Document: Điểm c Khoản 2 Điều 3 Quyết định 145/2004/QĐ-TTg phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế-xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến 2010 tầm nhìn đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "13/08/2004", "sign_number": "145/2004/QĐ-TTG", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "13/08/2004", "sign_number": "145/2004/QĐ-TTG", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "13/08/2004", "sign_number": "145/2004/QĐ-TTG", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "13/08/2004", "sign_number": "145/2004/QĐ-TTG", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "13/08/2004", "sign_number": "145/2004/QĐ-TTG", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 2 Điều 3 Quyết định 145/2004/QĐ-TTg phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế-xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến 2010 tầm nhìn đến 2020

Điều 3. Nhiệm vụ và các giải pháp phát triển các ngành và lĩnh vực then chốt.
...
2. Định hướng điều chỉnh quy hoạch.
Chuyển dịch nhanh hơn cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra các sản phẩm mũi nhọn, gắn với thị trường và tăng sức cạnh tranh. Dự kiến đến năm 2010 tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ trong GDP khoảng 94-95% và đến năm 2020 đạt khoảng 96-97%. Tăng tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp; tăng số việc làm có năng suất cao và tiêu hao ít năng lượng; sử dụng đất có hiệu quả... trên cơ sở phát triển các ngành công nghệ cao và sản xuất các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao.
2.1. Về phát triển công nghiệp.
Cơ cấu sản phẩm chủ lực là các sản phẩm giá trị lớn, chứa hàm lượng chất xám cao như kỹ thuật phần mềm, phần cứng, kỹ thuật điện, điện tử, sản xuất thiết bị máy móc, đóng và sửa chữa tàu thủy, sản xuất thép (các sản phẩm thép hợp kim, thép tấm, thép lá, thép hình cỡ lớn, thép có cường độ cao dùng trong cấu kiện bê tông dự ứng lực, thép chế tạo), than, xi măng, vật liệu xây dựng cao cấp, chế biến nông, lâm, thủy sản, lương thực, thực phẩm, dệt, da, may Đồng thời, phát huy thế mạnh của Vùng phát triển mạnh công nghiệp bổ trợ nhằm nâng cao giá trị các sản phẩm; phát triển sản phẩm mới đi ngay vào công nghệ hiện đại đi đôi với bảo vệ môi trường; phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản.
Đặc biệt quan tâm đến phát triển tiểu thủ công nghiệp, xây dựng các mô hình phát triển bền vững; các làng nghề truyền thống và làng có nghề theo hướng phát triển sản phẩm cho xuất khẩu, coi đây là thế mạnh đặc thù của Vùng.
Chuyển dịch dần công nghiệp lên dọc tuyến hành lang đường 18 và hành lang đường 21 tại những khu vực gò đồi, đất xấu để giảm sử dụng đất tốt dành cho sản xuất nông nghiệp và tránh sự tập trung công nghiệp quá mức vào các đô thị, khu dân cư ở vùng đồng bằng. Tuy nhiên, cũng cần tính đến phát triển công nghiệp sạch ở các tỉnh trong vùng đảm bảo cơ cấu kinh tế phát triển có hiệu quả.
2.2. Về dịch vụ, tập trung phát triển các ngành dịch vụ một cách toàn diện, đặc biệt là các ngành dịch vụ chất lượng cao, trình độ cao trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thương mại, du lịch, khoa học- công nghệ, viễn thông, vận tải hàng không, vận tải hàng hải; phát triển thị trường bất động sản, thị trường vốn, thị trường chứng khoán; phát huy có hiệu quả các tổ chức tài chính, đào tạo và dịch vụ y tế chất lượng cao.
Xây dựng các trung tâm về dịch vụ khoa học-công nghệ, văn hoá- xã hội, y tế... có tầm cỡ quốc gia, khu vực và quốc tế.
Tiếp tục thúc đẩy vai trò trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh để đảm nhận chức năng dịch vụ thương mại và trung tâm du lịch của cả khu vực phía Bắc và cả nước.
Phát triển dịch vụ vận tải công cộng (xe buýt và xe điện) từ Hà Nội đi các tỉnh (có bán kính khoảng 60 km) để tăng cường liên kết, giao lưu giữa các tỉnh, thành phố.
2.3. Về nông, lâm, thủy sản.
Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có năng suất, chất lượng cao, tạo nhiều giá trị trên mỗi đơn vị diện tích đất nông lâm nghiệp, phục vụ trực tiếp và chủ yếu cho nhu cầu tiêu dùng ở các đô thị và khu công nghiệp trong vùng và cho xuất khẩu. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ bảo quản và chế biến sau thu hoạch. Hình thành các vùng sản xuất hàng hóa quanh các đô thị. Đặc biệt chú trọng phát triển nông nghiệp sạch, gắn phát triển nông nghiệp với việc xây dựng nông thôn mới trên cơ sở phát triển công nghiệp chế biến và phát triển kinh tế trang trại hộ gia đình. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đầu tư các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung sản xuất hàng hóa chất lượng cao; đẩy mạnh phát triển nuôi trồng hải sản biển đi đôi với việc xây dựng khu bảo tồn biển.
Phát triển rừng nguyên liệu, đặc biệt rừng nguyên liệu gỗ trụ mỏ, vùng rừng ngập mặn ven biển. Hướng vào khai thác có hiệu quả vùng đồi, hình thành các khu rừng ven biển, bảo tồn danh thắng và các vườn rừng quốc gia. Phát triển mạnh cây xanh trong các đô thị, trong các khu công nghiệp.
Ưu tiên đầu tư các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung sản xuất hàng hóa chất lượng cao tại các tỉnh trong Vùng; đẩy mạnh phát triển nuôi hải sản biển đi đôi với việc xây dựng khu bảo tàng biển. Kết hợp kinh tế biển và ven bờ theo hướng phát triển cả đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản và trồng rừng ven biển. Xây dựng Hải Phòng thành trung tâm dịch vụ, chế biến xuất khẩu thủy sản của cả miền Bắc.
2.4. Về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội đảm bảo tính đồng bộ và đi trước một bước.
...
c) Phát triển hệ thống đô thị và các khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao.
- Đối với Hà Nội: phát triển xứng đáng là trái tim của cả nước, trung tâm chính trị, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học giáo dục, kinh tế và dịch vụ quốc tế. Tiếp tục thực hiện tốt Nghị Quyết 15- NQ/TW ngày 15 tháng 12 năm 2000 của Bộ Chính trị, Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội (số 29/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28 tháng 12 năm 2000 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội) để Hà Nội đạt trình độ hiện đại; tập trung đầu tư chiều sâu nội thành. Đưa công nghiệp, đặc biệt các ngành sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm ra xa nội thành (khi chuyển ra ngoại thành có biện pháp đồng bộ bảo vệ môi trường) gắn với việc hình thành các khu đô thị vệ tinh, khu đô thị mới như các khu Bắc Thăng Long, Nam Thăng Long, Bồ Đề (Gia Lâm), Yên Viên, Linh Đàm.... gắn kết với các đô thị tiếp giáp như Hoà Lạc, Xuân Mai, Hà Đông, Sơn Tây, Hưng Yên, Phố Nối, Mê Linh, Vĩnh Yên, Bắc Ninh, Phủ Lý tạo thành chùm đô thị hạt nhân.
- Đối với Hải Phòng: thực hiện tốt Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 05 tháng 08 năm 2003 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Quy mô dân số nội thị vào năm 2010 có thể lên đến 75-90 vạn người. Xây dựng đô thị mới phía Bắc sông Cấm, thuộc huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
Phát triển mạnh kết cấu hạ tầng, công nghiệp và dịch vụ để có thể phát huy chức năng của đô thị loại 1 đối với toàn vùng.
- Đối với Hạ Long: quy mô dân số nội thị vào năm 2010 lên đến khoảng 39-40 vạn người. Phát triển mở rộng chủ yếu về phía Hòn Gai - Cẩm Phả. Phát triển mạnh kết cấu hạ tầng, dịch vụ du lịch, công nghiệp để có thể phát huy chức năng của đô thị loại 2 đối với tỉnh Quảng Ninh và toàn vùng.
- Đẩy nhanh phát triển chuỗi đô thị Miếu Môn, Xuân Mai, Hòa Lạc, Sơn Tây.
- Đối với phát triển các khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao: đẩy nhanh việc xây dựng theo quy hoạch và đưa vào hoạt động khu công nghệ cao Hoà Lạc. Trước mắt, tập trung sức tạo mặt bằng thuận lợi và có chính sách thông thoáng hơn nữa, thu hút đầu tư trong và ngoài nước để lấp đầy các khu công nghiệp hiện có. Chấm dứt tình trạng xây dựng các khu công nghiệp, các nhà máy dọc theo các quốc lộ lớn; rà soát lại quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp của toàn Vùng nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững, cân đối. Quy hoạch xây dựng đồng bộ khu dân cư và các công trình hạ tầng xã hội phục vụ khu công nghiệp. Chuẩn bị điều kiện để phát triển một số khu công nghiệp hoặc cụm, liên cụm công nghiệp dọc trục quốc lộ 18 với các ngành chủ yếu là công nghiệp nặng; công nghiệp chế biến nông, thủy sản; công nghiệp chế biến thực phẩm; công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.
- Đối với các thành phố, thị xã khác với quy mô dân số khoảng 15-20 vạn người và là đô thị tỉnh lỵ, trung tâm kinh tế, văn hóa và chính trị của từng tỉnh hay các thị xã là các trung tâm kinh tế của một khu vực cũng sẽ được phát triển gắn với hệ thống đô thị chung của cả vùng. Đồng thời dọc theo các trục quốc lộ và tại các vùng sản xuất hàng hóa tập trung đông dân, các thị trấn, thị tứ cũng sẽ được nâng cấp và hình thành thêm theo quy hoạch thống nhất.
Các tỉnh, thành phố chú trọng xây dựng và phát triển các cụm công nghiệp nhỏ, vừa, các làng nghề truyền thống ở khu vực nông thôn, chú trọng xử lý, bảo vệ môi trường sinh thái.

Content:
Phát triển hệ thống đô thị và các khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao.
- Đối với Hà Nội: phát triển xứng đáng là trái tim của cả nước, trung tâm chính trị, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học giáo dục, kinh tế và dịch vụ quốc tế. Tiếp tục thực hiện tốt Nghị Quyết 15- NQ/TW ngày 15 tháng 12 năm 2000 của Bộ Chính trị, Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội (số 29/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28 tháng 12 năm 2000 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội) để Hà Nội đạt trình độ hiện đại; tập trung đầu tư chiều sâu nội thành. Đưa công nghiệp, đặc biệt các ngành sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm ra xa nội thành (khi chuyển ra ngoại thành có biện pháp đồng bộ bảo vệ môi trường) gắn với việc hình thành các khu đô thị vệ tinh, khu đô thị mới như các khu Bắc Thăng Long, Nam Thăng Long, Bồ Đề (Gia Lâm), Yên Viên, Linh Đàm.... gắn kết với các đô thị tiếp giáp như Hoà Lạc, Xuân Mai, Hà Đông, Sơn Tây, Hưng Yên, Phố Nối, Mê Linh, Vĩnh Yên, Bắc Ninh, Phủ Lý tạo thành chùm đô thị hạt nhân.
- Đối với Hải Phòng: thực hiện tốt Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 05 tháng 08 năm 2003 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Quy mô dân số nội thị vào năm 2010 có thể lên đến 75-90 vạn người. Xây dựng đô thị mới phía Bắc sông Cấm, thuộc huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
Phát triển mạnh kết cấu hạ tầng, công nghiệp và dịch vụ để có thể phát huy chức năng của đô thị loại 1 đối với toàn vùng.
- Đối với Hạ Long: quy mô dân số nội thị vào năm 2010 lên đến khoảng 39-40 vạn người. Phát triển mở rộng chủ yếu về phía Hòn Gai - Cẩm Phả. Phát triển mạnh kết cấu hạ tầng, dịch vụ du lịch, công nghiệp để có thể phát huy chức năng của đô thị loại 2 đối với tỉnh Quảng Ninh và toàn vùng.
- Đẩy nhanh phát triển chuỗi đô thị Miếu Môn, Xuân Mai, Hòa Lạc, Sơn Tây.
- Đối với phát triển các khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao: đẩy nhanh việc xây dựng theo quy hoạch và đưa vào hoạt động khu công nghệ cao Hoà Lạc. Trước mắt, tập trung sức tạo mặt bằng thuận lợi và có chính sách thông thoáng hơn nữa, thu hút đầu tư trong và ngoài nước để lấp đầy các khu công nghiệp hiện có. Chấm dứt tình trạng xây dựng các khu công nghiệp, các nhà máy dọc theo các quốc lộ lớn; rà soát lại quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp của toàn Vùng nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững, cân đối. Quy hoạch xây dựng đồng bộ khu dân cư và các công trình hạ tầng xã hội phục vụ khu công nghiệp. Chuẩn bị điều kiện để phát triển một số khu công nghiệp hoặc cụm, liên cụm công nghiệp dọc trục quốc lộ 18 với các ngành chủ yếu là công nghiệp nặng; công nghiệp chế biến nông, thủy sản; công nghiệp chế biến thực phẩm; công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.
- Đối với các thành phố, thị xã khác với quy mô dân số khoảng 15-20 vạn người và là đô thị tỉnh lỵ, trung tâm kinh tế, văn hóa và chính trị của từng tỉnh hay các thị xã là các trung tâm kinh tế của một khu vực cũng sẽ được phát triển gắn với hệ thống đô thị chung của cả vùng. Đồng thời dọc theo các trục quốc lộ và tại các vùng sản xuất hàng hóa tập trung đông dân, các thị trấn, thị tứ cũng sẽ được nâng cấp và hình thành thêm theo quy hoạch thống nhất.
Các tỉnh, thành phố chú trọng xây dựng và phát triển các cụm công nghiệp nhỏ, vừa, các làng nghề truyền thống ở khu vực nông thôn, chú trọng xử lý, bảo vệ môi trường sinh thái.