Document: Khoản 9 Điều 2 Thông tư 31-TL hướng dẫn Nghị định 141-CP Điều lệ quản lý khai thác bảo vệ công trình thủy nông

Type: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "08/10/1963", "sign_number": "31-TL", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "08/10/1963", "sign_number": "31-TL", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "08/10/1963", "sign_number": "31-TL", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "08/10/1963", "sign_number": "31-TL", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "08/10/1963", "sign_number": "31-TL", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Khoản 9 Điều 2 Thông tư 31-TL hướng dẫn Nghị định 141-CP Điều lệ quản lý khai thác bảo vệ công trình thủy nông

Điều 2. quy định rõ: “Điều lệ này áp dụng cho tất cả các loại hệ thống thủy nông có liên quan đến nhiều địa phương hay nhiều hợp tác xã, bao gồm từ công trình đầu mối như cống, đập, hồ nước, trạm bơm, v.v… đến màng lưới kênh mương và công trình phụ thuộc”.
...
9. Một việc nữa cần chú ý là: xây dựng các quy định kỹ thuật về quản lý và khai thác là việc rất cần thiết, nhưng nếu không thường xuyên kiểm tra thực hiện, uốn nắn kịp thời các thiếu sót thì kết quả của việc xây dựng quy định kỹ thuật không thể gọi là tốt được. Việc kiểm tra này cần chủ yếu phải do trưởng, phó ty thủy lợi, trưởng phó ban quản trị nông giang trực tiếp phụ trách, mỗi lần kiểm tra phải có nhận xét ghi vào sổ theo dõi công trình.
d) Ngoài việc thường xuyên theo dõi và tu bổ công trình, hàng năm phải tiến hành 2 đợt kiểm tra trước và sau mùa lũ, kịp thời đặt kế hoạch bảo quản sửa chữa.
1. Nội dung và yêu cầu là kiểm tra toàn bộ hệ thống (công trình kênh mương). Kiểm tra tất cả các bộ phận héton, bằng đá, bằng đất, các cánh cống, các thiết bị máy móc của công trình v.v…, các đoạn đê xung quanh công trình, các kênh chính, kênh nhánh v.v… trong hệ thống.
2. Thời gian tiến hành kiểm tra quy định cụ thể như sau:
- Kiểm tra trước mùa lũ: đối với các hệ thống và công trình thuộc các tỉnh ở Bắc bộ; từ 16-04 đến 15-05; đối với các hệ thống và công trình thuộc các tỉnh ở liên khu 4 cũ từ 01-05-đến 31-05 hàng năm.
- Kiểm tra sau mùa lũ: Đối với các hệ thống và công trình thuộc các tỉnh ở Bắc bộ: từ 01-10 đến 30-10; đối với các hệ thống và công trình thuộc các tỉnh ở liên khu 4 cũ: từ 16-10 đến 15-11 hàng năm.
3. Trưởng đoàn kiểm tra là đại diện Hội đồng quản trị đối với các hệ thống nông giang liên tỉnh; hoặc là đại diện của Ủy ban hành chính tỉnh đối với các hệ thống đại thủy nông nằm trong một tỉnh.
Tham gia đoàn kiểm tra còn có các cán bộ và nhân viên kỹ thuật sau này: Trưởng ban quản trị nông giang, cán bộ kỹ thuật chủ chốt về công tác quản lý công trình ở ban quản trị và khi tới một địa phương, mỗi công trình, các trưởng hạt; các cán bộ và công nhân kỹ thuật phụ trách quản lý công trình.
4. Ngoài các thành phần trên, và tùy yêu cầu của từng đợt kiểm tra, bộ Thủy lợi sẽ cử thêm đại diện của cục Thủy nông và của viện Thiết kế tham gia kiểm tra các công trình mấu chốt quan trọng, thuộc các hệ thống đại thủy nông lớn, bị hư hỏng tương đối nặng, cần theo dõi thật sát các biến chuyển, để kịp thời đề ra các biện pháp quan trắc, xử lý.
5. Để các đoàn kiểm tra có tài liệu chính xác nhận xét công trình, các công tác quan trắc lún, xê dịch, nghiêng, quan trắc bồi lấp, xói lở v.v… phải làm xong trước khi đoàn kiểm tra tới.
Sau khi kiểm tra mỗi công trình, ty thủy lợi hoặc ban quản trị nông giang sở quan cần lập ngay biên bản có ghi rõ những nhận xét và đề nghị của đoàn, có kèm theo các bản quan trắc; các bản đồ, bản vẽ, bản sơ họa cần thiết.
C. QUẢN LÝ NƯỚC
a) Xây dựng màng lưới kênh mương, bờ vùng và các công trình phụ thuộc.
Điểm a) - Điểm 5 quy định: “Ủy ban hành chính các cấp địa phương phải khẩn trương lãnh đạo xây dựng màng lưới kênh mương, bờ vùng và các công trình phụ thuộc theo quy hoạch phát huy tác dụng hệ thống của địa phương. Thời hạn hoàn thành màng lưới này chậm nhất là một năm, kể từ khi xây dựng xong các công trình mấu chốt, đối với các công trình cũ thì kể từ ngày ban hành điều lệ này”. Muốn quán triệt được tinh thần điểm quy định rất quan trọng này của Chính phủ, cần chú ý các điểm sau đây:
1. Quản lý nước tốt trên một hệ thống nông giang có nghĩa vụ cụ thể là thực hiện được tưới tiêu theo khoa học trên phạm vi rộng lớn đồng ruộng các xã, các hợp tác xã được hưởng lợi. Muốn đạt được kết quả đó, sau khi Nhà nước, hoặc Nhà nước cùng với nhân dân đã xây dựng các công trình mấu chốt, các kênh chính, kênh nhánh, việc căn bản nhất là phải có màng lưới kênh mương tưới tiêu bờ vùng, bở thửa đầy đủ và các công trình phụ thuộc. Trên cơ sở có màng lưới kênh mương và công trình này, mới tổ chức được việc phân phối nước một cách hợp lý.
Màng lưới kênh mương và công trình nhỏ này càng hoàn chỉnh, thì càng thuận tiện cho việc tưới tiêu chủ động, càng phát huy được tác dụng của hệ thống đã xây dựng. Xây dựng được tốt màng lưới thủy lợi này, tức là thực hiện tốt phương châm kết hợp công trình loại nhỏ với công trình loại vừa và loại lớn; kết hợp các công trình do nhân dân tự làm với công trình do Nhà nước và nhân dân cùng làm hay do Nhà nước làm; kết hợp được giữ nước với tưới nước, tháo nước hợp lý trên phạm vi rộng lớn các đồng ruộng của xã, của hợp tác xã.
2. Muốn làm màng lưới thủy lợi này được tốt, đáp ứng được yêu cầu hiện tại, nhưng không mâu thuẫn với tương lai, tốn công ít, thu lợi nhiều, thì trước hết phải xây dựng quy hoạch phát huy tác dụng của hệ thống.
Ở một số địa phương, hiện nay đã xây dựng xong quy hoạch vùng nông giang Ủy ban hành chính các cấp, từ tỉnh xuống đến xã, cần tích cực thực hiện việc đào đắp kênh mương để hoàn thành trước thời hạn quy định là một năm, trước mắt phục vụ ngay vụ Đông xuân 1963-1964 này.
Đối với các hệ thống chưa có quy hoạch, các ty thủy lợi và ban quản trị nông giang cần hết sức tích cực xây dựng xong quy hoạch để sớm trình Hội đồng quản trị liên tỉnh hoặc Ủy ban hành chính tỉnh, thành trực thuộc Trung ương thông qua. Việc thực hiện đào đắp kênh mương theo các quy hoạch này cũng phải hoàn thành chậm nhất là một năm, như đã quy định.
3. Đối với các hệ thống đang xây dựng ví dụ như Bắc Bắc ninh, Đức thọ v.v… cũng như đối với các hệ thống sẽ xây dựng thêm về sau, các ty thủy lợi cần xúc tiến gấp việc xây dựng quy hoạch và Ủy ban hành chính các tỉnh, thành trực thuộc Trung ương, lãnh đạo thực hiện dần màng lưới thủy lợi, để khi các công trình mấu chốt hoàn thành, có thể tận dụng sớm khả năng tưới, tiêu của hệ thống.
4. Các màng lưới kênh mương, bờ vùng, các công trình phụ thuộc, xây dựng theo quy hoạch vùng nông giang trên đây có tính chất liên xã, hay liên hợp tác xã, nhưng muốn thực hiện được tưới tiêu theo khoa học trên từng thửa ruộng của hợp tác xã, thì mỗi hợp tác xã cần đào đắp các mương, các máng nhỏ, các bờ vùng, bờ thửa, xây dựng các cống lấy nước, tiêu nước các đập điều nước đơn giản, trong phạm vi hợp tác xã mình. Việc xây dựng các màng lưới kênh mương nhỏ ở hợp tác xã này, cần phải tiến hành song song với việc thực hiện quy hoạch phát huy tác dụng của hệ thống nói ở các điểm trên.
b) Điểm b, Điều 5 quy định ba việc rất quan trọng:
- Thứ nhất: Xây dựng kế hoạch phân phối: “Việc xây dựng kế hoạch phân phối nước cho từng vụ gieo trồng phải dựa vào kế hoạch sản xuất có kèm theo yêu cầu về tưới, tiêu cho từng vụ từng loại cây. Kế hoạch này phải được Ủy ban hành chính các xã trong hệ thống nông giang, tham gia ý kiến và được Hội đồng quản trị hệ thống liên tỉnh hoặc Ủy ban hành chính tỉnh, thành trực thuộc Trung ương xét duyệt theo như quy định ở điều 8, 9 và 14 dưới đây. Sau khi đã xét duyệt, cần phổ biến rộng rãi cho các hợp tác xã trước khi làm đất và gieo mạ. Việc điều chỉnh kế hoạch phân phối nước do tình hình biến chuyển của thời tiết phải được cơ quan đã xét duyệt thông qua và phổ biến kịp thời”.
Các việc cụ thể cần chú ý để xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch phân phối được là:
1. Dựa vào kế hoạch sản xuất có nghĩa là dựa trên cơ sở diện tích canh tác từng vùng cây trồng khác nhau, mỗi vùng đất đai khác nhau lại có một yêu cầu về chế độ tưới, tiêu khác nhau.
Việc đề ra các yêu cầu về chế độ tưới nước cho từng vụ, từng vừng, từng loại cây trồng sẽ do ngành nông nghiệp phụ trách như quy định ở điều 10 của bản điều lệ và nói rõ thêm ở chương III bản thông tư này.
2. Dựa vào yêu cầu tưới nước của từng vùng từng thời gian, cơ quan quản lý nông giang, phải cân đối lại với khả năng cung cấp nước của hệ thống. Hiện nay, vì các hệ thống của ta chưa được hoàn chỉnh, nên yêu cầu tưới vụ chiêm thường quá khả năng nguồn nước, do đó chưa bảo đảm tưới đồng loạt, với yêu cầu đầy đủ, nên phải nghiên cứu, điều hòa bằng các biện pháp quản lý nước, như tưới luân phiên, tăng cường trữ nước đầu vụ chiêm v.v… hoặc bằng các biện pháp canh tác khác (như đổi giống cây trồng…) để có cơ sở lập một dự án kế hoạch phân phối nước tương đối vững chắc, trong những điều kiện thời tiết bình thường.
3. Để các xã xác định lại kế hoạch sản xuất của địa phương mình và cân đối các yêu cầu về giống, về mạ, về sức kéo, và nhân lực v.v… với từng thời gian cung cấp nước, bản dự án kế hoạch phân phối nước, trước khi xét duyệt nên căn cứ vào yêu cầu các xã trong hệ thống nông giang, và sau khi được xét duyệt, cần phổ biến rộng rãi xuống đến tận các hợp tác xã trước khi làm đất và gieo mạ. Việc phổ biến này càng làm sớm càng hay, nhưng chậm nhất, cũng phải trước 10 ngày hợp tác xã gieo mạ.
4. Cũng cần nhận rõ rằng mặc dù đã có cơ sở tính toán như trên, kế hoạch phân phối nước này, cũng chỉ là một phương án chỉ đúng với những điều kiện thời tiết đã tính. Trong thực tế, các điều kiện nắng mưa, nóng lạnh, luôn luôn thay đổi, do đó, cho nên việc theo dõi các dự báo khí tượng để điều chỉnh kịp thời các kế hoạch phân phối nước đã được xét duyệt là một việc rất quan trọng.
Một yếu tố nữa cũng có thể làm thay đổi kế hoạch phân phối nước, là khi các hợp tác xã thay đổi kế hoạch sản xuất ví dụ: vùng này trước định trồng lúa nay lại trồng mầu, vùng kia trước định cấy dấm, nay lại làm ải v.v… Trong trường hợp này, các hợp tác xã cũng phải báo cao kịp thời lên cơ quan quản lý nông giang.
Việc điều chỉnh cũng phải được cơ quan đã xét duyệt kế hoạch thông qua. Riêng đối với các hệ thống liên tỉnh, để bảo đảm điều chỉnh tưới tiêu kịp thời, khỏi ảnh hưỏng xấu đến sản xuất và nếu Hội đồng quản trị hệ thống chưa có điều kiện họp ngay thì chủ tịch Hội đồng có thể tạm duyệt rồi trình Hội đồng quản trị hệ thống sau.
- Một điểm nữa cần chú ý là: xây dựng một quan niệm mới và tác phong chỉ đạo các hệ thống nông giang. Có kế hoạch phân phối nước chưa đủ, mà điều quan trọng là phải có công tác chỉ đạo rất chặt chẽ để thực hiện kế hoạch đó một cách hợp lý. Việc đó đòi hỏi các cán bộ lãnh đạo chính trị và kỹ thuật, từ trên xuống dưới, phải đi thật sát, nắm được tình hình từng khu vực, từng công trình và phải xử lý kịp thời. Cần thay đổi quan niệm cũ về công tác quản lý nông giang, không nên cho đó là một công tác quá đơn giản mà làm theo tác phong hành chính, phải coi đó là một cuộc chiến đấu rất phức tạp, đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao, chịu đựng vất vả, mệt nhọc.
- Thứ nhì:
“Cần mau chóng tạo điều kiện chủ động về nước để áp dụng ngay các chế độ và kỹ thuật tưới tiêu nước khoa học”.
1. Hiện nay, nhiều tỉnh, huyện đã có các cơ sở rượng thực nghiệm tưới khoa học. nhưng muốn đẩy mạnh nền sản xuất nông nghiệp của ta lên theo tinh thần nghị quyết VIII của Trung ương không thể chỉ áp dụng tưới theo phương pháp khoa học trên các diện tích nhỏ bé của các cơ sở ruộng thực nghiệm mà phải tiến hành trên các diện tích rộng lớn của mọi hợp tác xã.
Muốn làm được, việc đầu tiên là phải có các cơ sở vật chất để chủ động được về nước.
2. Đối với các vùng, các hợp tác xã đã có màng lưới kênh mương, bờ vùng, bờ thửa và các công trình nhỏ phụ thuộc thì nhất thiết phải áp dụng rộng rãi ngay các chế độ tưới theo phương pháp khoa học. Đối với các nông giang chưa có điều kiện chủ động về nước, thì một mặt phải tích cực gấp rút thực hiện màng lưới thủy lợi, mặt khác tranh thủ tạo ngay điều kiện chủ động về nước trên vùng nhỏ một bằng cách đắp bờ, có kế hoạch dùng gầu, dùng guồng, dùng máy bơm v.v… để áp dụng ngay các chế độ tưới theo phương pháp khoa học nhằm ổn định và không ngừng nâng cao năng suất cây trồng kết hợp với việc cải tạo chất từng bước.
- Cần chú ý thêm là, việc áp dụng các chế độ tưới theo phương pháp khoa học, không những chỉ áp dụng trên các ruộng lúa, mà còn phải tiến hành ở các vùng trồng hoa màu và cây công nghiệp nữa. Đối với các vùng trọng điểm trồng hoa màu và cây công nghiệp lại càng phải được đặc biệt chú ý.
- Thứ ba: “Mỗi hệ thống nông giang phải có những khu thí nghiệm để cải tiến các chế độ và kỹ thuật tưới cho thích hợp với từng loại cây trồng, từng vụ, từng loại đất và khí hậu của địa phương”.
1. Hiện nay, viện Nghiên cứu khoa học Thủy lợi đã có một số trạm thí nghiệm tưới. Đó là các trung tâm nghiên cứu các chế độ tưới và kỹ thuật tưới cho các loại cây trồng chủ yếu và các vùng đất đai rộng lớn.
Muốn vận dụng được tốt các kết quả nghiên cứu được ở các trạm thí nghiệm của Viện, mỗi quan quản trị nông giang hoặc mỗi ty thủy lợi nơi chưa có ban quản trị nông giang, tùy theo tình tình hình thực tế của đất đai, giống cây trồng, tập quán canh tác, thời tiết v.v… của địa phương mình, mà tìm ra những công thức tưới hợp lý nhất để phổ biến cho các hợp tác xã áp dụng.
2. Các công thức tưới của các khu thí nghiệm phổ biến đó, tuy đã có một giá trị cụ thể nhất định nhưng việc vận dụng vào từng hợp tác xã cũng cần hết sức linh hoạt, và cũng tùy theo điều kiện cụ thể về đất đai, cây trồng, biện pháp canh tác của hợp tác xã, do đó mỗi hợp tác xã cần có một cơ sở thực nghiệm tưới, khoảng từ 0 ha 200 đến 0 ha 500.
Về diện tích phải bảo đảm tưới, tiêu theo phương pháp khoa học cho từng tỉnh, thành trực thuộc Trung ương, bộ Thủy lợi sẽ có thông tư sau.
D. QUẢN LÝ KINH DOANH
a) Điểm a, Điều 6 của bản điều lệ đã quy định: “Đối với các hệ thống đại thủy nông, trung thủy nông việc thu thủy lợi phí phải nhằm mục đích dùng vào việc quản lý tu bổ khai thác công trình và phải theo đúng điều lệ thu thủy lợi phí ban hành theo nghị định số 66-CP ngày 05-06-1962 của Hội đồng Chính phủ”.
Bộ không nhắc lại đây các điều đã quy định ở bản điều lệ thu thủy lợi phí của Chính phủ và thông tư hướng dẫn thi hành số 67-TT-TLĐL-TN ngày 29-10-1962 của Bộ, nhưng với tinh thần điểm quy định mới này, Bộ cụ thể mấy điểm dưới đây:
1. Phải tập trung các khoản thu thủy lợi phí vào công tác quản lý và tu bổ các hệ thống đại thủy nông, trung thủy nông, tuyệt dối không được dùng tiền thu thủy lợi phí đem làm việc khác, Ủy ban hành chính các tỉnh, thành trực thuộc Trung ương sẽ chịu trách nhiệm về các hư hỏng trong hệ thống mà không sửa chữa, trong khi đó lại sử dụng các khoản thu, hay một phần các khoản thu thủy lợi phí, vào các công tác khác của địa phương.
2. Ngoài điểm đã quy định trong thông tư thi hành nhắc trên: “Biểu thu riêng của mỗi tỉnh phải được liên bộ Tài chính và Thủy lợi duyệt trước khi thi hành…”, từ nay mỗi khi Hội đồng quản trị các hệ thống liên tỉnh hay Ủy ban hành chính các tỉnh, thành trực thuộc Trung ương đề nghị Bộ cấp kinh phí đại tu bổ cho các hệ thống đại thủy nông thì phải có báo cáo cụ thể về các khoản thu và chi về thủy lợi phí.
3. Cũng cần chú ý rằng hiện nay một số hệ thống còn nhiều công trình hư hỏng, chưa sữa chữa được mấy, bộ máy quản lý cũng chưa được chặt chẽ; do đó chi phí về tu bổ và về lương cán bộ công nhân tương đối còn ít. Nếu căn cứ vào các khoản chi đó quy định mức thu thì không đúng, nhất là khi mức thu quy định còn thấp nhiều hơn mức thu tối đa cho phép. Đối với các trường hợp này, cần nghiên cứu điều chỉnh hợp lý các mức thu trong phạm vi mà điều lệ cho phép để có đủ kinh phí tu sửa công trình hoàn chỉnh hệ thống.
b) Điểm b, điều 6 quy định 2 việc mới cần chú ý:
Một là: “Đối với các hệ thống đại thủy nông đã thu thủy lợi phí, sau một năm ban hành điều lệ này phải thực hiện việc quản lý theo chế độ hạch toán kinh tế”.
- Việc quản lý các hệ thống nông giang theo chế độ hạch toán kinh tế đã được đề ra trong bản điều lệ thu thủy lợi phí ban hành theo nghị định số 66-CP ngày 05-06-1962 của Hội đồng Chính phủ.
Điểm mới ở đây là thời gian quy định phải thực hiện, nhận rõ là thực hiện được quản lý theo chế độ hạch toán kinh tế là tạo điều kiện tốt để đưa công tác quản lý và khai thác các hệ thống nông giang vào nền nếp, làm đà tiến lên để phục vụ tốt hơn nữa kế hoạch sản xuất nông nghiệp, chúng ta phải coi thời gian quy định một năm là thời gian tối đa, và hết sức thực hiện được càng sớm càng hay.
Hiện nay, Bộ đang làm thí điểm ở hệ thống Sơn tây, Chương Mỹ và sẽ có chỉ thị riêng về điểm này; trong khi chờ đợi, yêu cầu các ban quản trị các hệ thống đại thủy nông tích cực chuẩn bị các tài liệu cần thiết về công tác này như: kiểm tra và đánh giá công trình, xác minh các diện tích hưởng lợi, xét lại các khoản thu chi hàng năm v.v…
Hai là; “Trong thời gian chưa thu thủy lợi phí, các chi phí về quản lý, tu bổ và khai thác đều do ngân sách địa phương đài thọ”.
- Điều 9 của điều lệ thu thủy lợi phí có quy định: “Các hệ thống nông giang mới xây dựng sẽ được miễn thủy lợi phí từ một năm đến hai năm kể từ ngày được khai thác sử dụng”.
1. Đối với các hệ thống đã khai thác trên một năm mà chưa thu thủy lợi phí, cần phải điều tra, nắm vững ngay các diện tích thực tế đã hưởng lợi để trên cơ sở đó, nghiên cứu các mức thu và biểu thu cần thiết.
Việc này cần tiến hành gấp để nếu xét có thể được, thì tiến hành thu ngay thủy lợi phí từ đầu 1964, bớt được một phần gánh vác cho ngân sách Nhà nước.
2. Đối với các hệ thống mới khai thác mà xét, đến 1964 chưa có đủ điều kiện thu thủy lợi phí, thì Ủy ban hành chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sở tại phải ghi vào ngân sách 1964 của địa phương mình mọi khoản chi phí về quản lý và tu bổ như: lương cán bộ, công nhân, các chi phí về tu sửa công trình, về dầu mỡ và điều kiện cho các trạm bơm điện v.v…
Riêng đối với các hệ thống liên tỉnh, thì sau khi Hội đồng quản trị hệ thống xét duyệt kế hoạch chỉ 1964 do Ban quản trị lập, thì Ủy ban hành chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ruộng đất nằm trong hệ thống, phải ghi vào ngân sách 1964 của địa phương mình phần của Hội đồng quản trị đã phân bổ cho.
3. Đối với các hệ thống đang xây dựng: như Bắc Ninh, trạm bơm Yên Dũng, trạm bơm Đức Thọ, v.v… Ủy ban hành chính các tỉnh cần nắm vững thời gian hoàn thành, ghi trước vào Ngân sách địa phương mình các khoản chi cần thiết để có điều kiện sử dụng ngay công trình.
c) “Đối với các hệ thống trung thủy nông loại nhỏ và tiểu thủy nông có liên quan đến nhiều hợp tác xã trở lên, các chi phí về quản lý, tu bổ, khai thác đều do các hợp tác xã và nông dân có ruộng hưởng nước cùng nhau thỏa thuận đóng góp”.
