Document: Khoản 1 Điều 1 Quyết định 22/QĐ-BGTVT 2019 hệ thống thông tin dẫn đường giám sát Hàng không dân dụng

Type: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "08/01/2019", "sign_number": "22/QĐ-BGTVT", "signer": "Lê Đình Thọ", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "08/01/2019", "sign_number": "22/QĐ-BGTVT", "signer": "Lê Đình Thọ", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "08/01/2019", "sign_number": "22/QĐ-BGTVT", "signer": "Lê Đình Thọ", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "08/01/2019", "sign_number": "22/QĐ-BGTVT", "signer": "Lê Đình Thọ", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Giao thông vận tải", "promulgation_date": "08/01/2019", "sign_number": "22/QĐ-BGTVT", "signer": "Lê Đình Thọ", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 1 Quyết định 22/QĐ-BGTVT 2019 hệ thống thông tin dẫn đường giám sát Hàng không dân dụng

Điều 1. Phê duyệt điều chỉnh Kế hoạch tổng thể phát triển hệ thống thông tin, dẫn đường, giám sát và quản lý không lưu (CNS/ATM) Hàng không dân dụng Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, với những nội dung chính như sau:
1. Lĩnh vực thông tin, dẫn đường, giám sát
1.1. Thông tin
a) Liên lạc thoại không - địa sóng cực ngắn (VHF A/G)
- Đến năm 2020
+ Tiếp tục sử dụng liên lạc VHF thoại là phương tiện chính; đảm bảo dự phòng về trạm, chồng lấn tầm phủ sóng trong không gian.
+ Đầu tư mới các trạm VHF A/G tại Buôn Ma Thuột, Phú Quý, Côn Sơn, Đồng Hới, Tam Đảo đảm bảo dự phòng về trạm để cung cấp dịch vụ VHF đường dài trong các FIR của Việt Nam. Chuyển trạm VHF A/G hiện có tại Mộc Châu sang vị trí mới tại Pha Đin nhằm tối ưu hóa tầm phủ.
+ Đầu tư bổ sung các trạm VHF A/G đảm bảo dự phòng về trạm phục vụ kiểm soát tiếp cận tại sân bay có mật độ bay lớn như Nội Bài, Đà Nẵng, Cam Ranh, Tân Sơn Nhất.
- Đến năm 2030
+ Đầu tư mới các thiết bị VHF thoại phục vụ kiểm soát tại các sân bay mới (Long Thành, Sa Pa,..). Song song với sử dụng liên lạc thoại VHF, nghiên cứu từng bước sử dụng liên lạc dữ liệu không - địa (liên lạc dữ liệu VHF) theo lộ trình ICAO khu vực.
+ Đầu tư thay thế các hệ thống thiết bị VHF A/G hết niên hạn sử dụng, bổ sung thiết bị tăng cường dự phòng và độ tin cậy tại các cơ sở điều hành bay.
b) Liên lạc không địa sóng ngắn (HF A/G)
- Đến năm 2020: Tiếp tục sử dụng liên lạc thoại HF A/G là phương tiện liên lạc tại các khu vực không có tầm phủ VHF hoặc sử dụng trong điều kiện khẩn nguy.
- Đến năm 2030: Nghiên cứu sử dụng liên lạc dữ liệu là phương thức liên lạc chính và sẽ thay thế liên lạc thoại HF theo lộ trình của ICAO khu vực và khả năng công nghệ thực tế.
c) Liên lạc dữ liệu giữa người lái và kiểm soát viên không lưu (CPDLC)
- Đến năm 2020: Sử dụng CPDLC giao thức hệ thống không vận tương lai (FANS- 1/A) đối với các khu vực trên biển xa.
- Đến năm 2030
+ Song song với sử dụng liên lạc VHF thoại, nghiên cứu từng bước sử dụng CPDLC trên cơ sở mạng viễn thông hàng không (ATN) khi có môi trường ATN.
+ Từng bước đưa vào sử dụng CPDLC như phương tiện liên lạc chính giữa người lái và kiểm soát viên không lưu thay cho liên lạc thoại (VHF, HF) phù hợp với kế hoạch của ICAO khu vực.
d) Liên lạc dữ liệu giữa các cơ sở không lưu (AIDC)
- Đến năm 2020: Duy trì tuyến AIDC giữa Hồ Chí Minh - Singapore, Hồ Chí Minh - Manila và thiết lập các tuyến AIDC giữa Hà Nội - Hồ Chí Minh, Hà Nội - Viên Chăn, Hà Nội - Sanya, Hồ Chí Minh - Phnom-pênh, Hồ Chí Minh - Sanya.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên xem xét thiết lập các tuyến AIDC giữa Hà Nội - Quảng Châu, Hồ Chí Minh - Kuala Lumpur, Hà Nội - Côn Minh, Hà Nội - Nam Ninh.
+ Tiếp tục triển khai thực hiện ACDC theo kế hoạch của ICAO khu vực.
đ) Hệ thống xử lý điện văn dịch vụ không lưu (AMHS)
- Đến năm 2020: Từng bước sử dụng AMHS cơ bản (Basic) thay thế cho AFTN trên phạm vi toàn quốc.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên xem xét nâng cấp, sử dụng AMHS mở rộng (Extended) hoặc AMHS có chức năng gửi kèm file (AMHS FTBP).
+ Tiếp tục triển khai thực hiện AMHS theo kế hoạch của ICAO khu vực.
e) Trạm thông tin vệ tinh mặt đất (VSAT)
- Đến năm 2020: Đánh giá và thay thế thiết bị hết niên hạn tại các trạm VSAT như: Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Phú Bài, Chu Lai, Phù Cát, Pleiku, Cà Mau, Buôn Ma Thuột, Phú Quốc, Cam Ranh, Liên Khương, Côn Đảo, Cần Thơ, Tuy Hòa, Rạch Giá, Sơn Trà...) và đầu tư mới các trạm VSAT tại Tam Đảo, Pha Đin, Phú Quý, Thọ Xuân, Vân Đồn, Phnôm-pênh, Phan Thiết (theo quy hoạch), sẵn sàng chuyển sang sử dụng hệ thống VINASAT.
- Đến năm 2030: Tiếp tục đầu tư trạm VSAT tại các cảng hàng không mới. Từng bước chuyển sang sử dụng hệ thống VINASAT cho toàn bộ mạng VSAT.
g) Hệ thống thông báo tự động bằng dữ liệu (D-ATIS)
- Đến năm 2020: Xem xét đầu tư mới hệ thống D-ATIS thay thế hệ thống ATIS thoại tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Cam Ranh.
- Đến năm 2030: Xem xét đầu tư mới hệ thống D-ATIS tại các cảng hàng không quốc tế khác theo yêu cầu hoạt động bay.
h) Mạng viễn thông hàng không (ATN) mặt đất
Thiết lập ATN mặt đất đảm bảo mạng trục nội bộ có dự phòng và an toàn, an ninh mạng như sau:
- Đến năm 2020
+ Quy hoạch, thiết lập mạng thông tin mặt đất (G-G) trên cơ sở triển khai ATN.
+ Phối hợp với các quốc gia trong khu vực kết nối, triển khai thiết lập mạng dùng chung khu vực (CRV).
- Đến năm 2030: Chuyển đổi dần việc truyền dẫn dịch vụ thông tin mặt đất (G-G) sử dụng ATN thay thế mạng thông tin G-G hiện tại. Tổ chức thiết lập ATN toàn ngành Hàng không Việt Nam (nhà chức trách, quản lý bay, cảng hàng không, hãng hàng không).
1.2. Dẫn đường:
a) Đài dẫn đường đa hướng sóng cực ngắn/Đài đo cự ly bằng vô tuyến (VOR/DME)
- Đến năm 2020: Tiếp tục sử dụng hệ thống DVOR/DME làm phương tiện dẫn đường hàng không quốc tế chính. Thay thế các đài dẫn đường hết niên hạn sử dụng và đầu tư mới các đài dẫn đường DVOR/DME tại các cảng hàng không mới. Từng bước áp dụng công nghệ dẫn đường theo tính năng (PBN) theo lộ trình áp dụng PBN của ICAO khu vực.
- Đến năm 2030: Chuyển tiếp từ dẫn đường bằng đài dẫn đường DVOR/DME sang sử dụng PBN là chính, hệ thống DVOR/DME làm dự phòng.
b) Đài dẫn đường vô hướng (NDB)
Tiếp tục duy trì hoạt động cho đến hết tuổi thọ thiết bị và không thực hiện việc đầu tư lắp đặt mới.
c) Hệ thống tăng cường độ chính xác của tín hiệu vệ tinh dẫn đường đặt trên mặt đất (GBAS)
- Đến năm 2020: Tiếp tục duy trì dịch vụ tự động giám sát tính toàn vẹn (RAIM) đối với tín hiệu của hệ thống dẫn đường vệ tinh toàn cầu (GNSS). Nghiên cứu, thu thập dữ liệu tầng điện ly khu vực Việt Nam và mô hình hóa sai số định vị bằng vệ tinh dẫn đường toàn cầu (GNSS) do ảnh hưởng bởi tầng điện ly.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên nghiên cứu, sử dụng GBAS tại một số cảng hàng không quốc tế lớn có 2 đường cất hạ cánh trở lên và ưu tiên các cảng hàng không không lắp đặt được hệ thống hạ cánh bằng thiết bị (ILS).
+ Từng bước sử dụng GBAS tại các cảng hàng không quốc tế khác trong toàn quốc theo yêu cầu hoạt động bay.
d) Hệ thống hạ cánh chính xác bằng thiết bị (ILS) và hệ thống đèn tín hiệu
- Đến năm 2020: Tiếp tục đầu tư ILS và hệ thống đèn tín hiệu tại các cảng hàng không có mật độ bay cao, cần nâng cao năng lực tiếp thu tàu bay.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên đầu tư thay thế các hệ thống ILS và hệ thống đèn tín hiệu tại cảng hàng không đã hoạt động trên 15 năm; tiếp tục sử dụng ILS làm phương tiện tiếp cận hạ cánh chính xác chủ yếu.
+ Nghiên cứu, đầu tư hệ thống tiếp cận hạ cánh theo công nghệ mới tại các cảng hàng không theo kế hoạch của ICAO nhất là các cảng hàng không có điều kiện địa hình phức tạp, hạn chế về mặt bằng, việc triển khai ILS không khả thi.
1.3. Giám sát
a) Ra đa giám sát thứ cấp (MSSR)
- Đến năm 2020: Hoàn thành đầu tư mới trạm SSR MODE S tại Cà Mau, Cam Ranh, Quy Nhơn, Vinh, Nội Bài. Đảm bảo có ít nhất hai nguồn giám sát SSR tại khu vực Nội Bài, Đà Nẵng và Tân Sơn Nhất. Chuẩn bị đầu tư mới trạm SSR MODE S trong cụm VHF/ra đa/ADS-B Phú Quý.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên đầu tư mới hệ thống SSR MODE S tại Long Thành, Phú Quý, Buôn Ma Thuột. Thay thế các hệ thống SSR hết niên hạn sử dụng tại Nội Bài, Sơn Trà bằng các SSR. MODE S đảm bảo có ít nhất hai nguồn giám sát SSR tại khu vực Nội Bài và Đà Nẵng để dự phòng tầm phủ về trạm. Xem xét, đầu tư mới hệ thống SSR MODE S tại Côn Đảo.
+ Xem xét đầu tư mới hệ thống SSR MODE S phục vụ điều hành bay cụm sân bay Cát Bi-Vân Đồn.
b) Giám sát tự động phụ thuộc dạng quảng bá (ADS-B)
- Đến năm 2020: Hoàn thành đầu tư và sử dụng các trạm ADS-B khu vực miền Trung và miền Nam phục vụ điều hành bay trong FIR Hồ Chí Minh (Phú Quốc, Phú Quý, Cà Mau, Tân Sơn Nhất, Liên Khương, Buôn Ma Thuột, Tuy Hòa, Pleiku, Phù Cát, Chu Lai, Phú Bài). Chuyển trạm ADS-B hiện có tại Mộc Châu và Vinh sang vị trí mới tại Pha Đin và Tam Đảo nhằm tối ưu hóa tầm phủ. Đầu tư mới trạm ADS-B tại cảng hàng không Phan Thiết (theo quy hoạch).
- Đến năm 2030
+ Đầu tư mới trạm ADS-B Côn Đảo giám sát khu vực sân bay Côn Đảo và các trạm ADS-B tại các cảng hàng không mới (Long Thành, Sa Pa, Nà Sản..) và hoàn thành phủ sóng ADS-B trên toàn quốc đảm bảo giám sát hoạt động bay tại các cảng hàng không trên toàn quốc.
+ Nghiên cứu, sử dụng ADS-B áp dụng công nghệ không gian mới để tăng cường năng lực giám sát các khu vực trên biển.
+ Đầu tư thay thế các thiết bị ADS-B hết niên hạn sử dụng.
c) Giám sát tự động phụ thuộc - dạng hợp đồng (ADS-C)
Tiếp tục duy trì sử dụng ADS - C (dựa trên giao thức FANS-1/A) và nâng cấp lên hệ thống áp dụng công nghệ ATN trong trường hợp có môi trường ATN.
d) Ra đa giám sát sơ cấp (PSR)
- Đến năm 2020: Hoàn thành đầu tư mới và sử dụng trạm PSR tại Nội Bài và Cam Ranh.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên đầu tư mới trạm PSR tại Long Thành. Thay thế các trạm PSR hết niên hạn sử dụng tại Sơn Trà và Nội Bài đảm bảo có ít nhất hai nguồn giám sát PSR khu vực Nội Bài và Đà Nẵng để dự phòng tầm phủ về trạm.
+ Xem xét đầu tư mới trạm PSR phục vụ điều hành bay cụm sân bay Cát Bi - Vân Đồn và tại các cảng hàng không quốc tế khác căn cứ theo tính chất và lưu lượng bay.
đ) Ra đa giám sát mặt đất (SMR)
- Đến năm 2020: Tiếp tục duy trì hệ thống SMR tại các Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất. Đầu tư mới hệ thống SMR tại các cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng và Cam Ranh.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên nghiên cứu, đầu tư mới các trạm SMR tại các cảng hàng không quốc tế có mật độ bay cao.
+ Nghiên cứu, đầu tư mới các trạm SMR tại các cảng hàng không khác theo yêu cầu hoạt động bay.
e) Hệ thống giám sát đa điểm (MLAT, WAM)
- Đến năm 2020: Nghiên cứu sử dụng hệ thống MLAT, WAM tại cảng hàng không quốc tế Phú Quốc.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên Xem xét đầu tư hệ thống MLAT, WAM tại các cảng hàng không quốc tế có mật độ bay cao.
+ Nghiên cứu, đầu tư hệ thống MLAT, WAM tại các cảng hàng không khác theo yêu cầu hoạt động bay.
g) Hệ thống phát hiện vật thể lạ (FOD)
- Đến năm 2020: Nghiên cứu, thử nghiệm hệ thống FOD tại các Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên từng bước đầu tư hệ thống FOD tại các cảng hàng không quốc tế khác có mật độ hoạt động cao.
+ Đầu tư hệ thống FOD tại các cảng hàng không quốc tế khác theo yêu cầu hoạt động bay.
h) Hệ thống kiểm soát và hướng dẫn di chuyển trên sân bay (A-SMGCS)
- Đến năm 2020: Tiếp tục duy trì hệ thống A-SMGCS tại các cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất. Đầu tư mới hệ thống A-SMGCS tại cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng và Cam Ranh.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên nghiên cứu, nâng cấp hệ thống A-SMGCS tại các cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, Cam Ranh, Đà Nẵng và Nội Bài theo lộ trình của Chương trình ASBU. Đầu tư mới hệ thống A-SMGCS tại cảng hàng không quốc tế Long Thành (cấp độ 3, 4).
+ Nghiên cứu, đầu tư hệ thống A-SMGCS tại các cảng hàng không quốc tế khác theo nhu cầu phát triển.
i) Bay kiểm tra, hiệu chuẩn hệ thống thiết bị CNS và bay đánh giá phương thức bay
- Đến 2020: Xem xét đầu tư mới tàu bay và thiết bị bay kiểm tra, hiệu chuẩn hệ thống thiết bị CNS, bay đánh giá phương thức bay truyền thống và PBN cho toàn ngành hàng không.
- Đến năm 2030: Tiếp tục đầu tư, nâng cấp tàu bay, thiết bị, hạ tầng kỹ thuật và nhân lực đảm bảo đầy đủ khả năng bay kiểm tra, hiệu chuẩn, đánh giá phương thức bay tại Việt Nam và cung cấp dịch vụ bay kiểm tra, hiệu chuẩn thiết bị CNS và đánh giá phương thức bay cho các nước trong khu vực.
k) Các hệ thống thiết bị ATM
Đầu tư mới, nâng cấp và thay thế các hệ thống thiết bị ATM đảm bảo 03 cấp dự phòng (dự phòng tại chỗ; dự phòng cơ sở điều hành bay theo hướng sử dụng các cơ sở có vị trí địa lý lân cận thuận tiện cho công tác ứng phó; dự phòng theo phương án ứng phó không lưu), có tính năng phù hợp với yêu cầu khai thác không lưu, cho phép quản lý, phân tích dữ liệu phục vụ công tác quản lý an toàn, báo cáo thống kê theo yêu cầu của Cục Hàng không Việt Nam và ICAO.
- Đến năm 2030
+ Hoàn thành đầu tư mới và thay thế hệ thống thiết bị ATM tại Trung tâm kiểm soát không lưu Hồ Chí Minh, Trung tâm kiểm soát tiếp cận và tại sân bay Đà Nẵng. Triển khai đầu cuối hệ thống thiết bị ATM tại các đài kiểm soát không lưu trên toàn quốc. Đầu tư hệ thống xử lý dữ liệu giám sát (RDP) cho đài kiểm soát không lưu mật độ bay cao để điều hành phân cách bằng phương thức giám sát ATS.
+ Nghiên cứu, đầu tư hệ thống thiết bị ATM tại cơ sở kiểm soát tiếp cận khác theo yêu cầu công tác điều hành bay.
- Đến năm 2030: Thay thế các hệ thống thiết bị ATM hết niên hạn sử dụng.

Content:
Lĩnh vực thông tin, dẫn đường, giám sát
1.Thông tin
a) Liên lạc thoại không - địa sóng cực ngắn (VHF A/G)
- Đến năm 2020
+ Tiếp tục sử dụng liên lạc VHF thoại là phương tiện chính; đảm bảo dự phòng về trạm, chồng lấn tầm phủ sóng trong không gian.
+ Đầu tư mới các trạm VHF A/G tại Buôn Ma Thuột, Phú Quý, Côn Sơn, Đồng Hới, Tam Đảo đảm bảo dự phòng về trạm để cung cấp dịch vụ VHF đường dài trong các FIR của Việt Nam. Chuyển trạm VHF A/G hiện có tại Mộc Châu sang vị trí mới tại Pha Đin nhằm tối ưu hóa tầm phủ.
+ Đầu tư bổ sung các trạm VHF A/G đảm bảo dự phòng về trạm phục vụ kiểm soát tiếp cận tại sân bay có mật độ bay lớn như Nội Bài, Đà Nẵng, Cam Ranh, Tân Sơn Nhất.
- Đến năm 2030
+ Đầu tư mới các thiết bị VHF thoại phục vụ kiểm soát tại các sân bay mới (Long Thành, Sa Pa,..). Song song với sử dụng liên lạc thoại VHF, nghiên cứu từng bước sử dụng liên lạc dữ liệu không - địa (liên lạc dữ liệu VHF) theo lộ trình ICAO khu vực.
+ Đầu tư thay thế các hệ thống thiết bị VHF A/G hết niên hạn sử dụng, bổ sung thiết bị tăng cường dự phòng và độ tin cậy tại các cơ sở điều hành bay.
b) Liên lạc không địa sóng ngắn (HF A/G)
- Đến năm 2020: Tiếp tục sử dụng liên lạc thoại HF A/G là phương tiện liên lạc tại các khu vực không có tầm phủ VHF hoặc sử dụng trong điều kiện khẩn nguy.
- Đến năm 2030: Nghiên cứu sử dụng liên lạc dữ liệu là phương thức liên lạc chính và sẽ thay thế liên lạc thoại HF theo lộ trình của ICAO khu vực và khả năng công nghệ thực tế.
c) Liên lạc dữ liệu giữa người lái và kiểm soát viên không lưu (CPDLC)
- Đến năm 2020: Sử dụng CPDLC giao thức hệ thống không vận tương lai (FANS- 1/A) đối với các khu vực trên biển xa.
- Đến năm 2030
+ Song song với sử dụng liên lạc VHF thoại, nghiên cứu từng bước sử dụng CPDLC trên cơ sở mạng viễn thông hàng không (ATN) khi có môi trường ATN.
+ Từng bước đưa vào sử dụng CPDLC như phương tiện liên lạc chính giữa người lái và kiểm soát viên không lưu thay cho liên lạc thoại (VHF, HF) phù hợp với kế hoạch của ICAO khu vực.
d) Liên lạc dữ liệu giữa các cơ sở không lưu (AIDC)
- Đến năm 2020: Duy trì tuyến AIDC giữa Hồ Chí Minh - Singapore, Hồ Chí Minh - Manila và thiết lập các tuyến AIDC giữa Hà Nội - Hồ Chí Minh, Hà Nội - Viên Chăn, Hà Nội - Sanya, Hồ Chí Minh - Phnom-pênh, Hồ Chí Minh - Sanya.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên xem xét thiết lập các tuyến AIDC giữa Hà Nội - Quảng Châu, Hồ Chí Minh - Kuala Lumpur, Hà Nội - Côn Minh, Hà Nội - Nam Ninh.
+ Tiếp tục triển khai thực hiện ACDC theo kế hoạch của ICAO khu vực.
đ) Hệ thống xử lý điện văn dịch vụ không lưu (AMHS)
- Đến năm 2020: Từng bước sử dụng AMHS cơ bản (Basic) thay thế cho AFTN trên phạm vi toàn quốc.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên xem xét nâng cấp, sử dụng AMHS mở rộng (Extended) hoặc AMHS có chức năng gửi kèm file (AMHS FTBP).
+ Tiếp tục triển khai thực hiện AMHS theo kế hoạch của ICAO khu vực.
e) Trạm thông tin vệ tinh mặt đất (VSAT)
- Đến năm 2020: Đánh giá và thay thế thiết bị hết niên hạn tại các trạm VSAT như: Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Phú Bài, Chu Lai, Phù Cát, Pleiku, Cà Mau, Buôn Ma Thuột, Phú Quốc, Cam Ranh, Liên Khương, Côn Đảo, Cần Thơ, Tuy Hòa, Rạch Giá, Sơn Trà...) và đầu tư mới các trạm VSAT tại Tam Đảo, Pha Đin, Phú Quý, Thọ Xuân, Vân Đồn, Phnôm-pênh, Phan Thiết (theo quy hoạch), sẵn sàng chuyển sang sử dụng hệ thống VINASAT.
- Đến năm 2030: Tiếp tục đầu tư trạm VSAT tại các cảng hàng không mới. Từng bước chuyển sang sử dụng hệ thống VINASAT cho toàn bộ mạng VSAT.
g) Hệ thống thông báo tự động bằng dữ liệu (D-ATIS)
- Đến năm 2020: Xem xét đầu tư mới hệ thống D-ATIS thay thế hệ thống ATIS thoại tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Cam Ranh.
- Đến năm 2030: Xem xét đầu tư mới hệ thống D-ATIS tại các cảng hàng không quốc tế khác theo yêu cầu hoạt động bay.
h) Mạng viễn thông hàng không (ATN) mặt đất
Thiết lập ATN mặt đất đảm bảo mạng trục nội bộ có dự phòng và an toàn, an ninh mạng như sau:
- Đến năm 2020
+ Quy hoạch, thiết lập mạng thông tin mặt đất (G-G) trên cơ sở triển khai ATN.
+ Phối hợp với các quốc gia trong khu vực kết nối, triển khai thiết lập mạng dùng chung khu vực (CRV).
- Đến năm 2030: Chuyển đổi dần việc truyền dẫn dịch vụ thông tin mặt đất (G-G) sử dụng ATN thay thế mạng thông tin G-G hiện tại. Tổ chức thiết lập ATN toàn ngành Hàng không Việt Nam (nhà chức trách, quản lý bay, cảng hàng không, hãng hàng không).
1.2. Dẫn đường:
a) Đài dẫn đường đa hướng sóng cực ngắn/Đài đo cự ly bằng vô tuyến (VOR/DME)
- Đến năm 2020: Tiếp tục sử dụng hệ thống DVOR/DME làm phương tiện dẫn đường hàng không quốc tế chính. Thay thế các đài dẫn đường hết niên hạn sử dụng và đầu tư mới các đài dẫn đường DVOR/DME tại các cảng hàng không mới. Từng bước áp dụng công nghệ dẫn đường theo tính năng (PBN) theo lộ trình áp dụng PBN của ICAO khu vực.
- Đến năm 2030: Chuyển tiếp từ dẫn đường bằng đài dẫn đường DVOR/DME sang sử dụng PBN là chính, hệ thống DVOR/DME làm dự phòng.
b) Đài dẫn đường vô hướng (NDB)
Tiếp tục duy trì hoạt động cho đến hết tuổi thọ thiết bị và không thực hiện việc đầu tư lắp đặt mới.
c) Hệ thống tăng cường độ chính xác của tín hiệu vệ tinh dẫn đường đặt trên mặt đất (GBAS)
- Đến năm 2020: Tiếp tục duy trì dịch vụ tự động giám sát tính toàn vẹn (RAIM) đối với tín hiệu của hệ thống dẫn đường vệ tinh toàn cầu (GNSS). Nghiên cứu, thu thập dữ liệu tầng điện ly khu vực Việt Nam và mô hình hóa sai số định vị bằng vệ tinh dẫn đường toàn cầu (GNSS) do ảnh hưởng bởi tầng điện ly.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên nghiên cứu, sử dụng GBAS tại một số cảng hàng không quốc tế lớn có 2 đường cất hạ cánh trở lên và ưu tiên các cảng hàng không không lắp đặt được hệ thống hạ cánh bằng thiết bị (ILS).
+ Từng bước sử dụng GBAS tại các cảng hàng không quốc tế khác trong toàn quốc theo yêu cầu hoạt động bay.
d) Hệ thống hạ cánh chính xác bằng thiết bị (ILS) và hệ thống đèn tín hiệu
- Đến năm 2020: Tiếp tục đầu tư ILS và hệ thống đèn tín hiệu tại các cảng hàng không có mật độ bay cao, cần nâng cao năng lực tiếp thu tàu bay.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên đầu tư thay thế các hệ thống ILS và hệ thống đèn tín hiệu tại cảng hàng không đã hoạt động trên 15 năm; tiếp tục sử dụng ILS làm phương tiện tiếp cận hạ cánh chính xác chủ yếu.
+ Nghiên cứu, đầu tư hệ thống tiếp cận hạ cánh theo công nghệ mới tại các cảng hàng không theo kế hoạch của ICAO nhất là các cảng hàng không có điều kiện địa hình phức tạp, hạn chế về mặt bằng, việc triển khai ILS không khả thi.
1.3. Giám sát
a) Ra đa giám sát thứ cấp (MSSR)
- Đến năm 2020: Hoàn thành đầu tư mới trạm SSR MODE S tại Cà Mau, Cam Ranh, Quy Nhơn, Vinh, Nội Bài. Đảm bảo có ít nhất hai nguồn giám sát SSR tại khu vực Nội Bài, Đà Nẵng và Tân Sơn Nhất. Chuẩn bị đầu tư mới trạm SSR MODE S trong cụm VHF/ra đa/ADS-B Phú Quý.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên đầu tư mới hệ thống SSR MODE S tại Long Thành, Phú Quý, Buôn Ma Thuột. Thay thế các hệ thống SSR hết niên hạn sử dụng tại Nội Bài, Sơn Trà bằng các SSR. MODE S đảm bảo có ít nhất hai nguồn giám sát SSR tại khu vực Nội Bài và Đà Nẵng để dự phòng tầm phủ về trạm. Xem xét, đầu tư mới hệ thống SSR MODE S tại Côn Đảo.
+ Xem xét đầu tư mới hệ thống SSR MODE S phục vụ điều hành bay cụm sân bay Cát Bi-Vân Đồn.
b) Giám sát tự động phụ thuộc dạng quảng bá (ADS-B)
- Đến năm 2020: Hoàn thành đầu tư và sử dụng các trạm ADS-B khu vực miền Trung và miền Nam phục vụ điều hành bay trong FIR Hồ Chí Minh (Phú Quốc, Phú Quý, Cà Mau, Tân Sơn Nhất, Liên Khương, Buôn Ma Thuột, Tuy Hòa, Pleiku, Phù Cát, Chu Lai, Phú Bài). Chuyển trạm ADS-B hiện có tại Mộc Châu và Vinh sang vị trí mới tại Pha Đin và Tam Đảo nhằm tối ưu hóa tầm phủ. Đầu tư mới trạm ADS-B tại cảng hàng không Phan Thiết (theo quy hoạch).
- Đến năm 2030
+ Đầu tư mới trạm ADS-B Côn Đảo giám sát khu vực sân bay Côn Đảo và các trạm ADS-B tại các cảng hàng không mới (Long Thành, Sa Pa, Nà Sản..) và hoàn thành phủ sóng ADS-B trên toàn quốc đảm bảo giám sát hoạt động bay tại các cảng hàng không trên toàn quốc.
+ Nghiên cứu, sử dụng ADS-B áp dụng công nghệ không gian mới để tăng cường năng lực giám sát các khu vực trên biển.
+ Đầu tư thay thế các thiết bị ADS-B hết niên hạn sử dụng.
c) Giám sát tự động phụ thuộc - dạng hợp đồng (ADS-C)
Tiếp tục duy trì sử dụng ADS - C (dựa trên giao thức FANS-1/A) và nâng cấp lên hệ thống áp dụng công nghệ ATN trong trường hợp có môi trường ATN.
d) Ra đa giám sát sơ cấp (PSR)
- Đến năm 2020: Hoàn thành đầu tư mới và sử dụng trạm PSR tại Nội Bài và Cam Ranh.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên đầu tư mới trạm PSR tại Long Thành. Thay thế các trạm PSR hết niên hạn sử dụng tại Sơn Trà và Nội Bài đảm bảo có ít nhất hai nguồn giám sát PSR khu vực Nội Bài và Đà Nẵng để dự phòng tầm phủ về trạm.
+ Xem xét đầu tư mới trạm PSR phục vụ điều hành bay cụm sân bay Cát Bi - Vân Đồn và tại các cảng hàng không quốc tế khác căn cứ theo tính chất và lưu lượng bay.
đ) Ra đa giám sát mặt đất (SMR)
- Đến năm 2020: Tiếp tục duy trì hệ thống SMR tại các Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất. Đầu tư mới hệ thống SMR tại các cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng và Cam Ranh.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên nghiên cứu, đầu tư mới các trạm SMR tại các cảng hàng không quốc tế có mật độ bay cao.
+ Nghiên cứu, đầu tư mới các trạm SMR tại các cảng hàng không khác theo yêu cầu hoạt động bay.
e) Hệ thống giám sát đa điểm (MLAT, WAM)
- Đến năm 2020: Nghiên cứu sử dụng hệ thống MLAT, WAM tại cảng hàng không quốc tế Phú Quốc.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên Xem xét đầu tư hệ thống MLAT, WAM tại các cảng hàng không quốc tế có mật độ bay cao.
+ Nghiên cứu, đầu tư hệ thống MLAT, WAM tại các cảng hàng không khác theo yêu cầu hoạt động bay.
g) Hệ thống phát hiện vật thể lạ (FOD)
- Đến năm 2020: Nghiên cứu, thử nghiệm hệ thống FOD tại các Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên từng bước đầu tư hệ thống FOD tại các cảng hàng không quốc tế khác có mật độ hoạt động cao.
+ Đầu tư hệ thống FOD tại các cảng hàng không quốc tế khác theo yêu cầu hoạt động bay.
h) Hệ thống kiểm soát và hướng dẫn di chuyển trên sân bay (A-SMGCS)
- Đến năm 2020: Tiếp tục duy trì hệ thống A-SMGCS tại các cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất. Đầu tư mới hệ thống A-SMGCS tại cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng và Cam Ranh.
- Đến năm 2030
+ Ưu tiên nghiên cứu, nâng cấp hệ thống A-SMGCS tại các cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, Cam Ranh, Đà Nẵng và Nội Bài theo lộ trình của Chương trình ASBU. Đầu tư mới hệ thống A-SMGCS tại cảng hàng không quốc tế Long Thành (cấp độ 3, 4).
+ Nghiên cứu, đầu tư hệ thống A-SMGCS tại các cảng hàng không quốc tế khác theo nhu cầu phát triển.
i) Bay kiểm tra, hiệu chuẩn hệ thống thiết bị CNS và bay đánh giá phương thức bay
- Đến 2020: Xem xét đầu tư mới tàu bay và thiết bị bay kiểm tra, hiệu chuẩn hệ thống thiết bị CNS, bay đánh giá phương thức bay truyền thống và PBN cho toàn ngành hàng không.
- Đến năm 2030: Tiếp tục đầu tư, nâng cấp tàu bay, thiết bị, hạ tầng kỹ thuật và nhân lực đảm bảo đầy đủ khả năng bay kiểm tra, hiệu chuẩn, đánh giá phương thức bay tại Việt Nam và cung cấp dịch vụ bay kiểm tra, hiệu chuẩn thiết bị CNS và đánh giá phương thức bay cho các nước trong khu vực.
k) Các hệ thống thiết bị ATM
Đầu tư mới, nâng cấp và thay thế các hệ thống thiết bị ATM đảm bảo 03 cấp dự phòng (dự phòng tại chỗ; dự phòng cơ sở điều hành bay theo hướng sử dụng các cơ sở có vị trí địa lý lân cận thuận tiện cho công tác ứng phó; dự phòng theo phương án ứng phó không lưu), có tính năng phù hợp với yêu cầu khai thác không lưu, cho phép quản lý, phân tích dữ liệu phục vụ công tác quản lý an toàn, báo cáo thống kê theo yêu cầu của Cục Hàng không Việt Nam và ICAO.
- Đến năm 2030
+ Hoàn thành đầu tư mới và thay thế hệ thống thiết bị ATM tại Trung tâm kiểm soát không lưu Hồ Chí Minh, Trung tâm kiểm soát tiếp cận và tại sân bay Đà Nẵng. Triển khai đầu cuối hệ thống thiết bị ATM tại các đài kiểm soát không lưu trên toàn quốc. Đầu tư hệ thống xử lý dữ liệu giám sát (RDP) cho đài kiểm soát không lưu mật độ bay cao để điều hành phân cách bằng phương thức giám sát ATS.
+ Nghiên cứu, đầu tư hệ thống thiết bị ATM tại cơ sở kiểm soát tiếp cận khác theo yêu cầu công tác điều hành bay.
- Đến năm 2030: Thay thế các hệ thống thiết bị ATM hết niên hạn sử dụng.