Document: Điều 75 Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1997 số 56/1997/L-CTN

Type: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "15/04/1997", "sign_number": "56/1997/L-CTN", "signer": "Nông Đức Mạnh", "type": "Luật"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "15/04/1997", "sign_number": "56/1997/L-CTN", "signer": "Nông Đức Mạnh", "type": "Luật"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "15/04/1997", "sign_number": "56/1997/L-CTN", "signer": "Nông Đức Mạnh", "type": "Luật"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "15/04/1997", "sign_number": "56/1997/L-CTN", "signer": "Nông Đức Mạnh", "type": "Luật"}
Signer: {"issuing_agency": "Quốc hội", "promulgation_date": "15/04/1997", "sign_number": "56/1997/L-CTN", "signer": "Nông Đức Mạnh", "type": "Luật"}

Full Text:
Điều 75 Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1997 số 56/1997/L-CTN có nội dung như sau:

Điều 75. Sau khi nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử và giải quyết những khiếu nại (nếu có), Uỷ ban bầu cử lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương.
Biên bản phải ghi rõ
- Số lượng đơn vị bầu cử;
- Số người ứng cử;
- Tổng số cử tri của địa phương;
- Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu;
- Tỷ lệ cử tri đã tham gia bỏ phiếu so với tổng số cử tri;
- Số phiếu hợp lệ;
- Số phiếu không hợp lệ;
- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;
- Danh sách những người trúng cử;
- Những khiếu nại do Tổ bầu cử, Ban bầu cử đã giải quyết;
- Những khiếu nại do Uỷ ban bầu cử đã giải quyết;
- Những việc quan trọng đã xảy ra và cách giải quyết;
- Những khiếu nại, tố cáo và kiến nghị chuyển lên Hội đồng bầu cử.
Biên bản được lập thành năm bản, có chữ ký của Chủ tịch, Thư ký Uỷ ban bầu cử. Biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chậm nhất là bảy ngày sau ngày bầu cử.

Content:
Điều 75. Sau khi nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử và giải quyết những khiếu nại (nếu có), Uỷ ban bầu cử lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương.
Biên bản phải ghi rõ
- Số lượng đơn vị bầu cử;
- Số người ứng cử;
- Tổng số cử tri của địa phương;
- Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu;
- Tỷ lệ cử tri đã tham gia bỏ phiếu so với tổng số cử tri;
- Số phiếu hợp lệ;
- Số phiếu không hợp lệ;
- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;
- Danh sách những người trúng cử;
- Những khiếu nại do Tổ bầu cử, Ban bầu cử đã giải quyết;
- Những khiếu nại do Uỷ ban bầu cử đã giải quyết;
- Những việc quan trọng đã xảy ra và cách giải quyết;
- Những khiếu nại, tố cáo và kiến nghị chuyển lên Hội đồng bầu cử.
Biên bản được lập thành năm bản, có chữ ký của Chủ tịch, Thư ký Uỷ ban bầu cử. Biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chậm nhất là bảy ngày sau ngày bầu cử.