Tiêu đề: Điều 31. Xác định vốn điều lệ và cơ cấu vốn điều lệ

ID: 150/2020/nđ-cp+31

Nội dung:
1. Căn cứ kết quả công bố giá trị phần vốn nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi và kế hoạch sản xuất, kinh doanh của các năm sau khi chuyển thành công ty cổ phần, cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập quyết định quy mô và cơ cấu vốn điều lệ:
a) Trường hợp giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại đơn vị lớn hơn mức vốn điều lệ cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp mà không thuộc diện Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối thì cơ quan có thẩm quyền quyết định phê duyệt phương án chuyển đổi xác định điều chỉnh vốn điều lệ theo nhu cầu thực tế. Phần chênh lệch giữa giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại đơn vị với mức vốn điều lệ được nộp theo quy định của pháp luật về thu, sử dụng nguồn thu từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập;
b) Trường hợp phát hành thêm cổ phiếu, vốn điều lệ được xác định bằng giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại đơn vị và giá trị cổ phần phát hành thêm tính theo mệnh giá cổ phiếu.
2. Trên cơ sở vốn điều lệ đã được xác định, cơ quan quyết định chuyển đổi quyết định cơ cấu vốn cổ phần lần đầu, bao gồm:
a) Cổ phần Nhà nước nắm giữ theo tiêu chí phân loại đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi được Thủ tướng Chính phủ công bố trong từng thời kỳ;
b) Cổ phần bán cho tổ chức công đoàn cơ sở tại đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi:
Công đoàn cơ sở được sử dụng nguồn quỹ công đoàn để mua cổ phần nhưng không quá 3% vốn điều lệ. Số cổ phần này do tổ chức công đoàn nắm giữ nhưng không được chuyển nhượng trong vòng 03 năm kể từ thời điểm đơn vị sự nghiệp công lập chuyển thành công ty cổ phần; giá bán cổ phần ưu đãi cho tổ chức công đoàn bằng mệnh giá (10.000 đồng/cổ phần).
c) Cổ phần bán cho người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại Điều 37 Nghị định này;
d) Cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược (nếu có) theo quy định tại Điều 6 Nghị định này;
đ) Cổ phần bản đấu giá công khai ra công chúng, tối thiểu bằng 20% vốn điều lệ.
3. Trường hợp số lượng cổ phần bán ưu đãi cho người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi (tính theo mức ưu đãi tối đa) lớn hơn số lượng cổ phần dự kiến phát hành còn lại (sau khi đã trừ đi số cổ phần Nhà nước nắm giữ và số cổ phần bán cho các nhà đầu tư, tổ chức Công đoàn theo quy định tại các điểm a, b, d, đ khoản 2 Điều này) và đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi không thuộc diện Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối thì cơ quan phê duyệt phương án chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập xem xét, quyết định điều chỉnh giảm số lượng cổ phần Nhà nước nắm giữ để đảm bảo đủ số lượng cổ phần ưu đãi cho người lao động.