Document: Khoản 2 Điều 1 Thông tư 27 TC/TCT Pháp lệnh thuế thu nhập người có thu nhập cao hướng dẫn Nghị định 05/CP

Type: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "30/03/1995", "sign_number": "27TC/TCT", "signer": "Hồ Tế", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "30/03/1995", "sign_number": "27TC/TCT", "signer": "Hồ Tế", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "30/03/1995", "sign_number": "27TC/TCT", "signer": "Hồ Tế", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "30/03/1995", "sign_number": "27TC/TCT", "signer": "Hồ Tế", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "30/03/1995", "sign_number": "27TC/TCT", "signer": "Hồ Tế", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Thông tư 27 TC/TCT Pháp lệnh thuế thu nhập người có thu nhập cao hướng dẫn Nghị định 05/CP

Điều 1. 1 Nghị định số 05/CP quy định : Thuế thu nhập thực hiện theo nguyên tắc khấu trừ tại nguồn. Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập hoặc cơ quan quản lý lao động (gọi là tổ chức uỷ nhiệm thu) có nghĩa vụ khấu trừ tiền thuế thu nhập tại nguồn để nộp vào Ngân sách Nhà nước trước khi chi trả thu nhập cho cá nhân.
...
2. Trách nhiệm của tổ chức uỷ nhiệm thu; tổ chức đón tiếp, quản lý người nước ngoài:
Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập cho cá nhân (tổ chức uỷ nhiệm thu thuế thu nhập ) có trách nhiệm và nghĩa vụ:
- Chủ động khai báo, đăng ký kê khai với cơ quan thuế Địa phương việc thu thuế thu nhập của cá nhân theo phương thức khấu trừ tại đơn vị mình; hướng dẫn cho người có thu nhập chịu thuế thực hiện thủ tục khai báo, lập tờ khai về thuế thu nhập.
- Hàng tháng, căn cứ vào danh sách cá nhân thuộc diện nộp thuế thu nhập và số thực tế chi trả thu nhập cho cá nhân thực hiện việc khấu trừ tiền thuế thu nhập và nộp tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước.
- Nhận tờ khai, kiểm tra đối chiếu giữa thu nhập cá nhân đã kê khai với thu nhập phải chi trả, đã chi trả cho cá nhân để tính thuế, xác nhận tờ khai của người nộp thuế, lập bảng tổng hợp kê khai nộp thuế thu nhập gửi cho cơ quan thuế.
- Giữ sổ sách chứng từ liên quan đến việc tổ chức thu thuế thu nhập: thu nhập chịu thuế, tính thuế, khấu trừ tiền thuế, khai báo thuế, kê khai thu nộp,bảo quản biên lai thuế, tính toán số tiền thù lao được hưởng và nộp tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước.
- Cấp biên lai thu thuế thu nhập cho người nộp thuế.
- Thực hiện chế độ báo cáo; thanh quyết toán tiền thuế, tiền thù lao được hưởng với cơ quan thuế và xuất trình đầy đủ các tài liệu liên quan đến thuế thu nhập khi cơ quan thuế yêu cầu.
Các tổ chức đón tiếp người nước ngoài, quản lý người nước ngoài vào làm việc tại Việt nam có trách nhiệm hướng dẫn cho người nước ngoài hoàn tất các thủ tục nộp thuế thu nhập trước khi làm thủ tục xuất cảnh.
3 - Trách nhiệm của cơ quan thuế:
Phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước và các cơ quan hữu quan để kiểm tra và yêu cầu các tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập (tổ chức uỷ nhiệm thu)đóng trên địa bàn thực hiện việc đăng ký, kê khai thu thuế thu nhập theo phương thức khấu trừ.
- Hướng dẫn, kiểm tra các tổ chức uỷ nhiệm thu thực hiện chế độ đăng ký, tổng hợp kê khai, tính thuế, khấu trừ tiền thuế, nộp tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước.
- Thực hiện việc thông báo thuế, thanh quyết toán tiền thuế, tiền thù lao được hưởng với các tổ chức uỷ nhiệm thu.
- Tổ chức việc thu thuế thu nhập với các trường hợp cá nhân trực tiếp đăng ký nộp thuế tại cơ quan thuế; cấp biên lai, ấn chỉ thuế thu nhập cho các đối tượng nộp thuế và các tổ chức uỷ nhệm thu.
- Thực hiện các biện pháp cưỡng chế, truy thu tiền thuế, tiền phạt đối với các hành vi vi phạm Pháp lệnh thuế thu nhập, quyết định trích thưởng cho người có công phát hiện các vi phạm, gíúp cơ quan thuế truy thu tiền thuế.
- Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ với cơ quan thuế cấp trên.
V - GIẢM THUẾ, MIỄN THUẾ
1- Đối với trường hợp giảm thuế, miễn thuế qui định tại khoản 1 Điều 20 Pháp lệnh thuế thu nhập.
Cá nhân người nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, địch hoạ, tai nạn làm thiệt hại tài sản, thu nhập, ảnh hưởng đến đời sống của bản thân thì người nộp thuế được xét giảm thuế, miễn thuế trong năm tuỳ theo mức độ thiệt hại. Số thuế được xét miễn, giảm bằng tỷ lệ giữa số tiền thiệt hại so với thu nhập chịu thuế trong năm nhưng không vượt quá số tiền thuế phải nộp cả năm.
Thủ tục và thẩm quyền xét miễn giảm thuế:
- Cá nhân người nộp thuế làm đơn xin miễn, giảm thuế có xác nhận của Chính quyền Địa phương (UBND phường xã) hoặc của cơ quan chi trả thu nhập gửi đến cơ quan thuế Địa phương nới cơ quan chi trả thu nhập đăng ký nộp thuế; Đơn xin miễn thuế, giảm thuế phải nêu rõ lý do, số tiền thiệt hại (kèm theo các chứng từ chúng minh), số thuế phải nộp và số thuế xin miễn, giảm;
- Cơ quan thuế kiểm tra xem xét và ban hành quyết định miễn, giảm thuế hoặc kiến nghị cơ quan thuế cấp trên xử lý theo phân cấp sau đây:
+ Cục trưởng Cục thuế được quyết định các trường hợp số thuế miễn, giảm dưới 5 triệu đồng trên/năm;
+ Tổng cục trưởng Tổng cục thuế được quyết định các trường hợp số thuế miễn, giảm từ 5 triệu đến 100 triệu đồng/ năm;
+ Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định các trường hợp số thuế miến, giảm trên 100 triệu đồng/năm.
- Trong thời gian cơ quan thuế có thẩm quyền xét quyết dịnh miễn, giảm thuế, người nộp thuế phải nộp đủ số thuế theo Pháp lệnh; khi có quyết định miễn giảm thuế thì được thoái trả số thuế được miễn giảm bằng cách trừ vào số thuế phải nộp của kỳ sau hoặc được tổ chức uỷ nhiệm thu trả lại tiền thuế đã khấu trừ theo quyết định của cơ quan thuế. Trường hợp cá nhân trực tiếp nộp tiền thuế tại cơ quan thuế thì được trừ vào số phải nộp của kỳ sau hoặc được Ngân sách Nhà nước thoái trả theo quyết định của cơ quan thuế.
2 - Đối với trường hợp miễn, giảm thuế qui định tại khoản 2 - Điều 20 Pháp lệnh thuế thu nhập; khoản 2 Điều 18 nghị định số 05/CP.
Tổ chức, cá nhân có đơn xin miễn, giảm thuế gửi đến Bộ Tài chính trong đó phân tích rõ lý do và các lợi ích về kinh tế, chính trị, xã hội của Quốc gia liên quan đến việc miễn, giảm thuế cho người nộp thuế. Bộ Tài chính kiểm tra hồ sơ và có văn bản trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định cho từng trường hợp cụ thể.
VI - XỬ LÝ VI PHẠM VÀ KHEN THƯỞNG
1 - Các vi phạm về Pháp lệnh thuế thu nhập được xử lý theo qui định tại Điều 21,Điều 22, Điều 23, Điều 24 của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Các hành vi vi phạm hành chính về Pháp lệnh thuế thu nhập được xử phạt theo các qui định cụ thể trong Nghị định số 01/CP ngày 18 tháng 10 năm 1992 của Chính phủ về việc qui định xử phạt hành chính trong lĩnh vực thuế và Thông tư hướng dẫn thực hiện số 11 - TC/TCT ngày 24 tháng 2 năm 1993 của Bộ Tài chính.
Riêng trường hợp tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập, mang hộ quà biếu, quà tặng từ nước ngoài chuyển về nếu có hành vị không khai báo, đăng ký, kê khai các cá nhân thuộc diện chịu thuế, không khấu trừ tiền thuế thu nhập trước khi chi trả thu nhập gây nên việc thất thu thuế thu nhập cá nhân thì phải chịu trách nhiệm bồi thường cho Ngân sách Nhà nước số thuế bị thất thoát và bị xử phạt theo Điều 21, Điều 22 của Pháp lệnh thuế thu nhập. Số tiền thuế phải bồi thường và số tiền nộp phạt được lấy từ thu nhập của các tổ chức, cá nhân thực hiện chi trả thu nhập, không được tính vào chi phí khi xác định lợi tức chịu thué.
2 - Người có công phát hiện các vụ vi phạm Pháp lệnh thuế thu nhập giúp cho cơ quan thuế truy thu tiền thuế được trích thưởng theo các qui định cụ thể như sau:
- Cá nhân phát hiện các vụ vi phạm trốn lậu thuế thu nhập thông báo cho cơ quan thuế dưới các hình thức: phản ánh trực tiếp, công văn, văn thư, đơn..... nêu rõ tên, địa chỉ cá nhân hoặc tổ chức có hành vi trốn thuế.
- Sau khi nhận được thông báo, cơ quan thuế tổ chức ngay việc kiểm tra, tính thuế tại các tổ chức cá nhân chi trả thu nhập, lập biên bản xác định số thuế ẩn lậu và ra thông báo nộp thuế kèm theo quyết định xử phạt buộc các tổ chức, cá nhân trốn lậu thuế nộp vào tài khoản tạm giữ của cơ quan thuế.
- Căn cứ vào số tiền thuế truy thu, tièn phạt đã thu vào tài khoản tạm giữ, cơ quan thuế ra quyết định trích thưởng cho các tổ chức, cá nhân có công phát hiện và phối hợp với cơ quan thuế. Số tiền trích thưởng không vượt quá 10 % (mười phần trăm) số tiền thuế truy thu nộp vào tài khoản tạm giữ và không vượt quá 10 triệu đồng cho mỗi vụ việc, trong đó thưởng tối đa không quá 5 triệu đồng cho các cá nhân có công phát hiện, không quá 1 triệu đồng cho cá nhân có công phối hợp trong công tác kiểm tra truy thu thuế.
- Số tiền còn lại sau khi trích thưởng được nộp vào Ngân sách Nhà nước.
VII - TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1- Thông tư này có hiệu lực thi hành đối với thu nhập chịu thuế phát sinh kể từ ngày 1 tháng 6 năm 1994.
2 - Thông tư này thay thế cho Thông tư số 22 TC/TCT ngày 22/4/1991, thông tư số 10 TC/TCT ngày 14/4/1993, Thông tư số 29 TC/TCT ngày 1/4/1993, Thông tư số 71 TC/TCT ngày 25/8/1993 của Bộ tài chính; Điểm 3 - khoản A - mục I Thông tư số 05/LB-TC-LĐTBXH ngày 7/3/1992 của Liên Bộ Tài chính - Lao động Thương binh và xã hội về khoản nộp nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước đối với người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo nghị định số 370/HĐBT ngày 9 tháng 11 năm 1991 của Hộ đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Các văn bản khác qui định về thuế thu nhập và thu điều tiết bổ sung sau thuế thu nhập ban hành trước ngày 01 tháng 6 năm 1994 không còn hiệu lực thi hành.
3- Các cơ quan làm nhiệm vụ quản lý, đào tạo, tuyển chọn người lao động được phép trích tối đa không quá 8% trên thu nhập của người lao động để chi cho công tác quản lý, đào tạo, tuyển chọn. Khoản kinh phí này quản lý và sử dụng theo kế hoạch hàng năm, cuối năm phải quyết tóan theo chế độ tài chính hiện hành; trường hợp chi không hết phải nộp toàn bộ vào Ngân sách Nhà nước, đồng thời điều chỉnh giảm tỷ lệ tính năm sau cho phù hợp với kế hoạch chi. Ngoài khoản tính theo tỷ lệ khống chế trên đây nghiêm cấm các Bộ, các ngành, các tổ chức quản lý, sử dụng lao động điều tiết thu nhập của người lao động dưới bất kỳ hình thức nào.
Riêng các trường hợp giới thiệu lao động hoặc tuyển dụng lao động theo uỷ thác chỉ được thu 1 lần theo theo qui định tại điểm 2d - Mục II Thông tư số 19/LĐTBXH - TT ngày 31 tháng 12 năm 1990 của Bộ lao động - Thương binh và xã hội hướng dẫn thi hành Nghị định số 233 - HĐBT ngày 22 tháng 6 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành qui chế lao động đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
4 - Thu nhập đã được cam kết riêng về việc đánh thuế và việc miễn thuế được thực hiện theo các văn bản và điều ước Quốc tế mà Việt nam tham gia hoặc ký kết.
5- Cơ quan thuế các cấp có nhiệm vụ phổ biến, hướng dẫn các cá nhân thuộc diện nộp thuế thu nhập và các tổ chức cá nhân chi trả thu nhập (tổ chức uỷ nhiệm thu) thực hiện nghiêm chỉnh các qui định trong Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư hướng dẫn về thuế thu nhập.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề gì vướng mắc, các tổ chức, cá nhân, các ngành, các Địa phương phản ánh kịp thời về bộ tài chính (Tổng cục thuế) để nghiên cứu giải quyết.

Content:
Trách nhiệm của tổ chức uỷ nhiệm thu; tổ chức đón tiếp, quản lý người nước ngoài:
Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập cho cá nhân (tổ chức uỷ nhiệm thu thuế thu nhập ) có trách nhiệm và nghĩa vụ:
- Chủ động khai báo, đăng ký kê khai với cơ quan thuế Địa phương việc thu thuế thu nhập của cá nhân theo phương thức khấu trừ tại đơn vị mình; hướng dẫn cho người có thu nhập chịu thuế thực hiện thủ tục khai báo, lập tờ khai về thuế thu nhập.
- Hàng tháng, căn cứ vào danh sách cá nhân thuộc diện nộp thuế thu nhập và số thực tế chi trả thu nhập cho cá nhân thực hiện việc khấu trừ tiền thuế thu nhập và nộp tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước.
- Nhận tờ khai, kiểm tra đối chiếu giữa thu nhập cá nhân đã kê khai với thu nhập phải chi trả, đã chi trả cho cá nhân để tính thuế, xác nhận tờ khai của người nộp thuế, lập bảng tổng hợp kê khai nộp thuế thu nhập gửi cho cơ quan thuế.
