Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 492/QĐ-UBND năm 2008 phê duyệt quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo 2008 - 2020 Sơn La

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Sơn La", "promulgation_date": "10/03/2008", "sign_number": "492/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Chí Thức", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Sơn La", "promulgation_date": "10/03/2008", "sign_number": "492/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Chí Thức", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Sơn La", "promulgation_date": "10/03/2008", "sign_number": "492/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Chí Thức", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Sơn La", "promulgation_date": "10/03/2008", "sign_number": "492/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Chí Thức", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Sơn La", "promulgation_date": "10/03/2008", "sign_number": "492/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Chí Thức", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 492/QĐ-UBND năm 2008 phê duyệt quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo 2008 - 2020 Sơn La

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Sơn La giai đoạn 2008 - 2020 với các nội dung chính như sau:
...
3. Định hướng, nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo
3.1. Quy mô, mạng lưới trường lớp
Nâng số tổng trường của toàn tỉnh từ 690 trường (mầm non, phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề) năm học 2006 - 2007 lên 758 trường vào năm học 2010 - 2011 và 781 trường vào năm 2015 - 2016 và 802 trường vào năm học 2020 - 2021.
a) Về giáo dục
* Giáo dục mầm non:
Thành lập trường mầm non công lập ở vùng đặc biệt khó khăn, hoàn thiện trường mầm non đăng ký phấn đấu đạt chuẩn Quốc gia, trường mầm non trọng điểm, phát triển các lớp mầm non tại các cụm bản; từng bước phát triển loại hình trường lớp mầm non ngoài công lập ở những vùng thuận lợi, vùng kinh tế - xã hội phát triển;
Nâng số trường mầm non từ 180 trường năm học 2006 - 2007 lên 212 trường, trong đó có 100% xã có cơ sở giáo dục mầm non vào năm học 2010 - 2011; 225 trường vào năm học 2015 - 2016; 245 trường vào năm học 2020 - 2021;
Từ nay đến 2020: Phấn đấu xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia để nhằm hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học, đạt được các tiêu chuẩn về tỷ lệ tối thiểu số trường chuẩn quốc gia theo quy định. Cụ thể là:
Về giáo dục mầm non đạt: 35 trường vào năm 2015; 80 trường (32,6%) vào năm 2020.
* Giáo dục phổ thông:
- Giáo dục tiểu học: Nâng số trường tiểu học toàn tỉnh từ 232 trường năm học 2006 - 2007 lên 266 trường vào năm học 2010 - 2011 và ổn định vào các năm tiếp theo;
Số trường đạt chuẩn Quốc gia 60 trường vào năm 2015; 106 trường (40%) vào năm 2020 (đạt mục tiêu toàn tỉnh hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học đúng quy định);
- Giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông: Hoàn chỉnh mạng lưới trường trung học cơ sở, trung học phổ thông ở các xã vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh; tách các trường trung học phổ thông nhiều cấp thành các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông độc lập để xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia;
+ Giáo dục trung học cơ sở:
Nâng số trường trung học cơ sở trong toàn tỉnh từ 192 trường năm học 2006 - 2007 lên 231 trường vào năm học 2010 - 2011 và ổn định vào các năm tiếp theo;
Số trường đạt chuẩn quốc gia 40 trường vào năm 2015; 70 trường vào năm 2020.
+ Giáo dục trung học phổ thông:
Tiếp tục hoàn thiện và mở rộng quy mô các trường trung học phổ thông hiện có. Nâng số trường trung học phổ thông trong toàn tỉnh từ 30 trường năm học 2006 - 2007 lên 32 trường vào năm học 2010 - 2011 và 35 trường vào năm học 2015 - 2016 và 41 trường vào năm học 2020 - 2021;
Số trường đạt chuẩn quốc gia 5 trường vào năm 2015; 14 trường vào năm 2020 (theo quy định hoàn thành chương trình phổ cập trung học mỗi huyện thị phải có ít nhất 1 trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia và gồm cả trường trung học phổ thông Chuyên và trường trung học phổ thông Nội trú tỉnh).
* Củng cố và đầu tư hoàn thiện các trường chuyên biệt:
Năm học 2008 - 2009 mở thêm môn chuyên tin học và tiếp tục nâng cấp trường trung học phổ thông Chuyên để đạt trường chuẩn quốc gia giai đoạn 2;
Tăng quy mô trường phổ thông dân tộc Nội trú huyện lên 300 học sinh/ trường, trường phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh 500 học sinh. Tiếp tục hoàn thiện các trường phổ thông Dân tộc bán trú tại các trung tâm xã và cụm xã tạo điều kiện cho học sinh vùng sâu, vùng xa được học tập theo hướng nâng cao;
Năm học 2015 - 2016, thành lập trường giáo dục cho trẻ tàn tật, khuyết tật của tỉnh;
Đến 2017 - 2018, thành lập Trường Năng khiếu thể dục, thể thao của tỉnh.
- Quy hoạch trường, lớp tại các khu, điểm tái định cư dự án xây dựng Thuỷ điện Sơn La:
Thành lập các trường học tại các khu tái định cư tập trung, số lượng học sinh đảm bảo đối với mầm non từ 150 - 200 học sinh, tiểu học từ 200 - 300 học sinh; trung học cơ sở từ 400 học sinh trở lên;
Đối với những điểm tái định cư, số lượng học sinh chưa đủ để mở trường sẽ tăng số lớp trung học cơ sở tại các trường sở tại; mở các lớp mầm non, tiểu học tại bản; đảm bảo thu hút 100% số học sinh phải di chuyển được đến lớp học.
- Phát triển giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn:
+ Đối với giáo dục mầm non: Phấn đấu đến 2020 đạt 100% các xã có từ 1 đến 2 trường mầm non; 80% số bản có trường, lớp mầm non. Giai đoạn 2007 - 2010 thành lập thêm 16 trường; giai đoạn 2011 - 2015 thành lập thêm 12 trường; giai đoạn 2016 - 2020 thành lập trường mầm non tại các xã còn lại của tỉnh đạt mục tiêu 100% các xã có từ 1 trường mầm non trở lên và 80% bản có lớp mầm non;
+ Đối với trung học phổ thông: Giai đoạn 2007 - 2010 thành lập thêm 2 trường trung học phổ thông: Bình Thuận - Thuận Châu; Mường Bú - Mường La;
Giai đoạn 2016 - 2020, nâng cấp đào tạo trung học phổ thông tại 3 trường phổ thông Dân tộc Nội trú của huyện Mộc Châu, Mai Sơn, Phù Yên;
Giai đoạn 2016 - 2020 thành lập thêm 6 trường trung học phổ thông tại Vân Hồ - Mộc Châu, Làng Chếu - Bắc Yên; Ngọc Chiến - Mường La; Púng Bánh - Sốp Cộp; Mường Khoa - Bắc Yên; Vạn Yên - Phù Yên.
* Giáo dục thường xuyên:
Tiếp tục duy trì và mở rộng hoạt động của 14 Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh và huyện; củng cố, phát triển Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp của tỉnh; 100% xã, phường, thị trấn có Trung tâm học tập cộng đồng;
Năm 2008, thành lập Trung tâm Ngoại ngữ, Tin học của tỉnh.
b) Về đào tạo
Xây dựng và củng cố hệ thống các truờng hiện có, phát triển theo hướng đa ngành, đa nghề, đa hệ nhằm thu hút ngày càng nhiều các đối tượng học sinh, người lao động theo học, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực;
- Đối với Trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La: Rà soát để giao kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng giáo viên phù hợp với nhu cầu phát triển, đồng thời mở rộng mã ngành đào tạo các chuyên ngành ngoài sư phạm tại trường;
- Nâng cấp các trường: trung cấp Nông Lâm, trung cấp Y tế, trường Văn hoá Nghệ thuật, trường Đào tạo nghề thành các trường Cao đẳng. Nâng quy mô đào tạo các trường chuyên nghiệp từ 2.000 - 2.500 học sinh/trường; trường Đào tạo nghề từ 4.000 - 6.000 học sinh/năm;
- Đến 2010, thành lập được các cơ sở đào tạo ngoài công lập; năm 2020, thành lập 11 Trung tâm dạy nghề tại các huyện, thị;
- Liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo nước ngoài và các cơ sở đào tạo có uy tín trong nước để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh; đồng thời chọn cử cán bộ các cấp, các ngành đi thực tập, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao tay nghề ở nước ngoài;
- Mỗi năm chọn cử từ 30 cán bộ trở lên thuộc các lĩnh vực, các chuyên ngành đi học sau đại học (thạc sỹ, tiến sỹ);
- Về ngành nghề, cơ cấu đào tạo:
Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực trong từng giai đọan nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, đáp ứng nhu cầu hội nhập WTO, xuất khẩu lao động, ngành nghề kinh tế mũi nhọn:
+ Đổi mới và mở rộng các ngành nghề, các lĩnh vực đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội, tăng cơ hội được đào tạo nghề cho lao động khu vực nông thôn;
+ Các ngành nghề ưu tiên: một số ngành khoa học tự nhiên, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, các ngành giao thông, quy hoạch, đào tạo chuyên gia trình độ cao trong một số ngành thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội…
+ Mở rộng các hình thức đào tạo, dạy nghề, trong đó tập trung vào các ngành nghề như: y tế, chế biến nông - lâm nghiệp và thuỷ sản, tiêu dùng, xây dựng, cơ khí, khai khoáng, sửa chữa, dịch vụ, tin học, du lịch và các ngành nghề có nhu cầu phát triển theo nhu cầu thị trường. Tiếp tục phát triển các sản phẩm hàng hoá mang thương hiệu Sơn La và vùng kinh tế động lực như: Chè, Sữa, Cà phê…Cập nhật các kiến thức trồng, chăm sóc, bảo quản, chế biến cây cao su đảm bảo chất lượng và phát triển ra thị trường trong nước;
- Xây dựng quy hoạch đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số từ xã đến huyện và tỉnh về chuyên môn, lý luận, kiến thức quản lý nhà nước, đáp ứng nhu cầu về cán bộ khoa học kỹ thuật của các ban, ngành và cấp ủy, chính quyền các cấp;
- Tăng chỉ tiêu dạy nghề cho lao động nông thôn, dạy nghề cho các đối tượng di dân tái định cư thuỷ điện Sơn La;
- Triển khai dạy tiếng dân tộc cho cán bộ, công chức, giáo viên, học sinh, sinh viên và cộng đồng dân cư nơi có nhu cầu:
+ Năm 2008, mở thêm bộ môn tiếng dân tộc tại trường Cao đẳng sư phạm của tỉnh để đào tạo cho giáo sinh sử dụng thành thạo tiếng dân tộc, vận dụng trong dạy học. Trước mắt là tiếng Thái và tiếng H.Mông; mở rộng dạy tiếng Dao, tiếng Mường những năm tiếp theo; đồng thời tổ chức biên soạn bộ chữ và chương trình học tiếng dân tộc đưa vào giảng dạy trong các nhà trường;
+ Tiếp tục duy trì các lớp dạy tiếng dân tộc Thái, H.Mông đã có; mở thêm các lớp dạy tiếng Dao, tiếng Mường tại các Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh và huyện, đáp ứng nhu cầu học tập của cán bộ công chức, viên chức và nhân dân các dân tộc.
3.2. Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo
a) Về giáo dục
* Giáo dục mầm non:
- Đảm bảo yêu cầu chăm sóc nuôi dạy trẻ một cách khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ; tăng cường tiếng Việt trước khi vào lớp 1. Đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, phổ biến kiến thức chăm sóc, giáo dục theo khoa học cho các gia đình và xã hội;
- Giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng của toàn tỉnh trong các cơ sở giáo dục mầm non còn dưới 12,8% vào năm học 2010 - 2011; dưới 10% năm học 2015 - 2016; dưới 6% vào năm học 2020 - 2021;
- Tỷ lệ trẻ phát triển đạt 80% vào năm học 2010 - 2011; 90% năm học 2015 - 2016; 100% năm học 2020 - 2021.
* Giáo dục phổ thông:
- Giáo dục tiểu học: Giảm tỷ lệ lưu ban, bỏ học; duy trì việc tổ chức cho 100% học sinh dân tộc được học chương trình tiếng Việt trước khi vào lớp 1 và được tăng cường tiếng Việt ở tiểu học. Khuyến khích việc học ngoại ngữ, tin học trong các trường tiểu học khi đã đủ điều kiện. Tỷ lệ học sinh học 2 buổi/ ngày đạt 18% vào năm học 2010 - 2011; 50% năm học 2015 - 2016; 70% năm học 2020 - 2021.
- Giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông:
Nâng tỷ lệ học sinh học lực khá, giỏi hàng năm gắn với dạy thật, học thật, chống bệnh thành tích trong giáo dục. Tăng cường giáo dục, học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, học tập quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; giáo dục pháp luật, an toàn giao thông; giáo dục thể chất, quốc phòng; giáo dục lịch sử truyền thống Sơn La cho học sinh, sinh viên. Tăng cường dạy và sử dụng tiếng dân tộc trong dạy và học. Thực hiện tốt chương trình phân ban ở trung học phổ thông, đảm bảo tỷ lệ 100% học sinh được học ngoại ngữ, tin học; được hướng nghiệp và học nghề phổ thông;
Thực hiện phân luồng học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở; trung học phổ thông vào các trường trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề trong và ngoài tỉnh; phấn đấu đạt 15 - 20% năm học 2010 - 2011; 20 - 25% năm học 2015 - 2016; 35 - 40% năm học 2020 - 2021;
- Hiệu quả giáo dục tiểu học đạt 86% vào năm học 2010 - 2011; 92% năm học 2015 - 2016; 96% năm học 2020 - 2021;
- Hiệu quả giáo dục trung học cơ sở đạt 89% vào năm học 2010 - 2011; 92% năm học 2015 - 2016; 93 - 95% năm học 2020 - 2021;
- Hiệu quả giáo dục trung học phổ thông đạt 90% vào năm học 2010 - 2011; 93% năm học 2015 - 2016; 96% năm học 2020 - 2021.
b) Về đào tạo:
* Đào tạo cán bộ chủ chốt cơ sở, cán bộ dân tộc thiểu số:
- Đối với cán bộ cấp xã:
Đến năm 2010: Rà soát, tiếp tục đào tạo nguồn khoảng 288 người; trong đó văn hoá là 108 người, trung cấp chuyên môn 108 người, bồi dưỡng chuyên môn 25 người; lý luận chính trị sơ cấp 77 người, trung cấp 81 người;
+ Đào tạo đội ngũ cán bộ xã hiện có:
Về văn hoá 100% cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với vùng 2, vùng 3; 100% có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông đối với vùng 1 (Theo Quyết định số 34/2006/QĐ-TTg ngày 28/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ "100% cán bộ chuyên trách giữ chức vụ qua bầu cử có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên, trong đó 60% tốt nghiệp trung học phổ thông");
Về chuyên môn nghiệp vụ: 100% cán bộ chuyên trách giữ chức vụ qua bầu cử được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, trong đó; 50% có trình độ từ trung cấp trở lên;
Về lý luận chính trị: 100% cán bộ chuyên trách giữ chức vụ qua bầu cử được đào tạo, bồi dưỡng đạt trình độ từ sơ cấp trở lên, trong đó 60% có trình độ trung cấp trở lên;
Về quản lý hành chính, nhà nước: 100% cán bộ chủ chốt được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước; trong đó 40% có trình độ trung cấp;
Đào tạo tin học: 100% cán bộ chuyên trách giữ chức vụ qua bầu cử được bồi dưỡng kiến thức tin học văn phòng;
+ Đào tạo cán bộ nguồn là người dân tộc thiểu số:
Đào tạo văn hoá gắn với đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn chức danh; tập trung đào tạo cán bộ là người dân tộc H.Mông, Dao, Kháng, La ha, Sinh mun, Khơ mú để chuẩn bị nhân sự giới thiệu tham gia cấp uỷ, Hội đồng nhân dân, các chức danh lãnh đạo cấp xã; trong đó đặc biệt quan tâm bố trí công tác cho học sinh tốt nghiệp các lớp dự nguồn của tỉnh và học sinh cử tuyển, học sinh dân tộc thiểu số đã tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp;
(Nguồn theo Đề án xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La, giai đoạn 2007-2010 và đến 2015 của Tỉnh uỷ Sơn La).
Hoàn thành Đề án đào tạo cán bộ chủ chốt cơ sở của tỉnh vào năm 2015.
* Đối với cán bộ cấp tỉnh và cấp huyện:
- Phấn đấu đến 2010 có 50%; năm 2015 có 100% cán bộ, công chức được đào tạo ngoại ngữ và tin học theo các trình độ đáp ứng nhu cầu công tác và chuẩn hoá công chức;
- Đến 2015 có 100% cán bộ, công chức được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước; cán bộ chủ chốt tỉnh và huyện dưới 45 tuổi đạt trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên và 80% có trình độ lý luận trung cấp trở lên;
- Tập trung cho việc tạo nguồn, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số để tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý; đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, bố trí sử dụng cán bộ một số dân tộc thiểu số hiện chưa có hoặc đã có nhưng số lượng còn ít như dân tộc H.Mông, Dao, Kháng, La ha, Sinh mun, Khơ mú, nâng tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong cơ cấu cán bộ của tỉnh; quan tâm đào tạo cán bộ dân tộc có trình độ đại học, cao đẳng;
Lựa chọn cán bộ dân tộc thiểu số đi học để đạt trình độ cao (thạc sỹ, tiến sỹ) ở một số ngành, lĩnh vực như nghiên cứu khoa học, nông, lâm, công nghiệp, giáo dục, y tế…
Phấn đấu từ 2015 - 2020 tập trung đào tạo, bồi dưỡng về văn hoá, chuyên môn, lý luận, quản lý nhà nước, tin học cho cán bộ nhằm đạt chuẩn theo tiêu chuẩn chức danh đảm nhiệm; điều chỉnh cơ bản cơ cấu dân tộc trong đội ngũ cán bộ của tỉnh; phấn đấu các dân tộc đều có cán bộ tham gia công tác lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở và có nhiều chuyên gia trên các lĩnh vực là người dân tộc thiểu số.
* Đảm bảo các điều kiện để 100% Trung tâm học tập cộng đồng hoạt động có hiệu quả; cùng với các trung tâm giáo dục thường xuyên mở rộng dạy nghề xã hội, chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ cho người lao động;
Mở các lớp ngoại ngữ, tin học và ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực sản xuất, công tác và cho các đối tượng xã hội.
* Xây dựng Đề án nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh: Đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ đại học, cao đẳng ở các lĩnh vực đảm bảo cơ cấu các chuyên ngành; chú trọng đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật là người dân tộc thiểu số ở các vùng miền của tỉnh.
* Đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp: Thực hiện đổi mới nội dung chương trình và phương pháp, gắn lý thuyết với thực hành, thực tiễn; nâng cao tay nghề cho học sinh; tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học và tin học vào nhà trường.
3.3. Công tác phổ cập giáo dục
a) Củng cố, nâng cao kết quả phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ, mở rộng xoá mù chữ cho các đối tượng xã hội;
Năm 2007 toàn tỉnh được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở;
Năm 2010 có 10 - 12 xã phường (5%) chủ yếu ở thị trấn, thị xã được công nhận đạt chuẩn phổ cập trung học;
b) Năm 2015 hầu hết số người trong độ tuổi lao động ở nông thôn có trình độ văn hoá từ tiểu học trở lên. Tiếp tục triển khai công nhận phổ cập giáo dục trung học cho 72 xã, thị trấn (35,5%) chủ yếu các xã thuộc vùng 1 và thị xã Sơn La.
c) Năm 2020 toàn tỉnh được công nhận hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học.
3.4. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục
Quy hoạch đào tạo đảm bảo đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu giáo viên theo định mức quy định ở mầm non và các cấp học phổ thông. Đảm bảo số lượng giảng viên các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp theo quy định đạt tỷ lệ 10 - 20 sinh viên/giảng viên.
a) Về đào tạo đội ngũ nhà giáo các cấp
- Đến năm học 2010 - 2011, cần có 19.051 giáo viên mầm non, phổ thông và 500 giảng viên cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề (tăng thêm 3.804 giáo viên; so với năm 2006);
- Năm học 2015 - 2016, cần có 20.069 giáo viên mầm non, phổ thông và 600 giảng viên cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề; cần đào tạo 918 giáo viên; chủ yếu là giáo viên trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp;
- Năm học 2020 - 2021, cần có 20.646 giáo viên mầm non, phổ thông và 700 giảng viên cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề; cần đào tạo 877 giáo viên; chủ yếu là giáo viên mầm non, trung học phổ thông và giảng viên trường cao đẳng, dạy nghề.
b) Về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý giáo dục và nhà giáo
* Đến năm học 2010 - 2011 có 100% giáo viên được chuẩn hoá theo yêu cầu của cấp học, ngành học. Trong đó: giáo viên có trình độ sau đại học ở trung học phổ thông đạt 5%; trung cấp chuyên nghiệp 15% và 50% đối với trường cao đẳng.
* Năm học 2015 - 2016: Nâng tỷ lệ giáo viên có trình độ sau đại học (thạc sỹ, tiến sỹ) ở trung học phổ thông đạt 10%; trung cấp chuyên nghiệp 25%; cao đẳng 60%. Đạt tỷ lệ 100%, giáo viên môn giáo dục công dân có trình độ trung cấp lý luận trở lên và được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước về giáo dục. 50% số giáo viên các cấp học đựơc bồi dưỡng lý luận và kiến thức quản lý nhà nước về giáo dục.
