Document: Điều 1 Quyết định 26/2019/QĐ-UBND sửa đổi Quyết định 148/2016/QĐ-UBND kiểm đếm thu hồi đất Lào Cai

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "26/06/2019", "sign_number": "26/2019/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Xuân Phong", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "26/06/2019", "sign_number": "26/2019/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Xuân Phong", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "26/06/2019", "sign_number": "26/2019/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Xuân Phong", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "26/06/2019", "sign_number": "26/2019/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Xuân Phong", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "26/06/2019", "sign_number": "26/2019/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Xuân Phong", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 26/2019/QĐ-UBND sửa đổi Quyết định 148/2016/QĐ-UBND kiểm đếm thu hồi đất Lào Cai có nội dung như sau:

Điều 1. Sửa đổi một số điều của quy định trình tự kiểm đếm bắt buộc, cưỡng chế thực hiện Quyết định kiểm đếm bắt buộc; thu hồi đất vắng chủ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lào Cai ban hành kèm theo Quyết định số 148/2016/QĐ-UBND ngày 28/12/2016 của UBND tỉnh Lào Cai, cụ thể như sau:
“1. Khoản 2, khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 3 được sửa đổi như sau:
2. Trong thời hạn không quá 04 (bốn) ngày, kể từ ngày được vận động, thuyết phục thực hiện đo đạc, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất, mà người sử dụng đất vẫn không phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng, thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có văn bản đề nghị UBND huyện, thành phố (sau đây gọi là UBND cấp huyện) thực hiện kiểm đếm bắt buộc; UBND cấp xã tổng hợp, báo cáo UBND cấp huyện về quá trình vận động, thuyết phục người sử dụng đất thực hiện đo đạc, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất.
Văn bản đề nghị kiểm đếm bắt buộc của tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng và báo cáo của UBND cấp xã gửi về Phòng Tài nguyên và Môi trường, để phòng Tài nguyên và Môi trường trình UBND cấp huyện ban hành Quyết định kiểm đếm bắt buộc.
3. Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày, kể từ ngày nhận được các văn bản nêu tại khoản 2 Điều này, Phòng Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc.
Hồ sơ trình ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
4. Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Phòng Tài nguyên và Môi trường trình, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc. Người có đất thu hồi có trách nhiệm thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc.
(Mẫu quyết định kiểm đếm bắt buộc thực hiện theo mẫu số 08, ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường).
5. Trong thời hạn không quá 02 (hai) ngày làm việc, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi giao quyết định kiểm đếm bắt buộc cho người bị kiểm đếm bắt buộc và niêm yết công khai quyết định kiểm đếm bắt buộc tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, tại địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi trong thời gian 05 (năm) ngày.
Việc giao quyết định, niêm yết và kết thúc niêm yết công khai phải được lập thành biên bản.
2. Khoản 7 Điều 3 được sửa đổi như sau:
“7. Trong thời hạn không quá 07 (bảy) ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc niêm yết quyết định kiểm đếm bắt buộc, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi tiếp tục vận động, thuyết phục người bị kiểm đếm bắt buộc phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng để đo đạc, kiểm đếm hiện trạng đất đai, tài sản gắn liền với đất thu hồi. Việc vận động, thuyết phục phải được lập thành biên bản.”
3. Điểm b, điểm c Khoản 3 Điều 4 được sửa đổi như sau:
“b. Trong thời hạn không quá 02 (hai) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng, Phòng Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc.
Hồ sơ trình ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
c. Trong thời hạn không quá 02 (hai) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của Phòng Tài nguyên và Môi trường trình, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc.
(Mẫu quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc thực hiện theo mẫu số 09, ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường).
4. Điểm đ, điểm e Khoản 3 Điều 4 được sửa đổi như sau:
“đ. Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc, Ban cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi giao quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc cho người bị cưỡng chế và niêm yết công khai quyết định tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, tại địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi trong thời gian 03 (ba) ngày.
Việc giao quyết định, niêm yết và kết thúc niêm yết công khai phải được lập thành biên bản. Trường hợp người bị cưỡng chế thực hiện Quyết định kiểm đếm bắt buộc không nhận quyết định thực hiện quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc hoặc vắng mặt khi giao quyết định, thì Ban cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi lập biên bản và mời đại diện thôn (bản, tổ dân phố) ký xác nhận sự việc.
e. Trong thời hạn không quá 07 (bảy) ngày làm việc, kể từ ngày giao quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc, Ban cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế để chấp hành việc đo đạc, kiểm đếm hiện trạng đất đai, tài sản gắn liền với đất thu hồi. Việc vận động, thuyết phục phải được lập thành biên bản.”
5. Khoản 4, khoản 5 Điều 5 được sửa đổi như sau:
“4. Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Tổ chức làm nhiệm vụ giải phóng mặt bằng, Phòng Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định thực hiện thu hồi đất theo diện vắng chủ (có danh sách các hộ vắng mặt kèm theo).
Trường hợp không xác định được tên chủ sử dụng đất, thì ghi tại mục người bị thu hồi đất trong danh sách các hộ vắng mặt là “Đất không xác định được tên chủ sử dụng đất”.
5. Trong thời hạn không quá 02(hai) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị ban hành quyết định thực hiện thu hồi đất theo diện vắng chủ của Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định thực hiện thu hồi đất theo diện vắng chủ; quyết định thực hiện thu hồi đất theo diện vắng chủ phải được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất bị thu hồi. Thời gian niêm yết là 10 (mười) ngày, hết thời gian niêm yết công khai, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng lập biên bản kết thúc niêm yết và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện thôn, bản, tổ dân phố thực hiện đo đạc, thống kê đất đai, tài sản gắn liền với đất như sau:
a) Trường hợp căn cứ vào ranh giới thu hồi đất của các hộ liền kề hoặc căn cứ vào hồ sơ địa chính và các giấy tờ về quyền sử dụng đất xác định được ranh giới thu hồi đất của từng hộ, thì tiến hành đo đạc xác định diện tích thu hồi đất theo ranh giới đó; sơ đồ trích đo thửa đất thu hồi phải có chữ ký của các hộ liền kề và xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã.
b) Trường hợp tại khu vực thu hồi đất có nhiều chủ sử dụng đất liền kề vắng mặt hoặc không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng để tiến hành xác định ranh giới thu hồi đất của từng hộ thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng ghi hình toàn bộ hiện trạng khu vực thu hồi đất; căn cứ vào ranh giới thu hồi đất của dự án và ranh giới đã xác định được của các chủ sử dụng đất liền kề để xác định ranh giới bao quanh của các chủ sử dụng đất vắng mặt;
c) Đo đạc giải thửa theo hiện trạng sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất của các chủ sử dụng đất vắng mặt làm căn cứ xác định diện tích, ranh giới thu hồi đất khi các hộ có mặt tại địa phương để phối hợp với Nhà nước thực hiện thu hồi đất.”

Content:
Điều 1. Sửa đổi một số điều của quy định trình tự kiểm đếm bắt buộc, cưỡng chế thực hiện Quyết định kiểm đếm bắt buộc; thu hồi đất vắng chủ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lào Cai ban hành kèm theo Quyết định số 148/2016/QĐ-UBND ngày 28/12/2016 của UBND tỉnh Lào Cai, cụ thể như sau:
“1. Khoản 2, khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 3 được sửa đổi như sau:
2. Trong thời hạn không quá 04 (bốn) ngày, kể từ ngày được vận động, thuyết phục thực hiện đo đạc, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất, mà người sử dụng đất vẫn không phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng, thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có văn bản đề nghị UBND huyện, thành phố (sau đây gọi là UBND cấp huyện) thực hiện kiểm đếm bắt buộc; UBND cấp xã tổng hợp, báo cáo UBND cấp huyện về quá trình vận động, thuyết phục người sử dụng đất thực hiện đo đạc, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất.
Văn bản đề nghị kiểm đếm bắt buộc của tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng và báo cáo của UBND cấp xã gửi về Phòng Tài nguyên và Môi trường, để phòng Tài nguyên và Môi trường trình UBND cấp huyện ban hành Quyết định kiểm đếm bắt buộc.
3. Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày, kể từ ngày nhận được các văn bản nêu tại khoản 2 Điều này, Phòng Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc.
Hồ sơ trình ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
4. Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Phòng Tài nguyên và Môi trường trình, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc. Người có đất thu hồi có trách nhiệm thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc.
(Mẫu quyết định kiểm đếm bắt buộc thực hiện theo mẫu số 08, ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường).
5. Trong thời hạn không quá 02 (hai) ngày làm việc, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi giao quyết định kiểm đếm bắt buộc cho người bị kiểm đếm bắt buộc và niêm yết công khai quyết định kiểm đếm bắt buộc tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, tại địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi trong thời gian 05 (năm) ngày.
Việc giao quyết định, niêm yết và kết thúc niêm yết công khai phải được lập thành biên bản.
2. Khoản 7 Điều 3 được sửa đổi như sau:
“7. Trong thời hạn không quá 07 (bảy) ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc niêm yết quyết định kiểm đếm bắt buộc, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi tiếp tục vận động, thuyết phục người bị kiểm đếm bắt buộc phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng để đo đạc, kiểm đếm hiện trạng đất đai, tài sản gắn liền với đất thu hồi. Việc vận động, thuyết phục phải được lập thành biên bản.”
3. Điểm b, điểm c Khoản 3 Điều 4 được sửa đổi như sau:
“b. Trong thời hạn không quá 02 (hai) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng, Phòng Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc.
Hồ sơ trình ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
c. Trong thời hạn không quá 02 (hai) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của Phòng Tài nguyên và Môi trường trình, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc.
(Mẫu quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc thực hiện theo mẫu số 09, ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường).
4. Điểm đ, điểm e Khoản 3 Điều 4 được sửa đổi như sau:
“đ. Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc, Ban cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi giao quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc cho người bị cưỡng chế và niêm yết công khai quyết định tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, tại địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi trong thời gian 03 (ba) ngày.
Việc giao quyết định, niêm yết và kết thúc niêm yết công khai phải được lập thành biên bản. Trường hợp người bị cưỡng chế thực hiện Quyết định kiểm đếm bắt buộc không nhận quyết định thực hiện quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc hoặc vắng mặt khi giao quyết định, thì Ban cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi lập biên bản và mời đại diện thôn (bản, tổ dân phố) ký xác nhận sự việc.
e. Trong thời hạn không quá 07 (bảy) ngày làm việc, kể từ ngày giao quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc, Ban cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế để chấp hành việc đo đạc, kiểm đếm hiện trạng đất đai, tài sản gắn liền với đất thu hồi. Việc vận động, thuyết phục phải được lập thành biên bản.”
5. Khoản 4, khoản 5 Điều 5 được sửa đổi như sau:
“4. Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Tổ chức làm nhiệm vụ giải phóng mặt bằng, Phòng Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định thực hiện thu hồi đất theo diện vắng chủ (có danh sách các hộ vắng mặt kèm theo).
Trường hợp không xác định được tên chủ sử dụng đất, thì ghi tại mục người bị thu hồi đất trong danh sách các hộ vắng mặt là “Đất không xác định được tên chủ sử dụng đất”.
5. Trong thời hạn không quá 02(hai) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị ban hành quyết định thực hiện thu hồi đất theo diện vắng chủ của Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định thực hiện thu hồi đất theo diện vắng chủ; quyết định thực hiện thu hồi đất theo diện vắng chủ phải được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất bị thu hồi. Thời gian niêm yết là 10 (mười) ngày, hết thời gian niêm yết công khai, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng lập biên bản kết thúc niêm yết và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện thôn, bản, tổ dân phố thực hiện đo đạc, thống kê đất đai, tài sản gắn liền với đất như sau:
a) Trường hợp căn cứ vào ranh giới thu hồi đất của các hộ liền kề hoặc căn cứ vào hồ sơ địa chính và các giấy tờ về quyền sử dụng đất xác định được ranh giới thu hồi đất của từng hộ, thì tiến hành đo đạc xác định diện tích thu hồi đất theo ranh giới đó; sơ đồ trích đo thửa đất thu hồi phải có chữ ký của các hộ liền kề và xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã.
b) Trường hợp tại khu vực thu hồi đất có nhiều chủ sử dụng đất liền kề vắng mặt hoặc không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng để tiến hành xác định ranh giới thu hồi đất của từng hộ thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng ghi hình toàn bộ hiện trạng khu vực thu hồi đất; căn cứ vào ranh giới thu hồi đất của dự án và ranh giới đã xác định được của các chủ sử dụng đất liền kề để xác định ranh giới bao quanh của các chủ sử dụng đất vắng mặt;
c) Đo đạc giải thửa theo hiện trạng sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất của các chủ sử dụng đất vắng mặt làm căn cứ xác định diện tích, ranh giới thu hồi đất khi các hộ có mặt tại địa phương để phối hợp với Nhà nước thực hiện thu hồi đất.”