Document: Khoản 8 Điều 1 Quyết định 3511/QĐ-UBND 2009 phát triển kinh tế xã hội huyện Điện Bàn Quảng Nam 2015 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "16/10/2009", "sign_number": "3511/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "16/10/2009", "sign_number": "3511/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "16/10/2009", "sign_number": "3511/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "16/10/2009", "sign_number": "3511/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "16/10/2009", "sign_number": "3511/QĐ-UBND", "signer": "Lê Minh Ánh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 8 Điều 1 Quyết định 3511/QĐ-UBND 2009 phát triển kinh tế xã hội huyện Điện Bàn Quảng Nam 2015 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Điện Bàn, đến năm 2015 tầm nhìn đến năm 2020 với các nội dung chính như sau:
...
8. Định hướng phát triển các tiểu vùng lãnh thổ
8.1. Vùng thị trấn và khu vực lân cận (Vùng trung tâm). Gồm địa bàn thị trấn Vĩnh Điện, xã Điện An, Điện Minh, Điện Phương. Định hướng chủ yếu là tập trung phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch, các làng nghề truyền thống, công nghiệp- TTCN. Xây dựng thị trấn Vĩnh Điện thành trung tâm thương mại, dịch vụ. Khôi phục và mở rộng các làng nghề truyền thống như đúc đồng, nhôm Phước Kiều, gốm mỹ nghệ, dệt chiếu v.v... (Điện Phương). Từng bước qui hoạch xây dựng thị tứ Thanh Chiêm và các trung tâm kinh tế-kỹ thuật các xã Điện Minh, Điện An v.v... tạo các điểm nhấn cho quá trình đô thị hóa và mở rộng thị trấn Vĩnh Điện.
8.2. Vùng cát ven biển. Bao gồm địa bàn các xã Điện Nam Bắc, Điện Nam Trung, Điện nam Đông, Điện Ngọc, Điện Dương. Định hướng phát triển thành vùng trọng điểm về phát triển công nghiệp. Hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng các Khu cụm công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc, Cụm công nghiệp An Lưu, Thương Tín, Tân Khai, Nam Dương; xây dựng tuyến đường ven biển thông liên tuyến với Đà Nẵng-Hội An, tạo môi trường thuận lợi thu hút các dự án phát triển công nghiệp, du lịch. Xây dựng khu đô thị mới Điện Ngọc - Điện Nam thành đô thị tiện nghi, hiện đại và là trung tâm thương mại, dịch vụ phục vụ các nhà đầu tư và dân cư trong vùng. Hình thành vùng chuyên canh rau màu thực phẩm sạch phục vụ các khu cụm công nghiệp, khu đô thị, các vùng lân cận và hướng tới xuất khẩu.
8.3. Vùng gò đồi. Bao gồm địa bàn các xã Điện Tiến, Điện Hòa, Điện Thắng Bắc,Điện Thắng Trung, Điện Thắng Nam. Tập trung phát triển công nghiệp và du lịch. Hoàn chỉnh hạ tầng các Cụm công nghiệp Cẩm Sơn, Trảng Nhật 1-2, Trà Kiểm. Tập trung đầu tư khai thác Khu du lịch sinh thái Bồ Bồ. Hình thành vùng chuyên canh bông, thuốc lá, lạc, chăn nuôi bò. Qui hoạch xây dựng thị tứ Bồ Mưng, Viêm Tây và trung tâm kinh tế - kỹ thuật các xã Điện Tiến, Điện Hòa, Điện Thắng Trung, Điện Thắng Nam v.v... tạo các hạt nhân phát triển kinh tế vùng.
8.4. Vùng Gò Nổi. Bao gồm địa bàn các xã Điện Quang, Điện Trung, Điện Phong). Đây là vùng có tiềm năng đất đai màu mỡ, có khả năng thâm canh. Định hướng phát triển chuyên canh ngô màu, rau đậu ớt thực phẩm, dâu tằm, bông vải, lạc. Xây dựng Thị tứ Bảo An, cầu Tư Phú nối Điện Quang với Điện Hồng đến Giao Thuỷ (Đại Lộc). Hình thành thị tứ mới Phú Bông (Điện Phong), Nam Hà (Điện Trung).
8.5. Vùng Bắc sông Thu Bồn. Bao gồm địa bàn các xã Điện Hồng, Điện Thọ, Điện Phước. Xây dựng thành vùng trọng điểm lương thực của huyện, đầu tư vào thâm canh lúa, bông vải, chăn nuôi bò. Nâng cấp tuyến tỉnh lộ 609 và mạng lưới giao thông nông thôn. Qui hoạch nâng cấp và xây dựng thị tứ Phong Thử, Bình Long, Cẩm Lý thành các trung tâm kinh tế-kỹ thuật, thương mại dịch vụ của vùng.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Giải pháp về vốn đầu tư
Tổng nhu cầu vốn đầu tư (tính theo giá 2005) của cả giai đoạn 2006-2020 cần 45, 989 nghìn đồng, trong đó thời kỳ 2006-2010 cần 7,075 nghìn tỉ đồng, thời kỳ 2011-2015 cần 13,778 nghìn tỉ đồng, thời kỳ 2016-2020 cần 25,136 nghìn tỉ đồng với cơ cấu ngành thì trong cả giai đoạn 2006-2020, công nghiệp-xây dựng cần 35,2 nghìn tỉ đồng, chiếm 76,4%; khu vực dịch vụ cần 10,5 nghìn tỉ đồng, chiếm 22,8%; khu vực nông nghiệp cần 344 tỉ đồng, chiếm 0,8%.
a) Xây dựng và tạo môi trường đầu tư có sức hấp dẫn ngày càng cao. Đa dạng hóa các hoạt động quảng bá, kêu gọi xúc tiến đầu tư. Thực hiện tốt cơ chế, chính sách ưu đãi đã ban hành. Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách theo yêu cầu tình hình mới để tăng sức thu hút của cơ chế chính sách. Giải quyết mọi thủ tục đầu tư một cách thuận tiện, nhanh chóng và thân thiện. Đẩy mạnh công tác giải phóng mặt bằng, coi đây là nhiệm vụ trung tâm phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước đô thị hoá nông thôn. Tạo môi trường bình đẳng trong sản xuất kinh doanh, không phân biệt thành phần kinh tế. Tạo môi trường xã hội ổn định, đảm bảo an toàn về an ninh, trật tự xã hội.
b) Biện pháp huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư
- Đối với nguồn vốn nội lực, cần khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế trên địa bàn huyện thành lập các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất mới. Huy động cả các nguồn vốn tự có trong dân, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn để phát triển sản xuất, kinh doanh. Theo phương thức "Nhà nước và nhân dân cùng làm", vận động nhân dân đóng góp cùng nhà nước đầu tư nâng cấp, sửa chữa các tuyến đường giao thông nông thôn, xây dựng các công trình công cộng v.v...
- Đối với vốn ngân sách: Cần thực hành tiết kiệm, thực hiện thu chi ngân sách hợp lý. Quản lý chặt chẽ đầu tư xây dựng cơ bản, sử dụng có hiệu quả đồng vốn, tránh lãng phí, thất thoát vốn của nhà nước ở các công trình XDCB. Đồng thời quan tâm đầu tư cho phát triển để tạo nguồn thu cho ngân sách huyện. Các ngành tài chính, thuế và các xã, thị trấn cần tích cực tìm mọi biện pháp nhằm tạo nguồn thu và khai thác tốt các nguồn thu, chống thất thu làm tăng thu cho ngân sách, tạo nguồn đầu tư chủ động cho các địa phương.
- Đối với khu vực đầu tư tư nhân và dân cư: Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi trong việc dồn điền đổi thửa, làm các thủ tục hành chính nhanh gọn, đúng hạn cho các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế hộ gia đình, các doanh nghiệp tư nhân trong việc thành lập các doanh nghiệp, phát triển kinh tế trang trại trồng cây công nghiệp, thực phẩm, chăn nuôi bò, lợn, gia cầm; đầu tư vào các lĩnh vực thương mại, dịch vụ và chế biến nông sản.
- Đối với các nguồn vốn vay: Xây dựng các dự án đầu tư khả thi, phù hợp, gắn với các địa bàn cụ thể để thu hút các nguồn vốn vay tín dụng, vốn các chương trình dự án quốc gia, vốn ngân sách trung ương... Ưu tiên nguồn vốn vay cho các dự án chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, phát triển các ngành, sản phẩm mũi nhọn đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo nhiều sản phẩm hàng hóa, xuất khẩu như chăn nuôi bò, lợn siêu nạc; nuôi trồng thủy hải sản nước mặn, ngọt; trồng cây công nghiệp, phát triển các làng nghề, các dự án đổi mới công nghệ trong việc bảo quản và chế biến nông thủy sản, sản xuất vật liệu xây dựng. Đề xuất để các dự án này được vay bằng nguồn vốn dài hạn, vốn tín dụng từ quĩ hỗ trợ đầu tư quốc gia.
- Đối với các nguồn vốn bên ngoài: (các nguồn đầu tư từ các huyện khác trong tỉnh, tỉnh ngoài, từ Trung ương và nước ngoài). Trong điều kiện nguồn vốn nội lực trong huyện còn hạn hẹp, tích luỹ đầu tư thấp, cần hết sức tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ từ tỉnh, từ Trung ương thông qua các nguồn vốn ngân sách, vốn các chương trình, dự án quốc gia. Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư cho phù hợp với tình hình mới thu hút nhiều hơn các dự án đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp, khu du lịch v.v...
2. Đào tạo nguồn nhân lực
Yêu cầu cấp bách trước mắt cũng như chiến lược lâu dài là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đào tạo đội ngũ lao động khoa học kỹ thuật.
Biện pháp hàng đầu là xây dựng con người Điện Bàn trở thành động lực nội sinh mạnh mẽ hơn cho quá trình phát triển. Đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ từ huyện đến cơ sở. Tuyên truyền vận động, khơi dậy truyền thống, lòng tự hào cho toàn thể nhân dân Điện Bàn phát huy ý chí, nghị lực, hun đúc quyết tâm làm giàu ngay trên mảnh đất của mình và góp phần xây dựng quê hương.
- Chú trọng nâng cao trình độ về mọi mặt cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước. nhằm nâng cao và bổ sung những kiến thức mới về trình độ chuyên môn, kỹ thuật, về quản lý hành chính, quản lý nhà nước để có thể vươn lên đủ tầm nhìn xa trông rộng, đủ khả năng tổ chức quản lý, điều hành nền kinh tế, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế.
- Khuyến khích, tạo điều kiện cho chủ các doanh nghiệp nâng cao trình độ tổ chức quản lý sản xuất, năng lực quản trị kinh doanh, nắm bắt và làm chủ được công nghệ-kỹ thuật tiên tiến, điều hành hoạt động của các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao.
- Phối hợp chặt chẽ với các Trường cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, Trung tâm dạy nghề của tỉnh để mở các khoá đào tạo tại chỗ cho lao động trong huyện. Tăng cường đào tạo nhanh đội ngũ công nhân, cán bộ kỹ thuật đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động cho các khu cụm công nghiệp. Mở rộng và thành lập thêm các trường dạy nghề, giáo dục thường xuyên trong huyện nhằm tạo điều kiện cho mọi người dân có thể tham gia học tập nâng cao trình độ dân trí, tiếp thu khoa học kỹ thuật; đẩy mạnh công tác hướng nghiệp, đào tạo nghề cho tầng lớp thanh niên và người lao động .
- Quan tâm đào tạo cán bộ kỹ thuật cho các ngành nghề nông, lâm, ngư nghiệp, khu vực nông thôn. Đặc biệt chú ý đào tạo lực lượng lao động trẻ, bồi dưỡng kiến thức tổ chức, quản lý, trình độ kỹ thuật để họ trở thành những hạt nhân nắm bắt những phương thức làm ăn mới, tự thân lập nghiệp; khuyến khích gắn bó và vươn lên làm giàu ngay trên mảnh đất quê hương mình.
- Có chính sách ưu đãi, thu hút, sử dụng nhân tài, thu hút chất xám bên ngoài đóng góp trí tuệ, tham gia đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện. Đặc biệt là thu hút con em người Điện Bàn về công tác, làm việc tại quê hương, các doanh nhân là người Điện Bàn ở trong nước và ngoài nước về đầu tư sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện, góp phần xây dựng quê hương.
3. Tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ
Đây là giải pháp then chốt có thể tạo nên bước đột phá trong việc tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường.
- Đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi cho năng suất cao, trong kỹ thuật canh tác, bảo quản, chế biến nông thủy sản. Tăng cường trang thiết bị, cơ sở vật chất cho các trung tâm giống cây trồng, vật nuôi, trung tâm giống thuỷ sản. Củng cố và mở rộng mạng lưới khuyến nông, khuyến ngư đến tận các thôn, xã. Thực hiện có hiệu quả các chương trình khuyến nông, khuyến ngư cho khu vực nông thôn.Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, chuyển giao công nghệ đặc biệt là đưa các tiến bộ khoa học-kỹ thuật mới, những kỹ thuật, công nghệ sinh học tới các hộ nông dân để họ có thể tiếp nhận, thực nghiệm và áp dụng trực tiếp vào sản xuất kinh doanh và đời sống sinh hoạt hàng ngày.
- Trong công nghiệp, có chính sách khuyến khích các dự án sử dụng công nghệ cao, hiện đại, công nghệ vi sinh, không gây ô nhiễm môi trường vào các khu cụm công nghiệp. Tăng cường đổi mới công nghệ trong công nghiệp - TTCN nông thôn, trong bảo quản, chế biến nông lâm hải sản, sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, sản xuất vật liệu xây dựng v.v... Triệt để sử dụng những công nghệ truyền thống (bí quyết) kết hợp với kỹ thuật tiên tiến nhằm duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống một cách có hiệu quả, tiết kiệm vốn.
- Phát triển và mở rộng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, quản lý, trong các ngành văn hoá - xã hội (trường học, bệnh viện, thư viện...). Xây dựng các cơ sở thông tin dữ liệu kinh tế, làm cơ sở khoa học phục vụ cho công tác hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch, quản lý điều hành phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
- Chú trọng đến vấn đề xử lý rác thải, nước thải, tránh làm ô nhiễm nguồn nước, đất đai. Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường trong sạch, giữ vững cân bằng sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững.
4. Mở rộng thị trường
Mở rộng thị trường một cách toàn diện kể cả thị trường trong nước và và xuất khẩu. Đặc biệt chú trọng thị trường lân cận như Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ trong việc cung cấp các mặt hàng nông sản, thực phẩm, các loại hình dịch vụ v.v... Tận dụng lợi thế nằm trên tuyến quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc - Nam, gần cảng lớn Đà Nẵng, tăng cường giao lưu thương mại vươn tới những thị trường xa đến các tỉnh trong nước và nước ngoài.
- Cần quan tâm thị trường nội địa, thị trường nông thôn. Đáp ứng kịp thời nhu cầu vật tư, hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng, tăng sức mua của dân. Đồng thời tìm đầu ra ổn định cho tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm, thủy sản. Xây dựng các mô hình liên kết giữa các cơ sở sản xuất với cơ sở thu mua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo các hợp đồng kinh tế ổn định. Đồng thời cần tăng cường tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu, tìm đầu ra ổn định cho các sản phẩm hàng hoá cho nông dân, ngư dân và các làng nghề. Cần đặc biệt chú trọng tới chất lượng, mẫu mã hàng hóa, tạo được thế cạnh tranh đáp ứng nhu cầu thị trường .
- Đối với thị trường bên ngoài. Xác định những sản phẩm hàng hóa thế mạnh của huyện là nông sản, thực phẩm, rau màu, các sản phẩm chăn nuôi, thuỷ hải sản các loại, hàng dệt may, lụa tơ tằm, sản phẩm làng nghề truyền thống. Đầu tư nâng cao chất lượng, đổi mới mẫu mã, tạo được thế cạnh tranh đáp ứng và chiếm lĩnh thị trường một cách ổn định; tìm những bạn hàng, những đối tác trong vùng và trong nước để trao đổi hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm. Tăng cường công tác tiếp thị, triển lãm, quảng cáo các mặt hàng thế mạnh của huyện. Tiếp xúc, tìm hiểu những yêu cầu về chủng loại, về số lượng, chất lượng, giá cả các mặt hàng xuất khẩu để có kế hoạch phát triển phù hợp.
5. Phát triển các thành phần kinh tế
Tạo hành lang pháp lý, môi trường đầu tư thuận lợi, cơ chế thông thoáng mở đường cho phát triển đa dạng các loại hình kinh tế, huy động mọi nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, làm tăng GDP và tăng nguồn thu đóng góp cho ngân sách, tạo thêm việc làm và thu nhập, cải thiện đời sống dân cư. Để khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế, thu hút các nguồn vốn đầu tư, cần thực hiện một số nhiệm vụ:
- Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách theo yêu cầu tình hình mới để tăng sức thu hút của cơ chế chính sách. Tạo môi trường bình đẳng trong sản xuất kinh doanh, không phân biệt thành phần kinh tế. Giải quyết mọi thủ tục đầu tư một cách thuận tiện, nhanh chóng và thân thiện đối với mọi đối tác.
- Phát huy vai trò của chính quyền, cơ quan nhà nước giúp các đơn vị, thành phần kinh tế tổ chức liên doanh, liên kết, hợp tác cùng sản xuất kinh doanh trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi.
- Củng cố các hợp tác xã, có hướng chuyển đổi phương thức sản xuất kinh doanh, đảm bảo hiệu quả. Phát huy vai trò kinh tế hợp tác hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình phát triển.
- Khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, coi đây là là giải pháp động lực cho phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, giúp nông dân thoát nghèo, vươn lên làm giàu. Khôi phục, phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống...
- Tạo điều kiện cho các cá nhân và gia đình chủ động mở nghề, tự thân lập nghiệp có sự hỗ trợ và quản lý của các tổ chức và chính quyền địa phương.

Content:
Định hướng phát triển các tiểu vùng lãnh thổ
8.1. Vùng thị trấn và khu vực lân cận (Vùng trung tâm). Gồm địa bàn thị trấn Vĩnh Điện, xã Điện An, Điện Minh, Điện Phương. Định hướng chủ yếu là tập trung phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch, các làng nghề truyền thống, công nghiệp- TTCN. Xây dựng thị trấn Vĩnh Điện thành trung tâm thương mại, dịch vụ. Khôi phục và mở rộng các làng nghề truyền thống như đúc đồng, nhôm Phước Kiều, gốm mỹ nghệ, dệt chiếu v.v... (Điện Phương). Từng bước qui hoạch xây dựng thị tứ Thanh Chiêm và các trung tâm kinh tế-kỹ thuật các xã Điện Minh, Điện An v.v... tạo các điểm nhấn cho quá trình đô thị hóa và mở rộng thị trấn Vĩnh Điện.
8.2. Vùng cát ven biển. Bao gồm địa bàn các xã Điện Nam Bắc, Điện Nam Trung, Điện nam Đông, Điện Ngọc, Điện Dương. Định hướng phát triển thành vùng trọng điểm về phát triển công nghiệp. Hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng các Khu cụm công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc, Cụm công nghiệp An Lưu, Thương Tín, Tân Khai, Nam Dương; xây dựng tuyến đường ven biển thông liên tuyến với Đà Nẵng-Hội An, tạo môi trường thuận lợi thu hút các dự án phát triển công nghiệp, du lịch. Xây dựng khu đô thị mới Điện Ngọc - Điện Nam thành đô thị tiện nghi, hiện đại và là trung tâm thương mại, dịch vụ phục vụ các nhà đầu tư và dân cư trong vùng. Hình thành vùng chuyên canh rau màu thực phẩm sạch phục vụ các khu cụm công nghiệp, khu đô thị, các vùng lân cận và hướng tới xuất khẩu.
8.3. Vùng gò đồi. Bao gồm địa bàn các xã Điện Tiến, Điện Hòa, Điện Thắng Bắc,Điện Thắng Trung, Điện Thắng Nam. Tập trung phát triển công nghiệp và du lịch. Hoàn chỉnh hạ tầng các Cụm công nghiệp Cẩm Sơn, Trảng Nhật 1-2, Trà Kiểm. Tập trung đầu tư khai thác Khu du lịch sinh thái Bồ Bồ. Hình thành vùng chuyên canh bông, thuốc lá, lạc, chăn nuôi bò. Qui hoạch xây dựng thị tứ Bồ Mưng, Viêm Tây và trung tâm kinh tế - kỹ thuật các xã Điện Tiến, Điện Hòa, Điện Thắng Trung, Điện Thắng Nam v.v... tạo các hạt nhân phát triển kinh tế vùng.
8.4. Vùng Gò Nổi. Bao gồm địa bàn các xã Điện Quang, Điện Trung, Điện Phong). Đây là vùng có tiềm năng đất đai màu mỡ, có khả năng thâm canh. Định hướng phát triển chuyên canh ngô màu, rau đậu ớt thực phẩm, dâu tằm, bông vải, lạc. Xây dựng Thị tứ Bảo An, cầu Tư Phú nối Điện Quang với Điện Hồng đến Giao Thuỷ (Đại Lộc). Hình thành thị tứ mới Phú Bông (Điện Phong), Nam Hà (Điện Trung).
8.5. Vùng Bắc sông Thu Bồn. Bao gồm địa bàn các xã Điện Hồng, Điện Thọ, Điện Phước. Xây dựng thành vùng trọng điểm lương thực của huyện, đầu tư vào thâm canh lúa, bông vải, chăn nuôi bò. Nâng cấp tuyến tỉnh lộ 609 và mạng lưới giao thông nông thôn. Qui hoạch nâng cấp và xây dựng thị tứ Phong Thử, Bình Long, Cẩm Lý thành các trung tâm kinh tế-kỹ thuật, thương mại dịch vụ của vùng.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Giải pháp về vốn đầu tư
Tổng nhu cầu vốn đầu tư (tính theo giá 2005) của cả giai đoạn 2006-2020 cần 45, 989 nghìn đồng, trong đó thời kỳ 2006-2010 cần 7,075 nghìn tỉ đồng, thời kỳ 2011-2015 cần 13,778 nghìn tỉ đồng, thời kỳ 2016-2020 cần 25,136 nghìn tỉ đồng với cơ cấu ngành thì trong cả giai đoạn 2006-2020, công nghiệp-xây dựng cần 35,2 nghìn tỉ đồng, chiếm 76,4%; khu vực dịch vụ cần 10,5 nghìn tỉ đồng, chiếm 22,8%; khu vực nông nghiệp cần 344 tỉ đồng, chiếm 0,8%.
a) Xây dựng và tạo môi trường đầu tư có sức hấp dẫn ngày càng cao. Đa dạng hóa các hoạt động quảng bá, kêu gọi xúc tiến đầu tư. Thực hiện tốt cơ chế, chính sách ưu đãi đã ban hành. Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách theo yêu cầu tình hình mới để tăng sức thu hút của cơ chế chính sách. Giải quyết mọi thủ tục đầu tư một cách thuận tiện, nhanh chóng và thân thiện. Đẩy mạnh công tác giải phóng mặt bằng, coi đây là nhiệm vụ trung tâm phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước đô thị hoá nông thôn. Tạo môi trường bình đẳng trong sản xuất kinh doanh, không phân biệt thành phần kinh tế. Tạo môi trường xã hội ổn định, đảm bảo an toàn về an ninh, trật tự xã hội.
b) Biện pháp huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư
- Đối với nguồn vốn nội lực, cần khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế trên địa bàn huyện thành lập các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất mới. Huy động cả các nguồn vốn tự có trong dân, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn để phát triển sản xuất, kinh doanh. Theo phương thức "Nhà nước và nhân dân cùng làm", vận động nhân dân đóng góp cùng nhà nước đầu tư nâng cấp, sửa chữa các tuyến đường giao thông nông thôn, xây dựng các công trình công cộng v.v...
- Đối với vốn ngân sách: Cần thực hành tiết kiệm, thực hiện thu chi ngân sách hợp lý. Quản lý chặt chẽ đầu tư xây dựng cơ bản, sử dụng có hiệu quả đồng vốn, tránh lãng phí, thất thoát vốn của nhà nước ở các công trình XDCB. Đồng thời quan tâm đầu tư cho phát triển để tạo nguồn thu cho ngân sách huyện. Các ngành tài chính, thuế và các xã, thị trấn cần tích cực tìm mọi biện pháp nhằm tạo nguồn thu và khai thác tốt các nguồn thu, chống thất thu làm tăng thu cho ngân sách, tạo nguồn đầu tư chủ động cho các địa phương.
- Đối với khu vực đầu tư tư nhân và dân cư: Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi trong việc dồn điền đổi thửa, làm các thủ tục hành chính nhanh gọn, đúng hạn cho các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế hộ gia đình, các doanh nghiệp tư nhân trong việc thành lập các doanh nghiệp, phát triển kinh tế trang trại trồng cây công nghiệp, thực phẩm, chăn nuôi bò, lợn, gia cầm; đầu tư vào các lĩnh vực thương mại, dịch vụ và chế biến nông sản.
- Đối với các nguồn vốn vay: Xây dựng các dự án đầu tư khả thi, phù hợp, gắn với các địa bàn cụ thể để thu hút các nguồn vốn vay tín dụng, vốn các chương trình dự án quốc gia, vốn ngân sách trung ương... Ưu tiên nguồn vốn vay cho các dự án chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, phát triển các ngành, sản phẩm mũi nhọn đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo nhiều sản phẩm hàng hóa, xuất khẩu như chăn nuôi bò, lợn siêu nạc; nuôi trồng thủy hải sản nước mặn, ngọt; trồng cây công nghiệp, phát triển các làng nghề, các dự án đổi mới công nghệ trong việc bảo quản và chế biến nông thủy sản, sản xuất vật liệu xây dựng. Đề xuất để các dự án này được vay bằng nguồn vốn dài hạn, vốn tín dụng từ quĩ hỗ trợ đầu tư quốc gia.
- Đối với các nguồn vốn bên ngoài: (các nguồn đầu tư từ các huyện khác trong tỉnh, tỉnh ngoài, từ Trung ương và nước ngoài). Trong điều kiện nguồn vốn nội lực trong huyện còn hạn hẹp, tích luỹ đầu tư thấp, cần hết sức tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ từ tỉnh, từ Trung ương thông qua các nguồn vốn ngân sách, vốn các chương trình, dự án quốc gia. Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư cho phù hợp với tình hình mới thu hút nhiều hơn các dự án đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp, khu du lịch v.v...
2. Đào tạo nguồn nhân lực
Yêu cầu cấp bách trước mắt cũng như chiến lược lâu dài là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đào tạo đội ngũ lao động khoa học kỹ thuật.
Biện pháp hàng đầu là xây dựng con người Điện Bàn trở thành động lực nội sinh mạnh mẽ hơn cho quá trình phát triển. Đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ từ huyện đến cơ sở. Tuyên truyền vận động, khơi dậy truyền thống, lòng tự hào cho toàn thể nhân dân Điện Bàn phát huy ý chí, nghị lực, hun đúc quyết tâm làm giàu ngay trên mảnh đất của mình và góp phần xây dựng quê hương.
- Chú trọng nâng cao trình độ về mọi mặt cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước. nhằm nâng cao và bổ sung những kiến thức mới về trình độ chuyên môn, kỹ thuật, về quản lý hành chính, quản lý nhà nước để có thể vươn lên đủ tầm nhìn xa trông rộng, đủ khả năng tổ chức quản lý, điều hành nền kinh tế, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế.
- Khuyến khích, tạo điều kiện cho chủ các doanh nghiệp nâng cao trình độ tổ chức quản lý sản xuất, năng lực quản trị kinh doanh, nắm bắt và làm chủ được công nghệ-kỹ thuật tiên tiến, điều hành hoạt động của các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao.
- Phối hợp chặt chẽ với các Trường cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, Trung tâm dạy nghề của tỉnh để mở các khoá đào tạo tại chỗ cho lao động trong huyện. Tăng cường đào tạo nhanh đội ngũ công nhân, cán bộ kỹ thuật đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động cho các khu cụm công nghiệp. Mở rộng và thành lập thêm các trường dạy nghề, giáo dục thường xuyên trong huyện nhằm tạo điều kiện cho mọi người dân có thể tham gia học tập nâng cao trình độ dân trí, tiếp thu khoa học kỹ thuật; đẩy mạnh công tác hướng nghiệp, đào tạo nghề cho tầng lớp thanh niên và người lao động .
- Quan tâm đào tạo cán bộ kỹ thuật cho các ngành nghề nông, lâm, ngư nghiệp, khu vực nông thôn. Đặc biệt chú ý đào tạo lực lượng lao động trẻ, bồi dưỡng kiến thức tổ chức, quản lý, trình độ kỹ thuật để họ trở thành những hạt nhân nắm bắt những phương thức làm ăn mới, tự thân lập nghiệp; khuyến khích gắn bó và vươn lên làm giàu ngay trên mảnh đất quê hương mình.
- Có chính sách ưu đãi, thu hút, sử dụng nhân tài, thu hút chất xám bên ngoài đóng góp trí tuệ, tham gia đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện. Đặc biệt là thu hút con em người Điện Bàn về công tác, làm việc tại quê hương, các doanh nhân là người Điện Bàn ở trong nước và ngoài nước về đầu tư sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện, góp phần xây dựng quê hương.
3. Tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ
Đây là giải pháp then chốt có thể tạo nên bước đột phá trong việc tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường.
- Đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi cho năng suất cao, trong kỹ thuật canh tác, bảo quản, chế biến nông thủy sản. Tăng cường trang thiết bị, cơ sở vật chất cho các trung tâm giống cây trồng, vật nuôi, trung tâm giống thuỷ sản. Củng cố và mở rộng mạng lưới khuyến nông, khuyến ngư đến tận các thôn, xã. Thực hiện có hiệu quả các chương trình khuyến nông, khuyến ngư cho khu vực nông thôn.Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, chuyển giao công nghệ đặc biệt là đưa các tiến bộ khoa học-kỹ thuật mới, những kỹ thuật, công nghệ sinh học tới các hộ nông dân để họ có thể tiếp nhận, thực nghiệm và áp dụng trực tiếp vào sản xuất kinh doanh và đời sống sinh hoạt hàng ngày.
- Trong công nghiệp, có chính sách khuyến khích các dự án sử dụng công nghệ cao, hiện đại, công nghệ vi sinh, không gây ô nhiễm môi trường vào các khu cụm công nghiệp. Tăng cường đổi mới công nghệ trong công nghiệp - TTCN nông thôn, trong bảo quản, chế biến nông lâm hải sản, sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, sản xuất vật liệu xây dựng v.v... Triệt để sử dụng những công nghệ truyền thống (bí quyết) kết hợp với kỹ thuật tiên tiến nhằm duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống một cách có hiệu quả, tiết kiệm vốn.
- Phát triển và mở rộng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, quản lý, trong các ngành văn hoá - xã hội (trường học, bệnh viện, thư viện...). Xây dựng các cơ sở thông tin dữ liệu kinh tế, làm cơ sở khoa học phục vụ cho công tác hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch, quản lý điều hành phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
- Chú trọng đến vấn đề xử lý rác thải, nước thải, tránh làm ô nhiễm nguồn nước, đất đai. Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường trong sạch, giữ vững cân bằng sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững.
4. Mở rộng thị trường
Mở rộng thị trường một cách toàn diện kể cả thị trường trong nước và và xuất khẩu. Đặc biệt chú trọng thị trường lân cận như Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ trong việc cung cấp các mặt hàng nông sản, thực phẩm, các loại hình dịch vụ v.v... Tận dụng lợi thế nằm trên tuyến quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc - Nam, gần cảng lớn Đà Nẵng, tăng cường giao lưu thương mại vươn tới những thị trường xa đến các tỉnh trong nước và nước ngoài.
- Cần quan tâm thị trường nội địa, thị trường nông thôn. Đáp ứng kịp thời nhu cầu vật tư, hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng, tăng sức mua của dân. Đồng thời tìm đầu ra ổn định cho tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm, thủy sản. Xây dựng các mô hình liên kết giữa các cơ sở sản xuất với cơ sở thu mua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo các hợp đồng kinh tế ổn định. Đồng thời cần tăng cường tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu, tìm đầu ra ổn định cho các sản phẩm hàng hoá cho nông dân, ngư dân và các làng nghề. Cần đặc biệt chú trọng tới chất lượng, mẫu mã hàng hóa, tạo được thế cạnh tranh đáp ứng nhu cầu thị trường .
- Đối với thị trường bên ngoài. Xác định những sản phẩm hàng hóa thế mạnh của huyện là nông sản, thực phẩm, rau màu, các sản phẩm chăn nuôi, thuỷ hải sản các loại, hàng dệt may, lụa tơ tằm, sản phẩm làng nghề truyền thống. Đầu tư nâng cao chất lượng, đổi mới mẫu mã, tạo được thế cạnh tranh đáp ứng và chiếm lĩnh thị trường một cách ổn định; tìm những bạn hàng, những đối tác trong vùng và trong nước để trao đổi hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm. Tăng cường công tác tiếp thị, triển lãm, quảng cáo các mặt hàng thế mạnh của huyện. Tiếp xúc, tìm hiểu những yêu cầu về chủng loại, về số lượng, chất lượng, giá cả các mặt hàng xuất khẩu để có kế hoạch phát triển phù hợp.
5. Phát triển các thành phần kinh tế
Tạo hành lang pháp lý, môi trường đầu tư thuận lợi, cơ chế thông thoáng mở đường cho phát triển đa dạng các loại hình kinh tế, huy động mọi nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, làm tăng GDP và tăng nguồn thu đóng góp cho ngân sách, tạo thêm việc làm và thu nhập, cải thiện đời sống dân cư. Để khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế, thu hút các nguồn vốn đầu tư, cần thực hiện một số nhiệm vụ:
- Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách theo yêu cầu tình hình mới để tăng sức thu hút của cơ chế chính sách. Tạo môi trường bình đẳng trong sản xuất kinh doanh, không phân biệt thành phần kinh tế. Giải quyết mọi thủ tục đầu tư một cách thuận tiện, nhanh chóng và thân thiện đối với mọi đối tác.
- Phát huy vai trò của chính quyền, cơ quan nhà nước giúp các đơn vị, thành phần kinh tế tổ chức liên doanh, liên kết, hợp tác cùng sản xuất kinh doanh trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi.
- Củng cố các hợp tác xã, có hướng chuyển đổi phương thức sản xuất kinh doanh, đảm bảo hiệu quả. Phát huy vai trò kinh tế hợp tác hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình phát triển.
- Khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, coi đây là là giải pháp động lực cho phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, giúp nông dân thoát nghèo, vươn lên làm giàu. Khôi phục, phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống...
- Tạo điều kiện cho các cá nhân và gia đình chủ động mở nghề, tự thân lập nghiệp có sự hỗ trợ và quản lý của các tổ chức và chính quyền địa phương.