Document: Điểm d Khoản 5 Điều 1 Quyết định 1614/QĐ-UBND 2017 Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Lâm Đồng

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "24/07/2017", "sign_number": "1614/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "24/07/2017", "sign_number": "1614/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "24/07/2017", "sign_number": "1614/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "24/07/2017", "sign_number": "1614/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "24/07/2017", "sign_number": "1614/QĐ-UBND", "signer": "Đoàn Văn Việt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 5 Điều 1 Quyết định 1614/QĐ-UBND 2017 Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Lâm Đồng

Điều 1. Phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Đơn Dương đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, với các nội dung chủ yếu sau:
...
5. Phát triển kinh tế phải gắn với ổn định chính trị, đảm bảo trật tự xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh; củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị, xây dựng nền hành chính vững mạnh.
II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
1. Mục tiêu tổng quát
Phát huy tiềm năng lợi thế, tăng cường sự đoàn kết và đồng thuận xã hội để xây dựng huyện Đơn Dương có kinh tế - xã hội phát triển đạt mức khá trong vùng; đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kết hợp chiều rộng với chiều sâu; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; tập trung khai thác mọi nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng đô thị và nông thôn mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; đảm bảo quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội.
2. Mục tiêu cụ thể
...
d) Đến năm 2020, 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, giữ vững và nâng cao chất lượng huyện nông thôn mới sau năm 2020.
III. ĐỊNH HƯỚNG ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NGÀNH, LĨNH VỰC
1. Về nông, lâm và thủy sản
Đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; phấn đấu đến năm 2020, chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp: trồng trọt chiếm 75-80%, chăn nuôi chiếm 15-20%, dịch vụ chiếm 5%; đến năm 2030, ngành trồng trọt chiếm 70-75%, chăn nuôi chiếm 20-25%, dịch vụ nông nghiệp trên 5%. Tiếp tục khai thác hợp lý các lợi thế về khí hậu, đất đai và các nguồn lực để tiếp tục phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; thí điểm các mô hình trồng cây dược liệu. Phát triển nông nghiệp hiện đại theo hướng cơ giới hóa, tự động hóa; quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát huy lợi thế, hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu để phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững. Tập trung huy động các nguồn lực phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn văn minh, giàu đẹp có kinh tế phát triển, kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, đảm bảo trật tự xã hội, giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống. Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ xuyên suốt của cả hệ thống chính trị và là sự nghiệp của toàn dân; đến năm 2020, 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, giữ vững và nâng cao chất lượng huyện nông thôn mới sau năm 2020.
a) Trồng trọt: Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, phấn đấu tăng bình quân giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích từ 408 triệu đồng/ha năm 2015 lên 600 triệu đồng/ha vào năm 2020 và đạt khoảng 700-750 triệu đồng/ha vào năm 2030. Tăng cường sơ chế, bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch xuống dưới 10%. Phấn đấu diện tích rau, hoa, cà phê, cây dược liệu được sản xuất ứng dụng công nghệ cao đạt 65% vào năm 2020 và đạt trên 80% vào năm 2030; đảm bảo được lợi nhuận từ 50% trở lên so với doanh thu. Tăng cường quảng bá sản phẩm nông sản trên địa bàn, nâng cao chất lượng và khai thác có hiệu quả thương hiệu rau, hoa Đà Lạt để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Hình thành các chuỗi giá trị trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm rau, hoa, giảm chi phí đầu vào cho sản xuất, giảm các khâu trung gian, sản xuất theo hợp đồng, phát triển các liên kết giữa nông hộ - hợp tác xã/tổ hợp tác - doanh nghiệp; doanh nghiệp - nông hộ; doanh nghiệp - tổ hợp tác,...
