Document: Điểm đ Khoản 2 Điều 1 Quyết định 661/QĐ-UBND năm 2009 đề án khôi phục làng nghề truyền thống đến 2015 Thừa Thiên Huế

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thừa Thiên Huế", "promulgation_date": "28/03/2009", "sign_number": "661/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Thiện", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thừa Thiên Huế", "promulgation_date": "28/03/2009", "sign_number": "661/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Thiện", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thừa Thiên Huế", "promulgation_date": "28/03/2009", "sign_number": "661/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Thiện", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thừa Thiên Huế", "promulgation_date": "28/03/2009", "sign_number": "661/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Thiện", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thừa Thiên Huế", "promulgation_date": "28/03/2009", "sign_number": "661/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Thiện", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm đ Khoản 2 Điều 1 Quyết định 661/QĐ-UBND năm 2009 đề án khôi phục làng nghề truyền thống đến 2015 Thừa Thiên Huế

Điều 1. Phê duyệt Đề án khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, làng nghề và ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2015 với các nội dung sau:
...
2. Một số mục tiêu cụ thể
- Giá trị sản xuất TTCN chiếm 50 - 60% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp dân doanh.
- Hằng năm thu hút thêm từ 3.000 - 4.000 lao động mới vào làng nghề. Đến năm 2015, lao động trong các làng nghề chiếm tỷ trọng khoảng 10% so với lao động của toàn tỉnh.
- Từng bước hình thành đội ngũ doanh nhân có trình độ quản lý. Đến năm 2015, có ít nhất 1 - 2 doanh nghiệp làm hạt nhân nòng cốt trong mỗi làng nghề.
- Tiếp tục xây dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật trong các làng nghề và các cụm công nghiệp – TTCN. Đến năm 2015, về cơ bản các làng nghề có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường được xử lý và khống chế đảm bảo theo quy định.
III. ĐỊNH HƯỚNG KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG, LÀNG NGHỀ TTCN VÀ NGÀNH NGHỀ TTCN ĐẾN NĂM 2015
1. Ưu tiên tập trung khôi phục và phát triển 5 nhóm nghề và làng nghề truyền thống sau:
...
đ) Nghề may áo dài Huế
- Nghiên cứu cải tiến thiết kế áo dài theo hướng vừa giữ nét truyền thống vừa kết hợp những nét hiện đại để phục vụ du khách khi đến Huế.
- Hình thành dãy phố chuyên may trang phục áo dài Huế làm điểm tham quan và mua sắm cho du khách.
Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, làng nghề và ngành nghề TTCN tỉnh Thừa Thiên Huế
2.1. Bảo tồn làng nghề truyền thống
a) Làng nghề truyền thống gốm Phước Tích:
- Tiến hành đồng bộ việc bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống gốm Phước Tích với việc phục hồi các lễ hội truyền thống của địa phương, liên kết các điểm du lịch sinh thái, làng nghề kế cận để hình thành tuyến du lịch tham quan làng di sản Phước Tích.
- Nghiên cứu phát triển các sản phẩm gốm phù hợp như gốm thủ công mỹ nghệ, gốm trang trí, gốm xây dựng. Phát triển dòng gốm màu, dòng gốm nung không men và gốm nung có tráng men. Thăm dò vùng nguyên liệu; nghiên cứu nguyên liệu, phối liệu và ứng dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ vào sản xuất các loại gốm.
- Phát triển mô hình tổ chức sản xuất quy mô vừa. Khuyến khích các hộ gia đình phục hồi các lò sản xuất gốm cải tiến sản xuất các sản phẩm gốm thủ công mỹ nghệ,
gốm lưu niệm kết hợp làm nơi trình diễn công nghệ sản xuất truyền thống của làng nghề.
b) Tranh làng Sình:
- Kế thừa kỹ thuật truyền thống với việc phục hồi một số chất liệu để phát triển thêm các sản phẩm trang trí, lưu niệm nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội.
- Gắn kết làng nghề truyền thống với tour du lịch sinh thái để giới thiệu, quảng bá sản phẩm.
2.Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, làng nghề và ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
a) Khôi phục phát triển nghề và làng nghề mây tre đan:
- Tăng cường năng lực sản xuất của từng làng nghề theo nhu cầu thị trường, làm vệ tinh gia công sản xuất cho các doanh nghiệp. Khuyến khích liên kết, hợp tác giữa các làng nghề, hình thành cơ sở đầu mối trong làng nghề.
- Đa dạng hóa sản phẩm phù hợp với xu thế tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu thị trường thông qua tính đa năng của sản phẩm.
b) Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống hoa giấy Thanh Tiên:
Duy trì và phát triển các sản phẩm truyền thống của làng nghề, nâng cao chất lượng và tính thẩm mỹ của sản phẩm. Kế thừa và phát triển tay nghề của người thợ thủ công trong làng nghề, đào tạo bổ sung những kỹ thuật sản xuất các loại hoa vải, hoa lụa và hoa đất...
c) Làng nghề sản xuất gạch ngói Thủy Phú
Thực hiện việc chuyển đổi công nghệ nung sang lò cải tiến hoặc lò tuynen để giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm gạch ngói truyền thống của làng nghề. Nghiên cứu đầu tư phát triển thêm một số sản phẩm mới như gạch lát vỉa hè, lát đường, gạch vồ; phát triển nhóm sản phẩm gốm nung. Nghiên cứu, thăm dò khảo sát vùng nguyên liệu đảm bảo phục vụ tốt cho sản xuất của làng nghề.
d) Làng nghề dệt:
* Nghề dệt lưới ngư cụ:
Đầu tư thiết bị tăng năng lực và chất lượng sản phẩm cho các hộ dệt đan lưới ngư cụ ở các làng nghề truyền thống. Tổ chức, phân công các công đoạn sản xuất để tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
*Các làng nghề dệt zèng trên địa bàn huyện A Lưới:
- Bảo tồn, khôi phục các mẫu hoa văn và các kỹ thuật tạo hình khác nhằm tạo được những sản phẩm dệt mang đặc trưng truyền thống của đồng bào dân tộc. Khôi phục kỹ thuật dệt thủ công kết hợp với nghiên cứu cải tiến khung dệt để đảm bảo vừa tạo năng suất lao động cao vừa dệt được các sản phẩm đặc thù, tinh xảo có giá trị truyền thống đặc trưng.
- Củng cố các cơ sở sản xuất các sản phẩm dệt thổ cẩm, duy trì sản xuất các sản phẩm truyền thống để phục vụ nhu cầu của đồng bào ở địa phương; phát triển thêm các sản phẩm mới phục vụ du lịch. Thúc đẩy hình thành tour du lịch sinh thái đến ARoàng kết hợp tham quan làng nghề dệt truyền thống
đ) Khôi phục, phát triển một số nghề và làng nghề truyền thống khác:
- Nón lá Huế: Kế thừa và phát triển tính thẩm mỹ, sự tinh tế của sản phẩm nón bài thơ Huế; nghiên cứu trình diễn tại chỗ theo yêu cầu của khách hàng.
- Nghề gia công chế tác kim hoàn: Phát triển các sản phẩm lưu niệm chế tác từ vàng, bạc, đá quý... các sản phẩm cao cấp có giá trị lớn với trình độ mỹ thuật cao.
- Nghề chạm khảm xương: Chú trọng cải tiến mẫu mã, hình thành một số điểm trình diễn tay nghề.
- Nghề sơn mài và sơn son thếp vàng: Củng cố và nâng cao tay nghề nhằm phục vụ việc trùng tu tôn tạo các công trình di tích văn hóa, lịch sử; nghiên cứu phát triển các sản phẩm sơn mài.
- Khôi phục và phát triển các nghề: sản xuất đá chẻ, rèn, sản xuất dầu tràm, rượu thủ công.
2.3. Phát triển nghề, làng nghề TTCN và du nhập nghề mới
Những ngành nghề có khả năng tìm được thị trường tiêu thụ dự kiến có thể đưa vào phát triển:
- Thêu truyền thống và hàng thêu trắng.
- Mây tre đan, nón lá, chổi đót.
- Mộc mỹ nghệ, mộc dân dụng, mộc cao cấp.
- Vật liệu xây dựng không nung.
- Gia công, sửa chữa cơ kim khí phục vụ nông lâm ngư nghiệp.
- Bảo quản, sơ chế nông, lâm, thủy sản.
- May áo dài, kim hoàn, sơn mài, chạm đá, khảm xương.
- May gia công (áo, quần xuất khẩu, dày dép da, vải).
IV. NHU CẦU VÀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ
- Nhu cầu vốn đầu tư hàng năm cho làng nghề: 100 tỷ đồng, trong đó:
+ Vốn nhà nước để đầu tư hạ tầng làng nghề, đào tạo nghề, tham quan học tập, thiết kế mẫu, cung cấp thông tin thị trường, mô hình trình diễn, xử lý môi trường,...: 30 tỷ đồng
+ Vốn của doanh nghiệp đầu tư cho phát triển sản xuất và các nguồn vốn khác: 70 tỷ đồng.
V. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Giải pháp về vốn
- Phát huy tối đa nội lực của nhân dân địa phương và các thành phần kinh tế. Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn như huy động từ người thân bạn bè, vay các tổ chức tín dụng, góp vốn thành lập Hợp tác xã, công ty… Phát triển mạnh các loại hình liên kết kinh tế giữa các cơ sở sản xuất trong làng nghề với các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp - TTCN.
- Tăng cường tìm kiếm, vận động các nguồn tài trợ và đầu tư từ các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức nước ngoài để khai thác thêm các nguồn vốn hỗ trợ đào tạo nghề, đào tạo khởi sự doanh nghiệp, nghiên cứu xúc tiến thị trường, xử lý môi trường ở các làng nghề...
Giải pháp về thị trường
- Nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy nhanh việc xây dựng thương hiệu sản phẩm làng nghề. Chú trọng thị trường đầu vào, bảo đảm nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất bằng nhiều phương thức thích hợp.
- Phát triển các mối liên kết giữa các cơ sở sản xuất trong làng nghề với các doanh nghiệp thương mại. Khuyến khích việc liên doanh, liên kết với các cơ sở trong các làng nghề thực hiện sản xuất hàng gia công xuất khẩu hoặc làm trung gian bao tiêu sản phẩm của làng nghề. Khuyến khích các cơ sở sản xuất mở các quầy hàng kinh doanh, giới thiệu sản phẩm ở các trung tâm thương mại, chợ, các khu du lịch. Quan tâm giới thiệu doanh nghiệp, sản phẩm doanh nghiệp trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh và Sở Công Thương, Kế hoạch và Đầu tư.

Content:
Nghề may áo dài Huế
- Nghiên cứu cải tiến thiết kế áo dài theo hướng vừa giữ nét truyền thống vừa kết hợp những nét hiện đại để phục vụ du khách khi đến Huế.
- Hình thành dãy phố chuyên may trang phục áo dài Huế làm điểm tham quan và mua sắm cho du khách.
Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, làng nghề và ngành nghề TTCN tỉnh Thừa Thiên Huế
2.1. Bảo tồn làng nghề truyền thống
a) Làng nghề truyền thống gốm Phước Tích:
- Tiến hành đồng bộ việc bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống gốm Phước Tích với việc phục hồi các lễ hội truyền thống của địa phương, liên kết các điểm du lịch sinh thái, làng nghề kế cận để hình thành tuyến du lịch tham quan làng di sản Phước Tích.
