Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 38/2013/QĐ-UBND sửa đổi Quy chế văn bản pháp luật Sóc Trăng theo 12/2011/QĐ-UBND

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Sóc Trăng", "promulgation_date": "16/10/2013", "sign_number": "38/2013/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trung Hiếu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Sóc Trăng", "promulgation_date": "16/10/2013", "sign_number": "38/2013/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trung Hiếu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Sóc Trăng", "promulgation_date": "16/10/2013", "sign_number": "38/2013/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trung Hiếu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Sóc Trăng", "promulgation_date": "16/10/2013", "sign_number": "38/2013/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trung Hiếu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Sóc Trăng", "promulgation_date": "16/10/2013", "sign_number": "38/2013/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trung Hiếu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 38/2013/QĐ-UBND sửa đổi Quy chế văn bản pháp luật Sóc Trăng theo 12/2011/QĐ-UBND

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng ban hành kèm theo Quyết định số 12/2011/QĐ-UBND ngày 28/3/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh, cụ thể:
...
4. Đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì không tiến hành thẩm định nhưng phải lấy ý kiến theo đúng quy định.”
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 5 như sau
“4. Đối với Văn Phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Văn phòng HĐND và UBND các huyện, thị xã, thành phố:
Căn cứ Chương trình, kế hoạch ban hành văn bản và nhiệm vụ được phân công, Văn phòng UBND tỉnh, Văn phòng HĐND và UBND các huyện, thị xã, thành phố (gọi tắt là Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện) có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các cơ quan soạn thảo thực hiện đúng tiến độ và báo cáo UBND cùng cấp. Văn phòng UBND tỉnh, Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện không trình các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chưa thực hiện đúng quy trình theo quy định của pháp luật và quy định của Quy chế này.”
3. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 như sau
“Điều 6. Soạn thảo Nghị quyết của HĐND, quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh
Căn cứ vào Chương trình, kế hoạch ban hành nghị quyết của HĐND, quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh hoặc chỉ đạo bằng văn bản của cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan soạn thảo chủ động lập kế hoạch soạn thảo hoặc thành lập Tổ soạn thảo khi cần thiết.
Các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ soạn thảo phải tiến hành biện pháp điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội ở địa phương liên quan đến dự thảo; nghiên cứu hệ thống pháp luật hiện hành và thông tin, tư liệu có liên quan để đưa ra những quy định phù hợp. Đối với trường hợp có quy định về thủ tục hành chính, cơ quan soạn thảo phải tổ chức đánh giá tác động của quy định về thủ tục hành chính theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 10 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP và khoản 3 Điều 1 Nghị định số 48/2013/NĐ-CP.
Hằng năm, Văn phòng UBND tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan lập dự kiến Chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND, quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh đảm bảo đúng thời gian theo quy định tại Điều 21, 35 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND và Điều 13, 14, 15, 16 Nghị định số 91/2006/NĐ-CP”.
4. Sửa đổi, bổ sung Điều 7 như sau
“Điều 7. Lấy ý kiến góp ý dự thảo nghị quyết, quyết định, chỉ thị
1. Sau khi hoàn tất dự thảo nghị quyết của HĐND, quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh, cơ quan soạn thảo có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản trong phạm vi và hình thức thích hợp.
Cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được dự thảo. Trường hợp lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp thì thời hạn trả lời cho cơ quan soạn thảo bằng văn bản là 07 ngày làm việc.
Cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến góp ý phù hợp và chỉnh lý dự thảo.
2. Trường hợp dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của UBND tỉnh có quy định về thủ tục hành chính, ngoài việc tổ chức lấy ý kiến theo quy định, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi Sở Tư pháp cho ý kiến về thủ tục hành chính quy định trong dự thảo.
Nội dung cho ý kiến về quy định thủ tục hành chính chủ yếu xem xét các vấn đề được quy định tại Điều 7 và Điều 8 của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP, ngày 8/6/2010. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý của Sở Tư pháp.
3. Đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của các Sở, ngành không do Phòng Pháp chế hoặc công chức pháp chế chuyên trách soạn thảo, trước khi trình Thủ trưởng cơ quan xem xét, quyết định việc đề nghị Sở Tư pháp thẩm định phải có ý kiến của Phòng Pháp chế hoặc công chức pháp chế theo quy định”.

Content:
Đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì không tiến hành thẩm định nhưng phải lấy ý kiến theo đúng quy định.”
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 5 như sau
“Đối với Văn Phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Văn phòng HĐND và UBND các huyện, thị xã, thành phố:
Căn cứ Chương trình, kế hoạch ban hành văn bản và nhiệm vụ được phân công, Văn phòng UBND tỉnh, Văn phòng HĐND và UBND các huyện, thị xã, thành phố (gọi tắt là Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện) có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các cơ quan soạn thảo thực hiện đúng tiến độ và báo cáo UBND cùng cấp. Văn phòng UBND tỉnh, Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện không trình các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chưa thực hiện đúng quy trình theo quy định của pháp luật và quy định của Quy chế này.”
3. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 như sau
“Điều 6. Soạn thảo Nghị quyết của HĐND, quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh
Căn cứ vào Chương trình, kế hoạch ban hành nghị quyết của HĐND, quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh hoặc chỉ đạo bằng văn bản của cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan soạn thảo chủ động lập kế hoạch soạn thảo hoặc thành lập Tổ soạn thảo khi cần thiết.
Các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ soạn thảo phải tiến hành biện pháp điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội ở địa phương liên quan đến dự thảo; nghiên cứu hệ thống pháp luật hiện hành và thông tin, tư liệu có liên quan để đưa ra những quy định phù hợp. Đối với trường hợp có quy định về thủ tục hành chính, cơ quan soạn thảo phải tổ chức đánh giá tác động của quy định về thủ tục hành chính theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 10 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP và khoản 3 Điều 1 Nghị định số 48/2013/NĐ-CP.
Hằng năm, Văn phòng UBND tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan lập dự kiến Chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND, quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh đảm bảo đúng thời gian theo quy định tại Điều 21, 35 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND và Điều 13, 14, 15, 16 Nghị định số 91/2006/NĐ-CP”.
Sửa đổi, bổ sung Điều 7 như sau
“Điều 7. Lấy ý kiến góp ý dự thảo nghị quyết, quyết định, chỉ thị
1. Sau khi hoàn tất dự thảo nghị quyết của HĐND, quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh, cơ quan soạn thảo có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản trong phạm vi và hình thức thích hợp.
Cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được dự thảo. Trường hợp lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp thì thời hạn trả lời cho cơ quan soạn thảo bằng văn bản là 07 ngày làm việc.
Cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến góp ý phù hợp và chỉnh lý dự thảo.
2. Trường hợp dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của UBND tỉnh có quy định về thủ tục hành chính, ngoài việc tổ chức lấy ý kiến theo quy định, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi Sở Tư pháp cho ý kiến về thủ tục hành chính quy định trong dự thảo.
Nội dung cho ý kiến về quy định thủ tục hành chính chủ yếu xem xét các vấn đề được quy định tại Điều 7 và Điều 8 của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP, ngày 8/6/2010. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý của Sở Tư pháp.
3. Đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của các Sở, ngành không do Phòng Pháp chế hoặc công chức pháp chế chuyên trách soạn thảo, trước khi trình Thủ trưởng cơ quan xem xét, quyết định việc đề nghị Sở Tư pháp thẩm định phải có ý kiến của Phòng Pháp chế hoặc công chức pháp chế theo quy định”.