Document: Điều 1 Thông tư 377-TC hướng dẫn tổ chức bầu cử Thẩm phán Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân địa phương

Type: {"issuing_agency": "Tòa án nhân dân tối cao", "promulgation_date": "25/04/1961", "sign_number": "377-TC", "signer": "Phạm Văn Bạch", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Tòa án nhân dân tối cao", "promulgation_date": "25/04/1961", "sign_number": "377-TC", "signer": "Phạm Văn Bạch", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Tòa án nhân dân tối cao", "promulgation_date": "25/04/1961", "sign_number": "377-TC", "signer": "Phạm Văn Bạch", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Tòa án nhân dân tối cao", "promulgation_date": "25/04/1961", "sign_number": "377-TC", "signer": "Phạm Văn Bạch", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Tòa án nhân dân tối cao", "promulgation_date": "25/04/1961", "sign_number": "377-TC", "signer": "Phạm Văn Bạch", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 1 Thông tư 377-TC hướng dẫn tổ chức bầu cử Thẩm phán Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân địa phương có nội dung như sau:

Điều 1. 1 và điều 12 của luật tổ chức tòa án nhân dân đã quy định: khi sơ thẩm tòa án nhân dân gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân; khi xét xử, hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán và tòa án nhân dân quyết định theo đa số.
Để hội thẩm nhân dân làm tốt nhiệm vụ mà Nhà nước và nhân dân đã giao cho, điều 25 của luật tổ chức tòa án nhân dân đã quy định: công dân có quyền bầu cử và ứng cử từ hai mươi ba tuổi trở lên có thể được bầu làm hội thẩm nhân dân. Ngoài điều kiện đó hội thẩm nhân dân còn phải là người tích cực thi hành pháp luật và những chính sách của Đảng và Nhà nước, tích cực công tác, tư cách đạo đức tốt và có quan hệ tốt với quần chúng. Nếu hội thẩm nhân dân không có những tiêu chuẩn nói trên thì không thể xứng đáng là đại biểu của nhân dân tại tòa án.
Nói tóm lại, những người được bầu làm hội thẩm nhân dân phải có đủ những tiêu chuẩn sau đây:
1. Có quyền bầu cử và ứng cử, từ hai mươi ba tuổi trở lên;
2. Tích cực thi hành những chính sách của Đảng và Nhà nước;
3. Tích cực công tác, đạo đức tư cách tốt, được nhân dân tín nhiệm.
Hội thẩm nhân dân có thể là đại biểu Hội đồng nhân dân hoặc không phải là đại biểu Hội đồng nhân dân.
Nên bầu làm hội thẩm nhân dân, những công nhân, nông dân, lao động trí óc tiên tiến, v.v...
Đa số hội thẩm nhân dân phải là công nhân và nông dân. Ở miền núi, đại đa số hội thẩm nhân dân là người dân tộc thiểu số. Số hội thẩm nhân dân là phụ nữ phải chiếm khoảng 20% tổng số hội thẩm nhân dân. Những người nào đã quá bận công tác của Nhà nước hoặc của đoàn thể thì không nên làm hội thẩm nhân dân.
Ở những vùng có đồng bào công giáo tập trung, cần có hội thẩm nhân dân là giáo dân.
3. Nhiệm kỳ của hội thẩm nhân dân.
Để mở rộng sự tham gia của nhân dân vào công tác của Tòa án, nhiệm kỳ của hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân địa phương các cấp thống nhất là hai năm.
4. Số hội thẩm nhân dân.
Điều 17 của pháp lệnh ngày 23-03-1961 đã giao cho Hội đồng nhân dân quyết định về số hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân cùng cấp, căn cứ vào đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân đó.
Để cho việc quy định số hội thẩm nhân dân được thống nhất giữa các Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án nhân dân tối cao định ra hướng chung trong việc quy định số hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân địa phương như sau:
A. Số hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương tính theo nguyên tắc sau đây:
- Mỗi thị trấn, xã hoặc khu vực tương đương ở thị xã cần có hai hội thẩm nhân dân; trường hợp đặc biệt những xã lớn và quan trọng thì có thể có ba hội thẩm nhân dân.
Ở các khu phố thuộc các thành phố Hà Nội, nhân dân ở tập trung, cho nên, có thể cử hai hoặc ba khối mới cần có một hội thẩm nhân dân. Ở thành phố Hải Phòng, việc tính số hội thẩm nhân dân cũng theo nguyên tắc như đã nói ở trên đối với trong Hà nội.
- Ngoài số hội thẩm nhân dân là những cán bộ ở các thị trấn, xã hoặc khu vực tương đương với xã, ở các thành phố, cần có từ ba đến năm hội thẩm nhân dân là cán bộ của các cơ quan, đoàn thể chung quanh thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương.
B. Số hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương tính theo nguyên tắc sau đây:
- Mỗi thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương cần có từ hai đến năm hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương:
- Ngoài số hội thẩm nhân dân là cán bộ ở thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương, cần có từ năm đến chính hội thẩm nhân dân là cán bộ của các cơ quan, đoàn thể chung quanh tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương; ở các thành phố Hà nội, Hải phòng, số hội thẩm nhân dân là cán bộ của các cơ quan, đoàn thể chung quanh thành phố có thể nhiều hơn.
5. Cách tiến hành bầu cử và cơ quan phụ trách việc bầu cử các hội thẩm nhân dân:
Để nêu rõ tính chất quần chúng của chế độ hội thẩm nhân dân, điều 17 của pháp lệnh ngày 23-03-1961 đã quy định rằng: danh sách những người ứng cử hội thẩm nhân dân của mỗi Tòa án nhân dân địa phương do các đoàn thể nhân dân cùng cấp giới thiệu. Để thi hành quy định đó, Tòa án nhân dân phải liên hệ mật thiết với Ủy ban mặt trận Tổ quốc cùng cấp để chuẩn bị danh sách những người mà các đoàn thể nhân dân giới thiệu ứng cử hội thẩm nhân dân.
Khi Hội đồng nhân dân họp, đoàn chủ tịch nên trình bày rõ với hội nghị về mục đích, ý nghĩa của việc bầu cử hội thẩm nhân dân và danh sách những người ứng cử hội thẩm nhân dân được giới thiệu. Danh sách đó cũng nên được niêm yết trong phòng họp.
Các vị đại biểu Hội đồng nhân dân sẽ bầu ra các hội thẩm nhân dân theo cách bỏ phiếu kín.
Tổ chức kiểm phiếu và điều kiện để được trúng cử hội thẩm nhân dân cũng nên định như nói trên về việc bầu cử các thẩm phán của các Tòa án nhân dân địa phương.
Biên bản của các bầu cử hội thẩm nhân dân đều phải gửi cho Tòa án nhân dân tối cao một bản.
Ủy ban hành chính và Tòa án nhân dân địa phương cần phối hợp chặt chẽ để chuẩn bị tốt việc bầu cử hội thẩm nhân dân.
6. Thời gian tiến hành bầu cử các hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân địa phương:

