Document: Điểm c Khoản 5 Điều 1 quyết định 214/2005/QĐ-TTg đề án phát triển thị trường công nghệ

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "30/08/2005", "sign_number": "214/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Gia Khiêm", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "30/08/2005", "sign_number": "214/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Gia Khiêm", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "30/08/2005", "sign_number": "214/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Gia Khiêm", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "30/08/2005", "sign_number": "214/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Gia Khiêm", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "30/08/2005", "sign_number": "214/2005/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Gia Khiêm", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 5 Điều 1 quyết định 214/2005/QĐ-TTg đề án phát triển thị trường công nghệ

Điều 1. Phê duyệt "Đề án Phát triển thị trường công nghệ" với các nội dung chính sau:
...
5. Hình thành và đưa vào hoạt động một số trung tâm xúc tiến và hỗ trợ hoạt động mua bán, chuyển giao công nghệ ở trung ương và địa phương, bao gồm: 2 trung tâm giao dịch công nghệ thường xuyên tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; một số trung tâm đánh giá, thẩm định, giám định, định giá công nghệ độc lập; một số trung tâm ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại các khu vực tập trung cơ sở đào tạo và nghiên cứu và ở các khu công nghệ cao. Đồng thời thúc đẩy phát triển mạng lưới các tổ chức tư vấn, môi giới, xúc tiến mua bán, chuyển giao công nghệ thuộc mọi thành phần kinh tế.
III. GIẢI PHÁP
1. Nhóm giải pháp hoàn thiện môi trường pháp lý cho phát triển thị trường công nghệ.
...
c) Phát triển nhu cầu công nghệ trong nông nghiệp và nông thôn.
Nhà nước hỗ trợ các hoạt động xúc tiến và phát triển thị trường nông sản trong nước và ở nước ngoài, khuyến khích sản xuất nông nghiệp hàng hoá dựa trên công nghệ với quy mô đủ lớn tại những địa bàn có điều kiện phù hợp.
Có chính sách hỗ trợ nông dân về thông tin, đào tạo và kinh phí cho ứng dụng công nghệ, đặc biệt đối với những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống khuyến nông trong công tác hỗ trợ chuyển giao công nghệ cho nông nghiệp và nông thôn.
Đẩy mạnh thực hiện cơ chế liên kết giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp và nông dân để phát triển, ứng dụng, chuyển giao kỹ thuật tiến bộ phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn. Các Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối để thực hiện các liên kết này tại địa phương.
3. Nhóm giải pháp thúc đẩy cung công nghệ
a) Phát triển nguồn cung công nghệ trong nước.
- Tạo động lực mạnh mẽ cho các tổ chức, cá nhân tạo ra và thương mại hóa công nghệ có giá trị thực tiễn:
Quy định rõ trách nhiệm đối với các cơ quan chuyển giao và nhận chuyển giao đối với kết quả nghiên cứu phục vụ công ích; có chế độ khen thưởng thỏa đáng đối với tổ chức, cá nhân có kết quả nghiên cứu được ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
- Chuyển mạnh hoạt động nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ gắn với thị trường:
Đổi mới phương thức xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước theo hướng gắn việc hình thành nhiệm vụ khoa học và công nghệ với nhu cầu thực tiễn, với thị trường. Có cơ chế, chính sách khuyến khích, thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đặt hàng với các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước và nước ngoài và tham gia đề xuất, tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước.
Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập để phát huy tính năng động của các tổ chức này trong nền kinh tế thị trường. Chuyển các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ của Nhà nước có sản phẩm gắn với thị trường sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp. Có cơ chế chính sách hỗ trợ các tổ chức này trong quá trình chuyển đổi. Khuyến khích các viện nghiên cứu, trường đại học thành lập hoặc liên doanh, liên kết với các tổ chức trong nước, nước ngoài để thành lập các doanh nghiệp khoa học và công nghệ; có chính sách khuyến khích đầu tư đặc biệt về cơ sở hạ tầng, thuế, sử dụng đất đai đối với các doanh nghiệp khoa học và công nghệ hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ cao.
- Đổi mới chính sách đầu tư cho khoa học và công nghệ:
Tập trung đầu tư có chọn lọc để xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực cho một số hướng công nghệ trọng điểm, có tác dụng lớn đối với việc hiện đại hoá các ngành kinh tế - kỹ thuật, bảo đảm quốc phòng, an ninh; tạo điều kiện phát triển các ngành nghề mới, tạo công ăn việc làm, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu đầu tư của Nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ theo hướng tăng tỷ lệ đầu tư cho các hoạt động phát triển và hoàn thiện công nghệ, sản xuất thử nghiệm, ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, nghiên cứu nhu cầu công nghệ và tiếp thị công nghệ. Hỗ trợ kinh phí cho các dự án chuyển giao công nghệ quốc phòng cho mục đích dân sự theo nhu cầu của thị trường.
Hình thành và đưa vào hoạt động các quỹ phát triển khoa học và công nghệ của Bộ, ngành, tỉnh, thành phố, tổ chức, cá nhân, đồng thời, vận hành có hiệu quả Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia. Xây dựng các quy định về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài cho nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ.
Hỗ trợ tổ chức, cá nhân phát triển tài sản trí tuệ và chuyển giao công nghệ.Tổ chức tuyên truyền, đào tạo về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ. Xây dựng chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức, cá nhân khác phát triển, xác lập quyền sở hữu, quản lý, khai thác tài sản trí tuệ ở trong nước và ở nước ngoài. Quy định rõ trách nhiệm quản lý tài sản trí tuệ và chuyển giao công nghệ của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập.
Thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới và chuyển giao công nghệ ở địa phương. Đẩy mạnh liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học, các tổ chức tài chính và doanh nghiệp, có sự điều phối, hỗ trợ của cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Lồng ghép các chương trình đổi mới công nghệ, các chương trình khoa học và công nghệ với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Hỗ trợ doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế chuyển giao, ứng dụng công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thông qua Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh, thành phố.
b) Tăng cường hợp tác công nghệ với nước ngoài
Xây dựng chính sách nhập khẩu công nghệ theo hướng nhập khẩu máy móc, thiết bị, dịch vụ kỹ thuật, đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn lao động và bảo vệ môi trường; khuyến khích nhập công nghệ gắn với làm chủ và nội địa hoá công nghệ trong một số lĩnh vực mà Việt Nam có thế mạnh, trên cơ sở liên kết giữa các tổ chức khoa học và công nghệ với các doanh nghiệp trong nước thông qua việc hỗ trợ các khoản chi phí liên quan tới quyền khai thác các đối tượng sở hữu công nghiệp, phí chuyển giao công nghệ, chi phí đào tạo cán bộ, chi phí thuê chuyên gia trong nước và nước ngoài.
Khuyến khích thành lập các tổ chức khoa học và công nghệ liên kết giữa các công ty nước ngoài với công ty và các tổ chức nghiên cứu - đào tạo của Việt Nam. Xây dựng các chính sách khuyến khích đầu tư đặc biệt để thu hút các công ty đa quốc gia có công nghệ nguồn, công nghệ cao đầu tư và chuyển giao công nghệ tại Việt Nam; khuyến khích công ty nước ngoài chuyển giao công nghệ cho phía Việt Nam trong các hợp đồng liên doanh và hợp tác kinh doanh; có cơ chế thu hút chuyên gia giỏi trong nước và nước ngoài làm việc chuyên môn, quản lý trong các tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp tại Việt Nam.
c) Tăng cường cung cấp các kỹ thuật tiến bộ, giống mới cho khu vực nông nghiệp và nông thôn.
Đa dạng hoá và hoàn thiện các kênh chuyển giao công nghệ cho khu vực nông nghiệp và nông thôn, thông qua các chương trình hỗ trợ khoa học và công nghệ và các chương trình kinh tế - xã hội khác. Tổ chức các điểm giao dịch công nghệ thường xuyên ở quy mô vùng, tỉnh tại những địa bàn có nhu cầu và điều kiện phù hợp.
Phát triển chuỗi liên kết doanh nghiệp, nông dân, nhà khoa học nhằm giải quyết đầu vào - đầu ra trong sản xuất nông nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường. Phát triển các loại hình khu nông nghiệp công nghệ cao do doanh nghiệp đầu tư.
Huy động các nguồn tài chính, trong đó có kinh phí khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đối với các vùng nông thôn kém phát triển, các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Tiếp tục hỗ trợ các hoạt động chuyển giao công nghệ miễn phí, hỗ trợ một phần hoặc toàn phần hoạt động thông tin, đào tạo, khuyến nông phục vụ cho nông dân nghèo.
4. Nhóm giải pháp phát triển các loại hình dịch vụ, xúc tiến mua bán công nghệ
a) Hình thành và phát triển các tổ chức xúc tiến mua bán công nghệ.
Trong giai đoạn trước mắt, Nhà nước hỗ trợ việc tổ chức chợ công nghệ - thiết bị định kỳ ở quy mô cả nước; khuyến khích tổ chức các hoạt động này ở quy mô địa phương. Tăng cường sự hỗ trợ của các cơ quan chuyên môn, các Sở Khoa học và Công nghệ trong việc triển khai thực hiện các hợp đồng mua bán công nghệ sau ký kết. Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quy chế về chợ công nghệ - thiết bị.
Thành lập và đưa vào hoạt động hai trung tâm giao dịch công nghệ thường xuyên tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh nhằm: cung cấp cơ sở hạ tầng cho các tổ chức dịch vụ hỗ trợ mua bán công nghệ, kể cả các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài; tạo môi trường giao dịch thuận lợi cho các bên tham gia thị trường tìm hiểu thông tin, tiến hành đàm phán, mua bán công nghệ; tổ chức các cuộc triển lãm, giới thiệu, trình diễn công nghệ; xây dựng các cơ sở dữ liệu về công nghệ chào bán và nhu cầu công nghệ phục vụ hoạt động của trung tâm giao dịch, bao gồm cả hoạt động giao dịch điện tử; tiến hành thu thập các thống kê về giao dịch mua bán công nghệ.
Tổ chức lại hoạt động của các trung tâm thông tin khoa học và công nghệ thuộc các cơ quan nhà nước theo hướng cân đối giữa các chức năng đảm bảo thông tin phục vụ cơ quan quản lý nhà nước, phục vụ cộng đồng và hoạt động kinh doanh thông tin thương mại về công nghệ; nâng cao tính chuyên nghiệp và hữu dụng của dịch vụ thông tin; chú trọng công tác xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu công nghệ phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn, phát triển mạng lưới cung cấp thông tin điện tử về thị trường công nghệ xuống cấp huyện, xã.
Đẩy mạnh xã hội hoá dịch vụ tổ chức chợ công nghệ - thiết bị, trung tâm giao dịch công nghệ và dịch vụ thông tin công nghệ.
b) Phát triển các dịch vụ tư vấn, giám định, thẩm định, đánh giá công nghệ.
Nâng cao năng lực hoạt động, chất lượng dịch vụ của các tổ chức tư vấn, giám định, thẩm định, đánh giá công nghệ của Nhà nước. Thành lập hai trung tâm đánh giá, thẩm định, định giá công nghệ tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Thu hút các tổ chức khoa học và công nghệ, các tổ chức xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp, các tổ chức và cá nhân khác trong nước và nước ngoài tham gia cung cấp các loại dịch vụ trên. Đồng thời, nâng cao nhận thức và thúc đẩy việc sử dụng các dịch vụ tư vấn, giám định, thẩm định, đánh giá công nghệ trong hoạt động kinh tế - xã hội.
c) Phát triển dịch vụ pháp lý về sở hữu trí tuệ và các dịch vụ pháp lý khác liên quan tới mua bán công nghệ. Khuyến khích thành lập các doanh nghiệp hoạt động cung ứng dịch vụ pháp lý về sở hữu trý tuệ và chuyển giao công nghệ.
