Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 3472/QĐ-UBND năm 2008 Bảo vệ Phát triển Lâm nghiệp Lâm Đồng đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "24/12/2008", "sign_number": "3472/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Đức Hòa", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "24/12/2008", "sign_number": "3472/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Đức Hòa", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "24/12/2008", "sign_number": "3472/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Đức Hòa", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "24/12/2008", "sign_number": "3472/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Đức Hòa", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lâm Đồng", "promulgation_date": "24/12/2008", "sign_number": "3472/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Đức Hòa", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 3472/QĐ-UBND năm 2008 Bảo vệ Phát triển Lâm nghiệp Lâm Đồng đến 2020

Điều 1. Phê duyệt Đề án Bảo vệ và Phát triển Lâm nghiệp tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau:
...
2. Tổng diện tích rừng trồng: 49.006 ha, chiếm 8,15% diện tích đất lâm nghiệp; Loài cây trồng chủ yếu là Thông 3 lá, Sao đen, Keo, Thông 2 lá...Diện tích rừng trồng từ năm 1976-2007 được đầu tư từ các nguồn vốn:
- Nguồn vốn ngân sách tỉnh: 24.707 ha, chủ yếu đầu tư trồng rừng tập trung trên đối tượng rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng;
- Nguồn vốn chương trình 327 (1993-1998): 7.538 ha, chủ yếu đầu tư trồng rừng trên đối tượng rừng phòng hộ và rừng đặc dụng;
- Nguồn vốn chương trình 5 triệu ha rừng (1999-2007): 5.706 ha, chủ yếu đầu tư trồng rừng trên đối tượng rừng phòng hộ và rừng đặc dụng;
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết với Công ty cổ phần giấy Tân Mai (1998-2005): 10.716 ha, chủ yếu đầu tư trồng rừng phục vụ nguyên liệu giấy;
- Nguồn vốn trồng rừng phòng hộ đầu nguồn thủy điện Trị An: 1.954 ha, chủ yếu đầu tư trồng rừng tập trung trên đối tượng rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng;
- Nguồn vốn từ các thành phần kinh tế khác (tổ chức, cá nhân, hộ gia đình): khoảng trên 5.300 ha, chủ yếu đầu tư trồng rừng, sản xuất nông lâm kết hợp.
II. Phát triển Lâm nghiệp bền vững tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020:
1. Quan điểm, mục tiêu phát triển rừng:
a) Quan điểm:
- Phát triển lâm nghiệp một cách toàn diện coi trọng ba khâu: trồng, bảo vệ và sử dụng tổng hợp lợi ích tài nguyên rừng;
- Phát triển lâm nghiệp phải đóng góp ngày càng tăng vào tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, sinh thái, cảnh quan thiên nhiên của Lâm Đồng;
- Phát triển lâm nghiệp phải gắn với chủ trương xã hội hóa việc bảo vệ phát triển rừng; giải quyết hài hòa các mối liên hệ giữa phát triển và bảo vệ sinh thái, môi trường; giữa lợi ích kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội; giữa lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp và người dân sống liền rừng;
- Phát triển lâm nghiệp phải lấy rừng giữ rừng, lấy rừng phát triển rừng, lấy rừng cải thiện đời sống người dân và phải gắn với các chương trình, dự án của Trung ương, địa phương và các tổ chức quốc tế đã và đang triển khai trên địa bàn tỉnh;
- Tập trung làm chuyển biến cơ bản, nâng cao hiệu quả trong quản lý, sử dụng rừng, coi đó là khâu đột phá trong định hướng phát triển lâm nghiệp của tỉnh để rừng thực sự có chủ.
b) Mục tiêu:
- Duy trì độ che phủ 62%, đảm bảo môi trường sinh thái cho sự phát triển kinh tế bền vững ở Lâm Đồng;
- Ổn định 83.674 ha rừng đặc dụng với tính đa dạng sinh học cao;
- Nâng cao chất lượng 172.800 ha rừng phòng hộ;
- Nâng cao chất lượng 345.000 ha rừng sản xuất, đưa năng suất rừng từ 97m3/ha bình quân hiện nay lên 160m3/ha; phát triển 120.000 ha rừng trồng kinh tế chủ lực; nâng cao chất lượng gỗ và lâm sản ngoài gỗ.
