Document: Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2265/QĐ-UBND Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp Tỉnh Thái Nguyên

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "15/09/2009", "sign_number": "2265/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Quốc Vượng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "15/09/2009", "sign_number": "2265/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Quốc Vượng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "15/09/2009", "sign_number": "2265/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Quốc Vượng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "15/09/2009", "sign_number": "2265/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Quốc Vượng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Thái Nguyên", "promulgation_date": "15/09/2009", "sign_number": "2265/QĐ-UBND", "signer": "Hoàng Quốc Vượng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 5 Điều 1 Quyết định 2265/QĐ-UBND Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp Tỉnh Thái Nguyên

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp bao gồm: Caolanh, Sét gốm, Barit, Photphorit, Dolomit, Quazit và Pyrit trên địa bàn tỉnhThái Nguyên giai đoạn 2009 - 2015, có xét đến năm 2020, với những nội dung chính như sau:
...
5. Vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư cho khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp giai đoạn 2009-2020: 1.463,7 tỷ đồng (toàn bộ là vốn huy động từ các nguồn của doanh nghiệp), chia ra:
- Vốn đầu tư cho công tác thăm dò: 25,3 tỷ
- Vốn đầu tư cho hoạt động khai thác: 80,4 tỷ
-Vốn đầu tư cho hoạt động chế biến: 1.358 tỷ
- Khuyến khích các nhà đầu tư đổi mới, áp dụng kỹ thuật công nghệ tiến tiến phục vụ cho khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp.
III. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Giải pháp về hạ tầng cơ sở
Cần gắn quy hoạch xây dựng và phát triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp trên địa bàn tỉnh với quy hoạch các ngành công nghiệp khai thác khoáng sản, giao thông vận tải, quy hoạch điện, nước, quy hoạch nông lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai của tỉnh. Tận dụng tối đa cơ sở hạ tầng hiện có phục vụ cho công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác và chế biến. Có thể kết hợp nhiều nguồn vốn như: FDI, doanh nghiệp, các nguồn vốn khác để tạo lập hạ tầng cơ sở thuận lợi sử dụng chung với nhiều mục đớch trên địa bàn tỉnh.
2. Giải pháp về vốn
Doanh nghiệp huy động vốn từ các nguồn: Vay tín dụng; tư nhân, hỗn hợp, cổ phần, FDI... để đầu tư vào khâu thăm dò, khai thác, chế biến sâu khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp.
Lựa chọn phương án đầu tư hợp lý, có trọng điểm vào các mỏ phù hợp với quy hoạch này và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
3. Giải pháp về nguồn nhân lực
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công nhân trong ngành khai thác khoáng sản như kỹ thuật khai thác, chỉ huy nổ mìn và thợ mìn… Ưu tiên tuyển dụng lao động địa phương, lao động trong các hộ bị ảnh hưởng và các hộ trong diện di dời tái định cư bởi hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản. Hỗ trợ đào tạo nghề ngắn hạn cho công nhân trong ngành khai thác, chế biến khoáng sản theo qui chế hiện hành của tỉnh.
4. Giải pháp về kỹ thuật và công nghệ
Ngành khai thác, chế biến khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp Việt Nam đã có hàng chục năm phát triển và đã đạt được nhiều thành tựu về công nghệ và thiết kế chế tạo thiết bị. Do đó khâu khai thác và tuyển rửa chủ yếu sử dụng công nghệ và thiết bị trong nước, chỉ nhập một số thiết bị nước ngoài có chất lượng nổi trội hẳn và đặc thù riêng đối với từng loại khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp; nhưng cũng phải quan tâm đến tính đồng bộ, tận thu tối đa tài nguyên và không gây tác động xấu đến môi trường. Đối với các mỏ đã và đang tiến hành khai thác, các cơ sở chế biến: cần đánh giá lại trình độ công nghệ để có phương án đầu tư, cải tạo nâng cao hiệu quả sản xuất với phương châm: Công nghệ kỹ thuật tiên tiến hiện đại trên cơ sở tận dụng thiết bị, công nghệ đang có; đầu tư vào những khâu then chốt, quan trọng. Đối với các cơ sở chế biến sâu đầu tư mới: Các nhà đầu tư nhất thiết phải lựa chọn công nghệ kỹ thuật tiên tiến hiện đại trên thế giới, trang bị đầy đủ thiết bị phân tích, kiểm tra, thiết bị bảo vệ và xử lý triệt để các nguồn gây ô nhiễm trong quá trình sản xuất.
5. Giải pháp bảo vệ môi trường và sinh thái.
Trong nhóm khoáng chất công nghiệp quá trình khai thác, chế biến những tác động xấu đến môi trường xung quanh không nhiều, nhưng vẫn phải đặt vấn đề bảo vệ môi trường lên hàng đầu, đối với những mỏ lớn cần bố trí khâu chế biến tập trung trong các khu công nghiệp, không gần các khu đô thị, khu đông dân cư; cần phải có các biện pháp công nghệ xử lý triệt để ô nhiễm môi trường.
Các dự án đầu tư vào khai thác, chế biến nhóm khoáng chất công nghiệp phải làm đầy đủ các thủ tục theo quy định của luật môi trường, thực hiện triệt để và nghiêm túc các giải pháp bảo vệ môi trường. Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp để xảy ra sự cố môi trường, nhưng không có giải pháp khắc phục hữu hiệu sẽ bị cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định hiện hành.
Thực hiện đề án bảo vệ môi trường thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2007-2010 và những năm tiếp theo của tỉnh. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về môi trường, có sự phối hợp, phân công, phân cấp rõ ràng. Các cơ sở khai thác, chế biến phải ký quỹ phục hồi môi trường, nộp phí bảo vệ môi trường, phí nước thải. Thực hiện nghiêm túc việc hoàn thổ sau khai thác đóng cửa mỏ theo quy định của pháp luật.

Content:
Vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư cho khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp giai đoạn 2009-2020: 1.463,7 tỷ đồng (toàn bộ là vốn huy động từ các nguồn của doanh nghiệp), chia ra:
- Vốn đầu tư cho công tác thăm dò: 25,3 tỷ
- Vốn đầu tư cho hoạt động khai thác: 80,4 tỷ
-Vốn đầu tư cho hoạt động chế biến: 1.358 tỷ
- Khuyến khích các nhà đầu tư đổi mới, áp dụng kỹ thuật công nghệ tiến tiến phục vụ cho khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp.
III. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Giải pháp về hạ tầng cơ sở
Cần gắn quy hoạch xây dựng và phát triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp trên địa bàn tỉnh với quy hoạch các ngành công nghiệp khai thác khoáng sản, giao thông vận tải, quy hoạch điện, nước, quy hoạch nông lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai của tỉnh. Tận dụng tối đa cơ sở hạ tầng hiện có phục vụ cho công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác và chế biến. Có thể kết hợp nhiều nguồn vốn như: FDI, doanh nghiệp, các nguồn vốn khác để tạo lập hạ tầng cơ sở thuận lợi sử dụng chung với nhiều mục đớch trên địa bàn tỉnh.
2. Giải pháp về vốn
Doanh nghiệp huy động vốn từ các nguồn: Vay tín dụng; tư nhân, hỗn hợp, cổ phần, FDI... để đầu tư vào khâu thăm dò, khai thác, chế biến sâu khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp.
Lựa chọn phương án đầu tư hợp lý, có trọng điểm vào các mỏ phù hợp với quy hoạch này và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
3. Giải pháp về nguồn nhân lực
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công nhân trong ngành khai thác khoáng sản như kỹ thuật khai thác, chỉ huy nổ mìn và thợ mìn… Ưu tiên tuyển dụng lao động địa phương, lao động trong các hộ bị ảnh hưởng và các hộ trong diện di dời tái định cư bởi hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản. Hỗ trợ đào tạo nghề ngắn hạn cho công nhân trong ngành khai thác, chế biến khoáng sản theo qui chế hiện hành của tỉnh.
4. Giải pháp về kỹ thuật và công nghệ
Ngành khai thác, chế biến khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp Việt Nam đã có hàng chục năm phát triển và đã đạt được nhiều thành tựu về công nghệ và thiết kế chế tạo thiết bị. Do đó khâu khai thác và tuyển rửa chủ yếu sử dụng công nghệ và thiết bị trong nước, chỉ nhập một số thiết bị nước ngoài có chất lượng nổi trội hẳn và đặc thù riêng đối với từng loại khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp; nhưng cũng phải quan tâm đến tính đồng bộ, tận thu tối đa tài nguyên và không gây tác động xấu đến môi trường. Đối với các mỏ đã và đang tiến hành khai thác, các cơ sở chế biến: cần đánh giá lại trình độ công nghệ để có phương án đầu tư, cải tạo nâng cao hiệu quả sản xuất với phương châm: Công nghệ kỹ thuật tiên tiến hiện đại trên cơ sở tận dụng thiết bị, công nghệ đang có; đầu tư vào những khâu then chốt, quan trọng. Đối với các cơ sở chế biến sâu đầu tư mới: Các nhà đầu tư nhất thiết phải lựa chọn công nghệ kỹ thuật tiên tiến hiện đại trên thế giới, trang bị đầy đủ thiết bị phân tích, kiểm tra, thiết bị bảo vệ và xử lý triệt để các nguồn gây ô nhiễm trong quá trình sản xuất.
Giải pháp bảo vệ môi trường và sinh thái.
Trong nhóm khoáng chất công nghiệp quá trình khai thác, chế biến những tác động xấu đến môi trường xung quanh không nhiều, nhưng vẫn phải đặt vấn đề bảo vệ môi trường lên hàng đầu, đối với những mỏ lớn cần bố trí khâu chế biến tập trung trong các khu công nghiệp, không gần các khu đô thị, khu đông dân cư; cần phải có các biện pháp công nghệ xử lý triệt để ô nhiễm môi trường.
Các dự án đầu tư vào khai thác, chế biến nhóm khoáng chất công nghiệp phải làm đầy đủ các thủ tục theo quy định của luật môi trường, thực hiện triệt để và nghiêm túc các giải pháp bảo vệ môi trường. Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp để xảy ra sự cố môi trường, nhưng không có giải pháp khắc phục hữu hiệu sẽ bị cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định hiện hành.
Thực hiện đề án bảo vệ môi trường thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2007-2010 và những năm tiếp theo của tỉnh. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về môi trường, có sự phối hợp, phân công, phân cấp rõ ràng. Các cơ sở khai thác, chế biến phải ký quỹ phục hồi môi trường, nộp phí bảo vệ môi trường, phí nước thải. Thực hiện nghiêm túc việc hoàn thổ sau khai thác đóng cửa mỏ theo quy định của pháp luật.