Document: Điểm d Khoản 4 Điều 1 Quyết định 286/QĐ-UBND năm 2012 phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Hòa Bình", "promulgation_date": "20/03/2012", "sign_number": "286/QĐ-UBND", "signer": "Trần Đăng Ninh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Hòa Bình", "promulgation_date": "20/03/2012", "sign_number": "286/QĐ-UBND", "signer": "Trần Đăng Ninh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Hòa Bình", "promulgation_date": "20/03/2012", "sign_number": "286/QĐ-UBND", "signer": "Trần Đăng Ninh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Hòa Bình", "promulgation_date": "20/03/2012", "sign_number": "286/QĐ-UBND", "signer": "Trần Đăng Ninh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Hòa Bình", "promulgation_date": "20/03/2012", "sign_number": "286/QĐ-UBND", "signer": "Trần Đăng Ninh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 4 Điều 1 Quyết định 286/QĐ-UBND năm 2012 phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Hòa Bình đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
4. Phương án quy hoạch phát triển Vật liệu xây dựng đến 2020
...
d) Vật liệu xây:
- Các nhà máy sản xuất gạch ngói nung tuy nen đang hoạt động hiện nay chưa phát huy đầy đủ năng lực sản xuất đã đầu tư, cần tìm nguồn cung ứng nguyên liệu ổn định cho sản xuất, phát huy hết công suất thiết kế và đa dạng hoá sản phẩm để mở rộng thị trường tiêu thụ.
- Tiếp tục đầu tư sản xuất gạch ngói nung bằng lò tuy nen với qui mô hợp lý tại các địa bàn trong tỉnh, riêng các huyện có khả năng cung ứng cho Hà Nội như Lương Sơn, Lạc Thủy, Kỳ Sơn đầu tư các nhà máy sản xuất gạch, ngói với qui mô lớn để mở rộng thị trường. Chú trọng đầu tư tại các địa bàn có nguồn nguyên liệu tập trung, phù hợp với qui hoạch thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản của tỉnh. Tuỳ thuộc vào trữ lượng nguyên liệu và nhu cầu thị trường từng khu vực có thể lựa chọn qui mô sản xuất lớn từ 30 – 40 triệu viên/năm hoặc qui mô trung bình từ 15 – 20 triệu viên/năm.
- Đầu tư chuyển đổi cải thiện thiết bị, dây chuyền sản xuất gạch bằng việc xoá bỏ các lò đứng thủ công chuyển sang lò kiểu mới nung gạch liên tục tại các xã vùng sâu, vùng có khó khăn về giao thông, có nhu cầu nhỏ chủ yếu phục vụ xây dựng tại chỗ, trên cơ sở liên doanh liên kết giữa các cơ sở để huy động nguồn vốn và thực hiện theo kế hoạch để chủ động cung ứng vật liệu xây cho nhu cầu của địa phương từng giai đoạn. Qui mô mỗi khu vực cần đạt khoảng 4 triệu viên/năm, đến 8 – 10 triệu viên/năm.
- Khuyến khích các doanh nghiệp có năng lực tài chính, các cơ sở khai thác đá, cát xây dựng, các cơ sở sản xuất xi măng cũng như các hộ tư nhân... đầu tư vào sản xuất gạch không nung tận dụng các sản phẩm phụ của sản xuất đá xây dựng, sản xuất xi măng, khuyến khích dùng nguyên liệu từ đất đồi áp dụng công nghệ tiên tiến, sản xuất gạch bê tông khí, gạch bê tông bọt, gạch bloc để giải quyết nhu cầu về vật liệu xây tại chỗ và cung ứng cho xây dựng nhà xưởng, các hạng mục công trình phụ trợ tại các khu, cụm công nghiệp.
- Đầu tư khai thác đá ong tại huyện Kỳ sơn có nguồn nguyên liệu để làm gạch không nung , phục vụ cho việc xây dựng nhà ở, các công trình phúc lợi công cộng cần sự trang trí mang dáng vẻ tự nhiên.
Đưa năng lực sản xuất vật liệu xây các loại của tỉnh lên 1.130 triệu viên đến năm 2015 (trong đó vật liệu không nung chiếm 20%) và 1.210 triệu viên đến năm 2020 (trong đó vật liệu không nung chiếm 24%).

Content:
Vật liệu xây:
- Các nhà máy sản xuất gạch ngói nung tuy nen đang hoạt động hiện nay chưa phát huy đầy đủ năng lực sản xuất đã đầu tư, cần tìm nguồn cung ứng nguyên liệu ổn định cho sản xuất, phát huy hết công suất thiết kế và đa dạng hoá sản phẩm để mở rộng thị trường tiêu thụ.
- Tiếp tục đầu tư sản xuất gạch ngói nung bằng lò tuy nen với qui mô hợp lý tại các địa bàn trong tỉnh, riêng các huyện có khả năng cung ứng cho Hà Nội như Lương Sơn, Lạc Thủy, Kỳ Sơn đầu tư các nhà máy sản xuất gạch, ngói với qui mô lớn để mở rộng thị trường. Chú trọng đầu tư tại các địa bàn có nguồn nguyên liệu tập trung, phù hợp với qui hoạch thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản của tỉnh. Tuỳ thuộc vào trữ lượng nguyên liệu và nhu cầu thị trường từng khu vực có thể lựa chọn qui mô sản xuất lớn từ 30 – 40 triệu viên/năm hoặc qui mô trung bình từ 15 – 20 triệu viên/năm.
- Đầu tư chuyển đổi cải thiện thiết bị, dây chuyền sản xuất gạch bằng việc xoá bỏ các lò đứng thủ công chuyển sang lò kiểu mới nung gạch liên tục tại các xã vùng sâu, vùng có khó khăn về giao thông, có nhu cầu nhỏ chủ yếu phục vụ xây dựng tại chỗ, trên cơ sở liên doanh liên kết giữa các cơ sở để huy động nguồn vốn và thực hiện theo kế hoạch để chủ động cung ứng vật liệu xây cho nhu cầu của địa phương từng giai đoạn. Qui mô mỗi khu vực cần đạt khoảng 4 triệu viên/năm, đến 8 – 10 triệu viên/năm.
- Khuyến khích các doanh nghiệp có năng lực tài chính, các cơ sở khai thác đá, cát xây dựng, các cơ sở sản xuất xi măng cũng như các hộ tư nhân... đầu tư vào sản xuất gạch không nung tận dụng các sản phẩm phụ của sản xuất đá xây dựng, sản xuất xi măng, khuyến khích dùng nguyên liệu từ đất đồi áp dụng công nghệ tiên tiến, sản xuất gạch bê tông khí, gạch bê tông bọt, gạch bloc để giải quyết nhu cầu về vật liệu xây tại chỗ và cung ứng cho xây dựng nhà xưởng, các hạng mục công trình phụ trợ tại các khu, cụm công nghiệp.
- Đầu tư khai thác đá ong tại huyện Kỳ sơn có nguồn nguyên liệu để làm gạch không nung , phục vụ cho việc xây dựng nhà ở, các công trình phúc lợi công cộng cần sự trang trí mang dáng vẻ tự nhiên.
Đưa năng lực sản xuất vật liệu xây các loại của tỉnh lên 1.130 triệu viên đến năm 2015 (trong đó vật liệu không nung chiếm 20%) và 1.210 triệu viên đến năm 2020 (trong đó vật liệu không nung chiếm 24%).