Document: Điểm d Khoản 2 Điều 1 Quyết định 2311/QĐ-UBND phê duyệt đề án củng cố khôi phục phát triển làng nghề

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "27/11/2012", "sign_number": "2311/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Cường", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "27/11/2012", "sign_number": "2311/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Cường", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "27/11/2012", "sign_number": "2311/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Cường", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "27/11/2012", "sign_number": "2311/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Cường", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Trị", "promulgation_date": "27/11/2012", "sign_number": "2311/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Đức Cường", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 2 Điều 1 Quyết định 2311/QĐ-UBND phê duyệt đề án củng cố khôi phục phát triển làng nghề

Điều 1. Phê duyệt Đề án củng cố, khôi phục và phát triển làng nghề, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tỉnh Quảng Trị đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
2. Mục tiêu phát triển
2.1. Mục tiêu đến năm 2015
- Tỷ trọng kinh tế làng nghề, ngành nghề nông thôn đạt 25 - 30% trong kinh tế nông thôn;
- Tổng giá trị sản xuất làng nghề, ngành nghề TTCN đạt 300 - 350 tỷ đồng;
- Tạo việc làm cho trên 10.000 lao động nông thôn, nâng thu nhập bình quân cho lao động ngành nghề nông thôn đạt 20 - 25 triệu đồng/người/năm;
- Tỷ lệ lao động được đào tạo đạt 30 - 33%;
- Đến năm 2015, tỷ lệ cơ giới hóa (đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị phục vụ một số khâu sản xuất) đạt 25 - 30%;
- Xử lý cơ bản ô nhiễm môi trường các cơ sở sản xuất, làng nghề (đặc biệt là các ngành nghề chế biến nông - lâm - thủy sản và thực phẩm);
- Đến năm 2015, 10 làng được công nhận có nghề truyền thống, 05 làng nghề và 08 làng nghề truyền thống.
2.2. Mục tiêu đến năm 2020
- Tỷ trọng kinh tế làng nghề, ngành nghề nông thôn đạt 40 - 45% trong kinh tế nông thôn;
- Tổng giá trị sản xuất làng nghề, ngành nghề TTCN đạt 450 - 500 tỷ đồng;
- Tạo việc làm trên 15.000 lao động nông thôn, nâng thu nhập bình quân cho lao động ngành nghề đạt 30 - 35 triệu đồng/người/năm;
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50%;
- Đến năm 2020, tỷ lệ các cơ sở ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, hiện đại vào sản xuất đạt 65%;
- Xử lý cơ bản ô nhiễm môi trường ở các làng nghề, cơ sở sản xuất. Trên 90% các cơ sở, cụm - điểm công nghiệp, làng nghề có hệ thống xử lý chất thải tập trung đạt chuẩn;
- Đến năm 2020, 14 làng được công nhận có nghề truyền thống, 04 làng nghề và 02 làng nghề truyền thống.
II. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ, NGÀNH NGHỀ TTCN ĐẾN NĂM 2020
A. PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ, NGÀNH NGHỀ TTCN TRUYỀN THỐNG
1. Nhóm nghề chế biến nông - lâm - thủy sản
...
d) Nghề sản xuất chè vằng, cao chè vằng
+ Giai đoạn 2011 - 2015:
- Đầu tư mở rộng quy mô sản xuất các cơ sở sản xuất tại Cam Lộ, khuyến khích đầu tư công nghệ, thiết bị mới, hoàn thiện quy trình nấu, cắt, đóng gói… đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Xây dựng thương hiệu Chè Vằng Định Sơn (Cam Nghĩa, Cam Lộ) và đăng ký hồ sơ công nhận làng nghề;
- Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu sản phẩm;
+ Giai đoạn 2016 - 2020:
- Phối hợp với các Viện nghiên cứu công bố chất lượng và thành phần hóa học, hoạt tính của cao Chè Vằng để có cơ sở quảng bá, mở rộng thị trường ra nước ngoài.
e) Nghề làm muối
+ Giai đoạn 2011 - 2020:
- Tổ chức, sắp xếp lại hoạt động sản xuất theo hướng thành lập hợp tác xã hay doanh nghiệp đầu mối thu mua với sự cam kết của các hộ dân tham gia làm nghề;
- Đưa cơ giới hóa vào một số công đoạn sản xuất như: bơm nước biển vào ruộng muối, cào muối…
- Nâng cao chất lượng muối hạt (độ trắng, độ mặn, ít tạp chất). Khuyến khích, hỗ trợ xây dựng các kho dự trữ, chế biến sâu các sản phẩm từ muối hạt như: muối Iốt, muối tôm… nhằm đa dạng hóa sản phẩm, tạo thêm việc làm cho người lao động, tăng thu nhập;
+ Giai đoạn 2016 - 2020:
- Xây dựng hồ sơ và đề nghị xét công nhận nghề truyền thống đối với làng nghề làm muối Tường Vân, Triệu An, Triệu Phong;
- Phấn đấu đến năm 2020 diện tích làm muối tăng lên 05 ha, sản lượng muối đạt 100.000 tấn, với 50 - 60 hộ tham gia sản xuất, tạo việc làm cho khoảng 100 lao động.
f) Nghề làm nem, chả, bánh kẹo, ớt dầm, tương, mứt, miến dong
- Tiếp tục phát triển nghề này theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, chú trọng đổi mới công nghệ thiết bị sản xuất, bao gói - nhãn mác sản phẩm, hướng đến phát triển thành các sản phẩm đặc sản của Quảng Trị;
- Khuyến khích đăng ký kinh doanh, công bố chất lượng và nhãn mác sản phẩm;
- Tăng cường công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩm, đưa hàng vào các siêu thị và hướng tới thị trường xuất khẩu.
g) Nghề nấu vôi, tinh dầu tràm.
Khuyến khích khôi phục, duy trì nghề tại các địa phương (nấu vôi Triệu Giang, tinh dầu tràm Tân Diên, Hải Thọ) để tận dụng phế phẩm hay nguyên liệu có sẵn của địa phương, tạo ra những sản phẩm có giá trị phục vụ đời sống và tạo thêm thu nhập người lao động.
Nhóm nghề thủ công mỹ nghệ
a) Nghề thêu ren
- Đào tạo nghề cho lao động gắn với nhu cầu của người lao động và nhu cầu của các đơn vị đầu mối cung ứng nguyên liệu và bao tiêu sản phẩm;
- Khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân thành lập doanh nghiệp đầu mối trong lĩnh vực thêu ren, giảm dần sự phụ thuộc vào các đơn vị ở các tỉnh, thành khác, dần dần tiếp cận thị trường xuất khẩu mặt hàng này;
- Hình thành các điểm sản xuất tập trung, các làng nghề và xúc tiến thành lập Hiệp hội Thêu ren của tỉnh Quảng Trị;
- Hướng dẫn các làng có nghề thêu ren xây dựng lộ trình thực hiện đạt các tiêu chí làng nghề, lập hồ sơ công nhận làng nghề để tạo thêm động lực cho hoạt động của nghề;
- Phấn đấu đến năm 2020 trên địa bàn toàn tỉnh có ít nhất 06 làng nghề thêu ren (mỗi làng có ít nhất 80 hộ), tạo việc làm mới cho khoảng 300 - 400 lao động, với thu nhập bình quân đạt 20 - 24 triệu đồng/người/năm, có từ 10 - 20 thợ giỏi được công nhận là nghệ nhân;
- Xây dựng và công nhận nghề truyền thống, làng nghề thêu ren Văn Quỷ, Hải Tân, Hải Lăng (2011 - 2015); Làng nghề thêu ren Văn Trị, Hải Tân, Hải Lăng (2011 - 2015); làng nghề thêu ren Lâm Trung, Cam Nghĩa, Cam Lộ (2011 - 2015); làng nghề thêu ren Lâm Lang 2, Cam Thủy, Cam Lộ (2016 - 2020).
b) Nghề chằm nón
- Bảo tồn và phát triển nghề chằm nón tại các địa phương;
- Hỗ trợ ứng dụng thiết bị cơ giới hóa một số công đoạn sản xuất để giảm sức lao động và tăng năng suất. Tổ chức các khóa đào tạo nghề ngắn ngày tại các cơ sở cho lao động về kiến thức làm nghề và phát triển sản phẩm;
- Phát triển các sản phẩm từ những vật liệu làm nón, đa dạng hóa và cách điệu sản phẩm nón lá;
- Hình thành các tour du lịch làng nghề, đưa hàng vào các điểm bán hàng lưu niệm, hàng TTCN; mở rộng các kênh tiếp thị tìm kiếm thị trường, xúc tiến thương mại;
- Hỗ trợ xây dựng và lập hồ sơ xét công nhận làng nghề truyền thống cho các làng đủ điều kiện, phấn đấu đến 2020 có 10 làng làm nghề nón lá được công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống;
- Khuyến khích, hỗ trợ thành lập các đơn vị bao tiêu sản phẩm của làng nghề nón lá.
c) Nghề mộc
+ Giai đoạn 2011 - 2015:
- Duy trì các cơ sở sản xuất hiện có, khuyến khích các cơ sở phát triển, mở rộng hoặc liên kết với nhau để thành lập các doanh nghiệp trong lĩnh vực mộc, mộc mỹ nghệ. Giảm dần các khâu trung gian nhỏ lẻ, tập trung phát triển một số đầu mối lớn;
- Tổ chức các lớp đào tạo nghề, truyền nghề, đào tạo nâng cao tay nghề cho lao động trong các cơ sở, doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu cao hơn, tinh xảo hơn của sản phẩm;
- Hỗ trợ ứng dụng, đổi mới máy móc thiết bị, cơ giới hóa vào sản xuất, góp phần tăng năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm;
- Đa dạng hóa các sản phẩm mộc cao cấp, cải tiến mẫu mã, đa dạng về chủng loại, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường đầu tư nghiên cứu phát triển một số sản phẩm đặc thù của địa phương phục vụ tiêu dùng trong nước, đặc biệt là phục vụ xuất khẩu;
+ Giai đoạn 2016 - 2020:
- Khuyến khích, hỗ trợ các đơn vị có số lượng lao động từ 40 người di dời vào các cụm công nghiệp để giảm thiểu ô nhiễm môi trường;
- Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại đối với thị trường xuất khẩu;
- Tiếp tục đào tạo, đào tạo nâng cao nguồn nhân lực nhằm phục vụ sản xuất đáp ứng xuất khẩu, sản xuất các sản phẩm có tính sáng tạo, tính nghệ thuật cao. Chú trọng phát triển đội ngũ các thợ giỏi, nghệ nhân. Lập hồ sơ xét công nhận nghệ nhân trong lĩnh vực mộc mỹ nghệ, chạm khảm;
- Đầu tư khôi phục nghề chạm, khảm xà cừ tại thôn Cát Sơn, Gio Linh (hỗ trợ đào tạo nghề, thành lập doanh nghiệp đầu mối, quảng bá nghề...).
d) Nghề đan lát mây, tre
+ Giai đoạn 2011 - 2015:
- Ổn định, tổ chức lại sản xuất, tăng cường năng lực sản xuất của từng địa phương theo nhu cầu thị trường. Khuyến khích liên doanh, liên kết, hợp tác giữa các làng nghề, cơ sở sản xuất, thành lập các tổ, nhóm, hợp tác xã sản xuất mây, tre đan, các cơ sở đầu mối, doanh nghiệp bao tiêu và tiêu thụ sản phẩm;
- Khuyến khích, hỗ trợ đầu tư, ứng dụng máy móc, chuyển giao công nghệ, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, ưu tiên đầu tư, ứng dụng công nghệ ít tiêu hao nguyên liệu. Đầu tư cho các làng nghề đan lát như: Lan Đình, Phước Thị, Phương Ngạn, Lâm Xuân để mở rộng quy mô;
- Tổ chức đào tạo nghề, đào tạo nâng cao tay nghề, nhân rộng và phát triển nghề mây, tre đan tại huyện Gio Linh, Triệu Phong, Hướng Hóa và Đakrông;
- Tìm kiếm, phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu;
- Xây dựng và lập hồ sơ đề nghị công nhận nghề truyền thống đan lát Lan Đình, Gio Phong, Gio Linh; nghề truyền thống đan lát Phước Thị, xã Gio Phong, huyện Gio Linh;
+ Giai đoạn 2016 - 2020:
- Tổ chức các khóa tập huấn kiến thức về xuất khẩu cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, đào tạo nâng cao tay nghề; nhân rộng và phát triển nghề mây, tre đan trên địa bàn các huyện;
- Hỗ trợ duy trì các nghề làm quạt giấy Phương Ngạn (thôn Phương Ngạn, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong), nghề dệt chiếu Lâm Xuân (thôn Lâm Xuân, xã Gio Mai, huyện Gio Linh), nghề đan lát ở Đakrông và Hướng Hóa. Đến năm 2020, mỗi nghề có 03 - 05 cơ sở sản xuất với quy mô 05 - 10 lao động/cơ sở. Đối với làng dệt chiếu Lâm Xuân thì phát triển thêm nghề dệt thảm;
- Xây dựng và lập hồ sơ đề nghị công nhận làng nghề truyền thống đan lát Phương Ngạn, Triệu Long, Triệu Phong.
e) Nghề dệt thổ cẩm
+ Giai đoạn 2011 - 2015:
- Duy trì hoạt động sản xuất các cơ sở dệt thổ cẩm tại Đakrông, Hướng Hóa hiện có để làm cơ sở phát triển;
- Hỗ trợ tổ chức các khóa đào tạo nghề ngắn ngày, vận động con em người dân tộc tham gia học nghề, khuyến khích thành lập các tổ, nhóm sản xuất và các tổ chức, cá nhân đứng ra bao tiêu sản phẩm, tham gia các hội chợ triển lãm trong và ngoài nước, các điểm du lịch...
- Bảo tồn các mẫu hoa văn truyền thống, thuê nghệ nhân thiết kế các mẫu hoa văn, mẫu sản phẩm mới như: khăn choàng, ví, túi xách, áo váy, khăn bàn, khăn ăn, vải…
- Bảo tồn kỹ thuật dệt thủ công kết hợp với nghiên cứu cải tiến khung dệt để tạo năng suất lao động cao nhưng vẫn giữ được các giá trị đặc thù, tinh xảo;
- Tìm kiếm, mở rộng thị trường, đầu ra cho sản phẩm;
+ Giai đoạn 2016 - 2020:
- Mở rộng, đầu tư phát triển nghề, đào tạo nhân cấy nghề tại các địa phương trên địa bàn huyện Hướng Hóa, Đakrông, mở rộng thị trường tiêu thụ, đặc biệt là thị trường xuất khẩu;
- Đẩy mạnh phát triển các tổ, nhóm dệt, khuyến khích thành lập các hợp tác xã, hình thành làng nghề dệt thổ cẩm, các điểm du lịch gắn với nghề;
- Khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, phát triển sản phẩm hoàn chỉnh tại thị trấn Khe Sanh. Đến năm 2020 sản xuất được các mặt hàng phục vụ du lịch và xuất khẩu, các bản đều có hộ tham gia hoạt động sản xuất sản phẩm dệt, tạo việc làm mới cho 50 - 60 lao động.

Content:
Nghề sản xuất chè vằng, cao chè vằng
+ Giai đoạn 2011 - 2015:
- Đầu tư mở rộng quy mô sản xuất các cơ sở sản xuất tại Cam Lộ, khuyến khích đầu tư công nghệ, thiết bị mới, hoàn thiện quy trình nấu, cắt, đóng gói… đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Xây dựng thương hiệu Chè Vằng Định Sơn (Cam Nghĩa, Cam Lộ) và đăng ký hồ sơ công nhận làng nghề;
- Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu sản phẩm;
+ Giai đoạn 2016 - 2020:
- Phối hợp với các Viện nghiên cứu công bố chất lượng và thành phần hóa học, hoạt tính của cao Chè Vằng để có cơ sở quảng bá, mở rộng thị trường ra nước ngoài.
e) Nghề làm muối
+ Giai đoạn 2011 - 2020:
- Tổ chức, sắp xếp lại hoạt động sản xuất theo hướng thành lập hợp tác xã hay doanh nghiệp đầu mối thu mua với sự cam kết của các hộ dân tham gia làm nghề;
- Đưa cơ giới hóa vào một số công đoạn sản xuất như: bơm nước biển vào ruộng muối, cào muối…
- Nâng cao chất lượng muối hạt (độ trắng, độ mặn, ít tạp chất). Khuyến khích, hỗ trợ xây dựng các kho dự trữ, chế biến sâu các sản phẩm từ muối hạt như: muối Iốt, muối tôm… nhằm đa dạng hóa sản phẩm, tạo thêm việc làm cho người lao động, tăng thu nhập;
+ Giai đoạn 2016 - 2020:
- Xây dựng hồ sơ và đề nghị xét công nhận nghề truyền thống đối với làng nghề làm muối Tường Vân, Triệu An, Triệu Phong;
- Phấn đấu đến năm 2020 diện tích làm muối tăng lên 05 ha, sản lượng muối đạt 100.000 tấn, với 50 - 60 hộ tham gia sản xuất, tạo việc làm cho khoảng 100 lao động.
f) Nghề làm nem, chả, bánh kẹo, ớt dầm, tương, mứt, miến dong
- Tiếp tục phát triển nghề này theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, chú trọng đổi mới công nghệ thiết bị sản xuất, bao gói - nhãn mác sản phẩm, hướng đến phát triển thành các sản phẩm đặc sản của Quảng Trị;
- Khuyến khích đăng ký kinh doanh, công bố chất lượng và nhãn mác sản phẩm;
- Tăng cường công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩm, đưa hàng vào các siêu thị và hướng tới thị trường xuất khẩu.
g) Nghề nấu vôi, tinh dầu tràm.
Khuyến khích khôi phục, duy trì nghề tại các địa phương (nấu vôi Triệu Giang, tinh dầu tràm Tân Diên, Hải Thọ) để tận dụng phế phẩm hay nguyên liệu có sẵn của địa phương, tạo ra những sản phẩm có giá trị phục vụ đời sống và tạo thêm thu nhập người lao động.
Nhóm nghề thủ công mỹ nghệ
a) Nghề thêu ren
- Đào tạo nghề cho lao động gắn với nhu cầu của người lao động và nhu cầu của các đơn vị đầu mối cung ứng nguyên liệu và bao tiêu sản phẩm;
- Khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân thành lập doanh nghiệp đầu mối trong lĩnh vực thêu ren, giảm dần sự phụ thuộc vào các đơn vị ở các tỉnh, thành khác, dần dần tiếp cận thị trường xuất khẩu mặt hàng này;
- Hình thành các điểm sản xuất tập trung, các làng nghề và xúc tiến thành lập Hiệp hội Thêu ren của tỉnh Quảng Trị;
- Hướng dẫn các làng có nghề thêu ren xây dựng lộ trình thực hiện đạt các tiêu chí làng nghề, lập hồ sơ công nhận làng nghề để tạo thêm động lực cho hoạt động của nghề;
- Phấn đấu đến năm 2020 trên địa bàn toàn tỉnh có ít nhất 06 làng nghề thêu ren (mỗi làng có ít nhất 80 hộ), tạo việc làm mới cho khoảng 300 - 400 lao động, với thu nhập bình quân đạt 20 - 24 triệu đồng/người/năm, có từ 10 - 20 thợ giỏi được công nhận là nghệ nhân;
- Xây dựng và công nhận nghề truyền thống, làng nghề thêu ren Văn Quỷ, Hải Tân, Hải Lăng (2011 - 2015); Làng nghề thêu ren Văn Trị, Hải Tân, Hải Lăng (2011 - 2015); làng nghề thêu ren Lâm Trung, Cam Nghĩa, Cam Lộ (2011 - 2015); làng nghề thêu ren Lâm Lang 2, Cam Thủy, Cam Lộ (2016 - 2020).
b) Nghề chằm nón
- Bảo tồn và phát triển nghề chằm nón tại các địa phương;
- Hỗ trợ ứng dụng thiết bị cơ giới hóa một số công đoạn sản xuất để giảm sức lao động và tăng năng suất. Tổ chức các khóa đào tạo nghề ngắn ngày tại các cơ sở cho lao động về kiến thức làm nghề và phát triển sản phẩm;
- Phát triển các sản phẩm từ những vật liệu làm nón, đa dạng hóa và cách điệu sản phẩm nón lá;
- Hình thành các tour du lịch làng nghề, đưa hàng vào các điểm bán hàng lưu niệm, hàng TTCN; mở rộng các kênh tiếp thị tìm kiếm thị trường, xúc tiến thương mại;
- Hỗ trợ xây dựng và lập hồ sơ xét công nhận làng nghề truyền thống cho các làng đủ điều kiện, phấn đấu đến 2020 có 10 làng làm nghề nón lá được công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống;
- Khuyến khích, hỗ trợ thành lập các đơn vị bao tiêu sản phẩm của làng nghề nón lá.
c) Nghề mộc
+ Giai đoạn 2011 - 2015:
- Duy trì các cơ sở sản xuất hiện có, khuyến khích các cơ sở phát triển, mở rộng hoặc liên kết với nhau để thành lập các doanh nghiệp trong lĩnh vực mộc, mộc mỹ nghệ. Giảm dần các khâu trung gian nhỏ lẻ, tập trung phát triển một số đầu mối lớn;
- Tổ chức các lớp đào tạo nghề, truyền nghề, đào tạo nâng cao tay nghề cho lao động trong các cơ sở, doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu cao hơn, tinh xảo hơn của sản phẩm;
- Hỗ trợ ứng dụng, đổi mới máy móc thiết bị, cơ giới hóa vào sản xuất, góp phần tăng năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm;
- Đa dạng hóa các sản phẩm mộc cao cấp, cải tiến mẫu mã, đa dạng về chủng loại, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường đầu tư nghiên cứu phát triển một số sản phẩm đặc thù của địa phương phục vụ tiêu dùng trong nước, đặc biệt là phục vụ xuất khẩu;
+ Giai đoạn 2016 - 2020:
- Khuyến khích, hỗ trợ các đơn vị có số lượng lao động từ 40 người di dời vào các cụm công nghiệp để giảm thiểu ô nhiễm môi trường;
- Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại đối với thị trường xuất khẩu;
- Tiếp tục đào tạo, đào tạo nâng cao nguồn nhân lực nhằm phục vụ sản xuất đáp ứng xuất khẩu, sản xuất các sản phẩm có tính sáng tạo, tính nghệ thuật cao. Chú trọng phát triển đội ngũ các thợ giỏi, nghệ nhân. Lập hồ sơ xét công nhận nghệ nhân trong lĩnh vực mộc mỹ nghệ, chạm khảm;
- Đầu tư khôi phục nghề chạm, khảm xà cừ tại thôn Cát Sơn, Gio Linh (hỗ trợ đào tạo nghề, thành lập doanh nghiệp đầu mối, quảng bá nghề...).
Nghề đan lát mây, tre
+ Giai đoạn 2011 - 2015:
- Ổn định, tổ chức lại sản xuất, tăng cường năng lực sản xuất của từng địa phương theo nhu cầu thị trường. Khuyến khích liên doanh, liên kết, hợp tác giữa các làng nghề, cơ sở sản xuất, thành lập các tổ, nhóm, hợp tác xã sản xuất mây, tre đan, các cơ sở đầu mối, doanh nghiệp bao tiêu và tiêu thụ sản phẩm;
- Khuyến khích, hỗ trợ đầu tư, ứng dụng máy móc, chuyển giao công nghệ, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, ưu tiên đầu tư, ứng dụng công nghệ ít tiêu hao nguyên liệu. Đầu tư cho các làng nghề đan lát như: Lan Đình, Phước Thị, Phương Ngạn, Lâm Xuân để mở rộng quy mô;
- Tổ chức đào tạo nghề, đào tạo nâng cao tay nghề, nhân rộng và phát triển nghề mây, tre đan tại huyện Gio Linh, Triệu Phong, Hướng Hóa và Đakrông;
- Tìm kiếm, phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu;
- Xây dựng và lập hồ sơ đề nghị công nhận nghề truyền thống đan lát Lan Đình, Gio Phong, Gio Linh; nghề truyền thống đan lát Phước Thị, xã Gio Phong, huyện Gio Linh;
+ Giai đoạn 2016 - 2020:
- Tổ chức các khóa tập huấn kiến thức về xuất khẩu cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, đào tạo nâng cao tay nghề; nhân rộng và phát triển nghề mây, tre đan trên địa bàn các huyện;
- Hỗ trợ duy trì các nghề làm quạt giấy Phương Ngạn (thôn Phương Ngạn, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong), nghề dệt chiếu Lâm Xuân (thôn Lâm Xuân, xã Gio Mai, huyện Gio Linh), nghề đan lát ở Đakrông và Hướng Hóa. Đến năm 2020, mỗi nghề có 03 - 05 cơ sở sản xuất với quy mô 05 - 10 lao động/cơ sở. Đối với làng dệt chiếu Lâm Xuân thì phát triển thêm nghề dệt thảm;
- Xây dựng và lập hồ sơ đề nghị công nhận làng nghề truyền thống đan lát Phương Ngạn, Triệu Long, Triệu Phong.
e) Nghề dệt thổ cẩm
+ Giai đoạn 2011 - 2015:
- Duy trì hoạt động sản xuất các cơ sở dệt thổ cẩm tại Đakrông, Hướng Hóa hiện có để làm cơ sở phát triển;
- Hỗ trợ tổ chức các khóa đào tạo nghề ngắn ngày, vận động con em người dân tộc tham gia học nghề, khuyến khích thành lập các tổ, nhóm sản xuất và các tổ chức, cá nhân đứng ra bao tiêu sản phẩm, tham gia các hội chợ triển lãm trong và ngoài nước, các điểm du lịch...
- Bảo tồn các mẫu hoa văn truyền thống, thuê nghệ nhân thiết kế các mẫu hoa văn, mẫu sản phẩm mới như: khăn choàng, ví, túi xách, áo váy, khăn bàn, khăn ăn, vải…
- Bảo tồn kỹ thuật dệt thủ công kết hợp với nghiên cứu cải tiến khung dệt để tạo năng suất lao động cao nhưng vẫn giữ được các giá trị đặc thù, tinh xảo;
- Tìm kiếm, mở rộng thị trường, đầu ra cho sản phẩm;
+ Giai đoạn 2016 - 2020:
- Mở rộng, đầu tư phát triển nghề, đào tạo nhân cấy nghề tại các địa phương trên địa bàn huyện Hướng Hóa, Đakrông, mở rộng thị trường tiêu thụ, đặc biệt là thị trường xuất khẩu;
- Đẩy mạnh phát triển các tổ, nhóm dệt, khuyến khích thành lập các hợp tác xã, hình thành làng nghề dệt thổ cẩm, các điểm du lịch gắn với nghề;
- Khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, phát triển sản phẩm hoàn chỉnh tại thị trấn Khe Sanh. Đến năm 2020 sản xuất được các mặt hàng phục vụ du lịch và xuất khẩu, các bản đều có hộ tham gia hoạt động sản xuất sản phẩm dệt, tạo việc làm mới cho 50 - 60 lao động.