Document: Điều 1 Quyết định 3488/2006/QĐ-UBND kiên cố hoá trường lớp học chuẩn quốc gia Quảng Ninh

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "09/11/2006", "sign_number": "3488/2006/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hồng Quân", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "09/11/2006", "sign_number": "3488/2006/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hồng Quân", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "09/11/2006", "sign_number": "3488/2006/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hồng Quân", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "09/11/2006", "sign_number": "3488/2006/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hồng Quân", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ninh", "promulgation_date": "09/11/2006", "sign_number": "3488/2006/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Hồng Quân", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 3488/2006/QĐ-UBND kiên cố hoá trường lớp học chuẩn quốc gia Quảng Ninh có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Đề án kiên cố hoá trường, lớp học và xây dựng trường chuẩn quốc gia tỉnh Quảng Ninh đến 2010 và định hướng đến 2015 với những nội dung chính như sau:
I. MỤC TIÊU:
- Phấn đấu kiên cố hoá số phòng học đến năm 2010 đạt 65 - 70%, năm 2015 đạt 100%; xây dựng các phòng học bộ môn, phòng chức năng và cơ sở vật chất nhà trường đồng bộ tạo môi trường giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới ở các cấp học, các trung tâm hướng nghiệp và giáo dục thường xuyên; xoá các phòng học tạm trước năm 2010; đảm bảo ít nhất 50% cơ sở vật chất cho học sinh học 2 buổi/ngày.
- Phấn đấu xây dựng trường chuẩn quốc gia thuộc các cấp học, bậc học đến năm 2010 đạt 209 trường, năm 2015 đạt 346 trường đảm bảo chất lượng giáo dục và hoàn thành chỉ tiêu phổ cập giáo dục trung học theo đúng lộ trình của tỉnh.
II. NHỮNG NHIỆM VỤ CỤ THỂ.
1. Xây dựng trường chuẩn Quốc gia:
Tập trung xây dựng trường chuẩn quốc gia các cấp học để đến năm 2010 đạt 209 trường, bao gồm:
- Cấp mầm non: 34 trường, đạt tỷ lệ 20%.
- Cấp tiểu học: 118 trường, đạt tỷ lệ 70% (trong đó có 24 trường đạt chuẩn mức độ 2).
- Cấp trung học cơ sở: 42 trường, đạt tỷ lệ 29%.
- Cấp trung học phổ thông: 15 trường, đạt tỷ lệ 30%
2. Cao tầng hoá, kiên cố hoá trường, lớp học:
Xây dựng mới thay thế số phòng học tạm và xây dựng phòng chức năng cho các cấp học:
a. Cấp mầm non: Phòng học: 156; phòng chức năng: 533; kiên cố hoá xoá phòng tạm: 256; phòng công vụ giáo viên: 49.
b. Cấp tiểu học: Phòng học: 1297; phòng bộ môn: 83; phòng chức năng: 131; phòng hành chính quản trị: 481; phòng công vụ giáo viên: 40; phòng âm nhạc: 55.
c. Cấp trung học cơ sở: Phòng học: 588; phòng bộ môn: 276; phòng chức năng: 204; phòng hành chính quản trị: 319; phòng công vụ giáo viên: 97.
d. Liên cấp tiểu học và trung học cơ sở (PTCS): Phòng học: 301; phòng bộ môn: 72; phòng chức năng: 55; phòng hành chính quản trị: 118; phòng công vụ giáo viên: 105.
e. Cấp trung học trung học phổ thông: Phòng học: 134; phòng bộ môn: 114; phòng chức năng: 44; nhà đa chức năng 17; phòng hành chính quản trị: 57; phòng công vụ giáo viên: 10.
g. Trung tâm hướng nghiệp và giáo dục thường xuyên: Phòng học: 104; phòng chức năng: 55.
3. Về đất xây dựng trường chuẩn Quốc gia:
Nghiên cứu quy hoạch trường học các cấp theo nhịp độ phát triển hàng năm (bổ xung và xây dựng mới) ở các địa phương để xác định dành quỹ đất thoả đáng cho giáo dục phù hợp với hoạch chung của địa phương. Có kế hoạch bổ sung quỹ đất cho các trường còn thiếu diện tích đất để xây dựng trường chuẩn Quốc gia.
4. Kinh phí xây dựng cao tầng hoá, kiên cố hoá trường, lớp và xây dựng cơ sở vật chất cho trường chuẩn Quốc gia:
Tổng kinh phí xây dựng cơ sở vật chất trường, lớp học (trong đó có trường chuẩn Quốc gia) đến 2010 của các cấp học với tổng số là: 1.036 tỷ đồng, trong đó:
- Ngân sách tỉnh và trung ương: 605 tỷ đồng.
+ Ngân sách trung ương: 239 tỷ đồng (kể cả ODA + công trái giáo dục).
+ Ngân sách tỉnh: 366 tỷ đồng.
- Ngân sách cấp huyện và xã hội hoá theo địa chỉ: 431 tỷ đồng.
+ Xã hội hoá: 231 tỷ đồng (bình quân 40 - 50 tỷ/ năm).
+ Ngân sách cấp huyện: 200 tỷ đồng.
(Kèm theo phụ lục kinh phí kiên cố hoá trường lớp và xây dựng cơ sở vật chất cho trường chuẩn quốc gia - Biểu E1, E2, E3, E4).
5. Đầu tư thiết bị dạy học cho các trường học và trường chuẩn Quốc gia:
- Đầu tư mua sắm trang thiết bị cho các trường phổ thông trong đó có các trường chuẩn quốc gia bằng ngân sách tỉnh và chương trình mục tiêu của trung ương theo tiến độ đổi mới giáo dục phổ thông. Riêng cấp học mầm non thực hiện bằng ngân sách chi thường xuyên, kinh phí chương trình mục tiêu và xã hội hoá giáo dục.
- Phát động thày cô giáo và học sinh làm thêm đồ dùng dạy học, tích cực sử dụng thiết bị dạy học có hiệu quả góp phần đẩy mạnh học tập đi đôi với thực hành nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
1. Tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước cho chương trình kiên cố hoá trường lớp học và xây dựng trường chuẩn quốc gia.
2. Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục.
- Điều chỉnh mức thu học phí theo quy định mới của nhà nước để huy động thêm kinh phí cho đầu tư phát triển trường, lớp học.
- Triển khai thực hiện Quyết định số 2824/2006 ngày 21/9/2006 của ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Quy định về một số chính sách thực hiện xã hội hoá các lĩnh vực văn hoá - xã hội trên địa bàn tỉnh.
+ Đối với các trường thuộc cấp tỉnh quản lý: các trường công lập xây dựng mới hoặc xây dựng bổ sung cơ sở vật chất để đạt chuẩn thuộc các vùng địa lý như các cơ sở giáo dục cấp huyện, cơ chế chính sách xã hội hoá áp dụng như các trường thuộc cấp huyện theo Quyết định số 2824/2006 ngày 21/9/2006 của ủy ban nhân dân tỉnh.
+ UBND các huyện, thị xã, thành phố và Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các nhà trường công lập thuộc các cấp học, có điều kiện về kinh tế - xã hội, lập đề án chuyển từ cơ chế quản lý hiện nay sang cơ chế cung cấp dịch vụ chất lượng cao trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để thực hiện.
- Tiếp tục phát triển các trường, lớp ngoài công lập thuộc các cấp học. Đặc biệt mô hình chất lượng cao. Nghiên cứu thí điểm, rút kinh nghiệm và nhân diện rộng chuyển đổi một số trường công lập sang trường dân lập hoặc tư thục.
3. Ưu tiên giành quỹ đất xây dựng trường chuẩn Quốc gia.
ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố chủ động quy hoạch đất cho phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu tách trường liên cấp và thành lập trường mới xây dựng trường chuẩn quốc gia. Đối với những trường đã xây dựng ở khu đô thị, giải quyết quỹ đất thiếu theo các phương án:
- Nâng số tầng của nhà học khi được cơ quan có thẩm quyền quyết định, giải phóng mặt bằng mở rộng đất cho trường.
- Trường có quy mô học sinh lớn trên 30 lớp có thể tách thành 2 trường (nếu có điều kiện).
- Đối với quy hoạch đất cho các trường mới, cần đảm bảo quỹ đất thoả đáng ít nhất 10m2/hs (không phân biệt vùng).
4. Cải tiến, đổi mới các thủ tục đầu tư, xây dựng và cụ thể hoá các tiêu chí xây dựng trường chuẩn quốc gia:
- Ưu tiên đầu tư trước cho các trường đã đăng ký xây dựng trường chuẩn quốc gia đến năm 2010. ủy ban nhân dân cấp huyện, Sở Giáo dục và Đào tạo lập dự án đầu tư cho các trường trực thuộc cấp mình quản lý trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để thực hiện hàng năm theo quy định.
- Cho phép áp dụng thiết kế mẫu để tiết kiệm chi phí (trường hợp có thiết kế mẫu).
- Các địa phương có quỹ đất, có thể đấu thầu quyền sử dụng đất để lấy kinh phí xây dựng các công trình trường học và cơ sở hạ tầng.
- Do quỹ đất ở đô thị hạn hẹp khuyến khích các trường xây dựng phòng học cao tầng; khu vực miền núi xây dựng phòng học kiên cố hoá.
