Document: Điều 1 Quyết định 154/QĐ-UBND Quy hoạch quản lý chất thải rắn 2011-2020 Quảng Nam

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "12/01/2011", "sign_number": "154/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Quang", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "12/01/2011", "sign_number": "154/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Quang", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "12/01/2011", "sign_number": "154/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Quang", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "12/01/2011", "sign_number": "154/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Quang", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Quảng Nam", "promulgation_date": "12/01/2011", "sign_number": "154/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Quang", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 154/QĐ-UBND Quy hoạch quản lý chất thải rắn 2011-2020 Quảng Nam có nội dung như sau:

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch quản lý chất thải rắn (CTR) tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2020, với các nội dung chủ yếu như sau:
1. Quan điểm và mục tiêu quy hoạch
a) Quan điểm quy hoạch
- Quy hoạch quản lý CTR trên địa bàn tỉnh Quảng Nam phải phù hợp với “Chiến lược Quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; được thực hiện liên ngành, địa phương; đảm bảo sự tối ưu về kinh tế, kỹ thuật, an toàn xã hội và môi trường; gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các quy hoạch ngành của tỉnh.
- Quản lý CTR là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó Nhà nước có vai trò chủ đạo, đẩy mạnh xã hội hóa, huy động tối đa mọi nguồn lực, tăng cường đầu tư cho công tác quản lý tổng hợp CTR.
- Quản lý CTR phải được thực hiện theo phương thức tổng hợp, với nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh CTR tại nguồn, tăng cường tái sử dụng, tái chế để giảm tối đa lượng CTR phải chôn lấp, áp dụng công nghệ xử lý hiện đại có chọn lọc phù hợp với điều kiện của tỉnh.
b) Mục tiêu quy hoạch
* Mục tiêu tổng quát:
Quy hoạch đồng bộ hệ thống quản lý tổng hợp đối với CTR trên toàn tỉnh, theo đó CTR được phân loại tại nguồn, thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý triệt để bằng công nghệ tiên tiến và phù hợp, hạn chế tối đa lượng chất thải chôn lấp nhằm tiết kiệm tài nguyên đất đai và hạn chế gây ô nhiễm môi trường, quản lý và xử lý chất thải nguy hại theo các phương thức phù hợp.
Đề ra chiến lược, giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức cộng đồng, tăng cường thu hút đầu tư cho công tác quản lý tổng hợp CTR, cải thiện chất lượng môi trường và đảm bảo sức khỏe cộng đồng, góp phần vào sự nghiệp phát triển bền vững của tỉnh nhà.
* Mục tiêu cụ thể:
Thực hiện Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Quảng Nam lần thứ XX: “... Thực hiện tốt việc xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường và đầu tư đồng bộ vào lĩnh vực bảo vệ môi trường. Chú trọng công tác quản lý chất thải sản xuất và sinh hoạt; hình thành mạng lưới thu gom và xử lý rác thải, chất thải ở các khu, cụm công nghiệp, bệnh viện, khu du lịch, làng nghề, các khu dân cư; chú ý quản lý chất thải độc hại, rác thải y tế...”. Theo đó, quy hoạch đến năm 2020:
- Thu gom và xử lý được 100% tổng lượng CTR sinh hoạt phát sinh tại các đô thị, 90% tại các điểm dân cư nông thôn; trong đó có 70% được tái sử dụng, tái chế;
- Thu gom và xử lý được 100% tổng lượng CTR công nghiệp thông thường, 95% CTR nguy hại phát sinh tại các khu, cụm công nghiệp và làng nghề; trong đó có 70% được thu hồi để tái sử dụng, tái chế;
- Thu gom, xử lý được 100% tổng lượng CTR y tế phát sinh tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh;
- Thu gom và xử lý đảm bảo môi trường 90% tổng lượng CTR phát sinh tại các cơ sở chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm;
- Các loại CTR khác được thu gom, xử lý đảm bảo môi trường.
2. Nội dung quy hoạch
a) Quy hoạch thu gom, vận chuyển
* Đối với CTR sinh hoạt:
- Phân loại tại nguồn: CTR sinh hoạt cần được phân loại tại nguồn (các hộ gia đình, tổ chức,..) thành 03 loại gồm: chất thải hữu cơ, chất thải có thể tái chế và chất thải không tái chế.
- Thu gom, vận chuyển:
+ Ở đô thị (thị trấn, thành phố): Phân loại rác tại nguồn đối với các tất cả các hộ có CTR sinh hoạt. Thu gom thủ công hàng ngày đến điểm trung chuyển. Vận chuyển cơ giới đến khu phân loại và xử lý tập trung.
+ Ở khu dân cư nông thôn: Thu gom thủ công hàng ngày hoặc cách ngày đến điểm tập kết, trung chuyển. Vận chuyển cơ giới đến khu xử lý tập trung trong cự ly 20-30 km.
+ Ở vùng nông thôn miền núi, nơi chưa có điều kiện thu gom tập trung bởi các đơn vị chức năng thì các hộ gia đình, đơn vị, chủ nguồn thải tự thu gom và có biện pháp xử lý đảm bảo môi trường.
* Đối với CTR công nghiệp:
- Phân loại CTR công nghiệp: phải được phân loại tại xí nghiệp hoặc khu, cụm công nghiệp, thành các loại CTR có thể tái chế, tái sử dụng, CTR có thể chế biến thành phân vi sinh, CTR phải chôn lấp và CTR nguy hại.
- Thu gom, vận chuyển: Đối với các khu, cụm công nghiệp thì việc thu gom, vận chuyển tuân theo quy chế quản lý CTR của khu, cụm công nghiệp; đối với các cơ sở sản xuất ngoài khu, cụm công nghiệp thì tự tổ chức phân loại, thu gom, vận chuyển thông qua các hợp đồng ký kết với đơn vị được cấp phép thu gom, vận chuyển.
* Đối với CTR y tế:
- CTR y tế phải được các cơ sở y tế tự thu gom riêng tại nguồn, tách biệt với các loại CTR khác không nguy hại, sau đó phải được vận chuyển đến nơi xử lý bởi các đơn vị chức năng được cấp phép.
- Thực hiện việc quản lý chất thải y tế theo Quy chế quản lý chất thải y tế được ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế.
* Đối với các loại CTR khác:
Tùy theo tính chất, thành phần, mức độ nguy hại,... các chủ nguồn thải phải tự thu gom, hợp đồng thu gom hoặc các biện pháp khác, đảm bảo đáp ứng yêu cầu về giải quyết rác thải và bảo vệ môi trường.
* Quy hoạch các trạm trung chuyển phục vụ công tác thu gom, vận chuyển:
Trên toàn tỉnh có 80 trạm trung chuyển được quy hoạch để phục vụ công tác thu gom, quản lý rác thải. Chi tiết tại phụ lục 1 đính kèm.
b) Quy hoạch các khu xử lý CTR
Căn cứ điều kiện tự nhiên, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của từng địa phương, vùng, miền và căn cứ nhu cầu xử lý rác trên toàn tỉnh, các khu xử lý CTR trên địa bàn tỉnh được quy hoạch gồm 28 khu, với tổng diện tích 181,7 ha. Cụ thể như sau:
- Sử dụng toàn bộ 15 bãi rác hiện có trên địa bàn tỉnh ( 55,5 ha ) để giải quyết rác thải, đến khi hết diện tích, đóng cửa và hoàn trả mặt bằng.
- Xây dựng mới hoặc nâng cấp, mở rộng các bãi rác cũ để hình thành những khu xử lý CTR tại các địa phương, bao gồm:
+ Mở rộng, nâng cấp các bãi rác Prao, Thạnh Mỹ, Trà Mai, Cẩm Hà và Tam Xuân 2 với tổng diện tích hiện tại 24 ha lên 57,5 ha để hình thành các khu xử lý đạt tiêu chuẩn.
+ Hình thành mới 13 khu xử lý CTR với tổng diện tích 92,7 ha.
- Ở miền núi, sẽ đầu tư tại mỗi huyện một khu xử lý tập trung, bao gồm việc xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh và xây lò đốt chất thải y tế.
- Ở vùng đồng bằng và trung du sẽ hình thành các khu xử lý liên huyện, khu liên hợp, phân khu xử lý theo chức năng... Theo đó, có 3 khu vực để hình thành các khu liên hợp xử lý CTR là tại Đại Lộc ( cho cánh Bắc ), Duy Xuyên, Quế Sơn ( cho vùng giữa ) và Núi Thành ( cho cánh Nam ). Ở cánh Bắc trước mắt vẫn sử dụng khu xử lý rác thải tại Đại Hiệp đến hết thời hạn và đóng cửa, đồng thời xúc tiến xây dựng khu liên hợp xử lý rác thải tại xã Đại Nghĩa ( 15 ha ) để xử lý rác thải cho các địa phương Đại Lộc, Điện Bàn và Hội An. Ở vùng giữa của tỉnh, sẽ hình thành khu liên hợp xử lý tại Quế Cường - Quế Sơn (15 ha), Duy Trinh - Duy Xuyên (15 ha) sử dụng để xử lý CTR cho các địa phương Quế Sơn, Thăng Bình, Duy Xuyên, có thể thêm một phần Hội An, Điện Bàn và xử lý chất thải nguy hại trong công nghiệp. Cánh Nam của tỉnh sẽ nâng cấp, mở rộng khu bãi rác Tam Xuân 2 ( đạt 35 ha ) để hình thành khu liên hợp xử lý CTR cho các địa phương Tam Kỳ, Phú Ninh, Núi Thành và Khu Kinh tế mở Chu Lai. Ngoài ra, ở vùng đồng bằng cũng sẽ tiếp tục sử dụng hoặc đầu tư mới một số bãi chôn lấp hợp vệ sinh, hoặc khu xử lý rác thải tại một số khu vực khác, trong đó có khu tại Bình Phú - Thăng Bình và khu Tam Vinh - Phú Ninh sẽ được xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh và bố trí đất để đầu tư các nhà máy xử lý rác theo công nghệ ủ sinh học sản xuất phân hữu cơ.
Chi tiết các khu xử lý CTR tại phụ lục 2 đính kèm.
c) Quy hoạch xử lý các loại CTR
- CTR sinh hoạt và CTR công nghiệp được ưu tiên đưa vào các dây chuyền công nghệ chế biến (composting, công nghệ tạo năng lượng,...) trước khi áp dụng biện pháp thiêu hủy hoặc chôn lấp.
- CTR y tế được áp dụng xử lý bởi lò đốt chuyên dụng.
- Các loại CTR trong nông nghiệp (CTR từ chăn nuôi, CTR từ giết mổ,...) cũng phải được áp dụng công nghệ xử lý phù hợp, hạn chế tối đa việc chôn lấp dễ gây mầm bệnh và ảnh hưởng tới hệ sinh thái.
- Ngoài ra, trong điều kiện của khu vực nông thôn và miền núi, khi các loại rác chưa được thu gom bởi các đơn vị chức năng, thì phải được các hộ gia đình hoặc chủ nguồn thải tự chịu trách nhiệm thu gom và có thể sử dụng các hình thức tổ hợp vườn - ao - chuồng, đốt thiêu hủy để phòng trừ mầm bệnh, hoặc dùng các thùng chứa rác tự tạo và đào hố chứa để tự phân hủy rác, hố ủ phân trát bùn để xử lý rác thải sinh hoạt.
d) Quy hoạch hệ thống quản lý
- Nhà nước quản lý bằng chủ trương và chính sách; khuyến khích và huy động mọi nguồn lực từ cộng đồng, xã hội vào quản lý CTR; ưu đãi, hỗ trợ đầu tư để đẩy mạnh xã hội hóa trong quản lý CTR ở các khâu thu gom, vận chuyển và xử lý.
- Cộng đồng là chủ thể thực hiện công tác quản lý CTR.
- Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân,... tham gia thực hiện các hoạt động dịch vụ trong các khâu của quản lý tổng hợp CTR, chịu sự giám sát của cộng đồng và sự kiểm tra của Nhà nước.
3. Khái toán kinh phí đầu tư
- Khái toán tổng mức đầu tư thực hiện Quy hoạch này dự kiến khoảng 1.252,12 tỷ đồng, trong đó giai đoạn 2011-2015 là 1.001,39 tỷ đồng và giai đoạn 2016-2020 là 250,73 tỷ đồng.
- Nguồn vốn đầu tư gồm: Vốn ngân sách Nhà nước (Trung ương hỗ trợ và ngân sách tỉnh) và các nguồn vốn khác (vốn hỗ trợ ODA, vốn vay và viện trợ khác, vốn tín dụng đầu tư, vốn từ thực hiện xã hội hóa).

Content:
Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch quản lý chất thải rắn (CTR) tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2020, với các nội dung chủ yếu như sau:
1. Quan điểm và mục tiêu quy hoạch
a) Quan điểm quy hoạch
- Quy hoạch quản lý CTR trên địa bàn tỉnh Quảng Nam phải phù hợp với “Chiến lược Quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; được thực hiện liên ngành, địa phương; đảm bảo sự tối ưu về kinh tế, kỹ thuật, an toàn xã hội và môi trường; gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các quy hoạch ngành của tỉnh.
- Quản lý CTR là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó Nhà nước có vai trò chủ đạo, đẩy mạnh xã hội hóa, huy động tối đa mọi nguồn lực, tăng cường đầu tư cho công tác quản lý tổng hợp CTR.
- Quản lý CTR phải được thực hiện theo phương thức tổng hợp, với nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh CTR tại nguồn, tăng cường tái sử dụng, tái chế để giảm tối đa lượng CTR phải chôn lấp, áp dụng công nghệ xử lý hiện đại có chọn lọc phù hợp với điều kiện của tỉnh.
b) Mục tiêu quy hoạch
* Mục tiêu tổng quát:
Quy hoạch đồng bộ hệ thống quản lý tổng hợp đối với CTR trên toàn tỉnh, theo đó CTR được phân loại tại nguồn, thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý triệt để bằng công nghệ tiên tiến và phù hợp, hạn chế tối đa lượng chất thải chôn lấp nhằm tiết kiệm tài nguyên đất đai và hạn chế gây ô nhiễm môi trường, quản lý và xử lý chất thải nguy hại theo các phương thức phù hợp.
Đề ra chiến lược, giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức cộng đồng, tăng cường thu hút đầu tư cho công tác quản lý tổng hợp CTR, cải thiện chất lượng môi trường và đảm bảo sức khỏe cộng đồng, góp phần vào sự nghiệp phát triển bền vững của tỉnh nhà.
* Mục tiêu cụ thể:
Thực hiện Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Quảng Nam lần thứ XX: “... Thực hiện tốt việc xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường và đầu tư đồng bộ vào lĩnh vực bảo vệ môi trường. Chú trọng công tác quản lý chất thải sản xuất và sinh hoạt; hình thành mạng lưới thu gom và xử lý rác thải, chất thải ở các khu, cụm công nghiệp, bệnh viện, khu du lịch, làng nghề, các khu dân cư; chú ý quản lý chất thải độc hại, rác thải y tế...”. Theo đó, quy hoạch đến năm 2020:
- Thu gom và xử lý được 100% tổng lượng CTR sinh hoạt phát sinh tại các đô thị, 90% tại các điểm dân cư nông thôn; trong đó có 70% được tái sử dụng, tái chế;
- Thu gom và xử lý được 100% tổng lượng CTR công nghiệp thông thường, 95% CTR nguy hại phát sinh tại các khu, cụm công nghiệp và làng nghề; trong đó có 70% được thu hồi để tái sử dụng, tái chế;
- Thu gom, xử lý được 100% tổng lượng CTR y tế phát sinh tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh;
- Thu gom và xử lý đảm bảo môi trường 90% tổng lượng CTR phát sinh tại các cơ sở chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm;
- Các loại CTR khác được thu gom, xử lý đảm bảo môi trường.
2. Nội dung quy hoạch
a) Quy hoạch thu gom, vận chuyển
* Đối với CTR sinh hoạt:
- Phân loại tại nguồn: CTR sinh hoạt cần được phân loại tại nguồn (các hộ gia đình, tổ chức,..) thành 03 loại gồm: chất thải hữu cơ, chất thải có thể tái chế và chất thải không tái chế.
- Thu gom, vận chuyển:
+ Ở đô thị (thị trấn, thành phố): Phân loại rác tại nguồn đối với các tất cả các hộ có CTR sinh hoạt. Thu gom thủ công hàng ngày đến điểm trung chuyển. Vận chuyển cơ giới đến khu phân loại và xử lý tập trung.
+ Ở khu dân cư nông thôn: Thu gom thủ công hàng ngày hoặc cách ngày đến điểm tập kết, trung chuyển. Vận chuyển cơ giới đến khu xử lý tập trung trong cự ly 20-30 km.
+ Ở vùng nông thôn miền núi, nơi chưa có điều kiện thu gom tập trung bởi các đơn vị chức năng thì các hộ gia đình, đơn vị, chủ nguồn thải tự thu gom và có biện pháp xử lý đảm bảo môi trường.
* Đối với CTR công nghiệp:
- Phân loại CTR công nghiệp: phải được phân loại tại xí nghiệp hoặc khu, cụm công nghiệp, thành các loại CTR có thể tái chế, tái sử dụng, CTR có thể chế biến thành phân vi sinh, CTR phải chôn lấp và CTR nguy hại.
- Thu gom, vận chuyển: Đối với các khu, cụm công nghiệp thì việc thu gom, vận chuyển tuân theo quy chế quản lý CTR của khu, cụm công nghiệp; đối với các cơ sở sản xuất ngoài khu, cụm công nghiệp thì tự tổ chức phân loại, thu gom, vận chuyển thông qua các hợp đồng ký kết với đơn vị được cấp phép thu gom, vận chuyển.
* Đối với CTR y tế:
- CTR y tế phải được các cơ sở y tế tự thu gom riêng tại nguồn, tách biệt với các loại CTR khác không nguy hại, sau đó phải được vận chuyển đến nơi xử lý bởi các đơn vị chức năng được cấp phép.
- Thực hiện việc quản lý chất thải y tế theo Quy chế quản lý chất thải y tế được ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế.
* Đối với các loại CTR khác:
Tùy theo tính chất, thành phần, mức độ nguy hại,... các chủ nguồn thải phải tự thu gom, hợp đồng thu gom hoặc các biện pháp khác, đảm bảo đáp ứng yêu cầu về giải quyết rác thải và bảo vệ môi trường.
* Quy hoạch các trạm trung chuyển phục vụ công tác thu gom, vận chuyển:
Trên toàn tỉnh có 80 trạm trung chuyển được quy hoạch để phục vụ công tác thu gom, quản lý rác thải. Chi tiết tại phụ lục 1 đính kèm.
b) Quy hoạch các khu xử lý CTR
Căn cứ điều kiện tự nhiên, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của từng địa phương, vùng, miền và căn cứ nhu cầu xử lý rác trên toàn tỉnh, các khu xử lý CTR trên địa bàn tỉnh được quy hoạch gồm 28 khu, với tổng diện tích 181,7 ha. Cụ thể như sau:
- Sử dụng toàn bộ 15 bãi rác hiện có trên địa bàn tỉnh ( 55,5 ha ) để giải quyết rác thải, đến khi hết diện tích, đóng cửa và hoàn trả mặt bằng.
- Xây dựng mới hoặc nâng cấp, mở rộng các bãi rác cũ để hình thành những khu xử lý CTR tại các địa phương, bao gồm:
+ Mở rộng, nâng cấp các bãi rác Prao, Thạnh Mỹ, Trà Mai, Cẩm Hà và Tam Xuân 2 với tổng diện tích hiện tại 24 ha lên 57,5 ha để hình thành các khu xử lý đạt tiêu chuẩn.
+ Hình thành mới 13 khu xử lý CTR với tổng diện tích 92,7 ha.
- Ở miền núi, sẽ đầu tư tại mỗi huyện một khu xử lý tập trung, bao gồm việc xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh và xây lò đốt chất thải y tế.
- Ở vùng đồng bằng và trung du sẽ hình thành các khu xử lý liên huyện, khu liên hợp, phân khu xử lý theo chức năng... Theo đó, có 3 khu vực để hình thành các khu liên hợp xử lý CTR là tại Đại Lộc ( cho cánh Bắc ), Duy Xuyên, Quế Sơn ( cho vùng giữa ) và Núi Thành ( cho cánh Nam ). Ở cánh Bắc trước mắt vẫn sử dụng khu xử lý rác thải tại Đại Hiệp đến hết thời hạn và đóng cửa, đồng thời xúc tiến xây dựng khu liên hợp xử lý rác thải tại xã Đại Nghĩa ( 15 ha ) để xử lý rác thải cho các địa phương Đại Lộc, Điện Bàn và Hội An. Ở vùng giữa của tỉnh, sẽ hình thành khu liên hợp xử lý tại Quế Cường - Quế Sơn (15 ha), Duy Trinh - Duy Xuyên (15 ha) sử dụng để xử lý CTR cho các địa phương Quế Sơn, Thăng Bình, Duy Xuyên, có thể thêm một phần Hội An, Điện Bàn và xử lý chất thải nguy hại trong công nghiệp. Cánh Nam của tỉnh sẽ nâng cấp, mở rộng khu bãi rác Tam Xuân 2 ( đạt 35 ha ) để hình thành khu liên hợp xử lý CTR cho các địa phương Tam Kỳ, Phú Ninh, Núi Thành và Khu Kinh tế mở Chu Lai. Ngoài ra, ở vùng đồng bằng cũng sẽ tiếp tục sử dụng hoặc đầu tư mới một số bãi chôn lấp hợp vệ sinh, hoặc khu xử lý rác thải tại một số khu vực khác, trong đó có khu tại Bình Phú - Thăng Bình và khu Tam Vinh - Phú Ninh sẽ được xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh và bố trí đất để đầu tư các nhà máy xử lý rác theo công nghệ ủ sinh học sản xuất phân hữu cơ.
Chi tiết các khu xử lý CTR tại phụ lục 2 đính kèm.
c) Quy hoạch xử lý các loại CTR
- CTR sinh hoạt và CTR công nghiệp được ưu tiên đưa vào các dây chuyền công nghệ chế biến (composting, công nghệ tạo năng lượng,...) trước khi áp dụng biện pháp thiêu hủy hoặc chôn lấp.
- CTR y tế được áp dụng xử lý bởi lò đốt chuyên dụng.
- Các loại CTR trong nông nghiệp (CTR từ chăn nuôi, CTR từ giết mổ,...) cũng phải được áp dụng công nghệ xử lý phù hợp, hạn chế tối đa việc chôn lấp dễ gây mầm bệnh và ảnh hưởng tới hệ sinh thái.
- Ngoài ra, trong điều kiện của khu vực nông thôn và miền núi, khi các loại rác chưa được thu gom bởi các đơn vị chức năng, thì phải được các hộ gia đình hoặc chủ nguồn thải tự chịu trách nhiệm thu gom và có thể sử dụng các hình thức tổ hợp vườn - ao - chuồng, đốt thiêu hủy để phòng trừ mầm bệnh, hoặc dùng các thùng chứa rác tự tạo và đào hố chứa để tự phân hủy rác, hố ủ phân trát bùn để xử lý rác thải sinh hoạt.
d) Quy hoạch hệ thống quản lý
- Nhà nước quản lý bằng chủ trương và chính sách; khuyến khích và huy động mọi nguồn lực từ cộng đồng, xã hội vào quản lý CTR; ưu đãi, hỗ trợ đầu tư để đẩy mạnh xã hội hóa trong quản lý CTR ở các khâu thu gom, vận chuyển và xử lý.
- Cộng đồng là chủ thể thực hiện công tác quản lý CTR.
- Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân,... tham gia thực hiện các hoạt động dịch vụ trong các khâu của quản lý tổng hợp CTR, chịu sự giám sát của cộng đồng và sự kiểm tra của Nhà nước.
3. Khái toán kinh phí đầu tư
- Khái toán tổng mức đầu tư thực hiện Quy hoạch này dự kiến khoảng 1.252,12 tỷ đồng, trong đó giai đoạn 2011-2015 là 1.001,39 tỷ đồng và giai đoạn 2016-2020 là 250,73 tỷ đồng.
- Nguồn vốn đầu tư gồm: Vốn ngân sách Nhà nước (Trung ương hỗ trợ và ngân sách tỉnh) và các nguồn vốn khác (vốn hỗ trợ ODA, vốn vay và viện trợ khác, vốn tín dụng đầu tư, vốn từ thực hiện xã hội hóa).