version
stringclasses
1 value
data
dict
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) – Bộ Xây dựng vừa có văn bản trả lời Sở Xây dựng tỉnh Hà Tĩnh về việc lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu nhà ở thương mại trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở không thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh. Theo đó, Bộ Xây dựng nhận được Công văn số 3770/SXD-QLN ngày 15/11/2024 của Sở Xây dựng tỉnh Hà Tĩnh, trong đó đề nghị hướng dẫn việc lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về nhà ở. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng trả lời như sau: Về việc lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh. Theo Luật Nhà ở năm 2023, tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở không thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh, tại khoản 2 Điều 16, khoản 2 Điều 17 và khoản 3 Điều 19 của Luật Nhà ở năm 2023 thì tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu nhà ở thương mại trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở không thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nghị định số 95/2024/NĐ-CP quy định cơ quan chủ trì thẩm định chấp thuận chủ trương đầu tư phải lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an về việc xác định dự án thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh hoặc không thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh. Việc này nhằm xác định dự án thuộc diện được phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở hoặc không được phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở. Theo quy định này, Nhà nước chỉ cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại, không có quy định cho phép nhận quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở. Do đó, trường hợp dự án đầu tư xây dựng hạ tầng để phân lô bán nền cho người dân tự xây dựng nhà ở thì không thuộc trường hợp gửi lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an theo quy định tại khoản 6 Điều 15 của Nghị định số 95/2024/NĐ-CP. Về việc lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, theo khoản 4 Điều 6 của Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ, đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan chủ trì thẩm định chấp thuận chủ trương đầu tư không phải gửi lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an các nội dung quy định tại khoản 6 Điều 15 của Nghị định số 95/2024/NĐ-CP.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 747, "text": "Về việc lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh. Theo Luật Nhà ở năm 2023, tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở không thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh, tại khoản 2 Điều 16, khoản 2 Điều 17 và khoản 3 Điều 19 của Luật Nhà ở năm 2023 thì tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu nhà ở thương mại trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở không thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nghị định số 95/2024/NĐ-CP quy định cơ quan chủ trì thẩm định chấp thuận chủ trương đầu tư phải lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an về việc xác định dự án thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh hoặc không thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh. Việc này nhằm xác định dự án thuộc diện được phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở hoặc không được phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở. Theo quy định này, Nhà nước chỉ cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại, không có quy định cho phép nhận quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở. Do đó, trường hợp dự án đầu tư xây dựng hạ tầng để phân lô bán nền cho người dân tự xây dựng nhà ở thì không thuộc trường hợp gửi lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an theo quy định tại khoản 6 Điều 15 của Nghị định số 95/2024/NĐ-CP. Về việc lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, theo khoản 4 Điều 6 của Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ, đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan chủ trì thẩm định chấp thuận chủ trương đầu tư không phải gửi lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an các nội dung quy định tại khoản 6 Điều 15 của Nghị định số 95/2024/NĐ-CP." } ], "id": "501", "is_impossible": false, "question": "Khi nào dự án nhà ở cần lấy ý kiến Bộ Quốc phòng, Bộ Công an?" } ] } ], "title": "Khi nào dự án nhà ở cần lấy ý kiến Bộ Quốc phòng, Bộ Công an?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Có thể bị tịch thu phương tiệnBộ Công an vừa có nội dung trả lời công dân về việc: Thời gian vừa qua, liên tiếp xuất hiện nhiều vụ việc các nhóm thanh, thiếu niên tổ chức đua xe trái phép gây hậu quả nghiêm trọng. Vậy, hành vi tổ chức đua xe trái phép, sử dụng đèn xe máy có ánh sáng mạnh, lắp còi hụ, nẹt pô, rú ga và sẵn sàng giải quyết mâu thuẫn bằng hung khí sẽ bị xử lý về tội danh nào?Nhiều quái xế bị xử lý về hành vi gây rối trật tự công cộng.Theo Bộ Công an, hành vi sử dụng đèn xe, lắp còi hú, nẹt pô, rú ga (chủ yếu trên mô tô, xe gắn máy) và các hành vi vi phạm hành chính khác về trật tự, an toàn giao thông, xâm phạm trật tự công cộng, sức khoẻ, tài sản của người khác nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì có thể bị xử phạt hành chính.Phạt tù nhóm quái xế chạy xe trên đường \"gặp ai không thích thì đánh\"“Quái xế” náo loạn đường phố, xử tội đua xe trái phép được không?Căn cứ để xử lý vi phạm hành chính gồm: Nghị định số 100/2019 (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 123/2021); Nghị định số 144/2021 ngày 31/12/2021 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và phòng, chống bạo lực gia đình. Tùy theo trường hợp và tổng hợp các lỗi vi phạm sẽ có các mức xử phạt hành chính khác nhau. Ngoài ra, trong một số trường hợp, người điều khiển phương tiện có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu phương tiện.Nguy cơ đối mặt nhiều tội danhNếu các hành vi trên đủ yếu tố cấu thành tội phạm, tùy theo hành vi, tính chất, mức độ và nhân thân người phạm tội, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm về một hoặc nhiều tội danh như sau:Tội Tổ chức đua xe trái phép theo quy định tại Điều 265 Bộ luật Hình sự, chế tài gồm: Phạt tiền hoặc phạt tù từ 1 năm đến chung thân. Người tham gia đua xe trái phép có thể bị truy cứu hình sự về tội Đua xe trái phép, quy định tại Điều 266 Bộ luật Hình sự với các mức phạt gồm phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 20 năm.Gây rối trật tự công cộng theo quy định của Điều 318 Bộ luật Hình sự, tùy theo từng trường hợp có thể bị phạt tiền hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 7 năm.Quá trình tham gia giao thông, nếu vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ gây hậu quả từ nghiêm trọng trở lên hoặc có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng mà không được ngăn chặn kịp thời, người vi phạm có thể bị truy cứu về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Mức phạt gồm phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 3 năm đến 15 năm.Giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển gây thiệt hại cho người khác mà đủ cấu thành tội phạm, thì có thể bị xử lý tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Chế tài gồm phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm.Hành vi chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm..., lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì có thể bị xử lý tội Cố ý gây thương tích. Khung hình phạt gồm cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.Nhiều loại công cụ hỗ trợ, vũ khí thô sơ bị CSGT thu giữ của người tham gia giao thông.Đáng chú ý, từ ngày 1/1/2025, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ quy định, các loại vũ khí thô sơ, dao có tính sát thương cao khi sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác trái pháp luật sẽ bị coi là vũ khí quân dụng. Lúc đó, người vi phạm bị xử lý về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, mức phạt tù từ 1 năm đến chung nhân.Trường hợp sử dụng dao có tính sát thương cao để thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ thì bị coi là sử dụng trái phép vũ khí thô sơ. Khi đó, người vi phạm có thể bị xử lý hình sự về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí thô sơ, mức phạt tù từ 3 tháng đến 7 năm.Ngoài ra, nếu các hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác... cấu thành tội phạm độc lập, người gây ra hành vi còn có thể bị truy cứu về các tội phạm tương ứng như: Giết người, Cố ý gây thương tích, Chống người thi hành công vụ, Cướp tài sản, Hủy hoại tài sản.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 83, "text": "Thời gian vừa qua, liên tiếp xuất hiện nhiều vụ việc các nhóm thanh, thiếu niên tổ chức đua xe trái phép gây hậu quả nghiêm trọng. Vậy, hành vi tổ chức đua xe trái phép, sử dụng đèn xe máy có ánh sáng mạnh, lắp còi hụ, nẹt pô, rú ga và sẵn sàng giải quyết mâu thuẫn bằng hung khí sẽ bị xử lý về tội danh nào?Nhiều quái xế bị xử lý về hành vi gây rối trật tự công cộng.Theo Bộ Công an, hành vi sử dụng đèn xe, lắp còi hú, nẹt pô, rú ga (chủ yếu trên mô tô, xe gắn máy) và các hành vi vi phạm hành chính khác về trật tự, an toàn giao thông, xâm phạm trật tự công cộng, sức khoẻ, tài sản của người khác nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì có thể bị xử phạt hành chính.Phạt tù nhóm quái xế chạy xe trên đường \"gặp ai không thích thì đánh\"“Quái xế” náo loạn đường phố, xử tội đua xe trái phép được không?Căn cứ để xử lý vi phạm hành chính gồm: Nghị định số 100/2019 (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 123/2021); Nghị định số 144/2021 ngày 31/12/2021 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và phòng, chống bạo lực gia đình. Tùy theo trường hợp và tổng hợp các lỗi vi phạm sẽ có các mức xử phạt hành chính khác nhau. Ngoài ra, trong một số trường hợp, người điều khiển phương tiện có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu phương tiện.Nguy cơ đối mặt nhiều tội danhNếu các hành vi trên đủ yếu tố cấu thành tội phạm, tùy theo hành vi, tính chất, mức độ và nhân thân người phạm tội, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm về một hoặc nhiều tội danh như sau:Tội Tổ chức đua xe trái phép theo quy định tại Điều 265 Bộ luật Hình sự, chế tài gồm: Phạt tiền hoặc phạt tù từ 1 năm đến chung thân. Người tham gia đua xe trái phép có thể bị truy cứu hình sự về tội Đua xe trái phép, quy định tại Điều 266 Bộ luật Hình sự với các mức phạt gồm phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 20 năm.Gây rối trật tự công cộng theo quy định của Điều 318 Bộ luật Hình sự, tùy theo từng trường hợp có thể bị phạt tiền hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 7 năm.Quá trình tham gia giao thông, nếu vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ gây hậu quả từ nghiêm trọng trở lên hoặc có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng mà không được ngăn chặn kịp thời, người vi phạm có thể bị truy cứu về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Mức phạt gồm phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 3 năm đến 15 năm.Giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển gây thiệt hại cho người khác mà đủ cấu thành tội phạm, thì có thể bị xử lý tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Chế tài gồm phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm.Hành vi chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm..., lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì có thể bị xử lý tội Cố ý gây thương tích. Khung hình phạt gồm cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.Nhiều loại công cụ hỗ trợ, vũ khí thô sơ bị CSGT thu giữ của người tham gia giao thông.Đáng chú ý, từ ngày 1/1/2025, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ quy định, các loại vũ khí thô sơ, dao có tính sát thương cao khi sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác trái pháp luật sẽ bị coi là vũ khí quân dụng. Lúc đó, người vi phạm bị xử lý về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, mức phạt tù từ 1 năm đến chung nhân.Trường hợp sử dụng dao có tính sát thương cao để thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ thì bị coi là sử dụng trái phép vũ khí thô sơ. Khi đó, người vi phạm có thể bị xử lý hình sự về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí thô sơ, mức phạt tù từ 3 tháng đến 7 năm.Ngoài ra, nếu các hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác... cấu thành tội phạm độc lập, người gây ra hành vi còn có thể bị truy cứu về các tội phạm tương ứng như: Giết người, Cố ý gây thương tích, Chống người thi hành công vụ, Cướp tài sản, Hủy hoại tài sản." } ], "id": "502", "is_impossible": false, "question": "Đua xe trái phép sẽ bị xử lý về tội danh gì?" } ] } ], "title": "Đua xe trái phép sẽ bị xử lý về tội danh gì?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Khoản 10, Điều 8 Luật Giao thông đường bộ 2008 nghiêm cấm việc giao xe cơ giới cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông.Nếu vi phạm, chủ xe có thể bị phạt hành chính từ 800 nghìn đồng đến 2 triệu đồng đối với cá nhân và từ 1,6 triệu đồng đến 4 triệu đồng đối với tổ chức, theo Điều 30 Nghị định 100 của Chính phủ. Quy định này áp dụng ngay cả khi người lái xe có GPLX nhưng giấy phép đã hết hạn hoặc đang bị tước quyền sử dụng.Trong trường hợp người chủ xe biết rõ người điều khiển không đủ điều kiện mà vẫn giao xe, nếu gây tai nạn nghiêm trọng, họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Hình phạt cụ thể gồm:Phạt tiền từ 10 - 50 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 3 năm nếu gây thiệt hại làm chết 1 người hoặc tổn hại tài sản từ 100 triệu đến dưới 500 triệu đồng; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 1 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.Phạt tiền từ 50 - 200 triệu đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm nếu gây tai nạn làm chết 2 người; Gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; Gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng.Phạt tù từ 2 - 7 năm trong trường hợp gây tai nạn làm chết 3 người trở lên; Gây tổn hại cho sức khỏe của 3 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này là 201% trở lên; Gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên.Ngoài các hình phạt trên, người điều khiển xe vi phạm còn phải bồi thường thiệt hại về tài sản và sức khỏe theo quy định của Bộ luật Dân sự. Việc bồi thường sẽ dựa trên thỏa thuận giữa các bên, tương ứng với mức độ thiệt hại thực tế.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 642, "text": "Phạt tiền từ 10 - 50 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 3 năm nếu gây thiệt hại làm chết 1 người hoặc tổn hại tài sản từ 100 triệu đến dưới 500 triệu đồng; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 1 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.Phạt tiền từ 50 - 200 triệu đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm nếu gây tai nạn làm chết 2 người; Gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; Gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng.Phạt tù từ 2 - 7 năm trong trường hợp gây tai nạn làm chết 3 người trở lên; Gây tổn hại cho sức khỏe của 3 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này là 201% trở lên; Gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên.Ngoài các hình phạt trên, người điều khiển xe vi phạm còn phải bồi thường thiệt hại về tài sản và sức khỏe theo quy định của Bộ luật Dân sự. Việc bồi thường sẽ dựa trên thỏa thuận giữa các bên, tương ứng với mức độ thiệt hại thực tế." } ], "id": "503", "is_impossible": false, "question": "Giao xe cho người không đủ điều kiện bị phạt thế nào?" } ] } ], "title": "Giao xe cho người không đủ điều kiện bị phạt thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng vừa có văn bản trả lời kiến nghị của UBND tỉnh Đồng Nai liên quan đến việc áp dụng quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật và bàn giao công trình hạ tầng. Hiện nay, chưa có quy định cụ thể về việc bàn giao công trình hạ tầng trong đô thị và ngoài đô thị. UBND tỉnh đề nghị Bộ Xây dựng sớm ban hành các quy định này. Về quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật, UBND tỉnh Đồng Nai cho biết, theo Luật Quy hoạch 2017 và quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật Quy hoạch đô thị và Nghị định 98/2019/NĐ-CP CP thì các đồ án quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật chỉ được lập đối với các đô thị trực thuộc Trung ương (được lập riêng thành một đồ án). Tuy nhiên, Đồng Nai đã được duyệt một số quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật trước đó, như quy hoạch địa điểm nghĩa trang, quy hoạch quản lý chất thải rắn, quy hoạch cấp nước vùng tỉnh... và các quy hoạch này chỉ được tích hợp một phần vào quy hoạch tỉnh mới. UBND tỉnh Đồng Nai đề nghị Bộ Xây dựng hướng dẫn về giá trị pháp lý của các quy hoạch này, cũng như cơ sở để điều chỉnh nội dung quy hoạch. Bộ Xây dựng cho biết, việc áp dụng và điều chỉnh quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật vùng tỉnh được phê duyệt trước ngày 01/01/2019 đã được quy định tại Nghị định số 98/2019/NĐ-CP. Bộ Xây dựng đề nghị UBND tỉnh Đồng Nai nghiên cứu, thực hiện theo quy định này. Về bàn giao công trình hạ tầng, UBND tỉnh Đồng Nai cho biết, Luật Xây dựng 2014 quy định chủ đầu tư dự án khu đô thị có trách nhiệm bàn giao công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội theo quy định của Chính phủ. Tuy nhiên, hiện nay chưa có quy định cụ thể về việc bàn giao công trình hạ tầng trong đô thị và ngoài đô thị. UBND tỉnh đề nghị Bộ Xây dựng sớm ban hành các quy định này. Bộ Xây dựng cho biết đã và đang thực hiện một số nhiệm vụ liên quan đến việc bàn giao, quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật: Tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 35/2023/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định bàn giao quản lý trong khu đô thị tại Nghị định số 11/2013/NĐ-CP. Phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Nghị định số 43/2022/NĐ-CP quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch; Nghị định số 33/2019/NĐ-CP quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Nghiên cứu, xây dựng Luật Quản lý phát triển đô thị, trong đó có nội dung quy định về bàn giao, quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị. Nghiên cứu, hoàn thiện dự thảo Nghị định về quản lý cây xanh, công viên đô thị, trong đó có quy định về quản lý, sử dụng và khai thác tài sản hạ tầng cây xanh, công viên đô thị. Bộ Xây dựng cho biết sẽ tiếp tục rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, thay thế các Nghị định thuộc lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật, phối hợp với Bộ Tài chính hoàn thiện hành lang pháp lý để quản lý lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật một cách đồng bộ, xuyên suốt.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1843, "text": "Tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 35/2023/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định bàn giao quản lý trong khu đô thị tại Nghị định số 11/2013/NĐ-CP. Phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Nghị định số 43/2022/NĐ-CP quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch; Nghị định số 33/2019/NĐ-CP quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Nghiên cứu, xây dựng Luật Quản lý phát triển đô thị, trong đó có nội dung quy định về bàn giao, quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị. Nghiên cứu, hoàn thiện dự thảo Nghị định về quản lý cây xanh, công viên đô thị, trong đó có quy định về quản lý, sử dụng và khai thác tài sản hạ tầng cây xanh, công viên đô thị. Bộ Xây dựng cho biết sẽ tiếp tục rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, thay thế các Nghị định thuộc lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật, phối hợp với Bộ Tài chính hoàn thiện hành lang pháp lý để quản lý lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật một cách đồng bộ, xuyên suốt." } ], "id": "504", "is_impossible": false, "question": "Bộ Xây dựng trả lời kiến nghị của Đồng Nai" } ] } ], "title": "Bộ Xây dựng trả lời kiến nghị của Đồng Nai" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Một công trình có 2 gói thầu và 2 hợp đồng khác nhau. Hợp đồng thứ nhất ký năm 2018, hợp đồng thứ hai ký năm 2020. Ảnh minh họa. Bà Đoàn Thị Điệp hỏi, sau khi hoàn thành nghiệm thu đưa vào sử dụng đơn vị bà có thể gộp hai hợp đồng trên thành một hợp đồng tổng được không? Nếu được thì căn cứ quy định nào? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Pháp luật về xây dựng không quy định việc gộp các hợp đồng đã ký kết thành một hợp đồng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 359, "text": "Pháp luật về xây dựng không quy định việc gộp các hợp đồng đã ký kết thành một hợp đồng." } ], "id": "505", "is_impossible": false, "question": "Có được gộp hợp đồng xây dựng?" } ] } ], "title": "Có được gộp hợp đồng xây dựng?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng vừa có văn bản hướng dẫn Sở Xây dựng tỉnh Gia Lai về việc ban hành văn bản hướng dẫn về giá nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2023. UBND cấp tỉnh quy định về giá thuê nhà ở xã hội, giá thuê nhà ở công vụ, giá thuê nhà ở cũ thuộc tài sản công, khung giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư. (Ảnh: Hà Duy) Về các nội dung liên quan đến giá nhà ở quy định tại Luật Nhà ở năm 2023, Nghị định số 95/2024/NĐ-CP giao địa phương thực hiện. Cụ thể, tại khoản 3 Điều 87 Luật Nhà ở năm 2023 quy định: “Giá thuê nhà ở xã hội, bao gồm cả kinh phí bảo trì nhà ở, do chủ đầu tư dự án đầu xây dựng nhà ở xã hội thỏa thuận với bên thuê theo khung giá do UBND cấp tỉnh quy định”. Tại khoản 7 Điều 151 Luật Nhà ở năm 2023 quy định: “UBND cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành khung giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư để áp dụng cho các trường hợp sau đây”. Tại khoản 6 Điều 31 Nghị định số 95/2024/NĐ-CP ngày 24/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở quy định: “UBND cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành khung giá cho thuê nhà ở công vụ do địa phương quản lý trên địa bàn”. Tại khoản 3 Điều 66 của Nghị định số 95/2024/NĐ-CP quy định: “…UBND có trách nhiệm quy định giá cho thuê cụ thể đối với nhà ở cũ thuộc tài sản công trên địa bàn”. Như vậy, Luật Nhà ở năm 2023 và Nghị định số 95/2024/NĐ-CP đã giao thẩm quyền cụ thể cho UBND cấp tỉnh quy định về giá thuê nhà ở xã hội, giá thuê nhà ở công vụ, giá thuê nhà ở cũ thuộc tài sản công, khung giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư. Về hình thức ban hành văn bản quy định các nội dung Luật Nhà ở và Nghị định 95/2024/NĐ-CP giao địa phương, Bộ Xây dựng đề nghị Sở Xây dựng Gia Lai đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật Giá để ban hành văn bản đúng quy định. Nếu có vướng mắc, Sở Xây dựng Gia Lai có thể liên hệ Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính để được hướng dẫn.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 315, "text": "Hà Duy) Về các nội dung liên quan đến giá nhà ở quy định tại Luật Nhà ở năm 2023, Nghị định số 95/2024/NĐ-CP giao địa phương thực hiện. Cụ thể, tại khoản 3 Điều 87 Luật Nhà ở năm 2023 quy định: “Giá thuê nhà ở xã hội, bao gồm cả kinh phí bảo trì nhà ở, do chủ đầu tư dự án đầu xây dựng nhà ở xã hội thỏa thuận với bên thuê theo khung giá do UBND cấp tỉnh quy định”. Tại khoản 7 Điều 151 Luật Nhà ở năm 2023 quy định: “UBND cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành khung giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư để áp dụng cho các trường hợp sau đây”. Tại khoản 6 Điều 31 Nghị định số 95/2024/NĐ-CP ngày 24/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở quy định: “UBND cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành khung giá cho thuê nhà ở công vụ do địa phương quản lý trên địa bàn”. Tại khoản 3 Điều 66 của Nghị định số 95/2024/NĐ-CP quy định: “…UBND có trách nhiệm quy định giá cho thuê cụ thể đối với nhà ở cũ thuộc tài sản công trên địa bàn”. Như vậy, Luật Nhà ở năm 2023 và Nghị định số 95/2024/NĐ-CP đã giao thẩm quyền cụ thể cho UBND cấp tỉnh quy định về giá thuê nhà ở xã hội, giá thuê nhà ở công vụ, giá thuê nhà ở cũ thuộc tài sản công, khung giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư. Về hình thức ban hành văn bản quy định các nội dung Luật Nhà ở và Nghị định 95/2024/NĐ-CP giao địa phương, Bộ Xây dựng đề nghị Sở Xây dựng Gia Lai đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật Giá để ban hành văn bản đúng quy định. Nếu có vướng mắc, Sở Xây dựng Gia Lai có thể liên hệ Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính để được hướng dẫn." } ], "id": "506", "is_impossible": false, "question": "Bộ Xây dựng hướng dẫn ban hành văn bản giá nhà ở" } ] } ], "title": "Bộ Xây dựng hướng dẫn ban hành văn bản giá nhà ở" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng vừa có công văn trả lời kiến nghị của tỉnh Bạc Liêu về việc phát triển nhà ở xã hội theo lộ trình từng bước. Ảnh minh họa. Công văn số 6470/BXD-QLN của Bộ Xây dựng nêu rõ: “Hiện nay, do nguồn lực đất đai của nước ta còn nhiều hạn chế, do đó, nhằm tiết kiệm và tránh lãng phí nguồn lực này, pháp luật về nhà ở hiện hành quy định: Trường hợp nhà ở xã hội là nhà ở riêng lẻ được đầu tư xây dựng theo dự án thì chỉ được đầu tư xây dựng tại xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định của Thủ tướng Chính phủ...”. Cụ thể, theo quy định pháp luật hiện hành, tại điểm a khoản 1 Điều 82 Luật Nhà ở năm 2023 quy định loại nhà và tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội như sau: “Nhà ở xã hội là nhà chung cư, được đầu tư xây dựng theo dự án, phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng đã được phê duyệt. Trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng tại các xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định của Thủ tướng Chính phủ thì được xây dựng nhà ở riêng lẻ”. Tại khoản 2 Điều 27 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội quy định về loại nhà và tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng theo dự án như sau: “Trường hợp nhà ở xã hội là nhà ở riêng lẻ được đầu tư xây dựng theo dự án thì được đầu tư xây dựng tại xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, phải đảm bảo được thiết kế, xây dựng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng; mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất, chiều cao nhà ở riêng lẻ tuân theo quy hoạch nông thôn hoặc quy chế quản lý kiến trúc điểm dân cư nông thôn được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tiêu chuẩn diện tích lô đất nhà ở xã hội là nhà ở riêng lẻ không vượt quá 70m2, hệ số sử dụng đất không vượt quá 2,0 lần”. Ngày 04/6/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 861/QĐ-TTg về phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 trong đó có danh sách các xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Bạc Liêu phân định theo trình độ phát triển giai đoạn 2021 - 2025. Theo đó, ý kiến của Bộ Xây dựng, để tiết kiệm và tránh lãng phí nguồn lực đất đai, pháp luật về nhà ở hiện hành quy định “nhà ở xã hội là nhà ở riêng lẻ được đầu tư xây dựng theo dự án thì chỉ được đầu tư xây dựng tại xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi…”.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 197, "text": "“Hiện nay, do nguồn lực đất đai của nước ta còn nhiều hạn chế, do đó, nhằm tiết kiệm và tránh lãng phí nguồn lực này, pháp luật về nhà ở hiện hành quy định: Trường hợp nhà ở xã hội là nhà ở riêng lẻ được đầu tư xây dựng theo dự án thì chỉ được đầu tư xây dựng tại xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định của Thủ tướng Chính phủ...”. Cụ thể, theo quy định pháp luật hiện hành, tại điểm a khoản 1 Điều 82 Luật Nhà ở năm 2023 quy định loại nhà và tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội như sau: “Nhà ở xã hội là nhà chung cư, được đầu tư xây dựng theo dự án, phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng đã được phê duyệt. Trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng tại các xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định của Thủ tướng Chính phủ thì được xây dựng nhà ở riêng lẻ”. Tại khoản 2 Điều 27 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội quy định về loại nhà và tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng theo dự án như sau: “Trường hợp nhà ở xã hội là nhà ở riêng lẻ được đầu tư xây dựng theo dự án thì được đầu tư xây dựng tại xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, phải đảm bảo được thiết kế, xây dựng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng; mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất, chiều cao nhà ở riêng lẻ tuân theo quy hoạch nông thôn hoặc quy chế quản lý kiến trúc điểm dân cư nông thôn được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tiêu chuẩn diện tích lô đất nhà ở xã hội là nhà ở riêng lẻ không vượt quá 70m2, hệ số sử dụng đất không vượt quá 2,0 lần”. Ngày 04/6/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 861/QĐ-TTg về phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 trong đó có danh sách các xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Bạc Liêu phân định theo trình độ phát triển giai đoạn 2021 - 2025. Theo đó, ý kiến của Bộ Xây dựng, để tiết kiệm và tránh lãng phí nguồn lực đất đai, pháp luật về nhà ở hiện hành quy định “nhà ở xã hội là nhà ở riêng lẻ được đầu tư xây dựng theo dự án thì chỉ được đầu tư xây dựng tại xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi…”." } ], "id": "507", "is_impossible": false, "question": "Bạc Liêu: Kiến nghị được phát triển nhà ở xã hội theo lộ trình" } ] } ], "title": "Bạc Liêu: Kiến nghị được phát triển nhà ở xã hội theo lộ trình" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Một trong những quyền hạn của CSGT là được dừng các phương tiện đang tham gia giao thông đường bộ; kiểm soát phương tiện, giấy tờ của phương tiện; kiểm soát người và giấy tờ của người điều khiển phương tiện, giấy tờ tùy thân của người trên phương tiện đang kiểm soát.Ngay cả khi người điều khiển phương tiện không vi phạm quy định về an toàn giao thông thì CSGT vẫn có quyền dừng xe để kiểm tra giấy tờ trong các trường hợp quy định tại Điều 16 Thông tư 32 như: Thực hiện mệnh lệnh, kế hoạch tổng kiểm soát giao thông bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, trật tự xã hội; kế hoạch tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm theo chuyên đề bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, trật tự xã hội đã được ban hành.Thực hiện theo văn bản đề nghị của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng về dừng phương tiện để bảo đảm an ninh, trật tự; đấu tranh phòng, chống tội phạm; phòng, chống thiên tai, cháy nổ; phòng, chống dịch bệnh; cứu nạn, cứu hộ và các vi phạm khác.Nhận được tin báo, phản ánh, kiến nghị, tố cáo của tổ chức, cá nhân về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện.Do đó, nếu thuộc một trong các trường hợp trên, CSGT không cần phải chứng minh lỗi vi phạm của người tham gia giao thông trước khi yêu cầu xuất trình giấy tờ để kiểm tra.Về quá trình xử phạt, người vi phạm có quyền đề nghị được xem thông tin, hình ảnh, kết quả thu thập được về hành vi vi phạm. Nếu chưa có thông tin, hình ảnh, kết quả tại nơi kiểm soát thì CSGT phải hướng dẫn người vi phạm xem khi đến xử lý vi phạm tại trụ sở đơn vị.Như vậy, trước khi xử phạt, CSGT có trách nhiệm chứng minh lỗi của người tham gia giao thông khi xử phạt hành chính, có thể thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ như camera, máy bắn tốc độ… hoặc trực tiếp phát hiện.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 462, "text": "Thực hiện mệnh lệnh, kế hoạch tổng kiểm soát giao thông bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, trật tự xã hội; kế hoạch tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm theo chuyên đề bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, trật tự xã hội đã được ban hành.Thực hiện theo văn bản đề nghị của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng về dừng phương tiện để bảo đảm an ninh, trật tự; đấu tranh phòng, chống tội phạm; phòng, chống thiên tai, cháy nổ; phòng, chống dịch bệnh; cứu nạn, cứu hộ và các vi phạm khác.Nhận được tin báo, phản ánh, kiến nghị, tố cáo của tổ chức, cá nhân về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện.Do đó, nếu thuộc một trong các trường hợp trên, CSGT không cần phải chứng minh lỗi vi phạm của người tham gia giao thông trước khi yêu cầu xuất trình giấy tờ để kiểm tra.Về quá trình xử phạt, người vi phạm có quyền đề nghị được xem thông tin, hình ảnh, kết quả thu thập được về hành vi vi phạm. Nếu chưa có thông tin, hình ảnh, kết quả tại nơi kiểm soát thì CSGT phải hướng dẫn người vi phạm xem khi đến xử lý vi phạm tại trụ sở đơn vị.Như vậy, trước khi xử phạt, CSGT có trách nhiệm chứng minh lỗi của người tham gia giao thông khi xử phạt hành chính, có thể thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ như camera, máy bắn tốc độ… hoặc trực tiếp phát hiện." } ], "id": "508", "is_impossible": false, "question": "Có được yêu cầu CSGT chứng minh vi phạm?" } ] } ], "title": "Có được yêu cầu CSGT chứng minh vi phạm?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Ngày 26/11 vừa qua, anh P.V.G (SN 1970, trú phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội) mang xe ô tô biển kiểm soát 30H-829.XX đến trung tâm đăng kiểm ở Hà Nội thì được đơn vị này thông báo phương tiện còn \"nợ\" một lỗi phạt nguội chưa được giải quyết.Tiến hành tra cứu, anh G ghi nhận hồi đầu tháng 2 khi lái xe trên quốc lộ 1A qua tỉnh Bình Thuận, phương tiện này bị lực lượng chức năng sở tại phát hiện và lập biên bản với lỗi chạy quá tốc độ quy định.Người vi phạm có thể nộp phạt qua dịch vụ công hoặc đến công an cấp huyện nơi thường trú để được giải quyết.Gặp tình huống nêu trên, nam tài xế thắc mắc mình có được nộp phạt vi phạm tại cơ quan công an nơi thường trú, hay phải vào tận tỉnh Bình Thuận để giải quyết trực tiếp?Trả lời nội dung này, một cán bộ cảnh sát giao thông chuyên trách công tác xử phạt vi phạm hành chính ở Hà Nội cho biết, hiện nay, quy trình phạt nguội ô tô và xe máy đang thực hiện theo Thông tư số 15/2022/TT-BCA sửa đổi, bổ sung Thông tư số 65/2020/TT-BCA ngày 19/6/2020. Cụ thể, sau khi xác minh làm rõ phương tiện và hành vi vi phạm, cán bộ chức năng tại nơi xảy ra vi phạm đó gửi thông báo cho người liên quan theo thông tin cư trú trên cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để chủ phương tiện, người điều khiển đến trụ sở làm việc. Trường hợp chủ phương tiện, người điều khiển không cư trú tại địa bàn đó, cán bộ chuyển kết quả vi phạm kèm hình ảnh cho công an cấp huyện nơi người đó cư trú để để giải quyết, xử lý vụ việc vi phạm. Như vậy, trường hợp của tài xế P.V.G hoàn toàn có thể đến Đội Cảnh sát giao thông - trật tự, Công an quận Hoàn Kiếm để được giải quyết. Khi làm việc, anh G cần xuất trình giấy tờ tùy thân (hoặc qua VNeiD) và giấy đăng ký phương tiện bản gốc.Sau khi có quyết định xử phạt vi phạm giao thông, tài xế vi phạm có thể nộp phạt theo một trong các cách quy định tại Điều 20 Nghị định 118/2021/NĐ-CP như sau:Một là, nộp tiền mặt trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước hoặc tại ngân hàng nơi Kho bạc Nhà nước mở tài khoản được ghi trong quyết định xử phạt giao thông.Hai là, chuyển khoản vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước được ghi trong quyết định xử phạt.Ba là, nộp phạt Cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc dịch vụ thanh toán điện tử của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1862, "text": "Một là, nộp tiền mặt trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước hoặc tại ngân hàng nơi Kho bạc Nhà nước mở tài khoản được ghi trong quyết định xử phạt giao thông.Hai là, chuyển khoản vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước được ghi trong quyết định xử phạt.Ba là, nộp phạt Cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc dịch vụ thanh toán điện tử của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán." } ], "id": "509", "is_impossible": false, "question": "Chủ xe ô tô nộp phạt ở đâu khi bị phạt nguội tại tỉnh ngoài?" } ] } ], "title": "Chủ xe ô tô nộp phạt ở đâu khi bị phạt nguội tại tỉnh ngoài?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Việc thẩm định, phê duyệt chi phí chuẩn bị dự án thực hiện theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Ảnh minh họa. Đơn vị của ông Nguyễn Hoàng Thanh (Thành phố Hồ Chí Minh) làm chủ đầu tư một dự án sử dụng vốn đầu tư công, tổng mức đầu tư 9 tỷ đồng, thuộc trường hợp lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật; tổ chức lập, trình thẩm định và phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 theo quy trình rút gọn (quy hoạch tổng mặt bằng) theo Nghị định số 35/2023/NĐ-CP và được hướng dẫn xác định chi phí theo Thông tư số 02/2024/TT-BXD. Ông Thanh hỏi, việc thực hiện công tác tổ chức lập, trình thẩm định và phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 theo quy trình rút gọn để phục vụ báo cáo kinh tế - kỹ thuật có được sử dụng từ chi phí chuẩn bị đầu tư của dự án đầu tư công này không và có được tổng hợp vào tổng mức đầu tư của dự án và thanh quyết toán chung dự án hoàn thành hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng thì việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng phục vụ lập báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng là một trong những công việc thuộc giai đoạn chuẩn bị dự án. Việc thẩm định, phê duyệt chi phí chuẩn bị dự án thực hiện theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Căn cứ các quy định nêu trên, đề nghị ông nghiên cứu, tổ chức thực hiện phù hợp với các quy định của pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1013, "text": "Theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng thì việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng phục vụ lập báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng là một trong những công việc thuộc giai đoạn chuẩn bị dự án. Việc thẩm định, phê duyệt chi phí chuẩn bị dự án thực hiện theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Căn cứ các quy định nêu trên, đề nghị ông nghiên cứu, tổ chức thực hiện phù hợp với các quy định của pháp luật." } ], "id": "510", "is_impossible": false, "question": "Công việc nào được sử dụng chi phí chuẩn bị dự án?" } ] } ], "title": "Công việc nào được sử dụng chi phí chuẩn bị dự án?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Khoản 2 Điều 10 Thông tư 32 của Bộ Công an quy định, CSGT tổ chức lực lượng tại một điểm trên đường giao thông, tại Trạm CSGT theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền ban hành để thực hiện kiểm soát, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm hành chính về giao thông đường bộ và các hành vi vi phạm pháp luật khác theo quy định.Tại một điểm trên đường giao thông, lựa chọn địa điểm, mặt đường rộng, thoáng, không che khuất tầm nhìn và đúng quy định của pháp luật giao thông đường bộ.Khi tuần tra, kiểm soát, CSGT sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ (camera) được trang bị để ghi hình quá trình kiểm soát. Kiểm soát vào buổi tối, ban đêm phải có đèn chiếu sáng và bảo đảm đủ ánh sáng.Tuần tra, kiểm soát cơ động kết hợp với kiểm soát tại một điểm trên đường giao thông, tại Trạm CSGT được quy định như sau: Khi tuần tra, kiểm soát cơ động được kiểm soát tại một điểm trên đường giao thông, tại Trạm CSGT hoặc khi kiểm soát tại một điểm trên đường giao thông. Khi lập chốt được tuần tra, kiểm soát cơ động nhưng phải ghi rõ trong kế hoạch tuần tra, kiểm soát đã được cấp có thẩm quyền ban hành.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 813, "text": "Khi tuần tra, kiểm soát cơ động được kiểm soát tại một điểm trên đường giao thông, tại Trạm CSGT hoặc khi kiểm soát tại một điểm trên đường giao thông. Khi lập chốt được tuần tra, kiểm soát cơ động nhưng phải ghi rõ trong kế hoạch tuần tra, kiểm soát đã được cấp có thẩm quyền ban hành." } ], "id": "511", "is_impossible": false, "question": "Việc lập chốt kiểm tra, xử lý vi phạm của CSGT được quy định ra sao?" } ] } ], "title": "Việc lập chốt kiểm tra, xử lý vi phạm của CSGT được quy định ra sao?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Thông tư 32 của Bộ Công an quy định, trường hợp không có lực lượng CSGT đi cùng thì công an xã vẫn được thực hiện việc tuần tra, kiểm soát theo kế hoạch đã được phê duyệt, sau đó phải báo cáo tình hình, kết quả hoạt động tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm cho lực lượng CSGT.Tuy nhiên, công an xã chỉ được tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên các tuyến đường xã và đường khác thuộc địa bàn xã quản lý.Cũng theo Thông tư 32, công an xã được dừng xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe thô sơ để xử phạt các lỗi bao gồm: Không đội mũ bảo hiểm theo quy định; Chở quá số người; Chở hàng hóa cồng kềnh, quá kích thước giới hạn; Dừng, đỗ xe không đúng quy định; Phóng nhanh, lạng lách, đánh võng; Không có gương chiếu hậu ở bên trái; Sử dụng ô (dù); Chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện.Ngoài ra, nếu phát hiện phương tiện giao thông vi phạm nghiêm trọng về trật tự, an toàn giao thông, an ninh, trật tự xã hội mà không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội thì cũng được xử lý theo quy định.Trong quá trình xử lý vi phạm, nếu phát hiện hành vi vi phạm khác thì được xử lý theo thẩm quyền, nếu vượt quá thẩm quyền thì công an xã lập biên bản và báo cáo cấp có thẩm quyền ra quyết định xử phạt.Như vậy, công an xã được phép dừng để kiểm tra, xử lý người đi xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe thô sơ khi có những dấu hiệu vi phạm các lỗi kể trên, dù không có lực lượng CSGT đi cùng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 521, "text": "Không đội mũ bảo hiểm theo quy định; Chở quá số người; Chở hàng hóa cồng kềnh, quá kích thước giới hạn; Dừng, đỗ xe không đúng quy định; Phóng nhanh, lạng lách, đánh võng; Không có gương chiếu hậu ở bên trái; Sử dụng ô (dù); Chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện.Ngoài ra, nếu phát hiện phương tiện giao thông vi phạm nghiêm trọng về trật tự, an toàn giao thông, an ninh, trật tự xã hội mà không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội thì cũng được xử lý theo quy định.Trong quá trình xử lý vi phạm, nếu phát hiện hành vi vi phạm khác thì được xử lý theo thẩm quyền, nếu vượt quá thẩm quyền thì công an xã lập biên bản và báo cáo cấp có thẩm quyền ra quyết định xử phạt.Như vậy, công an xã được phép dừng để kiểm tra, xử lý người đi xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe thô sơ khi có những dấu hiệu vi phạm các lỗi kể trên, dù không có lực lượng CSGT đi cùng." } ], "id": "512", "is_impossible": false, "question": "Công an xã có được dừng xe xử phạt?" } ] } ], "title": "Công an xã có được dừng xe xử phạt?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) – Tại Mục 1.1 QCVN 18:2021/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong thi công xây dựng thì công việc bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị lắp đặt vào công trình điện gió là công việc bảo trì công trình xây dựng. Ảnh minh họa. Ông Lê Trung Lộc (Đồng Nai) làm việc tại trang trại điện gió, công việc chủ yếu là bảo dưỡng, sữa chữa các hư hỏng trên cánh quạt bằng hình thức leo dây tiếp cận, hoặc dùng sàn thao tác, công việc chịu ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết. Ông Lộc tham khảo QCVN 18:2021/BXD, trong đó Mục 2.1.11.2 (a) có nêu, cấm người làm việc trong điều kiện thời tiết có áp thấp nhiệt đới, bão hoặc gió mạnh ứng với cấp gió từ cấp 5 trở lên. Tại Mục 1.1.2.1(b) thì phạm vi điều chỉnh của bộ quy chuẩn này liệt kê các công trình như trụ, tháp, cột... Ông Lộc hỏi, đối với hoạt động làm việc trên cao tại các trang trại, tuabine điện gió để bảo dưỡng, sửa chữa, trang thiết bị có phải tuân theo bộ quy chuẩn quốc gia trên không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo nội dung trình bày trong câu hỏi thì công việc của ông Lê Trung Lộc là làm việc trên cao tại trang trại, tuabine điện gió để bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị lắp đặt vào công trình (bảo dưỡng, sửa chữa các hư hỏng trên cánh quạt tuabine công trình điện gió). Trong trường hợp này, theo quy định tại Khoản 38 Điều 2 và Điều 33 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, Mục 1.1 QCVN 18:2021/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong thi công xây dựng thì công việc bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị lắp đặt vào công trình nêu trên là công việc bảo trì công trình xây dựng. Việc thực hiện bảo trì công trình xây dựng phải tuân thủ các điều kiện nhằm bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh môi trường tại quy trình bảo trì công trình xây dựng được chủ đầu tư phê duyệt theo quy định pháp luật và các quy định tại Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, QCVN 18:2021/BXD và các quy định pháp luật khác có liên quan.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 33, "text": "2021/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong thi công xây dựng thì công việc bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị lắp đặt vào công trình điện gió là công việc bảo trì công trình xây dựng. Ảnh minh họa. Ông Lê Trung Lộc (Đồng Nai) làm việc tại trang trại điện gió, công việc chủ yếu là bảo dưỡng, sữa chữa các hư hỏng trên cánh quạt bằng hình thức leo dây tiếp cận, hoặc dùng sàn thao tác, công việc chịu ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết. Ông Lộc tham khảo QCVN 18:2021/BXD, trong đó Mục 2.1.11.2 (a) có nêu, cấm người làm việc trong điều kiện thời tiết có áp thấp nhiệt đới, bão hoặc gió mạnh ứng với cấp gió từ cấp 5 trở lên. Tại Mục 1.1.2.1(b) thì phạm vi điều chỉnh của bộ quy chuẩn này liệt kê các công trình như trụ, tháp, cột... Ông Lộc hỏi, đối với hoạt động làm việc trên cao tại các trang trại, tuabine điện gió để bảo dưỡng, sửa chữa, trang thiết bị có phải tuân theo bộ quy chuẩn quốc gia trên không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo nội dung trình bày trong câu hỏi thì công việc của ông Lê Trung Lộc là làm việc trên cao tại trang trại, tuabine điện gió để bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị lắp đặt vào công trình (bảo dưỡng, sửa chữa các hư hỏng trên cánh quạt tuabine công trình điện gió). Trong trường hợp này, theo quy định tại Khoản 38 Điều 2 và Điều 33 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, Mục 1.1 QCVN 18:2021/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong thi công xây dựng thì công việc bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị lắp đặt vào công trình nêu trên là công việc bảo trì công trình xây dựng. Việc thực hiện bảo trì công trình xây dựng phải tuân thủ các điều kiện nhằm bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh môi trường tại quy trình bảo trì công trình xây dựng được chủ đầu tư phê duyệt theo quy định pháp luật và các quy định tại Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, QCVN 18:2021/BXD và các quy định pháp luật khác có liên quan." } ], "id": "513", "is_impossible": false, "question": "Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong thi công, bảo trì công trình điện gió" } ] } ], "title": "Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong thi công, bảo trì công trình điện gió" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Ban quản trị cụm nhà chung cư The Pride (sau đây gọi chung là Ban quản trị) xin hướng dẫn về diện tích sở hữu chung, sở hữu riêng tại cụm nhà chung cư The Pride, phường La Khê, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội. Cụm nhà chung cư The Pride, phường La Khê, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng đã có ý kiến như sau: Theo Văn bản số 05/CV-BQT ngày 04/9/2024 của Ban quản trị thì dự án The Pride được đầu tư xây dựng trước thời điểm Luật Nhà ở năm 2014 có hiệu lực thi hành. Tại khoản 2, khoản 3 Điều 70 Luật Nhà ở năm 2005 và Điều 49 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở đã quy định cụ thể phần sở hữu riêng, sở hữu chung trong nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu. Tại điểm c khoản 2 Điều 49 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ đã quy định: Nơi để xe (xe đạp, xe cho người tàn tật, xe động cơ hai bánh) được xây dựng theo quy chuẩn xây dựng và có thể bố trí tại tầng hầm hoặc tại tầng một hoặc tại phần diện tích khác trong hoặc ngoài nhà chung cư. Đối với khu vực để xe ô tô thì phải xây dựng theo quy chuẩn xây dựng nhưng do chủ đầu tư quyết định thuộc quyền sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư hoặc thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư. Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 49 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ đã quy định: Phần sở hữu riêng và phần sở hữu chung nhà chung cư quy định tại điều này phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán căn hộ chung cư.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 385, "text": "Theo Văn bản số 05/CV-BQT ngày 04/9/2024 của Ban quản trị thì dự án The Pride được đầu tư xây dựng trước thời điểm Luật Nhà ở năm 2014 có hiệu lực thi hành. Tại khoản 2, khoản 3 Điều 70 Luật Nhà ở năm 2005 và Điều 49 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở đã quy định cụ thể phần sở hữu riêng, sở hữu chung trong nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu. Tại điểm c khoản 2 Điều 49 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ đã quy định: Nơi để xe (xe đạp, xe cho người tàn tật, xe động cơ hai bánh) được xây dựng theo quy chuẩn xây dựng và có thể bố trí tại tầng hầm hoặc tại tầng một hoặc tại phần diện tích khác trong hoặc ngoài nhà chung cư. Đối với khu vực để xe ô tô thì phải xây dựng theo quy chuẩn xây dựng nhưng do chủ đầu tư quyết định thuộc quyền sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư hoặc thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư. Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 49 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ đã quy định: Phần sở hữu riêng và phần sở hữu chung nhà chung cư quy định tại điều này phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán căn hộ chung cư." } ], "id": "514", "is_impossible": false, "question": "Diện tích sở hữu chung, sở hữu riêng nhà chung cư" } ] } ], "title": "Diện tích sở hữu chung, sở hữu riêng nhà chung cư" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Nội dung và yêu cầu công việc tham gia kiểm tra công tác nghiệm thu thực hiện theo yêu cầu của cơ quan chuyên môn về xây dựng. Hợp đồng được ký kết và thanh toán theo các quy định của pháp luật về hợp đồng, về thanh toán, quyết toán và quy định của pháp luật khác có liên quan áp dụng cho hợp đồng. Ảnh minh hoạ. Theo phản ánh của ông Vy Hoàng Minh (Lạng Sơn), tại Khoản 4 Điều 16 Thông tư số 10/2021/TT-BXD có nêu: \"... Trường hợp cơ quan chuyên môn về xây dựng mời tổ chức, cá nhân có năng lực phù hợp tham gia thực hiện việc kiểm tra, chủ đầu tư thực hiện ký hợp đồng và thanh toán theo quy định...\". Như vậy chủ đầu tư ký hợp đồng với tổ chức (cá nhân) tham gia thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng là phát sinh thêm gói thầu tư vấn. Chi phí kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng đã có trong tổng mức đầu tư của dự án. Tuy nhiên, chủ đầu tư không lường trước được việc cơ quan chuyên môn về xây dựng có mời hay không mời tổ chức, cá nhân có năng lực phù hợp tham gia thực hiện việc kiểm tra (cơ quan chuyên môn là cơ quan thẩm định). Vì vậy, chủ đầu tư không trình kế hoạch lựa chọn nhà thầu với gói thầu tư vấn này ở giai đoạn chuẩn bị dự án. Mặt khác, nếu chủ đầu tư ký hợp đồng với đơn vị tư vấn kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng thì đây là hợp đồng trách nhiệm giữa chủ đầu tư (bên A) với đơn vị tư vấn kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng (bên B) thì sẽ có sự ràng buộc bởi các điều khoản hợp đồng. Như vậy, công việc này không còn sự minh bạch trong công tác kiểm tra điều kiện nghiệm thu đối với cơ quan chuyên môn. Khoản 7 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ quy định: \"Việc kiểm tra công tác nghiệm thu của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều này không thay thế, không làm giảm trách nhiệm của chủ đầu tư về công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng và trách nhiệm của các nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng về chất lượng công trình xây dựng đối với phần việc do mình thực hiện theo quy định của pháp luật\". Theo nội dung này thì chủ đầu tư không thể ký hợp đồng với gói thầu tư vấn này được, bởi khi chủ đầu tư ký hợp đồng với đơn vị tư vấn cần có sự công bằng và chịu trách nhiệm của mỗi bên tham gia ký kết hợp đồng và các điều khoản khác theo quy định của hợp đồng. Ông Vy Hoàng Minh hỏi, \"theo quy định\" ở đây là như thế nào? Có áp dụng theo sự ràng buộc hợp đồng của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Về kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng, căn cứ quy định tại Điểm d Khoản 6 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng thì \"Cơ quan có thẩm quyền được mời các tổ chức, cá nhân có năng lực phù hợp tham gia thực hiện việc kiểm tra công tác nghiệm thu\". Theo quy định tại Khoản 8 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP thì \"Chi phí cho việc kiểm tra công tác nghiệm thu trong quá trình thi công và khi hoàn thành thi công xây dựng do chủ đầu tư lập dự toán, thẩm định, phê duyệt và được tính trong tổng mức đầu tư xây dựng công trình\". Theo Khoản 2 Điều 16 Thông tư số 10/2021/TT-BXD ngày 25/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số điều và biện pháp thi hành Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 và Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ và pháp luật về quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì \"Chi phí kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng là một thành phần chi phí thuộc khoản mục chi phí khác và được tính trong tổng mức đầu tư xây dựng\". Khoản 3 Điều 6 Thông tư số 10/2021/TT-BXD cũng đã hướng dẫn rõ những căn cứ, cơ sở để lập dự toán chi phí cho việc kiểm tra công tác nghiệm thu trong quá trình thi công và hoàn thành thi công xây dựng. Khoản 7 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP quy định trách nhiệm của các nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng liên quan đến công trình, không quy định cho các tổ chức, cá nhân tham gia công tác kiểm tra, nghiệm thu theo yêu cầu của cơ quan chuyên môn về xây dựng. Như vậy, theo các quy định nêu trên thì nội dung và yêu cầu công việc tham gia kiểm tra công tác nghiệm thu thực hiện theo yêu cầu của cơ quan chuyên môn về xây dựng. Hợp đồng được ký kết và thanh toán theo các quy định của pháp luật về hợp đồng, các quy định về thanh toán, quyết toán và quy định của pháp luật khác có liên quan áp dụng cho hợp đồng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 429, "text": "\"... Trường hợp cơ quan chuyên môn về xây dựng mời tổ chức, cá nhân có năng lực phù hợp tham gia thực hiện việc kiểm tra, chủ đầu tư thực hiện ký hợp đồng và thanh toán theo quy định...\". Như vậy chủ đầu tư ký hợp đồng với tổ chức (cá nhân) tham gia thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng là phát sinh thêm gói thầu tư vấn. Chi phí kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng đã có trong tổng mức đầu tư của dự án. Tuy nhiên, chủ đầu tư không lường trước được việc cơ quan chuyên môn về xây dựng có mời hay không mời tổ chức, cá nhân có năng lực phù hợp tham gia thực hiện việc kiểm tra (cơ quan chuyên môn là cơ quan thẩm định). Vì vậy, chủ đầu tư không trình kế hoạch lựa chọn nhà thầu với gói thầu tư vấn này ở giai đoạn chuẩn bị dự án. Mặt khác, nếu chủ đầu tư ký hợp đồng với đơn vị tư vấn kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng thì đây là hợp đồng trách nhiệm giữa chủ đầu tư (bên A) với đơn vị tư vấn kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng (bên B) thì sẽ có sự ràng buộc bởi các điều khoản hợp đồng. Như vậy, công việc này không còn sự minh bạch trong công tác kiểm tra điều kiện nghiệm thu đối với cơ quan chuyên môn. Khoản 7 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ quy định: \"Việc kiểm tra công tác nghiệm thu của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều này không thay thế, không làm giảm trách nhiệm của chủ đầu tư về công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng và trách nhiệm của các nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng về chất lượng công trình xây dựng đối với phần việc do mình thực hiện theo quy định của pháp luật\". Theo nội dung này thì chủ đầu tư không thể ký hợp đồng với gói thầu tư vấn này được, bởi khi chủ đầu tư ký hợp đồng với đơn vị tư vấn cần có sự công bằng và chịu trách nhiệm của mỗi bên tham gia ký kết hợp đồng và các điều khoản khác theo quy định của hợp đồng. Ông Vy Hoàng Minh hỏi, \"theo quy định\" ở đây là như thế nào? Có áp dụng theo sự ràng buộc hợp đồng của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Về kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng, căn cứ quy định tại Điểm d Khoản 6 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng thì \"Cơ quan có thẩm quyền được mời các tổ chức, cá nhân có năng lực phù hợp tham gia thực hiện việc kiểm tra công tác nghiệm thu\". Theo quy định tại Khoản 8 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP thì \"Chi phí cho việc kiểm tra công tác nghiệm thu trong quá trình thi công và khi hoàn thành thi công xây dựng do chủ đầu tư lập dự toán, thẩm định, phê duyệt và được tính trong tổng mức đầu tư xây dựng công trình\". Theo Khoản 2 Điều 16 Thông tư số 10/2021/TT-BXD ngày 25/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số điều và biện pháp thi hành Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 và Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ và pháp luật về quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì \"Chi phí kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng là một thành phần chi phí thuộc khoản mục chi phí khác và được tính trong tổng mức đầu tư xây dựng\". Khoản 3 Điều 6 Thông tư số 10/2021/TT-BXD cũng đã hướng dẫn rõ những căn cứ, cơ sở để lập dự toán chi phí cho việc kiểm tra công tác nghiệm thu trong quá trình thi công và hoàn thành thi công xây dựng. Khoản 7 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP quy định trách nhiệm của các nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng liên quan đến công trình, không quy định cho các tổ chức, cá nhân tham gia công tác kiểm tra, nghiệm thu theo yêu cầu của cơ quan chuyên môn về xây dựng. Như vậy, theo các quy định nêu trên thì nội dung và yêu cầu công việc tham gia kiểm tra công tác nghiệm thu thực hiện theo yêu cầu của cơ quan chuyên môn về xây dựng. Hợp đồng được ký kết và thanh toán theo các quy định của pháp luật về hợp đồng, các quy định về thanh toán, quyết toán và quy định của pháp luật khác có liên quan áp dụng cho hợp đồng." } ], "id": "515", "is_impossible": false, "question": "Ký hợp đồng kiểm tra công tác nghiệm thu thế nào?" } ] } ], "title": "Ký hợp đồng kiểm tra công tác nghiệm thu thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Công ty Cổ phần Dịch vụ đô thị PSP (sau đây gọi tắt là Công ty PSP) xin hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc quản lý vận hành nhà chung cư. Ảnh minh họa. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng đã có ý kiến như sau: Về mục 1 nêu tại Văn bản số 2181/2024/CV-PSP: Theo quy định tại khoản 2 Điều 151 Luật Nhà ở 2023 thì: “Giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư không bao gồm kinh phí mua bảo hiểm cháy, nổ, kinh phí bảo trì, chi phí trông giữ xe, chi phí sử dụng nhiên liệu, năng lượng, nước sinh hoạt, dịch vụ truyền hình, thông tin liên lạc, thù lao cho Ban quản trị nhà chung cư và chi phí dịch vụ khác phục vụ cho việc sử dụng riêng của chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư”; Tại khoản 1 Điều 7 của Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Thông tư số 05/2024/TT-BXD ngày 31/7/2024 của Bộ Xây dựng (sau đây gọi tắt là Quy chế 05) đã quy định các công việc của hoạt động quản lý vận hành bao gồm: Điều khiển duy trì hoạt động, kiểm tra thường xuyên hệ thống thang máy, bảo dưỡng máy bơm nước, máy phát điện, hệ thống báo cháy tự động... để đảm bảo cho hệ thống thiết bị này hoạt động bình thường. Về mục 2 nêu tại Văn bản số 2181/2024/CV-PSP: Tại khoản 4 Điều 153 Luật Nhà ở 2023 đã quy định: Trường hợp nhà chung cư có nguồn thu từ việc khai thác dịch vụ đối với phần sở hữu chung thì phải nộp vào tài khoản kinh phí bảo trì do Ban quản trị nhà chung cư quản lý hoặc người được giao quản lý tài khoản kinh phí bảo trì đối với trường hợp không bắt buộc thành lập Ban quản trị nhà chung cư để bảo trì nhà chung cư; Nguồn thu quy định tại khoản này và lãi phát sinh từ tiền gửi kinh phí bảo trì được sử dụng vào việc bảo trì nhà chung cư; Luật Nhà ở 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định khấu trừ chi phí để duy trì vận hành đối với phần sở hữu chung như nêu trong Văn bản số 2181/2024/CV-PSP ngày 21/8/2024 của Công ty PSP; việc chi trả các chi phí khi khai thác dịch vụ, việc thanh toán của đơn vị khai thác dịch vụ được thực hiện theo hợp đồng; Ngoài ra, Luật Nhà ở 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định về xử lý chuyển tiếp đối với các nội dung của hợp đồng dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư mà Ban quản trị nhà chung cư đã ký với đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư trước ngày Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực thi hành. Về mục 3 nêu tại Văn bản số 2181/2024/CV-PSP: Theo quy định tại điểm e, điểm g khoản 1 Điều 1, khoản 1 Điều 46 Quy chế 05 thì việc xử lý chuyển tiếp quy định tại khoản 1 Điều 46 Quy chế 05 được áp dụng cho nhà ở nhiều tầng nhiều căn hộ của cá nhân được xây dựng để bán, cho thuê mua, cho thuê theo quy định tại Điều 57 của Luật Nhà ở 2023. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc liên quan đến các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng nhà chung cư thì đề nghị Công ty PSP liên hệ với Sở Xây dựng Hà Nội là cơ quan quản lý Nhà nước về nhà ở trên địa bàn để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 263, "text": "Về mục 1 nêu tại Văn bản số 2181/2024/CV-PSP: Theo quy định tại khoản 2 Điều 151 Luật Nhà ở 2023 thì: “Giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư không bao gồm kinh phí mua bảo hiểm cháy, nổ, kinh phí bảo trì, chi phí trông giữ xe, chi phí sử dụng nhiên liệu, năng lượng, nước sinh hoạt, dịch vụ truyền hình, thông tin liên lạc, thù lao cho Ban quản trị nhà chung cư và chi phí dịch vụ khác phục vụ cho việc sử dụng riêng của chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư”; Tại khoản 1 Điều 7 của Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Thông tư số 05/2024/TT-BXD ngày 31/7/2024 của Bộ Xây dựng (sau đây gọi tắt là Quy chế 05) đã quy định các công việc của hoạt động quản lý vận hành bao gồm: Điều khiển duy trì hoạt động, kiểm tra thường xuyên hệ thống thang máy, bảo dưỡng máy bơm nước, máy phát điện, hệ thống báo cháy tự động... để đảm bảo cho hệ thống thiết bị này hoạt động bình thường. Về mục 2 nêu tại Văn bản số 2181/2024/CV-PSP: Tại khoản 4 Điều 153 Luật Nhà ở 2023 đã quy định: Trường hợp nhà chung cư có nguồn thu từ việc khai thác dịch vụ đối với phần sở hữu chung thì phải nộp vào tài khoản kinh phí bảo trì do Ban quản trị nhà chung cư quản lý hoặc người được giao quản lý tài khoản kinh phí bảo trì đối với trường hợp không bắt buộc thành lập Ban quản trị nhà chung cư để bảo trì nhà chung cư; Nguồn thu quy định tại khoản này và lãi phát sinh từ tiền gửi kinh phí bảo trì được sử dụng vào việc bảo trì nhà chung cư; Luật Nhà ở 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định khấu trừ chi phí để duy trì vận hành đối với phần sở hữu chung như nêu trong Văn bản số 2181/2024/CV-PSP ngày 21/8/2024 của Công ty PSP; việc chi trả các chi phí khi khai thác dịch vụ, việc thanh toán của đơn vị khai thác dịch vụ được thực hiện theo hợp đồng; Ngoài ra, Luật Nhà ở 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định về xử lý chuyển tiếp đối với các nội dung của hợp đồng dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư mà Ban quản trị nhà chung cư đã ký với đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư trước ngày Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực thi hành. Về mục 3 nêu tại Văn bản số 2181/2024/CV-PSP: Theo quy định tại điểm e, điểm g khoản 1 Điều 1, khoản 1 Điều 46 Quy chế 05 thì việc xử lý chuyển tiếp quy định tại khoản 1 Điều 46 Quy chế 05 được áp dụng cho nhà ở nhiều tầng nhiều căn hộ của cá nhân được xây dựng để bán, cho thuê mua, cho thuê theo quy định tại Điều 57 của Luật Nhà ở 2023. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc liên quan đến các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng nhà chung cư thì đề nghị Công ty PSP liên hệ với Sở Xây dựng Hà Nội là cơ quan quản lý Nhà nước về nhà ở trên địa bàn để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền." } ], "id": "516", "is_impossible": false, "question": "Quản lý vận hành nhà chung cư" } ] } ], "title": "Quản lý vận hành nhà chung cư" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Việc bổ sung hạng mục đầu tư mới, nếu thuộc các trường hợp được điều chỉnh dự án theo quy định tại Khoản 1 Điều 61 Luật Xây dựng thì cấp quyết định đầu tư xem xét, quyết định việc điều chỉnh dự án (bao gồm cả điều chỉnh tổng mức đầu tư, không liên quan đến việc sử dụng chi phí do giảm thuế GTGT). Ảnh minh họa. Theo phản ánh của ông Thịnh Đức Hùng (Ninh Bình), Chính phủ đã ban hành Nghị định số 72/2024/NĐ-CP quy định chính sách giảm thuế GTGT theo Nghị quyết số 142/2024/QH15 của Quốc hội. Do đó, đối với các gói thầu xây dựng đã ký hợp đồng (với đơn giá bao gồm thuế GTGT 10%) khi nghiệm thu trong thời gian từ ngày 1/7/2024 đến ngày 31/12/2024 sẽ áp dụng đơn giá với mức thuế GTGT 8%, tức là sẽ có khoản giảm thuế GTGT 2% dư ra. Thực tế, ông Thịnh Đức Hùng thấy có một số chủ đầu tư dự án sử dụng ngân sách nhà nước, có thời gian thực hiện dự án đến ngày 31/12/2024 đang lấy chi phí do mức giảm thuế GTGT 2% của các gói thầu với hình thức hợp đồng trọn gói (mẫu hợp đồng áp dụng theo Thông tư số 02/2023/TT-BXD ngày 3/3/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, chi phí của dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng, Nghị định số 50/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng) để bổ sung hạng mục mới, tổng mức đầu tư không vượt tổng mức đầu tư đã phê duyệt. Đối với việc làm trên, các cơ quan ở địa phương ông Thịnh Đức Hùng đang có 2 quan điểm: Quan điểm 1: Chủ đầu tư không được dùng mức giảm thuế GTGT 2% của các gói thầu với hình thức hợp đồng trọn gói để đầu tư bổ sung hạng mục mới. Quan điểm 2: Chủ đầu tư được dùng khoản giảm thuế GTGT 2% của các gói thầu nêu trên để đầu tư bổ sung hạng mục mới. Ông Thịnh Đức Hùng hỏi, việc làm của các chủ đầu tư đối với các gói thầu trọn gói của các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước nêu trên thì quan điểm 1 hay quan điểm 2 là đúng? Hoặc trong trường hợp nào với điều kiện nào thì quan điểm nào đúng? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc quản lý dự án đầu tư xây dựng thực hiện theo các quy định của Luật Xây dựng và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Luật Xây dựng có liên quan theo từng thời kỳ (Nghị định quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng, Nghị định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng…). Theo đó, đối với việc bổ sung hạng mục đầu tư mới, nếu thuộc các trường hợp được điều chỉnh dự án theo quy định tại Khoản 1 Điều 61 Luật Xây dựng thì cấp quyết định đầu tư xem xét, quyết định việc điều chỉnh dự án (bao gồm cả điều chỉnh tổng mức đầu tư) (không liên quan đến việc sử dụng chi phí do giảm thuế GTGT). Đối với việc sử dụng chi phí do giảm thuế GTGT để thực hiện các nội dung đầu tư ngoài phạm vi dự án, đề nghị ông xin ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để được hướng dẫn.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1562, "text": "Quan điểm 1: Chủ đầu tư không được dùng mức giảm thuế GTGT 2% của các gói thầu với hình thức hợp đồng trọn gói để đầu tư bổ sung hạng mục mới. Quan điểm 2: Chủ đầu tư được dùng khoản giảm thuế GTGT 2% của các gói thầu nêu trên để đầu tư bổ sung hạng mục mới. Ông Thịnh Đức Hùng hỏi, việc làm của các chủ đầu tư đối với các gói thầu trọn gói của các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước nêu trên thì quan điểm 1 hay quan điểm 2 là đúng? Hoặc trong trường hợp nào với điều kiện nào thì quan điểm nào đúng? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc quản lý dự án đầu tư xây dựng thực hiện theo các quy định của Luật Xây dựng và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Luật Xây dựng có liên quan theo từng thời kỳ (Nghị định quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng, Nghị định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng…). Theo đó, đối với việc bổ sung hạng mục đầu tư mới, nếu thuộc các trường hợp được điều chỉnh dự án theo quy định tại Khoản 1 Điều 61 Luật Xây dựng thì cấp quyết định đầu tư xem xét, quyết định việc điều chỉnh dự án (bao gồm cả điều chỉnh tổng mức đầu tư) (không liên quan đến việc sử dụng chi phí do giảm thuế GTGT). Đối với việc sử dụng chi phí do giảm thuế GTGT để thực hiện các nội dung đầu tư ngoài phạm vi dự án, đề nghị ông xin ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để được hướng dẫn." } ], "id": "517", "is_impossible": false, "question": "Có được dùng chi phí giảm thuế để bổ sung hạng mục mới?" } ] } ], "title": "Có được dùng chi phí giảm thuế để bổ sung hạng mục mới?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Khoản 9 Điều 1 Nghị định số 89/2021/NĐ-CP quy định viên chức có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật được sử dụng thay thế chứng chỉ chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành tương ứng. Ảnh minh họa. Ông Vũ Sơn (Lai Châu) hỏi, chứng chỉ hành nghề nào trong trường hợp trên thì được thay thế chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp khi bổ nhiệm chức danh Thẩm kế viên hạng III? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm Thẩm kế viên hạng III thuộc ngành, lĩnh vực xây dựng được quy định tại Phụ lục IV Thông tư số 10/2023/TT-BXD ngày 20/10/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn về vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý và chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực xây dựng. Phạm vi hoạt động của chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng được quy định tại Phụ lục VI Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 1/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; được sửa đổi tại Khoản 9 Điều 1 Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021 của Chính phủ: \"Viên chức có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật được sử dụng thay thế chứng chỉ chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành tương ứng\". Với các quy định nêu trên, đề nghị ông nghiên cứu áp dụng để thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 501, "text": "Bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm Thẩm kế viên hạng III thuộc ngành, lĩnh vực xây dựng được quy định tại Phụ lục IV Thông tư số 10/2023/TT-BXD ngày 20/10/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn về vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý và chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực xây dựng. Phạm vi hoạt động của chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng được quy định tại Phụ lục VI Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 1/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; được sửa đổi tại Khoản 9 Điều 1 Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021 của Chính phủ: \"Viên chức có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật được sử dụng thay thế chứng chỉ chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành tương ứng\". Với các quy định nêu trên, đề nghị ông nghiên cứu áp dụng để thực hiện theo đúng quy định của pháp luật." } ], "id": "518", "is_impossible": false, "question": "Được dùng chứng chỉ hành nghề để bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp" } ] } ], "title": "Được dùng chứng chỉ hành nghề để bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Theo quy định, văn bản thông báo khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư của cơ quan có thẩm quyền là cơ sở để UBND cấp tỉnh xác định danh mục các dự án đầu tư xây dựng nhà ở trên địa bàn mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép sở hữu nhà ở. Ảnh minh họa. Theo phản ánh của ông Nguyễn Tùng Linh (Hà Nội), Khoản 2 Điều 16 Luật Nhà ở 2023 quy định: \\\\\"2. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm thông báo các khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh để UBND cấp tỉnh xác định và công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh và cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh danh mục dự án đầu tư xây dựng nhà ở trên địa bàn cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở\\\\\". Ông Nguyễn Tùng Linh hiểu rằng việc thông báo khu vực an ninh quốc phòng dự án nhà ở là của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng. Để thông báo cho 63 tỉnh thành thì cần khoảng 63 văn bản là đủ. Tuy nhiên Khoản 6 Điều 15 Nghị định số 95/2024/NĐ-CP hướng dẫn Luật Nhà ở lại quy định: \\\\\"6. Ngoài nội dung quy định tại Khoản 5 Điều này, cơ quan chủ trì thẩm định còn phải lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an về việc xác định dự án thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh hoặc không thuộc khu vực này, làm cơ sở đưa vào nội dung chấp thuận chủ trương đầu tư dự án để xác định dự án thuộc diện được phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở hoặc không được phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở\\\\\". Như vậy ông Nguyễn Tùng Linh hiểu, việc lấy ý kiến về dự án nhà ở được phép cho tổ chức cá nhân, nước ngoài phải lấy ý kiến cho từng dự án trên cả nước. Ông Nguyễn Tùng Linh hỏi, nội dung đã nêu tại Điều 15 Nghị định số 95/2024/NĐ-CP có phù hợp với Điều 16 Luật Nhà ở 2023 hay không? Việc phát sinh thêm thủ tục hành chính có phù hợp với chủ trương, chính sách của Nhà nước hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tại Khoản 2 Điều 16 Luật Nhà ở quy định: \\\\\"Điều 16. Khu vực tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam … 2. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm thông báo các khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh để UBND cấp tỉnh xác định và công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh và cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh danh mục dự án đầu tư xây dựng nhà ở trên địa bàn cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở\\\\\". Theo Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 95/2024/NĐ-CP ngày 24/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở: \\\\\"Điều 4. Yêu cầu về khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh 1. Khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Luật Nhà ở bao gồm: a) Khu vực giáp ranh khu vực trọng yếu cần bảo đảm quốc phòng, an ninh; b) Khu vực giáp ranh các doanh trại, trụ sở của lực lượng vũ trang và khu vực nằm trong quy hoạch đất quốc phòng, an ninh; c) Khu vực giáp ranh trụ sở, nhà làm việc của các cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan Đảng từ cấp tỉnh trở lên; d) Khu vực thuộc các xã, phường, thị trấn thuộc biên giới đất liền, biên giới biển, hải đảo theo quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh; đ) Khu vực hành lang bảo vệ công trình quan trọng liên quan an ninh quốc gia; e) Khu vực người nước ngoài không được tạm trú theo quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam\\\\\". Điểm a Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 95/2024/NĐ-CP quy định: \\\\\"2. Căn cứ các yêu cầu quy định tại Khoản 1 Điều này, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm: a) Trong thời hạn tối đa 06 tháng, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện xác định cụ thể các khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bảo đảm phù hợp với pháp luật bảo vệ bí mật Nhà nước để thông báo cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là UBND cấp tỉnh) làm căn cứ xác định danh mục các dự án đầu tư xây dựng nhà ở mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép sở hữu theo quy định tại Khoản 3 Điều này. Trong thời hạn tối đa 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm xác định danh mục các dự án quy định tại điểm này để thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này;\\\\\". Đồng thời, tại Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 95/2024/NĐ-CP quy định: \\\\\"3. Trên cơ sở thông báo của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quy định tại Khoản 2 Điều này và văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Khoản 6 Điều 15 của Nghị định này, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm xác định danh mục các dự án đầu tư xây dựng nhà ở trên địa bàn mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép sở hữu nhà ở và công bố công khai danh mục này trên Cổng thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh, đồng thời gửi cho cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh để đăng tải danh mục các dự án này trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan này\\\\\". Căn cứ quy định của pháp luật nêu trên, văn bản thông báo khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Khoản 6 Điều 15 Nghị định số 95/2024/NĐ-CP là cơ sở để UBND cấp tỉnh xác định danh mục các dự án đầu tư xây dựng nhà ở trên địa bàn mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép sở hữu nhà ở.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 431, "text": "\\\\\"2. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm thông báo các khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh để UBND cấp tỉnh xác định và công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh và cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh danh mục dự án đầu tư xây dựng nhà ở trên địa bàn cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở\\\\\". Ông Nguyễn Tùng Linh hiểu rằng việc thông báo khu vực an ninh quốc phòng dự án nhà ở là của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng. Để thông báo cho 63 tỉnh thành thì cần khoảng 63 văn bản là đủ. Tuy nhiên Khoản 6 Điều 15 Nghị định số 95/2024/NĐ-CP hướng dẫn Luật Nhà ở lại quy định: \\\\\"6. Ngoài nội dung quy định tại Khoản 5 Điều này, cơ quan chủ trì thẩm định còn phải lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an về việc xác định dự án thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh hoặc không thuộc khu vực này, làm cơ sở đưa vào nội dung chấp thuận chủ trương đầu tư dự án để xác định dự án thuộc diện được phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở hoặc không được phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở\\\\\". Như vậy ông Nguyễn Tùng Linh hiểu, việc lấy ý kiến về dự án nhà ở được phép cho tổ chức cá nhân, nước ngoài phải lấy ý kiến cho từng dự án trên cả nước. Ông Nguyễn Tùng Linh hỏi, nội dung đã nêu tại Điều 15 Nghị định số 95/2024/NĐ-CP có phù hợp với Điều 16 Luật Nhà ở 2023 hay không? Việc phát sinh thêm thủ tục hành chính có phù hợp với chủ trương, chính sách của Nhà nước hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tại Khoản 2 Điều 16 Luật Nhà ở quy định: \\\\\"Điều 16. Khu vực tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam … 2. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm thông báo các khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh để UBND cấp tỉnh xác định và công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh và cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh danh mục dự án đầu tư xây dựng nhà ở trên địa bàn cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở\\\\\". Theo Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 95/2024/NĐ-CP ngày 24/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở: \\\\\"Điều 4. Yêu cầu về khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh 1. Khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Luật Nhà ở bao gồm: a) Khu vực giáp ranh khu vực trọng yếu cần bảo đảm quốc phòng, an ninh; b) Khu vực giáp ranh các doanh trại, trụ sở của lực lượng vũ trang và khu vực nằm trong quy hoạch đất quốc phòng, an ninh; c) Khu vực giáp ranh trụ sở, nhà làm việc của các cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan Đảng từ cấp tỉnh trở lên; d) Khu vực thuộc các xã, phường, thị trấn thuộc biên giới đất liền, biên giới biển, hải đảo theo quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh; đ) Khu vực hành lang bảo vệ công trình quan trọng liên quan an ninh quốc gia; e) Khu vực người nước ngoài không được tạm trú theo quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam\\\\\". Điểm a Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 95/2024/NĐ-CP quy định: \\\\\"2. Căn cứ các yêu cầu quy định tại Khoản 1 Điều này, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm: a) Trong thời hạn tối đa 06 tháng, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện xác định cụ thể các khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bảo đảm phù hợp với pháp luật bảo vệ bí mật Nhà nước để thông báo cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là UBND cấp tỉnh) làm căn cứ xác định danh mục các dự án đầu tư xây dựng nhà ở mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép sở hữu theo quy định tại Khoản 3 Điều này. Trong thời hạn tối đa 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm xác định danh mục các dự án quy định tại điểm này để thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này;\\\\\". Đồng thời, tại Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 95/2024/NĐ-CP quy định: \\\\\"3. Trên cơ sở thông báo của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quy định tại Khoản 2 Điều này và văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Khoản 6 Điều 15 của Nghị định này, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm xác định danh mục các dự án đầu tư xây dựng nhà ở trên địa bàn mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép sở hữu nhà ở và công bố công khai danh mục này trên Cổng thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh, đồng thời gửi cho cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh để đăng tải danh mục các dự án này trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan này\\\\\". Căn cứ quy định của pháp luật nêu trên, văn bản thông báo khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Khoản 6 Điều 15 Nghị định số 95/2024/NĐ-CP là cơ sở để UBND cấp tỉnh xác định danh mục các dự án đầu tư xây dựng nhà ở trên địa bàn mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép sở hữu nhà ở." } ], "id": "519", "is_impossible": false, "question": "Xác định danh mục dự án nhà ở người nước ngoài được phép sở hữu" } ] } ], "title": "Xác định danh mục dự án nhà ở người nước ngoài được phép sở hữu" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Công ty Cổ phần Tập đoàn Đèo Cả xin hướng dẫn quyết toán hợp đồng gói thầu số 27 thuộc Dự án đường bao biển Quảng Ninh. Ảnh minh họa. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau: Việc thanh toán, quyết toán hợp đồng thi công xây dựng thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký kết, phù hợp với hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và các quy định của pháp luật áp dụng cho hợp đồng. Theo nội dung Văn bản số 971/2024/DCG ngày 25/7/2024, trong hồ sơ mời thầu, chi phí không xác định được khối lượng từ thiết kế (thuộc chi phí hạng mục chung) của gói thầu số 27 được mời tổng hợp có đơn vị tính là “khoản”, khối lượng mời thầu là “1” và nhà thầu chào thầu theo đơn giá tương ứng với khối lượng mời thầu; hợp đồng được ký kết giữa các bên áp dụng các quy định của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP. Theo đó, việc thanh toán, quyết toán chi phí không xác định được khối lượng từ thiết kế thực hiện theo quy định tại Điều 19, Điều 20 và Điều 22 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP tương ứng với hình thức giá hợp đồng đã ký kết giữa các bên và nguyên tắc tại mục 1 nêu trên.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 232, "text": "Việc thanh toán, quyết toán hợp đồng thi công xây dựng thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký kết, phù hợp với hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và các quy định của pháp luật áp dụng cho hợp đồng. Theo nội dung Văn bản số 971/2024/DCG ngày 25/7/2024, trong hồ sơ mời thầu, chi phí không xác định được khối lượng từ thiết kế (thuộc chi phí hạng mục chung) của gói thầu số 27 được mời tổng hợp có đơn vị tính là “khoản”, khối lượng mời thầu là “1” và nhà thầu chào thầu theo đơn giá tương ứng với khối lượng mời thầu; hợp đồng được ký kết giữa các bên áp dụng các quy định của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP. Theo đó, việc thanh toán, quyết toán chi phí không xác định được khối lượng từ thiết kế thực hiện theo quy định tại Điều 19, Điều 20 và Điều 22 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP tương ứng với hình thức giá hợp đồng đã ký kết giữa các bên và nguyên tắc tại mục 1 nêu trên." } ], "id": "520", "is_impossible": false, "question": "Hướng dẫn quyết toán gói thầu số 27 thuộc Dự án đường bao biển Quảng Ninh" } ] } ], "title": "Hướng dẫn quyết toán gói thầu số 27 thuộc Dự án đường bao biển Quảng Ninh" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Công ty Cổ phần Quản lý và Khai thác tòa nhà PSE xin hướng dẫn về việc thay đổi thông tin đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư. Ảnh minh họa. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau: Theo đó, tại khoản 6 Điều 198 của Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 quy định: Đối với đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư đã được đăng tải thông tin theo quy định của pháp luật về nhà ở trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì không phải làm thủ tục đề nghị có văn bản thông báo đơn vị đủ điều kiện quản lý vận hành nhà chung cư theo quy định của Luật này, trừ trường hợp có thay đổi về thông tin, nội dung cung cấp dịch vụ hoặc không đáp ứng điều kiện theo quy định của Luật này. Tại Điều 84 của Nghị định số 95/2024/NĐ-CP ngày 24/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở 2023 đã quy định điều kiện và hồ sơ đề nghị thông báo đơn vị đủ điều kiện thực hiện quản lý vận hành nhà chung cư. Đồng thời, tại Điều 85 của Nghị định này cũng quy định trình tự, thủ tục thông báo đơn vị đủ điều kiện thực hiện quản lý vận hành nhà chung cư. Do vậy, đề nghị Công ty đối chiếu trường hợp cụ thể của mình với quy định của pháp luật nêu trên để thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị công ty liên hệ với Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan quản lý Nhà nước về nhà ở trên địa bàn để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 240, "text": "Theo đó, tại khoản 6 Điều 198 của Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 quy định: Đối với đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư đã được đăng tải thông tin theo quy định của pháp luật về nhà ở trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì không phải làm thủ tục đề nghị có văn bản thông báo đơn vị đủ điều kiện quản lý vận hành nhà chung cư theo quy định của Luật này, trừ trường hợp có thay đổi về thông tin, nội dung cung cấp dịch vụ hoặc không đáp ứng điều kiện theo quy định của Luật này. Tại Điều 84 của Nghị định số 95/2024/NĐ-CP ngày 24/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở 2023 đã quy định điều kiện và hồ sơ đề nghị thông báo đơn vị đủ điều kiện thực hiện quản lý vận hành nhà chung cư. Đồng thời, tại Điều 85 của Nghị định này cũng quy định trình tự, thủ tục thông báo đơn vị đủ điều kiện thực hiện quản lý vận hành nhà chung cư. Do vậy, đề nghị Công ty đối chiếu trường hợp cụ thể của mình với quy định của pháp luật nêu trên để thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị công ty liên hệ với Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan quản lý Nhà nước về nhà ở trên địa bàn để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền." } ], "id": "521", "is_impossible": false, "question": "Thay đổi thông tin đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư" } ] } ], "title": "Thay đổi thông tin đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia nghiêm cấm hành vi \"Điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn\".Nghị định số 100 cũng đã quy định cụ thể chế tài xử phạt đối với người điều khiến phương tiện giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.Luật quy định chỉ xử phạt vi phạm nồng độ cồn với người điều khiển phương tiện giao thông, vì thế việc dắt xe sau khi đã uống rượu, bia sẽ không bị xử phạt.Tuy nhiên, cũng cần phân biệt giữa các tình huống dắt xe. Nếu sau khi uống rượu bia, tài xế dắt bộ từ quán nhậu về nhà hoặc địa điểm để xe thì không bị xử phạt vì người này không điều khiển phương tiện.Đối với hành vi đã uống rượu bia, đang điều khiển phương tiện nhưng khi thấy chốt kiểm tra nồng độ cồn, đối phó bằng cách xuống xe dắt bộ xe mô tô qua chốt kiểm soát nồng độ cồn thì sẽ bị xử lý.Lực lượng CSGT sẽ áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, xác minh làm rõ hành vi vi phạm để xử lý theo quy định của pháp luật.Biện pháp nghiệp vụ ở đây có thể hiểu là CSGT phát hiện trực tiếp, hoặc thông qua thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ (hình ảnh, video), hoặc nhân chứng… về việc tài xế đó có điều khiển phương tiện sau khi sử dụng rượu bia.Khi đầy đủ bằng chứng, cho dù người vi phạm đối phó, thậm chí không thừa nhận, lực lượng CSGT hoàn toàn có căn cứ để lập biên bản, xử phạt theo quy định pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia nghiêm cấm hành vi \"Điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn\".Nghị định số 100 cũng đã quy định cụ thể chế tài xử phạt đối với người điều khiến phương tiện giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.Luật quy định chỉ xử phạt vi phạm nồng độ cồn với người điều khiển phương tiện giao thông, vì thế việc dắt xe sau khi đã uống rượu, bia sẽ không bị xử phạt.Tuy nhiên, cũng cần phân biệt giữa các tình huống dắt xe. Nếu sau khi uống rượu bia, tài xế dắt bộ từ quán nhậu về nhà hoặc địa điểm để xe thì không bị xử phạt vì người này không điều khiển phương tiện.Đối với hành vi đã uống rượu bia, đang điều khiển phương tiện nhưng khi thấy chốt kiểm tra nồng độ cồn, đối phó bằng cách xuống xe dắt bộ xe mô tô qua chốt kiểm soát nồng độ cồn thì sẽ bị xử lý.Lực lượng CSGT sẽ áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, xác minh làm rõ hành vi vi phạm để xử lý theo quy định của pháp luật.Biện pháp nghiệp vụ ở đây có thể hiểu là CSGT phát hiện trực tiếp, hoặc thông qua thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ (hình ảnh, video), hoặc nhân chứng… về việc tài xế đó có điều khiển phương tiện sau khi sử dụng rượu bia.Khi đầy đủ bằng chứng, cho dù người vi phạm đối phó, thậm chí không thừa nhận, lực lượng CSGT hoàn toàn có căn cứ để lập biên bản, xử phạt theo quy định pháp luật." } ], "id": "522", "is_impossible": false, "question": "Uống rượu bia, dắt xe qua chốt CSGT có bị xử phạt?" } ] } ], "title": "Uống rượu bia, dắt xe qua chốt CSGT có bị xử phạt?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Theo phản ánh của ông Trần Ngọc Quý (Bình Dương), trước đây ông Trần Ngọc Quý thấy Bộ Xây dựng cấp các loại chứng chỉ thiết kế quy hoạch xây dựng (hạ tầng kỹ thuật, giao thông). Tuy nhiên, hiện nay Bộ chỉ cấp 1 loại chứng chỉ thiết kế quy hoạch xây dựng. Ảnh minh họa. Ông Trần Ngọc Quý hỏi, sự khác nhau giữa chứng chỉ thiết kế quy hoạch xây dựng và chứng chỉ thiết kế quy hoạch xây dựng (hạ tầng kỹ thuật, giao thông, cấp điện) là gì? Vì việc này liên quan đến việc yêu cầu chứng chỉ liên quan đến chấm thầu của các địa phương. Ông Trần Ngọc Quý có chứng chỉ thiết kế quy hoạch xây dựng và chứng chỉ thiết kế xây dựng công trình giao thông, chứng chỉ thiết kế công trình hạ tầng kỹ thuật cấp - thoát nước) nhưng vẫn bị coi là không đạt yêu cầu có chứng chỉ thiết kế quy hoạch xây dựng (hạ tầng kỹ thuật, giao thông…). Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Lĩnh vực và phạm vi hoạt động của chứng chỉ hành nghề thiết kế quy hoạch được quy định tại Mục 2 Phụ lục VI Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Theo đó, kể từ ngày 3/3/2021, Bộ Xây dựng chỉ cấp 1 loại chứng chỉ hành nghề thiết kế quy hoạch xây dựng, không tách riêng nội dung hạ tầng kỹ thuật, giao thông, cấp điện.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 873, "text": "Lĩnh vực và phạm vi hoạt động của chứng chỉ hành nghề thiết kế quy hoạch được quy định tại Mục 2 Phụ lục VI Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Theo đó, kể từ ngày 3/3/2021, Bộ Xây dựng chỉ cấp 1 loại chứng chỉ hành nghề thiết kế quy hoạch xây dựng, không tách riêng nội dung hạ tầng kỹ thuật, giao thông, cấp điện." } ], "id": "523", "is_impossible": false, "question": "Chỉ cấp 1 loại chứng chỉ thiết kế quy hoạch xây dựng" } ] } ], "title": "Chỉ cấp 1 loại chứng chỉ thiết kế quy hoạch xây dựng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Có một thực trạng là hiện nay, nhiều học sinh sử dụng xe đạp điện, xe máy điện nhưng không đội mũ bảo hiểm.Không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của người lái xe trong trường hợp không may xảy ra tai nạn. Chính vì vậy, mỗi người cần nhận thức lại và đặt sự an toàn của bản thân lên trên hết để nghiêm túc sử dụng mũ bảo hiểm.Theo quy định tại Nghị định 123, người ngồi trên xe máy điện, xe đạp điện bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm, nếu vi phạm quy định này sẽ bị xử phạt.Theo đó, người điều khiển cũng như người được chở trên xe đạp điện, xe máy điện sẽ bị phạt tiền từ 400.000 - 600.000 đồng nếu không đội mũ bảo hiểm, hoặc có đội mũ nhưng không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Có một thực trạng là hiện nay, nhiều học sinh sử dụng xe đạp điện, xe máy điện nhưng không đội mũ bảo hiểm.Không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của người lái xe trong trường hợp không may xảy ra tai nạn. Chính vì vậy, mỗi người cần nhận thức lại và đặt sự an toàn của bản thân lên trên hết để nghiêm túc sử dụng mũ bảo hiểm.Theo quy định tại Nghị định 123, người ngồi trên xe máy điện, xe đạp điện bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm, nếu vi phạm quy định này sẽ bị xử phạt.Theo đó, người điều khiển cũng như người được chở trên xe đạp điện, xe máy điện sẽ bị phạt tiền từ 400.000 - 600.000 đồng nếu không đội mũ bảo hiểm, hoặc có đội mũ nhưng không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật." } ], "id": "524", "is_impossible": false, "question": "Đi xe đạp điện không đội mũ bảo hiểm có bị phạt?" } ] } ], "title": "Đi xe đạp điện không đội mũ bảo hiểm có bị phạt?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Cá nhân đề nghị gia hạn chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng phải kê khai và chứng minh kinh nghiệm như trường hợp cấp chứng chỉ hành nghề lần đầu. Ảnh minh họa. Ông Nguyễn Chí Tâm (Thành phố Hồ Chí Minh) là kỹ sư xây dựng, công tác tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp. Năm 2019, ông đã được cấp chứng chỉ hành nghề, lĩnh vực hoạt động xây dựng là quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng - công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật. Tháng 6/2024, ông Tâm nộp hồ sơ xin gia hạn chứng chỉ hành nghề trên website của Bộ Xây dựng. Tháng 8/2024, ông nhận được email thông báo \"Hồ sơ không đạt\" với lý do: \"Tham gia quản lý dự án của 01 dự án nhóm A và chưa có chứng chỉ hành nghề hạng 1 theo quy định là chưa đáp ứng yêu cầu kinh nghiệm quy định tại Khoản 1 Điều 73 Nghi định số 15/2021/NĐ-CP\". Ông Tâm hỏi, trường hợp xin gia hạn chứng chỉ hành nghề đúng lĩnh vực đã được cấp có cần xác định lại năng lực hay không? Trường hợp đã có Chứng hành nghề hoạt động xây dựng hạng I và tham gia quản lý 1 dự án nhóm A, 1 dự án nhóm B thì đủ năng lực để cấp chứng chỉ hành nghề hạng mấy? Hồ sơ xin cấp chứng chỉ hành nghề theo Khoản 1 hay Khoản 2 Điều 76 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP hoặc theo quy định nào? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Khoản 1 Điều 76 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề lần đầu, điều chỉnh hạng chứng chỉ, gia hạn chứng chỉ hành nghề. Theo đó, cá nhân đề nghị gia hạn chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng phải kê khai và chứng minh kinh nghiệm như trường hợp cấp chứng chỉ hành nghề lần đầu. Khoản 1 Điều 73 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP quy định điều kiện kinh nghiệm nghề nghiệp cấp Chứng chỉ hành nghề quản lý dự án hạng I: \"Đã làm giám đốc quản lý dự án của ít nhất 01 dự án từ nhóm A hoặc 02 dự án từ nhóm B trở lên thuộc lĩnh vực đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề; hoặc có một trong ba loại chứng chỉ hành nghề tương ứng (thiết kế xây dựng hạng I, giám sát thi công xây dựng hạng I, định giá xây dựng hạng I) và đã tham gia quản lý dự án của ít nhất 01 dự án từ nhóm A hoặc 02 dự án từ nhóm B trở lên thuộc lĩnh vực đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề\". Theo đó, cá nhân tham gia quản lý dự án của 1 dự án nhóm A và có Chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng hạng I hoặc giám sát thi công xây dựng hạng I hoặc định giá xây dựng hạng I thì được xét cấp Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng I.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 656, "text": "\"Tham gia quản lý dự án của 01 dự án nhóm A và chưa có chứng chỉ hành nghề hạng 1 theo quy định là chưa đáp ứng yêu cầu kinh nghiệm quy định tại Khoản 1 Điều 73 Nghi định số 15/2021/NĐ-CP\". Ông Tâm hỏi, trường hợp xin gia hạn chứng chỉ hành nghề đúng lĩnh vực đã được cấp có cần xác định lại năng lực hay không? Trường hợp đã có Chứng hành nghề hoạt động xây dựng hạng I và tham gia quản lý 1 dự án nhóm A, 1 dự án nhóm B thì đủ năng lực để cấp chứng chỉ hành nghề hạng mấy? Hồ sơ xin cấp chứng chỉ hành nghề theo Khoản 1 hay Khoản 2 Điều 76 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP hoặc theo quy định nào? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Khoản 1 Điều 76 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề lần đầu, điều chỉnh hạng chứng chỉ, gia hạn chứng chỉ hành nghề. Theo đó, cá nhân đề nghị gia hạn chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng phải kê khai và chứng minh kinh nghiệm như trường hợp cấp chứng chỉ hành nghề lần đầu. Khoản 1 Điều 73 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP quy định điều kiện kinh nghiệm nghề nghiệp cấp Chứng chỉ hành nghề quản lý dự án hạng I: \"Đã làm giám đốc quản lý dự án của ít nhất 01 dự án từ nhóm A hoặc 02 dự án từ nhóm B trở lên thuộc lĩnh vực đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề; hoặc có một trong ba loại chứng chỉ hành nghề tương ứng (thiết kế xây dựng hạng I, giám sát thi công xây dựng hạng I, định giá xây dựng hạng I) và đã tham gia quản lý dự án của ít nhất 01 dự án từ nhóm A hoặc 02 dự án từ nhóm B trở lên thuộc lĩnh vực đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề\". Theo đó, cá nhân tham gia quản lý dự án của 1 dự án nhóm A và có Chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng hạng I hoặc giám sát thi công xây dựng hạng I hoặc định giá xây dựng hạng I thì được xét cấp Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng I." } ], "id": "525", "is_impossible": false, "question": "Gia hạn chứng chỉ hành nghề có cần chứng minh kinh nghiệm?" } ] } ], "title": "Gia hạn chứng chỉ hành nghề có cần chứng minh kinh nghiệm?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông Nguyễn Mạnh Toàn (Bắc Kạn) học kỹ sư chuyên ngành Xây dựng dân dụng và công nghiệp, có học bộ môn Cấp-thoát nước (thể hiện trên bảng điểm). Ảnh minh họa. Ông Nguyễn Mạnh Toàn hỏi, ông có được tham gia các hoạt động liên quan đến thiết kế cấp-thoát nước công trình hay không? Và có được cấp chứng chỉ thiết kế cấp-thoát nước công trình hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Điểm c Khoản 3 Điều 67 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng quy định chuyên môn phù hợp để xét cấp chứng chỉ hành nghề thiết kế cấp-thoát nước công trình: \"Chuyên môn được đào tạo thuộc chuyên ngành kỹ thuật có liên quan đến cấp-thoát nước\". Theo đó, chuyên ngành Xây dựng dân dụng và công nghiệp không thuộc chuyên môn phù hợp để xét cấp chứng chỉ hành nghề thiết kế cấp-thoát nước công trình.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 403, "text": "Điểm c Khoản 3 Điều 67 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng quy định chuyên môn phù hợp để xét cấp chứng chỉ hành nghề thiết kế cấp-thoát nước công trình: \"Chuyên môn được đào tạo thuộc chuyên ngành kỹ thuật có liên quan đến cấp-thoát nước\". Theo đó, chuyên ngành Xây dựng dân dụng và công nghiệp không thuộc chuyên môn phù hợp để xét cấp chứng chỉ hành nghề thiết kế cấp-thoát nước công trình." } ], "id": "526", "is_impossible": false, "question": "Điều kiện cấp chứng chỉ thiết kế cấp-thoát nước công trình" } ] } ], "title": "Điều kiện cấp chứng chỉ thiết kế cấp-thoát nước công trình" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Liên hệ tới đường dây nóng Báo Giao thông, bạn Lê Ngọc An (trú tại Thanh Hoá) thắc mắc, khi lái xe trên quốc lộ và đường cao tốc, thường gặp tình huống xe đi sau nháy đèn, bấm còi xin vượt. \"Nếu tôi không nhường đường thì có bị xử phạt vi phạm? Trong trường hợp nào tài xế xe đi trước phải nhường đường khi xe sau xin vượt?\", bạn An hỏi.Khi vượt xe phải đảm bảo đủ điều kiện an toàn và đúng luật.Trả lời bạn đọc, luật sư Nông Thị Thơ, Giám đốc Công ty Luật TNHH Vitam cho biết, theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP, việc xử phạt hành vi không nhường đường cho xe xin vượt được áp dụng trên 3 nhóm phương tiện.Cụ thể, đối với người điều khiển ô tô và các loại xe tương tự ô tô: Căn cứ điểm h Khoản 4 Điều 5, áp dụng mức phạt tiền từ 1-2 triệu đồng đối với lỗi không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn. Ngoài ra, người vi phạm còn bị phạt bổ sung, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe (GPLX) từ 1-3 tháng.Căn cứ điểm c Khoản 11 Điều 5, trong trường hợp người điều khiển phương tiện thực hiện hành vi quy định gây tai nạn giao thông sẽ bị tước quyền sử dụng GPLX từ 2-4 tháng.Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), người điều khiển các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy: Căn cứ điểm e Khoản 2 Điều 6, áp dụng mức phạt tiền từ 200-300 nghìn đồng đối với lỗi không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn.Căn cứ điểm c Khoản 10 Điều 6, trường hợp người điều khiển phương tiện thực hiện hành vi quy định gây tai nạn giao thông sẽ bị tước quyền sử dụng GPLX từ 2-4 tháng.Đối với người điều khiển xe đạp, xe đạp máy (kể cả xe đạp điện), người điều khiển xe thô sơ khác: Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 8, áp dụng mức phạt tiền từ 100-200 nghìn đồng đối với lỗi không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn.Cần lưu ý thêm, chỉ cần nhường khi có đủ điều kiện an toàn và không thuộc trường hợp cấm vượt tại Điều 14 Luật Giao thông đường bộ 2008. Nếu không đủ điều kiện an toàn hoặc thuộc trường hợp cấm vượt thì không cho vượt sẽ không bị xử phạt. \"Nhiều ý kiến trên mạng xã hội cho rằng khi có phương tiện khác xin vượt là phải nhường, nếu không nhường thì bị phạt, điều này là không chính xác\", luật sư Thơ cho hay.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 670, "text": "Căn cứ điểm h Khoản 4 Điều 5, áp dụng mức phạt tiền từ 1-2 triệu đồng đối với lỗi không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn. Ngoài ra, người vi phạm còn bị phạt bổ sung, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe (GPLX) từ 1-3 tháng.Căn cứ điểm c Khoản 11 Điều 5, trong trường hợp người điều khiển phương tiện thực hiện hành vi quy định gây tai nạn giao thông sẽ bị tước quyền sử dụng GPLX từ 2-4 tháng.Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), người điều khiển các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy: Căn cứ điểm e Khoản 2 Điều 6, áp dụng mức phạt tiền từ 200-300 nghìn đồng đối với lỗi không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn.Căn cứ điểm c Khoản 10 Điều 6, trường hợp người điều khiển phương tiện thực hiện hành vi quy định gây tai nạn giao thông sẽ bị tước quyền sử dụng GPLX từ 2-4 tháng.Đối với người điều khiển xe đạp, xe đạp máy (kể cả xe đạp điện), người điều khiển xe thô sơ khác: Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 8, áp dụng mức phạt tiền từ 100-200 nghìn đồng đối với lỗi không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn.Cần lưu ý thêm, chỉ cần nhường khi có đủ điều kiện an toàn và không thuộc trường hợp cấm vượt tại Điều 14 Luật Giao thông đường bộ 2008. Nếu không đủ điều kiện an toàn hoặc thuộc trường hợp cấm vượt thì không cho vượt sẽ không bị xử phạt. \"Nhiều ý kiến trên mạng xã hội cho rằng khi có phương tiện khác xin vượt là phải nhường, nếu không nhường thì bị phạt, điều này là không chính xác\", luật sư Thơ cho hay." } ], "id": "527", "is_impossible": false, "question": "Tài xế không nhường đường khi xe sau xin vượt có bị xử phạt?" } ] } ], "title": "Tài xế không nhường đường khi xe sau xin vượt có bị xử phạt?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Công ty CP SJ Group xin hướng dẫn về việc lựa chọn đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư. Ảnh minh họa. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau: Tại khoản 1 Điều 29 của Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Thông tư số 05/2024/TT-BXD ngày 31/7/2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng (gọi tắt là Quy chế 05) quy định: Hợp đồng dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư có thời hạn tối thiểu 12 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này và tối đa có thời hạn bằng nhiệm kỳ của Ban Quản trị quy định tại khoản 3 Điều 19 của Quy chế này; trường hợp hợp đồng dịch vụ quản lý vận hành có thời hạn 12 tháng thì khi hết thời hạn này, việc tiếp tục ký hoặc không ký tiếp hợp đồng dịch vụ quản lý vận hành do Hội nghị nhà chung cư quyết định trên cơ sở thống nhất với đơn vị quản lý vận hành. Tại khoản 1 Điều 40 của Quy chế 05 quy định: Chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện quản lý vận hành nhà chung cư theo quy định tại khoản 1 Điều 149 của Luật Nhà ở. Trường hợp chủ đầu tư không có đủ điều kiện quản lý vận hành nhà chung cư hoặc có đủ điều kiện quản lý vận hành nhà chung cư nhưng không tham gia quản lý vận hành nhà chung cư thì có thể giới thiệu đơn vị có đủ điều kiện quản lý vận hành nhà chung cư theo quy định tại Điều 150 của Luật Nhà ở để Hội nghị nhà chung cư tham khảo, lựa chọn tham gia quản lý vận hành nhà chung cư. Trường hợp chủ đầu tư có đủ điều kiện quản lý vận hành nhà chung cư thì được ưu tiên thương thảo và ký hợp đồng với Ban Quản trị để tiếp tục quản lý vận hành nếu có nhu cầu tiếp tục quản lý vận hành nhà chung cư, trừ trường hợp chủ đầu tư không có nhu cầu. Tại khoản 9 Điều 43 của Quy chế 05 quy định: Đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư thực hiện các quyền và trách nhiệm của đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư theo các thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ quản lý vận hành đã ký kết hoặc theo nội dung đã được Hội nghị nhà chung cư thông qua trong trường hợp chưa ký kết hợp đồng dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều 29 của Quy chế này; trường hợp Ban quản trị không tuân thủ các thỏa thuận nêu tại khoản này thì đơn vị quản lý vận hành được tiếp tục thực hiện theo các thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết hoặc nội dung đã được Hội nghị nhà chung cu thông qua để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; được tiếp tục thực hiện hợp đồng trong trường hợp được Hội nghị nhà chung cư đánh giá vẫn thực hiện tốt các nội dung trong hợp đồng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 201, "text": "Tại khoản 1 Điều 29 của Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Thông tư số 05/2024/TT-BXD ngày 31/7/2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng (gọi tắt là Quy chế 05) quy định: Hợp đồng dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư có thời hạn tối thiểu 12 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này và tối đa có thời hạn bằng nhiệm kỳ của Ban Quản trị quy định tại khoản 3 Điều 19 của Quy chế này; trường hợp hợp đồng dịch vụ quản lý vận hành có thời hạn 12 tháng thì khi hết thời hạn này, việc tiếp tục ký hoặc không ký tiếp hợp đồng dịch vụ quản lý vận hành do Hội nghị nhà chung cư quyết định trên cơ sở thống nhất với đơn vị quản lý vận hành. Tại khoản 1 Điều 40 của Quy chế 05 quy định: Chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện quản lý vận hành nhà chung cư theo quy định tại khoản 1 Điều 149 của Luật Nhà ở. Trường hợp chủ đầu tư không có đủ điều kiện quản lý vận hành nhà chung cư hoặc có đủ điều kiện quản lý vận hành nhà chung cư nhưng không tham gia quản lý vận hành nhà chung cư thì có thể giới thiệu đơn vị có đủ điều kiện quản lý vận hành nhà chung cư theo quy định tại Điều 150 của Luật Nhà ở để Hội nghị nhà chung cư tham khảo, lựa chọn tham gia quản lý vận hành nhà chung cư. Trường hợp chủ đầu tư có đủ điều kiện quản lý vận hành nhà chung cư thì được ưu tiên thương thảo và ký hợp đồng với Ban Quản trị để tiếp tục quản lý vận hành nếu có nhu cầu tiếp tục quản lý vận hành nhà chung cư, trừ trường hợp chủ đầu tư không có nhu cầu. Tại khoản 9 Điều 43 của Quy chế 05 quy định: Đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư thực hiện các quyền và trách nhiệm của đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư theo các thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ quản lý vận hành đã ký kết hoặc theo nội dung đã được Hội nghị nhà chung cư thông qua trong trường hợp chưa ký kết hợp đồng dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều 29 của Quy chế này; trường hợp Ban quản trị không tuân thủ các thỏa thuận nêu tại khoản này thì đơn vị quản lý vận hành được tiếp tục thực hiện theo các thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết hoặc nội dung đã được Hội nghị nhà chung cu thông qua để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; được tiếp tục thực hiện hợp đồng trong trường hợp được Hội nghị nhà chung cư đánh giá vẫn thực hiện tốt các nội dung trong hợp đồng." } ], "id": "528", "is_impossible": false, "question": "Lựa chọn đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư" } ] } ], "title": "Lựa chọn đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Khoảnh khắc cô gái bị bò thả rông lao ra tông trúng, bị thương nặng. Video: Ngọc HùngBị bò thả rông gây tai nạnPhản ánh đến Báo Giao thông, chị Nguyễn Thị Ngọc Ánh (26 tuổi, ngụ thôn Hiệp Tiến, xã Quảng Hiệp, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk) cho biết, khi đang di chuyển trên đường thì bất ngờ bị bò của gia đình bà Đ.T.Th (ngụ thôn Hiệp Đoàn, xã Quảng Hiệp) lao ra gây tai nạn khiến chị phải nhập viện điều trị, phẫu thuật với chi phí điều trị hơn 50 triệu đồng, phương tiện hư hỏng nhưng chủ bò không một lời hỏi thăm và còn thách thức.Sau khi bị tai nạn, chị Nguyễn Thị Ngọc Ánh bị thương, phải nghỉ làm khiến cuộc sống rất khó khăn. Ảnh: Ngọc HùngChị Ánh kể, sáng 22/9, chị điều khiển xe máy lưu thông trên đoạn đường liên huyện Cư M’gar - Ea Súp. Khi qua thôn Hiệp Đoàn (xã Quảng Hiệp) bất ngờ bị 2 con bò lao ra đường húc thẳng xe máy khiến chị ngã sõng soài, phải nhập viện cấp cứu trong tình trạng đa chấn thương. Toàn bộ sự việc đã được camera của một hộ dân ghi lại.Tại Bệnh viện Đại học Y dược Buôn Ma Thuột, chị được bác sĩ chẩn đoán bị trật và bán trật khớp tái phát của khớp vai. Bác sĩ chỉ định tiếp tục chuyển tiếp đến Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình TP HCM để làm phẫu thuật, điều trị.\"Vợ chồng tôi hoàn cảnh khó khăn, 9 năm qua phải đi ở nhà thuê, mỗi sáng tôi bán bánh canh để nuôi con ăn học, chồng đi làm công nhân xa nhà. Sự việc xảy ra, tôi phải đi vay mượn khắp nơi mới đủ 60 triệu đóng viện phí. Hiện sức khỏe tuy đã ổn định nhưng tôi vẫn phải đeo nẹp để cố định xương vai và nghỉ công việc buôn bán.Thế nhưng, từ ngày tai nạn xảy ra, gia đình bà Th không có một lời thăm hỏi, bà còn chối bỏ trách nhiệm, cho rằng không phải bò nhà mình\", chị Ánh nóiCũng theo chị Ánh, sự việc xảy ra ngay cạnh nhà Th, lúc đó bà đang đi phía sau hai con bò. Khi chị bị tai nạn, bà Th từ phía hai con bò lao ra đỡ chị nhưng bà không thừa nhận là chủ nhân của hai con bò này. Gia đình chị đã xác minh và hàng xóm làm chứng, hai con bò trên là của gia đình bà Th.\"Vì tình làng nghĩa xóm, tôi lo chữa trị sức khỏe trước rồi đến nói chuyện với gia đình bà Th nhưng họ đã chửi bới và thách thức tôi \"thích làm gì thì làm\".Tôi không ép buộc chủ bò phải đền bù cho tôi nhưng tôi cần họ xin lỗi và có một phần trách nhiệm trong việc này, đồng thời cảnh báo các trường hợp chăn thả bò nhưng không quản lý được gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông\", chị Ánh chia sẻ.Chủ bò và nạn nhân không có \"tiếng nói chung\"Trao đổi với phóng viên, bà Th khẳng định: \"Tôi đang nhổ cỏ gần đó thì nghe tiếng ngã xe nên chạy ra đỡ nạn nhân, còn bò của ai thì tôi không biết. Gia đình tôi có nuôi 3 con bò nhưng lúc đó đang nhốt trong chuồng. Nếu có chạy thì cả 3 con chứ không thể chỉ có hai con. Tôi khẳng định đó không phải bò nhà tôi.Nếu nói là bò của nhà tôi, tại sao lúc đó không xác minh liền mà để 20 ngày sau mới vào nhà tôi ăn vạ, bắt đền? Lỡ trong 20 ngày đó, đụng ở đâu thì ai biết được. Tôi không liên quan, còn nếu khẳng định đó là bò nhà tôi thì tôi nhờ pháp luật giải quyết\".Hiện trường xảy ra vụ việc (ảnh lớn), con bò được cho là đã lao ra đường gây tai nạn với cô gái (ảnh nhỏ). Ảnh: N.HCông an xã Quảng Hiệp cho biết, sau khi tiếp nhận vụ việc đã phối hợp với chính quyền địa phương, gia đình chủ bò và nạn nhân để tìm hướng xử lý. Tuy nhiên, giữa hai gia đình chưa có \"tiếng nói chung\" nên đơn vị đang tiếp tục giải quyết.\"Qua xác minh, gia đình chủ bò có hoàn cảnh rất khó khăn, sự việc xảy ra ngoài ý muốn nhưng phía nạn nhân yêu cầu chủ bò bồi thường tiền viện phí nên hai bên chưa thống nhất.Gia đình chủ bò mong muốn hỗ trợ một phần nào viện phí cho nạn nhân. Tuy nhiên, khi nghe đến số tiền quá lớn nên có thể chủ bò lo lắng, không thừa nhận đó là bò của gia đình mình.Chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc với hai gia đình để giải quyết dứt điểm vụ việc\", đại diện Công an xã Quảng Hiệp thông tin.Chủ bò phải chịu trách nhiệm thế nào?Theo luật sư Trần Viết Hà, Đoàn Luật sư TP.HCM, luật nghiêm cấm hành vi thả rông súc vật trên đường.Người điều khiển, dẫn dắt súc vật, điều khiển xe súc vật kéo vi phạm quy tắc giao thông đường bộ sẽ bị xử phạt hành chính từ 60.000 - 100.000 đồng.\"Đối với tình huống nói trên, việc không quản lý để đàn bò chạy ra đường gây tai nạn thì chủ sở hữu đàn bò phải có trách nhiệm nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại\", luật sư nhận định.Theo luật sư, khi phát sinh thiệt hại thì phải bồi thường các khoản chi phí sau: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị. Ngoài ra còn phải bồi thường tổn thất về mặt tinh thần, chi phí này hai bên thỏa thuận với nhau, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 76, "text": "Ngọc HùngBị bò thả rông gây tai nạnPhản ánh đến Báo Giao thông, chị Nguyễn Thị Ngọc Ánh (26 tuổi, ngụ thôn Hiệp Tiến, xã Quảng Hiệp, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk) cho biết, khi đang di chuyển trên đường thì bất ngờ bị bò của gia đình bà Đ.T.Th (ngụ thôn Hiệp Đoàn, xã Quảng Hiệp) lao ra gây tai nạn khiến chị phải nhập viện điều trị, phẫu thuật với chi phí điều trị hơn 50 triệu đồng, phương tiện hư hỏng nhưng chủ bò không một lời hỏi thăm và còn thách thức.Sau khi bị tai nạn, chị Nguyễn Thị Ngọc Ánh bị thương, phải nghỉ làm khiến cuộc sống rất khó khăn. Ảnh: Ngọc HùngChị Ánh kể, sáng 22/9, chị điều khiển xe máy lưu thông trên đoạn đường liên huyện Cư M’gar - Ea Súp. Khi qua thôn Hiệp Đoàn (xã Quảng Hiệp) bất ngờ bị 2 con bò lao ra đường húc thẳng xe máy khiến chị ngã sõng soài, phải nhập viện cấp cứu trong tình trạng đa chấn thương. Toàn bộ sự việc đã được camera của một hộ dân ghi lại.Tại Bệnh viện Đại học Y dược Buôn Ma Thuột, chị được bác sĩ chẩn đoán bị trật và bán trật khớp tái phát của khớp vai. Bác sĩ chỉ định tiếp tục chuyển tiếp đến Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình TP HCM để làm phẫu thuật, điều trị.\"Vợ chồng tôi hoàn cảnh khó khăn, 9 năm qua phải đi ở nhà thuê, mỗi sáng tôi bán bánh canh để nuôi con ăn học, chồng đi làm công nhân xa nhà. Sự việc xảy ra, tôi phải đi vay mượn khắp nơi mới đủ 60 triệu đóng viện phí. Hiện sức khỏe tuy đã ổn định nhưng tôi vẫn phải đeo nẹp để cố định xương vai và nghỉ công việc buôn bán.Thế nhưng, từ ngày tai nạn xảy ra, gia đình bà Th không có một lời thăm hỏi, bà còn chối bỏ trách nhiệm, cho rằng không phải bò nhà mình\", chị Ánh nóiCũng theo chị Ánh, sự việc xảy ra ngay cạnh nhà Th, lúc đó bà đang đi phía sau hai con bò. Khi chị bị tai nạn, bà Th từ phía hai con bò lao ra đỡ chị nhưng bà không thừa nhận là chủ nhân của hai con bò này. Gia đình chị đã xác minh và hàng xóm làm chứng, hai con bò trên là của gia đình bà Th.\"Vì tình làng nghĩa xóm, tôi lo chữa trị sức khỏe trước rồi đến nói chuyện với gia đình bà Th nhưng họ đã chửi bới và thách thức tôi \"thích làm gì thì làm\".Tôi không ép buộc chủ bò phải đền bù cho tôi nhưng tôi cần họ xin lỗi và có một phần trách nhiệm trong việc này, đồng thời cảnh báo các trường hợp chăn thả bò nhưng không quản lý được gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông\", chị Ánh chia sẻ.Chủ bò và nạn nhân không có \"tiếng nói chung\"Trao đổi với phóng viên, bà Th khẳng định: \"Tôi đang nhổ cỏ gần đó thì nghe tiếng ngã xe nên chạy ra đỡ nạn nhân, còn bò của ai thì tôi không biết. Gia đình tôi có nuôi 3 con bò nhưng lúc đó đang nhốt trong chuồng. Nếu có chạy thì cả 3 con chứ không thể chỉ có hai con. Tôi khẳng định đó không phải bò nhà tôi.Nếu nói là bò của nhà tôi, tại sao lúc đó không xác minh liền mà để 20 ngày sau mới vào nhà tôi ăn vạ, bắt đền? Lỡ trong 20 ngày đó, đụng ở đâu thì ai biết được. Tôi không liên quan, còn nếu khẳng định đó là bò nhà tôi thì tôi nhờ pháp luật giải quyết\".Hiện trường xảy ra vụ việc (ảnh lớn), con bò được cho là đã lao ra đường gây tai nạn với cô gái (ảnh nhỏ). Ảnh: N.HCông an xã Quảng Hiệp cho biết, sau khi tiếp nhận vụ việc đã phối hợp với chính quyền địa phương, gia đình chủ bò và nạn nhân để tìm hướng xử lý. Tuy nhiên, giữa hai gia đình chưa có \"tiếng nói chung\" nên đơn vị đang tiếp tục giải quyết.\"Qua xác minh, gia đình chủ bò có hoàn cảnh rất khó khăn, sự việc xảy ra ngoài ý muốn nhưng phía nạn nhân yêu cầu chủ bò bồi thường tiền viện phí nên hai bên chưa thống nhất.Gia đình chủ bò mong muốn hỗ trợ một phần nào viện phí cho nạn nhân. Tuy nhiên, khi nghe đến số tiền quá lớn nên có thể chủ bò lo lắng, không thừa nhận đó là bò của gia đình mình.Chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc với hai gia đình để giải quyết dứt điểm vụ việc\", đại diện Công an xã Quảng Hiệp thông tin.Chủ bò phải chịu trách nhiệm thế nào?Theo luật sư Trần Viết Hà, Đoàn Luật sư TP.HCM, luật nghiêm cấm hành vi thả rông súc vật trên đường.Người điều khiển, dẫn dắt súc vật, điều khiển xe súc vật kéo vi phạm quy tắc giao thông đường bộ sẽ bị xử phạt hành chính từ 60.000 - 100.000 đồng.\"Đối với tình huống nói trên, việc không quản lý để đàn bò chạy ra đường gây tai nạn thì chủ sở hữu đàn bò phải có trách nhiệm nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại\", luật sư nhận định.Theo luật sư, khi phát sinh thiệt hại thì phải bồi thường các khoản chi phí sau: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị. Ngoài ra còn phải bồi thường tổn thất về mặt tinh thần, chi phí này hai bên thỏa thuận với nhau, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định." } ], "id": "529", "is_impossible": false, "question": "Tông trúng bò thả rông, cô gái bị thương: Chủ bò chối phắt khi thấy tiền viện phí cao?" } ] } ], "title": "Tông trúng bò thả rông, cô gái bị thương: Chủ bò chối phắt khi thấy tiền viện phí cao?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Chiều 28/10, Công an tỉnh Lâm Đồng đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam Trần Nguyễn Thu Trang (39 tuổi, ngụ TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) để điều tra hành vi giết người. Trang bị tình nghi đã sát hại anh M.H.V (39 tuổi, ngụ TP.HCM) bằng chất độc xyanua vào ngày 20/10, sau đó lái xe chở thi thể anh V lên đèo Bảo Lộc rồi lao thẳng xuống vực sâu.Bị can Trang tại thời điểm được lực lượng cứu hộ đưa từ dưới vực lên đèo Bảo Lộc.Phân tích tình huống pháp lý trong vụ án này, luật sư Nguyễn Hữu Trường, Công ty Luật Nguyễn Hữu Trường (Đoàn Luật sư Khánh Hòa) nhận định, tội giết người được quy định tại Điều 123, Bộ luật Hình sự.Điều luật này quy định rất nhiều trường hợp phạm tội giết người, trong đó có trường hợp \"vì động cơ đê hèn\", \"có tính chất man rợ\". Hình phạt cho người phạm tội trong các trường hợp này là phạt tù từ 12 - 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Chiếc xe của anh M.H.V bị nghi can điều khiển lao xuống vực trên đèo Bảo Lộc.Trong vụ án trên, từ các thông tin và lời khai ban đầu, có thể thấy hành vi của nghi can không chỉ xâm hại đến tính mạng mà còn xâm hại đến thi thể của nạn nhân. Việc thực hiện phạm tội là chủ động. Có thể cơ quan điều tra cũng sẽ làm rõ hành vi phi tang thi thể nạn nhân đã tử vong. Bộ luật Hình sự hiện chưa có quy định nào về việc phi tang thi thể. Tuy nhiên, đây có thể được xem là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. \"Việc sát hại và phi tang thi thể người được xem là một trong những hành vi giết người man rợ\", luật sư nhận định và cho rằng, đây chỉ là phân tích tình huống pháp lý khi đối chiếu với các quy định của pháp luật. Tất cả còn phải chờ kết luận của cơ quan điều tra.Bị can Trần Nguyễn Thu Trang.Trước đó, ngày 20/10, khi đang di chuyển từ Đồng Tháp về TP.HCM bằng ô tô, do mâu thuẫn tình cảm nên Trần Nguyễn Thu Trang sử dụng xyanua làm anh M.H.V tử vong.Tiếp đó, Trang lái xe đưa thi thể nạn nhân về một nhà trọ ở TP.HCM rồi sáng 21/10 chở lên Lâm Đồng phi tang.Trưa 21/10, khi lái xe đến đèo Bảo Lộc, đoạn thuộc thành phố Bảo Lộc, Lâm Đồng, Trang lái xe lao xuống vực.Khi xe lao xuống vực, các túi khí trong xe ô tô bung ra, Trang bị thương nhẹ.Nhận được tin báo, lực lượng chức năng có mặt tại hiện trường triển khai công tác cứu hộ cứu nạn.Sau khi đưa Trang đi cấp cứu, công an xác định có dấu hiệu bất thường nên khám nghiệm tử thi ông V, xác định ông V đã chết trước khi xe lao xuống vực. Tại cơ quan công an, Trang khai nhận do mâu thuẫn chuyện tình cảm nên chiều 20/10, khi Trang và anh V đi cùng ô tô từ Đồng Tháp về TP.HCM, Trang đã dùng xyanua đặt mua trên mạng trước đó để đầu độc anh V.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Chiều 28/10, Công an tỉnh Lâm Đồng đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam Trần Nguyễn Thu Trang (39 tuổi, ngụ TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) để điều tra hành vi giết người. Trang bị tình nghi đã sát hại anh M.H.V (39 tuổi, ngụ TP.HCM) bằng chất độc xyanua vào ngày 20/10, sau đó lái xe chở thi thể anh V lên đèo Bảo Lộc rồi lao thẳng xuống vực sâu.Bị can Trang tại thời điểm được lực lượng cứu hộ đưa từ dưới vực lên đèo Bảo Lộc.Phân tích tình huống pháp lý trong vụ án này, luật sư Nguyễn Hữu Trường, Công ty Luật Nguyễn Hữu Trường (Đoàn Luật sư Khánh Hòa) nhận định, tội giết người được quy định tại Điều 123, Bộ luật Hình sự.Điều luật này quy định rất nhiều trường hợp phạm tội giết người, trong đó có trường hợp \"vì động cơ đê hèn\", \"có tính chất man rợ\". Hình phạt cho người phạm tội trong các trường hợp này là phạt tù từ 12 - 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Chiếc xe của anh M.H.V bị nghi can điều khiển lao xuống vực trên đèo Bảo Lộc.Trong vụ án trên, từ các thông tin và lời khai ban đầu, có thể thấy hành vi của nghi can không chỉ xâm hại đến tính mạng mà còn xâm hại đến thi thể của nạn nhân. Việc thực hiện phạm tội là chủ động. Có thể cơ quan điều tra cũng sẽ làm rõ hành vi phi tang thi thể nạn nhân đã tử vong. Bộ luật Hình sự hiện chưa có quy định nào về việc phi tang thi thể. Tuy nhiên, đây có thể được xem là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. \"Việc sát hại và phi tang thi thể người được xem là một trong những hành vi giết người man rợ\", luật sư nhận định và cho rằng, đây chỉ là phân tích tình huống pháp lý khi đối chiếu với các quy định của pháp luật. Tất cả còn phải chờ kết luận của cơ quan điều tra.Bị can Trần Nguyễn Thu Trang.Trước đó, ngày 20/10, khi đang di chuyển từ Đồng Tháp về TP.HCM bằng ô tô, do mâu thuẫn tình cảm nên Trần Nguyễn Thu Trang sử dụng xyanua làm anh M.H.V tử vong.Tiếp đó, Trang lái xe đưa thi thể nạn nhân về một nhà trọ ở TP.HCM rồi sáng 21/10 chở lên Lâm Đồng phi tang.Trưa 21/10, khi lái xe đến đèo Bảo Lộc, đoạn thuộc thành phố Bảo Lộc, Lâm Đồng, Trang lái xe lao xuống vực.Khi xe lao xuống vực, các túi khí trong xe ô tô bung ra, Trang bị thương nhẹ.Nhận được tin báo, lực lượng chức năng có mặt tại hiện trường triển khai công tác cứu hộ cứu nạn.Sau khi đưa Trang đi cấp cứu, công an xác định có dấu hiệu bất thường nên khám nghiệm tử thi ông V, xác định ông V đã chết trước khi xe lao xuống vực. Tại cơ quan công an, Trang khai nhận do mâu thuẫn chuyện tình cảm nên chiều 20/10, khi Trang và anh V đi cùng ô tô từ Đồng Tháp về TP.HCM, Trang đã dùng xyanua đặt mua trên mạng trước đó để đầu độc anh V." } ], "id": "530", "is_impossible": false, "question": "Tình huống pháp lý vụ đầu độc người tình rồi lao xe xuống vực" } ] } ], "title": "Tình huống pháp lý vụ đầu độc người tình rồi lao xe xuống vực" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông Lê Thanh (Phú Yên) hỏi, công trình xây dựng đã được phê duyệt dự toán và kế hoạch đấu thầu, khi Chính phủ ban hành chính sách tiền lương mới thì có được điều chỉnh dự toán đã phê duyệt không? Và theo quy định nào? Ảnh minh họa. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định hiện hành, đối với các dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công, dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, dự toán xây dựng công trình được lập theo quy định tại Điều 12, điều chỉnh dự toán xây dựng công trình theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng và quy định hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Việc xác định dự toán gói thầu xây dựng, giá gói thầu xây dựng thực hiện theo quy định tại Mục 2 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP. Đề nghị ông Lê Thanh nghiên cứu và thực hiện theo quy định.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 285, "text": "Theo quy định hiện hành, đối với các dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công, dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, dự toán xây dựng công trình được lập theo quy định tại Điều 12, điều chỉnh dự toán xây dựng công trình theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng và quy định hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Việc xác định dự toán gói thầu xây dựng, giá gói thầu xây dựng thực hiện theo quy định tại Mục 2 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP. Đề nghị ông Lê Thanh nghiên cứu và thực hiện theo quy định." } ], "id": "531", "is_impossible": false, "question": "Có được điều chỉnh dự toán theo tiền lương mới?" } ] } ], "title": "Có được điều chỉnh dự toán theo tiền lương mới?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Bộ Công an vừa có nội dung giải đáp thắc mắc của công dân về trường hợp tài xế bị mất giấy phép lái xe (GPLX) bằng vật liệu PET, khi tham gia giao thông chỉ sử dụng thông tin GPLX trên VNeID thì có được không?Từ ngày 1/7/2024, người dân được xuất trình thông tin các giấy tờ qua ứng dụng VNeID.Theo Bộ Công an, điểm a Khoản 24, Điều 4 Thông tư số 05/2024/TT-BGTVT ngày 31/3/2024 của Bộ Giao thông vận tải quy định, GPLX bằng vật liệu PET hợp lệ là giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp.Giấy phép này có số phôi, ngày cấp, ngày hết hạn in trên đó trùng với số phôi, ngày cấp, ngày hết hạn trong hệ thống thông tin quản lý GPLX hoặc có thông tin GPLX đã được xác thực trên VNeID.Căn cứ quy định trên, thông tin GPLX đã được xác thực trên VNeID là hợp lệ, có thể sử dụng thay thế bằng lái xe vật liệu PET khi tham gia giao thông.Những lỗi tài xế chỉ vi phạm một lần có thể bị trừ luôn 12 điểm bằng lái xeĐề xuất mới: Trừ toàn bộ 12 điểm bằng lái với tài xế vi phạm nồng độ cồnTrường hợp người lái xe bị mất GPLX bằng vật liệu PET, khi tham gia giao thông sử dụng thông tin đã được xác thực trên VNeID, thì cá nhân đó không vi phạm lỗi Không có GPLX hoặc Không mang theo GPLX.Mới đây, ngày 21/8 khi trả lời chất vấn Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang cũng khẳng định, theo Luật Căn cước và Luật Giao dịch điện tử, Bộ Công an đã ban hành Thông tư 28 tạo cơ sở pháp lý cho lực lượng CSGT thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, tạm giữ, tước GPLX trên VNeID.Theo đó, từ ngày 1/7/2024, khi tham gia giao thông người dân được xuất trình thông tin các giấy tờ liên quan đến người lái và xe cho lực lượng CSGT kiểm tra, xử lý thông qua ứng dụng VNeID.Trong quá trình xử lý, người vi phạm xuất trình được giấy tờ trên VNeID thì lực lượng chức năng sẽ tạm giữ giấy tờ trên môi trường điện tử.Bên cạnh đó, khi các giấy tờ liên quan đến người và phương tiện giao thông được tích hợp và cập nhật trên VNeID, quyết định của người có thẩm quyền trong việc tạm giữ, trả lại giấy tờ cũng được gửi bằng phương thức điện tử trên VNeID và ứng dụng hệ thống thông tin điện tử khác khi có đủ điều kiện kỹ thuật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 915, "text": "Trừ toàn bộ 12 điểm bằng lái với tài xế vi phạm nồng độ cồnTrường hợp người lái xe bị mất GPLX bằng vật liệu PET, khi tham gia giao thông sử dụng thông tin đã được xác thực trên VNeID, thì cá nhân đó không vi phạm lỗi Không có GPLX hoặc Không mang theo GPLX.Mới đây, ngày 21/8 khi trả lời chất vấn Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang cũng khẳng định, theo Luật Căn cước và Luật Giao dịch điện tử, Bộ Công an đã ban hành Thông tư 28 tạo cơ sở pháp lý cho lực lượng CSGT thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, tạm giữ, tước GPLX trên VNeID.Theo đó, từ ngày 1/7/2024, khi tham gia giao thông người dân được xuất trình thông tin các giấy tờ liên quan đến người lái và xe cho lực lượng CSGT kiểm tra, xử lý thông qua ứng dụng VNeID.Trong quá trình xử lý, người vi phạm xuất trình được giấy tờ trên VNeID thì lực lượng chức năng sẽ tạm giữ giấy tờ trên môi trường điện tử.Bên cạnh đó, khi các giấy tờ liên quan đến người và phương tiện giao thông được tích hợp và cập nhật trên VNeID, quyết định của người có thẩm quyền trong việc tạm giữ, trả lại giấy tờ cũng được gửi bằng phương thức điện tử trên VNeID và ứng dụng hệ thống thông tin điện tử khác khi có đủ điều kiện kỹ thuật." } ], "id": "532", "is_impossible": false, "question": "Mất bằng lái gốc, tài xế dùng giấy phép lái xe trên VNeID có bị xử phạt?" } ] } ], "title": "Mất bằng lái gốc, tài xế dùng giấy phép lái xe trên VNeID có bị xử phạt?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng nhân được văn bản của Ban Quản trị nhà chung cư N05 (Ban Quản trị) hướng dẫn sử dụng quỹ bảo trì nhà chung cư. Ảnh minh họa. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 142 Luật Nhà ở 2023 thì phần sở hữu chung của nhà chung cư bao gồm: \"Không gian và hệ thống kết cấu chịu lực, trang thiết bị sử dụng chung trong nhà chung cư bao gồm: Khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tưong phân chia các căn hộ, sàn, mái, sân thượng, hành lang, cầu thang bộ, thang máy, đường thoát hiểm, lồng xả rác, hộp kỹ thuật và tường bao hộp kỹ thuật (nếu có), hệ thống cấp điện, cấp nước, cấp ga, hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, thoát nước, bể phốt, thu lôi, hệ thống phòng cháy, chữa cháy và các phần khác không thuộc phần sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư”. Tại khoản 1 Điều 155 Luật Nhà ở 2023 quy định: “Kinh phí bảo trì chỉ được sử dụng để bảo trì, thay thế các hạng mục, trang thiết bị thuộc phần sở hữu chung của nhà chung cư theo kế hoạch bảo trì được Hội nghị nhà chung cư thông qua. Ban Quản trị nhà chung cư không được sử dụng kinh phí bảo trì này vào mục đích quản lý vận hành nhà chung cư và các mục đích khác\". Tại điểm g khoản 1 Điều 41 của Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư được ban hành kèm theo Thông tư 05/2024/TT-BXD ngày 31/7/2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định chủ sở hữu nhà chung cư có trách nhiệm “khôi phục lại nguyên trạng và bồi thường thiệt hại nếu gây hư hỏng phần diện tích, thiết bị thuộc sở hữu chung hoặc phần diện tích, thiết bị thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu khác…”.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 201, "text": "Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 142 Luật Nhà ở 2023 thì phần sở hữu chung của nhà chung cư bao gồm: \"Không gian và hệ thống kết cấu chịu lực, trang thiết bị sử dụng chung trong nhà chung cư bao gồm: Khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tưong phân chia các căn hộ, sàn, mái, sân thượng, hành lang, cầu thang bộ, thang máy, đường thoát hiểm, lồng xả rác, hộp kỹ thuật và tường bao hộp kỹ thuật (nếu có), hệ thống cấp điện, cấp nước, cấp ga, hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, thoát nước, bể phốt, thu lôi, hệ thống phòng cháy, chữa cháy và các phần khác không thuộc phần sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư”. Tại khoản 1 Điều 155 Luật Nhà ở 2023 quy định: “Kinh phí bảo trì chỉ được sử dụng để bảo trì, thay thế các hạng mục, trang thiết bị thuộc phần sở hữu chung của nhà chung cư theo kế hoạch bảo trì được Hội nghị nhà chung cư thông qua. Ban Quản trị nhà chung cư không được sử dụng kinh phí bảo trì này vào mục đích quản lý vận hành nhà chung cư và các mục đích khác\". Tại điểm g khoản 1 Điều 41 của Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư được ban hành kèm theo Thông tư 05/2024/TT-BXD ngày 31/7/2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định chủ sở hữu nhà chung cư có trách nhiệm “khôi phục lại nguyên trạng và bồi thường thiệt hại nếu gây hư hỏng phần diện tích, thiết bị thuộc sở hữu chung hoặc phần diện tích, thiết bị thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu khác…”." } ], "id": "533", "is_impossible": false, "question": "Sử dụng quỹ bảo trì nhà chung cư" } ] } ], "title": "Sử dụng quỹ bảo trì nhà chung cư" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Chiều 23/10, vụ tai nạn nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn quận Bình Tân khiến một sinh viên 18 tuổi tử vong. Đây là vụ tai nạn hy hữu, khi người điều khiển xe nâng (xe chuyên dụng được sử dụng để nâng hạ hàng hóa trong các kho) di chuyển trên đường và xảy ra va chạm.Hiện trường vụ tai nạn giữa xe nâng và xe máy khiến một sinh viên tử vong. Ảnh: T.KTrước đo, vào 13h ngày 23/10, ông Đ.V.S (52 tuổi, ngụ quận Bình Tân) lái xe nâng chạy trên đường số 1, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân. Khi xe nâng rẽ trái vào đường số 14D đã xảy ra va chạm với xe máy do N.H.D (18 tuổi, ngụ huyện Bình Chánh) cầm lái.Cú va chạm khiến anh D té xuống đường, bị xe nâng cán qua người, tử vong tại chỗ. Theo nguồn tin, N.H.D là sinh viên năm nhất của một trường đại học trên địa bàn TP.HCM. Nam sinh đang trên đường đi học về thì gặp nạn.Ở góc độ pháp lý, luật sư Phùng Thị Huyền, Phó giám đốc công ty luật A+, Đoàn luật sư TP.HCM cho biết, theo quy định, xe nâng hàng được xem là một loại xe máy chuyên dùng. Luật sư Phùng Huyền, Đoàn luật sư TP.HCM.Căn cứ khoản 21 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ 2008 (sửa đổi, bổ sung 2018), phương tiện tham gia giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông đường bộ và xe máy chuyên dùng. Do đó, xe nâng là phương tiện giao thông được phép tham gia giao thông đường bộ.Tuy nhiên, xe nâng muốn tham gia giao thông phải có đủ hệ thống hãm có hiệu lực; có hệ thống chuyển hướng có hiệu lực; có đèn chiếu sáng; bảo đảm tầm nhìn cho người điều khiển; các bộ phận chuyên dùng phải lắp đặt đúng vị trí, chắc chắn, bảo đảm an toàn khi di chuyển; bảo đảm khí thải, tiếng ồn theo quy chuẩn môi trường. Ngoài ra, xe nâng phải có đăng ký và gắn biển số do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và hoạt động trong phạm vi quy định, bảo đảm an toàn cho người, phương tiện và công trình đường bộ khi di chuyển.Trong vụ tai nạn nêu trên, nếu xác định lỗi thuộc về xe nâng, dù có điều khiển xe chuyên dụng trong phạm vi hoạt động hay không vẫn bị xử lý hình sự theo Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Theo đó, người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 1 - 5 năm. Trường hợp người điều khiển phương tiện không có giấy phép lái xe hoặc gây tai nạn khi có sử dụng rượu bia có thể bị phạt tù lên đến 10 năm (khoản 2). Luật sư Huyền nói thêm, căn cứ Điều 601 Bộ luật Dân sự và Điều 12 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, xe nâng được xác định là một trong những nguồn nguy hiểm cao độ nên người lái xe nâng còn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nạn nhân theo Điều 591 và khoản 3 Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015.Bao gồm các khoản chi phí như: Chi phí hợp lý cho việc mai táng, tiền cấp dưỡng cho những người mà nạn nhân có nghĩa vụ cấp dưỡng, tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho người thân của nạn nhân… Va chạm xe nâng ở lối rẽ, nam thanh niên đi xe máy tử vong tại chỗChiếc xe nâng rẽ vào đường số 14D, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân (TP.HCM) thì xảy ra va chạm với xe máy do một nam thanh niên điều khiển. Cú va chạm khiến nam thanh niên tử vong tại chỗ.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 346, "text": "T.KTrước đo, vào 13h ngày 23/10, ông Đ.V.S (52 tuổi, ngụ quận Bình Tân) lái xe nâng chạy trên đường số 1, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân. Khi xe nâng rẽ trái vào đường số 14D đã xảy ra va chạm với xe máy do N.H.D (18 tuổi, ngụ huyện Bình Chánh) cầm lái.Cú va chạm khiến anh D té xuống đường, bị xe nâng cán qua người, tử vong tại chỗ. Theo nguồn tin, N.H.D là sinh viên năm nhất của một trường đại học trên địa bàn TP.HCM. Nam sinh đang trên đường đi học về thì gặp nạn.Ở góc độ pháp lý, luật sư Phùng Thị Huyền, Phó giám đốc công ty luật A+, Đoàn luật sư TP.HCM cho biết, theo quy định, xe nâng hàng được xem là một loại xe máy chuyên dùng. Luật sư Phùng Huyền, Đoàn luật sư TP.HCM.Căn cứ khoản 21 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ 2008 (sửa đổi, bổ sung 2018), phương tiện tham gia giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông đường bộ và xe máy chuyên dùng. Do đó, xe nâng là phương tiện giao thông được phép tham gia giao thông đường bộ.Tuy nhiên, xe nâng muốn tham gia giao thông phải có đủ hệ thống hãm có hiệu lực; có hệ thống chuyển hướng có hiệu lực; có đèn chiếu sáng; bảo đảm tầm nhìn cho người điều khiển; các bộ phận chuyên dùng phải lắp đặt đúng vị trí, chắc chắn, bảo đảm an toàn khi di chuyển; bảo đảm khí thải, tiếng ồn theo quy chuẩn môi trường. Ngoài ra, xe nâng phải có đăng ký và gắn biển số do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và hoạt động trong phạm vi quy định, bảo đảm an toàn cho người, phương tiện và công trình đường bộ khi di chuyển.Trong vụ tai nạn nêu trên, nếu xác định lỗi thuộc về xe nâng, dù có điều khiển xe chuyên dụng trong phạm vi hoạt động hay không vẫn bị xử lý hình sự theo Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Theo đó, người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 1 - 5 năm. Trường hợp người điều khiển phương tiện không có giấy phép lái xe hoặc gây tai nạn khi có sử dụng rượu bia có thể bị phạt tù lên đến 10 năm (khoản 2). Luật sư Huyền nói thêm, căn cứ Điều 601 Bộ luật Dân sự và Điều 12 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, xe nâng được xác định là một trong những nguồn nguy hiểm cao độ nên người lái xe nâng còn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nạn nhân theo Điều 591 và khoản 3 Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015.Bao gồm các khoản chi phí như: Chi phí hợp lý cho việc mai táng, tiền cấp dưỡng cho những người mà nạn nhân có nghĩa vụ cấp dưỡng, tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho người thân của nạn nhân… Va chạm xe nâng ở lối rẽ, nam thanh niên đi xe máy tử vong tại chỗChiếc xe nâng rẽ vào đường số 14D, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân (TP.HCM) thì xảy ra va chạm với xe máy do một nam thanh niên điều khiển. Cú va chạm khiến nam thanh niên tử vong tại chỗ." } ], "id": "534", "is_impossible": false, "question": "Luật sư phân tích vụ va chạm giữa xe nâng và xe máy gây chết người" } ] } ], "title": "Luật sư phân tích vụ va chạm giữa xe nâng và xe máy gây chết người" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) – Điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc được quy định tại Khoản 1 Điều 28 Luật Kiến trúc năm 2019. Ảnh minh họa. Ông Trần Hoài Quang (Phú Yên) tốt nghiệp đại học, ngành Kỹ thuật công trình xây dựng vào tháng 8/2018, tốt nghiệp văn bằng 2, ngành Kiến trúc vào tháng 9/2024. Từ năm 2018 đến hiện tại, ông Quang tham gia thiết kế và chủ nhiệm thiết kế nhiều công trình dân dụng và công nghiệp cấp III. Ông Quang hỏi, thời gian ông tham gia hoạt động thiết kế với vị trí chủ nhiệm thiết kế, có quản lý hồ sơ phần kiến trúc thì có được tính là thời gian kinh nghiệm tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc không? Ông có đủ điều kiện để cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Luật Kiến trúc không quy định về chức danh chủ nhiệm thiết kế. Điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc được quy định tại Khoản 1 Điều 28 Luật Kiến trúc năm 2019. Kinh nghiệm tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 28 Luật Kiến trúc. Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc được quy định tại Khoản 1 Điều 27 Nghị định số 85/2020/NĐ-CP ngày 17/7/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Kiến trúc. Cá nhân không có chứng chỉ hành nghề kiến trúc được tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc trong tổ chức hành nghề kiến trúc hoặc hợp tác với kiến trúc sư hành nghề với tư cách cá nhân (Khoản 2 Điều 21 Luật Kiến trúc năm 2019). Thời gian tham gia dịch vụ kiến trúc được đánh giá trên cơ sở trình độ chuyên môn và kinh nghiệm tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc được kê khai trong Đơn đề nghị cấp, gia hạn chứng chỉ hành nghề kiến trúc theo Mẫu số 02 Phụ lục III Nghị định số 85/2020/NĐ-CP; các tài liệu chứng minh, xác nhận theo Điểm c Khoản 1 Điều 27 Nghị định số 85/2020/NĐ-CP gồm: Các quyết định phân công công việc (giao nhiệm vụ) của tổ chức cho cá nhân hoặc văn bản xác nhận của đại diện theo pháp luật của chủ đầu tư về các công việc tiêu biểu mà cá nhân đã hoàn thành theo nội dung kê khai. Người ký xác nhận phải chịu trách nhiệm về sự trung thực của nội dung xác nhận. Trường hợp cá nhân hành nghề độc lập thì phải có hợp đồng và biên bản nghiệm thu các công việc thực hiện tiêu biểu đã kê khai.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 726, "text": "Luật Kiến trúc không quy định về chức danh chủ nhiệm thiết kế. Điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc được quy định tại Khoản 1 Điều 28 Luật Kiến trúc năm 2019. Kinh nghiệm tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 28 Luật Kiến trúc. Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc được quy định tại Khoản 1 Điều 27 Nghị định số 85/2020/NĐ-CP ngày 17/7/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Kiến trúc. Cá nhân không có chứng chỉ hành nghề kiến trúc được tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc trong tổ chức hành nghề kiến trúc hoặc hợp tác với kiến trúc sư hành nghề với tư cách cá nhân (Khoản 2 Điều 21 Luật Kiến trúc năm 2019). Thời gian tham gia dịch vụ kiến trúc được đánh giá trên cơ sở trình độ chuyên môn và kinh nghiệm tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc được kê khai trong Đơn đề nghị cấp, gia hạn chứng chỉ hành nghề kiến trúc theo Mẫu số 02 Phụ lục III Nghị định số 85/2020/NĐ-CP; các tài liệu chứng minh, xác nhận theo Điểm c Khoản 1 Điều 27 Nghị định số 85/2020/NĐ-CP gồm: Các quyết định phân công công việc (giao nhiệm vụ) của tổ chức cho cá nhân hoặc văn bản xác nhận của đại diện theo pháp luật của chủ đầu tư về các công việc tiêu biểu mà cá nhân đã hoàn thành theo nội dung kê khai. Người ký xác nhận phải chịu trách nhiệm về sự trung thực của nội dung xác nhận. Trường hợp cá nhân hành nghề độc lập thì phải có hợp đồng và biên bản nghiệm thu các công việc thực hiện tiêu biểu đã kê khai." } ], "id": "535", "is_impossible": false, "question": "Điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc" } ] } ], "title": "Điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo Thông tư số 24 năm 2023 của Bộ công an quy định về cấp, thu hồi đăng ký, biển số xe cơ giới quy định trên chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy có thời hạn đăng ký áp dụng đối với những trường hợp đăng ký xe có thời hạn (tạm trú, ngoại giao...).Khi hết thời hạn tạm trú, Giấy chứng nhận đăng ký cũng hết thời hạn sử dụng, công dân phải gia hạn tạm trú và đến cơ quan đăng ký xe đề nghị cấp gia hạn giấy đăng ký. Nếu quá thời hạn trên Giấy chứng nhận đăng ký xe mà vẫn chưa giải quyết được gia hạn tạm trú thì xe của công dân không được phép lưu thông trên đường.Trong trường hợp công dân không tạm trú nữa mà quay về nơi thường trú, công dân vẫn giữ lại biển số nhưng phải đến cơ quan đăng ký xe nơi tạm trú làm thủ tục thu hồi giấy chứng nhận đăng ký và đến cơ quan đăng ký xe nơi thường trú làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký khác theo quy định.Khi đăng ký xe, cá nhân phải thực hiện trên Cổng dịch vụ công (bao gồm Cổng dịch vụ công Quốc gia hoặc Cổng dịch vụ công Bộ Công an). Chỉ trong trường hợp không thực hiện được trên Cổng dịch vụ do không có dữ liệu hoặc do lỗi kỹ thuật thì chủ xe mới được thực hiện thủ tục đăng ký xe trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền. Như vậy, có 2 hình thức để chủ xe đăng ký xe là thực hiện online và trực tiếp.Vì thực hiện thủ tục trên Cổng dịch vụ công nên sau khi truy cập, chủ xe phải khai đầy đủ mọi thông tin trong giấy khai đăng ký xe và ký tên bằng phương thức điện tử.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Theo Thông tư số 24 năm 2023 của Bộ công an quy định về cấp, thu hồi đăng ký, biển số xe cơ giới quy định trên chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy có thời hạn đăng ký áp dụng đối với những trường hợp đăng ký xe có thời hạn (tạm trú, ngoại giao...).Khi hết thời hạn tạm trú, Giấy chứng nhận đăng ký cũng hết thời hạn sử dụng, công dân phải gia hạn tạm trú và đến cơ quan đăng ký xe đề nghị cấp gia hạn giấy đăng ký. Nếu quá thời hạn trên Giấy chứng nhận đăng ký xe mà vẫn chưa giải quyết được gia hạn tạm trú thì xe của công dân không được phép lưu thông trên đường.Trong trường hợp công dân không tạm trú nữa mà quay về nơi thường trú, công dân vẫn giữ lại biển số nhưng phải đến cơ quan đăng ký xe nơi tạm trú làm thủ tục thu hồi giấy chứng nhận đăng ký và đến cơ quan đăng ký xe nơi thường trú làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký khác theo quy định.Khi đăng ký xe, cá nhân phải thực hiện trên Cổng dịch vụ công (bao gồm Cổng dịch vụ công Quốc gia hoặc Cổng dịch vụ công Bộ Công an). Chỉ trong trường hợp không thực hiện được trên Cổng dịch vụ do không có dữ liệu hoặc do lỗi kỹ thuật thì chủ xe mới được thực hiện thủ tục đăng ký xe trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền. Như vậy, có 2 hình thức để chủ xe đăng ký xe là thực hiện online và trực tiếp.Vì thực hiện thủ tục trên Cổng dịch vụ công nên sau khi truy cập, chủ xe phải khai đầy đủ mọi thông tin trong giấy khai đăng ký xe và ký tên bằng phương thức điện tử." } ], "id": "536", "is_impossible": false, "question": "Đăng ký xe máy theo tạm trú, chuyển nơi khác cần làm gì?" } ] } ], "title": "Đăng ký xe máy theo tạm trú, chuyển nơi khác cần làm gì?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) – Cử tri tỉnh Lâm Đồng có kiến nghị gửi tới Bộ Xây dựng sau Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV với nội dung: “Cử tri đề nghị Chính phủ thành lập Đoàn kiểm tra toàn bộ các quy hoạch treo, tồn tại lâu mà không thực hiện gây khó khăn, bức xúc, ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân, nếu quy hoạch không có tính khả thi thì dỡ bỏ”. Ảnh minh họa. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng xin trả lời vấn đề này như sau: Thời gian qua, để khắc phục tình trạng “quy hoạch treo”, “dự án treo” ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân, Bộ Xây dựng đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua Luật Xây dựng sửa đổi số 62/2020/QH14, trong đó quy định người dân được cấp phép xây dựng có thời hạn tại khu vực đã có quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, công bố nhưng chưa thực hiện và chưa có quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Về việc kiểm tra, hướng dẫn các địa phương, hàng năm, Bộ Xây dựng đều ban hành các kế hoạch kiểm tra, hướng dẫn công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực quy hoạch, kiến trúc tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn các địa phương thực hiện theo quy hoạch đô thị được duyệt. Nội dung hướng dẫn, kiểm tra chủ yếu về việc thực hiện, áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến công tác lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch; điều chỉnh quy hoạch; việc tổ chức lấy ý kiến; công tác công bố quy hoạch, cung cấp thông tin quy hoạch; quản lý kiến trúc; quản lý hạ tầng kỹ thuật, môi trường, phát triển đô thị theo quy hoạch. Đồng thời, Bộ Xây dựng đã tổ chức các đoàn thanh tra tại các địa phương trong công tác quản lý thực hiện theo quy hoạch, kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm. Trên cơ sở đó, Bộ Xây dựng đã rà soát để sửa đổi, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật phù hợp với thực tiễn; một số địa phương cũng đã điều chỉnh các quy định, ban hành các văn bản chấn chỉnh việc thực hiện theo quy hoạch được duyệt, thực hiện việc cung cấp thông tin về quy hoạch; các chủ đầu tư cũng đã chấn chỉnh việc đăng tải thông tin về bất động sản đưa vào kinh doanh, khắc phục các vi phạm về quy hoạch chi tiết xây dựng và xin cấp giấy phép xây dựng theo quy định. Gần đây nhất, ngày 05/6/2023, Bộ Xây dựng đã có Văn bản số 2390/BXD-QHKT đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường rà soát, điều chỉnh quy hoạch chung đô thị, quy hoạch chung xây dựng khu chức năng, quy hoạch xây dựng vùng liên huyện, vùng huyện và quy hoạch chung xây dựng xã để phù hợp với quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh; tổ chức rà soát các cấp độ quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng đã được lập, phê duyệt trên địa bàn đồng thời với việc rà soát các dự án chậm triển khai, dự án đã bị thu hồi để điều chỉnh quy hoạch theo quy định pháp luật; rà soát, bổ sung nội dung về quy hoạch không gian xây dựng ngầm đô thị (nếu có); bảo đảm sự thống nhất giữa các cấp độ quy hoạch để thực hiện quản lý phát triển đô thị và lập dự án đầu tư xây dựng hiệu quả, đồng bộ. Để khắc phục triệt để tình trạng này, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa Bộ, ngành và chính quyền các địa phương, cụ thể: Bộ Xây dựng và các Bộ, ngành liên quan cần tập trung: Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn về quy hoạch xây dựng, đầu tư xây dựng: sửa đổi, bổ sung Luật Xây dựng; xây dựng Luật Quản lý phát triển đô thị, Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn theo Chương trình xây dựng luật của Quốc hội (hiện nay, dự thảo Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn đã được Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV, dự kiến trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 8, tháng 10/2024); pháp luật về đầu tư, đất đai, nhà ở,… trong đó có các nội dung liên quan quy định về lập, thẩm định quy hoạch xây dựng; tăng cường sự tham gia của cộng đồng dân cư trong quá trình lấy ý kiến đồ án quy hoạch; thẩm định dự án đầu tư xây dựng, tăng cường thẩm tra về năng lực của chủ đầu tư về vốn, khả năng huy động vốn, về năng lực quản lý và nhân sự; quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý, cơ quan tư vấn đối với chất lượng quy hoạch. Hoàn thiện thể chế về thanh tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch. Tổ chức triển khai thực hiện nghiêm Nghị Quyết số 82/2019/QH14 ngày 14/6/2019 của Quốc hội về tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị; phối hợp với các địa phương triển khai thực hiện Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 01/3/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chấn chỉnh công tác quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quản lý phát triển theo đô thị theo quy hoạch được duyệt. Xây dựng các cơ chế chính sách thu hút đầu tư (xã hội hóa) và đa dạng hóa hình thức đầu tư cho việc đầu tư các công trình xã hội như công viên cây xanh, y tế, giáo dục và các công trình giao thông. Tăng cường hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các địa phương trong công tác quản lý thực hiện quy hoạch để kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm như thu hồi các dự án chậm tiến độ theo quy định; xử lý các cán bộ gây ách tắc làm thiệt hại cho nhà đầu tư, Nhà nước, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người dân. Chính quyền các địa phương cần: Tổ chức rà soát quy hoạch theo quy định, kịp thời điều chỉnh quy hoạch để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội theo quy định tại các Điều 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52 của Luật Quy hoạch đô thị. Rà soát để kịp thời điều chỉnh hoặc hủy bỏ quy hoạch thiếu khả thi, không thể triển khai thực hiện; rà soát các dự án để có phương án kiểm tra, đôn đốc tiến độ và kiên quyết thu hồi đối với những dự án chậm tiến độ, khắc phục tình trạng “dự án treo”. Xây dựng kế hoạch thực hiện quy hoạch, công khai quy hoạch và kế hoạch thực hiện theo đúng quy định. Lập kế hoạch đầu tư trung hạn và hàng năm, ưu tiên đầu tư hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật đô thị. Xây dựng chương trình phát triển đô thị, khu vực phát triển đô thị và kiểm soát chặt chẽ đô thị hóa và chất lượng đô thị. Kịp thời xử lý các vi phạm trong việc thực hiện quy hoạch. Tăng cường việc giám sát của người dân, của Đoàn đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc,… trong quá trình lập và thực hiện quy hoạch, dự án đầu tư xây dựng. Trong thời gian tới, Bộ Xây dựng sẽ phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để khảo sát, trao đổi, hướng dẫn các địa phương trong thực hiện rà soát quy hoạch, các dự án đầu tư để có phương án kiểm tra, đôn đốc tiến độ, cũng như kiên quyết thu hồi đối với những dự án chậm tiến độ; đồng thời nâng cao chất lượng công tác thẩm định, phê duyệt quy hoạch, dự án nhằm phát huy hiệu quả, giải phóng nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 116, "text": "“Cử tri đề nghị Chính phủ thành lập Đoàn kiểm tra toàn bộ các quy hoạch treo, tồn tại lâu mà không thực hiện gây khó khăn, bức xúc, ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân, nếu quy hoạch không có tính khả thi thì dỡ bỏ”. Ảnh minh họa. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng xin trả lời vấn đề này như sau: Thời gian qua, để khắc phục tình trạng “quy hoạch treo”, “dự án treo” ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân, Bộ Xây dựng đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua Luật Xây dựng sửa đổi số 62/2020/QH14, trong đó quy định người dân được cấp phép xây dựng có thời hạn tại khu vực đã có quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, công bố nhưng chưa thực hiện và chưa có quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Về việc kiểm tra, hướng dẫn các địa phương, hàng năm, Bộ Xây dựng đều ban hành các kế hoạch kiểm tra, hướng dẫn công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực quy hoạch, kiến trúc tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn các địa phương thực hiện theo quy hoạch đô thị được duyệt. Nội dung hướng dẫn, kiểm tra chủ yếu về việc thực hiện, áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến công tác lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch; điều chỉnh quy hoạch; việc tổ chức lấy ý kiến; công tác công bố quy hoạch, cung cấp thông tin quy hoạch; quản lý kiến trúc; quản lý hạ tầng kỹ thuật, môi trường, phát triển đô thị theo quy hoạch. Đồng thời, Bộ Xây dựng đã tổ chức các đoàn thanh tra tại các địa phương trong công tác quản lý thực hiện theo quy hoạch, kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm. Trên cơ sở đó, Bộ Xây dựng đã rà soát để sửa đổi, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật phù hợp với thực tiễn; một số địa phương cũng đã điều chỉnh các quy định, ban hành các văn bản chấn chỉnh việc thực hiện theo quy hoạch được duyệt, thực hiện việc cung cấp thông tin về quy hoạch; các chủ đầu tư cũng đã chấn chỉnh việc đăng tải thông tin về bất động sản đưa vào kinh doanh, khắc phục các vi phạm về quy hoạch chi tiết xây dựng và xin cấp giấy phép xây dựng theo quy định. Gần đây nhất, ngày 05/6/2023, Bộ Xây dựng đã có Văn bản số 2390/BXD-QHKT đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường rà soát, điều chỉnh quy hoạch chung đô thị, quy hoạch chung xây dựng khu chức năng, quy hoạch xây dựng vùng liên huyện, vùng huyện và quy hoạch chung xây dựng xã để phù hợp với quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh; tổ chức rà soát các cấp độ quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng đã được lập, phê duyệt trên địa bàn đồng thời với việc rà soát các dự án chậm triển khai, dự án đã bị thu hồi để điều chỉnh quy hoạch theo quy định pháp luật; rà soát, bổ sung nội dung về quy hoạch không gian xây dựng ngầm đô thị (nếu có); bảo đảm sự thống nhất giữa các cấp độ quy hoạch để thực hiện quản lý phát triển đô thị và lập dự án đầu tư xây dựng hiệu quả, đồng bộ. Để khắc phục triệt để tình trạng này, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa Bộ, ngành và chính quyền các địa phương, cụ thể: Bộ Xây dựng và các Bộ, ngành liên quan cần tập trung: Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn về quy hoạch xây dựng, đầu tư xây dựng: sửa đổi, bổ sung Luật Xây dựng; xây dựng Luật Quản lý phát triển đô thị, Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn theo Chương trình xây dựng luật của Quốc hội (hiện nay, dự thảo Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn đã được Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV, dự kiến trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 8, tháng 10/2024); pháp luật về đầu tư, đất đai, nhà ở,… trong đó có các nội dung liên quan quy định về lập, thẩm định quy hoạch xây dựng; tăng cường sự tham gia của cộng đồng dân cư trong quá trình lấy ý kiến đồ án quy hoạch; thẩm định dự án đầu tư xây dựng, tăng cường thẩm tra về năng lực của chủ đầu tư về vốn, khả năng huy động vốn, về năng lực quản lý và nhân sự; quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý, cơ quan tư vấn đối với chất lượng quy hoạch. Hoàn thiện thể chế về thanh tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch. Tổ chức triển khai thực hiện nghiêm Nghị Quyết số 82/2019/QH14 ngày 14/6/2019 của Quốc hội về tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị; phối hợp với các địa phương triển khai thực hiện Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 01/3/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chấn chỉnh công tác quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quản lý phát triển theo đô thị theo quy hoạch được duyệt. Xây dựng các cơ chế chính sách thu hút đầu tư (xã hội hóa) và đa dạng hóa hình thức đầu tư cho việc đầu tư các công trình xã hội như công viên cây xanh, y tế, giáo dục và các công trình giao thông. Tăng cường hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các địa phương trong công tác quản lý thực hiện quy hoạch để kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm như thu hồi các dự án chậm tiến độ theo quy định; xử lý các cán bộ gây ách tắc làm thiệt hại cho nhà đầu tư, Nhà nước, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người dân. Chính quyền các địa phương cần: Tổ chức rà soát quy hoạch theo quy định, kịp thời điều chỉnh quy hoạch để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội theo quy định tại các Điều 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52 của Luật Quy hoạch đô thị. Rà soát để kịp thời điều chỉnh hoặc hủy bỏ quy hoạch thiếu khả thi, không thể triển khai thực hiện; rà soát các dự án để có phương án kiểm tra, đôn đốc tiến độ và kiên quyết thu hồi đối với những dự án chậm tiến độ, khắc phục tình trạng “dự án treo”. Xây dựng kế hoạch thực hiện quy hoạch, công khai quy hoạch và kế hoạch thực hiện theo đúng quy định. Lập kế hoạch đầu tư trung hạn và hàng năm, ưu tiên đầu tư hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật đô thị. Xây dựng chương trình phát triển đô thị, khu vực phát triển đô thị và kiểm soát chặt chẽ đô thị hóa và chất lượng đô thị. Kịp thời xử lý các vi phạm trong việc thực hiện quy hoạch. Tăng cường việc giám sát của người dân, của Đoàn đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc,… trong quá trình lập và thực hiện quy hoạch, dự án đầu tư xây dựng. Trong thời gian tới, Bộ Xây dựng sẽ phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để khảo sát, trao đổi, hướng dẫn các địa phương trong thực hiện rà soát quy hoạch, các dự án đầu tư để có phương án kiểm tra, đôn đốc tiến độ, cũng như kiên quyết thu hồi đối với những dự án chậm tiến độ; đồng thời nâng cao chất lượng công tác thẩm định, phê duyệt quy hoạch, dự án nhằm phát huy hiệu quả, giải phóng nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước." } ], "id": "537", "is_impossible": false, "question": "Lâm Đồng: Kiến nghị thành lập Đoàn kiểm tra toàn bộ các quy hoạch treo" } ] } ], "title": "Lâm Đồng: Kiến nghị thành lập Đoàn kiểm tra toàn bộ các quy hoạch treo" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Hành khách hay tài xế taxi có lỗi?Vừa qua, mạng xã hội chia sẻ đoạn clip ghi lại vụ tai nạn giao thông xảy ra trên đường qua Khu công nghiệp Nguyễn Đức Cảnh, TP Thái Bình, tỉnh Thái Bình khiến một người thiệt mạng.Theo hình ảnh camera giám sát hành trình trên xe buýt ghi lại, cuối giờ chiều 18/10, người đàn ông lái xe máy đang đi trên tuyến đường Trần Thủ Độ thì chiếc taxi màu xanh bất ngờ mở bung cánh cửa phía sau bên trái phía lòng đường. Người đi xe máy bị cánh cửa xe taxi hất ngã, đúng lúc này, xe buýt chạy tới tông tử vong nạn nhân.Clip: Khách đi taxi mở cửa bất cẩn làm người lái xe máy ngã ra đường, bị xe buýt tông tử vongSau khi clip về vụ tai nạn được lan truyền trên mạng xã hội, nhiều người rất bức xúc về sự tùy tiện, bất cẩn, vi phạm quy định pháp luật trật tự an toàn giao thông của người khách ngồi trên chiếc taxi.Đồng thời, nhiều người tranh luận về việc, tài xế taxi, hay tài xế xe buýt, người khách mở cửa xe sẽ phải chịu trách nhiệm về vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng khiến người đi xe máy tử vong này.Luận bàn về nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, khi ngồi trên ô tô tham gia giao thông, không chỉ tài xế mà bất cứ người nào cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc về an toàn giao thông. Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định về trách nhiệm của người điều khiển phương tiện khi dừng, đỗ xe phải có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết. \"Dựa trên kinh nghiệm điều khiển ô tô, các lái xe dịch vụ hầu hết luôn bấm khóa chốt cửa sau bên trái để tất cả khách lên xuống bằng cửa bên phải nhằm đảm bảo an toàn, hoặc nhắc nhở khách xuống cửa bên phải, giúp ngăn ngừa, hạn chế các vụ va chạm có thể xảy ra\", luật sư Lực phân tích. Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình.Trường hợp trên đường đã xây dựng nơi dừng xe, đỗ xe hoặc quy định các điểm dừng xe, đỗ xe thì phải dừng, đỗ xe tại các vị trí đó.Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn. Nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết.Đặc biệt, không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn.Căn cứ quy định trên, tài xế có trách nhiệm đảm bảo thực hiện các biện pháp an toàn khi dừng, đỗ xe, trong đó tuyệt đối không được để cửa xe mở khi chưa đảm bảo điều kiện an toàn.Như vậy, nếu tài xế không đảm bảo các biện pháp này dẫn đến khách ngồi sau mở cửa xe bên trái khi chưa đảm bảo điều kiện an toàn thì tài xế cũng phải chịu trách nhiệm khi tai nạn xảy ra.Ngược lại, trường hợp tài xế đã tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật nhưng người ngồi phía sau vẫn cố tình thực hiện gây tai nạn, đây là sự kiện nằm ngoài kiểm soát của người điều khiển phương tiện. Khi đó, người lái xe sẽ được xác định là không có lỗi, được miễn trách nhiệm.Lúc này, hành khách ngồi sau xe gây tai nạn phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với hành vi mở cửa xe bất cẩn gây tai nạn khiến 1 người tử vong. Và tài xế này có thể phải chịu trách nhiệm hình sự Tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt lên đến 15 năm tù.Khoảnnh khắc người đi xe máy ngã xuống đường sau khi người ngồi trên taxi mở cửa.Tài xế xe buýt có phải chịu trách nhiệm?Ngoài ra, trong vụ việc trên, trách nhiệm của tài xế xe buýt cũng là một vấn đề được nhiều người quan tâm. Theo luật sư Quách Thành Lực, vấn đề mấu chốt cần làm rõ là người lái xe buýt đã tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật Giao thông đường bộ về tốc độ, làn đường và cách xử lý khi gặp sự cố hay chưa.Nếu tài xế đã tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật, còn va chạm xảy ra trong một khoảnh khắc rất ngắn, người bị hại ngã xuống đường một cách đột ngột khiến tài xế không thể kiểm soát tay lái dẫn tới chết người, đây có thể được đánh giá là sự kiện bất ngờ theo quy định tại Điều 20 Bộ luật Hình sự 2015.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).\"Theo Điều 20 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, nếu kết quả xác minh của cơ quan điều tra cho thấy tài xế xe buýt hoàn toàn không có lỗi và đã tìm cách hạn chế tối đa hậu quả, song do sự kiện bất ngờ nên thiệt hại vẫn xảy ra, người này sẽ được miễn trách nhiệm hình sự và cũng không phải chịu trách nhiệm bồi thường dân sự\", luật sư Lực nhận định.Ngược lại, nếu kết quả xác minh cho thấy người này chưa tuân thủ các quy định pháp luật về giao thông đường bộ như không đi đúng tốc độ cho phép, thiếu chú ý quan sát, gây ra va chạm với người bị hại dẫn đến hậu quả chết người thì người này có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 549, "text": "Khách đi taxi mở cửa bất cẩn làm người lái xe máy ngã ra đường, bị xe buýt tông tử vongSau khi clip về vụ tai nạn được lan truyền trên mạng xã hội, nhiều người rất bức xúc về sự tùy tiện, bất cẩn, vi phạm quy định pháp luật trật tự an toàn giao thông của người khách ngồi trên chiếc taxi.Đồng thời, nhiều người tranh luận về việc, tài xế taxi, hay tài xế xe buýt, người khách mở cửa xe sẽ phải chịu trách nhiệm về vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng khiến người đi xe máy tử vong này.Luận bàn về nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, khi ngồi trên ô tô tham gia giao thông, không chỉ tài xế mà bất cứ người nào cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc về an toàn giao thông. Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định về trách nhiệm của người điều khiển phương tiện khi dừng, đỗ xe phải có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết. \"Dựa trên kinh nghiệm điều khiển ô tô, các lái xe dịch vụ hầu hết luôn bấm khóa chốt cửa sau bên trái để tất cả khách lên xuống bằng cửa bên phải nhằm đảm bảo an toàn, hoặc nhắc nhở khách xuống cửa bên phải, giúp ngăn ngừa, hạn chế các vụ va chạm có thể xảy ra\", luật sư Lực phân tích. Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình.Trường hợp trên đường đã xây dựng nơi dừng xe, đỗ xe hoặc quy định các điểm dừng xe, đỗ xe thì phải dừng, đỗ xe tại các vị trí đó.Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn. Nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết.Đặc biệt, không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn.Căn cứ quy định trên, tài xế có trách nhiệm đảm bảo thực hiện các biện pháp an toàn khi dừng, đỗ xe, trong đó tuyệt đối không được để cửa xe mở khi chưa đảm bảo điều kiện an toàn.Như vậy, nếu tài xế không đảm bảo các biện pháp này dẫn đến khách ngồi sau mở cửa xe bên trái khi chưa đảm bảo điều kiện an toàn thì tài xế cũng phải chịu trách nhiệm khi tai nạn xảy ra.Ngược lại, trường hợp tài xế đã tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật nhưng người ngồi phía sau vẫn cố tình thực hiện gây tai nạn, đây là sự kiện nằm ngoài kiểm soát của người điều khiển phương tiện. Khi đó, người lái xe sẽ được xác định là không có lỗi, được miễn trách nhiệm.Lúc này, hành khách ngồi sau xe gây tai nạn phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với hành vi mở cửa xe bất cẩn gây tai nạn khiến 1 người tử vong. Và tài xế này có thể phải chịu trách nhiệm hình sự Tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt lên đến 15 năm tù.Khoảnnh khắc người đi xe máy ngã xuống đường sau khi người ngồi trên taxi mở cửa.Tài xế xe buýt có phải chịu trách nhiệm?Ngoài ra, trong vụ việc trên, trách nhiệm của tài xế xe buýt cũng là một vấn đề được nhiều người quan tâm. Theo luật sư Quách Thành Lực, vấn đề mấu chốt cần làm rõ là người lái xe buýt đã tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật Giao thông đường bộ về tốc độ, làn đường và cách xử lý khi gặp sự cố hay chưa.Nếu tài xế đã tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật, còn va chạm xảy ra trong một khoảnh khắc rất ngắn, người bị hại ngã xuống đường một cách đột ngột khiến tài xế không thể kiểm soát tay lái dẫn tới chết người, đây có thể được đánh giá là sự kiện bất ngờ theo quy định tại Điều 20 Bộ luật Hình sự 2015.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).\"Theo Điều 20 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, nếu kết quả xác minh của cơ quan điều tra cho thấy tài xế xe buýt hoàn toàn không có lỗi và đã tìm cách hạn chế tối đa hậu quả, song do sự kiện bất ngờ nên thiệt hại vẫn xảy ra, người này sẽ được miễn trách nhiệm hình sự và cũng không phải chịu trách nhiệm bồi thường dân sự\", luật sư Lực nhận định.Ngược lại, nếu kết quả xác minh cho thấy người này chưa tuân thủ các quy định pháp luật về giao thông đường bộ như không đi đúng tốc độ cho phép, thiếu chú ý quan sát, gây ra va chạm với người bị hại dẫn đến hậu quả chết người thì người này có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015." } ], "id": "538", "is_impossible": false, "question": "Khách trên taxi mở cửa bất cẩn làm người đi xe máy tử vong: Ai chịu trách nhiệm?" } ] } ], "title": "Khách trên taxi mở cửa bất cẩn làm người đi xe máy tử vong: Ai chịu trách nhiệm?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng được kiến nghị của cử tri tỉnh Hà Nam do Ban Dân nguyện chuyển đến với nội dung kiến nghị: “Chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng đã được quy định tại Nghị định số 131/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ, được xác định trong Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia giai đoạn 2021-2030 theo Quyết định số 2161/QĐ-TTg ngày 22/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ cùng các chính sách hỗ trợ các hộ nghèo tại khu vực nông thôn có khó khăn về nhà ở. Tuy nhiên đến nay các chính sách cụ thể để triển khai thực hiện chưa được ban hành. Đề nghị sớm ban hành quy định cụ thể về mức hỗ trợ và tổ chức thực hiện để đảm bảo việc thực hiện chính sách kịp thời”. Ảnh minh họa. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng xin trả lời như sau: Đối với chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng Ngày 30/12/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 131/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Theo đó, Chính phủ giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành mức hỗ trợ xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở và tỷ lệ phân bổ vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, tỷ lệ đối ứng vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao, ngày 19/12/2022, Bộ Xây dựng đã đã có Tờ trình số 61/TTr-BXD kèm theo dự thảo Quyết định quy định mức hỗ trợ và tỷ lệ phân bổ vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, tỷ lệ đối ứng vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương giai đoạn 2022-2025 trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định để các Bộ, ngành, địa phương có cơ sở thực hiện trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, việc ban hành chính sách này gặp khó khăn, vướng mắc do còn có ý kiến khác nhau của các Bộ ngành trong việc bố trí nguồn vốn từ ngân sách trung ương thực hiện (vốn sự nghiệp hoặc vốn đầu tư phát triển). Do vậy, ngày 17/4/2024, Bộ Xây dựng đã có Văn bản số 1614/BXD-QLN báo cáo Thủ tướng Chính phủ về nguồn vốn thực hiện các chính sách. Ngày 22/5/2024, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đã tổ chức cuộc họp tại Văn phòng Chính phủ với các Bộ, ngành: Xây dựng, Lao động - Thương binh và Xã hội, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Văn phòng Chính phủ về các chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng, người nghèo khu vực nông thôn và người nghèo vùng bão lụt. Theo đó, Văn phòng Chính phủ đã có Thông báo số 248/TB-VPCP ngày 29/5/2024 về kết luận cuộc họp của Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà. Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, Bộ Xây dựng đã có các văn bản: số 3418/BXD-QLN ngày 07/6/2024 gửi Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, số 3419/BXD-QLN ngày 07/6/2024 gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường, số 3420/BXD-QLN ngày 07/6/2024 gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 3446/BXD-QLN ngày 10/6/2024 gửi Bộ Tài chính, số 3447/BXD-QLN ngày 10/6/2024 gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số 3421/BXD-QLN ngày 07/6/2024 gửi các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để phối hợp, thực hiện các nội dung tại Thông báo kết luận số 248/TB-VPCP để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Trên cơ sở ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương, Bộ Xây dựng đã hoàn thiện hồ sơ dự thảo Quyết định nêu trên và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt tại Văn bản số 4422/BXD-QLN ngày 05/8/2024. Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục thực hiện các phần việc cần thiết sau khi có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ để chính sách sớm được ban hành. Ngày 27/9/2024, Thường trực Chính phủ đã tổ chức cuộc họp và Thủ tướng Chính phủ đã cho ý kiến về việc ban hành chính sách hỗ trợ nhà ở đối với người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng đã tiếp thu, hoàn thiện dự thảo Quyết định quy định mức hỗ trợ và tỷ lệ phân bổ vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, tỷ lệ đối ứng vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương giai đoạn 2022-2025 kèm theo Tờ trình số 61/TTr-BXD và có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chính sách này (tại Văn bản số 5708 /BXD-QLN ngày 07/10/2024). Đối với các chính sách hỗ trợ các hộ nghèo tại khu vực nông thôn có khó khăn về nhà ở Hiện nay, việc hỗ trợ các hộ nghèo tại khu vực nông thôn có khó khăn về nhà ở đang được triển khai thực hiện theo các chính sách như sau: Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 - Dự án 5 “Hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn các huyện nghèo” với mục tiêu hỗ trợ nhà ở cho khoảng 100.000 hộ nghèo và cận nghèo. Đến nay, chương trình đã hỗ trợ cho khoảng 36.340 hộ. Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I; từ năm 2021 đến năm 2025, nội dung số 2 - Dự án 1 “Hỗ trợ nhà ở”. Đến ngày 03/6/2024, các địa phương đã thực hiện hỗ trợ được hơn 8.000 căn nhà cho các hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (theo ý kiến của Ủy ban Dân tộc tại phiên họp ngày 03/6/2024 do Phó Thủ tướng Lê Minh Khái chủ trì). Đối với các chính sách hỗ trợ nhà ở tại khu vực nông thôn có khó khăn về nhà ở đã được trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt như: Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 kèm theo Tờ trình số 60/TTr-BXD ngày 19/12/2022 của Bộ Xây dựng (sau khi Bộ Xây dựng tổng kết chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg ngày 10/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ). Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, ngập lụt theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 kèm theo Tờ trình số 62/TTr-BXD ngày 19/12/2022 của Bộ Xây dựng (sau khi Bộ Xây dựng tổng kết chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung theo Quyết định số 48/2014/QĐ-TTg ngày 28/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ). Việc ban hành 02 chính sách này gặp khó khăn, vướng mắc do còn có ý kiến khác nhau của các Bộ ngành trong việc bố trí nguồn vốn từ ngân sách trung ương thực hiện (vốn sự nghiệp hoặc vốn đầu tư phát triển). Do vậy, ngày 17/4/2024, Bộ Xây dựng đã có Văn bản số 1614/BXD-QLN báo cáo Thủ tướng Chính phủ về nguồn vốn thực hiện các chính sách. Ngày 22/5/2024, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đã tổ chức cuộc họp tại Văn phòng Chính phủ với các Bộ ngành: Xây dựng, Lao động – Thương binh và Xã hội, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Văn phòng Chính phủ về các chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng, người nghèo khu vực nông thôn và người nghèo vùng bão lụt. Theo đó, Văn phòng Chính phủ đã có Thông báo số 248/TB-VPCP ngày 29/5/2024 về kết luận cuộc họp của Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà. Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, Bộ Xây dựng đã có các văn bản: số 3418/BXD-QLN ngày 07/6/2024 gửi Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, số 3419/BXD-QLN ngày 07/6/2024 gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường, số 3420/BXD-QLN ngày 07/6/2024 gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 3446/BXD-QLN ngày 10/6/2024 gửi Bộ Tài chính, số 3447/BXD-QLN ngày 10/6/2024 gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số 3421/BXD-QLN ngày 07/6/2024 gửi các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để phối hợp, thực hiện các nội dung tại Thông báo kết luận số 248/TB-VPCP để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang khẩn trương tổng hợp ý kiến của các Bộ ngành, địa phương để hoàn thiện hồ sơ dự thảo 02 Quyết định và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt. Ngoài ra, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về phát động phong trào thi đua “Xóa nhà tạm, nhà dột nát” trên cả nước với tinh thần tương thân, tương ái, không để ai bị bỏ lại phía sau; Quyết định số 656/QĐ-TTg ngày 16/7/2024 thành lập Quỹ cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo do Bộ Tài chính chủ trì, Bộ Xây dựng được giao: “a) Soạn thảo, trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy định cụ thể đối tượng, định mức hỗ trợ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền phê duyệt chi hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát sử dụng nguồn chi từ Quỹ này và các quy định liên quan đến tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ sử dụng nguồn chi hỗ trợ từ Quỹ đảm bảo chặt chẽ, không trùng lắp với các hoạt động hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước”. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Xây dựng đã có Tờ trình số 43/TTr-BXD ngày 09/9/2024 trình Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về đẩy nhanh thực hiện chương trình chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo. Đồng thời, Bộ Xây dựng cũng đang hoàn thiện dự thảo Tờ trình và dự thảo Quyết định Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo xóa nhà tạm, nhà dột nát để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành. Ngày 01/10/2024, Thường trực Chính phủ đã tổ chức cuộc họp và Thủ tướng Chính phủ đã cho ý kiến về việc thực hiện Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo. Bộ Xây dựng sẽ thực hiện kết luận cuộc họp để tiếp tục thực hiện các phần việc cần thiết tiếp theo. Như vậy, các chính sách hỗ trợ nhà ở nêu trên sẽ đảm bảo tính thống nhất, tập trung và kịp thời việc thực hiện trong thời gian tới.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 116, "text": "“Chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng đã được quy định tại Nghị định số 131/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ, được xác định trong Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia giai đoạn 2021-2030 theo Quyết định số 2161/QĐ-TTg ngày 22/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ cùng các chính sách hỗ trợ các hộ nghèo tại khu vực nông thôn có khó khăn về nhà ở. Tuy nhiên đến nay các chính sách cụ thể để triển khai thực hiện chưa được ban hành. Đề nghị sớm ban hành quy định cụ thể về mức hỗ trợ và tổ chức thực hiện để đảm bảo việc thực hiện chính sách kịp thời”. Ảnh minh họa. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng xin trả lời như sau: Đối với chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng Ngày 30/12/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 131/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Theo đó, Chính phủ giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành mức hỗ trợ xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở và tỷ lệ phân bổ vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, tỷ lệ đối ứng vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao, ngày 19/12/2022, Bộ Xây dựng đã đã có Tờ trình số 61/TTr-BXD kèm theo dự thảo Quyết định quy định mức hỗ trợ và tỷ lệ phân bổ vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, tỷ lệ đối ứng vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương giai đoạn 2022-2025 trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định để các Bộ, ngành, địa phương có cơ sở thực hiện trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, việc ban hành chính sách này gặp khó khăn, vướng mắc do còn có ý kiến khác nhau của các Bộ ngành trong việc bố trí nguồn vốn từ ngân sách trung ương thực hiện (vốn sự nghiệp hoặc vốn đầu tư phát triển). Do vậy, ngày 17/4/2024, Bộ Xây dựng đã có Văn bản số 1614/BXD-QLN báo cáo Thủ tướng Chính phủ về nguồn vốn thực hiện các chính sách. Ngày 22/5/2024, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đã tổ chức cuộc họp tại Văn phòng Chính phủ với các Bộ, ngành: Xây dựng, Lao động - Thương binh và Xã hội, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Văn phòng Chính phủ về các chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng, người nghèo khu vực nông thôn và người nghèo vùng bão lụt. Theo đó, Văn phòng Chính phủ đã có Thông báo số 248/TB-VPCP ngày 29/5/2024 về kết luận cuộc họp của Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà. Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, Bộ Xây dựng đã có các văn bản: số 3418/BXD-QLN ngày 07/6/2024 gửi Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, số 3419/BXD-QLN ngày 07/6/2024 gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường, số 3420/BXD-QLN ngày 07/6/2024 gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 3446/BXD-QLN ngày 10/6/2024 gửi Bộ Tài chính, số 3447/BXD-QLN ngày 10/6/2024 gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số 3421/BXD-QLN ngày 07/6/2024 gửi các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để phối hợp, thực hiện các nội dung tại Thông báo kết luận số 248/TB-VPCP để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Trên cơ sở ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương, Bộ Xây dựng đã hoàn thiện hồ sơ dự thảo Quyết định nêu trên và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt tại Văn bản số 4422/BXD-QLN ngày 05/8/2024. Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục thực hiện các phần việc cần thiết sau khi có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ để chính sách sớm được ban hành. Ngày 27/9/2024, Thường trực Chính phủ đã tổ chức cuộc họp và Thủ tướng Chính phủ đã cho ý kiến về việc ban hành chính sách hỗ trợ nhà ở đối với người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng đã tiếp thu, hoàn thiện dự thảo Quyết định quy định mức hỗ trợ và tỷ lệ phân bổ vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, tỷ lệ đối ứng vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương giai đoạn 2022-2025 kèm theo Tờ trình số 61/TTr-BXD và có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chính sách này (tại Văn bản số 5708 /BXD-QLN ngày 07/10/2024). Đối với các chính sách hỗ trợ các hộ nghèo tại khu vực nông thôn có khó khăn về nhà ở Hiện nay, việc hỗ trợ các hộ nghèo tại khu vực nông thôn có khó khăn về nhà ở đang được triển khai thực hiện theo các chính sách như sau: Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 - Dự án 5 “Hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn các huyện nghèo” với mục tiêu hỗ trợ nhà ở cho khoảng 100.000 hộ nghèo và cận nghèo. Đến nay, chương trình đã hỗ trợ cho khoảng 36.340 hộ. Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I; từ năm 2021 đến năm 2025, nội dung số 2 - Dự án 1 “Hỗ trợ nhà ở”. Đến ngày 03/6/2024, các địa phương đã thực hiện hỗ trợ được hơn 8.000 căn nhà cho các hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (theo ý kiến của Ủy ban Dân tộc tại phiên họp ngày 03/6/2024 do Phó Thủ tướng Lê Minh Khái chủ trì). Đối với các chính sách hỗ trợ nhà ở tại khu vực nông thôn có khó khăn về nhà ở đã được trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt như: Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 kèm theo Tờ trình số 60/TTr-BXD ngày 19/12/2022 của Bộ Xây dựng (sau khi Bộ Xây dựng tổng kết chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg ngày 10/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ). Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, ngập lụt theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 kèm theo Tờ trình số 62/TTr-BXD ngày 19/12/2022 của Bộ Xây dựng (sau khi Bộ Xây dựng tổng kết chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung theo Quyết định số 48/2014/QĐ-TTg ngày 28/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ). Việc ban hành 02 chính sách này gặp khó khăn, vướng mắc do còn có ý kiến khác nhau của các Bộ ngành trong việc bố trí nguồn vốn từ ngân sách trung ương thực hiện (vốn sự nghiệp hoặc vốn đầu tư phát triển). Do vậy, ngày 17/4/2024, Bộ Xây dựng đã có Văn bản số 1614/BXD-QLN báo cáo Thủ tướng Chính phủ về nguồn vốn thực hiện các chính sách. Ngày 22/5/2024, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đã tổ chức cuộc họp tại Văn phòng Chính phủ với các Bộ ngành: Xây dựng, Lao động – Thương binh và Xã hội, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Văn phòng Chính phủ về các chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng, người nghèo khu vực nông thôn và người nghèo vùng bão lụt. Theo đó, Văn phòng Chính phủ đã có Thông báo số 248/TB-VPCP ngày 29/5/2024 về kết luận cuộc họp của Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà. Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, Bộ Xây dựng đã có các văn bản: số 3418/BXD-QLN ngày 07/6/2024 gửi Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, số 3419/BXD-QLN ngày 07/6/2024 gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường, số 3420/BXD-QLN ngày 07/6/2024 gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 3446/BXD-QLN ngày 10/6/2024 gửi Bộ Tài chính, số 3447/BXD-QLN ngày 10/6/2024 gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số 3421/BXD-QLN ngày 07/6/2024 gửi các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để phối hợp, thực hiện các nội dung tại Thông báo kết luận số 248/TB-VPCP để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang khẩn trương tổng hợp ý kiến của các Bộ ngành, địa phương để hoàn thiện hồ sơ dự thảo 02 Quyết định và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt. Ngoài ra, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về phát động phong trào thi đua “Xóa nhà tạm, nhà dột nát” trên cả nước với tinh thần tương thân, tương ái, không để ai bị bỏ lại phía sau; Quyết định số 656/QĐ-TTg ngày 16/7/2024 thành lập Quỹ cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo do Bộ Tài chính chủ trì, Bộ Xây dựng được giao: “a) Soạn thảo, trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy định cụ thể đối tượng, định mức hỗ trợ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền phê duyệt chi hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát sử dụng nguồn chi từ Quỹ này và các quy định liên quan đến tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ sử dụng nguồn chi hỗ trợ từ Quỹ đảm bảo chặt chẽ, không trùng lắp với các hoạt động hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước”. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Xây dựng đã có Tờ trình số 43/TTr-BXD ngày 09/9/2024 trình Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về đẩy nhanh thực hiện chương trình chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo. Đồng thời, Bộ Xây dựng cũng đang hoàn thiện dự thảo Tờ trình và dự thảo Quyết định Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo xóa nhà tạm, nhà dột nát để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành. Ngày 01/10/2024, Thường trực Chính phủ đã tổ chức cuộc họp và Thủ tướng Chính phủ đã cho ý kiến về việc thực hiện Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo. Bộ Xây dựng sẽ thực hiện kết luận cuộc họp để tiếp tục thực hiện các phần việc cần thiết tiếp theo. Như vậy, các chính sách hỗ trợ nhà ở nêu trên sẽ đảm bảo tính thống nhất, tập trung và kịp thời việc thực hiện trong thời gian tới." } ], "id": "539", "is_impossible": false, "question": "Đảm bảo tính thống nhất chính sách hỗ trợ nhà ở người có công" } ] } ], "title": "Đảm bảo tính thống nhất chính sách hỗ trợ nhà ở người có công" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Bạn đọc Nguyễn Tuấn Anh (quận Hoàng Mai, TP Hà Nội) cho biết, hiện nay hành khách ngồi trên taxi chạy trên đường phố nội đô rất ít khi thắt dây an toàn. Nhiều khi phải có sự nhắc nhở của lái xe, hành khách mới thực hiện việc thắt dây an toàn.\"Xin hỏi, nếu hành khách không thắt dây an toàn khi ngồi trên taxi thì tài xế và hành khách có bị xử phạt không?\", bạn Tuấn Anh đặt câu hỏi.Hành khách ngồi trên xe taxi không thắt dây an toàn thì cả hành khách và tài xế đều bị xử phạt.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng luật sư Tinh Thông Luật (đoàn luật sư TP.HCM) cho biết, thắt dây an toàn là một trong những biện pháp giúp giảm thiểu nguy cơ chấn thương khi xảy ra tai nạn giao thông.Tuy nhiên, thực tế hiện nay, khi sử dụng dịch vụ taxi, một số hành khách vẫn chưa có thói quen thắt dây an toàn khi ngồi trên taxi.Luật sư Diệp Năng Bình cho biết, theo quy định của pháp luật hiện hành, việc không thắt dây an toàn khi ngồi trên ô tô (trong đó có cả taxi) sẽ bị xử phạt hành chính.Cụ thể, Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định quy tắc chung: Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.Ô tô có trang bị dây an toàn thì người lái xe và người ngồi hàng ghế phía trước trong xe ô tô phải thắt dây an toàn.\"Như vậy, theo quy tắc, tài xế và hành khách đều phải thắt dây an toàn\", ông Bình nói.Trưởng văn phòng luật sư Tinh Thông Luật cho biết, đối với trường hợp không thắt dây an toàn thì theo điểm p và điểm q khoản 3 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định, phạt tiền từ 800.000 - 1 triệu đồng đối với người điều khiển xe có một trong các hành vi vi phạm sau đây:Không thắt dây an toàn khi điều khiển xe chạy trên đường; Chở người trên xe ô tô không thắt dây an toàn (tại vị trí có trang bị dây an toàn) khi xe đang chạy.Như vậy, khi tài xế không thắt dây an toàn khi điều khiển xe cũng như chở người trên xe ô tô không thắt dây an toàn sẽ bị phạt tiền từ 800.000 - 1 triệu đồng.Trong khi đó, tại khoản 5 Điều 11 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định về việc xử phạt các hành vi vi phạm khác về quy tắc giao thông đường bộ nêu rõ, phạt tiền từ 300.000 - 500.000 đồng đối với người được chở trên xe ô tô không thắt dây an toàn (tại vị trí có trang bị dây an toàn) khi xe đang chạy.\"Như vậy, hành khách ngồi xe taxi nhưng không thắt dây an toàn sẽ bị phạt tiền từ 300.000 - 500.000 nghìn đồng. Theo các quy định trên, trong trường hợp hành khách ngồi trên taxi không thắt dây an toàn thì cả tài xế và hành khách đều sẽ bị xử phạt hành chính. Chính vì vậy, để tránh bị xử phạt hành chính và phòng tránh những chấn thương khi không may tai nạn giao thông, khi sử dụng dịch vụ taxi, người dân cần chấp hành nghiêm quy định thắt dây an toàn\", luật sư Diệp Năng Bình nói.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1078, "text": "Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.Ô tô có trang bị dây an toàn thì người lái xe và người ngồi hàng ghế phía trước trong xe ô tô phải thắt dây an toàn.\"Như vậy, theo quy tắc, tài xế và hành khách đều phải thắt dây an toàn\", ông Bình nói.Trưởng văn phòng luật sư Tinh Thông Luật cho biết, đối với trường hợp không thắt dây an toàn thì theo điểm p và điểm q khoản 3 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định, phạt tiền từ 800.000 - 1 triệu đồng đối với người điều khiển xe có một trong các hành vi vi phạm sau đây:Không thắt dây an toàn khi điều khiển xe chạy trên đường; Chở người trên xe ô tô không thắt dây an toàn (tại vị trí có trang bị dây an toàn) khi xe đang chạy.Như vậy, khi tài xế không thắt dây an toàn khi điều khiển xe cũng như chở người trên xe ô tô không thắt dây an toàn sẽ bị phạt tiền từ 800.000 - 1 triệu đồng.Trong khi đó, tại khoản 5 Điều 11 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định về việc xử phạt các hành vi vi phạm khác về quy tắc giao thông đường bộ nêu rõ, phạt tiền từ 300.000 - 500.000 đồng đối với người được chở trên xe ô tô không thắt dây an toàn (tại vị trí có trang bị dây an toàn) khi xe đang chạy.\"Như vậy, hành khách ngồi xe taxi nhưng không thắt dây an toàn sẽ bị phạt tiền từ 300.000 - 500.000 nghìn đồng. Theo các quy định trên, trong trường hợp hành khách ngồi trên taxi không thắt dây an toàn thì cả tài xế và hành khách đều sẽ bị xử phạt hành chính. Chính vì vậy, để tránh bị xử phạt hành chính và phòng tránh những chấn thương khi không may tai nạn giao thông, khi sử dụng dịch vụ taxi, người dân cần chấp hành nghiêm quy định thắt dây an toàn\", luật sư Diệp Năng Bình nói." } ], "id": "540", "is_impossible": false, "question": "Hành khách sẽ bị phạt tiền khi đi taxi không thắt dây an toàn" } ] } ], "title": "Hành khách sẽ bị phạt tiền khi đi taxi không thắt dây an toàn" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) – Bộ Xây dựng nhận được kiến nghị của cử tri tỉnh Long An gửi tới sau kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV do Ban Dân nguyện chuyển đến với nội dung: “Cử tri phản ánh, hiện nay còn rất nhiều người dân có thu nhập thấp không có nhà ở, nhưng lại có nhiều dự án bất động sản bị bỏ hoang mà người có thu nhập thấp không thể tiếp cận được. Cử tri kiến nghị Trung ương tiếp tục ban hành các cơ chế, chính sách để khắc phục tình trạng này”. Ảnh minh hoạ. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng xin trả lời như sau: 1. Trong điều kiện nguồn lực Nhà nước còn hạn chế, từ năm 2015 đến nay, việc tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật về phát triển nhà ở và nhà ở xã hội đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, qua đó góp phần giải quyết nhu cầu về nhà ở cho người dân nói chung, các nhóm đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội nói riêng, người dân có thu nhập thấp có điều kiện tiếp cận nhà ở và cải thiện chất lượng cuộc sống. Qua tổng hợp báo cáo của các địa phương về kết quả phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp khu vực đô thị và công nhân khu công nghiệp, tính từ năm 2010 đến nay, trên địa bàn cả nước đã có khoảng 804 dự án nhà ở xã hội đã được triển khai với quy mô 573.992 căn, trong đó: Số lượng dự án hoàn thành: 376 dự án với quy mô 195.676 căn; Số lượng dự án đã khởi công xây dựng: 128 dự án, quy mô 115.379 căn; Số lượng dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư: 300 dự án với quy mô 262.937 căn. Nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, nội dung tại các văn kiện Đại hội Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng về phát triển nhà ở và nhà ở xã hội, theo chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao là cơ quan quản lý nhà nước về phát triển nhà ở và nhà ở xã hội trên phạm vi cả nước, Bộ Xây dựng đã chủ trì nghiên cứu, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối đồng bộ, đầy đủ, đủ sức điều chỉnh hầu hết các hoạt động về quản lý, phát triển nhà ở và nhà ở xã hội. Giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2024 hệ thống này bao gồm: 01 Luật, 06 Nghị định; 04 Thông tư, trong đó các văn bản liên quan đến phát triển và quản lý nhà ở xã hội. Bộ Xây dựng cũng đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 09 Quyết định phê duyệt chương trình phát triển nhà ở cho các đối tượng chính sách và 01 Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp giai đoạn 2021-2030 (kèm theo Quyết định số 338/QĐ-TTg ngày 03/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cùng với sự vào cuộc và tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, đặc biệt là vai trò của các địa phương, lĩnh vực nhà ở đã đạt được những thành tựu quan trọng, giải quyết cơ bản được nhu cầu về nhà ở của người dân, đặc biệt là việc hỗ trợ cải thiện nhà ở cho người có công, các đối tượng chính sách xã hội, người thu nhập thấp khu vực đô thị, công nhân, người nghèo có khó khăn về nhà ở, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước, từng bước bảo đảm an sinh xã hội, “không ai bị bỏ lại phía sau”, đảm bảo người dân được yên tâm lao động sản xuất, đóng góp vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế xã hội đất nước. 2. Về phản ánh tình trạng có nhiều dự án bất động sản bỏ hoang Theo quy định của pháp luật, quá trình triển khai đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác, kinh doanh bất động sản của dự án bất động sản phải tuân thủ nhiều hệ thống pháp luật, như pháp luật về quy hoạch, pháp luật về đất đai, pháp luật về đầu tư, pháp luật về xây dựng, pháp luật về kinh doanh bất động sản… Theo quy định của pháp luật về đất đai, dự án bất động sản phải được triển khai đầu tư xây dựng, đưa đất vào sử dụng đất trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chủ đầu tư dự án nhận bàn giao đất. Quá thời hạn trên nếu chủ đầu tư dự án không đưa đất vào sử dụng mà không có lý do chính đáng thì chủ đầu tư dự án có thể bị thu hồi diện tích đất chủ đầu tư dự án đã nhận bàn giao để thực hiện dự án. Theo quy định của pháp luật về đầu tư, chủ đầu tư dự án sẽ bị xử phạt nếu không thực hiện triển khai đầu tư xây dựng theo tiến độ, nội dung dự án bất động sản đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận. Do vậy, để hạn chế tình trạng có dự án bất động sản bỏ hoang, chậm triển khai… như phản ánh của cử tri tỉnh Long An, các địa phương cần tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, đôn đốc, hướng dẫn việc triển khai đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác, kinh doanh đối với các dự án bất động sản theo các quy định của pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 155, "text": "“Cử tri phản ánh, hiện nay còn rất nhiều người dân có thu nhập thấp không có nhà ở, nhưng lại có nhiều dự án bất động sản bị bỏ hoang mà người có thu nhập thấp không thể tiếp cận được. Cử tri kiến nghị Trung ương tiếp tục ban hành các cơ chế, chính sách để khắc phục tình trạng này”. Ảnh minh hoạ. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng xin trả lời như sau: 1. Trong điều kiện nguồn lực Nhà nước còn hạn chế, từ năm 2015 đến nay, việc tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật về phát triển nhà ở và nhà ở xã hội đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, qua đó góp phần giải quyết nhu cầu về nhà ở cho người dân nói chung, các nhóm đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội nói riêng, người dân có thu nhập thấp có điều kiện tiếp cận nhà ở và cải thiện chất lượng cuộc sống. Qua tổng hợp báo cáo của các địa phương về kết quả phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp khu vực đô thị và công nhân khu công nghiệp, tính từ năm 2010 đến nay, trên địa bàn cả nước đã có khoảng 804 dự án nhà ở xã hội đã được triển khai với quy mô 573.992 căn, trong đó: Số lượng dự án hoàn thành: 376 dự án với quy mô 195.676 căn; Số lượng dự án đã khởi công xây dựng: 128 dự án, quy mô 115.379 căn; Số lượng dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư: 300 dự án với quy mô 262.937 căn. Nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, nội dung tại các văn kiện Đại hội Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng về phát triển nhà ở và nhà ở xã hội, theo chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao là cơ quan quản lý nhà nước về phát triển nhà ở và nhà ở xã hội trên phạm vi cả nước, Bộ Xây dựng đã chủ trì nghiên cứu, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối đồng bộ, đầy đủ, đủ sức điều chỉnh hầu hết các hoạt động về quản lý, phát triển nhà ở và nhà ở xã hội. Giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2024 hệ thống này bao gồm: 01 Luật, 06 Nghị định; 04 Thông tư, trong đó các văn bản liên quan đến phát triển và quản lý nhà ở xã hội. Bộ Xây dựng cũng đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 09 Quyết định phê duyệt chương trình phát triển nhà ở cho các đối tượng chính sách và 01 Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp giai đoạn 2021-2030 (kèm theo Quyết định số 338/QĐ-TTg ngày 03/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cùng với sự vào cuộc và tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, đặc biệt là vai trò của các địa phương, lĩnh vực nhà ở đã đạt được những thành tựu quan trọng, giải quyết cơ bản được nhu cầu về nhà ở của người dân, đặc biệt là việc hỗ trợ cải thiện nhà ở cho người có công, các đối tượng chính sách xã hội, người thu nhập thấp khu vực đô thị, công nhân, người nghèo có khó khăn về nhà ở, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước, từng bước bảo đảm an sinh xã hội, “không ai bị bỏ lại phía sau”, đảm bảo người dân được yên tâm lao động sản xuất, đóng góp vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế xã hội đất nước. 2. Về phản ánh tình trạng có nhiều dự án bất động sản bỏ hoang Theo quy định của pháp luật, quá trình triển khai đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác, kinh doanh bất động sản của dự án bất động sản phải tuân thủ nhiều hệ thống pháp luật, như pháp luật về quy hoạch, pháp luật về đất đai, pháp luật về đầu tư, pháp luật về xây dựng, pháp luật về kinh doanh bất động sản… Theo quy định của pháp luật về đất đai, dự án bất động sản phải được triển khai đầu tư xây dựng, đưa đất vào sử dụng đất trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chủ đầu tư dự án nhận bàn giao đất. Quá thời hạn trên nếu chủ đầu tư dự án không đưa đất vào sử dụng mà không có lý do chính đáng thì chủ đầu tư dự án có thể bị thu hồi diện tích đất chủ đầu tư dự án đã nhận bàn giao để thực hiện dự án. Theo quy định của pháp luật về đầu tư, chủ đầu tư dự án sẽ bị xử phạt nếu không thực hiện triển khai đầu tư xây dựng theo tiến độ, nội dung dự án bất động sản đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận. Do vậy, để hạn chế tình trạng có dự án bất động sản bỏ hoang, chậm triển khai… như phản ánh của cử tri tỉnh Long An, các địa phương cần tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, đôn đốc, hướng dẫn việc triển khai đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác, kinh doanh đối với các dự án bất động sản theo các quy định của pháp luật." } ], "id": "541", "is_impossible": false, "question": "Bộ Xây dựng trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Long An về những giải pháp cho những dự án bất động sản bị bỏ hoang" } ] } ], "title": "Bộ Xây dựng trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Long An về những giải pháp cho những dự án bất động sản bị bỏ hoang" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Sở Xây dựng Ninh Thuận xin hướng dẫn việc xác định suất đầu tư của công trình bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau: Suất vốn đầu tư xây dựng công trình và giá xây dựng tổng hợp bộ phận kết cấu công trình được Bộ Xây dựng công bố là một trong những cơ sở để xác định sơ bộ tổng mức đầu tư, tổng mức đầu tư xây dựng công trình, xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng ở giai đoạn chuẩn bị dự án. Việc xác định giá trị tài sản còn lại trên đất tại cơ sở nhà, đất Trụ sở Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Ninh Thuận (cũ) như nêu tại Văn bản số 2234/SXD-QLQHKT&NƠ thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật khác có liên quan. Trường hợp cần thiết, đề nghị Sở Xây dựng Ninh Thuận xin ý kiến Bộ Tài chính để được hướng dẫn.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 245, "text": "Suất vốn đầu tư xây dựng công trình và giá xây dựng tổng hợp bộ phận kết cấu công trình được Bộ Xây dựng công bố là một trong những cơ sở để xác định sơ bộ tổng mức đầu tư, tổng mức đầu tư xây dựng công trình, xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng ở giai đoạn chuẩn bị dự án. Việc xác định giá trị tài sản còn lại trên đất tại cơ sở nhà, đất Trụ sở Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Ninh Thuận (cũ) như nêu tại Văn bản số 2234/SXD-QLQHKT&NƠ thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật khác có liên quan. Trường hợp cần thiết, đề nghị Sở Xây dựng Ninh Thuận xin ý kiến Bộ Tài chính để được hướng dẫn." } ], "id": "542", "is_impossible": false, "question": "Áp dụng suất vốn đầu tư xây dựng công trình bệnh viện" } ] } ], "title": "Áp dụng suất vốn đầu tư xây dựng công trình bệnh viện" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng nhận được Sở Kế hoạch và Đầu tư Kon Tum xin hướng dẫn việc thực hiện điều chỉnh giá hợp đồng. Ảnh minh họa. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau: Theo nội dung Văn bản số 2105/SKHĐT-ĐT của Sở Kế hoạch và Đầu tư Kon Tum thì tại hồ sơ mời thầu, hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công và trong quá trình thương thảo ký kết hợp đồng, các bên đã thống nhất về cự ly vận chuyển khối lượng đất để đắp và một số thỏa thuận có liên quan. Trường hợp các hợp đồng trọn gói nêu tại Văn bản số 2105/SKHĐT-ĐT thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP và Nghị định số 50/2021/NĐ-CP thì nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng trọn gói đã quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 36 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 12 Điều 1 Nghị định số 50/2021/NĐ-CP. Do vậy, Sở Kế hoạch và Đầu tư Kon Tum căn cứ nội dung hợp đồng đã ký kết, hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu, các quy định nêu trên và các quy định pháp luật khác có liên quan để xem xét, thực hiện cho phù hợp.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 184, "text": "Theo nội dung Văn bản số 2105/SKHĐT-ĐT của Sở Kế hoạch và Đầu tư Kon Tum thì tại hồ sơ mời thầu, hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công và trong quá trình thương thảo ký kết hợp đồng, các bên đã thống nhất về cự ly vận chuyển khối lượng đất để đắp và một số thỏa thuận có liên quan. Trường hợp các hợp đồng trọn gói nêu tại Văn bản số 2105/SKHĐT-ĐT thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP và Nghị định số 50/2021/NĐ-CP thì nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng trọn gói đã quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 36 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 12 Điều 1 Nghị định số 50/2021/NĐ-CP. Do vậy, Sở Kế hoạch và Đầu tư Kon Tum căn cứ nội dung hợp đồng đã ký kết, hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu, các quy định nêu trên và các quy định pháp luật khác có liên quan để xem xét, thực hiện cho phù hợp." } ], "id": "543", "is_impossible": false, "question": "Hướng dẫn thực hiện điều chỉnh giá hợp đồng" } ] } ], "title": "Hướng dẫn thực hiện điều chỉnh giá hợp đồng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Ngày 14/10, PV Báo Giao thông đã trao đổi với luật sư Lê Bá Thường, Giám đốc Công ty Luật TNHH MTV Dân Luật Tín Thành (Đoàn Luật sư TP.HCM) về tính pháp lý trong vụ việc tài xế taxi mở cửa dẫn đến sự việc người đi xe máy ngã xuống đường, bị ô tô đi chiều ngược lại tông tử vong tại Bà Rịa - Vũng Tàu.Luật sư Lê Bá Thường cho biết tài xế taxi có thể phải đối mặt với trách nhiệm hình sự, tuy nhiên vẫn phải chờ kết luận điều tra từ cơ quan chức năng.Theo luật sư Thường, căn cứ theo Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) trường hợp này, nếu tài xế taxi mở cửa xe mà không quan sát dẫn đến gây tai nạn nghiêm trọng, hậu quả chết người, tài xế có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Theo đó, tài xế taxi có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ đến phạt tù từ 1 - 5 năm, tùy theo mức độ nghiêm trọng của vụ tai nạn. Trường hợp tai nạn gây ra chết người, mức phạt tù có thể là từ 3 - 10 năm.Về trách nhiệm dân sự, tài xế taxi và công ty sở hữu xe có thể phải bồi thường cho nạn nhân theo Điều 584 về căn cứ trách nhiệm và Điều 591 về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm trong Bộ luật Dân sự 2015. Trong đó, bao gồm chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và các thiệt hại khác do hậu quả của tai nạn gây ra.Hiện trường vụ tai nạn khiến người phụ nữ tử vong tại chỗ.Còn tài xế ô tô đi chiều ngược lại cũng có thể phải xem xét về trách nhiệm hình sự và dân sự.Theo đó, nếu tài xế ô tô đi đúng luật, có tốc độ phù hợp và không có đủ thời gian để xử lý, tránh nạn nhân thì có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu tài xế này đi quá tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn hoặc không kịp thời xử lý tình huống có thể vẫn bị truy cứu theo Điều 260 Bộ luật Hình sự, với mức phạt tương tự như đối với tài xế taxi, nhưng thường sẽ nhẹ hơn nếu lỗi chính thuộc về tài xế taxi.Về trách nhiệm dân sự, tài xế ô tô vẫn có thể bị buộc phải bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình nạn nhân theo Điều 584 và Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm các chi phí liên quan đến mai táng, tổn thất tinh thần và các thiệt hại khác. Việc xác định mức bồi thường sẽ dựa trên mức độ lỗi và thiệt hại thực tế đã xảy ra.Nhưng thực tế, cơ quan chức năng sẽ phải thu thập các chứng cứ từ camera giao thông, lời khai nhân chứng và các yếu tố pháp lý để đưa ra kết luận cuối cùng. “Thực tế hiện nay các cơ quan chức năng vẫn đang điều tra, do đó vẫn phải chờ kết luận chính thức để xác định mức độ, hành vi của những người liên quan\", luật sư Thường cho biết. Như tin đã đưa, trước đó, ngày 13/10 một vụ tai nạn đã xảy ra tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khiến chị L.T.H.H (48 tuổi, ngụ tại địa phương) tử vong tại chỗ.Theo đó, vào trưa cùng ngày, chị H điều khiển xe máy lưu thông trên đường Trương Công Định theo hướng về ngã năm Trương Công Định - Bacu - Lê Hồng Phong.Khi xe máy đi đến trước nhà số 244 Trương Công Định thì cùng lúc một chiếc taxi biển số tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đang dừng bên đường đã bất ngờ mở cửa. Cửa xe taxi đã va chạm với xe máy của chị H khiến chị ngã xuống đường. Đáng nói lúc này một ô tô khác (màu trắng) đang lưu thông theo hướng ngược lại không xử lý kịp đã cán qua người chị H đã khiến nạn nhân tử vong tại chỗ. Va vào cửa taxi ngã xuống đường, người phụ nữ bị xe cán tử vongXe chị L.T.H.H va vào cửa taxi khiến chị ngã xuống đường. Cùng lúc một ô tô khác lưu thông theo chiều ngược lại đã đi tới, cán chị H tử vong tại chỗ.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Ngày 14/10, PV Báo Giao thông đã trao đổi với luật sư Lê Bá Thường, Giám đốc Công ty Luật TNHH MTV Dân Luật Tín Thành (Đoàn Luật sư TP.HCM) về tính pháp lý trong vụ việc tài xế taxi mở cửa dẫn đến sự việc người đi xe máy ngã xuống đường, bị ô tô đi chiều ngược lại tông tử vong tại Bà Rịa - Vũng Tàu.Luật sư Lê Bá Thường cho biết tài xế taxi có thể phải đối mặt với trách nhiệm hình sự, tuy nhiên vẫn phải chờ kết luận điều tra từ cơ quan chức năng.Theo luật sư Thường, căn cứ theo Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) trường hợp này, nếu tài xế taxi mở cửa xe mà không quan sát dẫn đến gây tai nạn nghiêm trọng, hậu quả chết người, tài xế có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Theo đó, tài xế taxi có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ đến phạt tù từ 1 - 5 năm, tùy theo mức độ nghiêm trọng của vụ tai nạn. Trường hợp tai nạn gây ra chết người, mức phạt tù có thể là từ 3 - 10 năm.Về trách nhiệm dân sự, tài xế taxi và công ty sở hữu xe có thể phải bồi thường cho nạn nhân theo Điều 584 về căn cứ trách nhiệm và Điều 591 về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm trong Bộ luật Dân sự 2015. Trong đó, bao gồm chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và các thiệt hại khác do hậu quả của tai nạn gây ra.Hiện trường vụ tai nạn khiến người phụ nữ tử vong tại chỗ.Còn tài xế ô tô đi chiều ngược lại cũng có thể phải xem xét về trách nhiệm hình sự và dân sự.Theo đó, nếu tài xế ô tô đi đúng luật, có tốc độ phù hợp và không có đủ thời gian để xử lý, tránh nạn nhân thì có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu tài xế này đi quá tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn hoặc không kịp thời xử lý tình huống có thể vẫn bị truy cứu theo Điều 260 Bộ luật Hình sự, với mức phạt tương tự như đối với tài xế taxi, nhưng thường sẽ nhẹ hơn nếu lỗi chính thuộc về tài xế taxi.Về trách nhiệm dân sự, tài xế ô tô vẫn có thể bị buộc phải bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình nạn nhân theo Điều 584 và Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm các chi phí liên quan đến mai táng, tổn thất tinh thần và các thiệt hại khác. Việc xác định mức bồi thường sẽ dựa trên mức độ lỗi và thiệt hại thực tế đã xảy ra.Nhưng thực tế, cơ quan chức năng sẽ phải thu thập các chứng cứ từ camera giao thông, lời khai nhân chứng và các yếu tố pháp lý để đưa ra kết luận cuối cùng. “Thực tế hiện nay các cơ quan chức năng vẫn đang điều tra, do đó vẫn phải chờ kết luận chính thức để xác định mức độ, hành vi của những người liên quan\", luật sư Thường cho biết. Như tin đã đưa, trước đó, ngày 13/10 một vụ tai nạn đã xảy ra tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khiến chị L.T.H.H (48 tuổi, ngụ tại địa phương) tử vong tại chỗ.Theo đó, vào trưa cùng ngày, chị H điều khiển xe máy lưu thông trên đường Trương Công Định theo hướng về ngã năm Trương Công Định - Bacu - Lê Hồng Phong.Khi xe máy đi đến trước nhà số 244 Trương Công Định thì cùng lúc một chiếc taxi biển số tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đang dừng bên đường đã bất ngờ mở cửa. Cửa xe taxi đã va chạm với xe máy của chị H khiến chị ngã xuống đường. Đáng nói lúc này một ô tô khác (màu trắng) đang lưu thông theo hướng ngược lại không xử lý kịp đã cán qua người chị H đã khiến nạn nhân tử vong tại chỗ. Va vào cửa taxi ngã xuống đường, người phụ nữ bị xe cán tử vongXe chị L.T.H.H va vào cửa taxi khiến chị ngã xuống đường. Cùng lúc một ô tô khác lưu thông theo chiều ngược lại đã đi tới, cán chị H tử vong tại chỗ." } ], "id": "544", "is_impossible": false, "question": "Tình huống pháp lý vụ tài xế ô tô mở cửa bất cẩn khiến người đi xe máy tử vong" } ] } ], "title": "Tình huống pháp lý vụ tài xế ô tô mở cửa bất cẩn khiến người đi xe máy tử vong" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Công ty ông Nguyễn Hữu Hậu (Thanh Hóa) xây dựng nhà máy nước sạch để cung cấp nước khu vực xung quanh. Ông hỏi, thủ tục đăng ký giấy phép kinh doanh nước sạch gồm những gì? Ảnh minh họa. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Hiện nay, việc sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch được quy định trực tiếp tại Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 của Chính phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch (được sửa đổi bổ sung tại các Nghị định: Nghị định số 124/2011/NĐ-CP ngày 28/12/2011 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 117/2007/NĐ-CP; Nghị định số 98/2019/NĐ-CP ngày 27/12/2019 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định thuộc lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật). Pháp luật về lĩnh vực chuyên ngành cấp nước chưa quy định cụ thể về thủ tục đăng ký giấy phép kinh doanh nước sạch, vì vậy, đề nghị ông Nguyễn Hữu Hậu căn cứ các quy định của pháp luật về đầu tư để nghiên cứu thực hiện.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 240, "text": "Hiện nay, việc sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch được quy định trực tiếp tại Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 của Chính phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch (được sửa đổi bổ sung tại các Nghị định: Nghị định số 124/2011/NĐ-CP ngày 28/12/2011 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 117/2007/NĐ-CP; Nghị định số 98/2019/NĐ-CP ngày 27/12/2019 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định thuộc lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật). Pháp luật về lĩnh vực chuyên ngành cấp nước chưa quy định cụ thể về thủ tục đăng ký giấy phép kinh doanh nước sạch, vì vậy, đề nghị ông Nguyễn Hữu Hậu căn cứ các quy định của pháp luật về đầu tư để nghiên cứu thực hiện." } ], "id": "545", "is_impossible": false, "question": "Quy định về thủ tục đăng ký giấy phép kinh doanh nước sạch" } ] } ], "title": "Quy định về thủ tục đăng ký giấy phép kinh doanh nước sạch" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Khi người điều khiển xe dừng xe mặc áo mưa thì phải tuân thủ các điều kiện về dừng, đỗ xe. Nếu không, có thể bị xử phạt vi phạm hành chính tùy vào từng hành vi và loại phương tiện, tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi của người điều khiển phương tiện.Theo đó, đối với trường hợp xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) có hành vi dừng xe mặc áo mưa không đúng quy định (tại Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 34 Điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ-CP) sẽ bị phạt tiền.Cụ thể, phạt từ 300-400 nghìn đồng đối với hành vi: Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường; Dừng xe, đỗ xe ở lòng đường đô thị gây cản trở giao thông.Dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, điểm dừng đón trả khách của xe buýt; Dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, điểm dừng đón trả khách của xe buýt, nơi đường bộ giao nhau, trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường; dừng xe nơi có biển \"Cấm dừng xe và đỗ xe\"; đỗ xe tại nơi có biển \"Cấm đỗ xe\" hoặc biển \"Cấm dừng xe và đỗ xe\"...Phạt từ 400-600 nghìn đồng đối với hành vi: Dừng xe, đỗ xe trên cầu.Phạt từ 0,8-1 triệu đồng đối với hành vi: Dừng xe, đỗ xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định.Phạt từ 4-5 triệu đồng đối với hành vi: Dừng xe, đỗ xe không đúng quy định gây tai nạn giao thông.Đối với người đi xe đạp, xe đạp máy (kể cả xe đạp điện) có hành vi dừng xe mặc áo mưa không đúng quy định sẽ có mức phạt tiền từ 80-100 nghìn đồng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 533, "text": "Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường; Dừng xe, đỗ xe ở lòng đường đô thị gây cản trở giao thông.Dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, điểm dừng đón trả khách của xe buýt; Dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, điểm dừng đón trả khách của xe buýt, nơi đường bộ giao nhau, trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường; dừng xe nơi có biển \"Cấm dừng xe và đỗ xe\"; đỗ xe tại nơi có biển \"Cấm đỗ xe\" hoặc biển \"Cấm dừng xe và đỗ xe\"...Phạt từ 400-600 nghìn đồng đối với hành vi: Dừng xe, đỗ xe trên cầu.Phạt từ 0,8-1 triệu đồng đối với hành vi: Dừng xe, đỗ xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định.Phạt từ 4-5 triệu đồng đối với hành vi: Dừng xe, đỗ xe không đúng quy định gây tai nạn giao thông.Đối với người đi xe đạp, xe đạp máy (kể cả xe đạp điện) có hành vi dừng xe mặc áo mưa không đúng quy định sẽ có mức phạt tiền từ 80-100 nghìn đồng." } ], "id": "546", "is_impossible": false, "question": "Dừng xe mặc áo mưa trên đường có phạm luật?" } ] } ], "title": "Dừng xe mặc áo mưa trên đường có phạm luật?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Thông tư số 11/2021/TT-BXD hướng dẫn xác định chi phí chung nhân công công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện hoàn toàn bằng thủ công là 51%. Tuy nhiên đơn giá địa phương xây dựng cũng như định mức không có mã đơn giá, định mức nào quy định thực hiện hoàn toàn bằng thủ công. Ảnh minh họa. Ông Bùi Anh Phương (Hà Giang) hỏi, với những công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện hoàn toàn bằng thủ công nhưng không có đơn giá áp dụng thì thực hiện thế nào? Ví dụ như mã đổ bê tông hoàn toàn bằng thủ công là không có định mức quy định (đều sử dụng máy trộn bê tông, không được tính là hoàn toàn thủ công). Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Nội dung câu hỏi chưa nêu rõ về nguồn vốn sử dụng để đầu tư cho dự án nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để trả lời chi tiết câu hỏi của ông Phương. Trường hợp việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng đối với công trình nêu tại câu hỏi thuộc phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng, đối với các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn không thực hiện hoàn toàn bằng thủ công thì khi xác định chi phí chung không áp dụng quy định tại Bảng 3.2 Phụ lục III Thông tư số 11/2021/TT-BXD.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 689, "text": "Nội dung câu hỏi chưa nêu rõ về nguồn vốn sử dụng để đầu tư cho dự án nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để trả lời chi tiết câu hỏi của ông Phương. Trường hợp việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng đối với công trình nêu tại câu hỏi thuộc phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng, đối với các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn không thực hiện hoàn toàn bằng thủ công thì khi xác định chi phí chung không áp dụng quy định tại Bảng 3.2 Phụ lục III Thông tư số 11/2021/TT-BXD." } ], "id": "547", "is_impossible": false, "question": "Xác định chi phí chung công trình nông nghiệp thế nào?" } ] } ], "title": "Xác định chi phí chung công trình nông nghiệp thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Công ty A (công ty mẹ) và công ty B (công ty con) cùng liên danh tham gia đấu thầu gói thầu xây lắp và đã trúng thầu với tỷ lệ liên danh: Công ty A chiếm 65% giá trị gói thầu; công ty B chiếm 35% giá trị gói thầu. Ảnh minh họa. Ông Trương Đăng Khoa (Thành phố Hồ Chí Minh) hỏi, khi triển khai thi công dự án công ty A có được phép giao thêm cho công ty B phần việc mà công ty A đảm nhiệm theo hướng dẫn tại Khoản 3 Điều 24 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Do nội dung câu hỏi của ông Khoa chưa nêu rõ nguồn vốn đầu tư, thời điểm ký kết hợp đồng xây dựng, các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để hướng dẫn cụ thể. Đề nghị ông căn cứ nội dung hợp đồng đã ký kết, thỏa thuận liên danh, hồ sơ kèm theo hợp đồng và các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng để xem xét, thực hiện cho phù hợp, bảo đảm tuân thủ đúng quy định pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 151, "text": "Công ty A chiếm 65% giá trị gói thầu; công ty B chiếm 35% giá trị gói thầu. Ảnh minh họa. Ông Trương Đăng Khoa (Thành phố Hồ Chí Minh) hỏi, khi triển khai thi công dự án công ty A có được phép giao thêm cho công ty B phần việc mà công ty A đảm nhiệm theo hướng dẫn tại Khoản 3 Điều 24 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Do nội dung câu hỏi của ông Khoa chưa nêu rõ nguồn vốn đầu tư, thời điểm ký kết hợp đồng xây dựng, các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để hướng dẫn cụ thể. Đề nghị ông căn cứ nội dung hợp đồng đã ký kết, thỏa thuận liên danh, hồ sơ kèm theo hợp đồng và các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng để xem xét, thực hiện cho phù hợp, bảo đảm tuân thủ đúng quy định pháp luật." } ], "id": "548", "is_impossible": false, "question": "Có được giao thêm phần việc cho công ty con khi trúng thầu?" } ] } ], "title": "Có được giao thêm phần việc cho công ty con khi trúng thầu?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Thông thường, thời gian tạm giữ giấy phép lái xe (GPLX) là không quá 7 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ. Trường hợp phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn tạm giữ không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ.Tuy nhiên, người vi phạm vẫn được điều khiển phương tiện phù hợp với GPLX bị tạm giữ. Khi tham gia giao thông, cần phải mang theo biên bản tạm giữ giấy tờ và xuất trình khi có yêu cầu của người thực thi pháp luật.Trường hợp quá thời hạn hẹn đến giải quyết vi phạm nhưng người vi phạm vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện tham gia giao thông thì sẽ bị xử phạt như hành vi không có giấy tờ.Về mức phạt, theo Nghị định 100, người điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xi lanh dưới 175cm3 và các loại xe tương tự xe mô tô mà không có GPLX sẽ bị phạt tiền từ 1 triệu đến 2 triệu đồng.Người điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xi lanh từ 175cm3 trở lên, xe mô tô ba bánh mà không có GPLX sẽ bị phạt tiền từ 4 triệu đến 5 triệu đồng.Trong khi đó, người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô mà không có GPLX sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đến 12 triệu đồng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Thông thường, thời gian tạm giữ giấy phép lái xe (GPLX) là không quá 7 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ. Trường hợp phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn tạm giữ không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ.Tuy nhiên, người vi phạm vẫn được điều khiển phương tiện phù hợp với GPLX bị tạm giữ. Khi tham gia giao thông, cần phải mang theo biên bản tạm giữ giấy tờ và xuất trình khi có yêu cầu của người thực thi pháp luật.Trường hợp quá thời hạn hẹn đến giải quyết vi phạm nhưng người vi phạm vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện tham gia giao thông thì sẽ bị xử phạt như hành vi không có giấy tờ.Về mức phạt, theo Nghị định 100, người điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xi lanh dưới 175cm3 và các loại xe tương tự xe mô tô mà không có GPLX sẽ bị phạt tiền từ 1 triệu đến 2 triệu đồng.Người điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xi lanh từ 175cm3 trở lên, xe mô tô ba bánh mà không có GPLX sẽ bị phạt tiền từ 4 triệu đến 5 triệu đồng.Trong khi đó, người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô mà không có GPLX sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đến 12 triệu đồng." } ], "id": "549", "is_impossible": false, "question": "Bị tạm giữ bằng lái có được điều khiển phương tiện?" } ] } ], "title": "Bị tạm giữ bằng lái có được điều khiển phương tiện?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Sở Xây dựng Bến Tre xin hướng dẫn về việc cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng. Ảnh minh họa. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau: Theo quy định của pháp luật về điều kiện cấp và phạm vi hoạt động của chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng đối với lĩnh vực định giá xây dựng. Cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề định giá xây dựng được chủ trì thực hiện các công việc về quản lý chi phí đầu tư xây dựng được quy định tại khoản 1 Điều 72 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng (sau đây gọi là Nghị định số 15/2021/NĐ-CP). Phạm vi hoạt động của chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng đối với lĩnh vực định giá xây dựng được quy định tại mục 5 Phụ lục VI Nghị định số 15/2021/NĐ-CP. Như vậy, cá nhân có chứng chỉ hành nghề định giá xây dựng hạng III được “chủ trì thực hiện quản lý chi phí đầu tư xây dựng các loại dự án nhóm C, dự án có yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng và các loại công trình từ cấp III trở xuống”. Điều kiện để cá nhân được xét cấp chứng chỉ hành nghề định giá xây dựng hạng II được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 72 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 22 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng. Theo nội dung Văn bản của Sở Xây dựng Bến Tre: Trường hợp cá nhân đã có chứng chỉ hành nghề định giá xây dựng hạng III, kê khai kinh nghiệm “đã làm chủ trì kiểm toán” các công việc được quy định tại khoản 1 Điều 72 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP liên quan đến chi phí đầu tư xây dựng (đo bóc khối lượng, đơn giá, định mức, kiểm soát chi phí xây dựng công trình) của 03 dự án nhóm C. Hội đồng xét cấp chứng chỉ hành nghề của Sở Xây dựng Bến Tre căn cứ hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng và kinh nghiệm của cá nhân đã kê khai xem xét, đánh giá hồ sơ của cá nhân đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 198, "text": "Theo quy định của pháp luật về điều kiện cấp và phạm vi hoạt động của chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng đối với lĩnh vực định giá xây dựng. Cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề định giá xây dựng được chủ trì thực hiện các công việc về quản lý chi phí đầu tư xây dựng được quy định tại khoản 1 Điều 72 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng (sau đây gọi là Nghị định số 15/2021/NĐ-CP). Phạm vi hoạt động của chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng đối với lĩnh vực định giá xây dựng được quy định tại mục 5 Phụ lục VI Nghị định số 15/2021/NĐ-CP. Như vậy, cá nhân có chứng chỉ hành nghề định giá xây dựng hạng III được “chủ trì thực hiện quản lý chi phí đầu tư xây dựng các loại dự án nhóm C, dự án có yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng và các loại công trình từ cấp III trở xuống”. Điều kiện để cá nhân được xét cấp chứng chỉ hành nghề định giá xây dựng hạng II được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 72 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 22 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng. Theo nội dung Văn bản của Sở Xây dựng Bến Tre: Trường hợp cá nhân đã có chứng chỉ hành nghề định giá xây dựng hạng III, kê khai kinh nghiệm “đã làm chủ trì kiểm toán” các công việc được quy định tại khoản 1 Điều 72 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP liên quan đến chi phí đầu tư xây dựng (đo bóc khối lượng, đơn giá, định mức, kiểm soát chi phí xây dựng công trình) của 03 dự án nhóm C. Hội đồng xét cấp chứng chỉ hành nghề của Sở Xây dựng Bến Tre căn cứ hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng và kinh nghiệm của cá nhân đã kê khai xem xét, đánh giá hồ sơ của cá nhân đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật." } ], "id": "550", "is_impossible": false, "question": "Cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng" } ] } ], "title": "Cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Công ty Cổ phần HUDLAND Thương mại và Dịch vụ (sau đây gọi tắt là Công ty HUDLAND) xin có ý kiến về vướng mắc liên quan đến nguồn thu từ việc khai thác dịch vụ đối với phần sở hữu chung trong nhà chung cư khi thương thảo Hợp đồng với Ban quản trị về phí dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư. Ảnh minh họa. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau: Tại khoản 4 Điều 153 Luật Nhà ở 2023 đã quy định nguồn thu từ việc khai thác dịch vụ đối với phần sở hữu chung thì phải nộp vào tài khoản kinh phí bảo trì nhà chung cư; nguồn thu này và lãi phát sinh từ tiền gửi được sử dụng vào việc bảo trì nhà chung cư; Luật Nhà ở 2023 không có quy định khấu trừ các chi phí như nêu trong văn bản ngày 22/7/2024 của Công ty HUDLAND. Việc chi trả các chi phí như phí quản lý, điện nước, dịch vụ,... khi khai thác dịch vụ, việc thanh toán của đơn vị khai thác dịch vụ được thực hiện theo hợp đồng. Do vậy, đề nghị Công ty nghiên cứu quy định của pháp luật nhà ở để thực hiện.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 405, "text": "Tại khoản 4 Điều 153 Luật Nhà ở 2023 đã quy định nguồn thu từ việc khai thác dịch vụ đối với phần sở hữu chung thì phải nộp vào tài khoản kinh phí bảo trì nhà chung cư; nguồn thu này và lãi phát sinh từ tiền gửi được sử dụng vào việc bảo trì nhà chung cư; Luật Nhà ở 2023 không có quy định khấu trừ các chi phí như nêu trong văn bản ngày 22/7/2024 của Công ty HUDLAND. Việc chi trả các chi phí như phí quản lý, điện nước, dịch vụ,... khi khai thác dịch vụ, việc thanh toán của đơn vị khai thác dịch vụ được thực hiện theo hợp đồng. Do vậy, đề nghị Công ty nghiên cứu quy định của pháp luật nhà ở để thực hiện." } ], "id": "551", "is_impossible": false, "question": "Khai thác dịch vụ phần sở hữu chung nhà chung cư" } ] } ], "title": "Khai thác dịch vụ phần sở hữu chung nhà chung cư" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Thời điểm để xác nhận thu nhập trong 1 năm liền kề, tính từ thời điểm đối tượng nộp hồ sơ hợp lệ cho chủ đầu tư để đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội. Một dự án nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Vũng Tàu. Thông tư số 05/2024/TT-BXD của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định xác nhận về điều kiện thu nhập để thuê mua nhà ở xã hội: có thu nhập hằng tháng thực nhận tính theo Bảng tiền công/tiền lương là… (photo Bảng tiền công/tiền lương trong 01 năm liền kề, tính từ thời điểm nộp hồ sơ hợp lệ cho chủ đầu tư để đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội). Ông Phạm Tuấn Đạt (Bà Rịa-Vũng Tàu) đề nghị cơ quan chức năng giải thích rõ việc tính thời gian 1 năm liền kề. Nếu tháng 5/2025, ông đăng ký mua nhà ở xã hội thì ông phải photo Bảng tiền công/tiền lương từ tháng 5/2024 đến tháng 4/2025, ông hiểu vậy có đúng không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Ngày 27/11/2023, kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/8/2024). Ngày 26/7/2024, Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (có hiệu lực từ ngày 1/8/2024). Theo đó: Tại Điểm b Khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023 có quy định: \\\\\"Đối tượng quy định tại các Khoản 5, 6, 7 và 8 Điều 76 của Luật này để được mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải đáp ứng điều kiện về thu nhập theo quy định của Chính phủ\\\\\". Tại Khoản 1 Điều 30 Luật Nhà ở năm 2023 có quy định: \\\\\"Đối với các đối tượng quy định tại các Khoản 5, 6 và 8 Điều 76 của Luật Nhà ở thì phải đảm bảo điều kiện về thu nhập như sau: a) Trường hợp người đứng đơn là người độc thân thì có thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 15 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận. Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quả 30 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận. b) Thời gian xác định điều kiện về thu nhập trong 01 năm liền kề, tính từ thời điểm đối tượng quy định tại Khoản này nộp hồ sơ hợp lệ cho chủ đầu tư để đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội\\\\\". Như vậy, thời điểm để xác nhận thu nhập trong 1 năm liền kề, tính từ thời điểm đối tượng nộp hồ sơ hợp lệ cho chủ đầu tư để đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 339, "text": "có thu nhập hằng tháng thực nhận tính theo Bảng tiền công/tiền lương là… (photo Bảng tiền công/tiền lương trong 01 năm liền kề, tính từ thời điểm nộp hồ sơ hợp lệ cho chủ đầu tư để đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội). Ông Phạm Tuấn Đạt (Bà Rịa-Vũng Tàu) đề nghị cơ quan chức năng giải thích rõ việc tính thời gian 1 năm liền kề. Nếu tháng 5/2025, ông đăng ký mua nhà ở xã hội thì ông phải photo Bảng tiền công/tiền lương từ tháng 5/2024 đến tháng 4/2025, ông hiểu vậy có đúng không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Ngày 27/11/2023, kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/8/2024). Ngày 26/7/2024, Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (có hiệu lực từ ngày 1/8/2024). Theo đó: Tại Điểm b Khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023 có quy định: \\\\\"Đối tượng quy định tại các Khoản 5, 6, 7 và 8 Điều 76 của Luật này để được mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải đáp ứng điều kiện về thu nhập theo quy định của Chính phủ\\\\\". Tại Khoản 1 Điều 30 Luật Nhà ở năm 2023 có quy định: \\\\\"Đối với các đối tượng quy định tại các Khoản 5, 6 và 8 Điều 76 của Luật Nhà ở thì phải đảm bảo điều kiện về thu nhập như sau: a) Trường hợp người đứng đơn là người độc thân thì có thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 15 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận. Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quả 30 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận. b) Thời gian xác định điều kiện về thu nhập trong 01 năm liền kề, tính từ thời điểm đối tượng quy định tại Khoản này nộp hồ sơ hợp lệ cho chủ đầu tư để đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội\\\\\". Như vậy, thời điểm để xác nhận thu nhập trong 1 năm liền kề, tính từ thời điểm đối tượng nộp hồ sơ hợp lệ cho chủ đầu tư để đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội." } ], "id": "552", "is_impossible": false, "question": "Thu nhập từ thời điểm nào được tính để đăng ký mua nhà ở xã hội?" } ] } ], "title": "Thu nhập từ thời điểm nào được tính để đăng ký mua nhà ở xã hội?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Công ty của ông Nguyễn Bá Mạnh (Hải Dương) hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ thử nghiệm vật liệu sắt thép và liên kết hàn, phòng thử nghiệm. Ảnh minh họa. Công ty đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thử nghiệm cho lĩnh vực cơ học, hóa học, thử nghiệm không phá hủy theo Nghị định số 107/2016/NĐ-CP và được Văn phòng công nhận chất lượng (BoA) đánh giá, cấp chứng chỉ công nhận phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2017 về lĩnh vực thử nghiệm cơ, hóa và kiểm tra không phá hủy mã số VILAS 1077. Ông Mạnh hỏi, với những điều kiện như trên công ty ông có đủ điều kiện kiểm tra thí nghiệm sắt thép và kiểm tra không phá hủy mối hàn với các phép thử đã được công nhận tại các công trình xây dựng nhà máy trên lãnh thổ Việt Nam hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Kinh doanh dịch vụ thí nghiệm chuyên ngành xây dựng là ngành nghề kinh doanh có điều kiện được quy định trong Luật Đầu tư 2020. Quản lý hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng được quy định trong Nghị định số 62/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện hoạt động giám định tư pháp xây dựng và thí nghiệm chuyên ngành xây dựng và Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng. Các phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng có mã: LAS-XD Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, trong Nghị định này chỉ đề cập đến phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng (mã LAS-XD).", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 461, "text": "2017 về lĩnh vực thử nghiệm cơ, hóa và kiểm tra không phá hủy mã số VILAS 1077. Ông Mạnh hỏi, với những điều kiện như trên công ty ông có đủ điều kiện kiểm tra thí nghiệm sắt thép và kiểm tra không phá hủy mối hàn với các phép thử đã được công nhận tại các công trình xây dựng nhà máy trên lãnh thổ Việt Nam hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Kinh doanh dịch vụ thí nghiệm chuyên ngành xây dựng là ngành nghề kinh doanh có điều kiện được quy định trong Luật Đầu tư 2020. Quản lý hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng được quy định trong Nghị định số 62/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện hoạt động giám định tư pháp xây dựng và thí nghiệm chuyên ngành xây dựng và Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng. Các phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng có mã: LAS-XD Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, trong Nghị định này chỉ đề cập đến phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng (mã LAS-XD)." } ], "id": "553", "is_impossible": false, "question": "Điều kiện cung cấp dịch vụ thí nghiệm chuyên ngành xây dựng" } ] } ], "title": "Điều kiện cung cấp dịch vụ thí nghiệm chuyên ngành xây dựng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông Trần Nhân Nghĩa (Hà Tĩnh) đang làm hồ sơ thiết kế thi công dự án mạng lưới nước sạch. Bước thiết kế báo cáo kinh tế - kỹ thuật có quy mô 63.000m đường ống gồm các kích thước HDPE D315, D200, D160, D110, D90, D63, D50, D40 đã được cơ quan thẩm định phê duyệt. Ảnh minh họa. Hiện nay, bước thiết kế bản vẽ thi công ông Nghĩa muốn thay đổi tăng thêm 7.000m ống D50, D40. Ống D315 có chiều dài 5.500m và ông muốn thay đổi thành 5.300m ống D315 và 200m ống D355. Tất cả thay đổi và thêm mới không làm thay đổi tổng mức đầu tư. Ông Nghĩa hỏi, các thay đổi đó của ông có làm thay đổi quy mô đầu tư không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điều 61 Luật Xây dựng 2014 và Khoản 2 Điều 19 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng, tùy từng loại công trình, quy mô đầu tư xây dựng được thể hiện thông qua: Quy mô công suất, quy mô kết cấu của dự án (Phụ lục I, II của Thông tư số 06/2021/TT-BXD ngày 30/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng). Chỉ tiêu quy hoạch, kiến trúc của dự án: Diện tích khu đất; mật độ xây dựng; hệ số sử dụng đất; số tầng cao; số lượng công trình, hạng mục; kích thước các chiều;... Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng đã được cơ quan thẩm định phê duyệt có quy mô 63.000m đường ống bao gồm các kích thước HDPE D315, D200, D160... Đến nay, việc đề xuất tăng thêm 7.000m ống D50, D40; điều chỉnh ống D315 có chiều dài 5.500m thành 5.300m ống D315 và 200m ống D355 làm thay đổi quy mô đầu tư ban đầu của dự án theo quy định của pháp luật về xây dựng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 655, "text": "Theo quy định tại Điều 61 Luật Xây dựng 2014 và Khoản 2 Điều 19 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng, tùy từng loại công trình, quy mô đầu tư xây dựng được thể hiện thông qua: Quy mô công suất, quy mô kết cấu của dự án (Phụ lục I, II của Thông tư số 06/2021/TT-BXD ngày 30/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng). Chỉ tiêu quy hoạch, kiến trúc của dự án: Diện tích khu đất; mật độ xây dựng; hệ số sử dụng đất; số tầng cao; số lượng công trình, hạng mục; kích thước các chiều;... Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng đã được cơ quan thẩm định phê duyệt có quy mô 63.000m đường ống bao gồm các kích thước HDPE D315, D200, D160... Đến nay, việc đề xuất tăng thêm 7.000m ống D50, D40; điều chỉnh ống D315 có chiều dài 5.500m thành 5.300m ống D315 và 200m ống D355 làm thay đổi quy mô đầu tư ban đầu của dự án theo quy định của pháp luật về xây dựng." } ], "id": "554", "is_impossible": false, "question": "Trường hợp nào được coi là thay đổi quy mô đầu tư dự án?" } ] } ], "title": "Trường hợp nào được coi là thay đổi quy mô đầu tư dự án?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Người trực tiếp phụ trách kỹ thuật thi công xây dựng (có trường hợp chỉ huy trưởng là người trực tiếp phụ trách kỹ thuật thi công) của tổng thầu, nhà thầu chính sẽ tham gia ký biên bản nghiệm thu công việc xây dựng. Ảnh minh họa. Đơn vị tư vấn giám sát của ông Vĩnh Hưng (Đồng Nai) được thuê giám sát một công trình thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước. Theo Điểm b Khoản 5 Điều 21 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 về quản lý chất lượng công trình, thành phần ký biên bản nghiệm thu có: \\\\\"a) Người trực tiếp giám sát thi công xây dựng của chủ đầu tư; b) Người trực tiếp phụ trách kỹ thuật thi công của nhà thầu thi công xây dựng hoặc của tổng thầu, nhà thầu chính\\\\\". Tuy nhiên quá trình thi công có một số công việc khi thực hiện đơn vị thi công có cả chỉ huy trưởng và cán bộ tham gia kiểm soát chất lượng công việc (chỉ huy trường và cán bộ kỹ thuật đều có bằng cấp phù hợp với nội dung công việc). Khi nghiệm thu công việc, đơn vị ông Hưng đề nghị các công việc đó phải chỉ huy trưởng ký trong thành phần nghiệm thu do chỉ huy trưởng có kinh nghiệm hơn cán bộ kỹ thuật và nhà thầu đã thống nhất. Nhưng chủ đầu tư không đồng ý và yêu cầu cán bộ kỹ thuật ký biên bản nghiệm thu công việc trên. Ông Hưng hỏi, đơn vị ông yêu cầu chỉ huy trưởng ký như vậy có vi phạm quy định không khi chỉ huy trưởng cũng tham gia trực tiếp công việc và có bằng cấp phù hợp với đối tượng công việc nêu trên? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc nghiệm thu công việc xây dựng được thực hiện theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng. Căn cứ Khoản 2 Điều 13 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm \\\\\"Lập và thông báo cho chủ đầu tư và các chủ thể có liên quan về hệ thống quản lý thi công xây dựng của nhà thầu. Hệ thống quản lý thi công xây dựng phải phù hợp với quy mô, tính chất của công trình, trong đó nêu rõ sơ đồ tổ chức và trách nhiệm của từng cá nhân đối với công tác quản lý thi công xây dựng, bao gồm: chỉ huy trưởng công trường hoặc giám đốc dự án của nhà thầu; các cá nhân phụ trách kỹ thuật thi công trực tiếp và thực hiện công tác quản lý chất lượng, an toàn trong thi công xây dựng, quản lý khối lượng, tiến độ thi công xây dựng, quản lý hồ sơ thi công xây dựng công trình\\\\\". Theo đó, căn cứ Điểm b Khoản 5 Điều 21 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, người trực tiếp phụ trách kỹ thuật thi công xây dựng (có trường hợp chỉ huy trưởng là người trực tiếp phụ trách kỹ thuật thi công) của tổng thầu, nhà thầu chính sẽ tham gia ký biên bản nghiệm thu công việc xây dựng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 507, "text": "\\\\\"a) Người trực tiếp giám sát thi công xây dựng của chủ đầu tư; b) Người trực tiếp phụ trách kỹ thuật thi công của nhà thầu thi công xây dựng hoặc của tổng thầu, nhà thầu chính\\\\\". Tuy nhiên quá trình thi công có một số công việc khi thực hiện đơn vị thi công có cả chỉ huy trưởng và cán bộ tham gia kiểm soát chất lượng công việc (chỉ huy trường và cán bộ kỹ thuật đều có bằng cấp phù hợp với nội dung công việc). Khi nghiệm thu công việc, đơn vị ông Hưng đề nghị các công việc đó phải chỉ huy trưởng ký trong thành phần nghiệm thu do chỉ huy trưởng có kinh nghiệm hơn cán bộ kỹ thuật và nhà thầu đã thống nhất. Nhưng chủ đầu tư không đồng ý và yêu cầu cán bộ kỹ thuật ký biên bản nghiệm thu công việc trên. Ông Hưng hỏi, đơn vị ông yêu cầu chỉ huy trưởng ký như vậy có vi phạm quy định không khi chỉ huy trưởng cũng tham gia trực tiếp công việc và có bằng cấp phù hợp với đối tượng công việc nêu trên? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc nghiệm thu công việc xây dựng được thực hiện theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng. Căn cứ Khoản 2 Điều 13 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm \\\\\"Lập và thông báo cho chủ đầu tư và các chủ thể có liên quan về hệ thống quản lý thi công xây dựng của nhà thầu. Hệ thống quản lý thi công xây dựng phải phù hợp với quy mô, tính chất của công trình, trong đó nêu rõ sơ đồ tổ chức và trách nhiệm của từng cá nhân đối với công tác quản lý thi công xây dựng, bao gồm: chỉ huy trưởng công trường hoặc giám đốc dự án của nhà thầu; các cá nhân phụ trách kỹ thuật thi công trực tiếp và thực hiện công tác quản lý chất lượng, an toàn trong thi công xây dựng, quản lý khối lượng, tiến độ thi công xây dựng, quản lý hồ sơ thi công xây dựng công trình\\\\\". Theo đó, căn cứ Điểm b Khoản 5 Điều 21 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, người trực tiếp phụ trách kỹ thuật thi công xây dựng (có trường hợp chỉ huy trưởng là người trực tiếp phụ trách kỹ thuật thi công) của tổng thầu, nhà thầu chính sẽ tham gia ký biên bản nghiệm thu công việc xây dựng." } ], "id": "555", "is_impossible": false, "question": "Chỉ huy trưởng hay cán bộ kỹ thuật ký biên bản nghiệm thu?" } ] } ], "title": "Chỉ huy trưởng hay cán bộ kỹ thuật ký biên bản nghiệm thu?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Mỗi làn đường đều có quy định cụ thể về loại xe được phép lưu thông và tốc độ tối đa cho phép. Việc đi sai làn đường không chỉ vi phạm quy định pháp luật mà còn ảnh hưởng đến an toàn giao thông cho bản thân người vi phạm và những người tham gia giao thông khác.Theo quy định hiện hành, đi xe máy đi sai làn đường bị phạt nguội và mức phạt là từ 400 nghìn - 600 nghìn đồng.Ô tô và các loại xe tương tự ô tô nếu vi phạm tương tự thì bị phạt tiền từ 3 triệu - 5 triệu đồng, đồng thời tước bằng lái xe từ 1 - 3 tháng.Với sự phát triển của công nghệ, việc xử lý vi phạm đi sai làn đường thông qua phạt nguội đã trở nên khả thi. Hệ thống camera giám sát và các thiết bị ghi hình được bố trí tại nhiều ngã tư, tuyến đường quan trọng giúp ghi lại hình ảnh, video về các hành vi vi phạm.Sau khi dữ liệu được thu thập và xác nhận, thông báo vi phạm sẽ được gửi tới chủ phương tiện. Trong đó có thể bao gồm cả lỗi đi sai làn đường.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Mỗi làn đường đều có quy định cụ thể về loại xe được phép lưu thông và tốc độ tối đa cho phép. Việc đi sai làn đường không chỉ vi phạm quy định pháp luật mà còn ảnh hưởng đến an toàn giao thông cho bản thân người vi phạm và những người tham gia giao thông khác.Theo quy định hiện hành, đi xe máy đi sai làn đường bị phạt nguội và mức phạt là từ 400 nghìn - 600 nghìn đồng.Ô tô và các loại xe tương tự ô tô nếu vi phạm tương tự thì bị phạt tiền từ 3 triệu - 5 triệu đồng, đồng thời tước bằng lái xe từ 1 - 3 tháng.Với sự phát triển của công nghệ, việc xử lý vi phạm đi sai làn đường thông qua phạt nguội đã trở nên khả thi. Hệ thống camera giám sát và các thiết bị ghi hình được bố trí tại nhiều ngã tư, tuyến đường quan trọng giúp ghi lại hình ảnh, video về các hành vi vi phạm.Sau khi dữ liệu được thu thập và xác nhận, thông báo vi phạm sẽ được gửi tới chủ phương tiện. Trong đó có thể bao gồm cả lỗi đi sai làn đường." } ], "id": "556", "is_impossible": false, "question": "Đi xe máy sai làn có bị phạt nguội?" } ] } ], "title": "Đi xe máy sai làn có bị phạt nguội?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Luật nghiêm cấm hành vi phá hoại đường, cầu, hầm, bến phà đường bộ, đèn tín hiệu, cọc tiêu, biển báo hiệu, gương cầu, dải phân cách, hệ thống thoát nước và các công trình, thiết bị khác thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.Do đó, hành vi không gạt chân chống để chân chống quẹt xuống đường có thể bị coi là hành vi phá hoại đường, cầu giao thông.Đối với một số người không cố ý mà vô tình không gạt chân chống cũng tiềm ẩn rất nhiều nguy hiểm đối với không chỉ người điều khiển phương tiện mà còn ảnh hưởng tới những người cùng tham gia giao thông trên đường. Nhất là khi xe đi qua các khúc cua, các đoạn đường giao cắt, lên xuống dốc hay khi gặp chướng ngại vật, dù rất nhỏ trên đường cũng dễ dàng vướng phải chân chống khiến người đang điều khiển xe bị ngã.Theo quy định, người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ bị phạt tiền từ 2 - 3 triệu đồng nếu sử dụng chân chống hoặc vật khác quệt xuống đường khi xe đang chạy; tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 2 - 4 tháng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Luật nghiêm cấm hành vi phá hoại đường, cầu, hầm, bến phà đường bộ, đèn tín hiệu, cọc tiêu, biển báo hiệu, gương cầu, dải phân cách, hệ thống thoát nước và các công trình, thiết bị khác thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.Do đó, hành vi không gạt chân chống để chân chống quẹt xuống đường có thể bị coi là hành vi phá hoại đường, cầu giao thông.Đối với một số người không cố ý mà vô tình không gạt chân chống cũng tiềm ẩn rất nhiều nguy hiểm đối với không chỉ người điều khiển phương tiện mà còn ảnh hưởng tới những người cùng tham gia giao thông trên đường. Nhất là khi xe đi qua các khúc cua, các đoạn đường giao cắt, lên xuống dốc hay khi gặp chướng ngại vật, dù rất nhỏ trên đường cũng dễ dàng vướng phải chân chống khiến người đang điều khiển xe bị ngã.Theo quy định, người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ bị phạt tiền từ 2 - 3 triệu đồng nếu sử dụng chân chống hoặc vật khác quệt xuống đường khi xe đang chạy; tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 2 - 4 tháng." } ], "id": "557", "is_impossible": false, "question": "Không gạt chân chống khi đi xe máy có bị phạt?" } ] } ], "title": "Không gạt chân chống khi đi xe máy có bị phạt?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bà Đỗ Thị Tứ Phi (Thành phố Hồ Chí Minh) có thu nhập dưới 15 triệu đồng/tháng và không ký hợp đồng lao động. Bà có nhu cầu mua nhà ở xã hội và đã đến UBND phường nộp đơn đề nghị xác nhận điều kiện thu nhập nhưng không được. Ảnh minh họa. Bà Phi hỏi, trường hợp thu nhập dưới 15 triệu đồng/tháng, không ký hợp đồng lao động thì phải chứng minh điều kiện thu nhập như thế nào để được mua nhà ở xã hội? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Ngày 27/11/2023, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/8/2024). Ngày 26/7/2024, Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (có hiệu lực từ ngày 1/8/2024). Ngày 31/7/2024, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 05/2024/TT-BXD quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở. Theo đó: Tại Điểm b Khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023 có quy định: \"Đối tượng quy định tại các khoản 5, 6, 7 và 8 Điều 76 của Luật này để được mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải đáp ứng điều kiện về thu nhập theo quy định của Chính phủ\". Tại Khoản 2 Điều 30 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP có quy định: \"Trường hợp đối tượng quy định tại Khoản 5 Điều 76 của Luật Nhà ở không có Hợp đồng lao động, nếu là người độc thân thì thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 15 triệu đồng, nếu đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 30 triệu đồng. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xác nhận, UBND cấp xã thực hiện việc xác nhận điều kiện về thu nhập trong 01 năm liền kề tính từ thời điểm đối tượng quy định tại Khoản này nộp hồ sơ hợp lệ cho chủ đầu tư để đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội\". Tại Khoản 1 Điều 8 Thông tư số 05/2024/TT-BXD có quy định: \"Mẫu giấy tờ chứng minh điều kiện về thu nhập để được mua, thuê mua nhà ở xã hội thực hiện theo Mẫu số 04 (đối với trường hợp là các đối tượng quy định tại Khoản 5, Khoản 6, Khoản 7 và Khoản 8 Điều 76 của Luật Nhà ở) hoặc Mẫu số 05 (đối với đối tượng quy định tại Khoản 5 Điều 76 của Luật Nhà ở nhưng không có hợp đồng lao động) tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này. Trường hợp người đứng đơn đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội đã kết hôn thì vợ hoặc chồng của người đó cũng phải kê khai mẫu giấy tờ chứng minh điều kiện về thu nhập theo Mẫu số 04 hoặc Mẫu số 05 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này\". Đề nghị bà nghiên cứu những quy định nêu trên để thực hiện.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 453, "text": "Ngày 27/11/2023, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/8/2024). Ngày 26/7/2024, Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (có hiệu lực từ ngày 1/8/2024). Ngày 31/7/2024, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 05/2024/TT-BXD quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở. Theo đó: Tại Điểm b Khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023 có quy định: \"Đối tượng quy định tại các khoản 5, 6, 7 và 8 Điều 76 của Luật này để được mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải đáp ứng điều kiện về thu nhập theo quy định của Chính phủ\". Tại Khoản 2 Điều 30 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP có quy định: \"Trường hợp đối tượng quy định tại Khoản 5 Điều 76 của Luật Nhà ở không có Hợp đồng lao động, nếu là người độc thân thì thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 15 triệu đồng, nếu đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 30 triệu đồng. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xác nhận, UBND cấp xã thực hiện việc xác nhận điều kiện về thu nhập trong 01 năm liền kề tính từ thời điểm đối tượng quy định tại Khoản này nộp hồ sơ hợp lệ cho chủ đầu tư để đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội\". Tại Khoản 1 Điều 8 Thông tư số 05/2024/TT-BXD có quy định: \"Mẫu giấy tờ chứng minh điều kiện về thu nhập để được mua, thuê mua nhà ở xã hội thực hiện theo Mẫu số 04 (đối với trường hợp là các đối tượng quy định tại Khoản 5, Khoản 6, Khoản 7 và Khoản 8 Điều 76 của Luật Nhà ở) hoặc Mẫu số 05 (đối với đối tượng quy định tại Khoản 5 Điều 76 của Luật Nhà ở nhưng không có hợp đồng lao động) tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này. Trường hợp người đứng đơn đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội đã kết hôn thì vợ hoặc chồng của người đó cũng phải kê khai mẫu giấy tờ chứng minh điều kiện về thu nhập theo Mẫu số 04 hoặc Mẫu số 05 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này\". Đề nghị bà nghiên cứu những quy định nêu trên để thực hiện." } ], "id": "558", "is_impossible": false, "question": "Không có hợp đồng lao động, xác nhận thu nhập như thế nào?" } ] } ], "title": "Không có hợp đồng lao động, xác nhận thu nhập như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông Phạm Nam Phong (Hà Nội) công tác tại đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc Tổng cục. Đơn vị ông được phê duyệt kế hoạch sửa chữa công trình từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước chi thường xuyên, chi phí 450 triệu đồng. Ảnh minh họa. Tại Điểm a, Điểm b Khoản 6 Điều 3 Thông tư số 14/2021/TT-BXD ngày 8/9/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định việc xác định chi phí tư vấn như sau: \"a) Đối với các công việc tư vấn đã được Bộ Xây dựng quy định tại Thông tư ban hành định mức xây dựng thì chi phí thực hiện theo quy định tại Thông tư này. b) Đối với các công việc tư vấn như: quan trắc công trình phục vụ công tác bảo trì; khảo sát phục vụ thiết kế sửa chữa, thí nghiệm phục vụ công tác tư vấn bảo trì công trình và một số công việc tư vấn khác đã được Bộ Xây dựng hướng dẫn tại Thông tư hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì thực hiện theo quy định tại Thông tư này\". Liên quan đến việc xác định chi phí tư vấn phục vụ công tác sửa chữa công trình nêu trên, cách hiểu của đơn vị ông Phong như sau: \"Thông tư này\" được quy định tại Điểm a Khoản 6 Điều 3 Thông tư số 14/2021/TT-BXD là \"thông tư ban hành định mức xây dựng\" (theo quy định hiện hành là Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về ban hành định mức xây dựng). \"Thông tư này\" được quy định tại Điểm b Khoản 6 Điều 3 Thông tư số 14/2021/TT-BXD là \"thông tư hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng\" (theo quy định hiện hành là Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng). Ông Phong hỏi, cách hiểu như trên của đơn vị ông có đúng với nội dung quy định của Thông tư số 14/2021/TT-BXD hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc sửa chữa công trình, thiết bị công trình có chi phí dưới 500 triệu đồng sử dụng nguồn vốn nhà nước ngoài đầu tư công và vốn ngân sách nhà nước chi thường xuyên thuộc phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng thì chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình quyết định về kế hoạch sửa chữa theo Điểm a Khoản 4 Điều 35 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP. Chi phí bảo trì công trình xây dựng được xác định bằng dự toán theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 14/2021/TT-BXD ngày 8/9/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về hướng dẫn xác định chi phí bảo trì công trình xây dựng. Dự toán chi phí bảo trì công trình xây dựng theo hướng dẫn tại Bảng 2.1 Phụ lục II Thông tư số 14/2021/TT-BXD. Dự toán sửa chữa công trình có chi phí thực hiện dưới 500 triệu đồng thực hiện theo hướng dẫn tại Bảng 2.2 Phụ lục II Thông tư số 14/2021/TT-BXD. Chi phí tư vấn phục vụ bảo trì công trình xây dựng xác định theo Khoản 6 Điều 3 Thông tư số 14/2021/TT-BXD. Trong đó, đối với các công việc tư vấn quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 6 Điều 3 Thông tư số 14/2021/TT-BXD thực hiện theo quy định tại Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về ban hành định mức xây dựng; Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng, Thông tư số 14/2023/TT-BXD ngày 29/12/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Trường hợp các công việc tư vấn xây dựng chưa có định mức hoặc đã có định mức nhưng chưa phù hợp thì chi phí tư vấn được xác định bằng cách lập dự toán chi phí phù hợp với nội dung công việc cần thực hiện theo quy định.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 394, "text": "\"a) Đối với các công việc tư vấn đã được Bộ Xây dựng quy định tại Thông tư ban hành định mức xây dựng thì chi phí thực hiện theo quy định tại Thông tư này. b) Đối với các công việc tư vấn như: quan trắc công trình phục vụ công tác bảo trì; khảo sát phục vụ thiết kế sửa chữa, thí nghiệm phục vụ công tác tư vấn bảo trì công trình và một số công việc tư vấn khác đã được Bộ Xây dựng hướng dẫn tại Thông tư hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì thực hiện theo quy định tại Thông tư này\". Liên quan đến việc xác định chi phí tư vấn phục vụ công tác sửa chữa công trình nêu trên, cách hiểu của đơn vị ông Phong như sau: \"Thông tư này\" được quy định tại Điểm a Khoản 6 Điều 3 Thông tư số 14/2021/TT-BXD là \"thông tư ban hành định mức xây dựng\" (theo quy định hiện hành là Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về ban hành định mức xây dựng). \"Thông tư này\" được quy định tại Điểm b Khoản 6 Điều 3 Thông tư số 14/2021/TT-BXD là \"thông tư hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng\" (theo quy định hiện hành là Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng). Ông Phong hỏi, cách hiểu như trên của đơn vị ông có đúng với nội dung quy định của Thông tư số 14/2021/TT-BXD hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc sửa chữa công trình, thiết bị công trình có chi phí dưới 500 triệu đồng sử dụng nguồn vốn nhà nước ngoài đầu tư công và vốn ngân sách nhà nước chi thường xuyên thuộc phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng thì chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình quyết định về kế hoạch sửa chữa theo Điểm a Khoản 4 Điều 35 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP. Chi phí bảo trì công trình xây dựng được xác định bằng dự toán theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 14/2021/TT-BXD ngày 8/9/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về hướng dẫn xác định chi phí bảo trì công trình xây dựng. Dự toán chi phí bảo trì công trình xây dựng theo hướng dẫn tại Bảng 2.1 Phụ lục II Thông tư số 14/2021/TT-BXD. Dự toán sửa chữa công trình có chi phí thực hiện dưới 500 triệu đồng thực hiện theo hướng dẫn tại Bảng 2.2 Phụ lục II Thông tư số 14/2021/TT-BXD. Chi phí tư vấn phục vụ bảo trì công trình xây dựng xác định theo Khoản 6 Điều 3 Thông tư số 14/2021/TT-BXD. Trong đó, đối với các công việc tư vấn quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 6 Điều 3 Thông tư số 14/2021/TT-BXD thực hiện theo quy định tại Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về ban hành định mức xây dựng; Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng, Thông tư số 14/2023/TT-BXD ngày 29/12/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Trường hợp các công việc tư vấn xây dựng chưa có định mức hoặc đã có định mức nhưng chưa phù hợp thì chi phí tư vấn được xác định bằng cách lập dự toán chi phí phù hợp với nội dung công việc cần thực hiện theo quy định." } ], "id": "559", "is_impossible": false, "question": "Cách xác định chi phí tư vấn công trình sửa chữa sử dụng ngân sách Nhà nước" } ] } ], "title": "Cách xác định chi phí tư vấn công trình sửa chữa sử dụng ngân sách Nhà nước" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Liên quan vụ tai nạn phụ huynh lùi xe trong sân trường, tông tử vong một học sinh lớp 2, luật sư Cao Ánh Sáng, Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk cho biết, khoản 3 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định: Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ gồm công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ.Hiện trường vụ tai nạn. Ảnh: N.HSân trường không thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Vì vậy, không thể khởi tố tội \"Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại Điều 260 BLHS 2015\".Trường hợp này, người điều khiển phương tiện giao thông vào sân trường, do chủ quan, cẩu thả dẫn tới làm chết người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội \"Vô ý làm chết người\" quy định tại điều 128 BLHS 2015.Với tội danh này, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 - 5 năm. Nếu phạm tội làm chết 2 người trở lên, bị phạt tù từ 3 - 10 năm.Luật sư Cao Ánh Sáng, Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk. Ảnh: NVCCNgoài ra, căn cứ quy định Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm gồm: Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm; chi phí hợp lý cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng; thiệt hại khác do luật quy định.Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại.Nếu không có những người này, người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này.Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.Như vậy, ở trường hợp này, phụ huynh có trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm: thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm; chi phí hợp lý cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.Luật sư Dương Lê Sơn, Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk phân tích trách nhiệm của nhà trường trong vụ việc. Ảnh: NVCCĐối với trách nhiệm của nhà trường trong vụ việc này, luật sư Dương Lê Sơn, Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk nhìn nhận, nhà trường, đã thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát, để xe ô tô đi vào sân trường.Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quy định về việc bảo đảm trật tự an toàn giao thông tại các cơ sở giáo dục. Theo đó, không cho phép các phương tiện xe cơ giới lưu thông hoặc dừng đỗ trái phép trong khu vực có học sinh đang học, sinh hoạt và vui chơi trong khuôn viên nhà trường.Vì vậy, để đảm bảo thực hiện quy định trên, nhà trường có trách nhiệm đặt các biển báo, biển cấm ô tô không có trách nhiệm vào khuôn viên nhà trường. Đồng thời, cử bảo vệ, giăng dây ở cổng để không cho phép xe ô tô vào khuôn viên trường khi chưa được cho phép.Nhà trường cũng có quyền nhắc nhở, cảnh báo và đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý những cá nhân vi phạm nhằm đảm bảo duy trì tốt tình hình an toàn giao thông trong khuôn viên trường.Trước đó, ông Lưu Đức Dũng, Hiệu trưởng trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Bùi Thị Xuân (xã Ea Sin, huyện Krông Búk, Đắk Lắk) khẳng định: \"Vào thời điểm xảy ra vụ tai nạn, bảo vệ nhà trường vừa ra phía sau khu nhà tập thể bơm nước. Phụ huynh đã lái ô tô bán tải chạy thẳng vào sân trường để đưa con vào lớp nên không may cán tử vong em học sinh.Trong khi đó, theo quy định của nhà trường ô tô không được di chuyển vào sân trường để đưa đón học sinh dù trời mưa hay nắng\".Như Báo Giao thông đưa tin, khoảng 6h45 ngày 16/9, tài xế Lường Văn Nghiêm (34 tuổi, ngụ xã Ea Sin) điều khiển ô tô bán tải BKS 47C-348.58 đưa con đến trường.Lúc này, do trời có mưa nên anh Nghiêm chạy xe vào trong sân trường để cho con xuống. Trong lúc quay xe về, do không chú ý quan sát, tài xế Lường Văn Nghiêm tông trúng 3 em học sinh đang đến lớp. Hậu quả, em H.N.A.M (học sinh lớp 2) tử vong tại chỗ và hai em khác bị thương nhẹ.Cơ quan điều tra đã ra quyết định tạm giữ hình sự đối với tài xế Lường Văn Nghiêm (SN 1992, ngụ xã Ea Sin, huyện Krông Búk) để điều tra.Vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra, làm rõ.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 202, "text": "Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ gồm công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ.Hiện trường vụ tai nạn. Ảnh: N.HSân trường không thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Vì vậy, không thể khởi tố tội \"Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại Điều 260 BLHS 2015\".Trường hợp này, người điều khiển phương tiện giao thông vào sân trường, do chủ quan, cẩu thả dẫn tới làm chết người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội \"Vô ý làm chết người\" quy định tại điều 128 BLHS 2015.Với tội danh này, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 - 5 năm. Nếu phạm tội làm chết 2 người trở lên, bị phạt tù từ 3 - 10 năm.Luật sư Cao Ánh Sáng, Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk. Ảnh: NVCCNgoài ra, căn cứ quy định Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm gồm: Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm; chi phí hợp lý cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng; thiệt hại khác do luật quy định.Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại.Nếu không có những người này, người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này.Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.Như vậy, ở trường hợp này, phụ huynh có trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm: thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm; chi phí hợp lý cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.Luật sư Dương Lê Sơn, Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk phân tích trách nhiệm của nhà trường trong vụ việc. Ảnh: NVCCĐối với trách nhiệm của nhà trường trong vụ việc này, luật sư Dương Lê Sơn, Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk nhìn nhận, nhà trường, đã thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát, để xe ô tô đi vào sân trường.Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quy định về việc bảo đảm trật tự an toàn giao thông tại các cơ sở giáo dục. Theo đó, không cho phép các phương tiện xe cơ giới lưu thông hoặc dừng đỗ trái phép trong khu vực có học sinh đang học, sinh hoạt và vui chơi trong khuôn viên nhà trường.Vì vậy, để đảm bảo thực hiện quy định trên, nhà trường có trách nhiệm đặt các biển báo, biển cấm ô tô không có trách nhiệm vào khuôn viên nhà trường. Đồng thời, cử bảo vệ, giăng dây ở cổng để không cho phép xe ô tô vào khuôn viên trường khi chưa được cho phép.Nhà trường cũng có quyền nhắc nhở, cảnh báo và đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý những cá nhân vi phạm nhằm đảm bảo duy trì tốt tình hình an toàn giao thông trong khuôn viên trường.Trước đó, ông Lưu Đức Dũng, Hiệu trưởng trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Bùi Thị Xuân (xã Ea Sin, huyện Krông Búk, Đắk Lắk) khẳng định: \"Vào thời điểm xảy ra vụ tai nạn, bảo vệ nhà trường vừa ra phía sau khu nhà tập thể bơm nước. Phụ huynh đã lái ô tô bán tải chạy thẳng vào sân trường để đưa con vào lớp nên không may cán tử vong em học sinh.Trong khi đó, theo quy định của nhà trường ô tô không được di chuyển vào sân trường để đưa đón học sinh dù trời mưa hay nắng\".Như Báo Giao thông đưa tin, khoảng 6h45 ngày 16/9, tài xế Lường Văn Nghiêm (34 tuổi, ngụ xã Ea Sin) điều khiển ô tô bán tải BKS 47C-348.58 đưa con đến trường.Lúc này, do trời có mưa nên anh Nghiêm chạy xe vào trong sân trường để cho con xuống. Trong lúc quay xe về, do không chú ý quan sát, tài xế Lường Văn Nghiêm tông trúng 3 em học sinh đang đến lớp. Hậu quả, em H.N.A.M (học sinh lớp 2) tử vong tại chỗ và hai em khác bị thương nhẹ.Cơ quan điều tra đã ra quyết định tạm giữ hình sự đối với tài xế Lường Văn Nghiêm (SN 1992, ngụ xã Ea Sin, huyện Krông Búk) để điều tra.Vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra, làm rõ." } ], "id": "560", "is_impossible": false, "question": "Tình huống pháp lý vụ phụ huynh lùi xe trong sân trường tông học sinh tử vong" } ] } ], "title": "Tình huống pháp lý vụ phụ huynh lùi xe trong sân trường tông học sinh tử vong" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bà Lê Thảo Vy (Thành phố Hồ Chí Minh) là người lao động ngoài khu công nghiệp. Hiện bà muốn thuê nhà ở xã hội tại một dự án cho thuê nhà ở xã hội. Ảnh minh họa. Theo bà Vy tham khảo quy định tại Khoản 2 Điều 62 Luật Nhà ở năm 2014 (đã hết hiệu lực từ ngày 1/8/2024), thời hạn của hợp đồng thuê nhà ở xã hội tối thiểu là 5 năm và không quy định thời hạn tối đa của hợp đồng thuê nhà ở xã hội. Luật Nhà ở năm 2023 (có hiệu lực kể từ ngày 1/8/2024) không còn quy định nội dung này và cũng không quy định thời hạn tối đa của hợp đồng thuê nhà ở xã hội. Tuy nhiên, theo Mẫu số 03 Hợp đồng cho thuê nhà ở xã hội được ban hành kèm theo Phụ lục VI Thông tư số 05/2024/TT-BXD ngày 31/7/2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở lại quy định \"Các bên tự thỏa thuận về thời hạn thuê nhưng tối đa không vượt quá 05 năm. Đối với nhà ở xã hội chỉ để cho thuê thì thời hạn tối đa là 10 năm\". Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 quy định hợp đồng trong kinh doanh bất động sản phải được lập thành hợp đồng theo mẫu do Chính phủ quy định. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng đối với trường hợp mua bán, thuê mua, thuê nhà ở xã hội. Luật Nhà ở năm 2023 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành cũng không quy định bắt buộc hợp đồng mua bán, thuê mua, thuê nhà ở xã hội phải thực hiện theo mẫu mà chỉ giao cho Bộ Xây dựng ban hành mẫu hợp đồng mua bán, thuê mua, thuê nhà ở xã hội. Bà Vy hỏi, vậy có bắt buộc thực hiện hợp đồng theo mẫu được ban hành kèm theo Thông tư số 05/2024/TT-BXD không? Việc Thông tư số 05/2024/TT-BXD giới hạn thời gian thuê tối đa như trên có phù hợp với quy định của Luật Nhà ở năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành khác không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tại Khoản 1 Điều 170 Luật Nhà ở năm 2023 quy định đối với thời hạn thuê nhà ở như sau: \"Điều 170. Thời hạn thuê, giá thuê, cho thuê lại nhà ở 1. Bên cho thuê và bên thuê nhà ở được thỏa thuận về thời hạn thuê, giá thuê và hình thức trả tiền thuê nhà ở theo định kỳ hoặc trả một lần; trường hợp Nhà nước có quy định về giá thuê nhà ở thì các bên phải thực hiện theo quy định đó\". Tại Khoản 4 Điều 191 Luật Nhà ở năm 2023 quy định về trách nhiệm của Bộ Xây dựng: \"Điều 191. Trách nhiệm của Bộ Xây dựng ... 4. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản pháp luật về nhà ở theo thẩm quyền; quy định tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về nhà ở, nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp; ban hành mẫu hợp đồng mua bán, cho thuê mua, cho thuê nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư, nhà ở thuộc tài sản công\". Tại Thông tư số 05/2024/TT-BXD ngày 31/7/2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở (Mẫu số 03 Phụ lục VI Hợp đồng thuê nhà ở xã hội) trong đó có nêu rõ: thời hạn thuê nhà ở Các bên tự thỏa thuận về thời hạn thuê nhưng tối đa không vượt quá 5 năm. Đối với nhà ở xã hội chỉ để cho thuê thì thời hạn tối đa là 10 năm. Đề nghị bà Vy nghiên cứu những quy định nêu trên để thực hiện.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1731, "text": "Tại Khoản 1 Điều 170 Luật Nhà ở năm 2023 quy định đối với thời hạn thuê nhà ở như sau: \"Điều 170. Thời hạn thuê, giá thuê, cho thuê lại nhà ở 1. Bên cho thuê và bên thuê nhà ở được thỏa thuận về thời hạn thuê, giá thuê và hình thức trả tiền thuê nhà ở theo định kỳ hoặc trả một lần; trường hợp Nhà nước có quy định về giá thuê nhà ở thì các bên phải thực hiện theo quy định đó\". Tại Khoản 4 Điều 191 Luật Nhà ở năm 2023 quy định về trách nhiệm của Bộ Xây dựng: \"Điều 191. Trách nhiệm của Bộ Xây dựng ... 4. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản pháp luật về nhà ở theo thẩm quyền; quy định tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về nhà ở, nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp; ban hành mẫu hợp đồng mua bán, cho thuê mua, cho thuê nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư, nhà ở thuộc tài sản công\". Tại Thông tư số 05/2024/TT-BXD ngày 31/7/2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở (Mẫu số 03 Phụ lục VI Hợp đồng thuê nhà ở xã hội) trong đó có nêu rõ: thời hạn thuê nhà ở Các bên tự thỏa thuận về thời hạn thuê nhưng tối đa không vượt quá 5 năm. Đối với nhà ở xã hội chỉ để cho thuê thì thời hạn tối đa là 10 năm. Đề nghị bà Vy nghiên cứu những quy định nêu trên để thực hiện." } ], "id": "561", "is_impossible": false, "question": "Được thuê nhà ở xã hội trong bao lâu?" } ] } ], "title": "Được thuê nhà ở xã hội trong bao lâu?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Vạch xương cá là một loại vạch liền nét, có dạng chữ V. Vạch này được kẻ trên mặt đường với màu trắng, rộng 45cm, các mép vạch cách nhau 100cm và nghiêng 135 độ so với hướng di chuyển của xe. Phần giới hạn phạm vi vạch được xác định bằng vạch đơn liền nét, rộng 20cm.Vạch xương cá đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết và tổ chức giao thông tại các khu vực nút giao phức tạp, trạm thu phí và những đoạn đường hẹp.Tuy nhiên, khi có chỉ dẫn của CSGT hoặc xe gặp sự cố như hỏng hóc, va chạm, tài xế gặp vấn đề nguy hiểm cần dừng xe đột ngột, việc cán vạch là điều khó tránh khỏi.Pháp luật cho phép tài xế ưu tiên bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của mình và người khác.Vì vậy, có thể tạm thời đè vạch để xử lý tình huống khẩn cấp mà không bị phạt. Bên cạnh đó, ô tô đè vạch xương cá do ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết xấu, tài xế có thể không bị xử phạt nếu đã cố gắng hết sức để đảm bảo an toàn và không cố ý vi phạm.Trong trường hợp xe máy hoặc ô tô vi phạm vạch xương cá mà không nằm trong các tình huống được phép, người điều khiển phương tiện sẽ bị xử phạt theo Nghị định 100.Đối với xe máy, khi người lái cố tình đè lên vạch để vượt hoặc lấn làn mà không có sự cho phép của CSGT, mức phạt tiền thường từ 300-400 nghìn đồng.Nếu người lái ô tô đè vạch xương cá, có thể bị phạt từ 2-4 triệu đồng. Trong trường hợp hành vi vi phạm dẫn đến tai nạn giao thông, tài xế ô tô có thể bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 2-4 tháng. Mức độ xử phạt sẽ phụ thuộc vào tính chất và hậu quả của tai nạn xảy ra.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Vạch xương cá là một loại vạch liền nét, có dạng chữ V. Vạch này được kẻ trên mặt đường với màu trắng, rộng 45cm, các mép vạch cách nhau 100cm và nghiêng 135 độ so với hướng di chuyển của xe. Phần giới hạn phạm vi vạch được xác định bằng vạch đơn liền nét, rộng 20cm.Vạch xương cá đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết và tổ chức giao thông tại các khu vực nút giao phức tạp, trạm thu phí và những đoạn đường hẹp.Tuy nhiên, khi có chỉ dẫn của CSGT hoặc xe gặp sự cố như hỏng hóc, va chạm, tài xế gặp vấn đề nguy hiểm cần dừng xe đột ngột, việc cán vạch là điều khó tránh khỏi.Pháp luật cho phép tài xế ưu tiên bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của mình và người khác.Vì vậy, có thể tạm thời đè vạch để xử lý tình huống khẩn cấp mà không bị phạt. Bên cạnh đó, ô tô đè vạch xương cá do ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết xấu, tài xế có thể không bị xử phạt nếu đã cố gắng hết sức để đảm bảo an toàn và không cố ý vi phạm.Trong trường hợp xe máy hoặc ô tô vi phạm vạch xương cá mà không nằm trong các tình huống được phép, người điều khiển phương tiện sẽ bị xử phạt theo Nghị định 100.Đối với xe máy, khi người lái cố tình đè lên vạch để vượt hoặc lấn làn mà không có sự cho phép của CSGT, mức phạt tiền thường từ 300-400 nghìn đồng.Nếu người lái ô tô đè vạch xương cá, có thể bị phạt từ 2-4 triệu đồng. Trong trường hợp hành vi vi phạm dẫn đến tai nạn giao thông, tài xế ô tô có thể bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 2-4 tháng. Mức độ xử phạt sẽ phụ thuộc vào tính chất và hậu quả của tai nạn xảy ra." } ], "id": "562", "is_impossible": false, "question": "Lỗi đè vạch xương cá trên đường bị xử phạt thế nào?" } ] } ], "title": "Lỗi đè vạch xương cá trên đường bị xử phạt thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Giá vật liệu do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công bố là cơ sở để xác định giá xây dựng công trình, trường hợp chưa có trong công bố giá hoặc đã có nhưng chủng loại vật liệu không phù hợp thì giá vật liệu để xác định giá xây dựng công trình được thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá, lựa chọn trên cơ sở tham khảo các nguồn thông tin về giá. Ảnh minh họa. Theo phản ánh của ông Phạm Đăng Ngọc Vinh, công bố giá hằng tháng của Sở Xây dựng thường có nội dung: “Các cơ quan, tổ chức, cá nhân căn cứ công bố này là cơ sở để xác định giá xây dựng các dự án, công trình sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công, dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (sau đây là dự án PPP); đối với các dự án sử dụng vốn khác tham khảo, sử dụng để xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng”. Theo đó, các chủ đầu tư, đơn vị tư vấn lẫn cơ quan thẩm định đều dựa vào công bố giá để lập dự toán với các công trình sử dụng vốn đầu tư công. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng có vướng mắc như sau: Với cùng một loại vật liệu thì thường có nhiều mức giá bán khác nhau tại cùng một địa phương. Bên cạnh đó, giá của nhiều loại vật liệu xây dựng được cung cấp trong công bố thấp hơn nhiều so với thị trường thực tế hoặc một số doanh nghiệp có báo giá nhưng thực tế không cung cấp được sản phẩm. Khi lập, thẩm định dự toán, các đơn vị liên quan thường phải cân đối lựa chọn sao cho hợp lý với thực tế nên nhiều khi phải chọn giá bán ở mức tầm trung chứ không lấy giá thấp nhất. Ông Vinh được biết, không có quy định nào bắt buộc phải áp giá thấp nhất theo công bố giá của Sở Xây dựng. Giả sử có quy định đó thì cũng rất phi lý so với cách công bố giá như hiện nay, nếu bắt buộc phải lấy giá thấp nhất thì tại sao sau khi thu thập báo giá, Sở Xây dựng không tổng hợp và chỉ công bố 1 giá/1 loại vật liệu cùng quy cách kỹ thuật, tại sao phải công bố nhiều mức giá nhưng không cho lựa chọn? Ngoài ra, trách nhiệm về tính chính xác của báo giá của các doanh nghiệp cung cấp cho Sở Xây dựng đã được quy định chưa? Thực tế hiện nay, trong quá trình lập, thẩm định, phê duyệt dự toán, các cơ quan đều hiểu được bất cập đã trình bày ở trên để cùng nhau đưa ra lựa chọn hợp lý nhất có thể trong một thời điểm xác định. Tuy nhiên, qua đến bước thanh tra thì cơ quan này lại đặt câu hỏi không thể trả lời là “tại sao không lấy giá thấp nhất?”. Điều này dẫn đến hệ lụy, tất cả các đơn vị liên quan đều chăm chăm áp giá thấp nhất để tránh bị xử phạt và kỷ luật dù nó phi thực tế và đi ngược lại với trách nhiệm nghề nghiệp. Thực tế đã chỉ ra, rất nhiều doanh nghiệp thi công không thể tìm mua được vật liệu với giá bán như trong công bố giá. Điều này đã ảnh hưởng lớn đến lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp, góp phần gây thua lỗ. Ông Vinh hỏi, yêu cầu bắt buộc phải lấy đơn giá thấp nhất trong khi bỏ qua các yếu tố thực tế có ảnh hưởng khác của cơ quan thanh tra có đúng quy định? Ngoài ra, theo ông Vinh, việc tiến hành xử phạt theo Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/1/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng cũng bộc lộ bất cập. Nghị định không đưa ra những mức xử phạt phù hợp với hành vi vô ý hay cố ý, gây thất thoát nhiều hay ít. Giả sử xác định được là cố ý thì với cùng một hành vi áp sai đơn giá, có những dự án sau tính toán chỉ gây thất thoát 10 triệu đồng, dự án khác lại hơn 100 triệu đồng; cả hai trường hợp này đều bị phạt chung mức 40 triệu đồng. Giả sử hành vi áp sai đơn giá là vô ý (vì bất cập khi áp dụng các quy định hiện hành như đã đề cập đến ở trên, hoặc vì hiểu sai quy định, không tư lợi cá nhân) thì nên được giải quyết như thế nào? Cơ quan thanh tra có công cụ nào để đánh giá trường hợp này sao cho hợp tình hợp lý? Nghị định xử phạt có tách riêng trường hợp này hay không? Ông Vinh đề nghị Bộ Xây dựng có giải đáp rõ ràng để các đơn vị tham gia hoạt động xây dựng thực hiện đúng quy định. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng thực hiện theo các quy định của pháp luật về quản lý chi phí đầu tư xây dựng tương ứng với từng thời kỳ. Đối với các dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 10/2021/NĐ-CP, thì việc lựa chọn giá để xác định chi phí đầu tư xây dựng thực hiện theo quy định tại Điều 9 Thông tư số 11/2021/TT-BXD được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 14/2023/TT-BXD. Theo đó, giá vật liệu do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công bố là cơ sở để xác định giá xây dựng công trình, trường hợp chưa có trong công bố giá hoặc đã có nhưng chủng loại vật liệu không phù hợp với yêu cầu về tiêu chuẩn, quy chuẩn, chất lượng, khả năng cung ứng và các điều kiện cụ thể khác của từng dự án thì giá vật liệu để xác định giá xây dựng công trình được thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá, lựa chọn trên cơ sở tham khảo các nguồn thông tin về giá được hướng dẫn tại Mục 3 Thông tư số 14/2023/TT-BXD. Việc lựa chọn giá vật liệu xây dựng phải khách quan, minh bạch, bảo đảm hiệu quả của dự án. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang được giao chủ trì xây dựng và tổ chức lấy ý kiến đóng góp các Bộ, ngành Trung ương, UBND cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức, cá nhân về dự thảo thay thế Nghị định số 16/2022/NĐ-CP để tổng hợp, báo cáo Chính phủ xem xét, ban hành theo quy định.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 475, "text": "“Các cơ quan, tổ chức, cá nhân căn cứ công bố này là cơ sở để xác định giá xây dựng các dự án, công trình sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công, dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (sau đây là dự án PPP); đối với các dự án sử dụng vốn khác tham khảo, sử dụng để xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng”. Theo đó, các chủ đầu tư, đơn vị tư vấn lẫn cơ quan thẩm định đều dựa vào công bố giá để lập dự toán với các công trình sử dụng vốn đầu tư công. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng có vướng mắc như sau: Với cùng một loại vật liệu thì thường có nhiều mức giá bán khác nhau tại cùng một địa phương. Bên cạnh đó, giá của nhiều loại vật liệu xây dựng được cung cấp trong công bố thấp hơn nhiều so với thị trường thực tế hoặc một số doanh nghiệp có báo giá nhưng thực tế không cung cấp được sản phẩm. Khi lập, thẩm định dự toán, các đơn vị liên quan thường phải cân đối lựa chọn sao cho hợp lý với thực tế nên nhiều khi phải chọn giá bán ở mức tầm trung chứ không lấy giá thấp nhất. Ông Vinh được biết, không có quy định nào bắt buộc phải áp giá thấp nhất theo công bố giá của Sở Xây dựng. Giả sử có quy định đó thì cũng rất phi lý so với cách công bố giá như hiện nay, nếu bắt buộc phải lấy giá thấp nhất thì tại sao sau khi thu thập báo giá, Sở Xây dựng không tổng hợp và chỉ công bố 1 giá/1 loại vật liệu cùng quy cách kỹ thuật, tại sao phải công bố nhiều mức giá nhưng không cho lựa chọn? Ngoài ra, trách nhiệm về tính chính xác của báo giá của các doanh nghiệp cung cấp cho Sở Xây dựng đã được quy định chưa? Thực tế hiện nay, trong quá trình lập, thẩm định, phê duyệt dự toán, các cơ quan đều hiểu được bất cập đã trình bày ở trên để cùng nhau đưa ra lựa chọn hợp lý nhất có thể trong một thời điểm xác định. Tuy nhiên, qua đến bước thanh tra thì cơ quan này lại đặt câu hỏi không thể trả lời là “tại sao không lấy giá thấp nhất?”. Điều này dẫn đến hệ lụy, tất cả các đơn vị liên quan đều chăm chăm áp giá thấp nhất để tránh bị xử phạt và kỷ luật dù nó phi thực tế và đi ngược lại với trách nhiệm nghề nghiệp. Thực tế đã chỉ ra, rất nhiều doanh nghiệp thi công không thể tìm mua được vật liệu với giá bán như trong công bố giá. Điều này đã ảnh hưởng lớn đến lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp, góp phần gây thua lỗ. Ông Vinh hỏi, yêu cầu bắt buộc phải lấy đơn giá thấp nhất trong khi bỏ qua các yếu tố thực tế có ảnh hưởng khác của cơ quan thanh tra có đúng quy định? Ngoài ra, theo ông Vinh, việc tiến hành xử phạt theo Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/1/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng cũng bộc lộ bất cập. Nghị định không đưa ra những mức xử phạt phù hợp với hành vi vô ý hay cố ý, gây thất thoát nhiều hay ít. Giả sử xác định được là cố ý thì với cùng một hành vi áp sai đơn giá, có những dự án sau tính toán chỉ gây thất thoát 10 triệu đồng, dự án khác lại hơn 100 triệu đồng; cả hai trường hợp này đều bị phạt chung mức 40 triệu đồng. Giả sử hành vi áp sai đơn giá là vô ý (vì bất cập khi áp dụng các quy định hiện hành như đã đề cập đến ở trên, hoặc vì hiểu sai quy định, không tư lợi cá nhân) thì nên được giải quyết như thế nào? Cơ quan thanh tra có công cụ nào để đánh giá trường hợp này sao cho hợp tình hợp lý? Nghị định xử phạt có tách riêng trường hợp này hay không? Ông Vinh đề nghị Bộ Xây dựng có giải đáp rõ ràng để các đơn vị tham gia hoạt động xây dựng thực hiện đúng quy định. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng thực hiện theo các quy định của pháp luật về quản lý chi phí đầu tư xây dựng tương ứng với từng thời kỳ. Đối với các dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 10/2021/NĐ-CP, thì việc lựa chọn giá để xác định chi phí đầu tư xây dựng thực hiện theo quy định tại Điều 9 Thông tư số 11/2021/TT-BXD được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 14/2023/TT-BXD. Theo đó, giá vật liệu do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công bố là cơ sở để xác định giá xây dựng công trình, trường hợp chưa có trong công bố giá hoặc đã có nhưng chủng loại vật liệu không phù hợp với yêu cầu về tiêu chuẩn, quy chuẩn, chất lượng, khả năng cung ứng và các điều kiện cụ thể khác của từng dự án thì giá vật liệu để xác định giá xây dựng công trình được thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá, lựa chọn trên cơ sở tham khảo các nguồn thông tin về giá được hướng dẫn tại Mục 3 Thông tư số 14/2023/TT-BXD. Việc lựa chọn giá vật liệu xây dựng phải khách quan, minh bạch, bảo đảm hiệu quả của dự án. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang được giao chủ trì xây dựng và tổ chức lấy ý kiến đóng góp các Bộ, ngành Trung ương, UBND cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức, cá nhân về dự thảo thay thế Nghị định số 16/2022/NĐ-CP để tổng hợp, báo cáo Chính phủ xem xét, ban hành theo quy định." } ], "id": "563", "is_impossible": false, "question": "Có bắt buộc chọn giá thấp nhất theo công bố giá vật liệu xây dựng?" } ] } ], "title": "Có bắt buộc chọn giá thấp nhất theo công bố giá vật liệu xây dựng?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Theo nội dung Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, chuyên môn phù hợp khi xét cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng đối với lĩnh vực thiết kế kết cấu công trình được quy định tại Mục 3.1 Phụ lục VI kèm theo Dự thảo Nghị định. Ảnh minh họa. Liên quan đến quy định chuyên ngành phù hợp khi xét cấp chứng chỉ hành nghề thiết kế kết cấu công trình, trước đây, qua Cổng TTĐT Chính phủ, ông Nguyễn Văn Lang (Thành phố Hồ Chí Minh) đã có ý kiến đề nghị Bộ Xây dựng quan tâm xem xét, có hướng giải quyết, nghiên cứu điều chỉnh những quy định còn bất cập của Nghị định số 15/2021/NĐ-CP sao cho phù hợp với thực tế cuộc sống. Sau đó, Bộ Xây dựng đã có thông tin phản hồi với nội dung, dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 15/2021/NĐ-CP đang được xây dựng để khắc phục các tồn tại đã nêu theo hướng cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giải quyết các vướng mắc, bất cập trong đó có nội dung về chuyên môn phù hợp khi xét cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng. Tuy nhiên, vừa qua ông Nguyễn Văn Lang tham khảo Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 15/2021/NĐ-CP bản gần nhất vào ngày 8/7/2024 thì thấy tại Mục 3 Phụ lục VI kèm theo bản Dự thảo quy định không có gì thay đổi, chuyên ngành để được tham gia sát hạch và cấp chứng chỉ hành nghề thiết kế kết cấu công trình chỉ có ngành xây dựng dân dụng và công nghiệp. Theo ông Nguyễn Văn Lang, quy định nêu trên khi áp dụng sẽ gây khó khăn rất lớn cho những người tốt nghiệp kỹ sư xây dựng chuyên ngành khác như cầu đường,… từ lúc ra trường chỉ làm duy nhất công việc thiết kế kết cấu công trình và đã từng được Bộ Xây dựng cấp chứng chỉ hành nghề thiết kế kết cấu trước đó nhưng hiện nay đã hết hạn. Do vậy, ông Nguyễn Văn Lang tiếp tục đề nghị Bộ Xây dựng và các bộ ngành liên quan xem xét điều chỉnh quy định chuyên ngành để cấp chứng chỉ hành nghề thiết kế kết cấu công trình là: \"Chuyên ngành đào tạo về kết cấu công trình dân dụng, công nghiệp hoặc các chuyên ngành kỹ thuật xây dựng có liên quan mà trong chương trình đào tạo có các môn học về kết cấu công trình như: Cơ kết cấu 1, Cơ kết cấu 2, Cơ học đất, Nền móng, Kết cấu bê tông cốt thép 1, Kết cấu bê tông cốt thép 2 (phần kết cấu nhà cửa), Kết cấu thép + gỗ, Công trình trên nền đất yếu, Kết cấu bê tông cốt thép 3 (các cấu kiện đặc biệt), kết cấu dự ứng lực,…\" để những kỹ sư xây dựng như ông thuộc các chuyên ngành rất gần với ngành xây dựng dân dụng và công nghiệp theo chương trình đào tạo trước thời điểm Luật Xây dựng 2014 có hiệu lực (điển hình như ngành cầu đường, cảng công trình biển...) có cơ hội tham gia sát hạch chứng chỉ hành nghề thiết kế kết cấu. Hoặc, có hướng giải quyết, nghiên cứu điều chỉnh quy định theo hướng mở, chẳng hạn, những trường hợp như ông Nguyễn Văn Lang cần phải tham gia bổ túc thêm những kiến thức gì do Bộ Xây dựng hoặc các đơn vị do Bộ Xây dựng ủy quyền tổ chức để sau đó ông có thể tham gia sát hạch và lấy chứng chỉ hành nghề. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Chuyên môn phù hợp khi xét cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng đối với lĩnh vực thiết kế kết cấu công trình được quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 67 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang xây dựng Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 15/2021/NĐ-CP và đã trình Chính phủ. Theo nội dung Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, chuyên môn phù hợp khi xét cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng đối với lĩnh vực thiết kế kết cấu công trình được quy định tại Mục 3.1 Phụ lục VI kèm theo Dự thảo Nghị định, cụ thể: - Chuyên ngành đào tạo theo văn bằng: Chuyên ngành đào tạo về kết cấu công trình dân dụng, công nghiệp; - Chuyên môn đào tạo phù hợp thể hiện tại bảng điểm/phụ lục văn bằng trong trường hợp văn bằng không ghi rõ chuyên ngành đào tạo: Có các môn học, đồ án môn học, đồ án tốt nghiệp về kết cấu công trình dân dụng và công nghiệp.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1871, "text": "\"Chuyên ngành đào tạo về kết cấu công trình dân dụng, công nghiệp hoặc các chuyên ngành kỹ thuật xây dựng có liên quan mà trong chương trình đào tạo có các môn học về kết cấu công trình như: Cơ kết cấu 1, Cơ kết cấu 2, Cơ học đất, Nền móng, Kết cấu bê tông cốt thép 1, Kết cấu bê tông cốt thép 2 (phần kết cấu nhà cửa), Kết cấu thép + gỗ, Công trình trên nền đất yếu, Kết cấu bê tông cốt thép 3 (các cấu kiện đặc biệt), kết cấu dự ứng lực,…\" để những kỹ sư xây dựng như ông thuộc các chuyên ngành rất gần với ngành xây dựng dân dụng và công nghiệp theo chương trình đào tạo trước thời điểm Luật Xây dựng 2014 có hiệu lực (điển hình như ngành cầu đường, cảng công trình biển...) có cơ hội tham gia sát hạch chứng chỉ hành nghề thiết kế kết cấu. Hoặc, có hướng giải quyết, nghiên cứu điều chỉnh quy định theo hướng mở, chẳng hạn, những trường hợp như ông Nguyễn Văn Lang cần phải tham gia bổ túc thêm những kiến thức gì do Bộ Xây dựng hoặc các đơn vị do Bộ Xây dựng ủy quyền tổ chức để sau đó ông có thể tham gia sát hạch và lấy chứng chỉ hành nghề. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Chuyên môn phù hợp khi xét cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng đối với lĩnh vực thiết kế kết cấu công trình được quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 67 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang xây dựng Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 15/2021/NĐ-CP và đã trình Chính phủ. Theo nội dung Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, chuyên môn phù hợp khi xét cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng đối với lĩnh vực thiết kế kết cấu công trình được quy định tại Mục 3.1 Phụ lục VI kèm theo Dự thảo Nghị định, cụ thể: - Chuyên ngành đào tạo theo văn bằng: Chuyên ngành đào tạo về kết cấu công trình dân dụng, công nghiệp; - Chuyên môn đào tạo phù hợp thể hiện tại bảng điểm/phụ lục văn bằng trong trường hợp văn bằng không ghi rõ chuyên ngành đào tạo: Có các môn học, đồ án môn học, đồ án tốt nghiệp về kết cấu công trình dân dụng và công nghiệp." } ], "id": "564", "is_impossible": false, "question": "Chuyên môn nào được xét cấp chứng chỉ thiết kế kết cấu công trình?" } ] } ], "title": "Chuyên môn nào được xét cấp chứng chỉ thiết kế kết cấu công trình?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Phạt nặng xe đeo biển không phải công an cấpThông tin đến đường dây nóng Báo Giao thông, bạn đọc Nguyễn Thế Nam (trú tại Hiệp Hòa, Bắc Giang) chia sẻ, mấy ngày trước, anh đi làm từ nhà đến công ty thì không may biển số bị rơi, sau đó không tìm thấy.\"Vì ngày nào tôi cũng phải đi làm bằng xe máy, vì vậy thay vì đến các cơ quan chức năng để xin cấp, đổi lại biển số xe, tôi có thể lên mạng đặt hoặc tự đi mua và lắp lại biển số giống hệt biển số cũ được không?\", anh Nam hỏi.Biển số xe phải do cơ quan chức năng cấp thì người dân mới được gắn vào phương tiện giao thông.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, biển số xe có chức năng chính là nhận diện và xác định phương tiện trong hệ thống giao thông. Biển số xe không chỉ giúp cho các cơ quan chức năng trong việc quản lý, mà còn bảo vệ quyền lợi của chủ xe. Không có biển số, người dân có thể bị phạt nặng khi tham gia giao thông.Khi người dân mất biển số xe, điều đầu tiên cần làm là báo cáo ngay cho cơ quan cảnh sát giao thông hoặc cơ quan công an mình sinh sống. Đây là bước quan trọng để thông báo về việc mất mát, giúp ngăn chặn việc biển số xe không bị sử dụng cho mục đích xấu.Sau đó, người dân có thể tiến hành thủ tục xin cấp lại biển số xe mới tại phòng cảnh sát giao thông hoặc nơi mà người dân đã đăng ký chiếc xe của mình. Luật sư Bình cho biết, việc tự đặt làm biển số mới là hành động trái phép và bị phạt nặng theo quy định của pháp luật Việt Nam.\"Hơn nữa, biển số giả có thể bị kẻ gian lợi dụng để thực hiện các hành vi phạm pháp. Việc sử dụng biển số không hợp lệ có thể bị phạt hành chính, phạt tiền hoặc thậm chí bị tịch thu phương tiện\", ông Bình nói.Theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP, người điều khiển xe gắn biển số không đúng với giấy đăng ký xe hoặc gắn biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp sẽ bị phạt tiền. Cụ thể, với xe máy (kể cả xe máy điện) là 300 - 400 nghìn đồng; với ô tô là từ 4 - 6 triệu đồng.Ngoài bị phạt tiền, người vi phạm còn bị tịch thu biển số không đúng quy định và bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 1 - 3 tháng.Đặc biệt, các trường hợp sử dụng biển số xe giả để thực hiện hành vi trái pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).Thủ tục làm lại biển số xe khi bị mấtTheo quy định, khi xe bị rơi mất biển số xe, người dân cần phải đến cơ quan có thẩm quyền để tiến hành thủ tục làm lại biển số. Theo Thông tư 58/2020/TT-BCA, trường hợp biển số xe bị mất thuộc đối tượng cấp lại biển số xe. Để tiến hành làm lại biển số xe bị mất, chủ phương tiện cần tiến hành làm theo các bước sau:Bước 1, chuẩn bị hồ sơ. Người có nhu cầu xin cấp lại biển số xe cần chuẩn bị các giấy tờ sau: Giấy khai đăng ký xe theo mẫu 01; Giấy tờ của chủ xe như chứng minh nhân dân/căn cước công dân/sổ hộ khẩu. Trường hợp chủ xe là người Việt Nam định cư ở nước ngoài về sinh sống, làm việc tại Việt Nam cần có sổ tạm trú/sổ hộ khẩu hoặc hộ chiếu (còn giá trị sử dụng).Chủ xe là người nước ngoài cần giấy giới thiệu của Cục Lễ tân Nhà nước hoặc Sở Ngoại vụ và xuất trình chứng minh thư ngoại giao hoặc chứng minh thư công vụ (còn giá trị sử dụng); visa thời hạn từ 1 năm trở lên hoặc giấy tờ khác có giá trị thay visa.Chủ xe là cơ quan, tổ chức, cần chuẩn bị thẻ căn cước công dân hoặc chứng minh nhân dân của người đến đăng ký xe; Giấy giới thiệu của Cục Lễ tân Nhà nước hoặc Sở Ngoại vụ và xuất trình chứng minh thư ngoại giao hoặc chứng minh thư công vụ (còn giá trị sử dụng) của người đến đăng ký xe (chủ xe là người nước ngoài).Bước 2, nộp hồ sơ. Phương tiện được cấp đăng ký, biển số xe tại cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm cấp lại biển số xe do bị mất.Người dân có thể nộp hồ sơ trực tiếp tại trụ sở phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương/các điểm đăng ký xe của phòng hoặc công an cấp huyện/các điểm đăng ký xe của công an cấp huyện/xã, phường.Bước 3, nhận biển số xe được cấp lại. Theo Quyết định 933/QĐ-BCA-C08, cấp ngay biển số xe số sau khi tiếp nhận hồ sơ hợp lệ; trường hợp phải chờ sản xuất biển số thì thời gian không quá 7 ngày làm việc kể, từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 2661, "text": "Bước 1, chuẩn bị hồ sơ. Người có nhu cầu xin cấp lại biển số xe cần chuẩn bị các giấy tờ sau: Giấy khai đăng ký xe theo mẫu 01; Giấy tờ của chủ xe như chứng minh nhân dân/căn cước công dân/sổ hộ khẩu. Trường hợp chủ xe là người Việt Nam định cư ở nước ngoài về sinh sống, làm việc tại Việt Nam cần có sổ tạm trú/sổ hộ khẩu hoặc hộ chiếu (còn giá trị sử dụng).Chủ xe là người nước ngoài cần giấy giới thiệu của Cục Lễ tân Nhà nước hoặc Sở Ngoại vụ và xuất trình chứng minh thư ngoại giao hoặc chứng minh thư công vụ (còn giá trị sử dụng); visa thời hạn từ 1 năm trở lên hoặc giấy tờ khác có giá trị thay visa.Chủ xe là cơ quan, tổ chức, cần chuẩn bị thẻ căn cước công dân hoặc chứng minh nhân dân của người đến đăng ký xe; Giấy giới thiệu của Cục Lễ tân Nhà nước hoặc Sở Ngoại vụ và xuất trình chứng minh thư ngoại giao hoặc chứng minh thư công vụ (còn giá trị sử dụng) của người đến đăng ký xe (chủ xe là người nước ngoài).Bước 2, nộp hồ sơ. Phương tiện được cấp đăng ký, biển số xe tại cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm cấp lại biển số xe do bị mất.Người dân có thể nộp hồ sơ trực tiếp tại trụ sở phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương/các điểm đăng ký xe của phòng hoặc công an cấp huyện/các điểm đăng ký xe của công an cấp huyện/xã, phường.Bước 3, nhận biển số xe được cấp lại. Theo Quyết định 933/QĐ-BCA-C08, cấp ngay biển số xe số sau khi tiếp nhận hồ sơ hợp lệ; trường hợp phải chờ sản xuất biển số thì thời gian không quá 7 ngày làm việc kể, từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ." } ], "id": "565", "is_impossible": false, "question": "Rơi biển số, lên mạng đặt mua biển mới lắp vào xe được không?" } ] } ], "title": "Rơi biển số, lên mạng đặt mua biển mới lắp vào xe được không?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Bạn đọc Nguyễn Văn Lộc (Đông Anh, TP Hà Nội) cho biết, trong dịp nghỉ lễ 2/9, lực lượng chức năng tăng cường xử lý vi phạm nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện giao thông.\"Xin hỏi, theo quy định hiện hành, công an phường/xã có được dừng xe để yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn hay không?\", bạn Lộc đặt câu hỏi.Thông tư 32/2023/TT-BCA của Bộ Công an đã liệt kê các lỗi vi phạm giao thông cụ thể mà công an xã được giải quyết khi tham gia hỗ trợ tuần tra, kiểm soát. Trong các lỗi vi phạm giao thông này, không có lỗi vi phạm nồng độ cồn. (Ảnh minh họa).Về nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, khoản 2 Điều 33 Thông tư 32/2023/TT-BCA của Bộ Công an quy định nhiệm vụ của công an xã như sau: Bố trí lực lượng, trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông (TTATGT) đường bộ theo kế hoạch.Xử lý vi phạm theo thẩm quyền; thống kê, báo cáo các vụ, việc vi phạm pháp luật, tai nạn giao thông đường bộ; kết quả tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về TTATGT đường bộ theo sự phân công trong kế hoạch.Trường hợp không có lực lượng cảnh sát giao thông đi cùng thì công an xã thực hiện việc tuần tra, kiểm soát theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền ban hành và báo cáo tình hình, kết quả hoạt động tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm cho lực lượng cảnh sát giao thông.Công an xã chỉ được tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên các tuyến đường xã và đường khác thuộc địa bàn xã quản lý.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Công an xã được xử lý khi phát hiện người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe thô sơ có các hành vi vi phạm về lỗi không đội mũ bảo hiểm; chở quá số người; chở hàng hóa cồng kềnh, quá kích thước; dừng, đỗ xe; phóng nhanh, lạng lách, đánh võng; không có gương chiếu hậu ở bên trái; sử dụng ô (dù); chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện hoặc phát hiện phương tiện giao thông vi phạm nghiêm trọng về TTATGT, an ninh, trật tự xã hội nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội.Trong quá trình giải quyết, xử lý các vụ việc vi phạm nêu trên, nếu phát hiện vi phạm vượt quá thẩm quyền xử phạt thì lập biên bản vi phạm hành chính và báo cáo cấp có thẩm quyền ra quyết định xử phạt.\"Như vậy Thông tư 32/2023/TT-BCA đã liệt kê các lỗi vi phạm giao thông cụ thể mà công an xã được giải quyết khi tham gia hỗ trợ tuần tra, kiểm soát. Trong các lỗi vi phạm này, không có lỗi vi phạm nồng độ cồn\", ông Lực nói.Tuy nhiên, luật sư Quách Thành Lực cho biết, Thông tư 32/2023/TT-BCA cũng quy định trường hợp, công an xã phát hiện phương tiện giao thông vi phạm nghiêm trọng về TTATGT, an ninh, trật tự xã hội nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội, thì được xử lý theo quy định của pháp luật.Như vậy, trong quá trình được giao nhiệm vụ hỗ trợ tuần tra kiểm soát giao thông, nếu phát hiện người điều khiển xe vi phạm nồng độ cồn mà có hành vi vi phạm nghiêm trọng, nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội, thì công an xã được xử lý bằng cách lập biên bản vi phạm và báo cáo cấp có thẩm quyền ra quyết định xử phạt.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 764, "text": "Bố trí lực lượng, trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông (TTATGT) đường bộ theo kế hoạch.Xử lý vi phạm theo thẩm quyền; thống kê, báo cáo các vụ, việc vi phạm pháp luật, tai nạn giao thông đường bộ; kết quả tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về TTATGT đường bộ theo sự phân công trong kế hoạch.Trường hợp không có lực lượng cảnh sát giao thông đi cùng thì công an xã thực hiện việc tuần tra, kiểm soát theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền ban hành và báo cáo tình hình, kết quả hoạt động tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm cho lực lượng cảnh sát giao thông.Công an xã chỉ được tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên các tuyến đường xã và đường khác thuộc địa bàn xã quản lý.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Công an xã được xử lý khi phát hiện người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe thô sơ có các hành vi vi phạm về lỗi không đội mũ bảo hiểm; chở quá số người; chở hàng hóa cồng kềnh, quá kích thước; dừng, đỗ xe; phóng nhanh, lạng lách, đánh võng; không có gương chiếu hậu ở bên trái; sử dụng ô (dù); chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện hoặc phát hiện phương tiện giao thông vi phạm nghiêm trọng về TTATGT, an ninh, trật tự xã hội nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội.Trong quá trình giải quyết, xử lý các vụ việc vi phạm nêu trên, nếu phát hiện vi phạm vượt quá thẩm quyền xử phạt thì lập biên bản vi phạm hành chính và báo cáo cấp có thẩm quyền ra quyết định xử phạt.\"Như vậy Thông tư 32/2023/TT-BCA đã liệt kê các lỗi vi phạm giao thông cụ thể mà công an xã được giải quyết khi tham gia hỗ trợ tuần tra, kiểm soát. Trong các lỗi vi phạm này, không có lỗi vi phạm nồng độ cồn\", ông Lực nói.Tuy nhiên, luật sư Quách Thành Lực cho biết, Thông tư 32/2023/TT-BCA cũng quy định trường hợp, công an xã phát hiện phương tiện giao thông vi phạm nghiêm trọng về TTATGT, an ninh, trật tự xã hội nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội, thì được xử lý theo quy định của pháp luật.Như vậy, trong quá trình được giao nhiệm vụ hỗ trợ tuần tra kiểm soát giao thông, nếu phát hiện người điều khiển xe vi phạm nồng độ cồn mà có hành vi vi phạm nghiêm trọng, nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội, thì công an xã được xử lý bằng cách lập biên bản vi phạm và báo cáo cấp có thẩm quyền ra quyết định xử phạt." } ], "id": "566", "is_impossible": false, "question": "Công an xã có được xử phạt vi phạm nồng độ cồn?" } ] } ], "title": "Công an xã có được xử phạt vi phạm nồng độ cồn?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bà Nguyễn Thị Huyền (Bắc Ninh) có câu hỏi liên quan đến lao động nước ngoài có được thuê nhà ở xã hội hay không, gửi tới cơ quan có thẩm quyền nhờ hướng dẫn giải đáp. Ảnh minh họa. Nội dung câu hỏi như sau: Bà Nguyễn Thị Huyền hỏi, người lao động nước ngoài làm việc trong và ngoài khu công nghiệp có được thuê nhà ở xã hội ở Việt Nam hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tại Khoản 7 Điều 2 Luật Nhà ở năm 2023 có quy định: \"7. Nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở theo quy định của Luật này\". Tại Điều 76 Luật Nhà ở năm 2023 quy định: \"Điều 76. Đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội 1. Người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ thuộc trường hợp được hỗ trợ cải thiện nhà ở theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. 2. Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn. 3. Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu. 4. Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị. 5. Người thu nhập thấp tại khu vực đô thị. 6. Công nhân, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp. 7. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân công an, công chức, công nhân và viên chức quốc phòng đang phục vụ tại ngũ; người làm công tác cơ yếu, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước đang công tác. 8. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức. 9. Đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại Khoản 4 Điều 125 của Luật này, trừ trường hợp bị thu hồi nhà ở công vụ do vi phạm quy định của Luật này. 10. Hộ gia đình, cá nhân thuộc trường hợp bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở. 11. Học sinh, sinh viên đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề, trường chuyên biệt theo quy định của pháp luật; học sinh trường dân tộc nội trú công lập. 12. Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong khu công nghiệp\". Theo đó, đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội không có người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 220, "text": "Bà Nguyễn Thị Huyền hỏi, người lao động nước ngoài làm việc trong và ngoài khu công nghiệp có được thuê nhà ở xã hội ở Việt Nam hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tại Khoản 7 Điều 2 Luật Nhà ở năm 2023 có quy định: \"7. Nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở theo quy định của Luật này\". Tại Điều 76 Luật Nhà ở năm 2023 quy định: \"Điều 76. Đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội 1. Người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ thuộc trường hợp được hỗ trợ cải thiện nhà ở theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. 2. Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn. 3. Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu. 4. Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị. 5. Người thu nhập thấp tại khu vực đô thị. 6. Công nhân, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp. 7. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân công an, công chức, công nhân và viên chức quốc phòng đang phục vụ tại ngũ; người làm công tác cơ yếu, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước đang công tác. 8. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức. 9. Đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại Khoản 4 Điều 125 của Luật này, trừ trường hợp bị thu hồi nhà ở công vụ do vi phạm quy định của Luật này. 10. Hộ gia đình, cá nhân thuộc trường hợp bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở. 11. Học sinh, sinh viên đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề, trường chuyên biệt theo quy định của pháp luật; học sinh trường dân tộc nội trú công lập. 12. Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong khu công nghiệp\". Theo đó, đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội không có người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam." } ], "id": "567", "is_impossible": false, "question": "Lao động nước ngoài có được thuê nhà ở xã hội?" } ] } ], "title": "Lao động nước ngoài có được thuê nhà ở xã hội?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Cục Cảnh sát giao thông (CSGT) và Phòng CSGT cho biết, trong dịp nghỉ lễ Quốc khánh 2/9 năm nay, lực lượng chức năng sẽ tăng cường tuần tra, kiểm soát, tập trung kiểm tra đối với xe khách chạy tuyến cố định, xe vận chuyển hành khách hợp đồng, xe buýt, taxi, xe dịch vụ (xe taxi công nghệ).Hành vi dừng xe để đón, trả khách trên cao tốc tiềm ẩn nguy cao gây tai nạn giao thông.Các tổ tuần tra xử lý nghiêm những vi phạm như dừng, đỗ, đón trả khách không đúng quy định, chở quá số người quy định, chạy quá tốc độ, không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông...Theo đại diện Cục CSGT, hành vi của tài xế xe khách dừng, đỗ để đón, trả người và hàng hóa trên đường cao tốc rất nguy hiểm, gây nguy cơ xảy ra tai nạn giao thông.Về chế tài xử phạt, khoản 7 Điều 23 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP (bổ sung bởi điểm c, khoản 12, Điều 2 Nghị định số 123/2021/NĐ-CP) quy định, người vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 10-12 triệu đồng nếu có hành vi điều khiển xe đón, trả khách trên đường cao tốc. Đồng thời, tài xế bị tước giấy phép lái xe từ 2-4 tháng.Bên cạnh đó, doanh nghiệp có xe kinh doanh mà thực hiện hành vi đón, trả khách khi xe đi trên đường cao tốc cũng bị phạt tiền từ 10-12 triệu đồng, bị tước phù hiệu kinh doanh vận tải từ 1-3 tháng.Ngoài những hành vi nêu trên, người điều khiển các loại xe ô tô sẽ bị phạt tiền từ 1-2 triệu đồng, bị tước bằng lái xe từ 1-3 tháng nếu có một trong các hành vi sau:Đón, trả hành khách không đúng nơi quy định trên những tuyến đường đã xác định nơi đón, trả khách hoặc dừng đón, trả hành khách quá thời gian quy định (trừ đường cao tốc).Đón, trả hành khách tại nơi cấm dừng, cấm đỗ, nơi đường cong tầm nhìn bị che khuất (trừ đường cao tốc).Cục CSGT khuyến cáo, trước, trong và sau dịp nghỉ lễ Quốc khánh, các chủ doanh nghiệp vận tải cần chấp hành nghiêm quy định về kinh doanh vận tải hành khách theo quy định; thường xuyên tuyên truyền, tập huấn cho lái xe các quy định về pháp luật giao thông đường bộ; kỹ năng xử lý tình huống, giải quyết sự cố khi tham gia giao thông. Dịp này, CSGT cũng sẽ tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông với tinh thần thượng tôn pháp luật, xử lý quyết liệt, kiên trì, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.Trong đó, tập trung xử lý các vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây tai nạn giao thông như: Vi phạm về nồng độ cồn, ma tuý, vi phạm tốc độ, dừng đỗ xe, đón, trả khách tại những địa điểm không đúng nơi quy định...", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1403, "text": "Đón, trả hành khách không đúng nơi quy định trên những tuyến đường đã xác định nơi đón, trả khách hoặc dừng đón, trả hành khách quá thời gian quy định (trừ đường cao tốc).Đón, trả hành khách tại nơi cấm dừng, cấm đỗ, nơi đường cong tầm nhìn bị che khuất (trừ đường cao tốc).Cục CSGT khuyến cáo, trước, trong và sau dịp nghỉ lễ Quốc khánh, các chủ doanh nghiệp vận tải cần chấp hành nghiêm quy định về kinh doanh vận tải hành khách theo quy định; thường xuyên tuyên truyền, tập huấn cho lái xe các quy định về pháp luật giao thông đường bộ; kỹ năng xử lý tình huống, giải quyết sự cố khi tham gia giao thông. Dịp này, CSGT cũng sẽ tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông với tinh thần thượng tôn pháp luật, xử lý quyết liệt, kiên trì, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.Trong đó, tập trung xử lý các vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây tai nạn giao thông như: Vi phạm về nồng độ cồn, ma tuý, vi phạm tốc độ, dừng đỗ xe, đón, trả khách tại những địa điểm không đúng nơi quy định..." } ], "id": "568", "is_impossible": false, "question": "Xe ô tô dừng đón, trả khách trên cao tốc bị xử phạt ra sao?" } ] } ], "title": "Xe ô tô dừng đón, trả khách trên cao tốc bị xử phạt ra sao?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông Nguyễn Quang Luận tốt nghiệp Đại học ngành Công nghệ nhiệt điện lạnh, đã có Chứng chỉ hành nghề cấp II giám sát lắp đặt thiết bị vào công trình dân dụng. Ông Luận hỏi, ông làm tư vấn giám sát cho công ty ông có thể ký hồ sơ nghiệm thu các hạng mục liên quan đến hệ thống cấp thoát nước, hệ thống điện hay không? Ảnh minh họa. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Phạm vi hoạt động của chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng đối với lĩnh vực giám sát lắp đặt thiết bị vào công trình được quy định tại Mục 4.4 Phụ lục VI Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Như vậy, cá nhân có Chứng chỉ hành nghề lĩnh vực giám sát lắp đặt thiết bị vào công trình hạng II được: \"Giám sát trưởng lắp đặt thiết bị vào công trình của các công trình từ cấp II trở xuống, giám sát viên lắp đặt thiết bị vào công trình của tất cả các cấp công trình\". Việc ký hồ sơ nghiệm thu công việc xây dựng, nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng hoặc bộ phận công trình xây dựng, nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng đưa vào sử dụng thực hiện theo quy định tại Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng và Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 383, "text": "Phạm vi hoạt động của chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng đối với lĩnh vực giám sát lắp đặt thiết bị vào công trình được quy định tại Mục 4.4 Phụ lục VI Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Như vậy, cá nhân có Chứng chỉ hành nghề lĩnh vực giám sát lắp đặt thiết bị vào công trình hạng II được: \"Giám sát trưởng lắp đặt thiết bị vào công trình của các công trình từ cấp II trở xuống, giám sát viên lắp đặt thiết bị vào công trình của tất cả các cấp công trình\". Việc ký hồ sơ nghiệm thu công việc xây dựng, nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng hoặc bộ phận công trình xây dựng, nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng đưa vào sử dụng thực hiện theo quy định tại Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng và Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng." } ], "id": "569", "is_impossible": false, "question": "Ai có thẩm quyền ký hồ sơ nghiệm thu hệ thống điện nước?" } ] } ], "title": "Ai có thẩm quyền ký hồ sơ nghiệm thu hệ thống điện nước?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Theo ý kiến của cử tri tỉnh Thừa Thiên - Huế, hiện nay, chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng khó khăn về nhà ở đang còn phân tán và các mức hỗ trợ không giống nhau dẫn đến việc so sánh về mức hỗ trợ (đặc biệt, đối tượng người có công với cách mạng là thấp nhất). Tỉnh Thừa Thiên - Huế bàn giao nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo. (Ảnh minh họa) Cử tri tỉnh Thừa Thiên - Huế đề nghị cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu trình Chính phủ để ban hành thống nhất một chính sách hỗ trợ nhà ở chung và có mức hỗ trợ như nhau đối với tất cả đối tượng khó khăn về nhà ở và tập trung vào một đầu mối quản lý, hỗ trợ. Bộ Xây dựng trả lời cử tri tỉnh Thừa Thiên - Huế như sau: Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm giải quyết vấn đề nhà ở và ban hành nhiều chính sách nhằm nâng cao đời sống, hỗ trợ các hộ nghèo có nhà ở ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống, góp phần xoá đói, giảm nghèo bền vững của các hộ dân nghèo có khó khăn về nhà ở. Các chính sách đã được ban hành, thực hiện trong giai đoạn vừa qua: Chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng Ngày 26/4/2013/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg về hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở. Theo đó, mức hỗ trợ đối với trường hợp xây mới nhà ở là 40 triệu đồng/hộ; đối với trường hợp sửa chữa khung, tường và thay mới mái nhà ở là 20 triệu đồng/hộ. Chương trình được thực hiện từ năm 2013-2019. Theo báo cáo của các địa phương, tính từ đầu chương trình đến thời điểm kết thúc thực hiện chính sách (ngày 31/12/2019), cả nước đã hỗ trợ cho 339.176 hộ (đã bao gồm 4.276 hộ được hỗ trợ bằng các nguồn kinh phí khác) đạt tỷ lệ 96,7% so với số liệu thực tế. Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Điểm a Khoản 7 Điều 182 Nghị định số 131/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ, Bộ Xây dựng đã phối hợp với các bộ, ngành và địa phương có liên quan dự thảo Quyết định gửi kèm theo Tờ trình số 61/TTr-BXD ngày 19/12/2022 với nội dung cơ bản của chính sách là hỗ trợ nhà ở đối với trường hợp xây mới nhà ở là 60 triệu đồng/hộ và trường hợp cải tạo, sửa chữa nhà ở là 30 triệu đồng/hộ. Ngày 5/8/2024, Bộ Xây dựng đã có Văn bản số 4422/BXD-QLN báo cáo Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ nhà ở đối với người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ. Theo đó, số lượng hộ người có công cần hỗ trợ về nhà ở trên cả nước khoảng 110.000 hộ. Hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo khu vực nông thôn Ngày 10/8/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015; không có sự hỗ trợ trực tiếp mà hộ gia đình chỉ được vay mức tối đa là 25 triệu đồng/hộ với lãi suất ưu đãi là 3%/năm nên nhiều hộ gia đình không cân đối được nguồn vốn để tham gia xây dựng nhà ở bảo đảm quy định đề ra của chương trình này. Chương trình được thực hiện từ 2015-2020, kết quả đã hỗ trợ nhà ở cho hơn 117.000 hộ nghèo, đạt tỷ lệ khoảng 50% so với Đề án. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang phối hợp cùng các Bộ, ngành nghiên cứu dự thảo Quyết định hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo, cận nghèo từ Quỹ cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành. Hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, ngập lụt Ngày 28/8/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 48/2014/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung. Theo đó, Ngân sách trung ương hỗ trợ từ 12 triệu đồng/hộ đến 16 triệu đồng/hộ tùy theo đơn vị hành chính mà hộ đang cư trú; ngoài ra, các hộ còn được vay mức tối đa 15 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội với lãi suất ưu đãi 3%/năm. Chương trình này được triển khai từ năm 2014-2021. Theo báo cáo của 13 địa phương tham gia Chương trình, các địa phương đã thực hiện hỗ trợ được khoảng 23.040/23.797 hộ nghèo xây dựng, sửa chữa nhà ở phòng tránh bão, lụt, đạt tỷ lệ 96,82%. Bộ Xây dựng đã có Tờ trình số 62/TTr-BXD ngày 19/12/2022 kèm theo dự thảo Quyết định hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, ngập lụt theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Hỗ trợ nhà ở tại các huyện nghèo Về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn các huyện nghèo tại Dự án 5 của Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/1/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025. Mục tiêu của Chương trình hỗ trợ nhà ở cho khoảng 100.000 hộ nghèo và cận nghèo. Với mức hỗ trợ trực tiếp là 40 triệu đồng/hộ xây mới, 20 triệu đồng đối với hộ sửa chữa nhà ở, ngân sách địa phương hỗ trợ tối thiểu 10% so với mức hỗ trợ từ ngân sách trung ương. Thời gian thực hiện từ 2022-2025. Hiện nay, chương trình đã hỗ trợ được hơn 35.000 hộ. Hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo vùng dân tộc thiểu số và miền núi Về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo vùng dân tộc thiểu số và miền núi tại Dự án thành phần 1 của Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Mục tiêu ban đầu hỗ trợ nhà ở cho khoảng 18.500 hộ nghèo. Mức hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách trung ương là 40 triệu đồng/hộ xây mới, 20 triệu đồng đối với hộ sửa chữa nhà ở, ngân sách địa phương hỗ trợ tối thiểu 10% so với mức hỗ trợ từ ngân sách Trung ương. Ngoài ra, hộ gia đình còn được vay vốn ưu đãi về lãi suất để làm nhà ở từ Ngân hàng Chính sách xã hội với mức tối đa là 40 triệu đồng. Thời gian thực hiện từ năm 2021-2025, Ủy ban Dân tộc là đơn vị chủ trì thực hiện nội dung này. Đến nay Chương trình đã hỗ trợ được hơn 8.000 căn nhà cho các hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Như vậy, các chính sách nêu trên được xây dựng ban hành, thực hiện trong những giai đoạn khác nhau, phù hợp với tình hình kinh tế chung của đất nước, suất đầu tư xây dựng nhà ở từng giai đoạn cũng như các nhóm đối tượng ưu tiên. Bênh cạnh đó, việc xóa đói giảm nghèo, chung tay xóa nhà tạm là việc chung của toàn xã hội, nhiều tổ chức, cá nhân khác cũng tham gia (như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với chương trình nhà đại đoàn kết, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với chương trình nhà Khăn quàng đỏ...). Bộ Xây dựng xin ghi nhận ý kiến của cử tri tỉnh Thừa Thiên - Huế để báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vận dụng trong việc xây dựng các chính sách hỗ trợ nhà ở trong thời gian tới, bảo đảm các chính sách thống nhất và tập trung đầu mối quản lý, hỗ trợ như ý kiến của cử tri đã nêu.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 674, "text": "Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm giải quyết vấn đề nhà ở và ban hành nhiều chính sách nhằm nâng cao đời sống, hỗ trợ các hộ nghèo có nhà ở ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống, góp phần xoá đói, giảm nghèo bền vững của các hộ dân nghèo có khó khăn về nhà ở. Các chính sách đã được ban hành, thực hiện trong giai đoạn vừa qua: Chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng Ngày 26/4/2013/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg về hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở. Theo đó, mức hỗ trợ đối với trường hợp xây mới nhà ở là 40 triệu đồng/hộ; đối với trường hợp sửa chữa khung, tường và thay mới mái nhà ở là 20 triệu đồng/hộ. Chương trình được thực hiện từ năm 2013-2019. Theo báo cáo của các địa phương, tính từ đầu chương trình đến thời điểm kết thúc thực hiện chính sách (ngày 31/12/2019), cả nước đã hỗ trợ cho 339.176 hộ (đã bao gồm 4.276 hộ được hỗ trợ bằng các nguồn kinh phí khác) đạt tỷ lệ 96,7% so với số liệu thực tế. Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Điểm a Khoản 7 Điều 182 Nghị định số 131/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ, Bộ Xây dựng đã phối hợp với các bộ, ngành và địa phương có liên quan dự thảo Quyết định gửi kèm theo Tờ trình số 61/TTr-BXD ngày 19/12/2022 với nội dung cơ bản của chính sách là hỗ trợ nhà ở đối với trường hợp xây mới nhà ở là 60 triệu đồng/hộ và trường hợp cải tạo, sửa chữa nhà ở là 30 triệu đồng/hộ. Ngày 5/8/2024, Bộ Xây dựng đã có Văn bản số 4422/BXD-QLN báo cáo Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ nhà ở đối với người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ. Theo đó, số lượng hộ người có công cần hỗ trợ về nhà ở trên cả nước khoảng 110.000 hộ. Hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo khu vực nông thôn Ngày 10/8/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015; không có sự hỗ trợ trực tiếp mà hộ gia đình chỉ được vay mức tối đa là 25 triệu đồng/hộ với lãi suất ưu đãi là 3%/năm nên nhiều hộ gia đình không cân đối được nguồn vốn để tham gia xây dựng nhà ở bảo đảm quy định đề ra của chương trình này. Chương trình được thực hiện từ 2015-2020, kết quả đã hỗ trợ nhà ở cho hơn 117.000 hộ nghèo, đạt tỷ lệ khoảng 50% so với Đề án. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang phối hợp cùng các Bộ, ngành nghiên cứu dự thảo Quyết định hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo, cận nghèo từ Quỹ cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành. Hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, ngập lụt Ngày 28/8/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 48/2014/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung. Theo đó, Ngân sách trung ương hỗ trợ từ 12 triệu đồng/hộ đến 16 triệu đồng/hộ tùy theo đơn vị hành chính mà hộ đang cư trú; ngoài ra, các hộ còn được vay mức tối đa 15 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội với lãi suất ưu đãi 3%/năm. Chương trình này được triển khai từ năm 2014-2021. Theo báo cáo của 13 địa phương tham gia Chương trình, các địa phương đã thực hiện hỗ trợ được khoảng 23.040/23.797 hộ nghèo xây dựng, sửa chữa nhà ở phòng tránh bão, lụt, đạt tỷ lệ 96,82%. Bộ Xây dựng đã có Tờ trình số 62/TTr-BXD ngày 19/12/2022 kèm theo dự thảo Quyết định hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, ngập lụt theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Hỗ trợ nhà ở tại các huyện nghèo Về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn các huyện nghèo tại Dự án 5 của Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/1/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025. Mục tiêu của Chương trình hỗ trợ nhà ở cho khoảng 100.000 hộ nghèo và cận nghèo. Với mức hỗ trợ trực tiếp là 40 triệu đồng/hộ xây mới, 20 triệu đồng đối với hộ sửa chữa nhà ở, ngân sách địa phương hỗ trợ tối thiểu 10% so với mức hỗ trợ từ ngân sách trung ương. Thời gian thực hiện từ 2022-2025. Hiện nay, chương trình đã hỗ trợ được hơn 35.000 hộ. Hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo vùng dân tộc thiểu số và miền núi Về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo vùng dân tộc thiểu số và miền núi tại Dự án thành phần 1 của Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Mục tiêu ban đầu hỗ trợ nhà ở cho khoảng 18.500 hộ nghèo. Mức hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách trung ương là 40 triệu đồng/hộ xây mới, 20 triệu đồng đối với hộ sửa chữa nhà ở, ngân sách địa phương hỗ trợ tối thiểu 10% so với mức hỗ trợ từ ngân sách Trung ương. Ngoài ra, hộ gia đình còn được vay vốn ưu đãi về lãi suất để làm nhà ở từ Ngân hàng Chính sách xã hội với mức tối đa là 40 triệu đồng. Thời gian thực hiện từ năm 2021-2025, Ủy ban Dân tộc là đơn vị chủ trì thực hiện nội dung này. Đến nay Chương trình đã hỗ trợ được hơn 8.000 căn nhà cho các hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Như vậy, các chính sách nêu trên được xây dựng ban hành, thực hiện trong những giai đoạn khác nhau, phù hợp với tình hình kinh tế chung của đất nước, suất đầu tư xây dựng nhà ở từng giai đoạn cũng như các nhóm đối tượng ưu tiên. Bênh cạnh đó, việc xóa đói giảm nghèo, chung tay xóa nhà tạm là việc chung của toàn xã hội, nhiều tổ chức, cá nhân khác cũng tham gia (như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với chương trình nhà đại đoàn kết, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với chương trình nhà Khăn quàng đỏ...). Bộ Xây dựng xin ghi nhận ý kiến của cử tri tỉnh Thừa Thiên - Huế để báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vận dụng trong việc xây dựng các chính sách hỗ trợ nhà ở trong thời gian tới, bảo đảm các chính sách thống nhất và tập trung đầu mối quản lý, hỗ trợ như ý kiến của cử tri đã nêu." } ], "id": "570", "is_impossible": false, "question": "Các chính sách hỗ trợ nhà ở cho đối tượng khó khăn" } ] } ], "title": "Các chính sách hỗ trợ nhà ở cho đối tượng khó khăn" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo quy định, ô tô có trang bị dây an toàn thì người lái xe và người ngồi hàng ghế phía trước trong xe ô tô phải thắt dây an toàn.Như vậy, tài xế và hành khách đều phải thắt dây an toàn. Đối với trường hợp không thắt dây an toàn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 100.Theo đó, phạt tiền từ 800 nghìn đồng - 1 triệu đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà không thắt dây an toàn; hoặc chở người trên xe ô tô không thắt dây an toàn (tại vị trí có trang bị dây an toàn) khi xe đang chạy.Ngoài ra, phạt tiền từ 300-500 nghìn đồng đối với người được chở trên xe ô tô không thắt dây an toàn (tại vị trí có trang bị dây an toàn) khi xe đang chạy.Như vậy, hành khách ngồi xe taxi nhưng không thắt dây an toàn cũng sẽ bị phạt tiền từ 300-500 nghìn đồng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Theo quy định, ô tô có trang bị dây an toàn thì người lái xe và người ngồi hàng ghế phía trước trong xe ô tô phải thắt dây an toàn.Như vậy, tài xế và hành khách đều phải thắt dây an toàn. Đối với trường hợp không thắt dây an toàn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 100.Theo đó, phạt tiền từ 800 nghìn đồng - 1 triệu đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà không thắt dây an toàn; hoặc chở người trên xe ô tô không thắt dây an toàn (tại vị trí có trang bị dây an toàn) khi xe đang chạy.Ngoài ra, phạt tiền từ 300-500 nghìn đồng đối với người được chở trên xe ô tô không thắt dây an toàn (tại vị trí có trang bị dây an toàn) khi xe đang chạy.Như vậy, hành khách ngồi xe taxi nhưng không thắt dây an toàn cũng sẽ bị phạt tiền từ 300-500 nghìn đồng." } ], "id": "571", "is_impossible": false, "question": "Đi taxi không thắt dây an toàn, khách có bị phạt?" } ] } ], "title": "Đi taxi không thắt dây an toàn, khách có bị phạt?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Cử tri Thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị quan tâm điều chỉnh giá nhà ở xã hội hoặc có các gói hỗ trợ mua nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp, do hiện nay nhà ở xã hội bán giá rất cao, người dân có thu nhập thấp khó có thể tiếp cận được. Ảnh minh họa. Bộ Xây dựng trả lời cử tri Thành phố Hồ Chí Minh như sau: Ngày 27/11/2023, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/8/2024). Ngày 26/7/2024, Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (có hiệu lực từ ngày 1/8/2024). Theo đó, Luật Nhà ở năm 2023 và Nghị định số 100/2024/NĐ-CP đã quy định về chính sách nhà ở xã hội với nhiều quy định mới nhằm khuyến khích, đẩy mạnh đầu tư, phát triển và giảm giá bán, giá thuê mua, giá thuê nhà ở xã hội để người thu nhập thấp, công nhân lao động có thể tiếp cận mua, thuê mua, thuê nhà ở để ổn định cuộc sống như: lựa chọn chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội; ưu đãi chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để bán, cho thuê mua, cho thuê; đơn giản các điều kiện để được mua, thuê mua, thuê nhà ở xã hội; quy định cụ thể lợi nhuận định mức tối đa 10% tổng chi phí đầu tư xây dựng đối với phần diện tích xây dựng nhà ở xã hội nhằm đảm bảo giá bán, giá cho thuê mua nhà ở xã hội phù hợp với người có thu nhập thấp, công nhân lao động; đối với giá thuê nhà ở xã hội sẽ do chủ đầu tư và bên thuê thỏa thuận theo khung giá do UBND cấp tỉnh quy định... Ngoài ra, để đảm bảo nhu cầu chỗ ở cho công nhân tại các khu công nghiệp, Luật Nhà ở năm 2023 đã bổ sung quy định liên quan đến nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp. Theo đó, nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp phải đảm bảo đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, đủ các khu chức năng và không gian phục vụ nhu cầu lưu trú bao gồm: y tế, sinh hoạt văn hóa, sân chơi, thể dục, thể thao, dịch vụ, thương mại và tiện ích công cộng (Điểm c Khoản 2 Điều 95). Ngoài việc được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội, công nhân sẽ được xem xét thuê nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp với giá thuê thỏa thuận theo khung giá do UBND cấp tỉnh quy định. Ngoài ra, ngày 11/3/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 33/NQ-CP về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, bền vững trong đó triển khai Chương trình tín dụng 120.000 tỷ đồng để cho chủ đầu tư và người mua nhà của các dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân vay với lãi suất thấp hơn khoảng từ 1,5 - 2% so với lãi suất cho vay trung dài hạn VND bình quân của các ngân hàng thương mại nhà nước (bao gồm Agribank, BIDV, Vietcombank, Vietinbank) trên thị trường trong từng thời kỳ và các ngân hàng thương mại ngoài nhà nước có đủ điều kiện với từng gói tín dụng cụ thể. Hiện nay Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phối hợp Bộ Xây dựng cũng như các Bộ, ngành liên quan đề xuất điều chỉnh nội dung chương trình tín dụng 120.000 tỷ đồng theo hướng giảm lãi suất cho vay khách hàng mua nhà ở xã hội từ 3-5%, tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 324, "text": "Ngày 27/11/2023, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/8/2024). Ngày 26/7/2024, Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (có hiệu lực từ ngày 1/8/2024). Theo đó, Luật Nhà ở năm 2023 và Nghị định số 100/2024/NĐ-CP đã quy định về chính sách nhà ở xã hội với nhiều quy định mới nhằm khuyến khích, đẩy mạnh đầu tư, phát triển và giảm giá bán, giá thuê mua, giá thuê nhà ở xã hội để người thu nhập thấp, công nhân lao động có thể tiếp cận mua, thuê mua, thuê nhà ở để ổn định cuộc sống như: lựa chọn chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội; ưu đãi chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để bán, cho thuê mua, cho thuê; đơn giản các điều kiện để được mua, thuê mua, thuê nhà ở xã hội; quy định cụ thể lợi nhuận định mức tối đa 10% tổng chi phí đầu tư xây dựng đối với phần diện tích xây dựng nhà ở xã hội nhằm đảm bảo giá bán, giá cho thuê mua nhà ở xã hội phù hợp với người có thu nhập thấp, công nhân lao động; đối với giá thuê nhà ở xã hội sẽ do chủ đầu tư và bên thuê thỏa thuận theo khung giá do UBND cấp tỉnh quy định... Ngoài ra, để đảm bảo nhu cầu chỗ ở cho công nhân tại các khu công nghiệp, Luật Nhà ở năm 2023 đã bổ sung quy định liên quan đến nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp. Theo đó, nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp phải đảm bảo đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, đủ các khu chức năng và không gian phục vụ nhu cầu lưu trú bao gồm: y tế, sinh hoạt văn hóa, sân chơi, thể dục, thể thao, dịch vụ, thương mại và tiện ích công cộng (Điểm c Khoản 2 Điều 95). Ngoài việc được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội, công nhân sẽ được xem xét thuê nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp với giá thuê thỏa thuận theo khung giá do UBND cấp tỉnh quy định. Ngoài ra, ngày 11/3/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 33/NQ-CP về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, bền vững trong đó triển khai Chương trình tín dụng 120.000 tỷ đồng để cho chủ đầu tư và người mua nhà của các dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân vay với lãi suất thấp hơn khoảng từ 1,5 - 2% so với lãi suất cho vay trung dài hạn VND bình quân của các ngân hàng thương mại nhà nước (bao gồm Agribank, BIDV, Vietcombank, Vietinbank) trên thị trường trong từng thời kỳ và các ngân hàng thương mại ngoài nhà nước có đủ điều kiện với từng gói tín dụng cụ thể. Hiện nay Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phối hợp Bộ Xây dựng cũng như các Bộ, ngành liên quan đề xuất điều chỉnh nội dung chương trình tín dụng 120.000 tỷ đồng theo hướng giảm lãi suất cho vay khách hàng mua nhà ở xã hội từ 3-5%, tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi." } ], "id": "572", "is_impossible": false, "question": "Chính sách mới tạo điều kiện cho người dân tiếp cận nhà ở xã hội" } ] } ], "title": "Chính sách mới tạo điều kiện cho người dân tiếp cận nhà ở xã hội" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo quy định, tại nơi đường giao nhau, phía dưới mặt đường có vạch kẻ chỉ dẫn hướng đi của các phương tiện theo quy định.Việc đi sai làn đường sẽ phải chịu xử phạt theo Nghị định 100/2019.Theo đó, người điều khiển xe gắn máy (kể cả xe máy điện), xe mô tô, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm sẽ bị phạt tiền 400.000 – 600.000 đồng. Trường hợp đi sai làn đường gây tai nạn sẽ bị phạt tiền 4.000.000 – 5.000.000 đồng, tước bằng lái xe 2 - 4 tháng.Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô, lỗi đi sai làn đường sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 - 5.000.000 đồng, đồng thời tước bằng lái xe từ 1 - 3 tháng. Trường hợp đi sai làn mà gây ra tai nạn giao thông thì sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 – 12.000.000 đồng, đồng thời tước bằng lái xe từ 2 - 4 tháng.Đối với người điều khiển xe kéo, xe máy chuyên dụng, lỗi đi sai làn đường sẽ bị phạt tiền 400.000– 600.000 đồng, tước bằng lái xe 1 - 3 tháng.Trường hợp đi sai làn đường gây ra tai nạn sẽ bị phạt tiền 6.000.000 – 8.000.000 đồng, đồng thời tước bằng lái xe từ 2 - 4 tháng.Đối với người điều khiển hoặc người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, người điều khiển xe thô sơ khác sẽ bị phạt tiền từ 80.000 – 100.000 đồng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Theo quy định, tại nơi đường giao nhau, phía dưới mặt đường có vạch kẻ chỉ dẫn hướng đi của các phương tiện theo quy định.Việc đi sai làn đường sẽ phải chịu xử phạt theo Nghị định 100/2019.Theo đó, người điều khiển xe gắn máy (kể cả xe máy điện), xe mô tô, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm sẽ bị phạt tiền 400.000 – 600.000 đồng. Trường hợp đi sai làn đường gây tai nạn sẽ bị phạt tiền 4.000.000 – 5.000.000 đồng, tước bằng lái xe 2 - 4 tháng.Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô, lỗi đi sai làn đường sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 - 5.000.000 đồng, đồng thời tước bằng lái xe từ 1 - 3 tháng. Trường hợp đi sai làn mà gây ra tai nạn giao thông thì sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 – 12.000.000 đồng, đồng thời tước bằng lái xe từ 2 - 4 tháng.Đối với người điều khiển xe kéo, xe máy chuyên dụng, lỗi đi sai làn đường sẽ bị phạt tiền 400.000– 600.000 đồng, tước bằng lái xe 1 - 3 tháng.Trường hợp đi sai làn đường gây ra tai nạn sẽ bị phạt tiền 6.000.000 – 8.000.000 đồng, đồng thời tước bằng lái xe từ 2 - 4 tháng.Đối với người điều khiển hoặc người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, người điều khiển xe thô sơ khác sẽ bị phạt tiền từ 80.000 – 100.000 đồng." } ], "id": "573", "is_impossible": false, "question": "Đi thẳng ở làn đường dành cho xe rẽ phải có bị phạt?" } ] } ], "title": "Đi thẳng ở làn đường dành cho xe rẽ phải có bị phạt?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Tối 11/8, tài khoản mạng xã hội có tên là Huấn Hoa Hồng phát đi đoạn clip dài gần 8 phút có nội dung nêu chủ tài khoản phản ánh gặp rắc rối sau khi mua lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH mang BKS ngũ quý 97B1-999.99 (Bắc Kạn).Theo chủ tài khoản này, anh ta mua lại chiếc xe nói trên vào ngày 14/7/2023, lúc đó xe đang được gắn biển số VIP 97B1-999.99 và được mua với giá 490 triệu đồng.Ảnh chụp màn hình tài khoản Huấn Hoa Hồng nói về rắc rối sau khi mua xe SH gắn biển số VIP.Sau khi mua xe, anh Huấn liên hệ với người chủ cũ để làm thủ tục thu hồi biển số ngũ quý 9, làm thủ tục định danh và chuyển biển số này sang xe khác. Tuy nhiên, theo anh Huấn, chủ cũ nói rằng chỉ bán xe, không bán biển số. Chủ tài khoản Huấn Hoa Hồng còn cho rằng, biển số ngũ quý 9 đã được gắn vào một chiếc xe máy khác (chủ xe này không phải anh Huấn).CSGT khuyến cáo gì sau khi Huấn \"hoa hồng\" kêu cứu vì mua lại xe SH gắn biển 999.99ĐỌC NGAYTrong clip dài gần 8 phút được Huấn Hoa Hồng đăng tải, anh cho biết, sự việc trở nên phức tạp hơn khi chiếc xe được anh bán cho một người khác và khi rắc rối xảy ra, bản thân anh sẽ phải “đứng mũi chịu sào” về các vấn đề pháp lý liên quan.Theo một cán bộ có kinh nghiệm về công tác hướng dẫn, đăng ký và kiểm định phương tiện của Cục Cảnh sát giao thông, với các tình huống tương tự như trên, nếu thời điểm mua bán xe (có gắn biển số dạng 5 số) diễn ra trước ngày 15/8/2023 mà hai bên chưa đi làm thủ tục sang tên đổi chủ trước ngày này, thì cơ quan chức năng chưa ghi nhận việc sang tên đổi chủ đó.Sau ngày 15/8/2023, chủ cũ của phương tiện đi làm thủ tục thu hồi biển số định danh, thì mặc nhiên biển số đó thuộc về người chủ cũ.Đối với người chủ mới của xe, khi đến làm thủ tục đăng ký xe, trường hợp người này chưa có biển số định danh nào thì sẽ được cấp biển, còn nếu đã có biển số định danh mà chưa gắn cho xe nào (đang nằm trên hệ thống) thì được cấp lại biển số định danh đó.\"Theo quy định, trong vòng 30 ngày kể từ ngày chuyển nhượng xe, các bên liên quan phải đi làm thủ tục sang tên đổi chủ và thủ tục liên quan đến thu hồi biển số\", CSGT nói và khẳng định rằng khi đó, các vấn đề pháp lý về tài sản mới được đảm bảo.Cùng nêu quan điểm, luật sư Hà Thị Khuyên (Văn phòng Luật sư Nhân Chính, Đoàn Luật sư TP Hà Nội) phân tích, ngày 15/8/2023 là thời điểm có hiệu lực để cơ quan chức năng bắt đầu triển khai quy định về cấp biển số định danh.\"Trước thời điểm này, nếu người mua lại xe mà đi sang tên phương tiện ngay thì chủ cũ không thể làm thủ tục thu hồi biển, mà biển số đang gắn trên xe sẽ đi theo xe và theo tên người đăng ký mới, đồng thời mặc định trở thành biển định danh của người đã sang tên\", luật sư nêu.Luật sư Hà Thị Khuyên.Trường hợp người mua xe hoàn tất giao dịch nhưng chủ quan không sang tên mà cứ để đó sử dụng, thì sau thời điểm ngày 15/8/2023 các quy định cấp biển số định danh có hiệu lực, người mua xe mới sang tên chiếc xe, dẫn tới biển số xe đã được mặc định định danh cho chủ cũ. \"Đây là giao dịch dân sự nên cần xem xét việc mua bán giữa các bên có hoàn toàn tự nguyện hay không, có dấu hiệu lừa dối, ép buộc hay không để đánh giá hành vi, kết quả\", luật sư Khuyên nêu quan điểm.Bên cạnh đó, xe máy là dạng tài sản có đăng ký quyền sở hữu. Do đó, pháp luật chỉ công nhận quyền sở hữu khi tài sản đó đã được các bên (bên sở hữu và bên nhận chuyển nhượng, mua bán...) tiến hành đăng ký sang tên chuyển quyền sở hữu. Huấn \"hoa hồng\" (sở hữu facebook Huấn Hoa Hồng) tên thật là Bùi Xuân Huấn (39 tuổi, quê Yên Bái) được biết đến như một \"giang hồ mạng\", thường xuyên lên mạng livestreams khoe tiền, vàng… với thái độ rất ngông nghênh, phát ngôn gây sốc.Bùi Xuân Huấn từng bị công an một số địa phương phát hiện dương tính với ma túy tại các tụ điểm ăn chơi và từng được đưa đi cai nghiện ma túy; nhiều lần bị phạt liên quan đến các hoạt động như: Tự biên tập, xuất bản, bán hai cuốn sách \"Đệ nhất kiếm tiền\" và \"Bí kíp kinh doanh online\" nhưng không có quyết định xuất bản của nhà xuất bản, không có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh.Trong clip kêu cứu nói trên, Huấn thừa nhận, trước đây \"sống rất sai\" vì tuổi trẻ bồng bột nên bị nhiều người ghét và khẳng định đó là \"Huấn Hoa Hồng của quá khứ\". Còn hiện tại, Huấn đã nhìn nhận lại bản thân và những cái sai để cố gắng làm người tử tế, kiếm tiền nuôi vợ, con và gia đình...", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 3804, "text": "Tự biên tập, xuất bản, bán hai cuốn sách \"Đệ nhất kiếm tiền\" và \"Bí kíp kinh doanh online\" nhưng không có quyết định xuất bản của nhà xuất bản, không có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh.Trong clip kêu cứu nói trên, Huấn thừa nhận, trước đây \"sống rất sai\" vì tuổi trẻ bồng bột nên bị nhiều người ghét và khẳng định đó là \"Huấn Hoa Hồng của quá khứ\". Còn hiện tại, Huấn đã nhìn nhận lại bản thân và những cái sai để cố gắng làm người tử tế, kiếm tiền nuôi vợ, con và gia đình..." } ], "id": "574", "is_impossible": false, "question": "CSGT, luật sư nói gì về vụ Huấn \"hoa hồng\" kêu cứu khi mua lại xe SH gắn biển 999.99" } ] } ], "title": "CSGT, luật sư nói gì về vụ Huấn \"hoa hồng\" kêu cứu khi mua lại xe SH gắn biển 999.99" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông Quách Lâm Phú Cường đang thiết kế trường mần non, quy mô 3 tầng cao, mỗi tầng diện tích 900m2, chiều cao phòng cháy, chữa cháy dưới 15m. Ảnh minh họa. (Nguồn: TL) Khu đất hình vuông, có 2 trục đường lớn tiếp cận. Ông Cường tuân thủ chính xác khoảng lùi 6m theo hồ sơ quy hoạch. Thiết kế khối trường học hình chữ U và chừa sân ở giữa rất lớn để làm sân vườn, cây xanh và sân chơi cho trẻ. Ông Cường hỏi, ông có cần thiết kế đường cho xe chữa cháy, bãi tránh xe chữa cháy đi vào sân trong trường không? Nếu có thì nên đặt vị trí cách mép tường bao nhiêu là phù hợp? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Các yêu cầu chung về đường xe cho chữa cháy và bãi đỗ xe chữa cháy được quy định tại phần 6 của QCVN 06:2022/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về An toàn cháy cho nhà và công trình (được ban hành tại Thông tư số 06/2022/TT-BXD) và sửa đổi 1:2023 (Thông tư số 09/2023/TT-BXD) tùy thuộc vào quy mô và tính chất của nhà. Đối với công trình có chiều cao phòng cháy, chữa cháy nhỏ hơn 15m được nêu trong câu hỏi thì không yêu cầu bãi đỗ xe chữa cháy tuy nhiên phải có đường cho xe chữa cháy tiếp cận đến điểm bất kỳ trên hình chiếu bằng của nhà không lớn hơn 60m hoặc nếu không đáp ứng yêu cầu trên cần có phương án chữa cháy phù hợp từ ngoài nhà. Đề nghị đối chiếu yêu cầu này với hình chiếu bằng cụ thể của nhà.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 176, "text": "TL) Khu đất hình vuông, có 2 trục đường lớn tiếp cận. Ông Cường tuân thủ chính xác khoảng lùi 6m theo hồ sơ quy hoạch. Thiết kế khối trường học hình chữ U và chừa sân ở giữa rất lớn để làm sân vườn, cây xanh và sân chơi cho trẻ. Ông Cường hỏi, ông có cần thiết kế đường cho xe chữa cháy, bãi tránh xe chữa cháy đi vào sân trong trường không? Nếu có thì nên đặt vị trí cách mép tường bao nhiêu là phù hợp? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Các yêu cầu chung về đường xe cho chữa cháy và bãi đỗ xe chữa cháy được quy định tại phần 6 của QCVN 06:2022/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về An toàn cháy cho nhà và công trình (được ban hành tại Thông tư số 06/2022/TT-BXD) và sửa đổi 1:2023 (Thông tư số 09/2023/TT-BXD) tùy thuộc vào quy mô và tính chất của nhà. Đối với công trình có chiều cao phòng cháy, chữa cháy nhỏ hơn 15m được nêu trong câu hỏi thì không yêu cầu bãi đỗ xe chữa cháy tuy nhiên phải có đường cho xe chữa cháy tiếp cận đến điểm bất kỳ trên hình chiếu bằng của nhà không lớn hơn 60m hoặc nếu không đáp ứng yêu cầu trên cần có phương án chữa cháy phù hợp từ ngoài nhà. Đề nghị đối chiếu yêu cầu này với hình chiếu bằng cụ thể của nhà." } ], "id": "575", "is_impossible": false, "question": "Thiết kế trường học có cần bố trí đường cho xe chữa cháy?" } ] } ], "title": "Thiết kế trường học có cần bố trí đường cho xe chữa cháy?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Ngày 8/8, tai nạn liên hoàn nghiêm trọng trên cầu Phú Mỹ (quận 7, TP.HCM) khiến nhiều phương tiện hư hỏng nặng, giao thông ùn ứ.Hiện trường vụ tai nạn liên hoàn nghiêm trọng. Ảnh: C.H.Theo lời khai của tài xế gây tai nạn liên hoàn, khi đang đổ dốc (hướng từ quận 7 đi TP Thủ Đức) bất ngờ nghe tiếng nổ, nghi xe bị vỡ ống hơi. Sau đó, chiếc xe mất phanh, cứ thế lao về phía trước. Dù tài xế đã kéo phanh tay, cố đánh lái để né các phương tiện phía trước, nhưng vẫn va chạm với hàng loạt xe chạy cùng chiều. May mắn vụ tai nạn liên hoàn không gây hậu quả về người, nhưng nhiều phương tiện bị cháy rụi, hư hỏng nặng.Phân tích về tình huống pháp lý của vụ tai nạn, TS.LS Lê Bá Thường, Giám đốc Công ty Luật TNHH MTV Dân Luật Tín Thành (Đoàn Luật sư TP.HCM) nhận định, tài xế gây ra vụ tai nạn liên hoàn có thể bị xử lý hình sự và phải bồi thường dân sự cho các nạn nhân của vụ tai nạn.TS.LS Lê Bá Thường, Giám đốc Công ty Luật TNHH MTV Dân Luật Tín Thành (Đoàn Luật sư TP.HCM). Ảnh: NVCC.Luật sư Thường phân tích: Xe ô tô là phương tiện có khả năng gây nguy hiểm cao, do đó, trước khi di chuyển, cần được kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa... Trong vụ tai nạn, xe tải mất phanh, tuột dốc và tông liên hoàn vào nhiều phương tiện phía trước. Nguyên nhân xe \"mất phanh\" không được xem là bất khả kháng, mà phải xem xét trách nhiệm từ lỗi của chủ xe ô tô, người quản lý, tài xế và cả người có trách nhiệm bảo dưỡng ô tô này.Theo quy định của luật giao thông đường bộ, người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây ra thiệt hại nghiêm trọng nếu hậu quả làm chết người hoặc gây ra thương tích cho nhiều người (thương tích 61% trở lên) hoặc thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng trở lên có thể sẽ bị truy tố trách nhiệm hình sự về \"Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ\".Tùy theo mức độ, hậu quả gây ra, có thể sẽ đối diện với mức phạt tiền từ 30-100 triệu đồng và phạt tù giam từ 1-5 năm (Điều 260 BLHS 2015).May mắn vụ tai nạn liên hoàn không gây thiệt hại về người. Ảnh: A.X.Ngoài ra, về trách nhiệm dân sự, chủ xe ô tô còn phải bồi thường thiệt hại về tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng và lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút cho các xe ô tô khác bị ảnh hưởng do tai nạn gây ra theo quy định và có thể bao gồm thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm của các nạn nhân (Điều 589 và 590 BLDS 2015).Trong trường hợp tài xế gây tai nạn chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, có thể phải chịu thêm khoản tiền lãi trên số tiền chậm trả quy định tại (Điều 357, 460, 468, 585 BLDS 2015). Nếu tài xế hoàn toàn không có tài sản hoặc thu nhập để thực hiện nghĩa vụ bồi thường, nếu phía người bị thiệt hại đồng ý, tòa án có thể xem xét việc miễn hoặc giảm bớt nghĩa vụ bồi thường. Tuy nhiên, điều này cần có sự thỏa thuận của các bên liên quan. Nếu tài xế có mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc đối với xe cơ giới, công ty bảo hiểm có thể chi trả một phần hoặc toàn bộ khoản bồi thường, tùy thuộc vào hợp đồng bảo hiểm.Theo ông Thường, công ty bảo hiểm sẽ chi trả phần thiệt hại theo mức trách nhiệm bảo hiểm quy định trong hợp đồng bảo hiểm, thường bao gồm chi phí y tế, chi phí mai táng (nếu có), và thiệt hại tài sản cho bên thứ ba, mức độ và phạm vi chi trả phụ thuộc vào từng loại bảo hiểm và điều kiện cụ thể của hợp đồng. Nếu tổn thất vượt quá mức bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm, tài xế vẫn phải tự chịu trách nhiệm cho phần thiệt hại vượt quá (Điều 21 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định về Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm; Điều 8 và 13 Nghị định 03/2021/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới). Trước đó, khoảng 15h ngày 8/8, ông Dũng (35 tuổi, quê tỉnh Kiên Giang) lái xe tải chạy qua cầu Phú Mỹ, hướng từ quận 7 đi TP Thủ Đức. Khi vừa đổ dốc cầu (thuộc phường Thạnh Mỹ Lợi) thì va chạm với 7 xe khác gồm ô tô, xe tải và xe đầu kéo. Bước đầu lực lượng chức năng xác định tai nạn làm 8 xe hư hỏng. Trong đó 3 xe bị cháy (2 ô tô cháy rụi, xe tải bị cháy phần đầu).Sau khi tai nạn xảy ra, một số tài xế và người đi đường đã sử dụng bình chữa cháy mini dập lửa cho 3 phương tiện, đưa các nạn nhân ra ngoài và chuyển đi cấp cứu. Gặp những người hùng trong vụ tai nạn liên hoàn trên cầu Phú MỹTrong lúc nguy hiểm, nhiều người dân đã không ngần ngại lao vào cứu giúp người gặp nạn trong vụ tai nạn liên hoàn trên cầu Phú Mỹ.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 180, "text": "C.H.Theo lời khai của tài xế gây tai nạn liên hoàn, khi đang đổ dốc (hướng từ quận 7 đi TP Thủ Đức) bất ngờ nghe tiếng nổ, nghi xe bị vỡ ống hơi. Sau đó, chiếc xe mất phanh, cứ thế lao về phía trước. Dù tài xế đã kéo phanh tay, cố đánh lái để né các phương tiện phía trước, nhưng vẫn va chạm với hàng loạt xe chạy cùng chiều. May mắn vụ tai nạn liên hoàn không gây hậu quả về người, nhưng nhiều phương tiện bị cháy rụi, hư hỏng nặng.Phân tích về tình huống pháp lý của vụ tai nạn, TS.LS Lê Bá Thường, Giám đốc Công ty Luật TNHH MTV Dân Luật Tín Thành (Đoàn Luật sư TP.HCM) nhận định, tài xế gây ra vụ tai nạn liên hoàn có thể bị xử lý hình sự và phải bồi thường dân sự cho các nạn nhân của vụ tai nạn.TS.LS Lê Bá Thường, Giám đốc Công ty Luật TNHH MTV Dân Luật Tín Thành (Đoàn Luật sư TP.HCM). Ảnh: NVCC.Luật sư Thường phân tích: Xe ô tô là phương tiện có khả năng gây nguy hiểm cao, do đó, trước khi di chuyển, cần được kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa... Trong vụ tai nạn, xe tải mất phanh, tuột dốc và tông liên hoàn vào nhiều phương tiện phía trước. Nguyên nhân xe \"mất phanh\" không được xem là bất khả kháng, mà phải xem xét trách nhiệm từ lỗi của chủ xe ô tô, người quản lý, tài xế và cả người có trách nhiệm bảo dưỡng ô tô này.Theo quy định của luật giao thông đường bộ, người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây ra thiệt hại nghiêm trọng nếu hậu quả làm chết người hoặc gây ra thương tích cho nhiều người (thương tích 61% trở lên) hoặc thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng trở lên có thể sẽ bị truy tố trách nhiệm hình sự về \"Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ\".Tùy theo mức độ, hậu quả gây ra, có thể sẽ đối diện với mức phạt tiền từ 30-100 triệu đồng và phạt tù giam từ 1-5 năm (Điều 260 BLHS 2015).May mắn vụ tai nạn liên hoàn không gây thiệt hại về người. Ảnh: A.X.Ngoài ra, về trách nhiệm dân sự, chủ xe ô tô còn phải bồi thường thiệt hại về tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng và lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút cho các xe ô tô khác bị ảnh hưởng do tai nạn gây ra theo quy định và có thể bao gồm thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm của các nạn nhân (Điều 589 và 590 BLDS 2015).Trong trường hợp tài xế gây tai nạn chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, có thể phải chịu thêm khoản tiền lãi trên số tiền chậm trả quy định tại (Điều 357, 460, 468, 585 BLDS 2015). Nếu tài xế hoàn toàn không có tài sản hoặc thu nhập để thực hiện nghĩa vụ bồi thường, nếu phía người bị thiệt hại đồng ý, tòa án có thể xem xét việc miễn hoặc giảm bớt nghĩa vụ bồi thường. Tuy nhiên, điều này cần có sự thỏa thuận của các bên liên quan. Nếu tài xế có mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc đối với xe cơ giới, công ty bảo hiểm có thể chi trả một phần hoặc toàn bộ khoản bồi thường, tùy thuộc vào hợp đồng bảo hiểm.Theo ông Thường, công ty bảo hiểm sẽ chi trả phần thiệt hại theo mức trách nhiệm bảo hiểm quy định trong hợp đồng bảo hiểm, thường bao gồm chi phí y tế, chi phí mai táng (nếu có), và thiệt hại tài sản cho bên thứ ba, mức độ và phạm vi chi trả phụ thuộc vào từng loại bảo hiểm và điều kiện cụ thể của hợp đồng. Nếu tổn thất vượt quá mức bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm, tài xế vẫn phải tự chịu trách nhiệm cho phần thiệt hại vượt quá (Điều 21 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định về Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm; Điều 8 và 13 Nghị định 03/2021/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới). Trước đó, khoảng 15h ngày 8/8, ông Dũng (35 tuổi, quê tỉnh Kiên Giang) lái xe tải chạy qua cầu Phú Mỹ, hướng từ quận 7 đi TP Thủ Đức. Khi vừa đổ dốc cầu (thuộc phường Thạnh Mỹ Lợi) thì va chạm với 7 xe khác gồm ô tô, xe tải và xe đầu kéo. Bước đầu lực lượng chức năng xác định tai nạn làm 8 xe hư hỏng. Trong đó 3 xe bị cháy (2 ô tô cháy rụi, xe tải bị cháy phần đầu).Sau khi tai nạn xảy ra, một số tài xế và người đi đường đã sử dụng bình chữa cháy mini dập lửa cho 3 phương tiện, đưa các nạn nhân ra ngoài và chuyển đi cấp cứu. Gặp những người hùng trong vụ tai nạn liên hoàn trên cầu Phú MỹTrong lúc nguy hiểm, nhiều người dân đã không ngần ngại lao vào cứu giúp người gặp nạn trong vụ tai nạn liên hoàn trên cầu Phú Mỹ." } ], "id": "576", "is_impossible": false, "question": "Luật sư phân tích tình huống pháp lý vụ tai nạn trên cầu Phú Mỹ" } ] } ], "title": "Luật sư phân tích tình huống pháp lý vụ tai nạn trên cầu Phú Mỹ" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Chủ đầu tư có thể căn cứ vào quy định của pháp luật và tình hình thực tế tổ chức thi công xây dựng của công trình xây dựng thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình để tổ chức nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng hoặc tổ chức nghiệm thu có điều kiện, nghiệm thu từng phần công trình xây dựng. Ảnh minh họa. Công trình A được phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu gồm 5 gói thầu (01: Xây dựng tòa nhà; 02: Thiết bị văn phòng; 03: Tư vấn giám sát xây dựng; 04: Bảo hiểm; 05: Thẩm định giá thiết bị). Trong quá trình thực hiện công trình, phát sinh sân nền, điều chỉnh kế hoạch lựa chọn nhà thầu, bổ sung gói thầu 06: Nhà xe phát sinh. Công trình đầu tư công, sử dụng vốn ngân sách Nhà nước. Bà Nguyễn Thị Thúy (Tây Ninh) hỏi, theo các quy định hiện hành, nhà thầu thi công xong gói thầu 01 và không gây ảnh hưởng gì đến việc thi công hoàn thành của các gói thầu khác; đã hoàn thành tất cả hồ sơ hoàn công, bảo đảm chất lượng, tiến độ, tiếp tục trình hồ sơ cho chủ đầu tư gửi đến các cơ quan liên quan xin tổ chức kiểm tra cho ý kiến, nghiệm thu đưa vào sử dụng gói thầu số 01 này có được không? Có ý kiến cho rằng nhà thầu thực hiện gói 01 phải chờ thi công xong gói thầu 02 và 06 thì mới được nghiệm thu đưa vào sử dụng toàn bộ công trình một lần cuối cùng. Theo bà Thúy, như vậy nhà thầu sẽ không bảo đảm thời gian thực hiện hợp đồng của mình, mặc dù đã hoàn thành (bảo đảm trong tiến độ hợp đồng gói 01) nhưng do phải chờ hai gói thầu 02 và 06 thực hiện xong cũng như hoàn tất các thủ tục hồ sơ hoàn công, mới được tổ chức nghiệm thu cùng một lần. Đồng thời, thời gian bảo hành cho gói thầu 01 của nhà thầu cũng bị ảnh hưởng kéo dài thêm (cộng thêm thời gian chờ các gói thầu khác hoàn thành), điều này sẽ gây bất lợi cho nhà thầu. Việc bảo hành cho từng gói thầu là trách nhiệm của từng nhà thầu ký hợp đồng với chú đầu tư. Bà Thúy hỏi, vậy gói thầu xây lắp lại phải chờ đợi, liên đới trách nhiệm bởi những gói thầu khác thì có phù hợp không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng, chủ đầu tư có thể căn cứ vào quy định của pháp luật và tình hình thực tế tổ chức thi công xây dựng của công trình xây dựng thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình để tổ chức nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng hoặc tổ chức nghiệm thu có điều kiện, nghiệm thu từng phần công trình xây dựng. Việc đưa công trình vào khai thác, sử dụng phải thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 23 Nghị định nêu trên.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 418, "text": "Xây dựng tòa nhà; 02: Thiết bị văn phòng; 03: Tư vấn giám sát xây dựng; 04: Bảo hiểm; 05: Thẩm định giá thiết bị). Trong quá trình thực hiện công trình, phát sinh sân nền, điều chỉnh kế hoạch lựa chọn nhà thầu, bổ sung gói thầu 06: Nhà xe phát sinh. Công trình đầu tư công, sử dụng vốn ngân sách Nhà nước. Bà Nguyễn Thị Thúy (Tây Ninh) hỏi, theo các quy định hiện hành, nhà thầu thi công xong gói thầu 01 và không gây ảnh hưởng gì đến việc thi công hoàn thành của các gói thầu khác; đã hoàn thành tất cả hồ sơ hoàn công, bảo đảm chất lượng, tiến độ, tiếp tục trình hồ sơ cho chủ đầu tư gửi đến các cơ quan liên quan xin tổ chức kiểm tra cho ý kiến, nghiệm thu đưa vào sử dụng gói thầu số 01 này có được không? Có ý kiến cho rằng nhà thầu thực hiện gói 01 phải chờ thi công xong gói thầu 02 và 06 thì mới được nghiệm thu đưa vào sử dụng toàn bộ công trình một lần cuối cùng. Theo bà Thúy, như vậy nhà thầu sẽ không bảo đảm thời gian thực hiện hợp đồng của mình, mặc dù đã hoàn thành (bảo đảm trong tiến độ hợp đồng gói 01) nhưng do phải chờ hai gói thầu 02 và 06 thực hiện xong cũng như hoàn tất các thủ tục hồ sơ hoàn công, mới được tổ chức nghiệm thu cùng một lần. Đồng thời, thời gian bảo hành cho gói thầu 01 của nhà thầu cũng bị ảnh hưởng kéo dài thêm (cộng thêm thời gian chờ các gói thầu khác hoàn thành), điều này sẽ gây bất lợi cho nhà thầu. Việc bảo hành cho từng gói thầu là trách nhiệm của từng nhà thầu ký hợp đồng với chú đầu tư. Bà Thúy hỏi, vậy gói thầu xây lắp lại phải chờ đợi, liên đới trách nhiệm bởi những gói thầu khác thì có phù hợp không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng, chủ đầu tư có thể căn cứ vào quy định của pháp luật và tình hình thực tế tổ chức thi công xây dựng của công trình xây dựng thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình để tổ chức nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng hoặc tổ chức nghiệm thu có điều kiện, nghiệm thu từng phần công trình xây dựng. Việc đưa công trình vào khai thác, sử dụng phải thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 23 Nghị định nêu trên." } ], "id": "577", "is_impossible": false, "question": "Có thể nghiệm thu từng phần công trình xây dựng" } ] } ], "title": "Có thể nghiệm thu từng phần công trình xây dựng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định, vạch kẻ đèn đỏ là một dải vạch màu trắng nét liền được kẻ trước tín hiệu đèn giao thông nhằm báo hiệu khi đèn đỏ.Quy chuẩn 41 cũng quy định ý nghĩa của vạch này là dùng để xác định vị trí dừng xe để chờ tín hiệu cho phép đi tiếp. Vạch dùng để xác định vị trí người điều khiển phương tiện phải dừng lại khi có tín hiệu đèn đỏ hoặc khi có biển số R.122.Vạch cũng dùng để xác định vị trí người điều khiển phải dừng lại trong các điều kiện nhất định ở một số vị trí như: Trên nhánh dẫn tới nút giao cùng mức với đường sắt, trên làn chờ rẽ trái trong phạm vi nút giao, trước vị trí vạch người đi bộ qua đường. Do đó, lúc dừng đèn đỏ, phương tiện không được dừng đè, chạm hoặc vượt quá vạch kẻ.Theo Nghị định 100 năm 2019 của Chính phủ, ô tô đè, chạm hoặc vượt quá vạch kẻ đường lúc dừng đèn đỏ bị phạt 200 - 400 nghìn đồng.Đối với xe mô tô, xe gắn máy, máy kéo, xe máy chuyên dùng lúc dừng đèn đỏ mà đè, chạm hoặc vượt quá vạch kẻ đường phía trước sẽ bị phạt tiền từ 100 - 200 nghìn đồng.Đối với xe đạp, xe đạp máy, xe đạp điện phạt tiền 80 - 100 nghìn đồng khi người điều khiển đè vạch kẻ đường khi dừng đèn đỏ.Bên cạnh đó, Nghị định 100 quy định phạt tiền từ 800 nghìn - 1,2 triệu đồng đối với người điều khiển xe thực hiện hành vi khi đèn tín hiệu giao thông đã chuyển sang màu đỏ nhưng không dừng lại trước vạch dừng mà vẫn tiếp tục đi, trừ trường hợp đã đi quá vạch dừng trước tín hiệu đèn giao thông chuyển sang màu vàng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 512, "text": "Trên nhánh dẫn tới nút giao cùng mức với đường sắt, trên làn chờ rẽ trái trong phạm vi nút giao, trước vị trí vạch người đi bộ qua đường. Do đó, lúc dừng đèn đỏ, phương tiện không được dừng đè, chạm hoặc vượt quá vạch kẻ.Theo Nghị định 100 năm 2019 của Chính phủ, ô tô đè, chạm hoặc vượt quá vạch kẻ đường lúc dừng đèn đỏ bị phạt 200 - 400 nghìn đồng.Đối với xe mô tô, xe gắn máy, máy kéo, xe máy chuyên dùng lúc dừng đèn đỏ mà đè, chạm hoặc vượt quá vạch kẻ đường phía trước sẽ bị phạt tiền từ 100 - 200 nghìn đồng.Đối với xe đạp, xe đạp máy, xe đạp điện phạt tiền 80 - 100 nghìn đồng khi người điều khiển đè vạch kẻ đường khi dừng đèn đỏ.Bên cạnh đó, Nghị định 100 quy định phạt tiền từ 800 nghìn - 1,2 triệu đồng đối với người điều khiển xe thực hiện hành vi khi đèn tín hiệu giao thông đã chuyển sang màu đỏ nhưng không dừng lại trước vạch dừng mà vẫn tiếp tục đi, trừ trường hợp đã đi quá vạch dừng trước tín hiệu đèn giao thông chuyển sang màu vàng." } ], "id": "578", "is_impossible": false, "question": "Đỗ xe lấn vạch kẻ đường lúc dừng đèn đỏ bị xử phạt thế nào?" } ] } ], "title": "Đỗ xe lấn vạch kẻ đường lúc dừng đèn đỏ bị xử phạt thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Theo phản ánh của ông Yên Giang (Thành phố Hồ Chí Minh), Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về ban hành định mức xây dựng chỉ tính định mức chi phí lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đối với công trình dưới 15 tỷ đồng. Ảnh minh họa. Ông Giang hỏi, đối với công trình trên 15 tỷ đồng thực hiện theo hình thức lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật thì áp dụng định mức chi phí lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật như thế nào? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc phân loại dự án đầu tư xây dựng thực hiện theo quy định tại Điều 49 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Khoản 8 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14. Theo đó, trừ trường hợp người quyết định đầu tư có yêu cầu lập báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, dự án đầu tư xây dựng công trình chỉ cần yêu cầu lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng theo quy định tại Khoản 3 Điều 5 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng thực hiện theo Điều 31 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng, Phụ lục số VIII Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về ban hành định mức xây dựng. Trường hợp áp dụng định mức chi phí tư vấn không phù hợp thì chi phí tư vấn xác định bằng cách lập dự toán trên cơ sở phạm vi công việc tư vấn, khối lượng công việc phải thực hiện, kế hoạch thực hiện và các quy định về chế độ, chính sách do Nhà nước ban hành. Dự toán chi phí tư vấn được hướng dẫn tại Phụ lục VI Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 494, "text": "Việc phân loại dự án đầu tư xây dựng thực hiện theo quy định tại Điều 49 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Khoản 8 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14. Theo đó, trừ trường hợp người quyết định đầu tư có yêu cầu lập báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, dự án đầu tư xây dựng công trình chỉ cần yêu cầu lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng theo quy định tại Khoản 3 Điều 5 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng thực hiện theo Điều 31 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng, Phụ lục số VIII Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về ban hành định mức xây dựng. Trường hợp áp dụng định mức chi phí tư vấn không phù hợp thì chi phí tư vấn xác định bằng cách lập dự toán trên cơ sở phạm vi công việc tư vấn, khối lượng công việc phải thực hiện, kế hoạch thực hiện và các quy định về chế độ, chính sách do Nhà nước ban hành. Dự toán chi phí tư vấn được hướng dẫn tại Phụ lục VI Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng." } ], "id": "579", "is_impossible": false, "question": "Dự án trên 15 tỷ đồng, xác định chi phí tư vấn thế nào?" } ] } ], "title": "Dự án trên 15 tỷ đồng, xác định chi phí tư vấn thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Mới đây, anh Phan Ngọc Tú thắc mắc về việc năm 2020 có làm thủ tục chuyển nhượng chiếc xe ô tô cho người khác và thỏa thuận rằng, bên mua sẽ chịu trách nhiệm làm hồ sơ sang tên đổi chủ đối với phương tiện đó.Tuy nhiên đến năm 2024, người mua xe vẫn chưa thực hiện sang tên đổi chủ. Như vậy, chiếu theo thỏa thuận chuyển nhượng, người mua xe có vi phạm gì không? Nếu có sẽ bị xử lý như thế nào, còn chủ cũ của xe là anh Tú phải làm gì để không bị xử phạt?Quá thời hạn quy định mà chủ xe không làm thủ tục thu hồi biển số, cảnh sát giao thông sẽ xử phạt (ảnh minh họa).Trả lời công dân Phan Ngọc Tú, Bộ Công an cho biết, khoản 1 Điều 39 Thông tư số 24/2023 của Bộ Công an (đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2023) quy định, xe đã đăng ký biển 5 số trước ngày thông tư có hiệu lực mà chưa làm thủ tục thu hồi, thì biển số đó được xác định là biển số định danh của chủ xe.Đề xuất chi tiền mua thông tin phục vụ xử lý vi phạm giao thôngBộ Công an đề xuất những hành vi nào bị tịch thu ô tô, xe máy?Đối với xe đã đăng ký biển 3 hoặc 4 số thì tiếp tục được phép tham gia giao thông, trừ trường hợp chủ xe có nhu cầu cấp sang biển số định danh hoặc khi chủ xe thực hiện thủ tục cấp đổi chứng nhận đăng ký xe, cấp đổi biển số xe... hoặc đăng ký sang tên, di chuyển xe thì thực hiện thu hồi biển 3 hoặc 4 số.Bên cạnh đó, theo quy định tại Khoản 4 Điều 6 Thông tư số 24/2023 của Bộ Công an, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày làm giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe, chủ xe phải làm thủ tục thu hồi.Trường hợp quá thời hạn trên mà chủ xe không làm thủ tục thu hồi hoặc giao chứng nhận đăng ký xe, biển số xe cho bên nhận quyền sở hữu xe làm thủ tục thu hồi, thì trước khi giải quyết cơ quan đăng ký xe sẽ ra quyết định xử phạt đối với chủ xe về hành vi không làm thủ tục thu hồi.Theo quy định tại điểm c, khoản 7 Điều 30 Nghị định số 100/2019 (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 123/2021 của Chính phủ), chủ phương tiện sẽ bị phạt tiền từ 2-4 triệu đồng (đối với cá nhân) và từ 4-8 triệu đồng (đối với tổ chức).Chia sẻ với PV Báo Giao thông, một cán bộ cảnh sát giao thông Hà Nội khuyến cáo, đối với những xe không chính chủ có giao dịch mua bán, chủ xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục thu hồi. Sau đó, chủ xe và người mua lại xe phải làm thủ tục đăng ký, sang tên xe.Quá trình quản lý đăng ký xe, cảnh sát giao thông nếu phát hiện phương tiện có giấy tờ mua bán với chủ xe cũ hoặc giấy tờ mua bán với người chủ gần nhất thì sẽ thu hồi biển số kèm giấy đăng ký cũ, làm thủ tục sang tên cho chủ xe đang sở hữu. Đồng thời, sẽ xử phạt thêm về hành vi không làm thủ tục sang tên theo quy định. Hiện nay, với những xe không có giấy tờ mua bán, lực lượng chức năng sẽ hướng dẫn người mang xe đi đăng ký làm các giấy tờ cam kết, cam đoan về nguồn gốc tài sản họ đang sử dụng theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn 30 ngày tiếp theo, cảnh sát giao thông dùng nghiệp vụ để xác minh trong hệ thống dữ liệu. Nếu xe đó không thuộc trường hợp khiếu nại, tranh chấp hay không phải xe tang vật sẽ được làm thủ tục thu hồi đăng ký, sang tên cấp biển số định danh cho chủ đang sở hữu.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Mới đây, anh Phan Ngọc Tú thắc mắc về việc năm 2020 có làm thủ tục chuyển nhượng chiếc xe ô tô cho người khác và thỏa thuận rằng, bên mua sẽ chịu trách nhiệm làm hồ sơ sang tên đổi chủ đối với phương tiện đó.Tuy nhiên đến năm 2024, người mua xe vẫn chưa thực hiện sang tên đổi chủ. Như vậy, chiếu theo thỏa thuận chuyển nhượng, người mua xe có vi phạm gì không? Nếu có sẽ bị xử lý như thế nào, còn chủ cũ của xe là anh Tú phải làm gì để không bị xử phạt?Quá thời hạn quy định mà chủ xe không làm thủ tục thu hồi biển số, cảnh sát giao thông sẽ xử phạt (ảnh minh họa).Trả lời công dân Phan Ngọc Tú, Bộ Công an cho biết, khoản 1 Điều 39 Thông tư số 24/2023 của Bộ Công an (đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2023) quy định, xe đã đăng ký biển 5 số trước ngày thông tư có hiệu lực mà chưa làm thủ tục thu hồi, thì biển số đó được xác định là biển số định danh của chủ xe.Đề xuất chi tiền mua thông tin phục vụ xử lý vi phạm giao thôngBộ Công an đề xuất những hành vi nào bị tịch thu ô tô, xe máy?Đối với xe đã đăng ký biển 3 hoặc 4 số thì tiếp tục được phép tham gia giao thông, trừ trường hợp chủ xe có nhu cầu cấp sang biển số định danh hoặc khi chủ xe thực hiện thủ tục cấp đổi chứng nhận đăng ký xe, cấp đổi biển số xe... hoặc đăng ký sang tên, di chuyển xe thì thực hiện thu hồi biển 3 hoặc 4 số.Bên cạnh đó, theo quy định tại Khoản 4 Điều 6 Thông tư số 24/2023 của Bộ Công an, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày làm giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe, chủ xe phải làm thủ tục thu hồi.Trường hợp quá thời hạn trên mà chủ xe không làm thủ tục thu hồi hoặc giao chứng nhận đăng ký xe, biển số xe cho bên nhận quyền sở hữu xe làm thủ tục thu hồi, thì trước khi giải quyết cơ quan đăng ký xe sẽ ra quyết định xử phạt đối với chủ xe về hành vi không làm thủ tục thu hồi.Theo quy định tại điểm c, khoản 7 Điều 30 Nghị định số 100/2019 (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 123/2021 của Chính phủ), chủ phương tiện sẽ bị phạt tiền từ 2-4 triệu đồng (đối với cá nhân) và từ 4-8 triệu đồng (đối với tổ chức).Chia sẻ với PV Báo Giao thông, một cán bộ cảnh sát giao thông Hà Nội khuyến cáo, đối với những xe không chính chủ có giao dịch mua bán, chủ xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục thu hồi. Sau đó, chủ xe và người mua lại xe phải làm thủ tục đăng ký, sang tên xe.Quá trình quản lý đăng ký xe, cảnh sát giao thông nếu phát hiện phương tiện có giấy tờ mua bán với chủ xe cũ hoặc giấy tờ mua bán với người chủ gần nhất thì sẽ thu hồi biển số kèm giấy đăng ký cũ, làm thủ tục sang tên cho chủ xe đang sở hữu. Đồng thời, sẽ xử phạt thêm về hành vi không làm thủ tục sang tên theo quy định. Hiện nay, với những xe không có giấy tờ mua bán, lực lượng chức năng sẽ hướng dẫn người mang xe đi đăng ký làm các giấy tờ cam kết, cam đoan về nguồn gốc tài sản họ đang sử dụng theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn 30 ngày tiếp theo, cảnh sát giao thông dùng nghiệp vụ để xác minh trong hệ thống dữ liệu. Nếu xe đó không thuộc trường hợp khiếu nại, tranh chấp hay không phải xe tang vật sẽ được làm thủ tục thu hồi đăng ký, sang tên cấp biển số định danh cho chủ đang sở hữu." } ], "id": "580", "is_impossible": false, "question": "Người mua lại ô tô không đi sang tên, chủ cũ của xe có bị xử phạt?" } ] } ], "title": "Người mua lại ô tô không đi sang tên, chủ cũ của xe có bị xử phạt?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Tại dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Bộ Công an đề xuất xử phạt đối với người điều khiển xe đạp, xe đạp máy người điều khiển xe thô sơ khác trong trường hợp điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở (phạt tiền từ 80 - 100 nghìn đồng).Bộ Công an đề xuất 3 mức phạt đối với người đi xe đạp vi phạm nồng độ cồn ở dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ.Trường hợp điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/lít khí thở (phạt tiền từ 400 - 600 nghìn đồng).Đối với người điều khiển xe đạp, xe đạp máy người điều khiển xe thô sơ khác trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở, Bộ Công an đề xuất mức phạt tiền từ 100 - 200 nghìn đồng.So với Điều 8 Nghị định 100/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP), mức phạt người điều khiển xe đạp, xe đạp máy (kể cả xe đạp điện), người điều khiển xe thô sơ khác vi phạm nồng độ cồn được giữ nguyên ở mức 1 (trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/lít khí thở) và mức 3 (trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/lít khí thở).Đối với mức 2 (hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/lít khí thở), Bộ Công an đề xuất giảm mức phạt so với Điều 8 Nghị định 100/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP) là từ 300 - 400 nghìn đồng (mức đề xuất mới là 100 - 200 nghìn đồng).", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Tại dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Bộ Công an đề xuất xử phạt đối với người điều khiển xe đạp, xe đạp máy người điều khiển xe thô sơ khác trong trường hợp điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở (phạt tiền từ 80 - 100 nghìn đồng).Bộ Công an đề xuất 3 mức phạt đối với người đi xe đạp vi phạm nồng độ cồn ở dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ.Trường hợp điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/lít khí thở (phạt tiền từ 400 - 600 nghìn đồng).Đối với người điều khiển xe đạp, xe đạp máy người điều khiển xe thô sơ khác trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở, Bộ Công an đề xuất mức phạt tiền từ 100 - 200 nghìn đồng.So với Điều 8 Nghị định 100/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP), mức phạt người điều khiển xe đạp, xe đạp máy (kể cả xe đạp điện), người điều khiển xe thô sơ khác vi phạm nồng độ cồn được giữ nguyên ở mức 1 (trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/lít khí thở) và mức 3 (trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/lít khí thở).Đối với mức 2 (hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/lít khí thở), Bộ Công an đề xuất giảm mức phạt so với Điều 8 Nghị định 100/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP) là từ 300 - 400 nghìn đồng (mức đề xuất mới là 100 - 200 nghìn đồng)." } ], "id": "581", "is_impossible": false, "question": "Dự thảo quy định xử phạt vi phạm giao thông mới: Đi xe đạp uống rượu bia có bị xử lý?" } ] } ], "title": "Dự thảo quy định xử phạt vi phạm giao thông mới: Đi xe đạp uống rượu bia có bị xử lý?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bà Nguyễn Thị Khuyên (Hà Nội) có một doanh nghiệp thành lập năm 2018, nhưng không đăng ký ngành nghề kinh doanh bất động sản theo Điều 4 Nghị định số 02/2022/NĐ-CP do thực tế không hoạt động thường xuyên. Ảnh minh họa. Doanh nghiệp của bà Khuyên có mua 1 sàn thương mại tại 1 tòa nhà, không dùng hết diện tích và muốn cho 1 đơn vị khác thuê lại 1 phần diện tích sàn thương mại này. Bà Khuyên hỏi, doanh nghiệp của bà có được cho thuê không? Định nghĩa cho thuê bất động sản quy mô nhỏ, không thường xuyên được hiểu như thế nào? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tại Khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: \"1. Kinh doanh bất động sản là việc đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng, mua, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản; thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản; dịch vụ tư vấn bất động sản hoặc quản lý bất động sản nhằm mục đích sinh lợi\". Tại Điểm a Khoản 1 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: \"1. Tổ chức, cá nhân trong nước được kinh doanh bất động sản dưới các hình thức sau đây: a) Mua nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua;\". Tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 10 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 (được sửa đổi, bổ sung tại Điểm a Khoản 2 Điều 75 của Luật Đầu tư năm 2020) quy định: \"1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp), trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này. 2. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy mô nhỏ, không thường xuyên thì không phải thành lập doanh nghiệp nhưng phải kê khai nộp thuế theo quy định của pháp luật\". Tại Điều 5 Nghị định số 02/2022/NĐ-CP ngày 6/1/2022 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản quy định: \"Điều 5. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy mô nhỏ, không thường xuyên Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy định tại Khoản 2 Điều 10 của Luật Kinh doanh bất động sản không bắt buộc phải có các điều kiện quy định tại Điều 4 của Nghị định này bao gồm: 1. Cơ quan, tổ chức thực hiện bán nhà, công trình xây dựng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất do phá sản, giải thể, chia tách theo quy định của pháp luật. 2. Cơ quan, tổ chức thực hiện bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản là tài sản công theo quy định của pháp luật. 3. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (AMC), công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) thực hiện bán nhà, công trình xây dựng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng dự án bất động sản đang được dùng bảo lãnh, thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. 4. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán nhà, công trình xây dựng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quyết định của Tòa án, của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo. 5. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, cho thuê, cho thuê mua nhà, công trình xây dựng thuộc quyền sở hữu hợp pháp, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình. 6. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, cho thuê, cho thuê mua, chuyển nhượng bất động sản do mình đầu tư xây dựng mà không phải là dự án đầu tư xây dựng bất động sản để kinh doanh theo quy định của pháp luật\". Nội dung bà Khuyên hỏi cũng đã được quy định sửa đổi trong Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2024.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 581, "text": "Tại Khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: \"1. Kinh doanh bất động sản là việc đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng, mua, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản; thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản; dịch vụ tư vấn bất động sản hoặc quản lý bất động sản nhằm mục đích sinh lợi\". Tại Điểm a Khoản 1 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: \"1. Tổ chức, cá nhân trong nước được kinh doanh bất động sản dưới các hình thức sau đây: a) Mua nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua;\". Tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 10 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 (được sửa đổi, bổ sung tại Điểm a Khoản 2 Điều 75 của Luật Đầu tư năm 2020) quy định: \"1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp), trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này. 2. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy mô nhỏ, không thường xuyên thì không phải thành lập doanh nghiệp nhưng phải kê khai nộp thuế theo quy định của pháp luật\". Tại Điều 5 Nghị định số 02/2022/NĐ-CP ngày 6/1/2022 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản quy định: \"Điều 5. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy mô nhỏ, không thường xuyên Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy định tại Khoản 2 Điều 10 của Luật Kinh doanh bất động sản không bắt buộc phải có các điều kiện quy định tại Điều 4 của Nghị định này bao gồm: 1. Cơ quan, tổ chức thực hiện bán nhà, công trình xây dựng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất do phá sản, giải thể, chia tách theo quy định của pháp luật. 2. Cơ quan, tổ chức thực hiện bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản là tài sản công theo quy định của pháp luật. 3. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (AMC), công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) thực hiện bán nhà, công trình xây dựng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng dự án bất động sản đang được dùng bảo lãnh, thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. 4. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán nhà, công trình xây dựng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quyết định của Tòa án, của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo. 5. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, cho thuê, cho thuê mua nhà, công trình xây dựng thuộc quyền sở hữu hợp pháp, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình. 6. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, cho thuê, cho thuê mua, chuyển nhượng bất động sản do mình đầu tư xây dựng mà không phải là dự án đầu tư xây dựng bất động sản để kinh doanh theo quy định của pháp luật\". Nội dung bà Khuyên hỏi cũng đã được quy định sửa đổi trong Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2024." } ], "id": "582", "is_impossible": false, "question": "Quy định về cho thuê bất động sản quy mô nhỏ, không thường xuyên theo luật mới" } ] } ], "title": "Quy định về cho thuê bất động sản quy mô nhỏ, không thường xuyên theo luật mới" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bà Nguyễn Thị Giang (Hà Nội) có câu hỏi liên quan tới chi phí tư vấn có gồm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp hay không, gửi cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn giải đáp. Việc áp dụng quy định pháp luật về xây dựng tương ứng với thời điểm thực hiện dự án đầu tư xây dựng. Nội dung câu hỏi như sau: Bà Nguyễn Thị Giang hỏi, đối với hợp đồng tư vấn khảo sát, lập báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật của công trình xây dựng cấp II trở lên thì nhà thầu có phải bắt buộc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp không? Bà Nguyễn Thị Giang cũng muốn biết, trong Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, chi phí lập báo cáo nghiên cứu khả thi và báo cáo kinh tế - kỹ thuật có bao gồm chi phí bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và giám sát tác giả không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc áp dụng quy định pháp luật về xây dựng tương ứng với thời điểm thực hiện dự án đầu tư xây dựng. Hiện nay, đối với các dự án đầu tư xây dựng thuộc phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì chi phí tư vấn đầu tư xây dựng thực hiện theo Điều 31 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP, Phụ lục số VIII Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về ban hành định mức xây dựng. Trong đó nội dung chi phí công việc tư vấn đầu tư xây dựng quy định tại Khoản 2 Điều 31 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP. Việc mua bảo hiểm của cá nhân, tổ chức bảo đảm theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 67/2023/NĐ-CP ngày 6/9/2023 của Chính phủ quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Trường hợp cần hướng dẫn rõ hơn về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, bà Giang gửi nội dung đến Bộ Tài chính để được hướng dẫn theo thẩm quyền.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 306, "text": "Bà Nguyễn Thị Giang hỏi, đối với hợp đồng tư vấn khảo sát, lập báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật của công trình xây dựng cấp II trở lên thì nhà thầu có phải bắt buộc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp không? Bà Nguyễn Thị Giang cũng muốn biết, trong Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, chi phí lập báo cáo nghiên cứu khả thi và báo cáo kinh tế - kỹ thuật có bao gồm chi phí bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và giám sát tác giả không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc áp dụng quy định pháp luật về xây dựng tương ứng với thời điểm thực hiện dự án đầu tư xây dựng. Hiện nay, đối với các dự án đầu tư xây dựng thuộc phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì chi phí tư vấn đầu tư xây dựng thực hiện theo Điều 31 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP, Phụ lục số VIII Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về ban hành định mức xây dựng. Trong đó nội dung chi phí công việc tư vấn đầu tư xây dựng quy định tại Khoản 2 Điều 31 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP. Việc mua bảo hiểm của cá nhân, tổ chức bảo đảm theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 67/2023/NĐ-CP ngày 6/9/2023 của Chính phủ quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Trường hợp cần hướng dẫn rõ hơn về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, bà Giang gửi nội dung đến Bộ Tài chính để được hướng dẫn theo thẩm quyền." } ], "id": "583", "is_impossible": false, "question": "Chi phí tư vấn có gồm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp?" } ] } ], "title": "Chi phí tư vấn có gồm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Ông Vương Thọ (Kon Tum) làm việc tại đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc UBND cấp huyện. Đơn vị ông sửa chữa công trình xây dựng có tổng dự toán dưới 500 triệu đồng và trên 100 triệu đồng. Chi phí bảo trì công trình xây dựng quy định tại Điều 35 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP. Khi được cấp có thẩm quyền thống nhất chủ trương cho đầu tư sửa chữa công trình xây dựng từ nguồn kinh phí thường xuyên và nguồn thu khác của đơn vị, đơn vị ông Thọ đã thuê đơn vị tư vấn thực hiện các chi phí theo Nghị định số 10/2021/NĐ-CP (tư vấn lập hồ sơ, thẩm tra, xây dựng, giám sát…) để làm cơ sở trình cấp có thẩm quyền phê duyệt dự toán và kế hoạch lựa chọn nhà thầu để triển khai thực hiện. Tuy nhiên khi cơ quan thanh tra kiểm tra, các chi phí tư vấn bị thu hồi vì lý do, thanh toán các chi phí tư vấn không đúng theo Khoản 4 Điều 35 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP và Khoản 4 Điều 3 Thông tư số 14/2021/TT-BXD. Ông Thọ hỏi, đối với những gói thầu sửa chữa công trình dưới 500 triệu đồng và trên 100 triệu đồng thì chi phí tư vấn này có được thuê tư vấn hay không và nếu không được thuê thì ai là người lập hồ sơ để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt dự toán? Đơn vị ông Thọ không có cán bộ chuyên môn nào về lĩnh vực đầu tư xây dựng trong khi hồ sơ để cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định thì cần có bản vẽ thiết kế, dự toán chi tiết… Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Bảo trì công trình xây dựng thực hiện theo quy định tại Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng. Chi phí bảo trì công trình xây dựng quy định tại Điều 35 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP. Chí phí bảo trì công trình xây dựng được xác định bằng dự toán theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 14/2021/TT-BXD ngày 8/9/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn xác định chi phí bảo trì công trình xây dựng. Dự toán sửa chữa công trình có chi phí thực hiện dưới 500 triệu đồng thực hiện theo hướng dẫn tại Bảng 2.2 Phụ lục II Thông tư số 14/2021/TT-BXD. Dự toán chi phí bảo trì công trình xây dựng theo hướng dẫn tại Bảng 2.1 Phụ lục II Thông tư số 14/2021/TT-BXD. Chủ đầu tư căn cứ Điều 14 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP để tự thực hiện nếu đủ điều kiện năng lực hoặc thuê tổ chức tư vấn đủ điều kiện năng lực theo quy định của Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn để thực hiện các công việc phục vụ bảo trì công trình xây dựng. Việc đấu thầu, lựa chọn nhà thầu bao gồm nhà thầu tư vấn xây dựng thực hiện theo pháp luật về đấu thầu và các quy định có liên quan.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1372, "text": "Bảo trì công trình xây dựng thực hiện theo quy định tại Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng. Chi phí bảo trì công trình xây dựng quy định tại Điều 35 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP. Chí phí bảo trì công trình xây dựng được xác định bằng dự toán theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 14/2021/TT-BXD ngày 8/9/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn xác định chi phí bảo trì công trình xây dựng. Dự toán sửa chữa công trình có chi phí thực hiện dưới 500 triệu đồng thực hiện theo hướng dẫn tại Bảng 2.2 Phụ lục II Thông tư số 14/2021/TT-BXD. Dự toán chi phí bảo trì công trình xây dựng theo hướng dẫn tại Bảng 2.1 Phụ lục II Thông tư số 14/2021/TT-BXD. Chủ đầu tư căn cứ Điều 14 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP để tự thực hiện nếu đủ điều kiện năng lực hoặc thuê tổ chức tư vấn đủ điều kiện năng lực theo quy định của Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn để thực hiện các công việc phục vụ bảo trì công trình xây dựng. Việc đấu thầu, lựa chọn nhà thầu bao gồm nhà thầu tư vấn xây dựng thực hiện theo pháp luật về đấu thầu và các quy định có liên quan." } ], "id": "584", "is_impossible": false, "question": "Công trình sửa chữa dưới 500 triệu có được thuê tư vấn?" } ] } ], "title": "Công trình sửa chữa dưới 500 triệu có được thuê tư vấn?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Ngày 4/8, liên quan đến vụ tai nạn tài xế xe bán tải tông gia đình 3 người tử vong ở Đắk Lắk, trao đổi với PV Báo Giao thông, luật sư Trần Viết Hà, Đoàn Luật sư TP.HCM phân tích: \"Căn cứ Khoản 7, Điều 8, Luật Giao thông đường bộ quy định một trong những hành vi bị cấm đó là 'Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy\".Tài xế Trần Doãn Tùng đối diện khung hình phạt từ 7-15 năm tù giam. Ảnh: N.HNgày sau khi xảy ra tai nạn, quá trình điều tra Công an TP Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk) đã kiểm tra nồng độ cồn và chất kích thích đối với tài xế Trần Doãn Tùng (SN 1975, ngụ huyện Krông Pắk). Kết quả xác định, tài xế Tùng dương tính với ma túy.Như vậy, tài xế Tùng điều khiển phương tiện khi đã sử dụng ma túy là hành vi vi phạm pháp luật.Đối chiếu với những hành vi mà tài xế đã thực hiện như: dương tính với ma túy vẫn điều khiển phương tiện, vượt xe ở nơi không cho phép vượt đã gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng làm 3 người tử vong đã có dấu hiệu cấu thành của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.Trong vụ việc này, với tình tiết định khung làm chết từ 3 người trở lên, tài xế Tùng đối diện ở khung hình phạt từ 7 - 15 năm tù.Về mặt dân sự, căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 590, 591 Bộ luật Dân sự, tài xế phải chịu trách nhiệm bồi thường các loại chi phí gồm: Chi phí mai táng cho các nạn nhân, bồi thường thu nhập thực tế bị mất bị giảm sút của các nạn nhân, chi phí cấp dưỡng…Chi phí bồi thường tổn thất về mặt tinh thần thì hai bên sẽ thỏa thuận trường hợp không thỏa thuận được thì pháp luật quy định mỗi người không quá 100 lần mức lương cơ sở theo đó lương cơ sở hiện tại là 2,34 triệu đồng tức không quá 100 lần là không quá 230.400.000 đồng/người.Cũng theo luật sư Trần Viết Hà, trường hợp phát hiện tài xế dương tính với ma túy thôi thì chỉ khẳng định là đối tượng có sử dụng ma túy. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chỉ bị xử phạt hành chính. Tuy nhiên, trong thời hợp này, ở cùng một hành vi vi phạm thì đối tượng đã bị xử lý ở mức định khung cao nhất là điều khiển phương tiện khi trong cơ thể có chất ma túy.Trước đó, ngày 2/8, Công an TP Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk) đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với tài xế Trần Doãn Tùng để điều tra về hành vi vi phạm quy định điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, khiến 3 người tử vong.Như Báo Giao thông đưa tin, khoảng 6h30 ngày 2/8, tài xế Trần Doãn Tùng (SN 1975, ngụ huyện Krông Pắk) điều khiển xe bán tải BKS 47C-286.03 lưu thông trên tuyến quốc lộ 26 theo hướng huyện Krông Pắk - TP Buôn Ma Thuột.Khi đến Km 140+400 quốc lộ 26 (đoạn qua xã Ea Tu, TP Buôn Ma Thuột), bất ngờ tông trực diện xe máy BKS 47F1-476.48 do chị Quách Thị L (36 tuổi, trú xã Ea Đar, huyện Ea Kar) điều khiển chở theo chồng là Vũ Văn H (SN 1983) và con trai lưu thông theo hướng ngược lại. Hậu quả, cú tông mạnh khiến chị L, anh H và con trai tử vong tại chỗ.Vụ tai nạn đang được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra, làm rõ.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 179, "text": "\"Căn cứ Khoản 7, Điều 8, Luật Giao thông đường bộ quy định một trong những hành vi bị cấm đó là 'Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy\".Tài xế Trần Doãn Tùng đối diện khung hình phạt từ 7-15 năm tù giam. Ảnh: N.HNgày sau khi xảy ra tai nạn, quá trình điều tra Công an TP Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk) đã kiểm tra nồng độ cồn và chất kích thích đối với tài xế Trần Doãn Tùng (SN 1975, ngụ huyện Krông Pắk). Kết quả xác định, tài xế Tùng dương tính với ma túy.Như vậy, tài xế Tùng điều khiển phương tiện khi đã sử dụng ma túy là hành vi vi phạm pháp luật.Đối chiếu với những hành vi mà tài xế đã thực hiện như: dương tính với ma túy vẫn điều khiển phương tiện, vượt xe ở nơi không cho phép vượt đã gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng làm 3 người tử vong đã có dấu hiệu cấu thành của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.Trong vụ việc này, với tình tiết định khung làm chết từ 3 người trở lên, tài xế Tùng đối diện ở khung hình phạt từ 7 - 15 năm tù.Về mặt dân sự, căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 590, 591 Bộ luật Dân sự, tài xế phải chịu trách nhiệm bồi thường các loại chi phí gồm: Chi phí mai táng cho các nạn nhân, bồi thường thu nhập thực tế bị mất bị giảm sút của các nạn nhân, chi phí cấp dưỡng…Chi phí bồi thường tổn thất về mặt tinh thần thì hai bên sẽ thỏa thuận trường hợp không thỏa thuận được thì pháp luật quy định mỗi người không quá 100 lần mức lương cơ sở theo đó lương cơ sở hiện tại là 2,34 triệu đồng tức không quá 100 lần là không quá 230.400.000 đồng/người.Cũng theo luật sư Trần Viết Hà, trường hợp phát hiện tài xế dương tính với ma túy thôi thì chỉ khẳng định là đối tượng có sử dụng ma túy. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chỉ bị xử phạt hành chính. Tuy nhiên, trong thời hợp này, ở cùng một hành vi vi phạm thì đối tượng đã bị xử lý ở mức định khung cao nhất là điều khiển phương tiện khi trong cơ thể có chất ma túy.Trước đó, ngày 2/8, Công an TP Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk) đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với tài xế Trần Doãn Tùng để điều tra về hành vi vi phạm quy định điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, khiến 3 người tử vong.Như Báo Giao thông đưa tin, khoảng 6h30 ngày 2/8, tài xế Trần Doãn Tùng (SN 1975, ngụ huyện Krông Pắk) điều khiển xe bán tải BKS 47C-286.03 lưu thông trên tuyến quốc lộ 26 theo hướng huyện Krông Pắk - TP Buôn Ma Thuột.Khi đến Km 140+400 quốc lộ 26 (đoạn qua xã Ea Tu, TP Buôn Ma Thuột), bất ngờ tông trực diện xe máy BKS 47F1-476.48 do chị Quách Thị L (36 tuổi, trú xã Ea Đar, huyện Ea Kar) điều khiển chở theo chồng là Vũ Văn H (SN 1983) và con trai lưu thông theo hướng ngược lại. Hậu quả, cú tông mạnh khiến chị L, anh H và con trai tử vong tại chỗ.Vụ tai nạn đang được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra, làm rõ." } ], "id": "585", "is_impossible": false, "question": "Vụ xe bán tải tông 3 người tử vong: Tài xế đối diện khung hình phạt nào?" } ] } ], "title": "Vụ xe bán tải tông 3 người tử vong: Tài xế đối diện khung hình phạt nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về chi phí trông giữ (lưu kho) được quy định tại Nghị định 138/2021, quy định về chi phí lưu kho, chi phí bến bãi, chi phí bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ như sau:Tổ chức, cá nhân vi phạm khi đến nhận lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ (không thuộc trường hợp bị tịch thu) phải trả chi phí lưu kho, chi phí bến bãi, chi phí bảo quản tang vật, phương tiện trong thời gian bị tạm giữ.Theo quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính, thời hạn tạm giữ phương tiện vi phạm giao thông là không quá 7 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ.Nếu vụ việc cần chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn tạm giữ không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ.Thời hạn giữ xe vi phạm có thể kéo dài hơn nhưng không quá 30 ngày, nếu cần xác minh tình tiết phức tạp của vụ vi phạm giao thông, hoặc cần xác minh giấy tờ của phương tiện, hoặc nhằm bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.Các khoản lệ phí trông giữ phương tiện có sự khác nhau giữa các tỉnh, thành phố. Tại Hà Nội, giá trông giữ xe vi phạm giao thông được quy định tại Quyết định 44/2017/QĐ-UBND, cụ thể như sau:Mức thu xe máy, xe lam là 8 nghìn đồng/xe/ngày; xe đạp, xe đạp điện, xe máy điện, xe xích lô là 5 nghìn đồng/xe/ngày; xe ô tô đến 9 ghế ngồi và xe tải từ 2 tấn trở xuống là 70 nghìn đồng/xe/ngày; xe từ 10 ghế ngồi trở lên và xe tải trên 2 tấn trở lên là 90 nghìn đồng/xe/ngày.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 173, "text": "Tổ chức, cá nhân vi phạm khi đến nhận lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ (không thuộc trường hợp bị tịch thu) phải trả chi phí lưu kho, chi phí bến bãi, chi phí bảo quản tang vật, phương tiện trong thời gian bị tạm giữ.Theo quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính, thời hạn tạm giữ phương tiện vi phạm giao thông là không quá 7 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ.Nếu vụ việc cần chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn tạm giữ không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ.Thời hạn giữ xe vi phạm có thể kéo dài hơn nhưng không quá 30 ngày, nếu cần xác minh tình tiết phức tạp của vụ vi phạm giao thông, hoặc cần xác minh giấy tờ của phương tiện, hoặc nhằm bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.Các khoản lệ phí trông giữ phương tiện có sự khác nhau giữa các tỉnh, thành phố. Tại Hà Nội, giá trông giữ xe vi phạm giao thông được quy định tại Quyết định 44/2017/QĐ-UBND, cụ thể như sau:Mức thu xe máy, xe lam là 8 nghìn đồng/xe/ngày; xe đạp, xe đạp điện, xe máy điện, xe xích lô là 5 nghìn đồng/xe/ngày; xe ô tô đến 9 ghế ngồi và xe tải từ 2 tấn trở xuống là 70 nghìn đồng/xe/ngày; xe từ 10 ghế ngồi trở lên và xe tải trên 2 tấn trở lên là 90 nghìn đồng/xe/ngày." } ], "id": "586", "is_impossible": false, "question": "Mức phí trông giữ xe bị tạm giữ là bao nhiêu?" } ] } ], "title": "Mức phí trông giữ xe bị tạm giữ là bao nhiêu?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Cử tri tỉnh Lạng Sơn đề nghị cơ quan có thẩm quyền xây dựng bộ tiêu chí để đánh giá đô thị đạt đô thị thông minh, có cơ chế ưu đãi cho các đô thị phát triển theo mô hình đô thị thông minh. Sẽ có cơ chế ưu đãi cho các đô thị phát triển theo mô hình đô thị thông minh. Cử tri cũng đề nghị xây dựng và ban hành bộ tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu của các tỉnh, thành phố. Bộ Xây dựng trả lời cử tri tỉnh Lạng Sơn như sau: Phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam đang được thực hiện theo Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018-2025 và định hướng đến năm 2030 (phê duyệt tại Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 1/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ), trong đó đã giao Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng và triển khai áp dụng các chỉ số chính đánh giá về hiệu quả hoạt động (KPI) cho đô thị thông minh ở Việt Nam, giao Bộ Xây dựng xây dựng quy định khung về công nhận khu đô thị mới thông minh và các chính sách ưu tiên, ưu đãi. Với mục tiêu xây dựng một hướng dẫn chung về việc xây dựng, phát triển và đánh giá mức độ phát triển của đô thị thông minh gắn với \"Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030\" (phê duyệt tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ), Bộ Xây dựng đã đề nghị và phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông trong việc nghiên cứu, xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá đô thị thông minh gắn với chuyển đổi số. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang tiếp tục phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông nghiên cứu, dự thảo Bộ tiêu chí đánh giá đô thị thông minh bền vững để báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Bộ Xây dựng sẽ ban hành sau khi Thủ tướng Chính phủ cho phép, dự kiến vào Quý III năm 2024. Đối với đề nghị xây dựng và ban hành bộ tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu của các tỉnh, thành phố, hiện nay, Bộ Xây dựng đã có Tờ trình số 06/TTr-BXD ngày 28/2/2024 đề nghị xây dựng Luật Quản lý phát triển đô thị. Hồ sơ xây dựng luật đã đề xuất nội dung quy định về nguyên tắc, đánh giá, công nhận và giám sát thực hiện phát triển đô thị ứng phó biến đổi khí hậu; và dự kiến đề xuất các giải pháp thực hiện, gồm các quy định về đánh giá năng lực chống chịu của đô thị; lồng ghép kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu trong chương trình phát triển đô thị; đánh giá kiểm soát, hạn chế phát triển đô thị tại các khu vực có nguy cơ cao; phát triển hệ thống cảnh báo sớm cung cấp thông tin,... Theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024 đã được Quốc hội ban hành tại Nghị quyết số 129/2024/QH15 ngày 8/6/2024, Luật Quản lý phát triển đô thị dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 9 (tháng 5/2025), thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (tháng 10/2025). Bộ Xây dựng xin ghi nhận ý kiến của cử tri tỉnh Lạng Sơn để xem xét, nghiên cứu, cụ thể hóa trong quá trình xây dựng Luật Quản lý phát triển đô thị.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 473, "text": "Phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam đang được thực hiện theo Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018-2025 và định hướng đến năm 2030 (phê duyệt tại Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 1/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ), trong đó đã giao Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng và triển khai áp dụng các chỉ số chính đánh giá về hiệu quả hoạt động (KPI) cho đô thị thông minh ở Việt Nam, giao Bộ Xây dựng xây dựng quy định khung về công nhận khu đô thị mới thông minh và các chính sách ưu tiên, ưu đãi. Với mục tiêu xây dựng một hướng dẫn chung về việc xây dựng, phát triển và đánh giá mức độ phát triển của đô thị thông minh gắn với \"Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030\" (phê duyệt tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ), Bộ Xây dựng đã đề nghị và phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông trong việc nghiên cứu, xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá đô thị thông minh gắn với chuyển đổi số. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang tiếp tục phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông nghiên cứu, dự thảo Bộ tiêu chí đánh giá đô thị thông minh bền vững để báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Bộ Xây dựng sẽ ban hành sau khi Thủ tướng Chính phủ cho phép, dự kiến vào Quý III năm 2024. Đối với đề nghị xây dựng và ban hành bộ tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu của các tỉnh, thành phố, hiện nay, Bộ Xây dựng đã có Tờ trình số 06/TTr-BXD ngày 28/2/2024 đề nghị xây dựng Luật Quản lý phát triển đô thị. Hồ sơ xây dựng luật đã đề xuất nội dung quy định về nguyên tắc, đánh giá, công nhận và giám sát thực hiện phát triển đô thị ứng phó biến đổi khí hậu; và dự kiến đề xuất các giải pháp thực hiện, gồm các quy định về đánh giá năng lực chống chịu của đô thị; lồng ghép kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu trong chương trình phát triển đô thị; đánh giá kiểm soát, hạn chế phát triển đô thị tại các khu vực có nguy cơ cao; phát triển hệ thống cảnh báo sớm cung cấp thông tin,... Theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024 đã được Quốc hội ban hành tại Nghị quyết số 129/2024/QH15 ngày 8/6/2024, Luật Quản lý phát triển đô thị dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 9 (tháng 5/2025), thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (tháng 10/2025). Bộ Xây dựng xin ghi nhận ý kiến của cử tri tỉnh Lạng Sơn để xem xét, nghiên cứu, cụ thể hóa trong quá trình xây dựng Luật Quản lý phát triển đô thị." } ], "id": "587", "is_impossible": false, "question": "Sẽ có Bộ tiêu chí đánh giá đô thị thông minh" } ] } ], "title": "Sẽ có Bộ tiêu chí đánh giá đô thị thông minh" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Không bị xử phạt nhưng không thể sử dụng để đi lạiTheo Dự thảo Nghị định giảm lệ phí trước bạ với ô tô sản xuất trong nước, mức thu lệ phí trước bạ bằng 50% mức thu quy định tại Nghị định 10/2022/NĐ-CP về lệ phí trước bạ; Từ 1/2/2025 trở đi, mức thu lệ phí trước bạ thực hiện theo quy định tại Nghị định 10/2022/NĐ-CP; Các Nghị quyết hiện hành của HĐND hoặc Quyết định hiện hành của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về mức thu lệ phí trước bạ tại địa phương và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có). Dự kiến Nghị định này có hiệu lực thi hành từ 1/8 đến hết 31/1/2025.Trì hoãn đăng ký xe để chờ giảm 50% lệ phí trước bạ không bị xử phạt nhưng chủ xe không thể sử dụng xe chưa đăng ký để phục vụ việc đi lại (Ảnh minh họa).Tuy nhiên, tại tờ trình mới nhất gửi Chính phủ trong tháng 7 vừa qua, Bộ Tài chính đề xuất phương án cân nhắc không giảm lệ phí trước bạ với ô tô sản xuất lắp ráp trong nước. Nguyên nhân là do nhiều bộ ngành lo ngại việc giảm 50% lệ phí trước bạ với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước sẽ vi phạm cam kết quốc tế.Hiện thông tin chưa được ngã ngũ khiến cả người bán và người mua lâm vào cảnh dở khóc, dở cười. Thậm chí có người đã đặt cọc trước 50-70% giá trị xe từ tháng 6/2024 nhưng chưa lấy xe, hoặc đã \"chót\" mua ô tô mới nhưng cố chờ đến đầu tháng 8 mới làm thủ tục để được giảm lệ phí trước bạ.Theo Luật sư Diệp Năng Bình - Trưởng Văn phòng luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn luật sư TP.HCM), pháp luật hiện hành không quy định cụ thể thời gian bắt buộc phải làm thủ tục đăng ký xe sau khi mua xe mới. Pháp luật chỉ quy định về thời hạn làm thủ tục thu hồi khi chuyển quyền sở hữu xe.Cụ thể, theo điểm b và c khoản 4 Điều 6 Thông tư 24/2023/TT-BCA, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe, chủ xe phải làm thủ tục thu hồi. Trường hợp quá thời hạn trên mà chủ xe không làm thủ tục thu hồi hoặc giao chứng nhận đăng ký xe, biển số xe cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển quyền sở hữu xe làm thủ tục thu hồi thì trước khi giải quyết cơ quan đăng ký xe ra quyết định xử phạt đối với chủ xe về hành vi không làm thủ tục thu hồi theo quy định.Trường hợp chủ xe không làm thủ tục thu hồi sau khi chuyển quyền sở hữu xe thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi vi phạm liên quan đến xe đó.Sau khi chủ xe làm thủ tục thu hồi, tổ chức, cá nhân nhận chuyển quyền sở hữu làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định.\"Tuy pháp luật hiện hành không quy định cụ thể thời gian bắt buộc phải làm thủ tục đăng ký xe sau khi mua xe mới. Nhưng để điều khiển phương tiện tham gia giao thông thuận lợi, ngay sau khi mua xe, người mua nên làm thủ tục đăng ký xe trong thời gian sớm nhất\", luật sư Diệp Năng Bình cho hay.Không đăng ký xe mà lưu thông trên đường có thể bị phạt 32 triệu đồngLuật sư Diệp Năng Bình cho biết, nếu mua xe mới, chưa đăng ký mà cố tình lưu thông trên đường thì chủ xe và người điều khiển ô tô có thể bị phạt tiền và tạm giữ phương tiện.Luật sư Diệp Năng Bình - Trưởng Văn phòng luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).Ông Bình cho hay, nếu chưa có biển số chính thức, ô tô mới mua từ cửa hàng cần thực hiện thủ tục đăng ký xe tạm thời để có thể lưu thông trên đường. \"Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Thông tư 24/2023/TT-BCA, các loại xe xuất khẩu, nhập khẩu, hoặc sản xuất lắp ráp, di chuyển giữa các địa điểm như nhà máy, kho cảng, đại lý bán xe cần thực hiện đăng ký xe tạm thời.Đối với người điều khiển xe mới mua và chưa gắn biển số chính thức, việc tham gia giao thông trên các tuyến đường không nằm trong phạm vi cho phép sẽ bị phạt\", ông Bình nói.Mức phạt cho việc đưa phương tiện có Giấy chứng nhận đăng ký xe tạm thời tham gia giao thông quá phạm vi cho phép được quy định như sau:Đối với xe máy, phạt tiền từ 800.000 đồng đến 2 triệu đồng đối với cá nhân, và từ 1,6 đến 4 triệu đồng đối với tổ chức (theo điểm g khoản 5 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP).Đối với ô tô, phạt tiền từ 14 đến 16 triệu đồng đối với cá nhân, và từ 28 đến 32 triệu đồng đối với tổ chức (theo khoản 10 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP).", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 3688, "text": "Đối với xe máy, phạt tiền từ 800.000 đồng đến 2 triệu đồng đối với cá nhân, và từ 1,6 đến 4 triệu đồng đối với tổ chức (theo điểm g khoản 5 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP).Đối với ô tô, phạt tiền từ 14 đến 16 triệu đồng đối với cá nhân, và từ 28 đến 32 triệu đồng đối với tổ chức (theo khoản 10 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP)." } ], "id": "588", "is_impossible": false, "question": "Trì hoãn đăng ký xe để chờ giảm 50% lệ phí trước bạ có bị xử phạt?" } ] } ], "title": "Trì hoãn đăng ký xe để chờ giảm 50% lệ phí trước bạ có bị xử phạt?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Theo phản ánh của cử tri tỉnh Cao Bằng, căn cứ Điều 45 Luật Nhà ở 2023 về đối tượng và điều kiện được thuê nhà ở công vụ thì giáo viên, nhân viên đang công tác các khu vực không phải là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn sẽ không thuộc đối tượng được ở nhà công vụ. Cử tri kiến nghị quan tâm, xem xét mở rộng đối tượng cho thuê nhà ở công vụ đối với giáo viên để bảo đảm công bằng trong thực hiện chính sách pháp luật. Đối với những giáo viên, nhân viên đến công tác tại các khu vực không phải là khu vực nông thôn, xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới, hải đảo sẽ được hỗ trợ nhà ở theo chính sách về nhà ở xã hội theo quy định tại Khoản 8 Điều 76 Luật Nhà ở năm 2023. (Ảnh minh họa) Bộ Xây dựng trả lời cử tri tỉnh Cao Bằng như sau: Về chính sách nhà ở công vụ, tại Điểm đ Khoản 1 Điều 32 Luật Nhà ở năm 2014 quy định đối tượng được thuê nhà ở công vụ bao gồm: \\\\\"đ) Giáo viên đến công tác tại khu vực nông thôn, xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới, hải đảo\\\\\". Ngày 27/11/2023, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, tại Điểm đ Khoản 1 Điều 45 Luật Nhà ở năm 2023 quy định đối tượng được thuê nhà ở công vụ bao gồm: \\\\\"đ) Giáo viên, bác sỹ, nhân viên y tế đến công tác tại khu vực nông thôn, xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới, hải đảo;\\\\\". Như vậy, theo quy định của pháp luật về nhà ở thì giáo viên, nhân viên đang công tác được thuê nhà ở công vụ bao gồm cả khu vực nông thôn và khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Về chính sách nhà ở xã hội: Đối với những giáo viên, nhân viên đến công tác tại các khu vực không phải là khu vực nông thôn, xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới, hải đảo sẽ được hỗ trợ nhà ở theo chính sách về nhà ở xã hội theo quy định tại Khoản 8 Điều 76 Luật Nhà ở năm 2023: \\\\\"8. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;\\\\\". Ngày 11/9/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1625/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2014 – 2015 và lộ trình đến năm 2020. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang thực hiện việc tổng kết Đề án này và chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương nghiên cứu xây dựng cho giai đoạn tiếp theo để báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Ngoài ra, theo quy định của pháp luật về nhà ở, đối với việc phát triển nhà ở công vụ thì UBND cấp tỉnh lập và phê duyệt kế hoạch phát triển nhà ở công vụ trong Chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương (trong đó xác định rõ nhu cầu về nhà ở công vụ bao gồm: Số lượng nhà ở, diện tích sàn nhà ở, địa điểm xây dựng và diện tích đất để xây dựng nhà ở; nguồn vốn và phân kỳ đầu tư xây dựng). Như vậy, pháp luật về nhà ở và pháp luật có liên quan đã có quy định tương đối đầy đủ, chặt chẽ về nhà ở công vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức là giáo viên đến công tác tại khu vực nông thôn, xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới, hải đảo. Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục theo dõi, đánh giá việc thực hiện các quy định của pháp luật về nhà ở nói chung, các quy định liên quan đến nhà ở công vụ cho giáo viên nói riêng, báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật có liên quan để phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế của đất nước cũng như của từng địa phương.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 814, "text": "Về chính sách nhà ở công vụ, tại Điểm đ Khoản 1 Điều 32 Luật Nhà ở năm 2014 quy định đối tượng được thuê nhà ở công vụ bao gồm: \\\\\"đ) Giáo viên đến công tác tại khu vực nông thôn, xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới, hải đảo\\\\\". Ngày 27/11/2023, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, tại Điểm đ Khoản 1 Điều 45 Luật Nhà ở năm 2023 quy định đối tượng được thuê nhà ở công vụ bao gồm: \\\\\"đ) Giáo viên, bác sỹ, nhân viên y tế đến công tác tại khu vực nông thôn, xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới, hải đảo;\\\\\". Như vậy, theo quy định của pháp luật về nhà ở thì giáo viên, nhân viên đang công tác được thuê nhà ở công vụ bao gồm cả khu vực nông thôn và khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Về chính sách nhà ở xã hội: Đối với những giáo viên, nhân viên đến công tác tại các khu vực không phải là khu vực nông thôn, xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới, hải đảo sẽ được hỗ trợ nhà ở theo chính sách về nhà ở xã hội theo quy định tại Khoản 8 Điều 76 Luật Nhà ở năm 2023: \\\\\"8. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;\\\\\". Ngày 11/9/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1625/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2014 – 2015 và lộ trình đến năm 2020. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang thực hiện việc tổng kết Đề án này và chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương nghiên cứu xây dựng cho giai đoạn tiếp theo để báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Ngoài ra, theo quy định của pháp luật về nhà ở, đối với việc phát triển nhà ở công vụ thì UBND cấp tỉnh lập và phê duyệt kế hoạch phát triển nhà ở công vụ trong Chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương (trong đó xác định rõ nhu cầu về nhà ở công vụ bao gồm: Số lượng nhà ở, diện tích sàn nhà ở, địa điểm xây dựng và diện tích đất để xây dựng nhà ở; nguồn vốn và phân kỳ đầu tư xây dựng). Như vậy, pháp luật về nhà ở và pháp luật có liên quan đã có quy định tương đối đầy đủ, chặt chẽ về nhà ở công vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức là giáo viên đến công tác tại khu vực nông thôn, xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới, hải đảo. Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục theo dõi, đánh giá việc thực hiện các quy định của pháp luật về nhà ở nói chung, các quy định liên quan đến nhà ở công vụ cho giáo viên nói riêng, báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật có liên quan để phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế của đất nước cũng như của từng địa phương." } ], "id": "589", "is_impossible": false, "question": "Giáo viên có được hưởng chính sách nhà ở công vụ, nhà ở xã hội?" } ] } ], "title": "Giáo viên có được hưởng chính sách nhà ở công vụ, nhà ở xã hội?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Đơn vị ông Bùi Vũ (Bắc Kạn) quản lý một số công trình giao thông quy mô nhỏ (chỉ lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật), triển khai trên địa bàn các huyện vùng cao của tỉnh. Quá trình thi công có một số nội dung điều chỉnh như: dịch chuyển vị trí cống, cắt giảm khối lượng đào, đắp đất… do ảnh hưởng của yếu tố khách quan. Việc điều chỉnh dự án chỉ cần lập báo cáo kinh tế-kỹ thuật đầu tư xây dựng do người quyết định đầu tư xem xét quyết định. Ông Vũ hỏi, căn cứ Nghị định số 35/2023/NĐ-CP, những điều chỉnh nêu trên bắt buộc phải có ý kiến của cấp có thẩm quyền, chứ không thực hiện được theo phương án giảm trừ khối lượng, lập biên bản xử lý kỹ thuật... có đúng không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Trường hợp điều chỉnh dự án có yêu cầu lập báo cáo kinh tế-kỹ thuật đầu tư xây dựng thực hiện theo quy định tại Khoản 8 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng, có hiệu lực thi hành từ ngày 20/6/2023: \"Điều 12. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng … 8. Bổ sung Khoản 5 Điều 19 như sau: \"5. Việc điều chỉnh dự án chỉ cần lập báo cáo kinh tế-kỹ thuật đầu tư xây dựng do người quyết định đầu tư xem xét quyết định và được quy định cụ thể như sau: a) Trường hợp điều chỉnh làm tăng tổng mức đầu tư xây dựng vượt quá 10% mức quy định được lập báo cáo kinh tế-kỹ thuật đầu tư xây dựng theo quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản 3 Điều 5 của Nghị định này thì phải lập báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng điều chỉnh và việc thẩm định điều chỉnh thực hiện theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 và Khoản 4 Điều này. Trường hợp chỉ điều chỉnh tổng mức đầu tư xây dựng mà không điều chỉnh thiết kế xây dựng thì không yêu cầu lập thiết kế cơ sở mà được sử dụng thiết kế bản vẽ thi công trong báo cáo kinh tế-kỹ thuật đầu tư xây dựng để lập báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng điều chỉnh và triển khai các bước tiếp theo; b) Trường hợp chỉ điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công và không làm thay đổi các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều này, không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này, sau khi được người quyết định đầu tư cho phép điều chỉnh dự án, chủ đầu tư thực hiện thẩm định và phê duyệt các nội dung điều chỉnh\".", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 234, "text": "dịch chuyển vị trí cống, cắt giảm khối lượng đào, đắp đất… do ảnh hưởng của yếu tố khách quan. Việc điều chỉnh dự án chỉ cần lập báo cáo kinh tế-kỹ thuật đầu tư xây dựng do người quyết định đầu tư xem xét quyết định. Ông Vũ hỏi, căn cứ Nghị định số 35/2023/NĐ-CP, những điều chỉnh nêu trên bắt buộc phải có ý kiến của cấp có thẩm quyền, chứ không thực hiện được theo phương án giảm trừ khối lượng, lập biên bản xử lý kỹ thuật... có đúng không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Trường hợp điều chỉnh dự án có yêu cầu lập báo cáo kinh tế-kỹ thuật đầu tư xây dựng thực hiện theo quy định tại Khoản 8 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng, có hiệu lực thi hành từ ngày 20/6/2023: \"Điều 12. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng … 8. Bổ sung Khoản 5 Điều 19 như sau: \"5. Việc điều chỉnh dự án chỉ cần lập báo cáo kinh tế-kỹ thuật đầu tư xây dựng do người quyết định đầu tư xem xét quyết định và được quy định cụ thể như sau: a) Trường hợp điều chỉnh làm tăng tổng mức đầu tư xây dựng vượt quá 10% mức quy định được lập báo cáo kinh tế-kỹ thuật đầu tư xây dựng theo quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản 3 Điều 5 của Nghị định này thì phải lập báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng điều chỉnh và việc thẩm định điều chỉnh thực hiện theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 và Khoản 4 Điều này. Trường hợp chỉ điều chỉnh tổng mức đầu tư xây dựng mà không điều chỉnh thiết kế xây dựng thì không yêu cầu lập thiết kế cơ sở mà được sử dụng thiết kế bản vẽ thi công trong báo cáo kinh tế-kỹ thuật đầu tư xây dựng để lập báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng điều chỉnh và triển khai các bước tiếp theo; b) Trường hợp chỉ điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công và không làm thay đổi các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều này, không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này, sau khi được người quyết định đầu tư cho phép điều chỉnh dự án, chủ đầu tư thực hiện thẩm định và phê duyệt các nội dung điều chỉnh\"." } ], "id": "590", "is_impossible": false, "question": "Hướng dẫn điều chỉnh dự án chỉ lập báo cáo kinh tế-kỹ thuật" } ] } ], "title": "Hướng dẫn điều chỉnh dự án chỉ lập báo cáo kinh tế-kỹ thuật" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Tổ chức tham gia hoạt động thiết kế xây dựng và thi công xây dựng cần đáp ứng các quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức được quy định tại Khoản 4 Điều 148 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại Điểm a Khoản 53 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14. Ảnh minh họa. Công ty của ông Lưu Bảo Long (Hà Nội) cung cấp hệ thống đỗ xe bán tự động có dưới 100 vị trí đỗ. Theo quy định tại Bảng 1.3.9 Phụ lục 1 Thông tư số 03/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định về phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng thì nhà để xe ô tô; sân bãi để xe, máy móc, thiết bị thuộc loại công trình hạ tầng kỹ thuật. Như vậy, hệ thống đỗ xe công ty cung cấp thuộc công trình cấp IV. Ông Long hỏi, công ty ông tham gia thiết kế, thi công xây dựng công trình này có cần chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc phân loại công trình theo công năng sử dụng được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng. Quy định về phân cấp công trình và áp dụng cấp công trình trong quản lý các hoạt động đầu tư xây dựng được quy định tại Thông tư số 06/2021/TT-BXD ngày 30/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Tổ chức tham gia hoạt động thiết kế xây dựng và thi công xây dựng cần đáp ứng các quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức được quy định tại Khoản 4 Điều 148 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại Điểm a Khoản 53 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14. Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng được quy định tại Điều 83 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng, được sửa đổi, bổ sung tại các Điểm a, b Khoản 26 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng. Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức thiết kế xây dựng được quy định tại Điều 93 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 32 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP và điều kiện năng lực của tổ chức thi công xây dựng công trình được quy định tại Điều 95 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP. Lĩnh vực và phạm vi hoạt động của chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng được quy định tại Phụ lục VII Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, được sửa đổi bổ sung tại Phụ lục VII Nghị định số 35/2023/NĐ-CP. Đề nghị ông nghiên cứu, thực hiện bảo đảm tuân thủ theo các quy định của pháp luật về xây dựng và các quy định khác có liên quan.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 935, "text": "Việc phân loại công trình theo công năng sử dụng được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng. Quy định về phân cấp công trình và áp dụng cấp công trình trong quản lý các hoạt động đầu tư xây dựng được quy định tại Thông tư số 06/2021/TT-BXD ngày 30/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Tổ chức tham gia hoạt động thiết kế xây dựng và thi công xây dựng cần đáp ứng các quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức được quy định tại Khoản 4 Điều 148 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại Điểm a Khoản 53 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14. Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng được quy định tại Điều 83 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng, được sửa đổi, bổ sung tại các Điểm a, b Khoản 26 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng. Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức thiết kế xây dựng được quy định tại Điều 93 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 32 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP và điều kiện năng lực của tổ chức thi công xây dựng công trình được quy định tại Điều 95 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP. Lĩnh vực và phạm vi hoạt động của chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng được quy định tại Phụ lục VII Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, được sửa đổi bổ sung tại Phụ lục VII Nghị định số 35/2023/NĐ-CP. Đề nghị ông nghiên cứu, thực hiện bảo đảm tuân thủ theo các quy định của pháp luật về xây dựng và các quy định khác có liên quan." } ], "id": "591", "is_impossible": false, "question": "Lắp đặt hệ thống đỗ xe bán tự động có cần chứng chỉ năng lực?" } ] } ], "title": "Lắp đặt hệ thống đỗ xe bán tự động có cần chứng chỉ năng lực?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Bà Lê Thị Phương Thảo (Vĩnh Long) có câu hỏi liên quan đến vấn đề có được phê duyệt cùng lúc nhiệm vụ khảo sát và lập quy hoạch hay không, gửi tới cơ quan có thẩm quyền nhờ hướng dẫn giải đáp. Lập quy hoạch chung đô thị cần được phê duyệt để xác định vị trí, quy mô và phạm vi ranh giới lập quy hoạch chung đô thị, yêu cầu mức độ điều tra khảo sát... làm cơ sở xây dựng nhiệm vụ khảo sát. Nội dung câu hỏi như sau: Bà Lê Thị Phương Thảo hỏi, nhiệm vụ khảo sát phục vụ lập quy hoạch và nhiệm vụ quy hoạch chung đô thị có được phê duyệt cùng một thời điểm hay không? Nhiệm vụ khảo sát phục vụ lập quy hoạch phê duyệt trước nhiệm vụ quy hoạch chung đô thị có phù hợp không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Căn cứ Khoản 1 Điều 23 Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, nhiệm vụ quy hoạch chung đô thị phải xác định tính chất, vai trò của đô thị, yêu cầu cơ bản cho việc nghiên cứu để khai thác tiềm năng, động lực phát triển, hướng phát triển, mở rộng đô thị, bố trí hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị trong nội thị và khu vực ngoại thị. Căn cứ các Điểm a, d Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 04/2022/TT-BXD ngày 24/10/2022 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định về hồ sơ nhiệm vụ và hồ sơ đồ án quy hoạch xây dựng vùng liên huyện, quy hoạch xây dựng vùng huyện, quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng khu chức năng và quy hoạch nông thôn; nội dung hồ sơ nhiệm vụ quy hoạch chung đô thị bao gồm: lý do, sự cần thiết, căn cứ lập quy hoạch; vị trí, quy mô phạm vi và ranh giới lập quy hoạch chung đô thị. Đối với đô thị mới, cần luận cứ đầy đủ về phạm vi, ranh giới lập quy hoạch. Yêu cầu mức độ điều tra khảo sát, thu thập tài liệu, số liệu, đánh giá hiện trạng đô thị; yêu cầu về cơ sở dữ liệu hiện trạng. Theo các căn cứ nêu trên, nhiệm vụ lập quy hoạch chung đô thị cần được phê duyệt để xác định vị trí, quy mô và phạm vi ranh giới lập quy hoạch chung đô thị, yêu cầu mức độ điều tra khảo sát... làm cơ sở xây dựng nhiệm vụ khảo sát.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 428, "text": "Bà Lê Thị Phương Thảo hỏi, nhiệm vụ khảo sát phục vụ lập quy hoạch và nhiệm vụ quy hoạch chung đô thị có được phê duyệt cùng một thời điểm hay không? Nhiệm vụ khảo sát phục vụ lập quy hoạch phê duyệt trước nhiệm vụ quy hoạch chung đô thị có phù hợp không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Căn cứ Khoản 1 Điều 23 Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, nhiệm vụ quy hoạch chung đô thị phải xác định tính chất, vai trò của đô thị, yêu cầu cơ bản cho việc nghiên cứu để khai thác tiềm năng, động lực phát triển, hướng phát triển, mở rộng đô thị, bố trí hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị trong nội thị và khu vực ngoại thị. Căn cứ các Điểm a, d Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 04/2022/TT-BXD ngày 24/10/2022 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định về hồ sơ nhiệm vụ và hồ sơ đồ án quy hoạch xây dựng vùng liên huyện, quy hoạch xây dựng vùng huyện, quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng khu chức năng và quy hoạch nông thôn; nội dung hồ sơ nhiệm vụ quy hoạch chung đô thị bao gồm: lý do, sự cần thiết, căn cứ lập quy hoạch; vị trí, quy mô phạm vi và ranh giới lập quy hoạch chung đô thị. Đối với đô thị mới, cần luận cứ đầy đủ về phạm vi, ranh giới lập quy hoạch. Yêu cầu mức độ điều tra khảo sát, thu thập tài liệu, số liệu, đánh giá hiện trạng đô thị; yêu cầu về cơ sở dữ liệu hiện trạng. Theo các căn cứ nêu trên, nhiệm vụ lập quy hoạch chung đô thị cần được phê duyệt để xác định vị trí, quy mô và phạm vi ranh giới lập quy hoạch chung đô thị, yêu cầu mức độ điều tra khảo sát... làm cơ sở xây dựng nhiệm vụ khảo sát." } ], "id": "592", "is_impossible": false, "question": "Có được phê duyệt cùng lúc nhiệm vụ khảo sát và lập quy hoạch?" } ] } ], "title": "Có được phê duyệt cùng lúc nhiệm vụ khảo sát và lập quy hoạch?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Thực hiện Luật Căn cước, hiện các trường hợp cấp đổi thẻ căn cước công dân (CCCD) sang thẻ căn cước hoặc cấp đổi thẻ căn cước, người tiếp nhận phải thu lại giấy tờ cũ mà công dân đang sử dụng (thực hiện theo khoản 3 Điều 21 Nghị định 70/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước).Như vậy, người dân mà cấp đổi thẻ CCCD sang thẻ căn cước hoặc cấp đổi thẻ căn cước thì sẽ bị thu lại giấy tờ cũ đó.Hiện, chưa có quy định cụ thể về việc xử phạt đối với trường hợp không nộp lại CCCD.Khi đã làm thẻ căn cước thay cho CCCD, thì thẻ cũ không còn giá trị sử dụng.Song theo dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 144/2021/NĐ-CP, hành vi không nộp lại CCCD khi làm thẻ căn cước có thể bị xử phạt tiền từ 300-500 nghìn đồng hoặc phạt cảnh cáo.Ngoài ra, người dân vẫn sử dụng CCCD cũ để thực hiện giao dịch hoặc làm thủ tục hành chính, ký hợp đồng có thể gặp rủi ro về pháp lý. Bởi khi đã làm thẻ căn cước thay cho CCCD, thì thẻ cũ không còn giá trị sử dụng.Xác thực người thi bằng lái xe qua thẻ căn cước gắn chíp để chống thi hộCầm cố, không xuất trình thẻ căn cước bị phạt bao nhiêu tiền?Trường hợp xảy ra tranh chấp với các lý do như CCCD hết hạn, không có giá trị về chứng minh nhân thân, lúc đó giao dịch sẽ gây bất lợi cho người sử dụng, chưa nói đến việc một số đối tượng có thể lợi dụng thông tin trên CCCD để lừa đảo.Cơ quan công an khuyến cáo, để đảm bảo quyền lợi của mình, công dân khi đi làm thủ tục cấp, đổi thẻ căn cước mới cần tự giác nộp lại giấy tờ cũ (CCCD gắn chíp, CCCD, chứng minh nhân dân) và chỉ nên dùng một loại thẻ nhằm thống nhất thông tin, tránh rủi ro.Ngoài ra, theo quy định chuyển tiếp tại Điều 46 Luật Căn cước 2023, công dân sử dụng thẻ CCCD đã cấp trước ngày 1/7 thì được dùng đến hết thời hạn in trên thẻ, cũng có thể yêu cầu cấp đổi sang thẻ căn cước mới nếu muốn. Còn CCCD, chứng minh nhân dân hết hạn sử dụng từ 15/1/2024 đến trước 30/6/2024 thì được sử dụng đến hết ngày 30/6/2024. Chứng minh nhân dân nếu còn hạn sử dụng sau 31/12/2024 thì chỉ sử dụng đến hết 31/12/2024, loại giấy tờ này sẽ không còn giá trị sử dụng từ năm 2025.Đáng chú ý, người đang dùng CCCD, chứng minh nhân dân hết hạn sử dụng từ 15/1 đến trước 30/6 phải thực hiện đổi sang thẻ căn cước mới, nếu không sẽ bị xử phạt hành chính.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Thực hiện Luật Căn cước, hiện các trường hợp cấp đổi thẻ căn cước công dân (CCCD) sang thẻ căn cước hoặc cấp đổi thẻ căn cước, người tiếp nhận phải thu lại giấy tờ cũ mà công dân đang sử dụng (thực hiện theo khoản 3 Điều 21 Nghị định 70/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước).Như vậy, người dân mà cấp đổi thẻ CCCD sang thẻ căn cước hoặc cấp đổi thẻ căn cước thì sẽ bị thu lại giấy tờ cũ đó.Hiện, chưa có quy định cụ thể về việc xử phạt đối với trường hợp không nộp lại CCCD.Khi đã làm thẻ căn cước thay cho CCCD, thì thẻ cũ không còn giá trị sử dụng.Song theo dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 144/2021/NĐ-CP, hành vi không nộp lại CCCD khi làm thẻ căn cước có thể bị xử phạt tiền từ 300-500 nghìn đồng hoặc phạt cảnh cáo.Ngoài ra, người dân vẫn sử dụng CCCD cũ để thực hiện giao dịch hoặc làm thủ tục hành chính, ký hợp đồng có thể gặp rủi ro về pháp lý. Bởi khi đã làm thẻ căn cước thay cho CCCD, thì thẻ cũ không còn giá trị sử dụng.Xác thực người thi bằng lái xe qua thẻ căn cước gắn chíp để chống thi hộCầm cố, không xuất trình thẻ căn cước bị phạt bao nhiêu tiền?Trường hợp xảy ra tranh chấp với các lý do như CCCD hết hạn, không có giá trị về chứng minh nhân thân, lúc đó giao dịch sẽ gây bất lợi cho người sử dụng, chưa nói đến việc một số đối tượng có thể lợi dụng thông tin trên CCCD để lừa đảo.Cơ quan công an khuyến cáo, để đảm bảo quyền lợi của mình, công dân khi đi làm thủ tục cấp, đổi thẻ căn cước mới cần tự giác nộp lại giấy tờ cũ (CCCD gắn chíp, CCCD, chứng minh nhân dân) và chỉ nên dùng một loại thẻ nhằm thống nhất thông tin, tránh rủi ro.Ngoài ra, theo quy định chuyển tiếp tại Điều 46 Luật Căn cước 2023, công dân sử dụng thẻ CCCD đã cấp trước ngày 1/7 thì được dùng đến hết thời hạn in trên thẻ, cũng có thể yêu cầu cấp đổi sang thẻ căn cước mới nếu muốn. Còn CCCD, chứng minh nhân dân hết hạn sử dụng từ 15/1/2024 đến trước 30/6/2024 thì được sử dụng đến hết ngày 30/6/2024. Chứng minh nhân dân nếu còn hạn sử dụng sau 31/12/2024 thì chỉ sử dụng đến hết 31/12/2024, loại giấy tờ này sẽ không còn giá trị sử dụng từ năm 2025.Đáng chú ý, người đang dùng CCCD, chứng minh nhân dân hết hạn sử dụng từ 15/1 đến trước 30/6 phải thực hiện đổi sang thẻ căn cước mới, nếu không sẽ bị xử phạt hành chính." } ], "id": "593", "is_impossible": false, "question": "Đi làm căn cước mới nhưng cố tình không nộp CCCD cũ có bị phạt?" } ] } ], "title": "Đi làm căn cước mới nhưng cố tình không nộp CCCD cũ có bị phạt?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Xe quá tải, tài xế dương tính với ma túyLiên quan đến vụ tai nạn giao thông khiến 4 mẹ con tử vong, hôm nay (17/7), Công an huyện Hoài Đức, TP Hà Nội cho biết, tài xế xe ben gây tai nạn là Đoàn Văn Lương (38 tuổi, trú huyện Quảng Hòa, Cao Bằng) đã ra trình diện vào đêm 16/7. Qua test nhanh, công an xác định tài xế Lương dương tính với ma túy. Quá trình khám nghiệm hiện trường, điều tra giải quyết tai nạn, cơ quan chức năng xác định xe tải BKS 88C-288.49 (loại 15 tấn) chở quá tải 74%.Hiện trường vụ tai nạn giao thông khiến 4 mẹ con tử vong ở Hà Nội.Theo báo cáo của cơ quan chức năng, khoảng 11h ngày 16/7, tài xế Lương lái xe ben loại 15 tấn mang BKS 88C-288.49 chở vật liệu xây dựng lưu thông trên đường DH05 hướng xã Cát Quế đi xã Minh Khai (huyện Hoài Đức).Khi vừa qua ngã tư giao với đường Ba Chàng (xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức), do xe ben không giảm tốc độ nên phần đầu xe ben đã đâm vào phần thùng xe bên phải của xe tải mang BKS 29C-597.75 chạy cùng chiều do tài xế Lê Văn Ngà (SN 1966, ở Đan Phượng, Hà Nội) điều khiển.Đau xót \"người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh\" trong tang lễ 4 mẹ con tử vong do TNGTVụ tai nạn làm 4 mẹ con tử vong: Xe ben quá tải, tài xế dương tính ma túyCú tông khiến xe tải văng vào xe máy do chị Nguyễn Thị H (32 tuổi, trú huyện Hoài Đức) cầm lái chở theo 3 con nhỏ là các cháu N.T.K.O (13 tuổi), N.T.T.M (11 tuổi) và N.T.S (9 tuổi). Vụ tai nạn khiến 4 mẹ con chị H tử vong tại chỗ, lái xe Lê Văn Ngà bị thương, được đưa đi cấp cứu. Riêng tài xế xe tải BKS 88H-288.49 rời khỏi hiện trường.Dưới góc độ pháp lý, tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, đây là vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, rất thương tâm khi có 4 nạn nhân tử vong, 1 người bị thương.Với diễn biến sự việc như vậy, cơ quan chức năng sẽ làm rõ nguyên nhân vụ tai nạn, xác định người điều khiển phương tiện nào có lỗi để xem xét trách nhiệm pháp lý. Cụ thể, cơ quan chức năng sẽ tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thu thập dữ liệu camera giám sát, camera hành trình, thu thập các dấu vết để lại trên hiện trường, lấy lời khai của những người có liên quan, những người làm chứng để xác định hướng di chuyển của các phương tiện, vị trí của vụ va chạm, khả năng quan sát, điều khiển hành vi của các chủ phương tiện để xác định nguyên nhân của vụ tai nạn, làm cơ sở xác định bên nào có lỗi để xử lý theo quy định của pháp luật.Lái xe tải hay tài xế xe ben phải chịu trách nhiệm?Theo ông Cường, báo cáo ban đầu của cơ quan chức năng cho thấy, người lái xe ben đã thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ dẫn đến vụ tai nạn xảy ra. Hình ảnh hiện trường cũng cho thấy chiếc xe ben đã va vào hông bên phải của chiếc xe tải, khiến chiếc xe tải mất lái va vào chiếc xe máy chở bốn mẹ con làm các nạn nhân này đều tử vong. \"Để kết luận về vấn đề này thì cơ quan chức năng sẽ làm rõ khả năng quan sát của người lái xe ben, tốc độ và làn đường của người này khi vụ va chạm xảy ra. Ngoài ra cũng cần làm rõ hướng di chuyển của chiếc xe tải như thế nào, có phải thuộc trường hợp phóng nhanh vượt ẩu, tạt đầu dẫn đến vụ tai nạn hay không?\", ông Cường phân tích.Tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Theo luật sư Cường, về nguyên tắc thì trong hai tài xế này, người nào có lỗi thì người đó sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. Nếu cả hai bên đều có lỗi thì sẽ đều bị khởi tố về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điều 260 Bộ luật Hình sự.\"Trong vụ tai nạn giao thông này, hướng di chuyển của hai xe ô tô, khả năng quan sát của hai tài xế, tốc độ của hai xe và điểm va chạm là những yếu tố quan trọng để xác định người lái xe nào có lỗi. Người nào có lỗi gây ra vụ tai nạn thì người đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3, Điều 260 Bộ luật Hình sự với hình phạt là phạt tù từ 7-15 năm\", luật sư Cường phân tích.Trường hợp kết quả xác minh cho thấy người điều khiển ô tô tải đã đi đúng phần đường, đúng làn đường, đúng tốc độ, có chú ý quan sát nhưng người lái xe ben đã thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên đã đâm vào sườn của chiếc xe tải dẫn đến vụ tai nạn xảy ra thì sẽ xử lý hình sự người lái xe ben mà không xử lý hình sự người lái xe tải. Bởi trong trường hợp này, người lái xe tải thuộc trường hợp là sự kiện bất ngờ. Còn trường hợp nếu kết quả xác minh cho thấy người lái xe ben đi đúng làn đường, đúng tốc độ, có chú ý quan sát những người xe tải phóng nhanh vượt ẩu, tạt đầu xe ben dẫn đến vụ tai nạn xảy ra thì người xe tải sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Hiện vụ tai nạn khiến 4 mẹ con tử vong ở Hà Nội đang được cơ quan chức năng điều tra, làm rõ.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1147, "text": "Xe ben quá tải, tài xế dương tính ma túyCú tông khiến xe tải văng vào xe máy do chị Nguyễn Thị H (32 tuổi, trú huyện Hoài Đức) cầm lái chở theo 3 con nhỏ là các cháu N.T.K.O (13 tuổi), N.T.T.M (11 tuổi) và N.T.S (9 tuổi). Vụ tai nạn khiến 4 mẹ con chị H tử vong tại chỗ, lái xe Lê Văn Ngà bị thương, được đưa đi cấp cứu. Riêng tài xế xe tải BKS 88H-288.49 rời khỏi hiện trường.Dưới góc độ pháp lý, tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, đây là vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, rất thương tâm khi có 4 nạn nhân tử vong, 1 người bị thương.Với diễn biến sự việc như vậy, cơ quan chức năng sẽ làm rõ nguyên nhân vụ tai nạn, xác định người điều khiển phương tiện nào có lỗi để xem xét trách nhiệm pháp lý. Cụ thể, cơ quan chức năng sẽ tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thu thập dữ liệu camera giám sát, camera hành trình, thu thập các dấu vết để lại trên hiện trường, lấy lời khai của những người có liên quan, những người làm chứng để xác định hướng di chuyển của các phương tiện, vị trí của vụ va chạm, khả năng quan sát, điều khiển hành vi của các chủ phương tiện để xác định nguyên nhân của vụ tai nạn, làm cơ sở xác định bên nào có lỗi để xử lý theo quy định của pháp luật.Lái xe tải hay tài xế xe ben phải chịu trách nhiệm?Theo ông Cường, báo cáo ban đầu của cơ quan chức năng cho thấy, người lái xe ben đã thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ dẫn đến vụ tai nạn xảy ra. Hình ảnh hiện trường cũng cho thấy chiếc xe ben đã va vào hông bên phải của chiếc xe tải, khiến chiếc xe tải mất lái va vào chiếc xe máy chở bốn mẹ con làm các nạn nhân này đều tử vong. \"Để kết luận về vấn đề này thì cơ quan chức năng sẽ làm rõ khả năng quan sát của người lái xe ben, tốc độ và làn đường của người này khi vụ va chạm xảy ra. Ngoài ra cũng cần làm rõ hướng di chuyển của chiếc xe tải như thế nào, có phải thuộc trường hợp phóng nhanh vượt ẩu, tạt đầu dẫn đến vụ tai nạn hay không?\", ông Cường phân tích.Tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Theo luật sư Cường, về nguyên tắc thì trong hai tài xế này, người nào có lỗi thì người đó sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. Nếu cả hai bên đều có lỗi thì sẽ đều bị khởi tố về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điều 260 Bộ luật Hình sự.\"Trong vụ tai nạn giao thông này, hướng di chuyển của hai xe ô tô, khả năng quan sát của hai tài xế, tốc độ của hai xe và điểm va chạm là những yếu tố quan trọng để xác định người lái xe nào có lỗi. Người nào có lỗi gây ra vụ tai nạn thì người đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3, Điều 260 Bộ luật Hình sự với hình phạt là phạt tù từ 7-15 năm\", luật sư Cường phân tích.Trường hợp kết quả xác minh cho thấy người điều khiển ô tô tải đã đi đúng phần đường, đúng làn đường, đúng tốc độ, có chú ý quan sát nhưng người lái xe ben đã thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên đã đâm vào sườn của chiếc xe tải dẫn đến vụ tai nạn xảy ra thì sẽ xử lý hình sự người lái xe ben mà không xử lý hình sự người lái xe tải. Bởi trong trường hợp này, người lái xe tải thuộc trường hợp là sự kiện bất ngờ. Còn trường hợp nếu kết quả xác minh cho thấy người lái xe ben đi đúng làn đường, đúng tốc độ, có chú ý quan sát những người xe tải phóng nhanh vượt ẩu, tạt đầu xe ben dẫn đến vụ tai nạn xảy ra thì người xe tải sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Hiện vụ tai nạn khiến 4 mẹ con tử vong ở Hà Nội đang được cơ quan chức năng điều tra, làm rõ." } ], "id": "594", "is_impossible": false, "question": "Tình huống pháp lý trong vụ tai nạn giao thông khiến 4 mẹ con tử vong" } ] } ], "title": "Tình huống pháp lý trong vụ tai nạn giao thông khiến 4 mẹ con tử vong" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Công ty của ông Vũ Tuấn Anh dự định mở rộng diện tích nhà xưởng (công trình cấp III), phần mở rộng có liên kết kết cấu với nhà cũ. Ông hỏi, khi thực hiện các thủ tục hành chính về xây dựng có yêu cầu phải kiểm định an toàn chịu lực của kết cấu nhà xưởng cũ hay không? Khi tiến hành cải tạo, sửa chữa, nâng cấp công trình cần thực hiện các bước như khảo sát, thiết kế, thẩm định thiết kế, cấp phép xây dựng… Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Khi tiến hành cải tạo, sửa chữa, nâng cấp công trình cần thực hiện các bước như khảo sát, thiết kế, thẩm định thiết kế, cấp phép xây dựng, thực hiện theo giấy phép xây dựng, quản lý chất lượng trong quá trình thi công xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng để bảo đảm các yêu cầu về an toàn công trình. Tùy thuộc vào đặc điểm, tình trạng chất lượng thực tế của công trình, khi cần có cơ sở cho việc cải tạo, sửa chữa, nâng cấp công trình thì tổ chức kiểm định xây dựng theo quy định tại Điều 5, Khoản 5 Điều 33 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng. Trình tự tổ chức kiểm định xây dựng theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 10/2021/TT-BXD ngày 25/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số điều và biện pháp thi hành Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 và Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 460, "text": "Khi tiến hành cải tạo, sửa chữa, nâng cấp công trình cần thực hiện các bước như khảo sát, thiết kế, thẩm định thiết kế, cấp phép xây dựng, thực hiện theo giấy phép xây dựng, quản lý chất lượng trong quá trình thi công xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng để bảo đảm các yêu cầu về an toàn công trình. Tùy thuộc vào đặc điểm, tình trạng chất lượng thực tế của công trình, khi cần có cơ sở cho việc cải tạo, sửa chữa, nâng cấp công trình thì tổ chức kiểm định xây dựng theo quy định tại Điều 5, Khoản 5 Điều 33 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng. Trình tự tổ chức kiểm định xây dựng theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 10/2021/TT-BXD ngày 25/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số điều và biện pháp thi hành Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 và Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ." } ], "id": "595", "is_impossible": false, "question": "Mở rộng nhà xưởng có phải kiểm định an toàn chịu lực?" } ] } ], "title": "Mở rộng nhà xưởng có phải kiểm định an toàn chịu lực?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Trường hợp sử dụng thiết kế mẫu, thiết kế điển hình do cơ quan có thẩm quyền ban hành; thiết kế công trình lặp lại trong một cụm công trình hoặc trong một dự án hoặc sử dụng lại thiết kế, chi phí thiết kế xác định theo quy định tại Điểm 3.5 Mục 3 Chương II Phần II Phụ lục số VIII Thông tư số 12/2021/TT-BXD. Chi phí thiết kế xác định theo quy định tại Điểm 3.5 Mục 3 Chương II Phần II Phụ lục số VIII Thông tư số 12/2021/TT-BXD. Định mức chi phí tư vấn đầu tư xây dựng quy định, trường hợp sử dụng thiết kế mẫu, thiết kế điển hình do cơ quan có thẩm quyền ban hành; thiết kế công trình lặp lại trong một cụm công trình hoặc trong một dự án hoặc sử dụng lại thiết kế: Công trình thứ nhất: k = 1 (không điều chỉnh); công trình thứ hai: k = 0,36; công trình thứ ba trở đi: k = 0,18. Cụm công trình đơn vị ông Thái Bá Vượng (Hà Nội) đang quản lý bao gồm 2 đập tràn số 1 và số 2. Ông Thái Bá Vượng hỏi, việc thiết kế công trình lặp lại đối với đập tràn số 2 áp dụng hệ số k = 1 hay k = 0,36? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc áp dụng quy định pháp luật về xây dựng tương ứng với thời điểm thực hiện dự án đầu tư xây dựng. Hiện nay, đối với các dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công, dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (dự án PPP) thì việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng thực hiện theo Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng thực hiện theo Điều 31 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP, Phụ lục số VIII Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về ban hành định mức xây dựng. Chi phí thiết kế xây dựng xác định theo Mục 3 Chương II Phần II Phụ lục số VIII Thông tư số 12/2021/TT-BXD. Trường hợp sử dụng thiết kế mẫu, thiết kế điển hình do cơ quan có thẩm quyền ban hành; thiết kế công trình lặp lại trong một cụm công trình hoặc trong một dự án hoặc sử dụng lại thiết kế, chi phí thiết kế xác định theo quy định tại Điểm 3.5 Mục 3 Chương II Phần II Phụ lục số VIII Thông tư số 12/2021/TT-BXD. Trường hợp áp dụng định mức chi phí tư vấn thiết kế xây dựng không phù hợp thì chi phí tư vấn thiết kế được xác định bằng dự toán chi phí theo Phụ lục VI Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 681, "text": "Công trình thứ nhất: k = 1 (không điều chỉnh); công trình thứ hai: k = 0,36; công trình thứ ba trở đi: k = 0,18. Cụm công trình đơn vị ông Thái Bá Vượng (Hà Nội) đang quản lý bao gồm 2 đập tràn số 1 và số 2. Ông Thái Bá Vượng hỏi, việc thiết kế công trình lặp lại đối với đập tràn số 2 áp dụng hệ số k = 1 hay k = 0,36? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc áp dụng quy định pháp luật về xây dựng tương ứng với thời điểm thực hiện dự án đầu tư xây dựng. Hiện nay, đối với các dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công, dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (dự án PPP) thì việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng thực hiện theo Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng thực hiện theo Điều 31 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP, Phụ lục số VIII Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về ban hành định mức xây dựng. Chi phí thiết kế xây dựng xác định theo Mục 3 Chương II Phần II Phụ lục số VIII Thông tư số 12/2021/TT-BXD. Trường hợp sử dụng thiết kế mẫu, thiết kế điển hình do cơ quan có thẩm quyền ban hành; thiết kế công trình lặp lại trong một cụm công trình hoặc trong một dự án hoặc sử dụng lại thiết kế, chi phí thiết kế xác định theo quy định tại Điểm 3.5 Mục 3 Chương II Phần II Phụ lục số VIII Thông tư số 12/2021/TT-BXD. Trường hợp áp dụng định mức chi phí tư vấn thiết kế xây dựng không phù hợp thì chi phí tư vấn thiết kế được xác định bằng dự toán chi phí theo Phụ lục VI Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng." } ], "id": "596", "is_impossible": false, "question": "Công trình có thiết kế lặp lại, tính chi phí thiết kế thế nào?" } ] } ], "title": "Công trình có thiết kế lặp lại, tính chi phí thiết kế thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Quy định hiện hành về cấp giấy phép xây dựng đã có các quy định mở thay vì chỉ phụ thuộc vào quy hoạch chi tiết được duyệt. Đối với khu vực chưa có quy hoạch xây dựng thì quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành khác có liên quan hoặc thiết kế đô thị hoặc quy chế quản lý kiến trúc hoặc văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là cơ sở để xem xét cấp giấy phép xây dựng. Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp kiến nghị Bộ Xây dựng tham mưu Chính phủ trình Quốc hội xem xét sửa đổi quy định điều kiện cấp giấy phép xây dựng được quy định tại Luật Xây dựng năm 2014 cho phù hợp với thực tế. Hiện nay, quy định về điều kiện cấp giấy phép xây dựng là phải phù hợp quy hoạch chi tiết xây dựng được duyệt hoặc quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị, do đó rất khó thực hiện bởi vì để phủ kín 100% quy hoạch chi tiết phải có lộ trình và phụ thuộc rất lớn vào nguồn lực của địa phương. Nếu chờ phải có quy hoạch chi tiết mới cấp phép xây dựng sẽ làm trì trệ phát triển kinh tế - xã hội và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người dân. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng trả lời Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp như sau: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 91 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 39 Luật Kiến trúc số 40/2019/QH14 thì một trong các điều kiện cấp giấy phép xây dựng là \"Phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Đối với công trình xây dựng ở khu vực, tuyến phố trong đô thị đã ổn định nhưng chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng thì phải phù hợp với quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị hoặc thiết kế đô thị được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành\". Quy định này đã được Chính phủ hướng dẫn thực hiện tại Khoản 2 Điều 41 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP và quy định tại Khoản 12 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng hướng dẫn xác định điều kiện phù hợp với quy hoạch trong một số trường hợp: \"a) Đối với khu vực đã có quy hoạch xây dựng và theo quy định, dự án đầu tư xây dựng phải phù hợp với quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành khác thì quy hoạch xây dựng và quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành này là cơ sở để xem xét cấp giấy phép xây dựng. b) Đối với khu vực chưa có quy hoạch xây dựng thì quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành khác có liên quan hoặc thiết kế đô thị hoặc quy chế quản lý kiến trúc hoặc văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận về vị trí và tổng mặt bằng (đối với công trình không theo tuyến ngoài đô thị) là cơ sở để xem xét cấp giấy phép xây dựng\". Như vậy, quy định hiện hành về cấp giấy phép xây dựng đã có các quy định mở thay vì chỉ phụ thuộc vào quy hoạch chi tiết được duyệt. Bộ Xây dựng xin ghi nhận ý kiến để nghiên cứu trong quá trình sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 15/2021/NĐ-CP (dự kiến trình Chính phủ trong tháng 7/2024).", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1130, "text": "Theo quy định tại Khoản 1 Điều 91 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 39 Luật Kiến trúc số 40/2019/QH14 thì một trong các điều kiện cấp giấy phép xây dựng là \"Phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Đối với công trình xây dựng ở khu vực, tuyến phố trong đô thị đã ổn định nhưng chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng thì phải phù hợp với quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị hoặc thiết kế đô thị được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành\". Quy định này đã được Chính phủ hướng dẫn thực hiện tại Khoản 2 Điều 41 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP và quy định tại Khoản 12 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng hướng dẫn xác định điều kiện phù hợp với quy hoạch trong một số trường hợp: \"a) Đối với khu vực đã có quy hoạch xây dựng và theo quy định, dự án đầu tư xây dựng phải phù hợp với quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành khác thì quy hoạch xây dựng và quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành này là cơ sở để xem xét cấp giấy phép xây dựng. b) Đối với khu vực chưa có quy hoạch xây dựng thì quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành khác có liên quan hoặc thiết kế đô thị hoặc quy chế quản lý kiến trúc hoặc văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận về vị trí và tổng mặt bằng (đối với công trình không theo tuyến ngoài đô thị) là cơ sở để xem xét cấp giấy phép xây dựng\". Như vậy, quy định hiện hành về cấp giấy phép xây dựng đã có các quy định mở thay vì chỉ phụ thuộc vào quy hoạch chi tiết được duyệt. Bộ Xây dựng xin ghi nhận ý kiến để nghiên cứu trong quá trình sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 15/2021/NĐ-CP (dự kiến trình Chính phủ trong tháng 7/2024)." } ], "id": "597", "is_impossible": false, "question": "Quy định mở về cấp giấy phép xây dựng" } ] } ], "title": "Quy định mở về cấp giấy phép xây dựng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo quy định, CSGT được quyền dừng xe trên cao tốc để kiểm soát giao thông, xử lý vi phạm nếu trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị nghiệp vụ phát hiện, ghi thu được các hành vi vi phạm xảy ra trên cao tốc.Thực hiện theo mệnh lệnh, kế hoạch tổng kiểm soát phương tiện, kế hoạch tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm theo chuyên đề đã được phê duyệt. Cụ thể ở đây là kế hoạch tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên tuyến đường cao tốc.Thực hiện theo văn bản đề nghị của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra; cơ quan chức năng về dừng phương tiện trên cao tốc để kiểm soát nhằm bảo đảm an ninh, trật tự, đấu tranh phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác.Hoặc CSGT nhận được tin báo, phản ánh, kiến nghị, tố cáo về hành vi vi phạm của người và phương tiện giao thông trên cao tốc.Theo Thông tư 32 của Bộ Công an, CSGT khi dừng, kiểm soát phương tiện giao thông chỉ được dừng ở trạm thu phí, điểm đầu hoặc điểm cuối đường cao tốc.CSGT chỉ được dừng phương tiện ở làn dừng khẩn cấp khi phát hiện vi phạm trật tự, an toàn giao thông nghiêm trọng, nguy cơ gây mất an toàn giao thông tức thời; phối hợp đấu tranh phòng chống tội phạm; tin báo, tố giác về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện giao thông đang lưu thông trên đường cao tốc; phát hiện phương tiện giao thông dừng, đỗ trên cao tốc không đúng quy định.Khi dừng xe, kiểm soát trên cao tốc, CSGT cũng cần lưu ý phải đặt rào chắn bằng các cọc tiêu hình chóp nón hoặc dây căng dọc theo chiều đường ở phần đường, làn đường sát lề đường để hình thành khu vực bảo đảm trật tự, an toàn giao thông. Chiều dài đoạn rào chắn tối thiểu 100m đối với đường cao tốc.Trường hợp kiểm soát trên đường cao tốc, phải đặt biển báo số 245a \"Đi chậm\" hoặc biển báo số 245b (đối với tuyến đường đối ngoại) về phía trước tổ CSGT theo hướng phương tiện giao thông cần kiểm soát đi tới.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Theo quy định, CSGT được quyền dừng xe trên cao tốc để kiểm soát giao thông, xử lý vi phạm nếu trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị nghiệp vụ phát hiện, ghi thu được các hành vi vi phạm xảy ra trên cao tốc.Thực hiện theo mệnh lệnh, kế hoạch tổng kiểm soát phương tiện, kế hoạch tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm theo chuyên đề đã được phê duyệt. Cụ thể ở đây là kế hoạch tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên tuyến đường cao tốc.Thực hiện theo văn bản đề nghị của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra; cơ quan chức năng về dừng phương tiện trên cao tốc để kiểm soát nhằm bảo đảm an ninh, trật tự, đấu tranh phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác.Hoặc CSGT nhận được tin báo, phản ánh, kiến nghị, tố cáo về hành vi vi phạm của người và phương tiện giao thông trên cao tốc.Theo Thông tư 32 của Bộ Công an, CSGT khi dừng, kiểm soát phương tiện giao thông chỉ được dừng ở trạm thu phí, điểm đầu hoặc điểm cuối đường cao tốc.CSGT chỉ được dừng phương tiện ở làn dừng khẩn cấp khi phát hiện vi phạm trật tự, an toàn giao thông nghiêm trọng, nguy cơ gây mất an toàn giao thông tức thời; phối hợp đấu tranh phòng chống tội phạm; tin báo, tố giác về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện giao thông đang lưu thông trên đường cao tốc; phát hiện phương tiện giao thông dừng, đỗ trên cao tốc không đúng quy định.Khi dừng xe, kiểm soát trên cao tốc, CSGT cũng cần lưu ý phải đặt rào chắn bằng các cọc tiêu hình chóp nón hoặc dây căng dọc theo chiều đường ở phần đường, làn đường sát lề đường để hình thành khu vực bảo đảm trật tự, an toàn giao thông. Chiều dài đoạn rào chắn tối thiểu 100m đối với đường cao tốc.Trường hợp kiểm soát trên đường cao tốc, phải đặt biển báo số 245a \"Đi chậm\" hoặc biển báo số 245b (đối với tuyến đường đối ngoại) về phía trước tổ CSGT theo hướng phương tiện giao thông cần kiểm soát đi tới." } ], "id": "598", "is_impossible": false, "question": "CSGT được dừng xe trên cao tốc khi nào?" } ] } ], "title": "CSGT được dừng xe trên cao tốc khi nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Việc xác định giá thiết bị để tính toán chi phí thiết bị trong tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng công trình, dự toán gói thầu xây dựng phải phù hợp với thời điểm tính toán, xác định. Ảnh minh họa. Công ty ông Trần Quốc Quan đang thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, sử dụng nguồn vốn Nhà nước ngoài đầu tư công theo quy định của Luật Xây dựng. Sau khi các dự án được cấp thẩm quyền phê duyệt hồ sơ báo cáo nghiên cứu khả thi – đầu tư xây dựng hoặc hồ sơ báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng hoặc hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công – dự toán thì công ty ông Quan tổng hợp các vật tư thiết bị thuộc nhiều dự án để lập dự toán mua sắm vật tư thiết bị tập trung. Theo quy định của Bộ Xây dựng, việc xác định giá thiết bị được quy định tại Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 (đã được sửa đổi bổ sung một số điều tại Thông tư số 14/2023/TT-BXD ngày 29/12/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng) thì lựa chọn giá thiết bị theo nguyên tắc lựa chọn giá thấp nhất từ các nguồn thông tin sau: Báo giá của nhà sản xuất, nhà cung cấp có đăng ký, được cấp phép kinh doanh theo quy định…; Giá thiết bị trong hồ sơ quyết toán; Giá thiết bị trong hợp đồng cung cấp thiết bị đã được ký kết; Giá thiết bị trong dự toán xây dựng được duyệt; Giá nêu trong chứng thư thẩm định giá do đơn vị đủ điều kiện năng lực thẩm định giá theo quy định phát hành. Khi lập tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng công ty ông Quan tuân thủ theo nguyên tắc nêu trên, đa số nguồn thông tin được lựa chọn là giá vật tư thiết bị trong hợp đồng cung cấp thiết bị vì có giá vật tư thiết bị thấp nhất. Khi lập dự toán mua sắm vật tư thiết bị tập trung, công ty lấy báo giá vật tư thiết bị của các nhà sản xuất, nhà cung cấp tại thời điểm lập dự toán mua sắm tập trung căn cứ theo số lượng đã tổng hợp từ các dự án cần mua sắm (quy cách, chủng loại, nhãn mác, tiêu chuẩn, quy chuẩn, thông số kỹ thuật,… không thay đổi so với các nội dung đã được phê duyệt từ các dự án). Dự toán mua sắm tập trung được lập trên cơ sở đơn giá vật tư thiết bị thấp nhất từ các báo giá này và các đơn giá vật tư thiết bị này cao hơn các đơn giá trong tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng được duyệt. Ông Quan hỏi, như vậy, dự toán mua sắm tập trung được lập có phù hợp với quy định hiện hành của Bộ Xây dựng về lựa chọn giá thiết bị theo nguyên tắc lựa chọn giá thấp nhất không? Trường hợp dự toán mua sắm tập trung đã được lập theo nguyên tắc lựa chọn giá thấp nhất từ các nguồn thông tin về giá vật tư thiết bị nhưng khi tổ chức đấu thầu thì các nhà thầu tham gia dự thầu đều chào vượt giá gói thầu (các nhà thầu này đã đáp ứng yêu cầu kỹ thuật hồ sơ mời thầu), vậy, khi lập dự toán gói thầu điều chỉnh chủ đầu tư có được căn cứ theo giá dự thầu (sau sửa lỗi hiệu chỉnh sai lệch, trừ đi giá trị giảm giá) của tất cả các nhà thầu tham gia dự thầu đã đáp ứng về kỹ thuật để lập dự toán điều chỉnh hay không? Trường hợp cần điều chỉnh giá gói thầu theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 24/2024/NĐ-CP: lấy giá trung bình của các báo giá. Theo quy định tại Nghị định số 10/2021/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì: Đối với dự án đã được phê duyệt dự toán xây dựng công trình, chủ đầu tư tự xác định dự toán gói thầu trên cơ sở các khoản mục chi phí thuộc phạm vi của gói thầu trong dự toán xây dựng công trình được duyệt nếu cần thiết (quy định tại Khoản 4 Điều 17 xác định dự toán gói thầu). Chủ đầu tư phê duyệt dự toán gói thầu để thay thế giá gói thầu trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu (quy định tại Khoản 2 Điều 18). Theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 11/2021/TT-BXD, việc xác định dự toán gói thầu có: Cập nhật khối lượng, đơn giá, giá các yếu tố chi phí phù hợp với giá thị trường khu vực xây dựng công trình,… Dự toán gói thầu được xác định trên cơ sở dự toán xây dựng công trình được duyệt. Như vậy đơn giá vật tư thiết bị trong dự toán gói thầu được xác định trên cơ sở dự toán xây dựng công trình được duyệt là đơn giá thấp nhất. Ông Quan hỏi, việc cập nhật đơn giá vật tư thiết bị trong dự toán gói thầu theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 11/2021/TT-BXD có theo nguyên tắc lựa chọn giá thấp nhất không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Quy định, hướng dẫn xác định giá thiết bị tại Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 14/2023/TT-BXD ngày 29/12/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng) áp dụng trong việc xác định, điều chỉnh tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng công trình, dự toán gói thầu xây dựng. Việc xác định giá thiết bị để tính toán chi phí thiết bị trong tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng công trình, dự toán gói thầu xây dựng phải phù hợp với thời điểm tính toán, xác định. Việc lập dự toán mua sắm tập trung, xác định giá gói thầu, lựa chọn nhà thầu thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu và các quy định của pháp luật có liên quan khác. Đề nghị ông Quan nghiên cứu các nội dung, quy định nêu trên để thực hiện phù hợp với trường hợp, điều kiện cụ thể.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1075, "text": "Báo giá của nhà sản xuất, nhà cung cấp có đăng ký, được cấp phép kinh doanh theo quy định…; Giá thiết bị trong hồ sơ quyết toán; Giá thiết bị trong hợp đồng cung cấp thiết bị đã được ký kết; Giá thiết bị trong dự toán xây dựng được duyệt; Giá nêu trong chứng thư thẩm định giá do đơn vị đủ điều kiện năng lực thẩm định giá theo quy định phát hành. Khi lập tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng công ty ông Quan tuân thủ theo nguyên tắc nêu trên, đa số nguồn thông tin được lựa chọn là giá vật tư thiết bị trong hợp đồng cung cấp thiết bị vì có giá vật tư thiết bị thấp nhất. Khi lập dự toán mua sắm vật tư thiết bị tập trung, công ty lấy báo giá vật tư thiết bị của các nhà sản xuất, nhà cung cấp tại thời điểm lập dự toán mua sắm tập trung căn cứ theo số lượng đã tổng hợp từ các dự án cần mua sắm (quy cách, chủng loại, nhãn mác, tiêu chuẩn, quy chuẩn, thông số kỹ thuật,… không thay đổi so với các nội dung đã được phê duyệt từ các dự án). Dự toán mua sắm tập trung được lập trên cơ sở đơn giá vật tư thiết bị thấp nhất từ các báo giá này và các đơn giá vật tư thiết bị này cao hơn các đơn giá trong tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng được duyệt. Ông Quan hỏi, như vậy, dự toán mua sắm tập trung được lập có phù hợp với quy định hiện hành của Bộ Xây dựng về lựa chọn giá thiết bị theo nguyên tắc lựa chọn giá thấp nhất không? Trường hợp dự toán mua sắm tập trung đã được lập theo nguyên tắc lựa chọn giá thấp nhất từ các nguồn thông tin về giá vật tư thiết bị nhưng khi tổ chức đấu thầu thì các nhà thầu tham gia dự thầu đều chào vượt giá gói thầu (các nhà thầu này đã đáp ứng yêu cầu kỹ thuật hồ sơ mời thầu), vậy, khi lập dự toán gói thầu điều chỉnh chủ đầu tư có được căn cứ theo giá dự thầu (sau sửa lỗi hiệu chỉnh sai lệch, trừ đi giá trị giảm giá) của tất cả các nhà thầu tham gia dự thầu đã đáp ứng về kỹ thuật để lập dự toán điều chỉnh hay không? Trường hợp cần điều chỉnh giá gói thầu theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 24/2024/NĐ-CP: lấy giá trung bình của các báo giá. Theo quy định tại Nghị định số 10/2021/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì: Đối với dự án đã được phê duyệt dự toán xây dựng công trình, chủ đầu tư tự xác định dự toán gói thầu trên cơ sở các khoản mục chi phí thuộc phạm vi của gói thầu trong dự toán xây dựng công trình được duyệt nếu cần thiết (quy định tại Khoản 4 Điều 17 xác định dự toán gói thầu). Chủ đầu tư phê duyệt dự toán gói thầu để thay thế giá gói thầu trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu (quy định tại Khoản 2 Điều 18). Theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 11/2021/TT-BXD, việc xác định dự toán gói thầu có: Cập nhật khối lượng, đơn giá, giá các yếu tố chi phí phù hợp với giá thị trường khu vực xây dựng công trình,… Dự toán gói thầu được xác định trên cơ sở dự toán xây dựng công trình được duyệt. Như vậy đơn giá vật tư thiết bị trong dự toán gói thầu được xác định trên cơ sở dự toán xây dựng công trình được duyệt là đơn giá thấp nhất. Ông Quan hỏi, việc cập nhật đơn giá vật tư thiết bị trong dự toán gói thầu theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 11/2021/TT-BXD có theo nguyên tắc lựa chọn giá thấp nhất không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Quy định, hướng dẫn xác định giá thiết bị tại Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 14/2023/TT-BXD ngày 29/12/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng) áp dụng trong việc xác định, điều chỉnh tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng công trình, dự toán gói thầu xây dựng. Việc xác định giá thiết bị để tính toán chi phí thiết bị trong tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng công trình, dự toán gói thầu xây dựng phải phù hợp với thời điểm tính toán, xác định. Việc lập dự toán mua sắm tập trung, xác định giá gói thầu, lựa chọn nhà thầu thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu và các quy định của pháp luật có liên quan khác. Đề nghị ông Quan nghiên cứu các nội dung, quy định nêu trên để thực hiện phù hợp với trường hợp, điều kiện cụ thể." } ], "id": "599", "is_impossible": false, "question": "Hướng dẫn xác định giá thiết bị khi lập dự toán xây dựng" } ] } ], "title": "Hướng dẫn xác định giá thiết bị khi lập dự toán xây dựng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "(Xây dựng) - Theo phản ánh của cử tri tỉnh Thái Bình, mẫu số 03 xác nhận về đối tượng và thực trạng nhà ở đối với các đối tượng quy định tại Khoản 5, 6, 7 Điều 49 Luật Nhà ở năm 2014 ban hành kèm theo Thông tư số 09/2021/TT-BXD là không phù hợp. Mẫu giấy xác nhận nêu trên gây khó khăn cho người lao động làm việc tại các doanh nghiệp khi xin xác nhận mình thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội vì chủ doanh nghiệp không đủ khả năng và thẩm quyền để xác minh được các nội dung quy định tại mẫu số 03 này. Mẫu giấy xác nhận nêu trên gây khó khăn cho người lao động làm việc tại các doanh nghiệp khi xin xác nhận mình thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội vì chủ doanh nghiệp không đủ khả năng và thẩm quyền để xác minh được các nội dung quy định tại mẫu số 03 này. Cử tri đề nghị Bộ Xây dựng xem xét, nghiên cứu, chỉnh sửa cho phù hợp. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng trả lời cử tri như sau: Các đối tượng quy định tại Khoản 5, 6, 7 Điều 49 Luật Nhà ở năm 2014 cụ thể là: - Người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp (Khoản 5 Điều 49); - Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân (Khoản 6 Điều 49); - Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức (Khoản 7 Điều 49). Để được mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội thì các đối tượng quy định tại Khoản 5, 6, 7 Điều 49 Luật Nhà ở năm 2014 phải đáp ứng các điều kiện về nhà ở, cư trú và thu nhập (Khoản 1 Điều 51 Luật Nhà ở năm 2014). Theo quy định tại Khoản 16 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội thì các đối tượng quy định tại Khoản 5, 6, 7 Điều 49 Luật Nhà ở năm 2014 chưa được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội khi đề nghị hỗ trợ nhà ở xã hội phải có: - Đơn đề nghị hỗ trợ nhà ở theo mẫu số 01 Phụ lục I Thông tư số 09/2021/TT-BXD ngày 16/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng; - Xác nhận về đối tượng do cơ quan nơi đang làm việc về đối tượng; - Xác nhận về thực trạng nhà ở và chưa được hỗ trợ nhà ở, đất ở của UBND cấp xã nơi có đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú từ một năm trở lên nếu có thường trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác. Mẫu giấy xác nhận về đối tượng và thực trạng nhà ở theo mẫu số 03 Phụ lục I Thông tư số 09/2021/TT-BXD ngày 16/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng. - Giấy tờ chứng minh về điều kiện cư trú. Sẽ có mẫu giấy mới về xác nhận đối tượng, điều kiện hưởng chính sách nhà ở xã hội Ngày 27/11/2023, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/8/2024. Theo đó quy định các điều kiện để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội đơn giản hơn, thuận tiện hơn, cụ thể như sau: Để được mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội thì các đối tượng quy định tại Khoản 6, 7 và 8 Luật Nhà ở năm 2023, cụ thể là: Công nhân, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân công an, công chức, công nhân và viên chức quốc phòng đang phục vụ tại ngũ; người làm công tác cơ yếu, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách Nhà nước đang công tác; cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức phải đáp ứng các điều kiện sau: - Điều kiện về nhà ở: chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó, chưa được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội, chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở dưới mọi hình thức tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó hoặc có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn mức diện tích nhà ở tối thiểu (tại Điểm a Khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023); - Điều kiện về thu nhập: phải đáp ứng điều kiện về thu nhập theo quy định của Chính phủ. Trường hợp các đối tượng này thuê nhà ở xã hội thì không phải đáp ứng điều kiện về nhà ở và thu nhập. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang hoàn thiện, trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội, trong đó, cụ thể hóa các quy định về điều kiện được hưởng chính sách nhà ở xã hội (trong đó có các đối tượng quy định tại Khoản 6, 7 và 8 Luật Nhà ở năm 2023). Dự kiến Nghị định sẽ có hiệu lực từ ngày 1/8/2024, đồng bộ với Luật Nhà ở năm 2023 sau khi được cơ quan có thẩm quyền thông qua. Bộ Xây dựng cũng đang hoàn thiện Thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở (trong đó có quy định về mẫu giấy xác nhận đối tượng và điều kiện để được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội), đảm bảo hiệu lực đồng bộ với Luật Nhà ở năm 2023.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 932, "text": "Các đối tượng quy định tại Khoản 5, 6, 7 Điều 49 Luật Nhà ở năm 2014 cụ thể là: - Người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp (Khoản 5 Điều 49); - Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân (Khoản 6 Điều 49); - Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức (Khoản 7 Điều 49). Để được mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội thì các đối tượng quy định tại Khoản 5, 6, 7 Điều 49 Luật Nhà ở năm 2014 phải đáp ứng các điều kiện về nhà ở, cư trú và thu nhập (Khoản 1 Điều 51 Luật Nhà ở năm 2014). Theo quy định tại Khoản 16 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội thì các đối tượng quy định tại Khoản 5, 6, 7 Điều 49 Luật Nhà ở năm 2014 chưa được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội khi đề nghị hỗ trợ nhà ở xã hội phải có: - Đơn đề nghị hỗ trợ nhà ở theo mẫu số 01 Phụ lục I Thông tư số 09/2021/TT-BXD ngày 16/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng; - Xác nhận về đối tượng do cơ quan nơi đang làm việc về đối tượng; - Xác nhận về thực trạng nhà ở và chưa được hỗ trợ nhà ở, đất ở của UBND cấp xã nơi có đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú từ một năm trở lên nếu có thường trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác. Mẫu giấy xác nhận về đối tượng và thực trạng nhà ở theo mẫu số 03 Phụ lục I Thông tư số 09/2021/TT-BXD ngày 16/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng. - Giấy tờ chứng minh về điều kiện cư trú. Sẽ có mẫu giấy mới về xác nhận đối tượng, điều kiện hưởng chính sách nhà ở xã hội Ngày 27/11/2023, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/8/2024. Theo đó quy định các điều kiện để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội đơn giản hơn, thuận tiện hơn, cụ thể như sau: Để được mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội thì các đối tượng quy định tại Khoản 6, 7 và 8 Luật Nhà ở năm 2023, cụ thể là: Công nhân, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân công an, công chức, công nhân và viên chức quốc phòng đang phục vụ tại ngũ; người làm công tác cơ yếu, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách Nhà nước đang công tác; cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức phải đáp ứng các điều kiện sau: - Điều kiện về nhà ở: chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó, chưa được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội, chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở dưới mọi hình thức tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó hoặc có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn mức diện tích nhà ở tối thiểu (tại Điểm a Khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023); - Điều kiện về thu nhập: phải đáp ứng điều kiện về thu nhập theo quy định của Chính phủ. Trường hợp các đối tượng này thuê nhà ở xã hội thì không phải đáp ứng điều kiện về nhà ở và thu nhập. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang hoàn thiện, trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội, trong đó, cụ thể hóa các quy định về điều kiện được hưởng chính sách nhà ở xã hội (trong đó có các đối tượng quy định tại Khoản 6, 7 và 8 Luật Nhà ở năm 2023). Dự kiến Nghị định sẽ có hiệu lực từ ngày 1/8/2024, đồng bộ với Luật Nhà ở năm 2023 sau khi được cơ quan có thẩm quyền thông qua. Bộ Xây dựng cũng đang hoàn thiện Thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở (trong đó có quy định về mẫu giấy xác nhận đối tượng và điều kiện để được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội), đảm bảo hiệu lực đồng bộ với Luật Nhà ở năm 2023." } ], "id": "600", "is_impossible": false, "question": "Điều kiện mua nhà ở xã hội sẽ đơn giản, thuận tiện hơn" } ] } ], "title": "Điều kiện mua nhà ở xã hội sẽ đơn giản, thuận tiện hơn" }