Document: Điều 1 Quyết định số 1592/QĐ-UBND năm 2007 Kế hoạch phát triển đào tạo nghề đến 2015 Kiên Giang

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "22/08/2007", "sign_number": "1592/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Ngọc Sương", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "22/08/2007", "sign_number": "1592/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Ngọc Sương", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "22/08/2007", "sign_number": "1592/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Ngọc Sương", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "22/08/2007", "sign_number": "1592/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Ngọc Sương", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "22/08/2007", "sign_number": "1592/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Ngọc Sương", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định số 1592/QĐ-UBND năm 2007 Kế hoạch phát triển đào tạo nghề đến 2015 Kiên Giang có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch phát triển đào tạo nghề từ nay đến năm 2010 và định hướng đến năm 2015 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, bao gồm các nội dung cơ bản sau:
I. Mục tiêu:
1. Mục tiêu chung:
Chuyển dạy nghề từ hướng cung sang hướng cầu của thị trường lao động; tăng nhanh quy mô và chất lượng dạy nghề; tập trung đào tạo nghề trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; đẩy nhanh xã hội hóa, mở rộng khả năng dạy nghề ở các bậc học; phát huy tiềm năng lợi thế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và nâng cao năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực.
2. Mục tiêu cụ thể:
- Phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề để đến năm 2010 mạng lưới dạy nghề đạt 49 cơ sở; giai đoạn đến năm 2015 tăng lên thêm 23 cơ sở;
- Tăng quy mô tuyển sinh dạy nghề giai đoạn 2007 - 2010 lên 116.196 người; trong đó trình độ cao đẳng nghề và trung cấp nghề là 11.040 học sinh, sinh viên, sơ cấp nghề 105.156 người; đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 23%, bao gồm: lĩnh vực nông lâm - thủy sản chiếm tỷ trọng 39%, công nghiệp - xây dựng 17%, giao thông vận tải - dịch vụ và du lịch 44%.
Đến năm 2015, tổng số lao động được học nghề là 189.720 người, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 40,7%; trong đó lĩnh vực nông lâm - thủy sản chiếm tỷ trọng 38,6%, công nghiệp - xây dựng 26,4%, dịch vụ - giao thông vận tải - du lịch 35%;
- Đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề, đảm bảo số học sinh học nghề ngoài ngân sách nhà nước chiếm 40%/năm trở lên;
- Giải quyết việc làm cho số học sinh, sinh viên tốt nghiệp hàng năm đạt 60 – 70%;
- Tuyển mới, đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy nghề đến năm 2010 tỷ lệ giáo viên/học sinh đạt khoảng 1/20; 100% giáo viên đạt chuẩn đào tạo; 10% giáo viên trong các trường cao đẳng, trung cấp nghề có trình độ sau đại học.
II. Các giải pháp:
1. Tuyên truyền:
Tổ chức tuyên truyền và hướng dẫn các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là Luật Giáo dục và Luật Dạy nghề. Đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng phân cấp triệt để hợp lý nhằm phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở dạy nghề.
2. Thực hiện xã hội hóa, tăng cường nguồn lực tài chính cho dạy nghề:
Khuyến khích các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội và cá nhân thành lập trường, trung tâm dạy nghề ngoài công lập; trên cơ sở vận dụng và ban hành các cơ chế chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế, thuê đất, tín dụng... tạo cơ hội cho mọi người lao động có nhu cầu, được học nghề phù hợp với khả năng và điều kiện cụ thể. Đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ cho các cơ sở dạy nghề công lập theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 53/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
Tăng chi ngân sách cho dạy nghề giai đoạn 2007-2010 để đạt tỷ lệ 10-12%/năm trong tổng chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo; giai đoạn 2010-2015 đạt tỷ lệ 14 - 16%.
3. Đổi mới nội dung, chương trình và liên thông đào tạo:
Xây dựng chương trình liên thông, giữa các trình độ dạy nghề với các trình độ khác trong hệ thống giáo dục quốc dân theo quy định của Trung ương. Chuyển nhanh phương pháp dạy nghề từ truyền đạt thụ động sang phương pháp tích cực, tạo chủ động sáng tạo trong học tập; song song với việc sử dụng công nghệ thông tin và công cụ video, máy chiếu, internet vào quá trình giảng dạy.
4. Phát triển đội ngũ giáo viên:
Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề đạt chuẩn quy định. Thành lập Khoa Sư phạm kỹ thuật tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật tỉnh, tập trung đào tạo giáo viên dạy nghề cho hệ thống mạng lưới dạy nghề của tỉnh.
5. Phân luồng trong đào tạo:
Giai đoạn 2007-2008, huy động 10% học sinh tốt nghiệp phổ thông cơ sở và 15% học sinh phổ thông trung học và học nghề. Giai đoạn 2009-2010 tỷ lệ tương ứng là 12% - 18%. Giai đoạn 2011-2015 tỷ lệ tăng từ 15% - 23%.
6. Nguồn lực đào tạo nghề:
a. Ngân sách nhà nước:
- Giai đoạn 2007-2010: tổng kinh phí là 212,504 tỷ đồng, trong đó ngân sách địa phương chi xây dựng cơ bản và đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề 163,010 tỷ đồng; vốn Trung ương chi đầu tư trang thiết bị, đào tạo ngắn hạn 49,494 tỷ đồng;
- Giai đoạn 2011-2015: tổng kinh phí là 233 tỷ đồng, trong đó vốn địa phương 170 tỷ; vốn Trung ương 63 tỷ.
b. Vốn huy động từ doanh nghiệp và xã hội hóa:
Huy động tối đa nguồn lực của các thành phần kinh tế cố gắng đến năm 2015 thành lập 01 trường cao đẳng nghề, 02 trường trung cấp nghề, 16 trung tâm dạy nghề, 30 cơ sở dạy nghề theo lớp ngoài công lập. Kinh phí huy động dự kiến đạt 150 tỷ đồng.
7. Hợp tác quốc tế trong đào tạo nghề:
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo nghề đối với các nước trong khu vực ASEAN và các nước khác, nhằm huy động các nguồn lực, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý…

Content:
Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch phát triển đào tạo nghề từ nay đến năm 2010 và định hướng đến năm 2015 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, bao gồm các nội dung cơ bản sau:
I. Mục tiêu:
1. Mục tiêu chung:
Chuyển dạy nghề từ hướng cung sang hướng cầu của thị trường lao động; tăng nhanh quy mô và chất lượng dạy nghề; tập trung đào tạo nghề trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; đẩy nhanh xã hội hóa, mở rộng khả năng dạy nghề ở các bậc học; phát huy tiềm năng lợi thế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và nâng cao năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực.
2. Mục tiêu cụ thể:
- Phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề để đến năm 2010 mạng lưới dạy nghề đạt 49 cơ sở; giai đoạn đến năm 2015 tăng lên thêm 23 cơ sở;
- Tăng quy mô tuyển sinh dạy nghề giai đoạn 2007 - 2010 lên 116.196 người; trong đó trình độ cao đẳng nghề và trung cấp nghề là 11.040 học sinh, sinh viên, sơ cấp nghề 105.156 người; đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 23%, bao gồm: lĩnh vực nông lâm - thủy sản chiếm tỷ trọng 39%, công nghiệp - xây dựng 17%, giao thông vận tải - dịch vụ và du lịch 44%.
