Document: Khoản 1 Điều 1 Quyết định 2191/QĐ-UBND 2007 quy hoạch phát triển Bưu chính Viễn thông Nghệ An

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "26/06/2007", "sign_number": "2191/QĐ-UBND", "signer": "Phan Đình Trạc", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "26/06/2007", "sign_number": "2191/QĐ-UBND", "signer": "Phan Đình Trạc", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "26/06/2007", "sign_number": "2191/QĐ-UBND", "signer": "Phan Đình Trạc", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "26/06/2007", "sign_number": "2191/QĐ-UBND", "signer": "Phan Đình Trạc", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Nghệ An", "promulgation_date": "26/06/2007", "sign_number": "2191/QĐ-UBND", "signer": "Phan Đình Trạc", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 1 Quyết định 2191/QĐ-UBND 2007 quy hoạch phát triển Bưu chính Viễn thông Nghệ An

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển Bưu chính, Viễn thông tỉnh Nghệ An đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu như sau:
1. Về Bưu chính
1.1. Quan điểm phát triển
- Phát triển Bưu chính theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ, kết hợp cung cấp các dịch vụ công ích với các dịch vụ thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
- Phát huy mọi nguồn lực, tạo điều kiện cho tất cả các thành phần kinh tế tham gia phát triển dịch vụ bưu chính và chuyển phát thư trong môi trường cạnh tranh lành mạnh.
- Phát triển đi đôi với đảm bảo an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ người tiêu dùng, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững.
1.2. Mục tiêu phát triển
- Phát triển các dịch vụ tài chính mới như: dịch vụ trả lương hưu, dịch vụ thanh toán, dịch vụ nhờ thu, phát cho các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ (thu tiền bảo hiểm nhân thọ, thu tiền điện, điện thoại, nước…).
- Phát triển các dịch vụ đại lý cho Viễn thông như: phát hóa đơn, thu cước, tiếp nhận yêu cầu cung cấp dịch vụ,...
- Bố trí thêm các điểm phục vụ tại các khu công nghiệp đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và người lao động.
1.3. Các chỉ tiêu cụ thể
- Giảm bán kính phục vụ bình quân 1 điểm phục vụ xuống còn 2,5 km; giảm chỉ tiêu dân số phục vụ bình quân xuống mức 3.200 người/điểm phục vụ vào năm 2010.
- Đến năm 2020 cơ bản các thôn có điểm phục vụ trên cơ sở đặt tại trụ sở nhà văn hoá hoặc hội trường thôn.
- Duy trì tốc độ tăng doanh thu ngành Bưu chính hàng năm từ 20 - 25%. Doanh thu bưu chính năm 2010 đạt trên 50 tỷ, năm 2015 trên 130 tỷ và năm 2020 đạt khoảng 400 tỷ.
1.4. Phương hướng phát triển ngành Bưu chính
1.4.1. Mạng Bưu chính:
a. Mạng điểm phục vụ:
- Phát triển mạng bưu cục đến các khu dân cư, điểm du lịch, khu công nghiệp, đối với mạng phục vụ cấp thôn, xã ưu tiên phát triển các hình thức đại lý đa dịch vụ, điểm bưu điện văn hóa xã, tạo điều kiện giảm lao động chính thức, tận dụng lao động địa phương, nâng cao năng suất lao động bưu chính.
- Giai đoạn 2007 – 2010 hoàn thiện việc xây dựng điểm bưu điện văn hoá xã ở tất cả các xã, mở rộng diện tích phòng thư viện, diện tích đặt máy tính truy nhập Internet (100m2), tổng số điểm Bưu điện văn hoá xã là 436, nhu cầu quỹ đất là 43.600m2.
- Phát triển thêm các bưu cục ở các khu công nghiệp mới như: Hoàng Mai, Phủ Quỳ, Hưng Tây (Hưng Nguyên), Nghi Hoa (Nghi Lộc). Nhu cầu quỹ đất là 800m2.
- Phát triển các điểm phục vụ dưới hình thức các đại lý bưu điện, chuyển đổi bưu cục cấp 3 thành đại lý bưu điện, số lượng các bưu cục sẽ giảm xuống chỉ còn khoảng 70 bưu cục các loại cấp 1, 2 và 3; phát triển thêm trên 70 đại lý.
- Đến năm 2010 có hơn 800 điểm phục vụ
- Từ năm 2020 đảm bảo 100% số thôn có điểm phục vụ các dịch vụ bưu chính viễn thông và ứng dụng công nghệ thông tin. Mỗi điểm được đầu tư cabin điện thoại, tối thiểu 02 máy tính, Internet băng rộng và các bưu phẩm khác. Tận dụng nguồn nhân lực ngay tại địa phương với thu nhập được trả theo phần trăm của doanh thu.
b. Mạng vận chuyển
- Mở thêm tuyến đường thư cấp I chạy dọc theo đường Hồ Chí Minh, qua các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương.
- Tăng thêm tuyến đường thư cấp II Diễn Châu – Yên Thành. Trước năm 2008 tăng tần suất các tuyến đường thư cấp II đến huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành lên 2 chuyến/ngày, giai đoạn 2010 – 2015 đảm bảo tất cả các tuyến có 2 chuyến/ngày, đối với những tuyến có sản lượng lớn, đến các khu CN, thành phố, thị xã có 3 chuyến/ngày.
Kết hợp với trung tâm chia chọn tự động quốc gia tự động hoá khai thác bưu phẩm đến cấp huyện chiều đến. Từ năm 2010 – 2012 xây dựng trung tâm chia chọn tự động tại Vinh phục vụ cho khu vực Bắc Trung Bộ.
1.4.2. Dịch vụ bưu chính
- Phổ cập đa dạng dịch vụ, cung cấp dịch vụ công ích và giảm thời gian toàn trình.
- Nâng cao chất lượng phổ cập dịch vụ, rút ngắn thời gian phát báo và công văn xuống xã, đến năm 2012 đảm bảo 100% số xã có báo đến trong ngày. Mở dịch vụ chuyển tiền, thanh toán, chuyển phát nhanh, bưu kiện toàn mạng bưu cục. Tại các điểm bưu điện văn hoá xã mở dịch vụ chuyển tiền, bưu kiện.
- Chú trọng các dịch vụ công ích và dịch vụ hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và công nghiệp nông thôn, trong thời gian tới xây dựng nguồn tư liệu hướng dẫn sản xuất và chế biến nông sản tại các điểm bưu điện văn hoá xã. Giai đoạn tiếp theo triển khai cung cấp thông tin thương mại nông nghiệp.
- Phát triển mạng chuyển phát an toàn, tin cậy đồng bộ với các dịch vụ hoàn thiện hàng hoá, dịch vụ tài chính bưu chính vv..., tạo ra kênh phân phối và thanh toán hàng hoá phù hợp với nhu cầu phát triển thương mại và góp phần thúc đẩy phát triển thương mại điện tử trong tương lai (mỗi bưu cục phấn đấu trở thành một nút mạng Internet phục vụ nhu cầu tìm kiếm, mua bán và giao nhận hàng hoá trong thương mại điện tử).
- Phát triển các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, dịch vụ trả lương hưu, dịch vụ thanh toán, dịch vụ nhờ thu cho các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ (thu tiền bảo hiểm nhân thọ, thu tiền điện, điện thoại, nước)…
- Xây dựng các điểm phục vụ đến các điểm dân cư vùng sâu, vùng xa, mở rộng lĩnh vực cung cấp dịch vụ theo hướng cung cấp ứng dụng rộng rãi mọi lĩnh vực và giải trí.
- Ứng dụng công nghệ hiện đại triển khai tự động hoá trong khai thác, chấp nhận và tin học hoá các công đoạn bưu chính. Đến năm 2015 hoàn thành triển khai ứng dụng công nghệ tự động hoá cấp tỉnh, khâu chia chọn được tự động hoá trong toàn tỉnh do trung tâm chia chọn tự động thực hiện. Lộ trình ứng dụng tin học hoá cấp bưu cục, điểm phục vụ thực hiện trong giai đoạn 2010 – 2015.

Content:
Về Bưu chính
1.Quan điểm phát triển
- Phát triển Bưu chính theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ, kết hợp cung cấp các dịch vụ công ích với các dịch vụ thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
- Phát huy mọi nguồn lực, tạo điều kiện cho tất cả các thành phần kinh tế tham gia phát triển dịch vụ bưu chính và chuyển phát thư trong môi trường cạnh tranh lành mạnh.
- Phát triển đi đôi với đảm bảo an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ người tiêu dùng, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững.
1.2. Mục tiêu phát triển
- Phát triển các dịch vụ tài chính mới như: dịch vụ trả lương hưu, dịch vụ thanh toán, dịch vụ nhờ thu, phát cho các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ (thu tiền bảo hiểm nhân thọ, thu tiền điện, điện thoại, nước…).
- Phát triển các dịch vụ đại lý cho Viễn thông như: phát hóa đơn, thu cước, tiếp nhận yêu cầu cung cấp dịch vụ,...
- Bố trí thêm các điểm phục vụ tại các khu công nghiệp đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và người lao động.
1.3. Các chỉ tiêu cụ thể
- Giảm bán kính phục vụ bình quân 1 điểm phục vụ xuống còn 2,5 km; giảm chỉ tiêu dân số phục vụ bình quân xuống mức 3.200 người/điểm phục vụ vào năm 2010.
- Đến năm 2020 cơ bản các thôn có điểm phục vụ trên cơ sở đặt tại trụ sở nhà văn hoá hoặc hội trường thôn.
- Duy trì tốc độ tăng doanh thu ngành Bưu chính hàng năm từ 20 - 25%. Doanh thu bưu chính năm 2010 đạt trên 50 tỷ, năm 2015 trên 130 tỷ và năm 2020 đạt khoảng 400 tỷ.
1.4. Phương hướng phát triển ngành Bưu chính
1.4.Mạng Bưu chính:
a. Mạng điểm phục vụ:
- Phát triển mạng bưu cục đến các khu dân cư, điểm du lịch, khu công nghiệp, đối với mạng phục vụ cấp thôn, xã ưu tiên phát triển các hình thức đại lý đa dịch vụ, điểm bưu điện văn hóa xã, tạo điều kiện giảm lao động chính thức, tận dụng lao động địa phương, nâng cao năng suất lao động bưu chính.
- Giai đoạn 2007 – 2010 hoàn thiện việc xây dựng điểm bưu điện văn hoá xã ở tất cả các xã, mở rộng diện tích phòng thư viện, diện tích đặt máy tính truy nhập Internet (100m2), tổng số điểm Bưu điện văn hoá xã là 436, nhu cầu quỹ đất là 43.600m2.
- Phát triển thêm các bưu cục ở các khu công nghiệp mới như: Hoàng Mai, Phủ Quỳ, Hưng Tây (Hưng Nguyên), Nghi Hoa (Nghi Lộc). Nhu cầu quỹ đất là 800m2.
- Phát triển các điểm phục vụ dưới hình thức các đại lý bưu điện, chuyển đổi bưu cục cấp 3 thành đại lý bưu điện, số lượng các bưu cục sẽ giảm xuống chỉ còn khoảng 70 bưu cục các loại cấp 1, 2 và 3; phát triển thêm trên 70 đại lý.
- Đến năm 2010 có hơn 800 điểm phục vụ
- Từ năm 2020 đảm bảo 100% số thôn có điểm phục vụ các dịch vụ bưu chính viễn thông và ứng dụng công nghệ thông tin. Mỗi điểm được đầu tư cabin điện thoại, tối thiểu 02 máy tính, Internet băng rộng và các bưu phẩm khác. Tận dụng nguồn nhân lực ngay tại địa phương với thu nhập được trả theo phần trăm của doanh thu.
b. Mạng vận chuyển
- Mở thêm tuyến đường thư cấp I chạy dọc theo đường Hồ Chí Minh, qua các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương.
- Tăng thêm tuyến đường thư cấp II Diễn Châu – Yên Thành. Trước năm 2008 tăng tần suất các tuyến đường thư cấp II đến huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành lên 2 chuyến/ngày, giai đoạn 2010 – 2015 đảm bảo tất cả các tuyến có 2 chuyến/ngày, đối với những tuyến có sản lượng lớn, đến các khu CN, thành phố, thị xã có 3 chuyến/ngày.
Kết hợp với trung tâm chia chọn tự động quốc gia tự động hoá khai thác bưu phẩm đến cấp huyện chiều đến. Từ năm 2010 – 2012 xây dựng trung tâm chia chọn tự động tại Vinh phục vụ cho khu vực Bắc Trung Bộ.
1.4.2. Dịch vụ bưu chính
- Phổ cập đa dạng dịch vụ, cung cấp dịch vụ công ích và giảm thời gian toàn trình.
- Nâng cao chất lượng phổ cập dịch vụ, rút ngắn thời gian phát báo và công văn xuống xã, đến năm 2012 đảm bảo 100% số xã có báo đến trong ngày. Mở dịch vụ chuyển tiền, thanh toán, chuyển phát nhanh, bưu kiện toàn mạng bưu cục. Tại các điểm bưu điện văn hoá xã mở dịch vụ chuyển tiền, bưu kiện.
- Chú trọng các dịch vụ công ích và dịch vụ hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và công nghiệp nông thôn, trong thời gian tới xây dựng nguồn tư liệu hướng dẫn sản xuất và chế biến nông sản tại các điểm bưu điện văn hoá xã. Giai đoạn tiếp theo triển khai cung cấp thông tin thương mại nông nghiệp.
- Phát triển mạng chuyển phát an toàn, tin cậy đồng bộ với các dịch vụ hoàn thiện hàng hoá, dịch vụ tài chính bưu chính vv..., tạo ra kênh phân phối và thanh toán hàng hoá phù hợp với nhu cầu phát triển thương mại và góp phần thúc đẩy phát triển thương mại điện tử trong tương lai (mỗi bưu cục phấn đấu trở thành một nút mạng Internet phục vụ nhu cầu tìm kiếm, mua bán và giao nhận hàng hoá trong thương mại điện tử).
- Phát triển các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, dịch vụ trả lương hưu, dịch vụ thanh toán, dịch vụ nhờ thu cho các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ (thu tiền bảo hiểm nhân thọ, thu tiền điện, điện thoại, nước)…
- Xây dựng các điểm phục vụ đến các điểm dân cư vùng sâu, vùng xa, mở rộng lĩnh vực cung cấp dịch vụ theo hướng cung cấp ứng dụng rộng rãi mọi lĩnh vực và giải trí.
- Ứng dụng công nghệ hiện đại triển khai tự động hoá trong khai thác, chấp nhận và tin học hoá các công đoạn bưu chính. Đến năm 2015 hoàn thành triển khai ứng dụng công nghệ tự động hoá cấp tỉnh, khâu chia chọn được tự động hoá trong toàn tỉnh do trung tâm chia chọn tự động thực hiện. Lộ trình ứng dụng tin học hoá cấp bưu cục, điểm phục vụ thực hiện trong giai đoạn 2010 – 2015.