version
stringclasses
1 value
data
dict
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Việc thí điểm đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, khai thác, vận hành bảng tuyên truyền nhiệm vụ chính trị kết hợp với quảng cáo thương mại cần tuân thủ quy định về tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, pháp luật về đầu tư, đấu thầu, xây dựng nếu có cấu phần xây dựng và pháp luật có liên quan. Thành phố Hà Nội cần đánh giá đầy đủ sự cần thiết, cơ sở của việc kết hợp hai nhiệm vụ này đảm bảo nguyên tắc không làm ảnh hưởng đến mục đích của nhiệm vụ chính là tuyên truyền nhiệm vụ chính trị (ảnh minh họa). Bộ Xây dựng nhận được văn bản của của Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hà Nội về việc thí điểm đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, khai thác, vận hành bảng tuyên truyền nhiệm vụ chính trị kết hợp với quảng cáo thương mại. Theo Bộ Xây dựng, vấn đề trên cần đảm bảo tuân thủ quy định về tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, pháp luật về đầu tư, đấu thầu, xây dựng (nếu có cấu phần xây dựng) và pháp luật có liên quan. Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang tham mưu, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư, do đó đề nghị Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hà Nội nghiên cứu ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư để thực hiện, đảm bảo phù hợp với quy định pháp luật mới được ban hành. Đồng thời, tại mục 2 Văn bản số 34/SVHTT-QLVH, Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hà Nội chưa đánh giá được sự cần thiết về việc phải kết hợp giữa tuyên truyền nhiệm vụ chính trị với quảng cáo thương mại. Vì vậy, Bộ Xây dựng đề nghị đơn vị đánh giá đầy đủ sự cần thiết, cơ sở của việc kết hợp hai nhiệm vụ này đảm bảo nguyên tắc không làm ảnh hưởng đến mục đích của nhiệm vụ chính là tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, trên cơ sở đó tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội thực hiện đúng quy định pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "(Xây dựng) - Việc thí điểm đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, khai thác, vận hành bảng tuyên truyền nhiệm vụ chính trị kết hợp với quảng cáo thương mại cần tuân thủ quy định về tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, pháp luật về đầu tư, đấu thầu, xây dựng nếu có cấu phần xây dựng và pháp luật có liên quan. Thành phố Hà Nội cần đánh giá đầy đủ sự cần thiết, cơ sở của việc kết hợp hai nhiệm vụ này đảm bảo nguyên tắc không làm ảnh hưởng đến mục đích của nhiệm vụ chính là tuyên truyền nhiệm vụ chính trị (ảnh minh họa). Bộ Xây dựng nhận được văn bản của của Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hà Nội về việc thí điểm đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, khai thác, vận hành bảng tuyên truyền nhiệm vụ chính trị kết hợp với quảng cáo thương mại. Theo Bộ Xây dựng, vấn đề trên cần đảm bảo tuân thủ quy định về tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, pháp luật về đầu tư, đấu thầu, xây dựng (nếu có cấu phần xây dựng) và pháp luật có liên quan. Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang tham mưu, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư, do đó đề nghị Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hà Nội nghiên cứu ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư để thực hiện, đảm bảo phù hợp với quy định pháp luật mới được ban hành. Đồng thời, tại mục 2 Văn bản số 34/SVHTT-QLVH, Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hà Nội chưa đánh giá được sự cần thiết về việc phải kết hợp giữa tuyên truyền nhiệm vụ chính trị với quảng cáo thương mại. Vì vậy, Bộ Xây dựng đề nghị đơn vị đánh giá đầy đủ sự cần thiết, cơ sở của việc kết hợp hai nhiệm vụ này đảm bảo nguyên tắc không làm ảnh hưởng đến mục đích của nhiệm vụ chính là tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, trên cơ sở đó tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội thực hiện đúng quy định pháp luật." } ], "id": "701", "is_impossible": false, "question": "Thí điểm đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư khai thác bảng tuyên truyền, quảng cáo" } ] } ], "title": "Thí điểm đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư khai thác bảng tuyên truyền, quảng cáo" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Chủ đầu tư A và nhà thầu B ký hợp đồng thi công xây dựng gói thầu C (là gói thầu quy mô lớn) thuộc lĩnh vực giao thông, trong đó giá trị hợp đồng đã ký kết là 500 tỷ đồng, giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng theo mức tối thiểu là 2% x 500 tỷ đồng = 10 tỷ đồng. Ảnh minh họa. Trong quá trình thực hiện hợp đồng (lúc này nhà thầu đã thi công phần khối lượng đạt 50% giá trị hợp đồng đã ký kết, tương ứng 250 tỷ đồng) thì có phát sinh khối lượng và đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt dự toán cho phần phát sinh này với giá trị phần phát sinh là 100 tỷ đồng. Khi ký kết phụ lục hợp đồng để bổ sung giá trị 100 tỷ đồng này vào hợp đồng, chủ đầu tư yêu cầu nhà thầu phải bổ sung bảo đảm thực hiện hợp đồng cho phần giá trị bổ sung này với giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng bổ sung là 2% x 100 tỷ đồng = 2 tỷ đồng để bảo đảm tổng giá trị của bảo đảm thực hiện hợp đồng sau điều chỉnh là 12 tỷ đồng. Tuy nhiên nhà thầu không đồng ý với nội dung này. Lý do nhà thầu đưa ra là, tại Khoản 5.1 Điều 5 Phụ lục III Thông tư số 02/2023/TT-BXD ngày 3/3/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung về hợp đồng xây dựng quy định: Bảo đảm thực hiện hợp đồng phải có giá trị và có hiệu lực tới khi nhà thầu đã thi công, hoàn thành công trình, hoặc hạng mục công trình tương ứng với hợp đồng đã ký kết được chủ đầu tư nghiệm thu và chuyển sang nghĩa vụ bảo hành công trình. Căn cứ quy định này thì nhà thầu có ý kiến rằng giá trị của bảo đảm thực hiện hợp đồng sẽ không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng. Trường hợp giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng thay đổi thì sẽ thay đổi tương ứng theo tỷ lệ 2% x 350 tỷ đồng (gồm 250 tỷ đồng phần khối lượng còn lại và 100 tỷ đồng phần khối lượng phát sinh) = 7 tỷ đồng; giá trị này đang thấp hơn giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng ban đầu của nhà thầu là 10 tỷ đồng. Vì vậy nhà thầu không đồng ý thực hiện điều chỉnh bảo đảm thực hiện hợp đồng. Ông Lê Quốc Oai (Thanh Hóa) hỏi, bảo lãnh thực hiện hợp đồng có được thay đổi, điều chỉnh về giá trị trong quá trình thực hiện hợp đồng hay không? Trong trường hợp như trên, chủ đầu tư yêu cầu nhà thầu bổ sung bảo lãnh thực hiện hợp đồng đối với phần khối lượng phát sinh (không giảm trừ phần khối lượng đã thực hiện của nhà thầu) thì có đúng quy định của pháp luật hay không? Nhà thầu không đồng ý với nội dung do chủ đầu tư yêu cầu bổ sung bảo lãnh thực hiện hợp đồng đối với phần khối lượng phát sinh có đúng không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Do nội dung hỏi chưa nêu rõ thời điểm ký kết hợp đồng xây dựng, nguồn vốn đầu tư xây dựng, quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để hướng dẫn cụ thể, bao gồm việc áp dụng các quy định tại Thông tư số 02/2023/TT-BXD ngày 3/3/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung về hợp đồng xây dựng. Trường hợp hợp đồng đã ký kết thuộc phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP thì bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng thực hiện theo quy định Điều 16 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP. Theo đó, bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng là việc bên nhận thầu thực hiện một trong các biện pháp đặt cọc, ký quỹ hoặc bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời gian thực hiện hợp đồng. Do vậy, trường hợp trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên thay đổi, điều chỉnh, bổ sung các nghĩa vụ phải thực hiện theo hợp đồng đã ký kết thì bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng cần điều chỉnh cho phù hợp với các nghĩa vụ được các bên thống nhất sửa đổi, bổ sung, bảo đảm tuân thủ đúng các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng. Việc điều chỉnh hợp đồng xây dựng phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng và pháp luật có liên quan khác.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1139, "text": "Bảo đảm thực hiện hợp đồng phải có giá trị và có hiệu lực tới khi nhà thầu đã thi công, hoàn thành công trình, hoặc hạng mục công trình tương ứng với hợp đồng đã ký kết được chủ đầu tư nghiệm thu và chuyển sang nghĩa vụ bảo hành công trình. Căn cứ quy định này thì nhà thầu có ý kiến rằng giá trị của bảo đảm thực hiện hợp đồng sẽ không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng. Trường hợp giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng thay đổi thì sẽ thay đổi tương ứng theo tỷ lệ 2% x 350 tỷ đồng (gồm 250 tỷ đồng phần khối lượng còn lại và 100 tỷ đồng phần khối lượng phát sinh) = 7 tỷ đồng; giá trị này đang thấp hơn giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng ban đầu của nhà thầu là 10 tỷ đồng. Vì vậy nhà thầu không đồng ý thực hiện điều chỉnh bảo đảm thực hiện hợp đồng. Ông Lê Quốc Oai (Thanh Hóa) hỏi, bảo lãnh thực hiện hợp đồng có được thay đổi, điều chỉnh về giá trị trong quá trình thực hiện hợp đồng hay không? Trong trường hợp như trên, chủ đầu tư yêu cầu nhà thầu bổ sung bảo lãnh thực hiện hợp đồng đối với phần khối lượng phát sinh (không giảm trừ phần khối lượng đã thực hiện của nhà thầu) thì có đúng quy định của pháp luật hay không? Nhà thầu không đồng ý với nội dung do chủ đầu tư yêu cầu bổ sung bảo lãnh thực hiện hợp đồng đối với phần khối lượng phát sinh có đúng không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Do nội dung hỏi chưa nêu rõ thời điểm ký kết hợp đồng xây dựng, nguồn vốn đầu tư xây dựng, quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để hướng dẫn cụ thể, bao gồm việc áp dụng các quy định tại Thông tư số 02/2023/TT-BXD ngày 3/3/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung về hợp đồng xây dựng. Trường hợp hợp đồng đã ký kết thuộc phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP thì bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng thực hiện theo quy định Điều 16 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP. Theo đó, bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng là việc bên nhận thầu thực hiện một trong các biện pháp đặt cọc, ký quỹ hoặc bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời gian thực hiện hợp đồng. Do vậy, trường hợp trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên thay đổi, điều chỉnh, bổ sung các nghĩa vụ phải thực hiện theo hợp đồng đã ký kết thì bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng cần điều chỉnh cho phù hợp với các nghĩa vụ được các bên thống nhất sửa đổi, bổ sung, bảo đảm tuân thủ đúng các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng. Việc điều chỉnh hợp đồng xây dựng phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng và pháp luật có liên quan khác." } ], "id": "702", "is_impossible": false, "question": "Có được điều chỉnh giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng?" } ] } ], "title": "Có được điều chỉnh giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Gửi câu hỏi đến đường dây nóng Báo Giao thông, bạn Phan Ngọc Anh (ở quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) băn khoăn: \"Trước tết Nguyên đán, tôi bị cảnh sát giao thông tạm giữ giấy phép lái xe (GPLX) ô tô? Do bận việc, tôi chưa thể đi nộp phạt. Vậy khi tham gia giao thông, tôi có được sử dụng biên bản để thay cho GPLX không?\"Tài xế sẽ bị xử phạt nếu tiếp tục lái xe sau khi bị tước bằng lái (ảnh minh họa).Trả lời bạn đọc, luật sư Nguyễn Tiến Dũng, Đoàn Luật sư TP Hà Nội cho biết, khoản 1, Điều 25 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định, trong thời gian bị tước quyền sử dụng GPLX, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép như lái loại xe tương ứng với bằng lái đó để tham gia giao thông.Còn tại khoản 2 Điều 82 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định, trường hợp bị tạm giữ giấy tờ theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, người vi phạm cần nộp phạt theo thời hạn ghi trong biên bản.Như vậy, trong thời gian bị tạm giữ bằng lái xe mà chưa đến thời hạn hẹn giải quyết vụ việc vi phạm hành chính, tài xế vẫn được tham gia giao thông.Tuy nhiên, nếu quá thời hạn đó mà người vi phạm chưa đến trụ sở của người có thẩm quyền xử phạt để giải quyết vụ việc vi phạm mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện, sẽ bị áp dụng xử phạt như hành vi không có giấy tờ.Khi đó, theo các quy định của Nghị định 100/2019/NĐ-CP, người lái xe ô tô không có bằng lái xe sẽ bị phạt tiền từ 4-6 triệu đồng; còn không mang theo bằng lái bị phạt tiền từ 200-400 nghìn đồng.Đối với xe máy, tài xế mà không có bằng lái thì bị phạt tiền từ 0,8-1,2 triệu đồng. Trường hợp không mang theo bị phạt tiền từ 100-200 nghìn đồng.Đáng chú ý, tài xế điều khiển phương tiện nhưng không có giấy phép lái xe mà gây tai nạn dẫn đến hậu quả nghiêm trọng sẽ bị xử lý hình sự với khung hình phạt từ 3-10 năm.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 105, "text": "\"Trước tết Nguyên đán, tôi bị cảnh sát giao thông tạm giữ giấy phép lái xe (GPLX) ô tô? Do bận việc, tôi chưa thể đi nộp phạt. Vậy khi tham gia giao thông, tôi có được sử dụng biên bản để thay cho GPLX không?\"Tài xế sẽ bị xử phạt nếu tiếp tục lái xe sau khi bị tước bằng lái (ảnh minh họa).Trả lời bạn đọc, luật sư Nguyễn Tiến Dũng, Đoàn Luật sư TP Hà Nội cho biết, khoản 1, Điều 25 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định, trong thời gian bị tước quyền sử dụng GPLX, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép như lái loại xe tương ứng với bằng lái đó để tham gia giao thông.Còn tại khoản 2 Điều 82 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định, trường hợp bị tạm giữ giấy tờ theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, người vi phạm cần nộp phạt theo thời hạn ghi trong biên bản.Như vậy, trong thời gian bị tạm giữ bằng lái xe mà chưa đến thời hạn hẹn giải quyết vụ việc vi phạm hành chính, tài xế vẫn được tham gia giao thông.Tuy nhiên, nếu quá thời hạn đó mà người vi phạm chưa đến trụ sở của người có thẩm quyền xử phạt để giải quyết vụ việc vi phạm mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện, sẽ bị áp dụng xử phạt như hành vi không có giấy tờ.Khi đó, theo các quy định của Nghị định 100/2019/NĐ-CP, người lái xe ô tô không có bằng lái xe sẽ bị phạt tiền từ 4-6 triệu đồng; còn không mang theo bằng lái bị phạt tiền từ 200-400 nghìn đồng.Đối với xe máy, tài xế mà không có bằng lái thì bị phạt tiền từ 0,8-1,2 triệu đồng. Trường hợp không mang theo bị phạt tiền từ 100-200 nghìn đồng.Đáng chú ý, tài xế điều khiển phương tiện nhưng không có giấy phép lái xe mà gây tai nạn dẫn đến hậu quả nghiêm trọng sẽ bị xử lý hình sự với khung hình phạt từ 3-10 năm." } ], "id": "703", "is_impossible": false, "question": "Bằng lái bị tạm giữ, có được dùng biên bản để điều khiển xe?" } ] } ], "title": "Bằng lái bị tạm giữ, có được dùng biên bản để điều khiển xe?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Để phù hợp với Chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 thì UBND cấp tỉnh phải điều chỉnh chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở theo quy định, làm cơ sở để chấp thuận chủ trương đầu tư dự án. Để phù hợp với Chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 thì UBND cấp tỉnh phải điều chỉnh chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở theo quy định tại Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ (Ảnh minh hoa). Liên quan đến đề nghị hướng dẫn, cho ý kiến về việc điều chỉnh Chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở để điều chỉnh mục tiêu dự án phục vụ nhu cầu tái định cư thành dự án phục vụ nhu cầu nhà ở xã hội của Sở Xây dựng tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Bộ Xây dựng vừa có văn bản trả lời vấn đề này. Bộ Xây dựng cho biết, tại khoản 3 Điều 6 Luật Nhà ở năm 2014 quy định nghiêm cấm việc: “Quyết định chủ trương đầu tư dự án hoặc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng nhà ở không theo quy hoạch xây dựng, chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê duyệt”. Trong khi đó, tại khoản 2 Điều 14 Luật Nhà ở năm 2014 quy định yêu cầu đối với phát triển nhà ở phải: “Phù hợp với Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia, quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất và có trong chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương trong từng giai đoạn”. Theo Chương trình phát triển nhà ở được UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phê duyệt tại Quyết định số 2634/QĐ-UBND ngày 31/8/2022 và Kế hoạch phát triển nhà ở giai đoạn 2021-2025 được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 3830/QĐ-UBND ngày 15/12/2022 thì Dự án Đông quốc lộ 56 thuộc danh mục dự án tái định cư tại Phụ lục số 06 trong Chương trình phát triển nhà ở và danh mục dự án tái định cư tại Phụ lục số 04 trong Kế hoạch phát triển nhà ở, đây là dự án phát triển nhà ở để phục vụ tái định cư. Do đó, để phù hợp với Chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 thì UBND cấp tỉnh phải điều chỉnh chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở theo quy định tại khoản 2a Điều 4 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 30/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chỉnh phủ) làm cơ sở để chấp thuận chủ trương đầu tư dự án nêu trên. Theo Bộ Xây dựng, việc điều chỉnh mục tiêu Dự án Đông Quốc lộ 56 từ nhà ở để phục vụ tái định cư sang nhà ở xã hội phải đảm bảo tuân thủ quy định tại điểm m khoản 1 Điều 85 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở năm 2014 (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7 Điều 5 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ) và pháp luật về đầu tư, pháp luật về đất đai. Theo tổng hợp của Bộ Xây dựng hiện vẫn còn một số địa phương chậm phê duyệt hoặc điều chỉnh kế hoạch phát triển nhà ở theo quy định (7/63 địa phương chưa phê duyệt Kế hoạch phát triển nhà ở giai đoạn 2021-2025 và 59/63 địa phương chưa phê duyệt Kế hoạch phát triển nhà ở năm 2024). Một số địa phương phê duyệt hoặc điều chỉnh nội dung chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở chưa đầy đủ, chưa theo đúng quy định của pháp luật về nhà ở nên đã thiếu cơ sở để đánh giá thực trạng cung cầu về nhà ở trên địa bàn, dẫn đến có nhiều địa phương xuất hiện tình trạng việc lệch pha cung - cầu, thị trường nhà ở phát triển không cân đối giữa các loại hình nhà ở cho các đối tượng khác nhau trên địa bàn. Một số địa phương phê duyệt chỉ tiêu liên quan đến nhà ở xã hội chưa sát với nhu cầu thực tế gây khó khăn cho việc bố trí, cân đối các nguồn lực nhằm phục vụ cho hoạt động đầu tư xây dựng các loại nhà ở xã hội theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, nhiều địa phương báo cáo không đầy đủ số liệu về diện tích sàn xây dựng, số lượng các loại nhà ở hoàn thành theo yêu cầu của Bộ Xây dựng dẫn đến việc không đủ cơ sở để đánh giá được tình hình phát triển nhà ở theo kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê duyệt.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 876, "text": "“Quyết định chủ trương đầu tư dự án hoặc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng nhà ở không theo quy hoạch xây dựng, chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê duyệt”. Trong khi đó, tại khoản 2 Điều 14 Luật Nhà ở năm 2014 quy định yêu cầu đối với phát triển nhà ở phải: “Phù hợp với Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia, quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất và có trong chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương trong từng giai đoạn”. Theo Chương trình phát triển nhà ở được UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phê duyệt tại Quyết định số 2634/QĐ-UBND ngày 31/8/2022 và Kế hoạch phát triển nhà ở giai đoạn 2021-2025 được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 3830/QĐ-UBND ngày 15/12/2022 thì Dự án Đông quốc lộ 56 thuộc danh mục dự án tái định cư tại Phụ lục số 06 trong Chương trình phát triển nhà ở và danh mục dự án tái định cư tại Phụ lục số 04 trong Kế hoạch phát triển nhà ở, đây là dự án phát triển nhà ở để phục vụ tái định cư. Do đó, để phù hợp với Chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 thì UBND cấp tỉnh phải điều chỉnh chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở theo quy định tại khoản 2a Điều 4 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 30/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chỉnh phủ) làm cơ sở để chấp thuận chủ trương đầu tư dự án nêu trên. Theo Bộ Xây dựng, việc điều chỉnh mục tiêu Dự án Đông Quốc lộ 56 từ nhà ở để phục vụ tái định cư sang nhà ở xã hội phải đảm bảo tuân thủ quy định tại điểm m khoản 1 Điều 85 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở năm 2014 (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7 Điều 5 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ) và pháp luật về đầu tư, pháp luật về đất đai. Theo tổng hợp của Bộ Xây dựng hiện vẫn còn một số địa phương chậm phê duyệt hoặc điều chỉnh kế hoạch phát triển nhà ở theo quy định (7/63 địa phương chưa phê duyệt Kế hoạch phát triển nhà ở giai đoạn 2021-2025 và 59/63 địa phương chưa phê duyệt Kế hoạch phát triển nhà ở năm 2024). Một số địa phương phê duyệt hoặc điều chỉnh nội dung chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở chưa đầy đủ, chưa theo đúng quy định của pháp luật về nhà ở nên đã thiếu cơ sở để đánh giá thực trạng cung cầu về nhà ở trên địa bàn, dẫn đến có nhiều địa phương xuất hiện tình trạng việc lệch pha cung - cầu, thị trường nhà ở phát triển không cân đối giữa các loại hình nhà ở cho các đối tượng khác nhau trên địa bàn. Một số địa phương phê duyệt chỉ tiêu liên quan đến nhà ở xã hội chưa sát với nhu cầu thực tế gây khó khăn cho việc bố trí, cân đối các nguồn lực nhằm phục vụ cho hoạt động đầu tư xây dựng các loại nhà ở xã hội theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, nhiều địa phương báo cáo không đầy đủ số liệu về diện tích sàn xây dựng, số lượng các loại nhà ở hoàn thành theo yêu cầu của Bộ Xây dựng dẫn đến việc không đủ cơ sở để đánh giá được tình hình phát triển nhà ở theo kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê duyệt." } ], "id": "704", "is_impossible": false, "question": "Điều chỉnh chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở phục vụ dự án nhà ở xã hội" } ] } ], "title": "Điều chỉnh chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở phục vụ dự án nhà ở xã hội" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Ai được sử dụng pháo hoa và sử dụng vào dịp nào?Bạn đọc Nguyễn Văn Hào (Cầu Giấy, TP Hà Nội) hỏi: Theo quy định của pháp luật thì vào dịp Tết, người dân được phép mua và đốt các loại pháo nào?\"Nếu được thì mua loại pháo hoa này ở đâu? Hành vi đốt pháo hoa nổ, hay pháo nổ trái phép thì sẽ bị xử lý thế nào?\", bạn Hào hỏi.Người dân chỉ được sử dụng pháo hoa không gây ra tiếng nổ do nhà máy Z121 của Bộ Quốc phòng sản xuất.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, căn cứ vào khoản 1, Điều 17 Nghị định số 137/2020/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo thì chỉ có cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mới được sử dụng pháo hoa.Đồng thời, pháo hoa chỉ được sử dụng trong các trường hợp sau: Lễ, tết, sinh nhật, cưới hỏi, hội nghị, khai trương, ngày kỷ niệm và trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật.Theo quy định của pháp luật, pháo là sản phẩm có chứa thuốc pháo, khi có tác động của xung kích thích cơ, nhiệt, hóa hoặc điện gây ra phản ứng hóa học nhành, mạnh, sinh khí, tạo ra hiệu ứng âm thanh, ánh sáng, màu sắc trong không gian, gây ra tiếng nổ hoặc không gây ra tiếng nổ.Hiện nay pháo bao gồm hai loại là pháo nổ và pháo hoa. Loại pháo không được phép sử dụng gồm pháo nổ và pháo hoa nổPháo nổ là loại pháo khi có tác động của xung kích thích cơ, nhiệt, hóa hoặc điện gây ra tiếng nổ hoặc gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng màu sắc trong không gian;Pháo hoa nổ là loại pháo có chứa thuốc pháo nổ, thuốc pháo, thuốc pháo hoa, khi sử dụng gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng màu sắc trong không gian.\"Loại pháo được phép sử dụng là pháo hoa. Pháo hoa là sản phẩm được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, khi có tác động của xung kích thích cơ, nhiệt, hóa hoặc điện tạo ra các hiệu ứng âm thanh, ánh sáng, màu sắc trong không gian và không gây ra tiếng nổ.Theo quy định trên, pháo hoa và pháo nổ đều là sản phẩm tạo ra hiệu ứng ánh sáng, màu sắc trong không gian. Điểm khác nhau cơ bản là pháo nổ sẽ gây ra tiếng nổ, tiếng rít còn pháo hoa thì không gây ra tiếng nổ mà chỉ tạo ra các hiệu ứng âm thanh\", luật sư Diệp Năng Bình nói.Ông Bình cũng cho hay, tất cả các loại pháo gây ra tiếng nổ đều không phải pháo hoa mà là pháo nổ hoặc pháo hoa nổ. Và người dân không được phép tự ý nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, hoặc chiếm đoạt các loại pháo này.Theo đó, các loại pháo hoa nổ thì phải do cơ quan chức năng tổ chức sử dụng vào các dịp lễ lớn như tết Nguyên đán, Giỗ Tổ Hùng Vương... theo kế hoạch của Nhà nước.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).Mua pháo hoa ở đâu mới hợp pháp?Luật sư Diệp Năng Bình cho biết, theo khoản 2, Điều 14 Nghị định số 137/2020/NĐ-CP thì chỉ tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng mới được kinh doanh pháo hoa và phải được cơ quan công an có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; bảo đảm các điều kiện về phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, ứng phó sự cố và bảo vệ môi trường.\"Hiện nay, chỉ có nhà máy Z121 của Bộ Quốc phòng mới được phép sản xuất pháo hoa. Do đó, dịp tết Nguyên đán, người dân chỉ được phép mua pháo hoa của Bộ Quốc phòng tại các cửa hàng bán lẻ\", ông Bình nói.Sản xuất, buôn bán pháo nổ trái phép có thể bị xử lý hình sựLuật sư Bình cho biết, hành vi đốt pháo trái phép sẽ bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng. Hành vi tự chế pháo trái phép sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.Hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) không có quy định cụ thể về tội danh đốt pháo trái phép.Tuy nhiên, căn cứ vào Thông tư liên tịch 06/2008/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 25/12/2008 về hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi đốt pháo nổ, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo thì người có hành vi đốt pháo trái phép có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với một số tội danh sau đây:Tội gây rối trật tự công cộng theo Điều 318 Bộ luật Hình sự, hình phạt cao nhất lên đến 7 năm tù.Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ theo Điều 305 Bộ luật Hình sự, hình phạt cao nhất từ 15 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân.Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm theo Điều 190 Bộ luật Hình sự, hình phạt cao nhất lên đến 15 năm tù.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 98, "text": "Theo quy định của pháp luật thì vào dịp Tết, người dân được phép mua và đốt các loại pháo nào?\"Nếu được thì mua loại pháo hoa này ở đâu? Hành vi đốt pháo hoa nổ, hay pháo nổ trái phép thì sẽ bị xử lý thế nào?\", bạn Hào hỏi.Người dân chỉ được sử dụng pháo hoa không gây ra tiếng nổ do nhà máy Z121 của Bộ Quốc phòng sản xuất.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, căn cứ vào khoản 1, Điều 17 Nghị định số 137/2020/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo thì chỉ có cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mới được sử dụng pháo hoa.Đồng thời, pháo hoa chỉ được sử dụng trong các trường hợp sau: Lễ, tết, sinh nhật, cưới hỏi, hội nghị, khai trương, ngày kỷ niệm và trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật.Theo quy định của pháp luật, pháo là sản phẩm có chứa thuốc pháo, khi có tác động của xung kích thích cơ, nhiệt, hóa hoặc điện gây ra phản ứng hóa học nhành, mạnh, sinh khí, tạo ra hiệu ứng âm thanh, ánh sáng, màu sắc trong không gian, gây ra tiếng nổ hoặc không gây ra tiếng nổ.Hiện nay pháo bao gồm hai loại là pháo nổ và pháo hoa. Loại pháo không được phép sử dụng gồm pháo nổ và pháo hoa nổPháo nổ là loại pháo khi có tác động của xung kích thích cơ, nhiệt, hóa hoặc điện gây ra tiếng nổ hoặc gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng màu sắc trong không gian;Pháo hoa nổ là loại pháo có chứa thuốc pháo nổ, thuốc pháo, thuốc pháo hoa, khi sử dụng gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng màu sắc trong không gian.\"Loại pháo được phép sử dụng là pháo hoa. Pháo hoa là sản phẩm được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, khi có tác động của xung kích thích cơ, nhiệt, hóa hoặc điện tạo ra các hiệu ứng âm thanh, ánh sáng, màu sắc trong không gian và không gây ra tiếng nổ.Theo quy định trên, pháo hoa và pháo nổ đều là sản phẩm tạo ra hiệu ứng ánh sáng, màu sắc trong không gian. Điểm khác nhau cơ bản là pháo nổ sẽ gây ra tiếng nổ, tiếng rít còn pháo hoa thì không gây ra tiếng nổ mà chỉ tạo ra các hiệu ứng âm thanh\", luật sư Diệp Năng Bình nói.Ông Bình cũng cho hay, tất cả các loại pháo gây ra tiếng nổ đều không phải pháo hoa mà là pháo nổ hoặc pháo hoa nổ. Và người dân không được phép tự ý nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, hoặc chiếm đoạt các loại pháo này.Theo đó, các loại pháo hoa nổ thì phải do cơ quan chức năng tổ chức sử dụng vào các dịp lễ lớn như tết Nguyên đán, Giỗ Tổ Hùng Vương... theo kế hoạch của Nhà nước.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).Mua pháo hoa ở đâu mới hợp pháp?Luật sư Diệp Năng Bình cho biết, theo khoản 2, Điều 14 Nghị định số 137/2020/NĐ-CP thì chỉ tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng mới được kinh doanh pháo hoa và phải được cơ quan công an có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; bảo đảm các điều kiện về phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, ứng phó sự cố và bảo vệ môi trường.\"Hiện nay, chỉ có nhà máy Z121 của Bộ Quốc phòng mới được phép sản xuất pháo hoa. Do đó, dịp tết Nguyên đán, người dân chỉ được phép mua pháo hoa của Bộ Quốc phòng tại các cửa hàng bán lẻ\", ông Bình nói.Sản xuất, buôn bán pháo nổ trái phép có thể bị xử lý hình sựLuật sư Bình cho biết, hành vi đốt pháo trái phép sẽ bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng. Hành vi tự chế pháo trái phép sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.Hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) không có quy định cụ thể về tội danh đốt pháo trái phép.Tuy nhiên, căn cứ vào Thông tư liên tịch 06/2008/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 25/12/2008 về hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi đốt pháo nổ, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo thì người có hành vi đốt pháo trái phép có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với một số tội danh sau đây:Tội gây rối trật tự công cộng theo Điều 318 Bộ luật Hình sự, hình phạt cao nhất lên đến 7 năm tù.Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ theo Điều 305 Bộ luật Hình sự, hình phạt cao nhất từ 15 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân.Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm theo Điều 190 Bộ luật Hình sự, hình phạt cao nhất lên đến 15 năm tù." } ], "id": "705", "is_impossible": false, "question": "Đốt pháo hoa Tết như thế nào để không vi phạm pháp luật?" } ] } ], "title": "Đốt pháo hoa Tết như thế nào để không vi phạm pháp luật?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Bạn đọc Nguyễn Thế Tới (Hiệp Hòa, Bắc Giang) hỏi: Thời gian qua, khi lực lượng CSGT tăng cường công tác kiểm tra, xử lý những trường hợp lái xe vi phạm nồng độ cồn, không ít tài xế đã không chấp hành, có trường hợp đã bỏ xe rồi chạy trốn khỏi hiện trường.\"Xin hỏi những trường hợp trốn đo nồng độ cồn thì bị xử lý thế nào?\", bạn Tới nói.Hành vi trốn đo nồng độ cồn bị xử phạt mức cao nhất.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, người điều khiển phương tiện giao thông không chấp hành yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn của người có thẩm quyền thì sẽ bị xử phạt ở mức khung cao nhất. Đối với người điều khiển ô tô thì mức phạt cao nhất có thể đến 40 triệu đồng, đối với xe máy là 8 triệu đồng.Cụ thể, khi người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ sẽ bị phạt tiền từ 6-8 triệu đồng; bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 22-24 tháng; bị tạm giữ phương tiện tối đa đến 7 ngày.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ thì mức phạt tiền từ 30-40 triệu đồng; tước giấy phép lái xe từ 22-24 tháng; bị tạm giữ phương tiện tối đa đến 7 ngày.Luật sư Quách Thành Lực cho rằng, khi được yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn thì người điều khiển phương tiện giao thông nên chấp hành đúng theo quy định.\"Việc không chấp hành đo nồng độ cồn không chỉ bị phạt mức cao nhất, nếu cố tình không chấp hành, cản trở lực lượng CSGT đo nồng độ cồn thì người vi phạm có thể bị xử lý hình sự về tội chống người thi hành công vụ tại điều 330 Bộ luật Hình sự 2015\" ông Lực thông tin.Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến 7 năm: Có tổ chức; phạm tội hai lần trở lên; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; gây thiệt hại về tài sản 50 triệu đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 50, "text": "Thời gian qua, khi lực lượng CSGT tăng cường công tác kiểm tra, xử lý những trường hợp lái xe vi phạm nồng độ cồn, không ít tài xế đã không chấp hành, có trường hợp đã bỏ xe rồi chạy trốn khỏi hiện trường.\"Xin hỏi những trường hợp trốn đo nồng độ cồn thì bị xử lý thế nào?\", bạn Tới nói.Hành vi trốn đo nồng độ cồn bị xử phạt mức cao nhất.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, người điều khiển phương tiện giao thông không chấp hành yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn của người có thẩm quyền thì sẽ bị xử phạt ở mức khung cao nhất. Đối với người điều khiển ô tô thì mức phạt cao nhất có thể đến 40 triệu đồng, đối với xe máy là 8 triệu đồng.Cụ thể, khi người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ sẽ bị phạt tiền từ 6-8 triệu đồng; bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 22-24 tháng; bị tạm giữ phương tiện tối đa đến 7 ngày.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ thì mức phạt tiền từ 30-40 triệu đồng; tước giấy phép lái xe từ 22-24 tháng; bị tạm giữ phương tiện tối đa đến 7 ngày.Luật sư Quách Thành Lực cho rằng, khi được yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn thì người điều khiển phương tiện giao thông nên chấp hành đúng theo quy định.\"Việc không chấp hành đo nồng độ cồn không chỉ bị phạt mức cao nhất, nếu cố tình không chấp hành, cản trở lực lượng CSGT đo nồng độ cồn thì người vi phạm có thể bị xử lý hình sự về tội chống người thi hành công vụ tại điều 330 Bộ luật Hình sự 2015\" ông Lực thông tin.Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến 7 năm: Có tổ chức; phạm tội hai lần trở lên; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; gây thiệt hại về tài sản 50 triệu đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm." } ], "id": "706", "is_impossible": false, "question": "Tài xế trốn đo nồng độ cồn bị xử lý thế nào?" } ] } ], "title": "Tài xế trốn đo nồng độ cồn bị xử lý thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Việc đánh giá an toàn công trình được thực hiện theo quy trình do Bộ Xây dựng ban hành theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Thông tư số 10/2021/TT-BXD ngày 25/8/2021 của Bộ Xây dựng. Việc đánh giá an toàn công trình được thực hiện theo quy trình do Bộ Xây dựng ban hành theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Thông tư số 10/2021/TT-BXD ngày 25/8/2021 của Bộ Xây dựng. Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Công ty Cổ phần Dệt may 29/3 đề nghị hướng dẫn thực hiện Nghị định số 06/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng (sau đây gọi là Nghị định số 06/2021/NĐ-CP). Liên quan đến vấn đề này, ngày 23/01/2024, Bộ Xây dựng đã có Công văn 370/BXD-GĐ trả lời Công ty Cổ phần Dệt may 29/3. Về việc xác định đối tượng phải thực hiện đánh giá an toàn công trình trong quá trình vận hành và sử dụng, Bộ Xây dựng cho biết, căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 126 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 47 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng số 62/2020/QH14 thì “Công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, công trình ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng phải được tổ chức đánh giá định kỳ về an toàn của công trình xây dựng trong quá trình vận hành và sử dụng”. Trong đó, danh mục công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp được quy định tại Phụ lục VIII Nghị định số 06/2021/NĐ-CP; danh mục công trình ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng được quy định tại Phụ lục X Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Căn cứ nội dung của Văn bản số 02/CV-CT ngày 06/01/2024 của Công ty Cổ phần Dệt may 29/3 thì công trình của Công ty thuộc đối tượng phải thực hiện đánh giá an toàn của công trình xây dựng trong quá trình vận hành và sử dụng. Về quy trình đánh giá an toàn của công trình xây dựng trong quá trình vận hành và sử dụng, Bộ Xây dựng cho biết, việc đánh giá an toàn công trình được thực hiện theo quy trình do Bộ Xây dựng ban hành theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Thông tư số 10/2021/TT-BXD ngày 25/8/2021 của Bộ Xây dựng. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang triển khai việc xây dựng quy trình đánh giá an toàn công trình theo quy định nêu trên.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "(Xây dựng) - Việc đánh giá an toàn công trình được thực hiện theo quy trình do Bộ Xây dựng ban hành theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Thông tư số 10/2021/TT-BXD ngày 25/8/2021 của Bộ Xây dựng. Việc đánh giá an toàn công trình được thực hiện theo quy trình do Bộ Xây dựng ban hành theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Thông tư số 10/2021/TT-BXD ngày 25/8/2021 của Bộ Xây dựng. Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Công ty Cổ phần Dệt may 29/3 đề nghị hướng dẫn thực hiện Nghị định số 06/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng (sau đây gọi là Nghị định số 06/2021/NĐ-CP). Liên quan đến vấn đề này, ngày 23/01/2024, Bộ Xây dựng đã có Công văn 370/BXD-GĐ trả lời Công ty Cổ phần Dệt may 29/3. Về việc xác định đối tượng phải thực hiện đánh giá an toàn công trình trong quá trình vận hành và sử dụng, Bộ Xây dựng cho biết, căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 126 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 47 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng số 62/2020/QH14 thì “Công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, công trình ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng phải được tổ chức đánh giá định kỳ về an toàn của công trình xây dựng trong quá trình vận hành và sử dụng”. Trong đó, danh mục công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp được quy định tại Phụ lục VIII Nghị định số 06/2021/NĐ-CP; danh mục công trình ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng được quy định tại Phụ lục X Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Căn cứ nội dung của Văn bản số 02/CV-CT ngày 06/01/2024 của Công ty Cổ phần Dệt may 29/3 thì công trình của Công ty thuộc đối tượng phải thực hiện đánh giá an toàn của công trình xây dựng trong quá trình vận hành và sử dụng. Về quy trình đánh giá an toàn của công trình xây dựng trong quá trình vận hành và sử dụng, Bộ Xây dựng cho biết, việc đánh giá an toàn công trình được thực hiện theo quy trình do Bộ Xây dựng ban hành theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Thông tư số 10/2021/TT-BXD ngày 25/8/2021 của Bộ Xây dựng. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang triển khai việc xây dựng quy trình đánh giá an toàn công trình theo quy định nêu trên." } ], "id": "707", "is_impossible": false, "question": "Quản lý chất lượng xây dựng và bảo trì công trình" } ] } ], "title": "Quản lý chất lượng xây dựng và bảo trì công trình" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình được quy định tại các Nghị định về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng và Phụ lục X Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng (theo thời điểm áp dụng của các Nghị định). Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình được quy định tại các Nghị định về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng và Phụ lục X Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ. Liên quan đến đề nghị hướng dẫn xác định thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình nhà ở riêng lẻ thuộc dự án Khu phố mới Hoa Lư - Phù Đổng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, Bộ Xây dựng đã có văn bản trả lời vấn đề này. Bộ Xây dựng cho biết, đối tượng công trình phải được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu trong quá trình thi công và khi hoàn thành thi công xây dựng công trình, thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu được quy định tại các Nghị định về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng và Phụ lục X Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng (theo thời điểm áp dụng của các Nghị định). Đồng thời, thông báo của cơ quan chuyên môn về xây dựng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 72 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, được sửa đổi bổ sung tại khoản 22 Điều 11 Nghị định số 148/NĐ-CP ngày 18/12/2020, và sửa đổi bổ sung tại khoản 11 Điều 1 Nghị định số 10/2023/NĐ-CP ngày 03/4/2023 của Chính phủ và Thông báo của cơ quan chuyên môn về xây dựng cho phép chủ đầu tư nghiệm thu công trình thực hiện theo quy định của Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 (có hiệu lực từ ngày 15/4/2013 đến ngày 01/7/2015) Hoặc Thông báo của cơ quan chuyên môn về xây dựng chấp thuận kết quả nghiệm thu hoàn thành công trình đưa vào sử dụng (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015 đến nay) quy định tại các Nghị định số 46/2015/NĐ-CP, số 06/2021/NĐ-CP, số 35/2023/NĐ-CP (theo thời điểm áp dụng) đối với các công trình quy định tại mục 1 nêu trên. Theo Bộ Xây dựng, đối với những công trình không thuộc đối tượng được quy định tại mục 1 nêu trên, khi thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua nhà ở, công trình xây dựng trong các dự án phát triển nhà ở thì không có các hồ sơ quy định tại mục 2 nêu trên.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "(Xây dựng) - Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình được quy định tại các Nghị định về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng và Phụ lục X Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng (theo thời điểm áp dụng của các Nghị định). Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình được quy định tại các Nghị định về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng và Phụ lục X Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ. Liên quan đến đề nghị hướng dẫn xác định thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình nhà ở riêng lẻ thuộc dự án Khu phố mới Hoa Lư - Phù Đổng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, Bộ Xây dựng đã có văn bản trả lời vấn đề này. Bộ Xây dựng cho biết, đối tượng công trình phải được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu trong quá trình thi công và khi hoàn thành thi công xây dựng công trình, thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu được quy định tại các Nghị định về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng và Phụ lục X Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng (theo thời điểm áp dụng của các Nghị định). Đồng thời, thông báo của cơ quan chuyên môn về xây dựng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 72 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, được sửa đổi bổ sung tại khoản 22 Điều 11 Nghị định số 148/NĐ-CP ngày 18/12/2020, và sửa đổi bổ sung tại khoản 11 Điều 1 Nghị định số 10/2023/NĐ-CP ngày 03/4/2023 của Chính phủ và Thông báo của cơ quan chuyên môn về xây dựng cho phép chủ đầu tư nghiệm thu công trình thực hiện theo quy định của Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 (có hiệu lực từ ngày 15/4/2013 đến ngày 01/7/2015) Hoặc Thông báo của cơ quan chuyên môn về xây dựng chấp thuận kết quả nghiệm thu hoàn thành công trình đưa vào sử dụng (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015 đến nay) quy định tại các Nghị định số 46/2015/NĐ-CP, số 06/2021/NĐ-CP, số 35/2023/NĐ-CP (theo thời điểm áp dụng) đối với các công trình quy định tại mục 1 nêu trên. Theo Bộ Xây dựng, đối với những công trình không thuộc đối tượng được quy định tại mục 1 nêu trên, khi thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua nhà ở, công trình xây dựng trong các dự án phát triển nhà ở thì không có các hồ sơ quy định tại mục 2 nêu trên." } ], "id": "708", "is_impossible": false, "question": "Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình nhà ở riêng lẻ" } ] } ], "title": "Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình nhà ở riêng lẻ" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Hiện nay, trên địa bàn phường Nhân Chính (quận Thanh Xuân, Hà Nội) xuất hiện nhiều công trình có dấu hiệu vi phạm trật tự xây dựng, xây sai so với giấy phép xây dựng được cấp. Điều đáng nói, có những vi phạm đã được các cơ quan chức năng chỉ rõ, nhưng việc xử lý dường như vẫn chậm trễ, thờ ơ khiến người dân vô cùng bức xúc. Công trình số 24 phố Ngụy Như Kon Tum có dấu hiệu vi phạm trật tự xây dựng. Vừa qua, Báo điện tử Xây dựng nhận được phản ánh của người dân sinh sống tại phường Nhân Chính (quận Thanh Xuân, Hà Nội) về việc, trên địa bàn phường đang tồn tại một số công trình có dấu hiệu xây dựng sai phép, vi phạm trật tự xây dựng, nhưng vẫn ngang nhiên thi công mà không bị cơ quan chức năng xử lý. Cụ thể, công trình số 24 Ngụy Như Kon Tum vừa mới đưa vào sử dụng với quy mô 8 tầng, 1 tum và tum thang, có dấu hiệu xây vượt tầng và phần tum được cơi nới nhằm tăng diện tích sử dụng. Bên cạnh là công trình số 26, có cùng hình dáng kiến trúc, có dấu hiệu vi phạm trật tự xây dựng tương tự như công trình số 24. Công trình số 12 ngõ 40 Ngụy Như Kom Tum, phường Nhân Chính. Công trình này có dấu hiệu xây dựng vượt chiều cao và mật độ. Tiếp đến là công trình số 12 ngõ 40 Ngụy Như Kom Tum. Công trình này có chiều cao hơn hẳn những công trình xung quanh, đây cũng là công trình được xây với mật độ xây dựng. Công trình tại số 5 ngách 90/19 Khuất Duy Tiến, phường Nhân Chính. Công trình tại số 5 ngách 90/19 Khuất Duy Tiến, phường Nhân Chính, công trình này cũng có những “dấu hiệu” xây dựng vượt chiều cao so với quy định và vượt mật độ xây dựng. Chủ đầu tư công trình số 31, ngách 72/73/92 Quan Nhân đã không tháo dỡ nhà 5 tầng cũ, mà xây dựng nâng tầng thành 06 tầng + tum thang. Tổ chức thi công công trình sai nội dung giấy phép xây dựng được cấp. Cũng theo nội dung phản ánh, tại công trình số 31, ngách 72/73/92 Quan Nhân, chủ nhà đã tự ý thực hiện việc sửa chữa, cải tạo chồng thêm tầng thành 6,5 tầng trong khi giấy phép xây dựng là xây dựng công trình mới (tức là phải phá bỏ hoàn toàn công trình cũ và xây lại từ móng) và chỉ được phép xây 5 tầng 1 tum thang. Đối với công trình này, được biết, ngày 29/12/2023 UBND quận Thanh Xuân đã có Thông báo số 465/TB-UBND về kết quả giải quyết tố cáo. Theo đó, ngày 16/11/2023, UBND quận Thanh Xuân đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 3337/QĐ-XPHC đối với ông Phạm Hồ Bắc (chủ công trình số 31, ngách 72/73/92 Quan Nhân) về hành vi vi phạm hành chính: Tổ chức thi công xây dựng công trình sai nội dung giấy phép xây dựng được cấp và yêu cầu tạm dừng thi công xây dựng công trình để chờ giấy phép xây dựng điều chỉnh. Tuy nhiên, điều đáng nói là những vi phạm tại công trình số 31, ngách 72/73/92 Quan Nhân chỉ được các cơ quan chức năng xử lý khi có đơn thư tố cáo của người dân. Bên cạnh đó, việc xử lý vi phạm chậm trễ, khiến dư luận không khỏi hoài nghi về sự “bao che” của chính quyền địa phương, để công trình vi phạm ngang nhiên tồn tại? Trước những phản ánh nêu trên, đề nghị lãnh đạo UBND quận Thanh Xuân và các cơ quan chức năng có liên quan khẩn trương vào cuộc xử lý nghiêm vi phạm trật tự xây dựng đang diễn ra tại các công trình nói trên thuộc địa bàn phường Nhân Chính, đồng thời có những hình thức kỷ luật với các tập thể, cá nhân có liên quan để xảy ra sai phạm (nếu có).", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 2440, "text": "Tổ chức thi công xây dựng công trình sai nội dung giấy phép xây dựng được cấp và yêu cầu tạm dừng thi công xây dựng công trình để chờ giấy phép xây dựng điều chỉnh. Tuy nhiên, điều đáng nói là những vi phạm tại công trình số 31, ngách 72/73/92 Quan Nhân chỉ được các cơ quan chức năng xử lý khi có đơn thư tố cáo của người dân. Bên cạnh đó, việc xử lý vi phạm chậm trễ, khiến dư luận không khỏi hoài nghi về sự “bao che” của chính quyền địa phương, để công trình vi phạm ngang nhiên tồn tại? Trước những phản ánh nêu trên, đề nghị lãnh đạo UBND quận Thanh Xuân và các cơ quan chức năng có liên quan khẩn trương vào cuộc xử lý nghiêm vi phạm trật tự xây dựng đang diễn ra tại các công trình nói trên thuộc địa bàn phường Nhân Chính, đồng thời có những hình thức kỷ luật với các tập thể, cá nhân có liên quan để xảy ra sai phạm (nếu có)." } ], "id": "709", "is_impossible": false, "question": "Thanh Xuân (Hà Nội): Cần kiểm tra loạt công trình có dấu hiệu vi phạm trật tự xây dựng tại phường Nhân Chính" } ] } ], "title": "Thanh Xuân (Hà Nội): Cần kiểm tra loạt công trình có dấu hiệu vi phạm trật tự xây dựng tại phường Nhân Chính" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng đề nghị Công ty Cổ phần Cát Cam Việt Nam liên hệ với Sở Xây dựng tỉnh An Giang để đăng ký kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu và được hướng dẫn theo quy định. Theo Bộ Xây dựng, sản phẩm, hàng hóa cát tự nhiên do Công ty nhập khẩu tại cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương tỉnh An Giang nên Sở Xây dựng tỉnh An Giang là cơ quan kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu. Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Công ty Cổ phần Cát Cam Việt Nam đề nghị hướng dẫn thông báo tiếp nhận hợp quy đối với sản phẩm cát tự nhiên. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng đã có văn bản trả lời Công ty Cổ phần Cát Cam Việt Nam. Theo Bộ Xây dựng, tại điểm a mục 3.3.1 phần 3 Thông tư số 04/2023/TT-BXD quy định về quản lý đối với hàng hóa vật liệu xây dựng nhập khẩu, người nhập khẩu phải thực hiện: “Đăng ký kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu thực hiện tại cơ quan kiểm tra tại địa phương nơi nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa”. Đồng thời, tại mục 5.2 Thông tư số 04/2023/TT-BXD quy định về trách nhiệm của cơ quan kiểm tra tại địa phương đối với hàng hóa vật liệu xây dựng nhập khẩu bao gồm: “Tiếp nhận hồ sơ công bố hợp quy của tổ chức, cá nhân đối với sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng sản xuất; Tiếp nhận, xử lý hồ sơ đăng ký kiểm tra Nhà nước đối với hàng hóa nhập khẩu và Quản lý, kiểm tra các hoạt động chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy đối với sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng trên địa bàn. Phối hợp với các cơ quan kiểm tra địa phương tại các cửa khẩu để kiểm tra việc thực hiện công tác đăng ký kiểm tra nhà nước và sự phù hợp chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu”. Theo Bộ Xây dựng, sản phẩm, hàng hóa cát tự nhiên do Công ty nhập khẩu tại cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương tỉnh An Giang, nên Sở Xây dựng tỉnh An Giang là cơ quan kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu. Do đó, Bộ Xây dựng đề nghị Công ty Cổ phần Cát Cam Việt Nam liên hệ với Sở Xây dựng tỉnh An Giang để đăng ký kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu và được hướng dẫn theo quy định.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 807, "text": "“Đăng ký kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu thực hiện tại cơ quan kiểm tra tại địa phương nơi nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa”. Đồng thời, tại mục 5.2 Thông tư số 04/2023/TT-BXD quy định về trách nhiệm của cơ quan kiểm tra tại địa phương đối với hàng hóa vật liệu xây dựng nhập khẩu bao gồm: “Tiếp nhận hồ sơ công bố hợp quy của tổ chức, cá nhân đối với sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng sản xuất; Tiếp nhận, xử lý hồ sơ đăng ký kiểm tra Nhà nước đối với hàng hóa nhập khẩu và Quản lý, kiểm tra các hoạt động chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy đối với sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng trên địa bàn. Phối hợp với các cơ quan kiểm tra địa phương tại các cửa khẩu để kiểm tra việc thực hiện công tác đăng ký kiểm tra nhà nước và sự phù hợp chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu”. Theo Bộ Xây dựng, sản phẩm, hàng hóa cát tự nhiên do Công ty nhập khẩu tại cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương tỉnh An Giang, nên Sở Xây dựng tỉnh An Giang là cơ quan kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu. Do đó, Bộ Xây dựng đề nghị Công ty Cổ phần Cát Cam Việt Nam liên hệ với Sở Xây dựng tỉnh An Giang để đăng ký kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu và được hướng dẫn theo quy định." } ], "id": "710", "is_impossible": false, "question": "Đăng ký, kiểm tra hợp quy đối với sản phẩm cát tự nhiên" } ] } ], "title": "Đăng ký, kiểm tra hợp quy đối với sản phẩm cát tự nhiên" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Khi thẩm định điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị và quy hoạch xây dựng, cơ quan thẩm định quy định lấy ý kiến của hội đồng thẩm định. Điều chỉnh quy hoạch có phải lấy ý kiến hội đồng thẩm định (Ảnh minh họa). Theo phản ánh của ông Vũ Mạnh Cường (Vĩnh Phúc), Điều 50 Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, trình tự tiến hành điều chỉnh tổng thể quy hoạch đô thị như sau: \"1. Cơ quan có trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch đô thị báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đô thị để xin chấp thuận về chủ trương điều chỉnh tổng thể quy hoạch đô thị. 2. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận về chủ trương, việc tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ và đồ án quy hoạch điều chỉnh tổng thể các quy hoạch đô thị, công bố quy hoạch đô thị đã được điều chỉnh thực hiện theo quy định tại các điều 19, 20, 21, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 33, 35, 37, 39, 41, 42, 43, 44, 48, 53 và 54 của Luật này\". Theo Điều 51 Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, được sửa đổi tại Khoản 10 Điều 29 Luật số 35/2018/QH14, trình tự tiến hành điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị quy định như sau: \"1. Cơ quan tổ chức lập quy hoạch đô thị có trách nhiệm sau đây: … b) Tổ chức xin ý kiến cộng đồng dân cư trong khu vực dự kiến điều chỉnh quy hoạch và các khu vực xung quanh chịu ảnh hưởng trực tiếp về nội dung và kế hoạch điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị theo quy định tại Mục 2 Chương II của Luật này. 2. Cơ quan quản lý quy hoạch đô thị có thẩm quyền quy định tại Điều 41 của Luật này thẩm định về các căn cứ, điều kiện và nội dung điều chỉnh cục bộ quy hoạch. 3. Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đô thị xem xét, quyết định việc điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị trên cơ sở ý kiến của cơ quan thẩm định quy hoạch đô thị. Quyết định điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị phải có các nội dung điều chỉnh và bản vẽ kèm theo. 4. Cơ quan tổ chức lập quy hoạch đô thị có trách nhiệm cập nhật và thể hiện trong hồ sơ quy hoạch những nội dung điều chỉnh. Nội dung điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị phải được công bố công khai theo quy định tại Điều 53 của Luật này\". Như vậy, trình tự tiến hành điều chỉnh tổng thể quy hoạch đô thị quy định phải lấy ý kiến của hội đồng thẩm định; trình tự điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị thì không yêu cầu phải lấy ý kiến hội đồng thẩm định. Ông Cường hỏi, vậy quy trình thẩm định điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị theo Luật Quy hoạch đô thị và quy trình thẩm định điều chỉnh cục bộ quy hoạch xây dựng theo Luật Xây dựng có phải lấy ý kiến của hội đồng thẩm định hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Căn cứ các quy định của Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, Luật Xây dựng năm 2014 và Luật số 35/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch; khi thẩm định điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị và quy hoạch xây dựng, cơ quan thẩm định quy định lấy ý kiến của hội đồng thẩm định.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 376, "text": "\"1. Cơ quan có trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch đô thị báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đô thị để xin chấp thuận về chủ trương điều chỉnh tổng thể quy hoạch đô thị. 2. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận về chủ trương, việc tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ và đồ án quy hoạch điều chỉnh tổng thể các quy hoạch đô thị, công bố quy hoạch đô thị đã được điều chỉnh thực hiện theo quy định tại các điều 19, 20, 21, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 33, 35, 37, 39, 41, 42, 43, 44, 48, 53 và 54 của Luật này\". Theo Điều 51 Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, được sửa đổi tại Khoản 10 Điều 29 Luật số 35/2018/QH14, trình tự tiến hành điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị quy định như sau: \"1. Cơ quan tổ chức lập quy hoạch đô thị có trách nhiệm sau đây: … b) Tổ chức xin ý kiến cộng đồng dân cư trong khu vực dự kiến điều chỉnh quy hoạch và các khu vực xung quanh chịu ảnh hưởng trực tiếp về nội dung và kế hoạch điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị theo quy định tại Mục 2 Chương II của Luật này. 2. Cơ quan quản lý quy hoạch đô thị có thẩm quyền quy định tại Điều 41 của Luật này thẩm định về các căn cứ, điều kiện và nội dung điều chỉnh cục bộ quy hoạch. 3. Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đô thị xem xét, quyết định việc điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị trên cơ sở ý kiến của cơ quan thẩm định quy hoạch đô thị. Quyết định điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị phải có các nội dung điều chỉnh và bản vẽ kèm theo. 4. Cơ quan tổ chức lập quy hoạch đô thị có trách nhiệm cập nhật và thể hiện trong hồ sơ quy hoạch những nội dung điều chỉnh. Nội dung điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị phải được công bố công khai theo quy định tại Điều 53 của Luật này\". Như vậy, trình tự tiến hành điều chỉnh tổng thể quy hoạch đô thị quy định phải lấy ý kiến của hội đồng thẩm định; trình tự điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị thì không yêu cầu phải lấy ý kiến hội đồng thẩm định. Ông Cường hỏi, vậy quy trình thẩm định điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị theo Luật Quy hoạch đô thị và quy trình thẩm định điều chỉnh cục bộ quy hoạch xây dựng theo Luật Xây dựng có phải lấy ý kiến của hội đồng thẩm định hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Căn cứ các quy định của Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, Luật Xây dựng năm 2014 và Luật số 35/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch; khi thẩm định điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị và quy hoạch xây dựng, cơ quan thẩm định quy định lấy ý kiến của hội đồng thẩm định." } ], "id": "711", "is_impossible": false, "question": "Điều chỉnh quy hoạch có phải lấy ý kiến hội đồng thẩm định?" } ] } ], "title": "Điều chỉnh quy hoạch có phải lấy ý kiến hội đồng thẩm định?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Điều 32 Luật Quảng cáo 2012 quy định quảng cáo trên phương tiện giao thông phải đáp ứng quy định về pháp luật giao thông.Bên cạnh đó, không được thể hiện sản phẩm quảng cáo ở mặt trước, mặt sau và trên nóc của phương tiện giao thông. Sản phẩm quảng cáo không được vượt quá 50% diện tích mỗi mặt được phép quảng cáo của phương tiện giao thông.Cùng đó, theo quy định thì một số sản phẩm không được quảng cảo gồm hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh theo quy định pháp luật; thuốc lá; rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên; sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi; sản phẩm dinh dưỡng bổ sung dùng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi; bình bú và vú ngậm nhân tạo.Như vậy, rượu hoặc bia có độ cồn từ 15 độ trở lên không được phép quảng cáo trên ô tô. Nếu cố tình thực hiện là vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt.Nghị định 117 quy định phạt tiền từ 20 – 30 triệu đồng đối với một trong các hành vi quảng cáo rượu có độ cồn trên 15 độ và quảng cáo bia; trên phương tiện giao thông; có thông tin, hình ảnh nhằm khuyến khích uống rượu, bia; thông tin có nội dung, hình ảnh thể hiện rượu, bia có tác dụng tạo sự trưởng thành, thành đạt, thân thiện, hấp dẫn về giới tính; hướng đến trẻ em, học sinh, sinh viên, thanh niên, phụ nữ mang thai.Mức phạt tiền từ 20 – 30 triệu đồng cũng áp dụng với hành vi quảng cáo không có cảnh báo để phòng, chống tác hại của rượu, bia theo quy định của pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Điều 32 Luật Quảng cáo 2012 quy định quảng cáo trên phương tiện giao thông phải đáp ứng quy định về pháp luật giao thông.Bên cạnh đó, không được thể hiện sản phẩm quảng cáo ở mặt trước, mặt sau và trên nóc của phương tiện giao thông. Sản phẩm quảng cáo không được vượt quá 50% diện tích mỗi mặt được phép quảng cáo của phương tiện giao thông.Cùng đó, theo quy định thì một số sản phẩm không được quảng cảo gồm hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh theo quy định pháp luật; thuốc lá; rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên; sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi; sản phẩm dinh dưỡng bổ sung dùng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi; bình bú và vú ngậm nhân tạo.Như vậy, rượu hoặc bia có độ cồn từ 15 độ trở lên không được phép quảng cáo trên ô tô. Nếu cố tình thực hiện là vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt.Nghị định 117 quy định phạt tiền từ 20 – 30 triệu đồng đối với một trong các hành vi quảng cáo rượu có độ cồn trên 15 độ và quảng cáo bia; trên phương tiện giao thông; có thông tin, hình ảnh nhằm khuyến khích uống rượu, bia; thông tin có nội dung, hình ảnh thể hiện rượu, bia có tác dụng tạo sự trưởng thành, thành đạt, thân thiện, hấp dẫn về giới tính; hướng đến trẻ em, học sinh, sinh viên, thanh niên, phụ nữ mang thai.Mức phạt tiền từ 20 – 30 triệu đồng cũng áp dụng với hành vi quảng cáo không có cảnh báo để phòng, chống tác hại của rượu, bia theo quy định của pháp luật." } ], "id": "712", "is_impossible": false, "question": "Quảng cáo rượu, bia trên xe ô tô bị xử phạt thế nào?" } ] } ], "title": "Quảng cáo rượu, bia trên xe ô tô bị xử phạt thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Chậm nộp phạt sẽ phải đóng tiền lãiBạn đọc Nguyễn Văn Tình (Ba Đình, TP Hà Nội) hỏi: Thời gian qua, khi lực lượng cảnh sát giao thông (CSGT) tăng cường xử lý vi phạm nồng độ cồn, tạm giữ rất nhiều phương tiện của người vi phạm. Sau đó, không ít trong số những người vi phạm nồng độ cồn đã bỏ xe, vì giá trị của chiếc xe không bằng mức phạt phải nộp.\"Từ thực tế trên, tôi xin hỏi việc bỏ xe khi bị CSGT tạm giữ sẽ ảnh hưởng như thế nào trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính sau này. Người vi phạm giao thông không nộp phạt, bỏ xe lại có sao không?\", bạn Tình hỏi.Theo quy định hiện hành, bỏ xe khi vi phạm nồng độ cồn vẫn không thoát trách nhiệm.Trả lời bạn đọc, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho rằng, khi bị lập biên bản tạm giữ xe do vi phạm nồng độ cồn, vì mức xử phạt cao nên có người bỏ luôn xe và không thực hiện việc nộp phạt.Theo ông Bình, đây là một hành vi sai lầm. Bởi khi người vi phạm bỏ phương tiện bị tạm giữ lại, thì việc xử phạt vẫn có hiệu lực và cá nhân, tổ chức vi phạm vẫn bị xử phạt theo quy định của pháp luật.Theo đó, khi đã hết thời hạn chấp hành quyết định xử phạt hành chính mà người có hành vi vi phạm vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình, thì cứ mỗi ngày chậm nộp tiền phạt sẽ phải nộp thêm 0,05% tính trên tổng số tiền phạt chưa nộp (theo Điều 78 Luật Xử lý vi phạm hành chính). Đồng thời, người vi phạm sẽ bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt theo Điều 86 luật này.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).\"Cụ thể, người vi phạm sẽ bị khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản. Người vi phạm còn có thể bị kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá. Cạnh đó, người vi phạm còn có thể bị thu tiền, tài sản khác do cá nhân, tổ chức khác đang giữ, trong trường hợp cố tình tẩu tán tài sản\", luật sư Bình nói.Sẽ không được đăng ký xe mớiNgoài ra, theo luật sư Bình, tại khoản 15 Điều 3 Thông tư 24/2023/TT-BCA của Bộ Công an, người vi phạm giao thông mà không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thì chưa được giải quyết đăng ký xe. Sau khi chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm, mới được đăng ký xe theo quy định.\"Thông tư 24/2023/TT-BCA có quy định chưa giải quyết đăng ký xe với các trường hợp chủ xe vi phạm giao thông mà không nộp phạt. Để được đăng ký xe theo quy định, chủ xe buộc phải nộp phạt vi phạm giao thông trước\", ông Bình cho biết.Theo ông Bình, với quy định này và hệ thống cơ sở dữ liệu đăng ký xe/xử lý vi phạm giao thông đã liên thông, sẽ hạn chế được việc người vi phạm bỏ lại phương tiện hoặc bỏ lại giấy phép lái xe để hy vọng không phải nộp phạt.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 85, "text": "Thời gian qua, khi lực lượng cảnh sát giao thông (CSGT) tăng cường xử lý vi phạm nồng độ cồn, tạm giữ rất nhiều phương tiện của người vi phạm. Sau đó, không ít trong số những người vi phạm nồng độ cồn đã bỏ xe, vì giá trị của chiếc xe không bằng mức phạt phải nộp.\"Từ thực tế trên, tôi xin hỏi việc bỏ xe khi bị CSGT tạm giữ sẽ ảnh hưởng như thế nào trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính sau này. Người vi phạm giao thông không nộp phạt, bỏ xe lại có sao không?\", bạn Tình hỏi.Theo quy định hiện hành, bỏ xe khi vi phạm nồng độ cồn vẫn không thoát trách nhiệm.Trả lời bạn đọc, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho rằng, khi bị lập biên bản tạm giữ xe do vi phạm nồng độ cồn, vì mức xử phạt cao nên có người bỏ luôn xe và không thực hiện việc nộp phạt.Theo ông Bình, đây là một hành vi sai lầm. Bởi khi người vi phạm bỏ phương tiện bị tạm giữ lại, thì việc xử phạt vẫn có hiệu lực và cá nhân, tổ chức vi phạm vẫn bị xử phạt theo quy định của pháp luật.Theo đó, khi đã hết thời hạn chấp hành quyết định xử phạt hành chính mà người có hành vi vi phạm vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình, thì cứ mỗi ngày chậm nộp tiền phạt sẽ phải nộp thêm 0,05% tính trên tổng số tiền phạt chưa nộp (theo Điều 78 Luật Xử lý vi phạm hành chính). Đồng thời, người vi phạm sẽ bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt theo Điều 86 luật này.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).\"Cụ thể, người vi phạm sẽ bị khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản. Người vi phạm còn có thể bị kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá. Cạnh đó, người vi phạm còn có thể bị thu tiền, tài sản khác do cá nhân, tổ chức khác đang giữ, trong trường hợp cố tình tẩu tán tài sản\", luật sư Bình nói.Sẽ không được đăng ký xe mớiNgoài ra, theo luật sư Bình, tại khoản 15 Điều 3 Thông tư 24/2023/TT-BCA của Bộ Công an, người vi phạm giao thông mà không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thì chưa được giải quyết đăng ký xe. Sau khi chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm, mới được đăng ký xe theo quy định.\"Thông tư 24/2023/TT-BCA có quy định chưa giải quyết đăng ký xe với các trường hợp chủ xe vi phạm giao thông mà không nộp phạt. Để được đăng ký xe theo quy định, chủ xe buộc phải nộp phạt vi phạm giao thông trước\", ông Bình cho biết.Theo ông Bình, với quy định này và hệ thống cơ sở dữ liệu đăng ký xe/xử lý vi phạm giao thông đã liên thông, sẽ hạn chế được việc người vi phạm bỏ lại phương tiện hoặc bỏ lại giấy phép lái xe để hy vọng không phải nộp phạt." } ], "id": "713", "is_impossible": false, "question": "Sai lầm khi bỏ xe bị tạm giữ để mong thoát nộp phạt vi phạm nồng độ cồn" } ] } ], "title": "Sai lầm khi bỏ xe bị tạm giữ để mong thoát nộp phạt vi phạm nồng độ cồn" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Trường hợp công trình không được kiểm tra trong quá trình thi công thì đề nghị chủ đầu tư gửi báo cáo hoàn thành thi công xây dựng đến cơ quan chuyên môn về xây dựng theo phân cấp để được thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình theo quy định. Ảnh minh họa. Ông Ngô Quan Tùng (An Giang) đề nghị cơ quan chức năng giải đáp một số nội dung liên quan đến kiểm tra công tác nghiệm thu và quy hoạch xây dựng xã, cụ thể: Thứ nhất, công trình A có nguồn vốn đầu tư công (vốn ngân sách huyện), thời gian thực hiện là năm 2021 – 2022, người quyết định đầu tư: UBND huyện, chủ đầu tư: UBND xã. Công trình khởi công xây dựng tháng 5/2021, hoàn thành tháng 7/2022, đã nghiệm thu đưa vào sử dụng. Đến nay, sau khi tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ thì công trình không có văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu của cơ quan có thẩm quyền (Phòng Kinh tế hạ tầng). Công trình đã được đưa vào sử dụng, ông Tùng hỏi, nay ông có thể nộp hồ sơ đề nghị kiểm tra công tác nghiệm thu theo quy định tại Phụ lục VI Nghị định số 06/2021/NĐ-CP tới cơ quan chuyên môn về xây dựng (Phòng Kinh tế hạ tầng) để thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình không và có bị xử lý không? Thứ hai, công trình B có nguồn vốn đầu tư công. Theo quy định tại Khoản 1, Điểm b Khoản 6 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, công trình thuộc đối tượng kiểm tra của cơ quan chuyên môn về xây dựng; phải được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu trong quá trình thi công và khi hoàn thành thi công xây dựng công trình. Tuy nhiên, do chủ đầu tư không gửi thông báo khởi công xây dựng công trình, nên cơ quan chuyên môn không thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu trong quá trình thi công xây dựng công trình và đến nay công trình đã hoàn thành. Ông Tùng hỏi, vậy chủ đầu tư có được gửi hồ sơ đề nghị cơ quan chuyên môn về xây dựng kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình hay không? Thứ ba, đồ án quy hoạch chung xây dựng xã đã được UBND cấp huyện phê duyệt nhiệm vụ, đang thực hiện đồ án quy hoạch. Tuy nhiên, thời gian thực hiện đồ án không bảo đảm, do phải điều chỉnh nhiều lần. Nay, ông Tùng muốn làm thủ tục xin gia hạn thời gian thực hiện đồ án quy hoạch chung xây dựng xã, nhưng chưa tìm thấy hướng dẫn. Ông đề nghị cơ quan chức năng hướng dẫn để làm cơ sở tiếp tục triển khai đồ án. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Căn cứ quy định tại Khoản 45 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14, Khoản 1 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng thì \"công trình xây dựng sử dụng vốn đầu tư công\" phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng) thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu trong quá trình thi công và khi hoàn thành thi công xây dựng công trình. Căn cứ quy định tại Điểm b Khoản 6 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, \"trường hợp công trình không được kiểm tra trong quá trình thi công theo quy định tại Khoản 5 Điều này thì thực hiện kiểm tra theo các nội dung quy định tại Khoản 4 Điều này\". Do đó, trường hợp công trình không được kiểm tra trong quá trình thi công thì đề nghị chủ đầu tư gửi báo cáo hoàn thành thi công xây dựng theo quy định đến cơ quan chuyên môn về xây dựng theo phân cấp để được thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình theo quy định. Việc xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng được thực hiện theo các quy định của Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/1/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng. Đối với nội dung liên quan đến \"thời gian lập đồ án quy hoạch chung xây dựng xã\" theo quy định tại Khoản 2 Điều 18 Nghị định số 44/2015/NĐ-CP ngày 6/5/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng, thì theo pháp luật về quy hoạch xây dựng hiện hành không có quy định về việc điều chỉnh thời gian lập đồ án quy hoạch chung xây dựng xã.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 448, "text": "Thứ nhất, công trình A có nguồn vốn đầu tư công (vốn ngân sách huyện), thời gian thực hiện là năm 2021 – 2022, người quyết định đầu tư: UBND huyện, chủ đầu tư: UBND xã. Công trình khởi công xây dựng tháng 5/2021, hoàn thành tháng 7/2022, đã nghiệm thu đưa vào sử dụng. Đến nay, sau khi tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ thì công trình không có văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu của cơ quan có thẩm quyền (Phòng Kinh tế hạ tầng). Công trình đã được đưa vào sử dụng, ông Tùng hỏi, nay ông có thể nộp hồ sơ đề nghị kiểm tra công tác nghiệm thu theo quy định tại Phụ lục VI Nghị định số 06/2021/NĐ-CP tới cơ quan chuyên môn về xây dựng (Phòng Kinh tế hạ tầng) để thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình không và có bị xử lý không? Thứ hai, công trình B có nguồn vốn đầu tư công. Theo quy định tại Khoản 1, Điểm b Khoản 6 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, công trình thuộc đối tượng kiểm tra của cơ quan chuyên môn về xây dựng; phải được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu trong quá trình thi công và khi hoàn thành thi công xây dựng công trình. Tuy nhiên, do chủ đầu tư không gửi thông báo khởi công xây dựng công trình, nên cơ quan chuyên môn không thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu trong quá trình thi công xây dựng công trình và đến nay công trình đã hoàn thành. Ông Tùng hỏi, vậy chủ đầu tư có được gửi hồ sơ đề nghị cơ quan chuyên môn về xây dựng kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình hay không? Thứ ba, đồ án quy hoạch chung xây dựng xã đã được UBND cấp huyện phê duyệt nhiệm vụ, đang thực hiện đồ án quy hoạch. Tuy nhiên, thời gian thực hiện đồ án không bảo đảm, do phải điều chỉnh nhiều lần. Nay, ông Tùng muốn làm thủ tục xin gia hạn thời gian thực hiện đồ án quy hoạch chung xây dựng xã, nhưng chưa tìm thấy hướng dẫn. Ông đề nghị cơ quan chức năng hướng dẫn để làm cơ sở tiếp tục triển khai đồ án. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Căn cứ quy định tại Khoản 45 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14, Khoản 1 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng thì \"công trình xây dựng sử dụng vốn đầu tư công\" phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng) thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu trong quá trình thi công và khi hoàn thành thi công xây dựng công trình. Căn cứ quy định tại Điểm b Khoản 6 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, \"trường hợp công trình không được kiểm tra trong quá trình thi công theo quy định tại Khoản 5 Điều này thì thực hiện kiểm tra theo các nội dung quy định tại Khoản 4 Điều này\". Do đó, trường hợp công trình không được kiểm tra trong quá trình thi công thì đề nghị chủ đầu tư gửi báo cáo hoàn thành thi công xây dựng theo quy định đến cơ quan chuyên môn về xây dựng theo phân cấp để được thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình theo quy định. Việc xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng được thực hiện theo các quy định của Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/1/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng. Đối với nội dung liên quan đến \"thời gian lập đồ án quy hoạch chung xây dựng xã\" theo quy định tại Khoản 2 Điều 18 Nghị định số 44/2015/NĐ-CP ngày 6/5/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng, thì theo pháp luật về quy hoạch xây dựng hiện hành không có quy định về việc điều chỉnh thời gian lập đồ án quy hoạch chung xây dựng xã." } ], "id": "714", "is_impossible": false, "question": "Không kiểm tra công trình khi thi công, kiểm tra nghiệm thu thế nào?" } ] } ], "title": "Không kiểm tra công trình khi thi công, kiểm tra nghiệm thu thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Theo Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, chủ đầu tư được quyền tự thực hiện nếu đủ điều kiện năng lực hoặc thuê tổ chức tư vấn đủ điều kiện năng lực theo quy định để thực hiện giám sát một, một số hoặc toàn bộ các nội dung quy định từ Khoản 3 đến Khoản 7 Điều 14. Khoản 16 Điều 14 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng. Ông Vũ Xuân Lượng (Nghệ An) hỏi, trường hợp chủ đầu tư thuê đơn vị tư vấn giám sát để thực hiện giám sát toàn bộ các nội dung quy định từ Khoản 3 đến Khoản 7 Điều 14 thì chủ thể xác nhận khối lượng thi công xây dựng là đơn vị tư vấn giám sát chứ không phải chủ đầu tư có đúng không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Khoản 16 Điều 14 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng thì \"Chủ đầu tư được quyền tự thực hiện nếu đủ điều kiện năng lực hoặc thuê tổ chức tư vấn đủ điều kiện năng lực theo quy định để thực hiện giám sát một, một số hoặc toàn bộ các nội dung quy định từ Khoản 3 đến Khoản 7 Điều này; có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện của nhà thầu này theo yêu cầu của hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan\". Vì vậy, trường hợp chủ đầu tư thuê đơn vị tư vấn giám sát để thực hiện giám sát toàn bộ các nội dung quy định từ Khoản 3 đến Khoản 7 Điều 14 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP này thì đơn vị tư vấn giám sát có trách nhiệm kiểm tra, xác nhận khối lượng thi công xây dựng theo quy định tại Khoản 2 Điều 17 Nghị định 06/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 773, "text": "Theo quy định tại Khoản 16 Điều 14 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng thì \"Chủ đầu tư được quyền tự thực hiện nếu đủ điều kiện năng lực hoặc thuê tổ chức tư vấn đủ điều kiện năng lực theo quy định để thực hiện giám sát một, một số hoặc toàn bộ các nội dung quy định từ Khoản 3 đến Khoản 7 Điều này; có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện của nhà thầu này theo yêu cầu của hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan\". Vì vậy, trường hợp chủ đầu tư thuê đơn vị tư vấn giám sát để thực hiện giám sát toàn bộ các nội dung quy định từ Khoản 3 đến Khoản 7 Điều 14 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP này thì đơn vị tư vấn giám sát có trách nhiệm kiểm tra, xác nhận khối lượng thi công xây dựng theo quy định tại Khoản 2 Điều 17 Nghị định 06/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng." } ], "id": "715", "is_impossible": false, "question": "Đơn vị giám sát hay chủ đầu tư xác nhận khối lượng thi công?" } ] } ], "title": "Đơn vị giám sát hay chủ đầu tư xác nhận khối lượng thi công?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Tết Giáp Thìn 2024 sắp đến, đây cũng là lúc đường phố nhộn nhịp cảnh người đi mua sắm đào cảnh, quất cảnh. Đi cùng với đó là cảnh tượng những cành đào, cây quất được người đi xe máy chở cồng kềnh ở phía sau, gây mất an toàn giao thông.Người đi xe máy chở đào quất cồng kềnh ngày Tết có thể bị xử phạt.Về thực tế này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, theo khoản 4 Điều 19 Thông tư 46/2015/TT-BGTVT quy định về giới hạn sắp xếp hàng hóa trên mô tô, xe gắn máy như sau:Xe mô tô, xe gắn máy không được xếp hàng hóa, hành lý vượt quá bề rộng giá đèo hàng theo thiết kế của nhà sản xuất về mỗi bên 0,3m, vượt quá phía sau giá đèo hàng là 0,5m.Chiều cao xếp hàng hóa tính từ mặt đường xe chạy không vượt quá 1,5m.Trong đó, giá đèo hàng theo thiết kế của nhà sản xuất trên xe mô tô, xe gắn máy được hiểu là một loại baga chở hàng, được tính từ mép hai bên hông và mép sau của baga.Như vậy, nếu xe mô tô, xe gắn máy chở hàng vượt quá quy định nêu trên thì bị coi là chở hàng cồng kềnh và sẽ bị xử phạt lỗi xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định.\"Nếu người đi xe máy chở đào, quất mà chiều cao, chiều ngang hai bên của cây đào, cây quất vượt quá quy định như trên thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật\", ông Bình nói.Cụ thể, luật sư Diệp Năng Bình cho biết, theo điểm k khoản 3 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP thì người điều khiển xe máy sẽ bị phạt từ 400-600 nghìn đồng nếu chở đào, quất cồng kềnh đi trên đường.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).Ngoài ra, khi thực hiện hành kể trên mà gây tai nạn giao thông, người điều khiển xe máy sẽ vừa bị phạt tiền, vừa bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 2-4 tháng (theo điểm c khoản 10 Điều 6 Nghị định xử phạt vi phạm giao thông). \"Dịp cận Tết, đường sá đông đúc, những chiếc xe chở đào quất cồng kềnh sẽ gây hạn chế tầm nhìn, nguy cơ tai nạn giao thông là rất cao. Vì vậy, với cây quất, cành đào cồng kềnh, nên thuê xe tải chở đúng quy định; tránh dùng xe máy chở cồng kềnh gây nguy hiểm và bị phạt\", ông Bình khuyến cáo.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 530, "text": "Xe mô tô, xe gắn máy không được xếp hàng hóa, hành lý vượt quá bề rộng giá đèo hàng theo thiết kế của nhà sản xuất về mỗi bên 0,3m, vượt quá phía sau giá đèo hàng là 0,5m.Chiều cao xếp hàng hóa tính từ mặt đường xe chạy không vượt quá 1,5m.Trong đó, giá đèo hàng theo thiết kế của nhà sản xuất trên xe mô tô, xe gắn máy được hiểu là một loại baga chở hàng, được tính từ mép hai bên hông và mép sau của baga.Như vậy, nếu xe mô tô, xe gắn máy chở hàng vượt quá quy định nêu trên thì bị coi là chở hàng cồng kềnh và sẽ bị xử phạt lỗi xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định.\"Nếu người đi xe máy chở đào, quất mà chiều cao, chiều ngang hai bên của cây đào, cây quất vượt quá quy định như trên thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật\", ông Bình nói.Cụ thể, luật sư Diệp Năng Bình cho biết, theo điểm k khoản 3 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP thì người điều khiển xe máy sẽ bị phạt từ 400-600 nghìn đồng nếu chở đào, quất cồng kềnh đi trên đường.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).Ngoài ra, khi thực hiện hành kể trên mà gây tai nạn giao thông, người điều khiển xe máy sẽ vừa bị phạt tiền, vừa bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 2-4 tháng (theo điểm c khoản 10 Điều 6 Nghị định xử phạt vi phạm giao thông). \"Dịp cận Tết, đường sá đông đúc, những chiếc xe chở đào quất cồng kềnh sẽ gây hạn chế tầm nhìn, nguy cơ tai nạn giao thông là rất cao. Vì vậy, với cây quất, cành đào cồng kềnh, nên thuê xe tải chở đúng quy định; tránh dùng xe máy chở cồng kềnh gây nguy hiểm và bị phạt\", ông Bình khuyến cáo." } ], "id": "716", "is_impossible": false, "question": "Chở đào, quất bằng xe máy ngày cận Tết coi chừng bị phạt" } ] } ], "title": "Chở đào, quất bằng xe máy ngày cận Tết coi chừng bị phạt" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Công ty ông Nguyễn Văn Phong ký hợp đồng thi công xây dựng công trình, hình thức điều chỉnh giá theo Thông tư số 07/2016/TT-BXD. Ảnh minh họa. Trong Phụ lục Thông tư số 07/2016/TT-BXD hướng dẫn, các chỉ số giá Ln, En, Mn... là chỉ số giá hoặc giá hiện hành (tại thời điểm điều chỉnh) tương ứng với mỗi loại chi phí (vật tư, nhân công, máy) cho thời gian \"n\" được xác định trong khoảng thời gian 28 ngày trước ngày hết hạn nộp hồ sơ thanh toán theo quy định của hợp đồng. Ông Phong hỏi, nếu ngày hết hạn nộp hồ sơ thanh toán là ngày giữa tháng thì các chỉ số giá hoặc giá hiện hành được lấy của tháng trước hay của tháng đến hạn nộp hồ sơ thanh toán (ví dụ, ngày hết hạn nộp hồ sơ là 15/5 thì chỉ số giá lấy theo tháng 4 hay tháng 5)? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký kết giữa các bên, phù hợp với hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và quy định của pháp luật áp dụng cho hợp đồng đó. Đối với hợp đồng xây dựng theo đơn giá điều chỉnh, thời điểm cụ thể xác định chỉ số giá hoặc giá hiện hành để điều chỉnh giá hợp đồng do các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định tại Mục 2 Phần I Phụ lục kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 787, "text": "Việc điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký kết giữa các bên, phù hợp với hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và quy định của pháp luật áp dụng cho hợp đồng đó. Đối với hợp đồng xây dựng theo đơn giá điều chỉnh, thời điểm cụ thể xác định chỉ số giá hoặc giá hiện hành để điều chỉnh giá hợp đồng do các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định tại Mục 2 Phần I Phụ lục kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng." } ], "id": "717", "is_impossible": false, "question": "Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh, xác định chỉ số giá thế nào?" } ] } ], "title": "Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh, xác định chỉ số giá thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Các dự án thuộc phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật Xây dựng thì việc điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng thực hiện theo Điều 61 Luật Xây dựng và Khoản 18 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng. Trường hợp nào phải điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án (ảnh minh hoạ). Dự án hạ tầng kỹ thuật nhóm C, cấp II, được HĐND Thành phố phê duyệt tổng mức đầu tư 9,6 tỷ đồng. Sở Xây dựng phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật, tổng mức đầu tư là 6,41 tỷ đồng trên cơ sở ranh giới thực hiện dự án được UBND phường xác định là đất công và quản lý (dự án có xây dựng hàng rào bao quanh để chống lấn chiếm và quản lý). Tuy nhiên khi dự án triển khai thi công thì trong ranh giới thực hiện dự án phát sinh nguồn gốc đất nông nghiệp của các hộ dân được giao khoảng 300 m2 với giá trị bồi thường khoảng 500 triệu đồng. Ông Nguyễn Song Phi (Hà Nội) hỏi, như vậy có phải điều chỉnh chủ trương đầu tư từ HĐND Thành phố không? Hay chỉ điều chỉnh báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Các dự án thuộc phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật Xây dựng thì việc điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng thực hiện theo Điều 61 Luật Xây dựng và Khoản 18 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng. Việc quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn đầu tư công thực hiện theo pháp luật của Luật Đầu tư công và các quy định pháp luật có liên quan. Hiện nay, việc điều chỉnh chủ trương đầu tư thực hiện theo Điều 34, việc điều chỉnh chương trình, dự án thực hiện theo Điều 43 Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14. Trường hợp điều chỉnh dự án làm tăng tổng mức đầu tư thì phải thực hiện việc điều chỉnh chủ trương đầu tư theo Khoản 5 Điều 43 Luật Đầu tư công. Trường hợp ông Nguyễn Song Phi vẫn còn vướng mắc về điều chỉnh chủ trương đầu tư, đề nghị ông gửi đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư để hướng dẫn theo thẩm quyền.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1063, "text": "Các dự án thuộc phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật Xây dựng thì việc điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng thực hiện theo Điều 61 Luật Xây dựng và Khoản 18 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng. Việc quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn đầu tư công thực hiện theo pháp luật của Luật Đầu tư công và các quy định pháp luật có liên quan. Hiện nay, việc điều chỉnh chủ trương đầu tư thực hiện theo Điều 34, việc điều chỉnh chương trình, dự án thực hiện theo Điều 43 Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14. Trường hợp điều chỉnh dự án làm tăng tổng mức đầu tư thì phải thực hiện việc điều chỉnh chủ trương đầu tư theo Khoản 5 Điều 43 Luật Đầu tư công. Trường hợp ông Nguyễn Song Phi vẫn còn vướng mắc về điều chỉnh chủ trương đầu tư, đề nghị ông gửi đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư để hướng dẫn theo thẩm quyền." } ], "id": "718", "is_impossible": false, "question": "Trường hợp nào phải điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án?" } ] } ], "title": "Trường hợp nào phải điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Không thể học lại, thi lại khi bị tạm giữ GPLXGửi câu hỏi đến Báo Giao thông, bạn Đồng Anh Tú (quận Thanh Xuân, TP Hà Nội) cho biết, thời gian qua, lực lượng chức năng siết chặt kiểm tra nồng độ cồn, không ít tài xế đã bị lập biên bản, xử phạt tiền và tước giấy phép lái xe (GPLX) có thời hạn nhiều tháng (cao nhất có thể đến 24 tháng).\"Bị cảnh sát giao thông (CSGT) tạm giữ GPLX, thì có thể bỏ bằng lái đó và thi lại để lấy GPLX mới không?\", bạn Tú hỏi.Bị CSGT tước GPLX vì vi phạm giao thông thì tài xế không thể bỏ bằng lái đó để thi lại lấy bằng khác.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, tước GPLX là tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn. Đây là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động tham gia giao thông.Khoản 1, Điều 25, Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định, trong thời gian bị tước quyền sử dụng GPLX, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, cụ thể là lái xe.Luật sư Diệp Năng Bình cho biết, về nguyên tắc, nếu bị tước GPLX trong một khoảng thời gian, tức là người vi phạm không được quyền lái các loại xe tương tự trong khoảng thời gian bị tước đó. Do vậy, khi chưa hết thời hạn bị phạt thì người này cũng không được học, thi và cấp GPLX mới.Ngoài ra, theo điểm g, khoản 3, Điều 37 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, cá nhân khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được học, kiểm tra, sát hạch cấp mới, cấp lại GPLX, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ thì sẽ bị phạt từ 3-5 triệu đồng.Đồng thời, người khai báo gian dối để đăng ký thi GPLX mới còn bị tịch thu các giấy tờ, tài liệu giả mạo.\"Chính vì thế, những trường hợp bị tước GPLX thì người dân nên chấp hành nghiêm, không nên khai báo gian dối để tránh vướng vào những rắc rối về pháp lý\", ông Bình cho hay.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật.Bị tước GPLX mà vẫn lái xe: Xử phạt thế nào?Luật sư Diệp Năng Bình cho biết, nếu bị tước GPLX mà cố tình điều khiển phương tiện giao thông thì có thể bị xử phạt hành chính, thậm chí là phạt tù nếu gây tai nạn giao thông.Bởi Điều 58 Luật Giao thông đường bộ quy định, người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khỏe quy định và có GPLX phù hợp với loại xe được phép điều khiển. Việc điều khiển phương tiện khi bị tước GPLX sẽ bị xử phạt như hành vi điều khiển xe khi không có GPLX.Theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP, người điều khiển xe máy có dung tích xi lanh dưới 175cm3 mà không có GPLX phù hợp sẽ bị phạt tiền 1-2 triệu đồng. Với xe máy dung tích trên 175cm3, mức phạt là 4-5 triệu đồng.Mức phạt sẽ là 10-12 triệu đồng cho hành vi điều khiển ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô mà không có GPLX, sử dụng giấy phép không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc sử dụng GPLX bị tẩy xóa.Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 còn quy định người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả như làm chết người; làm người khác thương tật từ 61% trở lên hay gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng trở lên sẽ bị xử lý về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.Trường hợp người gây tai nạn không có GPLX theo quy định hoặc trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, khung hình phạt theo khoản 2 Điều này sẽ là phạt tù 3-10 năm.\"Như vậy, trường hợp đã bị tước GPLX mà vẫn điều khiển phương tiện gây tai nạn dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, người vi phạm có thể bị xử lý hình sự với khung hình phạt 3-10 năm tù\", luật sư Diệp Năng Bình cho hay.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1990, "text": "Xử phạt thế nào?Luật sư Diệp Năng Bình cho biết, nếu bị tước GPLX mà cố tình điều khiển phương tiện giao thông thì có thể bị xử phạt hành chính, thậm chí là phạt tù nếu gây tai nạn giao thông.Bởi Điều 58 Luật Giao thông đường bộ quy định, người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khỏe quy định và có GPLX phù hợp với loại xe được phép điều khiển. Việc điều khiển phương tiện khi bị tước GPLX sẽ bị xử phạt như hành vi điều khiển xe khi không có GPLX.Theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP, người điều khiển xe máy có dung tích xi lanh dưới 175cm3 mà không có GPLX phù hợp sẽ bị phạt tiền 1-2 triệu đồng. Với xe máy dung tích trên 175cm3, mức phạt là 4-5 triệu đồng.Mức phạt sẽ là 10-12 triệu đồng cho hành vi điều khiển ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô mà không có GPLX, sử dụng giấy phép không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc sử dụng GPLX bị tẩy xóa.Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 còn quy định người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả như làm chết người; làm người khác thương tật từ 61% trở lên hay gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng trở lên sẽ bị xử lý về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.Trường hợp người gây tai nạn không có GPLX theo quy định hoặc trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, khung hình phạt theo khoản 2 Điều này sẽ là phạt tù 3-10 năm.\"Như vậy, trường hợp đã bị tước GPLX mà vẫn điều khiển phương tiện gây tai nạn dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, người vi phạm có thể bị xử lý hình sự với khung hình phạt 3-10 năm tù\", luật sư Diệp Năng Bình cho hay." } ], "id": "719", "is_impossible": false, "question": "Bị CSGT tước giấy phép lái xe: Bỏ bằng lái, thi lại được không?" } ] } ], "title": "Bị CSGT tước giấy phép lái xe: Bỏ bằng lái, thi lại được không?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Khu cư dân tại chung cư ông Đặng Thế Minh (Hà Nội) ở có 310 căn hộ, riêng biệt từ tầng 5 đến tầng 20, đi sảnh riêng, thang máy riêng, có phí bảo trì riêng, có đơn vị vận hành riêng. Khoản 5 Điều 2 của Thông tư số 06/2019/TT-BXD quy định mỗi tòa nhà chung cư chỉ có một đơn vị quản lý vận hành để quản lý vận hành phần sở hữu chung của tòa nhà. Khu dịch vụ văn phòng tại chung cư của chủ đầu tư có sảnh riêng, thang máy riêng, đơn vị quản lý vận hành riêng thuộc chủ đầu tư, chủ đầu tư bảo trì riêng. Ban quản trị hiện tại có một đại diện chủ đầu tư làm phó ban. Mô hình quản lý chung cư không theo như Mục 3 về quản lý vận hành nhà chung cư của Thông tư số 02/2016/TT-BXD là chỉ có một đơn vị quản lý vận hành và có phí bảo trì chung của các chủ sở hữu. Ông Minh hỏi, chủ đầu tư có được tham gia hội nghị và biểu quyết bầu ban quản trị và các nội dung theo Điều 25 Thông tư số 02/2016/TT-BXD trong hội nghị nhà chung cư hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Về thành phần tham dự hội nghị nhà chung cư, tại Khoản 6 Điều 1 Thông tư số 06/2019/TT-BXD ngày 31/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư liên quan đến quản lý, sử dụng nhà chung cư quy định đối với nhà chung cư, cụm nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu thì thành phần tham dự hội nghị nhà chung cư được quy định như sau: (a) Trường hợp tổ chức hội nghị nhà chung cư lần đầu thì thành phần tham dự bao gồm đại diện chủ đầu tư, đại diện chủ sở hữu căn hộ đã nhận bàn giao, đại diện đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư (nếu có) và mời đại diện UBND cấp xã. (b) Trường hợp tổ chức hội nghị nhà chung cư bất thường và hội nghị nhà chung cư thường niên thì thành phần tham dự bao gồm đại diện chủ sở hữu căn hộ đã nhận bàn giao, đại diện chủ đầu tư (nếu chủ đầu tư còn sở hữu diện tích trong nhà chung cư), đại diện đơn vị quản lý vận hành (nếu nhà chung cư phải thuê đơn vị quản lý vận hành) và mời đại diện UBND cấp xã. Mỗi tòa nhà chung cư chỉ có một đơn vị quản lý vận hành Về đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư, tại Khoản 5 Điều 2 của Thông tư số 06/2019/TT-BXD quy định mỗi tòa nhà chung cư chỉ có một đơn vị quản lý vận hành để quản lý vận hành phần sở hữu chung của tòa nhà. Đối với cụm nhà chung cư thì có thể có một đơn vị quản lý vận hành chung hoặc có nhiều đơn vị để thực hiện quản lý vận hành riêng cho từng tòa nhà theo quyết định của hội nghị cụm nhà chung cư. Trường hợp mỗi tòa nhà trong cụm có một đơn vị quản lý vận hành riêng thì ban quản trị cụm nhà chung cư thống nhất với các đơn vị quản lý vận hành để thực hiện quản lý vận hành các công trình, hệ thống kỹ thuật dùng chung cho cụm nhà chung cư. Trường hợp nhà chung cư có mục đích sử dụng hỗn hợp mà phân chia riêng biệt được phần sở hữu chung của khu văn phòng, dịch vụ, thương mại với khu căn hộ thì tại Khoản 5 Điều 7 của Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Thông tư số 02/2016/TT-BXD ngày 15/2/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã quy định: (1) Chủ sở hữu khu căn hộ có trách nhiệm quản lý phần sở hữu chung của khu căn hộ; việc quản lý vận hành phần sở hữu chung này được thực hiện theo quy định tại Khoản 4 Điều này. (2) Đối với phần sở hữu chung của khu văn phòng, dịch vụ, thương mại thì do đơn vị quản lý vận hành quản lý, nếu nhà chung cư không phải có đơn vị quản lý vận hành thì do chủ sở hữu khu chức năng này thực hiện quản lý. (3) Đối với phần sở hữu chung của cả tòa nhà thì các chủ sở hữu nhà chung cư có trách nhiệm cùng quản lý; việc quản lý vận hành phần sở hữu chung này được thực hiện theo quy định tại Khoản 4 Điều này. Việc quản lý, sử dụng kinh phí bảo trì phần sở hữu chung Về việc quản lý, sử dụng phần kinh phí bảo trì phần sở hữu chung, tại Khoản 4 Điều 109 của Luật Nhà ở năm 2014 quy định trường hợp nhà chung cư có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh mà phân chia được riêng biệt các khu chức năng khác nhau trong cùng một tòa nhà, bao gồm khu chức năng căn hộ, khu chức năng kinh doanh, dịch vụ và mỗi khu chức năng này có phần sở hữu chung được tách biệt với phần sở hữu chung của cả toàn nhà, được quản lý, vận hành độc lập thì việc quản lý, sử dụng phần kinh phí bảo trì được thực hiện như sau: Đối với phần kinh phí để bảo trì phần sở hữu chung của cả tòa nhà và phần sở hữu chung của khu căn hộ thì được chuyển vào tài khoản do ban quản trị nhà chung cư lập để quản lý, sử dụng theo quy định tại Điều này. Đối với phần kinh phí để bảo trì phần sở hữu chung của khu kinh doanh, dịch vụ thì chủ sở hữu khu kinh doanh, dịch vụ được tự quản lý, sử dụng để bảo trì phần sở hữu chung của khu chức năng này. Do vậy, đề nghị ông đối chiếu trường hợp cụ thể của mình với các quy định nêu trên để thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị ông liên hệ với Sở Xây dựng Thành phố Hà Nội là cơ quan quản lý Nhà nước về nhà ở trên địa bàn để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 984, "text": "Về thành phần tham dự hội nghị nhà chung cư, tại Khoản 6 Điều 1 Thông tư số 06/2019/TT-BXD ngày 31/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư liên quan đến quản lý, sử dụng nhà chung cư quy định đối với nhà chung cư, cụm nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu thì thành phần tham dự hội nghị nhà chung cư được quy định như sau: (a) Trường hợp tổ chức hội nghị nhà chung cư lần đầu thì thành phần tham dự bao gồm đại diện chủ đầu tư, đại diện chủ sở hữu căn hộ đã nhận bàn giao, đại diện đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư (nếu có) và mời đại diện UBND cấp xã. (b) Trường hợp tổ chức hội nghị nhà chung cư bất thường và hội nghị nhà chung cư thường niên thì thành phần tham dự bao gồm đại diện chủ sở hữu căn hộ đã nhận bàn giao, đại diện chủ đầu tư (nếu chủ đầu tư còn sở hữu diện tích trong nhà chung cư), đại diện đơn vị quản lý vận hành (nếu nhà chung cư phải thuê đơn vị quản lý vận hành) và mời đại diện UBND cấp xã. Mỗi tòa nhà chung cư chỉ có một đơn vị quản lý vận hành Về đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư, tại Khoản 5 Điều 2 của Thông tư số 06/2019/TT-BXD quy định mỗi tòa nhà chung cư chỉ có một đơn vị quản lý vận hành để quản lý vận hành phần sở hữu chung của tòa nhà. Đối với cụm nhà chung cư thì có thể có một đơn vị quản lý vận hành chung hoặc có nhiều đơn vị để thực hiện quản lý vận hành riêng cho từng tòa nhà theo quyết định của hội nghị cụm nhà chung cư. Trường hợp mỗi tòa nhà trong cụm có một đơn vị quản lý vận hành riêng thì ban quản trị cụm nhà chung cư thống nhất với các đơn vị quản lý vận hành để thực hiện quản lý vận hành các công trình, hệ thống kỹ thuật dùng chung cho cụm nhà chung cư. Trường hợp nhà chung cư có mục đích sử dụng hỗn hợp mà phân chia riêng biệt được phần sở hữu chung của khu văn phòng, dịch vụ, thương mại với khu căn hộ thì tại Khoản 5 Điều 7 của Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Thông tư số 02/2016/TT-BXD ngày 15/2/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã quy định: (1) Chủ sở hữu khu căn hộ có trách nhiệm quản lý phần sở hữu chung của khu căn hộ; việc quản lý vận hành phần sở hữu chung này được thực hiện theo quy định tại Khoản 4 Điều này. (2) Đối với phần sở hữu chung của khu văn phòng, dịch vụ, thương mại thì do đơn vị quản lý vận hành quản lý, nếu nhà chung cư không phải có đơn vị quản lý vận hành thì do chủ sở hữu khu chức năng này thực hiện quản lý. (3) Đối với phần sở hữu chung của cả tòa nhà thì các chủ sở hữu nhà chung cư có trách nhiệm cùng quản lý; việc quản lý vận hành phần sở hữu chung này được thực hiện theo quy định tại Khoản 4 Điều này. Việc quản lý, sử dụng kinh phí bảo trì phần sở hữu chung Về việc quản lý, sử dụng phần kinh phí bảo trì phần sở hữu chung, tại Khoản 4 Điều 109 của Luật Nhà ở năm 2014 quy định trường hợp nhà chung cư có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh mà phân chia được riêng biệt các khu chức năng khác nhau trong cùng một tòa nhà, bao gồm khu chức năng căn hộ, khu chức năng kinh doanh, dịch vụ và mỗi khu chức năng này có phần sở hữu chung được tách biệt với phần sở hữu chung của cả toàn nhà, được quản lý, vận hành độc lập thì việc quản lý, sử dụng phần kinh phí bảo trì được thực hiện như sau: Đối với phần kinh phí để bảo trì phần sở hữu chung của cả tòa nhà và phần sở hữu chung của khu căn hộ thì được chuyển vào tài khoản do ban quản trị nhà chung cư lập để quản lý, sử dụng theo quy định tại Điều này. Đối với phần kinh phí để bảo trì phần sở hữu chung của khu kinh doanh, dịch vụ thì chủ sở hữu khu kinh doanh, dịch vụ được tự quản lý, sử dụng để bảo trì phần sở hữu chung của khu chức năng này. Do vậy, đề nghị ông đối chiếu trường hợp cụ thể của mình với các quy định nêu trên để thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị ông liên hệ với Sở Xây dựng Thành phố Hà Nội là cơ quan quản lý Nhà nước về nhà ở trên địa bàn để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền." } ], "id": "720", "is_impossible": false, "question": "Chủ đầu tư có được biểu quyết tại hội nghị nhà chung cư?" } ] } ], "title": "Chủ đầu tư có được biểu quyết tại hội nghị nhà chung cư?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông Nguyễn Công Tạng (Bình Định) đang thực hiện một dự án đầu tư công sử dụng vốn ngân sách Trung ương và ngân sách tỉnh. Dự án được HĐND tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư và UBND tỉnh phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi vào tháng 10/2015 với tổng mức đầu tư là 300 tỷ đồng; trong đó chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng là 25 tỷ đồng. Ảnh minh họa (nguồn: TL). Dự án được phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công – dự toán xây dựng và khởi công vào tháng 9/2017, tuy nhiên đến tháng 12/2023 mới thực hiện xong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng. Theo các quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do UBND cấp huyện phê duyệt từ năm 2018 đến nay thì tổng chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng đến nay là 28 tỷ đồng, tăng 3 tỷ đồng so với chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng được duyệt trong tổng mức đầu tư nhưng không vượt tổng mức đầu tư đã đuyệt. Phần tăng thêm được lấy từ chi phí dự phòng của dự án. Khi làm thủ tục thanh toán với Kho bạc Nhà nước thì đơn vị không đồng ý thanh toán với lý do chi phí đền bù đã vượt so với chi phí đền bù được duyệt trong tổng mức đầu tư và đề nghị phải điều chỉnh tổng mức đầu tư, tăng chi phí đền bù lên theo để có cơ sở thanh toán theo đúng quy định. Hiện nay, Nghị định số 10/2021/NĐ-CP không quy định về điều chỉnh cơ cấu các khoản mục chi phí trong tổng mức đầu tư. Ông Tạng hỏi, vậy khi làm thủ tục thanh toán đối với các hạng mục chi phí có giá trị tăng hơn so với giá trị được duyệt trong tổng mức đầu tư (cụ thể ở đây là chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng) thì có cần phải phê duyệt điều chỉnh lại tổng mức đầu tư theo yêu cầu của Kho bạc hay không? Đối với dự án này thì nội dung thẩm định, thẩm quyền thẩm định, phê duyệt chi phí đầu tư xây dựng áp dụng theo quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều 44 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng hay áp dụng theo quy định của Nghị định số 32/2015/NĐ-CP tại thời điểm phê duyệt dự án? Trong trường hợp cụ thể, bắt buộc phải phê duyệt điều chỉnh tổng mức đầu tư, cập nhập lại chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng (có thể tăng hoặc giảm nhưng không vượt tổng mức đầu tư đã được phê duyệt) thì thẩm quyền thẩm định và phê duyệt là của chủ đầu tư hay người quyết định đầu tư? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc áp dụng pháp luật tương ứng thời điểm thực hiện dự án đầu tư và quy định chuyển tiếp. Các trường hợp điều chỉnh tổng mức đầu tư xây dựng được quy định tại Khoản 5 Điều 134 Luật Xây dựng và Điểm đ Khoản 18 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng. Trường hợp dự án thực hiện theo quy định của Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì điều chỉnh tổng mức đầu tư thực hiện theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 32/2015/NĐ-CP. Trường hợp dự án thực hiện theo quy định của Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì điều chỉnh tổng mức đầu tư thực hiện theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 369, "text": "TL). Dự án được phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công – dự toán xây dựng và khởi công vào tháng 9/2017, tuy nhiên đến tháng 12/2023 mới thực hiện xong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng. Theo các quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do UBND cấp huyện phê duyệt từ năm 2018 đến nay thì tổng chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng đến nay là 28 tỷ đồng, tăng 3 tỷ đồng so với chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng được duyệt trong tổng mức đầu tư nhưng không vượt tổng mức đầu tư đã đuyệt. Phần tăng thêm được lấy từ chi phí dự phòng của dự án. Khi làm thủ tục thanh toán với Kho bạc Nhà nước thì đơn vị không đồng ý thanh toán với lý do chi phí đền bù đã vượt so với chi phí đền bù được duyệt trong tổng mức đầu tư và đề nghị phải điều chỉnh tổng mức đầu tư, tăng chi phí đền bù lên theo để có cơ sở thanh toán theo đúng quy định. Hiện nay, Nghị định số 10/2021/NĐ-CP không quy định về điều chỉnh cơ cấu các khoản mục chi phí trong tổng mức đầu tư. Ông Tạng hỏi, vậy khi làm thủ tục thanh toán đối với các hạng mục chi phí có giá trị tăng hơn so với giá trị được duyệt trong tổng mức đầu tư (cụ thể ở đây là chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng) thì có cần phải phê duyệt điều chỉnh lại tổng mức đầu tư theo yêu cầu của Kho bạc hay không? Đối với dự án này thì nội dung thẩm định, thẩm quyền thẩm định, phê duyệt chi phí đầu tư xây dựng áp dụng theo quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều 44 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng hay áp dụng theo quy định của Nghị định số 32/2015/NĐ-CP tại thời điểm phê duyệt dự án? Trong trường hợp cụ thể, bắt buộc phải phê duyệt điều chỉnh tổng mức đầu tư, cập nhập lại chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng (có thể tăng hoặc giảm nhưng không vượt tổng mức đầu tư đã được phê duyệt) thì thẩm quyền thẩm định và phê duyệt là của chủ đầu tư hay người quyết định đầu tư? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc áp dụng pháp luật tương ứng thời điểm thực hiện dự án đầu tư và quy định chuyển tiếp. Các trường hợp điều chỉnh tổng mức đầu tư xây dựng được quy định tại Khoản 5 Điều 134 Luật Xây dựng và Điểm đ Khoản 18 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng. Trường hợp dự án thực hiện theo quy định của Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì điều chỉnh tổng mức đầu tư thực hiện theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 32/2015/NĐ-CP. Trường hợp dự án thực hiện theo quy định của Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì điều chỉnh tổng mức đầu tư thực hiện theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP." } ], "id": "721", "is_impossible": false, "question": "Chi phí đền bù tăng có phải điều chỉnh tổng mức đầu tư?" } ] } ], "title": "Chi phí đền bù tăng có phải điều chỉnh tổng mức đầu tư?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Thời gian tới, Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục phối hợp với Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Chính sách xã hội trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chính sách hỗ trợ tín dụng cho các đối tượng chính sách xã hội, phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ. Sẽ tiếp tục có chính sách tín dụng hỗ trợ nhà ở. Cử tri tỉnh Vĩnh Long kiến nghị cần có chính sách hỗ trợ giảm lãi suất cho vay từ 4,8%/năm xuống 4%/năm đối với đối tượng người có công với cách mạng, thương bệnh binh được vay vốn ưu đãi về nhà ở. Bộ Xây dựng trả lời cử tri tỉnh Vĩnh Long như sau: Ngày 10/5/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 486/QĐ-TTg về mức lãi suất cho vay ưu đãi tại Ngân hàng Chính sách xã hội áp dụng đối với các khoản vay có dư nợ để mua, thuê mua nhà ở xã hội, xây dựng mới hoặc cải tạo sửa chữa nhà để ở. Theo đó, mức lãi suất cho vay ưu đãi tại Ngân hàng Chính sách xã hội áp dụng đối với các khoản vay có dư nợ để mua, thuê mua nhà ở xã hội, xây dựng mới hoặc cải tạo sửa chữa nhà để ở theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội, Khoản 10 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP là 4,8%/năm. Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/1/2022 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, theo báo cáo của Ngân hàng Chính sách xã hội, đối với việc cho vay khách hàng cá nhân, hộ gia đình để mua, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở theo chính sách về nhà ở xã hội theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ; Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ và các văn bản có liên quan (tổng nguồn vốn cho vay tối đa là 15.000 tỷ đồng) thì đến hết tháng 12/2023, dư nợ Ngân hàng Chính sách xã hội đạt 9.800 tỷ đồng với 25.581 khách hàng thuộc đối tượng được vay. Bên cạnh đó, ngày 27/11/2023, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua dự án Luật Nhà ở (sửa đổi), có hiệu lực từ ngày 1/1/2025. Theo đó: Tại Khoản 1 Điều 76 có quy định đối tượng là người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ thuộc trường hợp được hỗ trợ cải thiện nhà ở theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội. Tại Khoản 5 Điều 77 có quy định thực hiện hỗ trợ cho vay vốn ưu đãi của Nhà nước thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội, tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định để đối tượng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 76 mua, thuê mua nhà ở xã hội hoặc tự xây dựng hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở và giao Chính phủ quy định chi tiết. Cho vay ưu đãi lãi suất thấp, thời hạn dài Tại Khoản 1 Điều 117 Luật Nhà ở sửa đổi năm 2023 có quy định: \"Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay vốn ưu đãi với lãi suất thấp và thời hạn cho vay dài hạn thông qua việc cấp vốn từ ngân sách cho Ngân hàng Chính sách xã hội để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình đầu tư công về nhà ở và xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong từng thời kỳ\". Trong thời gian tới, Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục phối hợp với Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Chính sách xã hội trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chính sách hỗ trợ tín dụng cho các đối tượng chính sách xã hội (trong đó có các đối tượng là người có công với cách mạng để mua, thuê mua, tự xây dựng nhà ở của mình), phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 575, "text": "Ngày 10/5/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 486/QĐ-TTg về mức lãi suất cho vay ưu đãi tại Ngân hàng Chính sách xã hội áp dụng đối với các khoản vay có dư nợ để mua, thuê mua nhà ở xã hội, xây dựng mới hoặc cải tạo sửa chữa nhà để ở. Theo đó, mức lãi suất cho vay ưu đãi tại Ngân hàng Chính sách xã hội áp dụng đối với các khoản vay có dư nợ để mua, thuê mua nhà ở xã hội, xây dựng mới hoặc cải tạo sửa chữa nhà để ở theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội, Khoản 10 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP là 4,8%/năm. Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/1/2022 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, theo báo cáo của Ngân hàng Chính sách xã hội, đối với việc cho vay khách hàng cá nhân, hộ gia đình để mua, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở theo chính sách về nhà ở xã hội theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ; Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ và các văn bản có liên quan (tổng nguồn vốn cho vay tối đa là 15.000 tỷ đồng) thì đến hết tháng 12/2023, dư nợ Ngân hàng Chính sách xã hội đạt 9.800 tỷ đồng với 25.581 khách hàng thuộc đối tượng được vay. Bên cạnh đó, ngày 27/11/2023, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua dự án Luật Nhà ở (sửa đổi), có hiệu lực từ ngày 1/1/2025. Theo đó: Tại Khoản 1 Điều 76 có quy định đối tượng là người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ thuộc trường hợp được hỗ trợ cải thiện nhà ở theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội. Tại Khoản 5 Điều 77 có quy định thực hiện hỗ trợ cho vay vốn ưu đãi của Nhà nước thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội, tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định để đối tượng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 76 mua, thuê mua nhà ở xã hội hoặc tự xây dựng hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở và giao Chính phủ quy định chi tiết. Cho vay ưu đãi lãi suất thấp, thời hạn dài Tại Khoản 1 Điều 117 Luật Nhà ở sửa đổi năm 2023 có quy định: \"Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay vốn ưu đãi với lãi suất thấp và thời hạn cho vay dài hạn thông qua việc cấp vốn từ ngân sách cho Ngân hàng Chính sách xã hội để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình đầu tư công về nhà ở và xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong từng thời kỳ\". Trong thời gian tới, Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục phối hợp với Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Chính sách xã hội trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chính sách hỗ trợ tín dụng cho các đối tượng chính sách xã hội (trong đó có các đối tượng là người có công với cách mạng để mua, thuê mua, tự xây dựng nhà ở của mình), phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ." } ], "id": "722", "is_impossible": false, "question": "Sẽ tiếp tục có chính sách tín dụng hỗ trợ nhà ở" } ] } ], "title": "Sẽ tiếp tục có chính sách tín dụng hỗ trợ nhà ở" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (PA05) Công an TP Hà Nội và Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội đang vào cuộc xác minh thông tin về việc một TikToker đến ăn quán phở ở quận Hoàn Kiếm nhưng bị đuổi vì đi xe lăn.Sự việc bắt đầu lan truyền trên không gian mạng khi TikToker V.M.L đăng tải trên trang cá nhân nội dung thể hiện khi anh cùng bạn đến một quán phở trên phố Nam Ngư, do phải ngồi xe lăn nên anh này bị nhân viên từ chối hỗ trợ đưa xe lăn lên bậc tam cấp.Chuyển qua quán phở thứ hai, anh V.M.L bảo đây là quán quen, nhưng khi anh ngồi hơi lấn vào chỗ của bà chủ quán, đã bị bà này mắng nhân viên: \"Ai nhận cái ngữ này vào đây ăn?\".Sau khi làm rõ vụ việc, cơ quan chức năng sẽ có biện pháp xử lý hành vi vi phạm.Xem câu chuyện của V.M.L, nhiều người tỏ ra bức xúc trước thông tin quán phở phân biệt đối xử với người khuyết tật. Tuy nhiên, một số tài khoản cũng hoài nghi về tính xác thực của nội dung mà chủ bài viết phản ánh.Ngay sau khi câu chuyện lan truyền, quán phở gà được cho là nơi xảy ra tình huống gây nhiều tranh luận đã trích xuất camera.Theo hình ảnh từ video này, khi anh V.M.L và bạn vào quán rồi ngồi phía sau bà chủ cơ sở, nhân viên đã chuyển bớt đồ đạc, vật dụng cạnh anh L sang nơi khác. Sau đó, L ngồi ngay phía sau bà chủ và dùng đồ ăn.Khi hai thực khách kết thúc bữa ăn, nhân viên của quán phở đã hỗ trợ đẩy xe lăn ra bên ngoài.Chia sẻ về vụ việc này, tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường, Đoàn Luật sư TP Hà Nội cho biết, cơ quan chức năng vào cuộc xác minh làm rõ thông tin là cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho các bên liên quan, bảo vệ môi trường kinh doanh và uy tín của cơ sở kinh doanh cũng như quyền lợi của người khuyết tật theo quy định pháp luật.Trường hợp xác minh cho thấy, nếu có hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị với người khuyết tật, người phân biệt đối xử, thì người vi phạm sẽ bị xử phạt từ 3-5 triệu đồng. Trường hợp xác minh thấy Tik Toker thông tin không đúng sự thật, người này sẽ bị phạt từ 5-10 triệu đồng vì hành vi đưa thông tin sai sự thật. Nếu tổ chức đưa thông tin sai sự thật thì sẽ bị phạt mức 10-20 triệu đồng.\"Một số trường hợp vu khống, bịa đặt gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến uy tín của cá nhân thì người thực hiện hành vi vu khống còn có thể bị xử lý hình sự\", luật sư Cường cho biết thêm.Clip trích xuất từ camera tại quán phở cho thấy, Tiktoker V.M.L vui vẻ và ăn uống bình thường.Theo luật sư Cường, chủ quán phở đã lên tiếng trích xuất camera cho thấy người khuyết tật vẫn được phục vụ đầy đủ và hoàn toàn không có việc kỳ thị, phân biệt đối xử khiến dư luận lại càng quan tâm mong muốn cơ quan chức năng vào cuộc để sớm làm sáng tỏ thông tin trên mạng xã hội về sự việc này...Những thông tin trên cũng đã ảnh hưởng phần nào đến uy tín và hoạt động kinh doanh của quán phở và một số cơ sở kinh doanh ở Hà Nội, ảnh hưởng đến môi trường du lịch và văn hóa ứng xử trong cộng đồng.Do đó, nếu thông tin này không sớm được làm sáng tỏ có thể ảnh hưởng đến nhận thức văn hóa của nhiều người, có tác động tiêu cực đến đạo đức xã hội. Việc cơ quan chức năng vào cuộc xác minh làm rõ thông tin từ phía các bên liên quan để xem xét trách nhiệm pháp lý là cần thiết.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 647, "text": "\"Ai nhận cái ngữ này vào đây ăn?\".Sau khi làm rõ vụ việc, cơ quan chức năng sẽ có biện pháp xử lý hành vi vi phạm.Xem câu chuyện của V.M.L, nhiều người tỏ ra bức xúc trước thông tin quán phở phân biệt đối xử với người khuyết tật. Tuy nhiên, một số tài khoản cũng hoài nghi về tính xác thực của nội dung mà chủ bài viết phản ánh.Ngay sau khi câu chuyện lan truyền, quán phở gà được cho là nơi xảy ra tình huống gây nhiều tranh luận đã trích xuất camera.Theo hình ảnh từ video này, khi anh V.M.L và bạn vào quán rồi ngồi phía sau bà chủ cơ sở, nhân viên đã chuyển bớt đồ đạc, vật dụng cạnh anh L sang nơi khác. Sau đó, L ngồi ngay phía sau bà chủ và dùng đồ ăn.Khi hai thực khách kết thúc bữa ăn, nhân viên của quán phở đã hỗ trợ đẩy xe lăn ra bên ngoài.Chia sẻ về vụ việc này, tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường, Đoàn Luật sư TP Hà Nội cho biết, cơ quan chức năng vào cuộc xác minh làm rõ thông tin là cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho các bên liên quan, bảo vệ môi trường kinh doanh và uy tín của cơ sở kinh doanh cũng như quyền lợi của người khuyết tật theo quy định pháp luật.Trường hợp xác minh cho thấy, nếu có hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị với người khuyết tật, người phân biệt đối xử, thì người vi phạm sẽ bị xử phạt từ 3-5 triệu đồng. Trường hợp xác minh thấy Tik Toker thông tin không đúng sự thật, người này sẽ bị phạt từ 5-10 triệu đồng vì hành vi đưa thông tin sai sự thật. Nếu tổ chức đưa thông tin sai sự thật thì sẽ bị phạt mức 10-20 triệu đồng.\"Một số trường hợp vu khống, bịa đặt gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến uy tín của cá nhân thì người thực hiện hành vi vu khống còn có thể bị xử lý hình sự\", luật sư Cường cho biết thêm.Clip trích xuất từ camera tại quán phở cho thấy, Tiktoker V.M.L vui vẻ và ăn uống bình thường.Theo luật sư Cường, chủ quán phở đã lên tiếng trích xuất camera cho thấy người khuyết tật vẫn được phục vụ đầy đủ và hoàn toàn không có việc kỳ thị, phân biệt đối xử khiến dư luận lại càng quan tâm mong muốn cơ quan chức năng vào cuộc để sớm làm sáng tỏ thông tin trên mạng xã hội về sự việc này...Những thông tin trên cũng đã ảnh hưởng phần nào đến uy tín và hoạt động kinh doanh của quán phở và một số cơ sở kinh doanh ở Hà Nội, ảnh hưởng đến môi trường du lịch và văn hóa ứng xử trong cộng đồng.Do đó, nếu thông tin này không sớm được làm sáng tỏ có thể ảnh hưởng đến nhận thức văn hóa của nhiều người, có tác động tiêu cực đến đạo đức xã hội. Việc cơ quan chức năng vào cuộc xác minh làm rõ thông tin từ phía các bên liên quan để xem xét trách nhiệm pháp lý là cần thiết." } ], "id": "723", "is_impossible": false, "question": "Tình huống pháp lý vụ TikToker tố bị quán phở đuổi vì ngồi xe lăn" } ] } ], "title": "Tình huống pháp lý vụ TikToker tố bị quán phở đuổi vì ngồi xe lăn" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Các trang thiết bị, máy móc phục công tác thí nghiệm chuyên ngành xây dựng được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm như với phương tiện đo nhóm 1 tại các tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm đáp ứng yêu cầu quy định tại Khoản 1 Điều 25 Chương III Luật Đo lường. Điều kiện hoạt động dịch vụ thí nghiệm chuyên ngành xây dựng. Tháng 9/2023, công ty ông Nông Giang Thuyền (Cao Bằng) có nộp đơn cho Sở Xây dựng xin cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động phòng thí nghiệm theo Nghị định số 35/2023/NĐ-CP. Tháng 11/2023, Sở Xây dựng có công văn thông báo kết quả đánh giá hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng cho công ty ông Thuyền đạt 11/111 chỉ tiêu thí nghiệm đăng ký. Lý do các chỉ tiêu không đạt chủ yếu là thiếu chứng chỉ kiểm định đối với các phương tiện đo nhóm 2 (như cân kỹ thuật, máy nén BT, máy kéo thép…) theo Thông tư số 23/2013/TT-BKHCN và Thông tư số 07/2019/TT-BKHCN. Theo Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng, nội dung đánh giá phòng thí nghiệm yêu cầu thiết bị có chứng chỉ kiểm định/hiệu chuẩn còn hiệu lực các thiết bị thí nghiệm và đo lường theo quy định (công ty ông Thuyền có hiệu chuẩn các thiết bị theo yêu cầu). Các cán bộ đánh giá của Sở Xây dựng cho rằng các thiết bị phải được kiểm định (không phải là hiệu chuẩn) mới được cấp giấy chứng nhận cho các chỉ tiêu thí nghiệm có liên quan đến các thiết bị kiểm định. Hiện nay theo ông Thuyền được biết, các phòng thí nghiệm trên toàn quốc hoạt động trước hay sau khi Nghị định số 35/2023/NĐ-CP thì các thiết bị chỉ cần hiệu chuẩn là được cấp chứng nhận đủ điều kiện hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, và hiện nay các Sở Xây dựng đều đang cấp chứng nhận đủ điều kiện hoạt động cho các công ty có phòng phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng mà chỉ yêu cầu các thiết bị nêu trên chỉ cần có chứng nhận hiệu chuẩn. Ông Thuyền hỏi, việc Sở Xây dựng yêu cầu đơn vị phải kiểm định các máy móc thiết bị thí nghiệm chuyên ngành xây dựng (các phương tiện đo nhóm 2 theo Thông tư số 23/2013/TT-BKHCN) là đúng hay sai? Nếu việc yêu cầu các máy móc thiết bị thí nghiệm chuyên ngành xây dựng (các phương tiện đo nhóm 2 theo Thông tư số 23/2013/TT-BKHCN) phải kiểm định là sai thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo Sở Xây dựng thực hiện đúng quy định. Nếu việc yêu cầu các máy móc thiết bị thí nghiệm chuyên ngành xây dựng phải kiểm định (các phương tiện đo nhóm 2 theo Thông tư số 23/2013/TT-BKHCN) là đúng thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền yêu cầu các phòng thí nghiệm trên toàn quốc tạm dừng toàn bộ để thực hiện việc kiểm định máy móc thiết bị. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tại Khoản 1 Điều 16 \"Các loại phương tiện đo\" Chương III Luật Đo lường số 04/2011/QH13: \"Phương tiện đo được sử dụng trong nghiên cứu khoa học, điều khiển, điều chỉnh quy trình công nghệ, kiểm soát chất lượng trong sản xuất hoặc các mục đích khác không quy định tại Khoản 2 Điều này (sau đây gọi là phương tiện đo nhóm 1) được kiểm soát theo yêu cầu kỹ thuật đo lường do tổ chức, cá nhân công bố\". Tại Khoản 2 Điều 16 \"Các loại phương tiện đo\" Chương III Luật đo lường số 04/2011/QH13: \"Phương tiện đo được sử dụng để định lượng hàng hóa, dịch vụ trong mua bán, thanh toán, bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường, trong thanh tra, kiểm tra, giám định tư pháp và trong các hoạt động công vụ khác (sau đây gọi là phương tiện đo nhóm 2) thuộc Danh mục phương tiện đo nhóm 2 phải được kiểm soát theo yêu cầu kỹ thuật đo lường do cơ quan quản lý nhà nước về đo lường có thẩm quyền quy định áp dụng. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Danh mục phương tiện đo nhóm 2\". Như vậy, với các trang thiết bị, máy móc phục vụ công tác thí nghiệm chuyên ngành xây dựng tại các tổ chức hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng (trừ trường hợp khác có quy định riêng) là phương tiện đo nhóm 1 được quy định tại Khoản 1 Điều 16 Chương III Luật Đo lường số 04/2011/QH13. Tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 18 \"Yêu cầu đối với phương tiện đo nhóm 1\" Chương III Luật Đo lường số 04/2011/QH13: \"2. Phương tiện đo nhóm 1 được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân hoặc khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 3. Việc kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo nhóm 1 do tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, sử dụng phương tiện đo lựa chọn, quyết định thực hiện tại tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm đáp ứng điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 25 của Luật này\". Tại Khoản 1 Điều 25 \"Điều kiện hoạt động của tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm\" Chương III Luật Đo lường số 04/2011/QH13: \"1. Tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phải đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Có tư cách pháp nhân; b) Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đối với lĩnh vực hoạt động; c) Có đủ nhân lực đáp ứng yêu cầu đối với lĩnh vực hoạt động; d) Đáp ứng yêu cầu về tính độc lập, khách quan; đ) Thiết lập và duy trì hệ thống quản lý phù hợp với lĩnh vực hoạt động; e) Đăng ký hoạt động tại cơ quan nhà nước về đo lường có thẩm quyền\". Như vậy, với các trang thiết bị, máy móc phục công tác thí nghiệm chuyên ngành xây dựng tại các tổ chức hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng (trừ trường hợp khác có quy định riêng) được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm như với phương tiện đo nhóm 1 tại các tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm đáp ứng yêu cầu quy định tại Khoản 1 Điều 25 Chương III Luật Đo lường số 04/2011/QH13.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 2742, "text": "Tại Khoản 1 Điều 16 \"Các loại phương tiện đo\" Chương III Luật Đo lường số 04/2011/QH13: \"Phương tiện đo được sử dụng trong nghiên cứu khoa học, điều khiển, điều chỉnh quy trình công nghệ, kiểm soát chất lượng trong sản xuất hoặc các mục đích khác không quy định tại Khoản 2 Điều này (sau đây gọi là phương tiện đo nhóm 1) được kiểm soát theo yêu cầu kỹ thuật đo lường do tổ chức, cá nhân công bố\". Tại Khoản 2 Điều 16 \"Các loại phương tiện đo\" Chương III Luật đo lường số 04/2011/QH13: \"Phương tiện đo được sử dụng để định lượng hàng hóa, dịch vụ trong mua bán, thanh toán, bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường, trong thanh tra, kiểm tra, giám định tư pháp và trong các hoạt động công vụ khác (sau đây gọi là phương tiện đo nhóm 2) thuộc Danh mục phương tiện đo nhóm 2 phải được kiểm soát theo yêu cầu kỹ thuật đo lường do cơ quan quản lý nhà nước về đo lường có thẩm quyền quy định áp dụng. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Danh mục phương tiện đo nhóm 2\". Như vậy, với các trang thiết bị, máy móc phục vụ công tác thí nghiệm chuyên ngành xây dựng tại các tổ chức hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng (trừ trường hợp khác có quy định riêng) là phương tiện đo nhóm 1 được quy định tại Khoản 1 Điều 16 Chương III Luật Đo lường số 04/2011/QH13. Tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 18 \"Yêu cầu đối với phương tiện đo nhóm 1\" Chương III Luật Đo lường số 04/2011/QH13: \"2. Phương tiện đo nhóm 1 được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân hoặc khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 3. Việc kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo nhóm 1 do tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, sử dụng phương tiện đo lựa chọn, quyết định thực hiện tại tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm đáp ứng điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 25 của Luật này\". Tại Khoản 1 Điều 25 \"Điều kiện hoạt động của tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm\" Chương III Luật Đo lường số 04/2011/QH13: \"1. Tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phải đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Có tư cách pháp nhân; b) Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đối với lĩnh vực hoạt động; c) Có đủ nhân lực đáp ứng yêu cầu đối với lĩnh vực hoạt động; d) Đáp ứng yêu cầu về tính độc lập, khách quan; đ) Thiết lập và duy trì hệ thống quản lý phù hợp với lĩnh vực hoạt động; e) Đăng ký hoạt động tại cơ quan nhà nước về đo lường có thẩm quyền\". Như vậy, với các trang thiết bị, máy móc phục công tác thí nghiệm chuyên ngành xây dựng tại các tổ chức hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng (trừ trường hợp khác có quy định riêng) được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm như với phương tiện đo nhóm 1 tại các tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm đáp ứng yêu cầu quy định tại Khoản 1 Điều 25 Chương III Luật Đo lường số 04/2011/QH13." } ], "id": "724", "is_impossible": false, "question": "Điều kiện hoạt động dịch vụ thí nghiệm chuyên ngành xây dựng" } ] } ], "title": "Điều kiện hoạt động dịch vụ thí nghiệm chuyên ngành xây dựng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Gửi câu hỏi đến Báo Giao thông, bạn đọc Trần Văn Nhất (quận Tây Hồ, TP Hà Nội) cho biết: \"Vừa qua trong lúc đạp xe quanh hồ Tây, một anh trong nhóm bảo tôi uống lon bia giải khát sau đó đạp tiếp\".\"Tuy nhiên, tôi đã từ chối vì sợ bị xử phạt vi phạm nồng độ cồn, sau đó anh đấy bảo là \"xe đạp ai kiểm tra mà phạt\". Tôi xin hỏi, người đi xe đạp vi phạm nồng độ cồn thì có bị xử phạt không, và mức xử phạt đối với lỗi vi phạm này là bao nhiêu tiền?\", bạn Nhất hỏi.Đi xe đạp vi phạm nồng độ cồn có thể bị xử phạt đến 600 nghìn đồng.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sưTinh Thông Luật (Đoàn luật sư TP.HCM) cho biết, theo Nghị định 123/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 100/2019/NĐ-CP quy định người đi xe đạp, xe đạp máy, xe đạp điện cũng sẽ bị kiểm tra nồng độ cồn như các loại xe máy và ô tô.Cụ thể, tại điều 8 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định mức phạt người điều khiển xe đạp, xe đạp máy (kể cả xe đạp điện), người điều khiển xe thô sơ khác vi phạm quy tắc giao thông đường bộ như sau:Đối với người điều khiển xe đạp, xe đạp điện, xe máy điện khi vi phạm nồng độ cồn sẽ bị phạt tiền từ 400-600 nghìn đồng khi trong máu, trong hơi thở có chứa nồng độ cồn vượt quá mức 80mg/100ml máu hay vượt quá 0,4mg/lít khí thở.Người vi phạm vượt quá 50 mg đến 80 mg/100 ml máu hoặc quá 0,25 mg đến 0,4 mg/lít khí thở bị phạt 200-300 nghìn đồng.Người đi xe đạp, xe đạp điện, xe máy điện có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 mg/100 ml máu, hoặc chưa vượt quá 0,25 mg/lít khí thở bị xử phạt 80-100 nghìn đồng.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sưTinh Thông Luật.\"Trường hợp người điều khiển xe đạp cố tình không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ, hoặc có hành vi chống đối thì bị phạt tiền ở mức cao nhất là 600 nghìn đồng\", luật sư Bình nói.Đồng thời, ông Bình nhấn mạnh, hành vi chống đối nếu có đủ căn cứ thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một trong các tội như: Chống người thi hành công vụ, Gây rối trật tự công cộng.Ngoài ra, căn cứ Khoản 1 Điều 82 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, để ngăn chặn ngay vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt được phép tạm giữ xe đạp của người vi phạm nồng độ cồn tối đa đến 7 ngày trước khi ra quyết định xử phạt đối với những hành vi vi phạm.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 89, "text": "\"Vừa qua trong lúc đạp xe quanh hồ Tây, một anh trong nhóm bảo tôi uống lon bia giải khát sau đó đạp tiếp\".\"Tuy nhiên, tôi đã từ chối vì sợ bị xử phạt vi phạm nồng độ cồn, sau đó anh đấy bảo là \"xe đạp ai kiểm tra mà phạt\". Tôi xin hỏi, người đi xe đạp vi phạm nồng độ cồn thì có bị xử phạt không, và mức xử phạt đối với lỗi vi phạm này là bao nhiêu tiền?\", bạn Nhất hỏi.Đi xe đạp vi phạm nồng độ cồn có thể bị xử phạt đến 600 nghìn đồng.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sưTinh Thông Luật (Đoàn luật sư TP.HCM) cho biết, theo Nghị định 123/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 100/2019/NĐ-CP quy định người đi xe đạp, xe đạp máy, xe đạp điện cũng sẽ bị kiểm tra nồng độ cồn như các loại xe máy và ô tô.Cụ thể, tại điều 8 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định mức phạt người điều khiển xe đạp, xe đạp máy (kể cả xe đạp điện), người điều khiển xe thô sơ khác vi phạm quy tắc giao thông đường bộ như sau:Đối với người điều khiển xe đạp, xe đạp điện, xe máy điện khi vi phạm nồng độ cồn sẽ bị phạt tiền từ 400-600 nghìn đồng khi trong máu, trong hơi thở có chứa nồng độ cồn vượt quá mức 80mg/100ml máu hay vượt quá 0,4mg/lít khí thở.Người vi phạm vượt quá 50 mg đến 80 mg/100 ml máu hoặc quá 0,25 mg đến 0,4 mg/lít khí thở bị phạt 200-300 nghìn đồng.Người đi xe đạp, xe đạp điện, xe máy điện có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 mg/100 ml máu, hoặc chưa vượt quá 0,25 mg/lít khí thở bị xử phạt 80-100 nghìn đồng.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sưTinh Thông Luật.\"Trường hợp người điều khiển xe đạp cố tình không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ, hoặc có hành vi chống đối thì bị phạt tiền ở mức cao nhất là 600 nghìn đồng\", luật sư Bình nói.Đồng thời, ông Bình nhấn mạnh, hành vi chống đối nếu có đủ căn cứ thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một trong các tội như: Chống người thi hành công vụ, Gây rối trật tự công cộng.Ngoài ra, căn cứ Khoản 1 Điều 82 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, để ngăn chặn ngay vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt được phép tạm giữ xe đạp của người vi phạm nồng độ cồn tối đa đến 7 ngày trước khi ra quyết định xử phạt đối với những hành vi vi phạm." } ], "id": "725", "is_impossible": false, "question": "Đi xe đạp vi phạm nồng độ cồn có bị xử phạt không?" } ] } ], "title": "Đi xe đạp vi phạm nồng độ cồn có bị xử phạt không?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Chi phí phá dỡ các công trình xây dựng được xác định bằng cách lập dự toán xây dựng trên cơ sở khối lượng được đo bóc từ hồ sơ hiện trạng của công trình cần phá dỡ, phương án phá dỡ và đơn giá tương ứng. Xác định chi phí phá dỡ công trình thế nào (Ảnh minh họa). Điểm đ Khoản 3 Điều 42 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định về thành phần hồ sơ phương án, giải pháp phá dỡ công trình xây dựng có nội dung chính về tiến độ, kinh phí thực hiện phá dỡ. Ông Minh Trí (Thành phố Hồ Chí Minh) hỏi, đối với trường hợp đơn vị lập phương án phá dỡ không lập dự toán chi tiết phá dỡ công trình mà chỉ có giá trị tổng do đơn vị báo giá (do đơn vị lập phương án phá dỡ không thể vào nhà bị cưỡng chế để tiến hành khảo sát lấy khối lượng cụ thể) thì trường hợp này trong hồ sơ lập phương án phá dỡ công trình có bắt buộc phải có dự toán chi tiết phá dỡ công trình không? Bên cạnh đó, trường hợp này, Nhà nước sẽ tạm ứng trước chi phí phá dỡ để cưỡng chế phá dỡ công trình và người bị cưỡng chế sẽ thanh toán lại phần Nhà nước tạm ứng. Như vậy thì dự toán chi tiết phá dỡ công trình có bắt buộc phải tuân thủ theo Nghị định số 10/2021/NĐ-CP về quản lý chi phí và các định mức tại Thông tư số 12/2021/TT-BXD, đơn giá của Sở Xây dựng tại địa phương hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Nội dung câu hỏi chưa nêu rõ về nguồn vốn sử dụng để đầu tư cho dự án nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để trả lời chi tiết câu hỏi của ông. Trường hợp dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công, thì việc xác định, quản lý chi phí đầu tư xây dựng thực hiện theo quy định tại Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng và các thông tư hướng dẫn (Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng, Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ Xây dựng ban hành định mức xây dựng…). Chi phí phá dỡ các công trình xây dựng được xác định bằng cách lập dự toán xây dựng trên cơ sở khối lượng được đo bóc từ hồ sơ hiện trạng của công trình cần phá dỡ, phương án phá dỡ và đơn giá tương ứng. Lưu ý, tính toán chi phí thu hồi khi xác định dự toán gói thầu phá dỡ công trình.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1308, "text": "Nội dung câu hỏi chưa nêu rõ về nguồn vốn sử dụng để đầu tư cho dự án nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để trả lời chi tiết câu hỏi của ông. Trường hợp dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công, thì việc xác định, quản lý chi phí đầu tư xây dựng thực hiện theo quy định tại Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng và các thông tư hướng dẫn (Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng, Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ Xây dựng ban hành định mức xây dựng…). Chi phí phá dỡ các công trình xây dựng được xác định bằng cách lập dự toán xây dựng trên cơ sở khối lượng được đo bóc từ hồ sơ hiện trạng của công trình cần phá dỡ, phương án phá dỡ và đơn giá tương ứng. Lưu ý, tính toán chi phí thu hồi khi xác định dự toán gói thầu phá dỡ công trình." } ], "id": "726", "is_impossible": false, "question": "Xác định chi phí phá dỡ công trình thế nào?" } ] } ], "title": "Xác định chi phí phá dỡ công trình thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Liên hệ tới đường dây nóng Báo Giao thông, bạn đọc Nguyễn Văn Tuấn (Cầu Giấy, TP Hà Nội) cho biết, bạn của mình vừa bị lập biên bản vi phạm nồng độ cồn ở mức cao nhất, bị phạt 35 triệu đồng. \"Bạn tôi thu nhập ở mức thấp. Xin hỏi với số tiền phạt lớn này, thì bạn tôi có thể nộp thành nhiều lần được không? Nếu được thì thủ tục quy trình như thế nào?\", bạn Tuấn hỏi.Nếu số tiền bị phạt vi phạm nồng độ cồn từ 20 triệu đồng trở lên thì có thể nộp phạt thành nhiều lần.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, việc nộp phạt vi phạm giao thông được thực hiện theo Luật Xử lý vi phạm hành chính. Theo quy định tại Điều 79 Luật này, thì việc nộp phạt có thể được chia ra nhiều lần.Tuy nhiên, luật sư Quách Thành Lực cho biết, không phải mức phạt nào cũng có thể áp dụng hình thức nộp thành nhiều lần. Việc nộp tiền phạt nhiều lần được áp dụng khi có đủ các điều kiện, như: Bị phạt tiền từ 20 triệu đồng trở lên đối với cá nhân và từ 200 triệu đồng trở lên đối với tổ chức; Đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn đề nghị nộp tiền phạt nhiều lần. \"Đơn đề nghị của cá nhân phải được UBND cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc xác nhận hoàn cảnh khó khăn đặc biệt về kinh tế; đối với đơn đề nghị của tổ chức phải được xác nhận của cơ quan thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp\", luật sư Lực lưu ý.Khi đạt được những điều kiện trên, người vi phạm có thể nộp phạt nhiều lần. Tuy nhiên, thời hạn nộp tiền phạt nhiều lần không quá 6 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực; số lần nộp tiền phạt tối đa không quá ba lần. Mức nộp phạt lần thứ nhất tối thiểu là 40% tổng số tiền phạt.\"Người đã ra quyết định phạt tiền có quyền quyết định việc nộp tiền phạt nhiều lần. Quyết định về việc nộp tiền phạt nhiều lần phải bằng văn bản\", luật sư Quách Thành Lực thông tin.Luật sư Quách Thành Lực – Giám đốc Công ty luật Pháp trị (đoàn luật sư TP Hà Nội).Từ những phân tích trên, luật sư Quách Thành Lực cho rằng, bạn của bạn Tuấn ở trên bị phạt hành chính 35 triệu đồng vì vi phạm nồng độ cồn, đây là điều kiện cần để có thể nộp phạt nhiều lần.\"Ngoài ra còn phải có điều kiện đủ là đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn đề nghị nộp tiền phạt nhiều lần, được xác nhận của chính quyền địa phương thì mới được quyền nộp phạt nhiều lần vi phạm nồng độ cồn này\", luật sư Lực nói.Luật sư Lực cho biết thêm, Nghị định 100/2019/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP) quy định nhiều mức xử phạt vi phạm nồng độ cồn.Tuy nhiên, chỉ mức xử phạt cao nhất, phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng đối với ô tô là vượt ngưỡng phạt 20 triệu để có thể áp dụng trả nhiều lần. Những mức vi phạm khác đều dưới ngưỡng 20 triệu đồng nên sẽ không thuộc phạm vi được nộp phạt nhiều lần.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 939, "text": "Bị phạt tiền từ 20 triệu đồng trở lên đối với cá nhân và từ 200 triệu đồng trở lên đối với tổ chức; Đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn đề nghị nộp tiền phạt nhiều lần. \"Đơn đề nghị của cá nhân phải được UBND cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc xác nhận hoàn cảnh khó khăn đặc biệt về kinh tế; đối với đơn đề nghị của tổ chức phải được xác nhận của cơ quan thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp\", luật sư Lực lưu ý.Khi đạt được những điều kiện trên, người vi phạm có thể nộp phạt nhiều lần. Tuy nhiên, thời hạn nộp tiền phạt nhiều lần không quá 6 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực; số lần nộp tiền phạt tối đa không quá ba lần. Mức nộp phạt lần thứ nhất tối thiểu là 40% tổng số tiền phạt.\"Người đã ra quyết định phạt tiền có quyền quyết định việc nộp tiền phạt nhiều lần. Quyết định về việc nộp tiền phạt nhiều lần phải bằng văn bản\", luật sư Quách Thành Lực thông tin.Luật sư Quách Thành Lực – Giám đốc Công ty luật Pháp trị (đoàn luật sư TP Hà Nội).Từ những phân tích trên, luật sư Quách Thành Lực cho rằng, bạn của bạn Tuấn ở trên bị phạt hành chính 35 triệu đồng vì vi phạm nồng độ cồn, đây là điều kiện cần để có thể nộp phạt nhiều lần.\"Ngoài ra còn phải có điều kiện đủ là đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn đề nghị nộp tiền phạt nhiều lần, được xác nhận của chính quyền địa phương thì mới được quyền nộp phạt nhiều lần vi phạm nồng độ cồn này\", luật sư Lực nói.Luật sư Lực cho biết thêm, Nghị định 100/2019/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP) quy định nhiều mức xử phạt vi phạm nồng độ cồn.Tuy nhiên, chỉ mức xử phạt cao nhất, phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng đối với ô tô là vượt ngưỡng phạt 20 triệu để có thể áp dụng trả nhiều lần. Những mức vi phạm khác đều dưới ngưỡng 20 triệu đồng nên sẽ không thuộc phạm vi được nộp phạt nhiều lần." } ], "id": "727", "is_impossible": false, "question": "Có được nộp phạt kiểu trả góp khi vi phạm nồng độ cồn?" } ] } ], "title": "Có được nộp phạt kiểu trả góp khi vi phạm nồng độ cồn?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Đối với dự án sử dụng vốn đầu tư công, thì việc thanh toán, quyết toán hợp đồng xây dựng (hợp đồng tư vấn lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật) thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký kết, phù hợp với hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và quy định của pháp luật áp dụng cho hợp đồng đó. Quyết toán chi phí lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật như thế nào mới đúng (Ảnh minh họa). Ông T.Đ.S (Lạng Sơn) đang công tác tại một đơn vị tư vấn xây dựng, trong quá trình thanh toán chi phí thiết kế, chi phí lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật có vướng mắc như sau: Theo quyết định phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật thì chi phí lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật là 1.678.875.916 x 3,6% = 60.493.533 đồng. Trong quá trình trình thẩm tra quyết toán, chi phí xây lắp được quyết toán là 1.647.845.000 đồng. Đơn vị thẩm tra cho rằng giá trị quyết toán là 1.647.845.000 x 3,6% = 59.332.420 đồng. Ông S. hỏi, trong trường hợp này thì phải quyết toán chi phí lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật như thế nào mới đúng? Khi nào chi phí thiết kế được giữ nguyên, khi nào được tăng thêm và khi nào bị cắt giảm so với dự toán đã được phê duyệt? Trong các trường hợp chi phí xây lắp bị cắt giảm do giảm giá khi đấu thầu, do làm không đúng yêu cầu kỹ thuật thiết kế dẫn đến quyết toán bị giảm giá và nhiều lý do khác mà không do bên thiết kế thì chi phí thiết kế có bị giảm xuống không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Nội dung câu hỏi chưa nêu rõ về nguồn vốn sử dụng để đầu tư cho dự án nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để trả lời chi tiết câu hỏi của ông. Đối với dự án sử dụng vốn đầu tư công, thì việc thanh toán, quyết toán hợp đồng xây dựng (hợp đồng tư vấn lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật) thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký kết, phù hợp với hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và quy định của pháp luật áp dụng cho hợp đồng đó. Việc quyết toán dự án hoàn thành của dự án thực hiện theo quy định của Nghị định số 99/2021/NĐ-CP ngày 11/11/2021 của Chính phủ quy định về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 548, "text": "Theo quyết định phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật thì chi phí lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật là 1.678.875.916 x 3,6% = 60.493.533 đồng. Trong quá trình trình thẩm tra quyết toán, chi phí xây lắp được quyết toán là 1.647.845.000 đồng. Đơn vị thẩm tra cho rằng giá trị quyết toán là 1.647.845.000 x 3,6% = 59.332.420 đồng. Ông S. hỏi, trong trường hợp này thì phải quyết toán chi phí lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật như thế nào mới đúng? Khi nào chi phí thiết kế được giữ nguyên, khi nào được tăng thêm và khi nào bị cắt giảm so với dự toán đã được phê duyệt? Trong các trường hợp chi phí xây lắp bị cắt giảm do giảm giá khi đấu thầu, do làm không đúng yêu cầu kỹ thuật thiết kế dẫn đến quyết toán bị giảm giá và nhiều lý do khác mà không do bên thiết kế thì chi phí thiết kế có bị giảm xuống không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Nội dung câu hỏi chưa nêu rõ về nguồn vốn sử dụng để đầu tư cho dự án nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để trả lời chi tiết câu hỏi của ông. Đối với dự án sử dụng vốn đầu tư công, thì việc thanh toán, quyết toán hợp đồng xây dựng (hợp đồng tư vấn lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật) thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký kết, phù hợp với hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và quy định của pháp luật áp dụng cho hợp đồng đó. Việc quyết toán dự án hoàn thành của dự án thực hiện theo quy định của Nghị định số 99/2021/NĐ-CP ngày 11/11/2021 của Chính phủ quy định về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công." } ], "id": "728", "is_impossible": false, "question": "Quyết toán chi phí lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật như thế nào mới đúng?" } ] } ], "title": "Quyết toán chi phí lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật như thế nào mới đúng?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Xe cháy thường là xe vô chủCơ quan chức năng Hải Dương đang khẩn trương điều tra, làm rõ nguyên nhân vụ cháy tại trụ sở Công an huyện Bình Giang, khiến cả trăm xe máy bị thiêu rụi.Vụ cháy xảy ra vào khoảng 15h ngày 26/12, tại khu vực để phương tiện vi phạm mà cơ quan công an đang tạm giữ để xác minh, xử lý.Theo luật sư, cần làm rõ nguyên nhân vụ việc để xác định trách nhiệm và làm rõ bồi thường cho chủ phương tiện.Ngày 10/1, cơ quan công an chưa có thông tin chính thức về số lượng, chủng loại và tình trạng pháp lý của số xe bị cháy trong vụ hỏa hoạn này.Theo một cán bộ công an ở Hải Dương chia sẻ, phần lớn đối với những bãi tạm giữ xe trong trụ sở công an chủ yếu là xe cũ nát, không có giấy tờ, không xác định được chủ sở hữu và đang chờ để thanh lý.\"Đối với những xe là tang vật vụ án hoặc xe bị xử phạt hành chính vẫn sẽ có nhưng sẽ ít vì trong thời gian quy định thì chủ sở hữu sẽ đến giải quyết\", cán bộ công an chia sẻ.Về phương án giải quyết, vị cán bộ cho hay, hiện nay cơ quan chức năng sẽ tập trung điều tra, làm rõ nguyên nhân vụ việc. Tuy nhiên, đến nay việc định giá tài sản gặp khó khăn do tài sản đã bị hư hỏng.\"Phương án giải quyết gặp những bước khó khăn do tài sản đã bị cháy, cơ quan chức năng khó định giá được tài sản. Bởi, không thể nhìn vào xe hay giấy tờ xe mà đánh giá tài sản đó được. Do đó, cơ quan chức năng sẽ làm từng bước một để đảm bảo quyền lợi của người sở hữu tài sản\", vị này chia sẻ.Bồi thường thế nào?Dưới góc độ pháp lý, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, phương tiện vi phạm giao thông hay là tang vật vụ án thì khi bị tạm giữ sẽ thông qua biên bản tạm giữ xe vi phạm.Theo quy định tại Khoản 5 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi năm 2020 và khoản 2 Điều 9 Nghị định 138/2021/NĐ-CP, thì người ra quyết định tạm giữ, tịch thu có trách nhiệm quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ; tịch thu, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ.Trường hợp tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ bị mất, bán trái quy định, đánh tráo, hư hỏng, mất linh kiện, thay thế thì người ra quyết định tạm giữ, tịch thu chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật.Về vụ hỏa hoạn gây cháy hàng trăm xe máy bị tạm giữ này, luật sư Bình phân tích, trước khi xem xét vấn đề bồi thường thiệt hại thì cần làm rõ nguyên nhân gây ra vụ việc và thống kê thiệt hại. Điều này sẽ đánh giá chính xác việc có hay không có căn cứ để chủ sở hữu phương tiện bị tạm giữ đòi bồi thường.\"Để làm rõ nguyên nhân vụ việc thì cơ quan chức năng sẽ kiểm tra hệ thống các thiết bị bảo đảm an toàn tại bãi giữ xe; xác định nguồn gốc của hư hỏng xe, có phải do bên thứ ba can thiệp hay không, có phải do hành vi phá hoại hoặc bất cẩn của cá nhân nào hay không, có phải do sự kiện bất khả kháng hay không\", luật sư Bình nói.Về phía chủ phương tiện thì cần đưa ra biên bản tạm giữ xe vi phạm, giấy tờ xe để xác định giá trị tài sản bị thiệt hại. Trường hợp không thỏa thuận được thì khởi kiện ra tòa án có chức năng giải quyết theo luật định.Ngoài ra, thông thường khi mua phương tiện giao thông, các phương tiện này đều có bảo hiểm trách nhiệm dân sự với xe.Do vậy, nếu nguyên nhân cháy nổ là rủi ro ngoài ý muốn và xuất phát từ chính phương tiện đang bị giữ thì bên bảo hiểm xe có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Xe cháy thường là xe vô chủCơ quan chức năng Hải Dương đang khẩn trương điều tra, làm rõ nguyên nhân vụ cháy tại trụ sở Công an huyện Bình Giang, khiến cả trăm xe máy bị thiêu rụi.Vụ cháy xảy ra vào khoảng 15h ngày 26/12, tại khu vực để phương tiện vi phạm mà cơ quan công an đang tạm giữ để xác minh, xử lý.Theo luật sư, cần làm rõ nguyên nhân vụ việc để xác định trách nhiệm và làm rõ bồi thường cho chủ phương tiện.Ngày 10/1, cơ quan công an chưa có thông tin chính thức về số lượng, chủng loại và tình trạng pháp lý của số xe bị cháy trong vụ hỏa hoạn này.Theo một cán bộ công an ở Hải Dương chia sẻ, phần lớn đối với những bãi tạm giữ xe trong trụ sở công an chủ yếu là xe cũ nát, không có giấy tờ, không xác định được chủ sở hữu và đang chờ để thanh lý.\"Đối với những xe là tang vật vụ án hoặc xe bị xử phạt hành chính vẫn sẽ có nhưng sẽ ít vì trong thời gian quy định thì chủ sở hữu sẽ đến giải quyết\", cán bộ công an chia sẻ.Về phương án giải quyết, vị cán bộ cho hay, hiện nay cơ quan chức năng sẽ tập trung điều tra, làm rõ nguyên nhân vụ việc. Tuy nhiên, đến nay việc định giá tài sản gặp khó khăn do tài sản đã bị hư hỏng.\"Phương án giải quyết gặp những bước khó khăn do tài sản đã bị cháy, cơ quan chức năng khó định giá được tài sản. Bởi, không thể nhìn vào xe hay giấy tờ xe mà đánh giá tài sản đó được. Do đó, cơ quan chức năng sẽ làm từng bước một để đảm bảo quyền lợi của người sở hữu tài sản\", vị này chia sẻ.Bồi thường thế nào?Dưới góc độ pháp lý, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, phương tiện vi phạm giao thông hay là tang vật vụ án thì khi bị tạm giữ sẽ thông qua biên bản tạm giữ xe vi phạm.Theo quy định tại Khoản 5 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi năm 2020 và khoản 2 Điều 9 Nghị định 138/2021/NĐ-CP, thì người ra quyết định tạm giữ, tịch thu có trách nhiệm quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ; tịch thu, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ.Trường hợp tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ bị mất, bán trái quy định, đánh tráo, hư hỏng, mất linh kiện, thay thế thì người ra quyết định tạm giữ, tịch thu chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật.Về vụ hỏa hoạn gây cháy hàng trăm xe máy bị tạm giữ này, luật sư Bình phân tích, trước khi xem xét vấn đề bồi thường thiệt hại thì cần làm rõ nguyên nhân gây ra vụ việc và thống kê thiệt hại. Điều này sẽ đánh giá chính xác việc có hay không có căn cứ để chủ sở hữu phương tiện bị tạm giữ đòi bồi thường.\"Để làm rõ nguyên nhân vụ việc thì cơ quan chức năng sẽ kiểm tra hệ thống các thiết bị bảo đảm an toàn tại bãi giữ xe; xác định nguồn gốc của hư hỏng xe, có phải do bên thứ ba can thiệp hay không, có phải do hành vi phá hoại hoặc bất cẩn của cá nhân nào hay không, có phải do sự kiện bất khả kháng hay không\", luật sư Bình nói.Về phía chủ phương tiện thì cần đưa ra biên bản tạm giữ xe vi phạm, giấy tờ xe để xác định giá trị tài sản bị thiệt hại. Trường hợp không thỏa thuận được thì khởi kiện ra tòa án có chức năng giải quyết theo luật định.Ngoài ra, thông thường khi mua phương tiện giao thông, các phương tiện này đều có bảo hiểm trách nhiệm dân sự với xe.Do vậy, nếu nguyên nhân cháy nổ là rủi ro ngoài ý muốn và xuất phát từ chính phương tiện đang bị giữ thì bên bảo hiểm xe có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường." } ], "id": "729", "is_impossible": false, "question": "Hỏa hoạn thiêu rụi cả trăm xe máy bị tạm giữ: Xử lý thế nào?" } ] } ], "title": "Hỏa hoạn thiêu rụi cả trăm xe máy bị tạm giữ: Xử lý thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Cơ quan điều tra có quyền tạm giữ phương tiện để xác minhLiên quan đến vụ xe máy bị ô tô chèn ngã khi đang lưu trên đường Nguyễn Xiển (TP Hà Nội), tài xế công nghệ Hoàng Mạnh Hiếu (người bị ô tô chèn ngã) đã có đơn gửi Công an huyện Thanh Trì (Hà Nội) về việc xe máy bị tạm giữ hơn ba tuần sau va chạm giao thông.Khoảnh khắc ô tô tải chèn ngã xe máy chở theo hai người trên đường phố Hà Nội.Nam tài xế cho hay, cuộc sống của anh trông vào tiền chạy xe ôm công nghệ hằng ngày, nhưng ba tuần nay bị tạm giữ xe, anh không có phương tiện để lao động nên gặp nhiều khó khăn. Anh mong công an sớm giải quyết vụ việc, trả lại phương tiện để anh còn đi làm.Sau thông tin này, không ít người thắc mắc, theo quy định pháp luật, phương tiện của nạn trong vụ tai nạn giao thông bị tạm giữ trong bao lâu?Nhìn nhận sự việc dưới góc độ pháp lý, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho hay, theo quy định của pháp luật, quá trình xác minh tin báo, cơ quan điều tra có quyền tạm giữ phương tiện, đồ vật, tài liệu để kiểm tra, xác minh.\"Thời hạn tạm giữ phương tiện, tài liệu, đồ vật phục vụ cho công tác điều tra, xác minh tin báo tố giác tội phạm phụ thuộc vào thời hạn điều tra xác minh theo quy định của pháp luật\", luật sư Bình cho hay.Trong giai đoạn xác minh tin báo, thời hạn xác minh được quy định là 20 ngày. Nếu vụ việc phức tạp thì có thể kéo dài hơn nhưng không quá hai tháng.Ở giai đoạn này, các tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ việc sẽ bị tạm giữ để phục vụ quá trình điều tra xác minh. Tuy nhiên, khi thực hiện xong thủ tục xem xét dấu vết, giám định, định giá đối với phương tiện giao thông mà xét thấy không cần thiết phải giữ lại thì cơ quan điều tra cũng có thể trả lại cho chủ sở hữu.Còn, trong trường hợp vụ việc khởi tố thành vụ án hình sự thì chiếc xe này được xác định là vật chứng của vụ án, việc giải quyết chiếc xe này sẽ căn cứ vào quy định tại điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về giải quyết vật chứng trong vụ án hình sự.\"Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành không quy định thời gian tối đa tạm giữ tang vật là bao lâu. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân sẽ tiến hành giải quyết vụ án theo luật định và vật chứng có thể được trả cho người bị hại trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử\", ông Bình nói.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật.Còn nếu vụ việc tai nạn giao thông không có dấu hiệu tội phạm mà người vi phạm chỉ bị xử phạt hành chính và bồi thường theo trách nhiệm dân sự thì theo luật sư Diệp Năng Bình, thời hạn tạm giữ phương tiện giao thông gây tai nạn được áp dụng theo quy định của pháp luật hành chính.Dựa theo quy định tại Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 thì thời hạn tạm giữ phương tiện giao thông gây tai nạn là 7 ngày, được tính kể từ ngày tạm giữ phương tiện. Nếu trong vòng 7 ngày mà vụ việc chưa được giải quyết, còn nhiều vấn đề vướng mắc cần xác minh, vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn tạm giữ được gia hạn thêm nhưng không kéo dài quá 30 ngày, tính từ ngày tạm giữ phương tiện.Nếu vụ việc tai nạn thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp cần xác minh và thuộc trường hợp phải giải trình thì thời hạn tạm giữ phương tiện giao thông có thể kéo dài thêm 30 ngày nữa, tổng thời hạn không quá 60 ngày. Việc xin gia hạn này phải được lập bằng văn bản và có chữ ký của thủ trưởng trực tiếp của người có thẩm quyền đang tiến hành giải quyết vụ việc.Nạn nhân có quyền làm đơn xin lại phương tiệnLuật sư Diệp Năng Bình cho biết, đối với nạn nhân trong các vụ tai nạn giao thông, người bị hại trong các vụ việc tố cáo, tố giác cần lấy lại phương tiện để phục vụ cho cuộc sống, công việc thì có thể làm đơn đề nghị gửi cơ quan điều tra, viện kiểm sát để được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.\"Nếu phương tiện giao thông đã được chụp ảnh, kiểm tra dấu vết, tiến hành giám định, định giá và các thủ tục khác theo quy định của pháp luật mà không cần thiết phải tiếp tục giữ phương tiện thì có thể trả lại cho người bị hại\", ông Bình phân tích.Tuy nhiên, trường hợp vì lý do khách quan, cần phải giữ lại phương tiện để xem xét khởi tố vụ án hình sự, xác định là vật chứng trong vụ án hình sự cần phải thu giữ bảo quản để phục vụ cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử mà không thể trả ngay phương tiện cho nạn nhân thì cơ quan tiến hành tố tụng cũng cần thông báo sớm cho nạn nhân để nạn nhân có giải pháp khác để tiếp tục cuộc sống.Trong giai đoạn này, tất cả thiệt hại về tài sản, về thu nhập và các thiệt hại khác phát sinh thì người phạm tội trong vụ án hình sự phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Cơ quan điều tra có quyền tạm giữ phương tiện để xác minhLiên quan đến vụ xe máy bị ô tô chèn ngã khi đang lưu trên đường Nguyễn Xiển (TP Hà Nội), tài xế công nghệ Hoàng Mạnh Hiếu (người bị ô tô chèn ngã) đã có đơn gửi Công an huyện Thanh Trì (Hà Nội) về việc xe máy bị tạm giữ hơn ba tuần sau va chạm giao thông.Khoảnh khắc ô tô tải chèn ngã xe máy chở theo hai người trên đường phố Hà Nội.Nam tài xế cho hay, cuộc sống của anh trông vào tiền chạy xe ôm công nghệ hằng ngày, nhưng ba tuần nay bị tạm giữ xe, anh không có phương tiện để lao động nên gặp nhiều khó khăn. Anh mong công an sớm giải quyết vụ việc, trả lại phương tiện để anh còn đi làm.Sau thông tin này, không ít người thắc mắc, theo quy định pháp luật, phương tiện của nạn trong vụ tai nạn giao thông bị tạm giữ trong bao lâu?Nhìn nhận sự việc dưới góc độ pháp lý, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho hay, theo quy định của pháp luật, quá trình xác minh tin báo, cơ quan điều tra có quyền tạm giữ phương tiện, đồ vật, tài liệu để kiểm tra, xác minh.\"Thời hạn tạm giữ phương tiện, tài liệu, đồ vật phục vụ cho công tác điều tra, xác minh tin báo tố giác tội phạm phụ thuộc vào thời hạn điều tra xác minh theo quy định của pháp luật\", luật sư Bình cho hay.Trong giai đoạn xác minh tin báo, thời hạn xác minh được quy định là 20 ngày. Nếu vụ việc phức tạp thì có thể kéo dài hơn nhưng không quá hai tháng.Ở giai đoạn này, các tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ việc sẽ bị tạm giữ để phục vụ quá trình điều tra xác minh. Tuy nhiên, khi thực hiện xong thủ tục xem xét dấu vết, giám định, định giá đối với phương tiện giao thông mà xét thấy không cần thiết phải giữ lại thì cơ quan điều tra cũng có thể trả lại cho chủ sở hữu.Còn, trong trường hợp vụ việc khởi tố thành vụ án hình sự thì chiếc xe này được xác định là vật chứng của vụ án, việc giải quyết chiếc xe này sẽ căn cứ vào quy định tại điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về giải quyết vật chứng trong vụ án hình sự.\"Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành không quy định thời gian tối đa tạm giữ tang vật là bao lâu. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân sẽ tiến hành giải quyết vụ án theo luật định và vật chứng có thể được trả cho người bị hại trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử\", ông Bình nói.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật.Còn nếu vụ việc tai nạn giao thông không có dấu hiệu tội phạm mà người vi phạm chỉ bị xử phạt hành chính và bồi thường theo trách nhiệm dân sự thì theo luật sư Diệp Năng Bình, thời hạn tạm giữ phương tiện giao thông gây tai nạn được áp dụng theo quy định của pháp luật hành chính.Dựa theo quy định tại Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 thì thời hạn tạm giữ phương tiện giao thông gây tai nạn là 7 ngày, được tính kể từ ngày tạm giữ phương tiện. Nếu trong vòng 7 ngày mà vụ việc chưa được giải quyết, còn nhiều vấn đề vướng mắc cần xác minh, vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn tạm giữ được gia hạn thêm nhưng không kéo dài quá 30 ngày, tính từ ngày tạm giữ phương tiện.Nếu vụ việc tai nạn thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp cần xác minh và thuộc trường hợp phải giải trình thì thời hạn tạm giữ phương tiện giao thông có thể kéo dài thêm 30 ngày nữa, tổng thời hạn không quá 60 ngày. Việc xin gia hạn này phải được lập bằng văn bản và có chữ ký của thủ trưởng trực tiếp của người có thẩm quyền đang tiến hành giải quyết vụ việc.Nạn nhân có quyền làm đơn xin lại phương tiệnLuật sư Diệp Năng Bình cho biết, đối với nạn nhân trong các vụ tai nạn giao thông, người bị hại trong các vụ việc tố cáo, tố giác cần lấy lại phương tiện để phục vụ cho cuộc sống, công việc thì có thể làm đơn đề nghị gửi cơ quan điều tra, viện kiểm sát để được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.\"Nếu phương tiện giao thông đã được chụp ảnh, kiểm tra dấu vết, tiến hành giám định, định giá và các thủ tục khác theo quy định của pháp luật mà không cần thiết phải tiếp tục giữ phương tiện thì có thể trả lại cho người bị hại\", ông Bình phân tích.Tuy nhiên, trường hợp vì lý do khách quan, cần phải giữ lại phương tiện để xem xét khởi tố vụ án hình sự, xác định là vật chứng trong vụ án hình sự cần phải thu giữ bảo quản để phục vụ cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử mà không thể trả ngay phương tiện cho nạn nhân thì cơ quan tiến hành tố tụng cũng cần thông báo sớm cho nạn nhân để nạn nhân có giải pháp khác để tiếp tục cuộc sống.Trong giai đoạn này, tất cả thiệt hại về tài sản, về thu nhập và các thiệt hại khác phát sinh thì người phạm tội trong vụ án hình sự phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật." } ], "id": "730", "is_impossible": false, "question": "Thời hạn tạm giữ xe trong vụ tai nạn giao thông là bao lâu?" } ] } ], "title": "Thời hạn tạm giữ xe trong vụ tai nạn giao thông là bao lâu?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo quy định, trong quá trình tuần tra, kiểm soát, CSGT có các quyền như dừng phương tiện; kiểm soát người điều khiển, phương tiện, các giấy tờ liên quan tới người điều khiển và phương tiện; kiểm soát việc thực hiện các quy định về hoạt động vận tải đường bộ và áp dụng biện pháp ngăn chặn, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ, trật tự xã hội cũng như các vi phạm khác theo quy định.Tuy nhiên, trong lúc làm nhiệm vụ, CSGT phải giải thích cho người vi phạm về hành vi vi phạm pháp luật và có quyền cưỡng chế, yêu cầu họ chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu của người thi hành công vụ.Trong trường hợp có hành vi chống đối bằng vũ lực thì CSGT được phép bắt giữ người có hành vi chống người thi hành công vụ; khám người, phương tiện vi phạm và tước bỏ, vô hiệu hóa vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ của họ. Trình tự, thủ tục bắt giữ, khám xét được thực hiện theo quy định của pháp luật.Khi cần thiết, cấp bách hoặc có hành vi sử dụng vũ khí tấn công thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm để người thi hành công vụ được sử dụng vũ lực, công cụ hỗ trợ. Trong đó, việc nổ súng sẽ được thực hiện theo quy định về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và các quy định pháp luật liên quan.Như vậy, nếu hành vi vi phạm giao thông đơn thuần thì CSGT không có quyền trấn áp. Trường hợp người vi phạm không chấp hành, lực lượng chức năng có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn; đảm bảo cho việc xử lý vi phạm hành chính.Với những trường hợp người vi phạm sử dụng vũ lực, vũ khí, vật liệu nổ hay các phương tiện nguy hiểm khác để tấn công, chống trả, người thi hành công vụ được phép sử dụng vũ lực, súng hoặc công cụ hỗ trợ khác để trấn áp, ngăn chặn hành vi phạm tội.Việc dùng vũ lực phải đảm bảo không vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Nếu hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, người thi hành công vụ cũng có thể bị xử lý theo quy định pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Theo quy định, trong quá trình tuần tra, kiểm soát, CSGT có các quyền như dừng phương tiện; kiểm soát người điều khiển, phương tiện, các giấy tờ liên quan tới người điều khiển và phương tiện; kiểm soát việc thực hiện các quy định về hoạt động vận tải đường bộ và áp dụng biện pháp ngăn chặn, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ, trật tự xã hội cũng như các vi phạm khác theo quy định.Tuy nhiên, trong lúc làm nhiệm vụ, CSGT phải giải thích cho người vi phạm về hành vi vi phạm pháp luật và có quyền cưỡng chế, yêu cầu họ chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu của người thi hành công vụ.Trong trường hợp có hành vi chống đối bằng vũ lực thì CSGT được phép bắt giữ người có hành vi chống người thi hành công vụ; khám người, phương tiện vi phạm và tước bỏ, vô hiệu hóa vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ của họ. Trình tự, thủ tục bắt giữ, khám xét được thực hiện theo quy định của pháp luật.Khi cần thiết, cấp bách hoặc có hành vi sử dụng vũ khí tấn công thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm để người thi hành công vụ được sử dụng vũ lực, công cụ hỗ trợ. Trong đó, việc nổ súng sẽ được thực hiện theo quy định về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và các quy định pháp luật liên quan.Như vậy, nếu hành vi vi phạm giao thông đơn thuần thì CSGT không có quyền trấn áp. Trường hợp người vi phạm không chấp hành, lực lượng chức năng có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn; đảm bảo cho việc xử lý vi phạm hành chính.Với những trường hợp người vi phạm sử dụng vũ lực, vũ khí, vật liệu nổ hay các phương tiện nguy hiểm khác để tấn công, chống trả, người thi hành công vụ được phép sử dụng vũ lực, súng hoặc công cụ hỗ trợ khác để trấn áp, ngăn chặn hành vi phạm tội.Việc dùng vũ lực phải đảm bảo không vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Nếu hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, người thi hành công vụ cũng có thể bị xử lý theo quy định pháp luật." } ], "id": "731", "is_impossible": false, "question": "Khi nào CSGT được dùng vũ lực trấn áp người vi phạm?" } ] } ], "title": "Khi nào CSGT được dùng vũ lực trấn áp người vi phạm?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Chủ đầu tư xem xét, quyết định và tự chịu trách nhiệm việc áp dụng tiêu chuẩn nước ngoài cho các hoạt động xây dựng do mình quản lý theo các quy định pháp luật về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Hồ sơ thiết kế phòng cháy chữa cháy phải được Cơ quan Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ thẩm duyệt theo đúng quy định pháp luật (ảnh minh họa). Bộ Xây dựng mới đây có văn bản trả lời Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Công nghiệp và Dân dụng về việc áp dụng các giải pháp phòng cháy chữa cháy cho công trình nhà máy có tháp công nghệ cao trên 50m của dự án nhà máy Công ty TNHH Polytex Far Eastern (Khu công nghiệp Bàu Bàng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương). Theo nội dung và hồ sơ bản vẽ kèm theo, với chiều cao Khối công nghệ và Khối điều khiển bảo trì có chiều cao phòng cháy, chữa cháy lần lượt là 53,2m và 56,7m là nằm ngoài phạm vi điều chỉnh được quy định tại đoạn c điểm 1.1.2 của QCVN 06:2022/BXD và Sửa đổi 1:2023 QCVN 06:2023/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn cháy cho nhà và công trình. Tuy nhiên, tại điểm 1.1.7 của Sửa đổi 1:2023 QCVN 06:2023/BXD cho phép sử dụng các tài liệu chuẩn của nước ngoài trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc quy định tại điểm 1.5 của quy chuẩn này và các quy định pháp luật của Việt Nam về phòng cháy chữa cháy cùng các quy định về áp dụng tiêu chuẩn của nước ngoài trong hoạt động xây dựng ở Việt Nam. Đồng thời, theo chú thích tại sửa đổi, bổ sung Bảng H.9 của Sửa đổi 1:2023 QCVN 06:2022/BXD cho phép áp dụng tài liệu chuẩn NFPA 5000. Như vậy, Khối công nghệ và Khối bảo trì có chiều cao phòng cháy chữa cháy trên 50m của dự án Nhà máy Công ty TNHH Polytex Far Eastern với công năng, đặc điểm đã nêu trong nội dung công văn hỏi và hồ sơ bản vẽ kèm theo có thể áp dụng tài liệu chuẩn NFPA 5000 phiên bản mới nhất hoặc tiêu chuẩn tương đương khác để xác định chiều cao công trình, chiều cao phòng cháy chữa cháy. Diện tích lớn nhất cho phép của một tầng nhà trong phạm vi một khoang cháy tương ứng với giới hạn chịu lửa của các kết cấu, cấu kiện nhà và các điều kiện khác. Hồ sơ thiết kế về phòng cháy chữa cháy phải được Cơ quan Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ thẩm duyệt theo đúng quy định pháp luật. Chủ đầu tư xem xét, quyết định và tự chịu trách nhiệm về việc áp dụng tiêu chuẩn nước ngoài cho các hoạt động xây dựng do mình quản lý theo các quy định tại mục 2 Điều 8 của Nghị định 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 915, "text": "2022/BXD và Sửa đổi 1:2023 QCVN 06:2023/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn cháy cho nhà và công trình. Tuy nhiên, tại điểm 1.1.7 của Sửa đổi 1:2023 QCVN 06:2023/BXD cho phép sử dụng các tài liệu chuẩn của nước ngoài trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc quy định tại điểm 1.5 của quy chuẩn này và các quy định pháp luật của Việt Nam về phòng cháy chữa cháy cùng các quy định về áp dụng tiêu chuẩn của nước ngoài trong hoạt động xây dựng ở Việt Nam. Đồng thời, theo chú thích tại sửa đổi, bổ sung Bảng H.9 của Sửa đổi 1:2023 QCVN 06:2022/BXD cho phép áp dụng tài liệu chuẩn NFPA 5000. Như vậy, Khối công nghệ và Khối bảo trì có chiều cao phòng cháy chữa cháy trên 50m của dự án Nhà máy Công ty TNHH Polytex Far Eastern với công năng, đặc điểm đã nêu trong nội dung công văn hỏi và hồ sơ bản vẽ kèm theo có thể áp dụng tài liệu chuẩn NFPA 5000 phiên bản mới nhất hoặc tiêu chuẩn tương đương khác để xác định chiều cao công trình, chiều cao phòng cháy chữa cháy. Diện tích lớn nhất cho phép của một tầng nhà trong phạm vi một khoang cháy tương ứng với giới hạn chịu lửa của các kết cấu, cấu kiện nhà và các điều kiện khác. Hồ sơ thiết kế về phòng cháy chữa cháy phải được Cơ quan Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ thẩm duyệt theo đúng quy định pháp luật. Chủ đầu tư xem xét, quyết định và tự chịu trách nhiệm về việc áp dụng tiêu chuẩn nước ngoài cho các hoạt động xây dựng do mình quản lý theo các quy định tại mục 2 Điều 8 của Nghị định 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng." } ], "id": "732", "is_impossible": false, "question": "Áp dụng giải pháp phòng cháy chữa cháy cho công trình có tháp công nghệ cao" } ] } ], "title": "Áp dụng giải pháp phòng cháy chữa cháy cho công trình có tháp công nghệ cao" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo Điều 8 Thông tư 65/2020/TT-BCA, trong quá trình tuần tra, kiểm soát CSGT được phép dừng các phương tiện, kiểm soát người điều khiển, phương tiện, các giấy tờ liên quan tới người điều khiển và phương tiện.Bên cạnh đó, kiểm soát việc thực hiện các quy định về hoạt động vận tải đường bộ và áp dụng biện pháp ngăn chặn, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ, trật tự xã hội cũng như các vi phạm khác theo quy định.Song hành với đó là 9 biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính như: Tạm giữ người; Áp giải người vi phạm; Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm, giấy phép, chứng chỉ hành nghề; Khám người; Khám phương tiện vận tải, đồ vật; Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính...Do đó, việc tự ý rút chìa khóa xe (nếu có) của người thi hành công vụ là hành vi không phù hợp.Tuy nhiên, đối với những tình huống nguy hiểm, chống đối của người điều khiển phương tiện, xâm phạm sức khoẻ, tài sản thì CSGT có quyền rút chìa khóa phương tiện để ngăn chặn hành vi vi phạm, kiểm soát phương tiện.Điển hình như CSGT ra tín hiệu dừng xe nhưng người vi phạm nồng độ cồn tỏ thái độ thách thức, cố ý tăng ga nhằm bỏ trốn hay cố tình lao xe vào lực lượng chức năng thì việc rút chìa khóa là cần thiết nhằm thực hiện quyền kiểm soát phương tiện, ngăn chặn hành vi của người vi phạm.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 509, "text": "Tạm giữ người; Áp giải người vi phạm; Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm, giấy phép, chứng chỉ hành nghề; Khám người; Khám phương tiện vận tải, đồ vật; Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính...Do đó, việc tự ý rút chìa khóa xe (nếu có) của người thi hành công vụ là hành vi không phù hợp.Tuy nhiên, đối với những tình huống nguy hiểm, chống đối của người điều khiển phương tiện, xâm phạm sức khoẻ, tài sản thì CSGT có quyền rút chìa khóa phương tiện để ngăn chặn hành vi vi phạm, kiểm soát phương tiện.Điển hình như CSGT ra tín hiệu dừng xe nhưng người vi phạm nồng độ cồn tỏ thái độ thách thức, cố ý tăng ga nhằm bỏ trốn hay cố tình lao xe vào lực lượng chức năng thì việc rút chìa khóa là cần thiết nhằm thực hiện quyền kiểm soát phương tiện, ngăn chặn hành vi của người vi phạm." } ], "id": "733", "is_impossible": false, "question": "CSGT có được rút chìa khóa khi kiểm tra phương tiện hay không?" } ] } ], "title": "CSGT có được rút chìa khóa khi kiểm tra phương tiện hay không?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng cho biết, việc quản lý, điều chỉnh, thanh toán hợp đồng xây dựng thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký, phù hợp với các tài liệu kèm theo hợp đồng và quy định của pháp luật áp dụng cho hợp đồng đó. Trụ sở của Công ty Cổ phần Tập đoàn Trường Thịnh (Ảnh minh họa). Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Công ty Cổ phần Tập đoàn Trường Thịnh đề nghị được hướng dẫn việc giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống 8% theo Nghị định số 15/2022/NĐ-CP có làm thay đổi đơn giá trong hợp đồng thi công xây dựng theo hình thức đơn giá cố định hay không? Sau khi xem xét, Bộ Xây dựng cho biết, việc quản lý, điều chỉnh, thanh toán hợp đồng xây dựng thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký, phù hợp với các tài liệu kèm theo hợp đồng và quy định của pháp luật áp dụng cho hợp đồng đó. Đối với nội dung hỏi của đơn vị chưa nêu rõ nguồn vốn thực hiện hợp đồng nên Bộ chưa đủ cơ sở hướng dẫn cụ thể. Nếu hợp đồng ký giữa các bên thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, Nghị định số 50/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP thì việc điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng khi Nhà nước thay đổi chính sách (trong đó bao gồm cả chính sách về thuế giá trị gia tăng) được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 143 Luật Xây dựng; khoản 2 Điều 35 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 11 Điều 1 Nghị định số 50/2021/NĐ-CP.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng cho biết, việc quản lý, điều chỉnh, thanh toán hợp đồng xây dựng thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký, phù hợp với các tài liệu kèm theo hợp đồng và quy định của pháp luật áp dụng cho hợp đồng đó. Trụ sở của Công ty Cổ phần Tập đoàn Trường Thịnh (Ảnh minh họa). Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Công ty Cổ phần Tập đoàn Trường Thịnh đề nghị được hướng dẫn việc giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống 8% theo Nghị định số 15/2022/NĐ-CP có làm thay đổi đơn giá trong hợp đồng thi công xây dựng theo hình thức đơn giá cố định hay không? Sau khi xem xét, Bộ Xây dựng cho biết, việc quản lý, điều chỉnh, thanh toán hợp đồng xây dựng thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký, phù hợp với các tài liệu kèm theo hợp đồng và quy định của pháp luật áp dụng cho hợp đồng đó. Đối với nội dung hỏi của đơn vị chưa nêu rõ nguồn vốn thực hiện hợp đồng nên Bộ chưa đủ cơ sở hướng dẫn cụ thể. Nếu hợp đồng ký giữa các bên thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, Nghị định số 50/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP thì việc điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng khi Nhà nước thay đổi chính sách (trong đó bao gồm cả chính sách về thuế giá trị gia tăng) được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 143 Luật Xây dựng; khoản 2 Điều 35 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 11 Điều 1 Nghị định số 50/2021/NĐ-CP." } ], "id": "734", "is_impossible": false, "question": "Giảm thuế giá trị gia tăng có làm thay đổi đơn giá trong hợp đồng thi công xây dựng?" } ] } ], "title": "Giảm thuế giá trị gia tăng có làm thay đổi đơn giá trong hợp đồng thi công xây dựng?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Bạn đọc Nguyễn Quang Chương (Đông Anh, TP Hà Nội) hỏi: Theo quy định hiện nay thì Công an cấp xã có được dừng xe, xử phạt vi phạm pháp luật về giao thông không? Nếu được thì Công an xã được xử phạt những lỗi gì?Theo quy định hiện hành, công an xã được quyền xử phạt giao thông khi không đi cùng CSGT.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình - Trưởng văn phòng luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, Thông tư 32/2023 của Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông chính thức có hiệu lực từ ngày 15/9/2023.Trong đó, tại điểm c, khoản 2, Điều 33 Thông tư 32 cho phép công an cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là công an xã) được phép dừng xe kiểm tra, xử lý vi phạm với xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe thô sơ khi không có cảnh sát giao thông đi cùng.“Tuy nhiên việc tuần tra, kiểm soát này phải thực hiện theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền ban hành và phải báo cáo tình hình, kết quả hoạt động tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm cho cảnh sát giao thông. Công an xã chỉ được tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên các tuyến đường xã và đường khác thuộc địa bàn khu vực do đơn vị mình quản lý”, ông Bình thông tin.Luật sư Diệp Năng Bình cho biết, khi phát hiện người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe thô sơ có các hành vi vi phạm pháp luật như:Không đội mũ bảo hiểm theo quy định; Chở quá số người quy định; Chở hàng hóa cồng kềnh, quá kích thước giới hạn quy định; Dừng, đỗ xe không đúng quy định; Phóng nhanh, lạng lách, đánh võng; Không có gương chiếu hậu ở bên trái; Sử dụng ô (dù); Chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện theo quy định hoặc phát hiện phương tiện giao thông vi phạm nghiêm trọng về trật tự, an toàn giao thông, an ninh, trật tự xã hội nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội, thì được xử lý theo quy định của pháp luật.Luật sư Diệp Năng Bình - Trưởng văn phòng luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).“Như vậy, theo quy định, công an xã, phường được phép dừng xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe thô sơ để xử lý một số lỗi nêu trên.Trong quá trình giải quyết, xử lý, nếu phát hiện hành vi vi phạm khác công an xã được xử lý theo thẩm quyền, nếu vượt quá thẩm quyền xử phạt thì lập biên bản vi phạm hành chính và báo cáo cấp có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật”, ông Bình nói.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 55, "text": "Theo quy định hiện nay thì Công an cấp xã có được dừng xe, xử phạt vi phạm pháp luật về giao thông không? Nếu được thì Công an xã được xử phạt những lỗi gì?Theo quy định hiện hành, công an xã được quyền xử phạt giao thông khi không đi cùng CSGT.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình - Trưởng văn phòng luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, Thông tư 32/2023 của Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông chính thức có hiệu lực từ ngày 15/9/2023.Trong đó, tại điểm c, khoản 2, Điều 33 Thông tư 32 cho phép công an cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là công an xã) được phép dừng xe kiểm tra, xử lý vi phạm với xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe thô sơ khi không có cảnh sát giao thông đi cùng.“Tuy nhiên việc tuần tra, kiểm soát này phải thực hiện theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền ban hành và phải báo cáo tình hình, kết quả hoạt động tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm cho cảnh sát giao thông. Công an xã chỉ được tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên các tuyến đường xã và đường khác thuộc địa bàn khu vực do đơn vị mình quản lý”, ông Bình thông tin.Luật sư Diệp Năng Bình cho biết, khi phát hiện người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe thô sơ có các hành vi vi phạm pháp luật như:Không đội mũ bảo hiểm theo quy định; Chở quá số người quy định; Chở hàng hóa cồng kềnh, quá kích thước giới hạn quy định; Dừng, đỗ xe không đúng quy định; Phóng nhanh, lạng lách, đánh võng; Không có gương chiếu hậu ở bên trái; Sử dụng ô (dù); Chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện theo quy định hoặc phát hiện phương tiện giao thông vi phạm nghiêm trọng về trật tự, an toàn giao thông, an ninh, trật tự xã hội nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội, thì được xử lý theo quy định của pháp luật.Luật sư Diệp Năng Bình - Trưởng văn phòng luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).“Như vậy, theo quy định, công an xã, phường được phép dừng xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe thô sơ để xử lý một số lỗi nêu trên.Trong quá trình giải quyết, xử lý, nếu phát hiện hành vi vi phạm khác công an xã được xử lý theo thẩm quyền, nếu vượt quá thẩm quyền xử phạt thì lập biên bản vi phạm hành chính và báo cáo cấp có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật”, ông Bình nói." } ], "id": "735", "is_impossible": false, "question": "Công an xã có được xử phạt giao thông khi không đi cùng CSGT?" } ] } ], "title": "Công an xã có được xử phạt giao thông khi không đi cùng CSGT?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Đơn vị ông N.B.T (Nghệ An) được giao quản lý dự án đầu tư mua sắm thiết bị. Đơn vị trúng thầu gói thầu xây lắp là đơn vị liên danh, tổng số tiền tạm ứng là 2,5 tỷ đồng (đơn vị A tạm ứng 1,7 tỷ đồng; đơn vị B tạm ứng 800 triệu đồng). Ảnh minh họa. Ông T. hỏi, theo Điểm a Khoản 4 Điều 18 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP, đơn vị B có giá trị bảo lãnh dưới 1 tỷ đồng có cần nộp bảo lãnh hợp đồng tại ngân hàng không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Điểm a Khoản 4 Điều 18 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng là quy định giá trị tạm ứng hợp đồng giữa bên giao thầu và bên nhận thầu (liên danh các nhà thầu), không phải là quy định giá trị tạm ứng hợp đồng riêng cho từng thành viên trong liên danh các nhà thầu.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 462, "text": "Điểm a Khoản 4 Điều 18 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng là quy định giá trị tạm ứng hợp đồng giữa bên giao thầu và bên nhận thầu (liên danh các nhà thầu), không phải là quy định giá trị tạm ứng hợp đồng riêng cho từng thành viên trong liên danh các nhà thầu." } ], "id": "736", "is_impossible": false, "question": "Bảo lãnh tạm ứng hợp đồng đối với nhà thầu liên danh" } ] } ], "title": "Bảo lãnh tạm ứng hợp đồng đối với nhà thầu liên danh" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ban quản trị nhà chung cư của bà Lê Thị Ngọc Hiếu (Thành phố Hồ Chí Minh) đã nhận bàn giao từ chủ đầu tư và quyết định thay đổi đơn vị vận hành mới với lý do hỗ trợ Ban quản trị nhận bàn giao và áp mức phí quản lý không thông qua Hội nghị nhà chung cư dưới mô hình thu hộ và chi hộ. Khoản 3 Điều 102 Luật Nhà ở năm 2014 đã quy định Hội nghị nhà chung cư có thẩm quyền quyết định lựa chọn đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư. Ban quản trị giải thích, việc thay đổi này là tạm thời cho đến khi tổ chức Hội nghị nhà chung cư bất thường, lúc đó mới chọn đơn vị chính thức và quyết định biểu giá vận hành mới. Bà Hiếu hỏi, việc tự ý thay đổi đơn vị vận hành tạm như vậy có đúng quy định của pháp luật không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tại Khoản 3 Điều 102 Luật Nhà ở năm 2014 đã quy định Hội nghị nhà chung cư có thẩm quyền quyết định lựa chọn đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư. Tại Điểm đ Khoản 1 Điều 104 Luật Nhà ở năm 2014 đã quy định Ban quản trị có trách nhiệm ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư với chủ đầu tư hoặc đơn vị có chức năng, năng lực quản lý vận hành nhà chung cư sau khi đã được Hội nghị nhà chung cư lựa chọn theo quy định. Như vậy, theo quy định nêu trên thì việc lựa chọn đơn vị vận hành nhà chung cư phải do Hội nghị nhà chung cư quyết định. Ban quản trị nhà chung cư là đơn vị ký kết hợp đồng với đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư đã được Hội nghị nhà chung cư lựa chọn. Đề nghị bà nghiên cứu quy định nêu trên để thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị bà liên hệ với Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan quản lý Nhà nước về nhà ở trên địa bàn để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 757, "text": "Tại Khoản 3 Điều 102 Luật Nhà ở năm 2014 đã quy định Hội nghị nhà chung cư có thẩm quyền quyết định lựa chọn đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư. Tại Điểm đ Khoản 1 Điều 104 Luật Nhà ở năm 2014 đã quy định Ban quản trị có trách nhiệm ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư với chủ đầu tư hoặc đơn vị có chức năng, năng lực quản lý vận hành nhà chung cư sau khi đã được Hội nghị nhà chung cư lựa chọn theo quy định. Như vậy, theo quy định nêu trên thì việc lựa chọn đơn vị vận hành nhà chung cư phải do Hội nghị nhà chung cư quyết định. Ban quản trị nhà chung cư là đơn vị ký kết hợp đồng với đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư đã được Hội nghị nhà chung cư lựa chọn. Đề nghị bà nghiên cứu quy định nêu trên để thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị bà liên hệ với Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan quản lý Nhà nước về nhà ở trên địa bàn để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền." } ], "id": "737", "is_impossible": false, "question": "Thẩm quyền chọn đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư" } ] } ], "title": "Thẩm quyền chọn đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Gửi câu hỏi đến đường dây nóng Báo Giao thông, bạn đọc Nguyễn Trung Hậu (Bắc Giang) cho biết, tháng trước, khi lái xe ô tô xuống Hà Nội đã vi phạm nồng độ cồn, bị giữ xe, tước giấy phép lái xe.\"Xin hỏi, tôi có thể nhờ người quen ở Hà Nội nộp phạt, lấy xe giúp được không? Nếu được thì cần phải chuẩn bị giấy tờ gì?\", bạn Hậu hỏi.Người dân có thể ủy quyền cho người khác nộp tiền vi phạm giao thông cho mình (ảnh minh họa)Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, Điều 138, Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.Nộp phạt vi phạm giao thông, lấy phương tiện bị tạm giữ về là một giao dịch dân sự bình thường, vì vậy, người vi phạm hoàn toàn có thể ủy quyền cho người khác thực hiện thủ tục nộp phạt vi phạm, lấy phương tiện bị tạm giữ.Luật sư Bình lưu ý, khi làm văn bản ủy quyền phải có dấu xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú hoặc xác nhận của tổ chức hành nghề công chứng. Trong văn bản ủy quyền cần ghi rõ số căn cước công dân của người ủy quyền và người nhận ủy quyền.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật.Luật sư Diệp Năng Bình cũng cho biết, khi thực hiện thủ tục nộp phạt vi phạm giao thông, lấy phương tiện bị tạm giữ trong trường hợp ủy quyền, người được ủy quyền cần chuẩn bị các giấy tờ sau:Giấy ủy quyền nộp phạt vi phạm giao thông có dấu xác nhận của chính quyền địa phương nơi bạn cư trú hoặc phải được công chứng theo quy định của pháp luật.Biên bản xử phạt vi phạm giao thông; Bản sao chứng thực căn cước công dân; Bản chính căn cước công dân của người được ủy quyền.Cũng theo khoản 1 Điều 20 Nghị định 118/2021/NĐ-CP, cá nhân, tổ chức vi phạm thực hiện việc nộp tiền phạt theo một trong các hình thức sau:Nộp tiền mặt trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước hoặc tại ngân hàng thương mại nơi Kho bạc Nhà nước mở tài khoản được ghi trong quyết định xử phạt.Chuyển khoản vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước được ghi trong quyết định xử phạt thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc dịch vụ thanh toán điện tử của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.Nộp tiền phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ vào Kho bạc Nhà nước theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này hoặc thông qua dịch vụ bưu chính công ích.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 580, "text": "Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.Nộp phạt vi phạm giao thông, lấy phương tiện bị tạm giữ về là một giao dịch dân sự bình thường, vì vậy, người vi phạm hoàn toàn có thể ủy quyền cho người khác thực hiện thủ tục nộp phạt vi phạm, lấy phương tiện bị tạm giữ.Luật sư Bình lưu ý, khi làm văn bản ủy quyền phải có dấu xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú hoặc xác nhận của tổ chức hành nghề công chứng. Trong văn bản ủy quyền cần ghi rõ số căn cước công dân của người ủy quyền và người nhận ủy quyền.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật.Luật sư Diệp Năng Bình cũng cho biết, khi thực hiện thủ tục nộp phạt vi phạm giao thông, lấy phương tiện bị tạm giữ trong trường hợp ủy quyền, người được ủy quyền cần chuẩn bị các giấy tờ sau:Giấy ủy quyền nộp phạt vi phạm giao thông có dấu xác nhận của chính quyền địa phương nơi bạn cư trú hoặc phải được công chứng theo quy định của pháp luật.Biên bản xử phạt vi phạm giao thông; Bản sao chứng thực căn cước công dân; Bản chính căn cước công dân của người được ủy quyền.Cũng theo khoản 1 Điều 20 Nghị định 118/2021/NĐ-CP, cá nhân, tổ chức vi phạm thực hiện việc nộp tiền phạt theo một trong các hình thức sau:Nộp tiền mặt trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước hoặc tại ngân hàng thương mại nơi Kho bạc Nhà nước mở tài khoản được ghi trong quyết định xử phạt.Chuyển khoản vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước được ghi trong quyết định xử phạt thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc dịch vụ thanh toán điện tử của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.Nộp tiền phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ vào Kho bạc Nhà nước theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này hoặc thông qua dịch vụ bưu chính công ích." } ], "id": "738", "is_impossible": false, "question": "Có được nhờ người khác nộp phạt, lấy xe vi phạm giao thông?" } ] } ], "title": "Có được nhờ người khác nộp phạt, lấy xe vi phạm giao thông?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "4 loại giấy tờ phải mang theo khi điều khiển xe cơ giớiBạn đọc Nguyễn Nghĩa Dũng (Thanh Xuân, TP Hà Nội) hỏi: Khi điều khiển xe máy trên đường bị cảnh sát giao thông (CSGT) kiểm tra giấy tờ, nếu quên không mang giấy tờ theo mà gọi người nhà mang đến thì có bị xử phạt không?Khi lái xe tham gia giao thông, người dân phải mang theo 4 loại giấy tờ để không bị xử phạt.Trả lời câu hỏi này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, theo khoản 2 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định, người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo 4 loại giấy tờ, gồm: Đăng ký xe; Giấy phép lái xe phù hợp với phương tiện đang điều khiển; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới; Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.Theo quy định này, về nguyên tắc thì tại thời điểm CSGT kiểm tra, nếu người điều khiển phương tiện không xuất trình được những giấy tờ này thì sẽ bị xử lý theo quy định của Nghị định 123/2021/NĐ-CP.“Hiện tại không có bất kỳ quy định nào về việc CSGT phải chờ người vi phạm mang các giấy tờ cần thiết đến. Do đó, tại thời điểm kiểm tra và lập biên bản vi phạm hành chính, thì CSGT sẽ không chấp nhận cho người vi phạm nhờ người thân mang giấy tờ đến”, ông Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị.Sẽ bị xử phạt ở các mức khác nhauLuật sư Quách Thành Lực cũng cho biết, theo quy định của Nghị định 123/2021/NĐ-CP mức phạt lỗi quên giấy tờ xe như sau:Nếu không mang theo giấy đăng ký xe, người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy sẽ bị phạt tiền từ 100-200 nghìn đồng; người điều khiển ô tô bị phạt tiền từ 2-3 triệu đồng.Nếu không mang giấy phép lái xe, người điều khiển xe máy sẽ bị phạt tiền từ 100-200 nghìn đồng; người điều khiển ô tô sẽ bị phạt tiền từ 200-400 nghìn đồng.Mức phạt lỗi quên mang giấy chứng nhận bảo hiểm xe bắt buộc đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy là từ 100-200 nghìn đồng; đối với ô tô phạt tiền từ 400-600 nghìn đồng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 110, "text": "Khi điều khiển xe máy trên đường bị cảnh sát giao thông (CSGT) kiểm tra giấy tờ, nếu quên không mang giấy tờ theo mà gọi người nhà mang đến thì có bị xử phạt không?Khi lái xe tham gia giao thông, người dân phải mang theo 4 loại giấy tờ để không bị xử phạt.Trả lời câu hỏi này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, theo khoản 2 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định, người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo 4 loại giấy tờ, gồm: Đăng ký xe; Giấy phép lái xe phù hợp với phương tiện đang điều khiển; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới; Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.Theo quy định này, về nguyên tắc thì tại thời điểm CSGT kiểm tra, nếu người điều khiển phương tiện không xuất trình được những giấy tờ này thì sẽ bị xử lý theo quy định của Nghị định 123/2021/NĐ-CP.“Hiện tại không có bất kỳ quy định nào về việc CSGT phải chờ người vi phạm mang các giấy tờ cần thiết đến. Do đó, tại thời điểm kiểm tra và lập biên bản vi phạm hành chính, thì CSGT sẽ không chấp nhận cho người vi phạm nhờ người thân mang giấy tờ đến”, ông Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị.Sẽ bị xử phạt ở các mức khác nhauLuật sư Quách Thành Lực cũng cho biết, theo quy định của Nghị định 123/2021/NĐ-CP mức phạt lỗi quên giấy tờ xe như sau:Nếu không mang theo giấy đăng ký xe, người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy sẽ bị phạt tiền từ 100-200 nghìn đồng; người điều khiển ô tô bị phạt tiền từ 2-3 triệu đồng.Nếu không mang giấy phép lái xe, người điều khiển xe máy sẽ bị phạt tiền từ 100-200 nghìn đồng; người điều khiển ô tô sẽ bị phạt tiền từ 200-400 nghìn đồng.Mức phạt lỗi quên mang giấy chứng nhận bảo hiểm xe bắt buộc đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy là từ 100-200 nghìn đồng; đối với ô tô phạt tiền từ 400-600 nghìn đồng." } ], "id": "739", "is_impossible": false, "question": "Quên mang giấy tờ xe, nhờ người thân mang đến có bị xử phạt khi CSGT kiểm tra?" } ] } ], "title": "Quên mang giấy tờ xe, nhờ người thân mang đến có bị xử phạt khi CSGT kiểm tra?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Căn cứ để phân loại công trình cụ thể phục vụ quản lý hoạt động đầu tư xây dựng, phân định trách nhiệm quản lý các công trình xây dựng chuyên ngành của các cơ quan chuyên môn về xây dựng được quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14, Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ. Loại công trình xây dựng được xác định theo tính chất kết cấu và công năng sử dụng công trình (ảnh: Internet). Bộ Xây dựng nhận được văn bản của UBND tỉnh Sơn La đề nghị hướng dẫn loại công trình cung cấp năng lượng. Về vấn đề này, ngày 29/12/2023, Bộ Xây dựng đã có văn bản trả lời UBND tỉnh Sơn La. Bộ Xây dựng cho biết, liên quan đến nội dung “Hướng dẫn đầy đủ, cụ thể khoản 22 Điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 về loại “công trình cung cấp năng lượng” thuộc nhóm công trình hạ tầng kỹ thuật là gồm những công trình nào, làm cơ sở thực hiện theo quy định”, theo quy định tại khoản 22 Điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 “Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật gồm công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa trang và công trình khác”. Việc quy định khái niệm như trên ở trong Luật Xây dựng, chủ yếu phục vụ việc lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch xây dựng tại các khoản 30 đến 33 Điều 3, các Điều 14, 23, 26 đến 28, 30, 31, 33, 34, 36, 37 của Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 62/2020/QH14. Trong đó,“hệ thống” công trình hạ tầng kỹ thuật này gồm nhiều “loại” công trình như quy định nêu trên. Theo quy định tại khoản 5 Mục II Phụ lục I Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, “công trình năng lượng” là các công trình thuộc loại “công trình sử dụng cho mục đích sản xuất công nghiệp (công trình công nghiệp)”. Cụ thể, bao gồm: “Một công trình độc lập, một tổ hợp các công trình hoặc một dây chuyền công nghệ trong các cơ sở sau: Nhà máy thủy điện (không bao gồm các công trình đầu mối), nhiệt điện, điện nguyên tử; điện gió, điện mặt trời, điện địa nhiệt, điện thủy triều, điện rác (không bao gồm khu xử lý chất thải rắn), điện sinh khối; điện khí biogas; điện đồng phát; nhà máy cấp nhiệt, cấp hơi, cấp khí nén; đường dây truyền tải điện và trạm biến áp; cơ sở cung cấp nhiên liệu, năng lượng cho các phương tiện giao thông và sử dụng cá nhân”. Căn cứ để phân loại công trình cụ thể phục vụ quản lý hoạt động đầu tư xây dựng, phân định trách nhiệm quản lý các công trình xây dựng chuyên ngành của các cơ quan chuyên môn về xây dựng được quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14, Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng. Theo đó, loại công trình xây dựng được xác định theo tính chất kết cấu và công năng sử dụng công trình.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 487, "text": "Internet). Bộ Xây dựng nhận được văn bản của UBND tỉnh Sơn La đề nghị hướng dẫn loại công trình cung cấp năng lượng. Về vấn đề này, ngày 29/12/2023, Bộ Xây dựng đã có văn bản trả lời UBND tỉnh Sơn La. Bộ Xây dựng cho biết, liên quan đến nội dung “Hướng dẫn đầy đủ, cụ thể khoản 22 Điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 về loại “công trình cung cấp năng lượng” thuộc nhóm công trình hạ tầng kỹ thuật là gồm những công trình nào, làm cơ sở thực hiện theo quy định”, theo quy định tại khoản 22 Điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 “Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật gồm công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa trang và công trình khác”. Việc quy định khái niệm như trên ở trong Luật Xây dựng, chủ yếu phục vụ việc lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch xây dựng tại các khoản 30 đến 33 Điều 3, các Điều 14, 23, 26 đến 28, 30, 31, 33, 34, 36, 37 của Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 62/2020/QH14. Trong đó,“hệ thống” công trình hạ tầng kỹ thuật này gồm nhiều “loại” công trình như quy định nêu trên. Theo quy định tại khoản 5 Mục II Phụ lục I Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, “công trình năng lượng” là các công trình thuộc loại “công trình sử dụng cho mục đích sản xuất công nghiệp (công trình công nghiệp)”. Cụ thể, bao gồm: “Một công trình độc lập, một tổ hợp các công trình hoặc một dây chuyền công nghệ trong các cơ sở sau: Nhà máy thủy điện (không bao gồm các công trình đầu mối), nhiệt điện, điện nguyên tử; điện gió, điện mặt trời, điện địa nhiệt, điện thủy triều, điện rác (không bao gồm khu xử lý chất thải rắn), điện sinh khối; điện khí biogas; điện đồng phát; nhà máy cấp nhiệt, cấp hơi, cấp khí nén; đường dây truyền tải điện và trạm biến áp; cơ sở cung cấp nhiên liệu, năng lượng cho các phương tiện giao thông và sử dụng cá nhân”. Căn cứ để phân loại công trình cụ thể phục vụ quản lý hoạt động đầu tư xây dựng, phân định trách nhiệm quản lý các công trình xây dựng chuyên ngành của các cơ quan chuyên môn về xây dựng được quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14, Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng. Theo đó, loại công trình xây dựng được xác định theo tính chất kết cấu và công năng sử dụng công trình." } ], "id": "740", "is_impossible": false, "question": "Căn cứ phân loại công trình cung cấp năng lượng" } ] } ], "title": "Căn cứ phân loại công trình cung cấp năng lượng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Chiều qua (4/1), Bộ Công an cho biết cơ quan An ninh điều tra đang mở rộng điều tra vụ án \"Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ\" xảy ra tại Bộ Công thương và các tỉnh, thành phố.Quá trình tố tụng, cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét chỗ ở về tội \"Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ\" đối với ông Hoàng Quốc Vượng, sinh năm 1963, nguyên Thứ trưởng Bộ Công thương.Tội danh nguyên Thứ trưởng Bộ Công thương Hoàng Quốc Vượng bị khởi tố có mức án cao nhất là 15 năm tù.Sau khi nguyên Thứ trưởng Bộ Công thương Hoàng Quốc Vượng bị bắt nhiều độc giả thắc mắc người phạm tội \"Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ\" sẽ bị xử lý thế nào?Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình - Trưởng văn phòng luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra vụ án này để làm rõ vai trò, trách nhiệm của từng bị can và hậu quả đã xảy ra đối với xã hội làm căn cứ để tòa án xác định tội danh và áp dụng mức hình phạt.“Theo quy định, hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ đến mức bị xử lý hình sự được hiểu là hành vi vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân...”, ông Bình nói.Trong quá trình giải quyết vụ án này, cơ quan điều tra sẽ làm rõ chức trách nhiệm vụ, vai trò của ông Vượng, đồng thời xác định hậu quả thiệt hại đã gây ra đối với Nhà nước để làm căn cứ xác định hành vi phạm tội và xác định hậu quả đã gây ra đối với xã hội.Với thiệt hại từ 1 tỷ đồng trở lên, các đối tượng phạm tội \"Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ\" sẽ phải đối mặt với mức hình phạt tù từ 10 - 15 năm, là mức hình phạt cao nhất của tội danh này.Điều 356. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến 10 năm:a) Có tổ chức;b) Phạm tội hai lần trở lên;c) Gây thiệt hại về tài sản từ 200 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng.3. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 1 tỷ đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 2463, "text": "a) Có tổ chức;b) Phạm tội hai lần trở lên;c) Gây thiệt hại về tài sản từ 200 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng.3. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 1 tỷ đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng." } ], "id": "741", "is_impossible": false, "question": "Tội danh nguyên Thứ trưởng Bộ Công thương Hoàng Quốc Vượng bị khởi tố có mức án ra sao?" } ] } ], "title": "Tội danh nguyên Thứ trưởng Bộ Công thương Hoàng Quốc Vượng bị khởi tố có mức án ra sao?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Đơn vị của ông Trương Quang Thế làm giai đoạn thiết kế kỹ thuật (thiết kế bước 2) và đã được Bộ Xây dựng phê duyệt. Chủ đầu tư thuê một đơn vị tư vấn khác triển khai thiết kế thi công (thiết kế bước 3). Nhà thầu thiết kế kỹ thuật có phải giám sát tác giả khi thi công? Ông Thế hỏi, đơn vị ông có phải thực hiện giám sát tác giả không, hay giám sát tác giả thuộc về đơn vị tư vấn triển khai thiết kế thi công? Trong trường hợp đơn vị ông phải thực hiện việc giám sát tác giả thì nội dung công việc của đơn vị ông khác với đơn vị thiết kế thi công là gì khi mà nhà thầu dựa theo bản vẽ thiết kế thi công để triển khai bản vẽ thiết kế chi tiết? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 86 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng thì nhà thầu thiết kế xây dựng có nghĩa vụ thực hiện việc giám sát tác giả trong quá trình thi công xây dựng theo yêu cầu của chủ đầu tư và quy định trong hợp đồng xây dựng. Nội dung thực hiện giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế được quy định tại Khoản 2 Điều 20 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 695, "text": "Theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 86 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng thì nhà thầu thiết kế xây dựng có nghĩa vụ thực hiện việc giám sát tác giả trong quá trình thi công xây dựng theo yêu cầu của chủ đầu tư và quy định trong hợp đồng xây dựng. Nội dung thực hiện giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế được quy định tại Khoản 2 Điều 20 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021." } ], "id": "742", "is_impossible": false, "question": "Nhà thầu thiết kế kỹ thuật có phải giám sát tác giả khi thi công?" } ] } ], "title": "Nhà thầu thiết kế kỹ thuật có phải giám sát tác giả khi thi công?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Phạt tại chỗ tối đa 500 nghìn đồngBạn đọc Nguyễn Văn Phong (Nam Từ Liêm, TP Hà Nội) hỏi: Hiện nay cảnh sát giao thông (CSGT) có được xử phạt tại chỗ đối với người vi phạm giao thông hay không? Nếu được thì những lỗi nào CSGT sẽ xử phạt tại chỗ?CSGT được phạt tại chỗ tối đa 500 nghìn đồng.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, Điểm c khoản 1 Điều 20 Nghị định 118/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định cá nhân, tổ chức vi phạm được nộp phạt trực tiếp cho CSGT khi lỗi vi phạm hành chính bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền tối đa đến 250 nghìn đồng đối với cá nhân, 500 nghìn đồng đối với tổ chức.Cụ thể, CSGT được thu tiền phạt tại chỗ với một số lỗi vi phạm như: Xe máy tham gia giao thông không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường; Xe máy không có báo hiệu xin vượt trước khi vượt.Xe máy chở người ngồi trên xe sử dụng ô (dù); Xe máy không sử dụng đèn chiếu sáng trong thời gian từ 19h hôm trước đến 5h hôm sau hoặc khi thời tiết có sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn.Máy kéo, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường.Xe đạp không đi bên phải theo chiều đi của mình hoặc đi không đúng phần đường quy định; Xe đạp dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường.Trường hợp này CSGT sẽ không lập biên bản mà quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ và thu tiền luôn.\"Lưu ý, cũng với mức phạt trên, nếu lỗi vi phạm được phát hiện bởi phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì CSGT sẽ phải lập biên bản vi phạm giao thông\", luật sư Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị.Cục trưởng CSGT có quyền xử phạt tối đa 75 triệu đồngLuật sư Quách Thành Lực cũng cho biết, theo Điều 76 và khoản 2 Điều 78 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, được sửa bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP, thẩm quyền xử phạt vi phạm của CSGT được giới hạn như sau:Chiến sĩ CSGT đang thi hành công vụ có quyền xử phạt tối đa 500 nghìn đồng đối với vi phạm của cá nhân và một triệu đồng đối với vi phạm của tổ chức.Đội trưởng đội CSGT có quyền xử phạt tối đa 1,5 triệu đồng đối với vi phạm của cá nhân và 3 triệu đồng đối với vi phạm của tổ chức.Trưởng đồn công an có quyền xử phạt tối đa 2,5 triệu đồng đối với vi phạm của cá nhân và 5 triệu đồng đối với vi phạm của tổ chức.Trưởng công an cấp huyện, trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục CSGT, trưởng phòng CSGT có quyền xử phạt tối đa 15 triệu đồng đối với vi phạm của cá nhân và 30 triệu đồng đối với vi phạm của tổ chức.Giám đốc công an cấp tỉnh có quyền xử phạt tối đa 37,5 triệu đồng đối với vi phạm của cá nhân và 75 triệu đồng đối với vi phạm của tổ chức.Cục trưởng Cục CSGT có quyền xử phạt tối đa 75 triệu đồng đối với vi phạm của cá nhân và 75 triệu đồng đối với vi phạm của tổ chức.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 89, "text": "Hiện nay cảnh sát giao thông (CSGT) có được xử phạt tại chỗ đối với người vi phạm giao thông hay không? Nếu được thì những lỗi nào CSGT sẽ xử phạt tại chỗ?CSGT được phạt tại chỗ tối đa 500 nghìn đồng.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, Điểm c khoản 1 Điều 20 Nghị định 118/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định cá nhân, tổ chức vi phạm được nộp phạt trực tiếp cho CSGT khi lỗi vi phạm hành chính bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền tối đa đến 250 nghìn đồng đối với cá nhân, 500 nghìn đồng đối với tổ chức.Cụ thể, CSGT được thu tiền phạt tại chỗ với một số lỗi vi phạm như: Xe máy tham gia giao thông không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường; Xe máy không có báo hiệu xin vượt trước khi vượt.Xe máy chở người ngồi trên xe sử dụng ô (dù); Xe máy không sử dụng đèn chiếu sáng trong thời gian từ 19h hôm trước đến 5h hôm sau hoặc khi thời tiết có sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn.Máy kéo, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường.Xe đạp không đi bên phải theo chiều đi của mình hoặc đi không đúng phần đường quy định; Xe đạp dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường.Trường hợp này CSGT sẽ không lập biên bản mà quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ và thu tiền luôn.\"Lưu ý, cũng với mức phạt trên, nếu lỗi vi phạm được phát hiện bởi phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì CSGT sẽ phải lập biên bản vi phạm giao thông\", luật sư Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị.Cục trưởng CSGT có quyền xử phạt tối đa 75 triệu đồngLuật sư Quách Thành Lực cũng cho biết, theo Điều 76 và khoản 2 Điều 78 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, được sửa bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP, thẩm quyền xử phạt vi phạm của CSGT được giới hạn như sau:Chiến sĩ CSGT đang thi hành công vụ có quyền xử phạt tối đa 500 nghìn đồng đối với vi phạm của cá nhân và một triệu đồng đối với vi phạm của tổ chức.Đội trưởng đội CSGT có quyền xử phạt tối đa 1,5 triệu đồng đối với vi phạm của cá nhân và 3 triệu đồng đối với vi phạm của tổ chức.Trưởng đồn công an có quyền xử phạt tối đa 2,5 triệu đồng đối với vi phạm của cá nhân và 5 triệu đồng đối với vi phạm của tổ chức.Trưởng công an cấp huyện, trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục CSGT, trưởng phòng CSGT có quyền xử phạt tối đa 15 triệu đồng đối với vi phạm của cá nhân và 30 triệu đồng đối với vi phạm của tổ chức.Giám đốc công an cấp tỉnh có quyền xử phạt tối đa 37,5 triệu đồng đối với vi phạm của cá nhân và 75 triệu đồng đối với vi phạm của tổ chức.Cục trưởng Cục CSGT có quyền xử phạt tối đa 75 triệu đồng đối với vi phạm của cá nhân và 75 triệu đồng đối với vi phạm của tổ chức." } ], "id": "743", "is_impossible": false, "question": "Cảnh sát giao thông được phạt tại chỗ tối đa bao nhiêu tiền?" } ] } ], "title": "Cảnh sát giao thông được phạt tại chỗ tối đa bao nhiêu tiền?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản, tư vấn bất động sản không đúng quy định, gây thiệt hại cho khách hàng thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự và các quy định pháp luật khác có liên quan. Trường hợp các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản, dịch vụ tư vấn bất động sản thu các loại phí, lệ phí không đúng quy định sẽ bị xử phạt theo Điều 59 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP của Chính phủ. Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hướng dẫn về các khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kinh doanh bất động sản. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng đã có Công văn 5451/BXD-TTr gửi Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh hướng về các khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kinh doanh bất động sản. Bộ Xây dựng cho biết, theo quy định tại Điều 67 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 về nghĩa vụ của doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản: “1. Thực hiện đúng hợp đồng đã ký với khách hàng. 2. Cung cấp hồ sơ, thông tin về bất động sản do mình môi giới và chịu trách nhiệm về hồ sơ, thông tin do mình cung cấp. 5. Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.” Tại Khoản 4 Điều 74 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 quy định: “4. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản chịu trách nhiệm thực hiện cam kết trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra”. Trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản, tư vấn bất động sản không đúng quy định, gây thiệt hại cho khách hàng thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự và các quy định pháp luật khác có liên quan. Theo Bộ Xây dựng, khoản 3 Điều 66, Luật kinh doanh bất động sản 2014 về quyền của doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản quy định: “3. Hưởng thù lao, hoa hồng môi giới theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký với khách hàng”. Khoản 3 Điều 74 Luật kinh doanh bất động sản 2014 quy định: “3. Nội dung, phạm vi tư vấn, quyền và nghĩa vụ của các bên, phí dịch vụ tư vấn bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng”. Do đó, trường hợp các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản, dịch vụ tư vấn bất động sản thu các loại phí, lệ phí không đúng quy định sẽ bị xử phạt theo điểm đ khoản 2 Điều 59 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1048, "text": "“1. Thực hiện đúng hợp đồng đã ký với khách hàng. 2. Cung cấp hồ sơ, thông tin về bất động sản do mình môi giới và chịu trách nhiệm về hồ sơ, thông tin do mình cung cấp. 5. Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.” Tại Khoản 4 Điều 74 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 quy định: “4. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản chịu trách nhiệm thực hiện cam kết trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra”. Trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản, tư vấn bất động sản không đúng quy định, gây thiệt hại cho khách hàng thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự và các quy định pháp luật khác có liên quan. Theo Bộ Xây dựng, khoản 3 Điều 66, Luật kinh doanh bất động sản 2014 về quyền của doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản quy định: “3. Hưởng thù lao, hoa hồng môi giới theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký với khách hàng”. Khoản 3 Điều 74 Luật kinh doanh bất động sản 2014 quy định: “3. Nội dung, phạm vi tư vấn, quyền và nghĩa vụ của các bên, phí dịch vụ tư vấn bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng”. Do đó, trường hợp các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản, dịch vụ tư vấn bất động sản thu các loại phí, lệ phí không đúng quy định sẽ bị xử phạt theo điểm đ khoản 2 Điều 59 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng." } ], "id": "744", "is_impossible": false, "question": "Vi phạm hành chính trong kinh doanh bất động sản, xử lý như thế nào?" } ] } ], "title": "Vi phạm hành chính trong kinh doanh bất động sản, xử lý như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Bạn Nguyễn Thế Đức (Cầu Giấy, TP Hà Nội) hỏi: \"Vừa qua, tôi thấy lực lượng CSGT triển khai phương án hóa trang kết hợp công khai xử lý tài xế vi phạm nồng độ cồn trên các tuyến đường có nhiều quán bia, hàng ăn\". \"Xin hỏi việc CSGT hóa trang để xử lý vi phạm nồng độ cồn có đúng quy định không?\", bạn Đức hỏi.Trung úy Nguyễn Hữu Phương, cán bộ Đội CSGT đường bộ số 6 (Phòng CSGT Công an TP Hà Nội) được phân công vào vị trí hóa trang để báo cho chốt công khai và lực lượng tuần tra biết các trường hợp đã sử dụng rượu bia mà vẫn lái xe. Thiết bị mà trung úy Thịnh mang theo là máy bộ đàm và camera để ghi lại toàn bộ quá trình vi phạm của tài xế.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, Điều 11, Thông tư 32/2023/TT-BCA (thay thế Thông tư 65/2020/TT-BCA) của Bộ Công an quy định tổ CSGT sẽ được bố trí một bộ phận cán bộ hóa trang (mặc thường phục), phối hợp với bộ phận cán bộ tuần tra, kiểm soát công khai theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền ban hành theo quy định. Mục đích để thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên tuyến, địa bàn được phân công.Cũng tại Điều này, việc tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang (mặc thường phục) sẽ chỉ được thực hiện trong hai trường hợp. Thứ nhất, sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ.Thứ hai, đấu tranh phòng, chống tội phạm; tình hình an ninh, trật tự hoặc trật tự, an toàn giao thông đường bộ phức tạp.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).Bên cạnh đó, việc CSGT mặc thường phục phối hợp tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm cần phải đáp ứng được một số điều kiện như, phải có kế hoạch tuần tra, kiểm soát được cấp có thẩm quyền theo quy định ban hành. Nội dung kế hoạch phải nêu rõ phương pháp thực hiện, lực lượng, trang phục, phương thức liên lạc.Cục trưởng Cục CSGT; giám đốc công an cấp tỉnh; trưởng phòng hướng dẫn tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ, đường sắt; trưởng phòng CSGT; trưởng công an cấp huyện theo quy định quyết định việc mặc trang phục cảnh sát, mặc thường phục khi tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang.Bộ phận cán bộ hóa trang và bộ phận cán bộ tuần tra, kiểm soát công khai trong tổ CSGT phải giữ một khoảng cách thích hợp bảo đảm việc xử lý vi phạm kịp thời, đúng pháp luật.Bộ phận cán bộ hóa trang có nhiệm vụ trực tiếp quan sát, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ giám sát tình hình trật tự, an toàn giao thông, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ và hành vi vi phạm pháp luật khác.Khi phát hiện vi phạm phải thông báo ngay cho bộ phận tuần tra, kiểm soát công khai để tiến hành dừng phương tiện, kiểm soát, xử lý theo quy định.Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm nghiêm trọng về giao thông đường bộ, an ninh, trật tự xã hội, nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả nguy hiểm thì sử dụng Giấy chứng minh Công an nhân dân để thông báo, vận động nhân dân phối hợp, ngăn chặn ngay hành vi vi phạm.Sau đó, thông báo và phối hợp với bộ phận cán bộ tuần tra, kiểm soát công khai để giải quyết tại nơi phát hiện vi phạm hoặc đưa đối tượng vi phạm về trụ sở cơ quan công an nơi gần nhất để giải quyết theo quy định.\"Kiểm tra, xử lý vi phạm nồng độ cồn là một trong những nhiệm vụ của CSGT, chính vì thế, theo quy định hiện hành, CSGT có quyền được hóa trang khi kiểm tra và xử lý vi phạm nồng độ cồn\", luật sư Diệp năng Bình nói.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 46, "text": "\"Vừa qua, tôi thấy lực lượng CSGT triển khai phương án hóa trang kết hợp công khai xử lý tài xế vi phạm nồng độ cồn trên các tuyến đường có nhiều quán bia, hàng ăn\". \"Xin hỏi việc CSGT hóa trang để xử lý vi phạm nồng độ cồn có đúng quy định không?\", bạn Đức hỏi.Trung úy Nguyễn Hữu Phương, cán bộ Đội CSGT đường bộ số 6 (Phòng CSGT Công an TP Hà Nội) được phân công vào vị trí hóa trang để báo cho chốt công khai và lực lượng tuần tra biết các trường hợp đã sử dụng rượu bia mà vẫn lái xe. Thiết bị mà trung úy Thịnh mang theo là máy bộ đàm và camera để ghi lại toàn bộ quá trình vi phạm của tài xế.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, Điều 11, Thông tư 32/2023/TT-BCA (thay thế Thông tư 65/2020/TT-BCA) của Bộ Công an quy định tổ CSGT sẽ được bố trí một bộ phận cán bộ hóa trang (mặc thường phục), phối hợp với bộ phận cán bộ tuần tra, kiểm soát công khai theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền ban hành theo quy định. Mục đích để thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên tuyến, địa bàn được phân công.Cũng tại Điều này, việc tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang (mặc thường phục) sẽ chỉ được thực hiện trong hai trường hợp. Thứ nhất, sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ.Thứ hai, đấu tranh phòng, chống tội phạm; tình hình an ninh, trật tự hoặc trật tự, an toàn giao thông đường bộ phức tạp.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).Bên cạnh đó, việc CSGT mặc thường phục phối hợp tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm cần phải đáp ứng được một số điều kiện như, phải có kế hoạch tuần tra, kiểm soát được cấp có thẩm quyền theo quy định ban hành. Nội dung kế hoạch phải nêu rõ phương pháp thực hiện, lực lượng, trang phục, phương thức liên lạc.Cục trưởng Cục CSGT; giám đốc công an cấp tỉnh; trưởng phòng hướng dẫn tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ, đường sắt; trưởng phòng CSGT; trưởng công an cấp huyện theo quy định quyết định việc mặc trang phục cảnh sát, mặc thường phục khi tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang.Bộ phận cán bộ hóa trang và bộ phận cán bộ tuần tra, kiểm soát công khai trong tổ CSGT phải giữ một khoảng cách thích hợp bảo đảm việc xử lý vi phạm kịp thời, đúng pháp luật.Bộ phận cán bộ hóa trang có nhiệm vụ trực tiếp quan sát, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ giám sát tình hình trật tự, an toàn giao thông, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ và hành vi vi phạm pháp luật khác.Khi phát hiện vi phạm phải thông báo ngay cho bộ phận tuần tra, kiểm soát công khai để tiến hành dừng phương tiện, kiểm soát, xử lý theo quy định.Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm nghiêm trọng về giao thông đường bộ, an ninh, trật tự xã hội, nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả nguy hiểm thì sử dụng Giấy chứng minh Công an nhân dân để thông báo, vận động nhân dân phối hợp, ngăn chặn ngay hành vi vi phạm.Sau đó, thông báo và phối hợp với bộ phận cán bộ tuần tra, kiểm soát công khai để giải quyết tại nơi phát hiện vi phạm hoặc đưa đối tượng vi phạm về trụ sở cơ quan công an nơi gần nhất để giải quyết theo quy định.\"Kiểm tra, xử lý vi phạm nồng độ cồn là một trong những nhiệm vụ của CSGT, chính vì thế, theo quy định hiện hành, CSGT có quyền được hóa trang khi kiểm tra và xử lý vi phạm nồng độ cồn\", luật sư Diệp năng Bình nói." } ], "id": "745", "is_impossible": false, "question": "CSGT có được hóa trang xử lý vi phạm nồng độ cồn?" } ] } ], "title": "CSGT có được hóa trang xử lý vi phạm nồng độ cồn?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Trường hợp sửa chữa công trình, thiết bị công trình có chi phí dưới 500 triệu đồng sử dụng vốn Nhà nước ngoài đầu tư công và vốn ngân sách Nhà nước chi thường xuyên thì chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình tự quyết định về kế hoạch sửa chữa. Ảnh minh họa. Ông Bùi Quang Huy (Thành phố Hồ Chí Minh) hỏi, công ty ông có 100% vốn Nhà nước, hàng năm thực hiện việc lập kế hoạch sửa chữa duy tu các công trình do công ty quản lý, sử dụng, giá trị dưới 500 triệu đồng thì có được áp dụng quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều 35 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều 35 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, đối với trường hợp sửa chữa công trình, thiết bị công trình có chi phí dưới 500 triệu đồng sử dụng nguồn vốn Nhà nước ngoài đầu tư công và vốn ngân sách Nhà nước chi thường xuyên thì chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình tự quyết định về kế hoạch sửa chữa. Trường hợp công ty của ông Huy sử dụng nguồn vốn Nhà nước ngoài đầu tư công và vốn ngân sách Nhà nước chi thường xuyên để lập kế hoạch sửa chữa, duy tu các công trình do công ty quản lý sử dụng thì được phép áp dụng quy định nêu trên.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 617, "text": "Theo quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều 35 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, đối với trường hợp sửa chữa công trình, thiết bị công trình có chi phí dưới 500 triệu đồng sử dụng nguồn vốn Nhà nước ngoài đầu tư công và vốn ngân sách Nhà nước chi thường xuyên thì chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình tự quyết định về kế hoạch sửa chữa. Trường hợp công ty của ông Huy sử dụng nguồn vốn Nhà nước ngoài đầu tư công và vốn ngân sách Nhà nước chi thường xuyên để lập kế hoạch sửa chữa, duy tu các công trình do công ty quản lý sử dụng thì được phép áp dụng quy định nêu trên." } ], "id": "746", "is_impossible": false, "question": "Thẩm quyền quyết định kế hoạch sửa chữa, duy tu công trình" } ] } ], "title": "Thẩm quyền quyết định kế hoạch sửa chữa, duy tu công trình" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông Phạm Hoài Linh (Bến Tre) hỏi, theo quy định các quy định hiện hành về quản lý chất lượng công trình xây dựng thì nhà thầu có được cùng lúc thực hiện gói thầu tư vấn giám sát và tư vấn quản lý dự án của cùng một dự án sử dụng vốn Nhà nước hay không? Ảnh minh họa. Ông Linh cũng muốn biết, cũng trong các dự án sử dụng vốn Nhà nước, nhà thầu có được cùng lúc thực hiện gói thầu tư vấn thiết kế và tư vấn quản lý dự án hoặc gói thầu tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát và tư vấn quản lý dự án của cùng một dự án hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn Luật này không quy định việc các chủ thể: Quản lý dự án, tư vấn thiết kế xây dựng công trình và giám sát thi công xây dựng công trình phải độc lập với nhau. Vì vậy, nhà thầu có thể thực hiện các công việc này đồng thời trong trường hợp đáp ứng các điều kiện về năng lực theo quy định của pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 574, "text": "Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn Luật này không quy định việc các chủ thể: Quản lý dự án, tư vấn thiết kế xây dựng công trình và giám sát thi công xây dựng công trình phải độc lập với nhau. Vì vậy, nhà thầu có thể thực hiện các công việc này đồng thời trong trường hợp đáp ứng các điều kiện về năng lực theo quy định của pháp luật." } ], "id": "747", "is_impossible": false, "question": "Có được cùng lúc thực hiện nhiều gói thầu trong một dự án?" } ] } ], "title": "Có được cùng lúc thực hiện nhiều gói thầu trong một dự án?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "CSGT được trang bị phương tiện giao thông để thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát. Tuy nhiên, xe cộ chỉ là phương tiện di chuyển, còn nhiệm vụ, quyền hạn của CSGT là phát hiện, xử lý vi phạm hành chính về giao thông. Do đó, CSGT đi xe biển trắng vẫn có quyền dừng xe có dấu hiệu vi phạm giao thông để kiểm tra, xử lý.Theo Thông tư 32/2023 quy định về quyền hạn của CSGT trong tuần tra, kiểm soát giao thông, CSGT được dừng các phương tiện tham gia giao thông đường bộ; kiểm soát người và phương tiện giao thông, giấy tờ của người điều khiển phương tiện giao thông, giấy tờ của phương tiện và giấy tờ tùy thân của người trên phương tiện đang kiểm soát; kiểm soát việc thực hiện các quy định về an toàn vận tải đường bộ.ịnh về quyền hạn của CSGT trong tuần tra, kiểm soát giao thông, CSGT được dừng các phương tiện tham gia giao thông đường bộ; kiểm soát người và phương tiện giao thông, giấy tờ của người điều khiển phương tiện giao thông, giấy tờ của phương tiện và giấy tờ tùy thân của người trên phương tiện đang kiểm soát; kiểm soát việc thực hiện các quy định về an toàn vận tải đường bộ.Được áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ, trật tự xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác theo quy định.Cũng theo quy định, CSGT được trang bị trang phục, phương tiện giao thông, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và vũ khí, công cụ hỗ trợ.Khi tuần tra, kiểm soát công khai, cán bộ CSGT sử dụng trang phục cảnh sát, đeo số hiệu công an nhân dân, dây lưng chéo theo quy định. Khi kiểm soát vào buổi tối, ban đêm hoặc ban ngày trong điều kiện thời tiết sương mù, thời tiết xấu làm hạn chế tầm nhìn phải mặc áo phản quang. Phương tiện giao thông được trang bị gồm xe ô tô, mô tô tuần tra, kiểm soát; xe chuyên dùng.Vũ khí, công cụ hỗ trợ, gồm súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên, súng bắn điện, súng bắn lưới, súng bắn đạn cao su, súng bắn đạn cay, súng bắn đạn đánh dấu, bình xịt cay, dùi cui điện, áo giáp, khóa số 8, gậy chỉ huy giao thông.Phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được trang bị, sử dụng theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 135/2021/NĐ-CP và tiêu chuẩn, định mức theo quy định của Bộ Công an.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "CSGT được trang bị phương tiện giao thông để thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát. Tuy nhiên, xe cộ chỉ là phương tiện di chuyển, còn nhiệm vụ, quyền hạn của CSGT là phát hiện, xử lý vi phạm hành chính về giao thông. Do đó, CSGT đi xe biển trắng vẫn có quyền dừng xe có dấu hiệu vi phạm giao thông để kiểm tra, xử lý.Theo Thông tư 32/2023 quy định về quyền hạn của CSGT trong tuần tra, kiểm soát giao thông, CSGT được dừng các phương tiện tham gia giao thông đường bộ; kiểm soát người và phương tiện giao thông, giấy tờ của người điều khiển phương tiện giao thông, giấy tờ của phương tiện và giấy tờ tùy thân của người trên phương tiện đang kiểm soát; kiểm soát việc thực hiện các quy định về an toàn vận tải đường bộ.ịnh về quyền hạn của CSGT trong tuần tra, kiểm soát giao thông, CSGT được dừng các phương tiện tham gia giao thông đường bộ; kiểm soát người và phương tiện giao thông, giấy tờ của người điều khiển phương tiện giao thông, giấy tờ của phương tiện và giấy tờ tùy thân của người trên phương tiện đang kiểm soát; kiểm soát việc thực hiện các quy định về an toàn vận tải đường bộ.Được áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ, trật tự xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác theo quy định.Cũng theo quy định, CSGT được trang bị trang phục, phương tiện giao thông, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và vũ khí, công cụ hỗ trợ.Khi tuần tra, kiểm soát công khai, cán bộ CSGT sử dụng trang phục cảnh sát, đeo số hiệu công an nhân dân, dây lưng chéo theo quy định. Khi kiểm soát vào buổi tối, ban đêm hoặc ban ngày trong điều kiện thời tiết sương mù, thời tiết xấu làm hạn chế tầm nhìn phải mặc áo phản quang. Phương tiện giao thông được trang bị gồm xe ô tô, mô tô tuần tra, kiểm soát; xe chuyên dùng.Vũ khí, công cụ hỗ trợ, gồm súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên, súng bắn điện, súng bắn lưới, súng bắn đạn cao su, súng bắn đạn cay, súng bắn đạn đánh dấu, bình xịt cay, dùi cui điện, áo giáp, khóa số 8, gậy chỉ huy giao thông.Phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được trang bị, sử dụng theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 135/2021/NĐ-CP và tiêu chuẩn, định mức theo quy định của Bộ Công an." } ], "id": "748", "is_impossible": false, "question": "CSGT đi xe biển trắng có được kiểm tra giấy tờ?" } ] } ], "title": "CSGT đi xe biển trắng có được kiểm tra giấy tờ?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Tùy vào vị trí, công việc đảm nhận, yêu cầu của dự án, cá nhân đảm nhận chức danh chuyên viên quản lý thiết kế của tổ tư vấn quản lý dự án sẽ phải có chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng tương ứng. Tại Điểm b Khoản 5 Điều 21, Khoản 3 Điều 22 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng (ảnh minh họa). Theo Luật Xây dựng và Nghị định số 59/2021/NĐ-CP thì năng lực cá nhân của các thành viên của tổ chức tư vấn quản lý dự án được quy định như sau: Giám đốc quản lý dự án cần phải có chứng chỉ hành nghề quản lý dự án, thành viên được giao nhiệm vụ chuyên môn thì phải có chứng chỉ hành nghề về giám sát hoặc định giá xây dựng phù hợp với công việc được giao đảm nhận. Ông Phan Hoài Bảo (Thành phố Hồ Chí Minh) hỏi, như vậy chuyên viên quản lý thiết kế của tổ tư vấn quản lý dự án cũng yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề về giám sát hoặc định giá xây dựng hay yêu cầu chứng chỉ hành nghề về thiết kế có đúng không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 21, Khoản 3 Điều 22 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng thì cá nhân phụ trách các lĩnh vực chuyên môn của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án phải có chứng chỉ hành nghề về giám sát thi công xây dựng, định giá xây dựng có hạng phù hợp với nhóm dự án, cấp công trình và công việc đảm nhận. Theo quy định tại Điều 94 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP thì cá nhân phụ trách các lĩnh vực chuyên môn của tổ chức tham gia hoạt động tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng phải có chứng chỉ hành nghề về giám sát thi công xây dựng, định giá xây dựng phù hợp với công việc đảm nhận. Như vậy, tùy vào vị trí, công việc đảm nhận, yêu cầu của dự án, cá nhân đảm nhận chức danh chuyên viên quản lý thiết kế của tổ tư vấn quản lý dự án sẽ phải có chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng tương ứng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 537, "text": "Giám đốc quản lý dự án cần phải có chứng chỉ hành nghề quản lý dự án, thành viên được giao nhiệm vụ chuyên môn thì phải có chứng chỉ hành nghề về giám sát hoặc định giá xây dựng phù hợp với công việc được giao đảm nhận. Ông Phan Hoài Bảo (Thành phố Hồ Chí Minh) hỏi, như vậy chuyên viên quản lý thiết kế của tổ tư vấn quản lý dự án cũng yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề về giám sát hoặc định giá xây dựng hay yêu cầu chứng chỉ hành nghề về thiết kế có đúng không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 21, Khoản 3 Điều 22 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng thì cá nhân phụ trách các lĩnh vực chuyên môn của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án phải có chứng chỉ hành nghề về giám sát thi công xây dựng, định giá xây dựng có hạng phù hợp với nhóm dự án, cấp công trình và công việc đảm nhận. Theo quy định tại Điều 94 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP thì cá nhân phụ trách các lĩnh vực chuyên môn của tổ chức tham gia hoạt động tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng phải có chứng chỉ hành nghề về giám sát thi công xây dựng, định giá xây dựng phù hợp với công việc đảm nhận. Như vậy, tùy vào vị trí, công việc đảm nhận, yêu cầu của dự án, cá nhân đảm nhận chức danh chuyên viên quản lý thiết kế của tổ tư vấn quản lý dự án sẽ phải có chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng tương ứng." } ], "id": "749", "is_impossible": false, "question": "Chuyên viên quản lý thiết kế có cần chứng chỉ hành nghề xây dựng?" } ] } ], "title": "Chuyên viên quản lý thiết kế có cần chứng chỉ hành nghề xây dựng?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Pháp luật về dân sự quy định trong trường hợp cho mượn tài sản là xe ô tô, chủ phương tiện được xác định là người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan. Khi chiếc xe cho mượn liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật, chủ xe phải đến cơ quan công an để giải quyết.Nếu chủ xe giao ô tô cho người không đủ điều kiện tham gia giao thông, sẽ bị phạt tiền từ 4-6 triệu đồng (chủ xe là cá nhân) và 8-12 triệu đồng (tổ chức). Trường hợp chủ xe cho mượn, giao xe cho người đủ điều kiện tham gia giao thông mà người này vi phạm giao thông, chủ phương tiện sẽ không bị xử phạt hành chính. Tuy nhiên, chiếc xe vi phạm mà bị tạm giữ thì chủ sở hữu và người vi phạm phải cùng đi làm thủ tục giải quyết.Đáng chú ý, nếu cho mượn xe, giao xe cho tài xế không đủ điều kiện tham gia giao thông (không có bằng lái…) mà người này gây tai nạn đến mức phải xử lý hình sự, chủ xe phải chịu trách nhiệm liên đới. Cụ thể, theo Điều 264 Bộ luật Hình sự quy định về tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, chủ xe có thể bị phạt tiền từ 3-30 triệu đồng, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1-3 năm. Nếu hành vi gây tai nạn để lại hậu quả rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 2-12 năm. Về trách nhiệm dân sự, chủ xe có thể phải liên đới bồi thường bởi theo quy định, ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, chủ xe hoặc người được giao xe gây ra thiệt hại thì phải bồi thường.Bên cạnh đó, chiếc xe sẽ bị tạm giữ để phục vụ quá trình điều tra. Sau khi hoàn tất tố tụng, phương tiện mà không liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật hình sự thì tòa án sẽ tuyên trả lại cho chủ tài sản.Nghiêm trọng hơn, nếu chiếc xe cho mượn đó liên quan vụ án hình sự (người mượn xe để vận chuyển hàng cấm, dùng làm phương tiện đi cướp, trộm cắp tài sản…) thì chủ phương tiện có thể bị xem xét xử lý hình sự (nếu biết phạm pháp mà vẫn cho mượn, không tố giác…), hoặc không phải chịu trách nhiệm hình sự (nếu không biết đối tượng mượn xe để đi gây án).", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Pháp luật về dân sự quy định trong trường hợp cho mượn tài sản là xe ô tô, chủ phương tiện được xác định là người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan. Khi chiếc xe cho mượn liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật, chủ xe phải đến cơ quan công an để giải quyết.Nếu chủ xe giao ô tô cho người không đủ điều kiện tham gia giao thông, sẽ bị phạt tiền từ 4-6 triệu đồng (chủ xe là cá nhân) và 8-12 triệu đồng (tổ chức). Trường hợp chủ xe cho mượn, giao xe cho người đủ điều kiện tham gia giao thông mà người này vi phạm giao thông, chủ phương tiện sẽ không bị xử phạt hành chính. Tuy nhiên, chiếc xe vi phạm mà bị tạm giữ thì chủ sở hữu và người vi phạm phải cùng đi làm thủ tục giải quyết.Đáng chú ý, nếu cho mượn xe, giao xe cho tài xế không đủ điều kiện tham gia giao thông (không có bằng lái…) mà người này gây tai nạn đến mức phải xử lý hình sự, chủ xe phải chịu trách nhiệm liên đới. Cụ thể, theo Điều 264 Bộ luật Hình sự quy định về tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, chủ xe có thể bị phạt tiền từ 3-30 triệu đồng, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1-3 năm. Nếu hành vi gây tai nạn để lại hậu quả rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 2-12 năm. Về trách nhiệm dân sự, chủ xe có thể phải liên đới bồi thường bởi theo quy định, ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, chủ xe hoặc người được giao xe gây ra thiệt hại thì phải bồi thường.Bên cạnh đó, chiếc xe sẽ bị tạm giữ để phục vụ quá trình điều tra. Sau khi hoàn tất tố tụng, phương tiện mà không liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật hình sự thì tòa án sẽ tuyên trả lại cho chủ tài sản.Nghiêm trọng hơn, nếu chiếc xe cho mượn đó liên quan vụ án hình sự (người mượn xe để vận chuyển hàng cấm, dùng làm phương tiện đi cướp, trộm cắp tài sản…) thì chủ phương tiện có thể bị xem xét xử lý hình sự (nếu biết phạm pháp mà vẫn cho mượn, không tố giác…), hoặc không phải chịu trách nhiệm hình sự (nếu không biết đối tượng mượn xe để đi gây án)." } ], "id": "750", "is_impossible": false, "question": "Người mượn xe gây tai nạn, chủ xe có trách nhiệm gì?" } ] } ], "title": "Người mượn xe gây tai nạn, chủ xe có trách nhiệm gì?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Ngày 21/12, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã thi hành quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam và Lệnh khám xét đối với ông Đỗ Thắng Hải, Thứ trưởng Bộ Công thương về tội Nhận hối lộ, quy định tại khoản 4 Điều 354 Bộ luật Hình sự.Theo đó, quá trình điều tra vụ án Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí; Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; Đưa hối lộ; Nhận hối lộ; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi xảy ra tại Công ty TNHH Thương mại Vận tải và Du lịch Xuyên Việt Oil và một số cơ quan, tổ chức liên quan, Bộ Công an đã thi hành quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam và lệnh khám xét đối với ông Đỗ Thắng Hải.Ông Đỗ Thắng Hải, Thứ trưởng Bộ Công thương.Nhìn nhận sự việc dưới góc độ pháp lý, luật sư Diệp Năng Bình – Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định nhận hối lộ là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận, hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải bị bắtVụ bắt ông Đỗ Thắng Hải: Bất thường việc cấp phép kinh doanh xăng dầu cho Xuyên Việt OilĐiều 364 tội nhận hối lộ quy định, phạt tù từ 2-7 năm nếu nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7-15 năm: Có tổ chức; Lạm dụng chức vụ, quyền hạn; Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; Gây thiệt hại về tài sản từ 1 tỷ đồng đến dưới 3 tỷ đồng; Phạm tội 2 lần trở lên; Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước; Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15-20 năm: Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng; Gây thiệt hại về tài sản từ 3 tỷ đồng đến dưới 5 tỷ đồng.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1 tỷ đồng trở lên; Gây thiệt hại về tài sản 5 tỷ đồng trở lên. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1-5 năm, có thể bị phạt tiền từ 30-100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.\"Như vậy, mức hình phạt cao nhất đối với tội nhận hối lộ là tử hình nếu của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1 tỷ đồng trở lên, hoặc việc nhận hối lộ gây thiệt hại về tài sản 5 tỷ đồng trở lên\", luật sư Diệp Năng Bình thông tin.Ngoài ra, ông Diệp Năng Bình cho hay, người nhận hối lộ sau khi bị tòa tuyên án tử hình, nếu chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì sẽ không bị thi hành án tử hình, mà được chuyển thành tù chung thân theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015.Ông Bình cũng lưu ý, trường hợp người phạm tội nhận hối lộ rơi vào khoản 3 và khoản 4, khi của hối lộ từ 500 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 3 tỷ đồng trở lên thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. \"Tức, dù thời điểm nhận hối lộ có thể là vài chục năm hoặc lâu hơn thế nhưng khi phát hiện, có đầy đủ chứng cứ, thì vẫn xử lý người phạm tội\", luật sư Diệp Năng Bình nói.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1279, "text": "Bất thường việc cấp phép kinh doanh xăng dầu cho Xuyên Việt OilĐiều 364 tội nhận hối lộ quy định, phạt tù từ 2-7 năm nếu nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7-15 năm: Có tổ chức; Lạm dụng chức vụ, quyền hạn; Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; Gây thiệt hại về tài sản từ 1 tỷ đồng đến dưới 3 tỷ đồng; Phạm tội 2 lần trở lên; Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước; Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15-20 năm: Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng; Gây thiệt hại về tài sản từ 3 tỷ đồng đến dưới 5 tỷ đồng.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1 tỷ đồng trở lên; Gây thiệt hại về tài sản 5 tỷ đồng trở lên. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1-5 năm, có thể bị phạt tiền từ 30-100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.\"Như vậy, mức hình phạt cao nhất đối với tội nhận hối lộ là tử hình nếu của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1 tỷ đồng trở lên, hoặc việc nhận hối lộ gây thiệt hại về tài sản 5 tỷ đồng trở lên\", luật sư Diệp Năng Bình thông tin.Ngoài ra, ông Diệp Năng Bình cho hay, người nhận hối lộ sau khi bị tòa tuyên án tử hình, nếu chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì sẽ không bị thi hành án tử hình, mà được chuyển thành tù chung thân theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015.Ông Bình cũng lưu ý, trường hợp người phạm tội nhận hối lộ rơi vào khoản 3 và khoản 4, khi của hối lộ từ 500 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 3 tỷ đồng trở lên thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. \"Tức, dù thời điểm nhận hối lộ có thể là vài chục năm hoặc lâu hơn thế nhưng khi phát hiện, có đầy đủ chứng cứ, thì vẫn xử lý người phạm tội\", luật sư Diệp Năng Bình nói." } ], "id": "751", "is_impossible": false, "question": "Tội danh ông Đỗ Thắng Hải bị khởi tố có mức án ra sao?" } ] } ], "title": "Tội danh ông Đỗ Thắng Hải bị khởi tố có mức án ra sao?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Theo ý kiến của cử tri tỉnh Hòa Bình, hiện nay, đời sống của cán bộ, công chức còn khó khăn, do vậy nhu cầu mua nhà ở xã hội là rất lớn. Tuy nhiên, tiêu chuẩn, điều kiện để được vay vốn mua nhà ở xã hội còn khó tiếp cận. Ảnh minh họa. Cử tri đề nghị cơ quan có thẩm quyền quan tâm, điều chỉnh các tiêu chí, điều kiện để người có thu nhập thấp, đặc biệt là cán bộ, công chức ở cấp huyện, cấp xã có cơ hội dễ dàng tiếp cận nguồn vốn hơn. Bộ Xây dựng trả lời cử tri tỉnh Hòa Bình như sau: Ngày 27/11/2023, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua dự án Luật Nhà ở (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 1/1/2025. Dự án Luật Nhà ở (sửa đổi) đã quy định theo hướng giảm bớt các thủ tục hành chính, quy định các điều kiện, tiêu chí để các đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội có thể dễ dàng được vay vốn mua nhà ở xã hội. Cụ thể là: Các đối tượng là người thu nhập thấp tại khu vực đô thị và cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức để được mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải đáp ứng các điều kiện về nhà ở và thu nhập theo quy định (tại Điểm a, b Khoản 1 Điều 78) và được vay vốn để mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải có hợp đồng mua, thuê mua nhà ở xã hội và phải đáp ứng điều kiện vay vốn theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng (Điểm a Khoản 3 Điều 78). Trong thời gian tới, Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục nghiên cứu dự thảo Nghị định của Chính phủ hướng dẫn cụ thể về nội dung này, bảo đảm các quy định có hiệu lực đồng bộ từ ngày 1/1/2025.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 499, "text": "Ngày 27/11/2023, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua dự án Luật Nhà ở (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 1/1/2025. Dự án Luật Nhà ở (sửa đổi) đã quy định theo hướng giảm bớt các thủ tục hành chính, quy định các điều kiện, tiêu chí để các đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội có thể dễ dàng được vay vốn mua nhà ở xã hội. Cụ thể là: Các đối tượng là người thu nhập thấp tại khu vực đô thị và cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức để được mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải đáp ứng các điều kiện về nhà ở và thu nhập theo quy định (tại Điểm a, b Khoản 1 Điều 78) và được vay vốn để mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải có hợp đồng mua, thuê mua nhà ở xã hội và phải đáp ứng điều kiện vay vốn theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng (Điểm a Khoản 3 Điều 78). Trong thời gian tới, Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục nghiên cứu dự thảo Nghị định của Chính phủ hướng dẫn cụ thể về nội dung này, bảo đảm các quy định có hiệu lực đồng bộ từ ngày 1/1/2025." } ], "id": "752", "is_impossible": false, "question": "Giảm bớt thủ tục, điều kiện hưởng chính sách nhà ở xã hội" } ] } ], "title": "Giảm bớt thủ tục, điều kiện hưởng chính sách nhà ở xã hội" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) – Bộ Xây dựng vừa ban hành Công văn 5821/BXD-QLN trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Bắc Giang liên quan đến vấn đề nhà ở xã hội. Trong đó, đề nghị tham mưu Chính phủ trình Quốc hội nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Luật Nhà ở và các luật liên quan cho phù hợp. Ngày 27/11/2023, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua dự án Luật Nhà ở (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 01/01/2025 (ảnh: T/L). Bộ Xây dựng nhận được kiến nghị của cử tri tỉnh Bắc Giang với nội dung: “Hiện nay, việc quy định các dự án nhà ở xã hội phải dành tối thiểu 20% diện tích nhà ở để cho thuê và chủ đầu tư chỉ bán lại sau 5 năm đưa vào sử dụng rất khó thực hiện, do trên thực tế có nhiều dự án không cho thuê được phần diện tích này, dẫn đến các căn hộ để không gây lãng phí. Các ưu đãi cho chủ đầu tư như miễn tiền sử dụng đất, giảm 50% thuế, được dành 20% tổng diện tích đất ở (hoặc diện tích sàn xây dựng) để kinh doanh nhà ở thương mại (hoặc sàn kinh doanh thương mại), được vay vốn với lãi suất ưu đãi... không thực chất vì chủ đầu tư không được hưởng, mà là người dân được hưởng do theo quy định không được tính các khoản ưu đãi của Nhà nước vào giá bán, giá cho thuê, giá cho thuê mua nhà ở xã hội. Mặt khác, việc quy định về khống chế tỷ lệ lợi nhuận trên thực tế giá bán, cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội chưa tính đến các chi phí hợp lệ, hợp lý như chi phí tổ chức bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp... trong khi lợi nhuận định mức không vượt quá 10% nên khó khăn về huy động vốn đầu tư của các cổ đông, thời gian thực hiện dự án kéo dài làm tăng chi phí sử dụng vốn đầu tư”. Do đó, cử tri tỉnh Bắc Giang đề nghị tham mưu Chính phủ trình Quốc hội nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Luật Nhà ở và các luật liên quan cho phù hợp. Trả lời vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết: Ngày 27/11/2023, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua dự án Luật Nhà ở (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 01/01/2025. Theo đó, Luật Nhà ở (sửa đổi) bãi bỏ quy định tại khoản 3 Điều 54 Luật Nhà ở năm 2014, theo đó chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội không phải dành tối thiểu 20% diện tích nhà ở xã hội trong dự án để cho thuê. Luật Nhà ở (sửa đổi) có quy định tại điểm e khoản 1 Điều 89 như sau: Sau thời hạn 05 năm, kể từ ngày đã thanh toán đủ tiền mua nhà ở, bên mua nhà ở xã hội được bán lại nhà ở này theo cơ chế thị trường cho đối tượng có nhu cầu nếu đã được cấp Giấy chứng nhận; bên bán không phải nộp tiền sử dụng đất và phải nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật về thuế, trừ trường hợp bán nhà ở xã hội là nhà ở riêng lẻ thì bên bán phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ và phải nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật về thuế. Luật Nhà ở (sửa đổi) có quy định chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để bán, cho thuê mua, cho thuê được hưởng các ưu đãi gồm: Được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; được miễn, giảm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp…; được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam…; được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần kinh phí đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật… Đồng thời được hưởng lợi nhuận định mức tối đa 10% tổng chi phí đầu tư xây dựng đối với phần diện tích xây dựng nhà ở xã hội; được dành tỷ lệ tối đa 20% tổng diện tích đất ở để đầu tư xây dựng công trình kinh doanh dịch vụ, thương mại, nhà ở thương mại hoặc 20% tổng diện tích sàn nhà ở để kinh doanh dịch vụ, thương mại; được hạch toán riêng và được hưởng toàn bộ lợi nhuận đối với phần diện tích công trình kinh doanh dịch vụ, thương mại, nhà ở thương mại. Như vậy, các kiến nghị của cử tri tỉnh Bắc Giang sẽ được giải quyết sau khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực thi hành.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 408, "text": "T/L). Bộ Xây dựng nhận được kiến nghị của cử tri tỉnh Bắc Giang với nội dung: “Hiện nay, việc quy định các dự án nhà ở xã hội phải dành tối thiểu 20% diện tích nhà ở để cho thuê và chủ đầu tư chỉ bán lại sau 5 năm đưa vào sử dụng rất khó thực hiện, do trên thực tế có nhiều dự án không cho thuê được phần diện tích này, dẫn đến các căn hộ để không gây lãng phí. Các ưu đãi cho chủ đầu tư như miễn tiền sử dụng đất, giảm 50% thuế, được dành 20% tổng diện tích đất ở (hoặc diện tích sàn xây dựng) để kinh doanh nhà ở thương mại (hoặc sàn kinh doanh thương mại), được vay vốn với lãi suất ưu đãi... không thực chất vì chủ đầu tư không được hưởng, mà là người dân được hưởng do theo quy định không được tính các khoản ưu đãi của Nhà nước vào giá bán, giá cho thuê, giá cho thuê mua nhà ở xã hội. Mặt khác, việc quy định về khống chế tỷ lệ lợi nhuận trên thực tế giá bán, cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội chưa tính đến các chi phí hợp lệ, hợp lý như chi phí tổ chức bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp... trong khi lợi nhuận định mức không vượt quá 10% nên khó khăn về huy động vốn đầu tư của các cổ đông, thời gian thực hiện dự án kéo dài làm tăng chi phí sử dụng vốn đầu tư”. Do đó, cử tri tỉnh Bắc Giang đề nghị tham mưu Chính phủ trình Quốc hội nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Luật Nhà ở và các luật liên quan cho phù hợp. Trả lời vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết: Ngày 27/11/2023, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua dự án Luật Nhà ở (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 01/01/2025. Theo đó, Luật Nhà ở (sửa đổi) bãi bỏ quy định tại khoản 3 Điều 54 Luật Nhà ở năm 2014, theo đó chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội không phải dành tối thiểu 20% diện tích nhà ở xã hội trong dự án để cho thuê. Luật Nhà ở (sửa đổi) có quy định tại điểm e khoản 1 Điều 89 như sau: Sau thời hạn 05 năm, kể từ ngày đã thanh toán đủ tiền mua nhà ở, bên mua nhà ở xã hội được bán lại nhà ở này theo cơ chế thị trường cho đối tượng có nhu cầu nếu đã được cấp Giấy chứng nhận; bên bán không phải nộp tiền sử dụng đất và phải nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật về thuế, trừ trường hợp bán nhà ở xã hội là nhà ở riêng lẻ thì bên bán phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ và phải nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật về thuế. Luật Nhà ở (sửa đổi) có quy định chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để bán, cho thuê mua, cho thuê được hưởng các ưu đãi gồm: Được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; được miễn, giảm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp…; được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam…; được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần kinh phí đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật… Đồng thời được hưởng lợi nhuận định mức tối đa 10% tổng chi phí đầu tư xây dựng đối với phần diện tích xây dựng nhà ở xã hội; được dành tỷ lệ tối đa 20% tổng diện tích đất ở để đầu tư xây dựng công trình kinh doanh dịch vụ, thương mại, nhà ở thương mại hoặc 20% tổng diện tích sàn nhà ở để kinh doanh dịch vụ, thương mại; được hạch toán riêng và được hưởng toàn bộ lợi nhuận đối với phần diện tích công trình kinh doanh dịch vụ, thương mại, nhà ở thương mại. Như vậy, các kiến nghị của cử tri tỉnh Bắc Giang sẽ được giải quyết sau khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực thi hành." } ], "id": "753", "is_impossible": false, "question": "Bộ Xây dựng trả lời cử tri Bắc Giang liên quan đến nhà ở xã hội theo Luật Nhà ở 2023" } ] } ], "title": "Bộ Xây dựng trả lời cử tri Bắc Giang liên quan đến nhà ở xã hội theo Luật Nhà ở 2023" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Khi nào xe biển xanh được ưu tiên đi ngược chiều?Theo clip được đăng tải trên mạng xã hội, chiếc xe biển xanh đang bật đèn tín hiệu ưu tiên đi ngược chiều trên đường phố Hà Nội đông đúc. Sau đó, một người đàn ông đi xe máy đã tiến tới chặn đầu xe, yêu cầu chiếc xe ô tô này đi lùi lại để đi đúng làn đường.Từ clip này, nhiều bạn đọc băn khoăn: Xe ưu tiên có được đi ngược chiều? Người đi xe máy có quyền cản đường xe ưu tiên?Theo quy định hiện hành, không phải lúc nào xe biển xanh, đỏ cũng được ưu tiên.Trả lời bạn đọc, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, theo Thông tư 24/2023/TT-BCA của Bộ Công an về biển số xe cơ giới, xe biển xanh là loại xe ô tô, gắn máy thông thường được gắn biển xanh để thực hiện như loại xe chuyên dùng của các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập. Xe biển xanh gắn biển số có nền màu xanh; chữ, số trên biển có màu trắng.Khoản 1 Điều 22 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định những xe sau đây được quyền ưu tiên đi trước xe khác khi qua đường giao nhau từ bất kỳ hướng nào tới theo thứ tự: Xe chữa cháy đi làm nhiệm vụ; Xe quân sự, xe công an đi làm nhiệm vụ khẩn cấp, đoàn xe có xe cảnh sát dẫn đường; Xe cứu thương đang thực hiện nhiệm vụ cấp cứu; Xe hộ đê, xe đi làm nhiệm vụ khắc phục sự cố thiên tai, dịch bệnh hoặc xe đi làm nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật; Đoàn xe tang.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).\"Những xe ưu tiên nêu trên (trừ đoàn xe tang) khi đi làm nhiệm vụ phải có tín hiệu còi, cờ, đèn theo quy định; không bị hạn chế tốc độ; được phép đi vào đường ngược chiều, các đường khác có thể đi được, kể cả khi có tín hiệu đèn đỏ và chỉ phải tuân theo chỉ dẫn của người điều khiển giao thông\", ông Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực cho biết, xe biển xanh được quyền ưu tiên, trong đó có quyền đi ngược chiều nếu đáp ứng điều kiện xe đang đi làm nhiệm vụ và xe bật tín hiệu của xe được quyền ưu tiên như còi, cờ, đèn. \"Lưu ý, không phải tất cả các loại xe biển xanh đều được ưu tiên khi tham gia giao thông mà chỉ khi những xe đó đang thực hiện nhiệm vụ, phát tín hiệu xe ưu tiên thì mới được quyền ưu tiên\", luật sư Lực cho hay.Cản đường xe ưu tiên bị phạt thế nào? Theo Luật Giao thông đường bộ 2008, khi có tín hiệu của xe được quyền ưu tiên, người tham gia giao thông phải nhanh chóng giảm tốc độ, tránh hoặc dừng lại sát lề đường bên phải để nhường đường. Không được gây cản trở xe được quyền ưu tiên.Hành vi không nhường đường hoặc gây cản trở cho xe ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ là hành vi vi phạm pháp luật, có thể bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP) mức phạt từ 400-600 nghìn đồng đối với xe máy, và 2-3 triệu đồng đối với ô tô.Trường hợp cản trở xe ưu tiên, dẫn tới hậu quả nghiêm trọng như gây ra thiệt hại về người và tài sản thì người cản đường xe ưu tiên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.Cụ thể, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời thì bị phạt tiền từ 10-50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm. Theo Thông tư 24/2023/TT-BCA của Bộ Công an, xe có biển màu xanh cấp cho các cơ quan của Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp, các Ban chỉ đạo Trung ương, Công an nhân dân, Tòa án nhân dân;Viện kiểm sát nhân dân, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, UBND các cấp và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện; tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam);Đơn vị sự nghiệp công lập, trừ Trung tâm đào tạo sát hạch lái xe công lập, Ban quản lý dự án có chức năng quản lý nhà nước. Biển số nền màu xanh, chữ và số màu trắng có ký hiệu \"CD\" cấp cho xe máy chuyên dùng của lực lượng Công an nhân dân sử dụng vào mục đích an ninh.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 344, "text": "Xe ưu tiên có được đi ngược chiều? Người đi xe máy có quyền cản đường xe ưu tiên?Theo quy định hiện hành, không phải lúc nào xe biển xanh, đỏ cũng được ưu tiên.Trả lời bạn đọc, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, theo Thông tư 24/2023/TT-BCA của Bộ Công an về biển số xe cơ giới, xe biển xanh là loại xe ô tô, gắn máy thông thường được gắn biển xanh để thực hiện như loại xe chuyên dùng của các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập. Xe biển xanh gắn biển số có nền màu xanh; chữ, số trên biển có màu trắng.Khoản 1 Điều 22 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định những xe sau đây được quyền ưu tiên đi trước xe khác khi qua đường giao nhau từ bất kỳ hướng nào tới theo thứ tự: Xe chữa cháy đi làm nhiệm vụ; Xe quân sự, xe công an đi làm nhiệm vụ khẩn cấp, đoàn xe có xe cảnh sát dẫn đường; Xe cứu thương đang thực hiện nhiệm vụ cấp cứu; Xe hộ đê, xe đi làm nhiệm vụ khắc phục sự cố thiên tai, dịch bệnh hoặc xe đi làm nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật; Đoàn xe tang.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).\"Những xe ưu tiên nêu trên (trừ đoàn xe tang) khi đi làm nhiệm vụ phải có tín hiệu còi, cờ, đèn theo quy định; không bị hạn chế tốc độ; được phép đi vào đường ngược chiều, các đường khác có thể đi được, kể cả khi có tín hiệu đèn đỏ và chỉ phải tuân theo chỉ dẫn của người điều khiển giao thông\", ông Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực cho biết, xe biển xanh được quyền ưu tiên, trong đó có quyền đi ngược chiều nếu đáp ứng điều kiện xe đang đi làm nhiệm vụ và xe bật tín hiệu của xe được quyền ưu tiên như còi, cờ, đèn. \"Lưu ý, không phải tất cả các loại xe biển xanh đều được ưu tiên khi tham gia giao thông mà chỉ khi những xe đó đang thực hiện nhiệm vụ, phát tín hiệu xe ưu tiên thì mới được quyền ưu tiên\", luật sư Lực cho hay.Cản đường xe ưu tiên bị phạt thế nào? Theo Luật Giao thông đường bộ 2008, khi có tín hiệu của xe được quyền ưu tiên, người tham gia giao thông phải nhanh chóng giảm tốc độ, tránh hoặc dừng lại sát lề đường bên phải để nhường đường. Không được gây cản trở xe được quyền ưu tiên.Hành vi không nhường đường hoặc gây cản trở cho xe ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ là hành vi vi phạm pháp luật, có thể bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP) mức phạt từ 400-600 nghìn đồng đối với xe máy, và 2-3 triệu đồng đối với ô tô.Trường hợp cản trở xe ưu tiên, dẫn tới hậu quả nghiêm trọng như gây ra thiệt hại về người và tài sản thì người cản đường xe ưu tiên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.Cụ thể, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời thì bị phạt tiền từ 10-50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm. Theo Thông tư 24/2023/TT-BCA của Bộ Công an, xe có biển màu xanh cấp cho các cơ quan của Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp, các Ban chỉ đạo Trung ương, Công an nhân dân, Tòa án nhân dân;Viện kiểm sát nhân dân, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, UBND các cấp và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện; tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam);Đơn vị sự nghiệp công lập, trừ Trung tâm đào tạo sát hạch lái xe công lập, Ban quản lý dự án có chức năng quản lý nhà nước. Biển số nền màu xanh, chữ và số màu trắng có ký hiệu \"CD\" cấp cho xe máy chuyên dùng của lực lượng Công an nhân dân sử dụng vào mục đích an ninh." } ], "id": "754", "is_impossible": false, "question": "Cản đường xe ưu tiên, xử lý thế nào?" } ] } ], "title": "Cản đường xe ưu tiên, xử lý thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Thông tin đến đường dây nóng Báo Giao thông, bạn đọc Nguyễn Văn Thuận (quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội) cho biết, vừa qua CSGT tăng cường xử lý vi phạm nồng độ cồn và được đông đảo người dân ủng hộ, chấp hành. Tuy nhiên, có không ít tài xế cố tình không thổi vào thiết bị đo nồng độ cồn khi CSGT yêu cầu.\"Nhiều người thấy lực lượng CSGT thì bỏ xe lại rồi chạy trốn đi nơi khác với suy nghĩ CSGT không đo được nồng độ cồn thì tài xế sẽ không bị xử phạt. Trong trường hợp này, những người trốn tránh đo nồng độ cồn có bị phạt hình sự không?\", anh Thuận hỏi.Không chấp hành đo nồng độ cồn, tài xế có thể bị phạt tù nếu có căn cứ xác định hành vi chống người thi hành công vụ.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho rằng, suy nghĩ \"bỏ chạy để không có kết quả đo nồng độ cồn thì CSGT không có căn cứ xử phạt\" là không đúng.Ngược lại người điều khiển phương tiện giao thông bỏ lại xe, để chạy trốn còn bị xử phạt mức vi phạm nồng độ cồn cao nhất.\"Bởi, Nghị định 100/2019/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP) đã quy định chế tài xử phạt với hành vi không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ. Theo đó, tất cả hành vi không chấp hành hiệu lệnh CSGT để né kiểm tra nồng độ cồn đều bị xử phạt hành chính, tước giấy phép lái xe và bị tạm giữ phương tiện\", ông Bình nói.Luật sư Diệp Năng Bình cho biết, mức phạt hành chính sẽ tùy thuộc vào phương tiện người điều khiển. Đối với người điều khiển ô tô thì mức phạt cao nhất có thể đến 40 triệu đồng, đối với xe máy là 8 triệu đồng.Cụ thể, khi người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ sẽ bị phạt tiền từ 6-8 triệu đồng; bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 22-24 tháng; bị tạm giữ phương tiện tối đa đến 7 ngày.Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ thì mức phạt tiền từ 30-40 triệu đồng; tước giấy phép lái xe từ 22-24 tháng; bị tạm giữ phương tiện tối đa đến 7 ngày.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (đoàn luật sư TP.HCM)\"Luật sư Bình khuyến cáo, người tham gia giao thông hãy chấp hành hiệu lệnh của lực lượng chức năng.\"Nếu chấp hành mức phạt sẽ theo mức vi phạm, nhưng nếu không chấp hành thì mức phạt sẽ tương đương với mức phạt cao nhất, kịch khung của vi phạm nồng độ cồn\", luật sư Diệp Năng Bình phân tích.Không những vậy, luật sư Diệp Năng Bình cho rằng, nếu cố tình không chấp hành, cản trở lực lượng CSGT đo nồng độ cồn thì người vi phạm có thể bị xử lý hình sự về tội chống người thi hành công vụ tại điều 330 Bộ Luật Hình sự 2015.\"Theo đó, người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến 7 năm: Có tổ chức; phạm tội hai lần trở lên; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; gây thiệt hại về tài sản 50 triệu đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm.\"Hiện nay, vi phạm nồng độ cồn chỉ xử lý hành chính, chính vì vậy, nếu trót uống rượu bia tham gia giao thông thì lái xe nên chấp hành việc kiểm tra của lực lượng chức năng, tuyệt đối không được trốn tránh, đặc biệt là chống đối người thi hành công vụ để tránh gặp rắc rối về vấn đề pháp lý\", luật sư Diệp Năng Bình nói.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 3125, "text": "Có tổ chức; phạm tội hai lần trở lên; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; gây thiệt hại về tài sản 50 triệu đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm.\"Hiện nay, vi phạm nồng độ cồn chỉ xử lý hành chính, chính vì vậy, nếu trót uống rượu bia tham gia giao thông thì lái xe nên chấp hành việc kiểm tra của lực lượng chức năng, tuyệt đối không được trốn tránh, đặc biệt là chống đối người thi hành công vụ để tránh gặp rắc rối về vấn đề pháp lý\", luật sư Diệp Năng Bình nói." } ], "id": "755", "is_impossible": false, "question": "Không chấp hành đo nồng độ cồn, tài xế có bị phạt tù?" } ] } ], "title": "Không chấp hành đo nồng độ cồn, tài xế có bị phạt tù?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Việc điều khiển phương tiện mà không có giấy phép lái xe phù hợp là hành vi bị nghiêm cấm.Theo Nghị định 100, trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ hành nghề, nếu cá nhân, tổ chức vẫn tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề thì bị xử phạt như hành vi không có giấy phép, chứng chỉ hành nghề.Như vậy, trường hợp bạn của bạn trước đây đã vi phạm nồng độ cồn và đang bị tước giấy phép lái xe, nếu vẫn tiếp tục điều khiển xe thì bị xử phạt như hành vi không có giấy phép lái xe.Theo đó, người điều khiển xe máy có dung tích xi lanh dưới 175cm3 mà không có giấy phép lái xe phù hợp sẽ bị phạt tiền 1 - 2 triệu đồng. Với xe máy dung tích trên 175cm3, mức phạt là 4 - 5 triệu đồng. Đối với ô tô, mức phạt là 10 - 12 triệu đồng. Không có giấy phép lái xe mà gây tai nạn dẫn đến hậu quả nghiêm trọng còn bị xử lý hình sự với khung hình phạt từ 3 - 10 năm.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Việc điều khiển phương tiện mà không có giấy phép lái xe phù hợp là hành vi bị nghiêm cấm.Theo Nghị định 100, trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ hành nghề, nếu cá nhân, tổ chức vẫn tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề thì bị xử phạt như hành vi không có giấy phép, chứng chỉ hành nghề.Như vậy, trường hợp bạn của bạn trước đây đã vi phạm nồng độ cồn và đang bị tước giấy phép lái xe, nếu vẫn tiếp tục điều khiển xe thì bị xử phạt như hành vi không có giấy phép lái xe.Theo đó, người điều khiển xe máy có dung tích xi lanh dưới 175cm3 mà không có giấy phép lái xe phù hợp sẽ bị phạt tiền 1 - 2 triệu đồng. Với xe máy dung tích trên 175cm3, mức phạt là 4 - 5 triệu đồng. Đối với ô tô, mức phạt là 10 - 12 triệu đồng. Không có giấy phép lái xe mà gây tai nạn dẫn đến hậu quả nghiêm trọng còn bị xử lý hình sự với khung hình phạt từ 3 - 10 năm." } ], "id": "756", "is_impossible": false, "question": "Bị tước bằng vẫn lái xe, xử phạt thế nào?" } ] } ], "title": "Bị tước bằng vẫn lái xe, xử phạt thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Theo phản ánh của ông N.H.V, khi ông đi hỏi thủ tục vay mua nhà ở xã hội thì mỗi lần đều nhận được các yêu cầu khác nhau, có cả một số yêu cầu không hề được đề cập trong các quy định. Đối tượng là người thu nhập thấp hoặc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo (tại Khoản 4 Điều 49 Luật Nhà ở) là thuộc đối tượng được vay vốn ưu đãi để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội. Ví dụ, yêu cầu đối tượng là \"người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị\", khi hỏi thủ tục vay thì ông V lại được yêu cầu phải vừa là người thu nhập thấp, vừa là hộ nghèo, vừa là hộ cận nghèo, đáp ứng đủ 3 điều kiện thì mới được vay. Ông V là người thu nhập thấp, thiếu 2 điều kiện nên không được vay. Lần khác, khi ông đi làm thủ tục vay thì lại yêu cầu hộ khẩu hiện tại đang ở phải đáp ứng điều kiện < 10 m2/nhân khẩu. Ông V sống cùng với ông bà, bố mẹ và em trai nhưng hiện tại không đủ điều kiện < 10 m2/nhân khẩu, vì vậy không được vay. Các yêu cầu không đồng nhất với nhau gây khó khăn cho ông V trong việc tiếp cận với chính sách nhà ở xã hội. Ông V đề nghị cơ quan chức năng cung cấp thông tin chính xác về các điều kiện vay mua nhà ở xã hội. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Đối tượng được vay vốn ưu đãi mua nhà ở xã hội Tại Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội có quy định: Đối tượng được vay vốn ưu đãi để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội, xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở là các đối tượng quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6 và 7 Điều 49 của Luật Nhà ở. Như vậy, đối tượng là người thu nhập thấp hoặc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo (tại Khoản 4 Điều 49 Luật Nhà ở) là thuộc đối tượng được vay vốn ưu đãi để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội. Điều kiện được vay vốn ưu đãi mua nhà ở xã hội Tại Khoản 16 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (sửa đổi, bổ sung Điều 22 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội) có quy định cụ thể về hồ sơ chứng minh đối tượng, điều kiện để được hưởng chính sách về nhà ở xã hội. Theo đó đã có quy định: Các đối tượng quy định tại Điều 49 của Luật Nhà ở phải đáp ứng điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội theo quy định tại Điều 51 của Luật Nhà ở, trường hợp có nhà ở thuộc sở hữu của mình thì diện tích nhà ở bình quân dưới 10 m2/người. Bộ Xây dựng đề nghị ông nghiên cứu những quy định nêu trên, trường hợp còn vướng mắc thì liên hệ với Sở Xây dựng để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1178, "text": "Đối tượng được vay vốn ưu đãi mua nhà ở xã hội Tại Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội có quy định: Đối tượng được vay vốn ưu đãi để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội, xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở là các đối tượng quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6 và 7 Điều 49 của Luật Nhà ở. Như vậy, đối tượng là người thu nhập thấp hoặc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo (tại Khoản 4 Điều 49 Luật Nhà ở) là thuộc đối tượng được vay vốn ưu đãi để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội. Điều kiện được vay vốn ưu đãi mua nhà ở xã hội Tại Khoản 16 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (sửa đổi, bổ sung Điều 22 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội) có quy định cụ thể về hồ sơ chứng minh đối tượng, điều kiện để được hưởng chính sách về nhà ở xã hội. Theo đó đã có quy định: Các đối tượng quy định tại Điều 49 của Luật Nhà ở phải đáp ứng điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội theo quy định tại Điều 51 của Luật Nhà ở, trường hợp có nhà ở thuộc sở hữu của mình thì diện tích nhà ở bình quân dưới 10 m2/người. Bộ Xây dựng đề nghị ông nghiên cứu những quy định nêu trên, trường hợp còn vướng mắc thì liên hệ với Sở Xây dựng để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền." } ], "id": "757", "is_impossible": false, "question": "Đối tượng, điều kiện được vay mua nhà ở xã hội" } ] } ], "title": "Đối tượng, điều kiện được vay mua nhà ở xã hội" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng lưu ý UBND tỉnh Thái Bình về cơ sở pháp lý và tính chính xác của số liệu hiện trạng sử dụng đất trong phạm vi lập quy hoạch của đồ án Quy hoạch phân khu xây dựng tỷ lệ 1/2000 Khu liên hợp công nghiệp phụ trợ điện khí và Trung tâm điện – khí LNG Thái Bình. Dự án trung tâm điện khí LNG Thái Bình có công suất dự kiến 4.500MW (Ảnh minh họa). Bộ Xây dựng vừa có Công văn 5486/BXD-QHKT gửi UBND tỉnh Thái Bình cho ý kiến về đồ án Quy hoạch phân khu xây dựng tỷ lệ 1/2000 Khu liên hợp công nghiệp phụ trợ điện khí và Trung tâm điện – khí LNG Thái Bình, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (viết tắt là Đồ án quy hoạch). Theo Bộ Xây dựng, về cơ sở pháp lý: Chức năng bố trí Trung tâm điện khí LNG trong Đồ án quy hoạch (diện tích khoảng 69ha quy mô công suất 1500MW) được xác định theo Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 là có cơ sở. Việc chuyển đổi đất lâm nghiệp (diện tích khoảng 15ha) để sử dụng với mục đích khác trong Đồ án quy hoạch phải đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật về lâm nghiệp và pháp luật khác có liên quan. Về sự phù hợp với quy hoạch chung: Diện tích lập Đồ án quy hoạch khoảng 208ha, vị trí thuộc một phần ô đất ký hiệu 2.8 (diện tích 370ha) với chức năng là đất công nghiệp được quy định trong đồ án Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1486/QĐ-TTg ngày 28/10/2019 và trong quá trình lập điều chỉnh. Do đó, UBND tỉnh Thái Bình chịu trách nhiệm chỉ đạo cơ quan chức năng rà soát đảm bảo nội dung Đồ án quy hoạch phù hợp với Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Thái Bình. Đối với phạm vi, ranh giới lập đồ án quy hoạch khu vực hành lang kỹ thuật phục vụ Trung tâm điện khí LNG phía Đông Bắc về sự phù hợp với khu bảo tồn thiên nhiên Thái Thụy, việc tuân thủ Luật Đa dạng sinh học năm 2008 (Quy hoạch chung Khu kinh tế Thái Bình xác định khu vực nêu trên là rừng ngập mặn), do đó cần làm rõ việc kết nối về hạ tầng tổng thể ô đất có ký hiệu 2.8 tại Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Thái Bình. Đối với đất dự trữ mở rộng Trung tâm điện khí (diện tích khoảng 55ha) cần bổ sung căn cứ, cơ sở đảm bảo phù hợp với quy hoạch chuyên ngành được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đối với cụm công nghiệp phụ trợ (diện tích khoảng 53ha) cần làm rõ sự phù hợp về chức năng là đất khu công nghiệp đã được xác định tại Quyết định số 1486/QĐ-TTg. Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng cũng lưu ý một số nội dung khác như: Rà soát các chỉ tiêu trong đồ án quy hoạch đảm bảo tuân thủ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch xây dựng QCVN 01:2021/BXD; đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường, đáp ứng tiêu chuẩn đặc thù về loại hình công nghiệp năng lượng, điện khí. Rà soát hồ sơ đồ án tuân thủ Thông tư số 04/2022/TT-BXD ngày 24/10/2022 của Bộ trưởng Bộ xây dựng Quy định về hồ sơ nhiệm vụ và hồ sơ đồ án quy hoạch xây dựng vùng liên huyện, quy hoạch xây dựng vùng huyện, quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng khu chức năng và quy hoạch nông thôn. UBND tỉnh Thái Bình chịu trách nhiệm về cơ sở pháp lý và tính chính xác của số liệu hiện trạng sử dụng đất trong phạm vi lập quy hoạch, không hợp thức hóa các sai phạm (nếu có) trong quá trình lập đồ án Quy hoạch phân khu xây dựng tỷ lệ 1/2000 Khu liên hợp công nghiệp phụ trợ điện khí và Trung tâm điện – khí LNG Thái Bình; đảm bảo ổn định đời sống của nhân dân trong việc đền bù, giải phóng mặt bằng theo quy định pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 672, "text": "Chức năng bố trí Trung tâm điện khí LNG trong Đồ án quy hoạch (diện tích khoảng 69ha quy mô công suất 1500MW) được xác định theo Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 là có cơ sở. Việc chuyển đổi đất lâm nghiệp (diện tích khoảng 15ha) để sử dụng với mục đích khác trong Đồ án quy hoạch phải đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật về lâm nghiệp và pháp luật khác có liên quan. Về sự phù hợp với quy hoạch chung: Diện tích lập Đồ án quy hoạch khoảng 208ha, vị trí thuộc một phần ô đất ký hiệu 2.8 (diện tích 370ha) với chức năng là đất công nghiệp được quy định trong đồ án Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1486/QĐ-TTg ngày 28/10/2019 và trong quá trình lập điều chỉnh. Do đó, UBND tỉnh Thái Bình chịu trách nhiệm chỉ đạo cơ quan chức năng rà soát đảm bảo nội dung Đồ án quy hoạch phù hợp với Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Thái Bình. Đối với phạm vi, ranh giới lập đồ án quy hoạch khu vực hành lang kỹ thuật phục vụ Trung tâm điện khí LNG phía Đông Bắc về sự phù hợp với khu bảo tồn thiên nhiên Thái Thụy, việc tuân thủ Luật Đa dạng sinh học năm 2008 (Quy hoạch chung Khu kinh tế Thái Bình xác định khu vực nêu trên là rừng ngập mặn), do đó cần làm rõ việc kết nối về hạ tầng tổng thể ô đất có ký hiệu 2.8 tại Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Thái Bình. Đối với đất dự trữ mở rộng Trung tâm điện khí (diện tích khoảng 55ha) cần bổ sung căn cứ, cơ sở đảm bảo phù hợp với quy hoạch chuyên ngành được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đối với cụm công nghiệp phụ trợ (diện tích khoảng 53ha) cần làm rõ sự phù hợp về chức năng là đất khu công nghiệp đã được xác định tại Quyết định số 1486/QĐ-TTg. Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng cũng lưu ý một số nội dung khác như: Rà soát các chỉ tiêu trong đồ án quy hoạch đảm bảo tuân thủ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch xây dựng QCVN 01:2021/BXD; đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường, đáp ứng tiêu chuẩn đặc thù về loại hình công nghiệp năng lượng, điện khí. Rà soát hồ sơ đồ án tuân thủ Thông tư số 04/2022/TT-BXD ngày 24/10/2022 của Bộ trưởng Bộ xây dựng Quy định về hồ sơ nhiệm vụ và hồ sơ đồ án quy hoạch xây dựng vùng liên huyện, quy hoạch xây dựng vùng huyện, quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng khu chức năng và quy hoạch nông thôn. UBND tỉnh Thái Bình chịu trách nhiệm về cơ sở pháp lý và tính chính xác của số liệu hiện trạng sử dụng đất trong phạm vi lập quy hoạch, không hợp thức hóa các sai phạm (nếu có) trong quá trình lập đồ án Quy hoạch phân khu xây dựng tỷ lệ 1/2000 Khu liên hợp công nghiệp phụ trợ điện khí và Trung tâm điện – khí LNG Thái Bình; đảm bảo ổn định đời sống của nhân dân trong việc đền bù, giải phóng mặt bằng theo quy định pháp luật." } ], "id": "758", "is_impossible": false, "question": "Đảm bảo tính chính xác số liệu khi lập đồ án Quy hoạch Trung tâm điện - khí LNG Thái Bình" } ] } ], "title": "Đảm bảo tính chính xác số liệu khi lập đồ án Quy hoạch Trung tâm điện - khí LNG Thái Bình" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông Vũ Đình Sơn (Lai Châu) đã dự thi cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng tại Sở Xây dựng, lĩnh vực giám sát thi công xây dựng dân dụng công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật, hạng II. Không chia nhỏ lĩnh vực cấp chứng chỉ giám sát thi công. Tuy nhiên, Sở Xây dựng chỉ cấp cho ông Sơn chứng chỉ giám sát thi công xây dựng dân dụng hạng II, với lý do, ông không kê khai lĩnh vực công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật. Ông Sơn hỏi, việc chia nhỏ lĩnh vực cấp chứng chỉ hành nghề như trên có đúng với hướng dẫn tại Nghị định số 15/2021/NĐ-CP hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Lĩnh vực và phạm vi hoạt động xây dựng của chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng công trình được quy định cụ thể tại Mục 4 Phụ lục VI Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Theo đó, không chia nhỏ lĩnh vực giám sát thi công xây dựng công trình dân dụng – công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 584, "text": "Lĩnh vực và phạm vi hoạt động xây dựng của chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng công trình được quy định cụ thể tại Mục 4 Phụ lục VI Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Theo đó, không chia nhỏ lĩnh vực giám sát thi công xây dựng công trình dân dụng – công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật." } ], "id": "759", "is_impossible": false, "question": "Không chia nhỏ lĩnh vực cấp chứng chỉ giám sát thi công" } ] } ], "title": "Không chia nhỏ lĩnh vực cấp chứng chỉ giám sát thi công" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Bạn đọc Nguyễn Văn Chương (Bắc Ninh) hỏi: Hiện nay, những xe nào được gọi là xe ưu tiên, nếu không nhường đường cho xe ưu tiên thì bị xử lý thế nào?Theo quy định, không nhường đường cho xe ưu tiên tài xế sẽ bị phạt tiền và tước giấy phép lái xe.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, Điều 22 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã quy định những xe sau đây được quyền ưu tiên đi trước xe khác khi qua đường giao nhau từ bất kỳ hướng nào tới theo thứ tự: Xe chữa cháy đi làm nhiệm vụ; Xe quân sự, xe công an đi làm nhiệm vụ khẩn cấp, đoàn xe có xe cảnh sát dẫn đường; Xe cứu thương đang thực hiện nhiệm vụ cấp cứu; Xe hộ đê, xe đi làm nhiệm vụ khắc phục sự cố thiên tai, dịch bệnh hoặc xe đi làm nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật; Đoàn xe tang.\"Các xe được quyền ưu tiên kể trên (trừ đoàn xe tang) khi đi làm nhiệm vụ phải có tín hiệu còi, cờ, đèn theo quy định; không bị hạn chế tốc độ; Được phép đi vào đường ngược chiều, các đường khác có thể đi được, kể cả khi có tín hiệu đèn đỏ và chỉ phải tuân theo chỉ dẫn của người điều khiển giao thông\", ông Bình phân tích.Luật sư Diệp Năng Bình cho biết, Nghị định 100/2019/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP) quy định xe phạm lỗi không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ sẽ bị xử phạt ở các mức khác nhau và tùy loại phương tiện khác nhau (xe ô tô hay xe máy)Cụ thể, đối với ô tô, phạt tiền từ 0,8-1 triệu đồng đối với người điều khiển xe thực hiện hành vi không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau.Phạt tiền từ 2-3 triệu đồng đối với hành vi không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn.Ngoài ra, người điều khiển xe ô tô còn bị tước giấy phép lái xe từ 2-4 tháng.Luật sư Diệp Năng Bình.Với xe máy sẽ bị phạt tiền từ 300-400 nghìn đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau:Không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn; Không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau; Xe không được quyền ưu tiên lắp đặt, sử dụng thiết bị phát tín hiệu của xe được quyền ưu tiên.Ngoài ra, người điều khiển xe máy còn bị tước giấy phép lái xe từ 1-3 tháng.Đối với xe máy kéo, xe máy chuyên dùng sẽ phạt tiền từ 400-600 nghìn đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 42, "text": "Hiện nay, những xe nào được gọi là xe ưu tiên, nếu không nhường đường cho xe ưu tiên thì bị xử lý thế nào?Theo quy định, không nhường đường cho xe ưu tiên tài xế sẽ bị phạt tiền và tước giấy phép lái xe.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, Điều 22 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã quy định những xe sau đây được quyền ưu tiên đi trước xe khác khi qua đường giao nhau từ bất kỳ hướng nào tới theo thứ tự: Xe chữa cháy đi làm nhiệm vụ; Xe quân sự, xe công an đi làm nhiệm vụ khẩn cấp, đoàn xe có xe cảnh sát dẫn đường; Xe cứu thương đang thực hiện nhiệm vụ cấp cứu; Xe hộ đê, xe đi làm nhiệm vụ khắc phục sự cố thiên tai, dịch bệnh hoặc xe đi làm nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật; Đoàn xe tang.\"Các xe được quyền ưu tiên kể trên (trừ đoàn xe tang) khi đi làm nhiệm vụ phải có tín hiệu còi, cờ, đèn theo quy định; không bị hạn chế tốc độ; Được phép đi vào đường ngược chiều, các đường khác có thể đi được, kể cả khi có tín hiệu đèn đỏ và chỉ phải tuân theo chỉ dẫn của người điều khiển giao thông\", ông Bình phân tích.Luật sư Diệp Năng Bình cho biết, Nghị định 100/2019/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP) quy định xe phạm lỗi không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ sẽ bị xử phạt ở các mức khác nhau và tùy loại phương tiện khác nhau (xe ô tô hay xe máy)Cụ thể, đối với ô tô, phạt tiền từ 0,8-1 triệu đồng đối với người điều khiển xe thực hiện hành vi không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau.Phạt tiền từ 2-3 triệu đồng đối với hành vi không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn.Ngoài ra, người điều khiển xe ô tô còn bị tước giấy phép lái xe từ 2-4 tháng.Luật sư Diệp Năng Bình.Với xe máy sẽ bị phạt tiền từ 300-400 nghìn đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau:Không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn; Không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau; Xe không được quyền ưu tiên lắp đặt, sử dụng thiết bị phát tín hiệu của xe được quyền ưu tiên.Ngoài ra, người điều khiển xe máy còn bị tước giấy phép lái xe từ 1-3 tháng.Đối với xe máy kéo, xe máy chuyên dùng sẽ phạt tiền từ 400-600 nghìn đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau." } ], "id": "760", "is_impossible": false, "question": "Không nhường đường cho xe ưu tiên bị xử lý thế nào?" } ] } ], "title": "Không nhường đường cho xe ưu tiên bị xử lý thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Theo Điều 57 Luật Nhà ở năm 2014, chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị có trách nhiệm trực tiếp đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, trừ trường hợp Nhà nước sử dụng diện tích đất này để giao cho tổ chức khác thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở xã hội. Chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị có trách nhiệm trực tiếp đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, trừ trường hợp Nhà nước sử dụng diện tích đất này để giao cho tổ chức khác thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở xã hội (ảnh minh họa: Internet). Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Công ty Cổ phần Phát triển hạ tầng An Hưng Phát (sau đây viết tắt là Công ty) kiến nghị hỗ trợ thủ tục thực hiện dự án nhà ở xã hội trong dự án thương mại dành 20% bố trí nhà ở xã hội. Liên quan đến vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết, pháp luật về nhà ở (khoản 2 Điều 16, khoản 1 và 4 Điều 26 Luật Nhà ở năm 2014; khoản 1 Điều 5 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP; khoản 4 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP) quy định chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị phải tuân thủ các nội dung quyết định chủ trương đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phải dành 20% tổng diện tích đất ở trong đồ án quy hoạch chi tiết được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật dành để xây dựng nhà ở xã hội. Vì vậy, Bộ Xây dựng đề nghị Công ty báo cáo cơ quan chức năng có thẩm quyền của tỉnh Đồng Nai để thực hiện việc dành đủ quỹ đất xây dựng nhà ở xã hội trong phạm vi Dự án Khu dân cư và tái định cư tại ấp Đồng, phường Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo đúng quy định của pháp luật về nhà ở nêu trên. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 Luật Nhà ở năm 2014 thì chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị có trách nhiệm trực tiếp đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, trừ trường hợp Nhà nước sử dụng diện tích đất này để giao cho tổ chức khác thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở xã hội. Trường hợp Nhà nước sử dụng diện tích quỹ đất 20% trong phạm vi dự án nhà ở thương mại, khu đô thị để giao cho tổ chức khác thực hiện việc đầu tư xây dựng nhà ở xã hội thì phải thực hiện lựa chọn chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở (Thông tư số 09/2021/TT-BXD ngày 16/8/2021 và Thông tư số 03/2023/TT-BXD ngày 28/4/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng). Theo nội dung Quyết định số 2936/QĐ-UBND ngày 22/8/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc chấp thuận chủ trương đầu tư giai đoạn 1 dự án Khu dân cư và tái định cư tại ấp Đồng, xã Phước Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai có nêu: Bàn giao quỹ đất nhà ở xã hội và tái định cư cho địa phương để bố trí tái định cư và phát triển nhà ở xã hội. Sau khi đầu tư xây dựng xong hệ thống hạ tầng kỹ thuật, Công ty Cổ phần Phát triển hạ tầng An Hưng Phát sẽ bàn giao lại cho địa phương để bố trí tái định cư và phát triển nhà ở xã hội theo quy định hiện hành. Do đó, Bộ Xây dựng đề nghị Công ty nghiên cứu các quy định nêu trên và thực trạng phương hướng của dự án, báo cáo cơ quan có thẩm quyền.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 511, "text": "Internet). Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Công ty Cổ phần Phát triển hạ tầng An Hưng Phát (sau đây viết tắt là Công ty) kiến nghị hỗ trợ thủ tục thực hiện dự án nhà ở xã hội trong dự án thương mại dành 20% bố trí nhà ở xã hội. Liên quan đến vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết, pháp luật về nhà ở (khoản 2 Điều 16, khoản 1 và 4 Điều 26 Luật Nhà ở năm 2014; khoản 1 Điều 5 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP; khoản 4 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP) quy định chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị phải tuân thủ các nội dung quyết định chủ trương đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phải dành 20% tổng diện tích đất ở trong đồ án quy hoạch chi tiết được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật dành để xây dựng nhà ở xã hội. Vì vậy, Bộ Xây dựng đề nghị Công ty báo cáo cơ quan chức năng có thẩm quyền của tỉnh Đồng Nai để thực hiện việc dành đủ quỹ đất xây dựng nhà ở xã hội trong phạm vi Dự án Khu dân cư và tái định cư tại ấp Đồng, phường Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo đúng quy định của pháp luật về nhà ở nêu trên. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 Luật Nhà ở năm 2014 thì chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị có trách nhiệm trực tiếp đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, trừ trường hợp Nhà nước sử dụng diện tích đất này để giao cho tổ chức khác thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở xã hội. Trường hợp Nhà nước sử dụng diện tích quỹ đất 20% trong phạm vi dự án nhà ở thương mại, khu đô thị để giao cho tổ chức khác thực hiện việc đầu tư xây dựng nhà ở xã hội thì phải thực hiện lựa chọn chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở (Thông tư số 09/2021/TT-BXD ngày 16/8/2021 và Thông tư số 03/2023/TT-BXD ngày 28/4/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng). Theo nội dung Quyết định số 2936/QĐ-UBND ngày 22/8/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc chấp thuận chủ trương đầu tư giai đoạn 1 dự án Khu dân cư và tái định cư tại ấp Đồng, xã Phước Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai có nêu: Bàn giao quỹ đất nhà ở xã hội và tái định cư cho địa phương để bố trí tái định cư và phát triển nhà ở xã hội. Sau khi đầu tư xây dựng xong hệ thống hạ tầng kỹ thuật, Công ty Cổ phần Phát triển hạ tầng An Hưng Phát sẽ bàn giao lại cho địa phương để bố trí tái định cư và phát triển nhà ở xã hội theo quy định hiện hành. Do đó, Bộ Xây dựng đề nghị Công ty nghiên cứu các quy định nêu trên và thực trạng phương hướng của dự án, báo cáo cơ quan có thẩm quyền." } ], "id": "761", "is_impossible": false, "question": "Thủ tục thực hiện dự án nhà ở xã hội trong dự án thương mại" } ] } ], "title": "Thủ tục thực hiện dự án nhà ở xã hội trong dự án thương mại" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Bạn đọc Vũ Thị Thuyết (Cầu Giấy, TP Hà Nội) hỏi: Hiện nay, tôi thấy lực lượng công an tăng cường kiểm tra nồng độ cồn. Khi yêu cầu các tài xế dừng xe để kiểm tra nồng độ cồn, các tổ công tác này còn yêu lái xe mở cốp xe kiểm tra. \"Công an có được quyền kiểm tra ví, cốp xe của người điều khiển phương tiện không? Nếu không vi phạm nồng độ cồn thì cảnh sát giao thông (CSGT) có quyền dừng xe kiểm tra hay không?\", bạn Thuyết thắc mắc.Theo quy định, CSGT được kiểm tra ví, cốp xe người điều khiển phương tiện trong một số trường hợp.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, Thông tư 32/2023/TT-BCA của Bộ Công an có hiệu lực từ ngày 15/9/2023 đã chỉ rõ các nội dung mà CSGT được quyền dừng xe để kiểm soát.Đó là: Kiểm soát các giấy tờ có liên quan đến người và phương tiện; Kiểm soát các điều kiện tham gia giao thông của phương tiện; Kiểm soát việc chấp hành quy định về an toàn vận tải; Kiểm soát nội dung khác có liên quan theo quy định của pháp luật.Khoản 1 Điều 16 Thông tư 32/2023/TT-BCA quy định, nếu kế hoạch tuần tra, kiểm soát giao thông đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt cho sử dụng máy đo nồng độ cồn thì CSGT vẫn có quyền yêu cầu dừng các phương tiện để kiểm tra nồng độ cồn tài xế.Khi yêu cầu người tham gia giao thông dừng xe, CSGT được quyền kiểm tra các giấy tờ liên quan người và xe, điều kiện tham gia giao thông của xe và việc tuân thủ quy định về hoạt động vận tải nhưng không được tùy tiện kiểm tra ví, cốp xe, điện thoại hay vật dụng cá nhân khác của người điều khiển phương tiện.\"Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 127 và khoản 1 Điều 128 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, việc khám người, khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính vẫn được phép tiến hành khi có căn cứ cho rằng: Người đó cất giấu trong người đồ vật, tài liệu, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính; Trong phương tiện vận tải, đồ vật đó có cất giấu tang vật vi phạm hành chính\", luật sư Bình nói.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).Luật sư Diệp Năng Bình cho biết, việc khám người, phương tiện vận tải, đồ vật phải có quyết định bằng văn bản và phải do người có thẩm quyền ban hành như: Trưởng công an cấp huyện, trưởng phòng CSGT đường bộ, trưởng phòng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 127 và khoản 3 Điều 128 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định, nếu có căn cứ cho rằng nếu không khám ngay thì tang vật vi phạm hành chính sẽ bị tẩu tán, tiêu hủy thì chiến sĩ CSGT cũng được quyền khám phương tiện, đồ vật. Đồng thời, người này còn phải báo cáo ngay cho thủ trưởng trực tiếp của mình và phải chịu trách nhiệm về việc khám xét phương tiện, đồ vật.\"Như vậy, CSGT có quyền khám cốp xe, điện thoại, ví… khi có căn cứ để cho rằng nếu không khám ngay thì tang vật như vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính sẽ bị tẩu tán, tiêu hủy\", luật sư Diệp Năng Bình phân tích.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 49, "text": "Hiện nay, tôi thấy lực lượng công an tăng cường kiểm tra nồng độ cồn. Khi yêu cầu các tài xế dừng xe để kiểm tra nồng độ cồn, các tổ công tác này còn yêu lái xe mở cốp xe kiểm tra. \"Công an có được quyền kiểm tra ví, cốp xe của người điều khiển phương tiện không? Nếu không vi phạm nồng độ cồn thì cảnh sát giao thông (CSGT) có quyền dừng xe kiểm tra hay không?\", bạn Thuyết thắc mắc.Theo quy định, CSGT được kiểm tra ví, cốp xe người điều khiển phương tiện trong một số trường hợp.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, Thông tư 32/2023/TT-BCA của Bộ Công an có hiệu lực từ ngày 15/9/2023 đã chỉ rõ các nội dung mà CSGT được quyền dừng xe để kiểm soát.Đó là: Kiểm soát các giấy tờ có liên quan đến người và phương tiện; Kiểm soát các điều kiện tham gia giao thông của phương tiện; Kiểm soát việc chấp hành quy định về an toàn vận tải; Kiểm soát nội dung khác có liên quan theo quy định của pháp luật.Khoản 1 Điều 16 Thông tư 32/2023/TT-BCA quy định, nếu kế hoạch tuần tra, kiểm soát giao thông đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt cho sử dụng máy đo nồng độ cồn thì CSGT vẫn có quyền yêu cầu dừng các phương tiện để kiểm tra nồng độ cồn tài xế.Khi yêu cầu người tham gia giao thông dừng xe, CSGT được quyền kiểm tra các giấy tờ liên quan người và xe, điều kiện tham gia giao thông của xe và việc tuân thủ quy định về hoạt động vận tải nhưng không được tùy tiện kiểm tra ví, cốp xe, điện thoại hay vật dụng cá nhân khác của người điều khiển phương tiện.\"Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 127 và khoản 1 Điều 128 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, việc khám người, khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính vẫn được phép tiến hành khi có căn cứ cho rằng: Người đó cất giấu trong người đồ vật, tài liệu, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính; Trong phương tiện vận tải, đồ vật đó có cất giấu tang vật vi phạm hành chính\", luật sư Bình nói.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).Luật sư Diệp Năng Bình cho biết, việc khám người, phương tiện vận tải, đồ vật phải có quyết định bằng văn bản và phải do người có thẩm quyền ban hành như: Trưởng công an cấp huyện, trưởng phòng CSGT đường bộ, trưởng phòng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 127 và khoản 3 Điều 128 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định, nếu có căn cứ cho rằng nếu không khám ngay thì tang vật vi phạm hành chính sẽ bị tẩu tán, tiêu hủy thì chiến sĩ CSGT cũng được quyền khám phương tiện, đồ vật. Đồng thời, người này còn phải báo cáo ngay cho thủ trưởng trực tiếp của mình và phải chịu trách nhiệm về việc khám xét phương tiện, đồ vật.\"Như vậy, CSGT có quyền khám cốp xe, điện thoại, ví… khi có căn cứ để cho rằng nếu không khám ngay thì tang vật như vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính sẽ bị tẩu tán, tiêu hủy\", luật sư Diệp Năng Bình phân tích." } ], "id": "762", "is_impossible": false, "question": "CSGT có được kiểm tra ví, cốp xe của người điều khiển phương tiện?" } ] } ], "title": "CSGT có được kiểm tra ví, cốp xe của người điều khiển phương tiện?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo Nghị định 135/2021, cá nhân khi phát hiện vi phạm giao thông qua việc ghi, thu được clip có thể cung cấp thông tin này cho đơn vị CSGT thông qua nhiều cách thức.Cụ thể, bạn có thể trực tiếp đến trụ sở cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền hoặc hiện trường xảy ra vụ việc để cung cấp; Báo qua thư điện tử, cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử, số điện thoại đường dây nóng; Qua dịch vụ bưu chính; Kết nối, chia sẻ dữ liệu thông qua các ứng dụng, các phần mềm kết nối.Cơ quan công an đề nghị người dân chủ động tích cực cung cấp các thông tin, hình ảnh, video phản ánh các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông là tác nhân gây hư hại hạ tầng giao thông, ô nhiễm môi trường, tiềm ẩn nguy cơ gây ùn tắc, tai nạn giao thông.Cụ thể là các hành vi vi phạm như chở quá số người quy định; Ô tô tải chở quá khổ, quá tải, cơi nới thành thùng, chở vật liệu để rơi vãi; Ô tô đi vào đường cấm, đi ngược chiều, đi vào làn khẩn cấp trên đường cao tốc...Đối với các thông tin phản ánh của người dân về vi phạm trật tự, an toàn giao thông phải bảo đảm khách quan, chính xác.Cơ quan CSGT sẽ tiếp nhận, phân loại, xử lý theo quy định của pháp luật và phản hồi việc đã nhận cho người gửi.Theo quy định, hình ảnh do các cá nhân cung cấp được sử dụng là căn cứ để phạt nguội. Trường hợp này các cơ quan chức năng phải xác minh tính chính xác của hình ảnh được cung cấp, được sử dụng để xử phạt.Họ tên, địa chỉ, số điện thoại liên hệ, bút tích và thông tin khác của tổ chức, cá nhân đã cung cấp thông tin, hình ảnh vi phạm sẽ được bảo mật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Theo Nghị định 135/2021, cá nhân khi phát hiện vi phạm giao thông qua việc ghi, thu được clip có thể cung cấp thông tin này cho đơn vị CSGT thông qua nhiều cách thức.Cụ thể, bạn có thể trực tiếp đến trụ sở cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền hoặc hiện trường xảy ra vụ việc để cung cấp; Báo qua thư điện tử, cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử, số điện thoại đường dây nóng; Qua dịch vụ bưu chính; Kết nối, chia sẻ dữ liệu thông qua các ứng dụng, các phần mềm kết nối.Cơ quan công an đề nghị người dân chủ động tích cực cung cấp các thông tin, hình ảnh, video phản ánh các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông là tác nhân gây hư hại hạ tầng giao thông, ô nhiễm môi trường, tiềm ẩn nguy cơ gây ùn tắc, tai nạn giao thông.Cụ thể là các hành vi vi phạm như chở quá số người quy định; Ô tô tải chở quá khổ, quá tải, cơi nới thành thùng, chở vật liệu để rơi vãi; Ô tô đi vào đường cấm, đi ngược chiều, đi vào làn khẩn cấp trên đường cao tốc...Đối với các thông tin phản ánh của người dân về vi phạm trật tự, an toàn giao thông phải bảo đảm khách quan, chính xác.Cơ quan CSGT sẽ tiếp nhận, phân loại, xử lý theo quy định của pháp luật và phản hồi việc đã nhận cho người gửi.Theo quy định, hình ảnh do các cá nhân cung cấp được sử dụng là căn cứ để phạt nguội. Trường hợp này các cơ quan chức năng phải xác minh tính chính xác của hình ảnh được cung cấp, được sử dụng để xử phạt.Họ tên, địa chỉ, số điện thoại liên hệ, bút tích và thông tin khác của tổ chức, cá nhân đã cung cấp thông tin, hình ảnh vi phạm sẽ được bảo mật." } ], "id": "763", "is_impossible": false, "question": "Phát hiện vi phạm giao thông, báo cho ai?" } ] } ], "title": "Phát hiện vi phạm giao thông, báo cho ai?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) – Vừa qua, Bộ Xây dựng nhận văn bản của Sở Xây dựng tỉnh Sơn La về việc đề nghị hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc quy định cụ thể những khu vực được thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền cho người dân tự xây dựng nhà ở. Trong đó, Sở Xây dựng tỉnh Sơn La đề nghị Bộ Xây dựng xem xét, hướng dẫn trình tự thực hiện và thành phần hồ sơ tài liệu có liên quan để thống nhất, triển khai nội dung quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ. Ảnh minh họa (nguồn: TL). Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau: Ngày 14/01/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 11/2013/NĐ-CP về quản lý đầu tư phát triển đô thị trong đó có nội dung về việc “UBND cấp tỉnh quy định cụ thể những khu vực được thực hiện chuyển quyền sử dụng đất đã đầu tư hạ tầng cho người dân tự xây dựng nhà ở theo quy hoạch tiết của dự án được phê duyệt, sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ Xây dựng” (khoản 7 Điều 4); trình tự thực hiện và thành phần hồ sơ được quy định tại Điều 11 Thông tư liên tịch số 20/2013/TTLT-BXD-BNV ngày 21/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng và Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn một số nội dung của Nghị định số 11/2013/NĐ-CP. Ngày 20/6/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 35/2023/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng. Theo đó, khoản 4 Điều 4 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 4 Nghị định số 11/2013/NĐ-CP, quy định phân cấp thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể những khu vực được thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền cho người dân tự xây dựng nhà ở và không giao Bộ Xây dựng hướng dẫn chi tiết. Ngày 08/9/2023, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 06/2023/TT-BXD hướng dẫn một số nội dung về chương trình phát triển đô thị. Theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Thông tư số 06/2023/TT-BXD, Thông tư liên tịch số 20/2013/TTLT-BXD-BNV hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư 06/2023/TT-BXD có hiệu lực thi hành. Do đó, đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Sơn La căn cứ các quy định pháp luật về đất đai, quy hoạch đô thị, xây dựng, nhà ở, kinh doanh bất động sản, kiến trúc, khoản 7 Điều 4 Nghị định số 11/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 4 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP), các quy định của pháp luật có liên quan và tình hình thực tiễn tại địa phương để tham mưu Ủy ban nhân dân quy định cụ thể khu vực được thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền cho người dân tự xây dựng nhà ở; quy trình thực hiện tại địa phương và các hồ sơ cần thiết (nếu có) đảm bảo không phát sinh thủ tục.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 553, "text": "TL). Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau: Ngày 14/01/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 11/2013/NĐ-CP về quản lý đầu tư phát triển đô thị trong đó có nội dung về việc “UBND cấp tỉnh quy định cụ thể những khu vực được thực hiện chuyển quyền sử dụng đất đã đầu tư hạ tầng cho người dân tự xây dựng nhà ở theo quy hoạch tiết của dự án được phê duyệt, sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ Xây dựng” (khoản 7 Điều 4); trình tự thực hiện và thành phần hồ sơ được quy định tại Điều 11 Thông tư liên tịch số 20/2013/TTLT-BXD-BNV ngày 21/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng và Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn một số nội dung của Nghị định số 11/2013/NĐ-CP. Ngày 20/6/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 35/2023/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng. Theo đó, khoản 4 Điều 4 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 4 Nghị định số 11/2013/NĐ-CP, quy định phân cấp thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể những khu vực được thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền cho người dân tự xây dựng nhà ở và không giao Bộ Xây dựng hướng dẫn chi tiết. Ngày 08/9/2023, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 06/2023/TT-BXD hướng dẫn một số nội dung về chương trình phát triển đô thị. Theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Thông tư số 06/2023/TT-BXD, Thông tư liên tịch số 20/2013/TTLT-BXD-BNV hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư 06/2023/TT-BXD có hiệu lực thi hành. Do đó, đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Sơn La căn cứ các quy định pháp luật về đất đai, quy hoạch đô thị, xây dựng, nhà ở, kinh doanh bất động sản, kiến trúc, khoản 7 Điều 4 Nghị định số 11/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 4 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP), các quy định của pháp luật có liên quan và tình hình thực tiễn tại địa phương để tham mưu Ủy ban nhân dân quy định cụ thể khu vực được thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền cho người dân tự xây dựng nhà ở; quy trình thực hiện tại địa phương và các hồ sơ cần thiết (nếu có) đảm bảo không phát sinh thủ tục." } ], "id": "764", "is_impossible": false, "question": "Hướng dẫn chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền cho người dân tự xây dựng nhà" } ] } ], "title": "Hướng dẫn chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền cho người dân tự xây dựng nhà" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Thuận làm chủ đầu tư công trình Nhà máy nước công suất 10.000 m3/ngày và đã khởi công thi công từ tháng 10/2022, vốn vay ODA, với 3 nhà thầu liên danh gồm 1 nhà thầu nước ngoài và 2 nhà thầu Việt Nam. Ảnh minh họa. Theo hồ sơ khảo sát địa chất công trình, đất khu vực nhà máy là đất cấp 2, cấp 3. Tuy nhiên, trong quá trình thi công, đơn vị thi công triển khai công tác san nền và đào móng bể chứa nước 3.000m3 thì gặp đá với diện tích khoảng trên 100m2. Hợp đồng thi công là hợp đồng trọn gói, có bảng giá hợp đồng để thanh toán cho nhà thầu từng đợt, hợp đồng có dự phòng phí và đã phân bổ trong các đơn giá hợp đồng. Do thi công gặp đá, nhà thầu đã dừng thi công và yêu cầu thẩm định, phê duyệt, tính phát sinh khối lượng phá đá cho nhà thầu. Ông Trần Văn Thảo hỏi, theo quy định hiện nay, có được tính phát sinh khối lượng phá đá cho nhà thầu không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc điều chỉnh hợp đồng xây dựng thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký kết, phù hợp với hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng. Nội dung câu hỏi của ông Trần Văn Thảo chưa nêu rõ thời điểm ký kết hợp đồng, các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng. Trường hợp hợp đồng đã ký kết thực hiện theo các quy định tại Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, việc xử lý tình huống phát sinh khối lượng trong thi công xây dựng thực hiện theo quy định tại Điểm a Khoản 3, Điểm a Khoản 5 Điều 15; Khoản 3 Điều 36; Điểm a Khoản 2 Điều 37 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP (trường hợp các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có những quy định khác thì thực hiện theo các quy định của Điều ước quốc tế này) và các quy định pháp luật khác có liên quan để thực hiện việc điều chỉnh hợp đồng cho phù hợp.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 956, "text": "Việc điều chỉnh hợp đồng xây dựng thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký kết, phù hợp với hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng. Nội dung câu hỏi của ông Trần Văn Thảo chưa nêu rõ thời điểm ký kết hợp đồng, các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng. Trường hợp hợp đồng đã ký kết thực hiện theo các quy định tại Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, việc xử lý tình huống phát sinh khối lượng trong thi công xây dựng thực hiện theo quy định tại Điểm a Khoản 3, Điểm a Khoản 5 Điều 15; Khoản 3 Điều 36; Điểm a Khoản 2 Điều 37 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP (trường hợp các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có những quy định khác thì thực hiện theo các quy định của Điều ước quốc tế này) và các quy định pháp luật khác có liên quan để thực hiện việc điều chỉnh hợp đồng cho phù hợp." } ], "id": "765", "is_impossible": false, "question": "Hợp đồng trọn gói có được tính khối lượng phát sinh?" } ] } ], "title": "Hợp đồng trọn gói có được tính khối lượng phát sinh?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Tổng mức đầu tư xây dựng là toàn bộ chi phí đầu tư xây dựng của dự án được xác định phù hợp với thiết kế cơ sở và các nội dung của Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng. Chính quyền có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện và định kỳ kiểm tra việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được đầu tư hạ tầng cho người dân tự xây dựng nhà ở theo quy hoạch chi tiết của dự án đã được phê duyệt (Ảnh minh họa: Internet). Mới đây, Bộ Xây dựng có công văn gửi Sở Xây dựng tỉnh Nghệ An về việc hướng dẫn giải quyết vướng mắc trong việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư xây dựng nhà ở. Về việc xác định tổng mức đầu tư của dự án, Bộ Xây dựng cho biết, theo quy định tại Điều 134 của Luật Xây dựng năm 2014 (Luật số 50/2014/QH13), tổng mức đầu tư xây dựng là toàn bộ chi phí đầu tư xây dựng của dự án được xác định phù hợp với thiết kế cơ sở và các nội dung của Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng. Trường hợp phải lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng thì việc xác định sơ bộ tổng mức đầu tư theo thiết kế sơ bộ là cơ sở để ước tính chi phí đầu tư xây dựng. Đối với dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn Nhà nước ngoài đầu tư công, tổng mức đầu tư xây dựng được phê duyệt là mức chi phí tối đa mà chủ đầu tư được phép sử dụng để thực hiện dự án. Do đó, tổng mức đầu tư xây dựng dự án nhà ở như nêu tại Văn bản số 3451/SXD-QLN phải được xác định trên cơ sở mục tiêu, nội dung, quy mô đầu tư… của dự án nêu trong Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, phù hợp với thiết kế cơ sở, với mục tiêu, nội dung, quy mô đầu tư trong Quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư của dự án. Về việc tuân thủ chủ trương đầu tư của dự án được nêu tại mục 1 Công văn số 3451/SXD-QLN: Việc thực hiện dự án phải tuân thủ chủ trương đầu tư của dự án theo quy định tại khoản 2 Điều 19, khoản 3 Điều 26 Luật Nhà ở năm 2014 (Luật số 65/2014/QH13); Điều 9, khoản 1 Điều 11, Điều 37 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 (Luật số 66/2014/QH13); quy định của pháp luật về đầu tư, đất đai, xây dựng, nhà ở, phát triển đô thị và quy hoạch đô thị và pháp luật có liên quan khác. Các nội dung liên quan việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân không thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng. Do đó, đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Nghệ An liên hệ Bộ Tài nguyên và Môi trường để được hướng dẫn thực hiện. Trường hợp được cấp có thẩm quyền cho phép thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền tại dự án, người dân có trách nhiệm tuân thủ các nội dung đã quy định đối với dự án. Chính quyền có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện và định kỳ kiểm tra việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được đầu tư hạ tầng cho người dân tự xây dựng nhà ở theo quy hoạch chi tiết của dự án đã được phê duyệt theo quy định tại khoản 3 Điều 46 Nghị định số 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về quản lý đầu tư phát triển đô thị (được sửa đổi, bổ sung tại điểm c khoản 9 Điều 4 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng).", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 421, "text": "Internet). Mới đây, Bộ Xây dựng có công văn gửi Sở Xây dựng tỉnh Nghệ An về việc hướng dẫn giải quyết vướng mắc trong việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư xây dựng nhà ở. Về việc xác định tổng mức đầu tư của dự án, Bộ Xây dựng cho biết, theo quy định tại Điều 134 của Luật Xây dựng năm 2014 (Luật số 50/2014/QH13), tổng mức đầu tư xây dựng là toàn bộ chi phí đầu tư xây dựng của dự án được xác định phù hợp với thiết kế cơ sở và các nội dung của Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng. Trường hợp phải lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng thì việc xác định sơ bộ tổng mức đầu tư theo thiết kế sơ bộ là cơ sở để ước tính chi phí đầu tư xây dựng. Đối với dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn Nhà nước ngoài đầu tư công, tổng mức đầu tư xây dựng được phê duyệt là mức chi phí tối đa mà chủ đầu tư được phép sử dụng để thực hiện dự án. Do đó, tổng mức đầu tư xây dựng dự án nhà ở như nêu tại Văn bản số 3451/SXD-QLN phải được xác định trên cơ sở mục tiêu, nội dung, quy mô đầu tư… của dự án nêu trong Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, phù hợp với thiết kế cơ sở, với mục tiêu, nội dung, quy mô đầu tư trong Quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư của dự án. Về việc tuân thủ chủ trương đầu tư của dự án được nêu tại mục 1 Công văn số 3451/SXD-QLN: Việc thực hiện dự án phải tuân thủ chủ trương đầu tư của dự án theo quy định tại khoản 2 Điều 19, khoản 3 Điều 26 Luật Nhà ở năm 2014 (Luật số 65/2014/QH13); Điều 9, khoản 1 Điều 11, Điều 37 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 (Luật số 66/2014/QH13); quy định của pháp luật về đầu tư, đất đai, xây dựng, nhà ở, phát triển đô thị và quy hoạch đô thị và pháp luật có liên quan khác. Các nội dung liên quan việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân không thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng. Do đó, đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Nghệ An liên hệ Bộ Tài nguyên và Môi trường để được hướng dẫn thực hiện. Trường hợp được cấp có thẩm quyền cho phép thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền tại dự án, người dân có trách nhiệm tuân thủ các nội dung đã quy định đối với dự án. Chính quyền có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện và định kỳ kiểm tra việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được đầu tư hạ tầng cho người dân tự xây dựng nhà ở theo quy hoạch chi tiết của dự án đã được phê duyệt theo quy định tại khoản 3 Điều 46 Nghị định số 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về quản lý đầu tư phát triển đô thị (được sửa đổi, bổ sung tại điểm c khoản 9 Điều 4 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng)." } ], "id": "766", "is_impossible": false, "question": "Giải quyết vướng mắc khi thực hiện các dự án nhà ở" } ] } ], "title": "Giải quyết vướng mắc khi thực hiện các dự án nhà ở" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Liên hệ tới Báo Giao thông, bạn đọc Nguyễn Văn Hào (Cầu Giấy, TP Hà Nội) chia sẻ, mấy hôm trước, sau khi lấy chiếc xe bị tạm giữ vì vi phạm giao thông về, thì thấy xe có dấu hiệu hư hỏng.\"Xin hỏi, ai có trách nhiệm quản lý và bảo quản phương tiện vi phạm giao thông trong thời gian xe của tôi bị tạm giữ?\", bạn Hào thắc mắc.Cơ quan ban hành quyết định tạm giữ phương tiện phải có trách nhiệm bảo quản phương tiện bị tạm giữ.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, tạm giữ phương tiện giao thông là một trong những biện pháp ngăn chặn sự tiếp tục vi phạm của người vi phạm, đảm bảo hiệu lực thi hành của quyết định xử phạt vi phạm hành chính.Theo Nghị định 138/2021/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, thì người lập biên bản tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ có trách nhiệm quản lý, bảo quản phương tiện bị tạm giữ cho đến khi bàn giao cho người quản lý, bảo quản.Luật sư Diệp Năng Bình – Trưởng văn phòng luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).Người quản lý, bảo quản phương tiện bị tạm giữ có trách nhiệm trực tiếp quản lý, bảo quản phương tiện. Trường hợp phương tiện bị tạm giữ bị mất, bán trái quy định, đánh tráo, hư hỏng, mất linh kiện, thay thế thì người quản lý, bảo quản phải chịu trách nhiệm trước người ra quyết định tạm giữ, chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật.\"Như vậy, trường hợp cảnh sát giao thông (CSGT) ra quyết định tạm giữ phương tiện giao thông vi phạm thì phải có trách nhiệm quản lý, bảo quản phương tiện từ khi tạm giữ cho đến khi giao phương tiện cho tổ chức, cá nhân vi phạm. Trường hợp có xảy ra hư hỏng, mất mát thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại\", ông Bình nói.Luật sư Diệp Năng Bình cũng cho biết thêm, nếu CSGT giao cho cá nhân, đơn vị nào đó bảo quản, quản lý phương tiện tạm giữ thì đơn vị, cá nhân đó phải chịu trách nhiệm với CSGT nếu xảy ra hư hỏng, mất mát.Do đó, người vi phạm giao thông khi nhận xe bị tạm giữ mà thấy có hư hỏng, mất mát thì người ra quyết định tạm giữ, tịch thu chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật…", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Liên hệ tới Báo Giao thông, bạn đọc Nguyễn Văn Hào (Cầu Giấy, TP Hà Nội) chia sẻ, mấy hôm trước, sau khi lấy chiếc xe bị tạm giữ vì vi phạm giao thông về, thì thấy xe có dấu hiệu hư hỏng.\"Xin hỏi, ai có trách nhiệm quản lý và bảo quản phương tiện vi phạm giao thông trong thời gian xe của tôi bị tạm giữ?\", bạn Hào thắc mắc.Cơ quan ban hành quyết định tạm giữ phương tiện phải có trách nhiệm bảo quản phương tiện bị tạm giữ.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, tạm giữ phương tiện giao thông là một trong những biện pháp ngăn chặn sự tiếp tục vi phạm của người vi phạm, đảm bảo hiệu lực thi hành của quyết định xử phạt vi phạm hành chính.Theo Nghị định 138/2021/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, thì người lập biên bản tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ có trách nhiệm quản lý, bảo quản phương tiện bị tạm giữ cho đến khi bàn giao cho người quản lý, bảo quản.Luật sư Diệp Năng Bình – Trưởng văn phòng luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).Người quản lý, bảo quản phương tiện bị tạm giữ có trách nhiệm trực tiếp quản lý, bảo quản phương tiện. Trường hợp phương tiện bị tạm giữ bị mất, bán trái quy định, đánh tráo, hư hỏng, mất linh kiện, thay thế thì người quản lý, bảo quản phải chịu trách nhiệm trước người ra quyết định tạm giữ, chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật.\"Như vậy, trường hợp cảnh sát giao thông (CSGT) ra quyết định tạm giữ phương tiện giao thông vi phạm thì phải có trách nhiệm quản lý, bảo quản phương tiện từ khi tạm giữ cho đến khi giao phương tiện cho tổ chức, cá nhân vi phạm. Trường hợp có xảy ra hư hỏng, mất mát thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại\", ông Bình nói.Luật sư Diệp Năng Bình cũng cho biết thêm, nếu CSGT giao cho cá nhân, đơn vị nào đó bảo quản, quản lý phương tiện tạm giữ thì đơn vị, cá nhân đó phải chịu trách nhiệm với CSGT nếu xảy ra hư hỏng, mất mát.Do đó, người vi phạm giao thông khi nhận xe bị tạm giữ mà thấy có hư hỏng, mất mát thì người ra quyết định tạm giữ, tịch thu chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật…" } ], "id": "767", "is_impossible": false, "question": "Xe bị hư hại khi tạm giữ, ai sẽ chịu trách nhiệm bồi thường?" } ] } ], "title": "Xe bị hư hại khi tạm giữ, ai sẽ chịu trách nhiệm bồi thường?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Hợp đồng xây dựng ký theo hình thức trọn gói, trong đó có hạng mục không thực hiện được phải điều chỉnh giảm khối lượng theo kết luận của chủ đầu tư. Ảnh minh họa. Tuy nhiên, Thông tư số 02/2023/TT-BXD thay thế Thông tư số 07/2015/TT-BXD không có hướng dẫn cho trường hợp khối lượng điều chỉnh giảm. Ông Nguyễn Quang Lương (Hà Nội) đề nghị Bộ Xây dựng hướng dẫn thủ tục điều chỉnh trong trường hợp nêu trên. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Do nội dung câu hỏi của ông chưa nêu rõ thời điểm ký kết hợp đồng, các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để hướng dẫn cụ thể. Trường hợp hợp đồng đã ký kết thực hiện theo các quy định tại Thông tư số 02/2023/TT-BXD thì việc điều chỉnh khối lượng công việc trong hợp đồng xây dựng thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký kết, phù hợp với hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu, các quy định tại Điều 35, 36, 37 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 50/2021/NĐ-CP, Khoản 1 Điều 4 Thông tư số 02/2023/TT-BXD và các quy định pháp luật khác áp dụng cho hợp đồng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 461, "text": "Do nội dung câu hỏi của ông chưa nêu rõ thời điểm ký kết hợp đồng, các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để hướng dẫn cụ thể. Trường hợp hợp đồng đã ký kết thực hiện theo các quy định tại Thông tư số 02/2023/TT-BXD thì việc điều chỉnh khối lượng công việc trong hợp đồng xây dựng thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký kết, phù hợp với hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu, các quy định tại Điều 35, 36, 37 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 50/2021/NĐ-CP, Khoản 1 Điều 4 Thông tư số 02/2023/TT-BXD và các quy định pháp luật khác áp dụng cho hợp đồng." } ], "id": "768", "is_impossible": false, "question": "Hợp đồng trọn gói giảm khối lượng công việc, xử lý thế nào?" } ] } ], "title": "Hợp đồng trọn gói giảm khối lượng công việc, xử lý thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Bạn Nguyễn Thế Nam (Hiệp Hòa, Bắc Giang) hỏi: Theo quy định hiện hành, những lực lượng cảnh sát nào được dựng phương tiện? Cảnh sát hình sự có được dừng phương tiện không?Các lực lượng cảnh sát khác có thể được huy động phối hợp với cảnh sát giao thông tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ.Trả lời bạn đọc, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, theo quy định tại Thông tư 32/2023 của Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ, ngoài cảnh sát giao thông (CSGT) đường bộ, còn một số lực lượng khác cũng có thẩm quyền dừng phương tiện đang lưu thông để kiểm soát, xử lý vi phạm giao thông.Cụ thể, căn cứ Nghị định số 27/2010/NĐ-CP do Chính phủ ký ban hành quy định, các lực lượng có thể được huy động phối hợp với CSGT tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ khi cần thiết gồm:Công an xã, phường, thị trấn và các lực lượng cảnh sát khác (gồm: cảnh sát trật tự, cảnh sát cơ động, cảnh sát phản ứng nhanh, cảnh sát bảo vệ, và cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội).Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Tuy nhiên, việc huy động phải thực hiện bằng quyết định hoặc kế hoạch huy động, trong đó nêu rõ lực lượng, số lượng cần huy động, thời gian, địa bàn huy động, trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể của CSGT, cảnh sát khác và công an xã tham gia phối hợp tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông.Khi hết thời gian huy động ghi trong quyết định hoặc kế hoạch huy động mà không có văn bản huy động mới của cấp có thẩm quyền thì lực lượng cảnh sát khác và công an xã kết thúc nhiệm vụ được huy động, chuyển sang thực hiện nhiệm vụ thường xuyên.Khi không có CSGT đường bộ đi cùng, các lực lượng cảnh sát khác và công an xã tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ phải thực hiện việc tuần tra, kiểm soát trật tự an toàn giao thông theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; nếu phát hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ thì được xử phạt vi phạm hành chính những hành vi thuộc quyền xử phạt của mình.Trong trường hợp vượt quá thẩm quyền xử phạt của mình thì phải lập biên bản vi phạm hành chính, báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết.Ngoài ra, tại Hà Nội và TP.HCM, còn có tổ công tác liên ngành 141 gồm: cảnh sát cơ động, CSGT và cảnh sát hình sự, được thành lập với nhiệm vụ chính là tuần tra kiểm soát, kiểm tra hành chính để phòng ngừa, ngăn chặn các đối tượng lợi dụng tuyến giao thông để thực hiện hành vi phạm tội.Do đó, cảnh sát hình sự được phép dừng phương tiện giao thông.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 46, "text": "Theo quy định hiện hành, những lực lượng cảnh sát nào được dựng phương tiện? Cảnh sát hình sự có được dừng phương tiện không?Các lực lượng cảnh sát khác có thể được huy động phối hợp với cảnh sát giao thông tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ.Trả lời bạn đọc, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, theo quy định tại Thông tư 32/2023 của Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ, ngoài cảnh sát giao thông (CSGT) đường bộ, còn một số lực lượng khác cũng có thẩm quyền dừng phương tiện đang lưu thông để kiểm soát, xử lý vi phạm giao thông.Cụ thể, căn cứ Nghị định số 27/2010/NĐ-CP do Chính phủ ký ban hành quy định, các lực lượng có thể được huy động phối hợp với CSGT tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ khi cần thiết gồm:Công an xã, phường, thị trấn và các lực lượng cảnh sát khác (gồm: cảnh sát trật tự, cảnh sát cơ động, cảnh sát phản ứng nhanh, cảnh sát bảo vệ, và cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội).Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Tuy nhiên, việc huy động phải thực hiện bằng quyết định hoặc kế hoạch huy động, trong đó nêu rõ lực lượng, số lượng cần huy động, thời gian, địa bàn huy động, trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể của CSGT, cảnh sát khác và công an xã tham gia phối hợp tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông.Khi hết thời gian huy động ghi trong quyết định hoặc kế hoạch huy động mà không có văn bản huy động mới của cấp có thẩm quyền thì lực lượng cảnh sát khác và công an xã kết thúc nhiệm vụ được huy động, chuyển sang thực hiện nhiệm vụ thường xuyên.Khi không có CSGT đường bộ đi cùng, các lực lượng cảnh sát khác và công an xã tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ phải thực hiện việc tuần tra, kiểm soát trật tự an toàn giao thông theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; nếu phát hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ thì được xử phạt vi phạm hành chính những hành vi thuộc quyền xử phạt của mình.Trong trường hợp vượt quá thẩm quyền xử phạt của mình thì phải lập biên bản vi phạm hành chính, báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết.Ngoài ra, tại Hà Nội và TP.HCM, còn có tổ công tác liên ngành 141 gồm: cảnh sát cơ động, CSGT và cảnh sát hình sự, được thành lập với nhiệm vụ chính là tuần tra kiểm soát, kiểm tra hành chính để phòng ngừa, ngăn chặn các đối tượng lợi dụng tuyến giao thông để thực hiện hành vi phạm tội.Do đó, cảnh sát hình sự được phép dừng phương tiện giao thông." } ], "id": "769", "is_impossible": false, "question": "Cảnh sát hình sự có được dừng phương tiện để kiểm tra?" } ] } ], "title": "Cảnh sát hình sự có được dừng phương tiện để kiểm tra?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Gửi câu hỏi tới Báo Giao thông, bạn đọc Nguyễn Quang Minh (Thái Nguyên) thắc mắc, hiện nay, trong quá trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm nồng độ cồn, cảnh sát giao thông (CSGT) ghi nhận một số trường hợp tài xế cho rằng họ không sử dụng rượu bia, nhưng khi kiểm tra qua thiết bị của lực lượng chức năng thì máy vẫn báo phát hiện nồng độ cồn. \"Vậy, nếu tôi điều khiển xe dù không uống rượu bia hay trước đó chỉ uống nước hoa quả, nhưng máy đo nồng độ cồn vẫn báo có vi phạm, tôi phải làm gì? Nếu không đồng tình với kết quả đo nồng độ cồn của CSGT mà tự đi xét nghiệm nồng độ cồn trong máu thì kết quả xét nghiệm có được ghi nhận không?\", bạn Minh hỏi.Tài xế có quyền chứng minh bản thân không vi phạm (ảnh minh họa).Về vấn đề này, đại tá Nguyễn Quang Nhật, Trưởng phòng Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự, an toàn giao thông, Cục CSGTcho biết, chuyên đề xử lý vi phạm về nồng độ cồn trên toàn quốc đang được lực lượng CSGT triển khai trên tinh thần rất quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Kế hoạch này đã mang lại những hiệu quả tích cực, trong đó từ ngày 30/8-15/10, tai nạn giao thông (TNGT) với nguyên nhân do người điều khiển phương tiện có sử dụng rượu bia đã giảm rõ rệt cả ba tiêu chí.Quá trình triển khai, lực lượng chức năng cũng đã có rất nhiều biện pháp, cách thức thực hiện để kiểm soát nồng độ cồn thường xuyên, liên tục và có hiệu quả.Một trong những thắc mắc được nhiều người đề cập, đó là việc họ lo ngại trường hợp không sử dụng rượu, bia mà chỉ uống nước hoa quả, siro, trái cây lên men hay uống thuốc tân dược, nhưng khi CSGT kiểm tra thì thiết bị đo vẫn báo phát hiện có cồn.Cục CSGT khẳng định, khi Luật Phòng, chống tác hại của rượu bia và Nghị định 100/NĐ-CP có hiệu lực từ năm 2020, các đơn vị liên quan và cơ quan y tế đã phối hợp thực nghiệm hàng trăm lượt test với các loại hoa quả, thuốc ho hay kháng sinh, nước súc miệng, trái cây lên men.Các kết quả thực nghiệm đều thể hiện những người ăn, uống những loại nước, hoa quả trên không phát sinh nồng độ cồn trong cơ thể.Bên cạnh đó, khi làm nhiệm vụ xử lý nồng độ cồn, các tổ CSGT đều yêu cầu tài xế kiểm tra tuần tự theo hai bước, gồm định tính và định lượng. Cho nên, không có chuyện CSGT xử lý nhầm người không vi phạm.Trường hợp tài xế không sử dụng rượu, bia nhưng thiết bị đo vẫn báo có, họ có quyền đề nghị CSGT cho thổi lại qua thiết bị, hoặc được quyền chờ trong khoảng thời gian nhất định (từ 10-15 phút) để kiểm tra lại.Ngoài ra, trong tình huống trên, người dân cũng có thể uống nước, súc miệng trước khi kiểm tra lại bằng thiết bị đo nồng độ cồn để chứng minh cho bản thân.Trao đổi thêm về nội dung này, Thiếu tá Trần Quang Chinh, Phó đội trưởng Đội CSGT số 9 (Công an TP Hà Nội) cho biết, hiện nay có hai hình thức kiểm tra nồng độ cồn những người điều khiển phương tiện tham gia giao thông là định tính và định lượng.Kiểm tra nồng độ cồn định tính thường được áp dụng tại những tuyến đường rộng, đủ điều kiện để lập chốt kiểm tra hàng loạt. Nếu phát hiện có nồng độ cồn, máy sẽ báo, khi đó CSGT sẽ yêu cầu tài xế tấp xe vào lề kiểm tra định lượng để xác định mức vi phạm cụ thể. Còn với phương thức kiểm tra định lượng, lái xe được yêu cầu thổi vào máy đo nồng độ cồn có gắn ống thổi bằng nhựa. Sau khi tài xế thổi, máy sẽ báo mức nồng độ cồn trong hơi thở và CSGT sẽ căn cứ vào đây để lập biên bản xử lý vi phạm hành chính.Ngoài hai phương thức kiểm tra nồng độ cồn trên, với một số trường hợp không chấp hành thổi qua ống hay những trường hợp gây TNGT, thì CSGT có thể áp dụng kiểm tra nồng độ cồn của người vi phạm qua xét nghiệm máu. Tuy nhiên, không phải người vi phạm tự ý đi xét nghiệm máu mang kết quả về là được công nhận.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Gửi câu hỏi tới Báo Giao thông, bạn đọc Nguyễn Quang Minh (Thái Nguyên) thắc mắc, hiện nay, trong quá trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm nồng độ cồn, cảnh sát giao thông (CSGT) ghi nhận một số trường hợp tài xế cho rằng họ không sử dụng rượu bia, nhưng khi kiểm tra qua thiết bị của lực lượng chức năng thì máy vẫn báo phát hiện nồng độ cồn. \"Vậy, nếu tôi điều khiển xe dù không uống rượu bia hay trước đó chỉ uống nước hoa quả, nhưng máy đo nồng độ cồn vẫn báo có vi phạm, tôi phải làm gì? Nếu không đồng tình với kết quả đo nồng độ cồn của CSGT mà tự đi xét nghiệm nồng độ cồn trong máu thì kết quả xét nghiệm có được ghi nhận không?\", bạn Minh hỏi.Tài xế có quyền chứng minh bản thân không vi phạm (ảnh minh họa).Về vấn đề này, đại tá Nguyễn Quang Nhật, Trưởng phòng Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự, an toàn giao thông, Cục CSGTcho biết, chuyên đề xử lý vi phạm về nồng độ cồn trên toàn quốc đang được lực lượng CSGT triển khai trên tinh thần rất quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Kế hoạch này đã mang lại những hiệu quả tích cực, trong đó từ ngày 30/8-15/10, tai nạn giao thông (TNGT) với nguyên nhân do người điều khiển phương tiện có sử dụng rượu bia đã giảm rõ rệt cả ba tiêu chí.Quá trình triển khai, lực lượng chức năng cũng đã có rất nhiều biện pháp, cách thức thực hiện để kiểm soát nồng độ cồn thường xuyên, liên tục và có hiệu quả.Một trong những thắc mắc được nhiều người đề cập, đó là việc họ lo ngại trường hợp không sử dụng rượu, bia mà chỉ uống nước hoa quả, siro, trái cây lên men hay uống thuốc tân dược, nhưng khi CSGT kiểm tra thì thiết bị đo vẫn báo phát hiện có cồn.Cục CSGT khẳng định, khi Luật Phòng, chống tác hại của rượu bia và Nghị định 100/NĐ-CP có hiệu lực từ năm 2020, các đơn vị liên quan và cơ quan y tế đã phối hợp thực nghiệm hàng trăm lượt test với các loại hoa quả, thuốc ho hay kháng sinh, nước súc miệng, trái cây lên men.Các kết quả thực nghiệm đều thể hiện những người ăn, uống những loại nước, hoa quả trên không phát sinh nồng độ cồn trong cơ thể.Bên cạnh đó, khi làm nhiệm vụ xử lý nồng độ cồn, các tổ CSGT đều yêu cầu tài xế kiểm tra tuần tự theo hai bước, gồm định tính và định lượng. Cho nên, không có chuyện CSGT xử lý nhầm người không vi phạm.Trường hợp tài xế không sử dụng rượu, bia nhưng thiết bị đo vẫn báo có, họ có quyền đề nghị CSGT cho thổi lại qua thiết bị, hoặc được quyền chờ trong khoảng thời gian nhất định (từ 10-15 phút) để kiểm tra lại.Ngoài ra, trong tình huống trên, người dân cũng có thể uống nước, súc miệng trước khi kiểm tra lại bằng thiết bị đo nồng độ cồn để chứng minh cho bản thân.Trao đổi thêm về nội dung này, Thiếu tá Trần Quang Chinh, Phó đội trưởng Đội CSGT số 9 (Công an TP Hà Nội) cho biết, hiện nay có hai hình thức kiểm tra nồng độ cồn những người điều khiển phương tiện tham gia giao thông là định tính và định lượng.Kiểm tra nồng độ cồn định tính thường được áp dụng tại những tuyến đường rộng, đủ điều kiện để lập chốt kiểm tra hàng loạt. Nếu phát hiện có nồng độ cồn, máy sẽ báo, khi đó CSGT sẽ yêu cầu tài xế tấp xe vào lề kiểm tra định lượng để xác định mức vi phạm cụ thể. Còn với phương thức kiểm tra định lượng, lái xe được yêu cầu thổi vào máy đo nồng độ cồn có gắn ống thổi bằng nhựa. Sau khi tài xế thổi, máy sẽ báo mức nồng độ cồn trong hơi thở và CSGT sẽ căn cứ vào đây để lập biên bản xử lý vi phạm hành chính.Ngoài hai phương thức kiểm tra nồng độ cồn trên, với một số trường hợp không chấp hành thổi qua ống hay những trường hợp gây TNGT, thì CSGT có thể áp dụng kiểm tra nồng độ cồn của người vi phạm qua xét nghiệm máu. Tuy nhiên, không phải người vi phạm tự ý đi xét nghiệm máu mang kết quả về là được công nhận." } ], "id": "770", "is_impossible": false, "question": "Không uống rượu bia mà máy đo vẫn báo có cồn, tài xế chứng minh ra sao?" } ] } ], "title": "Không uống rượu bia mà máy đo vẫn báo có cồn, tài xế chứng minh ra sao?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Đối với các lô đất xây dựng nhà máy có trên 05 sàn sử dụng để sản xuất, mật độ xây dựng thuần tối đa là 60%. Đồng thời, việc xây dựng nhà xưởng với mật độ 60% nằm trong phạm vi Quy chuẩn QCVN 01:2021/BXD. Bộ Xây dựng cho biết, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy quy hoạch xây dựng quy định về các mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý bắt buộc phải tuân thủ trong hoạt động quy hoạch xây dựng (Ảnh minh họa: Huyền Nhi). Công ty Cổ phần KANTO Việt Nam có văn bản gửi Bộ Xây dựng đề nghị hướng dẫn việc áp dụng QCVN 01 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch xây dựng đối với dự án đầu tư tại khu công nghiệp VSIP Bắc Ninh. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng quy định về các mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý bắt buộc phải tuân thủ trong hoạt động quy hoạch xây dựng, bao gồm quá trình lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh, tổ chức thực hiện quy hoạch. Việc áp dụng quy chuẩn để lập quy hoạch xây dựng căn cứ theo thời điểm có hiệu lực của văn bản ban hành; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng hiện hành là QCVN 01:2021/BXD ban hành kèm theo Thông tư số 01/2021/TT-BXD ngày 19/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng có hiệu lực thi hành kể từ 05/7/2021. Theo quy định tại khoản 2.5.3 QCVN 01:2021/BXD: “Mật độ xây dựng thuần của lô đất xây dựng nhà máy, kho tàng tối đa là 70%. Đối với các lô đất xây dựng nhà máy có trên 05 sàn sử dụng để sản xuất, mật độ xây dựng thuần tối đa là 60%”. Việc xây dựng nhà xưởng với mật độ 60% nằm trong phạm vi Quy chuẩn QCVN 01:2021/BXD. Tuy nhiên, Bộ Xây dựng lưu ý, quy định tại Quy chuẩn là mật độ xây dựng tối đa, làm căn cứ để lập quy hoạch xây dựng; việc lập quy hoạch chi tiết (tỷ lệ 1/500) lô đất xây dựng nhà xưởng của Công ty đồng thời phải phù hợp với Quy hoạch phân khu (quy hoạch xây dựng tỷ lệ 1/2000) của Khu công nghiệp VSIP Bắc Ninh được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm chỉ tiêu về mật độ xây dựng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 208, "text": "2021/BXD. Bộ Xây dựng cho biết, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy quy hoạch xây dựng quy định về các mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý bắt buộc phải tuân thủ trong hoạt động quy hoạch xây dựng (Ảnh minh họa: Huyền Nhi). Công ty Cổ phần KANTO Việt Nam có văn bản gửi Bộ Xây dựng đề nghị hướng dẫn việc áp dụng QCVN 01 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch xây dựng đối với dự án đầu tư tại khu công nghiệp VSIP Bắc Ninh. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng quy định về các mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý bắt buộc phải tuân thủ trong hoạt động quy hoạch xây dựng, bao gồm quá trình lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh, tổ chức thực hiện quy hoạch. Việc áp dụng quy chuẩn để lập quy hoạch xây dựng căn cứ theo thời điểm có hiệu lực của văn bản ban hành; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng hiện hành là QCVN 01:2021/BXD ban hành kèm theo Thông tư số 01/2021/TT-BXD ngày 19/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng có hiệu lực thi hành kể từ 05/7/2021. Theo quy định tại khoản 2.5.3 QCVN 01:2021/BXD: “Mật độ xây dựng thuần của lô đất xây dựng nhà máy, kho tàng tối đa là 70%. Đối với các lô đất xây dựng nhà máy có trên 05 sàn sử dụng để sản xuất, mật độ xây dựng thuần tối đa là 60%”. Việc xây dựng nhà xưởng với mật độ 60% nằm trong phạm vi Quy chuẩn QCVN 01:2021/BXD. Tuy nhiên, Bộ Xây dựng lưu ý, quy định tại Quy chuẩn là mật độ xây dựng tối đa, làm căn cứ để lập quy hoạch xây dựng; việc lập quy hoạch chi tiết (tỷ lệ 1/500) lô đất xây dựng nhà xưởng của Công ty đồng thời phải phù hợp với Quy hoạch phân khu (quy hoạch xây dựng tỷ lệ 1/2000) của Khu công nghiệp VSIP Bắc Ninh được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm chỉ tiêu về mật độ xây dựng." } ], "id": "771", "is_impossible": false, "question": "Áp dụng Quy chuẩn về quy hoạch đối với dự án đầu tư tại khu công nghiệp VSIP Bắc Ninh" } ] } ], "title": "Áp dụng Quy chuẩn về quy hoạch đối với dự án đầu tư tại khu công nghiệp VSIP Bắc Ninh" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Gửi thắc mắc đến Báo Giao thông, tài xế Nguyễn Đình Hoan (quận Đống Đa, Hà Nội) cho biết hiện nay, nhiều loại giấy tờ như giấy phép lái xe hay giấy đăng ký xe đã được tích hợp trên ứng dụng VNeID. Thông tư 32/2023 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9 cũng đã có quy định về việc kiểm soát, đối chiếu thông tin của các giấy tờ đó trong VNeID có giá trị như kiểm tra trực tiếp giấy tờ gốc. \"Vậy nếu tôi điều khiển xe mà vi phạm luật giao thông, tôi có được xuất trình giấy tờ thông qua ứng dụng để lực lượng CSGT kiểm tra?\", tài xế Hoan hỏi.CSGT đã thực hiện kiểm tra bằng lái xe qua VNeID.Trả lời độc giả, một cán bộ chuyên trách xử lý vi phạm hành chính thuộc Phòng Cảnh sát giao thông (CSGT) Công an Hà Nội khẳng định, Điều 18 Thông tư 32/2023 quy định về kiểm soát các giấy tờ có liên quan đến người và phương tiện giao thông nêu rõ, khi các cơ sở dữ liệu đã kết nối với hệ thống định danh và xác thực điện tử, xác định được các thông tin về tình trạng của giấy tờ, thì việc kiểm soát thông qua kiểm tra, đối chiếu thông tin của các giấy tờ đó trong VNeID có giá trị như kiểm tra trực tiếp giấy tờ.Căn cứ quy định nêu trên, hiện nay, lực lượng CSGT tại Hà Nội đã áp dụng thủ tục kiểm tra, đối chiếu giấy tờ của tài xế (nếu kiểm tra hành chính) hoặc người vi phạm luật giao thông qua ứng dụng VNeID.Ví dụ, tài xế Nguyễn Đình Hoan bị lực lượng chức năng yêu cầu kiểm tra hành chính hoặc vi phạm lỗi có mức phạt dưới 250 nghìn đồng, CSGT sẽ chấp nhận kiểm tra giấy tờ đã tích hợp trên ứng dụng. Sau đó, CSGT lập biên bản xử phạt tại chỗ mà không cần tài xế trình giấy tờ gốc, theo quy định tại Điều 56 Luật Xử lý vi phạm hành chính về mức phạt tối thiểu được lập biên bản.Tuy nhiên, tài xế vi phạm lỗi có mức phạt cao hơn, hoặc lỗi nào mà áp dụng hình phạt bổ sung là tước bằng lái hoặc giấy đăng ký xe, thì CSGT bắt buộc người vi phạm phải đưa giấy tờ gốc (bản cứng) để lập biên bản tạm giữ giấy tờ đó.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Gửi thắc mắc đến Báo Giao thông, tài xế Nguyễn Đình Hoan (quận Đống Đa, Hà Nội) cho biết hiện nay, nhiều loại giấy tờ như giấy phép lái xe hay giấy đăng ký xe đã được tích hợp trên ứng dụng VNeID. Thông tư 32/2023 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9 cũng đã có quy định về việc kiểm soát, đối chiếu thông tin của các giấy tờ đó trong VNeID có giá trị như kiểm tra trực tiếp giấy tờ gốc. \"Vậy nếu tôi điều khiển xe mà vi phạm luật giao thông, tôi có được xuất trình giấy tờ thông qua ứng dụng để lực lượng CSGT kiểm tra?\", tài xế Hoan hỏi.CSGT đã thực hiện kiểm tra bằng lái xe qua VNeID.Trả lời độc giả, một cán bộ chuyên trách xử lý vi phạm hành chính thuộc Phòng Cảnh sát giao thông (CSGT) Công an Hà Nội khẳng định, Điều 18 Thông tư 32/2023 quy định về kiểm soát các giấy tờ có liên quan đến người và phương tiện giao thông nêu rõ, khi các cơ sở dữ liệu đã kết nối với hệ thống định danh và xác thực điện tử, xác định được các thông tin về tình trạng của giấy tờ, thì việc kiểm soát thông qua kiểm tra, đối chiếu thông tin của các giấy tờ đó trong VNeID có giá trị như kiểm tra trực tiếp giấy tờ.Căn cứ quy định nêu trên, hiện nay, lực lượng CSGT tại Hà Nội đã áp dụng thủ tục kiểm tra, đối chiếu giấy tờ của tài xế (nếu kiểm tra hành chính) hoặc người vi phạm luật giao thông qua ứng dụng VNeID.Ví dụ, tài xế Nguyễn Đình Hoan bị lực lượng chức năng yêu cầu kiểm tra hành chính hoặc vi phạm lỗi có mức phạt dưới 250 nghìn đồng, CSGT sẽ chấp nhận kiểm tra giấy tờ đã tích hợp trên ứng dụng. Sau đó, CSGT lập biên bản xử phạt tại chỗ mà không cần tài xế trình giấy tờ gốc, theo quy định tại Điều 56 Luật Xử lý vi phạm hành chính về mức phạt tối thiểu được lập biên bản.Tuy nhiên, tài xế vi phạm lỗi có mức phạt cao hơn, hoặc lỗi nào mà áp dụng hình phạt bổ sung là tước bằng lái hoặc giấy đăng ký xe, thì CSGT bắt buộc người vi phạm phải đưa giấy tờ gốc (bản cứng) để lập biên bản tạm giữ giấy tờ đó." } ], "id": "772", "is_impossible": false, "question": "Trường hợp nào CSGT kiểm tra giấy tờ trên VNeID mà không cần bản gốc?" } ] } ], "title": "Trường hợp nào CSGT kiểm tra giấy tờ trên VNeID mà không cần bản gốc?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Điều 60 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định, tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền kinh doanh các dịch vụ môi giới bất động sản, sàn giao dịch bất động sản, tư vấn bất động sản, quản lý bất động sản theo quy định của Luật. Tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền kinh doanh các dịch vụ môi giới bất động sản (ảnh minh họa: ITN). Bộ Xây dựng nhận được công văn của Công ty Cổ phần One Mount Real Estate đề nghị hướng dẫn việc cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết, tại khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: “1. Kinh doanh bất động sản là việc đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng, mua, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản; thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản; dịch vụ tư vấn bất động sản hoặc quản lý bất động sản nhằm mục đích sinh lợi”. Theo đó, thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản là một hoạt động kinh doanh bất động sản. Đồng thời, tại Điều 60 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: “Tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền kinh doanh các dịch vụ môi giới bất động sản, sàn giao dịch bất động sản, tư vấn bất động sản, quản lý bất động sản theo quy định của Luật này”. Theo đó, việc kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải tuân thủ theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản. Trong khi đó, tại Điều 62 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: “1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải thành lập doanh nghiệp và phải có ít nhất 02 người có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Cá nhân có quyền kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản độc lập nhưng phải có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản và đăng ký nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản không được đồng thời vừa là nhà môi giới vừa là một bên thực hiện hợp đồng trong một giao dịch kinh doanh bất động sản”. Bộ Xây dựng đề nghị Công ty Cổ phần One Mount Real Estate nghiên cứu quy định của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 đối chiếu với trường hợp cụ thể để thực hiện theo đúng quy định.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 475, "text": "ITN). Bộ Xây dựng nhận được công văn của Công ty Cổ phần One Mount Real Estate đề nghị hướng dẫn việc cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết, tại khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: “1. Kinh doanh bất động sản là việc đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng, mua, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản; thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản; dịch vụ tư vấn bất động sản hoặc quản lý bất động sản nhằm mục đích sinh lợi”. Theo đó, thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản là một hoạt động kinh doanh bất động sản. Đồng thời, tại Điều 60 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: “Tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền kinh doanh các dịch vụ môi giới bất động sản, sàn giao dịch bất động sản, tư vấn bất động sản, quản lý bất động sản theo quy định của Luật này”. Theo đó, việc kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải tuân thủ theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản. Trong khi đó, tại Điều 62 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: “1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải thành lập doanh nghiệp và phải có ít nhất 02 người có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Cá nhân có quyền kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản độc lập nhưng phải có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản và đăng ký nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản không được đồng thời vừa là nhà môi giới vừa là một bên thực hiện hợp đồng trong một giao dịch kinh doanh bất động sản”. Bộ Xây dựng đề nghị Công ty Cổ phần One Mount Real Estate nghiên cứu quy định của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 đối chiếu với trường hợp cụ thể để thực hiện theo đúng quy định." } ], "id": "773", "is_impossible": false, "question": "Điều kiện kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản" } ] } ], "title": "Điều kiện kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Đối tượng vi phạm hành chính không thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cơ quan có thẩm quyền xem xét, áp dụng quy định về cưỡng chế thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả tại Điều 38 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Theo quy định, hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (ảnh minh họa: Internet). Ngày 07/11/2023, Bộ Xây dựng đã có công văn gửi Sở Xây dựng tỉnh Bạc Liêu hướng dẫn việc áp dụng các quy định để xử lý đối với các công trình không có giấy phép xây dựng theo Điều 84 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022. Theo nội dung Công văn số 1532/SXD-TTrS, Công ty A xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng, hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2013, đến năm 2022 mới được phát hiện. Theo quy định tại khoản 33 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi khoản 2 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020, trường hợp hành vi vi phạm hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Trường hợp đối tượng vi phạm hành chính không thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cơ quan có thẩm quyền xem xét, áp dụng quy định về cưỡng chế thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả tại Điều 38 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 530, "text": "Internet). Ngày 07/11/2023, Bộ Xây dựng đã có công văn gửi Sở Xây dựng tỉnh Bạc Liêu hướng dẫn việc áp dụng các quy định để xử lý đối với các công trình không có giấy phép xây dựng theo Điều 84 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022. Theo nội dung Công văn số 1532/SXD-TTrS, Công ty A xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng, hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2013, đến năm 2022 mới được phát hiện. Theo quy định tại khoản 33 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi khoản 2 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020, trường hợp hành vi vi phạm hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Trường hợp đối tượng vi phạm hành chính không thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cơ quan có thẩm quyền xem xét, áp dụng quy định về cưỡng chế thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả tại Điều 38 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính." } ], "id": "774", "is_impossible": false, "question": "Xử lý hành vi vi phạm hành chính về xây dựng" } ] } ], "title": "Xử lý hành vi vi phạm hành chính về xây dựng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông Phạm Văn Tường (Vĩnh Phúc) có câu hỏi về điều kiện gia hạn chứng chỉ hành nghề xây dựng, gửi cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn giải đáp. Điều kiện gia hạn chứng chỉ hành nghề xây dựng (ảnh minh họa). Nội dung câu hỏi như sau: Ông Tường tốt nghiệp Đại học Thủy lợi năm 1998, đã làm việc tại Ban quản lý dự án đến nay trên 25 năm, công việc chính là giám sát công trình và quản lý dự án. Năm 2008, ông Tường được cấp chứng chỉ hành nghề giám sát công trình thủy lợi, năm 2013 được cấp chứng chỉ hành nghề quản lý dự án, sau đó đều gia hạn thời gian đúng quy định. Từ tháng 12/2018, ông gia hạn chứng chỉ hành nghề quản lý dự án công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn, hạng II; tháng 1/2019, gia hạn chứng chỉ hành nghề giám sát công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn, hạng II. Hiện nay ông Tường đã thi sát hạch và đang hoàn thiện hồ sơ xin cấp gia hạn, nhưng trong thời gian 2018 đến nay do ít công trình thủy lợi, chủ yếu ông trực tiếp quản lý dự án các công trình giao thông nhóm B; làm giám sát trưởng 1 công trình cấp IV và đang làm giám sát trưởng 1 công trình cấp III. Ông Tường hỏi, vậy ông có được tiếp tục cấp gia hạn 2 chứng chỉ hành nghề như trên không? Trong đơn xin cấp có được kê khai các công trình, dự án đã thực trước năm 2018 hay không? Trường hợp không được cấp gia hạn, ông đề nghị Bộ xem xét, nghiên cứu, điều chỉnh những quy định này cho phù hợp để không ảnh hưởng đến công việc của những người như ông. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Ông có thể kê khai các công trình, dự án đã thực hiện trước năm 2018 trong đơn đề nghị gia hạn chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng công trình và quản lý dự án hạng II nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 71, Khoản 2 Điều 73 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng, đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 21 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 241, "text": "Ông Tường tốt nghiệp Đại học Thủy lợi năm 1998, đã làm việc tại Ban quản lý dự án đến nay trên 25 năm, công việc chính là giám sát công trình và quản lý dự án. Năm 2008, ông Tường được cấp chứng chỉ hành nghề giám sát công trình thủy lợi, năm 2013 được cấp chứng chỉ hành nghề quản lý dự án, sau đó đều gia hạn thời gian đúng quy định. Từ tháng 12/2018, ông gia hạn chứng chỉ hành nghề quản lý dự án công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn, hạng II; tháng 1/2019, gia hạn chứng chỉ hành nghề giám sát công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn, hạng II. Hiện nay ông Tường đã thi sát hạch và đang hoàn thiện hồ sơ xin cấp gia hạn, nhưng trong thời gian 2018 đến nay do ít công trình thủy lợi, chủ yếu ông trực tiếp quản lý dự án các công trình giao thông nhóm B; làm giám sát trưởng 1 công trình cấp IV và đang làm giám sát trưởng 1 công trình cấp III. Ông Tường hỏi, vậy ông có được tiếp tục cấp gia hạn 2 chứng chỉ hành nghề như trên không? Trong đơn xin cấp có được kê khai các công trình, dự án đã thực trước năm 2018 hay không? Trường hợp không được cấp gia hạn, ông đề nghị Bộ xem xét, nghiên cứu, điều chỉnh những quy định này cho phù hợp để không ảnh hưởng đến công việc của những người như ông. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Ông có thể kê khai các công trình, dự án đã thực hiện trước năm 2018 trong đơn đề nghị gia hạn chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng công trình và quản lý dự án hạng II nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 71, Khoản 2 Điều 73 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng, đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 21 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng." } ], "id": "775", "is_impossible": false, "question": "Điều kiện gia hạn chứng chỉ hành nghề xây dựng" } ] } ], "title": "Điều kiện gia hạn chứng chỉ hành nghề xây dựng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Công trình A thi công đường ống cấp nước được cấp thẩm quyền duyệt với quy mô cấp công trình là cấp I (đường kính 1.500mm, chiều dài 1.700m, phù hợp với quy định của Thông tư số 06/2021/TT-BXD). Việc áp dụng cấp công trình trong quản lý các hoạt động xây dựng được thực hiện tại Điều 3 Thông tư số 06/2021/TT-BXD (ảnh minh họa). Công trình A được tách thành 2 gói thầu thi công đường ống cấp nước: Gói thầu thi công đường ống cấp nước B (đường kính 1.500mm, chiều dài 800m) và gói thầu thi công đường ống cấp nước C (đường kính 1.500mm, chiều dài 900m). Đơn vị của ông Võ Ngọc Thắng (Thành phố Hồ Chí Minh) đã trúng thầu và hoàn thành xong gói thầu thi công đường ống cấp nước B. Đơn vị dự kiến sử dụng gói thầu thi công đường ống cấp nước B để làm hợp đồng tương tự. Ông Thắng hỏi, vậy quy mô cấp công trình của gói thầu thi công đường ống cấp nước B là cấp I (xét theo công trình A với đường kính 1.500mm, chiều dài 1.700m) hay là cấp II (xét theo công trình A nhưng với đường kính 1.500mm, chiều dài là 800m)? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Nguyên tắc xác định cấp công trình trong hoạt động đầu tư xây dựng được quy định tại Điều 2 Thông tư số 06/2021/TT-BXD ngày 30/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định về phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng. Theo đó, trường hợp công trình B, công trình C (theo nội dung câu hỏi của ông Thắng) là các công trình độc lập thì việc xác định cấp công trình được thực hiện theo Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 06/2021/TT-BXD. Trường hợp công trình B, công trình C không phải là các công trình độc lập thì cấp công trình được xác định theo cấp của công trình A theo quy định tại Khoản 2 hoặc Khoản 3 Điều 2 Thông tư số 06/2021/TT-BXD. Việc áp dụng cấp công trình trong quản lý các hoạt động xây dựng được thực hiện tại Điều 3 Thông tư số 06/2021/TT-BXD.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 411, "text": "Gói thầu thi công đường ống cấp nước B (đường kính 1.500mm, chiều dài 800m) và gói thầu thi công đường ống cấp nước C (đường kính 1.500mm, chiều dài 900m). Đơn vị của ông Võ Ngọc Thắng (Thành phố Hồ Chí Minh) đã trúng thầu và hoàn thành xong gói thầu thi công đường ống cấp nước B. Đơn vị dự kiến sử dụng gói thầu thi công đường ống cấp nước B để làm hợp đồng tương tự. Ông Thắng hỏi, vậy quy mô cấp công trình của gói thầu thi công đường ống cấp nước B là cấp I (xét theo công trình A với đường kính 1.500mm, chiều dài 1.700m) hay là cấp II (xét theo công trình A nhưng với đường kính 1.500mm, chiều dài là 800m)? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Nguyên tắc xác định cấp công trình trong hoạt động đầu tư xây dựng được quy định tại Điều 2 Thông tư số 06/2021/TT-BXD ngày 30/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định về phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng. Theo đó, trường hợp công trình B, công trình C (theo nội dung câu hỏi của ông Thắng) là các công trình độc lập thì việc xác định cấp công trình được thực hiện theo Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 06/2021/TT-BXD. Trường hợp công trình B, công trình C không phải là các công trình độc lập thì cấp công trình được xác định theo cấp của công trình A theo quy định tại Khoản 2 hoặc Khoản 3 Điều 2 Thông tư số 06/2021/TT-BXD. Việc áp dụng cấp công trình trong quản lý các hoạt động xây dựng được thực hiện tại Điều 3 Thông tư số 06/2021/TT-BXD." } ], "id": "776", "is_impossible": false, "question": "Nguyên tắc xác định cấp công trình xây dựng" } ] } ], "title": "Nguyên tắc xác định cấp công trình xây dựng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Nghị định số 16/2022/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng”. Bộ Xây dựng đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Long An căn cứ vào quy định nêu trên để xác định áp dụng văn bản quy phạm pháp luật đúng quy định (Ảnh minh họa: Internet). Bộ Xây dựng vừa có công văn gửi Sở Xây dựng tỉnh Long An về việc hướng dẫn xử lý vi phạm hành chính về xây dựng khi xử lý các công trình xây dựng vi phạm trên địa bàn tỉnh và khó khăn, vướng mắc trong công tác xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực xây dựng, kế hoạch và đầu tư, đất đai. Liên quan đến vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết, trường hợp công trình xây dựng không đúng mục đích sử dụng đất, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính căn cứ theo quy định tại khoản 11 Điều 16 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP “Đối với các công trình xây dựng trên đất không đúng mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai thì xử phạt theo quy định tại nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai” để xử lý. Trường hợp đối với công trình dạng nhà kho, nhà xưởng xây dựng trên đất ở như văn bản của Sở Xây dựng Long An nêu trên thì người có thẩm quyền nghiên cứu quy định về đăng ký biến động đất đai tại Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và các quy định khác để xác định hành vi vi phạm và xử lý (nếu có). Tại khoản 7, Điều 16 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng”. Căn cứ vào quy định pháp luật, hồ sơ, tình hình thực tế xây dựng của dự án, Sở Xây dựng tỉnh Long An xác định hành vi vi phạm và xử lý theo quy định. Đánh giá về khó khăn, vướng mắc trong công tác xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực xây dựng, kế hoạch và đầu tư, đất đai, Bộ Xây dựng cho biết, theo khoản 3 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau”. Vì vậy, Bộ Xây dựng đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Long An căn cứ vào quy định nêu trên để xác định áp dụng văn bản quy phạm pháp luật đúng quy định. Bên cạnh đó, tại điểm d, khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020 quy định nguyên tắc xử lý vi phạm “chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định”. Mặt khác, từ ngày 28/01/2022, Nghị định số 16/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng có hiệu lực (thay thế Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017) không quy định xử phạt đối với hành vi “chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền mà có lập dự án đầu tư hay không lập dự án đầu tư xây dựng nhà ở khi chưa đủ điều kiện” như văn bản của Sở Xây dựng tỉnh Long An nêu tại Văn bản số 3654/SXD - TTXD. Để xử lý vi phạm nêu trên, đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Long An căn cứ quy định về áp dụng pháp luật, nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính và hồ sơ tài liệu, đối chiếu với các hành vi quy định tại Nghị định xử phạt chuyên ngành về các lĩnh vực có liên quan để xác định và xử lý vi phạm.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 354, "text": "Internet). Bộ Xây dựng vừa có công văn gửi Sở Xây dựng tỉnh Long An về việc hướng dẫn xử lý vi phạm hành chính về xây dựng khi xử lý các công trình xây dựng vi phạm trên địa bàn tỉnh và khó khăn, vướng mắc trong công tác xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực xây dựng, kế hoạch và đầu tư, đất đai. Liên quan đến vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết, trường hợp công trình xây dựng không đúng mục đích sử dụng đất, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính căn cứ theo quy định tại khoản 11 Điều 16 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP “Đối với các công trình xây dựng trên đất không đúng mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai thì xử phạt theo quy định tại nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai” để xử lý. Trường hợp đối với công trình dạng nhà kho, nhà xưởng xây dựng trên đất ở như văn bản của Sở Xây dựng Long An nêu trên thì người có thẩm quyền nghiên cứu quy định về đăng ký biến động đất đai tại Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và các quy định khác để xác định hành vi vi phạm và xử lý (nếu có). Tại khoản 7, Điều 16 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng”. Căn cứ vào quy định pháp luật, hồ sơ, tình hình thực tế xây dựng của dự án, Sở Xây dựng tỉnh Long An xác định hành vi vi phạm và xử lý theo quy định. Đánh giá về khó khăn, vướng mắc trong công tác xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực xây dựng, kế hoạch và đầu tư, đất đai, Bộ Xây dựng cho biết, theo khoản 3 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau”. Vì vậy, Bộ Xây dựng đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Long An căn cứ vào quy định nêu trên để xác định áp dụng văn bản quy phạm pháp luật đúng quy định. Bên cạnh đó, tại điểm d, khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020 quy định nguyên tắc xử lý vi phạm “chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định”. Mặt khác, từ ngày 28/01/2022, Nghị định số 16/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng có hiệu lực (thay thế Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017) không quy định xử phạt đối với hành vi “chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền mà có lập dự án đầu tư hay không lập dự án đầu tư xây dựng nhà ở khi chưa đủ điều kiện” như văn bản của Sở Xây dựng tỉnh Long An nêu tại Văn bản số 3654/SXD - TTXD. Để xử lý vi phạm nêu trên, đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Long An căn cứ quy định về áp dụng pháp luật, nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính và hồ sơ tài liệu, đối chiếu với các hành vi quy định tại Nghị định xử phạt chuyên ngành về các lĩnh vực có liên quan để xác định và xử lý vi phạm." } ], "id": "777", "is_impossible": false, "question": "Áp dụng quy định xử lý vi phạm hành chính về xây dựng" } ] } ], "title": "Áp dụng quy định xử lý vi phạm hành chính về xây dựng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Công ty ông Phạm Trung Đức (Hà Nội) là nhà thầu thiết kế, tham gia thiết kế bản vẽ thi công một dự án giao thông. Hồ sơ của công ty đã được chủ đầu tư chấp thuận nghiệm thu. Ảnh minh họa. Tuy nhiên, gần đến ngày khởi công thì UBND tỉnh thay đổi quy hoạch khu vực có tuyến đường chạy qua dẫn tới tuyến phải điều chỉnh chiều rộng mặt đường từ B = 36 m xuống B = 24 m. Ông Đức hỏi, trong trường hợp này, công ty ông có được tính phí thiết kế phát sinh không? Nếu được thì quy định tại điều nào và hệ số ra sao? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc điều chỉnh hợp đồng xây dựng căn cứ loại hợp đồng, hình thức giá hợp đồng. Điều chỉnh hợp đồng xây dựng thực hiện theo hướng dẫn tại Mục 5 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, Nghị định số 50/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng. Ông Phạm Trung Đức căn cứ nội dung hợp đồng ký kết giữa các bên, quy định pháp luật về hợp đồng xây dựng để xác định chi phí thiết kế phát sinh.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 561, "text": "Việc điều chỉnh hợp đồng xây dựng căn cứ loại hợp đồng, hình thức giá hợp đồng. Điều chỉnh hợp đồng xây dựng thực hiện theo hướng dẫn tại Mục 5 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, Nghị định số 50/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng. Ông Phạm Trung Đức căn cứ nội dung hợp đồng ký kết giữa các bên, quy định pháp luật về hợp đồng xây dựng để xác định chi phí thiết kế phát sinh." } ], "id": "778", "is_impossible": false, "question": "Khi nào được tính chi phí thiết kế phát sinh?" } ] } ], "title": "Khi nào được tính chi phí thiết kế phát sinh?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông Dương Vũ Kim Khôi (Long An) là kỹ sư xây dựng, đã tốt nghiệp hệ chính quy ngành xây dựng với 2 chuyên ngành: cảng - công trình biển; xây dựng dân dụng và công nghiệp của Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2014. Điều kiện cấp chứng chỉ thiết kế công trình giao thông. Ông Khôi hỏi, nay ông muốn xin cấp chứng chỉ hành nghề thiết kế công trình giao thông cấp II thì có được không? Ông hiện làm việc trong ngành thiết kế công trình giao thông. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 67 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều về quản lý dự án đầu tư xây dựng thì chuyên ngành cảng – công trình biển thuộc chuyên môn phù hợp để xét cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng lĩnh vực thiết kế xây dựng công trình giao thông (đường thủy nội địa, hàng hải). Trường hợp ông có nhu cầu thực hiện thủ tục xét cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng, ông cần hoàn thiện 1 bộ hồ sơ đầy đủ, hợp lệ theo quy định tại Khoản 1 Điều 76 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, đã được sửa đổi bổ sung tại Khoản 23 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 126, "text": "cảng - công trình biển; xây dựng dân dụng và công nghiệp của Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2014. Điều kiện cấp chứng chỉ thiết kế công trình giao thông. Ông Khôi hỏi, nay ông muốn xin cấp chứng chỉ hành nghề thiết kế công trình giao thông cấp II thì có được không? Ông hiện làm việc trong ngành thiết kế công trình giao thông. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 67 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều về quản lý dự án đầu tư xây dựng thì chuyên ngành cảng – công trình biển thuộc chuyên môn phù hợp để xét cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng lĩnh vực thiết kế xây dựng công trình giao thông (đường thủy nội địa, hàng hải). Trường hợp ông có nhu cầu thực hiện thủ tục xét cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng, ông cần hoàn thiện 1 bộ hồ sơ đầy đủ, hợp lệ theo quy định tại Khoản 1 Điều 76 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, đã được sửa đổi bổ sung tại Khoản 23 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng." } ], "id": "779", "is_impossible": false, "question": "Điều kiện cấp chứng chỉ thiết kế công trình giao thông" } ] } ], "title": "Điều kiện cấp chứng chỉ thiết kế công trình giao thông" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Theo quy định, chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị có trách nhiệm trực tiếp đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên quỹ đất 20%. Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh cần đối chiếu các quy định pháp luật với hồ sơ pháp lý, thời điểm chấp thuận chủ trương đầu tư, quá trình triển khai thực hiện của Dự án Khu nhà ở phường Long Trường, thành phố Thủ Đức (Ảnh minh họa: Internet) Mới đây, Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc liên quan 20% diện tích sàn nhà ở xã hội để bán theo giá kinh doanh thương mại. Về vấn đề này, sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng cho biết: Dự án Khu nhà ở phường Long Trường, thành phố Thủ Đức do Công ty TNHH Xây dựng và Kinh doanh nhà Điền Phúc Thành làm chủ đầu tư được UBND Thành phố Hồ Chí Minh chấp thuận đầu tư theo Quyết định số 2764/QĐ-UBND ngày 30/5/2016. Theo quy định của Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở và áp dụng Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội, Khu nhà ở xã hội thuộc dự án nêu trên thuộc Danh mục Dự án phát triển nhà ở xã hội đang thực hiện ban hành kèm theo Quyết định số 4151/QĐ-UBND ngày 09/12/2021 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh về việc phê duyệt Kế hoạch phát triển nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021-2025 và năm 2021, 2022. Theo quy định pháp luật, tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/12/2015) có quy định: Chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị đó có trách nhiệm trực tiếp đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên quỹ đất 20% (trừ trường hợp Nhà nước thu hồi quỹ đất 20% để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội bằng nguồn vốn ngân sách và trường hợp chủ đầu tư không có nhu cầu tham gia đầu tư xây dựng nhà ở xã hội thì chuyển giao quỹ đất này cho UBND cấp tỉnh nơi có dự án). Cơ chế hỗ trợ, ưu đãi chủ đầu tư xây dựng nhà ở xã hội quy định tại Điều 9 Nghị định này. Trong đó, được dành 20% tổng diện tích đất để xây dựng nhà ở trong phạm vi dự án xây dựng nhà ở xã hội (bao gồm cả dự án sử dụng quỹ đất 20%) để đầu tư xây dựng công trình kinh doanh thương mại (kể cả nhà ở thương mại cao tầng hoặc thấp tầng) nhằm bù đắp chi phí đầu tư, góp phần giảm giá bán, giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội và giảm kinh phí dịch vụ quản lý, vận hành nhà ở xã hội sau khi đầu tư... Bên cạnh đó, tại khoản 4 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội có quy định: Trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị có quy mô sử dụng đất từ 2 ha trở lên tại các đô thị loại đặc biệt và loại I hoặc từ 5 ha trở lên tại các đô thị loại II và loại III phải dành 20% tổng diện tích đất ở trong các đồ án quy hoạch chi tiết được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật dành để xây dựng nhà ở xã hội... Mặt khác, tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/6/2023) có quy định: “4. Dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội bao gồm dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội độc lập và dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội sử dụng phần quỹ đất 20% tổng diện tích đất ở thuộc phạm vi dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị dành để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội.”. Ngoài ra, tại khoản 4 Điều 16 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ có quy định: “4. Quy định chuyển tiếp đối với những nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 100/2015/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 49/2021/NĐ-CP). Liên quan đến Dự án nêu trên, ngày 28/4/2023 Bộ Xây dựng đã có Văn bản số 1670/BXD-QLN trả lời văn bản số 4805/SXD-KTXD ngày 07/4/2023 của Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 20/6/2023, Nghị định số 35/2023/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực thi hành, theo đó quy định chuyển tiếp: Trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội (bao gồm cả dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội sử dụng phần quỹ đất 20%) đã có quyết định chủ trương đầu tư hoặc văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư trong thời gian kể từ ngày Nghị định số 100/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành đến trước ngày Nghị định số 49/2021/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, mà đang áp dụng các cơ chế ưu đãi chủ đầu tư dự án theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP thì tiếp tục thực hiện các cơ chế ưu đãi theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP (quy định tại điểm a khoản 4). Trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đã có quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư trong thời gian kể từ ngày Nghị định số 49/2021/NĐ-CP có hiệu lực thi hành đến trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, mà đang áp dụng các cơ chế ưu đãi chủ đầu tư dự án theo quy định tại Nghị định số 49/2021/NĐ-CP thì tiếp tục thực hiện các cơ chế ưu đãi theo quy định tại khoản 8 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP. Bộ Xây dựng đề nghị Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh đối chiếu các quy định pháp luật nêu trên với hồ sơ pháp lý, thời điểm chấp thuận chủ trương đầu tư, quá trình triển khai thực hiện của Dự án Khu nhà ở phường Long Trường, thành phố Thủ Đức. Đồng thời, xác định nhà ở xã hội tại Dự án Khu nhà ở phường Long Trường là nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng trên quỹ đất 20% hay là dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để xem xét, giải quyết cơ chế ưu đãi chủ đầu tư dự án theo quy định pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 411, "text": "Internet) Mới đây, Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc liên quan 20% diện tích sàn nhà ở xã hội để bán theo giá kinh doanh thương mại. Về vấn đề này, sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng cho biết: Dự án Khu nhà ở phường Long Trường, thành phố Thủ Đức do Công ty TNHH Xây dựng và Kinh doanh nhà Điền Phúc Thành làm chủ đầu tư được UBND Thành phố Hồ Chí Minh chấp thuận đầu tư theo Quyết định số 2764/QĐ-UBND ngày 30/5/2016. Theo quy định của Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở và áp dụng Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội, Khu nhà ở xã hội thuộc dự án nêu trên thuộc Danh mục Dự án phát triển nhà ở xã hội đang thực hiện ban hành kèm theo Quyết định số 4151/QĐ-UBND ngày 09/12/2021 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh về việc phê duyệt Kế hoạch phát triển nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021-2025 và năm 2021, 2022. Theo quy định pháp luật, tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/12/2015) có quy định: Chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị đó có trách nhiệm trực tiếp đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên quỹ đất 20% (trừ trường hợp Nhà nước thu hồi quỹ đất 20% để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội bằng nguồn vốn ngân sách và trường hợp chủ đầu tư không có nhu cầu tham gia đầu tư xây dựng nhà ở xã hội thì chuyển giao quỹ đất này cho UBND cấp tỉnh nơi có dự án). Cơ chế hỗ trợ, ưu đãi chủ đầu tư xây dựng nhà ở xã hội quy định tại Điều 9 Nghị định này. Trong đó, được dành 20% tổng diện tích đất để xây dựng nhà ở trong phạm vi dự án xây dựng nhà ở xã hội (bao gồm cả dự án sử dụng quỹ đất 20%) để đầu tư xây dựng công trình kinh doanh thương mại (kể cả nhà ở thương mại cao tầng hoặc thấp tầng) nhằm bù đắp chi phí đầu tư, góp phần giảm giá bán, giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội và giảm kinh phí dịch vụ quản lý, vận hành nhà ở xã hội sau khi đầu tư... Bên cạnh đó, tại khoản 4 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội có quy định: Trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị có quy mô sử dụng đất từ 2 ha trở lên tại các đô thị loại đặc biệt và loại I hoặc từ 5 ha trở lên tại các đô thị loại II và loại III phải dành 20% tổng diện tích đất ở trong các đồ án quy hoạch chi tiết được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật dành để xây dựng nhà ở xã hội... Mặt khác, tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/6/2023) có quy định: “4. Dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội bao gồm dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội độc lập và dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội sử dụng phần quỹ đất 20% tổng diện tích đất ở thuộc phạm vi dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị dành để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội.”. Ngoài ra, tại khoản 4 Điều 16 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ có quy định: “4. Quy định chuyển tiếp đối với những nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 100/2015/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 49/2021/NĐ-CP). Liên quan đến Dự án nêu trên, ngày 28/4/2023 Bộ Xây dựng đã có Văn bản số 1670/BXD-QLN trả lời văn bản số 4805/SXD-KTXD ngày 07/4/2023 của Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 20/6/2023, Nghị định số 35/2023/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực thi hành, theo đó quy định chuyển tiếp: Trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội (bao gồm cả dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội sử dụng phần quỹ đất 20%) đã có quyết định chủ trương đầu tư hoặc văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư trong thời gian kể từ ngày Nghị định số 100/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành đến trước ngày Nghị định số 49/2021/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, mà đang áp dụng các cơ chế ưu đãi chủ đầu tư dự án theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP thì tiếp tục thực hiện các cơ chế ưu đãi theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP (quy định tại điểm a khoản 4). Trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đã có quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư trong thời gian kể từ ngày Nghị định số 49/2021/NĐ-CP có hiệu lực thi hành đến trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, mà đang áp dụng các cơ chế ưu đãi chủ đầu tư dự án theo quy định tại Nghị định số 49/2021/NĐ-CP thì tiếp tục thực hiện các cơ chế ưu đãi theo quy định tại khoản 8 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP. Bộ Xây dựng đề nghị Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh đối chiếu các quy định pháp luật nêu trên với hồ sơ pháp lý, thời điểm chấp thuận chủ trương đầu tư, quá trình triển khai thực hiện của Dự án Khu nhà ở phường Long Trường, thành phố Thủ Đức. Đồng thời, xác định nhà ở xã hội tại Dự án Khu nhà ở phường Long Trường là nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng trên quỹ đất 20% hay là dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để xem xét, giải quyết cơ chế ưu đãi chủ đầu tư dự án theo quy định pháp luật." } ], "id": "780", "is_impossible": false, "question": "Tháo gỡ vướng mắc về 20% diện tích sàn nhà ở xã hội để bán theo giá kinh doanh thương mại" } ] } ], "title": "Tháo gỡ vướng mắc về 20% diện tích sàn nhà ở xã hội để bán theo giá kinh doanh thương mại" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Gửi câu hỏi đến Báo Giao thông, anh Phạm Viết Huy (SN 1993, ở huyện Đan Phượng, Hà Nội) thắc mắc: Cuối tháng 10 vừa qua, tôi đấu giá trúng biển số chứa dải số tam hoa khá ưng ý và đã nộp đủ tiền đấu giá theo quy định.Vậy tôi có thể làm thủ tục đăng ký biển số đấu giá này cho xe ô tô đang sử dụng, đã được đăng ký một biển số định danh không?Người dân có thể gắn biển số trúng đấu giá thay cho biển số xe ô tô đang sử dụng.Trả lời bạn đọc, một cán bộ CSGT chuyên trách công tác đăng ký xe ở Hà Nội khẳng định, căn cứ Điều 27 Thông tư 24/2023 của Bộ Công an quy định về cấp, thu hồi đăng ký, biển số xe cơ giới, thì khách hàng trúng biển số xe ô tô thông qua đấu giá có thể làm thủ tục thay thế vào xe ô tô đã có biển số đang sử dụng.Cụ thể, Điều 27 quy định biển số trúng đấu giá được cấp cho xe đã đăng ký thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân trúng đấu giá. Trường hợp cơ quan thực hiện đăng ký, cấp biển số ô tô trúng đấu giá khác cơ quan quản lý hồ sơ xe đã đăng ký của tổ chức, cá nhân trúng đấu giá thì chủ xe phải làm thủ tục thu hồi đối với xe đã đăng ký đó.Sau khi gắn biển số trúng đấu giá, biển số cũ được giữ lại cho người trúng đấu giá trong thời hạn 5 năm kể từ ngày thu hồi. Hết thời hạn này, chủ xe không đăng ký biển số cho xe khác, thì tài sản được chuyển vào kho biển số để đăng ký, cấp cho tổ chức, cá nhân khác.Về thủ tục đổi biển số trúng đấu giá sang xe ô tô đã có biển, CSGT khuyến khích người dân thực hiện thông qua Cổng dịch vụ công Bộ Công an. Cụ thể gồm các bước như sau:Bước 1: Công dân đăng nhập cổng dịch vụ công, chọn mục Nộp hồ sơ trực tuyến.Bước 2: Tìm và chọn mục Đổi giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe thực hiện tại công an cấp tỉnh.Bước 3: Chọn mục Nộp hồ sơ.Bước 4: Kê khai các thông tin theo mẫu. Trong đó chú ý các mục Biển số (nhập biển số cũ) và Lý do (cấp đổi biển số trúng đấu giá) và nộp hồ sơ để lấy mã số dịch vụ công.Bước 5: Chuẩn bị 2 bộ cà số khung, số máy của xe kèm giấy đăng ký xe rồi đến cơ sở đăng ký xe tại công an cấp tỉnh, cung cấp mã hồ sơ dịch vụ công và giấy tờ trúng đấu giá biển số.Như vậy, quá trình đấu giá, khách hàng có quyền lựa chọn biển số của bất kỳ tỉnh, thành nào. Sau khi trúng, người đó có thể đăng ký biển số ô tô tại nơi mình thường trú, tạm trú hoặc tại Phòng Cảnh sát giao thông công an tỉnh, thành phố cấp biển số đó.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 98, "text": "Cuối tháng 10 vừa qua, tôi đấu giá trúng biển số chứa dải số tam hoa khá ưng ý và đã nộp đủ tiền đấu giá theo quy định.Vậy tôi có thể làm thủ tục đăng ký biển số đấu giá này cho xe ô tô đang sử dụng, đã được đăng ký một biển số định danh không?Người dân có thể gắn biển số trúng đấu giá thay cho biển số xe ô tô đang sử dụng.Trả lời bạn đọc, một cán bộ CSGT chuyên trách công tác đăng ký xe ở Hà Nội khẳng định, căn cứ Điều 27 Thông tư 24/2023 của Bộ Công an quy định về cấp, thu hồi đăng ký, biển số xe cơ giới, thì khách hàng trúng biển số xe ô tô thông qua đấu giá có thể làm thủ tục thay thế vào xe ô tô đã có biển số đang sử dụng.Cụ thể, Điều 27 quy định biển số trúng đấu giá được cấp cho xe đã đăng ký thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân trúng đấu giá. Trường hợp cơ quan thực hiện đăng ký, cấp biển số ô tô trúng đấu giá khác cơ quan quản lý hồ sơ xe đã đăng ký của tổ chức, cá nhân trúng đấu giá thì chủ xe phải làm thủ tục thu hồi đối với xe đã đăng ký đó.Sau khi gắn biển số trúng đấu giá, biển số cũ được giữ lại cho người trúng đấu giá trong thời hạn 5 năm kể từ ngày thu hồi. Hết thời hạn này, chủ xe không đăng ký biển số cho xe khác, thì tài sản được chuyển vào kho biển số để đăng ký, cấp cho tổ chức, cá nhân khác.Về thủ tục đổi biển số trúng đấu giá sang xe ô tô đã có biển, CSGT khuyến khích người dân thực hiện thông qua Cổng dịch vụ công Bộ Công an. Cụ thể gồm các bước như sau:Bước 1: Công dân đăng nhập cổng dịch vụ công, chọn mục Nộp hồ sơ trực tuyến.Bước 2: Tìm và chọn mục Đổi giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe thực hiện tại công an cấp tỉnh.Bước 3: Chọn mục Nộp hồ sơ.Bước 4: Kê khai các thông tin theo mẫu. Trong đó chú ý các mục Biển số (nhập biển số cũ) và Lý do (cấp đổi biển số trúng đấu giá) và nộp hồ sơ để lấy mã số dịch vụ công.Bước 5: Chuẩn bị 2 bộ cà số khung, số máy của xe kèm giấy đăng ký xe rồi đến cơ sở đăng ký xe tại công an cấp tỉnh, cung cấp mã hồ sơ dịch vụ công và giấy tờ trúng đấu giá biển số.Như vậy, quá trình đấu giá, khách hàng có quyền lựa chọn biển số của bất kỳ tỉnh, thành nào. Sau khi trúng, người đó có thể đăng ký biển số ô tô tại nơi mình thường trú, tạm trú hoặc tại Phòng Cảnh sát giao thông công an tỉnh, thành phố cấp biển số đó." } ], "id": "781", "is_impossible": false, "question": "Biển số trúng đấu giá có được lắp vào xe ô tô đã có biển?" } ] } ], "title": "Biển số trúng đấu giá có được lắp vào xe ô tô đã có biển?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Ngày 10/11, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Lê Dương (32 tuổi) - Phó giám đốc Công ty TNHH Thành Bưởi (con trai của ông Lê Đức Thành, Giám đốc Công ty TNHH Thành Bưởi).Bị can Dương bị khởi tố điều tra về hành vi \"Điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ\" trong quá trình điều tra mở rộng vụ án \"Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ\" xảy ra ngày 30/9/2023 (ấp 3, xã Phú Vinh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).Cơ quan điều tra tống đạt quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Phó giám đốc Công ty Thành Bưởi Lê Dương, con trai chủ hãng xe Thành Bưởi.Phân tích dưới góc độ pháp lý, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) nhận định: Điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ là hành vi cử người không có giấy phép hoặc bằng lái xe, hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ.Theo luật sư, đối với các vụ án với tội danh khởi tố như trên, cơ quan điều tra sẽ làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm để có các mức xử lý phù hợp. Ví dụ, cơ quan điều tra sẽ chứng minh việc một người có thẩm quyền biết rõ người không có giấy phép lái xe, không đủ sức khỏe, độ tuổi để điều khiển phương tiện..., mà vẫn điều động người đó điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ, từ đó gây hậu quả nghiêm trọng như: Làm chết người, gây thương tích cho người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể cao, gây thiệt hại về người và tài sản lớn...Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng luật sư Tinh Thông Luật, Đoàn Luật sư TP.HCM.Theo quy định tại Điều 263 Bộ luật Hình sự, người nào có thẩm quyền mà biết rõ người không có giấy phép lái xe mà vẫn điều động người đó điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn chết người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Trường hợp làm chết 1 người, sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1-3 năm.Trường hợp gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của 1 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61-121%; Gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng cũng sẽ chịu mức án như trên.Nếu làm chết 2 người thì bị phạt tù từ 2-7 năm. Hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122-200%; Gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng cũng chịu mức án này.Làm chết từ 3 người trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 3 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 201% trở lên thì bị phạt tù từ 5-12 năm.\"Tất nhiên, đây chỉ là căn cứ đối chiếu với các quy định của pháp luật, tất cả phụ thuộc vào kết quả điều tra\", luật sư cho biết.Công an Đồng Nai khám xét trụ sở Công ty Thành Bưởi tại TP.HCM sáng 10/11 (Ảnh: Đức Anh).Liên quan đến vụ án trên, trước đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Hoàng Văn Tính, tài xế điều khiển xe ô tô khách BKS 50F-004.83 gây tai nạn trên quốc lộ 20 khiến 5 người chết, 4 người bị thương.Tính bị điều tra về hành vi \"Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ\" quy định tại khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự.Kết quả điều tra xác định ngày 30/9, Lê Dương đã ký lệnh vận chuyển, thể hiện việc điều động Hoàng Văn Tính điều khiển ô tô BKS 50F-004.83 chạy hành trình từ TP.HCM - TP Đà Lạt.Trước đó, Tính đã bị Công an tỉnh Lâm Đồng tước giấy phép lái xe từ ngày 5/8. Có nghĩa là Tính đang bị tước giấy phép lái xe nhưng vẫn được giao điều khiển xe khách và xảy ra tai nạn. Ngày 10/11, Công an tỉnh Đồng Nai khám xét trụ sở Công ty Thành Bưởi trên đường Lê Hồng Phong (quận 5, TP.HCM).Công ty Thành Bưởi được thành lập vào tháng 3/2000. Sau 24 lần thay đổi đăng ký kinh doanh, hiện công ty này có vốn điều lệ 80 tỷ đồng.Công ty do 2 thành viên góp vốn gồm ông Lê Đức Thành góp khoảng 67,8 tỷ đồng, nắm 84,71% và ông Lê Dương góp 12,2 tỷ đồng, nắm giữ 15,29%. Trong đó, ông Lê Đức Thành giữ vị trí giám đốc công ty, ông Lê Dương giữ chức vụ phó giám đốc.Theo báo cáo kết quả kiểm tra hoạt động kinh doanh vận tải của Sở GTVT TP.HCM vừa gửi Bộ GTVT và Cục Đường bộ Việt Nam, trong 9 năm (từ 2015-2023), Công ty Thành Bưởi bị phạt hành chính 374 triệu đồng với 212 trường hợp vi phạm. Những lỗi vi phạm phổ biến của nhà xe này là đón, trả khách không đúng nơi quy định, không thực hiện đúng quy trình bảo đảm an toàn giao thông.Mới nhất, ngày 3/11, Phó chánh Thanh tra Sở GTVT TP.HCM Đàm Phan Phát ký quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đối với Công ty TNHH Thành Bưởi (nhà xe Thành Bưởi).Theo đó, nhà xe Thành Bưởi bị xử phạt 8 hành vi vi phạm với tổng số tiền 91 triệu đồng. Đồng thời, áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tước giấy phép kinh doanh vận tải 3 tháng. Khởi tố, bắt giam Phó giám đốc Công ty Thành Bưởi, con trai chủ hãng xeÔng Lê Dương bị bắt vì đã ký lệnh vận chuyển, thể hiện việc điều động lái xe Hoàng Văn Tính điều khiển xe khách biển số 50F - 004.83 chạy tuyến TP.HCM - Đà Lạt, gây tai nạn làm 5 người chết.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 829, "text": "Điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ là hành vi cử người không có giấy phép hoặc bằng lái xe, hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ.Theo luật sư, đối với các vụ án với tội danh khởi tố như trên, cơ quan điều tra sẽ làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm để có các mức xử lý phù hợp. Ví dụ, cơ quan điều tra sẽ chứng minh việc một người có thẩm quyền biết rõ người không có giấy phép lái xe, không đủ sức khỏe, độ tuổi để điều khiển phương tiện..., mà vẫn điều động người đó điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ, từ đó gây hậu quả nghiêm trọng như: Làm chết người, gây thương tích cho người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể cao, gây thiệt hại về người và tài sản lớn...Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng luật sư Tinh Thông Luật, Đoàn Luật sư TP.HCM.Theo quy định tại Điều 263 Bộ luật Hình sự, người nào có thẩm quyền mà biết rõ người không có giấy phép lái xe mà vẫn điều động người đó điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn chết người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Trường hợp làm chết 1 người, sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1-3 năm.Trường hợp gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của 1 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61-121%; Gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng cũng sẽ chịu mức án như trên.Nếu làm chết 2 người thì bị phạt tù từ 2-7 năm. Hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122-200%; Gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng cũng chịu mức án này.Làm chết từ 3 người trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 3 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 201% trở lên thì bị phạt tù từ 5-12 năm.\"Tất nhiên, đây chỉ là căn cứ đối chiếu với các quy định của pháp luật, tất cả phụ thuộc vào kết quả điều tra\", luật sư cho biết.Công an Đồng Nai khám xét trụ sở Công ty Thành Bưởi tại TP.HCM sáng 10/11 (Ảnh: Đức Anh).Liên quan đến vụ án trên, trước đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Hoàng Văn Tính, tài xế điều khiển xe ô tô khách BKS 50F-004.83 gây tai nạn trên quốc lộ 20 khiến 5 người chết, 4 người bị thương.Tính bị điều tra về hành vi \"Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ\" quy định tại khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự.Kết quả điều tra xác định ngày 30/9, Lê Dương đã ký lệnh vận chuyển, thể hiện việc điều động Hoàng Văn Tính điều khiển ô tô BKS 50F-004.83 chạy hành trình từ TP.HCM - TP Đà Lạt.Trước đó, Tính đã bị Công an tỉnh Lâm Đồng tước giấy phép lái xe từ ngày 5/8. Có nghĩa là Tính đang bị tước giấy phép lái xe nhưng vẫn được giao điều khiển xe khách và xảy ra tai nạn. Ngày 10/11, Công an tỉnh Đồng Nai khám xét trụ sở Công ty Thành Bưởi trên đường Lê Hồng Phong (quận 5, TP.HCM).Công ty Thành Bưởi được thành lập vào tháng 3/2000. Sau 24 lần thay đổi đăng ký kinh doanh, hiện công ty này có vốn điều lệ 80 tỷ đồng.Công ty do 2 thành viên góp vốn gồm ông Lê Đức Thành góp khoảng 67,8 tỷ đồng, nắm 84,71% và ông Lê Dương góp 12,2 tỷ đồng, nắm giữ 15,29%. Trong đó, ông Lê Đức Thành giữ vị trí giám đốc công ty, ông Lê Dương giữ chức vụ phó giám đốc.Theo báo cáo kết quả kiểm tra hoạt động kinh doanh vận tải của Sở GTVT TP.HCM vừa gửi Bộ GTVT và Cục Đường bộ Việt Nam, trong 9 năm (từ 2015-2023), Công ty Thành Bưởi bị phạt hành chính 374 triệu đồng với 212 trường hợp vi phạm. Những lỗi vi phạm phổ biến của nhà xe này là đón, trả khách không đúng nơi quy định, không thực hiện đúng quy trình bảo đảm an toàn giao thông.Mới nhất, ngày 3/11, Phó chánh Thanh tra Sở GTVT TP.HCM Đàm Phan Phát ký quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đối với Công ty TNHH Thành Bưởi (nhà xe Thành Bưởi).Theo đó, nhà xe Thành Bưởi bị xử phạt 8 hành vi vi phạm với tổng số tiền 91 triệu đồng. Đồng thời, áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tước giấy phép kinh doanh vận tải 3 tháng. Khởi tố, bắt giam Phó giám đốc Công ty Thành Bưởi, con trai chủ hãng xeÔng Lê Dương bị bắt vì đã ký lệnh vận chuyển, thể hiện việc điều động lái xe Hoàng Văn Tính điều khiển xe khách biển số 50F - 004.83 chạy tuyến TP.HCM - Đà Lạt, gây tai nạn làm 5 người chết." } ], "id": "782", "is_impossible": false, "question": "Tình huống pháp lý vụ bắt giam con trai chủ hãng xe Thành Bưởi" } ] } ], "title": "Tình huống pháp lý vụ bắt giam con trai chủ hãng xe Thành Bưởi" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính, về nguyên tắc xử phạt, chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định. Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần. Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó.Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ trường hợp hành vi vi phạm hành chính nhiều lần được Chính phủ quy định là tình tiết tăng nặng.Căn cứ quy định nêu trên, một người vi phạm nhiều lỗi vi phạm giao thông hoặc các hành vi vi phạm hành chính khác thì sẽ xử phạt về từng hành vi vi phạm với từng mức xử phạt tương ứng, không gộp chung các hình phạt, mức phạt với nhau. Ở trường hợp bạn hỏi, người vi phạm sẽ bị xử phạt lỗi điều khiển xe đi ngược chiều đường, không đội mũ bảo hiểm và không mang theo giấy tờ.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Theo quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính, về nguyên tắc xử phạt, chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định. Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần. Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó.Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ trường hợp hành vi vi phạm hành chính nhiều lần được Chính phủ quy định là tình tiết tăng nặng.Căn cứ quy định nêu trên, một người vi phạm nhiều lỗi vi phạm giao thông hoặc các hành vi vi phạm hành chính khác thì sẽ xử phạt về từng hành vi vi phạm với từng mức xử phạt tương ứng, không gộp chung các hình phạt, mức phạt với nhau. Ở trường hợp bạn hỏi, người vi phạm sẽ bị xử phạt lỗi điều khiển xe đi ngược chiều đường, không đội mũ bảo hiểm và không mang theo giấy tờ." } ], "id": "783", "is_impossible": false, "question": "Vi phạm giao thông nhiều lỗi, xử phạt thế nào?" } ] } ], "title": "Vi phạm giao thông nhiều lỗi, xử phạt thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Những ngày qua, nhiều chủ phương tiện là xe máy băn khoăn trước thông tin cho rằng, Thông tư 24/2023 (có hiệu lực từ ngày 15/8) của Bộ Công an quy định các trường hợp thực hiện thủ tục thu hồi biển số xe máy dạng 29B2-XXX.XX hay 47A1-XXX.XX sẽ phải bấm lại biển số định danh mới dạng 29AA, 47AB.Như trường hợp của chị Nguyễn Thị Nhung ở một huyện ngoại thành Hà Nội đang sở hữu xe máy Honda Lead mang BKS khá đẹp 29X5-XX3.68, đã được định danh.Theo Thông tư 24, nếu chị Nhung bán xe và làm thủ tục thu hồi biển số này, thì khi mua xe máy phải bấm biển số mới (dạng 29AA), không được cấp lại biển số định danh 29X5-XX3.68 để gắn vào xe mới dù cùng chủng loại với phương tiện cũ.Biển số theo quy định tại Thông tư 58/2020 sẽ bị thu hồi khi chủ xe máy làm thủ tục (ảnh minh họa).Về vấn đề nêu trên, Cục Cảnh sát giao thông (CSGT) Bộ Công an đã có hướng dẫn. Theo đó, từ ngày 15/8, biển số xe máy có nền màu trắng, chữ và số màu đen, seri biển số sử dụng 2 chữ cái kết hợp với nhau (ví dụ như 29AA, 36DC...).Ngoài ra, từ ngày Thông tư 24 có hiệu lực, hệ thống đăng ký xe chỉ cấp biển số cho xe máy dạng sau mã số vùng là 2 chữ cái kết hợp với nhau (29AA, 36BC...). Đối với biển 5 số dạng sau mã vùng là 1 chữ, 1 số (29B3-XXX.XX, 30L2-XXXX) hoặc biển xe máy 4 số trở về trước, thì khi làm thủ tục thu hồi, hệ thống quản lý biển số sẽ không cấp lại khi chủ xe đăng ký xe khác.Trao đổi với PV Báo Giao thông, một cán bộ làm công tác đăng ký phương tiện xe máy ở Hà Nội cho biết thêm, những nội dung trên đang được Cục CSGT hướng dẫn các đơn vị triển khai. Trên thực tế, một số khu vực quận, huyện tại Hà Nội, TP.HCM và nhiều địa phương khác trên cả nước đã áp dụng cấp seri biển số theo quy định tại Thông tư 24/2023 (dạng 29AA).Còn những nơi nào vẫn chưa hết kho biển số theo mẫu tại Thông tư 58/2020 (biển 5 số, sau mã vùng là dạng 1 số 1 chữ (29B3, 30K2...), thì biển số dạng 5 số này vẫn được cấp để tránh lãng phí. Sau khi hết kho biển số cũ, lực lượng chức năng mới cấp biển số dạng mới.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Những ngày qua, nhiều chủ phương tiện là xe máy băn khoăn trước thông tin cho rằng, Thông tư 24/2023 (có hiệu lực từ ngày 15/8) của Bộ Công an quy định các trường hợp thực hiện thủ tục thu hồi biển số xe máy dạng 29B2-XXX.XX hay 47A1-XXX.XX sẽ phải bấm lại biển số định danh mới dạng 29AA, 47AB.Như trường hợp của chị Nguyễn Thị Nhung ở một huyện ngoại thành Hà Nội đang sở hữu xe máy Honda Lead mang BKS khá đẹp 29X5-XX3.68, đã được định danh.Theo Thông tư 24, nếu chị Nhung bán xe và làm thủ tục thu hồi biển số này, thì khi mua xe máy phải bấm biển số mới (dạng 29AA), không được cấp lại biển số định danh 29X5-XX3.68 để gắn vào xe mới dù cùng chủng loại với phương tiện cũ.Biển số theo quy định tại Thông tư 58/2020 sẽ bị thu hồi khi chủ xe máy làm thủ tục (ảnh minh họa).Về vấn đề nêu trên, Cục Cảnh sát giao thông (CSGT) Bộ Công an đã có hướng dẫn. Theo đó, từ ngày 15/8, biển số xe máy có nền màu trắng, chữ và số màu đen, seri biển số sử dụng 2 chữ cái kết hợp với nhau (ví dụ như 29AA, 36DC...).Ngoài ra, từ ngày Thông tư 24 có hiệu lực, hệ thống đăng ký xe chỉ cấp biển số cho xe máy dạng sau mã số vùng là 2 chữ cái kết hợp với nhau (29AA, 36BC...). Đối với biển 5 số dạng sau mã vùng là 1 chữ, 1 số (29B3-XXX.XX, 30L2-XXXX) hoặc biển xe máy 4 số trở về trước, thì khi làm thủ tục thu hồi, hệ thống quản lý biển số sẽ không cấp lại khi chủ xe đăng ký xe khác.Trao đổi với PV Báo Giao thông, một cán bộ làm công tác đăng ký phương tiện xe máy ở Hà Nội cho biết thêm, những nội dung trên đang được Cục CSGT hướng dẫn các đơn vị triển khai. Trên thực tế, một số khu vực quận, huyện tại Hà Nội, TP.HCM và nhiều địa phương khác trên cả nước đã áp dụng cấp seri biển số theo quy định tại Thông tư 24/2023 (dạng 29AA).Còn những nơi nào vẫn chưa hết kho biển số theo mẫu tại Thông tư 58/2020 (biển 5 số, sau mã vùng là dạng 1 số 1 chữ (29B3, 30K2...), thì biển số dạng 5 số này vẫn được cấp để tránh lãng phí. Sau khi hết kho biển số cũ, lực lượng chức năng mới cấp biển số dạng mới." } ], "id": "784", "is_impossible": false, "question": "Mua xe máy mới có được gắn lại biển số đã định danh từ xe cũ?" } ] } ], "title": "Mua xe máy mới có được gắn lại biển số đã định danh từ xe cũ?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Ngày 7/11, TAND tỉnh Yên Bái tuyên án các bị cáo trong 2 vụ án \"Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên\" và \"Sử dụng trái phép vật liệu nổ\" xảy ra tại huyện Yên Bình giai đoạn 2020-2021. Điều đáng chú ý trong phiên xử này là ông Đinh Tiến Hùng (SN 1984) nguyên phó bí thư thường trực tỉnh đoàn Yên Bái được TAND tỉnh Yên Bái tuyên vô tội.Theo đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm bác bỏ hoàn toàn các cáo buộc của VKSND tỉnh Yên Bái khi cho rằng ông Đinh Tiến Hùng là \"người khởi xướng\" trong vụ án \"Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên\".Chủ tọa phiên tòa thẩm phán Nguyễn Trung Dũng sau đó tuyên ông Đinh Tiến Hùng không phạm tội. Việc giải quyết các quyền và lợi ích của ông Đinh Tiến Hùng sẽ được thực hiện theo đúng trình tự của pháp luật.Như vậy, quan điểm của tòa án cấp sơ thẩm cho rằng, việc khởi tố, điều tra, truy tố đối với ông Hùng về tội danh này là không có căn cứ, hành vi của ông Hùng không cấu thành tội phạm nên đã tuyên bố bị cáo không phạm tội.Luật sư Phạm Quang Vinh, Văn phòng luật Quang Vinh thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Yên Bái trao đổi với phóng viên Báo Giao thôngDưới góc độ pháp lý, luật sư Phạm Quang Vinh, Văn phòng luật Quang Vinh thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Yên Bái cho rằng: \"Tòa án xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội ngay trong phiên tòa hình sự sơ thẩm là việc bình thường. Trong 31 năm hoạt động nghề luật sư đã gặp nhiều trường hợp tương tự. Tuy nhiên, tại Yên Bái, vụ án này sẽ là tâm điểm quan tâm của giới chuyên môn và những người quan tâm đến vấn đề tư pháp hình sự.Theo quy định của pháp luật, một người chỉ bị coi là có tội khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của tòa án. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người phạm tội có quyền bào chữa, nhờ người bào chữa, nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội. Cơ quan điều tra chịu trách nhiệm đối với quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất\".Ông Đinh Tiến Hùng (áo trắng) được tuyên vô tội sau khi kết thúc phiên toà chiều 7/11.Luật sư Phạm Quang Vinh cho biết thêm: \"Theo quy định của pháp luật, trường hợp điều tra, truy tố không đúng quy định pháp luật gây oan sai, người ký các quyết định, những người tham gia hoạt động tố tụng trong vụ án này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, có thể phải xin lỗi và bồi thường oan sai.Người bị khởi tố oan sai, bị truy tố oan sẽ được xin lỗi, được bồi thường và được phục hồi các quyền cơ bản của công dân, trong đó sẽ được cơ quan đơn vị nhận trở lại làm việc.Tuy nhiên, đây chỉ là bản án sơ thẩm, rất có thể VKSND tỉnh Yên Bái sẽ kháng nghị một phần hoặc toàn bộ bản án này, đặc biệt là với nội dung tuyên bố bị cáo Hùng không phạm tội. Trường hợp có kháng nghị, bản án này chưa có hiệu lực pháp luật và hồ sơ sẽ được chuyển đến tòa án cấp cao tại Hà Nội để xét xử phúc thẩm.Trong vụ án này, nếu ông Hùng không kháng cáo và viện kiểm sát không kháng nghị phần xét xử đối với ông Hùng trong thời hạn luật định, phần này mới có hiệu lực pháp luật.Bởi vậy, phải chờ 15 ngày, kể từ ngày xét xử sơ thẩm (hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị) mà không có bất kỳ kháng cáo kháng nghị nào đối với phần bản án này, quyền lợi của ông Hùng mới được xem xét phục hồi theo quy định của pháp luật. Đây là vụ án phức tạp, quan điểm của cơ quan điều tra, VKSND tỉnh Yên Bái và quan điểm của tòa án cấp sơ thẩm là khác nhau, thậm chí là mâu thuẫn nhau, dẫn đến kết quả giải quyết vụ án tuyên bố bị cáo không phạm tội là khá bất ngờ. Thông thường, những vụ án mà tòa án xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội là những vụ án kéo dài nhiều năm, có sai sót về đánh giá chứng cứ, về quy trình tố tụng. Tuy nhiên, những năm gần đây, những vụ án oan sai đã giảm đi nhiều. Thực tiễn tố tụng cho thấy, những vụ án mà khởi tố, điều tra, truy tố nhưng không có căn cứ để kết tội đối với bị can (do không chứng minh được tội phạm) thì thông thường sẽ kết thúc bằng quyết định đình chỉ điều tra, vụ án đẩy ra đến tòa án để xét xử và tòa án tuyên bố bị cáo không phạm tội là hiếm khi xảy ra trong những năm gần đây.Tuyên một bản án có nội dung bị cáo không phạm tội như vậy phần nào thể hiện sự khách quan của hội đồng xét xử và có thể sẽ được dư luận đồng tình ủng hộ. Còn đối với nội dung bản án, kết quả xét xử thì phải căn cứ vào kết quả điều tra, truy tố và kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa. Việc bị cáo có tội hay không có tội do hội đồng xét xử quyết định theo đa số, căn cứ vào quy định pháp luật, căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa.Tòa án cấp sơ thẩm có quyền tuyên bố bị cáo không phạm tội nếu bị cáo không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm. Tòa án cấp phúc thẩm cũng có thể tuyên bố giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với nội dung kháng cáo hoặc sửa bản án sơ thẩm hoặc hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại, điều tra lại.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1195, "text": "\"Tòa án xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội ngay trong phiên tòa hình sự sơ thẩm là việc bình thường. Trong 31 năm hoạt động nghề luật sư đã gặp nhiều trường hợp tương tự. Tuy nhiên, tại Yên Bái, vụ án này sẽ là tâm điểm quan tâm của giới chuyên môn và những người quan tâm đến vấn đề tư pháp hình sự.Theo quy định của pháp luật, một người chỉ bị coi là có tội khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của tòa án. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người phạm tội có quyền bào chữa, nhờ người bào chữa, nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội. Cơ quan điều tra chịu trách nhiệm đối với quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất\".Ông Đinh Tiến Hùng (áo trắng) được tuyên vô tội sau khi kết thúc phiên toà chiều 7/11.Luật sư Phạm Quang Vinh cho biết thêm: \"Theo quy định của pháp luật, trường hợp điều tra, truy tố không đúng quy định pháp luật gây oan sai, người ký các quyết định, những người tham gia hoạt động tố tụng trong vụ án này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, có thể phải xin lỗi và bồi thường oan sai.Người bị khởi tố oan sai, bị truy tố oan sẽ được xin lỗi, được bồi thường và được phục hồi các quyền cơ bản của công dân, trong đó sẽ được cơ quan đơn vị nhận trở lại làm việc.Tuy nhiên, đây chỉ là bản án sơ thẩm, rất có thể VKSND tỉnh Yên Bái sẽ kháng nghị một phần hoặc toàn bộ bản án này, đặc biệt là với nội dung tuyên bố bị cáo Hùng không phạm tội. Trường hợp có kháng nghị, bản án này chưa có hiệu lực pháp luật và hồ sơ sẽ được chuyển đến tòa án cấp cao tại Hà Nội để xét xử phúc thẩm.Trong vụ án này, nếu ông Hùng không kháng cáo và viện kiểm sát không kháng nghị phần xét xử đối với ông Hùng trong thời hạn luật định, phần này mới có hiệu lực pháp luật.Bởi vậy, phải chờ 15 ngày, kể từ ngày xét xử sơ thẩm (hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị) mà không có bất kỳ kháng cáo kháng nghị nào đối với phần bản án này, quyền lợi của ông Hùng mới được xem xét phục hồi theo quy định của pháp luật. Đây là vụ án phức tạp, quan điểm của cơ quan điều tra, VKSND tỉnh Yên Bái và quan điểm của tòa án cấp sơ thẩm là khác nhau, thậm chí là mâu thuẫn nhau, dẫn đến kết quả giải quyết vụ án tuyên bố bị cáo không phạm tội là khá bất ngờ. Thông thường, những vụ án mà tòa án xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội là những vụ án kéo dài nhiều năm, có sai sót về đánh giá chứng cứ, về quy trình tố tụng. Tuy nhiên, những năm gần đây, những vụ án oan sai đã giảm đi nhiều. Thực tiễn tố tụng cho thấy, những vụ án mà khởi tố, điều tra, truy tố nhưng không có căn cứ để kết tội đối với bị can (do không chứng minh được tội phạm) thì thông thường sẽ kết thúc bằng quyết định đình chỉ điều tra, vụ án đẩy ra đến tòa án để xét xử và tòa án tuyên bố bị cáo không phạm tội là hiếm khi xảy ra trong những năm gần đây.Tuyên một bản án có nội dung bị cáo không phạm tội như vậy phần nào thể hiện sự khách quan của hội đồng xét xử và có thể sẽ được dư luận đồng tình ủng hộ. Còn đối với nội dung bản án, kết quả xét xử thì phải căn cứ vào kết quả điều tra, truy tố và kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa. Việc bị cáo có tội hay không có tội do hội đồng xét xử quyết định theo đa số, căn cứ vào quy định pháp luật, căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa.Tòa án cấp sơ thẩm có quyền tuyên bố bị cáo không phạm tội nếu bị cáo không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm. Tòa án cấp phúc thẩm cũng có thể tuyên bố giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với nội dung kháng cáo hoặc sửa bản án sơ thẩm hoặc hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại, điều tra lại." } ], "id": "785", "is_impossible": false, "question": "Tình huống pháp lý vụ cựu phó bí thư tỉnh đoàn Yên Bái được tuyên vô tội" } ] } ], "title": "Tình huống pháp lý vụ cựu phó bí thư tỉnh đoàn Yên Bái được tuyên vô tội" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Trong khi một số người dân than \"bị hành\" khi làm thủ tục bán xe cũ, các phòng công chứng yêu cầu phải có xác nhận độc thân hoặc cả vợ chồng cùng ký tên, nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng, đây là điều kiện cần thiết.Xác nhận tình trạng hôn nhân khi bán xeMột ngày cuối tháng 10, anh Hoàng Trung Hiếu ở phường Tương Mai, quận Hoàng Mai (TP Hà Nội) khấp khởi làm thủ tục bán chiếc ô tô Hyundai đã sử dụng hơn 6 năm nay để mua xe mới.Anh Nguyễn Xuân Hoạch (chủ một showroom kinh doanh ô tô cũ trên đường Nguyễn Văn Cừ, quận Long Biên, Hà Nội) cho hay, thông tin trên giấy đăng ký xe chưa thể xác định được đó là tài sản riêng hay tài sản chung vợ chồng.Chuẩn bị bộ giấy tờ xe vốn đã có sẵn bấy lâu nay, anh Hiếu mang phương tiện đến showroom kinh doanh ô tô cũ để làm hợp đồng mua bán.\"Giấy tờ của anh cơ bản rồi, chỉ còn thiếu giấy tờ tùy thân và chữ ký của vợ anh nữa\", nhân viên showroom tư vấn. Nghe khách hàng nói chưa lập gia đình, nhân viên này tiếp lời: \"Thế thì anh cần xin giấy chứng nhận độc thân từ UBND phường\".Một nhân viên văn phòng công chứng giải thích, khi chuyển nhượng tài sản, nếu người chủ chưa lập gia đình, cần phải có giấy chứng nhận độc thân để chứng minh là chủ sở hữu duy nhất của tài sản đó. Với người đã có vợ hoặc chồng, khi giao dịch mua bán bắt buộc phải có mặt cả hai để ký kết hồ sơ và có thêm giấy đăng ký kết hôn. Nếu người đã ly hôn mà đến bán tài sản có trong thời kỳ hôn nhân, thì phải cung cấp thỏa thuận phân chia tài sản hoặc văn bản của tòa án. Có như vậy thì phía văn phòng công chứng mới đồng ý xác lập hợp đồng mua bán tài sản.Anh Nguyễn Xuân Hoạch (chủ một showroom kinh doanh ô tô cũ trên đường Nguyễn Văn Cừ, quận Long Biên, Hà Nội) xác nhận, một trong những loại giấy tờ quan trọng trong hồ sơ mua bán xe mang đi công chứng là giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản đó. Còn thông tin trên giấy đăng ký xe chưa thể xác định được đó là tài sản riêng hay tài sản chung vợ chồng. Do đó, đối với mọi ô tô cũ mà khách hàng cần bán, các showroom đều yêu cầu chủ phương tiện phải có giấy chứng nhận độc thân nếu họ chưa lập gia đình. Với người đã có vợ hoặc chồng, phải có mặt cả hai để ký kết hồ sơ và có thêm giấy đăng ký kết hôn.\"Có trường hợp một khách hàng đến bán xe ô tô, nhưng chồng chị này đang ở nước ngoài, không thể lấy chữ ký nên cửa hàng từ chối mua\", anh Hoạch chia sẻ.Hay một chủ xe khác đã lấy vợ, nhưng trước khi bán xe thì người vợ gặp tai nạn đáng tiếc nên không thể ký hồ sơ bằng tay. Do đó, bên mua tài sản phải về tận nơi cư trú, phối hợp với văn phòng công chứng lăn dấu vân tay cho vào hồ sơ mới hợp lệ.Theo cán bộ cảnh sát giao thông (CSGT) làm thủ tục kiểm soát hồ sơ đăng ký xe thuộc Phòng CSGT Công an Hà Nội, để được làm thủ tục đăng ký xe và được cấp giấy chứng nhận đăng ký xe, Thông tư 58/2020/TT-BCA của Bộ Công an yêu cầu giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có xác nhận công chứng hoặc chứng thực theo quy định pháp luật.Do đó, khi chủ phương tiện mang xe ô tô cũ đến đăng ký, trong hồ sơ phải có đầy đủ các tài liệu chứng minh quyền sở hữu và không có tranh chấp về tài sản. Những thủ tục này đã được hoàn thiện trước khâu công chứng giữa bên mua và bên bán.Đối với xe máy cũ, một cán bộ công an xã ở huyện Hoài Đức (TP Hà Nội) cho biết, các thủ tục mua bán, đăng ký phương tiện đã qua sử dụng cũng giống như thủ tục dành cho xe ô tô, theo quy định tại Thông tư 24/2023. Cụ thể, khi bán xe máy, chủ sở hữu và người mua cần có hợp đồng mua bán có công chứng. Chủ xe vẫn phải chứng minh đó là tài sản của mình thông qua các giấy tờ hợp pháp như giấy chứng nhận độc thân, hoặc nếu là tài sản chung thì cần có sự đồng ý bằng văn bản của vợ/chồng. \"Quy định là như vậy, song chủ xe máy vẫn thường bán cả xe lẫn biển số cho người khác không qua công chứng, rồi mua xe mới và bấm biển số mới, dẫn đến có nhiều xe máy không chính chủ\", vị này cho hay.Vì sao phải xác nhận tình trạng hôn nhân?Trong khi nhiều chủ xe than phiền về việc phải làm thủ tục xác nhận độc thân hay phải có cả hai vợ chồng đi ký giấy bán xe, thì nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng, quy định này là đúng pháp luật và cần thiết nhằm tránh những rắc rối, tranh cãi về sau.TS Nguyễn Văn Hợi (Phó trưởng Bộ môn Luật Dân sự, trường Đại học Luật Hà Nội) phân tích, mua bán ô tô, xe máy đã qua sử dụng là một giao dịch dân sự về tài sản giữa người bán và người mua. Do là tài sản nên khi công chứng cần có giấy tờ xác nhận tình trạng hôn nhân của chủ tài sản, để phân định quyền sở hữu đối với tài sản đó.Trường hợp chủ tài sản chưa kết hôn thì khá đơn giản, họ chỉ cần có giấy chứng nhận độc thân do UBND cấp xã xác nhận. Còn nếu chủ xe đã lập gia đình, thì cần có giấy tờ xác nhận tình trạng hôn nhân của chủ tài sản cũng là điều hiển nhiên.\"Thủ tục hành chính này dù rắc rối nhưng chặt chẽ, tránh rắc rối khi tranh chấp về tài sản\", ông Hợi nhấn mạnh.Còn theo luật sư Nguyễn Văn Cường (Trưởng văn phòng Luật sư Chính Pháp), pháp luật quy định ô tô, xe gắn máy là các tài sản có đăng ký quyền sở hữu. Do vậy, bên bán tài sản phải xuất trình giấy đăng ký xe, thẻ căn cước và xác nhận tình trạng hôn nhân. Việc này nhằm xác định tài sản đó có đồng sở hữu hay sở hữu cá nhân.Theo luật sư Cường, đối với tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân mà trên giấy chứng nhận quyền tài sản chỉ ghi tên một người thì tài sản vẫn được coi là tài sản chung vợ chồng và cả hai vợ chồng đều có quyền quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản đó (trừ trường hợp người vợ/ người chồng chứng minh được đó là tài sản riêng của mình). Còn nếu đây là tài sản riêng của chủ xe thì chủ xe phải xuất trình xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc xuất trình giấy tờ về việc được tặng cho riêng, được thừa kế riêng… Theo TS Nguyễn Văn Hợi, nếu tình trạng hôn nhân được tích hợp vào cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ quan chức năng có thể dễ dàng tra cứu khi thực hiện các thủ tục hành chính như mua bán tài sản. Lúc đó, công dân chưa đăng ký kết hôn không phải đi xin xác nhận như hiện nay. Còn người đã lập gia đình vẫn bắt buộc phải có xác nhận của hai vợ chồng, hoặc giấy ủy quyền của một người khi bán tài sản.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 959, "text": "\"Thế thì anh cần xin giấy chứng nhận độc thân từ UBND phường\".Một nhân viên văn phòng công chứng giải thích, khi chuyển nhượng tài sản, nếu người chủ chưa lập gia đình, cần phải có giấy chứng nhận độc thân để chứng minh là chủ sở hữu duy nhất của tài sản đó. Với người đã có vợ hoặc chồng, khi giao dịch mua bán bắt buộc phải có mặt cả hai để ký kết hồ sơ và có thêm giấy đăng ký kết hôn. Nếu người đã ly hôn mà đến bán tài sản có trong thời kỳ hôn nhân, thì phải cung cấp thỏa thuận phân chia tài sản hoặc văn bản của tòa án. Có như vậy thì phía văn phòng công chứng mới đồng ý xác lập hợp đồng mua bán tài sản.Anh Nguyễn Xuân Hoạch (chủ một showroom kinh doanh ô tô cũ trên đường Nguyễn Văn Cừ, quận Long Biên, Hà Nội) xác nhận, một trong những loại giấy tờ quan trọng trong hồ sơ mua bán xe mang đi công chứng là giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản đó. Còn thông tin trên giấy đăng ký xe chưa thể xác định được đó là tài sản riêng hay tài sản chung vợ chồng. Do đó, đối với mọi ô tô cũ mà khách hàng cần bán, các showroom đều yêu cầu chủ phương tiện phải có giấy chứng nhận độc thân nếu họ chưa lập gia đình. Với người đã có vợ hoặc chồng, phải có mặt cả hai để ký kết hồ sơ và có thêm giấy đăng ký kết hôn.\"Có trường hợp một khách hàng đến bán xe ô tô, nhưng chồng chị này đang ở nước ngoài, không thể lấy chữ ký nên cửa hàng từ chối mua\", anh Hoạch chia sẻ.Hay một chủ xe khác đã lấy vợ, nhưng trước khi bán xe thì người vợ gặp tai nạn đáng tiếc nên không thể ký hồ sơ bằng tay. Do đó, bên mua tài sản phải về tận nơi cư trú, phối hợp với văn phòng công chứng lăn dấu vân tay cho vào hồ sơ mới hợp lệ.Theo cán bộ cảnh sát giao thông (CSGT) làm thủ tục kiểm soát hồ sơ đăng ký xe thuộc Phòng CSGT Công an Hà Nội, để được làm thủ tục đăng ký xe và được cấp giấy chứng nhận đăng ký xe, Thông tư 58/2020/TT-BCA của Bộ Công an yêu cầu giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có xác nhận công chứng hoặc chứng thực theo quy định pháp luật.Do đó, khi chủ phương tiện mang xe ô tô cũ đến đăng ký, trong hồ sơ phải có đầy đủ các tài liệu chứng minh quyền sở hữu và không có tranh chấp về tài sản. Những thủ tục này đã được hoàn thiện trước khâu công chứng giữa bên mua và bên bán.Đối với xe máy cũ, một cán bộ công an xã ở huyện Hoài Đức (TP Hà Nội) cho biết, các thủ tục mua bán, đăng ký phương tiện đã qua sử dụng cũng giống như thủ tục dành cho xe ô tô, theo quy định tại Thông tư 24/2023. Cụ thể, khi bán xe máy, chủ sở hữu và người mua cần có hợp đồng mua bán có công chứng. Chủ xe vẫn phải chứng minh đó là tài sản của mình thông qua các giấy tờ hợp pháp như giấy chứng nhận độc thân, hoặc nếu là tài sản chung thì cần có sự đồng ý bằng văn bản của vợ/chồng. \"Quy định là như vậy, song chủ xe máy vẫn thường bán cả xe lẫn biển số cho người khác không qua công chứng, rồi mua xe mới và bấm biển số mới, dẫn đến có nhiều xe máy không chính chủ\", vị này cho hay.Vì sao phải xác nhận tình trạng hôn nhân?Trong khi nhiều chủ xe than phiền về việc phải làm thủ tục xác nhận độc thân hay phải có cả hai vợ chồng đi ký giấy bán xe, thì nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng, quy định này là đúng pháp luật và cần thiết nhằm tránh những rắc rối, tranh cãi về sau.TS Nguyễn Văn Hợi (Phó trưởng Bộ môn Luật Dân sự, trường Đại học Luật Hà Nội) phân tích, mua bán ô tô, xe máy đã qua sử dụng là một giao dịch dân sự về tài sản giữa người bán và người mua. Do là tài sản nên khi công chứng cần có giấy tờ xác nhận tình trạng hôn nhân của chủ tài sản, để phân định quyền sở hữu đối với tài sản đó.Trường hợp chủ tài sản chưa kết hôn thì khá đơn giản, họ chỉ cần có giấy chứng nhận độc thân do UBND cấp xã xác nhận. Còn nếu chủ xe đã lập gia đình, thì cần có giấy tờ xác nhận tình trạng hôn nhân của chủ tài sản cũng là điều hiển nhiên.\"Thủ tục hành chính này dù rắc rối nhưng chặt chẽ, tránh rắc rối khi tranh chấp về tài sản\", ông Hợi nhấn mạnh.Còn theo luật sư Nguyễn Văn Cường (Trưởng văn phòng Luật sư Chính Pháp), pháp luật quy định ô tô, xe gắn máy là các tài sản có đăng ký quyền sở hữu. Do vậy, bên bán tài sản phải xuất trình giấy đăng ký xe, thẻ căn cước và xác nhận tình trạng hôn nhân. Việc này nhằm xác định tài sản đó có đồng sở hữu hay sở hữu cá nhân.Theo luật sư Cường, đối với tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân mà trên giấy chứng nhận quyền tài sản chỉ ghi tên một người thì tài sản vẫn được coi là tài sản chung vợ chồng và cả hai vợ chồng đều có quyền quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản đó (trừ trường hợp người vợ/ người chồng chứng minh được đó là tài sản riêng của mình). Còn nếu đây là tài sản riêng của chủ xe thì chủ xe phải xuất trình xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc xuất trình giấy tờ về việc được tặng cho riêng, được thừa kế riêng… Theo TS Nguyễn Văn Hợi, nếu tình trạng hôn nhân được tích hợp vào cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ quan chức năng có thể dễ dàng tra cứu khi thực hiện các thủ tục hành chính như mua bán tài sản. Lúc đó, công dân chưa đăng ký kết hôn không phải đi xin xác nhận như hiện nay. Còn người đã lập gia đình vẫn bắt buộc phải có xác nhận của hai vợ chồng, hoặc giấy ủy quyền của một người khi bán tài sản." } ], "id": "786", "is_impossible": false, "question": "Mua bán xe cũ có cần xác nhận độc thân?" } ] } ], "title": "Mua bán xe cũ có cần xác nhận độc thân?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Liên hệ với Báo Giao thông, bạn đọc Trần Kiều Anh (ở Nho Quan, Ninh Bình) phản ánh: Tôi thấy sau các cuộc đấu giá biển số xe ô tô, một số tài khoản mạng xã hội rao bán hàng loạt biển số trúng đấu giá. \"Theo pháp luật hiện hành, một người có quyền được trúng đấu giá nhiều biển số xe hay không? Họ có được rao bán những tài sản này?\", bạn Kiều Anh hỏi.Một biển số đấu giá được trao cho người chốt đấu giá cao nhất.Trả lời bạn đọc, luật sư Hà Thị Khuyên, Trưởng văn phòng Luật sư Nhân Chính cho biết, theo quy định của Thông tư số 24/2023/TT-BCA thì biển số định danh không thể chuyển nhượng, song biển số trúng đấu giá có thể chuyển nhượng kèm các điều kiện cụ thể.Theo đó, cá nhân được chuyển nhượng biển số xe ô tô trúng đấu giá kèm theo chuyển quyền sở hữu chiếc xe đã đăng ký biển số xe trúng đấu giá đó. Thủ tục đăng ký xe đối với trường hợp chuyển quyền sở hữu xe kèm theo biển số xe trúng đấu giá được quy định cụ thể như sau: Thứ nhất, chủ xe nộp hồ sơ và làm thủ tục thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 1 Điều 15 Thông tư số 24/2023/TT-BCA. Chủ xe không phải nộp lại biển số xe trúng đấu giá nhưng phải nộp bản sao chứng từ chuyển quyền sở hữu xe và xuất trình bản chính để đối chiếu.Thứ hai, tổ chức, cá nhân nhận chuyển quyền sở hữu xe nộp hồ sơ và làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định tại khoản 2 Điều 14, khoản 2 Điều 15 Thông tư số 24/2023/TT-BCA và được đăng ký, giữ nguyên biển số xe trúng đấu giá. Có nghĩa người sở hữu biển số xe trúng đấu giá sẽ không thể chuyển nhượng biển số một cách độc lập. Nếu muốn chuyển nhượng biển số, người mua sẽ phải mua luôn chiếc xe đang gắn biển đó. Cần lưu ý là tổ chức, cá nhân đã nhận chuyển quyền sở hữu xe kèm theo biển số xe trúng đấu giá, không được tiếp tục chuyển quyền sở hữu xe kèm theo biển số xe trúng đấu giá cho tổ chức, cá nhân khác; được chuyển quyền sở hữu xe theo quy định của pháp luật.Như vậy, một cá nhân có thể sở hữu nhiều biển số trúng đấu giá, tuy nhiên việc chuyển nhượng riêng rẽ biển số trúng đấu giá không kèm xe là trái quy định pháp luật. Do đó, hành vi của người trúng đấu giá chuyển nhượng biển số khi biển số này chưa gắn vào phương tiện có nguy cơ gây nhiễu loạn hoạt động bán đấu giá biển số xe. Đây cũng là hành vi trái luật, bởi quy định không cho phép người trúng đấu giá được phép chuyển nhượng biển số xe một cách riêng rẽ độc lập.Liên quan vấn đề này, Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an cũng khẳng định, hoạt động đấu giá biển số xe ô tô dành cho bất kỳ người nào đủ điều kiện tham gia và nộp tiền đặt trước. Thậm chí, một cá nhân có thể nhờ người khác đấu giá hộ bằng tài khoản của mình. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng không bị giới hạn số lượng biển số muốn đấu giá.Quá trình đấu giá, khách hàng có quyền lựa chọn biển số của bất kỳ tỉnh, thành nào. Sau khi trúng, người đó có thể đăng ký biển số ô tô tại nơi mình thường trú, tạm trú hoặc tại phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh, thành phố cấp biển số đó.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 84, "text": "Tôi thấy sau các cuộc đấu giá biển số xe ô tô, một số tài khoản mạng xã hội rao bán hàng loạt biển số trúng đấu giá. \"Theo pháp luật hiện hành, một người có quyền được trúng đấu giá nhiều biển số xe hay không? Họ có được rao bán những tài sản này?\", bạn Kiều Anh hỏi.Một biển số đấu giá được trao cho người chốt đấu giá cao nhất.Trả lời bạn đọc, luật sư Hà Thị Khuyên, Trưởng văn phòng Luật sư Nhân Chính cho biết, theo quy định của Thông tư số 24/2023/TT-BCA thì biển số định danh không thể chuyển nhượng, song biển số trúng đấu giá có thể chuyển nhượng kèm các điều kiện cụ thể.Theo đó, cá nhân được chuyển nhượng biển số xe ô tô trúng đấu giá kèm theo chuyển quyền sở hữu chiếc xe đã đăng ký biển số xe trúng đấu giá đó. Thủ tục đăng ký xe đối với trường hợp chuyển quyền sở hữu xe kèm theo biển số xe trúng đấu giá được quy định cụ thể như sau: Thứ nhất, chủ xe nộp hồ sơ và làm thủ tục thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 1 Điều 15 Thông tư số 24/2023/TT-BCA. Chủ xe không phải nộp lại biển số xe trúng đấu giá nhưng phải nộp bản sao chứng từ chuyển quyền sở hữu xe và xuất trình bản chính để đối chiếu.Thứ hai, tổ chức, cá nhân nhận chuyển quyền sở hữu xe nộp hồ sơ và làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định tại khoản 2 Điều 14, khoản 2 Điều 15 Thông tư số 24/2023/TT-BCA và được đăng ký, giữ nguyên biển số xe trúng đấu giá. Có nghĩa người sở hữu biển số xe trúng đấu giá sẽ không thể chuyển nhượng biển số một cách độc lập. Nếu muốn chuyển nhượng biển số, người mua sẽ phải mua luôn chiếc xe đang gắn biển đó. Cần lưu ý là tổ chức, cá nhân đã nhận chuyển quyền sở hữu xe kèm theo biển số xe trúng đấu giá, không được tiếp tục chuyển quyền sở hữu xe kèm theo biển số xe trúng đấu giá cho tổ chức, cá nhân khác; được chuyển quyền sở hữu xe theo quy định của pháp luật.Như vậy, một cá nhân có thể sở hữu nhiều biển số trúng đấu giá, tuy nhiên việc chuyển nhượng riêng rẽ biển số trúng đấu giá không kèm xe là trái quy định pháp luật. Do đó, hành vi của người trúng đấu giá chuyển nhượng biển số khi biển số này chưa gắn vào phương tiện có nguy cơ gây nhiễu loạn hoạt động bán đấu giá biển số xe. Đây cũng là hành vi trái luật, bởi quy định không cho phép người trúng đấu giá được phép chuyển nhượng biển số xe một cách riêng rẽ độc lập.Liên quan vấn đề này, Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an cũng khẳng định, hoạt động đấu giá biển số xe ô tô dành cho bất kỳ người nào đủ điều kiện tham gia và nộp tiền đặt trước. Thậm chí, một cá nhân có thể nhờ người khác đấu giá hộ bằng tài khoản của mình. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng không bị giới hạn số lượng biển số muốn đấu giá.Quá trình đấu giá, khách hàng có quyền lựa chọn biển số của bất kỳ tỉnh, thành nào. Sau khi trúng, người đó có thể đăng ký biển số ô tô tại nơi mình thường trú, tạm trú hoặc tại phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh, thành phố cấp biển số đó." } ], "id": "787", "is_impossible": false, "question": "Một người được sở hữu bao nhiêu biển số đấu giá?" } ] } ], "title": "Một người được sở hữu bao nhiêu biển số đấu giá?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông Nguyễn Trọng Hùng (Hà Giang) hỏi, kỹ sư ngành kỹ thuật xây dựng công trình giao thông, chuyên ngành đào tạo địa kỹ thuật công trình giao thông có được cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng lĩnh vực khảo sát địa chất công trình hay không? Ảnh minh họa. Ông Hùng cũng muốn biết, “các chuyên ngành kỹ thuật xây dựng có liên quan” nêu tại Điểm b Khoản 1 Điều 67 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP bao gồm những chuyên ngành nào? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 67 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng thì kỹ sư địa kỹ thuật công trình giao thông thuộc chuyên môn phù hợp để cấp chứng chỉ hành nghề khảo sát địa chất công trình. Các chuyên ngành kỹ thuật có liên quan đến xây dựng công trình đề nghị nghiên cứu tại các văn bản quy phạm pháp luật về danh mục giáo dục, đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Ví dụ: Thông tư số 09/2022/TT-BGDĐT ngày 10/10/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Danh mục thống kê ngành đào tạo của giáo dục đại học; Thông tư số 32/2013/TT-BGDĐT ngày 5/8/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi Danh mục giáo dục, đào tạo cấp IV trình độ cao đẳng, đại học kèm theo Thông tư số 14/2010/TT-BGDĐT; Thông tư số 26/2020/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng…", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 479, "text": "Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 67 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng thì kỹ sư địa kỹ thuật công trình giao thông thuộc chuyên môn phù hợp để cấp chứng chỉ hành nghề khảo sát địa chất công trình. Các chuyên ngành kỹ thuật có liên quan đến xây dựng công trình đề nghị nghiên cứu tại các văn bản quy phạm pháp luật về danh mục giáo dục, đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Ví dụ: Thông tư số 09/2022/TT-BGDĐT ngày 10/10/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Danh mục thống kê ngành đào tạo của giáo dục đại học; Thông tư số 32/2013/TT-BGDĐT ngày 5/8/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi Danh mục giáo dục, đào tạo cấp IV trình độ cao đẳng, đại học kèm theo Thông tư số 14/2010/TT-BGDĐT; Thông tư số 26/2020/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng…" } ], "id": "788", "is_impossible": false, "question": "Học ngành nào được cấp chứng chỉ hành nghề khảo sát địa chất công trình?" } ] } ], "title": "Học ngành nào được cấp chứng chỉ hành nghề khảo sát địa chất công trình?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Năm 2021, công ty ông V.M.C (Vĩnh Phúc) ký hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh thi công xây dựng công trình với chủ đầu tư. Hợp đồng có hiệu lực từ ngày 20/12/2021 đến ngày 20/12/2022. Theo thời gian thi công, việc nghiệm thu hoàn thành, thanh toán và quyết toán trong năm 2022. Ảnh minh họa. Áp dụng Nghị định số 15/2022/NĐ-CP của Chính phủ, công ty ông C. xuất hóa đơn thuế giá trị gia tăng (GTGT) 8% cho toàn bộ khối lượng theo hợp đồng. Trong giai đoạn quyết toán có mục phát sinh giảm 2% giá trị hợp đồng do điều chỉnh thuế từ 10% - >8% và mục phát sinh tăng theo khối lượng thực tế thi công. Theo tình hình thực tế của dự án, dự phòng phí không còn đủ để thực hiện việc chi trả cho hạng mục phát sinh tăng theo khối lượng thực tế thi công. Ông C. hỏi, chủ đầu tư có được sử dụng chi phí phát sinh giảm 2% giá trị hợp đồng do điều chỉnh thuế từ 10%-8% để thực hiện chi trả chi phí mục phát sinh tăng cho phần khối lượng thực tế thi công cho nhà thầu hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc quản lý, thanh toán hợp đồng xây dựng theo nội dung hợp đồng đã ký kết giữa các bên, phù hợp với hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và quy định pháp luật có liên quan áp dụng cho họp đồng. Nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng xây dựng đã được quy định cụ thể tại Điều 143 Luật Xây dựng năm 2014. Do nội dung của ông chưa nêu rõ nguồn vốn sử dụng cho dự án, hợp đồng thi công xây dựng nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để hướng dẫn. Trường hợp dự án, hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng, Nghị định số 50/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng thì việc điều chỉnh dự toán xây dựng được quy định tại Điều 15 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP; việc điều chỉnh hợp đồng được quy định tại Khoản 12 Điều 1 Nghị định số 50/2021/NĐ-CP. Đề nghị ông căn cứ hồ sơ dự án/hợp đồng, thực tế triển khai, các quy định pháp luật nêu trên để thực hiện.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1016, "text": "Việc quản lý, thanh toán hợp đồng xây dựng theo nội dung hợp đồng đã ký kết giữa các bên, phù hợp với hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và quy định pháp luật có liên quan áp dụng cho họp đồng. Nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng xây dựng đã được quy định cụ thể tại Điều 143 Luật Xây dựng năm 2014. Do nội dung của ông chưa nêu rõ nguồn vốn sử dụng cho dự án, hợp đồng thi công xây dựng nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để hướng dẫn. Trường hợp dự án, hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng, Nghị định số 50/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng thì việc điều chỉnh dự toán xây dựng được quy định tại Điều 15 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP; việc điều chỉnh hợp đồng được quy định tại Khoản 12 Điều 1 Nghị định số 50/2021/NĐ-CP. Đề nghị ông căn cứ hồ sơ dự án/hợp đồng, thực tế triển khai, các quy định pháp luật nêu trên để thực hiện." } ], "id": "789", "is_impossible": false, "question": "Có được dùng tiền giảm thuế để bù phát sinh tăng khối lượng?" } ] } ], "title": "Có được dùng tiền giảm thuế để bù phát sinh tăng khối lượng?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Công ty bà Nguyễn Ngọc Phương Dung (Long An) được giao làm chủ đầu tư các dự án cải tạo sửa chữa cửa hàng xăng dầu hiện hữu với giá trị dưới 7 tỷ đồng và theo hình thức lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật (không sử dụng vốn đầu tư công). Ảnh minh họa. Bà Dung hỏi, công ty bà có phải trình thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật cho Sở Công Thương các tỉnh có dự án hay không? Hay công ty tự sử dụng bộ máy chuyên môn của mình để thẩm định và phê duyệt? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 56 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 13 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 thì thẩm quyền tổ chức thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng thuộc người quyết định đầu tư.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 500, "text": "Theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 56 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 13 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 thì thẩm quyền tổ chức thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng thuộc người quyết định đầu tư." } ], "id": "790", "is_impossible": false, "question": "Người quyết định đầu tư thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật" } ] } ], "title": "Người quyết định đầu tư thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông Lê Phương Nam (Bình Dương) đã có chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng. Ông hỏi, trong bản vẽ ông có được ký đồng thời chức danh chủ nhiệm thiết kế và chủ trì thiết kế hay không? Tại khoản 13, 14 Điều 3 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ hướng dẫn một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Khoản 13, 14 Điều 3 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ hướng dẫn một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng quy định: Chủ nhiệm là chức danh của cá nhân được tổ chức giao nhiệm vụ quản lý, điều phối thực hiện toàn bộ công việc tư vấn có nhiều chuyên môn khác nhau, gồm: Chủ nhiệm lập thiết kế quy hoạch xây dựng; chủ nhiệm khảo sát xây dựng, chủ nhiệm thiết kế, thẩm tra thiết kế xây dựng. Chủ trì là chức danh của cá nhân được tổ chức giao nhiệm vụ phụ trách thực hiện công việc theo lĩnh vực chuyên môn, gồm: Chủ trì lập thiết kế quy hoạch xây dựng; chủ trì thiết kế, thẩm tra thiết kế xây dựng; chủ trì kiểm định xây dựng; chủ trì lập, thẩm tra và quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Cá nhân có chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng có phạm vi hoạt động được quy định tại Mục 3 Phụ lục VI. Lĩnh vực và phạm vi hoạt động xây dựng của chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, đã được sửa đổi tại Khoản 5 Phụ lục VII ban hành kèm theo Khoản 39 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 375, "text": "Khoản 13, 14 Điều 3 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ hướng dẫn một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng quy định: Chủ nhiệm là chức danh của cá nhân được tổ chức giao nhiệm vụ quản lý, điều phối thực hiện toàn bộ công việc tư vấn có nhiều chuyên môn khác nhau, gồm: Chủ nhiệm lập thiết kế quy hoạch xây dựng; chủ nhiệm khảo sát xây dựng, chủ nhiệm thiết kế, thẩm tra thiết kế xây dựng. Chủ trì là chức danh của cá nhân được tổ chức giao nhiệm vụ phụ trách thực hiện công việc theo lĩnh vực chuyên môn, gồm: Chủ trì lập thiết kế quy hoạch xây dựng; chủ trì thiết kế, thẩm tra thiết kế xây dựng; chủ trì kiểm định xây dựng; chủ trì lập, thẩm tra và quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Cá nhân có chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng có phạm vi hoạt động được quy định tại Mục 3 Phụ lục VI. Lĩnh vực và phạm vi hoạt động xây dựng của chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, đã được sửa đổi tại Khoản 5 Phụ lục VII ban hành kèm theo Khoản 39 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ." } ], "id": "791", "is_impossible": false, "question": "Có được đảm nhiệm đồng thời chức danh chủ nhiệm và chủ trì thiết kế?" } ] } ], "title": "Có được đảm nhiệm đồng thời chức danh chủ nhiệm và chủ trì thiết kế?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông Nguyễn Nguyên (Khánh Hòa) tốt nghiệp cao đẳng kỹ thuật xây dựng năm 2010. Tháng 1/2022, ông tốt nghiệp đại học kỹ thuật xây dựng, tới tháng 9/2023 tốt nghiệp thạc sĩ kỹ thuật xây dựng. Thời gian kinh nghiệm để xét cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng Khi làm hồ sơ xin cấp chứng chỉ hành nghề hạng II, III, ông Nguyên được Sở Xây dựng trả lời, chỉ được xét cấp chứng chỉ hành nghề hạng III tính từ bằng cao đẳng. Thời gian kinh nghiệm được tính kể từ thời điểm cá nhân được cấp bằng đại học hoặc cao đẳng hoặc trung cấp tương ứng với từng hạng. Bằng tốt nghiệp đại học kỹ thuật xây dựng của ông Nguyên là năm 2022, không đủ thời gian cấp chứng chỉ hành nghề hạng II, III; trong khi công việc mới bắt buộc phải có bằng đại học và có chứng chỉ hành nghề. Ông Nguyên hỏi, vậy thời gian tính cấp chứng chỉ hành nghề bị hạn chế có phù hợp với cá nhân đáp ứng đủ trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, thời gian công tác hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 66 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ hướng dẫn một số nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng thì cá nhân đề nghị xét cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng phải có trình độ chuyên môn được đào tạo, thời gian và kinh nghiệm tham gia công việc phù hợp với nội dung đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề. Thời gian kinh nghiệm được tính kể từ thời điểm cá nhân được cấp bằng đại học hoặc cao đẳng hoặc trung cấp tương ứng với từng hạng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 974, "text": "Theo quy định tại Khoản 2 Điều 66 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ hướng dẫn một số nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng thì cá nhân đề nghị xét cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng phải có trình độ chuyên môn được đào tạo, thời gian và kinh nghiệm tham gia công việc phù hợp với nội dung đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề. Thời gian kinh nghiệm được tính kể từ thời điểm cá nhân được cấp bằng đại học hoặc cao đẳng hoặc trung cấp tương ứng với từng hạng." } ], "id": "792", "is_impossible": false, "question": "Thời gian kinh nghiệm để xét cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng" } ] } ], "title": "Thời gian kinh nghiệm để xét cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": ">>> Nữ cựu phó tướng Tập đoàn FLC khai gì về cựu Chủ tịch Trịnh Văn Quyết?Bao nhiêu người đã đầu tư mua cổ phiếu FLC?Liên quan vụ thao túng thị trường chứng khoán và lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Công ty CP Tập đoàn FLC (Tập đoàn FLC), Cơ quan Cảnh sát điều tra (C01 Bộ Công an) đề nghị truy tố ông Trịnh Văn Quyết (cựu Chủ tịch FLC) về các tội Thao túng thị trường chứng khoán và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.C01 xác định, từ tháng 9/2016 đến 3/2022, cựu Chủ tịch FLC Trịnh Văn Quyết đã chỉ đạo em gái Trịnh Thị Minh Huế bán hơn 391 triệu cổ phiếu hình thành từ vốn góp khống.Qua đó, các bị can thu được trên 4.800 tỷ đồng của các nhà đầu tư. Trong đó, ông Quyết và đồng phạm bị cáo buộc lừa chiếm đoạt hơn 3.620 tỷ đồng. Ngoài ra, kết luận điều tra nêu các bị can còn thu lời bất chính trên 723 tỷ đồng từ hành vi thao túng 5 mã cổ phiếu.Ông Trịnh Văn Quyết bị đề nghị truy tố 2 tội danh thao túng thị trường chứng khoán và lừa đảo chiếm đoạt tài sản.Theo cơ quan điều tra (CQĐT), trong 30.403 nhà đầu tư mua cổ phiếu ban đầu hình thành từ vốn góp khống, có 26.379 nhà đầu tư đã bán hết trên 208 triệu cổ phiếu. Còn 4.024 nhà đầu tư đang sở hữu hơn 82,7 triệu cổ phiếu (tổng giá trị tại thời điểm hủy niêm yết là 207,7 tỷ đồng).Trong số tiền hơn 3.620 tỷ đã chiếm đoạt, ông Quyết chỉ đạo Huế rút 2.398 tỷ để nộp vào tài khoản FLC và 8 công ty trực thuộc cùng tài khoản của hàng loạt người thân, doanh nghiệp. Ngoài ra, các bị can còn rút hơn 653 tỷ tiền mặt nhưng không rõ mục đích để làm gì.Còn lại số tiền hơn 1.222 tỷ đồng, C01 xác định đã bị trộn lẫn với số tiền thanh toán được bị can Huế nộp lại vào các tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán do Huế quản lý, sử dụng để mua và bán chứng khoán.Trước khi kết thúc điều tra, C01 đã trưng cầu giám định Bộ Tài chính. Kết quả giám định nêu, pháp luật hình sự chưa có quy định hướng dẫn về xác định việc thu lời bất chính, khoản thiệt hại cho nhà đầu tư phát sinh từ các hành vi tội phạm về chứng khoản.Việc xác định thiệt hại do hành vi thao túng thị trường chứng khoán có thể căn cứ vào: Hành vi vi phạm pháp luật thao túng thị trường; giá trị thua lỗ từ hoạt động giao dịch của nhà đầu tư khi xảy ra hành vi thao túng; kết luận điều tra của cơ quan công an; đơn thư của nhà đầu tư chứng minh bị thiệt hại.Song, Bộ Tài chính kết luận chưa có căn cứ xác định thiệt hại của các nhà đầu tư do hành vi thao túng thị trường chứng khoán của bị can Trịnh Văn Quyết và đồng phạm gây ra đối với 5 mã chứng khoán.Nhà đầu tư chứng khoán có phải là bị hại?Theo dõi kết luận điều tra của Bộ Công an, luật sư Bùi Đình Ứng (Trưởng văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng, Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho rằng, trong vụ án này cần phân biệt rõ nhà đầu tư bị thao túng thị trường chứng khoán và bị hại mất tài sản do hành vi lừa chiếm đoạt tài sản.Theo luật sư, họ đều là bị hại của Trịnh Văn Quyết và đồng phạm, song tên gọi sẽ khác nhau bởi bản chất hành vi khác nhau.Cụ thể, đối với tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản, các cơ quan tiến hành tố tụng cần xác định làm rõ họ là ai, bị lừa như thế nào, thiệt hại của từng nạn nhân ra sao?\"Với tội danh này, chắc chắn có bị hại thì mới đủ yếu tố cấu thành lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bị hại cũng sẽ được bồi thường căn cứ kết quả điều tra và chứng cứ mà họ cung cấp để chứng minh mình bị chiếm đoạt bao nhiêu\", luật sư Ứng phân tích.Tập đoàn FLC đã bị cưỡng chế hơn 81 tỷ đồng từ tài khoản mở tại các ngân hàng.Đối với các cá nhân tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán, theo luật sư, những ai bị mất tiền khi nộp tiền để đầu tư 5 mã chứng khoán liên quan hành vi sai phạm của các bị can, thì sẽ trở thành nhà đầu tư (bị hại).Việc ông Trịnh Văn Quyết và các bị can bị cáo buộc có nhiều hành vi làm nhiễu loạn thị trường, khiến các nhà đầu tư tin tưởng rồi đầu tư vào 5 mã chứng khoán, luật sư nhìn nhận hậu quả là gây thiệt hại cho các nhà đầu tư.Do đó, chủ thể bị thiệt hại tài sản do hành vi thao túng thị trường chứng khoán gây ra là các nhà đầu tư đã bỏ tiền để mua 5 mã cổ phiếu. Như vậy, các nhà đầu tư hoàn toàn có quyền yêu cầu bồi thường.\"Tuy nhiên, yêu cầu này chỉ được cơ quan tố tụng xem xét chấp nhận khi nhà đầu tư có đơn đề nghị kèm những tài liệu, chứng cứ thể hiện họ đã đầu tư và thiệt hại\", luật sư Bùi Đình Ứng nhấn mạnh.Trường hợp các nhà đầu tư mà không có đơn yêu cầu hoặc không chứng minh được mình đã mua 5 mã chứng khoán rồi bị thiệt hại, cơ quan tố tụng sẽ tịch thu số tiền các bị can thu lời bất chính từ hành vi thao túng thị trường chứng khoán để bổ sung ngân sách Nhà nước.Cũng theo luật sư, Trịnh Văn Quyết và một số bị can bị đề nghị truy tố về hai tội danh. Do đó, cả nhà đầu tư (của hành vi thao túng thị trường chứng khoán) và bị hại (bị chiếm đoạt tài sản) đều là những người bị thiệt hại tài sản.Vì vậy, họ đều có quyền lợi được yêu cầu các bị can bồi thường khắc phục hậu quả. Khi đó, tòa án sẽ xem xét giải quyết cho những người này.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 2052, "text": "Hành vi vi phạm pháp luật thao túng thị trường; giá trị thua lỗ từ hoạt động giao dịch của nhà đầu tư khi xảy ra hành vi thao túng; kết luận điều tra của cơ quan công an; đơn thư của nhà đầu tư chứng minh bị thiệt hại.Song, Bộ Tài chính kết luận chưa có căn cứ xác định thiệt hại của các nhà đầu tư do hành vi thao túng thị trường chứng khoán của bị can Trịnh Văn Quyết và đồng phạm gây ra đối với 5 mã chứng khoán.Nhà đầu tư chứng khoán có phải là bị hại?Theo dõi kết luận điều tra của Bộ Công an, luật sư Bùi Đình Ứng (Trưởng văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng, Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho rằng, trong vụ án này cần phân biệt rõ nhà đầu tư bị thao túng thị trường chứng khoán và bị hại mất tài sản do hành vi lừa chiếm đoạt tài sản.Theo luật sư, họ đều là bị hại của Trịnh Văn Quyết và đồng phạm, song tên gọi sẽ khác nhau bởi bản chất hành vi khác nhau.Cụ thể, đối với tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản, các cơ quan tiến hành tố tụng cần xác định làm rõ họ là ai, bị lừa như thế nào, thiệt hại của từng nạn nhân ra sao?\"Với tội danh này, chắc chắn có bị hại thì mới đủ yếu tố cấu thành lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bị hại cũng sẽ được bồi thường căn cứ kết quả điều tra và chứng cứ mà họ cung cấp để chứng minh mình bị chiếm đoạt bao nhiêu\", luật sư Ứng phân tích.Tập đoàn FLC đã bị cưỡng chế hơn 81 tỷ đồng từ tài khoản mở tại các ngân hàng.Đối với các cá nhân tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán, theo luật sư, những ai bị mất tiền khi nộp tiền để đầu tư 5 mã chứng khoán liên quan hành vi sai phạm của các bị can, thì sẽ trở thành nhà đầu tư (bị hại).Việc ông Trịnh Văn Quyết và các bị can bị cáo buộc có nhiều hành vi làm nhiễu loạn thị trường, khiến các nhà đầu tư tin tưởng rồi đầu tư vào 5 mã chứng khoán, luật sư nhìn nhận hậu quả là gây thiệt hại cho các nhà đầu tư.Do đó, chủ thể bị thiệt hại tài sản do hành vi thao túng thị trường chứng khoán gây ra là các nhà đầu tư đã bỏ tiền để mua 5 mã cổ phiếu. Như vậy, các nhà đầu tư hoàn toàn có quyền yêu cầu bồi thường.\"Tuy nhiên, yêu cầu này chỉ được cơ quan tố tụng xem xét chấp nhận khi nhà đầu tư có đơn đề nghị kèm những tài liệu, chứng cứ thể hiện họ đã đầu tư và thiệt hại\", luật sư Bùi Đình Ứng nhấn mạnh.Trường hợp các nhà đầu tư mà không có đơn yêu cầu hoặc không chứng minh được mình đã mua 5 mã chứng khoán rồi bị thiệt hại, cơ quan tố tụng sẽ tịch thu số tiền các bị can thu lời bất chính từ hành vi thao túng thị trường chứng khoán để bổ sung ngân sách Nhà nước.Cũng theo luật sư, Trịnh Văn Quyết và một số bị can bị đề nghị truy tố về hai tội danh. Do đó, cả nhà đầu tư (của hành vi thao túng thị trường chứng khoán) và bị hại (bị chiếm đoạt tài sản) đều là những người bị thiệt hại tài sản.Vì vậy, họ đều có quyền lợi được yêu cầu các bị can bồi thường khắc phục hậu quả. Khi đó, tòa án sẽ xem xét giải quyết cho những người này." } ], "id": "793", "is_impossible": false, "question": "Vụ án ông Trịnh Văn Quyết: Nhà đầu tư cổ phiếu FLC có được bồi thường?" } ] } ], "title": "Vụ án ông Trịnh Văn Quyết: Nhà đầu tư cổ phiếu FLC có được bồi thường?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Sửa chữa vạch kẻ đường trên đường cao tốc là một công việc trong giai đoạn bảo trì công trình đường cao tốc. Pháp luật về xây dựng chỉ quy định về phân loại, phân cấp đối với công trình xây dựng. Chỉ phân loại, phân cấp đối với công trình xây dựng. Theo phản ánh của ông Phạm Đức Điều (Hải Phòng), tại Khoản 4 Điều 2 Thông tư số 06/2021/TT-BXD quy định, sửa chữa cải tạo không làm thay đổi quy mô công trình thì cấp công trình theo cấp công trình ban đầu. Nếu hiểu theo Thông tư như nêu trên thì việc xác định cấp công trình cho 1 công trình sửa chữa vạch kẻ đường trên đường cao tốc cấp đặc biệt, thì công trình sửa chữa này cũng là cấp đặc biệt. Như vậy việc các nhà thầu đấu thầu cần có năng lực thi công cấp đặc biệt mới làm được, trong khi đó chỉ sửa chữa vạch sơn giá trị nhỏ. Ông Điều hỏi, ông hiểu như trên có đúng không? Nếu không thì cần phải hiểu cấp công trình sửa chữa vạch sơn đường là cấp mấy? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: \\\\\"Đường cao tốc\\\\\" là công trình xây dựng theo quy định tại Khoản 10 Điều 3 Luật Xây dựng. \\\\\"Sửa chữa vạch kẻ đường trên đường cao tốc\\\\\" là một công việc trong giai đoạn bảo trì công trình \\\\\"đường cao tốc\\\\\". Pháp luật về xây dựng chỉ quy định về phân loại, phân cấp đối với công trình xây dựng. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 83 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng và Điểm b Khoản 26 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng thì tổ chức không yêu cầu phải có chứng chỉ năng lực khi tham gia một số công việc như \\\\\"sửa chữa vạch kẻ đường trên đường cao tốc\\\\\".", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1045, "text": "\\\\\"Đường cao tốc\\\\\" là công trình xây dựng theo quy định tại Khoản 10 Điều 3 Luật Xây dựng. \\\\\"Sửa chữa vạch kẻ đường trên đường cao tốc\\\\\" là một công việc trong giai đoạn bảo trì công trình \\\\\"đường cao tốc\\\\\". Pháp luật về xây dựng chỉ quy định về phân loại, phân cấp đối với công trình xây dựng. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 83 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng và Điểm b Khoản 26 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng thì tổ chức không yêu cầu phải có chứng chỉ năng lực khi tham gia một số công việc như \\\\\"sửa chữa vạch kẻ đường trên đường cao tốc\\\\\"." } ], "id": "794", "is_impossible": false, "question": "Chỉ phân loại, phân cấp đối với công trình xây dựng" } ] } ], "title": "Chỉ phân loại, phân cấp đối với công trình xây dựng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông Nguyễn Hữu Trình (Thừa Thiên - Huế) hỏi, công trình nguồn vốn của phường 100% thì có cần trình Phòng Quản lý đô thị thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật không, hay chỉ cần lấy ý kiến để thẩm định, phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật? Ảnh minh họa. Đối với nguồn thường xuyên, khi cải tạo công trình dưới 500 triệu đồng có ảnh hưởng đến kết cấu thì có thẩm định hay lấy ý kiến Phòng Quản lý đô thị để thẩm định, phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 56 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi bổ sung tại Khoản 13 Luật số 62/2020/QH14 thì thẩm quyền thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng là của người quyết định đầu tư, cụ thể: \\\\\"Người quyết định đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng, giao cơ quan chuyên môn trực thuộc hoặc tổ chức, cá nhân có chuyên môn phù hợp với tính chất, nội dung của dự án khi không có cơ quan chuyên môn trực thuộc (sau đây gọi là cơ quan chủ trì thẩm định) thực hiện thẩm định các nội dung quy định tại Điều 57 của Luật này\\\\\". Tại Khoản 4 Điều 109 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 được sửa đổi tại Điểm a Khoản 35 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng quy định: \\\\\"UBND cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý Nhà nước về những nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này trên địa bàn hành chính của mình theo phân cấp; ban hành quy trình thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng các dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn Nhà nước ngoài đầu tư công do UBND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã quyết định đầu tư…\\\\\". Ông căn cứ quy định nêu trên, liên hệ với cơ quan có thẩm quyền tại địa phương để được hướng dẫn thực hiện bảo đảm phù hợp với quy định phân cấp quản lý tại địa phương.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 517, "text": "Theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 56 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi bổ sung tại Khoản 13 Luật số 62/2020/QH14 thì thẩm quyền thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng là của người quyết định đầu tư, cụ thể: \\\\\"Người quyết định đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng, giao cơ quan chuyên môn trực thuộc hoặc tổ chức, cá nhân có chuyên môn phù hợp với tính chất, nội dung của dự án khi không có cơ quan chuyên môn trực thuộc (sau đây gọi là cơ quan chủ trì thẩm định) thực hiện thẩm định các nội dung quy định tại Điều 57 của Luật này\\\\\". Tại Khoản 4 Điều 109 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 được sửa đổi tại Điểm a Khoản 35 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng quy định: \\\\\"UBND cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý Nhà nước về những nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này trên địa bàn hành chính của mình theo phân cấp; ban hành quy trình thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng các dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn Nhà nước ngoài đầu tư công do UBND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã quyết định đầu tư…\\\\\". Ông căn cứ quy định nêu trên, liên hệ với cơ quan có thẩm quyền tại địa phương để được hướng dẫn thực hiện bảo đảm phù hợp với quy định phân cấp quản lý tại địa phương." } ], "id": "795", "is_impossible": false, "question": "Thẩm quyền thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư" } ] } ], "title": "Thẩm quyền thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông L.M.N (Long An) hỏi, Ban quản lý dự án xã thành lập theo Nghị định số 27/2022/NĐ-CP của Chính phủ có được quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới do UBND xã làm chủ đầu tư hay không? Ảnh minh họa. Các công trình nêu trên đều có quy mô nhỏ, tổng mức đầu tư dưới 2 tỷ đồng, không áp dụng cơ chế đặc thù, Ban quản lý dự án xã có thuê tư vấn thiết kế và giám sát. Hiện nay, các cơ quan quản lý về xây dựng trên địa bàn huyện của ông N. cho rằng Ban quản lý dự án xã không có năng lực quản lý dự án theo quy định tại Nghị định số 15/2021/NĐ-CP của Chính phủ nên không cho Ban quản lý xã trực tiếp quản lý các dự án nêu trên mà phải thuê đơn vị có năng lực quản lý dự án. Theo đó, ông N. đề nghị cơ quan chức năng hướng dẫn để địa phương triển khai đúng quy định. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Nghị định số 27/2022/NĐ-CP ngày 19/4/2022 của Chính phủ quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, \"Ban quản lý xã, phường, thị trấn (gọi chung là Ban quản lý xã) được thành lập để tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn cấp xã…\". Tại Khoản 5 Điều 41 Nghị định số 27/2022/NĐ-CP quy định: \"Đối với các nội dung khác liên quan đến quản lý Nhà nước về đầu tư công, ngân sách Nhà nước, quản lý dự án đầu tư xây dựng và các nội dung không được quy định tại Nghị định này thì thực hiện theo các quy định của pháp luật chuyên ngành\". Việc tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng được quy định tại Điều 62 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 19 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 và tại Điều 20 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 965, "text": "Theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Nghị định số 27/2022/NĐ-CP ngày 19/4/2022 của Chính phủ quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, \"Ban quản lý xã, phường, thị trấn (gọi chung là Ban quản lý xã) được thành lập để tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn cấp xã…\". Tại Khoản 5 Điều 41 Nghị định số 27/2022/NĐ-CP quy định: \"Đối với các nội dung khác liên quan đến quản lý Nhà nước về đầu tư công, ngân sách Nhà nước, quản lý dự án đầu tư xây dựng và các nội dung không được quy định tại Nghị định này thì thực hiện theo các quy định của pháp luật chuyên ngành\". Việc tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng được quy định tại Điều 62 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 19 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 và tại Điều 20 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng." } ], "id": "796", "is_impossible": false, "question": "Cấp xã có được quản lý dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia?" } ] } ], "title": "Cấp xã có được quản lý dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Bạn Vũ Thị Thuyết (Thanh Xuân, TP Hà Nội) hỏi: Vừa qua, nhiều biển số xe ô tô siêu đẹp trên cả nước được đấu giá với số tiền \"khủng\", có biển lên đến cả tỷ đồng. Xin hỏi biển số đấu giá nhiều tiền như vậy thì có được coi là di sản thừa kế hay không?Biển số trúng đấu giá sẽ không được thừa kế.Trả lời bạn đọc, luật sư Quách Thành Lực - Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, một trong các nghĩa vụ của người trúng đấu giá biển số xe ô tô được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 73/2022/QH15 ngày 15/11/2022 của Quốc hội về thí điểm đấu giá biển số xe ô tô là: Không được chuyển nhượng, trao đổi, tặng cho, để thừa kế biển số xe ô tô trúng đấu giá, trừ trường hợp chuyển nhượng, trao đổi, tặng cho, để thừa kế xe ô tô gắn biển số trúng đấu giá.Đồng thời, khoản 3, Điều 28 thông tư 24/2023 của Bộ Công an đã quy định về việc chuyển quyền sở hữu đối với xe gắn biển số trúng đấu giá. Theo đó, tổ chức, cá nhân đã nhận chuyển quyền sở hữu xe kèm theo biển số xe trúng đấu giá, không được tiếp tục chuyển quyền sở hữu xe kèm theo biển số xe trúng đấu giá cho tổ chức, cá nhân khác; Được chuyển quyền sở hữu xe theo quy định của pháp luật.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Luật sư Quách Thành Lực cho biết thêm, người trúng đấu giá phải thực hiện thủ tục đăng ký xe ô tô để gắn biển số trúng đấu giá trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp văn bản xác nhận biển số xe ô tô trúng đấu giá; Trường hợp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì thời hạn này được kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 6 tháng.Sau thời hạn quy định, người trúng đấu giá biển số xe ô tô không thực hiện thủ tục đăng ký xe ô tô để gắn biển số trúng đấu giá thì biển số xe ô tô trúng đấu giá được chuyển vào hệ thống đăng ký, quản lý xe và người trúng đấu giá không được hoàn trả số tiền trúng đấu giá đã nộp.Điểm đ khoản 1 của Điều này quy đinh, trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp văn bản xác nhận biển số xe ô tô trúng đấu giá, nếu người trúng đấu giá chết nhưng chưa thực hiện thủ tục đăng ký xe ô tô để gắn biển số trúng đấu giá thì biển số xe ô tô trúng đấu giá được chuyển vào hệ thống đăng ký, quản lý xe, người thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế được nhận số tiền người trúng đấu giá đã nộp sau khi trừ các khoản chi phí tổ chức đấu giá.Bởi vậy, nếu biển số trúng đấu giá chưa được gắn vào xe đã đăng ký trong thời hạn 12 tháng mà người trúng đấu giá chết, người thừa kế không được thừa kế biển số trúng đấu giá, họ được nhận thừa kế số tiền người trúng đấu giá đã nộp sau khi trừ các khoản chi phí tổ chức đấu giá.\"Đối chiếu với các quy định như trên, biển số trúng đấu giá không phải là tài sản để thừa kế, việc thừa kế chỉ được thực hiện đối với xe ô tô có gắn biển số trúng đấu giá. Nếu người trúng đấu giá chết nhưng chưa thực hiện thủ tục đăng ký xe ô tô để gắn biển số trúng đấu giá thì người thừa kế được nhận số tiền người trúng đấu giá đã nộp sau khi trừ các khoản chi phí tổ chức đấu giá trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp văn bản xác nhận biển số xe ô tô trúng đấu giá\", ông Lực nói.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 47, "text": "Vừa qua, nhiều biển số xe ô tô siêu đẹp trên cả nước được đấu giá với số tiền \"khủng\", có biển lên đến cả tỷ đồng. Xin hỏi biển số đấu giá nhiều tiền như vậy thì có được coi là di sản thừa kế hay không?Biển số trúng đấu giá sẽ không được thừa kế.Trả lời bạn đọc, luật sư Quách Thành Lực - Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, một trong các nghĩa vụ của người trúng đấu giá biển số xe ô tô được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 73/2022/QH15 ngày 15/11/2022 của Quốc hội về thí điểm đấu giá biển số xe ô tô là: Không được chuyển nhượng, trao đổi, tặng cho, để thừa kế biển số xe ô tô trúng đấu giá, trừ trường hợp chuyển nhượng, trao đổi, tặng cho, để thừa kế xe ô tô gắn biển số trúng đấu giá.Đồng thời, khoản 3, Điều 28 thông tư 24/2023 của Bộ Công an đã quy định về việc chuyển quyền sở hữu đối với xe gắn biển số trúng đấu giá. Theo đó, tổ chức, cá nhân đã nhận chuyển quyền sở hữu xe kèm theo biển số xe trúng đấu giá, không được tiếp tục chuyển quyền sở hữu xe kèm theo biển số xe trúng đấu giá cho tổ chức, cá nhân khác; Được chuyển quyền sở hữu xe theo quy định của pháp luật.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Luật sư Quách Thành Lực cho biết thêm, người trúng đấu giá phải thực hiện thủ tục đăng ký xe ô tô để gắn biển số trúng đấu giá trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp văn bản xác nhận biển số xe ô tô trúng đấu giá; Trường hợp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì thời hạn này được kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 6 tháng.Sau thời hạn quy định, người trúng đấu giá biển số xe ô tô không thực hiện thủ tục đăng ký xe ô tô để gắn biển số trúng đấu giá thì biển số xe ô tô trúng đấu giá được chuyển vào hệ thống đăng ký, quản lý xe và người trúng đấu giá không được hoàn trả số tiền trúng đấu giá đã nộp.Điểm đ khoản 1 của Điều này quy đinh, trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp văn bản xác nhận biển số xe ô tô trúng đấu giá, nếu người trúng đấu giá chết nhưng chưa thực hiện thủ tục đăng ký xe ô tô để gắn biển số trúng đấu giá thì biển số xe ô tô trúng đấu giá được chuyển vào hệ thống đăng ký, quản lý xe, người thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế được nhận số tiền người trúng đấu giá đã nộp sau khi trừ các khoản chi phí tổ chức đấu giá.Bởi vậy, nếu biển số trúng đấu giá chưa được gắn vào xe đã đăng ký trong thời hạn 12 tháng mà người trúng đấu giá chết, người thừa kế không được thừa kế biển số trúng đấu giá, họ được nhận thừa kế số tiền người trúng đấu giá đã nộp sau khi trừ các khoản chi phí tổ chức đấu giá.\"Đối chiếu với các quy định như trên, biển số trúng đấu giá không phải là tài sản để thừa kế, việc thừa kế chỉ được thực hiện đối với xe ô tô có gắn biển số trúng đấu giá. Nếu người trúng đấu giá chết nhưng chưa thực hiện thủ tục đăng ký xe ô tô để gắn biển số trúng đấu giá thì người thừa kế được nhận số tiền người trúng đấu giá đã nộp sau khi trừ các khoản chi phí tổ chức đấu giá trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp văn bản xác nhận biển số xe ô tô trúng đấu giá\", ông Lực nói." } ], "id": "797", "is_impossible": false, "question": "Biển số trúng đấu giá có phải là tài sản để thừa kế?" } ] } ], "title": "Biển số trúng đấu giá có phải là tài sản để thừa kế?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Đối với nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu, Ban quản trị được tổ chức và hoạt động theo mô hình HĐQT của Công ty cổ phần hoặc mô hình Ban chủ nhiệm của hợp tác xã, có tư cách pháp nhân, có con dấu và thực hiện các quyền, trách nhiệm quy định tại khoản 1 Điều 104 của Luật Nhà ở. Tại khoản 3 Điều 103 của Luật Nhà ở năm 2014 đã quy định mô hình hoạt động của Ban quản trị nhà chung cư (Ảnh minh họa: Internet). Bộ Xây dựng nhận được công văn của Ban Quản trị Cụm nhà chung cư S1, Khu đô thị Gia Lâm (Vinhomes Ocean Park), huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội (sau đây gọi là Ban quản trị cụm nhà chung cư S1) về đề nghị cho ý kiến về việc thành lập Ban kiểm soát. Liên quan đến vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết, tại khoản 3 Điều 103 của Luật Nhà ở năm 2014 đã quy định mô hình hoạt động của Ban quản trị nhà chung cư. Đối với nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu, Ban quản trị được tổ chức và hoạt động theo mô hình Hội đồng quản trị của công ty cổ phần hoặc mô hình Ban chủ nhiệm của hợp tác xã, có tư cách pháp nhân, có con dấu và thực hiện các quyền, trách nhiệm quy định tại khoản 1 Điều 104 của Luật Nhà ở. Bên cạnh đó, tại khoản 6 Điều 15 của Quy chế Quản lý, sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Thông tư số 02/2016/TT-BXD ngày 15/02/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng cũng đã quy định: Trường hợp qua giám sát, thảo luận tại hội nghị nhà chung cư mà chủ sở hữu nhà chung cư phát hiện hành vi vi phạm về tài chính của Ban quản trị, thành viên Ban quản trị thì tùy theo mức độ vi phạm, hội nghị nhà chung cư có thể quyết định bãi miễn một, một số hoặc toàn bộ thành viên Ban quản trị và bầu thay thế các thành viên khác theo quy định Nếu người có hành vi vi phạm thuộc diện bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì hội nghị nhà chung cư thông qua quyết định đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Theo Bộ Xây dựng, Luật Nhà ở năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở không có quy định thành lập Ban kiểm soát nhà chung cư. Do đó, đề nghị Ban quản trị cụm nhà chung cư S1 nghiên cứu, thực hiện theo quy định. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị Ban quản trị cụm nhà chung cư S1 liên hệ với Sở Xây dựng Thành phố Hà Nội, là cơ quan quản lý Nhà nước về nhà ở trên địa bàn để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 410, "text": "Internet). Bộ Xây dựng nhận được công văn của Ban Quản trị Cụm nhà chung cư S1, Khu đô thị Gia Lâm (Vinhomes Ocean Park), huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội (sau đây gọi là Ban quản trị cụm nhà chung cư S1) về đề nghị cho ý kiến về việc thành lập Ban kiểm soát. Liên quan đến vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết, tại khoản 3 Điều 103 của Luật Nhà ở năm 2014 đã quy định mô hình hoạt động của Ban quản trị nhà chung cư. Đối với nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu, Ban quản trị được tổ chức và hoạt động theo mô hình Hội đồng quản trị của công ty cổ phần hoặc mô hình Ban chủ nhiệm của hợp tác xã, có tư cách pháp nhân, có con dấu và thực hiện các quyền, trách nhiệm quy định tại khoản 1 Điều 104 của Luật Nhà ở. Bên cạnh đó, tại khoản 6 Điều 15 của Quy chế Quản lý, sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Thông tư số 02/2016/TT-BXD ngày 15/02/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng cũng đã quy định: Trường hợp qua giám sát, thảo luận tại hội nghị nhà chung cư mà chủ sở hữu nhà chung cư phát hiện hành vi vi phạm về tài chính của Ban quản trị, thành viên Ban quản trị thì tùy theo mức độ vi phạm, hội nghị nhà chung cư có thể quyết định bãi miễn một, một số hoặc toàn bộ thành viên Ban quản trị và bầu thay thế các thành viên khác theo quy định Nếu người có hành vi vi phạm thuộc diện bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì hội nghị nhà chung cư thông qua quyết định đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Theo Bộ Xây dựng, Luật Nhà ở năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở không có quy định thành lập Ban kiểm soát nhà chung cư. Do đó, đề nghị Ban quản trị cụm nhà chung cư S1 nghiên cứu, thực hiện theo quy định. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị Ban quản trị cụm nhà chung cư S1 liên hệ với Sở Xây dựng Thành phố Hà Nội, là cơ quan quản lý Nhà nước về nhà ở trên địa bàn để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền." } ], "id": "798", "is_impossible": false, "question": "Quy định về quản lý, sử dụng nhà chung cư" } ] } ], "title": "Quy định về quản lý, sử dụng nhà chung cư" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Trường hợp đối tượng đăng ký mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội không có hộ khẩu thường trú theo quy định tại điểm a khoản này thì phải có bản sao giấy xác nhận đăng ký tạm trú và giấy xác nhận đóng bảo hiểm xã hội từ 01 năm trở lên tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội. Theo quy định tại Điều 49 Luật Nhà ở năm 2014, người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp thuộc diện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội (Ảnh minh họa: Internet). Ngày 06/10/2023, Bộ Xây dựng nhận được công văn của Sở Xây dựng tỉnh Bắc Giang đề nghị hướng dẫn về việc kiểm tra, xác định đối tượng được thuê, thuê mua, mua nhà ở xã hội. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết, đối với việc xác định thực trạng về nhà ở, đất ở của đối tượng được thuê, thuê mua, mua nhà ở xã hội, tại điểm a, điểm b Khoản 1 Điều 51 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: Chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình, chưa được mua, thuê hoặc thuê mua nhà ở xã hội, chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở dưới mọi hình thức tại nơi sinh sống, học tập hoặc có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người trong hộ gia đình thấp hơn mức diện tích nhà ở tối thiểu do Chính phủ quy định theo từng thời kỳ và từng khu vực. Phải có đăng ký thường trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có nhà ở xã hội; trường hợp không có đăng ký thường trú thì phải có đăng ký tạm trú từ một năm trở lên tại tỉnh, thành phố này. Bên cạnh đó, tại Khoản 16 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội quy định: Trường hợp đối tượng đăng ký xin mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có nhà ở xã hội thì phải có bản sao có chứng thực hộ khẩu thường trú hoặc giấy đăng ký hộ khẩu tập thể tại địa phương đó. Trường hợp đối tượng đăng ký mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội không có hộ khẩu thường trú theo quy định tại điểm a khoản này thì phải có bản sao giấy xác nhận đăng ký tạm trú và giấy xác nhận đóng bảo hiểm xã hội từ 01 năm trở lên tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội. Đồng thời, tại mẫu số 03 Thông tư số 09/2021/TT-BXD ngày 16/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã nêu 08 tình trạng nhà ở hiện nay của hộ gia đình, trong đó có trường hợp khó khăn về nhà ở khác (không thuộc 07 tình trạng nhà ở đã nêu). Trên cơ sở đó, đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Bắc Giang đối chiếu các quy định nêu trên với từng trường hợp cụ thể để hướng dẫn, thực hiện theo quy định. Về xác định điều kiện thu nhập của đối tượng được thuê, thuê mua, mua nhà ở xã hội, Bộ Xây dựng cho biết, tại điểm c Khoản 1 Điều 51 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: “Đối với đối tượng quy định tại các khoản 4, 5, 6 và 7 Điều 49 của Luật này thì phải thuộc diện không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân. Trường hợp là hộ nghèo, cận nghèo thì phải thuộc diện nghèo, cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Đối với đối tượng quy định tại các khoản 1, 8, 9 và 10 Điều 49 của Luật này thì không yêu cầu phải đáp ứng điều kiện về thu nhập theo quy định tại điểm này. Do đó, Bộ Xây dựng đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Bắc Giang liên hệ với Bộ Tài chính để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền. Liên quan đến đối tượng được thuê, thuê mua, mua nhà ở xã hội, theo quy định tại Điều 49 Luật Nhà ở năm 2014 thì người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp thuộc diện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội. Tại điểm b Khoản 2 Điều 159 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: “Tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua hình thức mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ”. Tại Khoản 1 Điều 75 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở quy định: Tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu nhà ở (bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ) trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật Việt Nam.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 537, "text": "Internet). Ngày 06/10/2023, Bộ Xây dựng nhận được công văn của Sở Xây dựng tỉnh Bắc Giang đề nghị hướng dẫn về việc kiểm tra, xác định đối tượng được thuê, thuê mua, mua nhà ở xã hội. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết, đối với việc xác định thực trạng về nhà ở, đất ở của đối tượng được thuê, thuê mua, mua nhà ở xã hội, tại điểm a, điểm b Khoản 1 Điều 51 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: Chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình, chưa được mua, thuê hoặc thuê mua nhà ở xã hội, chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở dưới mọi hình thức tại nơi sinh sống, học tập hoặc có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người trong hộ gia đình thấp hơn mức diện tích nhà ở tối thiểu do Chính phủ quy định theo từng thời kỳ và từng khu vực. Phải có đăng ký thường trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có nhà ở xã hội; trường hợp không có đăng ký thường trú thì phải có đăng ký tạm trú từ một năm trở lên tại tỉnh, thành phố này. Bên cạnh đó, tại Khoản 16 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội quy định: Trường hợp đối tượng đăng ký xin mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có nhà ở xã hội thì phải có bản sao có chứng thực hộ khẩu thường trú hoặc giấy đăng ký hộ khẩu tập thể tại địa phương đó. Trường hợp đối tượng đăng ký mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội không có hộ khẩu thường trú theo quy định tại điểm a khoản này thì phải có bản sao giấy xác nhận đăng ký tạm trú và giấy xác nhận đóng bảo hiểm xã hội từ 01 năm trở lên tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội. Đồng thời, tại mẫu số 03 Thông tư số 09/2021/TT-BXD ngày 16/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã nêu 08 tình trạng nhà ở hiện nay của hộ gia đình, trong đó có trường hợp khó khăn về nhà ở khác (không thuộc 07 tình trạng nhà ở đã nêu). Trên cơ sở đó, đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Bắc Giang đối chiếu các quy định nêu trên với từng trường hợp cụ thể để hướng dẫn, thực hiện theo quy định. Về xác định điều kiện thu nhập của đối tượng được thuê, thuê mua, mua nhà ở xã hội, Bộ Xây dựng cho biết, tại điểm c Khoản 1 Điều 51 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: “Đối với đối tượng quy định tại các khoản 4, 5, 6 và 7 Điều 49 của Luật này thì phải thuộc diện không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân. Trường hợp là hộ nghèo, cận nghèo thì phải thuộc diện nghèo, cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Đối với đối tượng quy định tại các khoản 1, 8, 9 và 10 Điều 49 của Luật này thì không yêu cầu phải đáp ứng điều kiện về thu nhập theo quy định tại điểm này. Do đó, Bộ Xây dựng đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Bắc Giang liên hệ với Bộ Tài chính để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền. Liên quan đến đối tượng được thuê, thuê mua, mua nhà ở xã hội, theo quy định tại Điều 49 Luật Nhà ở năm 2014 thì người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp thuộc diện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội. Tại điểm b Khoản 2 Điều 159 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: “Tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua hình thức mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ”. Tại Khoản 1 Điều 75 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở quy định: Tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu nhà ở (bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ) trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật Việt Nam." } ], "id": "799", "is_impossible": false, "question": "Những đối tượng nào được thuê, mua nhà ở xã hội?" } ] } ], "title": "Những đối tượng nào được thuê, mua nhà ở xã hội?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khỏe theo quy định và có GPLX phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp.Bên cạnh đó, người điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ như đăng ký xe, GPLX phù hợp với việc điều khiển xe, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Ngoài ra, pháp luật không có quy định về việc giấy hẹn cấp, cấp lại GPLX có thể thay thế cho GPLX trong thời gian đang đợi cấp mới GPLX hoặc khi bị mất mà người lái xe đang thực hiện thủ tục cấp lại.Như vậy, giấy hẹn cấp, cấp lại GPLX đơn thuần là xác nhận thời gian cá nhân có thể nhận được GPLX, không có giá trị thay thế GPLX.Do đó, nếu vi phạm thì người điều khiển xe vẫn sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định pháp luật.Cụ thể, đối với trường hợp đang đợi cấp mới GPLX, người lái xe sẽ bị xử lý như trường hợp không có GPLX. Còn đối với trường hợp đang đợi cấp lại GPLX do bị mất, người lái xe sẽ bị xử lý như trường hợp không mang theo GPLX khi lái xe.Trong trường hợp không có hoặc không xuất trình được khi bị kiểm tra, kiểm soát, người điều khiển sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP.Đối với phương tiện là xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô thì người điều khiển mà không có GPLX thì sẽ bị phạt tiền từ 4.000.000 - 6.000.000 đồng. Không mang theo GPLX (trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 8 Điều 21 Nghị định 100) thì bị phạt tiền từ 200.000 - 400.000 đồng.Đối với phương tiện là xe mô tô và các loại xe tương tự xe mô tô thì người điều khiển xe mô tô 2 bánh có dung tích xi lanh dưới 175cm3 và các loại xe tương tự xe mô tô mà không có GPLX bị phạt tiền từ 800.000 - 1.200.000 đồng.Người điều khiển xe mô tô 2 bánh có dung tích xi lanh từ 175cm3 trở lên, xe mô tô 3 bánh mà không có GPLX bị phạt tiền từ 3.000.000 - 4.000.000 đồng.Người điều khiển xe mô tô và các loại xe tương tự xe mô tô không mang theo GPLX (trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 5, điểm c khoản 7 Điều 21 Nghị định 100) thì bị phạt tiền từ 100.000 - 200.000 đồng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khỏe theo quy định và có GPLX phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp.Bên cạnh đó, người điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ như đăng ký xe, GPLX phù hợp với việc điều khiển xe, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Ngoài ra, pháp luật không có quy định về việc giấy hẹn cấp, cấp lại GPLX có thể thay thế cho GPLX trong thời gian đang đợi cấp mới GPLX hoặc khi bị mất mà người lái xe đang thực hiện thủ tục cấp lại.Như vậy, giấy hẹn cấp, cấp lại GPLX đơn thuần là xác nhận thời gian cá nhân có thể nhận được GPLX, không có giá trị thay thế GPLX.Do đó, nếu vi phạm thì người điều khiển xe vẫn sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định pháp luật.Cụ thể, đối với trường hợp đang đợi cấp mới GPLX, người lái xe sẽ bị xử lý như trường hợp không có GPLX. Còn đối với trường hợp đang đợi cấp lại GPLX do bị mất, người lái xe sẽ bị xử lý như trường hợp không mang theo GPLX khi lái xe.Trong trường hợp không có hoặc không xuất trình được khi bị kiểm tra, kiểm soát, người điều khiển sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP.Đối với phương tiện là xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô thì người điều khiển mà không có GPLX thì sẽ bị phạt tiền từ 4.000.000 - 6.000.000 đồng. Không mang theo GPLX (trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 8 Điều 21 Nghị định 100) thì bị phạt tiền từ 200.000 - 400.000 đồng.Đối với phương tiện là xe mô tô và các loại xe tương tự xe mô tô thì người điều khiển xe mô tô 2 bánh có dung tích xi lanh dưới 175cm3 và các loại xe tương tự xe mô tô mà không có GPLX bị phạt tiền từ 800.000 - 1.200.000 đồng.Người điều khiển xe mô tô 2 bánh có dung tích xi lanh từ 175cm3 trở lên, xe mô tô 3 bánh mà không có GPLX bị phạt tiền từ 3.000.000 - 4.000.000 đồng.Người điều khiển xe mô tô và các loại xe tương tự xe mô tô không mang theo GPLX (trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 5, điểm c khoản 7 Điều 21 Nghị định 100) thì bị phạt tiền từ 100.000 - 200.000 đồng." } ], "id": "800", "is_impossible": false, "question": "Đang chờ cấp lại bằng có được điều khiển phương tiện không?" } ] } ], "title": "Đang chờ cấp lại bằng có được điều khiển phương tiện không?" }