Document: Điều 1 Quyết định 23/2019/QĐ-UBND cưỡng chế thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai Lạng Sơn

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Lạng Sơn", "promulgation_date": "12/08/2019", "sign_number": "23/2019/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Ngọc Thưởng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Lạng Sơn", "promulgation_date": "12/08/2019", "sign_number": "23/2019/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Ngọc Thưởng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Lạng Sơn", "promulgation_date": "12/08/2019", "sign_number": "23/2019/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Ngọc Thưởng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Lạng Sơn", "promulgation_date": "12/08/2019", "sign_number": "23/2019/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Ngọc Thưởng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Lạng Sơn", "promulgation_date": "12/08/2019", "sign_number": "23/2019/QĐ-UBND", "signer": "Phạm Ngọc Thưởng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điều 1 Quyết định 23/2019/QĐ-UBND cưỡng chế thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai Lạng Sơn có nội dung như sau:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định việc cưỡng chế thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai đã có hiệu lực thi hành trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn ban hành kèm theo Quyết định số 32/2018/QĐ-UBND ngày 05 tháng 3 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn như sau:
1. Sửa đổi Khoản 2 Điều 8:
"2. Quyết định cưỡng chế được giao trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm và thông báo cho người bị cưỡng chế biết
a) Đối với trường hợp quyết định được giao trực tiếp mà người bị cưỡng chế cố tình không nhận thì Ủy ban nhân dân xã lập biên bản về việc không nhận quyết định và được coi là quyết định đã được giao.
b) Đối với trường hợp gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm, nếu sau thời hạn 10 ngày, kể từ ngày quyết định cưỡng chế đã được gửi qua đường bưu điện đến lần thứ ba mà bị trả lại do người bị cưỡng chế cố tình không nhận;
quyết định cưỡng chế đã được niêm yết tại nơi cư trú của cá nhân, trụ sở của tổ chức bị cưỡng chế hoặc có căn cứ cho rằng người bị cưỡng chế trốn tránh không nhận quyết định cưỡng chế thì được coi là quyết định đã được giao".
2. Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 11:
"2. Ban thực hiện cưỡng chế có quyền buộc người bị cưỡng chế, người có liên quan phải ra khỏi khu đất cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi nơi cưỡng chế. Nếu người bị cưỡng chế, người có liên quan không thực hiện thì Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm di chuyển người bị cưỡng chế, người có liên quan cùng tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế.
Trường hợp người bị cưỡng chế, người có liên quan từ chối nhận tài sản, thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản thống kê tài sản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản và lập biên bản bàn giao tài sản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện cưỡng chế bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật và thông báo cho chủ sở hữu đến nhận lại tài sản; biên bản phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của đại diện bên bàn giao, bên nhận bảo quản tài sản, đại diện chính quyền địa phương và hai người chứng kiến. Nếu chủ sở hữu nhận lại tài sản thì biên bản giao nhận tài sản phải có chữ ký của chủ sở hữu tài sản.
Biên bản thống kê tài sản trong quá trình cưỡng chế thực hiện Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai thực hiện theo Mẫu số 16 kèm theo Quyết định này.
Biên bản bàn giao để bảo quản tài sản trong quá trình cưỡng chế thực hiện Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai thực hiện theo Mẫu số 17 kèm theo Quyết định này.
3. Sửa đổi Khoản 4 Điều 11:
"Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản giao đất tại thực địa cho người được công nhận quyền sử dụng hợp pháp theo quy định, biên bản bàn giao đất phải có chữ ký của đại diện Ban thực hiện cưỡng chế, đối tượng nhận bàn giao đất và xác nhận của chính quyền địa phương.
Biên bản bàn giao đất cưỡng chế thực hiện Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai thực hiện theo Mẫu số 20 ban hành kèm theo Quyết định này."

Content:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định việc cưỡng chế thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai đã có hiệu lực thi hành trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn ban hành kèm theo Quyết định số 32/2018/QĐ-UBND ngày 05 tháng 3 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn như sau:
1. Sửa đổi Khoản 2 Điều 8:
"2. Quyết định cưỡng chế được giao trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm và thông báo cho người bị cưỡng chế biết
a) Đối với trường hợp quyết định được giao trực tiếp mà người bị cưỡng chế cố tình không nhận thì Ủy ban nhân dân xã lập biên bản về việc không nhận quyết định và được coi là quyết định đã được giao.
b) Đối với trường hợp gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm, nếu sau thời hạn 10 ngày, kể từ ngày quyết định cưỡng chế đã được gửi qua đường bưu điện đến lần thứ ba mà bị trả lại do người bị cưỡng chế cố tình không nhận;
quyết định cưỡng chế đã được niêm yết tại nơi cư trú của cá nhân, trụ sở của tổ chức bị cưỡng chế hoặc có căn cứ cho rằng người bị cưỡng chế trốn tránh không nhận quyết định cưỡng chế thì được coi là quyết định đã được giao".
2. Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 11:
"2. Ban thực hiện cưỡng chế có quyền buộc người bị cưỡng chế, người có liên quan phải ra khỏi khu đất cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi nơi cưỡng chế. Nếu người bị cưỡng chế, người có liên quan không thực hiện thì Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm di chuyển người bị cưỡng chế, người có liên quan cùng tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế.
Trường hợp người bị cưỡng chế, người có liên quan từ chối nhận tài sản, thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản thống kê tài sản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản và lập biên bản bàn giao tài sản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện cưỡng chế bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật và thông báo cho chủ sở hữu đến nhận lại tài sản; biên bản phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của đại diện bên bàn giao, bên nhận bảo quản tài sản, đại diện chính quyền địa phương và hai người chứng kiến. Nếu chủ sở hữu nhận lại tài sản thì biên bản giao nhận tài sản phải có chữ ký của chủ sở hữu tài sản.
Biên bản thống kê tài sản trong quá trình cưỡng chế thực hiện Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai thực hiện theo Mẫu số 16 kèm theo Quyết định này.
Biên bản bàn giao để bảo quản tài sản trong quá trình cưỡng chế thực hiện Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai thực hiện theo Mẫu số 17 kèm theo Quyết định này.
3. Sửa đổi Khoản 4 Điều 11:
"Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản giao đất tại thực địa cho người được công nhận quyền sử dụng hợp pháp theo quy định, biên bản bàn giao đất phải có chữ ký của đại diện Ban thực hiện cưỡng chế, đối tượng nhận bàn giao đất và xác nhận của chính quyền địa phương.
Biên bản bàn giao đất cưỡng chế thực hiện Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai thực hiện theo Mẫu số 20 ban hành kèm theo Quyết định này."