Xem xét huỷ bỏ những quy định không còn phù hợp liên quan tới hành nghề tư vấn pháp lý trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ. Xây dựng các quy định về những ưu đãi tài chính đối với các dịch vụ pháp lý về sở hữu trí tuệ và các dịch vụ pháp lý khác liên quan tới mua bán công nghệ. Thành lập các tổ chức tư vấn pháp lý về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận.

Content:
Phát triển nhu cầu công nghệ trong nông nghiệp và nông thôn.
Nhà nước hỗ trợ các hoạt động xúc tiến và phát triển thị trường nông sản trong nước và ở nước ngoài, khuyến khích sản xuất nông nghiệp hàng hoá dựa trên công nghệ với quy mô đủ lớn tại những địa bàn có điều kiện phù hợp.
Có chính sách hỗ trợ nông dân về thông tin, đào tạo và kinh phí cho ứng dụng công nghệ, đặc biệt đối với những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống khuyến nông trong công tác hỗ trợ chuyển giao công nghệ cho nông nghiệp và nông thôn.
Đẩy mạnh thực hiện cơ chế liên kết giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp và nông dân để phát triển, ứng dụng, chuyển giao kỹ thuật tiến bộ phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn. Các Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối để thực hiện các liên kết này tại địa phương.
3. Nhóm giải pháp thúc đẩy cung công nghệ
a) Phát triển nguồn cung công nghệ trong nước.
- Tạo động lực mạnh mẽ cho các tổ chức, cá nhân tạo ra và thương mại hóa công nghệ có giá trị thực tiễn:
Quy định rõ trách nhiệm đối với các cơ quan chuyển giao và nhận chuyển giao đối với kết quả nghiên cứu phục vụ công ích; có chế độ khen thưởng thỏa đáng đối với tổ chức, cá nhân có kết quả nghiên cứu được ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
- Chuyển mạnh hoạt động nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ gắn với thị trường:
Đổi mới phương thức xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước theo hướng gắn việc hình thành nhiệm vụ khoa học và công nghệ với nhu cầu thực tiễn, với thị trường. Có cơ chế, chính sách khuyến khích, thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đặt hàng với các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước và nước ngoài và tham gia đề xuất, tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước.
Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập để phát huy tính năng động của các tổ chức này trong nền kinh tế thị trường. Chuyển các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ của Nhà nước có sản phẩm gắn với thị trường sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp. Có cơ chế chính sách hỗ trợ các tổ chức này trong quá trình chuyển đổi. Khuyến khích các viện nghiên cứu, trường đại học thành lập hoặc liên doanh, liên kết với các tổ chức trong nước, nước ngoài để thành lập các doanh nghiệp khoa học và công nghệ; có chính sách khuyến khích đầu tư đặc biệt về cơ sở hạ tầng, thuế, sử dụng đất đai đối với các doanh nghiệp khoa học và công nghệ hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ cao.
- Đổi mới chính sách đầu tư cho khoa học và công nghệ:
Tập trung đầu tư có chọn lọc để xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực cho một số hướng công nghệ trọng điểm, có tác dụng lớn đối với việc hiện đại hoá các ngành kinh tế - kỹ thuật, bảo đảm quốc phòng, an ninh; tạo điều kiện phát triển các ngành nghề mới, tạo công ăn việc làm, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu đầu tư của Nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ theo hướng tăng tỷ lệ đầu tư cho các hoạt động phát triển và hoàn thiện công nghệ, sản xuất thử nghiệm, ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, nghiên cứu nhu cầu công nghệ và tiếp thị công nghệ. Hỗ trợ kinh phí cho các dự án chuyển giao công nghệ quốc phòng cho mục đích dân sự theo nhu cầu của thị trường.
