version
stringclasses 1
value | data
dict |
|---|---|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Dự thảo Luật Căn cước công dân đã được Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII. Sau khi Luật Căn cước công dân được Quốc hội thông qua, công dân sẽ được cấp thẻ Căn cước công dân (có đầy đủ thông tin về họ, tên khai sinh và họ, tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc - được tích hợp từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư), là loại giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân mà không cần phải sử dụng một số giấy tờ khác. Sau khi xây dựng và tích hợp đầy đủ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Bộ Công an sẽ báo cáo Chính phủ bỏ chế độ quản lý bằng sổ hộ khẩu như hiện nay, để nước ta sớm hòa nhập chung với các nước tiên tiến trong việc quản lý hành chính bằng công nghệ thông tin.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Dự thảo Luật Căn cước công dân đã được Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII. Sau khi Luật Căn cước công dân được Quốc hội thông qua, công dân sẽ được cấp thẻ Căn cước công dân (có đầy đủ thông tin về họ, tên khai sinh và họ, tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc - được tích hợp từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư), là loại giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân mà không cần phải sử dụng một số giấy tờ khác. Sau khi xây dựng và tích hợp đầy đủ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Bộ Công an sẽ báo cáo Chính phủ bỏ chế độ quản lý bằng sổ hộ khẩu như hiện nay, để nước ta sớm hòa nhập chung với các nước tiên tiến trong việc quản lý hành chính bằng công nghệ thông tin."
}
],
"id": "301",
"is_impossible": false,
"question": "Về đề nghị thống nhất ban hành Luật Căn cước công dân"
}
]
}
],
"title": "Về đề nghị thống nhất ban hành Luật Căn cước công dân"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Để nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả công tác tạm giữ, tạm giam, Bộ Công an đã báo cáo Chính phủ đề nghị Quốc hội đưa dự án Luật Tạm giữ, tạm giam vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII (2011 – 2016). Tại Kỳ họp thứ 7, ngày 30/5/2014, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 70/2014/QH13, trong đó dự án Luật Tạm giữ, tạm giam đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015. Quốc hội sẽ cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 9 và thông qua tại Kỳ họp thứ 10, năm 2015. Triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội và phân công của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã ban hành Kế hoạch xây dựng dự án Luật Tạm giữ, tạm giam; thành lập Ban soạn thảo, Tổ Biên tập xây dựng Luật tạm giữ, tạm giam; tổng kết, rà soát hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về công tác tạm giữ, tạm giam; đồng thời, chỉ đạo tiến hành khảo sát thực tiễn công tác tạm giữ, tạm giam ở các địa phương. Đến nay, Ban Soạn thảo đã xây dựng xong dự thảo gửi các đơn vị chức năng của Bộ Công an tham gia ý kiến. Bộ Công an sẽ tổ chức xin ý kiến và tiếp thu ý kiến tham gia của các bộ, ngành có liên quan để sớm hoàn thiện, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội theo đúng tiến độ, quy định của Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật năm 2008. Đối với đề nghị trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, trong đó có một số quy định về bắt, tạm giữ, tạm giam: Hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đang chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng dự án Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi, bổ sung, trong đó có sửa đổi các quy định về bắt, tạm giữ, tạm giam.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1381,
"text": "Hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đang chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng dự án Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi, bổ sung, trong đó có sửa đổi các quy định về bắt, tạm giữ, tạm giam."
}
],
"id": "302",
"is_impossible": false,
"question": "Về đề nghị sớm ban hành Luật về tạm giữ, tạm giam"
}
]
}
],
"title": "Về đề nghị sớm ban hành Luật về tạm giữ, tạm giam"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Ngày 17/6/2010, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Thi hành án hình sự, có hiệu lực thi hành từ 01/7/2011. Luật Thi hành án hình sự được ban hành đánh dấu bước phát triển mới của hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tạo khung pháp lý mới bảo đảm cho bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật được thi hành, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, tính thống nhất của chính sách hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính và thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa. Để thi hành Luật Thi hành án hình sự, ngày 05/01/2011, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 15/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai Luật Thi hành án hình sự. Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng trình Chính phủ ban hành 10 nghị định hướng dẫn thực hiện, 08 đề án, 16 thông tư của Bộ Công an và 18 thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện Luật Thi hành án hình sự. Thực tiễn thi hành án hình sự thời gian qua cho thấy, về cơ bản các quy định của Luật Thi hành án hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý phục vụ có hiệu quả công tác thi hành án hình sự. Mặt khác, hiện nay Nhà nước ta đang tiến hành sửa đổi, bổ sung một số đạo luật có liên quan đến thi hành án hình sự, như: Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy, Bộ Công an cho rằng việc nghiên cứu, sửa đổi Luật Thi hành án hình sự nên được tiến hành sau khi các đạo luật có liên quan được sửa đổi, bổ sung. Khi đó, Bộ Công an sẽ đề xuất Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành có liên quan nghiên cứu, tổng kết việc thi hành Luật Thi hành án hình sự để có cơ sở đề nghị sửa đổi, bổ sung phù hợp.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1278,
"text": "Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy, Bộ Công an cho rằng việc nghiên cứu, sửa đổi Luật Thi hành án hình sự nên được tiến hành sau khi các đạo luật có liên quan được sửa đổi, bổ sung. Khi đó, Bộ Công an sẽ đề xuất Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành có liên quan nghiên cứu, tổng kết việc thi hành Luật Thi hành án hình sự để có cơ sở đề nghị sửa đổi, bổ sung phù hợp."
}
],
"id": "303",
"is_impossible": false,
"question": "Về việc sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án hình sự"
}
]
}
],
"title": "Về việc sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án hình sự"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Hành vi trộm cắp điện là một trong những hành vi trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 138, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; chế tài xử lý được quy định trong Bộ luật này và Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Thời gian qua, việc áp dụng các quy định của pháp luật để xử lý đối với các hành vi trộm cắp điện còn gặp nhiều khó khăn, trong đó có nguyên nhân khách quan như ý kiến cử tri nêu. Bộ Công an xin ghi nhận ý kiến kiến nghị của cử tri Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời sẽ phối hợp với các bộ, ngành có liên quan sớm nghiên cứu xây dựng, ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn quy định của Bộ luật hình sự xử lý hành vi trộm cắp điện. Trước mắt, Bộ Công an đang nghiên cứu ban hành các văn bản hướng dẫn về nghiệp vụ để xử lý đối với hành vi trộm cắp điện nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Hành vi trộm cắp điện là một trong những hành vi trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 138, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; chế tài xử lý được quy định trong Bộ luật này và Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Thời gian qua, việc áp dụng các quy định của pháp luật để xử lý đối với các hành vi trộm cắp điện còn gặp nhiều khó khăn, trong đó có nguyên nhân khách quan như ý kiến cử tri nêu. Bộ Công an xin ghi nhận ý kiến kiến nghị của cử tri Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời sẽ phối hợp với các bộ, ngành có liên quan sớm nghiên cứu xây dựng, ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn quy định của Bộ luật hình sự xử lý hành vi trộm cắp điện. Trước mắt, Bộ Công an đang nghiên cứu ban hành các văn bản hướng dẫn về nghiệp vụ để xử lý đối với hành vi trộm cắp điện nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật."
}
],
"id": "304",
"is_impossible": false,
"question": "Xử lý hình sự đối với hành vi trộm cắp điện"
}
]
}
],
"title": "Xử lý hình sự đối với hành vi trộm cắp điện"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Luật An ninh mạng gồm 7 chương, 43 điều, quy định những nội dung cơ bản về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng; triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng và quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Luật An ninh mạng được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, với sự tham gia đóng góp ý kiến của các bộ, ngành chức năng, hơn 30 doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin lớn trong nước như VNPT, FPT, BKAV; nhiều chuyên gia, tập đoàn kinh tế, viễn thông trong và ngoài nước, trong đó có Facebook, Google, Apple, Amazon, Hội đồng kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN, Hiệp hội điện toán đám mây Châu Á; các cơ quan đại diện nước ngoài như Mỹ, Canada, Úc, Nhật Bản… và ý kiến rộng rãi của quần chúng nhân dân. Bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng của Luật An ninh mạng. Luật quy định đầy đủ các biện pháp, hoạt động bảo vệ tương xứng với mức độ quan trọng của hệ thống thông tin này, trong đó nêu ra tiêu chí xác định, lĩnh vực liên quan, quy định các biện pháp như thẩm định an ninh mạng, đánh giá điều kiện, kiểm tra, giám sát an ninh và ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, Luật An ninh mạng đã dành 01 chương quy định đầy đủ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nhằm loại bỏ các nguy cơ đe dọa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật, bao gồm: phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; phòng, chống gián điệp mạng, bảo vệ thông tin bí mật nhà nước, bí mật công tác, thông tin cá nhân trên không gian mạng; phòng ngừa, xử lý hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; phòng, chống tấn công mạng; phòng, chống khủng bố mạng; phòng, chống chiến tranh mạng; phòng ngừa, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng; đấu tranh bảo vệ an ninh mạng. Đây là hành lang pháp lý vững chắc để người dân có thể yên tâm buôn bán, kinh doanh hay hoạt động trên không gian mạng. Chương IV của Luật An ninh mạng tập trung quy định về triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng một cách đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới địa phương, trọng tâm là các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị, quy định rõ các nội dung triển khai, hoạt động kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức này. Cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế cũng là một trong những đối tượng được bảo vệ trọng điểm. Với các quy định chặt chẽ, sự tham gia đồng bộ của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân, việc sử dụng thông tin để vu khống, làm nhục, xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác sẽ được xử lý nghiêm minh. Các hoạt động nghiên cứu, phát triển an ninh mạng, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng, nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng và bảo vệ trẻ em trên không gian mạng cũng được quy định chi tiết trong Chương này. Hiện nay, dữ liệu của nước ta trên không gian mạng đã và đang bị sử dụng tràn lan, với mục đích lợi nhuận mà Nhà nước chưa có đủ hành lang pháp lý để quản lý, thậm chí là bị sử dụng vào các âm mưu chính trị hoặc vi phạm pháp luật. Để quản lý chặt chẽ, bảo vệ nghiêm ngặt dữ liệu của nước ta trên không gian mạng, Luật An ninh mạng đã quy định doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ. Nguồn nhân lực bảo vệ an ninh mạng là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của công tác bảo vệ an ninh mạng. Chương V Luật An ninh mạng đã quy định đầy đủ các nội dung bảo đảm triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng, xác định lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực an ninh mạng chất lượng cao, chú trọng giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về an ninh mạng. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng được quy định rõ trong Luật An ninh mạng, tập trung vào trách nhiệm của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các bộ, ngành chức năng có trách nhiệm thực hiện đồng bộ các biện pháp được phân công để hướng tới một không gian mạng ít nguy cơ, hạn chế tối đa các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Mặc dù được chuẩn bị kỹ lưỡng, được đa số đại biểu Quốc hội tán thành, nhưng do đây là đạo luật có quy định về phòng ngừa, đấu tranh, xử lý trực tiếp các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng nên vẫn còn có những ý kiến băn khoăn về nội dung Luật. Một số đối tượng chống đối đã có hoạt động tuyên truyền, kích động biểu tình, chống phá Luật An ninh mạng hòng hướng lái dư luận theo hướng bất lợi, với các luận điệu như “chống lại loài người”, “bịt miệng dân chủ”, “đàn áp bất đồng chính kiến”, “tạo rào cản kinh doanh”, “tăng chi phí cho doanh nghiệp”, “thêm giấy phép con”, “lạm quyền”, “cấm sử dụng Facebook, Google”. Đây là những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, với mục đích cản trở hoặc gây tâm lý hoang mang, nghi ngờ trong quần chúng nhân dân đối với chính sách của Đảng, Nhà nước về an ninh mạng. Luật An ninh mạng không có những quy định nêu trên, không tạo rào cản, không tăng thủ tục hành chính, không cấp giấy phép con và không cản trở hoạt động bình thường, đúng luật của các tổ chức, cá nhân.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1554,
"text": "phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; phòng, chống gián điệp mạng, bảo vệ thông tin bí mật nhà nước, bí mật công tác, thông tin cá nhân trên không gian mạng; phòng ngừa, xử lý hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; phòng, chống tấn công mạng; phòng, chống khủng bố mạng; phòng, chống chiến tranh mạng; phòng ngừa, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng; đấu tranh bảo vệ an ninh mạng. Đây là hành lang pháp lý vững chắc để người dân có thể yên tâm buôn bán, kinh doanh hay hoạt động trên không gian mạng. Chương IV của Luật An ninh mạng tập trung quy định về triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng một cách đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới địa phương, trọng tâm là các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị, quy định rõ các nội dung triển khai, hoạt động kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức này. Cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế cũng là một trong những đối tượng được bảo vệ trọng điểm. Với các quy định chặt chẽ, sự tham gia đồng bộ của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân, việc sử dụng thông tin để vu khống, làm nhục, xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác sẽ được xử lý nghiêm minh. Các hoạt động nghiên cứu, phát triển an ninh mạng, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng, nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng và bảo vệ trẻ em trên không gian mạng cũng được quy định chi tiết trong Chương này. Hiện nay, dữ liệu của nước ta trên không gian mạng đã và đang bị sử dụng tràn lan, với mục đích lợi nhuận mà Nhà nước chưa có đủ hành lang pháp lý để quản lý, thậm chí là bị sử dụng vào các âm mưu chính trị hoặc vi phạm pháp luật. Để quản lý chặt chẽ, bảo vệ nghiêm ngặt dữ liệu của nước ta trên không gian mạng, Luật An ninh mạng đã quy định doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ. Nguồn nhân lực bảo vệ an ninh mạng là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của công tác bảo vệ an ninh mạng. Chương V Luật An ninh mạng đã quy định đầy đủ các nội dung bảo đảm triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng, xác định lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực an ninh mạng chất lượng cao, chú trọng giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về an ninh mạng. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng được quy định rõ trong Luật An ninh mạng, tập trung vào trách nhiệm của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các bộ, ngành chức năng có trách nhiệm thực hiện đồng bộ các biện pháp được phân công để hướng tới một không gian mạng ít nguy cơ, hạn chế tối đa các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Mặc dù được chuẩn bị kỹ lưỡng, được đa số đại biểu Quốc hội tán thành, nhưng do đây là đạo luật có quy định về phòng ngừa, đấu tranh, xử lý trực tiếp các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng nên vẫn còn có những ý kiến băn khoăn về nội dung Luật. Một số đối tượng chống đối đã có hoạt động tuyên truyền, kích động biểu tình, chống phá Luật An ninh mạng hòng hướng lái dư luận theo hướng bất lợi, với các luận điệu như “chống lại loài người”, “bịt miệng dân chủ”, “đàn áp bất đồng chính kiến”, “tạo rào cản kinh doanh”, “tăng chi phí cho doanh nghiệp”, “thêm giấy phép con”, “lạm quyền”, “cấm sử dụng Facebook, Google”. Đây là những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, với mục đích cản trở hoặc gây tâm lý hoang mang, nghi ngờ trong quần chúng nhân dân đối với chính sách của Đảng, Nhà nước về an ninh mạng. Luật An ninh mạng không có những quy định nêu trên, không tạo rào cản, không tăng thủ tục hành chính, không cấp giấy phép con và không cản trở hoạt động bình thường, đúng luật của các tổ chức, cá nhân."
}
],
"id": "305",
"is_impossible": false,
"question": "Hỏi về nội dung cơ bản của Luật An ninh mạng"
}
]
}
],
"title": "Hỏi về nội dung cơ bản của Luật An ninh mạng"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "1. Tại sao trong dự thảo Luật Công an nhân dân (sửa đổi) quy định vị trí chức vụ có cấp bậc hàm cao nhất là Trung tướng đối với Cục trưởng cục đặc biệt? - Trong Công an nhân dân, có những đơn vị có nhiệm vụ đặc biệt của lực lượng Công an như: Chống gián điệp, Bảo vệ chính trị, An ninh xã hội, Cảnh sát hình sự, Cảnh sát kinh tế, Cảnh sát phòng, chống tội phạm về ma túy... Hiện nay, do tinh gọn bộ máy, Bộ Công an không tổ chức cấp Tổng cục, các đơn vị cấp Cục được củng cố, nâng cao chất lượng, ngoài những đơn vị cấp Cục theo Luật Công an nhân dân năm 2014 mà Cục trưởng là Trung tướng và có 02 đến 03 cấp Phó là Thiếu tướng, có nhiều Cục được thành lập trên cơ sở hợp nhất từ 2, 3, 4, thậm chí 5 đơn vị cấp Cục mà Cục trưởng có cấp bậc hàm Thiếu tướng. Nay, các Cục này trực thuộc Bộ và cấp dưới liền kề của chức vụ Thứ trưởng, là nòng cốt của đội ngũ sĩ quan, có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác lãnh đạo, chỉ huy để Công an nhân dân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó nên đa số cấp bậc hàm cao nhất của Cục trưởng là Trung tướng, Phó Cục trưởng là Thiếu tướng là phù hợp. - Quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết Trung ương 6 Khóa XII đã xác định rõ: “... có cơ chế, chính sách phù hợp đối với những người chịu tác động trực tiếp trong quá trình sắp xếp...”. Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả có chủ trương: “... đặc biệt quan tâm đề xuất và thực hiện, áp dụng các cơ chế, chính sách phù hợp đối với những người chịu tác động trực tiếp trong quá trình sắp xếp...”. Khi bộ máy tinh gọn không còn Tổng cục, vị trí, vai trò, trách nhiệm của cấp Cục được nâng lên nên cấp bậc hàm của Cục trưởng là Trung tướng sẽ hợp lý và phù hợp với chủ trương của Hội nghị Trung ương 7 vừa qua là “tinh gọn bộ máy để tăng chính sách cho cán bộ”. Nếu không thực hiện tốt vấn đề này, không những tác động, ảnh hưởng đến Bộ Công an mà còn sẽ tác động đến bộ, ngành và địa phương khác trong thực hiện các Nghị quyết của Đảng. Đối với các đơn vị cấp cục và cấp tương đương còn lại khác như dự thảo Luật, cấp bậc hàm cao nhất là Thiếu tướng là phù hợp, đảm bảo tương quan chung và cơ bản như Luật Công an nhân dân hiện nay. 2. Tại sao dự thảo Luật Công an nhân dân (sửa đổi) bổ sung quy định trần cấp bậc hàm Thiếu tướng đối với Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh loại I? Một là, chức năng, nhiệm vụ của Công an cấp tỉnh rất quan trọng. Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có chức năng tham mưu với Bộ trưởng, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh về bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm; chủ trì và thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn tỉnh; trực tiếp đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và các vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; tổ chức xây dựng lực lượng Công an tỉnh cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Công an cấp tỉnh là cơ quan thuộc lực lượng vũ trang, vừa là cơ quan hành pháp (quản lý nhà nước), vừa là cơ quan tư pháp, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam, có lĩnh vực quản lý rộng; nhiệm vụ liên quan đến hầu hết các lĩnh vực đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội, đối tượng quản lý phức tạp, nhiều vấn đề nhạy cảm, liên quan đến quyền tự do, dân chủ, lợi ích của công dân. Hai là, khối lượng công việc của Công an cấp tỉnh ngày càng nặng nề. Theo tinh thần Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị, Bộ Công an tập trung đảm nhiệm chức năng tham mưu, quản lý nhà nước, hoạch định chính sách bảo vệ an ninh, trật tự, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát. Nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh, nhất là tội phạm hình sự chủ yếu tập trung ở địa phương, gắn với địa bàn cụ thể, hầu hết các dịch vụ công về an ninh, trật tự do Công an địa phương đảm nhiệm. Đối với các tỉnh được phân loại là đơn vị hành chính cấp I (theo Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính) thì tình hình an ninh, trật tự còn phức tạp hơn, do đó nhiệm vụ của Giám đốc Công an các tỉnh này nặng nề hơn nên có chế độ, chính sách về cấp bậc hàm cao hơn là phù hợp. Ba là, xuất phát từ vị trí chức vụ Giám đốc Công an cấp tỉnh trong hệ thống chức vụ sĩ quan Công an nhân dân. Giám đốc Công an cấp tỉnh được xác định là chức vụ cơ bản, quan trọng trong hệ thống chức vụ sĩ quan Công an nhân dân, là cấp dưới liền kề, có thể quy hoạch, bổ nhiệm chức danh Thứ trưởng. Tiêu chuẩn chức danh, cấp bậc hàm của Giám đốc Công an cấp tỉnh phải đảm bảo tương quan tương đối với chức danh Cục trưởng (điều này hoàn toàn khác với quân đội). Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, có chủ trương: “Xây dựng kế hoạch cụ thể để luân chuyển, điều động, giữ vị trí cấp trưởng, phù hợp với chức danh quy hoạch ở địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu, nơi triển khai mô hình mới để thử thách, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng, năng lực lãnh đạo toàn diện của cán bộ”. Như vậy, yêu cầu khi bổ nhiệm Thứ trưởng thì cán bộ phải có thời gian đảm nhận chức vụ Giám đốc Công an cấp tỉnh nơi địa bàn phức tạp, trọng điểm về an ninh, trật tự để rèn luyện, thử thách. Do đó, nếu chức danh Giám đốc Công an cấp tỉnh không có cấp bậc hàm cao nhất là Thiếu tướng sẽ không luân chuyển được cán bộ cấp Cục đã có cấp bậc hàm Thiếu tướng làm Giám đốc hoặc không thực hiện được chính sách cán bộ đối với lãnh đạo cấp Cục có cấp bậc hàm Đại tá khi được luân chuyển làm Giám đốc.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 243,
"text": "Chống gián điệp, Bảo vệ chính trị, An ninh xã hội, Cảnh sát hình sự, Cảnh sát kinh tế, Cảnh sát phòng, chống tội phạm về ma túy... Hiện nay, do tinh gọn bộ máy, Bộ Công an không tổ chức cấp Tổng cục, các đơn vị cấp Cục được củng cố, nâng cao chất lượng, ngoài những đơn vị cấp Cục theo Luật Công an nhân dân năm 2014 mà Cục trưởng là Trung tướng và có 02 đến 03 cấp Phó là Thiếu tướng, có nhiều Cục được thành lập trên cơ sở hợp nhất từ 2, 3, 4, thậm chí 5 đơn vị cấp Cục mà Cục trưởng có cấp bậc hàm Thiếu tướng. Nay, các Cục này trực thuộc Bộ và cấp dưới liền kề của chức vụ Thứ trưởng, là nòng cốt của đội ngũ sĩ quan, có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác lãnh đạo, chỉ huy để Công an nhân dân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó nên đa số cấp bậc hàm cao nhất của Cục trưởng là Trung tướng, Phó Cục trưởng là Thiếu tướng là phù hợp. - Quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết Trung ương 6 Khóa XII đã xác định rõ: “... có cơ chế, chính sách phù hợp đối với những người chịu tác động trực tiếp trong quá trình sắp xếp...”. Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả có chủ trương: “... đặc biệt quan tâm đề xuất và thực hiện, áp dụng các cơ chế, chính sách phù hợp đối với những người chịu tác động trực tiếp trong quá trình sắp xếp...”. Khi bộ máy tinh gọn không còn Tổng cục, vị trí, vai trò, trách nhiệm của cấp Cục được nâng lên nên cấp bậc hàm của Cục trưởng là Trung tướng sẽ hợp lý và phù hợp với chủ trương của Hội nghị Trung ương 7 vừa qua là “tinh gọn bộ máy để tăng chính sách cho cán bộ”. Nếu không thực hiện tốt vấn đề này, không những tác động, ảnh hưởng đến Bộ Công an mà còn sẽ tác động đến bộ, ngành và địa phương khác trong thực hiện các Nghị quyết của Đảng. Đối với các đơn vị cấp cục và cấp tương đương còn lại khác như dự thảo Luật, cấp bậc hàm cao nhất là Thiếu tướng là phù hợp, đảm bảo tương quan chung và cơ bản như Luật Công an nhân dân hiện nay. 2. Tại sao dự thảo Luật Công an nhân dân (sửa đổi) bổ sung quy định trần cấp bậc hàm Thiếu tướng đối với Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh loại I? Một là, chức năng, nhiệm vụ của Công an cấp tỉnh rất quan trọng. Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có chức năng tham mưu với Bộ trưởng, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh về bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm; chủ trì và thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn tỉnh; trực tiếp đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và các vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; tổ chức xây dựng lực lượng Công an tỉnh cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Công an cấp tỉnh là cơ quan thuộc lực lượng vũ trang, vừa là cơ quan hành pháp (quản lý nhà nước), vừa là cơ quan tư pháp, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam, có lĩnh vực quản lý rộng; nhiệm vụ liên quan đến hầu hết các lĩnh vực đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội, đối tượng quản lý phức tạp, nhiều vấn đề nhạy cảm, liên quan đến quyền tự do, dân chủ, lợi ích của công dân. Hai là, khối lượng công việc của Công an cấp tỉnh ngày càng nặng nề. Theo tinh thần Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị, Bộ Công an tập trung đảm nhiệm chức năng tham mưu, quản lý nhà nước, hoạch định chính sách bảo vệ an ninh, trật tự, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát. Nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh, nhất là tội phạm hình sự chủ yếu tập trung ở địa phương, gắn với địa bàn cụ thể, hầu hết các dịch vụ công về an ninh, trật tự do Công an địa phương đảm nhiệm. Đối với các tỉnh được phân loại là đơn vị hành chính cấp I (theo Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính) thì tình hình an ninh, trật tự còn phức tạp hơn, do đó nhiệm vụ của Giám đốc Công an các tỉnh này nặng nề hơn nên có chế độ, chính sách về cấp bậc hàm cao hơn là phù hợp. Ba là, xuất phát từ vị trí chức vụ Giám đốc Công an cấp tỉnh trong hệ thống chức vụ sĩ quan Công an nhân dân. Giám đốc Công an cấp tỉnh được xác định là chức vụ cơ bản, quan trọng trong hệ thống chức vụ sĩ quan Công an nhân dân, là cấp dưới liền kề, có thể quy hoạch, bổ nhiệm chức danh Thứ trưởng. Tiêu chuẩn chức danh, cấp bậc hàm của Giám đốc Công an cấp tỉnh phải đảm bảo tương quan tương đối với chức danh Cục trưởng (điều này hoàn toàn khác với quân đội). Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, có chủ trương: “Xây dựng kế hoạch cụ thể để luân chuyển, điều động, giữ vị trí cấp trưởng, phù hợp với chức danh quy hoạch ở địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu, nơi triển khai mô hình mới để thử thách, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng, năng lực lãnh đạo toàn diện của cán bộ”. Như vậy, yêu cầu khi bổ nhiệm Thứ trưởng thì cán bộ phải có thời gian đảm nhận chức vụ Giám đốc Công an cấp tỉnh nơi địa bàn phức tạp, trọng điểm về an ninh, trật tự để rèn luyện, thử thách. Do đó, nếu chức danh Giám đốc Công an cấp tỉnh không có cấp bậc hàm cao nhất là Thiếu tướng sẽ không luân chuyển được cán bộ cấp Cục đã có cấp bậc hàm Thiếu tướng làm Giám đốc hoặc không thực hiện được chính sách cán bộ đối với lãnh đạo cấp Cục có cấp bậc hàm Đại tá khi được luân chuyển làm Giám đốc."
}
],
"id": "306",
"is_impossible": false,
"question": "Hỏi về cấp bậc hàm cấp Tướng trong Công an nhân dân"
}
]
}
],
"title": "Hỏi về cấp bậc hàm cấp Tướng trong Công an nhân dân"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "1. Những căn cứ cho việc xây dựng lực lượng Công an xã, thị trấn chính quy, gồm: * Căn cứ pháp lý: - Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Trong đó, hoạt động của Công an xã có liên quan trực tiếp đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở cơ sở. Vì vậy, việc bố trí lực lượng Công an chính quy tại xã để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 nhằm vừa bảo đảm cho hoạt động giữ gìn an ninh, trật tự tại địa bàn cơ sở, vừa bảo đảm quyền con người, quyền công dân được thực hiện đúng quy định pháp luật; - Luật Công an nhân dân hiện hành cũng đã khẳng định Công an nhân dân là lực lượng vũ trang nhân dân với cơ cấu gồm lực lượng An ninh nhân dân, lực lượng Cảnh sát nhân dân và Công an xã. Vì vậy, cần thiết phải xây dựng lực lượng Công an xã chính quy để bảo đảm sự thống nhất về tổ chức, hoạt động của Công an xã tương xứng với vị trí của Công an xã; - Khoản 4, Điều 10 Pháp lệnh Công an xã quy định Bộ Công an bố trí Công an chính quy ở xã và thực tế Bộ Công an đã bố trí và thực hiện hiệu quả chủ trương bố trí Công an chính quy ở xã (từ năm 1989 đến nay); - Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị “về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” cũng đã xác định nội dung bố trí lực lượng Công an xã chính quy; - Những năm gần đây, Quốc hội đã thông qua nhiều luật mới như: Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Căn cước công dân, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Đặc xá, Luật Thi hành án hình sự, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ... trong đó, có bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn cho Công an xã. Do đó, việc xây dựng lực lượng Công an xã chính quy sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả việc thi hành hệ thống pháp luật có liên quan đến an ninh, trật tự ở địa bàn cơ sở. * Căn cứ thực tiễn: - Tình hình an ninh nông thôn, đô thị tiềm ẩn nhiều vấn đề bất ổn, nhất là các vụ việc khiếu kiện, xung đột xã hội liên quan đến đất đai, quản lý, thu hồi đất để triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất được hình thành, nảy sinh nhiều vấn đề mới đặt ra trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự. Quá trình đô thị hóa tăng nhanh, thu hồi đất, dẫn đến một bộ phận nhân dân không có việc làm, nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội như cờ bạc, cá độ, cho vay nặng lãi, bảo kê.... là nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh các loại tội phạm hình sự; - Các loại tội phạm và vi phạm pháp luật có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp hơn, nhất là tội phạm có tổ chức, sử dụng vũ khí nóng, tội phạm có tính chất khủng bố, tội phạm chống người thi hành công vụ. Các loại tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm môi trường ngày càng diễn biến phức tạp; - Những diễn biến tình hình nêu trên nếu xảy ra đều sẽ bắt đầu từ địa bàn cơ sở, nếu không quyết liệt phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý, sẽ làm cho môi trường sống, môi trường đầu tư, đặc biệt là sự ổn định về chính trị, an ninh, trật tự và an sinh xã hội bị ảnh hưởng nghiêm trọng; - Việc bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa bàn nông thôn hiện nay chủ yếu do lực lượng Công an xã đảm nhiệm. Đây là địa bàn rộng lớn, chiếm 80% diện tích cả nước và là địa bàn đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự, đặc biệt là tình hình an ninh nông thôn, dân tộc, tôn giáo, tình hình tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. - Tình hình nêu trên đặt trách nhiệm nặng nề hơn đối với lực lượng Công an xã, đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa việc thực hiện nhiệm vụ cũng như bảo đảm các điều kiện hoạt động đối với lực lượng Công an xã để lực lượng này thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, hiện nay việc thực hiện chế độ, chính sách và bảo đảm các điều kiện hoạt động đối với lực lượng Công an xã bán chuyên trách còn chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ mà lực lượng này đang thực hiện, đã có hàng ngàn Phó trưởng Công an xã và Công an viên đã xin nghỉ việc vì chế độ phụ cấp hàng tháng quá thấp, không bảo đảm điều kiện sinh hoạt của bản thân và gia đình; - Theo hồ sơ dự án Luật cho thấy, trong nhiều năm qua, Chính phủ, Bộ Công an đã có nhiều mô hình bố trí lực lượng đảm bảo an ninh, trật tự ở địa bàn xã. Tuy nhiên, các mô hình này đều chưa đáp ứng được tốt nhất yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự tại địa bàn xã. Kinh nghiệm qua sơ kết triển khai thực hiện bố trí Công an chính quy đảm nhiệm các chức danh Công an xã tại 828 xã ở 38 tỉnh, thành phố vừa qua cho thấy, tuy có một số hạn chế nhưng có thể khắc phục được và đây là mô hình có hiệu quả nhất; công tác tham mưu, quản lý nhà nước về an ninh, trật tự và đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn xã được nâng cao, góp phần ổn định tình hình và phát triển kinh tế xã hội ở địa phương; - Bố trí Công an xã chính quy thì khi đó đồng chí Trưởng Công an xã (có tiêu chuẩn cán bộ tương đương Trưởng Công an phường) nếu được cơ cấu tham gia Ban Thường vụ Đảng ủy xã (tương tự như đồng chí Trưởng Công an phường cơ cấu vào Ban Thường vụ Đảng ủy phường) sẽ bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với Công an xã, đồng thời, vị trí, vai trò của Công an xã được nâng lên (hiện Trưởng Công an xã là công chức cấp xã chỉ được cơ cấu tham gia Ban Chấp hành). 2. Khi bố trí Công an xã chính quy, Công an xã sẽ thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Công an nhân dân và các quy định của pháp luật chuyên ngành về an ninh, trật tự. Vì vậy, phải điều chỉnh Luật Công an nhân dân, Luật Cán bộ, công chức quy định về Công an xã và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đồng thời, cần có phương án bố trí công tác khác cho 9.339 Trưởng Công an xã hiện nay (là công chức cấp xã) phù hợp với năng lực, trình độ chuyên môn, sở trường của từng đồng chí. - Đối với các tổ chức quần chúng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở: Hiện nay, ở địa bàn cơ sở (xã, phường, thị trấn) ngoài lực lượng Công an phường, Công an thị trấn, Công an xã còn có nhiều mô hình tổ chức quần chúng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự cơ sở, như: Đội dân phòng, Tổ hòa giải, Bảo vệ dân phố, Bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp... Khi bố trí Công an xã là Công an chính quy sẽ tiếp tục huy động lực lượng Công an viên hiện nay và các tổ chức này tham gia bảo vệ an ninh, trật tự tại thôn, ấp, bản, làng... Theo đó, lực lượng Công an viên hiện nay ở xã và lực lượng Bảo vệ dân phố ở phường sẽ là lực lượng chủ yếu hỗ trợ Công an phường, Công an xã thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự. Các mô hình tổ chức quần chúng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở đang được điều chỉnh bằng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, nhưng chưa có một quy định thống nhất. Vì vậy, để huy động Bảo vệ dân phố, Công an xã bán chuyên trách hiện nay và các tổ chức quần chúng khác tham gia công tác bảo vệ an ninh, trật tự, cần thiết phải xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định chung về tổ chức và hoạt động của các lực lượng này (có thể đề xuất Quốc hội cho xây dựng dự án Luật lực lượng trị an cơ sở). - Xây dựng lực lượng Công an xã chính quy cần thiết phải sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Công an xã, như: Luật Công an nhân dân, Luật Cán bộ, công chức, thay thế Pháp lệnh Công an xã và các văn bản hướng dẫn thi hành; sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Công an xã liên quan đến quản lý nhà nước về an ninh, trật tự cho phù hợp; xây dựng mới văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của lực lượng bán chuyên trách và tổ chức quần chúng tự quản tham gia bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở (địa bàn cấp xã).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 81,
"text": "* Căn cứ pháp lý: - Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Trong đó, hoạt động của Công an xã có liên quan trực tiếp đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở cơ sở. Vì vậy, việc bố trí lực lượng Công an chính quy tại xã để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 nhằm vừa bảo đảm cho hoạt động giữ gìn an ninh, trật tự tại địa bàn cơ sở, vừa bảo đảm quyền con người, quyền công dân được thực hiện đúng quy định pháp luật; - Luật Công an nhân dân hiện hành cũng đã khẳng định Công an nhân dân là lực lượng vũ trang nhân dân với cơ cấu gồm lực lượng An ninh nhân dân, lực lượng Cảnh sát nhân dân và Công an xã. Vì vậy, cần thiết phải xây dựng lực lượng Công an xã chính quy để bảo đảm sự thống nhất về tổ chức, hoạt động của Công an xã tương xứng với vị trí của Công an xã; - Khoản 4, Điều 10 Pháp lệnh Công an xã quy định Bộ Công an bố trí Công an chính quy ở xã và thực tế Bộ Công an đã bố trí và thực hiện hiệu quả chủ trương bố trí Công an chính quy ở xã (từ năm 1989 đến nay); - Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị “về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” cũng đã xác định nội dung bố trí lực lượng Công an xã chính quy; - Những năm gần đây, Quốc hội đã thông qua nhiều luật mới như: Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Căn cước công dân, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Đặc xá, Luật Thi hành án hình sự, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ... trong đó, có bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn cho Công an xã. Do đó, việc xây dựng lực lượng Công an xã chính quy sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả việc thi hành hệ thống pháp luật có liên quan đến an ninh, trật tự ở địa bàn cơ sở. * Căn cứ thực tiễn: - Tình hình an ninh nông thôn, đô thị tiềm ẩn nhiều vấn đề bất ổn, nhất là các vụ việc khiếu kiện, xung đột xã hội liên quan đến đất đai, quản lý, thu hồi đất để triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất được hình thành, nảy sinh nhiều vấn đề mới đặt ra trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự. Quá trình đô thị hóa tăng nhanh, thu hồi đất, dẫn đến một bộ phận nhân dân không có việc làm, nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội như cờ bạc, cá độ, cho vay nặng lãi, bảo kê.... là nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh các loại tội phạm hình sự; - Các loại tội phạm và vi phạm pháp luật có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp hơn, nhất là tội phạm có tổ chức, sử dụng vũ khí nóng, tội phạm có tính chất khủng bố, tội phạm chống người thi hành công vụ. Các loại tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm môi trường ngày càng diễn biến phức tạp; - Những diễn biến tình hình nêu trên nếu xảy ra đều sẽ bắt đầu từ địa bàn cơ sở, nếu không quyết liệt phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý, sẽ làm cho môi trường sống, môi trường đầu tư, đặc biệt là sự ổn định về chính trị, an ninh, trật tự và an sinh xã hội bị ảnh hưởng nghiêm trọng; - Việc bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa bàn nông thôn hiện nay chủ yếu do lực lượng Công an xã đảm nhiệm. Đây là địa bàn rộng lớn, chiếm 80% diện tích cả nước và là địa bàn đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự, đặc biệt là tình hình an ninh nông thôn, dân tộc, tôn giáo, tình hình tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. - Tình hình nêu trên đặt trách nhiệm nặng nề hơn đối với lực lượng Công an xã, đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa việc thực hiện nhiệm vụ cũng như bảo đảm các điều kiện hoạt động đối với lực lượng Công an xã để lực lượng này thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, hiện nay việc thực hiện chế độ, chính sách và bảo đảm các điều kiện hoạt động đối với lực lượng Công an xã bán chuyên trách còn chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ mà lực lượng này đang thực hiện, đã có hàng ngàn Phó trưởng Công an xã và Công an viên đã xin nghỉ việc vì chế độ phụ cấp hàng tháng quá thấp, không bảo đảm điều kiện sinh hoạt của bản thân và gia đình; - Theo hồ sơ dự án Luật cho thấy, trong nhiều năm qua, Chính phủ, Bộ Công an đã có nhiều mô hình bố trí lực lượng đảm bảo an ninh, trật tự ở địa bàn xã. Tuy nhiên, các mô hình này đều chưa đáp ứng được tốt nhất yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự tại địa bàn xã. Kinh nghiệm qua sơ kết triển khai thực hiện bố trí Công an chính quy đảm nhiệm các chức danh Công an xã tại 828 xã ở 38 tỉnh, thành phố vừa qua cho thấy, tuy có một số hạn chế nhưng có thể khắc phục được và đây là mô hình có hiệu quả nhất; công tác tham mưu, quản lý nhà nước về an ninh, trật tự và đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn xã được nâng cao, góp phần ổn định tình hình và phát triển kinh tế xã hội ở địa phương; - Bố trí Công an xã chính quy thì khi đó đồng chí Trưởng Công an xã (có tiêu chuẩn cán bộ tương đương Trưởng Công an phường) nếu được cơ cấu tham gia Ban Thường vụ Đảng ủy xã (tương tự như đồng chí Trưởng Công an phường cơ cấu vào Ban Thường vụ Đảng ủy phường) sẽ bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với Công an xã, đồng thời, vị trí, vai trò của Công an xã được nâng lên (hiện Trưởng Công an xã là công chức cấp xã chỉ được cơ cấu tham gia Ban Chấp hành). 2. Khi bố trí Công an xã chính quy, Công an xã sẽ thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Công an nhân dân và các quy định của pháp luật chuyên ngành về an ninh, trật tự. Vì vậy, phải điều chỉnh Luật Công an nhân dân, Luật Cán bộ, công chức quy định về Công an xã và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đồng thời, cần có phương án bố trí công tác khác cho 9.339 Trưởng Công an xã hiện nay (là công chức cấp xã) phù hợp với năng lực, trình độ chuyên môn, sở trường của từng đồng chí. - Đối với các tổ chức quần chúng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở: Hiện nay, ở địa bàn cơ sở (xã, phường, thị trấn) ngoài lực lượng Công an phường, Công an thị trấn, Công an xã còn có nhiều mô hình tổ chức quần chúng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự cơ sở, như: Đội dân phòng, Tổ hòa giải, Bảo vệ dân phố, Bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp... Khi bố trí Công an xã là Công an chính quy sẽ tiếp tục huy động lực lượng Công an viên hiện nay và các tổ chức này tham gia bảo vệ an ninh, trật tự tại thôn, ấp, bản, làng... Theo đó, lực lượng Công an viên hiện nay ở xã và lực lượng Bảo vệ dân phố ở phường sẽ là lực lượng chủ yếu hỗ trợ Công an phường, Công an xã thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự. Các mô hình tổ chức quần chúng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở đang được điều chỉnh bằng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, nhưng chưa có một quy định thống nhất. Vì vậy, để huy động Bảo vệ dân phố, Công an xã bán chuyên trách hiện nay và các tổ chức quần chúng khác tham gia công tác bảo vệ an ninh, trật tự, cần thiết phải xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định chung về tổ chức và hoạt động của các lực lượng này (có thể đề xuất Quốc hội cho xây dựng dự án Luật lực lượng trị an cơ sở). - Xây dựng lực lượng Công an xã chính quy cần thiết phải sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Công an xã, như: Luật Công an nhân dân, Luật Cán bộ, công chức, thay thế Pháp lệnh Công an xã và các văn bản hướng dẫn thi hành; sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Công an xã liên quan đến quản lý nhà nước về an ninh, trật tự cho phù hợp; xây dựng mới văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của lực lượng bán chuyên trách và tổ chức quần chúng tự quản tham gia bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở (địa bàn cấp xã)."
}
],
"id": "307",
"is_impossible": false,
"question": "Vì sao phải xây dựng lực lượng Công an xã chính quy và việc bố trí công việc cho những người đang đảm nhiệm các chức danh Công an xã hiện nay"
}
]
}
],
"title": "Vì sao phải xây dựng lực lượng Công an xã chính quy và việc bố trí công việc cho những người đang đảm nhiệm các chức danh Công an xã hiện nay"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Bộ Công an trả lời như sau: Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV, sau khi được Quốc hội cho ý kiến, Bộ Công an đã phối hợp với Ủy ban pháp luật và các cơ quan liên quan giải trình, tiếp thu các ý kiến tham gia và hoàn thiện dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi). Ngày 13/11/2020, dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XIV thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2021. Trong đó, Điều 2 giải thích từ ngữ cụ thể là: “Cư trú” là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc đơn vị hành chính cấp xã hoặc đơn vị hành chính cấp huyện ở nơi không có đơn vị hành chính cấp xã (sau đây gọi chung là đơn vị hành chính cấp xã); “Nơi thường trú” là nơi công dân sinh sống ổn định, lâu dài và đã được đăng ký thường trú. Khái niệm về “Chủ hộ” và “Hộ gia đình” được quy định tại Điều 10 về quyền, nghĩa vụ của chủ hộ và thành viên hộ gia đình về nơi cư trú, trong đó: - “Những người cùng ở tại một chỗ ở hợp pháp và có quan hệ gia đình là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh ruột, chị ruột, em ruột thì chỉ có thể đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú theo hộ gia đình”. - “Chủ hộ” là những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ do các thành viên hộ gia đình thống nhất đề cử; trường hợp hộ gia đình không có người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì chủ hộ là người được các thành viên hộ gia đình thống nhất đề cử; trường hợp các thành viên hộ gia đình không đề cử được thì chủ hộ là thành viên hộ gia đình do Tòa án quyết định. Trường hợp hộ gia đình chỉ có một người thì người đó đồng thời là chủ hộ. Việc quy định liên quan đến chủ hộ, cư trú, nơi thường trú, hộ gia đình trong Luật Cư trú (sửa đổi) đã được Bộ Công an phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Ủy ban pháp luật của Quốc hội chỉnh lý cho phù hợp và trình Quốc hội thông qua. Đến nay, các nội dung này cơ bản thống nhất với cách hiểu của Bộ luật Dân sự và quy định của các luật có liên quan như Luật Xử lý vi phạm hành chính, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thi hành án hình sự...",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 28,
"text": "Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV, sau khi được Quốc hội cho ý kiến, Bộ Công an đã phối hợp với Ủy ban pháp luật và các cơ quan liên quan giải trình, tiếp thu các ý kiến tham gia và hoàn thiện dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi). Ngày 13/11/2020, dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XIV thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2021. Trong đó, Điều 2 giải thích từ ngữ cụ thể là: “Cư trú” là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc đơn vị hành chính cấp xã hoặc đơn vị hành chính cấp huyện ở nơi không có đơn vị hành chính cấp xã (sau đây gọi chung là đơn vị hành chính cấp xã); “Nơi thường trú” là nơi công dân sinh sống ổn định, lâu dài và đã được đăng ký thường trú. Khái niệm về “Chủ hộ” và “Hộ gia đình” được quy định tại Điều 10 về quyền, nghĩa vụ của chủ hộ và thành viên hộ gia đình về nơi cư trú, trong đó: - “Những người cùng ở tại một chỗ ở hợp pháp và có quan hệ gia đình là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh ruột, chị ruột, em ruột thì chỉ có thể đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú theo hộ gia đình”. - “Chủ hộ” là những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ do các thành viên hộ gia đình thống nhất đề cử; trường hợp hộ gia đình không có người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì chủ hộ là người được các thành viên hộ gia đình thống nhất đề cử; trường hợp các thành viên hộ gia đình không đề cử được thì chủ hộ là thành viên hộ gia đình do Tòa án quyết định. Trường hợp hộ gia đình chỉ có một người thì người đó đồng thời là chủ hộ. Việc quy định liên quan đến chủ hộ, cư trú, nơi thường trú, hộ gia đình trong Luật Cư trú (sửa đổi) đã được Bộ Công an phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Ủy ban pháp luật của Quốc hội chỉnh lý cho phù hợp và trình Quốc hội thông qua. Đến nay, các nội dung này cơ bản thống nhất với cách hiểu của Bộ luật Dân sự và quy định của các luật có liên quan như Luật Xử lý vi phạm hành chính, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thi hành án hình sự..."
}
],
"id": "308",
"is_impossible": false,
"question": "Đề nghị rà soát các khái niệm “chủ hộ”, “cư trú”, “nơi thường trú”, “hộ gia đình” cho thống nhất với quy định của Bộ luật dân sự."
}
]
}
],
"title": "Đề nghị rà soát các khái niệm “chủ hộ”, “cư trú”, “nơi thường trú”, “hộ gia đình” cho thống nhất với quy định của Bộ luật dân sự."
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Theo thông tin bạn đọc Võ Quang Trương cung cấp về hành vi của đối tượng, trị giá tài sản bị chiếm đoạt và Cơ quan Công an đã bắt giữ được đối tượng, thu giữ toàn bộ tang vật gồm điện thoại, laptop và hơn 3 triệu đồng. Bộ Công an nhận định vụ việc có dấu hiệu hình sự của tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định “Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án” thì điện thoại, laptop và số tiền 3 triệu đồng bị Cơ quan Công an thu giữ ở trên được xác định là vật chứng trong vụ án hình sự trộm cắp tài sản (vật là đối tượng của tội phạm). Về việc xử lý vật chứng, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản. 2. Vật chứng được xử lý như sau: a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy; b) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; c) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy. 3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều này có quyền: a) Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó; b) Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án; c) Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy; d) Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. 4. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”. Như vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định thời gian bao lâu phải trả lại vật chứng. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tóa án nhân dân sẽ tiến hành giải quyết vụ án theo thời gian luật định và vật chứng có thể được trả cho người bị hại trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử. Hiện tại, Công an huyện đang thụ lý, giải quyết. Nếu muốn nhận lại ngay tài sản bị trộm cắp trên, gia đình bạn Võ Quang Trương có đơn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện trình bày nguyện vọng và chứng minh là chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản. Nếu xét thấy việc trả lại vật chứng (điện thoại, laptop, tiền) không làm ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án thì sẽ được Cơ quan điều tra trả lại. Khi nhận lại tài sản này, gia đình bạn Trương là người bị hại nên không phải thanh toán khoản phí nào, nhưng phải hoàn thiện các thủ tục với Cơ quan điều tra liên quan đến việc bàn giao tài sản trộm cắp.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 867,
"text": "“1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản. 2. Vật chứng được xử lý như sau: a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy; b) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; c) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy. 3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều này có quyền: a) Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó; b) Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án; c) Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy; d) Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. 4. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”. Như vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định thời gian bao lâu phải trả lại vật chứng. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tóa án nhân dân sẽ tiến hành giải quyết vụ án theo thời gian luật định và vật chứng có thể được trả cho người bị hại trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử. Hiện tại, Công an huyện đang thụ lý, giải quyết. Nếu muốn nhận lại ngay tài sản bị trộm cắp trên, gia đình bạn Võ Quang Trương có đơn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện trình bày nguyện vọng và chứng minh là chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản. Nếu xét thấy việc trả lại vật chứng (điện thoại, laptop, tiền) không làm ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án thì sẽ được Cơ quan điều tra trả lại. Khi nhận lại tài sản này, gia đình bạn Trương là người bị hại nên không phải thanh toán khoản phí nào, nhưng phải hoàn thiện các thủ tục với Cơ quan điều tra liên quan đến việc bàn giao tài sản trộm cắp."
}
],
"id": "309",
"is_impossible": false,
"question": "Thời gian tạm giữ tang vật vụ án là bao lâu?"
}
]
}
],
"title": "Thời gian tạm giữ tang vật vụ án là bao lâu?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định các loại xe cơ giới đường bộ (bao gồm cả xe máy điện) đều phải đăng ký, cấp biển số. Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc khi đăng ký xe theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, phù hợp với tình hình thực tế, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân làm các thủ tục đăng ký xe, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 15/2014/TT-BCA, ngày 04/4/2014 quy định về đăng ký xe. Tại Điểm 12, Điều 23, Thông tư này quy định “đối với ô tô điện, xe máy điện đã sử dụng trước ngày 01/7/2009 không có chứng từ nguồn gốc hoặc chứng từ chuyển nhượng không đảm bảo theo quy định, nếu chủ xe có cam kết (có xác nhận của chính quyền địa phương) thì được giải quyết đăng ký, cấp biển số xe”. Đối với những xe được mua bán, chuyển quyền sở hữu sau ngày 01/7/2009, hồ sơ đăng ký phải có đầy đủ các thủ tục giấy tờ mới được đăng ký, cấp biển số, hồ sơ bao gồm: - Chứng từ nguồn gốc: Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới nhập khẩu (theo quy định của Bộ Giao thông vận tải). - Chứng từ chuyển nhượng: Hóa đơn bán xe (theo quy định của Bộ Tài chính). - Chứng từ lệ phí trước bạ (theo quy định của Bộ Tài chính). Về vấn đề nộp lệ phí trước bạ: Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho người dân đã mua và sử dụng xe không rõ nguồn gốc, không có chứng từ mua bán, Bộ Công an đã phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ giao thông vận tải báo cáo đề xuất Thủ tướng Chính phủ và được Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho miễn thu lệ phí trước bạ đối với xe máy điện đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đến hết ngày 30/6/2015; chủ sở hữu, sử dụng xe máy điện không phải đến cơ quan thuế để kê khai lệ phí trước bạ mà chỉ đến cơ quan Công an làm thủ tục đăng ký xe theo quy định. Từ ngày 1/7/2015, xe máy điện khi đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng phải nộp lệ phí trước bạ theo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 879,
"text": "- Chứng từ nguồn gốc: Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới nhập khẩu (theo quy định của Bộ Giao thông vận tải). - Chứng từ chuyển nhượng: Hóa đơn bán xe (theo quy định của Bộ Tài chính). - Chứng từ lệ phí trước bạ (theo quy định của Bộ Tài chính). Về vấn đề nộp lệ phí trước bạ: Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho người dân đã mua và sử dụng xe không rõ nguồn gốc, không có chứng từ mua bán, Bộ Công an đã phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ giao thông vận tải báo cáo đề xuất Thủ tướng Chính phủ và được Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho miễn thu lệ phí trước bạ đối với xe máy điện đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đến hết ngày 30/6/2015; chủ sở hữu, sử dụng xe máy điện không phải đến cơ quan thuế để kê khai lệ phí trước bạ mà chỉ đến cơ quan Công an làm thủ tục đăng ký xe theo quy định. Từ ngày 1/7/2015, xe máy điện khi đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng phải nộp lệ phí trước bạ theo quy định."
}
],
"id": "310",
"is_impossible": false,
"question": "Về thủ tục đăng ký cho người sở hữu xe máy điện"
}
]
}
],
"title": "Về thủ tục đăng ký cho người sở hữu xe máy điện"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Theo quy định tại Điểm 1.2.3, mục 1, phần I, hướng dẫn số 3091/C61-C72 ngày 31/7/2014 của Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội (nay là Tổng cục Cảnh sát) thì đối với các trường hợp chuyển nơi đăng ký thường trú đến tỉnh, thành phố khác, cơ quan quản lý hồ sơ CMND nơi công dân chuyển đi có trách nhiệm sao gửi toàn bộ hồ sơ CMND cho cơ quan quản lý hồ sơ CMND nơi công dân chuyển đến để quản lý, khai thác. Trường hợp công dân chuyển nơi đăng ký thường trú đến tỉnh, thành phố khác đã được đổi CMND theo địa phương nơi công dân chuyển đến; nếu công dân có đề nghị xác nhận hai số CMND là của cùng 1 người thì cơ quan Công an nơi tiếp nhận hồ sơ đề nghị đổi CMND có trách nhiệm xác nhận cho công dân.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo quy định tại Điểm 1.2.3, mục 1, phần I, hướng dẫn số 3091/C61-C72 ngày 31/7/2014 của Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội (nay là Tổng cục Cảnh sát) thì đối với các trường hợp chuyển nơi đăng ký thường trú đến tỉnh, thành phố khác, cơ quan quản lý hồ sơ CMND nơi công dân chuyển đi có trách nhiệm sao gửi toàn bộ hồ sơ CMND cho cơ quan quản lý hồ sơ CMND nơi công dân chuyển đến để quản lý, khai thác. Trường hợp công dân chuyển nơi đăng ký thường trú đến tỉnh, thành phố khác đã được đổi CMND theo địa phương nơi công dân chuyển đến; nếu công dân có đề nghị xác nhận hai số CMND là của cùng 1 người thì cơ quan Công an nơi tiếp nhận hồ sơ đề nghị đổi CMND có trách nhiệm xác nhận cho công dân."
}
],
"id": "311",
"is_impossible": false,
"question": "Xác nhận giấy CMND số mới và số cũ là của 1 người"
}
]
}
],
"title": "Xác nhận giấy CMND số mới và số cũ là của 1 người"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Hiện nay, cơ quan chức năng của Bộ Công an đang dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về đăng ký xe; Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 37/2010/TT-BCA ngày 12/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định quy trình đăng ký xe. Bộ Công an sẽ nghiên cứu đề nghị trên để đưa vào Thông tư cho phù hợp với tình hình thực tiễn, phục vụ nhân dân tốt hơn.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Hiện nay, cơ quan chức năng của Bộ Công an đang dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về đăng ký xe; Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 37/2010/TT-BCA ngày 12/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định quy trình đăng ký xe. Bộ Công an sẽ nghiên cứu đề nghị trên để đưa vào Thông tư cho phù hợp với tình hình thực tiễn, phục vụ nhân dân tốt hơn."
}
],
"id": "312",
"is_impossible": false,
"question": "Hỏi về việc quản lý hồ sơ xe ô tô khi chuyển vùng"
}
]
}
],
"title": "Hỏi về việc quản lý hồ sơ xe ô tô khi chuyển vùng"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Về vấn đề này, Bộ Công an trả lời như sau: 1. Các quy định hiện hành về xuất, nhập cảnh đã hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện thuận lợi, thông thoáng cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhập cảnh Việt Nam, cụ thể: Ngày 24/6/2023, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam (Luật số 23/2023/QH15 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/8/2023), trong đó có nhiều chính sách mới về cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài: Công dân tất cả các nước, vùng lãnh thổ có thể đề nghị cấp thị thực điện tử nhập cảnh nhiều lần, thời hạn đến 90 ngày (thủ tục hoàn toàn trên môi trường điện tử, thời hạn trả kết quả 03 ngày làm việc, không cần cơ quan bảo lãnh, không yêu cầu chứng minh tài chính) và nâng thời hạn tạm trú lên 45 ngày đối với người nước ngoài nhập cảnh theo diện miễn thị thực đơn phương. Ngoài các quy định mới nêu trên, chính sách hiện hành tạo điều kiện cho kiều bào ở nước ngoài về nước được thực hiện theo Nghị định số 82/2015/NĐ-CP ngày 24/9/2015 của Chính phủ quy định về miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc của công dân Việt Nam theo đó miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và thân nhân là người nước ngoài với thời hạn tạm trú 6 tháng cho mỗi lần nhập cảnh, trường hợp có nhu cầu ở lại được xem xét gia hạn tạm trú đến 6 tháng. 2. Về các chính sách khác để thu hút kiều bào đầu tư về Việt Nam: Công tác vận động kiều bào đầu tư về nước trong thời gian qua được chú trọng, đóng góp tích cực trong việc nâng cao uy tín, sự an toàn của môi trường đầu tư kinh doanh, khuyến khích kiều bào về nước sinh sống, đầu tư và cống hiến cho đất nước. Tuy không có chính sách ưu đãi đầu tư riêng cho nhà đầu tư là người Việt Nam ở nước ngoài (do vi phạm các cam kết về phân biệt đối xử mà Việt Nam là thành viên) nhưng theo quy định hiện hành thì nhà đầu tư là kiều bào vẫn có lợi thế hơn so với nhà đầu tư nước ngoài do họ có quyền lựa chọn áp dụng các điều kiện, thủ tục đầu tư như đối với nhà đầu tư trong nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, kể từ tháng 8/2023, Chính phủ đã triển khai mạng lưới Đổi mới sáng tạo Việt Nam nhằm kêu gọi, khuyến khích các nhà đầu tư, chuyên gia, nhà khoa học, tri thức tiêu biểu hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ về nước, làm việc, nghiên cứu cho các cơ quan, tổ chức, tập đoàn trong và ngoài nước; đơn giản hóa các thủ tục chuyển tiền, đa dạng hóa mạng lưới chi trả ngoại tệ qua các ngân hàng… Đây là những chính sách mới của Chính phủ Việt Nam nhằm thu hút nguồn kiều bào đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Hiện nay, một số giải pháp mới đang được tiếp tục nghiên cứu, triển khai như: (1) Hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo hộ và tạo điều kiện cho doanh nhân, tri thức kiều bào về nước làm ăn, sinh sống; (2) Các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài tăng cường hỗ trợ các nhà đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài kết nối với các kiều bào nhằm xây dựng cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam vững mạnh ở nước sở tại; (3) Thúc đẩy thành lập các câu lạc bộ tri thức kiều bào, các Hiệp hội doanh nhân kiều bào nhằm thu hút tri thức Việt kiều có trình độ chuyên môn cao, xây dựng những đầu mối về xuất nhập khẩu và hỗ trợ đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài;…",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 43,
"text": "1. Các quy định hiện hành về xuất, nhập cảnh đã hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện thuận lợi, thông thoáng cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhập cảnh Việt Nam, cụ thể: Ngày 24/6/2023, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam (Luật số 23/2023/QH15 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/8/2023), trong đó có nhiều chính sách mới về cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài: Công dân tất cả các nước, vùng lãnh thổ có thể đề nghị cấp thị thực điện tử nhập cảnh nhiều lần, thời hạn đến 90 ngày (thủ tục hoàn toàn trên môi trường điện tử, thời hạn trả kết quả 03 ngày làm việc, không cần cơ quan bảo lãnh, không yêu cầu chứng minh tài chính) và nâng thời hạn tạm trú lên 45 ngày đối với người nước ngoài nhập cảnh theo diện miễn thị thực đơn phương. Ngoài các quy định mới nêu trên, chính sách hiện hành tạo điều kiện cho kiều bào ở nước ngoài về nước được thực hiện theo Nghị định số 82/2015/NĐ-CP ngày 24/9/2015 của Chính phủ quy định về miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc của công dân Việt Nam theo đó miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và thân nhân là người nước ngoài với thời hạn tạm trú 6 tháng cho mỗi lần nhập cảnh, trường hợp có nhu cầu ở lại được xem xét gia hạn tạm trú đến 6 tháng. 2. Về các chính sách khác để thu hút kiều bào đầu tư về Việt Nam: Công tác vận động kiều bào đầu tư về nước trong thời gian qua được chú trọng, đóng góp tích cực trong việc nâng cao uy tín, sự an toàn của môi trường đầu tư kinh doanh, khuyến khích kiều bào về nước sinh sống, đầu tư và cống hiến cho đất nước. Tuy không có chính sách ưu đãi đầu tư riêng cho nhà đầu tư là người Việt Nam ở nước ngoài (do vi phạm các cam kết về phân biệt đối xử mà Việt Nam là thành viên) nhưng theo quy định hiện hành thì nhà đầu tư là kiều bào vẫn có lợi thế hơn so với nhà đầu tư nước ngoài do họ có quyền lựa chọn áp dụng các điều kiện, thủ tục đầu tư như đối với nhà đầu tư trong nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, kể từ tháng 8/2023, Chính phủ đã triển khai mạng lưới Đổi mới sáng tạo Việt Nam nhằm kêu gọi, khuyến khích các nhà đầu tư, chuyên gia, nhà khoa học, tri thức tiêu biểu hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ về nước, làm việc, nghiên cứu cho các cơ quan, tổ chức, tập đoàn trong và ngoài nước; đơn giản hóa các thủ tục chuyển tiền, đa dạng hóa mạng lưới chi trả ngoại tệ qua các ngân hàng… Đây là những chính sách mới của Chính phủ Việt Nam nhằm thu hút nguồn kiều bào đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Hiện nay, một số giải pháp mới đang được tiếp tục nghiên cứu, triển khai như: (1) Hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo hộ và tạo điều kiện cho doanh nhân, tri thức kiều bào về nước làm ăn, sinh sống; (2) Các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài tăng cường hỗ trợ các nhà đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài kết nối với các kiều bào nhằm xây dựng cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam vững mạnh ở nước sở tại; (3) Thúc đẩy thành lập các câu lạc bộ tri thức kiều bào, các Hiệp hội doanh nhân kiều bào nhằm thu hút tri thức Việt kiều có trình độ chuyên môn cao, xây dựng những đầu mối về xuất nhập khẩu và hỗ trợ đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài;…"
}
],
"id": "313",
"is_impossible": false,
"question": "Kiến nghị về chính sách xuất nhập cảnh để thu hút kiều bào về Việt Nam du lịch, đầu tư"
}
]
}
],
"title": "Kiến nghị về chính sách xuất nhập cảnh để thu hút kiều bào về Việt Nam du lịch, đầu tư"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Về vấn đề này, Bộ Công an xin trả lời như sau: a) Về kiến nghị hướng dẫn cụ thể trường hợp quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 2 Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12. Theo quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 1 Nghị quyết số 33, kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được công bố (ngày 29/6/2009) không xử lý về hình sự đối với người thực hiện một trong các hành vi quy định tại Khoản 1 các Điều 137 (tội công nhiên chiếm đoạt tài sản), Điều 138 (tội trộm cắp tài sản), Điều 139 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản), Điều 278 (tội tham ô tài sản) và Điều 280 (tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản) của Bộ luật hình sự mà tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới hai triệu đồng; tại khoản 1 các Điều 279 (tội nhận hối lộ), Điều 283 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi), Điều 289 (tội đưa hối lộ), Điều 290 (tội làm môi giới hối lộ) và Điều 291 (tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi) của Bộ luật hình sự mà tài sản phạm tội có giá trị dưới hai triệu đồng, trừ trường hợp có yếu tố định tội khác. Để thi hành đúng và thống nhất Khoản 2, Điều 1 Nghị quyết số 33, ngày 06/8/2009, Bộ Công an đã có Công văn số 1774/BCA-V19 hướng dẫn Công an các đơn vị, địa phương thi hành quy định nêu trên. b) Về kiến nghị trình Quốc hội xem xét, quy định không loại bỏ đối tượng sử dụng ma túy ra khỏi đối tượng bị xử lý hình sự để đảm bảo tính phòng ngừa và răn đe, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội. Theo quy định Luật Phòng, chống ma túy (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2008), người nghiện ma tuý không chỉ là người vi phạm pháp luật mà còn là người bệnh, là nạn nhân của tệ nạn ma tuý. Theo đó, trên cơ sở nguyên tắc nhân đạo và đánh giá tính chất, mức độ của hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự đã bãi bỏ Điều 199 quy định về tội sử dụng trái phép chất ma tuý. Trong quá trình tham gia sửa đổi Bộ luật hình sự, Bộ Công an đề xuất ý kiến không bỏ Điều luật này, tuy nhiên Quốc hội vẫn biểu quyết bãi bỏ. Như vậy, kể từ khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự có hiệu lực thi hành, người sử dụng trái phép chất ma túy chỉ có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Khoản 1, Điều 21 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Qua theo dõi cho thấy, kể từ khi Điều 199 Bộ luật hình sự quy định tội sử dụng trái phép chất ma túy được bãi bỏ, tình hình tệ nạn ma túy, tội phạm ma túy trở nên phức tạp hơn. Do vậy, Bộ Công an xin tiếp thu kiến nghị này của cử tri, nghiên cứu và trong lần sửa đổi Bộ luật hình sự tới sẽ có những đề xuất phù hợp, đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 47,
"text": "a) Về kiến nghị hướng dẫn cụ thể trường hợp quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 2 Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12. Theo quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 1 Nghị quyết số 33, kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được công bố (ngày 29/6/2009) không xử lý về hình sự đối với người thực hiện một trong các hành vi quy định tại Khoản 1 các Điều 137 (tội công nhiên chiếm đoạt tài sản), Điều 138 (tội trộm cắp tài sản), Điều 139 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản), Điều 278 (tội tham ô tài sản) và Điều 280 (tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản) của Bộ luật hình sự mà tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới hai triệu đồng; tại khoản 1 các Điều 279 (tội nhận hối lộ), Điều 283 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi), Điều 289 (tội đưa hối lộ), Điều 290 (tội làm môi giới hối lộ) và Điều 291 (tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi) của Bộ luật hình sự mà tài sản phạm tội có giá trị dưới hai triệu đồng, trừ trường hợp có yếu tố định tội khác. Để thi hành đúng và thống nhất Khoản 2, Điều 1 Nghị quyết số 33, ngày 06/8/2009, Bộ Công an đã có Công văn số 1774/BCA-V19 hướng dẫn Công an các đơn vị, địa phương thi hành quy định nêu trên. b) Về kiến nghị trình Quốc hội xem xét, quy định không loại bỏ đối tượng sử dụng ma túy ra khỏi đối tượng bị xử lý hình sự để đảm bảo tính phòng ngừa và răn đe, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội. Theo quy định Luật Phòng, chống ma túy (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2008), người nghiện ma tuý không chỉ là người vi phạm pháp luật mà còn là người bệnh, là nạn nhân của tệ nạn ma tuý. Theo đó, trên cơ sở nguyên tắc nhân đạo và đánh giá tính chất, mức độ của hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự đã bãi bỏ Điều 199 quy định về tội sử dụng trái phép chất ma tuý. Trong quá trình tham gia sửa đổi Bộ luật hình sự, Bộ Công an đề xuất ý kiến không bỏ Điều luật này, tuy nhiên Quốc hội vẫn biểu quyết bãi bỏ. Như vậy, kể từ khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự có hiệu lực thi hành, người sử dụng trái phép chất ma túy chỉ có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Khoản 1, Điều 21 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Qua theo dõi cho thấy, kể từ khi Điều 199 Bộ luật hình sự quy định tội sử dụng trái phép chất ma túy được bãi bỏ, tình hình tệ nạn ma túy, tội phạm ma túy trở nên phức tạp hơn. Do vậy, Bộ Công an xin tiếp thu kiến nghị này của cử tri, nghiên cứu và trong lần sửa đổi Bộ luật hình sự tới sẽ có những đề xuất phù hợp, đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội."
}
],
"id": "314",
"is_impossible": false,
"question": "Về đề nghị không loại bỏ đối tượng sử dụng ma túy ra khỏi đối tượng bị xử lý hình sự"
}
]
}
],
"title": "Về đề nghị không loại bỏ đối tượng sử dụng ma túy ra khỏi đối tượng bị xử lý hình sự"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Bộ luật Tố tụng dân sự không quy định về trình tự, thủ tục, hình thức, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính…, nội dung này được quy định tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 2002, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2008 và Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 2008. Chính phủ đang xây dựng và trong thời gian tới sẽ trình Quốc hội xem xét, thông qua dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính để điều chỉnh một cách toàn diện việc xử lý vi phạm hành chính ở mọi lĩnh vực, kể cả lĩnh vực tố tụng dân sự.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Bộ luật Tố tụng dân sự không quy định về trình tự, thủ tục, hình thức, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính…, nội dung này được quy định tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 2002, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2008 và Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 2008. Chính phủ đang xây dựng và trong thời gian tới sẽ trình Quốc hội xem xét, thông qua dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính để điều chỉnh một cách toàn diện việc xử lý vi phạm hành chính ở mọi lĩnh vực, kể cả lĩnh vực tố tụng dân sự."
}
],
"id": "315",
"is_impossible": false,
"question": "Hướng dẫn trình tự xử phạt hành chính trong Bộ luật Tố tụng hình sự"
}
]
}
],
"title": "Hướng dẫn trình tự xử phạt hành chính trong Bộ luật Tố tụng hình sự"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Thực hiện Đề án số 30 của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính, từ năm 2012, Bộ Công an đã chỉ đạo, triển khai dự án đăng ký, quản lý xe ô tô trên Internet, cơ sở dữ liệu quản lý tập trung tại Cục Cảnh sát giao thông với phương thức chọn số ngẫu nhiên tại 63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc, rút ngắn thời gian đăng ký, quản lý công tác đăng ký chặt chẽ hơn, được dư luận nhân dân đồng tình ủng hộ. Năm 2014, Bộ Công an tiếp tục triển khai dự án đăng ký, quản lý xe môtô trên phạm vi toàn quốc. Công an các đơn vị, địa phương đã tiến hành khảo sát, phân tích, đánh giá tình hình đăng ký, quản lý xe ở từng địa phương, phân bố dân cư, tình hình quy hoạch, phát triển giao thông…từ đó đưa ra phương án tối ưu vừa đảm bảo phục vụ tốt yêu cầu đăng ký xe của các tổ chức, cá nhân tại các đơn vị, địa phương vừa đảm bảo nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đăng ký, quản lý phương tiện và phù hợp với tổng mức đầu tư, kinh phí duy trì, nhân lực, thiết bị vận hành dự án tối ưu nhất. Trên cơ sở kết quả khảo sát và đề xuất của Công an tỉnh Điện Biên, Bộ Công an đã triển khai lắp đặt hệ thống đăng ký xe mô tô tại 4 điểm (Phòng Cảnh sát giao thông, Công an thị xã Mường Lay, Công an huyện Tuần Giáo và Công an huyện Mường Nhé); đến nay, Công an tỉnh Điện Biên chưa có kiến nghị Bộ Công an triển khai lắp đặt hệ thống đăng ký phương tiện ở các địa điểm khác để phục vụ nhân dân trong tỉnh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thực hiện Đề án số 30 của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính, từ năm 2012, Bộ Công an đã chỉ đạo, triển khai dự án đăng ký, quản lý xe ô tô trên Internet, cơ sở dữ liệu quản lý tập trung tại Cục Cảnh sát giao thông với phương thức chọn số ngẫu nhiên tại 63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc, rút ngắn thời gian đăng ký, quản lý công tác đăng ký chặt chẽ hơn, được dư luận nhân dân đồng tình ủng hộ. Năm 2014, Bộ Công an tiếp tục triển khai dự án đăng ký, quản lý xe môtô trên phạm vi toàn quốc. Công an các đơn vị, địa phương đã tiến hành khảo sát, phân tích, đánh giá tình hình đăng ký, quản lý xe ở từng địa phương, phân bố dân cư, tình hình quy hoạch, phát triển giao thông…từ đó đưa ra phương án tối ưu vừa đảm bảo phục vụ tốt yêu cầu đăng ký xe của các tổ chức, cá nhân tại các đơn vị, địa phương vừa đảm bảo nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đăng ký, quản lý phương tiện và phù hợp với tổng mức đầu tư, kinh phí duy trì, nhân lực, thiết bị vận hành dự án tối ưu nhất. Trên cơ sở kết quả khảo sát và đề xuất của Công an tỉnh Điện Biên, Bộ Công an đã triển khai lắp đặt hệ thống đăng ký xe mô tô tại 4 điểm (Phòng Cảnh sát giao thông, Công an thị xã Mường Lay, Công an huyện Tuần Giáo và Công an huyện Mường Nhé); đến nay, Công an tỉnh Điện Biên chưa có kiến nghị Bộ Công an triển khai lắp đặt hệ thống đăng ký phương tiện ở các địa điểm khác để phục vụ nhân dân trong tỉnh."
}
],
"id": "316",
"is_impossible": false,
"question": "Về đề nghị tiếp tục phân cấp cho Công an tất cả các huyện, thị xã, thành phố đăng ký mô tô, xe máy"
}
]
}
],
"title": "Về đề nghị tiếp tục phân cấp cho Công an tất cả các huyện, thị xã, thành phố đăng ký mô tô, xe máy"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Về vấn đề này, Bộ Công an xin trả lời như sau: Trong những năm qua, Chính phủ, Bộ Công an và Ủy ban nhân dân các cấp rất quan tâm đến việc kiện toàn tổ chức, hoạt động của lực lượng Công an xã nhằm góp phần đảm bảo giữ vững an ninh, trật tự ở khu vực nông thôn. Về chế độ, chính sách đối với lực lượng Công an xã, tại Khoản 1, 2, 3, Điều 14 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định: - Những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được hưởng chế độ phụ cấp. Mức phụ cấp cụ thể của từng chức danh do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định với mức không vượt quá hệ số 1,0 mức lương tối thiểu chung. - Ngân sách Trung ương hỗ trợ các địa phương theo mức bình quân bằng 2/3 so với mức lương tối thiểu chung cho mỗi người hoạt động không chuyên trách. - Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định chức danh những người hoạt động không chuyên trách; mức phụ cấp cụ thể của từng chức danh; mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh; mức khoán kinh phí chi trả phụ cấp đối với những người hoạt động không chuyên trách theo loại đơn vị hành chính cấp xã, loại thôn, tổ dân phố phù hợp quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này; quy định mức khoán kinh phí hoạt động của các đoàn thể ở cấp xã theo số lượng những người hoạt động không chuyên trách quy định tại Điều 13 Nghị định này bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Hiện nay, Bộ Nội vụ đang phối hợp với các bộ, ngành liên quan đề nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; trong đó có vấn đề phụ cấp cho Công an xã. Bộ Công an cũng sẽ chỉ đạo nghiên cứu, tập hợp ý kiến, đề xuất Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Công an xã cho phù hợp.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 47,
"text": "Trong những năm qua, Chính phủ, Bộ Công an và Ủy ban nhân dân các cấp rất quan tâm đến việc kiện toàn tổ chức, hoạt động của lực lượng Công an xã nhằm góp phần đảm bảo giữ vững an ninh, trật tự ở khu vực nông thôn. Về chế độ, chính sách đối với lực lượng Công an xã, tại Khoản 1, 2, 3, Điều 14 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định: - Những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được hưởng chế độ phụ cấp. Mức phụ cấp cụ thể của từng chức danh do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định với mức không vượt quá hệ số 1,0 mức lương tối thiểu chung. - Ngân sách Trung ương hỗ trợ các địa phương theo mức bình quân bằng 2/3 so với mức lương tối thiểu chung cho mỗi người hoạt động không chuyên trách. - Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định chức danh những người hoạt động không chuyên trách; mức phụ cấp cụ thể của từng chức danh; mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh; mức khoán kinh phí chi trả phụ cấp đối với những người hoạt động không chuyên trách theo loại đơn vị hành chính cấp xã, loại thôn, tổ dân phố phù hợp quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này; quy định mức khoán kinh phí hoạt động của các đoàn thể ở cấp xã theo số lượng những người hoạt động không chuyên trách quy định tại Điều 13 Nghị định này bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Hiện nay, Bộ Nội vụ đang phối hợp với các bộ, ngành liên quan đề nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; trong đó có vấn đề phụ cấp cho Công an xã. Bộ Công an cũng sẽ chỉ đạo nghiên cứu, tập hợp ý kiến, đề xuất Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Công an xã cho phù hợp."
}
],
"id": "317",
"is_impossible": false,
"question": "Về việc sửa đổi bất cập trong Pháp lệnh Công an xã"
}
]
}
],
"title": "Về việc sửa đổi bất cập trong Pháp lệnh Công an xã"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Phản ánh, kiến nghị được gửi hoặc liên hệ theo địa chỉ sau: Cơ quan tiếp nhận: Bộ Công an (qua Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp)Địa chỉ: Phòng Cải cách hành chính và kiểm soát thủ tục hành chính – Cục pháp chế và cải cách hành chính tư pháp Bộ Công an, số 44 Yết Kiêu, Hoàn Kiếm, Hà NộiĐiện thoại: 069.42865Địa chỉ thư điện tử: phananhkiennghi.bca@gmail.comLưu ý: Phản ánh, kiến nghị phải sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt; ghi rõ nội dung phản ánh, kiến nghịGhi rõ tên, địa chỉ, số điện thoại (hoặc địa chỉ thư tín) của cá nhân, tổ chức có phản ánh, kiến nghị.Không tiếp nhận phản ánh, kiến nghị liên quan đến khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 60,
"text": "Cơ quan tiếp nhận: Bộ Công an (qua Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp)Địa chỉ: Phòng Cải cách hành chính và kiểm soát thủ tục hành chính – Cục pháp chế và cải cách hành chính tư pháp Bộ Công an, số 44 Yết Kiêu, Hoàn Kiếm, Hà NộiĐiện thoại: 069.42865Địa chỉ thư điện tử: phananhkiennghi.bca@gmail.comLưu ý: Phản ánh, kiến nghị phải sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt; ghi rõ nội dung phản ánh, kiến nghịGhi rõ tên, địa chỉ, số điện thoại (hoặc địa chỉ thư tín) của cá nhân, tổ chức có phản ánh, kiến nghị.Không tiếp nhận phản ánh, kiến nghị liên quan đến khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo."
}
],
"id": "318",
"is_impossible": false,
"question": "Tiếp nhận phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính"
}
]
}
],
"title": "Tiếp nhận phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam vừa được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2014 và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Hiện nay, Bộ Công an đang phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam để trình cơ quan có thẩm quyền ban hành cùng thời điểm khi Luật này có hiệu lực thi hành. Việc xử lý vi phạm hành chính về xuất, nhập cảnh đối với người nước ngoài đang thực hiện theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Các quy định tại Nghị định xử phạt vi phạm hành chính đối với người nước ngoài hiện vẫn đang phù hợp với Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam vừa được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2014 và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Hiện nay, Bộ Công an đang phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam để trình cơ quan có thẩm quyền ban hành cùng thời điểm khi Luật này có hiệu lực thi hành. Việc xử lý vi phạm hành chính về xuất, nhập cảnh đối với người nước ngoài đang thực hiện theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Các quy định tại Nghị định xử phạt vi phạm hành chính đối với người nước ngoài hiện vẫn đang phù hợp với Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam."
}
],
"id": "319",
"is_impossible": false,
"question": "Về hướng dẫn thi hành Luật Xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam"
}
]
}
],
"title": "Về hướng dẫn thi hành Luật Xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Nghị định số 111/2013/NĐ-CP, ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/11/2013. Để triển khai thi hành Nghị định nêu trên, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 42/2014/TT-BCA, ngày 25/9/2014 quy định về biểu mẫu sử dụng trong Công an nhân dân khi áp dụng và thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/11/2014 và Thông tư số 48/2014/TT-BCA, ngày 17/10/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/12/2014. Các Thông tư nêu trên có nội dung hướng dẫn chi tiết và bao quát đầy đủ việc thực hiện biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, tạo thuận lợi khi áp dụng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghị định số 111/2013/NĐ-CP, ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/11/2013. Để triển khai thi hành Nghị định nêu trên, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 42/2014/TT-BCA, ngày 25/9/2014 quy định về biểu mẫu sử dụng trong Công an nhân dân khi áp dụng và thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/11/2014 và Thông tư số 48/2014/TT-BCA, ngày 17/10/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/12/2014. Các Thông tư nêu trên có nội dung hướng dẫn chi tiết và bao quát đầy đủ việc thực hiện biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, tạo thuận lợi khi áp dụng."
}
],
"id": "320",
"is_impossible": false,
"question": "Về đề xuất ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn"
}
]
}
],
"title": "Về đề xuất ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Tại Khoản 1, Khoản 2, Điều 32, Luật Cư trú quy định cụ thể đối tượng phải làm thủ tục khai báo tạm vắng, gồm: Bị can, bị cáo đang tại ngoại; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo; người bị phạt cải tạo không giam giữ; người đang bị quản chế; người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành khi đi khỏi nơi cư trú từ một ngày trở lên có trách nhiệm khai báo tạm vắng; người trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự, dự bị động viên đi khỏi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi mình cư trú từ ba tháng trở lên có trách nhiệm khai báo tạm vắng. Để tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong thực hiện thủ tục tạm trú, tạm vắng và bảo đảm quyền tự do cư trú, tự do đi lại của công dân thì các trường hợp không thuộc đối tượng nêu trên khi đi khỏi địa phương không phải làm thủ tục khai báo tạm vắng. Khi công dân đến nơi ở mới và làm thủ tục đăng ký tạm trú nếu cần xác minh nội dung gì thì cơ quan Công an nơi công dân đang tạm trú liên hệ, trao đổi với cơ quan Công an nơi đăng ký thường trú để quản lý theo đúng quy định. Cơ quan Công an không có thẩm quyền đề nghị cơ quan, doanh nghiệp, trường học… khi tiếp nhận người đến làm việc, học tập phải có Phiếu khai báo tạm vắng, vì trái với Luật Cư trú.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 110,
"text": "Bị can, bị cáo đang tại ngoại; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo; người bị phạt cải tạo không giam giữ; người đang bị quản chế; người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành khi đi khỏi nơi cư trú từ một ngày trở lên có trách nhiệm khai báo tạm vắng; người trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự, dự bị động viên đi khỏi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi mình cư trú từ ba tháng trở lên có trách nhiệm khai báo tạm vắng. Để tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong thực hiện thủ tục tạm trú, tạm vắng và bảo đảm quyền tự do cư trú, tự do đi lại của công dân thì các trường hợp không thuộc đối tượng nêu trên khi đi khỏi địa phương không phải làm thủ tục khai báo tạm vắng. Khi công dân đến nơi ở mới và làm thủ tục đăng ký tạm trú nếu cần xác minh nội dung gì thì cơ quan Công an nơi công dân đang tạm trú liên hệ, trao đổi với cơ quan Công an nơi đăng ký thường trú để quản lý theo đúng quy định. Cơ quan Công an không có thẩm quyền đề nghị cơ quan, doanh nghiệp, trường học… khi tiếp nhận người đến làm việc, học tập phải có Phiếu khai báo tạm vắng, vì trái với Luật Cư trú."
}
],
"id": "321",
"is_impossible": false,
"question": "Về đề nghị phải có Giấy xác nhận tạm vắng ở địa phương khi tiếp nhận làm việc, học tập, tạm trú của người ở xa"
}
]
}
],
"title": "Về đề nghị phải có Giấy xác nhận tạm vắng ở địa phương khi tiếp nhận làm việc, học tập, tạm trú của người ở xa"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Hiện nay, việc quản lý sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, buôn bán đối với các loại pháo được quy định tại Nghị định số 36/2009/NĐ-CP ngày 15/4/2009 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo và Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Theo đó, tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 3 Nghị định 36/2009/NĐ-CP ngày 15/4/2009 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo quy định: “3. Pháo nổ là loại sản phẩm có chứa thuốc pháo được chế tạo bằng các công nghệ khác nhau không phân biệt xuất xứ và nơi sản xuất, khi có tác động của các kích thích cơ, nhiệt, hoá, điện gây nên tiếng nổ. 4. Pháo hoa là sản phẩm có chứa thuốc pháo hoa, khi có các tác động của các kích thích cơ, nhiệt, hoá, điện sẽ gây phản ứng hoá học tạo hiệu ứng ánh sáng có màu sắc, gây tiếng nổ hoặc không gây tiếng nổ.” Theo quy định tại Điểm a, Mục 1, Phần I Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 25/12/2008 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo: “Pháo nổ (không phân biệt xuất xứ hoặc nơi sản xuất) là loại sản phẩm bên trong có chứa thuốc pháo và khi có yếu tố ngoại lực tác động thì gây tiếng nổ”. Như vậy, pháp luật hiện hành chỉ quy định về “pháo nổ” và “pháo hoa”, không quy định về “pháo hoa nổ”. Để giải quyết những vướng mắc trong thực tế hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Công văn số 2149/VKSNDTC-V3 ngày 13/6/2017 hướng dẫn xử lý vướng mắc đối với pháo hoa nổ, pháo hoa; Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 06/TANDTC-PC ngày 19/01/2017 và Công văn số 91/TANDTC-PC ngày 28/4/2017 hướng dẫn xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo hoa nổ trong nội địa; Công văn số 340/TANDTC-PC ngày 22/12/2017 về việc xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo hoa nổ trong nội địa. Bộ Công an xin ghi nhận phản ánh về thực tiễn hoạt động thẩm lậu pháo hoa nổ qua biên giới để chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương phối hợp với các cơ quan chức năng kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo hoa nổ theo quy định. Đồng thời, trên cơ sở tổng kết vướng mắc về thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về quản lý pháo hoa nổ để tham mưu, đề xuất các nội dung sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật hiện hành cho phù hợp.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 469,
"text": "“3. Pháo nổ là loại sản phẩm có chứa thuốc pháo được chế tạo bằng các công nghệ khác nhau không phân biệt xuất xứ và nơi sản xuất, khi có tác động của các kích thích cơ, nhiệt, hoá, điện gây nên tiếng nổ. 4. Pháo hoa là sản phẩm có chứa thuốc pháo hoa, khi có các tác động của các kích thích cơ, nhiệt, hoá, điện sẽ gây phản ứng hoá học tạo hiệu ứng ánh sáng có màu sắc, gây tiếng nổ hoặc không gây tiếng nổ.” Theo quy định tại Điểm a, Mục 1, Phần I Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 25/12/2008 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo: “Pháo nổ (không phân biệt xuất xứ hoặc nơi sản xuất) là loại sản phẩm bên trong có chứa thuốc pháo và khi có yếu tố ngoại lực tác động thì gây tiếng nổ”. Như vậy, pháp luật hiện hành chỉ quy định về “pháo nổ” và “pháo hoa”, không quy định về “pháo hoa nổ”. Để giải quyết những vướng mắc trong thực tế hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Công văn số 2149/VKSNDTC-V3 ngày 13/6/2017 hướng dẫn xử lý vướng mắc đối với pháo hoa nổ, pháo hoa; Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 06/TANDTC-PC ngày 19/01/2017 và Công văn số 91/TANDTC-PC ngày 28/4/2017 hướng dẫn xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo hoa nổ trong nội địa; Công văn số 340/TANDTC-PC ngày 22/12/2017 về việc xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo hoa nổ trong nội địa. Bộ Công an xin ghi nhận phản ánh về thực tiễn hoạt động thẩm lậu pháo hoa nổ qua biên giới để chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương phối hợp với các cơ quan chức năng kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo hoa nổ theo quy định. Đồng thời, trên cơ sở tổng kết vướng mắc về thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về quản lý pháo hoa nổ để tham mưu, đề xuất các nội dung sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật hiện hành cho phù hợp."
}
],
"id": "322",
"is_impossible": false,
"question": "Kiến nghị về việc quản lý “pháo hoa nổ”"
}
]
}
],
"title": "Kiến nghị về việc quản lý “pháo hoa nổ”"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Theo quy định tại Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BCA, ngày 23/9/2013 của Bộ Công an về hợp nhất Nghị định số 05/1999/NĐ-CP, ngày 03/02/1999 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 170/2007/NĐ-CP, ngày 19/11/2007 và Nghị định số 106/2013/NĐ-CP, ngày 17/9/2013 của Chính phủ về công tác cấp, quản lý Chứng minh nhân dân thì việc điều chỉnh thông tin trên Chứng minh nhân dân cần căn cứ theo thông tin trên sổ hộ khẩu; nếu có sự chênh lệch thông tin về ngày sinh trong hồ sơ cấp Chứng minh nhân dân với ngày sinh ghi trên sổ hộ khẩu thì công dân cần xuất trình giấy khai sinh, hoặc bản sao khai sinh tại thời điểm sinh, hoặc giấy khai sinh đăng ký lại, cấp lại hoặc quyết định thay đổi ngày tháng năm sinh của cơ quan có thẩm quyền. Sau khi đã điều chỉnh thông tin về ngày sinh trong sổ hộ khẩu thống nhất với thông tin về ngày sinh trên giấy khai sinh, bản sao khai sinh tại thời điểm sinh, giấy khai sinh đăng ký lại, cấp lại hoặc quyết định thay đổi ngày tháng năm sinh của cơ quan có thẩm quyền thì tiến hành điều chỉnh thông tin về ngày sinh trên Chứng minh nhân dân cho công dân. Như vậy, trường hợp ngày sinh trong Chứng minh nhân dân nhân và ngày sinh trong sổ hộ khẩu thường trú không khớp nhau thì không nhất thiết phải xuất trình giấy khai sinh bản chính mà công dân có thể xuất trình bản sao giấy khai sinh hoặc giấy khai sinh đăng ký lại, cấp lại, hoặc quyết định thay đổi ngày tháng năm sinh của cơ quan có thẩm quyền để làm căn cứ điều chỉnh thông tin về ngày sinh trong sổ hộ khẩu và Chứng minh nhân dân cho công dân. Thời gian tới, sau khi Luật Căn cước công dân được ban hành, Bộ Công an sẽ tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn, trong đó sẽ có quy định cụ thể về vấn đề này và các vấn đề khác có liên quan đến công tác cấp, quản lý Chứng minh nhân dân, nhằm tạo sự thống nhất cao trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác cấp, quản lý Chứng minh nhân dân.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo quy định tại Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BCA, ngày 23/9/2013 của Bộ Công an về hợp nhất Nghị định số 05/1999/NĐ-CP, ngày 03/02/1999 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 170/2007/NĐ-CP, ngày 19/11/2007 và Nghị định số 106/2013/NĐ-CP, ngày 17/9/2013 của Chính phủ về công tác cấp, quản lý Chứng minh nhân dân thì việc điều chỉnh thông tin trên Chứng minh nhân dân cần căn cứ theo thông tin trên sổ hộ khẩu; nếu có sự chênh lệch thông tin về ngày sinh trong hồ sơ cấp Chứng minh nhân dân với ngày sinh ghi trên sổ hộ khẩu thì công dân cần xuất trình giấy khai sinh, hoặc bản sao khai sinh tại thời điểm sinh, hoặc giấy khai sinh đăng ký lại, cấp lại hoặc quyết định thay đổi ngày tháng năm sinh của cơ quan có thẩm quyền. Sau khi đã điều chỉnh thông tin về ngày sinh trong sổ hộ khẩu thống nhất với thông tin về ngày sinh trên giấy khai sinh, bản sao khai sinh tại thời điểm sinh, giấy khai sinh đăng ký lại, cấp lại hoặc quyết định thay đổi ngày tháng năm sinh của cơ quan có thẩm quyền thì tiến hành điều chỉnh thông tin về ngày sinh trên Chứng minh nhân dân cho công dân. Như vậy, trường hợp ngày sinh trong Chứng minh nhân dân nhân và ngày sinh trong sổ hộ khẩu thường trú không khớp nhau thì không nhất thiết phải xuất trình giấy khai sinh bản chính mà công dân có thể xuất trình bản sao giấy khai sinh hoặc giấy khai sinh đăng ký lại, cấp lại, hoặc quyết định thay đổi ngày tháng năm sinh của cơ quan có thẩm quyền để làm căn cứ điều chỉnh thông tin về ngày sinh trong sổ hộ khẩu và Chứng minh nhân dân cho công dân. Thời gian tới, sau khi Luật Căn cước công dân được ban hành, Bộ Công an sẽ tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn, trong đó sẽ có quy định cụ thể về vấn đề này và các vấn đề khác có liên quan đến công tác cấp, quản lý Chứng minh nhân dân, nhằm tạo sự thống nhất cao trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác cấp, quản lý Chứng minh nhân dân."
