Document: Khoản 8 Điều 1 Quyết định 39/2015/QĐ-UBND đơn giá các loại cây trồng hoa màu khi nhà nước thu hồi đất Quảng Nam

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "21/12/2015", "sign_number": "39/2015/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Văn Thu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "21/12/2015", "sign_number": "39/2015/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Văn Thu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "21/12/2015", "sign_number": "39/2015/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Văn Thu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "21/12/2015", "sign_number": "39/2015/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Văn Thu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "21/12/2015", "sign_number": "39/2015/QĐ-UBND", "signer": "Đinh Văn Thu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 8 Điều 1 Quyết định 39/2015/QĐ-UBND đơn giá các loại cây trồng hoa màu khi nhà nước thu hồi đất Quảng Nam

Điều 1. Quy định đơn giá các loại cây trồng, hoa màu; mật độ cây trồng; các loại con vật nuôi; mức hỗ trợ đối với tài sản khai thác nghề biển, nghề sông để thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, như sau:
...
8.160

10.920

20.400

32.760

- Mật độ từ 150 < 200 con/m2

11.400

15.240

28.680

45.840

- Mật độ từ 200 con/m2 trở lên

13.080

17.400

32.760

52.440

3. Hỗ trợ công đào ao khi thu hồi đất (đ/m2)

7.800

7.800

7.800

7.800

7.800

- Trường hợp, đang nuôi trồng dở dang, mà người nuôi tôm có yêu cầu kéo dài thêm thời gian để đến chu kỳ thu hoạch nhưng không được kéo dài quá 20 ngày, thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng báo cáo UBND cấp huyện có thông báo cho phép người nuôi tôm tiếp tục nuôi trồng cho đến chu kỳ thu hoạch của vụ đó, thu hoạch xong mới thực hiện thu hồi đất và hỗ trợ tiền công đào ao do bị thu hồi là: 7.800 đồng/m2.
- Đối với máy móc, dụng cụ, trang thiết bị phục vụ cho việc nuôi tôm phải tháo gỡ, di dời thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với Chủ đầu tư, UBND cấp xã, các cơ quan liên quan xác định mức hỗ trợ hợp lý, phù hợp với chi phí tháo dỡ, di dời tại thời điểm có quyết định thu hồi đất và cùng chịu trách nhiệm, lập thành biên bản tập hợp vào phương án bồi thường, hỗ trợ trình UBND tỉnh phê duyệt (đối với trường hợp thu hồi đất thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh), UBND huyện phê duyệt (đối với trường hợp thu hồi đất thuộc thẩm quyền của UBND huyện hoặc đối với trường hợp được UBND tỉnh ủy quyền).
c) Cua nuôi trong ao:
- Trường hợp, có thông báo của cấp có thẩm quyền cho người sản xuất tiếp tục nuôi cho đến chu kỳ thu hoạch của vụ đó; thu hoạch xong mới thực hiện thu hồi đất, được hỗ trợ thêm với mức: 7.800 đồng/m2; trường hợp Nhà nước thu hồi đất, mà trong hồ, ao không có cua nuôi thì chỉ tính hỗ trợ công đào ao với mức: 7.800 đồng/m2.
- Trường hợp Nhà nước cần thu hồi đất sớm trước vụ thu hoạch và thực tế trong ao, hồ có nuôi cua với mật độ tối thiểu theo quy định của cơ quan chuyên ngành Nông nghiệp và PTNT, thì được bồi thường một mức chung là: 15.600 đồng/m2 (không áp dụng mật độ và không được hưởng hỗ trợ thêm).
d) Trường hợp, ao nuôi hải sản nước lợ có nuôi ghép (tôm sú nuôi ghép với cua) thì áp dụng mức hỗ trợ hoặc bồi thường cao nhất (một trong hai loại con nuôi).
e) Nghêu (ngao) nuôi: Đất nuôi nghêu chủ yếu ở vùng bãi bồi (đất Nhà nước quản lý không bồi thường đất); việc nuôi nghêu theo hình thức quảng canh bằng đăng quầng, … không sử dụng thức ăn, chỉ chăm sóc, quản lý và thu hoạch. Việc bồi thường, hỗ trợ đối với nghêu nuôi dựa trên số ngày đã thả nuôi. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chịu trách nhiệm chủ trì phối hợp với Chủ đầu tư UBND cấp xã và các cơ quan liên quan xác định mức bồi thường, hỗ trợ và chịu trách nhiệm, lập thành biên bản tập hợp vào phương án bồi thường, hỗ trợ trình UBND tỉnh phê duyệt (đối với trường hợp thu hồi đất thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh), UBND huyện phê duyệt (đối với trường hợp thu hồi đất thuộc thẩm quyền của UBND huyện hoặc đối với trường hợp được UBND tỉnh ủy quyền).
f) Ba ba nuôi trong bể xi măng:
- Ba ba nuôi có trọng lượng trung bình lớn hơn 0,8kg/con trở lên thì được hỗ trợ tiền công thu hoạch với mức là: 19.200 đồng/kg.
- Ba ba nuôi có trọng lượng từ 0,8 kg/con trở xuống thì được bồi thường như sau:

