Document: Khoản 6 Điều 1 Quyết định 2942/QĐ-UBND Quy chế phối hợp lập hồ sơ biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện Tiền Giang 2016

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Tiền Giang", "promulgation_date": "21/10/2016", "sign_number": "2942/QĐ-UBND", "signer": "Trần Thanh Đức", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Tiền Giang", "promulgation_date": "21/10/2016", "sign_number": "2942/QĐ-UBND", "signer": "Trần Thanh Đức", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Tiền Giang", "promulgation_date": "21/10/2016", "sign_number": "2942/QĐ-UBND", "signer": "Trần Thanh Đức", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Tiền Giang", "promulgation_date": "21/10/2016", "sign_number": "2942/QĐ-UBND", "signer": "Trần Thanh Đức", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Tiền Giang", "promulgation_date": "21/10/2016", "sign_number": "2942/QĐ-UBND", "signer": "Trần Thanh Đức", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 6 Điều 1 Quyết định 2942/QĐ-UBND Quy chế phối hợp lập hồ sơ biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện Tiền Giang 2016

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quy chế phối hợp lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tỉnh Tiền Giang được ban hành tại Quyết định số 1959/QĐ-UBND ngày 06/7/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy chế phối hợp lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tỉnh Tiền Giang (gọi tắt là Quy chế phối hợp lập hồ sơ), cụ thể:
...
6. Sửa đổi, bổ sung Điều 13:
“Điều 13. Lập hồ sơ, đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy không nơi cư trú ổn định
1. Khi phát hiện người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (không có nơi cư trú ổn định), trong thời gian 01 ngày làm việc, cơ quan công an cấp xã - nơi xảy ra hành vi vi phạm - hoặc cơ quan, cá nhân có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 221, lập biên bản và tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ (hồ sơ ban đầu) theo quy định.
2. Ngay sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ (hồ sơ ban đầu), cơ quan lập hồ sơ phối hợp công an cấp huyện - nơi xảy ra hành vi vi phạm - đưa đối tượng đến cơ sở y tế cấp huyện - nơi xảy ra hành vi vi phạm - tiến hành khám sàng lọc ban đầu theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 8 Quy chế này.
Nếu kết quả khám sàng lọc ban đầu dương tính với chất ma túy thì cơ quan lập hồ sơ báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã - nơi xảy ra hành vi vi phạm - quyết định đưa người sử dụng trái phép chất ma túy chưa xác định nơi cư trú ổn định vào Cơ sở Hỗ trợ và Điều trị nghiện ma túy theo quy định tại Điều 9 Quy chế này. Đồng thời, cơ quan lập hồ sơ ban đầu tiếp tục hoàn thiện hồ sơ theo quy định tại điểm 2 Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 136.
Thời hạn quản lý được thực hiện theo Khoản 3 Điều 131 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ kết quả khám sàng lọc ban đầu, Cơ sở Hỗ trợ và Điều trị nghiện ma túy tiến hành xác định tình trạng nghiện cho người có kết quả xét nghiệm dương tính với chất thuốc phiện hoặc chất hê-rô-in; chuyển đến Bệnh viện Tâm thần tỉnh để xác định tình trạng nghiện cho người có kết quả xét nghiệm dương tính với nhóm ma túy tổng hợp theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 8 Quy chế này.
3. Trong quá trình điều tra, thụ lý các vụ vi phạm pháp luật, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 221 phát hiện người có hành vi sử dụng ma túy trái phép hoặc có dấu hiệu nghiện ma túy nhưng không có nơi cư trú ổn định, thì tiến hành lập biên bản, thu thập tài liệu, lập hồ sơ ban đầu, sau đó thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều này.
+ Trong thời hạn 03 ngày kể từ khi tiếp nhận, Cơ sở Hỗ trợ và Điều trị nghiện ma túy phải trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện nhóm Opiats và 05 ngày đối với người sử dụng nhóm Amphetamine (ATS) cho cơ quan lập hồ sơ ban đầu theo mẫu (phụ lục 3 Thông tư số 17), để cơ quan lập hồ sơ hoàn thiện hồ sơ đề nghị Tòa án quyết định. Trong thời gian này, cơ quan công an cấp xã - nơi lập hồ sơ ban đầu - hoặc cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 221 tiến hành xác minh nơi cư trú của người sử dụng trái phép chất ma túy.
- Nếu qua thực hiện quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 17 mà xác định đối tượng chưa nghiện chất ma túy, thì Cơ sở Hỗ trợ và Điều trị nghiện ma túy thông báo và gửi phiếu trả lời kết quả (phụ lục 3 Thông tư số 17) cho cơ quan lập hồ sơ ban đầu biết; đồng thời, thông báo bằng văn bản cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã - nơi ra quyết định đưa đối tượng vào Cơ sở Hỗ trợ và Điều trị nghiện ma túy - biết để ra Quyết định cho đối tượng rời Cơ sở Hỗ trợ và Điều trị nghiện ma túy.
Nếu sau 12 giờ, kể từ lúc hết thời gian xác định tình trạng nghiện (tối đa 5 ngày kể từ khi đối tượng bắt đầu vào Cơ sở Hỗ trợ và Điều trị nghiện ma túy), Ủy ban nhân dân cấp xã - nơi đưa đối tượng vào Cơ sở Hỗ trợ và Điều trị nghiện ma túy - không ra quyết định cho đối tượng rời Cơ sở, thì Giám đốc Cơ sở quyết định cho đối tượng rời khỏi Cơ sở”.

Content:
Sửa đổi, bổ sung Điều 13:
“Điều 13. Lập hồ sơ, đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy không nơi cư trú ổn định
1. Khi phát hiện người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (không có nơi cư trú ổn định), trong thời gian 01 ngày làm việc, cơ quan công an cấp xã - nơi xảy ra hành vi vi phạm - hoặc cơ quan, cá nhân có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 221, lập biên bản và tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ (hồ sơ ban đầu) theo quy định.
2. Ngay sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ (hồ sơ ban đầu), cơ quan lập hồ sơ phối hợp công an cấp huyện - nơi xảy ra hành vi vi phạm - đưa đối tượng đến cơ sở y tế cấp huyện - nơi xảy ra hành vi vi phạm - tiến hành khám sàng lọc ban đầu theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 8 Quy chế này.
Nếu kết quả khám sàng lọc ban đầu dương tính với chất ma túy thì cơ quan lập hồ sơ báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã - nơi xảy ra hành vi vi phạm - quyết định đưa người sử dụng trái phép chất ma túy chưa xác định nơi cư trú ổn định vào Cơ sở Hỗ trợ và Điều trị nghiện ma túy theo quy định tại Điều 9 Quy chế này. Đồng thời, cơ quan lập hồ sơ ban đầu tiếp tục hoàn thiện hồ sơ theo quy định tại điểm 2 Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 136.
Thời hạn quản lý được thực hiện theo Khoản 3 Điều 131 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ kết quả khám sàng lọc ban đầu, Cơ sở Hỗ trợ và Điều trị nghiện ma túy tiến hành xác định tình trạng nghiện cho người có kết quả xét nghiệm dương tính với chất thuốc phiện hoặc chất hê-rô-in; chuyển đến Bệnh viện Tâm thần tỉnh để xác định tình trạng nghiện cho người có kết quả xét nghiệm dương tính với nhóm ma túy tổng hợp theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 8 Quy chế này.
3. Trong quá trình điều tra, thụ lý các vụ vi phạm pháp luật, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 221 phát hiện người có hành vi sử dụng ma túy trái phép hoặc có dấu hiệu nghiện ma túy nhưng không có nơi cư trú ổn định, thì tiến hành lập biên bản, thu thập tài liệu, lập hồ sơ ban đầu, sau đó thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều này.
+ Trong thời hạn 03 ngày kể từ khi tiếp nhận, Cơ sở Hỗ trợ và Điều trị nghiện ma túy phải trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện nhóm Opiats và 05 ngày đối với người sử dụng nhóm Amphetamine (ATS) cho cơ quan lập hồ sơ ban đầu theo mẫu (phụ lục 3 Thông tư số 17), để cơ quan lập hồ sơ hoàn thiện hồ sơ đề nghị Tòa án quyết định. Trong thời gian này, cơ quan công an cấp xã - nơi lập hồ sơ ban đầu - hoặc cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 221 tiến hành xác minh nơi cư trú của người sử dụng trái phép chất ma túy.
- Nếu qua thực hiện quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 17 mà xác định đối tượng chưa nghiện chất ma túy, thì Cơ sở Hỗ trợ và Điều trị nghiện ma túy thông báo và gửi phiếu trả lời kết quả (phụ lục 3 Thông tư số 17) cho cơ quan lập hồ sơ ban đầu biết; đồng thời, thông báo bằng văn bản cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã - nơi ra quyết định đưa đối tượng vào Cơ sở Hỗ trợ và Điều trị nghiện ma túy - biết để ra Quyết định cho đối tượng rời Cơ sở Hỗ trợ và Điều trị nghiện ma túy.
Nếu sau 12 giờ, kể từ lúc hết thời gian xác định tình trạng nghiện (tối đa 5 ngày kể từ khi đối tượng bắt đầu vào Cơ sở Hỗ trợ và Điều trị nghiện ma túy), Ủy ban nhân dân cấp xã - nơi đưa đối tượng vào Cơ sở Hỗ trợ và Điều trị nghiện ma túy - không ra quyết định cho đối tượng rời Cơ sở, thì Giám đốc Cơ sở quyết định cho đối tượng rời khỏi Cơ sở”.