Document: Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2882/QĐ-UBND 2011 phê duyệt Quy hoạch phát triển Ngành Giáo dục Đào tạo Bình Thuận

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "2882/QĐ-UBND", "signer": "Lê Tiến Phương", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "2882/QĐ-UBND", "signer": "Lê Tiến Phương", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "2882/QĐ-UBND", "signer": "Lê Tiến Phương", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "2882/QĐ-UBND", "signer": "Lê Tiến Phương", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "29/12/2011", "sign_number": "2882/QĐ-UBND", "signer": "Lê Tiến Phương", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 3 Điều 1 Quyết định 2882/QĐ-UBND 2011 phê duyệt Quy hoạch phát triển Ngành Giáo dục Đào tạo Bình Thuận

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Thuận đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau:
...
3. Mục tiêu và các chỉ tiêu cụ thể:
3.1. Giáo dục mầm non:
Nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục để trẻ phát triển toàn diện cả thể chất và tinh thần; Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; phát triển mạng lưới trường, lớp học và phát triển đội ngũ giáo viên bảo đảm đáp ứng cơ bản các điều kiện để thực hiện hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi vào năm 2015 và duy trì, nâng cao các tiêu chuẩn ở những năm tiếp theo. Bảo đảm đạt được các chỉ tiêu:
- Tỷ lệ phòng học và phòng chức năng xây dựng kiên cố đạt 50% vào năm 2015 và đạt 85% vào năm 2020. Số lượng giáo viên trên chuẩn hàng năm tăng khoảng 1,5%.
- Thu hút 15-17% số trẻ em dưới 3 tuổi đến nhà trẻ vào năm 2015 và 35-40% vào năm 2020.
- Trẻ em 3-5 tuổi đến lớp mẫu giáo đạt 80-85% năm 2015 và lên 90-95% năm 2020.
- Trẻ em 5 tuổi đến lớp mẫu giáo lớn đạt 99,8% năm 2015 và 100% những năm tiếp theo; trong đó có ít nhất 85% trẻ học 2 buổi/ngày hoặc bán trú.
- Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống dưới 9% năm 2015 và dưới 7% vào năm 2020.
- Đến năm 2015 có ít nhất 22% trường công lập (khoảng 37 trường) đạt chuẩn quốc gia và đến năm 2020 là 35% (khoảng 64 trường).
- Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non, phấn đấu đến năm 2015 mỗi huyện thị xã, thành phố có ít nhất 1 trường mầm non tư thục vào năm 2015 và 2 trường trở lên vào năm 2020; có khoảng 30-35% số trẻ em đến nhóm, lớp mầm non tư thục, năm 2020 đạt khoảng 40-50%.
3.2. Giáo dục phổ thông:
a) Các mục tiêu, chỉ tiêu chung:
- Phát triển hợp lý mạng lưới trường, lớp học theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa. Tỷ lệ phòng học và phòng chức năng xây dựng kiên cố vào năm 2015 đạt 70% ở cấp tiểu học, 100% cấp THCS và THPT; đến năm 2020 đạt 100% bậc phổ thông.
- Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đối với giáo dục phổ thông; chú trọng bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển năng khiếu học sinh; bảo đảm tỷ lệ học sinh tiểu học được công nhận hoàn thành chương trình tiểu học, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS và tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT năm sau không thấp hơn năm trước; Giảm tỷ lệ học sinh bỏ học hàng năm ít nhất 0,5%.
- Duy trì kết quả đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở; nâng dần các tiêu chuẩn đã đạt qua từng năm.
- Phát triển đội ngũ giáo viên các cấp học đủ về số lượng, bảo đảm đồng bộ; đến năm 2015 có 100% giáo viên phổ thông đạt chuẩn trình độ; số lượng giáo viên trên chuẩn ở các cấp hàng năm tăng khoảng 2,5-3%
- Triển khai đồng bộ việc dạy tin học, ngoại ngữ ở các cấp học; đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy và học, đến năm 2015 triển khai đại trà dạy học bằng giáo án điện tử cấp THCS và THPT.
- Quan tâm đúng mức đến học sinh dân tộc thiểu số và học sinh khuyết tật, tạo điều kiện thuận lợi để học sinh khuyết tật được đến trường và hòa nhập cộng đồng.
- Đẩy mạnh phát triển xã hội hóa giáo dục, phấn đấu đến năm 2015 có 30% huyện, thị xã, thành phố có cơ sở giáo dục phổ thông ngoài công lập và đến năm 2020 tỷ lệ này đạt 100%.
b) Các mục tiêu, chỉ tiêu đối với từng cấp học:
- Tiểu học:
+ Hàng năm huy động đạt 99,9% số trẻ em trong độ tuổi học tiểu học đến trường.
+ Tăng số lớp học 2 buổi/ngày đạt 40-50% (so với tổng số lớp) vào năm 2015 và 90- 100% vào năm 2020 (trong đó khu vực phường, thị trấn đạt 50% năm 2015 và 100% năm 2020).
+ Thực hiện dạy ngoại ngữ cho học sinh lớp 3 trở lên từ năm 2011-2012 ở những trường có điều kiện, từng bước triển khai đại trà ở những năm tiếp theo.
+ Tỷ lệ học sinh hoàn thành bậc tiểu học hàng năm đạt 99,9%.
+ Đến năm 2015 có ít nhất 30% trường công lập (khoảng 82 trường) đạt chuẩn quốc gia và đến năm 2020 là 45% (khoảng 137 trường).
- Trung học cơ sở:
+ Đảm bảo tỷ lệ học sinh hoàn thành cấp THCS hàng năm đạt 99,9%.
+ Phân luồng học sinh THCS vào THPT hàng năm từ 75% trở lên.
+ Đến năm 2015 có ít nhất 25% trường công lập (khoảng 30 trường) đạt chuẩn quốc gia và đến năm 2020 là 40% (khoảng 60 trường).
- Trung học phổ thông:
+ Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT khoảng 90% vào năm 2015 và 95% vào năm 2020.
+ Đến năm 2015 có ít nhất 27% trường công lập (khoảng 7 trường) đạt chuẩn quốc gia và đến năm 2020 là 40% (khoảng 16 trường).
