Document: Khoản 20 Điều 1 Quyết định 124/QĐ-TTg  phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "02/02/2012", "sign_number": "124/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "02/02/2012", "sign_number": "124/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "02/02/2012", "sign_number": "124/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "02/02/2012", "sign_number": "124/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "02/02/2012", "sign_number": "124/QĐ-TTg", "signer": "Hoàng Trung Hải", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 20 Điều 1 Quyết định 124/QĐ-TTg  phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030, với các nội dung chủ yếu sau:
...
20. Thủy sản
a) Nuôi trồng: Diện tích đất bố trí nuôi trồng thủy sản đến năm 2020 là 1,2 triệu ha, trong đó, sử dụng đất bằng chưa sử dụng ven biển để nuôi trồng khoảng 7 ngàn ha và chuyển đổi đất trũng trồng lúa sang 90 ngàn ha. Xây dựng các vùng nuôi công nghiệp đối với các đối tượng nuôi chủ lực như: cá tra, tôm sú, tôm chân trắng, nhuyễn thể, cá biển, cá rô phi.
Ổn định diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt với các loài cá truyền thống ở các vùng nông thôn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong vùng, tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân. Tập trung triển khai nuôi cá tra công nghiệp, chuyển áp dụng tiêu chuẩn GlobalGAP sang VietGAP. Chuyển đổi một số diện tích đất lúa 1 vụ trên các địa bàn úng trũng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng sang nuôi tôm, cá.
Đối với nuôi nước lợ, quy hoạch hình thành các vùng nuôi công nghiệp tập trung có quy mô diện tích lớn theo tiêu chuẩn GAP phù hợp với từng thị trường, tạo sản lượng hàng hóa lớn phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước ở các khu vực đồng bằng sông Hồng, ven biển miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long gắn với truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu thủy sản uy tín, chất lượng cao.
Đối với nuôi nước mặn, quy hoạch các vùng nuôi biển tập trung gắn với các cơ sở sản xuất giống hải sản ở các vùng, mở rộng các vùng nuôi thủy sản trên biển và các hải đảo.
b) Khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản: Tiếp tục đầu tư nghiên cứu điều tra nguồn lợi, dự báo ngư trường phục vụ khai thác hải sản. Tổ chức lại nghề khai thác hải sản theo hướng hiện đại hóa công tác quản lý nghề cá trên cơ sở cơ cấu lại tàu thuyền, nghề nghiệp phù hợp với các vùng biển, tuyến biển, với môi trường tự nhiên, nguồn lợi hải sản, gắn với đầu tư nâng cấp, hiện đại hóa các cảng cá, bến cá, các khu neo đậu phòng tránh trú bão, các khu hậu cần dịch vụ nghề cá ven biển và trên các hải đảo. Mở rộng hoạt động khai thác trong khuôn khổ hợp tác quốc tế ngoài vùng biển Việt Nam. Xây dựng và phát triển hệ thống các khu bảo tồn biển và bảo tồn vùng nước nội địa.
c) Chế biến thủy sản: Lượng hàng hóa xuất khẩu đạt 1,55 triệu tấn vào năm 2015, đạt 1,9 triệu tấn vào năm 2020; tăng công suất chế biến từ 6,5 ngàn tấn/ngày lên 10 ngàn tấn/ngày; hệ thống kho lạnh thủy sản tăng 630 ngàn tấn để đạt tổng công suất khoảng 1,1 triệu tấn.
- Đối với chế biến đông lạnh: Thay thế các thiết bị cũ, lạc hậu, nhất là những thiết bị lạnh sử dụng môi chất lạnh phá hoại tầng ôzôn phải được loại bỏ hết từ nay đến năm 2030; đầu tư chiều sâu là chủ yếu, nhằm sản xuất ra nhiều mặt hàng giá trị gia tăng và nâng công suất sử dụng lên 70% so với 40-50% như hiện nay. Riêng đồng bằng sông Cửu Long, đến năm 2015 cần xây mới các nhà máy chế biến cá tra với loại công suất trung bình 7,5 ngàn tấn sản phẩm/năm để đáp ứng lượng cá tra nuôi tăng lên 1,5 triệu tấn vào năm 2015 và nâng công suất các nhà máy hiện có lúc đó để chế biến hết 2 triệu tấn cá tra vào năm 2020.
- Đối với chế biến bột cá: Không khuyến khích phát triển năng lực chế biến, tập trung nâng công suất sử dụng lên trên 70% ở miền Bắc và miền Trung.
- Đối với chế biến hàng khô: Giảm sản lượng hàng khô chất lượng thấp, tăng sản lượng hàng có giá trị gia tăng cao, tăng chất lượng hàng khô xuất khẩu và giữ mức sản lượng ổn định 30 ngàn - 40 ngàn tấn/năm.
- Đối với chế biến đồ hộp: Nâng mức sử dụng công suất lên 80 - 90% bằng việc nhập nguyên liệu cá ngừ, cá trích, bạch tuộc …. Đa dạng mặt hàng đồ hộp, tăng khối lượng cung cấp cho thị trường nội địa và xuất khẩu.
- Xây dựng thêm hệ thống kho lạnh lớn để dự trữ sản phẩm khắc phục tính mùa vụ, điều tiết thị trường và phục vụ cho xuất hàng.
d) Cơ khí hóa sửa chữa tàu thuyền và dịch vụ hậu cần nghề cá: Tập trung đầu tư củng cố và phát triển đồng bộ công nghiệp cơ khí, đóng sửa tàu cá; sản xuất phụ trợ gắn với xây dựng hạ tầng dịch vụ hậu cần phục vụ khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản.

Content:
Thủy sản
a) Nuôi trồng: Diện tích đất bố trí nuôi trồng thủy sản đến năm 2020 là 1,2 triệu ha, trong đó, sử dụng đất bằng chưa sử dụng ven biển để nuôi trồng khoảng 7 ngàn ha và chuyển đổi đất trũng trồng lúa sang 90 ngàn ha. Xây dựng các vùng nuôi công nghiệp đối với các đối tượng nuôi chủ lực như: cá tra, tôm sú, tôm chân trắng, nhuyễn thể, cá biển, cá rô phi.
Ổn định diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt với các loài cá truyền thống ở các vùng nông thôn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong vùng, tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân. Tập trung triển khai nuôi cá tra công nghiệp, chuyển áp dụng tiêu chuẩn GlobalGAP sang VietGAP. Chuyển đổi một số diện tích đất lúa 1 vụ trên các địa bàn úng trũng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng sang nuôi tôm, cá.
Đối với nuôi nước lợ, quy hoạch hình thành các vùng nuôi công nghiệp tập trung có quy mô diện tích lớn theo tiêu chuẩn GAP phù hợp với từng thị trường, tạo sản lượng hàng hóa lớn phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước ở các khu vực đồng bằng sông Hồng, ven biển miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long gắn với truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu thủy sản uy tín, chất lượng cao.
Đối với nuôi nước mặn, quy hoạch các vùng nuôi biển tập trung gắn với các cơ sở sản xuất giống hải sản ở các vùng, mở rộng các vùng nuôi thủy sản trên biển và các hải đảo.
b) Khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản: Tiếp tục đầu tư nghiên cứu điều tra nguồn lợi, dự báo ngư trường phục vụ khai thác hải sản. Tổ chức lại nghề khai thác hải sản theo hướng hiện đại hóa công tác quản lý nghề cá trên cơ sở cơ cấu lại tàu thuyền, nghề nghiệp phù hợp với các vùng biển, tuyến biển, với môi trường tự nhiên, nguồn lợi hải sản, gắn với đầu tư nâng cấp, hiện đại hóa các cảng cá, bến cá, các khu neo đậu phòng tránh trú bão, các khu hậu cần dịch vụ nghề cá ven biển và trên các hải đảo. Mở rộng hoạt động khai thác trong khuôn khổ hợp tác quốc tế ngoài vùng biển Việt Nam. Xây dựng và phát triển hệ thống các khu bảo tồn biển và bảo tồn vùng nước nội địa.
c) Chế biến thủy sản: Lượng hàng hóa xuất khẩu đạt 1,55 triệu tấn vào năm 2015, đạt 1,9 triệu tấn vào năm 2020; tăng công suất chế biến từ 6,5 ngàn tấn/ngày lên 10 ngàn tấn/ngày; hệ thống kho lạnh thủy sản tăng 630 ngàn tấn để đạt tổng công suất khoảng 1,1 triệu tấn.
- Đối với chế biến đông lạnh: Thay thế các thiết bị cũ, lạc hậu, nhất là những thiết bị lạnh sử dụng môi chất lạnh phá hoại tầng ôzôn phải được loại bỏ hết từ nay đến năm 2030; đầu tư chiều sâu là chủ yếu, nhằm sản xuất ra nhiều mặt hàng giá trị gia tăng và nâng công suất sử dụng lên 70% so với 40-50% như hiện nay. Riêng đồng bằng sông Cửu Long, đến năm 2015 cần xây mới các nhà máy chế biến cá tra với loại công suất trung bình 7,5 ngàn tấn sản phẩm/năm để đáp ứng lượng cá tra nuôi tăng lên 1,5 triệu tấn vào năm 2015 và nâng công suất các nhà máy hiện có lúc đó để chế biến hết 2 triệu tấn cá tra vào năm 2020.
- Đối với chế biến bột cá: Không khuyến khích phát triển năng lực chế biến, tập trung nâng công suất sử dụng lên trên 70% ở miền Bắc và miền Trung.
- Đối với chế biến hàng khô: Giảm sản lượng hàng khô chất lượng thấp, tăng sản lượng hàng có giá trị gia tăng cao, tăng chất lượng hàng khô xuất khẩu và giữ mức sản lượng ổn định 30 ngàn - 40 ngàn tấn/năm.
- Đối với chế biến đồ hộp: Nâng mức sử dụng công suất lên 80 - 90% bằng việc nhập nguyên liệu cá ngừ, cá trích, bạch tuộc …. Đa dạng mặt hàng đồ hộp, tăng khối lượng cung cấp cho thị trường nội địa và xuất khẩu.
- Xây dựng thêm hệ thống kho lạnh lớn để dự trữ sản phẩm khắc phục tính mùa vụ, điều tiết thị trường và phục vụ cho xuất hàng.
d) Cơ khí hóa sửa chữa tàu thuyền và dịch vụ hậu cần nghề cá: Tập trung đầu tư củng cố và phát triển đồng bộ công nghiệp cơ khí, đóng sửa tàu cá; sản xuất phụ trợ gắn với xây dựng hạ tầng dịch vụ hậu cần phục vụ khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản.