Document: Điều 3 Quyết định 173/2001/QĐ-TTg phát triển kinh tế - xã hội đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2001-2005

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "06/11/2001", "sign_number": "173/2001/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "06/11/2001", "sign_number": "173/2001/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "06/11/2001", "sign_number": "173/2001/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "06/11/2001", "sign_number": "173/2001/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "06/11/2001", "sign_number": "173/2001/QĐ-TTg", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 3 Quyết định 173/2001/QĐ-TTg phát triển kinh tế - xã hội đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2001-2005 có nội dung như sau:

Điều 3. Nội dung chuyển dịch cơ cấu sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội một số ngành và lĩnh vực chủ yếu sau:
1. Về sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp:
a) Về sản xuất lúa:
Sản xuất lúa vẫn là ngành sản xuất có lợi thế của vùng đồng bằng sông Cửu Long. ổn định diện tích khoảng 1,8 triệu ha đất có điều kiện thủy lợi tưới tiêu chủ động để sản xuất 2 vụ ăn chắc, trong đó có 1 triệu ha trồng lúa có chất lượng cao để xuất khẩu, duy trì mức sản lượng lúa từ 15 đến 16 triệu tấn/năm. Điều chỉnh lại cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống lúa cho phù hợp với diễn biến của lũ lụt và thị trường tiêu thụ. Nâng trình độ công nghệ sản xuất, chế biến, bảo quản lúa gạo đến năm 2005 ngang mức tiên tiến trong khu vực, có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
Đối với diện tích đất trồng lúa có năng suất thấp, bấp bênh; vùng đất bãi ven sông, đất cao không ngập lũ; diện tích trồng lúa ở vùng ven đô, các trục đường giao thông và ở các vùng khác thì chuyển dần sang trồng các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn hoặc nuôi trồng thủy sản.
b) Về phát triển các cây trồng làm nguyên liệu công nghiệp:
Mở rộng diện tích trồng ngô, đậu tương... kết hợp sử dụng giống mới, năng suất cao để cung cấp nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi.
ổn định diện tích trồng mía khoảng 90.000 ha để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các nhà máy đường hiện có. áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật về giống kết hợp với thâm canh để tăng năng suất cây mía đến năm 2005 đạt bình quân trên 80 tấn/ha.
Tiếp tục nâng cao công nghệ chế biến dừa, đa dạng và nâng cao giá trị sản phẩm dừa. Đồng thời từng bước nghiên cứu các giống dừa có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng để thay thế vườn dừa đã già cỗi, năng suất thấp; thực hiện phương thức xen canh cây dừa với các loại cây trồng khác hoặc kết hợp với chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, để nâng hiệu quả sử dụng đất lên gấp 1,5 - 2 lần hiện nay.
Trên cơ sở kết luận khoa học về hiệu quả và khả năng phát triển cây bông ở trong vùng, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng công ty Dệt May Việt Nam có kế hoạch và biện pháp mở rộng diện tích trồng bông với giống bông lai có năng suất, chất lượng cao ở nơi có điều kiện. Việc phát triển cây bông phải gắn với phát triển công nghiệp cán bông và công nghiệp dệt. Phát triển cây đay ở nơi có điều kiện làm nguyên liệu bao bì và công nghiệp giấy.
c) Về các loại cây ăn quả:
Phát triển các loại cây ăn quả nhiệt đới có lợi thế cạnh tranh, có giá trị hàng hoá kinh tế cao như xoài, nhãn, cam sành, quýt đường, bưởi, dứa, vú sữa, măng cụt, sầu riêng và các cây ăn quả khác. Việc phát triển các loại cây ăn quả phải gắn với thị trường xuất khẩu và thay thế nhập khẩu.
Vùng thường xuyên bị ngập lụt cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng và mùa vụ thích hợp với điều kiện ngập nước.
d) Về chăn nuôi: tiếp tục phát triển đàn lợn, gia cầm, bò thịt và phát triển nhanh đàn bò sữa để đáp ứng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến sữa ở Long An, Cần Thơ và một số địa phương khác.
­đ) Về phát triển lâm nghiệp:
Bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn Nam Bộ, nhất là rừng ngập mặn ven biển tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh ... coi đây là vấn đề sống còn của hệ sinh thái toàn vùng Nam Bộ.
Gắn bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng là địa danh lịch sử với phát triển hình thức du lịch sinh thái.
Đẩy mạnh trồng rừng kinh tế trên các vùng đất phèn và nơi có điều kiện; trồng mới khoảng 100 ngàn ha rừng tràm ở vùng trũng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hậu và Nam bán đảo Cà Mau.
Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng ở các vùng sinh thái đất ngập nước, khoanh nuôi, tái sinh rừng gắn với nuôi trồng thủy sản, nâng cao năng lực phòng hộ, đảm bảo hiệu quả kinh tế của nghề rừng và bảo vệ môi trường sinh thái.
Phát triển mạnh trồng cây phân tán, cây chắn sóng, coi trọng trồng cây lấy gỗ ở các khu dân cư tập trung, các tuyến, cụm dân cư, dọc các tuyến đường, bờ kênh, xung quanh nhà ở của dân.
Đưa tỷ lệ che phủ của rừng ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt trên 15%.
e) Về phát triển thủy sản:
Phát huy tiềm năng và lợi thế của vùng sản xuất và xuất khẩu thủy sản lớn nhất cả nước. Phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản trên các loại mặt nước (ngọt, lợ và mặn); đồng thời từng bước phát triển nuôi biển các loại tôm, cá và các loại nhuyễn thể có giá trị cao, theo quy hoạch chung của vùng và từng địa phương.
Đến trước năm 2005 diện tích nuôi trồng thủy sản toàn vùng đạt trên 700.000 ha, sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đạt 1,7 triệu tấn, giá trị xuất khẩu đạt trên 1.500 triệu USD.
Đa dạng hoá các phương thức nuôi trồng thủy sản: xen canh, luân canh, chuyên canh, thâm canh, bán thâm canh, nuôi sinh thái và đa dạng hoá các đối tượng nuôi nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế rủi ro, đáp ứng các nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế, đặc biệt là đối với thị trường có tiềm năng lớn.
ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng cho nuôi trồng thủy sản, nhất là hệ thống các công trình thủy lợi (đê, kênh, cống chính cấp nước, thoát nước, trạm bơm điện...) hình thành các vùng dự án có quy mô vừa và lớn cho nuôi trồng thủy sản để được đầu tư đồng bộ, đảm bảo yêu cầu phát triển nguồn thủy sản nhanh, bền vững và có hiệu quả cao.
Khai thác hải sản xa bờ phải gắn với dịch vụ trên biển để nâng cao hiệu quả kinh tế; tổ chức lại sản xuất và tạo việc làm cho ngư dân ven bờ theo hướng chuyển mạnh sang nuôi trồng thủy sản, làm dịch vụ và bảo vệ nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ.
Tập trung đầu tư để đổi mới công nghệ chế biến, giảm dần chế biến thô, tăng tỷ trọng hàm lượng chế biến có giá trị gia tăng cao, đa dạng hoá sản phẩm và sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng các nhu cầu của thị trường; đồng thời thực hiện tốt quản lý chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thủy sản.
2. Về phát triển công nghiệp: tập trung đầu tư phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu:
a) Chế biến nông, lâm, thủy sản, nhất là công nghiệp chế biến thủy sản. Ưu tiên cải tạo mở rộng và nâng cao chất lượng cơ sở chế biến thủy sản tại Cà Mau, Sóc Trăng, Cần Thơ, Trà Vinh,.... đưa công suất chế biến lên hơn 25 vạn tấn/năm vào năm 2005; sử dụng tối đa công suất các nhà máy chế biến sữa tươi, sữa chua và kem ở Long An và Cần Thơ.
b) Cơ khí phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng, sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn.
c) Sản xuất vật liệu xây dựng để phát triển cơ sở hạ tầng và xây dựng nhà ở. Đến năm 2005 sản lượng xi măng tăng 4,17 triệu tấn, trong đó xi măng ở tỉnh Kiên Giang (khoảng 3,05 triệu tấn).
d) Ngành dệt may, xây dựng 2 cụm liên hợp dệt, may, nhuộm ở Cần Thơ và Long An có quy mô mỗi cụm: kéo sợi 2 - 3 vạn cọc, dệt vải mộc (vải nhẹ) với tổng công suất 20 triệu mét/năm; dệt kim 1.500 tấn/năm, nhuộm hoàn tất cho vải bông, tổng hợp 45 triệu mét/năm. Thu hút khoảng hơn 20.000 lao động dư thừa từ nông nghiệp.
đ) Sản xuất da giầy, hoá chất, phân bón, bao bì, giấy, chế biến gỗ... ở các địa phương có điều kiện phát triển các ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp.
e) Về ngành điện, đầu tư xây dựng nhà máy điện Ô Môn (I + II) công suất 600 MW, hệ thống dây dẫn điện 110 KW và trạm đồng bộ với nhà máy. Triển khai xây dựng nhà máy điện tuabin khí hỗn hợp Cà Mau công suất 720 MW và hệ thống đường dây cao thế Cà Mau - Ô Môn; khẩn trương xây dựng công nghiệp điện, đạm tại Cà Mau và Cần Thơ (triển khai xây dựng nhà máy sản xuất phân đạm 800.000 tấn/năm tại Cà Mau trong năm 2002) theo quy hoạch khu công nghiệp khí - điện - đạm Cà Mau đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 776/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2001.
g) Về sản xuất thuốc lá, ổn định sản lượng 230 - 240 triệu bao/năm; tiếp tục đầu tư theo chiều sâu để hiện đại hoá các nhà máy, nâng cao chất lượng thuốc lá điếu, đưa thuốc lá có đầu lọc, bao cứng lên 90%.
h) Về ngành rượu, bia, nước giải khát, tập trung nâng cao chất lượng bia thuộc 5 đơn vị quốc doanh địa phương, mở rộng công suất, tổ chức sắp xếp lại cơ sở để nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong vùng.
Giải quyết thị trường tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm các loại nước giải khát trái cây, nước ngọt có ga và không ga; nghiên cứu đầu tư thêm nhà máy có công suất trên 10 triệu lít/năm để tiêu thụ sản phẩm trái cây có sản lượng lớn như xoài, nhãn, cam, quýt, chôm chôm ...
i) Phát triển và thu hút các nhà đầu tư vào 6 khu công nghiệp tập trung hiện có, đồng thời từng bước quy hoạch và hình thành thêm một số khu công nghiệp mới với quy mô vừa và nhỏ.
Tiếp tục hình thành các khu công nghiệp tập trung, các cụm, điểm công nghiệp ở thị trấn, huyện để đáp ứng nhu cầu bảo quản, chế biến nông sản, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề sản xuất ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu, góp phần kích cầu và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá nông thôn.
3. Về phát triển thương mại, du lịch và dịch vụ:
a) Làm tốt công tác dự báo, thông tin thị trường, xúc tiến thương mại nhằm mở rộng thị trường trong nước và ngoài nước bằng các nguồn vốn của doanh nghiệp, tài trợ của các tổ chức và cá nhân, có sự hỗ trợ của nhà nước. Xây dựng và phát triển kinh tế cửa khẩu ở những tỉnh có điều kiện.
Khuyến khích thành lập và nâng cao vai trò của các Hiệp hội ngành hàng. Nghiên cứu thành lập Quỹ xúc tiến thương mại, các Quỹ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi; xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình nâng cao khả năng cạnh tranh của từng mặt hàng, của từng doanh nghiệp và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Xây dựng và phát triển các trung tâm thương mại, trung tâm thông tin thị trường, trung tâm xúc tiến thương mại, hệ thống kho chứa và bảo quản nông sản, hệ thống chợ bán buôn nông sản, thủy sản... Đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật thương mại (chợ, trung tâm thương mại...) cho các địa phương vùng có nhiều đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa.
Nâng tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội của toàn vùng đạt 15%/năm và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đạt 18 - 20%/năm.
b) Khai thác các tiềm năng và lợi thế của vùng để phát triển du lịch, du lịch sinh thái. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch thời kỳ 2001 - 2005 đạt hơn 20%/năm, đến năm 2005 doanh thu của ngành du lịch đạt trên 800 tỷ đồng.
c) Đa dạng hoá và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh các ngành dịch vụ, trong đó phát triển nhanh các loại hình dịch vụ thúc đẩy sản xuất hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu và phục vụ dân sinh như: giao thông vận tải, bưu chính - viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, kho ngoại quan, quá cảnh, chuyển khẩu, tạm nhập - tái xuất, xuất khẩu lao động, dịch vụ chuyển giao công nghệ, dịch vụ vật tư, kỹ thuật đầu vào, đầu ra cho nông nghiệp, thủy sản. Tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ thời kỳ 2001 - 2005 đạt từ 8 - 10%/năm.
4. Về khoa học, công nghệ và môi trường:
a) Nâng cao năng lực khoa học và công nghệ trong vùng, huy động lực lượng khoa học và công nghệ ngoài vùng, tạo bước phát triển mới, có hiệu quả trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm nâng cao giá trị đóng góp của khoa học và công nghệ vào giá trị gia tăng của các sản phẩm hàng hoá, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về quy luật phân bố và diễn biến, có luận cứ khoa học để có biện pháp xử lý lũ lụt, sạt lở v.v... và các giải pháp công trình như đê ven biển, đê cù lao, đê bảo vệ các khu dân cư tập trung; xử lý môi trường nông thôn và môi trường các khu nuôi trồng tập trung có hiệu quả.
Đầu tư nâng cấp các cơ sở nghiên cứu khoa học nông, lâm, ngư nghiệp của vùng nhằm đưa nhanh các tiến bộ khoa học phục vụ việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, nhất là về các khâu giống (cây trồng, vật nuôi, thủy sản), công nghiệp chế biến và bảo quản các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, đáp ứng nhu cầu nội địa và xuất khẩu.
b) ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ mới về xây dựng, sản xuất vật liệu và kết cấu công trình... thích hợp với vùng đất yếu, vùng thường xuyên bị thiên tai lũ lụt; nghiên cứu nạo vét luồng tàu Định An vào cảng Cần Thơ để tàu 1 vạn tấn ra vào cảng.
c) Nghiên cứu để thiết lập công nghệ phần mềm tại Cần Thơ và xây dựng, khai thác mạng Internet của vùng.
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường phối hợp với ủy ban nhân dân các tỉnh và các Bộ, ngành liên quan có kế hoạch bố trí kinh phí trong kế hoạch nghiên cứu 5 năm (2001 - 2005) và hàng năm cho các chương trình và dự án để phục vụ mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu Long.
5. Về y tế, giáo dục và đào tạo:
a) Về y tế:
Củng cố và phát triển hệ thống các bệnh viện đa khoa phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phòng chống dịch, khám chữa bệnh cho nhân dân.
Sớm hoàn thành việc đầu tư xây dựng bệnh viện đa khoa của vùng tại thành phố Cần Thơ, nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh với chất lượng cao hơn cho nhân dân trong vùng.
Tiếp tục củng cố, nâng cấp mạng lưới y tế cơ sở, nhất là tuyến xã và thôn ấp; có chính sách khuyến khích đưa bác sĩ về xã, đến năm 2005 sẽ có khoảng 80% xã có bác sĩ.
Đảm bảo cơ số thuốc dự phòng cần thiết cho các vùng ngập lũ, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về việc sử dụng nước sạch, sử dụng thuốc an toàn, hợp lý. Có biện pháp phòng, chống, hạn chế các bệnh nguy hiểm như: thương hàn và các loại bệnh khác.
b) Về giáo dục và đào tạo:
Nhanh chóng tạo bước chuyển biến cơ bản đối với giáo dục và đào tạo đáp ứng nhu cầu giáo dục của các tầng lớp dân cư và phát triển kinh tế - xã hội của vùng; chú trọng thu hút con em đồng bào dân tộc Khơ me và các dân tộc thiểu số khác đến trường.
Củng cố và hoàn thiện quy hoạch mạng lưới trường học mầm non và phổ thông (bao gồm cả trường dân tộc nội trú) gắn liền với quy hoạch cụm dân cư, phù hợp với vùng thường xuyên bị lũ lụt; cơ bản xoá phòng học 3 ca trong năm học 2001 - 2002, đến năm 2005 xây dựng trường phổ thông kiên cố và bán kiên cố đạt tỷ lệ 80%, bảo đảm ổn định việc học tập và là nơi tránh lũ khi có lũ lụt.
Trên cơ sở quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng đã được Chính phủ phê duyệt, xúc tiến việc thành lập một số trường đại học và cao đẳng ở những tỉnh có điều kiện để nâng cao năng lực đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng, nhất là các ngành nông nghiệp, thủy sản, chế biến nông, lâm, thủy sản, y khoa và đào tạo đội ngũ giáo viên.
Trên cơ sở khoa Y dược hiện có của trường đại học Cần Thơ, triển khai trong năm 2002 việc thành lập và đầu tư xây dựng trường đại học Y dược, đào tạo cán bộ chuyên khoa, đa khoa cho các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Giải quyết dứt điểm vấn đề thiếu giáo viên tiểu học vào năm 2002, giáo viên trung học cơ sở và trung học phổ thông vào năm 2005. Trước mắt tăng quy mô đào tạo giáo viên cho Khoa sư phạm của trường đại học Cần Thơ, trường cao đẳng Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long và một số trường cao đẳng Sư phạm địa phương để bổ sung kịp thời và nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên trong vùng. Triển khai trong năm 2002 việc thành lập và đầu tư xây dựng trường đại học Sư phạm để đào tạo giáo viên cho vùng.
Tăng dần tỷ lệ đầu tư cho giáo dục và đào tạo vùng đồng bằng sông Cửu Long lên khoảng 22% tổng ngân sách giáo dục đào tạo vào giai đoạn 2001 - 2005.
c) Về lao động và việc làm:
Cùng với việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển mạnh các ngành nghề truyền thống, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn phù hợp với quy hoạch, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm mới thu hút lao động tại chỗ.
Các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành và các Tổng công ty 91 nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện chương trình đào tạo, dạy nghề để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực; phấn đấu chuyển mỗi năm khoảng 24 vạn người trong số lao động từ khu vực nông thôn sang khu vực công nghiệp và dịch vụ; giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực đô thị xuống dưới 4%; đưa cơ cấu lao động trong vùng đến năm 2005 ở khu vực nông, lâm nghiệp 53%, công nghiệp 17%, khu vực dịch vụ khoảng 30%.

Content:
Điều 3. Nội dung chuyển dịch cơ cấu sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội một số ngành và lĩnh vực chủ yếu sau:
1. Về sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp:
a) Về sản xuất lúa:
Sản xuất lúa vẫn là ngành sản xuất có lợi thế của vùng đồng bằng sông Cửu Long. ổn định diện tích khoảng 1,8 triệu ha đất có điều kiện thủy lợi tưới tiêu chủ động để sản xuất 2 vụ ăn chắc, trong đó có 1 triệu ha trồng lúa có chất lượng cao để xuất khẩu, duy trì mức sản lượng lúa từ 15 đến 16 triệu tấn/năm. Điều chỉnh lại cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống lúa cho phù hợp với diễn biến của lũ lụt và thị trường tiêu thụ. Nâng trình độ công nghệ sản xuất, chế biến, bảo quản lúa gạo đến năm 2005 ngang mức tiên tiến trong khu vực, có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
Đối với diện tích đất trồng lúa có năng suất thấp, bấp bênh; vùng đất bãi ven sông, đất cao không ngập lũ; diện tích trồng lúa ở vùng ven đô, các trục đường giao thông và ở các vùng khác thì chuyển dần sang trồng các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn hoặc nuôi trồng thủy sản.
b) Về phát triển các cây trồng làm nguyên liệu công nghiệp:
Mở rộng diện tích trồng ngô, đậu tương... kết hợp sử dụng giống mới, năng suất cao để cung cấp nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi.
ổn định diện tích trồng mía khoảng 90.000 ha để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các nhà máy đường hiện có. áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật về giống kết hợp với thâm canh để tăng năng suất cây mía đến năm 2005 đạt bình quân trên 80 tấn/ha.
Tiếp tục nâng cao công nghệ chế biến dừa, đa dạng và nâng cao giá trị sản phẩm dừa. Đồng thời từng bước nghiên cứu các giống dừa có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng để thay thế vườn dừa đã già cỗi, năng suất thấp; thực hiện phương thức xen canh cây dừa với các loại cây trồng khác hoặc kết hợp với chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, để nâng hiệu quả sử dụng đất lên gấp 1,5 - 2 lần hiện nay.
Trên cơ sở kết luận khoa học về hiệu quả và khả năng phát triển cây bông ở trong vùng, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng công ty Dệt May Việt Nam có kế hoạch và biện pháp mở rộng diện tích trồng bông với giống bông lai có năng suất, chất lượng cao ở nơi có điều kiện. Việc phát triển cây bông phải gắn với phát triển công nghiệp cán bông và công nghiệp dệt. Phát triển cây đay ở nơi có điều kiện làm nguyên liệu bao bì và công nghiệp giấy.
c) Về các loại cây ăn quả:
Phát triển các loại cây ăn quả nhiệt đới có lợi thế cạnh tranh, có giá trị hàng hoá kinh tế cao như xoài, nhãn, cam sành, quýt đường, bưởi, dứa, vú sữa, măng cụt, sầu riêng và các cây ăn quả khác. Việc phát triển các loại cây ăn quả phải gắn với thị trường xuất khẩu và thay thế nhập khẩu.
Vùng thường xuyên bị ngập lụt cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng và mùa vụ thích hợp với điều kiện ngập nước.
d) Về chăn nuôi: tiếp tục phát triển đàn lợn, gia cầm, bò thịt và phát triển nhanh đàn bò sữa để đáp ứng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến sữa ở Long An, Cần Thơ và một số địa phương khác.
­đ) Về phát triển lâm nghiệp:
Bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn Nam Bộ, nhất là rừng ngập mặn ven biển tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh ... coi đây là vấn đề sống còn của hệ sinh thái toàn vùng Nam Bộ.
Gắn bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng là địa danh lịch sử với phát triển hình thức du lịch sinh thái.
Đẩy mạnh trồng rừng kinh tế trên các vùng đất phèn và nơi có điều kiện; trồng mới khoảng 100 ngàn ha rừng tràm ở vùng trũng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hậu và Nam bán đảo Cà Mau.
Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng ở các vùng sinh thái đất ngập nước, khoanh nuôi, tái sinh rừng gắn với nuôi trồng thủy sản, nâng cao năng lực phòng hộ, đảm bảo hiệu quả kinh tế của nghề rừng và bảo vệ môi trường sinh thái.
Phát triển mạnh trồng cây phân tán, cây chắn sóng, coi trọng trồng cây lấy gỗ ở các khu dân cư tập trung, các tuyến, cụm dân cư, dọc các tuyến đường, bờ kênh, xung quanh nhà ở của dân.
Đưa tỷ lệ che phủ của rừng ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt trên 15%.
e) Về phát triển thủy sản:
Phát huy tiềm năng và lợi thế của vùng sản xuất và xuất khẩu thủy sản lớn nhất cả nước. Phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản trên các loại mặt nước (ngọt, lợ và mặn); đồng thời từng bước phát triển nuôi biển các loại tôm, cá và các loại nhuyễn thể có giá trị cao, theo quy hoạch chung của vùng và từng địa phương.
Đến trước năm 2005 diện tích nuôi trồng thủy sản toàn vùng đạt trên 700.000 ha, sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đạt 1,7 triệu tấn, giá trị xuất khẩu đạt trên 1.500 triệu USD.
Đa dạng hoá các phương thức nuôi trồng thủy sản: xen canh, luân canh, chuyên canh, thâm canh, bán thâm canh, nuôi sinh thái và đa dạng hoá các đối tượng nuôi nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế rủi ro, đáp ứng các nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế, đặc biệt là đối với thị trường có tiềm năng lớn.
ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng cho nuôi trồng thủy sản, nhất là hệ thống các công trình thủy lợi (đê, kênh, cống chính cấp nước, thoát nước, trạm bơm điện...) hình thành các vùng dự án có quy mô vừa và lớn cho nuôi trồng thủy sản để được đầu tư đồng bộ, đảm bảo yêu cầu phát triển nguồn thủy sản nhanh, bền vững và có hiệu quả cao.
Khai thác hải sản xa bờ phải gắn với dịch vụ trên biển để nâng cao hiệu quả kinh tế; tổ chức lại sản xuất và tạo việc làm cho ngư dân ven bờ theo hướng chuyển mạnh sang nuôi trồng thủy sản, làm dịch vụ và bảo vệ nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ.
Tập trung đầu tư để đổi mới công nghệ chế biến, giảm dần chế biến thô, tăng tỷ trọng hàm lượng chế biến có giá trị gia tăng cao, đa dạng hoá sản phẩm và sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng các nhu cầu của thị trường; đồng thời thực hiện tốt quản lý chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thủy sản.
2. Về phát triển công nghiệp: tập trung đầu tư phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu:
a) Chế biến nông, lâm, thủy sản, nhất là công nghiệp chế biến thủy sản. Ưu tiên cải tạo mở rộng và nâng cao chất lượng cơ sở chế biến thủy sản tại Cà Mau, Sóc Trăng, Cần Thơ, Trà Vinh,.... đưa công suất chế biến lên hơn 25 vạn tấn/năm vào năm 2005; sử dụng tối đa công suất các nhà máy chế biến sữa tươi, sữa chua và kem ở Long An và Cần Thơ.
b) Cơ khí phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng, sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn.
c) Sản xuất vật liệu xây dựng để phát triển cơ sở hạ tầng và xây dựng nhà ở. Đến năm 2005 sản lượng xi măng tăng 4,17 triệu tấn, trong đó xi măng ở tỉnh Kiên Giang (khoảng 3,05 triệu tấn).
d) Ngành dệt may, xây dựng 2 cụm liên hợp dệt, may, nhuộm ở Cần Thơ và Long An có quy mô mỗi cụm: kéo sợi 2 - 3 vạn cọc, dệt vải mộc (vải nhẹ) với tổng công suất 20 triệu mét/năm; dệt kim 1.500 tấn/năm, nhuộm hoàn tất cho vải bông, tổng hợp 45 triệu mét/năm. Thu hút khoảng hơn 20.000 lao động dư thừa từ nông nghiệp.
đ) Sản xuất da giầy, hoá chất, phân bón, bao bì, giấy, chế biến gỗ... ở các địa phương có điều kiện phát triển các ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp.
e) Về ngành điện, đầu tư xây dựng nhà máy điện Ô Môn (I + II) công suất 600 MW, hệ thống dây dẫn điện 110 KW và trạm đồng bộ với nhà máy. Triển khai xây dựng nhà máy điện tuabin khí hỗn hợp Cà Mau công suất 720 MW và hệ thống đường dây cao thế Cà Mau - Ô Môn; khẩn trương xây dựng công nghiệp điện, đạm tại Cà Mau và Cần Thơ (triển khai xây dựng nhà máy sản xuất phân đạm 800.000 tấn/năm tại Cà Mau trong năm 2002) theo quy hoạch khu công nghiệp khí - điện - đạm Cà Mau đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 776/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2001.
g) Về sản xuất thuốc lá, ổn định sản lượng 230 - 240 triệu bao/năm; tiếp tục đầu tư theo chiều sâu để hiện đại hoá các nhà máy, nâng cao chất lượng thuốc lá điếu, đưa thuốc lá có đầu lọc, bao cứng lên 90%.
h) Về ngành rượu, bia, nước giải khát, tập trung nâng cao chất lượng bia thuộc 5 đơn vị quốc doanh địa phương, mở rộng công suất, tổ chức sắp xếp lại cơ sở để nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong vùng.
