Document: Điểm d Khoản 2 Điều 1 Quyết định 4009/QĐ-BKHCN Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Khoa học

Type: {"issuing_agency": "Bộ Khoa học và Công nghệ", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "4009/QĐ-BKHCN", "signer": "Nguyễn Quân", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Khoa học và Công nghệ", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "4009/QĐ-BKHCN", "signer": "Nguyễn Quân", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Khoa học và Công nghệ", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "4009/QĐ-BKHCN", "signer": "Nguyễn Quân", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Khoa học và Công nghệ", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "4009/QĐ-BKHCN", "signer": "Nguyễn Quân", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Khoa học và Công nghệ", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "4009/QĐ-BKHCN", "signer": "Nguyễn Quân", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 2 Điều 1 Quyết định 4009/QĐ-BKHCN Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Khoa học

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Khoa học và Công nghệ giai đoạn 2011-2020 với những nội dung sau:
...
2. Mục tiêu.
...
d) Lĩnh vực Khoa học Y – Dược.
Đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học Y - Dược đảm bảo tăng trung bình 6%/năm: đạt khoảng 8.200 người vào năm 2015, trong đó trên 35% có trình độ trên đại học; đến năm 2020 tăng lên khoảng 10.500 người, trong đó trên 37% có trình độ trên đại học.
e) Lĩnh vực Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ.
Đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học Kỹ thuật và Công nghệ đảm bảo tăng trung bình 19%/năm: đạt khoảng 54.200 người vào năm 2015, trong đó trên 25% có trình độ trên đại học; đến năm 2020 tăng lên khoảng 86.200 người, trong đó trên 28% có trình độ trên đại học.
Trong lĩnh vực khoa học Kỹ thuật và Công nghệ gồm một số lĩnh vực ưu tiên, năng lượng nguyên tử và một số lĩnh vực khác, cụ thể như sau:
- Đội ngũ nhân lực công nghệ thông tin đảm bảo tăng bình quân 20%/năm, đến năm 2015 đạt khoảng 3.900 người; đến năm 2020 đạt khoảng 6.200 người.
- Đội ngũ nhân lực công nghệ sinh học đảm bảo tăng bình quân 18%/năm, đến năm 2015 đạt khoảng 4.900 người; đến năm 2020 tăng lên khoảng 7.800 người.
- Đội ngũ nhân lực công nghệ vật liệu đảm bảo tăng bình quân 18%/năm, đến năm 2015 đạt khoảng 4.500 người; đến năm 2020 tăng lên khoảng 6.800 người.
- Đội ngũ nhân lực công nghệ cơ khí - tự động hóa đảm bảo tăng trung bình 20,5%/năm, đến năm 2015 đạt khoảng 13.600 người; đến năm 2020 tăng lên khoảng 21.100 người.
- Đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ lĩnh vực năng lượng nguyên tử đảm bảo tăng bình quân 24%/năm tăng, đến năm 2015 đạt khoảng 1.100 người; đến năm 2020 tăng lên khoảng 1.900 người.
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách.
a) Rà soát, đánh giá các cơ chế, chính sách phát triển nhân lực đã ban hành và kiến nghị chỉnh sửa để đảm bảo tính nhất quán, đồng bộ trong triển khai thực hiện Quy hoạch;
b) Tiếp tục thực hiện cơ chế đổi mới hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới các chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, trong đó tập trung xây dựng và ban hành các chính sách ưu đãi, thu hút, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ như về môi trường làm việc, chính sách tiền lương, phụ cấp ưu đãi đặc thù, điều kiện sinh hoạt; trong đó chú trọng chính sách thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao;
c) Tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực ngành khoa học và công nghệ, đổi mới phương pháp quản lý, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động bộ máy quản lý về nhân lực khoa học và công nghệ nhất quán từ trung ương đến địa phương. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về hệ thống tổ chức và nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trên phạm vi cả nước, đảm bảo nguồn nhân lực đóng góp cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Đào tạo nguồn nhân lực.
a) Đầu tư nâng cấp, mở rộng hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ: nâng cấp Trường Quản lý Khoa học và công nghệ thành Học viện Quản lý Khoa học và Công nghệ; Mở rộng hình thức đào tạo tiến sỹ cho Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN; Thành lập Trung tâm đào tạo thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam; mở rộng quy mô, loại hình đào tạo tại Tổng cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng, Cục Sở hữu trí tuệ, Cục Thông tin KH&CN quốc gia;
b) Bổ sung, nâng cấp, xây dựng mới các chương trình đào tạo, bổ sung, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đạt chuẩn chất lượng để đáp ứng nhu cầu đào tạo mới và đào tạo lại, đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ nhân lực làm quản lý khoa học và công nghệ ở trung ương và địa phương, đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, sở hữu trí tuệ, đo lường-tiêu chuẩn-chất lượng và cán bộ nghiên cứu trong các tổ chức khoa học và công nghệ;
c) Tham gia và phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục-Đào tạo và các Bộ quản lý chuyên ngành trong xây dựng các đề án đào tạo trình độ đại học và sau đại học cung cấp nguồn nhân lực bổ sung, tăng cường cho nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, đảm bảo cơ cấu ngành, lĩnh vực và vùng miền. Trong đó đặc biệt chú trọng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao bổ sung cho các lĩnh vực khoa học công nghệ ưu tiên như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ cơ khí-tự động hóa, công nghệ vật liệu mới và năng lượng nguyên tử;
d) Xây dựng các đề án phát triển loại hình đào tạo mới như đào tạo theo e-kíp, nhóm nghiên cứu tại các cơ sở trong nước và nước ngoài để tiếp thu, làm chủ công nghệ tiên tiến đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước;
e) Đẩy mạnh tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành khoa học công nghệ:
- Tiếp tục duy trì và tăng cường đầu tư chi phí đào tạo bậc đại học và sau đại học từ ngân sách nhà nước, có chính sách ưu tiên gửi đi đào tạo các chuyên ngành công nghệ cao ở các nước phát triển.
- Mở rộng phương thức đào tạo trong nước có sự tham gia của các chuyên gia nước ngoài không chỉ ở các Trường đại học mà cả ở các tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ đầu ngành.
- Tiếp tục thúc đẩy hợp tác song phương, đa phương trong hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng, học tập kinh nghiệm cho nguồn nhân lực khoa học và công nghệ.
- Thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài (ODA, FDI…) đầu tư tiềm lực cho các cơ sở đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ.

Content:
Lĩnh vực Khoa học Y – Dược.
Đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học Y - Dược đảm bảo tăng trung bình 6%/năm: đạt khoảng 8.200 người vào năm 2015, trong đó trên 35% có trình độ trên đại học; đến năm 2020 tăng lên khoảng 10.500 người, trong đó trên 37% có trình độ trên đại học.
e) Lĩnh vực Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ.
Đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học Kỹ thuật và Công nghệ đảm bảo tăng trung bình 19%/năm: đạt khoảng 54.200 người vào năm 2015, trong đó trên 25% có trình độ trên đại học; đến năm 2020 tăng lên khoảng 86.200 người, trong đó trên 28% có trình độ trên đại học.
Trong lĩnh vực khoa học Kỹ thuật và Công nghệ gồm một số lĩnh vực ưu tiên, năng lượng nguyên tử và một số lĩnh vực khác, cụ thể như sau:
- Đội ngũ nhân lực công nghệ thông tin đảm bảo tăng bình quân 20%/năm, đến năm 2015 đạt khoảng 3.900 người; đến năm 2020 đạt khoảng 6.200 người.
- Đội ngũ nhân lực công nghệ sinh học đảm bảo tăng bình quân 18%/năm, đến năm 2015 đạt khoảng 4.900 người; đến năm 2020 tăng lên khoảng 7.800 người.
- Đội ngũ nhân lực công nghệ vật liệu đảm bảo tăng bình quân 18%/năm, đến năm 2015 đạt khoảng 4.500 người; đến năm 2020 tăng lên khoảng 6.800 người.
