Document: Khoản 7 Điều 1 Quyết định 3453/QĐ-UBND 2014 phê duyệt quy hoạch thủy lợi phục vụ chuyển đổi sản xuất Long An

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Long An", "promulgation_date": "16/10/2014", "sign_number": "3453/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nguyên", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Long An", "promulgation_date": "16/10/2014", "sign_number": "3453/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nguyên", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Long An", "promulgation_date": "16/10/2014", "sign_number": "3453/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nguyên", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Long An", "promulgation_date": "16/10/2014", "sign_number": "3453/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nguyên", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Long An", "promulgation_date": "16/10/2014", "sign_number": "3453/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nguyên", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 7 Điều 1 Quyết định 3453/QĐ-UBND 2014 phê duyệt quy hoạch thủy lợi phục vụ chuyển đổi sản xuất Long An

Điều 1. Phê duyệt quy hoạch thủy lợi phục vụ chuyển đổi sản xuất tỉnh Long An đến năm 2020, với nội dung chính như sau:
...
7. Những nội dung quy hoạch chủ yếu
a) Phân vùng quy hoạch thủy lợi:
Căn cứ đặc điểm tự nhiên, hiện trạng thủy lợi, kết hợp với một số đặc điểm về nguồn nước, trên địa bàn tỉnh Long An phân thành 6 vùng, trong đó một số vùng được chia ra các tiểu vùng. Tóm tắt giới hạn của các vùng như sau:
- Vùng I: Tổng diện tích tự nhiên là: 144.988 ha, bao gồm diện tích của toàn huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, phần phía Tây so với Quốc lộ 62 của huyện Mộc Hóa và Tân Thạnh; được phân thành 04 tiểu vùng.
- Vùng II: Tổng diện tích tự nhiên là: 85.355 ha, phía Bắc giáp biên giới Việt Nam – Campuchia, phía Tây giáp QL. 62, phía Nam giáp ranh giới tỉnh Tiền Giang, phía Đông là ranh giới giữa huyện Thạnh Hóa với huyện Đức Huệ, Thủ Thừa; được phân thành 02 tiểu vùng;
- Vùng III: Tổng diện tích tự nhiên là: 76.442 ha, bao gồm diện tích toàn huyện Đức Huệ, và phần lớn diện tích của huyện Thủ Thừa và một phần phía Tây của huyện Bến Lức; được phân thành 02 tiểu vùng;
- Vùng IV: Tổng diện tích tự nhiên là: 40.733 ha, bao gồm toàn bộ huyện Đức Hòa, phía Bắc giới hạn bởi ranh giới tỉnh Tây Ninh, phía Nam là kênh An Hạ, phía Đông là kênh Thầy Cai và phía Tây là sông Vàm Cỏ Đông.
- Vùng V: Tổng diện tích tự nhiên là: 60.210 ha, bao gồm địa bàn huyện Cần Đước, Cần Giuộc, một phần huyện Bến Lức; được chia thành 03 tiểu vùng.
- Vùng VI: Tổng diện tích tự nhiên là: 40.020 ha, bao gồm toàn bộ TP. Tân An, huyện Châu Thành, huyện Tân Trụ một phần huyện Thủ Thừa và một phần huyện Bến Lức; được chia thành 03 tiểu vùng.
(Chi tiết xem phụ lục kèm theo)
b) Nội dung các giải pháp quy hoạch:
- Quy hoạch cấp nước cho sản xuất nông nghiệp
+ Tăng cường khả năng cấp nước từ sông Tiền sang sông Vàm Cỏ Tây thông qua nạo vét, mở rộng các trục tiếp nước qua vùng ĐTM gồm các kênh: Sở Hạ - Cái Cỏ, Tân Thành - Lò Gạch, Hồng Ngự, An Phong - Mỹ Hòa - Bắc Đông, Nguyễn Văn Tiếp - Rạch Chanh, Bảo Định...;
+ Tận dụng tối đa nguồn nước ngọt từ hồ Dầu Tiếng qua kênh Đông - Củ Chi chủ động tưới cho huyện Đức Hòa và cấp nước cho dân sinh, công nghiệp và một phần nước qua sông Vàm Cỏ Đông tạo điều kiện chủ động trữ nước kiểm soát mặn trên sông Vàm Cỏ Đông;
+ Nạo vét, bổ sung, nâng cấp hệ thống kênh rạch từ trục chính, kênh cấp I, cấp II, cấp III đến nội đồng;
+ Sửa chữa, xây mới hệ thống cống, đập, đê, bờ bao các cấp để kiểm soát lũ, xâm nhập mặn, trữ ngọt, điều tiết mực nước trong kênh. Đối với khu vực không có nguồn nước ngọt cần trữ nước mưa (vùng V và vùng VI), cống đập đóng lại vào cuối mùa mưa để cấp nước trữ bổ sung cho cây trồng và sinh hoạt trong mùa khô.
+ Phát triển hệ thống trạm bơm điện, trang bị thêm máy bơm nhỏ;
- Quy hoạch cấp nước các ngành khác
+ Giải pháp cấp nước cho dân sinh vẫn sử dụng bằng ba hình thức chủ yếu sau: Sử dụng nguồn nước ngầm bằng cách khoan giếng; những nơi có nguồn nước ngọt từ sông, kênh chính đưa về, sẽ xây dựng các trạm lấy nước mặt, đưa lên bể xử lý, sau đó phân phối cho từng khu dân cư; xây dựng các bể chứa, chum, vại, lu nước… hoặc nạo vét các kênh, rạch, lũng đìa, ao, … giữ nước ngọt vào cuối mùa mưa, để dùng vào mùa khô được áp dụng cho tất cả các vùng, đặc biệt thích hợp ở những nơi dân cư phân tán.
+ Giải pháp cấp nước cho các khu công nghiệp hiện nay vẫn là lấy từ nguồn nước ngầm; tuy nhiên, về lâu dài với tốc độ phát triển công nghiệp nhanh thì nguồn nước ngầm sẽ không đủ, do đó phải xây dựng các nhà máy lấy nước từ các nguồn kênh rạch chính để xử lý rồi cấp cho các khu công nghiệp.
Cụ thể, theo quy hoạch cấp nước vùng tỉnh Long An đến năm 2020: Các khu công nghiệp thuộc vùng IV và một phần của vùng V sẽ lấy một phần nguồn nước từ dự án Phước Hòa về cho khu tưới Đức Hòa, theo tính toán của dự án khu tưới Đức Hòa thì lượng nước cấp cho các khu công nghiệp vùng này khoảng 4 m3/s; các khu công nghiệp vùng VI sẽ sử dụng từ nguồn nước sông Bảo Định. Về lâu dài, khi các nhà máy cấp nước sử dụng từ nguồn nước mặt có khả năng cấp nước cho từng vùng sẽ tiến hành đóng giếng khai thác nước ngầm và sẽ đấu nối vào các đường ống của các nhà máy này.
- Quy hoạch tiêu nước
Hướng tiêu chính cho địa bàn tỉnh Long An là ra các sông Vàm Cỏ, đổ ra cửa Soài Rạp, một phần ra sông Tiền. Hầu hết các vùng dự án đều được giải quyết tiêu nước bằng hình thức tự chảy, ngoại trừ các khu vực thấp trũng cần giải quyết tiêu nước bằng bơm.
- Quy hoạch kiểm soát lũ (KSL), trong quy hoạch (QH) này nằm trong khung chung của quy hoạch thủy lợi vùng đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng, QH kiểm soát lũ cho toàn ĐBSCL, quy hoạch kiểm soát lũ cho tỉnh Long An đến năm 2020 được phê duyệt. Dựa trên khung của các quy hoạch trên, căn cứ vào tình hình ngập thực tế (độ sâu ngập), yêu cầu kiểm soát lũ cho từng đối tượng như: Khu hành chính dân cư, vùng 3 vụ lúa, vùng trồng màu, cây ăn quả, vùng sản xuất 2 vụ, vùng nuôi trồng thủy sản, phát triển công nghiệp, lâm nghiệp…., giải pháp KSL như sau:
+ Vùng I: Kiểm soát lũ đến 15/tháng 7 cho tiểu vùng Bắc kênh Tân Thành – Lò Gạch (TT-LG); kiểm soát lũ đến 25/tháng Tám cho tiểu vùng giữa TT-LG và Dương Văn Dương; kiểm soát lũ tháng Tám cho tiểu vùng Nam kênh Dương Văn Dương; kiểm soát lũ cả năm cho các khu dân cư, các công trình hạ tầng kỹ thuật (HTKT).
+ Vùng II: Kiểm soát lũ tháng 8 cho toàn bộ diện tích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản (NTTS); kiểm soát lũ cả năm cho các khu dân cư, các công trình HTKT; Kiểm soát mặn cho khu vực Bắc Đông.
+ Vùng III: Kiểm soát lũ cả năm cho toàn bộ diện tích sản xuất nông nghiệp, NTTS; kiểm soát lũ cả năm cho các khu dân cư, cho các công trình HTKT; kiểm soát lũ cho toàn bộ diện tích canh tác.
- Quy hoạch kiểm soát mặn
Có hai giải pháp chính để kiểm soát mặn:
+ Giải pháp công trình bằng hệ thống đê, bờ bao, cống bọng…
+ Giải pháp phi công trình bằng việc thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với thời gian, nồng độ mặn.
- Quy hoạch xói lở và bồi lắng
+ Biện pháp phòng tránh chủ yếu vẫn là biện pháp phi công trình, hạn chế thiệt hại do sạt lở gây ra.
+ Một số biện pháp hữu hiệu đã được áp dụng chính sau đây:
* Giải pháp chủ động: Tác động trực tiếp vào dòng chảy, làm thay đổi hướng dòng chảy, giảm cường độ dòng chảy tác động vào lòng dẫn như làm kè, mỏ hàn…
+ Giải pháp bị động: Tác động vào lòng dẫn, làm tăng khả năng tự bảo vệ của lòng dẫn, trong đó gia cố lòng dẫn như làm kè, áp mái hộ làm bằng đá xây, rồng đá, rọ đá, bê tông, trồng cây giữ bờ, giảm ứng xuất tác động lên taluy bờ sông bằng di dời các công trình ra xa bờ sông.
c) Đặc điểm bố trí các công trình chính theo phương án chọn:
Tóm tắt đặc điểm phương án chọn, như sau:
- Trong điều kiện chưa có các công trình kiểm soát lũ trên kênh TT-LG;
- Tập trung đầu tư xây dựng hệ thống công trình kiểm soát mặn theo hình thức bao từng lưu vực sông rạch vùng Hạ, hoàn thiện khép kín các dự án kiểm soát mặn và ngọt hóa cho vùng V và VI;
- Vùng Bắc kênh TT-LG không kiểm soát lũ, vùng Nam kênh TT-LG bao theo kênh cấp II để kiểm soát lũ tháng VIII, cao trình bờ bao tùy thuộc vào từng vùng cụ thể.
- Nạo vét mở rộng tuyến kênh trục và kênh cấp I cụ thể: Kênh 61, kênh Rạch Tràm - Mỹ Bình, rạch Cái Cỏ - Long Khốt, kênh Phước Xuyên, Kênh 79, Kênh 28,… để tăng cường khả năng thoát lũ và lấy nước vào mùa khô.
- Đối với Tiểu vùng giới hạn bởi hai sông Vàm Cỏ Tây - Vàm Cỏ Đông và kênh Trà Cú Thượng: Làm hệ thống đê bao kép kín theo kênh cấp II và hệ thống cống dưới đê để kiểm soát mặn giữ ngọt vào mùa khô đồng thời nạo vét tuyến Bo Bo và các kênh cấp II nối hai sông Vàm Cỏ để tăng cường khả năng lấy ngọt trong mùa khô, thau chua rửa phèn trong mùa mưa.
- Đối với Vùng IV các công trình tưới được bố trí như đã được thiết kế của dự án khu tưới Đức Hòa, vùng V các công trình chống ngập và kiểm soát mặn sẽ được bố trí như phương án chọn của dự án quy hoạch thủy lợi chống ngập úng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phát triển hệ thống trạm bơm điện trên địa bàn toàn tỉnh để tăng cường khả năng tưới tiêu.
- Tất cả các công trình được đặt trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng cùng với sự phát triển sản xuất cao ở các nước thượng lưu đặc biệt là Campuchia.
d) Giải pháp phát triển hệ thống công trình thủy lợi:
- Giai đoạn 2014-2015
Tập trung đầu tư xây dựng các công trình chuyển tiếp để hoàn thành dứt điểm theo kế hoạch.
+ Các dự án Trung ương đầu tư: Bảo Định GĐ 2, kênh Đồng Tiến - Dương Văn Dương - La Grăng, kênh Nam Ngàn - Bắc Đông, khu tưới Đức Hòa - Hồ Phước Hòa, Kênh 79, kênh 28, Kênh 61,...
+ Các dự án vốn ngân sách địa Phương: Dự án phát triển sản xuất: Khóm, khoai mỡ, chanh, Tà Khiết (huyện Tân Hưng), Trại giống lúa ĐTM; các dự án đầu tư sửa chữa, nâng cấp công trình thủy lợi theo kế hoạch.
- Giai đoạn từ 2016 đến 2020
+ Tập trung đầu tư xây dựng hệ thống công trình kiểm soát mặn theo hình thức bao từng lưu vực sông rạch vùng Hạ, hoàn thiện khép kín các dự án kiểm soát mặn và ngọt hóa cho vùng V và VI;
+ Vùng Bắc kênh TT - LG không kiểm soát lũ, Vùng nam kênh TT - LG bao theo kênh cấp II để kiểm soát lũ tháng Tám, cao trình bờ bao tùy thuộc vào từng vùng cụ thể.
+ Nạo vét mở rộng tuyến kênh trục và kênh cấp I cụ thể: Kênh 61, kênh Rạch Tràm - Mỹ Bình, rạch Cái Cỏ - Long Khốt, kênh Phước Xuyên, Kênh 79, Kênh 28,… Để tăng cường khả năng thoát lũ và lấy nước vào mùa khô.
+ Đối với Tiểu vùng kẹp giữa hai sông Vàm Cỏ Tây - Vàm Cỏ Đông và kênh Trà Cú Thượng: Làm hệ thống đê bao kép kín theo kênh cấp II và hệ thống cống dưới đê để kiểm soát mặn giữ ngọt vào mùa khô đồng thời nạo vét tuyến Bo Bo và các kênh cấp II nối hai sông Vàm Cỏ để tăng cường khả năng lấy ngọt trong mùa khô, thau chua rửa phèn trong mùa mưa.
+ Đối với Vùng IV các công trình tưới được bố trí như đã được thiết kế của dự án khu tưới Đức Hòa, Vùng V các công trình chống ngập và kiểm soát mặn sẽ được bố trí như phương án chọn của dự án quy hoạch thủy lợi chống ngập úng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Phát triển hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn toàn tỉnh để tăng cường khả năng tưới tiêu.
+ Tất cả các công trình được đặt trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng cùng với sự phát triển sản xuất cao ở các nước thượng lưu đặc biệt là Campuchia và các công trình thủy điện trên sông Mê Công.
- Giai đoạn sau 2020
+ Xây dựng tuyến kiểm soát lũ kênh Tân Thành - Lò Gạch. Đây là công trình đầu mối kiểm soát lũ với vai trò chủ đạo, có tác động toàn cục trên diện rộng ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng ĐTM và yếu tố xuyên biên giới được đề xuất để giải quyết vấn đề lũ, là một trong những cơ sở để tổ hợp hình thành các phương án bố trí hệ thống thủy lợi. Dù vậy vẫn cần hệ thống bờ bao kiểm soát lũ sớm để đảm bảo sản xuất an toàn giai đoạn đầu mùa lũ, nhưng sẽ ứng với mực nước lũ thấp hơn. Thời gian sản xuất, canh tác của mùa vụ khi áp dụng biện pháp này được kéo dài hơn và an toàn hơn so với biện pháp kiểm soát lũ ở vùng thích nghi. Sau khi thu hoạch mùa vụ, thực hiện phân lũ vào khoảng đầu đến cuối tháng 8 để khai thác mặt lợi của lũ.
Tuyến kiểm soát lũ Tân Thành - Lò Gạch, gồm: Tuyến đê, cống, đập tràn, kênh cấp I... kiểm soát lượng lũ tràn vào ĐTM và sau đó phân lũ thoát ra hướng sông Tiền và một phần ra hướng sông Vàm Cỏ Tây. Hệ thống này vận hành theo phương thức kiểm soát lũ sớm.
+ Xây dựng cống Vàm Cỏ: Theo Quyết định số 1590/QĐ-TTg ngày 09/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thủy lợi Việt nam. Cống Vàm Cỏ vận hành theo chế độ triều để tiêu thoát lũ, ngăn mặn giữ ngọt, ngăn nước biển dâng ở quy mô kích thước và vị trí thích hợp, cùng với việc cải tạo lòng dẫn sông Vàm Cỏ để tăng cường khả năng tiêu thoát lũ từ ĐTM ra nơi nhận nước tiêu (phía biển Đông).
(Bố trí hệ thống công trình chi tiết cho từng vùng theo xem Phụ lục kèm theo)
đ) Trình tự ưu tiên, phân kỳ đầu tư và phân bổ nguồn vốn:
- Trình tự đầu tư:
Long An là nơi chịu tác động mạnh từ lũ và xâm nhập mặn từ biển; vì vậy quan điểm ưu tiên đầu tư xây dựng dự án như sau:
+ Có tính chất quyết định, cấp bách đối với từng vùng hay liên vùng;
+ Khẳng định về mặt kỹ thuật (đã có nghiên cứu quy hoạch, đã hoặc đang lập báo cáo/dự án đầu tư...);
+ Đầu tư ít nhưng đưa lại hiệu quả sớm;
+ Không mâu thuẫn với công trình xây dựng trong các giai đoạn sau;
+ Nằm trong hệ thống công trình cần được đầu tư đồng bộ để phát huy hiệu quả tổng thể.
+ Trong điều kiện BĐKH-NBD và phát triển thượng lưu, tác động tổng hợp từ phía biển vào là rất quan trọng, ứng phó với xâm nhập mặn và NBD là rất cấp bách, nên vùng ven biển sẽ được ưu tiên hơn, đặc biệt các công trình đê sông và kiểm soát mặn.
+ Công trình tiếp tục thực hiện theo Quyết định số 84/2006/QĐ-TTg ngày 19/4/2006 về việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020; Quyết định số 1397/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch Thủy lợi vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2012-2020 và định hướng đến 2050 có trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng; Chiến lược Phát triển thủy lợi Việt Nam ban hành theo Quyết định số 1590/QĐ-TTg ngày 09/10/2009; quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1547/QĐ-TTg ngày 28/10/2008 phê duyệt quy hoạch thủy lợi chống ngập úng khu vực thành phố Hồ Chí Minh.
+ Công trình mới có quy mô vừa và nhỏ đã được xem xét để phục vụ sản xuất nông nghiệp - thủy sản và dân sinh quy mô cấp tỉnh và liên tỉnh, phù hợp với các giải pháp ứng phó với BĐKH-NBD tổng thể và lâu dài.
+ Công trình kiểm soát lũ tiếp tục được hoàn chỉnh, đặc biệt công trình kiểm soát lũ kết hợp tưới, tiêu nước, kết hợp giao thông và bố trí dân cư.
+ Các công trình phục vụ nuôi trồng thủy sản.
+ Các công trình bảo vệ vườn cây ăn trái và cây công nghiệp có tầm quan trọng.
+ Các công trình bảo đảm và phát triển sản xuất ổn định 2-3 vụ lúa, hoặc lúa màu vụ đông xuân, hè thu, thu đông, xuân hè.
+ Các công trình phòng chống sạt lở tại những nơi xung yếu và có tầm quan trọng.
- Phân kỳ đầu tư
Kinh phí đầu tư theo giai đoạn như bảng sau:
Đơn vị tính: Triệu đồng

