Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 107/QĐ-UBND 2015 phát triển giáo dục đào tạo Cần Thơ đến 2020 định hướng 2030

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "14/01/2015", "sign_number": "107/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Tâm", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "14/01/2015", "sign_number": "107/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Tâm", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "14/01/2015", "sign_number": "107/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Tâm", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "14/01/2015", "sign_number": "107/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Tâm", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Cần Thơ", "promulgation_date": "14/01/2015", "sign_number": "107/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Tâm", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 107/QĐ-UBND 2015 phát triển giáo dục đào tạo Cần Thơ đến 2020 định hướng 2030

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo thành phố Cần Thơ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
2. Mục tiêu:
a) Mục tiêu tổng quát:
Xây dựng Quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo thành phố Cần Thơ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc mở rộng quy mô đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố Cần Thơ, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của cả vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước; cơ sở hạ tầng, quy mô trường, lớp ở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông được mở rộng, sắp xếp hợp lý, đầu tư theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, đảm bảo có đủ chỗ và tăng tỷ lệ huy động học sinh đúng độ tuổi đến trường, đủ điều kiện cho sự phát triển toàn diện học sinh; đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia; nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; tiến tới đội ngũ giáo viên giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên có trình độ đại học trở lên; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho người dân, từng bước hình thành xã hội học tập.
b) Mục tiêu cụ thể:
- Giáo dục mầm non:
Đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi trước năm 2015; đến năm 2020, có ít nhất 30% trẻ trong độ tuổi nhà trẻ và trên 90% trẻ trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non. Đến năm 2030, có ít nhất 50% trẻ trong độ tuổi nhà trẻ và 95% trẻ trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc tại các cơ sở giáo dục mầm non. Giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục mầm non, đến năm 2015 dưới mức 11,1%, đến năm 2020 dưới mức 8% và đến năm 2030 dưới mức 5%.
- Giáo dục phổ thông:
+ Đến năm 2020, tỷ lệ các trường phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông) thực hiện dạy 02 buổi /ngày là 90%; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia: mầm non đạt 80%; tiểu học đạt 90%, trung học cơ sở đạt 80% và trung học phổ thông đạt 60%; tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi ở tiểu học là 100%, trung học cơ sở là 90% và 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương đương; có 70% trẻ em khuyết tật được đi học.
+ Đến năm 2030, tỷ lệ trường phổ thông thực hiện dạy 02 buổi/ngày là 95%; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia: mầm non đạt 90%, tiểu học đạt 95%, trung học cơ sở đạt 95% và trung học phổ thông đạt 85%; tỷ lệ huy động học sinh tiểu học đúng độ tuổi là 100%, trung học cơ sở là 95% và trung học phổ thông là 85%; có 90% thanh niên trong độ tuổi có trình độ trung học phổ thông và tương đương.
+ Năm 2020, 100% trường tiểu học được học ngoại ngữ theo chương trình tiếng Anh của Bộ Giáo dục và Đào tạo; đảm bảo trước năm 2020 học sinh phổ thông được tiếp cận hình thức học tập E-learning; 100% trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông thực hiện công tác quản lý trường học thông qua mạng Internet, đảm bảo công khai về tài chính, nhân sự và chất lượng giáo dục, tạo kênh thông tin liên lạc thường xuyên, hiệu quả giữa nhà trường và phụ huynh học sinh, giữa nhà trường và cộng đồng; trước năm 2020, 100% các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông triển khai giảng dạy theo chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
+ Nghiên cứu, xây dựng mô hình trường học chất lượng cao, trường có đủ điều kiện về cơ sở vật chất và đội ngũ để phát triển toàn diện học sinh, thực hiện dân chủ hóa giáo dục, ứng dụng hóa giáo dục, chú ý đến cá biệt hóa giáo dục để phát huy cao nhất năng lực và sở trường của học sinh. Đến năm 2020, có 40% trường phổ thông; đến năm 2030, có 60% trường phổ thông được triển khai mô hình này.
+ Chuẩn bị chu đáo các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ, đặc biệt là nhận thức của toàn xã hội về triển khai giáo dục bắt buộc 9 năm áp dụng sau năm 2020.
- Giáo dục thường xuyên:
+ Nâng cấp các trung tâm giáo dục thường xuyên để thực hiện tốt chức năng liên kết đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp; trung tâm giáo dục thường xuyên thành phố liên kết đào tạo trung cấp, cao đẳng và đại học. Phát triển các trung tâm giáo dục thường xuyên theo hướng hợp nhất với trung tâm dạy nghề của các quận, huyện trở thành Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Dạy nghề và Giới thiệu việc làm đáp ứng yêu cầu vừa dạy văn hóa, vừa dạy nghề cho học sinh sau trung học cơ sở, đồng thời dạy nghề ngắn hạn và góp phần tạo việc làm cho nhân dân, ưu tiên các huyện: Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Phong Điền và Thới Lai; củng cố và hoàn thiện các trung tâm văn hóa học tập cộng đồng nhằm tạo cơ hội cho mọi người có thể học tập suốt đời. Đến năm 2020, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo là 100%, trong đó, có 7% giáo viên đạt trên chuẩn và đến năm 2030 đạt 15% giáo viên trên chuẩn.
+ Duy trì, củng cố và giữ vững những kết quả đã đạt được về xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Người học giáo dục thường xuyên có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cần thiết để có thể tham gia các chương trình giáo dục đa dạng, liên thông, đáp ứng yêu cầu công việc và nâng cao chất lượng cuộc sống.
+ Năm 2020, tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 trở lên là 99%, trong đó, tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 đến 60 tuổi là 99,5%; đến năm 2030, tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi 15 đến 60 tuổi là 100% (trừ những trường hợp không có khả năng học tập).
+ Năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ trung học phổ thông và tương đương, đến năm 2030 là 87%.
- Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học:
+ Mở rộng hệ thống giáo dục nghề nghiệp đảm bảo phân luồng sau trung học cơ sở và liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo. Đến năm 2020, có khả năng tiếp nhận 15% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và trên 20% số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào học ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, mở rộng trường dạy nghề theo hướng vừa dạy văn hóa vừa dạy nghề cho học sinh ở các trung tâm giáo dục thường xuyên.
+ Mở rộng và nâng cấp các trường cao đẳng, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp và trường dạy nghề để đáp ứng yêu cầu học tập của học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông; triển khai liên kết với nước ngoài trong việc đào tạo nghề chất lượng cao.
+ Mở rộng quy mô đào tạo của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là đảm bảo nhân lực cho các ngành công nghiệp, nhất là ngành công nghiệp chế biến, các ngành thủy sản, nông nghiệp, du lịch, giao thông, dịch vụ, y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao trên địa bàn thành phố; đa dạng hóa các loại hình, ngành nghề đào tạo và liên kết đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu của khu vực nhà nước và các doanh nghiệp nội địa, đáp ứng các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài; xây dựng kế hoạch di chuyển một số trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng ở quận trung tâm ra vùng ngoại ô để phát triển lâu dài, đồng thời tập trung diện tích đất để đầu tư xây dựng các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông.
+ Năm 2015, tỷ lệ sinh viên tất cả các hệ đào tạo là 200 sinh viên/1 vạn dân, đến năm 2020 là 350 - 400 sinh viên/1 vạn dân; đến năm 2030 là 450 - 500 sinh viên/1 vạn dân.
+ Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, đồng thời có chính sách thu hút người có trình độ chuyên môn và tay nghề cao về giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề.
+ Năm 2020, có 40% giáo viên trung cấp, 60% giảng viên cao đẳng và 90% giảng viên đại học có trình độ thạc sĩ trở lên, trong đó, 30% giảng viên đại học và 12% giảng viên cao đẳng có trình độ tiến sĩ.
+ Đến năm 2030, có 50% giáo viên trung cấp, 70% giảng viên cao đẳng và 95% giảng viên đại học có trình độ thạc sĩ trở lên, trong đó, có 40% giảng viên đại học và 20% giảng viên cao đẳng có trình độ tiến sĩ.

Content:
Mục tiêu:
a) Mục tiêu tổng quát:
Xây dựng Quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo thành phố Cần Thơ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc mở rộng quy mô đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố Cần Thơ, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của cả vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước; cơ sở hạ tầng, quy mô trường, lớp ở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông được mở rộng, sắp xếp hợp lý, đầu tư theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, đảm bảo có đủ chỗ và tăng tỷ lệ huy động học sinh đúng độ tuổi đến trường, đủ điều kiện cho sự phát triển toàn diện học sinh; đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia; nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; tiến tới đội ngũ giáo viên giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên có trình độ đại học trở lên; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho người dân, từng bước hình thành xã hội học tập.
b) Mục tiêu cụ thể:
- Giáo dục mầm non:
Đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi trước năm 2015; đến năm 2020, có ít nhất 30% trẻ trong độ tuổi nhà trẻ và trên 90% trẻ trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non. Đến năm 2030, có ít nhất 50% trẻ trong độ tuổi nhà trẻ và 95% trẻ trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc tại các cơ sở giáo dục mầm non. Giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục mầm non, đến năm 2015 dưới mức 11,1%, đến năm 2020 dưới mức 8% và đến năm 2030 dưới mức 5%.
- Giáo dục phổ thông:
+ Đến năm 2020, tỷ lệ các trường phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông) thực hiện dạy 02 buổi /ngày là 90%; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia: mầm non đạt 80%; tiểu học đạt 90%, trung học cơ sở đạt 80% và trung học phổ thông đạt 60%; tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi ở tiểu học là 100%, trung học cơ sở là 90% và 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương đương; có 70% trẻ em khuyết tật được đi học.
+ Đến năm 2030, tỷ lệ trường phổ thông thực hiện dạy 02 buổi/ngày là 95%; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia: mầm non đạt 90%, tiểu học đạt 95%, trung học cơ sở đạt 95% và trung học phổ thông đạt 85%; tỷ lệ huy động học sinh tiểu học đúng độ tuổi là 100%, trung học cơ sở là 95% và trung học phổ thông là 85%; có 90% thanh niên trong độ tuổi có trình độ trung học phổ thông và tương đương.
+ Năm 2020, 100% trường tiểu học được học ngoại ngữ theo chương trình tiếng Anh của Bộ Giáo dục và Đào tạo; đảm bảo trước năm 2020 học sinh phổ thông được tiếp cận hình thức học tập E-learning; 100% trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông thực hiện công tác quản lý trường học thông qua mạng Internet, đảm bảo công khai về tài chính, nhân sự và chất lượng giáo dục, tạo kênh thông tin liên lạc thường xuyên, hiệu quả giữa nhà trường và phụ huynh học sinh, giữa nhà trường và cộng đồng; trước năm 2020, 100% các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông triển khai giảng dạy theo chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
+ Nghiên cứu, xây dựng mô hình trường học chất lượng cao, trường có đủ điều kiện về cơ sở vật chất và đội ngũ để phát triển toàn diện học sinh, thực hiện dân chủ hóa giáo dục, ứng dụng hóa giáo dục, chú ý đến cá biệt hóa giáo dục để phát huy cao nhất năng lực và sở trường của học sinh. Đến năm 2020, có 40% trường phổ thông; đến năm 2030, có 60% trường phổ thông được triển khai mô hình này.
+ Chuẩn bị chu đáo các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ, đặc biệt là nhận thức của toàn xã hội về triển khai giáo dục bắt buộc 9 năm áp dụng sau năm 2020.
- Giáo dục thường xuyên:
+ Nâng cấp các trung tâm giáo dục thường xuyên để thực hiện tốt chức năng liên kết đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp; trung tâm giáo dục thường xuyên thành phố liên kết đào tạo trung cấp, cao đẳng và đại học. Phát triển các trung tâm giáo dục thường xuyên theo hướng hợp nhất với trung tâm dạy nghề của các quận, huyện trở thành Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Dạy nghề và Giới thiệu việc làm đáp ứng yêu cầu vừa dạy văn hóa, vừa dạy nghề cho học sinh sau trung học cơ sở, đồng thời dạy nghề ngắn hạn và góp phần tạo việc làm cho nhân dân, ưu tiên các huyện: Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Phong Điền và Thới Lai; củng cố và hoàn thiện các trung tâm văn hóa học tập cộng đồng nhằm tạo cơ hội cho mọi người có thể học tập suốt đời. Đến năm 2020, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo là 100%, trong đó, có 7% giáo viên đạt trên chuẩn và đến năm 2030 đạt 15% giáo viên trên chuẩn.
+ Duy trì, củng cố và giữ vững những kết quả đã đạt được về xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Người học giáo dục thường xuyên có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cần thiết để có thể tham gia các chương trình giáo dục đa dạng, liên thông, đáp ứng yêu cầu công việc và nâng cao chất lượng cuộc sống.
+ Năm 2020, tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 trở lên là 99%, trong đó, tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 đến 60 tuổi là 99,5%; đến năm 2030, tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi 15 đến 60 tuổi là 100% (trừ những trường hợp không có khả năng học tập).
+ Năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ trung học phổ thông và tương đương, đến năm 2030 là 87%.
- Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học:
+ Mở rộng hệ thống giáo dục nghề nghiệp đảm bảo phân luồng sau trung học cơ sở và liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo. Đến năm 2020, có khả năng tiếp nhận 15% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và trên 20% số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào học ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, mở rộng trường dạy nghề theo hướng vừa dạy văn hóa vừa dạy nghề cho học sinh ở các trung tâm giáo dục thường xuyên.
+ Mở rộng và nâng cấp các trường cao đẳng, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp và trường dạy nghề để đáp ứng yêu cầu học tập của học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông; triển khai liên kết với nước ngoài trong việc đào tạo nghề chất lượng cao.
+ Mở rộng quy mô đào tạo của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là đảm bảo nhân lực cho các ngành công nghiệp, nhất là ngành công nghiệp chế biến, các ngành thủy sản, nông nghiệp, du lịch, giao thông, dịch vụ, y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao trên địa bàn thành phố; đa dạng hóa các loại hình, ngành nghề đào tạo và liên kết đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu của khu vực nhà nước và các doanh nghiệp nội địa, đáp ứng các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài; xây dựng kế hoạch di chuyển một số trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng ở quận trung tâm ra vùng ngoại ô để phát triển lâu dài, đồng thời tập trung diện tích đất để đầu tư xây dựng các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông.
+ Năm 2015, tỷ lệ sinh viên tất cả các hệ đào tạo là 200 sinh viên/1 vạn dân, đến năm 2020 là 350 - 400 sinh viên/1 vạn dân; đến năm 2030 là 450 - 500 sinh viên/1 vạn dân.
+ Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, đồng thời có chính sách thu hút người có trình độ chuyên môn và tay nghề cao về giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề.
+ Năm 2020, có 40% giáo viên trung cấp, 60% giảng viên cao đẳng và 90% giảng viên đại học có trình độ thạc sĩ trở lên, trong đó, 30% giảng viên đại học và 12% giảng viên cao đẳng có trình độ tiến sĩ.
+ Đến năm 2030, có 50% giáo viên trung cấp, 70% giảng viên cao đẳng và 95% giảng viên đại học có trình độ thạc sĩ trở lên, trong đó, có 40% giảng viên đại học và 20% giảng viên cao đẳng có trình độ tiến sĩ.