- Rau: Phấn đấu đến năm 2020, diện tích canh tác rau đạt 11.550 ha, hệ số sử dụng đất 3,1 lần (rau ứng dụng công nghệ cao 70-75% diện tích canh tác); đến năm 2030, diện tích canh tác rau đạt 12.000 ha, hệ số sử dụng đất 3,4 lần (rau ứng dụng công nghệ cao từ 80% diện tích canh tác trở lên). Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến rau để tăng tỷ lệ qua chế biến đạt 40-50% sản lượng, trước mắt ưu tiên đầu tư nhà máy chế biến cà chua (cụm công nghiệp Ka Đô), các cơ sở sơ chế, đóng gói, bảo quản các loại rau quả. Tiếp tục đảm bảo các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm; phấn đấu đến năm 2020, có 50% diện tích rau được cấp chứng nhận VietGAP, GlobalGAP; định hướng đến năm 2030, có 60- 70% diện tích rau được cấp chứng nhận VietGAP, GlobalGAP.
- Hoa: Đến năm 2020, diện tích canh tác hoa tươi đạt 1.100 ha (hoa trong dân có 160 ha); đến năm 2030, diện tích canh tác hoa tươi đạt 1.500 ha (hoa trong dân đạt 550 ha).
- Các loại cây trồng khác: Đến năm 2020, diện tích canh tác lúa đạt 2.000 ha, cà phê đạt 1.690 ha, cỏ trồng đạt 1.200 ha, cây ăn quả đạt 1.300 ha; đến năm 2030, diện tích canh tác lúa đạt 1.500 ha, cà phê đạt 1.000 ha, cỏ trồng đạt 1.500 ha, cây ăn quả đạt 1.300 ha,...
b) Chăn nuôi: Chuyển mạnh các phương thức chăn nuôi truyền thống tận dụng quảng canh sang chăn nuôi theo hướng tập trung, trang trại ở các hộ trong vùng quy hoạch. Chuyển dần sang vùng quy hoạch được phép chăn nuôi đến năm 2020 đạt 70%, đến năm 2030 đạt 90%; phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi trong vùng quy hoạch. Nâng tỷ trọng ngành chăn nuôi của huyện trong nội bộ ngành nông nghiệp từ 11,2% năm 2015 lên 15% vào năm 2020 và đạt từ 17-20% vào năm 2030. Vật nuôi chủ lực là đàn bò sữa, tiếp đến là bò thịt và một số vật nuôi khác.
- Bò sữa: Giai đoạn 2016-2020, bình quân hàng năm tăng 13-15% và đến cuối năm 2020, toàn huyện có 22.000 con bò sữa; đến năm 2030, duy trì đàn bò sữa đạt từ 22.000 con trở lên; trong đó, bò đang vắt sữa chiếm khoảng 60% trở lên so với tổng đàn.
- Bò thịt: Giai đoạn 2016-2020, bình quân hàng năm tăng 5,6%/năm và đến cuối năm 2020, tổng đàn bò thịt có từ 14.000 con trở lên (trong đó, bò thịt cao sản có từ 5.023 con, chiếm 35,8%); đến năm 2030, đàn bò thịt có khoảng 18.200 con (trong đó, bò thịt cao sản có khoảng 10.000 con, chiếm 54,9%).
- Heo: Giai đoạn 2016-2020, bình quân hàng năm tăng 5-7%; đến năm 2020, đạt khoảng 22.400 con và đến năm 2030, đạt khoảng 44.000 con.
- Gia cầm: Đến năm 2020, đạt khoảng 250.000 con và đến năm 2030, đạt khoảng 400.000 con.
c) Thủy sản: Tập trung khai thác diện tích mặt nước do nhân dân tự đào để nuôi trồng thủy sản và diện tích mặt nước các hồ thủy lợi để phát triển nuôi cá, tập trung vào các giống như: rô phi, diêu hồng,... Triển khai nuôi thử nghiệm cá nước lạnh (cá tầm), nuôi cá lăng đuôi đỏ ở một số hồ thủy lợi có diện tích mặt nước lớn. Tổng diện tích nuôi đến năm 2020 đạt từ 278 ha, sản lượng 665 tấn; đến năm 2030, diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 600 ha, sản lượng đạt 1.020 tấn.
