Document: Khoản 8 Điều 1 Quyết định 24/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "06/01/2010", "sign_number": "24/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "06/01/2010", "sign_number": "24/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "06/01/2010", "sign_number": "24/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "06/01/2010", "sign_number": "24/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "06/01/2010", "sign_number": "24/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 8 Điều 1 Quyết định 24/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025

Điều 1. Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025 với những nội dung chủ yếu sau:
...
8. Định hướng phát triển hạ tầng kỹ thuật:
a) Hệ thống giao thông:
- Giao thông đối ngoại:
+ Giao thông đường bộ: trục giao thông xây dựng theo tiêu chuẩn đường cao tốc đô thị. Bao gồm: 3 đường vành đai (các vành đai số 2, số 3 và số 4); các trục hướng tâm đối ngoại: trục thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu (Xa lộ Hà Nội); trục thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây; trục thành phố Hồ Chí Minh - Thủ Dầu Một - Chơn Thành (quốc lộ 13); trục quốc lộ 1K - Bình Phước; trục thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài (2 tuyến); trục cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương - Cần Thơ; trục quốc lộ 1 phía Tây; trục thành phố Hồ Chí Minh - Long An (tỉnh lộ 10); trục thành phố Hồ Chí Minh - Gò Công (quốc lộ 50);
+ Giao thông đường sắt quốc gia: cải tạo, nâng cấp tuyến đường sắt Thống Nhất (Bắc Nam) khu vực thành phố Hồ Chí Minh đoạn Trảng Bom - Bình Triệu, trong đó xây dựng tuyến tránh Biên Hòa về phía Nam và xây dựng mới đoạn đường sắt trên cao (hoặc đi ngầm) Bình Triệu - Hòa Hưng - Tân Kiên; xây dựng mới 2 tuyến đường sắt đi Biên Hòa và Lộc Ninh; tuyến đường sắt đôi điện khí hóa cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Nha Trang kết nối tại ga Thủ Thiêm dự kiến. Xây dựng mới tuyến đường sắt chuyên dụng từ đường sắt quốc gia tới cảng Cát Lái và Hiệp Phước. Tổng cộng có 6 tuyến với tổng chiều dài khoảng 226km;
+ Giao thông đường thủy: cải tạo, nạo vét để đảm bảo lưu thông cho hai luồng sông Lòng Tàu và sông Soài Rạp ra biển; bốn luồng sông đi các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; một luồng đi Bến Súc, đảm bảo đạt tiêu chuẩn sông cấp III;
Các cảng biển phải di dời là Tân Cảng, Xí nghiệp liên hiệp Ba Son, cảng Nhà Rồng và Khánh Hội thuộc cảng Sài Gòn, cảng Tân Thuận Đông, cảng Rau quả và cảng Bến Nghé. Đầu tư xây dựng phát triển khu cảng Cát Lái, cảng Hiệp Phước. Tổng công suất cụm cảng khu vực thành phố Hồ Chí Minh dự kiến năm 2010 khoảng 76 triệu tấn/năm; năm 2020 - 2025 khoảng 200 triệu tấn/năm.
+ Giao thông đường không: Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất sẽ trở thành điểm trung chuyển hàng không của khu vực và thế giới; cải tạo, nâng công suất khoảng 20 triệu hành khách/năm. Phát triển kết cấu hạ tầng cho sân bay đủ khả năng tiếp nhận các máy bay hiện đại hoạt động 24/24 giờ. Xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành (tỉnh Đồng Nai) với công suất 100 triệu hành khách/năm.
- Giao thông đối nội:
+ Đường đô thị:
- Đối với các quận nội thành cũ các trục giao thông giữ nguyên mặt cắt ngang hiện hữu chỉ cải tạo, nâng cấp mặt đường đảm bảo lưu thông cho các loại phương tiện;
- Đối với các khu đô thị mới tại các quận mới và huyện ngoại thành khi xây dựng phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn thiết kế mặt cắt ngang đường theo cấp và loại đường đô thị.
Cụ thể: nâng cấp, mở rộng và hoàn thiện các tuyến tỉnh lộ hướng tâm nhằm hỗ trợ cho các trục hướng tâm đối ngoại và hoàn thiện các đường chính nội đô cấp I, II. Xây dựng 4 tuyến đường trên cao. Xây dựng mới 19 cầu đường bộ vượt sông Đồng Nai, Sài Gòn, Nhà Bè, Lòng Tàu, Thị Vải (trong đó bổ sung cầu Bình Quới, Thanh Đa sang Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức) và hầm qua sông Sài Gòn (hầm đường bộ và hầm metro). Cải tạo bến, bãi hiện có và xây dựng các bến bãi mới để hình thành mạng lưới giao thông tĩnh, đáp ứng yêu cầu đỗ xe. Xây dựng các bến xe tải chuyển tiếp hàng hóa ở cửa ngõ ra vào thành phố với diện tích 243ha. Xây dựng các bãi đậu xe ngầm tại công viên Lê Văn Tám, Chi Lăng; sân vận động Hoa Lư, sân bóng đá Tao Đàn, khu vực đường Nguyễn Du và Cách mạng Tháng Tám,…. và các bãi đỗ xe cao tầng.
+ Đường sắt đô thị: kết hợp sử dụng các tuyến đường sắt quốc gia cho chạy tàu ngoại ô và xây dựng 2 tuyến đường sắt nhẹ: tuyến Trảng Bàng - Tân Thới Hiệp, kết nối tại ga Tân Thới Hiệp; tuyến Thủ Thiêm - Nhơn Trạch - Cảng hàng không quốc tế Long Thành, kết nối tại ga Thủ Thiêm.
Xây dựng hệ thống đường sắt đô thị chuyên chở khối lượng lớn hoặc trung bình (MRT/LRT) gồm 06 tuyến với tổng chiều dài khoảng 120 km và 07 khu ga kỹ thuật. Xây dựng 03 tuyến đường sắt đô thị loại hình khác nhau như: xe điện chạy trên mặt đất (tramway), đường sắt một ray tự động dẫn hướng đi trên cao (monorail) với tổng chiều dài 35km và 03 khu ga kỹ thuật. Các nhà ga đường sắt đô thị, đặc biệt các ga ngầm và ga chuyển tàu sẽ kết hợp hình thành các khu trung tâm thương mại - dịch vụ theo quy hoạch đô thị; phát triển các tuyến đường sắt đô thị chuyên chở khối lượng lớn đến khu cảng Hiệp Phước, huyện Nhà Bè, đến khu đô thị Tây - Bắc, huyện Củ Chi và ra cảng hàng không Quốc tế Long Thành dự kiến;
+ Giao thông đường thủy: cải tạo, nạo vét để bảo đảm lưu thông cho hai tuyến vành đai thủy đạt tiêu chuẩn kênh sông cấp IV, V. Xây dựng các cảng sông là cảng hàng hóa, gồm cảng Phú Định tại quận 8, cảng Nhơn Đức tại huyện Nhà Bè; cảng hành khách tại quận 4, quận 7 và huyện Nhà Bè.
