Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1692/QĐ-UBND Chương trình phát triển nuôi thuỷ sản Bến Tre

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "01/08/2011", "sign_number": "1692/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "01/08/2011", "sign_number": "1692/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "01/08/2011", "sign_number": "1692/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "01/08/2011", "sign_number": "1692/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bến Tre", "promulgation_date": "01/08/2011", "sign_number": "1692/QĐ-UBND", "signer": "Trần Anh Tuấn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1692/QĐ-UBND Chương trình phát triển nuôi thuỷ sản Bến Tre

Điều 1. Phê duyệt Chương trình phát triển nuôi thuỷ sản giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020 với một số nội dung chủ yếu sau:
...
3. Giải pháp thực hiện:
3.1. Hoàn chỉnh quy hoạch đối tượng nuôi chủ lực và vùng nuôi thuỷ sản tập trung:
Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể nông nghiệp, thuỷ sản; quy hoạch chi tiết nuôi trồng thuỷ sản 3 huyện biển và quản lý phát triển đối tượng nuôi, hình thức nuôi theo quy hoạch đã được phê duyệt.
Đến năm 2015 phát triển nuôi 6.000ha tôm biển với hình thức thâm canh tập trung tại các huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú; phát triển nuôi 800ha cá tra thâm canh theo quy hoạch trên các cồn nổi, bãi bồi và đất ven sông sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả tại các huyện: Chợ Lách, Châu Thành, Giồng Trôm, Mỏ Cày Nam và Bình Đại.
3.2. Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân:
Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tờ rơi, áp phích…, các lớp tập huấn thường xuyên tuyên truyền, phổ biến những chủ trương, chính sách của Đảng, những quy định của Nhà nước, những khuyến cáo của ngành trong lĩnh vực nuôi thuỷ sản nhằm nâng cao nhận thức của người nuôi trong việc thực hiện các quy định của Nhà nước, đảm bảo phát triển nuôi thuỷ sản bền vững.
3.3. Ứng dụng khoa học công nghệ và đầu tư sản xuất trong nuôi thuỷ sản:
Nhà nước tập trung du nhập các thiết bị, các quy trình nuôi vỗ bố mẹ, quy trình sản xuất giống, quy trình nuôi tiên tiến ở các nước có nghề nuôi phát triển và điều kiện tương đồng với nước ta; liên kết với các Trường, Viện nghiên cứu để chuyển giao, nhân rộng các quy trình sản xuất giống, quy trình nuôi đã thành công của các đối tượng có giá trị kinh tế; thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm các đối tượng có giá trị kinh tế, các đối tượng bản địa có khả năng nhân rộng; thực hiện các đề tài nghiên cứu về khoa học kỹ thuật, môi trường, bệnh học, các mô hình trình diễn... trong lĩnh vực nuôi trồng, sản xuất giống thuỷ sản, ưu tiên các đề tài mới, nghiên cứu giống mới theo nhu cầu bức xúc của địa phương và thích ứng với biến đổi khí hậu để chuyển giao cho người dân áp dụng vào sản xuất.
Huy động các nguồn vốn tài trợ và vốn của các thành phần kinh tế, cùng với Nhà nước thực hiện các nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ, xây dựng mô hình trình diễn... và trực tiếp phát triển nuôi, sản xuất giống thuỷ sản.
3.4. Quản lý môi trường và phòng, chống dịch:
Nâng cao vai trò quản lý, điều hành của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh nông nghiệp, Ban Chỉ đạo vụ nuôi thuỷ sản các cấp, phân công từng thành viên phụ trách địa bàn theo dõi tình hình phát triển từng đối tượng nuôi, tình hình dịch bệnh, diễn biến môi trường để chỉ đạo giải quyết kịp thời.
Nâng cao hiệu quả hệ thống quan trắc môi trường hiện có, bổ sung hệ thống trạm quan trắc môi trường biển ven bờ, tăng tần suất thu mẫu khi môi trường diễn biến theo chiều hướng không thuận lợi.
Xây dựng cơ chế, chính sách cho hoạt động của Ban Quản lý vùng nuôi thuỷ sản; tăng cường tuyên truyền vận động thành lập Ban Quản lý vùng nuôi phủ kín những vùng nuôi thuỷ sản thâm canh tập trung, đồng thời hỗ trợ nghiệp vụ nâng cao hiệu quả hoạt động ban quản lý vùng nuôi.
Nghiên cứu áp dụng lịch thời vụ nuôi tôm biển hàng năm phù hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu, môi trường cho từng vùng nuôi và hình thức nuôi; tăng cường tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức về hiệu quả việc áp dụng lịch thời vụ để người dân tự nguyện chấp hành.
3.5. Quản lý chất lượng sản phẩm:
Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra điều kiện vùng nuôi, chất lượng thức ăn, thức ăn bổ sung, chế phẩm sinh học, thuốc hoá chất, kiểm tra dư lượng... trong tất cả các khâu từ sản xuất đến sử dụng nhằm đảm bảo sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm, tạo uy tín với thị trường tiêu thụ.
3.6. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ nuôi thuỷ sản:
3.6.1. Về nuôi thuỷ sản:
Nhà nước đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển nuôi trồng thuỷ sản; ưu tiên đầu tư hệ thống công trình hoàn chỉnh cho các vùng nuôi thuỷ sản tập trung gồm hệ thống giao thông, điện trên các trục chính như: Tỉnh lộ, huyện lộ và các vùng nuôi thuỷ sản tập trung; hệ thống cấp thoát nước riêng biệt đến hệ thống kênh cấp 2, một phần hệ thống kênh nội đồng; hệ thống cấp nước ngọt pha loãng độ mặn cho những vùng có độ mặn cao trên trục chính và nhánh rẻ.
Huy động các nguồn vốn tài trợ và vốn của các thành phần kinh tế, cùng với Nhà nước đầu tư hoàn chỉnh hệ thống kênh nội đồng, trực tiếp đầu tư hoàn chỉnh hệ thống ao nuôi, trại sản xuất giống thuỷ sản.
Đầu tư các dự án kết cấu hạ tầng trọng điểm, cụ thể như: Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng nuôi thuỷ sản huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú phục vụ cấp thoát nước cho các vùng nuôi thuỷ sản tập trung; xây dựng Trạm quan trắc môi trường biển tại 3 huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú.
3.6.2. Về giống thuỷ sản:
Triển khai xây dựng Trung tâm Giống cá tra cấp vùng với quy mô khoảng 15ha tại huyện Châu Thành để thực hiện chức năng lưu giữ đàn cá tra bố mẹ thuần hoá di truyền, sản xuất và ương giống cá tra, từ đó hình thành hệ thống vệ tinh ương giống để cung cấp cho khu vực. Đầu tư nâng cấp trại Cadet Bình Đại để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu hoàn chỉnh quy trình sản xuất và ương giống tôm càng xanh, cua biển và các loài thuỷ đặc sản khác như: Cá chẽm, bống mú, bống tượng; nâng cấp trại giống Thới Thuận thực hiện chức năng nghiên cứu hoàn chỉnh quy trình sản xuất và ương giống nhuyễn thể.
Tập trung đầu tư xây dựng, hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng các khu sản xuất giống tập trung Thới Thuận, huyện Bình Đại đưa vào hoạt động cuối năm 2011; xây dựng mới hạ tầng khu sản xuất giống thuỷ sản tập trung Thừa Đức huyện Bình Đại và Thạnh Hải, huyện Thạnh phú để thu hút các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất giống tôm biển tại tỉnh. Hỗ trợ các đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đẩy nhanh tiến độ đầu tư Trung tâm Giống nhuyễn thể Nam bộ tại huyện Bình Đại và Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm thuỷ sản tại huyện Ba Tri.
3.6.3. Về dịch vụ hậu cần phục vụ nghề nuôi:
Nhà nước quy hoạch, xây dựng mặt bằng, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nhà đầu tư xây dựng nhà máy chế biến thức ăn, chế phẩm sinh học, thuốc thú y thuỷ sản có chất lượng tốt trên địa bàn tỉnh, đặc biệt ưu tiên những doanh nghiệp có uy tín đã được khẳng định trên thị trường.
Các thành phần kinh tế đầu tư nhà xưởng, thiết bị, công nghệ chế biến thức ăn, chế phẩm sinh học, thuốc thú y thuỷ sản phục vụ cho nghề nuôi thuỷ sản của tỉnh.
3.7. Tổ chức sản xuất trong nuôi thuỷ sản:
Phát triển mạnh hình thức quản lý cộng đồng (liên kết ngang) thông qua hoạt động Ban Quản lý vùng nuôi, chi hội nuôi thuỷ sản, tổ hợp tác sản xuất, hợp tác xã để hỗ trợ nhau trong phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, quản lý môi trường, phòng tránh thiên tai,…
Phát triển hình thức liên kết 4 nhà (liên kết dọc) để nhà máy chế biến có nguồn nguyên liệu sạch, ổn định và thực hiện tốt việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm, còn người nuôi có vốn, có kỹ thuật và an tâm về đầu ra để mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất.
Tạo điều kiện thuận lợi phát triển nhanh hình thức kinh tế trang trại trong nuôi thuỷ sản thông qua các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, chính sách về đất đai, về khoa học công nghệ,…
Trên cơ sở các mối liên kết dọc, ngang, tổ chức triển khai áp dụng các tiêu chuẩn: GAqP, Global GAP… vào nuôi thuỷ sản nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm gắn với bảo vệ môi trường.
Xây dựng tốt hệ thống thông tin, thống kê và dự báo về tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; tiến hành đánh số, đăng ký cấp giấy chứng nhận những cơ sở đủ điều kiện để thực hiện truy xuất nguồn gốc phục vụ tốt cho yêu cầu xuất khẩu.
3.8. Nguồn nhân lực cho phát triển nuôi thuỷ sản:
Tuyển dụng và đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật về nuôi trồng thuỷ sản. Đến năm 2015 có 6 cán bộ thạc sỹ và 01 tiến sỹ có chuyên môn về nuôi trồng thuỷ sản; đến năm 2020 có 12 thạc sỹ và 03 tiến sỹ có chuyên môn về nuôi trồng thuỷ sản.
Thường xuyên tổ chức hội thảo, tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn về chuyên môn kỹ thuật, về kỹ năng sư phạm, tham quan học tập để nâng cao trình độ và kinh nghiệm thực tiễn cho đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến ngư.
Phối hợp với các trường, các trung tâm dịch vụ việc làm, các cơ sở sản xuất giống, các cơ sở nuôi để đào tạo nghề cho nông dân. Đến năm 2015 đào tạo 20.000 nông dân lành nghề về nuôi thuỷ sản, đến năm 2020 đào tạo 40.000 nông dân lành nghề về nuôi thuỷ sản.
3.9. Cơ chế, chính sách:
Điều chỉnh chính sách kinh tế trang trại theo hướng khuyến khích sản xuất giống chất lượng cao, nuôi thuỷ sản thâm canh an toàn sinh học, an toàn môi trường.
Triển khai thực hiện tốt chính sách hỗ trợ giống thủy sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiên tai, dịch bệnh theo Quyết định số 142/2009/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh.
Áp dụng các chính sách ưu đãi của Trung ương để thu hút đầu tư vào các khu sản xuất giống tập trung tại tỉnh.
Xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nuôi nghêu với hình thức thâm canh ở những vùng nuôi không có nghêu giống.
Xây dựng chính sách khuyến khích phát triển hình thức quản lý cộng đồng trong nuôi thuỷ sản.
Hỗ trợ 100% hoá chất cho người nuôi để tiêu huỷ các ao nuôi bị nhiễm các bệnh nguy hiểm như: Đốm trắng, taura và các bệnh nguy hiểm khác trên tôm biển nuôi thâm canh; hỗ trợ 100% kinh phí tái kiểm tra bằng phương pháp PCR các bệnh đốm trắng, taura và các bệnh nguy hiểm khác trên giống tôm biển nhập tỉnh.
3.10. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về nuôi thuỷ sản:
Rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh, của Trung ương để kiến nghị chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với thực tế và nâng cao hiệu quả quản lý. Tổ chức phân cấp quản lý trong lĩnh vực thuỷ sản từ tỉnh đến huyện, xã.
Tăng cường năng lực quản lý nhà nước của ngành từ tỉnh đến cơ sở, chú trọng xây dựng lực lượng cán bộ quản lý cấp cơ sở. Đến năm 2015 có ít nhất 01 cán bộ quản lý nuôi trồng thuỷ sản ở những xã có vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung, quy mô lớn; đến năm 2020 có ít nhất 01 cán bộ quản lý nuôi trồng thuỷ sản cho tất cả các xã có nuôi trồng thuỷ sản.
Triển khai tin học hoá trong tất cả các khâu: Quản lý con người, quản lý công việc, quản lý tài chính, tài sản.
Quản lý phát triển nuôi, quản lý dịch bệnh ở những vùng nuôi thuỷ sản thâm canh tập trung bằng hệ thống định vị toàn cầu.
3.11. Tăng cường năng lực chế biến, mở rộng thị trường xuất khẩu:
Nhà nước quy hoạch, xây dựng mặt bằng, có chính sách khuyến khích và tạo cơ chế thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng nhà máy chế biến tại tỉnh với thiết bị, công nghệ hiện đại, tạo ra sản phẩm giá trị gia tăng, an toàn vệ sinh đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Hỗ trợ các doanh nghiệp tăng cường công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu, quan tâm giữ vững thị trường truyền thống và tích cực tìm kiếm thị trường mới thông qua hội thảo, hội chợ, triển lãm, các trang Websise chuyên ngành.

Content:
Giải pháp thực hiện:
3.1. Hoàn chỉnh quy hoạch đối tượng nuôi chủ lực và vùng nuôi thuỷ sản tập trung:
Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể nông nghiệp, thuỷ sản; quy hoạch chi tiết nuôi trồng thuỷ sản 3 huyện biển và quản lý phát triển đối tượng nuôi, hình thức nuôi theo quy hoạch đã được phê duyệt.
Đến năm 2015 phát triển nuôi 6.000ha tôm biển với hình thức thâm canh tập trung tại các huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú; phát triển nuôi 800ha cá tra thâm canh theo quy hoạch trên các cồn nổi, bãi bồi và đất ven sông sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả tại các huyện: Chợ Lách, Châu Thành, Giồng Trôm, Mỏ Cày Nam và Bình Đại.
3.2. Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân:
Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tờ rơi, áp phích…, các lớp tập huấn thường xuyên tuyên truyền, phổ biến những chủ trương, chính sách của Đảng, những quy định của Nhà nước, những khuyến cáo của ngành trong lĩnh vực nuôi thuỷ sản nhằm nâng cao nhận thức của người nuôi trong việc thực hiện các quy định của Nhà nước, đảm bảo phát triển nuôi thuỷ sản bền vững.
3.Ứng dụng khoa học công nghệ và đầu tư sản xuất trong nuôi thuỷ sản:
Nhà nước tập trung du nhập các thiết bị, các quy trình nuôi vỗ bố mẹ, quy trình sản xuất giống, quy trình nuôi tiên tiến ở các nước có nghề nuôi phát triển và điều kiện tương đồng với nước ta; liên kết với các Trường, Viện nghiên cứu để chuyển giao, nhân rộng các quy trình sản xuất giống, quy trình nuôi đã thành công của các đối tượng có giá trị kinh tế; thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm các đối tượng có giá trị kinh tế, các đối tượng bản địa có khả năng nhân rộng; thực hiện các đề tài nghiên cứu về khoa học kỹ thuật, môi trường, bệnh học, các mô hình trình diễn... trong lĩnh vực nuôi trồng, sản xuất giống thuỷ sản, ưu tiên các đề tài mới, nghiên cứu giống mới theo nhu cầu bức xúc của địa phương và thích ứng với biến đổi khí hậu để chuyển giao cho người dân áp dụng vào sản xuất.
Huy động các nguồn vốn tài trợ và vốn của các thành phần kinh tế, cùng với Nhà nước thực hiện các nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ, xây dựng mô hình trình diễn... và trực tiếp phát triển nuôi, sản xuất giống thuỷ sản.
3.4. Quản lý môi trường và phòng, chống dịch:
Nâng cao vai trò quản lý, điều hành của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh nông nghiệp, Ban Chỉ đạo vụ nuôi thuỷ sản các cấp, phân công từng thành viên phụ trách địa bàn theo dõi tình hình phát triển từng đối tượng nuôi, tình hình dịch bệnh, diễn biến môi trường để chỉ đạo giải quyết kịp thời.
Nâng cao hiệu quả hệ thống quan trắc môi trường hiện có, bổ sung hệ thống trạm quan trắc môi trường biển ven bờ, tăng tần suất thu mẫu khi môi trường diễn biến theo chiều hướng không thuận lợi.
Xây dựng cơ chế, chính sách cho hoạt động của Ban Quản lý vùng nuôi thuỷ sản; tăng cường tuyên truyền vận động thành lập Ban Quản lý vùng nuôi phủ kín những vùng nuôi thuỷ sản thâm canh tập trung, đồng thời hỗ trợ nghiệp vụ nâng cao hiệu quả hoạt động ban quản lý vùng nuôi.
Nghiên cứu áp dụng lịch thời vụ nuôi tôm biển hàng năm phù hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu, môi trường cho từng vùng nuôi và hình thức nuôi; tăng cường tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức về hiệu quả việc áp dụng lịch thời vụ để người dân tự nguyện chấp hành.
3.5. Quản lý chất lượng sản phẩm:
Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra điều kiện vùng nuôi, chất lượng thức ăn, thức ăn bổ sung, chế phẩm sinh học, thuốc hoá chất, kiểm tra dư lượng... trong tất cả các khâu từ sản xuất đến sử dụng nhằm đảm bảo sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm, tạo uy tín với thị trường tiêu thụ.
3.6. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ nuôi thuỷ sản:
3.6.1. Về nuôi thuỷ sản:
Nhà nước đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển nuôi trồng thuỷ sản; ưu tiên đầu tư hệ thống công trình hoàn chỉnh cho các vùng nuôi thuỷ sản tập trung gồm hệ thống giao thông, điện trên các trục chính như: Tỉnh lộ, huyện lộ và các vùng nuôi thuỷ sản tập trung; hệ thống cấp thoát nước riêng biệt đến hệ thống kênh cấp 2, một phần hệ thống kênh nội đồng; hệ thống cấp nước ngọt pha loãng độ mặn cho những vùng có độ mặn cao trên trục chính và nhánh rẻ.
Huy động các nguồn vốn tài trợ và vốn của các thành phần kinh tế, cùng với Nhà nước đầu tư hoàn chỉnh hệ thống kênh nội đồng, trực tiếp đầu tư hoàn chỉnh hệ thống ao nuôi, trại sản xuất giống thuỷ sản.
Đầu tư các dự án kết cấu hạ tầng trọng điểm, cụ thể như: Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng nuôi thuỷ sản huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú phục vụ cấp thoát nước cho các vùng nuôi thuỷ sản tập trung; xây dựng Trạm quan trắc môi trường biển tại 3 huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú.
3.6.2. Về giống thuỷ sản:
Triển khai xây dựng Trung tâm Giống cá tra cấp vùng với quy mô khoảng 15ha tại huyện Châu Thành để thực hiện chức năng lưu giữ đàn cá tra bố mẹ thuần hoá di truyền, sản xuất và ương giống cá tra, từ đó hình thành hệ thống vệ tinh ương giống để cung cấp cho khu vực. Đầu tư nâng cấp trại Cadet Bình Đại để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu hoàn chỉnh quy trình sản xuất và ương giống tôm càng xanh, cua biển và các loài thuỷ đặc sản khác như: Cá chẽm, bống mú, bống tượng; nâng cấp trại giống Thới Thuận thực hiện chức năng nghiên cứu hoàn chỉnh quy trình sản xuất và ương giống nhuyễn thể.
Tập trung đầu tư xây dựng, hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng các khu sản xuất giống tập trung Thới Thuận, huyện Bình Đại đưa vào hoạt động cuối năm 2011; xây dựng mới hạ tầng khu sản xuất giống thuỷ sản tập trung Thừa Đức huyện Bình Đại và Thạnh Hải, huyện Thạnh phú để thu hút các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất giống tôm biển tại tỉnh. Hỗ trợ các đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đẩy nhanh tiến độ đầu tư Trung tâm Giống nhuyễn thể Nam bộ tại huyện Bình Đại và Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm thuỷ sản tại huyện Ba Tri.
3.6.Về dịch vụ hậu cần phục vụ nghề nuôi:
Nhà nước quy hoạch, xây dựng mặt bằng, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nhà đầu tư xây dựng nhà máy chế biến thức ăn, chế phẩm sinh học, thuốc thú y thuỷ sản có chất lượng tốt trên địa bàn tỉnh, đặc biệt ưu tiên những doanh nghiệp có uy tín đã được khẳng định trên thị trường.
Các thành phần kinh tế đầu tư nhà xưởng, thiết bị, công nghệ chế biến thức ăn, chế phẩm sinh học, thuốc thú y thuỷ sản phục vụ cho nghề nuôi thuỷ sản của tỉnh.
3.7. Tổ chức sản xuất trong nuôi thuỷ sản:
Phát triển mạnh hình thức quản lý cộng đồng (liên kết ngang) thông qua hoạt động Ban Quản lý vùng nuôi, chi hội nuôi thuỷ sản, tổ hợp tác sản xuất, hợp tác xã để hỗ trợ nhau trong phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, quản lý môi trường, phòng tránh thiên tai,…
Phát triển hình thức liên kết 4 nhà (liên kết dọc) để nhà máy chế biến có nguồn nguyên liệu sạch, ổn định và thực hiện tốt việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm, còn người nuôi có vốn, có kỹ thuật và an tâm về đầu ra để mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất.
Tạo điều kiện thuận lợi phát triển nhanh hình thức kinh tế trang trại trong nuôi thuỷ sản thông qua các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, chính sách về đất đai, về khoa học công nghệ,…
Trên cơ sở các mối liên kết dọc, ngang, tổ chức triển khai áp dụng các tiêu chuẩn: GAqP, Global GAP… vào nuôi thuỷ sản nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm gắn với bảo vệ môi trường.
Xây dựng tốt hệ thống thông tin, thống kê và dự báo về tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; tiến hành đánh số, đăng ký cấp giấy chứng nhận những cơ sở đủ điều kiện để thực hiện truy xuất nguồn gốc phục vụ tốt cho yêu cầu xuất khẩu.