d) Lâm nghiệp:
- Quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, nhất là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; đẩy mạnh giao rừng cho hộ gia đình quản lý, chăm sóc, bảo vệ; tiếp tục phát triển tài nguyên rừng để nâng cao năng lực cung cấp của rừng, nâng tỷ lệ độ che phủ của rừng. Hình thành diện tích rừng sản xuất kinh doanh rõ nét chủ yếu là rừng trồng. Chú trọng phát triển sản xuất lâm nghiệp từ gỗ, ngoài gỗ, từ sản xuất nông lâm kết hợp và đặc sản rừng cũng như phát triển kinh doanh du lịch sinh thái thông qua giá trị cảnh quan của rừng.
- Hoàn thành nhiệm vụ phủ xanh đất trống đồi trọc; đảm bảo độ che phủ của rừng đến năm 2020 đạt từ 58% trở lên và đạt tỷ lệ 60% trở lên sau năm 2020. Đến năm 2020, diện tích đất lâm nghiệp là 40.108 ha (rừng phòng hộ có 17.234 ha, rừng sản xuất có 22.874,0 ha); phấn đấu đến năm 2030, diện tích đất lâm nghiệp là 40.971 ha (rừng phòng hộ có 17.234 ha, rừng sản xuất có 23.737 ha). Giai đoạn 2016 - 2020, khoanh nuôi tái sinh khoảng 2000 ha rừng (mỗi năm 400 ha), trồng 300 ha (mỗi năm 60 ha rừng); thời kỳ 2021-2030, chăm sóc diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh và diện tích trồng mới.
2. Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Hoàn thiện hạ tầng Cụm công nghiệp Ka Đô theo quy hoạch; tiếp tục kêu gọi, thu hút đầu tư vào Cụm công nghiệp Ka Đô để đảm bảo đến năm 2020, tỷ lệ lấp đầy đạt 70% diện tích và đến năm 2030, tỷ lệ lấp đầy đạt từ 80% trở lên; thu hút đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất phân bón, nhà máy thức ăn chăn nuôi, nhà máy sản xuất cơ khí phục vụ nông nghiệp, nhà máy chế biến nông - lâm sản; gắn phát triển công nghiệp với phát triển nông nghiệp, nông thôn và bảo vệ môi trường. Các lĩnh vực sản xuất chủ yếu:
a) Công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm: Thu hút đầu tư các dự án chế biến, bảo quản sau thu hoạch các mặt hàng nông, lâm sản có thế mạnh như: rau, cà chua, dứa đóng hộp, hồng, nấm các loại, các sản phẩm từ sữa bò, thịt bò,... trong Cụm công nghiệp Ka Đô. Phát triển công nghiệp chế biến rau quả (cà chua cô đặc, nấm đóng hộp, đồ gia vị, nước ép hoa quả,...) gắn với vùng nguyên liệu tại thị trấn Thạnh Mỹ, thị trấn D’ran và các xã: Ka Đô, Quảng Lập, Tu Tra, Lạc Lâm. Đổi mới công nghệ chế biến gỗ và lâm sản theo hướng hiện đại, đa dạng hóa các sản phẩm gỗ (sản xuất các vật dụng gỗ thành phẩm), tiết kiệm nguyên liệu, tận dụng các phế phẩm để tạo ra các mặt hàng sản phẩm gỗ khác như: gỗ ghép, ván dăm, ván ép lớp...
b) Sản xuất vật liệu xây dựng: Từng bước xóa bỏ các lò sản xuất gạch, ngói thủ công truyền thống, gạch tuy nen gây ô nhiễm môi trường; phát triển công nghệ sản xuất gạch không nung, các sản phẩm cấu kiện bê tông đúc sẵn,...theo công nghệ mới; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật xử lý môi trường trong sản xuất vật liệu xây dựng tại thị trấn Thạnh Mỹ và các xã: Tu Tra, Ka Đơn, Pró.
c) Công nghiệp cơ khí: Phát triển các ngành sản xuất cơ khí, sản xuất, chế tạo máy móc, dụng cụ; sản xuất lắp đặt công nghệ nhà kính, nhà lưới... đạt chất lượng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
d) Công nghiệp hóa chất, may mặc: Thu hút các dự án sản xuất phân vi sinh, phân hữu cơ từ nguyên liệu sẵn có; nhà máy chế biến thức ăn gia súc, may mặc và giày da tại cụm công nghiệp Ka Đô và xã Tu Tra.

Content:
Đến năm 2020, 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, giữ vững và nâng cao chất lượng huyện nông thôn mới sau năm 2020.
III. ĐỊNH HƯỚNG ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NGÀNH, LĨNH VỰC
1. Về nông, lâm và thủy sản
Đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; phấn đấu đến năm 2020, chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp: trồng trọt chiếm 75-80%, chăn nuôi chiếm 15-20%, dịch vụ chiếm 5%; đến năm 2030, ngành trồng trọt chiếm 70-75%, chăn nuôi chiếm 20-25%, dịch vụ nông nghiệp trên 5%. Tiếp tục khai thác hợp lý các lợi thế về khí hậu, đất đai và các nguồn lực để tiếp tục phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; thí điểm các mô hình trồng cây dược liệu. Phát triển nông nghiệp hiện đại theo hướng cơ giới hóa, tự động hóa; quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát huy lợi thế, hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu để phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững. Tập trung huy động các nguồn lực phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn văn minh, giàu đẹp có kinh tế phát triển, kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, đảm bảo trật tự xã hội, giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống. Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ xuyên suốt của cả hệ thống chính trị và là sự nghiệp của toàn dân; đến năm 2020, 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, giữ vững và nâng cao chất lượng huyện nông thôn mới sau năm 2020.
a) Trồng trọt: Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, phấn đấu tăng bình quân giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích từ 408 triệu đồng/ha năm 2015 lên 600 triệu đồng/ha vào năm 2020 và đạt khoảng 700-750 triệu đồng/ha vào năm 2030. Tăng cường sơ chế, bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch xuống dưới 10%. Phấn đấu diện tích rau, hoa, cà phê, cây dược liệu được sản xuất ứng dụng công nghệ cao đạt 65% vào năm 2020 và đạt trên 80% vào năm 2030; đảm bảo được lợi nhuận từ 50% trở lên so với doanh thu. Tăng cường quảng bá sản phẩm nông sản trên địa bàn, nâng cao chất lượng và khai thác có hiệu quả thương hiệu rau, hoa Đà Lạt để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Hình thành các chuỗi giá trị trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm rau, hoa, giảm chi phí đầu vào cho sản xuất, giảm các khâu trung gian, sản xuất theo hợp đồng, phát triển các liên kết giữa nông hộ - hợp tác xã/tổ hợp tác - doanh nghiệp; doanh nghiệp - nông hộ; doanh nghiệp - tổ hợp tác,...
- Rau: Phấn đấu đến năm 2020, diện tích canh tác rau đạt 11.550 ha, hệ số sử dụng đất 3,1 lần (rau ứng dụng công nghệ cao 70-75% diện tích canh tác); đến năm 2030, diện tích canh tác rau đạt 12.000 ha, hệ số sử dụng đất 3,4 lần (rau ứng dụng công nghệ cao từ 80% diện tích canh tác trở lên). Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến rau để tăng tỷ lệ qua chế biến đạt 40-50% sản lượng, trước mắt ưu tiên đầu tư nhà máy chế biến cà chua (cụm công nghiệp Ka Đô), các cơ sở sơ chế, đóng gói, bảo quản các loại rau quả. Tiếp tục đảm bảo các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm; phấn đấu đến năm 2020, có 50% diện tích rau được cấp chứng nhận VietGAP, GlobalGAP; định hướng đến năm 2030, có 60- 70% diện tích rau được cấp chứng nhận VietGAP, GlobalGAP.
- Hoa: Đến năm 2020, diện tích canh tác hoa tươi đạt 1.100 ha (hoa trong dân có 160 ha); đến năm 2030, diện tích canh tác hoa tươi đạt 1.500 ha (hoa trong dân đạt 550 ha).
- Các loại cây trồng khác: Đến năm 2020, diện tích canh tác lúa đạt 2.000 ha, cà phê đạt 1.690 ha, cỏ trồng đạt 1.200 ha, cây ăn quả đạt 1.300 ha; đến năm 2030, diện tích canh tác lúa đạt 1.500 ha, cà phê đạt 1.000 ha, cỏ trồng đạt 1.500 ha, cây ăn quả đạt 1.300 ha,...
b) Chăn nuôi: Chuyển mạnh các phương thức chăn nuôi truyền thống tận dụng quảng canh sang chăn nuôi theo hướng tập trung, trang trại ở các hộ trong vùng quy hoạch. Chuyển dần sang vùng quy hoạch được phép chăn nuôi đến năm 2020 đạt 70%, đến năm 2030 đạt 90%; phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi trong vùng quy hoạch. Nâng tỷ trọng ngành chăn nuôi của huyện trong nội bộ ngành nông nghiệp từ 11,2% năm 2015 lên 15% vào năm 2020 và đạt từ 17-20% vào năm 2030. Vật nuôi chủ lực là đàn bò sữa, tiếp đến là bò thịt và một số vật nuôi khác.
- Bò sữa: Giai đoạn 2016-2020, bình quân hàng năm tăng 13-15% và đến cuối năm 2020, toàn huyện có 22.000 con bò sữa; đến năm 2030, duy trì đàn bò sữa đạt từ 22.000 con trở lên; trong đó, bò đang vắt sữa chiếm khoảng 60% trở lên so với tổng đàn.
- Bò thịt: Giai đoạn 2016-2020, bình quân hàng năm tăng 5,6%/năm và đến cuối năm 2020, tổng đàn bò thịt có từ 14.000 con trở lên (trong đó, bò thịt cao sản có từ 5.023 con, chiếm 35,8%); đến năm 2030, đàn bò thịt có khoảng 18.200 con (trong đó, bò thịt cao sản có khoảng 10.000 con, chiếm 54,9%).
- Heo: Giai đoạn 2016-2020, bình quân hàng năm tăng 5-7%; đến năm 2020, đạt khoảng 22.400 con và đến năm 2030, đạt khoảng 44.000 con.
- Gia cầm: Đến năm 2020, đạt khoảng 250.000 con và đến năm 2030, đạt khoảng 400.000 con.
c) Thủy sản: Tập trung khai thác diện tích mặt nước do nhân dân tự đào để nuôi trồng thủy sản và diện tích mặt nước các hồ thủy lợi để phát triển nuôi cá, tập trung vào các giống như: rô phi, diêu hồng,... Triển khai nuôi thử nghiệm cá nước lạnh (cá tầm), nuôi cá lăng đuôi đỏ ở một số hồ thủy lợi có diện tích mặt nước lớn. Tổng diện tích nuôi đến năm 2020 đạt từ 278 ha, sản lượng 665 tấn; đến năm 2030, diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 600 ha, sản lượng đạt 1.020 tấn.
Lâm nghiệp:
- Quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, nhất là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; đẩy mạnh giao rừng cho hộ gia đình quản lý, chăm sóc, bảo vệ; tiếp tục phát triển tài nguyên rừng để nâng cao năng lực cung cấp của rừng, nâng tỷ lệ độ che phủ của rừng. Hình thành diện tích rừng sản xuất kinh doanh rõ nét chủ yếu là rừng trồng. Chú trọng phát triển sản xuất lâm nghiệp từ gỗ, ngoài gỗ, từ sản xuất nông lâm kết hợp và đặc sản rừng cũng như phát triển kinh doanh du lịch sinh thái thông qua giá trị cảnh quan của rừng.
- Hoàn thành nhiệm vụ phủ xanh đất trống đồi trọc; đảm bảo độ che phủ của rừng đến năm 2020 đạt từ 58% trở lên và đạt tỷ lệ 60% trở lên sau năm 2020. Đến năm 2020, diện tích đất lâm nghiệp là 40.108 ha (rừng phòng hộ có 17.234 ha, rừng sản xuất có 22.874,0 ha); phấn đấu đến năm 2030, diện tích đất lâm nghiệp là 40.971 ha (rừng phòng hộ có 17.234 ha, rừng sản xuất có 23.737 ha). Giai đoạn 2016 - 2020, khoanh nuôi tái sinh khoảng 2000 ha rừng (mỗi năm 400 ha), trồng 300 ha (mỗi năm 60 ha rừng); thời kỳ 2021-2030, chăm sóc diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh và diện tích trồng mới.
2. Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Hoàn thiện hạ tầng Cụm công nghiệp Ka Đô theo quy hoạch; tiếp tục kêu gọi, thu hút đầu tư vào Cụm công nghiệp Ka Đô để đảm bảo đến năm 2020, tỷ lệ lấp đầy đạt 70% diện tích và đến năm 2030, tỷ lệ lấp đầy đạt từ 80% trở lên; thu hút đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất phân bón, nhà máy thức ăn chăn nuôi, nhà máy sản xuất cơ khí phục vụ nông nghiệp, nhà máy chế biến nông - lâm sản; gắn phát triển công nghiệp với phát triển nông nghiệp, nông thôn và bảo vệ môi trường. Các lĩnh vực sản xuất chủ yếu:
a) Công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm: Thu hút đầu tư các dự án chế biến, bảo quản sau thu hoạch các mặt hàng nông, lâm sản có thế mạnh như: rau, cà chua, dứa đóng hộp, hồng, nấm các loại, các sản phẩm từ sữa bò, thịt bò,... trong Cụm công nghiệp Ka Đô. Phát triển công nghiệp chế biến rau quả (cà chua cô đặc, nấm đóng hộp, đồ gia vị, nước ép hoa quả,...) gắn với vùng nguyên liệu tại thị trấn Thạnh Mỹ, thị trấn D’ran và các xã: Ka Đô, Quảng Lập, Tu Tra, Lạc Lâm. Đổi mới công nghệ chế biến gỗ và lâm sản theo hướng hiện đại, đa dạng hóa các sản phẩm gỗ (sản xuất các vật dụng gỗ thành phẩm), tiết kiệm nguyên liệu, tận dụng các phế phẩm để tạo ra các mặt hàng sản phẩm gỗ khác như: gỗ ghép, ván dăm, ván ép lớp...
b) Sản xuất vật liệu xây dựng: Từng bước xóa bỏ các lò sản xuất gạch, ngói thủ công truyền thống, gạch tuy nen gây ô nhiễm môi trường; phát triển công nghệ sản xuất gạch không nung, các sản phẩm cấu kiện bê tông đúc sẵn,...theo công nghệ mới; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật xử lý môi trường trong sản xuất vật liệu xây dựng tại thị trấn Thạnh Mỹ và các xã: Tu Tra, Ka Đơn, Pró.
c) Công nghiệp cơ khí: Phát triển các ngành sản xuất cơ khí, sản xuất, chế tạo máy móc, dụng cụ; sản xuất lắp đặt công nghệ nhà kính, nhà lưới... đạt chất lượng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Công nghiệp hóa chất, may mặc: Thu hút các dự án sản xuất phân vi sinh, phân hữu cơ từ nguyên liệu sẵn có; nhà máy chế biến thức ăn gia súc, may mặc và giày da tại cụm công nghiệp Ka Đô và xã Tu Tra.