Document: Khoản 4 Điều 2 Nghị định 11/2009/NĐ-CP hướng dẫn Luật Xuất bản sửa đổi Nghị định 111/2005/NĐ-CP

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "10/02/2009", "sign_number": "11/2009/NĐ-CP", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "10/02/2009", "sign_number": "11/2009/NĐ-CP", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "10/02/2009", "sign_number": "11/2009/NĐ-CP", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "10/02/2009", "sign_number": "11/2009/NĐ-CP", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "10/02/2009", "sign_number": "11/2009/NĐ-CP", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 2 Nghị định 11/2009/NĐ-CP hướng dẫn Luật Xuất bản sửa đổi Nghị định 111/2005/NĐ-CP

Điều 2. Bổ sung một số điều mới vào Nghị định số 111/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xuất bản.
...
4. Trang cuối sách ghi các thông tin sau:
a) Tên người chịu trách nhiệm xuất bản, tên người biên tập nội dung, tên người trình bày, minh họa, tên người biên tập kỹ thuật, tên người sửa bản in;
b) Số đăng ký kế hoạch xuất bản, số quyết định xuất bản của Giám đốc nhà xuất bản hoặc số giấy phép xuất bản của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản, khuôn khổ sách, số lượng in, tên cơ sở in, thời gian nộp lưu chiểu.
Trường hợp vì lý do kỹ thuật in mà không thể ghi các thông tin quy định tại điểm a và điểm b khoản này ở trang cuối sách thì ghi ở trang liền sau trang tên sách.”
2. Bổ sung Điều 11b như sau:

“Điều 11b. Xuất bản và phát hành xuất bản phẩm trên mạng thông tin máy tính (mạng internet)
1. Xuất bản trên mạng Internet là việc nhà xuất bản công bố lần đầu tiên toàn bộ tác phẩm, tài liệu trực tiếp trên mạng internet.
Việc xuất bản và phát hành xuất bản phẩm trên mạng internet phải tuân thủ các quy định tại Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện từ trên internet.
2. Việc xuất bản trên mạng internet phải do nhà xuất bản thực hiện theo quy định sau:
a) Trước khi xuất bản trên mạng internet, nhà xuất bản phải đăng ký kế hoạch xuất bản với Cục Xuất bản, trong đó ghi rõ thời gian và địa chỉ website đăng tải xuất bản phẩm và phải được Cục Xuất bản xác nhận bằng văn bản trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đăng ký kế hoạch xuất bản của nhà xuất bản;
b) Ít nhất mười ngày trước khi trực tiếp xuất bản trên mạng Internet, nhà xuất bản phải nộp lưu chuyểu 01 bản xuất bản phẩm được ghi trong thiết bị lưu trữ dữ liệu (CD-ROM, DVD, VCD, USB, riêng thư điện tử có dung lượng không quá 3MB) cho cơ quan nhận lưu chiểu quy định tại Điều 12 Nghị định này;
c) Địa chỉ website đăng tải xuất bản phẩm phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (tên miền “.vn”);
d) Trường hợp tái bản, tái bản có sửa chữa, bổ sung xuất bản phẩm thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Việc phát hành tác phẩm, tài liệu đã được xuất bản và đăng lưu hành hợp pháp tại Việt Nam trên mạng internet phải do nhà xuất bản, cơ sở phát hành xuất bản phẩm thực hiện theo quy định sau:
a) Phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ;
b) Trước khi phát hành xuất bản phẩm trên mạng internet, nhà xuất bản, cơ sở phát hành xuất bản phẩm phải báo cáo bằng văn bản với Cục Xuất bản về tên xuất bản phẩm, tác giả, địa chỉ website và ngày đăng tải.
Trường hợp phát hiện xuất bản phẩm phát hành trên mạng internet vi phạm các quy định của Luật Xuất bản thì Cục Xuất bản có văn bản yêu cầu nhà xuất bản, cơ sở phát hành đình chỉ phát hành xuất bản phẩm đó.
4. Trường hợp phát hành xuất bản phẩm trên mạng internet của nhà xuất bản, cơ quan, tổ chức được phép xuất bản đã giải thể, sáp nhập hoặc chia tách phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả, cơ quan, tổ chức được chuyển giao quyền và nghĩa vụ dân sự của nhà xuất bản, cơ quan, tổ chức được phép xuất bản bị giải thể, sáp nhập, chia tách (nếu có).
3. Bổ sung Điều 18a như sau:

“Điều 18a. Nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh
1. Việc nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế và người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) phải được phép của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.
2. Đối với các trường hợp sau đây cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải xin phép khi nhập khẩu xuất bản phẩm vào Việt Nam mà chỉ làm thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan:
a) Tài liệu phục vụ hội thảo, hội nghị quốc tế đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép tổ chức tại Việt Nam;
b) Xuất bản phẩm là tài sản di chuyển của tổ chức, gia đình, cá nhân để sử dụng riêng;
c) Xuất bản phẩm thuộc tiêu chuẩn hành lý mang theo người của người nhập cảnh để sử dụng cho nhu cầu cá nhân;
d) Xuất bản phẩm tặng cho tổ chức, cá nhân gửi qua bưu điện có giá trị không lớn hơn tiêu chuẩn miễn thuế theo quy định của pháp luật.
3. Xuất bản phẩm quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều này sau khi sử dụng phải tái xuất; trường hợp để chuyển giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác của Việt Nam thì cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận phải làm thủ tục nhập khẩu quy định tại Điều 18b Nghị định này.
Xuất bản phẩm quy định tại điểm d khoản 2 Điều này có giá trị vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế thì phải làm thủ tục xin phép nhập khẩu.
4. Việc nhập khẩu xuất bản phẩm của tổ chức, cá nhân được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ thực hiện theo quy định của pháp luật hải quan và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Content:
Trang cuối sách ghi các thông tin sau:
a) Tên người chịu trách nhiệm xuất bản, tên người biên tập nội dung, tên người trình bày, minh họa, tên người biên tập kỹ thuật, tên người sửa bản in;
b) Số đăng ký kế hoạch xuất bản, số quyết định xuất bản của Giám đốc nhà xuất bản hoặc số giấy phép xuất bản của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản, khuôn khổ sách, số lượng in, tên cơ sở in, thời gian nộp lưu chiểu.
Trường hợp vì lý do kỹ thuật in mà không thể ghi các thông tin quy định tại điểm a và điểm b khoản này ở trang cuối sách thì ghi ở trang liền sau trang tên sách.”
2. Bổ sung Điều 11b như sau:

“Điều 11b. Xuất bản và phát hành xuất bản phẩm trên mạng thông tin máy tính (mạng internet)
1. Xuất bản trên mạng Internet là việc nhà xuất bản công bố lần đầu tiên toàn bộ tác phẩm, tài liệu trực tiếp trên mạng internet.
Việc xuất bản và phát hành xuất bản phẩm trên mạng internet phải tuân thủ các quy định tại Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện từ trên internet.
2. Việc xuất bản trên mạng internet phải do nhà xuất bản thực hiện theo quy định sau:
a) Trước khi xuất bản trên mạng internet, nhà xuất bản phải đăng ký kế hoạch xuất bản với Cục Xuất bản, trong đó ghi rõ thời gian và địa chỉ website đăng tải xuất bản phẩm và phải được Cục Xuất bản xác nhận bằng văn bản trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đăng ký kế hoạch xuất bản của nhà xuất bản;
b) Ít nhất mười ngày trước khi trực tiếp xuất bản trên mạng Internet, nhà xuất bản phải nộp lưu chuyểu 01 bản xuất bản phẩm được ghi trong thiết bị lưu trữ dữ liệu (CD-ROM, DVD, VCD, USB, riêng thư điện tử có dung lượng không quá 3MB) cho cơ quan nhận lưu chiểu quy định tại Điều 12 Nghị định này;
c) Địa chỉ website đăng tải xuất bản phẩm phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (tên miền “.vn”);
d) Trường hợp tái bản, tái bản có sửa chữa, bổ sung xuất bản phẩm thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Việc phát hành tác phẩm, tài liệu đã được xuất bản và đăng lưu hành hợp pháp tại Việt Nam trên mạng internet phải do nhà xuất bản, cơ sở phát hành xuất bản phẩm thực hiện theo quy định sau:
a) Phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ;
b) Trước khi phát hành xuất bản phẩm trên mạng internet, nhà xuất bản, cơ sở phát hành xuất bản phẩm phải báo cáo bằng văn bản với Cục Xuất bản về tên xuất bản phẩm, tác giả, địa chỉ website và ngày đăng tải.
Trường hợp phát hiện xuất bản phẩm phát hành trên mạng internet vi phạm các quy định của Luật Xuất bản thì Cục Xuất bản có văn bản yêu cầu nhà xuất bản, cơ sở phát hành đình chỉ phát hành xuất bản phẩm đó.
Trường hợp phát hành xuất bản phẩm trên mạng internet của nhà xuất bản, cơ quan, tổ chức được phép xuất bản đã giải thể, sáp nhập hoặc chia tách phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả, cơ quan, tổ chức được chuyển giao quyền và nghĩa vụ dân sự của nhà xuất bản, cơ quan, tổ chức được phép xuất bản bị giải thể, sáp nhập, chia tách (nếu có).
3. Bổ sung Điều 18a như sau:

“Điều 18a. Nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh
1. Việc nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế và người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) phải được phép của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.
2. Đối với các trường hợp sau đây cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải xin phép khi nhập khẩu xuất bản phẩm vào Việt Nam mà chỉ làm thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan:
a) Tài liệu phục vụ hội thảo, hội nghị quốc tế đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép tổ chức tại Việt Nam;
b) Xuất bản phẩm là tài sản di chuyển của tổ chức, gia đình, cá nhân để sử dụng riêng;
c) Xuất bản phẩm thuộc tiêu chuẩn hành lý mang theo người của người nhập cảnh để sử dụng cho nhu cầu cá nhân;
d) Xuất bản phẩm tặng cho tổ chức, cá nhân gửi qua bưu điện có giá trị không lớn hơn tiêu chuẩn miễn thuế theo quy định của pháp luật.
3. Xuất bản phẩm quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều này sau khi sử dụng phải tái xuất; trường hợp để chuyển giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác của Việt Nam thì cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận phải làm thủ tục nhập khẩu quy định tại Điều 18b Nghị định này.
Xuất bản phẩm quy định tại điểm d khoản 2 Điều này có giá trị vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế thì phải làm thủ tục xin phép nhập khẩu.
Việc nhập khẩu xuất bản phẩm của tổ chức, cá nhân được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ thực hiện theo quy định của pháp luật hải quan và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.