Document: Khoản 7 Điều 1 Quyết định 1263/2010/QĐ-UBND sửa đổi Quy định về chính sách bồi thường hỗ trợ v

Type: {"issuing_agency": "Thành phố Hải Phòng", "promulgation_date": "30/07/2010", "sign_number": "1263/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Thành", "type": "Quyết định"}
Issuing Agency: {"issuing_agency": "Thành phố Hải Phòng", "promulgation_date": "30/07/2010", "sign_number": "1263/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Thành", "type": "Quyết định"}
Promulgation Date: {"issuing_agency": "Thành phố Hải Phòng", "promulgation_date": "30/07/2010", "sign_number": "1263/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Thành", "type": "Quyết định"}
Sign Number: {"issuing_agency": "Thành phố Hải Phòng", "promulgation_date": "30/07/2010", "sign_number": "1263/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Thành", "type": "Quyết định"}
Signer: {"issuing_agency": "Thành phố Hải Phòng", "promulgation_date": "30/07/2010", "sign_number": "1263/2010/QĐ-UBND", "signer": "Nguyễn Văn Thành", "type": "Quyết định"}

Full Text:
Khoản 7 Điều 1 Quyết định 1263/2010/QĐ-UBND sửa đổi Quy định về chính sách bồi thường hỗ trợ v

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều của Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng ban hành kèm theo Quyết định số 130/2010/QĐ-UBND ngày 22/01/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố như sau:
...
7. Sửa đổi điểm 3.2 và bổ sung điểm 3.3, điểm 3.4 vào khoản 3, Điều 6:
3.2. Đất không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai, được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, mức bồi thường, hỗ trợ như sau:
a. Đất sử dụng trước ngày 15/10/1993:
- Đất đang sử dụng là đất có nhà ở không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ: Bồi thường 100% mức giá đất ở cho diện tích thực tế sử dụng, tối đa bằng 01 lần hạn mức đất ở giao mới.
Diện tích đất còn lại được bồi thường theo giá đất vườn, ao quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm. Ngoài việc bồi thường còn được hỗ trợ bằng 50% mức giá đất ở tại vị trí trong thửa đất cho diện tích thực tế sử dụng nhưng tối đa không quá 01 lần hạn mức giao đất ở mới. Diện tích còn lại được hỗ trợ: 200.000đ/m2 với các huyện; 300.000đ/m2 với khu vực các quận; đối với các thửa đất ở bị thu hồi có mức giá từ 200.000đ/m2 trở xuống tại các huyện, từ 300.000đ/m2 trở xuống tại các quận, được quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm thì mức hỗ trợ bằng 80% mức giá của thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ tính theo diện tích thực tế sử dụng nhưng tối đa không quá 01 lần hạn mức giao đất ở mới.
- Đất đang sử dụng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4, Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ; nếu đất đang sử dụng là đất có nhà ở mà người bị thu hồi đất không còn chỗ ở nào khác thì được hỗ trợ bằng 50% mức giá đất ở cho diện tích đất đang sử dụng nhưng tối đa không quá 01 lần hạn mức giao đất ở mới. Diện tích đất còn lại được hỗ trợ: 200.000đ/m2 tại các huyện; 300.000đ/m2 tại các quận; đối với các thửa đất ở bị thu hồi có mức giá từ 200.000đ/m2 trở xuống tại các huyện, từ 300.000đ/m2 trở xuống tại các quận, được quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm thì mức hỗ trợ bằng 80% mức giá của thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ tính theo diện tích đất thực tế sử dụng nhưng không vượt quá 02 lần hạn mức giao đất ở mới. Diện tích còn lại (nếu có) thì được hỗ trợ bằng 50% mức giá đất trồng cây lâu năm tại vị trí 1.
b. Đất sử dụng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004:
- Đất đang sử dụng là đất ở nhà ở và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4, Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ - CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ thì được bồi thường 100% mức giá đất ở cho diện tích đất sử dụng trong hạn mức đất ở giao mới và phải trừ tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ và được thực hiện theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Đối với phần diện tích vượt hạn mức đất ở và phần diện tích đất vườn ao trên cùng thửa đất không, được công nhận là đất ở thì được bồi thường theo giá đất trồng cây lâu năm tại vị trí 1.
- Đất đang sử dụng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4, Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngay 25/5/2007 của Chính phủ không bồi thường về đất; chỉ hỗ trợ:200.000đ/m2 với các huyện; 300.000đ/m2 Với các quận; đối với các thửa đất ở bị thu hồi có mức giá từ 200.000đ/m2 trở xuống tại các huyện, từ 300.000đ/m2 trở xuống tại các quận quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm thì mức hỗ trợ bằng 80% mức giá của thửa đất đó; diện tích hỗ trợ tính theo diện tích đất sử dụng thực tế nhưng không vượt quá 02 lần hạn mức giao đất ở mới. Đối với diện tích còn lại (nếu có) thì được hỗ trợ bằng 50% mức giá đất trồng cây lâu năm tại vị trí 1. Nếu đất đang sử dụng là đất có nhà ở mà người bị thu hồi đất không còn chỗ ở nào khác thì được giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ.
3.3. Đất được giao không đúng thẩm quyền
a. Đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 nhưng đã nộp tiền sử dụng đất mà chưa được cấp giấy chứng nhận (kể cả đất có nhà ở hoặc chưa có nhà ở) thì được bồi thường, hỗ trợ như sau:
- Trường hợp sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 thì được bồi thường bằng 100% mức giá đất ở cho diện tích bị thu hồi nằm trong diện tích được giao.
Trường hợp sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì được bồi thường 100% mức giá đất ở cho diện tích đất sử dụng trong hạn mức đất ở giao mới. Diện tích ngoài hạn mức giao đất ở mới được bồi thường bằng 100% mức giá đất ở nhưng phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp theo mức thu quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ và được thực hiện theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 /10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
b. Đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 nhưng chưa nộp hoặc nộp chưa đủ tiền sử dụng đất (kể cả đất có nhà ở hoặc chưa có nhà ở) thì được bồi thường bằng 100% mức giá đất ở cho diện tích đất sử dụng trong hạn mức giao đất ở mới nhưng phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp (hoặc còn thiếu) theo mức thu quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ và thực hiện theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 14/2009 TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Diện tích còn lại được bồi thường theo giá đất trồng cây lâu năm tại vị trí 1.
c. Đất do các tổ chức quản lý để sản xuất kinh doanh, làm trụ sở (không phải là đất ở)
đã giao cho cán bộ, công nhân viên để làm nhà ở hoặc chuyển nhượng (kể cả đất có nhà, xưởng khi thanh lý, bán hóa giá) thì được bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại điểm a, b mục
3.3 khoản 3 Điều này.
3.4. Bồi thường, hỗ trợ về đất đối với một số trường hợp khác:
a. Bồi thường, hỗ trợ nhà, công trình đối với người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước được thực hiện theo Điều 11 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
b. Trường hợp thu hồi đất nông nghiệp được xác định là đất có nguồn gốc từ đất ở đất vườn, ao trong cùng thửa đất ở đối sang, do địa phương vận động các hộ gia đình, cá nhân đổi cho địa phương để xây dựng các công trình công cộng:
- Diện tích đất ở, đất vườn, ao được xác định theo Quyết định số 1518/2006/QĐ-UBND ngày 12/7/2006 của Uỷ ban nhân dân thành phố.
- Đối với diện tích đất được xác định là đất ở hoặc đất vườn, ao thì được bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại điểm 3.1 khoản 3 Điều 6 Quy định này
c. Đất trưng dụng có thời hạn khi thi công làm công trình thủy lợi, làm đường ống xăng dầu gồm: Đất mượn để lấy đất đào, đắp, chứa đất bùn nạo vét công trình thủy lợi, làm đường ống xăng dầu không bồi thường về đất. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm hỗ trợ chi phí cải tạo khôi phục hiện trạng sử dụng đất ban đầu, tính bằng 15% mức giá đất theo mục đích sử dụng đất. Trường hợp đặc biệt, tổ chức làm công tác bồi thường có trách nhiệm căn cứ thực tế ảnh hưởng để xác định, báo cáo Uỷ ban nhân dân cùng cấp quyết định bồi thường, hỗ trợ cho phù hợp.

Content:
Sửa đổi điểm 3.2 và bổ sung điểm 3.3, điểm 3.4 vào khoản 3, Điều 6:
3.2. Đất không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai, được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, mức bồi thường, hỗ trợ như sau:
a. Đất sử dụng trước ngày 15/10/1993:
- Đất đang sử dụng là đất có nhà ở không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ: Bồi thường 100% mức giá đất ở cho diện tích thực tế sử dụng, tối đa bằng 01 lần hạn mức đất ở giao mới.
Diện tích đất còn lại được bồi thường theo giá đất vườn, ao quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm. Ngoài việc bồi thường còn được hỗ trợ bằng 50% mức giá đất ở tại vị trí trong thửa đất cho diện tích thực tế sử dụng nhưng tối đa không quá 01 lần hạn mức giao đất ở mới. Diện tích còn lại được hỗ trợ: 200.000đ/m2 với các huyện; 300.000đ/m2 với khu vực các quận; đối với các thửa đất ở bị thu hồi có mức giá từ 200.000đ/m2 trở xuống tại các huyện, từ 300.000đ/m2 trở xuống tại các quận, được quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm thì mức hỗ trợ bằng 80% mức giá của thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ tính theo diện tích thực tế sử dụng nhưng tối đa không quá 01 lần hạn mức giao đất ở mới.
- Đất đang sử dụng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4, Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ; nếu đất đang sử dụng là đất có nhà ở mà người bị thu hồi đất không còn chỗ ở nào khác thì được hỗ trợ bằng 50% mức giá đất ở cho diện tích đất đang sử dụng nhưng tối đa không quá 01 lần hạn mức giao đất ở mới. Diện tích đất còn lại được hỗ trợ: 200.000đ/m2 tại các huyện; 300.000đ/m2 tại các quận; đối với các thửa đất ở bị thu hồi có mức giá từ 200.000đ/m2 trở xuống tại các huyện, từ 300.000đ/m2 trở xuống tại các quận, được quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm thì mức hỗ trợ bằng 80% mức giá của thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ tính theo diện tích đất thực tế sử dụng nhưng không vượt quá 02 lần hạn mức giao đất ở mới. Diện tích còn lại (nếu có) thì được hỗ trợ bằng 50% mức giá đất trồng cây lâu năm tại vị trí 1.
b. Đất sử dụng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004:
- Đất đang sử dụng là đất ở nhà ở và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4, Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ - CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ thì được bồi thường 100% mức giá đất ở cho diện tích đất sử dụng trong hạn mức đất ở giao mới và phải trừ tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ và được thực hiện theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Đối với phần diện tích vượt hạn mức đất ở và phần diện tích đất vườn ao trên cùng thửa đất không, được công nhận là đất ở thì được bồi thường theo giá đất trồng cây lâu năm tại vị trí 1.
- Đất đang sử dụng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4, Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngay 25/5/2007 của Chính phủ không bồi thường về đất; chỉ hỗ trợ:200.000đ/m2 với các huyện; 300.000đ/m2 Với các quận; đối với các thửa đất ở bị thu hồi có mức giá từ 200.000đ/m2 trở xuống tại các huyện, từ 300.000đ/m2 trở xuống tại các quận quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm thì mức hỗ trợ bằng 80% mức giá của thửa đất đó; diện tích hỗ trợ tính theo diện tích đất sử dụng thực tế nhưng không vượt quá 02 lần hạn mức giao đất ở mới. Đối với diện tích còn lại (nếu có) thì được hỗ trợ bằng 50% mức giá đất trồng cây lâu năm tại vị trí 1. Nếu đất đang sử dụng là đất có nhà ở mà người bị thu hồi đất không còn chỗ ở nào khác thì được giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ.
3.3. Đất được giao không đúng thẩm quyền
a. Đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 nhưng đã nộp tiền sử dụng đất mà chưa được cấp giấy chứng nhận (kể cả đất có nhà ở hoặc chưa có nhà ở) thì được bồi thường, hỗ trợ như sau:
- Trường hợp sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 thì được bồi thường bằng 100% mức giá đất ở cho diện tích bị thu hồi nằm trong diện tích được giao.
Trường hợp sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì được bồi thường 100% mức giá đất ở cho diện tích đất sử dụng trong hạn mức đất ở giao mới. Diện tích ngoài hạn mức giao đất ở mới được bồi thường bằng 100% mức giá đất ở nhưng phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp theo mức thu quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ và được thực hiện theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 /10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
b. Đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 nhưng chưa nộp hoặc nộp chưa đủ tiền sử dụng đất (kể cả đất có nhà ở hoặc chưa có nhà ở) thì được bồi thường bằng 100% mức giá đất ở cho diện tích đất sử dụng trong hạn mức giao đất ở mới nhưng phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp (hoặc còn thiếu) theo mức thu quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ và thực hiện theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 14/2009 TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Diện tích còn lại được bồi thường theo giá đất trồng cây lâu năm tại vị trí 1.
c. Đất do các tổ chức quản lý để sản xuất kinh doanh, làm trụ sở (không phải là đất ở)
đã giao cho cán bộ, công nhân viên để làm nhà ở hoặc chuyển nhượng (kể cả đất có nhà, xưởng khi thanh lý, bán hóa giá) thì được bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại điểm a, b mục
3.3 khoản 3 Điều này.
3.4. Bồi thường, hỗ trợ về đất đối với một số trường hợp khác:
a. Bồi thường, hỗ trợ nhà, công trình đối với người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước được thực hiện theo Điều 11 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
b. Trường hợp thu hồi đất nông nghiệp được xác định là đất có nguồn gốc từ đất ở đất vườn, ao trong cùng thửa đất ở đối sang, do địa phương vận động các hộ gia đình, cá nhân đổi cho địa phương để xây dựng các công trình công cộng:
- Diện tích đất ở, đất vườn, ao được xác định theo Quyết định số 1518/2006/QĐ-UBND ngày 12/7/2006 của Uỷ ban nhân dân thành phố.
- Đối với diện tích đất được xác định là đất ở hoặc đất vườn, ao thì được bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại điểm 3.1 khoản 3 Điều 6 Quy định này
c. Đất trưng dụng có thời hạn khi thi công làm công trình thủy lợi, làm đường ống xăng dầu gồm: Đất mượn để lấy đất đào, đắp, chứa đất bùn nạo vét công trình thủy lợi, làm đường ống xăng dầu không bồi thường về đất. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm hỗ trợ chi phí cải tạo khôi phục hiện trạng sử dụng đất ban đầu, tính bằng 15% mức giá đất theo mục đích sử dụng đất. Trường hợp đặc biệt, tổ chức làm công tác bồi thường có trách nhiệm căn cứ thực tế ảnh hưởng để xác định, báo cáo Uỷ ban nhân dân cùng cấp quyết định bồi thường, hỗ trợ cho phù hợp.