Tiêu đề: Điều 3. Giấy khám sức khỏe

ID: 09/2009/ttlt-bca-byt+3

Nội dung:
1. Giấy khám sức khỏe là tài liệu y khoa tổng hợp những thông tin cơ bản về sức khỏe của công dân, là cơ sở để tuyển chọn công dân có đủ sức khỏe phục vụ có thời hạn trong CAND. Giấy khám sức khỏe được sử dụng thống nhất trên toàn quốc, in trên giấy trắng khổ 19 x 24 cm theo mẫu quy định tại Phụ lục số 2 ban hành kèm Thông tư này.
2. Giấy khám sức khỏe gồm 2 phần: Phần A – Sơ yếu lý lịch: do cơ quan tổ chức cán bộ Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ghi (sau đây gọi chung là Công an cấp tỉnh). Phần B – Khám sức khỏe: do Hội đồng khám sức khỏe tuyển chọn công dân phục vụ có thời hạn trong CAND ghi.
3. Giấy khám sức khỏe do Phòng Tổ chức cán bộ - Công an cấp tỉnh lập và phải hoàn thành xong phần sơ yếu lý lịch (phần A), sau đó bàn giao cho Hội đồng khám sức khỏe tuyển chọn công dân phục vụ có thời hạn trong CAND.
4. Giấy khám sức khỏe chỉ có giá trị khi: Ghi theo đúng mẫu quy định; viết bằng bút mực hoặc bút bi màu xanh hoặc đen; chữ viết rõ ràng, không tẩy xóa, không viết tắt; ghi đầy đủ các nội dung trong Giấy khám sức khỏe; kết luận của Hội đồng khám sức khỏe tuyển chọn công dân phục vụ có thời hạn trong CAND có giá trị trong 06 (sáu) tháng kể từ ngày khám, nếu không có những diễn biến đặc biệt về sức khỏe.
5. Quản lý Giấy khám sức khỏe: Khi công dân chưa nhập ngũ, Giấy khám sức khỏe do Công an cấp tỉnh quản lý. Khi công dân nhập ngũ, Giấy khám sức khỏe được lưu vào hồ sơ cán bộ đơn vị nhận chiến sỹ mới.
6. Khi công dân đang mắc bệnh cấp tính, người khám phải ghi tóm tắt bằng tiếng Việt tên bệnh bên cạnh (có thể ghi bằng danh từ quốc tế giữa hai ngoặc đơn). Khi kết luận, căn cứ vào chiều hướng diễn biến của bệnh để phân loại sức khỏe.
Trường hợp nghi ngờ chưa thể phân loại sức khỏe được, Hội đồng khám sức khỏe gửi công dân tới một bệnh viện có chuyên khoa sâu gần nhất để khám với tính chất là hội chẩn. Thời gian tối đa là 10 ngày làm việc phải có kết luận và chỉ thực hiện trong trường hợp thật cần thiết.