Sự đóng góp này cũng phải dựa trên cơ sở các yêu cầu về chi phí cần thiết về lương hay thù lao cho nhân viên quản lý, về tu sửa và phát triển công trình, để việc khai thác các công trình được tốt, việc tưới tiêu đồng ruộc được bảo đảm; việc phân bổ các khoản đóng góp cho mỗi đơn vị hoặc cá nhân được hưởng lợi cũng phải được công bằng hợp lý; hưởng nhiều, đóng nhiều, hưởng ít, đóng ít, tránh suy bì mất đoàn kết.
Còn đối với công trình tiểu thủy nông chỉ liên quan đến một hợp tác xã, thì các khoản chi phí sẽ do hợp tác xã đó đảm nhiệm.

Content:
Một việc nữa cần chú ý là: xây dựng các quy định kỹ thuật về quản lý và khai thác là việc rất cần thiết, nhưng nếu không thường xuyên kiểm tra thực hiện, uốn nắn kịp thời các thiếu sót thì kết quả của việc xây dựng quy định kỹ thuật không thể gọi là tốt được. Việc kiểm tra này cần chủ yếu phải do trưởng, phó ty thủy lợi, trưởng phó ban quản trị nông giang trực tiếp phụ trách, mỗi lần kiểm tra phải có nhận xét ghi vào sổ theo dõi công trình.
d) Ngoài việc thường xuyên theo dõi và tu bổ công trình, hàng năm phải tiến hành 2 đợt kiểm tra trước và sau mùa lũ, kịp thời đặt kế hoạch bảo quản sửa chữa.
1. Nội dung và yêu cầu là kiểm tra toàn bộ hệ thống (công trình kênh mương). Kiểm tra tất cả các bộ phận héton, bằng đá, bằng đất, các cánh cống, các thiết bị máy móc của công trình v.v…, các đoạn đê xung quanh công trình, các kênh chính, kênh nhánh v.v… trong hệ thống.
2. Thời gian tiến hành kiểm tra quy định cụ thể như sau:
- Kiểm tra trước mùa lũ: đối với các hệ thống và công trình thuộc các tỉnh ở Bắc bộ; từ 16-04 đến 15-05; đối với các hệ thống và công trình thuộc các tỉnh ở liên khu 4 cũ từ 01-05-đến 31-05 hàng năm.
- Kiểm tra sau mùa lũ: Đối với các hệ thống và công trình thuộc các tỉnh ở Bắc bộ: từ 01-10 đến 30-10; đối với các hệ thống và công trình thuộc các tỉnh ở liên khu 4 cũ: từ 16-10 đến 15-11 hàng năm.
3. Trưởng đoàn kiểm tra là đại diện Hội đồng quản trị đối với các hệ thống nông giang liên tỉnh; hoặc là đại diện của Ủy ban hành chính tỉnh đối với các hệ thống đại thủy nông nằm trong một tỉnh.
Tham gia đoàn kiểm tra còn có các cán bộ và nhân viên kỹ thuật sau này: Trưởng ban quản trị nông giang, cán bộ kỹ thuật chủ chốt về công tác quản lý công trình ở ban quản trị và khi tới một địa phương, mỗi công trình, các trưởng hạt; các cán bộ và công nhân kỹ thuật phụ trách quản lý công trình.
4. Ngoài các thành phần trên, và tùy yêu cầu của từng đợt kiểm tra, bộ Thủy lợi sẽ cử thêm đại diện của cục Thủy nông và của viện Thiết kế tham gia kiểm tra các công trình mấu chốt quan trọng, thuộc các hệ thống đại thủy nông lớn, bị hư hỏng tương đối nặng, cần theo dõi thật sát các biến chuyển, để kịp thời đề ra các biện pháp quan trắc, xử lý.
5. Để các đoàn kiểm tra có tài liệu chính xác nhận xét công trình, các công tác quan trắc lún, xê dịch, nghiêng, quan trắc bồi lấp, xói lở v.v… phải làm xong trước khi đoàn kiểm tra tới.
Sau khi kiểm tra mỗi công trình, ty thủy lợi hoặc ban quản trị nông giang sở quan cần lập ngay biên bản có ghi rõ những nhận xét và đề nghị của đoàn, có kèm theo các bản quan trắc; các bản đồ, bản vẽ, bản sơ họa cần thiết.
C. QUẢN LÝ NƯỚC
a) Xây dựng màng lưới kênh mương, bờ vùng và các công trình phụ thuộc.
Điểm a) - Điểm 5 quy định: “Ủy ban hành chính các cấp địa phương phải khẩn trương lãnh đạo xây dựng màng lưới kênh mương, bờ vùng và các công trình phụ thuộc theo quy hoạch phát huy tác dụng hệ thống của địa phương. Thời hạn hoàn thành màng lưới này chậm nhất là một năm, kể từ khi xây dựng xong các công trình mấu chốt, đối với các công trình cũ thì kể từ ngày ban hành điều lệ này”. Muốn quán triệt được tinh thần điểm quy định rất quan trọng này của Chính phủ, cần chú ý các điểm sau đây:
1. Quản lý nước tốt trên một hệ thống nông giang có nghĩa vụ cụ thể là thực hiện được tưới tiêu theo khoa học trên phạm vi rộng lớn đồng ruộng các xã, các hợp tác xã được hưởng lợi. Muốn đạt được kết quả đó, sau khi Nhà nước, hoặc Nhà nước cùng với nhân dân đã xây dựng các công trình mấu chốt, các kênh chính, kênh nhánh, việc căn bản nhất là phải có màng lưới kênh mương tưới tiêu bờ vùng, bở thửa đầy đủ và các công trình phụ thuộc. Trên cơ sở có màng lưới kênh mương và công trình này, mới tổ chức được việc phân phối nước một cách hợp lý.
Màng lưới kênh mương và công trình nhỏ này càng hoàn chỉnh, thì càng thuận tiện cho việc tưới tiêu chủ động, càng phát huy được tác dụng của hệ thống đã xây dựng. Xây dựng được tốt màng lưới thủy lợi này, tức là thực hiện tốt phương châm kết hợp công trình loại nhỏ với công trình loại vừa và loại lớn; kết hợp các công trình do nhân dân tự làm với công trình do Nhà nước và nhân dân cùng làm hay do Nhà nước làm; kết hợp được giữ nước với tưới nước, tháo nước hợp lý trên phạm vi rộng lớn các đồng ruộng của xã, của hợp tác xã.
2. Muốn làm màng lưới thủy lợi này được tốt, đáp ứng được yêu cầu hiện tại, nhưng không mâu thuẫn với tương lai, tốn công ít, thu lợi nhiều, thì trước hết phải xây dựng quy hoạch phát huy tác dụng của hệ thống.
Ở một số địa phương, hiện nay đã xây dựng xong quy hoạch vùng nông giang Ủy ban hành chính các cấp, từ tỉnh xuống đến xã, cần tích cực thực hiện việc đào đắp kênh mương để hoàn thành trước thời hạn quy định là một năm, trước mắt phục vụ ngay vụ Đông xuân 1963-1964 này.
Đối với các hệ thống chưa có quy hoạch, các ty thủy lợi và ban quản trị nông giang cần hết sức tích cực xây dựng xong quy hoạch để sớm trình Hội đồng quản trị liên tỉnh hoặc Ủy ban hành chính tỉnh, thành trực thuộc Trung ương thông qua. Việc thực hiện đào đắp kênh mương theo các quy hoạch này cũng phải hoàn thành chậm nhất là một năm, như đã quy định.
3. Đối với các hệ thống đang xây dựng ví dụ như Bắc Bắc ninh, Đức thọ v.v… cũng như đối với các hệ thống sẽ xây dựng thêm về sau, các ty thủy lợi cần xúc tiến gấp việc xây dựng quy hoạch và Ủy ban hành chính các tỉnh, thành trực thuộc Trung ương, lãnh đạo thực hiện dần màng lưới thủy lợi, để khi các công trình mấu chốt hoàn thành, có thể tận dụng sớm khả năng tưới, tiêu của hệ thống.
4. Các màng lưới kênh mương, bờ vùng, các công trình phụ thuộc, xây dựng theo quy hoạch vùng nông giang trên đây có tính chất liên xã, hay liên hợp tác xã, nhưng muốn thực hiện được tưới tiêu theo khoa học trên từng thửa ruộng của hợp tác xã, thì mỗi hợp tác xã cần đào đắp các mương, các máng nhỏ, các bờ vùng, bờ thửa, xây dựng các cống lấy nước, tiêu nước các đập điều nước đơn giản, trong phạm vi hợp tác xã mình. Việc xây dựng các màng lưới kênh mương nhỏ ở hợp tác xã này, cần phải tiến hành song song với việc thực hiện quy hoạch phát huy tác dụng của hệ thống nói ở các điểm trên.
b) Điểm b, Điều 5 quy định ba việc rất quan trọng:
- Thứ nhất: Xây dựng kế hoạch phân phối: “Việc xây dựng kế hoạch phân phối nước cho từng vụ gieo trồng phải dựa vào kế hoạch sản xuất có kèm theo yêu cầu về tưới, tiêu cho từng vụ từng loại cây. Kế hoạch này phải được Ủy ban hành chính các xã trong hệ thống nông giang, tham gia ý kiến và được Hội đồng quản trị hệ thống liên tỉnh hoặc Ủy ban hành chính tỉnh, thành trực thuộc Trung ương xét duyệt theo như quy định ở điều 8, 9 và 14 dưới đây. Sau khi đã xét duyệt, cần phổ biến rộng rãi cho các hợp tác xã trước khi làm đất và gieo mạ. Việc điều chỉnh kế hoạch phân phối nước do tình hình biến chuyển của thời tiết phải được cơ quan đã xét duyệt thông qua và phổ biến kịp thời”.
Các việc cụ thể cần chú ý để xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch phân phối được là:
1. Dựa vào kế hoạch sản xuất có nghĩa là dựa trên cơ sở diện tích canh tác từng vùng cây trồng khác nhau, mỗi vùng đất đai khác nhau lại có một yêu cầu về chế độ tưới, tiêu khác nhau.
Việc đề ra các yêu cầu về chế độ tưới nước cho từng vụ, từng vừng, từng loại cây trồng sẽ do ngành nông nghiệp phụ trách như quy định ở điều 10 của bản điều lệ và nói rõ thêm ở chương III bản thông tư này.
2. Dựa vào yêu cầu tưới nước của từng vùng từng thời gian, cơ quan quản lý nông giang, phải cân đối lại với khả năng cung cấp nước của hệ thống. Hiện nay, vì các hệ thống của ta chưa được hoàn chỉnh, nên yêu cầu tưới vụ chiêm thường quá khả năng nguồn nước, do đó chưa bảo đảm tưới đồng loạt, với yêu cầu đầy đủ, nên phải nghiên cứu, điều hòa bằng các biện pháp quản lý nước, như tưới luân phiên, tăng cường trữ nước đầu vụ chiêm v.v… hoặc bằng các biện pháp canh tác khác (như đổi giống cây trồng…) để có cơ sở lập một dự án kế hoạch phân phối nước tương đối vững chắc, trong những điều kiện thời tiết bình thường.
3. Để các xã xác định lại kế hoạch sản xuất của địa phương mình và cân đối các yêu cầu về giống, về mạ, về sức kéo, và nhân lực v.v… với từng thời gian cung cấp nước, bản dự án kế hoạch phân phối nước, trước khi xét duyệt nên căn cứ vào yêu cầu các xã trong hệ thống nông giang, và sau khi được xét duyệt, cần phổ biến rộng rãi xuống đến tận các hợp tác xã trước khi làm đất và gieo mạ. Việc phổ biến này càng làm sớm càng hay, nhưng chậm nhất, cũng phải trước 10 ngày hợp tác xã gieo mạ.
4. Cũng cần nhận rõ rằng mặc dù đã có cơ sở tính toán như trên, kế hoạch phân phối nước này, cũng chỉ là một phương án chỉ đúng với những điều kiện thời tiết đã tính. Trong thực tế, các điều kiện nắng mưa, nóng lạnh, luôn luôn thay đổi, do đó, cho nên việc theo dõi các dự báo khí tượng để điều chỉnh kịp thời các kế hoạch phân phối nước đã được xét duyệt là một việc rất quan trọng.
