Document: Khoản 6 Điều 1 Quyết định 1566/QĐ-UBND năm 2010 Quy hoạch bảo vệ môi trường An Giang đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "25/08/2010", "sign_number": "1566/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Thế Năng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "25/08/2010", "sign_number": "1566/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Thế Năng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "25/08/2010", "sign_number": "1566/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Thế Năng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "25/08/2010", "sign_number": "1566/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Thế Năng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "25/08/2010", "sign_number": "1566/QĐ-UBND", "signer": "Huỳnh Thế Năng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 6 Điều 1 Quyết định 1566/QĐ-UBND năm 2010 Quy hoạch bảo vệ môi trường An Giang đến 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch Bảo vệ môi trường tỉnh An Giang đến năm 2020 với nội dung cụ thể như sau:
...
6. Giải pháp thực hiện:
6.1. Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường
Xây dựng chương trình tuyên truyền, giáo dục cho mọi người nhận thức và thực hiện đầy đủ các yêu cầu, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên; đóng góp nguồn lực và tài chính cho việc đầu tư và vận hành các hệ thống xử lý nước thải, chất thải rắn sinh hoạt cụ thể tiến tới thu phí xử lý rác thải, nước thải; Phát hiện, tố giác các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Trong đó, chia ra theo các nhóm đối tượng tuyên truyền: học sinh, phụ nữ, thanh niên, nông dân, công nhân, doanh nghiệp, cán bộ công chức,... với nhiều hình thức tuyên truyền khác nhau như:
- Biên soạn và xuất bản các ấn phẩm, sổ tay, tập huấn; Lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường vào hoạt động của các tổ dân phố, khu phố, họp dân.
- Triển khai các ngày lễ môi trường hàng năm, phổ cập thông tin môi trường bằng cách tăng cường đưa tin, hình ảnh, phóng sự, trò chơi về môi trường lên các phương tiện truyền thông tại địa phương,…
- Xây dựng các mô hình bảo vệ môi trường với sự tham gia của chính quyền và cộng đồng người dân, hướng dẫn kỹ thuật về bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
- Thường xuyên cập nhật, đưa tin về các mô hình, các điển hình tiên tiến, sáng kiến và kinh nghiệm hay về các cá nhân, tổ chức thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường trên các phương tiện thông tin đại chúng để phổ biến và nhân rộng.
6.2. Phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm công nghiệp
- Các khu - cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung. Rà soát lại các hoạt động trong các khu - cụm công nghiệp hiện hữu, đến năm 2011 phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn môi trường. Đối với các dự án khu - cụm công nghiệp xây dựng mới phải có nội dung cơ sở hạ tầng về bảo vệ môi trường, vành đai cây xanh xung quanh và hoàn thành trước khi tiếp nhận dự án đầu tư; thành lập tổ chức, bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường.
- Việc bố trí các công trình, các dự án đầu tư trong khu - cụm công nghiệp phải đảm bảo phù hợp và hài hòa với việc bố trí các công trình, hệ thống xử lý môi trường trong các khu - cụm công nghiệp.
- Tất cả các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm nằm bên ngoài khu công nghiệp tập trung (bao gồm cả các làng nghề) phải có hệ thống xử lý chất thải đạt quy chuẩn môi trường. Di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng xen kẻ khu dân cư vào các khu, cụm công nghiệp tập trung trên địa bàn.
- Nâng cao chất lượng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường và công tác hậu kiểm, tăng cường thanh tra định kỳ và đột xuất.
- Triển khai trình diễn và hỗ trợ sản xuất sạch hơn, kiểm toán môi trường, khuyến khích và hỗ trợ thí điểm Chứng nhận ISO 14001 cho một số cơ sở. Đến năm 2015 có ít nhất 20% số cơ sở sản xuất quy mô trung bình trở lên thực hiện chương trình Ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp - Sản xuất sạch hơn và đến năm 2020 nâng tỷ lệ này lên tối thiểu 50%; có ít nhất 50% số dự án đầu tư trong khu công nghiệp và 30% số cơ sở sản xuất bên ngoài khu công nghiệp được cấp Chứng chỉ ISO 14001 hay các chứng chỉ khác về môi trường và đến năm 2020 nâng tỷ lệ trên tương ứng lên 70% và 50%.
6.3. Quản lý chất thải rắn
- Năm 2011 tiến hành điều tra, thống kê khối lượng, thành phần, nguồn phát sinh chất thải rắn, đánh giá tình hình thu gom xử lý để quy hoạch các khu vực xử lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh.
- Từ nay đến năm 2015 rà soát các bãi rác hiện hữu để xác định mức độ ô nhiễm, tình trạng xử lý. Lập kế hoạch đóng cửa bãi quá tải, ô nhiễm và chuyển sang các khu xử lý mới theo quy hoạch có đầy đủ kết cấu hạ tầng về bảo vệ môi trường.