b) Chuẩn bị kỹ thuật:
- Quy hoạch chiều cao đất xây dựng:
Tùy theo vị trí các khu vực của thành phố, cao độ nền khống chế được quy định như sau:
+ Đối với khu nội thành hiện hữu gồm 13 quận cũ: toàn bộ khu vực nằm trong vùng bờ hữu sông Sài Gòn - Nhà Bè thuộc hệ thống đê bao cống điều tiết khép kín, cao độ mặt đê thay đổi từ 2,5 m đến 3,0m; cao độ xây dựng khống chế Hxd ≥ 2,00m. Cao độ nền xây dựng từng khu vực được tính toán phù hợp với cao độ xây dựng khống chế toàn khu vực, bảo đảm nền không bị ngập, không bị sạt lở. Giữ nguyên nền đất hiện hữu, chú trọng việc hoàn thiện mặt phủ đồng thời với các biện pháp quy hoạch và quản lý đô thị nhằm nâng cao diện tích cây xanh, thảm cỏ (đối với khu không chịu ảnh hưởng triều); tôn nền các khu vực có thể giải tỏa và xây dựng tập trung, còn lại chủ yếu sử dụng các biện pháp mang tính cục bộ để bảo vệ nền đất như xây đê; nâng cao mặt đường; lắp đặt van đóng mở một chiều …. (đối với khu chịu ảnh hưởng triều);
+ Đối với khu nội thành phát triển gồm 6 quận mới: đối với quận 7, quận 12, quận Bình Tân thuộc vùng bờ hữu sông Sài Gòn - Nhà Bè, cao độ xây dựng khống chế Hxd ≥ 2,00m; đối với 3 quận 2, quận 9, quận Thủ Đức thuộc vùng bờ tả sông Sài Gòn - Nhà Bè, cao độ xây dựng khống chế Hxd ≥ 2,00m (đối với khu vực nằm trong đê bao) và Hxd ≥ 2,50m (đối với khu vực nằm ngoài đê bao). San, đắp phù hợp với cao độ khống chế, kết hợp tận dụng địa hình tự nhiên, giữ lại sông, rạch để hỗ trợ tiêu thoát nước và tạo cảnh quan cho đô thị;
+ Đối với các khu dân cư nông thôn và khu đô thị mới tại 5 huyện ngoại thành: 04 huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh và Nhà Bè thuộc vùng bờ hữu sông Sài Gòn - Nhà Bè, cao độ xây dựng khống chế Hxd ≥ 2,00 m; giải pháp quy hoạch chiều cao đất xây dựng như khu nội thành hiện hữu. Tại huyện Cần Giờ thuộc vùng bờ tả sông Nhà Bè - Soài Rạp: cao độ xây dựng khống chế trong đê Hxd ≥ 2,00m, không xây dựng mới những khu vực ngoài đê. Trước mắt sử dụng hệ thống đê bao nhỏ và đê biển để chống ngập úng. Không thay đổi môi trường, làm gia tăng dòng chảy mặt, phù hợp với quy hoạch thủy lợi, bảo đảm thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu.
- Quy hoạch hệ thống thoát nước mưa:
+ Cải tạo, xây dựng hệ thống thoát nước mưa, tại khu vực nội thành cũ vẫn sử dụng hệ thống cống chung thoát nước mưa và nước thải; tại các khu vực xây dựng mới sử dụng hệ thống thoát nước mưa, nước thải riêng;
+ Đối với toàn bộ khu nội thành hiện hữu, 3 quận mới là quận 7, quận 12, quận Bình Tân và 4 huyện ngoại thành: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh và Nhà Bè thuộc vùng bờ hữu sông Sài Gòn - Nhà Bè: hoàn thiện hệ thống thoát nước mưa và tách nước thải ra khỏi hệ thống cống chung, nạo vét mở rộng kênh rạch kết hợp với các giải pháp cục bộ để xóa các điểm ngập (xây đê tạm, nâng cao mặt đường, lắp đặt cửa van đóng mở một chiều, bố trí các trạm bơm tiêu…);
+ Đối với 3 quận mới là quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức thuộc vùng bờ tả sông Sài Gòn - Nhà Bè: bố trí hệ thống thoát nước mưa riêng với mạng lưới mương, cống đủ khả năng tiêu thoát nước theo các lưu vực với điều kiện thủy văn đã tính khống chế, bố trí các hồ điều tiết tại những nơi có địa hình cao, giữ tối đa các khu đất ngập nước tại những nơi có địa hình thấp. Chú trọng chỉ tiêu cây xanh, thảm cỏ theo quy định, giảm sự gia tăng dòng chảy mặt;
+ Đối với huyện Cần Giờ thuộc vùng bờ tả sông Nhà Bè - Soài Rạp: giữ lại toàn bộ hệ thống sông rạch và phát triển thêm cây xanh ven bờ để gia tăng khả năng điều tiết, không xây dựng các công trình tiêu thoát nước lớn (chỉ bố trí hệ thống thoát nước cho các cụm dân cư nhỏ trong khu vực);
+ Bảo đảm hành lang chỉ giới bảo vệ sông rạch theo quy định quản lý thủy giới.
c) Cấp nước:
- Chỉ tiêu cấp nước: chỉ tiêu cấp nước sinh hoạt 200 lít/người ngày đêm; cấp nước công nghiệp 50m3/ha ngày đêm được tính trên diện tích đất xây dựng (70% đất khu công nghiệp); dịch vụ công cộng và các chỉ tiêu cấp nước đô thị khác khoảng 38 - 40% chỉ tiêu cấp nước sinh hoạt; giảm tỷ lệ thất thoát nước xuống dưới 30%;
- Nhu cầu dùng nước: tổng nhu cầu dùng nước của thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2015 khoảng 3.200.000 m3/ngày đêm; đến năm 2025 khoảng 4.100.000 m3/ngày;
- Nguồn nước: được cân đối trong nguồn nước cấp của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (chiếm khoảng 60% toàn Vùng), chủ yếu sử dụng nguồn nước mặt trực tiếp từ hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn, hồ Trị An, hồ Dầu Tiếng, hồ Phước Hòa và kênh Đông, hạn chế sử dụng nguồn nước ngầm;
- Mạng lưới đường ống cấp nước chính:
+ Các tuyến ống nước thô: xây dựng thêm khoảng 5-7 tuyến ống nước thô D 1.500 - D 2.400 với tổng chiều dài khoảng 100km, bao gồm: hai tuyến ống D 2.400, từ trạm bơm Hóa An (sông Đồng Nai) về Nhà máy nước Thủ Đức; hai tuyến D 2.000, từ hồ Dầu Tiếng về Nhà máy nước kênh Đông, tiếp nối tuyến ống D 1.500, dài 11,5 km về Nhà máy nước Tân Hiệp; hai tuyến ống D 2.000, dài 42 km từ hồ Trị An về Nhà máy nước Thủ Đức và quận 9; tiếp tục phối hợp với các tỉnh lân cận nghiên cứu sử dụng có hiệu quả nguồn nước từ hồ Phước Hòa;
+ Các tuyến ống chuyển tải và mạng cấp I: được bố trí theo các trục đường chính đô thị theo hướng xuyên tâm Đông - Tây và Bắc - Nam khoảng 15 - 18 tuyến có kích thước D 800 - D 2.400 với tổng chiều dài 330 km - 350 km.
