Document: Khoản 2 Điều 1 Quyết định 3214/QĐ-UBND 2020 Phát triển nuôi biển theo hướng bền vững Kiên Giang đến năm 2030

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "31/12/2020", "sign_number": "3214/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nhàn", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "31/12/2020", "sign_number": "3214/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nhàn", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "31/12/2020", "sign_number": "3214/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nhàn", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "31/12/2020", "sign_number": "3214/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nhàn", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Kiên Giang", "promulgation_date": "31/12/2020", "sign_number": "3214/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Thanh Nhàn", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 3214/QĐ-UBND 2020 Phát triển nuôi biển theo hướng bền vững Kiên Giang đến năm 2030

Điều 1. Phê duyệt Đề án Phát triển nuôi biển theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đến năm 2030 (đính kèm Đề án), với các nội dung chính như sau:
...
2. Định hướng phát triển
Tập trung đầu tư phát triển nuôi thủy sản lồng bè trên biển, nuôi nhuyễn thể vùng bãi triều, ven biển theo chiều sâu, nuôi biển công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao và nuôi sinh thái. Chú trọng an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản, bảo vệ môi trường sinh thái, nguồn lợi thủy sản, kết hợp với tham quan du lịch.
Hình thành các vùng nuôi biển tập trung có quy mô diện tích lớn phù hợp với thị trường, tạo sản lượng hàng hóa lớn phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước, gắn với truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu thủy sản uy tín, chất lượng cao. Chú trọng đầu tư xây dựng các khu sản xuất giống hải sản ứng dụng công nghệ cao phục vụ nuôi biển.
Thu hút, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư nuôi thủy sản lồng bè và nhuyễn thể hai mảnh vỏ với những đối tượng có giá trị kinh tế cao; đẩy nhanh việc ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực sản xuất giống, thức ăn, phòng trị bệnh, công nghệ lồng nuôi biển, công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch để nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm thủy sản, giảm thiểu ô nhiễm môi trường vùng nuôi.
Phát triển nuôi đa loài theo tiếp cận IMTA (Integrated Multi - Trophic Aquaculture) là một giải pháp công nghệ bền vững và tiên tiến nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước và giảm nguy cơ dịch bệnh. Tập trung phát triển các loài nuôi lồng bè có khả năng thích nghi môi trường tốt, kháng bệnh cao, có giá trị kinh tế như: cá mú, cá chim vây vàng, cá hồng mỹ, cá cam, cá bớp, cá chẽm, tôm hùm đá (tôm hùm xanh), ghẹ; nuôi bãi triều như: sò huyết, sò lông, nghêu, hến biển, vẹm xanh, hàu; phát triển trồng rong, tảo biển. Các đối tượng nuôi biển chủ lực: cá mú, cá chim vây vàng, cá bóp, cá chẽm; sò huyết, sò lông.
Nuôi cá lồng bè từng bước tăng tỷ trọng sử dụng thức ăn công nghiệp giảm áp lực khai thác nguồn lợi hải sản tự nhiên làm thức ăn trong quá trình nuôi, nhằm bảo vệ nguồn lợi và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước.
Hình thành mô hình quản lý cộng đồng gắn với sinh kế người dân địa phương. Trong đó phát huy vai trò của các cơ sở nuôi là hạt nhân, điều phối, thống nhất các hoạt động quản lý về môi trường, dịch bệnh, mùa vụ nuôi, con giống, thức ăn,...
Tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng nuôi biển đồng bộ, gắn kết các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ hậu cần nghề cá, nhằm thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao hiệu quả nuôi biển và chế biến, tiêu thụ.
Phát triển nuôi biển theo chuỗi giá trị; tăng cường sự liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở nuôi với nhà cung cấp đầu vào, với các thương lái, cơ sở thu mua, doanh nghiệp chế biến thủy sản; liên kết với các viện, trường; liên kết với các ngân hàng để tiếp cận nguồn vốn tín dụng hoặc các nguồn vốn ưu đãi, hỗ trợ theo chính sách.

Content:
Định hướng phát triển
Tập trung đầu tư phát triển nuôi thủy sản lồng bè trên biển, nuôi nhuyễn thể vùng bãi triều, ven biển theo chiều sâu, nuôi biển công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao và nuôi sinh thái. Chú trọng an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản, bảo vệ môi trường sinh thái, nguồn lợi thủy sản, kết hợp với tham quan du lịch.
Hình thành các vùng nuôi biển tập trung có quy mô diện tích lớn phù hợp với thị trường, tạo sản lượng hàng hóa lớn phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước, gắn với truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu thủy sản uy tín, chất lượng cao. Chú trọng đầu tư xây dựng các khu sản xuất giống hải sản ứng dụng công nghệ cao phục vụ nuôi biển.
Thu hút, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư nuôi thủy sản lồng bè và nhuyễn thể hai mảnh vỏ với những đối tượng có giá trị kinh tế cao; đẩy nhanh việc ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực sản xuất giống, thức ăn, phòng trị bệnh, công nghệ lồng nuôi biển, công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch để nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm thủy sản, giảm thiểu ô nhiễm môi trường vùng nuôi.
Phát triển nuôi đa loài theo tiếp cận IMTA (Integrated Multi - Trophic Aquaculture) là một giải pháp công nghệ bền vững và tiên tiến nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước và giảm nguy cơ dịch bệnh. Tập trung phát triển các loài nuôi lồng bè có khả năng thích nghi môi trường tốt, kháng bệnh cao, có giá trị kinh tế như: cá mú, cá chim vây vàng, cá hồng mỹ, cá cam, cá bớp, cá chẽm, tôm hùm đá (tôm hùm xanh), ghẹ; nuôi bãi triều như: sò huyết, sò lông, nghêu, hến biển, vẹm xanh, hàu; phát triển trồng rong, tảo biển. Các đối tượng nuôi biển chủ lực: cá mú, cá chim vây vàng, cá bóp, cá chẽm; sò huyết, sò lông.
Nuôi cá lồng bè từng bước tăng tỷ trọng sử dụng thức ăn công nghiệp giảm áp lực khai thác nguồn lợi hải sản tự nhiên làm thức ăn trong quá trình nuôi, nhằm bảo vệ nguồn lợi và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước.
Hình thành mô hình quản lý cộng đồng gắn với sinh kế người dân địa phương. Trong đó phát huy vai trò của các cơ sở nuôi là hạt nhân, điều phối, thống nhất các hoạt động quản lý về môi trường, dịch bệnh, mùa vụ nuôi, con giống, thức ăn,...
Tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng nuôi biển đồng bộ, gắn kết các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ hậu cần nghề cá, nhằm thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao hiệu quả nuôi biển và chế biến, tiêu thụ.
Phát triển nuôi biển theo chuỗi giá trị; tăng cường sự liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở nuôi với nhà cung cấp đầu vào, với các thương lái, cơ sở thu mua, doanh nghiệp chế biến thủy sản; liên kết với các viện, trường; liên kết với các ngân hàng để tiếp cận nguồn vốn tín dụng hoặc các nguồn vốn ưu đãi, hỗ trợ theo chính sách.