Document: Điều 2 Thông tư 12-TC/TCTT-CT hướng dẫn chính sách miễn giảm thuế nông nghiệp tỉnh, thành phố phía bắc

Type: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "07/11/1977", "sign_number": "12-TC/TCTT-CT", "signer": "Nguyễn Ly", "type": "Thông tư"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "07/11/1977", "sign_number": "12-TC/TCTT-CT", "signer": "Nguyễn Ly", "type": "Thông tư"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "07/11/1977", "sign_number": "12-TC/TCTT-CT", "signer": "Nguyễn Ly", "type": "Thông tư"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "07/11/1977", "sign_number": "12-TC/TCTT-CT", "signer": "Nguyễn Ly", "type": "Thông tư"}
Signer: {"issuing_agency": "Bộ Tài chính", "promulgation_date": "07/11/1977", "sign_number": "12-TC/TCTT-CT", "signer": "Nguyễn Ly", "type": "Thông tư"}

Full Text:
Điều 2 Thông tư 12-TC/TCTT-CT hướng dẫn chính sách miễn giảm thuế nông nghiệp tỉnh, thành phố phía bắc có nội dung như sau:

Điều 2. 4 của Điều lệ thuế nông nghiệp (quy định việc miễn giảm thuế cho hộ nông dân sản xuất cá thể):
“Thiệt hại dưới 20% tổng số hoa lợi chịu thuế, không giảm thuế;
Thiệt hại từ 20% đến 50% tổng số hoa lợi chịu thuế, tỷ lệ số thuế được giảm bằng tỷ lệ số thiệt hại;
Thiệt hại từ 50% đến 60% tổng số hoa lợi chịu thuế, giảm 70% số thuế;
Thiệt hại trên 60% tổng số hoa lợi chịu thuế, miễn hẳn thuế;
Trong tổng số ruộng của một nông hộ, nếu có một phần hoàn toàn không thu hoạch (mất trắng) thì mặc dù toàn bộ số thiệt hại của nông hộ chưa tới 20% tổng số hoa lợi chịu thuế, vẫn được miễn hẳn phần thuế tính vào số hoa lợi bị mất trắng”. – và điểm V trong Điều lệ thuế nông nghiệp quy định thêm: “…Khi xét ruộng bị mất trắng thì lấy thửa làm đơn vị, trường hợp một thửa chỉ mất trắng một phần, thì không coi là mất trắng”.
Việc xét và tính miễn thuế cho từng thửa ruộng mất trắng phải theo đúng Điều lệ thuế nông nghiệp và các nghị định số 375-TTg, nghị định số 63-CP của Hội đồng Chính phủ và chỉ áp dụng đối với hộ nông dân sản xuất cá thể, không đặt ra đối với sản xuất tập thể của hợp tác xã.
Nay bãi bỏ điểm 4 thông tư số 16-BTC/NN ngày 31-5-1962 về việc miễn thuế ruộng mất trắng của hợp tác xã.
3. Đối với các hộ già cả, gia đình cán bộ, bộ đội, công nhân viên… neo đơn, không đủ khả năng nộp thuế, được miễn, giảm thuế nông nghiệp theo điều 27 của Điều lệ thuế nông nghiệp.
Điều 27 của Điều lệ thuế nông nghiệp quy định: “Đối với những nông hộ, vì gặp tai nạn bất ngờ hay vì một lý do chính đáng mà bị mất sức lao động, làm ảnh hưởng đến đời sống và khả năng đóng góp, thì nhân dân bình nghị đề nghị chiếu cố giảm, miễn, tùy hoàn cảnh cụ thể từng nông hộ, không căn cứ vào những tỷ lệ quy định ở điều 24 đối với thiệt hại mùa màng”.
Gặp trường hợp hợp tác xã sản xuất nông nghệp thu hoạch vụ chiên xuân tốt, vụ mùa bị thiên tai làm mất mùa, đã được xét giảm thuế theo điểm 1 và 2 trong thông tư này, hợp tác xã vẫn còn phải nộp thuế nhưng vụ mùa không được thu hoạch, thì Ủy ban nhân dân tỉnh được xét giảm hoặc miễn số thuế còn phải nộp cho hợp tác xã.
Những đề nghị giảm, miễn thuế trên phải được báo cáo với Bộ Tài chính chuẩn y trước khi thi hành.
4. Để bảo đảm thực hiện đúng đắn chính sách miễn giảm thuế nông nghiệp đối với nhân dân ở những nơi bị thiệt hại mùa màng, Bộ Tài chính lưu ý Ủy ban nhân dân các địa phương một số điểm:
a) Phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến chu đáo mục đích, nội dung chính sách miễn giảm thuế nông nghiệp quán triệt cho cán bộ và nhân dân; nhất là cán bộ tài chính huyện và xã phải nắm vững cả phương pháp công tác để thực hiện đúng.
b) Phải có kế hoạch công tác và chỉ đạo chặt chẽ những nơi bị thiệt hại mùa màng chấp hành nghiêm chỉnh từ việc điều tra nắm tình hình, tính toán, lập sổ miễn giảm cho đến việc xét duyệt và công bố miễn giảm cho từng hợp tác xã và các hộ cá thể, đảm bảo yêu cầu sát đúng thực tế, công bằng, hợp lý, đơn giản, kịp thời, sòng phẳng. Sau khi duyệt miễn giảm đơn vị nào đã tạm nộp nhiều thuế vụ chiêm xuân, nay có thừa thuế thì Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định hoàn trả ngay số thuế nộp thừa cho từng đơn vị; nộp thuế bằng thóc, nay trả lại bằng thóc, nộp thuế bằng tiền nay trả lại bằng tiền.
c) Miễn giảm thuế nông nghiệp là công tác phức tạp, cần phải có lãnh đạo tư tưởng và kiểm tra cụ thể, tránh tư tưởng nặng về thu, miễn giảm khắt khe, hoặc miễn giảm tràn lan làm sai chính sách.

K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
THỨ TRƯỞNG

Content:
Điều 2. 4 của Điều lệ thuế nông nghiệp (quy định việc miễn giảm thuế cho hộ nông dân sản xuất cá thể):
“Thiệt hại dưới 20% tổng số hoa lợi chịu thuế, không giảm thuế;
Thiệt hại từ 20% đến 50% tổng số hoa lợi chịu thuế, tỷ lệ số thuế được giảm bằng tỷ lệ số thiệt hại;
Thiệt hại từ 50% đến 60% tổng số hoa lợi chịu thuế, giảm 70% số thuế;
Thiệt hại trên 60% tổng số hoa lợi chịu thuế, miễn hẳn thuế;
Trong tổng số ruộng của một nông hộ, nếu có một phần hoàn toàn không thu hoạch (mất trắng) thì mặc dù toàn bộ số thiệt hại của nông hộ chưa tới 20% tổng số hoa lợi chịu thuế, vẫn được miễn hẳn phần thuế tính vào số hoa lợi bị mất trắng”. – và điểm V trong Điều lệ thuế nông nghiệp quy định thêm: “…Khi xét ruộng bị mất trắng thì lấy thửa làm đơn vị, trường hợp một thửa chỉ mất trắng một phần, thì không coi là mất trắng”.
Việc xét và tính miễn thuế cho từng thửa ruộng mất trắng phải theo đúng Điều lệ thuế nông nghiệp và các nghị định số 375-TTg, nghị định số 63-CP của Hội đồng Chính phủ và chỉ áp dụng đối với hộ nông dân sản xuất cá thể, không đặt ra đối với sản xuất tập thể của hợp tác xã.
Nay bãi bỏ điểm 4 thông tư số 16-BTC/NN ngày 31-5-1962 về việc miễn thuế ruộng mất trắng của hợp tác xã.
3. Đối với các hộ già cả, gia đình cán bộ, bộ đội, công nhân viên… neo đơn, không đủ khả năng nộp thuế, được miễn, giảm thuế nông nghiệp theo điều 27 của Điều lệ thuế nông nghiệp.
Điều 27 của Điều lệ thuế nông nghiệp quy định: “Đối với những nông hộ, vì gặp tai nạn bất ngờ hay vì một lý do chính đáng mà bị mất sức lao động, làm ảnh hưởng đến đời sống và khả năng đóng góp, thì nhân dân bình nghị đề nghị chiếu cố giảm, miễn, tùy hoàn cảnh cụ thể từng nông hộ, không căn cứ vào những tỷ lệ quy định ở điều 24 đối với thiệt hại mùa màng”.
Gặp trường hợp hợp tác xã sản xuất nông nghệp thu hoạch vụ chiên xuân tốt, vụ mùa bị thiên tai làm mất mùa, đã được xét giảm thuế theo điểm 1 và 2 trong thông tư này, hợp tác xã vẫn còn phải nộp thuế nhưng vụ mùa không được thu hoạch, thì Ủy ban nhân dân tỉnh được xét giảm hoặc miễn số thuế còn phải nộp cho hợp tác xã.
Những đề nghị giảm, miễn thuế trên phải được báo cáo với Bộ Tài chính chuẩn y trước khi thi hành.
4. Để bảo đảm thực hiện đúng đắn chính sách miễn giảm thuế nông nghiệp đối với nhân dân ở những nơi bị thiệt hại mùa màng, Bộ Tài chính lưu ý Ủy ban nhân dân các địa phương một số điểm:
a) Phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến chu đáo mục đích, nội dung chính sách miễn giảm thuế nông nghiệp quán triệt cho cán bộ và nhân dân; nhất là cán bộ tài chính huyện và xã phải nắm vững cả phương pháp công tác để thực hiện đúng.
b) Phải có kế hoạch công tác và chỉ đạo chặt chẽ những nơi bị thiệt hại mùa màng chấp hành nghiêm chỉnh từ việc điều tra nắm tình hình, tính toán, lập sổ miễn giảm cho đến việc xét duyệt và công bố miễn giảm cho từng hợp tác xã và các hộ cá thể, đảm bảo yêu cầu sát đúng thực tế, công bằng, hợp lý, đơn giản, kịp thời, sòng phẳng. Sau khi duyệt miễn giảm đơn vị nào đã tạm nộp nhiều thuế vụ chiêm xuân, nay có thừa thuế thì Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định hoàn trả ngay số thuế nộp thừa cho từng đơn vị; nộp thuế bằng thóc, nay trả lại bằng thóc, nộp thuế bằng tiền nay trả lại bằng tiền.
c) Miễn giảm thuế nông nghiệp là công tác phức tạp, cần phải có lãnh đạo tư tưởng và kiểm tra cụ thể, tránh tư tưởng nặng về thu, miễn giảm khắt khe, hoặc miễn giảm tràn lan làm sai chính sách.

K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
THỨ TRƯỞNG