Document: Điểm c Khoản 3 Điều 1 Quyết định 109/QĐ-UBND 2018 phê duyệt Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng Quảng Ngãi

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "23/01/2018", "sign_number": "109/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Tăng Bính", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "23/01/2018", "sign_number": "109/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Tăng Bính", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "23/01/2018", "sign_number": "109/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Tăng Bính", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "23/01/2018", "sign_number": "109/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Tăng Bính", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "23/01/2018", "sign_number": "109/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Tăng Bính", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 3 Điều 1 Quyết định 109/QĐ-UBND 2018 phê duyệt Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng Quảng Ngãi

Điều 1. : Phê duyệt Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng thành phố Quảng Ngãi đến năm 2020, với các nội dung chủ yếu sau:
...
3. Tổng hợp vốn đầu tư và hiệu quả
...
c) Hiệu quả
- Hiệu quả kinh tế: Thông qua khoán quản lý bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng rừng, chăm sóc rừng, tham gia ngày công lao động trong chế biến lâm sản, xây dựng công trình hạ tầng lâm nghiệp và các chính sách hỗ trợ trong sản xuất lâm nghiệp của Nhà nước, từng bước tạo nguồn thu nhập ổn định cho các hộ gia đình tham gia sản xuất lâm nghiệp, nâng cao đời sống. Bình quân hàng năm có khoảng 1.760 lao động tham gia nghề rừng có thu nhập qua công lao động khoảng 42 triệu đồng/năm/người (áp dụng hệ số lương bình quân lao động nghề rừng 2,34 và mức lương cơ bản tối thiểu chung 1.300.000 đồng/tháng).
- Hiệu quả về môi trường: Góp phần bảo tồn hệ sinh thái rừng, cải thiện môi trường cảnh quan đô thị, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; nâng tỷ lệ độ che phủ của rừng lên 15% vào năm 2020; hạn chế thiên tai, bảo vệ các khu dân cư ven biển, đất sản xuất nông nghiệp và các công trình hạ tầng trọng điểm của tỉnh...
- Hiệu quả về xã hội, an ninh quốc phòng:
+ Góp phần giải quyết việc làm cho gần 1.760 lao động/năm ở vùng nông thôn, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống người dân.
+ Góp phần xây dựng vùng dân cư kinh tế ổn định, xây dựng vùng nông thôn mới phù hợp với điều kiện sản xuất mới.
+ Góp phần hạn chế tình trạng chặt phá rừng phát nương, làm rẫy, ổn định dân cư, giữ vững trật tự an ninh - chính trị và chủ quyền quốc gia.

Content:
Hiệu quả
- Hiệu quả kinh tế: Thông qua khoán quản lý bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng rừng, chăm sóc rừng, tham gia ngày công lao động trong chế biến lâm sản, xây dựng công trình hạ tầng lâm nghiệp và các chính sách hỗ trợ trong sản xuất lâm nghiệp của Nhà nước, từng bước tạo nguồn thu nhập ổn định cho các hộ gia đình tham gia sản xuất lâm nghiệp, nâng cao đời sống. Bình quân hàng năm có khoảng 1.760 lao động tham gia nghề rừng có thu nhập qua công lao động khoảng 42 triệu đồng/năm/người (áp dụng hệ số lương bình quân lao động nghề rừng 2,34 và mức lương cơ bản tối thiểu chung 1.300.000 đồng/tháng).
- Hiệu quả về môi trường: Góp phần bảo tồn hệ sinh thái rừng, cải thiện môi trường cảnh quan đô thị, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; nâng tỷ lệ độ che phủ của rừng lên 15% vào năm 2020; hạn chế thiên tai, bảo vệ các khu dân cư ven biển, đất sản xuất nông nghiệp và các công trình hạ tầng trọng điểm của tỉnh...
- Hiệu quả về xã hội, an ninh quốc phòng:
+ Góp phần giải quyết việc làm cho gần 1.760 lao động/năm ở vùng nông thôn, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống người dân.
+ Góp phần xây dựng vùng dân cư kinh tế ổn định, xây dựng vùng nông thôn mới phù hợp với điều kiện sản xuất mới.
+ Góp phần hạn chế tình trạng chặt phá rừng phát nương, làm rẫy, ổn định dân cư, giữ vững trật tự an ninh - chính trị và chủ quyền quốc gia.