Document: Điều 2 Quyết định  78-CP  thành lập Ban đại diện hành chính tiểu khu thuộc thành phố Hà Nội,Hải Phòng

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "10/04/1974", "sign_number": "78-CP", "signer": "Nguyễn Duy Trinh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "10/04/1974", "sign_number": "78-CP", "signer": "Nguyễn Duy Trinh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "10/04/1974", "sign_number": "78-CP", "signer": "Nguyễn Duy Trinh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "10/04/1974", "sign_number": "78-CP", "signer": "Nguyễn Duy Trinh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Chính phủ", "promulgation_date": "10/04/1974", "sign_number": "78-CP", "signer": "Nguyễn Duy Trinh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định  78-CP  thành lập Ban đại diện hành chính tiểu khu thuộc thành phố Hà Nội,Hải Phòng có nội dung như sau:

Điều 2. – Nhiệm vụ quyền hạn của Ban đại diện hành chính tiểu khu là:
1. Thay mặt Ủy ban Hành chính khu phố, tổ chức và động viên nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, luật pháp, chế độ, thể lệ của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của Ủy ban Hành chính thành phố, khu phố, theo sự hướng dẫn của Ủy ban Hành chính khu phố: theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và báo cáo lên Ủy ban Hành chính khu phố về kết quả của sự thực hiện đó;
2. Thống kê số liệu, nắm vững và báo cáo tình hình mọi mặt của từng người dân, từng hộ gia đình, từng việc xảy ra trong tiểu khu để phục vụ sự lãnh đạo của Ủy ban Hành chính khu phố;
3. Trực tiếp thực hiện một số việc cụ thể do Ủy ban Hành chính khu phố giao như: công tác quản lý lao động, quản lý thị trường, công tác quân sự và hậu phương quân đội, công tác trật tự trị an, vệ sinh công cộng và phục vụ đời sống nhân dân trong tiểu khu, v.v..;
4. Đựơc Ủy ban Hành chính khu phố giao một số quyền hạn cụ thể trong việc chứng nhận giấy tờ của nhân dân, việc lập biên bản và xử lý tại chỗ đối với một số vụ phạm pháp quả tang ở đường phố;
5. Các nhiệm vụ, quyền hạn chung trên đây của Ban đại diện hành chính tiểu khu sẽ do Ủy ban Hành chính khu căn cứ vào sự hướng dẫn của Phủ Thủ tướng và tình hình của địa phương mà quy định cụ thể, thiết thực, hợp lý, không gây trở ngại cho sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Ủy ban Hành chính khu phố và việc phục vụ nhân dân trong tiểu khu. Ban đại diện hành chính tiểu khu được sử dụng con dấu để làm nhiệm vụ, theo Nghị định số 56-CP ngày 17-3-1966 của Hội đồng Chính phủ.

Content:
Điều 2. – Nhiệm vụ quyền hạn của Ban đại diện hành chính tiểu khu là:
1. Thay mặt Ủy ban Hành chính khu phố, tổ chức và động viên nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, luật pháp, chế độ, thể lệ của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của Ủy ban Hành chính thành phố, khu phố, theo sự hướng dẫn của Ủy ban Hành chính khu phố: theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và báo cáo lên Ủy ban Hành chính khu phố về kết quả của sự thực hiện đó;
2. Thống kê số liệu, nắm vững và báo cáo tình hình mọi mặt của từng người dân, từng hộ gia đình, từng việc xảy ra trong tiểu khu để phục vụ sự lãnh đạo của Ủy ban Hành chính khu phố;
3. Trực tiếp thực hiện một số việc cụ thể do Ủy ban Hành chính khu phố giao như: công tác quản lý lao động, quản lý thị trường, công tác quân sự và hậu phương quân đội, công tác trật tự trị an, vệ sinh công cộng và phục vụ đời sống nhân dân trong tiểu khu, v.v..;
4. Đựơc Ủy ban Hành chính khu phố giao một số quyền hạn cụ thể trong việc chứng nhận giấy tờ của nhân dân, việc lập biên bản và xử lý tại chỗ đối với một số vụ phạm pháp quả tang ở đường phố;
5. Các nhiệm vụ, quyền hạn chung trên đây của Ban đại diện hành chính tiểu khu sẽ do Ủy ban Hành chính khu căn cứ vào sự hướng dẫn của Phủ Thủ tướng và tình hình của địa phương mà quy định cụ thể, thiết thực, hợp lý, không gây trở ngại cho sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Ủy ban Hành chính khu phố và việc phục vụ nhân dân trong tiểu khu. Ban đại diện hành chính tiểu khu được sử dụng con dấu để làm nhiệm vụ, theo Nghị định số 56-CP ngày 17-3-1966 của Hội đồng Chính phủ.