}
],
"id": "323",
"is_impossible": false,
"question": "Về đề nghị xem xét sửa đổi Thông tư 04/1999/TT-BCA quy định thủ tục xin cấp lại Chứng minh nhân dân"
}
]
}
],
"title": "Về đề nghị xem xét sửa đổi Thông tư 04/1999/TT-BCA quy định thủ tục xin cấp lại Chứng minh nhân dân"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "1. Về điều kiện được đề nghị đặc xá Đặc xá là đặc ân của người đứng đầu Nhà nước, khác với quy định tha tù trước thời hạn có điều kiện quy định tại Điều 66 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) do Chánh án Tòa án nhân dân quyết định. Vì vậy, Điều 10 của dự thảo Luật đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng hơn diện đối tượng người có thể được đề nghị đặc xá so với quy định của Luật Đặc xá năm 2007 và diện người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, như sau: - Theo quy định tại Điều 66 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì một trong những điều kiện để tha tù trước thời hạn là “phạm tội lần đầu”. Trong dự thảo Luật Đặc xá (sửa đổi) không quy định điều kiện này; - Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII, Chương XXVI, Điều 299; người bị kết án 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương XIV của Bộ luật này do cố ý hoặc người bị kết án 07 năm tù trở lên đối với một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 248, 251, 252 của Bộ luật Hình sự” thì không được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện. Trong dự thảo Luật Đặc xá (sửa đổi), đối tượng này vẫn có thể được đề nghị đặc xá; tuy nhiên, quy định chặt chẽ hơn về thời hạn đã chấp hành án phạt tù; - Bổ sung quy định Chủ tịch nước xem xét, quyết định đặc xá đối với một số trường hợp tuy chưa thực hiện xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí; chưa thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại hoặc nghĩa vụ dân sự khác nhưng có thỏa thuận không yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc đồng ý bồi thường thiệt hại sau khi được đặc xá. 2. Về các Quyết định của Chủ tịch nước về đặc xá - Quyết định về đặc xá của Chủ tịch nước không phải là văn bản quy phạm pháp luật (giữ nguyên như quy định của Luật Đặc xá hiện hành); - Quy định cụ thể hơn trình tự, thủ tục trình Chủ tịch nước ban hành quyết định về đặc xá; đồng thời, bổ sung quy định Tờ trình và dự thảo Quyết định về đặc xá phải được trình lên Chủ tịch nước chậm nhất là 60 ngày trước thời điểm đặc xá, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật này; - Bổ sung quy định Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước được công bố và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và được niêm yết tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được đặc xá cư trú để bảo đảm công khai, minh bạch, tăng cường khả năng giám sát, giúp đỡ người được đặc xá nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội. 3. Về đặc xá đối với phạm nhân là người nước ngoài Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc khi thi hành Luật Đặc xá năm 2007 về quản lý đối tượng người nước ngoài được đặc xá, dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 19, cụ thể: “Khi có Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước đối với người nước ngoài, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại giao thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người được đặc xá là công dân và đề nghị phối hợp thực hiện Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước. Trường hợp các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người được đặc xá là công dân nhưng các cơ quan này không đến nhận hoặc chưa đến nhận thì người nước ngoài được đặc xá được bố trí lưu trú tại cơ sở lưu trú do cơ quan quản lý thi hành án hình sự chỉ định trong thời gian chờ làm các thủ tục cần thiết” và giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này. Quy định này là phù hợp với khoản 4 Điều 40 Luật Thi hành án hình sự năm 2010; đồng thời, cụ thể hóa chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người nước ngoài phạm tội. 4. Về một số nội dung cụ thể khác của dự thảo Luật - Các trường hợp không đề nghị đặc xá (Điều 11) Dự thảo Luật Đặc xá (sửa đổi) quy định: “Phần bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự” để cụ thể, phù hợp hơn và bảo đảm quyền được đề nghị được đặc xá đối với các trường hợp có phần bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng giữ nguyên hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đồng thời, dự thảo Luật bỏ quy định trước đó đã được đặc xá và có từ hai tiền án trở lên được quy định tại Điều 11 của Luật Đặc xá năm 2007 nhằm thu hẹp diện đối tượng không đề nghị đặc xá, bảo đảm thể hiện được đầy đủ ý nghĩa là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước đối với người phạm tội bị kết án phạt tù. - Hồ sơ đề nghị đặc xá Dự thảo Luật bổ sung quy định về các tài liệu: có đơn xin miễn, giảm; văn bản thỏa thuận không yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc đồng ý bồi thường thiệt hại sau khi được đặc xá; văn bản đồng ý tiếp nhận của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người được đề nghị đặc xá là công dân để chặt chẽ và phù hợp với quy định tại Điều 10, Điều 19 của dự thảo Luật. Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ, danh sách người đủ điều kiện đề nghị đặc xá; thẩm định xét duyệt hồ sơ đề nghị đặc xá và trình Chủ tịch nước danh sách đề nghị đặc xá (Điều 15, Điều 16): Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự, thủ tục lập hồ sơ, danh sách người đủ điều kiện đề nghị đặc xá; thẩm định xét duyệt hồ sơ đề nghị đặc xá và trình Chủ tịch nước danh sách đề nghị đặc xá theo hướng cụ thể, chặt chẽ hơn so với quy định của Luật Đặc xá năm 2007. - Tổ thẩm định liên ngành, trách nhiệm của một số bộ và cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện + Qua tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Luật Đặc xá năm 2007, để cụ thể hóa tư cách pháp lý của Tổ thẩm định liên ngành (giúp việc Hội đồng tư vấn đặc xá) dự thảo Luật đã bổ sung các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ thẩm định liên ngành tại khoản 5 Điều 3, Điều 15, Điều 16, Điều 26 dự thảo Luật. + Để phù hợp với quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2010, dự thảo Luật đã bổ sung trách nhiệm của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện trong công tác đặc xá tại khoản 2 Điều 9 (niêm yết Quyết định về đặc xá tại nhà tạm giữ thuộc Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện); khoản 2 Điều 10; khoản 6 Điều 14, Điều 15, Điều 18. + Dự thảo Luật đã bổ sung trách nhiệm của Bộ Tư pháp (Điều 31), Bộ Ngoại giao (Điều 32) trong công tác đặc xá để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các bộ trong việc thực hiện đặc xá; cụ thể là: Bộ Ngoại giao có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành có liên quan thực hiện tuyên truyền đối ngoại về công tác đặc xá; phối hợp thực hiện Quyết định đặc xá đối với người được đặc xá là người nước ngoài và các hoạt động khác liên quan đến công tác đặc xá theo quy định của Luật Đặc xá. Bộ Tư pháp có trách nhiệm: tham gia Hội đồng tư vấn đặc xá; chỉ đạo cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong việc cung cấp thông tin, chuyển giao giấy tờ, tiền, tài sản có liên quan đến phạm nhân là người phải thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, các nghĩa vụ dân sự khác hoặc được thi hành án dân sự; phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức khác thực hiện các hoạt động khác liên quan đến công tác đặc xá theo quy định của Luật Đặc xá. Bên cạnh đó, dự thảo Luật đã được rà soát, chỉnh lý về kỹ thuật để bảo đảm thống nhất của hệ thống pháp luật và phù hợp với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 487,
"text": "- Theo quy định tại Điều 66 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì một trong những điều kiện để tha tù trước thời hạn là “phạm tội lần đầu”. Trong dự thảo Luật Đặc xá (sửa đổi) không quy định điều kiện này; - Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII, Chương XXVI, Điều 299; người bị kết án 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương XIV của Bộ luật này do cố ý hoặc người bị kết án 07 năm tù trở lên đối với một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 248, 251, 252 của Bộ luật Hình sự” thì không được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện. Trong dự thảo Luật Đặc xá (sửa đổi), đối tượng này vẫn có thể được đề nghị đặc xá; tuy nhiên, quy định chặt chẽ hơn về thời hạn đã chấp hành án phạt tù; - Bổ sung quy định Chủ tịch nước xem xét, quyết định đặc xá đối với một số trường hợp tuy chưa thực hiện xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí; chưa thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại hoặc nghĩa vụ dân sự khác nhưng có thỏa thuận không yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc đồng ý bồi thường thiệt hại sau khi được đặc xá. 2. Về các Quyết định của Chủ tịch nước về đặc xá - Quyết định về đặc xá của Chủ tịch nước không phải là văn bản quy phạm pháp luật (giữ nguyên như quy định của Luật Đặc xá hiện hành); - Quy định cụ thể hơn trình tự, thủ tục trình Chủ tịch nước ban hành quyết định về đặc xá; đồng thời, bổ sung quy định Tờ trình và dự thảo Quyết định về đặc xá phải được trình lên Chủ tịch nước chậm nhất là 60 ngày trước thời điểm đặc xá, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật này; - Bổ sung quy định Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước được công bố và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và được niêm yết tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được đặc xá cư trú để bảo đảm công khai, minh bạch, tăng cường khả năng giám sát, giúp đỡ người được đặc xá nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội. 3. Về đặc xá đối với phạm nhân là người nước ngoài Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc khi thi hành Luật Đặc xá năm 2007 về quản lý đối tượng người nước ngoài được đặc xá, dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 19, cụ thể: “Khi có Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước đối với người nước ngoài, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại giao thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người được đặc xá là công dân và đề nghị phối hợp thực hiện Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước. Trường hợp các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người được đặc xá là công dân nhưng các cơ quan này không đến nhận hoặc chưa đến nhận thì người nước ngoài được đặc xá được bố trí lưu trú tại cơ sở lưu trú do cơ quan quản lý thi hành án hình sự chỉ định trong thời gian chờ làm các thủ tục cần thiết” và giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này. Quy định này là phù hợp với khoản 4 Điều 40 Luật Thi hành án hình sự năm 2010; đồng thời, cụ thể hóa chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người nước ngoài phạm tội. 4. Về một số nội dung cụ thể khác của dự thảo Luật - Các trường hợp không đề nghị đặc xá (Điều 11) Dự thảo Luật Đặc xá (sửa đổi) quy định: “Phần bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự” để cụ thể, phù hợp hơn và bảo đảm quyền được đề nghị được đặc xá đối với các trường hợp có phần bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng giữ nguyên hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đồng thời, dự thảo Luật bỏ quy định trước đó đã được đặc xá và có từ hai tiền án trở lên được quy định tại Điều 11 của Luật Đặc xá năm 2007 nhằm thu hẹp diện đối tượng không đề nghị đặc xá, bảo đảm thể hiện được đầy đủ ý nghĩa là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước đối với người phạm tội bị kết án phạt tù. - Hồ sơ đề nghị đặc xá Dự thảo Luật bổ sung quy định về các tài liệu: có đơn xin miễn, giảm; văn bản thỏa thuận không yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc đồng ý bồi thường thiệt hại sau khi được đặc xá; văn bản đồng ý tiếp nhận của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người được đề nghị đặc xá là công dân để chặt chẽ và phù hợp với quy định tại Điều 10, Điều 19 của dự thảo Luật. Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ, danh sách người đủ điều kiện đề nghị đặc xá; thẩm định xét duyệt hồ sơ đề nghị đặc xá và trình Chủ tịch nước danh sách đề nghị đặc xá (Điều 15, Điều 16): Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự, thủ tục lập hồ sơ, danh sách người đủ điều kiện đề nghị đặc xá; thẩm định xét duyệt hồ sơ đề nghị đặc xá và trình Chủ tịch nước danh sách đề nghị đặc xá theo hướng cụ thể, chặt chẽ hơn so với quy định của Luật Đặc xá năm 2007. - Tổ thẩm định liên ngành, trách nhiệm của một số bộ và cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện + Qua tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Luật Đặc xá năm 2007, để cụ thể hóa tư cách pháp lý của Tổ thẩm định liên ngành (giúp việc Hội đồng tư vấn đặc xá) dự thảo Luật đã bổ sung các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ thẩm định liên ngành tại khoản 5 Điều 3, Điều 15, Điều 16, Điều 26 dự thảo Luật. + Để phù hợp với quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2010, dự thảo Luật đã bổ sung trách nhiệm của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện trong công tác đặc xá tại khoản 2 Điều 9 (niêm yết Quyết định về đặc xá tại nhà tạm giữ thuộc Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện); khoản 2 Điều 10; khoản 6 Điều 14, Điều 15, Điều 18. + Dự thảo Luật đã bổ sung trách nhiệm của Bộ Tư pháp (Điều 31), Bộ Ngoại giao (Điều 32) trong công tác đặc xá để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các bộ trong việc thực hiện đặc xá; cụ thể là: Bộ Ngoại giao có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành có liên quan thực hiện tuyên truyền đối ngoại về công tác đặc xá; phối hợp thực hiện Quyết định đặc xá đối với người được đặc xá là người nước ngoài và các hoạt động khác liên quan đến công tác đặc xá theo quy định của Luật Đặc xá. Bộ Tư pháp có trách nhiệm: tham gia Hội đồng tư vấn đặc xá; chỉ đạo cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong việc cung cấp thông tin, chuyển giao giấy tờ, tiền, tài sản có liên quan đến phạm nhân là người phải thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, các nghĩa vụ dân sự khác hoặc được thi hành án dân sự; phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức khác thực hiện các hoạt động khác liên quan đến công tác đặc xá theo quy định của Luật Đặc xá. Bên cạnh đó, dự thảo Luật đã được rà soát, chỉnh lý về kỹ thuật để bảo đảm thống nhất của hệ thống pháp luật và phù hợp với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015."
}
],
"id": "324",
"is_impossible": false,
"question": "Hỏi về dự thảo Luật Đặc xá (sửa đổi)"
}
]
}
],
"title": "Hỏi về dự thảo Luật Đặc xá (sửa đổi)"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Thực hiện Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, ngày 11/12/2009, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Quyết định số 4051/QĐ-BCA quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (Tổng cục VIII). Tổng cục VIII có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Công an chỉ đạo thực hiện công tác quản lý nhà nước về thi hành án hình sự trong phạm vi cả nước; thống nhất quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án hình sự, thi hành biện pháp tư pháp, thi hành quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục, công tác tạm giam, tạm giữ và hỗ trợ tư pháp theo quy định của pháp luật và của Bộ trưởng Bộ Công an; tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm. Theo hệ lực lượng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, ở Công an 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (PC81), hệ thống gồm 70 trại tạm giam; ở Công an cấp huyện có Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp và hệ thống gồm 680/696 nhà tạm giữ. Ngày 11/02/2011, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Quyết định số 484/QĐ-BCA quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Công an cấp huyện. Về tổ chức bộ máy, Công an cấp huyện có Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (trong đó có nhà tạm giữ và kho vật chứng). Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, khối lượng công việc và tình hình biên chế của từng Công an cấp huyện, Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định số đội cụ thể của từng Công an cấp huyện cho phù hợp (không nhất thiết phải triển khai đầy đủ các đội theo quy định). Trong đó, tiêu chí về biên chế bắt buộc phải có từ 05 cán bộ trở lên mới được thành lập đội. Nếu không đủ số lượng cán bộ để thành lập đội riêng, thì Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định ghép các đội về chức năng, nhiệm vụ có quan hệ, gắn kết với nhau./.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thực hiện Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, ngày 11/12/2009, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Quyết định số 4051/QĐ-BCA quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (Tổng cục VIII). Tổng cục VIII có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Công an chỉ đạo thực hiện công tác quản lý nhà nước về thi hành án hình sự trong phạm vi cả nước; thống nhất quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án hình sự, thi hành biện pháp tư pháp, thi hành quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục, công tác tạm giam, tạm giữ và hỗ trợ tư pháp theo quy định của pháp luật và của Bộ trưởng Bộ Công an; tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm. Theo hệ lực lượng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, ở Công an 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (PC81), hệ thống gồm 70 trại tạm giam; ở Công an cấp huyện có Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp và hệ thống gồm 680/696 nhà tạm giữ. Ngày 11/02/2011, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Quyết định số 484/QĐ-BCA quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Công an cấp huyện. Về tổ chức bộ máy, Công an cấp huyện có Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (trong đó có nhà tạm giữ và kho vật chứng). Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, khối lượng công việc và tình hình biên chế của từng Công an cấp huyện, Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định số đội cụ thể của từng Công an cấp huyện cho phù hợp (không nhất thiết phải triển khai đầy đủ các đội theo quy định). Trong đó, tiêu chí về biên chế bắt buộc phải có từ 05 cán bộ trở lên mới được thành lập đội. Nếu không đủ số lượng cán bộ để thành lập đội riêng, thì Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định ghép các đội về chức năng, nhiệm vụ có quan hệ, gắn kết với nhau./."
}
],
"id": "325",
"is_impossible": false,
"question": "Về đề nghị có văn bản hướng dẫn thành lập Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp"
}
]
}
],
"title": "Về đề nghị có văn bản hướng dẫn thành lập Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 16, Điều 17 Thông tư số 79/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an quy định về cấp, thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe cơ giới, xe máy chuyên dùng đã quy định cụ thể trách nhiệm chủ xe, hồ sơ và thủ tục sang tên, đề nghị bạn thực hiện theo quy định. cụ thể: \"Điều 16. Hồ sơ đăng ký sang tên xe 1. Hồ sơ thu hồi a) Giấy khai thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe; b) Giấy tờ của chủ xe theo quy định tại Điều 10 Thông tư này; c) 02 bản chà số máy, số khung của xe; d) Bản sao chứng từ chuyển quyền sở hữu xe theo quy định; đ) Chứng nhận đăng ký xe, biển số xe; trường hợp mất chứng nhận đăng ký xe hoặc mất biển số xe thì phải ghi rõ lý do trong giấy khai thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe. Trong thời gian chờ nhận kết quả thu hồi, chủ xe được giữ lại biển số xe để sử dụng và phải nộp lại khi nhận chứng nhận thu hồi; trường hợp chủ xe không nộp lại biển số xe thì cơ quan đăng ký xe hủy kết quả và yêu cầu chủ xe làm lại thủ tục thu hồi trong trường hợp mất biển số xe theo quy định. 2. Hồ sơ đăng ký a) Giấy khai đăng ký xe; b) Giấy tờ của chủ xe quy định; c) Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe theo quy định; d) Chứng từ lệ phí trước bạ xe theo quy định; đ) Chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe. Điều 17. Thủ tục đăng ký sang tên xe 1. Thủ tục thu hồi a) Chủ xe kê khai giấy khai thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe trên cổng dịch vụ công, cung cấp mã hồ sơ đăng ký xe trực tuyến hoặc kê khai giấy khai thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe (theo mẫu ĐKX11 ban hành kèm theo Thông tư này) tại cơ quan đăng ký xe; nộp hồ sơ thu hồi quy định tại khoản 1 Điều 16 Thông tư này và nhận giấy hẹn trả kết quả chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe theo quy định; b) Sau khi kiểm tra hồ sơ xe hợp lệ, cơ quan đăng ký xe cấp 02 bản chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe theo quy định có dán bản chà số máy, số khung và đóng dấu giáp lai của cơ quan đăng ký xe trên bản chà số máy, số khung xe (01 bản trả cho chủ xe, 01 bản lưu hồ sơ xe). Đối với xe tạm nhập, tái xuất của các đối tượng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao cấp 03 bản chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe (02 bản trả cho chủ xe để nộp cho cơ quan hải quan và cơ quan đăng ký xe, 01 bản lưu hồ sơ xe). Trường hợp chủ xe có nhu cầu thì được cấp chứng nhận đăng ký xe tạm thời cùng với chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe, không phải có hồ sơ đăng ký xe tạm thời. 2. Thủ tục đăng ký a) Tổ chức, cá nhân nhận chuyển quyền sở hữu xe kê khai giấy khai đăng ký xe theo quy định tại Điều 9 Thông tư này; đưa xe đến để kiểm tra và nộp hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Thông tư này; b) Sau khi kiểm tra hồ sơ xe, thực tế xe đảm bảo hợp lệ thì được cơ quan đăng ký xe cấp chứng nhận đăng ký xe, biển số xe theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 Thông tư này; c) Nhận giấy hẹn trả kết quả, nộp lệ phí đăng ký xe và nhận biển số xe (trường hợp được cấp biển số xe theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 14 Thông tư này); trường hợp chủ xe có nhu cầu nhận trả kết quả đăng ký xe qua dịch vụ bưu chính công ích thì đăng ký với đơn vị dịch vụ bưu chính công ích; d) Nhận chứng nhận đăng ký xe tại cơ quan đăng ký xe hoặc từ đơn vị dịch vụ bưu chính công ích. Trường hợp biển số xe đã được cấp là biển 3 số hoặc biển 4 số thì đổi sang biển số định danh theo quy định tại Thông tư này.”. Nội dung bạn hỏi về thuế, đề nghị bạn liên hệ cơ quan thuế tại địa phương để biết cụ thể.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 273,
"text": "\"Điều 16. Hồ sơ đăng ký sang tên xe 1. Hồ sơ thu hồi a) Giấy khai thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe; b) Giấy tờ của chủ xe theo quy định tại Điều 10 Thông tư này; c) 02 bản chà số máy, số khung của xe; d) Bản sao chứng từ chuyển quyền sở hữu xe theo quy định; đ) Chứng nhận đăng ký xe, biển số xe; trường hợp mất chứng nhận đăng ký xe hoặc mất biển số xe thì phải ghi rõ lý do trong giấy khai thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe. Trong thời gian chờ nhận kết quả thu hồi, chủ xe được giữ lại biển số xe để sử dụng và phải nộp lại khi nhận chứng nhận thu hồi; trường hợp chủ xe không nộp lại biển số xe thì cơ quan đăng ký xe hủy kết quả và yêu cầu chủ xe làm lại thủ tục thu hồi trong trường hợp mất biển số xe theo quy định. 2. Hồ sơ đăng ký a) Giấy khai đăng ký xe; b) Giấy tờ của chủ xe quy định; c) Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe theo quy định; d) Chứng từ lệ phí trước bạ xe theo quy định; đ) Chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe. Điều 17. Thủ tục đăng ký sang tên xe 1. Thủ tục thu hồi a) Chủ xe kê khai giấy khai thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe trên cổng dịch vụ công, cung cấp mã hồ sơ đăng ký xe trực tuyến hoặc kê khai giấy khai thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe (theo mẫu ĐKX11 ban hành kèm theo Thông tư này) tại cơ quan đăng ký xe; nộp hồ sơ thu hồi quy định tại khoản 1 Điều 16 Thông tư này và nhận giấy hẹn trả kết quả chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe theo quy định; b) Sau khi kiểm tra hồ sơ xe hợp lệ, cơ quan đăng ký xe cấp 02 bản chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe theo quy định có dán bản chà số máy, số khung và đóng dấu giáp lai của cơ quan đăng ký xe trên bản chà số máy, số khung xe (01 bản trả cho chủ xe, 01 bản lưu hồ sơ xe). Đối với xe tạm nhập, tái xuất của các đối tượng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao cấp 03 bản chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe (02 bản trả cho chủ xe để nộp cho cơ quan hải quan và cơ quan đăng ký xe, 01 bản lưu hồ sơ xe). Trường hợp chủ xe có nhu cầu thì được cấp chứng nhận đăng ký xe tạm thời cùng với chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe, không phải có hồ sơ đăng ký xe tạm thời. 2. Thủ tục đăng ký a) Tổ chức, cá nhân nhận chuyển quyền sở hữu xe kê khai giấy khai đăng ký xe theo quy định tại Điều 9 Thông tư này; đưa xe đến để kiểm tra và nộp hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Thông tư này; b) Sau khi kiểm tra hồ sơ xe, thực tế xe đảm bảo hợp lệ thì được cơ quan đăng ký xe cấp chứng nhận đăng ký xe, biển số xe theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 Thông tư này; c) Nhận giấy hẹn trả kết quả, nộp lệ phí đăng ký xe và nhận biển số xe (trường hợp được cấp biển số xe theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 14 Thông tư này); trường hợp chủ xe có nhu cầu nhận trả kết quả đăng ký xe qua dịch vụ bưu chính công ích thì đăng ký với đơn vị dịch vụ bưu chính công ích; d) Nhận chứng nhận đăng ký xe tại cơ quan đăng ký xe hoặc từ đơn vị dịch vụ bưu chính công ích. Trường hợp biển số xe đã được cấp là biển 3 số hoặc biển 4 số thì đổi sang biển số định danh theo quy định tại Thông tư này.”. Nội dung bạn hỏi về thuế, đề nghị bạn liên hệ cơ quan thuế tại địa phương để biết cụ thể."
}
],
"id": "326",
"is_impossible": false,
"question": "Quy định hồ sơ, thủ tục sang tên xe"
}
]
}
],
"title": "Quy định hồ sơ, thủ tục sang tên xe"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Trường hợp của bạn đọc Nguyễn Thành Duy là đã cải tạo xe nhưng chưa đổi giấy chứng nhận đăng ký xe. Khoản 4 Điều 6 và Điều 19 Thông tư số 79/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an quy định về cấp, thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe cơ giới, xe máy chuyên dùng đã quy định cụ thể trách nhiệm của chủ xe và thủ tục đổi giấy chứng nhận đăng ký xe; đề nghị bạn đọc thực hiện theo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Trường hợp của bạn đọc Nguyễn Thành Duy là đã cải tạo xe nhưng chưa đổi giấy chứng nhận đăng ký xe. Khoản 4 Điều 6 và Điều 19 Thông tư số 79/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an quy định về cấp, thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe cơ giới, xe máy chuyên dùng đã quy định cụ thể trách nhiệm của chủ xe và thủ tục đổi giấy chứng nhận đăng ký xe; đề nghị bạn đọc thực hiện theo quy định."
}
],
"id": "327",
"is_impossible": false,
"question": "Đổi Giấy chứng nhận đăng ký xe đối với xe cải tạo"
}
]
}
],
"title": "Đổi Giấy chứng nhận đăng ký xe đối với xe cải tạo"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Việc quy định về hồ sơ, thủ tục xác định người có lỗi trong các vụ tai nạn giao thông để được điều trị theo chế độ bảo hiểm y tế được thực hiện bởi Thông tư liên tịch số 39/2011/TTLT-BYT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục thanh toán chi phí khám, chữa bệnh đối với người tham gia bảo hiểm y tế bị tai nạn giao thông. Thông tư liên tịch số 39/2011/TTLT-BYT-BTC do Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính ban hành. Quá trình xây dựng Thông tư liên tịch, Bộ Công an đã có Công văn số 293/BCA-C61 ngày 14/02/2011; Công văn số 969/BCA-C61 ngày 14/4/2011 và Công văn số 1744/BCA-C61 ngày 22/6/2011 góp ý đối với dự thảo Thông tư liên tịch để thống nhất trước khi ký ban hành, tuy nhiên những nội dung tham gia không được tiếp thu đưa vào Thông tư liên tịch này. Do vậy, khi áp dụng Thông tư liên tịch này gây khó khăn cho nhân dân và lực lượng Công an, cụ thể là: Tại Điểm a, Khoản 3, Điều 2 Thông tư liên tịch quy định “buộc Cơ quan Công an (Cảnh sát giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra) cung cấp cho doanh nghiệp Bảo hiểm xã hội bản phô tô hoặc bản trích một phần kết luận điều tra nguyên nhân vụ tai nạn giao thông” là chưa thực hiện được vì liên bộ Bộ Y tế - Bộ Tài chính chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nên Bộ Công an cũng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể đối với toàn lực lượng Công an. Bộ Công an đang kiến nghị liên Bộ Y tế - Bộ Tài chính có văn bản thống nhất với Bộ Công an trong việc thực hiện Thông tư liên tịch này, từ đó có cơ sở hướng dẫn Công an các địa phương thực hiện. Trong khi chờ liên Bộ hướng dẫn thực hiện, Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các địa phương phải cung cấp những tài liệu liên quan các vụ tai nạn giao thông theo khả năng có thể như: Trường hợp sau 03 tháng, kể từ ngày cơ quan Bảo hiểm xã hội gửi văn bản đề nghị xác minh theo quy định nhưng vẫn chưa nhận được thông báo của cơ quan Công an hoặc nhận được thông báo chưa hoặc không xác minh được tình trạng vi phạm pháp luật về giao thông, thì cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện thanh quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đã sử dụng như đối với trường hợp bị tai nạn không vi phạm pháp luật về giao thông. Riêng lĩnh vực giao thông đường thuỷ nội địa, Bộ Công an đang chỉ đạo các cơ quan chức năng xây dựng Thông tư quy định quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường thuỷ theo hướng đơn giản hoá các thủ tục hành chính và quá trình điều tra vụ tai nạn phải được tiến hành nhanh chóng, kịp thời.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 892,
"text": "Tại Điểm a, Khoản 3, Điều 2 Thông tư liên tịch quy định “buộc Cơ quan Công an (Cảnh sát giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra) cung cấp cho doanh nghiệp Bảo hiểm xã hội bản phô tô hoặc bản trích một phần kết luận điều tra nguyên nhân vụ tai nạn giao thông” là chưa thực hiện được vì liên bộ Bộ Y tế - Bộ Tài chính chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nên Bộ Công an cũng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể đối với toàn lực lượng Công an. Bộ Công an đang kiến nghị liên Bộ Y tế - Bộ Tài chính có văn bản thống nhất với Bộ Công an trong việc thực hiện Thông tư liên tịch này, từ đó có cơ sở hướng dẫn Công an các địa phương thực hiện. Trong khi chờ liên Bộ hướng dẫn thực hiện, Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các địa phương phải cung cấp những tài liệu liên quan các vụ tai nạn giao thông theo khả năng có thể như: Trường hợp sau 03 tháng, kể từ ngày cơ quan Bảo hiểm xã hội gửi văn bản đề nghị xác minh theo quy định nhưng vẫn chưa nhận được thông báo của cơ quan Công an hoặc nhận được thông báo chưa hoặc không xác minh được tình trạng vi phạm pháp luật về giao thông, thì cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện thanh quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đã sử dụng như đối với trường hợp bị tai nạn không vi phạm pháp luật về giao thông. Riêng lĩnh vực giao thông đường thuỷ nội địa, Bộ Công an đang chỉ đạo các cơ quan chức năng xây dựng Thông tư quy định quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường thuỷ theo hướng đơn giản hoá các thủ tục hành chính và quá trình điều tra vụ tai nạn phải được tiến hành nhanh chóng, kịp thời."
}
],
"id": "328",
"is_impossible": false,
"question": "Đề nghị sớm có hướng dẫn cụ thể về thời gian, thủ tục, hồ sơ trong việc xác định người có lỗi trong vụ tai nạn giao thông"
}
]
}
],
"title": "Đề nghị sớm có hướng dẫn cụ thể về thời gian, thủ tục, hồ sơ trong việc xác định người có lỗi trong vụ tai nạn giao thông"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Trước tình hình trật tự, an toàn giao thông diễn biến phức tạp, Đảng và Nhà nước đã tập trung chỉ đạo, đề ra nhiều chủ trương, chính sách và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về trật tự, an toàn giao thông, cụ thể: Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 22-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông; Quốc hội thông qua Luật Giao thông đường bộ, Luật Đường sắt Việt Nam, Luật Đường thuỷ nội địa…; Chính phủ ban hành Nghị quyết 13/NQ-CP, 32/NQ-CP về các giải pháp nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông. Định kỳ hàng năm hoặc 6 tháng (khi tình hình trật tự, an toàn giao thông phức tạp), Chính phủ đều chỉ đạo Uỷ ban An toàn giao thông Quốc gia tổ chức Hội nghị An toàn giao thông toàn quốc với thành phần là các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân địa phương, Giám đốc Sở giao thông, Giám đốc Công an các địa phương và các cơ quan thông tin đại chúng... để đánh giá về tình hình, kết quả công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và chỉ đạo phương hướng, nhiệm vụ công tác tiếp theo. Các Bộ, ngành và địa phương thường xuyên có các kế hoạch, điện chỉ đạo với nhiều biện pháp phù hợp để giải quyết, trong đó đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật về trật tự, an toàn giao thông và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông. Do vậy, tình hình trật tự, an toàn giao thông từng bước được cải thiện, tai nạn giao thông giảm dần qua các năm, cụ thể: Năm Số vụ TNGT Số người chết Số người bị thương 2006 14.318 12.190 10.930 2007 14.218 12.857 10.631 2008 12.163 11.318 7.855 2009 11.798 11.091 7.654 6T/2010 6.559 5.610 4.885 Về triển khai thực hiện Nghị định 34/2010/NĐ-CP của Chính phủ: Các Bộ, ngành và địa phương, đặc biệt là Bộ Công an, đã tích cực tổ chức triển khai thực hiện, ban hành các văn bản chỉ đạo tổ chức quán triệt, thực hiện. Qua 2 tháng Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 20/5/2010 so với 2 tháng liền kề trước đó, số vụ xử lý vi phạm tăng 141.965 trường hợp, tiền phạt tăng 53 tỷ; so với 2 tháng cùng kỳ năm 2009 số vụ xử lý vi phạm phạt tăng 197.233 trường hợp, tiền phạt tăng 55 tỷ. Qua đó, ý thức của người tham gia giao thông bước đầu có tích cực hơn, tình hình trật tự, an toàn giao thông có chuyển biến rõ nét; công tác tuyên truyền, phổ biến được chú trọng; hành vi vi phạm được quy định xử lý phạt nặng hơn, nhất là một số hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông. Đây là biện pháp tích cực trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 221,
"text": "Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 22-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông; Quốc hội thông qua Luật Giao thông đường bộ, Luật Đường sắt Việt Nam, Luật Đường thuỷ nội địa…; Chính phủ ban hành Nghị quyết 13/NQ-CP, 32/NQ-CP về các giải pháp nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông. Định kỳ hàng năm hoặc 6 tháng (khi tình hình trật tự, an toàn giao thông phức tạp), Chính phủ đều chỉ đạo Uỷ ban An toàn giao thông Quốc gia tổ chức Hội nghị An toàn giao thông toàn quốc với thành phần là các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân địa phương, Giám đốc Sở giao thông, Giám đốc Công an các địa phương và các cơ quan thông tin đại chúng... để đánh giá về tình hình, kết quả công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và chỉ đạo phương hướng, nhiệm vụ công tác tiếp theo. Các Bộ, ngành và địa phương thường xuyên có các kế hoạch, điện chỉ đạo với nhiều biện pháp phù hợp để giải quyết, trong đó đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật về trật tự, an toàn giao thông và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông. Do vậy, tình hình trật tự, an toàn giao thông từng bước được cải thiện, tai nạn giao thông giảm dần qua các năm, cụ thể: Năm Số vụ TNGT Số người chết Số người bị thương 2006 14.318 12.190 10.930 2007 14.218 12.857 10.631 2008 12.163 11.318 7.855 2009 11.798 11.091 7.654 6T/2010 6.559 5.610 4.885 Về triển khai thực hiện Nghị định 34/2010/NĐ-CP của Chính phủ: Các Bộ, ngành và địa phương, đặc biệt là Bộ Công an, đã tích cực tổ chức triển khai thực hiện, ban hành các văn bản chỉ đạo tổ chức quán triệt, thực hiện. Qua 2 tháng Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 20/5/2010 so với 2 tháng liền kề trước đó, số vụ xử lý vi phạm tăng 141.965 trường hợp, tiền phạt tăng 53 tỷ; so với 2 tháng cùng kỳ năm 2009 số vụ xử lý vi phạm phạt tăng 197.233 trường hợp, tiền phạt tăng 55 tỷ. Qua đó, ý thức của người tham gia giao thông bước đầu có tích cực hơn, tình hình trật tự, an toàn giao thông có chuyển biến rõ nét; công tác tuyên truyền, phổ biến được chú trọng; hành vi vi phạm được quy định xử lý phạt nặng hơn, nhất là một số hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông. Đây là biện pháp tích cực trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông."
}
],
"id": "329",
"is_impossible": false,
"question": "Liên quan đến biện pháp giảm ùn tắc và hạn chế tai nạn giao thông"
}
]
}
],
"title": "Liên quan đến biện pháp giảm ùn tắc và hạn chế tai nạn giao thông"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Bộ Công an hoan nghênh cử tri tỉnh Gia Lai đã quan tâm đến vấn đề này và xin trả lời như sau: Thời gian qua, Bộ Công an đã tập trung chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện nghiêm túc các chủ trương, giải pháp về đảm bảo trật tự an toàn giao thông và đã thường xuyên quan tâm, chú trọng chỉ đạo công tác xây dựng lực lượng Cảnh sát giao thông trong sạch, vững mạnh vì nhân dân phục vụ, nâng cao ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm, vượt khó để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tăng cường các giải pháp phòng ngừa sai phạm trong hoạt động tuần tra kiểm soát của lực lượng Cảnh sát giao thông. Năm 2004, đã ban hành Quyết định 1323/2004/QĐ-BCA phê duyệt Đề án “Tổ chức phòng ngừa sai phạm trong hoạt động tuần tra, kiểm soát giao thông”. Hàng năm đều tổ chức sơ kết đánh giá kết quả đạt được, những ưu, nhược điểm để rút ra bài học tiếp tục thực hiện đề án có hiệu quả nhằm tăng cường chấn chỉnh công tác tuần tra, kiểm soát của lực lượng Cảnh sát giao thông, hạn chế các sai phạm xảy ra. Ngoài ra, Bộ Công an còn ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật chỉ đạo như: Thông tư số 27/2009/TT-BCA-C11 ngày 6/5/2009 quy định nhiệm vụ, quyền hạn, nội dung, hình thức tuần tra kiểm soát của Cảnh sát Giao thông đường bộ và Thông tư số 60/2009/TT- BCA(C11) ngày 29/10/2009 quy định về quy trình tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính của Cảnh sát giao thông đường bộ…Do tập trung chỉ đạo quyết liệt thường xuyên và sự nỗ lực cố gắng của mỗi cán bộ chiến sỹ nên hiệu quả công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đã được nâng lên rõ rệt, tình hình trật tự an toàn giao thông ổn định hơn. Tuyệt đại đa số cán bộ chiến sỹ Cảnh sát giao thông trong khi thi hành nhiệm vụ đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; nhiều đồng chí đã dũng cảm đấu tranh, trấn áp tội phạm, liêm khiết không nhận hối lộ của lái xe, chủ hàng. Năm 2009 và 6 tháng đầu năm 2010 đã có 75.528 lượt Cảnh sát giao thông không nhận tiền của lái xe, chủ hàng; lập biên bản tịch thu xung công quỹ Nhà nước 1 tỷ 651 triệu đồng. Tuy nhiên, thời gian qua còn xảy ra một số hiện tượng sai phạm của một bộ phận nhỏ Cảnh sát giao thông đường bộ ở một số nơi như cử tri phản ánh. Nguyên nhân của những sai phạm đó là do: Về chủ quan, do môi trường hoạt động tuần tra kiểm soát giao thông thường phân tán, công tác quản lý gặp nhiều khó khăn, một số cán bộ chiến sỹ Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ tuần tra chưa tự giác tu dưỡng rèn luyện, nên đã bị tha hoá, sa ngã trước cám dỗ của đồng tiền. Về khách quan, do tác động của nền kinh tế thị trường, nhiều lái xe, phụ xe, chủ hàng, người vi phạm chủ động đưa tiền để trốn tránh bị kiểm soát và xử lý vi phạm. Trước tình hình đó, Bộ Công an đã tâp trung chỉ đạo, tăng cường các lực lượng thanh tra của Bộ trực tiếp kiểm tra hoạt động tuần tra kiểm soát của Cảnh sát giao thông. Khi phát hiện cán bộ chiến sỹ Cảnh sát giao thông vi phạm, tiêu cực, tuỳ theo mức độ đã xử lý nghiêm khắc, đồng thời xử lý trách nhiệm liên đới của lãnh đạo, chỉ huy đơn vị để cán bộ chiến sỹ sai phạm. Năm 2009, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý kỷ luật 50 trường hợp (cách chức 3; tước danh hiệu Công an nhân dân 5 trường hợp; khiển trách 5 trường hợp; cảnh cáo 12; điều chuyển đơn vị khác 19; giáng cấp hạ bậc lương 8); trong đó có 31 trường hợp bị xử lý do vi phạm quy trình, chế độ công tác. Trong 6 tháng đầu năm 2010, đã phát hiện và xử lý 20 trường hợp (khiển trách 12, cảnh cáo 2, điều chuyển đơn vị khác 8, giáng cấp hạ bậc lương 4, cách chức 1); trong đó có 4 trường hợp vi phạm quy trình chế độ công tác. Cuối năm 2009, Bộ Công an đã tổ chức tổng kết Đề án “Tổ chức phòng ngừa sai phạm trong hoạt động tuần tra, kiểm soát giao thông”, nhằm đánh giá những ưu điểm, tồn tại, vướng mắc, nguyên nhân của những tồn tại, rút ra những bài học kinh nghiệm; đồng thời đã đề ra các giải pháp chỉ đạo thực hiện trong thời gian tới. Quan điểm thống nhất của Bộ Công an là luôn luôn chú trọng chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp sai phạm của Cảnh sát giao thông và xây dựng bổ sung, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật quy định về quy trình công tác, chế độ trách nhiệm của CSGT, tập trung các giải pháp sau: - Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương, giải pháp đã đề ra. Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống, góp phần nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, truyền thống cách mạng, trách nhiệm của lãnh đạo chỉ huy, tạo chuyển biến sâu sắc hơn về nhận thức, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân, chấp hành quy chế, quy trình, chế độ công tác, điều lệnh Công an nhân dân trong mỗi cán bộ, chiến sỹ Cảnh sát giao thông. - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý cán bộ; thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm cán bộ, chiến sỹ có sai phạm, tiêu cực và trách nhiệm liên đới của lãnh đạo, chỉ huy để xảy ra sai phạm, tiêu cực trong đơn vị và xử lý người điều khiển phương tiện, chủ phương tiện, chủ hàng, người vi phạm đưa tiền cho Cảnh sát Giao thông để trốn tránh việc kiểm soát và xử lý vi phạm của Cảnh sát giao thông. - Thường xuyên thực hiện nghiêm túc việc rà soát, đánh giá phân loại, điều chuyển cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát gắn với yêu cầu phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm tiêu cực. Kiên quyết không bố trí làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đối với cán bộ, chiến sỹ có sai phạm, tiêu cực, kỷ luật hoặc có đơn thư tố cáo sai phạm. - Tăng cường bổ sung biên chế, trang bị các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để giám sát vi phạm TTATGT và hoạt động của Cảnh sát giao thông. Nâng cao chất lượng công tác đào tạo cho lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong tình hình mới. - Chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, thực hiện đầy đủ chế độ bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sỹ; biểu dương khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác, gương sáng liêm khiết, không nhận hối lộ . - Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động quần chúng, tạo điều kiện để nhân dân tham gia góp ý kiến xây dựng và kiểm tra, giám sát, phát hiện sai phạm, ủng hộ giúp đỡ lực lượng Cảnh sát giao thông thi hành nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông. - Tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong công tác đảm bảo TTATGT, thực hiÖn công khai, minh bạch các hoạt động tuần tra kiểm soát giao thông. Tổ chức tốt việc tiếp nhận, xử lý tin phản ánh của nhân dân về tiêu cực sai phạm của Cảnh sát giao thông qua đường dây điện thoại nóng. Chỉ đạo giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân, phản ánh của báo chí, phát thanh truyền hình về sai ph¹m, tiêu cực của Cảnh sát giao thông. Trên đây là các giải pháp mà Bộ Công an đã đề ra nhằm tăng cường quản lý, phòng ngừa sai phạm trong công tác tuần tra, kiểm soát của lực lượng Cảnh sát giao thông. Bộ Công an xin đề nghị Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai chuyển nội dung nêu trên trả lời cử tri. Xin trân trọng cảm ơn./.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 94,
"text": "Thời gian qua, Bộ Công an đã tập trung chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện nghiêm túc các chủ trương, giải pháp về đảm bảo trật tự an toàn giao thông và đã thường xuyên quan tâm, chú trọng chỉ đạo công tác xây dựng lực lượng Cảnh sát giao thông trong sạch, vững mạnh vì nhân dân phục vụ, nâng cao ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm, vượt khó để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tăng cường các giải pháp phòng ngừa sai phạm trong hoạt động tuần tra kiểm soát của lực lượng Cảnh sát giao thông. Năm 2004, đã ban hành Quyết định 1323/2004/QĐ-BCA phê duyệt Đề án “Tổ chức phòng ngừa sai phạm trong hoạt động tuần tra, kiểm soát giao thông”. Hàng năm đều tổ chức sơ kết đánh giá kết quả đạt được, những ưu, nhược điểm để rút ra bài học tiếp tục thực hiện đề án có hiệu quả nhằm tăng cường chấn chỉnh công tác tuần tra, kiểm soát của lực lượng Cảnh sát giao thông, hạn chế các sai phạm xảy ra. Ngoài ra, Bộ Công an còn ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật chỉ đạo như: Thông tư số 27/2009/TT-BCA-C11 ngày 6/5/2009 quy định nhiệm vụ, quyền hạn, nội dung, hình thức tuần tra kiểm soát của Cảnh sát Giao thông đường bộ và Thông tư số 60/2009/TT- BCA(C11) ngày 29/10/2009 quy định về quy trình tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính của Cảnh sát giao thông đường bộ…Do tập trung chỉ đạo quyết liệt thường xuyên và sự nỗ lực cố gắng của mỗi cán bộ chiến sỹ nên hiệu quả công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đã được nâng lên rõ rệt, tình hình trật tự an toàn giao thông ổn định hơn. Tuyệt đại đa số cán bộ chiến sỹ Cảnh sát giao thông trong khi thi hành nhiệm vụ đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; nhiều đồng chí đã dũng cảm đấu tranh, trấn áp tội phạm, liêm khiết không nhận hối lộ của lái xe, chủ hàng. Năm 2009 và 6 tháng đầu năm 2010 đã có 75.528 lượt Cảnh sát giao thông không nhận tiền của lái xe, chủ hàng; lập biên bản tịch thu xung công quỹ Nhà nước 1 tỷ 651 triệu đồng. Tuy nhiên, thời gian qua còn xảy ra một số hiện tượng sai phạm của một bộ phận nhỏ Cảnh sát giao thông đường bộ ở một số nơi như cử tri phản ánh. Nguyên nhân của những sai phạm đó là do: Về chủ quan, do môi trường hoạt động tuần tra kiểm soát giao thông thường phân tán, công tác quản lý gặp nhiều khó khăn, một số cán bộ chiến sỹ Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ tuần tra chưa tự giác tu dưỡng rèn luyện, nên đã bị tha hoá, sa ngã trước cám dỗ của đồng tiền. Về khách quan, do tác động của nền kinh tế thị trường, nhiều lái xe, phụ xe, chủ hàng, người vi phạm chủ động đưa tiền để trốn tránh bị kiểm soát và xử lý vi phạm. Trước tình hình đó, Bộ Công an đã tâp trung chỉ đạo, tăng cường các lực lượng thanh tra của Bộ trực tiếp kiểm tra hoạt động tuần tra kiểm soát của Cảnh sát giao thông. Khi phát hiện cán bộ chiến sỹ Cảnh sát giao thông vi phạm, tiêu cực, tuỳ theo mức độ đã xử lý nghiêm khắc, đồng thời xử lý trách nhiệm liên đới của lãnh đạo, chỉ huy đơn vị để cán bộ chiến sỹ sai phạm. Năm 2009, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý kỷ luật 50 trường hợp (cách chức 3; tước danh hiệu Công an nhân dân 5 trường hợp; khiển trách 5 trường hợp; cảnh cáo 12; điều chuyển đơn vị khác 19; giáng cấp hạ bậc lương 8); trong đó có 31 trường hợp bị xử lý do vi phạm quy trình, chế độ công tác. Trong 6 tháng đầu năm 2010, đã phát hiện và xử lý 20 trường hợp (khiển trách 12, cảnh cáo 2, điều chuyển đơn vị khác 8, giáng cấp hạ bậc lương 4, cách chức 1); trong đó có 4 trường hợp vi phạm quy trình chế độ công tác. Cuối năm 2009, Bộ Công an đã tổ chức tổng kết Đề án “Tổ chức phòng ngừa sai phạm trong hoạt động tuần tra, kiểm soát giao thông”, nhằm đánh giá những ưu điểm, tồn tại, vướng mắc, nguyên nhân của những tồn tại, rút ra những bài học kinh nghiệm; đồng thời đã đề ra các giải pháp chỉ đạo thực hiện trong thời gian tới. Quan điểm thống nhất của Bộ Công an là luôn luôn chú trọng chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp sai phạm của Cảnh sát giao thông và xây dựng bổ sung, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật quy định về quy trình công tác, chế độ trách nhiệm của CSGT, tập trung các giải pháp sau: - Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương, giải pháp đã đề ra. Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống, góp phần nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, truyền thống cách mạng, trách nhiệm của lãnh đạo chỉ huy, tạo chuyển biến sâu sắc hơn về nhận thức, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân, chấp hành quy chế, quy trình, chế độ công tác, điều lệnh Công an nhân dân trong mỗi cán bộ, chiến sỹ Cảnh sát giao thông. - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý cán bộ; thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm cán bộ, chiến sỹ có sai phạm, tiêu cực và trách nhiệm liên đới của lãnh đạo, chỉ huy để xảy ra sai phạm, tiêu cực trong đơn vị và xử lý người điều khiển phương tiện, chủ phương tiện, chủ hàng, người vi phạm đưa tiền cho Cảnh sát Giao thông để trốn tránh việc kiểm soát và xử lý vi phạm của Cảnh sát giao thông. - Thường xuyên thực hiện nghiêm túc việc rà soát, đánh giá phân loại, điều chuyển cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát gắn với yêu cầu phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm tiêu cực. Kiên quyết không bố trí làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đối với cán bộ, chiến sỹ có sai phạm, tiêu cực, kỷ luật hoặc có đơn thư tố cáo sai phạm. - Tăng cường bổ sung biên chế, trang bị các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để giám sát vi phạm TTATGT và hoạt động của Cảnh sát giao thông. Nâng cao chất lượng công tác đào tạo cho lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong tình hình mới. - Chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, thực hiện đầy đủ chế độ bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sỹ; biểu dương khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác, gương sáng liêm khiết, không nhận hối lộ . - Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động quần chúng, tạo điều kiện để nhân dân tham gia góp ý kiến xây dựng và kiểm tra, giám sát, phát hiện sai phạm, ủng hộ giúp đỡ lực lượng Cảnh sát giao thông thi hành nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông. - Tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong công tác đảm bảo TTATGT, thực hiÖn công khai, minh bạch các hoạt động tuần tra kiểm soát giao thông. Tổ chức tốt việc tiếp nhận, xử lý tin phản ánh của nhân dân về tiêu cực sai phạm của Cảnh sát giao thông qua đường dây điện thoại nóng. Chỉ đạo giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân, phản ánh của báo chí, phát thanh truyền hình về sai ph¹m, tiêu cực của Cảnh sát giao thông. Trên đây là các giải pháp mà Bộ Công an đã đề ra nhằm tăng cường quản lý, phòng ngừa sai phạm trong công tác tuần tra, kiểm soát của lực lượng Cảnh sát giao thông. Bộ Công an xin đề nghị Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai chuyển nội dung nêu trên trả lời cử tri. Xin trân trọng cảm ơn./."
}
],
"id": "330",
"is_impossible": false,
"question": "Liên quan việc thi hành công vụ của Cảnh sát giao thông"
}
]
}
],
"title": "Liên quan việc thi hành công vụ của Cảnh sát giao thông"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Căn cứ Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015, phương tiện giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ, theo đó chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại hoặc thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Tùy từng trường hợp cụ thể, chủ phương tiện, người đứng đầu đơn vị kinh doanh vận tải có lái xe và phương tiện gây tai nạn giao thông sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 263, 264 Bộ luật Hình sự năm 2015.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Căn cứ Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015, phương tiện giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ, theo đó chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại hoặc thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Tùy từng trường hợp cụ thể, chủ phương tiện, người đứng đầu đơn vị kinh doanh vận tải có lái xe và phương tiện gây tai nạn giao thông sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 263, 264 Bộ luật Hình sự năm 2015."
}
],
"id": "331",
"is_impossible": false,
"question": "Chủ phương tiện, người đứng đầu đơn vị kinh doanh vận tải có phải chịu trách nhiệm khi chiếc xe đó do người khác lái gây ra tai nạn không?"
}
]
}
],
"title": "Chủ phương tiện, người đứng đầu đơn vị kinh doanh vận tải có phải chịu trách nhiệm khi chiếc xe đó do người khác lái gây ra tai nạn không?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Về vấn đề này, Bộ Công an có ý kiến như sau: 1. Thực hiện chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng tại Công văn số 79-CV/TW ngày 29/01/2020, Công điện số 121/CĐ-TTg ngày 23/01/2020, Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 28/01/2020 và Chỉ thị số 06/CT-TTg ngày 31/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp phòng, chống trước các diễn biến phức tạp của dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (Covid-19) gây ra, Bộ Công an đã thành lập Ban Chỉ đạo; đồng thời giao Cục Cảnh sát giao thông ban hành các Điện chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương triển khai thực hiện ngay một số nhiệm vụ trọng tâm để chủ động ngăn chặn lây lan dịch bệnh và bảo đảm cho người dân tham gia giao thông an toàn, trong điều kiện có dịch Covid-19 tại Việt Nam. 2. Quán triệt nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sỹ trong công tác phòng, chống dịch ở mức cao nhất; nắm chắc tình hình, diễn biến của dịch để phối hợp với ngành y tế địa phương và các cơ quan có liên quan, triển khai các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả. 3. Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông chủ động xây dựng các kế hoạch tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm trên các tuyến giao thông vừa bảo đảm công tác trật tự, an toàn giao thông vừa phòng, chống dịch bệnh. Cán bộ, chiến sỹ Cảnh sát giao thông khi làm nhiệm vụ, trực tiếp tiếp xúc với người dân phải thực hiện theo đúng khuyến cáo của ngành y tế về việc đeo khẩu trang, găng tay và các dụng cụ bảo hộ; bảo đảm vệ sinh, sát khuẩn thiết bị đo. Khẩu trang, găng tay và mỗi ống thổi sau khi sử dụng xong, phải bỏ vào túi, thùng kín đựng rác thải y tế và phối hợp với ngành y tế địa phương tiêu hủy theo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 45,
"text": "1. Thực hiện chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng tại Công văn số 79-CV/TW ngày 29/01/2020, Công điện số 121/CĐ-TTg ngày 23/01/2020, Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 28/01/2020 và Chỉ thị số 06/CT-TTg ngày 31/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp phòng, chống trước các diễn biến phức tạp của dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (Covid-19) gây ra, Bộ Công an đã thành lập Ban Chỉ đạo; đồng thời giao Cục Cảnh sát giao thông ban hành các Điện chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương triển khai thực hiện ngay một số nhiệm vụ trọng tâm để chủ động ngăn chặn lây lan dịch bệnh và bảo đảm cho người dân tham gia giao thông an toàn, trong điều kiện có dịch Covid-19 tại Việt Nam. 2. Quán triệt nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sỹ trong công tác phòng, chống dịch ở mức cao nhất; nắm chắc tình hình, diễn biến của dịch để phối hợp với ngành y tế địa phương và các cơ quan có liên quan, triển khai các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả. 3. Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông chủ động xây dựng các kế hoạch tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm trên các tuyến giao thông vừa bảo đảm công tác trật tự, an toàn giao thông vừa phòng, chống dịch bệnh. Cán bộ, chiến sỹ Cảnh sát giao thông khi làm nhiệm vụ, trực tiếp tiếp xúc với người dân phải thực hiện theo đúng khuyến cáo của ngành y tế về việc đeo khẩu trang, găng tay và các dụng cụ bảo hộ; bảo đảm vệ sinh, sát khuẩn thiết bị đo. Khẩu trang, găng tay và mỗi ống thổi sau khi sử dụng xong, phải bỏ vào túi, thùng kín đựng rác thải y tế và phối hợp với ngành y tế địa phương tiêu hủy theo quy định."
}
],
"id": "332",
"is_impossible": false,
"question": "Biện pháp sử dụng máy kiểm tra nồng độ cồn gắn với việc phòng, chống dịch Covid-19"
}
]
}
],
"title": "Biện pháp sử dụng máy kiểm tra nồng độ cồn gắn với việc phòng, chống dịch Covid-19"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "a) Đối với vụ tai nạn giao thông đường bộ, đường thủy nội địa Thông tư số 77/2012/TT-BCA ngày 28/12/2012 và Thông tư số 73/2012/TT-BCA ngày 05/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định: - Trường hợp xác định vụ tai nạn giao thông không có dấu hiệu phạm tội, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông, cơ quan Cảnh sát giao thông phải tiến hành xem xét, điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông; đối với vụ tai nạn giao thông có nhiều tình tiết phức tạp cần điều tra, xác minh thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày. Trường hợp phải thông qua giám định chuyên môn hoặc cần phải có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền phải báo cáo Thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày. - Trường hợp xác định vụ tai nạn giao thông có dấu hiệu tội phạm thì chuyển giao hồ sơ, tang vật, phương tiện cho Cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra, giải quyết theo thẩm quyền, thời hạn giải quyết vụ tai nạn thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. b) Đối với vụ tai nạn giao thông đường sắt Thông tư số 34/2018/TT-BCA ngày 15/10/2018 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định: Bộ Công an giao Cơ quan Cảnh sát điều tra thụ lý điều tra, giải quyết tất cả các vụ tai nạn giao thông đường sắt, thời hạn giải quyết vụ tai nạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông không có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính chuyển cho Cảnh sát giao thông xử lý thì thời hạn giải quyết được áp dụng theo quy định tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Theo đó, thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 30 ngày, kể từ ngày nhận được các quyết định quy định kèm theo hồ sơ vụ vi phạm. Trong trường hợp cần xác minh thêm thì thời hạn tối đa không quá 45 ngày.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 186,
"text": "- Trường hợp xác định vụ tai nạn giao thông không có dấu hiệu phạm tội, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông, cơ quan Cảnh sát giao thông phải tiến hành xem xét, điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông; đối với vụ tai nạn giao thông có nhiều tình tiết phức tạp cần điều tra, xác minh thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày. Trường hợp phải thông qua giám định chuyên môn hoặc cần phải có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền phải báo cáo Thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày. - Trường hợp xác định vụ tai nạn giao thông có dấu hiệu tội phạm thì chuyển giao hồ sơ, tang vật, phương tiện cho Cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra, giải quyết theo thẩm quyền, thời hạn giải quyết vụ tai nạn thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. b) Đối với vụ tai nạn giao thông đường sắt Thông tư số 34/2018/TT-BCA ngày 15/10/2018 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định: Bộ Công an giao Cơ quan Cảnh sát điều tra thụ lý điều tra, giải quyết tất cả các vụ tai nạn giao thông đường sắt, thời hạn giải quyết vụ tai nạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông không có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính chuyển cho Cảnh sát giao thông xử lý thì thời hạn giải quyết được áp dụng theo quy định tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Theo đó, thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 30 ngày, kể từ ngày nhận được các quyết định quy định kèm theo hồ sơ vụ vi phạm. Trong trường hợp cần xác minh thêm thì thời hạn tối đa không quá 45 ngày."
}
],
"id": "333",
"is_impossible": false,
"question": "Thời gian giải quyết một vụ tai nạn giao thông là bao lâu?"
}
]
}
],
"title": "Thời gian giải quyết một vụ tai nạn giao thông là bao lâu?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Tại Điểm a Khoản 2 và Điểm a Khoản 7 Điều 16 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt quy định: Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với người điều khiển xe ô tô không có gương chiếu hậu; ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc phải lắp đầy đủ thiết bị đủ tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 189,
"text": "Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với người điều khiển xe ô tô không có gương chiếu hậu; ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc phải lắp đầy đủ thiết bị đủ tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật."
}
],
"id": "334",
"is_impossible": false,
"question": "Mức phạt đối với người điều khiển xe ô tô không có gương chiếu hậu"
}
]
}
],
"title": "Mức phạt đối với người điều khiển xe ô tô không có gương chiếu hậu"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Tại Khoản 4 Điều 26 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: “Người đi bộ, xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô và máy kéo; xe máy chuyên dùng có tốc độ thiết kế nhỏ hơn 70 km/h không được đi vào đường cao tốc, trừ người, phương tiện, thiết bị phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc”. Khoản 3 Điều 9 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt quy định: “Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người đi bộ đi vào đường cao tốc, trừ người phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc”. Khi xảy ra vụ va chạm giao thông hoặc tai nạn giao thông trên đường cao tốc giữa người đi bộ và phương tiện tham gia giao thông, cơ quan Công an có thẩm quyền thực hiện điều tra, giải quyết theo quy định của pháp luật; căn cứ kết quả điều tra, hậu quả thiệt hại, tính chất, mức độ, tình tiết vụ việc cụ thể…,có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 64,
"text": "“Người đi bộ, xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô và máy kéo; xe máy chuyên dùng có tốc độ thiết kế nhỏ hơn 70 km/h không được đi vào đường cao tốc, trừ người, phương tiện, thiết bị phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc”. Khoản 3 Điều 9 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt quy định: “Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người đi bộ đi vào đường cao tốc, trừ người phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc”. Khi xảy ra vụ va chạm giao thông hoặc tai nạn giao thông trên đường cao tốc giữa người đi bộ và phương tiện tham gia giao thông, cơ quan Công an có thẩm quyền thực hiện điều tra, giải quyết theo quy định của pháp luật; căn cứ kết quả điều tra, hậu quả thiệt hại, tính chất, mức độ, tình tiết vụ việc cụ thể…,có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự."
}
],
"id": "335",
"is_impossible": false,
"question": "Hỏi về trường hợp người đi bộ trên cao tốc gây tai nạn"
}
]
}
],
"title": "Hỏi về trường hợp người đi bộ trên cao tốc gây tai nạn"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Do câu hỏi của bạn cung cấp dữ liệu chưa đầy đủ nên có thể xảy ra 02 trường hợp như sau:- Tại thời điểm lực lượng chức năng có mặt, phương tiện của bạn đang bị sự cố nổ lốp và đang khắc phục, sửa chữa thì có thể được xem là trường hợp sự kiện bất ngờ theo Khoản 13 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính và lực lượng chức năng có thể xem xét không tiến hành xử phạt vi phạm hành chính theo Khoản 3 Điều 11 Luật Xử lý vi phạm hành chính.- Tại thời điểm lực lượng chức năng có mặt, phương tiện của bạn đang đỗ trong phạm vi có hiệu lực của biển báo “cấm đỗ xe” và bạn đang không thực hiện sửa chữa phương tiện (mặc dù bạn trình bày với lực lượng chức năng là bạn vừa sửa chữa xong) thì bạn vẫn có thể bị xem xét xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “đỗ xe tại nơi có biển cấm đỗ” theo quy định của pháp luật.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 88,
"text": "- Tại thời điểm lực lượng chức năng có mặt, phương tiện của bạn đang bị sự cố nổ lốp và đang khắc phục, sửa chữa thì có thể được xem là trường hợp sự kiện bất ngờ theo Khoản 13 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính và lực lượng chức năng có thể xem xét không tiến hành xử phạt vi phạm hành chính theo Khoản 3 Điều 11 Luật Xử lý vi phạm hành chính.- Tại thời điểm lực lượng chức năng có mặt, phương tiện của bạn đang đỗ trong phạm vi có hiệu lực của biển báo “cấm đỗ xe” và bạn đang không thực hiện sửa chữa phương tiện (mặc dù bạn trình bày với lực lượng chức năng là bạn vừa sửa chữa xong) thì bạn vẫn có thể bị xem xét xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “đỗ xe tại nơi có biển cấm đỗ” theo quy định của pháp luật."
}
],
"id": "336",
"is_impossible": false,
"question": "Xử phạt khi dừng đỗ xe trên đường"
}
]
}
],
"title": "Xử phạt khi dừng đỗ xe trên đường"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "- Về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông trên đường bộ, được quy định cụ thể tại Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải. - Về xử phạt người điều khiển xe ô tô vi phạm quy định về khoảng cách an toàn, được quy định tại Điểm g Khoản 1, Điểm h Khoản 4, Điểm c Khoản 8 Điều 5 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "- Về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông trên đường bộ, được quy định cụ thể tại Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải. - Về xử phạt người điều khiển xe ô tô vi phạm quy định về khoảng cách an toàn, được quy định tại Điểm g Khoản 1, Điểm h Khoản 4, Điểm c Khoản 8 Điều 5 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt."
}
],
"id": "337",
"is_impossible": false,
"question": "Xử phạt lỗi khoảng cách an toàn của xe ô tô"
}
]
}
],
"title": "Xử phạt lỗi khoảng cách an toàn của xe ô tô"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Ngày 08/4/2016, Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư số 06/2016/TT-BGTVT ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về biển báo hiệu đường bộ (QCVN 41:2016/BGTVT), trong đó tại Điều 3 của Quy chuẩn giải thích một số từ ngữ như sau:- Khoản 3.30. Xe ô tô con (hay còn gọi là xe con) là xe ô tô được xác định theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, để chở người không quá 9 chỗ ngồi kể cả lái xe hoặc xe ô tô chở hàng với khối lượng chuyên chở cho phép dưới 1.500 kg; xe ô tô con bao gồm cả các loại xe có kết cấu như xe máy 3 bánh nhưng có tải trọng bản thân xe lớn hơn 400 kg và tải trọng toàn bộ xe cho phép nhỏ hơn 1.500 kg.- Khoản 3.31. Xe bán tải (xe pickup) có kết cấu thùng chở hàng đi liền với thân xe, có khối lượng chuyên chở cho phép xác định theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ nhỏ hơn 1.500 kg và có từ 5 chỗ ngồi trở xuống thì được xem là xe con.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 151,
"text": "2016/BGTVT), trong đó tại Điều 3 của Quy chuẩn giải thích một số từ ngữ như sau:- Khoản 3.30. Xe ô tô con (hay còn gọi là xe con) là xe ô tô được xác định theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, để chở người không quá 9 chỗ ngồi kể cả lái xe hoặc xe ô tô chở hàng với khối lượng chuyên chở cho phép dưới 1.500 kg; xe ô tô con bao gồm cả các loại xe có kết cấu như xe máy 3 bánh nhưng có tải trọng bản thân xe lớn hơn 400 kg và tải trọng toàn bộ xe cho phép nhỏ hơn 1.500 kg.- Khoản 3.31. Xe bán tải (xe pickup) có kết cấu thùng chở hàng đi liền với thân xe, có khối lượng chuyên chở cho phép xác định theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ nhỏ hơn 1.500 kg và có từ 5 chỗ ngồi trở xuống thì được xem là xe con."
}
],
"id": "338",
"is_impossible": false,
"question": "Hỏi về làn đường dành cho xe ô tô khi tham gia giao thông"
}
]
}
],
"title": "Hỏi về làn đường dành cho xe ô tô khi tham gia giao thông"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Để con thuyền đủ khả năng tham gia hoạt động thì bạn Phạm Văn Hưng phải đáp ứng các quy định sau:- Về yêu cầu đối với phương tiện: Căn cứ Khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường thủy nội địa quy định: “3. Đối với phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần từ 1 tấn đến 15 tấn hoặc có sức chở từ 5 người đến 12 người, phương tiện có động cơ công suất máy chính dưới 5 sức ngựa hoặc có sức chở dưới 5 người khi hoạt động trên đường thủy nội địa phải có giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thủy nội địa và bảo đảm điều kiện an toàn như sau:a) Thân phương tiện phải chắc chắn, không bị rò nước vào bên trong; phương tiện phải thắp một đèn có ánh sáng trắng ở nơi dễ nhìn nếu hoạt động vào ban đêm; phương tiện chở người phải có đủ chỗ cho người ngồi cân bằng trên phương tiện và có đủ áo phao hoặc dụng cụ cứu sinh cho số người được phép chở trên phương tiện;b) Máy lắp trên phương tiện phải chắc chắn, an toàn, dễ khởi động và hoạt động ổn định;c) Phương tiện phải được kẻ hoặc gắn số đăng ký, ghi số lượng người được phép chở trên phương tiện;d) Phương tiện phải được sơn vạch dấu mớn nước an toàn và khi chở người, chở hàng không được ngập qua vạch dấu mớn nước an toàn. Dấu mớn nước an toàn của phương tiện được sơn một vạch có màu khác với màu sơn mạn phương tiện; vạch sơn có chiều rộng 25 milimét, chiều dài 250 milimét nằm ngang trên hai bên mạn tại vị trí giữa của chiều dài lớn nhất của phương tiện; mép trên của vạch sơn cách mép mạn 100 milimét đối với phương tiện chở hàng, cách mép mạn 200 milimét đối với phương tiện chở người.”.- Về yêu cầu đối với người lái phương tiện: Căn cứ Khoản 1, Khoản 2 Điều 35 Luật Giao thông đường thủy nội địa quy định phương tiện thực hiện vào mục đích kinh doanh thì phải có các điều kiện sau đây:“a) Đủ 18 tuổi trở lên và không quá 55 tuổi đối với nữ, 60 tuổi đối với nam; b) Có chứng nhận đủ sức khỏe của cơ quan y tế và biết bơi; c) Có chứng chỉ lái phương tiện.”.- Ngoài ra, bạn còn phải thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh ăn uống.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 97,
"text": "- Về yêu cầu đối với phương tiện: Căn cứ Khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường thủy nội địa quy định: “3. Đối với phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần từ 1 tấn đến 15 tấn hoặc có sức chở từ 5 người đến 12 người, phương tiện có động cơ công suất máy chính dưới 5 sức ngựa hoặc có sức chở dưới 5 người khi hoạt động trên đường thủy nội địa phải có giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thủy nội địa và bảo đảm điều kiện an toàn như sau:a) Thân phương tiện phải chắc chắn, không bị rò nước vào bên trong; phương tiện phải thắp một đèn có ánh sáng trắng ở nơi dễ nhìn nếu hoạt động vào ban đêm; phương tiện chở người phải có đủ chỗ cho người ngồi cân bằng trên phương tiện và có đủ áo phao hoặc dụng cụ cứu sinh cho số người được phép chở trên phương tiện;b) Máy lắp trên phương tiện phải chắc chắn, an toàn, dễ khởi động và hoạt động ổn định;c) Phương tiện phải được kẻ hoặc gắn số đăng ký, ghi số lượng người được phép chở trên phương tiện;d) Phương tiện phải được sơn vạch dấu mớn nước an toàn và khi chở người, chở hàng không được ngập qua vạch dấu mớn nước an toàn. Dấu mớn nước an toàn của phương tiện được sơn một vạch có màu khác với màu sơn mạn phương tiện; vạch sơn có chiều rộng 25 milimét, chiều dài 250 milimét nằm ngang trên hai bên mạn tại vị trí giữa của chiều dài lớn nhất của phương tiện; mép trên của vạch sơn cách mép mạn 100 milimét đối với phương tiện chở hàng, cách mép mạn 200 milimét đối với phương tiện chở người.”.- Về yêu cầu đối với người lái phương tiện: Căn cứ Khoản 1, Khoản 2 Điều 35 Luật Giao thông đường thủy nội địa quy định phương tiện thực hiện vào mục đích kinh doanh thì phải có các điều kiện sau đây:“a) Đủ 18 tuổi trở lên và không quá 55 tuổi đối với nữ, 60 tuổi đối với nam; b) Có chứng nhận đủ sức khỏe của cơ quan y tế và biết bơi; c) Có chứng chỉ lái phương tiện.”.- Ngoài ra, bạn còn phải thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh ăn uống."
}
],
"id": "339",
"is_impossible": false,
"question": "Điều kiện để được hoạt động kinh doanh trên thuyền"
}
]
}
],
"title": "Điều kiện để được hoạt động kinh doanh trên thuyền"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Căn cứ Điều 12 Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe; Công dân đến cơ quan đăng ký xe ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký xe để làm thủ tục (Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đồng Nai) không phải đưa xe đến kiểm tra nhưng phải xuất trình Chứng minh thư nhân dân hoặc Sổ hộ khẩu và nộp hồ sơ gồm:- Giấy khai sang tên, di chuyển xe; có dán bản cà số máy, số khung.- Giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe.- Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe theo quy định; Hợp đồng mua bán theo quy định của pháp luật hoặc giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Thông tư số 15/2014/TT-BCA, thì thời gian trả kết quả hồ sơ sang tên, di chuyển xe không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 340,
"text": "- Giấy khai sang tên, di chuyển xe; có dán bản cà số máy, số khung.- Giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe.- Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe theo quy định; Hợp đồng mua bán theo quy định của pháp luật hoặc giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Thông tư số 15/2014/TT-BCA, thì thời gian trả kết quả hồ sơ sang tên, di chuyển xe không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ."
}
],
"id": "340",
"is_impossible": false,
"question": "Thủ tục rút hồ sơ xe ô tô"
}
]
}
],
"title": "Thủ tục rút hồ sơ xe ô tô"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Tại Điểm c Khoản 5 Điều 24 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt quy định: Người điều khiển xe ô tô tải điều khiển xe không có hoặc không gắn phù hiệu theo quy định (đối với loại xe có quy định phải gắn phù hiệu) thì bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng; bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng (Điểm a Khoản 9 Điều 24).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 171,
"text": "Người điều khiển xe ô tô tải điều khiển xe không có hoặc không gắn phù hiệu theo quy định (đối với loại xe có quy định phải gắn phù hiệu) thì bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng; bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng (Điểm a Khoản 9 Điều 24)."
}
],
"id": "341",
"is_impossible": false,
"question": "Xử phạt người điều khiển xe ô tô tải không gắn phù hiệu theo quy định"
}
]
}
],
"title": "Xử phạt người điều khiển xe ô tô tải không gắn phù hiệu theo quy định"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Thông tin do bạn Hải cung cấp chưa đủ để trả lời bạn có phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người đi xe máy không, vì thông tin do bạn cung cấp chưa thể xác định được lỗi của từng bên, để giải quyết cụ thể cần căn cứ kết quả điều tra, xác minh của đơn vị thụ lý vụ tai nạn giao thông (mức độ, hậu quả, lỗi các bên liên quan đến vụ tai nạn giao thông…) để xác định. Vụ việc này có thể chia ra làm 3 trường hợp như sau: - Trường hợp bạn Hải là người có lỗi còn người đi xe máy không có lỗi (ví dụ bạn Hải đỗ xe ở điểm có biển báo “cấm đỗ xe” hoặc “cấm dừng và đỗ xe”, đỗ xe nhưng không có biển cảnh báo; người đi xe máy do trời tối và không có biển cảnh báo nên đã không nhìn thấy và đâm vào đuôi xe ô tô), trường hợp này bạn Hải phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người đi xe máy. - Trường hợp cả bạn Hải và người đi xe máy cùng có lỗi (ví dụ bạn Hải đỗ xe nhưng không có biển cảnh báo cho người điều khiển phương tiện khác biết; người đi xe máy không làm chủ tốc độ nên đã đâm vào đuôi xe ô tô), trường hợp này phải căn cứ vào mức độ thiệt hại của từng bên để xác định bồi thường. - Trường hợp bạn Hải không có lỗi, người đi xe máy có lỗi (ví dụ bạn Hải đỗ xe đúng quy định; người đi xe máy do không làm chủ tốc độ nên đã đâm vào đuôi xe ô tô), trường hợp này bạn Hải không phải bồi thường thiệt hại cho người đi xe máy mà người đi xe máy phải bồi thường thiệt hại cho bạn Hải (nếu xe ô tô bị hư hỏng do vụ tai nạn giao thông gây ra).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 419,
"text": "- Trường hợp bạn Hải là người có lỗi còn người đi xe máy không có lỗi (ví dụ bạn Hải đỗ xe ở điểm có biển báo “cấm đỗ xe” hoặc “cấm dừng và đỗ xe”, đỗ xe nhưng không có biển cảnh báo; người đi xe máy do trời tối và không có biển cảnh báo nên đã không nhìn thấy và đâm vào đuôi xe ô tô), trường hợp này bạn Hải phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người đi xe máy. - Trường hợp cả bạn Hải và người đi xe máy cùng có lỗi (ví dụ bạn Hải đỗ xe nhưng không có biển cảnh báo cho người điều khiển phương tiện khác biết; người đi xe máy không làm chủ tốc độ nên đã đâm vào đuôi xe ô tô), trường hợp này phải căn cứ vào mức độ thiệt hại của từng bên để xác định bồi thường. - Trường hợp bạn Hải không có lỗi, người đi xe máy có lỗi (ví dụ bạn Hải đỗ xe đúng quy định; người đi xe máy do không làm chủ tốc độ nên đã đâm vào đuôi xe ô tô), trường hợp này bạn Hải không phải bồi thường thiệt hại cho người đi xe máy mà người đi xe máy phải bồi thường thiệt hại cho bạn Hải (nếu xe ô tô bị hư hỏng do vụ tai nạn giao thông gây ra)."
}
],
"id": "342",
"is_impossible": false,
"question": "Hỏi về việc bồi thường sau va chạm giao thông"
}
]
}
],
"title": "Hỏi về việc bồi thường sau va chạm giao thông"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Hành vi không sử dụng hoặc sử dụng không đủ đèn chiếu sáng trong thời gian từ 19 giờ ngày hôm trước đến 05 giờ ngày hôm sau, khi sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn được quy định tại Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Mức phạt cụ thể đối với hành vi này như sau: - Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô: Phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng (Điểm g Khoản 3 Điều 5). Nếu thực hiện hành vi mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng (Điểm c Khoản 12 Điều 5). - Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tư xe gắn máy: Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng (Điểm c Khoản 2 Điều 6). Nếu thực hiện hành vi mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng (Điểm c Khoản 12 Điều 6). - Đối với người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng: Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng (Điểm e Khoản 3 Điều 7). Nếu thực hiện hành vi mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 02 tháng đến 04 tháng (Điểm b Khoản 9 Điều 7).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 368,
"text": "- Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô: Phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng (Điểm g Khoản 3 Điều 5). Nếu thực hiện hành vi mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng (Điểm c Khoản 12 Điều 5). - Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tư xe gắn máy: Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng (Điểm c Khoản 2 Điều 6). Nếu thực hiện hành vi mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng (Điểm c Khoản 12 Điều 6). - Đối với người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng: Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng (Điểm e Khoản 3 Điều 7). Nếu thực hiện hành vi mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 02 tháng đến 04 tháng (Điểm b Khoản 9 Điều 7)."
}
],
"id": "343",
"is_impossible": false,
"question": "Quy định bật đèn chiếu sáng khi tham gia giao thông"
}
]
}
],
"title": "Quy định bật đèn chiếu sáng khi tham gia giao thông"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Khoản 4.23 và Khoản 4.25 Điều 4 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ ban hành kèm theo Thông tư số 17/2012/TT-BGTVT ngày 29/5/2012 của Bộ Giao thông vận tải quy định:“4.23. Ô tô con là chỉ ô tô chở người không quá 9 chỗ ngồi kể cả lái xe, hoặc ô tô chở hàng với trọng tải không quá 1,5 tấn. Ô tô con bao gồm cả các loại có kết cấu như mô tô ba bánh nhưng khối lượng bản thân lớn hơn 400 kg trở lên và trọng tải không quá 1,5 tấn;4.24. Ô tô tải là ô tô chở hàng hoặc thiết bị chuyên dùng có trọng tải từ 1,5 tấn trở lên;”Như vậy, xe ô tô bán tải mà đáp ứng các tiêu chí như quy định tại Khoản 4.23 thì đi vào làn xe dành cho ô tô con.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 178,
"text": "“4.23. Ô tô con là chỉ ô tô chở người không quá 9 chỗ ngồi kể cả lái xe, hoặc ô tô chở hàng với trọng tải không quá 1,5 tấn. Ô tô con bao gồm cả các loại có kết cấu như mô tô ba bánh nhưng khối lượng bản thân lớn hơn 400 kg trở lên và trọng tải không quá 1,5 tấn;4.24. Ô tô tải là ô tô chở hàng hoặc thiết bị chuyên dùng có trọng tải từ 1,5 tấn trở lên;”Như vậy, xe ô tô bán tải mà đáp ứng các tiêu chí như quy định tại Khoản 4.23 thì đi vào làn xe dành cho ô tô con."
}
],
"id": "344",
"is_impossible": false,
"question": "Hỏi về làn đường dành cho xe bán tải"
}
]
}
],
"title": "Hỏi về làn đường dành cho xe bán tải"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Về vấn đề này, Bộ Công an trả lời như sau: Theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 27/2010/NĐ-CP ngày 24/3/2010 của Chính phủ và Thông tư số 47/2011/TT-BCA của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 27/2010/NĐ-CP thì trong một số trường hợp cần thiết, lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã sẽ được huy động để phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông. Như vậy, việc tham gia tuần tra, kiểm soát, đảm bảo an toàn gia thông của Công an cấp xã đã được pháp luật quy định, việc huy động lực lượng Công an cấp xã ở địa phương tham gia thuộc thẩm quyền của Giám đốc, Trưởng Công an quận huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 43,
"text": "Theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 27/2010/NĐ-CP ngày 24/3/2010 của Chính phủ và Thông tư số 47/2011/TT-BCA của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 27/2010/NĐ-CP thì trong một số trường hợp cần thiết, lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã sẽ được huy động để phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông. Như vậy, việc tham gia tuần tra, kiểm soát, đảm bảo an toàn gia thông của Công an cấp xã đã được pháp luật quy định, việc huy động lực lượng Công an cấp xã ở địa phương tham gia thuộc thẩm quyền của Giám đốc, Trưởng Công an quận huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh."
}
],
"id": "345",
"is_impossible": false,
"question": "Công an cấp xã có được tham gia tuần tra an toàn giao thông trên địa bàn xã hay không?"
}
]
}
],
"title": "Công an cấp xã có được tham gia tuần tra an toàn giao thông trên địa bàn xã hay không?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Về các vấn đề này, Bộ Công an xin trả lời, như sau: Về kiến nghị liên quan đến đo tốc độ các phương tiện tham gia giao thông của lực lượng Cảnh sát giao thông thực tế cho thấy, chạy quá tốc độ là một trong những nguyên nhân trực tiếp gây ra các vụ tai nạn giao thông. Việc lực lượng Cảnh sát giao thông đo tốc độ các phương tiện tham gia giao thông, kịp thời phát hiện, xử lý những người lái xe chạy quá tốc độ nhằm hạn chế tai nạn giao thông là rất cần thiết. Tuy nhiên, thực tế nhiều lái xe tìm cách đối phó với việc đo tốc độ công khai, như: đang chạy với tốc độ cao, khi phát hiện các trạm, chốt của Cảnh sát giao thông sẽ giảm tốc độ hoặc né tránh; người lái xe bị xử phạt thông báo cho người lái xe đang tham gia giao thông khác biết để né tránh, gây khó khăn trong việc thực thi nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát giao thông… Vì vậy, việc kết hợp giữa hình thức đo tốc độ công khai và bí mật là xuất phát từ đòi hỏi của tình hình thực tế. Căn cứ Luật Công an nhân dân năm 2014, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và Nghị định số 106/2014/NĐ-CP, ngày 17/11/2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, ngày 04/01/2016, Bộ Công an ban hành Thông tư số 01/2016/TT-BCA quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông; theo đó, tại Khoản 1, Điều 9 quy định: “Hóa trang sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông”. Do vậy, việc lực lượng Cảnh sát giao thông kết hợp biện pháp công khai với bí mật (hóa trang) để đo tốc độ là cần thiết, xuất phát từ thực tiễn công tác và đúng quy định của pháp luật./.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 52,
"text": "Về kiến nghị liên quan đến đo tốc độ các phương tiện tham gia giao thông của lực lượng Cảnh sát giao thông thực tế cho thấy, chạy quá tốc độ là một trong những nguyên nhân trực tiếp gây ra các vụ tai nạn giao thông. Việc lực lượng Cảnh sát giao thông đo tốc độ các phương tiện tham gia giao thông, kịp thời phát hiện, xử lý những người lái xe chạy quá tốc độ nhằm hạn chế tai nạn giao thông là rất cần thiết. Tuy nhiên, thực tế nhiều lái xe tìm cách đối phó với việc đo tốc độ công khai, như: đang chạy với tốc độ cao, khi phát hiện các trạm, chốt của Cảnh sát giao thông sẽ giảm tốc độ hoặc né tránh; người lái xe bị xử phạt thông báo cho người lái xe đang tham gia giao thông khác biết để né tránh, gây khó khăn trong việc thực thi nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát giao thông… Vì vậy, việc kết hợp giữa hình thức đo tốc độ công khai và bí mật là xuất phát từ đòi hỏi của tình hình thực tế. Căn cứ Luật Công an nhân dân năm 2014, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và Nghị định số 106/2014/NĐ-CP, ngày 17/11/2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, ngày 04/01/2016, Bộ Công an ban hành Thông tư số 01/2016/TT-BCA quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông; theo đó, tại Khoản 1, Điều 9 quy định: “Hóa trang sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông”. Do vậy, việc lực lượng Cảnh sát giao thông kết hợp biện pháp công khai với bí mật (hóa trang) để đo tốc độ là cần thiết, xuất phát từ thực tiễn công tác và đúng quy định của pháp luật./."
}
],
"id": "346",
"is_impossible": false,
"question": "Về việc Cảnh sát giao thông bắn tốc độ các phương tiện khi tham gia giao thông"
}
]
}
],
"title": "Về việc Cảnh sát giao thông bắn tốc độ các phương tiện khi tham gia giao thông"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Những năm gần đây, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã rất quan tâm và tập trung chỉ đạo công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (TTATGT); Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 04/9/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm TTATGT đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông; Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo như: Nghị quyết số 88/NQ-CP, ngày 24/8/2011 của Chính phủ về tăng cường thực hiện các giải pháp trọng tâm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; Nghị quyết số 30/NQ-CP, ngày 01/03/2013 của Chính phủ về ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Chỉ thị số 12/CT-TTg, ngày 23/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện các giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn tai nạn giao thông nghiêm trọng trong hoạt động vận tải. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương huy động lực lượng, phương tiện tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm, kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm về TTATGT. Năm 2013, Lực lượng Cảnh sát giao thông toàn quốc đã kiểm soát lập biên bản 5.536.203 trường hợp vi phạm TTATGT đường bộ, phạt tiền 2.901,88 tỷ đồng, tước 449.223 giấy phép lái xe, tạm giữ 654.105 phương tiện các loại; 6 tháng đầu năm 2014, đã kiểm soát lập biên bản 2.584.905 trường hợp vi phạm TTATGT đường bộ, phạt tiền 1.470 tỷ đồng, tước 138.675 giấy phép lái xe, tạm giữ 313.473 phương tiện các loại. Do vậy, tình hình TTATGT đã có nhiều chuyển biến tích cực, ùn tắc giao thông và tai nạn giao thông đã được kiềm chế, xu hướng giảm dần (năm 2013, xảy ra 31.337 vụ tai nạn giao thông, làm chết 9.851 người, bị thương 32.169 người; so với năm 2012 giảm 13,85 % về số vụ, tăng 0,13 % số người chết, giảm 15,48% người bị thương), đạt mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ đề ra. Trong 6 tháng đầu năm 2014, xảy ra 12.855 vụ, làm chết 4.588 người, bị thương 12.821 người (so với cùng kỳ năm trước, giảm 17,2% số vụ, 8,36% số người chết, 19,8% số người bị thương). Tuy nhiên, tai nạn giao thông vẫn diễn biến phức tạp, xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng, liên quan đến xe khách, xe tải, xe Container; các tuyến đường giao thông nông thôn xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông do môtô, xe máy gây ra; vi phạm TTATGT vẫn xảy ra phổ biến, nhất là vi phạm tốc độ, tránh vượt không đúng quy định, vi phạm nồng độ cồn, đi mô tô, xe máy không đội mũ bảo hiểm, chở người và chở hàng vượt quá quy định... Nguyên nhân là do: (1) Ý thức của người tham gia giao thông còn hạn chế. (2) Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho người tham gia giao thông mặc dù đã được các cấp, các ngành quan tâm nhưng chủ yếu ở diện rộng, chưa cụ thể hóa tới từng đối tượng, từng vùng, từng miền. (3) Công tác quản lý nhà nước về giao thông vận tải vẫn còn bất cập. (4) Phương tiện, thiết bị kỹ thuật phục vụ tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm còn thiếu, lạc hậu; kết cấu hạ tầng và dịch vụ vận tải công cộng tại các đô thị lớn còn có mặt hạn chế; tại các đô thị lớn, trong khi phương tiện và người tham gia giao thông ngày càng tăng, nhưng biên chế của lực lượng Cảnh sát giao thông còn mỏng. (5) Tinh thần, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức trong khi thi hành nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn giao thông chưa cao, còn để xảy ra hiện tượng tiêu cực. (6) Chính quyền cơ sở ở một số nơi chưa quan tâm đúng mức đến công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông. Bộ Công an đã thường xuyên tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng Cảnh sát giao thông ngày càng trong sạch, vững mạnh, hạn chế những sai phạm trong khi thi hành công vụ. Để phòng ngừa, phát hiện và xử lý sai phạm, tiêu cực của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông trong khi thực hiện nhiệm vụ, Bộ Công an đã phê duyệt đề án “Tổ chức phòng ngừa sai phạm tiêu cực trong hoạt động tuần tra kiểm soát của lực lượng Cảnh sát giao thông” và ban hành các văn bản hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện trong toàn lực lượng Cảnh sát giao thông: Quyết định số 607/QĐ-BCA, ngày 11/5/2005 quy định tiêu chuẩn đạo đức, tác phong của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông, những việc cần phải “xây” và “chống”; Chỉ thị số 02/CT-BCA, ngày 26/01/2006 về tăng cường các biện pháp phòng, chống tiêu cực trong lực lượng Cảnh sát giao thông; Quyết định số 738/QĐ- BCA, ngày 13/6/2006 về tiếp nhận, xử lý tin phản ánh sai phạm, tiêu cực của Cảnh sát giao thông qua đường dây điện thoại nóng; Chỉ thị số 12/2011/CT-BCA, ngày 28/9/2011 về tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, ngăn chặn, chấn chỉnh, xử lý vi phạm và các hiện tượng tiêu cực trong thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ công an... Bộ Công an đã lập các đoàn kiểm tra Công an các đơn vị, địa phương và chỉ đạo xử lý cán bộ sai phạm. Công an các đơn vị, địa phương đã thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, chấn chỉnh cán bộ, chiến sĩ nâng cao hiệu quả công tác, chấp hành nghiêm Điều lệnh Công an nhân dân, quy chế làm việc, quy trình công tác, tạo được bước chuyển biến tích cực, quan trọng trong công tác phòng ngừa sai phạm, tiêu cực của Cảnh sát giao thông. Hầu hết cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, tận tụy với công việc, nêu gương liêm khiết không nhận hối lộ. Năm 2013, có 3.073 lượt cán bộ, chiến sĩ không nhận hối lộ của lái xe, chủ hàng. Tuy nhiên, vẫn còn một số cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông thiếu tu dưỡng rèn luyện dẫn đến sai phạm, vi phạm quy trình công tác, làm ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh người chiến sĩ Công an nhân dân. Thời gian tới, để phòng ngừa sai phạm, tiêu cực trong lực lượng Cảnh sát giao thông, Bộ Công an tiếp tục chỉ đạo thực hiện các giải pháp trọng tâm, sau đây: - Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống, tạo chuyển biến sâu sắc hơn về phẩm chất, đạo đức, tác phong, tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân, ý thức chấp hành quy trình, chế độ công tác, điều lệnh Công an nhân dân của cán bộ, chiến sĩ. - Tiếp tục cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, thực hiện công khai minh bạch các hoạt động của Cảnh sát giao thông có liên quan đến quyền lợi của nhân dân, để nhân dân chấp hành và ủng hộ giúp đỡ lực lượng Cảnh sát giao thông; đồng thời tham gia giám sát, phát hiện sai phạm của cán bộ, chiến sĩ. - Thực hiện nghiêm túc việc rà soát, đánh giá phân loại, điều chuyển cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát giao thông, gắn với yêu cầu phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm. - Tập trung trang thiết bị, huấn luyện, đào tạo lực lượng Cảnh sát giao thông đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; tăng cường các biện pháp quản lý cán bộ, kiểm tra, thanh tra phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp sai phạm và trách nhiệm liên đới của lãnh đạo, chỉ huy. Chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ; biểu dương khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. Bộ Công an đề nghị cử tri cả nước tiếp tục quan tâm, giúp đỡ, ủng hộ, kịp thời hỗ trợ, bảo vệ, động viên Cảnh sát giao thông trong khi làm nhiệm vụ; đồng thời, tham gia giám sát hoạt động của lực lượng Cảnh sát giao thông, phát hiện sai phạm (nếu có) để phản ánh với cấp có thẩm quyền xử lý.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 415,
"text": "Nghị quyết số 88/NQ-CP, ngày 24/8/2011 của Chính phủ về tăng cường thực hiện các giải pháp trọng tâm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; Nghị quyết số 30/NQ-CP, ngày 01/03/2013 của Chính phủ về ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Chỉ thị số 12/CT-TTg, ngày 23/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện các giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn tai nạn giao thông nghiêm trọng trong hoạt động vận tải. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương huy động lực lượng, phương tiện tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm, kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm về TTATGT. Năm 2013, Lực lượng Cảnh sát giao thông toàn quốc đã kiểm soát lập biên bản 5.536.203 trường hợp vi phạm TTATGT đường bộ, phạt tiền 2.901,88 tỷ đồng, tước 449.223 giấy phép lái xe, tạm giữ 654.105 phương tiện các loại; 6 tháng đầu năm 2014, đã kiểm soát lập biên bản 2.584.905 trường hợp vi phạm TTATGT đường bộ, phạt tiền 1.470 tỷ đồng, tước 138.675 giấy phép lái xe, tạm giữ 313.473 phương tiện các loại. Do vậy, tình hình TTATGT đã có nhiều chuyển biến tích cực, ùn tắc giao thông và tai nạn giao thông đã được kiềm chế, xu hướng giảm dần (năm 2013, xảy ra 31.337 vụ tai nạn giao thông, làm chết 9.851 người, bị thương 32.169 người; so với năm 2012 giảm 13,85 % về số vụ, tăng 0,13 % số người chết, giảm 15,48% người bị thương), đạt mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ đề ra. Trong 6 tháng đầu năm 2014, xảy ra 12.855 vụ, làm chết 4.588 người, bị thương 12.821 người (so với cùng kỳ năm trước, giảm 17,2% số vụ, 8,36% số người chết, 19,8% số người bị thương). Tuy nhiên, tai nạn giao thông vẫn diễn biến phức tạp, xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng, liên quan đến xe khách, xe tải, xe Container; các tuyến đường giao thông nông thôn xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông do môtô, xe máy gây ra; vi phạm TTATGT vẫn xảy ra phổ biến, nhất là vi phạm tốc độ, tránh vượt không đúng quy định, vi phạm nồng độ cồn, đi mô tô, xe máy không đội mũ bảo hiểm, chở người và chở hàng vượt quá quy định... Nguyên nhân là do: (1) Ý thức của người tham gia giao thông còn hạn chế. (2) Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho người tham gia giao thông mặc dù đã được các cấp, các ngành quan tâm nhưng chủ yếu ở diện rộng, chưa cụ thể hóa tới từng đối tượng, từng vùng, từng miền. (3) Công tác quản lý nhà nước về giao thông vận tải vẫn còn bất cập. (4) Phương tiện, thiết bị kỹ thuật phục vụ tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm còn thiếu, lạc hậu; kết cấu hạ tầng và dịch vụ vận tải công cộng tại các đô thị lớn còn có mặt hạn chế; tại các đô thị lớn, trong khi phương tiện và người tham gia giao thông ngày càng tăng, nhưng biên chế của lực lượng Cảnh sát giao thông còn mỏng. (5) Tinh thần, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức trong khi thi hành nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn giao thông chưa cao, còn để xảy ra hiện tượng tiêu cực. (6) Chính quyền cơ sở ở một số nơi chưa quan tâm đúng mức đến công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông. Bộ Công an đã thường xuyên tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng Cảnh sát giao thông ngày càng trong sạch, vững mạnh, hạn chế những sai phạm trong khi thi hành công vụ. Để phòng ngừa, phát hiện và xử lý sai phạm, tiêu cực của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông trong khi thực hiện nhiệm vụ, Bộ Công an đã phê duyệt đề án “Tổ chức phòng ngừa sai phạm tiêu cực trong hoạt động tuần tra kiểm soát của lực lượng Cảnh sát giao thông” và ban hành các văn bản hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện trong toàn lực lượng Cảnh sát giao thông: Quyết định số 607/QĐ-BCA, ngày 11/5/2005 quy định tiêu chuẩn đạo đức, tác phong của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông, những việc cần phải “xây” và “chống”; Chỉ thị số 02/CT-BCA, ngày 26/01/2006 về tăng cường các biện pháp phòng, chống tiêu cực trong lực lượng Cảnh sát giao thông; Quyết định số 738/QĐ- BCA, ngày 13/6/2006 về tiếp nhận, xử lý tin phản ánh sai phạm, tiêu cực của Cảnh sát giao thông qua đường dây điện thoại nóng; Chỉ thị số 12/2011/CT-BCA, ngày 28/9/2011 về tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, ngăn chặn, chấn chỉnh, xử lý vi phạm và các hiện tượng tiêu cực trong thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ công an... Bộ Công an đã lập các đoàn kiểm tra Công an các đơn vị, địa phương và chỉ đạo xử lý cán bộ sai phạm. Công an các đơn vị, địa phương đã thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, chấn chỉnh cán bộ, chiến sĩ nâng cao hiệu quả công tác, chấp hành nghiêm Điều lệnh Công an nhân dân, quy chế làm việc, quy trình công tác, tạo được bước chuyển biến tích cực, quan trọng trong công tác phòng ngừa sai phạm, tiêu cực của Cảnh sát giao thông. Hầu hết cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, tận tụy với công việc, nêu gương liêm khiết không nhận hối lộ. Năm 2013, có 3.073 lượt cán bộ, chiến sĩ không nhận hối lộ của lái xe, chủ hàng. Tuy nhiên, vẫn còn một số cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông thiếu tu dưỡng rèn luyện dẫn đến sai phạm, vi phạm quy trình công tác, làm ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh người chiến sĩ Công an nhân dân. Thời gian tới, để phòng ngừa sai phạm, tiêu cực trong lực lượng Cảnh sát giao thông, Bộ Công an tiếp tục chỉ đạo thực hiện các giải pháp trọng tâm, sau đây: - Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống, tạo chuyển biến sâu sắc hơn về phẩm chất, đạo đức, tác phong, tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân, ý thức chấp hành quy trình, chế độ công tác, điều lệnh Công an nhân dân của cán bộ, chiến sĩ. - Tiếp tục cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, thực hiện công khai minh bạch các hoạt động của Cảnh sát giao thông có liên quan đến quyền lợi của nhân dân, để nhân dân chấp hành và ủng hộ giúp đỡ lực lượng Cảnh sát giao thông; đồng thời tham gia giám sát, phát hiện sai phạm của cán bộ, chiến sĩ. - Thực hiện nghiêm túc việc rà soát, đánh giá phân loại, điều chuyển cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát giao thông, gắn với yêu cầu phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm. - Tập trung trang thiết bị, huấn luyện, đào tạo lực lượng Cảnh sát giao thông đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; tăng cường các biện pháp quản lý cán bộ, kiểm tra, thanh tra phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp sai phạm và trách nhiệm liên đới của lãnh đạo, chỉ huy. Chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ; biểu dương khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. Bộ Công an đề nghị cử tri cả nước tiếp tục quan tâm, giúp đỡ, ủng hộ, kịp thời hỗ trợ, bảo vệ, động viên Cảnh sát giao thông trong khi làm nhiệm vụ; đồng thời, tham gia giám sát hoạt động của lực lượng Cảnh sát giao thông, phát hiện sai phạm (nếu có) để phản ánh với cấp có thẩm quyền xử lý."
