Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 485/QĐ-UBND 2009 quy hoạch quản lý chất thải rắn Thanh Hoá

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "18/02/2009", "sign_number": "485/QĐ-UBND", "signer": "Mai Văn Ninh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "18/02/2009", "sign_number": "485/QĐ-UBND", "signer": "Mai Văn Ninh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "18/02/2009", "sign_number": "485/QĐ-UBND", "signer": "Mai Văn Ninh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "18/02/2009", "sign_number": "485/QĐ-UBND", "signer": "Mai Văn Ninh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "18/02/2009", "sign_number": "485/QĐ-UBND", "signer": "Mai Văn Ninh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 485/QĐ-UBND 2009 quy hoạch quản lý chất thải rắn Thanh Hoá

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch quản lý chất thải rắn (CTR) tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, với nội dung sau:
...
4.204000

1,1
0,6
0,77

526.100
614.076
1.176.176

80
50
64,3

449.680
307.038
756.718

* Phương án quản lý, xử lý CTR sinh hoạt của tỉnh như sau:
- Khu vực đô thị (loại I đến loại IV) áp dụng các khu xử lý tập trung với công suất mỗi cơ sở từ 100 – 500 tấn/ngày.
Toàn tỉnh quy hoạch 5 khu xử lý CTR tổng hợp quy mô lớn là:
+ Khu vực Thành phố Thanh Hoá (Bao gồm cả: Thị xã Sầm Sơn, các huyện: Quảng Xương, Đông Sơn, Nông Cống) địa điểm tại xã Đông Nam, huyện Đông Sơn, công suất 500 tấn/ngày (giai đoạn I: 250 tấn/ngày), diện tích đất xây dựng tối thiểu 30 ha.
+ Khu vực Thị xã Bỉm Sơn (Bao gồm cả: huyện Hà Trung, Thị trấn Vân Du, huyện Nga Sơn) địa điểm tại Phường Đông Sơn, công suất 250 tấn/ngày, diện tích đất xây dựng tối thiểu 15 ha.
+ Khu vực Tĩnh gia (Bao gồm cả: huyện Tĩnh Gia và Khu kinh tế Nghi Sơn) địa điểm tại xã Trường Lâm (theo Quyết định số: 1364 /QĐ-TTg ngày 10/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch chung Khu kinh tế Nghi Sơn), công suất 500 tấn/ngày (giai đoạn I: 250 tấn/ngày), diện tích đất xây dựng tối thiểu 30 ha.
+ Khu vực Ngọc Lặc, Cẩm Thuỷ, địa điểm tại xã Cẩm Châu, huyện Cẩm Thủy, công suất 200 tấn/ngày, diện tích đất xây dựng tối thiểu 15 ha.
+ Khu vực Thọ Xuân (gồm: huyện Thọ Xuân + đô thị Lam Sơn - Sao Vàng) địa điểm tại xã Xuân Phú (theo Quyết định phê duyệt quy hoạch chung xây dựng đô thị Lam Sơn - Sao Vàng số: 520/QĐ-UB ngày 02/3/2001 của UBND tỉnh), công suất 250 tấn/ngày, diện tích đất xây dựng tối thiểu 15 ha.
- Khu vực thị trấn (đô thị loại V) và nông thôn vùng đồng bằng, trung du lân cận thị trấn, áp dụng công nghệ xử lý phù hợp với quy mô công suất từ 5 – 30 tấn/ngày. Mỗi cơ sở xử lý 5 tấn/ngày áp dụng với quy mô 10.000 - 15.000 dân, cơ sở xử lý 30 tấn/ngày áp dụng với quy mô 50.000 - 70.000 dân. Địa điểm xây dựng căn cứ quy hoạch các huyện lựa chọn trình duyệt theo quy định.
- Khu vực các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa có thể sử dụng hình thức tổ hợp vườn, ao, chuồng (VAC): Sử dụng thùng chứa rác, hố chứa rác tự phân huỷ, hố ủ phân trát bùn tại các hộ gia đình để xử lý CTR sinh hoạt.
b. Quản lý, xử lý CTR công nghiệp
- Dự báo nguồn chất thải rắn công nghiệp:
Công nghiệp Xi măng, vật liệu nung: Khối lượng chất thải rắn tương đối lớn có thể tận dụng làm nguyên liệu sản xuất vật liệu không nung phục vụ xây dựng tại chỗ.
Công nghiệp đường mía: Chất thải rắn khối lượng lớn chủ yếu là bã mía. Theo công nghệ sản xuất hiện tại bã mía này được sử dụng đun nồi hơi và lò nấu, phần bã vụn được tận dụng sản xuất phân hữu cơ vi sinh.
Các ngành công nghiệp khác hiện nay chưa phát triển mạnh ở Thanh Hoá, nhưng trong tương lai sẽ có nhiều loại hình mới như luyện kim, lọc dầu, hoá dầu …, chất thải rắn của các loại hình này cần được phân tích đánh giá kỹ trong nội dung đánh giá tác động môi trường khi lập dự án đầu tư xây dựng.
- Phương án quản lý, xử lý:
+ Các chủ đầu tư sản xuất tự chịu trách nhiệm thu gom vận chuyển và xử lý CTR; phương án thu gom vận chuyển xử lý CTR cũng như phương án bảo vệ môi trường của mỗi dự án sản xuất công nghiệp phải được thẩm tra theo qui định hiện hành.
+ Tại các khu công nghiệp, khu kinh tế tập trung của tỉnh đã giành quỹ đất theo quy hoạch xây dựng đô thị, khu công nghiệp để tập trung xử lý CTR công nghiệp cùng địa điểm với xử lý CTR sinh hoạt, như đã ghi trong phụ lục (Quy mô, địa điểm các dự án quản lý, xử lý CTR cấp tỉnh quản lý và bản đồ quy hoạch các dự án quản lý, xử lý CTR toàn tỉnh).
c. Quản lý, xử lý CTR nguy hại của các bệnh viện
- Phương pháp xử lý CTR y tế nguy hại tại các bệnh viện tốt nhất hiện nay là sử dụng lò đốt, công suất lò phụ thuộc khối lượng nguồn thải.
- Kế hoạch xây dựng hệ thống lò đốt tại các bệnh viện đã được Sở Y tế lập, các ngành cấp tỉnh thống nhất và đã được UBND tỉnh quyết định:
+ Bệnh viện tuyến tỉnh (tại thành phố Thanh Hoá) từ nay đến 2013 đốt CTR tại lò Hoval 500 kg/mẻ (đã có tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh).
