Document: Điều 2 Quyết định  204-CT  thanh toán công trái xây dựng Tổ quốc, loại kỳ hạn 5 năm đến hạn thanh toán

Type: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "09/06/1992", "sign_number": "204-CT", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "09/06/1992", "sign_number": "204-CT", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "09/06/1992", "sign_number": "204-CT", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "09/06/1992", "sign_number": "204-CT", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "09/06/1992", "sign_number": "204-CT", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 2 Quyết định  204-CT  thanh toán công trái xây dựng Tổ quốc, loại kỳ hạn 5 năm đến hạn thanh toán có nội dung như sau:

Điều 2. Giá trị của các loại phiếu công trái xây dựng Tổ quốc được thanh toán như sau:
a) Các phiếu công trái ghi và thu bằng tiền, khi thanh toán được tính lại căn cứ và chỉ số giá bình quân của các mặt hàng đảm bảo giá trị tiền mua công trái (tại Quyết định số 354-TC/XSCT ngày 23 tháng 11 năm 1987 và số 123-TC/XSCT ngày 8 tháng 6 năm 1988) của năm thanh toán so với năm phát hành. Giá các mặt hàng làm căn cứ tính chỉ số giá để thanh toán phiếu công trái đến hạn là giá phổ biến bình quân trên thị trường cả nước ở thời điểm thanh toán.
Bộ trưởng Bộ Tài chính công bố chỉ số giá bình quân của các mặt hàng nói trên cho từng đợt thanh toán công trái, sau khi thống nhất với Chủ nhiệm Uỷ ban vật giá Nhà nước và Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê.
b) Các phiếu công trái ghi và thu bằng thóc khi thanh toán được tính thành tiền theo giá thóc bình quân trên địa bàn tỉnh, thành phố ở thời điểm thanh toán do Bộ trưởng Bộ Tài chính công bố sau khi thống nhất với Chủ nhiệm Uỷ ban vật giá Nhà nước.
c) Các phiếu công trái ghi và thu bằng vàng; phần gốc được thanh toán bằng vàng theo đúng trọng lượng và chất lượng vàng đã ghi trên phiếu công trái (theo Nghị định số 59/HĐBT ngày 12 tháng 4 năm 1984 của Hội đồng Bộ trưởng); phần lãi được thanh toán bằng tiền đồng Việt Nam ; tính theo giá mua vàng của Công ty vàng bạc đá quý thuộc Ngân hàng Nhà nước công bố ở thời điểm thanh toán.
Nếu người sở hữu phiếu công trái muốn thanh toán cả gốc bằng tiền đồng Việt Nam thì Nhà nước cũng thanh toán theo giá mua hàng nói trên.
d) Các phiếu công trái ghi và thu bằng ngoại tệ chuyển đổi : khi thanh toán, phần gốc sẽ được trả bằng ngoại tệ cùng loại đã ghi trên phiếu công trái ; số lãi được thanh toán bằng tiền đồng Việt nam , tính theo giá mua ngoại tệ của ngân hàng ngoại thương tại thời điểm thanh toán.
Nếu người sở hữu phiếu công trái muốn được trả phần gốc bằng tiền đồng Việt Nam thì cũng được quy đổi ngoại tệ sang tiền đồng Việt Nam theo giá mua ngoại tệ ở thời điểm thanh toán do ngân hàng ngoại thương công bố.

Content:
Điều 2. Giá trị của các loại phiếu công trái xây dựng Tổ quốc được thanh toán như sau:
a) Các phiếu công trái ghi và thu bằng tiền, khi thanh toán được tính lại căn cứ và chỉ số giá bình quân của các mặt hàng đảm bảo giá trị tiền mua công trái (tại Quyết định số 354-TC/XSCT ngày 23 tháng 11 năm 1987 và số 123-TC/XSCT ngày 8 tháng 6 năm 1988) của năm thanh toán so với năm phát hành. Giá các mặt hàng làm căn cứ tính chỉ số giá để thanh toán phiếu công trái đến hạn là giá phổ biến bình quân trên thị trường cả nước ở thời điểm thanh toán.
Bộ trưởng Bộ Tài chính công bố chỉ số giá bình quân của các mặt hàng nói trên cho từng đợt thanh toán công trái, sau khi thống nhất với Chủ nhiệm Uỷ ban vật giá Nhà nước và Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê.
b) Các phiếu công trái ghi và thu bằng thóc khi thanh toán được tính thành tiền theo giá thóc bình quân trên địa bàn tỉnh, thành phố ở thời điểm thanh toán do Bộ trưởng Bộ Tài chính công bố sau khi thống nhất với Chủ nhiệm Uỷ ban vật giá Nhà nước.
c) Các phiếu công trái ghi và thu bằng vàng; phần gốc được thanh toán bằng vàng theo đúng trọng lượng và chất lượng vàng đã ghi trên phiếu công trái (theo Nghị định số 59/HĐBT ngày 12 tháng 4 năm 1984 của Hội đồng Bộ trưởng); phần lãi được thanh toán bằng tiền đồng Việt Nam ; tính theo giá mua vàng của Công ty vàng bạc đá quý thuộc Ngân hàng Nhà nước công bố ở thời điểm thanh toán.
Nếu người sở hữu phiếu công trái muốn thanh toán cả gốc bằng tiền đồng Việt Nam thì Nhà nước cũng thanh toán theo giá mua hàng nói trên.
d) Các phiếu công trái ghi và thu bằng ngoại tệ chuyển đổi : khi thanh toán, phần gốc sẽ được trả bằng ngoại tệ cùng loại đã ghi trên phiếu công trái ; số lãi được thanh toán bằng tiền đồng Việt nam , tính theo giá mua ngoại tệ của ngân hàng ngoại thương tại thời điểm thanh toán.
Nếu người sở hữu phiếu công trái muốn được trả phần gốc bằng tiền đồng Việt Nam thì cũng được quy đổi ngoại tệ sang tiền đồng Việt Nam theo giá mua ngoại tệ ở thời điểm thanh toán do ngân hàng ngoại thương công bố.