Document: Khoản 20 Điều 1 Quyết định 05/2018/QĐ-UBND sửa đổi 08/2015/QĐ-UBND bồi thường hỗ trợ tái định cư Bình Thuận

Type: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "25/01/2018", "sign_number": "05/2018/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Hai", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "25/01/2018", "sign_number": "05/2018/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Hai", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "25/01/2018", "sign_number": "05/2018/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Hai", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "25/01/2018", "sign_number": "05/2018/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Hai", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Tỉnh Bình Thuận", "promulgation_date": "25/01/2018", "sign_number": "05/2018/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Ngọc Hai", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 20 Điều 1 Quyết định 05/2018/QĐ-UBND sửa đổi 08/2015/QĐ-UBND bồi thường hỗ trợ tái định cư Bình Thuận

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02 tháng 3 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; quy trình thu hồi, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và quy trình Chủ đầu tư thỏa thuận với người sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bình Thuận như sau:
...
20. Sửa đổi, bổ sung Điều 72 như sau:
“Điều 72. Xử lý các trường hợp đang thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dở dang
1. Đối với những dự án, hạng mục đã chi trả xong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành thì không áp dụng theo quy định của Luật Đất đai.
2. Đối với các dự án có các trường hợp đã có quyết định thu hồi đất chi tiết, hạng mục đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chi tiết cho từng người có đất bị thu hồi hoặc đang thực hiện chi trả bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã được phê duyệt trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì thực hiện theo phương án đã phê duyệt, không áp dụng theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.
3. Đối với dự án thuộc đối tượng tại Điều 61 và Điều 62 Luật Đất đai, chủ đầu tư đủ điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 58 của Luật Đất đai. Đến nay, dự án đã có quyết định thu hồi đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 nhưng chưa ban hành quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chi tiết cho từng người dân thì tiếp tục lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.
4. Đối với dự án còn lại đang thực hiện dở dang, thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành nhưng không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 mà đã lựa chọn chủ đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì Trung tâm Phát triển quỹ đất có trách nhiệm rà soát từng dự án cụ thể để báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện để xử lý như sau:
a) Dự án mà chủ đầu tư không đủ điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 58 Luật Đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư rà soát lập thủ tục chấm dứt hoạt động dự án đầu tư, làm cơ sở cho Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu hủy quyết định thu hồi đất và yêu cầu chủ đầu tư dừng thực hiện dự án;
b) Dự án mà chủ đầu tư đủ điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 58 Luật Đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư để rà soát năng lực, tính khả thi và quyết tâm của nhà đầu tư báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép tiếp tục thực hiện dự án theo hình thức thu hồi đất. Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổng hợp vào danh mục dự án cần thu hồi đất để trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất.
5. Đối với dự án đầu tư thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành nhưng không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 đã được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cho phép thỏa thuận nhận chuyển quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà chủ đầu tư chưa thỏa thuận hết được toàn bộ diện tích đất của người sử dụng đất trong phạm vi dự án thì Ủy ban nhân dân cấp huyện có tổng hợp gửi Sở Tài nguyên và Môi trường báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp vào danh mục dự án cần thu hồi đất trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất đối với diện tích đất chưa thỏa thuận được để giao đất, cho thuê đất đối với chủ đầu tư.
6. Đối với dự án đầu tư đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (chi tiết) của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 chưa thực hiện chi trả tiền bồi thường hoặc mới chi trả một phần số tiền bồi thường, hỗ trợ thì việc xử lý bồi thường chậm thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014.
7. Đối với các công trình dự án trọng điểm để đáp ứng tiến độ của dự án trong khi chờ quyết định phê duyệt giá đất cụ thể để tính bồi thường cho người bị thu hồi đất. Trường hợp có sự đồng ý của người bị thu hồi đất thì tạm áp dụng Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định để tính toán bồi thường, hỗ trợ cho người dân. Sau khi có quyết định phê duyệt giá đất cụ thể, Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo rà soát để tính toán phê duyệt bổ sung cho người dân theo đúng quy định của Luật Đất đai năm 2013.”

Content:
Sửa đổi, bổ sung Điều 72 như sau:
“Điều 72. Xử lý các trường hợp đang thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dở dang
1. Đối với những dự án, hạng mục đã chi trả xong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành thì không áp dụng theo quy định của Luật Đất đai.
2. Đối với các dự án có các trường hợp đã có quyết định thu hồi đất chi tiết, hạng mục đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chi tiết cho từng người có đất bị thu hồi hoặc đang thực hiện chi trả bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã được phê duyệt trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì thực hiện theo phương án đã phê duyệt, không áp dụng theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.
3. Đối với dự án thuộc đối tượng tại Điều 61 và Điều 62 Luật Đất đai, chủ đầu tư đủ điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 58 của Luật Đất đai. Đến nay, dự án đã có quyết định thu hồi đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 nhưng chưa ban hành quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chi tiết cho từng người dân thì tiếp tục lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.
4. Đối với dự án còn lại đang thực hiện dở dang, thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành nhưng không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 mà đã lựa chọn chủ đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì Trung tâm Phát triển quỹ đất có trách nhiệm rà soát từng dự án cụ thể để báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện để xử lý như sau:
a) Dự án mà chủ đầu tư không đủ điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 58 Luật Đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư rà soát lập thủ tục chấm dứt hoạt động dự án đầu tư, làm cơ sở cho Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu hủy quyết định thu hồi đất và yêu cầu chủ đầu tư dừng thực hiện dự án;
b) Dự án mà chủ đầu tư đủ điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 58 Luật Đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư để rà soát năng lực, tính khả thi và quyết tâm của nhà đầu tư báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép tiếp tục thực hiện dự án theo hình thức thu hồi đất. Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổng hợp vào danh mục dự án cần thu hồi đất để trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất.
5. Đối với dự án đầu tư thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành nhưng không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 đã được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cho phép thỏa thuận nhận chuyển quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà chủ đầu tư chưa thỏa thuận hết được toàn bộ diện tích đất của người sử dụng đất trong phạm vi dự án thì Ủy ban nhân dân cấp huyện có tổng hợp gửi Sở Tài nguyên và Môi trường báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp vào danh mục dự án cần thu hồi đất trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất đối với diện tích đất chưa thỏa thuận được để giao đất, cho thuê đất đối với chủ đầu tư.
6. Đối với dự án đầu tư đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (chi tiết) của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 chưa thực hiện chi trả tiền bồi thường hoặc mới chi trả một phần số tiền bồi thường, hỗ trợ thì việc xử lý bồi thường chậm thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014.
7. Đối với các công trình dự án trọng điểm để đáp ứng tiến độ của dự án trong khi chờ quyết định phê duyệt giá đất cụ thể để tính bồi thường cho người bị thu hồi đất. Trường hợp có sự đồng ý của người bị thu hồi đất thì tạm áp dụng Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định để tính toán bồi thường, hỗ trợ cho người dân. Sau khi có quyết định phê duyệt giá đất cụ thể, Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo rà soát để tính toán phê duyệt bổ sung cho người dân theo đúng quy định của Luật Đất đai năm 2013.”