Document: Khoản 1 Điều 1 Quyết định 3690/QĐ-UBND 2016 quy hoạch chế biến nông lâm sản Lào Cai 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "27/10/2016", "sign_number": "3690/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Xuân Phong", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "27/10/2016", "sign_number": "3690/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Xuân Phong", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "27/10/2016", "sign_number": "3690/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Xuân Phong", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "27/10/2016", "sign_number": "3690/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Xuân Phong", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "27/10/2016", "sign_number": "3690/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Xuân Phong", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 1 Quyết định 3690/QĐ-UBND 2016 quy hoạch chế biến nông lâm sản Lào Cai 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch chế biến nông, lâm sản tỉnh Lào Cai đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 với những nội dung sau:
1. Quan điểm quy hoạch
- Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; phù hợp với thị trường tiêu thụ và gắn với vùng nguyên liệu để phát triển ổn định, bền vững; tạo những mặt hàng có lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh cao ở thị trường trong nước và xuất khẩu.
- Đầu tư xây dựng mới, cải tạo nâng cấp các cơ sở chế biến theo chiều sâu phải đảm bảo yêu cầu công nghệ hiện đại, thiết bị tiên tiến, an toàn với môi trường; có quy mô phù hợp với vùng nguyên liệu; tạo được sản phẩm có chất lượng và giá trị kinh tế cao; giải quyết được nhiều việc làm và tăng thu nhập ổn định cho lao động địa phương.
- Trên cơ sở phân tích thực trạng sản xuất, thuận lợi khó khăn, đánh giá tiềm năng phát triển để tập trung đầu tư phát triển các sản phẩm chủ lực, gắn với thương hiệu, nhãn hiệu để quảng bá, giới thiệu sản phẩm... định hướng lựa chọn 11 sản phẩm chủ lực: Lĩnh vực nông sản gồm 7 sản phẩm (chè, rau hoa quả, tương ớt, lúa gạo và ngô, thức ăn chăn nuôi, cây dược liệu, sản phẩm chăn nuôi). Lĩnh vực chế biến lâm sản gồm 4 sản phẩm (sản xuất đồ gỗ, sản xuất nguyên liệu giấy, sản xuất gỗ ván bóc, sản xuất mây tre đan) để đưa ra phương án quy hoạch mạng lưới cơ sở chế biến phù hợp và có tính khả thi cao. Tạo được sự liên kết chặt chẽ giữa những người sản xuất, khai thác, thu mua, chế biến trên cơ sở chuỗi giá trị và quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm theo hệ thống, trong đó doanh nghiệp chế biến đóng vai trò chủ đạo.
- Tập trung đầu tư xây dựng các cơ sở quy mô lớn, đối với các cơ sở quy mô hộ gia đình khuyến khích thành lập Tổ hợp tác, Hợp tác xã và là vệ tinh cho các cơ sở sản xuất lớn.
- Hình thành các cụm công nghiệp, đảm bảo chế biến ra các sản phẩm đạt chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và có sức cạnh tranh trên thị trường nội địa, tiến tới xuất khẩu các sản phẩm nông lâm sản truyền thống có tiềm năng, góp phần xoá đói, giảm nghèo cho cộng đồng người dân vùng cao.
- Quy hoạch chế biến nông, lâm sản phải có sự liên kết với quy hoạch cánh đồng lớn, quy hoạch khu và vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và gắn với xây dựng nông thôn mới.

Content:
Quan điểm quy hoạch
- Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; phù hợp với thị trường tiêu thụ và gắn với vùng nguyên liệu để phát triển ổn định, bền vững; tạo những mặt hàng có lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh cao ở thị trường trong nước và xuất khẩu.
- Đầu tư xây dựng mới, cải tạo nâng cấp các cơ sở chế biến theo chiều sâu phải đảm bảo yêu cầu công nghệ hiện đại, thiết bị tiên tiến, an toàn với môi trường; có quy mô phù hợp với vùng nguyên liệu; tạo được sản phẩm có chất lượng và giá trị kinh tế cao; giải quyết được nhiều việc làm và tăng thu nhập ổn định cho lao động địa phương.
- Trên cơ sở phân tích thực trạng sản xuất, thuận lợi khó khăn, đánh giá tiềm năng phát triển để tập trung đầu tư phát triển các sản phẩm chủ lực, gắn với thương hiệu, nhãn hiệu để quảng bá, giới thiệu sản phẩm... định hướng lựa chọn 11 sản phẩm chủ lực: Lĩnh vực nông sản gồm 7 sản phẩm (chè, rau hoa quả, tương ớt, lúa gạo và ngô, thức ăn chăn nuôi, cây dược liệu, sản phẩm chăn nuôi). Lĩnh vực chế biến lâm sản gồm 4 sản phẩm (sản xuất đồ gỗ, sản xuất nguyên liệu giấy, sản xuất gỗ ván bóc, sản xuất mây tre đan) để đưa ra phương án quy hoạch mạng lưới cơ sở chế biến phù hợp và có tính khả thi cao. Tạo được sự liên kết chặt chẽ giữa những người sản xuất, khai thác, thu mua, chế biến trên cơ sở chuỗi giá trị và quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm theo hệ thống, trong đó doanh nghiệp chế biến đóng vai trò chủ đạo.
- Tập trung đầu tư xây dựng các cơ sở quy mô lớn, đối với các cơ sở quy mô hộ gia đình khuyến khích thành lập Tổ hợp tác, Hợp tác xã và là vệ tinh cho các cơ sở sản xuất lớn.
- Hình thành các cụm công nghiệp, đảm bảo chế biến ra các sản phẩm đạt chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và có sức cạnh tranh trên thị trường nội địa, tiến tới xuất khẩu các sản phẩm nông lâm sản truyền thống có tiềm năng, góp phần xoá đói, giảm nghèo cho cộng đồng người dân vùng cao.
- Quy hoạch chế biến nông, lâm sản phải có sự liên kết với quy hoạch cánh đồng lớn, quy hoạch khu và vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và gắn với xây dựng nông thôn mới.