- Các công trình đầu mối: cải tạo nâng cấp Nhà máy nước Thủ Đức (nâng công suất lên 2.000.000 m3/ngày vào năm 2025), Nhà máy nước Bình An (công suất 100.000 m3/ngày), Nhà máy nước Tân Hiệp (nâng công suất lên 600.000 m3/ngày), Nhà máy nước kênh Đông (tổng công suất 700.000 m3/ngày), các Nhà máy nước ngầm với tổng công suất khoảng 140.000 m3/ngày; xây dựng thêm Nhà máy nước quận 9 (công suất 900.000 m3/ngày), phối hợp với các tỉnh lân cận xây dựng các nhà máy nước phục vụ liên vùng để sử dụng hiệu quả các nguồn nước.
d) Cấp điện:
- Chỉ tiêu cấp điện: cấp điện sinh hoạt 2.500 - 3.000 KWh/người; cấp cho công nghiệp khoảng 400KW/ha; cấp cho các hoạt động dịch vụ, thương mại khoảng 80-90% tiêu chuẩn cấp điện sinh hoạt.
- Nhu cầu sử dụng điện: nhu cầu điện năng tiêu thụ: 68,9 tỷ KWh/năm, điện năng nhận lưới: 73,72 tỷ KWh/năm, phụ tải cực đại Pmax = 11.580 MW, điện năng tiêu thụ bình quân: 6.890 KWh/người năm;
- Nguồn điện:
+ Nguồn điện cấp cho thành phố Hồ Chí Minh là các nhà máy điện hiện có trên địa bàn thành phố: nhiệt điện Thủ Đức, nhiệt điện Hiệp Phước và hệ thống điện miền Nam thông qua hệ thống truyền tải 500 KV, 220 KV, 110 KV;
+ Nguồn điện cấp cho thành phố Hồ Chí Minh đảm bảo đủ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, có dự phòng, chất lượng tốt, độ tin cậy cao;
+ Để đảm bảo phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, thành phố cần có chính sách phát triển các nguồn năng lượng tái tạo như: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, khí sinh học, khí bãi rác…;
+ Lưới điện trung hạ thế cải tạo và xây dựng mới ở khu vực nội thành, khu đô thị mới phải sử dụng cáp đi ngầm để đảm bảo an toàn và mỹ quan cho đô thị.
- Lưới điện:
+ Phát triển và cải tạo lưới điện thành phố Hồ Chí Minh đảm bảo tính hiện đại, độ tin cậy cao, bảo đảm an toàn và mỹ quan đô thị, từng bước hạ ngầm mạng lưới cấp điện Thành phố, đặc biệt lưới điện cải tạo và xây dựng mới ở khu nội thành, khu đô thị mới phải sử dụng cáp đi ngầm;
+ Lưới 500 KV: cải tạo nâng cấp 2 trạm 500KV hiện hữu, xây dựng thêm 3 trạm 500KV là Cầu Bông, Thủ Đức Bắc, Củ Chi; với tổng công suất đặt các trạm 500KV là 10.800 MVA;
+ Lưới 220KV: cải tạo nâng công suất 6 trạm 220KV hiện hữu, xây dựng thêm 22 trạm 220KV; với tổng công suất đặt các trạm 220KV là 19.000MVA;
+ Lưới 110 KV: cải tạo nâng công suất 42 trạm 110 KV hiện hữu, xây dựng mới các trạm 110KV; với tổng công suất đặt các trạm 110KV khoảng 20.400 MVA, đáp ứng nhu cầu phụ tải phát triển của Thành phố.
- Các công trình đầu mối:
+ Cải tạo nâng cấp các nhà máy điện hiện có trên địa bàn thành phố: nhiệt điện Thủ Đức (công suất 165MW), Gasturbin Thủ Đức (công suất 128 MW), nhiệt điện Hiệp Phước (nâng công suất lên 675 MW);
+ Các nhà máy điện, các trạm nguồn 500KV không xây dựng ở khu vực nội thành và các khu đô thị mới; các trạm 220 KV, 110 KV, các tuyến điện cao thế 220 KV, 110 KV xây dựng trong khu nội thành, khu đô thị mới phải sử dụng cáp cách điện đi ngầm và trạm kín.
đ) Thoát nước thải, thu gom, xử lý chất thải rắn và nghĩa trang:
- Thoát nước thải:
+ Tiêu chuẩn thải nước: lấy theo tiêu chuẩn cấp nước tương ứng với từng đối tượng; lượng nước ngấm vào hệ thống cống: 10% lưu lượng trung bình ngày. Tổng lượng nước thải 3,15 – 3,2 triệu m3/ngày, trong đó nước thải công nghiệp 0,32 – 0,35 triệu m3/ngày;
+ Sử dụng hệ thống cống chung cho khu vực nội thành hiện hữu (kết hợp sử dụng giếng tách dòng và hệ thống cống bao để tách và thu gom nước thải) và hệ thống thoát nước riêng cho các khu đô thị mới; các khu vực nằm trong lưu vực thoát nước thải là khu vực nội thành và các khu đô thị mới với mật độ dân số cao (≥ 200 người/ha), các khu vực còn lại có mật độ dân số thấp (< 200 người/ha) sẽ phát triển hệ thống thu gom và xử lý nước thải theo từng cụm dân cư nhỏ. Nước thải sinh hoạt sau xử lý phải đạt theo quy chuẩn quy định; nước thải sản xuất từ tiểu thủ công nghiệp, hộ gia đình xen cài trong khu dân cư phải đạt chất lượng loại C theo quy chuẩn quy định trước khi xả vào hệ thống cống để đưa đi xử lý chung với nước thải sinh hoạt. Nước thải công nghiệp không đưa về các nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt, phải được xử lý riêng trong từng khu công nghiệp và đạt chất lượng loại A theo quy chuẩn quy định trước khi thải ra kênh rạch hoặc cống thoát nước mưa;
+ Phân vùng thoát nước thải: khu vực có mật độ dân cư tập trung cao bao gồm khu vực nội thành hiện hữu và khu nội thành phát triển và các khu đô thị mới sẽ phân chia thành 12 lưu vực thoát nước thải, trong đó khu vực nội thành cũ có 4 lưu vực, khu vực nội thành phát triển và ngoại thành (khu vực phát triển đô thị mới) có 08 lưu vực; nước thải trong khu vực nằm ngoài các lưu vực được nêu trên, sẽ được thu gom và xử lý theo từng khu vực có quy mô nhỏ. Vị trí của các trạm xử lý nước thải khu vực sẽ được xác định trong đồ án quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chi tiết;
+ Các công trình đầu mối: xây dựng, hoàn thiện 12 nhà máy xử lý nước thải tập trung cho lưu vực Tàu Hũ – Bến Nghé – Đôi – Tẻ (nâng công suất lên 512.000 m3/ngày vào năm 2025), lưu vực Tây Sài Gòn (công suất 120.000 m3/ngày), Tân Hóa – Lò Gốm (công suất 300.000 m3/ngày), lưu vực Nam Sài Gòn (công suất 170.000 m3/ngày), lưu vực Đông Sài Gòn (công suất 350.000 m3/ngày), lưu vực Bắc Sài Gòn I (công suất 170.000 m3/ngày), lưu vực Bắc Sài Gòn II (công suất 130.000 m3/ngày), lưu vực Tham Lương – Bến Cát (công suất 250.000 m3/ngày), lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè (công suất 500.000 m3/ngày), lưu vực Bình Tân (công suất 180.000 m3/ngày), lưu vực rạch Cầu Dừa (công suất 100.000 m3/ngày) và lưu vực Tây – Bắc thành phố (công suất 130.000 m3/ngày).
- Chất thải rắn:
+ Tổ chức hệ thống thu gom hợp lý và xây dựng khu xử lý chất thải rắn áp dụng công nghệ tái chế, tái sử dụng, hạn chế chôn lấp;
+ Chỉ tiêu rác thải sinh hoạt bao gồm cả thương mại, dịch vụ, y tế: 1,2 kg/người/ngày cho khu vực nội thành và 1,0kg/người/ngày cho khu vực ngoại thành; công nghiệp: 0,5 tấn/ha ngày. Tổng lượng rác thải: khoảng 15.400 tấn/ngày, trong đó rác thải sinh hoạt chiếm hơn 70%;
+ Các công trình đầu mối: cải tạo nâng cấp khu Liên hợp xử lý chất thải rắn (sinh hoạt và công nghiệp) tại Phước Hiệp, huyện Củ Chi với diện tích 690 ha (nâng công suất lên 8.000 tấn/ngày), khu Liên hợp xử lý rác và nghĩa trang Đa Phước, Bình Chánh diện tích 258 ha (cho xử lý rác 200 ha) và khu xử lý rác y tế Bình Hưng Hòa (07 tấn/ngày). Xây dựng mới khu xử lý rác y tế Linh Xuân-Thủ Đức, Đa Phước – Bình Chánh khoảng 20 tấn/ngày; khu Tân Thành, Thủ Thừa, Long An diện tích 1.760 ha (trong đó thành phố Hồ Chí Minh sử dụng 1.000 ha).
- Nghĩa trang:
+ Đất cho nghĩa trang đáp ứng nhu cầu thực tế với tỷ lệ chôn cất 60% (năm 2015) và 40% (năm 2025). Khuyến khích sử dụng hình thức hỏa táng và đầu tư xây dựng các nhà hỏa táng tại các nghĩa trang xây dựng mới theo hướng công viên nghĩa trang;
+ Các địa điểm dự kiến xây dựng nghĩa trang: cải tạo nâng cấp nghĩa trang Đa Phước diện tích 67,5 ha, nghĩa trang Thành phố tại Củ Chi diện tích 105 ha, nghĩa trang Liệt sỹ tại quận 9 diện tích 25 ha. Xây dựng mới các nghĩa trang Long Thạnh Mỹ, tại quận 9 diện tích khoảng 6 ha, nghĩa trang Đông Thạnh tại huyện Hóc Môn diện tích 10 ha, nghĩa trang Nhơn Đức tại huyện Nhà Bè diện tích 50 ha và thêm một nghĩa trang ở Củ Chi diện tích khoảng 100 ha; sử dụng 2 nghĩa trang của Vùng: nghĩa trang công viên tỉnh Bình Dương, diện tích 190 ha phục vụ khu vực Đông – Bắc thành phố và nghĩa trang Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai diện tích 100 ha, phục vụ khu vực Đông – Nam thành phố.
e) Đánh giá môi trường chiến lược:
- Khai thác sử dụng hợp lý có hiệu quả đất đai và nguồn lực tự nhiên:
+ Khai thác, sử dụng đất đai: phải thực hiện đúng mục đích, quy mô và tuân thủ chặt chẽ tiêu chí, chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật đã quy định trong các quy hoạch chuyên ngành phù hợp với quy hoạch tổng thể, kế hoạch sử dụng đất từng thời kỳ trên địa bàn thành phố, quận và huyện;
+ Khai thác các nguồn lực tự nhiên: khai thác các nguồn lực tự nhiên thông qua đầu tư, phát triển phải thực hiện đồng bộ, tập trung đúng theo quy hoạch phát triển chuyên ngành, tuân thủ chặt chẽ quy trình kỹ thuật, công nghệ và các giải pháp bảo vệ môi trường.
- Bảo vệ hệ sinh thái rừng phòng hộ và rừng ngập mặn:
+ Khôi phục và bảo vệ hệ sinh thái rừng tự nhiên và thảm xanh hiện hữu tại huyện Hóc Môn, Bình Chánh và đặc biệt rừng ngập mặn tại khu dự trữ sinh quyển tại huyện Cần Giờ. Duy trì và ổn định vùng trồng cây công – nông nghiệp tại Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè;
+ Khoanh vùng đất bảo vệ khu vực dọc sông: phát triển thảm thực vật tại các khu vực dọc theo sông Đồng Nai, sông Sài Gòn để phòng hộ và bảo vệ nguồn nước ngọt và nước ngầm. Nghiêm cấm xây dựng các loại hình công nghiệp độc hại như dệt, nhuộm, giấy, thuộc da; công nghiệp nặng như sắt, thép, công nghiệp sản xuất xe gắn máy, xe ô tô, …. trong vùng nước ngọt của hai sông này. Dọc theo bờ sông từ biên mặn trở lên, các khu công nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp phải có hệ thống xử lý nước thải và phải bảo đảm khoảng cách ly xây dựng để kiểm soát nước thải và dễ xử lý khi có sự cố.
- Khai thác và sử dụng nguồn nước:
+ Nguồn nước mặt: khai thác nguồn nước mặt từ các sông Đông Nai, sông Sài Gòn và các hồ chứa Dầu Tiếng, Trị An, Phước Hòa đúng theo quy hoạch cân bằng nguồn nước và tuân thủ quy trình kỹ thuật. Nghiêm cấm xây dựng các nhà máy công nghiệp xả nước thải độc hại trong vùng bảo vệ nguồn nước;
+ Nguồn nước ngầm: đánh giá trữ lượng để quy hoạch khai thác sử dụng hợp lý, đúng quy trình kỹ thuật … phân bổ hợp lý, hạn chế sử dụng nguồn nước ngầm, không khai thác tập trung trên từng khu vực, với thời gian liên tục quá mức, dẫn đến cạn kiệt, hạ thấp mực nước ngầm, làm suy giảm trữ lượng và kéo theo các tác động khác không kiểm soát được, suy giảm chất lượng môi trường.
- Kiểm soát hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản:
+ Quy hoạch và kiện toàn hệ thống các trung tâm, các trạm bảo vệ thực vật bảo đảm khả năng kiểm soát đầu vào và đầu ra trong hoạt động sử dụng phân bón và các hóa chất bảo vệ thực vật;
+ Thành lập hệ thống bảo vệ thủy, hải sản bên cạnh hệ thống thú y, hệ thống bảo vệ gia súc, gia cầm, thủy cầm bảo đảm khả năng kiểm soát chất lượng nước đầu vào, đầu ra, các loại vacxin và các loại thuốc chữa bệnh.
