Document: Khoản 9 Điều 1 Quyết định 980/QĐ-TTg năm 2013 phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng trung du Bắc Bộ

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "21/06/2013", "sign_number": "980/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "21/06/2013", "sign_number": "980/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "21/06/2013", "sign_number": "980/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "21/06/2013", "sign_number": "980/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "21/06/2013", "sign_number": "980/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 9 Điều 1 Quyết định 980/QĐ-TTg năm 2013 phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng trung du Bắc Bộ

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030 với những nội dung chính như sau:
...
9. Định hướng phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật vùng:
a) Định hướng phát triển giao thông:
- Giao thông liên vùng:
Giai đoạn đến năm 2030 cần từng bước xây dựng hoàn thiện và cơ bản hiện đại hóa mạng lưới kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và hàng không trong vùng theo quy hoạch phát triển giao thông vận tải quốc gia và vùng TD&MNBB, vùng biên giới Việt - Trung, Việt - Lào đã được phê duyệt.
Các giai đoạn tiếp theo, xây dựng các tuyến đường cao tốc nối vùng Thủ đô Hà Nội với các cửa khẩu quốc gia, quốc tế.
- Giao thông đô thị: Tỷ lệ đất giao thông so với đất đô thị phải đảm bảo chỉ tiêu 23 - 25% đối với các đô thị loại I như Việt Trì, Hòa Bình, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Lào Cai; 21 - 23% đối với các đô thị loại II như Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Giang, Hà Giang, Điện Biên Phủ, Sơn La; 18 - 20% đối với các đô thị loại III như Phú Thọ, Nghĩa Lộ, Sông Công, Bắc Kạn, Lai Châu, Cao Bằng; 16 - 18% đối với các đô thị loại IV hoặc V.
b) Định hướng chuẩn bị kỹ thuật
- Chọn đất xây dựng:
Sử dụng những loại đất kém hiệu quả về phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và các vùng gò đồi, vùng đất hoang hóa để phát triển đô thị.
Không xây dựng khu đô thị, khu dân cư và khu công nghiệp tại các khu vực có nhiều đường đứt gãy địa chất đặc biệt tại địa bàn các tỉnh Lào Cai, Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang, Thái Nguyên hoặc các khu vực đã xảy ra hoặc có nguy cơ bị lũ quét, sạt lở dọc các tuyến sông chính như sông Thái Bình, sông Lô, sông Kỳ Cùng, sông Bằng, sông Cầu, sông Chảy, sông Gâm, sông Hồng, sông Đà, sông Chu, sông Mã, sông Hiếu, sông Nậm Ma và sông Lam, các khu vực đồi núi cao và khu vực thay đổi độ dốc lớn thuộc vùng Tây Bắc, các khu bảo tồn thiên nhiên và khu rừng nguyên sinh như Vườn quốc gia Pù Mát, rừng quốc gia Bén Én, khu bảo tồn Pù Hu, Pù Luông.
- Định hướng thoát nước mưa: Đến năm 2030 các đô thị trong vùng đạt 80 - 100% cống theo đường giao thông đô thị.
- Biện pháp phòng chống thiên tai, tai biến địa chất:
Đầu tư xây dựng các công trình kè phòng chống sạt lở, bảo vệ các tuyến các đường giao thông huyết mạch, các khu vực dân cư tập trung, cơ sở hạ tầng thiết yếu.
Xây dựng các hồ thủy lợi, thủy điện ở thượng nguồn, tăng cường vai trò điều tiết nước mặt, cắt lũ, tưới tiêu và cung cấp điện. Đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện vừa và nhỏ tại các khu vực miền núi để phát huy tiềm năng của vùng biên.
Tăng cường quản lý và trồng rừng đầu nguồn để chống xói lở và lũ quét, cải tạo đất trống đồi núi trọc, tăng độ che phủ rừng phòng hộ đầu nguồn trên các lưu vực sông có các hồ thủy điện lớn.
Xây dựng các trạm quan trắc trên các lưu vực sông chính để dự báo, cảnh báo sớm lũ lụt, hạn hán, tạo điều kiện cho người dân chủ động ứng phó.
Tăng cường các thiết bị cảnh báo với công nghệ hiện đại trên địa bàn các tỉnh, đặc biệt trong các khu vực đã từng xảy ra động đất và có nguy cơ cao tại các tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Thanh Hóa, Phú Thọ, Hòa Bình, Sơn La, cần có giải pháp về kết cấu công trình phù hợp với cấp động đất và cấp công trình trong khu vực.
Rà soát các khu dân cư vùng thường xuyên bị thiên tai để từng bước thực hiện các dự án di dời dân cư đến nơi an toàn, có phương án chủ động sơ tán khi cần thiết.
c) Định hướng cấp nước:
Tổng nhu cầu toàn vùng, giai đoạn đến năm 2020 khu vực đô thị: 1.130.000 m3/ngày đêm; khu vực nông thôn: 425.000 m3/ngày đêm; giai đoạn đến năm 2030: khu vực đô thị: 1.655.300 m3/ngày đêm; khu vực nông thôn: 707.800 m3/ngày đêm.
Nguồn nước: Sử dụng nước mặt là chủ yếu, nước ngầm là nguồn nước bổ sung cho các đô thị khó khăn về nguồn nước mặt.
d) Định hướng thoát nước thải, quản lý chất thải rắn và nghĩa trang
- Thoát nước thải:
Tổng nhu cầu thoát nước thải cho các đô thị đến năm 2020 là khoảng 900.000 m3/ngày đêm; đến năm 2030 khoảng 1.300.000 m3/ngày đêm.
Các đô thị lớn, đang sử dụng hệ thống thoát nước chung: Phát triển hệ thống thoát nước hỗn hợp trên cơ sở mạng lưới thoát nước chung đã có và xây dựng mạng lưới tiêu gom nước thải. Các đô thị vừa và nhỏ xây dựng bổ sung các tuyến cống bao đưa nước thải về trạm xử lý nước thải tập trung.
Các đô thị, khu vực phát triển mới sử dụng hệ thống thoát nước riêng.
Các đô thị loại 4 - 5 theo phân cấp đô thị chỉ sử dụng hệ thống thoát nước riêng. Tuy nhiên phần lớn các đô thị này hiện nay chưa có hệ thống thoát nước. Để hướng tới các đô thị văn minh, hiện đại phát triển đồng bộ và đảm bảo vệ sinh môi trường, kiến nghị sử dụng hệ thống thoát nước riêng hoàn toàn cho các thị trấn, thị tứ có đủ điều kiện đầu tư.
Các điểm dân cư nông thôn, trung tâm cụm xã, cụm dân cư tập trung cần có hệ thống thoát nước chung. Nước thải từ các khu vệ sinh được xử lý sơ bộ bằng bể tự hoại sau đó thoát ra hệ thống thoát nước chung. Tận dụng hệ thống các ao, hồ sẵn có để làm sạch tự nhiên nước thải.
- Thu gom, xử lý chất thải rắn:
Tổng nhu cầu xử lý chất thải rắn toàn vùng đến năm 2020 là khoảng 13.500 tấn/ngày đêm; đến năm 2030 khoảng 15.500 tấn/ngày đêm. Chất thải rắn sau khi thu gom và phân loại tại nguồn thải sẽ được đưa đến các khu xử lý chất thải rắn tập trung.
Tại các thành phố cần xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn tập trung hoặc khu xử lý chất thải rắn tập trung với công nghệ sản xuất phân hữu cơ; sản xuất nhựa tái chế hoặc đốt rác thu hồi năng lượng phù hợp với tính chất rác và điều kiện kinh tế xã hội của từng tỉnh; quy mô khu xử lý khoảng 15 - 50 ha.
Các thị trấn, thị xã sử dụng bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh quy mô từ 5 - 10 ha. Khuyến khích sử dụng chung bãi chôn lấp chất thải rắn nếu đảm bảo khoảng cách từ các đô thị đến bãi chôn lấp không quá 25 km. Các thị tứ bố trí bãi chôn lấp quy mô khoảng 1 - 5 ha và các trạm trung chuyển chất thải rắn có thể kết hợp sử dụng khu chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh của các đô thị lớn hơn nếu khoảng cách vận chuyển không quá 15 km.
- Định hướng quy hoạch nghĩa trang:
Tổng nhu cầu đất nghĩa trang toàn vùng đến năm 2020 là khoảng 900 ha; đến năm 2030 khoảng 1.000 tấn/ngày đêm.
Mỗi đô thị xây dựng một nghĩa trang riêng, bố trí xa dân cư, nguồn nước; quy mô các nghĩa trang từ 5 - 30 ha. Tại khu vực nông thôn xây dựng các nghĩa trang riêng phù hợp với quy mô dân số, quy mô các nghĩa trang có thể từ 1 - 5 ha. Đối với các xã vùng biên, có chính sách động viên và hỗ trợ người dân ở các điểm dân cư sát biên giới chôn cất sát đường biên để góp phần vào việc bảo vệ chủ quyền.
đ) Định hướng cấp điện:
Tổng nhu cầu cấp điện toàn vùng đến năm 2020 khoảng 4.691 MW, đến năm 2030 khoảng 7.021 MW.
Nguồn điện chính lấy từ các nhà máy thủy điện hiện có và dự kiến như: Hòa Bình, Tuyên Quang, Sơn La, Bản Chát, Lai Châu. Ngoài ra, vùng cần được hỗ trợ nguồn điện từ các nhà máy nhiệt điện: Phả Lại, Quảng Ninh, Hải Phòng thông qua các trạm 500 kV và 220 kV và duy trì nguồn điện mua từ Trung Quốc thông qua các cấp điện áp 110 kV, 220 kV và 500 kV.
Trạm, lưới điện 500 kV và trạm, lưới điện 220 kV: Phát triển theo quy hoạch VII đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
e) Định hướng về bảo vệ môi trường:
Công nghiệp thủy điện: Xây dựng và bảo vệ hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn các sông, hồ lớn như sông Đà, sông Hồng, sông Mã.
Công nghiệp khai thác khoáng sản: Kiểm soát sử dụng đất khai thác khoáng sản để không ảnh hưởng đến môi trường, khoanh vùng bảo vệ tránh làm ô nhiễm đất và các nguồn nước. Đầu tư công nghệ khai thác tiên tiến, hiệu quả thu hồi quặng cao. Thực hiện đúng luật khai thác khoáng sản, các đơn vị thực hiện phải trình kế hoạch bảo vệ môi trường hoàn nguyên sau khai thác.
Các đô thị và trung tâm du lịch: Cần xây dựng hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật nhằm giảm áp lực lên môi trường sống (giảm thiểu tối đa lượng chất thải trong các đô thị bằng các biện pháp tái chế, tái sử dụng lại chất thải).
Các vùng chịu ảnh hưởng của tai biến thiên nhiên và địa chất: Xây dựng các hồ chứa trên các lưu vực sông để điều hòa bảo vệ hồ chứa; xây dựng hệ thống quan trắc môi trường nước ở từng địa phương.
Đối với các khu vực bảo vệ nguồn nước: Tăng cường trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo vệ nguồn nước mặt khỏi các hoạt động khai thác khoáng sản nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định bền vững của khu vực có khả năng sử dụng làm nguồn nước cấp, tránh sử dụng kiệt về lưu lượng và gây suy thoái về chất lượng. Bảo vệ nguồn nước cấp trên cơ sở xác định nhu cầu và lựa chọn nguồn nước; xác định vị trí, quy mô công trình cấp nước gồm mạng lưới tuyến truyền tải và phân phối, nhà máy, trạm làm sạch, phạm vi bảo vệ nguồn nước và hành lang bảo vệ công trình cấp nước.