Việc bầu cử hội thẩm nhân dân huyện cần tiến hành trong hội nghị đầu tiên của Hội đồng nhân dân sau khi Hội đồng nhân dân huyện đã được bầu ra.
Nếu hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, khu tự trị, thị xã, hết nhiệm kỳ thi phải tổ chức bầu cử hội thẩm nhân dân của các Tòa án đó trong cuộc hội nghị gần nhất của Hội đồng nhân dân.
Nếu hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, khu tự trị, thị xã, chưa hết nhiệm kỳ thì chưa phải bầu lại, nếu quá thiếu hội thẩm nhân dân thì có thể đề nghị Hội đồng nhân dân bầu cử bổ sung.
III. TUYÊN TRUYỀN TRONG DỊP BẦU CỬ CÁC THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG
Các thẩm phán và hội thẩm nhân dân là những đại biểu của nhân dân, do các Hội đồng nhân dân bầu ra và bãi miễn. Vì vậy, khi bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân cần phải để cho nhân dân thấy rõ mục đích và ý nghĩa của việc bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Khi tuyên truyền, cần phải kết hợp giải thích rõ về chức năng và nhiệm vụ của tòa án nhân dân để là cho nhân dân thấy rõ trách nhiệm của các thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Trong cuộc bầu cử hội thẩm nhân dân năm 1959, nhiều địa phương không chú ý đến công tác tuyên truyền cho nên nhân dân không hiểu rõ mục đích và ý nghĩa của việc bầu cử hội thẩm nhân dân, một số người được bầu làm hội thẩm nhân dân cũng không hào hứng với công tác mới.
Trong dịp bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân địa phương, có thể dùng những hình thức tuyên truyền sau đây:
- Tòa án nhân dân cử cán bộ tổ chức những buổi nói chuyện rộng rãi với cán bộ công nhân của các cơ quan và đoàn thể cùng cấp về mục đích và ý nghĩa của việc bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân;
- Bồi dưỡng cho các ủy viên tư pháp xã, các hội thẩm nhân dân, các đại biểu đoàn thể nhân dân ở xã đi nói chuyện rộng rãi trong các cuộc họp của nhân dân về mục đích và ý nghĩa của việc bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân.
- Nếu ở địa phương có bầu cử lại Hội đồng nhân dân, thì phải kết hợp với cuộc tuyên truyền vận động về bầu cử Hội đồng nhân dân mà tuyên tuyền về mục đích ý nghĩa của việc bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân.
Tùy hoàn cảnh của mỗi địa phương, các tòa án nhân dân phải phối hợp chặt chẽ với tổ chức tuyên huyến và tổ chức phụ trách việc bầu cử ở địa phương để có kế hoạch thích hợp về việc tuyên truyền trong dịp bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân.
* * *
Trên đây là một số điểm cụ thể trong việc tổ chức bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân địa phương. Nếu trong khi thực hiện, có gặp khó khăn, thì các Tòa án nhân dân địa phương cần báo cáo cho Tòa án nhân dân tối cao biết để kịp thời giải quyết.

(1) Không đăng trong Công báo.

CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Content:
Điều 1. 1 và điều 12 của luật tổ chức tòa án nhân dân đã quy định: khi sơ thẩm tòa án nhân dân gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân; khi xét xử, hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán và tòa án nhân dân quyết định theo đa số.
Để hội thẩm nhân dân làm tốt nhiệm vụ mà Nhà nước và nhân dân đã giao cho, điều 25 của luật tổ chức tòa án nhân dân đã quy định: công dân có quyền bầu cử và ứng cử từ hai mươi ba tuổi trở lên có thể được bầu làm hội thẩm nhân dân. Ngoài điều kiện đó hội thẩm nhân dân còn phải là người tích cực thi hành pháp luật và những chính sách của Đảng và Nhà nước, tích cực công tác, tư cách đạo đức tốt và có quan hệ tốt với quần chúng. Nếu hội thẩm nhân dân không có những tiêu chuẩn nói trên thì không thể xứng đáng là đại biểu của nhân dân tại tòa án.
Nói tóm lại, những người được bầu làm hội thẩm nhân dân phải có đủ những tiêu chuẩn sau đây:
1. Có quyền bầu cử và ứng cử, từ hai mươi ba tuổi trở lên;
2. Tích cực thi hành những chính sách của Đảng và Nhà nước;
3. Tích cực công tác, đạo đức tư cách tốt, được nhân dân tín nhiệm.
Hội thẩm nhân dân có thể là đại biểu Hội đồng nhân dân hoặc không phải là đại biểu Hội đồng nhân dân.
Nên bầu làm hội thẩm nhân dân, những công nhân, nông dân, lao động trí óc tiên tiến, v.v...
Đa số hội thẩm nhân dân phải là công nhân và nông dân. Ở miền núi, đại đa số hội thẩm nhân dân là người dân tộc thiểu số. Số hội thẩm nhân dân là phụ nữ phải chiếm khoảng 20% tổng số hội thẩm nhân dân. Những người nào đã quá bận công tác của Nhà nước hoặc của đoàn thể thì không nên làm hội thẩm nhân dân.
Ở những vùng có đồng bào công giáo tập trung, cần có hội thẩm nhân dân là giáo dân.
3. Nhiệm kỳ của hội thẩm nhân dân.
Để mở rộng sự tham gia của nhân dân vào công tác của Tòa án, nhiệm kỳ của hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân địa phương các cấp thống nhất là hai năm.
4. Số hội thẩm nhân dân.
Điều 17 của pháp lệnh ngày 23-03-1961 đã giao cho Hội đồng nhân dân quyết định về số hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân cùng cấp, căn cứ vào đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân đó.
Để cho việc quy định số hội thẩm nhân dân được thống nhất giữa các Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án nhân dân tối cao định ra hướng chung trong việc quy định số hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân địa phương như sau:
A. Số hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương tính theo nguyên tắc sau đây:
- Mỗi thị trấn, xã hoặc khu vực tương đương ở thị xã cần có hai hội thẩm nhân dân; trường hợp đặc biệt những xã lớn và quan trọng thì có thể có ba hội thẩm nhân dân.
Ở các khu phố thuộc các thành phố Hà Nội, nhân dân ở tập trung, cho nên, có thể cử hai hoặc ba khối mới cần có một hội thẩm nhân dân. Ở thành phố Hải Phòng, việc tính số hội thẩm nhân dân cũng theo nguyên tắc như đã nói ở trên đối với trong Hà nội.
- Ngoài số hội thẩm nhân dân là những cán bộ ở các thị trấn, xã hoặc khu vực tương đương với xã, ở các thành phố, cần có từ ba đến năm hội thẩm nhân dân là cán bộ của các cơ quan, đoàn thể chung quanh thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương.
B. Số hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương tính theo nguyên tắc sau đây:
- Mỗi thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương cần có từ hai đến năm hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương:
- Ngoài số hội thẩm nhân dân là cán bộ ở thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương, cần có từ năm đến chính hội thẩm nhân dân là cán bộ của các cơ quan, đoàn thể chung quanh tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương; ở các thành phố Hà nội, Hải phòng, số hội thẩm nhân dân là cán bộ của các cơ quan, đoàn thể chung quanh thành phố có thể nhiều hơn.
5. Cách tiến hành bầu cử và cơ quan phụ trách việc bầu cử các hội thẩm nhân dân:
Để nêu rõ tính chất quần chúng của chế độ hội thẩm nhân dân, điều 17 của pháp lệnh ngày 23-03-1961 đã quy định rằng: danh sách những người ứng cử hội thẩm nhân dân của mỗi Tòa án nhân dân địa phương do các đoàn thể nhân dân cùng cấp giới thiệu. Để thi hành quy định đó, Tòa án nhân dân phải liên hệ mật thiết với Ủy ban mặt trận Tổ quốc cùng cấp để chuẩn bị danh sách những người mà các đoàn thể nhân dân giới thiệu ứng cử hội thẩm nhân dân.
Khi Hội đồng nhân dân họp, đoàn chủ tịch nên trình bày rõ với hội nghị về mục đích, ý nghĩa của việc bầu cử hội thẩm nhân dân và danh sách những người ứng cử hội thẩm nhân dân được giới thiệu. Danh sách đó cũng nên được niêm yết trong phòng họp.
Các vị đại biểu Hội đồng nhân dân sẽ bầu ra các hội thẩm nhân dân theo cách bỏ phiếu kín.
Tổ chức kiểm phiếu và điều kiện để được trúng cử hội thẩm nhân dân cũng nên định như nói trên về việc bầu cử các thẩm phán của các Tòa án nhân dân địa phương.
Biên bản của các bầu cử hội thẩm nhân dân đều phải gửi cho Tòa án nhân dân tối cao một bản.
Ủy ban hành chính và Tòa án nhân dân địa phương cần phối hợp chặt chẽ để chuẩn bị tốt việc bầu cử hội thẩm nhân dân.
6. Thời gian tiến hành bầu cử các hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân địa phương:

Việc bầu cử hội thẩm nhân dân huyện cần tiến hành trong hội nghị đầu tiên của Hội đồng nhân dân sau khi Hội đồng nhân dân huyện đã được bầu ra.
Nếu hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, khu tự trị, thị xã, hết nhiệm kỳ thi phải tổ chức bầu cử hội thẩm nhân dân của các Tòa án đó trong cuộc hội nghị gần nhất của Hội đồng nhân dân.
Nếu hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, khu tự trị, thị xã, chưa hết nhiệm kỳ thì chưa phải bầu lại, nếu quá thiếu hội thẩm nhân dân thì có thể đề nghị Hội đồng nhân dân bầu cử bổ sung.
III. TUYÊN TRUYỀN TRONG DỊP BẦU CỬ CÁC THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG
Các thẩm phán và hội thẩm nhân dân là những đại biểu của nhân dân, do các Hội đồng nhân dân bầu ra và bãi miễn. Vì vậy, khi bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân cần phải để cho nhân dân thấy rõ mục đích và ý nghĩa của việc bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Khi tuyên truyền, cần phải kết hợp giải thích rõ về chức năng và nhiệm vụ của tòa án nhân dân để là cho nhân dân thấy rõ trách nhiệm của các thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Trong cuộc bầu cử hội thẩm nhân dân năm 1959, nhiều địa phương không chú ý đến công tác tuyên truyền cho nên nhân dân không hiểu rõ mục đích và ý nghĩa của việc bầu cử hội thẩm nhân dân, một số người được bầu làm hội thẩm nhân dân cũng không hào hứng với công tác mới.
Trong dịp bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân địa phương, có thể dùng những hình thức tuyên truyền sau đây:
- Tòa án nhân dân cử cán bộ tổ chức những buổi nói chuyện rộng rãi với cán bộ công nhân của các cơ quan và đoàn thể cùng cấp về mục đích và ý nghĩa của việc bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân;
- Bồi dưỡng cho các ủy viên tư pháp xã, các hội thẩm nhân dân, các đại biểu đoàn thể nhân dân ở xã đi nói chuyện rộng rãi trong các cuộc họp của nhân dân về mục đích và ý nghĩa của việc bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân.
- Nếu ở địa phương có bầu cử lại Hội đồng nhân dân, thì phải kết hợp với cuộc tuyên truyền vận động về bầu cử Hội đồng nhân dân mà tuyên tuyền về mục đích ý nghĩa của việc bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân.
Tùy hoàn cảnh của mỗi địa phương, các tòa án nhân dân phải phối hợp chặt chẽ với tổ chức tuyên huyến và tổ chức phụ trách việc bầu cử ở địa phương để có kế hoạch thích hợp về việc tuyên truyền trong dịp bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân.
* * *
Trên đây là một số điểm cụ thể trong việc tổ chức bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân địa phương. Nếu trong khi thực hiện, có gặp khó khăn, thì các Tòa án nhân dân địa phương cần báo cáo cho Tòa án nhân dân tối cao biết để kịp thời giải quyết.

(1) Không đăng trong Công báo.

CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO