Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 3422/QĐ-UBND Phê duyệt Chương trình bảo vệ trẻ em

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "02/11/2011", "sign_number": "3422/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Thị Thu Thuỷ", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "02/11/2011", "sign_number": "3422/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Thị Thu Thuỷ", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "02/11/2011", "sign_number": "3422/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Thị Thu Thuỷ", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "02/11/2011", "sign_number": "3422/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Thị Thu Thuỷ", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "02/11/2011", "sign_number": "3422/QĐ-UBND", "signer": "Vũ Thị Thu Thuỷ", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 3422/QĐ-UBND Phê duyệt Chương trình bảo vệ trẻ em

Điều 1. Phê duyệt Chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 tỉnh Quảng Ninh với các nội dung chủ yếu sau:
...
5. Giải pháp thực hiện.
5.1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với công tác bảo vệ trẻ em.
- Xây dựng, ban hành các nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch bảo vệ, chăm sóc trẻ em; đưa mục tiêu bảo vệ, chăm sóc trẻ em vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm và giai đoạn 5 năm của địa phương.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; tăng cường thanh tra, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em; xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm quyền trẻ em, chế độ, chính sách dành cho trẻ em.
- Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách, mô hình trợ giúp trẻ em và phát triển các dịch vụ trợ giúp trẻ em tại cộng đồng. Xây dựng và ban hành các chế độ, chính sách hỗ trợ phù hợp đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em có nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt.
- Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành để thực hiện đồng bộ và có hiệu quả công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ trẻ em nhằm thu hút sự tham gia một cách tích cực, tự giác của người dân trong các hoạt động vì trẻ em ở địa phương, đồng thời tích cực tố giác các hành vi vi phạm quyền trẻ em với cơ quan chức năng, phản ánh các vấn đề mất an toàn, gây tổn hại cho trẻ em với chính quyền địa phương.
- Kiện toàn, củng cố tổ chức bộ máy, bố trí đủ cán bộ làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em từ tỉnh đến cơ sở và đội ngũ cộng tác viên ở thôn bản, khu phố, có cơ chế phụ cấp phù hợp cho đội ngũ cộng tác viên. Hằng năm có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ bảo vệ chăm sóc trẻ em các cấp và đội ngũ cộng tác viên.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu về trẻ em, thiết lập hệ thống thông tin, báo cáo định kỳ từ cơ sở (thôn bản, khu phố) đến tỉnh và giữa các ngành có liên quan. Hình thành cơ chế thông tin, báo cáo thường xuyên theo định kỳ về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em.
5.2. Tăng cường thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách, nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể, gia đình, nhà trường, mọi người dân và toàn thể xã hội trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; nâng cao kiến thức, kỹ năng cho trẻ em và gia đình về bảo vệ trẻ em. Chú trọng các biện pháp truyền thông phòng ngừa để bảo vệ trẻ em; tập trung tuyên truyền, giáo dục cho đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em có nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và người nuôi dưỡng trẻ.
5.3. Đa dạng hóa việc huy động các nguồn lực thực hiện chương trình.
- Ngân sách địa phương các cấp hằng năm cân đối kinh phí phù hợp để thực hiện các mục tiêu trong Chương trình bảo vệ trẻ em (các địa phương có cơ chế ngân sách hỗ trợ thực hiện chương trình).
- Đẩy mạnh xã hội hoá, huy động tối đa các nguồn lực cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Ngoài ngân sách tỉnh hàng năm bố trí thực hiện Chương trình bảo vệ trẻ em, các ngành có liên quan và các địa phương chủ động vận động sự tài trợ, ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; khuyến khích các cơ quan, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức Quốc tế, cá nhân tham gia hỗ trợ, đầu tư vào các hoạt động trợ giúp như: đỡ đầu thường xuyên, nhận con nuôi, dạy nghề, tạo việc làm, phẫu thuật điều trị, phục hồi chức năng cho trẻ… nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.
- Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính để thực hiện Chương trình. Ưu tiên nguồn lực cho địa phương có nhiều trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; vùng miền núi, dân tộc thiểu số; vùng có nhiều vấn đề bức xúc về trẻ em cần giải quyết.
5.4. Xây dựng và kiện toàn hệ thống bảo vệ trẻ em ở các cấp, thiết lập cơ chế vận hành có hiệu quả, cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em kịp thời có chất lượng.
- Thành lập Ban điều hành hệ thống bảo vệ trẻ em ở cấp tỉnh, cấp huyện và Ban bảo vệ chăm sóc trẻ em ở cấp xã.
- Thành lập Nhóm công tác liên ngành bảo vệ trẻ em ở cấp tỉnh, cấp huyện để hỗ trợ Ban điều hành trong việc chỉ đạo, điều phối mọi hoạt động của hệ thống bảo vệ trẻ em.
- Xây dựng mạng lưới cộng tác viên, tình nguyện viên BVCSTE ở các thôn, bản, khu phố, trẻ em nòng cốt ở cấp xã để theo dõi tình hình trẻ em và tham gia các hoạt động bảo vệ trẻ em ở cộng đồng.
5.5. Tăng cường các hoạt động nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm phục vụ cho công tác quản lý và xây dựng mô hình, chính sách, dịch vụ về bảo vệ trẻ em. Tranh thủ sự hỗ trợ về nguồn lực, kỹ thuật và kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề của trẻ em có tính toàn cầu như: ngăn ngừa và trấn áp tội phạm, buôn bán ma túy, buôn bán và bắt cóc trẻ em, du lịch tình dục và các hình thức xâm hại khác đối với trẻ em.

Content:
Giải pháp thực hiện.
5.1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với công tác bảo vệ trẻ em.
- Xây dựng, ban hành các nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch bảo vệ, chăm sóc trẻ em; đưa mục tiêu bảo vệ, chăm sóc trẻ em vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm và giai đoạn 5 năm của địa phương.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; tăng cường thanh tra, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em; xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm quyền trẻ em, chế độ, chính sách dành cho trẻ em.
- Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách, mô hình trợ giúp trẻ em và phát triển các dịch vụ trợ giúp trẻ em tại cộng đồng. Xây dựng và ban hành các chế độ, chính sách hỗ trợ phù hợp đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em có nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt.
- Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành để thực hiện đồng bộ và có hiệu quả công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ trẻ em nhằm thu hút sự tham gia một cách tích cực, tự giác của người dân trong các hoạt động vì trẻ em ở địa phương, đồng thời tích cực tố giác các hành vi vi phạm quyền trẻ em với cơ quan chức năng, phản ánh các vấn đề mất an toàn, gây tổn hại cho trẻ em với chính quyền địa phương.
- Kiện toàn, củng cố tổ chức bộ máy, bố trí đủ cán bộ làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em từ tỉnh đến cơ sở và đội ngũ cộng tác viên ở thôn bản, khu phố, có cơ chế phụ cấp phù hợp cho đội ngũ cộng tác viên. Hằng năm có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ bảo vệ chăm sóc trẻ em các cấp và đội ngũ cộng tác viên.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu về trẻ em, thiết lập hệ thống thông tin, báo cáo định kỳ từ cơ sở (thôn bản, khu phố) đến tỉnh và giữa các ngành có liên quan. Hình thành cơ chế thông tin, báo cáo thường xuyên theo định kỳ về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em.
5.2. Tăng cường thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách, nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể, gia đình, nhà trường, mọi người dân và toàn thể xã hội trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; nâng cao kiến thức, kỹ năng cho trẻ em và gia đình về bảo vệ trẻ em. Chú trọng các biện pháp truyền thông phòng ngừa để bảo vệ trẻ em; tập trung tuyên truyền, giáo dục cho đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em có nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và người nuôi dưỡng trẻ.
5.3. Đa dạng hóa việc huy động các nguồn lực thực hiện chương trình.
- Ngân sách địa phương các cấp hằng năm cân đối kinh phí phù hợp để thực hiện các mục tiêu trong Chương trình bảo vệ trẻ em (các địa phương có cơ chế ngân sách hỗ trợ thực hiện chương trình).
- Đẩy mạnh xã hội hoá, huy động tối đa các nguồn lực cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Ngoài ngân sách tỉnh hàng năm bố trí thực hiện Chương trình bảo vệ trẻ em, các ngành có liên quan và các địa phương chủ động vận động sự tài trợ, ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; khuyến khích các cơ quan, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức Quốc tế, cá nhân tham gia hỗ trợ, đầu tư vào các hoạt động trợ giúp như: đỡ đầu thường xuyên, nhận con nuôi, dạy nghề, tạo việc làm, phẫu thuật điều trị, phục hồi chức năng cho trẻ… nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.
- Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính để thực hiện Chương trình. Ưu tiên nguồn lực cho địa phương có nhiều trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; vùng miền núi, dân tộc thiểu số; vùng có nhiều vấn đề bức xúc về trẻ em cần giải quyết.
5.4. Xây dựng và kiện toàn hệ thống bảo vệ trẻ em ở các cấp, thiết lập cơ chế vận hành có hiệu quả, cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em kịp thời có chất lượng.
- Thành lập Ban điều hành hệ thống bảo vệ trẻ em ở cấp tỉnh, cấp huyện và Ban bảo vệ chăm sóc trẻ em ở cấp xã.
- Thành lập Nhóm công tác liên ngành bảo vệ trẻ em ở cấp tỉnh, cấp huyện để hỗ trợ Ban điều hành trong việc chỉ đạo, điều phối mọi hoạt động của hệ thống bảo vệ trẻ em.
- Xây dựng mạng lưới cộng tác viên, tình nguyện viên BVCSTE ở các thôn, bản, khu phố, trẻ em nòng cốt ở cấp xã để theo dõi tình hình trẻ em và tham gia các hoạt động bảo vệ trẻ em ở cộng đồng.
5.Tăng cường các hoạt động nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm phục vụ cho công tác quản lý và xây dựng mô hình, chính sách, dịch vụ về bảo vệ trẻ em. Tranh thủ sự hỗ trợ về nguồn lực, kỹ thuật và kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề của trẻ em có tính toàn cầu như: ngăn ngừa và trấn áp tội phạm, buôn bán ma túy, buôn bán và bắt cóc trẻ em, du lịch tình dục và các hình thức xâm hại khác đối với trẻ em.