Document: Khoản 1 Điều 2 Thông tư 28-TL-ĐĐ giải thích hướng dẫn Nghị định 173-CP điều lệ bảo vệ đê điều

Type: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "29/09/1964", "sign_number": "28-TL-ĐĐ", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "29/09/1964", "sign_number": "28-TL-ĐĐ", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "29/09/1964", "sign_number": "28-TL-ĐĐ", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "29/09/1964", "sign_number": "28-TL-ĐĐ", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Thuỷ lợi", "promulgation_date": "29/09/1964", "sign_number": "28-TL-ĐĐ", "signer": "Trần Quý Kiên", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 2 Thông tư 28-TL-ĐĐ giải thích hướng dẫn Nghị định 173-CP điều lệ bảo vệ đê điều

Điều 2. của điều lệ quy định phạm vị bảo vệ đê, kè, cống tức là khu vực không được xâm phạm đến để giữ cho đê, kè, công được ổn định. Phạm vi bảo vệ đó như sau:
1. Đối với đê:
a) Đê song chính thường đắp cao và to, nên phạm vi bảo vệ quy định từ chân đê phía sông (tức là chỗ giáp giới của mái đê với đất thiên nhiên) trở ra 20 thước, từ chân đê phía đồng trở vào 20 thước.
b) Đê sông nhánh là những đê tuy cũng quan trọng nhưng thông thường nhỏ và thấp hơn đê sông chính đầu nước và áp lực nước cũng thấp hơn, nên phạm vi bảo vệ quy định là 10 thước từ chân đê phí sông trở ra và 10 thước từ chân đê phía đồng trở vào.
Khoảng cách quy định này là dựa vào nghiên cứu sự ổn định của đê, tình hình đất đai hai bên đê, tình hình thực tế của đê hiện nay và yêu cầu cần thiết của công tác phòng chống lụt, bão. Khoảng cách hẹp hơn sẽ ảnh hưởng đến tính ổn định của đê và gây trở ngại cho việc kiểm tra quan sát trong mùa lụt, bão. Nếu rộng quá sẽ chiếm mất nhiều đất, ảnh hưởng đến sản xuất.
c) Đê biển phần lớn nằm ở những vùng bãi rộng ven biển: Vì gió bão ở biển thổi mạnh, sóng to hơn ở sông và điều kiện đất đai ven biển cho phép nên quy định phạm vi bảo vệ đê về phía biển là 100 thước để tăng khả năng chống đỡ của đê đối với sóng biển, phạm vi nàhy là kể cả khu vực trồng rừng cây chắn sóng, mà rừng cây muốn có tác dụng ngăn và cắt sóng phải rộng ít nhất từ 50 thước trở lên.
Phạm vi bảo vệ đê biển về phía đồng phải bảo đảm theo yêu cầu cấu tạo nên chỉ cần 20 thước, kể cả rãnh ngăn mặn (nếu có). Biện pháp làm rãnh ngăn nước mặn không cho chảy vào đồng là cần thiết để chống mặn cho lúa và hoa màu phía trong đê.
d) Đối với đê bao thành phố: Vì thành phố ít đất bỏ không, vì tính chất của đê bao la tuyến phòng ngự thứ hai chống ảnh hưởng tập hậu của lũ do vỡ đê ở nơi khác tràn tới, hơn nữa điều kiện đất đai xây dựng ở thành phố khác với ở nông thôn, nên điều lệ quy định phạm vi bảo vệ mỗi bên là 5 thước.

Content:
Đối với đê:
a) Đê song chính thường đắp cao và to, nên phạm vi bảo vệ quy định từ chân đê phía sông (tức là chỗ giáp giới của mái đê với đất thiên nhiên) trở ra 20 thước, từ chân đê phía đồng trở vào 20 thước.
b) Đê sông nhánh là những đê tuy cũng quan trọng nhưng thông thường nhỏ và thấp hơn đê sông chính đầu nước và áp lực nước cũng thấp hơn, nên phạm vi bảo vệ quy định là 10 thước từ chân đê phí sông trở ra và 10 thước từ chân đê phía đồng trở vào.
Khoảng cách quy định này là dựa vào nghiên cứu sự ổn định của đê, tình hình đất đai hai bên đê, tình hình thực tế của đê hiện nay và yêu cầu cần thiết của công tác phòng chống lụt, bão. Khoảng cách hẹp hơn sẽ ảnh hưởng đến tính ổn định của đê và gây trở ngại cho việc kiểm tra quan sát trong mùa lụt, bão. Nếu rộng quá sẽ chiếm mất nhiều đất, ảnh hưởng đến sản xuất.
c) Đê biển phần lớn nằm ở những vùng bãi rộng ven biển: Vì gió bão ở biển thổi mạnh, sóng to hơn ở sông và điều kiện đất đai ven biển cho phép nên quy định phạm vi bảo vệ đê về phía biển là 100 thước để tăng khả năng chống đỡ của đê đối với sóng biển, phạm vi nàhy là kể cả khu vực trồng rừng cây chắn sóng, mà rừng cây muốn có tác dụng ngăn và cắt sóng phải rộng ít nhất từ 50 thước trở lên.
Phạm vi bảo vệ đê biển về phía đồng phải bảo đảm theo yêu cầu cấu tạo nên chỉ cần 20 thước, kể cả rãnh ngăn mặn (nếu có). Biện pháp làm rãnh ngăn nước mặn không cho chảy vào đồng là cần thiết để chống mặn cho lúa và hoa màu phía trong đê.
d) Đối với đê bao thành phố: Vì thành phố ít đất bỏ không, vì tính chất của đê bao la tuyến phòng ngự thứ hai chống ảnh hưởng tập hậu của lũ do vỡ đê ở nơi khác tràn tới, hơn nữa điều kiện đất đai xây dựng ở thành phố khác với ở nông thôn, nên điều lệ quy định phạm vi bảo vệ mỗi bên là 5 thước.