- Đội ngũ nhân lực công nghệ cơ khí - tự động hóa đảm bảo tăng trung bình 20,5%/năm, đến năm 2015 đạt khoảng 13.600 người; đến năm 2020 tăng lên khoảng 21.100 người.
- Đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ lĩnh vực năng lượng nguyên tử đảm bảo tăng bình quân 24%/năm tăng, đến năm 2015 đạt khoảng 1.100 người; đến năm 2020 tăng lên khoảng 1.900 người.
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách.
a) Rà soát, đánh giá các cơ chế, chính sách phát triển nhân lực đã ban hành và kiến nghị chỉnh sửa để đảm bảo tính nhất quán, đồng bộ trong triển khai thực hiện Quy hoạch;
b) Tiếp tục thực hiện cơ chế đổi mới hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới các chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, trong đó tập trung xây dựng và ban hành các chính sách ưu đãi, thu hút, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ như về môi trường làm việc, chính sách tiền lương, phụ cấp ưu đãi đặc thù, điều kiện sinh hoạt; trong đó chú trọng chính sách thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao;
c) Tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực ngành khoa học và công nghệ, đổi mới phương pháp quản lý, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động bộ máy quản lý về nhân lực khoa học và công nghệ nhất quán từ trung ương đến địa phương. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về hệ thống tổ chức và nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trên phạm vi cả nước, đảm bảo nguồn nhân lực đóng góp cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Đào tạo nguồn nhân lực.
a) Đầu tư nâng cấp, mở rộng hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ: nâng cấp Trường Quản lý Khoa học và công nghệ thành Học viện Quản lý Khoa học và Công nghệ; Mở rộng hình thức đào tạo tiến sỹ cho Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN; Thành lập Trung tâm đào tạo thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam; mở rộng quy mô, loại hình đào tạo tại Tổng cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng, Cục Sở hữu trí tuệ, Cục Thông tin KH&CN quốc gia;
b) Bổ sung, nâng cấp, xây dựng mới các chương trình đào tạo, bổ sung, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đạt chuẩn chất lượng để đáp ứng nhu cầu đào tạo mới và đào tạo lại, đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ nhân lực làm quản lý khoa học và công nghệ ở trung ương và địa phương, đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, sở hữu trí tuệ, đo lường-tiêu chuẩn-chất lượng và cán bộ nghiên cứu trong các tổ chức khoa học và công nghệ;
c) Tham gia và phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục-Đào tạo và các Bộ quản lý chuyên ngành trong xây dựng các đề án đào tạo trình độ đại học và sau đại học cung cấp nguồn nhân lực bổ sung, tăng cường cho nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, đảm bảo cơ cấu ngành, lĩnh vực và vùng miền. Trong đó đặc biệt chú trọng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao bổ sung cho các lĩnh vực khoa học công nghệ ưu tiên như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ cơ khí-tự động hóa, công nghệ vật liệu mới và năng lượng nguyên tử;
Xây dựng các đề án phát triển loại hình đào tạo mới như đào tạo theo e-kíp, nhóm nghiên cứu tại các cơ sở trong nước và nước ngoài để tiếp thu, làm chủ công nghệ tiên tiến đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước;
e) Đẩy mạnh tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành khoa học công nghệ:
- Tiếp tục duy trì và tăng cường đầu tư chi phí đào tạo bậc đại học và sau đại học từ ngân sách nhà nước, có chính sách ưu tiên gửi đi đào tạo các chuyên ngành công nghệ cao ở các nước phát triển.
- Mở rộng phương thức đào tạo trong nước có sự tham gia của các chuyên gia nước ngoài không chỉ ở các Trường đại học mà cả ở các tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ đầu ngành.
- Tiếp tục thúc đẩy hợp tác song phương, đa phương trong hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng, học tập kinh nghiệm cho nguồn nhân lực khoa học và công nghệ.
- Thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài (ODA, FDI…) đầu tư tiềm lực cho các cơ sở đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ.