Document: Điều 7 Nghị định 192-NĐ quy định thể lệ tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trường phổ thông áp dụng từ niên học 1957-1958

Type: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục", "promulgation_date": "20/03/1958", "sign_number": "192-NĐ", "signer": "Nguyễn Văn Huyên", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục", "promulgation_date": "20/03/1958", "sign_number": "192-NĐ", "signer": "Nguyễn Văn Huyên", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục", "promulgation_date": "20/03/1958", "sign_number": "192-NĐ", "signer": "Nguyễn Văn Huyên", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục", "promulgation_date": "20/03/1958", "sign_number": "192-NĐ", "signer": "Nguyễn Văn Huyên", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Giáo dục", "promulgation_date": "20/03/1958", "sign_number": "192-NĐ", "signer": "Nguyễn Văn Huyên", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 7 Nghị định 192-NĐ quy định thể lệ tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trường phổ thông áp dụng từ niên học 1957-1958 có nội dung như sau:

Điều 7. : -Những thí sinh đủ điều kiện sau đây được dự thi:
a) Về tuổi
Đủ 17 tuổi tính đến 31-12 năm dự thi.
b) Về học:
1.- Học sinh đã học một trường quốc lập hay tư thục có học bạ đầy đủ chứng minh đã học hết cấp 3 trường phổ thông (hoặc tương đương với cấp 3 trường phổ thông) cụ thể là:
Từ niên học 1955-56 trở về trước:
- học sinh đã học đầy đủ các lớp đệ tam, đệ nhị, đệ nhất bậc trung học.
- học sinh đã học đầy đủ các lớp 8 và 9 cấp 3 trường phổ thông 9 năm nhưng chưa được công nhận tốt nghiệp.
Từ niên học 1956-57 trở về sau:
- học sinh đã học đầy đủ các lớp 8, 9 và 10 trường phổ thông 10 năm.
2. – Học sinh tự do:
- đã thi hỏng kỳ thi tốt nghiệp Trường phổ thông hay Trung học đệ nhị cấp cũ từ liên khóa 1954-55 trở đi (1955-56, v.v…)
- có giấy chứng nhân học lực hợp lệ chứng thực đã học đầy đủ chương trình các lớp cấp 3 Trường phổ thông (hoặc tương đương với các lớp cấp 3) trong thời gian ít nhất 3 niên học.

Content:
Điều 7. : -Những thí sinh đủ điều kiện sau đây được dự thi:
a) Về tuổi
Đủ 17 tuổi tính đến 31-12 năm dự thi.
b) Về học:
1.- Học sinh đã học một trường quốc lập hay tư thục có học bạ đầy đủ chứng minh đã học hết cấp 3 trường phổ thông (hoặc tương đương với cấp 3 trường phổ thông) cụ thể là:
Từ niên học 1955-56 trở về trước:
- học sinh đã học đầy đủ các lớp đệ tam, đệ nhị, đệ nhất bậc trung học.
- học sinh đã học đầy đủ các lớp 8 và 9 cấp 3 trường phổ thông 9 năm nhưng chưa được công nhận tốt nghiệp.
Từ niên học 1956-57 trở về sau:
- học sinh đã học đầy đủ các lớp 8, 9 và 10 trường phổ thông 10 năm.
2. – Học sinh tự do:
- đã thi hỏng kỳ thi tốt nghiệp Trường phổ thông hay Trung học đệ nhị cấp cũ từ liên khóa 1954-55 trở đi (1955-56, v.v…)
- có giấy chứng nhân học lực hợp lệ chứng thực đã học đầy đủ chương trình các lớp cấp 3 Trường phổ thông (hoặc tương đương với các lớp cấp 3) trong thời gian ít nhất 3 niên học.