Document: Khoản 7 Điều 1 Quyết định 18/2009/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thời kỳ đến 2020

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/2009", "sign_number": "18/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/2009", "sign_number": "18/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/2009", "sign_number": "18/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/2009", "sign_number": "18/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "03/02/2009", "sign_number": "18/2009/QĐ-TTg", "signer": "Nguyễn Tấn Dũng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 7 Điều 1 Quyết định 18/2009/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thời kỳ đến 2020

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thời kỳ đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau:
...
7. Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững
Từ nay đến năm 2020 vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan sẽ được đầu tư phát triển mạnh nhằm phát huy các tiềm năng, lợi thế của Vùng, nhất là tiềm năng, lợi thế của biển và ven biển. Để bảo đảm phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững đòi hỏi phải có các giải pháp tích cực và đồng bộ cả về kỹ thuật và cơ chế, chính sách. Cụ thể là:
- Quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác hải sản, nhất là ở vùng triều và khu vực ven bờ. Quy định cụ thể về số lượng tầu thuyền, loại nghề và sản lượng khai thác tối đa cho từng khu vực, từng mùa vụ để bảo vệ và phát triển nguồn lợi.
- Thiết lập hệ thống rừng phòng hộ ổn định và bền vững. Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn, đặc biệt là ở các khu vực U Minh, Đầm Dơi và bán đảo Cà Mau. Bảo vệ nghiêm ngặt các vườn Quốc gia hiện có; xây dựng một số Khu bảo tồn khác để bảo vệ và khôi phục các hệ sinh thái đặc thù của Vùng.
- Kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng thuốc trừ sâu, phân hóa học trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản để hạn chế ô nhiễm. Kiện toàn hệ thống các trung tâm, các trạm bảo vệ thực vật, đảm bảo khả năng kiểm soát đầu vào và đầu ra của thức ăn, phân bón và các hóa chất bảo vệ thực vật.
- Tăng cường công tác bảo vệ môi trường đô thị và khu công nghiệp. Nhanh chóng di dời các công trình, xí nghiệp gây ô nhiễm nặng ra khỏi khu vực trung tâm các thành phố lớn như Cà Mau, Rạch Giá; đồng thời xử lý triệt để chất thải để bảo vệ môi trường, xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hệ thống thoát và xử lý nước thải tại các đô thị, các khu công nghiệp, khu du lịch, bảo đảm toàn bộ nước thải phải được xử lý đạt tiêu chuẩn Việt Nam trước khi xả vào hệ thống thoát nước chung. Quy hoạch vị trí và quy mô các khu xử lý rác thải phù hợp cho các thành phố, thị xã, thị trấn, các khu công nghiệp... Đối với rác thải của các bệnh viện bắt buộc phải có lò đốt với quy mô phù hợp để xử lý tại chỗ. Có chính sách và quy chế đặc biệt về bảo vệ tài nguyên, môi trường khu vực đảo Phú Quốc, bảo đảm phát triển bền vững.
- Đẩy mạnh bảo vệ môi trường biển và ven biển. Quản lý chặt chẽ việc xả thải của các tầu vận tải hoạt động trên biển. Xây dựng một lực lượng chuyên trách về ứng cứu tràn dầu trên biển, vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan. Tăng cường công tác phòng chống xói lở bờ biển và trên các đảo, nhất là khu vực từ Gành Hào đến Rạch Gốc... Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đê biển. Có kế hoạch hộ đê, di dân, bảo vệ tính mạng, tài sản cho nhân dân sinh sống ở những đoạn bờ biển xung yếu trước mùa mưa bão.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở các cấp, các ngành. Quy định chặt chẽ việc thẩm định, luận chứng các phương án bảo vệ môi trường trong quá trình xét duyệt các dự án phát triển nhất là đối với các công trình có thể gây ô nhiễm lớn như hóa chất, cảng biển, đóng tầu, nhiệt điện... Tăng cường và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ngân sách cho công tác bảo vệ môi trường. Huy động các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn đóng góp kinh phí để xây dựng hệ thống xử lý chất thải trên nguyên tắc "người được hưởng lợi phải trả tiền, người gây ô nhiễm phải đầu tư để khắc phục ô nhiễm". Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức cho nhân dân về bảo vệ môi trường.

Content:
Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững
Từ nay đến năm 2020 vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan sẽ được đầu tư phát triển mạnh nhằm phát huy các tiềm năng, lợi thế của Vùng, nhất là tiềm năng, lợi thế của biển và ven biển. Để bảo đảm phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững đòi hỏi phải có các giải pháp tích cực và đồng bộ cả về kỹ thuật và cơ chế, chính sách. Cụ thể là:
- Quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác hải sản, nhất là ở vùng triều và khu vực ven bờ. Quy định cụ thể về số lượng tầu thuyền, loại nghề và sản lượng khai thác tối đa cho từng khu vực, từng mùa vụ để bảo vệ và phát triển nguồn lợi.
- Thiết lập hệ thống rừng phòng hộ ổn định và bền vững. Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn, đặc biệt là ở các khu vực U Minh, Đầm Dơi và bán đảo Cà Mau. Bảo vệ nghiêm ngặt các vườn Quốc gia hiện có; xây dựng một số Khu bảo tồn khác để bảo vệ và khôi phục các hệ sinh thái đặc thù của Vùng.
- Kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng thuốc trừ sâu, phân hóa học trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản để hạn chế ô nhiễm. Kiện toàn hệ thống các trung tâm, các trạm bảo vệ thực vật, đảm bảo khả năng kiểm soát đầu vào và đầu ra của thức ăn, phân bón và các hóa chất bảo vệ thực vật.
- Tăng cường công tác bảo vệ môi trường đô thị và khu công nghiệp. Nhanh chóng di dời các công trình, xí nghiệp gây ô nhiễm nặng ra khỏi khu vực trung tâm các thành phố lớn như Cà Mau, Rạch Giá; đồng thời xử lý triệt để chất thải để bảo vệ môi trường, xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hệ thống thoát và xử lý nước thải tại các đô thị, các khu công nghiệp, khu du lịch, bảo đảm toàn bộ nước thải phải được xử lý đạt tiêu chuẩn Việt Nam trước khi xả vào hệ thống thoát nước chung. Quy hoạch vị trí và quy mô các khu xử lý rác thải phù hợp cho các thành phố, thị xã, thị trấn, các khu công nghiệp... Đối với rác thải của các bệnh viện bắt buộc phải có lò đốt với quy mô phù hợp để xử lý tại chỗ. Có chính sách và quy chế đặc biệt về bảo vệ tài nguyên, môi trường khu vực đảo Phú Quốc, bảo đảm phát triển bền vững.
- Đẩy mạnh bảo vệ môi trường biển và ven biển. Quản lý chặt chẽ việc xả thải của các tầu vận tải hoạt động trên biển. Xây dựng một lực lượng chuyên trách về ứng cứu tràn dầu trên biển, vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan. Tăng cường công tác phòng chống xói lở bờ biển và trên các đảo, nhất là khu vực từ Gành Hào đến Rạch Gốc... Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đê biển. Có kế hoạch hộ đê, di dân, bảo vệ tính mạng, tài sản cho nhân dân sinh sống ở những đoạn bờ biển xung yếu trước mùa mưa bão.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở các cấp, các ngành. Quy định chặt chẽ việc thẩm định, luận chứng các phương án bảo vệ môi trường trong quá trình xét duyệt các dự án phát triển nhất là đối với các công trình có thể gây ô nhiễm lớn như hóa chất, cảng biển, đóng tầu, nhiệt điện... Tăng cường và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ngân sách cho công tác bảo vệ môi trường. Huy động các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn đóng góp kinh phí để xây dựng hệ thống xử lý chất thải trên nguyên tắc "người được hưởng lợi phải trả tiền, người gây ô nhiễm phải đầu tư để khắc phục ô nhiễm". Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức cho nhân dân về bảo vệ môi trường.