- Xây dựng hệ thống quản lý môi trường:
+ Xây dựng hệ thống giám sát, phân tích, đánh giá khách quan hiệu quả môi trường;
+ Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong công tác quản lý môi trường.

Content:
Định hướng phát triển hạ tầng kỹ thuật:
a) Hệ thống giao thông:
- Giao thông đối ngoại:
+ Giao thông đường bộ: trục giao thông xây dựng theo tiêu chuẩn đường cao tốc đô thị. Bao gồm: 3 đường vành đai (các vành đai số 2, số 3 và số 4); các trục hướng tâm đối ngoại: trục thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu (Xa lộ Hà Nội); trục thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây; trục thành phố Hồ Chí Minh - Thủ Dầu Một - Chơn Thành (quốc lộ 13); trục quốc lộ 1K - Bình Phước; trục thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài (2 tuyến); trục cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương - Cần Thơ; trục quốc lộ 1 phía Tây; trục thành phố Hồ Chí Minh - Long An (tỉnh lộ 10); trục thành phố Hồ Chí Minh - Gò Công (quốc lộ 50);
+ Giao thông đường sắt quốc gia: cải tạo, nâng cấp tuyến đường sắt Thống Nhất (Bắc Nam) khu vực thành phố Hồ Chí Minh đoạn Trảng Bom - Bình Triệu, trong đó xây dựng tuyến tránh Biên Hòa về phía Nam và xây dựng mới đoạn đường sắt trên cao (hoặc đi ngầm) Bình Triệu - Hòa Hưng - Tân Kiên; xây dựng mới 2 tuyến đường sắt đi Biên Hòa và Lộc Ninh; tuyến đường sắt đôi điện khí hóa cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Nha Trang kết nối tại ga Thủ Thiêm dự kiến. Xây dựng mới tuyến đường sắt chuyên dụng từ đường sắt quốc gia tới cảng Cát Lái và Hiệp Phước. Tổng cộng có 6 tuyến với tổng chiều dài khoảng 226km;
+ Giao thông đường thủy: cải tạo, nạo vét để đảm bảo lưu thông cho hai luồng sông Lòng Tàu và sông Soài Rạp ra biển; bốn luồng sông đi các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; một luồng đi Bến Súc, đảm bảo đạt tiêu chuẩn sông cấp III;
Các cảng biển phải di dời là Tân Cảng, Xí nghiệp liên hiệp Ba Son, cảng Nhà Rồng và Khánh Hội thuộc cảng Sài Gòn, cảng Tân Thuận Đông, cảng Rau quả và cảng Bến Nghé. Đầu tư xây dựng phát triển khu cảng Cát Lái, cảng Hiệp Phước. Tổng công suất cụm cảng khu vực thành phố Hồ Chí Minh dự kiến năm 2010 khoảng 76 triệu tấn/năm; năm 2020 - 2025 khoảng 200 triệu tấn/năm.
+ Giao thông đường không: Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất sẽ trở thành điểm trung chuyển hàng không của khu vực và thế giới; cải tạo, nâng công suất khoảng 20 triệu hành khách/năm. Phát triển kết cấu hạ tầng cho sân bay đủ khả năng tiếp nhận các máy bay hiện đại hoạt động 24/24 giờ. Xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành (tỉnh Đồng Nai) với công suất 100 triệu hành khách/năm.
- Giao thông đối nội:
+ Đường đô thị:
- Đối với các quận nội thành cũ các trục giao thông giữ nguyên mặt cắt ngang hiện hữu chỉ cải tạo, nâng cấp mặt đường đảm bảo lưu thông cho các loại phương tiện;
- Đối với các khu đô thị mới tại các quận mới và huyện ngoại thành khi xây dựng phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn thiết kế mặt cắt ngang đường theo cấp và loại đường đô thị.
Cụ thể: nâng cấp, mở rộng và hoàn thiện các tuyến tỉnh lộ hướng tâm nhằm hỗ trợ cho các trục hướng tâm đối ngoại và hoàn thiện các đường chính nội đô cấp I, II. Xây dựng 4 tuyến đường trên cao. Xây dựng mới 19 cầu đường bộ vượt sông Đồng Nai, Sài Gòn, Nhà Bè, Lòng Tàu, Thị Vải (trong đó bổ sung cầu Bình Quới, Thanh Đa sang Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức) và hầm qua sông Sài Gòn (hầm đường bộ và hầm metro). Cải tạo bến, bãi hiện có và xây dựng các bến bãi mới để hình thành mạng lưới giao thông tĩnh, đáp ứng yêu cầu đỗ xe. Xây dựng các bến xe tải chuyển tiếp hàng hóa ở cửa ngõ ra vào thành phố với diện tích 243ha. Xây dựng các bãi đậu xe ngầm tại công viên Lê Văn Tám, Chi Lăng; sân vận động Hoa Lư, sân bóng đá Tao Đàn, khu vực đường Nguyễn Du và Cách mạng Tháng Tám,…. và các bãi đỗ xe cao tầng.
+ Đường sắt đô thị: kết hợp sử dụng các tuyến đường sắt quốc gia cho chạy tàu ngoại ô và xây dựng 2 tuyến đường sắt nhẹ: tuyến Trảng Bàng - Tân Thới Hiệp, kết nối tại ga Tân Thới Hiệp; tuyến Thủ Thiêm - Nhơn Trạch - Cảng hàng không quốc tế Long Thành, kết nối tại ga Thủ Thiêm.
Xây dựng hệ thống đường sắt đô thị chuyên chở khối lượng lớn hoặc trung bình (MRT/LRT) gồm 06 tuyến với tổng chiều dài khoảng 120 km và 07 khu ga kỹ thuật. Xây dựng 03 tuyến đường sắt đô thị loại hình khác nhau như: xe điện chạy trên mặt đất (tramway), đường sắt một ray tự động dẫn hướng đi trên cao (monorail) với tổng chiều dài 35km và 03 khu ga kỹ thuật. Các nhà ga đường sắt đô thị, đặc biệt các ga ngầm và ga chuyển tàu sẽ kết hợp hình thành các khu trung tâm thương mại - dịch vụ theo quy hoạch đô thị; phát triển các tuyến đường sắt đô thị chuyên chở khối lượng lớn đến khu cảng Hiệp Phước, huyện Nhà Bè, đến khu đô thị Tây - Bắc, huyện Củ Chi và ra cảng hàng không Quốc tế Long Thành dự kiến;
+ Giao thông đường thủy: cải tạo, nạo vét để bảo đảm lưu thông cho hai tuyến vành đai thủy đạt tiêu chuẩn kênh sông cấp IV, V. Xây dựng các cảng sông là cảng hàng hóa, gồm cảng Phú Định tại quận 8, cảng Nhơn Đức tại huyện Nhà Bè; cảng hành khách tại quận 4, quận 7 và huyện Nhà Bè.
