Document: Điều 4 Quyết định 212/2006/QĐ-BQP thực hiện chế độ chính sách góp phần chăm sóc cán bộ quân đội nghỉ hưu

Type: {"issuing_agency": "Bộ Quốc phòng", "promulgation_date": "21/12/2006", "sign_number": "212/2006/QĐ-BQP", "signer": "Phùng Quang Thanh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Quốc phòng", "promulgation_date": "21/12/2006", "sign_number": "212/2006/QĐ-BQP", "signer": "Phùng Quang Thanh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Quốc phòng", "promulgation_date": "21/12/2006", "sign_number": "212/2006/QĐ-BQP", "signer": "Phùng Quang Thanh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Quốc phòng", "promulgation_date": "21/12/2006", "sign_number": "212/2006/QĐ-BQP", "signer": "Phùng Quang Thanh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Quốc phòng", "promulgation_date": "21/12/2006", "sign_number": "212/2006/QĐ-BQP", "signer": "Phùng Quang Thanh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 4 Quyết định 212/2006/QĐ-BQP thực hiện chế độ chính sách góp phần chăm sóc cán bộ quân đội nghỉ hưu có nội dung như sau:

Điều 4. Chế độ tiêu chuẩn được hưởng
1. Chế độ an điều dưỡng
a) Tỷ lệ mời, phạm vi và thời gian nghỉ tại Đoàn
Sỹ quan cấp Tướng được cấp phiếu mời đi nghỉ mỗi năm một lần, cấp còn lại thuộc đối tượng 1 được cấp phiếu mời đi nghỉ hai năm một lần tại Đoàn an điều dưỡng quân đội (100% phiếu nghỉ gia đình).
Hàng năm, Bộ Quốc phòng cấp 7.000 phiếu (có 80% phiếu cá nhân, 20% phiếu nghỉ gia đình), để mời đối tượng 2 trở xuống đi nghỉ tại Đoàn an điều dưỡng quân đội, ưu tiên người có nhiều cống hiến, người có công với cách mạng, đã tham gia hai cuộc kháng chiến, cấp bậc chức vụ cao trước, cấp bậc chức vụ thấp sau.
Các đối tượng được mời đi nghỉ tại Đoàn an điều dưỡng của quân khu sở tại là chủ yếu. Trường hợp Đoàn của quân khu không đủ khả năng tiếp nhận thì mời đi nghỉ tại Đoàn an điều dưỡng khác trong phạm vi 600 km trở lại (tính từ nơi cư trú đến Đoàn an điều dưỡng).
Khi có phiếu nghỉ gia đình, số lượng người đi cùng không quá 04 người; người đi cùng phải tự túc phương tiện và tiền ăn.
Thời gian nghỉ cá nhân là 10 ngày, nghỉ có gia đình là 07 ngày.
b) Tiêu chuẩn chế độ
Đối tượng 1 được cấp tiền bồi dưỡng mỗi năm một lần bằng mức tiền quy định cho cán bộ cùng cấp bậc, chức vụ đang công tác; khi đi nghỉ cán bộ nộp tiền ăn cho Đoàn an điều dưỡng theo mức quy định.
Phiếu mời đối tượng 2 trở xuống có giá trị bằng 450.000 đồng/phiếu.
Cán bộ có phiếu mời được bố trí phòng nghỉ như quy định cho cán bộ cùng cấp bậc, chức vụ đang công tác (cán bộ Lão thành cách mạng, Tiền khởi nghĩa bố trí phòng nghỉ như đối với cấp Đại tá); nếu tự túc phương tiện thì được hỗ trợ tiền tàu xe (cả lượt đi và về) theo giá vé xe khách hoặc tàu hỏa loại thông thường trong phạm vi 600km; tiền tàu xe do Đoàn an điều dưỡng nơi cán bộ đến nghỉ trực tiếp thanh toán chi trả.
c) Quản lý phiếu an điều dưỡng
Phiếu an điều dưỡng do Tổng cục Chính trị (Cục Chính sách) phát hành theo mẫu thống nhất, cấp Tướng do Bộ Quốc phòng mời, cấp còn lại do Tổng cục Chính trị và Quân khu mời theo phân cấp quản lý.
Việc cấp tiền an bồi dưỡng và cấp phiếu mời phải đúng đối tượng, công khai, dân chủ; căn cứ số phiếu mời được phân phối, đơn vị quản lý cán bộ hưu theo phân cấp lập kế hoạch mời cán bộ đi nghỉ hàng năm theo thứ tự ưu tiên; quản lý chặt chẽ phiếu an điều dưỡng, không để xảy ra sai sót, tiêu cực.
2. Chế độ khám chữa bệnh
a) Các bệnh viện quân đội khi ký hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế với cơ quan bảo hiểm xã hội địa phương ưu tiên cán bộ quân đội nghỉ hưu đăng ký nơi khám chữa bệnh ban đầu tại bệnh viện quân đội gần nơi cư trú.
b) Cán bộ quân đội nghỉ hưu khi đi khám chữa bệnh và điều trị tại bệnh viện quân đội được hưởng quyền lợi khám chữa bệnh theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế hiện hành; được bố trí phòng điều trị và hưởng chế độ phục vụ, chăm sóc như đối với cán bộ cùng cấp bậc, chức vụ tại ngũ.
Chi phí khám chữa bệnh do cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế hiện hành.
3. Chế độ chăm sóc cán bộ mắc bệnh hiểm nghèo
a) Cán bộ quân đội nghỉ hưu nếu mắc một trong các bệnh thuộc “Danh mục bệnh hiểm nghèo” theo hướng dẫn của Cục Quân y Tổng cục Hậu cần, được Tư lệnh hoặc Chính ủy quân khu ký quyết định công nhận là cán bộ mắc bệnh hiểm nghèo thì được trợ cấp mỗi quý bằng 450.000 đồng/người.
Chế độ trợ cấp bệnh hiểm nghèo được thực hiện từ ngày Tư lệnh hoặc Chính ủy quân khu ký quyết định và được hưởng trợ cấp cả quý đó; cán bộ từ trần thì thôi hưởng chế độ từ quý tiếp theo.
Cán bộ nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo điều trị tại bệnh viện quân khu, quân chủng, quân đoàn trở lên được hưởng phần chênh lệch giữa tiền ăn bệnh lý và tiền ăn cơ bản do bệnh viện thanh toán.
b) Việc phát hiện, xác nhận và xét duyệt cán bộ quân đội nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo phải bảo đảm kịp thời, công khai, chặt chẽ, chính xác.
Ban chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn chủ trì phối hợp với hội cựu chiến binh cùng cấp phát hiện, xác nhận; Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã kiểm tra thực tế, nếu cán bộ mắc một trong các bệnh hiểm nghèo theo hướng dẫn của Cục Quân y Tổng cục Hậu cần thì lập hồ sơ theo quy định; Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố chỉ đạo cơ quan chức năng thuộc quyền (Phòng Chính trị, Ban Chính sách, Ban Cán bộ, Ban Quân lực, Ban Quân y) thẩm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thì lập Biên bản kết luận từng trường hợp, gửi hồ sơ và công văn đề nghị về quân khu để xác nhận.
Phòng Chính sách quân khu chủ trì phối hợp với Phòng Quân y quân khu thẩm định, lập danh sách những người đủ điều kiện báo cáo Cục Chính trị trình Tư lệnh hoặc Chính ủy quân khu ký quyết định công nhận.
4. Chế độ thông tin và trợ cấp khó khăn
a) Đối tượng 1
Được cấp bằng tiền để cán bộ mua báo Quân đội Nhân dân, bao gồm: báo ngày (365 tờ/năm), báo cuối tuần (54 tờ/năm) và tập san Sự kiện và nhân chứng (12 số/năm).
Nếu bị ốm đau, gặp tai nạn phải điều trị dài ngày tại bệnh viện (từ 30 ngày trở lên) được trợ cấp không quá 2 lần/năm theo mức 500.000 đồng/lần.
b) Đối tượng 2 được cấp tiền mua báo như đối tượng 1.
5. Chế độ tổ chức lễ tang
a) Tổ chức lễ tang đối với cán bộ quân đội nghỉ hưu thực hiện theo quy định hiện hành của Chính phủ và Bộ Quốc phòng (hiện nay là Nghị định số 62/2001/NĐ-CP ngày 12/9/2001 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 114/2005/TTLT/BQP-BNV ngày 01/8/2005 của liên Bộ Quốc phòng – Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện tổ chức lễ tang đối với quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng hy sinh, từ trần).
Kinh phí đảm bảo phục vụ lễ tang với đối tượng tổ chức lễ tang cấp Nhà nước, lễ tang cấp cao thực hiện theo quy định hiện hành của Chính phủ (hiện nay là Thông tư số 40/2002/TT-BTC ngày 02/5/2002 của Bộ Tài chính).
b) Ngoài trợ cấp mai táng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Hàng năm, Bộ Quốc phòng bố trí một khoản ngân sách để hỗ trợ tổ chức lễ tang cán bộ quân đội nghỉ hưu (không thuộc diện tổ chức lễ tang cấp Nhà nước, lễ tang cấp cao).
Mức hỗ trợ đơn vị chủ trì tổ chức lễ tang (theo phân cấp tại tiết 1.2 và 1.3, điểm 1, mục E, phần III, Thông tư liên tịch số 114/2005/TTLT/BQP-BNV ngày 01/8/2005 của liên Bộ Quốc phòng – Bộ Nội vụ), cho một trường hợp như sau:
- Đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng chủ trì tổ chức lễ tang mức: 3.000.000 đồng.
- Sư đoàn, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố và đơn vị tương đương chủ trì tổ chức lễ tang mức: 2.000.000 đồng.
- Trung đoàn, Ban chỉ huy Quân sự huyện, quận và đơn vị tương đương chủ trì tổ chức lễ tang mức: 1.000.000 đồng.
Khoản kinh phí hỗ trợ nêu trên để chi tiền viếng, mua vòng hoa luân lưu, hương nến và chi khác phục vụ lễ tang.
Mức hỗ trợ cơ quan quân sự địa phương được phân công tham gia Ban tổ chức lễ tang như sau:
Trường hợp cán bộ hưu từ trần và tổ chức lễ tang tại gia đình, hoặc tại bệnh viện nơi cư trú, do cấp ủy chính quyền địa phương chủ trì tổ chức lễ tang, cơ quan quân sự địa phương cấp nào được phân công tham gia Ban tổ chức lễ tang và đại diện quân đội đến viếng (theo phân cấp tại tiết 1.1, điểm 1, mục E, phần III, Thông tư liên tịch số 114/2005/TTLT/BQP-BNV) thì đơn vị cấp đó được hỗ trợ mức: 100.000 đồng; khoản kinh phí này để chi mua vòng hoa viếng.
6. Chế độ gặp mặt, tặng quà nhân các ngày lễ, tết
a) Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, các quân khu chỉ đạo cơ quan quân sự địa phương các cấp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương hỗ trợ kinh phí, tổ chức gặp mặt, tặng quà cán bộ quân đội nghỉ hưu theo phân cấp quản lý tại khoản 4, Điều 2 Quyết định này.
b) Hàng năm, Bộ Quốc phòng bố trí ngân sách để tặng quà đối tượng chính sách tiêu biểu nhân ngày 27/7 và dịp tết Nguyên đán. Đối tượng được tặng quà, mức quà thực hiện theo quy định của Ban Tổ chức Trung ương, Chủ tịch nước và Bộ Quốc phòng.

Content:
Điều 4. Chế độ tiêu chuẩn được hưởng
1. Chế độ an điều dưỡng
a) Tỷ lệ mời, phạm vi và thời gian nghỉ tại Đoàn
Sỹ quan cấp Tướng được cấp phiếu mời đi nghỉ mỗi năm một lần, cấp còn lại thuộc đối tượng 1 được cấp phiếu mời đi nghỉ hai năm một lần tại Đoàn an điều dưỡng quân đội (100% phiếu nghỉ gia đình).
Hàng năm, Bộ Quốc phòng cấp 7.000 phiếu (có 80% phiếu cá nhân, 20% phiếu nghỉ gia đình), để mời đối tượng 2 trở xuống đi nghỉ tại Đoàn an điều dưỡng quân đội, ưu tiên người có nhiều cống hiến, người có công với cách mạng, đã tham gia hai cuộc kháng chiến, cấp bậc chức vụ cao trước, cấp bậc chức vụ thấp sau.
Các đối tượng được mời đi nghỉ tại Đoàn an điều dưỡng của quân khu sở tại là chủ yếu. Trường hợp Đoàn của quân khu không đủ khả năng tiếp nhận thì mời đi nghỉ tại Đoàn an điều dưỡng khác trong phạm vi 600 km trở lại (tính từ nơi cư trú đến Đoàn an điều dưỡng).
Khi có phiếu nghỉ gia đình, số lượng người đi cùng không quá 04 người; người đi cùng phải tự túc phương tiện và tiền ăn.
Thời gian nghỉ cá nhân là 10 ngày, nghỉ có gia đình là 07 ngày.
b) Tiêu chuẩn chế độ
Đối tượng 1 được cấp tiền bồi dưỡng mỗi năm một lần bằng mức tiền quy định cho cán bộ cùng cấp bậc, chức vụ đang công tác; khi đi nghỉ cán bộ nộp tiền ăn cho Đoàn an điều dưỡng theo mức quy định.
Phiếu mời đối tượng 2 trở xuống có giá trị bằng 450.000 đồng/phiếu.
Cán bộ có phiếu mời được bố trí phòng nghỉ như quy định cho cán bộ cùng cấp bậc, chức vụ đang công tác (cán bộ Lão thành cách mạng, Tiền khởi nghĩa bố trí phòng nghỉ như đối với cấp Đại tá); nếu tự túc phương tiện thì được hỗ trợ tiền tàu xe (cả lượt đi và về) theo giá vé xe khách hoặc tàu hỏa loại thông thường trong phạm vi 600km; tiền tàu xe do Đoàn an điều dưỡng nơi cán bộ đến nghỉ trực tiếp thanh toán chi trả.
c) Quản lý phiếu an điều dưỡng
Phiếu an điều dưỡng do Tổng cục Chính trị (Cục Chính sách) phát hành theo mẫu thống nhất, cấp Tướng do Bộ Quốc phòng mời, cấp còn lại do Tổng cục Chính trị và Quân khu mời theo phân cấp quản lý.
Việc cấp tiền an bồi dưỡng và cấp phiếu mời phải đúng đối tượng, công khai, dân chủ; căn cứ số phiếu mời được phân phối, đơn vị quản lý cán bộ hưu theo phân cấp lập kế hoạch mời cán bộ đi nghỉ hàng năm theo thứ tự ưu tiên; quản lý chặt chẽ phiếu an điều dưỡng, không để xảy ra sai sót, tiêu cực.
2. Chế độ khám chữa bệnh
a) Các bệnh viện quân đội khi ký hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế với cơ quan bảo hiểm xã hội địa phương ưu tiên cán bộ quân đội nghỉ hưu đăng ký nơi khám chữa bệnh ban đầu tại bệnh viện quân đội gần nơi cư trú.
b) Cán bộ quân đội nghỉ hưu khi đi khám chữa bệnh và điều trị tại bệnh viện quân đội được hưởng quyền lợi khám chữa bệnh theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế hiện hành; được bố trí phòng điều trị và hưởng chế độ phục vụ, chăm sóc như đối với cán bộ cùng cấp bậc, chức vụ tại ngũ.
Chi phí khám chữa bệnh do cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế hiện hành.
3. Chế độ chăm sóc cán bộ mắc bệnh hiểm nghèo
a) Cán bộ quân đội nghỉ hưu nếu mắc một trong các bệnh thuộc “Danh mục bệnh hiểm nghèo” theo hướng dẫn của Cục Quân y Tổng cục Hậu cần, được Tư lệnh hoặc Chính ủy quân khu ký quyết định công nhận là cán bộ mắc bệnh hiểm nghèo thì được trợ cấp mỗi quý bằng 450.000 đồng/người.
Chế độ trợ cấp bệnh hiểm nghèo được thực hiện từ ngày Tư lệnh hoặc Chính ủy quân khu ký quyết định và được hưởng trợ cấp cả quý đó; cán bộ từ trần thì thôi hưởng chế độ từ quý tiếp theo.
Cán bộ nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo điều trị tại bệnh viện quân khu, quân chủng, quân đoàn trở lên được hưởng phần chênh lệch giữa tiền ăn bệnh lý và tiền ăn cơ bản do bệnh viện thanh toán.
b) Việc phát hiện, xác nhận và xét duyệt cán bộ quân đội nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo phải bảo đảm kịp thời, công khai, chặt chẽ, chính xác.
Ban chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn chủ trì phối hợp với hội cựu chiến binh cùng cấp phát hiện, xác nhận; Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã kiểm tra thực tế, nếu cán bộ mắc một trong các bệnh hiểm nghèo theo hướng dẫn của Cục Quân y Tổng cục Hậu cần thì lập hồ sơ theo quy định; Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố chỉ đạo cơ quan chức năng thuộc quyền (Phòng Chính trị, Ban Chính sách, Ban Cán bộ, Ban Quân lực, Ban Quân y) thẩm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thì lập Biên bản kết luận từng trường hợp, gửi hồ sơ và công văn đề nghị về quân khu để xác nhận.
Phòng Chính sách quân khu chủ trì phối hợp với Phòng Quân y quân khu thẩm định, lập danh sách những người đủ điều kiện báo cáo Cục Chính trị trình Tư lệnh hoặc Chính ủy quân khu ký quyết định công nhận.
4. Chế độ thông tin và trợ cấp khó khăn
a) Đối tượng 1
Được cấp bằng tiền để cán bộ mua báo Quân đội Nhân dân, bao gồm: báo ngày (365 tờ/năm), báo cuối tuần (54 tờ/năm) và tập san Sự kiện và nhân chứng (12 số/năm).
Nếu bị ốm đau, gặp tai nạn phải điều trị dài ngày tại bệnh viện (từ 30 ngày trở lên) được trợ cấp không quá 2 lần/năm theo mức 500.000 đồng/lần.
b) Đối tượng 2 được cấp tiền mua báo như đối tượng 1.
5. Chế độ tổ chức lễ tang
a) Tổ chức lễ tang đối với cán bộ quân đội nghỉ hưu thực hiện theo quy định hiện hành của Chính phủ và Bộ Quốc phòng (hiện nay là Nghị định số 62/2001/NĐ-CP ngày 12/9/2001 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 114/2005/TTLT/BQP-BNV ngày 01/8/2005 của liên Bộ Quốc phòng – Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện tổ chức lễ tang đối với quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng hy sinh, từ trần).
Kinh phí đảm bảo phục vụ lễ tang với đối tượng tổ chức lễ tang cấp Nhà nước, lễ tang cấp cao thực hiện theo quy định hiện hành của Chính phủ (hiện nay là Thông tư số 40/2002/TT-BTC ngày 02/5/2002 của Bộ Tài chính).
b) Ngoài trợ cấp mai táng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Hàng năm, Bộ Quốc phòng bố trí một khoản ngân sách để hỗ trợ tổ chức lễ tang cán bộ quân đội nghỉ hưu (không thuộc diện tổ chức lễ tang cấp Nhà nước, lễ tang cấp cao).
Mức hỗ trợ đơn vị chủ trì tổ chức lễ tang (theo phân cấp tại tiết 1.2 và 1.3, điểm 1, mục E, phần III, Thông tư liên tịch số 114/2005/TTLT/BQP-BNV ngày 01/8/2005 của liên Bộ Quốc phòng – Bộ Nội vụ), cho một trường hợp như sau:
- Đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng chủ trì tổ chức lễ tang mức: 3.000.000 đồng.
- Sư đoàn, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố và đơn vị tương đương chủ trì tổ chức lễ tang mức: 2.000.000 đồng.
- Trung đoàn, Ban chỉ huy Quân sự huyện, quận và đơn vị tương đương chủ trì tổ chức lễ tang mức: 1.000.000 đồng.
Khoản kinh phí hỗ trợ nêu trên để chi tiền viếng, mua vòng hoa luân lưu, hương nến và chi khác phục vụ lễ tang.
Mức hỗ trợ cơ quan quân sự địa phương được phân công tham gia Ban tổ chức lễ tang như sau:
Trường hợp cán bộ hưu từ trần và tổ chức lễ tang tại gia đình, hoặc tại bệnh viện nơi cư trú, do cấp ủy chính quyền địa phương chủ trì tổ chức lễ tang, cơ quan quân sự địa phương cấp nào được phân công tham gia Ban tổ chức lễ tang và đại diện quân đội đến viếng (theo phân cấp tại tiết 1.1, điểm 1, mục E, phần III, Thông tư liên tịch số 114/2005/TTLT/BQP-BNV) thì đơn vị cấp đó được hỗ trợ mức: 100.000 đồng; khoản kinh phí này để chi mua vòng hoa viếng.
6. Chế độ gặp mặt, tặng quà nhân các ngày lễ, tết
a) Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, các quân khu chỉ đạo cơ quan quân sự địa phương các cấp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương hỗ trợ kinh phí, tổ chức gặp mặt, tặng quà cán bộ quân đội nghỉ hưu theo phân cấp quản lý tại khoản 4, Điều 2 Quyết định này.
b) Hàng năm, Bộ Quốc phòng bố trí ngân sách để tặng quà đối tượng chính sách tiêu biểu nhân ngày 27/7 và dịp tết Nguyên đán. Đối tượng được tặng quà, mức quà thực hiện theo quy định của Ban Tổ chức Trung ương, Chủ tịch nước và Bộ Quốc phòng.