Document: Điểm đ Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2485/2007/QĐ-UBND phê quyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "01/10/2007", "sign_number": "2485/2007/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Đình Vượng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "01/10/2007", "sign_number": "2485/2007/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Đình Vượng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "01/10/2007", "sign_number": "2485/2007/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Đình Vượng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "01/10/2007", "sign_number": "2485/2007/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Đình Vượng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Phú Thọ", "promulgation_date": "01/10/2007", "sign_number": "2485/2007/QĐ-UBND", "signer": "Đặng Đình Vượng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm đ Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2485/2007/QĐ-UBND phê quyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến

Điều 1. Phê quyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 – 2011, định hướng đến năm 2020, với nội dung chính như sau:
...
3. Nội dung quy hoạch:
...
đ) Quy hoạch khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường:
- Đối với đá xây dựng thông thường (phụ lục 02): Trong giai đoạn 2006 – 2010 giữ nguyên vị trí mỏ đã được cấp phép, hạn chế mở thêm mỏ mới, gắn chặt khai thác với chế biến. Sử dụng phương pháp khai thác lộ thiên, công nghệ khoan nổ mìn, bốc xúc bằng gàu xúc hoặc thủ công và vận chuyển bằng ô tô về nơi chế biến, độ sâu khai thác tương ứng với độ cao xâm thực địa phương, sản lượng khai thác theo giấy phép đã được UBND tỉnh phê duyệt. Trong giai đoạn 2011 – 2020 tiếp tục khai thác các mỏ đã cấp phép và còn trữ lượng, mở mới 2 mỏ tại Chí Đám - Đoan Hùng và Xuân Thủy – Yên Lập. Sử dụng công nghệ khai thác và chế biến hiện đại, sạch và an toàn; độ sâu khai thác tương ứng với độ cao xâm thực địa phương. Trong giai đoạn này tập trung chế biến các loại đá phục vụ cho các công trình xây dựng, giao thông, thủy lợi và dùng cho xử lý môi trường, đặc biệt để khử lưu huỳnh trong ống khói, lọc nước và xử lý nước thải.
- Đối với sét làm gạch ngói (phụ lục 03): Trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, vị trí khai thác nằm trong ranh giới đã được thăm dò, sử dụng phương pháp khai thác lộ thiên, công nghệ gàu xúc, độ sâu khai thác trung bình là 2,5m, sản lượng khai thác theo nhu cầu gạch ngói của thị trường.
- Đối với cát cuội sỏi (Phụ lục 04 và phụ lục 05): Trong giai đoạn 2006 – 2010, tại sông Lô giữ nguyên vị trí ranh giới và sản lượng mỏ đã cấp phép khai thác, không cấp mỏ mới, công nghệ khai thác là trục vớt cát sỏi lòng sông bằng tàu hút, tàu quốc; khoảng cách xa bờ tối thiểu vào mùa cạn là 50m, độ sâu khai thác tùy thuộc vào từng vùng mỏ, khai thác theo hướng dòng chảy, dàn trải. Việc đánh giá lại tiềm năng, trữ lượng được triển khai vào năm 2009; giai đoạn 2010 – 2020 chỉ thực hiện cấp phép khai thác theo thiết kế khai thác và dự án khả thi đầu tư khai thác đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Content:
Quy hoạch khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường:
- Đối với đá xây dựng thông thường (phụ lục 02): Trong giai đoạn 2006 – 2010 giữ nguyên vị trí mỏ đã được cấp phép, hạn chế mở thêm mỏ mới, gắn chặt khai thác với chế biến. Sử dụng phương pháp khai thác lộ thiên, công nghệ khoan nổ mìn, bốc xúc bằng gàu xúc hoặc thủ công và vận chuyển bằng ô tô về nơi chế biến, độ sâu khai thác tương ứng với độ cao xâm thực địa phương, sản lượng khai thác theo giấy phép đã được UBND tỉnh phê duyệt. Trong giai đoạn 2011 – 2020 tiếp tục khai thác các mỏ đã cấp phép và còn trữ lượng, mở mới 2 mỏ tại Chí Đám - Đoan Hùng và Xuân Thủy – Yên Lập. Sử dụng công nghệ khai thác và chế biến hiện đại, sạch và an toàn; độ sâu khai thác tương ứng với độ cao xâm thực địa phương. Trong giai đoạn này tập trung chế biến các loại đá phục vụ cho các công trình xây dựng, giao thông, thủy lợi và dùng cho xử lý môi trường, đặc biệt để khử lưu huỳnh trong ống khói, lọc nước và xử lý nước thải.
- Đối với sét làm gạch ngói (phụ lục 03): Trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, vị trí khai thác nằm trong ranh giới đã được thăm dò, sử dụng phương pháp khai thác lộ thiên, công nghệ gàu xúc, độ sâu khai thác trung bình là 2,5m, sản lượng khai thác theo nhu cầu gạch ngói của thị trường.
- Đối với cát cuội sỏi (Phụ lục 04 và phụ lục 05): Trong giai đoạn 2006 – 2010, tại sông Lô giữ nguyên vị trí ranh giới và sản lượng mỏ đã cấp phép khai thác, không cấp mỏ mới, công nghệ khai thác là trục vớt cát sỏi lòng sông bằng tàu hút, tàu quốc; khoảng cách xa bờ tối thiểu vào mùa cạn là 50m, độ sâu khai thác tùy thuộc vào từng vùng mỏ, khai thác theo hướng dòng chảy, dàn trải. Việc đánh giá lại tiềm năng, trữ lượng được triển khai vào năm 2009; giai đoạn 2010 – 2020 chỉ thực hiện cấp phép khai thác theo thiết kế khai thác và dự án khả thi đầu tư khai thác đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.