- Cải tạo, phục hồi môi trường các bãi rác cũ ngay sau khi đóng cửa và chuyển sang mục đích sử dụng khác thích hợp nhằm tiết kiệm tài nguyên đất.
- Đầu tư nâng cấp, cải tiến toàn bộ hệ thống thu gom - vận chuyển - xử lý chất thải rắn, tăng cường lực lượng thu gom, mở rộng địa bàn thu gom.
- Tăng cường công tác kiểm tra, đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng lò đốt rác y tế, chất thải y tế của các bệnh viện, cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh. Kêu gọi đầu tư các nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn y tế hiện đại theo hướng xã hội hóa.
- Tiến tới phân loại rác sinh hoạt tại nguồn: Tuyên truyền vận động và hướng dẫn thực hiện phân loại chất thải rắn tại nguồn cùng với việc ban hành các chính sách, quy định cụ thể về phân loại chất thải rắn tại nguồn.
6.4. Công tác kiểm soát ô nhiễm, quan trắc, cảnh báo môi trường
- Tổ chức thực hiện Quyết định số 1171/QĐ-UBND ngày 25/6/2010 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường tỉnh An Giang đến năm 2020.
- Phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện tăng cường công tác quan trắc môi trường xuyên biên giới.
- Xây dựng chương trình khảo sát, đo đạc, dự báo, cảnh báo tai biến thiên nhiên; tăng cường công tác thông tin, cảnh báo tình hình ô nhiễm môi trường; chuẩn hóa cơ sở dữ liệu GIS về tài nguyên - môi trường.
- Kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất, nhập khẩu và sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học dùng trong nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; nhập khẩu phế liệu, máy móc đã qua sử dụng.
6.5. Phát triển các hệ thống cung cấp nước sạch và cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn
- Tăng cường công tác truyền thông, vận động, hỗ trợ kỹ thuật với sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, thực hiện thường xuyên liên tục, triển khai sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân nhằm mục tiêu nâng cao tỷ lệ người dân tích cực sử dụng nước sạch, các công trình vệ sinh, xem đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, mặt trận, đoàn thể.
- Huy động nhiều nguồn lực: vốn Trung ương, vốn tài trợ, ngân sách địa phương, vốn dân và xã hội hóa đầu tư lĩnh vực cấp nước để đầu tư xây dựng, nâng cấp cải tạo các công trình cấp nước tập trung, các công trình vệ sinh trường học, chợ, trụ sở Ủy ban nhân dân xã, thị trấn đạt Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia.
- Hỗ trợ hộ dân xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, xây dựng chuồng trại hợp vệ sinh, hỗ trợ vay vốn, hình thành các Tổ vay vốn quay vòng để xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, chuồng trại hợp vệ sinh nhằm kích thích tinh thần thi đua trong cộng đồng, hướng đến mỗi gia có một nhà tiêu hợp vệ sinh, mỗi hộ chăn nuôi đều có chuồng trại hợp vệ sinh.
6.6. Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học
- Năm 2011 tổ chức điều tra, xác định nhu cầu bảo tồn đa dạng sinh học và lập dự án quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học của tỉnh. Trong đó, có 14 khu đất ngập nước với diện tích khoảng 4.500ha trên địa bàn tỉnh, chú trọng 4 khu đất ngập nước đã được UBND tỉnh phê duyệt bao gồm: Khu đất ngập nước Rạch cỏ lao; Khu đất ngập nước Lâm trường Bưu Điện; Khu đất ngập nước Lâm trường Tỉnh Đội; Khu đất ngập nước Búng Bình Thiên lớn.
- Tiếp tục duy trì và phát động rộng rãi phong trào trồng cây phân tán trên địa bàn tỉnh, huy động mọi tầng lớp nhân dân, tận dụng các tuyến đường giao thông, kênh, rạch, các khu đô thị và khu dân cư, tận dụng quỹ đất của các cơ quan, đơn vị, các hộ gia đình và mọi quỹ đất có thể để trồng cây phân tán, nhằm mang lại hiệu quả thiết thực cả về kinh tế và cảnh quan môi trường.
6.7. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ về bảo vệ môi trường
- Nghiên cứu các giải pháp tận dụng, sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới từ các chất thải trong nông nghiệp, rác thải sinh hoạt,....
- Nghiên cứu lai tạo và phát triển giống loài, cây con phục vụ công tác duy trì bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước.
- Nghiên cứu các loại vật liệu xây dựng không nung thay thế dần cho gạch ngói thủ công như hiện nay.
- Nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao các công nghệ xử lý chất thải đặc thù đối với một số loại hình điển hình của tỉnh gây ô nhiễm môi trường thành các sản phẩm ứng dụng mang lại hiệu quả cao.
- Ứng dụng các công nghệ khoa học tiến bộ vào công cuộc ứng phó với biến đổi khí hậu như mô hình mô phỏng khả năng chịu tải tác động mưa, bão, nước biển dâng của các đô thị và vùng ven đô thị.
6.8. Phát triển nguồn nhân lực, chính sách, xã hội hóa về bảo vệ môi trường
- Phát triển các cơ chế, chính sách: cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường; dự án đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường và phục hồi các nguồn tài nguyên thiên nhiên; phổ biến và chia sẻ thông tin môi trường; định giá tài nguyên và môi trường,...
- Các quy định: phân loại chất thải rắn tại nguồn; kiểm toán môi trường đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp; phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn, chất thải nguy hại; tiêu chuẩn tạm thời về bùn thải ao nuôi cá, bùn thải từ các hệ thống xử lý nước thải; bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Quy chế về tổ chức và hoạt động đối với các đơn vị thu gom, vận chuyển rác dân lập” nhằm khuyến khích và hỗ trợ phát triển các đội thu gom, vận chuyển rác dân lập; Quy chế về tổ chức và hoạt động của Tổ tự quản về bảo vệ môi trường.
- Nâng số lượng và năng lực cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường từ cấp tỉnh đến cấp xã cùng với việc phối hợp sức mạnh của hệ thống chính trị theo từng cấp; Đào tạo cán bộ nguồn đáp ứng nhu cầu quản lý môi trường tại địa phương; Đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đối với các cán bộ hiện hữu.
- Xúc tiến thành lập Quỹ bảo vệ môi trường tỉnh để trong năm 2011 tiếp nhận các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, các nguồn tài trợ, đóng góp và ủy thác hợp pháp của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước nhằm hỗ trợ tài chính cho các hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Hỗ trợ kỹ thuật cho các dự án đầu tư cấp nước sạch quy mô nhỏ các vùng khó khăn bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; Đẩy mạnh việc quảng bá, tiếp thị, xúc tiến mời gọi đầu tư vào lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng về bảo vệ môi trường như các khu xử lý chất thải rắn tập trung, các nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt,…
6.9. Tập trung xử lý các điểm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
- Hàng năm điều tra, khảo sát các điểm, cơ sở, khu vực gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng để lập danh sách phân loại các cơ sở ô nhiễm, cơ sở ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
- Xây dựng kế hoạch, lộ trình giảm thiểu, hỗ trợ xử lý các điểm, cơ sở, khu vực ô nhiễm môi trường, đặc biệt là các các điểm, cơ sở, khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương.
6.10. Khai thác, sử dụng kết hợp bảo tồn hợp lý, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm cân bằng sinh thái ở mức cao
- Đến năm 2011, tất cả các quy hoạch ngành và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược. Tất cả các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển ngành/lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh đều phải cân nhắc thận trọng các vấn đề về tài nguyên và môi trường liên quan đến ngành/lĩnh vực được phát triển và phải có đánh giá tác động môi trường đối với Quy hoạch ngành trước khi được cấp thẩm quyền phê duyệt.
- Năm 2011 hoàn thành và triển khai thực hiện Quy hoạch khai thác và sử dụng tài nguyên nước tỉnh An Giang thích ứng biến đổi khí hậu.
- Năm 2011 triển khai thực hiện Quy hoạch khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh An Giang từ nay đến năm 2020. Chú trọng phục hồi cảnh quan môi trường và chuyển mục đích sử dụng đất tại các khu vực khai thác đá trên địa bàn ngay sau khi kết thúc việc khai thác.
- Nâng tỷ lệ sử dụng các dạng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo: Xử lý các chất thải trong nông nghiệp (trấu, rơm rạ,...), chất thải chăn nuôi gia súc gia cầm, nuôi và chế biến thủy sản, các chất thải công nghiệp. Tận dụng các chất thải trên để làm các nguồn năng lượng sinh học, giải quyết các vấn đề môi trường, giảm thiểu sử dụng năng lượng hóa thạch,…
6.11. Đối với các hoạt động ngành nông nghiệp
- Từ năm 2011 trở đi, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc gia cầm và thủy sản nên áp dụng theo tiêu chuẩn GlobalGAP, VietGAP; có sổ tay trồng trọt hoặc chăn nuôi; nuôi thủy sản, nuôi gia súc, gia cầm theo phương pháp an toàn sinh học.
- Tất cả các hộ chăn nuôi phải có hệ thống xử lý nước thải, biogas, bùn thải đạt quy chuẩn. Chất thải rắn phát sinh từ các bè cá trên sông, từ các hộ nuôi cá ao hầm phải được thu gom triệt để và có biện pháp xử lý hợp lý.
- Hạn chế sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học trong nông nghiệp, thay thế bằng các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học dễ phân hủy và tăng cường áp dụng các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp, thực hiện chương trình 3 giảm 3 tăng, chương trình 1 phải 5 giảm, tiếp cận chương trình giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính trong sản xuất lúa,... Gia tăng tỷ lệ thu hồi các bao bì, chai lọ hóa chất bảo vệ thực vật.
6.12. Quản lý nước thải sinh hoạt
- Năm 2011 tiến hành điều tra, thống kê nguồn phát sinh nước thải sinh hoạt, đánh giá tình hình xử lý để quy hoạch các hệ thống cống thu gom và xử lý.
- Từ nay đến năm 2015 cải tạo, nâng cấp các hệ thống thoát nước và xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt các đô thị của thị xã Châu Đốc, Tân Châu và thành phố Long Xuyên.
- Từ năm 2015 đến năm 2020 tiếp tục mở rộng cho các thị trấn, các cụm tuyến dân cư và trung tâm của các xã.
- Từ năm 2011 tăng cường phát triển hệ thống nhà vệ sinh công cộng.
6.13. Đẩy mạnh áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
- Rà soát, cập nhật bổ sung các đối tượng phải nộp phí, thuế môi trường và tài nguyên.
- Tăng cường công tác kiểm soát, thẩm định và nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, khai thác khoáng sản, thuế tài nguyên, lệ phí thu gom và xử lý chất thải rắn, ký quỹ phục hồi môi trường và các loại phí môi trường khác.
6.14. Tăng cường các hoạt động kiểm soát ô nhiễm, thanh tra, kiểm tra
- Tập trung vào các đối tượng chính là các khu công nghiệp, cơ sở công nghiệp phân tán và các làng nghề; các hoạt động nuôi trồng thủy sản, các cơ sở kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật, các hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải rắn, chất thải nguy hại; các hoạt động giao thông, khai thác khoáng sản, du lịch.
- Các hoạt động chính bao gồm: rà soát, kiểm kê, thống kê tình hình cấp phép môi trường; kiểm tra việc thực thi các cam kết về bảo vệ môi trường theo giấy phép; cải tiến thủ tục và chất lượng công tác thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi trường; lấy mẫu và phân tích chất lượng nước thải, khí thải từ các cơ sở; kiểm tra các điều kiện đảm bảo vệ sinh môi trường đối với các phương tiện vận tải, phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải rắn, chất thải nguy hại, các cơ sở xử lý chất thải rắn, các lò đốt chất thải y tế.
6.15. Tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường
Cần đẩy mạnh sự hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường trên nhiều lĩnh vực như: hợp tác kỹ thuật, viện trợ xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường bằng nguồn vốn vay ưu đãi và vốn viện trợ không hoàn lại; nâng cao năng lực, thể chế, hỗ trợ theo dự án, hỗ trợ cho hộ nghèo, vùng nghèo…
6.16. Giải pháp về vốn
Để có đủ nguồn vốn triển khai thực hiện các chương trình bảo vệ môi trường theo quy hoạch cần phải huy động tối đa vốn từ mọi nguồn khác nhau, bao gồm:
- Vốn ngân sách nhà nước (cả ngân sách địa phương lẫn ngân sách Trung ương); Vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia như Chương trình Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, Chương trình phát triển đô thị,…; Đóng góp, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.
- Vốn ODA đầu tư cho việc xử lý nước thải sinh hoạt đô thị, nước sạch và vệ sinh môi trường.
- Vốn ngân sách nhà nước (cả ngân sách địa phương lẫn ngân sách Trung ương) đầu tư xử lý các khu vực, cơ sở ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, các chương trình mục tiêu quốc gia.
- Vốn xã hội hóa, kêu gọi của các tổ chức cá nhân đầu tư cho xử lý rác thải sinh hoạt, cung cấp nước sạch, xử lý nước thải khu công nghiệp, xử lý chất thải nguy hại.
- Vốn của các tổ chức, doanh nghiệp dùng để phòng ngừa ô nhiễm, hạn chế tác động xấu đối với môi trường từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của mình; Dành cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, công nghiệp và dịch vụ về môi trường.
- Vốn tự có trong nhân dân để đầu tư xây dựng các công trình xử lý chất thải cục bộ tại hộ gia đình như: bể tự hoại, hầm biogas,… và trang bị các phương tiện lưu chứa chất thải rắn sinh hoạt theo yêu cầu về phân loại rác tại nguồn.
- Vốn vay ưu đãi và tài trợ từ các quỹ bảo vệ môi trường của quốc gia, địa phương; các ngân hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính khác.
- Vốn 1% chi cho sự nghiệp bảo vệ môi trường cho các kế hoạch, đề án, dự án về bảo vệ môi trường được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Đổi mới phương thức huy động nguồn tài chính từ cộng đồng, lấy xã hội hoá nguồn lực tài chính làm trọng tâm: vận động và tổ chức, tạo cơ sở pháp lý để khuyến khích sự tham gia của nhân dân, của các thành phần kinh tế và toàn xã hội đầu tư vào các công trình bảo vệ môi trường; phát huy nội lực, người sử dụng đóng góp một phần chi phí xây dựng công trình và toàn bộ chi phí vận hành, duy tu bảo dưỡng và quản lý công trình; vận động các nhà tài trợ để thu hút thêm vốn đầu tư cho công trình nếu có thể được.
- Cần có kinh phí hỗ trợ khởi đầu (ví dụ như chi phí tư vấn), bên cạnh những hướng dẫn kỹ thuật và hệ thống văn bản pháp quy phù hợp, để tạo điều kiện cho các dự án đầu tư về bảo vệ môi trường được hình thành và thực thi. Kinh phí xây dựng có thể kết hợp từ các nguồn kể trên.

Content:
Giải pháp thực hiện:
6.1. Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường
Xây dựng chương trình tuyên truyền, giáo dục cho mọi người nhận thức và thực hiện đầy đủ các yêu cầu, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên; đóng góp nguồn lực và tài chính cho việc đầu tư và vận hành các hệ thống xử lý nước thải, chất thải rắn sinh hoạt cụ thể tiến tới thu phí xử lý rác thải, nước thải; Phát hiện, tố giác các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Trong đó, chia ra theo các nhóm đối tượng tuyên truyền: học sinh, phụ nữ, thanh niên, nông dân, công nhân, doanh nghiệp, cán bộ công chức,... với nhiều hình thức tuyên truyền khác nhau như:
- Biên soạn và xuất bản các ấn phẩm, sổ tay, tập huấn; Lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường vào hoạt động của các tổ dân phố, khu phố, họp dân.
- Triển khai các ngày lễ môi trường hàng năm, phổ cập thông tin môi trường bằng cách tăng cường đưa tin, hình ảnh, phóng sự, trò chơi về môi trường lên các phương tiện truyền thông tại địa phương,…
- Xây dựng các mô hình bảo vệ môi trường với sự tham gia của chính quyền và cộng đồng người dân, hướng dẫn kỹ thuật về bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
- Thường xuyên cập nhật, đưa tin về các mô hình, các điển hình tiên tiến, sáng kiến và kinh nghiệm hay về các cá nhân, tổ chức thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường trên các phương tiện thông tin đại chúng để phổ biến và nhân rộng.
6.2. Phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm công nghiệp
- Các khu - cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung. Rà soát lại các hoạt động trong các khu - cụm công nghiệp hiện hữu, đến năm 2011 phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn môi trường. Đối với các dự án khu - cụm công nghiệp xây dựng mới phải có nội dung cơ sở hạ tầng về bảo vệ môi trường, vành đai cây xanh xung quanh và hoàn thành trước khi tiếp nhận dự án đầu tư; thành lập tổ chức, bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường.
- Việc bố trí các công trình, các dự án đầu tư trong khu - cụm công nghiệp phải đảm bảo phù hợp và hài hòa với việc bố trí các công trình, hệ thống xử lý môi trường trong các khu - cụm công nghiệp.
- Tất cả các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm nằm bên ngoài khu công nghiệp tập trung (bao gồm cả các làng nghề) phải có hệ thống xử lý chất thải đạt quy chuẩn môi trường. Di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng xen kẻ khu dân cư vào các khu, cụm công nghiệp tập trung trên địa bàn.
- Nâng cao chất lượng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường và công tác hậu kiểm, tăng cường thanh tra định kỳ và đột xuất.
- Triển khai trình diễn và hỗ trợ sản xuất sạch hơn, kiểm toán môi trường, khuyến khích và hỗ trợ thí điểm Chứng nhận ISO 14001 cho một số cơ sở. Đến năm 2015 có ít nhất 20% số cơ sở sản xuất quy mô trung bình trở lên thực hiện chương trình Ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp - Sản xuất sạch hơn và đến năm 2020 nâng tỷ lệ này lên tối thiểu 50%; có ít nhất 50% số dự án đầu tư trong khu công nghiệp và 30% số cơ sở sản xuất bên ngoài khu công nghiệp được cấp Chứng chỉ ISO 14001 hay các chứng chỉ khác về môi trường và đến năm 2020 nâng tỷ lệ trên tương ứng lên 70% và 50%.
6.3. Quản lý chất thải rắn
- Năm 2011 tiến hành điều tra, thống kê khối lượng, thành phần, nguồn phát sinh chất thải rắn, đánh giá tình hình thu gom xử lý để quy hoạch các khu vực xử lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh.
- Từ nay đến năm 2015 rà soát các bãi rác hiện hữu để xác định mức độ ô nhiễm, tình trạng xử lý. Lập kế hoạch đóng cửa bãi quá tải, ô nhiễm và chuyển sang các khu xử lý mới theo quy hoạch có đầy đủ kết cấu hạ tầng về bảo vệ môi trường.
- Cải tạo, phục hồi môi trường các bãi rác cũ ngay sau khi đóng cửa và chuyển sang mục đích sử dụng khác thích hợp nhằm tiết kiệm tài nguyên đất.
- Đầu tư nâng cấp, cải tiến toàn bộ hệ thống thu gom - vận chuyển - xử lý chất thải rắn, tăng cường lực lượng thu gom, mở rộng địa bàn thu gom.
- Tăng cường công tác kiểm tra, đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng lò đốt rác y tế, chất thải y tế của các bệnh viện, cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh. Kêu gọi đầu tư các nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn y tế hiện đại theo hướng xã hội hóa.
- Tiến tới phân loại rác sinh hoạt tại nguồn: Tuyên truyền vận động và hướng dẫn thực hiện phân loại chất thải rắn tại nguồn cùng với việc ban hành các chính sách, quy định cụ thể về phân loại chất thải rắn tại nguồn.
6.4. Công tác kiểm soát ô nhiễm, quan trắc, cảnh báo môi trường
- Tổ chức thực hiện Quyết định số 1171/QĐ-UBND ngày 25/6/2010 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường tỉnh An Giang đến năm 2020.
- Phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện tăng cường công tác quan trắc môi trường xuyên biên giới.
- Xây dựng chương trình khảo sát, đo đạc, dự báo, cảnh báo tai biến thiên nhiên; tăng cường công tác thông tin, cảnh báo tình hình ô nhiễm môi trường; chuẩn hóa cơ sở dữ liệu GIS về tài nguyên - môi trường.
- Kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất, nhập khẩu và sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học dùng trong nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; nhập khẩu phế liệu, máy móc đã qua sử dụng.
6.5. Phát triển các hệ thống cung cấp nước sạch và cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn
- Tăng cường công tác truyền thông, vận động, hỗ trợ kỹ thuật với sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, thực hiện thường xuyên liên tục, triển khai sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân nhằm mục tiêu nâng cao tỷ lệ người dân tích cực sử dụng nước sạch, các công trình vệ sinh, xem đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, mặt trận, đoàn thể.
- Huy động nhiều nguồn lực: vốn Trung ương, vốn tài trợ, ngân sách địa phương, vốn dân và xã hội hóa đầu tư lĩnh vực cấp nước để đầu tư xây dựng, nâng cấp cải tạo các công trình cấp nước tập trung, các công trình vệ sinh trường học, chợ, trụ sở Ủy ban nhân dân xã, thị trấn đạt Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia.
- Hỗ trợ hộ dân xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, xây dựng chuồng trại hợp vệ sinh, hỗ trợ vay vốn, hình thành các Tổ vay vốn quay vòng để xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, chuồng trại hợp vệ sinh nhằm kích thích tinh thần thi đua trong cộng đồng, hướng đến mỗi gia có một nhà tiêu hợp vệ sinh, mỗi hộ chăn nuôi đều có chuồng trại hợp vệ sinh.
6.Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học
- Năm 2011 tổ chức điều tra, xác định nhu cầu bảo tồn đa dạng sinh học và lập dự án quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học của tỉnh. Trong đó, có 14 khu đất ngập nước với diện tích khoảng 4.500ha trên địa bàn tỉnh, chú trọng 4 khu đất ngập nước đã được UBND tỉnh phê duyệt bao gồm: Khu đất ngập nước Rạch cỏ lao; Khu đất ngập nước Lâm trường Bưu Điện; Khu đất ngập nước Lâm trường Tỉnh Đội; Khu đất ngập nước Búng Bình Thiên lớn.
- Tiếp tục duy trì và phát động rộng rãi phong trào trồng cây phân tán trên địa bàn tỉnh, huy động mọi tầng lớp nhân dân, tận dụng các tuyến đường giao thông, kênh, rạch, các khu đô thị và khu dân cư, tận dụng quỹ đất của các cơ quan, đơn vị, các hộ gia đình và mọi quỹ đất có thể để trồng cây phân tán, nhằm mang lại hiệu quả thiết thực cả về kinh tế và cảnh quan môi trường.
6.7. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ về bảo vệ môi trường
- Nghiên cứu các giải pháp tận dụng, sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới từ các chất thải trong nông nghiệp, rác thải sinh hoạt,....
- Nghiên cứu lai tạo và phát triển giống loài, cây con phục vụ công tác duy trì bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước.
- Nghiên cứu các loại vật liệu xây dựng không nung thay thế dần cho gạch ngói thủ công như hiện nay.
- Nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao các công nghệ xử lý chất thải đặc thù đối với một số loại hình điển hình của tỉnh gây ô nhiễm môi trường thành các sản phẩm ứng dụng mang lại hiệu quả cao.
- Ứng dụng các công nghệ khoa học tiến bộ vào công cuộc ứng phó với biến đổi khí hậu như mô hình mô phỏng khả năng chịu tải tác động mưa, bão, nước biển dâng của các đô thị và vùng ven đô thị.
6.8. Phát triển nguồn nhân lực, chính sách, xã hội hóa về bảo vệ môi trường
- Phát triển các cơ chế, chính sách: cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường; dự án đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường và phục hồi các nguồn tài nguyên thiên nhiên; phổ biến và chia sẻ thông tin môi trường; định giá tài nguyên và môi trường,...
- Các quy định: phân loại chất thải rắn tại nguồn; kiểm toán môi trường đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp; phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn, chất thải nguy hại; tiêu chuẩn tạm thời về bùn thải ao nuôi cá, bùn thải từ các hệ thống xử lý nước thải; bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Quy chế về tổ chức và hoạt động đối với các đơn vị thu gom, vận chuyển rác dân lập” nhằm khuyến khích và hỗ trợ phát triển các đội thu gom, vận chuyển rác dân lập; Quy chế về tổ chức và hoạt động của Tổ tự quản về bảo vệ môi trường.
- Nâng số lượng và năng lực cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường từ cấp tỉnh đến cấp xã cùng với việc phối hợp sức mạnh của hệ thống chính trị theo từng cấp; Đào tạo cán bộ nguồn đáp ứng nhu cầu quản lý môi trường tại địa phương; Đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đối với các cán bộ hiện hữu.
- Xúc tiến thành lập Quỹ bảo vệ môi trường tỉnh để trong năm 2011 tiếp nhận các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, các nguồn tài trợ, đóng góp và ủy thác hợp pháp của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước nhằm hỗ trợ tài chính cho các hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Hỗ trợ kỹ thuật cho các dự án đầu tư cấp nước sạch quy mô nhỏ các vùng khó khăn bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; Đẩy mạnh việc quảng bá, tiếp thị, xúc tiến mời gọi đầu tư vào lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng về bảo vệ môi trường như các khu xử lý chất thải rắn tập trung, các nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt,…
6.9. Tập trung xử lý các điểm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
- Hàng năm điều tra, khảo sát các điểm, cơ sở, khu vực gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng để lập danh sách phân loại các cơ sở ô nhiễm, cơ sở ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
- Xây dựng kế hoạch, lộ trình giảm thiểu, hỗ trợ xử lý các điểm, cơ sở, khu vực ô nhiễm môi trường, đặc biệt là các các điểm, cơ sở, khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương.
6.10. Khai thác, sử dụng kết hợp bảo tồn hợp lý, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm cân bằng sinh thái ở mức cao
- Đến năm 2011, tất cả các quy hoạch ngành và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược. Tất cả các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển ngành/lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh đều phải cân nhắc thận trọng các vấn đề về tài nguyên và môi trường liên quan đến ngành/lĩnh vực được phát triển và phải có đánh giá tác động môi trường đối với Quy hoạch ngành trước khi được cấp thẩm quyền phê duyệt.
- Năm 2011 hoàn thành và triển khai thực hiện Quy hoạch khai thác và sử dụng tài nguyên nước tỉnh An Giang thích ứng biến đổi khí hậu.
- Năm 2011 triển khai thực hiện Quy hoạch khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh An Giang từ nay đến năm 2020. Chú trọng phục hồi cảnh quan môi trường và chuyển mục đích sử dụng đất tại các khu vực khai thác đá trên địa bàn ngay sau khi kết thúc việc khai thác.
- Nâng tỷ lệ sử dụng các dạng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo: Xử lý các chất thải trong nông nghiệp (trấu, rơm rạ,...), chất thải chăn nuôi gia súc gia cầm, nuôi và chế biến thủy sản, các chất thải công nghiệp. Tận dụng các chất thải trên để làm các nguồn năng lượng sinh học, giải quyết các vấn đề môi trường, giảm thiểu sử dụng năng lượng hóa thạch,…
6.11. Đối với các hoạt động ngành nông nghiệp
- Từ năm 2011 trở đi, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc gia cầm và thủy sản nên áp dụng theo tiêu chuẩn GlobalGAP, VietGAP; có sổ tay trồng trọt hoặc chăn nuôi; nuôi thủy sản, nuôi gia súc, gia cầm theo phương pháp an toàn sinh học.
- Tất cả các hộ chăn nuôi phải có hệ thống xử lý nước thải, biogas, bùn thải đạt quy chuẩn. Chất thải rắn phát sinh từ các bè cá trên sông, từ các hộ nuôi cá ao hầm phải được thu gom triệt để và có biện pháp xử lý hợp lý.
- Hạn chế sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học trong nông nghiệp, thay thế bằng các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học dễ phân hủy và tăng cường áp dụng các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp, thực hiện chương trình 3 giảm 3 tăng, chương trình 1 phải 5 giảm, tiếp cận chương trình giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính trong sản xuất lúa,... Gia tăng tỷ lệ thu hồi các bao bì, chai lọ hóa chất bảo vệ thực vật.
6.12. Quản lý nước thải sinh hoạt
- Năm 2011 tiến hành điều tra, thống kê nguồn phát sinh nước thải sinh hoạt, đánh giá tình hình xử lý để quy hoạch các hệ thống cống thu gom và xử lý.
- Từ nay đến năm 2015 cải tạo, nâng cấp các hệ thống thoát nước và xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt các đô thị của thị xã Châu Đốc, Tân Châu và thành phố Long Xuyên.
- Từ năm 2015 đến năm 2020 tiếp tục mở rộng cho các thị trấn, các cụm tuyến dân cư và trung tâm của các xã.
- Từ năm 2011 tăng cường phát triển hệ thống nhà vệ sinh công cộng.
6.13. Đẩy mạnh áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
- Rà soát, cập nhật bổ sung các đối tượng phải nộp phí, thuế môi trường và tài nguyên.
- Tăng cường công tác kiểm soát, thẩm định và nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, khai thác khoáng sản, thuế tài nguyên, lệ phí thu gom và xử lý chất thải rắn, ký quỹ phục hồi môi trường và các loại phí môi trường khác.
6.14. Tăng cường các hoạt động kiểm soát ô nhiễm, thanh tra, kiểm tra
- Tập trung vào các đối tượng chính là các khu công nghiệp, cơ sở công nghiệp phân tán và các làng nghề; các hoạt động nuôi trồng thủy sản, các cơ sở kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật, các hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải rắn, chất thải nguy hại; các hoạt động giao thông, khai thác khoáng sản, du lịch.
- Các hoạt động chính bao gồm: rà soát, kiểm kê, thống kê tình hình cấp phép môi trường; kiểm tra việc thực thi các cam kết về bảo vệ môi trường theo giấy phép; cải tiến thủ tục và chất lượng công tác thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi trường; lấy mẫu và phân tích chất lượng nước thải, khí thải từ các cơ sở; kiểm tra các điều kiện đảm bảo vệ sinh môi trường đối với các phương tiện vận tải, phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải rắn, chất thải nguy hại, các cơ sở xử lý chất thải rắn, các lò đốt chất thải y tế.
6.15. Tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường
Cần đẩy mạnh sự hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường trên nhiều lĩnh vực như: hợp tác kỹ thuật, viện trợ xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường bằng nguồn vốn vay ưu đãi và vốn viện trợ không hoàn lại; nâng cao năng lực, thể chế, hỗ trợ theo dự án, hỗ trợ cho hộ nghèo, vùng nghèo…
6.1Giải pháp về vốn
Để có đủ nguồn vốn triển khai thực hiện các chương trình bảo vệ môi trường theo quy hoạch cần phải huy động tối đa vốn từ mọi nguồn khác nhau, bao gồm:
- Vốn ngân sách nhà nước (cả ngân sách địa phương lẫn ngân sách Trung ương); Vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia như Chương trình Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, Chương trình phát triển đô thị,…; Đóng góp, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.
- Vốn ODA đầu tư cho việc xử lý nước thải sinh hoạt đô thị, nước sạch và vệ sinh môi trường.
- Vốn ngân sách nhà nước (cả ngân sách địa phương lẫn ngân sách Trung ương) đầu tư xử lý các khu vực, cơ sở ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, các chương trình mục tiêu quốc gia.
- Vốn xã hội hóa, kêu gọi của các tổ chức cá nhân đầu tư cho xử lý rác thải sinh hoạt, cung cấp nước sạch, xử lý nước thải khu công nghiệp, xử lý chất thải nguy hại.
- Vốn của các tổ chức, doanh nghiệp dùng để phòng ngừa ô nhiễm, hạn chế tác động xấu đối với môi trường từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của mình; Dành cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, công nghiệp và dịch vụ về môi trường.
- Vốn tự có trong nhân dân để đầu tư xây dựng các công trình xử lý chất thải cục bộ tại hộ gia đình như: bể tự hoại, hầm biogas,… và trang bị các phương tiện lưu chứa chất thải rắn sinh hoạt theo yêu cầu về phân loại rác tại nguồn.
- Vốn vay ưu đãi và tài trợ từ các quỹ bảo vệ môi trường của quốc gia, địa phương; các ngân hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính khác.
- Vốn 1% chi cho sự nghiệp bảo vệ môi trường cho các kế hoạch, đề án, dự án về bảo vệ môi trường được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Đổi mới phương thức huy động nguồn tài chính từ cộng đồng, lấy xã hội hoá nguồn lực tài chính làm trọng tâm: vận động và tổ chức, tạo cơ sở pháp lý để khuyến khích sự tham gia của nhân dân, của các thành phần kinh tế và toàn xã hội đầu tư vào các công trình bảo vệ môi trường; phát huy nội lực, người sử dụng đóng góp một phần chi phí xây dựng công trình và toàn bộ chi phí vận hành, duy tu bảo dưỡng và quản lý công trình; vận động các nhà tài trợ để thu hút thêm vốn đầu tư cho công trình nếu có thể được.
- Cần có kinh phí hỗ trợ khởi đầu (ví dụ như chi phí tư vấn), bên cạnh những hướng dẫn kỹ thuật và hệ thống văn bản pháp quy phù hợp, để tạo điều kiện cho các dự án đầu tư về bảo vệ môi trường được hình thành và thực thi. Kinh phí xây dựng có thể kết hợp từ các nguồn kể trên.