+ Đầu tư nguồn lực mọi mặt để phát triển Trường THPT chuyên Trần Hưng Đạo trở thành trường kiểu mẫu, có chất lượng cao, tầm ảnh hưởng trong phạm vi toàn quốc.
c) Nâng cao chất lượng giáo dục dân tộc, miền núi, hải đảo:
- Phát triển giáo dục dân tộc: thành lập mới 1 trường DTNT huyện; tiếp tục đầu tư, nâng cấp hoàn chỉnh cơ sở vật chất, trang thiết bị, ký túc xá các trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh vào năm 2015, đáp ứng tốt nhu cầu học tập của học sinh dân tộc thiểu số trong tỉnh. Đến năm 2015 có ít nhất 50% trường phổ thông dân tộc nội trú dạy 2 buổi/ngày và đạt 100% vào năm 2020. Tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm 100% trẻ em khuyết tật có nhu cầu được vào học tại các trường phổ thông tại địa bàn cư trú.
- Đẩy mạnh việc tổ chức học 2 buổi/ ngày cho các lớp mầm non 5 tuổi, các trường tiểu học, các trường THCS vùng cao miền núi, hải đảo để tăng thời lượng học tập cho học sinh.
- Tổ chức lực lượng nhân viên hỗ trợ giáo viên ở các trường tiểu học có đông học sinh dân tộc thiểu số để giảng dạy chương trình chuẩn bị tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số trước khi vào lớp 1 trong 2 tháng nghỉ hè và làm nhiệm vụ trợ giảng cho giáo viên lớp 1; thực hiện việc dạy dãn tiết môn tiếng Việt lớp 1 cho học sinh dân tộc thiểu số và hải đảo từ 350 tiết lên 500 tiết.
- Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực và dạy tăng cường tiếng Việt tích hợp trong các môn học khác cho học sinh dân tộc thiểu số, nhằm hạn chế tối đa tình trạng học sinh lưu ban.
- Tăng cường tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, vui chơi, giải trí để thu hút học sinh ham thích học tập, hạn chế tối đa tình trạng học sinh bỏ học.
- Phát triển thêm 01 trường DTNT huyện Hàm Thuận Nam để tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh dân tộc thiểu số của khu vực huyện Hàm Thuận Nam, huyện Hàm Tân, thị xã La Gi vào học nội trú.
d) Xã hội hóa giáo dục phổ thông:
Phấn đấu đến năm 2015, toàn tỉnh có ít nhất 2 trường tiểu học ngoài công lập; thành phố Phan Thiết có 03 trường trung học phổ thông ngoài công lập (bao gồm trường có nhiều cấp học); thị xã La Gi và huyện Tuy Phong có 01 trường phổ thông nhiều cấp học. Đến năm 2020, có 100% huyện, thị xã, thành phố có ít nhất 01 trường phổ thông nhiều cấp học.
3.3. Giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp và học tập cộng đồng:
- Phát triển hợp lý hệ thống trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp cấp huyện và các trung tâm học tập cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu học bổ túc văn hóa của nhân dân, thực hiện hướng nghiệp, dạy nghề tại địa phương, xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời.
- Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động các Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Hướng nghiệp hiện có; thành lập mới các Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Hướng nghiệp ở những địa bàn còn lại. Đến sau năm 2015 có 100% huyện, thị xã, thành phố có Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Hướng nghiệp để đáp ứng nhu cầu học bổ túc văn hóa của nhân dân và thực hiện hướng nghiệp nghề cho học sinh phổ thông tại địa phương.
- Duy trì, nâng cao chất lượng hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng, bảo đảm luôn đạt tỷ lệ 100% xã, phường, thị trấn có Trung tâm học tập cộng đồng.
3.4. Giáo dục chuyên nghiệp và đào tạo nghề:
- Tiếp tục đầu tư mở rộng phát triển hợp lý hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề theo hướng đa ngành, đa cấp và tăng cường liên kết đào tạo… nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
- Cơ cấu lao động theo bậc đào tạo: năm 2015, bậc đại học, cao đẳng đạt mức bình quân 404 người/1vạn dân, tương đương với tổng số khoảng 49.840 người; bậc trung cấp đạt 344 người /1vạn dân, tương đương với tổng số 42.447 người. Năm 2020, bậc đại học, cao đẳng đạt mức bình quân 767 người /1vạn dân, tương đương với tổng số khoảng 98.950 người; bậc trung cấp đạt 604 người /1vạn dân, tương đương với tổng số 78.000 người.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo so với tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế - xã hội tăng từ 28% năm 2010 lên 55% năm 2015 và trên 70% năm 2020.
- Đào tạo giáo viên trên chuẩn cho các cấp học: Mầm non đạt 45% vào năm 2015 và tăng lên 60% vào năm 2020; tiểu học đạt từ 80% vào năm 2015 và tăng lên 95% vào năm 2020; cấp trung học cơ sở đạt 50% vào năm 2015 và tăng lên 65% vào năm 2020; cấp trung học phổ thông tăng đạt 5% vào năm 2015 và tăng lên 10% vào năm 2020.
- Từ năm 2012 trở đi, đào tạo giáo viên mầm non mỗi năm khoảng 300 người để kịp thời bổ sung cho các trường công lập và ngoài công lập.
- Đào tạo cán bộ y tế học đường, đến năm 2015 bảo đảm 100% các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông có cán bộ y tế học đường.
- Nâng cấp Trường Cao đẳng Cộng đồng tỉnh lên thành Trường Đại học đa ngành vào năm 2015.
- Phát triển hợp lý Trường Cao đẳng Y tế tỉnh, mở rộng ngành nghề đào tạo phù hợp với cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực của trường.
- Nâng cấp Trường Trung cấp nghề tỉnh lên thành Trường Cao đẳng nghề trước năm 2015. Phát triển hợp lý Trường Trung cấp nghề KTKT Công đoàn tỉnh.
- Tiếp tục đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất các Trung tâm dạy nghề công lập hiện có; sau năm 2015 nâng cấp 02 Trung tâm dạy nghề cấp huyện lên thành Trường Trung cấp nghề.
- Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề, tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư phát triển mạng lưới giáo dục - đào tạo, dạy nghề trên địa bàn tỉnh. Phấn đấu đến năm 2015 có thêm 01 trường cao đẳng chuyên nghiệp đa ngành và 01 trường cao đẳng du lịch quốc tế, 01 trường trung cấp nghề ngoài công lập; sau năm 2015 có thêm ít nhất 01 trường trung cấp chuyên nghiệp và 01 trường cao đẳng nghề ngoài công lập.
II. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON, GIÁO DỤC PHỔ THÔNG, GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN - HƯỚNG NGHIỆP, GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP VÀ DẠY NGHỀ ĐẾN NĂM 2020.
1. Giáo dục mầm non:
1.1. Phát triển giáo dục mầm non đến năm 2020:
Phát triển giáo dục mầm non là cơ sở ban đầu để bước vào thực hiện mục tiêu nâng cao mặt bằng dân trí và chất lượng nguồn nhân lực. Căn cứ qui mô dân số đã dự báo trong “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Thuận đến năm 2020”, tỷ lệ trẻ em 3-5 tuổi đến lớp mẫu giáo tăng từ 64,8% năm 2010 lên 80%-85% năm 2015 và trên 90% -95% năm 2020, tương ứng với số trẻ em đến lớp mẫu giáo tăng từ 40.207 cháu năm 2010 lên 49.580 cháu năm 2015 và 56.498 cháu năm 2020. Tỷ lệ trẻ em 5 tuổi học 2 buổi/ngày đủ một năm học tăng từ 95% năm 2015 lên 100% năm 2020.
Từ nay đến 2015 mỗi năm cần bổ sung thêm khoảng 700 giáo viên, giai đoạn 2016-2020 mỗi năm bổ sung 450 giáo viên; mở lớp đào tạo trong tỉnh mỗi năm khoảng 300 người, ngoài ra tiếp nhận thêm nguồn từ các trường cao đẳng, đại học ngoài tỉnh.
1.2. Phát triển cơ sở vật chất giáo dục mầm non:
Căn cứ số nhóm, lớp mầm non và tỷ lệ số nhóm, lớp học hai buổi. Xác định nhu cầu cơ sở vật chất như sau:
- Tổng số phòng học và phòng chức năng tăng từ 1.567 phòng năm 2010 lên 2.745 phòng năm 2015 và 4.040 phòng năm 2020. Trong đó, số phòng ngoài công lập chiếm khoảng 20% năm 2015 và 25 % vào năm 2020.
- Trong giai đoạn 2011-2015, ưu tiên đầu tư kiên cố hoá các điểm trung tâm, xây công trình vệ sinh ở các trường chưa có; bố trí các trường mầm non và điểm trường phù hợp với quy hoạch phát triển dân cư. Tổng số phòng học và phòng chức năng xây dựng kiên cố (theo qui định của trường đạt chuẩn) tăng từ 229 phòng năm 2010 (14%) lên 1.373 phòng năm 2015 (50%) và 3.434 phòng vào năm 2020 (85%).
1.3. Phân bố hệ thống giáo dục mầm non tại từng địa bàn huyện, thị xã, thành phố:
Rà soát, lập dự án đầu tư xây dựng các trường và điểm trường mầm non cho từng xã, thị trấn theo qui định của trường đạt chuẩn. Đồng thời đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá phát triển giáo dục mầm non, nhất là ở khu vực thành phố, thị xã, thị trấn. Chú trọng hình thức bán trú dân nuôi với sự hỗ trợ ban đầu của nhà nước về đào tạo, nâng cao kiến thức, phương pháp sư phạm cho giáo viên.
Căn cứ số nhóm, lớp mầm non và tỷ lệ số nhóm, lớp học hai buổi, căn cứ vào tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường tại các địa phương trên phạm vi toàn tỉnh, với mục tiêu mỗi phường/xã, thị trấn có ít nhất 01 trường mầm non. Bố trí các trường mầm non và điểm trường phù hợp với quy hoạch phát triển dân cư.
2. Giáo dục phổ thông:
2.1. Tiểu học:
Số học sinh tiểu học tiếp tục tăng từ 109.631 học sinh năm 2010 lên 112.636 học sinh năm 2015 và 121.500 học sinh năm 2020 (tính theo mức huy động 99,9% trẻ em trong độ tuổi 6-10 tuổi đến trường tiểu học).
Số lớp tiểu học tăng từ 4.109 lớp năm 2010 lên 4.172 lớp năm 2015 và 4.500 lớp năm 2020 (tính theo mức bình quân số học sinh trên một lớp tăng từ 26,7HS/lớp năm 2010 lên khoảng 27-30 HS/lớp năm 2015 và năm 2020). Số học sinh học 2 buổi chiếm 40-50% năm 2015 và 90-100% vào năm 2020.
Với yêu cầu phát triển số trường dạy học 2 buổi/ngày, tương ứng với số giáo viên tiểu học năm 2010 là 5.323 tăng lên 6.411 vào năm 2015 và đến năm 2020 là 6.950. Nhu cầu giáo viên chủ yếu là môn Tiếng Anh, Tiếng dân tộc thiểu số, Nhạc, Họa, Thể dục. Như vậy sẽ thu nhận giáo viên được đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học trong và ngoài tỉnh.
2.2. Trung học cơ sở:
Số học sinh trung học cơ sở đến trường so với số trẻ em trong độ tuổi từ 11-14 tuổi chiếm 75,46% năm 2010 lên chiếm 90% năm 2015 và chiếm 97% năm 2020. Tương ứng với số học sinh trung học cơ sở tăng từ 84.870 học sinh năm 2010 lên 85.207 học sinh năm 2015 và 94.500 học sinh năm 2020.
Số lớp trung học cơ sở tăng từ 2.434 lớp năm 2010 lên 2506 lớp năm 2015 và lên 2.700 lớp năm 2020 (tính theo mức bình quân số học sinh trên một lớp là 35HS/ lớp). Số học sinh học 2 buổi tăng 20-30 % năm 2015 lên 50-60% năm 2020.
Số giáo viên trung học cơ sở năm 2010 là 4.783 người tăng lên 5.012 vào năm 2015 và ổn định ở mức 5.400 giáo viên vào năm 2020. Bình quân mỗi năm bổ sung thêm khoảng 60 người từ các trường cao đẳng, đại học trong và ngoài tỉnh.
2.3. Trung học phổ thông:
Đảm bảo các điều kiện cần thiết cho số học sinh trung học cơ sở vào trung học phổ thông sẽ tăng nhanh trong những năm tới. Tỷ lệ học sinh trung học cơ sở vào trung học phổ thông từ 70-75% vào năm 2015 và những năm tiếp theo. Tương đương với số học sinh tăng lên 55.000 học sinh năm 2015 và 58.500 học sinh năm 2020.
Số lớp trung học phổ thông tăng từ 1.019 lớp năm 2010 lên 1.227 lớp năm 2015 và 1.300 lớp năm 2020 (tính theo mức bình quân số học sinh trên một lớp tăng từ 44,6 HS/ lớp năm 2010 lên 45 HS/ lớp năm 2015 và những năm tiếp theo).
Số giáo viên trung học phổ thông tăng từ 2.021 giáo viên năm 2010 lên 2.625 giáo viên năm 2015 và 2.860 giáo viên năm 2020 (số giáo viên trung học phổ thông nói trên có tính thêm tỷ lệ dự phòng cần thiết để thực hiện luân phiên đào tạo giáo viên trên chuẩn). Nguồn giáo viên bổ sung sẽ tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp đại học, trên đại học ngành sư phạm từ các trường Đại học trong toàn quốc.
2.4. Xây dựng cơ sở vật chất giáo dục phổ thông:
Phát triển mạng lưới trường, lớp học; củng cố và tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị giáo dục. Tăng cường kiên cố hóa trường lớp, lớp học và xây nhà công vụ cho giáo viên theo hướng củng cố hệ thống trường lớp hiện có, mở rộng mạng lưới đến các khu dân cư, chú trọng phát triển ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, xóa bỏ và thay thế phòng học tạm, phòng học xuống cấp, xây công trình vệ sinh cho các trường còn thiếu…
Căn cứ số lớp đã được tính toán theo qui mô số học sinh các cấp, xây dựng các trường theo mô hình chuẩn quốc gia, đặc biệt tách những trường hiện có quy mô lớp học quá lớn so với chuẩn quy định. Nhu cầu phát triển như sau:
- Tổng số phòng học và phòng chức năng tăng từ 6.925 phòng năm 2010 lên 8.094 phòng năm 2015 và 9.258 phòng năm 2020. Trong đó:
+ Số phòng học tăng từ 5.952 phòng năm 2010 lên 6.464 phòng năm 2015 và ổn định ở mức 6.993 phòng trong những năm tiếp theo.
+ Số phòng chức năng tăng từ 973 phòng năm 2010 lên 1.630 phòng năm 2015 và 2.265 phòng năm 2020.
Tính bình quân mỗi năm, giai đoạn 2011-2015 cần đầu tư xây dựng trên 233 phòng; giai đoạn 2016-2020 cần đầu tư xây dựng 233 phòng (kể cả xây mới và xây thay thế phòng cấp 4 phòng học và phòng chức năng).
2.5. Phát triển hệ thống giáo dục phổ thông theo đơn vị hành chính:
a) Tiểu học:
Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất giữ vững thành quả phổ cập tiểu học và xoá mù chữ đã có, tiến tới xây dựng một số trường đạt chuẩn quốc gia. Các trường được xây mới đảm bảo đạt chuẩn quốc gia về CSVC ngay từ đầu. Căn cứ kết quả dự báo phát triển dân số, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường và dự báo số lớp học hai buổi, bố trí các trường tiểu học phù hợp với quy hoạch phát triển dân cư, hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng nông thôn. Căn cứ vào thực trạng hệ thống các điểm trường lẻ trên địa bàn tỉnh. Nghiên cứu đầu tư nâng cấp, mở rộng và xây dựng thêm các điểm trường mới theo mô hình trường đạt chuẩn quốc gia.
b) Trung học cơ sở:
Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục trung học cơ sở, nâng tỷ lệ học sinh trung học cơ sở đi học đúng độ tuổi đạt 90% vào năm 2015 và 95% năm 2020 (số học sinh trên độ tuổi chiếm khoảng 10%). Tăng cường công tác quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục. Đầu tư kiên cố hóa mạng lưới cơ sở vật chất, tăng cường trang thiết bị, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đủ điều kiện để xây dựng thành trường đạt chuẩn.
Căn cứ dự báo phát triển dân số đến năm 2015 và 2020, trong đó đã dự báo số học sinh trong độ tuổi đi học trung học cơ sở (11 đến 14 tuổi) tại các địa phương trên phạm vi toàn tỉnh.
c) Trung học phổ thông:
Đảm bảo các điều kiện cần thiết cho số học sinh trung học cơ sở vào trung học phổ thông sẽ tăng nhanh trong những năm tới. Các trường đều có cơ sở riêng, đủ phòng học, xây kiên cố và đúng quy cách, đủ các phòng chức năng. Tiến hành tách những trường có số lớp trên 60 lớp.
Đầu tư nguồn lực, đưa trường THPT chuyên Trần Hưng Đạo trở thành trường kiểu mẫu, có chất lượng cao và tầm ảnh hưởng trên phạm vi toàn quốc.
Toàn tỉnh có số trường tăng từ 26 trường năm 2010 lên 39 trường (bao gồm trường nhiều cấp học) vào 2015 và 47 trường (bao gồm trường nhiều cấp học) vào năm 2020. Các trường mới xây dựng đảm bảo đạt chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất ngay từ đầu thiết kế xây dựng.
3. Giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp và học tập cộng đồng:
3.1. Phát triển giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp và học tập cộng đồng đến năm 2020:
- Đến năm 2015 tất cả các huyện, thị xã, thành phố đều có trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp, trong đó thành lập mới là 05 trung tâm nhằm đáp ứng yêu cầu phân luồng học sinh sau THCS khoảng 25% và hướng nghiệp nghề cho 100% học sinh phổ thông có nhu cầu.
- Đảm bảo duy trì tỷ lệ 100% xã, phường, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng; đối với các xã được chia tách, thành lập mới trong giai đoạn tới thì sẽ khẩn trương đáp ứng đầy đủ các điều kiện để thành lập ngay trong năm đầu tiên. Thực hiện tốt việc phối kết hợp giữa Trung tâm giáo dục thường xuyên với Trung tâm học tập cộng đồng.
3.2. Xác định phát triển cơ sở vật chất giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp và Trung tâm học tập cộng đồng:
- Tiếp tục đầu tư nâng cấp, hoàn chỉnh CSVC, trang thiết bị các trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp hiện có (La Gi, Bắc Bình, Tánh Linh, Đức Linh). Đầu tư xây mới trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp tỉnh tại xã Tiến Lợi, thành phố Phan Thiết. Thành lập mới các trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp các huyện Tuy Phong, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân, Phú Quý trên cơ sở tận dụng, sử dụng chung cơ sở vật chất các trường THPT tại các địa phương.
- Tận dụng tốt các cơ sở vật chất đã có tại xã, phường, thị trấn và các trang thiết bị đã đầu tư, bổ sung, nâng cấp để các trung tâm học tập cộng động hoạt động với hiệu quả tốt nhất.

Content:
Mục tiêu và các chỉ tiêu cụ thể:
3.1. Giáo dục mầm non:
Nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục để trẻ phát triển toàn diện cả thể chất và tinh thần; Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; phát triển mạng lưới trường, lớp học và phát triển đội ngũ giáo viên bảo đảm đáp ứng cơ bản các điều kiện để thực hiện hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi vào năm 2015 và duy trì, nâng cao các tiêu chuẩn ở những năm tiếp theo. Bảo đảm đạt được các chỉ tiêu:
- Tỷ lệ phòng học và phòng chức năng xây dựng kiên cố đạt 50% vào năm 2015 và đạt 85% vào năm 2020. Số lượng giáo viên trên chuẩn hàng năm tăng khoảng 1,5%.
- Thu hút 15-17% số trẻ em dưới 3 tuổi đến nhà trẻ vào năm 2015 và 35-40% vào năm 2020.
- Trẻ em 3-5 tuổi đến lớp mẫu giáo đạt 80-85% năm 2015 và lên 90-95% năm 2020.
- Trẻ em 5 tuổi đến lớp mẫu giáo lớn đạt 99,8% năm 2015 và 100% những năm tiếp theo; trong đó có ít nhất 85% trẻ học 2 buổi/ngày hoặc bán trú.
- Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống dưới 9% năm 2015 và dưới 7% vào năm 2020.
- Đến năm 2015 có ít nhất 22% trường công lập (khoảng 37 trường) đạt chuẩn quốc gia và đến năm 2020 là 35% (khoảng 64 trường).
- Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non, phấn đấu đến năm 2015 mỗi huyện thị xã, thành phố có ít nhất 1 trường mầm non tư thục vào năm 2015 và 2 trường trở lên vào năm 2020; có khoảng 30-35% số trẻ em đến nhóm, lớp mầm non tư thục, năm 2020 đạt khoảng 40-50%.
3.2. Giáo dục phổ thông:
a) Các mục tiêu, chỉ tiêu chung:
- Phát triển hợp lý mạng lưới trường, lớp học theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa. Tỷ lệ phòng học và phòng chức năng xây dựng kiên cố vào năm 2015 đạt 70% ở cấp tiểu học, 100% cấp THCS và THPT; đến năm 2020 đạt 100% bậc phổ thông.
- Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đối với giáo dục phổ thông; chú trọng bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển năng khiếu học sinh; bảo đảm tỷ lệ học sinh tiểu học được công nhận hoàn thành chương trình tiểu học, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS và tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT năm sau không thấp hơn năm trước; Giảm tỷ lệ học sinh bỏ học hàng năm ít nhất 0,5%.
- Duy trì kết quả đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở; nâng dần các tiêu chuẩn đã đạt qua từng năm.
- Phát triển đội ngũ giáo viên các cấp học đủ về số lượng, bảo đảm đồng bộ; đến năm 2015 có 100% giáo viên phổ thông đạt chuẩn trình độ; số lượng giáo viên trên chuẩn ở các cấp hàng năm tăng khoảng 2,5-3%
- Triển khai đồng bộ việc dạy tin học, ngoại ngữ ở các cấp học; đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy và học, đến năm 2015 triển khai đại trà dạy học bằng giáo án điện tử cấp THCS và THPT.
- Quan tâm đúng mức đến học sinh dân tộc thiểu số và học sinh khuyết tật, tạo điều kiện thuận lợi để học sinh khuyết tật được đến trường và hòa nhập cộng đồng.
- Đẩy mạnh phát triển xã hội hóa giáo dục, phấn đấu đến năm 2015 có 30% huyện, thị xã, thành phố có cơ sở giáo dục phổ thông ngoài công lập và đến năm 2020 tỷ lệ này đạt 100%.
b) Các mục tiêu, chỉ tiêu đối với từng cấp học:
- Tiểu học:
+ Hàng năm huy động đạt 99,9% số trẻ em trong độ tuổi học tiểu học đến trường.
+ Tăng số lớp học 2 buổi/ngày đạt 40-50% (so với tổng số lớp) vào năm 2015 và 90- 100% vào năm 2020 (trong đó khu vực phường, thị trấn đạt 50% năm 2015 và 100% năm 2020).
+ Thực hiện dạy ngoại ngữ cho học sinh lớp 3 trở lên từ năm 2011-2012 ở những trường có điều kiện, từng bước triển khai đại trà ở những năm tiếp theo.
+ Tỷ lệ học sinh hoàn thành bậc tiểu học hàng năm đạt 99,9%.
+ Đến năm 2015 có ít nhất 30% trường công lập (khoảng 82 trường) đạt chuẩn quốc gia và đến năm 2020 là 45% (khoảng 137 trường).
- Trung học cơ sở:
+ Đảm bảo tỷ lệ học sinh hoàn thành cấp THCS hàng năm đạt 99,9%.
+ Phân luồng học sinh THCS vào THPT hàng năm từ 75% trở lên.
+ Đến năm 2015 có ít nhất 25% trường công lập (khoảng 30 trường) đạt chuẩn quốc gia và đến năm 2020 là 40% (khoảng 60 trường).
- Trung học phổ thông:
+ Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT khoảng 90% vào năm 2015 và 95% vào năm 2020.
+ Đến năm 2015 có ít nhất 27% trường công lập (khoảng 7 trường) đạt chuẩn quốc gia và đến năm 2020 là 40% (khoảng 16 trường).
+ Đầu tư nguồn lực mọi mặt để phát triển Trường THPT chuyên Trần Hưng Đạo trở thành trường kiểu mẫu, có chất lượng cao, tầm ảnh hưởng trong phạm vi toàn quốc.
c) Nâng cao chất lượng giáo dục dân tộc, miền núi, hải đảo:
- Phát triển giáo dục dân tộc: thành lập mới 1 trường DTNT huyện; tiếp tục đầu tư, nâng cấp hoàn chỉnh cơ sở vật chất, trang thiết bị, ký túc xá các trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh vào năm 2015, đáp ứng tốt nhu cầu học tập của học sinh dân tộc thiểu số trong tỉnh. Đến năm 2015 có ít nhất 50% trường phổ thông dân tộc nội trú dạy 2 buổi/ngày và đạt 100% vào năm 2020. Tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm 100% trẻ em khuyết tật có nhu cầu được vào học tại các trường phổ thông tại địa bàn cư trú.
- Đẩy mạnh việc tổ chức học 2 buổi/ ngày cho các lớp mầm non 5 tuổi, các trường tiểu học, các trường THCS vùng cao miền núi, hải đảo để tăng thời lượng học tập cho học sinh.
- Tổ chức lực lượng nhân viên hỗ trợ giáo viên ở các trường tiểu học có đông học sinh dân tộc thiểu số để giảng dạy chương trình chuẩn bị tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số trước khi vào lớp 1 trong 2 tháng nghỉ hè và làm nhiệm vụ trợ giảng cho giáo viên lớp 1; thực hiện việc dạy dãn tiết môn tiếng Việt lớp 1 cho học sinh dân tộc thiểu số và hải đảo từ 350 tiết lên 500 tiết.
- Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực và dạy tăng cường tiếng Việt tích hợp trong các môn học khác cho học sinh dân tộc thiểu số, nhằm hạn chế tối đa tình trạng học sinh lưu ban.
- Tăng cường tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, vui chơi, giải trí để thu hút học sinh ham thích học tập, hạn chế tối đa tình trạng học sinh bỏ học.
- Phát triển thêm 01 trường DTNT huyện Hàm Thuận Nam để tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh dân tộc thiểu số của khu vực huyện Hàm Thuận Nam, huyện Hàm Tân, thị xã La Gi vào học nội trú.
d) Xã hội hóa giáo dục phổ thông:
Phấn đấu đến năm 2015, toàn tỉnh có ít nhất 2 trường tiểu học ngoài công lập; thành phố Phan Thiết có 03 trường trung học phổ thông ngoài công lập (bao gồm trường có nhiều cấp học); thị xã La Gi và huyện Tuy Phong có 01 trường phổ thông nhiều cấp học. Đến năm 2020, có 100% huyện, thị xã, thành phố có ít nhất 01 trường phổ thông nhiều cấp học.
3.Giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp và học tập cộng đồng:
- Phát triển hợp lý hệ thống trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp cấp huyện và các trung tâm học tập cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu học bổ túc văn hóa của nhân dân, thực hiện hướng nghiệp, dạy nghề tại địa phương, xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời.
- Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động các Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Hướng nghiệp hiện có; thành lập mới các Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Hướng nghiệp ở những địa bàn còn lại. Đến sau năm 2015 có 100% huyện, thị xã, thành phố có Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Hướng nghiệp để đáp ứng nhu cầu học bổ túc văn hóa của nhân dân và thực hiện hướng nghiệp nghề cho học sinh phổ thông tại địa phương.
- Duy trì, nâng cao chất lượng hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng, bảo đảm luôn đạt tỷ lệ 100% xã, phường, thị trấn có Trung tâm học tập cộng đồng.
3.4. Giáo dục chuyên nghiệp và đào tạo nghề:
- Tiếp tục đầu tư mở rộng phát triển hợp lý hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề theo hướng đa ngành, đa cấp và tăng cường liên kết đào tạo… nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
- Cơ cấu lao động theo bậc đào tạo: năm 2015, bậc đại học, cao đẳng đạt mức bình quân 404 người/1vạn dân, tương đương với tổng số khoảng 49.840 người; bậc trung cấp đạt 344 người /1vạn dân, tương đương với tổng số 42.447 người. Năm 2020, bậc đại học, cao đẳng đạt mức bình quân 767 người /1vạn dân, tương đương với tổng số khoảng 98.950 người; bậc trung cấp đạt 604 người /1vạn dân, tương đương với tổng số 78.000 người.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo so với tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế - xã hội tăng từ 28% năm 2010 lên 55% năm 2015 và trên 70% năm 2020.
- Đào tạo giáo viên trên chuẩn cho các cấp học: Mầm non đạt 45% vào năm 2015 và tăng lên 60% vào năm 2020; tiểu học đạt từ 80% vào năm 2015 và tăng lên 95% vào năm 2020; cấp trung học cơ sở đạt 50% vào năm 2015 và tăng lên 65% vào năm 2020; cấp trung học phổ thông tăng đạt 5% vào năm 2015 và tăng lên 10% vào năm 2020.
- Từ năm 2012 trở đi, đào tạo giáo viên mầm non mỗi năm khoảng 300 người để kịp thời bổ sung cho các trường công lập và ngoài công lập.
- Đào tạo cán bộ y tế học đường, đến năm 2015 bảo đảm 100% các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông có cán bộ y tế học đường.
- Nâng cấp Trường Cao đẳng Cộng đồng tỉnh lên thành Trường Đại học đa ngành vào năm 2015.
- Phát triển hợp lý Trường Cao đẳng Y tế tỉnh, mở rộng ngành nghề đào tạo phù hợp với cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực của trường.
- Nâng cấp Trường Trung cấp nghề tỉnh lên thành Trường Cao đẳng nghề trước năm 2015. Phát triển hợp lý Trường Trung cấp nghề KTKT Công đoàn tỉnh.
- Tiếp tục đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất các Trung tâm dạy nghề công lập hiện có; sau năm 2015 nâng cấp 02 Trung tâm dạy nghề cấp huyện lên thành Trường Trung cấp nghề.
- Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề, tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư phát triển mạng lưới giáo dục - đào tạo, dạy nghề trên địa bàn tỉnh. Phấn đấu đến năm 2015 có thêm 01 trường cao đẳng chuyên nghiệp đa ngành và 01 trường cao đẳng du lịch quốc tế, 01 trường trung cấp nghề ngoài công lập; sau năm 2015 có thêm ít nhất 01 trường trung cấp chuyên nghiệp và 01 trường cao đẳng nghề ngoài công lập.
II. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON, GIÁO DỤC PHỔ THÔNG, GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN - HƯỚNG NGHIỆP, GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP VÀ DẠY NGHỀ ĐẾN NĂM 2020.
1. Giáo dục mầm non:
1.1. Phát triển giáo dục mầm non đến năm 2020:
Phát triển giáo dục mầm non là cơ sở ban đầu để bước vào thực hiện mục tiêu nâng cao mặt bằng dân trí và chất lượng nguồn nhân lực. Căn cứ qui mô dân số đã dự báo trong “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Thuận đến năm 2020”, tỷ lệ trẻ em 3-5 tuổi đến lớp mẫu giáo tăng từ 64,8% năm 2010 lên 80%-85% năm 2015 và trên 90% -95% năm 2020, tương ứng với số trẻ em đến lớp mẫu giáo tăng từ 40.207 cháu năm 2010 lên 49.580 cháu năm 2015 và 56.498 cháu năm 2020. Tỷ lệ trẻ em 5 tuổi học 2 buổi/ngày đủ một năm học tăng từ 95% năm 2015 lên 100% năm 2020.
Từ nay đến 2015 mỗi năm cần bổ sung thêm khoảng 700 giáo viên, giai đoạn 2016-2020 mỗi năm bổ sung 450 giáo viên; mở lớp đào tạo trong tỉnh mỗi năm khoảng 300 người, ngoài ra tiếp nhận thêm nguồn từ các trường cao đẳng, đại học ngoài tỉnh.
1.2. Phát triển cơ sở vật chất giáo dục mầm non:
Căn cứ số nhóm, lớp mầm non và tỷ lệ số nhóm, lớp học hai buổi. Xác định nhu cầu cơ sở vật chất như sau:
- Tổng số phòng học và phòng chức năng tăng từ 1.567 phòng năm 2010 lên 2.745 phòng năm 2015 và 4.040 phòng năm 2020. Trong đó, số phòng ngoài công lập chiếm khoảng 20% năm 2015 và 25 % vào năm 2020.
- Trong giai đoạn 2011-2015, ưu tiên đầu tư kiên cố hoá các điểm trung tâm, xây công trình vệ sinh ở các trường chưa có; bố trí các trường mầm non và điểm trường phù hợp với quy hoạch phát triển dân cư. Tổng số phòng học và phòng chức năng xây dựng kiên cố (theo qui định của trường đạt chuẩn) tăng từ 229 phòng năm 2010 (14%) lên 1.373 phòng năm 2015 (50%) và 3.434 phòng vào năm 2020 (85%).
1.Phân bố hệ thống giáo dục mầm non tại từng địa bàn huyện, thị xã, thành phố:
Rà soát, lập dự án đầu tư xây dựng các trường và điểm trường mầm non cho từng xã, thị trấn theo qui định của trường đạt chuẩn. Đồng thời đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá phát triển giáo dục mầm non, nhất là ở khu vực thành phố, thị xã, thị trấn. Chú trọng hình thức bán trú dân nuôi với sự hỗ trợ ban đầu của nhà nước về đào tạo, nâng cao kiến thức, phương pháp sư phạm cho giáo viên.
Căn cứ số nhóm, lớp mầm non và tỷ lệ số nhóm, lớp học hai buổi, căn cứ vào tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường tại các địa phương trên phạm vi toàn tỉnh, với mục tiêu mỗi phường/xã, thị trấn có ít nhất 01 trường mầm non. Bố trí các trường mầm non và điểm trường phù hợp với quy hoạch phát triển dân cư.
2. Giáo dục phổ thông:
2.1. Tiểu học:
Số học sinh tiểu học tiếp tục tăng từ 109.631 học sinh năm 2010 lên 112.636 học sinh năm 2015 và 121.500 học sinh năm 2020 (tính theo mức huy động 99,9% trẻ em trong độ tuổi 6-10 tuổi đến trường tiểu học).
Số lớp tiểu học tăng từ 4.109 lớp năm 2010 lên 4.172 lớp năm 2015 và 4.500 lớp năm 2020 (tính theo mức bình quân số học sinh trên một lớp tăng từ 26,7HS/lớp năm 2010 lên khoảng 27-30 HS/lớp năm 2015 và năm 2020). Số học sinh học 2 buổi chiếm 40-50% năm 2015 và 90-100% vào năm 2020.
Với yêu cầu phát triển số trường dạy học 2 buổi/ngày, tương ứng với số giáo viên tiểu học năm 2010 là 5.323 tăng lên 6.411 vào năm 2015 và đến năm 2020 là 6.950. Nhu cầu giáo viên chủ yếu là môn Tiếng Anh, Tiếng dân tộc thiểu số, Nhạc, Họa, Thể dục. Như vậy sẽ thu nhận giáo viên được đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học trong và ngoài tỉnh.
2.2. Trung học cơ sở:
Số học sinh trung học cơ sở đến trường so với số trẻ em trong độ tuổi từ 11-14 tuổi chiếm 75,46% năm 2010 lên chiếm 90% năm 2015 và chiếm 97% năm 2020. Tương ứng với số học sinh trung học cơ sở tăng từ 84.870 học sinh năm 2010 lên 85.207 học sinh năm 2015 và 94.500 học sinh năm 2020.
Số lớp trung học cơ sở tăng từ 2.434 lớp năm 2010 lên 2506 lớp năm 2015 và lên 2.700 lớp năm 2020 (tính theo mức bình quân số học sinh trên một lớp là 35HS/ lớp). Số học sinh học 2 buổi tăng 20-30 % năm 2015 lên 50-60% năm 2020.
Số giáo viên trung học cơ sở năm 2010 là 4.783 người tăng lên 5.012 vào năm 2015 và ổn định ở mức 5.400 giáo viên vào năm 2020. Bình quân mỗi năm bổ sung thêm khoảng 60 người từ các trường cao đẳng, đại học trong và ngoài tỉnh.
2.Trung học phổ thông:
Đảm bảo các điều kiện cần thiết cho số học sinh trung học cơ sở vào trung học phổ thông sẽ tăng nhanh trong những năm tới. Tỷ lệ học sinh trung học cơ sở vào trung học phổ thông từ 70-75% vào năm 2015 và những năm tiếp theo. Tương đương với số học sinh tăng lên 55.000 học sinh năm 2015 và 58.500 học sinh năm 2020.
Số lớp trung học phổ thông tăng từ 1.019 lớp năm 2010 lên 1.227 lớp năm 2015 và 1.300 lớp năm 2020 (tính theo mức bình quân số học sinh trên một lớp tăng từ 44,6 HS/ lớp năm 2010 lên 45 HS/ lớp năm 2015 và những năm tiếp theo).
Số giáo viên trung học phổ thông tăng từ 2.021 giáo viên năm 2010 lên 2.625 giáo viên năm 2015 và 2.860 giáo viên năm 2020 (số giáo viên trung học phổ thông nói trên có tính thêm tỷ lệ dự phòng cần thiết để thực hiện luân phiên đào tạo giáo viên trên chuẩn). Nguồn giáo viên bổ sung sẽ tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp đại học, trên đại học ngành sư phạm từ các trường Đại học trong toàn quốc.
2.4. Xây dựng cơ sở vật chất giáo dục phổ thông:
Phát triển mạng lưới trường, lớp học; củng cố và tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị giáo dục. Tăng cường kiên cố hóa trường lớp, lớp học và xây nhà công vụ cho giáo viên theo hướng củng cố hệ thống trường lớp hiện có, mở rộng mạng lưới đến các khu dân cư, chú trọng phát triển ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, xóa bỏ và thay thế phòng học tạm, phòng học xuống cấp, xây công trình vệ sinh cho các trường còn thiếu…
Căn cứ số lớp đã được tính toán theo qui mô số học sinh các cấp, xây dựng các trường theo mô hình chuẩn quốc gia, đặc biệt tách những trường hiện có quy mô lớp học quá lớn so với chuẩn quy định. Nhu cầu phát triển như sau:
- Tổng số phòng học và phòng chức năng tăng từ 6.925 phòng năm 2010 lên 8.094 phòng năm 2015 và 9.258 phòng năm 2020. Trong đó:
+ Số phòng học tăng từ 5.952 phòng năm 2010 lên 6.464 phòng năm 2015 và ổn định ở mức 6.993 phòng trong những năm tiếp theo.
+ Số phòng chức năng tăng từ 973 phòng năm 2010 lên 1.630 phòng năm 2015 và 2.265 phòng năm 2020.
Tính bình quân mỗi năm, giai đoạn 2011-2015 cần đầu tư xây dựng trên 233 phòng; giai đoạn 2016-2020 cần đầu tư xây dựng 233 phòng (kể cả xây mới và xây thay thế phòng cấp 4 phòng học và phòng chức năng).
2.5. Phát triển hệ thống giáo dục phổ thông theo đơn vị hành chính:
a) Tiểu học:
Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất giữ vững thành quả phổ cập tiểu học và xoá mù chữ đã có, tiến tới xây dựng một số trường đạt chuẩn quốc gia. Các trường được xây mới đảm bảo đạt chuẩn quốc gia về CSVC ngay từ đầu. Căn cứ kết quả dự báo phát triển dân số, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường và dự báo số lớp học hai buổi, bố trí các trường tiểu học phù hợp với quy hoạch phát triển dân cư, hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng nông thôn. Căn cứ vào thực trạng hệ thống các điểm trường lẻ trên địa bàn tỉnh. Nghiên cứu đầu tư nâng cấp, mở rộng và xây dựng thêm các điểm trường mới theo mô hình trường đạt chuẩn quốc gia.
b) Trung học cơ sở:
Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục trung học cơ sở, nâng tỷ lệ học sinh trung học cơ sở đi học đúng độ tuổi đạt 90% vào năm 2015 và 95% năm 2020 (số học sinh trên độ tuổi chiếm khoảng 10%). Tăng cường công tác quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục. Đầu tư kiên cố hóa mạng lưới cơ sở vật chất, tăng cường trang thiết bị, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đủ điều kiện để xây dựng thành trường đạt chuẩn.
Căn cứ dự báo phát triển dân số đến năm 2015 và 2020, trong đó đã dự báo số học sinh trong độ tuổi đi học trung học cơ sở (11 đến 14 tuổi) tại các địa phương trên phạm vi toàn tỉnh.
c) Trung học phổ thông:
Đảm bảo các điều kiện cần thiết cho số học sinh trung học cơ sở vào trung học phổ thông sẽ tăng nhanh trong những năm tới. Các trường đều có cơ sở riêng, đủ phòng học, xây kiên cố và đúng quy cách, đủ các phòng chức năng. Tiến hành tách những trường có số lớp trên 60 lớp.
Đầu tư nguồn lực, đưa trường THPT chuyên Trần Hưng Đạo trở thành trường kiểu mẫu, có chất lượng cao và tầm ảnh hưởng trên phạm vi toàn quốc.
Toàn tỉnh có số trường tăng từ 26 trường năm 2010 lên 39 trường (bao gồm trường nhiều cấp học) vào 2015 và 47 trường (bao gồm trường nhiều cấp học) vào năm 2020. Các trường mới xây dựng đảm bảo đạt chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất ngay từ đầu thiết kế xây dựng.
Giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp và học tập cộng đồng:
3.1. Phát triển giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp và học tập cộng đồng đến năm 2020:
- Đến năm 2015 tất cả các huyện, thị xã, thành phố đều có trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp, trong đó thành lập mới là 05 trung tâm nhằm đáp ứng yêu cầu phân luồng học sinh sau THCS khoảng 25% và hướng nghiệp nghề cho 100% học sinh phổ thông có nhu cầu.
- Đảm bảo duy trì tỷ lệ 100% xã, phường, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng; đối với các xã được chia tách, thành lập mới trong giai đoạn tới thì sẽ khẩn trương đáp ứng đầy đủ các điều kiện để thành lập ngay trong năm đầu tiên. Thực hiện tốt việc phối kết hợp giữa Trung tâm giáo dục thường xuyên với Trung tâm học tập cộng đồng.
3.2. Xác định phát triển cơ sở vật chất giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp và Trung tâm học tập cộng đồng:
- Tiếp tục đầu tư nâng cấp, hoàn chỉnh CSVC, trang thiết bị các trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp hiện có (La Gi, Bắc Bình, Tánh Linh, Đức Linh). Đầu tư xây mới trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp tỉnh tại xã Tiến Lợi, thành phố Phan Thiết. Thành lập mới các trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp các huyện Tuy Phong, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân, Phú Quý trên cơ sở tận dụng, sử dụng chung cơ sở vật chất các trường THPT tại các địa phương.
- Tận dụng tốt các cơ sở vật chất đã có tại xã, phường, thị trấn và các trang thiết bị đã đầu tư, bổ sung, nâng cấp để các trung tâm học tập cộng động hoạt động với hiệu quả tốt nhất.