Trọng lượng trung bình-X (kg/con )

0,1<X<=0,3

X=0,4

X=0,5

X=0,6

X=0,7

X=0,8

Giá bồi thường (đồng/kg )

252.000

210.000

164.400

139.200

108.000

80.400

- Nếu trọng lượng trung bình của Ba ba nuôi trong hồ từ 0,1 kg trở xuống thì được bồi thường theo giá con giống với mức là: 22.800 đồng/con (Ba ba giống cỡ từ 10 – 20 con/kg). Trọng lượng trung bình của Ba ba được tính tròn số như sau: từ 0,05 trở lên được làm tròn 0,10 và ngược lại.
- Đối với con giống bố, mẹ nuôi sinh sản đề nghị áp dụng mức hỗ trợ di chuyển không quá 30% giá trị khi bán (theo giá thương phẩm) theo giá thị trường tại thời điểm định giá.
g) Ếch nuôi trong bể xi măng:
- Ếch nuôi có trọng lượng trung bình lớn hơn 0,25 kg/con, thì được hỗ trợ tiền công thu hoạch, với mức là: 4.200 đồng/kg.
- Ếch nuôi có trọng lượng trung bình từ 0,25 kg/con trở xuống thì được bồi thường như sau:

Trọng lượng trung bình (X)
( kg/con )

0,05<X<0,10

0,10

0,15

0,20

0,25

Giá bồi thường (đồng/kg )

51.000

37.800

32.400

22.800

13.200

- Ếch có trọng lượng trung bình từ 0,05 kg/con trở xuống thì bồi thường theo mức: 2.500 đồng/con. Trọng lượng trung bình ếch được tính tròn số như sau: từ 0,05 trở lên được làm tròn 0,10 và ngược lại.
- Đối với con giống bố, mẹ nuôi sinh sản đề nghị áp dụng mức hỗ trợ di chuyển không quá 30% giá trị khi bán (theo giá thương phẩm) theo giá thị trường tại thời điểm định giá.
h) Cá lóc nuôi trong bể xi măng:
- Cá lóc nuôi với mật độ tối thiểu theo quy định có trọng lượng trung bình lớn hơn 0,30kg/con thì được hỗ trợ tiền công thu hoạch, với mức là: 4.200 đồng/kg.
- Cá lóc nuôi với mật độ tối thiểu theo quy định có trọng lượng trung bình từ 0,30kg trở xuống thì được bồi thường như sau:

Trọng lượng trung bình ( kg/con)

0,05

0,10

0,20

0,30

Mức giá bồi thường (đ/kg)

37.800

32.400

22.800

13.200

- Cá lóc giống (với mật độ tối thiểu theo quy định):
+ Có chiều dài thân từ 4 - 6cm thì bồi thường mức 900 đồng/con.
+ Có chiều dài thân từ 6 - 10cm thì bồi thường mức 1.200 đồng/con.
+ Có chiều dài thân trên 10 cm loại 20 con/kg thì bồi thường mức 1.800 đồng/con.
- Đối với con giống bố, mẹ nuôi sinh sản đề nghị áp dụng mức hỗ trợ di chuyển không quá 30% giá trị khi bán (theo giá thương phẩm) theo giá thị trường tại thời điểm định giá.
k) Nuôi cá nước ngọt khác (cá chép, trắm, mè, trôi, cá rô phi, cá chim trắng …) trong ao đất:
- Trường hợp, có cá nuôi trong ao với mật độ tối thiểu theo quy định thì được hỗ trợ như sau:
+ Hỗ trợ con giống: Cá có chiều dài từ 4 - 6 cm mức hỗ trợ 900 đ/con; cá có chiều dài từ 6 - 10 cm mức hỗ trợ 1.200 đ/con; cá có chiều dài trên 20 cm mức hỗ trợ 1.800 đ/con;
+ Hỗ trợ công đào ao khi thu hồi đất: 7.800 đ/m2.
- Trường hợp không có cá nuôi trong ao, hỗ trợ công đào ao khi thu hồi đất: 7.800 đ/m2. Trong trường hợp này, ao phải đảm bảo chỉ tiêu kỹ thuật để nuôi cá và được lập thành biên bản có chữ ký của các thành viên.
- Đối với con giống bố, mẹ nuôi sinh sản đề nghị áp dụng mức hỗ trợ di chuyển không quá 30% giá trị khi bán (theo giá thương phẩm) theo giá thị trường tại thời điểm định giá.
l) Con nhông: Hỗ trợ tiền công thu hoạch đối với con nhông theo đơn vị diện tích đang sử dụng với mật độ: 8 - 10 con/m2, với đơn giá 18.000 đồng/m2.
* Ghi chú: Đối với những con vật nuôi thủy sản, con vật nuôi khác có trong thực tế kiểm kê nhưng chưa có trong danh mục nêu trên thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chịu trách nhiệm chủ trì phối hợp với Chủ đầu tư, UBND cấp xã và cơ quan liên quan xác định đơn giá bồi thường, hỗ trợ lập thành biên bản có chữ ký của các thành viên, lập danh mục riêng tập hợp vào phương án bồi thường, hỗ trợ trình UBND tỉnh phê duyệt (đối với trường hợp thu hồi đất thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh), UBND huyện phê duyệt (đối với trường hợp thu hồi đất thuộc thẩm quyền của UBND huyện hoặc đối với trường hợp được UBND tỉnh ủy quyền).
4. Mức hỗ trợ đối với tài sản khai thác nghề biển, nghề sông:
a) Hỗ trợ 01 lần để trông giữ tàu, thuyền cho đối tượng khai thác nghề biển
- Tàu có động cơ từ 60 CV trở lên : 5.000.000 đồng/phương tiện.
- Tàu có động cơ từ 20 CV đến dưới 60 CV: 3.000.000 đồng/phương tiện.
- Tàu có động cơ dưới 20 CV: 2.000.000 đồng/phương tiện.
- Thuyền, ghe có gắn động cơ: 1.500.000 đồng/phương tiện.
- Thuyền, ghe, thúng hành nghề: 1.000.000 đồng/phương tiện.
- Mức hỗ trợ tối đa cho mỗi hộ không quá 02 phương tiện. Trường hợp, nhiều hộ góp vốn mua chung 01 phương tiện, thì cử người đại diện nhận tiền.
b) Hỗ trợ tài sản cho đối tượng khai thác thủy sản trên sông
- Hỗ trợ chi phí đầu tư, chi phí di chuyển, lắp đặt lại tài sản (nếu có địa điểm khai thác mới):
+ Rớ quay: 5.000.000 đồng/cái.
+ Rớ đáy, rớ nọc: 3.000.000 đồng/cái.
+ Đăng: 1.500.000 đồng/cái.
+ Nò: 400.000 đồng/cái.
+ Chà đá, chà gốc: 500.000 đồng/cái.
- Phải thanh lý toàn bộ ngư lưới cụ (do không còn địa điểm khai thác) hỗ trợ toàn bộ chi phí đầu tư cho 01 ngư cụ:
+ Rớ quay: Chu vi miệng đáy từ 60m trở lên là 15.000.000 đồng/cái; chu vi miệng đáy dưới 60m là 11.000.000 đồng/cái.
+ Rớ đáy: Chu vi miệng đáy từ 35m trở lên là 9.000.000 đồng/cái; chu vi miệng đáy dưới 35 m là 8.000.000 đồng/cái.
+ Đăng: 3.000.000 đồng/cái.
+ Nò: 500.000 đồng/cái.
+ Chà đá, chà cây: 500.000 đồng/cái.
+ Thuyền (ghe) trực tiếp làm nghề: 2.000.000 đồng/chiếc.
* Trường hợp phát sinh vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đề xuất UBND cấp huyện tổng hợp bằng văn bản gởi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì xem xét giải quyết, trả lời theo thẩm quyền hoặc phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu trình UBND tỉnh xem xét giải quyết đảm bảo đúng quy định.

Content:
8.160

10.920

20.400

32.760

- Mật độ từ 150 < 200 con/m2

11.400

15.240

28.680

45.840

- Mật độ từ 200 con/m2 trở lên

13.080

17.400

32.760

52.440

3. Hỗ trợ công đào ao khi thu hồi đất (đ/m2)

7.800

7.800

7.800

7.800

7.800

- Trường hợp, đang nuôi trồng dở dang, mà người nuôi tôm có yêu cầu kéo dài thêm thời gian để đến chu kỳ thu hoạch nhưng không được kéo dài quá 20 ngày, thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng báo cáo UBND cấp huyện có thông báo cho phép người nuôi tôm tiếp tục nuôi trồng cho đến chu kỳ thu hoạch của vụ đó, thu hoạch xong mới thực hiện thu hồi đất và hỗ trợ tiền công đào ao do bị thu hồi là: 7.800 đồng/m2.
- Đối với máy móc, dụng cụ, trang thiết bị phục vụ cho việc nuôi tôm phải tháo gỡ, di dời thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với Chủ đầu tư, UBND cấp xã, các cơ quan liên quan xác định mức hỗ trợ hợp lý, phù hợp với chi phí tháo dỡ, di dời tại thời điểm có quyết định thu hồi đất và cùng chịu trách nhiệm, lập thành biên bản tập hợp vào phương án bồi thường, hỗ trợ trình UBND tỉnh phê duyệt (đối với trường hợp thu hồi đất thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh), UBND huyện phê duyệt (đối với trường hợp thu hồi đất thuộc thẩm quyền của UBND huyện hoặc đối với trường hợp được UBND tỉnh ủy quyền).
c) Cua nuôi trong ao:
- Trường hợp, có thông báo của cấp có thẩm quyền cho người sản xuất tiếp tục nuôi cho đến chu kỳ thu hoạch của vụ đó; thu hoạch xong mới thực hiện thu hồi đất, được hỗ trợ thêm với mức: 7.800 đồng/m2; trường hợp Nhà nước thu hồi đất, mà trong hồ, ao không có cua nuôi thì chỉ tính hỗ trợ công đào ao với mức: 7.800 đồng/m2.
- Trường hợp Nhà nước cần thu hồi đất sớm trước vụ thu hoạch và thực tế trong ao, hồ có nuôi cua với mật độ tối thiểu theo quy định của cơ quan chuyên ngành Nông nghiệp và PTNT, thì được bồi thường một mức chung là: 15.600 đồng/m2 (không áp dụng mật độ và không được hưởng hỗ trợ thêm).
d) Trường hợp, ao nuôi hải sản nước lợ có nuôi ghép (tôm sú nuôi ghép với cua) thì áp dụng mức hỗ trợ hoặc bồi thường cao nhất (một trong hai loại con nuôi).
e) Nghêu (ngao) nuôi: Đất nuôi nghêu chủ yếu ở vùng bãi bồi (đất Nhà nước quản lý không bồi thường đất); việc nuôi nghêu theo hình thức quảng canh bằng đăng quầng, … không sử dụng thức ăn, chỉ chăm sóc, quản lý và thu hoạch. Việc bồi thường, hỗ trợ đối với nghêu nuôi dựa trên số ngày đã thả nuôi. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chịu trách nhiệm chủ trì phối hợp với Chủ đầu tư UBND cấp xã và các cơ quan liên quan xác định mức bồi thường, hỗ trợ và chịu trách nhiệm, lập thành biên bản tập hợp vào phương án bồi thường, hỗ trợ trình UBND tỉnh phê duyệt (đối với trường hợp thu hồi đất thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh), UBND huyện phê duyệt (đối với trường hợp thu hồi đất thuộc thẩm quyền của UBND huyện hoặc đối với trường hợp được UBND tỉnh ủy quyền).
f) Ba ba nuôi trong bể xi măng:
- Ba ba nuôi có trọng lượng trung bình lớn hơn 0,8kg/con trở lên thì được hỗ trợ tiền công thu hoạch với mức là: 19.200 đồng/kg.
- Ba ba nuôi có trọng lượng từ 0,8 kg/con trở xuống thì được bồi thường như sau:

Trọng lượng trung bình-X (kg/con )

0,1<X<=0,3

X=0,4

X=0,5

X=0,6

X=0,7

X=0,8

Giá bồi thường (đồng/kg )

252.000

210.000

164.400

139.200

108.000

80.400

- Nếu trọng lượng trung bình của Ba ba nuôi trong hồ từ 0,1 kg trở xuống thì được bồi thường theo giá con giống với mức là: 22.800 đồng/con (Ba ba giống cỡ từ 10 – 20 con/kg). Trọng lượng trung bình của Ba ba được tính tròn số như sau: từ 0,05 trở lên được làm tròn 0,10 và ngược lại.
- Đối với con giống bố, mẹ nuôi sinh sản đề nghị áp dụng mức hỗ trợ di chuyển không quá 30% giá trị khi bán (theo giá thương phẩm) theo giá thị trường tại thời điểm định giá.
g) Ếch nuôi trong bể xi măng:
- Ếch nuôi có trọng lượng trung bình lớn hơn 0,25 kg/con, thì được hỗ trợ tiền công thu hoạch, với mức là: 4.200 đồng/kg.
- Ếch nuôi có trọng lượng trung bình từ 0,25 kg/con trở xuống thì được bồi thường như sau:

Trọng lượng trung bình (X)
( kg/con )

0,05<X<0,10

0,10

0,15

0,20

0,25

Giá bồi thường (đồng/kg )

51.000

37.800

32.400

22.800

13.200

- Ếch có trọng lượng trung bình từ 0,05 kg/con trở xuống thì bồi thường theo mức: 2.500 đồng/con. Trọng lượng trung bình ếch được tính tròn số như sau: từ 0,05 trở lên được làm tròn 0,10 và ngược lại.
- Đối với con giống bố, mẹ nuôi sinh sản đề nghị áp dụng mức hỗ trợ di chuyển không quá 30% giá trị khi bán (theo giá thương phẩm) theo giá thị trường tại thời điểm định giá.
h) Cá lóc nuôi trong bể xi măng:
- Cá lóc nuôi với mật độ tối thiểu theo quy định có trọng lượng trung bình lớn hơn 0,30kg/con thì được hỗ trợ tiền công thu hoạch, với mức là: 4.200 đồng/kg.
- Cá lóc nuôi với mật độ tối thiểu theo quy định có trọng lượng trung bình từ 0,30kg trở xuống thì được bồi thường như sau:

Trọng lượng trung bình ( kg/con)

0,05

0,10

0,20

0,30

Mức giá bồi thường (đ/kg)

37.800

32.400

22.800

13.200

- Cá lóc giống (với mật độ tối thiểu theo quy định):
+ Có chiều dài thân từ 4 - 6cm thì bồi thường mức 900 đồng/con.
+ Có chiều dài thân từ 6 - 10cm thì bồi thường mức 1.200 đồng/con.
+ Có chiều dài thân trên 10 cm loại 20 con/kg thì bồi thường mức 1.800 đồng/con.
- Đối với con giống bố, mẹ nuôi sinh sản đề nghị áp dụng mức hỗ trợ di chuyển không quá 30% giá trị khi bán (theo giá thương phẩm) theo giá thị trường tại thời điểm định giá.
k) Nuôi cá nước ngọt khác (cá chép, trắm, mè, trôi, cá rô phi, cá chim trắng …) trong ao đất:
- Trường hợp, có cá nuôi trong ao với mật độ tối thiểu theo quy định thì được hỗ trợ như sau:
+ Hỗ trợ con giống: Cá có chiều dài từ 4 - 6 cm mức hỗ trợ 900 đ/con; cá có chiều dài từ 6 - 10 cm mức hỗ trợ 1.200 đ/con; cá có chiều dài trên 20 cm mức hỗ trợ 1.800 đ/con;
+ Hỗ trợ công đào ao khi thu hồi đất: 7.800 đ/m2.
- Trường hợp không có cá nuôi trong ao, hỗ trợ công đào ao khi thu hồi đất: 7.800 đ/m2. Trong trường hợp này, ao phải đảm bảo chỉ tiêu kỹ thuật để nuôi cá và được lập thành biên bản có chữ ký của các thành viên.
- Đối với con giống bố, mẹ nuôi sinh sản đề nghị áp dụng mức hỗ trợ di chuyển không quá 30% giá trị khi bán (theo giá thương phẩm) theo giá thị trường tại thời điểm định giá.
l) Con nhông: Hỗ trợ tiền công thu hoạch đối với con nhông theo đơn vị diện tích đang sử dụng với mật độ: 8 - 10 con/m2, với đơn giá 18.000 đồng/m2.
* Ghi chú: Đối với những con vật nuôi thủy sản, con vật nuôi khác có trong thực tế kiểm kê nhưng chưa có trong danh mục nêu trên thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chịu trách nhiệm chủ trì phối hợp với Chủ đầu tư, UBND cấp xã và cơ quan liên quan xác định đơn giá bồi thường, hỗ trợ lập thành biên bản có chữ ký của các thành viên, lập danh mục riêng tập hợp vào phương án bồi thường, hỗ trợ trình UBND tỉnh phê duyệt (đối với trường hợp thu hồi đất thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh), UBND huyện phê duyệt (đối với trường hợp thu hồi đất thuộc thẩm quyền của UBND huyện hoặc đối với trường hợp được UBND tỉnh ủy quyền).
4. Mức hỗ trợ đối với tài sản khai thác nghề biển, nghề sông:
a) Hỗ trợ 01 lần để trông giữ tàu, thuyền cho đối tượng khai thác nghề biển
- Tàu có động cơ từ 60 CV trở lên : 5.000.000 đồng/phương tiện.
- Tàu có động cơ từ 20 CV đến dưới 60 CV: 3.000.000 đồng/phương tiện.
- Tàu có động cơ dưới 20 CV: 2.000.000 đồng/phương tiện.
- Thuyền, ghe có gắn động cơ: 1.500.000 đồng/phương tiện.
- Thuyền, ghe, thúng hành nghề: 1.000.000 đồng/phương tiện.
- Mức hỗ trợ tối đa cho mỗi hộ không quá 02 phương tiện. Trường hợp, nhiều hộ góp vốn mua chung 01 phương tiện, thì cử người đại diện nhận tiền.
b) Hỗ trợ tài sản cho đối tượng khai thác thủy sản trên sông
- Hỗ trợ chi phí đầu tư, chi phí di chuyển, lắp đặt lại tài sản (nếu có địa điểm khai thác mới):
+ Rớ quay: 5.000.000 đồng/cái.
+ Rớ đáy, rớ nọc: 3.000.000 đồng/cái.
+ Đăng: 1.500.000 đồng/cái.
+ Nò: 400.000 đồng/cái.
+ Chà đá, chà gốc: 500.000 đồng/cái.
- Phải thanh lý toàn bộ ngư lưới cụ (do không còn địa điểm khai thác) hỗ trợ toàn bộ chi phí đầu tư cho 01 ngư cụ:
+ Rớ quay: Chu vi miệng đáy từ 60m trở lên là 15.000.000 đồng/cái; chu vi miệng đáy dưới 60m là 11.000.000 đồng/cái.
+ Rớ đáy: Chu vi miệng đáy từ 35m trở lên là 9.000.000 đồng/cái; chu vi miệng đáy dưới 35 m là 8.000.000 đồng/cái.
+ Đăng: 3.000.000 đồng/cái.
+ Nò: 500.000 đồng/cái.
+ Chà đá, chà cây: 500.000 đồng/cái.
+ Thuyền (ghe) trực tiếp làm nghề: 2.000.000 đồng/chiếc.
* Trường hợp phát sinh vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đề xuất UBND cấp huyện tổng hợp bằng văn bản gởi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì xem xét giải quyết, trả lời theo thẩm quyền hoặc phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu trình UBND tỉnh xem xét giải quyết đảm bảo đúng quy định.