Hình thành và đưa vào hoạt động các quỹ phát triển khoa học và công nghệ của Bộ, ngành, tỉnh, thành phố, tổ chức, cá nhân, đồng thời, vận hành có hiệu quả Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia. Xây dựng các quy định về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài cho nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ.
Hỗ trợ tổ chức, cá nhân phát triển tài sản trí tuệ và chuyển giao công nghệ.Tổ chức tuyên truyền, đào tạo về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ. Xây dựng chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức, cá nhân khác phát triển, xác lập quyền sở hữu, quản lý, khai thác tài sản trí tuệ ở trong nước và ở nước ngoài. Quy định rõ trách nhiệm quản lý tài sản trí tuệ và chuyển giao công nghệ của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập.
Thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới và chuyển giao công nghệ ở địa phương. Đẩy mạnh liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học, các tổ chức tài chính và doanh nghiệp, có sự điều phối, hỗ trợ của cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Lồng ghép các chương trình đổi mới công nghệ, các chương trình khoa học và công nghệ với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Hỗ trợ doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế chuyển giao, ứng dụng công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thông qua Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh, thành phố.
b) Tăng cường hợp tác công nghệ với nước ngoài
Xây dựng chính sách nhập khẩu công nghệ theo hướng nhập khẩu máy móc, thiết bị, dịch vụ kỹ thuật, đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn lao động và bảo vệ môi trường; khuyến khích nhập công nghệ gắn với làm chủ và nội địa hoá công nghệ trong một số lĩnh vực mà Việt Nam có thế mạnh, trên cơ sở liên kết giữa các tổ chức khoa học và công nghệ với các doanh nghiệp trong nước thông qua việc hỗ trợ các khoản chi phí liên quan tới quyền khai thác các đối tượng sở hữu công nghiệp, phí chuyển giao công nghệ, chi phí đào tạo cán bộ, chi phí thuê chuyên gia trong nước và nước ngoài.
Khuyến khích thành lập các tổ chức khoa học và công nghệ liên kết giữa các công ty nước ngoài với công ty và các tổ chức nghiên cứu - đào tạo của Việt Nam. Xây dựng các chính sách khuyến khích đầu tư đặc biệt để thu hút các công ty đa quốc gia có công nghệ nguồn, công nghệ cao đầu tư và chuyển giao công nghệ tại Việt Nam; khuyến khích công ty nước ngoài chuyển giao công nghệ cho phía Việt Nam trong các hợp đồng liên doanh và hợp tác kinh doanh; có cơ chế thu hút chuyên gia giỏi trong nước và nước ngoài làm việc chuyên môn, quản lý trong các tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp tại Việt Nam.
Tăng cường cung cấp các kỹ thuật tiến bộ, giống mới cho khu vực nông nghiệp và nông thôn.
Đa dạng hoá và hoàn thiện các kênh chuyển giao công nghệ cho khu vực nông nghiệp và nông thôn, thông qua các chương trình hỗ trợ khoa học và công nghệ và các chương trình kinh tế - xã hội khác. Tổ chức các điểm giao dịch công nghệ thường xuyên ở quy mô vùng, tỉnh tại những địa bàn có nhu cầu và điều kiện phù hợp.
Phát triển chuỗi liên kết doanh nghiệp, nông dân, nhà khoa học nhằm giải quyết đầu vào - đầu ra trong sản xuất nông nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường. Phát triển các loại hình khu nông nghiệp công nghệ cao do doanh nghiệp đầu tư.
Huy động các nguồn tài chính, trong đó có kinh phí khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đối với các vùng nông thôn kém phát triển, các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Tiếp tục hỗ trợ các hoạt động chuyển giao công nghệ miễn phí, hỗ trợ một phần hoặc toàn phần hoạt động thông tin, đào tạo, khuyến nông phục vụ cho nông dân nghèo.
4. Nhóm giải pháp phát triển các loại hình dịch vụ, xúc tiến mua bán công nghệ
a) Hình thành và phát triển các tổ chức xúc tiến mua bán công nghệ.
Trong giai đoạn trước mắt, Nhà nước hỗ trợ việc tổ chức chợ công nghệ - thiết bị định kỳ ở quy mô cả nước; khuyến khích tổ chức các hoạt động này ở quy mô địa phương. Tăng cường sự hỗ trợ của các cơ quan chuyên môn, các Sở Khoa học và Công nghệ trong việc triển khai thực hiện các hợp đồng mua bán công nghệ sau ký kết. Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quy chế về chợ công nghệ - thiết bị.
Thành lập và đưa vào hoạt động hai trung tâm giao dịch công nghệ thường xuyên tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh nhằm: cung cấp cơ sở hạ tầng cho các tổ chức dịch vụ hỗ trợ mua bán công nghệ, kể cả các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài; tạo môi trường giao dịch thuận lợi cho các bên tham gia thị trường tìm hiểu thông tin, tiến hành đàm phán, mua bán công nghệ; tổ chức các cuộc triển lãm, giới thiệu, trình diễn công nghệ; xây dựng các cơ sở dữ liệu về công nghệ chào bán và nhu cầu công nghệ phục vụ hoạt động của trung tâm giao dịch, bao gồm cả hoạt động giao dịch điện tử; tiến hành thu thập các thống kê về giao dịch mua bán công nghệ.
Tổ chức lại hoạt động của các trung tâm thông tin khoa học và công nghệ thuộc các cơ quan nhà nước theo hướng cân đối giữa các chức năng đảm bảo thông tin phục vụ cơ quan quản lý nhà nước, phục vụ cộng đồng và hoạt động kinh doanh thông tin thương mại về công nghệ; nâng cao tính chuyên nghiệp và hữu dụng của dịch vụ thông tin; chú trọng công tác xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu công nghệ phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn, phát triển mạng lưới cung cấp thông tin điện tử về thị trường công nghệ xuống cấp huyện, xã.
Đẩy mạnh xã hội hoá dịch vụ tổ chức chợ công nghệ - thiết bị, trung tâm giao dịch công nghệ và dịch vụ thông tin công nghệ.
b) Phát triển các dịch vụ tư vấn, giám định, thẩm định, đánh giá công nghệ.
Nâng cao năng lực hoạt động, chất lượng dịch vụ của các tổ chức tư vấn, giám định, thẩm định, đánh giá công nghệ của Nhà nước. Thành lập hai trung tâm đánh giá, thẩm định, định giá công nghệ tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Thu hút các tổ chức khoa học và công nghệ, các tổ chức xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp, các tổ chức và cá nhân khác trong nước và nước ngoài tham gia cung cấp các loại dịch vụ trên. Đồng thời, nâng cao nhận thức và thúc đẩy việc sử dụng các dịch vụ tư vấn, giám định, thẩm định, đánh giá công nghệ trong hoạt động kinh tế - xã hội.
Phát triển dịch vụ pháp lý về sở hữu trí tuệ và các dịch vụ pháp lý khác liên quan tới mua bán công nghệ. Khuyến khích thành lập các doanh nghiệp hoạt động cung ứng dịch vụ pháp lý về sở hữu trý tuệ và chuyển giao công nghệ.
Xem xét huỷ bỏ những quy định không còn phù hợp liên quan tới hành nghề tư vấn pháp lý trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ. Xây dựng các quy định về những ưu đãi tài chính đối với các dịch vụ pháp lý về sở hữu trí tuệ và các dịch vụ pháp lý khác liên quan tới mua bán công nghệ. Thành lập các tổ chức tư vấn pháp lý về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận.