Document: Điểm c Khoản 2 Điều 1 Quyết định 14/2007/QĐ-BBCVT Quy hoạch phát triển công nghệ thông tin truyền thông vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 định hướng 2020

Type: {"issuing_agency": "Bộ Bưu chính, Viễn thông", "promulgation_date": "15/06/2007", "sign_number": "14/2007/QĐ-BBCVT", "signer": "Đỗ Trung Tá", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Bưu chính, Viễn thông", "promulgation_date": "15/06/2007", "sign_number": "14/2007/QĐ-BBCVT", "signer": "Đỗ Trung Tá", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Bưu chính, Viễn thông", "promulgation_date": "15/06/2007", "sign_number": "14/2007/QĐ-BBCVT", "signer": "Đỗ Trung Tá", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Bưu chính, Viễn thông", "promulgation_date": "15/06/2007", "sign_number": "14/2007/QĐ-BBCVT", "signer": "Đỗ Trung Tá", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Bưu chính, Viễn thông", "promulgation_date": "15/06/2007", "sign_number": "14/2007/QĐ-BBCVT", "signer": "Đỗ Trung Tá", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm c Khoản 2 Điều 1 Quyết định 14/2007/QĐ-BBCVT Quy hoạch phát triển công nghệ thông tin truyền thông vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 định hướng 2020

Điều 1. Phê duyệt “Quy hoạch phát triển công nghệ thông tin và truyền thông vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” với những nội dung chủ yếu sau đây:
...
2. Mục tiêu và định hướng phát triển
...
c) Phát triển ứng dụng công nghệ thông tin
- Mục tiêu đến năm 2010
Trong các cơ quan nhà nước, hệ thống chỉ đạo, điều hành, trao đổi thông tin thông suốt, kịp thời làm công cụ hữu ích cho cải cách hành chính. Tin học hóa các hoạt động nghiệp vụ trong các cơ quan nhà nước. Xây dựng và sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng thông tin, trang thông tin điện tử phục vụ việc trao đổi, cung cấp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan và tổ chức, cá nhân. Phấn đấu 100% cán bộ, công chức sử dụng thư điện tử và khai thác thông tin trong công việc.
Hình thành và thúc đẩy phát triển giao dịch điện tử và thương mại điện tử cùng với việc đi vào hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số. Trang thông tin điện tử của các tỉnh, thành phố phải cung cấp và cập nhật đầy đủ thông tin về chính sách, pháp luật, thủ tục hành chính, quy trình làm việc, các dự án đầu tư, đấu thầu và mua sắm công, các hoạt động trên môi trường mạng của các cơ quan, các thông tin thu hút đầu tư qua mạng. Người dân và các doanh nghiệp có thể truy nhập và sử dụng thông tin một cách nhanh chóng, dễ dàng. Một số dịch vụ khai báo, đăng ký, cấp phép được thực hiện trực tuyến.
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp. Tại thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, 60% doanh nghiệp thực hiện báo cáo, thống kê, khai báo thuế, đăng ký và được cấp phép kinh doanh, nhận chứng chỉ qua mạng; Trên 50% doanh nghiệp khai báo, đăng ký và thực hiện các thủ tục Hải quan qua mạng. Khoảng 60% các doanh nghiệp lớn nắm vững kỹ năng kinh doanh trên mạng và tiến hành các giao dịch điện tử, 70% các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhận thức được lợi ích của thương mại điện tử và có những ứng dụng nhất định trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Định hướng phát triển đến năm 2020
Vào năm 2015, hoàn thành xây dựng các công trình lớn về kết cấu hạ tầng thông tin đề gắn kết vùng KTTĐ phía Nam với các vùng lân cận, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long, duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Bảo đảm an toàn, an ninh thông tin cho các hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông. Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin và truyền thông trong mọi lĩnh vực, khai thác có hiệu quả thông tin và tri thức trong tất cả các ngành. Xây dựng và phát triển Việt Nam điện tử với công dân điện tử, chính phủ điện tử, doanh nghiệp điện tử, giao dịch điện tử.
II. NỘI DUNG QUY HOẠCH
1. Phát triển viễn thông
Phát triển mạng chuyển mạch trong vùng, đặc biệt là khu vực thành phố Hồ Chí Minh, các thành phố, thị xã, các khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao, khu dịch vụ kỹ thuật, khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, các cảng, các khu đô thị vệ tinh xung quanh các thành phố lớn, các đô thị mới.
Xây dựng mạng truyền dẫn đón đầu sự phát triển các khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao, khu dịch vụ kỹ thuật, sân bay, bến cảng, các khu đô thị mới, các điểm du lịch. Tăng dung lượng truyền dẫn để phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của các dịch vụ băng rộng. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng cáp tuyến cáp quang biển. Thực hiện cáp quang hóa toàn vùng với công nghệ hiện đại. Sử dụng các công nghệ truyền dẫn tiên tiến đối với mạng truyền dẫn liên tỉnh, mạng truyền dẫn nội tỉnh, nội hạt. Xây dựng mạng theo cấu trúc mạch vòng để bảo đảm an toàn thông tin. Tập trung ưu tiên các tuyến: tuyến theo đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây – Đà Lạt; theo đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Vùng Tàu; theo đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Cần Thơ; theo đường cao tốc Bến Lức – Nhơn Trạch – Long Thành; theo quốc lộ 22: thành phố Hồ Chí Minh – Mộc Bài; theo quốc lộ 50: thành phố Hồ Chí Minh – Gò Công – Mỹ Tho; theo quốc lộ N1, N2: Chơn Thành – Trảng Bảng – Mộc Hóa – Cao Lãnh. Khai thác, sử dụng vệ tinh VINASAT để bảo đảm thông tin liên lạc tới vùng xa, hải đảo. Phát triển mạng ngoại vi theo hướng nâng cao chất lượng, hiện đại hóa. Đến năm 2010 hoàn thành ngầm hóa mạng nội hạt tại các thành phố, thị xã.
Phát triển thông tin di động theo hướng tăng dung lượng, nâng cao chất lượng phủ sóng, mở rộng vùng phủ sóng đến tất cả các xã bám theo quốc lộ, tỉnh lộ và huyện lộ. Phát triển mạnh cung cấp dịch vụ Internet băng rộng. Đẩy mạnh phổ cập Internet đến tất cả các thôn trong vùng, đưa Internet băng rộng về các điểm Bưu điện văn hóa xã.
Phát triển và hiện đại hóa hệ thống thông tin duyên hải. Trang bị bổ sung và hiện đại hóa các đài thông tin duyên hải, trong đó bao gồm các hai đài thông tin duyên hải thành phố Hồ Chí Minh và Vũng Tàu. Đẩy mạnh triển khai phủ sóng các mạng di động mặt đất công cộng trên biển. Xây dựng mạng thông tin chuyên dùng phục vụ công tác quản lý, điều hành trên biển.
Phát triển thị trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp viễn thông và Internet cùng hợp tác và phát triển. Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư và kinh doanh cung cấp dịch vụ viễn thông và Internet, đặc biệt trong lĩnh vực bán lại dịch vụ và cung cấp cấp dịch vụ giá trị gia tăng.
Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin
Phát triển vùng KTTĐ phía Nam từng bước trở thành một trung tâm về công nghiệp phần cứng của khu vực Đông Nam Á với các sản phẩm chủ yếu là máy vi tính, thiết bị điện tử công nghiệp, điện tử viễn thông, điện tử gia dụng, thiết bị nghe nhìn, linh kiện, phụ kiện, bản mạch, chíp điện tử, vật liệu điện tử. Chuyển mạch từ lắp ráp sang tự thiết kế chế tạo một số sản phẩm thương hiệu Việt Nam (máy tính, thiết bị điện tử công nghiệp, điện tử viễn thông, thiết bị nghe nhìn). Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng tăng sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao và nhiều giá trị gia tăng. Phấn đấu tăng tỷ trọng sản phẩm điện tử chuyên dụng lên 50% tổng sản lượng sản phẩm điện tử, đa dạng hóa sản phẩm, đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu. Phát triển công nghiệp phụ trợ, sản xuất linh kiện, vật liệu điện tử.
Tập trung phát triển sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, có hàm lượng tri thức, đòi hỏi ít nhân công lao động (sản xuất vật liệu bán dẫn, các loại chip điện tử) tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn khác như Biên Hòa, Vũng Tàu. Xây dựng từ 3 tới 5 doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao trong khu vực Đông Nam Á. Phát triển các khu công nghiệp liên hiệp sản xuất các sản phẩm phần cứng và điện tử tại Đồng Nai và Bình Dương. Thu hút đầu tư phát triển công nghiệp phần cứng vào các khu công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu. Trên cơ sở khai thác lợi thế đất đai và nguồn lao động địa phương, chuẩn bị các điều kiện thuận lợi, kêu gọi đầu tư xây dựng các nhà máy lắp ráp, sản xuất các thiết bị phần cứng và điện tử hoàn chỉnh với qui mô lớn, công nghệ hiện đại tại các tỉnh Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang trong giai đoạn sau 2010.
Phát triển công nghiệp phần mềm và công nghiệp nội dung là hướng ưu tiên quan trọng trên cơ sở tận dụng lợi thế về nguồn nhân lực và các quan hệ hợp tác giữa thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh, thành phố trong vùng với người Việt Nam ở nước ngoài. Tập trung phát triển vùng KTTĐ phía Nam, mà hạt nhân là thành phố Hồ Chí Minh trở thành một trung tâm về sản xuất phần mềm, dịch vụ công nghệ thông tin ở khu vực Đông Nam Á. Khu vực thành phố Hồ Chí Minh thu hút đầu tư phát triển công nghiệp phần mềm tại Công viên phần mềm Quang Trung, khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh, công viên phần mềm Sài gòn và các khu công nghệ cao khác. Đẩy mạnh đầu từ xây dựng cơ sở hạ tầng tốt để thu hút các dự án phát triển phần mềm hướng xuất khẩu. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin trình độ cao để đáp ứng nhu cầu phát triển của công nghiệp công nghệ thông tin nói chung và công nghiệp phần mềm và công nghệ nội dung nói riêng. Nghiên cứu xây dựng trung tâm khoa học và chuyển giao công nghệ về công nghệ thông tin và trung tâm đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin trình độ cho cả vùng.

Content:
Phát triển ứng dụng công nghệ thông tin
- Mục tiêu đến năm 2010
Trong các cơ quan nhà nước, hệ thống chỉ đạo, điều hành, trao đổi thông tin thông suốt, kịp thời làm công cụ hữu ích cho cải cách hành chính. Tin học hóa các hoạt động nghiệp vụ trong các cơ quan nhà nước. Xây dựng và sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng thông tin, trang thông tin điện tử phục vụ việc trao đổi, cung cấp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan và tổ chức, cá nhân. Phấn đấu 100% cán bộ, công chức sử dụng thư điện tử và khai thác thông tin trong công việc.
Hình thành và thúc đẩy phát triển giao dịch điện tử và thương mại điện tử cùng với việc đi vào hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số. Trang thông tin điện tử của các tỉnh, thành phố phải cung cấp và cập nhật đầy đủ thông tin về chính sách, pháp luật, thủ tục hành chính, quy trình làm việc, các dự án đầu tư, đấu thầu và mua sắm công, các hoạt động trên môi trường mạng của các cơ quan, các thông tin thu hút đầu tư qua mạng. Người dân và các doanh nghiệp có thể truy nhập và sử dụng thông tin một cách nhanh chóng, dễ dàng. Một số dịch vụ khai báo, đăng ký, cấp phép được thực hiện trực tuyến.
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp. Tại thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, 60% doanh nghiệp thực hiện báo cáo, thống kê, khai báo thuế, đăng ký và được cấp phép kinh doanh, nhận chứng chỉ qua mạng; Trên 50% doanh nghiệp khai báo, đăng ký và thực hiện các thủ tục Hải quan qua mạng. Khoảng 60% các doanh nghiệp lớn nắm vững kỹ năng kinh doanh trên mạng và tiến hành các giao dịch điện tử, 70% các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhận thức được lợi ích của thương mại điện tử và có những ứng dụng nhất định trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Định hướng phát triển đến năm 2020
Vào năm 2015, hoàn thành xây dựng các công trình lớn về kết cấu hạ tầng thông tin đề gắn kết vùng KTTĐ phía Nam với các vùng lân cận, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long, duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Bảo đảm an toàn, an ninh thông tin cho các hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông. Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin và truyền thông trong mọi lĩnh vực, khai thác có hiệu quả thông tin và tri thức trong tất cả các ngành. Xây dựng và phát triển Việt Nam điện tử với công dân điện tử, chính phủ điện tử, doanh nghiệp điện tử, giao dịch điện tử.
II. NỘI DUNG QUY HOẠCH
1. Phát triển viễn thông
Phát triển mạng chuyển mạch trong vùng, đặc biệt là khu vực thành phố Hồ Chí Minh, các thành phố, thị xã, các khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao, khu dịch vụ kỹ thuật, khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, các cảng, các khu đô thị vệ tinh xung quanh các thành phố lớn, các đô thị mới.
Xây dựng mạng truyền dẫn đón đầu sự phát triển các khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao, khu dịch vụ kỹ thuật, sân bay, bến cảng, các khu đô thị mới, các điểm du lịch. Tăng dung lượng truyền dẫn để phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của các dịch vụ băng rộng. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng cáp tuyến cáp quang biển. Thực hiện cáp quang hóa toàn vùng với công nghệ hiện đại. Sử dụng các công nghệ truyền dẫn tiên tiến đối với mạng truyền dẫn liên tỉnh, mạng truyền dẫn nội tỉnh, nội hạt. Xây dựng mạng theo cấu trúc mạch vòng để bảo đảm an toàn thông tin. Tập trung ưu tiên các tuyến: tuyến theo đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây – Đà Lạt; theo đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Vùng Tàu; theo đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Cần Thơ; theo đường cao tốc Bến Lức – Nhơn Trạch – Long Thành; theo quốc lộ 22: thành phố Hồ Chí Minh – Mộc Bài; theo quốc lộ 50: thành phố Hồ Chí Minh – Gò Công – Mỹ Tho; theo quốc lộ N1, N2: Chơn Thành – Trảng Bảng – Mộc Hóa – Cao Lãnh. Khai thác, sử dụng vệ tinh VINASAT để bảo đảm thông tin liên lạc tới vùng xa, hải đảo. Phát triển mạng ngoại vi theo hướng nâng cao chất lượng, hiện đại hóa. Đến năm 2010 hoàn thành ngầm hóa mạng nội hạt tại các thành phố, thị xã.
Phát triển thông tin di động theo hướng tăng dung lượng, nâng cao chất lượng phủ sóng, mở rộng vùng phủ sóng đến tất cả các xã bám theo quốc lộ, tỉnh lộ và huyện lộ. Phát triển mạnh cung cấp dịch vụ Internet băng rộng. Đẩy mạnh phổ cập Internet đến tất cả các thôn trong vùng, đưa Internet băng rộng về các điểm Bưu điện văn hóa xã.
Phát triển và hiện đại hóa hệ thống thông tin duyên hải. Trang bị bổ sung và hiện đại hóa các đài thông tin duyên hải, trong đó bao gồm các hai đài thông tin duyên hải thành phố Hồ Chí Minh và Vũng Tàu. Đẩy mạnh triển khai phủ sóng các mạng di động mặt đất công cộng trên biển. Xây dựng mạng thông tin chuyên dùng phục vụ công tác quản lý, điều hành trên biển.
Phát triển thị trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp viễn thông và Internet cùng hợp tác và phát triển. Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư và kinh doanh cung cấp dịch vụ viễn thông và Internet, đặc biệt trong lĩnh vực bán lại dịch vụ và cung cấp cấp dịch vụ giá trị gia tăng.
Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin
Phát triển vùng KTTĐ phía Nam từng bước trở thành một trung tâm về công nghiệp phần cứng của khu vực Đông Nam Á với các sản phẩm chủ yếu là máy vi tính, thiết bị điện tử công nghiệp, điện tử viễn thông, điện tử gia dụng, thiết bị nghe nhìn, linh kiện, phụ kiện, bản mạch, chíp điện tử, vật liệu điện tử. Chuyển mạch từ lắp ráp sang tự thiết kế chế tạo một số sản phẩm thương hiệu Việt Nam (máy tính, thiết bị điện tử công nghiệp, điện tử viễn thông, thiết bị nghe nhìn). Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng tăng sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao và nhiều giá trị gia tăng. Phấn đấu tăng tỷ trọng sản phẩm điện tử chuyên dụng lên 50% tổng sản lượng sản phẩm điện tử, đa dạng hóa sản phẩm, đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu. Phát triển công nghiệp phụ trợ, sản xuất linh kiện, vật liệu điện tử.
Tập trung phát triển sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, có hàm lượng tri thức, đòi hỏi ít nhân công lao động (sản xuất vật liệu bán dẫn, các loại chip điện tử) tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn khác như Biên Hòa, Vũng Tàu. Xây dựng từ 3 tới 5 doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao trong khu vực Đông Nam Á. Phát triển các khu công nghiệp liên hiệp sản xuất các sản phẩm phần cứng và điện tử tại Đồng Nai và Bình Dương. Thu hút đầu tư phát triển công nghiệp phần cứng vào các khu công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu. Trên cơ sở khai thác lợi thế đất đai và nguồn lao động địa phương, chuẩn bị các điều kiện thuận lợi, kêu gọi đầu tư xây dựng các nhà máy lắp ráp, sản xuất các thiết bị phần cứng và điện tử hoàn chỉnh với qui mô lớn, công nghệ hiện đại tại các tỉnh Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang trong giai đoạn sau 2010.
Phát triển công nghiệp phần mềm và công nghiệp nội dung là hướng ưu tiên quan trọng trên cơ sở tận dụng lợi thế về nguồn nhân lực và các quan hệ hợp tác giữa thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh, thành phố trong vùng với người Việt Nam ở nước ngoài. Tập trung phát triển vùng KTTĐ phía Nam, mà hạt nhân là thành phố Hồ Chí Minh trở thành một trung tâm về sản xuất phần mềm, dịch vụ công nghệ thông tin ở khu vực Đông Nam Á. Khu vực thành phố Hồ Chí Minh thu hút đầu tư phát triển công nghiệp phần mềm tại Công viên phần mềm Quang Trung, khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh, công viên phần mềm Sài gòn và các khu công nghệ cao khác. Đẩy mạnh đầu từ xây dựng cơ sở hạ tầng tốt để thu hút các dự án phát triển phần mềm hướng xuất khẩu. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin trình độ cao để đáp ứng nhu cầu phát triển của công nghiệp công nghệ thông tin nói chung và công nghiệp phần mềm và công nghệ nội dung nói riêng. Nghiên cứu xây dựng trung tâm khoa học và chuyển giao công nghệ về công nghệ thông tin và trung tâm đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin trình độ cho cả vùng.