Document: Khoản 8 Điều 1 Thông tư 05-TT/TCĐ chế độ quản lý sử dụng quỹ phúc lợi tập thể cơ sở sản xuất kinh doanh Nhà nước

Type: {"issuing_agency": "Tổng Công đoàn Việt Nam", "promulgation_date": "19/02/1980", "sign_number": "05-TT/TCĐ", "signer": "Nguyễn Đức Thuận", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tổng Công đoàn Việt Nam", "promulgation_date": "19/02/1980", "sign_number": "05-TT/TCĐ", "signer": "Nguyễn Đức Thuận", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tổng Công đoàn Việt Nam", "promulgation_date": "19/02/1980", "sign_number": "05-TT/TCĐ", "signer": "Nguyễn Đức Thuận", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tổng Công đoàn Việt Nam", "promulgation_date": "19/02/1980", "sign_number": "05-TT/TCĐ", "signer": "Nguyễn Đức Thuận", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Tổng Công đoàn Việt Nam", "promulgation_date": "19/02/1980", "sign_number": "05-TT/TCĐ", "signer": "Nguyễn Đức Thuận", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Khoản 8 Điều 1 Thông tư 05-TT/TCĐ chế độ quản lý sử dụng quỹ phúc lợi tập thể cơ sở sản xuất kinh doanh Nhà nước

Điều 1. 3 bản quy định về quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của công nhân, viên chức ban hành kèm theo nghị định số 182 - CP ngày 26 tháng 4 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ quy định "ban chấp hành công đoàn cơ sở chịu trách nhiệm quản lý việc sử dụng quỹ phúc lợi tập thể của đơn vị cơ sở. Tổng công đoàn Việt Nam có trách nhiệm quy định cụ thể và hướng dẫn thi hành".
...
8. Góp phần xây dựng, sửa chữa, trang bị những công trình phúc lợi của liên hiệp xí nghiệp hoặc của địa phương mà những công trình phúc lợi đó có lợi cho xí nghiệp.
Việc góp vốn này thuộc quyền hội nghị công nhân, viên chức xí nghiệp quyết định tuỳ theo sự cần thiết và lợi ích của những công trình đó đối với xí nghiệp. Các cơ quan cấp trên không được bắt buộc xí nghiệp phải đóng góp hoặc tự ý quyết định mức cho xí nghiệp phải đóng góp.
IV. QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ VÀ THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ; CỦA CÁC CẤP, CÁC NGÀNH
Căn cứ nguyên tắc quản lý việc sử dụng quỹ phúc lợi, ban chấp hành công đoàn cơ sở và thủ trưởng đơn vị có trách nhiệm:
1. Ban chấp hành công đoàn cơ sở:
Ban chấp hành công đoàn cơ sở chịu trách nhiệm trước công nhân, viên chức, trước Nhà nước và công đoàn cấp trên về việc quản lý, sử dụng quỹ phúc lợi của cơ quan mình. Cụ thể là:
- Lập kế hoạch sử dụng và phát triển sự nghiệp phúc lợi trong xí nghiệp để đưa ra hội nghị công nhân, viên chức thảo luận và quyết định;
- Kiểm tra đôn đốc việc thực hiện kế hoạch sử dụng quỹ phúc lợi đúng chế độ, chính sách, đúng nghị quyết của hội nghị công nhân, viên chức;
- Báo cáo sơ kết, tổng kết việc sử dụng quỹ phúc lợi với hội nghị công nhân, viên chức xí nghiệp, với công đoàn cấp trên và kiến nghị với cấp trên gải quyết những vấn đề tồn tại mới phát sinh trong quá trình sử dụng quỹ phúc lợi;
- Thư ký công đoàn là người ký lệnh chi quỹ phúc lợi đúng chế độ, chính sách và kế hoạch. Trong trường hợp thư ký công đoàn cơ sở vắng thì phải uỷ quyền cho phó thư ký và chỉ người được uỷ quyền đó mới được ký lệnh chi quỹ phúc lợi.
2. Thủ trưởng đơn vị:
- Tổ chức thực hiện kế hoạch sử dụng quỹ phúc lợi đúng chế độ, chính sách, đúng nghị quyết hội nghị công nhân, viên chức;
- Thông báo cho ban chấp hành công doàn biết số tiền quỹ phúc lợi được trích lập hàng năm; bố trí cán bộ giúp ban chấp hành công đoàn cơ sở trong việc lập kế hoạch sử dụng quỹ phúc lợi;
- Thực hiện mọi công việc về hành chính quản lý quỹ phúc lợi;
- Kiểm tra và có quyền khước từ chỉ tiêu những khoản chi về quỹ phúc lợi không đúng chính sách, chế độ, không đúng kế hoạch sử dụng quỹ phúc lợi. Trừ trường hợp đột xuất kế hoạch phải điều chỉnh thì ban chấp hành công đoàn cơ sở phải bàn bạc với giám đốc và báo cáo với hội nghị công nhân, viên chức trong kỳ họp gần nhất.
3. Uỷ ban nhân dân và liên hiệp công đoàn tỉnh, thành phố:
a. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố có trách nhiệm chỉ đạo việc phát triển sự nghiệp phúc lợi tập thể (bao gồm ăn, ở, đi lại, giáo dục, y tế, giải trí...) ở các xí nghiệp kể cả xí nghiệp trung ương đóng ở địa phương. Chỉ đạo các cơ quan và các ngành ở địa phương cung cấp phương tiện, nguyên vật liệu cho các cơ sở trong việc mua sắm, xây dựng, sửa chữa, trang bị các công trình phúc lợi tập thể của xí nghiệp. Đôn đốc, kiểm tra và giúp đỡ các cơ sở trong địa phương thi hành đúng chế độ, chính sách quỹ phúc lợi.
b. Liên hiệp công đoàn tỉnh, thành phố có trách nhiệm tham gia với Uỷ ban nhân dân tỉnh trong việc chỉ đạo phát triển sự nghiệp phúc lợi tập thể, tạo điều kiện cho các cơ sở thực hiện tốt kế hoạch sử dụng quỹ phúc lợi tập thể.
Liên hiệp công đoàn tỉnh, thành phố có trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn, giải đáp về chính sách, chế độ, quản lý việc sử dụng quỹ phúc lợi cho tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh đóng tại địa phương, phối hợp với các cơ quan lao động, tài chính, ngân hàng tiến hành kiểm tra tình hình sử dụng quỹ phúc lợi ở các cơ sở.
Hàng năm các liên hiệp công đoàn tổng hợp tình hình sử dụng quỹ phúc lợi ở địa phương báo cáo về Tổng công đoàn vào ngày 10 đến 15 tháng 2 năm sau.
4. Các Bộ,Tổng cục và công đoàn ngành trung ương:
a. Các Bộ, Tổng cục có trách nhiệm thông báo rõ số tiền quỹ phúc lợi xí nghiệp được trích trong năm kế hoạch.
Bộ, Tổng cục giúp đỡ cơ sở về vật tư để xây dựng và quản lý, các công trình quỹ phúc lợi.
b. Công đoàn ngành trung ương có trách nhiệm đề xuất cho các cơ sở phương hướng sử dụng quỹ phúc lợi của mình; tham gia với bộ chủ quản trong việc xác định mức lợi nhuận được trích cho xí nghiệp; phối hợp với liên hiệp công đoàn đôn đốc, kiểm tra và giám sát việc xây dựng và thực hiện kế hoạch sử dụng quỹ phúc lợi.
V. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
1. Theo điều 28 của bản quy định kèm theo nghị định số 182 - CP thì nội dung các điều khoản trong bản quy định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 6 năm 1979.
Giám đốc các xí nghiệp, các đơn vị có quỹ phúc lợi cần sơ kết tình hình việc sử dụng quỹ phúc lợi của đơn vị những năm qua để tiến hành bàn giao ngay cho ban chấp hành công đoàn cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi cho công đoàn quản lý việc sử dụng quỹ này vào đầu năm 1980.
2. Quỹ phúc lợi sử dụng vào những việc không đúng quy định trong mục III thông tư này, giải quyết như sau:
- Cá nhân quyết định chi sai thì phải bồi thường, trừ vào lương hàng tháng và tuỳ theo mức độ sai phạm sẽ thi hành kỷ luật theo quy định hiện hành.
- Cấp nào quyết định chi sai, thì số tiền chi sai cấp ấy phải trả lại quỹ phúc lợi. Nếu khoản chi ấy thuộc nguồn kinh phí nào, thì nguồn kinh phí đó phải chuyển trả lại quỹ phúc lợi. Nếu chia cho cá nhân, thì từng cá nhân phải góp đủ số tiền đó trả lại quỹ phúc lợi.

Content:
Góp phần xây dựng, sửa chữa, trang bị những công trình phúc lợi của liên hiệp xí nghiệp hoặc của địa phương mà những công trình phúc lợi đó có lợi cho xí nghiệp.
Việc góp vốn này thuộc quyền hội nghị công nhân, viên chức xí nghiệp quyết định tuỳ theo sự cần thiết và lợi ích của những công trình đó đối với xí nghiệp. Các cơ quan cấp trên không được bắt buộc xí nghiệp phải đóng góp hoặc tự ý quyết định mức cho xí nghiệp phải đóng góp.
IV. QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ VÀ THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ; CỦA CÁC CẤP, CÁC NGÀNH
Căn cứ nguyên tắc quản lý việc sử dụng quỹ phúc lợi, ban chấp hành công đoàn cơ sở và thủ trưởng đơn vị có trách nhiệm:
1. Ban chấp hành công đoàn cơ sở:
Ban chấp hành công đoàn cơ sở chịu trách nhiệm trước công nhân, viên chức, trước Nhà nước và công đoàn cấp trên về việc quản lý, sử dụng quỹ phúc lợi của cơ quan mình. Cụ thể là:
- Lập kế hoạch sử dụng và phát triển sự nghiệp phúc lợi trong xí nghiệp để đưa ra hội nghị công nhân, viên chức thảo luận và quyết định;
- Kiểm tra đôn đốc việc thực hiện kế hoạch sử dụng quỹ phúc lợi đúng chế độ, chính sách, đúng nghị quyết của hội nghị công nhân, viên chức;
- Báo cáo sơ kết, tổng kết việc sử dụng quỹ phúc lợi với hội nghị công nhân, viên chức xí nghiệp, với công đoàn cấp trên và kiến nghị với cấp trên gải quyết những vấn đề tồn tại mới phát sinh trong quá trình sử dụng quỹ phúc lợi;
- Thư ký công đoàn là người ký lệnh chi quỹ phúc lợi đúng chế độ, chính sách và kế hoạch. Trong trường hợp thư ký công đoàn cơ sở vắng thì phải uỷ quyền cho phó thư ký và chỉ người được uỷ quyền đó mới được ký lệnh chi quỹ phúc lợi.
2. Thủ trưởng đơn vị:
- Tổ chức thực hiện kế hoạch sử dụng quỹ phúc lợi đúng chế độ, chính sách, đúng nghị quyết hội nghị công nhân, viên chức;
- Thông báo cho ban chấp hành công doàn biết số tiền quỹ phúc lợi được trích lập hàng năm; bố trí cán bộ giúp ban chấp hành công đoàn cơ sở trong việc lập kế hoạch sử dụng quỹ phúc lợi;
- Thực hiện mọi công việc về hành chính quản lý quỹ phúc lợi;
- Kiểm tra và có quyền khước từ chỉ tiêu những khoản chi về quỹ phúc lợi không đúng chính sách, chế độ, không đúng kế hoạch sử dụng quỹ phúc lợi. Trừ trường hợp đột xuất kế hoạch phải điều chỉnh thì ban chấp hành công đoàn cơ sở phải bàn bạc với giám đốc và báo cáo với hội nghị công nhân, viên chức trong kỳ họp gần nhất.
3. Uỷ ban nhân dân và liên hiệp công đoàn tỉnh, thành phố:
a. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố có trách nhiệm chỉ đạo việc phát triển sự nghiệp phúc lợi tập thể (bao gồm ăn, ở, đi lại, giáo dục, y tế, giải trí...) ở các xí nghiệp kể cả xí nghiệp trung ương đóng ở địa phương. Chỉ đạo các cơ quan và các ngành ở địa phương cung cấp phương tiện, nguyên vật liệu cho các cơ sở trong việc mua sắm, xây dựng, sửa chữa, trang bị các công trình phúc lợi tập thể của xí nghiệp. Đôn đốc, kiểm tra và giúp đỡ các cơ sở trong địa phương thi hành đúng chế độ, chính sách quỹ phúc lợi.
b. Liên hiệp công đoàn tỉnh, thành phố có trách nhiệm tham gia với Uỷ ban nhân dân tỉnh trong việc chỉ đạo phát triển sự nghiệp phúc lợi tập thể, tạo điều kiện cho các cơ sở thực hiện tốt kế hoạch sử dụng quỹ phúc lợi tập thể.
Liên hiệp công đoàn tỉnh, thành phố có trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn, giải đáp về chính sách, chế độ, quản lý việc sử dụng quỹ phúc lợi cho tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh đóng tại địa phương, phối hợp với các cơ quan lao động, tài chính, ngân hàng tiến hành kiểm tra tình hình sử dụng quỹ phúc lợi ở các cơ sở.
Hàng năm các liên hiệp công đoàn tổng hợp tình hình sử dụng quỹ phúc lợi ở địa phương báo cáo về Tổng công đoàn vào ngày 10 đến 15 tháng 2 năm sau.
4. Các Bộ,Tổng cục và công đoàn ngành trung ương:
a. Các Bộ, Tổng cục có trách nhiệm thông báo rõ số tiền quỹ phúc lợi xí nghiệp được trích trong năm kế hoạch.
Bộ, Tổng cục giúp đỡ cơ sở về vật tư để xây dựng và quản lý, các công trình quỹ phúc lợi.
b. Công đoàn ngành trung ương có trách nhiệm đề xuất cho các cơ sở phương hướng sử dụng quỹ phúc lợi của mình; tham gia với bộ chủ quản trong việc xác định mức lợi nhuận được trích cho xí nghiệp; phối hợp với liên hiệp công đoàn đôn đốc, kiểm tra và giám sát việc xây dựng và thực hiện kế hoạch sử dụng quỹ phúc lợi.
V. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
1. Theo điều 28 của bản quy định kèm theo nghị định số 182 - CP thì nội dung các điều khoản trong bản quy định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 6 năm 1979.
Giám đốc các xí nghiệp, các đơn vị có quỹ phúc lợi cần sơ kết tình hình việc sử dụng quỹ phúc lợi của đơn vị những năm qua để tiến hành bàn giao ngay cho ban chấp hành công đoàn cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi cho công đoàn quản lý việc sử dụng quỹ này vào đầu năm 1980.
2. Quỹ phúc lợi sử dụng vào những việc không đúng quy định trong mục III thông tư này, giải quyết như sau:
- Cá nhân quyết định chi sai thì phải bồi thường, trừ vào lương hàng tháng và tuỳ theo mức độ sai phạm sẽ thi hành kỷ luật theo quy định hiện hành.
- Cấp nào quyết định chi sai, thì số tiền chi sai cấp ấy phải trả lại quỹ phúc lợi. Nếu khoản chi ấy thuộc nguồn kinh phí nào, thì nguồn kinh phí đó phải chuyển trả lại quỹ phúc lợi. Nếu chia cho cá nhân, thì từng cá nhân phải góp đủ số tiền đó trả lại quỹ phúc lợi.