Document: Điều 29 Quyết định  72/HĐBT  chủ trương cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "13/03/1990", "sign_number": "72/HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "13/03/1990", "sign_number": "72/HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "13/03/1990", "sign_number": "72/HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "13/03/1990", "sign_number": "72/HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "13/03/1990", "sign_number": "72/HĐBT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 29 Quyết định  72/HĐBT  chủ trương cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi có nội dung như sau:

Điều 29. Nhà nước dành ưu tiên về vốn đầu tư cho việc xây dựng trường lớp, cung cấp thiết bị trường học, đào tạo giáo viên, bảo đảm yêu cầu phát triển giáo dục cho con em đồng bào dân tộc.
Bộ Giáo dục có kế hoạch cụ thể tổ chức lại hệ thống trường phổ thông cơ sở ở miền núi. Nhà nước đầu tư vốn xây dựng trường con em dân tộc nội trú và hỗ trợ vốn xây dựng trường xã ở vùng cao, hẻo lánh. Uỷ ban nhân dân địa phương tạo điều kiện và vận động đồng bào dân tộc ít người khuyến khích con em mình đi học, phấn đấu phổ cập cấp I cho lứa tuổi thanh, thiếu niên và cán bộ cơ sở theo chương trình phù hợp, củng cố và mở rộng các trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực, các trường dạy nghề, các lớp dự bị dành riêng cho học sinh người dân tộc cho phù hợp và có hiệu quả.
Bộ Giáo dục phối hợp với các tỉnh miền núi có biện pháp cụ thể để trong khoảng thời gian từ 1991-1995 căn bản giải quyết xong nạn mù chữ cho đối tượng dưới 35 tuổi, nhất là thanh, thiếu niên và cán bộ cốt cán xã, bản; mở lớp và dành kinh phí bồi dưỡng sư phạm cho học sinh người dân tộc đã học hết cấp I (mà không theo học tiếp) để làm giáo viên thanh toán nạn mù chữ ở từng xã, bản.
Thực hiện chính sách miễn học phí, cho mượn sách giáo khoa đối với học sinh người dân tộc và đối với con em các gia đình miền xuôi lên lập nghiệp tại miền núi mà đời sống có nhiều khó khăn.
Ở những nơi có điều kiện thuận lợi, có thể vận dụng hình thức tổ chức các trường "vừa học, vừa làm", trường dân lập.

Content:
Điều 29. Nhà nước dành ưu tiên về vốn đầu tư cho việc xây dựng trường lớp, cung cấp thiết bị trường học, đào tạo giáo viên, bảo đảm yêu cầu phát triển giáo dục cho con em đồng bào dân tộc.
Bộ Giáo dục có kế hoạch cụ thể tổ chức lại hệ thống trường phổ thông cơ sở ở miền núi. Nhà nước đầu tư vốn xây dựng trường con em dân tộc nội trú và hỗ trợ vốn xây dựng trường xã ở vùng cao, hẻo lánh. Uỷ ban nhân dân địa phương tạo điều kiện và vận động đồng bào dân tộc ít người khuyến khích con em mình đi học, phấn đấu phổ cập cấp I cho lứa tuổi thanh, thiếu niên và cán bộ cơ sở theo chương trình phù hợp, củng cố và mở rộng các trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực, các trường dạy nghề, các lớp dự bị dành riêng cho học sinh người dân tộc cho phù hợp và có hiệu quả.
Bộ Giáo dục phối hợp với các tỉnh miền núi có biện pháp cụ thể để trong khoảng thời gian từ 1991-1995 căn bản giải quyết xong nạn mù chữ cho đối tượng dưới 35 tuổi, nhất là thanh, thiếu niên và cán bộ cốt cán xã, bản; mở lớp và dành kinh phí bồi dưỡng sư phạm cho học sinh người dân tộc đã học hết cấp I (mà không theo học tiếp) để làm giáo viên thanh toán nạn mù chữ ở từng xã, bản.
Thực hiện chính sách miễn học phí, cho mượn sách giáo khoa đối với học sinh người dân tộc và đối với con em các gia đình miền xuôi lên lập nghiệp tại miền núi mà đời sống có nhiều khó khăn.
Ở những nơi có điều kiện thuận lợi, có thể vận dụng hình thức tổ chức các trường "vừa học, vừa làm", trường dân lập.