Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 709/QĐ-UBND 2018 Quy hoạch hệ thống nghiên cứu giống cây nông lâm nghiệp An Giang

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "30/03/2018", "sign_number": "709/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "30/03/2018", "sign_number": "709/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "30/03/2018", "sign_number": "709/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "30/03/2018", "sign_number": "709/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "30/03/2018", "sign_number": "709/QĐ-UBND", "signer": "Lâm Quang Thi", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 709/QĐ-UBND 2018 Quy hoạch hệ thống nghiên cứu giống cây nông lâm nghiệp An Giang

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch hệ thống nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất và cung ứng giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản trên địa bàn tỉnh An Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, với các nội dung chủ yếu như sau:
...
3. Định hướng phát triển Quy hoạch hệ thống nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất và cung ứng giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
3.1. Quy hoạch hệ thống nghiên cứu, sản xuất và cung ứng giống cây trồng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
a) Giống lúa: Duy trì và phát triển hệ thống nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất và cung ứng lúa giống theo mô hình tháp giống 3 cấp. Đẩy mạnh công tác chọn tạo và nhân giống lúa thơm, đặc sản; giống lúa chất lượng cao phù hợp với nhu cầu thị trường; Định hướng chọn tạo giống lúa: Điều chỉnh việc chọn tạo giống lúa vừa năng suất cao ngắn ngày, vừa đảm bảo yếu tố chất lượng, giá trị cao hơn. Việc thay đổi cơ cấu giống lúa dựa trên xu hướng nhu cầu thị trường; Duy trì năng lực sản xuất lúa giống cấp xác nhận khoảng 140-160 ngàn tấn/năm, trong đó nhu cầu sử dụng giống của tỉnh khoảng 80-85 ngàn tấn/năm, thương mại nội địa khoảng 50-65 ngàn tấn và xuất khẩu khoảng 10 ngàn tấn/năm.
b) Giống rau màu: Phục tráng các giống địa phương; chọn tạo và nhân giống các loại rau màu mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, kháng sâu bệnh. Thay vì nhập khẩu các loại giống cây trồng từ nước ngoài là đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ cao để phát triển những giống rau màu vốn là thế mạnh địa phương; Phát triển các doanh nghiệp giống sản xuất, cung ứng các chủng loại giống F1 cho nhà vườn. Nhập khẩu và khảo nghiệm các giống rau màu có năng suất cao, phẩm chất tốt, kháng sâu bệnh và phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương; Đầu tư thích đáng cho khâu nghiên cứu sản xuất giống mới, nhân giống mới và cải tạo giống, hỗ trợ nông dân trong việc sử dụng giống mới để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ.
c) Giống cây ăn trái: Tập trung phát triển sản xuất giống cây ăn trái để phục vụ kế hoạch tái canh cải tạo giống, kế hoạch chuyển đổi giống đáp ứng mục tiêu của Quy hoạch phát triển vùng sản xuất cây ăn quả ứng dụng công nghệ cao; Tăng cường hoạt động bình tuyển, lựa chọn các cây có ưu thế vượt trội để hình thành các cây đầu dòng, tiếp tục xây dựng, quản lý, khai thác các vườn cây đầu dòng để phục vụ cho việc ghép, lai tạo; Phát triển phương pháp nuôi cấy mô thực vật đối với cây ăn quả. Tiếp tục đầu tư, phát triển các cơ sở sản xuất tại huyện Chợ Mới, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên, phát triển thêm các cơ sở sản xuất giống tại huyện để phục vụ cho nhu cầu tại chỗ.
d) Giống cây dược liệu: Quy hoạch hệ thống nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất và cung ứng giống cây dược liệu nhằm đáp ứng Quy hoạch bảo tồn và phát triển cây dược liệu ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh.
đ) Giống cây lâm nghiệp: Quy hoạch hệ thống giống lâm nghiệp đảm bảo đồng bộ, hài hoà giữa lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất; coi trọng cả cây gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ, cây bản địa và cây nhập nội; Ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất lâm nghiệp, trước mắt là ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô trong sản xuất giống cây trồng có năng suất cao. Gắn nghiên cứu giống lâm nghiệp với nhu cầu chất lượng giống của sản xuất để chọn tạo ra nhiều giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt.
3.2. Quy hoạch hệ thống nghiên cứu, sản xuất, chuyển giao và cung ứng giống vật nuôi đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
a) Giống heo: Quản lý hệ thống nhân giống theo sơ đồ hình tháp 3 cấp: cấp heo giống cụ kỵ (GGP), cấp heo giống ông bà (GP), cấp heo giống bố mẹ (PS); Đến năm 2025 xây dựng được đàn heo giống có năng suất, chất lượng cao, quy mô đàn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu trong tỉnh về con giống hậu bị, con giống heo nuôi thịt, không phải nhập con giống từ bên ngoài vào; Từ sau năm 2025, các trại giống công nghệ cao trên địa bàn tỉnh không những đáp ứng đủ nhu cầu của tỉnh, mà còn cung cấp heo giống cho các tỉnh trong Vùng, cung cấp tinh heo ra nhiều địa phương trong cả nước; Hình thành mạng lưới các cơ sở sản xuất, kinh doanh heo giống thương phẩm quy mô ở các địa phương để phục vụ chăn nuôi gia trại; đầu tư hệ thống trạm thụ tinh nhân tạo, thường xuyên tổ chức bình tuyển, đánh giá chất lượng và quản lý đàn heo đực giống.
b) Giống gia cầm, thủy cầm: Phát triển mạng lưới sản xuất giống gia cầm, thủy cầm theo hình tháp các cấp, mô hình sản xuất con giống ứng dụng công nghệ cao nhằm cung ứng đủ giống bố mẹ cho các cơ sở sản xuất giống thương phẩm, hạn chế tình trạng sử dụng giống thương phẩm làm bố mẹ; Phấn đấu đến năm 2025 có ít nhất 1 thương hiệu giống gà, giống vịt của tỉnh và xây dựng được 1 hệ nhân giống gia cầm 4 cấp do doanh nghiệp đầu tư; Phát triển các giống gà có chất lượng thịt tốt, được thị trường ưa chuộng như gà Tàu vàng, Tam Hoàng, Lương Phượng, gà Tre Tân Châu. Phát triển các giống vịt chuyên thịt như Super M, Grumaud và giống vịt chuyên trứng như vịt Triết Giang.
c) Giống bò: Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò thịt bằng các giống lai thông qua phương pháp thụ tinh nhân tạo. Cải tiến và nâng cao tầm vóc đàn bò theo hướng Zebu hóa thông qua gieo tinh nhân tạo hoặc bò đực giống đã qua chọn lọc cho nhân giống ở những nơi chưa có điều kiện gieo tinh nhân tạo; Nâng tỷ lệ thụ tinh nhân tạo lên khoảng 40% năm 2020, trên 70% năm 2025 và trên 90% năm 2030. Đồng thời, đảm bảo duy trì trên 80% đàn bò lai trong tổng đàn bò thịt thương phẩm; Trung tâm giống cây trồng và vật nuôi tỉnh triển khai chương trình cải tạo đàn bò, ưu tiên các giống có ưu thế thị trường tiêu thụ.
3.3. Quy hoạch hệ thống nghiên cứu, chuyển giao sản xuất và cung ứng giống thủy sản đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
a) Giống cá tra: Tập trung xây dựng và phát triển bền vững mô hình Giống cá tra 3 cấp. Tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu sản xuất giống cá tra chất lượng cao và An Giang sẽ là trung tâm sản xuất giống cá tra của Vùng; Hình thành chuỗi liên kết sản xuất giống cá tra 3 cấp chất lượng cao nhằm thực hiện tái cơ cấu ngành hàng cá tra theo hướng chuỗi sản xuất thủy sản bền vững, tạo bước đột phá trong lĩnh vực thủy sản của tỉnh An Giang; Diện tích sản xuất giống cá tra khoảng 1.000 ha giai đoạn 2020-2021; năng lực cung cấp khoảng 50% nhu cầu giống cá tra cho An Giang và các tỉnh trong Vùng.
b) Giống tôm càng xanh: Xây dựng và phát triển hệ thống sản xuất giống tôm càng xanh toàn đực theo hình thức trại giống 2 cấp, trong đó cấp 1 là Trung tâm Giống thủy sản An Giang và cấp 2 là các trại vệ tinh; Phấn đấu có ít nhất 1 doanh nghiệp giống tôm càng xanh có năng lực mạnh về nhân lực, công nghệ, tài chính, thị trường tiêu thụ, góp phần tạo dựng An Giang là trung tâm giống thủy sản cấp vùng.
c) Giống thủy sản nước ngọt khác: Tập trung vào nâng cao chất lượng con giống và nghiên cứu chọn tạo để bổ sung các giống mới nhằm phong phú hơn nữa cơ cấu đàn giống để sản xuất, cung ứng được nhiều đối tượng, đảm bảo chất lượng, sạch bệnh cho người nuôi; Trung tâm Giống thủy sản An Giang là đơn vị cung cấp đàn bố mẹ chọn giống, công nghệ sản xuất giống cho các trại sản xuất giống và cùng với các trại giống của doanh nghiệp là các đơn vị chủ yếu trong sản xuất, cung ứng cá giống, các giống thủy sản khác cho nuôi thương phẩm trong và ngoài tỉnh; Củng cố, nâng cấp mạng lưới các trại sản xuất cá giống, điểm ương cá giống ở các vùng nuôi để đáp ứng nhu cầu giống tại chỗ.

Content:
Định hướng phát triển Quy hoạch hệ thống nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất và cung ứng giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
3.1. Quy hoạch hệ thống nghiên cứu, sản xuất và cung ứng giống cây trồng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
a) Giống lúa: Duy trì và phát triển hệ thống nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất và cung ứng lúa giống theo mô hình tháp giống 3 cấp. Đẩy mạnh công tác chọn tạo và nhân giống lúa thơm, đặc sản; giống lúa chất lượng cao phù hợp với nhu cầu thị trường; Định hướng chọn tạo giống lúa: Điều chỉnh việc chọn tạo giống lúa vừa năng suất cao ngắn ngày, vừa đảm bảo yếu tố chất lượng, giá trị cao hơn. Việc thay đổi cơ cấu giống lúa dựa trên xu hướng nhu cầu thị trường; Duy trì năng lực sản xuất lúa giống cấp xác nhận khoảng 140-160 ngàn tấn/năm, trong đó nhu cầu sử dụng giống của tỉnh khoảng 80-85 ngàn tấn/năm, thương mại nội địa khoảng 50-65 ngàn tấn và xuất khẩu khoảng 10 ngàn tấn/năm.
b) Giống rau màu: Phục tráng các giống địa phương; chọn tạo và nhân giống các loại rau màu mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, kháng sâu bệnh. Thay vì nhập khẩu các loại giống cây trồng từ nước ngoài là đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ cao để phát triển những giống rau màu vốn là thế mạnh địa phương; Phát triển các doanh nghiệp giống sản xuất, cung ứng các chủng loại giống F1 cho nhà vườn. Nhập khẩu và khảo nghiệm các giống rau màu có năng suất cao, phẩm chất tốt, kháng sâu bệnh và phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương; Đầu tư thích đáng cho khâu nghiên cứu sản xuất giống mới, nhân giống mới và cải tạo giống, hỗ trợ nông dân trong việc sử dụng giống mới để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ.
c) Giống cây ăn trái: Tập trung phát triển sản xuất giống cây ăn trái để phục vụ kế hoạch tái canh cải tạo giống, kế hoạch chuyển đổi giống đáp ứng mục tiêu của Quy hoạch phát triển vùng sản xuất cây ăn quả ứng dụng công nghệ cao; Tăng cường hoạt động bình tuyển, lựa chọn các cây có ưu thế vượt trội để hình thành các cây đầu dòng, tiếp tục xây dựng, quản lý, khai thác các vườn cây đầu dòng để phục vụ cho việc ghép, lai tạo; Phát triển phương pháp nuôi cấy mô thực vật đối với cây ăn quả. Tiếp tục đầu tư, phát triển các cơ sở sản xuất tại huyện Chợ Mới, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên, phát triển thêm các cơ sở sản xuất giống tại huyện để phục vụ cho nhu cầu tại chỗ.
d) Giống cây dược liệu: Quy hoạch hệ thống nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất và cung ứng giống cây dược liệu nhằm đáp ứng Quy hoạch bảo tồn và phát triển cây dược liệu ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh.
đ) Giống cây lâm nghiệp: Quy hoạch hệ thống giống lâm nghiệp đảm bảo đồng bộ, hài hoà giữa lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất; coi trọng cả cây gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ, cây bản địa và cây nhập nội; Ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất lâm nghiệp, trước mắt là ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô trong sản xuất giống cây trồng có năng suất cao. Gắn nghiên cứu giống lâm nghiệp với nhu cầu chất lượng giống của sản xuất để chọn tạo ra nhiều giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt.
3.2. Quy hoạch hệ thống nghiên cứu, sản xuất, chuyển giao và cung ứng giống vật nuôi đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
a) Giống heo: Quản lý hệ thống nhân giống theo sơ đồ hình tháp 3 cấp: cấp heo giống cụ kỵ (GGP), cấp heo giống ông bà (GP), cấp heo giống bố mẹ (PS); Đến năm 2025 xây dựng được đàn heo giống có năng suất, chất lượng cao, quy mô đàn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu trong tỉnh về con giống hậu bị, con giống heo nuôi thịt, không phải nhập con giống từ bên ngoài vào; Từ sau năm 2025, các trại giống công nghệ cao trên địa bàn tỉnh không những đáp ứng đủ nhu cầu của tỉnh, mà còn cung cấp heo giống cho các tỉnh trong Vùng, cung cấp tinh heo ra nhiều địa phương trong cả nước; Hình thành mạng lưới các cơ sở sản xuất, kinh doanh heo giống thương phẩm quy mô ở các địa phương để phục vụ chăn nuôi gia trại; đầu tư hệ thống trạm thụ tinh nhân tạo, thường xuyên tổ chức bình tuyển, đánh giá chất lượng và quản lý đàn heo đực giống.
b) Giống gia cầm, thủy cầm: Phát triển mạng lưới sản xuất giống gia cầm, thủy cầm theo hình tháp các cấp, mô hình sản xuất con giống ứng dụng công nghệ cao nhằm cung ứng đủ giống bố mẹ cho các cơ sở sản xuất giống thương phẩm, hạn chế tình trạng sử dụng giống thương phẩm làm bố mẹ; Phấn đấu đến năm 2025 có ít nhất 1 thương hiệu giống gà, giống vịt của tỉnh và xây dựng được 1 hệ nhân giống gia cầm 4 cấp do doanh nghiệp đầu tư; Phát triển các giống gà có chất lượng thịt tốt, được thị trường ưa chuộng như gà Tàu vàng, Tam Hoàng, Lương Phượng, gà Tre Tân Châu. Phát triển các giống vịt chuyên thịt như Super M, Grumaud và giống vịt chuyên trứng như vịt Triết Giang.
c) Giống bò: Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò thịt bằng các giống lai thông qua phương pháp thụ tinh nhân tạo. Cải tiến và nâng cao tầm vóc đàn bò theo hướng Zebu hóa thông qua gieo tinh nhân tạo hoặc bò đực giống đã qua chọn lọc cho nhân giống ở những nơi chưa có điều kiện gieo tinh nhân tạo; Nâng tỷ lệ thụ tinh nhân tạo lên khoảng 40% năm 2020, trên 70% năm 2025 và trên 90% năm 2030. Đồng thời, đảm bảo duy trì trên 80% đàn bò lai trong tổng đàn bò thịt thương phẩm; Trung tâm giống cây trồng và vật nuôi tỉnh triển khai chương trình cải tạo đàn bò, ưu tiên các giống có ưu thế thị trường tiêu thụ.
3.Quy hoạch hệ thống nghiên cứu, chuyển giao sản xuất và cung ứng giống thủy sản đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
a) Giống cá tra: Tập trung xây dựng và phát triển bền vững mô hình Giống cá tra 3 cấp. Tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu sản xuất giống cá tra chất lượng cao và An Giang sẽ là trung tâm sản xuất giống cá tra của Vùng; Hình thành chuỗi liên kết sản xuất giống cá tra 3 cấp chất lượng cao nhằm thực hiện tái cơ cấu ngành hàng cá tra theo hướng chuỗi sản xuất thủy sản bền vững, tạo bước đột phá trong lĩnh vực thủy sản của tỉnh An Giang; Diện tích sản xuất giống cá tra khoảng 1.000 ha giai đoạn 2020-2021; năng lực cung cấp khoảng 50% nhu cầu giống cá tra cho An Giang và các tỉnh trong Vùng.
b) Giống tôm càng xanh: Xây dựng và phát triển hệ thống sản xuất giống tôm càng xanh toàn đực theo hình thức trại giống 2 cấp, trong đó cấp 1 là Trung tâm Giống thủy sản An Giang và cấp 2 là các trại vệ tinh; Phấn đấu có ít nhất 1 doanh nghiệp giống tôm càng xanh có năng lực mạnh về nhân lực, công nghệ, tài chính, thị trường tiêu thụ, góp phần tạo dựng An Giang là trung tâm giống thủy sản cấp vùng.
c) Giống thủy sản nước ngọt khác: Tập trung vào nâng cao chất lượng con giống và nghiên cứu chọn tạo để bổ sung các giống mới nhằm phong phú hơn nữa cơ cấu đàn giống để sản xuất, cung ứng được nhiều đối tượng, đảm bảo chất lượng, sạch bệnh cho người nuôi; Trung tâm Giống thủy sản An Giang là đơn vị cung cấp đàn bố mẹ chọn giống, công nghệ sản xuất giống cho các trại sản xuất giống và cùng với các trại giống của doanh nghiệp là các đơn vị chủ yếu trong sản xuất, cung ứng cá giống, các giống thủy sản khác cho nuôi thương phẩm trong và ngoài tỉnh; Củng cố, nâng cấp mạng lưới các trại sản xuất cá giống, điểm ương cá giống ở các vùng nuôi để đáp ứng nhu cầu giống tại chỗ.