Document: Điểm b Khoản 4 Điều 1 Quyết định 14/2021/QĐ-UBND sửa đổi Quyết định 18/2019/QĐ-UBND tỉnh Đồng Nai

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "06/04/2021", "sign_number": "14/2021/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Phi", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "06/04/2021", "sign_number": "14/2021/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Phi", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "06/04/2021", "sign_number": "14/2021/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Phi", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "06/04/2021", "sign_number": "14/2021/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Phi", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Đồng Nai", "promulgation_date": "06/04/2021", "sign_number": "14/2021/QĐ-UBND", "signer": "Võ Văn Phi", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 4 Điều 1 Quyết định 14/2021/QĐ-UBND sửa đổi Quyết định 18/2019/QĐ-UBND tỉnh Đồng Nai

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai đã có hiệu lực pháp luật trên địa bàn tỉnh Đồng Nai ban hành kèm theo Quyết định số 18/2019/QĐ-UBND ngày 12 tháng 4 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh:
...
4. Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai đã có hiệu lực thi hành."
2. Điều 7 được sửa đổi như sau:
...
b) Điểm a Khoản 2 được sửa đổi như sau:
“a) Thành phần Ban thực hiện cưỡng chế
Thành phần Ban thực hiện cưỡng chế gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện là Trưởng ban; Trưởng Phòng hoặc Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường là Phó Trưởng ban; thành viên là đại diện cơ quan cấp huyện: công an, tài chính, thanh tra, tư pháp, xây dựng, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện cưỡng chế và các thành viên khác do người ký quyết định thành lập Ban thực hiện cưỡng chế quyết định.”
3. Khoản 3, Khoản 4 Điều 11 được sửa đổi như sau:
"3. Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế, người có liên quan từ chối nhận tài sản, thì Ban thực hiện cưỡng chế xử lý như sau:
a) Trường hợp cá nhân, tổ chức từ chối nhận tài sản, người tổ chức cưỡng chế phải lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản và thuê tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện trông giữ, bảo quản hoặc tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất cưỡng chế. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc cưỡng chế, Ban thực hiện cưỡng chế phải niêm yết thông báo tài sản cưỡng chế tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện cưỡng chế; việc niêm yết phải được lập thành biên bản. Nội dung thông báo nêu rõ về thời gian, địa điểm để cá nhân, tổ chức có tài sản nhận lại tài sản. Cá nhân, tổ chức có tài sản phải chịu các chi phí vận chuyển, trông giữ, bảo quản tài sản.
b) Trường hợp tài sản trên đất phải cưỡng chế là gia súc, gia cầm, vật nuôi khác làm phát sinh chi phí trông giữ, chăm sóc hoặc tài sản để lâu có thể hư hỏng, giảm giá trị và đã quá thời hạn nhận lại tài sản ghi trong thông báo mà cá nhân, tổ chức có tài sản không nhận lại tài sản thì người ra quyết định cưỡng chế thông báo trên báo địa phương, các phương tiện thông tin truyền thông khác. Khi hết thời hạn nhận lại tài sản theo thông báo mà cá nhân, tổ chức có tài sản không nhận lại tài sản thì cơ quan có thẩm quyền được phép xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngay sau khi thực hiện xong cưỡng chế ngoài thực địa, Ban thực hiện cưỡng chế đề nghị cơ quan chức năng đo đạc, cắm mốc và lập biên bản bàn giao đất cho người sử dụng đất theo quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, biên bản bàn giao đất phải có chữ ký của đại diện Ban thực hiện cưỡng chế, người nhận bàn giao đất và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cưỡng chế."
Khoản 2 Điều 14 được sửa đổi như sau:
"2. Trường hợp người bị cưỡng chế có hành vi chiếm đất sau khi đã cưỡng chế thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công chức phát hiện hành vi vi phạm lập biên bản vi phạm hành chính theo thẩm quyền, báo cáo với người có thẩm quyền đế xử lý vi phạm hành chính theo quy định."

Content:
Điểm a Khoản 2 được sửa đổi như sau:
“a) Thành phần Ban thực hiện cưỡng chế
Thành phần Ban thực hiện cưỡng chế gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện là Trưởng ban; Trưởng Phòng hoặc Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường là Phó Trưởng ban; thành viên là đại diện cơ quan cấp huyện: công an, tài chính, thanh tra, tư pháp, xây dựng, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện cưỡng chế và các thành viên khác do người ký quyết định thành lập Ban thực hiện cưỡng chế quyết định.”
3. Khoản 3, Khoản 4 Điều 11 được sửa đổi như sau:
"3. Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế, người có liên quan từ chối nhận tài sản, thì Ban thực hiện cưỡng chế xử lý như sau:
a) Trường hợp cá nhân, tổ chức từ chối nhận tài sản, người tổ chức cưỡng chế phải lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản và thuê tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện trông giữ, bảo quản hoặc tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất cưỡng chế. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc cưỡng chế, Ban thực hiện cưỡng chế phải niêm yết thông báo tài sản cưỡng chế tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện cưỡng chế; việc niêm yết phải được lập thành biên bản. Nội dung thông báo nêu rõ về thời gian, địa điểm để cá nhân, tổ chức có tài sản nhận lại tài sản. Cá nhân, tổ chức có tài sản phải chịu các chi phí vận chuyển, trông giữ, bảo quản tài sản.
Trường hợp tài sản trên đất phải cưỡng chế là gia súc, gia cầm, vật nuôi khác làm phát sinh chi phí trông giữ, chăm sóc hoặc tài sản để lâu có thể hư hỏng, giảm giá trị và đã quá thời hạn nhận lại tài sản ghi trong thông báo mà cá nhân, tổ chức có tài sản không nhận lại tài sản thì người ra quyết định cưỡng chế thông báo trên báo địa phương, các phương tiện thông tin truyền thông khác. Khi hết thời hạn nhận lại tài sản theo thông báo mà cá nhân, tổ chức có tài sản không nhận lại tài sản thì cơ quan có thẩm quyền được phép xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngay sau khi thực hiện xong cưỡng chế ngoài thực địa, Ban thực hiện cưỡng chế đề nghị cơ quan chức năng đo đạc, cắm mốc và lập biên bản bàn giao đất cho người sử dụng đất theo quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, biên bản bàn giao đất phải có chữ ký của đại diện Ban thực hiện cưỡng chế, người nhận bàn giao đất và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cưỡng chế."
Khoản 2 Điều 14 được sửa đổi như sau:
"2. Trường hợp người bị cưỡng chế có hành vi chiếm đất sau khi đã cưỡng chế thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công chức phát hiện hành vi vi phạm lập biên bản vi phạm hành chính theo thẩm quyền, báo cáo với người có thẩm quyền đế xử lý vi phạm hành chính theo quy định."