Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 349/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "17/08/2009", "sign_number": "349/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Huế", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "17/08/2009", "sign_number": "349/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Huế", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "17/08/2009", "sign_number": "349/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Huế", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "17/08/2009", "sign_number": "349/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Huế", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Ngãi", "promulgation_date": "17/08/2009", "sign_number": "349/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Xuân Huế", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 349/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020, với những nội dung chính sau:
...
2. Mục tiêu phát triển:
Tận dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có và phát huy lợi thế về vị trí địa lý thuận lợi, để đầu tư phát triển sản xuất vật liệu xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu vật liệu xây dựng của tỉnh, cung ứng các sản phẩm vật liệu xây dựng ra ngoài tỉnh và ngoài nước. Tập trung đầu tư mở rộng sản xuất xi măng nghiền, vật liệu ốp lát, các sản phẩm vật liệu xây dựng hữu cơ từ sản phẩm và chế phẩm dầu mỏ, các sản phẩm vật liệu xây dựng mới; đồng thời chú trọng việc đầu tư đổi mới công nghệ cho các cơ sở lò đứng nung gạch, các dây chuyền khai thác đá, cát thủ công…, nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành công nghiệp vật liệu xây dựng ở tỉnh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, tăng nguồn thu ngân sách cho tỉnh, tạo tích luỹ cho việc tái sản xuất mở rộng của ngành và giải quyết việc làm cho người lao động đang là một trong những vấn đề bức bách của xã hội.
II. PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN VẬT LIỆU XÂY DỰNG ĐẾN 2020
1. Xi măng:
Đầu tư các trạm nghiền xi măng tại tỉnh để chủ động giải quyết nhu cầu xi măng cho xây dựng của tỉnh và cung ứng cho các tỉnh lân cận thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên ; đồng thời tận dụng tốt nguồn phụ gia puzolan chất lượng cao cho sản xuất. Trong tương lai sẽ chuyển một phần sang sử dụng tro xỉ luyện kim làm phụ gia để sản xuất sản phẩm xi măng xỉ, sử dụng cho các công trình xây dựng trên biển và trên đất liền ở vùng ven biển là những khu vực có mức độ xâm thực mạnh. Đưa năng lực sản xuất xi măng nghiền của tỉnh đạt 1,5 triệu tấn vào năm 2015 và 2,0 triệu tấn vào năm 2020.
2. Đá xây dựng:
- Tổ chức sắp xếp lại sản xuất các cơ sở khai thác đá hiện có của tỉnh để giảm bớt đầu mối khai thác, trên cơ sở liên doanh, liên kết để tận dụng kết quả đã đầu tư của các doanh nghiệp vào việc bóc tầng phủ, làm đường và tận dụng thiết bị đã có để nâng cao năng lực khai thác vào một số khu vực khai thác tập trung. Tuỳ theo thị trường tiêu thụ từng khu vực, sẽ hình thành ở mỗi địa bàn một cơ sở khai thác để cung ứng cho xây dựng tại chỗ ; riêng khu vực Bình Sơn, Sơn Tịnh có thể đầu tư nhiều cơ sở và với qui mô lớn để cung cấp cho thị trường thành phố Quảng Ngãi, đô thị Vạn Tường và các khu đô thị, khu công nghiệp trong vùng. Các mỏ thuộc Khu kinh tế Dung Quất sẽ giảm dần sản lượng tiến tới ngừng sản xuất để đảm bảo an toàn cho nhà máy lọc hoá dầu và giữ gìn cảnh quan thiên nhiên, môi trường cho khu vực.
- Qui mô khai thác phải đạt tối thiểu 100 ngàn m3/năm như Chỉ thị số 18/2008/CT-TTg ngày 06/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý, chấn chỉnh hoạt động khai thác các mỏ đá nhằm đảm bảo an toàn trong khai thác. Đối với các huyện miền núi, như : Tây Trà, Trà Bồng, Sơn Tây, Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ là các huyện có nhu cầu thấp và không có nhiều khu vực tiêu thụ tập trung có thể tồn tại qui mô khai thác < 100 thậm chí < 50 ngàn m3/năm ; tập trung đầu tư khai thác đá cho xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi kết hợp cung cấp đá cho xây dựng dân dụng của Nhà nước và nhân dân trong khu vực. Các mỏ phải được thăm dò, phải có thiết kế khai thác được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt mới được cấp phép (kể cả các cơ sở khai thác hiện có được cấp phép khai thác tận thu nếu không đạt các điều kiện trên cũng sẽ ngừng gia hạn giấy phép khai thác).
- Đầu tư trang thiết bị hiện đại, áp dụng công nghệ khai thác tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Đầu tư phải tiến hành đồng bộ, ngoài thiết bị chế biến cần đầu tư phương tiện vận tải, đầu tư mở rộng khai trường, bến bãi, đường vận chuyển nội bộ, đường vận chuyển từ khu khai thác ra các trục giao thông chính để vận chuyển đá thành phẩm tới các hộ tiêu thụ.
- Áp dụng các giải pháp kĩ thuật trong khai thác và chế biến để giảm thiểu ô nhiễm môi trường; đồng thời có các biện pháp phòng hộ lao động, các phương tiện bảo hộ lao động để đảm bảo an toàn cho người lao động làm việc trên sườn núi cao và trong khâu sử dụng vật liệu nổ.
- Đưa năng lực khai thác đá của tỉnh lên 1,855 triệu m3 đến năm 2015 và 2,65 triệu m3 đến năm 2020.

Content:
Mục tiêu phát triển:
Tận dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có và phát huy lợi thế về vị trí địa lý thuận lợi, để đầu tư phát triển sản xuất vật liệu xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu vật liệu xây dựng của tỉnh, cung ứng các sản phẩm vật liệu xây dựng ra ngoài tỉnh và ngoài nước. Tập trung đầu tư mở rộng sản xuất xi măng nghiền, vật liệu ốp lát, các sản phẩm vật liệu xây dựng hữu cơ từ sản phẩm và chế phẩm dầu mỏ, các sản phẩm vật liệu xây dựng mới; đồng thời chú trọng việc đầu tư đổi mới công nghệ cho các cơ sở lò đứng nung gạch, các dây chuyền khai thác đá, cát thủ công…, nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành công nghiệp vật liệu xây dựng ở tỉnh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, tăng nguồn thu ngân sách cho tỉnh, tạo tích luỹ cho việc tái sản xuất mở rộng của ngành và giải quyết việc làm cho người lao động đang là một trong những vấn đề bức bách của xã hội.
II. PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN VẬT LIỆU XÂY DỰNG ĐẾN 2020
1. Xi măng:
Đầu tư các trạm nghiền xi măng tại tỉnh để chủ động giải quyết nhu cầu xi măng cho xây dựng của tỉnh và cung ứng cho các tỉnh lân cận thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên ; đồng thời tận dụng tốt nguồn phụ gia puzolan chất lượng cao cho sản xuất. Trong tương lai sẽ chuyển một phần sang sử dụng tro xỉ luyện kim làm phụ gia để sản xuất sản phẩm xi măng xỉ, sử dụng cho các công trình xây dựng trên biển và trên đất liền ở vùng ven biển là những khu vực có mức độ xâm thực mạnh. Đưa năng lực sản xuất xi măng nghiền của tỉnh đạt 1,5 triệu tấn vào năm 2015 và 2,0 triệu tấn vào năm 2020.
Đá xây dựng:
- Tổ chức sắp xếp lại sản xuất các cơ sở khai thác đá hiện có của tỉnh để giảm bớt đầu mối khai thác, trên cơ sở liên doanh, liên kết để tận dụng kết quả đã đầu tư của các doanh nghiệp vào việc bóc tầng phủ, làm đường và tận dụng thiết bị đã có để nâng cao năng lực khai thác vào một số khu vực khai thác tập trung. Tuỳ theo thị trường tiêu thụ từng khu vực, sẽ hình thành ở mỗi địa bàn một cơ sở khai thác để cung ứng cho xây dựng tại chỗ ; riêng khu vực Bình Sơn, Sơn Tịnh có thể đầu tư nhiều cơ sở và với qui mô lớn để cung cấp cho thị trường thành phố Quảng Ngãi, đô thị Vạn Tường và các khu đô thị, khu công nghiệp trong vùng. Các mỏ thuộc Khu kinh tế Dung Quất sẽ giảm dần sản lượng tiến tới ngừng sản xuất để đảm bảo an toàn cho nhà máy lọc hoá dầu và giữ gìn cảnh quan thiên nhiên, môi trường cho khu vực.
- Qui mô khai thác phải đạt tối thiểu 100 ngàn m3/năm như Chỉ thị số 18/2008/CT-TTg ngày 06/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý, chấn chỉnh hoạt động khai thác các mỏ đá nhằm đảm bảo an toàn trong khai thác. Đối với các huyện miền núi, như : Tây Trà, Trà Bồng, Sơn Tây, Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ là các huyện có nhu cầu thấp và không có nhiều khu vực tiêu thụ tập trung có thể tồn tại qui mô khai thác < 100 thậm chí < 50 ngàn m3/năm ; tập trung đầu tư khai thác đá cho xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi kết hợp cung cấp đá cho xây dựng dân dụng của Nhà nước và nhân dân trong khu vực. Các mỏ phải được thăm dò, phải có thiết kế khai thác được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt mới được cấp phép (kể cả các cơ sở khai thác hiện có được cấp phép khai thác tận thu nếu không đạt các điều kiện trên cũng sẽ ngừng gia hạn giấy phép khai thác).
- Đầu tư trang thiết bị hiện đại, áp dụng công nghệ khai thác tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Đầu tư phải tiến hành đồng bộ, ngoài thiết bị chế biến cần đầu tư phương tiện vận tải, đầu tư mở rộng khai trường, bến bãi, đường vận chuyển nội bộ, đường vận chuyển từ khu khai thác ra các trục giao thông chính để vận chuyển đá thành phẩm tới các hộ tiêu thụ.
- Áp dụng các giải pháp kĩ thuật trong khai thác và chế biến để giảm thiểu ô nhiễm môi trường; đồng thời có các biện pháp phòng hộ lao động, các phương tiện bảo hộ lao động để đảm bảo an toàn cho người lao động làm việc trên sườn núi cao và trong khâu sử dụng vật liệu nổ.
- Đưa năng lực khai thác đá của tỉnh lên 1,855 triệu m3 đến năm 2015 và 2,65 triệu m3 đến năm 2020.