Document: Điều 1 Quyết định 20/2021/QĐ-UBND 2021 sửa đổi Quyết định 41/2016/QĐ-UBND tỉnh Lào Cai

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "09/04/2021", "sign_number": "20/2021/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trọng Hài", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "09/04/2021", "sign_number": "20/2021/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trọng Hài", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "09/04/2021", "sign_number": "20/2021/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trọng Hài", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "09/04/2021", "sign_number": "20/2021/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trọng Hài", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lào Cai", "promulgation_date": "09/04/2021", "sign_number": "20/2021/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Trọng Hài", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 20/2021/QĐ-UBND 2021 sửa đổi Quyết định 41/2016/QĐ-UBND tỉnh Lào Cai có nội dung như sau:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về việc cưỡng chế thi hành Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết định công nhận hòa giải thành về tranh chấp đất đai trên địa bàn tỉnh Lào Cai ban hành kèm theo Quyết định số 41/2016/QĐ-UBND ngày 15/7/2016 của UBND tỉnh Lào Cai, cụ thể như sau:
1. Khoản 6 Điều 3 được sửa đổi như sau:
“6. Ủy ban nhân cấp huyện là Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân thị xã và Ủy ban nhân dân thành phố của tỉnh Lào Cai.”.
2. Điểm b khoản 1 Điều 4 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“b) Thời điểm bắt đầu tiến hành cưỡng chế được thực hiện trong giờ hành chính; Không thực hiện cưỡng chế trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau; các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật; trong thời gian 15 ngày trước và sau tết nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách nếu họ là người bị cưỡng chế và các trường hợp đặc biệt khác làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương.”.
3. Điều 6 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 6. Thời hạn cưỡng chế
Thời hạn cưỡng chế không quá 30 ngày làm việc kể từ ngày giao quyết định cưỡng chế. Trong trường hợp khó khăn, phức tạp hoặc đối với các xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì Ban thực hiện cưỡng chế báo cáo và kiến nghị người có thẩm quyền xem xét gia hạn. Việc gia hạn chỉ được một lần và thời gian gia hạn không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày ký quyết định gia hạn.”.
4. Các khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 14 được sửa đổi như sau:
“1) Trường hợp cá nhân, tổ chức phải thi hành quyết định cưỡng chế về việc tháo dỡ, di chuyển công trình xây dựng trái phép hoặc bàn giao đất mà trong công trình và trên đất đó có tài sản không thuộc diện phải cưỡng chế thì người tổ chức cưỡng chế có quyền buộc cá nhân, tổ chức phải thi hành quyết định cưỡng chế và những người khác có mặt trong công trình ra khỏi công trình hoặc khu vực đất, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển tài sản ra theo.
2) Nếu họ không tự nguyện thực hiện thì người tổ chức cưỡng chế yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi công trình hoặc khu vực đất đó.
3) Nếu họ từ chối nhận tài sản, người tổ chức cưỡng chế phải lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản và thuê tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện để trông giữ, bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan ra quyết định cưỡng chế và thông báo địa điểm, thời gian để cá nhân, tổ chức có tài sản nhận lại tài sản. Cá nhân, tổ chức có tài sản phải chịu các chi phí vận chuyển, trông giữ, bảo quản tài sản.
4) Quá thời hạn 06 tháng, kể từ ngày nhận được thông báo đến nhận tài sản mà cá nhân, tổ chức có tài sản không đến nhận thì tài sản đó được bán đấu giá theo quy định của pháp luật. Số tiền thu được, sau khi trừ các chi phí cho việc vận chuyển, trông giữ, bảo quản, xử lý tài sản sẽ được gửi tiết kiệm loại không kỳ hạn tại tổ chức tín dụng và thông báo cho cá nhân, tổ chức có tài sản biết để nhận khoản tiền đó. Đối với tài sản hư hỏng và không còn giá trị, người tổ chức cưỡng chế tổ chức tiêu hủy theo quy định của pháp luật. Người tổ chức cưỡng chế phải lập biên bản ghi rõ hiện trạng của tài sản trước khi tiêu hủy”.
5. Khoản 2 Điều 15 được sửa đổi như sau:
“2. Nếu đối tượng bị cưỡng chế, người có nghĩa vụ liên quan tái chiếm đất tranh chấp sau khi bị cưỡng chế thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền theo quy định Điều 208 Luật Đai đai năm 2013, có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời.”.
6. Sửa đổi tên điều và khoản 2 Điều 16 như sau:
a). Sửa đổi tên Điều 16 như sau:
“ Điều 16. Chi phí cưỡng chế”
b). Sửa đổi khoản 2 Điều 16 như sau:
“2. Chi phí cưỡng chế do ngân sách nhà nước cấp huyện nơi thực hiện cưỡng chế chi trả.”.
7. Bổ sung khoản 5 Điều 19 như sau:
“5. Lập dự toán kinh phí cưỡng chế gửi Phòng Tài chính­ - Kế hoạch cấp huyện thẩm định.”.
8. Sửa đổi khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 20 như sau:
“1. Thẩm định dự toán kinh phí cưỡng chế báo cáo UBND cấp huyện gửi UBND tỉnh và Cơ quan Tài chính cấp trên.
2. Tham mưu UBND cấp huyện, bố trí kinh phí chi trả cho các lực lượng thực hiện cưỡng chế; thanh toán, quyết toán kinh phí thực hiện việc cưỡng chế theo quy định.
3. Chủ trì tham mưu cho UBND cấp huyện thành lập Hội đồng xử lý tài sản bị cưỡng chế và tổ chức thực hiện, thu nộp tiền vào ngân sách nhà nước theo quy định.”.

Content:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về việc cưỡng chế thi hành Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết định công nhận hòa giải thành về tranh chấp đất đai trên địa bàn tỉnh Lào Cai ban hành kèm theo Quyết định số 41/2016/QĐ-UBND ngày 15/7/2016 của UBND tỉnh Lào Cai, cụ thể như sau:
1. Khoản 6 Điều 3 được sửa đổi như sau:
“6. Ủy ban nhân cấp huyện là Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân thị xã và Ủy ban nhân dân thành phố của tỉnh Lào Cai.”.
2. Điểm b khoản 1 Điều 4 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“b) Thời điểm bắt đầu tiến hành cưỡng chế được thực hiện trong giờ hành chính; Không thực hiện cưỡng chế trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau; các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật; trong thời gian 15 ngày trước và sau tết nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách nếu họ là người bị cưỡng chế và các trường hợp đặc biệt khác làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương.”.
3. Điều 6 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 6. Thời hạn cưỡng chế
Thời hạn cưỡng chế không quá 30 ngày làm việc kể từ ngày giao quyết định cưỡng chế. Trong trường hợp khó khăn, phức tạp hoặc đối với các xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì Ban thực hiện cưỡng chế báo cáo và kiến nghị người có thẩm quyền xem xét gia hạn. Việc gia hạn chỉ được một lần và thời gian gia hạn không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày ký quyết định gia hạn.”.
4. Các khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 14 được sửa đổi như sau:
“1) Trường hợp cá nhân, tổ chức phải thi hành quyết định cưỡng chế về việc tháo dỡ, di chuyển công trình xây dựng trái phép hoặc bàn giao đất mà trong công trình và trên đất đó có tài sản không thuộc diện phải cưỡng chế thì người tổ chức cưỡng chế có quyền buộc cá nhân, tổ chức phải thi hành quyết định cưỡng chế và những người khác có mặt trong công trình ra khỏi công trình hoặc khu vực đất, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển tài sản ra theo.
2) Nếu họ không tự nguyện thực hiện thì người tổ chức cưỡng chế yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi công trình hoặc khu vực đất đó.
3) Nếu họ từ chối nhận tài sản, người tổ chức cưỡng chế phải lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản và thuê tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện để trông giữ, bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan ra quyết định cưỡng chế và thông báo địa điểm, thời gian để cá nhân, tổ chức có tài sản nhận lại tài sản. Cá nhân, tổ chức có tài sản phải chịu các chi phí vận chuyển, trông giữ, bảo quản tài sản.
4) Quá thời hạn 06 tháng, kể từ ngày nhận được thông báo đến nhận tài sản mà cá nhân, tổ chức có tài sản không đến nhận thì tài sản đó được bán đấu giá theo quy định của pháp luật. Số tiền thu được, sau khi trừ các chi phí cho việc vận chuyển, trông giữ, bảo quản, xử lý tài sản sẽ được gửi tiết kiệm loại không kỳ hạn tại tổ chức tín dụng và thông báo cho cá nhân, tổ chức có tài sản biết để nhận khoản tiền đó. Đối với tài sản hư hỏng và không còn giá trị, người tổ chức cưỡng chế tổ chức tiêu hủy theo quy định của pháp luật. Người tổ chức cưỡng chế phải lập biên bản ghi rõ hiện trạng của tài sản trước khi tiêu hủy”.
5. Khoản 2 Điều 15 được sửa đổi như sau:
“2. Nếu đối tượng bị cưỡng chế, người có nghĩa vụ liên quan tái chiếm đất tranh chấp sau khi bị cưỡng chế thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền theo quy định Điều 208 Luật Đai đai năm 2013, có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời.”.
6. Sửa đổi tên điều và khoản 2 Điều 16 như sau:
a). Sửa đổi tên Điều 16 như sau:
“ Điều 16. Chi phí cưỡng chế”
b). Sửa đổi khoản 2 Điều 16 như sau:
“2. Chi phí cưỡng chế do ngân sách nhà nước cấp huyện nơi thực hiện cưỡng chế chi trả.”.
7. Bổ sung khoản 5 Điều 19 như sau:
“5. Lập dự toán kinh phí cưỡng chế gửi Phòng Tài chính­ - Kế hoạch cấp huyện thẩm định.”.
8. Sửa đổi khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 20 như sau:
“1. Thẩm định dự toán kinh phí cưỡng chế báo cáo UBND cấp huyện gửi UBND tỉnh và Cơ quan Tài chính cấp trên.
2. Tham mưu UBND cấp huyện, bố trí kinh phí chi trả cho các lực lượng thực hiện cưỡng chế; thanh toán, quyết toán kinh phí thực hiện việc cưỡng chế theo quy định.
3. Chủ trì tham mưu cho UBND cấp huyện thành lập Hội đồng xử lý tài sản bị cưỡng chế và tổ chức thực hiện, thu nộp tiền vào ngân sách nhà nước theo quy định.”.