- Nghiên cứu phát triển các sản phẩm gốm phù hợp như gốm thủ công mỹ nghệ, gốm trang trí, gốm xây dựng. Phát triển dòng gốm màu, dòng gốm nung không men và gốm nung có tráng men. Thăm dò vùng nguyên liệu; nghiên cứu nguyên liệu, phối liệu và ứng dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ vào sản xuất các loại gốm.
- Phát triển mô hình tổ chức sản xuất quy mô vừa. Khuyến khích các hộ gia đình phục hồi các lò sản xuất gốm cải tiến sản xuất các sản phẩm gốm thủ công mỹ nghệ,
gốm lưu niệm kết hợp làm nơi trình diễn công nghệ sản xuất truyền thống của làng nghề.
b) Tranh làng Sình:
- Kế thừa kỹ thuật truyền thống với việc phục hồi một số chất liệu để phát triển thêm các sản phẩm trang trí, lưu niệm nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội.
- Gắn kết làng nghề truyền thống với tour du lịch sinh thái để giới thiệu, quảng bá sản phẩm.
2.Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, làng nghề và ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
a) Khôi phục phát triển nghề và làng nghề mây tre đan:
- Tăng cường năng lực sản xuất của từng làng nghề theo nhu cầu thị trường, làm vệ tinh gia công sản xuất cho các doanh nghiệp. Khuyến khích liên kết, hợp tác giữa các làng nghề, hình thành cơ sở đầu mối trong làng nghề.
- Đa dạng hóa sản phẩm phù hợp với xu thế tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu thị trường thông qua tính đa năng của sản phẩm.
b) Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống hoa giấy Thanh Tiên:
Duy trì và phát triển các sản phẩm truyền thống của làng nghề, nâng cao chất lượng và tính thẩm mỹ của sản phẩm. Kế thừa và phát triển tay nghề của người thợ thủ công trong làng nghề, đào tạo bổ sung những kỹ thuật sản xuất các loại hoa vải, hoa lụa và hoa đất...
c) Làng nghề sản xuất gạch ngói Thủy Phú
Thực hiện việc chuyển đổi công nghệ nung sang lò cải tiến hoặc lò tuynen để giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm gạch ngói truyền thống của làng nghề. Nghiên cứu đầu tư phát triển thêm một số sản phẩm mới như gạch lát vỉa hè, lát đường, gạch vồ; phát triển nhóm sản phẩm gốm nung. Nghiên cứu, thăm dò khảo sát vùng nguyên liệu đảm bảo phục vụ tốt cho sản xuất của làng nghề.
d) Làng nghề dệt:
* Nghề dệt lưới ngư cụ:
Đầu tư thiết bị tăng năng lực và chất lượng sản phẩm cho các hộ dệt đan lưới ngư cụ ở các làng nghề truyền thống. Tổ chức, phân công các công đoạn sản xuất để tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
*Các làng nghề dệt zèng trên địa bàn huyện A Lưới:
- Bảo tồn, khôi phục các mẫu hoa văn và các kỹ thuật tạo hình khác nhằm tạo được những sản phẩm dệt mang đặc trưng truyền thống của đồng bào dân tộc. Khôi phục kỹ thuật dệt thủ công kết hợp với nghiên cứu cải tiến khung dệt để đảm bảo vừa tạo năng suất lao động cao vừa dệt được các sản phẩm đặc thù, tinh xảo có giá trị truyền thống đặc trưng.
- Củng cố các cơ sở sản xuất các sản phẩm dệt thổ cẩm, duy trì sản xuất các sản phẩm truyền thống để phục vụ nhu cầu của đồng bào ở địa phương; phát triển thêm các sản phẩm mới phục vụ du lịch. Thúc đẩy hình thành tour du lịch sinh thái đến ARoàng kết hợp tham quan làng nghề dệt truyền thống
Khôi phục, phát triển một số nghề và làng nghề truyền thống khác:
- Nón lá Huế: Kế thừa và phát triển tính thẩm mỹ, sự tinh tế của sản phẩm nón bài thơ Huế; nghiên cứu trình diễn tại chỗ theo yêu cầu của khách hàng.
- Nghề gia công chế tác kim hoàn: Phát triển các sản phẩm lưu niệm chế tác từ vàng, bạc, đá quý... các sản phẩm cao cấp có giá trị lớn với trình độ mỹ thuật cao.
- Nghề chạm khảm xương: Chú trọng cải tiến mẫu mã, hình thành một số điểm trình diễn tay nghề.
- Nghề sơn mài và sơn son thếp vàng: Củng cố và nâng cao tay nghề nhằm phục vụ việc trùng tu tôn tạo các công trình di tích văn hóa, lịch sử; nghiên cứu phát triển các sản phẩm sơn mài.
- Khôi phục và phát triển các nghề: sản xuất đá chẻ, rèn, sản xuất dầu tràm, rượu thủ công.
2.3. Phát triển nghề, làng nghề TTCN và du nhập nghề mới
Những ngành nghề có khả năng tìm được thị trường tiêu thụ dự kiến có thể đưa vào phát triển:
- Thêu truyền thống và hàng thêu trắng.
- Mây tre đan, nón lá, chổi đót.
- Mộc mỹ nghệ, mộc dân dụng, mộc cao cấp.
- Vật liệu xây dựng không nung.
- Gia công, sửa chữa cơ kim khí phục vụ nông lâm ngư nghiệp.
- Bảo quản, sơ chế nông, lâm, thủy sản.
- May áo dài, kim hoàn, sơn mài, chạm đá, khảm xương.
- May gia công (áo, quần xuất khẩu, dày dép da, vải).
IV. NHU CẦU VÀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ
- Nhu cầu vốn đầu tư hàng năm cho làng nghề: 100 tỷ đồng, trong đó:
+ Vốn nhà nước để đầu tư hạ tầng làng nghề, đào tạo nghề, tham quan học tập, thiết kế mẫu, cung cấp thông tin thị trường, mô hình trình diễn, xử lý môi trường,...: 30 tỷ đồng
+ Vốn của doanh nghiệp đầu tư cho phát triển sản xuất và các nguồn vốn khác: 70 tỷ đồng.
V. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Giải pháp về vốn
- Phát huy tối đa nội lực của nhân dân địa phương và các thành phần kinh tế. Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn như huy động từ người thân bạn bè, vay các tổ chức tín dụng, góp vốn thành lập Hợp tác xã, công ty… Phát triển mạnh các loại hình liên kết kinh tế giữa các cơ sở sản xuất trong làng nghề với các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp - TTCN.
- Tăng cường tìm kiếm, vận động các nguồn tài trợ và đầu tư từ các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức nước ngoài để khai thác thêm các nguồn vốn hỗ trợ đào tạo nghề, đào tạo khởi sự doanh nghiệp, nghiên cứu xúc tiến thị trường, xử lý môi trường ở các làng nghề...
Giải pháp về thị trường
- Nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy nhanh việc xây dựng thương hiệu sản phẩm làng nghề. Chú trọng thị trường đầu vào, bảo đảm nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất bằng nhiều phương thức thích hợp.
- Phát triển các mối liên kết giữa các cơ sở sản xuất trong làng nghề với các doanh nghiệp thương mại. Khuyến khích việc liên doanh, liên kết với các cơ sở trong các làng nghề thực hiện sản xuất hàng gia công xuất khẩu hoặc làm trung gian bao tiêu sản phẩm của làng nghề. Khuyến khích các cơ sở sản xuất mở các quầy hàng kinh doanh, giới thiệu sản phẩm ở các trung tâm thương mại, chợ, các khu du lịch. Quan tâm giới thiệu doanh nghiệp, sản phẩm doanh nghiệp trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh và Sở Công Thương, Kế hoạch và Đầu tư.