STT

HẠNG MỤC

Tổng

Giai đoạn 2014-2015

Giai đoạn 2016-2020

Giai đoạn sau 2020

TỔNG

13.178.618

1.658.018

5.341.270

6.179.330

1

Vốn trái phiếu Chính Phủ

4.291.690

337.476

2.495.258

1.458.956

2

Vốn vay ODA

2.922.405

110.408

585.000

2.226.996

3

Vốn địa phương

5.964.523

1.210.134

2.261.012

2.493.378

a

Vốn (Tỉnh, huyện)

5.443.142

1.105.857

1.991.321

2.345.964

b

Vốn dân

521.382

104.276

269.691

147.415

- Phân bổ các nguồn vốn
Tổng kinh phí xây dựng hệ thống công trình thủy lợi là rất lớn, do vậy cần huy động nhiều nguồn vốn. Vốn đầu tư được phân bổ như sau:
+ Trung ương (Vốn trái phiếu Chính phủ, vốn ODA, Bổ sung hỗ trợ có mục tiêu, ...) phụ trách phần vốn các công trình theo quyết định số 84/2006/QĐ-TTg, Quyết định số 1397/QĐ-TTg, Quyết định số 1590/QĐ-TTg, Quyết định số 1547/QĐ-TTg, cụ thể các công trình:
* Hệ thống đê sông, đê kênh trục và đê bao bảo vệ khu dân cư.
* Hệ thống kênh trục, kênh cấp I.
* Hệ thống cống trên sông lớn: Cống hợp lưu sông Vàm Cỏ; cống theo dự án cống ngập khu vực TP. HCM, ...
* Hệ thống cống cấp I, cấp II.
* Các dự án phát triển sản xuất theo mục tiêu của Trung ương.
+ Địa phương (Tỉnh, huyện, xã) phụ trách các phần vốn:
* Hệ thống bờ bao các cấp.
* Hệ thống kênh cấp II trở xuống.
* Hệ thống cống cấp III.
* Các dự án phát triển sản xuất
+ Người dân (hộ sản xuất nông nghiệp), các thành phần kinh tế khác:
* Hệ thống nội đồng (sau cống đầu kênh) tại vùng ruộng của các hộ sản xuất nông nghiệp;
* Các máy bơm cá nhân, trạm bơm quy mô nhỏ.
* Các dự án phát triển sản xuất
e) Đề xuất danh mục công trình ưu tiên xây dựng:
(Xem Phụ lục kèm theo)
g) Đề xuất dự án nghiên cứu:
Sau khi quy hoạch thủy lợi phục vụ chuyển đổi sản xuất tỉnh Long An đến năm 2020 được phê duyệt và triển khai thực hiện, tiếp tục nghiên cứu các vấn đề sau:
- Đối với tỉnh
+ Tiếp tục nghiên cứu lập quy hoạch phát triển trạm bơm điện nhỏ cho toàn tỉnh thay thế đề án phát triển trạm bơm điện nhỏ vùng Đồng Tháp Mười.
+ Nghiên cứu lập đề án kiên cố hóa kênh mương.
+ Rà soát quy hoạch hệ thống đê bao lửng cho vùng ĐTM tỉnh Long An.
+ Nghiên cứu xây dựng quy trình vận hành hệ thống công trình thủy lợi cho toàn tỉnh.
+ Lập đề tài nghiên cứu khoa học về sử dụng công nghệ trong công tác quản lý và vận hành hệ thống công trình thủy lợi cho toàn tỉnh Long An.
+ Xây dựng các dự án thủy lợi phục vụ sản xuất: Nuôi thủy sản tập trung vùng hạ hai huyện Cần Đước, Cần Giuộc; vùng sản xuất chuyên canh cây ăn quả: Cây chanh (Bến Lức, Đức Huệ); cây thanh long (Châu Thành); cây khoai mỡ, dưa hấu (Thạnh Hóa); Cánh đồng sản xuất lớn; ...
- Đối với Bộ Nông nghiệp và PTNT
+ Lập dự án nghiên cứu tiền khả thi cống hợp lưu sông Vàm Cỏ.
+ Lập dự án nghiên cứu khả thi tuyến kiểm soát lũ kênh Tân Thành - Lò Gạch.
+ Lập dự án nghiên cứu khả thi đầu tư hệ thống thủy lợi vùng kẹp giữa 2 sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây
+ Lập đề tài nghiên cứu khoa học biện pháp cấp ngọt cho vùng V và tiểu vùng VI-2 bằng biện pháp công trình và phi công trình.
+ Có chính sách phát triển lưới điện phục vụ cho các trạm bơm điện
h) Các giải pháp phi công trình kết hợp:
- Tăng cường công tác chuẩn bị đầu tư, bao gồm từ khâu lập chương trình, dự án theo mục tiêu quy hoạch đến tổ chức thực hiện các dự án đầu tư và giám sát thực hiện.
- Hoàn chỉnh các quy hoạch chi tiết (quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch cơ sở hạ tầng...) và công khai cho toàn thể dân chúng biết để các nhà đầu tư và nhân dân yên tâm bỏ vốn sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng triển khai các dự án sản xuất với các quy mô thích hợp.
- Chuẩn bị tốt các dự án phát triển, các chương trình đầu tư và danh mục công trình cụ thể để tranh thủ các nguồn tín dụng nước ngoài: Vốn ODA, vay với lãi suất ưu đãi của các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF, ADB; vốn FDI ... nhằm tích cực vận động kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cải thiện môi trường đầu tư, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc thẩm định xét duyệt các dự án đầu tư nước ngoài nhằm rút ngắn thời gian cấp phép.
- Xây dựng cơ chế tiết kiệm trong tiêu dùng để đầu tư cho sản xuất. Tăng dần tỷ lệ tích lũy từ ngân sách để đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Nâng dần tỷ trọng đầu tư cho cơ sở hạ tầng trong cơ cấu chi ngân sách nhà nước. Có cơ chế khuyến khích mạnh các thành phần kinh tế đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật dưới dạng BOT trong nước hay tham gia góp vốn vào các dự án mà Nhà nước chủ trì. Tranh thủ các nguồn tín dụng quốc tế cho việc đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật.
- Nhanh chóng cải tiến, đổi mới quản lý khoa học công nghệ từ việc tăng cường hệ thống tổ chức bộ máy đến quản lý hoạt động khoa học công nghệ theo luật khoa học công nghệ và theo sự hướng dẫn của bộ. Đẩy mạnh các hoạt động thông tin tuyên truyền phổ cập kiến thức khoa học công nghệ rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân.
- Có chính sách đãi ngộ cán bộ khoa học công nghệ kể cả người nước ngoài chuyển giao công nghệ hoặc về làm việc trong Tỉnh. Đặc biệt khuyến khích cán bộ khoa học công nghệ về công tác ở vùng sâu vùng xa. Mặt khác, tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ khoa học công nghệ, cán bộ quản lý để có được đội ngũ chuyên gia đầu đàn trong các ngành đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Công tác tuyên truyền, thông báo tình hình lũ lụt trên các phương tiện thông tin đại chúng (phát thanh, truyền hình, Internet...) cần phải được đẩy mạnh. Đặc biệt, cần phải đẩy mạnh công nghệ thông tin trong công tác sản xuất nông nghiệp.
- Chuyển đổi cơ cấu cây con để thích nghi với từng vùng sản xuất theo quy hoạch phát triển nông - lâm - ngư nghiệp và kế hoạch tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh. Đối với vùng ngập sâu bố trí công trình kiểm soát lũ với nhiệm vụ bảo vệ chống ngập lũ đầu vụ bảo đảm thu hoạch vụ hè thu, nhằm giảm chi phí đầu tư xây dựng công trình kiểm soát lũ. Tìm những loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, hay thích nghi với hoàn cảnh ngập lụt, như vậy đối với những vùng sản xuất hai vụ lúa áp lực kiểm soát lũ không còn là nỗi lo lớn.
- Cần có sự thống nhất cao trong tổ chức, quản lý, vấn đề kiểm soát lũ cho Long An cần phối hợp chặt chẽ với kiểm soát lũ toàn đồng bằng, nếu có sự hợp tác của các nước thượng lưu thì vấn đề kiểm soát lũ sẽ trở lên đơn giản và hữu hiệu. Do vậy, trong vấn đề kiểm soát lũ cần phải tăng cường hợp tác với các tỉnh lân cận và các nước thượng lưu thông qua Ủy ban sông Mê Công Việt Nam và Ủy hội quốc tế sông Mê Công.

