Document: Khoản 1 Điều 15 Thông tư 211/2013/TT-BTC quy trình xuất cấp dự trữ quốc gia cứu trợ viện trợ

Type: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "30/12/2013", "sign_number": "211/2013/TT-BTC", "signer": "Nguyễn Hữu Chí", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "30/12/2013", "sign_number": "211/2013/TT-BTC", "signer": "Nguyễn Hữu Chí", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "30/12/2013", "sign_number": "211/2013/TT-BTC", "signer": "Nguyễn Hữu Chí", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "30/12/2013", "sign_number": "211/2013/TT-BTC", "signer": "Nguyễn Hữu Chí", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "30/12/2013", "sign_number": "211/2013/TT-BTC", "signer": "Nguyễn Hữu Chí", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 15 Thông tư 211/2013/TT-BTC quy trình xuất cấp dự trữ quốc gia cứu trợ viện trợ

Điều 15. Về hạch toán kế toán, quyết toán số lượng, giá trị hàng dự trữ quốc gia xuất để cứu trợ, viện trợ và kinh phí xuất cấp, giao hàng
1. Hạch toán kế toán, quyết toán số lượng, giá trị hàng dự trữ quốc gia xuất để cứu trợ, viện trợ
a) Đối với đơn vị xuất, cấp, giao hàng
Căn cứ quyết định của Thủ trưởng bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia hoặc của Tổng cục trưởng Tổng cục Dự trữ nhà nước về xuất hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ, viện trợ; biên bản giao nhận hàng và hóa đơn bán hàng dự trữ quốc gia để ghi giảm giá trị hàng dự trữ quốc gia tương ứng với số lượng hàng thực tế đã xuất cấp, đồng thời ghi giảm nguồn vốn hàng dự trữ quốc gia theo đúng quy định của chế độ kế toán. Đối với hàng dự trữ quốc gia tạm xuất sử dụng theo khoản 4, Điều 6 của Thông tư này, các đơn vị dự trữ quốc gia ghi giảm số lượng, giá trị hàng dự trữ quốc gia để chuyển sang theo dõi hàng tạm xuất sử dụng. Khi hàng được nhập lại kho thì phải ghi tăng số lượng, giá trị hàng dự trữ quốc gia.
b) Đối với đơn vị nhận hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ
Căn cứ quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc của Thủ trưởng bộ, ngành quản lý lĩnh vực về việc phân bổ hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ, biên bản giao nhận hàng, hóa đơn bán hàng dự trữ quốc gia và các Hồ sơ có liên quan đến kết quả tiếp nhận hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ:
- Cơ quan Tài chính của đơn vị trực tiếp nhận hàng ghi tăng kinh phí ngân sách nhà nước cấp cứu trợ cho địa phương tương ứng với số lượng, giá trị hàng dự trữ quốc gia được nhận để cứu trợ, đồng thời ghi tăng giá trị tài sản, công cụ, dụng cụ (đối với hàng dự trữ quốc gia là các trang thiết bị, phương tiện, máy móc, hàng cứu hộ, cứu nạn) theo đúng chế độ kế toán hiện hành. Hàng dự trữ quốc gia tạm xuất sử dụng theo quy định tại khoản 4, Điều 6 Thông tư này, các cơ quan, đơn vị nhận hàng phải mở sổ theo dõi, quản lý đến khi hàng được nhập lại kho dự trữ quốc gia.
- Sở Tài chính địa phương, hàng năm căn cứ báo cáo của các đơn vị, tổ chức được giao nhiệm vụ tiếp nhận hàng dự trữ quốc gia có trách nhiệm tổng hợp vào báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm phần kinh phí Trung ương cấp cứu trợ cho địa phương.

Content:
Hạch toán kế toán, quyết toán số lượng, giá trị hàng dự trữ quốc gia xuất để cứu trợ, viện trợ
a) Đối với đơn vị xuất, cấp, giao hàng
Căn cứ quyết định của Thủ trưởng bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia hoặc của Tổng cục trưởng Tổng cục Dự trữ nhà nước về xuất hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ, viện trợ; biên bản giao nhận hàng và hóa đơn bán hàng dự trữ quốc gia để ghi giảm giá trị hàng dự trữ quốc gia tương ứng với số lượng hàng thực tế đã xuất cấp, đồng thời ghi giảm nguồn vốn hàng dự trữ quốc gia theo đúng quy định của chế độ kế toán. Đối với hàng dự trữ quốc gia tạm xuất sử dụng theo khoản 4, Điều 6 của Thông tư này, các đơn vị dự trữ quốc gia ghi giảm số lượng, giá trị hàng dự trữ quốc gia để chuyển sang theo dõi hàng tạm xuất sử dụng. Khi hàng được nhập lại kho thì phải ghi tăng số lượng, giá trị hàng dự trữ quốc gia.
b) Đối với đơn vị nhận hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ
Căn cứ quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc của Thủ trưởng bộ, ngành quản lý lĩnh vực về việc phân bổ hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ, biên bản giao nhận hàng, hóa đơn bán hàng dự trữ quốc gia và các Hồ sơ có liên quan đến kết quả tiếp nhận hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ:
- Cơ quan Tài chính của đơn vị trực tiếp nhận hàng ghi tăng kinh phí ngân sách nhà nước cấp cứu trợ cho địa phương tương ứng với số lượng, giá trị hàng dự trữ quốc gia được nhận để cứu trợ, đồng thời ghi tăng giá trị tài sản, công cụ, dụng cụ (đối với hàng dự trữ quốc gia là các trang thiết bị, phương tiện, máy móc, hàng cứu hộ, cứu nạn) theo đúng chế độ kế toán hiện hành. Hàng dự trữ quốc gia tạm xuất sử dụng theo quy định tại khoản 4, Điều 6 Thông tư này, các cơ quan, đơn vị nhận hàng phải mở sổ theo dõi, quản lý đến khi hàng được nhập lại kho dự trữ quốc gia.
- Sở Tài chính địa phương, hàng năm căn cứ báo cáo của các đơn vị, tổ chức được giao nhiệm vụ tiếp nhận hàng dự trữ quốc gia có trách nhiệm tổng hợp vào báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm phần kinh phí Trung ương cấp cứu trợ cho địa phương.