}
],
"id": "347",
"is_impossible": false,
"question": "Về đề nghị tăng cường các biện pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông"
}
]
}
],
"title": "Về đề nghị tăng cường các biện pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, Bộ Công an đã báo cáo và được Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường biên chế, trang thiết bị và đào tạo cho lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ”; Đề án “Tăng cường và hiện đại hóa công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ”; Đề án “Tăng cường biên chế, cơ sở vật chất, kỹ thuật, đào tạo, chế độ chính sách cho lực lượng Cảnh sát đường thủy ở Bộ Công an và 18 tỉnh, thành phố Bắc bộ và Trung bộ”. Trên lĩnh vực đường sắt, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quyết định số 6577/QĐ-BCA, ngày 28/11/2013 phê duyệt Đề án “Tăng cường năng lực bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt cho lực lượng Cảnh sát giao thông đường sắt”. Để triển khai thực hiện các đề án đã được Chính phủ và Bộ Công an phê duyệt và bảo đảm lực lượng đáp ứng yêu cầu công tác, Bộ Công an đã xây dựng Đề án “Bảo đảm nhân lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt đến năm 2020”, trong đó đã phân tích, đánh giá biên chế hiện có của lực lượng Cảnh sát giao thông, dự báo nhu cầu và xác định mức tăng biên chế của lực lượng Cảnh sát giao thông từ nay đến năm 2020. Bên cạnh đó, Bộ Công an đã tập trung chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông; giao chỉ tiêu tuyển sinh, đào tạo cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông cho Học viện, Trường Đại học, Cao đẳng Cảnh sát nhân dân và trường Trung học Cảnh sát giao thông; đồng thời tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, Bộ Công an đã báo cáo và được Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường biên chế, trang thiết bị và đào tạo cho lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ”; Đề án “Tăng cường và hiện đại hóa công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ”; Đề án “Tăng cường biên chế, cơ sở vật chất, kỹ thuật, đào tạo, chế độ chính sách cho lực lượng Cảnh sát đường thủy ở Bộ Công an và 18 tỉnh, thành phố Bắc bộ và Trung bộ”. Trên lĩnh vực đường sắt, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quyết định số 6577/QĐ-BCA, ngày 28/11/2013 phê duyệt Đề án “Tăng cường năng lực bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt cho lực lượng Cảnh sát giao thông đường sắt”. Để triển khai thực hiện các đề án đã được Chính phủ và Bộ Công an phê duyệt và bảo đảm lực lượng đáp ứng yêu cầu công tác, Bộ Công an đã xây dựng Đề án “Bảo đảm nhân lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt đến năm 2020”, trong đó đã phân tích, đánh giá biên chế hiện có của lực lượng Cảnh sát giao thông, dự báo nhu cầu và xác định mức tăng biên chế của lực lượng Cảnh sát giao thông từ nay đến năm 2020. Bên cạnh đó, Bộ Công an đã tập trung chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông; giao chỉ tiêu tuyển sinh, đào tạo cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông cho Học viện, Trường Đại học, Cao đẳng Cảnh sát nhân dân và trường Trung học Cảnh sát giao thông; đồng thời tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông."
}
],
"id": "348",
"is_impossible": false,
"question": "Về đề xuất tăng biên chế cho lực lượng Cảnh sát giao thông"
}
]
}
],
"title": "Về đề xuất tăng biên chế cho lực lượng Cảnh sát giao thông"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Thời gian qua, Bộ Công an đã tập trung chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương huy động lực lượng, phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ tổ chức công tác hướng dẫn, tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (TTATGT); trung bình mỗi năm, lực lượng Cảnh sát giao thông đã kiểm tra, phát hiện và xử lý trên 5 triệu trường hợp vi phạm trật tự, an toàn giao thông, phạt tiền nộp Kho bạc nhà nước trên 2.000 tỷ đồng; phối hợp bắt giữ hàng nghìn tên tội phạm hoạt động trên các tuyến giao thông. Kết quả trên đã góp phần tích cực kiềm chế, làm giảm tai nạn và ùn tắc giao thông; năm 2012, 2013 và 6 tháng đầu năm 2014, số người chết do tai nạn giao thông đã được giảm xuống dưới 10.000 người. Tuy nhiên, tình hình trật tự, an toàn giao thông vẫn diễn biến phức tạp, số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng vẫn xảy ra nhiều, số người chết, bị thương vẫn ở mức cao. Nguyên nhân của tình trạng trên là do công tác quản lý của Nhà nước về giao thông còn lỏng lẻo, hệ thống cơ sở hạ tầng, công tác quy hoạch hệ thống giao thông còn nhiều bất cập, ý thức của người tham gia giao thông còn nhiều hạn chế. Để tăng cường công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, Bộ Công an tập trung chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau đây: - Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, sử dụng, khai thác tối đa các thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phục vụ việc phát hiện, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. - Tổ chức các đợt cao điểm, xử lý vi phạm theo chuyên đề như: vi phạm chở quá tải; vi phạm nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện; vi phạm quy định về đội mũ bảo hiểm khi đi xe mô tô, xe máy; tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm bảo đảm TTATGT tại các tuyến đường giao thông nông thôn... để giải quyết tình hình phức tạp về TTATGT, đạt mục tiêu kiềm chế, giảm tai nạn và ùn tắc giao thông. - Tiếp tục duy trì và phát huy hiệu quả mô hình các tổ công tác phối hợp giữa Cảnh sát giao thông, Cảnh sát hình sự, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát 113... tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các đối tượng lạng lách, đánh võng, đua xe trái phép, mang theo vũ khí khi tham gia giao thông và các loại tội phạm hoạt động trên các tuyến giao thông. - Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về TTATGT nhằm tạo sự đồng thuận của dư luận xã hội và nhân dân ủng hộ hoạt động tích cực của lực lượng chức năng đấu tranh với các hành vi vi phạm TTATGT. - Xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm TTATGT có dấu hiệu tội phạm, nhất là các vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng. - Thông qua công tác đảm bảo TTATGT, phát hiện và kiến nghị với cơ quan chức năng khắc phục, giải quyết các bất hợp lý trong tổ chức giao thông, các nguy cơ gây mất an toàn giao thông và các “điểm đen” tai nạn giao thông.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1418,
"text": "- Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, sử dụng, khai thác tối đa các thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phục vụ việc phát hiện, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. - Tổ chức các đợt cao điểm, xử lý vi phạm theo chuyên đề như: vi phạm chở quá tải; vi phạm nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện; vi phạm quy định về đội mũ bảo hiểm khi đi xe mô tô, xe máy; tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm bảo đảm TTATGT tại các tuyến đường giao thông nông thôn... để giải quyết tình hình phức tạp về TTATGT, đạt mục tiêu kiềm chế, giảm tai nạn và ùn tắc giao thông. - Tiếp tục duy trì và phát huy hiệu quả mô hình các tổ công tác phối hợp giữa Cảnh sát giao thông, Cảnh sát hình sự, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát 113... tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các đối tượng lạng lách, đánh võng, đua xe trái phép, mang theo vũ khí khi tham gia giao thông và các loại tội phạm hoạt động trên các tuyến giao thông. - Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về TTATGT nhằm tạo sự đồng thuận của dư luận xã hội và nhân dân ủng hộ hoạt động tích cực của lực lượng chức năng đấu tranh với các hành vi vi phạm TTATGT. - Xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm TTATGT có dấu hiệu tội phạm, nhất là các vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng. - Thông qua công tác đảm bảo TTATGT, phát hiện và kiến nghị với cơ quan chức năng khắc phục, giải quyết các bất hợp lý trong tổ chức giao thông, các nguy cơ gây mất an toàn giao thông và các “điểm đen” tai nạn giao thông."
}
],
"id": "349",
"is_impossible": false,
"question": "Về đề nghị chỉ đạo, tăng cường công tác tuần tra, xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông"
}
]
}
],
"title": "Về đề nghị chỉ đạo, tăng cường công tác tuần tra, xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Tại Điểm b, Khoản 1 và Khoản 4, Điều 30 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP, ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, quy định \"Chỉ xử phạt đối với cá nhân, tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô; chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô; xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô\". Như vậy, trong gia đình có một chiếc xe do chủ hộ đứng tên trong Giấy đăng ký xe, mà không thực hiện việc mua, bán hoặc cho, tặng, điều chuyển, thừa kế tài sản là chiếc xe này cho các thành viên khác trong gia đình, thì các thành viên này vẫn hoàn toàn có thể sử dụng phương tiện đó tham gia giao thông mà không bị xử phạt về hành vi quy định tại Điểm b Khoản 1 và Khoản 4, Điều 30 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Tại Điểm b, Khoản 1 và Khoản 4, Điều 30 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP, ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, quy định \"Chỉ xử phạt đối với cá nhân, tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô; chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô; xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô\". Như vậy, trong gia đình có một chiếc xe do chủ hộ đứng tên trong Giấy đăng ký xe, mà không thực hiện việc mua, bán hoặc cho, tặng, điều chuyển, thừa kế tài sản là chiếc xe này cho các thành viên khác trong gia đình, thì các thành viên này vẫn hoàn toàn có thể sử dụng phương tiện đó tham gia giao thông mà không bị xử phạt về hành vi quy định tại Điểm b Khoản 1 và Khoản 4, Điều 30 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP."
}
],
"id": "350",
"is_impossible": false,
"question": "Các thành viên trong gia đình có được sử dụng xe do chủ hộ làm chính chủ không?"
}
]
}
],
"title": "Các thành viên trong gia đình có được sử dụng xe do chủ hộ làm chính chủ không?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia về tăng cường kiểm soát tải trọng xe ô tô trên đường bộ, Kế hoạch số 12593/KHPH/BGTVT-BCA, ngày 21/11/2013 của Bộ Giao thông vận tải - Bộ Công an phối hợp thực hiện tuần tra, kiểm soát, xử lý hành vi vi phạm chở hàng vượt quá trọng tải của xe ô tô vận chuyển hàng hóa trên đường bộ; trong 6 tháng đầu năm 2014, lực lượng Cảnh sát giao thông đã phối hợp với lực lượng Thanh tra giao thông kiểm tra tại các trạm cân, phát hiện, lập biên bản 25.000 trường hợp vi phạm chở hàng quá trọng tải, xử phạt nộp kho bạc Nhà nước 77 tỷ đồng, tạm giữ 563 phương tiện, tước 14.000 giấy phép lái xe, xử lý hạ tải đối với 7.236 phương tiện vi phạm, 33.000 tấn hàng. Thông qua công tác tuần tra, kiểm soát, lực lượng Cảnh sát giao thông đã chủ động kiểm tra, phát hiện, lập biên bản 47.000 trường hợp vi phạm chở hàng quá trọng tải, xử phạt nộp kho bạc Nhà nước 106 tỷ đồng, tạm giữ 1.845 phương tiện, tước 23.000 giấy phép lái xe, xử lý hạ tải đối với 8.792 phương tiện vi phạm, với 27.000 tấn hàng. Việc đồng loạt ra quân xử lý xe ô tô chở quá trọng tải trong toàn quốc đã tác động mạnh đến các doanh nghiệp vận tải, chủ hàng, chủ xe, lái xe trong việc chấp hành quy định về vận tải đường bộ và đã có chuyển biến tích cực, được dư luận xã hội đồng thuận, ủng hộ. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng xe quá tải tránh né các trạm cân và lưu thông khi trạm cân dừng hoạt động, nguyên nhân là do thời gian đầu thực hiện việc kiểm soát trọng tải phương tiện, một số địa phương chưa thực hiện tốt việc kiểm tra liên tục 24h trong ngày, mà chỉ thực hiện vào giờ hành chính hoặc 01 ngày chỉ làm 8h; mặt khác, mỗi địa phương chỉ được trang bị 01 trạm cân lưu động, trong khi đó địa bàn rộng có nhiều tuyến đường đi qua nên không quán xuyến, kiểm soát triệt để được xe quá trọng tải qua địa bàn quản lý (khi cân ở khu vực này thì lái xe, chủ xe tìm cách né, tránh đi qua khu vực khác). Sau khi phát hiện những bất cập tồn tại này, Bộ Giao thông vận tải đã chủ trì báo cáo Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân các địa phương chỉ đạo các đơn vị chức năng thực hiện nghiêm túc việc kiểm soát tải trọng xe 24h trong ngày và 07 ngày trong tuần, do vậy, đã giảm hẳn việc xe ô tô dừng đỗ ở đầu trạm cân cũng như né tránh trạm cân. Về vụ việc chiếc xe 51C-17899 kéo rơmoóc chở hơn 100 tấn hàng từ Hà Nội vào đến Bình Thuận mới bị phát hiện và lập biên bản: Ngày 25/4/2014, Bộ Công an đã có Điện chỉ đạo Công an các địa phương dọc tuyến quốc lộ 1A từ Hà Nội đến Đồng Nai khẩn trương kiểm tra, xác minh, báo cáo việc kiểm tra, xử lý đối với chiếc xe ô tô trên. Đây là thời gian đầu mới triển khai các trạm cân lưu động, công tác phối hợp chưa chặt chẽ, nên lái xe ô tô biển kiểm soát 51C – 17899 chở hàng quá tải trọng, di chuyển từ Hà Nội đến Bình Thuận, quá trình lưu thông trên đường lái xe đã tìm mọi cách để né, tránh các tổ tuần tra kiểm soát và các trạm cân, khi đến tỉnh Bình Thuận mới bị phát hiện, lập biên bản; do lực lượng Thanh tra giao thông tỉnh Bình Thuận không bố trí đủ thiết bị hạ tải, bãi hạ tải nên mới chỉ lập biên bản vi phạm mà chưa buộc hạ tải, cho xe tiếp tục lưu hành; sau đó chiếc xe này đi đến địa phận tỉnh Long An thì lực lượng Cảnh sát giao thông tỉnh Long An phát hiện, lập biên bản tạm giữ, yêu cầu lái xe, chủ xe phải chuyển tải bằng đường thủy về Thành phố Cần Thơ. Thời gian tới, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ủy ban An toàn giao thông quốc gia và Kế hoạch số 12593/KHPH/BGTVT-BCA, nhằm góp phần đảm bảo trật tự, an toàn giao thông, Bộ Công an đang chỉ đạo: - Công an các đơn vị, địa phương tiếp tục thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Chính phủ và Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, xác định công tác kiểm soát tải trọng xe là nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2014; tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng của ngành Giao thông vận tải triển khai đồng bộ, quyết liệt, thường xuyên liên tục, lâu dài, đúng chức năng, nhiệm vụ được giao trong Kế hoạch số 12593/KHPH/BGTVT-BCA. Chủ động tổ chức lực lượng kiểm tra, xử lý hành vi vi phạm của xe ôtô chở hàng quá trọng tải. - Tiếp tục duy trì và phát huy hiệu quả mô hình các tổ công tác phối hợp giữa Cảnh sát giao thông, Cảnh sát hình sự, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát 113... để tăng cường tuần tra, kiểm soát, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, nhất là phòng, chống tình trạng “cò”, “môi giới dẫn xe” chở hàng quá tải trọng đi qua các trạm cân, trốn tránh việc kiểm soát của các lực lượng chức năng. - Tham mưu cấp uỷ, chính quyền các cấp chỉ đạo đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh, trật tự nói chung, công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông nói riêng; chỉ đạo các cơ quan ban, ngành địa phương phối hợp thống nhất thực hiện có hiệu quả Thông tư liên ngành về xử lý xe quá trọng tải, góp phần đảm bảo, trật tự an toàn giao thông. - Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát phát hiện cán bộ, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát giao thông vi phạm quy trình công tác, thiếu trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ hoặc tiêu cực (dừng xe không kiểm soát, kiểm soát qua loa, bỏ qua vi phạm...), tùy theo mức độ sai phạm để có hình thức xử lý nghiêm minh, đồng thời xử lý trách nhiệm đối với lãnh đạo chỉ huy để cán bộ, chiến sĩ vi phạm theo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 2385,
"text": "Ngày 25/4/2014, Bộ Công an đã có Điện chỉ đạo Công an các địa phương dọc tuyến quốc lộ 1A từ Hà Nội đến Đồng Nai khẩn trương kiểm tra, xác minh, báo cáo việc kiểm tra, xử lý đối với chiếc xe ô tô trên. Đây là thời gian đầu mới triển khai các trạm cân lưu động, công tác phối hợp chưa chặt chẽ, nên lái xe ô tô biển kiểm soát 51C – 17899 chở hàng quá tải trọng, di chuyển từ Hà Nội đến Bình Thuận, quá trình lưu thông trên đường lái xe đã tìm mọi cách để né, tránh các tổ tuần tra kiểm soát và các trạm cân, khi đến tỉnh Bình Thuận mới bị phát hiện, lập biên bản; do lực lượng Thanh tra giao thông tỉnh Bình Thuận không bố trí đủ thiết bị hạ tải, bãi hạ tải nên mới chỉ lập biên bản vi phạm mà chưa buộc hạ tải, cho xe tiếp tục lưu hành; sau đó chiếc xe này đi đến địa phận tỉnh Long An thì lực lượng Cảnh sát giao thông tỉnh Long An phát hiện, lập biên bản tạm giữ, yêu cầu lái xe, chủ xe phải chuyển tải bằng đường thủy về Thành phố Cần Thơ. Thời gian tới, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ủy ban An toàn giao thông quốc gia và Kế hoạch số 12593/KHPH/BGTVT-BCA, nhằm góp phần đảm bảo trật tự, an toàn giao thông, Bộ Công an đang chỉ đạo: - Công an các đơn vị, địa phương tiếp tục thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Chính phủ và Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, xác định công tác kiểm soát tải trọng xe là nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2014; tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng của ngành Giao thông vận tải triển khai đồng bộ, quyết liệt, thường xuyên liên tục, lâu dài, đúng chức năng, nhiệm vụ được giao trong Kế hoạch số 12593/KHPH/BGTVT-BCA. Chủ động tổ chức lực lượng kiểm tra, xử lý hành vi vi phạm của xe ôtô chở hàng quá trọng tải. - Tiếp tục duy trì và phát huy hiệu quả mô hình các tổ công tác phối hợp giữa Cảnh sát giao thông, Cảnh sát hình sự, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát 113... để tăng cường tuần tra, kiểm soát, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, nhất là phòng, chống tình trạng “cò”, “môi giới dẫn xe” chở hàng quá tải trọng đi qua các trạm cân, trốn tránh việc kiểm soát của các lực lượng chức năng. - Tham mưu cấp uỷ, chính quyền các cấp chỉ đạo đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh, trật tự nói chung, công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông nói riêng; chỉ đạo các cơ quan ban, ngành địa phương phối hợp thống nhất thực hiện có hiệu quả Thông tư liên ngành về xử lý xe quá trọng tải, góp phần đảm bảo, trật tự an toàn giao thông. - Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát phát hiện cán bộ, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát giao thông vi phạm quy trình công tác, thiếu trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ hoặc tiêu cực (dừng xe không kiểm soát, kiểm soát qua loa, bỏ qua vi phạm...), tùy theo mức độ sai phạm để có hình thức xử lý nghiêm minh, đồng thời xử lý trách nhiệm đối với lãnh đạo chỉ huy để cán bộ, chiến sĩ vi phạm theo quy định."
}
],
"id": "351",
"is_impossible": false,
"question": "Về tình trạng xe quá tải đi qua nhiều trạm kiểm tra, kiểm soát"
}
]
}
],
"title": "Về tình trạng xe quá tải đi qua nhiều trạm kiểm tra, kiểm soát"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Thông tin diễn biến vụ việc (thông tin về phương tiện và người điều khiển phương tiện, nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông,...) của bạn Nguyễn Quang Khôi gửi không đầy đủ để có thể đánh giá nguyên nhân, điều kiện dẫn đến vụ tai nạn giao thông và trách nhiệm của các bên liên quan. - Trường hợp nếu nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông do lỗi thuộc về nhân viên sửa xe (người điều khiển phương tiện), thì căn cứ vào hậu quả vụ tai nạn, người điều khiển phương tiện có thể: (1) bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); (2) bị xử lý hành chính (nếu hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản gây ra cho người khác dưới mức quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015). - Giải quyết bồi thường về thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông do các bên có liên quan trong vụ tai nạn giao thông tự bàn bạc thỏa thuận, thống nhất mức bồi thường (theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015). Trường hợp các bên liên quan không thống nhất được thì làm đơn gửi tòa án nhân dân các cấp xem xét, giải quyết theo quy định. - Việc liên đới của chủ phương tiện theo tình huống đưa ra (chỉ giao phương tiện cho nhân viên sửa chữa, bảo dưỡng) thì bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Điều 263 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về “Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ”; Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về “Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ” hoặc bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại điểm đ khoản 5 Điều 30 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Khoản 5 Điều 30 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định như sau: 5. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 1.600.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây: a) Tự ý cắt, hàn, đục lại số khung, số máy; đưa phương tiện đã bị cắt, hàn, đục lại số khung, số máy trái quy định tham gia giao thông; b) Tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo hồ sơ đăng ký xe; c) Tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước, đặc tính của xe; d) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được cấp lại biển số, Giấy đăng ký xe; đ) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông (bao gồm cả trường hợp người điều khiển phương tiện có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng hoặc đang trong thời gian bị tước quyền sử dụng); e) Không chấp hành việc thu hồi Giấy đăng ký xe, biển số xe theo quy định; g) Đưa phương tiện không có Giấy đăng ký xe tham gia giao thông hoặc có nhưng đã hết hạn sử dụng; đưa phương tiện có Giấy chứng nhận đăng ký xe tạm thời tham gia giao thông quá thời hạn, tuyến đường, phạm vi cho phép; h) Đưa phương tiện có Giấy đăng ký xe nhưng không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc bị tẩy xóa tham gia giao thông; đưa phương tiện có Giấy đăng ký xe nhưng không đúng với số khung số máy của xe tham gia giao thông; i) Lắp đặt, sử dụng thiết bị thay đổi biển số trên xe trái quy định; k) Đưa phương tiện không gắn biển số (đối với loại xe có quy định phải gắn biển số) tham gia giao thông; đưa phương tiện gắn biển số không đúng với Giấy đăng ký xe hoặc gắn biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp tham gia giao thông.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 479,
"text": "(1) bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); (2) bị xử lý hành chính (nếu hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản gây ra cho người khác dưới mức quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015). - Giải quyết bồi thường về thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông do các bên có liên quan trong vụ tai nạn giao thông tự bàn bạc thỏa thuận, thống nhất mức bồi thường (theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015). Trường hợp các bên liên quan không thống nhất được thì làm đơn gửi tòa án nhân dân các cấp xem xét, giải quyết theo quy định. - Việc liên đới của chủ phương tiện theo tình huống đưa ra (chỉ giao phương tiện cho nhân viên sửa chữa, bảo dưỡng) thì bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Điều 263 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về “Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ”; Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về “Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ” hoặc bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại điểm đ khoản 5 Điều 30 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Khoản 5 Điều 30 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định như sau: 5. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 1.600.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây: a) Tự ý cắt, hàn, đục lại số khung, số máy; đưa phương tiện đã bị cắt, hàn, đục lại số khung, số máy trái quy định tham gia giao thông; b) Tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo hồ sơ đăng ký xe; c) Tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước, đặc tính của xe; d) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được cấp lại biển số, Giấy đăng ký xe; đ) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông (bao gồm cả trường hợp người điều khiển phương tiện có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng hoặc đang trong thời gian bị tước quyền sử dụng); e) Không chấp hành việc thu hồi Giấy đăng ký xe, biển số xe theo quy định; g) Đưa phương tiện không có Giấy đăng ký xe tham gia giao thông hoặc có nhưng đã hết hạn sử dụng; đưa phương tiện có Giấy chứng nhận đăng ký xe tạm thời tham gia giao thông quá thời hạn, tuyến đường, phạm vi cho phép; h) Đưa phương tiện có Giấy đăng ký xe nhưng không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc bị tẩy xóa tham gia giao thông; đưa phương tiện có Giấy đăng ký xe nhưng không đúng với số khung số máy của xe tham gia giao thông; i) Lắp đặt, sử dụng thiết bị thay đổi biển số trên xe trái quy định; k) Đưa phương tiện không gắn biển số (đối với loại xe có quy định phải gắn biển số) tham gia giao thông; đưa phương tiện gắn biển số không đúng với Giấy đăng ký xe hoặc gắn biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp tham gia giao thông."
}
],
"id": "352",
"is_impossible": false,
"question": "Nhân viên sửa xe dùng xe của khách gây tai nạn thì chủ xe có bị liên đới không?"
}
]
}
],
"title": "Nhân viên sửa xe dùng xe của khách gây tai nạn thì chủ xe có bị liên đới không?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, người vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội (Hành vi cản trở, chống lại việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ) hoặc xử lý hình sự theo quy định tại Điều 330 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội chống người thi hành công vụ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, người vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội (Hành vi cản trở, chống lại việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ) hoặc xử lý hình sự theo quy định tại Điều 330 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội chống người thi hành công vụ."
}
],
"id": "353",
"is_impossible": false,
"question": "Hành vi chống đối, cản trở và gây nguy hiểm cho lực lượng Cảnh sát giao thông sẽ bị xử lý như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Hành vi chống đối, cản trở và gây nguy hiểm cho lực lượng Cảnh sát giao thông sẽ bị xử lý như thế nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Khoản 1 Điều 29 Thông tư số 32/2023/TT-BCA ngày 01/8/2023 của Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông quy định đơn vị Cảnh sát giao thông thực hiện tiếp nhận, thu thập dữ liệu (thông tin, hình ảnh), gồm: - Phòng Hướng dẫn tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ, đường sắt thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an; - Phòng Cảnh sát giao thông thuộc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Đội Cảnh sát giao thông, trật tự thuộc Công an cấp huyện.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 331,
"text": "- Phòng Hướng dẫn tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ, đường sắt thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an; - Phòng Cảnh sát giao thông thuộc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Đội Cảnh sát giao thông, trật tự thuộc Công an cấp huyện."
}
],
"id": "354",
"is_impossible": false,
"question": "Đầu mối tiếp nhận thông tin, hình ảnh về hành vi vi phạm giao thông do người dân cung cấp"
}
]
}
],
"title": "Đầu mối tiếp nhận thông tin, hình ảnh về hành vi vi phạm giao thông do người dân cung cấp"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Tại Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình nêu rõ: “Vi phạm quy định về bảo vệ các công trình công cộng, công trình an ninh, trật tự: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tự ý xê dịch các loại biển báo, biển chỉ dẫn, biển hiệu của cơ quan, tổ chức”.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 257,
"text": "“Vi phạm quy định về bảo vệ các công trình công cộng, công trình an ninh, trật tự: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tự ý xê dịch các loại biển báo, biển chỉ dẫn, biển hiệu của cơ quan, tổ chức”."
}
],
"id": "355",
"is_impossible": false,
"question": "Hành vi tự ý dịch chuyển biển báo giao thông"
}
]
}
],
"title": "Hành vi tự ý dịch chuyển biển báo giao thông"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "- Điều 87 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: “Cảnh sát giao thông đường bộ thực hiện việc tuần tra, kiểm soát để kiểm soát người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ; xử lý vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ đối với người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình...”. - Điều 16 Thông tư số 65/2020/TT-BCA ngày 19/6/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông (Điều 16 Thông tư số 32/2023/TT-BCA ngày 01/8/2023 của Bộ trưởng Bộ Công an thay thế Thông tư số 65/2020/TT-BCA, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2023) quy định cụ thể các trường hợp cán bộ Cảnh sát giao thông được dừng phương tiện giao thông để kiểm soát, như sau: “(1) Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện thu thập được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ và các hành vi vi phạm pháp luật khác; (2) Thực hiện mệnh lệnh, kế hoạch tổng kiểm soát phương tiện giao thông bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, trật tự xã hội; kế hoạch tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm theo chuyên đề bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, trật tự xã hội đã được cấp có thẩm quyền ban hành; (3) Có văn bản đề nghị của Thủ tướng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện giao thông để kiểm soát phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự; đấu tranh phòng, chống tội phạm; phòng, chống thiên tai, cháy nổ; phòng, chống dịch bệnh; cứu nạn, cứu hộ và các hành vi vi phạm pháp luật khác; (4) Có tin báo, phản ánh, kiến nghị, tố giác của tổ chức, cá nhân về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. - Điểm b khoản 5 và điểm b, c khoản 11 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ) quy định: “Người điều khiển xe ô tô thực hiện hành vi vi phạm không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông thì bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng và bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng; trường hợp vi phạm hành vi này mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng”.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 54,
"text": "“Cảnh sát giao thông đường bộ thực hiện việc tuần tra, kiểm soát để kiểm soát người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ; xử lý vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ đối với người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình...”. - Điều 16 Thông tư số 65/2020/TT-BCA ngày 19/6/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông (Điều 16 Thông tư số 32/2023/TT-BCA ngày 01/8/2023 của Bộ trưởng Bộ Công an thay thế Thông tư số 65/2020/TT-BCA, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2023) quy định cụ thể các trường hợp cán bộ Cảnh sát giao thông được dừng phương tiện giao thông để kiểm soát, như sau: “(1) Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện thu thập được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ và các hành vi vi phạm pháp luật khác; (2) Thực hiện mệnh lệnh, kế hoạch tổng kiểm soát phương tiện giao thông bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, trật tự xã hội; kế hoạch tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm theo chuyên đề bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, trật tự xã hội đã được cấp có thẩm quyền ban hành; (3) Có văn bản đề nghị của Thủ tướng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện giao thông để kiểm soát phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự; đấu tranh phòng, chống tội phạm; phòng, chống thiên tai, cháy nổ; phòng, chống dịch bệnh; cứu nạn, cứu hộ và các hành vi vi phạm pháp luật khác; (4) Có tin báo, phản ánh, kiến nghị, tố giác của tổ chức, cá nhân về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. - Điểm b khoản 5 và điểm b, c khoản 11 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ) quy định: “Người điều khiển xe ô tô thực hiện hành vi vi phạm không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông thì bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng và bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng; trường hợp vi phạm hành vi này mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng”."
}
],
"id": "356",
"is_impossible": false,
"question": "Các trường hợp cán bộ Cảnh sát giao thông được dừng phương tiện giao thông để kiểm soát"
}
]
}
],
"title": "Các trường hợp cán bộ Cảnh sát giao thông được dừng phương tiện giao thông để kiểm soát"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Tại điểm đ Khoản 3 Điều 18 Luật Giao thông đường bộ quy định: Không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn. Điểm g Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt quy định người điều khiển xe mở cửa xe không đảm bảo an toàn bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng. Nếu thực hiện hành vi trên mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 đến 04 tháng. Nếu hành vi gây tai nạn giao thông mà hậu quả làm thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng và tài sản theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc giải quyết, bồi thường thiệt hại do vụ tai nạn gây ra được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự 2015.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 62,
"text": "Không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn. Điểm g Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt quy định người điều khiển xe mở cửa xe không đảm bảo an toàn bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng. Nếu thực hiện hành vi trên mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 đến 04 tháng. Nếu hành vi gây tai nạn giao thông mà hậu quả làm thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng và tài sản theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc giải quyết, bồi thường thiệt hại do vụ tai nạn gây ra được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự 2015."
}
],
"id": "357",
"is_impossible": false,
"question": "Mở cửa ô tô không an toàn bị xử phạt như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Mở cửa ô tô không an toàn bị xử phạt như thế nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Thông tư số 32/2023/TT-BCA ngày 01/8/2023 của Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông, trong đó, Điều 11 đã quy định cụ thể hình thức tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp hóa trang của lực lượng Cảnh sát giao thông, như: các trường hợp tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang; thẩm quyền quyết định tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang; điều kiện tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang. Theo đó, nhiệm vụ của bộ phận cán bộ hóa trang là trực tiếp quan sát, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ giám sát tình hình trật tự, an toàn giao thông, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ và hành vi vi phạm pháp luật khác; khi phát hiện vi phạm phải thông báo ngay cho bộ phận tuần tra, kiểm soát công khai để tiến hành dừng phương tiện, kiểm soát, xử lý theo quy định. Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm nghiêm trọng về giao thông đường bộ, an ninh, trật tự xã hội, nếu không ngăn chặn kip thời sẽ gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội, làm thiệt hại đến tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, tổn hại đến tính mạng, sức khỏe của người tham gia giao thông thì sử dụng Giấy chứng minh Công an nhân dân để thông báo, vận động Nhân dân phối hợp, ngăn chặn ngay hành vi vi phạm; thông báo và phối hợp với bộ phận cán bộ tuần tra, kiểm soát công khai để giải quyết tại nơi phát hiện vi phạm hoặc đưa đối tượng vi phạm về trụ sở cơ quan Công an nơi gần nhất để giải quyết theo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 349,
"text": "các trường hợp tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang; thẩm quyền quyết định tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang; điều kiện tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang. Theo đó, nhiệm vụ của bộ phận cán bộ hóa trang là trực tiếp quan sát, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ giám sát tình hình trật tự, an toàn giao thông, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ và hành vi vi phạm pháp luật khác; khi phát hiện vi phạm phải thông báo ngay cho bộ phận tuần tra, kiểm soát công khai để tiến hành dừng phương tiện, kiểm soát, xử lý theo quy định. Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm nghiêm trọng về giao thông đường bộ, an ninh, trật tự xã hội, nếu không ngăn chặn kip thời sẽ gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội, làm thiệt hại đến tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, tổn hại đến tính mạng, sức khỏe của người tham gia giao thông thì sử dụng Giấy chứng minh Công an nhân dân để thông báo, vận động Nhân dân phối hợp, ngăn chặn ngay hành vi vi phạm; thông báo và phối hợp với bộ phận cán bộ tuần tra, kiểm soát công khai để giải quyết tại nơi phát hiện vi phạm hoặc đưa đối tượng vi phạm về trụ sở cơ quan Công an nơi gần nhất để giải quyết theo quy định."
}
],
"id": "358",
"is_impossible": false,
"question": "Quy định Cảnh sát giao thông hóa trang khi xử lý vi phạm giao thông"
}
]
}
],
"title": "Quy định Cảnh sát giao thông hóa trang khi xử lý vi phạm giao thông"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Về vấn đề này, Bộ Công an trả lời như sau: 1. Hành vi đi ngược chiều trên đường cao tốc sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính và được áp dụng theo Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt và Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng, cụ thể: Phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng (tại điểm a khoản 8 Điều 5), tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 05 tháng đến 07 tháng (điểm đ khoản 11 Điều 5). 2. Vi phạm ở mức độ nào sẽ bị truy tố và mức hình phạt cho hành vi này bị truy tố như thế nào? Tại Điều 260, Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng trở lên bị cơ quan chức năng truy tố theo khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể bị phạt tù từ 01 năm đến 15 năm.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 43,
"text": "1. Hành vi đi ngược chiều trên đường cao tốc sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính và được áp dụng theo Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt và Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng, cụ thể: Phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng (tại điểm a khoản 8 Điều 5), tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 05 tháng đến 07 tháng (điểm đ khoản 11 Điều 5). 2. Vi phạm ở mức độ nào sẽ bị truy tố và mức hình phạt cho hành vi này bị truy tố như thế nào? Tại Điều 260, Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng trở lên bị cơ quan chức năng truy tố theo khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể bị phạt tù từ 01 năm đến 15 năm."
}
],
"id": "359",
"is_impossible": false,
"question": "Hành vi đi ngược chiều trên đường cao tốc sẽ bị xử lý như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Hành vi đi ngược chiều trên đường cao tốc sẽ bị xử lý như thế nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 39 của Thông tư 24/2023/TT-BCA ngày 01/7/2023 của Bộ Công an quy định như sau: 1. Đối với xe đã đăng ký biển 5 số trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành (15/8/2023) mà chưa làm thủ tục thu hồi thì số đó được xác định là biển số định danh của chủ xe. 2. Đối với xe đã đăng ký biển 5 số, nếu chủ xe đã làm thủ tục thu hồi trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì số biển số đó được chuyển vào kho biển số để cấp biển số theo quy định. 3. Đối với xe đã đăng ký biển 5 số có ký hiệu “LD”, “DA”, “MĐ”, “R” thì tiếp tục được phép tham gia giao thông, kể cả khi cấp đổi, cấp lại biển số, trừ trường hợp chủ xe có nhu cầu cấp sang biển số theo quy định của Thông tư này. 4. Đối với xe đã đăng ký biển 3 hoặc 4 số thì tiếp tục được phép tham gia giao thông, trừ trường hợp chủ xe có nhu cầu cấp sang biển số định danh hoặc khi chủ xe thực hiện thủ tục cấp đổi chứng nhận đăng ký xe, cấp đổi biển số xe, cấp lại chứng nhận đăng ký xe, cấp lại biển số xe hoặc đăng ký sang tên, di chuyển xe theo quy định của Thông tư này thì thực hiện thu hồi biển 3 hoặc 4 số đó và cấp đổi sang biển số định danh theo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 123,
"text": "1. Đối với xe đã đăng ký biển 5 số trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành (15/8/2023) mà chưa làm thủ tục thu hồi thì số đó được xác định là biển số định danh của chủ xe. 2. Đối với xe đã đăng ký biển 5 số, nếu chủ xe đã làm thủ tục thu hồi trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì số biển số đó được chuyển vào kho biển số để cấp biển số theo quy định. 3. Đối với xe đã đăng ký biển 5 số có ký hiệu “LD”, “DA”, “MĐ”, “R” thì tiếp tục được phép tham gia giao thông, kể cả khi cấp đổi, cấp lại biển số, trừ trường hợp chủ xe có nhu cầu cấp sang biển số theo quy định của Thông tư này. 4. Đối với xe đã đăng ký biển 3 hoặc 4 số thì tiếp tục được phép tham gia giao thông, trừ trường hợp chủ xe có nhu cầu cấp sang biển số định danh hoặc khi chủ xe thực hiện thủ tục cấp đổi chứng nhận đăng ký xe, cấp đổi biển số xe, cấp lại chứng nhận đăng ký xe, cấp lại biển số xe hoặc đăng ký sang tên, di chuyển xe theo quy định của Thông tư này thì thực hiện thu hồi biển 3 hoặc 4 số đó và cấp đổi sang biển số định danh theo quy định."
}
],
"id": "360",
"is_impossible": false,
"question": "Chủ xe đang sử dụng xe mang biển 3 và 4 số có được tham gia giao thông không?"
}
]
}
],
"title": "Chủ xe đang sử dụng xe mang biển 3 và 4 số có được tham gia giao thông không?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Về vấn đề này, Bộ Công an trả lời như sau: 1. Căn cứ Điều 4, Điều 13, Điều 17, Điều 20 Nghị định số 86/2014/NĐ-CP ngày 10/9/2014 của Chính phủ về điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô và Điều 4, Điều 6, Điều 37, Điều 54 Thông tư số 63/2014/TT-BGTVT ngày 07/11/2014 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ. Trong đó quy định đối với kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi, ngoài việc đáp ứng các điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, còn thêm các điều kiện: - Niêm yết hai bên cánh cửa xe: tên, số điện thoại và biểu trưng (logo) của doanh nghiệp, hợp tác xã. - Có phù hiệu xe taxi; hộp đèn với chữ “TAXI” gắn trên nóc xe, hộp đèn bật sáng khi trên xe không có khách và tắt khi trên xe có khách. - Đồng hồ tính cước đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm định và kẹp chì. Như vậy, hiện nay việc quản lý phương tiện kinh doanh vận tải bằng ô tô nói chung và phương tiện kinh doanh vận tải hành khách bằng taxi nói riêng, các văn bản của Chính phủ và Bộ Giao thông vận tải đã quy định rất đầy đủ, cụ thể; Phương tiện kinh doanh vận tải phải có phù hiệu do cơ quan có thẩm quyền cấp, phục vụ công tác kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh vận tải của các lực lượng chức năng và nhân dân; bảo đảm quản lý chặt chẽ, đồng thời khách hàng khi sử dụng dịch vụ có thể nhận biết phương tiện, doanh nghiệp để lựa chọn sử dụng dịch vụ phù hợp. 2. Việc đề xuất đổi màu biển số các phương tiện kinh doanh vận tải của Hiệp hội Taxi Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh chưa nhận được sự đồng thuận của xã hội, người dân; phát sinh thêm thủ tục hành chính cho cơ quan quản lý nhà nước, gây lãng phí thời gian và tiền bạc của người dân. Chưa phù hợp với việc thực hiện chủ trương cải cách thủ tục hành chính theo chỉ đạo của Chính phủ, gây phiền hà cho nhân dân. 3. Tại Thông tư số 20/2010/TT-BGTVT ngày 30/7/2010 của Bộ Giao thông vận tải quy định về cấp, đổi, thu hồi đăng ký, biển số xe máy chuyên dùng có tham gia giao thông đường bộ; “Biển số nền màu vàng, chữ và số màu đen” đang được ngành Giao thông sử dụng để đăng ký, cấp biển số cho xe máy chuyên dùng. Do vậy, nội dung Hiệp hội Taxi Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh đề nghị Bộ Công an sửa đổi, bổ sung Thông tư số 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe: Đối với tất cả các phương tiện kinh doanh vận tải quy định biển số nền màu vàng, chữ và số màu đen là không phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, sự đồng thuận của xã hội và chủ trương cải cách thủ tục hành chính của Đảng, Nhà nước./.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 43,
"text": "1. Căn cứ Điều 4, Điều 13, Điều 17, Điều 20 Nghị định số 86/2014/NĐ-CP ngày 10/9/2014 của Chính phủ về điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô và Điều 4, Điều 6, Điều 37, Điều 54 Thông tư số 63/2014/TT-BGTVT ngày 07/11/2014 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ. Trong đó quy định đối với kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi, ngoài việc đáp ứng các điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, còn thêm các điều kiện: - Niêm yết hai bên cánh cửa xe: tên, số điện thoại và biểu trưng (logo) của doanh nghiệp, hợp tác xã. - Có phù hiệu xe taxi; hộp đèn với chữ “TAXI” gắn trên nóc xe, hộp đèn bật sáng khi trên xe không có khách và tắt khi trên xe có khách. - Đồng hồ tính cước đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm định và kẹp chì. Như vậy, hiện nay việc quản lý phương tiện kinh doanh vận tải bằng ô tô nói chung và phương tiện kinh doanh vận tải hành khách bằng taxi nói riêng, các văn bản của Chính phủ và Bộ Giao thông vận tải đã quy định rất đầy đủ, cụ thể; Phương tiện kinh doanh vận tải phải có phù hiệu do cơ quan có thẩm quyền cấp, phục vụ công tác kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh vận tải của các lực lượng chức năng và nhân dân; bảo đảm quản lý chặt chẽ, đồng thời khách hàng khi sử dụng dịch vụ có thể nhận biết phương tiện, doanh nghiệp để lựa chọn sử dụng dịch vụ phù hợp. 2. Việc đề xuất đổi màu biển số các phương tiện kinh doanh vận tải của Hiệp hội Taxi Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh chưa nhận được sự đồng thuận của xã hội, người dân; phát sinh thêm thủ tục hành chính cho cơ quan quản lý nhà nước, gây lãng phí thời gian và tiền bạc của người dân. Chưa phù hợp với việc thực hiện chủ trương cải cách thủ tục hành chính theo chỉ đạo của Chính phủ, gây phiền hà cho nhân dân. 3. Tại Thông tư số 20/2010/TT-BGTVT ngày 30/7/2010 của Bộ Giao thông vận tải quy định về cấp, đổi, thu hồi đăng ký, biển số xe máy chuyên dùng có tham gia giao thông đường bộ; “Biển số nền màu vàng, chữ và số màu đen” đang được ngành Giao thông sử dụng để đăng ký, cấp biển số cho xe máy chuyên dùng. Do vậy, nội dung Hiệp hội Taxi Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh đề nghị Bộ Công an sửa đổi, bổ sung Thông tư số 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe: Đối với tất cả các phương tiện kinh doanh vận tải quy định biển số nền màu vàng, chữ và số màu đen là không phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, sự đồng thuận của xã hội và chủ trương cải cách thủ tục hành chính của Đảng, Nhà nước./."
}
],
"id": "361",
"is_impossible": false,
"question": "Hiệp hội Taxi Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh kiến nghị về đổi màu biển số đối với các phương tiện kinh doanh vận tải"
}
]
}
],
"title": "Hiệp hội Taxi Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh kiến nghị về đổi màu biển số đối với các phương tiện kinh doanh vận tải"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "- Việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ (trong đó có phương tiện đo nồng độ cồn trong hơi thở) để phát hiện vi phạm hành chính được quy định tại Điều 64 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số 135/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về danh mục, việc quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính. - Điều 16 Nghị định 135/2021/NĐ-CP quy định cá nhân, tổ chức có thể cung cấp dữ liệu từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do mình thu được cho cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền xử phạt. Nếu dữ liệu đáp ứng được các yêu cầu quy định tại Điều 17 Nghị định số 135/2021/NĐ-CP thì được sử dụng làm căn cứ xác minh, phát hiện vi phạm và xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Cá nhân, tổ chức cung cấp dữ liệu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực, nguyên vẹn của dữ liệu đã cung cấp và hợp tác với người có thẩm quyền giải quyết khi được yêu cầu.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "- Việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ (trong đó có phương tiện đo nồng độ cồn trong hơi thở) để phát hiện vi phạm hành chính được quy định tại Điều 64 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số 135/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về danh mục, việc quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính. - Điều 16 Nghị định 135/2021/NĐ-CP quy định cá nhân, tổ chức có thể cung cấp dữ liệu từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do mình thu được cho cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền xử phạt. Nếu dữ liệu đáp ứng được các yêu cầu quy định tại Điều 17 Nghị định số 135/2021/NĐ-CP thì được sử dụng làm căn cứ xác minh, phát hiện vi phạm và xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Cá nhân, tổ chức cung cấp dữ liệu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực, nguyên vẹn của dữ liệu đã cung cấp và hợp tác với người có thẩm quyền giải quyết khi được yêu cầu."
}
],
"id": "362",
"is_impossible": false,
"question": "Người dân có được sử dụng máy đo nồng độ cồn không rõ nguồn gốc để đối chứng kết quả với máy đo nồng độ cồn của lực lượng chức năng không?"
}
]
}
],
"title": "Người dân có được sử dụng máy đo nồng độ cồn không rõ nguồn gốc để đối chứng kết quả với máy đo nồng độ cồn của lực lượng chức năng không?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "- Với hành vi điều khiển xe ô tô chạy quá tốc độ quy định trên đường cao tốc sẽ bị xử phạt theo Nghị định số 46/2016/NĐ-CP, ngày 26/5/2016 của Chính phủ. Cụ thể, căn cứ vào Điểm a, Khoản 3; Điểm đ, Khoản 6; Điểm a, Khoản 7; Điểm đ, Khoản 8 thuộc Điều 5 và Điểm a, Khoản 1, Điều 78 trong Nghị định số 46/2016/NĐ-CP thì mức phạt đối với người điều khiển xe ô tô chạy quá tốc độ cho phép sẽ bị xử phạt, cụ thể như sau: + Khi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến 10 km/h thì bị phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng. + Khi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h thì bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. + Khi điều khiển xe chạy quá tốc độ tối đa cho phép từ 20 km/h đến 35 km/h thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng, đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng. + Khi điều khiển xe chạy quá tốc độ tối đa cho phép trên 35 km/h thì bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng, đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng. - Tùy theo từng cấp đường cao tốc, Bộ Giao thông vận tải công bố tốc độ tối đa, tốc độ tối thiểu cụ thể. Hiện nay tốc độ cao nhất được chạy trên đường cao tốc là 120 km/h, tốc độ tối thiểu được ghi trên biển báo hiệu. Căn cứ Điều 9, Thông tư 91/2015/TT-BGTVT quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông trên đường bộ do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành quy định Tốc độ của các loại xe cơ giới, xe máy chuyên dùng trên đường cao tốc như sau: Khi tham gia giao thông trên đường cao tốc, người điều khiển xe cơ giới, xe máy chuyên dùng phải tuân thủ tốc độ tối đa, tốc độ tối thiểu ghi trên biển báo hiệu đường bộ. Ngoài ra, căn cứ Điều 12, Thông tư 91/2015/TT-BGTVT để đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông trên đường cao tốc, phương tiện phải tuân thủ khoảng cách an toàn giữa hai xe khi tham gia giao thông trên đường. Cụ thể, khi mặt đường khô ráo phương tiện lưu thông với tốc độ 80 km/h thì khoảng cách an toàn tối thiểu là 55m; với tốc độ 100 km/h thì khoảng cách an toàn tối thiểu là 70m; với tốc độ 120 km/h thì khoảng cách an toàn tối thiểu là 100m. Khi trời mưa, có sương mù, mặt đường trơn trượt, đường có địa hình quanh co, đèo dốc, người lái xe phải điều chỉnh khoảng cách an toàn thích hợp lớn hơn khoảng cách an toàn ghi trên biển báo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 416,
"text": "+ Khi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến 10 km/h thì bị phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng. + Khi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h thì bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. + Khi điều khiển xe chạy quá tốc độ tối đa cho phép từ 20 km/h đến 35 km/h thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng, đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng. + Khi điều khiển xe chạy quá tốc độ tối đa cho phép trên 35 km/h thì bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng, đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng. - Tùy theo từng cấp đường cao tốc, Bộ Giao thông vận tải công bố tốc độ tối đa, tốc độ tối thiểu cụ thể. Hiện nay tốc độ cao nhất được chạy trên đường cao tốc là 120 km/h, tốc độ tối thiểu được ghi trên biển báo hiệu. Căn cứ Điều 9, Thông tư 91/2015/TT-BGTVT quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông trên đường bộ do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành quy định Tốc độ của các loại xe cơ giới, xe máy chuyên dùng trên đường cao tốc như sau: Khi tham gia giao thông trên đường cao tốc, người điều khiển xe cơ giới, xe máy chuyên dùng phải tuân thủ tốc độ tối đa, tốc độ tối thiểu ghi trên biển báo hiệu đường bộ. Ngoài ra, căn cứ Điều 12, Thông tư 91/2015/TT-BGTVT để đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông trên đường cao tốc, phương tiện phải tuân thủ khoảng cách an toàn giữa hai xe khi tham gia giao thông trên đường. Cụ thể, khi mặt đường khô ráo phương tiện lưu thông với tốc độ 80 km/h thì khoảng cách an toàn tối thiểu là 55m; với tốc độ 100 km/h thì khoảng cách an toàn tối thiểu là 70m; với tốc độ 120 km/h thì khoảng cách an toàn tối thiểu là 100m. Khi trời mưa, có sương mù, mặt đường trơn trượt, đường có địa hình quanh co, đèo dốc, người lái xe phải điều chỉnh khoảng cách an toàn thích hợp lớn hơn khoảng cách an toàn ghi trên biển báo."
}
],
"id": "363",
"is_impossible": false,
"question": "Mức xử phạt đối với hành vi chạy quá tốc độ tối đa cho phép trên đường cao tốc"
}
]
}
],
"title": "Mức xử phạt đối với hành vi chạy quá tốc độ tối đa cho phép trên đường cao tốc"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Theo quy định tại Điều 39, Luật Giao thông đường bộ 2008 xác định mạng lưới đường bộ được chia thành sáu hệ thống, gồm: Quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị và đường chuyên dùng. Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 58/2009/TT-BCA(C11) ngày 28/10/2009 quy định: Tai nạn giao thông là sự việc xảy ra do người tham gia giao thông đang hoạt động trên mạng lưới giao thông đường bộ vi phạm các quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ hay gặp phải sự cố bất ngờ gây ra những thiệt hại nhất định đến tính mạng, sức khỏe của con người hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tai nạn giao thông gồm: Va chạm giao thông; vụ tai nạn giao thông gây hậu quả ít nghiêm trọng; vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng; vụ tai nạn giao thông gây hậu quả rất nghiêm trọng; vụ tai nạn giao thông gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, hầm để xe của tòa nhà không thuộc mạng lưới giao thông đường bộ và tai nạn xảy ra trong hầm để xe chung cư không thuộc nhóm hành vi liên quan đến đối tượng điều chỉnh của Luật Giao thông đường bộ (đây là bất cập trong Luật Giao thông đường bộ đang được đề xuất bổ sung, sửa đổi). Tuy nhiên, dù không xảy ra trên đường giao thông nhưng việc để xảy ra tai nạn gây hậu quả làm người đi xe máy bị thương và phương tiện hư hỏng nặng, thì tùy theo hành vi vi phạm và mức độ hậu quả có thể bị xử lý hình sự hoặc phải bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự. Việc điều tra, giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Công an cấp huyện nơi xảy ra vụ tai nạn.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 120,
"text": "Quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị và đường chuyên dùng. Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 58/2009/TT-BCA(C11) ngày 28/10/2009 quy định: Tai nạn giao thông là sự việc xảy ra do người tham gia giao thông đang hoạt động trên mạng lưới giao thông đường bộ vi phạm các quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ hay gặp phải sự cố bất ngờ gây ra những thiệt hại nhất định đến tính mạng, sức khỏe của con người hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tai nạn giao thông gồm: Va chạm giao thông; vụ tai nạn giao thông gây hậu quả ít nghiêm trọng; vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng; vụ tai nạn giao thông gây hậu quả rất nghiêm trọng; vụ tai nạn giao thông gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, hầm để xe của tòa nhà không thuộc mạng lưới giao thông đường bộ và tai nạn xảy ra trong hầm để xe chung cư không thuộc nhóm hành vi liên quan đến đối tượng điều chỉnh của Luật Giao thông đường bộ (đây là bất cập trong Luật Giao thông đường bộ đang được đề xuất bổ sung, sửa đổi). Tuy nhiên, dù không xảy ra trên đường giao thông nhưng việc để xảy ra tai nạn gây hậu quả làm người đi xe máy bị thương và phương tiện hư hỏng nặng, thì tùy theo hành vi vi phạm và mức độ hậu quả có thể bị xử lý hình sự hoặc phải bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự. Việc điều tra, giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Công an cấp huyện nơi xảy ra vụ tai nạn."
}
],
"id": "364",
"is_impossible": false,
"question": "Hỏi về xử lý va chạm xe trong hầm chung cư"
}
]
}
],
"title": "Hỏi về xử lý va chạm xe trong hầm chung cư"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(1) Theo quy định tại Khoản 1 Điều 27 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 về Giao thông trong hầm đường bộ: “Người điều khiển phương tiện trong hầm đường bộ ngoài việc tuân thủ các quy tắc giao thông quy định tại Luật này còn phải thực hiện các quy định sau đây: Xe cơ giới, xe máy chuyên dùng phải bật đèn; xe thô sơ phải bật đèn hoặc có vật phát sáng báo hiệu”. (2) Quy định về xử lý phương tiện tham gia giao thông trong hầm đường bộ không bật đèn chiếu sáng: - Đối với xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô + Điểm a Khoản 4 Điều 5 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (Nghị định số 46/2016/NĐ-CP) quy định: Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng, đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng gần; lùi xe, quay đầu xe trong hầm đường bộ; vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định. + Điểm c Khoản 12 Điều 5 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP quy định: Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 4 mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng. - Đối với xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy + Điểm d Khoản 5 Điều 6 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây: Chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng gần; vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định; quay đầu xe trong hầm đường bộ. + Điểm c Khoản 12 Điều 6 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP quy định: Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm d Khoản 5 mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 106,
"text": "“Người điều khiển phương tiện trong hầm đường bộ ngoài việc tuân thủ các quy tắc giao thông quy định tại Luật này còn phải thực hiện các quy định sau đây: Xe cơ giới, xe máy chuyên dùng phải bật đèn; xe thô sơ phải bật đèn hoặc có vật phát sáng báo hiệu”. (2) Quy định về xử lý phương tiện tham gia giao thông trong hầm đường bộ không bật đèn chiếu sáng: - Đối với xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô + Điểm a Khoản 4 Điều 5 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (Nghị định số 46/2016/NĐ-CP) quy định: Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng, đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng gần; lùi xe, quay đầu xe trong hầm đường bộ; vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định. + Điểm c Khoản 12 Điều 5 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP quy định: Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 4 mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng. - Đối với xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy + Điểm d Khoản 5 Điều 6 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây: Chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng gần; vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định; quay đầu xe trong hầm đường bộ. + Điểm c Khoản 12 Điều 6 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP quy định: Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm d Khoản 5 mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng."
}
],
"id": "365",
"is_impossible": false,
"question": "Quy định bật đèn chiếu sáng khi tham gia giao thông trong hầm đường bộ"
}
]
}
],
"title": "Quy định bật đèn chiếu sáng khi tham gia giao thông trong hầm đường bộ"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "1. Căn cứ Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, quy định: 1.1. Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô: - Tại Điểm a Khoản 6 Điều 5 quy định hành vi: Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở. + Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng; + Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng; + Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ phương tiện đến 7 ngày. - Tại Điểm b Khoản 8 Điều 5 quy định hành vi: Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. + Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng; + Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng; + Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ phương tiện đến 7 ngày. - Tại Điểm a Khoản 9 Điều 5 quy định hành vi: Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở. + Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng; + Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 04 tháng đến 06 tháng; + Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ phương tiện đến 7 ngày. - Tại Điểm b Khoản 9 Điều 5 quy định hành vi: Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ. + Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng; + Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 04 tháng đến 06 tháng; + Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ phương tiện đến 7 ngày. 1.2. Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy: - Tại Khoản 6 Điều 6 quy định hành vi: Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. + Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng; + Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng; + Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ phương tiện đến 7 ngày. - Tại Điểm c Khoản 8 Điều 6 quy định hành vi: Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở. + Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng; + Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng; + Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ phương tiện đến 7 ngày. - Tại Điểm b Khoản 8 Điều 6 quy định hành vi: Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người thi hành công vụ. + Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng; + Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng; + Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ phương tiện đến 7 ngày. 2. Ngày 23/4/2019, Bộ Công an có Kế hoạch số 139/KH-BCA-C08, chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông tăng cường tuần tra, kiểm soát và xử lý hành vi vi phạm của người điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy, vi phạm nồng độ cồn. Đây là hoạt động xuyên suốt trong năm 2019 của lực lượng Cảnh sát giao thông trên cả nước.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 161,
"text": "1.1. Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô: - Tại Điểm a Khoản 6 Điều 5 quy định hành vi: Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở. + Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng; + Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng; + Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ phương tiện đến 7 ngày. - Tại Điểm b Khoản 8 Điều 5 quy định hành vi: Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. + Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng; + Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng; + Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ phương tiện đến 7 ngày. - Tại Điểm a Khoản 9 Điều 5 quy định hành vi: Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở. + Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng; + Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 04 tháng đến 06 tháng; + Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ phương tiện đến 7 ngày. - Tại Điểm b Khoản 9 Điều 5 quy định hành vi: Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ. + Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng; + Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 04 tháng đến 06 tháng; + Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ phương tiện đến 7 ngày. 1.2. Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy: - Tại Khoản 6 Điều 6 quy định hành vi: Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. + Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng; + Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng; + Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ phương tiện đến 7 ngày. - Tại Điểm c Khoản 8 Điều 6 quy định hành vi: Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở. + Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng; + Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng; + Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ phương tiện đến 7 ngày. - Tại Điểm b Khoản 8 Điều 6 quy định hành vi: Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người thi hành công vụ. + Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng; + Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng; + Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ phương tiện đến 7 ngày. 2. Ngày 23/4/2019, Bộ Công an có Kế hoạch số 139/KH-BCA-C08, chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông tăng cường tuần tra, kiểm soát và xử lý hành vi vi phạm của người điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy, vi phạm nồng độ cồn. Đây là hoạt động xuyên suốt trong năm 2019 của lực lượng Cảnh sát giao thông trên cả nước."
}
],
"id": "366",
"is_impossible": false,
"question": "Mức xử phạt đối với tài xế uống rượu, bia điều khiển phương tiện tham gia giao thông"
}
]
}
],
"title": "Mức xử phạt đối với tài xế uống rượu, bia điều khiển phương tiện tham gia giao thông"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Tại Khoản 1 Điều 13 Luật Giao thông đường bộ quy định “trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển hướng làn đường ở những nơi cho phép”. Tại Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, quy định xử phạt hành vi đi không đúng làn đường quy định đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng (Điểm c Khoản 4 Điều 5). Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng (Điểm b Khoản 12 Điều 5); Nếu thực hiện hành vi trên mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng (Điểm c Khoản 12 Điều 5). Tại Khoản 1 Điều 78 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải nộp tiền tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước được ghi trong quyết định xử phạt, trừ trường hợp đã nộp tiền phạt quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này. Nếu quá thời hạn nêu trên, thì sẽ bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt và cứ mỗi ngày chậm nộp phạt thì cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp thêm 0.05% trên tổng số tiền chưa nộp.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 962,
"text": "Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải nộp tiền tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước được ghi trong quyết định xử phạt, trừ trường hợp đã nộp tiền phạt quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này. Nếu quá thời hạn nêu trên, thì sẽ bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt và cứ mỗi ngày chậm nộp phạt thì cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp thêm 0.05% trên tổng số tiền chưa nộp."
}
],
"id": "367",
"is_impossible": false,
"question": "Mức xử phạt khi điều khiển xe ô tô chạy vào làn xe buýt nhanh"
}
]
}
],
"title": "Mức xử phạt khi điều khiển xe ô tô chạy vào làn xe buýt nhanh"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Hành vi sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị và khu đông dân cư là hành vi bị cấm được quy định trong Luật Giao thông đường bộ, trừ các xe được quyền ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định (Khoản 12 Điều 8). Việc bạn sử dụng đèn chiếu xa khi tham gia giao thông trong thành phố là vi phạm và bị xử phạt theo quy định tại Nghị định số 46/2016/NĐ-CP, ngày 26/5/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, cụ thể như sau: - Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô bị phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng (Điểm b Khoản 3 Điều 5). Thực hiện hành vi trên mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 đến 04 tháng (Điểm c Khoản 12 Điều 5); - Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy bị phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng (Điểm e Khoản 2 Điều 6); - Đối với người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng bị phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng (Điểm d Khoản 3 Điều 7). Thực hiện hành vi trên mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 02 đến 04 tháng (Điểm b Khoản 9 Điều 7).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 474,
"text": "- Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô bị phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng (Điểm b Khoản 3 Điều 5). Thực hiện hành vi trên mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 đến 04 tháng (Điểm c Khoản 12 Điều 5); - Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy bị phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng (Điểm e Khoản 2 Điều 6); - Đối với người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng bị phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng (Điểm d Khoản 3 Điều 7). Thực hiện hành vi trên mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 02 đến 04 tháng (Điểm b Khoản 9 Điều 7)."
}
],
"id": "368",
"is_impossible": false,
"question": "Sử dụng đèn chiếu xa khi tham gia giao thông trong thành phố có bị xử phạt không?"
}
]
}
],
"title": "Sử dụng đèn chiếu xa khi tham gia giao thông trong thành phố có bị xử phạt không?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Tại Điều 12 Thông tư số 01/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016 của Bộ Công an về nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của CSGT quy định cán bộ thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát được dừng phương tiện để kiểm soát trong các trường hợp sau: - Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện, ghi nhận được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ; - Thực hiện mệnh lệnh, kế hoạch tuần tra, kiểm soát của Cục trưởng Cục CSGT hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên; - Thực hiện kế hoạch tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông của Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục CSGT, Trưởng phòng CSGT hoặc Trưởng Công an cấp huyện trở lên; - Có văn bản đề nghị của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện để kiểm soát phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Văn bản đề nghị phải ghi cụ thể thời gian, tuyến đường, phương tiện dừng để kiểm soát, xử lý, lực lượng tham gia phối hợp; - Tin báo, tố giác về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện tham gia giao thông.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 279,
"text": "- Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện, ghi nhận được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ; - Thực hiện mệnh lệnh, kế hoạch tuần tra, kiểm soát của Cục trưởng Cục CSGT hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên; - Thực hiện kế hoạch tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông của Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục CSGT, Trưởng phòng CSGT hoặc Trưởng Công an cấp huyện trở lên; - Có văn bản đề nghị của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện để kiểm soát phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Văn bản đề nghị phải ghi cụ thể thời gian, tuyến đường, phương tiện dừng để kiểm soát, xử lý, lực lượng tham gia phối hợp; - Tin báo, tố giác về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện tham gia giao thông."
}
],
"id": "369",
"is_impossible": false,
"question": "Những trường hợp Cảnh sát giao thông được quyền dừng phương tiện đối với người tham gia giao thông để kiểm tra giấy tờ"
}
]
}
],
"title": "Những trường hợp Cảnh sát giao thông được quyền dừng phương tiện đối với người tham gia giao thông để kiểm tra giấy tờ"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Khoản 6 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ định nghĩa: “Phần đường xe chạy là phần của đường bộ được sử dụng cho phương tiện giao thông qua lại”; Khoản 7 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ định nghĩa: “Làn đường là một phần của phần đường xe chạy được chia theo chiều dọc của đường, có bề rộng đủ cho xe chạy an toàn”. Khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”. Khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ”.Về sử dụng làn đường, Khoản 1 Điều 13 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn”.Tại Quy chuẩn số 41:2016/BGTVT ban hành kèm theo Thông tư số 06/2016/TT-BGTVT ngày 08/4/2016 của Bộ Giao thông vận tải về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ quy định đối với những đoạn đường có biển báo hiệu làn đường dành riêng cho từng loại xe được đặt phía trên làn xe, ở đầu đường theo chiều xe chạy thì các loại xe khác không được đi vào làn đường này (trừ các xe được quyền ưu tiên theo quy định).Theo quy định tại điểm g Khoản 4 Điều 6 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với hành vi đi không đúng phần đường, làn đường quy định./.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 52,
"text": "“Phần đường xe chạy là phần của đường bộ được sử dụng cho phương tiện giao thông qua lại”; Khoản 7 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ định nghĩa: “Làn đường là một phần của phần đường xe chạy được chia theo chiều dọc của đường, có bề rộng đủ cho xe chạy an toàn”. Khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”. Khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ”.Về sử dụng làn đường, Khoản 1 Điều 13 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn”.Tại Quy chuẩn số 41:2016/BGTVT ban hành kèm theo Thông tư số 06/2016/TT-BGTVT ngày 08/4/2016 của Bộ Giao thông vận tải về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ quy định đối với những đoạn đường có biển báo hiệu làn đường dành riêng cho từng loại xe được đặt phía trên làn xe, ở đầu đường theo chiều xe chạy thì các loại xe khác không được đi vào làn đường này (trừ các xe được quyền ưu tiên theo quy định).Theo quy định tại điểm g Khoản 4 Điều 6 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với hành vi đi không đúng phần đường, làn đường quy định./."
}
],
"id": "370",
"is_impossible": false,
"question": "Hỏi về phần đường, làn đường khi tham gia giao thông"
}
]
}
],
"title": "Hỏi về phần đường, làn đường khi tham gia giao thông"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "- Theo Khoản 1 Điều 56 của Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: “Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ. Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản.” - Với hành vi vi phạm mà công dân đã trình bày “vượt đèn đỏ”, là hành vi vi phạm không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông theo quy định tại Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, cụ thể: + Tại Điểm c Khoản 4 Điều 6 đối với phương tiện là xe mô tô: Mức phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng. + Tại Điểm a Khoản 5 Điều 5 đối với phương tiện là xe ô tô: Mức phạt tiền từ 1.200.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Căn cứ theo các quy định trên, hành vi vi phạm của công dân phải thực hiện lập biên bản vi phạm hành chính và thực hiện các trình tự xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 67,
"text": "“Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ. Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản.” - Với hành vi vi phạm mà công dân đã trình bày “vượt đèn đỏ”, là hành vi vi phạm không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông theo quy định tại Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, cụ thể: + Tại Điểm c Khoản 4 Điều 6 đối với phương tiện là xe mô tô: Mức phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng. + Tại Điểm a Khoản 5 Điều 5 đối với phương tiện là xe ô tô: Mức phạt tiền từ 1.200.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Căn cứ theo các quy định trên, hành vi vi phạm của công dân phải thực hiện lập biên bản vi phạm hành chính và thực hiện các trình tự xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật."
}
],
"id": "371",
"is_impossible": false,
"question": "Những lỗi vi phạm giao thông được nộp phạt tại chỗ"
}
]
}
],
"title": "Những lỗi vi phạm giao thông được nộp phạt tại chỗ"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Căn cứ Khoản 4 Điều 38 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: “Cơ quan Công an khi nhận được tin về vụ tai nạn có trách nhiệm, cử người tới ngay hiện trường để điều tra vụ tai nạn, phối hợp với cơ quan quản lý đường bộ và Ủy ban nhân dân địa phương bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn”. Vì vậy, việc điều tra giải quyết tai nạn giao thông là các hoạt động điều tra do lực lượng Cảnh sát nhân dân tiến hành theo quy định của pháp luật, nhằm phát hiện và thu thập đầy đủ các chứng cứ, tài liệu có liên quan để xác định diễn biến, nguyên nhân, điều kiện gây ra tai nạn giao thông. Đồng thời xử lý những hành vi gây ra tai nạn giao thông (xử lý hành chính nếu hành vi của người gây tai nạn giao thông không có dấu hiệu tội phạm hoặc xử lý hình sự nếu hành vi của người gây tai nạn giao thông có đủ dấu hiệu của tội phạm) theo quy định của pháp luật.Pháp luật không quy định cho Cơ quan Công an có chức năng giải quyết dân sự, việc giải quyết dân sự là do các bên có liên quan tự thỏa thuận với nhau. Trong trường hợp các bên có liên quan không thỏa thuận được, theo quy định của Bộ Luật dân sự năm 2015, một trong các bên khởi kiện ra Tòa dân sự để giải quyết.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 67,
"text": "“Cơ quan Công an khi nhận được tin về vụ tai nạn có trách nhiệm, cử người tới ngay hiện trường để điều tra vụ tai nạn, phối hợp với cơ quan quản lý đường bộ và Ủy ban nhân dân địa phương bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn”. Vì vậy, việc điều tra giải quyết tai nạn giao thông là các hoạt động điều tra do lực lượng Cảnh sát nhân dân tiến hành theo quy định của pháp luật, nhằm phát hiện và thu thập đầy đủ các chứng cứ, tài liệu có liên quan để xác định diễn biến, nguyên nhân, điều kiện gây ra tai nạn giao thông. Đồng thời xử lý những hành vi gây ra tai nạn giao thông (xử lý hành chính nếu hành vi của người gây tai nạn giao thông không có dấu hiệu tội phạm hoặc xử lý hình sự nếu hành vi của người gây tai nạn giao thông có đủ dấu hiệu của tội phạm) theo quy định của pháp luật.Pháp luật không quy định cho Cơ quan Công an có chức năng giải quyết dân sự, việc giải quyết dân sự là do các bên có liên quan tự thỏa thuận với nhau. Trong trường hợp các bên có liên quan không thỏa thuận được, theo quy định của Bộ Luật dân sự năm 2015, một trong các bên khởi kiện ra Tòa dân sự để giải quyết."
}
],
"id": "372",
"is_impossible": false,
"question": "Bồi thường thiệt hại khi xảy ra va chạm giao thông"
}
]
}
],
"title": "Bồi thường thiệt hại khi xảy ra va chạm giao thông"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Tại Khoản 2 Điều 37 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: a) Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm tổ chức giao thông trên hệ thống quốc lộ;b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức giao thông trên các hệ thống đường bộ thuộc phạm vi quản lý.Việc xin Giấy phép đi vào tuyến đường cấm, từng địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ giao cho Công an địa phương hoặc Sở Giao thông vận tải cấp phép. Đề nghị bạn đọc Phạm Vũ Thắng liên hệ Công an địa phương (Phòng Cảnh sát giao thông) hoặc Sở Giao thông vận tải để được hướng dẫn.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 64,
"text": "a) Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm tổ chức giao thông trên hệ thống quốc lộ;b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức giao thông trên các hệ thống đường bộ thuộc phạm vi quản lý.Việc xin Giấy phép đi vào tuyến đường cấm, từng địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ giao cho Công an địa phương hoặc Sở Giao thông vận tải cấp phép. Đề nghị bạn đọc Phạm Vũ Thắng liên hệ Công an địa phương (Phòng Cảnh sát giao thông) hoặc Sở Giao thông vận tải để được hướng dẫn."
}
],
"id": "373",
"is_impossible": false,
"question": "Xin giấy phép đi vào tuyến đường cấm đỗ, cấm dừng"
}
]
}
],
"title": "Xin giấy phép đi vào tuyến đường cấm đỗ, cấm dừng"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Căn cứ theo Điều 7 Thông tư số 15/2014/TT-BCA, hồ sơ đăng ký xe gồm: Giấy khai đăng ký xe; Giấy tờ của chủ xe và Giấy tờ của xe. Trường hợp của bạn Nguyễn Minh Cường hỏi về thủ tục đăng ký xe ô tô nhập khẩu, trong đó giấy tờ xe bao gồm chứng từ nguồn gốc xe. Căn cứ Khoản 3 Điều 10 Thông tư số 15/2014/TT-BCA, chứng từ nguồn gốc xe ô tô nhập khẩu quy định:- Xe nhập khẩu theo hợp đồng thương mại: Tờ khai nguồn gốc xe ô tô nhập khẩu (theo mẫu của Bộ Tài chính).- Xe nhập khẩu phi mậu dịch, xe là quà biếu, quà tặng hoặc xe nhập khẩu là tài sản di chuyển: + Giấy phép nhập khẩu xe của cơ quan Hải quan và Tờ khai hàng hóa xuất, nhập khẩu phi mậu dịch hoặc Tờ khai hải quan điện tử theo quy định của Bộ Tài chính. + Biên lai thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu (theo quy định phải có) hoặc lệnh ghi thu, ghi chi hoặc giấy nộp tiền qua Kho bạc Nhà nước hoặc chuyển khoản hoặc ủy nhiệm chi qua ngân hàng ghi rõ đã nộp thuế. Do bạn Nguyễn Minh Cường không nói rõ xe của bạn nhập khẩu theo loại nào và đã được cơ quan Hải quan cấp những loại giấy tờ gì, nên không thể trả lời cụ thể, đề nghị bạn căn cứ vào quy định trên để nghiên cứu, bổ sung.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 69,
"text": "Giấy khai đăng ký xe; Giấy tờ của chủ xe và Giấy tờ của xe. Trường hợp của bạn Nguyễn Minh Cường hỏi về thủ tục đăng ký xe ô tô nhập khẩu, trong đó giấy tờ xe bao gồm chứng từ nguồn gốc xe. Căn cứ Khoản 3 Điều 10 Thông tư số 15/2014/TT-BCA, chứng từ nguồn gốc xe ô tô nhập khẩu quy định:- Xe nhập khẩu theo hợp đồng thương mại: Tờ khai nguồn gốc xe ô tô nhập khẩu (theo mẫu của Bộ Tài chính).- Xe nhập khẩu phi mậu dịch, xe là quà biếu, quà tặng hoặc xe nhập khẩu là tài sản di chuyển: + Giấy phép nhập khẩu xe của cơ quan Hải quan và Tờ khai hàng hóa xuất, nhập khẩu phi mậu dịch hoặc Tờ khai hải quan điện tử theo quy định của Bộ Tài chính. + Biên lai thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu (theo quy định phải có) hoặc lệnh ghi thu, ghi chi hoặc giấy nộp tiền qua Kho bạc Nhà nước hoặc chuyển khoản hoặc ủy nhiệm chi qua ngân hàng ghi rõ đã nộp thuế. Do bạn Nguyễn Minh Cường không nói rõ xe của bạn nhập khẩu theo loại nào và đã được cơ quan Hải quan cấp những loại giấy tờ gì, nên không thể trả lời cụ thể, đề nghị bạn căn cứ vào quy định trên để nghiên cứu, bổ sung."
}
],
"id": "374",
"is_impossible": false,
"question": "Thủ tục đăng ký xe ô tô nhập khẩu"
}
]
}
],
"title": "Thủ tục đăng ký xe ô tô nhập khẩu"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 37 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định về trách nhiệm tổ chức giao thông, như sau: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức giao thông trên các hệ thống đường bộ thuộc phạm vi quản lý”. Do đó, việc quy định về hoạt động của các phương tiện giao thông đường bộ thuộc địa bàn cấp tỉnh, thành phố quản lý do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương để quyết định. Đối với thành phố Hà Nội, ngày 25/01/2013, Ủy ban nhân dân thành phố có quyết định số 06/2013/QĐ-UBND quy định về hoạt động của các phương tiện giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội (sau đây gọi tắt là quyết định số 06), theo đó, căn cứ vào Điều 4; Khoản 2 Điều 5 và Điểm c Khoản 1 Điều 8 của quy định ban hành kèm theo quyết định số 06 thì xe của bạn đọc Nguyễn Minh Anh thuộc trường hợp bị hạn chế đi vào khu vực nội thành Hà Nội.Như vậy, đối với trường hợp xe container của bạn đọc Nguyễn Minh Anh muốn đi vào khu vực quận Tây Hồ để trả hàng thì phải được Sở Giao thông vận tải cấp giấy phép lưu hành. Các thủ tục liên quan cấp giấy phép lưu hành đề nghị bạn đọc Nguyễn Minh Anh liên hệ với Sở Giao thông vận tải Hà Nội để được hướng dẫn chi tiết./.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 117,
"text": "“Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức giao thông trên các hệ thống đường bộ thuộc phạm vi quản lý”. Do đó, việc quy định về hoạt động của các phương tiện giao thông đường bộ thuộc địa bàn cấp tỉnh, thành phố quản lý do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương để quyết định. Đối với thành phố Hà Nội, ngày 25/01/2013, Ủy ban nhân dân thành phố có quyết định số 06/2013/QĐ-UBND quy định về hoạt động của các phương tiện giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội (sau đây gọi tắt là quyết định số 06), theo đó, căn cứ vào Điều 4; Khoản 2 Điều 5 và Điểm c Khoản 1 Điều 8 của quy định ban hành kèm theo quyết định số 06 thì xe của bạn đọc Nguyễn Minh Anh thuộc trường hợp bị hạn chế đi vào khu vực nội thành Hà Nội.Như vậy, đối với trường hợp xe container của bạn đọc Nguyễn Minh Anh muốn đi vào khu vực quận Tây Hồ để trả hàng thì phải được Sở Giao thông vận tải cấp giấy phép lưu hành. Các thủ tục liên quan cấp giấy phép lưu hành đề nghị bạn đọc Nguyễn Minh Anh liên hệ với Sở Giao thông vận tải Hà Nội để được hướng dẫn chi tiết./."
}
],
"id": "375",
"is_impossible": false,
"question": "Hỏi về việc xin giấy phép cho xe vào đường cấm"
}
]
}
],
"title": "Hỏi về việc xin giấy phép cho xe vào đường cấm"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Tại Khoản 2 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ quy định: Người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo Giấy phép lái xe (GPLX) đối với người điều khiển xe cơ giới theo quy định tại Điều 59 của Luật này. Tại Khoản 18 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ quy định: Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ móoc hoặc sơ mi rơ móoc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.Do đó, GPLX là một trong các loại giấy tờ bắt buộc mà người điều khiển xe mô tô phải mang theo khi tham gia giao thông. Hồ sơ gốc xin cấp GPLX hoặc giấy hẹn cấp lại GPLX (trường hợp đang trong thời gian xin cấp lại GPLX) không thay thế được GPLX đã bị mất. Tại Điểm a Khoản 5 Điều 21, Điểm b Khoản 7 Điều 21 và Điểm i Khoản 1 Điều 78 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt quy định: Người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh dưới 175 cm3 không có GPLX bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng và bị tạm giữ phương tiện đến 07 ngày trước khi ra quyết định xử phạt. Người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên không có GPLX bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng và bị tạm giữ phương tiện đến 07 ngày trước khi ra quyết định xử phạt./.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 55,
"text": "Người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo Giấy phép lái xe (GPLX) đối với người điều khiển xe cơ giới theo quy định tại Điều 59 của Luật này. Tại Khoản 18 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ quy định: Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ móoc hoặc sơ mi rơ móoc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.Do đó, GPLX là một trong các loại giấy tờ bắt buộc mà người điều khiển xe mô tô phải mang theo khi tham gia giao thông. Hồ sơ gốc xin cấp GPLX hoặc giấy hẹn cấp lại GPLX (trường hợp đang trong thời gian xin cấp lại GPLX) không thay thế được GPLX đã bị mất. Tại Điểm a Khoản 5 Điều 21, Điểm b Khoản 7 Điều 21 và Điểm i Khoản 1 Điều 78 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt quy định: Người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh dưới 175 cm3 không có GPLX bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng và bị tạm giữ phương tiện đến 07 ngày trước khi ra quyết định xử phạt. Người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên không có GPLX bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng và bị tạm giữ phương tiện đến 07 ngày trước khi ra quyết định xử phạt./."
}
],
"id": "376",
"is_impossible": false,
"question": "Hỏi về việc xử phạt hành vi người điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe"
}
]
}
],
"title": "Hỏi về việc xử phạt hành vi người điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "1. Việc sử dụng các thiết bị bay không người lái như Flycam, Drone, UAV... khi chưa được cấp phép thì có bị xử phạt hay không? Trường hợp có bị xử phạt thì mức xử phạt và thẩm quyền xử phạt được quy định cụ thể như thế nào? Căn cứ Nghị định số 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình; việc sử dụng các thiết bị bay không người lái như Flycam, Drone, UAV... khi chưa được cấp phép sẽ bị xử phạt, cụ thể như sau: - Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng tàu bay không người lái hoặc phương tiện bay siêu nhẹ chưa được đăng ký cấp phép bay hoặc tổ chức các hoạt động bay khi chưa có giấy phép hoặc đã đăng ký nhưng điều khiển bay không đúng thời gian, địa điểm, khu vực, tọa độ, giới hạn cho phép (tại điểm đ, khoản 2, Điều 7); - Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện hoạt động bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ không đúng nội dung trong phép bay do cơ quan có thẩm quyền cấp (tại khoản 7, Điều 7); - Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện hoạt động bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ khi chưa có phép bay do cơ quan có thẩm quyền cấp (tại khoản 10, Điều 7). Ngoài ra, còn có hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với điểm đ, khoản 2 và khoản 10 và tước quyền sử dụng phép bay từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi pham quy định tại khoản 7, Điều này. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được quy định chi tiết tại Chương III của Nghị định số 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021. 2. Các trường hợp nào sẽ được miễn cấp phép bay? Tôi được biết, các thiết bị bay không người lái phục vụ vui chơi giải trí có trọng lượng cất cánh tối đa nhỏ hơn 0,25kg sẽ được miễn cấp phép bay có đúng hay không? Căn cứ khoản 3, Điều 30 Luật số 49/2024/QH15 ngày 27/11/2024 của Quốc hội ban hành Luật Phòng không nhân dân quy định tàu bay không người lái, phương tiện bay khác thuộc một trong các trường hợp sau đây được miễn cấp phép bay: a) Hoạt động ngoài khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay, phạm vi hoạt động trong tầm nhìn trực quan bằng mắt thường, có trọng lượng cất cánh tối đa nhỏ hơn 0,25 kg để phục vụ vui chơi giải trí; b) Hoạt động trong trường hợp khẩn cấp để bảo vệ tính mạng, tài sản của tổ chức, cá nhân theo quyết định của cấp có thẩm quyền nhưng phải thông báo đến cơ quan quản lý hoạt động bay trước khi bay. Luật Phòng không nhân dân có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025. Như vậy, sau ngày 01/7/2025, đối với tàu bay không người lái, phương tiện bay khác có trọng lượng cất cánh tối đa nhỏ hơn 0,25 kg đáp ứng các điều kiện tại điểm a sẽ được miễn cấp phép bay. 3. Thủ tục và hồ sơ xin cấp phép sử dụng các thiết bị bay không người lái tại Việt Nam quy định cụ thể như thế nào? Hiện nay, thủ tục và hồ sơ xin cấp phép sử dụng tàu bay không người lái và phương tiện bay siêu nhẹ thực hiện theo mã thủ tục hành chính số 3.000132 do Bộ Quốc phòng quản lý cho đến khi Chính phủ ban hành Nghị định mới quy định về quản lý tàu bay không người lái và phương tiện bay khác, cụ thể: a) Thủ tục xin cấp phép bay Cá nhân, tổ chức có nhu cầu cấp phép sử dụng tàu bay không người lái và phương tiện bay siêu nhẹ nộp hồ sơ chậm nhất 07 ngày làm việc, trước ngày dự kiến tổ chức thực hiện các chuyến bay, các tổ chức, cá nhân nộp đơn đề nghị cấp phép bay đến Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng (nộp trực tiếp tại bộ phận một cửa Bộ Quốc phòng hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích đến Cục Tác chiến, số 01 Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội hoặc nộp trực tuyến trên cổng dịch vụ công Bộ Quốc phòng). Trong thời hạn 05 ngày làm việc, Cục Tác chiến cấp phép tổ chức thực hiện các chuyến bay hoặc ra văn bản từ chối cấp phép bay (trong các trường hợp để đảm bảo an ninh, quốc phòng, an toàn hàng không và khi chưa cung cấp đầy đủ thông tin quy định trong đơn đề nghị cấp phép bay). Trường hợp có vướng mắc hoặc cần được hướng dẫn trong quá trình nộp hồ sơ, đề nghị công dân/tổ chức liên hệ Cục Tác chiến qua số điện thoại 0987567606 để được hỗ trợ. b) Thành phần hồ sơ: - Đơn đề nghị cấp phép bay; - Ảnh chụp tàu bay, phương tiện bay (kích thước tối thiểu 18 x 24cm); - Bản thuyết minh kỹ thuật hàng không của tàu bay, phương tiện bay; - Giấy phép hoặc giấy ủy quyền hợp pháp cho phép tàu bay, phương tiện bay thực hiện cất, hạ cánh tại sân bay, khu vực trên mặt đất, mặt nước; - Các giấy tờ, tài liệu khác liên quan đến tàu bay, phương tiện bay. 4. Những khu vực nào là khu vực cấm sử dụng các thiết bị bay không người lái tại Việt Nam? Căn cứ Quyết định số 18/2020/QĐ-TTg, ngày 10/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thiết lập khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay đối với tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ; trong đó tại Điều 3 quy định khu vực cấm bay, cụ thể: a) Khu vực các công trình quốc phòng và khu quân sự đặc biệt quan trọng do Chính phủ ủy quyền cho Bộ Quốc phòng trực tiếp chỉ đạo việc quản lý, bảo vệ. Khoảng cách từ tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ hoạt động đến ranh giới khu vực cấm theo chiều ngang không nhỏ hơn 500m ở mọi độ cao. b) Khu vực trụ sở làm việc các cơ quan Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, các ban, bộ, ngành Trung ương; trụ sở Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; trụ sở làm việc của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; trụ sở các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam. Khoảng cách từ tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ hoạt động đến ranh giới khu vực cấm theo chiều ngang không nhỏ hơn 200m ở mọi độ cao. c) Khu vực quốc phòng, an ninh Khu vực đóng quân; khu vực triển khai lực lượng, trang bị chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện chiến đấu, bảo vệ mục tiêu; khu vực kho tàng, nhà máy, căn cứ (trung tâm) hậu cần, kỹ thuật, trại giam, nhà tạm giam, nhà tạm giữ của các lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; khu vực các công trình trong danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Khoảng cách từ tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ hoạt động đến ranh giới khu vực cấm theo chiều ngang không nhỏ hơn 500m ở mọi độ cao. d) Khu vực cảng hàng không, sân bay có hoạt động của tàu bay hàng không dân dụng, quân sự. - Đối với sân bay có 01 đường cất, hạ cánh, phạm vi cấm được giới hạn trong khu vực hình chữ nhật được xác định từ vị trí ngưỡng tại hai đầu của đường cất, hạ cánh mở rộng và kéo dài ra phía ngoài hai đầu đường cất, hạ cánh đến 15000m và từ đường tim của đường cất, hạ cánh mở rộng sang hai bên 5000m ở mọi độ cao; - Đối với sân bay có từ 02 đường cất, hạ cánh trở lên thì phạm vi cấm được giới hạn khu vực hình chữ nhật, được xác định từ vị trí ngưỡng của đường cất, hạ cánh xa nhất theo chiều cất, hạ cánh của tàu bay, mở rộng và kéo dài ra phía ngoài hai đầu đường cất, hạ cánh đến 15000m và mở rộng sang hai bên 5000m tính từ tim của 02 đường cất, hạ cánh ngoài cùng ở mọi độ cao. - Đối với một số khu vực cảng hàng không, sân bay có hoạt động của tàu bay hàng không dân dụng với tần suất nhỏ hơn 06 chuyến mỗi ngày cho phép áp dụng khu vực cấm bay linh hoạt. Nhưng không được bay trong ranh giới khu vực cảng hàng không, sân bay; không được bay trong thời gian trước và sau 01 giờ so với thời gian có hoạt động của tàu bay có người lái tại cảng hàng không, sân bay; chỉ bay khi được sự đồng ý của cơ quan quản lý, điều hành bay quân sự và cơ quan quản lý hoạt động bay tại cảng hàng không, sân bay đó. e) Khu vực nằm trong giới hạn của đường hàng không, các vệt bay, hành lang bay đã được cấp phép trong vùng trời Việt Nam, phạm vi giới hạn của đường hàng không được nêu trong tập thông báo tin tức hàng không của Việt Nam \"AIP Việt Nam\" do Cục Hàng không Việt Nam công bố. t) Trong trường hợp đặc biệt vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc theo đề nghị của các bộ, ngành, địa phương để đảm bảo an toàn bay, trật tự an toàn xã hội, Bộ Quốc phòng quyết định hạn chế bay tạm thời hoặc cấm bay tạm thời đối với tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ tại một số khu vực trong lãnh thổ Việt Nam; quyết định này có hiệu lực ngay. Để thuận tiện cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có hoạt động liên quan đến quản lý, khai thác, sử dụng tàu bay không người lái và các phương tiện bay khác trong vùng trời Việt Nam; ngày 15/6/2025, Bộ Quốc phòng đã chính thức công bố khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay đối với tàu bay không người lái và các phương tiện bay khác trên Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng http://cambay.mod.gov.vn phục vụ công tác quản lý, giám sát và kiểm tra đối chiếu thông tin khu vực bay.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 600,
"text": "- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng tàu bay không người lái hoặc phương tiện bay siêu nhẹ chưa được đăng ký cấp phép bay hoặc tổ chức các hoạt động bay khi chưa có giấy phép hoặc đã đăng ký nhưng điều khiển bay không đúng thời gian, địa điểm, khu vực, tọa độ, giới hạn cho phép (tại điểm đ, khoản 2, Điều 7); - Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện hoạt động bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ không đúng nội dung trong phép bay do cơ quan có thẩm quyền cấp (tại khoản 7, Điều 7); - Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện hoạt động bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ khi chưa có phép bay do cơ quan có thẩm quyền cấp (tại khoản 10, Điều 7). Ngoài ra, còn có hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với điểm đ, khoản 2 và khoản 10 và tước quyền sử dụng phép bay từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi pham quy định tại khoản 7, Điều này. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được quy định chi tiết tại Chương III của Nghị định số 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021. 2. Các trường hợp nào sẽ được miễn cấp phép bay? Tôi được biết, các thiết bị bay không người lái phục vụ vui chơi giải trí có trọng lượng cất cánh tối đa nhỏ hơn 0,25kg sẽ được miễn cấp phép bay có đúng hay không? Căn cứ khoản 3, Điều 30 Luật số 49/2024/QH15 ngày 27/11/2024 của Quốc hội ban hành Luật Phòng không nhân dân quy định tàu bay không người lái, phương tiện bay khác thuộc một trong các trường hợp sau đây được miễn cấp phép bay: a) Hoạt động ngoài khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay, phạm vi hoạt động trong tầm nhìn trực quan bằng mắt thường, có trọng lượng cất cánh tối đa nhỏ hơn 0,25 kg để phục vụ vui chơi giải trí; b) Hoạt động trong trường hợp khẩn cấp để bảo vệ tính mạng, tài sản của tổ chức, cá nhân theo quyết định của cấp có thẩm quyền nhưng phải thông báo đến cơ quan quản lý hoạt động bay trước khi bay. Luật Phòng không nhân dân có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025. Như vậy, sau ngày 01/7/2025, đối với tàu bay không người lái, phương tiện bay khác có trọng lượng cất cánh tối đa nhỏ hơn 0,25 kg đáp ứng các điều kiện tại điểm a sẽ được miễn cấp phép bay. 3. Thủ tục và hồ sơ xin cấp phép sử dụng các thiết bị bay không người lái tại Việt Nam quy định cụ thể như thế nào? Hiện nay, thủ tục và hồ sơ xin cấp phép sử dụng tàu bay không người lái và phương tiện bay siêu nhẹ thực hiện theo mã thủ tục hành chính số 3.000132 do Bộ Quốc phòng quản lý cho đến khi Chính phủ ban hành Nghị định mới quy định về quản lý tàu bay không người lái và phương tiện bay khác, cụ thể: a) Thủ tục xin cấp phép bay Cá nhân, tổ chức có nhu cầu cấp phép sử dụng tàu bay không người lái và phương tiện bay siêu nhẹ nộp hồ sơ chậm nhất 07 ngày làm việc, trước ngày dự kiến tổ chức thực hiện các chuyến bay, các tổ chức, cá nhân nộp đơn đề nghị cấp phép bay đến Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng (nộp trực tiếp tại bộ phận một cửa Bộ Quốc phòng hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích đến Cục Tác chiến, số 01 Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội hoặc nộp trực tuyến trên cổng dịch vụ công Bộ Quốc phòng). Trong thời hạn 05 ngày làm việc, Cục Tác chiến cấp phép tổ chức thực hiện các chuyến bay hoặc ra văn bản từ chối cấp phép bay (trong các trường hợp để đảm bảo an ninh, quốc phòng, an toàn hàng không và khi chưa cung cấp đầy đủ thông tin quy định trong đơn đề nghị cấp phép bay). Trường hợp có vướng mắc hoặc cần được hướng dẫn trong quá trình nộp hồ sơ, đề nghị công dân/tổ chức liên hệ Cục Tác chiến qua số điện thoại 0987567606 để được hỗ trợ. b) Thành phần hồ sơ: - Đơn đề nghị cấp phép bay; - Ảnh chụp tàu bay, phương tiện bay (kích thước tối thiểu 18 x 24cm); - Bản thuyết minh kỹ thuật hàng không của tàu bay, phương tiện bay; - Giấy phép hoặc giấy ủy quyền hợp pháp cho phép tàu bay, phương tiện bay thực hiện cất, hạ cánh tại sân bay, khu vực trên mặt đất, mặt nước; - Các giấy tờ, tài liệu khác liên quan đến tàu bay, phương tiện bay. 4. Những khu vực nào là khu vực cấm sử dụng các thiết bị bay không người lái tại Việt Nam? Căn cứ Quyết định số 18/2020/QĐ-TTg, ngày 10/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thiết lập khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay đối với tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ; trong đó tại Điều 3 quy định khu vực cấm bay, cụ thể: a) Khu vực các công trình quốc phòng và khu quân sự đặc biệt quan trọng do Chính phủ ủy quyền cho Bộ Quốc phòng trực tiếp chỉ đạo việc quản lý, bảo vệ. Khoảng cách từ tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ hoạt động đến ranh giới khu vực cấm theo chiều ngang không nhỏ hơn 500m ở mọi độ cao. b) Khu vực trụ sở làm việc các cơ quan Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, các ban, bộ, ngành Trung ương; trụ sở Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; trụ sở làm việc của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; trụ sở các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam. Khoảng cách từ tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ hoạt động đến ranh giới khu vực cấm theo chiều ngang không nhỏ hơn 200m ở mọi độ cao. c) Khu vực quốc phòng, an ninh Khu vực đóng quân; khu vực triển khai lực lượng, trang bị chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện chiến đấu, bảo vệ mục tiêu; khu vực kho tàng, nhà máy, căn cứ (trung tâm) hậu cần, kỹ thuật, trại giam, nhà tạm giam, nhà tạm giữ của các lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; khu vực các công trình trong danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Khoảng cách từ tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ hoạt động đến ranh giới khu vực cấm theo chiều ngang không nhỏ hơn 500m ở mọi độ cao. d) Khu vực cảng hàng không, sân bay có hoạt động của tàu bay hàng không dân dụng, quân sự. - Đối với sân bay có 01 đường cất, hạ cánh, phạm vi cấm được giới hạn trong khu vực hình chữ nhật được xác định từ vị trí ngưỡng tại hai đầu của đường cất, hạ cánh mở rộng và kéo dài ra phía ngoài hai đầu đường cất, hạ cánh đến 15000m và từ đường tim của đường cất, hạ cánh mở rộng sang hai bên 5000m ở mọi độ cao; - Đối với sân bay có từ 02 đường cất, hạ cánh trở lên thì phạm vi cấm được giới hạn khu vực hình chữ nhật, được xác định từ vị trí ngưỡng của đường cất, hạ cánh xa nhất theo chiều cất, hạ cánh của tàu bay, mở rộng và kéo dài ra phía ngoài hai đầu đường cất, hạ cánh đến 15000m và mở rộng sang hai bên 5000m tính từ tim của 02 đường cất, hạ cánh ngoài cùng ở mọi độ cao. - Đối với một số khu vực cảng hàng không, sân bay có hoạt động của tàu bay hàng không dân dụng với tần suất nhỏ hơn 06 chuyến mỗi ngày cho phép áp dụng khu vực cấm bay linh hoạt. Nhưng không được bay trong ranh giới khu vực cảng hàng không, sân bay; không được bay trong thời gian trước và sau 01 giờ so với thời gian có hoạt động của tàu bay có người lái tại cảng hàng không, sân bay; chỉ bay khi được sự đồng ý của cơ quan quản lý, điều hành bay quân sự và cơ quan quản lý hoạt động bay tại cảng hàng không, sân bay đó. e) Khu vực nằm trong giới hạn của đường hàng không, các vệt bay, hành lang bay đã được cấp phép trong vùng trời Việt Nam, phạm vi giới hạn của đường hàng không được nêu trong tập thông báo tin tức hàng không của Việt Nam \"AIP Việt Nam\" do Cục Hàng không Việt Nam công bố. t) Trong trường hợp đặc biệt vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc theo đề nghị của các bộ, ngành, địa phương để đảm bảo an toàn bay, trật tự an toàn xã hội, Bộ Quốc phòng quyết định hạn chế bay tạm thời hoặc cấm bay tạm thời đối với tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ tại một số khu vực trong lãnh thổ Việt Nam; quyết định này có hiệu lực ngay. Để thuận tiện cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có hoạt động liên quan đến quản lý, khai thác, sử dụng tàu bay không người lái và các phương tiện bay khác trong vùng trời Việt Nam; ngày 15/6/2025, Bộ Quốc phòng đã chính thức công bố khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay đối với tàu bay không người lái và các phương tiện bay khác trên Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng http://cambay.mod.gov.vn phục vụ công tác quản lý, giám sát và kiểm tra đối chiếu thông tin khu vực bay."
}
],
"id": "377",
"is_impossible": false,
"question": "Các quy định về sử dụng thiết bị bay không người lái"
}
]
}
],
"title": "Các quy định về sử dụng thiết bị bay không người lái"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "1. Để phòng ngừa đuối nước cho trẻ em: - Dạy bơi và kỹ năng chống đuối nước cho trẻ. Dạy bơi cho trẻ em là giải pháp phòng, chống đuối nước hiệu quả. - Khi trẻ tắm tại bể bơi, biển, chơi gần sông, suối, ao, hồ cần có người lớn giám sát; lấp các hố, giếng nước không cần thiết. - Khi phát hiện người đuối nước, hãy hô hoán và dùng cây sào, phao, dây... để họ bám và kéo vào bờ; không nhảy xuống nước cứu người khi không biết bơi và không có kỹ năng cứu đuối nước. - Người lớn cần trang bị kiến thức để sơ cứu ban đầu cho người bị đuối nước. 2. Kỹ năng cứu người bị đuối nước: Tuỳ vào tình hình thực tế và năng lực của mỗi cá nhân mà có phương pháp, biện pháp cứu người bị đuối nước sao cho phù hợp. Để đảm bảo vừa cứu được người bị nạn và vừa an toàn cho người ứng cứu, chúng ta có thể chia ra một số trường hợp sau: *Trường hợp người tham gia cứu nạn không biết bơi hoặc biết bơi nhưng không đủ khả năng trực tiếp cứu người bị nạn: - Khi người tham gia cứu nạn không biết bơi thì cần phải bình tĩnh suy xét và nhanh chóng quan sát xung quanh tìm những vật có khả năng cứu người như cành cây, can nhựa, phao cứu sinh, dây thừng hoặc các vật thể nổi khác; sau đó đưa (hoặc quăng) các vật dụng đó đến vị trí người bị nạn để họ bám, víu rồi kéo dần người bị nạn vào bờ. Cụ thể như sau: + Trường hợp nạn nhân ở gần bờ, người cứu nạn có thể sử dụng tay hoặc cành cây để kéo nạn nhân lên bờ. Sử dụng tay hoặc cành cây để cứu (nếu nạn nhân gần bờ). + Trường hợp vị trí của nạn nhân ở cách xa bờ, không thể sử dụng tay hoặc cành cây để cứu, khi đó có thể sử dụng các vật như phao tròn, dây thừng…, nhanh chóng quăng đến vị trí người bị nạn để họ có thể bám vào phao, dây và bơi dần vào bờ. Sử dụng phao có dây kéo hoặc dây thừng để cứu người bị nạn. + Trong trường hợp người bị nạn ở quá xa bờ, vượt khỏi tầm quăng đến của các phương tiện cứu nạn như dây thừng, phao kéo… thì người cứu phải bằng mọi cách hô hoán, gọi cứu trợ để cứu người bị nạn một cách nhanh nhất có thể. - Khi người cứu nạn biết bơi nhưng chưa có kỹ năng cứu đuối nước, để cứu được nạn nhân, người cứu nạn phải thực hiện một số bước sau: + Sử dụng phao tròn (phao có dây kéo thì càng tốt) hoặc các vật thể nổi khác để bơi ra gần nạn nhân. Nếu nạn nhân còn tỉnh táo thì ra ký hiệu cho nạn nhân bám vào phao rồi sau đó vừa bơi vừa kéo phao đưa nạn nhân vào bờ. Trường hợp nạn nhân đã đuối sức, người cứu nạn nên tiếp cận nạn nhân từ phía sau, đưa phao (hoặc vật thể nổi) ra phía trước mặt nạn nhân, dùng 2 tay luồn dưới 2 nách nạn nhân từ sau ra trước và bám vào phao đã đặt phía trước, giữ cho đầu nạn nhân nổi và sau đó bơi ngửa đưa nạn nhân vào bờ. Sử dụng phao tiếp cận phía sau để cứu nạn nhân. + Trong trường hợp không có phao hoặc các vật thể nổi, người cứu nạn có thể sử dụng một sợi dây thừng buộc quanh eo mình và để dư một đoạn có độ dài nhất định để cho nạn nhân bám vào (chiều dài phần dây dư khoảng từ 3 đến 5 mét), đầu dây còn lại sẽ được cố định vào một điểm chắc chắn trên bờ hoặc do một người trên bờ giữ đầu dây. Khi bơi gần đến vị trí nạn nhân hãy hô to hoặc ra ký hiệu và quăng đầu dây đã để dư cho người bị nạn cầm, sau đó ra ký hiệu cho người trên bờ kéo dây vào hoặc người cứu nạn vừa bơi vừa co dây kéo theo nạn nhân di chuyển dần dần vào bờ. Cứu người đuối nước bằng dây. + Lưu ý: Trong mọi trường hợp cứu đuối nước, nếu nạn nhân đang vùng vẫy mạnh thì người cứu nạn tuyệt đối không được trực tiếp ôm nạn nhân và không để nạn nhân bám vào người mình. Vì khi đó, nạn nhân đang bị hoảng loạn sẽ ôm và siết chặt có thể làm cho cả nạn nhân và người cứu nạn cùng bị đuối nước. *Trường hợp người cứu nạn biết bơi và có kỹ năng cứu đuối nước: - Người cứu nạn sẽ bơi tiếp cận từ phía sau nạn nhân, nếu nạn nhân nằm sấp thì tiến hành lật ngửa nạn nhân để phần mặt nhô cao hơn mặt nước. Tiếp đó, dùng 2 tay xốc vào nách nạn nhân từ phía sau rồi bơi ngửa đưa nạn nhân vào bờ. Ngoài ra, người cứu nạn có thể dùng 2 tay ôm chặt 2 bên đầu nạn nhân, giữ cho nạn nhân nằm ngửa phần mặt nạn nhân nhô cao hơn mặt nước, người cứu bơi ngửa để đưa nạn nhân vào bờ. Bơi ngửa cứu nạn nhân bị đuối nước. - Trong một số trường hợp khi nạn nhân gần chìm, tuỳ vào tình hình thực tế mà người cứu nạn có thể nắm cổ áo, nắm tóc nạn nhân từ phía sau và sử dụng kiểu bơi ếch nghiêng để kéo nạn nhân vào bờ. Lưu ý trong tất cả các trường hợp phải giữ cho mặt nạn nhân luôn ngửa và nổi trên mặt nước. Bơi nghiêng cứu nạn nhân. 3. Kỹ năng thoát nạn khỏi vùng nước xoáy *Nhận biết dòng nước xoáy Dòng nước xoáy là một dòng nước chảy mạnh từ bờ ra biển. Nguyên nhân của hiện tượng này là do khi sóng biển liên tục đưa nước vào bờ, sẽ tạo thành một dòng xoáy chảy mạnh ngược từ bờ ra biển. Dấu hiệu nhận biết dòng nước xoáy ra. Thông thường dòng xoáy ở biển hình thành dưới mặt nước, có màu xanh thẫm (do có độ sâu hơn vùng xung quanh). Trên bề mặt nước khu vực này thường không có sóng “bạc đầu” xô vào bờ. *Đặc điểm dòng nước xoáy Dòng xoáy ở biển rất nguy hiểm, vận tốc dòng chảy có thể đạt đến 2,5m/giây, chiều rộng từ 1 - 3m, chiều dài dòng chảy có thể đạt đến vài chục mét. Với vận tốc này thì khó ai có thể bơi ngược dòng chảy này để vào bờ. Trên thực tế, rất nhiều người bị hoảng loạn khi gặp tình huống này và đã cố bơi ngược trở lại vào bờ, tuy nhiên với cách này hầu hết mọi người đều bị chết đuối. *Kỹ năng thoát hiểm Khi đang tắm biển mà gặp phải vùng xoáy, dòng chảy mạnh mọi người cần lưu ý và thực hiện một số thao tác sau: - Hãy cố gắng giữ bình tĩnh và hiểu rằng, dòng nước không cuốn bạn chìm xuống đáy mà chỉ kéo bạn ra xa bờ thôi. Tuyệt đối không bơi ngược dòng chảy. - Đối với người biết bơi: Hãy bơi ngang hoặc theo hướng chéo xuôi theo dòng chảy và dần tách ra khỏi dòng chảy, sau đó bơi vòng cung dần tiến vào bờ. Bơi ngang dòng chảy thoát nạn. - Đối với người không biết bơi hoặc đã đuối sức: Hãy thả lỏng và giữ cho cơ thể nổi, trôi theo dòng chảy. Đến khi thấy dòng chảy đã yếu thì cố gắng bơi chéo tách khỏi dòng chảy và bơi vòng vào bờ hoặc ra hiệu cho cứu hộ hoặc mọi người ứng cứu. Bơi chéo dòng chảy thoát nạn. Ngoài ra, người dân có thể trải nghiệm, thực hành miễn phí các hoạt động chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và học các kỹ năng sơ cấp cứu người bị nạn tại Trung tâm giáo dục cộng đồng về Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, TP Hải Phòng, Nam Định và Phú Thọ (tại TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, TP Hải Phòng hoạt động thứ 7, chủ nhật hàng tuần; tại Nam Định, Phú Thọ hoạt động tất cả các ngày trong tuần).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 39,
"text": "- Dạy bơi và kỹ năng chống đuối nước cho trẻ. Dạy bơi cho trẻ em là giải pháp phòng, chống đuối nước hiệu quả. - Khi trẻ tắm tại bể bơi, biển, chơi gần sông, suối, ao, hồ cần có người lớn giám sát; lấp các hố, giếng nước không cần thiết. - Khi phát hiện người đuối nước, hãy hô hoán và dùng cây sào, phao, dây... để họ bám và kéo vào bờ; không nhảy xuống nước cứu người khi không biết bơi và không có kỹ năng cứu đuối nước. - Người lớn cần trang bị kiến thức để sơ cứu ban đầu cho người bị đuối nước. 2. Kỹ năng cứu người bị đuối nước: Tuỳ vào tình hình thực tế và năng lực của mỗi cá nhân mà có phương pháp, biện pháp cứu người bị đuối nước sao cho phù hợp. Để đảm bảo vừa cứu được người bị nạn và vừa an toàn cho người ứng cứu, chúng ta có thể chia ra một số trường hợp sau: *Trường hợp người tham gia cứu nạn không biết bơi hoặc biết bơi nhưng không đủ khả năng trực tiếp cứu người bị nạn: - Khi người tham gia cứu nạn không biết bơi thì cần phải bình tĩnh suy xét và nhanh chóng quan sát xung quanh tìm những vật có khả năng cứu người như cành cây, can nhựa, phao cứu sinh, dây thừng hoặc các vật thể nổi khác; sau đó đưa (hoặc quăng) các vật dụng đó đến vị trí người bị nạn để họ bám, víu rồi kéo dần người bị nạn vào bờ. Cụ thể như sau: + Trường hợp nạn nhân ở gần bờ, người cứu nạn có thể sử dụng tay hoặc cành cây để kéo nạn nhân lên bờ. Sử dụng tay hoặc cành cây để cứu (nếu nạn nhân gần bờ). + Trường hợp vị trí của nạn nhân ở cách xa bờ, không thể sử dụng tay hoặc cành cây để cứu, khi đó có thể sử dụng các vật như phao tròn, dây thừng…, nhanh chóng quăng đến vị trí người bị nạn để họ có thể bám vào phao, dây và bơi dần vào bờ. Sử dụng phao có dây kéo hoặc dây thừng để cứu người bị nạn. + Trong trường hợp người bị nạn ở quá xa bờ, vượt khỏi tầm quăng đến của các phương tiện cứu nạn như dây thừng, phao kéo… thì người cứu phải bằng mọi cách hô hoán, gọi cứu trợ để cứu người bị nạn một cách nhanh nhất có thể. - Khi người cứu nạn biết bơi nhưng chưa có kỹ năng cứu đuối nước, để cứu được nạn nhân, người cứu nạn phải thực hiện một số bước sau: + Sử dụng phao tròn (phao có dây kéo thì càng tốt) hoặc các vật thể nổi khác để bơi ra gần nạn nhân. Nếu nạn nhân còn tỉnh táo thì ra ký hiệu cho nạn nhân bám vào phao rồi sau đó vừa bơi vừa kéo phao đưa nạn nhân vào bờ. Trường hợp nạn nhân đã đuối sức, người cứu nạn nên tiếp cận nạn nhân từ phía sau, đưa phao (hoặc vật thể nổi) ra phía trước mặt nạn nhân, dùng 2 tay luồn dưới 2 nách nạn nhân từ sau ra trước và bám vào phao đã đặt phía trước, giữ cho đầu nạn nhân nổi và sau đó bơi ngửa đưa nạn nhân vào bờ. Sử dụng phao tiếp cận phía sau để cứu nạn nhân. + Trong trường hợp không có phao hoặc các vật thể nổi, người cứu nạn có thể sử dụng một sợi dây thừng buộc quanh eo mình và để dư một đoạn có độ dài nhất định để cho nạn nhân bám vào (chiều dài phần dây dư khoảng từ 3 đến 5 mét), đầu dây còn lại sẽ được cố định vào một điểm chắc chắn trên bờ hoặc do một người trên bờ giữ đầu dây. Khi bơi gần đến vị trí nạn nhân hãy hô to hoặc ra ký hiệu và quăng đầu dây đã để dư cho người bị nạn cầm, sau đó ra ký hiệu cho người trên bờ kéo dây vào hoặc người cứu nạn vừa bơi vừa co dây kéo theo nạn nhân di chuyển dần dần vào bờ. Cứu người đuối nước bằng dây. + Lưu ý: Trong mọi trường hợp cứu đuối nước, nếu nạn nhân đang vùng vẫy mạnh thì người cứu nạn tuyệt đối không được trực tiếp ôm nạn nhân và không để nạn nhân bám vào người mình. Vì khi đó, nạn nhân đang bị hoảng loạn sẽ ôm và siết chặt có thể làm cho cả nạn nhân và người cứu nạn cùng bị đuối nước. *Trường hợp người cứu nạn biết bơi và có kỹ năng cứu đuối nước: - Người cứu nạn sẽ bơi tiếp cận từ phía sau nạn nhân, nếu nạn nhân nằm sấp thì tiến hành lật ngửa nạn nhân để phần mặt nhô cao hơn mặt nước. Tiếp đó, dùng 2 tay xốc vào nách nạn nhân từ phía sau rồi bơi ngửa đưa nạn nhân vào bờ. Ngoài ra, người cứu nạn có thể dùng 2 tay ôm chặt 2 bên đầu nạn nhân, giữ cho nạn nhân nằm ngửa phần mặt nạn nhân nhô cao hơn mặt nước, người cứu bơi ngửa để đưa nạn nhân vào bờ. Bơi ngửa cứu nạn nhân bị đuối nước. - Trong một số trường hợp khi nạn nhân gần chìm, tuỳ vào tình hình thực tế mà người cứu nạn có thể nắm cổ áo, nắm tóc nạn nhân từ phía sau và sử dụng kiểu bơi ếch nghiêng để kéo nạn nhân vào bờ. Lưu ý trong tất cả các trường hợp phải giữ cho mặt nạn nhân luôn ngửa và nổi trên mặt nước. Bơi nghiêng cứu nạn nhân. 3. Kỹ năng thoát nạn khỏi vùng nước xoáy *Nhận biết dòng nước xoáy Dòng nước xoáy là một dòng nước chảy mạnh từ bờ ra biển. Nguyên nhân của hiện tượng này là do khi sóng biển liên tục đưa nước vào bờ, sẽ tạo thành một dòng xoáy chảy mạnh ngược từ bờ ra biển. Dấu hiệu nhận biết dòng nước xoáy ra. Thông thường dòng xoáy ở biển hình thành dưới mặt nước, có màu xanh thẫm (do có độ sâu hơn vùng xung quanh). Trên bề mặt nước khu vực này thường không có sóng “bạc đầu” xô vào bờ. *Đặc điểm dòng nước xoáy Dòng xoáy ở biển rất nguy hiểm, vận tốc dòng chảy có thể đạt đến 2,5m/giây, chiều rộng từ 1 - 3m, chiều dài dòng chảy có thể đạt đến vài chục mét. Với vận tốc này thì khó ai có thể bơi ngược dòng chảy này để vào bờ. Trên thực tế, rất nhiều người bị hoảng loạn khi gặp tình huống này và đã cố bơi ngược trở lại vào bờ, tuy nhiên với cách này hầu hết mọi người đều bị chết đuối. *Kỹ năng thoát hiểm Khi đang tắm biển mà gặp phải vùng xoáy, dòng chảy mạnh mọi người cần lưu ý và thực hiện một số thao tác sau: - Hãy cố gắng giữ bình tĩnh và hiểu rằng, dòng nước không cuốn bạn chìm xuống đáy mà chỉ kéo bạn ra xa bờ thôi. Tuyệt đối không bơi ngược dòng chảy. - Đối với người biết bơi: Hãy bơi ngang hoặc theo hướng chéo xuôi theo dòng chảy và dần tách ra khỏi dòng chảy, sau đó bơi vòng cung dần tiến vào bờ. Bơi ngang dòng chảy thoát nạn. - Đối với người không biết bơi hoặc đã đuối sức: Hãy thả lỏng và giữ cho cơ thể nổi, trôi theo dòng chảy. Đến khi thấy dòng chảy đã yếu thì cố gắng bơi chéo tách khỏi dòng chảy và bơi vòng vào bờ hoặc ra hiệu cho cứu hộ hoặc mọi người ứng cứu. Bơi chéo dòng chảy thoát nạn. Ngoài ra, người dân có thể trải nghiệm, thực hành miễn phí các hoạt động chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và học các kỹ năng sơ cấp cứu người bị nạn tại Trung tâm giáo dục cộng đồng về Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, TP Hải Phòng, Nam Định và Phú Thọ (tại TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, TP Hải Phòng hoạt động thứ 7, chủ nhật hàng tuần; tại Nam Định, Phú Thọ hoạt động tất cả các ngày trong tuần)."
}
],
"id": "378",
"is_impossible": false,
"question": "Hướng dẫn kỹ năng phòng, chống đuối nước; cứu người bị đuối nước và thoát nạn khỏi vùng nước xoáy"
}
]
}
],
"title": "Hướng dẫn kỹ năng phòng, chống đuối nước; cứu người bị đuối nước và thoát nạn khỏi vùng nước xoáy"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Căn cứ thông tin của bạn đọc Phạm Tân cung cấp thì Công ty có 01 hành vi vi phạm hành chính cụ thể: Giấy phép xả thải vào nguồn nước hết hạn áp dụng, vi phạm Điểm a Khoản 3 Điều 19 Nghị định 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản. Trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ (theo quy định tại Khoản 4 Điều 23 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012) Công ty sẽ bị xử phạt 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng), nếu hành vi vi phạm hành chính trên gây ô nhiễm, suy giảm chất lượng nguồn nước, Công ty sẽ bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: “Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái nguồn nước”.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 100,
"text": "Giấy phép xả thải vào nguồn nước hết hạn áp dụng, vi phạm Điểm a Khoản 3 Điều 19 Nghị định 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản. Trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ (theo quy định tại Khoản 4 Điều 23 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012) Công ty sẽ bị xử phạt 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng), nếu hành vi vi phạm hành chính trên gây ô nhiễm, suy giảm chất lượng nguồn nước, Công ty sẽ bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: “Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái nguồn nước”."
}
],
"id": "379",
"is_impossible": false,
"question": "Hành vi xả thải vào nguồn nước khi giấy phép đã hết hạn áp dụng"
}
]
}
],
"title": "Hành vi xả thải vào nguồn nước khi giấy phép đã hết hạn áp dụng"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Hiện nay, mẫu các loại con dấu nói chung và Bảo hiểm xã hội nói riêng thực hiện theo quy định tại Thông tư số 21/2012/TT-BCA ngày 13/4/2012 của Bộ Công an quy định về con dấu của các cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước, cụ thể như sau: 1. Mẫu con dấu Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh (áp dụng mẫu số 15)- Con dấu hình tròn, có đường kính 36mm;- Xung quanh vành ngoài con dấu: BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM;- Giữa con dấu: tên Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh.2. Mẫu con dấu Bảo hiểm xã hội cấp huyện (áp dụng mẫu số 16)- Con dấu hình tròn, có đường kính 34mm;- Vành ngoài phía trên con dấu: BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM;- Vành ngoài phía dưới con dấu: tên Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh;- Giữa con dấu: tên Bảo hiểm xã hội cấp huyện.3. Mẫu con dấu Văn phòng Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh (áp dụng mẫu số 16)- Con dấu hình tròn, có đường kính 34mm;- Vành ngoài phía trên con dấu: BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM;- Vành ngoài phía dưới con dấu: tên Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh;- Giữa con dấu: Văn phòng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 237,
"text": "1. Mẫu con dấu Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh (áp dụng mẫu số 15)- Con dấu hình tròn, có đường kính 36mm;- Xung quanh vành ngoài con dấu: BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM;- Giữa con dấu: tên Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh.2. Mẫu con dấu Bảo hiểm xã hội cấp huyện (áp dụng mẫu số 16)- Con dấu hình tròn, có đường kính 34mm;- Vành ngoài phía trên con dấu: BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM;- Vành ngoài phía dưới con dấu: tên Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh;- Giữa con dấu: tên Bảo hiểm xã hội cấp huyện.3. Mẫu con dấu Văn phòng Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh (áp dụng mẫu số 16)- Con dấu hình tròn, có đường kính 34mm;- Vành ngoài phía trên con dấu: BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM;- Vành ngoài phía dưới con dấu: tên Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh;- Giữa con dấu: Văn phòng."
}
],
"id": "380",
"is_impossible": false,
"question": "Mẫu con dấu của Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh, huyện"
}
]
}
],
"title": "Mẫu con dấu của Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh, huyện"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Pháp lệnh Công an xã không quy định chế độ trợ cấp đặc thù cho lực lượng Công an xã mà chỉ quy định chung các chế độ, chính sách đối với Công an xã (Điều 18 và điều 19). Việc thực hiện chế độ, chính sách đối với lực lượng Công an xã được quy định tại Điều 7, Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009 của Chính phủ, cụ thể như sau: - Chế độ lương, phụ cấp: Trưởng, Phó Trưởng Công an xã và Công an viên được hưởng chế độ lương, phụ cấp theo quy định của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn. Trưởng Công an xã, Phó Trưởng Công an xã và Công an viên thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội, Luật bảo hiểm y tế. - Chế độ thâm niên công tác và trợ cấp nghỉ việc: Trưởng Công an xã có thời gian phục vụ liên tục từ đủ 60 tháng trở lên được hưởng phụ cấp thâm niên mỗi năm bằng 1% lương và phụ cấp hiện hưởng; có thời gian công tác liên tục từ đủ 15 năm trở lên nếu nghỉ việc vì lý do chính đáng mà chưa đủ điều kiện nghỉ hưu thì được hưởng trợ cấp 1 lần, cứ mỗi năm công tác được tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương và phụ cấp đóng bảo hiểm hiện hưởng. Phụ cấp thâm niên được chi trả hàng tháng cùng kỳ lương và dùng để đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế. Phó Trưởng Công an xã và Công an viên có thời gian công tác liên tục từ đủ 15 năm trở lên nếu nghỉ việc vì lý do chính đáng thì được hưởng trợ cấp 1 lần, cứ mỗi năm công tác được tính bằng 1,5 tháng mức bình quân phụ cấp hiện hưởng. - Chế độ bồi dưỡng cho Công an xã khi được cử di công tác, học tập, làm nhiệm vụ thường trực sẵn sàng chiến đấu tại những nơi thuộc địa bàn trọng điểm, phức tạp về an ninh trật tự: Phó Trưởng Công an xã và Công an viên khi được cử đi tập trung đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng chính trị, pháp luật, nghiệp vụ được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng mức tiền ăn cơ bản của chiến sĩ phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân; khi đi công tác được hưởng chế độ như đối với công chức cấp xã. Trưởng Công an xã, Phó Trưởng Công an xã và Công an viên khi làm nhiệm vụ thường trực sẵn sàng chiến đấu tại những nơi thuộc địa bàn trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự được hưởng trợ cấp mỗi ngày bằng 0,05 lần của lương tối thiểu chung. Trường hợp làm nhiệm vụ cách xa nơi cư trú, không có điền kiện đi, về hàng ngày thì được cơ quan đã ra quyết định huy động bố trí nơi nghỉ, hỗ trợ phương tiện, chi phí đi lại hoặc thanh toán tiền tàu xe một lần đi, về. - Chế độ đối với Công an xã khi bị ốm đau hoặc bị tai nạn, bị thương, hi sinh trong khi làm nhiệm vụ: Trưởng, Phó Trưởng Công an xã và Công an viên bị ốm đau trong thời gian công tác được khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế và được hỗ trợ thanh toán tiền khám, chữa bệnh từ nguồn ngân sách địa phương, mức hỗ trợ cụ thể do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Trưởng, Phó Trưởng Công an xã và Công an viên bị thương, hy sinh trong khi làm nhiệm vụ hoặc vì lý do thi hành công vụ, được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng. Trưởng, Phó Trưởng Công an xã và Công an viên bị tai nạn trong khi làm nhiệm vụ, trong khi tập trung đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng chính trị, pháp luật, nghiệp vụ hoặc trên đường đi làm nhiệm vụ, trên đường đi, về nơi tập trung huấn luyện, bồi dưỡng chính trị, pháp luật, nghiệp vụ theo quyết định triệu tập của cấp có thẩm quyền thì được hưởng các chế độ như sau: + Được thanh toán chi phí y tế trong quá trình sơ cứu đến khi ổn định thương tật, xuất viện. + Sau khi điều trị, được Ủy ban nhân dân xã giới thiệu đi giám định khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa theo quy định của pháp luật. Trường hợp người có tham gia bảo hiểm xã hội thì thực hiện trợ cấp một lần hoặc hàng tháng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Trường hợp người chưa tham gia bảo hiểm xã hội bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được hưởng chế độ trợ cấp một lần, mức trợ cấp do Bộ Công an và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn cụ thể. + Người bị tai nạn làm khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng, biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, học tập gặp nhiều khó khăn thì được hưởng các chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật đối với người tàn tật. + Trường hợp bị chết, kể cả chết trong thời gian điều trị lần đầu, nếu người bị chết có tham gia bảo hiểm xã hội thì thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trường hợp người bị chết chưa tham gia bảo hiểm xã hội thì người chịu trách nhiệm mai táng được nhận tiền mai táng bằng 8 tháng lương tối thiểu và gia đình của người đó được trợ cấp một lần bằng 5 tháng tiền lương tối thiểu. + Kinh phí về các chế độ bị tai nạn do ngân sách địa phương chi trả. Đối với người tham gia bảo hiểm xã hội thì do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả. Như vậy, Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009 của Chính phủ đã quy định rất cụ thể về chế độ, chính sách đối với lực lượng Công an xã. Pháp lệnh Công an xã không quy định chế độ trợ cấp đặc thù cho lực lượng Công an xã, do vậy Bộ Công an không ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện chế độ trợ cấp đặc thù cho lực lượng Công an xã.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 332,
"text": "- Chế độ lương, phụ cấp: Trưởng, Phó Trưởng Công an xã và Công an viên được hưởng chế độ lương, phụ cấp theo quy định của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn. Trưởng Công an xã, Phó Trưởng Công an xã và Công an viên thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội, Luật bảo hiểm y tế. - Chế độ thâm niên công tác và trợ cấp nghỉ việc: Trưởng Công an xã có thời gian phục vụ liên tục từ đủ 60 tháng trở lên được hưởng phụ cấp thâm niên mỗi năm bằng 1% lương và phụ cấp hiện hưởng; có thời gian công tác liên tục từ đủ 15 năm trở lên nếu nghỉ việc vì lý do chính đáng mà chưa đủ điều kiện nghỉ hưu thì được hưởng trợ cấp 1 lần, cứ mỗi năm công tác được tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương và phụ cấp đóng bảo hiểm hiện hưởng. Phụ cấp thâm niên được chi trả hàng tháng cùng kỳ lương và dùng để đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế. Phó Trưởng Công an xã và Công an viên có thời gian công tác liên tục từ đủ 15 năm trở lên nếu nghỉ việc vì lý do chính đáng thì được hưởng trợ cấp 1 lần, cứ mỗi năm công tác được tính bằng 1,5 tháng mức bình quân phụ cấp hiện hưởng. - Chế độ bồi dưỡng cho Công an xã khi được cử di công tác, học tập, làm nhiệm vụ thường trực sẵn sàng chiến đấu tại những nơi thuộc địa bàn trọng điểm, phức tạp về an ninh trật tự: Phó Trưởng Công an xã và Công an viên khi được cử đi tập trung đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng chính trị, pháp luật, nghiệp vụ được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng mức tiền ăn cơ bản của chiến sĩ phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân; khi đi công tác được hưởng chế độ như đối với công chức cấp xã. Trưởng Công an xã, Phó Trưởng Công an xã và Công an viên khi làm nhiệm vụ thường trực sẵn sàng chiến đấu tại những nơi thuộc địa bàn trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự được hưởng trợ cấp mỗi ngày bằng 0,05 lần của lương tối thiểu chung. Trường hợp làm nhiệm vụ cách xa nơi cư trú, không có điền kiện đi, về hàng ngày thì được cơ quan đã ra quyết định huy động bố trí nơi nghỉ, hỗ trợ phương tiện, chi phí đi lại hoặc thanh toán tiền tàu xe một lần đi, về. - Chế độ đối với Công an xã khi bị ốm đau hoặc bị tai nạn, bị thương, hi sinh trong khi làm nhiệm vụ: Trưởng, Phó Trưởng Công an xã và Công an viên bị ốm đau trong thời gian công tác được khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế và được hỗ trợ thanh toán tiền khám, chữa bệnh từ nguồn ngân sách địa phương, mức hỗ trợ cụ thể do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Trưởng, Phó Trưởng Công an xã và Công an viên bị thương, hy sinh trong khi làm nhiệm vụ hoặc vì lý do thi hành công vụ, được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng. Trưởng, Phó Trưởng Công an xã và Công an viên bị tai nạn trong khi làm nhiệm vụ, trong khi tập trung đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng chính trị, pháp luật, nghiệp vụ hoặc trên đường đi làm nhiệm vụ, trên đường đi, về nơi tập trung huấn luyện, bồi dưỡng chính trị, pháp luật, nghiệp vụ theo quyết định triệu tập của cấp có thẩm quyền thì được hưởng các chế độ như sau: + Được thanh toán chi phí y tế trong quá trình sơ cứu đến khi ổn định thương tật, xuất viện. + Sau khi điều trị, được Ủy ban nhân dân xã giới thiệu đi giám định khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa theo quy định của pháp luật. Trường hợp người có tham gia bảo hiểm xã hội thì thực hiện trợ cấp một lần hoặc hàng tháng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Trường hợp người chưa tham gia bảo hiểm xã hội bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được hưởng chế độ trợ cấp một lần, mức trợ cấp do Bộ Công an và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn cụ thể. + Người bị tai nạn làm khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng, biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, học tập gặp nhiều khó khăn thì được hưởng các chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật đối với người tàn tật. + Trường hợp bị chết, kể cả chết trong thời gian điều trị lần đầu, nếu người bị chết có tham gia bảo hiểm xã hội thì thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trường hợp người bị chết chưa tham gia bảo hiểm xã hội thì người chịu trách nhiệm mai táng được nhận tiền mai táng bằng 8 tháng lương tối thiểu và gia đình của người đó được trợ cấp một lần bằng 5 tháng tiền lương tối thiểu. + Kinh phí về các chế độ bị tai nạn do ngân sách địa phương chi trả. Đối với người tham gia bảo hiểm xã hội thì do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả. Như vậy, Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009 của Chính phủ đã quy định rất cụ thể về chế độ, chính sách đối với lực lượng Công an xã. Pháp lệnh Công an xã không quy định chế độ trợ cấp đặc thù cho lực lượng Công an xã, do vậy Bộ Công an không ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện chế độ trợ cấp đặc thù cho lực lượng Công an xã."
}
],
"id": "381",
"is_impossible": false,
"question": "Về chế độ trợ cấp cho lực lượng Công an xã"
}
]
}
],
"title": "Về chế độ trợ cấp cho lực lượng Công an xã"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Nghị định số 72/2009/NĐ- CP ngày 03/9/2009 của Chính phủ quy định về điều kiện an ninh trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Thực hiện sự phân công của Chính phủ, Bộ Công an đã tích cực, khẩn trương phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan xây dựng Thông tư hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 72 quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện và dự kiến trong Quý III năm 2010 sẽ ban hành Thông tư để hướng dẫn thực hiện Nghị định số 72 của Chính phủ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghị định số 72/2009/NĐ- CP ngày 03/9/2009 của Chính phủ quy định về điều kiện an ninh trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Thực hiện sự phân công của Chính phủ, Bộ Công an đã tích cực, khẩn trương phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan xây dựng Thông tư hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 72 quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện và dự kiến trong Quý III năm 2010 sẽ ban hành Thông tư để hướng dẫn thực hiện Nghị định số 72 của Chính phủ."
}
],
"id": "382",
"is_impossible": false,
"question": "Về hướng dẫn thực hiện Nghị định 72/2009/NĐ-CP"
}
]
}
],
"title": "Về hướng dẫn thực hiện Nghị định 72/2009/NĐ-CP"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 36/2009/NĐ-CP ngày 15/4/2009 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo thì các loại pháo, sản phẩm pháo được phép sử dụng tại Việt Nam, bao gồm: Pháo hoa do Bộ Quốc phòng sản xuất, nhập khẩu để tổ chức bắn pháo hoa đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép; Pháo hoa do tổ chức, cá nhân nước ngoài được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam cho phép và được Bộ Công an cấp giấy phép mang vào Việt Nam để dự thi bắn pháo hoa; Pháo hiệu dùng trong các hoạt động báo áp thấp nhiệt đới, bão, lũ, cứu hộ, cứu nạn, giao thông vận tải và hoạt động quân sự; Các sản phẩm như pháo hoa lễ hội bằng giấy (trừ loại pháo hoa có chứa kim loại), pháo điện, pháo trang trí bằng giấy, bằng nhựa, bằng tre, trúc, kim loại, que hương phát sáng; Các sản phẩm phát tín hiệu ánh sáng, màu sắc, âm thanh được dùng trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ không gây nên tiếng nổ. Tuy nhiên, tại Điều 4 Nghị định số 36/2009/NĐ-CP quy định các hành vi bị nghiêm cấm gồm: Sản xuất, mua, bán, nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng trái phép các loại pháo nổ, thuốc pháo nổ; Sản xuất, mua, bán, nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép các loại pháo hoa, thuốc pháo hoa; Mua, bán, tàng trữ, sử dụng thuốc nổ lấy từ các loại bom, mìn, đạn, lựu đạn, vật liệu nổ quân dụng (dùng trong quốc phòng, an ninh), vật liệu nổ công nghiệp để sản xuất trái phép pháo, thuốc pháo, sử dụng súng, dùng vật liệu nổ không đúng quy định để gây tiếng nổ thay cho pháo. Đồng thời, tại Điều 7 Nghị định số 36/2009/NĐ-CP quy định cụ thể các trường hợp được phép bắn pháo hoa do các tổ chức, địa phương thực hiện. Như vậy, theo quy định của Nghị định số 36/2009/NĐ-CP thì các tổ chức, cá nhân không được phép sử dụng pháo nổ, thuốc pháo nổ; chỉ các tổ chức, địa phương mới được phép tổ chức bắn pháo hoa theo các trường hợp quy định tại Điều 7 Nghị định số 36/2009/NĐ-CP. Đối với trường hợp cá nhân mua pháo hoa về bắn trong đêm giao thừa Tết Nguyên đán thì sẽ bị xử phạt hành chính về hành vi mua, bán pháo trái phép theo quy định tại Điểm d Khoản 4 Điều 10 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình với mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và hành vi sử dụng các loại pháo mà không được phép quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 10 với mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 180,
"text": "Pháo hoa do Bộ Quốc phòng sản xuất, nhập khẩu để tổ chức bắn pháo hoa đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép; Pháo hoa do tổ chức, cá nhân nước ngoài được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam cho phép và được Bộ Công an cấp giấy phép mang vào Việt Nam để dự thi bắn pháo hoa; Pháo hiệu dùng trong các hoạt động báo áp thấp nhiệt đới, bão, lũ, cứu hộ, cứu nạn, giao thông vận tải và hoạt động quân sự; Các sản phẩm như pháo hoa lễ hội bằng giấy (trừ loại pháo hoa có chứa kim loại), pháo điện, pháo trang trí bằng giấy, bằng nhựa, bằng tre, trúc, kim loại, que hương phát sáng; Các sản phẩm phát tín hiệu ánh sáng, màu sắc, âm thanh được dùng trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ không gây nên tiếng nổ. Tuy nhiên, tại Điều 4 Nghị định số 36/2009/NĐ-CP quy định các hành vi bị nghiêm cấm gồm: Sản xuất, mua, bán, nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng trái phép các loại pháo nổ, thuốc pháo nổ; Sản xuất, mua, bán, nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép các loại pháo hoa, thuốc pháo hoa; Mua, bán, tàng trữ, sử dụng thuốc nổ lấy từ các loại bom, mìn, đạn, lựu đạn, vật liệu nổ quân dụng (dùng trong quốc phòng, an ninh), vật liệu nổ công nghiệp để sản xuất trái phép pháo, thuốc pháo, sử dụng súng, dùng vật liệu nổ không đúng quy định để gây tiếng nổ thay cho pháo. Đồng thời, tại Điều 7 Nghị định số 36/2009/NĐ-CP quy định cụ thể các trường hợp được phép bắn pháo hoa do các tổ chức, địa phương thực hiện. Như vậy, theo quy định của Nghị định số 36/2009/NĐ-CP thì các tổ chức, cá nhân không được phép sử dụng pháo nổ, thuốc pháo nổ; chỉ các tổ chức, địa phương mới được phép tổ chức bắn pháo hoa theo các trường hợp quy định tại Điều 7 Nghị định số 36/2009/NĐ-CP. Đối với trường hợp cá nhân mua pháo hoa về bắn trong đêm giao thừa Tết Nguyên đán thì sẽ bị xử phạt hành chính về hành vi mua, bán pháo trái phép theo quy định tại Điểm d Khoản 4 Điều 10 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình với mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và hành vi sử dụng các loại pháo mà không được phép quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 10 với mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng."
}
],
"id": "383",
"is_impossible": false,
"question": "Mức xử phạt đối với hành vi sử dụng các loại pháo bắn vào dịp Tết Nguyên đán tại Việt Nam"
}
]
}
],
"title": "Mức xử phạt đối với hành vi sử dụng các loại pháo bắn vào dịp Tết Nguyên đán tại Việt Nam"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Trường hợp các Công ty lén lút xả chất thải ra môi trường, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt của người dân. Hành vi trên nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý theo Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 07/7/2022 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Căn cứ vào khối lượng chất thải (nước thải) xả ra môi trường và các thông số môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải, Công ty có thể bị xử lý cụ thể như sau: - Đối với hành vi xả chất thải (nước thải) có chứa các thông số môi trường thông thường vào môi trường, bị xử phạt theo Điều 18 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 07/7/2022 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Đối với hành vi xả chất thải (nước thải) có chứa các thông số môi trường nguy hại vào môi trường, bị xử phạt theo Điều 19 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 07/7/2022 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Trường hợp Công ty có hành vi lén lút, lắp đặt thiết bị, đường ống hoặc đường thải khác để xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường thì ngoài việc bị xử phạt theo Điều 18, 19 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP, Công ty còn bị xử phạt theo điểm g, Khoản 1, Khoản 2 Điều 10 hoặc điểm h, Khoản 2, Khoản 3 Điều 11, Nghị định số 45/2022/NĐ-CP (tùy thuộc quy mô sản xuất của công ty).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 456,
"text": "- Đối với hành vi xả chất thải (nước thải) có chứa các thông số môi trường thông thường vào môi trường, bị xử phạt theo Điều 18 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 07/7/2022 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Đối với hành vi xả chất thải (nước thải) có chứa các thông số môi trường nguy hại vào môi trường, bị xử phạt theo Điều 19 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 07/7/2022 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Trường hợp Công ty có hành vi lén lút, lắp đặt thiết bị, đường ống hoặc đường thải khác để xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường thì ngoài việc bị xử phạt theo Điều 18, 19 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP, Công ty còn bị xử phạt theo điểm g, Khoản 1, Khoản 2 Điều 10 hoặc điểm h, Khoản 2, Khoản 3 Điều 11, Nghị định số 45/2022/NĐ-CP (tùy thuộc quy mô sản xuất của công ty)."
}
],
"id": "384",
"is_impossible": false,
"question": "Hành vi xả chất thải ra môi trường bị xử lý như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Hành vi xả chất thải ra môi trường bị xử lý như thế nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Tại khoản 1, Điều 6, Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009 của Chính phủ quy định “Quần, áo thu đông và áo ấm được trang bị cho các địa phương từ Thừa Thiên - Huế trở ra phía Bắc và 5 tỉnh Tây Nguyên; các địa phương còn lại được trang bị quần, áo xuân hè”. Quy định này dựa trên cơ sở đặc điểm khí hậu từng vùng, miền và điều kiện công tác thực tiễn của địa phương. Tại điểm a và b, khoản 3, Điều 8, Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009 của Chính phủ quy định cụ thể về công tác đảm bảo kinh phí cho Công an xã, trong đó có quy định về trang phục; theo đó, giao Bộ Công an quy định thống nhất mẫu trang phục cho các địa phương trong toàn quốc; việc sản xuất, cấp phát trang phục cho Công an xã do Công an các đơn vị, địa phương tự tổ chức thực hiện trên cơ sở kinh phí được địa phương phân bổ. Qua ý kiến cử tri kiến nghị cần trang bị quần áo thu đông cho lực lượng Công an xã đối với các tỉnh không nằm trong quy định tại khoản 1, Điều 6, Nghị định số 73/2009/NĐ-CP, trước mắt căn cứ vào điều kiện cụ thể cần thiết phải sử dụng quần áo thu đông thì Công an tỉnh xin ý kiến Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân tỉnh duyệt cấp phát cho địa phương mình. Trong quá trình thực hiện Pháp lệnh Công an xã, các cơ quan chức năng sẽ tổng hợp ý kiến đề xuất của các đơn vị để nghiên cứu chỉnh lý cho phù hợp.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Tại khoản 1, Điều 6, Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009 của Chính phủ quy định “Quần, áo thu đông và áo ấm được trang bị cho các địa phương từ Thừa Thiên - Huế trở ra phía Bắc và 5 tỉnh Tây Nguyên; các địa phương còn lại được trang bị quần, áo xuân hè”. Quy định này dựa trên cơ sở đặc điểm khí hậu từng vùng, miền và điều kiện công tác thực tiễn của địa phương. Tại điểm a và b, khoản 3, Điều 8, Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009 của Chính phủ quy định cụ thể về công tác đảm bảo kinh phí cho Công an xã, trong đó có quy định về trang phục; theo đó, giao Bộ Công an quy định thống nhất mẫu trang phục cho các địa phương trong toàn quốc; việc sản xuất, cấp phát trang phục cho Công an xã do Công an các đơn vị, địa phương tự tổ chức thực hiện trên cơ sở kinh phí được địa phương phân bổ. Qua ý kiến cử tri kiến nghị cần trang bị quần áo thu đông cho lực lượng Công an xã đối với các tỉnh không nằm trong quy định tại khoản 1, Điều 6, Nghị định số 73/2009/NĐ-CP, trước mắt căn cứ vào điều kiện cụ thể cần thiết phải sử dụng quần áo thu đông thì Công an tỉnh xin ý kiến Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân tỉnh duyệt cấp phát cho địa phương mình. Trong quá trình thực hiện Pháp lệnh Công an xã, các cơ quan chức năng sẽ tổng hợp ý kiến đề xuất của các đơn vị để nghiên cứu chỉnh lý cho phù hợp."
}
],
"id": "385",
"is_impossible": false,
"question": "Về trang phục cho đội ngũ Công an viên"
}
]
}
],
"title": "Về trang phục cho đội ngũ Công an viên"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Khi người bị đuối nước đã được đưa lên bờ (hoặc lên tàu, thuyền…), nếu người cứu nạn nhanh chóng tiến hành các bước sơ cấp cứu đúng cách, đúng kỹ thuật thì cơ hội cứu sống được nạn nhân sẽ cao. Ngược lại, nếu sơ cấp cứu không đúng cách thì cơ hội sống sót của người bị nạn sẽ rất thấp hoặc nếu sống sót thì có thể bị những di chứng nặng nề như: bị chết não và sống dạng thực vật… Để sơ cấp cứu đúng cách và đạt hiệu quả, chúng ta cần chú ý một số vấn đề sau: - Đặt người bị nạn nằm ở vị trí bằng phẳng, thoáng khí và kiểm tra tình trạng nạn nhân xem có còn thở hay không (quan sát lồng ngực, sử dụng tai để nghe hơi thở nạn nhân). Trong trường hợp người bị nạn còn thở thì đặt họ ở tư thế nằm nghiêng (Hình 60) để nếu nạn nhân có nôn, ói thì chất nôn sẽ thoát ra ngoài và không trào ngược lại. Cởi bỏ dần quần áo ướt và bằng mọi cách làm ấm cơ thể người bị nạn; nhanh chóng đưa người bị nạn đến cơ sở y tế gần nhất để được chăm sóc. - Trong trường hợp nạn nhân đã ngừng thở nhưng tim vẫn đập và mạch vẫn còn thì phải nhanh chóng hô hấp nhân tạo (hà hơi thổi ngạt) để cấp ôxy cho nạn nhân thở trở lại. - Nếu trường hợp nạn nhân ngừng thở hoàn toàn, kiểm tra thấy tim đã ngừng đập và không thấy mạch thì phải lập tức tiến hành hô hấp nhân tạo kết hợp ép tim ngoài lồng ngực theo các bước sau đây: Bước 1: Khai thông đường thở và loại bỏ những dị vật trong miệng nạn nhân bằng cách đặt nghiêng đầu nạn nhân, sử dụng ngón tay lùa trong khoang miệng để loại bỏ các dị vật và đẩy bỏ đờm, dãi nhằm khai thông đường thở (Hình 61). Tiếp theo đặt thẳng đầu nạn nhân, một tay để lên trán và đẩy ra phía sau, một tay nâng cằm nạn nhân lên sao cho cổ được ưỡn tối đa. Bước 2: Mở miệng nạn nhân, một tay bịt mũi nạn nhân, tay còn lại đỡ cằm và dùng miệng bịt kín miệng nạn nhân rồi thổi ngạt hai lần liên tiếp (Hình 62). Trước mỗi lần thổi ngạt, người thực hiện sơ cứu nên hít hơi đầy không khí vào phổi của mình. Bước 3: Đặt một tay lên giữa vùng ngực của nạn nhân (vị trí giữa hai núm vú hoặc vị trí dưới mỏm xương ức khoảng 1,5 cm), tay còn lại đặt phía trên và đan các ngón tay vào tay phía dưới (Hình 63). Tiến hành ấn liên tục 30 lần (tốc độ ấn khoảng 100 lần/phút), sau đó tiếp tục lặp lại quy trình thổi ngạt 02 hơi liên tiếp và ép tim 30 lần cho đến khi nạn nhân có thể tự thở hoặc có sự hỗ trợ của nhân viên y tế. * Một số điểm cần tránh khi sơ cứu nạn nhân đuối nước - Không dốc ngược nạn nhân hoặc vác nạn nhân lên vai rồi chạy. Các hành động này thường ít mang lại hiệu quả, vì quá trình đó sẽ làm mất thời gian vàng để hô hấp nhân tạo cứu sống bệnh nhân. Đồng thời, với hành động như vậy sẽ chỉ ra nước trong bụng là chính, nước trong phổi chỉ thoát ra ngoài khi ta tiến hành hô hấp nhân tạo, ép tim ngoài lồng ngực và khi nạn nhân thở trở lại. - Phải tận dụng thời gian vàng để nạn nhân có thể thở lại bằng cách hô hấp nhân tạo và ép tim ngoài lồng ngực trước khi vận chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế gần nhất.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 345,
"text": "bị chết não và sống dạng thực vật… Để sơ cấp cứu đúng cách và đạt hiệu quả, chúng ta cần chú ý một số vấn đề sau: - Đặt người bị nạn nằm ở vị trí bằng phẳng, thoáng khí và kiểm tra tình trạng nạn nhân xem có còn thở hay không (quan sát lồng ngực, sử dụng tai để nghe hơi thở nạn nhân). Trong trường hợp người bị nạn còn thở thì đặt họ ở tư thế nằm nghiêng (Hình 60) để nếu nạn nhân có nôn, ói thì chất nôn sẽ thoát ra ngoài và không trào ngược lại. Cởi bỏ dần quần áo ướt và bằng mọi cách làm ấm cơ thể người bị nạn; nhanh chóng đưa người bị nạn đến cơ sở y tế gần nhất để được chăm sóc. - Trong trường hợp nạn nhân đã ngừng thở nhưng tim vẫn đập và mạch vẫn còn thì phải nhanh chóng hô hấp nhân tạo (hà hơi thổi ngạt) để cấp ôxy cho nạn nhân thở trở lại. - Nếu trường hợp nạn nhân ngừng thở hoàn toàn, kiểm tra thấy tim đã ngừng đập và không thấy mạch thì phải lập tức tiến hành hô hấp nhân tạo kết hợp ép tim ngoài lồng ngực theo các bước sau đây: Bước 1: Khai thông đường thở và loại bỏ những dị vật trong miệng nạn nhân bằng cách đặt nghiêng đầu nạn nhân, sử dụng ngón tay lùa trong khoang miệng để loại bỏ các dị vật và đẩy bỏ đờm, dãi nhằm khai thông đường thở (Hình 61). Tiếp theo đặt thẳng đầu nạn nhân, một tay để lên trán và đẩy ra phía sau, một tay nâng cằm nạn nhân lên sao cho cổ được ưỡn tối đa. Bước 2: Mở miệng nạn nhân, một tay bịt mũi nạn nhân, tay còn lại đỡ cằm và dùng miệng bịt kín miệng nạn nhân rồi thổi ngạt hai lần liên tiếp (Hình 62). Trước mỗi lần thổi ngạt, người thực hiện sơ cứu nên hít hơi đầy không khí vào phổi của mình. Bước 3: Đặt một tay lên giữa vùng ngực của nạn nhân (vị trí giữa hai núm vú hoặc vị trí dưới mỏm xương ức khoảng 1,5 cm), tay còn lại đặt phía trên và đan các ngón tay vào tay phía dưới (Hình 63). Tiến hành ấn liên tục 30 lần (tốc độ ấn khoảng 100 lần/phút), sau đó tiếp tục lặp lại quy trình thổi ngạt 02 hơi liên tiếp và ép tim 30 lần cho đến khi nạn nhân có thể tự thở hoặc có sự hỗ trợ của nhân viên y tế. * Một số điểm cần tránh khi sơ cứu nạn nhân đuối nước - Không dốc ngược nạn nhân hoặc vác nạn nhân lên vai rồi chạy. Các hành động này thường ít mang lại hiệu quả, vì quá trình đó sẽ làm mất thời gian vàng để hô hấp nhân tạo cứu sống bệnh nhân. Đồng thời, với hành động như vậy sẽ chỉ ra nước trong bụng là chính, nước trong phổi chỉ thoát ra ngoài khi ta tiến hành hô hấp nhân tạo, ép tim ngoài lồng ngực và khi nạn nhân thở trở lại. - Phải tận dụng thời gian vàng để nạn nhân có thể thở lại bằng cách hô hấp nhân tạo và ép tim ngoài lồng ngực trước khi vận chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế gần nhất."
}
],
"id": "386",
"is_impossible": false,
"question": "Sơ cứu cho nạn nhân bị đuối nước được thực hiện như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Sơ cứu cho nạn nhân bị đuối nước được thực hiện như thế nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Căn cứ các quy định của pháp luật, có 09 địa điểm không được phép uống rượu, bia, cụ thể: - Theo Điều 10 của Luật Phòng, chống tác hại rượu, bia năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2020) quy định 06 địa điểm không được uống rượu, bia, gồm: Cơ sở y tế, cơ sở giáo dục trong thời gian giảng dạy, học tập, làm việc; cơ sở, khu vực chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi giải trí dành cho người chưa đủ 18 tuổi; cơ sở cai nghiện, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở giam giữ phạm nhân và cơ sở giam giữ khác; cơ sở bảo trợ xã hội; nơi làm việc của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập trong thời gian làm việc, trừ địa điểm được phép kinh doanh rượu, bia. - Theo Điều 3 Nghị định số 24/2020/NĐ-CP ngày 24/02/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống tác hại rượu, bia (có hiệu lực từ ngày 24/02/2020) quy định thêm 03 địa điểm công cộng không được uống rượu, bia, gồm: Công viên, trừ trường hợp nhà hàng trong phạm vi khuôn viên của công viên đã được cấp phép kinh doanh rượu, bia trước ngày Nghị định này có hiệu lực; nhà chờ xe buýt; rạp chiếu phim, nhà hát, cơ sở văn hóa, thể thao trong thời gian tổ chức các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ và công năng sử dụng chính của các địa điểm này, trừ trường hợp tổ chức các lễ hội ẩm thực, văn hóa có sử dụng rượu, bia.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 90,
"text": "- Theo Điều 10 của Luật Phòng, chống tác hại rượu, bia năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2020) quy định 06 địa điểm không được uống rượu, bia, gồm: Cơ sở y tế, cơ sở giáo dục trong thời gian giảng dạy, học tập, làm việc; cơ sở, khu vực chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi giải trí dành cho người chưa đủ 18 tuổi; cơ sở cai nghiện, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở giam giữ phạm nhân và cơ sở giam giữ khác; cơ sở bảo trợ xã hội; nơi làm việc của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập trong thời gian làm việc, trừ địa điểm được phép kinh doanh rượu, bia. - Theo Điều 3 Nghị định số 24/2020/NĐ-CP ngày 24/02/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống tác hại rượu, bia (có hiệu lực từ ngày 24/02/2020) quy định thêm 03 địa điểm công cộng không được uống rượu, bia, gồm: Công viên, trừ trường hợp nhà hàng trong phạm vi khuôn viên của công viên đã được cấp phép kinh doanh rượu, bia trước ngày Nghị định này có hiệu lực; nhà chờ xe buýt; rạp chiếu phim, nhà hát, cơ sở văn hóa, thể thao trong thời gian tổ chức các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ và công năng sử dụng chính của các địa điểm này, trừ trường hợp tổ chức các lễ hội ẩm thực, văn hóa có sử dụng rượu, bia."
}
],
"id": "387",
"is_impossible": false,
"question": "Những địa điểm nào không được phép uống rượu bia?"
}
]
}
],
"title": "Những địa điểm nào không được phép uống rượu bia?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Hiện nay việc cấp phép hoạt động kinh doanh và quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đối với ngành, nghề kinh doanh karaoke được quy định tại 02 Nghị định: Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, đầu tư kinh doanh có điều kiện; Nghị định số 54/2019/NĐ-CP ngày 19/6/2019 của Chính phủ quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường. Chính phủ giao cho Bộ Công an cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đối với ngành, nghề kinh doanh dịch vụ karaoke được quy định cụ thể tại Nghị định số 96/2016/NĐ-CP, cụ thể như sau: - Tại điểm a khoản 21 Điều 3 Chương I: Quy định chung. - Tại Điều 7 Chương II: Điều kiện về an ninh, trật tự. - Tại Điều 19 và điểm a khoản 3 Điều 24 Chương IV: Hồ sơ, trình tự, thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ. - Tại Điều 25, Điều 42 Chương V: Trách nhiệm của cơ sở kinh doanh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 155,
"text": "Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, đầu tư kinh doanh có điều kiện; Nghị định số 54/2019/NĐ-CP ngày 19/6/2019 của Chính phủ quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường. Chính phủ giao cho Bộ Công an cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đối với ngành, nghề kinh doanh dịch vụ karaoke được quy định cụ thể tại Nghị định số 96/2016/NĐ-CP, cụ thể như sau: - Tại điểm a khoản 21 Điều 3 Chương I: Quy định chung. - Tại Điều 7 Chương II: Điều kiện về an ninh, trật tự. - Tại Điều 19 và điểm a khoản 3 Điều 24 Chương IV: Hồ sơ, trình tự, thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ. - Tại Điều 25, Điều 42 Chương V: Trách nhiệm của cơ sở kinh doanh."
}
],
"id": "388",
"is_impossible": false,
"question": "Việc quản lý ngành nghề kinh doanh quán hát karaoke được quy định như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Việc quản lý ngành nghề kinh doanh quán hát karaoke được quy định như thế nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Thực hiện chương trình cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong công tác quản lý nhà nước, Bộ Công an đã triển khai thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trong lĩnh vực quản lý cư trú, quản lý hộ tịch, hộ khẩu, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đăng ký hộ khẩu, đăng ký thường trú. Sau khi Luật Cư trú năm 2006 được ban hành, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 52/2010/TT-BCA, ngày 30/11/2010 hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Cư trú và quy định cụ thể, chi tiết thủ tục đăng ký thường trú, quản lý cư trú đối với công dân. Ngày 11/7/2013, Quốc hội đã ban hành Văn bản hợp nhất Luật Cư trú số 03/VBHN/VPQH, hợp nhất Luật Cư trú năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú. Ngày 18/4/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú số 03/VBHN/VPQH. Tại Điều 21, Luật Cư trú số 03/VBHN/VPQH, quy định nơi tiếp nhận hồ sơ đăng ký thường trú của công dân: “Người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú tại cơ quan Công an sau đây: Đối với thành phố trực thuộc Trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã; Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện, Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh”. Điều 9, Thông tư 52/2010/TT-BCA, quy định về thẩm quyền của các cơ quan đăng ký thường trú: Công an cấp huyện, quận, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; Công an thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có thẩm quyền đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương và thành phố trực thuộc tỉnh; Công an xã, thị trấn có thẩm quyền đăng ký thường trú tại các xã, thị trấn của huyện thuộc tỉnh. Như vậy, Bộ Công an đã giao thẩm quyền tiếp nhận và đăng ký thường trú cho Công an cấp xã, cấp huyện bảo đảm đúng quy định và có sự thống nhất quản lý theo từng khu vực. Theo đó, Công an cấp xã, thị trấn, cấp huyện thuộc tỉnh có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ và đăng ký thường trú, cấp sổ hộ khẩu trên địa bàn phụ trách. Thời gian tới, Bộ Công an sẽ nghiên cứu, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký, quản lý hộ khẩu, đăng ký thường trú theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, đồng thời bảo đảm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1048,
"text": "“Người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú tại cơ quan Công an sau đây: Đối với thành phố trực thuộc Trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã; Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện, Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh”. Điều 9, Thông tư 52/2010/TT-BCA, quy định về thẩm quyền của các cơ quan đăng ký thường trú: Công an cấp huyện, quận, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; Công an thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có thẩm quyền đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương và thành phố trực thuộc tỉnh; Công an xã, thị trấn có thẩm quyền đăng ký thường trú tại các xã, thị trấn của huyện thuộc tỉnh. Như vậy, Bộ Công an đã giao thẩm quyền tiếp nhận và đăng ký thường trú cho Công an cấp xã, cấp huyện bảo đảm đúng quy định và có sự thống nhất quản lý theo từng khu vực. Theo đó, Công an cấp xã, thị trấn, cấp huyện thuộc tỉnh có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ và đăng ký thường trú, cấp sổ hộ khẩu trên địa bàn phụ trách. Thời gian tới, Bộ Công an sẽ nghiên cứu, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký, quản lý hộ khẩu, đăng ký thường trú theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, đồng thời bảo đảm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự."
}
],
"id": "389",
"is_impossible": false,
"question": "Về đề nghị giao thẩm quyền một số lĩnh vực quản lý hộ tịch, hộ khẩu cho Công an xã"
}
]
}
],
"title": "Về đề nghị giao thẩm quyền một số lĩnh vực quản lý hộ tịch, hộ khẩu cho Công an xã"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Theo quy định của Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015, công trường đang xây dựng phải có các giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm đảm bảo không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người và thiệt hại về tài sản trong quá trình lao động. Nếu hành vi của pháp nhân, cá nhân vi phạm các quy định của Nhà nước về an toàn lao động gây hậu quả làm chết người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại Điều 295 Bộ luật Hình sự.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo quy định của Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015, công trường đang xây dựng phải có các giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm đảm bảo không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người và thiệt hại về tài sản trong quá trình lao động. Nếu hành vi của pháp nhân, cá nhân vi phạm các quy định của Nhà nước về an toàn lao động gây hậu quả làm chết người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại Điều 295 Bộ luật Hình sự."
}
],
"id": "390",
"is_impossible": false,
"question": "Công trường đang xây dựng mà không có biện pháp để bảo đảm an toàn cho người lao động và những người xung quanh thì sẽ bị xử lý như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Công trường đang xây dựng mà không có biện pháp để bảo đảm an toàn cho người lao động và những người xung quanh thì sẽ bị xử lý như thế nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Theo quy định tại Điều 44 Luật doanh nghiệp 2014, thì doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp; việc quản lý, sử dụng con dấu và lưu giữ con dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty.Trường hợp chi nhánh của doanh nghiệp giải thể, trả con dấu của chi nhánh doanh nghiệp đã được cơ quan Công an đăng ký trước ngày 01/7/2015, thì doanh nghiệp có công văn gửi cơ quan Công an nơi đã đăng ký mẫu con dấu đề nghị thu hồi con dấu. Người đến liên hệ trả lại con dấu và Giấy chứng nhận đã đăng ký mẫu dấu phải xuất trình thẻ Căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân để làm thủ tục thu hồi con dấu theo quy định./.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo quy định tại Điều 44 Luật doanh nghiệp 2014, thì doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp; việc quản lý, sử dụng con dấu và lưu giữ con dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty.Trường hợp chi nhánh của doanh nghiệp giải thể, trả con dấu của chi nhánh doanh nghiệp đã được cơ quan Công an đăng ký trước ngày 01/7/2015, thì doanh nghiệp có công văn gửi cơ quan Công an nơi đã đăng ký mẫu con dấu đề nghị thu hồi con dấu. Người đến liên hệ trả lại con dấu và Giấy chứng nhận đã đăng ký mẫu dấu phải xuất trình thẻ Căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân để làm thủ tục thu hồi con dấu theo quy định./."
}
],
"id": "391",
"is_impossible": false,
"question": "Hồ sơ - thủ tục trả con dấu giải thể chi nhánh doanh nghiệp"
}
]
}
],
"title": "Hồ sơ - thủ tục trả con dấu giải thể chi nhánh doanh nghiệp"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Để tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác quản lý người tham gia điều trị nghiện các chất dạng bằng thuốc thay thế, trong đó có thuốc Methadone, vừa qua, Bộ Công an đã thống nhất với Bộ Y tế nội dung phối hợp, trong đó Bộ Y tế có trách nhiệm trao đổi, cung cấp toàn bộ danh sách người đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế cho Bộ Công an để cập nhật lên phần mềm trên nền tảng hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống”, phục vụ công tác quản lý. Bên cạnh đó, ngày 28/10/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 141/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), có hiệu lực thi hành từ ngày 15/12/2024; qua đó, khắc phục một số tồn tại, khó khăn của Nghị định số 90/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, trong đó đã quy định cụ thể nội dung: Cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế có trách nhiệm thông báo người tham gia điều trị cho chính quyền nơi người đó cư trú. Như vậy, việc quản lý người tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đã có đầy đủ cơ sở pháp lý và cơ chế phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Y tế để tổ chức triển khai thực hiện, bảo đảm chặt chẽ và hiệu quả. Bộ Công an đề nghị và mong muốn cử tri, nhân dân tiếp tục ủng hộ, giúp đỡ các lực lượng chức năng trong công tác quản lý người nghiện ma tuý nói riêng và trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy nói chung.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 45,
"text": "Để tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác quản lý người tham gia điều trị nghiện các chất dạng bằng thuốc thay thế, trong đó có thuốc Methadone, vừa qua, Bộ Công an đã thống nhất với Bộ Y tế nội dung phối hợp, trong đó Bộ Y tế có trách nhiệm trao đổi, cung cấp toàn bộ danh sách người đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế cho Bộ Công an để cập nhật lên phần mềm trên nền tảng hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống”, phục vụ công tác quản lý. Bên cạnh đó, ngày 28/10/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 141/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), có hiệu lực thi hành từ ngày 15/12/2024; qua đó, khắc phục một số tồn tại, khó khăn của Nghị định số 90/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, trong đó đã quy định cụ thể nội dung: Cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế có trách nhiệm thông báo người tham gia điều trị cho chính quyền nơi người đó cư trú. Như vậy, việc quản lý người tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đã có đầy đủ cơ sở pháp lý và cơ chế phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Y tế để tổ chức triển khai thực hiện, bảo đảm chặt chẽ và hiệu quả. Bộ Công an đề nghị và mong muốn cử tri, nhân dân tiếp tục ủng hộ, giúp đỡ các lực lượng chức năng trong công tác quản lý người nghiện ma tuý nói riêng và trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy nói chung."
}
],
"id": "392",
"is_impossible": false,
"question": "Kiến nghị về việc tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone"
}
]
}
],
"title": "Kiến nghị về việc tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Do yêu cầu về bảo mật phần mềm ứng dụng VNeID cần chạy trên phần mềm IOS13 trở lên hoặc hệ điều hành Android 5.0 vì thế công dân cần cập nhật hệ điều hành lên phiên bản IOS13 trở lên hoặc hệ điều hành Android 5.0 để đáp ứng điều kiện. Ngoài ra, đề nghị công dân tải ứng dụng trên kho ứng dụng của Google và APP Store, tránh cài ứng dụng giả mạo dẫn đến việc không sử dụng được.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Do yêu cầu về bảo mật phần mềm ứng dụng VNeID cần chạy trên phần mềm IOS13 trở lên hoặc hệ điều hành Android 5.0 vì thế công dân cần cập nhật hệ điều hành lên phiên bản IOS13 trở lên hoặc hệ điều hành Android 5.0 để đáp ứng điều kiện. Ngoài ra, đề nghị công dân tải ứng dụng trên kho ứng dụng của Google và APP Store, tránh cài ứng dụng giả mạo dẫn đến việc không sử dụng được."
}
],
"id": "393",
"is_impossible": false,
"question": "Hướng dẫn cách tải và cài đặt ứng dụng VNeID trên điện thoại"
}
]
}
],
"title": "Hướng dẫn cách tải và cài đặt ứng dụng VNeID trên điện thoại"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Việc cấp giấy thông hành cho công dân Việt Nam sang Campuchia được quy định tại Điều 13 của Hiệp định về Quy chế biên giới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia, ký ngày 20/7/1983; Thông tư liên bộ số 09/TT-LB, ngày 07/4/1990 của Bộ Nội vụ và Bộ Ngoại giao về việc cấp giấy tờ cho công dân Việt Nam sang Campuchia và Thông tư số 42/2011/TT-BCA, ngày 29/6/2011 của Bộ Công an hướng dẫn việc cấp Giấy thông hành biên giới Việt Nam - Campuchia cho cán bộ, viên chức, công nhân Việt Nam sang Campuchia công tác... Theo đó, Giấy thông hành biên giới chỉ cấp cho cán bộ, viên chức và công nhân thuộc tỉnh biên giới sang tỉnh biên giới đối diện công tác. Thẩm quyền cấp giấy thông hành, Bộ Công an giao cho Công an tỉnh biên giới nơi cán bộ, viên chức và công nhân đang công tác. Như vậy, theo quy định không cho phép các tỉnh có chung đường biên giới với Campuchia nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng được cấp Giấy thông hành biên giới cho nhân dân các tỉnh biên giới sang Campuchia thăm thân, du lịch.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Việc cấp giấy thông hành cho công dân Việt Nam sang Campuchia được quy định tại Điều 13 của Hiệp định về Quy chế biên giới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia, ký ngày 20/7/1983; Thông tư liên bộ số 09/TT-LB, ngày 07/4/1990 của Bộ Nội vụ và Bộ Ngoại giao về việc cấp giấy tờ cho công dân Việt Nam sang Campuchia và Thông tư số 42/2011/TT-BCA, ngày 29/6/2011 của Bộ Công an hướng dẫn việc cấp Giấy thông hành biên giới Việt Nam - Campuchia cho cán bộ, viên chức, công nhân Việt Nam sang Campuchia công tác... Theo đó, Giấy thông hành biên giới chỉ cấp cho cán bộ, viên chức và công nhân thuộc tỉnh biên giới sang tỉnh biên giới đối diện công tác. Thẩm quyền cấp giấy thông hành, Bộ Công an giao cho Công an tỉnh biên giới nơi cán bộ, viên chức và công nhân đang công tác. Như vậy, theo quy định không cho phép các tỉnh có chung đường biên giới với Campuchia nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng được cấp Giấy thông hành biên giới cho nhân dân các tỉnh biên giới sang Campuchia thăm thân, du lịch."
}
],
"id": "394",
"is_impossible": false,
"question": "Về đề nghị tỉnh Kiên Giang được cấp giấy thông hành cho cư dân khu vực biên giới"
}
]
}
],
"title": "Về đề nghị tỉnh Kiên Giang được cấp giấy thông hành cho cư dân khu vực biên giới"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Căn cứ Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe, ngoài việc phải xuất trình giấy tờ liên quan đến chủ xe (chứng minh nhân dân hoặc sổ hộ khẩu), chủ xe phải có đầy đủ các giấy tờ sau:- Giấy khai đăng ký xe;- Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng;- Hóa đơn giá trị gia tăng theo quy định của Bộ Tài chính;- Chứng từ lệ phí trước bạ (biên lai hoặc giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước).Đề nghị bạn đọc Lê Nguyệt chuẩn bị đầy đủ hồ sơ đăng ký xe và đưa xe đến trụ sở Công an huyện nơi bạn cư trú để được giải quyết đăng ký xe theo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 221,
"text": "- Giấy khai đăng ký xe;- Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng;- Hóa đơn giá trị gia tăng theo quy định của Bộ Tài chính;- Chứng từ lệ phí trước bạ (biên lai hoặc giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước).Đề nghị bạn đọc Lê Nguyệt chuẩn bị đầy đủ hồ sơ đăng ký xe và đưa xe đến trụ sở Công an huyện nơi bạn cư trú để được giải quyết đăng ký xe theo quy định."
}
],
"id": "395",
"is_impossible": false,
"question": "Hỏi về việc đăng ký xe trúng thưởng"
}
]
}
],
"title": "Hỏi về việc đăng ký xe trúng thưởng"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "1. Trường hợp vận chuyển, kinh doanh thịt gia súc, gia cầm trong nội bộ tỉnh, thành phố: Không cần Giấy phép kiểm dịch động vật đi kèm lô hàng, tuy nhiên cần lập sổ sách, ghi chép, lưu giữ thông tin để truy xuất nguồn gốc động vật, sản phẩm động vật, đồng thời khai báo với cán bộ thú y cơ sở (cấp huyện) đúng số lượng, cân nặng lô hàng động vật trước khi vận chuyển và thực hiện việc đóng dấu kiểm soát giết mổ (KSGM) lên thân thịt gia súc, gia cầm hoặc dán tem vệ sinh thú y, đánh dấu bao bì đã kiểm tra vệ sinh thú y. Trường hợp trốn tránh kiểm tra thú y, không thực hiện việc đóng dấu KSGM lên thân thịt gia súc, gia cầm hoặc dán tem vệ sinh thú y, đánh dấu bao bì đã kiểm tra vệ sinh thú y sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Khoản 6 Điều 20 Nghị định số 90/2017/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y như sau: Phạt tiền từ 60 - 70% giá trị sản phẩm động vật nhưng không vượt quá 50 triệu đồng đối với hành vi vận chuyển, kinh doanh thịt gia súc, gia cầm và các sản phẩm từ gia súc, gia cầm không có dấu kiểm soát giết mổ, tem vệ sinh thú y, bao bì đánh dấu đã qua kiểm tra vệ sinh thú y. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc phải kiểm tra vệ sinh thú y sản phẩm động vật. Trong trường hợp kiểm tra vệ sinh thú y không đạt yêu cầu buộc phải tiêu hủy hoặc xử lý nhiệt chuyển đổi mục đích sử dụng. 2. Trường hợp vận chuyển, kinh doanh thịt gia súc, gia cầm ra khỏi địa bàn tỉnh, thành phố: Bắt buộc phải có Giấy chứng nhận kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật do cơ quan thú y cấp tỉnh nơi xuất phát lô hàng cấp và thực hiện việc đóng dấu KSGM lên thân thịt gia súc, gia cầm hoặc dán tem vệ sinh thú y, đánh dấu bao bì đã kiểm tra vệ sinh thú y. Trường hợp trốn tránh kiểm tra thú y, không thực hiện việc đóng dấu KSGM lên thân thịt gia súc, gia cầm hoặc dán tem vệ sinh thú y, đánh dấu bao bì đã kiểm tra vệ sinh thú y, ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính đối với lô hàng theo Khoản 6 Điều 20 Nghị định số 90/2017/NĐ-CP, còn bị phạt tiền từ 6 - 8 triệu đồng đối với hành vi không có Giấy chứng nhận kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, căn cứ theo Khoản 3, Điều 17 Nghị định số 90/2017/NĐ-CP. Xử phạt bổ sung: Buộc kiểm dịch lại động vật, sản phẩm động vật. Buộc tiêu hủy trong trường hợp kiểm dịch lại phát hiện động vật mắc bệnh hoặc sản phẩm động vật mang mầm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm thuộc danh mục bệnh động vật phải công bố dịch.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 89,
"text": "Không cần Giấy phép kiểm dịch động vật đi kèm lô hàng, tuy nhiên cần lập sổ sách, ghi chép, lưu giữ thông tin để truy xuất nguồn gốc động vật, sản phẩm động vật, đồng thời khai báo với cán bộ thú y cơ sở (cấp huyện) đúng số lượng, cân nặng lô hàng động vật trước khi vận chuyển và thực hiện việc đóng dấu kiểm soát giết mổ (KSGM) lên thân thịt gia súc, gia cầm hoặc dán tem vệ sinh thú y, đánh dấu bao bì đã kiểm tra vệ sinh thú y. Trường hợp trốn tránh kiểm tra thú y, không thực hiện việc đóng dấu KSGM lên thân thịt gia súc, gia cầm hoặc dán tem vệ sinh thú y, đánh dấu bao bì đã kiểm tra vệ sinh thú y sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Khoản 6 Điều 20 Nghị định số 90/2017/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y như sau: Phạt tiền từ 60 - 70% giá trị sản phẩm động vật nhưng không vượt quá 50 triệu đồng đối với hành vi vận chuyển, kinh doanh thịt gia súc, gia cầm và các sản phẩm từ gia súc, gia cầm không có dấu kiểm soát giết mổ, tem vệ sinh thú y, bao bì đánh dấu đã qua kiểm tra vệ sinh thú y. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc phải kiểm tra vệ sinh thú y sản phẩm động vật. Trong trường hợp kiểm tra vệ sinh thú y không đạt yêu cầu buộc phải tiêu hủy hoặc xử lý nhiệt chuyển đổi mục đích sử dụng. 2. Trường hợp vận chuyển, kinh doanh thịt gia súc, gia cầm ra khỏi địa bàn tỉnh, thành phố: Bắt buộc phải có Giấy chứng nhận kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật do cơ quan thú y cấp tỉnh nơi xuất phát lô hàng cấp và thực hiện việc đóng dấu KSGM lên thân thịt gia súc, gia cầm hoặc dán tem vệ sinh thú y, đánh dấu bao bì đã kiểm tra vệ sinh thú y. Trường hợp trốn tránh kiểm tra thú y, không thực hiện việc đóng dấu KSGM lên thân thịt gia súc, gia cầm hoặc dán tem vệ sinh thú y, đánh dấu bao bì đã kiểm tra vệ sinh thú y, ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính đối với lô hàng theo Khoản 6 Điều 20 Nghị định số 90/2017/NĐ-CP, còn bị phạt tiền từ 6 - 8 triệu đồng đối với hành vi không có Giấy chứng nhận kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, căn cứ theo Khoản 3, Điều 17 Nghị định số 90/2017/NĐ-CP. Xử phạt bổ sung: Buộc kiểm dịch lại động vật, sản phẩm động vật. Buộc tiêu hủy trong trường hợp kiểm dịch lại phát hiện động vật mắc bệnh hoặc sản phẩm động vật mang mầm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm thuộc danh mục bệnh động vật phải công bố dịch."
}
],
"id": "396",
"is_impossible": false,
"question": "Mức xử phạt đối với hành vi vận chuyển, kinh doanh thịt gia súc, gia cầm không có dấu kiểm soát giết mổ"
}
]
}
],
"title": "Mức xử phạt đối với hành vi vận chuyển, kinh doanh thịt gia súc, gia cầm không có dấu kiểm soát giết mổ"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Bộ Công an xin trả lời, như sau: Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về xử lý vật chứng như sau: “1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản. 2. Vật chứng được xử lý như sau: a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành thì bị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước hoặc tiêu hủy; b) Vật chứng là tiền hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước; c) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy…”. Chất ma túy là những vật cấm lưu hành nên bị tịch thu và tiêu hủy. Thời gian qua, cơ quan chức năng đã tiến hành tiêu hủy vật chứng là ma túy theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi Hội đồng tiêu hủy công bố quyết định tiêu hủy vật chứng, sẽ tiến hành mở niêm phong vật chứng, đối chứng với các số liệu có trong hồ sơ bản án, phân loại để lần lượt thực hiện tiêu hủy. Việc tiêu hủy các chất ma túy được tiến hành dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhiều cơ quan (Cơ quan Cảnh sát điều tra; Viện kiểm sát nhân dân; Cơ quan Thi hành án dân sự; Cơ quan Quản lý vật chứng…) và thực hiện công khai, minh bạch cho người dân biết, nhiều cơ quan truyền thông cũng đến đưa tin; đồng thời, được tính toán hợp lý để không gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 33,
"text": "Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về xử lý vật chứng như sau: “1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản. 2. Vật chứng được xử lý như sau: a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành thì bị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước hoặc tiêu hủy; b) Vật chứng là tiền hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước; c) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy…”. Chất ma túy là những vật cấm lưu hành nên bị tịch thu và tiêu hủy. Thời gian qua, cơ quan chức năng đã tiến hành tiêu hủy vật chứng là ma túy theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi Hội đồng tiêu hủy công bố quyết định tiêu hủy vật chứng, sẽ tiến hành mở niêm phong vật chứng, đối chứng với các số liệu có trong hồ sơ bản án, phân loại để lần lượt thực hiện tiêu hủy. Việc tiêu hủy các chất ma túy được tiến hành dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhiều cơ quan (Cơ quan Cảnh sát điều tra; Viện kiểm sát nhân dân; Cơ quan Thi hành án dân sự; Cơ quan Quản lý vật chứng…) và thực hiện công khai, minh bạch cho người dân biết, nhiều cơ quan truyền thông cũng đến đưa tin; đồng thời, được tính toán hợp lý để không gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân."
}
],
"id": "397",
"is_impossible": false,
"question": "Xử lý vật chứng là các chất liên quan đến ma túy"
}
]
}
],
"title": "Xử lý vật chứng là các chất liên quan đến ma túy"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Theo quy định của Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Nghị định 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Thông tư số 14/2012/TT-BCA ngày 20/3/2012 ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công an thì “Bình chữa cháy” thuộc danh mục sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 phải được kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu. Hơn nữa, trong các văn bản nêu trên và theo Nghị định số 78/2011/NĐ-CP ngày 01/9/2011 quy định việc phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong tổ chức thực hiện công tác phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở Quốc phòng, Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BCA-BQP ngày 03/9/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 78/2011/NĐ-CP không đề cập nội dung các phương tiện phòng cháy và chữa cháy phục vụ Quốc phòng không phải kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu. Vì vậy, tất cả các phương tiện phòng cháy và chữa cháy quy định tại danh mục sản phẩm, hàng hóa gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công an đều phải được kiểm tra chất lượng nhập khẩu theo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo quy định của Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Nghị định 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Thông tư số 14/2012/TT-BCA ngày 20/3/2012 ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công an thì “Bình chữa cháy” thuộc danh mục sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 phải được kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu. Hơn nữa, trong các văn bản nêu trên và theo Nghị định số 78/2011/NĐ-CP ngày 01/9/2011 quy định việc phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong tổ chức thực hiện công tác phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở Quốc phòng, Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BCA-BQP ngày 03/9/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 78/2011/NĐ-CP không đề cập nội dung các phương tiện phòng cháy và chữa cháy phục vụ Quốc phòng không phải kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu. Vì vậy, tất cả các phương tiện phòng cháy và chữa cháy quy định tại danh mục sản phẩm, hàng hóa gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công an đều phải được kiểm tra chất lượng nhập khẩu theo quy định."
}
],
"id": "398",
"is_impossible": false,
"question": "Hàng phục vụ Quốc phòng có phải kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu?"
}
]
}
],
"title": "Hàng phục vụ Quốc phòng có phải kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Bóng cười thực chất là một quả bóng bay được bơm một loại khí có công thức hoá học là N2O (Dinitơ monoxit hay nitrous oxide). Loại khí này khi hít vào có khả năng tác động mạnh lên một điểm của hệ thần kinh gây cười, tạo cảm giác lâng lâng sảng khoái cho người sử dụng. Việc sử dụng thường xuyên N2O có thể gây ra các rối loạn như: cảm giác châm chích ở đầu chi và đi đứng loạng choạng; các rối loạn khí sắc; rối loạn trí nhớ; rối loạn giấc ngủ; các rối loạn nhịp tim và hạ huyết áp; thiếu máu, thiếu B12… N2O là hóa chất được quản lý chuyên ngành bởi Bộ Công Thương. Theo đó, N2O thuộc danh mục hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp (số thứ tự 120, Phụ lục II của Nghị định số 113/2017/NĐ-CP ngày 09/10/2017 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hóa chất). Như vậy, việc nhập khẩu, mua bán… chất N2O để sử dụng trong công nghiệp, phát triển kinh tế, xã hội… vẫn được thực hiện nhưng phải đảm bảo đúng những quy định chặt chẽ của pháp luật. Sử dụng bóng cười (chứa chất N2O) tuy chưa có điều luật cụ thể nào quy định cấm, song việc mua bán, sử dụng bóng cười cho người là sai phạm vì trước tiên gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người sử dụng và không được cấp phép để mua bán, sử dụng cho người. Các hành vi, vi phạm pháp luật về sản xuất, kinh doanh N2O được xử lý theo các quy định tại Nghị định 115/2016/NĐ-CP ngày 08/7/2016 của Chính phủ, Nghị định số 163/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Cụ thể, tại Điều 10 Nghị định số 163/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định hành vi vi phạm quy định về Giấy phép hạn chế sản xuất, kinh doanh, hóa chất thuộc Danh mục hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh quy định: “Phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: a) Sản xuất, kinh doanh hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh mà không có Giấy phép hạn chế sản xuất, kinh doanh hóa chất theo quy định; b) Sản xuất, kinh doanh hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh khi Giấy phép hạn chế sản xuất, kinh doanh hóa chất được cấp đã hết hiệu lực. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi tiếp tục hoạt động sản xuất, kinh doanh khi đã bị cơ quan quản lý có thẩm quyền đình chỉ hoạt động sản xuất, kinh doanh, tước quyền sử dụng hoặc thu hồi Giấy phép hạn chế sản xuất, kinh doanh hóa chất.”",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 332,
"text": "cảm giác châm chích ở đầu chi và đi đứng loạng choạng; các rối loạn khí sắc; rối loạn trí nhớ; rối loạn giấc ngủ; các rối loạn nhịp tim và hạ huyết áp; thiếu máu, thiếu B12… N2O là hóa chất được quản lý chuyên ngành bởi Bộ Công Thương. Theo đó, N2O thuộc danh mục hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp (số thứ tự 120, Phụ lục II của Nghị định số 113/2017/NĐ-CP ngày 09/10/2017 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hóa chất). Như vậy, việc nhập khẩu, mua bán… chất N2O để sử dụng trong công nghiệp, phát triển kinh tế, xã hội… vẫn được thực hiện nhưng phải đảm bảo đúng những quy định chặt chẽ của pháp luật. Sử dụng bóng cười (chứa chất N2O) tuy chưa có điều luật cụ thể nào quy định cấm, song việc mua bán, sử dụng bóng cười cho người là sai phạm vì trước tiên gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người sử dụng và không được cấp phép để mua bán, sử dụng cho người. Các hành vi, vi phạm pháp luật về sản xuất, kinh doanh N2O được xử lý theo các quy định tại Nghị định 115/2016/NĐ-CP ngày 08/7/2016 của Chính phủ, Nghị định số 163/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Cụ thể, tại Điều 10 Nghị định số 163/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định hành vi vi phạm quy định về Giấy phép hạn chế sản xuất, kinh doanh, hóa chất thuộc Danh mục hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh quy định: “Phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: a) Sản xuất, kinh doanh hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh mà không có Giấy phép hạn chế sản xuất, kinh doanh hóa chất theo quy định; b) Sản xuất, kinh doanh hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh khi Giấy phép hạn chế sản xuất, kinh doanh hóa chất được cấp đã hết hiệu lực. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi tiếp tục hoạt động sản xuất, kinh doanh khi đã bị cơ quan quản lý có thẩm quyền đình chỉ hoạt động sản xuất, kinh doanh, tước quyền sử dụng hoặc thu hồi Giấy phép hạn chế sản xuất, kinh doanh hóa chất.”"
}
],
"id": "399",
"is_impossible": false,
"question": "Mua bán và sử dụng bóng cười có vi phạm pháp luật hay không?"
}
]
}
],
"title": "Mua bán và sử dụng bóng cười có vi phạm pháp luật hay không?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Kinh doanh dịch vụ nhà nghỉ, khách sạn là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (kinh doanh dịch vụ lưu trú) được quy định tại Phụ lục 4, số thứ tự 214 về Danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện (Ban hành kèm theo Luật số 03/2016/QH14 sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư); Điều kiện để kinh doanh dịch vụ lưu trú được quy định tại Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Căn cứ, nội dung và thẩm quyền kiểm tra hành chính nhà nghỉ, khách sạn của lực lượng Công an được quy định tại: a) Khoản 1 Điều 50 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP quy định về việc kiểm tra, thanh tra như sau: Cơ quan Công an có thẩm quyền thực hiện kiểm tra, thanh tra toàn diện việc chấp hành các quy định về an ninh, trật tự đối với cơ sở kinh doanh các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo phương thức định kỳ không quá một lần trong một năm hoặc đột xuất. Việc kiểm tra, thanh tra đột xuất chỉ được thực hiện khi phát hiện cơ sở kinh doanh có vi phạm hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự; có đơn khiếu nại, tố cáo của tổ chức hoặc cá nhân về vi phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự trong cơ sở kinh doanh; phục vụ tăng cường công tác đảm bảo an ninh, trật tự theo văn bản chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền. Như vậy, cơ quan Công an có thẩm quyền được thực hiện việc thanh tra, kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất. Tuy nhiên việc thanh tra, kiểm tra đột xuất chỉ thực hiện khi cơ sở kinh doanh lưu trú có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự, có đơn khiếu nại, tố cáo hoặc có văn bản chỉ đạo của cơ quan Công an cấp trên. b) Khoản 3 Điều 50 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP quy định thẩm quyền thanh tra, kiểm tra như sau: - Cơ quan Công an cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và trực tiếp quản lý cơ sở kinh doanh có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra định kỳ hàng năm hoặc đột xuất; - Các đơn vị nghiệp vụ thuộc Công an các cấp chỉ được tiến hành kiểm tra cơ sở kinh doanh trên địa bàn quản lý khi phát hiện cơ sở kinh doanh có vi phạm hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự cần phải xử lý ngay; có đơn khiếu nại, tố cáo của tổ chức hoặc cá nhân liên quan đến an ninh, trật tự trong cơ sở kinh doanh trên địa bàn do mình quản lý. Sau khi kiểm tra phải có văn bản thông báo kết quả kiểm tra và xử lý vi phạm (nếu có) cho cơ quan đã cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự cho cơ sở kinh doanh đó; - Công an các cấp theo chức năng, nhiệm vụ được giao khi có yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị, tăng cường bảo vệ an ninh, trật tự cần tiến hành kiểm tra đột xuất thì phải được thủ trưởng cơ quan Công an từ cấp huyện trở lên phê duyệt bằng văn bản hoặc có văn bản chỉ đạo của Công an cấp trên. Như vậy, cơ quan Công an có thẩm quyền kiểm tra hành chính người thuê phòng lưu trú khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự trong hoạt động cho thuê lưu trú của nhà nghỉ, khách sạn. Người bị kiểm tra hành chính có quyền khiếu nại hành vi hành chính của cơ quan Công an kiểm tra nếu việc kiểm tra không đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục kiểm tra. c) Việc thực hiện kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất đối với cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự nói chung và cơ sở kinh doanh lưu trú nói riêng được quy định tại Điều 8 Thông tư số 42/2017/TT-BCA ngày 20/10/2017 của Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 679,
"text": "a) Khoản 1 Điều 50 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP quy định về việc kiểm tra, thanh tra như sau: Cơ quan Công an có thẩm quyền thực hiện kiểm tra, thanh tra toàn diện việc chấp hành các quy định về an ninh, trật tự đối với cơ sở kinh doanh các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo phương thức định kỳ không quá một lần trong một năm hoặc đột xuất. Việc kiểm tra, thanh tra đột xuất chỉ được thực hiện khi phát hiện cơ sở kinh doanh có vi phạm hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự; có đơn khiếu nại, tố cáo của tổ chức hoặc cá nhân về vi phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự trong cơ sở kinh doanh; phục vụ tăng cường công tác đảm bảo an ninh, trật tự theo văn bản chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền. Như vậy, cơ quan Công an có thẩm quyền được thực hiện việc thanh tra, kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất. Tuy nhiên việc thanh tra, kiểm tra đột xuất chỉ thực hiện khi cơ sở kinh doanh lưu trú có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự, có đơn khiếu nại, tố cáo hoặc có văn bản chỉ đạo của cơ quan Công an cấp trên. b) Khoản 3 Điều 50 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP quy định thẩm quyền thanh tra, kiểm tra như sau: - Cơ quan Công an cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và trực tiếp quản lý cơ sở kinh doanh có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra định kỳ hàng năm hoặc đột xuất; - Các đơn vị nghiệp vụ thuộc Công an các cấp chỉ được tiến hành kiểm tra cơ sở kinh doanh trên địa bàn quản lý khi phát hiện cơ sở kinh doanh có vi phạm hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự cần phải xử lý ngay; có đơn khiếu nại, tố cáo của tổ chức hoặc cá nhân liên quan đến an ninh, trật tự trong cơ sở kinh doanh trên địa bàn do mình quản lý. Sau khi kiểm tra phải có văn bản thông báo kết quả kiểm tra và xử lý vi phạm (nếu có) cho cơ quan đã cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự cho cơ sở kinh doanh đó; - Công an các cấp theo chức năng, nhiệm vụ được giao khi có yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị, tăng cường bảo vệ an ninh, trật tự cần tiến hành kiểm tra đột xuất thì phải được thủ trưởng cơ quan Công an từ cấp huyện trở lên phê duyệt bằng văn bản hoặc có văn bản chỉ đạo của Công an cấp trên. Như vậy, cơ quan Công an có thẩm quyền kiểm tra hành chính người thuê phòng lưu trú khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự trong hoạt động cho thuê lưu trú của nhà nghỉ, khách sạn. Người bị kiểm tra hành chính có quyền khiếu nại hành vi hành chính của cơ quan Công an kiểm tra nếu việc kiểm tra không đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục kiểm tra. c) Việc thực hiện kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất đối với cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự nói chung và cơ sở kinh doanh lưu trú nói riêng được quy định tại Điều 8 Thông tư số 42/2017/TT-BCA ngày 20/10/2017 của Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện."
}
],
"id": "400",
"is_impossible": false,
"question": "Căn cứ nào quy định lực lượng Công an được quyền đột xuất kiểm tra hành chính nhà nghỉ, khách sạn?"
}
]
}
],
"title": "Căn cứ nào quy định lực lượng Công an được quyền đột xuất kiểm tra hành chính nhà nghỉ, khách sạn?"
}
|
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.