Document: Khoản 2 Điều 3 Quyết định 3704/2007/QĐ-UBND  mức thu chế độ thu nộp quản lý và sử dụng

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "08/10/2007", "sign_number": "3704/2007/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Nguyên Nhiệm", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "08/10/2007", "sign_number": "3704/2007/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Nguyên Nhiệm", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "08/10/2007", "sign_number": "3704/2007/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Nguyên Nhiệm", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "08/10/2007", "sign_number": "3704/2007/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Nguyên Nhiệm", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "08/10/2007", "sign_number": "3704/2007/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Nguyên Nhiệm", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 3 Quyết định 3704/2007/QĐ-UBND  mức thu chế độ thu nộp quản lý và sử dụng

Điều 3. Chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng tiền phí đấu thầu, đấu giá.
...
2. Việc quản lý, sử dụng tiền phí:
a. Đối với đơn vị thu phí là đơn vị sự nghiệp có chức năng tổ chức đấu thầu, bán đấu giá tài sản hoặc hội đồng đấu thầu, đấu giá tài sản: Phí đấu thầu, đấu giá là khoản thu thuộc ngân sách nhà nước, được quản lý, sử dụng như sau:
- Các đơn vị tổ chức đấu thầu được trích để lại 90% số tiền phí thu được để chi phí cho công tác tổ chức đấu thầu, còn lại 10% số tiền phí thu được nộp ngân sách nhà nước.
- Trung tâm đấu giá Tỉnh được trích để lại 90% số tiền phí thu được, còn lại 10% nộp ngân sách nhà nước.
- Các đơn vị khác tổ chức đấu giá tài sản được trích để lại 10%, còn lại 90% nộp ngân sách nhà nước.
b. Đối với đơn vị thu phí là doanh nghiệp bán đấu giá tài sản: Phí đấu giá thu được là khoản thu không thuộc ngân sách nhà nước. Tiền phí thu được là doanh thu của đơn vị thu phí. Đơn vị thu phí có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật đối với số phí thu được và có quyền quản lý, sử dụng số tiền thu phí sau khi đã nộp thuế theo quy định của pháp luật. Hàng năm, đơn vị thu phí phải thực hiện quyết toán thuế đối với số tiền phí thu được với cơ quan thuế theo quy định của pháp luật về thuế hiện hành.
c. Đối với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất theo quy định tại Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg: Hội đồng đấu giá được trích để lại 90% tổng số phí thu được để phục vụ cho công tác tổ chức đấu giá, số còn lại nộp ngân sách nhà nước. Trường hợp tiền thu phí đấu giá của người tham gia đấu giá không đủ bù đắp chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá thì ngân sách nhà nước hỗ trợ phần kinh phí còn thiếu đối với việc tổ chức bán đấu giá đó, theo nguyên tắc sau:
- Giá trị quyền sử dụng đất đấu giá là khoản thu thuộc ngân sách cấp nào (không phân biệt đấu giá thành hay không thành) thì ngân sách cấp đó có trách nhiệm đảm bảo kinh phí hỗ trợ; Cơ quan tài chính báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét phê duyệt cấp kinh phí bằng nguồn ngân sách nhà nước.
- Số tiền hỗ trợ là khoản chênh lệch giữa chi phí thực tế, hợp lý cho việc bán đấu giá (có hóa đơn, chứng từ hợp pháp) trừ đi số phí đấu giá thu được từ người tham gia đấu giá, nhưng không được vượt quá số phí đấu giá tính theo mức thu được quy định theo tiết a, điểm 2.1, khoản 2, Điều 1 Quyết định này.

Content:
Việc quản lý, sử dụng tiền phí:
a. Đối với đơn vị thu phí là đơn vị sự nghiệp có chức năng tổ chức đấu thầu, bán đấu giá tài sản hoặc hội đồng đấu thầu, đấu giá tài sản: Phí đấu thầu, đấu giá là khoản thu thuộc ngân sách nhà nước, được quản lý, sử dụng như sau:
- Các đơn vị tổ chức đấu thầu được trích để lại 90% số tiền phí thu được để chi phí cho công tác tổ chức đấu thầu, còn lại 10% số tiền phí thu được nộp ngân sách nhà nước.
- Trung tâm đấu giá Tỉnh được trích để lại 90% số tiền phí thu được, còn lại 10% nộp ngân sách nhà nước.
- Các đơn vị khác tổ chức đấu giá tài sản được trích để lại 10%, còn lại 90% nộp ngân sách nhà nước.
b. Đối với đơn vị thu phí là doanh nghiệp bán đấu giá tài sản: Phí đấu giá thu được là khoản thu không thuộc ngân sách nhà nước. Tiền phí thu được là doanh thu của đơn vị thu phí. Đơn vị thu phí có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật đối với số phí thu được và có quyền quản lý, sử dụng số tiền thu phí sau khi đã nộp thuế theo quy định của pháp luật. Hàng năm, đơn vị thu phí phải thực hiện quyết toán thuế đối với số tiền phí thu được với cơ quan thuế theo quy định của pháp luật về thuế hiện hành.
c. Đối với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất theo quy định tại Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg: Hội đồng đấu giá được trích để lại 90% tổng số phí thu được để phục vụ cho công tác tổ chức đấu giá, số còn lại nộp ngân sách nhà nước. Trường hợp tiền thu phí đấu giá của người tham gia đấu giá không đủ bù đắp chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá thì ngân sách nhà nước hỗ trợ phần kinh phí còn thiếu đối với việc tổ chức bán đấu giá đó, theo nguyên tắc sau:
- Giá trị quyền sử dụng đất đấu giá là khoản thu thuộc ngân sách cấp nào (không phân biệt đấu giá thành hay không thành) thì ngân sách cấp đó có trách nhiệm đảm bảo kinh phí hỗ trợ; Cơ quan tài chính báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét phê duyệt cấp kinh phí bằng nguồn ngân sách nhà nước.
- Số tiền hỗ trợ là khoản chênh lệch giữa chi phí thực tế, hợp lý cho việc bán đấu giá (có hóa đơn, chứng từ hợp pháp) trừ đi số phí đấu giá thu được từ người tham gia đấu giá, nhưng không được vượt quá số phí đấu giá tính theo mức thu được quy định theo tiết a, điểm 2.1, khoản 2, Điều 1 Quyết định này.