* Năm học 2020 - 2021: Nâng tỷ lệ giáo viên có trình độ cao đẳng ở mầm non, tiểu học; trình độ đại học ở trung học cơ sở; trình độ sau đại học ở trung học phổ thông đạt 15%; trung cấp chuyên nghiệp 35% và 70% đối với trường cao đẳng;
Đạt tỷ lệ 100% cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên phải được bồi dưỡng lý luận chính trị theo yêu cầu của cấp học từ trình độ trung cấp trở lên; trong đó cán bộ quản lý giáo dục từ hiệu trưởng trường trung học phổ thông và phó phòng, phó khoa trở lên có trình độ cao cấp lý luận.
c) Công tác phát triển Đảng
- Đến năm học 2010 - 2011, tất cả 100% trường học trong tỉnh có chi bộ hoặc tổ Đảng;
- Tỷ lệ cán bộ, giáo viên là đảng viên đạt 30% năm học 2010 - 2011; 40% năm học 2015 - 2016; 50% vào năm học 2020 - 2021;
- 100% cán bộ, giáo viên, giảng viên có phẩm chất đạo đức trong sạch, không vi phạm pháp luật; không vi phạm về ma tuý và các tệ nạn xã hội.
3.5. Cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục và ngân sách
a) Quy hoạch cấp đất, đảm bảo tất cả các trường, lớp đều có đủ diện tích nhà học, sân chơi, bãi tập theo quy định trường chuẩn quốc gia:
UBND tỉnh chỉ đạo UBND các huyện thị xã, ngành giáo dục và đào tạo xây dựng quy hoạch chi tiết các trường học; hàng năm rà soát quy hoạch và phân kỳ đầu tư theo các hạng mục xây dựng để từng bước hoàn thiện khuôn viên trường học theo hướng đạt chuẩn quốc gia. Hoàn thành việc phê duyệt quy hoạch nhu cầu sử dụng và cấp quyền sử dụng đất cho các đơn vị trường học. Ưu tiên quỹ đất cho các trường thành lập mới, các trường được đầu tư nâng cấp và mở rộng quy mô;
Đến năm học 2010 - 2011, phấn đấu diện tích đất bình quân 14 m2/học sinh (mức quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ 6 - 10 m2/học sinh + 30% cho 1 trường học). Diện tích đất cho các trường học trong toàn tỉnh cần 927 ha; tăng 176 ha so với năm học 2000 - 2001. Phấn đấu diện tích đất bình quân 18 m2/học sinh vào năm học 2015 - 2016 và phấn đấu diện tích đất bình quân 20 m2/học sinh vào năm học 2020 - 2021.
b) Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất
* Về thực hiện kiên cố hoá trường lớp:
Đến năm học 2010 - 2011 xoá phòng tạm, nâng phòng học kiên cố lên 80,3%, phòng học bán kiên cố 20% (xây mới 6.504 phòng học, xây dựng phòng học bộ môn cho 380 trường; xây dựng 358 công trình phụ trợ trường học: sân trường, cổng trường, công trình vệ sinh, bể nước...);
Năm học 2015 - 2016, nâng phòng học kiên cố lên 83 %, phòng học bán kiên cố 17% (xây mới 300 phòng học chức năng và phòng học bộ môn, 200 trường được xây dựng các công trình phụ trợ như: tường rào, cổng trường, các công trình nước sạch, vệ sinh…);
Năm học 2020 - 2021, số phòng học kiên cố hoá đạt 87%; phòng học bán kiên cố 13%. Hoàn thiện các công trình phụ trợ cho các trường học như: sân trường, tường rào, cổng trường, bể nước, nhà vệ sinh…; đáp ứng nhu cầu nhà ở bán trú cho học sinh, nhà công vụ cho giáo viên công tác tại các xã vùng 2, vùng 3 của tỉnh. Xây dựng hoàn thiện về phòng học, phòng thí nghiệm, thực hành, xưởng trường, phòng làm việc của các phòng ban, ký túc xá… các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp dạy nghề của tỉnh.
* Về trang thiết bị trường học:
Đến năm học 2010 - 2011: Đạt tỷ lệ 70% các trường phổ thông có thư viện, 20% số trường thư viện đạt chuẩn; 70% các trường có phòng thí nghiệm, 60% số trường trung học cơ sở có phòng máy vi tính;
Đến năm học 2015 - 2016: Đạt tỷ lệ 80% các trường phổ thông có thư viện, 30% số trường thư viện đạt chuẩn; 100% các trường có phòng thí nghiệm, 80% số trường trung học cơ sở có phòng máy vi tính. Trang bị phòng máy vi tính cho 50% trường mầm non, tiểu học;
Đến năm học 2020 - 2021: Hoàn thiện về trang thiết bị, đảm bảo đủ phòng máy vi tính; phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm, phòng thư viện cho các trường học; 40 - 50% số trường có thư viện đạt chuẩn.
c) Về ngân sách
Đảm bảo ngân sách chi cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo; nâng tỷ lệ ngân sách hàng năm từ 1 - 2%.
3.6. Xã hội hoá giáo dục
a) Giai đoạn 2008 - 2010
Từng bước cụ thể hoá và xây dựng kế hoạch thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục theo Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục - thể thao; trước mắt đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức nhằm huy động sự tham gia của toàn xã hội vào phát triển sự nghiệp giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục phát triển lành mạnh; tạo điều kiện cho mọi người, mọi tổ chức được đóng góp cho giáo dục. Thực hiện Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2007 -2010, 2015, 2020;
Tăng cường công tác quản lý; mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục ngoài công lập;
Ưu tiên đầu tư ngân sách để phát triển giáo dục mầm non ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng cao, biên giới. Xây dựng kế hoạch thực hiện theo Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển giáo dục mầm non. Duy trì, mở rộng quy mô các cơ sở giáo dục và dạy nghề ngoài công lập hiện có;
Khuyến khích thành lập các cơ sở giáo dục mầm non; phổ thông dân lập, tư thục ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển (thị trấn, thị xã); không thành lập mới các cơ sở giáo dục công lập tại các vùng này. Khuyến khích phát triển các cơ sở đào tạo nghề phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu phát triển kinh tế ở các địa bàn của tỉnh. 100% xã , phường có trung tâm học tập cộng đồng; mở rộng quy mô và các hoạt động của Hội Khuyến học; tăng tỷ lệ gia đình, dòng họ hiếu học hàng năm;
Phát triển mô hình học 2 buổi/ngày ở tiểu học; tăng cường các dịch vụ công ích ở các trường trung học cơ sở chất lượng cao ở các huyện thị; thành lập các cơ sở đào tạo nghề.
b) Giai đoạn 2011 - 2020
Chuyển một số trường công lập thành trường ngoài công lập khi đã đủ các điều kiện thích hợp; đồng thời nâng cao chất lượng toàn diện các trường ngoài công lập;
Hoàn thiện hệ thống mạng lưới trường lớp: mỗi huyện, thị xã có đủ các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông ngoài công lập; từng bước chuyển các cơ sở đào tạo và dạy nghề công lập hoạt động theo cơ chế cung ứng dịch vụ; tăng cường các cơ sở đào tạo, dạy nghề ngoài công lập tại các địa phương;
Mở rộng các mối quan hệ của nhà trường với các ngành, các địa phương, các tổ chức kinh tế - xã hội. Hoàn thiện các điều kiện cơ sở vật chất, giám sát các hoạt động giáo dục và nâng cao các hoạt động của Hội đồng giáo dục các cấp. Tăng cường liên kết, mở rộng hợp tác với các cơ sở giáo dục và đào tạo, các tổ chức, các thành phần kinh tế trong và ngoài nước để đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực;
Xây dựng cơ chế chính sách phù hợp về đất đai, thuế, tín dụng… tạo điều kiện cho việc thành lập và phát triển các cơ sở giáo dục ngoài công lập;
Mở rộng quỹ khuyến học các cấp, khuyến khích các tập thể, cá nhân đầu tư cho giáo dục;
Năm 2020, phát triển ở mỗi huyện, thị xã, mỗi cấp học đều có từ 1 - 2 trường (mầm non; tiểu học; trung học cơ sở; trung học phổ thông) ngoài công lập. Toàn tỉnh có 2 cơ sở đào tạo ngoài công lập;
Tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi ngoài công lập 50%; trẻ 3 - 5 tuổi học mẫu giáo ngoài công lập 30%; tiểu học: 2%; trung học cơ sở: 4%; trung học phổ thông: 15 - 20%; cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề: 15 - 20%.

