Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 3214/QĐ-UBND 2020 Phát triển nuôi biển theo hướng bền vững Kiên Giang đến năm 2030

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "31/12/2020", "sign_number": "3214/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nhàn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "31/12/2020", "sign_number": "3214/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nhàn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "31/12/2020", "sign_number": "3214/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nhàn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "31/12/2020", "sign_number": "3214/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nhàn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "31/12/2020", "sign_number": "3214/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nhàn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 3214/QĐ-UBND 2020 Phát triển nuôi biển theo hướng bền vững Kiên Giang đến năm 2030

Điều 1. Phê duyệt Đề án Phát triển nuôi biển theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đến năm 2030 (đính kèm Đề án), với các nội dung chính như sau:
...
4. Phân vùng phát triển nuôi biển theo phương án chọn
4.1 Tiêu chí khu nuôi lồng bè và nhuyễn thể
- Khu nuôi lồng bè tuân thủ theo Nghị định số 26/2019/NĐ-CP ngày 08/3/2019 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản và một số tiêu chí khác như sau:
- Khu nuôi nằm trong vùng quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản của tỉnh hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép; lồng bè phải được đặt ở những khu vực không bị ô nhiễm có chất nước phù hợp với đối tượng thủy sản nuôi; nơi đặt lồng bè phải thoáng, có dòng chảy thẳng và liên tục; tránh nơi tập trung đông dân cư và tàu thuyền qua lại nhiều; tránh nơi gần bến cảng, nơi có sóng và gió lớn, nơi có nhiều rong và cây cỏ thủy sinh;
- Khung lồng, phao, lưới, đăng quầng phải làm bằng vật liệu không gây ô nhiễm môi trường, không gây độc hại cho thủy sản nuôi và không để thủy sản nuôi sống thoát ra môi trường; có thiết bị cảnh báo cho hoạt động giao thông thủy; nơi chứa rác thải phải riêng biệt với nơi chứa, nơi xử lý thủy sản chết, không làm ảnh hưởng đến môi trường; cơ sở nuôi trồng thủy sản có khu sinh hoạt, vệ sinh phải bảo đảm nước thải, chất thải sinh hoạt không làm ảnh hưởng đến khu vực nuôi.
- Diện tích đặt lồng bè nuôi không quá 5% diện tích mặt nước nuôi. Nơi đặt lồng bè nuôi có độ sâu lúc nước thủy triều thấp nhất tối thiểu là 05 m đối với lồng bè nuôi truyền thống, tối thiểu là 06 m đối với lồng bè nuôi công nghiệp (lồng vuông hoặc lồng tròn đường kính tối đa 12 m) Và tối thiểu là 12 m đối với lồng bè nuôi công nghiệp (có đường kính trên 12 m); có lưu tốc dòng chảy thích hợp từ 0,2 - 0,6 m/s; độ mặn thích hợp từ 20 ‰ trở lên;
- Khu vực nuôi nhuyễn thể không bị ô nhiễm, có chất nước phù hợp với đối tượng thủy sản nuôi; không được phát triển nuôi trên các khu vực bãi giống tự nhiên được bảo tồn, bảo vệ; khu đặt lồng bè và nhuyễn thể tuyệt đối không chồng lấn với hành lang an toàn luồng tàu, luồng cảng, bãi neo đậu tàu đánh cá, tàu khách, tàu vận tải và các công trình công cộng theo quy định; khu nuôi lồng bè thuận tiện cho việc vận chuyển vật tư, giống, thức ăn, tiêu thụ sản phẩm,...
- Khu nuôi lồng bè và nhuyễn thể đảm bảo không chồng lấn các khu vực quy hoạch bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản và các quy hoạch chuyên ngành khác trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
4.2 Phân vùng nuôi biển
- Vùng hải đảo: bao gồm các huyện đảo Phú Quốc, Kiên Hải, xã đảo Tiên Hải- TP Hà Tiên, các xã đảo Sơn Hải, Hòn Nghệ- huyện Kiên Lương. Phát triển nuôi cá lồng bè như: cá mú, cá bóp, cá chim vây vàng, cá chẽm,... nuôi thủy sản khác như: tôm hùm xanh, tôm tít, ghẹ, trai ngọc,....
