Document: Điều 1 Quyết định 10/1999/QĐ-UB tiền lương tiền công bình quân tháng để xác định thu nhập tính thuế Hà Nội

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "15/03/1999", "sign_number": "10/1999/QĐ-UB", "signer": "Đinh Hạnh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "15/03/1999", "sign_number": "10/1999/QĐ-UB", "signer": "Đinh Hạnh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "15/03/1999", "sign_number": "10/1999/QĐ-UB", "signer": "Đinh Hạnh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "15/03/1999", "sign_number": "10/1999/QĐ-UB", "signer": "Đinh Hạnh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hà Nội", "promulgation_date": "15/03/1999", "sign_number": "10/1999/QĐ-UB", "signer": "Đinh Hạnh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 10/1999/QĐ-UB tiền lương tiền công bình quân tháng để xác định thu nhập tính thuế Hà Nội có nội dung như sau:

Điều 1. : Tiền lương, tiền công bình quân tháng của người lao động khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được tính vào chi phí hợp lý làm căn cứ xác định chịu thuế thu nhập như sau:
+ Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện chế độ hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền; hoặc đã đăng ký đơn giá tiền lương, tiền công và được cơ quan có thẩm quyền duyệt thì mức tiền lương, tiền công của người lao động được tính trong chi phí hợp lý, hợp lệ khi xác định thu nhập chịu thuế theo mức thực trả, phù hợp với hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể; hoặc đơn giá tiền lương, tiền công đã được phê duyệt.
+ Đối với cơ sở kinh doanh chưa thực hiện chế độ ký hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể và không có đơn giá tiền lương, tiền công được cơ quan có thẩm quyền duyệt thì tiền lương, tiền công bình quân tháng của người lao động được xác định như sau:
- Nếu cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động có lãi: Mức tiền lương, tiền công được tính trong chi phí hợp lý, hợp lệ theo mức thực trả nhưng tối đa không vượt quá 900.000đ/người /tháng.
- Nếu cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động không có lãi, mức tiền lương, tiền công được tính trong chi phí hợp lý, hợp lệ theo mức thực trả và tối đa không quá 500.000đ/người /tháng.

Content:
Điều 1. : Tiền lương, tiền công bình quân tháng của người lao động khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được tính vào chi phí hợp lý làm căn cứ xác định chịu thuế thu nhập như sau:
+ Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện chế độ hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền; hoặc đã đăng ký đơn giá tiền lương, tiền công và được cơ quan có thẩm quyền duyệt thì mức tiền lương, tiền công của người lao động được tính trong chi phí hợp lý, hợp lệ khi xác định thu nhập chịu thuế theo mức thực trả, phù hợp với hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể; hoặc đơn giá tiền lương, tiền công đã được phê duyệt.
+ Đối với cơ sở kinh doanh chưa thực hiện chế độ ký hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể và không có đơn giá tiền lương, tiền công được cơ quan có thẩm quyền duyệt thì tiền lương, tiền công bình quân tháng của người lao động được xác định như sau:
- Nếu cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động có lãi: Mức tiền lương, tiền công được tính trong chi phí hợp lý, hợp lệ theo mức thực trả nhưng tối đa không vượt quá 900.000đ/người /tháng.
- Nếu cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động không có lãi, mức tiền lương, tiền công được tính trong chi phí hợp lý, hợp lệ theo mức thực trả và tối đa không quá 500.000đ/người /tháng.