Tiêu đề: Điều 30. Quản lý danh mục đầu tư và hợp đồng quản lý đầu tư

ID: 212/2012/tt-btc+30

Nội dung:
1, Công ty quản lý quỹ cung cấp dịch vụ quản lý danh mục đầu tư cho khách hàng ủy thác trên cơ sở hợp đồng quản lý đầu tư ký với khách hàng. Trường hợp khách hàng ủy thác là tổ chức, hợp đồng quản lý đầu tư phải được ký bởi đại diện theo pháp luật của khách hàng, hoặc đại diện theo ủy quyền kèm theo văn bản ủy quyền được lập theo quy định của pháp luật.
2. Hợp đồng quản lý đầu tư phải được lưu trữ tại trụ sở công ty và cung cấp cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo yêu cầu. Hợp đồng quản lý đầu tư phải bao gồm những nội dung cơ bản theo quy định tại phụ lục số 06 ban hành kèm theo Thông tư này và phải bảo đảm:
a) Không có các điều khoản nhằm tạo điều kiện cho công ty quản lý quỹ có thể trốn tránh nghĩa vụ pháp lý bồi thường cho khách hàng, trong trường hợp do lỗi của công ty hoặc do hành vi sai phạm có chủ ý của công ty;
b) Không có các điều khoản nhằm hạn chế phạm vi bồi thường, trách nhiệm tài chính của công ty đối với khách hàng mà không có lý do chính đáng; hoặc chuyển rủi ro cho khách hàng trong trường hợp do lỗi của công ty hoặc do hành vi sai phạm có chủ ý của công ty;
c) Không có các điều khoản đối xử không công bằng đối với khách hàng.
3. Việc sử dụng vốn của khách hàng ủy thác để đầu tư phải bảo đảm:
a) Trường hợp hợp đồng quản lý đầu tư không có quy định, thì công ty quản lý quỹ chỉ được đầu tư vào chứng khoán niêm yết hoặc đã đăng ký giao dịch, chứng chỉ quỹ mở; tiền gửi, các loại giấy tờ có giá có kỳ hạn, công cụ chuyển nhượng trên thị trường tiền tệ; thực hiện các giao dịch mua bán lại (repo) trái phiếu Chính phủ trên hệ thống giao dịch của Sở Giao dịch Chứng khoán;
b) Trường hợp hợp đồng quản lý đầu tư có quy định cho phép thực hiện, thì công ty quản lý quỹ mới được sử dụng vốn của khách hàng ủy thác để tham gia góp vốn thành lập, mua phần vốn góp, cổ phần tại các công ty chưa niêm yết, đăng ký giao dịch; đầu tư vào các dự án, bất động sản và các tài sản không phải là chứng khoán niêm yết, đăng ký giao dịch; trái phiếu doanh nghiệp được phát hành riêng lẻ phù hợp với quy định của pháp luật; thực hiện các giao dịch mua bán lại (repo) đối với các tài sản không phải là trái phiếu Chính phủ. Việc đầu tư vào các tài sản nêu trên và thực hiện các giao dịch quy định tại điểm này phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc sau:
- Đối với hoạt động đầu tư, tài sản phải đăng ký sở hữu dưới tên của khách hàng ủy thác, trừ trường hợp khách hàng ủy thác có yêu cầu khác bằng văn bản.
Trường hợp công ty quản lý quỹ được yêu cầu đứng danh chủ sở hữu tài sản thay mặt cho khách hàng ủy thác, thì trước khi thực hiện giao dịch, công ty quản lý quỹ phải được khách hàng chấp thuận bằng văn bản cho phép thực hiện giao dịch và báo cáo lại cho khách hàng sau khi hoàn tất giao dịch.
- Đối với giao dịch mua bán lại (repo) tài sản không phải là trái phiếu Chính phủ, khách hàng ủy thác phải đứng tên là người giao dịch, không được ủy quyền cho công ty quản lý quỹ. Chứng từ thanh toán, tài sản giao dịch, bản gốc hợp đồng và các tài liệu pháp lý xác nhận quyền sở hữu tài sản phải được lưu ký và gửi kho quỹ đầy đủ tại ngân hàng lưu ký do khách hàng ủy thác lựa chọn;
c) Trường hợp công ty quản lý quỹ được yêu cầu đứng danh chủ sở hữu tài sản thay mặt cho khách hàng ủy thác, trong hoạt động quản lý danh mục đầu tư cho khách hàng ủy thác là doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán, công ty đại chúng; công ty quản lý quỹ có trách nhiệm yêu cầu khách hàng ủy thác nêu rõ hạn chế đầu tư bằng văn bản và chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với loại tài sản đầu tư, khối lượng tài sản đầu tư, giá trị đầu tư, hình thức thực hiện, bảo đảm phù hợp với các quy định về an toàn tài chính, an toàn vốn và các quy định khác của pháp luật chuyên ngành, quy định của pháp luật chứng khoán và các quy định tại điều lệ công ty của khách hàng ủy thác, đặc biệt trong các hoạt động dưới đây:
- Đầu tư vào chính khách hàng ủy thác. Trường hợp đầu tư vào cổ phiếu phát hành bởi khách hàng ủy thác, phải tuân thủ quy định của pháp luật liên quan về giao dịch cổ phiếu quỹ;
- Đầu tư vào công ty mẹ, công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết và các tổ chức khác là người có liên quan của khách hàng ủy thác; các tổ chức là người có liên quan của thành viên hội đồng quản trị hoặc hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty của khách hàng ủy thác;
- Đầu tư vào bất động sản, các dự án đầu tư được phát triển, quản lý bởi khách hàng ủy thác, công ty mẹ, công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết của khách hàng ủy thác, hoặc của các tổ chức là người có liên quan của thành viên hội đồng quản trị hoặc hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty của khách hàng ủy thác;
- Khách hàng ủy thác phải thông báo, báo cáo, công bố thông tin hoặc lấy ý kiến chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về các giao dịch, hoạt động đầu tư nêu trên theo quy định của pháp luật chuyên ngành (nếu có quy định); lấy ý kiến chấp thuận của đại hội đồng cổ đông, hội đồng thành viên, hội đồng quản trị về các giao dịch, hoạt động đầu tư nêu trên cho phù hợp với điều lệ công ty của khách hàng ủy thác (nếu có quy định);
d) Trừ trường hợp khách hàng đứng tên chủ sở hữu tài sản ủy thác, công ty quản lý quỹ không được sử dụng tài sản ủy thác để cho vay, bảo lãnh cho các khoản vay, cầm cố, thế chấp, ký quỹ, ký cược hoặc làm tài sản đảm bảo trong các giao dịch tài sản đảm bảo cho các tổ chức, cá nhân, kể cả cho công ty quản lý quỹ hoặc chính khách hàng ủy thác;
đ) Trường hợp khách hàng ủy thác là cá nhân nước ngoài, tổ chức 100% vốn nước ngoài, công ty quản lý quỹ được thực hiện các hoạt động đầu tư, tài trợ vốn cho doanh nghiệp theo chỉ định hoặc các điều khoản tại hợp đồng quản lý đầu tư phù hợp với quy định của pháp luật liên quan.