Document: Điều 10 Nghị định 288-HĐBT quy định việc thi hành pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "31/12/1985", "sign_number": "288-HĐBT", "signer": "Đỗ Mười", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "31/12/1985", "sign_number": "288-HĐBT", "signer": "Đỗ Mười", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "31/12/1985", "sign_number": "288-HĐBT", "signer": "Đỗ Mười", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "31/12/1985", "sign_number": "288-HĐBT", "signer": "Đỗ Mười", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "31/12/1985", "sign_number": "288-HĐBT", "signer": "Đỗ Mười", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 10 Nghị định 288-HĐBT quy định việc thi hành pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh có nội dung như sau:

Điều 10. -
Việc quản lý di tích lịch sự, văn hoá và danh lam thắng cảnh quy định như sau:
1- Bộ Văn hoá chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bộ trưởng tổ chức và chỉ đạo việc bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh trong phạm vi cả nước; hướng dẫn và chỉ đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển bảo tàng trong cả nước; trực tiếp quản lý những di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh đặc biệt quan trọng, những bảo tàng quốc gia.
2- Các Bộ và các ngành khác, sau khi thoả thuận với Bộ văn hoá, được phép xây dựng và trực tiếp quản lý những bảo tàng chuyên ngành.
3- Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương tổ chức và chỉ đạo việc bảo vệ, sử dụng và quản lý các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, các bảo tàng thuộc địa phương mình trừ những đối tượng được giao cho Bộ Văn hoá quản lý; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật; thanh tra và xử lý các vụ vi phạm các quy định về việc bảo vệ và sử dụng di tích, thắng cảnh trong địa phương.
4- Bộ Văn hoá chịu trách nhiệm trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định danh mục những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh do Bộ Văn hoá trực tiếp quản lý; ban hành quy chế bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh. Quy chế bảo vệ và sử dụng những di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh đặc biệt quan trọng phải được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phê chuẩn.

Content:
Điều 10. -
Việc quản lý di tích lịch sự, văn hoá và danh lam thắng cảnh quy định như sau:
1- Bộ Văn hoá chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bộ trưởng tổ chức và chỉ đạo việc bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh trong phạm vi cả nước; hướng dẫn và chỉ đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển bảo tàng trong cả nước; trực tiếp quản lý những di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh đặc biệt quan trọng, những bảo tàng quốc gia.
2- Các Bộ và các ngành khác, sau khi thoả thuận với Bộ văn hoá, được phép xây dựng và trực tiếp quản lý những bảo tàng chuyên ngành.
3- Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương tổ chức và chỉ đạo việc bảo vệ, sử dụng và quản lý các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, các bảo tàng thuộc địa phương mình trừ những đối tượng được giao cho Bộ Văn hoá quản lý; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật; thanh tra và xử lý các vụ vi phạm các quy định về việc bảo vệ và sử dụng di tích, thắng cảnh trong địa phương.
4- Bộ Văn hoá chịu trách nhiệm trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định danh mục những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh do Bộ Văn hoá trực tiếp quản lý; ban hành quy chế bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh. Quy chế bảo vệ và sử dụng những di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh đặc biệt quan trọng phải được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phê chuẩn.