3.8. Nguồn nhân lực cho phát triển nuôi thuỷ sản:
Tuyển dụng và đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật về nuôi trồng thuỷ sản. Đến năm 2015 có 6 cán bộ thạc sỹ và 01 tiến sỹ có chuyên môn về nuôi trồng thuỷ sản; đến năm 2020 có 12 thạc sỹ và 03 tiến sỹ có chuyên môn về nuôi trồng thuỷ sản.
Thường xuyên tổ chức hội thảo, tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn về chuyên môn kỹ thuật, về kỹ năng sư phạm, tham quan học tập để nâng cao trình độ và kinh nghiệm thực tiễn cho đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến ngư.
Phối hợp với các trường, các trung tâm dịch vụ việc làm, các cơ sở sản xuất giống, các cơ sở nuôi để đào tạo nghề cho nông dân. Đến năm 2015 đào tạo 20.000 nông dân lành nghề về nuôi thuỷ sản, đến năm 2020 đào tạo 40.000 nông dân lành nghề về nuôi thuỷ sản.
3.9. Cơ chế, chính sách:
Điều chỉnh chính sách kinh tế trang trại theo hướng khuyến khích sản xuất giống chất lượng cao, nuôi thuỷ sản thâm canh an toàn sinh học, an toàn môi trường.
Triển khai thực hiện tốt chính sách hỗ trợ giống thủy sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiên tai, dịch bệnh theo Quyết định số 142/2009/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh.
Áp dụng các chính sách ưu đãi của Trung ương để thu hút đầu tư vào các khu sản xuất giống tập trung tại tỉnh.
Xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nuôi nghêu với hình thức thâm canh ở những vùng nuôi không có nghêu giống.
Xây dựng chính sách khuyến khích phát triển hình thức quản lý cộng đồng trong nuôi thuỷ sản.
Hỗ trợ 100% hoá chất cho người nuôi để tiêu huỷ các ao nuôi bị nhiễm các bệnh nguy hiểm như: Đốm trắng, taura và các bệnh nguy hiểm khác trên tôm biển nuôi thâm canh; hỗ trợ 100% kinh phí tái kiểm tra bằng phương pháp PCR các bệnh đốm trắng, taura và các bệnh nguy hiểm khác trên giống tôm biển nhập tỉnh.
3.10. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về nuôi thuỷ sản:
Rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh, của Trung ương để kiến nghị chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với thực tế và nâng cao hiệu quả quản lý. Tổ chức phân cấp quản lý trong lĩnh vực thuỷ sản từ tỉnh đến huyện, xã.
Tăng cường năng lực quản lý nhà nước của ngành từ tỉnh đến cơ sở, chú trọng xây dựng lực lượng cán bộ quản lý cấp cơ sở. Đến năm 2015 có ít nhất 01 cán bộ quản lý nuôi trồng thuỷ sản ở những xã có vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung, quy mô lớn; đến năm 2020 có ít nhất 01 cán bộ quản lý nuôi trồng thuỷ sản cho tất cả các xã có nuôi trồng thuỷ sản.
Triển khai tin học hoá trong tất cả các khâu: Quản lý con người, quản lý công việc, quản lý tài chính, tài sản.
Quản lý phát triển nuôi, quản lý dịch bệnh ở những vùng nuôi thuỷ sản thâm canh tập trung bằng hệ thống định vị toàn cầu.
3.11. Tăng cường năng lực chế biến, mở rộng thị trường xuất khẩu:
Nhà nước quy hoạch, xây dựng mặt bằng, có chính sách khuyến khích và tạo cơ chế thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng nhà máy chế biến tại tỉnh với thiết bị, công nghệ hiện đại, tạo ra sản phẩm giá trị gia tăng, an toàn vệ sinh đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Hỗ trợ các doanh nghiệp tăng cường công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu, quan tâm giữ vững thị trường truyền thống và tích cực tìm kiếm thị trường mới thông qua hội thảo, hội chợ, triển lãm, các trang Websise chuyên ngành.