b) Chuẩn bị kỹ thuật:
- Quy hoạch chiều cao đất xây dựng:
Tùy theo vị trí các khu vực của thành phố, cao độ nền khống chế được quy định như sau:
+ Đối với khu nội thành hiện hữu gồm 13 quận cũ: toàn bộ khu vực nằm trong vùng bờ hữu sông Sài Gòn - Nhà Bè thuộc hệ thống đê bao cống điều tiết khép kín, cao độ mặt đê thay đổi từ 2,5 m đến 3,0m; cao độ xây dựng khống chế Hxd ≥ 2,00m. Cao độ nền xây dựng từng khu vực được tính toán phù hợp với cao độ xây dựng khống chế toàn khu vực, bảo đảm nền không bị ngập, không bị sạt lở. Giữ nguyên nền đất hiện hữu, chú trọng việc hoàn thiện mặt phủ đồng thời với các biện pháp quy hoạch và quản lý đô thị nhằm nâng cao diện tích cây xanh, thảm cỏ (đối với khu không chịu ảnh hưởng triều); tôn nền các khu vực có thể giải tỏa và xây dựng tập trung, còn lại chủ yếu sử dụng các biện pháp mang tính cục bộ để bảo vệ nền đất như xây đê; nâng cao mặt đường; lắp đặt van đóng mở một chiều …. (đối với khu chịu ảnh hưởng triều);
+ Đối với khu nội thành phát triển gồm 6 quận mới: đối với quận 7, quận 12, quận Bình Tân thuộc vùng bờ hữu sông Sài Gòn - Nhà Bè, cao độ xây dựng khống chế Hxd ≥ 2,00m; đối với 3 quận 2, quận 9, quận Thủ Đức thuộc vùng bờ tả sông Sài Gòn - Nhà Bè, cao độ xây dựng khống chế Hxd ≥ 2,00m (đối với khu vực nằm trong đê bao) và Hxd ≥ 2,50m (đối với khu vực nằm ngoài đê bao). San, đắp phù hợp với cao độ khống chế, kết hợp tận dụng địa hình tự nhiên, giữ lại sông, rạch để hỗ trợ tiêu thoát nước và tạo cảnh quan cho đô thị;
+ Đối với các khu dân cư nông thôn và khu đô thị mới tại 5 huyện ngoại thành: 04 huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh và Nhà Bè thuộc vùng bờ hữu sông Sài Gòn - Nhà Bè, cao độ xây dựng khống chế Hxd ≥ 2,00 m; giải pháp quy hoạch chiều cao đất xây dựng như khu nội thành hiện hữu. Tại huyện Cần Giờ thuộc vùng bờ tả sông Nhà Bè - Soài Rạp: cao độ xây dựng khống chế trong đê Hxd ≥ 2,00m, không xây dựng mới những khu vực ngoài đê. Trước mắt sử dụng hệ thống đê bao nhỏ và đê biển để chống ngập úng. Không thay đổi môi trường, làm gia tăng dòng chảy mặt, phù hợp với quy hoạch thủy lợi, bảo đảm thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu.
- Quy hoạch hệ thống thoát nước mưa:
+ Cải tạo, xây dựng hệ thống thoát nước mưa, tại khu vực nội thành cũ vẫn sử dụng hệ thống cống chung thoát nước mưa và nước thải; tại các khu vực xây dựng mới sử dụng hệ thống thoát nước mưa, nước thải riêng;
+ Đối với toàn bộ khu nội thành hiện hữu, 3 quận mới là quận 7, quận 12, quận Bình Tân và 4 huyện ngoại thành: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh và Nhà Bè thuộc vùng bờ hữu sông Sài Gòn - Nhà Bè: hoàn thiện hệ thống thoát nước mưa và tách nước thải ra khỏi hệ thống cống chung, nạo vét mở rộng kênh rạch kết hợp với các giải pháp cục bộ để xóa các điểm ngập (xây đê tạm, nâng cao mặt đường, lắp đặt cửa van đóng mở một chiều, bố trí các trạm bơm tiêu…);
+ Đối với 3 quận mới là quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức thuộc vùng bờ tả sông Sài Gòn - Nhà Bè: bố trí hệ thống thoát nước mưa riêng với mạng lưới mương, cống đủ khả năng tiêu thoát nước theo các lưu vực với điều kiện thủy văn đã tính khống chế, bố trí các hồ điều tiết tại những nơi có địa hình cao, giữ tối đa các khu đất ngập nước tại những nơi có địa hình thấp. Chú trọng chỉ tiêu cây xanh, thảm cỏ theo quy định, giảm sự gia tăng dòng chảy mặt;
+ Đối với huyện Cần Giờ thuộc vùng bờ tả sông Nhà Bè - Soài Rạp: giữ lại toàn bộ hệ thống sông rạch và phát triển thêm cây xanh ven bờ để gia tăng khả năng điều tiết, không xây dựng các công trình tiêu thoát nước lớn (chỉ bố trí hệ thống thoát nước cho các cụm dân cư nhỏ trong khu vực);
+ Bảo đảm hành lang chỉ giới bảo vệ sông rạch theo quy định quản lý thủy giới.
c) Cấp nước:
- Chỉ tiêu cấp nước: chỉ tiêu cấp nước sinh hoạt 200 lít/người ngày đêm; cấp nước công nghiệp 50m3/ha ngày đêm được tính trên diện tích đất xây dựng (70% đất khu công nghiệp); dịch vụ công cộng và các chỉ tiêu cấp nước đô thị khác khoảng 38 - 40% chỉ tiêu cấp nước sinh hoạt; giảm tỷ lệ thất thoát nước xuống dưới 30%;
- Nhu cầu dùng nước: tổng nhu cầu dùng nước của thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2015 khoảng 3.200.000 m3/ngày đêm; đến năm 2025 khoảng 4.100.000 m3/ngày;
- Nguồn nước: được cân đối trong nguồn nước cấp của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (chiếm khoảng 60% toàn Vùng), chủ yếu sử dụng nguồn nước mặt trực tiếp từ hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn, hồ Trị An, hồ Dầu Tiếng, hồ Phước Hòa và kênh Đông, hạn chế sử dụng nguồn nước ngầm;
- Mạng lưới đường ống cấp nước chính:
+ Các tuyến ống nước thô: xây dựng thêm khoảng 5-7 tuyến ống nước thô D 1.500 - D 2.400 với tổng chiều dài khoảng 100km, bao gồm: hai tuyến ống D 2.400, từ trạm bơm Hóa An (sông Đồng Nai) về Nhà máy nước Thủ Đức; hai tuyến D 2.000, từ hồ Dầu Tiếng về Nhà máy nước kênh Đông, tiếp nối tuyến ống D 1.500, dài 11,5 km về Nhà máy nước Tân Hiệp; hai tuyến ống D 2.000, dài 42 km từ hồ Trị An về Nhà máy nước Thủ Đức và quận 9; tiếp tục phối hợp với các tỉnh lân cận nghiên cứu sử dụng có hiệu quả nguồn nước từ hồ Phước Hòa;
+ Các tuyến ống chuyển tải và mạng cấp I: được bố trí theo các trục đường chính đô thị theo hướng xuyên tâm Đông - Tây và Bắc - Nam khoảng 15 - 18 tuyến có kích thước D 800 - D 2.400 với tổng chiều dài 330 km - 350 km.
