Document: Điểm a Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1264/QĐ-UBND Điều chỉnh quy hoạch kinh tế xã hội huyện An Giang 2017 2025

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "26/04/2017", "sign_number": "1264/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Nưng", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "26/04/2017", "sign_number": "1264/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Nưng", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "26/04/2017", "sign_number": "1264/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Nưng", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "26/04/2017", "sign_number": "1264/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Nưng", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh An Giang", "promulgation_date": "26/04/2017", "sign_number": "1264/QĐ-UBND", "signer": "Lê Văn Nưng", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Điểm a Khoản 3 Điều 1 Quyết định 1264/QĐ-UBND Điều chỉnh quy hoạch kinh tế xã hội huyện An Giang 2017 2025

Điều 1. Phê duyệt “Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Phú Tân đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực:
3.1. Ngành Nông - Lâm - Thủy sản:
Tập trung sản xuất lúa nếp và tiến tới hình thành vùng chuyên canh lúa nếp, gắn với việc xây dựng và phát triển thương hiệu nếp Phú Tân, với diện tích 18.425 ha vào năm 2020 và 22.290 ha vào năm 2025. Sản lượng đạt 120-150 ngàn tấn/vụ giai đoạn 2016-2020 và 135-180 ngàn tấn/vụ giai đoạn 2021-2025.
Chuyển dần chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán trong khu dân cư sang hình thức nuôi tập trung, trang trại, gia trại; hình thành các vùng chăn nuôi xa trung tâm thành thị, khu dân cư tập trung. Đẩy mạnh áp dụng công nghệ cao trong tất cả các khâu từ con giống, chăm sóc, giết mổ, bảo quản, chế biến và tiếp thị thị trường; liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị từ sản xuất giống, thức ăn đến chế biến để nâng cao năng suất, giảm chi phí, tăng hiệu quả, tính cạnh tranh và giá trị gia tăng cho ngành hàng.
Hình thành các vùng chuyên canh nuôi trồng thủy sản theo tiêu chuẩn quốc tế trên địa bàn huyện, nhằm đảm bảo sản phẩm tạo ra chất lượng cao, an toàn thực phẩm. Sản phẩm nuôi trồng thuộc vùng chuyên canh phải đảm bảo việc truy xuất nguồn gốc, phù hợp với yêu cầu của các nước nhập khẩu thủy sản. Xây dựng các vùng nuôi tập trung một số đối tượng có giá trị kinh tế cao, đa dạng hóa giống loài thủy sản nuôi.
Khuyến khích đa dạng hóa các đối tượng nuôi thủy sản nước ngọt. Với các đối tượng nuôi mới (có thị trường tiêu thụ chủ yếu là trong nước) như cá sặc, cá rô phi, cá lóc, cá điêu hồng, lươn, ếch… ngành nông nghiệp cần hỗ trợ để hình thành các mô hình tổ hợp tác sản xuất và tiêu thụ theo chuỗi giá trị từ đầu vào sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm; tạo thành các “đặc sản” (khô cá lóc, khô cá sặc…) nhằm đáp ứng nhu cầu và tiêu chuẩn của thị trường có truy xuất nguồn gốc, góp phần tăng tính cạnh tranh, hướng đến xuất khẩu, tiêu dùng, bảo vệ môi trường và tăng thu nhập cho nông dân.
3.2. Ngành Công nghiệp - Xây dựng:
a) Công nghiệp:
Tiếp tục duy trì phát triển và bảo tồn các làng nghề truyền thống, tập trung củng cố, phát triển các sản phẩm của làng nghề truyền thống như rèn Phú Mỹ, bánh phồng Phú Mỹ, bó chổi bông sậy Cồn Nhỏ, Phú Bình. Phát triển các tổ liên kết sản xuất hàng thủ công, mỹ nghệ. Từng bước mở rộng quy mô, đầu tư máy móc trang thiết bị hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh công tác đăng ký thương hiệu sản phẩm các làng nghề, đồng thời giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế nông thôn. Hướng sản xuất gắn liền bảo vệ môi trường sinh thái, có thể phát triển kết hợp với mô hình thăm quan du lịch.
Tiếp tục mời gọi các doanh nghiệp quan tâm đầu tư lĩnh vực chế biến các sản phẩm Nếp. Khuyến khích các cơ sở sản xuất cá thể, doanh nghiệp nhỏ đa dạng hóa các sản phẩm chế biến từ gạo, từ bắp như: bún, hủ tiếu, miếng dong, bánh tráng, tinh bột gạo, bánh bột; rau quả đông lạnh, nước ép các loại… phục vụ thị trường nội địa. Khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư công nghiệp cơ khí phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn như: chế tạo máy nông nghiệp, nông cụ, cầu sắt mạ kẽm, cầu nông thôn, tàu xà lan… thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, phát triển giao thông nông thôn trên địa bàn, các huyện thị lân cận.

Content:
Công nghiệp:
Tiếp tục duy trì phát triển và bảo tồn các làng nghề truyền thống, tập trung củng cố, phát triển các sản phẩm của làng nghề truyền thống như rèn Phú Mỹ, bánh phồng Phú Mỹ, bó chổi bông sậy Cồn Nhỏ, Phú Bình. Phát triển các tổ liên kết sản xuất hàng thủ công, mỹ nghệ. Từng bước mở rộng quy mô, đầu tư máy móc trang thiết bị hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh công tác đăng ký thương hiệu sản phẩm các làng nghề, đồng thời giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế nông thôn. Hướng sản xuất gắn liền bảo vệ môi trường sinh thái, có thể phát triển kết hợp với mô hình thăm quan du lịch.
Tiếp tục mời gọi các doanh nghiệp quan tâm đầu tư lĩnh vực chế biến các sản phẩm Nếp. Khuyến khích các cơ sở sản xuất cá thể, doanh nghiệp nhỏ đa dạng hóa các sản phẩm chế biến từ gạo, từ bắp như: bún, hủ tiếu, miếng dong, bánh tráng, tinh bột gạo, bánh bột; rau quả đông lạnh, nước ép các loại… phục vụ thị trường nội địa. Khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư công nghiệp cơ khí phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn như: chế tạo máy nông nghiệp, nông cụ, cầu sắt mạ kẽm, cầu nông thôn, tàu xà lan… thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, phát triển giao thông nông thôn trên địa bàn, các huyện thị lân cận.