Một yếu tố nữa cũng có thể làm thay đổi kế hoạch phân phối nước, là khi các hợp tác xã thay đổi kế hoạch sản xuất ví dụ: vùng này trước định trồng lúa nay lại trồng mầu, vùng kia trước định cấy dấm, nay lại làm ải v.v… Trong trường hợp này, các hợp tác xã cũng phải báo cao kịp thời lên cơ quan quản lý nông giang.
Việc điều chỉnh cũng phải được cơ quan đã xét duyệt kế hoạch thông qua. Riêng đối với các hệ thống liên tỉnh, để bảo đảm điều chỉnh tưới tiêu kịp thời, khỏi ảnh hưỏng xấu đến sản xuất và nếu Hội đồng quản trị hệ thống chưa có điều kiện họp ngay thì chủ tịch Hội đồng có thể tạm duyệt rồi trình Hội đồng quản trị hệ thống sau.
- Một điểm nữa cần chú ý là: xây dựng một quan niệm mới và tác phong chỉ đạo các hệ thống nông giang. Có kế hoạch phân phối nước chưa đủ, mà điều quan trọng là phải có công tác chỉ đạo rất chặt chẽ để thực hiện kế hoạch đó một cách hợp lý. Việc đó đòi hỏi các cán bộ lãnh đạo chính trị và kỹ thuật, từ trên xuống dưới, phải đi thật sát, nắm được tình hình từng khu vực, từng công trình và phải xử lý kịp thời. Cần thay đổi quan niệm cũ về công tác quản lý nông giang, không nên cho đó là một công tác quá đơn giản mà làm theo tác phong hành chính, phải coi đó là một cuộc chiến đấu rất phức tạp, đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao, chịu đựng vất vả, mệt nhọc.
- Thứ nhì:
“Cần mau chóng tạo điều kiện chủ động về nước để áp dụng ngay các chế độ và kỹ thuật tưới tiêu nước khoa học”.
1. Hiện nay, nhiều tỉnh, huyện đã có các cơ sở rượng thực nghiệm tưới khoa học. nhưng muốn đẩy mạnh nền sản xuất nông nghiệp của ta lên theo tinh thần nghị quyết VIII của Trung ương không thể chỉ áp dụng tưới theo phương pháp khoa học trên các diện tích nhỏ bé của các cơ sở ruộng thực nghiệm mà phải tiến hành trên các diện tích rộng lớn của mọi hợp tác xã.
Muốn làm được, việc đầu tiên là phải có các cơ sở vật chất để chủ động được về nước.
2. Đối với các vùng, các hợp tác xã đã có màng lưới kênh mương, bờ vùng, bờ thửa và các công trình nhỏ phụ thuộc thì nhất thiết phải áp dụng rộng rãi ngay các chế độ tưới theo phương pháp khoa học. Đối với các nông giang chưa có điều kiện chủ động về nước, thì một mặt phải tích cực gấp rút thực hiện màng lưới thủy lợi, mặt khác tranh thủ tạo ngay điều kiện chủ động về nước trên vùng nhỏ một bằng cách đắp bờ, có kế hoạch dùng gầu, dùng guồng, dùng máy bơm v.v… để áp dụng ngay các chế độ tưới theo phương pháp khoa học nhằm ổn định và không ngừng nâng cao năng suất cây trồng kết hợp với việc cải tạo chất từng bước.
- Cần chú ý thêm là, việc áp dụng các chế độ tưới theo phương pháp khoa học, không những chỉ áp dụng trên các ruộng lúa, mà còn phải tiến hành ở các vùng trồng hoa màu và cây công nghiệp nữa. Đối với các vùng trọng điểm trồng hoa màu và cây công nghiệp lại càng phải được đặc biệt chú ý.
- Thứ ba: “Mỗi hệ thống nông giang phải có những khu thí nghiệm để cải tiến các chế độ và kỹ thuật tưới cho thích hợp với từng loại cây trồng, từng vụ, từng loại đất và khí hậu của địa phương”.
1. Hiện nay, viện Nghiên cứu khoa học Thủy lợi đã có một số trạm thí nghiệm tưới. Đó là các trung tâm nghiên cứu các chế độ tưới và kỹ thuật tưới cho các loại cây trồng chủ yếu và các vùng đất đai rộng lớn.
Muốn vận dụng được tốt các kết quả nghiên cứu được ở các trạm thí nghiệm của Viện, mỗi quan quản trị nông giang hoặc mỗi ty thủy lợi nơi chưa có ban quản trị nông giang, tùy theo tình tình hình thực tế của đất đai, giống cây trồng, tập quán canh tác, thời tiết v.v… của địa phương mình, mà tìm ra những công thức tưới hợp lý nhất để phổ biến cho các hợp tác xã áp dụng.
2. Các công thức tưới của các khu thí nghiệm phổ biến đó, tuy đã có một giá trị cụ thể nhất định nhưng việc vận dụng vào từng hợp tác xã cũng cần hết sức linh hoạt, và cũng tùy theo điều kiện cụ thể về đất đai, cây trồng, biện pháp canh tác của hợp tác xã, do đó mỗi hợp tác xã cần có một cơ sở thực nghiệm tưới, khoảng từ 0 ha 200 đến 0 ha 500.
Về diện tích phải bảo đảm tưới, tiêu theo phương pháp khoa học cho từng tỉnh, thành trực thuộc Trung ương, bộ Thủy lợi sẽ có thông tư sau.
D. QUẢN LÝ KINH DOANH
a) Điểm a, Điều 6 của bản điều lệ đã quy định: “Đối với các hệ thống đại thủy nông, trung thủy nông việc thu thủy lợi phí phải nhằm mục đích dùng vào việc quản lý tu bổ khai thác công trình và phải theo đúng điều lệ thu thủy lợi phí ban hành theo nghị định số 66-CP ngày 05-06-1962 của Hội đồng Chính phủ”.
Bộ không nhắc lại đây các điều đã quy định ở bản điều lệ thu thủy lợi phí của Chính phủ và thông tư hướng dẫn thi hành số 67-TT-TLĐL-TN ngày 29-10-1962 của Bộ, nhưng với tinh thần điểm quy định mới này, Bộ cụ thể mấy điểm dưới đây:
1. Phải tập trung các khoản thu thủy lợi phí vào công tác quản lý và tu bổ các hệ thống đại thủy nông, trung thủy nông, tuyệt dối không được dùng tiền thu thủy lợi phí đem làm việc khác, Ủy ban hành chính các tỉnh, thành trực thuộc Trung ương sẽ chịu trách nhiệm về các hư hỏng trong hệ thống mà không sửa chữa, trong khi đó lại sử dụng các khoản thu, hay một phần các khoản thu thủy lợi phí, vào các công tác khác của địa phương.
2. Ngoài điểm đã quy định trong thông tư thi hành nhắc trên: “Biểu thu riêng của mỗi tỉnh phải được liên bộ Tài chính và Thủy lợi duyệt trước khi thi hành…”, từ nay mỗi khi Hội đồng quản trị các hệ thống liên tỉnh hay Ủy ban hành chính các tỉnh, thành trực thuộc Trung ương đề nghị Bộ cấp kinh phí đại tu bổ cho các hệ thống đại thủy nông thì phải có báo cáo cụ thể về các khoản thu và chi về thủy lợi phí.
3. Cũng cần chú ý rằng hiện nay một số hệ thống còn nhiều công trình hư hỏng, chưa sữa chữa được mấy, bộ máy quản lý cũng chưa được chặt chẽ; do đó chi phí về tu bổ và về lương cán bộ công nhân tương đối còn ít. Nếu căn cứ vào các khoản chi đó quy định mức thu thì không đúng, nhất là khi mức thu quy định còn thấp nhiều hơn mức thu tối đa cho phép. Đối với các trường hợp này, cần nghiên cứu điều chỉnh hợp lý các mức thu trong phạm vi mà điều lệ cho phép để có đủ kinh phí tu sửa công trình hoàn chỉnh hệ thống.
b) Điểm b, điều 6 quy định 2 việc mới cần chú ý:
Một là: “Đối với các hệ thống đại thủy nông đã thu thủy lợi phí, sau một năm ban hành điều lệ này phải thực hiện việc quản lý theo chế độ hạch toán kinh tế”.
- Việc quản lý các hệ thống nông giang theo chế độ hạch toán kinh tế đã được đề ra trong bản điều lệ thu thủy lợi phí ban hành theo nghị định số 66-CP ngày 05-06-1962 của Hội đồng Chính phủ.
Điểm mới ở đây là thời gian quy định phải thực hiện, nhận rõ là thực hiện được quản lý theo chế độ hạch toán kinh tế là tạo điều kiện tốt để đưa công tác quản lý và khai thác các hệ thống nông giang vào nền nếp, làm đà tiến lên để phục vụ tốt hơn nữa kế hoạch sản xuất nông nghiệp, chúng ta phải coi thời gian quy định một năm là thời gian tối đa, và hết sức thực hiện được càng sớm càng hay.
Hiện nay, Bộ đang làm thí điểm ở hệ thống Sơn tây, Chương Mỹ và sẽ có chỉ thị riêng về điểm này; trong khi chờ đợi, yêu cầu các ban quản trị các hệ thống đại thủy nông tích cực chuẩn bị các tài liệu cần thiết về công tác này như: kiểm tra và đánh giá công trình, xác minh các diện tích hưởng lợi, xét lại các khoản thu chi hàng năm v.v…
Hai là; “Trong thời gian chưa thu thủy lợi phí, các chi phí về quản lý, tu bổ và khai thác đều do ngân sách địa phương đài thọ”.
- Điều 9 của điều lệ thu thủy lợi phí có quy định: “Các hệ thống nông giang mới xây dựng sẽ được miễn thủy lợi phí từ một năm đến hai năm kể từ ngày được khai thác sử dụng”.
1. Đối với các hệ thống đã khai thác trên một năm mà chưa thu thủy lợi phí, cần phải điều tra, nắm vững ngay các diện tích thực tế đã hưởng lợi để trên cơ sở đó, nghiên cứu các mức thu và biểu thu cần thiết.
Việc này cần tiến hành gấp để nếu xét có thể được, thì tiến hành thu ngay thủy lợi phí từ đầu 1964, bớt được một phần gánh vác cho ngân sách Nhà nước.
2. Đối với các hệ thống mới khai thác mà xét, đến 1964 chưa có đủ điều kiện thu thủy lợi phí, thì Ủy ban hành chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sở tại phải ghi vào ngân sách 1964 của địa phương mình mọi khoản chi phí về quản lý và tu bổ như: lương cán bộ, công nhân, các chi phí về tu sửa công trình, về dầu mỡ và điều kiện cho các trạm bơm điện v.v…
Riêng đối với các hệ thống liên tỉnh, thì sau khi Hội đồng quản trị hệ thống xét duyệt kế hoạch chỉ 1964 do Ban quản trị lập, thì Ủy ban hành chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ruộng đất nằm trong hệ thống, phải ghi vào ngân sách 1964 của địa phương mình phần của Hội đồng quản trị đã phân bổ cho.
3. Đối với các hệ thống đang xây dựng: như Bắc Ninh, trạm bơm Yên Dũng, trạm bơm Đức Thọ, v.v… Ủy ban hành chính các tỉnh cần nắm vững thời gian hoàn thành, ghi trước vào Ngân sách địa phương mình các khoản chi cần thiết để có điều kiện sử dụng ngay công trình.
c) “Đối với các hệ thống trung thủy nông loại nhỏ và tiểu thủy nông có liên quan đến nhiều hợp tác xã trở lên, các chi phí về quản lý, tu bổ, khai thác đều do các hợp tác xã và nông dân có ruộng hưởng nước cùng nhau thỏa thuận đóng góp”.
Sự đóng góp này cũng phải dựa trên cơ sở các yêu cầu về chi phí cần thiết về lương hay thù lao cho nhân viên quản lý, về tu sửa và phát triển công trình, để việc khai thác các công trình được tốt, việc tưới tiêu đồng ruộc được bảo đảm; việc phân bổ các khoản đóng góp cho mỗi đơn vị hoặc cá nhân được hưởng lợi cũng phải được công bằng hợp lý; hưởng nhiều, đóng nhiều, hưởng ít, đóng ít, tránh suy bì mất đoàn kết.
Còn đối với công trình tiểu thủy nông chỉ liên quan đến một hợp tác xã, thì các khoản chi phí sẽ do hợp tác xã đó đảm nhiệm.