Document: Điểm a Khoản 1 Điều 16 Nghị định 141/2005/NĐ-CP quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài mới nhất

Type: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "11/11/2005", "sign_number": "141/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "11/11/2005", "sign_number": "141/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "11/11/2005", "sign_number": "141/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "11/11/2005", "sign_number": "141/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Chính phủ", "promulgation_date": "11/11/2005", "sign_number": "141/2005/NĐ-CP", "signer": "Phan Văn Khải", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điểm a Khoản 1 Điều 16 Nghị định 141/2005/NĐ-CP quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài mới nhất

Điều 16. Người bảo lãnh cho người lao động
1. Người bảo lãnh cho người lao động là người được người lao động lựa chọn, giới thiệu và được doanh nghiệp chấp nhận để ký hợp đồng bảo lãnh với doanh nghiệp. Người bảo lãnh phải có đủ các điều kiện sau:
a) Có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để giao kết "Hợp đồng bảo lãnh";

Content:
Có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để giao kết "Hợp đồng bảo lãnh";