Content:
Định hướng, nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo
3.1. Quy mô, mạng lưới trường lớp
Nâng số tổng trường của toàn tỉnh từ 690 trường (mầm non, phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề) năm học 2006 - 2007 lên 758 trường vào năm học 2010 - 2011 và 781 trường vào năm 2015 - 2016 và 802 trường vào năm học 2020 - 2021.
a) Về giáo dục
* Giáo dục mầm non:
Thành lập trường mầm non công lập ở vùng đặc biệt khó khăn, hoàn thiện trường mầm non đăng ký phấn đấu đạt chuẩn Quốc gia, trường mầm non trọng điểm, phát triển các lớp mầm non tại các cụm bản; từng bước phát triển loại hình trường lớp mầm non ngoài công lập ở những vùng thuận lợi, vùng kinh tế - xã hội phát triển;
Nâng số trường mầm non từ 180 trường năm học 2006 - 2007 lên 212 trường, trong đó có 100% xã có cơ sở giáo dục mầm non vào năm học 2010 - 2011; 225 trường vào năm học 2015 - 2016; 245 trường vào năm học 2020 - 2021;
Từ nay đến 2020: Phấn đấu xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia để nhằm hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học, đạt được các tiêu chuẩn về tỷ lệ tối thiểu số trường chuẩn quốc gia theo quy định. Cụ thể là:
Về giáo dục mầm non đạt: 35 trường vào năm 2015; 80 trường (32,6%) vào năm 2020.
* Giáo dục phổ thông:
- Giáo dục tiểu học: Nâng số trường tiểu học toàn tỉnh từ 232 trường năm học 2006 - 2007 lên 266 trường vào năm học 2010 - 2011 và ổn định vào các năm tiếp theo;
Số trường đạt chuẩn Quốc gia 60 trường vào năm 2015; 106 trường (40%) vào năm 2020 (đạt mục tiêu toàn tỉnh hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học đúng quy định);
- Giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông: Hoàn chỉnh mạng lưới trường trung học cơ sở, trung học phổ thông ở các xã vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh; tách các trường trung học phổ thông nhiều cấp thành các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông độc lập để xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia;
+ Giáo dục trung học cơ sở:
Nâng số trường trung học cơ sở trong toàn tỉnh từ 192 trường năm học 2006 - 2007 lên 231 trường vào năm học 2010 - 2011 và ổn định vào các năm tiếp theo;
Số trường đạt chuẩn quốc gia 40 trường vào năm 2015; 70 trường vào năm 2020.
+ Giáo dục trung học phổ thông:
Tiếp tục hoàn thiện và mở rộng quy mô các trường trung học phổ thông hiện có. Nâng số trường trung học phổ thông trong toàn tỉnh từ 30 trường năm học 2006 - 2007 lên 32 trường vào năm học 2010 - 2011 và 35 trường vào năm học 2015 - 2016 và 41 trường vào năm học 2020 - 2021;
Số trường đạt chuẩn quốc gia 5 trường vào năm 2015; 14 trường vào năm 2020 (theo quy định hoàn thành chương trình phổ cập trung học mỗi huyện thị phải có ít nhất 1 trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia và gồm cả trường trung học phổ thông Chuyên và trường trung học phổ thông Nội trú tỉnh).
* Củng cố và đầu tư hoàn thiện các trường chuyên biệt:
Năm học 2008 - 2009 mở thêm môn chuyên tin học và tiếp tục nâng cấp trường trung học phổ thông Chuyên để đạt trường chuẩn quốc gia giai đoạn 2;
Tăng quy mô trường phổ thông dân tộc Nội trú huyện lên 300 học sinh/ trường, trường phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh 500 học sinh. Tiếp tục hoàn thiện các trường phổ thông Dân tộc bán trú tại các trung tâm xã và cụm xã tạo điều kiện cho học sinh vùng sâu, vùng xa được học tập theo hướng nâng cao;
Năm học 2015 - 2016, thành lập trường giáo dục cho trẻ tàn tật, khuyết tật của tỉnh;
Đến 2017 - 2018, thành lập Trường Năng khiếu thể dục, thể thao của tỉnh.
- Quy hoạch trường, lớp tại các khu, điểm tái định cư dự án xây dựng Thuỷ điện Sơn La:
Thành lập các trường học tại các khu tái định cư tập trung, số lượng học sinh đảm bảo đối với mầm non từ 150 - 200 học sinh, tiểu học từ 200 - 300 học sinh; trung học cơ sở từ 400 học sinh trở lên;
Đối với những điểm tái định cư, số lượng học sinh chưa đủ để mở trường sẽ tăng số lớp trung học cơ sở tại các trường sở tại; mở các lớp mầm non, tiểu học tại bản; đảm bảo thu hút 100% số học sinh phải di chuyển được đến lớp học.
- Phát triển giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn:
+ Đối với giáo dục mầm non: Phấn đấu đến 2020 đạt 100% các xã có từ 1 đến 2 trường mầm non; 80% số bản có trường, lớp mầm non. Giai đoạn 2007 - 2010 thành lập thêm 16 trường; giai đoạn 2011 - 2015 thành lập thêm 12 trường; giai đoạn 2016 - 2020 thành lập trường mầm non tại các xã còn lại của tỉnh đạt mục tiêu 100% các xã có từ 1 trường mầm non trở lên và 80% bản có lớp mầm non;
+ Đối với trung học phổ thông: Giai đoạn 2007 - 2010 thành lập thêm 2 trường trung học phổ thông: Bình Thuận - Thuận Châu; Mường Bú - Mường La;
Giai đoạn 2016 - 2020, nâng cấp đào tạo trung học phổ thông tại 3 trường phổ thông Dân tộc Nội trú của huyện Mộc Châu, Mai Sơn, Phù Yên;
Giai đoạn 2016 - 2020 thành lập thêm 6 trường trung học phổ thông tại Vân Hồ - Mộc Châu, Làng Chếu - Bắc Yên; Ngọc Chiến - Mường La; Púng Bánh - Sốp Cộp; Mường Khoa - Bắc Yên; Vạn Yên - Phù Yên.