Content:
Những nội dung quy hoạch chủ yếu
a) Phân vùng quy hoạch thủy lợi:
Căn cứ đặc điểm tự nhiên, hiện trạng thủy lợi, kết hợp với một số đặc điểm về nguồn nước, trên địa bàn tỉnh Long An phân thành 6 vùng, trong đó một số vùng được chia ra các tiểu vùng. Tóm tắt giới hạn của các vùng như sau:
- Vùng I: Tổng diện tích tự nhiên là: 144.988 ha, bao gồm diện tích của toàn huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, phần phía Tây so với Quốc lộ 62 của huyện Mộc Hóa và Tân Thạnh; được phân thành 04 tiểu vùng.
- Vùng II: Tổng diện tích tự nhiên là: 85.355 ha, phía Bắc giáp biên giới Việt Nam – Campuchia, phía Tây giáp QL. 62, phía Nam giáp ranh giới tỉnh Tiền Giang, phía Đông là ranh giới giữa huyện Thạnh Hóa với huyện Đức Huệ, Thủ Thừa; được phân thành 02 tiểu vùng;
- Vùng III: Tổng diện tích tự nhiên là: 76.442 ha, bao gồm diện tích toàn huyện Đức Huệ, và phần lớn diện tích của huyện Thủ Thừa và một phần phía Tây của huyện Bến Lức; được phân thành 02 tiểu vùng;
- Vùng IV: Tổng diện tích tự nhiên là: 40.733 ha, bao gồm toàn bộ huyện Đức Hòa, phía Bắc giới hạn bởi ranh giới tỉnh Tây Ninh, phía Nam là kênh An Hạ, phía Đông là kênh Thầy Cai và phía Tây là sông Vàm Cỏ Đông.
- Vùng V: Tổng diện tích tự nhiên là: 60.210 ha, bao gồm địa bàn huyện Cần Đước, Cần Giuộc, một phần huyện Bến Lức; được chia thành 03 tiểu vùng.
- Vùng VI: Tổng diện tích tự nhiên là: 40.020 ha, bao gồm toàn bộ TP. Tân An, huyện Châu Thành, huyện Tân Trụ một phần huyện Thủ Thừa và một phần huyện Bến Lức; được chia thành 03 tiểu vùng.
(Chi tiết xem phụ lục kèm theo)
b) Nội dung các giải pháp quy hoạch:
- Quy hoạch cấp nước cho sản xuất nông nghiệp
+ Tăng cường khả năng cấp nước từ sông Tiền sang sông Vàm Cỏ Tây thông qua nạo vét, mở rộng các trục tiếp nước qua vùng ĐTM gồm các kênh: Sở Hạ - Cái Cỏ, Tân Thành - Lò Gạch, Hồng Ngự, An Phong - Mỹ Hòa - Bắc Đông, Nguyễn Văn Tiếp - Rạch Chanh, Bảo Định...;
+ Tận dụng tối đa nguồn nước ngọt từ hồ Dầu Tiếng qua kênh Đông - Củ Chi chủ động tưới cho huyện Đức Hòa và cấp nước cho dân sinh, công nghiệp và một phần nước qua sông Vàm Cỏ Đông tạo điều kiện chủ động trữ nước kiểm soát mặn trên sông Vàm Cỏ Đông;
+ Nạo vét, bổ sung, nâng cấp hệ thống kênh rạch từ trục chính, kênh cấp I, cấp II, cấp III đến nội đồng;
+ Sửa chữa, xây mới hệ thống cống, đập, đê, bờ bao các cấp để kiểm soát lũ, xâm nhập mặn, trữ ngọt, điều tiết mực nước trong kênh. Đối với khu vực không có nguồn nước ngọt cần trữ nước mưa (vùng V và vùng VI), cống đập đóng lại vào cuối mùa mưa để cấp nước trữ bổ sung cho cây trồng và sinh hoạt trong mùa khô.
+ Phát triển hệ thống trạm bơm điện, trang bị thêm máy bơm nhỏ;
- Quy hoạch cấp nước các ngành khác
+ Giải pháp cấp nước cho dân sinh vẫn sử dụng bằng ba hình thức chủ yếu sau: Sử dụng nguồn nước ngầm bằng cách khoan giếng; những nơi có nguồn nước ngọt từ sông, kênh chính đưa về, sẽ xây dựng các trạm lấy nước mặt, đưa lên bể xử lý, sau đó phân phối cho từng khu dân cư; xây dựng các bể chứa, chum, vại, lu nước… hoặc nạo vét các kênh, rạch, lũng đìa, ao, … giữ nước ngọt vào cuối mùa mưa, để dùng vào mùa khô được áp dụng cho tất cả các vùng, đặc biệt thích hợp ở những nơi dân cư phân tán.
+ Giải pháp cấp nước cho các khu công nghiệp hiện nay vẫn là lấy từ nguồn nước ngầm; tuy nhiên, về lâu dài với tốc độ phát triển công nghiệp nhanh thì nguồn nước ngầm sẽ không đủ, do đó phải xây dựng các nhà máy lấy nước từ các nguồn kênh rạch chính để xử lý rồi cấp cho các khu công nghiệp.
Cụ thể, theo quy hoạch cấp nước vùng tỉnh Long An đến năm 2020: Các khu công nghiệp thuộc vùng IV và một phần của vùng V sẽ lấy một phần nguồn nước từ dự án Phước Hòa về cho khu tưới Đức Hòa, theo tính toán của dự án khu tưới Đức Hòa thì lượng nước cấp cho các khu công nghiệp vùng này khoảng 4 m3/s; các khu công nghiệp vùng VI sẽ sử dụng từ nguồn nước sông Bảo Định. Về lâu dài, khi các nhà máy cấp nước sử dụng từ nguồn nước mặt có khả năng cấp nước cho từng vùng sẽ tiến hành đóng giếng khai thác nước ngầm và sẽ đấu nối vào các đường ống của các nhà máy này.
- Quy hoạch tiêu nước
Hướng tiêu chính cho địa bàn tỉnh Long An là ra các sông Vàm Cỏ, đổ ra cửa Soài Rạp, một phần ra sông Tiền. Hầu hết các vùng dự án đều được giải quyết tiêu nước bằng hình thức tự chảy, ngoại trừ các khu vực thấp trũng cần giải quyết tiêu nước bằng bơm.
- Quy hoạch kiểm soát lũ (KSL), trong quy hoạch (QH) này nằm trong khung chung của quy hoạch thủy lợi vùng đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng, QH kiểm soát lũ cho toàn ĐBSCL, quy hoạch kiểm soát lũ cho tỉnh Long An đến năm 2020 được phê duyệt. Dựa trên khung của các quy hoạch trên, căn cứ vào tình hình ngập thực tế (độ sâu ngập), yêu cầu kiểm soát lũ cho từng đối tượng như: Khu hành chính dân cư, vùng 3 vụ lúa, vùng trồng màu, cây ăn quả, vùng sản xuất 2 vụ, vùng nuôi trồng thủy sản, phát triển công nghiệp, lâm nghiệp…., giải pháp KSL như sau:
+ Vùng I: Kiểm soát lũ đến 15/tháng 7 cho tiểu vùng Bắc kênh Tân Thành – Lò Gạch (TT-LG); kiểm soát lũ đến 25/tháng Tám cho tiểu vùng giữa TT-LG và Dương Văn Dương; kiểm soát lũ tháng Tám cho tiểu vùng Nam kênh Dương Văn Dương; kiểm soát lũ cả năm cho các khu dân cư, các công trình hạ tầng kỹ thuật (HTKT).
+ Vùng II: Kiểm soát lũ tháng 8 cho toàn bộ diện tích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản (NTTS); kiểm soát lũ cả năm cho các khu dân cư, các công trình HTKT; Kiểm soát mặn cho khu vực Bắc Đông.
+ Vùng III: Kiểm soát lũ cả năm cho toàn bộ diện tích sản xuất nông nghiệp, NTTS; kiểm soát lũ cả năm cho các khu dân cư, cho các công trình HTKT; kiểm soát lũ cho toàn bộ diện tích canh tác.
- Quy hoạch kiểm soát mặn
Có hai giải pháp chính để kiểm soát mặn:
+ Giải pháp công trình bằng hệ thống đê, bờ bao, cống bọng…
+ Giải pháp phi công trình bằng việc thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với thời gian, nồng độ mặn.
- Quy hoạch xói lở và bồi lắng
+ Biện pháp phòng tránh chủ yếu vẫn là biện pháp phi công trình, hạn chế thiệt hại do sạt lở gây ra.
+ Một số biện pháp hữu hiệu đã được áp dụng chính sau đây:
* Giải pháp chủ động: Tác động trực tiếp vào dòng chảy, làm thay đổi hướng dòng chảy, giảm cường độ dòng chảy tác động vào lòng dẫn như làm kè, mỏ hàn…
+ Giải pháp bị động: Tác động vào lòng dẫn, làm tăng khả năng tự bảo vệ của lòng dẫn, trong đó gia cố lòng dẫn như làm kè, áp mái hộ làm bằng đá xây, rồng đá, rọ đá, bê tông, trồng cây giữ bờ, giảm ứng xuất tác động lên taluy bờ sông bằng di dời các công trình ra xa bờ sông.
c) Đặc điểm bố trí các công trình chính theo phương án chọn:
Tóm tắt đặc điểm phương án chọn, như sau:
- Trong điều kiện chưa có các công trình kiểm soát lũ trên kênh TT-LG;
- Tập trung đầu tư xây dựng hệ thống công trình kiểm soát mặn theo hình thức bao từng lưu vực sông rạch vùng Hạ, hoàn thiện khép kín các dự án kiểm soát mặn và ngọt hóa cho vùng V và VI;
- Vùng Bắc kênh TT-LG không kiểm soát lũ, vùng Nam kênh TT-LG bao theo kênh cấp II để kiểm soát lũ tháng VIII, cao trình bờ bao tùy thuộc vào từng vùng cụ thể.
- Nạo vét mở rộng tuyến kênh trục và kênh cấp I cụ thể: Kênh 61, kênh Rạch Tràm - Mỹ Bình, rạch Cái Cỏ - Long Khốt, kênh Phước Xuyên, Kênh 79, Kênh 28,… để tăng cường khả năng thoát lũ và lấy nước vào mùa khô.
- Đối với Tiểu vùng giới hạn bởi hai sông Vàm Cỏ Tây - Vàm Cỏ Đông và kênh Trà Cú Thượng: Làm hệ thống đê bao kép kín theo kênh cấp II và hệ thống cống dưới đê để kiểm soát mặn giữ ngọt vào mùa khô đồng thời nạo vét tuyến Bo Bo và các kênh cấp II nối hai sông Vàm Cỏ để tăng cường khả năng lấy ngọt trong mùa khô, thau chua rửa phèn trong mùa mưa.
- Đối với Vùng IV các công trình tưới được bố trí như đã được thiết kế của dự án khu tưới Đức Hòa, vùng V các công trình chống ngập và kiểm soát mặn sẽ được bố trí như phương án chọn của dự án quy hoạch thủy lợi chống ngập úng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phát triển hệ thống trạm bơm điện trên địa bàn toàn tỉnh để tăng cường khả năng tưới tiêu.
- Tất cả các công trình được đặt trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng cùng với sự phát triển sản xuất cao ở các nước thượng lưu đặc biệt là Campuchia.
d) Giải pháp phát triển hệ thống công trình thủy lợi:
- Giai đoạn 2014-2015
Tập trung đầu tư xây dựng các công trình chuyển tiếp để hoàn thành dứt điểm theo kế hoạch.
+ Các dự án Trung ương đầu tư: Bảo Định GĐ 2, kênh Đồng Tiến - Dương Văn Dương - La Grăng, kênh Nam Ngàn - Bắc Đông, khu tưới Đức Hòa - Hồ Phước Hòa, Kênh 79, kênh 28, Kênh 61,...
+ Các dự án vốn ngân sách địa Phương: Dự án phát triển sản xuất: Khóm, khoai mỡ, chanh, Tà Khiết (huyện Tân Hưng), Trại giống lúa ĐTM; các dự án đầu tư sửa chữa, nâng cấp công trình thủy lợi theo kế hoạch.
- Giai đoạn từ 2016 đến 2020
+ Tập trung đầu tư xây dựng hệ thống công trình kiểm soát mặn theo hình thức bao từng lưu vực sông rạch vùng Hạ, hoàn thiện khép kín các dự án kiểm soát mặn và ngọt hóa cho vùng V và VI;
+ Vùng Bắc kênh TT - LG không kiểm soát lũ, Vùng nam kênh TT - LG bao theo kênh cấp II để kiểm soát lũ tháng Tám, cao trình bờ bao tùy thuộc vào từng vùng cụ thể.
+ Nạo vét mở rộng tuyến kênh trục và kênh cấp I cụ thể: Kênh 61, kênh Rạch Tràm - Mỹ Bình, rạch Cái Cỏ - Long Khốt, kênh Phước Xuyên, Kênh 79, Kênh 28,… Để tăng cường khả năng thoát lũ và lấy nước vào mùa khô.
+ Đối với Tiểu vùng kẹp giữa hai sông Vàm Cỏ Tây - Vàm Cỏ Đông và kênh Trà Cú Thượng: Làm hệ thống đê bao kép kín theo kênh cấp II và hệ thống cống dưới đê để kiểm soát mặn giữ ngọt vào mùa khô đồng thời nạo vét tuyến Bo Bo và các kênh cấp II nối hai sông Vàm Cỏ để tăng cường khả năng lấy ngọt trong mùa khô, thau chua rửa phèn trong mùa mưa.
+ Đối với Vùng IV các công trình tưới được bố trí như đã được thiết kế của dự án khu tưới Đức Hòa, Vùng V các công trình chống ngập và kiểm soát mặn sẽ được bố trí như phương án chọn của dự án quy hoạch thủy lợi chống ngập úng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Phát triển hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn toàn tỉnh để tăng cường khả năng tưới tiêu.
+ Tất cả các công trình được đặt trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng cùng với sự phát triển sản xuất cao ở các nước thượng lưu đặc biệt là Campuchia và các công trình thủy điện trên sông Mê Công.
- Giai đoạn sau 2020
+ Xây dựng tuyến kiểm soát lũ kênh Tân Thành - Lò Gạch. Đây là công trình đầu mối kiểm soát lũ với vai trò chủ đạo, có tác động toàn cục trên diện rộng ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng ĐTM và yếu tố xuyên biên giới được đề xuất để giải quyết vấn đề lũ, là một trong những cơ sở để tổ hợp hình thành các phương án bố trí hệ thống thủy lợi. Dù vậy vẫn cần hệ thống bờ bao kiểm soát lũ sớm để đảm bảo sản xuất an toàn giai đoạn đầu mùa lũ, nhưng sẽ ứng với mực nước lũ thấp hơn. Thời gian sản xuất, canh tác của mùa vụ khi áp dụng biện pháp này được kéo dài hơn và an toàn hơn so với biện pháp kiểm soát lũ ở vùng thích nghi. Sau khi thu hoạch mùa vụ, thực hiện phân lũ vào khoảng đầu đến cuối tháng 8 để khai thác mặt lợi của lũ.
Tuyến kiểm soát lũ Tân Thành - Lò Gạch, gồm: Tuyến đê, cống, đập tràn, kênh cấp I... kiểm soát lượng lũ tràn vào ĐTM và sau đó phân lũ thoát ra hướng sông Tiền và một phần ra hướng sông Vàm Cỏ Tây. Hệ thống này vận hành theo phương thức kiểm soát lũ sớm.
+ Xây dựng cống Vàm Cỏ: Theo Quyết định số 1590/QĐ-TTg ngày 09/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thủy lợi Việt nam. Cống Vàm Cỏ vận hành theo chế độ triều để tiêu thoát lũ, ngăn mặn giữ ngọt, ngăn nước biển dâng ở quy mô kích thước và vị trí thích hợp, cùng với việc cải tạo lòng dẫn sông Vàm Cỏ để tăng cường khả năng tiêu thoát lũ từ ĐTM ra nơi nhận nước tiêu (phía biển Đông).
(Bố trí hệ thống công trình chi tiết cho từng vùng theo xem Phụ lục kèm theo)
đ) Trình tự ưu tiên, phân kỳ đầu tư và phân bổ nguồn vốn:
- Trình tự đầu tư:
Long An là nơi chịu tác động mạnh từ lũ và xâm nhập mặn từ biển; vì vậy quan điểm ưu tiên đầu tư xây dựng dự án như sau:
+ Có tính chất quyết định, cấp bách đối với từng vùng hay liên vùng;
+ Khẳng định về mặt kỹ thuật (đã có nghiên cứu quy hoạch, đã hoặc đang lập báo cáo/dự án đầu tư...);
+ Đầu tư ít nhưng đưa lại hiệu quả sớm;
+ Không mâu thuẫn với công trình xây dựng trong các giai đoạn sau;
+ Nằm trong hệ thống công trình cần được đầu tư đồng bộ để phát huy hiệu quả tổng thể.
+ Trong điều kiện BĐKH-NBD và phát triển thượng lưu, tác động tổng hợp từ phía biển vào là rất quan trọng, ứng phó với xâm nhập mặn và NBD là rất cấp bách, nên vùng ven biển sẽ được ưu tiên hơn, đặc biệt các công trình đê sông và kiểm soát mặn.
+ Công trình tiếp tục thực hiện theo Quyết định số 84/2006/QĐ-TTg ngày 19/4/2006 về việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020; Quyết định số 1397/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch Thủy lợi vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2012-2020 và định hướng đến 2050 có trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng; Chiến lược Phát triển thủy lợi Việt Nam ban hành theo Quyết định số 1590/QĐ-TTg ngày 09/10/2009; quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1547/QĐ-TTg ngày 28/10/2008 phê duyệt quy hoạch thủy lợi chống ngập úng khu vực thành phố Hồ Chí Minh.
+ Công trình mới có quy mô vừa và nhỏ đã được xem xét để phục vụ sản xuất nông nghiệp - thủy sản và dân sinh quy mô cấp tỉnh và liên tỉnh, phù hợp với các giải pháp ứng phó với BĐKH-NBD tổng thể và lâu dài.
+ Công trình kiểm soát lũ tiếp tục được hoàn chỉnh, đặc biệt công trình kiểm soát lũ kết hợp tưới, tiêu nước, kết hợp giao thông và bố trí dân cư.
+ Các công trình phục vụ nuôi trồng thủy sản.
+ Các công trình bảo vệ vườn cây ăn trái và cây công nghiệp có tầm quan trọng.
+ Các công trình bảo đảm và phát triển sản xuất ổn định 2-3 vụ lúa, hoặc lúa màu vụ đông xuân, hè thu, thu đông, xuân hè.
+ Các công trình phòng chống sạt lở tại những nơi xung yếu và có tầm quan trọng.
- Phân kỳ đầu tư
Kinh phí đầu tư theo giai đoạn như bảng sau:
Đơn vị tính: Triệu đồng

STT

HẠNG MỤC

Tổng

Giai đoạn 2014-2015

Giai đoạn 2016-2020

Giai đoạn sau 2020

TỔNG

13.178.618

1.658.018

5.341.270

6.179.330

1

Vốn trái phiếu Chính Phủ

4.291.690

337.476

2.495.258

1.458.956

2

Vốn vay ODA

2.922.405

110.408

585.000

2.226.996

3

Vốn địa phương

5.964.523

1.210.134

2.261.012

2.493.378

a

Vốn (Tỉnh, huyện)

5.443.142

1.105.857

1.991.321

2.345.964

b

Vốn dân

521.382

104.276

269.691

147.415

- Phân bổ các nguồn vốn
Tổng kinh phí xây dựng hệ thống công trình thủy lợi là rất lớn, do vậy cần huy động nhiều nguồn vốn. Vốn đầu tư được phân bổ như sau:
+ Trung ương (Vốn trái phiếu Chính phủ, vốn ODA, Bổ sung hỗ trợ có mục tiêu, ...) phụ trách phần vốn các công trình theo quyết định số 84/2006/QĐ-TTg, Quyết định số 1397/QĐ-TTg, Quyết định số 1590/QĐ-TTg, Quyết định số 1547/QĐ-TTg, cụ thể các công trình:
* Hệ thống đê sông, đê kênh trục và đê bao bảo vệ khu dân cư.
* Hệ thống kênh trục, kênh cấp I.
* Hệ thống cống trên sông lớn: Cống hợp lưu sông Vàm Cỏ; cống theo dự án cống ngập khu vực TP. HCM, ...
* Hệ thống cống cấp I, cấp II.
* Các dự án phát triển sản xuất theo mục tiêu của Trung ương.
+ Địa phương (Tỉnh, huyện, xã) phụ trách các phần vốn:
* Hệ thống bờ bao các cấp.
* Hệ thống kênh cấp II trở xuống.
* Hệ thống cống cấp III.
* Các dự án phát triển sản xuất
+ Người dân (hộ sản xuất nông nghiệp), các thành phần kinh tế khác:
* Hệ thống nội đồng (sau cống đầu kênh) tại vùng ruộng của các hộ sản xuất nông nghiệp;
* Các máy bơm cá nhân, trạm bơm quy mô nhỏ.
* Các dự án phát triển sản xuất
e) Đề xuất danh mục công trình ưu tiên xây dựng:
(Xem Phụ lục kèm theo)
g) Đề xuất dự án nghiên cứu:
Sau khi quy hoạch thủy lợi phục vụ chuyển đổi sản xuất tỉnh Long An đến năm 2020 được phê duyệt và triển khai thực hiện, tiếp tục nghiên cứu các vấn đề sau:
- Đối với tỉnh
+ Tiếp tục nghiên cứu lập quy hoạch phát triển trạm bơm điện nhỏ cho toàn tỉnh thay thế đề án phát triển trạm bơm điện nhỏ vùng Đồng Tháp Mười.
+ Nghiên cứu lập đề án kiên cố hóa kênh mương.
+ Rà soát quy hoạch hệ thống đê bao lửng cho vùng ĐTM tỉnh Long An.
+ Nghiên cứu xây dựng quy trình vận hành hệ thống công trình thủy lợi cho toàn tỉnh.
+ Lập đề tài nghiên cứu khoa học về sử dụng công nghệ trong công tác quản lý và vận hành hệ thống công trình thủy lợi cho toàn tỉnh Long An.
+ Xây dựng các dự án thủy lợi phục vụ sản xuất: Nuôi thủy sản tập trung vùng hạ hai huyện Cần Đước, Cần Giuộc; vùng sản xuất chuyên canh cây ăn quả: Cây chanh (Bến Lức, Đức Huệ); cây thanh long (Châu Thành); cây khoai mỡ, dưa hấu (Thạnh Hóa); Cánh đồng sản xuất lớn; ...
- Đối với Bộ Nông nghiệp và PTNT
+ Lập dự án nghiên cứu tiền khả thi cống hợp lưu sông Vàm Cỏ.
+ Lập dự án nghiên cứu khả thi tuyến kiểm soát lũ kênh Tân Thành - Lò Gạch.
+ Lập dự án nghiên cứu khả thi đầu tư hệ thống thủy lợi vùng kẹp giữa 2 sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây
+ Lập đề tài nghiên cứu khoa học biện pháp cấp ngọt cho vùng V và tiểu vùng VI-2 bằng biện pháp công trình và phi công trình.
+ Có chính sách phát triển lưới điện phục vụ cho các trạm bơm điện
h) Các giải pháp phi công trình kết hợp:
- Tăng cường công tác chuẩn bị đầu tư, bao gồm từ khâu lập chương trình, dự án theo mục tiêu quy hoạch đến tổ chức thực hiện các dự án đầu tư và giám sát thực hiện.
- Hoàn chỉnh các quy hoạch chi tiết (quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch cơ sở hạ tầng...) và công khai cho toàn thể dân chúng biết để các nhà đầu tư và nhân dân yên tâm bỏ vốn sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng triển khai các dự án sản xuất với các quy mô thích hợp.
- Chuẩn bị tốt các dự án phát triển, các chương trình đầu tư và danh mục công trình cụ thể để tranh thủ các nguồn tín dụng nước ngoài: Vốn ODA, vay với lãi suất ưu đãi của các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF, ADB; vốn FDI ... nhằm tích cực vận động kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cải thiện môi trường đầu tư, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc thẩm định xét duyệt các dự án đầu tư nước ngoài nhằm rút ngắn thời gian cấp phép.
- Xây dựng cơ chế tiết kiệm trong tiêu dùng để đầu tư cho sản xuất. Tăng dần tỷ lệ tích lũy từ ngân sách để đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Nâng dần tỷ trọng đầu tư cho cơ sở hạ tầng trong cơ cấu chi ngân sách nhà nước. Có cơ chế khuyến khích mạnh các thành phần kinh tế đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật dưới dạng BOT trong nước hay tham gia góp vốn vào các dự án mà Nhà nước chủ trì. Tranh thủ các nguồn tín dụng quốc tế cho việc đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật.
- Nhanh chóng cải tiến, đổi mới quản lý khoa học công nghệ từ việc tăng cường hệ thống tổ chức bộ máy đến quản lý hoạt động khoa học công nghệ theo luật khoa học công nghệ và theo sự hướng dẫn của bộ. Đẩy mạnh các hoạt động thông tin tuyên truyền phổ cập kiến thức khoa học công nghệ rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân.
- Có chính sách đãi ngộ cán bộ khoa học công nghệ kể cả người nước ngoài chuyển giao công nghệ hoặc về làm việc trong Tỉnh. Đặc biệt khuyến khích cán bộ khoa học công nghệ về công tác ở vùng sâu vùng xa. Mặt khác, tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ khoa học công nghệ, cán bộ quản lý để có được đội ngũ chuyên gia đầu đàn trong các ngành đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Công tác tuyên truyền, thông báo tình hình lũ lụt trên các phương tiện thông tin đại chúng (phát thanh, truyền hình, Internet...) cần phải được đẩy mạnh. Đặc biệt, cần phải đẩy mạnh công nghệ thông tin trong công tác sản xuất nông nghiệp.
- Chuyển đổi cơ cấu cây con để thích nghi với từng vùng sản xuất theo quy hoạch phát triển nông - lâm - ngư nghiệp và kế hoạch tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh. Đối với vùng ngập sâu bố trí công trình kiểm soát lũ với nhiệm vụ bảo vệ chống ngập lũ đầu vụ bảo đảm thu hoạch vụ hè thu, nhằm giảm chi phí đầu tư xây dựng công trình kiểm soát lũ. Tìm những loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, hay thích nghi với hoàn cảnh ngập lụt, như vậy đối với những vùng sản xuất hai vụ lúa áp lực kiểm soát lũ không còn là nỗi lo lớn.
- Cần có sự thống nhất cao trong tổ chức, quản lý, vấn đề kiểm soát lũ cho Long An cần phối hợp chặt chẽ với kiểm soát lũ toàn đồng bằng, nếu có sự hợp tác của các nước thượng lưu thì vấn đề kiểm soát lũ sẽ trở lên đơn giản và hữu hiệu. Do vậy, trong vấn đề kiểm soát lũ cần phải tăng cường hợp tác với các tỉnh lân cận và các nước thượng lưu thông qua Ủy ban sông Mê Công Việt Nam và Ủy hội quốc tế sông Mê Công.