Đến năm 2015, tổng số lao động được học nghề là 189.720 người, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 40,7%; trong đó lĩnh vực nông lâm - thủy sản chiếm tỷ trọng 38,6%, công nghiệp - xây dựng 26,4%, dịch vụ - giao thông vận tải - du lịch 35%;
- Đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề, đảm bảo số học sinh học nghề ngoài ngân sách nhà nước chiếm 40%/năm trở lên;
- Giải quyết việc làm cho số học sinh, sinh viên tốt nghiệp hàng năm đạt 60 – 70%;
- Tuyển mới, đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy nghề đến năm 2010 tỷ lệ giáo viên/học sinh đạt khoảng 1/20; 100% giáo viên đạt chuẩn đào tạo; 10% giáo viên trong các trường cao đẳng, trung cấp nghề có trình độ sau đại học.
II. Các giải pháp:
1. Tuyên truyền:
Tổ chức tuyên truyền và hướng dẫn các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là Luật Giáo dục và Luật Dạy nghề. Đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng phân cấp triệt để hợp lý nhằm phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở dạy nghề.
2. Thực hiện xã hội hóa, tăng cường nguồn lực tài chính cho dạy nghề:
Khuyến khích các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội và cá nhân thành lập trường, trung tâm dạy nghề ngoài công lập; trên cơ sở vận dụng và ban hành các cơ chế chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế, thuê đất, tín dụng... tạo cơ hội cho mọi người lao động có nhu cầu, được học nghề phù hợp với khả năng và điều kiện cụ thể. Đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ cho các cơ sở dạy nghề công lập theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 53/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
Tăng chi ngân sách cho dạy nghề giai đoạn 2007-2010 để đạt tỷ lệ 10-12%/năm trong tổng chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo; giai đoạn 2010-2015 đạt tỷ lệ 14 - 16%.
3. Đổi mới nội dung, chương trình và liên thông đào tạo:
Xây dựng chương trình liên thông, giữa các trình độ dạy nghề với các trình độ khác trong hệ thống giáo dục quốc dân theo quy định của Trung ương. Chuyển nhanh phương pháp dạy nghề từ truyền đạt thụ động sang phương pháp tích cực, tạo chủ động sáng tạo trong học tập; song song với việc sử dụng công nghệ thông tin và công cụ video, máy chiếu, internet vào quá trình giảng dạy.
4. Phát triển đội ngũ giáo viên:
Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề đạt chuẩn quy định. Thành lập Khoa Sư phạm kỹ thuật tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật tỉnh, tập trung đào tạo giáo viên dạy nghề cho hệ thống mạng lưới dạy nghề của tỉnh.
5. Phân luồng trong đào tạo:
Giai đoạn 2007-2008, huy động 10% học sinh tốt nghiệp phổ thông cơ sở và 15% học sinh phổ thông trung học và học nghề. Giai đoạn 2009-2010 tỷ lệ tương ứng là 12% - 18%. Giai đoạn 2011-2015 tỷ lệ tăng từ 15% - 23%.
6. Nguồn lực đào tạo nghề:
a. Ngân sách nhà nước:
- Giai đoạn 2007-2010: tổng kinh phí là 212,504 tỷ đồng, trong đó ngân sách địa phương chi xây dựng cơ bản và đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề 163,010 tỷ đồng; vốn Trung ương chi đầu tư trang thiết bị, đào tạo ngắn hạn 49,494 tỷ đồng;
- Giai đoạn 2011-2015: tổng kinh phí là 233 tỷ đồng, trong đó vốn địa phương 170 tỷ; vốn Trung ương 63 tỷ.
b. Vốn huy động từ doanh nghiệp và xã hội hóa:
Huy động tối đa nguồn lực của các thành phần kinh tế cố gắng đến năm 2015 thành lập 01 trường cao đẳng nghề, 02 trường trung cấp nghề, 16 trung tâm dạy nghề, 30 cơ sở dạy nghề theo lớp ngoài công lập. Kinh phí huy động dự kiến đạt 150 tỷ đồng.
7. Hợp tác quốc tế trong đào tạo nghề:
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo nghề đối với các nước trong khu vực ASEAN và các nước khác, nhằm huy động các nguồn lực, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý…