Document: Điều 4 Quyết định 18/2007/QĐ-UBND mức thu chế độ thu nộp quản lý sử dụng phí

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lạng Sơn", "promulgation_date": "15/03/2007", "sign_number": "18/2007/QĐ-UBND", "signer": "Phùng Thanh Kiểm", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lạng Sơn", "promulgation_date": "15/03/2007", "sign_number": "18/2007/QĐ-UBND", "signer": "Phùng Thanh Kiểm", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lạng Sơn", "promulgation_date": "15/03/2007", "sign_number": "18/2007/QĐ-UBND", "signer": "Phùng Thanh Kiểm", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lạng Sơn", "promulgation_date": "15/03/2007", "sign_number": "18/2007/QĐ-UBND", "signer": "Phùng Thanh Kiểm", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lạng Sơn", "promulgation_date": "15/03/2007", "sign_number": "18/2007/QĐ-UBND", "signer": "Phùng Thanh Kiểm", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 4 Quyết định 18/2007/QĐ-UBND mức thu chế độ thu nộp quản lý sử dụng phí có nội dung như sau:

Điều 4. Chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí đấu giá
1. Việc thu, nộp phí đấu giá:
a) Khi đăng ký tham gia đấu giá, người tham gia đấu giá phải nộp phí đấu giá.
b) Người có tài sản bán đấu giá theo Nghị định số 05/2005/NĐ-CP nộp phí đấu giá khi được thanh toán tiền bán tài sản.
c) Khi thu phí, đơn vị thu phí là doanh nghiệp bán đấu giá phải lập và giao hoá đơn cho đối tượng nộp phí theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính về phát hành, quản lý và sử dụng hoá đơn; Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản trực thuộc Sở Tư pháp, Hội đồng bán đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá đất khi thu phí phải lập và giao biên lai thu cho đối tượng nộp phí theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính về phát hành, quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế.
2. Quản lý, sử dụng phí đấu giá
Phí đấu giá là khoản thu nhằm bù đắp chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá và thu phí. Việc quản lý, sử dụng phí đấu giá được thực hiện như sau:
a) Đối với việc bán đấu giá tài sản theo Nghị định số 05/2005/NĐ-CP:
Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản trực thuộc Sở Tư pháp, Hội đồng bán đấu giá tài sản được để lại 90% (chín mươi phần trăm) tiền phí thực thu được để trang trải chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá và thu phí theo các nội dung chi quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 57/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sungtheo khoản 5 Điều 1 Nghị định số 24/2006/NĐ-CP). Tổng số phí thực thu được sau khi trừ số phí được trích để lại, số còn lại 10% (mười phần trăm) cơ quan thu phí phải nộp vào ngân sách Nhà nước.
b) Đối với số tiền phí thu được từ việc bán đấu giá quyền sử dụng đất hoặc cho thuê đất theo quy định tại Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg Hội đồng đấu giá đất được để lại 100% (một trăm phần trăm) để trang trải cho việc tổ chức bán đấu giá và thu phí.
Trường hợp tiền thu từ phí đấu giá của người tham gia đấu giá không đủ bù đắp chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá thì ngân sách Nhà nước hỗ trợ phần kinh phí còn thiếu đối với việc tổ chức bán đấu giá đó, theo nguyên tắc sau:
- Giá trị quyền sử dụng đất đấu giá là khoản thu thuộc ngân sách cấp nào (không phân biệt đấu giá thành hay không thành) thì ngân sách cấp đó có trách nhiệm đảm bảo kinh phí hỗ trợ.
- Số tiền hỗ trợ là khoản chênh lệch giữa chi phí thực tế, hợp lý cho việc bán đấu giá, nhưng không vượt quá số phí đấu giá áp dụng đối với người có tài sản bán đấu giá theo Nghị định số 05/2005/NĐ-CP (trường hợp bán đấu giá tài sản thành).
c) Đơn vị thu phí là doanh nghiệp bán đấu giá tài sản: Phí đấu giá thu được là khoản thu không thuộc ngân sách nhà nước. Tiền phí thu được là doanh thu của doanh nghiệp thu phí. Doanh nghiệp thu phí có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật đối với số phí thu được và có quyền quản lý, sử dụng số tiền thu phí sau khi đã nộp thuế theo quy định của pháp luật. Hàng năm, đơn vị thu phí phải thực hiện quyết toán thuế đối với số tiền phí thu được với cơ quan thuế theo quy định của pháp luật về thuế hiện hành.

Content:
Điều 4. Chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí đấu giá
1. Việc thu, nộp phí đấu giá:
a) Khi đăng ký tham gia đấu giá, người tham gia đấu giá phải nộp phí đấu giá.
b) Người có tài sản bán đấu giá theo Nghị định số 05/2005/NĐ-CP nộp phí đấu giá khi được thanh toán tiền bán tài sản.
c) Khi thu phí, đơn vị thu phí là doanh nghiệp bán đấu giá phải lập và giao hoá đơn cho đối tượng nộp phí theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính về phát hành, quản lý và sử dụng hoá đơn; Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản trực thuộc Sở Tư pháp, Hội đồng bán đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá đất khi thu phí phải lập và giao biên lai thu cho đối tượng nộp phí theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính về phát hành, quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế.
2. Quản lý, sử dụng phí đấu giá
Phí đấu giá là khoản thu nhằm bù đắp chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá và thu phí. Việc quản lý, sử dụng phí đấu giá được thực hiện như sau:
a) Đối với việc bán đấu giá tài sản theo Nghị định số 05/2005/NĐ-CP:
Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản trực thuộc Sở Tư pháp, Hội đồng bán đấu giá tài sản được để lại 90% (chín mươi phần trăm) tiền phí thực thu được để trang trải chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá và thu phí theo các nội dung chi quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 57/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sungtheo khoản 5 Điều 1 Nghị định số 24/2006/NĐ-CP). Tổng số phí thực thu được sau khi trừ số phí được trích để lại, số còn lại 10% (mười phần trăm) cơ quan thu phí phải nộp vào ngân sách Nhà nước.
b) Đối với số tiền phí thu được từ việc bán đấu giá quyền sử dụng đất hoặc cho thuê đất theo quy định tại Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg Hội đồng đấu giá đất được để lại 100% (một trăm phần trăm) để trang trải cho việc tổ chức bán đấu giá và thu phí.
Trường hợp tiền thu từ phí đấu giá của người tham gia đấu giá không đủ bù đắp chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá thì ngân sách Nhà nước hỗ trợ phần kinh phí còn thiếu đối với việc tổ chức bán đấu giá đó, theo nguyên tắc sau:
- Giá trị quyền sử dụng đất đấu giá là khoản thu thuộc ngân sách cấp nào (không phân biệt đấu giá thành hay không thành) thì ngân sách cấp đó có trách nhiệm đảm bảo kinh phí hỗ trợ.
- Số tiền hỗ trợ là khoản chênh lệch giữa chi phí thực tế, hợp lý cho việc bán đấu giá, nhưng không vượt quá số phí đấu giá áp dụng đối với người có tài sản bán đấu giá theo Nghị định số 05/2005/NĐ-CP (trường hợp bán đấu giá tài sản thành).
c) Đơn vị thu phí là doanh nghiệp bán đấu giá tài sản: Phí đấu giá thu được là khoản thu không thuộc ngân sách nhà nước. Tiền phí thu được là doanh thu của doanh nghiệp thu phí. Doanh nghiệp thu phí có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật đối với số phí thu được và có quyền quản lý, sử dụng số tiền thu phí sau khi đã nộp thuế theo quy định của pháp luật. Hàng năm, đơn vị thu phí phải thực hiện quyết toán thuế đối với số tiền phí thu được với cơ quan thuế theo quy định của pháp luật về thuế hiện hành.