Document: Khoản 7 Điều 1 Quyết định 3639/QĐ-UBND 2008 Quy hoạch phòng chống lũ đê điều sông Bưởi Thanh Hóa

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "14/11/2008", "sign_number": "3639/QĐ-UBND", "signer": "Mai Văn Ninh", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "14/11/2008", "sign_number": "3639/QĐ-UBND", "signer": "Mai Văn Ninh", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "14/11/2008", "sign_number": "3639/QĐ-UBND", "signer": "Mai Văn Ninh", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "14/11/2008", "sign_number": "3639/QĐ-UBND", "signer": "Mai Văn Ninh", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thanh Hóa", "promulgation_date": "14/11/2008", "sign_number": "3639/QĐ-UBND", "signer": "Mai Văn Ninh", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 7 Điều 1 Quyết định 3639/QĐ-UBND 2008 Quy hoạch phòng chống lũ đê điều sông Bưởi Thanh Hóa

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phòng chống lũ sông Bưởi, tỉnh Thanh Hóa bao gồm những nội dung chính như sau:
...
7. Các giải pháp phòng chống lũ:
7.1. Điều tiết các hồ chứa cắt giảm lũ: Các hồ chứa đang và sẽ xây dựng trên thượng nguồn hệ thống sông Mã gồm:
- Hồ Cửa Đặt trên sông Chu (đang xây dựng) có dung tích phòng lũ 300 triệu m3;
- Hồ Hủa Na trên sông Chu có dung tích phòng lũ 300 triệu m3;
- Hồ PaMa trên sông Mã có dung tích phòng lũ 350 triệu m3;
- Hồ Bản Uôn trên sông Mã có dung tích phòng lũ tối đa 150 triệu m3 và dung tích phòng lũ thường xuyên là 112m3.
7.2. Trồng rừng và bảo vệ rừng đầu nguồn: Hiện nay, diện tích rừng trên toàn lưu vực sông Bưởi mới có 18.500ha, cần tổ chức, chỉ đạo thực hiện trồng và khoanh nuôi rừng khoảng 50.000ha trên toàn lưu vực (trong đó tỉnh Thanh Hóa 17.500ha, tỉnh Hòa Bình 32.500ha).
7.3. Xây dựng các tuyến đường tránh lũ, cứu hộ phục vụ công tác phòng chống lụt bão:
- Xây dựng, cải tạo tuyến đường từ Cổ Tế đến làng Bèo chuyển tuyến đi áp sát đê phía sông, cao trình mặt đường bằng cao trình cầu Cổ Tế để tránh ngập khi có lũ, phục vụ công tác cứu hộ, cứu nạn.
- Xây dựng tuyến đường từ cầu treo Phúc Khang đi Vân Sơn dài 7,5km, cao trình mặt đường +11.50, tuyến đường đi theo bờ đê cũ của nông trường Thạch Thành để di chuyển dân vùng ngập lũ đến nơi an toàn.
- Cải tạo, nâng cấp tuyến đường Kim Tân - phố Cát và các tuyến đường nhánh khác hiện có phục vụ công tác cứu hộ và sơ tán dân.
7.4. Sắp xếp lại dân cư, tăng cường khả năng thích nghi với điều kiện chung sống với lũ trong vùng thường xuyên ngập lũ:
Sắp xếp lại dân cư trong vùng thường xuyên bị ngập lũ, cải thiện điều kiện chống lũ như xây nhà cao tầng, làm sàn chống lũ... và chuyển đổi cơ cấu mùa vụ thích hợp với điều kiện sống chung với lũ nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại do lũ lụt gây ra.
7.5. Củng cố và nâng cấp hệ thống đê điều:
- Tuyến đê bối xã Thạch Định: Tuyến đê đi theo tuyến cũ. Đoạn từ K0-K5 củng cố trên cơ sở cao trình hiện tại (từ +13.50 đến +12.50), bọc 2 mặt (cứng hóa mặt đê và mái đê, làm đường hành lang chân đê); đoạn từ K5-K9,4 củng cố đảm bảo cao trình +12.50 và bọc bê tông 3 mặt; sửa chữa và làm mới một số cống dưới đê để giải quyết việc tháo lũ.
- Đê tả, hữu sông Bưởi: Củng cố, nâng cấp kiên cố hóa tuyến đê hiện có để đảm bảo tiêu chuẩn phòng lũ (+14.50 tại Kim Tân), sửa chữa nâng cấp và làm mới các cống dưới đê bị hư hỏng hoặc bị ngắn so với đê.
7.6. Cải tạo lòng dẫn:
- Lăn đê tả sông Bưởi mở rộng lòng dẫn 2 đoạn:
+ Đoạn từ cuối thôn 4 xã Thành Kim đến giáp đường Kim Tân dốc Trầu chiều dài 1 km, chuyển tuyến vào phía đồng với chiều rộng bãi B = 100m; hạ thấp bãi xuống cao trình +10.00.
+ Đoạn từ xóm 11 xã Thành Hưng đến đầu cầu Cổ Tế, chuyển tuyến vào phía đồng, với chiều rộng bãi B = 100m; hạ thấp bãi xuống cao trình +10.00.
- Làm cầu dẫn phía hữu và phía tả cầu Cổ Tế để tăng cường khả năng thoát lũ cho sông Bưởi (cầu dẫn phía bờ hữu dài 0,12km; phía tả dài 0,73km).
7.7. Tăng cường năng lực phòng chống lụt bão cho chính quyền và nhân dân trong vùng chịu ảnh hưởng của lũ lụt:
- Củng cố bộ máy, đầu tư trang thiết bị cho Ban chỉ huy phòng chống lụt bão cấp huyện đến thôn, xã; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ theo hướng chuyên môn hóa.
- Hỗ trợ dân trong vùng thường xuyên bị ngập lũ (chưa có đê bảo vệ) xây dựng sàn chống lũ kết hợp nhà ở và các phương tiện sơ tán như thuyền, bè mảng...
- Quy hoạch các điểm sơ tán và xây dựng quy trình sơ tán dân khi có lũ lụt; tập huấn, tuyên truyền nâng cao nhận thức của chính quyền và người dân để chủ động đối phó với lũ lụt.

Content:
Các giải pháp phòng chống lũ:
7.1. Điều tiết các hồ chứa cắt giảm lũ: Các hồ chứa đang và sẽ xây dựng trên thượng nguồn hệ thống sông Mã gồm:
- Hồ Cửa Đặt trên sông Chu (đang xây dựng) có dung tích phòng lũ 300 triệu m3;
- Hồ Hủa Na trên sông Chu có dung tích phòng lũ 300 triệu m3;
- Hồ PaMa trên sông Mã có dung tích phòng lũ 350 triệu m3;
- Hồ Bản Uôn trên sông Mã có dung tích phòng lũ tối đa 150 triệu m3 và dung tích phòng lũ thường xuyên là 112m3.
7.2. Trồng rừng và bảo vệ rừng đầu nguồn: Hiện nay, diện tích rừng trên toàn lưu vực sông Bưởi mới có 18.500ha, cần tổ chức, chỉ đạo thực hiện trồng và khoanh nuôi rừng khoảng 50.000ha trên toàn lưu vực (trong đó tỉnh Thanh Hóa 17.500ha, tỉnh Hòa Bình 32.500ha).
7.3. Xây dựng các tuyến đường tránh lũ, cứu hộ phục vụ công tác phòng chống lụt bão:
- Xây dựng, cải tạo tuyến đường từ Cổ Tế đến làng Bèo chuyển tuyến đi áp sát đê phía sông, cao trình mặt đường bằng cao trình cầu Cổ Tế để tránh ngập khi có lũ, phục vụ công tác cứu hộ, cứu nạn.
- Xây dựng tuyến đường từ cầu treo Phúc Khang đi Vân Sơn dài 7,5km, cao trình mặt đường +11.50, tuyến đường đi theo bờ đê cũ của nông trường Thạch Thành để di chuyển dân vùng ngập lũ đến nơi an toàn.
- Cải tạo, nâng cấp tuyến đường Kim Tân - phố Cát và các tuyến đường nhánh khác hiện có phục vụ công tác cứu hộ và sơ tán dân.
7.4. Sắp xếp lại dân cư, tăng cường khả năng thích nghi với điều kiện chung sống với lũ trong vùng thường xuyên ngập lũ:
Sắp xếp lại dân cư trong vùng thường xuyên bị ngập lũ, cải thiện điều kiện chống lũ như xây nhà cao tầng, làm sàn chống lũ... và chuyển đổi cơ cấu mùa vụ thích hợp với điều kiện sống chung với lũ nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại do lũ lụt gây ra.
7.5. Củng cố và nâng cấp hệ thống đê điều:
- Tuyến đê bối xã Thạch Định: Tuyến đê đi theo tuyến cũ. Đoạn từ K0-K5 củng cố trên cơ sở cao trình hiện tại (từ +13.50 đến +12.50), bọc 2 mặt (cứng hóa mặt đê và mái đê, làm đường hành lang chân đê); đoạn từ K5-K9,4 củng cố đảm bảo cao trình +12.50 và bọc bê tông 3 mặt; sửa chữa và làm mới một số cống dưới đê để giải quyết việc tháo lũ.
- Đê tả, hữu sông Bưởi: Củng cố, nâng cấp kiên cố hóa tuyến đê hiện có để đảm bảo tiêu chuẩn phòng lũ (+14.50 tại Kim Tân), sửa chữa nâng cấp và làm mới các cống dưới đê bị hư hỏng hoặc bị ngắn so với đê.
7.6. Cải tạo lòng dẫn:
- Lăn đê tả sông Bưởi mở rộng lòng dẫn 2 đoạn:
+ Đoạn từ cuối thôn 4 xã Thành Kim đến giáp đường Kim Tân dốc Trầu chiều dài 1 km, chuyển tuyến vào phía đồng với chiều rộng bãi B = 100m; hạ thấp bãi xuống cao trình +10.00.
+ Đoạn từ xóm 11 xã Thành Hưng đến đầu cầu Cổ Tế, chuyển tuyến vào phía đồng, với chiều rộng bãi B = 100m; hạ thấp bãi xuống cao trình +10.00.
- Làm cầu dẫn phía hữu và phía tả cầu Cổ Tế để tăng cường khả năng thoát lũ cho sông Bưởi (cầu dẫn phía bờ hữu dài 0,12km; phía tả dài 0,73km).
7.Tăng cường năng lực phòng chống lụt bão cho chính quyền và nhân dân trong vùng chịu ảnh hưởng của lũ lụt:
- Củng cố bộ máy, đầu tư trang thiết bị cho Ban chỉ huy phòng chống lụt bão cấp huyện đến thôn, xã; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ theo hướng chuyên môn hóa.
- Hỗ trợ dân trong vùng thường xuyên bị ngập lũ (chưa có đê bảo vệ) xây dựng sàn chống lũ kết hợp nhà ở và các phương tiện sơ tán như thuyền, bè mảng...
- Quy hoạch các điểm sơ tán và xây dựng quy trình sơ tán dân khi có lũ lụt; tập huấn, tuyên truyền nâng cao nhận thức của chính quyền và người dân để chủ động đối phó với lũ lụt.