Tiêu đề: Điều 7. Quy đổi thời gian nghiên cứu khoa học sang giờ chuẩn, thời gian nghiên cứu khoa học chưa sử dụng hết sang thời gian giảng dạy

ID: 96/2017/tt-bqp+7

Nội dung:
1. Tham gia biên soạn giáo trình, tài liệu cấp khoa trở lên, thẩm định, sửa chữa, biên tập, hiệu đính, đọc và nhận xét giáo trình, tài liệu các cấp
a) Tham gia biên soạn giáo trình, tài liệu cấp khoa trở lên: 01 trang (350 từ) được tính bằng 1,2 giờ chuẩn, 01 trang có hình vẽ được tính bằng 1,0 giờ chuẩn.
b) Thẩm định, sửa chữa, biên tập, hiệu đính, đọc và nhận xét giáo trình, tài liệu cấp khoa (tương đương): 01 trang được tính bằng 0,1 giờ chuẩn; cấp trường (tương đương) trở lên: 01 trang được tính bằng 0,2 giờ chuẩn.
2. Nghiên cứu khoa học
a) Bài báo khoa học không có phản biện đăng trên tạp chí khoa học có chỉ số ISS, mỗi trang (350 từ) được tính bằng 15 giờ chuẩn.
b) Bài hội thảo được đăng trên kỷ yếu cấp học viện, nhà trường trực thuộc Bộ, các quân, binh chủng và tương đương, mỗi trang (350 từ) được tính bằng 10 giờ chuẩn.
c) Một nhà giáo hướng dẫn một đề tài nghiên cứu khoa học của học viên, nếu kết quả đạt khá được tính 10 giờ chuẩn; đạt xuất sắc được tính 25 giờ chuẩn.
d) Nhà giáo trực tiếp hướng dẫn học viên đạt giải các cuộc thi Olympic, hội thi tay nghề toàn quốc hoặc tuổi trẻ sáng tạo cấp Bộ Quốc phòng, dự thi Robocon toàn quốc lọt vào vòng 2 (cấp khu vực) trở lên được tính 50 giờ chuẩn.
đ) Một nhà giáo đọc và nhận xét 01 đề cương đề tài, sáng kiến được tính bằng 05 giờ chuẩn.
e) Một nhà giáo đọc và nhận xét 01 bản thảo đề tài, sáng kiến được tính bằng 10 giờ chuẩn.
g) Một thành viên họp hội đồng nghiệm thu 01 đề tài, sáng kiến được tính 2,0 giờ chuẩn.
3. Cách tính quy đổi thời gian nghiên cứu khoa học chưa sử dụng hết như sau: Thời gian chưa sử dụng hết bằng thời gian định mức nghiên cứu khoa học trừ thời gian đã sử dụng.
4. Nếu nhà giáo không sử dụng hết định mức thời gian nghiên cứu khoa học thì phải chuyển thời gian đó sang thời gian làm công tác giảng dạy, cộng thêm vào định mức thời gian giảng dạy.