Document: Khoản 7 Điều 1 Quyết định 2777/QĐ-UBND 2015 Quy hoạch phát triển Thể dục Thể thao Hồ Chí Minh

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "10/06/2015", "sign_number": "2777/QĐ-UBND", "signer": "Hứa Ngọc Thuận", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "10/06/2015", "sign_number": "2777/QĐ-UBND", "signer": "Hứa Ngọc Thuận", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "10/06/2015", "sign_number": "2777/QĐ-UBND", "signer": "Hứa Ngọc Thuận", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "10/06/2015", "sign_number": "2777/QĐ-UBND", "signer": "Hứa Ngọc Thuận", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hồ Chí Minh", "promulgation_date": "10/06/2015", "sign_number": "2777/QĐ-UBND", "signer": "Hứa Ngọc Thuận", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 7 Điều 1 Quyết định 2777/QĐ-UBND 2015 Quy hoạch phát triển Thể dục Thể thao Hồ Chí Minh

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025 với các nội dung sau:
...
7. Phấn đấu đến năm 2020: tỷ lệ dân số tập thể dục thể thao thường xuyên đạt 33%; Tỷ lệ gia đình thể thao đạt 25% số hộ trong toàn Thành phố; có từ 70% - 80% trường học có sân chơi, bãi tập; 100% số xã, phường có sân, bãi tập thể dục thể thao; 99,5% học sinh, sinh viên tham gia phong trào rèn luyện thân thể.
IV. NỘI DUNG QUY HOẠCH
1. Các chỉ tiêu phát triển thể dục thể thao quần chúng:
- Tỷ lệ người tập luyện thể dục thể thao thường xuyên trên tổng số dân: năm 2015 là 28%; Năm 2020 là 33%, năm 2025 là trên 35%;
- Tỷ lệ hộ gia đình thể thao trên tổng số hộ gia đình: năm 2015 là 22%; Năm 2020 là 25%, năm 2025 là trên 25%;
2. Các chỉ tiêu phát triển giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường:

TT

Năm
Các chỉ tiêu

2015

2020

Định hướng 2025

1

Tỷ lệ học sinh, sinh viên tập luyện TDTT chính khóa (%)

- Mẫu giáo

100

100

100

- Tiểu học

100

100

100

- Trung học cơ sở

100

100

100

- Trung học phổ thông

100

100

100

- Đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp

80

90

100

2

Tỷ lệ học sinh, sinh viên tập luyện TDTT ngoại khóa (%)

- Tiểu học

55,1

96,8

99

- Trung học cơ sở

62,3

98

99

- Trung học phổ thông

75

98

99

- Đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp

43,2

70

99

3

Tỷ lệ số trường thực hiện GDTT và TT đạt mức độ tốt (%)

- Mẫu giáo

50

65

>90

- Tiểu học

50

80

>90

- Trung học cơ sở

55

85

>90

- Trung học phổ thông

55

85

>90

- Đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp

70

90

>90

4

Tỷ lệ giáo viên TDTT (giáo viên/số học sinh, sinh viên)

- Tiểu học

1/400

1/300

1/200

- Trung học cơ sở

1/300

1/250

1/200

- Trung học phổ thông

1/300

1/180

1/150

- Đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp

1/380

1/250

1/200

3. Các chỉ tiêu phát triển thể dục thể thao trong lực lượng vũ trang:
- Tỷ lệ cán bộ, chiến sĩ tập luyện thể dục thể thao thường xuyên trên tổng số cán bộ chiến sĩ trong:
+ Lực lượng quân đội nhân dân: từ năm 2020 trở đi là 100%;
+ Lực lượng công an nhân dân: năm 2020 đạt 75% - 85% và duy trì đến năm 2025.
- Tỷ lệ cán bộ, chiến sĩ đạt tiêu chuẩn rèn luyện thể lực trên tổng số quân nhân: 85% - 90%.
4. Các chỉ tiêu phát triển thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp:
a) Lực lượng vận động viên, huấn luyện viên, trọng tài:
- Số lượng VĐV các cấp: năm 2015 là 2.020 người; Năm 2020 là 2.832 người; năm 2025 là 3.282 người;
- Số lượng VĐV đạt đẳng cấp: cấp I: năm 2015 là 486 người; năm 2020 là 534 người, năm 2025 là 587 người; Kiện tướng: năm 2015 là 460 người; năm 2020 là 492 người, năm 2025 là 526 người;
- Huấn luyện viên các cấp: năm 2015 là 558 người, năm 2020: 647 người; năm 2025: 825 người;
- Huấn luyện viên chuyên nghiệp: năm 2015 là 25 người, năm 2020 là 35 người, năm 2025 là 45 người;
- Trọng tài cấp quốc gia: năm 2015 là 120 người, năm 2020 là 150 người, năm 2025 là 180 người;
- Trọng tài cấp quốc tế: năm 2015 là 40 người, năm 2020 là 70 người, năm 2025 là 100 người;
b) Thể thao chuyên nghiệp:
- Số môn thể thao chuyên nghiệp: Năm 2020 là 9 môn, năm 2025 là trên 9 môn;
- Số lượng CLB chuyên nghiệp: Năm 2020 là 9 CLB, năm 2025 là 20 CLB;
c) Thành tích thi đấu:
- Các giải trong nước: năm 2015 đạt 1.800 huy chương; năm 2020 đạt 1.900 huy chương; năm 2025 đạt 2.000 huy chương;
- Các giải Quốc tế chính thức: năm 2015 đạt 150 huy chương; năm 2020 đạt 200 huy chương; năm 2025 đạt 230 huy chương.
- Đại hội TDTT toàn quốc 2018 và Đại hội TDTT toàn quốc 2022: tham dự từ 800 - 1.000 vận động viên, đạt từ 100-120 huy chương vàng;
- Đại hội Thể thao Đông Nam Á (SEA Games):

