Document: Khoản 11 Điều 1 Quyết định 3530/QĐ-UBND 2011 Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn Bình Dương 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Dương", "promulgation_date": "14/11/2011", "sign_number": "3530/QĐ-UBND", "signer": "Trần Văn Nam", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Dương", "promulgation_date": "14/11/2011", "sign_number": "3530/QĐ-UBND", "signer": "Trần Văn Nam", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Dương", "promulgation_date": "14/11/2011", "sign_number": "3530/QĐ-UBND", "signer": "Trần Văn Nam", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Dương", "promulgation_date": "14/11/2011", "sign_number": "3530/QĐ-UBND", "signer": "Trần Văn Nam", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Dương", "promulgation_date": "14/11/2011", "sign_number": "3530/QĐ-UBND", "signer": "Trần Văn Nam", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 11 Điều 1 Quyết định 3530/QĐ-UBND 2011 Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn Bình Dương 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Bình Dương đến năm 2020 với những nội dung chính như sau:
...
11. Giải pháp về bảo vệ môi trường.
V. Tổ chức thực hiện
1. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Trên cơ sở quy hoạch được duyệt, tổ chức xây dựng kế hoạch hàng năm và 5 năm theo tiến độ thực hiện với từng ngành nghề.
- Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh cụ thể hóa các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn đã được Trung ương ban hành vào điều kiện thực tiễn của tỉnh.
- Hướng dẫn Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã triển khai lập các dự án ưu tiên đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn theo quy hoạch đã được duyệt; lập thủ tục công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống.
- Phối hợp với Sở Lao động-Thương binh và Xã hội các lớp đào tạo, truyền nghề, dạy nghề cho các cơ sở sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng ngành nghề nông thôn có tiềm năng phát triển trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng một số mô hình trình diễn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật - công nghệ về, gây trồng sinh vật cảnh, đan mây tre lá, sơ chế bảo quản rau quả theo đúng chức năng nhiệm vụ được giao.
- Phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã tuyên truyền vận động và hỗ trợ, hướng dẫn xây dựng các tổ chức kinh tế hợp tác đối với phát triển ngành nghề nông thôn.
- Hàng năm phải cập nhật các thông tin và kết quả thực hiện quy hoạch, từ đó kịp thời đề xuất với Ủy ban nhân dân tỉnh những vấn đề cần điều chỉnh bổ sung cho sát với thực tế.
2. Các sở ngành có liên quan
- Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính: hàng năm bố trí vốn ngân sách cho các chương trình, dự án hỗ trợ đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn.
- Sở Công thương: Phối hợp chặt chẽ với Sở Tài nguyên và Môi trường trong việc lập kế hoạch và quy hoạch sử dụng đất dành cho hoạt động ngành nghề nông thôn, trước hết đất dành cho các cơ sở sản xuất gạch, gốm sứ phải di dời đến khu sản xuất mới; tổ chức tốt các hợp phần khuyến công, hội chợ triển lãm và các hoạt động xúc tiến thương mại cho sản phẩm hàng hóa của Bình Dương nói chung và sản phẩm ngành nghề nông thôn nói riêng.
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng chương trình phát triển du lịch gắn với phát triển làng nghề, nhất là xây dựng một số sản phẩm du lịch hấp dẫn gắn với tham quan các làng nghề truyền thống theo các tuyến du lịch và làng sinh thái. Hỗ trợ một số cơ sở ngành nghề nông thôn hình thành và phát triển làng nghề dịch vụ du lịch, đặc biệt là vận tải du lịch trên sông nước ở các xã ven sông Sài Gòn và sông Đồng Nai.
- Sở Khoa học và Công nghệ: Triển khai thực hiện chương trình hỗ trợ cho các tổ chức, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp phát triển tài sản trí tuệ, xúc tiến xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm ngành nghề nông thôn như: Sơn mài Tương Bình Hiệp, cối chày, thớt Lái Thiêu, bánh tráng Thanh An, gốm sứ Hưng Định.
- Sở Tài nguyên và Môi trường: Bố trí đủ quỹ đất cho phát triển ngành nghề nông thôn; đồng thời hướng dẫn và giám sát việc xây dựng hệ thống công trình xử lý môi trường trong các làng nghề. Hỗ trợ, hướng dẫn các cơ sở sản xuất kinh doanh ngành nghề nông thôn lập hồ sơ để được hưởng chính sách hỗ trợ từ phía nhà nước đối với một số mô hình xử lý môi trường theo quy định.
- Sở Lao động-Thương binh và Xã hội: Phối hợp với các Sở, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã xây dựng kế hoạch đào tạo, nâng cao tay nghề cho lao động tại các làng nghề.
- Liên minh Hợp tác xã Bình Dương: hỗ trợ các cơ sở ngành nghề nông thôn xây dựng mô hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
3. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã.
- Tổ chức công bố và triển khai thực hiện các nội dung của quy hoạch trên địa bàn theo thẩm quyền; có kế hoạch cụ thể khôi phục và phát triển nghề - nghề truyền thống, làng nghề - làng nghề truyền thống.
- Phối hợp với các Trung tâm Khuyến công, Khuyến nông chọn, xây dựng dự án và tổ chức các mô hình trình diễn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật - công nghệ vào sản xuất trong các lĩnh vực ngành nghề nông thôn; phối hợp với Chi cục Phát triển nông thôn, Liên minh các Hợp tác xã tuyên truyền vận động xây dựng các mô hình kinh tế hợp tác.
- Chỉ đạo Ủy ban nhân dân các xã chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển ngành nghề theo quy hoạch. Hướng dẫn các cơ sở sản xuất kinh doanh ngành nghề nông thôn đăng ký kinh doanh và thực hiện tốt chủ trương chính sách của nhà nước về phát triển ngành nghề nông thôn.
- Lồng ghép các chương trình triển khai thực hiện trên địa bàn (huyện, xã,..) nhằm hỗ trợ cho ngành nghề nông thôn như: xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đào tạo nhân lực và tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo,...
VI. KHÁI TOÁN VỐN ĐẦU TƯ
- Tổng số vốn đầu tư: 8.384,86 tỷ đồng, trong đó:
Giai đoạn 2011 - 2015: 4.600,925 tỷ đồng
Giai đoạn 2016-2020: 3.783,935 tỷ đồng
- Phân theo nguồn vốn:
Nguồn ngân sách hỗ trợ: 127,86 tỷ đồng, trong đó:
+ Ngân sách Trung ương: 57,839 tỷ đồng
+ Ngân sách địa phương: 70,03 tỷ đồng
Nguồn vốn khác (vay, tự có): 8.257 tỷ đồng
Nguồn vốn ngân sách tập trung hỗ trợ: Chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề, mặt bằng sản xuất, hỗ trợ một phần hệ thống xử lý môi trường làng nghề, xúc tiến thương mại, phát triển tài sản trí tuệ, nghiên cứu khoa học - công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển vùng nguyên liệu.
Nguồn vốn tự có của hộ, cơ sở, hợp tác xã và các doanh nghiệp (kể cả nguồn vốn vay tín dụng) là nguồn vốn đầu tư trực tiếp để mở rộng phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu sản phẩm, đầu tư trang thiết bị máy móc, xúc tiến thương mại.
VII. Sơ bộ lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.
1. Lợi ích kinh tế-xã hội
Với tốc độ tăng sản xuất ngành nghề nông thôn bình quân 5 - 6%/năn; riêng khu vực ngành nghề nông thôn tỉnh Bình Dương đã tạo thêm việc làm thường xuyên cho gần 108.000 lao động, phân công lại lao động xã hội ngày càng hợp lý hơn.
Thu nhập bình quân của người dân nông thôn tỉnh Bình Dương sẽ tăng gấp gần 1,66 lần so với năm 2010 đồng nghĩa với việc xóa cơ sở đói, giảm cơ sở nghèo và tăng nhanh tỷ lệ cơ sở khá, cơ sở giàu.
2. Tác động môi trường khi thực hiện quy hoạch
- Khi gia tăng số lượng và quy mô các cơ sở sản xuất kinh doanh ngành nghề nông thôn đến 2020 sẽ tăng chất thải, nếu không được thu gom đúng quy trình kỹ thuật và xử lý kịp thời sẽ gây ô nhiễm môi trường. Đối tượng này thường xảy ra ở các cơ sở chế biến nông lâm sản, sản xuất gạch ngói, gốm sứ.
- Mộc gia dụng, mây tre đan, may mặc là các nghề ít gây ô nhiễm môi trường nhưng vẫn gia tăng nguy cơ ô nhiễm ngay tại cơ sở sản xuất do sử dụng một số hóa chất khi nhuộm, sơn, xử lý chống mốc,...
- Các cơ sở cơ khí thường gây ra tiếng ồn, sử dụng sơn hay đốt lò bằng than đá cũng có tác động nhất định gây ô nhiễm môi trường không khí.
Tóm lại, các loại ngành nghề nông thôn đã, đang và sẽ phát triển ở Bình Dương nhìn chung đều có nguy cơ ô nhiễm môi trường; tuy nhiên mức độ là không lớn.
Biện pháp khắc phục, hạn chế gây ô nhiễm môi trường
- Phương châm phát triển ngành nghề nông thôn phải gắn với đổi mới công nghệ, thiết bị nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Trong hoạt động khuyến công sẽ chọn xây dựng các mô hình trình diễn công nghệ và hệ thống xử lý rác, nước thải giảm thiểu ô nhiễm môi trường, từ đó khuyến cáo nhân rộng ra các cơ sở ngành nghề nông thôn trong tỉnh cùng áp dụng
- Gắn việc kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm với việc đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường tại các cơ sở ngành nghề nông thôn hoạt động trong lĩnh vực chế biến bảo quản lương thực, thực phẩm.
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, vận động để các cơ sở ngành nghề nông thôn hiểu và thực hiện đúng luật bảo vệ môi trường.

Content:
Giải pháp về bảo vệ môi trường.
V. Tổ chức thực hiện
1. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Trên cơ sở quy hoạch được duyệt, tổ chức xây dựng kế hoạch hàng năm và 5 năm theo tiến độ thực hiện với từng ngành nghề.
- Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh cụ thể hóa các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn đã được Trung ương ban hành vào điều kiện thực tiễn của tỉnh.
- Hướng dẫn Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã triển khai lập các dự án ưu tiên đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn theo quy hoạch đã được duyệt; lập thủ tục công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống.
- Phối hợp với Sở Lao động-Thương binh và Xã hội các lớp đào tạo, truyền nghề, dạy nghề cho các cơ sở sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng ngành nghề nông thôn có tiềm năng phát triển trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng một số mô hình trình diễn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật - công nghệ về, gây trồng sinh vật cảnh, đan mây tre lá, sơ chế bảo quản rau quả theo đúng chức năng nhiệm vụ được giao.
- Phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã tuyên truyền vận động và hỗ trợ, hướng dẫn xây dựng các tổ chức kinh tế hợp tác đối với phát triển ngành nghề nông thôn.
- Hàng năm phải cập nhật các thông tin và kết quả thực hiện quy hoạch, từ đó kịp thời đề xuất với Ủy ban nhân dân tỉnh những vấn đề cần điều chỉnh bổ sung cho sát với thực tế.
2. Các sở ngành có liên quan
- Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính: hàng năm bố trí vốn ngân sách cho các chương trình, dự án hỗ trợ đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn.
- Sở Công thương: Phối hợp chặt chẽ với Sở Tài nguyên và Môi trường trong việc lập kế hoạch và quy hoạch sử dụng đất dành cho hoạt động ngành nghề nông thôn, trước hết đất dành cho các cơ sở sản xuất gạch, gốm sứ phải di dời đến khu sản xuất mới; tổ chức tốt các hợp phần khuyến công, hội chợ triển lãm và các hoạt động xúc tiến thương mại cho sản phẩm hàng hóa của Bình Dương nói chung và sản phẩm ngành nghề nông thôn nói riêng.
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng chương trình phát triển du lịch gắn với phát triển làng nghề, nhất là xây dựng một số sản phẩm du lịch hấp dẫn gắn với tham quan các làng nghề truyền thống theo các tuyến du lịch và làng sinh thái. Hỗ trợ một số cơ sở ngành nghề nông thôn hình thành và phát triển làng nghề dịch vụ du lịch, đặc biệt là vận tải du lịch trên sông nước ở các xã ven sông Sài Gòn và sông Đồng Nai.
- Sở Khoa học và Công nghệ: Triển khai thực hiện chương trình hỗ trợ cho các tổ chức, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp phát triển tài sản trí tuệ, xúc tiến xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm ngành nghề nông thôn như: Sơn mài Tương Bình Hiệp, cối chày, thớt Lái Thiêu, bánh tráng Thanh An, gốm sứ Hưng Định.
- Sở Tài nguyên và Môi trường: Bố trí đủ quỹ đất cho phát triển ngành nghề nông thôn; đồng thời hướng dẫn và giám sát việc xây dựng hệ thống công trình xử lý môi trường trong các làng nghề. Hỗ trợ, hướng dẫn các cơ sở sản xuất kinh doanh ngành nghề nông thôn lập hồ sơ để được hưởng chính sách hỗ trợ từ phía nhà nước đối với một số mô hình xử lý môi trường theo quy định.
- Sở Lao động-Thương binh và Xã hội: Phối hợp với các Sở, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã xây dựng kế hoạch đào tạo, nâng cao tay nghề cho lao động tại các làng nghề.
- Liên minh Hợp tác xã Bình Dương: hỗ trợ các cơ sở ngành nghề nông thôn xây dựng mô hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
3. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã.
- Tổ chức công bố và triển khai thực hiện các nội dung của quy hoạch trên địa bàn theo thẩm quyền; có kế hoạch cụ thể khôi phục và phát triển nghề - nghề truyền thống, làng nghề - làng nghề truyền thống.
- Phối hợp với các Trung tâm Khuyến công, Khuyến nông chọn, xây dựng dự án và tổ chức các mô hình trình diễn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật - công nghệ vào sản xuất trong các lĩnh vực ngành nghề nông thôn; phối hợp với Chi cục Phát triển nông thôn, Liên minh các Hợp tác xã tuyên truyền vận động xây dựng các mô hình kinh tế hợp tác.
- Chỉ đạo Ủy ban nhân dân các xã chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển ngành nghề theo quy hoạch. Hướng dẫn các cơ sở sản xuất kinh doanh ngành nghề nông thôn đăng ký kinh doanh và thực hiện tốt chủ trương chính sách của nhà nước về phát triển ngành nghề nông thôn.
- Lồng ghép các chương trình triển khai thực hiện trên địa bàn (huyện, xã,..) nhằm hỗ trợ cho ngành nghề nông thôn như: xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đào tạo nhân lực và tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo,...
VI. KHÁI TOÁN VỐN ĐẦU TƯ
- Tổng số vốn đầu tư: 8.384,86 tỷ đồng, trong đó:
Giai đoạn 2011 - 2015: 4.600,925 tỷ đồng
Giai đoạn 2016-2020: 3.783,935 tỷ đồng
- Phân theo nguồn vốn:
Nguồn ngân sách hỗ trợ: 127,86 tỷ đồng, trong đó:
+ Ngân sách Trung ương: 57,839 tỷ đồng
+ Ngân sách địa phương: 70,03 tỷ đồng
Nguồn vốn khác (vay, tự có): 8.257 tỷ đồng
Nguồn vốn ngân sách tập trung hỗ trợ: Chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề, mặt bằng sản xuất, hỗ trợ một phần hệ thống xử lý môi trường làng nghề, xúc tiến thương mại, phát triển tài sản trí tuệ, nghiên cứu khoa học - công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển vùng nguyên liệu.
Nguồn vốn tự có của hộ, cơ sở, hợp tác xã và các doanh nghiệp (kể cả nguồn vốn vay tín dụng) là nguồn vốn đầu tư trực tiếp để mở rộng phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu sản phẩm, đầu tư trang thiết bị máy móc, xúc tiến thương mại.
VII. Sơ bộ lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.
1. Lợi ích kinh tế-xã hội
Với tốc độ tăng sản xuất ngành nghề nông thôn bình quân 5 - 6%/năn; riêng khu vực ngành nghề nông thôn tỉnh Bình Dương đã tạo thêm việc làm thường xuyên cho gần 108.000 lao động, phân công lại lao động xã hội ngày càng hợp lý hơn.
Thu nhập bình quân của người dân nông thôn tỉnh Bình Dương sẽ tăng gấp gần 1,66 lần so với năm 2010 đồng nghĩa với việc xóa cơ sở đói, giảm cơ sở nghèo và tăng nhanh tỷ lệ cơ sở khá, cơ sở giàu.
2. Tác động môi trường khi thực hiện quy hoạch
- Khi gia tăng số lượng và quy mô các cơ sở sản xuất kinh doanh ngành nghề nông thôn đến 2020 sẽ tăng chất thải, nếu không được thu gom đúng quy trình kỹ thuật và xử lý kịp thời sẽ gây ô nhiễm môi trường. Đối tượng này thường xảy ra ở các cơ sở chế biến nông lâm sản, sản xuất gạch ngói, gốm sứ.
- Mộc gia dụng, mây tre đan, may mặc là các nghề ít gây ô nhiễm môi trường nhưng vẫn gia tăng nguy cơ ô nhiễm ngay tại cơ sở sản xuất do sử dụng một số hóa chất khi nhuộm, sơn, xử lý chống mốc,...
- Các cơ sở cơ khí thường gây ra tiếng ồn, sử dụng sơn hay đốt lò bằng than đá cũng có tác động nhất định gây ô nhiễm môi trường không khí.
Tóm lại, các loại ngành nghề nông thôn đã, đang và sẽ phát triển ở Bình Dương nhìn chung đều có nguy cơ ô nhiễm môi trường; tuy nhiên mức độ là không lớn.
Biện pháp khắc phục, hạn chế gây ô nhiễm môi trường
- Phương châm phát triển ngành nghề nông thôn phải gắn với đổi mới công nghệ, thiết bị nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Trong hoạt động khuyến công sẽ chọn xây dựng các mô hình trình diễn công nghệ và hệ thống xử lý rác, nước thải giảm thiểu ô nhiễm môi trường, từ đó khuyến cáo nhân rộng ra các cơ sở ngành nghề nông thôn trong tỉnh cùng áp dụng
- Gắn việc kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm với việc đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường tại các cơ sở ngành nghề nông thôn hoạt động trong lĩnh vực chế biến bảo quản lương thực, thực phẩm.
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, vận động để các cơ sở ngành nghề nông thôn hiểu và thực hiện đúng luật bảo vệ môi trường.