Document: Điểm d Khoản 2 Điều 1 Quyết định 879/TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội Thanh Hoá 1996-2000

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/11/1996", "sign_number": "879/TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/11/1996", "sign_number": "879/TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/11/1996", "sign_number": "879/TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/11/1996", "sign_number": "879/TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "23/11/1996", "sign_number": "879/TTg", "signer": "Võ Văn Kiệt", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm d Khoản 2 Điều 1 Quyết định 879/TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội Thanh Hoá 1996-2000

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hoá thời kỳ 1996 -2010 với những nội dung chủ yếu như sau:
...
2. Những nhiệm vụ phát triển chủ yếu:
...
d) Về phát triển cơ sở hạ tầng:
Phát triển nhanh giao thông đường bộ, đường thuỷ, tạo sự gắn kết giữa miền núi và miền xuôi trong tỉnh, giữa tỉnh với đồng bằng sông Hồng và các tỉnh lân cận, chú trọng giao thông nông thôn, miền núi. Nâng cấp và xây dựng mới các tuyến đường 1A, 15, 47, 45, 217. Phát triển hệ thống cảng sông, nâng cấp cảng Lễ Môn, xây dựng cảng biển nước sâu Nghi Sơn (Tĩnh Gia) trong hệ thống cảng biển toàn quốc. Phát triển hệ thống thuỷ lợi vừa bảo đảm cung cấp nước cho sản xuất, đời sống vừa hạn chế tác tại của hạn hán, bão lụt: Xây dựng đập sông Lèn, hồ đập cửa Đạt. Bảo đảm các yêu cầu về điện năng, thông tin liên lạc, nước sạch... cho sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Cần có phương án kết hợp kinh tế với quốc phòng để sử đụng sân bay Sao Vàng, hoặc xây dựng sân bay mới.
e) Về phát triển giáo dục, văn hoá - xã hội:
Cần phát triển và nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục, đào tạo nhằm đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xây dựng trường Đại học hoặc Cao đẳng phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn lực cho tỉnh và khu vực. Phát triển mạng lưới chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh cho nhân dân, thực hiện tốt chương trình dân số, kế hoạch hoá gia đình. Mở rộng mạng lưới phát thanh truyền hình, phát hành sách báo... đẩy mạnh phong trào xoá đói giảm nghèo, chăm sóc các gia đình thuộc diện chính sách. Vận động nhân dân xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ tệ nạn xã hội.
g) Về phát triển các vùng lãnh thổ:
Phát huy thế mạnh của 3 vùng để hỗ trợ lẫn nhau:
- Miền núi của Thanh Hóa diện tích và dân số khá lớn, cần được chú ý đầu tư cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông, điện và các tụ điểm kinh tế; đồng thời tạo ra các vùng cây nguyên liệu cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả có giá trị, phát triển chăn nuôi gia súc có sừng gắn với công nghiệp chế biến. Thực hiện tốt chính sách phát triển vùng dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nước. Khai thác có hiệu quả các tiềm năng để đẩy nhanh sự phát triển về mọi mặt từng bước khắc phục nghèo nàn, rút ngắn khoảng cách về đời sống kinh tế - xã hội so với miền xuôi.
- Đồng bằng: Cần đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất cây trồng, bảo đảm ổn định lương thực đi đôi với chuyển đổi cơ cấu cây trồng; vật nuôi theo hướng có sản lượng hàng hoá giá trị kinh tế cao. Phát triển ngành nghề công nghiệp, tiêu thủ công nghiệp, dịch vụ giải quyết nhiều việc làm.
- Miền biển: Đầu tư một số vùng trọng điểm, để có tốc độ phát triển cao hơn các vùng khác; phát triển kinh tế biển, xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với yêu cầu mở cửa kinh tế hàng hoá như: Cảng biển, đường vào các khu công nghiệp, các đô thị dịch vụ và du lịch.
Quy hoạch rõ cơ cấu, quy mô, chức năng các đô thị, khu công nghiệp làm động lực cho phát triển kinh tế xã hội toàn tỉnh: Các đô thị khu công nghiệp Nghi Sơn, Vân Du, Lam Sơn; nâng cấp và mở rộng thành phố Thanh Hoá, thị xã Sầm Sơn, Bỉm Sơn theo tiêu chuẩn đô thị mới tiến lên hiện đại.
Xây dựng vùng nông thôn ngày càng phát triển, bố trí lại dân cư theo hướng đô thị hoá, mở mang sản xuất công nghiệp, dịch vụ để phân công lại lao động, giải quyết việc làm tại chỗ, quan tâm các vùng nghèo, miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo có nhiều khó khăn.
III- Những giải pháp chủ yếu
Phải có hệ thống biện pháp đồng bộ nhằm huy động các nguồn lực trong nước, ngoài nước để đầu tư thực hiện quy hoạch. Xây dựng các chương trình dự án khả thi, kế hoạch trung hạn, ngắn hạn phù hợp mục tiêu phương hướng nhiệm vụ của quy hoạch. Đồng thời theo sát điễn biến của tình hình để có những điều chỉnh cần thiết.
Nghiên cứu đề xuất với Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các cơ chế chính sách có hiệu quả về huy động vốn đầu tư, phát triển thị trường phát triển nguồn nhân lực phát triển về khoa học và công nghệ xây dựng đô thị và phát triển nông thôn, miền núi.

