Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2577/QĐ-UBND phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "29/09/2010", "sign_number": "2577/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Một", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "29/09/2010", "sign_number": "2577/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Một", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "29/09/2010", "sign_number": "2577/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Một", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "29/09/2010", "sign_number": "2577/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Một", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "29/09/2010", "sign_number": "2577/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Một", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2577/QĐ-UBND phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” tỉnh Đồng Nai (gọi tắt là đề án cấp tỉnh) với các nội dung chủ yếu như sau:
...
3. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã
3.1. Giai đoạn 2011 - 2015:
a) Lĩnh vực, chuyên ngành đào tạo:
- Về trình độ lý luận chính trị: Đào tạo trình độ lý luận chính trị cho khoảng 1.459 CBCC xã (trung bình đào tạo 300 CBCC/01năm) trong đó tập trung đào tạo trình độ cao cấp lý luận chính trị cho 365 CBCC (trung bình 73 CBCC/01 năm), trung cấp lý luận chính trị cho 641 CBCC và các nghiệp vụ ngắn hạn khác là 453 CBCC.
- Về chuyên môn, nghiệp vụ: Cho khoảng 2452 CBCC xã. Trong đó, đào tạo trình độ đại học (các nhóm ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp) là 694 CBCC, trình độ trung cấp các chuyên ngành là 304 CBCC, bồi dưỡng nghiệp vụ khác là 705 CBCC.
b) Đối tượng đào tạo: Cán bộ, công chức, những người hoạt động không chuyên trách các xã và cán bộ dự nguồn cho các chức danh nêu trên.
c) Cơ sở đào tạo:
- Cơ sở đào tạo trong tỉnh: Trường Chính trị tỉnh, các Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện là đầu mối đào tạo trình độ lý luận chính trị cho CBCC xã. Các trường đại học đóng tại tỉnh, Trung tâm GDTX tỉnh, Trung tâm Dạy nghề cấp huyện đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho CBCC xã.
- Cơ sở đào tạo ngoài tỉnh: Cử CBCC xã đi đào tạo chính trị, chuyên môn tại học viện, trường đại học trong cả nước.
Ngoài ra còn phối hợp với các học viện và trường đại học mở các khóa hoặc lớp, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho CBCC xã tại tỉnh Đồng Nai.
3.2. Giai đoạn 2015 - 2020:
a) Lĩnh vực, chuyên ngành đào tạo:
- Về trình độ lý luận chính trị: Đào tạo trình độ lý luận chính trị cho khoảng 1.618 CBCC xã (trung bình đào tạo 325 CBCC/01năm) trong đó tập trung đào tạo trình độ cao cấp lý luận chính trị cho 438 CBCC (trung bình 88 CBCC/01 năm), trung cấp lý luận chính trị cho 785 CBCC và các nghiệp vụ ngắn hạn khác là 395 CBCC.
- Về chuyên môn, nghiệp vụ: Cho khoảng 2.540 CBCC xã. Trong đó, đào tạo trình độ đại học (các nhóm ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp) khoảng 707 CBCC, trình độ trung cấp các chuyên ngành là 305 CBCC, bồi dưỡng nghiệp vụ khác là 1.368 CBCC.
b) Đối tượng đào tạo và cơ sở đào tạo: Sẽ thực hiện trên cơ sở như đã xác định ở giai đoạn 2011 - 2015.
III. THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CỦA ĐỀ ÁN
1. Thực hiện chính sách đối với người học
- Lao động nông thôn thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo (theo chuẩn của tỉnh Đồng Nai), người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người bị thu hồi đất canh tác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 03 tháng) được hỗ trợ như sau:
+ Mức tối đa 3 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế).
+ Tiền ăn 15.000 đồng/ngày thực học/người.
+ Tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000 đồng/người/khóa học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15 km trở lên. Đối với đối tượng là người khuyết tật được hỗ trợ 300.000 đồng/khóa khi học nghề xa nơi cư trú từ 10 km trở lên.
- Lao động nông thôn thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo (theo chuẩn của tỉnh Đồng Nai) được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 03 tháng) với mức tối đa 2,5 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế).
- Lao động nông thôn khác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 03 tháng) với mức tối đa 02 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế).
- Lao động nông thôn là người dân tộc thiểu số thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo (theo chuẩn của tỉnh Đồng Nai) và hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo các khóa học trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề được hưởng chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú.
- Lao động nông thôn học nghề được vay để học theo quy định hiện hành về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Lao động nông thôn làm việc ổn định ở nông thôn có xác nhận của UBND xã (phường, thị trấn), sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoản vay để học nghề.
- Lao động nông thôn sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm thuộc chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm.
- Ngoài các chính sách trên, lao động nông thôn thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, cận nghèo (theo chuẩn của tỉnh Đồng Nai) được hỗ trợ 100% học phí để học các nghề thuộc lĩnh vực cơ khí, điện - điện tử, may mặc, thuộc danh sách các nghề ưu tiên đào tạo và thông qua hợp đồng cung cấp lao động kỹ thuật cao cho các khu công nghiệp trong nước. Giá học phí được tính theo yêu cầu đặt hàng đào tạo lao động kỹ thuật cao, mức tối đa 20 triệu đồng/khóa/người (khóa học dưới 12 tháng). Danh sách các đối tượng đi học và ngành nghề để ký hợp đồng đào tạo cung ứng lao động thông qua Ban Chỉ đạo Đề án cấp tỉnh xét duyệt, Thường trực Ban Chỉ đạo Đề án cấp tỉnh xây dựng tiêu chí cụ thể trình UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo xem xét quyết định.
Mỗi lao động nông thôn chỉ được hỗ trợ học nghề một lần theo chính sách của Đề án này. Những người đã được hỗ trợ học nghề theo các chính sách khác của Nhà nước thì không được tiếp tục hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề án này. Riêng những người đã được hỗ trợ học nghề nhưng bị mất việc làm do nguyên nhân khách quan có xác nhận của UBND xã (phường) gửi cơ quan Thường trực cấp huyện, thị xã, thành phố tổng hợp, trình Ban Chỉ đạo Đề án cấp tỉnh xem xét, quyết định tiếp tục hỗ trợ học nghề để chuyển đổi việc làm theo chính sách của Đề án này nhưng tối đa không quá 03 lần.
2. Thực hiện chính sách đối với giáo viên, giảng viên
- Giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề thường xuyên phải xuống thôn, bản, phum, sóc thuộc xã hoặc ấp có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của cơ quan có thẩm quyền ban hành, để dạy nghề với thời gian từ 15 ngày trở lên trong tháng được hưởng phụ cấp lưu động hệ số 0,2 so với mức lương tối thiểu chung như đối với giáo viên thực hiện công tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục thường xuyên phải xuống thôn, ấp, tổ.
- Giáo viên của các cơ sở dạy nghề công lập ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số được giải quyết nhà công vụ như đối với giáo viên ở các cơ sở giáo dục mầm non đến các cấp học phổ thông.
- Giáo viên của các cơ sở dạy nghề ngoài công lập ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số được hỗ trợ tiền ở không quá 200.000 đồng/tháng khi dạy nghề nông thôn với thời gian từ 15 ngày trở lên trong tháng.
- Người dạy nghề (cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề lao động nông thôn) được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 25.000 đồng/giờ. Người dạy nghề là các tiến sỹ khoa học, tiến sỹ trong lĩnh vực nông nghiệp, nghệ nhân cấp tỉnh trở lên được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 300.000 đồng/buổi. Mức cụ thể về tiền công, ở và phương tiện đi lại do cơ sở dạy nghề quyết định.
- Xây dựng các tiêu chuẩn, chế độ, cơ chế đãi ngộ phù hợp để thu hút những người giỏi, có năng lực giảng dạy tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; những người hoạt động trên các lĩnh vực, mọi thành phần tham gia vào công tác đào tạo, bồi dưỡng, thu hút những người có năng lực đang công tác tại các cơ quan, đơn vị tham gia giảng dạy theo chế độ kiêm chức.
- Đối với giáo viên, giảng viên dạy nghề tập trung cho lao động nữ thì chế độ, chính sách được thực hiện giống như các chính sách nêu trên.
3. Thực hiện chính sách đối với cơ sở đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Tiếp tục hỗ trợ đầu tư thiết bị dạy nghề cho các trung tâm dạy nghề công lập được đầu tư giai đoạn 2006 - 2010 nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu đảm bảo số lượng và chất lượng dạy nghề theo nhu cầu của thị trường sử dụng lao động. Mức hỗ trợ 3 tỷ đồng/trung tâm.
- Các TTDN công lập có lưu lượng đào tạo bình quân 320 người được giao biên chế 01 giáo viên (theo tỷ lệ ¼ giáo viên cơ hữu/nghề).
- Ưu tiên thực hiện đặt hàng đào tạo nghề (thông qua hợp đồng đào tạo) đối với các đơn vị dạy nghề (công lập và ngoài công lập) có đủ khả năng đào tạo ngành nghề phù hợp và giải quyết 100% việc làm cho lao động nông thôn theo nhu cầu tại địa phương, doanh nghiệp và xã hội.
- Các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp của các Bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội, địa phương, doanh nghiệp và cơ sở tư thục; trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, các viện nghiên cứu, trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, trang trại, nông trường, lâm trường, doanh nghiệp, hợp tác xã và các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ hoạt động trên địa bàn tỉnh Đồng Nai… có đủ điều kiện dạy nghề cho lao động nông thôn được tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn được đăng ký hỗ trợ kinh phí biên soạn, cập nhật và cải tiến chương trình đào tạo, giáo trình, học liệu và đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề, cán bộ quản lý phục vụ cho mục tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đồng Nai.
- Ưu tiên đầu tư nhà xưởng và thiết bị dạy nghề cho các đơn vị đào tạo nghề thuộc nhóm nghề thủ công mỹ nghệ, làng nghề truyền thống, đầu tư thiết bị từ 3 - 4 nghề đặc thù của vùng, địa phương; mức đầu tư tối đa 3 tỷ đồng/đơn vị, trong đó ưu tiên đầu tư các nghề thuộc các đề án, dự án, chương trình, kế hoạch của các sở, ban ngành trên địa bàn tỉnh đã được UBND tỉnh quyết định phê duyệt.
- Ưu tiên đầu tư cho các đơn vị dạy nghề đào tạo ngành nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp, có xây dựng mô hình điểm trình diễn để giảng dạy và nhân rộng ứng dụng hiệu quả tại từng vùng, địa phương nơi người dân sinh sống.
- Hỗ trợ kinh phí mua sắm thiết bị dạy nghề cho các trường tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện chưa có trung tâm dạy nghề. Mức hỗ trợ 1 tỷ đồng/trường.
Các chính sách quy định trong Đề án này sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự biến động của giá cả và biến động kinh tế - xã hội hàng năm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và từng thời kỳ.
IV. GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ ÁN
1. Triển khai quán triệt Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ, nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ các cấp, các ngành, tổ chức chính trị - xã hội về vai trò của đào tạo nghề đối với việc tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn.
a) Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã căn cứ nội dung Đề án xây dựng kế hoạch hoặc lập chương trình hành động cụ thể, đưa công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn vào nghị quyết của cấp ủy Đảng cùng cấp.
b) Các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp tăng cường tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn; tư vấn học nghề, việc làm miễn phí và vận động các thành viên trong tổ chức của mình tham gia học nghề.
c) Tăng cường tuyên truyền sâu rộng trên phương tiện thông tin đại chúng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đào tạo nghề, về vai trò, vị trí của đào tạo nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, tạo việc làm, nâng cao thu nhập để người lao động nông thôn biết và tích cực tham gia học nghề.
d) Đổi mới chương trình và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông để học sinh có thái độ đúng đắn về học nghề và chủ động lựa chọn các loại hình học nghề phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mình.
2. Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo
a) Các sở, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện chủ động rà soát, phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo, trong đó chú trọng phát triển các cơ sở dạy nghề đào tạo cho lao động nông thôn (cơ sở dạy nghề công lập, tư thục, cơ sở dạy nghề tại các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại, nông lâm trường, vùng chuyên canh, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các cơ sở dạy nghề tiểu thủ công mỹ nghệ) theo nghề và cấp trình độ đào tạo đến năm 2020:
- Hoàn thành việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề Trung tâm Dạy nghề Cẩm Mỹ vào năm 2011, xây dựng mới Trung tâm Dạy nghề TP. Biên Hòa và đưa vào sử dụng vào cuối năm 2012.
- Thành lập Trường Trung cấp Nghề thủ công mỹ nghệ huyện Định Quán trên cơ sở nâng cấp Trung tâm Dạy nghề huyện Định Quán giai đoạn 2011 - 2015.
- Đầu tư nâng cao năng lực của các trung tâm dạy nghề công lập chưa đáp ứng nhu cầu cung cấp lao động cho địa phương.
- Đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề theo hướng khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư thành lập cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn; thu hút các cơ sở dạy nghề tư thục, các cơ sở giáo dục (trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp), các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tham gia hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn.
b) Huy động các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của các Bộ, sở, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp trên địa bàn tỉnh tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã cập nhật kiến thức, kỹ năng, đào tạo mới cho cán bộ tham gia quản lý điều hành hoạt động thuộc phạm vi Đề án của các ngành các cấp, theo hướng xã hội hóa có sự hỗ trợ của Nhà nước (đặt hàng đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu).
3. Phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý
a) Phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề
- Tiến hành điều tra, khảo sát, đánh giá đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề để có kế hoạch đào tạo và tuyển dụng đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu nghề đào tạo.
- Giao biên chế ngân sách 01 giáo viên/320 học viên/năm đối với trung tâm dạy nghề công lập.
- Huy động các nhà khoa học, nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, các trung tâm khuyến nông - lâm - ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn.
- Tổ chức đào tạo nghiệp vụ sư phạm và bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề để hỗ trợ cho các trung tâm dạy nghề tuyển thêm giáo viên cơ hữu.
- Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý và nghiệp vụ tư vấn chọn nghề, kỹ năng phối hợp giới thiệu việc làm để phục vụ đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
- Bổ sung 01 biên chế chuyên trách về công tác dạy nghề thuộc phòng Lao động - Thương binh và Xã hội các huyện, thị xã, thành phố Biên Hòa.
b) Phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức xã
- Xây dựng các tiêu chuẩn, nhiệm vụ, chế độ, chính sách, cơ chế đãi ngộ, thu hút những người có năng lực đang công tác tại các cơ quan đơn vị liên quan tham gia giảng dạy, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức xã theo chế độ kiêm chức.
- Cập nhật, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên, giảng viên của hệ thống các trường chính trị tỉnh, các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của các Bộ, ngành và các trường đại học, cao đẳng đáp ứng với chương trình, nội dung giảng dạy trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Kiện toàn tổ chức, biên chế, bổ sung lực lượng giáo viên, giảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, đặc biệt chú trọng đến trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thuộc cấp tỉnh.

Content:
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã
3.1. Giai đoạn 2011 - 2015:
a) Lĩnh vực, chuyên ngành đào tạo:
- Về trình độ lý luận chính trị: Đào tạo trình độ lý luận chính trị cho khoảng 1.459 CBCC xã (trung bình đào tạo 300 CBCC/01năm) trong đó tập trung đào tạo trình độ cao cấp lý luận chính trị cho 365 CBCC (trung bình 73 CBCC/01 năm), trung cấp lý luận chính trị cho 641 CBCC và các nghiệp vụ ngắn hạn khác là 453 CBCC.
- Về chuyên môn, nghiệp vụ: Cho khoảng 2452 CBCC xã. Trong đó, đào tạo trình độ đại học (các nhóm ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp) là 694 CBCC, trình độ trung cấp các chuyên ngành là 304 CBCC, bồi dưỡng nghiệp vụ khác là 705 CBCC.
b) Đối tượng đào tạo: Cán bộ, công chức, những người hoạt động không chuyên trách các xã và cán bộ dự nguồn cho các chức danh nêu trên.
c) Cơ sở đào tạo:
- Cơ sở đào tạo trong tỉnh: Trường Chính trị tỉnh, các Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện là đầu mối đào tạo trình độ lý luận chính trị cho CBCC xã. Các trường đại học đóng tại tỉnh, Trung tâm GDTX tỉnh, Trung tâm Dạy nghề cấp huyện đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho CBCC xã.
- Cơ sở đào tạo ngoài tỉnh: Cử CBCC xã đi đào tạo chính trị, chuyên môn tại học viện, trường đại học trong cả nước.
Ngoài ra còn phối hợp với các học viện và trường đại học mở các khóa hoặc lớp, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho CBCC xã tại tỉnh Đồng Nai.
3.2. Giai đoạn 2015 - 2020:
a) Lĩnh vực, chuyên ngành đào tạo:
- Về trình độ lý luận chính trị: Đào tạo trình độ lý luận chính trị cho khoảng 1.618 CBCC xã (trung bình đào tạo 325 CBCC/01năm) trong đó tập trung đào tạo trình độ cao cấp lý luận chính trị cho 438 CBCC (trung bình 88 CBCC/01 năm), trung cấp lý luận chính trị cho 785 CBCC và các nghiệp vụ ngắn hạn khác là 395 CBCC.
- Về chuyên môn, nghiệp vụ: Cho khoảng 2.540 CBCC xã. Trong đó, đào tạo trình độ đại học (các nhóm ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp) khoảng 707 CBCC, trình độ trung cấp các chuyên ngành là 305 CBCC, bồi dưỡng nghiệp vụ khác là 1.368 CBCC.
b) Đối tượng đào tạo và cơ sở đào tạo: Sẽ thực hiện trên cơ sở như đã xác định ở giai đoạn 2011 - 2015.
III. THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CỦA ĐỀ ÁN
1. Thực hiện chính sách đối với người học
- Lao động nông thôn thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo (theo chuẩn của tỉnh Đồng Nai), người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người bị thu hồi đất canh tác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 03 tháng) được hỗ trợ như sau:
+ Mức tối đa 3 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế).
+ Tiền ăn 15.000 đồng/ngày thực học/người.
+ Tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000 đồng/người/khóa học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15 km trở lên. Đối với đối tượng là người khuyết tật được hỗ trợ 300.000 đồng/khóa khi học nghề xa nơi cư trú từ 10 km trở lên.
- Lao động nông thôn thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo (theo chuẩn của tỉnh Đồng Nai) được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 03 tháng) với mức tối đa 2,5 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế).
- Lao động nông thôn khác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 03 tháng) với mức tối đa 02 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế).
- Lao động nông thôn là người dân tộc thiểu số thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo (theo chuẩn của tỉnh Đồng Nai) và hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo các khóa học trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề được hưởng chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú.
- Lao động nông thôn học nghề được vay để học theo quy định hiện hành về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Lao động nông thôn làm việc ổn định ở nông thôn có xác nhận của UBND xã (phường, thị trấn), sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoản vay để học nghề.
- Lao động nông thôn sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm thuộc chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm.
- Ngoài các chính sách trên, lao động nông thôn thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, cận nghèo (theo chuẩn của tỉnh Đồng Nai) được hỗ trợ 100% học phí để học các nghề thuộc lĩnh vực cơ khí, điện - điện tử, may mặc, thuộc danh sách các nghề ưu tiên đào tạo và thông qua hợp đồng cung cấp lao động kỹ thuật cao cho các khu công nghiệp trong nước. Giá học phí được tính theo yêu cầu đặt hàng đào tạo lao động kỹ thuật cao, mức tối đa 20 triệu đồng/khóa/người (khóa học dưới 12 tháng). Danh sách các đối tượng đi học và ngành nghề để ký hợp đồng đào tạo cung ứng lao động thông qua Ban Chỉ đạo Đề án cấp tỉnh xét duyệt, Thường trực Ban Chỉ đạo Đề án cấp tỉnh xây dựng tiêu chí cụ thể trình UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo xem xét quyết định.
Mỗi lao động nông thôn chỉ được hỗ trợ học nghề một lần theo chính sách của Đề án này. Những người đã được hỗ trợ học nghề theo các chính sách khác của Nhà nước thì không được tiếp tục hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề án này. Riêng những người đã được hỗ trợ học nghề nhưng bị mất việc làm do nguyên nhân khách quan có xác nhận của UBND xã (phường) gửi cơ quan Thường trực cấp huyện, thị xã, thành phố tổng hợp, trình Ban Chỉ đạo Đề án cấp tỉnh xem xét, quyết định tiếp tục hỗ trợ học nghề để chuyển đổi việc làm theo chính sách của Đề án này nhưng tối đa không quá 03 lần.
2. Thực hiện chính sách đối với giáo viên, giảng viên
- Giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề thường xuyên phải xuống thôn, bản, phum, sóc thuộc xã hoặc ấp có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của cơ quan có thẩm quyền ban hành, để dạy nghề với thời gian từ 15 ngày trở lên trong tháng được hưởng phụ cấp lưu động hệ số 0,2 so với mức lương tối thiểu chung như đối với giáo viên thực hiện công tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục thường xuyên phải xuống thôn, ấp, tổ.
- Giáo viên của các cơ sở dạy nghề công lập ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số được giải quyết nhà công vụ như đối với giáo viên ở các cơ sở giáo dục mầm non đến các cấp học phổ thông.
- Giáo viên của các cơ sở dạy nghề ngoài công lập ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số được hỗ trợ tiền ở không quá 200.000 đồng/tháng khi dạy nghề nông thôn với thời gian từ 15 ngày trở lên trong tháng.
- Người dạy nghề (cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề lao động nông thôn) được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 25.000 đồng/giờ. Người dạy nghề là các tiến sỹ khoa học, tiến sỹ trong lĩnh vực nông nghiệp, nghệ nhân cấp tỉnh trở lên được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 300.000 đồng/buổi. Mức cụ thể về tiền công, ở và phương tiện đi lại do cơ sở dạy nghề quyết định.
- Xây dựng các tiêu chuẩn, chế độ, cơ chế đãi ngộ phù hợp để thu hút những người giỏi, có năng lực giảng dạy tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; những người hoạt động trên các lĩnh vực, mọi thành phần tham gia vào công tác đào tạo, bồi dưỡng, thu hút những người có năng lực đang công tác tại các cơ quan, đơn vị tham gia giảng dạy theo chế độ kiêm chức.
- Đối với giáo viên, giảng viên dạy nghề tập trung cho lao động nữ thì chế độ, chính sách được thực hiện giống như các chính sách nêu trên.
Thực hiện chính sách đối với cơ sở đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Tiếp tục hỗ trợ đầu tư thiết bị dạy nghề cho các trung tâm dạy nghề công lập được đầu tư giai đoạn 2006 - 2010 nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu đảm bảo số lượng và chất lượng dạy nghề theo nhu cầu của thị trường sử dụng lao động. Mức hỗ trợ 3 tỷ đồng/trung tâm.
- Các TTDN công lập có lưu lượng đào tạo bình quân 320 người được giao biên chế 01 giáo viên (theo tỷ lệ ¼ giáo viên cơ hữu/nghề).
- Ưu tiên thực hiện đặt hàng đào tạo nghề (thông qua hợp đồng đào tạo) đối với các đơn vị dạy nghề (công lập và ngoài công lập) có đủ khả năng đào tạo ngành nghề phù hợp và giải quyết 100% việc làm cho lao động nông thôn theo nhu cầu tại địa phương, doanh nghiệp và xã hội.
- Các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp của các Bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội, địa phương, doanh nghiệp và cơ sở tư thục; trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, các viện nghiên cứu, trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, trang trại, nông trường, lâm trường, doanh nghiệp, hợp tác xã và các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ hoạt động trên địa bàn tỉnh Đồng Nai… có đủ điều kiện dạy nghề cho lao động nông thôn được tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn được đăng ký hỗ trợ kinh phí biên soạn, cập nhật và cải tiến chương trình đào tạo, giáo trình, học liệu và đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề, cán bộ quản lý phục vụ cho mục tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đồng Nai.
- Ưu tiên đầu tư nhà xưởng và thiết bị dạy nghề cho các đơn vị đào tạo nghề thuộc nhóm nghề thủ công mỹ nghệ, làng nghề truyền thống, đầu tư thiết bị từ 3 - 4 nghề đặc thù của vùng, địa phương; mức đầu tư tối đa 3 tỷ đồng/đơn vị, trong đó ưu tiên đầu tư các nghề thuộc các đề án, dự án, chương trình, kế hoạch của các sở, ban ngành trên địa bàn tỉnh đã được UBND tỉnh quyết định phê duyệt.
- Ưu tiên đầu tư cho các đơn vị dạy nghề đào tạo ngành nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp, có xây dựng mô hình điểm trình diễn để giảng dạy và nhân rộng ứng dụng hiệu quả tại từng vùng, địa phương nơi người dân sinh sống.
- Hỗ trợ kinh phí mua sắm thiết bị dạy nghề cho các trường tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện chưa có trung tâm dạy nghề. Mức hỗ trợ 1 tỷ đồng/trường.
Các chính sách quy định trong Đề án này sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự biến động của giá cả và biến động kinh tế - xã hội hàng năm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và từng thời kỳ.
IV. GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ ÁN
1. Triển khai quán triệt Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ, nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ các cấp, các ngành, tổ chức chính trị - xã hội về vai trò của đào tạo nghề đối với việc tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn.
a) Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã căn cứ nội dung Đề án xây dựng kế hoạch hoặc lập chương trình hành động cụ thể, đưa công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn vào nghị quyết của cấp ủy Đảng cùng cấp.
b) Các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp tăng cường tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn; tư vấn học nghề, việc làm miễn phí và vận động các thành viên trong tổ chức của mình tham gia học nghề.
c) Tăng cường tuyên truyền sâu rộng trên phương tiện thông tin đại chúng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đào tạo nghề, về vai trò, vị trí của đào tạo nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, tạo việc làm, nâng cao thu nhập để người lao động nông thôn biết và tích cực tham gia học nghề.
d) Đổi mới chương trình và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông để học sinh có thái độ đúng đắn về học nghề và chủ động lựa chọn các loại hình học nghề phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mình.
2. Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo
a) Các sở, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện chủ động rà soát, phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo, trong đó chú trọng phát triển các cơ sở dạy nghề đào tạo cho lao động nông thôn (cơ sở dạy nghề công lập, tư thục, cơ sở dạy nghề tại các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại, nông lâm trường, vùng chuyên canh, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các cơ sở dạy nghề tiểu thủ công mỹ nghệ) theo nghề và cấp trình độ đào tạo đến năm 2020:
- Hoàn thành việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề Trung tâm Dạy nghề Cẩm Mỹ vào năm 2011, xây dựng mới Trung tâm Dạy nghề TP. Biên Hòa và đưa vào sử dụng vào cuối năm 2012.
- Thành lập Trường Trung cấp Nghề thủ công mỹ nghệ huyện Định Quán trên cơ sở nâng cấp Trung tâm Dạy nghề huyện Định Quán giai đoạn 2011 - 2015.
- Đầu tư nâng cao năng lực của các trung tâm dạy nghề công lập chưa đáp ứng nhu cầu cung cấp lao động cho địa phương.
- Đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề theo hướng khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư thành lập cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn; thu hút các cơ sở dạy nghề tư thục, các cơ sở giáo dục (trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp), các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tham gia hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn.
b) Huy động các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của các Bộ, sở, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp trên địa bàn tỉnh tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã cập nhật kiến thức, kỹ năng, đào tạo mới cho cán bộ tham gia quản lý điều hành hoạt động thuộc phạm vi Đề án của các ngành các cấp, theo hướng xã hội hóa có sự hỗ trợ của Nhà nước (đặt hàng đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu).
Phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý
a) Phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề
- Tiến hành điều tra, khảo sát, đánh giá đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề để có kế hoạch đào tạo và tuyển dụng đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu nghề đào tạo.
- Giao biên chế ngân sách 01 giáo viên/320 học viên/năm đối với trung tâm dạy nghề công lập.
- Huy động các nhà khoa học, nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, các trung tâm khuyến nông - lâm - ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn.
- Tổ chức đào tạo nghiệp vụ sư phạm và bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề để hỗ trợ cho các trung tâm dạy nghề tuyển thêm giáo viên cơ hữu.
- Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý và nghiệp vụ tư vấn chọn nghề, kỹ năng phối hợp giới thiệu việc làm để phục vụ đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
- Bổ sung 01 biên chế chuyên trách về công tác dạy nghề thuộc phòng Lao động - Thương binh và Xã hội các huyện, thị xã, thành phố Biên Hòa.
b) Phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức xã
- Xây dựng các tiêu chuẩn, nhiệm vụ, chế độ, chính sách, cơ chế đãi ngộ, thu hút những người có năng lực đang công tác tại các cơ quan đơn vị liên quan tham gia giảng dạy, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức xã theo chế độ kiêm chức.
- Cập nhật, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên, giảng viên của hệ thống các trường chính trị tỉnh, các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của các Bộ, ngành và các trường đại học, cao đẳng đáp ứng với chương trình, nội dung giảng dạy trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Kiện toàn tổ chức, biên chế, bổ sung lực lượng giáo viên, giảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, đặc biệt chú trọng đến trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thuộc cấp tỉnh.