- Phấn đấu diện tích 180.000 ha cây công nghiệp có cây lâm nghiệp che bóng (từ 10-15%)
- Hàng năm cung cấp 250.000 - 300.000 m3 gỗ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu;
- Giải quyết việc làm cho 5 vạn người lao động;
- Xã hội hoá ngành lâm nghiệp, thực hiện các biện pháp nâng cao đời sống người dân làm rừng tăng 3 đến 4 lần so với hiện nay; chấm dứt nạn phá rừng làm rẫy;
- Đưa dịch vụ chi trả môi trường rừng là nguồn thu cơ bản của ngành lâm nghiệp; nâng tỷ trọng lâm nghiệp từ 1,68 % lên 5-7% trong giá trị sản xuất nông nghiệp và trở thành một ngành kinh tế quan trọng của địa phương;
- Góp phần quan trọng ổn định an ninh chính trị - xã hội ở Lâm Đồng.
2. Phát triển lâm nghiệp bền vững, giai đoạn 2009-2020:
a) Sử dụng các loại rừng:
- Rừng đặc dụng: Tập trung bảo tồn nguyên trạng tài nguyên đa dạng sinh học, nghiên cứu khoa học, bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý hiếm, đặc hữu, có giá trị khoa học - kinh tế cao và đang có nguy cơ tuyệt chủng; kết hợp phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hoá.
- Rừng Phòng hộ: Nâng cao chất lượng rừng phòng hộ trên cơ sở thực hiện các giải pháp kỹ thuật lâm sinh để ổn định cấu trúc và phát triển sinh thái rừng phòng hộ: Chặt hạ cây già cỗi, trong phạm vi lâm phần cách sông, suối lớn từ (20m-30m), tuyệt đối không được khai thác ngoài phạm vi nêu trên; trồng bổ sung: 2.000 ha.
- Rừng sản xuất: Chuyển rừng sản xuất có chất lượng kém, năng suất thấp sang rừng kinh tế chủ lực có năng suất cao. Quy hoạch 345.000 ha rừng sản xuất chủ yếu cung cấp gỗ lâm sản phục vụ nhu cầu nguyên liệu cho các nhà máy chế biến và gia dụng, tổ chức sản xuất theo hướng thâm canh, năng suất cao;
+ Phát triển 120.000 ha rừng kinh tế chủ lực, chất lượng cao để sau năm 2020 hàng năm cho sản lượng ổn định 500.000m3 gỗ năm góp phần quan trọng lớn vào sự phát triển kinh tế -xã hội của địa phương. trồng 90.000 ha rừng kinh tế chất lượng cao;
+ Xử lý rừng nghèo kiệt và rừng lồ ô tre nứa, chặt trắng trồng lại là 33.000 ha (10.000 ha rừng lá rộng, 10.000 ha rừng hỗn giao, 13.000 rừng tre nứa);
+ Kinh doanh tổng hợp, phát triển bền vững 52.000 ha rừng thông ba lá thuần loại tự nhiên thuộc rừng sản xuất: Tiến hành khai thác 15.000 ha rừng thông 3 lá thành thục và 1.700 ha rừng thông rải rác theo phương thức khai thác chặt trắng cục bộ theo lô, theo đám, theo băng và trồng lại toàn bộ, hàng năm có 250.000-300.000 m3, bình quân mỗi năm khai thác trắng 1.400 ha rừng, trồng mới 1.500 ha; Sản phẩm tỉa thưa rừng trồng thông ba lá giai đoạn 2009-2020 dự kiến là 230.000m3, bình quân 20.000m3/năm; tương ứng 640 ha/năm; Khai thác trắng rừng trồng sản lượng 77.000m3/năm; tương ứng 400 ha/năm.
Tổng sản lượng gỗ khai thác rừng thông 3 lá: rừng thông tự nhiên 250.000-300.000 m3/năm; rừng thông trồng 97.000 m3/năm.