TT

Đại hội Thể thao

Huy chương vàng

Số lượng VĐV

1

SEA Games 2017

20-25

250-300

2

SEA Games 2019

25-30

250-300

3

SEA Games 2021

30-35

300-350

4

SEA Games 2023

30-35

300-350

5

SEA Games 2025

30-35

300-350

- Đại hội Thể thao Châu Á (ASIAD):

TT

Đại hội Thể thao

Huy chương vàng

Số lượng VĐV

1

ASIAD 2018

3-5

30-40

2

ASIAD 2023

3-5

40-50

- Thế vận hội (Olympic):

TT

Đại hội Thể thao

Huy chương vàng

Số lượng VĐV

1

Olympic 2016

1

5-10

2

Olympic 2020

1

10-15

3

Olympic 2024

1-2

15-20

5. Các chỉ tiêu phát triển hệ thống tổ chức bộ máy và nhân sự:
- Tổ chức bộ máy ngành TDTT: năm 2015 là 950 người; năm 2020 là 1.050 người, năm 2025 là 1.150 người;
- Tỉ lệ cán bộ TDTT (các loại) trên số người tập luyện TDTT thường xuyên (‰): năm 2015 là 2,5/1000 người; năm 2020 là 3/1000 người, năm 2025 là 4/1000 người;
- Trình độ cán bộ: Đại học (tỷ lệ trên số cán bộ TDTT): năm 2015 là 50%, năm 2020 là 60% và năm 2025 là 80%; Trên Đại học: năm 2015 là 65 người; năm 2020 là 83 người, năm 2025 trên 106 người;
6. Các chỉ tiêu phát triển hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật TDTT:
- Chỉ tiêu đất dành cho hoạt động TDTT: năm 2015 là 1.420 ha; năm 2020 là 2.278 ha, năm 2025 là 2.600 ha;
- Chỉ tiêu đất bình quân đầu người dành cho hoạt động TDTT (m2/người): năm 2015 là 1,7 m2/người; năm 2020 là 2,4 m2/người; năm 2025 là 2,6 m2/người.
- Chỉ tiêu đất bình quân đầu người dành cho hoạt động TDTT học đường:
+ Tiểu học: năm 2015 là 1 m2/học sinh; năm 2020 là 1,5 m2/học sinh; năm 2025 là 2 m2/học sinh;
+ Trung học cơ sở: năm 2015 là 1,8 m2/học sinh; năm 2020 là 2 m2/học sinh; năm 2025 là 2,5 m2/học sinh;
+ Trung học phổ thông: năm 2015 là 2 m2/học sinh; năm 2020 là 2,5 m2/học sinh; năm 2025 là 3 m2/học sinh;
+ Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp: năm 2015 là 2 m2/học sinh; năm 2020 là 3 m2/học sinh; năm 2025 là 4 m2/học sinh;
- Các công trình thể thao: (Đính kèm phụ lục chỉ tiêu sử dụng đất dành cho các công trình TDTT đến năm 2025).
+ Cấp quốc tế: các công trình, cơ sở vật chất TDTT cấp Thành phố phải đảm bảo quy chuẩn thi đấu quốc tế.
+ Cấp quốc gia: Các công trình, cơ sở vật chất TDTT từ cấp Quận, huyện trở lên phải đảm bảo quy chuẩn thi đấu cấp quốc gia.
+ Cấp Thành phố: Các công trình, cơ sở vật chất TDTT của xã, phường phải đảm bảo theo quy chuẩn thi đấu cấp Thành phố.
7. Các chỉ tiêu về nguồn đầu tư tài chính:
- Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp (chưa tính kinh phí đầu tư cơ sở vật chất): năm 2015: 500 tỷ đồng; năm 2020: 550 tỷ đồng; năm 2025: 600 tỷ đồng;
- Tỷ lệ nguồn tài chính huy động từ xã hội trên kinh phí do ngân sách nhà nước cấp cho ngành TDTT: năm 2015 là 5%; năm 2020 là 10%; năm 2025 là 15%.
V. DANH MỤC CÁC DỰ ÁN ƯU TIÊN ĐẦU TƯ
(Phụ lục đính kèm)
VI. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH:
1. Nâng cao nhận thức, đẩy mạnh thông tin, truyền thông
Tăng cường công tác quán triệt, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động thể dục thể thao; nâng cao nhận thức và phát huy vai trò của các cấp ủy Đảng và chính quyền trong công tác phát triển sự nghiệp thể dục thể thao. Thể dục thể thao được xác định là một nội dung trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, 5 năm và dài hạn của Thành phố Hồ Chí Minh.
Đẩy mạnh và đổi mới công tác thông tin, truyền thông về vai trò, tác dụng của thể dục thể thao, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng, phát huy mặt tích cực của dư luận xã hội trong việc tuyên truyền, quảng bá các giá trị xã hội của thể dục thể thao.
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống tổ chức thông tin về thể dục thể thao, phục vụ có hiệu quả việc tìm kiếm, khai thác, chia sẻ và phổ biến thông tin về thể dục thể thao giữa cơ quan quản lý nhà nước với các cơ quan tổ chức, địa phương và các cá nhân trong xã hội.
2. Đẩy mạnh phát triển giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường
Đổi mới nhận thức về giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường trên cơ sở đó hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý, phối hợp và phân công trách nhiệm, chỉ đạo thực hiện của Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa và Thể thao, Ủy ban nhân dân quận, huyện và các liên đoàn, hiệp hội của Thành phố.
Mạnh dạn đề xuất, nghiên cứu, thử nghiệm các nội dung giảng dạy thể dục chính khóa trên cơ sở chương trình khung chuẩn của từng cấp học theo hướng coi trọng và nâng cao chất lượng giờ học thể dục trong tất cả các trường; tập trung phát triển các hoạt động tập luyện, thi đấu thể dục thể thao ngoại khóa một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tiễn của mỗi trường; có chính sách khuyến khích học sinh, sinh viên, gia đình, các tổ chức xã hội ủng hộ, tự nguyện tham gia để tăng nhanh số lượng trường học đạt mức độ tốt trong thực hiện công tác giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường.
Phổ cập dạy và học bơi đối với học sinh hệ phổ thông và mầm non; đảm bảo 100% trường phổ thông đưa môn bơi vào chương trình ngoại khóa.
Tăng cường xây dựng hệ thống câu lạc bộ thể dục thể thao trường học làm đơn vị cơ sở và được coi là tế bào của hệ thống giáo dục thể chất thanh thiếu niên. Nghiên cứu thành lập các trung tâm thể dục, thể thao ngoại khóa cho học sinh, sinh viên để thu hút ngày càng nhiều thanh, thiếu niên tham gia vào hoạt động thể dục thể thao, từ đó nâng cao sức khỏe của những công dân tương lai và phát hiện tài năng thể thao.
Xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện công tác đào tạo đội ngũ giáo viên thể dục thể thao cho hệ thống trường học các cấp theo phương châm mở rộng và đa dạng hóa các hình thức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên thể dục thể thao, đảm bảo tăng nhanh về số lượng và chất lượng, phấn đấu đến năm 2020 đủ giáo viên chuyên trách thể dục thể thao cho các trường.
Cải tiến hệ thống thi đấu thể thao trong nhà trường các cấp; đổi mới nội dung, hình thức tổ chức Hội khỏe Phù Đổng Thành phố các cấp cho phù hợp với nhu cầu và điều kiện phát triển ở Thành phố Hồ Chí Minh, đảm bảo thu hút đông đảo học sinh, sinh viên tham gia thi đấu trong từng cấp học, đồng thời tuyển chọn tài năng thể thao cho thành phố và quốc gia.
Quy hoạch diện tích đất dùng cho các công trình thể dục thể thao ở các trường học, ưu tiên đầu tư cho các huyện ngoại thành; xây dựng kế hoạch đầu tư xây dựng và sử dụng liên thông hệ thống cơ sở vật chất thể dục thể thao giữa các trường trong khu vực địa giới, giữa các trường với các trung tâm thể dục thể thao của quận, huyện. Kết hợp đẩy mạnh công tác xã hội hóa để thu hút các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đầu tư vào cơ sở vật chất thể dục thể thao ở các trường học. Thực hiện chính sách ưu đãi về đất đai theo quy định pháp luật đối với trường tư thục, trường dân lập để các trường này có điều kiện xây dựng cơ sở vật chất thể dục thể thao.
3. Tập trung đầu tư phát triển thể thao thành tích cao
Duy trì, củng cố 20 môn thể thao trọng điểm, thế mạnh của thành phố; Tăng mức đầu tư và đổi mới cơ chế, chính sách đối với các môn cơ bản như điền kinh, bơi lội, thể dục và các môn bóng; nỗ lực nâng cao trình độ các môn thể thao còn yếu kém, lạc hậu. Xây dựng chủ trương, chính sách cụ thể để khuyến khích các quận, huyện phát triển có trọng tâm các môn thể thao phù hợp với đặc điểm của quận, huyện; hình thành nên các môn thể thao ưu thế và đặc sắc của mỗi quận, huyện.
Hoàn thiện và phát huy vai trò chủ đạo của nhà nước để phát triển thể thao thành tích cao ở Thành phố Hồ Chí Minh: Điều tiết tốt mối quan hệ giữa trung ương, thành phố, quận, huyện và các liên đoàn, hội thể thao để phát triển cân đối các môn thể thao thành tích cao và các môn thể thao chuyên nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh. Xây dựng cơ chế phối hợp với các Trung tâm thể thao quận, huyện trong định hướng phát triển từng môn thể thao. Tăng cường phối hợp với các tổ chức, cá nhân có liên quan mật thiết đến sự phát triển ngành như: Sở Giáo dục - Đào tạo, Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Huấn luyện Thể thao Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Thể dục Thể thao, Vụ hợp tác quốc tế, Hội Y học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện 115, Trung tâm Dinh dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh, các chuyên gia thuộc các lĩnh vực chuyên ngành Thể dục Thể thao.
Xây dựng kế hoạch cụ thể, chỉ tiêu khả thi để tham gia Đại hội Thể thao Đông Nam Á, Châu Á và Olympic:
Đổi mới công tác quản lý và huấn luyện các đội dự tuyển, đội tuyển Thành phố: Hoàn thiện, nâng cao các chế độ chính sách cho các đội dự tuyển, đội tuyển Thành phố; phát huy tác dụng chủ đạo của huấn luyện viên trưởng và triển khai thực hiện quy chế giám định huấn luyện đối với các vận động viên của Thành phố theo quy định. Khuyến khích và mạnh dạn giao cho các quận, huyện, các câu lạc bộ có đủ năng lực đứng ra đảm nhận trách nhiệm tổ chức quá trình tập luyện của các đội dự tuyển Thành phố.
Xây dựng hệ thống đào tạo nhân tài thể thao: Xây dựng kế hoạch phát triển trung hạn, dài hạn nguồn nhân lực thể thao kế cận cho các nhóm môn thể thao được quy hoạch, đặc biệt là các môn thể thao trọng điểm, các môn Olympic; Hoàn thiện các chế độ, chính sách liên quan đến công tác giáo dục, giáo dưỡng đội ngũ nhân tài thể thao. Xây dựng và triển khai quy chế tuyển chọn tài năng thể thao. Xây dựng hệ thống liên kết các câu lạc bộ thể dục, thể thao trường học, các liên đoàn, hội thể thao và tư nhân... để đào tạo các tài năng thể thao kế cận.
Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng và phẩm chất đạo đức cho các vận động viên.
Tăng cường giáo dục văn hóa; Hoàn thiện, xây dựng mới các chế độ, chính sách khen thưởng và bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ quyền lợi thiết thực cho vận động viên; bảo đảm vận động viên được hưởng các đãi ngộ về việc làm sau khi thi đấu, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế...
Phòng chống tiêu cực và doping trong thể thao: Phối hợp các cơ quan chức năng xây dựng hệ thống văn bản pháp quy và triển khai các mặt công tác phòng, chống và xử lý các hoạt động tiêu cực: mua bán, dàn xếp tỉ số, bạo lực, giả mạo, dối trá, tham ô, biến chất... trong thi đấu thể thao. Quán triệt và thực hiện việc phòng chống doping trong thể thao.
4. Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý thể dục thể thao ở Thành phố Hồ Chí Minh:
Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về thể dục thể thao trên cơ sở đổi mới cơ chế, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh phát triển ngành thể dục thể thao trong giai đoạn mới.
Đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành của các tổ chức quản lý nhà nước về thể dục thể thao trên cơ sở đẩy mạnh chức năng dịch vụ công, sự hỗ trợ của xã hội và sự tham gia rộng rãi của nhân dân.
Phát huy hơn nữa vai trò của các liên đoàn, hiệp hội thể thao; hoàn thiện cơ cấu tổ chức bằng cơ chế phối hợp trách nhiệm rõ ràng, cụ thể, đẩy mạnh cơ chế tự kỷ luật.
Tích cực đẩy mạnh cải cách, phân loại đơn vị ngành thể dục thể thao theo hướng dịch vụ công; khuyến khích các tổ chức xã hội tham gia vào quản lý thể dục thể thao để đa dạng hóa chủ thể cung cấp các dịch vụ thể dục thể thao nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Tăng cường sự phối hợp của cơ quan quản lý thể dục thể thao các cấp với các đoàn thể chính trị-xã hội (Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ...) để triển khai các hoạt động thể dục thể thao rộng khắp cho mọi đối tượng.
5. Hoàn thiện chính sách về phát triển nguồn nhân lực thể dục thể thao
Đổi mới cơ chế, chính sách và các quy phạm pháp luật về phát triển nguồn nhân lực thể dục thể thao; Xây dựng, hoàn thiện hệ thống khung pháp lý về phát triển nguồn nhân lực thể dục thể thao theo định hướng thị trường, đa dạng hóa, giữa các hình thức đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ nhân lực hiện có. Chuẩn hóa đội ngũ huấn luyện viên thể thao của Thành phố theo hướng chuyên nghiệp.
Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển nguồn nhân lực thể dục thể thao; đào tạo cán bộ, chuyên gia đầu ngành, chuyên môn sâu ở các lứa tuổi có tính kế cận; tăng cường nghiên cứu để ứng dụng phù hợp trong việc giáo dục chính trị tư tưởng cho nguồn nhân lực thể dục thể thao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tăng cường xã hội hóa phát triển nguồn nhân lực; huy động và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của Thành phố; chủ động đẩy mạnh hợp tác quốc tế để huy động nguồn nhân lực từ các nước trên thế giới.
6. Tập trung đầu tư hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật Thể dục Thể thao
Tiến hành xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp theo quy hoạch đến năm 2020 và đến 2025.
Rà soát những công trình thể dục thể thao hiện hữu để lập đề án xây dựng nâng cấp, mở rộng, điều chỉnh, sắp xếp lại theo quy hoạch; quy định về trách nhiệm quản lý chặt chẽ diện tích đất dành cho công trình thể dục thể thao và các quy định nghiêm cấm việc lấn chiếm, sử dụng đất thể dục thể thao vào nội dung khác.
Tập trung đầu tư các công trình Thể dục Thể thao trọng điểm đã được Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần 9 và Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 27-CTrHĐ/TU ngày 26 tháng 7 năm 2012 của Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/T.Ư ngày 16 tháng 01 năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ trên địa bàn Thành phố (Quyết định số 43/2012/QĐ-UBND ngày 3 tháng 8 năm 2012 của Ủy ban nhân dân Thành phố) xác định để sớm đưa vào sử dụng, gồm Trung tâm Huấn luyện và thi đấu Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành vào năm 2017), Khu Liên hợp Thể dục Thể thao Rạch Chiếc (2020) và Trung tâm Thể dục Thể thao Phan Đình Phùng (2017).
Xây dựng cơ chế, chính sách về tạo quỹ đất dành cho thể dục thể thao, về miễn giảm thuế, chính sách ưu đãi tín dụng cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách để tham gia đầu tư xây dựng đối với các dự án, các công trình thể dục thể thao có quy mô lớn; đặc biệt đối với công trình thể dục thể thao ở trường học, khu dân cư, khu công nghiệp.
Có chính sách khuyến khích nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật thể dục thể thao ở thành phố, quận, huyện với điều kiện không làm ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của các công trình thể dục thể thao; Nghiên cứu trình cấp thẩm quyền cho phép thực hiện chủ trương tạo nguồn thu từ xổ số thể thao, đặt cược thể thao để hỗ trợ xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật thể dục thể thao.
Phát triển việc liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp, tập đoàn trong và ngoài nước để đầu tư cho những công trình thể dục thể thao mang tính đón đầu trong tương lai và phù hợp nhu cầu tập luyện của nhân dân.
Đẩy mạnh việc đầu tư các công trình thể dục thể thao phục vụ cho huấn luyện, đào tạo từng môn thể thao từ các Hiệp hội, Liên đoàn thể thao.
Rà soát, đánh giá, xác định danh mục các cơ sở vật chất thể dục thể thao đang trong tình trạng xuống cấp, sử dụng không hiệu quả, sử dụng không đúng và không hết công năng hoặc diện tích nhỏ, không đảm bảo điều kiện tập luyện... để xem xét hoán đổi hoặc chuyển mục đích sử dụng nhằm tạo kinh phí, tập trung đầu tư phát triển các công trình trọng điểm.
7. Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa Thể dục Thể thao
Xây dựng và phát triển đa dạng các hình thức tổ chức xã hội về thể dục thể thao. Nâng cao tính tích cực xã hội và năng lực hoạt động xã hội của nhân dân trong công tác thể dục thể thao.
Tăng cường phát triển kinh tế thể thao, xác định rõ các lĩnh vực hoạt động kinh doanh thể dục thể thao, thúc đẩy hoạt động kinh doanh thể dục thể thao chuyên nghiệp, khuyến khích các hình thức liên doanh, liên kết, hợp tác giữa nhà nước, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân trong phát triển kinh doanh thể dục thể thao ở trong và ngoài nước, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Từng bước chuyển giao các hoạt động tác nghiệp trong hoạt động thể dục thể thao cho các Liên đoàn, Hội thể thao thực hiện.

Content:
Phấn đấu đến năm 2020: tỷ lệ dân số tập thể dục thể thao thường xuyên đạt 33%; Tỷ lệ gia đình thể thao đạt 25% số hộ trong toàn Thành phố; có từ 70% - 80% trường học có sân chơi, bãi tập; 100% số xã, phường có sân, bãi tập thể dục thể thao; 99,5% học sinh, sinh viên tham gia phong trào rèn luyện thân thể.
IV. NỘI DUNG QUY HOẠCH
1. Các chỉ tiêu phát triển thể dục thể thao quần chúng:
- Tỷ lệ người tập luyện thể dục thể thao thường xuyên trên tổng số dân: năm 2015 là 28%; Năm 2020 là 33%, năm 2025 là trên 35%;
- Tỷ lệ hộ gia đình thể thao trên tổng số hộ gia đình: năm 2015 là 22%; Năm 2020 là 25%, năm 2025 là trên 25%;
2. Các chỉ tiêu phát triển giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường:

TT

Năm
Các chỉ tiêu

2015

2020

Định hướng 2025

1

Tỷ lệ học sinh, sinh viên tập luyện TDTT chính khóa (%)

- Mẫu giáo

100

100

100

- Tiểu học

100

100

100

- Trung học cơ sở

100

100

100

- Trung học phổ thông

100

100

100

- Đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp

80

90

100

2

Tỷ lệ học sinh, sinh viên tập luyện TDTT ngoại khóa (%)

- Tiểu học

55,1

96,8

99

- Trung học cơ sở

62,3

98

99

- Trung học phổ thông

75

98

99

- Đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp

43,2

70

99

3

Tỷ lệ số trường thực hiện GDTT và TT đạt mức độ tốt (%)

- Mẫu giáo

50

65

>90

- Tiểu học

50

80

>90

- Trung học cơ sở

55

85

>90

- Trung học phổ thông

55

85

>90

- Đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp

70

90

>90

4

Tỷ lệ giáo viên TDTT (giáo viên/số học sinh, sinh viên)

- Tiểu học

1/400

1/300

1/200

- Trung học cơ sở

1/300

1/250

1/200

- Trung học phổ thông

1/300

1/180

1/150

- Đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp

1/380

1/250

1/200

3. Các chỉ tiêu phát triển thể dục thể thao trong lực lượng vũ trang:
- Tỷ lệ cán bộ, chiến sĩ tập luyện thể dục thể thao thường xuyên trên tổng số cán bộ chiến sĩ trong:
+ Lực lượng quân đội nhân dân: từ năm 2020 trở đi là 100%;
+ Lực lượng công an nhân dân: năm 2020 đạt 75% - 85% và duy trì đến năm 2025.
- Tỷ lệ cán bộ, chiến sĩ đạt tiêu chuẩn rèn luyện thể lực trên tổng số quân nhân: 85% - 90%.
4. Các chỉ tiêu phát triển thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp:
a) Lực lượng vận động viên, huấn luyện viên, trọng tài:
- Số lượng VĐV các cấp: năm 2015 là 2.020 người; Năm 2020 là 2.832 người; năm 2025 là 3.282 người;
- Số lượng VĐV đạt đẳng cấp: cấp I: năm 2015 là 486 người; năm 2020 là 534 người, năm 2025 là 587 người; Kiện tướng: năm 2015 là 460 người; năm 2020 là 492 người, năm 2025 là 526 người;
- Huấn luyện viên các cấp: năm 2015 là 558 người, năm 2020: 647 người; năm 2025: 825 người;
- Huấn luyện viên chuyên nghiệp: năm 2015 là 25 người, năm 2020 là 35 người, năm 2025 là 45 người;
- Trọng tài cấp quốc gia: năm 2015 là 120 người, năm 2020 là 150 người, năm 2025 là 180 người;
- Trọng tài cấp quốc tế: năm 2015 là 40 người, năm 2020 là 70 người, năm 2025 là 100 người;
b) Thể thao chuyên nghiệp:
- Số môn thể thao chuyên nghiệp: Năm 2020 là 9 môn, năm 2025 là trên 9 môn;
- Số lượng CLB chuyên nghiệp: Năm 2020 là 9 CLB, năm 2025 là 20 CLB;
c) Thành tích thi đấu:
- Các giải trong nước: năm 2015 đạt 1.800 huy chương; năm 2020 đạt 1.900 huy chương; năm 2025 đạt 2.000 huy chương;
- Các giải Quốc tế chính thức: năm 2015 đạt 150 huy chương; năm 2020 đạt 200 huy chương; năm 2025 đạt 230 huy chương.
- Đại hội TDTT toàn quốc 2018 và Đại hội TDTT toàn quốc 2022: tham dự từ 800 - 1.000 vận động viên, đạt từ 100-120 huy chương vàng;
- Đại hội Thể thao Đông Nam Á (SEA Games):

TT

Đại hội Thể thao

Huy chương vàng

Số lượng VĐV

1

SEA Games 2017

20-25

250-300

2

SEA Games 2019

25-30

250-300

3

SEA Games 2021

30-35

300-350

4

SEA Games 2023

30-35

300-350

5

SEA Games 2025

30-35

300-350

- Đại hội Thể thao Châu Á (ASIAD):

TT

Đại hội Thể thao

Huy chương vàng

Số lượng VĐV

1

ASIAD 2018

3-5

30-40

2

ASIAD 2023

3-5

40-50

- Thế vận hội (Olympic):

TT

Đại hội Thể thao

Huy chương vàng

Số lượng VĐV

1

Olympic 2016

1

5-10

2

Olympic 2020

1

10-15

3

Olympic 2024

1-2

15-20

5. Các chỉ tiêu phát triển hệ thống tổ chức bộ máy và nhân sự:
- Tổ chức bộ máy ngành TDTT: năm 2015 là 950 người; năm 2020 là 1.050 người, năm 2025 là 1.150 người;
- Tỉ lệ cán bộ TDTT (các loại) trên số người tập luyện TDTT thường xuyên (‰): năm 2015 là 2,5/1000 người; năm 2020 là 3/1000 người, năm 2025 là 4/1000 người;
- Trình độ cán bộ: Đại học (tỷ lệ trên số cán bộ TDTT): năm 2015 là 50%, năm 2020 là 60% và năm 2025 là 80%; Trên Đại học: năm 2015 là 65 người; năm 2020 là 83 người, năm 2025 trên 106 người;
6. Các chỉ tiêu phát triển hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật TDTT:
- Chỉ tiêu đất dành cho hoạt động TDTT: năm 2015 là 1.420 ha; năm 2020 là 2.278 ha, năm 2025 là 2.600 ha;
- Chỉ tiêu đất bình quân đầu người dành cho hoạt động TDTT (m2/người): năm 2015 là 1,7 m2/người; năm 2020 là 2,4 m2/người; năm 2025 là 2,6 m2/người.
- Chỉ tiêu đất bình quân đầu người dành cho hoạt động TDTT học đường:
+ Tiểu học: năm 2015 là 1 m2/học sinh; năm 2020 là 1,5 m2/học sinh; năm 2025 là 2 m2/học sinh;
+ Trung học cơ sở: năm 2015 là 1,8 m2/học sinh; năm 2020 là 2 m2/học sinh; năm 2025 là 2,5 m2/học sinh;
+ Trung học phổ thông: năm 2015 là 2 m2/học sinh; năm 2020 là 2,5 m2/học sinh; năm 2025 là 3 m2/học sinh;
+ Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp: năm 2015 là 2 m2/học sinh; năm 2020 là 3 m2/học sinh; năm 2025 là 4 m2/học sinh;
- Các công trình thể thao: (Đính kèm phụ lục chỉ tiêu sử dụng đất dành cho các công trình TDTT đến năm 2025).
+ Cấp quốc tế: các công trình, cơ sở vật chất TDTT cấp Thành phố phải đảm bảo quy chuẩn thi đấu quốc tế.
+ Cấp quốc gia: Các công trình, cơ sở vật chất TDTT từ cấp Quận, huyện trở lên phải đảm bảo quy chuẩn thi đấu cấp quốc gia.
+ Cấp Thành phố: Các công trình, cơ sở vật chất TDTT của xã, phường phải đảm bảo theo quy chuẩn thi đấu cấp Thành phố.
Các chỉ tiêu về nguồn đầu tư tài chính:
- Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp (chưa tính kinh phí đầu tư cơ sở vật chất): năm 2015: 500 tỷ đồng; năm 2020: 550 tỷ đồng; năm 2025: 600 tỷ đồng;
- Tỷ lệ nguồn tài chính huy động từ xã hội trên kinh phí do ngân sách nhà nước cấp cho ngành TDTT: năm 2015 là 5%; năm 2020 là 10%; năm 2025 là 15%.
V. DANH MỤC CÁC DỰ ÁN ƯU TIÊN ĐẦU TƯ
(Phụ lục đính kèm)
VI. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH:
1. Nâng cao nhận thức, đẩy mạnh thông tin, truyền thông
Tăng cường công tác quán triệt, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động thể dục thể thao; nâng cao nhận thức và phát huy vai trò của các cấp ủy Đảng và chính quyền trong công tác phát triển sự nghiệp thể dục thể thao. Thể dục thể thao được xác định là một nội dung trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, 5 năm và dài hạn của Thành phố Hồ Chí Minh.
Đẩy mạnh và đổi mới công tác thông tin, truyền thông về vai trò, tác dụng của thể dục thể thao, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng, phát huy mặt tích cực của dư luận xã hội trong việc tuyên truyền, quảng bá các giá trị xã hội của thể dục thể thao.
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống tổ chức thông tin về thể dục thể thao, phục vụ có hiệu quả việc tìm kiếm, khai thác, chia sẻ và phổ biến thông tin về thể dục thể thao giữa cơ quan quản lý nhà nước với các cơ quan tổ chức, địa phương và các cá nhân trong xã hội.
2. Đẩy mạnh phát triển giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường
Đổi mới nhận thức về giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường trên cơ sở đó hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý, phối hợp và phân công trách nhiệm, chỉ đạo thực hiện của Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa và Thể thao, Ủy ban nhân dân quận, huyện và các liên đoàn, hiệp hội của Thành phố.
Mạnh dạn đề xuất, nghiên cứu, thử nghiệm các nội dung giảng dạy thể dục chính khóa trên cơ sở chương trình khung chuẩn của từng cấp học theo hướng coi trọng và nâng cao chất lượng giờ học thể dục trong tất cả các trường; tập trung phát triển các hoạt động tập luyện, thi đấu thể dục thể thao ngoại khóa một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tiễn của mỗi trường; có chính sách khuyến khích học sinh, sinh viên, gia đình, các tổ chức xã hội ủng hộ, tự nguyện tham gia để tăng nhanh số lượng trường học đạt mức độ tốt trong thực hiện công tác giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường.
Phổ cập dạy và học bơi đối với học sinh hệ phổ thông và mầm non; đảm bảo 100% trường phổ thông đưa môn bơi vào chương trình ngoại khóa.
Tăng cường xây dựng hệ thống câu lạc bộ thể dục thể thao trường học làm đơn vị cơ sở và được coi là tế bào của hệ thống giáo dục thể chất thanh thiếu niên. Nghiên cứu thành lập các trung tâm thể dục, thể thao ngoại khóa cho học sinh, sinh viên để thu hút ngày càng nhiều thanh, thiếu niên tham gia vào hoạt động thể dục thể thao, từ đó nâng cao sức khỏe của những công dân tương lai và phát hiện tài năng thể thao.
Xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện công tác đào tạo đội ngũ giáo viên thể dục thể thao cho hệ thống trường học các cấp theo phương châm mở rộng và đa dạng hóa các hình thức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên thể dục thể thao, đảm bảo tăng nhanh về số lượng và chất lượng, phấn đấu đến năm 2020 đủ giáo viên chuyên trách thể dục thể thao cho các trường.
Cải tiến hệ thống thi đấu thể thao trong nhà trường các cấp; đổi mới nội dung, hình thức tổ chức Hội khỏe Phù Đổng Thành phố các cấp cho phù hợp với nhu cầu và điều kiện phát triển ở Thành phố Hồ Chí Minh, đảm bảo thu hút đông đảo học sinh, sinh viên tham gia thi đấu trong từng cấp học, đồng thời tuyển chọn tài năng thể thao cho thành phố và quốc gia.
Quy hoạch diện tích đất dùng cho các công trình thể dục thể thao ở các trường học, ưu tiên đầu tư cho các huyện ngoại thành; xây dựng kế hoạch đầu tư xây dựng và sử dụng liên thông hệ thống cơ sở vật chất thể dục thể thao giữa các trường trong khu vực địa giới, giữa các trường với các trung tâm thể dục thể thao của quận, huyện. Kết hợp đẩy mạnh công tác xã hội hóa để thu hút các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đầu tư vào cơ sở vật chất thể dục thể thao ở các trường học. Thực hiện chính sách ưu đãi về đất đai theo quy định pháp luật đối với trường tư thục, trường dân lập để các trường này có điều kiện xây dựng cơ sở vật chất thể dục thể thao.
3. Tập trung đầu tư phát triển thể thao thành tích cao
Duy trì, củng cố 20 môn thể thao trọng điểm, thế mạnh của thành phố; Tăng mức đầu tư và đổi mới cơ chế, chính sách đối với các môn cơ bản như điền kinh, bơi lội, thể dục và các môn bóng; nỗ lực nâng cao trình độ các môn thể thao còn yếu kém, lạc hậu. Xây dựng chủ trương, chính sách cụ thể để khuyến khích các quận, huyện phát triển có trọng tâm các môn thể thao phù hợp với đặc điểm của quận, huyện; hình thành nên các môn thể thao ưu thế và đặc sắc của mỗi quận, huyện.
Hoàn thiện và phát huy vai trò chủ đạo của nhà nước để phát triển thể thao thành tích cao ở Thành phố Hồ Chí Minh: Điều tiết tốt mối quan hệ giữa trung ương, thành phố, quận, huyện và các liên đoàn, hội thể thao để phát triển cân đối các môn thể thao thành tích cao và các môn thể thao chuyên nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh. Xây dựng cơ chế phối hợp với các Trung tâm thể thao quận, huyện trong định hướng phát triển từng môn thể thao. Tăng cường phối hợp với các tổ chức, cá nhân có liên quan mật thiết đến sự phát triển ngành như: Sở Giáo dục - Đào tạo, Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Huấn luyện Thể thao Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Thể dục Thể thao, Vụ hợp tác quốc tế, Hội Y học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện 115, Trung tâm Dinh dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh, các chuyên gia thuộc các lĩnh vực chuyên ngành Thể dục Thể thao.
Xây dựng kế hoạch cụ thể, chỉ tiêu khả thi để tham gia Đại hội Thể thao Đông Nam Á, Châu Á và Olympic:
Đổi mới công tác quản lý và huấn luyện các đội dự tuyển, đội tuyển Thành phố: Hoàn thiện, nâng cao các chế độ chính sách cho các đội dự tuyển, đội tuyển Thành phố; phát huy tác dụng chủ đạo của huấn luyện viên trưởng và triển khai thực hiện quy chế giám định huấn luyện đối với các vận động viên của Thành phố theo quy định. Khuyến khích và mạnh dạn giao cho các quận, huyện, các câu lạc bộ có đủ năng lực đứng ra đảm nhận trách nhiệm tổ chức quá trình tập luyện của các đội dự tuyển Thành phố.
Xây dựng hệ thống đào tạo nhân tài thể thao: Xây dựng kế hoạch phát triển trung hạn, dài hạn nguồn nhân lực thể thao kế cận cho các nhóm môn thể thao được quy hoạch, đặc biệt là các môn thể thao trọng điểm, các môn Olympic; Hoàn thiện các chế độ, chính sách liên quan đến công tác giáo dục, giáo dưỡng đội ngũ nhân tài thể thao. Xây dựng và triển khai quy chế tuyển chọn tài năng thể thao. Xây dựng hệ thống liên kết các câu lạc bộ thể dục, thể thao trường học, các liên đoàn, hội thể thao và tư nhân... để đào tạo các tài năng thể thao kế cận.
Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng và phẩm chất đạo đức cho các vận động viên.
Tăng cường giáo dục văn hóa; Hoàn thiện, xây dựng mới các chế độ, chính sách khen thưởng và bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ quyền lợi thiết thực cho vận động viên; bảo đảm vận động viên được hưởng các đãi ngộ về việc làm sau khi thi đấu, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế...
Phòng chống tiêu cực và doping trong thể thao: Phối hợp các cơ quan chức năng xây dựng hệ thống văn bản pháp quy và triển khai các mặt công tác phòng, chống và xử lý các hoạt động tiêu cực: mua bán, dàn xếp tỉ số, bạo lực, giả mạo, dối trá, tham ô, biến chất... trong thi đấu thể thao. Quán triệt và thực hiện việc phòng chống doping trong thể thao.
4. Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý thể dục thể thao ở Thành phố Hồ Chí Minh:
Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về thể dục thể thao trên cơ sở đổi mới cơ chế, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh phát triển ngành thể dục thể thao trong giai đoạn mới.
Đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành của các tổ chức quản lý nhà nước về thể dục thể thao trên cơ sở đẩy mạnh chức năng dịch vụ công, sự hỗ trợ của xã hội và sự tham gia rộng rãi của nhân dân.
Phát huy hơn nữa vai trò của các liên đoàn, hiệp hội thể thao; hoàn thiện cơ cấu tổ chức bằng cơ chế phối hợp trách nhiệm rõ ràng, cụ thể, đẩy mạnh cơ chế tự kỷ luật.
Tích cực đẩy mạnh cải cách, phân loại đơn vị ngành thể dục thể thao theo hướng dịch vụ công; khuyến khích các tổ chức xã hội tham gia vào quản lý thể dục thể thao để đa dạng hóa chủ thể cung cấp các dịch vụ thể dục thể thao nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Tăng cường sự phối hợp của cơ quan quản lý thể dục thể thao các cấp với các đoàn thể chính trị-xã hội (Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ...) để triển khai các hoạt động thể dục thể thao rộng khắp cho mọi đối tượng.
5. Hoàn thiện chính sách về phát triển nguồn nhân lực thể dục thể thao
Đổi mới cơ chế, chính sách và các quy phạm pháp luật về phát triển nguồn nhân lực thể dục thể thao; Xây dựng, hoàn thiện hệ thống khung pháp lý về phát triển nguồn nhân lực thể dục thể thao theo định hướng thị trường, đa dạng hóa, giữa các hình thức đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ nhân lực hiện có. Chuẩn hóa đội ngũ huấn luyện viên thể thao của Thành phố theo hướng chuyên nghiệp.
Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển nguồn nhân lực thể dục thể thao; đào tạo cán bộ, chuyên gia đầu ngành, chuyên môn sâu ở các lứa tuổi có tính kế cận; tăng cường nghiên cứu để ứng dụng phù hợp trong việc giáo dục chính trị tư tưởng cho nguồn nhân lực thể dục thể thao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tăng cường xã hội hóa phát triển nguồn nhân lực; huy động và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của Thành phố; chủ động đẩy mạnh hợp tác quốc tế để huy động nguồn nhân lực từ các nước trên thế giới.
6. Tập trung đầu tư hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật Thể dục Thể thao
Tiến hành xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp theo quy hoạch đến năm 2020 và đến 2025.
Rà soát những công trình thể dục thể thao hiện hữu để lập đề án xây dựng nâng cấp, mở rộng, điều chỉnh, sắp xếp lại theo quy hoạch; quy định về trách nhiệm quản lý chặt chẽ diện tích đất dành cho công trình thể dục thể thao và các quy định nghiêm cấm việc lấn chiếm, sử dụng đất thể dục thể thao vào nội dung khác.
Tập trung đầu tư các công trình Thể dục Thể thao trọng điểm đã được Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần 9 và Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 27-CTrHĐ/TU ngày 26 tháng 7 năm 2012 của Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/T.Ư ngày 16 tháng 01 năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ trên địa bàn Thành phố (Quyết định số 43/2012/QĐ-UBND ngày 3 tháng 8 năm 2012 của Ủy ban nhân dân Thành phố) xác định để sớm đưa vào sử dụng, gồm Trung tâm Huấn luyện và thi đấu Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành vào năm 2017), Khu Liên hợp Thể dục Thể thao Rạch Chiếc (2020) và Trung tâm Thể dục Thể thao Phan Đình Phùng (2017).
Xây dựng cơ chế, chính sách về tạo quỹ đất dành cho thể dục thể thao, về miễn giảm thuế, chính sách ưu đãi tín dụng cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách để tham gia đầu tư xây dựng đối với các dự án, các công trình thể dục thể thao có quy mô lớn; đặc biệt đối với công trình thể dục thể thao ở trường học, khu dân cư, khu công nghiệp.
Có chính sách khuyến khích nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật thể dục thể thao ở thành phố, quận, huyện với điều kiện không làm ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của các công trình thể dục thể thao; Nghiên cứu trình cấp thẩm quyền cho phép thực hiện chủ trương tạo nguồn thu từ xổ số thể thao, đặt cược thể thao để hỗ trợ xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật thể dục thể thao.
Phát triển việc liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp, tập đoàn trong và ngoài nước để đầu tư cho những công trình thể dục thể thao mang tính đón đầu trong tương lai và phù hợp nhu cầu tập luyện của nhân dân.
Đẩy mạnh việc đầu tư các công trình thể dục thể thao phục vụ cho huấn luyện, đào tạo từng môn thể thao từ các Hiệp hội, Liên đoàn thể thao.
Rà soát, đánh giá, xác định danh mục các cơ sở vật chất thể dục thể thao đang trong tình trạng xuống cấp, sử dụng không hiệu quả, sử dụng không đúng và không hết công năng hoặc diện tích nhỏ, không đảm bảo điều kiện tập luyện... để xem xét hoán đổi hoặc chuyển mục đích sử dụng nhằm tạo kinh phí, tập trung đầu tư phát triển các công trình trọng điểm.
Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa Thể dục Thể thao
Xây dựng và phát triển đa dạng các hình thức tổ chức xã hội về thể dục thể thao. Nâng cao tính tích cực xã hội và năng lực hoạt động xã hội của nhân dân trong công tác thể dục thể thao.
Tăng cường phát triển kinh tế thể thao, xác định rõ các lĩnh vực hoạt động kinh doanh thể dục thể thao, thúc đẩy hoạt động kinh doanh thể dục thể thao chuyên nghiệp, khuyến khích các hình thức liên doanh, liên kết, hợp tác giữa nhà nước, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân trong phát triển kinh doanh thể dục thể thao ở trong và ngoài nước, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Từng bước chuyển giao các hoạt động tác nghiệp trong hoạt động thể dục thể thao cho các Liên đoàn, Hội thể thao thực hiện.