* Giáo dục thường xuyên:
Tiếp tục duy trì và mở rộng hoạt động của 14 Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh và huyện; củng cố, phát triển Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp của tỉnh; 100% xã, phường, thị trấn có Trung tâm học tập cộng đồng;
Năm 2008, thành lập Trung tâm Ngoại ngữ, Tin học của tỉnh.
b) Về đào tạo
Xây dựng và củng cố hệ thống các truờng hiện có, phát triển theo hướng đa ngành, đa nghề, đa hệ nhằm thu hút ngày càng nhiều các đối tượng học sinh, người lao động theo học, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực;
- Đối với Trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La: Rà soát để giao kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng giáo viên phù hợp với nhu cầu phát triển, đồng thời mở rộng mã ngành đào tạo các chuyên ngành ngoài sư phạm tại trường;
- Nâng cấp các trường: trung cấp Nông Lâm, trung cấp Y tế, trường Văn hoá Nghệ thuật, trường Đào tạo nghề thành các trường Cao đẳng. Nâng quy mô đào tạo các trường chuyên nghiệp từ 2.000 - 2.500 học sinh/trường; trường Đào tạo nghề từ 4.000 - 6.000 học sinh/năm;
- Đến 2010, thành lập được các cơ sở đào tạo ngoài công lập; năm 2020, thành lập 11 Trung tâm dạy nghề tại các huyện, thị;
- Liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo nước ngoài và các cơ sở đào tạo có uy tín trong nước để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh; đồng thời chọn cử cán bộ các cấp, các ngành đi thực tập, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao tay nghề ở nước ngoài;
- Mỗi năm chọn cử từ 30 cán bộ trở lên thuộc các lĩnh vực, các chuyên ngành đi học sau đại học (thạc sỹ, tiến sỹ);
- Về ngành nghề, cơ cấu đào tạo:
Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực trong từng giai đọan nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, đáp ứng nhu cầu hội nhập WTO, xuất khẩu lao động, ngành nghề kinh tế mũi nhọn:
+ Đổi mới và mở rộng các ngành nghề, các lĩnh vực đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội, tăng cơ hội được đào tạo nghề cho lao động khu vực nông thôn;
+ Các ngành nghề ưu tiên: một số ngành khoa học tự nhiên, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, các ngành giao thông, quy hoạch, đào tạo chuyên gia trình độ cao trong một số ngành thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội…
+ Mở rộng các hình thức đào tạo, dạy nghề, trong đó tập trung vào các ngành nghề như: y tế, chế biến nông - lâm nghiệp và thuỷ sản, tiêu dùng, xây dựng, cơ khí, khai khoáng, sửa chữa, dịch vụ, tin học, du lịch và các ngành nghề có nhu cầu phát triển theo nhu cầu thị trường. Tiếp tục phát triển các sản phẩm hàng hoá mang thương hiệu Sơn La và vùng kinh tế động lực như: Chè, Sữa, Cà phê…Cập nhật các kiến thức trồng, chăm sóc, bảo quản, chế biến cây cao su đảm bảo chất lượng và phát triển ra thị trường trong nước;
- Xây dựng quy hoạch đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số từ xã đến huyện và tỉnh về chuyên môn, lý luận, kiến thức quản lý nhà nước, đáp ứng nhu cầu về cán bộ khoa học kỹ thuật của các ban, ngành và cấp ủy, chính quyền các cấp;
- Tăng chỉ tiêu dạy nghề cho lao động nông thôn, dạy nghề cho các đối tượng di dân tái định cư thuỷ điện Sơn La;
- Triển khai dạy tiếng dân tộc cho cán bộ, công chức, giáo viên, học sinh, sinh viên và cộng đồng dân cư nơi có nhu cầu:
+ Năm 2008, mở thêm bộ môn tiếng dân tộc tại trường Cao đẳng sư phạm của tỉnh để đào tạo cho giáo sinh sử dụng thành thạo tiếng dân tộc, vận dụng trong dạy học. Trước mắt là tiếng Thái và tiếng H.Mông; mở rộng dạy tiếng Dao, tiếng Mường những năm tiếp theo; đồng thời tổ chức biên soạn bộ chữ và chương trình học tiếng dân tộc đưa vào giảng dạy trong các nhà trường;
+ Tiếp tục duy trì các lớp dạy tiếng dân tộc Thái, H.Mông đã có; mở thêm các lớp dạy tiếng Dao, tiếng Mường tại các Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh và huyện, đáp ứng nhu cầu học tập của cán bộ công chức, viên chức và nhân dân các dân tộc.
3.2. Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo
a) Về giáo dục
* Giáo dục mầm non:
- Đảm bảo yêu cầu chăm sóc nuôi dạy trẻ một cách khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ; tăng cường tiếng Việt trước khi vào lớp 1. Đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, phổ biến kiến thức chăm sóc, giáo dục theo khoa học cho các gia đình và xã hội;
- Giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng của toàn tỉnh trong các cơ sở giáo dục mầm non còn dưới 12,8% vào năm học 2010 - 2011; dưới 10% năm học 2015 - 2016; dưới 6% vào năm học 2020 - 2021;
- Tỷ lệ trẻ phát triển đạt 80% vào năm học 2010 - 2011; 90% năm học 2015 - 2016; 100% năm học 2020 - 2021.
* Giáo dục phổ thông:
- Giáo dục tiểu học: Giảm tỷ lệ lưu ban, bỏ học; duy trì việc tổ chức cho 100% học sinh dân tộc được học chương trình tiếng Việt trước khi vào lớp 1 và được tăng cường tiếng Việt ở tiểu học. Khuyến khích việc học ngoại ngữ, tin học trong các trường tiểu học khi đã đủ điều kiện. Tỷ lệ học sinh học 2 buổi/ ngày đạt 18% vào năm học 2010 - 2011; 50% năm học 2015 - 2016; 70% năm học 2020 - 2021.
- Giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông:
Nâng tỷ lệ học sinh học lực khá, giỏi hàng năm gắn với dạy thật, học thật, chống bệnh thành tích trong giáo dục. Tăng cường giáo dục, học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, học tập quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; giáo dục pháp luật, an toàn giao thông; giáo dục thể chất, quốc phòng; giáo dục lịch sử truyền thống Sơn La cho học sinh, sinh viên. Tăng cường dạy và sử dụng tiếng dân tộc trong dạy và học. Thực hiện tốt chương trình phân ban ở trung học phổ thông, đảm bảo tỷ lệ 100% học sinh được học ngoại ngữ, tin học; được hướng nghiệp và học nghề phổ thông;
Thực hiện phân luồng học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở; trung học phổ thông vào các trường trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề trong và ngoài tỉnh; phấn đấu đạt 15 - 20% năm học 2010 - 2011; 20 - 25% năm học 2015 - 2016; 35 - 40% năm học 2020 - 2021;
- Hiệu quả giáo dục tiểu học đạt 86% vào năm học 2010 - 2011; 92% năm học 2015 - 2016; 96% năm học 2020 - 2021;
- Hiệu quả giáo dục trung học cơ sở đạt 89% vào năm học 2010 - 2011; 92% năm học 2015 - 2016; 93 - 95% năm học 2020 - 2021;
- Hiệu quả giáo dục trung học phổ thông đạt 90% vào năm học 2010 - 2011; 93% năm học 2015 - 2016; 96% năm học 2020 - 2021.
b) Về đào tạo:
* Đào tạo cán bộ chủ chốt cơ sở, cán bộ dân tộc thiểu số:
- Đối với cán bộ cấp xã:
Đến năm 2010: Rà soát, tiếp tục đào tạo nguồn khoảng 288 người; trong đó văn hoá là 108 người, trung cấp chuyên môn 108 người, bồi dưỡng chuyên môn 25 người; lý luận chính trị sơ cấp 77 người, trung cấp 81 người;
+ Đào tạo đội ngũ cán bộ xã hiện có:
Về văn hoá 100% cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với vùng 2, vùng 3; 100% có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông đối với vùng 1 (Theo Quyết định số 34/2006/QĐ-TTg ngày 28/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ "100% cán bộ chuyên trách giữ chức vụ qua bầu cử có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên, trong đó 60% tốt nghiệp trung học phổ thông");
Về chuyên môn nghiệp vụ: 100% cán bộ chuyên trách giữ chức vụ qua bầu cử được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, trong đó; 50% có trình độ từ trung cấp trở lên;
Về lý luận chính trị: 100% cán bộ chuyên trách giữ chức vụ qua bầu cử được đào tạo, bồi dưỡng đạt trình độ từ sơ cấp trở lên, trong đó 60% có trình độ trung cấp trở lên;
Về quản lý hành chính, nhà nước: 100% cán bộ chủ chốt được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước; trong đó 40% có trình độ trung cấp;
Đào tạo tin học: 100% cán bộ chuyên trách giữ chức vụ qua bầu cử được bồi dưỡng kiến thức tin học văn phòng;
+ Đào tạo cán bộ nguồn là người dân tộc thiểu số:
Đào tạo văn hoá gắn với đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn chức danh; tập trung đào tạo cán bộ là người dân tộc H.Mông, Dao, Kháng, La ha, Sinh mun, Khơ mú để chuẩn bị nhân sự giới thiệu tham gia cấp uỷ, Hội đồng nhân dân, các chức danh lãnh đạo cấp xã; trong đó đặc biệt quan tâm bố trí công tác cho học sinh tốt nghiệp các lớp dự nguồn của tỉnh và học sinh cử tuyển, học sinh dân tộc thiểu số đã tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp;
(Nguồn theo Đề án xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La, giai đoạn 2007-2010 và đến 2015 của Tỉnh uỷ Sơn La).
