Document: Điều 11 Nghị định 70/2006/NĐ-CP quản lý tang vật, phương tiện bị tạm giữ theo thủ tục hành chính

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "24/07/2006", "sign_number": "70/2006/NĐ-CP", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "24/07/2006", "sign_number": "70/2006/NĐ-CP", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "24/07/2006", "sign_number": "70/2006/NĐ-CP", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "24/07/2006", "sign_number": "70/2006/NĐ-CP", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "24/07/2006", "sign_number": "70/2006/NĐ-CP", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 11 Nghị định 70/2006/NĐ-CP quản lý tang vật, phương tiện bị tạm giữ theo thủ tục hành chính có nội dung như sau:

Điều 11. Xử lý tang vật, phương tiện hết thời hạn bị tạm giữ
1. Đối với tang vật, phương tiện đã hết thời hạn tạm giữ mà không biết rõ chủ sở hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp hoặc những người này không đến giải quyết để nhận lại tang vật, phương tiện đó thì người có thẩm quyền tịch thu phải thông báo ít nhất hai lần liên tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương hoặc địa phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan người có thẩm quyền tịch thu. Trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày thông báo cuối cùng trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai mà không xác định được chủ sở hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp hoặc những người này không đến nhận, thì người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện đó theo quy định tại Điều 61 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Điều 31 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003.
2. Đối với tang vật, phương tiện bị tạm giữ đã có quyết định tịch thu, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định, người ra quyết định tịch thu phải chuyển quyết định tịch thu đến cơ quan tài chính có thẩm quyền hoặc trung tâm dịch vụ bán đấu giá để bán đấu giá theo quy định tại Điều 61 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Điều 33 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trên, cơ quan tài chính có thẩm quyền hoặc trung tâm dịch vụ bán đấu giá phải có trách nhiệm tiếp nhận tang vật, phương tiện đó để tổ chức bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
3. Đối với tang vật, phương tiện bị tịch thu, nếu xét thấy không còn giá trị sử dụng thì người ra quyết định tịch thu phải đề nghị Ủy ban nhân dân cùng cấp ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá tài sản. Thành phần Hội đồng gồm:
a) Lãnh đạo cơ quan ra quyết định tịch thu làm Chủ tịch Hội đồng;
b) Lãnh đạo cơ quan tài chính cùng cấp làm Phó Chủ tịch Hội đồng;
c) Tuỳ theo tính chất, đặc điểm của từng vụ việc, người ra quyết định thành lập Hội đồng quyết định các thành viên khác (Viện Kiêm sát, Công an, Thanh tra,...) tham gia Hội đồng.
4. Sau khi đánh giá, nếu xét thấy tang vật, phương tiện bị tịch thu còn giá trị sử dụng thì xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều này. Nếu xác định tang vật, phương tiện không còn giá trị sử dụng thì Hội đồng đánh giá tài sản tổ chức tiêu huỷ.
Việc đánh giá tài sản và tiêu huỷ tang vật, phương tiện phải được lập biên bản có đầy đủ chữ ký của các thành viên Hội đồng.

Content:
Điều 11. Xử lý tang vật, phương tiện hết thời hạn bị tạm giữ
1. Đối với tang vật, phương tiện đã hết thời hạn tạm giữ mà không biết rõ chủ sở hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp hoặc những người này không đến giải quyết để nhận lại tang vật, phương tiện đó thì người có thẩm quyền tịch thu phải thông báo ít nhất hai lần liên tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương hoặc địa phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan người có thẩm quyền tịch thu. Trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày thông báo cuối cùng trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai mà không xác định được chủ sở hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp hoặc những người này không đến nhận, thì người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện đó theo quy định tại Điều 61 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Điều 31 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003.
2. Đối với tang vật, phương tiện bị tạm giữ đã có quyết định tịch thu, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định, người ra quyết định tịch thu phải chuyển quyết định tịch thu đến cơ quan tài chính có thẩm quyền hoặc trung tâm dịch vụ bán đấu giá để bán đấu giá theo quy định tại Điều 61 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Điều 33 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trên, cơ quan tài chính có thẩm quyền hoặc trung tâm dịch vụ bán đấu giá phải có trách nhiệm tiếp nhận tang vật, phương tiện đó để tổ chức bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
3. Đối với tang vật, phương tiện bị tịch thu, nếu xét thấy không còn giá trị sử dụng thì người ra quyết định tịch thu phải đề nghị Ủy ban nhân dân cùng cấp ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá tài sản. Thành phần Hội đồng gồm:
a) Lãnh đạo cơ quan ra quyết định tịch thu làm Chủ tịch Hội đồng;
b) Lãnh đạo cơ quan tài chính cùng cấp làm Phó Chủ tịch Hội đồng;
c) Tuỳ theo tính chất, đặc điểm của từng vụ việc, người ra quyết định thành lập Hội đồng quyết định các thành viên khác (Viện Kiêm sát, Công an, Thanh tra,...) tham gia Hội đồng.
4. Sau khi đánh giá, nếu xét thấy tang vật, phương tiện bị tịch thu còn giá trị sử dụng thì xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều này. Nếu xác định tang vật, phương tiện không còn giá trị sử dụng thì Hội đồng đánh giá tài sản tổ chức tiêu huỷ.
Việc đánh giá tài sản và tiêu huỷ tang vật, phương tiện phải được lập biên bản có đầy đủ chữ ký của các thành viên Hội đồng.