9. Các chương trình dự án ưu tiên đầu tư
- Giai đoạn đến năm 2020:

Content:
Định hướng phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật vùng:
a) Định hướng phát triển giao thông:
- Giao thông liên vùng:
Giai đoạn đến năm 2030 cần từng bước xây dựng hoàn thiện và cơ bản hiện đại hóa mạng lưới kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và hàng không trong vùng theo quy hoạch phát triển giao thông vận tải quốc gia và vùng TD&MNBB, vùng biên giới Việt - Trung, Việt - Lào đã được phê duyệt.
Các giai đoạn tiếp theo, xây dựng các tuyến đường cao tốc nối vùng Thủ đô Hà Nội với các cửa khẩu quốc gia, quốc tế.
- Giao thông đô thị: Tỷ lệ đất giao thông so với đất đô thị phải đảm bảo chỉ tiêu 23 - 25% đối với các đô thị loại I như Việt Trì, Hòa Bình, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Lào Cai; 21 - 23% đối với các đô thị loại II như Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Giang, Hà Giang, Điện Biên Phủ, Sơn La; 18 - 20% đối với các đô thị loại III như Phú Thọ, Nghĩa Lộ, Sông Công, Bắc Kạn, Lai Châu, Cao Bằng; 16 - 18% đối với các đô thị loại IV hoặc V.
b) Định hướng chuẩn bị kỹ thuật
- Chọn đất xây dựng:
Sử dụng những loại đất kém hiệu quả về phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và các vùng gò đồi, vùng đất hoang hóa để phát triển đô thị.
Không xây dựng khu đô thị, khu dân cư và khu công nghiệp tại các khu vực có nhiều đường đứt gãy địa chất đặc biệt tại địa bàn các tỉnh Lào Cai, Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang, Thái Nguyên hoặc các khu vực đã xảy ra hoặc có nguy cơ bị lũ quét, sạt lở dọc các tuyến sông chính như sông Thái Bình, sông Lô, sông Kỳ Cùng, sông Bằng, sông Cầu, sông Chảy, sông Gâm, sông Hồng, sông Đà, sông Chu, sông Mã, sông Hiếu, sông Nậm Ma và sông Lam, các khu vực đồi núi cao và khu vực thay đổi độ dốc lớn thuộc vùng Tây Bắc, các khu bảo tồn thiên nhiên và khu rừng nguyên sinh như Vườn quốc gia Pù Mát, rừng quốc gia Bén Én, khu bảo tồn Pù Hu, Pù Luông.
- Định hướng thoát nước mưa: Đến năm 2030 các đô thị trong vùng đạt 80 - 100% cống theo đường giao thông đô thị.
- Biện pháp phòng chống thiên tai, tai biến địa chất:
Đầu tư xây dựng các công trình kè phòng chống sạt lở, bảo vệ các tuyến các đường giao thông huyết mạch, các khu vực dân cư tập trung, cơ sở hạ tầng thiết yếu.
Xây dựng các hồ thủy lợi, thủy điện ở thượng nguồn, tăng cường vai trò điều tiết nước mặt, cắt lũ, tưới tiêu và cung cấp điện. Đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện vừa và nhỏ tại các khu vực miền núi để phát huy tiềm năng của vùng biên.
Tăng cường quản lý và trồng rừng đầu nguồn để chống xói lở và lũ quét, cải tạo đất trống đồi núi trọc, tăng độ che phủ rừng phòng hộ đầu nguồn trên các lưu vực sông có các hồ thủy điện lớn.
Xây dựng các trạm quan trắc trên các lưu vực sông chính để dự báo, cảnh báo sớm lũ lụt, hạn hán, tạo điều kiện cho người dân chủ động ứng phó.
