Document: Điều 13 Thông tư 02/2011/TT-BTNMT quy định kỹ thuật đo địa vật lý lỗ khoan mới nhất

Type: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "29/01/2011", "sign_number": "02/2011/TT-BTNMT", "signer": "Nguyễn Linh Ngọc", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "29/01/2011", "sign_number": "02/2011/TT-BTNMT", "signer": "Nguyễn Linh Ngọc", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "29/01/2011", "sign_number": "02/2011/TT-BTNMT", "signer": "Nguyễn Linh Ngọc", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "29/01/2011", "sign_number": "02/2011/TT-BTNMT", "signer": "Nguyễn Linh Ngọc", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "29/01/2011", "sign_number": "02/2011/TT-BTNMT", "signer": "Nguyễn Linh Ngọc", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 13 Thông tư 02/2011/TT-BTNMT quy định kỹ thuật đo địa vật lý lỗ khoan mới nhất có nội dung như sau:

Điều 13. Phương pháp vi hệ cực
1. Phương pháp vi hệ cực (VHC) được sử dụng khi nghiên cứu chi tiết điện trở suất biểu kiến vùng gần thành lỗ khoan bằng hệ điện cực có kích thước nhỏ.
2. Các loại vi hệ cực:
a) Vi hệ cực cổ điển ( Micro-Log): Là hệ cực gồm 3 điện cực dạng N 0,025 M 0,025 A để đo hai đường cong điện trở suất theo hệ cực thế và gradien;
b) Vi hệ cực hội tụ (Micro-Laterlog): Các điện cực A, M, N có dạng vòng tròn và thêm điện cực A0 ở tâm vòng tròn trên để tránh ảnh hưởng dung dịch khoan và hạn chế khả năng rò dòng phát theo phương thẳng đứng. Độ sâu phản ánh của thành lỗ khoan đối với đo vi hệ cực từ 7 cm đến 10cm;
c) Vi hệ cực hội tụ cầu (Micro-Spherically focused): trong hệ này, ngoài A0 ở trung tâm, các điện cực thu M N còn thêm điện cực phát hội tụ A1 để khống chế đường dòng ở vành ngoài cùng. Các điện cực A0, A1 và B ở vô cùng sẽ tạo ra mặt đẳng thế hình cầu.
3. Tỷ lệ ghi giá trị điện trở suất trong phương pháp vi hệ cực được chọn theo điện trở dung dịch sét trong lỗ khoan, thông thường lấy gần bằng giá trị điện trở suất dung dịch, tính bằng Ωm/cm.
4. Tốc độ kéo cáp đối với phương pháp vi hệ cực trong khoảng trên 300 m/h đến 500m/h.
5. Trước khi thi công thực địa và sau mỗi lần sửa chữa phải xác định lại hệ số của vi hệ cực.
Nếu thời gian thi công thực địa kéo dài thì mỗi tháng phải xác định Hệ số vi hệ cực một lần. Phương pháp xác định theo quy định tại Mục II Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này.
6. Điện trở cách điện của vi hệ cực không được nhỏ hơn 2MΩ (độ cách điện giữa các điện cực trên đế chứa điện cực).

Content:
Điều 13. Phương pháp vi hệ cực
1. Phương pháp vi hệ cực (VHC) được sử dụng khi nghiên cứu chi tiết điện trở suất biểu kiến vùng gần thành lỗ khoan bằng hệ điện cực có kích thước nhỏ.
2. Các loại vi hệ cực:
a) Vi hệ cực cổ điển ( Micro-Log): Là hệ cực gồm 3 điện cực dạng N 0,025 M 0,025 A để đo hai đường cong điện trở suất theo hệ cực thế và gradien;
b) Vi hệ cực hội tụ (Micro-Laterlog): Các điện cực A, M, N có dạng vòng tròn và thêm điện cực A0 ở tâm vòng tròn trên để tránh ảnh hưởng dung dịch khoan và hạn chế khả năng rò dòng phát theo phương thẳng đứng. Độ sâu phản ánh của thành lỗ khoan đối với đo vi hệ cực từ 7 cm đến 10cm;
c) Vi hệ cực hội tụ cầu (Micro-Spherically focused): trong hệ này, ngoài A0 ở trung tâm, các điện cực thu M N còn thêm điện cực phát hội tụ A1 để khống chế đường dòng ở vành ngoài cùng. Các điện cực A0, A1 và B ở vô cùng sẽ tạo ra mặt đẳng thế hình cầu.
3. Tỷ lệ ghi giá trị điện trở suất trong phương pháp vi hệ cực được chọn theo điện trở dung dịch sét trong lỗ khoan, thông thường lấy gần bằng giá trị điện trở suất dung dịch, tính bằng Ωm/cm.
4. Tốc độ kéo cáp đối với phương pháp vi hệ cực trong khoảng trên 300 m/h đến 500m/h.
5. Trước khi thi công thực địa và sau mỗi lần sửa chữa phải xác định lại hệ số của vi hệ cực.
Nếu thời gian thi công thực địa kéo dài thì mỗi tháng phải xác định Hệ số vi hệ cực một lần. Phương pháp xác định theo quy định tại Mục II Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này.
6. Điện trở cách điện của vi hệ cực không được nhỏ hơn 2MΩ (độ cách điện giữa các điện cực trên đế chứa điện cực).