+ Các bệnh viện tuyến huyện và Khu điều trị bệnh phong Cẩm Thủy sẽ đầu tư xử lý bằng lò đốt công suất 10 kg/mẻ (riêng Bệnh viện Đa khoa khu vực Ngọc Lặc có công suất 15 kg/mẻ); Từ năm 2007 đến 2010 tỉnh đã và sẽ đầu tư mới từ 22 đến 24 lò đốt tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện.
d. Khả năng phân loại tại nguồn và phân loại CTR sinh hoạt
Chất thải rắn công nghiệp, CTR nguy hại của bệnh viện và CTR sinh hoạt phải phân loại tách riêng ngay từ đầu để có phương án quản lý, xử lý phù hợp.
e. Tiêu chí lựa chọn công nghệ xử lý CTR sinh hoạt
Khuyến khích lựa chọn, áp dụng công nghệ tiên tiến cho hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải và xử lý triệt để chất thải, giảm thiểu khối lượng chất thải rắn phải chôn lấp, bảo đảm vệ sinh môi trường.
g. Quy mô, vị trí trạm trung chuyển, cơ sở xử lý CTR và công trình phụ trợ
Các trạm trung chuyển CTR phải được bố trí tại các điểm thuận tiện giao thông, không gây cản trở giao thông, không gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và mỹ quan đô thị. Tại thị xã, thành phố, mỗi phường có thể có từ 2 đến 3 trạm trung chuyển, cự li thu gom về trạm trung chuyển tối đa khoảng 1,0 Km. Khu vực nông thôn, mỗi thôn bản dân cư tập trung hoặc hai ba thôn bản nhỏ ở gần nhau có thể hình thành một trạm trung chuyển.
h. Các tiêu chuẩn lựa chọn vị trí đặt cơ sở xử lý CTR
Có diện tích đủ lớn cho xây dựng khu xử lý tổng hợp CTR; có khả năng được cấp quyền sử dụng đất; thích hợp cho thiết kế xây dựng khu xử lý CTR và bảo vệ môi trường, có quỹ đất dự trữ cho phát triển; giao thông thuận lợi và có khoảng cách hợp lý đến các đô thị; xa nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt.
i. Xác định phương thức thu gom và tuyến vận chuyển hợp lý
Phương thức thu gom: Mỗi một cơ sở xử lý CTR cần có một đơn vị thu gom vận chuyển CTR chuyên nghiệp.
Tuyến vận chuyển CTR hợp lý: Tuyến một thu gom vận chuyển về trạm trung chuyển, tuyến hai vận chuyển từ trạm trung chuyển về cơ sở xử lý CTR.
2.3. Về tổng mức đầu tư xử lý CTR sinh hoạt.
80% tổng khối lượng CTR sinh hoạt dự báo đến 2020 là 2.150 tấn/ ngày - đêm thuộc các dự án đầu tư cấp tỉnh quản lý, với tổng kinh phí đầu tư dự kiến 728 tỉ đồng; trong đó ngân sách TW 40%, NS tỉnh 10%, 50% kinh phí còn lại chủ đầu tư dự án vay ngân hàng và hoàn trả trong quá tình hoạt động. 20% khối lượng CTR sinh hoạt còn lại thuộc dự án cấp huyện quản lý; căn cứ quy hoạch quản lý, xử lý CTR của tỉnh phê duyệt, các huyện lập quy hoạch, kế hoạch và chương trình thực hiện các dự án trên địa bàn huyện trình UBND tỉnh phê duyệt hoặc được UBND tỉnh ủy quyền tự phê duyệt để thực hiện.
Tổng diện tích đất dự kiến xây dựng các khu xử lý CTR khoảng 178,0 ha.

Content:
4.204000

1,1
0,6
0,77

526.100
614.076
1.176.176

80
50
64,3

449.680
307.038
756.718

* Phương án quản lý, xử lý CTR sinh hoạt của tỉnh như sau:
- Khu vực đô thị (loại I đến loại IV) áp dụng các khu xử lý tập trung với công suất mỗi cơ sở từ 100 – 500 tấn/ngày.
Toàn tỉnh quy hoạch 5 khu xử lý CTR tổng hợp quy mô lớn là:
+ Khu vực Thành phố Thanh Hoá (Bao gồm cả: Thị xã Sầm Sơn, các huyện: Quảng Xương, Đông Sơn, Nông Cống) địa điểm tại xã Đông Nam, huyện Đông Sơn, công suất 500 tấn/ngày (giai đoạn I: 250 tấn/ngày), diện tích đất xây dựng tối thiểu 30 ha.
+ Khu vực Thị xã Bỉm Sơn (Bao gồm cả: huyện Hà Trung, Thị trấn Vân Du, huyện Nga Sơn) địa điểm tại Phường Đông Sơn, công suất 250 tấn/ngày, diện tích đất xây dựng tối thiểu 15 ha.
+ Khu vực Tĩnh gia (Bao gồm cả: huyện Tĩnh Gia và Khu kinh tế Nghi Sơn) địa điểm tại xã Trường Lâm (theo Quyết định số: 1364 /QĐ-TTg ngày 10/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch chung Khu kinh tế Nghi Sơn), công suất 500 tấn/ngày (giai đoạn I: 250 tấn/ngày), diện tích đất xây dựng tối thiểu 30 ha.
+ Khu vực Ngọc Lặc, Cẩm Thuỷ, địa điểm tại xã Cẩm Châu, huyện Cẩm Thủy, công suất 200 tấn/ngày, diện tích đất xây dựng tối thiểu 15 ha.
+ Khu vực Thọ Xuân (gồm: huyện Thọ Xuân + đô thị Lam Sơn - Sao Vàng) địa điểm tại xã Xuân Phú (theo Quyết định phê duyệt quy hoạch chung xây dựng đô thị Lam Sơn - Sao Vàng số: 520/QĐ-UB ngày 02/3/2001 của UBND tỉnh), công suất 250 tấn/ngày, diện tích đất xây dựng tối thiểu 15 ha.
- Khu vực thị trấn (đô thị loại V) và nông thôn vùng đồng bằng, trung du lân cận thị trấn, áp dụng công nghệ xử lý phù hợp với quy mô công suất từ 5 – 30 tấn/ngày. Mỗi cơ sở xử lý 5 tấn/ngày áp dụng với quy mô 10.000 - 15.000 dân, cơ sở xử lý 30 tấn/ngày áp dụng với quy mô 50.000 - 70.000 dân. Địa điểm xây dựng căn cứ quy hoạch các huyện lựa chọn trình duyệt theo quy định.
- Khu vực các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa có thể sử dụng hình thức tổ hợp vườn, ao, chuồng (VAC): Sử dụng thùng chứa rác, hố chứa rác tự phân huỷ, hố ủ phân trát bùn tại các hộ gia đình để xử lý CTR sinh hoạt.
b. Quản lý, xử lý CTR công nghiệp
- Dự báo nguồn chất thải rắn công nghiệp:
Công nghiệp Xi măng, vật liệu nung: Khối lượng chất thải rắn tương đối lớn có thể tận dụng làm nguyên liệu sản xuất vật liệu không nung phục vụ xây dựng tại chỗ.
Công nghiệp đường mía: Chất thải rắn khối lượng lớn chủ yếu là bã mía. Theo công nghệ sản xuất hiện tại bã mía này được sử dụng đun nồi hơi và lò nấu, phần bã vụn được tận dụng sản xuất phân hữu cơ vi sinh.
Các ngành công nghiệp khác hiện nay chưa phát triển mạnh ở Thanh Hoá, nhưng trong tương lai sẽ có nhiều loại hình mới như luyện kim, lọc dầu, hoá dầu …, chất thải rắn của các loại hình này cần được phân tích đánh giá kỹ trong nội dung đánh giá tác động môi trường khi lập dự án đầu tư xây dựng.
- Phương án quản lý, xử lý:
+ Các chủ đầu tư sản xuất tự chịu trách nhiệm thu gom vận chuyển và xử lý CTR; phương án thu gom vận chuyển xử lý CTR cũng như phương án bảo vệ môi trường của mỗi dự án sản xuất công nghiệp phải được thẩm tra theo qui định hiện hành.
+ Tại các khu công nghiệp, khu kinh tế tập trung của tỉnh đã giành quỹ đất theo quy hoạch xây dựng đô thị, khu công nghiệp để tập trung xử lý CTR công nghiệp cùng địa điểm với xử lý CTR sinh hoạt, như đã ghi trong phụ lục (Quy mô, địa điểm các dự án quản lý, xử lý CTR cấp tỉnh quản lý và bản đồ quy hoạch các dự án quản lý, xử lý CTR toàn tỉnh).
c. Quản lý, xử lý CTR nguy hại của các bệnh viện
- Phương pháp xử lý CTR y tế nguy hại tại các bệnh viện tốt nhất hiện nay là sử dụng lò đốt, công suất lò phụ thuộc khối lượng nguồn thải.
- Kế hoạch xây dựng hệ thống lò đốt tại các bệnh viện đã được Sở Y tế lập, các ngành cấp tỉnh thống nhất và đã được UBND tỉnh quyết định:
+ Bệnh viện tuyến tỉnh (tại thành phố Thanh Hoá) từ nay đến 2013 đốt CTR tại lò Hoval 500 kg/mẻ (đã có tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh).
+ Các bệnh viện tuyến huyện và Khu điều trị bệnh phong Cẩm Thủy sẽ đầu tư xử lý bằng lò đốt công suất 10 kg/mẻ (riêng Bệnh viện Đa khoa khu vực Ngọc Lặc có công suất 15 kg/mẻ); Từ năm 2007 đến 2010 tỉnh đã và sẽ đầu tư mới từ 22 đến 24 lò đốt tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện.
d. Khả năng phân loại tại nguồn và phân loại CTR sinh hoạt
Chất thải rắn công nghiệp, CTR nguy hại của bệnh viện và CTR sinh hoạt phải phân loại tách riêng ngay từ đầu để có phương án quản lý, xử lý phù hợp.
e. Tiêu chí lựa chọn công nghệ xử lý CTR sinh hoạt
Khuyến khích lựa chọn, áp dụng công nghệ tiên tiến cho hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải và xử lý triệt để chất thải, giảm thiểu khối lượng chất thải rắn phải chôn lấp, bảo đảm vệ sinh môi trường.
g. Quy mô, vị trí trạm trung chuyển, cơ sở xử lý CTR và công trình phụ trợ
Các trạm trung chuyển CTR phải được bố trí tại các điểm thuận tiện giao thông, không gây cản trở giao thông, không gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và mỹ quan đô thị. Tại thị xã, thành phố, mỗi phường có thể có từ 2 đến 3 trạm trung chuyển, cự li thu gom về trạm trung chuyển tối đa khoảng 1,0 Km. Khu vực nông thôn, mỗi thôn bản dân cư tập trung hoặc hai ba thôn bản nhỏ ở gần nhau có thể hình thành một trạm trung chuyển.
h. Các tiêu chuẩn lựa chọn vị trí đặt cơ sở xử lý CTR
Có diện tích đủ lớn cho xây dựng khu xử lý tổng hợp CTR; có khả năng được cấp quyền sử dụng đất; thích hợp cho thiết kế xây dựng khu xử lý CTR và bảo vệ môi trường, có quỹ đất dự trữ cho phát triển; giao thông thuận lợi và có khoảng cách hợp lý đến các đô thị; xa nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt.
i. Xác định phương thức thu gom và tuyến vận chuyển hợp lý
Phương thức thu gom: Mỗi một cơ sở xử lý CTR cần có một đơn vị thu gom vận chuyển CTR chuyên nghiệp.
Tuyến vận chuyển CTR hợp lý: Tuyến một thu gom vận chuyển về trạm trung chuyển, tuyến hai vận chuyển từ trạm trung chuyển về cơ sở xử lý CTR.
2.3. Về tổng mức đầu tư xử lý CTR sinh hoạt.
80% tổng khối lượng CTR sinh hoạt dự báo đến 2020 là 2.150 tấn/ ngày - đêm thuộc các dự án đầu tư cấp tỉnh quản lý, với tổng kinh phí đầu tư dự kiến 728 tỉ đồng; trong đó ngân sách TW 40%, NS tỉnh 10%, 50% kinh phí còn lại chủ đầu tư dự án vay ngân hàng và hoàn trả trong quá tình hoạt động. 20% khối lượng CTR sinh hoạt còn lại thuộc dự án cấp huyện quản lý; căn cứ quy hoạch quản lý, xử lý CTR của tỉnh phê duyệt, các huyện lập quy hoạch, kế hoạch và chương trình thực hiện các dự án trên địa bàn huyện trình UBND tỉnh phê duyệt hoặc được UBND tỉnh ủy quyền tự phê duyệt để thực hiện.
Tổng diện tích đất dự kiến xây dựng các khu xử lý CTR khoảng 178,0 ha.