Document: Điểm d Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2534/QĐ-BNN-TCCB phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "26/10/2011", "sign_number": "2534/QĐ-BNN-TCCB", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "26/10/2011", "sign_number": "2534/QĐ-BNN-TCCB", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "26/10/2011", "sign_number": "2534/QĐ-BNN-TCCB", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "26/10/2011", "sign_number": "2534/QĐ-BNN-TCCB", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "26/10/2011", "sign_number": "2534/QĐ-BNN-TCCB", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2534/QĐ-BNN-TCCB phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giai đoạn 2011 - 2020 với những nội dung sau:
...
3. Phát triển nhân lực theo các vùng kinh tế - xã hội
...
d) Vùng Tây Nguyên
- Đến năm 2015, tổng số nhân lực nông nghiệp làm việc trong vùng có khoảng 2,207 triệu người; tốc độ tăng nhân lực qua đào tạo bình quân hàng năm thời kỳ 2011 - 2015 khoảng 5%/năm, đạt khoảng 580 nghìn người (tăng 180 nghìn người so với năm 2010) và chiếm khoảng 22,8% tổng số nhân lực của Ngành làm việc trong vùng.
- Đến năm 2020, tổng số nhân lực nông nghiệp làm việc trong vùng có khoảng 2,233 triệu người; tốc độ tăng nhân lực qua đào tạo bình quân hàng năm thời kỳ 2016 - 2020 khoảng 7%/năm, đạt khoảng 780 nghìn người (tăng 200 nghìn người so với năm 2015) và chiếm khoảng 35% tổng nhân lực của Ngành làm việc trong vùng.
- Trong giai đoạn 2011 - 2020, tập trung đào tạo đủ nhân lực cho các lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn của vùng là: chế biến nông, lâm sản; trồng cây công nghiệp như cà phê, cao su, hồ tiêu, điều; trồng, bảo tồn, khai thác và bảo vệ rừng...
e) Vùng Đông Nam Bộ
- Đến năm 2015, tổng số nhân lực nông nghiệp làm việc trong vùng có khoảng 1,397 triệu người; tốc độ tăng nhân lực qua đào tạo bình quân hàng năm thời kỳ 2011 - 2015 khoảng 6%/năm, đạt khoảng 500 nghìn người (tăng hơn 115 người so với năm 2010) và chiếm khoảng 35,8% tổng số nhân lực của Ngành làm việc trong vùng.
- Đến năm 2020, tổng số nhân lực nông nghiệp làm việc trong vùng có khoảng 1,362 triệu người; tốc độ tăng nhân lực qua đào tạo bình quân hàng năm thời kỳ 2016 - 2020 khoảng 7%/năm, đạt khoảng 1 triệu người (tăng 500 người so với năm 2015) và chiếm khoảng 73,4% tổng nhân lực của Ngành làm việc trong vùng.
- Giai đoạn 2011 - 2020, tập trung đào tạo đủ nhân lực có chất lượng cho các lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao phục vụ công nghiệp, xuất khẩu, như trồng, chế biến cao su, điều, cây ăn quả; chăn nuôi gia súc giá trị kinh tế cao; đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản…
g) Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
- Đến năm 2015, tổng số nhân lực nông nghiệp làm việc trong vùng có khoảng 5,620 triệu người; tốc độ tăng nhân lực qua đào tạo bình quân hàng năm thời kỳ 2011 - 2015 khoảng 6%/năm, đạt khoảng 1 triệu người (tăng 0,286 triệu người so với năm 2010) và chiếm khoảng 17,8% tổng số nhân lực của Ngành làm việc trong vùng.
- Đến năm 2020, tổng số nhân lực nông nghiệp làm việc trong vùng có khoảng 5,905 triệu người; tốc độ tăng nhân lực qua đào tạo bình quân hàng năm thời kỳ 2016 - 2020 khoảng 7%/năm, đạt khoảng 2,5 triệu người (tăng 1,5 triệu người so với năm 2015) và chiếm khoảng 42,3% tổng nhân lực của Ngành làm việc trong vùng.
- Trong giai đoạn 2011 - 2020, tập trung đào tạo nhân lực có chất lượng cao cho các lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn của vùng như: công nghiệp đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản xuất khẩu; chế biến lâm sản xuất khẩu; trồng, chế biến rau quả; chăn nuôi, chế biến thịt gia súc, gia cầm; cơ khí phục vụ sản xuất và chế biến nông, lâm, thủy hải sản và đào tạo nhân lực vùng ven biển trong biến đổi khí hậu...
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Đổi mới và nâng cao nhận thức về vai trò của phát triển nhân lực đối với phát triển bền vững Ngành và đất nước
- Làm cho mọi người thấy rõ vai trò và trách nhiệm đào tạo và sử dụng nhân lực, biến thách thức về nhân lực (số lượng đông, tay nghề thấp, chưa có tác phong công nghiệp...) thành lợi thế (chủ yếu qua đào tạo), là nhiệm vụ của toàn Ngành và toàn xã hội, mang tính xã hội (của các cấp lãnh đạo, của nhà trường, của doanh nghiệp và của gia đình cũng như bản thân mỗi người lao động trong Ngành). Đây chính là thể hiện quan điểm phát triển con người, phát triển kinh tế - xã hội vì con người và do con người, là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, góp phần giúp cho mọi người hiểu rõ về các chính sách phát triển nhân lực: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nhân lực, việc làm, giáo dục, đào tạo, dạy nghề cho lao động nông thôn…; vận động các doanh nghiệp tích cực tham gia đào tạo nhân lực nông nghiệp và phát triển nông thôn để sử dụng với chất lượng ngày càng cao.
2. Đổi mới quản lý nhà nước về phát triển nhân lực
- Hoàn thiện và nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý về phát triển nhân lực của Ngành.
- Có bộ phận chịu trách nhiệm theo dõi, thu thập thông tin về cung - cầu nhân lực nông nghiệp trên địa bàn cả nước, góp phần cân đối cung - cầu nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội.
- Cải tiến và tăng cường sự phối hợp với các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ sở đào tạo và các chủ thể tham gia phát triển nhân lực.
- Thực hiện chính sách của Nhà nước và có các chính sách, cơ chế riêng phù hợp để phát triển nhân lực nông nghiệp, trong đó, bao gồm các nội dung về môi trường làm việc, cơ chế thị trường, chính sách việc làm, thu nhập và các điều kiện sinh sống… đồng thời có chính sách ưu tiên đối với bộ phận nhân lực chất lượng cao, nhân tài.
- Đổi mới cơ chế tổ chức sử dụng cán bộ từ Trung ương đến địa phương nhằm tạo cơ hội tuyển dụng cán bộ một cách công bằng, minh bạch và chi phí thấp cho tất cả các đối tượng, đặc biệt là những người xuất thân từ khu vực nông thôn để họ có cơ hội được tham gia bộ máy quản lý, hoạt động sự nghiệp, cơ quan đoàn thể... của Nhà nước ở tất cả các cấp.
- Thực hiện đầy đủ các chính sách ưu tiên của Nhà nước đối với cán bộ nhà nước làm việc tại khu vực nông thôn tạo điều kiện ăn ở ổn định cho cán bộ.
- Mở rộng thị trường lao động kỹ thuật ở nông thôn thông qua các chính sách đối với cán bộ làm dịch vụ kỹ thuật ở nông thôn như: miễn thuế kinh doanh, cho vay vốn, ưu đãi cho thuê đất...; đối với cán bộ làm công tác kỹ thuật cho hợp tác xã, trang trại... được hỗ trợ từ nguồn kinh phí khuyến nông tại địa phương; đối với những ngành sản xuất có điều kiện thì gắn cán bộ khuyến nông với hoạt động cụ thể của các cơ sở (trả lương, đánh giá cán bộ và các quyền lợi khác... cho cán bộ); đối với các doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp tại địa bàn nông thôn sử dụng cán bộ kỹ thuật được tính khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp và được tham gia sử dụng kinh phí của hoạt động khuyến nông.
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân thành lập các cơ quan nghiên cứu, đào tạo, cung cấp dịch vụ kỹ thuật ngoài công lập (trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm tư vấn...) bằng cách áp dụng các chính sách ưu đãi đặc biệt như: giảm hoặc miễn thuế, cho thuê đất ưu đãi, cho vay vốn xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật... nhằm thu hút sử dụng được nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật và quản lý.
- Hoàn thiện, đổi mới hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong toàn Ngành; thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các cơ sở nhằm phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho người lao động, tạo động lực thu hút nhân lực, nhân tài cho Ngành.
Đổi mới đào tạo và dạy nghề theo hướng hiện đại, phù hợp với thực tiễn đáp ứng nhu cầu phát triển của Ngành, đất nước và hội nhập quốc tế
a) Đổi mới quản lý nhà nước về đào tạo và dạy nghề
- Khuyến khích các cơ sở đào tạo thực hiện đào tạo đa cấp, đa ngành, đa lĩnh vực trên cơ sở lấy đào tạo các ngành nghề nông nghiệp và phát triển nông thôn làm trọng tâm, trọng điểm nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng hóa nguồn nhân lực cho Ngành và nhu cầu học tập của nhân dân.
- Thực hiện quy hoạch mạng lưới các trường đại học, học viện, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và các trường dạy nghề trong toàn Ngành, đảm bảo phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các lĩnh vực kinh tế của Ngành, các vùng, các địa phương; đề nghị Nhà nước ưu tiên tập trung đầu tư thành lập, nâng cấp các trường đại học, học viện, cao đẳng, dạy nghề nông nghiệp trên các địa bàn có nhu cầu nhân lực cao hoặc còn thiếu cơ sở đào tạo, như: các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, góp phần đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học và đào tạo nguồn nhân lực và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương, các vùng và trong cả nước.
- Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 sẽ đề nghị thành lập mới ít nhất 01 trường đại học thủy sản thuộc Bộ đặt tại đồng bằng sông Cửu Long theo Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và một số trường cao đẳng, cao đẳng nghề, trung cấp nghề theo yêu cầu phát triển nhân lực của từng vùng, từng địa phương; đề nghị để chuyển Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội về trực thuộc Bộ, chuyển đổi hai trường cán bộ quản lý thuộc Bộ thành hai học viện đào tạo phát triển nông thôn. Các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề còn lại sẽ được đề nghị nâng cấp toàn diện nhằm nâng cao năng lực, quy mô, chất lượng, hiệu quả đào tạo, đảm bảo 100% trường đạt chuẩn quốc gia có thể đào tạo được một số ngành, nghề trọng điểm đạt tiêu chuẩn quốc tế và khu vực.
- Giao nhiệm vụ, động viên các trường, viện nghiên cứu, trung tâm chuyển giao khoa học công nghệ, doanh nghiệp, nông lâm trường, làng nghề trong toàn Ngành tích cực thực hiện nhiệm vụ đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
- Phối hợp có hiệu quả giữa công tác đào tạo và dạy nghề cho lao động nông thôn với thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn và chương trình xây dựng nông thôn mới nhằm tạo cơ hội tìm kiếm việc làm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nông dân.
- Từng bước thực hiện chính sách cấp phát ngân sách căn cứ theo quy mô, chất lượng và hiệu quả đào tạo, tiến tới thực hiện cơ chế tự chủ trong đào tạo phát triển nhân lực đối với các cơ sở đào tạo trong toàn Ngành.
- Tăng cường kết hợp hoạt động giữa các viện nghiên cứu với các trường đại học, cao đẳng nhằm gắn kết công tác nghiên cứu - đào tạo - khuyến nông cả về đội ngũ cán bộ, trang thiết bị và kinh phí.
b) Thực hiện chính sách ưu tiên đối với người học nhằm thu hút học sinh, sinh viên học các ngành, nghề nông nghiệp và phát triển nông thôn
Thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu tiên hiện có của Nhà nước đối với học sinh, sinh viên, thời gian tới, cần nghiên cứu để đề nghị Nhà nước ban hành các chính sách ưu tiên riêng đối với học sinh, sinh viên nông nghiệp và phát triển nông thôn sau:
- Hỗ trợ kinh phí cho học sinh, sinh viên từ các vùng nông thôn khó khăn tham gia các lớp học dự bị để có thể vượt qua các kỳ thi tuyển đảm bảo chất lượng tương đương với học sinh từ các vùng khác.
- Có chính sách về học phí, học bổng hợp lý cho học sinh, sinh viên nghèo ở những vùng khó khăn;
- Có chính sách ưu tiên về học phí, học bổng và ưu tiên trong tuyển sinh đối với học sinh, sinh viên học các ngành, nghề nông nghiệp mà xã hội có nhu cầu cao, nhưng thị trường lao động không thuận lợi, sức thu hút học sinh thấp như: khai thác thủy hải sản, nuôi trồng thủy hải sản trên biển, quản lý tài nguyên rừng và môi trường, lâm sinh, sản xuất muối.
- Mở rộng quỹ cho vay tín dụng và nâng mức cho vay, kéo dài thời hạn cho vay đối với học sinh, sinh viên nông nghiệp và phát triển nông thôn có nhu cầu vay vốn.
c) Thực hiện chính sách đối với đội ngũ giáo viên, giảng viên và các cơ sở đào tạo nông nghiệp và phát triển nông thôn Thực hiện có hiệu quả chính sách hiện có của Nhà nước đối với đội ngũ giáo viên, giảng viên các cơ sở đào tạo thuộc Ngành, ngoài ra để nâng cao chất lượng hiệu quả đào tạo nhân lực nông nghiệp và phát triển nông thôn, sẽ đề nghị Nhà nước cho thực hiện:
- Áp dụng chế độ ưu đãi ở mức cao nhất đối với các tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực đào tạo cán bộ kỹ thuật và quản lý, như giảm hoặc miễn thuế kinh doanh, cho thuê đất ưu đãi, cho vay vốn xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ đào tạo giáo viên và xây dựng giáo trình. Cho các cơ sở này được hưởng các chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo (ví dụ được cấp bù học phí cho các đối tượng được Nhà nước ưu tiên) để thu hút học viên.
- Chuyển việc cấp kinh phí của Nhà nước hỗ trợ cho đào tạo từ cơ chế phân bổ trực tiếp ngân sách cho các cơ sở đào tạo sang cấp kinh phí cho học viên (ví dụ: học bổng, thẻ đào tạo…) để tạo quan hệ tích cực chủ động và cạnh tranh giữa khách hàng và các nhà cung cấp dịch vụ.
- Thực hiện chính sách ưu tiên nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, giáo viên:
+ Xét tuyển trực tiếp các giảng viên, giáo viên có trình độ cao (đào tạo từ các trường có uy tín, có bằng cấp có chất lượng, đã có công trình nghiên cứu có giá trị…) và giao trách nhiệm quản lý, đào tạo xứng đáng với trình độ của giáo viên không theo các cơ chế ràng buộc thông thường về thời gian công tác, ngạch bậc...;
+ Lựa chọn các học sinh thực sự xuất sắc (đỗ thủ khoa, đoạt các giải thưởng trong nước và quốc tế...) để cấp học bổng đào tạo sau đại học ở các trường đại học quốc tế có danh tiếng nhằm bổ sung lực lượng cho đội ngũ giảng viên, giáo viên.
+ Với các giảng viên, giáo viên có thành tích nổi bật trong công tác đào tạo và nghiên cứu, chuyển giao khoa học, công nghệ (có nhiều công trình được công bố, nhiều học viên, sinh viên xuất sắc, ra trường được xã hội đánh giá cao, có nhiều thành tích trong nghiên cứu và sản xuất…) thì được ưu tiên nâng lương, học tập nâng cao trình độ, đề bạt lên các vị trí lãnh đạo, quản lý cao hơn và được ưu tiên cấp vốn/hỗ trợ kinh phí nghiên cứu.
+ Có chính sách khuyến khích giảng viên, giáo viên công tác tại vùng sâu, vùng xa và chính sách ưu tiên bố trí công tác sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
- Nâng cao chất lượng giáo trình: thành lập Hội đồng xây dựng giáo trình cấp Bộ (Bộ Nông nghiệp & PTNT) nhằm xác định tiêu chí, tiêu chuẩn và nội dung định hướng của giáo trình các môn học chính. Các trường có trách nhiệm và được quyền chủ động xây dựng giáo trình đảm bảo sát với tiêu chuẩn quốc tế và phù hợp với thực tiễn; giáo viên giảng dạy chịu trách nhiệm xây dựng giáo trình cho môn học của mình dưới sự giám sát của Hội đồng này và cơ quan chủ quản.
