Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 180/QĐ-UBND năm 2012 phê duyệt quy hoạch nhân lực Vĩnh Phúc đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Phúc", "promulgation_date": "18/01/2012", "sign_number": "180/QĐ-UBND", "signer": "Phùng Quang Hùng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Phúc", "promulgation_date": "18/01/2012", "sign_number": "180/QĐ-UBND", "signer": "Phùng Quang Hùng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Phúc", "promulgation_date": "18/01/2012", "sign_number": "180/QĐ-UBND", "signer": "Phùng Quang Hùng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Phúc", "promulgation_date": "18/01/2012", "sign_number": "180/QĐ-UBND", "signer": "Phùng Quang Hùng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Vĩnh Phúc", "promulgation_date": "18/01/2012", "sign_number": "180/QĐ-UBND", "signer": "Phùng Quang Hùng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 180/QĐ-UBND năm 2012 phê duyệt quy hoạch nhân lực Vĩnh Phúc đến 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Vĩnh Phúc giai đoạn đến năm 2020 với những nội dung sau:
...
2. Mục tiêu phát triển
a) Mục tiêu tổng quát
Phát triển toàn diện giáo dục và đào tạo, tạo sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng nhân lực, hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, yêu cầu của hội nhập quốc tế và nền kinh tế tri thức; phát triển nhanh nhân lực những ngành, lĩnh vực mà Vĩnh Phúc có lợi thế so sánh, gắn đào tạo với giải quyết việc làm - đào tạo theo địa chỉ; tích cực phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông; xây dựng Vĩnh Phúc thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực đạt chuẩn chất lượng và chất lượng cao trong khu vực và của cả nước.
b) Mục tiêu cụ thể:
- Đến năm 2015 phấn đấu đạt tỷ lệ 350 sinh viên/1 vạn dân, 08 bác sỹ/1 vạn dân; ít nhất 700-800 cán bộ có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ và khoảng 500 cán bộ có đủ trình độ ngoại ngữ để có thể giao tiếp với người nước ngoài; có đội ngũ chuyên môn giỏi ở các lĩnh vực chủ yếu; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 66%, trong đó lao động qua đào tạo nghề chiếm trên 77% so với tổng số lao động qua đào tạo; tỷ lệ lao động qua đào tạo ngành nông, lâm, thuỷ sản tăng từ 32% năm 2010 lên khoảng 42,5% năm 2015, ngành công nghiệp tăng từ 80% năm 2010 lên 86% năm 2015, ngành xây dựng tăng từ 45% năm 2010 đến 56% năm 2015, ngành dịch vụ tăng từ 81,8% năm 2010 lên 84% năm 2015; hàng năm đưa được trên 1.100 lao động đi làm việc ở nước ngoài; đảm bảo hầu hết thanh niên từ 15-18 tuổi có bằng tốt nghiệp THCS được vào học THPT, học nghề, học văn hóa bổ túc THPT vừa học trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp; cán bộ quản lý, cán bộ hành chính sự nghiệp, cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã đạt chuẩn theo quy định và đạt tỷ lệ trên chuẩn nhất định (đối với 4 chức danh chuyên môn là 30-40%);
- Đến năm 2020, phấn đấu đạt tỷ lệ 450 sinh viên/1 vạn dân, 10 bác sỹ/1 vạn dân; cơ bản đội ngũ cán bộ công chức có đủ trình độ ngoại ngữ để có thể làm việc với người nước ngoài; 80% lao động được qua đào tạo, trong đó lao động qua đào tạo nghề chiếm 80% so với tổng số lao động qua đào tạo; tỷ lệ lao động qua đào tạo ngành nông, lâm, thuỷ sản tăng từ 42,5% năm 2015 lên 64% năm 2020; ngành công nghiệp tăng từ mức 86% năm 2015 lên 94% năm 2020, ngành xây dựng tăng từ mức 56% năm 2015 đến 67% năm 2020; ngành dịch vụ tăng từ 84% năm 2015 lên khoảng 89,4% năm 2020; hàng năm đưa 1.500 - 2.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài.
- Xây dựng được đội ngũ giáo viên có chất lượng cao để đào tạo nhân lực có trình độ; xây dựng Vĩnh Phúc thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực đạt chuẩn chất lượng và chất lượng cao trong khu vực và của cả nước;
II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC ĐẾN 2020
1. Định hướng phát triển nhân lực chia theo bậc đào tạo
Tăng nhanh tỷ lệ nhân lực qua đào tạo với cơ cấu hợp lý.
- Về tỷ lệ nhân lực qua đào tạo: Năm 2015 tổng số nhân lực qua đào tạo 462.300 người (chiếm 66%) và năm 2020 khoảng 640.000 người (chiếm 80%). Trong tổng số nhân lực qua đào tạo, số nhân lực đào tạo qua hệ thống dạy nghề năm 2015 khoảng 358.290 người (bằng 77% ) và 512.000 người (bằng 80% ) vào năm 2020.
- Về cơ cấu bậc đào tạo: Năm 2015, số nhân lực qua đào tạo lần lượt ở các bậc như sau: Bậc sơ cấp nghề: 268.710 người, chiếm 58,1%; Bậc trung cấp nghề: 73.760 người (chiếm 16%); bậc trung cấp chuyên nghiệp: 34.076 người (7,4%); bậc cao đẳng nghề: 15.820 người (3,4%); bậc cao đẳng chuyên nghiệp: 17.543 người (3,8%); bậc đại học: 50.530 người (10,9%) và bậc trên đại học: 1.861 người (chiếm 0,4 %). Năm 2020, số nhân lực đào tạo ở bậc sơ cấp nghề: 340.120 người, chiếm 53,1%; bậc trung cấp nghề: 130.660 người (20,4%); bậc trung cấp chuyên nghiệp: 38.600 người (6%); bậc cao đẳng nghề: 41.220 người (6,4%); bậc cao đẳng : 19.400 người (3%); bậc đại học: 66.160 người (10,3%) và bậc trên đại học: 3.840 người (chiếm 0,6%).
2. Phát triển nhân lực chia theo ngành, lĩnh vực
a) Nhân lực khu vực công nghiệp - xây dựng
- Về số lượng: Nhân lực trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 139.690 người (chiếm 22,86%) năm 2010 lên 215.000 người năm 2015 (chiếm 30,5%) và 305.000 người (chiếm 38,13%) vào năm 2020; trong đó nhân lực ngành công nghiệp tăng lên 124.152 người vào năm 2015 và 189.100 người năm 2020; nhân lực ngành xây dựng sẽ tăng lên 90.848 người năm 2015 và 115.900 người năm 2020.
- Về chất lượng: Tỷ lệ nhân lực qua đào tạo khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 69% năm 2010 lên 73% năm 2015 và 80% năm 2020;
Trong lĩnh vực công nghiệp tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 80% năm 2010 lên 86% năm 2015 và 94% năm 2020, trong đó: bậc sơ cấp nghề năm 2015 là 59,94% và năm 2020 là 56,25%; bậc trung cấp nghề năm 2015 là 22,86% và năm 2020 là 29,94%; bậc trung cấp chuyên nghiệp năm 2015 là 7,39% và năm 2020 là 5,72% ; bậc cao đẳng nghề năm 2015 là 1,24% và năm 2020 là 3,05% ; bậc cao đẳng chuyên nghiệp năm 2015 là 2,41% và năm 2020 là 1,79 %; bậc đại học và trên đại học năm 2015 là 7,17% và năm 2020 là 5,84% .
Trong lĩnh vực xây dựng tỷ lệ nhân lực qua đào tạo tăng từ 45% năm 2010 lên 56% năm 2015 và 67% năm 2020, trong đó: Bậc sơ cấp nghề năm 2015 là 57,76% và năm 2020 là 55,67%; bậc trung cấp năm 2015 là 18,94% và năm 2020 là 23,25%; bậc trung cấp chuyên nghiệp năm 2015 là 8,32% và năm 2020 là 6,65%; bậc cao đẳng nghề năm 2015 là 2,83% và năm 2020 là 4,78%; bậc cao đẳng chuyên nghiệp năm 2015 là 2,26% và năm 2020 là 1,55%; bậc đại học và trên đại học năm 2015 là 3,02% và năm 2020 là 2,57% .
b) Nhân lực khu vực dịch vụ
- Về số lượng: Nhân lực trong khu vực dịch vụ tăng từ 129.990 người (chiếm 21,27%) năm 2010 lên 225.000 người (chiếm 31,9%) năm 2015 và 315.000 người (chiếm 39,4%) năm 2020.
- Về chất lượng: Tỷ lệ lao động qua đào tạo khu vực dịch vụ tăng từ 81,8% năm 2010 lên 84% năm 2015 và 89,4% năm 2020. Trong đó, cơ cấu bậc đào tạo như sau: trình độ sơ cấp nghề 83.049 người (chiếm 43,94%) năm 2015 và 116.210 người (chiếm 41,27%) năm 2020; trình độ trung cấp nghề 26.526 người (chiếm 14,03%) năm 2015 và 48.593 người (chiếm 17,26%) năm 2020; trình độ trung cấp chuyên nghiệp 18.277 người (chiếm 9,67%) năm 2015 và 20.405 người (chiếm 7,25%) năm 2020; trình độ cao đẳng nghề 11.326 người (chiếm 5,99%) năm 2015 và 29.704 người (chiếm 10,05%) năm 2020; trình độ cao đẳng 10.027 người (chiếm 5,31%) năm 2015 và 11.791 người (chiếm 4,19%) năm 2020; trình độ đại học 38.069 người (chiếm 20,14%) năm 2015 và 51.603 người (chiếm 18,32%) năm 2020; trình độ trên đại học 1.526 người (chiếm 0,81%) năm 2015 và 3.294 người (chiếm 1,17%) năm 2020.
c) Nhân lực khu vực nông, lâm, thuỷ sản:
- Về số lượng: Nhân lực trong khu vực nông, lâm, thuỷ sản là 341.460 người (chiếm 55,87%) năm 2010, giảm còn 265.000 người (chiếm 37,59%) năm 2015 và 180.000 người (chiếm 22,5%) vào năm 2020.
- Về chất lượng: Tỷ lệ lao động qua đào tạo trong khu vực nông, lâm, thuỷ sản 112.625 người (chiếm 42,5%) năm 2015 và 115.200 người (chiếm 64%) năm 2020. Trong đó, về cơ cấu trình độ đào tạo: Trình độ sơ cấp nghề chiếm 78,01% năm 2015 và 76,44% năm 2020; trình độ trung cấp nghề chiếm 11,10% năm 2015 và 12,97% năm 2020; trình độ trung cấp chuyên nghiệp chiếm 3,06% năm 2015 và 3,09% năm 2020; trình độ cao đẳng nghề 1,51% năm 2015 và 2,40% năm 2020; trình độ cao đẳng 3,31% năm 2015 và 2,99% năm 2020; trình độ đại học và trên đại học 3,01% năm 2015 và 2,98% năm 2020.
d) Phát triển nhân lực đi lao động ở ngoài nước
Theo dự báo, số lao động làm việc tại khu vực nông nghiệp cần giải quyết việc làm vẫn là vấn đề cần đặc biệt quan tâm trong thời kỳ đến 2020. Đưa lao động đi làm việc ở ngoài nước là một trong những giải pháp quan trọng. Để nâng cao hiệu quả của lĩnh vực hoạt động này, cần tập trung đẩy mạnh công tác hướng nghiệp, đào tạo lao động lành nghề, đa lĩnh vực... Đến năm 2015, mỗi năm có khoảng 1.100 người đi lao động nước ngoài, đến năm 2020, mỗi năm có khoảng 1.500-2.000 người đi lao động nước ngoài.
đ) Nhân lực theo một số chủ thể tham gia phát triển
- Đội ngũ công chức, viên chức:
+ Đến năm 2015, đội ngũ công chức, viên chức của cả tỉnh là 27.920 người, trong đó, số nhân viên trình độ sơ cấp: 684 người (chiếm 2,77%), trình độ trung cấp, cao đẳng: 10.801người (chiếm 43,7%), trình độ đại học và trên đại học: 13.235 người (chiếm 53,5% tổng số đội ngũ công chức, viên chức cả tỉnh). Đến năm 2020, số nhân viên trình độ sơ cấp: 617 người (chiếm 2,2%), trình độ từ trung cấp, cao đẳng: 11.967 người (chiếm 42,6%), trình độ đại học và trên đại học: 15.476 người (chiếm 55,2% tổng số đội ngũ công chức, viên chức cả tỉnh). Tỷ lệ công chức, viên chức cần bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ thời kỳ 2011 – 2015: 14,6%, thời kỳ 2016 – 2020: 12,3% tổng số công chức, viên chức; hầu hết cán bộ quản lý, cán bộ hành chính sự nghiệp, cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã đạt chuẩn theo quy định, thành thạo sử dụng vi tính, phấn đấu trên chuẩn từ 30-40%; ít nhất 700-800 cán bộ có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ và khoảng 500 cán bộ có đủ trình độ ngoại ngữ để có thể giao tiếp với người nước ngoài; có đội ngũ chuyên môn giỏi ở các lĩnh vực chủ yếu. Cử 70-100 cán bộ đi đào tạo bồi dưỡng chuyên môn ở các lớp liên kết với nước ngoài hoặc ở nước ngoài theo yêu cầu nhiệm vụ được xác định.
+ Đến năm 2020, có đội ngũ lãnh đạo quản lý được đào tạo cơ bản, năng lực chuyên môn, tác phong tổ chức, chỉ huy theo kịp yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá và hội nhập quốc tế; cơ bản đội ngũ cán bộ công chức có đủ trình độ ngoại ngữ để có thể làm việc với người nước ngoài. Phát triển đội ngũ chuyên môn giỏi trong tất cả các lĩnh vực.
- Đội ngũ doanh nhân: Đến năm 2015, cả tỉnh có khoảng 10.125 doanh nhân, trong đó có 626 doanh nhân có trình độ từ thạc sỹ, tiến sỹ. Năm 2020 có khoảng 14.175 doanh
nhân. Số doanh nhân có trình độ từ thạc sỹ, tiến sỹ: 928 người.
- Đội ngũ giáo viên, giảng viên:
+ Đội ngũ giáo viên, giảng viên hệ giáo dục - đào tạo (trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và trên đại học): Đến năm 2015, số giáo viên, giảng viên bậc trung cấp chuyên nghiệp là 728 người (trình độ thạc sĩ trở lên chiếm 28,9 %); số giáo viên, giảng viên bậc cao đẳng là 1.245 người (số giáo viên, giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên: 57,9%); số giáo viên, giảng viên bậc đại học, trên đại học là 924 người trong đó số người có trình độ thạc sĩ trở lên là 73%. Đến năm 2020, số giáo viên, giảng viên bậc trung cấp chuyên nghiệp 1.165 người (trong đó có 31% số giáo viên có trình độ thạc sỹ trở lên); số giáo viên, giảng viên bậc cao đẳng có 1.941 người (tỷ lệ giáo viên, giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên đạt 62,9%); số giáo viên, giảng viên bậc đại học là 1.209 người (số giáo viên, giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên đạt 79%).
+ Đội ngũ giáo viên, giảng viên hệ dạy nghề: Đến năm 2015, số giáo viên, giảng viên dạy nghề các bậc là 2.742 người, trong đó: giáo viên, giảng viên cao đẳng nghề là 740 người; giáo viên, giảng viên trung cấp nghề là 1.265 người; và giáo viên, giảng viên sơ cấp nghề là 738 người. Đến năm 2020, số giáo viên, giảng viên dạy nghề các bậc là 4.639 người, trong đó, giáo viên, giảng viên cao đẳng nghề là 1.083 người; giáo viên, giảng viên trung cấp nghề là 2.244 người; giáo viên, giảng viên sơ cấp nghề là 1.312 người.
- Đội ngũ cán bộ y tế, theo Quy hoạch phát triển nhân lực ngành y tế, vào năm 2015 khoảng 57 cán bộ y tế/10.000 dân (tất cả các chuyên ngành) và 78 cán bộ y tế/10.000 dân vào năm 2020; trong đó, số bác sĩ/10.000 dân là 8 bác sĩ vào năm 2015 và 10 bác sĩ/10.000 dân vào năm 2020.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN QUY HOẠCH:
1. Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về phát triển nhân lực.
- Tổ chức tuyên truyền sâu rộng, thường xuyên, liên tục thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các chương trình hành động cụ thể, hoạt động của các cơ quan, đoàn thể, đến mọi người dân về định hướng, mục tiêu, vai trò, trách nhiệm đào tạo và sử dụng nhân lực của tỉnh đến 2020.
- Động viên phong trào tự học, tạo sự chuyển đổi nhận thức của người lao động từ yêu cầu bắt buộc phải học tập nâng cao trình độ thành nhu cầu tự học để khẳng định mình và cống hiến được nhiều hơn cho xã hội thông qua các hình thức như: thi tay nghề, khen thưởng vật chất cho những người xứng đáng, hội chợ việc làm, vv...
2. Đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về phát triển nhân lực
- Hoàn thiện, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động bộ máy quản lý về phát triển nhân lực; tăng cường việc phân cấp quản lý, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở đào tạo.
- Hình thành ở cấp tỉnh Ban chỉ đạo phát triển nhân lực (gồm đại diện lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo các sở ngành, đại diện lãnh đạo một số cơ sở đào tạo, dạy nghề và hội doanh doanh nghiệp trên địa bàn) để giúp UBND tổ chức thực hiện, điều chỉnh quy hoạch và xây dựng chính sách, cơ chế đào tạo nhân lực; thành lập Chi cục quản lý dạy nghề và quản lý lao động chịu trách nhiệm thu thập, xây dựng hệ thống thông tin về cung - cầu nhân lực, hệ thống thông tin về dạy nghề, việc làm, thông tin về nhu cầu sử dụng lao động trong tỉnh, ngoài tỉnh, thị trường xuất khẩu lao động phục vụ giải quyết việc làm, giảm nghèo; bổ sung biên chế theo dõi dạy nghề, việc làm và giảm nghèo cho phòng Lao động TB&XH cấp huyện.
- Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành về xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, tạo sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ, thống nhất về phát triển nhân lực trên địa bàn tỉnh.

Content:
Mục tiêu phát triển
a) Mục tiêu tổng quát
Phát triển toàn diện giáo dục và đào tạo, tạo sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng nhân lực, hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, yêu cầu của hội nhập quốc tế và nền kinh tế tri thức; phát triển nhanh nhân lực những ngành, lĩnh vực mà Vĩnh Phúc có lợi thế so sánh, gắn đào tạo với giải quyết việc làm - đào tạo theo địa chỉ; tích cực phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông; xây dựng Vĩnh Phúc thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực đạt chuẩn chất lượng và chất lượng cao trong khu vực và của cả nước.
b) Mục tiêu cụ thể:
- Đến năm 2015 phấn đấu đạt tỷ lệ 350 sinh viên/1 vạn dân, 08 bác sỹ/1 vạn dân; ít nhất 700-800 cán bộ có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ và khoảng 500 cán bộ có đủ trình độ ngoại ngữ để có thể giao tiếp với người nước ngoài; có đội ngũ chuyên môn giỏi ở các lĩnh vực chủ yếu; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 66%, trong đó lao động qua đào tạo nghề chiếm trên 77% so với tổng số lao động qua đào tạo; tỷ lệ lao động qua đào tạo ngành nông, lâm, thuỷ sản tăng từ 32% năm 2010 lên khoảng 42,5% năm 2015, ngành công nghiệp tăng từ 80% năm 2010 lên 86% năm 2015, ngành xây dựng tăng từ 45% năm 2010 đến 56% năm 2015, ngành dịch vụ tăng từ 81,8% năm 2010 lên 84% năm 2015; hàng năm đưa được trên 1.100 lao động đi làm việc ở nước ngoài; đảm bảo hầu hết thanh niên từ 15-18 tuổi có bằng tốt nghiệp THCS được vào học THPT, học nghề, học văn hóa bổ túc THPT vừa học trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp; cán bộ quản lý, cán bộ hành chính sự nghiệp, cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã đạt chuẩn theo quy định và đạt tỷ lệ trên chuẩn nhất định (đối với 4 chức danh chuyên môn là 30-40%);
- Đến năm 2020, phấn đấu đạt tỷ lệ 450 sinh viên/1 vạn dân, 10 bác sỹ/1 vạn dân; cơ bản đội ngũ cán bộ công chức có đủ trình độ ngoại ngữ để có thể làm việc với người nước ngoài; 80% lao động được qua đào tạo, trong đó lao động qua đào tạo nghề chiếm 80% so với tổng số lao động qua đào tạo; tỷ lệ lao động qua đào tạo ngành nông, lâm, thuỷ sản tăng từ 42,5% năm 2015 lên 64% năm 2020; ngành công nghiệp tăng từ mức 86% năm 2015 lên 94% năm 2020, ngành xây dựng tăng từ mức 56% năm 2015 đến 67% năm 2020; ngành dịch vụ tăng từ 84% năm 2015 lên khoảng 89,4% năm 2020; hàng năm đưa 1.500 - 2.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài.
- Xây dựng được đội ngũ giáo viên có chất lượng cao để đào tạo nhân lực có trình độ; xây dựng Vĩnh Phúc thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực đạt chuẩn chất lượng và chất lượng cao trong khu vực và của cả nước;
II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC ĐẾN 2020
1. Định hướng phát triển nhân lực chia theo bậc đào tạo
Tăng nhanh tỷ lệ nhân lực qua đào tạo với cơ cấu hợp lý.
- Về tỷ lệ nhân lực qua đào tạo: Năm 2015 tổng số nhân lực qua đào tạo 462.300 người (chiếm 66%) và năm 2020 khoảng 640.000 người (chiếm 80%). Trong tổng số nhân lực qua đào tạo, số nhân lực đào tạo qua hệ thống dạy nghề năm 2015 khoảng 358.290 người (bằng 77% ) và 512.000 người (bằng 80% ) vào năm 2020.
- Về cơ cấu bậc đào tạo: Năm 2015, số nhân lực qua đào tạo lần lượt ở các bậc như sau: Bậc sơ cấp nghề: 268.710 người, chiếm 58,1%; Bậc trung cấp nghề: 73.760 người (chiếm 16%); bậc trung cấp chuyên nghiệp: 34.076 người (7,4%); bậc cao đẳng nghề: 15.820 người (3,4%); bậc cao đẳng chuyên nghiệp: 17.543 người (3,8%); bậc đại học: 50.530 người (10,9%) và bậc trên đại học: 1.861 người (chiếm 0,4 %). Năm 2020, số nhân lực đào tạo ở bậc sơ cấp nghề: 340.120 người, chiếm 53,1%; bậc trung cấp nghề: 130.660 người (20,4%); bậc trung cấp chuyên nghiệp: 38.600 người (6%); bậc cao đẳng nghề: 41.220 người (6,4%); bậc cao đẳng : 19.400 người (3%); bậc đại học: 66.160 người (10,3%) và bậc trên đại học: 3.840 người (chiếm 0,6%).
Phát triển nhân lực chia theo ngành, lĩnh vực
a) Nhân lực khu vực công nghiệp - xây dựng
- Về số lượng: Nhân lực trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 139.690 người (chiếm 22,86%) năm 2010 lên 215.000 người năm 2015 (chiếm 30,5%) và 305.000 người (chiếm 38,13%) vào năm 2020; trong đó nhân lực ngành công nghiệp tăng lên 124.152 người vào năm 2015 và 189.100 người năm 2020; nhân lực ngành xây dựng sẽ tăng lên 90.848 người năm 2015 và 115.900 người năm 2020.
- Về chất lượng: Tỷ lệ nhân lực qua đào tạo khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 69% năm 2010 lên 73% năm 2015 và 80% năm 2020;
Trong lĩnh vực công nghiệp tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 80% năm 2010 lên 86% năm 2015 và 94% năm 2020, trong đó: bậc sơ cấp nghề năm 2015 là 59,94% và năm 2020 là 56,25%; bậc trung cấp nghề năm 2015 là 22,86% và năm 2020 là 29,94%; bậc trung cấp chuyên nghiệp năm 2015 là 7,39% và năm 2020 là 5,72% ; bậc cao đẳng nghề năm 2015 là 1,24% và năm 2020 là 3,05% ; bậc cao đẳng chuyên nghiệp năm 2015 là 2,41% và năm 2020 là 1,79 %; bậc đại học và trên đại học năm 2015 là 7,17% và năm 2020 là 5,84% .
Trong lĩnh vực xây dựng tỷ lệ nhân lực qua đào tạo tăng từ 45% năm 2010 lên 56% năm 2015 và 67% năm 2020, trong đó: Bậc sơ cấp nghề năm 2015 là 57,76% và năm 2020 là 55,67%; bậc trung cấp năm 2015 là 18,94% và năm 2020 là 23,25%; bậc trung cấp chuyên nghiệp năm 2015 là 8,32% và năm 2020 là 6,65%; bậc cao đẳng nghề năm 2015 là 2,83% và năm 2020 là 4,78%; bậc cao đẳng chuyên nghiệp năm 2015 là 2,26% và năm 2020 là 1,55%; bậc đại học và trên đại học năm 2015 là 3,02% và năm 2020 là 2,57% .
b) Nhân lực khu vực dịch vụ
- Về số lượng: Nhân lực trong khu vực dịch vụ tăng từ 129.990 người (chiếm 21,27%) năm 2010 lên 225.000 người (chiếm 31,9%) năm 2015 và 315.000 người (chiếm 39,4%) năm 2020.
- Về chất lượng: Tỷ lệ lao động qua đào tạo khu vực dịch vụ tăng từ 81,8% năm 2010 lên 84% năm 2015 và 89,4% năm 2020. Trong đó, cơ cấu bậc đào tạo như sau: trình độ sơ cấp nghề 83.049 người (chiếm 43,94%) năm 2015 và 116.210 người (chiếm 41,27%) năm 2020; trình độ trung cấp nghề 26.526 người (chiếm 14,03%) năm 2015 và 48.593 người (chiếm 17,26%) năm 2020; trình độ trung cấp chuyên nghiệp 18.277 người (chiếm 9,67%) năm 2015 và 20.405 người (chiếm 7,25%) năm 2020; trình độ cao đẳng nghề 11.326 người (chiếm 5,99%) năm 2015 và 29.704 người (chiếm 10,05%) năm 2020; trình độ cao đẳng 10.027 người (chiếm 5,31%) năm 2015 và 11.791 người (chiếm 4,19%) năm 2020; trình độ đại học 38.069 người (chiếm 20,14%) năm 2015 và 51.603 người (chiếm 18,32%) năm 2020; trình độ trên đại học 1.526 người (chiếm 0,81%) năm 2015 và 3.294 người (chiếm 1,17%) năm 2020.
c) Nhân lực khu vực nông, lâm, thuỷ sản:
- Về số lượng: Nhân lực trong khu vực nông, lâm, thuỷ sản là 341.460 người (chiếm 55,87%) năm 2010, giảm còn 265.000 người (chiếm 37,59%) năm 2015 và 180.000 người (chiếm 22,5%) vào năm 2020.
- Về chất lượng: Tỷ lệ lao động qua đào tạo trong khu vực nông, lâm, thuỷ sản 112.625 người (chiếm 42,5%) năm 2015 và 115.200 người (chiếm 64%) năm 2020. Trong đó, về cơ cấu trình độ đào tạo: Trình độ sơ cấp nghề chiếm 78,01% năm 2015 và 76,44% năm 2020; trình độ trung cấp nghề chiếm 11,10% năm 2015 và 12,97% năm 2020; trình độ trung cấp chuyên nghiệp chiếm 3,06% năm 2015 và 3,09% năm 2020; trình độ cao đẳng nghề 1,51% năm 2015 và 2,40% năm 2020; trình độ cao đẳng 3,31% năm 2015 và 2,99% năm 2020; trình độ đại học và trên đại học 3,01% năm 2015 và 2,98% năm 2020.
d) Phát triển nhân lực đi lao động ở ngoài nước
Theo dự báo, số lao động làm việc tại khu vực nông nghiệp cần giải quyết việc làm vẫn là vấn đề cần đặc biệt quan tâm trong thời kỳ đến 2020. Đưa lao động đi làm việc ở ngoài nước là một trong những giải pháp quan trọng. Để nâng cao hiệu quả của lĩnh vực hoạt động này, cần tập trung đẩy mạnh công tác hướng nghiệp, đào tạo lao động lành nghề, đa lĩnh vực... Đến năm 2015, mỗi năm có khoảng 1.100 người đi lao động nước ngoài, đến năm 2020, mỗi năm có khoảng 1.500-2.000 người đi lao động nước ngoài.
đ) Nhân lực theo một số chủ thể tham gia phát triển
- Đội ngũ công chức, viên chức:
+ Đến năm 2015, đội ngũ công chức, viên chức của cả tỉnh là 27.920 người, trong đó, số nhân viên trình độ sơ cấp: 684 người (chiếm 2,77%), trình độ trung cấp, cao đẳng: 10.801người (chiếm 43,7%), trình độ đại học và trên đại học: 13.235 người (chiếm 53,5% tổng số đội ngũ công chức, viên chức cả tỉnh). Đến năm 2020, số nhân viên trình độ sơ cấp: 617 người (chiếm 2,2%), trình độ từ trung cấp, cao đẳng: 11.967 người (chiếm 42,6%), trình độ đại học và trên đại học: 15.476 người (chiếm 55,2% tổng số đội ngũ công chức, viên chức cả tỉnh). Tỷ lệ công chức, viên chức cần bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ thời kỳ 2011 – 2015: 14,6%, thời kỳ 2016 – 2020: 12,3% tổng số công chức, viên chức; hầu hết cán bộ quản lý, cán bộ hành chính sự nghiệp, cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã đạt chuẩn theo quy định, thành thạo sử dụng vi tính, phấn đấu trên chuẩn từ 30-40%; ít nhất 700-800 cán bộ có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ và khoảng 500 cán bộ có đủ trình độ ngoại ngữ để có thể giao tiếp với người nước ngoài; có đội ngũ chuyên môn giỏi ở các lĩnh vực chủ yếu. Cử 70-100 cán bộ đi đào tạo bồi dưỡng chuyên môn ở các lớp liên kết với nước ngoài hoặc ở nước ngoài theo yêu cầu nhiệm vụ được xác định.
+ Đến năm 2020, có đội ngũ lãnh đạo quản lý được đào tạo cơ bản, năng lực chuyên môn, tác phong tổ chức, chỉ huy theo kịp yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá và hội nhập quốc tế; cơ bản đội ngũ cán bộ công chức có đủ trình độ ngoại ngữ để có thể làm việc với người nước ngoài. Phát triển đội ngũ chuyên môn giỏi trong tất cả các lĩnh vực.
- Đội ngũ doanh nhân: Đến năm 2015, cả tỉnh có khoảng 10.125 doanh nhân, trong đó có 626 doanh nhân có trình độ từ thạc sỹ, tiến sỹ. Năm 2020 có khoảng 14.175 doanh
nhân. Số doanh nhân có trình độ từ thạc sỹ, tiến sỹ: 928 người.
- Đội ngũ giáo viên, giảng viên:
+ Đội ngũ giáo viên, giảng viên hệ giáo dục - đào tạo (trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và trên đại học): Đến năm 2015, số giáo viên, giảng viên bậc trung cấp chuyên nghiệp là 728 người (trình độ thạc sĩ trở lên chiếm 28,9 %); số giáo viên, giảng viên bậc cao đẳng là 1.245 người (số giáo viên, giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên: 57,9%); số giáo viên, giảng viên bậc đại học, trên đại học là 924 người trong đó số người có trình độ thạc sĩ trở lên là 73%. Đến năm 2020, số giáo viên, giảng viên bậc trung cấp chuyên nghiệp 1.165 người (trong đó có 31% số giáo viên có trình độ thạc sỹ trở lên); số giáo viên, giảng viên bậc cao đẳng có 1.941 người (tỷ lệ giáo viên, giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên đạt 62,9%); số giáo viên, giảng viên bậc đại học là 1.209 người (số giáo viên, giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên đạt 79%).
+ Đội ngũ giáo viên, giảng viên hệ dạy nghề: Đến năm 2015, số giáo viên, giảng viên dạy nghề các bậc là 2.742 người, trong đó: giáo viên, giảng viên cao đẳng nghề là 740 người; giáo viên, giảng viên trung cấp nghề là 1.265 người; và giáo viên, giảng viên sơ cấp nghề là 738 người. Đến năm 2020, số giáo viên, giảng viên dạy nghề các bậc là 4.639 người, trong đó, giáo viên, giảng viên cao đẳng nghề là 1.083 người; giáo viên, giảng viên trung cấp nghề là 2.244 người; giáo viên, giảng viên sơ cấp nghề là 1.312 người.
- Đội ngũ cán bộ y tế, theo Quy hoạch phát triển nhân lực ngành y tế, vào năm 2015 khoảng 57 cán bộ y tế/10.000 dân (tất cả các chuyên ngành) và 78 cán bộ y tế/10.000 dân vào năm 2020; trong đó, số bác sĩ/10.000 dân là 8 bác sĩ vào năm 2015 và 10 bác sĩ/10.000 dân vào năm 2020.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN QUY HOẠCH:
1. Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về phát triển nhân lực.
- Tổ chức tuyên truyền sâu rộng, thường xuyên, liên tục thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các chương trình hành động cụ thể, hoạt động của các cơ quan, đoàn thể, đến mọi người dân về định hướng, mục tiêu, vai trò, trách nhiệm đào tạo và sử dụng nhân lực của tỉnh đến 2020.
- Động viên phong trào tự học, tạo sự chuyển đổi nhận thức của người lao động từ yêu cầu bắt buộc phải học tập nâng cao trình độ thành nhu cầu tự học để khẳng định mình và cống hiến được nhiều hơn cho xã hội thông qua các hình thức như: thi tay nghề, khen thưởng vật chất cho những người xứng đáng, hội chợ việc làm, vv...
Đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về phát triển nhân lực
- Hoàn thiện, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động bộ máy quản lý về phát triển nhân lực; tăng cường việc phân cấp quản lý, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở đào tạo.
- Hình thành ở cấp tỉnh Ban chỉ đạo phát triển nhân lực (gồm đại diện lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo các sở ngành, đại diện lãnh đạo một số cơ sở đào tạo, dạy nghề và hội doanh doanh nghiệp trên địa bàn) để giúp UBND tổ chức thực hiện, điều chỉnh quy hoạch và xây dựng chính sách, cơ chế đào tạo nhân lực; thành lập Chi cục quản lý dạy nghề và quản lý lao động chịu trách nhiệm thu thập, xây dựng hệ thống thông tin về cung - cầu nhân lực, hệ thống thông tin về dạy nghề, việc làm, thông tin về nhu cầu sử dụng lao động trong tỉnh, ngoài tỉnh, thị trường xuất khẩu lao động phục vụ giải quyết việc làm, giảm nghèo; bổ sung biên chế theo dõi dạy nghề, việc làm và giảm nghèo cho phòng Lao động TB&XH cấp huyện.
- Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành về xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, tạo sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ, thống nhất về phát triển nhân lực trên địa bàn tỉnh.