Giải quyết thị trường tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm các loại nước giải khát trái cây, nước ngọt có ga và không ga; nghiên cứu đầu tư thêm nhà máy có công suất trên 10 triệu lít/năm để tiêu thụ sản phẩm trái cây có sản lượng lớn như xoài, nhãn, cam, quýt, chôm chôm ...
i) Phát triển và thu hút các nhà đầu tư vào 6 khu công nghiệp tập trung hiện có, đồng thời từng bước quy hoạch và hình thành thêm một số khu công nghiệp mới với quy mô vừa và nhỏ.
Tiếp tục hình thành các khu công nghiệp tập trung, các cụm, điểm công nghiệp ở thị trấn, huyện để đáp ứng nhu cầu bảo quản, chế biến nông sản, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề sản xuất ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu, góp phần kích cầu và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá nông thôn.
3. Về phát triển thương mại, du lịch và dịch vụ:
a) Làm tốt công tác dự báo, thông tin thị trường, xúc tiến thương mại nhằm mở rộng thị trường trong nước và ngoài nước bằng các nguồn vốn của doanh nghiệp, tài trợ của các tổ chức và cá nhân, có sự hỗ trợ của nhà nước. Xây dựng và phát triển kinh tế cửa khẩu ở những tỉnh có điều kiện.
Khuyến khích thành lập và nâng cao vai trò của các Hiệp hội ngành hàng. Nghiên cứu thành lập Quỹ xúc tiến thương mại, các Quỹ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi; xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình nâng cao khả năng cạnh tranh của từng mặt hàng, của từng doanh nghiệp và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Xây dựng và phát triển các trung tâm thương mại, trung tâm thông tin thị trường, trung tâm xúc tiến thương mại, hệ thống kho chứa và bảo quản nông sản, hệ thống chợ bán buôn nông sản, thủy sản... Đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật thương mại (chợ, trung tâm thương mại...) cho các địa phương vùng có nhiều đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa.
Nâng tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội của toàn vùng đạt 15%/năm và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đạt 18 - 20%/năm.
b) Khai thác các tiềm năng và lợi thế của vùng để phát triển du lịch, du lịch sinh thái. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch thời kỳ 2001 - 2005 đạt hơn 20%/năm, đến năm 2005 doanh thu của ngành du lịch đạt trên 800 tỷ đồng.
c) Đa dạng hoá và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh các ngành dịch vụ, trong đó phát triển nhanh các loại hình dịch vụ thúc đẩy sản xuất hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu và phục vụ dân sinh như: giao thông vận tải, bưu chính - viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, kho ngoại quan, quá cảnh, chuyển khẩu, tạm nhập - tái xuất, xuất khẩu lao động, dịch vụ chuyển giao công nghệ, dịch vụ vật tư, kỹ thuật đầu vào, đầu ra cho nông nghiệp, thủy sản. Tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ thời kỳ 2001 - 2005 đạt từ 8 - 10%/năm.
4. Về khoa học, công nghệ và môi trường:
a) Nâng cao năng lực khoa học và công nghệ trong vùng, huy động lực lượng khoa học và công nghệ ngoài vùng, tạo bước phát triển mới, có hiệu quả trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm nâng cao giá trị đóng góp của khoa học và công nghệ vào giá trị gia tăng của các sản phẩm hàng hoá, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về quy luật phân bố và diễn biến, có luận cứ khoa học để có biện pháp xử lý lũ lụt, sạt lở v.v... và các giải pháp công trình như đê ven biển, đê cù lao, đê bảo vệ các khu dân cư tập trung; xử lý môi trường nông thôn và môi trường các khu nuôi trồng tập trung có hiệu quả.
Đầu tư nâng cấp các cơ sở nghiên cứu khoa học nông, lâm, ngư nghiệp của vùng nhằm đưa nhanh các tiến bộ khoa học phục vụ việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, nhất là về các khâu giống (cây trồng, vật nuôi, thủy sản), công nghiệp chế biến và bảo quản các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, đáp ứng nhu cầu nội địa và xuất khẩu.
b) ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ mới về xây dựng, sản xuất vật liệu và kết cấu công trình... thích hợp với vùng đất yếu, vùng thường xuyên bị thiên tai lũ lụt; nghiên cứu nạo vét luồng tàu Định An vào cảng Cần Thơ để tàu 1 vạn tấn ra vào cảng.
c) Nghiên cứu để thiết lập công nghệ phần mềm tại Cần Thơ và xây dựng, khai thác mạng Internet của vùng.
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường phối hợp với ủy ban nhân dân các tỉnh và các Bộ, ngành liên quan có kế hoạch bố trí kinh phí trong kế hoạch nghiên cứu 5 năm (2001 - 2005) và hàng năm cho các chương trình và dự án để phục vụ mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu Long.
5. Về y tế, giáo dục và đào tạo:
a) Về y tế:
Củng cố và phát triển hệ thống các bệnh viện đa khoa phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phòng chống dịch, khám chữa bệnh cho nhân dân.
Sớm hoàn thành việc đầu tư xây dựng bệnh viện đa khoa của vùng tại thành phố Cần Thơ, nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh với chất lượng cao hơn cho nhân dân trong vùng.
Tiếp tục củng cố, nâng cấp mạng lưới y tế cơ sở, nhất là tuyến xã và thôn ấp; có chính sách khuyến khích đưa bác sĩ về xã, đến năm 2005 sẽ có khoảng 80% xã có bác sĩ.
Đảm bảo cơ số thuốc dự phòng cần thiết cho các vùng ngập lũ, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về việc sử dụng nước sạch, sử dụng thuốc an toàn, hợp lý. Có biện pháp phòng, chống, hạn chế các bệnh nguy hiểm như: thương hàn và các loại bệnh khác.
b) Về giáo dục và đào tạo:
Nhanh chóng tạo bước chuyển biến cơ bản đối với giáo dục và đào tạo đáp ứng nhu cầu giáo dục của các tầng lớp dân cư và phát triển kinh tế - xã hội của vùng; chú trọng thu hút con em đồng bào dân tộc Khơ me và các dân tộc thiểu số khác đến trường.
Củng cố và hoàn thiện quy hoạch mạng lưới trường học mầm non và phổ thông (bao gồm cả trường dân tộc nội trú) gắn liền với quy hoạch cụm dân cư, phù hợp với vùng thường xuyên bị lũ lụt; cơ bản xoá phòng học 3 ca trong năm học 2001 - 2002, đến năm 2005 xây dựng trường phổ thông kiên cố và bán kiên cố đạt tỷ lệ 80%, bảo đảm ổn định việc học tập và là nơi tránh lũ khi có lũ lụt.
Trên cơ sở quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng đã được Chính phủ phê duyệt, xúc tiến việc thành lập một số trường đại học và cao đẳng ở những tỉnh có điều kiện để nâng cao năng lực đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng, nhất là các ngành nông nghiệp, thủy sản, chế biến nông, lâm, thủy sản, y khoa và đào tạo đội ngũ giáo viên.
Trên cơ sở khoa Y dược hiện có của trường đại học Cần Thơ, triển khai trong năm 2002 việc thành lập và đầu tư xây dựng trường đại học Y dược, đào tạo cán bộ chuyên khoa, đa khoa cho các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Giải quyết dứt điểm vấn đề thiếu giáo viên tiểu học vào năm 2002, giáo viên trung học cơ sở và trung học phổ thông vào năm 2005. Trước mắt tăng quy mô đào tạo giáo viên cho Khoa sư phạm của trường đại học Cần Thơ, trường cao đẳng Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long và một số trường cao đẳng Sư phạm địa phương để bổ sung kịp thời và nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên trong vùng. Triển khai trong năm 2002 việc thành lập và đầu tư xây dựng trường đại học Sư phạm để đào tạo giáo viên cho vùng.
Tăng dần tỷ lệ đầu tư cho giáo dục và đào tạo vùng đồng bằng sông Cửu Long lên khoảng 22% tổng ngân sách giáo dục đào tạo vào giai đoạn 2001 - 2005.
c) Về lao động và việc làm:
Cùng với việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển mạnh các ngành nghề truyền thống, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn phù hợp với quy hoạch, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm mới thu hút lao động tại chỗ.
Các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành và các Tổng công ty 91 nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện chương trình đào tạo, dạy nghề để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực; phấn đấu chuyển mỗi năm khoảng 24 vạn người trong số lao động từ khu vực nông thôn sang khu vực công nghiệp và dịch vụ; giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực đô thị xuống dưới 4%; đưa cơ cấu lao động trong vùng đến năm 2005 ở khu vực nông, lâm nghiệp 53%, công nghiệp 17%, khu vực dịch vụ khoảng 30%.