Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 164/QĐ-TTg năm 2014 phê duyệt Đề án xử lý nợ xấu ngân hàng chính sách xã hội

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "21/01/2014", "sign_number": "164/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "21/01/2014", "sign_number": "164/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "21/01/2014", "sign_number": "164/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "21/01/2014", "sign_number": "164/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "21/01/2014", "sign_number": "164/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 164/QĐ-TTg năm 2014 phê duyệt Đề án xử lý nợ xấu ngân hàng chính sách xã hội

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Xử lý nợ xấu của Ngân hàng Chính sách xã hội” (sau đây gọi là Đề án) với những nội dung chính như sau:
...
4. Các giải pháp xử lý nợ xấu
a) Đối với các khoản nợ xấu bị rủi ro do nguyên nhân khách quan đủ điều kiện xử lý theo quy định tại Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28 tháng 7 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế xử lý nợ bị rủi ro tại Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện xử lý rủi ro kịp thời theo đúng quy định;
b) Đối với các khoản nợ đã được khoanh nợ: Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện theo đúng quy định tại Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28 tháng 7 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 161/2010/TT-BTC ngày 20 tháng 10 năm 2010 của Bộ Tài chính;
c) Đối với các khoản nợ xấu tồn đọng nhận bàn giao không có khả năng thu hồi và các khoản nợ xấu không có khả năng thu hồi phát sinh trong quá trình hoạt động không đủ điều kiện xử lý theo Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28 tháng 7 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ, giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính thẩm tra, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;
d) Đối với các khoản nợ xấu phát sinh do các nguyên nhân như: Học sinh, sinh viên ra trường chưa xin được việc làm hoặc việc làm có thu nhập không ổn định mà gia đình gặp khó khăn chưa có khả năng trả nợ; học sinh, sinh viên chết, gia đình gặp khó khăn chưa có khả năng trả nợ...; người lao động nước ngoài phải về nước trước hạn do nhiều nguyên nhân khác nhau sau khi về nước không có khả năng trả nợ; các khoản nợ xấu được đánh giá có khả năng thu hồi nhưng người vay không có ý thức trả nợ do nhiều nguyên nhân như: khách hàng có khả năng trả nợ nhưng không trả, sử dụng vốn vay sai mục đích... sau khi áp dụng các biện pháp đôn đốc, thu hồi mà vẫn không thu được nợ, Ngân hàng Chính sách xã hội tổng hợp báo cáo Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;
đ) Đối với các khoản nợ quá hạn khách hàng có khả năng trả nợ, có ý thức trả nợ, những khoản vay được đánh giá có khả năng trả nợ nhưng chây ỳ không trả nợ: Ngân hàng Chính sách xã hội phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan chỉ đạo quyết liệt trong việc đôn đốc, thu hồi nợ, tập trung vào các giải pháp cụ thể:
- Hướng dẫn hộ có nhu cầu vay vốn xây dựng phương án sử dụng vốn vay rõ ràng, có khả năng quản lý vốn vay, ý thức trả nợ và tự giác trả lãi hàng tháng. Rà soát lại nợ của từng hộ vay đã quá hạn để làm rõ nguyên nhân và có biện pháp xử lý phù hợp;
- Tổ chức rà soát chất lượng hoạt động của Tổ Tiết kiệm và vay vốn để củng cố, sắp xếp, kiện toàn để nâng cao chất lượng hoạt động;
- Phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội nhận ủy thác rà soát, đánh giá việc thực hiện ủy thác theo hợp đồng ủy thác để nâng cao chất lượng hoạt động ủy thác. Kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của Tổ Tiết kiệm và vay vốn và thực hiện đối chiếu, phân tích, đánh giá, đôn đốc thu hồi nợ;
- Phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương các cấp để thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng chính sách và các hoạt động nghiệp vụ của Ngân hàng Chính sách xã hội;
- Thực hiện tốt hoạt động giao dịch cố định tại xã, nâng cao chất lượng, hiệu quả các phiên giao dịch, nâng cao chất lượng giao ban. Thực hiện phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng để chấn chỉnh, tăng cường, bố trí, sắp xếp cán bộ phù hợp;
- Chủ động, tích cực trong việc phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức Hội đoàn thể nhận ủy thác, tổ Tiết kiệm và vay vốn đôn đốc, thu hồi nợ. Trường hợp xét thấy cần thiết thực hiện khởi kiện người vay ra tòa dân sự để thu hồi nợ;
e) Nâng cao năng lực quản trị, điều hành, xây dựng hệ thống quản trị rủi ro nhằm củng cố, nâng cao chất lượng công tác phòng ngừa rủi ro để hạn chế, ngăn ngừa nợ xấu phát sinh trong hoạt động. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát nội bộ trong toàn bộ quy trình nghiệp vụ từ khi cho vay, theo dõi, quản lý, thu hồi nợ và xử lý nợ xấu;
g) Nguồn vốn xử lý nợ xấu: Sử dụng Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội để bù đắp số nợ xấu không có khả năng thu hồi. Trường hợp Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng không đủ bù đắp, Ngân hàng Chính sách xã hội báo cáo Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Content:
Các giải pháp xử lý nợ xấu
a) Đối với các khoản nợ xấu bị rủi ro do nguyên nhân khách quan đủ điều kiện xử lý theo quy định tại Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28 tháng 7 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế xử lý nợ bị rủi ro tại Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện xử lý rủi ro kịp thời theo đúng quy định;
b) Đối với các khoản nợ đã được khoanh nợ: Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện theo đúng quy định tại Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28 tháng 7 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 161/2010/TT-BTC ngày 20 tháng 10 năm 2010 của Bộ Tài chính;
c) Đối với các khoản nợ xấu tồn đọng nhận bàn giao không có khả năng thu hồi và các khoản nợ xấu không có khả năng thu hồi phát sinh trong quá trình hoạt động không đủ điều kiện xử lý theo Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28 tháng 7 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ, giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính thẩm tra, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;
d) Đối với các khoản nợ xấu phát sinh do các nguyên nhân như: Học sinh, sinh viên ra trường chưa xin được việc làm hoặc việc làm có thu nhập không ổn định mà gia đình gặp khó khăn chưa có khả năng trả nợ; học sinh, sinh viên chết, gia đình gặp khó khăn chưa có khả năng trả nợ...; người lao động nước ngoài phải về nước trước hạn do nhiều nguyên nhân khác nhau sau khi về nước không có khả năng trả nợ; các khoản nợ xấu được đánh giá có khả năng thu hồi nhưng người vay không có ý thức trả nợ do nhiều nguyên nhân như: khách hàng có khả năng trả nợ nhưng không trả, sử dụng vốn vay sai mục đích... sau khi áp dụng các biện pháp đôn đốc, thu hồi mà vẫn không thu được nợ, Ngân hàng Chính sách xã hội tổng hợp báo cáo Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;
đ) Đối với các khoản nợ quá hạn khách hàng có khả năng trả nợ, có ý thức trả nợ, những khoản vay được đánh giá có khả năng trả nợ nhưng chây ỳ không trả nợ: Ngân hàng Chính sách xã hội phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan chỉ đạo quyết liệt trong việc đôn đốc, thu hồi nợ, tập trung vào các giải pháp cụ thể:
- Hướng dẫn hộ có nhu cầu vay vốn xây dựng phương án sử dụng vốn vay rõ ràng, có khả năng quản lý vốn vay, ý thức trả nợ và tự giác trả lãi hàng tháng. Rà soát lại nợ của từng hộ vay đã quá hạn để làm rõ nguyên nhân và có biện pháp xử lý phù hợp;
- Tổ chức rà soát chất lượng hoạt động của Tổ Tiết kiệm và vay vốn để củng cố, sắp xếp, kiện toàn để nâng cao chất lượng hoạt động;
- Phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội nhận ủy thác rà soát, đánh giá việc thực hiện ủy thác theo hợp đồng ủy thác để nâng cao chất lượng hoạt động ủy thác. Kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của Tổ Tiết kiệm và vay vốn và thực hiện đối chiếu, phân tích, đánh giá, đôn đốc thu hồi nợ;
- Phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương các cấp để thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng chính sách và các hoạt động nghiệp vụ của Ngân hàng Chính sách xã hội;
- Thực hiện tốt hoạt động giao dịch cố định tại xã, nâng cao chất lượng, hiệu quả các phiên giao dịch, nâng cao chất lượng giao ban. Thực hiện phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng để chấn chỉnh, tăng cường, bố trí, sắp xếp cán bộ phù hợp;
- Chủ động, tích cực trong việc phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức Hội đoàn thể nhận ủy thác, tổ Tiết kiệm và vay vốn đôn đốc, thu hồi nợ. Trường hợp xét thấy cần thiết thực hiện khởi kiện người vay ra tòa dân sự để thu hồi nợ;
e) Nâng cao năng lực quản trị, điều hành, xây dựng hệ thống quản trị rủi ro nhằm củng cố, nâng cao chất lượng công tác phòng ngừa rủi ro để hạn chế, ngăn ngừa nợ xấu phát sinh trong hoạt động. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát nội bộ trong toàn bộ quy trình nghiệp vụ từ khi cho vay, theo dõi, quản lý, thu hồi nợ và xử lý nợ xấu;
g) Nguồn vốn xử lý nợ xấu: Sử dụng Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội để bù đắp số nợ xấu không có khả năng thu hồi. Trường hợp Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng không đủ bù đắp, Ngân hàng Chính sách xã hội báo cáo Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.