- Giữ sổ sách chứng từ liên quan đến việc tổ chức thu thuế thu nhập: thu nhập chịu thuế, tính thuế, khấu trừ tiền thuế, khai báo thuế, kê khai thu nộp,bảo quản biên lai thuế, tính toán số tiền thù lao được hưởng và nộp tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước.
- Cấp biên lai thu thuế thu nhập cho người nộp thuế.
- Thực hiện chế độ báo cáo; thanh quyết toán tiền thuế, tiền thù lao được hưởng với cơ quan thuế và xuất trình đầy đủ các tài liệu liên quan đến thuế thu nhập khi cơ quan thuế yêu cầu.
Các tổ chức đón tiếp người nước ngoài, quản lý người nước ngoài vào làm việc tại Việt nam có trách nhiệm hướng dẫn cho người nước ngoài hoàn tất các thủ tục nộp thuế thu nhập trước khi làm thủ tục xuất cảnh.
3 - Trách nhiệm của cơ quan thuế:
Phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước và các cơ quan hữu quan để kiểm tra và yêu cầu các tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập (tổ chức uỷ nhiệm thu)đóng trên địa bàn thực hiện việc đăng ký, kê khai thu thuế thu nhập theo phương thức khấu trừ.
- Hướng dẫn, kiểm tra các tổ chức uỷ nhiệm thu thực hiện chế độ đăng ký, tổng hợp kê khai, tính thuế, khấu trừ tiền thuế, nộp tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước.
- Thực hiện việc thông báo thuế, thanh quyết toán tiền thuế, tiền thù lao được hưởng với các tổ chức uỷ nhiệm thu.
- Tổ chức việc thu thuế thu nhập với các trường hợp cá nhân trực tiếp đăng ký nộp thuế tại cơ quan thuế; cấp biên lai, ấn chỉ thuế thu nhập cho các đối tượng nộp thuế và các tổ chức uỷ nhệm thu.
- Thực hiện các biện pháp cưỡng chế, truy thu tiền thuế, tiền phạt đối với các hành vi vi phạm Pháp lệnh thuế thu nhập, quyết định trích thưởng cho người có công phát hiện các vi phạm, gíúp cơ quan thuế truy thu tiền thuế.
- Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ với cơ quan thuế cấp trên.
V - GIẢM THUẾ, MIỄN THUẾ
1- Đối với trường hợp giảm thuế, miễn thuế qui định tại khoản 1 Điều 20 Pháp lệnh thuế thu nhập.
Cá nhân người nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, địch hoạ, tai nạn làm thiệt hại tài sản, thu nhập, ảnh hưởng đến đời sống của bản thân thì người nộp thuế được xét giảm thuế, miễn thuế trong năm tuỳ theo mức độ thiệt hại. Số thuế được xét miễn, giảm bằng tỷ lệ giữa số tiền thiệt hại so với thu nhập chịu thuế trong năm nhưng không vượt quá số tiền thuế phải nộp cả năm.
Thủ tục và thẩm quyền xét miễn giảm thuế:
- Cá nhân người nộp thuế làm đơn xin miễn, giảm thuế có xác nhận của Chính quyền Địa phương (UBND phường xã) hoặc của cơ quan chi trả thu nhập gửi đến cơ quan thuế Địa phương nới cơ quan chi trả thu nhập đăng ký nộp thuế; Đơn xin miễn thuế, giảm thuế phải nêu rõ lý do, số tiền thiệt hại (kèm theo các chứng từ chúng minh), số thuế phải nộp và số thuế xin miễn, giảm;
- Cơ quan thuế kiểm tra xem xét và ban hành quyết định miễn, giảm thuế hoặc kiến nghị cơ quan thuế cấp trên xử lý theo phân cấp sau đây:
+ Cục trưởng Cục thuế được quyết định các trường hợp số thuế miễn, giảm dưới 5 triệu đồng trên/năm;
+ Tổng cục trưởng Tổng cục thuế được quyết định các trường hợp số thuế miễn, giảm từ 5 triệu đến 100 triệu đồng/ năm;
+ Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định các trường hợp số thuế miến, giảm trên 100 triệu đồng/năm.
- Trong thời gian cơ quan thuế có thẩm quyền xét quyết dịnh miễn, giảm thuế, người nộp thuế phải nộp đủ số thuế theo Pháp lệnh; khi có quyết định miễn giảm thuế thì được thoái trả số thuế được miễn giảm bằng cách trừ vào số thuế phải nộp của kỳ sau hoặc được tổ chức uỷ nhiệm thu trả lại tiền thuế đã khấu trừ theo quyết định của cơ quan thuế. Trường hợp cá nhân trực tiếp nộp tiền thuế tại cơ quan thuế thì được trừ vào số phải nộp của kỳ sau hoặc được Ngân sách Nhà nước thoái trả theo quyết định của cơ quan thuế.
2 - Đối với trường hợp miễn, giảm thuế qui định tại khoản 2 - Điều 20 Pháp lệnh thuế thu nhập; khoản 2 Điều 18 nghị định số 05/CP.
Tổ chức, cá nhân có đơn xin miễn, giảm thuế gửi đến Bộ Tài chính trong đó phân tích rõ lý do và các lợi ích về kinh tế, chính trị, xã hội của Quốc gia liên quan đến việc miễn, giảm thuế cho người nộp thuế. Bộ Tài chính kiểm tra hồ sơ và có văn bản trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định cho từng trường hợp cụ thể.
VI - XỬ LÝ VI PHẠM VÀ KHEN THƯỞNG
1 - Các vi phạm về Pháp lệnh thuế thu nhập được xử lý theo qui định tại Điều 21,Điều 22, Điều 23, Điều 24 của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Các hành vi vi phạm hành chính về Pháp lệnh thuế thu nhập được xử phạt theo các qui định cụ thể trong Nghị định số 01/CP ngày 18 tháng 10 năm 1992 của Chính phủ về việc qui định xử phạt hành chính trong lĩnh vực thuế và Thông tư hướng dẫn thực hiện số 11 - TC/TCT ngày 24 tháng 2 năm 1993 của Bộ Tài chính.
Riêng trường hợp tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập, mang hộ quà biếu, quà tặng từ nước ngoài chuyển về nếu có hành vị không khai báo, đăng ký, kê khai các cá nhân thuộc diện chịu thuế, không khấu trừ tiền thuế thu nhập trước khi chi trả thu nhập gây nên việc thất thu thuế thu nhập cá nhân thì phải chịu trách nhiệm bồi thường cho Ngân sách Nhà nước số thuế bị thất thoát và bị xử phạt theo Điều 21, Điều 22 của Pháp lệnh thuế thu nhập. Số tiền thuế phải bồi thường và số tiền nộp phạt được lấy từ thu nhập của các tổ chức, cá nhân thực hiện chi trả thu nhập, không được tính vào chi phí khi xác định lợi tức chịu thué.
2 - Người có công phát hiện các vụ vi phạm Pháp lệnh thuế thu nhập giúp cho cơ quan thuế truy thu tiền thuế được trích thưởng theo các qui định cụ thể như sau:
- Cá nhân phát hiện các vụ vi phạm trốn lậu thuế thu nhập thông báo cho cơ quan thuế dưới các hình thức: phản ánh trực tiếp, công văn, văn thư, đơn..... nêu rõ tên, địa chỉ cá nhân hoặc tổ chức có hành vi trốn thuế.
- Sau khi nhận được thông báo, cơ quan thuế tổ chức ngay việc kiểm tra, tính thuế tại các tổ chức cá nhân chi trả thu nhập, lập biên bản xác định số thuế ẩn lậu và ra thông báo nộp thuế kèm theo quyết định xử phạt buộc các tổ chức, cá nhân trốn lậu thuế nộp vào tài khoản tạm giữ của cơ quan thuế.
- Căn cứ vào số tiền thuế truy thu, tièn phạt đã thu vào tài khoản tạm giữ, cơ quan thuế ra quyết định trích thưởng cho các tổ chức, cá nhân có công phát hiện và phối hợp với cơ quan thuế. Số tiền trích thưởng không vượt quá 10 % (mười phần trăm) số tiền thuế truy thu nộp vào tài khoản tạm giữ và không vượt quá 10 triệu đồng cho mỗi vụ việc, trong đó thưởng tối đa không quá 5 triệu đồng cho các cá nhân có công phát hiện, không quá 1 triệu đồng cho cá nhân có công phối hợp trong công tác kiểm tra truy thu thuế.
- Số tiền còn lại sau khi trích thưởng được nộp vào Ngân sách Nhà nước.
VII - TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1- Thông tư này có hiệu lực thi hành đối với thu nhập chịu thuế phát sinh kể từ ngày 1 tháng 6 năm 1994.
2 - Thông tư này thay thế cho Thông tư số 22 TC/TCT ngày 22/4/1991, thông tư số 10 TC/TCT ngày 14/4/1993, Thông tư số 29 TC/TCT ngày 1/4/1993, Thông tư số 71 TC/TCT ngày 25/8/1993 của Bộ tài chính; Điểm 3 - khoản A - mục I Thông tư số 05/LB-TC-LĐTBXH ngày 7/3/1992 của Liên Bộ Tài chính - Lao động Thương binh và xã hội về khoản nộp nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước đối với người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo nghị định số 370/HĐBT ngày 9 tháng 11 năm 1991 của Hộ đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Các văn bản khác qui định về thuế thu nhập và thu điều tiết bổ sung sau thuế thu nhập ban hành trước ngày 01 tháng 6 năm 1994 không còn hiệu lực thi hành.
3- Các cơ quan làm nhiệm vụ quản lý, đào tạo, tuyển chọn người lao động được phép trích tối đa không quá 8% trên thu nhập của người lao động để chi cho công tác quản lý, đào tạo, tuyển chọn. Khoản kinh phí này quản lý và sử dụng theo kế hoạch hàng năm, cuối năm phải quyết tóan theo chế độ tài chính hiện hành; trường hợp chi không hết phải nộp toàn bộ vào Ngân sách Nhà nước, đồng thời điều chỉnh giảm tỷ lệ tính năm sau cho phù hợp với kế hoạch chi. Ngoài khoản tính theo tỷ lệ khống chế trên đây nghiêm cấm các Bộ, các ngành, các tổ chức quản lý, sử dụng lao động điều tiết thu nhập của người lao động dưới bất kỳ hình thức nào.
Riêng các trường hợp giới thiệu lao động hoặc tuyển dụng lao động theo uỷ thác chỉ được thu 1 lần theo theo qui định tại điểm 2d - Mục II Thông tư số 19/LĐTBXH - TT ngày 31 tháng 12 năm 1990 của Bộ lao động - Thương binh và xã hội hướng dẫn thi hành Nghị định số 233 - HĐBT ngày 22 tháng 6 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành qui chế lao động đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
4 - Thu nhập đã được cam kết riêng về việc đánh thuế và việc miễn thuế được thực hiện theo các văn bản và điều ước Quốc tế mà Việt nam tham gia hoặc ký kết.
5- Cơ quan thuế các cấp có nhiệm vụ phổ biến, hướng dẫn các cá nhân thuộc diện nộp thuế thu nhập và các tổ chức cá nhân chi trả thu nhập (tổ chức uỷ nhiệm thu) thực hiện nghiêm chỉnh các qui định trong Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư hướng dẫn về thuế thu nhập.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề gì vướng mắc, các tổ chức, cá nhân, các ngành, các Địa phương phản ánh kịp thời về bộ tài chính (Tổng cục thuế) để nghiên cứu giải quyết.