- Ưu tiên hỗ trợ đầu tư phát triển các đơn vị đào tạo theo chương trình đào tạo suốt đời cho giáo viên và cán bộ ngành nông nghiệp nông thôn trong các trường và học viện. Ngoài chương trình đào tạo cấp bằng trong các cơ sở đào tạo, xây dựng các chương trình đào tạo nâng cao thường xuyên cho giáo viên và học viên.

Content:
Vùng Tây Nguyên
- Đến năm 2015, tổng số nhân lực nông nghiệp làm việc trong vùng có khoảng 2,207 triệu người; tốc độ tăng nhân lực qua đào tạo bình quân hàng năm thời kỳ 2011 - 2015 khoảng 5%/năm, đạt khoảng 580 nghìn người (tăng 180 nghìn người so với năm 2010) và chiếm khoảng 22,8% tổng số nhân lực của Ngành làm việc trong vùng.
- Đến năm 2020, tổng số nhân lực nông nghiệp làm việc trong vùng có khoảng 2,233 triệu người; tốc độ tăng nhân lực qua đào tạo bình quân hàng năm thời kỳ 2016 - 2020 khoảng 7%/năm, đạt khoảng 780 nghìn người (tăng 200 nghìn người so với năm 2015) và chiếm khoảng 35% tổng nhân lực của Ngành làm việc trong vùng.
- Trong giai đoạn 2011 - 2020, tập trung đào tạo đủ nhân lực cho các lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn của vùng là: chế biến nông, lâm sản; trồng cây công nghiệp như cà phê, cao su, hồ tiêu, điều; trồng, bảo tồn, khai thác và bảo vệ rừng...
e) Vùng Đông Nam Bộ
- Đến năm 2015, tổng số nhân lực nông nghiệp làm việc trong vùng có khoảng 1,397 triệu người; tốc độ tăng nhân lực qua đào tạo bình quân hàng năm thời kỳ 2011 - 2015 khoảng 6%/năm, đạt khoảng 500 nghìn người (tăng hơn 115 người so với năm 2010) và chiếm khoảng 35,8% tổng số nhân lực của Ngành làm việc trong vùng.
- Đến năm 2020, tổng số nhân lực nông nghiệp làm việc trong vùng có khoảng 1,362 triệu người; tốc độ tăng nhân lực qua đào tạo bình quân hàng năm thời kỳ 2016 - 2020 khoảng 7%/năm, đạt khoảng 1 triệu người (tăng 500 người so với năm 2015) và chiếm khoảng 73,4% tổng nhân lực của Ngành làm việc trong vùng.
- Giai đoạn 2011 - 2020, tập trung đào tạo đủ nhân lực có chất lượng cho các lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao phục vụ công nghiệp, xuất khẩu, như trồng, chế biến cao su, điều, cây ăn quả; chăn nuôi gia súc giá trị kinh tế cao; đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản…
g) Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
- Đến năm 2015, tổng số nhân lực nông nghiệp làm việc trong vùng có khoảng 5,620 triệu người; tốc độ tăng nhân lực qua đào tạo bình quân hàng năm thời kỳ 2011 - 2015 khoảng 6%/năm, đạt khoảng 1 triệu người (tăng 0,286 triệu người so với năm 2010) và chiếm khoảng 17,8% tổng số nhân lực của Ngành làm việc trong vùng.
- Đến năm 2020, tổng số nhân lực nông nghiệp làm việc trong vùng có khoảng 5,905 triệu người; tốc độ tăng nhân lực qua đào tạo bình quân hàng năm thời kỳ 2016 - 2020 khoảng 7%/năm, đạt khoảng 2,5 triệu người (tăng 1,5 triệu người so với năm 2015) và chiếm khoảng 42,3% tổng nhân lực của Ngành làm việc trong vùng.
- Trong giai đoạn 2011 - 2020, tập trung đào tạo nhân lực có chất lượng cao cho các lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn của vùng như: công nghiệp đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản xuất khẩu; chế biến lâm sản xuất khẩu; trồng, chế biến rau quả; chăn nuôi, chế biến thịt gia súc, gia cầm; cơ khí phục vụ sản xuất và chế biến nông, lâm, thủy hải sản và đào tạo nhân lực vùng ven biển trong biến đổi khí hậu...
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Đổi mới và nâng cao nhận thức về vai trò của phát triển nhân lực đối với phát triển bền vững Ngành và đất nước
- Làm cho mọi người thấy rõ vai trò và trách nhiệm đào tạo và sử dụng nhân lực, biến thách thức về nhân lực (số lượng đông, tay nghề thấp, chưa có tác phong công nghiệp...) thành lợi thế (chủ yếu qua đào tạo), là nhiệm vụ của toàn Ngành và toàn xã hội, mang tính xã hội (của các cấp lãnh đạo, của nhà trường, của doanh nghiệp và của gia đình cũng như bản thân mỗi người lao động trong Ngành). Đây chính là thể hiện quan điểm phát triển con người, phát triển kinh tế - xã hội vì con người và do con người, là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, góp phần giúp cho mọi người hiểu rõ về các chính sách phát triển nhân lực: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nhân lực, việc làm, giáo dục, đào tạo, dạy nghề cho lao động nông thôn…; vận động các doanh nghiệp tích cực tham gia đào tạo nhân lực nông nghiệp và phát triển nông thôn để sử dụng với chất lượng ngày càng cao.
2. Đổi mới quản lý nhà nước về phát triển nhân lực
- Hoàn thiện và nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý về phát triển nhân lực của Ngành.
- Có bộ phận chịu trách nhiệm theo dõi, thu thập thông tin về cung - cầu nhân lực nông nghiệp trên địa bàn cả nước, góp phần cân đối cung - cầu nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội.
- Cải tiến và tăng cường sự phối hợp với các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ sở đào tạo và các chủ thể tham gia phát triển nhân lực.
- Thực hiện chính sách của Nhà nước và có các chính sách, cơ chế riêng phù hợp để phát triển nhân lực nông nghiệp, trong đó, bao gồm các nội dung về môi trường làm việc, cơ chế thị trường, chính sách việc làm, thu nhập và các điều kiện sinh sống… đồng thời có chính sách ưu tiên đối với bộ phận nhân lực chất lượng cao, nhân tài.
- Đổi mới cơ chế tổ chức sử dụng cán bộ từ Trung ương đến địa phương nhằm tạo cơ hội tuyển dụng cán bộ một cách công bằng, minh bạch và chi phí thấp cho tất cả các đối tượng, đặc biệt là những người xuất thân từ khu vực nông thôn để họ có cơ hội được tham gia bộ máy quản lý, hoạt động sự nghiệp, cơ quan đoàn thể... của Nhà nước ở tất cả các cấp.
- Thực hiện đầy đủ các chính sách ưu tiên của Nhà nước đối với cán bộ nhà nước làm việc tại khu vực nông thôn tạo điều kiện ăn ở ổn định cho cán bộ.
- Mở rộng thị trường lao động kỹ thuật ở nông thôn thông qua các chính sách đối với cán bộ làm dịch vụ kỹ thuật ở nông thôn như: miễn thuế kinh doanh, cho vay vốn, ưu đãi cho thuê đất...; đối với cán bộ làm công tác kỹ thuật cho hợp tác xã, trang trại... được hỗ trợ từ nguồn kinh phí khuyến nông tại địa phương; đối với những ngành sản xuất có điều kiện thì gắn cán bộ khuyến nông với hoạt động cụ thể của các cơ sở (trả lương, đánh giá cán bộ và các quyền lợi khác... cho cán bộ); đối với các doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp tại địa bàn nông thôn sử dụng cán bộ kỹ thuật được tính khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp và được tham gia sử dụng kinh phí của hoạt động khuyến nông.
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân thành lập các cơ quan nghiên cứu, đào tạo, cung cấp dịch vụ kỹ thuật ngoài công lập (trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm tư vấn...) bằng cách áp dụng các chính sách ưu đãi đặc biệt như: giảm hoặc miễn thuế, cho thuê đất ưu đãi, cho vay vốn xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật... nhằm thu hút sử dụng được nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật và quản lý.
- Hoàn thiện, đổi mới hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong toàn Ngành; thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các cơ sở nhằm phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho người lao động, tạo động lực thu hút nhân lực, nhân tài cho Ngành.
Đổi mới đào tạo và dạy nghề theo hướng hiện đại, phù hợp với thực tiễn đáp ứng nhu cầu phát triển của Ngành, đất nước và hội nhập quốc tế
a) Đổi mới quản lý nhà nước về đào tạo và dạy nghề
- Khuyến khích các cơ sở đào tạo thực hiện đào tạo đa cấp, đa ngành, đa lĩnh vực trên cơ sở lấy đào tạo các ngành nghề nông nghiệp và phát triển nông thôn làm trọng tâm, trọng điểm nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng hóa nguồn nhân lực cho Ngành và nhu cầu học tập của nhân dân.
- Thực hiện quy hoạch mạng lưới các trường đại học, học viện, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và các trường dạy nghề trong toàn Ngành, đảm bảo phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các lĩnh vực kinh tế của Ngành, các vùng, các địa phương; đề nghị Nhà nước ưu tiên tập trung đầu tư thành lập, nâng cấp các trường đại học, học viện, cao đẳng, dạy nghề nông nghiệp trên các địa bàn có nhu cầu nhân lực cao hoặc còn thiếu cơ sở đào tạo, như: các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, góp phần đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học và đào tạo nguồn nhân lực và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương, các vùng và trong cả nước.
- Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 sẽ đề nghị thành lập mới ít nhất 01 trường đại học thủy sản thuộc Bộ đặt tại đồng bằng sông Cửu Long theo Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và một số trường cao đẳng, cao đẳng nghề, trung cấp nghề theo yêu cầu phát triển nhân lực của từng vùng, từng địa phương; đề nghị để chuyển Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội về trực thuộc Bộ, chuyển đổi hai trường cán bộ quản lý thuộc Bộ thành hai học viện đào tạo phát triển nông thôn. Các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề còn lại sẽ được đề nghị nâng cấp toàn diện nhằm nâng cao năng lực, quy mô, chất lượng, hiệu quả đào tạo, đảm bảo 100% trường đạt chuẩn quốc gia có thể đào tạo được một số ngành, nghề trọng điểm đạt tiêu chuẩn quốc tế và khu vực.
- Giao nhiệm vụ, động viên các trường, viện nghiên cứu, trung tâm chuyển giao khoa học công nghệ, doanh nghiệp, nông lâm trường, làng nghề trong toàn Ngành tích cực thực hiện nhiệm vụ đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
- Phối hợp có hiệu quả giữa công tác đào tạo và dạy nghề cho lao động nông thôn với thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn và chương trình xây dựng nông thôn mới nhằm tạo cơ hội tìm kiếm việc làm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nông dân.
- Từng bước thực hiện chính sách cấp phát ngân sách căn cứ theo quy mô, chất lượng và hiệu quả đào tạo, tiến tới thực hiện cơ chế tự chủ trong đào tạo phát triển nhân lực đối với các cơ sở đào tạo trong toàn Ngành.
- Tăng cường kết hợp hoạt động giữa các viện nghiên cứu với các trường đại học, cao đẳng nhằm gắn kết công tác nghiên cứu - đào tạo - khuyến nông cả về đội ngũ cán bộ, trang thiết bị và kinh phí.
b) Thực hiện chính sách ưu tiên đối với người học nhằm thu hút học sinh, sinh viên học các ngành, nghề nông nghiệp và phát triển nông thôn
Thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu tiên hiện có của Nhà nước đối với học sinh, sinh viên, thời gian tới, cần nghiên cứu để đề nghị Nhà nước ban hành các chính sách ưu tiên riêng đối với học sinh, sinh viên nông nghiệp và phát triển nông thôn sau:
- Hỗ trợ kinh phí cho học sinh, sinh viên từ các vùng nông thôn khó khăn tham gia các lớp học dự bị để có thể vượt qua các kỳ thi tuyển đảm bảo chất lượng tương đương với học sinh từ các vùng khác.
- Có chính sách về học phí, học bổng hợp lý cho học sinh, sinh viên nghèo ở những vùng khó khăn;
- Có chính sách ưu tiên về học phí, học bổng và ưu tiên trong tuyển sinh đối với học sinh, sinh viên học các ngành, nghề nông nghiệp mà xã hội có nhu cầu cao, nhưng thị trường lao động không thuận lợi, sức thu hút học sinh thấp như: khai thác thủy hải sản, nuôi trồng thủy hải sản trên biển, quản lý tài nguyên rừng và môi trường, lâm sinh, sản xuất muối.
- Mở rộng quỹ cho vay tín dụng và nâng mức cho vay, kéo dài thời hạn cho vay đối với học sinh, sinh viên nông nghiệp và phát triển nông thôn có nhu cầu vay vốn.
c) Thực hiện chính sách đối với đội ngũ giáo viên, giảng viên và các cơ sở đào tạo nông nghiệp và phát triển nông thôn Thực hiện có hiệu quả chính sách hiện có của Nhà nước đối với đội ngũ giáo viên, giảng viên các cơ sở đào tạo thuộc Ngành, ngoài ra để nâng cao chất lượng hiệu quả đào tạo nhân lực nông nghiệp và phát triển nông thôn, sẽ đề nghị Nhà nước cho thực hiện:
- Áp dụng chế độ ưu đãi ở mức cao nhất đối với các tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực đào tạo cán bộ kỹ thuật và quản lý, như giảm hoặc miễn thuế kinh doanh, cho thuê đất ưu đãi, cho vay vốn xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ đào tạo giáo viên và xây dựng giáo trình. Cho các cơ sở này được hưởng các chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo (ví dụ được cấp bù học phí cho các đối tượng được Nhà nước ưu tiên) để thu hút học viên.
- Chuyển việc cấp kinh phí của Nhà nước hỗ trợ cho đào tạo từ cơ chế phân bổ trực tiếp ngân sách cho các cơ sở đào tạo sang cấp kinh phí cho học viên (ví dụ: học bổng, thẻ đào tạo…) để tạo quan hệ tích cực chủ động và cạnh tranh giữa khách hàng và các nhà cung cấp dịch vụ.
- Thực hiện chính sách ưu tiên nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, giáo viên:
+ Xét tuyển trực tiếp các giảng viên, giáo viên có trình độ cao (đào tạo từ các trường có uy tín, có bằng cấp có chất lượng, đã có công trình nghiên cứu có giá trị…) và giao trách nhiệm quản lý, đào tạo xứng đáng với trình độ của giáo viên không theo các cơ chế ràng buộc thông thường về thời gian công tác, ngạch bậc...;
+ Lựa chọn các học sinh thực sự xuất sắc (đỗ thủ khoa, đoạt các giải thưởng trong nước và quốc tế...) để cấp học bổng đào tạo sau đại học ở các trường đại học quốc tế có danh tiếng nhằm bổ sung lực lượng cho đội ngũ giảng viên, giáo viên.
+ Với các giảng viên, giáo viên có thành tích nổi bật trong công tác đào tạo và nghiên cứu, chuyển giao khoa học, công nghệ (có nhiều công trình được công bố, nhiều học viên, sinh viên xuất sắc, ra trường được xã hội đánh giá cao, có nhiều thành tích trong nghiên cứu và sản xuất…) thì được ưu tiên nâng lương, học tập nâng cao trình độ, đề bạt lên các vị trí lãnh đạo, quản lý cao hơn và được ưu tiên cấp vốn/hỗ trợ kinh phí nghiên cứu.
+ Có chính sách khuyến khích giảng viên, giáo viên công tác tại vùng sâu, vùng xa và chính sách ưu tiên bố trí công tác sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
- Nâng cao chất lượng giáo trình: thành lập Hội đồng xây dựng giáo trình cấp Bộ (Bộ Nông nghiệp & PTNT) nhằm xác định tiêu chí, tiêu chuẩn và nội dung định hướng của giáo trình các môn học chính. Các trường có trách nhiệm và được quyền chủ động xây dựng giáo trình đảm bảo sát với tiêu chuẩn quốc tế và phù hợp với thực tiễn; giáo viên giảng dạy chịu trách nhiệm xây dựng giáo trình cho môn học của mình dưới sự giám sát của Hội đồng này và cơ quan chủ quản.
- Ưu tiên hỗ trợ đầu tư phát triển các đơn vị đào tạo theo chương trình đào tạo suốt đời cho giáo viên và cán bộ ngành nông nghiệp nông thôn trong các trường và học viện. Ngoài chương trình đào tạo cấp bằng trong các cơ sở đào tạo, xây dựng các chương trình đào tạo nâng cao thường xuyên cho giáo viên và học viên.