực hiện Đề án.
2. Ủy ban nhân dân các huyện có diện tích mặt nước phát triển nuôi cá lồng.
- Chịu trách nhiệm trực tiếp triển khai, chỉ đạo thực hiện quy hoạch và tổ chức quản lý, kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện quy hoạch nuôi cá lồng ở địa phương.
- Xây dựng quy chế quản lý vùng nuôi trình cấp thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện; rà soát thực trạng sử dụng đất vùng đất ngập nước trên các sông, xây dựng phương án sử dụng đất mặt nước giai đoạn 2016 - 2020, kế hoạch sử dụng đất hàng năm trình cấp thẩm quyền phê duyệt và triển khai thực hiện theo quy định.
- Xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực; cử cán bộ hướng dẫn kỹ thuật cho các cơ sở sản xuất, các hộ gia đình.
- Bố trí nguồn lực của địa phương để hỗ trợ phát triển nuôi cá lồng theo quy định.
3. Ủy ban nhân dân các xã có diện tích mặt nước phát triển nuôi cá lồng:
- Được Ủy ban nhân dân huyện ủy quyền triển khai thực hiện quy hoạch chi tiết khu vực nuôi cá lồng; xây dựng phương án sản xuất trình Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt.
- Thực hiện công khai quy hoạch nuôi cá lồng trong phạm vi của xã quản lý, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Nhà nước về nuôi cá lồng trên sông tới nhân dân; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tỉnh, huyện tuyên truyền và thực hiện tốt nội dung Thông tư 14/2011/TT-BNNPTNT ngày 29/03/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc kiểm tra, đánh giá phân loại các cơ sở nuôi cá lồng bè, tạo sản phẩm an toàn cho người sử dụng.
- Phối hợp với lực lượng chức năng đảm bảo an ninh, trật tự xã hội, an toàn về người, tài sản, đê điều, môi trường trên sông thuộc phạm vi quản lý của xã.