Document: Điểm b Khoản 3 Điều 1 Quyết định 3244/QĐ-BNN-KHCN năm 2010 phê duyệt Đề án tăng cường năng lực

Type: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "02/12/2010", "sign_number": "3244/QĐ-BNN-KHCN", "signer": "Bùi Bá Bổng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "02/12/2010", "sign_number": "3244/QĐ-BNN-KHCN", "signer": "Bùi Bá Bổng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "02/12/2010", "sign_number": "3244/QĐ-BNN-KHCN", "signer": "Bùi Bá Bổng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "02/12/2010", "sign_number": "3244/QĐ-BNN-KHCN", "signer": "Bùi Bá Bổng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", "promulgation_date": "02/12/2010", "sign_number": "3244/QĐ-BNN-KHCN", "signer": "Bùi Bá Bổng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm b Khoản 3 Điều 1 Quyết định 3244/QĐ-BNN-KHCN năm 2010 phê duyệt Đề án tăng cường năng lực

Điều 1. Phê duyệt Đề án tăng cường năng lực quan trắc môi trường nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2011-2020 (nội dung chi tiết trong phụ lục kèm theo) với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Nội dung
3.1. Xây dựng mạng lưới quan trắc môi trường nông nghiệp, nông thôn:
3.1.1. Nhiệm vụ của mạng lưới quan trắc môi trường nông nghiệp, nông thôn:
a. Phối hợp với các Vụ, Tổng cục, Cục quản lý chuyên ngành, các địa phương và mạng lưới quan trắc môi trường thuộc các Bộ, ngành khác xác định nhu cầu, lập kế hoạch quan trắc chất lượng môi trường, dịch bệnh trong nông nghiệp, nông thôn;
b. Tổ chức quan trắc các nội dung và chỉ tiêu về môi trường, dịch bệnh đặc thù trong nông nghiệp, nông thôn như: chất lượng đất nông nghiệp, xói mòn, rửa trôi, hoang mạc hóa; chất lượng môi trường nước tưới, môi trường chăn nuôi, môi trường nuôi trồng thủy sản, môi trường lâm nghiệp, môi trường trong các cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản và môi trường nông thôn; các tác nhân và điều kiện lan truyền dịch bệnh v.v... mà các hệ thống quan trắc môi trường khác không thực hiện hoặc không đủ cơ sở dữ liệu đáp ứng yêu cầu của công tác xử lý ô nhiễm môi trường, cảnh báo dịch bệnh và chỉ đạo sản xuất của Ngành;
c. Quản lý, xử lý số liệu và khai thác kết quả quan trắc của các mạng lưới quan trắc môi trường thuộc các Bộ, ngành khác để cảnh báo sớm chất lượng môi trường và phát sinh dịch bệnh;
d. Đề xuất và tư vấn cho Bộ trưởng ban hành các quyết định xử lý trong công tác bảo vệ môi trường, phòng ngừa dịch bệnh và chỉ đạo sản xuất; Trực tiếp tham gia xử lý các sự cố môi trường, dịch bệnh và thiên tai khi có yêu cầu của Bộ và các địa phương.
đ. Xây dựng các báo cáo định kỳ, báo cáo hàng năm về hiện trạng chất lượng môi trường nông nghiệp, nông thôn để báo cáo Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan;
e. Đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về quan trắc môi trường, dịch bệnh cho các Trung tâm, Trạm và mạng lưới quan trắc địa phương.
h. Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nông nghiệp, nông thôn; quản lý việc công bố và trao đổi thông tin về môi trường nông nghiệp, nông thôn trong và ngoài nước.
3.1.2. Tổ chức hệ thống quan trắc môi trường nông nghiệp, nông thôn:
Để xây dựng hệ thống quan trắc đồng bộ, tránh chồng chéo, lãng phí, đáp ứng kịp thời và hiệu quả công tác giám sát chất lượng môi trường, cảnh báo dịch bệnh và chỉ đạo sản xuất theo yêu cầu đặc thù của Ngành, mạng lưới quan trắc môi trường nông nghiệp, nông thôn được xây dựng theo một hệ thống thống nhất từ Trung ương đến địa phương.
...
b) Hệ thống quan trắc địa phương: thành lập các Trung tâm hoặc Trạm quan trắc môi trường do các tỉnh quản lý, tiến hành các nội dung quan trắc chuyên sâu về môi trường nông nghiệp, nông thôn theo đặc thù của từng địa phương để phục vụ kịp thời công tác chỉ đạo sản xuất và xử lý ô nhiễm thuộc địa bàn quản lý.
3.2. Tăng cường nguồn lực (con người, thiết bị và tài chính) cho hệ thống quan trắc môi trường nông nghiệp, nông thôn
a) Bổ sung và đào tạo cán bộ cho các đơn vị quan trắc
- Về số lượng: từ năm 2011 đến năm 2020, mạng lưới quan trắc sẽ sử dụng 144 cán bộ thuộc 5 Trung tâm và 3 Trạm Quan trắc môi trường đã có. Đồng thời bổ sung thêm 90 chỉ tiêu biên chế, trong đó cho Văn phòng Quản lý quan trắc môi trường và cảnh báo dịch bệnh nông nghiệp, nông thôn 5 biên chế, mỗi Trung tâm vùng được biên chế 20 cán bộ (trong đó: 12 cán bộ có chuyên môn phân tích và 8 cán bộ có chuyên môn về quản lý dữ liệu, mô hình hóa và cảnh báo dịch bệnh thuộc 8 lĩnh vực đất, nước, thú y, bảo vệ thực vật, lâm nghiệp, vi sinh vật, sinh học, thủy sản); mỗi Trạm tiểu vùng được biên chế 7 cán bộ và mỗi Trạm chuyên đề 4 cán bộ.
- Về chất lượng: nguồn lực cán bộ hiện có cơ bản đã đáp ứng về cơ cấu. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2020 cần tăng cường đào tạo cán bộ có chuyên môn sâu về khoa học môi trường, cảnh báo ô nhiễm và dịch bệnh. Cử một số cán bộ tham gia đào tạo về kỹ năng phân tích ở nước ngoài như Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc. Mỗi Trung tâm vùng cần có ít nhất 2 cán bộ được đào tạo chính quy để có đủ năng lực đào tạo lại cho các cán bộ khác. Song song với đào tạo nước ngoài, hàng năm tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn trong nước cho các cán bộ phòng thí nghiệm thuộc cả hệ thống Trung ương và địa phương.
Đối với mạng lưới do địa phương quản lý, mỗi tỉnh cần có 5 - 10 cán bộ chuyên trách (tùy theo quy mô và mức độ đa dạng của mỗi địa phương) để xác định nhiệm vụ, lập kế hoạch, tổ chức liên kết với các đơn vị quan trắc Trung ương và địa phương thực hiện nhiệm vụ quan trắc; trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quan trắc thường xuyên, khai thác kết quả từ các mạng lưới khác, lập báo cáo định kỳ để ứng dụng trong chỉ đạo sản xuất.
b) Nâng cấp cơ sở hạ tầng
Trên cơ sở kế thừa, nâng cấp các Trung tâm, Trạm quan trắc đã có của Ngành, từ năm 2011 đến 2020, đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng cho các đơn vị quan trắc, đặc biệt là các đơn vị còn thiếu cơ sở hạ tầng như nhà làm việc, phòng thí nghiệm. Tổng kinh phí đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng là 58 tỷ đồng. Trong đó:
- Kinh phí nâng cấp các Trung tâm, trạm và các cơ sở khác hiện có thành 7 Trung tâm vùng là 42 tỷ (6 tỷ/Trung tâm x 7 Trung tâm);
- Đầu tư xây mới 3 Trạm tiểu vùng (Thái Nguyên; Thừa Thiên - Huế và Cà Mau: 7,5 tỷ (2,5 tỷ/Trạm x 3 Trạm);
- Nâng cấp 17 Trạm chuyên đề: 8,5 tỷ (0,5 tỷ/Trạm x 17 Trạm).

Content:
Hệ thống quan trắc địa phương: thành lập các Trung tâm hoặc Trạm quan trắc môi trường do các tỉnh quản lý, tiến hành các nội dung quan trắc chuyên sâu về môi trường nông nghiệp, nông thôn theo đặc thù của từng địa phương để phục vụ kịp thời công tác chỉ đạo sản xuất và xử lý ô nhiễm thuộc địa bàn quản lý.
3.2. Tăng cường nguồn lực (con người, thiết bị và tài chính) cho hệ thống quan trắc môi trường nông nghiệp, nông thôn
a) Bổ sung và đào tạo cán bộ cho các đơn vị quan trắc
- Về số lượng: từ năm 2011 đến năm 2020, mạng lưới quan trắc sẽ sử dụng 144 cán bộ thuộc 5 Trung tâm và 3 Trạm Quan trắc môi trường đã có. Đồng thời bổ sung thêm 90 chỉ tiêu biên chế, trong đó cho Văn phòng Quản lý quan trắc môi trường và cảnh báo dịch bệnh nông nghiệp, nông thôn 5 biên chế, mỗi Trung tâm vùng được biên chế 20 cán bộ (trong đó: 12 cán bộ có chuyên môn phân tích và 8 cán bộ có chuyên môn về quản lý dữ liệu, mô hình hóa và cảnh báo dịch bệnh thuộc 8 lĩnh vực đất, nước, thú y, bảo vệ thực vật, lâm nghiệp, vi sinh vật, sinh học, thủy sản); mỗi Trạm tiểu vùng được biên chế 7 cán bộ và mỗi Trạm chuyên đề 4 cán bộ.
- Về chất lượng: nguồn lực cán bộ hiện có cơ bản đã đáp ứng về cơ cấu. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2020 cần tăng cường đào tạo cán bộ có chuyên môn sâu về khoa học môi trường, cảnh báo ô nhiễm và dịch bệnh. Cử một số cán bộ tham gia đào tạo về kỹ năng phân tích ở nước ngoài như Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc. Mỗi Trung tâm vùng cần có ít nhất 2 cán bộ được đào tạo chính quy để có đủ năng lực đào tạo lại cho các cán bộ khác. Song song với đào tạo nước ngoài, hàng năm tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn trong nước cho các cán bộ phòng thí nghiệm thuộc cả hệ thống Trung ương và địa phương.
Đối với mạng lưới do địa phương quản lý, mỗi tỉnh cần có 5 - 10 cán bộ chuyên trách (tùy theo quy mô và mức độ đa dạng của mỗi địa phương) để xác định nhiệm vụ, lập kế hoạch, tổ chức liên kết với các đơn vị quan trắc Trung ương và địa phương thực hiện nhiệm vụ quan trắc; trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quan trắc thường xuyên, khai thác kết quả từ các mạng lưới khác, lập báo cáo định kỳ để ứng dụng trong chỉ đạo sản xuất.
Nâng cấp cơ sở hạ tầng
Trên cơ sở kế thừa, nâng cấp các Trung tâm, Trạm quan trắc đã có của Ngành, từ năm 2011 đến 2020, đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng cho các đơn vị quan trắc, đặc biệt là các đơn vị còn thiếu cơ sở hạ tầng như nhà làm việc, phòng thí nghiệm. Tổng kinh phí đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng là 58 tỷ đồng. Trong đó:
- Kinh phí nâng cấp các Trung tâm, trạm và các cơ sở khác hiện có thành 7 Trung tâm vùng là 42 tỷ (6 tỷ/Trung tâm x 7 Trung tâm);
- Đầu tư xây mới 3 Trạm tiểu vùng (Thái Nguyên; Thừa Thiên - Huế và Cà Mau: 7,5 tỷ (2,5 tỷ/Trạm x 3 Trạm);
- Nâng cấp 17 Trạm chuyên đề: 8,5 tỷ (0,5 tỷ/Trạm x 17 Trạm).