Hoàn thành Đề án đào tạo cán bộ chủ chốt cơ sở của tỉnh vào năm 2015.
* Đối với cán bộ cấp tỉnh và cấp huyện:
- Phấn đấu đến 2010 có 50%; năm 2015 có 100% cán bộ, công chức được đào tạo ngoại ngữ và tin học theo các trình độ đáp ứng nhu cầu công tác và chuẩn hoá công chức;
- Đến 2015 có 100% cán bộ, công chức được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước; cán bộ chủ chốt tỉnh và huyện dưới 45 tuổi đạt trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên và 80% có trình độ lý luận trung cấp trở lên;
- Tập trung cho việc tạo nguồn, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số để tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý; đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, bố trí sử dụng cán bộ một số dân tộc thiểu số hiện chưa có hoặc đã có nhưng số lượng còn ít như dân tộc H.Mông, Dao, Kháng, La ha, Sinh mun, Khơ mú, nâng tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong cơ cấu cán bộ của tỉnh; quan tâm đào tạo cán bộ dân tộc có trình độ đại học, cao đẳng;
Lựa chọn cán bộ dân tộc thiểu số đi học để đạt trình độ cao (thạc sỹ, tiến sỹ) ở một số ngành, lĩnh vực như nghiên cứu khoa học, nông, lâm, công nghiệp, giáo dục, y tế…
Phấn đấu từ 2015 - 2020 tập trung đào tạo, bồi dưỡng về văn hoá, chuyên môn, lý luận, quản lý nhà nước, tin học cho cán bộ nhằm đạt chuẩn theo tiêu chuẩn chức danh đảm nhiệm; điều chỉnh cơ bản cơ cấu dân tộc trong đội ngũ cán bộ của tỉnh; phấn đấu các dân tộc đều có cán bộ tham gia công tác lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở và có nhiều chuyên gia trên các lĩnh vực là người dân tộc thiểu số.
* Đảm bảo các điều kiện để 100% Trung tâm học tập cộng đồng hoạt động có hiệu quả; cùng với các trung tâm giáo dục thường xuyên mở rộng dạy nghề xã hội, chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ cho người lao động;
Mở các lớp ngoại ngữ, tin học và ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực sản xuất, công tác và cho các đối tượng xã hội.
* Xây dựng Đề án nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh: Đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ đại học, cao đẳng ở các lĩnh vực đảm bảo cơ cấu các chuyên ngành; chú trọng đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật là người dân tộc thiểu số ở các vùng miền của tỉnh.
* Đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp: Thực hiện đổi mới nội dung chương trình và phương pháp, gắn lý thuyết với thực hành, thực tiễn; nâng cao tay nghề cho học sinh; tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học và tin học vào nhà trường.
3.Công tác phổ cập giáo dục
a) Củng cố, nâng cao kết quả phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ, mở rộng xoá mù chữ cho các đối tượng xã hội;
Năm 2007 toàn tỉnh được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở;
Năm 2010 có 10 - 12 xã phường (5%) chủ yếu ở thị trấn, thị xã được công nhận đạt chuẩn phổ cập trung học;
b) Năm 2015 hầu hết số người trong độ tuổi lao động ở nông thôn có trình độ văn hoá từ tiểu học trở lên. Tiếp tục triển khai công nhận phổ cập giáo dục trung học cho 72 xã, thị trấn (35,5%) chủ yếu các xã thuộc vùng 1 và thị xã Sơn La.
c) Năm 2020 toàn tỉnh được công nhận hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học.
3.4. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục
Quy hoạch đào tạo đảm bảo đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu giáo viên theo định mức quy định ở mầm non và các cấp học phổ thông. Đảm bảo số lượng giảng viên các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp theo quy định đạt tỷ lệ 10 - 20 sinh viên/giảng viên.
a) Về đào tạo đội ngũ nhà giáo các cấp
- Đến năm học 2010 - 2011, cần có 19.051 giáo viên mầm non, phổ thông và 500 giảng viên cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề (tăng thêm 3.804 giáo viên; so với năm 2006);
- Năm học 2015 - 2016, cần có 20.069 giáo viên mầm non, phổ thông và 600 giảng viên cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề; cần đào tạo 918 giáo viên; chủ yếu là giáo viên trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp;
- Năm học 2020 - 2021, cần có 20.646 giáo viên mầm non, phổ thông và 700 giảng viên cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề; cần đào tạo 877 giáo viên; chủ yếu là giáo viên mầm non, trung học phổ thông và giảng viên trường cao đẳng, dạy nghề.
b) Về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý giáo dục và nhà giáo
* Đến năm học 2010 - 2011 có 100% giáo viên được chuẩn hoá theo yêu cầu của cấp học, ngành học. Trong đó: giáo viên có trình độ sau đại học ở trung học phổ thông đạt 5%; trung cấp chuyên nghiệp 15% và 50% đối với trường cao đẳng.
* Năm học 2015 - 2016: Nâng tỷ lệ giáo viên có trình độ sau đại học (thạc sỹ, tiến sỹ) ở trung học phổ thông đạt 10%; trung cấp chuyên nghiệp 25%; cao đẳng 60%. Đạt tỷ lệ 100%, giáo viên môn giáo dục công dân có trình độ trung cấp lý luận trở lên và được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước về giáo dục. 50% số giáo viên các cấp học đựơc bồi dưỡng lý luận và kiến thức quản lý nhà nước về giáo dục.
* Năm học 2020 - 2021: Nâng tỷ lệ giáo viên có trình độ cao đẳng ở mầm non, tiểu học; trình độ đại học ở trung học cơ sở; trình độ sau đại học ở trung học phổ thông đạt 15%; trung cấp chuyên nghiệp 35% và 70% đối với trường cao đẳng;
Đạt tỷ lệ 100% cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên phải được bồi dưỡng lý luận chính trị theo yêu cầu của cấp học từ trình độ trung cấp trở lên; trong đó cán bộ quản lý giáo dục từ hiệu trưởng trường trung học phổ thông và phó phòng, phó khoa trở lên có trình độ cao cấp lý luận.
c) Công tác phát triển Đảng
- Đến năm học 2010 - 2011, tất cả 100% trường học trong tỉnh có chi bộ hoặc tổ Đảng;
- Tỷ lệ cán bộ, giáo viên là đảng viên đạt 30% năm học 2010 - 2011; 40% năm học 2015 - 2016; 50% vào năm học 2020 - 2021;
- 100% cán bộ, giáo viên, giảng viên có phẩm chất đạo đức trong sạch, không vi phạm pháp luật; không vi phạm về ma tuý và các tệ nạn xã hội.
3.5. Cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục và ngân sách
a) Quy hoạch cấp đất, đảm bảo tất cả các trường, lớp đều có đủ diện tích nhà học, sân chơi, bãi tập theo quy định trường chuẩn quốc gia:
UBND tỉnh chỉ đạo UBND các huyện thị xã, ngành giáo dục và đào tạo xây dựng quy hoạch chi tiết các trường học; hàng năm rà soát quy hoạch và phân kỳ đầu tư theo các hạng mục xây dựng để từng bước hoàn thiện khuôn viên trường học theo hướng đạt chuẩn quốc gia. Hoàn thành việc phê duyệt quy hoạch nhu cầu sử dụng và cấp quyền sử dụng đất cho các đơn vị trường học. Ưu tiên quỹ đất cho các trường thành lập mới, các trường được đầu tư nâng cấp và mở rộng quy mô;
Đến năm học 2010 - 2011, phấn đấu diện tích đất bình quân 14 m2/học sinh (mức quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ 6 - 10 m2/học sinh + 30% cho 1 trường học). Diện tích đất cho các trường học trong toàn tỉnh cần 927 ha; tăng 176 ha so với năm học 2000 - 2001. Phấn đấu diện tích đất bình quân 18 m2/học sinh vào năm học 2015 - 2016 và phấn đấu diện tích đất bình quân 20 m2/học sinh vào năm học 2020 - 2021.
b) Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất
* Về thực hiện kiên cố hoá trường lớp:
Đến năm học 2010 - 2011 xoá phòng tạm, nâng phòng học kiên cố lên 80,3%, phòng học bán kiên cố 20% (xây mới 6.504 phòng học, xây dựng phòng học bộ môn cho 380 trường; xây dựng 358 công trình phụ trợ trường học: sân trường, cổng trường, công trình vệ sinh, bể nước...);
Năm học 2015 - 2016, nâng phòng học kiên cố lên 83 %, phòng học bán kiên cố 17% (xây mới 300 phòng học chức năng và phòng học bộ môn, 200 trường được xây dựng các công trình phụ trợ như: tường rào, cổng trường, các công trình nước sạch, vệ sinh…);
Năm học 2020 - 2021, số phòng học kiên cố hoá đạt 87%; phòng học bán kiên cố 13%. Hoàn thiện các công trình phụ trợ cho các trường học như: sân trường, tường rào, cổng trường, bể nước, nhà vệ sinh…; đáp ứng nhu cầu nhà ở bán trú cho học sinh, nhà công vụ cho giáo viên công tác tại các xã vùng 2, vùng 3 của tỉnh. Xây dựng hoàn thiện về phòng học, phòng thí nghiệm, thực hành, xưởng trường, phòng làm việc của các phòng ban, ký túc xá… các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp dạy nghề của tỉnh.
* Về trang thiết bị trường học:
Đến năm học 2010 - 2011: Đạt tỷ lệ 70% các trường phổ thông có thư viện, 20% số trường thư viện đạt chuẩn; 70% các trường có phòng thí nghiệm, 60% số trường trung học cơ sở có phòng máy vi tính;
Đến năm học 2015 - 2016: Đạt tỷ lệ 80% các trường phổ thông có thư viện, 30% số trường thư viện đạt chuẩn; 100% các trường có phòng thí nghiệm, 80% số trường trung học cơ sở có phòng máy vi tính. Trang bị phòng máy vi tính cho 50% trường mầm non, tiểu học;
Đến năm học 2020 - 2021: Hoàn thiện về trang thiết bị, đảm bảo đủ phòng máy vi tính; phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm, phòng thư viện cho các trường học; 40 - 50% số trường có thư viện đạt chuẩn.
c) Về ngân sách
Đảm bảo ngân sách chi cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo; nâng tỷ lệ ngân sách hàng năm từ 1 - 2%.
3.6. Xã hội hoá giáo dục
a) Giai đoạn 2008 - 2010
Từng bước cụ thể hoá và xây dựng kế hoạch thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục theo Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục - thể thao; trước mắt đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức nhằm huy động sự tham gia của toàn xã hội vào phát triển sự nghiệp giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục phát triển lành mạnh; tạo điều kiện cho mọi người, mọi tổ chức được đóng góp cho giáo dục. Thực hiện Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2007 -2010, 2015, 2020;
Tăng cường công tác quản lý; mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục ngoài công lập;
Ưu tiên đầu tư ngân sách để phát triển giáo dục mầm non ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng cao, biên giới. Xây dựng kế hoạch thực hiện theo Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển giáo dục mầm non. Duy trì, mở rộng quy mô các cơ sở giáo dục và dạy nghề ngoài công lập hiện có;
Khuyến khích thành lập các cơ sở giáo dục mầm non; phổ thông dân lập, tư thục ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển (thị trấn, thị xã); không thành lập mới các cơ sở giáo dục công lập tại các vùng này. Khuyến khích phát triển các cơ sở đào tạo nghề phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu phát triển kinh tế ở các địa bàn của tỉnh. 100% xã , phường có trung tâm học tập cộng đồng; mở rộng quy mô và các hoạt động của Hội Khuyến học; tăng tỷ lệ gia đình, dòng họ hiếu học hàng năm;
Phát triển mô hình học 2 buổi/ngày ở tiểu học; tăng cường các dịch vụ công ích ở các trường trung học cơ sở chất lượng cao ở các huyện thị; thành lập các cơ sở đào tạo nghề.
b) Giai đoạn 2011 - 2020
Chuyển một số trường công lập thành trường ngoài công lập khi đã đủ các điều kiện thích hợp; đồng thời nâng cao chất lượng toàn diện các trường ngoài công lập;
Hoàn thiện hệ thống mạng lưới trường lớp: mỗi huyện, thị xã có đủ các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông ngoài công lập; từng bước chuyển các cơ sở đào tạo và dạy nghề công lập hoạt động theo cơ chế cung ứng dịch vụ; tăng cường các cơ sở đào tạo, dạy nghề ngoài công lập tại các địa phương;
Mở rộng các mối quan hệ của nhà trường với các ngành, các địa phương, các tổ chức kinh tế - xã hội. Hoàn thiện các điều kiện cơ sở vật chất, giám sát các hoạt động giáo dục và nâng cao các hoạt động của Hội đồng giáo dục các cấp. Tăng cường liên kết, mở rộng hợp tác với các cơ sở giáo dục và đào tạo, các tổ chức, các thành phần kinh tế trong và ngoài nước để đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực;
Xây dựng cơ chế chính sách phù hợp về đất đai, thuế, tín dụng… tạo điều kiện cho việc thành lập và phát triển các cơ sở giáo dục ngoài công lập;
Mở rộng quỹ khuyến học các cấp, khuyến khích các tập thể, cá nhân đầu tư cho giáo dục;
Năm 2020, phát triển ở mỗi huyện, thị xã, mỗi cấp học đều có từ 1 - 2 trường (mầm non; tiểu học; trung học cơ sở; trung học phổ thông) ngoài công lập. Toàn tỉnh có 2 cơ sở đào tạo ngoài công lập;
Tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi ngoài công lập 50%; trẻ 3 - 5 tuổi học mẫu giáo ngoài công lập 30%; tiểu học: 2%; trung học cơ sở: 4%; trung học phổ thông: 15 - 20%; cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề: 15 - 20%.