Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 639/QĐ-BNN-KH 2014 Quy hoạch nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "02/04/2014", "sign_number": "639/QĐ-BNN-KH", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "02/04/2014", "sign_number": "639/QĐ-BNN-KH", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "02/04/2014", "sign_number": "639/QĐ-BNN-KH", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "02/04/2014", "sign_number": "639/QĐ-BNN-KH", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "02/04/2014", "sign_number": "639/QĐ-BNN-KH", "signer": "Cao Đức Phát", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 639/QĐ-BNN-KH 2014 Quy hoạch nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long đến 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong điều kiện biến đổi khí hậu, với các nội dung chính sau:
...
2. Một số chỉ tiêu cụ thể đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
a) Đến năm 2020
- Tốc độ tăng trưởng GDP nông lâm thủy sản bình quân 3,8 - 4,2%/năm.
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản 4,5 - 5 %/năm, nông nghiệp 3 - 4%/năm, lâm nghiệp 3%/năm, thủy sản 7 - 8%/năm.
- Cơ cấu giá trị sản xuất nông lâm thủy sản: Nông nghiệp 64,2%, lâm nghiệp 0,9% và thủy sản 34,9%.
- Sản lượng lúa đạt 24,5 triệu tấn, sản lượng thủy sản đạt 3,5 triệu tấn.
- Giá trị sản lượng bình quân 1 ha đất trồng trọt đạt 130 triệu đồng, đất nuôi trồng thủy sản đạt 250 triệu đồng.
- Tỉ lệ xã đạt tiêu chí xã nông thôn mới đạt trên 50%.
b) Định hướng đến năm 2030
- Tốc độ tăng trưởng GDP nông lâm thủy sản bình quân 3 - 3,5%/năm.
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản 4 - 4,5 %/năm, nông nghiệp 3 %/năm, lâm nghiệp 2,5%/năm, thủy sản 6 - 7%/năm.
- Cơ cấu giá trị sản xuất nông lâm thủy sản: Nông nghiệp 59,1%, lâm nghiệp 0,9% và thủy sản 40 %.
- Sản lượng lúa đạt 23 - 24 triệu tấn, sản lượng thủy sản đạt 4,2 - 4,3 triệu tấn.
- Giá trị sản lượng bình quân 1 ha đất trồng trọt đạt 180 - 200 triệu đồng, đất nuôi trồng thủy sản đạt 400 triệu đồng.
III. ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH
1. Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
a) Định hướng chung quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
- Đến năm 2020:
+ Hạn chế đến mức thấp nhất việc chuyển đất nông nghiệp, đặc biệt là đất lúa sang đất phi nông nghiệp, đảm bảo quy mô diện tích đất nông nghiệp của vùng đến năm 2020 là 3,25 triệu ha.
+ Ổn định quỹ đất lúa đến năm 2020 là 1,82 triệu ha, trong đó đất chuyên lúa 1,7 triệu ha; tăng diện tích luân canh lúa - màu (bắp, đậu nành, rau, đậu...) lên 185 nghìn ha và lúa - thủy sản lên 240 nghìn ha.
+ Tăng diện tích đất trồng cây lâu năm, nâng tổng diện tích cây lâu năm lên 400 nghìn ha năm 2020. Trong đó, riêng vùng trông 9 nhóm cây ăn quả tập trung khoảng 185 nghìn ha: cây có múi (cam quýt, bưởi), xoài, sầu riêng, vú sữa, thanh long, dứa, chuối, nhãn, chôm chôm.
+ Đất lâm nghiệp năm 2020 là 330,5 nghìn ha, tăng 19,8 nghìn ha so với năm 2010, bao gồm: rừng phòng hộ 95,3 nghìn ha, tăng 12,5 nghìn ha và rừng đặc dụng 76,5 nghìn ha, tăng 8,5 nghìn ha.
+ Đất nuôi trồng thủy sản năm 2020 là 542,8 nghìn ha, tăng thêm 74,7 nghìn ha so với năm 2010; trong đó, diện tích nuôi nước mặn lợ là 507,2 nghìn ha, tăng 61,4 nghìn ha và diện tích nuôi nước ngọt là 35,6 nghìn ha, tăng 13,4 nghìn ha.
+ Đất sản xuất muối năm 2020 là 4,6 nghìn ha, giảm 0,8 nghìn ha so với năm 2010, diện tích sản xuất muối theo công nghệ tiên tiến chiếm 60 - 70%.
- Tầm nhìn đến năm 2030: Dự báo diện tích đất nông nghiệp bị ngập do nước biển dâng khoảng 30 nghìn ha. Diện tích đất lúa sẽ giảm khoảng 15 nghìn ha, dự kiến chuyển sang nuôi trồng thủy sản; tăng diện tích đất nuôi trồng thủy sản lên khoảng 558 nghìn ha.
b) Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp các tiểu vùng
- Tiểu vùng Đồng Tháp Mười: Thế mạnh là sản xuất lúa, dứa, xoài, nuôi cá tra... Hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất chính đến năm 2020 là ổn định diện tích cây ăn quả ở những vùng trồng tập trung; tăng diện tích nuôi cá tra và rừng tràm trong khu vực ngập sâu, kiểm soát lũ tháng 8 (phía bắc kênh Nguyễn Văn Tiếp); tăng diện tích lúa 3 vụ, lúa - màu và dứa, giảm diện tích mía trong khu vực ngập trung bình và nông, kiểm soát lũ cả năm.
- Tiểu vùng Tứ Giác Long Xuyên: Thế mạnh là sản xuất lúa, nuôi cá tra, tôm nước lợ.... Hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất chính đến năm 2020 là ổn định diện tích lúa 2 - 3 vụ; tăng diện tích lúa - thủy sản cả trong khu vực nước ngọt và nước lợ; tăng diện tích nuôi cá tra nguyên liệu ven sông Hậu và nuôi tôm nước lợ; trồng rừng phòng hộ ngập mặn khu vực ven biển Tây.
- Tiểu vùng giữa sông Tiền - sông Hậu: Thế mạnh là sản xuất lúa, cây ăn trái các loại (trừ dứa), rau, màu và nuôi thủy sản nước ngọt. Hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất chính là ổn định diện tích trồng cây ăn trái, tăng mạnh diện tích lúa - màu và diện tích nuôi cá tra nguyên liệu ven sông Tiền và sông Hậu.
- Tiểu vùng Tây sông Hậu: Thế mạnh là sản xuất lúa, cây ăn trái các loại, mía và nuôi thủy sản nước ngọt. Hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất chính là tăng diện tích 3 vụ lúa, lúa - màu, lúa - thủy sản nước ngọt, cây ăn trái (cây có múi) và mía.
- Tiểu vùng bán đảo Cà Mau: Thế mạnh là nuôi trồng thủy sản, trồng rừng và sản xuất muối trong khu vực ảnh hưởng mặn; sản xuất lúa, cây ăn trái và mía trong khu vực ngọt hóa. Hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất chính là ổn định diện tích sản xuất muối; tăng diện tích nuôi trồng thủy sản và rừng ngập mặn; ổn định diện tích lúa 2-3 vụ và mía; tăng diện tích lúa - tôm nước lợ và cây ăn trái.
- Tiểu vùng cửa sông ven biển Đông: Thế mạnh là sản xuất lúa, cây ăn trái và mía trong khu vực ngọt hóa, nuôi trồng thủy sản và trồng rừng ngập mặn. Hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất chính là ổn định diện tích lúa 2-3 vụ, cây ăn trái và mía, tăng diện tích lúa - tôm nước lợ trong khu vực ngọt hóa; tăng diện tích nuôi trồng thủy sản và rừng ngập mặn ven biển.
2. Quy hoạch các sản phẩm chủ lực
a) Trồng trọt
- Lúa: Sử dụng linh hoạt, hiệu quả quỹ đất lúa; tăng diện tích luân canh lúa - màu (ở vụ xuân hè) và lúa - thủy sản (ở vụ hè thu); thực hiện xả lũ luân phiên trên diện tích lúa vụ thu đông có hệ thống đê bao an toàn trong vùng ngập lũ. Giảm diện tích gieo trồng lúa đến năm 2020 còn khoảng 4 triệu ha, sản lượng lúa đạt khoảng 24 - 24,5 triệu tấn. Đến năm 2030, diện tích gieo trồng lúa còn khoảng 3,8 - 3,9 triệu ha, sản lượng lúa đạt khoảng 23 - 24 triệu tấn. Giải pháp chủ yếu tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả sản xuất lúa gạo:
+ Áp dụng đồng bộ các biện pháp thâm canh tiên tiến, trọng tâm là cấp I hóa sản xuất giống lúa để nâng tỉ lệ diện tích sử dụng giống lúa xác nhận hoặc tương đương đến năm 2020 đạt trên 80%; tăng diện tích các cây màu (ngô, đậu tương, mè...) trên đất trồng lúa, nhất là trong vụ Xuân hè và Hè thu; chuyển nhanh cơ cấu 3 vụ lúa Đông xuân - Xuân hè - Hè thu sang cơ cấu Đông xuân - Hè thu - Thu đông trong các vùng ngọt hóa, không ngập và ngập nông; thực hiện xả lũ luân phiên trên đất 3 vụ lúa trong vùng ngập trung bình và ngập sâu kiểm soát lũ cả năm; đẩy mạnh cơ giới hóa và công nghệ sau thu hoạch để tăng năng suất, chất lượng, hạ giá thành.
+ Xây dựng các vùng tập trung, các cánh đồng lớn sản xuất lúa chất lượng cao với quy mô khoảng 1,2 triệu ha gắn với các nhà máy chế biến lúa gạo xuất khẩu; trong đó, có 60% diện tích sử dụng các giống chất lượng cao, 40% giống chất lượng trung bình.
+ Đầu tư nâng cấp hệ thống chế biến, kho chứa sử dụng công nghệ tiên tiến, đưa tỷ lệ gạo thu hồi trên 68%, giảm tổn thất sau thu hoạch lúa còn 5-6%, cải thiện chất lượng gạo xuất khẩu, tăng 10 - 15% giá trị gia tăng của gạo xuất khẩu so với hiện nay.
- Ngô: Mở rộng diện tích gieo trồng ngô trên những vùng có điều kiện thuận lợi, trước hết là trên những chân đất vàn, vàn cao, trên đất lúa vụ xuân hè và vụ hè thu, tiến tới hình thành các vùng liên kết sản xuất tập trung giữa nông dân với các công ty thu mua và nhà máy chế biến. Phấn đấu đến năm 2020, diện tích gieo trồng ngô đạt 100 nghìn ha, sản lượng đạt 700 nghìn tấn cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thức ăn gia súc và thức ăn thủy sản.
- Rau các loại: Xây dựng các vùng rau chuyên canh và các vùng rau luân canh ứng dụng quy trình sản xuất rau sạch, tập trung vào các vùng sản xuất nguyên liệu phục vụ các nhà máy chế biến rau quả, vùng rau truyền thống, ven đô thị và khu công nghiệp. Đẩy mạnh thực hiện quy trình thâm canh rau theo tiêu chuẩn VietGAP, nâng cao nhận thức về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với người sản xuất và người tiêu dùng. Phấn đấu đến năm 2020, diện tích rau các loại đạt 333 nghìn ha, sản lượng đạt 6 triệu tấn.
- Mía đường: Ổn định diện tích các vùng nguyên liệu mía tập trung, với diện tích 52 - 55 nghìn ha và sản lượng 5,3 triệu tấn để phục vụ các nhà máy đường hiện có, đáp ứng yêu cầu nâng công suất ép mía của các nhà máy lên khoảng 28 nghìn tấn mía cây/ngày vào năm 2020. Tập trung cải tạo giống mía để nâng cao năng suất và chữ đường; tiếp tục khuyến khích doanh nghiệp liên kết với nông dân trong sản xuất, thu mua mía nguyên liệu.
- Đậu tương: Dự kiến đến năm 2020 đạt 30 nghìn ha, chủ yếu trên đất trồng lúa ở vụ Xuân hè và vụ Đông xuân, sản lượng đạt 90 nghìn tấn. Tập trung cải thiện chất lượng giống theo hướng năng suất cao, kháng sâu bệnh, thích hợp trên chân ruộng ướt, xây dựng các vùng sản xuất tập trung gắn với nhà máy chế biến.
- Dừa: Diện tích bố trí khoảng 123,3 nghìn ha và sản lượng đạt 1 triệu tấn; tập trung cải tạo vườn tạp và vườn dừa già cỗi, trồng thay thế bằng các giống mới có năng suất cao; nhân rộng các mô hình trồng xen dừa + ca cao, dừa + cây ăn quả, dừa + nuôi trồng thủy sản..., áp dụng quy trình kỹ thuật thâm canh thích hợp.
- Cây ăn quả: Dự kiến diện tích năm 2020 tăng lên trên 300 nghìn ha và sản lượng đạt 3.872 nghìn tấn; trong đó, riêng vùng trồng tập trung 9 nhóm cây ăn quả chủ lực: cây có múi (cam, quýt, bưởi), xoài, sầu riêng, vú sữa, thanh long, dứa, chuối, nhãn, chôm chôm khoảng 185 nghìn ha. Mỗi tỉnh phát triển 2 - 3 loại cây ăn quả chủ lực có lợi thế theo vùng tập trung, áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến, đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, an toàn vệ sinh thực phẩm; áp dụng các biện pháp rải vụ để nâng cao giá bán cũng như các biện pháp bảo quản tiên tiến để giảm tổn thất sau thu hoạch.
Xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường cho các sản phẩm cây ăn quả chủ lực có khả năng xuất khẩu là bưởi, xoài, vú sữa, thanh long, dứa và chuối. Đầu tư xây dựng thêm một số nhà máy chế biến trái cây với công nghệ hiện đại ở các tỉnh có diện tích trồng cây ăn quả lớn như Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Sóc Trăng.
b) Chăn nuôi
- Chuyển nhanh từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán trong khu dân cư sang chăn nuôi tập trung, trang trại, gia trại nằm ngoài khu dân cư; khuyến khích, hỗ trợ người nuôi ứng dụng kỹ thuật và công nghệ nuôi tiên tiến, tổ chức sản xuất khép kín hoặc liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị để nâng cao năng suất, giảm chi phí, tăng hiệu quả; tăng cường kiểm soát dịch bệnh, chất lượng và giá cả thức ăn, thuốc thú y, xử lý môi trường trong chăn nuôi.
- Ưu tiên phát triển đàn gà, nhất là gà lông màu và đàn lợn theo phương thức công nghiệp; khôi phục đàn vịt nuôi chạy đồng có kiểm soát, phát triển đàn vịt siêu thịt, siêu trứng theo phương thức nuôi nhốt; tận dụng điều kiện phù hợp của từng vùng, từng địa phương để phát triển đàn bò thịt, đàn trâu và các loại vật nuôi đặc sản. Mục tiêu đến năm 2020, đàn lợn đạt 6 triệu con, đàn gà đạt 49 triệu con, đàn vịt và gia cầm khác đạt 40 triệu con, đàn bò đạt 822,5 nghìn con, đàn trâu đạt 62 nghìn con. Sản lượng thịt các loại đến năm 2020 đạt 1.293 nghìn tấn, trứng gia cầm 2.640 triệu quả.
- Khuyến khích phát triển hệ thống cơ sở giết mổ tập trung; nâng cấp các nhà máy chế biến hiện có và xây dựng thêm nhà máy chế biến sản phẩm chăn nuôi mới có công nghệ hiện đại và sản phẩm đa dạng; xây dựng thêm nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển chăn nuôi trong vùng, giảm chi phí vận chuyển thức ăn, hạ giá thành chăn nuôi.
- Tiếp tục đầu tư xây dựng các cơ sở nghiên cứu, sản xuất, chuyển giao khoa học công nghệ về chăn nuôi tại các địa phương trong vùng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý dịch bệnh, đảm bảo cho ngành chăn nuôi an toàn, phát triển bền vững.
c) Lâm nghiệp
- Trồng, chăm sóc, bảo vệ tốt diện tích rừng và cây lâm nghiệp phân tán, nhất là rừng phòng hộ chắn sóng ở các khu vực bị xói lở ven biển và các vùng bãi bồi; củng cố, bảo vệ các khu rừng đặc dụng; phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn, rừng tràm; cải thiện cấu trúc rừng trồng để nâng cao độ che phủ và khả năng phòng hộ; đa dạng mô hình canh tác nông - lâm - ngư kết hợp trên đất trồng rừng sản xuất nhằm tăng thu nhập, cải thiện đời sống người làm nghề rừng.
- Đất lâm nghiệp bố trí đến năm 2020 là 330,5 nghìn ha, tăng 19,8 nghìn ha; trong đó, rừng sản xuất 158,7 nghìn ha, rừng phòng hộ 95,3 nghìn ha, rừng đặc dụng 76,5 nghìn ha.
- Từ nay đến năm 2020, trồng rừng tập trung 172 nghìn ha (trong đó, 28 nghìn ha trồng mới trên đất chưa có rừng, còn lại là trồng mới rừng sản xuất sau khai thác); khoanh nuôi và tu bổ rừng 26 nghìn ha, trong đó trên vùng bãi bồi ven biển 11 nghìn ha; trồng 575 triệu cây phân tán trên bờ kênh mương, bờ bao, đê biển, đường giao thông, trong khuôn viên công sở, trường học, bệnh viện, quanh nhà...; khai thác 7,5 triệu m3 gỗ các loại và 38,5 triệu stere củi.
- Rà soát, củng cố và nâng cấp các cơ sở chế biến lâm sản quy mô vừa và nhỏ; khuyến khích xây dựng các cơ sở sản xuất, chế biến gỗ rừng trồng và lâm sản ngoài gỗ trong các khu, cụm công nghiệp, chủ yếu là chế biến ván ép và bột giấy.
d) Thủy sản
- Nuôi trồng thủy sản:
Quy hoạch vùng nuôi, đối tượng nuôi, điều chỉnh phương thức nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái, xu hướng tác động của biến đổi khí hậu cũng như nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu. Tập trung đầu tư xây dựng các vùng nuôi tập trung thâm canh có hệ thống hạ tầng đồng bộ phù hợp với các đối tượng nuôi chủ lực là cá tra, tôm sú, tôm càng xanh, tôm thẻ chân trắng, nhuyễn thể…, tiến tới nuôi các loài cá biển, trai biển, rong biển gắn với các nhà máy chế biến thủy sản để chủ động sản lượng, nâng cao chất lượng và đảm bảo vệ sinh môi trường.
Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản đến năm 2020 đạt 812 nghìn ha, gồm: Nuôi nước mặn lợ 636 nghìn ha, trong đó nuôi tôm 571 nghìn ha; nuôi nước ngọt 176 nghìn ha, trong đó nuôi cá tra 10 nghìn ha. Sản lượng thủy sản nuôi năm 2020 đạt khoảng 3 triệu tấn, gồm: Cá 2,1 triệu tấn, trong đó cá tra 1,8 triệu tấn; tôm 578 nghìn tấn, trong đó tôm nước lợ 521 nghìn tấn; và thủy sản khác 305 nghìn tấn.
Chuyển nhanh các mô hình nuôi quảng canh, sang các mô hình nuôi quảng canh cải tiến hoặc quảng canh cải tiến kết hợp, áp dụng kỹ thuật cao hơn để tăng năng suất, sản lượng và bảo vệ môi trường. Chuyển một phần diện tích nuôi quảng canh sang nuôi bán thâm canh và thâm canh quy mô công nghiệp ở những nơi có điều kiện thuận lợi, áp dụng công nghệ nuôi và xử lý môi trường tiên tiến, đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, an toàn sinh học (GAP, BMP, CoC).
Đến năm 2030, dự kiến diện tích nuôi trồng thủy sản khoảng 730 nghìn ha; sản lượng thủy sản nuôi đạt khoảng 3,7 triệu tấn.
- Khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản:
Tiếp tục đầu tư nghiên cứu, điều tra nguồn lợi và dự báo ngư trường khai thác hải sản; tổ chức lại đội tàu khai thác xa bờ, cảng và bến cá, khu neo đậu phòng tránh trú bão, khu hậu cần dịch vụ nghề cá ven biển và trên các đảo theo hướng hiện đại gắn với bảo vệ chủ quyền trên biển; xây dựng và phát triển các khu bảo tồn biển và bảo tồn vùng nước nội địa theo quy hoạch. Đến năm 2020, toàn vùng có 7 nghìn tàu cá công suất trên 90 CV, sản lượng khai thác đạt khoảng 490 nghìn tấn.
Đến năm 2030, dự kiến toàn vùng có 7500 tầu cá công suất trên 90 CV, sản lượng khai thác khoảng 510 nghìn tấn.
- Chế biến thủy sản:
Ổn định số lượng nhà máy, đầu tư nâng cấp thiết bị chế biến và hệ thống kho lạnh theo hướng hiện đại, nâng công suất sử dụng lên trên 70% so với 40 - 50% như hiện nay nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và giá trị gia tăng.
e) Muối
- Ổn định địa bàn sản xuất muối tập trung, chuyển nhanh từ phương thức làm muối truyền thống sang phương thức sản xuất muối sạch áp dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng.
- Diện tích muối dự kiến đến năm 2020 là 4,6 nghìn ha, năng suất bình quân đạt trên 70 tấn/ha và sản lượng đạt trên 320 nghìn tấn, trong đó có 60 - 70% là muối sạch.

Content:
Một số chỉ tiêu cụ thể đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
a) Đến năm 2020
- Tốc độ tăng trưởng GDP nông lâm thủy sản bình quân 3,8 - 4,2%/năm.
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản 4,5 - 5 %/năm, nông nghiệp 3 - 4%/năm, lâm nghiệp 3%/năm, thủy sản 7 - 8%/năm.
- Cơ cấu giá trị sản xuất nông lâm thủy sản: Nông nghiệp 64,2%, lâm nghiệp 0,9% và thủy sản 34,9%.
- Sản lượng lúa đạt 24,5 triệu tấn, sản lượng thủy sản đạt 3,5 triệu tấn.
- Giá trị sản lượng bình quân 1 ha đất trồng trọt đạt 130 triệu đồng, đất nuôi trồng thủy sản đạt 250 triệu đồng.
- Tỉ lệ xã đạt tiêu chí xã nông thôn mới đạt trên 50%.
b) Định hướng đến năm 2030
- Tốc độ tăng trưởng GDP nông lâm thủy sản bình quân 3 - 3,5%/năm.
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản 4 - 4,5 %/năm, nông nghiệp 3 %/năm, lâm nghiệp 2,5%/năm, thủy sản 6 - 7%/năm.
- Cơ cấu giá trị sản xuất nông lâm thủy sản: Nông nghiệp 59,1%, lâm nghiệp 0,9% và thủy sản 40 %.
- Sản lượng lúa đạt 23 - 24 triệu tấn, sản lượng thủy sản đạt 4,2 - 4,3 triệu tấn.
- Giá trị sản lượng bình quân 1 ha đất trồng trọt đạt 180 - 200 triệu đồng, đất nuôi trồng thủy sản đạt 400 triệu đồng.
III. ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH
1. Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
a) Định hướng chung quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
- Đến năm 2020:
+ Hạn chế đến mức thấp nhất việc chuyển đất nông nghiệp, đặc biệt là đất lúa sang đất phi nông nghiệp, đảm bảo quy mô diện tích đất nông nghiệp của vùng đến năm 2020 là 3,25 triệu ha.
+ Ổn định quỹ đất lúa đến năm 2020 là 1,82 triệu ha, trong đó đất chuyên lúa 1,7 triệu ha; tăng diện tích luân canh lúa - màu (bắp, đậu nành, rau, đậu...) lên 185 nghìn ha và lúa - thủy sản lên 240 nghìn ha.
+ Tăng diện tích đất trồng cây lâu năm, nâng tổng diện tích cây lâu năm lên 400 nghìn ha năm 2020. Trong đó, riêng vùng trông 9 nhóm cây ăn quả tập trung khoảng 185 nghìn ha: cây có múi (cam quýt, bưởi), xoài, sầu riêng, vú sữa, thanh long, dứa, chuối, nhãn, chôm chôm.
+ Đất lâm nghiệp năm 2020 là 330,5 nghìn ha, tăng 19,8 nghìn ha so với năm 2010, bao gồm: rừng phòng hộ 95,3 nghìn ha, tăng 12,5 nghìn ha và rừng đặc dụng 76,5 nghìn ha, tăng 8,5 nghìn ha.
+ Đất nuôi trồng thủy sản năm 2020 là 542,8 nghìn ha, tăng thêm 74,7 nghìn ha so với năm 2010; trong đó, diện tích nuôi nước mặn lợ là 507,2 nghìn ha, tăng 61,4 nghìn ha và diện tích nuôi nước ngọt là 35,6 nghìn ha, tăng 13,4 nghìn ha.
+ Đất sản xuất muối năm 2020 là 4,6 nghìn ha, giảm 0,8 nghìn ha so với năm 2010, diện tích sản xuất muối theo công nghệ tiên tiến chiếm 60 - 70%.
- Tầm nhìn đến năm 2030: Dự báo diện tích đất nông nghiệp bị ngập do nước biển dâng khoảng 30 nghìn ha. Diện tích đất lúa sẽ giảm khoảng 15 nghìn ha, dự kiến chuyển sang nuôi trồng thủy sản; tăng diện tích đất nuôi trồng thủy sản lên khoảng 558 nghìn ha.
b) Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp các tiểu vùng
- Tiểu vùng Đồng Tháp Mười: Thế mạnh là sản xuất lúa, dứa, xoài, nuôi cá tra... Hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất chính đến năm 2020 là ổn định diện tích cây ăn quả ở những vùng trồng tập trung; tăng diện tích nuôi cá tra và rừng tràm trong khu vực ngập sâu, kiểm soát lũ tháng 8 (phía bắc kênh Nguyễn Văn Tiếp); tăng diện tích lúa 3 vụ, lúa - màu và dứa, giảm diện tích mía trong khu vực ngập trung bình và nông, kiểm soát lũ cả năm.
- Tiểu vùng Tứ Giác Long Xuyên: Thế mạnh là sản xuất lúa, nuôi cá tra, tôm nước lợ.... Hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất chính đến năm 2020 là ổn định diện tích lúa 2 - 3 vụ; tăng diện tích lúa - thủy sản cả trong khu vực nước ngọt và nước lợ; tăng diện tích nuôi cá tra nguyên liệu ven sông Hậu và nuôi tôm nước lợ; trồng rừng phòng hộ ngập mặn khu vực ven biển Tây.
- Tiểu vùng giữa sông Tiền - sông Hậu: Thế mạnh là sản xuất lúa, cây ăn trái các loại (trừ dứa), rau, màu và nuôi thủy sản nước ngọt. Hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất chính là ổn định diện tích trồng cây ăn trái, tăng mạnh diện tích lúa - màu và diện tích nuôi cá tra nguyên liệu ven sông Tiền và sông Hậu.
- Tiểu vùng Tây sông Hậu: Thế mạnh là sản xuất lúa, cây ăn trái các loại, mía và nuôi thủy sản nước ngọt. Hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất chính là tăng diện tích 3 vụ lúa, lúa - màu, lúa - thủy sản nước ngọt, cây ăn trái (cây có múi) và mía.
- Tiểu vùng bán đảo Cà Mau: Thế mạnh là nuôi trồng thủy sản, trồng rừng và sản xuất muối trong khu vực ảnh hưởng mặn; sản xuất lúa, cây ăn trái và mía trong khu vực ngọt hóa. Hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất chính là ổn định diện tích sản xuất muối; tăng diện tích nuôi trồng thủy sản và rừng ngập mặn; ổn định diện tích lúa 2-3 vụ và mía; tăng diện tích lúa - tôm nước lợ và cây ăn trái.
- Tiểu vùng cửa sông ven biển Đông: Thế mạnh là sản xuất lúa, cây ăn trái và mía trong khu vực ngọt hóa, nuôi trồng thủy sản và trồng rừng ngập mặn. Hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất chính là ổn định diện tích lúa 2-3 vụ, cây ăn trái và mía, tăng diện tích lúa - tôm nước lợ trong khu vực ngọt hóa; tăng diện tích nuôi trồng thủy sản và rừng ngập mặn ven biển.
Quy hoạch các sản phẩm chủ lực
a) Trồng trọt
- Lúa: Sử dụng linh hoạt, hiệu quả quỹ đất lúa; tăng diện tích luân canh lúa - màu (ở vụ xuân hè) và lúa - thủy sản (ở vụ hè thu); thực hiện xả lũ luân phiên trên diện tích lúa vụ thu đông có hệ thống đê bao an toàn trong vùng ngập lũ. Giảm diện tích gieo trồng lúa đến năm 2020 còn khoảng 4 triệu ha, sản lượng lúa đạt khoảng 24 - 24,5 triệu tấn. Đến năm 2030, diện tích gieo trồng lúa còn khoảng 3,8 - 3,9 triệu ha, sản lượng lúa đạt khoảng 23 - 24 triệu tấn. Giải pháp chủ yếu tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả sản xuất lúa gạo:
+ Áp dụng đồng bộ các biện pháp thâm canh tiên tiến, trọng tâm là cấp I hóa sản xuất giống lúa để nâng tỉ lệ diện tích sử dụng giống lúa xác nhận hoặc tương đương đến năm 2020 đạt trên 80%; tăng diện tích các cây màu (ngô, đậu tương, mè...) trên đất trồng lúa, nhất là trong vụ Xuân hè và Hè thu; chuyển nhanh cơ cấu 3 vụ lúa Đông xuân - Xuân hè - Hè thu sang cơ cấu Đông xuân - Hè thu - Thu đông trong các vùng ngọt hóa, không ngập và ngập nông; thực hiện xả lũ luân phiên trên đất 3 vụ lúa trong vùng ngập trung bình và ngập sâu kiểm soát lũ cả năm; đẩy mạnh cơ giới hóa và công nghệ sau thu hoạch để tăng năng suất, chất lượng, hạ giá thành.
+ Xây dựng các vùng tập trung, các cánh đồng lớn sản xuất lúa chất lượng cao với quy mô khoảng 1,2 triệu ha gắn với các nhà máy chế biến lúa gạo xuất khẩu; trong đó, có 60% diện tích sử dụng các giống chất lượng cao, 40% giống chất lượng trung bình.
+ Đầu tư nâng cấp hệ thống chế biến, kho chứa sử dụng công nghệ tiên tiến, đưa tỷ lệ gạo thu hồi trên 68%, giảm tổn thất sau thu hoạch lúa còn 5-6%, cải thiện chất lượng gạo xuất khẩu, tăng 10 - 15% giá trị gia tăng của gạo xuất khẩu so với hiện nay.
- Ngô: Mở rộng diện tích gieo trồng ngô trên những vùng có điều kiện thuận lợi, trước hết là trên những chân đất vàn, vàn cao, trên đất lúa vụ xuân hè và vụ hè thu, tiến tới hình thành các vùng liên kết sản xuất tập trung giữa nông dân với các công ty thu mua và nhà máy chế biến. Phấn đấu đến năm 2020, diện tích gieo trồng ngô đạt 100 nghìn ha, sản lượng đạt 700 nghìn tấn cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thức ăn gia súc và thức ăn thủy sản.
- Rau các loại: Xây dựng các vùng rau chuyên canh và các vùng rau luân canh ứng dụng quy trình sản xuất rau sạch, tập trung vào các vùng sản xuất nguyên liệu phục vụ các nhà máy chế biến rau quả, vùng rau truyền thống, ven đô thị và khu công nghiệp. Đẩy mạnh thực hiện quy trình thâm canh rau theo tiêu chuẩn VietGAP, nâng cao nhận thức về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với người sản xuất và người tiêu dùng. Phấn đấu đến năm 2020, diện tích rau các loại đạt 333 nghìn ha, sản lượng đạt 6 triệu tấn.
- Mía đường: Ổn định diện tích các vùng nguyên liệu mía tập trung, với diện tích 52 - 55 nghìn ha và sản lượng 5,3 triệu tấn để phục vụ các nhà máy đường hiện có, đáp ứng yêu cầu nâng công suất ép mía của các nhà máy lên khoảng 28 nghìn tấn mía cây/ngày vào năm 2020. Tập trung cải tạo giống mía để nâng cao năng suất và chữ đường; tiếp tục khuyến khích doanh nghiệp liên kết với nông dân trong sản xuất, thu mua mía nguyên liệu.
- Đậu tương: Dự kiến đến năm 2020 đạt 30 nghìn ha, chủ yếu trên đất trồng lúa ở vụ Xuân hè và vụ Đông xuân, sản lượng đạt 90 nghìn tấn. Tập trung cải thiện chất lượng giống theo hướng năng suất cao, kháng sâu bệnh, thích hợp trên chân ruộng ướt, xây dựng các vùng sản xuất tập trung gắn với nhà máy chế biến.
- Dừa: Diện tích bố trí khoảng 123,3 nghìn ha và sản lượng đạt 1 triệu tấn; tập trung cải tạo vườn tạp và vườn dừa già cỗi, trồng thay thế bằng các giống mới có năng suất cao; nhân rộng các mô hình trồng xen dừa + ca cao, dừa + cây ăn quả, dừa + nuôi trồng thủy sản..., áp dụng quy trình kỹ thuật thâm canh thích hợp.
- Cây ăn quả: Dự kiến diện tích năm 2020 tăng lên trên 300 nghìn ha và sản lượng đạt 3.872 nghìn tấn; trong đó, riêng vùng trồng tập trung 9 nhóm cây ăn quả chủ lực: cây có múi (cam, quýt, bưởi), xoài, sầu riêng, vú sữa, thanh long, dứa, chuối, nhãn, chôm chôm khoảng 185 nghìn ha. Mỗi tỉnh phát triển 2 - 3 loại cây ăn quả chủ lực có lợi thế theo vùng tập trung, áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến, đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, an toàn vệ sinh thực phẩm; áp dụng các biện pháp rải vụ để nâng cao giá bán cũng như các biện pháp bảo quản tiên tiến để giảm tổn thất sau thu hoạch.
Xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường cho các sản phẩm cây ăn quả chủ lực có khả năng xuất khẩu là bưởi, xoài, vú sữa, thanh long, dứa và chuối. Đầu tư xây dựng thêm một số nhà máy chế biến trái cây với công nghệ hiện đại ở các tỉnh có diện tích trồng cây ăn quả lớn như Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Sóc Trăng.
b) Chăn nuôi
- Chuyển nhanh từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán trong khu dân cư sang chăn nuôi tập trung, trang trại, gia trại nằm ngoài khu dân cư; khuyến khích, hỗ trợ người nuôi ứng dụng kỹ thuật và công nghệ nuôi tiên tiến, tổ chức sản xuất khép kín hoặc liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị để nâng cao năng suất, giảm chi phí, tăng hiệu quả; tăng cường kiểm soát dịch bệnh, chất lượng và giá cả thức ăn, thuốc thú y, xử lý môi trường trong chăn nuôi.
- Ưu tiên phát triển đàn gà, nhất là gà lông màu và đàn lợn theo phương thức công nghiệp; khôi phục đàn vịt nuôi chạy đồng có kiểm soát, phát triển đàn vịt siêu thịt, siêu trứng theo phương thức nuôi nhốt; tận dụng điều kiện phù hợp của từng vùng, từng địa phương để phát triển đàn bò thịt, đàn trâu và các loại vật nuôi đặc sản. Mục tiêu đến năm 2020, đàn lợn đạt 6 triệu con, đàn gà đạt 49 triệu con, đàn vịt và gia cầm khác đạt 40 triệu con, đàn bò đạt 822,5 nghìn con, đàn trâu đạt 62 nghìn con. Sản lượng thịt các loại đến năm 2020 đạt 1.293 nghìn tấn, trứng gia cầm 2.640 triệu quả.
- Khuyến khích phát triển hệ thống cơ sở giết mổ tập trung; nâng cấp các nhà máy chế biến hiện có và xây dựng thêm nhà máy chế biến sản phẩm chăn nuôi mới có công nghệ hiện đại và sản phẩm đa dạng; xây dựng thêm nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển chăn nuôi trong vùng, giảm chi phí vận chuyển thức ăn, hạ giá thành chăn nuôi.
- Tiếp tục đầu tư xây dựng các cơ sở nghiên cứu, sản xuất, chuyển giao khoa học công nghệ về chăn nuôi tại các địa phương trong vùng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý dịch bệnh, đảm bảo cho ngành chăn nuôi an toàn, phát triển bền vững.
c) Lâm nghiệp
- Trồng, chăm sóc, bảo vệ tốt diện tích rừng và cây lâm nghiệp phân tán, nhất là rừng phòng hộ chắn sóng ở các khu vực bị xói lở ven biển và các vùng bãi bồi; củng cố, bảo vệ các khu rừng đặc dụng; phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn, rừng tràm; cải thiện cấu trúc rừng trồng để nâng cao độ che phủ và khả năng phòng hộ; đa dạng mô hình canh tác nông - lâm - ngư kết hợp trên đất trồng rừng sản xuất nhằm tăng thu nhập, cải thiện đời sống người làm nghề rừng.
- Đất lâm nghiệp bố trí đến năm 2020 là 330,5 nghìn ha, tăng 19,8 nghìn ha; trong đó, rừng sản xuất 158,7 nghìn ha, rừng phòng hộ 95,3 nghìn ha, rừng đặc dụng 76,5 nghìn ha.
- Từ nay đến năm 2020, trồng rừng tập trung 172 nghìn ha (trong đó, 28 nghìn ha trồng mới trên đất chưa có rừng, còn lại là trồng mới rừng sản xuất sau khai thác); khoanh nuôi và tu bổ rừng 26 nghìn ha, trong đó trên vùng bãi bồi ven biển 11 nghìn ha; trồng 575 triệu cây phân tán trên bờ kênh mương, bờ bao, đê biển, đường giao thông, trong khuôn viên công sở, trường học, bệnh viện, quanh nhà...; khai thác 7,5 triệu m3 gỗ các loại và 38,5 triệu stere củi.
- Rà soát, củng cố và nâng cấp các cơ sở chế biến lâm sản quy mô vừa và nhỏ; khuyến khích xây dựng các cơ sở sản xuất, chế biến gỗ rừng trồng và lâm sản ngoài gỗ trong các khu, cụm công nghiệp, chủ yếu là chế biến ván ép và bột giấy.
d) Thủy sản
- Nuôi trồng thủy sản:
Quy hoạch vùng nuôi, đối tượng nuôi, điều chỉnh phương thức nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái, xu hướng tác động của biến đổi khí hậu cũng như nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu. Tập trung đầu tư xây dựng các vùng nuôi tập trung thâm canh có hệ thống hạ tầng đồng bộ phù hợp với các đối tượng nuôi chủ lực là cá tra, tôm sú, tôm càng xanh, tôm thẻ chân trắng, nhuyễn thể…, tiến tới nuôi các loài cá biển, trai biển, rong biển gắn với các nhà máy chế biến thủy sản để chủ động sản lượng, nâng cao chất lượng và đảm bảo vệ sinh môi trường.
Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản đến năm 2020 đạt 812 nghìn ha, gồm: Nuôi nước mặn lợ 636 nghìn ha, trong đó nuôi tôm 571 nghìn ha; nuôi nước ngọt 176 nghìn ha, trong đó nuôi cá tra 10 nghìn ha. Sản lượng thủy sản nuôi năm 2020 đạt khoảng 3 triệu tấn, gồm: Cá 2,1 triệu tấn, trong đó cá tra 1,8 triệu tấn; tôm 578 nghìn tấn, trong đó tôm nước lợ 521 nghìn tấn; và thủy sản khác 305 nghìn tấn.
Chuyển nhanh các mô hình nuôi quảng canh, sang các mô hình nuôi quảng canh cải tiến hoặc quảng canh cải tiến kết hợp, áp dụng kỹ thuật cao hơn để tăng năng suất, sản lượng và bảo vệ môi trường. Chuyển một phần diện tích nuôi quảng canh sang nuôi bán thâm canh và thâm canh quy mô công nghiệp ở những nơi có điều kiện thuận lợi, áp dụng công nghệ nuôi và xử lý môi trường tiên tiến, đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, an toàn sinh học (GAP, BMP, CoC).
Đến năm 2030, dự kiến diện tích nuôi trồng thủy sản khoảng 730 nghìn ha; sản lượng thủy sản nuôi đạt khoảng 3,7 triệu tấn.
- Khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản:
Tiếp tục đầu tư nghiên cứu, điều tra nguồn lợi và dự báo ngư trường khai thác hải sản; tổ chức lại đội tàu khai thác xa bờ, cảng và bến cá, khu neo đậu phòng tránh trú bão, khu hậu cần dịch vụ nghề cá ven biển và trên các đảo theo hướng hiện đại gắn với bảo vệ chủ quyền trên biển; xây dựng và phát triển các khu bảo tồn biển và bảo tồn vùng nước nội địa theo quy hoạch. Đến năm 2020, toàn vùng có 7 nghìn tàu cá công suất trên 90 CV, sản lượng khai thác đạt khoảng 490 nghìn tấn.
Đến năm 2030, dự kiến toàn vùng có 7500 tầu cá công suất trên 90 CV, sản lượng khai thác khoảng 510 nghìn tấn.
- Chế biến thủy sản:
Ổn định số lượng nhà máy, đầu tư nâng cấp thiết bị chế biến và hệ thống kho lạnh theo hướng hiện đại, nâng công suất sử dụng lên trên 70% so với 40 - 50% như hiện nay nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và giá trị gia tăng.
e) Muối
- Ổn định địa bàn sản xuất muối tập trung, chuyển nhanh từ phương thức làm muối truyền thống sang phương thức sản xuất muối sạch áp dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng.
- Diện tích muối dự kiến đến năm 2020 là 4,6 nghìn ha, năng suất bình quân đạt trên 70 tấn/ha và sản lượng đạt trên 320 nghìn tấn, trong đó có 60 - 70% là muối sạch.