Document: Khoản 1 Điều 1 Thông tư 48-TBXH hướng dẫn Nghị định 236-HĐBT chế độ nghỉ hưu lương hưu

Type: {"issuing_agency": "Bộ Thương binh và Xã hội", "promulgation_date": "30/09/1985", "sign_number": "48-TBXH", "signer": "Song Hào", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Thương binh và Xã hội", "promulgation_date": "30/09/1985", "sign_number": "48-TBXH", "signer": "Song Hào", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Thương binh và Xã hội", "promulgation_date": "30/09/1985", "sign_number": "48-TBXH", "signer": "Song Hào", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Thương binh và Xã hội", "promulgation_date": "30/09/1985", "sign_number": "48-TBXH", "signer": "Song Hào", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Thương binh và Xã hội", "promulgation_date": "30/09/1985", "sign_number": "48-TBXH", "signer": "Song Hào", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Khoản 1 Điều 1 Thông tư 48-TBXH hướng dẫn Nghị định 236-HĐBT chế độ nghỉ hưu lương hưu

Điều 1. và Điều 2 của Nghị định số 236-HĐBT quy định và các điều kiện nghỉ hưu; dưới đây nói rõ về những điều kiện đó:
1. Trường hợp có đủ thời gian công tác quy định tại Điều 1 của Nghị định số 236-HĐBT, trong đó có đủ 15 năm làm công việc độc hại nặng nhọc, hoặc có đủ 15 năm làm việc ở vùng khó khăn gian khổ thì nam có thể được nghỉ hưu ở tuổi 55 và nữ ở tuổi 50 (giảm 5 tuổi đời).
Nếu có đủ thời gian công tác, trong đó có đủ 20 năm làm công việc đặc biệt độc hại, nặng nhọc hoặc có đủ 20 năm làm việc ở vùng có nhiều khó khăn, gian khổ thì nam có thể được nghỉ hưu ở tuổi 50 và nữ ở tuổi 45 (giảm 10 tuổi đời).
Công việc độc hại nặng nhọc và công việc đặc biệt độc hại, nặng nhọc thực hiện theo quy định của Bộ Lao động.
Vùng khó khăn, gian khổ là những vùng có phụ cấp khu vực 20%; vùng có nhiều khó khăn, gian khổ là vùng có phụ cấp khu vực 25% hoặc có phụ cấp chiến đấu từ 10% đến 20% theo các quy định ban hành kèm theo Nghị định số 235-HĐBT ngày 18-9-1985 của Hội đồng Bộ trưởng về cải tiến chế độ tiền lương, hoặc ở các đảo xa nói trong Thông tư số 16-TBXH của Bộ thương binh và xã hội ngày 14-5-1981.

Content:
Trường hợp có đủ thời gian công tác quy định tại Điều 1 của Nghị định số 236-HĐBT, trong đó có đủ 15 năm làm công việc độc hại nặng nhọc, hoặc có đủ 15 năm làm việc ở vùng khó khăn gian khổ thì nam có thể được nghỉ hưu ở tuổi 55 và nữ ở tuổi 50 (giảm 5 tuổi đời).
Nếu có đủ thời gian công tác, trong đó có đủ 20 năm làm công việc đặc biệt độc hại, nặng nhọc hoặc có đủ 20 năm làm việc ở vùng có nhiều khó khăn, gian khổ thì nam có thể được nghỉ hưu ở tuổi 50 và nữ ở tuổi 45 (giảm 10 tuổi đời).
Công việc độc hại nặng nhọc và công việc đặc biệt độc hại, nặng nhọc thực hiện theo quy định của Bộ Lao động.
Vùng khó khăn, gian khổ là những vùng có phụ cấp khu vực 20%; vùng có nhiều khó khăn, gian khổ là vùng có phụ cấp khu vực 25% hoặc có phụ cấp chiến đấu từ 10% đến 20% theo các quy định ban hành kèm theo Nghị định số 235-HĐBT ngày 18-9-1985 của Hội đồng Bộ trưởng về cải tiến chế độ tiền lương, hoặc ở các đảo xa nói trong Thông tư số 16-TBXH của Bộ thương binh và xã hội ngày 14-5-1981.