Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 3324/QĐ-UBND 2013 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Quảng Nam 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "29/10/2013", "sign_number": "3324/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Văn Thu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "29/10/2013", "sign_number": "3324/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Văn Thu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "29/10/2013", "sign_number": "3324/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Văn Thu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "29/10/2013", "sign_number": "3324/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Văn Thu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "29/10/2013", "sign_number": "3324/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Văn Thu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 3324/QĐ-UBND 2013 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Quảng Nam 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Bắc Trà My đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 với nội dung chủ yếu sau:
...
3. Định hướng phát triển trong lĩnh vực kinh tế.
3.1. Ngành nông - lâm - thủy sản:
Phát triển nông nghiệp theo hướng toàn diện và bền vững, gắn với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái; thực hiện chuyển đổi mạnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo vùng; phát triển các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá, các vùng trồng cây nguyên liệu phục vụ phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Tăng cường cơ sở hạ tầng khu vực nông nghiệp, nông thôn; gắn sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với công nghiệp chế biến, mở rộng các loại hình dịch vụ, cải thiện, nâng cao đời sống và giải quyết việc làm cho dân cư và lao động khu vực nông thôn.
Giai đoạn 2013 - 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân 10,75%/năm. Giảm tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản xuống còn 83% vào năm 2015 và 75% vào năm 2020.
Giai đoạn 2013 - 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân 12%/năm. Đến năm 2015, giá trị sản xuất (theo giá cố định) đạt 154.148 triệu đồng, chiếm 68,49% (giá thực tế chiếm 68,07%) trong cơ cấu giá trị sản xuất của huyện.
Giai đoạn 2016 - 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân 10%/năm. Đến năm 2020, giá trị sản xuất (theo giá cố định) đạt 248.258 triệu đồng, chiếm 58,35% (giá thực tế chiếm 61,61%) trong cơ cấu giá trị sản xuất của huyện.
Diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt đến năm 2015 là 2.510 ha và đến năm 2020 là 2.500 ha. Bình quân lương thực đầu người năm 2015 là 213,19 kg/người/năm và năm 2020 là 213,56 kg/người/năm.
Phát triển diện tích cây cao su đến năm 2020 là 1.624 ha cao su tiểu điền và 9.000 ha cao su đại điền.
Đến năm 2015 diện tích đất lâm nghiệp là 58.393,85 ha; trong đó: rừng sản xuất là 39.380,34 ha và rừng phòng hộ là 19.013,61 ha. Đến năm 2020 diện tích đất lâm nghiệp là 55.246,80 ha; trong đó: rừng sản xuất là 36.233,19 ha và rừng phòng hộ là 19.013,61 ha.
Phát triển kinh tế vườn nhằm chuyển vườn tạp thành vườn trồng cây có giá trị kinh tế cao, có sản phẩm hàng hóa trao đổi trên thị trường. Củng cố 41 gia trại hiện có, tiếp tục mở rộng xây dựng thành những gia trại, trang trại nông lâm kết hợp. Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 20 trang trại đạt tiêu chí Bộ NN & PTNT và có khoảng 60 gia trại nông lâm kết hợp có thu nhập cao.
Phát triển ngành chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến sản phẩm chăn nuôi của Tỉnh; tăng nhanh số lượng, chất lượng đàn gia súc, gia cầm hiện có, kết hợp khuyến khích người dân thực hiện chuyển đổi cơ cấu con giống mới phù hợp... Phấn đấu đến năm 2020 giá trị sản xuất (giá cố định 1994) chăn nuôi đạt 47.900 triệu đồng, chiếm 19,29% trong cơ cấu nội bộ ngành nông lâm thủy sản.
3.2. Ngành công nghiệp - xây dựng:
Giai đoạn 2013- 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân 18,75%/năm. Tăng tỷ lệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng lên 5% vào năm 2015 và 11% vào năm 2020.
Giai đoạn 2013 - 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm. Đến năm 2015, giá trị sản xuất (giá so sánh) đạt 34.335 triệu đồng, chiếm 14,45% (giá thực tế chiếm 14,73%) trong cơ cấu giá trị sản xuất của huyện.
Giai đoạn 2016 - 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân 18%/năm. Đến năm 2020, giá trị sản xuất (giá so sánh) đạt 78.551 triệu đồng, chiếm 18,46% (giá thực tế chiếm 18,94%) trong cơ cấu giá trị sản xuất của huyện.
Đến năm 2015: Hoàn thiện hạ tầng và đưa vào hoạt động hiệu quả Cụm công nghiệp tại thị trấn Bắc Trà My. Khuyến khích, kêu gọi các thành phần kinh tế đầu tư phát triển cụm công nghiệp. Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp chế biến, năng lượng, khai khoáng, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp khu vực nông thôn phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, chú trọng hình thành các nghề truyền thống tại địa phương đi đôi với đào tạo nhân lực phát triển thêm các nghề mới.
Đến năm 2020: Hoàn thiện hạ tầng và đưa vào hoạt động hiệu quả các cụm công nghiệp Sông Ví, Trà Giác. Khuyến khích, kêu gọi các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các cụm công nghiệp này. Hình thành cơ sở công nghiệp chế biến nông lâm sản tại các làng nghề truyền thống, các sản phẩm đặc sắc tại địa phương, các sản phẩm từ gỗ, quế, mây, cao su,... Duy trì ổn định công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản một cách hợp lý gắn với bảo vệ môi trường và phù hợp với quy hoạch.
3.3. Ngành thương mại - dịch vụ:
Giai đoạn 2013 - 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân 14,62%/năm. Tăng tỷ lệ lao động trong lĩnh vực dịch vụ lên 12% vào năm 2015 và 14% vào năm 2020. Giai đoạn 2013 - 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân 14%/năm. Đến năm 2015, giá trị sản xuất (giá so sánh) đạt 49.053 triệu đồng, chiếm 20,65% (giá thực tế chiếm 17,2%) trong cơ cấu giá trị sản xuất của huyện. Giai đoạn 2016 - 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân 15%/năm. Đến năm 2020, giá trị sản xuất (giá so sánh) đạt 98.664 triệu đồng, chiếm 23,19% (giá thực tế chiếm 19,45%) trong cơ cấu giá trị sản xuất của huyện.
Đến năm 2015, cơ bản hình thành mạng lưới thị trường nông thôn đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu thụ sản phẩm và mua sắm hàng hóa tiêu dùng của người dân. Đầu tư xây dựng chợ Bắc Trà My thành chợ tổng hợp và chợ cụm xã Trà Đông và cụm xã Trà Nú.
Đến năm 2020, hình thành chợ đầu mối tại Bắc Trà My, hoàn thiện mạng lưới chợ nông thôn, đầu tư xây dựng chợ Cụm xã Trà Tân, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ sản phẩm và mua sắm hàng hóa tiêu dùng của người dân. Đầu tư xây dựng bến xe khách tại trung tâm huyện Bắc Trà My, xã Trà Đông, Trà Giác để khai thông các tuyến vận tải hành khách, phục vụ tốt hơn nhu cầu đi lại, mua bán của nhân dân .
Hình thành mạng lưới cửa hàng xăng dầu theo quy hoạch của Tỉnh: Xây dựng mới 05 cửa hàng xăng dầu tại thị trấn Bắc Trà My, xã Trà Dương, xã Trà Tân, thị trấn Bắc Trà My (tuyến Tây thị trấn), trên tuyến Nam Quảng Nam.
Phát triển du lịch văn hóa - lịch sử kết hợp với du lịch sinh thái. Hình thành các điểm, tuyến du lịch trên địa bàn huyện và kết nối được với các tuyến du lịch các vùng phụ cận như Dung Quất, Kon Tum, Tam Kỳ, đưa vào khai thác có hiệu quả, chất lượng sản phẩm du lịch đạt yêu cầu; đầu tư củng cố toàn diện các điểm du lịch sinh thái trọng điểm: Thác năm tầng, Núi Hòn Bà,…

Content:
Định hướng phát triển trong lĩnh vực kinh tế.
3.1. Ngành nông - lâm - thủy sản:
Phát triển nông nghiệp theo hướng toàn diện và bền vững, gắn với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái; thực hiện chuyển đổi mạnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo vùng; phát triển các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá, các vùng trồng cây nguyên liệu phục vụ phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Tăng cường cơ sở hạ tầng khu vực nông nghiệp, nông thôn; gắn sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với công nghiệp chế biến, mở rộng các loại hình dịch vụ, cải thiện, nâng cao đời sống và giải quyết việc làm cho dân cư và lao động khu vực nông thôn.
Giai đoạn 2013 - 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân 10,75%/năm. Giảm tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản xuống còn 83% vào năm 2015 và 75% vào năm 2020.
Giai đoạn 2013 - 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân 12%/năm. Đến năm 2015, giá trị sản xuất (theo giá cố định) đạt 154.148 triệu đồng, chiếm 68,49% (giá thực tế chiếm 68,07%) trong cơ cấu giá trị sản xuất của huyện.
Giai đoạn 2016 - 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân 10%/năm. Đến năm 2020, giá trị sản xuất (theo giá cố định) đạt 248.258 triệu đồng, chiếm 58,35% (giá thực tế chiếm 61,61%) trong cơ cấu giá trị sản xuất của huyện.
Diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt đến năm 2015 là 2.510 ha và đến năm 2020 là 2.500 ha. Bình quân lương thực đầu người năm 2015 là 213,19 kg/người/năm và năm 2020 là 213,56 kg/người/năm.
Phát triển diện tích cây cao su đến năm 2020 là 1.624 ha cao su tiểu điền và 9.000 ha cao su đại điền.
Đến năm 2015 diện tích đất lâm nghiệp là 58.393,85 ha; trong đó: rừng sản xuất là 39.380,34 ha và rừng phòng hộ là 19.013,61 ha. Đến năm 2020 diện tích đất lâm nghiệp là 55.246,80 ha; trong đó: rừng sản xuất là 36.233,19 ha và rừng phòng hộ là 19.013,61 ha.
Phát triển kinh tế vườn nhằm chuyển vườn tạp thành vườn trồng cây có giá trị kinh tế cao, có sản phẩm hàng hóa trao đổi trên thị trường. Củng cố 41 gia trại hiện có, tiếp tục mở rộng xây dựng thành những gia trại, trang trại nông lâm kết hợp. Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 20 trang trại đạt tiêu chí Bộ NN & PTNT và có khoảng 60 gia trại nông lâm kết hợp có thu nhập cao.
Phát triển ngành chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến sản phẩm chăn nuôi của Tỉnh; tăng nhanh số lượng, chất lượng đàn gia súc, gia cầm hiện có, kết hợp khuyến khích người dân thực hiện chuyển đổi cơ cấu con giống mới phù hợp... Phấn đấu đến năm 2020 giá trị sản xuất (giá cố định 1994) chăn nuôi đạt 47.900 triệu đồng, chiếm 19,29% trong cơ cấu nội bộ ngành nông lâm thủy sản.
3.2. Ngành công nghiệp - xây dựng:
Giai đoạn 2013- 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân 18,75%/năm. Tăng tỷ lệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng lên 5% vào năm 2015 và 11% vào năm 2020.
Giai đoạn 2013 - 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm. Đến năm 2015, giá trị sản xuất (giá so sánh) đạt 34.335 triệu đồng, chiếm 14,45% (giá thực tế chiếm 14,73%) trong cơ cấu giá trị sản xuất của huyện.
Giai đoạn 2016 - 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân 18%/năm. Đến năm 2020, giá trị sản xuất (giá so sánh) đạt 78.551 triệu đồng, chiếm 18,46% (giá thực tế chiếm 18,94%) trong cơ cấu giá trị sản xuất của huyện.
Đến năm 2015: Hoàn thiện hạ tầng và đưa vào hoạt động hiệu quả Cụm công nghiệp tại thị trấn Bắc Trà My. Khuyến khích, kêu gọi các thành phần kinh tế đầu tư phát triển cụm công nghiệp. Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp chế biến, năng lượng, khai khoáng, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp khu vực nông thôn phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, chú trọng hình thành các nghề truyền thống tại địa phương đi đôi với đào tạo nhân lực phát triển thêm các nghề mới.
Đến năm 2020: Hoàn thiện hạ tầng và đưa vào hoạt động hiệu quả các cụm công nghiệp Sông Ví, Trà Giác. Khuyến khích, kêu gọi các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các cụm công nghiệp này. Hình thành cơ sở công nghiệp chế biến nông lâm sản tại các làng nghề truyền thống, các sản phẩm đặc sắc tại địa phương, các sản phẩm từ gỗ, quế, mây, cao su,... Duy trì ổn định công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản một cách hợp lý gắn với bảo vệ môi trường và phù hợp với quy hoạch.
3.Ngành thương mại - dịch vụ:
Giai đoạn 2013 - 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân 14,62%/năm. Tăng tỷ lệ lao động trong lĩnh vực dịch vụ lên 12% vào năm 2015 và 14% vào năm 2020. Giai đoạn 2013 - 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân 14%/năm. Đến năm 2015, giá trị sản xuất (giá so sánh) đạt 49.053 triệu đồng, chiếm 20,65% (giá thực tế chiếm 17,2%) trong cơ cấu giá trị sản xuất của huyện. Giai đoạn 2016 - 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân 15%/năm. Đến năm 2020, giá trị sản xuất (giá so sánh) đạt 98.664 triệu đồng, chiếm 23,19% (giá thực tế chiếm 19,45%) trong cơ cấu giá trị sản xuất của huyện.
Đến năm 2015, cơ bản hình thành mạng lưới thị trường nông thôn đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu thụ sản phẩm và mua sắm hàng hóa tiêu dùng của người dân. Đầu tư xây dựng chợ Bắc Trà My thành chợ tổng hợp và chợ cụm xã Trà Đông và cụm xã Trà Nú.
Đến năm 2020, hình thành chợ đầu mối tại Bắc Trà My, hoàn thiện mạng lưới chợ nông thôn, đầu tư xây dựng chợ Cụm xã Trà Tân, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ sản phẩm và mua sắm hàng hóa tiêu dùng của người dân. Đầu tư xây dựng bến xe khách tại trung tâm huyện Bắc Trà My, xã Trà Đông, Trà Giác để khai thông các tuyến vận tải hành khách, phục vụ tốt hơn nhu cầu đi lại, mua bán của nhân dân .
Hình thành mạng lưới cửa hàng xăng dầu theo quy hoạch của Tỉnh: Xây dựng mới 05 cửa hàng xăng dầu tại thị trấn Bắc Trà My, xã Trà Dương, xã Trà Tân, thị trấn Bắc Trà My (tuyến Tây thị trấn), trên tuyến Nam Quảng Nam.
Phát triển du lịch văn hóa - lịch sử kết hợp với du lịch sinh thái. Hình thành các điểm, tuyến du lịch trên địa bàn huyện và kết nối được với các tuyến du lịch các vùng phụ cận như Dung Quất, Kon Tum, Tam Kỳ, đưa vào khai thác có hiệu quả, chất lượng sản phẩm du lịch đạt yêu cầu; đầu tư củng cố toàn diện các điểm du lịch sinh thái trọng điểm: Thác năm tầng, Núi Hòn Bà,…