- Các công trình đầu mối: cải tạo nâng cấp Nhà máy nước Thủ Đức (nâng công suất lên 2.000.000 m3/ngày vào năm 2025), Nhà máy nước Bình An (công suất 100.000 m3/ngày), Nhà máy nước Tân Hiệp (nâng công suất lên 600.000 m3/ngày), Nhà máy nước kênh Đông (tổng công suất 700.000 m3/ngày), các Nhà máy nước ngầm với tổng công suất khoảng 140.000 m3/ngày; xây dựng thêm Nhà máy nước quận 9 (công suất 900.000 m3/ngày), phối hợp với các tỉnh lân cận xây dựng các nhà máy nước phục vụ liên vùng để sử dụng hiệu quả các nguồn nước.
d) Cấp điện:
- Chỉ tiêu cấp điện: cấp điện sinh hoạt 2.500 - 3.000 KWh/người; cấp cho công nghiệp khoảng 400KW/ha; cấp cho các hoạt động dịch vụ, thương mại khoảng 80-90% tiêu chuẩn cấp điện sinh hoạt.
- Nhu cầu sử dụng điện: nhu cầu điện năng tiêu thụ: 68,9 tỷ KWh/năm, điện năng nhận lưới: 73,72 tỷ KWh/năm, phụ tải cực đại Pmax = 11.580 MW, điện năng tiêu thụ bình quân: 6.890 KWh/người năm;
- Nguồn điện:
+ Nguồn điện cấp cho thành phố Hồ Chí Minh là các nhà máy điện hiện có trên địa bàn thành phố: nhiệt điện Thủ Đức, nhiệt điện Hiệp Phước và hệ thống điện miền Nam thông qua hệ thống truyền tải 500 KV, 220 KV, 110 KV;
+ Nguồn điện cấp cho thành phố Hồ Chí Minh đảm bảo đủ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, có dự phòng, chất lượng tốt, độ tin cậy cao;
+ Để đảm bảo phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, thành phố cần có chính sách phát triển các nguồn năng lượng tái tạo như: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, khí sinh học, khí bãi rác…;
+ Lưới điện trung hạ thế cải tạo và xây dựng mới ở khu vực nội thành, khu đô thị mới phải sử dụng cáp đi ngầm để đảm bảo an toàn và mỹ quan cho đô thị.
- Lưới điện:
+ Phát triển và cải tạo lưới điện thành phố Hồ Chí Minh đảm bảo tính hiện đại, độ tin cậy cao, bảo đảm an toàn và mỹ quan đô thị, từng bước hạ ngầm mạng lưới cấp điện Thành phố, đặc biệt lưới điện cải tạo và xây dựng mới ở khu nội thành, khu đô thị mới phải sử dụng cáp đi ngầm;
+ Lưới 500 KV: cải tạo nâng cấp 2 trạm 500KV hiện hữu, xây dựng thêm 3 trạm 500KV là Cầu Bông, Thủ Đức Bắc, Củ Chi; với tổng công suất đặt các trạm 500KV là 10.800 MVA;
+ Lưới 220KV: cải tạo nâng công suất 6 trạm 220KV hiện hữu, xây dựng thêm 22 trạm 220KV; với tổng công suất đặt các trạm 220KV là 19.000MVA;
+ Lưới 110 KV: cải tạo nâng công suất 42 trạm 110 KV hiện hữu, xây dựng mới các trạm 110KV; với tổng công suất đặt các trạm 110KV khoảng 20.400 MVA, đáp ứng nhu cầu phụ tải phát triển của Thành phố.
- Các công trình đầu mối:
+ Cải tạo nâng cấp các nhà máy điện hiện có trên địa bàn thành phố: nhiệt điện Thủ Đức (công suất 165MW), Gasturbin Thủ Đức (công suất 128 MW), nhiệt điện Hiệp Phước (nâng công suất lên 675 MW);
+ Các nhà máy điện, các trạm nguồn 500KV không xây dựng ở khu vực nội thành và các khu đô thị mới; các trạm 220 KV, 110 KV, các tuyến điện cao thế 220 KV, 110 KV xây dựng trong khu nội thành, khu đô thị mới phải sử dụng cáp cách điện đi ngầm và trạm kín.
đ) Thoát nước thải, thu gom, xử lý chất thải rắn và nghĩa trang:
- Thoát nước thải:
+ Tiêu chuẩn thải nước: lấy theo tiêu chuẩn cấp nước tương ứng với từng đối tượng; lượng nước ngấm vào hệ thống cống: 10% lưu lượng trung bình ngày. Tổng lượng nước thải 3,15 – 3,2 triệu m3/ngày, trong đó nước thải công nghiệp 0,32 – 0,35 triệu m3/ngày;
+ Sử dụng hệ thống cống chung cho khu vực nội thành hiện hữu (kết hợp sử dụng giếng tách dòng và hệ thống cống bao để tách và thu gom nước thải) và hệ thống thoát nước riêng cho các khu đô thị mới; các khu vực nằm trong lưu vực thoát nước thải là khu vực nội thành và các khu đô thị mới với mật độ dân số cao (≥ 200 người/ha), các khu vực còn lại có mật độ dân số thấp (< 200 người/ha) sẽ phát triển hệ thống thu gom và xử lý nước thải theo từng cụm dân cư nhỏ. Nước thải sinh hoạt sau xử lý phải đạt theo quy chuẩn quy định; nước thải sản xuất từ tiểu thủ công nghiệp, hộ gia đình xen cài trong khu dân cư phải đạt chất lượng loại C theo quy chuẩn quy định trước khi xả vào hệ thống cống để đưa đi xử lý chung với nước thải sinh hoạt. Nước thải công nghiệp không đưa về các nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt, phải được xử lý riêng trong từng khu công nghiệp và đạt chất lượng loại A theo quy chuẩn quy định trước khi thải ra kênh rạch hoặc cống thoát nước mưa;
+ Phân vùng thoát nước thải: khu vực có mật độ dân cư tập trung cao bao gồm khu vực nội thành hiện hữu và khu nội thành phát triển và các khu đô thị mới sẽ phân chia thành 12 lưu vực thoát nước thải, trong đó khu vực nội thành cũ có 4 lưu vực, khu vực nội thành phát triển và ngoại thành (khu vực phát triển đô thị mới) có 08 lưu vực; nước thải trong khu vực nằm ngoài các lưu vực được nêu trên, sẽ được thu gom và xử lý theo từng khu vực có quy mô nhỏ. Vị trí của các trạm xử lý nước thải khu vực sẽ được xác định trong đồ án quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chi tiết;
+ Các công trình đầu mối: xây dựng, hoàn thiện 12 nhà máy xử lý nước thải tập trung cho lưu vực Tàu Hũ – Bến Nghé – Đôi – Tẻ (nâng công suất lên 512.000 m3/ngày vào năm 2025), lưu vực Tây Sài Gòn (công suất 120.000 m3/ngày), Tân Hóa – Lò Gốm (công suất 300.000 m3/ngày), lưu vực Nam Sài Gòn (công suất 170.000 m3/ngày), lưu vực Đông Sài Gòn (công suất 350.000 m3/ngày), lưu vực Bắc Sài Gòn I (công suất 170.000 m3/ngày), lưu vực Bắc Sài Gòn II (công suất 130.000 m3/ngày), lưu vực Tham Lương – Bến Cát (công suất 250.000 m3/ngày), lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè (công suất 500.000 m3/ngày), lưu vực Bình Tân (công suất 180.000 m3/ngày), lưu vực rạch Cầu Dừa (công suất 100.000 m3/ngày) và lưu vực Tây – Bắc thành phố (công suất 130.000 m3/ngày).
