Document: Điều 4 Nghị định 157-HĐBT tổ chức và hoạt động của Ban thanh tra nhân dân

Type: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "01/06/1985", "sign_number": "157-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "01/06/1985", "sign_number": "157-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "01/06/1985", "sign_number": "157-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "01/06/1985", "sign_number": "157-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}
Signer: {"issuing_agency": "Hội đồng Bộ trưởng", "promulgation_date": "01/06/1985", "sign_number": "157-HĐBT", "signer": "Tố Hữu", "type": "Nghị định"}

Full Text:
Điều 4 Nghị định 157-HĐBT tổ chức và hoạt động của Ban thanh tra nhân dân có nội dung như sau:

Điều 4. Ban Thanh tra nhân dân có nhiệm vụ:
a) Giám sát, thanh tra thường xuyên tại chỗ việc thực hiện kế hoạch Nhà nước và việc chấp hành các chính sách, chế độ ở đơn vị, gắn liền với đấu tranh chống tiêu cực, nhằm bảo vệ chính sách, pháp luật, và tài sản xã hội chủ nghĩa, cải tiến công tác quản lý, tăng cường đoàn kết trong đơn vị, chăm lo đời sống cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân, thúc đẩy việc hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của đơn vị và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Tuỳ từng thời gian, tập trung vào những vấn đề quan trọng cấp thiết theo các nội dung sau:
- Việc thực hiện các kế hoạch sản xuất, kinh doanh, công tác của đơn vị, các nghị quyết của Hội đồng nhân dân (Ban Thanh tra nhân dân xã, phường, thị trấn), Nghị quyết Hội nghị công nhân, viên chức (Ban Thanh tra nhân dân cơ sở sản xuất, kinh doanh, hành chính, sự nghiệp).
- Việc thực hiện Nghị quyết số 03 ngày 25-10-1982 của Bộ Chính trị, Nghị định số 217-CP ngày 8-6-1979 về 4 chế độ công tác, các quyết định khác về bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, chống các biểu hiện tiêu cực.
- Việc bảo đảm quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, chấp hành các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, và các chế độ, nội quy của ngành, đơn vị.
- Việc tổ chức và giải quyết đời sống cho cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân, theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn mà Nhà nước quy định.
b) Tham gia ý kiến với Uỷ ban nhân dân hoặc thủ trưởng đơn vị cơ sở trong việc xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân thuộc trách nhiệm của lãnh đạo đơn vị. Tìm hiểu, phát hiện nguyên nhân phát sinh đơn khiếu tố, tình trạng chậm trễ trong việc giải quyết khiếu tố, chủ động đề xuất biện pháp giải quyết tình hình đó.
c) Đôn đốc việc thực hiện các kiến nghị mà cơ quan thanh tra đã đề ra với đơn vị sau các cuộc thanh tra, kịp thời báo cáo với Đảng uỷ cơ sở, cơ quan quản lý và cơ quan thanh tra cấp trên hoặc Ban Thanh tra ngành về việc thực hiện các kiến nghị đó.
d) Thường kỳ báo cáo công tác của thanh tra nhân dân với Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc hội nghị công nhân, viên chức của đơn vị.
e) Qua công tác thanh tra, phát hiện vấn đề không thuộc phạm vi quyền hạn của địa phương hoặc đơn vị mình giải quyết thì báo cáo với cơ quan thanh tra cấp trên để xem xét, giải quyết.

Content:
Điều 4. Ban Thanh tra nhân dân có nhiệm vụ:
a) Giám sát, thanh tra thường xuyên tại chỗ việc thực hiện kế hoạch Nhà nước và việc chấp hành các chính sách, chế độ ở đơn vị, gắn liền với đấu tranh chống tiêu cực, nhằm bảo vệ chính sách, pháp luật, và tài sản xã hội chủ nghĩa, cải tiến công tác quản lý, tăng cường đoàn kết trong đơn vị, chăm lo đời sống cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân, thúc đẩy việc hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của đơn vị và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Tuỳ từng thời gian, tập trung vào những vấn đề quan trọng cấp thiết theo các nội dung sau:
- Việc thực hiện các kế hoạch sản xuất, kinh doanh, công tác của đơn vị, các nghị quyết của Hội đồng nhân dân (Ban Thanh tra nhân dân xã, phường, thị trấn), Nghị quyết Hội nghị công nhân, viên chức (Ban Thanh tra nhân dân cơ sở sản xuất, kinh doanh, hành chính, sự nghiệp).
- Việc thực hiện Nghị quyết số 03 ngày 25-10-1982 của Bộ Chính trị, Nghị định số 217-CP ngày 8-6-1979 về 4 chế độ công tác, các quyết định khác về bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, chống các biểu hiện tiêu cực.
- Việc bảo đảm quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, chấp hành các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, và các chế độ, nội quy của ngành, đơn vị.
- Việc tổ chức và giải quyết đời sống cho cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân, theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn mà Nhà nước quy định.
b) Tham gia ý kiến với Uỷ ban nhân dân hoặc thủ trưởng đơn vị cơ sở trong việc xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân thuộc trách nhiệm của lãnh đạo đơn vị. Tìm hiểu, phát hiện nguyên nhân phát sinh đơn khiếu tố, tình trạng chậm trễ trong việc giải quyết khiếu tố, chủ động đề xuất biện pháp giải quyết tình hình đó.
c) Đôn đốc việc thực hiện các kiến nghị mà cơ quan thanh tra đã đề ra với đơn vị sau các cuộc thanh tra, kịp thời báo cáo với Đảng uỷ cơ sở, cơ quan quản lý và cơ quan thanh tra cấp trên hoặc Ban Thanh tra ngành về việc thực hiện các kiến nghị đó.
d) Thường kỳ báo cáo công tác của thanh tra nhân dân với Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc hội nghị công nhân, viên chức của đơn vị.
e) Qua công tác thanh tra, phát hiện vấn đề không thuộc phạm vi quyền hạn của địa phương hoặc đơn vị mình giải quyết thì báo cáo với cơ quan thanh tra cấp trên để xem xét, giải quyết.