Trồng rừng thâm canh : 2.000 ha/năm.
Sản lượng nhựa thông : 2.500-2.700 tấn/năm
Phấn đấu kinh doanh trên một đơn vị diện tích rừng trồng kinh tế phải đạt được giá trị 10-15 triệu đồng/ ha/năm.
b) Bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học:
- Chủ tịch UBND các cấp phải tổ chức thực hiện bảo vệ rừng và chịu trách nhiệm nếu để xảy ra các vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng tại địa phương.
- Cơ quan Kiểm lâm là lực lượng nòng cốt hỗ trợ cho các chủ rừng và các thôn, xã, là lực lượng chính trong việc xử lý các vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; đồng thời tham mưu cho chính quyền các cấp trong công tác bảo vệ rừng; kiểm lâm địa bàn là cán bộ tham mưu trực tiếp cho UBND xã trong việc bảo vệ và phát triển rừng tại cơ sở góp phần ngăn chặn các hành vi xâm hại tài nguyên rừng tận gốc.
- Về bảo tồn đa dạng sinh học: Bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững ĐDSH về các nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái phong phú của Lâm Đồng, quản lý một cách có hiệu quả; đóng góp thiết thực vào công tác bảo tồn và phát triển ĐDSH trong khu vực cũng như toàn cầu.
c) Phát triển du lịch sinh thái rừng: Phấn đấu đến năm 2020 xây dựng vùng du lịch sinh thái rừng ở thành phố Ðà Lạt và các huyện: Lạc Dương, Ðơn Dương, Ðức Trọng trở thành trung tâm về du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng của khu vực và cả nước; đưa du lịch sinh thái rừng thực sự trở thành động lực phát triển của tỉnh Lâm Ðồng.
d) Trồng cây phân tán: Phục hồi phong trào trồng cây phân tán ở các địa bàn trong tỉnh, đa dạng hoá các loại hình trồng cây; trồng xen cây rừng trên bờ vùng, bờ thửa, trên các vườn cây công nghiệp (cà phê, ca cao, chè) đảm bảo tỷ lệ 10-15% độ che phủ.
đ) Phát triển ngành chế biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ: Khuyến khích sử dụng gỗ từ rừng trồng, phát triển công nghệ chế biến sử dụng gỗ rừng trồng, các loại lâm sản khác. Có chính sách ưu đãi với các doanh nghiệp chế biến gỗ rừng trồng, gỗ tinh chế.

Content:
Tổng diện tích rừng trồng: 49.006 ha, chiếm 8,15% diện tích đất lâm nghiệp; Loài cây trồng chủ yếu là Thông 3 lá, Sao đen, Keo, Thông 2 lá...Diện tích rừng trồng từ năm 1976-2007 được đầu tư từ các nguồn vốn:
- Nguồn vốn ngân sách tỉnh: 24.707 ha, chủ yếu đầu tư trồng rừng tập trung trên đối tượng rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng;
- Nguồn vốn chương trình 327 (1993-1998): 7.538 ha, chủ yếu đầu tư trồng rừng trên đối tượng rừng phòng hộ và rừng đặc dụng;
- Nguồn vốn chương trình 5 triệu ha rừng (1999-2007): 5.706 ha, chủ yếu đầu tư trồng rừng trên đối tượng rừng phòng hộ và rừng đặc dụng;
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết với Công ty cổ phần giấy Tân Mai (1998-2005): 10.716 ha, chủ yếu đầu tư trồng rừng phục vụ nguyên liệu giấy;
- Nguồn vốn trồng rừng phòng hộ đầu nguồn thủy điện Trị An: 1.954 ha, chủ yếu đầu tư trồng rừng tập trung trên đối tượng rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng;
- Nguồn vốn từ các thành phần kinh tế khác (tổ chức, cá nhân, hộ gia đình): khoảng trên 5.300 ha, chủ yếu đầu tư trồng rừng, sản xuất nông lâm kết hợp.
II. Phát triển Lâm nghiệp bền vững tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020:
1. Quan điểm, mục tiêu phát triển rừng:
a) Quan điểm:
- Phát triển lâm nghiệp một cách toàn diện coi trọng ba khâu: trồng, bảo vệ và sử dụng tổng hợp lợi ích tài nguyên rừng;
- Phát triển lâm nghiệp phải đóng góp ngày càng tăng vào tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, sinh thái, cảnh quan thiên nhiên của Lâm Đồng;
- Phát triển lâm nghiệp phải gắn với chủ trương xã hội hóa việc bảo vệ phát triển rừng; giải quyết hài hòa các mối liên hệ giữa phát triển và bảo vệ sinh thái, môi trường; giữa lợi ích kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội; giữa lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp và người dân sống liền rừng;
- Phát triển lâm nghiệp phải lấy rừng giữ rừng, lấy rừng phát triển rừng, lấy rừng cải thiện đời sống người dân và phải gắn với các chương trình, dự án của Trung ương, địa phương và các tổ chức quốc tế đã và đang triển khai trên địa bàn tỉnh;
- Tập trung làm chuyển biến cơ bản, nâng cao hiệu quả trong quản lý, sử dụng rừng, coi đó là khâu đột phá trong định hướng phát triển lâm nghiệp của tỉnh để rừng thực sự có chủ.
b) Mục tiêu:
- Duy trì độ che phủ 62%, đảm bảo môi trường sinh thái cho sự phát triển kinh tế bền vững ở Lâm Đồng;
- Ổn định 83.674 ha rừng đặc dụng với tính đa dạng sinh học cao;
- Nâng cao chất lượng 172.800 ha rừng phòng hộ;
- Nâng cao chất lượng 345.000 ha rừng sản xuất, đưa năng suất rừng từ 97m3/ha bình quân hiện nay lên 160m3/ha; phát triển 120.000 ha rừng trồng kinh tế chủ lực; nâng cao chất lượng gỗ và lâm sản ngoài gỗ.
- Phấn đấu diện tích 180.000 ha cây công nghiệp có cây lâm nghiệp che bóng (từ 10-15%)
- Hàng năm cung cấp 250.000 - 300.000 m3 gỗ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu;
- Giải quyết việc làm cho 5 vạn người lao động;
- Xã hội hoá ngành lâm nghiệp, thực hiện các biện pháp nâng cao đời sống người dân làm rừng tăng 3 đến 4 lần so với hiện nay; chấm dứt nạn phá rừng làm rẫy;
- Đưa dịch vụ chi trả môi trường rừng là nguồn thu cơ bản của ngành lâm nghiệp; nâng tỷ trọng lâm nghiệp từ 1,68 % lên 5-7% trong giá trị sản xuất nông nghiệp và trở thành một ngành kinh tế quan trọng của địa phương;
- Góp phần quan trọng ổn định an ninh chính trị - xã hội ở Lâm Đồng.
Phát triển lâm nghiệp bền vững, giai đoạn 2009-2020:
a) Sử dụng các loại rừng:
- Rừng đặc dụng: Tập trung bảo tồn nguyên trạng tài nguyên đa dạng sinh học, nghiên cứu khoa học, bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý hiếm, đặc hữu, có giá trị khoa học - kinh tế cao và đang có nguy cơ tuyệt chủng; kết hợp phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hoá.
- Rừng Phòng hộ: Nâng cao chất lượng rừng phòng hộ trên cơ sở thực hiện các giải pháp kỹ thuật lâm sinh để ổn định cấu trúc và phát triển sinh thái rừng phòng hộ: Chặt hạ cây già cỗi, trong phạm vi lâm phần cách sông, suối lớn từ (20m-30m), tuyệt đối không được khai thác ngoài phạm vi nêu trên; trồng bổ sung: 2.000 ha.
- Rừng sản xuất: Chuyển rừng sản xuất có chất lượng kém, năng suất thấp sang rừng kinh tế chủ lực có năng suất cao. Quy hoạch 345.000 ha rừng sản xuất chủ yếu cung cấp gỗ lâm sản phục vụ nhu cầu nguyên liệu cho các nhà máy chế biến và gia dụng, tổ chức sản xuất theo hướng thâm canh, năng suất cao;
+ Phát triển 120.000 ha rừng kinh tế chủ lực, chất lượng cao để sau năm 2020 hàng năm cho sản lượng ổn định 500.000m3 gỗ năm góp phần quan trọng lớn vào sự phát triển kinh tế -xã hội của địa phương. trồng 90.000 ha rừng kinh tế chất lượng cao;
+ Xử lý rừng nghèo kiệt và rừng lồ ô tre nứa, chặt trắng trồng lại là 33.000 ha (10.000 ha rừng lá rộng, 10.000 ha rừng hỗn giao, 13.000 rừng tre nứa);
+ Kinh doanh tổng hợp, phát triển bền vững 52.000 ha rừng thông ba lá thuần loại tự nhiên thuộc rừng sản xuất: Tiến hành khai thác 15.000 ha rừng thông 3 lá thành thục và 1.700 ha rừng thông rải rác theo phương thức khai thác chặt trắng cục bộ theo lô, theo đám, theo băng và trồng lại toàn bộ, hàng năm có 250.000-300.000 m3, bình quân mỗi năm khai thác trắng 1.400 ha rừng, trồng mới 1.500 ha; Sản phẩm tỉa thưa rừng trồng thông ba lá giai đoạn 2009-2020 dự kiến là 230.000m3, bình quân 20.000m3/năm; tương ứng 640 ha/năm; Khai thác trắng rừng trồng sản lượng 77.000m3/năm; tương ứng 400 ha/năm.
Tổng sản lượng gỗ khai thác rừng thông 3 lá: rừng thông tự nhiên 250.000-300.000 m3/năm; rừng thông trồng 97.000 m3/năm.
Trồng rừng thâm canh : 2.000 ha/năm.
Sản lượng nhựa thông : 2.500-2.700 tấn/năm
Phấn đấu kinh doanh trên một đơn vị diện tích rừng trồng kinh tế phải đạt được giá trị 10-15 triệu đồng/ ha/năm.
b) Bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học:
- Chủ tịch UBND các cấp phải tổ chức thực hiện bảo vệ rừng và chịu trách nhiệm nếu để xảy ra các vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng tại địa phương.
- Cơ quan Kiểm lâm là lực lượng nòng cốt hỗ trợ cho các chủ rừng và các thôn, xã, là lực lượng chính trong việc xử lý các vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; đồng thời tham mưu cho chính quyền các cấp trong công tác bảo vệ rừng; kiểm lâm địa bàn là cán bộ tham mưu trực tiếp cho UBND xã trong việc bảo vệ và phát triển rừng tại cơ sở góp phần ngăn chặn các hành vi xâm hại tài nguyên rừng tận gốc.
- Về bảo tồn đa dạng sinh học: Bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững ĐDSH về các nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái phong phú của Lâm Đồng, quản lý một cách có hiệu quả; đóng góp thiết thực vào công tác bảo tồn và phát triển ĐDSH trong khu vực cũng như toàn cầu.
c) Phát triển du lịch sinh thái rừng: Phấn đấu đến năm 2020 xây dựng vùng du lịch sinh thái rừng ở thành phố Ðà Lạt và các huyện: Lạc Dương, Ðơn Dương, Ðức Trọng trở thành trung tâm về du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng của khu vực và cả nước; đưa du lịch sinh thái rừng thực sự trở thành động lực phát triển của tỉnh Lâm Ðồng.
d) Trồng cây phân tán: Phục hồi phong trào trồng cây phân tán ở các địa bàn trong tỉnh, đa dạng hoá các loại hình trồng cây; trồng xen cây rừng trên bờ vùng, bờ thửa, trên các vườn cây công nghiệp (cà phê, ca cao, chè) đảm bảo tỷ lệ 10-15% độ che phủ.
đ) Phát triển ngành chế biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ: Khuyến khích sử dụng gỗ từ rừng trồng, phát triển công nghệ chế biến sử dụng gỗ rừng trồng, các loại lâm sản khác. Có chính sách ưu đãi với các doanh nghiệp chế biến gỗ rừng trồng, gỗ tinh chế.