Tăng cường các thiết bị cảnh báo với công nghệ hiện đại trên địa bàn các tỉnh, đặc biệt trong các khu vực đã từng xảy ra động đất và có nguy cơ cao tại các tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Thanh Hóa, Phú Thọ, Hòa Bình, Sơn La, cần có giải pháp về kết cấu công trình phù hợp với cấp động đất và cấp công trình trong khu vực.
Rà soát các khu dân cư vùng thường xuyên bị thiên tai để từng bước thực hiện các dự án di dời dân cư đến nơi an toàn, có phương án chủ động sơ tán khi cần thiết.
c) Định hướng cấp nước:
Tổng nhu cầu toàn vùng, giai đoạn đến năm 2020 khu vực đô thị: 1.130.000 m3/ngày đêm; khu vực nông thôn: 425.000 m3/ngày đêm; giai đoạn đến năm 2030: khu vực đô thị: 1.655.300 m3/ngày đêm; khu vực nông thôn: 707.800 m3/ngày đêm.
Nguồn nước: Sử dụng nước mặt là chủ yếu, nước ngầm là nguồn nước bổ sung cho các đô thị khó khăn về nguồn nước mặt.
d) Định hướng thoát nước thải, quản lý chất thải rắn và nghĩa trang
- Thoát nước thải:
Tổng nhu cầu thoát nước thải cho các đô thị đến năm 2020 là khoảng 900.000 m3/ngày đêm; đến năm 2030 khoảng 1.300.000 m3/ngày đêm.
Các đô thị lớn, đang sử dụng hệ thống thoát nước chung: Phát triển hệ thống thoát nước hỗn hợp trên cơ sở mạng lưới thoát nước chung đã có và xây dựng mạng lưới tiêu gom nước thải. Các đô thị vừa và nhỏ xây dựng bổ sung các tuyến cống bao đưa nước thải về trạm xử lý nước thải tập trung.
Các đô thị, khu vực phát triển mới sử dụng hệ thống thoát nước riêng.
Các đô thị loại 4 - 5 theo phân cấp đô thị chỉ sử dụng hệ thống thoát nước riêng. Tuy nhiên phần lớn các đô thị này hiện nay chưa có hệ thống thoát nước. Để hướng tới các đô thị văn minh, hiện đại phát triển đồng bộ và đảm bảo vệ sinh môi trường, kiến nghị sử dụng hệ thống thoát nước riêng hoàn toàn cho các thị trấn, thị tứ có đủ điều kiện đầu tư.
Các điểm dân cư nông thôn, trung tâm cụm xã, cụm dân cư tập trung cần có hệ thống thoát nước chung. Nước thải từ các khu vệ sinh được xử lý sơ bộ bằng bể tự hoại sau đó thoát ra hệ thống thoát nước chung. Tận dụng hệ thống các ao, hồ sẵn có để làm sạch tự nhiên nước thải.
- Thu gom, xử lý chất thải rắn:
Tổng nhu cầu xử lý chất thải rắn toàn vùng đến năm 2020 là khoảng 13.500 tấn/ngày đêm; đến năm 2030 khoảng 15.500 tấn/ngày đêm. Chất thải rắn sau khi thu gom và phân loại tại nguồn thải sẽ được đưa đến các khu xử lý chất thải rắn tập trung.
Tại các thành phố cần xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn tập trung hoặc khu xử lý chất thải rắn tập trung với công nghệ sản xuất phân hữu cơ; sản xuất nhựa tái chế hoặc đốt rác thu hồi năng lượng phù hợp với tính chất rác và điều kiện kinh tế xã hội của từng tỉnh; quy mô khu xử lý khoảng 15 - 50 ha.
Các thị trấn, thị xã sử dụng bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh quy mô từ 5 - 10 ha. Khuyến khích sử dụng chung bãi chôn lấp chất thải rắn nếu đảm bảo khoảng cách từ các đô thị đến bãi chôn lấp không quá 25 km. Các thị tứ bố trí bãi chôn lấp quy mô khoảng 1 - 5 ha và các trạm trung chuyển chất thải rắn có thể kết hợp sử dụng khu chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh của các đô thị lớn hơn nếu khoảng cách vận chuyển không quá 15 km.
- Định hướng quy hoạch nghĩa trang:
Tổng nhu cầu đất nghĩa trang toàn vùng đến năm 2020 là khoảng 900 ha; đến năm 2030 khoảng 1.000 tấn/ngày đêm.
Mỗi đô thị xây dựng một nghĩa trang riêng, bố trí xa dân cư, nguồn nước; quy mô các nghĩa trang từ 5 - 30 ha. Tại khu vực nông thôn xây dựng các nghĩa trang riêng phù hợp với quy mô dân số, quy mô các nghĩa trang có thể từ 1 - 5 ha. Đối với các xã vùng biên, có chính sách động viên và hỗ trợ người dân ở các điểm dân cư sát biên giới chôn cất sát đường biên để góp phần vào việc bảo vệ chủ quyền.
đ) Định hướng cấp điện:
Tổng nhu cầu cấp điện toàn vùng đến năm 2020 khoảng 4.691 MW, đến năm 2030 khoảng 7.021 MW.
Nguồn điện chính lấy từ các nhà máy thủy điện hiện có và dự kiến như: Hòa Bình, Tuyên Quang, Sơn La, Bản Chát, Lai Châu. Ngoài ra, vùng cần được hỗ trợ nguồn điện từ các nhà máy nhiệt điện: Phả Lại, Quảng Ninh, Hải Phòng thông qua các trạm 500 kV và 220 kV và duy trì nguồn điện mua từ Trung Quốc thông qua các cấp điện áp 110 kV, 220 kV và 500 kV.
Trạm, lưới điện 500 kV và trạm, lưới điện 220 kV: Phát triển theo quy hoạch VII đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
e) Định hướng về bảo vệ môi trường:
Công nghiệp thủy điện: Xây dựng và bảo vệ hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn các sông, hồ lớn như sông Đà, sông Hồng, sông Mã.
Công nghiệp khai thác khoáng sản: Kiểm soát sử dụng đất khai thác khoáng sản để không ảnh hưởng đến môi trường, khoanh vùng bảo vệ tránh làm ô nhiễm đất và các nguồn nước. Đầu tư công nghệ khai thác tiên tiến, hiệu quả thu hồi quặng cao. Thực hiện đúng luật khai thác khoáng sản, các đơn vị thực hiện phải trình kế hoạch bảo vệ môi trường hoàn nguyên sau khai thác.
Các đô thị và trung tâm du lịch: Cần xây dựng hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật nhằm giảm áp lực lên môi trường sống (giảm thiểu tối đa lượng chất thải trong các đô thị bằng các biện pháp tái chế, tái sử dụng lại chất thải).
Các vùng chịu ảnh hưởng của tai biến thiên nhiên và địa chất: Xây dựng các hồ chứa trên các lưu vực sông để điều hòa bảo vệ hồ chứa; xây dựng hệ thống quan trắc môi trường nước ở từng địa phương.
Đối với các khu vực bảo vệ nguồn nước: Tăng cường trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo vệ nguồn nước mặt khỏi các hoạt động khai thác khoáng sản nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định bền vững của khu vực có khả năng sử dụng làm nguồn nước cấp, tránh sử dụng kiệt về lưu lượng và gây suy thoái về chất lượng. Bảo vệ nguồn nước cấp trên cơ sở xác định nhu cầu và lựa chọn nguồn nước; xác định vị trí, quy mô công trình cấp nước gồm mạng lưới tuyến truyền tải và phân phối, nhà máy, trạm làm sạch, phạm vi bảo vệ nguồn nước và hành lang bảo vệ công trình cấp nước.
Các chương trình dự án ưu tiên đầu tư
- Giai đoạn đến năm 2020: