Document: Điểm d Khoản 6 Điều 1 Quyết định 1558/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "18/08/2010", "sign_number": "1558/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "18/08/2010", "sign_number": "1558/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "18/08/2010", "sign_number": "1558/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "18/08/2010", "sign_number": "1558/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "18/08/2010", "sign_number": "1558/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 6 Điều 1 Quyết định 1558/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử” với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
6. Hợp tác quốc tế
Tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, nghiên cứu, quản lý, ứng dụng trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Triển khai các chương trình liên kết đào tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử với các trường đại học nước ngoài. Sử dụng có hiệu quả các nguồn viện trợ quốc tế, vốn vay quốc tế phục vụ cho đào tạo phục vụ nghiên cứu, quản lý, ứng dụng và bảo đảm an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
IV. KINH PHÍ THỰC HIỆN
1. Nguyên tắc
...
d) Cơ cấu kinh phí Đề án
- Giai đoạn từ 2010 đến 2015 sử dụng 75% ngân sách nhà nước và 25% ngân sách từ các nguồn tài chính hợp pháp khác để triển khai Đề án;
- Giai đoạn từ 2016 đến 2020 sử dụng 50% kinh phí từ ngân sách nhà nước và 50% từ các nguồn tài chính hợp pháp khác.
2. Kinh phí thực hiện Đề án
Tổng kinh phí thực hiện Đề án: 3.000 tỷ đồng (trong đó sử dụng từ ngân sách nhà nước là 2.000 tỷ đồng).
a) Giai đoạn từ 2010 đến 2015: kinh phí thực hiện Đề án là 2.000 tỷ đồng cho các hoạt động sau:
- Xây dựng văn bản về cơ chế, chính sách ưu tiên đối với giảng viên, sinh viên, những người làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
- Tham quan, khảo sát kinh nghiệm đào tạo nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở nước ngoài;
- Đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm chuyên ngành thuộc lĩnh vực năng lượng nguyên tử, các thiết bị đo đạc hạt nhân, vật tư thiết bị phục vụ chế tạo mẫu, hệ thống mạng phục vụ nghiên cứu và đào tạo, xây dựng mới và nâng cấp phòng thí nghiệm, hệ thống che chắn an toàn phóng xạ, hệ mô phỏng lò phản ứng;
- Xây dựng nội dung, chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế; tổ chức biên soạn giáo trình, bài giảng; tổ chức đào tạo và nghiên cứu khoa học tại 6 cơ sở đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
- Mời chuyên gia nước ngoài và chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài về tham gia đào tạo các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở trong nước;
- Tổ chức đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên của 6 cơ sở đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
- Tổ chức đào tạo lại, đào tạo chương trình ngắn hạn cho các kỹ sư, cử nhân chuyên ngành hạt nhân và các chuyên ngành liên quan phục vụ nhà máy điện hạt nhân;
- Gửi đi đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ ở một số nước có lĩnh vực năng lượng nguyên tử phát triển;
- Tổ chức các khóa bồi dưỡng ngắn hạn về nâng cao nghiệp vụ cho các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý, các nhà khoa học tại các nước có lĩnh vực năng lượng nguyên tử phát triển;
- Xây dựng hệ thống tiêu chí kiểm định và tổ chức kiểm định chất lượng đào tạo định kỳ các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
b) Giai đoạn từ 2016 đến 2020: kinh phí thực hiện Đề án là 1.000 tỷ đồng cho các hoạt động sau:
- Tiếp tục triển khai hoạt động đào tạo và bổ sung trang thiết bị cơ sở vật chất;
- Tổ chức đánh giá định kỳ quá trình thực hiện Đề án.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia về đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử do Phó Thủ tướng là Trưởng ban, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo là Phó Trưởng ban thường trực, đại diện lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ là thành viên. Ban Chỉ đạo có trách nhiệm điều phối thống nhất tất cả các hoạt động liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử của các Bộ, ngành, các doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan đầu mối có trách nhiệm
a) Chỉ đạo và tổ chức thực hiện Đề án; hướng dẫn, kiểm tra giám sát, tổng hợp tình hình thực hiện và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Tổ chức sơ kết việc thực hiện Đề án vào năm 2015 và tổng kết vào năm 2020;
b) Chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành có liên quan xây dựng và cụ thể hóa các văn bản về cơ chế, chính sách đối với giảng viên, sinh viên, người làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng kế hoạch, chỉ tiêu đào tạo hàng năm; xây dựng kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị cho các cơ sở đào tạo các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
d) Chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng ngân hàng dữ liệu về người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ cao trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử để mời về nước tham gia giảng dạy.
3. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm:
a) Xây dựng, tổ chức hoạt động trung tâm đào tạo chuyên ngành, huấn luyện đào tạo cán bộ khoa học công nghệ và chuyên gia có trình độ cao phục vụ nghiên cứu, triển khai, ứng dụng và dịch vụ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
b) Quy hoạch cán bộ, tổ chức huấn luyện, đào tạo nguồn nhân lực quản lý, đảm bảo an toàn, an ninh và pháp quy hạt nhân đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử và xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam;
c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan xây dựng các chương trình nghiên cứu, quản lý, ứng dụng và bảo đảm an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
4. Bộ Công thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm
a) Chủ trì, phối hợp các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu nhu cầu cần thiết cho việc triển khai Dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Việt Nam, xây dựng kế hoạch phù hợp và tổ chức đào tạo dựa trên nhu cầu nhân lực trong từng giai đoạn triển khai dự án;
b) Chủ trì, phối hợp với Bộ ngành và địa phương liên quan xây dựng các cơ sở đào tạo nhân lực điện hạt nhân trên cơ sở hệ thống trường đại học, cao đẳng, dạy nghề trong ngành và tại địa bàn xây dựng nhà máy điện hạt nhân;
c) Hợp tác, liên kết đối tác nước ngoài tham gia dự án nhà máy điện hạt nhân, tổ chức huấn luyện đào tạo nhân lực phục vụ thiết kế, xây dựng, vận hành, duy tu bảo dưỡng công trình nhà máy điện hạt nhân.
5. Các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Công thương, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất nhu cầu và tổ chức đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trên cơ sở quy hoạch chi tiết phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử của ngành mình.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công thương, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ, ngành liên quan cân đối, phân bổ nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, đảm bảo kinh phí triển khai thực hiện Đề án.

Content:
Cơ cấu kinh phí Đề án
- Giai đoạn từ 2010 đến 2015 sử dụng 75% ngân sách nhà nước và 25% ngân sách từ các nguồn tài chính hợp pháp khác để triển khai Đề án;
- Giai đoạn từ 2016 đến 2020 sử dụng 50% kinh phí từ ngân sách nhà nước và 50% từ các nguồn tài chính hợp pháp khác.
2. Kinh phí thực hiện Đề án
Tổng kinh phí thực hiện Đề án: 3.000 tỷ đồng (trong đó sử dụng từ ngân sách nhà nước là 2.000 tỷ đồng).
a) Giai đoạn từ 2010 đến 2015: kinh phí thực hiện Đề án là 2.000 tỷ đồng cho các hoạt động sau:
- Xây dựng văn bản về cơ chế, chính sách ưu tiên đối với giảng viên, sinh viên, những người làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
- Tham quan, khảo sát kinh nghiệm đào tạo nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở nước ngoài;
- Đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm chuyên ngành thuộc lĩnh vực năng lượng nguyên tử, các thiết bị đo đạc hạt nhân, vật tư thiết bị phục vụ chế tạo mẫu, hệ thống mạng phục vụ nghiên cứu và đào tạo, xây dựng mới và nâng cấp phòng thí nghiệm, hệ thống che chắn an toàn phóng xạ, hệ mô phỏng lò phản ứng;
- Xây dựng nội dung, chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế; tổ chức biên soạn giáo trình, bài giảng; tổ chức đào tạo và nghiên cứu khoa học tại 6 cơ sở đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
- Mời chuyên gia nước ngoài và chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài về tham gia đào tạo các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở trong nước;
- Tổ chức đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên của 6 cơ sở đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
- Tổ chức đào tạo lại, đào tạo chương trình ngắn hạn cho các kỹ sư, cử nhân chuyên ngành hạt nhân và các chuyên ngành liên quan phục vụ nhà máy điện hạt nhân;
- Gửi đi đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ ở một số nước có lĩnh vực năng lượng nguyên tử phát triển;
- Tổ chức các khóa bồi dưỡng ngắn hạn về nâng cao nghiệp vụ cho các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý, các nhà khoa học tại các nước có lĩnh vực năng lượng nguyên tử phát triển;
- Xây dựng hệ thống tiêu chí kiểm định và tổ chức kiểm định chất lượng đào tạo định kỳ các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
b) Giai đoạn từ 2016 đến 2020: kinh phí thực hiện Đề án là 1.000 tỷ đồng cho các hoạt động sau:
- Tiếp tục triển khai hoạt động đào tạo và bổ sung trang thiết bị cơ sở vật chất;
- Tổ chức đánh giá định kỳ quá trình thực hiện Đề án.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia về đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử do Phó Thủ tướng là Trưởng ban, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo là Phó Trưởng ban thường trực, đại diện lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ là thành viên. Ban Chỉ đạo có trách nhiệm điều phối thống nhất tất cả các hoạt động liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử của các Bộ, ngành, các doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan đầu mối có trách nhiệm
a) Chỉ đạo và tổ chức thực hiện Đề án; hướng dẫn, kiểm tra giám sát, tổng hợp tình hình thực hiện và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Tổ chức sơ kết việc thực hiện Đề án vào năm 2015 và tổng kết vào năm 2020;
b) Chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành có liên quan xây dựng và cụ thể hóa các văn bản về cơ chế, chính sách đối với giảng viên, sinh viên, người làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng kế hoạch, chỉ tiêu đào tạo hàng năm; xây dựng kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị cho các cơ sở đào tạo các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
Chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng ngân hàng dữ liệu về người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ cao trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử để mời về nước tham gia giảng dạy.
3. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm:
a) Xây dựng, tổ chức hoạt động trung tâm đào tạo chuyên ngành, huấn luyện đào tạo cán bộ khoa học công nghệ và chuyên gia có trình độ cao phục vụ nghiên cứu, triển khai, ứng dụng và dịch vụ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
b) Quy hoạch cán bộ, tổ chức huấn luyện, đào tạo nguồn nhân lực quản lý, đảm bảo an toàn, an ninh và pháp quy hạt nhân đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử và xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam;
c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan xây dựng các chương trình nghiên cứu, quản lý, ứng dụng và bảo đảm an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
4. Bộ Công thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm
a) Chủ trì, phối hợp các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu nhu cầu cần thiết cho việc triển khai Dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Việt Nam, xây dựng kế hoạch phù hợp và tổ chức đào tạo dựa trên nhu cầu nhân lực trong từng giai đoạn triển khai dự án;
b) Chủ trì, phối hợp với Bộ ngành và địa phương liên quan xây dựng các cơ sở đào tạo nhân lực điện hạt nhân trên cơ sở hệ thống trường đại học, cao đẳng, dạy nghề trong ngành và tại địa bàn xây dựng nhà máy điện hạt nhân;
c) Hợp tác, liên kết đối tác nước ngoài tham gia dự án nhà máy điện hạt nhân, tổ chức huấn luyện đào tạo nhân lực phục vụ thiết kế, xây dựng, vận hành, duy tu bảo dưỡng công trình nhà máy điện hạt nhân.
5. Các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Công thương, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất nhu cầu và tổ chức đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trên cơ sở quy hoạch chi tiết phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử của ngành mình.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công thương, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ, ngành liên quan cân đối, phân bổ nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, đảm bảo kinh phí triển khai thực hiện Đề án.