Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 448/QĐ-UBND năm 2011 quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng Nam Định đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "22/03/2011", "sign_number": "448/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Tuấn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "22/03/2011", "sign_number": "448/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Tuấn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "22/03/2011", "sign_number": "448/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Tuấn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "22/03/2011", "sign_number": "448/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Tuấn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Nam Định", "promulgation_date": "22/03/2011", "sign_number": "448/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Tuấn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 448/QĐ-UBND năm 2011 quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng Nam Định đến 2020

Điều 1. Phê duyệt Dự án điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Nam Định đến năm 2020, với nội dung sau:
...
4. Nội dung điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển VLXD đến năm 2020
a. Vật liệu xây nung
* Giai đoạn từ 2010 đến 2015
- Đầu tư xây dựng mới vào năm 2011-2015 thêm 5 Nhà máy gạch Tuynel, công suất thiết kế bình quân 20 triệu viên/năm, của các nhà đầu tư, đã có chủ trương xây dựng, nhưng chưa hoàn chỉnh các thủ tục pháp lý có liên quan.
- Chuyển đổi sản xuất gạch thủ công sang công nghệ lò đứng liên tục cải tiến, một cụm có 2 lò cho 05 cơ sở với công suất bình quân 2,5 triệu viên/năm. Sản lượng của 05 cơ sở đầu tư mới và 07 cơ sở hiện có dự kiến đạt 35 triệu viên vào năm 2015. Vốn đầu tư dự kiến khoảng 12.000 triệu đồng.
- Giảm một số lò thủ công hiện có mà hiệu quả sản xuất kinh doanh không cao, gây ô nhiễm môi trường, không có nguồn nguyên liệu ổn định, với tổng sản lượng của các lò này khoảng 50 triệu viên gạch nung quy chuẩn, tiêu chuẩn/năm, so với sản lượng năm 2010. Số cơ sở sản xuất gạch thủ công giảm tại mỗi huyện khoảng 20 lò, toàn tỉnh bằng 180 lò.
* Giai đoạn 2015-2020
- Đầu tư xây dựng mới 15 nhà máy gạch Tuynel trên địa bàn toàn tỉnh, bình quân mỗi năm 3 nhà máy gạch Tuynel, công suất mỗi nhà máy 20 triệu viên/năm. Trong đó, 02 nhà máy để từng bước thay thế lò gạch thủ công, 01 nhà máy để duy trì năng lực sản xuất trên địa bàn. Địa điểm đầu tư được lựa chọn tại các xã đang hoạt động sản xuất gạch nung với sản lượng vượt trội, sử dụng nhiều lao động, nguồn nguyên liệu dồi dào.
- Đầu tư xây dựng mới bình quân mỗi huyện 03 cơ sở sản xuất gạch nung bằng công nghệ lò đứng liên tục cải tiến, mỗi cụm có 04 thân lò, công suất mỗi cụm 4,5 triệu viên/năm, với mục tiêu thay thế các lò gạch thủ công truyền thống.
- Đến năm 2020, trên địa bàn tỉnh không còn cơ sở sản xuất gạch nung bằng công nghệ lò thủ công truyền thống.
b. Vật liệu xây không nung
* Giai đoạn 2010-2015.
- Sản phẩm gạch xi măng - cốt liệu:
+ Đầu tư mở rộng, nâng công suất 02 nhà máy hiện có trên địa bàn thành phố Nam Định: Công ty TNHH Hoà Phát, cụm công nghiệp Mai Xá - thành phố Nam Định, công suất 20 triệu viên/năm. Công ty TNHH Hưng Hạnh - thành phố Nam Định, công suất 20 triệu viên/năm.
+ Đầu tư xây dựng mới tại các cụm công nghiệp huyện, bình quân mỗi huyện 01 nhà máy, với công suất 10 triệu viên/năm.
- Sản phẩm gạch bê tông từ khí chưng áp (AAC):
+ Đầu tư xây dựng mới tại cụm khu công nghiệp của huyện Hải Hậu và huyện Trực Ninh, mỗi nơi một dây chuyền sản xuất gạch bê tông từ khí chưng áp với công suất 45 triệu viên gạch quy tiêu chuẩn/năm (khoảng 80.000 m3/năm).
- Sản phẩm gạch xây không nung khác:
+ Để tận dụng các phế thải công nghiệp của các máy sản xuất gạch nung Tuynel, tại các nhà máy gạch Tuynel được đầu tư trước năm 2010, sản xuất đã ổn định, đầu tư mỗi nơi 01 dây chuyền sản xuất gạch không nung từ phế thải công nghiệp, công suất mỗi dây chuyền 1 triệu viên/năm.
* Giai đoạn 2016-2020
- Sản phẩm gạch xi măng - cốt liệu:
+ Đầu tư chiều sâu 2 nhà máy ở thành phố Nam Định để nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa chủng loại (thêm một số sản phẩm lát, sản phẩm lợp), giữ nguyên công suất thực tế nhà máy 20 triệu viên/năm của mỗi dây chuyền.
+ Đầu tư chiều sâu, mở rộng nhà máy, nâng công suất của mỗi dây chuyền được đầu tư mới giai đoạn trước ở các cụm công nghiệp của huyện lên 20 triệu viên/năm.
- Sản phẩm gạch bê tông từ khí chưng áp (AAC):
+ Đầu tư chiều sâu 2 nhà máy đã đầu tư giai đoạn trước để nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng về kích thước, mẫu mã của gạch xây, đồng thời đa dạng về chủng loại sản phẩm.
- Sản phẩm gạch bê tông bọt:
+ Đầu tư xây dựng 01 dây chuyền sản xuất gạch xây bê tông bọt, tại cụm công nghiệp An Xá thành phố Nam Định, công suất 45 triệu viên/năm.
- Sản phẩm gạch xây không nung khác:
+ Đầu tư xây dựng mới và đầu tư chiều sâu đảm bảo tại tất cả các cơ sở sản xuất gạch tuynel đều có 01 dây chuyền sản xuất gạch không nung sử dụng phế thải công nghiệp của bản thân nhà máy.
c. Cát đen xây dựng:
Tập trung khai thác cát đen lòng sông. Cát đen nội đồng sẽ được xem xét lập quy hoạch thời điểm thích hợp sau năm 2020. Đối với chủng loại cát sa khoáng ven biển, một tài nguyên thiên nhiên quý hiếm sẽ có một đề án quy hoạch khai thác và sử dụng riêng.
Tổ chức sắp xếp lại việc khai thác cát đen nhỏ lẻ của tư nhân ở tất cả các huyện, hình thành các cơ sở khai thác tập trung theo quy hoạch để tạo điều kiện cho công tác quản lý, không gây sạt lở, cản trở giao thông và bảo vệ môi trường.
Đầu tư một số cơ sở khai thác cát mới với dây chuyền tiên tiến, hiện đại so với khu vực và thế giới, máy móc thiết bị thân thiện với môi trường, đảm bảo phân bố đều trên địa bàn tỉnh.
* Giai đoạn 2010-2015
- Sắp xếp lại lực lượng khai thác cát thủ công:
Lực lượng khai thác và vận tải cát thủ công, hiện nay còn chiếm một tỷ trọng lớn trong khai thác và cung ứng. Sản lượng khai thác hàng năm của lực lượng này chiếm gần 60% sản lượng cát toàn tỉnh. Đến năm 2015 lực lượng này vẫn là lực lượng quan trọng, tuy nhiên họ mới tập trung khai thác cát đen ở các triền sông để tự tiêu thụ hoặc lưu thông. Lực lượng này cần được tổ chức lại, hoạt động theo luật Doanh nghiệp hoặc Luật Hợp tác xã, trang bị thêm phương tiện cho hoạt động khai thác và cung ứng.
Đầu tư mở rộng, nâng công suất một số đơn vị có tiềm lực kinh tế đang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp trên các tuyến sông Hồng, sông Đào trong phạm vi bán kính 10 km so với trung tâm thành phố Nam Định để khai thác cát phục vụ cho thị trường thành phố Nam Định và huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam.
* Giai đoạn 2016-2020
- Ổn định công suất của các cơ sở khai thác cát được đầu tư nâng cấp, cải tạo và đầu tư mới giai đoạn 2010-2015 với sản lượng 1.562 nghìn m3/năm.
- Đầu tư xây dựng mới một số cơ sở đảm bảo phân bố đều trên khắp vùng miền của tỉnh với dây chuyền công nghệ tiên tiến hiện đại so với trong nước, khu vực và thế giới, đạt hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường.

Content:
Nội dung điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển VLXD đến năm 2020
a. Vật liệu xây nung
* Giai đoạn từ 2010 đến 2015
- Đầu tư xây dựng mới vào năm 2011-2015 thêm 5 Nhà máy gạch Tuynel, công suất thiết kế bình quân 20 triệu viên/năm, của các nhà đầu tư, đã có chủ trương xây dựng, nhưng chưa hoàn chỉnh các thủ tục pháp lý có liên quan.
- Chuyển đổi sản xuất gạch thủ công sang công nghệ lò đứng liên tục cải tiến, một cụm có 2 lò cho 05 cơ sở với công suất bình quân 2,5 triệu viên/năm. Sản lượng của 05 cơ sở đầu tư mới và 07 cơ sở hiện có dự kiến đạt 35 triệu viên vào năm 2015. Vốn đầu tư dự kiến khoảng 12.000 triệu đồng.
- Giảm một số lò thủ công hiện có mà hiệu quả sản xuất kinh doanh không cao, gây ô nhiễm môi trường, không có nguồn nguyên liệu ổn định, với tổng sản lượng của các lò này khoảng 50 triệu viên gạch nung quy chuẩn, tiêu chuẩn/năm, so với sản lượng năm 2010. Số cơ sở sản xuất gạch thủ công giảm tại mỗi huyện khoảng 20 lò, toàn tỉnh bằng 180 lò.
* Giai đoạn 2015-2020
- Đầu tư xây dựng mới 15 nhà máy gạch Tuynel trên địa bàn toàn tỉnh, bình quân mỗi năm 3 nhà máy gạch Tuynel, công suất mỗi nhà máy 20 triệu viên/năm. Trong đó, 02 nhà máy để từng bước thay thế lò gạch thủ công, 01 nhà máy để duy trì năng lực sản xuất trên địa bàn. Địa điểm đầu tư được lựa chọn tại các xã đang hoạt động sản xuất gạch nung với sản lượng vượt trội, sử dụng nhiều lao động, nguồn nguyên liệu dồi dào.
- Đầu tư xây dựng mới bình quân mỗi huyện 03 cơ sở sản xuất gạch nung bằng công nghệ lò đứng liên tục cải tiến, mỗi cụm có 04 thân lò, công suất mỗi cụm 4,5 triệu viên/năm, với mục tiêu thay thế các lò gạch thủ công truyền thống.
- Đến năm 2020, trên địa bàn tỉnh không còn cơ sở sản xuất gạch nung bằng công nghệ lò thủ công truyền thống.
b. Vật liệu xây không nung
* Giai đoạn 2010-2015.
- Sản phẩm gạch xi măng - cốt liệu:
+ Đầu tư mở rộng, nâng công suất 02 nhà máy hiện có trên địa bàn thành phố Nam Định: Công ty TNHH Hoà Phát, cụm công nghiệp Mai Xá - thành phố Nam Định, công suất 20 triệu viên/năm. Công ty TNHH Hưng Hạnh - thành phố Nam Định, công suất 20 triệu viên/năm.
+ Đầu tư xây dựng mới tại các cụm công nghiệp huyện, bình quân mỗi huyện 01 nhà máy, với công suất 10 triệu viên/năm.
- Sản phẩm gạch bê tông từ khí chưng áp (AAC):
+ Đầu tư xây dựng mới tại cụm khu công nghiệp của huyện Hải Hậu và huyện Trực Ninh, mỗi nơi một dây chuyền sản xuất gạch bê tông từ khí chưng áp với công suất 45 triệu viên gạch quy tiêu chuẩn/năm (khoảng 80.000 m3/năm).
- Sản phẩm gạch xây không nung khác:
+ Để tận dụng các phế thải công nghiệp của các máy sản xuất gạch nung Tuynel, tại các nhà máy gạch Tuynel được đầu tư trước năm 2010, sản xuất đã ổn định, đầu tư mỗi nơi 01 dây chuyền sản xuất gạch không nung từ phế thải công nghiệp, công suất mỗi dây chuyền 1 triệu viên/năm.
* Giai đoạn 2016-2020
- Sản phẩm gạch xi măng - cốt liệu:
+ Đầu tư chiều sâu 2 nhà máy ở thành phố Nam Định để nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa chủng loại (thêm một số sản phẩm lát, sản phẩm lợp), giữ nguyên công suất thực tế nhà máy 20 triệu viên/năm của mỗi dây chuyền.
+ Đầu tư chiều sâu, mở rộng nhà máy, nâng công suất của mỗi dây chuyền được đầu tư mới giai đoạn trước ở các cụm công nghiệp của huyện lên 20 triệu viên/năm.
- Sản phẩm gạch bê tông từ khí chưng áp (AAC):
+ Đầu tư chiều sâu 2 nhà máy đã đầu tư giai đoạn trước để nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng về kích thước, mẫu mã của gạch xây, đồng thời đa dạng về chủng loại sản phẩm.
- Sản phẩm gạch bê tông bọt:
+ Đầu tư xây dựng 01 dây chuyền sản xuất gạch xây bê tông bọt, tại cụm công nghiệp An Xá thành phố Nam Định, công suất 45 triệu viên/năm.
- Sản phẩm gạch xây không nung khác:
+ Đầu tư xây dựng mới và đầu tư chiều sâu đảm bảo tại tất cả các cơ sở sản xuất gạch tuynel đều có 01 dây chuyền sản xuất gạch không nung sử dụng phế thải công nghiệp của bản thân nhà máy.
c. Cát đen xây dựng:
Tập trung khai thác cát đen lòng sông. Cát đen nội đồng sẽ được xem xét lập quy hoạch thời điểm thích hợp sau năm 2020. Đối với chủng loại cát sa khoáng ven biển, một tài nguyên thiên nhiên quý hiếm sẽ có một đề án quy hoạch khai thác và sử dụng riêng.
Tổ chức sắp xếp lại việc khai thác cát đen nhỏ lẻ của tư nhân ở tất cả các huyện, hình thành các cơ sở khai thác tập trung theo quy hoạch để tạo điều kiện cho công tác quản lý, không gây sạt lở, cản trở giao thông và bảo vệ môi trường.
Đầu tư một số cơ sở khai thác cát mới với dây chuyền tiên tiến, hiện đại so với khu vực và thế giới, máy móc thiết bị thân thiện với môi trường, đảm bảo phân bố đều trên địa bàn tỉnh.
* Giai đoạn 2010-2015
- Sắp xếp lại lực lượng khai thác cát thủ công:
Lực lượng khai thác và vận tải cát thủ công, hiện nay còn chiếm một tỷ trọng lớn trong khai thác và cung ứng. Sản lượng khai thác hàng năm của lực lượng này chiếm gần 60% sản lượng cát toàn tỉnh. Đến năm 2015 lực lượng này vẫn là lực lượng quan trọng, tuy nhiên họ mới tập trung khai thác cát đen ở các triền sông để tự tiêu thụ hoặc lưu thông. Lực lượng này cần được tổ chức lại, hoạt động theo luật Doanh nghiệp hoặc Luật Hợp tác xã, trang bị thêm phương tiện cho hoạt động khai thác và cung ứng.
Đầu tư mở rộng, nâng công suất một số đơn vị có tiềm lực kinh tế đang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp trên các tuyến sông Hồng, sông Đào trong phạm vi bán kính 10 km so với trung tâm thành phố Nam Định để khai thác cát phục vụ cho thị trường thành phố Nam Định và huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam.
* Giai đoạn 2016-2020
- Ổn định công suất của các cơ sở khai thác cát được đầu tư nâng cấp, cải tạo và đầu tư mới giai đoạn 2010-2015 với sản lượng 1.562 nghìn m3/năm.
- Đầu tư xây dựng mới một số cơ sở đảm bảo phân bố đều trên khắp vùng miền của tỉnh với dây chuyền công nghệ tiên tiến hiện đại so với trong nước, khu vực và thế giới, đạt hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường.