Document: Khoản 4 Điều 1 Quyết định 15/2009/QĐ-UBND phê duyệt Chương trình Phát triển bền vững tỉnh Cà Mau giai đoạn 2009 - 2015 tầm nhìn đến năm 2020

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Cà Mau", "promulgation_date": "07/07/2009", "sign_number": "15/2009/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Công Bửu", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Cà Mau", "promulgation_date": "07/07/2009", "sign_number": "15/2009/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Công Bửu", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Cà Mau", "promulgation_date": "07/07/2009", "sign_number": "15/2009/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Công Bửu", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Cà Mau", "promulgation_date": "07/07/2009", "sign_number": "15/2009/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Công Bửu", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Cà Mau", "promulgation_date": "07/07/2009", "sign_number": "15/2009/QĐ-UBND", "signer": "Bùi Công Bửu", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 4 Điều 1 Quyết định 15/2009/QĐ-UBND phê duyệt Chương trình Phát triển bền vững tỉnh Cà Mau giai đoạn 2009 - 2015 tầm nhìn đến năm 2020

Điều 1. Phê duyệt Chương trình Phát triển bền vững tỉnh Cà Mau giai đoạn 2009 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu như sau:
...
4. Định hướng phát triển bền vững ngành và lĩnh vực:
a) Phát triển ngư, nông, lâm nghiệp và kinh tế nông thôn:
- Tiếp tục duy trì nhịp độ phát triển kinh tế nông nghiệp trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế, tiềm năng và tài nguyên tự nhiên của một tỉnh đồng bằng ven biển và lực lượng lao động nông thôn để phát triển tổng hợp kinh tế ngư - nông - lâm nghiệp.
- Thực hiện chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đẩy mạnh sự liên kết hỗ trợ giữa nông nghiệp - công nghiệp và dịch vụ để nâng cao hiệu quả kinh tế.
- Đa dạng ngành nghề nông thôn kể cả làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới theo định hướng thị trường bao gồm cả thị trường tiêu thụ hàng nông sản, thủy sản, thị trường lao động, thị trường tài chính, thị trường đất đai, thị trường khoa học công nghệ.
b) Công nghiệp:
Phát triển công nghiệp là cơ sở để thúc đẩy nhanh tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển công nghiệp với phát triển tiểu thủ công nghiệp địa phương, hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tiếp tục phát triển đa dạng các ngành công nghiệp có lợi thế về nguyên liệu tại chỗ (chế biến thủy sản, nông lâm sản), giải quyết nhiều việc làm cho lao động, từng bước giảm dần tỷ lệ các sản phẩm sơ chế để chuyển sang các sản phẩm tinh chế, tiến tới thu hút phát triển một số ngành công nghiệp mới, có hàm lượng khoa học công nghệ cao để nâng cao hiệu quả kinh tế.
Khôi phục và phát triển các làng nghề nông thôn gắn với giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn; triển khai xây dựng các khu, cụm công nghiệp để sắp xếp và thu hút các cơ sở sản xuất công nghiệp gắn với xử lý nước thải, rác thải công nghiệp. Di chuyển các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm trong nội ô thành phố Cà Mau vào các khu, cụm công nghiệp.
c) Các ngành dịch vụ:
Phát triển mạnh lĩnh vực dịch vụ là yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế nhanh và bền vững, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đời sống dân cư, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động trong tỉnh. Trong giai đoạn đến năm 2010 và đến năm 2020 cần phát triển mạnh hơn nữa kinh tế dịch vụ, coi đây là hướng chiến lược phát triển của tỉnh, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Phát triển các ngành dịch vụ sẽ thúc đẩy cung ứng các dịch vụ đầu vào cho nhiều ngành sản xuất quan trọng, kích cầu xã hội, nhất là nhóm dịch vụ hạ tầng như viễn thông, công nghệ thông tin, thị trường vốn.
d) Khoa học và công nghệ:
Khoa học và công nghệ là động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra sự phát triển nhanh và tăng hiệu quả cho nền kinh tế. Đối với hoạt động khoa học cấp tỉnh, chủ yếu là nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ mới, nhân rộng các mô hình có hiệu quả vào sản xuất và đời sống.
Thực hiện đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, xã hội hóa hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển mạnh hoạt động sự nghiệp khoa học và công nghệ sang cơ chế cung ứng dịch vụ phù hợp với kinh tế thị trường, mở rộng sự tham gia của mọi thành phần kinh tế vào các dịch vụ khoa học công nghệ. Đối với các hoạt động khoa học công nghệ sử dụng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước ở cấp tỉnh chủ yếu chuyển sang nghiên cứu chuyển giao ứng dụng là chính, giảm bớt các đề tài nghiên cứu lý luận để tăng hiệu quả, thiết thực với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, các đề tài khoa học cần chuyển đổi sang hình thức đặt hàng.
Từng bước xây dựng và phát triển thị trường công nghệ, chuyển các tổ chức khoa học và công nghệ công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Chuyển các đơn vị nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ của nhà nước có sản phẩm gắn với thị trường sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, sự nghiệp có thu.
Phát triển mạnh hơn các dịch vụ khoa học và công nghệ nhằm nâng cao trình độ công nghệ của các ngành kinh tế, hợp lý hóa sản xuất, tăng cường quản lý chất lượng, môi trường của các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý.
đ) Giáo dục và đào tạo:
Tiếp tục thực hiện các biện pháp đồng bộ, để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học, lưu ban, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục văn hóa và đạo đức, thực hiện tốt giáo dục hướng nghiệp cho học sinh bậc trung học phổ thông.
Phát triển nhanh giáo dục chuyên nghiệp và đào tạo nghề, thực hiện đào tạo theo hướng liên thông, mở ra nhiều cơ hội học tập khác nhau cho mọi người. Xây dựng cơ cấu ngành nghề đào tạo phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế, thực hiện tuyển sinh đào tạo theo địa chỉ để gắn với giải quyết việc làm sau đào tạo. Củng cố trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy nghề ở các huyện, xây dựng trường dạy nghề chất lượng cao, tiến tới hội đủ các điều kiện để sớm thành lập trường đại học đa ngành tại tỉnh Cà Mau.
Đẩy mạnh công tác xã hội hóa về giáo dục - đào tạo, trước hết cần tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân nhằm nâng cao nhận thức xã hội về tầm quan trọng của giáo dục, đảm bảo quyền lợi học tập cho mọi người, thay đổi căn bản về cách suy nghĩ, nếp sống trong từng gia đình, phải thấy được tầm quan trọng của giáo dục, nhất là trong xu thế phát triển của xã hội. Tiếp tục động viên sự tham gia của quần chúng nhân dân trong việc đóng góp tiền của, công sức, đất đai để xây dựng trường học; từng bước phát triển hệ thống trường tư thục để thực hiện xã hội hóa giáo dục. Phát huy sự đóng góp của các tổ chức đoàn thể, các Hội Khuyến học, Hội Cựu giáo chức cho phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo của địa phương.
e) Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân:
Xây dựng mạng lưới y tế từng bước hiện đại để nâng cao hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, giảm tỷ lệ mắc bệnh, ngăn ngừa, khống chế có hiệu quả các dịch bệnh, mọi người dân đều được cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế chất lượng nhằm nâng cao thể chất, sức khỏe và tuổi thọ cho nhân dân.
Phát triển và hoàn thiện hệ thống y tế trong tỉnh bao gồm mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế dự phòng, y tế cơ sở, khám chữa bệnh và phục hồi chức năng, mạng lưới sản xuất và cung ứng thuốc chữa bệnh, đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế.
g) Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao:
Văn hóa là nền tảng của xã hội, có vai trò đóng góp rất lớn vào phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân và tác động sâu sắc tạo nên nhân cách con người, góp phần đẩy lùi tệ nạn xã hội. Đảm bảo sự gắn kết giữa phát triển kinh tế với không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.
Nâng cao công tác thông tin, tuyên truyền, tăng cường công tác quản lý, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, các di tích văn hóa. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu di tích lịch sử cách mạng, các Trung tâm văn hóa - thể thao cấp huyện, cấp xã.
Phát triển thể dục, thể thao nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, góp phần nâng cao thể lực, thể chất, giáo dục phát triển nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh.
h) Dân số, lao động, việc làm, giảm nghèo và xã hội:
Tiếp tục thực hiện các giải pháp thực hiện kế hoạch hóa gia đình nhằm kiềm chế tốc độ tăng dân số tự nhiên, xây dựng mỗi gia đình có từ 1 - 2 con. Phấn đấu sớm đạt và duy trì mức sinh thay thế. Nâng cao chất lượng dân số về thể chất và tinh thần. Phân bố hợp lý dân cư giữa các vùng trong tỉnh (giữa vùng ven biển và vùng nội địa, giữa đô thị và nông thôn).
Đẩy mạnh công tác dạy nghề và tạo ra việc làm, sử dụng có hiệu quả nguồn lao động hiện có để phát triển kinh tế - xã hội nhằm tăng thu nhập cho người lao động, từng bước giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Tiếp tục thực hiện sắp xếp bố trí dân cư theo quy hoạch nhằm đảm bảo nơi ở gắn với điều kiện sản xuất của nhân dân, nhất là đối với gần 3.000 hộ dân đang sống ở ngoài đê biển, các cửa sông, rừng phòng hộ ven biển.
Phát triển các hoạt động an sinh xã hội, thực hiện tốt các chính sách xã hội như đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công với nước; cùng với tăng chi ngân sách cho đảm bảo xã hội cần khuyến khích các hoạt động từ thiện nhân đạo, vận động giúp đỡ những đối tượng bị rủi ro, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để vươn lên hòa nhập cộng đồng.
Đẩy mạnh công tác phòng chống các tệ nạn xã hội, nhất là ma túy; xây dựng xã, phường, thị trấn lành mạnh, từng bước đẩy lùi tệ nạn xã hội.

Content:
Định hướng phát triển bền vững ngành và lĩnh vực:
a) Phát triển ngư, nông, lâm nghiệp và kinh tế nông thôn:
- Tiếp tục duy trì nhịp độ phát triển kinh tế nông nghiệp trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế, tiềm năng và tài nguyên tự nhiên của một tỉnh đồng bằng ven biển và lực lượng lao động nông thôn để phát triển tổng hợp kinh tế ngư - nông - lâm nghiệp.
- Thực hiện chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đẩy mạnh sự liên kết hỗ trợ giữa nông nghiệp - công nghiệp và dịch vụ để nâng cao hiệu quả kinh tế.
- Đa dạng ngành nghề nông thôn kể cả làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới theo định hướng thị trường bao gồm cả thị trường tiêu thụ hàng nông sản, thủy sản, thị trường lao động, thị trường tài chính, thị trường đất đai, thị trường khoa học công nghệ.
b) Công nghiệp:
Phát triển công nghiệp là cơ sở để thúc đẩy nhanh tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển công nghiệp với phát triển tiểu thủ công nghiệp địa phương, hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tiếp tục phát triển đa dạng các ngành công nghiệp có lợi thế về nguyên liệu tại chỗ (chế biến thủy sản, nông lâm sản), giải quyết nhiều việc làm cho lao động, từng bước giảm dần tỷ lệ các sản phẩm sơ chế để chuyển sang các sản phẩm tinh chế, tiến tới thu hút phát triển một số ngành công nghiệp mới, có hàm lượng khoa học công nghệ cao để nâng cao hiệu quả kinh tế.
Khôi phục và phát triển các làng nghề nông thôn gắn với giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn; triển khai xây dựng các khu, cụm công nghiệp để sắp xếp và thu hút các cơ sở sản xuất công nghiệp gắn với xử lý nước thải, rác thải công nghiệp. Di chuyển các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm trong nội ô thành phố Cà Mau vào các khu, cụm công nghiệp.
c) Các ngành dịch vụ:
Phát triển mạnh lĩnh vực dịch vụ là yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế nhanh và bền vững, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đời sống dân cư, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động trong tỉnh. Trong giai đoạn đến năm 2010 và đến năm 2020 cần phát triển mạnh hơn nữa kinh tế dịch vụ, coi đây là hướng chiến lược phát triển của tỉnh, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Phát triển các ngành dịch vụ sẽ thúc đẩy cung ứng các dịch vụ đầu vào cho nhiều ngành sản xuất quan trọng, kích cầu xã hội, nhất là nhóm dịch vụ hạ tầng như viễn thông, công nghệ thông tin, thị trường vốn.
d) Khoa học và công nghệ:
Khoa học và công nghệ là động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra sự phát triển nhanh và tăng hiệu quả cho nền kinh tế. Đối với hoạt động khoa học cấp tỉnh, chủ yếu là nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ mới, nhân rộng các mô hình có hiệu quả vào sản xuất và đời sống.
Thực hiện đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, xã hội hóa hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển mạnh hoạt động sự nghiệp khoa học và công nghệ sang cơ chế cung ứng dịch vụ phù hợp với kinh tế thị trường, mở rộng sự tham gia của mọi thành phần kinh tế vào các dịch vụ khoa học công nghệ. Đối với các hoạt động khoa học công nghệ sử dụng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước ở cấp tỉnh chủ yếu chuyển sang nghiên cứu chuyển giao ứng dụng là chính, giảm bớt các đề tài nghiên cứu lý luận để tăng hiệu quả, thiết thực với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, các đề tài khoa học cần chuyển đổi sang hình thức đặt hàng.
Từng bước xây dựng và phát triển thị trường công nghệ, chuyển các tổ chức khoa học và công nghệ công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Chuyển các đơn vị nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ của nhà nước có sản phẩm gắn với thị trường sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, sự nghiệp có thu.
Phát triển mạnh hơn các dịch vụ khoa học và công nghệ nhằm nâng cao trình độ công nghệ của các ngành kinh tế, hợp lý hóa sản xuất, tăng cường quản lý chất lượng, môi trường của các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý.
đ) Giáo dục và đào tạo:
Tiếp tục thực hiện các biện pháp đồng bộ, để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học, lưu ban, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục văn hóa và đạo đức, thực hiện tốt giáo dục hướng nghiệp cho học sinh bậc trung học phổ thông.
Phát triển nhanh giáo dục chuyên nghiệp và đào tạo nghề, thực hiện đào tạo theo hướng liên thông, mở ra nhiều cơ hội học tập khác nhau cho mọi người. Xây dựng cơ cấu ngành nghề đào tạo phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế, thực hiện tuyển sinh đào tạo theo địa chỉ để gắn với giải quyết việc làm sau đào tạo. Củng cố trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy nghề ở các huyện, xây dựng trường dạy nghề chất lượng cao, tiến tới hội đủ các điều kiện để sớm thành lập trường đại học đa ngành tại tỉnh Cà Mau.
Đẩy mạnh công tác xã hội hóa về giáo dục - đào tạo, trước hết cần tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân nhằm nâng cao nhận thức xã hội về tầm quan trọng của giáo dục, đảm bảo quyền lợi học tập cho mọi người, thay đổi căn bản về cách suy nghĩ, nếp sống trong từng gia đình, phải thấy được tầm quan trọng của giáo dục, nhất là trong xu thế phát triển của xã hội. Tiếp tục động viên sự tham gia của quần chúng nhân dân trong việc đóng góp tiền của, công sức, đất đai để xây dựng trường học; từng bước phát triển hệ thống trường tư thục để thực hiện xã hội hóa giáo dục. Phát huy sự đóng góp của các tổ chức đoàn thể, các Hội Khuyến học, Hội Cựu giáo chức cho phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo của địa phương.
e) Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân:
Xây dựng mạng lưới y tế từng bước hiện đại để nâng cao hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, giảm tỷ lệ mắc bệnh, ngăn ngừa, khống chế có hiệu quả các dịch bệnh, mọi người dân đều được cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế chất lượng nhằm nâng cao thể chất, sức khỏe và tuổi thọ cho nhân dân.
Phát triển và hoàn thiện hệ thống y tế trong tỉnh bao gồm mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế dự phòng, y tế cơ sở, khám chữa bệnh và phục hồi chức năng, mạng lưới sản xuất và cung ứng thuốc chữa bệnh, đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế.
g) Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao:
Văn hóa là nền tảng của xã hội, có vai trò đóng góp rất lớn vào phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân và tác động sâu sắc tạo nên nhân cách con người, góp phần đẩy lùi tệ nạn xã hội. Đảm bảo sự gắn kết giữa phát triển kinh tế với không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.
Nâng cao công tác thông tin, tuyên truyền, tăng cường công tác quản lý, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, các di tích văn hóa. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu di tích lịch sử cách mạng, các Trung tâm văn hóa - thể thao cấp huyện, cấp xã.
Phát triển thể dục, thể thao nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, góp phần nâng cao thể lực, thể chất, giáo dục phát triển nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh.
h) Dân số, lao động, việc làm, giảm nghèo và xã hội:
Tiếp tục thực hiện các giải pháp thực hiện kế hoạch hóa gia đình nhằm kiềm chế tốc độ tăng dân số tự nhiên, xây dựng mỗi gia đình có từ 1 - 2 con. Phấn đấu sớm đạt và duy trì mức sinh thay thế. Nâng cao chất lượng dân số về thể chất và tinh thần. Phân bố hợp lý dân cư giữa các vùng trong tỉnh (giữa vùng ven biển và vùng nội địa, giữa đô thị và nông thôn).
Đẩy mạnh công tác dạy nghề và tạo ra việc làm, sử dụng có hiệu quả nguồn lao động hiện có để phát triển kinh tế - xã hội nhằm tăng thu nhập cho người lao động, từng bước giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Tiếp tục thực hiện sắp xếp bố trí dân cư theo quy hoạch nhằm đảm bảo nơi ở gắn với điều kiện sản xuất của nhân dân, nhất là đối với gần 3.000 hộ dân đang sống ở ngoài đê biển, các cửa sông, rừng phòng hộ ven biển.
Phát triển các hoạt động an sinh xã hội, thực hiện tốt các chính sách xã hội như đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công với nước; cùng với tăng chi ngân sách cho đảm bảo xã hội cần khuyến khích các hoạt động từ thiện nhân đạo, vận động giúp đỡ những đối tượng bị rủi ro, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để vươn lên hòa nhập cộng đồng.
Đẩy mạnh công tác phòng chống các tệ nạn xã hội, nhất là ma túy; xây dựng xã, phường, thị trấn lành mạnh, từng bước đẩy lùi tệ nạn xã hội.