Document: Điều 19 Thông tư 33/2010/TT-BTNMT thăm dò phân cấp trữ lượng tài nguyên mới nhất

Type: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "09/12/2010", "sign_number": "33/2010/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "09/12/2010", "sign_number": "33/2010/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "09/12/2010", "sign_number": "33/2010/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "09/12/2010", "sign_number": "33/2010/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Tài nguyên và Môi trường", "promulgation_date": "09/12/2010", "sign_number": "33/2010/TT-BTNMT", "signer": "Phạm Khôi Nguyên", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 19 Thông tư 33/2010/TT-BTNMT thăm dò phân cấp trữ lượng tài nguyên mới nhất có nội dung như sau:

Điều 19. Yêu cầu về công tác lấy và gia công mẫu
1. Công tác lấy mẫu
a) Tất cả các công trình thăm dò, cũng như công trình khai thác phải được mô tả chi tiết, các công trình gặp quặng phải được lấy mẫu để nghiên cứu chất lượng. Kết quả lấy mẫu được đưa vào tài liệu nguyên thủy và phải được kiểm tra đối chiếu với mô tả địa chất;
b) Phương pháp lấy mẫu được thực hiện trên cơ sở đặc điểm địa chất cụ thể của mỏ, phải đảm bảo độ tin cậy cao nhất và tính hiệu quả kinh tế. Trường hợp sử dụng nhiều phương pháp lấy mẫu cần so sánh về độ tin cậy và tính đầy đủ của kết quả;
c) Việc lấy mẫu tại các công trình thăm dò được thực hiện theo các điều kiện sau:
Mạng lưới lấy mẫu phải ổn định, mật độ mạng lưới lấy mẫu được quyết định bởi các điều kiện địa chất của thân quặng. Các mẫu phải được lấy theo hướng quặng hóa biến đổi nhất, lấy liên tục hết chiều dày thân quặng.
Các dạng tự nhiên của quặng và đá chứa khoáng hóa phải được lấy mẫu riêng bằng các mẫu rãnh. Chiều dài các rãnh mẫu được quyết định bởi cấu tạo bên trong của thân quặng, sự biến đổi thành phần vật chất, đặc điểm cấu tạo, kiến trúc, tính chất cơ lý và các tính chất khác của quặng. Trong các khoảng có độ thu hồi lõi khoan rất khác nhau phải lấy mẫu riêng.
d) Chất lượng lấy mẫu của từng phương pháp cần được kiểm tra có hệ thống để đánh giá độ tin cậy và tính chất đầy đủ của các kết quả.
Độ tin cậy của lấy mẫu lõi khoan cần được kiểm tra bằng cách lấy mẫu ở 1/2 mẫu lõi khoan còn lại.
đ) Mẫu thử nghiệm công nghệ phải mang tính đại diện, tức là mẫu phải có thành phần hóa học, khoáng vật, tính chất cơ lý, độ hạt và những tính chất khác phù hợp với thành phần trung bình của từng dạng, từng kiểu quặng sắt hoặc của toàn mỏ.
e) Mẫu thể trọng lớn lấy với số lượng 3-5 mẫu cho từng dạng quặng tự nhiên và cho các lớp không đạt chỉ tiêu bên trong thân quặng. Kèm theo mỗi mẫu thể trọng lớn phải lấy thêm 3 - 4 mẫu thể trọng và độ ẩm trong phòng để kiểm tra, đối chiếu. Thể tích của mẫu thể trọng lớn dao động từ 0,5 đến 1m3.
Đối với quặng đặc xít thể trọng quặng được xác định chủ yếu bằng các mẫu thể trọng nhỏ và được kiểm tra bằng mẫu thể trọng lớn. Đối với quặng bở rời, quặng nứt nẻ mạnh và quặng lỗ hổng thể trọng quặng được xác định bằng mẫu thể trọng lớn. Cùng với thể trọng phải xác định độ ẩm của quặng.
2. Công tác gia công mẫu
Việc gia công và rút gọn mẫu phân tích hóa được thực hiện theo sơ đồ gia công xác lập cho từng mỏ. Tính đúng đắn của sơ đồ gia công và hệ số rút gọn k phải được kiểm tra bằng các số liệu của các mỏ tương tự hoặc bằng các tài liệu khai thác. Sơ đồ gia công mẫu được lập theo công thức Q = kd2, trong đó: hệ số k lấy bằng 0,05 khi chất lượng quặng ổn định, lấy bằng 0,1 khi chất lượng quặng không ổn định, hoặc hàm lượng tạp chất có hại trong quặng xấp xỉ giới hạn cho phép của chỉ tiêu. Chất lượng gia công mẫu phải được kiểm tra một cách hệ thống ở tất cả các công đoạn, phải luận giải hệ số k và sự tuân thủ sơ đồ gia công. Tất cả mẫu hóa cơ bản trước khi phân tích đều phải gia công đến cỡ hạt 0,074mm.

Content:
Điều 19. Yêu cầu về công tác lấy và gia công mẫu
1. Công tác lấy mẫu
a) Tất cả các công trình thăm dò, cũng như công trình khai thác phải được mô tả chi tiết, các công trình gặp quặng phải được lấy mẫu để nghiên cứu chất lượng. Kết quả lấy mẫu được đưa vào tài liệu nguyên thủy và phải được kiểm tra đối chiếu với mô tả địa chất;
b) Phương pháp lấy mẫu được thực hiện trên cơ sở đặc điểm địa chất cụ thể của mỏ, phải đảm bảo độ tin cậy cao nhất và tính hiệu quả kinh tế. Trường hợp sử dụng nhiều phương pháp lấy mẫu cần so sánh về độ tin cậy và tính đầy đủ của kết quả;
c) Việc lấy mẫu tại các công trình thăm dò được thực hiện theo các điều kiện sau:
Mạng lưới lấy mẫu phải ổn định, mật độ mạng lưới lấy mẫu được quyết định bởi các điều kiện địa chất của thân quặng. Các mẫu phải được lấy theo hướng quặng hóa biến đổi nhất, lấy liên tục hết chiều dày thân quặng.
Các dạng tự nhiên của quặng và đá chứa khoáng hóa phải được lấy mẫu riêng bằng các mẫu rãnh. Chiều dài các rãnh mẫu được quyết định bởi cấu tạo bên trong của thân quặng, sự biến đổi thành phần vật chất, đặc điểm cấu tạo, kiến trúc, tính chất cơ lý và các tính chất khác của quặng. Trong các khoảng có độ thu hồi lõi khoan rất khác nhau phải lấy mẫu riêng.
d) Chất lượng lấy mẫu của từng phương pháp cần được kiểm tra có hệ thống để đánh giá độ tin cậy và tính chất đầy đủ của các kết quả.
Độ tin cậy của lấy mẫu lõi khoan cần được kiểm tra bằng cách lấy mẫu ở 1/2 mẫu lõi khoan còn lại.
đ) Mẫu thử nghiệm công nghệ phải mang tính đại diện, tức là mẫu phải có thành phần hóa học, khoáng vật, tính chất cơ lý, độ hạt và những tính chất khác phù hợp với thành phần trung bình của từng dạng, từng kiểu quặng sắt hoặc của toàn mỏ.
e) Mẫu thể trọng lớn lấy với số lượng 3-5 mẫu cho từng dạng quặng tự nhiên và cho các lớp không đạt chỉ tiêu bên trong thân quặng. Kèm theo mỗi mẫu thể trọng lớn phải lấy thêm 3 - 4 mẫu thể trọng và độ ẩm trong phòng để kiểm tra, đối chiếu. Thể tích của mẫu thể trọng lớn dao động từ 0,5 đến 1m3.
Đối với quặng đặc xít thể trọng quặng được xác định chủ yếu bằng các mẫu thể trọng nhỏ và được kiểm tra bằng mẫu thể trọng lớn. Đối với quặng bở rời, quặng nứt nẻ mạnh và quặng lỗ hổng thể trọng quặng được xác định bằng mẫu thể trọng lớn. Cùng với thể trọng phải xác định độ ẩm của quặng.
2. Công tác gia công mẫu
Việc gia công và rút gọn mẫu phân tích hóa được thực hiện theo sơ đồ gia công xác lập cho từng mỏ. Tính đúng đắn của sơ đồ gia công và hệ số rút gọn k phải được kiểm tra bằng các số liệu của các mỏ tương tự hoặc bằng các tài liệu khai thác. Sơ đồ gia công mẫu được lập theo công thức Q = kd2, trong đó: hệ số k lấy bằng 0,05 khi chất lượng quặng ổn định, lấy bằng 0,1 khi chất lượng quặng không ổn định, hoặc hàm lượng tạp chất có hại trong quặng xấp xỉ giới hạn cho phép của chỉ tiêu. Chất lượng gia công mẫu phải được kiểm tra một cách hệ thống ở tất cả các công đoạn, phải luận giải hệ số k và sự tuân thủ sơ đồ gia công. Tất cả mẫu hóa cơ bản trước khi phân tích đều phải gia công đến cỡ hạt 0,074mm.