Document: Khoản 10 Điều 1 Luật Sửa đổi Luật bầu cử đại biểu Quốc hội 2010 số 63/2010/QH12

Type: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "24/11/2010", "sign_number": "63/2010/QH12", "signer": "Nguyễn Phú Trọng", "type": "Luật"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "24/11/2010", "sign_number": "63/2010/QH12", "signer": "Nguyễn Phú Trọng", "type": "Luật"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "24/11/2010", "sign_number": "63/2010/QH12", "signer": "Nguyễn Phú Trọng", "type": "Luật"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "24/11/2010", "sign_number": "63/2010/QH12", "signer": "Nguyễn Phú Trọng", "type": "Luật"}
Signer: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "24/11/2010", "sign_number": "63/2010/QH12", "signer": "Nguyễn Phú Trọng", "type": "Luật"}

Full Text:
Khoản 10 Điều 1 Luật Sửa đổi Luật bầu cử đại biểu Quốc hội 2010 số 63/2010/QH12

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội.
...
10. Điều 46 được sửa đổi,
bổ sung như sau:
“Điều 46
Căn cứ vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu, Hội đồng bầu cử gửi đến các Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hữu quan danh sách những người được giới thiệu về ứng cử tại địa phương.
Hội đồng bầu cử
lập và công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước theo danh sách chính thức do Ban thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi đến chậm nhất là hai mươi lăm ngày trước ngày bầu cử.
Trong danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội phải ghi rõ họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quê quán, nơi thường trú, dân tộc, tôn giáo, trình độ văn hoá, chuyên môn, nghề nghiệp, chức vụ, nơi làm việc của người ứng cử. Danh sách những người ứng cử được xếp theo vần chữ cái A, B, C...
Số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó; nếu đơn vị bầu cử được bầu ba đại biểu thì số người trong danh sách ứng cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ít nhất là hai người. Trong trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng thì do Hội đồng bầu cử quyết
định.
Người ứng cử chỉ được ghi tên vào danh sách ứng cử ở một đơn vị bầu cử.”

Content:
Điều 46 được sửa đổi,
bổ sung như sau:
“Điều 46
Căn cứ vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu, Hội đồng bầu cử gửi đến các Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hữu quan danh sách những người được giới thiệu về ứng cử tại địa phương.
Hội đồng bầu cử
lập và công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước theo danh sách chính thức do Ban thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi đến chậm nhất là hai mươi lăm ngày trước ngày bầu cử.
Trong danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội phải ghi rõ họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quê quán, nơi thường trú, dân tộc, tôn giáo, trình độ văn hoá, chuyên môn, nghề nghiệp, chức vụ, nơi làm việc của người ứng cử. Danh sách những người ứng cử được xếp theo vần chữ cái A, B, C...
Số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó; nếu đơn vị bầu cử được bầu ba đại biểu thì số người trong danh sách ứng cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ít nhất là hai người. Trong trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng thì do Hội đồng bầu cử quyết
định.
Người ứng cử chỉ được ghi tên vào danh sách ứng cử ở một đơn vị bầu cử.”