Tiêu đề: Điều 10. Thủ tục xác nhận đối với người bị thương thuộc lực lượng công an hiện đang tại ngũ

ID: 28/2013/ttlt-blđtbxh-bqp+10

Nội dung:
1. Người bị thương lập bản khai cá nhân (Mẫu TB) và tùy từng trường hợp để kèm theo giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều 7 của Thông tư này gửi cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý (Công an cấp huyện hoặc tương đương).
2. Cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý người bị thương có trách nhiệm:
a) Niêm yết công khai danh sách người bị thương tại cơ quan, đơn vị trong thời hạn tối thiểu 15 ngày. Lập biên bản kết quả niêm yết công khai; xác nhận bản khai cá nhân;
b) Căn cứ biên bản kết quả niêm yết công khai, tổ chức họp Hội đồng xác nhận người có công của cơ quan, đơn vị để xét duyệt, lập biên bản họp Hội đồng đề nghị xác nhận thương binh (Mẫu BB-TB) đối với trường hợp không có khiếu nại, tố cáo; có công văn kèm theo giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều này gửi Công an cấp tỉnh hoặc tương đương.
3. Công an cấp tỉnh hoặc tương đương có trách nhiệm:
a) Kiểm tra, hoàn thiện hồ sơ theo thẩm quyền;
b) Lập Biên bản kiểm tra vết thương thực thể (Mẫu XN) đối với trường hợp quy định tại Điểm b, c Khoản 2 Điều 6 của Thông tư này;
c) Cấp giấy chứng nhận bị thương; có công văn kèm theo hồ sơ gửi Cục Chính sách, Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân để thẩm định;
d) Căn cứ kết quả thẩm định, giới thiệu đến Hội đồng giám định y khoa để giám định thương tật đối với trường hợp hồ sơ đủ điều kiện; gửi biên bản giám định y khoa về Cục Chính sách, Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân;
đ) Tiếp nhận hồ sơ để quản lý và thực hiện chế độ.
4. Cục Chính sách, Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân có trách nhiệm:
a) Thẩm định hồ sơ thương tật (Mẫu PTĐ-TB); thông báo kết quả thẩm định hồ sơ về Công an cấp tỉnh hoặc tương đương để giới thiệu giám định thương tật;
b) Căn cứ biên bản giám định y khoa, ra quyết định thực hiện chế độ ưu đãi;
c) Chuyển trả hồ sơ về Công an cấp tỉnh hoặc tương đương.