Document: Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1343/QĐ-TTg 2023 phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự đến 2030

Type: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "14/11/2023", "sign_number": "1343/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Minh Chính", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "14/11/2023", "sign_number": "1343/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Minh Chính", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "14/11/2023", "sign_number": "1343/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Minh Chính", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "14/11/2023", "sign_number": "1343/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Minh Chính", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thủ tướng Chính phủ", "promulgation_date": "14/11/2023", "sign_number": "1343/QĐ-TTg", "signer": "Phạm Minh Chính", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 2 Điều 1 Quyết định 1343/QĐ-TTg 2023 phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự đến 2030

Điều 1. Phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo với những nội dung chủ yếu sau:
...
2. Tình hình trong nước
...
b) Đặc điểm địa hình, khí hậu, thủy văn
Việt Nam có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong khu vực Đông Nam Á, có diện tích đất liền hơn 330 ngàn km2, đường biên giới trên đất liền dài hơn 5.000 km, tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào ở phía Tây và Campuchia ở phía Tây Nam, đi qua 25 tỉnh biên giới của Việt Nam và 21 tỉnh của các nước láng giềng. Địa hình chia thành các vùng: Rừng núi, trung du, đồng bằng và ven biển.
Vùng rừng núi có nhiều núi đá, hang động, trong đó nhiều hang động có thể tận dụng cải tạo thành công trình trú ẩn cho nhân dân khi có chiến tranh. Đây cũng là vùng có địa hình hiểm trở, giao thông chưa phát triển, đường độc đạo dễ bị chia cắt vào mùa mưa, gây khó khăn cho cơ động lực lượng, nhất là khi di chuyển, sơ tán, bảo đảm cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật cho khắc phục thảm họa, chiến tranh.
Trung du là vùng chuyển tiếp giữa vùng rừng núi và đồng bằng, có hệ thống đường xá tương đối phát triển, mật độ sông ngòi không lớn; địa hình thuận lợi cho việc xây dựng công trình phòng tránh, cơ động lực lượng, phân tán, sơ tán người và trang bị khi xảy ra thảm họa, chiến tranh. Tuy nhiên, địa hình trung du thường trống trải, khó khăn trong tổ chức ngụy trang, che dấu lực lượng, phương tiện; là nơi tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra sự cố, thảm họa, như sạt lở đất, cháy rừng, sập đổ hầm lò, sạt lở công trình giao thông...
Vùng đồng bằng và ven biển hình thành hai đồng bằng lớn ở Bắc Bộ và Nam Bộ, còn lại trải dài theo bờ biển. Vùng đồng bằng có mật độ dân cư cao, đời sống phát triển, tập trung nhiều đô thị, thành phố lớn và trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, có nhiều khu chế xuất, khu công nghiệp lớn. Hệ thống giao thông phát triển cả đường bộ, đường không, đường sông, đường ven biển, thuận tiện cho cơ động, triển khai lực lượng, phương tiện ứng cứu. Đây cũng là khu vực có mật độ cư dân đông, mức độ tập trung vật chất rất lớn, tiềm ẩn nhiều rủi ro về thiên tai cũng như các sự cố nghiêm trọng trong hoạt động sản xuất.
Vùng biển Việt Nam rộng hơn 1 triệu km2, với hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Các đảo, cụm đảo hình thành từng tuyến từ ngoài vào trong tạo thuận lợi cho tổ chức các điểm tránh, trú cho tàu thuyền trên biển. Biển có tài nguyên thiên nhiên phong phú, là địa bàn quan trọng để phát triển kinh tế đất nước, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về thiên tai, thảm họa ô nhiễm môi trường.
Do địa hình trải dài trên các vĩ độ nên các vùng, miền của Việt Nam có thời tiết, khí hậu, thủy văn đa dạng và phức tạp. Hằng năm cả nước có trên dưới 10 con bão, áp thấp nhiệt đới gây ra lũ lụt, sạt lở đất ở vùng rừng núi, trung du, nước biển dâng ở vùng đồng bằng ven biển... chi phối rất lớn đến hoạt động phòng thủ dân sự. Dự báo những năm tới, tình hình thời tiết, biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường với chiều hướng cực đoan hơn. Tần suất bão gia tăng và có quỹ đạo ngày càng khó dự báo; xu thế tăng nhiệt độ trung bình năm cùng với sự biến đổi của lượng mưa làm cho hạn hán, lũ lụt ngày càng bất thường hơn.
Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình và đặc điểm kinh tế - xã hội cho thấy Việt Nam là nước chịu tác động nhiều và dễ bị tổn thương bởi các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, vì vậy cần phải có các giải pháp căn cơ, lâu dài và toàn diện để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ tác động và hậu quả của thiên tai.

Content:
Đặc điểm địa hình, khí hậu, thủy văn
Việt Nam có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong khu vực Đông Nam Á, có diện tích đất liền hơn 330 ngàn km2, đường biên giới trên đất liền dài hơn 5.000 km, tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào ở phía Tây và Campuchia ở phía Tây Nam, đi qua 25 tỉnh biên giới của Việt Nam và 21 tỉnh của các nước láng giềng. Địa hình chia thành các vùng: Rừng núi, trung du, đồng bằng và ven biển.
Vùng rừng núi có nhiều núi đá, hang động, trong đó nhiều hang động có thể tận dụng cải tạo thành công trình trú ẩn cho nhân dân khi có chiến tranh. Đây cũng là vùng có địa hình hiểm trở, giao thông chưa phát triển, đường độc đạo dễ bị chia cắt vào mùa mưa, gây khó khăn cho cơ động lực lượng, nhất là khi di chuyển, sơ tán, bảo đảm cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật cho khắc phục thảm họa, chiến tranh.
Trung du là vùng chuyển tiếp giữa vùng rừng núi và đồng bằng, có hệ thống đường xá tương đối phát triển, mật độ sông ngòi không lớn; địa hình thuận lợi cho việc xây dựng công trình phòng tránh, cơ động lực lượng, phân tán, sơ tán người và trang bị khi xảy ra thảm họa, chiến tranh. Tuy nhiên, địa hình trung du thường trống trải, khó khăn trong tổ chức ngụy trang, che dấu lực lượng, phương tiện; là nơi tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra sự cố, thảm họa, như sạt lở đất, cháy rừng, sập đổ hầm lò, sạt lở công trình giao thông...
Vùng đồng bằng và ven biển hình thành hai đồng bằng lớn ở Bắc Bộ và Nam Bộ, còn lại trải dài theo bờ biển. Vùng đồng bằng có mật độ dân cư cao, đời sống phát triển, tập trung nhiều đô thị, thành phố lớn và trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, có nhiều khu chế xuất, khu công nghiệp lớn. Hệ thống giao thông phát triển cả đường bộ, đường không, đường sông, đường ven biển, thuận tiện cho cơ động, triển khai lực lượng, phương tiện ứng cứu. Đây cũng là khu vực có mật độ cư dân đông, mức độ tập trung vật chất rất lớn, tiềm ẩn nhiều rủi ro về thiên tai cũng như các sự cố nghiêm trọng trong hoạt động sản xuất.
Vùng biển Việt Nam rộng hơn 1 triệu km2, với hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Các đảo, cụm đảo hình thành từng tuyến từ ngoài vào trong tạo thuận lợi cho tổ chức các điểm tránh, trú cho tàu thuyền trên biển. Biển có tài nguyên thiên nhiên phong phú, là địa bàn quan trọng để phát triển kinh tế đất nước, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về thiên tai, thảm họa ô nhiễm môi trường.
Do địa hình trải dài trên các vĩ độ nên các vùng, miền của Việt Nam có thời tiết, khí hậu, thủy văn đa dạng và phức tạp. Hằng năm cả nước có trên dưới 10 con bão, áp thấp nhiệt đới gây ra lũ lụt, sạt lở đất ở vùng rừng núi, trung du, nước biển dâng ở vùng đồng bằng ven biển... chi phối rất lớn đến hoạt động phòng thủ dân sự. Dự báo những năm tới, tình hình thời tiết, biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường với chiều hướng cực đoan hơn. Tần suất bão gia tăng và có quỹ đạo ngày càng khó dự báo; xu thế tăng nhiệt độ trung bình năm cùng với sự biến đổi của lượng mưa làm cho hạn hán, lũ lụt ngày càng bất thường hơn.
Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình và đặc điểm kinh tế - xã hội cho thấy Việt Nam là nước chịu tác động nhiều và dễ bị tổn thương bởi các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, vì vậy cần phải có các giải pháp căn cơ, lâu dài và toàn diện để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ tác động và hậu quả của thiên tai.