- Các trường học cần có quy hoạch khu đất trong trường để xây dựng khu giáo dục thể chất ngoài trời cho học sinh. Ở những nơi chưa có khu giáo dục thể chất trong trường, trước mắt có thể thuê nhà hoạt động thể thao chung của khu vực.

Content:
Điều 1. Phê duyệt Đề án kiên cố hoá trường, lớp học và xây dựng trường chuẩn quốc gia tỉnh Quảng Ninh đến 2010 và định hướng đến 2015 với những nội dung chính như sau:
I. MỤC TIÊU:
- Phấn đấu kiên cố hoá số phòng học đến năm 2010 đạt 65 - 70%, năm 2015 đạt 100%; xây dựng các phòng học bộ môn, phòng chức năng và cơ sở vật chất nhà trường đồng bộ tạo môi trường giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới ở các cấp học, các trung tâm hướng nghiệp và giáo dục thường xuyên; xoá các phòng học tạm trước năm 2010; đảm bảo ít nhất 50% cơ sở vật chất cho học sinh học 2 buổi/ngày.
- Phấn đấu xây dựng trường chuẩn quốc gia thuộc các cấp học, bậc học đến năm 2010 đạt 209 trường, năm 2015 đạt 346 trường đảm bảo chất lượng giáo dục và hoàn thành chỉ tiêu phổ cập giáo dục trung học theo đúng lộ trình của tỉnh.
II. NHỮNG NHIỆM VỤ CỤ THỂ.
1. Xây dựng trường chuẩn Quốc gia:
Tập trung xây dựng trường chuẩn quốc gia các cấp học để đến năm 2010 đạt 209 trường, bao gồm:
- Cấp mầm non: 34 trường, đạt tỷ lệ 20%.
- Cấp tiểu học: 118 trường, đạt tỷ lệ 70% (trong đó có 24 trường đạt chuẩn mức độ 2).
- Cấp trung học cơ sở: 42 trường, đạt tỷ lệ 29%.
- Cấp trung học phổ thông: 15 trường, đạt tỷ lệ 30%
2. Cao tầng hoá, kiên cố hoá trường, lớp học:
Xây dựng mới thay thế số phòng học tạm và xây dựng phòng chức năng cho các cấp học:
a. Cấp mầm non: Phòng học: 156; phòng chức năng: 533; kiên cố hoá xoá phòng tạm: 256; phòng công vụ giáo viên: 49.
b. Cấp tiểu học: Phòng học: 1297; phòng bộ môn: 83; phòng chức năng: 131; phòng hành chính quản trị: 481; phòng công vụ giáo viên: 40; phòng âm nhạc: 55.
c. Cấp trung học cơ sở: Phòng học: 588; phòng bộ môn: 276; phòng chức năng: 204; phòng hành chính quản trị: 319; phòng công vụ giáo viên: 97.
d. Liên cấp tiểu học và trung học cơ sở (PTCS): Phòng học: 301; phòng bộ môn: 72; phòng chức năng: 55; phòng hành chính quản trị: 118; phòng công vụ giáo viên: 105.
e. Cấp trung học trung học phổ thông: Phòng học: 134; phòng bộ môn: 114; phòng chức năng: 44; nhà đa chức năng 17; phòng hành chính quản trị: 57; phòng công vụ giáo viên: 10.
g. Trung tâm hướng nghiệp và giáo dục thường xuyên: Phòng học: 104; phòng chức năng: 55.
3. Về đất xây dựng trường chuẩn Quốc gia:
Nghiên cứu quy hoạch trường học các cấp theo nhịp độ phát triển hàng năm (bổ xung và xây dựng mới) ở các địa phương để xác định dành quỹ đất thoả đáng cho giáo dục phù hợp với hoạch chung của địa phương. Có kế hoạch bổ sung quỹ đất cho các trường còn thiếu diện tích đất để xây dựng trường chuẩn Quốc gia.
4. Kinh phí xây dựng cao tầng hoá, kiên cố hoá trường, lớp và xây dựng cơ sở vật chất cho trường chuẩn Quốc gia:
Tổng kinh phí xây dựng cơ sở vật chất trường, lớp học (trong đó có trường chuẩn Quốc gia) đến 2010 của các cấp học với tổng số là: 1.036 tỷ đồng, trong đó:
- Ngân sách tỉnh và trung ương: 605 tỷ đồng.
+ Ngân sách trung ương: 239 tỷ đồng (kể cả ODA + công trái giáo dục).
+ Ngân sách tỉnh: 366 tỷ đồng.
- Ngân sách cấp huyện và xã hội hoá theo địa chỉ: 431 tỷ đồng.
+ Xã hội hoá: 231 tỷ đồng (bình quân 40 - 50 tỷ/ năm).
+ Ngân sách cấp huyện: 200 tỷ đồng.
(Kèm theo phụ lục kinh phí kiên cố hoá trường lớp và xây dựng cơ sở vật chất cho trường chuẩn quốc gia - Biểu E1, E2, E3, E4).
5. Đầu tư thiết bị dạy học cho các trường học và trường chuẩn Quốc gia:
- Đầu tư mua sắm trang thiết bị cho các trường phổ thông trong đó có các trường chuẩn quốc gia bằng ngân sách tỉnh và chương trình mục tiêu của trung ương theo tiến độ đổi mới giáo dục phổ thông. Riêng cấp học mầm non thực hiện bằng ngân sách chi thường xuyên, kinh phí chương trình mục tiêu và xã hội hoá giáo dục.
- Phát động thày cô giáo và học sinh làm thêm đồ dùng dạy học, tích cực sử dụng thiết bị dạy học có hiệu quả góp phần đẩy mạnh học tập đi đôi với thực hành nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
1. Tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước cho chương trình kiên cố hoá trường lớp học và xây dựng trường chuẩn quốc gia.
2. Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục.
- Điều chỉnh mức thu học phí theo quy định mới của nhà nước để huy động thêm kinh phí cho đầu tư phát triển trường, lớp học.
- Triển khai thực hiện Quyết định số 2824/2006 ngày 21/9/2006 của ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Quy định về một số chính sách thực hiện xã hội hoá các lĩnh vực văn hoá - xã hội trên địa bàn tỉnh.
+ Đối với các trường thuộc cấp tỉnh quản lý: các trường công lập xây dựng mới hoặc xây dựng bổ sung cơ sở vật chất để đạt chuẩn thuộc các vùng địa lý như các cơ sở giáo dục cấp huyện, cơ chế chính sách xã hội hoá áp dụng như các trường thuộc cấp huyện theo Quyết định số 2824/2006 ngày 21/9/2006 của ủy ban nhân dân tỉnh.
+ UBND các huyện, thị xã, thành phố và Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các nhà trường công lập thuộc các cấp học, có điều kiện về kinh tế - xã hội, lập đề án chuyển từ cơ chế quản lý hiện nay sang cơ chế cung cấp dịch vụ chất lượng cao trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để thực hiện.
- Tiếp tục phát triển các trường, lớp ngoài công lập thuộc các cấp học. Đặc biệt mô hình chất lượng cao. Nghiên cứu thí điểm, rút kinh nghiệm và nhân diện rộng chuyển đổi một số trường công lập sang trường dân lập hoặc tư thục.
3. Ưu tiên giành quỹ đất xây dựng trường chuẩn Quốc gia.
ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố chủ động quy hoạch đất cho phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu tách trường liên cấp và thành lập trường mới xây dựng trường chuẩn quốc gia. Đối với những trường đã xây dựng ở khu đô thị, giải quyết quỹ đất thiếu theo các phương án:
- Nâng số tầng của nhà học khi được cơ quan có thẩm quyền quyết định, giải phóng mặt bằng mở rộng đất cho trường.
- Trường có quy mô học sinh lớn trên 30 lớp có thể tách thành 2 trường (nếu có điều kiện).
- Đối với quy hoạch đất cho các trường mới, cần đảm bảo quỹ đất thoả đáng ít nhất 10m2/hs (không phân biệt vùng).
4. Cải tiến, đổi mới các thủ tục đầu tư, xây dựng và cụ thể hoá các tiêu chí xây dựng trường chuẩn quốc gia:
- Ưu tiên đầu tư trước cho các trường đã đăng ký xây dựng trường chuẩn quốc gia đến năm 2010. ủy ban nhân dân cấp huyện, Sở Giáo dục và Đào tạo lập dự án đầu tư cho các trường trực thuộc cấp mình quản lý trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để thực hiện hàng năm theo quy định.
- Cho phép áp dụng thiết kế mẫu để tiết kiệm chi phí (trường hợp có thiết kế mẫu).
- Các địa phương có quỹ đất, có thể đấu thầu quyền sử dụng đất để lấy kinh phí xây dựng các công trình trường học và cơ sở hạ tầng.
- Do quỹ đất ở đô thị hạn hẹp khuyến khích các trường xây dựng phòng học cao tầng; khu vực miền núi xây dựng phòng học kiên cố hoá.
- Các trường học cần có quy hoạch khu đất trong trường để xây dựng khu giáo dục thể chất ngoài trời cho học sinh. Ở những nơi chưa có khu giáo dục thể chất trong trường, trước mắt có thể thuê nhà hoạt động thể thao chung của khu vực.