- Chất thải rắn:
+ Tổ chức hệ thống thu gom hợp lý và xây dựng khu xử lý chất thải rắn áp dụng công nghệ tái chế, tái sử dụng, hạn chế chôn lấp;
+ Chỉ tiêu rác thải sinh hoạt bao gồm cả thương mại, dịch vụ, y tế: 1,2 kg/người/ngày cho khu vực nội thành và 1,0kg/người/ngày cho khu vực ngoại thành; công nghiệp: 0,5 tấn/ha ngày. Tổng lượng rác thải: khoảng 15.400 tấn/ngày, trong đó rác thải sinh hoạt chiếm hơn 70%;
+ Các công trình đầu mối: cải tạo nâng cấp khu Liên hợp xử lý chất thải rắn (sinh hoạt và công nghiệp) tại Phước Hiệp, huyện Củ Chi với diện tích 690 ha (nâng công suất lên 8.000 tấn/ngày), khu Liên hợp xử lý rác và nghĩa trang Đa Phước, Bình Chánh diện tích 258 ha (cho xử lý rác 200 ha) và khu xử lý rác y tế Bình Hưng Hòa (07 tấn/ngày). Xây dựng mới khu xử lý rác y tế Linh Xuân-Thủ Đức, Đa Phước – Bình Chánh khoảng 20 tấn/ngày; khu Tân Thành, Thủ Thừa, Long An diện tích 1.760 ha (trong đó thành phố Hồ Chí Minh sử dụng 1.000 ha).
- Nghĩa trang:
+ Đất cho nghĩa trang đáp ứng nhu cầu thực tế với tỷ lệ chôn cất 60% (năm 2015) và 40% (năm 2025). Khuyến khích sử dụng hình thức hỏa táng và đầu tư xây dựng các nhà hỏa táng tại các nghĩa trang xây dựng mới theo hướng công viên nghĩa trang;
+ Các địa điểm dự kiến xây dựng nghĩa trang: cải tạo nâng cấp nghĩa trang Đa Phước diện tích 67,5 ha, nghĩa trang Thành phố tại Củ Chi diện tích 105 ha, nghĩa trang Liệt sỹ tại quận 9 diện tích 25 ha. Xây dựng mới các nghĩa trang Long Thạnh Mỹ, tại quận 9 diện tích khoảng 6 ha, nghĩa trang Đông Thạnh tại huyện Hóc Môn diện tích 10 ha, nghĩa trang Nhơn Đức tại huyện Nhà Bè diện tích 50 ha và thêm một nghĩa trang ở Củ Chi diện tích khoảng 100 ha; sử dụng 2 nghĩa trang của Vùng: nghĩa trang công viên tỉnh Bình Dương, diện tích 190 ha phục vụ khu vực Đông – Bắc thành phố và nghĩa trang Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai diện tích 100 ha, phục vụ khu vực Đông – Nam thành phố.
e) Đánh giá môi trường chiến lược:
- Khai thác sử dụng hợp lý có hiệu quả đất đai và nguồn lực tự nhiên:
+ Khai thác, sử dụng đất đai: phải thực hiện đúng mục đích, quy mô và tuân thủ chặt chẽ tiêu chí, chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật đã quy định trong các quy hoạch chuyên ngành phù hợp với quy hoạch tổng thể, kế hoạch sử dụng đất từng thời kỳ trên địa bàn thành phố, quận và huyện;
+ Khai thác các nguồn lực tự nhiên: khai thác các nguồn lực tự nhiên thông qua đầu tư, phát triển phải thực hiện đồng bộ, tập trung đúng theo quy hoạch phát triển chuyên ngành, tuân thủ chặt chẽ quy trình kỹ thuật, công nghệ và các giải pháp bảo vệ môi trường.
- Bảo vệ hệ sinh thái rừng phòng hộ và rừng ngập mặn:
+ Khôi phục và bảo vệ hệ sinh thái rừng tự nhiên và thảm xanh hiện hữu tại huyện Hóc Môn, Bình Chánh và đặc biệt rừng ngập mặn tại khu dự trữ sinh quyển tại huyện Cần Giờ. Duy trì và ổn định vùng trồng cây công – nông nghiệp tại Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè;
+ Khoanh vùng đất bảo vệ khu vực dọc sông: phát triển thảm thực vật tại các khu vực dọc theo sông Đồng Nai, sông Sài Gòn để phòng hộ và bảo vệ nguồn nước ngọt và nước ngầm. Nghiêm cấm xây dựng các loại hình công nghiệp độc hại như dệt, nhuộm, giấy, thuộc da; công nghiệp nặng như sắt, thép, công nghiệp sản xuất xe gắn máy, xe ô tô, …. trong vùng nước ngọt của hai sông này. Dọc theo bờ sông từ biên mặn trở lên, các khu công nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp phải có hệ thống xử lý nước thải và phải bảo đảm khoảng cách ly xây dựng để kiểm soát nước thải và dễ xử lý khi có sự cố.
- Khai thác và sử dụng nguồn nước:
+ Nguồn nước mặt: khai thác nguồn nước mặt từ các sông Đông Nai, sông Sài Gòn và các hồ chứa Dầu Tiếng, Trị An, Phước Hòa đúng theo quy hoạch cân bằng nguồn nước và tuân thủ quy trình kỹ thuật. Nghiêm cấm xây dựng các nhà máy công nghiệp xả nước thải độc hại trong vùng bảo vệ nguồn nước;
+ Nguồn nước ngầm: đánh giá trữ lượng để quy hoạch khai thác sử dụng hợp lý, đúng quy trình kỹ thuật … phân bổ hợp lý, hạn chế sử dụng nguồn nước ngầm, không khai thác tập trung trên từng khu vực, với thời gian liên tục quá mức, dẫn đến cạn kiệt, hạ thấp mực nước ngầm, làm suy giảm trữ lượng và kéo theo các tác động khác không kiểm soát được, suy giảm chất lượng môi trường.
- Kiểm soát hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản:
+ Quy hoạch và kiện toàn hệ thống các trung tâm, các trạm bảo vệ thực vật bảo đảm khả năng kiểm soát đầu vào và đầu ra trong hoạt động sử dụng phân bón và các hóa chất bảo vệ thực vật;
+ Thành lập hệ thống bảo vệ thủy, hải sản bên cạnh hệ thống thú y, hệ thống bảo vệ gia súc, gia cầm, thủy cầm bảo đảm khả năng kiểm soát chất lượng nước đầu vào, đầu ra, các loại vacxin và các loại thuốc chữa bệnh.
- Xây dựng hệ thống quản lý môi trường:
+ Xây dựng hệ thống giám sát, phân tích, đánh giá khách quan hiệu quả môi trường;
+ Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong công tác quản lý môi trường.