Document: Điều 1 Quyết định 305-CT  cấp hạn ngạch và giấy phép xuất nhập khẩu hàng hoá

Type: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "30/11/1988", "sign_number": "305-CT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "30/11/1988", "sign_number": "305-CT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "30/11/1988", "sign_number": "305-CT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "30/11/1988", "sign_number": "305-CT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "30/11/1988", "sign_number": "305-CT", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 305-CT  cấp hạn ngạch và giấy phép xuất nhập khẩu hàng hoá có nội dung như sau:

Điều 1. Chấn chỉnh việc cấp hạn ngạch xuất khẩu và nhập khẩu theo quy định sau:
1- Bộ Kinh tế đối ngoại dựa vào những căn cứ dưới đây để định hạn ngạch xuất khẩu và nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu trong phạm vi cả nước:
a) Kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân;
b) Khả năng sản xuất, nhu cầu thị trường;
c) Chính sách bảo hộ sản xuất và đối với tiêu dùng ở trong nước;
d) Các cam kết của Chính phủ ta với nước ngoài và nhu cầu của thị trường thế giới.
2- Căn cứ tổng hạn ngạch xuất khẩu, Bộ Kinh tế đối ngoại thống nhất với các Bộ, Tổng cục (dưới đây gọi là Bộ), Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương (dưới đây gọi là Uỷ ban Nhân dân tỉnh) về hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của từng Bộ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, trong đó đã được phân bố cụ thể cho từng đơn vị kinh tế phù hợp với khả năng sản xuất và nhu cầu nhập khẩu của các đơn vị đó.
3- Đối với các mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu ngoài danh mục các mặt hàng phải có hạn ngạch, các đơn vị kinh tế được trực tiếp xuất khẩu và nhập khẩu hoặc uỷ thác theo kế hoạch đăng ký tại Bộ Kinh tế đối ngoại.
4- Việc cấp hạn ngạch xuất khẩu và nhập khẩu phải hoàn thành chậm nhất trước ngày 31 tháng 12 hàng năm và sẽ được điều chỉnh vào tháng 6 năm sau.

Content:
Điều 1. Chấn chỉnh việc cấp hạn ngạch xuất khẩu và nhập khẩu theo quy định sau:
1- Bộ Kinh tế đối ngoại dựa vào những căn cứ dưới đây để định hạn ngạch xuất khẩu và nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu trong phạm vi cả nước:
a) Kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân;
b) Khả năng sản xuất, nhu cầu thị trường;
c) Chính sách bảo hộ sản xuất và đối với tiêu dùng ở trong nước;
d) Các cam kết của Chính phủ ta với nước ngoài và nhu cầu của thị trường thế giới.
2- Căn cứ tổng hạn ngạch xuất khẩu, Bộ Kinh tế đối ngoại thống nhất với các Bộ, Tổng cục (dưới đây gọi là Bộ), Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương (dưới đây gọi là Uỷ ban Nhân dân tỉnh) về hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của từng Bộ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, trong đó đã được phân bố cụ thể cho từng đơn vị kinh tế phù hợp với khả năng sản xuất và nhu cầu nhập khẩu của các đơn vị đó.
3- Đối với các mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu ngoài danh mục các mặt hàng phải có hạn ngạch, các đơn vị kinh tế được trực tiếp xuất khẩu và nhập khẩu hoặc uỷ thác theo kế hoạch đăng ký tại Bộ Kinh tế đối ngoại.
4- Việc cấp hạn ngạch xuất khẩu và nhập khẩu phải hoàn thành chậm nhất trước ngày 31 tháng 12 hàng năm và sẽ được điều chỉnh vào tháng 6 năm sau.