Tiêu đề: Điều 12. Xác định kết quả đấu thầu

ID: 92/2016/ttlt-btc-nhnn+12

Nội dung:
1. Căn cứ để xác định lãi suất phát hành, khối lượng trúng thầu và giá bán tín phiếu:
a) Lãi suất và khối lượng tín phiếu dự thầu;
b) Khối lượng tín phiếu gọi thầu;
c) Khung lãi suất phát hành tín phiếu theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Thông tư này.
2. Phương thức xác định lãi suất trúng thầu:
a) Đối với phương thức đấu thầu đơn giá:
Lãi suất trúng thầu là mức lãi suất dự thầu cao nhất, áp dụng chung cho tất cả thành viên đấu thầu (cạnh tranh và không cạnh tranh lãi suất) và được xét chọn theo thứ tự từ thấp đến cao của lãi suất dự thầu, thỏa mãn đồng thời hai (02) điều kiện sau:
- Trong khung lãi suất phát hành tín phiếu do Bộ Tài chính quy định;
- Khối lượng tín phiếu phát hành tính lũy kế đến mức lãi suất trúng thầu không vượt quá khối lượng tín phiếu gọi thầu.
b) Đối với phương thức đấu thầu đa giá:
Lãi suất trúng thầu áp dụng cho mỗi thành viên trúng thầu cạnh tranh lãi suất là mức lãi suất dự thầu của thành viên đấu thầu đó và được xét chọn theo thứ tự từ thấp đến cao của lãi suất dự thầu, thỏa mãn đồng thời hai (02) điều kiện sau:
- Bình quân gia quyền các mức lãi suất trúng thầu không vượt quá khung lãi suất phát hành tín phiếu do Bộ Tài chính quy định;
- Khối lượng tín phiếu phát hành tính lũy kế đến mức lãi suất trúng thầu cao nhất không vượt quá khối lượng tín phiếu gọi thầu;
- Lãi suất trúng thầu áp dụng cho các thành viên đấu thầu đặt thầu dưới hình thức không cạnh tranh lãi suất là bình quân gia quyền của các mức lãi suất trúng thầu, được làm tròn xuống tới hai (02) chữ số thập phân.
3. Phương thức xác định khối lượng tín phiếu trúng thầu cho từng thành viên đấu thầu:
a) Đối với tín phiếu được đấu thầu dưới hình thức cạnh tranh lãi suất:
Khối lượng tín phiếu phát hành cho mỗi thành viên đấu thầu dự thầu cạnh tranh lãi suất tương đương với khối lượng tín phiếu dự thầu của thành viên đấu thầu đó. Trường hợp tại mức lãi suất trúng thầu cao nhất, khối lượng tín phiếu dự thầu tính lũy kế đến mức lãi suất trúng thầu cao nhất vượt quá khối lượng tín phiếu gọi thầu thì sau khi đã trừ đi khối lượng tín phiếu dự thầu ở các mức lãi suất thấp hơn, phần dư còn lại của khối lượng tín phiếu gọi thầu được phân bổ cho các thành viên đấu thầu dự thầu tại mức lãi suất trúng thầu cao nhất theo tỷ lệ tương ứng với khối lượng tín phiếu dự thầu và được làm tròn xuống tới hàng mười nghìn (10.000) đơn vị tín phiếu.
b) Đối với tín phiếu được đấu thầu dưới hình thức kết hợp cạnh tranh lãi suất và không cạnh tranh lãi suất:
- Khối lượng tín phiếu phát hành cho mỗi thành viên đấu thầu dự thầu cạnh tranh lãi suất tương đương với khối lượng tín phiếu dự thầu của thành viên đấu thầu đó. Trường hợp tại mức lãi suất trúng thầu cao nhất, khối lượng tín phiếu dự thầu tính lũy kế đến mức lãi suất trúng thầu cao nhất vượt quá khối lượng gọi thầu thì sau khi đã trừ đi khối lượng tín phiếu dự thầu ở các mức lãi suất thấp hơn và khối lượng tín phiếu phát hành cho các thành viên đấu thầu dự thầu không cạnh tranh lãi suất, phần dư còn lại được phân bổ cho các thành viên đấu thầu dự thầu tại mức lãi suất trúng thầu cao nhất theo tỷ lệ tương ứng với khối lượng tín phiếu dự thầu và được làm tròn xuống hàng mười nghìn (10.000) đơn vị tín phiếu.
- Khối lượng tín phiếu phát hành cho mỗi thành viên đấu thầu dự thầu không cạnh tranh lãi suất tương đương với khối lượng tín phiếu dự thầu của thành viên đấu thầu đó, trường hợp tổng khối lượng dự thầu vượt quá giới hạn quy định tại Khoản 3 Điều 10 Thông tư này, khối lượng tín phiếu phát hành cho mỗi thành viên đấu thầu dự thầu không cạnh tranh lãi suất được phân bổ theo tỷ lệ tương ứng với khối lượng tín phiếu dự thầu của thành viên đấu thầu đó và được làm tròn xuống hàng mười nghìn (10.000) đơn vị tín phiếu.
- Trường hợp tất cả các thành viên đấu thầu dự thầu cạnh tranh lãi suất không trúng thầu, tín phiếu sẽ không được phát hành cho các thành viên đấu thầu dự thầu không cạnh tranh lãi suất.
4. Ví dụ minh họa xác định lãi suất trúng thầu và phân bổ khối lượng trúng thầu tại Phụ lục 2 Thông tư này.
5. Trường hợp khối lượng tín phiếu trúng thầu thấp hơn khối lượng tín phiếu gọi thầu, Ngân hàng Nhà nước được quyền mua phần chênh lệnh giữa khối lượng tín phiếu trúng thầu và khối lượng tín phiếu gọi thầu. Ngân hàng Nhà nước mua tín phiếu tại mức lãi suất phát hành của phiên đấu thầu trong trường hợp đấu thầu đơn giá và tại mức bình quân gia quyền các mức lãi suất phát hành trong trường hợp đấu thầu đa giá. Trong trường hợp không có lãi suất trúng thầu, Ngân hàng Nhà nước được quyền mua tín phiếu theo mức lãi suất thỏa thuận giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước theo các nguyên tắc quy định tại Khoản 3 Điều 16 Thông tư này. Số tín phiếu Ngân hàng Nhà nước mua trong phiên phát hành được tính vào kết quả của phiên đấu thầu.
6. Xác định giá bán tín phiếu:
a. Giá bán một (01) tín phiếu với cả trường hợp phát hành lần đầu và trường hợp phát hành bổ sung được xác định theo công thức sau:
Trong đó:
G = Giá bán một (01) tín phiếu (được làm tròn về đơn vị đồng);
MG = Mệnh giá tín phiếu;
Lt = Lãi suất phát hành cho chủ sở hữu tín phiếu (%/365 ngày);
n = Số ngày thực tế kể từ ngày thanh toán tiền mua tín phiếu tới ngày tín phiếu đáo hạn.
b. Số tiền bán tín phiếu được xác định theo công thức sau:
GG = G
x N
Trong đó:
GG = Số tiền bán tín phiếu;
G = Giá bán một (01) tín phiếu;
N = Số lượng tín phiếu phát hành cho thành viên trúng thầu.