- Vùng ven biển: bao gồm thành phố Hà Tiên, các huyện Kiên Lương, Hòn Đất, An Minh, An Biên. Phát triển nuôi các đối tượng nhuyễn thể như: sò huyết, sò lông, hến biển, vẹm xanh, hàu...
II. Giải pháp thực hiện
1. Giải pháp về đất đai, mặt nước nuôi biển
- Sau khi Đề án được duyệt, rà soát đưa khu vực biển được định hướng phát triển nuôi biển vào quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch tỉnh trong thời kỳ 2021 - 2030.
- Tổ chức giao khu vực biển, cấp phép nuôi trồng thủy sản trên biển cho tổ chức, cá nhân theo Luật Thủy sản năm 2017, Nghị định số 26/2019/NĐ-CP của Chính phủ và các quy định khác có liên quan để tạo hành lang pháp lý cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động nuôi biển..
- Ưu tiên giao, cho thuê các tổ chức, cá nhân nuôi biển trong khu bố trí nuôi biển, đồng thời có năng lực về vốn, kỹ thuật; người dân địa phương là đối tượng chuyển đổi nghề khai thác thủy sản ven bờ sang nuôi trồng thủy sản; các hộ nuôi liên kết sản xuất theo mô hình hợp tác xã, mô hình liên kết theo chuỗi giá trị nuôi biển; các tổ chức, cá nhân đầu tư nuôi biển ứng dụng công nghệ cao.
2. Giải pháp về cơ chế chính sách
Đây là giải pháp cốt yếu đối với phát triển nuôi biển bền vững; trước mắt cần sớm triển khai, thực hiện kịp thời các cơ chế chính sách của Trung ương đã ban hành. Cụ thể hóa các chính sách trong từng điều kiện cụ thể, giải quyết căn bản các vấn đề thực tiễn, gắn với tổ chức lại sản xuất, đưa nghề nuôi biển phát triển theo hướng bền vững. Bên cạnh việc triển khai thực hiện các chính sách của Trung ương, tỉnh cần ban hành những chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, đặc biệt là chính sách hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính vào khu nuôi biển ứng dụng nghệ cao.
a) Chính sách về tín dụng
- Cần có mức vay, thời hạn vay, lãi suất vay ưu đãi, phù hợp với chu trình sản xuất. Trong giai đoạn từ nay đến 2025, cần có các chính sách tín dụng ưu tiên, ưu đãi, các chính sách bảo hiểm cho nuôi biển.
- Tổ chức triển khai tốt Nghị định số 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng đối với nông nghiệp, nông thôn. Ngành nông nghiệp và PTNT phối hợp các ngân hàng thương mại tư vấn cho tổ chức và cá nhân xây dựng phương án vay vốn và sử dụng vốn phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh. Tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể trong nông nghiệp, nông thôn được vay vốn đủ, kịp thời theo yêu cầu của phát triển sản xuất kinh doanh.
b) Chính sách hỗ trợ phát triển nuôi thủy sản
Triển khai thực hiện tốt và đồng bộ một số chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản của Trung ương và địa phương, gồm:
- Nghị định số 02/2017/NĐ-CP của Chính phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh; Quyết định số 1632/QĐ-UBND ngày 03/8/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang về quy định về mức hỗ trợ trong sản xuất nông nghiệp vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
- Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; trong đó, ngân sách nhà nước hỗ trợ gần đến 50% tổng vốn đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi, trạm bơm, điện, giao thông, hệ thống xử lý chất thải, hệ thống cấp thoát nước của vùng sản xuất tập trung để phù hợp với yêu cầu kỹ thuật VietGAP phục vụ nuôi tôm nước lợ (hạ tầng đầu mối cho các vùng nuôi thâm canh, bán thâm canh).
- Thông tư số 19/2018/TT-BNNPTNT ngày 15/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc hướng dẫn bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Từ các cơ sở trên, tỉnh sẽ xem xét, xây dựng chính sách hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề, đặc biệt là ngư dân khai thác thủy sản ven bờ chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản.
- Kiến nghị Chính phủ tháo gỡ các tồn tại của chính sách liên quan tới phát triển nuôi biển, nhất là việc sớm ban hành các Nghị định sửa đổi, thay thế Nghị định số 51/2014/NĐ-CP ngày 21/5/2014 của Chính phủ về quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho các tổ chức, cá nhân sử dụng tài nguyên biển và Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản.
c) Về chính sách về đầu tư
Triển khai thực hiện tốt Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ vế đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Kêu gọi các nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng kỹ thuật trong từng tiểu vùng để phát triển sản xuất; Quyết định số 103/2000/QĐ-TTg ngày 25/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển giống thủy sản.
d) Chính sách phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
Triển khai thực hiện tốt và đồng bộ một số chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản của Trung ương và địa phương, gồm:
- Luật Công nghệ cao ngày 13/11/2008.
- Quyết định số 49/2010/QĐ-TTg ngày 19/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển.
- Quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 17/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc Chương trình Quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020.
- Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.
- Thông tư liên tịch số 11/2012/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHDT ngày 16/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước chi cho Đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020.
- Thông tư liên tịch số 42/2013/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHĐT ngày 16/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hướng dẫn thực hiện Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.
- Nghị quyết số 332/2020/NQ-HĐND ngày 20/7/2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh Kiên Giang quy định về chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao giai đoạn 2020-2025 trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
3. Giải pháp về vốn đầu tư
Tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển nuôi biển trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thời kỳ 2021 -2030 dự kiến cần 12.688 tỷ đồng. Cơ cấu nguồn vốn: vốn ngân sách Trung ương chiếm 0,16%, vốn ngân sách địa phương chiếm 0,85%; vốn thu hút từ các thành phần kinh tế chiếm 98,99%. Cơ cấu vốn phân theo các đối tượng nuôi: nuôi lồng bè là 11.931 tỷ đồng, chiếm 94%; nuôi nhuyễn thể là 757 tỷ đồng, chiếm 6%.
- Nguồn vốn ngân sách nhà nước: tổng nguồn vốn là 128 tỷ đồng (giai đoạn 2021 - 2025 là 76 tỷ đồng, giai đoạn 2026 - 2030 là 52 tỷ đồng), trong đó bao gồm nguồn vốn đầu tư phát triển và vốn sự nghiệp.
+ Nguồn vốn đầu tư phát triển: sử dụng đầu tư xây dự cơ sở hạ tầng, tổng nguồn vốn ngân sách đầu tư phát triển là 75 tỷ đồng.
+ Nguồn vốn sự nghiệp (vốn địa phương): thực hiện đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường năng lực ngành; vốn cho nghiên cứu các đề tài khoa học công nghệ (đối với nguồn vốn này, thực hiện theo Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản). Tổng nguồn vốn từ ngân sách địa phương là 53 tỷ đồng.
+ Tranh thủ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ cho các chương trình phát triển nuôi trồng; Chương trình phát triển giống thủy sản theo Quyết định số 2194/QĐ-TTg ; ngân sách địa phương sẽ ưu tiên bố trí để thực hiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nuôi biển, đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường năng lực ngành và các đề tài nghiên cứu về khoa học công nghệ liên quan đến nuôi biển.
- Vốn huy động từ thành phần kinh tế: đầu tư hạ tầng kỹ thuật (hệ thống giao thông, điện) thiết yếu cho các khu nuôi nội bộ bằng hình thức thu hút các nhà đầu tư hoặc đối tác công tư (PPP); đầu tư khu sản xuất giống tập trung,... Vốn các thành phần kinh tế bao gồm vốn tự có của tổ chức, cá nhân, FDI thông qua nguồn vốn tự có, vốn vay tín dụng, vay thương mại đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản theo chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Chính phủ. Ngoài ra, tích cực tranh thủ nguồn vốn các tổ chức phi Chính phủ thực hiện trợ giúp kỹ thuật, tư vấn, đào tạo nâng cao năng lực, xây dựng mô hình, chuyển giao quy trình công nghệ,... Tổng nguồn vốn huy động từ thành phần kinh tế là 12.560 tỷ đồng.
+ Vốn huy động từ các thành phần kinh tế (bao gồm vốn tự có và vốn vay tín dụng): thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư theo quy định của pháp luật để thu hút vốn của các thành phần kinh tế bao gồm hộ cá thể và doanh nghiệp trên địa bàn.
+ Vốn vay tín dụng: triển khai thực hiện theo khoản 1, 2, Điều 4 Quyết định số 126/2005/QĐ-TTg , ngày 01/06/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển và hải đảo; Nghị định số 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng đối với nông nghiệp, nông thôn.
+ Chủ động tìm kiếm, phối hợp với các nguồn tín dụng phát triển nước ngoài, như Quỹ Xuất khẩu thủy sản Na Uy, Quỹ Aqua- Spark (Hà Lan), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB),...
4. Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực
- Để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng với quy trình và công nghệ nuôi tiên tiến thì cần đào tạo, tập huấn để có đủ số lượng và đảm bảo chất lượng lao động. Tăng cường đầu tư, liên kết, mở rộng quy mô các cơ sở đào tạo nghề về lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.
- Nhu cầu lao động phổ thông lành nghề đáp ứng cho nuôi biển tỉnh Kiên Giang đến năm 2025 là 18.510 người, đến năm 2030, nhu cầu lao động cần 47.680 người. Vì vậy, cần đẩy mạnh các hình thức đào tạo, tập huấn (gồm đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng, tập huấn) về quản lý và kỹ thuật cho lao động trên địa bàn các địa phương nuôi biển để cập nhật nhanh các tiến bộ kỹ thuật.
- Ngoài ra, cần đào tạo lao động kỹ thuật có trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học cho nuôi trồng thủy sản. Nhu cầu khoảng 500 lồng cần 01 kỹ sư nuôi trồng thủy sản quản lý, đến năm 2025 cần khoảng 15 kỹ sư nuôi trồng thủy sản, đến năm 2030 cần 28 kỹ sư nuôi trồng thủy sản. Số lượng cán bộ có trình độ dưới đại học và đại học có thể tính theo tỷ lệ sau: đào tạo 1 đại học, 3 cao đẳng và 6 trung cấp (có nghĩa là đào tạo theo mô hình 1/3/6). Đến năm 2025, toàn vùng cần 15 kỹ sư, 45 cao đẳng và 90 trung cấp về nuôi trồng thủy sản; đến năm 2030, toàn vùng cần 28 kỹ sư, 84 cao đẳng và 168 trung cấp về nuôi trồng thủy sản.
- Cần có chính sách thu hút nhân tài, chuyên gia giỏi trong và ngoài nước trong lĩnh vực nuôi biển về làm việc trong các khu nuôi tập trung với nhiều hình thức ngắn hạn, dài hạn, chuyển giao công nghệ.
- Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 01/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 nhằm đào tạo lao động nông thôn được học nghề trong độ tuổi lao động; cán bộ công chức chuyên môn ở xã.
- Đào tạo nghề theo Thông tư số 05/2012/TT-BNNPTNT ngày 18/01/2012 về ban hành tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đối với các nghề thuộc nhóm nghề nông nghiệp; triển khai thực hiện Quyết định số 229/QĐ-UBND ngày 29/01/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang về việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn và đào tạo theo Kế hoạch số 106/KH-UBND ngày 11/11/2014 của UBND tỉnh trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
- Phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội nuôi biển, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh (VCCI-HCM) Và Tổng Cục Giáo dục nghề nghiệp (Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội), tiến hành thực hiện Dự án về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho nuôi trồng thủy sản do Hiệp hội Giới chủ Na Uy (NHO) tài trợ, trên cơ sở Thỏa thuận hợp tác về nâng cao chất lượng đào tạo nghề nuôi biển công nghiệp giữa VSA và VCCI- HCM 2020-2024 đã được ký kết.
- Phối hợp giữa Global GAP, GAA, ASC và các tổ chức quốc tế khác đào tạo về áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế và đạt các chứng nhận quốc tế theo yêu cầu của thị trường.

Content:
Phân vùng phát triển nuôi biển theo phương án chọn
4.1 Tiêu chí khu nuôi lồng bè và nhuyễn thể
- Khu nuôi lồng bè tuân thủ theo Nghị định số 26/2019/NĐ-CP ngày 08/3/2019 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản và một số tiêu chí khác như sau:
- Khu nuôi nằm trong vùng quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản của tỉnh hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép; lồng bè phải được đặt ở những khu vực không bị ô nhiễm có chất nước phù hợp với đối tượng thủy sản nuôi; nơi đặt lồng bè phải thoáng, có dòng chảy thẳng và liên tục; tránh nơi tập trung đông dân cư và tàu thuyền qua lại nhiều; tránh nơi gần bến cảng, nơi có sóng và gió lớn, nơi có nhiều rong và cây cỏ thủy sinh;
- Khung lồng, phao, lưới, đăng quầng phải làm bằng vật liệu không gây ô nhiễm môi trường, không gây độc hại cho thủy sản nuôi và không để thủy sản nuôi sống thoát ra môi trường; có thiết bị cảnh báo cho hoạt động giao thông thủy; nơi chứa rác thải phải riêng biệt với nơi chứa, nơi xử lý thủy sản chết, không làm ảnh hưởng đến môi trường; cơ sở nuôi trồng thủy sản có khu sinh hoạt, vệ sinh phải bảo đảm nước thải, chất thải sinh hoạt không làm ảnh hưởng đến khu vực nuôi.
- Diện tích đặt lồng bè nuôi không quá 5% diện tích mặt nước nuôi. Nơi đặt lồng bè nuôi có độ sâu lúc nước thủy triều thấp nhất tối thiểu là 05 m đối với lồng bè nuôi truyền thống, tối thiểu là 06 m đối với lồng bè nuôi công nghiệp (lồng vuông hoặc lồng tròn đường kính tối đa 12 m) Và tối thiểu là 12 m đối với lồng bè nuôi công nghiệp (có đường kính trên 12 m); có lưu tốc dòng chảy thích hợp từ 0,2 - 0,6 m/s; độ mặn thích hợp từ 20 ‰ trở lên;
- Khu vực nuôi nhuyễn thể không bị ô nhiễm, có chất nước phù hợp với đối tượng thủy sản nuôi; không được phát triển nuôi trên các khu vực bãi giống tự nhiên được bảo tồn, bảo vệ; khu đặt lồng bè và nhuyễn thể tuyệt đối không chồng lấn với hành lang an toàn luồng tàu, luồng cảng, bãi neo đậu tàu đánh cá, tàu khách, tàu vận tải và các công trình công cộng theo quy định; khu nuôi lồng bè thuận tiện cho việc vận chuyển vật tư, giống, thức ăn, tiêu thụ sản phẩm,...
- Khu nuôi lồng bè và nhuyễn thể đảm bảo không chồng lấn các khu vực quy hoạch bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản và các quy hoạch chuyên ngành khác trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
4.2 Phân vùng nuôi biển
- Vùng hải đảo: bao gồm các huyện đảo Phú Quốc, Kiên Hải, xã đảo Tiên Hải- TP Hà Tiên, các xã đảo Sơn Hải, Hòn Nghệ- huyện Kiên Lương. Phát triển nuôi cá lồng bè như: cá mú, cá bóp, cá chim vây vàng, cá chẽm,... nuôi thủy sản khác như: tôm hùm xanh, tôm tít, ghẹ, trai ngọc,....
- Vùng ven biển: bao gồm thành phố Hà Tiên, các huyện Kiên Lương, Hòn Đất, An Minh, An Biên. Phát triển nuôi các đối tượng nhuyễn thể như: sò huyết, sò lông, hến biển, vẹm xanh, hàu...
II. Giải pháp thực hiện
1. Giải pháp về đất đai, mặt nước nuôi biển
- Sau khi Đề án được duyệt, rà soát đưa khu vực biển được định hướng phát triển nuôi biển vào quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch tỉnh trong thời kỳ 2021 - 2030.
- Tổ chức giao khu vực biển, cấp phép nuôi trồng thủy sản trên biển cho tổ chức, cá nhân theo Luật Thủy sản năm 2017, Nghị định số 26/2019/NĐ-CP của Chính phủ và các quy định khác có liên quan để tạo hành lang pháp lý cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động nuôi biển..
- Ưu tiên giao, cho thuê các tổ chức, cá nhân nuôi biển trong khu bố trí nuôi biển, đồng thời có năng lực về vốn, kỹ thuật; người dân địa phương là đối tượng chuyển đổi nghề khai thác thủy sản ven bờ sang nuôi trồng thủy sản; các hộ nuôi liên kết sản xuất theo mô hình hợp tác xã, mô hình liên kết theo chuỗi giá trị nuôi biển; các tổ chức, cá nhân đầu tư nuôi biển ứng dụng công nghệ cao.
2. Giải pháp về cơ chế chính sách
Đây là giải pháp cốt yếu đối với phát triển nuôi biển bền vững; trước mắt cần sớm triển khai, thực hiện kịp thời các cơ chế chính sách của Trung ương đã ban hành. Cụ thể hóa các chính sách trong từng điều kiện cụ thể, giải quyết căn bản các vấn đề thực tiễn, gắn với tổ chức lại sản xuất, đưa nghề nuôi biển phát triển theo hướng bền vững. Bên cạnh việc triển khai thực hiện các chính sách của Trung ương, tỉnh cần ban hành những chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, đặc biệt là chính sách hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính vào khu nuôi biển ứng dụng nghệ cao.
a) Chính sách về tín dụng
- Cần có mức vay, thời hạn vay, lãi suất vay ưu đãi, phù hợp với chu trình sản xuất. Trong giai đoạn từ nay đến 2025, cần có các chính sách tín dụng ưu tiên, ưu đãi, các chính sách bảo hiểm cho nuôi biển.
- Tổ chức triển khai tốt Nghị định số 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng đối với nông nghiệp, nông thôn. Ngành nông nghiệp và PTNT phối hợp các ngân hàng thương mại tư vấn cho tổ chức và cá nhân xây dựng phương án vay vốn và sử dụng vốn phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh. Tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể trong nông nghiệp, nông thôn được vay vốn đủ, kịp thời theo yêu cầu của phát triển sản xuất kinh doanh.
b) Chính sách hỗ trợ phát triển nuôi thủy sản
Triển khai thực hiện tốt và đồng bộ một số chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản của Trung ương và địa phương, gồm:
- Nghị định số 02/2017/NĐ-CP của Chính phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh; Quyết định số 1632/QĐ-UBND ngày 03/8/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang về quy định về mức hỗ trợ trong sản xuất nông nghiệp vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
- Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; trong đó, ngân sách nhà nước hỗ trợ gần đến 50% tổng vốn đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi, trạm bơm, điện, giao thông, hệ thống xử lý chất thải, hệ thống cấp thoát nước của vùng sản xuất tập trung để phù hợp với yêu cầu kỹ thuật VietGAP phục vụ nuôi tôm nước lợ (hạ tầng đầu mối cho các vùng nuôi thâm canh, bán thâm canh).
- Thông tư số 19/2018/TT-BNNPTNT ngày 15/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc hướng dẫn bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Từ các cơ sở trên, tỉnh sẽ xem xét, xây dựng chính sách hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề, đặc biệt là ngư dân khai thác thủy sản ven bờ chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản.
- Kiến nghị Chính phủ tháo gỡ các tồn tại của chính sách liên quan tới phát triển nuôi biển, nhất là việc sớm ban hành các Nghị định sửa đổi, thay thế Nghị định số 51/2014/NĐ-CP ngày 21/5/2014 của Chính phủ về quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho các tổ chức, cá nhân sử dụng tài nguyên biển và Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản.
c) Về chính sách về đầu tư
Triển khai thực hiện tốt Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ vế đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Kêu gọi các nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng kỹ thuật trong từng tiểu vùng để phát triển sản xuất; Quyết định số 103/2000/QĐ-TTg ngày 25/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển giống thủy sản.
d) Chính sách phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
Triển khai thực hiện tốt và đồng bộ một số chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản của Trung ương và địa phương, gồm:
- Luật Công nghệ cao ngày 13/11/2008.
- Quyết định số 49/2010/QĐ-TTg ngày 19/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển.
- Quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 17/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc Chương trình Quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020.
- Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.
- Thông tư liên tịch số 11/2012/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHDT ngày 16/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước chi cho Đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020.
- Thông tư liên tịch số 42/2013/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHĐT ngày 16/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hướng dẫn thực hiện Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.
- Nghị quyết số 332/2020/NQ-HĐND ngày 20/7/2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh Kiên Giang quy định về chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao giai đoạn 2020-2025 trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
3. Giải pháp về vốn đầu tư
Tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển nuôi biển trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thời kỳ 2021 -2030 dự kiến cần 12.688 tỷ đồng. Cơ cấu nguồn vốn: vốn ngân sách Trung ương chiếm 0,16%, vốn ngân sách địa phương chiếm 0,85%; vốn thu hút từ các thành phần kinh tế chiếm 98,99%. Cơ cấu vốn phân theo các đối tượng nuôi: nuôi lồng bè là 11.931 tỷ đồng, chiếm 94%; nuôi nhuyễn thể là 757 tỷ đồng, chiếm 6%.
- Nguồn vốn ngân sách nhà nước: tổng nguồn vốn là 128 tỷ đồng (giai đoạn 2021 - 2025 là 76 tỷ đồng, giai đoạn 2026 - 2030 là 52 tỷ đồng), trong đó bao gồm nguồn vốn đầu tư phát triển và vốn sự nghiệp.
+ Nguồn vốn đầu tư phát triển: sử dụng đầu tư xây dự cơ sở hạ tầng, tổng nguồn vốn ngân sách đầu tư phát triển là 75 tỷ đồng.
+ Nguồn vốn sự nghiệp (vốn địa phương): thực hiện đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường năng lực ngành; vốn cho nghiên cứu các đề tài khoa học công nghệ (đối với nguồn vốn này, thực hiện theo Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản). Tổng nguồn vốn từ ngân sách địa phương là 53 tỷ đồng.
+ Tranh thủ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ cho các chương trình phát triển nuôi trồng; Chương trình phát triển giống thủy sản theo Quyết định số 2194/QĐ-TTg ; ngân sách địa phương sẽ ưu tiên bố trí để thực hiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nuôi biển, đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường năng lực ngành và các đề tài nghiên cứu về khoa học công nghệ liên quan đến nuôi biển.
- Vốn huy động từ thành phần kinh tế: đầu tư hạ tầng kỹ thuật (hệ thống giao thông, điện) thiết yếu cho các khu nuôi nội bộ bằng hình thức thu hút các nhà đầu tư hoặc đối tác công tư (PPP); đầu tư khu sản xuất giống tập trung,... Vốn các thành phần kinh tế bao gồm vốn tự có của tổ chức, cá nhân, FDI thông qua nguồn vốn tự có, vốn vay tín dụng, vay thương mại đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản theo chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Chính phủ. Ngoài ra, tích cực tranh thủ nguồn vốn các tổ chức phi Chính phủ thực hiện trợ giúp kỹ thuật, tư vấn, đào tạo nâng cao năng lực, xây dựng mô hình, chuyển giao quy trình công nghệ,... Tổng nguồn vốn huy động từ thành phần kinh tế là 12.560 tỷ đồng.
+ Vốn huy động từ các thành phần kinh tế (bao gồm vốn tự có và vốn vay tín dụng): thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư theo quy định của pháp luật để thu hút vốn của các thành phần kinh tế bao gồm hộ cá thể và doanh nghiệp trên địa bàn.
+ Vốn vay tín dụng: triển khai thực hiện theo khoản 1, 2, Điều 4 Quyết định số 126/2005/QĐ-TTg , ngày 01/06/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển và hải đảo; Nghị định số 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng đối với nông nghiệp, nông thôn.
+ Chủ động tìm kiếm, phối hợp với các nguồn tín dụng phát triển nước ngoài, như Quỹ Xuất khẩu thủy sản Na Uy, Quỹ Aqua- Spark (Hà Lan), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB),...
Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực
- Để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng với quy trình và công nghệ nuôi tiên tiến thì cần đào tạo, tập huấn để có đủ số lượng và đảm bảo chất lượng lao động. Tăng cường đầu tư, liên kết, mở rộng quy mô các cơ sở đào tạo nghề về lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.
- Nhu cầu lao động phổ thông lành nghề đáp ứng cho nuôi biển tỉnh Kiên Giang đến năm 2025 là 18.510 người, đến năm 2030, nhu cầu lao động cần 47.680 người. Vì vậy, cần đẩy mạnh các hình thức đào tạo, tập huấn (gồm đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng, tập huấn) về quản lý và kỹ thuật cho lao động trên địa bàn các địa phương nuôi biển để cập nhật nhanh các tiến bộ kỹ thuật.
- Ngoài ra, cần đào tạo lao động kỹ thuật có trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học cho nuôi trồng thủy sản. Nhu cầu khoảng 500 lồng cần 01 kỹ sư nuôi trồng thủy sản quản lý, đến năm 2025 cần khoảng 15 kỹ sư nuôi trồng thủy sản, đến năm 2030 cần 28 kỹ sư nuôi trồng thủy sản. Số lượng cán bộ có trình độ dưới đại học và đại học có thể tính theo tỷ lệ sau: đào tạo 1 đại học, 3 cao đẳng và 6 trung cấp (có nghĩa là đào tạo theo mô hình 1/3/6). Đến năm 2025, toàn vùng cần 15 kỹ sư, 45 cao đẳng và 90 trung cấp về nuôi trồng thủy sản; đến năm 2030, toàn vùng cần 28 kỹ sư, 84 cao đẳng và 168 trung cấp về nuôi trồng thủy sản.
- Cần có chính sách thu hút nhân tài, chuyên gia giỏi trong và ngoài nước trong lĩnh vực nuôi biển về làm việc trong các khu nuôi tập trung với nhiều hình thức ngắn hạn, dài hạn, chuyển giao công nghệ.
- Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 01/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 nhằm đào tạo lao động nông thôn được học nghề trong độ tuổi lao động; cán bộ công chức chuyên môn ở xã.
- Đào tạo nghề theo Thông tư số 05/2012/TT-BNNPTNT ngày 18/01/2012 về ban hành tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đối với các nghề thuộc nhóm nghề nông nghiệp; triển khai thực hiện Quyết định số 229/QĐ-UBND ngày 29/01/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang về việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn và đào tạo theo Kế hoạch số 106/KH-UBND ngày 11/11/2014 của UBND tỉnh trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
- Phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội nuôi biển, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh (VCCI-HCM) Và Tổng Cục Giáo dục nghề nghiệp (Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội), tiến hành thực hiện Dự án về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho nuôi trồng thủy sản do Hiệp hội Giới chủ Na Uy (NHO) tài trợ, trên cơ sở Thỏa thuận hợp tác về nâng cao chất lượng đào tạo nghề nuôi biển công nghiệp giữa VSA và VCCI- HCM 2020-2024 đã được ký kết.
- Phối hợp giữa Global GAP, GAA, ASC và các tổ chức quốc tế khác đào tạo về áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế và đạt các chứng nhận quốc tế theo yêu cầu của thị trường.