Content:
Về phát triển cơ sở hạ tầng:
Phát triển nhanh giao thông đường bộ, đường thuỷ, tạo sự gắn kết giữa miền núi và miền xuôi trong tỉnh, giữa tỉnh với đồng bằng sông Hồng và các tỉnh lân cận, chú trọng giao thông nông thôn, miền núi. Nâng cấp và xây dựng mới các tuyến đường 1A, 15, 47, 45, 217. Phát triển hệ thống cảng sông, nâng cấp cảng Lễ Môn, xây dựng cảng biển nước sâu Nghi Sơn (Tĩnh Gia) trong hệ thống cảng biển toàn quốc. Phát triển hệ thống thuỷ lợi vừa bảo đảm cung cấp nước cho sản xuất, đời sống vừa hạn chế tác tại của hạn hán, bão lụt: Xây dựng đập sông Lèn, hồ đập cửa Đạt. Bảo đảm các yêu cầu về điện năng, thông tin liên lạc, nước sạch... cho sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Cần có phương án kết hợp kinh tế với quốc phòng để sử đụng sân bay Sao Vàng, hoặc xây dựng sân bay mới.
e) Về phát triển giáo dục, văn hoá - xã hội:
Cần phát triển và nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục, đào tạo nhằm đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xây dựng trường Đại học hoặc Cao đẳng phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn lực cho tỉnh và khu vực. Phát triển mạng lưới chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh cho nhân dân, thực hiện tốt chương trình dân số, kế hoạch hoá gia đình. Mở rộng mạng lưới phát thanh truyền hình, phát hành sách báo... đẩy mạnh phong trào xoá đói giảm nghèo, chăm sóc các gia đình thuộc diện chính sách. Vận động nhân dân xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ tệ nạn xã hội.
g) Về phát triển các vùng lãnh thổ:
Phát huy thế mạnh của 3 vùng để hỗ trợ lẫn nhau:
- Miền núi của Thanh Hóa diện tích và dân số khá lớn, cần được chú ý đầu tư cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông, điện và các tụ điểm kinh tế; đồng thời tạo ra các vùng cây nguyên liệu cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả có giá trị, phát triển chăn nuôi gia súc có sừng gắn với công nghiệp chế biến. Thực hiện tốt chính sách phát triển vùng dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nước. Khai thác có hiệu quả các tiềm năng để đẩy nhanh sự phát triển về mọi mặt từng bước khắc phục nghèo nàn, rút ngắn khoảng cách về đời sống kinh tế - xã hội so với miền xuôi.
- Đồng bằng: Cần đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất cây trồng, bảo đảm ổn định lương thực đi đôi với chuyển đổi cơ cấu cây trồng; vật nuôi theo hướng có sản lượng hàng hoá giá trị kinh tế cao. Phát triển ngành nghề công nghiệp, tiêu thủ công nghiệp, dịch vụ giải quyết nhiều việc làm.
- Miền biển: Đầu tư một số vùng trọng điểm, để có tốc độ phát triển cao hơn các vùng khác; phát triển kinh tế biển, xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với yêu cầu mở cửa kinh tế hàng hoá như: Cảng biển, đường vào các khu công nghiệp, các đô thị dịch vụ và du lịch.
Quy hoạch rõ cơ cấu, quy mô, chức năng các đô thị, khu công nghiệp làm động lực cho phát triển kinh tế xã hội toàn tỉnh: Các đô thị khu công nghiệp Nghi Sơn, Vân Du, Lam Sơn; nâng cấp và mở rộng thành phố Thanh Hoá, thị xã Sầm Sơn, Bỉm Sơn theo tiêu chuẩn đô thị mới tiến lên hiện đại.
Xây dựng vùng nông thôn ngày càng phát triển, bố trí lại dân cư theo hướng đô thị hoá, mở mang sản xuất công nghiệp, dịch vụ để phân công lại lao động, giải quyết việc làm tại chỗ, quan tâm các vùng nghèo, miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo có nhiều khó khăn.
III- Những giải pháp chủ yếu
Phải có hệ thống biện pháp đồng bộ nhằm huy động các nguồn lực trong nước, ngoài nước để đầu tư thực hiện quy hoạch. Xây dựng các chương trình dự án khả thi, kế hoạch trung hạn, ngắn hạn phù hợp mục tiêu phương hướng nhiệm vụ của quy hoạch. Đồng thời theo sát điễn biến của tình hình để có những điều chỉnh cần thiết.
Nghiên cứu đề xuất với Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các cơ chế chính sách có hiệu quả về huy động vốn đầu tư, phát triển thị trường phát triển nguồn nhân lực phát triển về khoa học và công nghệ xây dựng đô thị và phát triển nông thôn, miền núi.