version
stringclasses 1
value | data
dict |
|---|---|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Hợp đồng thi công công trình A theo đơn giá điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh giá theo chỉ số giá xây dựng. Thời gian thi công từ ngày 1/1/2020 đến ngày 30/6/2021 mới thanh toán lần 1 (thời gian thi công 18 tháng). Chỉ số giá hiện hành (tại thời điểm điều chỉnh) được xác định trong khoảng thời gian 28 ngày trước ngày hết hạn nộp hồ sơ thanh toán theo quy định của hợp đồng. Theo Mục I Phương pháp dùng hệ số điều chỉnh giá tại Phụ lục của Thông tư số 07/2016/TT-BXD có hướng dẫn: \"Chỉ số giá hoặc giá hiện hành (tại thời điểm điều chỉnh)… được xác định trong khoảng thời gian 28 ngày trước ngày hết hạn nộp hồ sơ thanh toán quy định trong hợp đồng\". Trong hợp đồng ký với chủ đầu tư không thỏa thuận ngày hết hạn nộp hồ sơ thanh toán. Ông Phan Văn Xuyền (Hòa Bình) hỏi, khi điều chỉnh giá cho phần khối lượng công việc được nghiệm thu, có phải tách khối lượng công việc thi công hoàn thành từng tháng để áp dụng chỉ số giá tương ứng từng tháng làm cơ sở điều chỉnh giá hợp đồng hay sử dụng chỉ số giá tại thời điểm thanh toán để điều chỉnh cho toàn bộ khối lượng công việc được nghiệm thu? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Nội dung câu hỏi của ông Xuyền chưa nêu rõ về nguồn vốn sử dụng để đầu tư, cũng như pháp luật áp dụng cho hợp đồng nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để hướng dẫn. Trường hợp hợp đồng thuộc phạm vi, đối tượng áp dụng của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng và Thông tư số 07/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng thì phương pháp dùng hệ số điều chỉnh giá để điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng được hướng dẫn tại Mục I Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BXD. Theo đó, chỉ số giá hiện hành (tại thời điểm điều chỉnh) được xác định trong khoảng thời gian 28 ngày trước ngày hết hạn nộp hồ sơ thanh toán theo quy định của hợp đồng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 496,
"text": "\"Chỉ số giá hoặc giá hiện hành (tại thời điểm điều chỉnh)… được xác định trong khoảng thời gian 28 ngày trước ngày hết hạn nộp hồ sơ thanh toán quy định trong hợp đồng\". Trong hợp đồng ký với chủ đầu tư không thỏa thuận ngày hết hạn nộp hồ sơ thanh toán. Ông Phan Văn Xuyền (Hòa Bình) hỏi, khi điều chỉnh giá cho phần khối lượng công việc được nghiệm thu, có phải tách khối lượng công việc thi công hoàn thành từng tháng để áp dụng chỉ số giá tương ứng từng tháng làm cơ sở điều chỉnh giá hợp đồng hay sử dụng chỉ số giá tại thời điểm thanh toán để điều chỉnh cho toàn bộ khối lượng công việc được nghiệm thu? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Nội dung câu hỏi của ông Xuyền chưa nêu rõ về nguồn vốn sử dụng để đầu tư, cũng như pháp luật áp dụng cho hợp đồng nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để hướng dẫn. Trường hợp hợp đồng thuộc phạm vi, đối tượng áp dụng của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng và Thông tư số 07/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng thì phương pháp dùng hệ số điều chỉnh giá để điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng được hướng dẫn tại Mục I Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BXD. Theo đó, chỉ số giá hiện hành (tại thời điểm điều chỉnh) được xác định trong khoảng thời gian 28 ngày trước ngày hết hạn nộp hồ sơ thanh toán theo quy định của hợp đồng."
}
],
"id": "601",
"is_impossible": false,
"question": "Hướng dẫn áp dụng chỉ số giá để điều chỉnh giá hợp đồng"
}
]
}
],
"title": "Hướng dẫn áp dụng chỉ số giá để điều chỉnh giá hợp đồng"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Hàng trăm hộ dân thôn Đông Xuân, xã Kỳ Tây (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh) phản ánh trang trại nuôi lợn của Hợp tác xã Hoàng Phát đóng trên địa bàn có tình trạng xả chất thải ra môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước, làm cá chết hàng loạt. Trại nuôi lợn của Hợp tác xã Hoàng Phát có quy mô 1.200 con lợn thịt và 250 con lợn nái. Khoảng thời gian qua, các hộ dân thôn Đông Xuân, xã Kỳ Tây (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh) phản ánh trang trại nuôi lợn thịt, lợn nái đóng trên địa bàn có tình trạng xả chất thải ra môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước và làm cá chết. Được biết, trang trại chăn nuôi tổng hợp VARC của ông Phan Công Vũ được UBND huyện Kỳ Anh phê duyệt Quyết định số 3698 ngày 22/04/2014 và được UBND huyện xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường tại Thông báo số 194 ngày 08/11/2014. Trang trại có quy mô 1.200 con lợn thịt và 250 con lợn nái. Theo người dân, trang trại nuôi lợn này bắt đầu xây dựng, hoạt động từ năm 2014. Từ đó đến nay, nhiều lần người dân phát hiện chất thải chăn nuôi từ trang trại chảy ra suối Cơn Chay làm nguồn nước ô nhiễm. Ngoài ra, mùi hôi thối từ trang trại cũng khiến cuộc sống người dân đảo lộn. “Nguồn nước bị chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm, làm cá chết trắng. Ngày nắng có gió nồm, mùi hôi thối từ trang trại bay thẳng vào nhà dân, ruồi muỗi bâu kín. Chúng tôi nhiều lần phản ánh, thậm chí căng băng rôn yêu cầu trại di dời, đảm bảo cuộc sống cho người dân”, ông Trần Văn Toàn (người dân) nói. Nhiều người dân thôn Đông Xuân, xã Kỳ Tây (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh) tập trung phản đối trại lợn Hợp tác xã Hoàng Phát. Cụ thể, người dân địa phương cho biết họ từng nhiều lần kiến nghị đến chính quyền địa phương và cơ quan quản lý, kiểm tra việc xả thải, bảo vệ môi trường của trang trại. Xã và đơn vị chuyên môn của huyện Kỳ Anh cũng về họp, hứa xử lý nhưng khi chưa có câu trả lời thỏa đáng, người dân lại phát hiện chủ trang trại đưa máy móc, xe tải chở chất thải lỏng, làm chảy tràn xuống khe suối. Người dân phát hiện trại lợn xả nước và chất thải màu đen tràn ra khe Cơn Chay khiến cá chết. (Ảnh người dân cung cấp) Lãnh đạo UBND xã Kỳ Tây cho hay, trang trại nuôi lợn trên của Hợp tác xã Hoàng Phát do ông Phan Công Vũ làm chủ. Gần đây, phía trang trại đang tu sửa hệ thống hồ chứa. Quá trình nạo vét bùn và chất thải ở các hồ chứa, chủ trại cho xe chở lên các bãi ở trong khuôn viên xử lý vôi, trộn đất. Ông Nguyễn Hồng Thắng, Chủ tịch UBND xã Kỳ Tây cho biết: “Một số xe chở bùn thải lỏng đã để chảy ra mương nước, giáp ranh trang trại và vườn tràm bị ngư dân quay lại hình ảnh, trình báo với xã. Chủ trại nuôi lợn báo cáo bùn thải màu đen bị đổ tràn là lắng cặn của các bể chứa cũ đang sửa chữa, không phải chất thải chăn nuôi. Đơn vị này cũng cho nạo vét sạch. Địa phương cũng đã có báo cáo gửi ngành chức năng kiểm tra, xử lý”. Lãnh đạo huyện Kỳ Anh, phòng chức năng cùng chính quyền xã Kỳ Tây đã có buổi đối thoại với người dân thôn Đông Xuân. Ngay sau khi có phản ánh, lãnh đạo huyện Kỳ Anh, phòng chức năng cùng chính quyền xã Kỳ Tây đã có buổi đối thoại với người dân thôn Đông Xuân tại Nhà văn hóa thôn. Tại buổi đối thoại, đại diện Phòng Tài nguyên và Môi trường thông tin: Vừa qua, Phòng Tài nguyên và Môi trường cùng một số đơn vị chức năng của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Tĩnh đã về kiểm tra. Thời điểm kiểm tra, trại lợn này đang nuôi 1.300 con lợn thịt và hơn 250 con lợn nái. Trang trại này có 5 hồ lắng chứa phân, nước thải chăn nuôi. Hiện Hợp tác xã Hoàng Phát đang tiến hành cải tạo cả 5 hồ lắng. Ông Lê Tài Tuấn, Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Kỳ Anh cho biết: “Về hiện tượng cá chết dưới suối, nghi do quá trình xả thải của trại, đơn vị kiểm tra và xác định quá trình chủ trại nạo vét, cải tạo hồ chứa xử lý đã làm bờ bao bị vỡ, khiến nước bùn thải chảy ra suối, kết hợp nắng nóng làm cá chết. Về nước chảy ra suối, đơn vị quan trắc đã lấy mẫu và đang chờ kết quả”. Tại buổi đối thoại, ông Nguyễn Tiến Hùng, Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh khẳng định, cơ quan chức năng sẽ sớm công bố mẫu phân tích nguồn nước ở khe Cây Chay dưới trại lợn ở thôn Đông Xuân. Trong ít ngày tới, huyện sẽ thành lập đoàn liên ngành để kiểm tra toàn diện trại lợn. Nếu phát hiện các vi phạm sẽ kiên quyết xử lý nghiêm theo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 2397,
"text": "“Một số xe chở bùn thải lỏng đã để chảy ra mương nước, giáp ranh trang trại và vườn tràm bị ngư dân quay lại hình ảnh, trình báo với xã. Chủ trại nuôi lợn báo cáo bùn thải màu đen bị đổ tràn là lắng cặn của các bể chứa cũ đang sửa chữa, không phải chất thải chăn nuôi. Đơn vị này cũng cho nạo vét sạch. Địa phương cũng đã có báo cáo gửi ngành chức năng kiểm tra, xử lý”. Lãnh đạo huyện Kỳ Anh, phòng chức năng cùng chính quyền xã Kỳ Tây đã có buổi đối thoại với người dân thôn Đông Xuân. Ngay sau khi có phản ánh, lãnh đạo huyện Kỳ Anh, phòng chức năng cùng chính quyền xã Kỳ Tây đã có buổi đối thoại với người dân thôn Đông Xuân tại Nhà văn hóa thôn. Tại buổi đối thoại, đại diện Phòng Tài nguyên và Môi trường thông tin: Vừa qua, Phòng Tài nguyên và Môi trường cùng một số đơn vị chức năng của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Tĩnh đã về kiểm tra. Thời điểm kiểm tra, trại lợn này đang nuôi 1.300 con lợn thịt và hơn 250 con lợn nái. Trang trại này có 5 hồ lắng chứa phân, nước thải chăn nuôi. Hiện Hợp tác xã Hoàng Phát đang tiến hành cải tạo cả 5 hồ lắng. Ông Lê Tài Tuấn, Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Kỳ Anh cho biết: “Về hiện tượng cá chết dưới suối, nghi do quá trình xả thải của trại, đơn vị kiểm tra và xác định quá trình chủ trại nạo vét, cải tạo hồ chứa xử lý đã làm bờ bao bị vỡ, khiến nước bùn thải chảy ra suối, kết hợp nắng nóng làm cá chết. Về nước chảy ra suối, đơn vị quan trắc đã lấy mẫu và đang chờ kết quả”. Tại buổi đối thoại, ông Nguyễn Tiến Hùng, Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh khẳng định, cơ quan chức năng sẽ sớm công bố mẫu phân tích nguồn nước ở khe Cây Chay dưới trại lợn ở thôn Đông Xuân. Trong ít ngày tới, huyện sẽ thành lập đoàn liên ngành để kiểm tra toàn diện trại lợn. Nếu phát hiện các vi phạm sẽ kiên quyết xử lý nghiêm theo quy định."
}
],
"id": "602",
"is_impossible": false,
"question": "Hà Tĩnh: Người dân bức xúc vì trang trại nuôi lợn gây ô nhiễm nguồn nước"
}
]
}
],
"title": "Hà Tĩnh: Người dân bức xúc vì trang trại nuôi lợn gây ô nhiễm nguồn nước"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Bộ Xây dựng sẽ phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương nghiên cứu, tiếp thu và đề xuất chính sách phù hợp đối với nội dung đề nghị của UBND tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn tiếp theo về chính sách vay vốn làm nhà ở đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn các huyện thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Bộ Xây dựng sẽ phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương nghiên cứu, tiếp thu và đề xuất chính sách phù hợp đối với nội dung đề nghị của UBND tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn tiếp theo. (Ảnh minh họa) Liên quan đến kiến nghị của UBND tỉnh Bắc Kạn đề nghị về việc bổ sung chính sách vay vốn làm nhà ở từ Ngân hàng Chính sách xã hội đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn các huyện nghèo thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, mới đây, Bộ Xây dựng có văn bản hướng dẫn nội dung này. Bộ Xây dựng cho biết, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 24/2021/NQ-QH ngày 28/7/2021 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, trong đó nguồn vốn thực hiện bao gồm: Vốn ngân sách Trung ương, vốn ngân sách địa phương và huy động hợp pháp khác. Căn cứ Nghị quyết số 24/2021/NQ-QH, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025. Theo đó, nội dung của chính sách chỉ quy định hỗ trợ trực tiếp, không có vay ưu đãi thực hiện dự án: Hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn các huyện nghèo giai đoạn 2021-2025. Theo Bộ Xây dựng, hiện nay, công tác chăm lo cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn cũng là nhiệm vụ thường xuyên được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, chính quyền các cấp cùng nỗ lực triển khai nhằm góp phần cùng Đảng và Nhà nước thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Mặt trận Tổ quốc đã vận động xây dựng Quỹ “Vì người nghèo”, hỗ trợ xây dựng nhà Đại đoàn kết và thực hiện tốt các hoạt động nhân đạo, từ thiện khác nhằm hỗ trợ, giúp đỡ, chăm lo cho người nghèo, gia đình chính sách, các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn. UBND tỉnh Bắc Kạn phối hợp với Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bắc Kạn xem xét, giải quyết theo thẩm quyền việc lồng ghép nguồn vốn để có thêm kinh phí để xây dựng nhà ở. Bộ Xây dựng sẽ phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương nghiên cứu, tiếp thu và đề xuất chính sách phù hợp đối với nội dung đề nghị của UBND tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn tiếp theo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1081,
"text": "Vốn ngân sách Trung ương, vốn ngân sách địa phương và huy động hợp pháp khác. Căn cứ Nghị quyết số 24/2021/NQ-QH, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025. Theo đó, nội dung của chính sách chỉ quy định hỗ trợ trực tiếp, không có vay ưu đãi thực hiện dự án: Hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn các huyện nghèo giai đoạn 2021-2025. Theo Bộ Xây dựng, hiện nay, công tác chăm lo cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn cũng là nhiệm vụ thường xuyên được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, chính quyền các cấp cùng nỗ lực triển khai nhằm góp phần cùng Đảng và Nhà nước thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Mặt trận Tổ quốc đã vận động xây dựng Quỹ “Vì người nghèo”, hỗ trợ xây dựng nhà Đại đoàn kết và thực hiện tốt các hoạt động nhân đạo, từ thiện khác nhằm hỗ trợ, giúp đỡ, chăm lo cho người nghèo, gia đình chính sách, các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn. UBND tỉnh Bắc Kạn phối hợp với Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bắc Kạn xem xét, giải quyết theo thẩm quyền việc lồng ghép nguồn vốn để có thêm kinh phí để xây dựng nhà ở. Bộ Xây dựng sẽ phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương nghiên cứu, tiếp thu và đề xuất chính sách phù hợp đối với nội dung đề nghị của UBND tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn tiếp theo."
}
],
"id": "603",
"is_impossible": false,
"question": "Nghiên cứu chính sách phù hợp hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo vay vốn làm nhà ở"
}
]
}
],
"title": "Nghiên cứu chính sách phù hợp hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo vay vốn làm nhà ở"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Ông Hiệp Phan (Vĩnh Long) có câu hỏi liên quan đến cơ sở thanh toán hợp đồng theo đơn giá cố định, gửi Bộ Xây dựng nhờ hướng dẫn giải đáp. Việc thanh toán hợp đồng xây dựng thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký kết, phù hợp hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng. Nội dung câu hỏi như sau: Công ty ông Hiệp Phan trúng thầu một công trình giao thông qua Hệ thống đấu thầu quốc gia vào tháng 7/2023. Loại hợp đồng theo đơn giá cố định. Trong quá trình triển khai thi công, qua đối chiếu giữa bản vẽ thiết kế và thực tế tại công trình công ty ông Phan phát hiện một số sai khác giữa bản vẽ thiết kế và khối lượng mời thầu, sau đó lập biên bản hiện trường gửi đến chủ đầu tư để được xem xét giải quyết. Tuy nhiên, sau khi có công văn phản hồi của đơn vị tư vấn thiết kế xác nhận các sai khác trên là đúng và thống nhất bổ sung khối lượng thì phía chủ đầu tư trả lời, không đồng ý cho phát sinh vì đây là lỗi của nhà thầu không bốc khối lượng tổng thể lại trong quá trình dự thầu, trong khi đó không xem xét trách nhiệm sai sót của đơn vị tư vấn thiết kế, tư vấn thẩm tra và trách nhiệm phê duyệt của chủ đầu tư. Ông Phan hỏi, khối lượng do hồ sơ mời thầu thiếu dẫn đến khối lượng theo hợp đồng thiếu thì nhà thầu có được bổ sung giá trị khối lượng thiếu này vào hợp đồng hay không? Hay như trả lời của chủ đầu tư là lỗi của nhà thầu không bóc tách để phát hiện trong quá trình dự thầu? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Do nội dung câu hỏi của ông chưa nêu rõ nguồn vốn đầu tư xây dựng, các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sơ để hướng dẫn cụ thể. Tuy nhiên, về nguyên tắc, việc thanh toán hợp đồng xây dựng thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký kết, phù hợp hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng. Trường hợp hợp đồng đã ký kết thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP thì việc thanh toán hợp đồng theo đơn giá cố định thực hiện theo quy định tại Khoản 6 Điều 19 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP: \"6. Đối với hợp đồng theo đơn giá cố định và đơn giá điều chỉnh: Thanh toán trên cơ sở khối lượng thực tế hoàn thành (kể cả khối lượng tăng hoặc giảm, nếu có) được nghiệm thu của từng lần thanh toán và đơn giá trong hợp đồng hoặc đơn giá đã điều chỉnh theo đúng các thỏa thuận trong hợp đồng\".",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 342,
"text": "Công ty ông Hiệp Phan trúng thầu một công trình giao thông qua Hệ thống đấu thầu quốc gia vào tháng 7/2023. Loại hợp đồng theo đơn giá cố định. Trong quá trình triển khai thi công, qua đối chiếu giữa bản vẽ thiết kế và thực tế tại công trình công ty ông Phan phát hiện một số sai khác giữa bản vẽ thiết kế và khối lượng mời thầu, sau đó lập biên bản hiện trường gửi đến chủ đầu tư để được xem xét giải quyết. Tuy nhiên, sau khi có công văn phản hồi của đơn vị tư vấn thiết kế xác nhận các sai khác trên là đúng và thống nhất bổ sung khối lượng thì phía chủ đầu tư trả lời, không đồng ý cho phát sinh vì đây là lỗi của nhà thầu không bốc khối lượng tổng thể lại trong quá trình dự thầu, trong khi đó không xem xét trách nhiệm sai sót của đơn vị tư vấn thiết kế, tư vấn thẩm tra và trách nhiệm phê duyệt của chủ đầu tư. Ông Phan hỏi, khối lượng do hồ sơ mời thầu thiếu dẫn đến khối lượng theo hợp đồng thiếu thì nhà thầu có được bổ sung giá trị khối lượng thiếu này vào hợp đồng hay không? Hay như trả lời của chủ đầu tư là lỗi của nhà thầu không bóc tách để phát hiện trong quá trình dự thầu? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Do nội dung câu hỏi của ông chưa nêu rõ nguồn vốn đầu tư xây dựng, các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sơ để hướng dẫn cụ thể. Tuy nhiên, về nguyên tắc, việc thanh toán hợp đồng xây dựng thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký kết, phù hợp hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng. Trường hợp hợp đồng đã ký kết thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP thì việc thanh toán hợp đồng theo đơn giá cố định thực hiện theo quy định tại Khoản 6 Điều 19 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP: \"6. Đối với hợp đồng theo đơn giá cố định và đơn giá điều chỉnh: Thanh toán trên cơ sở khối lượng thực tế hoàn thành (kể cả khối lượng tăng hoặc giảm, nếu có) được nghiệm thu của từng lần thanh toán và đơn giá trong hợp đồng hoặc đơn giá đã điều chỉnh theo đúng các thỏa thuận trong hợp đồng\"."
}
],
"id": "604",
"is_impossible": false,
"question": "Cơ sở thanh toán hợp đồng theo đơn giá cố định"
}
]
}
],
"title": "Cơ sở thanh toán hợp đồng theo đơn giá cố định"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Theo quy định hiện hành, tín hiệu đèn giao thông gồm 3 màu. Trong đó, tín hiệu đèn xanh là được đi; tín hiệu đỏ là cấm đi và tín hiệu vàng là phải dừng lại trước vạch dừng, trừ trường hợp đã đi quá vạch dừng thì được đi tiếp.Ngoài ra, trường hợp đèn vàng nhấp nháy là được đi nhưng phải giảm tốc độ, chú ý quan sát, nhường đường cho người đi bộ qua đường.Như vậy, đèn xanh là tín hiệu giao thông được đi. Nếu cố tình không đi, lái xe không chỉ gây cản trở giao thông mà có thể bị xử phạt về hành vi không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông.Theo đó, ô tô vi phạm có thể bị phạt từ 4 - 6 triệu đồng. Nếu thực hiện hành vi này gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 2 - 4 tháng.Đối với mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) bị phạt tiền từ 800 nghìn đồng đến 1 triệu đồng, gây tai nạn bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 1 - 3 tháng.Không chỉ ôtô, xe máy, xe đạp, xe đạp máy (kể cả xe đạp điện), xe thô sơ cố tình không đi khi gặp đèn xanh sẽ bị phạt từ 100 - 200 nghìn đồng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo quy định hiện hành, tín hiệu đèn giao thông gồm 3 màu. Trong đó, tín hiệu đèn xanh là được đi; tín hiệu đỏ là cấm đi và tín hiệu vàng là phải dừng lại trước vạch dừng, trừ trường hợp đã đi quá vạch dừng thì được đi tiếp.Ngoài ra, trường hợp đèn vàng nhấp nháy là được đi nhưng phải giảm tốc độ, chú ý quan sát, nhường đường cho người đi bộ qua đường.Như vậy, đèn xanh là tín hiệu giao thông được đi. Nếu cố tình không đi, lái xe không chỉ gây cản trở giao thông mà có thể bị xử phạt về hành vi không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông.Theo đó, ô tô vi phạm có thể bị phạt từ 4 - 6 triệu đồng. Nếu thực hiện hành vi này gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 2 - 4 tháng.Đối với mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) bị phạt tiền từ 800 nghìn đồng đến 1 triệu đồng, gây tai nạn bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 1 - 3 tháng.Không chỉ ôtô, xe máy, xe đạp, xe đạp máy (kể cả xe đạp điện), xe thô sơ cố tình không đi khi gặp đèn xanh sẽ bị phạt từ 100 - 200 nghìn đồng."
}
],
"id": "605",
"is_impossible": false,
"question": "Đèn xanh cố tình không đi bị xử phạt thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Đèn xanh cố tình không đi bị xử phạt thế nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Khi nhà trọ lắp camera quay lénNgày 6/7, Đội Cảnh sát hình sự, Công an quận Cầu Giấy đang phối hợp cùng các đội nghiệp vụ xác minh vụ camera giấu kín quay lén tại phòng trọ ở phường Nghĩa Đô.Trước đó, ngày 2/7, Công an phường Nghĩa Đô nhận được đơn trình báo từ chị N.T.T.H (24 tuổi, quê Bắc Giang) về việc phát hiện ổ điện tại khu vực nhà tắm trong phòng trọ có gắn camera giấu kín, ghi hình trộm.Lực lượng chức năng ghi nhận ổ điện bị gắn camera giấu kín một cách tinh vi.Ngay sau khi tiếp nhận đơn trình báo, cảnh sát địa phương xuống hiện trường. Tại khu vực phòng tắm nằm trong phòng trọ mà chị H thuê ở tầng 3, lực lượng chức năng ghi nhận ổ điện bị gắn camera giấu kín một cách tinh vi.Cuối tháng 2/2023, ba cô gái từ 20 - 24 tuổi đến thuê phòng trọ ở Hà Đông (Hà Nội) cũng tình cờ phát hiện phòng tắm có camera quay lén, giấu phía dưới bóng đèn nhà vệ sinh, nên đã báo công an. Làm việc với công an, ông chủ nhà trọ 58 tuổi ở Hà Đông khai muốn xem lén khách nữ tắm đã mua ba bộ camera lắp vào ba phòng vệ sinh. Sau đó, người đàn ông này thường xem trực tiếp các hình ảnh quay lén trên điện thoại hoặc lưu trên ứng dụng để xem lại, chứ chưa phát tán hình ảnh quay lén.Làm rõ động cơ, mục đích của người lắp đặt cameraNhìn nhận sự việc dưới góc độ pháp lý, luật sư Dương Đức Thắng (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, cơ quan điều tra sẽ làm rõ động cơ, mục đích của người lắp đặt camera. Trong đó, bắt đầu từ việc làm rõ ai là người lắp đặt hoặc thuê lắp đặt.Trường hợp nếu chỉ dừng lại ở việc lắp camera quay lén thông thường để phục vụ cho những sở thích, ham muốn lệch lạc, biến thái của bản thân mà không nhằm phát tán hay xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm của người khác, người thực hiện hành vi sẽ bị xử phạt hành chính theo khoản 2, Điều 84 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP của Chính phủ.Tuy nhiên việc quay lén nhằm phát tán, lan truyền dữ liệu, hình ảnh nhạy cảm trên không gian mạng, cơ quan điều tra sẽ tập trung xác minh dấu hiệu của hành vi Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy theo Điều 326 Bộ luật Hình sự 2015.Cụ thể, người nào mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có nội dung khiêu dâm, đồi trụy hoặc hành vi khác truyền bá vật phẩm đồi trụy thuộc các trường hợp như dung lượng dữ liệu số hóa từ 01 GB trở lên; ảnh có số lượng từ 100 ảnh trở lên; sách báo in có số lượng từ 50 đơn vị trở lên hoặc phổ biến cho từ 10 người trở lên có thể bị xử lý hình sự về tội Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy.Mức phạt của hành vi này là phạt tiền 10-100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. \"Tùy thuộc vào mức độ lan tỏa cũng như số lượng, dung lượng văn hóa phẩm đồi trụy, mức phạt cao nhất của tội danh này có thể lên đến 15 năm tù\", luật sư Thắng phân tích. Trong trường hợp người lắp camera quay lén chỉ nhằm lưu trữ dữ liệu cho bản thân, song dữ liệu camera bị hacker xâm nhập và phát tán trên mạng, thì người lắp camera quay lén cũng không bị xử lý hình sự. \"Lúc đó, cơ quan chức năng sẽ xác minh, làm rõ danh tính của hacker để xử lý theo quy định của pháp luật\", luật sư Thắng cho hay.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Khi nhà trọ lắp camera quay lénNgày 6/7, Đội Cảnh sát hình sự, Công an quận Cầu Giấy đang phối hợp cùng các đội nghiệp vụ xác minh vụ camera giấu kín quay lén tại phòng trọ ở phường Nghĩa Đô.Trước đó, ngày 2/7, Công an phường Nghĩa Đô nhận được đơn trình báo từ chị N.T.T.H (24 tuổi, quê Bắc Giang) về việc phát hiện ổ điện tại khu vực nhà tắm trong phòng trọ có gắn camera giấu kín, ghi hình trộm.Lực lượng chức năng ghi nhận ổ điện bị gắn camera giấu kín một cách tinh vi.Ngay sau khi tiếp nhận đơn trình báo, cảnh sát địa phương xuống hiện trường. Tại khu vực phòng tắm nằm trong phòng trọ mà chị H thuê ở tầng 3, lực lượng chức năng ghi nhận ổ điện bị gắn camera giấu kín một cách tinh vi.Cuối tháng 2/2023, ba cô gái từ 20 - 24 tuổi đến thuê phòng trọ ở Hà Đông (Hà Nội) cũng tình cờ phát hiện phòng tắm có camera quay lén, giấu phía dưới bóng đèn nhà vệ sinh, nên đã báo công an. Làm việc với công an, ông chủ nhà trọ 58 tuổi ở Hà Đông khai muốn xem lén khách nữ tắm đã mua ba bộ camera lắp vào ba phòng vệ sinh. Sau đó, người đàn ông này thường xem trực tiếp các hình ảnh quay lén trên điện thoại hoặc lưu trên ứng dụng để xem lại, chứ chưa phát tán hình ảnh quay lén.Làm rõ động cơ, mục đích của người lắp đặt cameraNhìn nhận sự việc dưới góc độ pháp lý, luật sư Dương Đức Thắng (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, cơ quan điều tra sẽ làm rõ động cơ, mục đích của người lắp đặt camera. Trong đó, bắt đầu từ việc làm rõ ai là người lắp đặt hoặc thuê lắp đặt.Trường hợp nếu chỉ dừng lại ở việc lắp camera quay lén thông thường để phục vụ cho những sở thích, ham muốn lệch lạc, biến thái của bản thân mà không nhằm phát tán hay xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm của người khác, người thực hiện hành vi sẽ bị xử phạt hành chính theo khoản 2, Điều 84 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP của Chính phủ.Tuy nhiên việc quay lén nhằm phát tán, lan truyền dữ liệu, hình ảnh nhạy cảm trên không gian mạng, cơ quan điều tra sẽ tập trung xác minh dấu hiệu của hành vi Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy theo Điều 326 Bộ luật Hình sự 2015.Cụ thể, người nào mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có nội dung khiêu dâm, đồi trụy hoặc hành vi khác truyền bá vật phẩm đồi trụy thuộc các trường hợp như dung lượng dữ liệu số hóa từ 01 GB trở lên; ảnh có số lượng từ 100 ảnh trở lên; sách báo in có số lượng từ 50 đơn vị trở lên hoặc phổ biến cho từ 10 người trở lên có thể bị xử lý hình sự về tội Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy.Mức phạt của hành vi này là phạt tiền 10-100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. \"Tùy thuộc vào mức độ lan tỏa cũng như số lượng, dung lượng văn hóa phẩm đồi trụy, mức phạt cao nhất của tội danh này có thể lên đến 15 năm tù\", luật sư Thắng phân tích. Trong trường hợp người lắp camera quay lén chỉ nhằm lưu trữ dữ liệu cho bản thân, song dữ liệu camera bị hacker xâm nhập và phát tán trên mạng, thì người lắp camera quay lén cũng không bị xử lý hình sự. \"Lúc đó, cơ quan chức năng sẽ xác minh, làm rõ danh tính của hacker để xử lý theo quy định của pháp luật\", luật sư Thắng cho hay."
}
],
"id": "606",
"is_impossible": false,
"question": "Xử lý thế nào người đặt camera quay lén trong phòng trọ?"
}
]
}
],
"title": "Xử lý thế nào người đặt camera quay lén trong phòng trọ?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng đã quy định cụ thể trách nhiệm của chủ đầu tư, người quyết định đầu tư trong trường hợp dự toán xây dựng công trình điều chỉnh vượt dự toán đã phê duyệt nhưng không vượt tổng mức đầu tư xây dựng đã được phê duyệt. Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. (Ảnh minh họa) Mới đây, Bộ Xây dựng nhận được kiến nghị của cử tri tỉnh Thanh Hóa gửi tới Quốc hội trước kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV do Ban Dân nguyện chuyển đến với nội dung đề nghị trình Chính phủ xem xét sửa đổi khoản 4 Điều 15 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng theo hướng, điều chỉnh dự toán đã được phê duyệt nhưng không vượt tổng mức đầu tư đã phê duyệt thì chủ đầu tư tổ chức điều chỉnh và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Lý do của đề xuất trên được cử tri tỉnh Thanh Hóa đưa ra là theo quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 15 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng quy định: “4. Trường hợp dự toán xây dựng công trình điều chỉnh vượt dự toán đã phê duyệt nhưng không vượt tổng mức đầu tư xây dựng đã được phê duyệt, chủ đầu tư tổ chức điều chỉnh, báo cáo người quyết định đầu tư chấp thuận trước khi phê duyệt. 5. Việc điều chỉnh dự toán không vượt dự toán đã phê duyệt nhưng làm thay đổi cơ cấu các khoản mục chi phí trong tổng mức đầu tư xây dựng thì chủ đầu tư tự tổ chức điều chỉnh, phê duyệt, báo cáo người người quyết định đầu tư và chịu trách nhiệm về kết quả điều chỉnh”. Thực tế hiện nay, giá cả liên tục biến động, theo quy định về quản lý chi phí thì phải điều chỉnh dự toán làm cơ sở xác định giá gói thầu trong khoảng 28 ngày trước ngày mở thầu. Theo quy định nêu trên, trường hợp điều chỉnh dự toán nhưng chưa vượt tổng mức đầu tư vẫn phải báo cáo người quyết định đầu tư trước khi phê duyệt gây khó khăn, bất cập do phải báo cáo nhiều lần, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các công việc trong kế hoạch đấu thầu đã được phê duyệt. Liên quan đến ý kiến đề xuất này, Bộ Xây dựng cho biết, dự án đầu tư xây dựng thường có nhiều công trình, hạng mục công trình, gói thầu, vì vậy dự toán xây dựng công trình cần phải được kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảo việc đầu tư dự án đúng, đủ với nội dung, quy mô, mục tiêu đầu tư trong giới hạn tổng mức đầu tư đã được người quyết định đầu tư phê duyệt. Do đó, tại Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng đã quy định cụ thể trách nhiệm của chủ đầu tư, người quyết định đầu tư trong trường hợp dự toán xây dựng công trình điều chỉnh vượt dự toán đã phê duyệt nhưng không vượt tổng mức đầu tư xây dựng đã được phê duyệt; hoặc điều chỉnh dự toán không vượt dự toán đã phê duyệt nhưng làm thay đổi cơ cấu các khoản mục trong tổng mức đầu tư xây dựng. Dự toán xây dựng được phê duyệt của các dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công chỉ được điều chỉnh trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 135 Luật Xây dựng, Cụ thể, điều chỉnh tổng mức đầu tư xây dựng khi điều chỉnh dự án theo quy định tại khoản 1 Điều 61 của Luật Xây dựng (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 18 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng); Được phép thay đổi, bổ sung thiết kế không trái với thiết kế cơ sở hoặc thay đổi cơ cấu chi phí dự toán xây dựng nhưng không vượt tổng mức đầu tư xây dựng được phê duyệt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP, giá gói thầu xây dựng gồm toàn bộ chi phí cần thiết được tính đúng, tính đủ để thực hiện gói thầu xây dựng, kể cả chi phí dự phòng, phí, lệ phí và thuế. Pháp luật về quản lý chi phí đầu tư xây dựng tại Nghị định số 10/2021/NĐ-CP không quy định phải điều chỉnh dự toán làm cơ sở xác định giá gói thầu trong khoảng 28 ngày trước ngày mở thầu. Việc cập nhật giá gói thầu trước ngày mở thầu (nếu cần thiết) theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Các ý kiến, đề xuất trên của cử tri tỉnh Thanh Hóa sẽ được Bộ Xây dựng nghiên cứu, phối hợp trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện các quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1125,
"text": "“4. Trường hợp dự toán xây dựng công trình điều chỉnh vượt dự toán đã phê duyệt nhưng không vượt tổng mức đầu tư xây dựng đã được phê duyệt, chủ đầu tư tổ chức điều chỉnh, báo cáo người quyết định đầu tư chấp thuận trước khi phê duyệt. 5. Việc điều chỉnh dự toán không vượt dự toán đã phê duyệt nhưng làm thay đổi cơ cấu các khoản mục chi phí trong tổng mức đầu tư xây dựng thì chủ đầu tư tự tổ chức điều chỉnh, phê duyệt, báo cáo người người quyết định đầu tư và chịu trách nhiệm về kết quả điều chỉnh”. Thực tế hiện nay, giá cả liên tục biến động, theo quy định về quản lý chi phí thì phải điều chỉnh dự toán làm cơ sở xác định giá gói thầu trong khoảng 28 ngày trước ngày mở thầu. Theo quy định nêu trên, trường hợp điều chỉnh dự toán nhưng chưa vượt tổng mức đầu tư vẫn phải báo cáo người quyết định đầu tư trước khi phê duyệt gây khó khăn, bất cập do phải báo cáo nhiều lần, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các công việc trong kế hoạch đấu thầu đã được phê duyệt. Liên quan đến ý kiến đề xuất này, Bộ Xây dựng cho biết, dự án đầu tư xây dựng thường có nhiều công trình, hạng mục công trình, gói thầu, vì vậy dự toán xây dựng công trình cần phải được kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảo việc đầu tư dự án đúng, đủ với nội dung, quy mô, mục tiêu đầu tư trong giới hạn tổng mức đầu tư đã được người quyết định đầu tư phê duyệt. Do đó, tại Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng đã quy định cụ thể trách nhiệm của chủ đầu tư, người quyết định đầu tư trong trường hợp dự toán xây dựng công trình điều chỉnh vượt dự toán đã phê duyệt nhưng không vượt tổng mức đầu tư xây dựng đã được phê duyệt; hoặc điều chỉnh dự toán không vượt dự toán đã phê duyệt nhưng làm thay đổi cơ cấu các khoản mục trong tổng mức đầu tư xây dựng. Dự toán xây dựng được phê duyệt của các dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công chỉ được điều chỉnh trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 135 Luật Xây dựng, Cụ thể, điều chỉnh tổng mức đầu tư xây dựng khi điều chỉnh dự án theo quy định tại khoản 1 Điều 61 của Luật Xây dựng (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 18 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng); Được phép thay đổi, bổ sung thiết kế không trái với thiết kế cơ sở hoặc thay đổi cơ cấu chi phí dự toán xây dựng nhưng không vượt tổng mức đầu tư xây dựng được phê duyệt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP, giá gói thầu xây dựng gồm toàn bộ chi phí cần thiết được tính đúng, tính đủ để thực hiện gói thầu xây dựng, kể cả chi phí dự phòng, phí, lệ phí và thuế. Pháp luật về quản lý chi phí đầu tư xây dựng tại Nghị định số 10/2021/NĐ-CP không quy định phải điều chỉnh dự toán làm cơ sở xác định giá gói thầu trong khoảng 28 ngày trước ngày mở thầu. Việc cập nhật giá gói thầu trước ngày mở thầu (nếu cần thiết) theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Các ý kiến, đề xuất trên của cử tri tỉnh Thanh Hóa sẽ được Bộ Xây dựng nghiên cứu, phối hợp trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện các quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng."
}
],
"id": "607",
"is_impossible": false,
"question": "Đề xuất điều chỉnh, hoàn thiện quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng"
}
]
}
],
"title": "Đề xuất điều chỉnh, hoàn thiện quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Luật Giao thông đường bộ nghiêm cấm hành vi đi xe trên đường mà bấm còi liên tục; Bấm còi trong khu đô thị và khu đông dân cư từ 22h ngày hôm trước đến 5h ngày hôm sau, trừ các xe được quyền ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ như xe cứu thương, xe cứu hỏa…Theo Nghị định 100, đối với xe máy, nếu bấm còi từ 22h ngày hôm trước đến 5h ngày hôm sau trong đô thị và khu đông dân cư trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định bị phạt tử 100-200 nghìn đồng. Bấm còi, rú ga (với xe máy còn có hành vi nẹt bô) liên tục trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ, bị phạt từ 400-600 nghìn đồng. Điều khiển xe không có còi/có nhưng còi không có tác dụng bị phạt từ 100-200 nghìn đồng.Sử dụng còi không đúng quy chuẩn kỹ thuật cho từng loại xe bị phạt từ 100-200 nghìn đồng.Đối với ô tô: Bấm còi từ 22h ngày hôm trước đến 5h ngày hôm sau trong đô thị và khu đông dân cư bị phạt từ 300-400 nghìn đồng.Bấm còi, rú ga liên tục trong đô thị, khu đông dân cư, bị phạt từ 800 nghìn - 1 triệu đồng.Bấm còi hơi bị phạt từ 800 nghìn – 1 triệu đồng. Điều khiển xe không có còi/có nhưng còi không có tác dụng mức phạt từ 300-400 nghìn đồng. Điều khiển xe lắp đặt, sử dụng còi vượt quá âm lượng theo quy định mức phạt từ 2-3 triệu đồng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 810,
"text": "Bấm còi từ 22h ngày hôm trước đến 5h ngày hôm sau trong đô thị và khu đông dân cư bị phạt từ 300-400 nghìn đồng.Bấm còi, rú ga liên tục trong đô thị, khu đông dân cư, bị phạt từ 800 nghìn - 1 triệu đồng.Bấm còi hơi bị phạt từ 800 nghìn – 1 triệu đồng. Điều khiển xe không có còi/có nhưng còi không có tác dụng mức phạt từ 300-400 nghìn đồng. Điều khiển xe lắp đặt, sử dụng còi vượt quá âm lượng theo quy định mức phạt từ 2-3 triệu đồng."
}
],
"id": "608",
"is_impossible": false,
"question": "Bấm còi xe liên tục có bị phạt tiền?"
}
]
}
],
"title": "Bấm còi xe liên tục có bị phạt tiền?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Ông Vũ Đình Sơn (Lai Châu) có câu hỏi liên quan đến điều kiện dùng chứng chỉ hành nghề thay chứng chỉ chức danh nghề, nhờ cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn giải đáp. Ảnh minh họa. Nội dung câu hỏi như sau: Ông Vũ Đình Sơn hỏi, viên chức ngành xây dựng đã có các chứng chỉ hành nghề: định giá, giám sát thi công, quản lý dự án, đấu thầu,… thì khi bổ nhiệm chức danh Thẩm kế viên hạng III có được dùng các chứng chỉ trên thay thế chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp không? Ông Sơn đã tham khảo Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 1/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thấy có quy định, viên chức có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật được sử dụng thay thế chứng chỉ chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành tương ứng. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm Thẩm kế viên hạng III thuộc ngành, lĩnh vực xây dựng được quy định tại Phụ lục IV Thông tư số 10/2023/TT-BXD ngày 20/10/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn về vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý và chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực xây dựng. Phạm vi hoạt động của chứng chỉ hành nghề: định giá, giám sát thi công, quản lý dự án được quy định tại Phụ lục VI Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 không tương ứng với nội dung công việc và khung năng lực vị trí việc làm Thẩm kế viên hạng III. Do đó, không áp dụng quy định tại Khoản 9 Điều 1 Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 1/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trong trường hợp viên chức ngành xây dựng sử dụng chứng chỉ hành nghề định giá, giám sát thi công, quản lý dự án, đấu thầu... thay thế chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp khi bổ nhiệm chức danh Thẩm kế viên hạng III.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 217,
"text": "Ông Vũ Đình Sơn hỏi, viên chức ngành xây dựng đã có các chứng chỉ hành nghề: định giá, giám sát thi công, quản lý dự án, đấu thầu,… thì khi bổ nhiệm chức danh Thẩm kế viên hạng III có được dùng các chứng chỉ trên thay thế chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp không? Ông Sơn đã tham khảo Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 1/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thấy có quy định, viên chức có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật được sử dụng thay thế chứng chỉ chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành tương ứng. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm Thẩm kế viên hạng III thuộc ngành, lĩnh vực xây dựng được quy định tại Phụ lục IV Thông tư số 10/2023/TT-BXD ngày 20/10/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn về vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý và chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực xây dựng. Phạm vi hoạt động của chứng chỉ hành nghề: định giá, giám sát thi công, quản lý dự án được quy định tại Phụ lục VI Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 không tương ứng với nội dung công việc và khung năng lực vị trí việc làm Thẩm kế viên hạng III. Do đó, không áp dụng quy định tại Khoản 9 Điều 1 Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 1/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trong trường hợp viên chức ngành xây dựng sử dụng chứng chỉ hành nghề định giá, giám sát thi công, quản lý dự án, đấu thầu... thay thế chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp khi bổ nhiệm chức danh Thẩm kế viên hạng III."
}
],
"id": "609",
"is_impossible": false,
"question": "Điều kiện dùng chứng chỉ hành nghề thay chứng chỉ chức danh nghề"
}
]
}
],
"title": "Điều kiện dùng chứng chỉ hành nghề thay chứng chỉ chức danh nghề"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Trao đổi với PV Báo Giao thông, chị T (SN 1991, trú thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh) - nữ chủ nhân xe Mazda3 BKS 38A-395.36 cho biết sẽ yêu cầu phía đại lý Mazda Hà Tĩnh đền bù thỏa đáng.Chiếc xe Mazda bốc cháy sau khi được sửa chữa vì lỗi ngập nước nhẹ.Theo chị T, chiếc xe trên chị mới mua cuối năm 2021, giá xe bao gồm phí lăn bánh là 750 triệu đồng. Thời điểm mới chạy được khoảng 25.000km thì bị ngập nước nhẹ. Khi đưa vào đại lý Mazda Hà Tĩnh sửa chữa, họ bảo tình trạng xe hỏng nhẹ.\"Vụ cháy xảy ra nhưng bên tôi không có lỗi gì cả. Tôi sẽ yêu cầu đại lý phải đền bù bằng giá trị chiếc xe. Phương án đền bù có thể bằng tiền hoặc một chiếc xe mới tương đương nhưng phải đảm bảo giá trị thỏa đáng\", chị T nói.Trước đó, vào lúc 14h ngày 21/6, ô tô 5 chỗ hiệu Mazda3 biển kiểm soát 38A-395.xx đang di chuyển trên đại lộ Xô Viết Nghệ Tĩnh (thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh) bỗng nhiên bốc cháy phần cabin.Theo Đội Cảnh sát giao thông - Trật tự (Công an thành phố Hà Tĩnh), khi phát hiện cháy, tài xế thoát ra ngoài an toàn, tìm cách dập lửa song bất thành. Trong ít phút, khói kèm lửa bốc cháy ngùn ngụt ở cabin.Tuy không có thiệt hại về người nhưng phần đầu chiếc xe bị hư hỏng nặng.Video người dân ghi lại xe Mazda bốc cháy phần đầu trên đường phố Hà Tĩnh.Với những thông tin đã được công bố, chiếc xe bị cháy vẫn trong thời gian thực hiện dịch vụ sửa chữa của đại lý Mazda Hà Tĩnh. Chủ sở hữu chưa nhận lại xe từ đại lý. Việc lái thử, lưu thông xe trên đường do nhân viên của hãng thực hiện.\"Về nguyên tắc, phía đại lý nhận sửa chữa xe phải đảm bảo quá trình sửa chữa hoàn thành, kỹ thuật viên phải kiểm tra kỹ và xe đủ an toàn thì mới được lưu thông trên đường. Cho dù nguyên nhân xe bốc cháy xuất phát từ lỗi tiềm ẩn của chiếc xe hay do lỗi trong quá trình sửa chữa của đại lý thì dưới góc độ pháp lý, phía Mazda Hà Tĩnh phải chịu trách nhiệm về sự cố này\", luật sư Phan Văn Chiều nói.Cũng theo giám đốc Công ty Luật Hà Châu, xét về góc độ bồi thường thì các bên có thể thỏa thuận.\"Nếu không thỏa thuận được có thể yêu cầu cơ quan chức năng giám định về giá trị chiếc xe. Giá trị bồi thường được xác định dựa trên giá trị chiếc xe khi mua trừ đi khấu hao theo thời gian sử dụng để xác định giá trị thực của chiếc xe tại thời điểm bị cháy\", luật sư Phan Văn Chiều nói thêm.Đại diện Mazda Hà Tĩnh cho biết sẽ xin ý kiến Mazda Việt Nam về việc này để giải quyết với khách hàng.Trước đó, vào ngày 31/5, chị T đưa xe ô tô nhãn hiệu Mazda3 màu trắng, BKS 38A-395.36 đến đại lý chính hãng Mazda Hà Tĩnh thuộc sở hữu của Công ty Xây lắp và thương mại ô tô Hoàng Hà (TP Hà Tĩnh) để sửa chữa vì xe ô tô bị ngập nước trước đó.Sau khi sửa xong, ngày 21/6, đại lý nói trên có lịch bàn giao xe cho chị T, đến khoảng 13h40 cùng ngày, anh B nhân viên tư vấn dịch vụ của Mazda Hà Tĩnh nhờ anh T.K.H (SN 1998), kỹ thuật viên của Mazda Hà Tĩnh chạy thử xe để kiểm tra trước khi bàn giao cho khách.Anh H đã điều khiển xe chạy thử, chở theo anh B dọc theo đường Trần Phú vào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Khi cách công viên Trần Phú (TP Hà Tĩnh) khoảng 150m thì anh H hoảng hốt phát hiện khói bốc lên từ đầu xe nên đã tắt máy rồi cùng anh B ra khỏi xe.Anh H mượn của người dân 1 bình cứu hỏa quay lại hiện trường chữa cháy nhưng lúc này do lửa bốc cháy ngùn ngụt nên không thể dập tắt. Ngay sau đó, lực lượng PCCC đã đến hiện trường để hỗ trợ dập tắt đám cháy.Tại hiện trường, ô tô bị cháy rụi phần đầu xe và hư hỏng nặng nội thất bên trong. Ước tính, giá trị thiệt hại khoảng 250 triệu đồng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Trao đổi với PV Báo Giao thông, chị T (SN 1991, trú thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh) - nữ chủ nhân xe Mazda3 BKS 38A-395.36 cho biết sẽ yêu cầu phía đại lý Mazda Hà Tĩnh đền bù thỏa đáng.Chiếc xe Mazda bốc cháy sau khi được sửa chữa vì lỗi ngập nước nhẹ.Theo chị T, chiếc xe trên chị mới mua cuối năm 2021, giá xe bao gồm phí lăn bánh là 750 triệu đồng. Thời điểm mới chạy được khoảng 25.000km thì bị ngập nước nhẹ. Khi đưa vào đại lý Mazda Hà Tĩnh sửa chữa, họ bảo tình trạng xe hỏng nhẹ.\"Vụ cháy xảy ra nhưng bên tôi không có lỗi gì cả. Tôi sẽ yêu cầu đại lý phải đền bù bằng giá trị chiếc xe. Phương án đền bù có thể bằng tiền hoặc một chiếc xe mới tương đương nhưng phải đảm bảo giá trị thỏa đáng\", chị T nói.Trước đó, vào lúc 14h ngày 21/6, ô tô 5 chỗ hiệu Mazda3 biển kiểm soát 38A-395.xx đang di chuyển trên đại lộ Xô Viết Nghệ Tĩnh (thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh) bỗng nhiên bốc cháy phần cabin.Theo Đội Cảnh sát giao thông - Trật tự (Công an thành phố Hà Tĩnh), khi phát hiện cháy, tài xế thoát ra ngoài an toàn, tìm cách dập lửa song bất thành. Trong ít phút, khói kèm lửa bốc cháy ngùn ngụt ở cabin.Tuy không có thiệt hại về người nhưng phần đầu chiếc xe bị hư hỏng nặng.Video người dân ghi lại xe Mazda bốc cháy phần đầu trên đường phố Hà Tĩnh.Với những thông tin đã được công bố, chiếc xe bị cháy vẫn trong thời gian thực hiện dịch vụ sửa chữa của đại lý Mazda Hà Tĩnh. Chủ sở hữu chưa nhận lại xe từ đại lý. Việc lái thử, lưu thông xe trên đường do nhân viên của hãng thực hiện.\"Về nguyên tắc, phía đại lý nhận sửa chữa xe phải đảm bảo quá trình sửa chữa hoàn thành, kỹ thuật viên phải kiểm tra kỹ và xe đủ an toàn thì mới được lưu thông trên đường. Cho dù nguyên nhân xe bốc cháy xuất phát từ lỗi tiềm ẩn của chiếc xe hay do lỗi trong quá trình sửa chữa của đại lý thì dưới góc độ pháp lý, phía Mazda Hà Tĩnh phải chịu trách nhiệm về sự cố này\", luật sư Phan Văn Chiều nói.Cũng theo giám đốc Công ty Luật Hà Châu, xét về góc độ bồi thường thì các bên có thể thỏa thuận.\"Nếu không thỏa thuận được có thể yêu cầu cơ quan chức năng giám định về giá trị chiếc xe. Giá trị bồi thường được xác định dựa trên giá trị chiếc xe khi mua trừ đi khấu hao theo thời gian sử dụng để xác định giá trị thực của chiếc xe tại thời điểm bị cháy\", luật sư Phan Văn Chiều nói thêm.Đại diện Mazda Hà Tĩnh cho biết sẽ xin ý kiến Mazda Việt Nam về việc này để giải quyết với khách hàng.Trước đó, vào ngày 31/5, chị T đưa xe ô tô nhãn hiệu Mazda3 màu trắng, BKS 38A-395.36 đến đại lý chính hãng Mazda Hà Tĩnh thuộc sở hữu của Công ty Xây lắp và thương mại ô tô Hoàng Hà (TP Hà Tĩnh) để sửa chữa vì xe ô tô bị ngập nước trước đó.Sau khi sửa xong, ngày 21/6, đại lý nói trên có lịch bàn giao xe cho chị T, đến khoảng 13h40 cùng ngày, anh B nhân viên tư vấn dịch vụ của Mazda Hà Tĩnh nhờ anh T.K.H (SN 1998), kỹ thuật viên của Mazda Hà Tĩnh chạy thử xe để kiểm tra trước khi bàn giao cho khách.Anh H đã điều khiển xe chạy thử, chở theo anh B dọc theo đường Trần Phú vào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Khi cách công viên Trần Phú (TP Hà Tĩnh) khoảng 150m thì anh H hoảng hốt phát hiện khói bốc lên từ đầu xe nên đã tắt máy rồi cùng anh B ra khỏi xe.Anh H mượn của người dân 1 bình cứu hỏa quay lại hiện trường chữa cháy nhưng lúc này do lửa bốc cháy ngùn ngụt nên không thể dập tắt. Ngay sau đó, lực lượng PCCC đã đến hiện trường để hỗ trợ dập tắt đám cháy.Tại hiện trường, ô tô bị cháy rụi phần đầu xe và hư hỏng nặng nội thất bên trong. Ước tính, giá trị thiệt hại khoảng 250 triệu đồng."
}
],
"id": "610",
"is_impossible": false,
"question": "Xe Mazda cháy khi nhân viên sửa xe chạy thử: Bồi thường ra sao?"
}
]
}
],
"title": "Xe Mazda cháy khi nhân viên sửa xe chạy thử: Bồi thường ra sao?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Ông Phạm Trung Thành (Đà Nẵng) hỏi, chi phí chung trong tổng mức đầu tư của các công trình đường dây và trạm biến áp (cấp điện áp 35kV trở xuống) có tổng mức đầu tư nhỏ hơn 15 tỷ đồng lập theo hướng dẫn tại Bảng 3.1 hay Bảng 3.2 Phụ lục III Thông tư số 11/2021/TT-BXD? Ảnh minh họa. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Nội dung câu hỏi chưa nêu cụ thể nguồn vốn thực hiện dự án, pháp luật về quản lý chi phí áp dụng cho dự án nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để hướng dẫn cụ thể. Trường hợp việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng đối với công trình nêu tại câu hỏi thuộc phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì chi phí chung xác định trên chi phí nhân công trong chi phí trực tiếp của chi phí xây dựng, lắp đặt công trình đường dây tải điện và trạm biến áp đã được quy định tại Bảng 3.2 và được điều chỉnh theo quy định tại Mục II.1.2.3 Phụ lục III Thông tư số 11/2021/TT-BXD.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 336,
"text": "Nội dung câu hỏi chưa nêu cụ thể nguồn vốn thực hiện dự án, pháp luật về quản lý chi phí áp dụng cho dự án nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để hướng dẫn cụ thể. Trường hợp việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng đối với công trình nêu tại câu hỏi thuộc phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì chi phí chung xác định trên chi phí nhân công trong chi phí trực tiếp của chi phí xây dựng, lắp đặt công trình đường dây tải điện và trạm biến áp đã được quy định tại Bảng 3.2 và được điều chỉnh theo quy định tại Mục II.1.2.3 Phụ lục III Thông tư số 11/2021/TT-BXD."
}
],
"id": "611",
"is_impossible": false,
"question": "Cách tính chi phí chung công trình đường dây và trạm biến áp"
}
]
}
],
"title": "Cách tính chi phí chung công trình đường dây và trạm biến áp"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Trong mỗi trường hợp cụ thể, học viên tập lái xe khi gây ra tai nạn sẽ phải chịu trách nhiệm thực tế theo các tội danh tương ứng.Trong trường hợp gây tai nạn tạo ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, người học lái xe có thể bị xử lý tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, mức phạt cao nhất 15 năm tù.Trường hợp người học lái xe gây tai nạn mà do tự tin quá mức hoặc do sự cẩu thả, họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý làm chết người.Đối với giáo viên, nếu giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện và thiếu trách nhiệm giám sát và để học viên gây tai nạn chết người, họ có thể bị xem xét tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, mức phạt cao nhất 12 năm tù.Ngoài ra, trong trường hợp học viên lái xe gây tai nạn, trường dạy lái xe cũng có thể phải chịu trách nhiệm tùy thuộc vào các tình huống cụ thể. Bởi lẽ, chiếc xe liên quan đến tai nạn thường là phương tiện dành cho học viên tại trường.Về trách nhiệm bồi thường, trường hợp học viên lái xe gây tai nạn, trung tâm đào tạo phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị hại. Sau đó, trung tâm có quyền yêu cầu người học lái xe hoàn trả một phần hoặc toàn bộ chi phí nếu xác định lỗi thuộc về người học lái.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Trong mỗi trường hợp cụ thể, học viên tập lái xe khi gây ra tai nạn sẽ phải chịu trách nhiệm thực tế theo các tội danh tương ứng.Trong trường hợp gây tai nạn tạo ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, người học lái xe có thể bị xử lý tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, mức phạt cao nhất 15 năm tù.Trường hợp người học lái xe gây tai nạn mà do tự tin quá mức hoặc do sự cẩu thả, họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý làm chết người.Đối với giáo viên, nếu giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện và thiếu trách nhiệm giám sát và để học viên gây tai nạn chết người, họ có thể bị xem xét tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, mức phạt cao nhất 12 năm tù.Ngoài ra, trong trường hợp học viên lái xe gây tai nạn, trường dạy lái xe cũng có thể phải chịu trách nhiệm tùy thuộc vào các tình huống cụ thể. Bởi lẽ, chiếc xe liên quan đến tai nạn thường là phương tiện dành cho học viên tại trường.Về trách nhiệm bồi thường, trường hợp học viên lái xe gây tai nạn, trung tâm đào tạo phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị hại. Sau đó, trung tâm có quyền yêu cầu người học lái xe hoàn trả một phần hoặc toàn bộ chi phí nếu xác định lỗi thuộc về người học lái."
}
],
"id": "612",
"is_impossible": false,
"question": "Học viên gây tai nạn, thầy dạy lái có chịu trách nhiệm?"
}
]
}
],
"title": "Học viên gây tai nạn, thầy dạy lái có chịu trách nhiệm?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Giải vô địch bóng đá châu Âu (EURO 2024) đang diễn ra từ ngày 14/6-14/7, thu hút sự theo dõi của người hâm mộ trên toàn thế giới nhưng đi kèm với đó là hoạt động đánh bạc, tổ chức đánh bạc trên không gian mạng dưới hình thức cá độ bóng đá.Theo quy định pháp luật, hành vi cá độ bóng đá được thua bằng tiền hoặc hiện vật là hành vi đánh bạc. Tùy theo mức độ, cơ quan chức năng sẽ xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, theo quy định tại Điều 321 và Điều 322 Bộ luật Hình sự.Tang vật trong một vụ án liên quan hành vi cá độ bóng đá.Cụ thể, Điều 321 quy định, người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5 triệu trở lên, thì bị phạt tiền, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù lên đến 7 năm.Còn Điều 322 nêu rõ, hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép sẽ bị phạt tiền từ 50 triệu đồng hoặc phạt tù ở mức cao nhất là 10 năm.CLB Việt Nam có 6 cầu thủ bị bắt vì cá độ ra quyết định gây sốcĐỌC NGAYCơ quan công an khuyến cáo, hiện nay các tổ chức cờ bạc lợi dụng không gian mạng để lập nhiều website cá độ bóng đá với hệ thống máy chủ đặt tại nước ngoài. Đồng thời, ra sức quảng cáo, lôi kéo dụ dỗ người chơi mở tài khoản tham gia cá độ bóng đá.Do đó, nhà chức trách khuyến cáo người dân cần nâng cao ý thức tự chấp hành các quy định pháp luật liên quan đến tội phạm và tệ nạn cờ bạc, nhất là cá độ bóng đá. Tuyệt đối không tham gia cá độ bóng đá dưới mọi hình thức.Người dân cần cảnh giác với các chiêu trò, lôi kéo, dụ dỗ tham gia đánh bạc, cá độ bóng đá. Chủ động cung cấp thông tin cho cơ quan chức năng khi phát hiện các trang web đánh bạc trên mạng xã hội.Đặc biệt, các gia đình cần quan tâm quản lý, giáo dục, vận động người thân nâng cao cảnh giác, tránh xa cá độ bóng đá. Trường hợp phát hiện các đối tượng có biểu hiện nghi vấn liên quan đến cá độ bóng đá, cần kịp thời báo tin tới cơ quan công an gần nhất.Ngoài ra, chủ các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, giải trí, điểm vui chơi hay các quán internet cần chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về an ninh trật tự. Nếu tổ chức xem bóng đá, tuyệt đối không tổ chức cá độ bóng đá. Không tiếp tay, bao che để các đối tượng lợi dụng tổ chức cá độ bóng đá.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Giải vô địch bóng đá châu Âu (EURO 2024) đang diễn ra từ ngày 14/6-14/7, thu hút sự theo dõi của người hâm mộ trên toàn thế giới nhưng đi kèm với đó là hoạt động đánh bạc, tổ chức đánh bạc trên không gian mạng dưới hình thức cá độ bóng đá.Theo quy định pháp luật, hành vi cá độ bóng đá được thua bằng tiền hoặc hiện vật là hành vi đánh bạc. Tùy theo mức độ, cơ quan chức năng sẽ xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, theo quy định tại Điều 321 và Điều 322 Bộ luật Hình sự.Tang vật trong một vụ án liên quan hành vi cá độ bóng đá.Cụ thể, Điều 321 quy định, người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5 triệu trở lên, thì bị phạt tiền, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù lên đến 7 năm.Còn Điều 322 nêu rõ, hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép sẽ bị phạt tiền từ 50 triệu đồng hoặc phạt tù ở mức cao nhất là 10 năm.CLB Việt Nam có 6 cầu thủ bị bắt vì cá độ ra quyết định gây sốcĐỌC NGAYCơ quan công an khuyến cáo, hiện nay các tổ chức cờ bạc lợi dụng không gian mạng để lập nhiều website cá độ bóng đá với hệ thống máy chủ đặt tại nước ngoài. Đồng thời, ra sức quảng cáo, lôi kéo dụ dỗ người chơi mở tài khoản tham gia cá độ bóng đá.Do đó, nhà chức trách khuyến cáo người dân cần nâng cao ý thức tự chấp hành các quy định pháp luật liên quan đến tội phạm và tệ nạn cờ bạc, nhất là cá độ bóng đá. Tuyệt đối không tham gia cá độ bóng đá dưới mọi hình thức.Người dân cần cảnh giác với các chiêu trò, lôi kéo, dụ dỗ tham gia đánh bạc, cá độ bóng đá. Chủ động cung cấp thông tin cho cơ quan chức năng khi phát hiện các trang web đánh bạc trên mạng xã hội.Đặc biệt, các gia đình cần quan tâm quản lý, giáo dục, vận động người thân nâng cao cảnh giác, tránh xa cá độ bóng đá. Trường hợp phát hiện các đối tượng có biểu hiện nghi vấn liên quan đến cá độ bóng đá, cần kịp thời báo tin tới cơ quan công an gần nhất.Ngoài ra, chủ các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, giải trí, điểm vui chơi hay các quán internet cần chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về an ninh trật tự. Nếu tổ chức xem bóng đá, tuyệt đối không tổ chức cá độ bóng đá. Không tiếp tay, bao che để các đối tượng lợi dụng tổ chức cá độ bóng đá."
}
],
"id": "613",
"is_impossible": false,
"question": "Cá độ bóng đá dịp Euro 2024 có bị xử lý hình sự?"
}
]
}
],
"title": "Cá độ bóng đá dịp Euro 2024 có bị xử lý hình sự?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Ông Trần Hải Tuấn (Long An) hỏi, viên chức đang giữ chức danh nghề nghiệp kỹ sư (V.05.02.07), có chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng thì chứng chỉ hành nghề này có thay thế được chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành quản lý dự án đường bộ để chuyển xếp vào chức danh nghề nghiệp Quản lý dự án đường bộ hạng III (V.12.23.03) hay không? Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành quản lý dự án đường bộ được quy định tại Thông tư số 46/2022/TT-BGTVT và Thông tư số 17/2024/TT-BGTVT. (Ảnh minh họa) Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 1/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, đã được sửa đổi tại Khoản 9 Điều 1 Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021: \"Viên chức có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật được sử dụng thay thế chứng chỉ chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành tương ứng\". Do đó, viên chức được thay thế chứng chỉ chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bằng chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật chuyên ngành tương ứng. Để được chuyển xếp vào chức danh nghề nghiệp Quản lý dự án đường bộ hạng III, đề nghị ông nghiên cứu các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành quản lý dự án đường bộ tại Thông tư số 46/2022/TT-BGTVT ngày 30/12/2022, Thông tư số 17/2024/TT-BGTVT ngày 30/5/2024 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 608,
"text": "Theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 1/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, đã được sửa đổi tại Khoản 9 Điều 1 Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021: \"Viên chức có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật được sử dụng thay thế chứng chỉ chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành tương ứng\". Do đó, viên chức được thay thế chứng chỉ chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bằng chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật chuyên ngành tương ứng. Để được chuyển xếp vào chức danh nghề nghiệp Quản lý dự án đường bộ hạng III, đề nghị ông nghiên cứu các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành quản lý dự án đường bộ tại Thông tư số 46/2022/TT-BGTVT ngày 30/12/2022, Thông tư số 17/2024/TT-BGTVT ngày 30/5/2024 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải."
}
],
"id": "614",
"is_impossible": false,
"question": "Quy định về dùng chứng chỉ hành nghề thay chứng chỉ chức danh nghề"
}
]
}
],
"title": "Quy định về dùng chứng chỉ hành nghề thay chứng chỉ chức danh nghề"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Mới đây, anh Nguyễn Văn Tú (ở Hà Nội) phản ánh về việc vừa qua, anh mua lại chiếc xe ô tô 5 chỗ thông qua giới thiệu của người trung gian. Sau khi hoàn tất thủ tục mua bán và sang tên đổi chủ rồi sử dụng, anh Tú mang xe đi đăng kiểm thì bất ngờ nhận được thông báo phương tiện này dính phạt nguội.Tuy nhiên, thời điểm xảy lỗi vi phạm lại thuộc về người chủ cũ. Anh Tú thắc mắc trong trường hợp này, ai phải là người nộp phạt?Nếu liên lạc được với chủ cũ, chủ mới của xe có thể thỏa thuận về việc nộp phạt nguội (ảnh minh họa).Với những thông tin trên, một cán bộ cảnh sát giao thông Hà Nội nhận định, trường hợp chiếc xe mà anh Tú mua lại đã được sang tên đổi chủ và biển số định danh bị thu hồi về cho chủ cũ, thì dữ liệu phạt nguội sẽ căn cứ vào thông tin trên sổ đăng kiểm.Theo quy định, trong quá trình sang tên đổi chủ, các bên liên quan phải phối hợp kiểm tra xem phương tiện đó có bị xử phạt nguội (tính đến thời điểm mua bán xe) hay không. Nếu có, chủ cũ của xe nên tự giác chấp hành quyết định xử phạt rồi mới bàn giao cho chủ mới.Đồng thời, người mua lại phương tiện cần đề nghị chủ sở hữu trước đó nộp phạt về hành vi vi phạm. Sau đó mới hoàn tất quá trình giao dịch mua bán.Trong khi đó, luật sư Trần Tuấn Anh (Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch, Đoàn Luật sư TP Hà Nội) phân tích, chủ sở hữu tài sản ở đây là phương tiện ô tô phải có trách nhiệm đối với tài sản của mình. Khi xe ô tô bị phạt nguội, chủ xe phải chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (nếu mình là người điều khiển) hoặc phối hợp với cơ quan chức năng để giải quyết việc đó (nếu cho mượn xe).Luật sư Trần Tuấn Anh.Sau khi chuyển nhượng tài sản cho người khác, chủ xe ban đầu vẫn phải chịu trách nhiệm chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính nếu chưa thực hiện.Theo luật sư, trong trường hợp của anh Tú, nếu người này liên hệ được với chủ xe trước đó, thì hai bên có thể thỏa thuận để chấp hành việc nộp phạt nguội. Nếu không, anh Tú sẽ phải chịu rủi ro và chấp nhận nộp phạt thay chủ cũ.Ngoài ra, anh Tú cũng có thể làm văn bản gửi cơ quan công an nơi ra quyết định xử phạt nguội đó để được hỗ trợ, giải quyết theo các quy định của pháp luật.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Mới đây, anh Nguyễn Văn Tú (ở Hà Nội) phản ánh về việc vừa qua, anh mua lại chiếc xe ô tô 5 chỗ thông qua giới thiệu của người trung gian. Sau khi hoàn tất thủ tục mua bán và sang tên đổi chủ rồi sử dụng, anh Tú mang xe đi đăng kiểm thì bất ngờ nhận được thông báo phương tiện này dính phạt nguội.Tuy nhiên, thời điểm xảy lỗi vi phạm lại thuộc về người chủ cũ. Anh Tú thắc mắc trong trường hợp này, ai phải là người nộp phạt?Nếu liên lạc được với chủ cũ, chủ mới của xe có thể thỏa thuận về việc nộp phạt nguội (ảnh minh họa).Với những thông tin trên, một cán bộ cảnh sát giao thông Hà Nội nhận định, trường hợp chiếc xe mà anh Tú mua lại đã được sang tên đổi chủ và biển số định danh bị thu hồi về cho chủ cũ, thì dữ liệu phạt nguội sẽ căn cứ vào thông tin trên sổ đăng kiểm.Theo quy định, trong quá trình sang tên đổi chủ, các bên liên quan phải phối hợp kiểm tra xem phương tiện đó có bị xử phạt nguội (tính đến thời điểm mua bán xe) hay không. Nếu có, chủ cũ của xe nên tự giác chấp hành quyết định xử phạt rồi mới bàn giao cho chủ mới.Đồng thời, người mua lại phương tiện cần đề nghị chủ sở hữu trước đó nộp phạt về hành vi vi phạm. Sau đó mới hoàn tất quá trình giao dịch mua bán.Trong khi đó, luật sư Trần Tuấn Anh (Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch, Đoàn Luật sư TP Hà Nội) phân tích, chủ sở hữu tài sản ở đây là phương tiện ô tô phải có trách nhiệm đối với tài sản của mình. Khi xe ô tô bị phạt nguội, chủ xe phải chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (nếu mình là người điều khiển) hoặc phối hợp với cơ quan chức năng để giải quyết việc đó (nếu cho mượn xe).Luật sư Trần Tuấn Anh.Sau khi chuyển nhượng tài sản cho người khác, chủ xe ban đầu vẫn phải chịu trách nhiệm chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính nếu chưa thực hiện.Theo luật sư, trong trường hợp của anh Tú, nếu người này liên hệ được với chủ xe trước đó, thì hai bên có thể thỏa thuận để chấp hành việc nộp phạt nguội. Nếu không, anh Tú sẽ phải chịu rủi ro và chấp nhận nộp phạt thay chủ cũ.Ngoài ra, anh Tú cũng có thể làm văn bản gửi cơ quan công an nơi ra quyết định xử phạt nguội đó để được hỗ trợ, giải quyết theo các quy định của pháp luật."
}
],
"id": "615",
"is_impossible": false,
"question": "Mua ô tô cũ nhưng \"dính\" phạt nguội, chủ xe cần phải làm gì?"
}
]
}
],
"title": "Mua ô tô cũ nhưng \"dính\" phạt nguội, chủ xe cần phải làm gì?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Với những hành vi chống đối, cản trở, gây nguy hiểm cho CSGT, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, người vi phạm có thể bị xử lý hành chính theo Nghị định số 144 hoặc xử lý hình sự theo quy định tại Bộ luật Hình sự về tội Chống người thi hành công vụ.Theo Nghị định 144, hành vi cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát hoặc nhiệm vụ khác của người thi hành công vụ theo quy định của pháp luật; Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ; Tổ chức, xúi giục, giúp sức, lôi kéo hoặc kích động người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ sẽ bị phạt tiền từ 4-6 triệu đồngHành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực chống người thi hành công vụ; Gây thiệt hại về tài sản, phương tiện của cơ quan nhà nước, của người thi hành công vụ; Đưa tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc lợi ích phi vật chất hối lộ cho người thi hành công vụ bị phạt tiền từ 6-8 triệu đồng.Còn theo Điều 330 Bộ luật Hình sự, người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Mức cao nhất cho tội này có thể bị phạt tù đến 7 năm.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Với những hành vi chống đối, cản trở, gây nguy hiểm cho CSGT, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, người vi phạm có thể bị xử lý hành chính theo Nghị định số 144 hoặc xử lý hình sự theo quy định tại Bộ luật Hình sự về tội Chống người thi hành công vụ.Theo Nghị định 144, hành vi cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát hoặc nhiệm vụ khác của người thi hành công vụ theo quy định của pháp luật; Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ; Tổ chức, xúi giục, giúp sức, lôi kéo hoặc kích động người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ sẽ bị phạt tiền từ 4-6 triệu đồngHành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực chống người thi hành công vụ; Gây thiệt hại về tài sản, phương tiện của cơ quan nhà nước, của người thi hành công vụ; Đưa tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc lợi ích phi vật chất hối lộ cho người thi hành công vụ bị phạt tiền từ 6-8 triệu đồng.Còn theo Điều 330 Bộ luật Hình sự, người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Mức cao nhất cho tội này có thể bị phạt tù đến 7 năm."
}
],
"id": "616",
"is_impossible": false,
"question": "Chống đối, gây nguy hiểm cho CSGT bị xử lý thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Chống đối, gây nguy hiểm cho CSGT bị xử lý thế nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở năm 2014 có quy định giá thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước chưa được cải tạo, xây dựng lại thì áp dụng giá thuê theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Bộ Xây dựng đang dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở năm 2023, thay thế Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ. (Ảnh minh họa) Liên quan đến đề nghị hướng dẫn của Sở Xây dựng thành phố Cần Thơ về việc tính tiền thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước theo bảng lương mới để điều chỉnh tương ứng giá thuê nhà ở cũ, mới đây, Bộ Xây dựng có văn bản trả lời vấn đề này. Bộ Xây dựng cho biết, tại khoản 1 Điều 58 của Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở năm 2014 có quy định giá thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước chưa được cải tạo, xây dựng lại thì áp dụng giá thuê theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 5 Quyết định số 17/2008/QĐ-TTg ngày 28/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành giá chuẩn cho thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước chưa được cải tạo, xây dựng có quy định: Trong trường hợp Nhà nước có điều chỉnh tiền lương cơ bản thì UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm điều chỉnh tăng giá thuê nhà ở tương ứng với tỉ lệ tăng của tiền lương. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang xây dựng dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở năm 2023, thay thế Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở năm 2014. Trong đó, có quy định trường hợp Nhà nước có thay đổi về tiền lương thì UBND cấp tỉnh có trách nhiệm điều chỉnh giá thuê nhà ở cũ thuộc tài sản công trên địa bàn tương ứng với tỉ lệ thay đổi về tiền lương cho phù hợp. Vì vậy, Bộ Xây dựng đề nghị Sở Xây dựng Thành phố Cần Thơ nghiên cứu, đối chiếu tỷ lệ tăng tiền lương theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền để báo cáo UBND thành phố Cần Thơ quyết định việc điều chỉnh giá thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước trên địa bàn cho phù hợp với thay đổi tiền lương của Nhà nước trong thời gian tới.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1189,
"text": "Trong trường hợp Nhà nước có điều chỉnh tiền lương cơ bản thì UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm điều chỉnh tăng giá thuê nhà ở tương ứng với tỉ lệ tăng của tiền lương. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang xây dựng dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở năm 2023, thay thế Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở năm 2014. Trong đó, có quy định trường hợp Nhà nước có thay đổi về tiền lương thì UBND cấp tỉnh có trách nhiệm điều chỉnh giá thuê nhà ở cũ thuộc tài sản công trên địa bàn tương ứng với tỉ lệ thay đổi về tiền lương cho phù hợp. Vì vậy, Bộ Xây dựng đề nghị Sở Xây dựng Thành phố Cần Thơ nghiên cứu, đối chiếu tỷ lệ tăng tiền lương theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền để báo cáo UBND thành phố Cần Thơ quyết định việc điều chỉnh giá thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước trên địa bàn cho phù hợp với thay đổi tiền lương của Nhà nước trong thời gian tới."
}
],
"id": "617",
"is_impossible": false,
"question": "Điều chỉnh giá thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước áp dụng theo quy định nào?"
}
]
}
],
"title": "Điều chỉnh giá thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước áp dụng theo quy định nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) – Trong trường hợp Nhà nước có điều chỉnh tiền lương cơ bản thì UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm điều chỉnh tăng giá thuê nhà ở tương ứng với tỉ lệ tăng của tiền lương. Tính tiền thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước. Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Sở Xây dựng thành phố Cần Thơ đề nghị hướng dẫn, về việc tính tiền thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước theo bảng lương mới để điều chỉnh tương ứng giá thuê nhà ở cũ. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng trả lời như sau: Tại khoản 1 Điều 58 của Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở năm 2014 có quy định giá thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu nhà nước chưa được cải tạo, xây dựng lại thì áp dụng giá thuê theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Tại khoản 3 Điều 5 Quyết định số 17/2008/QĐ-TTg ngày 28/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành giá chuẩn cho thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước chưa được cải tạo, xây dựng có quy định: “Trong trường hợp Nhà nước có điều chỉnh tiền lương cơ bản thì UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm điều chỉnh tăng giá thuê nhà ở tương ứng với tỉ lệ tăng của tiền lương”. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang xây dựng dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở năm 2023 (thay thế Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở năm 2014). Trong đó có quy định trường hợp Nhà nước có thay đổi về tiền lương thì UBND cấp tỉnh có trách nhiệm điều chỉnh giá thuê nhà ở cũ thuộc tài sản công trên địa bàn tương ứng với tỉ lệ thay đổi về tiền lương cho phù hợp. Do đó, đề nghị Sở Xây dựng thành phố Cần Thơ nghiên cứu, đối chiếu tỷ lệ tăng tiền lương theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền để báo cáo UBND thành phố Cần Thơ, quyết định việc điều chỉnh giá thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước trên địa bàn cho phù hợp với thay đổi tiền lương của Nhà nước trong thời gian tới.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 478,
"text": "Tại khoản 1 Điều 58 của Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở năm 2014 có quy định giá thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu nhà nước chưa được cải tạo, xây dựng lại thì áp dụng giá thuê theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Tại khoản 3 Điều 5 Quyết định số 17/2008/QĐ-TTg ngày 28/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành giá chuẩn cho thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước chưa được cải tạo, xây dựng có quy định: “Trong trường hợp Nhà nước có điều chỉnh tiền lương cơ bản thì UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm điều chỉnh tăng giá thuê nhà ở tương ứng với tỉ lệ tăng của tiền lương”. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang xây dựng dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở năm 2023 (thay thế Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở năm 2014). Trong đó có quy định trường hợp Nhà nước có thay đổi về tiền lương thì UBND cấp tỉnh có trách nhiệm điều chỉnh giá thuê nhà ở cũ thuộc tài sản công trên địa bàn tương ứng với tỉ lệ thay đổi về tiền lương cho phù hợp. Do đó, đề nghị Sở Xây dựng thành phố Cần Thơ nghiên cứu, đối chiếu tỷ lệ tăng tiền lương theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền để báo cáo UBND thành phố Cần Thơ, quyết định việc điều chỉnh giá thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước trên địa bàn cho phù hợp với thay đổi tiền lương của Nhà nước trong thời gian tới."
}
],
"id": "618",
"is_impossible": false,
"question": "Tính tiền thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước"
}
]
}
],
"title": "Tính tiền thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Ông Nguyễn Đình Chiến (Hà Nội) hỏi, trường hợp thiếu các điều kiện về nội dung quy định tại Điểm a, b và c Khoản 1, Khoản 4 Điều 15 Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Thông tư số 02/2016/TT-BXD thì có được tổ chức hội nghị nhà chung cư thường niên hay không? Ảnh minh họa. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 15 Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Thông tư số 02/2016/TT-BXD ngày 15/2/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng (Quy chế 02) đã quy định điều kiện để họp hội nghị nhà chung cư thường niên là khi có tối thiểu 30% đại diện chủ sở hữu căn hộ đã nhận bàn giao tham dự hoặc có số lượng ít hơn do các chủ sở hữu nhà chung cư thống nhất; trường hợp quyết định các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều 15 Quy chế 02 thì phải có tối thiểu 50% đại diện chủ sở hữu căn hộ đã nhận bàn giao tham dự. Các nội dung quy định tại Điểm a, b và Điểm c Khoản 1, Khoản 4 Điều 15 Quy chế 02 là quy định về các nội dung khi họp hội nghị nhà chung cư thường niên, trách nhiệm chuẩn bị nội dung, thông báo thời gian, địa điểm và tổ chức họp hội nghị nhà chung cư của Ban quản trị nhà chung cư. Đề nghị ông đối chiếu trường hợp cụ thể của mình với quy định của pháp luật nêu trên để thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn vướng mắc thì đề nghị Ban quản trị liên hệ với cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nơi có nhà chung cư để được hướng dẫn theo thẩm quyền.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 347,
"text": "Tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 15 Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Thông tư số 02/2016/TT-BXD ngày 15/2/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng (Quy chế 02) đã quy định điều kiện để họp hội nghị nhà chung cư thường niên là khi có tối thiểu 30% đại diện chủ sở hữu căn hộ đã nhận bàn giao tham dự hoặc có số lượng ít hơn do các chủ sở hữu nhà chung cư thống nhất; trường hợp quyết định các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều 15 Quy chế 02 thì phải có tối thiểu 50% đại diện chủ sở hữu căn hộ đã nhận bàn giao tham dự. Các nội dung quy định tại Điểm a, b và Điểm c Khoản 1, Khoản 4 Điều 15 Quy chế 02 là quy định về các nội dung khi họp hội nghị nhà chung cư thường niên, trách nhiệm chuẩn bị nội dung, thông báo thời gian, địa điểm và tổ chức họp hội nghị nhà chung cư của Ban quản trị nhà chung cư. Đề nghị ông đối chiếu trường hợp cụ thể của mình với quy định của pháp luật nêu trên để thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn vướng mắc thì đề nghị Ban quản trị liên hệ với cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nơi có nhà chung cư để được hướng dẫn theo thẩm quyền."
}
],
"id": "619",
"is_impossible": false,
"question": "Điều kiện tổ chức hội nghị nhà chung cư thường niên"
}
]
}
],
"title": "Điều kiện tổ chức hội nghị nhà chung cư thường niên"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Gia đình ông Ngô Tuấn Anh (Hà Nội) đang thi công phá dỡ nhà cũ để xây dựng lại theo giấy phép được UBND quận cấp. Ông đã ký hợp đồng với 1 đơn vị phá dỡ có pháp nhân hợp pháp, đã lập biện pháp thi công (bản vẽ và thuyết minh) và đã được UBND phường phê duyệt lệnh khởi công theo đúng quy định. Ảnh minh họa. Trong hợp đồng ký với đơn vị thi công phá dỡ đã chỉ rõ, nhà thầu phải chịu trách nhiệm về an toàn cho các hộ liền kề và khu vực lân cận, bảo đảm thi công đúng biện pháp và quy định của pháp luật, nếu không đáp ứng và để xảy ra vi phạm thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trong điều khoản về chấm dứt hợp đồng cũng chỉ rõ, nếu bên thi công mà không đáp ứng được thì bên thuê có quyền chấm dứt hợp đồng. Hiện nay, đơn vị thi công đã làm không đúng quy định nên đã bị phường, quận ra quyết định xử phạt, nhưng đã không phối hợp, không nộp phạt, bỏ dở thi công. Ông Tuấn Anh đã gửi văn bản đơn phương chấm dứt hợp đồng thi công phá dỡ. Ông Tuấn Anh hỏi, ông có được phép thuê một đơn vị khác để lập biện pháp gửi các cơ quan chức năng đề nghị phê duyệt để tiếp tục thi công hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Quyền, nghĩa vụ của chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng đã được quy định tại Điều 112, 113 Luật Xây dựng: \"Điều 112. Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư trong việc thi công xây dựng công trình 1. Chủ đầu tư có các quyền sau: a) Tự thực hiện thi công xây dựng công trình khi có đủ năng lực hoạt động thi công xây dựng công trình phù hợp hoặc lựa chọn nhà thầu thi công xây dựng; b) Đàm phán, ký kết hợp đồng thi công xây dựng; giám sát và yêu cầu nhà thầu thi công xây dựng thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết; c) Đình chỉ thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng với nhà thầu thi công xây dựng theo quy định của pháp luật và của hợp đồng xây dựng; d) Dừng thi công xây dựng công trình, yêu cầu nhà thầu thi công xây dựng khắc phục hậu quả khi vi phạm các quy định về chất lượng công trình, an toàn và bảo vệ môi trường; đ) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp để thực hiện các công việc trong quá trình thi công xây dựng công trình; e) Các quyền khác theo quy định của pháp luật. 2. Chủ đầu tư có các nghĩa vụ sau: a) Lựa chọn nhà thầu có đủ điều kiện năng lực hoạt động thi công xây dựng phù hợp với loại, cấp công trình và công việc thi công xây dựng; b) Phối hợp, tham gia với UBND các cấp thực hiện việc bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng xây dựng để bàn giao cho nhà thầu thi công xây dựng; c) Tổ chức giám sát và quản lý chất lượng trong thi công xây dựng phù hợp với hình thức quản lý dự án, hợp đồng xây dựng; d) Kiểm tra biện pháp thi công, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường; đ) Tổ chức nghiệm thu, thanh toán, quyết toán công trình; e) Thuê tổ chức tư vấn có đủ năng lực hoạt động xây dựng để kiểm định chất lượng công trình khi cần thiết; g) Xem xét, quyết định các đề xuất liên quan đến thiết kế của nhà thầu trong quá trình thi công xây dựng; h) Lưu trữ hồ sơ xây dựng công trình; i) Chịu trách nhiệm về chất lượng, nguồn gốc của vật tư, nguyên liệu, vật liệu, thiết bị, sản phẩm xây dựng do mình cung cấp sử dụng vào công trình; k) Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng và hành vi vi phạm khác do mình gây ra; l) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Điều 113. Quyền và nghĩa vụ của nhà thầu thi công xây dựng 1. Nhà thầu thi công xây dựng có các quyền sau: a) Từ chối thực hiện những yêu cầu trái pháp luật; b) Đề xuất sửa đổi thiết kế xây dựng cho phù hợp với thực tế thi công để bảo đảm chất lượng và hiệu quả; c) Yêu cầu thanh toán giá trị khối lượng xây dựng hoàn thành theo đúng hợp đồng; d) Dừng thi công xây dựng khi có nguy cơ gây mất an toàn cho người và công trình hoặc bên giao thầu không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng; đ) Yêu cầu bồi thường thiệt hại do bên giao thầu xây dựng gây ra; e) Các quyền khác theo quy định của hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan. 2. Nhà thầu thi công xây dựng có các nghĩa vụ sau: a) Chỉ được nhận thầu thi công xây dựng, công việc phù hợp với điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của mình và thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký kết; b) Lập và trình chủ đầu tư phê duyệt thiết kế biện pháp thi công, trong đó quy định cụ thể các biện pháp bảo đảm an toàn cho người, máy, thiết bị và công trình; c) Thi công xây dựng theo đúng thiết kế, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật, bảo đảm chất lượng, tiến độ, an toàn và bảo vệ môi trường; d) Có hệ thống quản lý chất lượng phù hợp và thiết lập hồ sơ quản lý chất lượng công trình; đ) Tuân thủ yêu cầu đối với công trường xây dựng; e) Chịu trách nhiệm về chất lượng, nguồn gốc của vật tư, nguyên liệu, vật liệu, thiết bị, sản phẩm xây dựng do mình cung cấp sử dụng vào công trình; g) Quản lý lao động trên công trường xây dựng, bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ môi trường; h) Lập bản vẽ hoàn công, tham gia nghiệm thu công trình; i) Bảo hành công trình; k) Bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng, sử dụng vật liệu không đúng chủng loại, không bảo đảm yêu cầu theo thiết kế được duyệt, thi công không bảo đảm chất lượng, gây ô nhiễm môi trường và hành vi vi phạm khác do mình gây ra; l) Chịu trách nhiệm về chất lượng thi công xây dựng theo thiết kế, kể cả phần việc do nhà thầu phụ thực hiện (nếu có); nhà thầu phụ chịu trách nhiệm về chất lượng đối với phần việc do mình thực hiện trước nhà thầu chính và trước pháp luật; m) Các nghĩa vụ khác theo quy định của hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan\". Đề nghị ông căn cứ quy định pháp luật và nội dung hợp đồng đã ký kết để thực hiện cho phù hợp.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1149,
"text": "Quyền, nghĩa vụ của chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng đã được quy định tại Điều 112, 113 Luật Xây dựng: \"Điều 112. Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư trong việc thi công xây dựng công trình 1. Chủ đầu tư có các quyền sau: a) Tự thực hiện thi công xây dựng công trình khi có đủ năng lực hoạt động thi công xây dựng công trình phù hợp hoặc lựa chọn nhà thầu thi công xây dựng; b) Đàm phán, ký kết hợp đồng thi công xây dựng; giám sát và yêu cầu nhà thầu thi công xây dựng thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết; c) Đình chỉ thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng với nhà thầu thi công xây dựng theo quy định của pháp luật và của hợp đồng xây dựng; d) Dừng thi công xây dựng công trình, yêu cầu nhà thầu thi công xây dựng khắc phục hậu quả khi vi phạm các quy định về chất lượng công trình, an toàn và bảo vệ môi trường; đ) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp để thực hiện các công việc trong quá trình thi công xây dựng công trình; e) Các quyền khác theo quy định của pháp luật. 2. Chủ đầu tư có các nghĩa vụ sau: a) Lựa chọn nhà thầu có đủ điều kiện năng lực hoạt động thi công xây dựng phù hợp với loại, cấp công trình và công việc thi công xây dựng; b) Phối hợp, tham gia với UBND các cấp thực hiện việc bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng xây dựng để bàn giao cho nhà thầu thi công xây dựng; c) Tổ chức giám sát và quản lý chất lượng trong thi công xây dựng phù hợp với hình thức quản lý dự án, hợp đồng xây dựng; d) Kiểm tra biện pháp thi công, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường; đ) Tổ chức nghiệm thu, thanh toán, quyết toán công trình; e) Thuê tổ chức tư vấn có đủ năng lực hoạt động xây dựng để kiểm định chất lượng công trình khi cần thiết; g) Xem xét, quyết định các đề xuất liên quan đến thiết kế của nhà thầu trong quá trình thi công xây dựng; h) Lưu trữ hồ sơ xây dựng công trình; i) Chịu trách nhiệm về chất lượng, nguồn gốc của vật tư, nguyên liệu, vật liệu, thiết bị, sản phẩm xây dựng do mình cung cấp sử dụng vào công trình; k) Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng và hành vi vi phạm khác do mình gây ra; l) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Điều 113. Quyền và nghĩa vụ của nhà thầu thi công xây dựng 1. Nhà thầu thi công xây dựng có các quyền sau: a) Từ chối thực hiện những yêu cầu trái pháp luật; b) Đề xuất sửa đổi thiết kế xây dựng cho phù hợp với thực tế thi công để bảo đảm chất lượng và hiệu quả; c) Yêu cầu thanh toán giá trị khối lượng xây dựng hoàn thành theo đúng hợp đồng; d) Dừng thi công xây dựng khi có nguy cơ gây mất an toàn cho người và công trình hoặc bên giao thầu không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng; đ) Yêu cầu bồi thường thiệt hại do bên giao thầu xây dựng gây ra; e) Các quyền khác theo quy định của hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan. 2. Nhà thầu thi công xây dựng có các nghĩa vụ sau: a) Chỉ được nhận thầu thi công xây dựng, công việc phù hợp với điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của mình và thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký kết; b) Lập và trình chủ đầu tư phê duyệt thiết kế biện pháp thi công, trong đó quy định cụ thể các biện pháp bảo đảm an toàn cho người, máy, thiết bị và công trình; c) Thi công xây dựng theo đúng thiết kế, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật, bảo đảm chất lượng, tiến độ, an toàn và bảo vệ môi trường; d) Có hệ thống quản lý chất lượng phù hợp và thiết lập hồ sơ quản lý chất lượng công trình; đ) Tuân thủ yêu cầu đối với công trường xây dựng; e) Chịu trách nhiệm về chất lượng, nguồn gốc của vật tư, nguyên liệu, vật liệu, thiết bị, sản phẩm xây dựng do mình cung cấp sử dụng vào công trình; g) Quản lý lao động trên công trường xây dựng, bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ môi trường; h) Lập bản vẽ hoàn công, tham gia nghiệm thu công trình; i) Bảo hành công trình; k) Bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng, sử dụng vật liệu không đúng chủng loại, không bảo đảm yêu cầu theo thiết kế được duyệt, thi công không bảo đảm chất lượng, gây ô nhiễm môi trường và hành vi vi phạm khác do mình gây ra; l) Chịu trách nhiệm về chất lượng thi công xây dựng theo thiết kế, kể cả phần việc do nhà thầu phụ thực hiện (nếu có); nhà thầu phụ chịu trách nhiệm về chất lượng đối với phần việc do mình thực hiện trước nhà thầu chính và trước pháp luật; m) Các nghĩa vụ khác theo quy định của hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan\". Đề nghị ông căn cứ quy định pháp luật và nội dung hợp đồng đã ký kết để thực hiện cho phù hợp."
}
],
"id": "620",
"is_impossible": false,
"question": "Căn cứ thay thế nhà thầu thi công"
}
]
}
],
"title": "Căn cứ thay thế nhà thầu thi công"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Khoảng cách ly (khoảng cách an toàn về môi trường) của các xí nghiệp công nghiệp tuân thủ theo quy hoạch xây dựng được duyệt. Ảnh minh họa. Địa phương của ông Vũ Mạnh Cường đã có một số cụm công nghiệp (với tính chất sản xuất cơ bản không gây ô nhiễm môi trường về tiếng ồn, bụi, khói) được phê duyệt quy hoạch chi tiết và triển khai đầu tư hạ tầng theo quy hoạch chi tiết được duyệt, căn cứ theo các chỉ tiêu tại QCXDVN 01:2008/BXD, trong đó không bố trí khoảng cách ly theo Mục 2.11.6 và Mục 2.11.7 QCXDVN 01:2008/BXD. Đến nay, các cụm công nghiệp này cần phải điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết nhưng không còn quỹ đất để bố trí khoảng cách an toàn về môi trường theo quy định tại Mục 2.5.2 QCVN 01:2021/BXD và Mục 3.4 QCVN 01:2019/BXD. Ông Cường hỏi, việc bố trí khoảng cách an toàn về môi trường đối với các cụm công nghiệp cũ này như thế nào? Về bãi đỗ xe, tại Mục 4.3.3 QCXDVN 01:2008/BXD về Quy hoạch các công trình phục vụ giao thông trong đô thị quy định: \"Trong các khu đô thị, đơn vị ở và nhóm nhà ở phải dành đất bố trí chỗ để xe, ga-ra. Trong khu công nghiệp, kho tàng phải bố trí bãi đỗ xe, ga-ra có xưởng sửa chữa\". Tuy nhiên, tại QCXDVN 01:2008/BXD không quy định chỉ tiêu diện tích chỗ đỗ xe theo dân số (m2/người). Tại Mục 2.9.4 QCVN 01:2021/BXD về Công trình giao thông khác trong đô thị quy định: \"Trong các khu đô thị, đơn vị ở và nhóm nhà ở phải bố trí chỗ để xe, bãi đỗ xe. Trong khu công nghiệp, kho tàng phải bố trí bãi đỗ xe, xưởng sửa chữa;\". Chỉ tiêu bãi đỗ xe toàn đô thị được quy định cụ thể tại Bảng 2.18 QCVN 01:2021/BXD, căn cứ theo quy mô dân số của đô thị. Như vậy, căn cứ quy định chuyển tiếp Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Quy hoạch Xây dựng qua các thời kỳ (Mục 1 nêu trên), việc bố trí cho các khu đô thị, nhà ở mà trước đây đồ án quy hoạch chi tiết được lập và tính toán các chỉ tiêu theo QCXDVN 01:2008/BXD (trước ngày 1/7/2020); đến nay thực hiện việc điều chỉnh quy hoạch chi tiết các khu đô thị, nhà ở và phải bố trí đất bãi đỗ xe là rất khó khăn. Ông Cường hỏi, vậy việc bố trí bãi đỗ xe đối với các khu nhà ở, khu đô thị được phê duyệt trước ngày 1/7/2020 như thế nào? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Về khoảng cách ly (khoảng cách an toàn về môi trường): Thời điểm giai đoạn 2008-2019, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch xây dựng có hiệu lực áp dụng là QCXDVN 01:2008, trong quy chuẩn này quy định giữa công trình công nghiệp và khu dân cư phải có dải cách ly vệ sinh và chiều rộng dải cách ly phải bảo đảm khoảng cách tối thiểu theo tiêu chuẩn môi trường Việt Nam, trong dải cách ly phải bảo đảm tối thiểu 50% diện tích đất được trồng cây xanh (Khoản 2.7 Điểm 3 Dải cách ly vệ sinh). Hiện nay, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch có hiệu lực áp dụng là QCVN 01:2021/BXD có bổ sung, làm rõ quy định về chiều rộng dải cây xanh cách ly xung quanh khu công nghiệp, kho tàng và cụm công nghiệp tối thiểu là 10m (Khoản 2.5.2 Khoảng cách an toàn về môi trường). Khoảng cách ly (khoảng cách an toàn về môi trường) của các xí nghiệp công nghiệp tuân thủ theo quy hoạch xây dựng được duyệt. Khi lập, điều chỉnh quy hoạch xây dựng thì khoảng cách ly (khoảng cách an toàn về môi trường) được xác định dựa trên các luận chứng kinh tế kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn được lựa chọn áp dụng nhưng phải phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch xây dựng có hiệu lực tại thời điểm phê duyệt. Do trong nội dung câu hỏi không nêu rõ hồ sơ quy hoạch đã thuyết minh lựa chọn tiêu chuẩn nào để áp dụng nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để trả lời câu hỏi này. Tuy nhiên, trong một số TCVN có thể áp dụng gồm TCVN 4449:1987 Quy hoạch xây dựng đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế, phần 3 – Quy hoạch khu công nghiệp và kho tàng công cộng và TCVN 4616:1987 Quy hoạch mặt bằng tổng thể cụm công nghiệp – Tiêu chuẩn thiết kế đều có các quy định về khoảng cách ly (yêu cầu rộng từ 50 m trở lên) hoặc quy định về độ dày dải cây xanh (yêu cầu rộng là 25m). Căn cứ bố trí, xây dựng bãi đỗ xe đô thị Chỉ tiêu bãi đỗ xe toàn đô thị quy định tại Bảng 2.18 của QCVN 01:2021/BXD là để xác định quỹ đất dành để xây dựng bãi đỗ xe cho toàn đô thị và sẽ được phân bổ cụ thể vị trí, quy mô tại các cấp độ quy hoạch từ quy hoạch chung đến quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết. Đối với quy hoạch chi tiết, ngoài việc tuân thủ các quy định về quỹ đất xây dựng bãi đỗ xe toàn đô thị đã được quy hoạch cấp trên xác định (nếu có), còn phải bố trí bãi đỗ xe cho nhu cầu của khu vực như đã quy định tại Mục 4.3.3 của QCXDVN 01:2008 trước đây và quy định tại Mục 2.9.4 của QCVN 01:2021/BXD hiện nay (quy định này không có sự thay đổi giữa 2 quy chuẩn).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 437,
"text": "2008/BXD, trong đó không bố trí khoảng cách ly theo Mục 2.11.6 và Mục 2.11.7 QCXDVN 01:2008/BXD. Đến nay, các cụm công nghiệp này cần phải điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết nhưng không còn quỹ đất để bố trí khoảng cách an toàn về môi trường theo quy định tại Mục 2.5.2 QCVN 01:2021/BXD và Mục 3.4 QCVN 01:2019/BXD. Ông Cường hỏi, việc bố trí khoảng cách an toàn về môi trường đối với các cụm công nghiệp cũ này như thế nào? Về bãi đỗ xe, tại Mục 4.3.3 QCXDVN 01:2008/BXD về Quy hoạch các công trình phục vụ giao thông trong đô thị quy định: \"Trong các khu đô thị, đơn vị ở và nhóm nhà ở phải dành đất bố trí chỗ để xe, ga-ra. Trong khu công nghiệp, kho tàng phải bố trí bãi đỗ xe, ga-ra có xưởng sửa chữa\". Tuy nhiên, tại QCXDVN 01:2008/BXD không quy định chỉ tiêu diện tích chỗ đỗ xe theo dân số (m2/người). Tại Mục 2.9.4 QCVN 01:2021/BXD về Công trình giao thông khác trong đô thị quy định: \"Trong các khu đô thị, đơn vị ở và nhóm nhà ở phải bố trí chỗ để xe, bãi đỗ xe. Trong khu công nghiệp, kho tàng phải bố trí bãi đỗ xe, xưởng sửa chữa;\". Chỉ tiêu bãi đỗ xe toàn đô thị được quy định cụ thể tại Bảng 2.18 QCVN 01:2021/BXD, căn cứ theo quy mô dân số của đô thị. Như vậy, căn cứ quy định chuyển tiếp Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Quy hoạch Xây dựng qua các thời kỳ (Mục 1 nêu trên), việc bố trí cho các khu đô thị, nhà ở mà trước đây đồ án quy hoạch chi tiết được lập và tính toán các chỉ tiêu theo QCXDVN 01:2008/BXD (trước ngày 1/7/2020); đến nay thực hiện việc điều chỉnh quy hoạch chi tiết các khu đô thị, nhà ở và phải bố trí đất bãi đỗ xe là rất khó khăn. Ông Cường hỏi, vậy việc bố trí bãi đỗ xe đối với các khu nhà ở, khu đô thị được phê duyệt trước ngày 1/7/2020 như thế nào? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Về khoảng cách ly (khoảng cách an toàn về môi trường): Thời điểm giai đoạn 2008-2019, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch xây dựng có hiệu lực áp dụng là QCXDVN 01:2008, trong quy chuẩn này quy định giữa công trình công nghiệp và khu dân cư phải có dải cách ly vệ sinh và chiều rộng dải cách ly phải bảo đảm khoảng cách tối thiểu theo tiêu chuẩn môi trường Việt Nam, trong dải cách ly phải bảo đảm tối thiểu 50% diện tích đất được trồng cây xanh (Khoản 2.7 Điểm 3 Dải cách ly vệ sinh). Hiện nay, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch có hiệu lực áp dụng là QCVN 01:2021/BXD có bổ sung, làm rõ quy định về chiều rộng dải cây xanh cách ly xung quanh khu công nghiệp, kho tàng và cụm công nghiệp tối thiểu là 10m (Khoản 2.5.2 Khoảng cách an toàn về môi trường). Khoảng cách ly (khoảng cách an toàn về môi trường) của các xí nghiệp công nghiệp tuân thủ theo quy hoạch xây dựng được duyệt. Khi lập, điều chỉnh quy hoạch xây dựng thì khoảng cách ly (khoảng cách an toàn về môi trường) được xác định dựa trên các luận chứng kinh tế kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn được lựa chọn áp dụng nhưng phải phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch xây dựng có hiệu lực tại thời điểm phê duyệt. Do trong nội dung câu hỏi không nêu rõ hồ sơ quy hoạch đã thuyết minh lựa chọn tiêu chuẩn nào để áp dụng nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để trả lời câu hỏi này. Tuy nhiên, trong một số TCVN có thể áp dụng gồm TCVN 4449:1987 Quy hoạch xây dựng đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế, phần 3 – Quy hoạch khu công nghiệp và kho tàng công cộng và TCVN 4616:1987 Quy hoạch mặt bằng tổng thể cụm công nghiệp – Tiêu chuẩn thiết kế đều có các quy định về khoảng cách ly (yêu cầu rộng từ 50 m trở lên) hoặc quy định về độ dày dải cây xanh (yêu cầu rộng là 25m). Căn cứ bố trí, xây dựng bãi đỗ xe đô thị Chỉ tiêu bãi đỗ xe toàn đô thị quy định tại Bảng 2.18 của QCVN 01:2021/BXD là để xác định quỹ đất dành để xây dựng bãi đỗ xe cho toàn đô thị và sẽ được phân bổ cụ thể vị trí, quy mô tại các cấp độ quy hoạch từ quy hoạch chung đến quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết. Đối với quy hoạch chi tiết, ngoài việc tuân thủ các quy định về quỹ đất xây dựng bãi đỗ xe toàn đô thị đã được quy hoạch cấp trên xác định (nếu có), còn phải bố trí bãi đỗ xe cho nhu cầu của khu vực như đã quy định tại Mục 4.3.3 của QCXDVN 01:2008 trước đây và quy định tại Mục 2.9.4 của QCVN 01:2021/BXD hiện nay (quy định này không có sự thay đổi giữa 2 quy chuẩn)."
}
],
"id": "621",
"is_impossible": false,
"question": "Khoảng cách an toàn về môi trường đối với cụm công nghiệp"
}
]
}
],
"title": "Khoảng cách an toàn về môi trường đối với cụm công nghiệp"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Công ty của ông Nguyễn Hữu Ý (Nam Định) là doanh nghiệp Nhà nước, làm chủ đầu tư dự án với tổng mức đầu tư khoảng 50 tỷ đồng. Công ty ông tổ chức thực hiện quản lý dự án và thành lập Ban Quản lý dự án kiêm nhiệm sử dụng tư cách pháp nhân và bộ máy chuyên môn của mình. Trường hợp chủ đầu tư sử dụng tư cách pháp nhân của mình và bộ máy chuyên môn trực thuộc có đủ điều kiện, năng lực để tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng thì Giám đốc quản lý dự án phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định tại Điều 73 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP. (Ảnh minh họa) Ông Ý hỏi, thành viên Ban Quản lý dự án kiêm nhiệm do chủ đầu tư thành lập có cần chứng chỉ quản lý dự án hay không, hay chỉ cần chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, trường hợp chủ đầu tư thành lập Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại theo quy định để thực hiện các nhiệm vụ quản lý dự án được chủ đầu tư giao; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về hoạt động quản lý dự án của mình thì Giám đốc quản lý dự án của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định tại Điều 73 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP. Cá nhân phụ trách các lĩnh vực chuyên môn phải có chứng chỉ hành nghề về giám sát thi công xây dựng, định giá xây dựng có hạng phù hợp với nhóm dự án, cấp công trình và công việc đảm nhận. Theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, trường hợp chủ đầu tư sử dụng tư cách pháp nhân của mình và bộ máy chuyên môn trực thuộc có đủ điều kiện, năng lực để tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng thì Giám đốc quản lý dự án phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định tại Điều 73 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, trừ trường hợp thực hiện quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình có yêu cầu lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. Cá nhân tham gia quản lý dự án làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm theo quyết định của chủ đầu tư và phải có chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu công việc đảm nhận.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 765,
"text": "Theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, trường hợp chủ đầu tư thành lập Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại theo quy định để thực hiện các nhiệm vụ quản lý dự án được chủ đầu tư giao; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về hoạt động quản lý dự án của mình thì Giám đốc quản lý dự án của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định tại Điều 73 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP. Cá nhân phụ trách các lĩnh vực chuyên môn phải có chứng chỉ hành nghề về giám sát thi công xây dựng, định giá xây dựng có hạng phù hợp với nhóm dự án, cấp công trình và công việc đảm nhận. Theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, trường hợp chủ đầu tư sử dụng tư cách pháp nhân của mình và bộ máy chuyên môn trực thuộc có đủ điều kiện, năng lực để tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng thì Giám đốc quản lý dự án phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định tại Điều 73 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, trừ trường hợp thực hiện quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình có yêu cầu lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. Cá nhân tham gia quản lý dự án làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm theo quyết định của chủ đầu tư và phải có chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu công việc đảm nhận."
}
],
"id": "622",
"is_impossible": false,
"question": "Điều kiện tham gia Ban Quản lý dự án do chủ đầu tư lập"
}
]
}
],
"title": "Điều kiện tham gia Ban Quản lý dự án do chủ đầu tư lập"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Ông Nguyễn Hoàng Giang (Bắc Kạn) hỏi, đơn vị ông đã tham gia thiết kế công trình của dự án thì có được tham gia giám sát công trình thuộc dự án này nữa không? Ảnh minh họa. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tổ chức tham gia hoạt động thiết kế và giám sát thi công xây dựng cần đáp ứng các quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức được quy định tại Khoản 4 Điều 148 Luật Xây dựng năm 2014, được sửa đổi, bổ sung tại Điểm a Khoản 53 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14. Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức thiết kế được quy định tại Điều 93 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 32 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng. Điều kiện năng lực của tổ chức tư vấn giám sát thi công xây dựng được quy định tại Điều 96 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP. Lĩnh vực và phạm vi hoạt động của chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng được quy định tại Phụ lục VII Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, được sửa đổi bổ sung tại Phụ lục VII Nghị định số 35/2023/NĐ-CP. Pháp luật về xây dựng không quy định đơn vị tham gia thiết kế công trình thì không được tham gia giám sát thi công xây dựng công trình thuộc dự án do mình thiết kế. Nội dung hỏi của ông đến quy định pháp luật về đấu thầu, đề nghị ông liên hệ với cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu để được hướng dẫn thực hiện theo quy định. Đề nghị ông Giang nghiên cứu, thực hiện bảo đảm tuân thủ theo các quy định của pháp luật về xây dựng, pháp luật về đấu thầu và các quy định khác có liên quan.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 226,
"text": "Tổ chức tham gia hoạt động thiết kế và giám sát thi công xây dựng cần đáp ứng các quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức được quy định tại Khoản 4 Điều 148 Luật Xây dựng năm 2014, được sửa đổi, bổ sung tại Điểm a Khoản 53 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14. Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức thiết kế được quy định tại Điều 93 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 32 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng. Điều kiện năng lực của tổ chức tư vấn giám sát thi công xây dựng được quy định tại Điều 96 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP. Lĩnh vực và phạm vi hoạt động của chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng được quy định tại Phụ lục VII Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, được sửa đổi bổ sung tại Phụ lục VII Nghị định số 35/2023/NĐ-CP. Pháp luật về xây dựng không quy định đơn vị tham gia thiết kế công trình thì không được tham gia giám sát thi công xây dựng công trình thuộc dự án do mình thiết kế. Nội dung hỏi của ông đến quy định pháp luật về đấu thầu, đề nghị ông liên hệ với cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu để được hướng dẫn thực hiện theo quy định. Đề nghị ông Giang nghiên cứu, thực hiện bảo đảm tuân thủ theo các quy định của pháp luật về xây dựng, pháp luật về đấu thầu và các quy định khác có liên quan."
}
],
"id": "623",
"is_impossible": false,
"question": "Có được tham gia thiết kế và giám sát cho cùng một dự án?"
}
]
}
],
"title": "Có được tham gia thiết kế và giám sát cho cùng một dự án?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Ông Vũ Tiến Dũng (Lào Cai) có câu hỏi gửi tới cơ quan chức năng về chứng chỉ hạng III. Cá nhân có chứng chỉ hành nghề thiết kế cơ - điện công trình hạng III không được làm chủ trì thiết kế, chủ trì thẩm tra thiết kế phần cấp điện công trình dân dụng cấp II. (Ảnh minh họa) Nội dung câu hỏi như sau: Ông Vũ Tiến Dũng (Lào Cai) hỏi, người có chứng chỉ hành nghề thiết kế cơ - điện công trình hạng III có được làm chủ trì thiết kế, chủ trì thẩm tra phần cấp điện trong công trình dân dụng cấp II không (phần cấp điện trong các tòa nhà có quy mô cấp II)? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo Mục 3.2 Phụ lục VI kèm theo Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ hướng dẫn một số nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng thì phạm vi hoạt động xây dựng của chứng chỉ hành nghề thiết kế điện - cơ điện công trình hạng III là: \"Được làm chủ nhiệm thiết kế xây dựng, chủ trì thiết kế, thẩm tra thiết kế bộ môn cơ - điện của công trình cấp III, cấp IV\". Theo đó, cá nhân có chứng chỉ hành nghề thiết kế cơ - điện công trình hạng III không được làm chủ trì thiết kế, chủ trì thẩm tra thiết kế phần cấp điện công trình dân dụng cấp II.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 312,
"text": "Ông Vũ Tiến Dũng (Lào Cai) hỏi, người có chứng chỉ hành nghề thiết kế cơ - điện công trình hạng III có được làm chủ trì thiết kế, chủ trì thẩm tra phần cấp điện trong công trình dân dụng cấp II không (phần cấp điện trong các tòa nhà có quy mô cấp II)? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo Mục 3.2 Phụ lục VI kèm theo Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ hướng dẫn một số nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng thì phạm vi hoạt động xây dựng của chứng chỉ hành nghề thiết kế điện - cơ điện công trình hạng III là: \"Được làm chủ nhiệm thiết kế xây dựng, chủ trì thiết kế, thẩm tra thiết kế bộ môn cơ - điện của công trình cấp III, cấp IV\". Theo đó, cá nhân có chứng chỉ hành nghề thiết kế cơ - điện công trình hạng III không được làm chủ trì thiết kế, chủ trì thẩm tra thiết kế phần cấp điện công trình dân dụng cấp II."
}
],
"id": "624",
"is_impossible": false,
"question": "Chứng chỉ hạng III có được chủ trì thiết kế công trình cấp II?"
}
]
}
],
"title": "Chứng chỉ hạng III có được chủ trì thiết kế công trình cấp II?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Bà Nguyễn Thị Khuyên (Hà Nội) hỏi, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, hoạt động lĩnh vực kinh doanh bất động sản, có mua một số căn nhà, biệt thự, shophouse của khu trung tâm thương mại, vậy doanh nghiệp có được cho thuê lại các căn nhà, biệt thự và shophouse này không? Ảnh minh họa. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 đã có quy định về phạm vi kinh doanh bất động sản của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và đối tượng được mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, cụ thể như sau: Khoản 3 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: \"3. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được kinh doanh bất động sản dưới các hình thức sau đây: a) Các hình thức quy định tại các Điểm b, d, h khoản 1 và Điểm b Khoản 2 Điều này. b) Đối với đất thuê trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thì được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụng đất\". Điểm b Khoản 1 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: \"b) Thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại\". Điểm d Khoản 1 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: \"d) Đối với đất được Nhà nước cho thuê thì được đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng không phải là nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua\". Điểm h Khoản 1 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: \"h) Nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua\". Tại Điểm b Khoản 2 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: \"b) Đối với đất được Nhà nước giao thì được đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua\". Khoản 2 và Khoản 3 Điều 14 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: \"2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài được thuê các loại bất động sản để sử dụng; được mua, thuê, thuê mua nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được mua, thuê mua nhà, công trình xây dựng để sử dụng làm văn phòng làm việc, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ theo đúng công năng sử dụng của nhà, công trình xây dựng đó. 3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh bất động sản được mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản để kinh doanh theo quy định tại Điều 11 của Luật này\".",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 344,
"text": "Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 đã có quy định về phạm vi kinh doanh bất động sản của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và đối tượng được mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, cụ thể như sau: Khoản 3 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: \"3. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được kinh doanh bất động sản dưới các hình thức sau đây: a) Các hình thức quy định tại các Điểm b, d, h khoản 1 và Điểm b Khoản 2 Điều này. b) Đối với đất thuê trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thì được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụng đất\". Điểm b Khoản 1 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: \"b) Thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại\". Điểm d Khoản 1 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: \"d) Đối với đất được Nhà nước cho thuê thì được đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng không phải là nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua\". Điểm h Khoản 1 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: \"h) Nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua\". Tại Điểm b Khoản 2 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: \"b) Đối với đất được Nhà nước giao thì được đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua\". Khoản 2 và Khoản 3 Điều 14 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định: \"2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài được thuê các loại bất động sản để sử dụng; được mua, thuê, thuê mua nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được mua, thuê mua nhà, công trình xây dựng để sử dụng làm văn phòng làm việc, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ theo đúng công năng sử dụng của nhà, công trình xây dựng đó. 3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh bất động sản được mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản để kinh doanh theo quy định tại Điều 11 của Luật này\"."
}
],
"id": "625",
"is_impossible": false,
"question": "Doanh nghiệp nước ngoài có được mua bất động sản để cho thuê?"
}
]
}
],
"title": "Doanh nghiệp nước ngoài có được mua bất động sản để cho thuê?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Chồng của bà Trần Mai (Hà Nội) có quốc tịch nước ngoài, đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Bà Mai hỏi, chồng bà có được cùng đứng tên trên sổ hồng và có quyền sở hữu lâu dài như người Việt Nam khi vợ chồng bà mua chung cư thương mại để ở hay không? Ảnh minh họa. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tại Điểm c Khoản 2 Điều 161 của Luật Nhà ở năm 2014 đã quy định, trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì được sở hữu nhà ổn định, lâu dài và có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam. Tại Điểm c Khoản 2 Điều 20 của Luật Nhà ở năm 2023 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2025 có quy định, trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam thì được sở hữu nhà ở và có quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam. Do vậy, đề nghị bà đối chiếu trường hợp cụ thể của mình với quy định của pháp luật nêu trên để thực hiện. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với nhà ở được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai. Do đó, đề nghị bà liên hệ với Bộ Tài nguyên và Môi trường để được hướng dẫn cụ thể.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 322,
"text": "Tại Điểm c Khoản 2 Điều 161 của Luật Nhà ở năm 2014 đã quy định, trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì được sở hữu nhà ổn định, lâu dài và có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam. Tại Điểm c Khoản 2 Điều 20 của Luật Nhà ở năm 2023 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2025 có quy định, trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam thì được sở hữu nhà ở và có quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam. Do vậy, đề nghị bà đối chiếu trường hợp cụ thể của mình với quy định của pháp luật nêu trên để thực hiện. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với nhà ở được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai. Do đó, đề nghị bà liên hệ với Bộ Tài nguyên và Môi trường để được hướng dẫn cụ thể."
}
],
"id": "626",
"is_impossible": false,
"question": "Chồng là người nước ngoài có được cùng đứng tên mua chung cư?"
}
]
}
],
"title": "Chồng là người nước ngoài có được cùng đứng tên mua chung cư?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Theo Thông tư 32/2023/TT-BCA, CSGT có trách nhiệm giải quyết và xử lý các sự cố giao thông theo các hình thức khác nhau.Khi phát hiện hoặc nhận thông tin về tai nạn giao thông, các đơn vị CSGT phải nhanh chóng triển khai lực lượng tới hiện trường và thực hiện các quy trình điều tra, giải quyết.Ngoài việc xử lý tai nạn, CSGT cũng phải giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông. Với những tình huống ùn tắc không quá nghiêm trọng và giới hạn trong phạm vi nhỏ, các tổ trưởng có thể phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên của đội để điều hướng giao thông và giải tỏa ùn tắc.Tuy nhiên, khi ùn tắc trở nên nghiêm trọng và ảnh hưởng đến hoạt động giao thông trên diện rộng, các tổ trưởng phải xác định nguyên nhân và phân công các thành viên của đội thực hiện các biện pháp điều hướng, điều hòa giao thông để giảm thiểu. Đồng thời, thông báo và hợp tác với các cơ quan, đơn vị và chính quyền địa phương để tổ chức phân luồng và điều tiết từ xa.Ngoài ra, khi xảy ra sự cố về đường bộ, như ùn tắc giao thông hoặc các tình huống gây cản trở, CSGT cần thực hiện các biện pháp như đặt biển báo số 245a \"Đi chậm\" hoặc biển báo số 245b (trong trường hợp tuyến đường là tuyến đối ngoại). Đồng thời, cần bố trí cán bộ hướng dẫn điều tiết để hỗ trợ phương tiện qua lại một cách an toàn và hiệu quả.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo Thông tư 32/2023/TT-BCA, CSGT có trách nhiệm giải quyết và xử lý các sự cố giao thông theo các hình thức khác nhau.Khi phát hiện hoặc nhận thông tin về tai nạn giao thông, các đơn vị CSGT phải nhanh chóng triển khai lực lượng tới hiện trường và thực hiện các quy trình điều tra, giải quyết.Ngoài việc xử lý tai nạn, CSGT cũng phải giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông. Với những tình huống ùn tắc không quá nghiêm trọng và giới hạn trong phạm vi nhỏ, các tổ trưởng có thể phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên của đội để điều hướng giao thông và giải tỏa ùn tắc.Tuy nhiên, khi ùn tắc trở nên nghiêm trọng và ảnh hưởng đến hoạt động giao thông trên diện rộng, các tổ trưởng phải xác định nguyên nhân và phân công các thành viên của đội thực hiện các biện pháp điều hướng, điều hòa giao thông để giảm thiểu. Đồng thời, thông báo và hợp tác với các cơ quan, đơn vị và chính quyền địa phương để tổ chức phân luồng và điều tiết từ xa.Ngoài ra, khi xảy ra sự cố về đường bộ, như ùn tắc giao thông hoặc các tình huống gây cản trở, CSGT cần thực hiện các biện pháp như đặt biển báo số 245a \"Đi chậm\" hoặc biển báo số 245b (trong trường hợp tuyến đường là tuyến đối ngoại). Đồng thời, cần bố trí cán bộ hướng dẫn điều tiết để hỗ trợ phương tiện qua lại một cách an toàn và hiệu quả."
}
],
"id": "627",
"is_impossible": false,
"question": "CSGT giải quyết sự cố, xảy ra ùn tắc xử lý thế nào?"
}
]
}
],
"title": "CSGT giải quyết sự cố, xảy ra ùn tắc xử lý thế nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Vi phạm pháp luật khi dừng xe chụp ảnhSau vụ đoàn rước dâu bằng xe sang dừng đỗ trên tuyến đường ở Hải Dương để chụp ảnh, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc đã khởi tố Phạm Đức Hải (tức Hải 'Idol', sinh năm 1996) và 3 bị can khác về tội Gây rối trật tự công cộng.Theo cáo buộc, nhóm này đã xếp đội hình gồm 4 xe ô tô hạng sang dừng, đỗ giữa đường tại Km 1+500 đường trục Bắc - Nam, thuộc địa phận xã Toàn Thắng, huyện Gia Lộc để dàn cảnh chụp ảnh. Sau đó, nhóm này di chuyển trên đường để phát livestream câu like, tăng tương tác.Đoàn xe rước dâu liên quan vụ án ở huyện Gia Lộc, Hải Dương.Ngoài vụ việc trên, ngày 20/5, Công an TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng vừa mời làm việc đối với nữ tài xế tên N.T.B.D (41 tuổi, trú TP Đà Lạt) sau khi xác định bà D là người cầm lái xe ô tô màu đen dừng giữa đường Hoa Phượng Tím trong khu du lịch hồ Tuyền Lâm trưa 17/5.Sau đó, những người đi cùng xe với bà D đã xuống tập thể dục trước đầu xe, ngay trên làn đường có nhiều phương tiện đang lưu thông.Theo dõi các vụ việc nêu trên, luật sư Hà Thị Khuyên (Văn phòng Luật sư Nhân Chính, Đoàn Luật sư TP Hà Nội) phân tích, gây rối trật tự công cộng là hành vi làm náo động trật tự ở nơi công cộng. Người thực hiện hành vi này thông qua các phương thức khác nhau như: Tập trung đông người ở nơi công cộng mà gây náo động làm mất trật tự công cộng, sử dụng phương tiện hỗ trợ gây náo loạn khu vực công cộng.Thời gian gần đây, một số vụ dừng phương tiện trên đường giao thông không những gây cản trở giao thông đường bộ mà còn ảnh hưởng đến các quy tắc ứng xử của công dân khi thực hiện các hoạt động thường ngày tại nơi công cộng. \"Họ hoàn toàn nhận thức được rằng không được phép tụ tập đông người và dừng, đỗ xe cản trở giao thông, không được gây náo loạn khu vực công cộng như vậy, nhưng họ vẫn cố ý thực hiện hành vi nhằm thỏa mãn mục đích của bản thân\", luật sư nhấn mạnh.Vì thế, những người thực hiện hành vi với tính chất cố ý, ngang nhiên vi phạm pháp luật nên việc cơ quan công an khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội gây rối trật tự công cộng trong một số vụ án, như vụ ở Gia Lộc là có căn cứ.Theo luật sư Khuyên, trước khi ai đó muốn thực hiện hành vi gì ở nơi công cộng, họ cần phải hiểu khu vực đó có đông người lưu thông qua lại (gồm cả khu vực đường giao thông) hay không? Bởi lẽ, hành vi gây rối trật tự công cộng nếu xảy ra tại khu vực đường giao thông thì sẽ trực tiếp xâm phạm đến an toàn công cộng, đến các quy tắc xử sự, sinh hoạt, đi lại ở nơi công cộng.Đáng chú ý, hành vi đó nếu được xác định là gây ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự, gây ùn tắc giao thông và thậm chí còn tiềm ẩn nguy cơ gây tai nạn giao thông, thì tùy vào tính chất, mức độ và hậu quả mà người vi phạm gây ra, cơ quan công an xem xét dấu hiệu tội phạm để khởi tố.Luật sư Hà Thị Khuyên nhấn mạnh, hành vi gây rối trật tự công cộng có thể bị phạt tiền tối đa 50 triệu đồng hoặc phạt tù lên đến 7 năm.Dừng xe thế nào để đảm bảo an toàn?Theo khuyến cáo của Cục Cảnh sát giao thông, dừng đỗ xe trên đường bộ phải tuân thủ một số nguyên tắc để đảm bảo an toàn và đúng luật.Cụ thể, người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ phải có tín hiệu cảnh báo; Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; Trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải.Ở những đoạn đường đã xây dựng nơi dừng xe, đỗ xe hoặc quy định các điểm dừng xe, đỗ xe thì phải dừng, đỗ xe tại các vị trí đó. Nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau.Còn trên đường phố, người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe phải cho xe dừng, đỗ sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi của mình; Không gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông. Trường hợp đường phố hẹp thì phải dừng xe, đỗ xe ở vị trí cách xe ô tô đang đỗ bên kia đường tối thiểu 20m.Tuyệt đối không được dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước. Không được để phương tiện giao thông ở lòng đường, hè phố trái quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1260,
"text": "Tập trung đông người ở nơi công cộng mà gây náo động làm mất trật tự công cộng, sử dụng phương tiện hỗ trợ gây náo loạn khu vực công cộng.Thời gian gần đây, một số vụ dừng phương tiện trên đường giao thông không những gây cản trở giao thông đường bộ mà còn ảnh hưởng đến các quy tắc ứng xử của công dân khi thực hiện các hoạt động thường ngày tại nơi công cộng. \"Họ hoàn toàn nhận thức được rằng không được phép tụ tập đông người và dừng, đỗ xe cản trở giao thông, không được gây náo loạn khu vực công cộng như vậy, nhưng họ vẫn cố ý thực hiện hành vi nhằm thỏa mãn mục đích của bản thân\", luật sư nhấn mạnh.Vì thế, những người thực hiện hành vi với tính chất cố ý, ngang nhiên vi phạm pháp luật nên việc cơ quan công an khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội gây rối trật tự công cộng trong một số vụ án, như vụ ở Gia Lộc là có căn cứ.Theo luật sư Khuyên, trước khi ai đó muốn thực hiện hành vi gì ở nơi công cộng, họ cần phải hiểu khu vực đó có đông người lưu thông qua lại (gồm cả khu vực đường giao thông) hay không? Bởi lẽ, hành vi gây rối trật tự công cộng nếu xảy ra tại khu vực đường giao thông thì sẽ trực tiếp xâm phạm đến an toàn công cộng, đến các quy tắc xử sự, sinh hoạt, đi lại ở nơi công cộng.Đáng chú ý, hành vi đó nếu được xác định là gây ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự, gây ùn tắc giao thông và thậm chí còn tiềm ẩn nguy cơ gây tai nạn giao thông, thì tùy vào tính chất, mức độ và hậu quả mà người vi phạm gây ra, cơ quan công an xem xét dấu hiệu tội phạm để khởi tố.Luật sư Hà Thị Khuyên nhấn mạnh, hành vi gây rối trật tự công cộng có thể bị phạt tiền tối đa 50 triệu đồng hoặc phạt tù lên đến 7 năm.Dừng xe thế nào để đảm bảo an toàn?Theo khuyến cáo của Cục Cảnh sát giao thông, dừng đỗ xe trên đường bộ phải tuân thủ một số nguyên tắc để đảm bảo an toàn và đúng luật.Cụ thể, người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ phải có tín hiệu cảnh báo; Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; Trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải.Ở những đoạn đường đã xây dựng nơi dừng xe, đỗ xe hoặc quy định các điểm dừng xe, đỗ xe thì phải dừng, đỗ xe tại các vị trí đó. Nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau.Còn trên đường phố, người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe phải cho xe dừng, đỗ sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi của mình; Không gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông. Trường hợp đường phố hẹp thì phải dừng xe, đỗ xe ở vị trí cách xe ô tô đang đỗ bên kia đường tối thiểu 20m.Tuyệt đối không được dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước. Không được để phương tiện giao thông ở lòng đường, hè phố trái quy định."
}
],
"id": "628",
"is_impossible": false,
"question": "Khi nào dừng xe trên đường bị coi là gây rối trật tự công cộng?"
}
]
}
],
"title": "Khi nào dừng xe trên đường bị coi là gây rối trật tự công cộng?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Ngày 14/5, các cơ quan chức năng huyện Ba Vì đang phối hợp điều tra, làm rõ vụ sạt lở sau mưa lớn khiến tường khu vui chơi ở thôn 6, xã Ba Trại bị sập, đè 3 cháu bé tử vong.Theo tìm hiểu ban đầu, khu vui chơi \"Thế giới của bé\" là do hộ dân tự xây dựng và tổ chức khai thác. Về giấy phép hoạt động của khu vui chơi, chính quyền huyện Ba Vì vẫn đang xác minh.Trước đó, khoảng 22h20 ngày 12/5, lực lượng chức năng tại xã Ba Trại nhận được tin báo của người dân về việc tại nhà ông T.V.V (sinh năm 1984, có hộ khẩu thường trú tại thôn 5, xã Thuần Mỹ, huyện Ba Vì; Hiện tại ở thôn 6, xã Ba Trại) xảy ra vụ sạt lở đất, tường bao khiến ba cháu nhỏ đang chơi trong nhà bị đất đá vùi lấp.Khu vực xảy ra vụ việc.Đến khoảng 22h45, lực lượng cứu hộ đưa được 2 cháu là L.T.T (sinh năm 2021) và L.K.N (sinh năm 2021) cùng trú tại thôn Cẩm An, xã Cẩm Lĩnh (huyện Ba Vì, Hà Nội) ra khỏi hiện trường.Đến khoảng 23h20, lực lượng chức năng tiếp tục đưa được cháu T.T.A.D (sinh năm 2019, con ông T.V.V) ra khỏi hiện trường. Tuy nhiên các cháu đều đã tử vong.Nguyên nhân ban đầu được xác định do có mưa lớn, lượng nước dồn về phần tường nhà (không có rãnh thoát nước) khiến bức tường đổ vào phía trong.Dưới góc độ pháp lý, Luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng Văn phòng luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, đây là vụ tai nạn rất thương tâm khi có đến ba đứa trẻ bị tử vong, điều đáng chú ý là các cháu bé gặp nạn ở trong khu vui chơi hoạt động không có giấy phép.Luật sư Cường phân tích, trong trường hợp kết quả xác minh cho thấy đã có lỗi của đơn vị kinh doanh khu vui chơi tự phát thì cơ quan điều tra sẽ khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can với người vi phạm về tội vô ý làm chết người.\"Về nguyên tắc là hành vi có lỗi dẫn đến người khác thiệt mạng thì người có lỗi phải chịu trách nhiệm pháp lý, kể cả là lỗi cố ý hay vô ý\", luật sư Cường cho biết.Nếu trường hợp kết quả xác minh cho thấy, trước đó bức tường này không có biểu hiện ngã đổ, người chủ sở hữu công trình và người quản lý khu vui chơi không thể phát hiện ra nguy cơ sạt lở đất, nguy cơ đổ tường, sự việc là do thiên tai, có nguyên nhân khách quan gây ra ngoài ý muốn thì cơ quan điều tra sẽ không khởi tố vụ án hình sự (vì không chứng minh được yếu tố lỗi), tuy nhiên vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại vẫn sẽ vẫn được đặt ra.Theo quy định của pháp luật, chủ sở hữu nhà ở, chủ sở hữu công trình xây dựng phải bồi thường thiệt hại do nhà ở, công trình xây dựng gây ra kể cả trong trường hợp không có lỗi.Hai bên có thể thỏa thuận với nhau về mức bồi thường, nếu không thỏa thuận được thì có thể đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.Bộ luật Dân sự quy định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tính mạng bị xâm phạm bao gồm chi phí cứu chữa trước khi chết (nếu có), tiền công người chăm sóc, chi phí mai táng, tiền bồi thường tổn thất về tinh thần theo quy định của pháp luật (không quá 100 tháng lương cơ sở).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Ngày 14/5, các cơ quan chức năng huyện Ba Vì đang phối hợp điều tra, làm rõ vụ sạt lở sau mưa lớn khiến tường khu vui chơi ở thôn 6, xã Ba Trại bị sập, đè 3 cháu bé tử vong.Theo tìm hiểu ban đầu, khu vui chơi \"Thế giới của bé\" là do hộ dân tự xây dựng và tổ chức khai thác. Về giấy phép hoạt động của khu vui chơi, chính quyền huyện Ba Vì vẫn đang xác minh.Trước đó, khoảng 22h20 ngày 12/5, lực lượng chức năng tại xã Ba Trại nhận được tin báo của người dân về việc tại nhà ông T.V.V (sinh năm 1984, có hộ khẩu thường trú tại thôn 5, xã Thuần Mỹ, huyện Ba Vì; Hiện tại ở thôn 6, xã Ba Trại) xảy ra vụ sạt lở đất, tường bao khiến ba cháu nhỏ đang chơi trong nhà bị đất đá vùi lấp.Khu vực xảy ra vụ việc.Đến khoảng 22h45, lực lượng cứu hộ đưa được 2 cháu là L.T.T (sinh năm 2021) và L.K.N (sinh năm 2021) cùng trú tại thôn Cẩm An, xã Cẩm Lĩnh (huyện Ba Vì, Hà Nội) ra khỏi hiện trường.Đến khoảng 23h20, lực lượng chức năng tiếp tục đưa được cháu T.T.A.D (sinh năm 2019, con ông T.V.V) ra khỏi hiện trường. Tuy nhiên các cháu đều đã tử vong.Nguyên nhân ban đầu được xác định do có mưa lớn, lượng nước dồn về phần tường nhà (không có rãnh thoát nước) khiến bức tường đổ vào phía trong.Dưới góc độ pháp lý, Luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng Văn phòng luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, đây là vụ tai nạn rất thương tâm khi có đến ba đứa trẻ bị tử vong, điều đáng chú ý là các cháu bé gặp nạn ở trong khu vui chơi hoạt động không có giấy phép.Luật sư Cường phân tích, trong trường hợp kết quả xác minh cho thấy đã có lỗi của đơn vị kinh doanh khu vui chơi tự phát thì cơ quan điều tra sẽ khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can với người vi phạm về tội vô ý làm chết người.\"Về nguyên tắc là hành vi có lỗi dẫn đến người khác thiệt mạng thì người có lỗi phải chịu trách nhiệm pháp lý, kể cả là lỗi cố ý hay vô ý\", luật sư Cường cho biết.Nếu trường hợp kết quả xác minh cho thấy, trước đó bức tường này không có biểu hiện ngã đổ, người chủ sở hữu công trình và người quản lý khu vui chơi không thể phát hiện ra nguy cơ sạt lở đất, nguy cơ đổ tường, sự việc là do thiên tai, có nguyên nhân khách quan gây ra ngoài ý muốn thì cơ quan điều tra sẽ không khởi tố vụ án hình sự (vì không chứng minh được yếu tố lỗi), tuy nhiên vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại vẫn sẽ vẫn được đặt ra.Theo quy định của pháp luật, chủ sở hữu nhà ở, chủ sở hữu công trình xây dựng phải bồi thường thiệt hại do nhà ở, công trình xây dựng gây ra kể cả trong trường hợp không có lỗi.Hai bên có thể thỏa thuận với nhau về mức bồi thường, nếu không thỏa thuận được thì có thể đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.Bộ luật Dân sự quy định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tính mạng bị xâm phạm bao gồm chi phí cứu chữa trước khi chết (nếu có), tiền công người chăm sóc, chi phí mai táng, tiền bồi thường tổn thất về tinh thần theo quy định của pháp luật (không quá 100 tháng lương cơ sở)."
}
],
"id": "629",
"is_impossible": false,
"question": "Vụ sập tường khiến 3 trẻ tử vong: Chủ công trình bị khởi tố trong trường hợp nào?"
}
]
}
],
"title": "Vụ sập tường khiến 3 trẻ tử vong: Chủ công trình bị khởi tố trong trường hợp nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Trường hợp phát sinh mới một số hộ nghèo, hộ cận nghèo có khó khăn về nhà ở do UBND cấp xã quản lý nhưng nằm ngoài danh sách Đề án đã được phê duyệt thì việc điều chỉnh lại danh sách do UBND cấp huyện phê duyệt lại và báo cáo UBND cấp tỉnh. Theo Bộ Xây dựng, trong tình hình kinh tế của đất nước hiện nay cần tập trung hỗ trợ cho nhóm đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa được hỗ trợ về nhà ở để đảm bảo tính công bằng. Mới đây, UBND tỉnh Thanh Hóa có văn bản gửi Bộ Xây dựng đề nghị hướng dẫn, giải quyết khó khăn trong việc thực hiện Đề án hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn các huyện nghèo của tỉnh. Liên quan đến nội dung này, Bộ Xây dựng cho biết, tại điểm b khoản 5 Mục III Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 quy định: “Đối tượng thụ hưởng dự án không bao gồm các hộ đã được hỗ trợ nhà ở thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 và các chương trình, đề án, chính sách khác”. Theo Bộ Xây dựng, tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 1 và khoản 3 Điều 3 Thông tư số 01/2022/TT-BXD ngày 30/6/2022 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn các huyện nghèo thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 quy định, đối tượng áp dụng là hộ nghèo, hộ cận nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025) trong danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, đang cư trú trên địa bàn huyện nghèo và là hộ độc lập có thời gian tách hộ đến khi Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 có hiệu lực thi hành tối thiểu 03 năm. Đối tượng thụ hưởng hỗ trợ nhà ở không bao gồm các hộ đã được hỗ trợ nhà ở thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 và các chương trình, đề án, chính sách khác. Chưa được hỗ trợ nhà ở từ các chương trình, đề án, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội hoặc tổ chức xã hội khác. Như vậy, các trường hợp hộ nghèo, hộ cận nghèo đã được hỗ trợ nhà ở theo các chính sách khác (như Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ) thì không thuộc diện được hỗ trợ theo Quyết định số 90/QĐ-TTg và Thông tư số 01/2022/TT-BXD. Theo Bộ Xây dựng, các quy định nêu trên là để quy phạm hóa nguyên tắc mỗi đối tượng chính sách chỉ được hỗ trợ về nhà ở một lần. Do đó, trong tình hình kinh tế của đất nước hiện nay, đề nghị trước mắt tập trung hỗ trợ cho nhóm đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa được hỗ trợ về nhà ở để đảm bảo tính công bằng. Mặt khác, công tác chăm lo cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn cũng là nhiệm vụ thường xuyên được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, chính quyền các cấp cùng nỗ lực triển khai các hoạt động nhằm góp phần cùng Đảng và Nhà nước thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Mặt trận Tổ quốc đã vận động xây dựng quỹ “Vì người nghèo”, hỗ trợ xây dựng nhà Đại đoàn kết và thực hiện tốt các hoạt động nhân đạo, từ thiện khác nhằm hỗ trợ, giúp đỡ, chăm lo cho người nghèo, gia đình chính sách, các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn. Do đó, đề nghị UBND tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thanh Hóa xem xét, giải quyết theo thẩm quyền việc hỗ trợ về nhà ở cho các trường hợp hộ nghèo, hộ cận nghèo đã được hỗ trợ nhà ở nhưng đến nay đã hư hỏng, dột nát như đề nghị của UBND tỉnh Thanh Hóa. Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 6 Thông tư số 01/2022/TT-BXD quy định, sau 03 ngày làm việc kể từ thời điểm nhận được báo cáo của UBND cấp xã, UBND cấp huyện tổng hợp và phê duyệt danh sách báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp phải điều chỉnh lại danh sách thì phải phê duyệt lại và báo cáo ngay cho UBND cấp tỉnh. Như vậy, trường hợp phát sinh mới một số hộ nghèo, hộ cận nghèo có khó khăn về nhà ở (do UBND cấp xã quản lý) nhưng nằm ngoài danh sách Đề án đã được phê duyệt thì việc điều chỉnh lại danh sách do UBND cấp huyện phê duyệt lại và báo cáo UBND cấp tỉnh. Sau khi UBND tỉnh điều chỉnh, phê duyệt lại Đề án, Bộ Xây dựng sẽ tổng hợp số liệu Đề án của tỉnh (cũng như số liệu Đề án của các tỉnh khác) để báo cáo cấp có thẩm quyền. Trên cơ sở đó, đảm bảo tổng số vốn ngân sách Trung ương cấp để thực hiện các Đề án này không vượt quá 4.000 tỷ đồng đã được phê duyệt theo Quyết định số 90/QĐ-TTg.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 864,
"text": "“Đối tượng thụ hưởng dự án không bao gồm các hộ đã được hỗ trợ nhà ở thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 và các chương trình, đề án, chính sách khác”. Theo Bộ Xây dựng, tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 1 và khoản 3 Điều 3 Thông tư số 01/2022/TT-BXD ngày 30/6/2022 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn các huyện nghèo thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 quy định, đối tượng áp dụng là hộ nghèo, hộ cận nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025) trong danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, đang cư trú trên địa bàn huyện nghèo và là hộ độc lập có thời gian tách hộ đến khi Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 có hiệu lực thi hành tối thiểu 03 năm. Đối tượng thụ hưởng hỗ trợ nhà ở không bao gồm các hộ đã được hỗ trợ nhà ở thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 và các chương trình, đề án, chính sách khác. Chưa được hỗ trợ nhà ở từ các chương trình, đề án, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội hoặc tổ chức xã hội khác. Như vậy, các trường hợp hộ nghèo, hộ cận nghèo đã được hỗ trợ nhà ở theo các chính sách khác (như Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ) thì không thuộc diện được hỗ trợ theo Quyết định số 90/QĐ-TTg và Thông tư số 01/2022/TT-BXD. Theo Bộ Xây dựng, các quy định nêu trên là để quy phạm hóa nguyên tắc mỗi đối tượng chính sách chỉ được hỗ trợ về nhà ở một lần. Do đó, trong tình hình kinh tế của đất nước hiện nay, đề nghị trước mắt tập trung hỗ trợ cho nhóm đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa được hỗ trợ về nhà ở để đảm bảo tính công bằng. Mặt khác, công tác chăm lo cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn cũng là nhiệm vụ thường xuyên được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, chính quyền các cấp cùng nỗ lực triển khai các hoạt động nhằm góp phần cùng Đảng và Nhà nước thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Mặt trận Tổ quốc đã vận động xây dựng quỹ “Vì người nghèo”, hỗ trợ xây dựng nhà Đại đoàn kết và thực hiện tốt các hoạt động nhân đạo, từ thiện khác nhằm hỗ trợ, giúp đỡ, chăm lo cho người nghèo, gia đình chính sách, các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn. Do đó, đề nghị UBND tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thanh Hóa xem xét, giải quyết theo thẩm quyền việc hỗ trợ về nhà ở cho các trường hợp hộ nghèo, hộ cận nghèo đã được hỗ trợ nhà ở nhưng đến nay đã hư hỏng, dột nát như đề nghị của UBND tỉnh Thanh Hóa. Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 6 Thông tư số 01/2022/TT-BXD quy định, sau 03 ngày làm việc kể từ thời điểm nhận được báo cáo của UBND cấp xã, UBND cấp huyện tổng hợp và phê duyệt danh sách báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp phải điều chỉnh lại danh sách thì phải phê duyệt lại và báo cáo ngay cho UBND cấp tỉnh. Như vậy, trường hợp phát sinh mới một số hộ nghèo, hộ cận nghèo có khó khăn về nhà ở (do UBND cấp xã quản lý) nhưng nằm ngoài danh sách Đề án đã được phê duyệt thì việc điều chỉnh lại danh sách do UBND cấp huyện phê duyệt lại và báo cáo UBND cấp tỉnh. Sau khi UBND tỉnh điều chỉnh, phê duyệt lại Đề án, Bộ Xây dựng sẽ tổng hợp số liệu Đề án của tỉnh (cũng như số liệu Đề án của các tỉnh khác) để báo cáo cấp có thẩm quyền. Trên cơ sở đó, đảm bảo tổng số vốn ngân sách Trung ương cấp để thực hiện các Đề án này không vượt quá 4.000 tỷ đồng đã được phê duyệt theo Quyết định số 90/QĐ-TTg."
}
],
"id": "630",
"is_impossible": false,
"question": "Tháo gỡ khó khăn trong thực hiện Đề án hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, cận nghèo"
}
]
}
],
"title": "Tháo gỡ khó khăn trong thực hiện Đề án hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, cận nghèo"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Bạn Nguyễn Tiến Long (Nam Từ Liêm, TP Hà Nội) hỏi: Trong giờ cao điểm tôi thấy nhiều người điều khiển xe máy đã leo lên vỉa hè đi để tránh tắc đường.\"Xin hỏi việc điều khiển phương tiện giao thông đi trên vỉa hè có bị xử phạt không, mức xử phạt cụ thể cho từng phương tiện đi trên vỉa hè là như thế nào?\", bạn Long đặt câu hỏi.Đi xe máy trên vỉa hè có thể bị xử phạt từ 400-600 nghìn đồng.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, vỉa hè (hay còn gọi là hè phố) là phần dọc theo hai bên đường, thường được lắp gạch chuyên dùng và là phần đường dành riêng cho người đi bộ.Như vậy, vỉa hè không phải là phần đường cho các phương tiện khác mà chỉ dành cho người đi bộ. Các phương tiện khác đi trên vỉa hè đều là hành vi vi phạm luật giao thông (trừ việc đi lên vỉa hè để vào nhà).Luật sư Bình cho biết, theo quy định tại điểm đ khoản 5 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, sửa đổi bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP, người điều khiển xe ô tô đi trên hè phố (trừ trường hợp điều khiển xe đi qua hè phố để vào nhà) sẽ bị phạt tiền từ 4-6 triệu đồng.Điểm g khoản 3 Điều 6 Nghị định này cũng quy định, người điều khiển xe máy đi trên hè phố (trừ trường hợp điều khiển xe đi qua hè phố để vào nhà) bị phạt tiền từ 400-600 nghìn đồng.\"Ngoài ra, người điều khiển ô tô đi trên vỉa hè còn bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 1->3 tháng\", luật sư Bình thông tin.Luật sư Diệp Năng Bình cho rằng, đi xe trên vỉa hè, lấn chiếm vỉa hè để đỗ xe… trái quy định của pháp luật đang gây mất mỹ quan đô thị, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn giao thông đối với người đi bộ.\"Các quy định của pháp luật không cho phép phương tiện đi lên vỉa hè trong bất cứ trường hợp nào, kể cả tắc đường. Phương tiện chỉ được phép đi qua vỉa hè để vào nhà. Chính vì thế, người tham gia giao thông không được điều khiển phương tiện đi lên vỉa hè để tránh bị lực lượng chức năng xử phạt cũng như để đảm bảo trật tự, an toàn giao thông và mỹ quan đô thị\", ông Bình nói.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 51,
"text": "Trong giờ cao điểm tôi thấy nhiều người điều khiển xe máy đã leo lên vỉa hè đi để tránh tắc đường.\"Xin hỏi việc điều khiển phương tiện giao thông đi trên vỉa hè có bị xử phạt không, mức xử phạt cụ thể cho từng phương tiện đi trên vỉa hè là như thế nào?\", bạn Long đặt câu hỏi.Đi xe máy trên vỉa hè có thể bị xử phạt từ 400-600 nghìn đồng.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, vỉa hè (hay còn gọi là hè phố) là phần dọc theo hai bên đường, thường được lắp gạch chuyên dùng và là phần đường dành riêng cho người đi bộ.Như vậy, vỉa hè không phải là phần đường cho các phương tiện khác mà chỉ dành cho người đi bộ. Các phương tiện khác đi trên vỉa hè đều là hành vi vi phạm luật giao thông (trừ việc đi lên vỉa hè để vào nhà).Luật sư Bình cho biết, theo quy định tại điểm đ khoản 5 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, sửa đổi bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP, người điều khiển xe ô tô đi trên hè phố (trừ trường hợp điều khiển xe đi qua hè phố để vào nhà) sẽ bị phạt tiền từ 4-6 triệu đồng.Điểm g khoản 3 Điều 6 Nghị định này cũng quy định, người điều khiển xe máy đi trên hè phố (trừ trường hợp điều khiển xe đi qua hè phố để vào nhà) bị phạt tiền từ 400-600 nghìn đồng.\"Ngoài ra, người điều khiển ô tô đi trên vỉa hè còn bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 1->3 tháng\", luật sư Bình thông tin.Luật sư Diệp Năng Bình cho rằng, đi xe trên vỉa hè, lấn chiếm vỉa hè để đỗ xe… trái quy định của pháp luật đang gây mất mỹ quan đô thị, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn giao thông đối với người đi bộ.\"Các quy định của pháp luật không cho phép phương tiện đi lên vỉa hè trong bất cứ trường hợp nào, kể cả tắc đường. Phương tiện chỉ được phép đi qua vỉa hè để vào nhà. Chính vì thế, người tham gia giao thông không được điều khiển phương tiện đi lên vỉa hè để tránh bị lực lượng chức năng xử phạt cũng như để đảm bảo trật tự, an toàn giao thông và mỹ quan đô thị\", ông Bình nói."
}
],
"id": "631",
"is_impossible": false,
"question": "Đi xe máy trên vỉa hè bị phạt thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Đi xe máy trên vỉa hè bị phạt thế nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) – Ông Võ Quang Trọng (Thành phố Hồ Chí Minh) có câu hỏi liên quan đến việc xác định thời hạn giao đất theo thời hạn của dự án như thế nào, gửi tới cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn giải đáp. Đối với dự án kinh doanh nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp với cho thuê hoặc để cho thuê mua thì thời hạn giao đất cho chủ đầu tư được xác định theo thời hạn của dự án. Nội dung câu hỏi như sau: Ông Trọng mua một dự án căn hộ chung cư nhà ở xã hội theo đúng đối tượng, có sổ hồng đứng tên ông nhưng thời hạn sử dụng đất chỉ 50 năm. Ông đã tìm hiểu nhưng chưa thấy quy định cụ thể nào về nội dung này. Ông đề nghị cơ quan chức năng giải đáp về thời hạn sử dụng của chung cư nhà ở xã hội. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tại Khoản 3 Điều 126 Luật Đất đai năm 2013 có quy định: \"... Đối với dự án kinh doanh nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp với cho thuê hoặc để cho thuê mua thì thời hạn giao đất cho chủ đầu tư được xác định theo thời hạn của dự án; người mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất được sử dụng đất ổn định lâu dài\". Tại Khoản 1 Điều 97 Luật Đất đai năm 2013 có quy định: \"1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất theo một loại mẫu thống nhất trong cả nước. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất\". Đề nghị công dân nghiên cứu những quy định nêu trên, trường hợp còn vướng mắc thì liên hệ với Bộ Tài nguyên và Môi trường để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 394,
"text": "Ông Trọng mua một dự án căn hộ chung cư nhà ở xã hội theo đúng đối tượng, có sổ hồng đứng tên ông nhưng thời hạn sử dụng đất chỉ 50 năm. Ông đã tìm hiểu nhưng chưa thấy quy định cụ thể nào về nội dung này. Ông đề nghị cơ quan chức năng giải đáp về thời hạn sử dụng của chung cư nhà ở xã hội. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tại Khoản 3 Điều 126 Luật Đất đai năm 2013 có quy định: \"... Đối với dự án kinh doanh nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp với cho thuê hoặc để cho thuê mua thì thời hạn giao đất cho chủ đầu tư được xác định theo thời hạn của dự án; người mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất được sử dụng đất ổn định lâu dài\". Tại Khoản 1 Điều 97 Luật Đất đai năm 2013 có quy định: \"1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất theo một loại mẫu thống nhất trong cả nước. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất\". Đề nghị công dân nghiên cứu những quy định nêu trên, trường hợp còn vướng mắc thì liên hệ với Bộ Tài nguyên và Môi trường để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền."
}
],
"id": "632",
"is_impossible": false,
"question": "Xác định thời hạn giao đất theo thời hạn của dự án"
}
]
}
],
"title": "Xác định thời hạn giao đất theo thời hạn của dự án"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Ông Nguyễn Văn Long (Hà Nội) hỏi, dự án có công trình cấp I, thiết kế ba bước, thiết kế cơ sở và thiết kế kỹ thuật đã được Bộ Xây dựng thẩm định, vậy thiết kế bản vẽ thi công có công trình ảnh hưởng an toàn cộng đồng có phải thẩm định tại Sở Xây dựng hay không? Cơ quan chuyên môn thẩm định thiết kế xây dựng quy định tại Khoản 1 Điều 83a Luật Xây dựng năm 2014, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 26 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 82 Luật Xây dựng năm 2014, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 24 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14, cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở đối với các công trình xây dựng quy định tại Khoản 1 Điều 83a Luật Xây dựng năm 2014, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 26 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 78 Luật Xây dựng năm 2014, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 23 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14, thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở là thiết kế bản vẽ thi công đối với trường hợp thiết kế hai bước và thiết kế kỹ thuật đối với trường hợp thiết kế ba bước.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 480,
"text": "Theo quy định tại Khoản 3 Điều 82 Luật Xây dựng năm 2014, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 24 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14, cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở đối với các công trình xây dựng quy định tại Khoản 1 Điều 83a Luật Xây dựng năm 2014, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 26 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 78 Luật Xây dựng năm 2014, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 23 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14, thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở là thiết kế bản vẽ thi công đối với trường hợp thiết kế hai bước và thiết kế kỹ thuật đối với trường hợp thiết kế ba bước."
}
],
"id": "633",
"is_impossible": false,
"question": "Cơ quan nào thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở?"
}
]
}
],
"title": "Cơ quan nào thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Ông Nguyễn Văn Lang (Thành phố Hồ Chí Minh) có câu hỏi liên quan đến việc sửa quy định xét cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng, gửi cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn giải đáp. Ảnh minh họa. Nội dung câu hỏi như sau: Ông Lang tốt nghiệp kỹ sư xây dựng chuyên ngành cầu đường (hệ chính quy) năm 2006. Từ lúc ra trường đến nay hơn 18 năm ông chỉ làm công việc thiết kế kết cấu công trình dân dụng và công nghiệp. Năm 2011, ông Lang được Sở Xây dựng cấp Chứng chỉ hành nghề thiết kế kết cấu công trình dân dụng công nghiệp. Năm 2017, ông tham gia dự thi sát hạch và được Bộ Xây dựng cấp Chứng chỉ hành nghề thiết kế kết cấu công trình dân dụng và công nghiệp hạng I. Hiện nay chứng chỉ hành nghề của ông Lang hết hạn. Khi ông nộp hồ sơ để đăng ký thi sát hạch thì nhận được thông báo, hồ sơ của ông không đạt để tham gia sát hạch với lý do chuyên môn không phù hợp vì \"theo Nghị định số 15/2021/NĐ-CP Điều 67 Mục 3a có nội dung: Thiết kế kết cấu công trình: Chuyên môn được đào tạo thuộc các chuyên ngành kỹ thuật xây dựng có liên quan đến kết cấu công trình (không bao gồm các công trình khai thác mỏ, giao thông, công trình thủy lợi, đê điều)\". Hơn 1 năm qua ông Lang không thể tham gia sát hạch để được tiếp tục gia hạn chứng chỉ hành nghề, việc này gây ảnh hưởng rất lớn đến công việc hiện tại của ông. Theo ý kiến của ông Lang, một số nội dung của Nghị định số 15/2021/NĐ-CP còn bất cập, chưa phù hợp với thực tế, đã và đang gây trở ngại, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của những người như ông. Theo ông Lang hiểu, trước đây là Chứng chỉ hành nghề thiết kế kết cấu công trình dân dụng và công nghiệp, còn theo Nghị định số 15/2021/NĐ-CP là Chứng chỉ thiết kế kết cấu công trình. Với Chứng chỉ này, kỹ sư sẽ được hành nghề thiết kế các loại kết cấu công trình ngoại trừ thiết kế các công trình liên quan đến khai thác mỏ, giao thông, công trình thủy lợi đê điều chứ không phải quy định Chứng chỉ thiết kế kết cấu công trình sẽ không được cấp cho các kỹ sư xây dựng chuyên ngành cầu đường, công trình thủy, cảng công trình biển,… vì Nghị định có ghi rõ Chứng chỉ thiết kế kết cấu công trình thì chuyên môn được đào tạo thuộc các chuyên ngành kỹ thuật xây dựng có liên quan đến kết cấu công trình. Đối với trường hợp của ông Lang, trong chương trình đào tạo kỹ sư xây dựng của trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh những năm 2000 (trước thời điểm Luật Xây dựng 2014 có hiệu lực) thì kỹ sư xây dựng thuộc các ngành xây dựng dân dụng, cầu đường là những ngành rất gần,… được đào tạo theo chương trình tương đối giống nhau để bảo đảm kỹ sư sau khi tốt nghiệp có thể hành nghề theo hướng đa ngành trong lĩnh vực xây dựng để đáp ứng nhu cầu xã hội lúc bấy giờ. Trong chương trình đào tạo của ông (được thể hiện rõ trong bảng điểm đại học) ông được học các môn liên quan đến kết cấu công trình như: Cơ kết cấu 1, Cơ kết cấu 2, Cơ học đất, Nền móng, Kết cấu bê tông cốt thép 1, Kết cấu bê tông cốt thép 2 (phần kết cấu nhà cửa), Kết cấu thép + gỗ, Công trình trên nền đất yếu, Kết cấu bê tông cốt thép 3 (các cấu kiện đặc biệt), Kết cấu dự ứng lực,… Nhưng khi triển khai áp dụng Nghị định vào thực tế không hiểu sao lại được hiểu mặc định là kỹ sư xây dựng chuyên ngành cầu đường, công trình thủy, cảng công trình biển,… không thuộc chuyên môn phù hợp để tham gia sát hạch cấp Chứng chỉ hành nghề thiết kế kết cấu công trình, dẫn đến hồ sơ nộp vào đều bị trả về với thông báo hồ sơ không đạt. Nếu chỉ căn cứ theo một phần nội dung câu chữ trong Nghị định để xét hồ sơ sát hạch mà không xem xét đến kinh nghiệm chuyên môn thực tế sẽ gây nhiều khó khăn cho người dân trong việc gia hạn giấy phép hành nghề, làm mất cơ hội việc làm. Bằng cấp chuyên môn học ở đại học chỉ là một phần, cơ quan chức năng cần xét đến kinh nghiệm thực tế người kỹ sư đã đi làm 15 năm, 20 năm là về chuyên môn công trình gì. Để có thể hành nghề tốt trong một lĩnh vực thì ngoài kiến thức nền cơ bản được học ở trường đại học thì đòi hỏi người kỹ sư còn phải không ngừng học hỏi và tích lũy thêm kinh nghiệm ngoài thực tế. Do đó, ông Lang đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét điều chỉnh quy định về việc cấp chứng chỉ hành nghề cho phù hợp với thực tế cuộc sống, để không ảnh hưởng đến công việc của những người như ông, giúp người dân giảm bớt gánh nặng về các thủ tục hành chính. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Hiện nay, Bộ Xây dựng đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 15/2021/NĐ-CP để khắc phục các tồn tại như ông Lang đã nêu theo hướng cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giải quyết các vướng mắc, bất cập trong đó có nội dung về chuyên môn phù hợp khi xét cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 224,
"text": "Ông Lang tốt nghiệp kỹ sư xây dựng chuyên ngành cầu đường (hệ chính quy) năm 2006. Từ lúc ra trường đến nay hơn 18 năm ông chỉ làm công việc thiết kế kết cấu công trình dân dụng và công nghiệp. Năm 2011, ông Lang được Sở Xây dựng cấp Chứng chỉ hành nghề thiết kế kết cấu công trình dân dụng công nghiệp. Năm 2017, ông tham gia dự thi sát hạch và được Bộ Xây dựng cấp Chứng chỉ hành nghề thiết kế kết cấu công trình dân dụng và công nghiệp hạng I. Hiện nay chứng chỉ hành nghề của ông Lang hết hạn. Khi ông nộp hồ sơ để đăng ký thi sát hạch thì nhận được thông báo, hồ sơ của ông không đạt để tham gia sát hạch với lý do chuyên môn không phù hợp vì \"theo Nghị định số 15/2021/NĐ-CP Điều 67 Mục 3a có nội dung: Thiết kế kết cấu công trình: Chuyên môn được đào tạo thuộc các chuyên ngành kỹ thuật xây dựng có liên quan đến kết cấu công trình (không bao gồm các công trình khai thác mỏ, giao thông, công trình thủy lợi, đê điều)\". Hơn 1 năm qua ông Lang không thể tham gia sát hạch để được tiếp tục gia hạn chứng chỉ hành nghề, việc này gây ảnh hưởng rất lớn đến công việc hiện tại của ông. Theo ý kiến của ông Lang, một số nội dung của Nghị định số 15/2021/NĐ-CP còn bất cập, chưa phù hợp với thực tế, đã và đang gây trở ngại, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của những người như ông. Theo ông Lang hiểu, trước đây là Chứng chỉ hành nghề thiết kế kết cấu công trình dân dụng và công nghiệp, còn theo Nghị định số 15/2021/NĐ-CP là Chứng chỉ thiết kế kết cấu công trình. Với Chứng chỉ này, kỹ sư sẽ được hành nghề thiết kế các loại kết cấu công trình ngoại trừ thiết kế các công trình liên quan đến khai thác mỏ, giao thông, công trình thủy lợi đê điều chứ không phải quy định Chứng chỉ thiết kế kết cấu công trình sẽ không được cấp cho các kỹ sư xây dựng chuyên ngành cầu đường, công trình thủy, cảng công trình biển,… vì Nghị định có ghi rõ Chứng chỉ thiết kế kết cấu công trình thì chuyên môn được đào tạo thuộc các chuyên ngành kỹ thuật xây dựng có liên quan đến kết cấu công trình. Đối với trường hợp của ông Lang, trong chương trình đào tạo kỹ sư xây dựng của trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh những năm 2000 (trước thời điểm Luật Xây dựng 2014 có hiệu lực) thì kỹ sư xây dựng thuộc các ngành xây dựng dân dụng, cầu đường là những ngành rất gần,… được đào tạo theo chương trình tương đối giống nhau để bảo đảm kỹ sư sau khi tốt nghiệp có thể hành nghề theo hướng đa ngành trong lĩnh vực xây dựng để đáp ứng nhu cầu xã hội lúc bấy giờ. Trong chương trình đào tạo của ông (được thể hiện rõ trong bảng điểm đại học) ông được học các môn liên quan đến kết cấu công trình như: Cơ kết cấu 1, Cơ kết cấu 2, Cơ học đất, Nền móng, Kết cấu bê tông cốt thép 1, Kết cấu bê tông cốt thép 2 (phần kết cấu nhà cửa), Kết cấu thép + gỗ, Công trình trên nền đất yếu, Kết cấu bê tông cốt thép 3 (các cấu kiện đặc biệt), Kết cấu dự ứng lực,… Nhưng khi triển khai áp dụng Nghị định vào thực tế không hiểu sao lại được hiểu mặc định là kỹ sư xây dựng chuyên ngành cầu đường, công trình thủy, cảng công trình biển,… không thuộc chuyên môn phù hợp để tham gia sát hạch cấp Chứng chỉ hành nghề thiết kế kết cấu công trình, dẫn đến hồ sơ nộp vào đều bị trả về với thông báo hồ sơ không đạt. Nếu chỉ căn cứ theo một phần nội dung câu chữ trong Nghị định để xét hồ sơ sát hạch mà không xem xét đến kinh nghiệm chuyên môn thực tế sẽ gây nhiều khó khăn cho người dân trong việc gia hạn giấy phép hành nghề, làm mất cơ hội việc làm. Bằng cấp chuyên môn học ở đại học chỉ là một phần, cơ quan chức năng cần xét đến kinh nghiệm thực tế người kỹ sư đã đi làm 15 năm, 20 năm là về chuyên môn công trình gì. Để có thể hành nghề tốt trong một lĩnh vực thì ngoài kiến thức nền cơ bản được học ở trường đại học thì đòi hỏi người kỹ sư còn phải không ngừng học hỏi và tích lũy thêm kinh nghiệm ngoài thực tế. Do đó, ông Lang đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét điều chỉnh quy định về việc cấp chứng chỉ hành nghề cho phù hợp với thực tế cuộc sống, để không ảnh hưởng đến công việc của những người như ông, giúp người dân giảm bớt gánh nặng về các thủ tục hành chính. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Hiện nay, Bộ Xây dựng đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 15/2021/NĐ-CP để khắc phục các tồn tại như ông Lang đã nêu theo hướng cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giải quyết các vướng mắc, bất cập trong đó có nội dung về chuyên môn phù hợp khi xét cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng."
}
],
"id": "634",
"is_impossible": false,
"question": "Sửa quy định xét cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng"
}
]
}
],
"title": "Sửa quy định xét cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) – Nhiều đối tượng đang nộp thuế thu nhập cá nhân nhưng muốn mua nhà ở xã hội thì theo quy định họ có được mua hay không? Mời bạn đọc tham khảo bài viết dưới đây. Pháp luật về nhà ở quy định về điều kiện thu nhập của các đối tượng để được hưởng chính sách nhà ở xã hội là \"không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân\". Ông Nguyễn Đức Bình (Quảng Ninh) là công chức, lương của vợ chồng ông đều chưa đến mức phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Trong quá trình công tác, ông tham gia cuộc thi của ngành, được thưởng 10 triệu đồng và phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo diện không thường xuyên. Khi ông Bình làm hồ sơ mua nhà ở xã hội thì được trả lời là không đủ điều kiện vì thuộc diện đã phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Ông Bình được biết, chỉ trường hợp nộp thuế thu nhập cá nhân thường xuyên mới thuộc diện không được mua. Ông Bình hỏi, ông nộp thuế thu nhập theo diện không thường xuyên thì có được mua nhà ở xã hội hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Điểm c Khoản 1 Điều 51 Luật Nhà ở năm 2014 có quy định: \"Đối với đối tượng quy định tại các khoản 4, 5, 6 và 7 Điều 49 của Luật này thì phải thuộc diện không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân...\". Tại Khoản 3 Điều 22 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội có quy định: \"3. Giấy tờ chứng minh về điều kiện thu nhập như sau: a) Các đối tượng quy định tại Khoản 5,6 và 7 Điều 49 của Luật Nhà ở phải có xác nhận của cơ quan, đơn vị mà người đó đang làm việc về mức thu nhập thuộc diện không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân; b) Các đối tượng quy định tại Khoản 4 Điều 49 của Luật Nhà ở tự kê khai về mức thu nhập của bản thân và chịu trách nhiệm về thông tin tự kê khai. Sở Xây dựng liên hệ với Cục thuế địa phương để xác minh thuế thu nhập của các đối tượng này trong trường hợp cần thiết\". Khoản 16 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP quy định: \"Giấy tờ chứng minh về điều kiện thu nhập như sau: a) Các đối tượng quy định tại Khoản 5, 6 và 7 Điều 49 của Luật Nhà ở phải có xác nhận của cơ quan, đơn vị mà người đó đang làm việc về mức thu nhập thuộc diện không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân; b) Các đối tượng quy định tại Khoản 4 Điều 49 của Luật Nhà ở tự kê khai về mức thu nhập của bản thân và chịu trách nhiệm về thông tin tự kê khai. Sở Xây dựng liên hệ với Cục thuế địa phương để xác minh thuế thu nhập của các đối tượng này trong trường hợp cần thiết\". Tại Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân; Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP đã quy định cụ thể về thời điểm xác định thu nhập chịu thuế. Như vậy, pháp luật về nhà ở quy định về điều kiện thu nhập của các đối tượng để được hưởng chính sách nhà ở xã hội là \"không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân\". Việc xác định điều kiện này thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân Sẽ có quy định mới về điều kiện thu nhập khi mua nhà ở xã hội Việc quy định điều kiện về thu nhập thuộc diện không phải nộp thuế thu nhập cá nhân dẫn đến nhiều trường hợp người dân không đủ tài chính để mua nhà, đồng thời phát sinh thủ tục hành chính. Do vậy, tại Điểm b Khoản 1 Điều 78 của Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2025) có quy định: \"b) Điều kiện về thu nhập: đối tượng quy định tại các Khoản 5, 6, 7 và 8 Điều 76 của Luật này để được mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải đáp ứng điều kiện về thu nhập theo quy định của Chính phủ, đối tượng quy định tại Khoản 4 Điều 76 của Luật này thì phải thuộc trường hợp hộ gia đình nghèo, cận nghèo theo quy định của Chính phủ\". Hiện nay, Bộ Xây dựng đang được giao chủ trì Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội. Bộ Xây dựng đang dự thảo hướng dẫn xác định theo hướng không liên quan đến thuế thu nhập cá nhân. Đề nghị ông Bình nghiên cứu các quy định nêu trên để thực hiện.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1026,
"text": "Điểm c Khoản 1 Điều 51 Luật Nhà ở năm 2014 có quy định: \"Đối với đối tượng quy định tại các khoản 4, 5, 6 và 7 Điều 49 của Luật này thì phải thuộc diện không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân...\". Tại Khoản 3 Điều 22 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội có quy định: \"3. Giấy tờ chứng minh về điều kiện thu nhập như sau: a) Các đối tượng quy định tại Khoản 5,6 và 7 Điều 49 của Luật Nhà ở phải có xác nhận của cơ quan, đơn vị mà người đó đang làm việc về mức thu nhập thuộc diện không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân; b) Các đối tượng quy định tại Khoản 4 Điều 49 của Luật Nhà ở tự kê khai về mức thu nhập của bản thân và chịu trách nhiệm về thông tin tự kê khai. Sở Xây dựng liên hệ với Cục thuế địa phương để xác minh thuế thu nhập của các đối tượng này trong trường hợp cần thiết\". Khoản 16 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP quy định: \"Giấy tờ chứng minh về điều kiện thu nhập như sau: a) Các đối tượng quy định tại Khoản 5, 6 và 7 Điều 49 của Luật Nhà ở phải có xác nhận của cơ quan, đơn vị mà người đó đang làm việc về mức thu nhập thuộc diện không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân; b) Các đối tượng quy định tại Khoản 4 Điều 49 của Luật Nhà ở tự kê khai về mức thu nhập của bản thân và chịu trách nhiệm về thông tin tự kê khai. Sở Xây dựng liên hệ với Cục thuế địa phương để xác minh thuế thu nhập của các đối tượng này trong trường hợp cần thiết\". Tại Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân; Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP đã quy định cụ thể về thời điểm xác định thu nhập chịu thuế. Như vậy, pháp luật về nhà ở quy định về điều kiện thu nhập của các đối tượng để được hưởng chính sách nhà ở xã hội là \"không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân\". Việc xác định điều kiện này thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân Sẽ có quy định mới về điều kiện thu nhập khi mua nhà ở xã hội Việc quy định điều kiện về thu nhập thuộc diện không phải nộp thuế thu nhập cá nhân dẫn đến nhiều trường hợp người dân không đủ tài chính để mua nhà, đồng thời phát sinh thủ tục hành chính. Do vậy, tại Điểm b Khoản 1 Điều 78 của Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2025) có quy định: \"b) Điều kiện về thu nhập: đối tượng quy định tại các Khoản 5, 6, 7 và 8 Điều 76 của Luật này để được mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải đáp ứng điều kiện về thu nhập theo quy định của Chính phủ, đối tượng quy định tại Khoản 4 Điều 76 của Luật này thì phải thuộc trường hợp hộ gia đình nghèo, cận nghèo theo quy định của Chính phủ\". Hiện nay, Bộ Xây dựng đang được giao chủ trì Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội. Bộ Xây dựng đang dự thảo hướng dẫn xác định theo hướng không liên quan đến thuế thu nhập cá nhân. Đề nghị ông Bình nghiên cứu các quy định nêu trên để thực hiện."
}
],
"id": "635",
"is_impossible": false,
"question": "Nộp thuế thu nhập không thường xuyên có được mua nhà ở xã hội?"
}
]
}
],
"title": "Nộp thuế thu nhập không thường xuyên có được mua nhà ở xã hội?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Bà Minh Hà (Thành phố Hồ Chí Minh) hỏi, công trình xây dựng khẩn cấp có bắt buộc phải áp dụng theo Khoản 4 Điều 12 Văn bản số 02/VBHN-VPQH hợp nhất Luật Xây dựng hay không? Bệnh viện điều trị người bệnh Covid-19 có quy mô 520 gường bệnh trên diện tích 3,5ha tại ngõ 587 Tam Trinh, Hoàng Mai, Hà Nội. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Căn cứ quy định tại Khoản 4 Điều 12 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 thì một trong các hành vi bị nghiêm cấm là: \"Xây dựng công trình không đúng quy hoạch xây dựng, trừ trường hợp có giấy phép xây dựng có thời hạn; vi phạm chỉ giới xây dựng, cốt xây dựng; xây dựng công trình không đúng với giấy phép xây dựng được cấp\". Công trình được xây dựng theo lệnh khẩn cấp là một trong những loại công trình xây dựng đặc thù: Đối với việc xây dựng công trình khẩn cấp quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 130 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo quy định tại Khoản 48 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 ngày 17/6/2020 thực hiện theo quy định tại Điều 58 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Đối với xây dựng công trình khẩn cấp quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 130 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo quy định tại Khoản 48 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 130 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13. Xây dựng công trình khẩn cấp không phù hợp với quy hoạch xây dựng được quy định theo Khoản 5 Điều 130 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo quy định tại Khoản 48 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 353,
"text": "Căn cứ quy định tại Khoản 4 Điều 12 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 thì một trong các hành vi bị nghiêm cấm là: \"Xây dựng công trình không đúng quy hoạch xây dựng, trừ trường hợp có giấy phép xây dựng có thời hạn; vi phạm chỉ giới xây dựng, cốt xây dựng; xây dựng công trình không đúng với giấy phép xây dựng được cấp\". Công trình được xây dựng theo lệnh khẩn cấp là một trong những loại công trình xây dựng đặc thù: Đối với việc xây dựng công trình khẩn cấp quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 130 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo quy định tại Khoản 48 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 ngày 17/6/2020 thực hiện theo quy định tại Điều 58 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Đối với xây dựng công trình khẩn cấp quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 130 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo quy định tại Khoản 48 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 130 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13. Xây dựng công trình khẩn cấp không phù hợp với quy hoạch xây dựng được quy định theo Khoản 5 Điều 130 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo quy định tại Khoản 48 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14."
}
],
"id": "636",
"is_impossible": false,
"question": "Công trình xây dựng khẩn cấp áp dụng theo quy định nào?"
}
]
}
],
"title": "Công trình xây dựng khẩn cấp áp dụng theo quy định nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Ông Lê Thanh Hải (Sơn La) có câu hỏi liên quan đến Hợp đồng xây dựng có bắt buộc áp dụng theo mẫu, gửi tới cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn giải đáp. Nội dung câu hỏi như sau: Ông Hải hỏi, hợp đồng tư vấn lựa chọn nhà thầu có bắt buộc áp dụng theo mẫu tại Thông tư số 02/2023/TT-BXD hay không? Trường hợp các bên sử dụng một mẫu khác, trong đó có đầy đủ các quy định theo quy định của pháp luật về xây dựng, đấu thầu thì có phù hợp không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Ngày 3/3/2023, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 02/2023/TT-BXD hướng dẫn một số nội dung về hợp đồng xây dựng. Theo đó, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng được quy định tại Điều 1, Điều 2 Thông tư số 02/2023/TT-BXD. Hướng dẫn sử dụng, vận dụng mẫu hợp đồng xây dựng được quy định tại Điều 7 Thông tư số 02/2023/TT-BXD. Đề nghị ông Hải nghiên cứu các quy định này để thực hiện theo đúng quy định pháp luật.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 188,
"text": "Ông Hải hỏi, hợp đồng tư vấn lựa chọn nhà thầu có bắt buộc áp dụng theo mẫu tại Thông tư số 02/2023/TT-BXD hay không? Trường hợp các bên sử dụng một mẫu khác, trong đó có đầy đủ các quy định theo quy định của pháp luật về xây dựng, đấu thầu thì có phù hợp không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Ngày 3/3/2023, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 02/2023/TT-BXD hướng dẫn một số nội dung về hợp đồng xây dựng. Theo đó, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng được quy định tại Điều 1, Điều 2 Thông tư số 02/2023/TT-BXD. Hướng dẫn sử dụng, vận dụng mẫu hợp đồng xây dựng được quy định tại Điều 7 Thông tư số 02/2023/TT-BXD. Đề nghị ông Hải nghiên cứu các quy định này để thực hiện theo đúng quy định pháp luật."
}
],
"id": "637",
"is_impossible": false,
"question": "Hợp đồng xây dựng có bắt buộc áp dụng theo mẫu?"
}
]
}
],
"title": "Hợp đồng xây dựng có bắt buộc áp dụng theo mẫu?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Bạn đọc Nguyễn Văn Phong (Nam Từ Liêm, TP Hà Nội) hỏi: Hiện nay, tôi thấy cảnh sát cơ động tuần tra xử lý vi phạm giao thông, khi yêu cầu các tài xế dừng xe máy để kiểm tra thì còn còn yêu lái xe mở cốp xe kiểm tra.\"Xin hỏi, cảnh sát cơ động có được kiểm tra ví, cốp xe của người điều khiển phương tiện không?\", bạn Phong thắc mắc.Theo quy định hiện hành, cảnh sát cơ động có quyền kiểm tra cốp xe của người điều khiển phương tiện.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, cảnh sát cơ động là một cá nhân giữ chức vị nhất định, thuộc Bộ Tư lệnh cảnh sát cơ động của Bộ Công an Việt Nam thực hiện các chức năng, quyền hạn được giao để đảm bảo an ninh trật tự quốc gia, giữ gìn trật tự xã hội, an toàn xã hội và các nhiệm vụ khác theo quy định của luật hiện hành.Cảnh sát cơ động gồm lực lượng đặc nhiệm; Lực lượng tác chiến đặc biệt; Lực lượng bảo vệ mục tiêu; Lực lượng huấn luyện, sử dụng động vật nghiệp vụ.Tổ chức của cảnh sát cơ động gồm: Bộ Tư lệnh cảnh sát cơ động; Cảnh sát cơ động công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.Điều 128 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định, việc khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính được tiến hành khi có căn cứ cho rằng trong phương tiện vận tải, đồ vật của người tham gia giao thông có cất giấu tang vật vi phạm hành chính.Việc khám phương tiện vận tải, đồ vật nêu trên phải có quyết định bằng văn bản và phải do người có thẩm quyền ban hành tiến hành kiểm soát, đơn cử như: Trưởng phòng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Trưởng phòng cảnh sát trật tự; Trưởng phòng Cảnh sát giao thông (CSGT) đường bộ, đường sắt; Thủ trưởng đơn vị cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên, trạm trưởng trạm công an cửa khẩu.\"Trong trường hợp đặc biệt, nếu có căn cứ cho rằng không tiến hành khám ngay sẽ khiến tang vật vi phạm hành chính có cơ hội bị tẩu tán, tiêu hủy, thì ngoài trưởng phòng CSGT ra, cán bộ, chiến sĩ CSGT, cảnh sát cơ động đang thi hành công vụ được khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính\", ông Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Luật sư Quách Thành Lực cho biết thêm, Thông tư 58/2015/TT-BCA quy định quyền hạn của cảnh sát cơ động bao gồm: Kiểm soát người, phương tiện, đồ vật, tài liệu theo quy định của pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát; Xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo thẩm quyền; Áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật.Yêu cầu cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân phối hợp, hỗ trợ giải quyết vụ, việc liên quan đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và phương tiện, thiết bị kỹ thuật, động vật nghiệp vụ phục vụ hoạt động tuần tra, kiểm soát; Thực hiện quyền hạn khác theo quy định của pháp luật và của Bộ Công an.\"Như vậy, cảnh sát cơ động có quyền kiểm soát người, kiểm tra giấy tờ tùy thân, kiểm tra cốp xe khi đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát. Đối tượng tuần tra, kiểm soát gồm khu vực, mục tiêu, tuyến, địa bàn được phân công; người, phương tiện, đồ vật, tài liệu\", luật sư Lực nói.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 55,
"text": "Hiện nay, tôi thấy cảnh sát cơ động tuần tra xử lý vi phạm giao thông, khi yêu cầu các tài xế dừng xe máy để kiểm tra thì còn còn yêu lái xe mở cốp xe kiểm tra.\"Xin hỏi, cảnh sát cơ động có được kiểm tra ví, cốp xe của người điều khiển phương tiện không?\", bạn Phong thắc mắc.Theo quy định hiện hành, cảnh sát cơ động có quyền kiểm tra cốp xe của người điều khiển phương tiện.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, cảnh sát cơ động là một cá nhân giữ chức vị nhất định, thuộc Bộ Tư lệnh cảnh sát cơ động của Bộ Công an Việt Nam thực hiện các chức năng, quyền hạn được giao để đảm bảo an ninh trật tự quốc gia, giữ gìn trật tự xã hội, an toàn xã hội và các nhiệm vụ khác theo quy định của luật hiện hành.Cảnh sát cơ động gồm lực lượng đặc nhiệm; Lực lượng tác chiến đặc biệt; Lực lượng bảo vệ mục tiêu; Lực lượng huấn luyện, sử dụng động vật nghiệp vụ.Tổ chức của cảnh sát cơ động gồm: Bộ Tư lệnh cảnh sát cơ động; Cảnh sát cơ động công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.Điều 128 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định, việc khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính được tiến hành khi có căn cứ cho rằng trong phương tiện vận tải, đồ vật của người tham gia giao thông có cất giấu tang vật vi phạm hành chính.Việc khám phương tiện vận tải, đồ vật nêu trên phải có quyết định bằng văn bản và phải do người có thẩm quyền ban hành tiến hành kiểm soát, đơn cử như: Trưởng phòng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Trưởng phòng cảnh sát trật tự; Trưởng phòng Cảnh sát giao thông (CSGT) đường bộ, đường sắt; Thủ trưởng đơn vị cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên, trạm trưởng trạm công an cửa khẩu.\"Trong trường hợp đặc biệt, nếu có căn cứ cho rằng không tiến hành khám ngay sẽ khiến tang vật vi phạm hành chính có cơ hội bị tẩu tán, tiêu hủy, thì ngoài trưởng phòng CSGT ra, cán bộ, chiến sĩ CSGT, cảnh sát cơ động đang thi hành công vụ được khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính\", ông Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Luật sư Quách Thành Lực cho biết thêm, Thông tư 58/2015/TT-BCA quy định quyền hạn của cảnh sát cơ động bao gồm: Kiểm soát người, phương tiện, đồ vật, tài liệu theo quy định của pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát; Xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo thẩm quyền; Áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật.Yêu cầu cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân phối hợp, hỗ trợ giải quyết vụ, việc liên quan đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và phương tiện, thiết bị kỹ thuật, động vật nghiệp vụ phục vụ hoạt động tuần tra, kiểm soát; Thực hiện quyền hạn khác theo quy định của pháp luật và của Bộ Công an.\"Như vậy, cảnh sát cơ động có quyền kiểm soát người, kiểm tra giấy tờ tùy thân, kiểm tra cốp xe khi đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát. Đối tượng tuần tra, kiểm soát gồm khu vực, mục tiêu, tuyến, địa bàn được phân công; người, phương tiện, đồ vật, tài liệu\", luật sư Lực nói."
}
],
"id": "638",
"is_impossible": false,
"question": "Cảnh sát cơ động có được kiểm tra cốp xe của người điều khiển phương tiện?"
}
]
}
],
"title": "Cảnh sát cơ động có được kiểm tra cốp xe của người điều khiển phương tiện?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Việc điều chỉnh hợp đồng đã ký kết chỉ được thực hiện trong thời gian thực hiện hợp đồng được quy định tại Khoản 1 Điều 36 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 50/2021/NĐ-CP). Ảnh minh họa. Ông Vũ Văn Thanh (Quảng Ninh) công tác tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh. Đơn vị ông đang thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình hồ chứa nước thủy lợi. Trong quá trình thực hiện dự án, đơn vị gặp tình huống như sau: Gói thầu tư vấn khảo sát, thiết kế bản vẽ thi công - dự toán công trình được UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu với thời gian thực hiện 45 ngày, loại hợp đồng trọn gói. Nhà thầu tư vấn đã hoàn thành khối lượng công việc thiết kế bản vẽ thi công – dự toán theo đúng hợp đồng với thời gian thực hiện 45 ngày. Hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định, chủ đầu tư phê duyệt. Công trình được đấu thầu triển khai thi công xây dựng. Trong quá trình triển khai thi công xây dựng có phát sinh các công việc: - Một số mỏ khai thác đất đắp đập theo hồ sơ thiết kế được phê duyệt có trữ lượng nhỏ hơn thiết kế do chiều dày lớp khai thác mỏng; - Do nhu cầu giao thông của nhân dân trong khu vực trong thời gian thi công cần phải bổ sung 2 tuyến đường giao thông tạm. Do đó, cần phải bổ sung khối lượng khảo sát địa chất, và thiết kế tuyến đường giao thông tạm. Căn cứ Quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 37 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP, khi điều chỉnh khối lượng không làm vượt giá gói thầu được phê duyệt thì chủ đầu tư và nhà thầu tính toán, thỏa thuận và ký kết phụ lục bổ sung hợp đồng; trường hợp thỏa thuận không được thì khối lượng các công việc phát sinh đó sẽ hình thành gói thầu mới. Chủ đầu tư và nhà thầu tư vấn đã thỏa thuận thành công, thống nhất ký kết phụ lục hợp đồng làm cơ sở thực hiện và thanh quyết toán. Giá trị bổ sung không làm vượt giá gói thầu được phê duyệt. Sau khi nhà thầu tư vấn hoàn thành khối lượng công việc theo phụ lục hợp đồng ký kết, được chủ đầu tư nghiệm thu, nhà thầu lập hồ sơ đề nghị thanh toán chi phí gửi Kho bạc Nhà nước. Sau khi kiểm tra hồ sơ thanh toán, Kho bạc Nhà nước có ý kiến: \"Thời điểm chủ đầu tư ký phụ lục hợp đồng với nhà thầu tư vấn nằm ngoài thời gian thực hiện hợp đồng (45 ngày) nêu trên nên không được thanh toán. Yêu cầu chủ đầu tư phải trình cấp quyết định đầu tư cho phép gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng theo thời gian bắt đầu cần bổ sung khối lượng phát sinh\". Ông Thanh hỏi, khi điều chỉnh bổ sung khối lượng phát sinh hợp lý ngoài hợp đồng tư vấn đã ký kết (khối lượng trong hợp đồng đã hoàn thành toàn bộ) như trên, đơn vị ông có phải trình cấp có thẩm quyền cho phép gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng tư vấn đã phê duyệt trong quyết định kế hoạch đấu thầu không? Đa số các gói thầu tư vấn thiết kế bản vẽ thi công nếu cần điều chỉnh đều thuộc quá trình thi công xây dựng, ngoài thời gian thực hiện gói thầu tư vấn được phê duyệt trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Do nội dung câu hỏi chưa nêu rõ thời điểm ký kết hợp đồng, các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để hướng dẫn cụ thể. Trường hợp hợp đồng trọn gói thuộc phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, Nghị định số 50/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP thì: Việc điều chỉnh bổ sung khối lượng công việc thực hiện theo các quy định tại Khoản 3 Điều 36, Điểm a Khoản 2 Điều 37. Thẩm quyền điều chỉnh giá và tiến độ thực hiện hợp đồng thực hiện theo các quy định tại Khoản 4 Điều 36, Khoản 3 Điều 39. Việc điều chỉnh hợp đồng đã ký kết chỉ được thực hiện trong thời gian thực hiện hợp đồng được quy định tại Khoản 1 Điều 36. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP, thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ ngày hợp đồng có hiệu lực cho đến khi các bên hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký. Đối với hợp đồng tư vấn, nghĩa vụ của bên nhận thầu tư vấn được quy định tại Khoản 2 Điều 26. Đề nghị ông Thanh nghiên cứu các ý kiến nêu trên, nội dung hợp đồng đã ký, quy định của pháp luật áp dụng cho hợp đồng để xem xét, xác định việc điều chỉnh hợp đồng đã ký kết, bảo đảm đúng quy định pháp luật.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 508,
"text": "Gói thầu tư vấn khảo sát, thiết kế bản vẽ thi công - dự toán công trình được UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu với thời gian thực hiện 45 ngày, loại hợp đồng trọn gói. Nhà thầu tư vấn đã hoàn thành khối lượng công việc thiết kế bản vẽ thi công – dự toán theo đúng hợp đồng với thời gian thực hiện 45 ngày. Hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định, chủ đầu tư phê duyệt. Công trình được đấu thầu triển khai thi công xây dựng. Trong quá trình triển khai thi công xây dựng có phát sinh các công việc: - Một số mỏ khai thác đất đắp đập theo hồ sơ thiết kế được phê duyệt có trữ lượng nhỏ hơn thiết kế do chiều dày lớp khai thác mỏng; - Do nhu cầu giao thông của nhân dân trong khu vực trong thời gian thi công cần phải bổ sung 2 tuyến đường giao thông tạm. Do đó, cần phải bổ sung khối lượng khảo sát địa chất, và thiết kế tuyến đường giao thông tạm. Căn cứ Quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 37 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP, khi điều chỉnh khối lượng không làm vượt giá gói thầu được phê duyệt thì chủ đầu tư và nhà thầu tính toán, thỏa thuận và ký kết phụ lục bổ sung hợp đồng; trường hợp thỏa thuận không được thì khối lượng các công việc phát sinh đó sẽ hình thành gói thầu mới. Chủ đầu tư và nhà thầu tư vấn đã thỏa thuận thành công, thống nhất ký kết phụ lục hợp đồng làm cơ sở thực hiện và thanh quyết toán. Giá trị bổ sung không làm vượt giá gói thầu được phê duyệt. Sau khi nhà thầu tư vấn hoàn thành khối lượng công việc theo phụ lục hợp đồng ký kết, được chủ đầu tư nghiệm thu, nhà thầu lập hồ sơ đề nghị thanh toán chi phí gửi Kho bạc Nhà nước. Sau khi kiểm tra hồ sơ thanh toán, Kho bạc Nhà nước có ý kiến: \"Thời điểm chủ đầu tư ký phụ lục hợp đồng với nhà thầu tư vấn nằm ngoài thời gian thực hiện hợp đồng (45 ngày) nêu trên nên không được thanh toán. Yêu cầu chủ đầu tư phải trình cấp quyết định đầu tư cho phép gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng theo thời gian bắt đầu cần bổ sung khối lượng phát sinh\". Ông Thanh hỏi, khi điều chỉnh bổ sung khối lượng phát sinh hợp lý ngoài hợp đồng tư vấn đã ký kết (khối lượng trong hợp đồng đã hoàn thành toàn bộ) như trên, đơn vị ông có phải trình cấp có thẩm quyền cho phép gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng tư vấn đã phê duyệt trong quyết định kế hoạch đấu thầu không? Đa số các gói thầu tư vấn thiết kế bản vẽ thi công nếu cần điều chỉnh đều thuộc quá trình thi công xây dựng, ngoài thời gian thực hiện gói thầu tư vấn được phê duyệt trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Do nội dung câu hỏi chưa nêu rõ thời điểm ký kết hợp đồng, các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng nên Bộ Xây dựng chưa đủ cơ sở để hướng dẫn cụ thể. Trường hợp hợp đồng trọn gói thuộc phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, Nghị định số 50/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP thì: Việc điều chỉnh bổ sung khối lượng công việc thực hiện theo các quy định tại Khoản 3 Điều 36, Điểm a Khoản 2 Điều 37. Thẩm quyền điều chỉnh giá và tiến độ thực hiện hợp đồng thực hiện theo các quy định tại Khoản 4 Điều 36, Khoản 3 Điều 39. Việc điều chỉnh hợp đồng đã ký kết chỉ được thực hiện trong thời gian thực hiện hợp đồng được quy định tại Khoản 1 Điều 36. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP, thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ ngày hợp đồng có hiệu lực cho đến khi các bên hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký. Đối với hợp đồng tư vấn, nghĩa vụ của bên nhận thầu tư vấn được quy định tại Khoản 2 Điều 26. Đề nghị ông Thanh nghiên cứu các ý kiến nêu trên, nội dung hợp đồng đã ký, quy định của pháp luật áp dụng cho hợp đồng để xem xét, xác định việc điều chỉnh hợp đồng đã ký kết, bảo đảm đúng quy định pháp luật."
}
],
"id": "639",
"is_impossible": false,
"question": "Có phải gia hạn hợp đồng khi bổ sung khối lượng phát sinh?"
}
]
}
],
"title": "Có phải gia hạn hợp đồng khi bổ sung khối lượng phát sinh?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Trường hợp chỉ điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công và không làm thay đổi các nội dung tại Khoản 2 Điều 19 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản 2 này, sau khi được người quyết định đầu tư cho phép điều chỉnh dự án, chủ đầu tư thực hiện thẩm định và phê duyệt các nội dung điều chỉnh. Chủ đầu tư có được điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công? Bà Đỗ Cẩm Vân (Hà Nội) hỏi, trong trường hợp các nội dung điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công của dự án chỉ lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật nhưng không thuộc trường hợp phải điều chỉnh dự án theo quy định tại Điều 61 Luật Xây dựng năm 2014 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 18 và Khoản 64 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14) và không làm thay đổi các nội dung theo quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 19 Văn bản số 14/VBHN-BXD ngày 2/10/2023 Nghị định quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng thì có cần phải trình người có thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh dự án không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Nội dung Điểm b Khoản 5 Điều 19 Nghị định số 15/202-/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng được bổ sung theo quy định tại Khoản 8 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/6/2023 quy định: \"Trường hợp chỉ điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công và không làm thay đổi các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều này, không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này, sau khi được người quyết định đầu tư cho phép điều chỉnh dự án, chủ đầu tư thực hiện thẩm định và phê duyệt các nội dung điều chỉnh\". Đề nghị bà căn cứ quy định nêu trên để thực hiện.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1018,
"text": "Nội dung Điểm b Khoản 5 Điều 19 Nghị định số 15/202-/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng được bổ sung theo quy định tại Khoản 8 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/6/2023 quy định: \"Trường hợp chỉ điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công và không làm thay đổi các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều này, không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này, sau khi được người quyết định đầu tư cho phép điều chỉnh dự án, chủ đầu tư thực hiện thẩm định và phê duyệt các nội dung điều chỉnh\". Đề nghị bà căn cứ quy định nêu trên để thực hiện."
}
],
"id": "640",
"is_impossible": false,
"question": "Chủ đầu tư có được điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công?"
}
]
}
],
"title": "Chủ đầu tư có được điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Bạn đọc Nguyễn Đình Giang (Hiệp Hòa, Bắc Giang) chia sẻ, vừa qua, anh Giang đi xe máy bị xử phạt vì vi phạm nồng độ cồn, hình phạt bổ sung là bị tước giấy phép lái xe máy 11 tháng.\"Hiện nay tôi có giấy phép lái xe ô tô, bị tước giấy phép lái xe máy như vậy thì tôi có được điều khiển xe ô tô không?\", bạn Giang đặt câu hỏi.Theo quy định, vi phạm nồng độ cồn bị tước bằng xe máy, tài xế vẫn được phép điều khiển ô tô khi có giấy phép lái xe ô tô.Trả lời nội dung này, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, giấy phép lái xe (GPLX) là một loại giấy phép, chứng chỉ do cơ quan Nhà nước hoặc cơ quan có thẩm quyền cấp cho một cá nhân cụ thể, cho phép người đó được vận hành, lưu thông, tham gia giao thông bằng xe cơ giới như: xe máy, xe mô tô phân khối lớn, xe ô tô, xe tải, xe buýt, xe khách…Tước GPLX là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Trong thời gian bị tước GPLX thì không được điều khiển xe. Thời hạn tước GPLX có thể từ 1-24 tháng kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành.Hiện nay, có hai loại GPLX là GPLX tích hợp và GPLX riêng lẻ. Trong đó, GPLX tích hợp là loại giấy phép gộp hai hoặc nhiều GPLX không thời hạn chung với GPLX có thời hạn.Ông Bình cho biết, Thông tư 12/2017 của Bộ Giao thông vận tải không bắt buộc người dân phải tích hợp giấy phép lái xe máy với giấy phép lái xe ô tô. Việc tích hợp hay tách ra hoàn toàn do người dân quyết định.Theo Khoản 4 Điều 4 Thông tư 37/2017 của Bộ Giao thông vận tải quy định mẫu biên bản, mẫu quyết định sử dụng trong xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt, quy định:Trường hợp người vi phạm hành chính có GPLX tích hợp, bị áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng GPLX theo quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, người có thẩm quyền quyết định xử phạt phải ghi rõ trong quyết định, xử phạt vi phạm hành chính các hạng xe được phép điều khiển theo GPLX và áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng GPLX có thời hạn hoặc GPLX không thời hạn đối với loại xe đã sử dụng khi thực hiện hành vi vi phạm.Người vi phạm hành chính được quyền điều khiển những loại xe còn lại được ghi trong giấy phép lái xe.“Như vậy, trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan chức năng sẽ ghi rõ là tước quyền sử dụng giấy phép lái xe máy trong GPLX tích hợp. Do đó, tài xế vẫn có thể điều khiển ô tô nếu không có quyết định tước giấy phép đối với loại này.Ở trường hợp của bạn Giang, bạn này bị tước giấy phép lái xe máy thì bạn Giang hoàn toàn có thể lái xe ô tô khi bạn đó có GPLX ô tô”, ông Bình nói.Luật sư Diệp Năng Bình cũng lưu ý, khi điều khiển xe ô tô, người lái xe cần cần mang theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên hoặc các giấy tờ khác có các thông tin này để tiện việc lưu thông và khi bị kiểm tra giấy tờ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 781,
"text": "xe máy, xe mô tô phân khối lớn, xe ô tô, xe tải, xe buýt, xe khách…Tước GPLX là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Trong thời gian bị tước GPLX thì không được điều khiển xe. Thời hạn tước GPLX có thể từ 1-24 tháng kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành.Hiện nay, có hai loại GPLX là GPLX tích hợp và GPLX riêng lẻ. Trong đó, GPLX tích hợp là loại giấy phép gộp hai hoặc nhiều GPLX không thời hạn chung với GPLX có thời hạn.Ông Bình cho biết, Thông tư 12/2017 của Bộ Giao thông vận tải không bắt buộc người dân phải tích hợp giấy phép lái xe máy với giấy phép lái xe ô tô. Việc tích hợp hay tách ra hoàn toàn do người dân quyết định.Theo Khoản 4 Điều 4 Thông tư 37/2017 của Bộ Giao thông vận tải quy định mẫu biên bản, mẫu quyết định sử dụng trong xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt, quy định:Trường hợp người vi phạm hành chính có GPLX tích hợp, bị áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng GPLX theo quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, người có thẩm quyền quyết định xử phạt phải ghi rõ trong quyết định, xử phạt vi phạm hành chính các hạng xe được phép điều khiển theo GPLX và áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng GPLX có thời hạn hoặc GPLX không thời hạn đối với loại xe đã sử dụng khi thực hiện hành vi vi phạm.Người vi phạm hành chính được quyền điều khiển những loại xe còn lại được ghi trong giấy phép lái xe.“Như vậy, trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan chức năng sẽ ghi rõ là tước quyền sử dụng giấy phép lái xe máy trong GPLX tích hợp. Do đó, tài xế vẫn có thể điều khiển ô tô nếu không có quyết định tước giấy phép đối với loại này.Ở trường hợp của bạn Giang, bạn này bị tước giấy phép lái xe máy thì bạn Giang hoàn toàn có thể lái xe ô tô khi bạn đó có GPLX ô tô”, ông Bình nói.Luật sư Diệp Năng Bình cũng lưu ý, khi điều khiển xe ô tô, người lái xe cần cần mang theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên hoặc các giấy tờ khác có các thông tin này để tiện việc lưu thông và khi bị kiểm tra giấy tờ."
}
],
"id": "641",
"is_impossible": false,
"question": "Vi phạm nồng độ cồn bị tước bằng xe máy, có được điều khiển ô tô?"
}
]
}
],
"title": "Vi phạm nồng độ cồn bị tước bằng xe máy, có được điều khiển ô tô?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Luật Giao thông đường bộ quy định, người lái xe khi điều khiển phương tiện xe cơ giới tham gia giao thông phải mang theo giấy phép lái xe.Thông tư số 32/2023 của Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ của CSGT cũng quy định, CSGT kiểm soát các giấy tờ có liên quan đến người và phương tiện tham gia giao thông, trong đó có giấy phép lái xe.Khi các cơ sở dữ liệu đã kết nối với hệ thống định danh và xác thực điện tử, xác định được các thông tin về tình trạng của giấy tờ thì việc kiểm soát thông qua kiểm tra, đối chiếu thông tin của các giấy tờ đó trong tài khoản định danh điện tử sẽ có giá trị như kiểm tra trực tiếp giấy tờ.Như vậy, khi hệ thống dữ liệu kết nối đầy đủ thì tài khoản VneID có giá trị như giấy phép lái xe.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Luật Giao thông đường bộ quy định, người lái xe khi điều khiển phương tiện xe cơ giới tham gia giao thông phải mang theo giấy phép lái xe.Thông tư số 32/2023 của Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ của CSGT cũng quy định, CSGT kiểm soát các giấy tờ có liên quan đến người và phương tiện tham gia giao thông, trong đó có giấy phép lái xe.Khi các cơ sở dữ liệu đã kết nối với hệ thống định danh và xác thực điện tử, xác định được các thông tin về tình trạng của giấy tờ thì việc kiểm soát thông qua kiểm tra, đối chiếu thông tin của các giấy tờ đó trong tài khoản định danh điện tử sẽ có giá trị như kiểm tra trực tiếp giấy tờ.Như vậy, khi hệ thống dữ liệu kết nối đầy đủ thì tài khoản VneID có giá trị như giấy phép lái xe."
}
],
"id": "642",
"is_impossible": false,
"question": "Có phải xuất trình GPLX khi đã tích hợp vào VNeID?"
}
]
}
],
"title": "Có phải xuất trình GPLX khi đã tích hợp vào VNeID?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Đơn vị ông Nguyễn Bảo Duy (Tây Ninh) được giao làm chủ đầu tư một công trình vốn ngân sách Nhà nước, triển khai sau khi Nghị định số 10/2021/NĐ-CP và 15/2021/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực. Công trình thiết kế 1 bước (chỉ lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật). Ảnh minh họa. Cấp quyết định đầu tư là UBND huyện/UBND tỉnh/Sở Kế hoạch và Đầu tư (nhận ủy quyền của UBND tỉnh). Công trình đã có văn bản đồng ý cho chủ trương điều chỉnh - phát sinh của cấp quyết định đầu tư. Hồ sơ thiết kế điều chỉnh - phát sinh đã được đơn vị thiết kế ban đầu của báo cáo kinh tế - kỹ thuật lập và đơn vị thẩm tra ban đầu tiếp tục thẩm tra xuất kết quả. Giá trị dự toán điều chỉnh - phát sinh không làm vượt tổng mức đầu tư công trình mà chỉ điều chỉnh cơ cấu các khoản mục chi phí trong bảng tổng hợp kinh phí (lấy dự phòng phí lên xây dựng). Hồ sơ thiết kế điều chỉnh - phát sinh không có sự thay đổi về địa chất, tải trọng thiết kế, giải pháp kết cấu, vật liệu sử dụng cho kết cấu chịu lực và biện pháp tổ chức thi công có ảnh hưởng đến an toàn chịu lực của công trình; không làm thay đổi các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều 19 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP. Ông Duy hỏi, trong trường hợp này, chủ đầu tư là Ban Quản lý dự án cấp huyện có được quyền tự thực hiện thẩm định hồ sơ thiết kế điều chỉnh - phát sinh của công trình với các thông tin nêu trên không (tổ chuyên gia chủ đầu tư có thời gian công tác trên 5 năm và có chứng chỉ hành nghề xây dựng)? Tự thực hiện phê duyệt hồ sơ thiết kế điều chỉnh - phát sinh của công trình sau khi có kết quả thẩm định với các thông tin nêu trên không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 19 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng được bổ sung tại Khoản 8 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng, trường hợp chỉ điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công và không làm thay đổi các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều này, không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 19 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, được bổ sung tại Khoản 8 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP thì sau khi được người quyết định đầu tư cho phép điều chỉnh dự án, chủ đầu tư thực hiện thẩm định và phê duyệt các nội dung điều chỉnh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1626,
"text": "Theo quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 19 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng được bổ sung tại Khoản 8 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng, trường hợp chỉ điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công và không làm thay đổi các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều này, không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 19 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, được bổ sung tại Khoản 8 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP thì sau khi được người quyết định đầu tư cho phép điều chỉnh dự án, chủ đầu tư thực hiện thẩm định và phê duyệt các nội dung điều chỉnh."
}
],
"id": "643",
"is_impossible": false,
"question": "Chủ đầu tư có được tự thẩm định hồ sơ thiết kế điều chỉnh?"
}
]
}
],
"title": "Chủ đầu tư có được tự thẩm định hồ sơ thiết kế điều chỉnh?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Công ty ông Trịnh Hữu Tuyền (Hà Nội) được tách ra và độc lập với công ty bị tách. Theo nghị quyết tách công ty, công ty ông được kế thừa năng lực hoạt động xây dựng từ công ty bị tách. Công ty thực hiện đăng ký cấp chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng được quy định tại Điều 84 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ. Hiện nay, công ty ông Tuyền thực hiện đăng ký cấp các chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng được kế thừa (thi công công tác xây dựng công trình dân dụng hạng II, thi công công tác xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật hạng II và tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình hạng II, tư vấn thiết kế hạng III). Ông Tuyền hỏi, công ty ông có cần kê khai năng lực nhân sự, kinh nghiệm, máy móc thi công trong Mẫu số 04 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP không? Công ty có cần các hồ sơ chứng minh năng lực (chứng chỉ hành nghề, hợp đồng xây dựng, hồ sơ máy móc thiết bị) không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc công ty thực hiện đăng ký cấp chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng được quy định tại Điều 84 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 27 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng. Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng đối với trường hợp nêu trên được quy định tại Điều 87 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 29 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 957,
"text": "Việc công ty thực hiện đăng ký cấp chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng được quy định tại Điều 84 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 27 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng. Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng đối với trường hợp nêu trên được quy định tại Điều 87 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 29 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP."
}
],
"id": "644",
"is_impossible": false,
"question": "Tách công ty, xin cấp chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Tách công ty, xin cấp chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng thế nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Trong quá trình lập dự toán xây dựng, tổ chức, cá nhân lập dự toán có trách nhiệm lập danh mục và xác định các định mức mới, định mức điều chỉnh làm cơ sở xác định giá xây dựng công trình. Trong quá trình lập dự toán xây dựng, tổ chức, cá nhân lập dự toán có trách nhiệm lập danh mục và xác định các định mức mới, định mức điều chỉnh làm cơ sở xác định giá xây dựng công trình (ảnh minh họa). Bộ Xây dựng nhận được văn bản đề nghị của Công ty Cổ phần Carbon Việt Nam đề xuất ban hành định mức dự toán cho công nghệ thi công mặt đường giao thông bằng vật liệu bê tông nhựa Carboncor Asphalt. Liên quan đến đề xuất này, Bộ Xây dựng cho biết, việc xác định định mức dự toán mới hoặc điều chỉnh định mức dự toán đối với công tác xây dựng đã quy định trong hệ thống định mức xây dựng được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhưng chưa phù hợp với thiết kế, yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công, biện pháp thi công của công trình thực hiện theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Theo đó, trong quá trình lập dự toán xây dựng, tổ chức, cá nhân lập dự toán có trách nhiệm lập danh mục và xác định các định mức mới, định mức điều chỉnh làm cơ sở xác định giá xây dựng công trình. Theo Bộ Xây dựng, trong quá trình thi công xây dựng, chủ đầu tư tổ chức khảo sát để xác định các định mức dự toán mới, định mức dự toán điều chỉnh và gửi kết quả xác định định mức về cơ quan chuyên môn về xây dựng phục vụ rà soát, hoàn thiện hệ thống định mức xây dựng. Bộ Xây dựng đề nghị Công ty Cổ phần Carbon Việt Nam nghiên cứu quy định nêu trên, phối hợp với chủ đầu tư dự án, công trình, cơ quan chuyên môn về xây dựng tổ chức xác định định mức để phục vụ rà soát, hoàn thiện hệ thống định mức xây dựng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "(Xây dựng) - Trong quá trình lập dự toán xây dựng, tổ chức, cá nhân lập dự toán có trách nhiệm lập danh mục và xác định các định mức mới, định mức điều chỉnh làm cơ sở xác định giá xây dựng công trình. Trong quá trình lập dự toán xây dựng, tổ chức, cá nhân lập dự toán có trách nhiệm lập danh mục và xác định các định mức mới, định mức điều chỉnh làm cơ sở xác định giá xây dựng công trình (ảnh minh họa). Bộ Xây dựng nhận được văn bản đề nghị của Công ty Cổ phần Carbon Việt Nam đề xuất ban hành định mức dự toán cho công nghệ thi công mặt đường giao thông bằng vật liệu bê tông nhựa Carboncor Asphalt. Liên quan đến đề xuất này, Bộ Xây dựng cho biết, việc xác định định mức dự toán mới hoặc điều chỉnh định mức dự toán đối với công tác xây dựng đã quy định trong hệ thống định mức xây dựng được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhưng chưa phù hợp với thiết kế, yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công, biện pháp thi công của công trình thực hiện theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Theo đó, trong quá trình lập dự toán xây dựng, tổ chức, cá nhân lập dự toán có trách nhiệm lập danh mục và xác định các định mức mới, định mức điều chỉnh làm cơ sở xác định giá xây dựng công trình. Theo Bộ Xây dựng, trong quá trình thi công xây dựng, chủ đầu tư tổ chức khảo sát để xác định các định mức dự toán mới, định mức dự toán điều chỉnh và gửi kết quả xác định định mức về cơ quan chuyên môn về xây dựng phục vụ rà soát, hoàn thiện hệ thống định mức xây dựng. Bộ Xây dựng đề nghị Công ty Cổ phần Carbon Việt Nam nghiên cứu quy định nêu trên, phối hợp với chủ đầu tư dự án, công trình, cơ quan chuyên môn về xây dựng tổ chức xác định định mức để phục vụ rà soát, hoàn thiện hệ thống định mức xây dựng."
}
],
"id": "645",
"is_impossible": false,
"question": "Định mức dự toán thi công mặt đường giao thông bằng vật liệu bê tông nhựa Carboncor Asphalt"
}
]
}
],
"title": "Định mức dự toán thi công mặt đường giao thông bằng vật liệu bê tông nhựa Carboncor Asphalt"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Ông Nguyễn Tiến Tĩnh (Hà Nội) nộp hồ sơ xin cấp chứng chỉ hoạt động xây dựng hạng 1 tại Cổng Dịch vụ công của Bộ Xây dựng từ tháng 12/2022, đã được tiếp nhận và yêu cầu nộp phí dịch vụ. Ông Tĩnh đã nộp phí và được trả hóa đơn vào ngày 6/1/2023. Ảnh minh họa. Tuy nhiên, đến nay đã hơn 1 năm, hồ sơ của ông Tĩnh luôn ở tình trạng chờ trả kết quả mà không có phản hồi gì, cũng như không thấy thông báo thi sát hạch. Ông Tĩnh hỏi, hồ sơ của ông có được giải quyết không và thời hạn là bao giờ? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Quy trình giải quyết thủ tục hành chính xét cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng của ông Nguyễn Tiến Tĩnh đã được Cục Quản lý hoạt động xây dựng giải quyết đúng quy định, cụ thể: Ngày 6/1/2023, ông Tĩnh đã hoàn thiện thủ tục nộp hồ sơ, lệ phí đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng và được cấp mã số. Ngày 13/1/2023, Cục Quản lý hoạt động xây dựng đã bàn giao Bộ phận một cửa - Bộ Xây dựng Thông báo số 06/TB-HĐXD ngày 11/1/2023 về kết quả xét cấp chứng chỉ hành nghề và chuyển trả kết quả theo mã hồ sơ của công dân trên Hệ thống Dịch vụ công trực tuyến, trong đó có hồ sơ của ông Nguyễn Tiến Tĩnh với kết quả không đạt, không đủ điều kiện thi sát hạch. Đề nghị ông Tĩnh hoàn thiện lại 1 bộ hồ sơ theo quy định tại Khoản 1 Điều 76 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều về quản lý dự án đầu tư xây dựng, nộp về Bộ phận một cửa - Văn phòng Bộ Xây dựng để được xem xét giải quyết.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 544,
"text": "Quy trình giải quyết thủ tục hành chính xét cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng của ông Nguyễn Tiến Tĩnh đã được Cục Quản lý hoạt động xây dựng giải quyết đúng quy định, cụ thể: Ngày 6/1/2023, ông Tĩnh đã hoàn thiện thủ tục nộp hồ sơ, lệ phí đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng và được cấp mã số. Ngày 13/1/2023, Cục Quản lý hoạt động xây dựng đã bàn giao Bộ phận một cửa - Bộ Xây dựng Thông báo số 06/TB-HĐXD ngày 11/1/2023 về kết quả xét cấp chứng chỉ hành nghề và chuyển trả kết quả theo mã hồ sơ của công dân trên Hệ thống Dịch vụ công trực tuyến, trong đó có hồ sơ của ông Nguyễn Tiến Tĩnh với kết quả không đạt, không đủ điều kiện thi sát hạch. Đề nghị ông Tĩnh hoàn thiện lại 1 bộ hồ sơ theo quy định tại Khoản 1 Điều 76 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều về quản lý dự án đầu tư xây dựng, nộp về Bộ phận một cửa - Văn phòng Bộ Xây dựng để được xem xét giải quyết."
}
],
"id": "646",
"is_impossible": false,
"question": "Bộ Xây dựng phản hồi kiến nghị về thủ tục xét cấp chứng chỉ hành nghề"
}
]
}
],
"title": "Bộ Xây dựng phản hồi kiến nghị về thủ tục xét cấp chứng chỉ hành nghề"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng của cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành được quy định tại Điểm a Khoản 6 Điều 11 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP. Thẩm quyển kiểm tra công tác nghiệm thu công trình. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành kiểm tra các loại công trình không phân biệt nguồn vốn đầu tư thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ theo quy định tại Khoản 3 Điều 52 Nghị định này bao gồm: công trình cấp I, công trình cấp đặc biệt, công trình do Thủ tướng Chính phủ giao, công trình theo tuyến đi qua 2 tỉnh trở lên.... Ông Thái Bá Vượng (Hà Nội) hỏi, dự án nhóm A nhưng công trình cấp II thì có thuộc trường hợp phải do Cục Giám định kiểm tra không? Công trình do Thủ tướng Chính phủ giao với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư có được coi là giống nhau không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng đã được sửa đổi, bổ sung tại Điểm a Khoản 6 Điều 11 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng thì thẩm quyển kiểm tra công tác nghiệm thu các công trình xây dựng thuộc Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành tổ chức kiểm tra công trình do Thủ tướng Chính phủ giao. Do đó, \\\\\"công trình do Thủ tướng Chính phủ giao\\\\\" ở đây được hiểu là Thủ tướng Chính phủ giao Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành thực hiện nhiệm vụ việc kiểm tra công tác nghiệm thu công trình. Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng của cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành được quy định tại Điểm a Khoản 6 Điều 11 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP. Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng của cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc UBND cấp tỉnh được quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP. Việc xác định cấp công trình và áp dụng cấp công trình trong quản lý các hoạt động đầu tư xây dựng được quy định tại Thông tư số 06/2021/TT-BXD ngày 30/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định về phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng. Vì vậy, đề nghị ông Vượng căn cứ vào các quy định pháp luật nêu trên và các hồ sơ của dự án, công trình để thực hiện việc kiểm tra công tác nghiệm thu theo đúng quy định pháp luật.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 709,
"text": "công trình cấp I, công trình cấp đặc biệt, công trình do Thủ tướng Chính phủ giao, công trình theo tuyến đi qua 2 tỉnh trở lên.... Ông Thái Bá Vượng (Hà Nội) hỏi, dự án nhóm A nhưng công trình cấp II thì có thuộc trường hợp phải do Cục Giám định kiểm tra không? Công trình do Thủ tướng Chính phủ giao với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư có được coi là giống nhau không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng đã được sửa đổi, bổ sung tại Điểm a Khoản 6 Điều 11 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng thì thẩm quyển kiểm tra công tác nghiệm thu các công trình xây dựng thuộc Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành tổ chức kiểm tra công trình do Thủ tướng Chính phủ giao. Do đó, \\\\\"công trình do Thủ tướng Chính phủ giao\\\\\" ở đây được hiểu là Thủ tướng Chính phủ giao Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành thực hiện nhiệm vụ việc kiểm tra công tác nghiệm thu công trình. Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng của cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành được quy định tại Điểm a Khoản 6 Điều 11 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP. Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng của cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc UBND cấp tỉnh được quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP. Việc xác định cấp công trình và áp dụng cấp công trình trong quản lý các hoạt động đầu tư xây dựng được quy định tại Thông tư số 06/2021/TT-BXD ngày 30/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định về phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng. Vì vậy, đề nghị ông Vượng căn cứ vào các quy định pháp luật nêu trên và các hồ sơ của dự án, công trình để thực hiện việc kiểm tra công tác nghiệm thu theo đúng quy định pháp luật."
}
],
"id": "647",
"is_impossible": false,
"question": "Thẩm quyển kiểm tra công tác nghiệm thu công trình"
}
]
}
],
"title": "Thẩm quyển kiểm tra công tác nghiệm thu công trình"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Có thể bị phạt tùBạn đọc Nguyễn Văn Toản (quận Thanh Xuân, TP Hà Nội) cho biết, vừa qua, khi lực lượng cảnh sát giao thông (CSGT) tăng cường xử lý vi phạm nồng độ cồn cũng là lúc không ít tài xế cố tình không thổi vào thiết bị đo nồng độ cồn khi CSGT yêu cầu, thậm chí là chống đối.\"Có trường hợp khi CSGT yêu cầu thổi nồng độ cồn đã trốn tránh, cố tình không thổi vào thiết bị đo nồng độ cồn, thậm chí còn chống đối lực lượng CSGT. Trong trường hợp này, những người trốn tránh, chống đối đo nồng độ cồn có xử lý hình sự không?\", anh Toản hỏi.Hành vi chống đối, không chấp hành yêu cầu đo nồng độ cồn có thể bị xử lý hình sự.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp Trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, tùy theo tính chất vụ việc mà người vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Cụ thể, về hành chính, người vi phạm sẽ bị phạt hành chính theo quy định tại Nghị định 144/2022. Theo đó, phạt tiền từ 1-4 triệu đồng đối với hành vi môi giới, giúp sức cho cá nhân, tổ chức vi phạm trốn tránh việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ.Hiện nay, vi phạm nồng độ cồn chỉ xử lý hành chính, chính vì vậy, nếu trót uống rượu bia tham gia giao thông thì lái xe nên chấp hành việc kiểm tra của lực lượng chức năng, tuyệt đối không được trốn tránh, đặc biệt là chống đối người thi hành công vụ để tránh gặp rắc rối về vấn đề pháp lý.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp TrịPhạt tiền từ 4-6 triệu đồng đối với một trong những hành vi cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát hoặc nhiệm vụ khác của người thi hành công vụ theo quy định của pháp luật.Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ; tổ chức, xúi giục, giúp sức, lôi kéo hoặc kích động người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ.\"Phạt tiền từ 6-8 triệu đồng đối với một trong những hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực chống người thi hành công vụ; gây thiệt hại về tài sản, phương tiện của cơ quan nhà nước, của người thi hành công vụ\", ông Lực nói.Không những vậy, luật sư Quách Thành Lực cho rằng, nếu cố tình không chấp hành, cản trở lực lượng CSGT đo nồng độ cồn thì người vi phạm có thể bị xử lý hình sự về tội chống người thi hành công vụ tại điều 330 Bộ Luật Hình sự 2015.\"Theo đó, người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến 7 năm: Có tổ chức; phạm tội hai lần trở lên; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; gây thiệt hại về tài sản 50 triệu đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Sẽ bị phạt kịch khung mức vi phạm nồng độ cồnLuật sư quách Thành Lực cho rằng, nhiều người khi bị yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn thì có suy nghĩ \"bỏ chạy để không có kết quả đo nồng độ cồn thì CSGT không có căn cứ xử phạt\" là không đúng.Ngược lại người điều khiển phương tiện giao thông bỏ lại xe, để chạy trốn còn bị xử phạt mức vi phạm nồng độ cồn cao nhất.\"Bởi, Nghị định 100/2019/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP) đã quy định chế tài xử phạt với hành vi không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ. Theo đó, tất cả hành vi không chấp hành hiệu lệnh CSGT để né kiểm tra nồng độ cồn đều bị xử phạt hành chính, tước giấy phép lái xe và bị tạm giữ phương tiện\", ông Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực cho biết, mức phạt hành chính sẽ tùy thuộc vào phương tiện người điều khiển. Đối với người điều khiển ô tô thì mức phạt cao nhất có thể đến 40 triệu đồng, đối với xe máy là 8 triệu đồng.Cụ thể, khi người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ sẽ bị phạt tiền từ 6-8 triệu đồng; bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 22-24 tháng; bị tạm giữ phương tiện tối đa đến 7 ngày.Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ thì mức phạt tiền từ 30-40 triệu đồng; tước giấy phép lái xe từ 22-24 tháng; bị tạm giữ phương tiện tối đa đến 7 ngày.Luật sư Lực khuyến cáo, người tham gia giao thông hãy chấp hành hiệu lệnh của lực lượng chức năng.\"Nếu chấp hành mức phạt sẽ theo mức vi phạm, nhưng nếu không chấp hành thì mức phạt sẽ tương đương với mức phạt cao nhất, kịch khung của vi phạm nồng độ cồn\", luật sư Quách Thành Lực phân tích.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 2708,
"text": "Có tổ chức; phạm tội hai lần trở lên; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; gây thiệt hại về tài sản 50 triệu đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Sẽ bị phạt kịch khung mức vi phạm nồng độ cồnLuật sư quách Thành Lực cho rằng, nhiều người khi bị yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn thì có suy nghĩ \"bỏ chạy để không có kết quả đo nồng độ cồn thì CSGT không có căn cứ xử phạt\" là không đúng.Ngược lại người điều khiển phương tiện giao thông bỏ lại xe, để chạy trốn còn bị xử phạt mức vi phạm nồng độ cồn cao nhất.\"Bởi, Nghị định 100/2019/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP) đã quy định chế tài xử phạt với hành vi không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ. Theo đó, tất cả hành vi không chấp hành hiệu lệnh CSGT để né kiểm tra nồng độ cồn đều bị xử phạt hành chính, tước giấy phép lái xe và bị tạm giữ phương tiện\", ông Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực cho biết, mức phạt hành chính sẽ tùy thuộc vào phương tiện người điều khiển. Đối với người điều khiển ô tô thì mức phạt cao nhất có thể đến 40 triệu đồng, đối với xe máy là 8 triệu đồng.Cụ thể, khi người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ sẽ bị phạt tiền từ 6-8 triệu đồng; bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 22-24 tháng; bị tạm giữ phương tiện tối đa đến 7 ngày.Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ thì mức phạt tiền từ 30-40 triệu đồng; tước giấy phép lái xe từ 22-24 tháng; bị tạm giữ phương tiện tối đa đến 7 ngày.Luật sư Lực khuyến cáo, người tham gia giao thông hãy chấp hành hiệu lệnh của lực lượng chức năng.\"Nếu chấp hành mức phạt sẽ theo mức vi phạm, nhưng nếu không chấp hành thì mức phạt sẽ tương đương với mức phạt cao nhất, kịch khung của vi phạm nồng độ cồn\", luật sư Quách Thành Lực phân tích."
}
],
"id": "648",
"is_impossible": false,
"question": "Chống đối, không chấp hành yêu cầu đo nồng độ cồn có bị xử lý hình sự?"
}
]
}
],
"title": "Chống đối, không chấp hành yêu cầu đo nồng độ cồn có bị xử lý hình sự?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Ảnh minh họa.Theo Thông tư 32/2023 của Bộ Công an, CSGT khi tuần tra, kiểm soát giao thông được sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để giám sát và kịp thời phát hiện, ngăn chặn vi phạm và tiến hành xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.Về việc sử dụng trang thiết bị, máy bắn tốc độ sẽ được lắp đặt, sử dụng công khai hoặc hóa trang trên các tuyến giao thông đường bộ, tại trạm CSGT, trên phương tiện giao thông tuần tra, kiểm soát trang bị cho tổ CSGT, do cán bộ CSGT trực tiếp vận hành, sử dụng để phát hiện, ghi thu hành vi vi phạm của người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.CSGT có thể bắn tốc độ ở bất kì đoạn đường nào theo phân công trong quyết định, kế hoạch phê duyệt của người có thẩm quyền.Tuy nhiên, theo danh mục ban hành kèm theo Nghị định 135/2021, phương tiện đo tốc độ phương tiện giao thông có ghi hình ảnh (máy bắn tốc độ) là một trong các phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được trang bị cho CSGT để sử dụng nhằm phát hiện vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông.Quy định pháp luật hiện hành không có quy định giới hạn phạm vi sử dụng máy bắn tốc độ nhưng khoản 2 Điều 12 Nghị định 135/2021 lại có quy định, máy bắn tốc độ chỉ được phép sử dụng khi có quyết định, kế hoạch phê duyệt của người có thẩm quyền.Do đó, CSGT có quyền kiểm soát giao thông (trong đó có tốc độ) thông qua hệ thống giám sát lắp đặt cố định hoặc thông qua các phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ một cách cơ động ở bất cứ đoạn đường nào theo kế hoạch phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Ảnh minh họa.Theo Thông tư 32/2023 của Bộ Công an, CSGT khi tuần tra, kiểm soát giao thông được sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để giám sát và kịp thời phát hiện, ngăn chặn vi phạm và tiến hành xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.Về việc sử dụng trang thiết bị, máy bắn tốc độ sẽ được lắp đặt, sử dụng công khai hoặc hóa trang trên các tuyến giao thông đường bộ, tại trạm CSGT, trên phương tiện giao thông tuần tra, kiểm soát trang bị cho tổ CSGT, do cán bộ CSGT trực tiếp vận hành, sử dụng để phát hiện, ghi thu hành vi vi phạm của người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.CSGT có thể bắn tốc độ ở bất kì đoạn đường nào theo phân công trong quyết định, kế hoạch phê duyệt của người có thẩm quyền.Tuy nhiên, theo danh mục ban hành kèm theo Nghị định 135/2021, phương tiện đo tốc độ phương tiện giao thông có ghi hình ảnh (máy bắn tốc độ) là một trong các phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được trang bị cho CSGT để sử dụng nhằm phát hiện vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông.Quy định pháp luật hiện hành không có quy định giới hạn phạm vi sử dụng máy bắn tốc độ nhưng khoản 2 Điều 12 Nghị định 135/2021 lại có quy định, máy bắn tốc độ chỉ được phép sử dụng khi có quyết định, kế hoạch phê duyệt của người có thẩm quyền.Do đó, CSGT có quyền kiểm soát giao thông (trong đó có tốc độ) thông qua hệ thống giám sát lắp đặt cố định hoặc thông qua các phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ một cách cơ động ở bất cứ đoạn đường nào theo kế hoạch phê duyệt."
}
],
"id": "649",
"is_impossible": false,
"question": "CSGT được phép đứng ở đâu bắn tốc độ?"
}
]
}
],
"title": "CSGT được phép đứng ở đâu bắn tốc độ?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Ngày 18/4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kon Rẫy (Kon Tum) cho biết, vừa tống đạt quyết định khởi tố vụ án hình sự để điều tra nguyên nhân vụ TNGT giữa xe tải và xe khách chở đoàn du lịch trên QL24 khiến 1 người tử vong và nhiều người bị thương xảy ra vào chiều 13/4. Hiện trường vụ TNGT. Ảnh: VPTheo đó, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kon Rẫy tiến hành khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 quy định về tội \"vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ\".Trao đổi với Báo Giao thông, một cán bộ điều tra Công an Kon Tum cho biết, bước đầu xác định nguyên nhân vụ TNGT là do tài xế Nguyễn Tấn Khoa điều khiển xe khách tông vào xe tải hướng ngược lại khi đang vượt một ô tô khác. Tài xế xe khách không tuân thủ điều kiện an toàn khi vượt xe cùng chiều gây tai nạn đặc biệt nghiêm trọng. Trao đổi với PV, luật sư Ngô Thanh Quảng, Công ty Luật Hồng Phát, Đoàn Luật sư Gia Lai cho hay, sau khi khởi tố vụ án, cơ quan điều tra sẽ tiếp tục các bước điều tra, củng cố hồ sơ, xác nguyên nhân chính gây ra vụ TNGT. Căn cứ theo tỷ lệ tổn hại sức khỏe của các nạn nhân, định giá thiệt hại phương tiện... để tiếp tục mở rộng truy cứu trách nhiệm các tổ chức, cá nhân có liên quan.Theo luật sư Quảng, trong các vụ TNGT, lỗi của người điểu khiển phương tiện thường là nguyên nhân chính gây nên tai nạn. Ở đây, cả ô tô khách lẫn xe tải đều còn hạn kiểm định. Do đó, cơ quan pháp luật sẽ thu thập thông tin, dữ liệu và sử dụng các biện pháp cần thiết để chứng minh, xác định lỗi của người điều khiển phương tiện giao thông gây nên tai nạn.Luật sư Ngô Thanh Quảng, Công ty Luật Hồng Phát, Đoàn Luật sư Gia Lai. Ảnh: Q.NĐối với trường hợp xe khách, luật sư Quảng cho rằng, qua các thông tin đại chúng, hình ảnh video hiện trường cho thấy, các dấu hiệu tài xế ô tô khách không tuân thủ đúng quy định của Luật Giao thông đường bộ hiện hành. Hành vi vượt khi không đảm bảo an toàn dẫn đến tai nạn đã vi phạm vào khoản 2, Điều 14 Luật Giao thông đường bộ. Trong đó, nêu rõ: \"Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải\".Qua đánh giá ban đầu cho thấy, người điều khiển phương tiện gây tai nạn phải chịu trách nhiệm chính vì đã điều khiển phương tiện gây mất ATGT làm xảy ra TNGT dẫn đến 24 người khác (trên cả 2 xe) bị thương. Trong đó có 4 bệnh nhân bị thương nặng, tổn hại sức khỏe rất nặng nề. Căn cứ Điều 260 Bộ luật Hình sự hiện hành, trường hợp \"gây tổn hại cho sức khỏe của 3 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên\", thì người điều khiển phương tiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đối diện mức án 7-15 năm tù.Theo luật sư Quảng, sau khi khởi tố vụ án, cơ quan điều tra sẽ tiếp tục khởi tố bị can trong vụ án. Quyết định trưng cầu giám định thương tích để xác định tỷ lệ tổn hại sức khỏe của các nạn nhân bị thương và lập hội đồng thẩm định tài sản thiệt hại để làm căn cứ xác định trách nhiệm hình sự của người lái xe gây tai nạn. Về trách nhiệm dân sự, căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2015, chủ sở hữu phương tiện giao thông có trách nhiệm bồi thường các khoản chi phí mai táng, chi phí cấp dưỡng, bồi thường tổn thất về mặt tinh thần, chi phí thiệt hại về tài sản cho các bị hại...Trước đó, như Báo Giao thông đưa tin, chiều 13/4, trên Q24 đoạn qua địa bàn xã Đăk Tờ Re (huyện Kon Rẫy) xảy ra vụ TNGT nghiêm trọng. Xe khách BKS 50H - 365.98 do tài xế Nguyễn Tấn Khoa điều khiển chở theo 23 khách lưu thông trên QL24 theo hướng TP Kon Tum đi Măng Đen (H. Kon Plông) đã tông vào ô tô BKS 81H - 027.99 kéo theo sơ-mi rơ-moóc BKS 81R - 01051 do tài xế Nguyễn Đức Hùng (SN 1979, trú tại huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai) điều khiển hướng ngược lại. Hậu quả khiến 1 người tử vong, nhiều người bị thương và phương tiện hư hỏng nghiêm trọng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 304,
"text": "VPTheo đó, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kon Rẫy tiến hành khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 quy định về tội \"vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ\".Trao đổi với Báo Giao thông, một cán bộ điều tra Công an Kon Tum cho biết, bước đầu xác định nguyên nhân vụ TNGT là do tài xế Nguyễn Tấn Khoa điều khiển xe khách tông vào xe tải hướng ngược lại khi đang vượt một ô tô khác. Tài xế xe khách không tuân thủ điều kiện an toàn khi vượt xe cùng chiều gây tai nạn đặc biệt nghiêm trọng. Trao đổi với PV, luật sư Ngô Thanh Quảng, Công ty Luật Hồng Phát, Đoàn Luật sư Gia Lai cho hay, sau khi khởi tố vụ án, cơ quan điều tra sẽ tiếp tục các bước điều tra, củng cố hồ sơ, xác nguyên nhân chính gây ra vụ TNGT. Căn cứ theo tỷ lệ tổn hại sức khỏe của các nạn nhân, định giá thiệt hại phương tiện... để tiếp tục mở rộng truy cứu trách nhiệm các tổ chức, cá nhân có liên quan.Theo luật sư Quảng, trong các vụ TNGT, lỗi của người điểu khiển phương tiện thường là nguyên nhân chính gây nên tai nạn. Ở đây, cả ô tô khách lẫn xe tải đều còn hạn kiểm định. Do đó, cơ quan pháp luật sẽ thu thập thông tin, dữ liệu và sử dụng các biện pháp cần thiết để chứng minh, xác định lỗi của người điều khiển phương tiện giao thông gây nên tai nạn.Luật sư Ngô Thanh Quảng, Công ty Luật Hồng Phát, Đoàn Luật sư Gia Lai. Ảnh: Q.NĐối với trường hợp xe khách, luật sư Quảng cho rằng, qua các thông tin đại chúng, hình ảnh video hiện trường cho thấy, các dấu hiệu tài xế ô tô khách không tuân thủ đúng quy định của Luật Giao thông đường bộ hiện hành. Hành vi vượt khi không đảm bảo an toàn dẫn đến tai nạn đã vi phạm vào khoản 2, Điều 14 Luật Giao thông đường bộ. Trong đó, nêu rõ: \"Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải\".Qua đánh giá ban đầu cho thấy, người điều khiển phương tiện gây tai nạn phải chịu trách nhiệm chính vì đã điều khiển phương tiện gây mất ATGT làm xảy ra TNGT dẫn đến 24 người khác (trên cả 2 xe) bị thương. Trong đó có 4 bệnh nhân bị thương nặng, tổn hại sức khỏe rất nặng nề. Căn cứ Điều 260 Bộ luật Hình sự hiện hành, trường hợp \"gây tổn hại cho sức khỏe của 3 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên\", thì người điều khiển phương tiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đối diện mức án 7-15 năm tù.Theo luật sư Quảng, sau khi khởi tố vụ án, cơ quan điều tra sẽ tiếp tục khởi tố bị can trong vụ án. Quyết định trưng cầu giám định thương tích để xác định tỷ lệ tổn hại sức khỏe của các nạn nhân bị thương và lập hội đồng thẩm định tài sản thiệt hại để làm căn cứ xác định trách nhiệm hình sự của người lái xe gây tai nạn. Về trách nhiệm dân sự, căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2015, chủ sở hữu phương tiện giao thông có trách nhiệm bồi thường các khoản chi phí mai táng, chi phí cấp dưỡng, bồi thường tổn thất về mặt tinh thần, chi phí thiệt hại về tài sản cho các bị hại...Trước đó, như Báo Giao thông đưa tin, chiều 13/4, trên Q24 đoạn qua địa bàn xã Đăk Tờ Re (huyện Kon Rẫy) xảy ra vụ TNGT nghiêm trọng. Xe khách BKS 50H - 365.98 do tài xế Nguyễn Tấn Khoa điều khiển chở theo 23 khách lưu thông trên QL24 theo hướng TP Kon Tum đi Măng Đen (H. Kon Plông) đã tông vào ô tô BKS 81H - 027.99 kéo theo sơ-mi rơ-moóc BKS 81R - 01051 do tài xế Nguyễn Đức Hùng (SN 1979, trú tại huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai) điều khiển hướng ngược lại. Hậu quả khiến 1 người tử vong, nhiều người bị thương và phương tiện hư hỏng nghiêm trọng."
}
],
"id": "650",
"is_impossible": false,
"question": "Vụ TNGT ô tô khách tông xe tải ở Kon Tum: Lỗi vượt ẩu xử lý ra sao?"
}
]
}
],
"title": "Vụ TNGT ô tô khách tông xe tải ở Kon Tum: Lỗi vượt ẩu xử lý ra sao?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Gia đình ông Nguyễn Văn Hậu (Hà Tĩnh) có 3 thế hệ là người có công với cách mạng. Bản thân ông Hậu là thương binh, vợ ông là người tàn tật và em của ông là liệt sỹ (ông Hậu là người thờ cúng liệt sỹ). Ảnh minh họa. Hiện nay, nhà ở của gia đình ông Hậu đã xuống cấp nghiêm trọng. Ông Hậu hỏi, gia đình ông có thuộc đối tượng được nhận hỗ trợ kinh phí để xây hoặc sửa nhà hay không? Nếu được thì hồ sơ, thủ tục được quy định như thế nào và liên hệ với cơ quan nào để giải quyết? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng quy định về đối tượng hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng: \"1. Người có công với cách mạng bao gồm: a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; b) Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; c) Liệt sỹ; d) Bà mẹ Việt Nam anh hùng; đ) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; e) Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; g) Thương binh, bao gồm cả thương binh loại B được công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1993; người hưởng chính sách như thương binh; h) Bệnh binh; i) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; k) Người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày; 1) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế; m) Người có công giúp đỡ cách mạng. 2. Thân nhân của người có công với cách mạng bao gồm cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con (con đẻ, con nuôi), người có công nuôi liệt sỹ\". Tại Khoản 1 và Điểm e Khoản 2 Điều 99 Nghị định số 131/2021/NĐ-CP quy định: Đối tượng được hỗ trợ cải thiện nhà ở là các đối tượng được quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m tại Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh và thân nhân liệt sỹ; hỗ trợ kinh phí để cải tạo, sửa chữa hoặc xây dựng mới đối với nhà ở tạm hoặc nhà ở bị hư hỏng nặng theo quy định tại Điều 102 Nghị định này. Do vậy, đối chiếu với các quy định nêu trên thì ông Nguyễn Văn Hậu (là thương binh như theo nội dung trình bày) thuộc đối tượng được hưởng hỗ trợ về nhà ở theo Nghị định số 131/2021/NĐ-CP. Về thực hiện chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở giai đoạn 2021-2025, thực hiện Nghị định số 131/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, Bộ Xây dựng đã hoàn thiện hồ sơ dự thảo Quyết định kèm theo Tờ trình số 61/TTr-BXD ngày 19/12/2022 trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định mức hỗ trợ và tỷ lệ phân bổ vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, tỷ lệ đối ứng vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương giai đoạn 2022-2025. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang phối hợp cùng các Bộ, ngành để thống nhất về nguồn vốn thực hiện chính sách, hoàn thiện dự thảo Quyết định trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt. Sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Xây dựng sẽ phối hợp cùng các Bộ, ngành hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 530,
"text": "Tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng quy định về đối tượng hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng: \"1. Người có công với cách mạng bao gồm: a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; b) Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; c) Liệt sỹ; d) Bà mẹ Việt Nam anh hùng; đ) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; e) Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; g) Thương binh, bao gồm cả thương binh loại B được công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1993; người hưởng chính sách như thương binh; h) Bệnh binh; i) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; k) Người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày; 1) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế; m) Người có công giúp đỡ cách mạng. 2. Thân nhân của người có công với cách mạng bao gồm cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con (con đẻ, con nuôi), người có công nuôi liệt sỹ\". Tại Khoản 1 và Điểm e Khoản 2 Điều 99 Nghị định số 131/2021/NĐ-CP quy định: Đối tượng được hỗ trợ cải thiện nhà ở là các đối tượng được quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m tại Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh và thân nhân liệt sỹ; hỗ trợ kinh phí để cải tạo, sửa chữa hoặc xây dựng mới đối với nhà ở tạm hoặc nhà ở bị hư hỏng nặng theo quy định tại Điều 102 Nghị định này. Do vậy, đối chiếu với các quy định nêu trên thì ông Nguyễn Văn Hậu (là thương binh như theo nội dung trình bày) thuộc đối tượng được hưởng hỗ trợ về nhà ở theo Nghị định số 131/2021/NĐ-CP. Về thực hiện chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở giai đoạn 2021-2025, thực hiện Nghị định số 131/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, Bộ Xây dựng đã hoàn thiện hồ sơ dự thảo Quyết định kèm theo Tờ trình số 61/TTr-BXD ngày 19/12/2022 trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định mức hỗ trợ và tỷ lệ phân bổ vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, tỷ lệ đối ứng vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương giai đoạn 2022-2025. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang phối hợp cùng các Bộ, ngành để thống nhất về nguồn vốn thực hiện chính sách, hoàn thiện dự thảo Quyết định trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt. Sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Xây dựng sẽ phối hợp cùng các Bộ, ngành hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện."
}
],
"id": "651",
"is_impossible": false,
"question": "Quy định về đối tượng hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng"
}
]
}
],
"title": "Quy định về đối tượng hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Theo quy định, khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô thì phải làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong giấy đăng ký xe sang tên của mình).Bên cạnh đó, việc xác minh để phát hiện lỗi xe không chính chủ chỉ được thực hiện thông qua công tác điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông hoặc qua công tác đăng ký xe.Như vậy, chỉ những trường hợp mua xe, được cho xe, được tặng xe… nêu trên mà không làm thủ tục sang tên theo quy định mới bị xử phạt lỗi xe không chính chủ. Còn việc mượn xe của người thân, bạn bè lưu thông trên đường thì sẽ không bị xử lý lỗi xe không chính chủ.Nếu bị dừng xe, lực lượng CSGT sẽ kiểm soát một số giấy tờ liên quan đến người và phương tiện giao thông như: giấy phép lái xe; giấy đăng ký xe hoặc bản sao chứng thực; giấy chứng nhận kiểm định, tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, giấy xác nhận thời hạn hiệu lực của giấy chứng nhận kiểm định và tem kiểm định (đối với loại phương tiện giao thông có quy định phải kiểm định); giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.Khi các cơ sở dữ liệu đã kết nối với hệ thống định danh và xác thực điện tử, xác định được các thông tin về tình trạng của giấy tờ thì việc kiểm soát thông qua kiểm tra, đối chiếu thông tin của các giấy tờ đó trong tài khoản định danh điện tử có giá trị như kiểm tra trực tiếp giấy tờ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 800,
"text": "giấy phép lái xe; giấy đăng ký xe hoặc bản sao chứng thực; giấy chứng nhận kiểm định, tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, giấy xác nhận thời hạn hiệu lực của giấy chứng nhận kiểm định và tem kiểm định (đối với loại phương tiện giao thông có quy định phải kiểm định); giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.Khi các cơ sở dữ liệu đã kết nối với hệ thống định danh và xác thực điện tử, xác định được các thông tin về tình trạng của giấy tờ thì việc kiểm soát thông qua kiểm tra, đối chiếu thông tin của các giấy tờ đó trong tài khoản định danh điện tử có giá trị như kiểm tra trực tiếp giấy tờ."
}
],
"id": "652",
"is_impossible": false,
"question": "Đi ô tô không chính chủ có bị xử phạt?"
}
]
}
],
"title": "Đi ô tô không chính chủ có bị xử phạt?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Bạn đọc Nguyễn Văn Long (quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội) hỏi, tôi có người thân trong họ ở cùng tòa nhà, thỉnh thoảng tôi có mượn xe ô tô của người này đi lại.\"Vậy xin hỏi tôi mượn xe của người thân đi lại như vậy thì có bị xử phạt lỗi không chính chủ hay không, nếu bị phạt thì mức xử phạt là bao nhiêu tiền?\", anh Long đặt câu hỏi.Mượn xe của người khác đi trên đường sẽ không bị xử phạt lỗi xe không chính chủ.Lỗi xe không chính chủ là cách gọi thông thường của lỗi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô.Như vậy, chỉ những trường hợp mua xe, được cho xe, được tặng xe… nêu trên mà không làm thủ tục sang tên theo quy định mới bị xử phạt lỗi xe không chính chủ. Còn việc mượn xe của người thân, bạn bè lưu thông trên đường thì sẽ không bị CSGT xử phạt về lỗi xe không chính chủ.Ngoài ra, tại khoản 10 Điều 80 Nghị định 100/2019/NĐ-CP có quy định: Việc xác minh để phát hiện lỗi xe không chính chủ chỉ được thực hiện thông qua công tác điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông hoặc qua công tác đăng ký xe. Như vậy, khi lưu thông trên đường thì CSGT sẽ không kiểm tra lỗi xe không chính chủ.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp Trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, hiện nay, chưa có một quy định nào nêu ra khái niệm thế nào là xe không chính chủ.Tuy nhiên, hiểu một cách đúng luật là căn cứ tại điểm a khoản 4; điểm l khoản 7 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP thì lỗi \"không chính chủ\" chính là việc chủ xe không làm thủ tục đăng ký sang tên tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi được mua; được cho hay được tặng.\"Như vậy, với hành vi không làm thủ tục đăng ký xe để chuyển tên chủ xe trong giấy đăng ký xe khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế thì đây là một hành vi vi phạm\", luật sư Quách Thành Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Ông Lực cho biết, theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP; hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe có mức phạt khác nhau.Đối với hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe máy, cá nhân vi phạm sẽ bị phạt từ 400-600 nghìn đồng; Đối với tổ chức vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 800 nghìn đồng đến 1,2 triệu đồng.Đối với hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên ô tô, cá nhân vi phạm sẽ bị phạt từ 2-4 triệu đồng; Đối với tổ chức vi phạm sẽ bị phạt từ 4-8 triệu đồng.Về trường hợp của anh Long ở trên mượn xe của người thân để đi lại, luật sư Quách Thành Lực cho biết sẽ không bị xử phạt.\"Không có quy định nào xử phạt người đi mượn xe, chính vì thế con mượn xe của bố, vợ mượn xe của chồng, người thân mượn xe của nhau để đi lại sẽ không bị xử phạt\", luật sư Lực nói.Tuy nhiên, luật sư Quách Thành Lực cũng cho biết, khi cho mượn xe (ô tô, xe máy…) thì chủ xe cũng cần phải xem xét người mượn có giấy phép lái xe phù hợp với chiếc xe mượn hay không và đã sử dụng rượu bia, ma túy... hay không.\"Bởi nếu giao xe máy, ô tô cho người không có giấy phép lái xe, trong tình trạng say rượu, bia, ma túy thì chủ xe có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người mượn xe gây tai nạn nghiêm trọng\", luật sư Lực nói.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1061,
"text": "Việc xác minh để phát hiện lỗi xe không chính chủ chỉ được thực hiện thông qua công tác điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông hoặc qua công tác đăng ký xe. Như vậy, khi lưu thông trên đường thì CSGT sẽ không kiểm tra lỗi xe không chính chủ.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp Trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, hiện nay, chưa có một quy định nào nêu ra khái niệm thế nào là xe không chính chủ.Tuy nhiên, hiểu một cách đúng luật là căn cứ tại điểm a khoản 4; điểm l khoản 7 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP thì lỗi \"không chính chủ\" chính là việc chủ xe không làm thủ tục đăng ký sang tên tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi được mua; được cho hay được tặng.\"Như vậy, với hành vi không làm thủ tục đăng ký xe để chuyển tên chủ xe trong giấy đăng ký xe khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế thì đây là một hành vi vi phạm\", luật sư Quách Thành Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Ông Lực cho biết, theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP; hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe có mức phạt khác nhau.Đối với hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe máy, cá nhân vi phạm sẽ bị phạt từ 400-600 nghìn đồng; Đối với tổ chức vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 800 nghìn đồng đến 1,2 triệu đồng.Đối với hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên ô tô, cá nhân vi phạm sẽ bị phạt từ 2-4 triệu đồng; Đối với tổ chức vi phạm sẽ bị phạt từ 4-8 triệu đồng.Về trường hợp của anh Long ở trên mượn xe của người thân để đi lại, luật sư Quách Thành Lực cho biết sẽ không bị xử phạt.\"Không có quy định nào xử phạt người đi mượn xe, chính vì thế con mượn xe của bố, vợ mượn xe của chồng, người thân mượn xe của nhau để đi lại sẽ không bị xử phạt\", luật sư Lực nói.Tuy nhiên, luật sư Quách Thành Lực cũng cho biết, khi cho mượn xe (ô tô, xe máy…) thì chủ xe cũng cần phải xem xét người mượn có giấy phép lái xe phù hợp với chiếc xe mượn hay không và đã sử dụng rượu bia, ma túy... hay không.\"Bởi nếu giao xe máy, ô tô cho người không có giấy phép lái xe, trong tình trạng say rượu, bia, ma túy thì chủ xe có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người mượn xe gây tai nạn nghiêm trọng\", luật sư Lực nói."
}
],
"id": "653",
"is_impossible": false,
"question": "Có bị xử phạt lỗi không chính chủ khi mượn xe của người khác đi trên đường?"
}
]
}
],
"title": "Có bị xử phạt lỗi không chính chủ khi mượn xe của người khác đi trên đường?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "CSGT được hóa trang để bắn tốc độBạn đọc Phùng Phú Quân (Hiệp Hòa, Bắc Giang) hỏi: Để phát hiện người dân có điều khiển phương tiện đúng tốc độ cho phép không, cảnh sát giao thông (CSGT) cần sử dụng máy bắn tốc độ. Vậy theo quy định hiện hành, lực lượng CSGT được bắn tốc độ ở đâu?CSGT có thể bắn tốc độ ở bất kì đoạn đường nào theo phân công trong quyết định, kế hoạch phê duyệt của người có thẩm quyền.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp Trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, theo quy định tại khoản 3 điều 10 Thông tư 32/2023/TT-BCA của Bộ Công an, CSGT khi tuần tra, kiểm soát giao thông được sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để giám sát và kịp thời phát hiện, ngăn chặn vi phạm và tiến hành xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.Cũng theo quy định tại nghị định trên, máy bắn tốc độ sẽ được lắp đặt, sử dụng công khai hoặc hóa trang trên các tuyến giao thông đường bộ, tại trạm CSGT, trên phương tiện giao thông tuần tra, kiểm soát, trang bị cho tổ CSGT, do cán bộ CSGT trực tiếp vận hành, sử dụng để phát hiện, ghi thu hành vi vi phạm của người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.Theo danh mục I ban hành kèm theo Nghị định 135/2021/NĐ-CP, phương tiện đo tốc độ phương tiện giao thông có ghi hình ảnh (hay còn gọi là máy bắn tốc độ) là một trong các phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được trang bị cho CSGT để sử dụng nhằm phát hiện vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông.Quy định pháp luật hiện hành không có quy định giới hạn phạm vi sử dụng máy bắn tốc độ nhưng khoản 2 điều 12 Nghị định 135/2021/NĐ-CP lại có quy định, máy bắn tốc độ chỉ được phép sử dụng khi có quyết định, kế hoạch phê duyệt của người có thẩm quyền.\"Vì vậy, CSGT có thể bắn tốc độ ở bất kì đoạn đường nào theo phân công trong quyết định, kế hoạch phê duyệt của người có thẩm quyền\", ông Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực cũng cho biết, khi máy bắn tốc độ ghi nhận được hành vi vi phạm, hệ thống tự động truy cập, truyền dữ liệu đến tổ tuần tra, kiểm soát để lưu giữ và phục vụ công tác kiểm soát, xử lý vi phạm theo quy định. Người điều khiển phương tiện có trách nhiệm hợp tác theo yêu cầu kiểm tra, kiểm soát thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ của CSGT.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp Trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Có thể bị phạt tới 12 triệu đồng nếu chạy quá tốc độNghị định 100/2019/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP, quy định mức phạt đối với lỗi chạy quá tốc độ như sau:Đối với ô tô: Phạt tiền 800 nghìn đồng đến 1 triệu đồng đối với người điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 5km/h đến dưới 10km/h.Phạt tiền 4-6 triệu đồng đối với người điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 - 20km/h. Ngoài ra, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe (GPLX) từ 1-3 tháng;Phạt tiền 6-8 triệu đồng đối với người điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 - 35km/h. Ngoài ra, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng GPLX từ 2-4 tháng.Phạt tiền 10-12 triệu đồng đối với người điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 35km/h. Ngoài ra, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng GPLX từ 2-4 tháng.Đối với mô tô và xe gắn máy: Phạt tiền 300-400 nghìn đồng đối với người điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 5km/h đến dưới 10km/h.Phạt tiền 800 nghìn đồng đến 1 triệu đồng đối với người điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 - 20km/h.Phạt tiền 4-5 triệu đồng đối với người điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20km/h. Ngoài ra, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng GPLX từ 2-4 tháng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 83,
"text": "Để phát hiện người dân có điều khiển phương tiện đúng tốc độ cho phép không, cảnh sát giao thông (CSGT) cần sử dụng máy bắn tốc độ. Vậy theo quy định hiện hành, lực lượng CSGT được bắn tốc độ ở đâu?CSGT có thể bắn tốc độ ở bất kì đoạn đường nào theo phân công trong quyết định, kế hoạch phê duyệt của người có thẩm quyền.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp Trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, theo quy định tại khoản 3 điều 10 Thông tư 32/2023/TT-BCA của Bộ Công an, CSGT khi tuần tra, kiểm soát giao thông được sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để giám sát và kịp thời phát hiện, ngăn chặn vi phạm và tiến hành xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.Cũng theo quy định tại nghị định trên, máy bắn tốc độ sẽ được lắp đặt, sử dụng công khai hoặc hóa trang trên các tuyến giao thông đường bộ, tại trạm CSGT, trên phương tiện giao thông tuần tra, kiểm soát, trang bị cho tổ CSGT, do cán bộ CSGT trực tiếp vận hành, sử dụng để phát hiện, ghi thu hành vi vi phạm của người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.Theo danh mục I ban hành kèm theo Nghị định 135/2021/NĐ-CP, phương tiện đo tốc độ phương tiện giao thông có ghi hình ảnh (hay còn gọi là máy bắn tốc độ) là một trong các phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được trang bị cho CSGT để sử dụng nhằm phát hiện vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông.Quy định pháp luật hiện hành không có quy định giới hạn phạm vi sử dụng máy bắn tốc độ nhưng khoản 2 điều 12 Nghị định 135/2021/NĐ-CP lại có quy định, máy bắn tốc độ chỉ được phép sử dụng khi có quyết định, kế hoạch phê duyệt của người có thẩm quyền.\"Vì vậy, CSGT có thể bắn tốc độ ở bất kì đoạn đường nào theo phân công trong quyết định, kế hoạch phê duyệt của người có thẩm quyền\", ông Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực cũng cho biết, khi máy bắn tốc độ ghi nhận được hành vi vi phạm, hệ thống tự động truy cập, truyền dữ liệu đến tổ tuần tra, kiểm soát để lưu giữ và phục vụ công tác kiểm soát, xử lý vi phạm theo quy định. Người điều khiển phương tiện có trách nhiệm hợp tác theo yêu cầu kiểm tra, kiểm soát thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ của CSGT.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp Trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Có thể bị phạt tới 12 triệu đồng nếu chạy quá tốc độNghị định 100/2019/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP, quy định mức phạt đối với lỗi chạy quá tốc độ như sau:Đối với ô tô: Phạt tiền 800 nghìn đồng đến 1 triệu đồng đối với người điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 5km/h đến dưới 10km/h.Phạt tiền 4-6 triệu đồng đối với người điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 - 20km/h. Ngoài ra, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe (GPLX) từ 1-3 tháng;Phạt tiền 6-8 triệu đồng đối với người điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 - 35km/h. Ngoài ra, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng GPLX từ 2-4 tháng.Phạt tiền 10-12 triệu đồng đối với người điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 35km/h. Ngoài ra, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng GPLX từ 2-4 tháng.Đối với mô tô và xe gắn máy: Phạt tiền 300-400 nghìn đồng đối với người điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 5km/h đến dưới 10km/h.Phạt tiền 800 nghìn đồng đến 1 triệu đồng đối với người điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 - 20km/h.Phạt tiền 4-5 triệu đồng đối với người điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20km/h. Ngoài ra, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng GPLX từ 2-4 tháng."
}
],
"id": "654",
"is_impossible": false,
"question": "CSGT được bắn tốc độ ở những đoạn đường nào?"
}
]
}
],
"title": "CSGT được bắn tốc độ ở những đoạn đường nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Nghị định 100 hướng dẫn về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt nêu rõ: Phạt tiền từ 6 - 8 triệu đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm như buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy; quay người về phía sau để điều khiển xe hoặc bịt mắt điều khiển xe...Tương tự, trong Nghị định 46 hướng dẫn về xử lý vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt cũng đã liệt kê mức xử phạt cho các vi phạm về điều khiển xe máy. Tuy nhiên văn bản này cũng không đề cập đến hành vi điều khiển xe máy bằng một tay.Do đó, nếu lái xe một tay sẽ không bị phạt vì chưa có quy định. Tuy nhiên, hành vi điều khiển xe bằng một tay rất nguy hiểm do khó kiểm soát phương tiện, xử lý tình huống bất ngờ khi tham gia giao thông.Để đảm bảo an toàn cho bản thân và người tham gia giao thông khác, người điều khiển xe máy cần tuân thủ điều khiển xe bằng cả 2 tay.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 108,
"text": "Phạt tiền từ 6 - 8 triệu đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm như buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy; quay người về phía sau để điều khiển xe hoặc bịt mắt điều khiển xe...Tương tự, trong Nghị định 46 hướng dẫn về xử lý vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt cũng đã liệt kê mức xử phạt cho các vi phạm về điều khiển xe máy. Tuy nhiên văn bản này cũng không đề cập đến hành vi điều khiển xe máy bằng một tay.Do đó, nếu lái xe một tay sẽ không bị phạt vì chưa có quy định. Tuy nhiên, hành vi điều khiển xe bằng một tay rất nguy hiểm do khó kiểm soát phương tiện, xử lý tình huống bất ngờ khi tham gia giao thông.Để đảm bảo an toàn cho bản thân và người tham gia giao thông khác, người điều khiển xe máy cần tuân thủ điều khiển xe bằng cả 2 tay."
}
],
"id": "655",
"is_impossible": false,
"question": "Điều khiển xe máy bằng một tay có bị phạt?"
}
]
}
],
"title": "Điều khiển xe máy bằng một tay có bị phạt?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Quy trình xử lý phạt nguộiThời gian qua, công an một số địa phương như Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hà Tĩnh, Gia Lai... triển khai có hiệu quả việc phát hiện, xử phạt qua hình ảnh thu từ camera giám sát đối với các trường hợp người điều khiển xe máy vi phạm giao thông đường bộ.Ở những tỉnh này, lực lượng chức năng hàng ngày sẽ kiểm soát người điều khiển xe máy vi phạm thông qua hệ thống camera giám sát ở các tuyến đường. Sau khi xác minh thông tin về phương tiện và người đứng tên đăng ký, cảnh sát thông báo công khai biển số xe vi phạm và gửi thông báo cho chủ phương tiện đó.Hình ảnh người lái xe máy vi phạm bị Công an tỉnh Bắc Giang trích xuất để gửi thông báo.Trao đổi với PV Báo Giao thông, một cán bộ CSGT tham gia công tác xử phạt vi phạm hành chính ở Hà Nội cho biết, phạt nguội được áp dụng thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ của lực lượng chức năng hoặc được ghi thu bằng thiết bị kỹ thuật của tổ chức, cá nhân và thông tin, hình ảnh đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội mà lực lượng chức năng không dừng xe xử lý được ngay.Hiện nay, việc phạt nguội ô tô và xe máy đang thực hiện theo các quy định tại Thông tư số 15/2022/TT-BCA sửa đổi, bổ sung Thông tư số 65/2020/TT-BCA ngày 19/6/2020.Cụ thể, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm, cán bộ chức năng thuộc cơ quan công an nơi phát hiện vi phạm phải xác định thông tin về phương tiện, chủ phương tiện có liên quan. Sau đó gửi thông báo cho người liên quan theo thông tin cư trú trên cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để chủ phương tiện, người điều khiển đến trụ sở làm việc.Trường hợp chủ phương tiện, người điều khiển không cư trú tại địa bàn đó, cán bộ chức năng chuyển kết quả vi phạm kèm hình ảnh cho công an cấp xã hoặc cấp huyện nơi người đó cư trú để để giải quyết, xử lý vụ việc vi phạm.\"Sau khi cơ quan chức năng lập biên bản về lỗi vi phạm đó, chủ phương tiện hoặc người vi phạm có thể nộp phạt trực tiếp hoặc qua nộp online qua hệ thống dịch vụ công\", cán bộ CSGT giải thích.Các hình thức nộp phạt nguội Trước khi tiến hành nộp phạt nguội, người vi phạm giao thông cần đến trụ sở công an nơi xảy ra vi phạm hoặc nơi cư trú (nếu không cư trú trong địa bàn huyện nơi xảy ra vi phạm) để giải quyết vụ việc vi phạm giao thông bị phạt nguội và nhận quyết định xử phạt vi phạm.Sau khi có quyết định xử phạt giao thông, tổ chức, cá nhân có thể nộp phạt theo một trong các cách quy định tại Điều 20 Nghị định 118/2021/NĐ-CP như sau:Một là, nộp tiền mặt trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước hoặc tại ngân hàng nơi Kho bạc nhà nước mở tài khoản được ghi trong quyết định xử phạt giao thông.Hai là, chuyển khoản vào tài khoản của Kho bạc nhà nước được ghi trong quyết định xử phạt.Ba là, nộp phạt Cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc dịch vụ thanh toán điện tử của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.Bốn là, nộp phạt trực tiếp cho cảnh sát giao thông đối với lỗi vi phạm dưới bị phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức.Năm là, nộp phạt qua bưu điện.Chậm nộp phạt nguội sẽ bị tính lãi Theo vị cán bộ CSGT, nhiều chủ xe máy cho rằng, xe máy không đi đăng kiểm thì có thể \"phớt lờ\" thông báo phạt nguội. Tuy nhiên, với việc triển khai cấp biển số xe theo mã định danh hiện nay, việc truy tìm các chủ xe trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.Ngoài ra, các dữ liệu vi phạm giao thông bị phạt nguội được cập nhật lên hệ thống chung, để khi chiếc xe đó có vi phạm giao thông nào bị dừng xe xử lý trực tiếp, thì CSGT có thể xử phạt luôn các lỗi phạt nguội trước đó.Bổ sung thêm nội dung này, luật sư Nguyễn Tiến Dũng (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) nhấn mạnh theo khoản 1, Điều 73 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thì cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính.Khoản 1, Điều 5 Thông tư số 18/2023/TT-BTC quy định: Nếu quá thời hạn thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức chưa nộp tiền phạt thì sẽ bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt và cứ mỗi ngày chậm nộp phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp thêm 0,05% trên tổng số tiền phạt chưa nộp.Số ngày chậm nộp tiền phạt bao gồm cả ngày lễ, ngày nghỉ theo chế độ quy định và được tính từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp tiền phạt đến trước ngày cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nộp tiền phạt vào ngân sách Nhà nước.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 2467,
"text": "Một là, nộp tiền mặt trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước hoặc tại ngân hàng nơi Kho bạc nhà nước mở tài khoản được ghi trong quyết định xử phạt giao thông.Hai là, chuyển khoản vào tài khoản của Kho bạc nhà nước được ghi trong quyết định xử phạt.Ba là, nộp phạt Cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc dịch vụ thanh toán điện tử của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.Bốn là, nộp phạt trực tiếp cho cảnh sát giao thông đối với lỗi vi phạm dưới bị phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức.Năm là, nộp phạt qua bưu điện.Chậm nộp phạt nguội sẽ bị tính lãi Theo vị cán bộ CSGT, nhiều chủ xe máy cho rằng, xe máy không đi đăng kiểm thì có thể \"phớt lờ\" thông báo phạt nguội. Tuy nhiên, với việc triển khai cấp biển số xe theo mã định danh hiện nay, việc truy tìm các chủ xe trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.Ngoài ra, các dữ liệu vi phạm giao thông bị phạt nguội được cập nhật lên hệ thống chung, để khi chiếc xe đó có vi phạm giao thông nào bị dừng xe xử lý trực tiếp, thì CSGT có thể xử phạt luôn các lỗi phạt nguội trước đó.Bổ sung thêm nội dung này, luật sư Nguyễn Tiến Dũng (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) nhấn mạnh theo khoản 1, Điều 73 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thì cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính.Khoản 1, Điều 5 Thông tư số 18/2023/TT-BTC quy định: Nếu quá thời hạn thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức chưa nộp tiền phạt thì sẽ bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt và cứ mỗi ngày chậm nộp phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp thêm 0,05% trên tổng số tiền phạt chưa nộp.Số ngày chậm nộp tiền phạt bao gồm cả ngày lễ, ngày nghỉ theo chế độ quy định và được tính từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp tiền phạt đến trước ngày cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nộp tiền phạt vào ngân sách Nhà nước."
}
],
"id": "656",
"is_impossible": false,
"question": "Nhận thông báo phạt nguội xe máy, chủ xe cần làm gì?"
}
]
}
],
"title": "Nhận thông báo phạt nguội xe máy, chủ xe cần làm gì?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Đang chấp hành án, lại chống người thi hành công vụ Ngày 1/4, Công an huyện Thanh Trì (TP Hà Nội) đã bắt giữ Nguyễn Việt Cường (19 tuổi, ở huyện Thường Tín, TP Hà Nội) để điều tra về hành vi chống người thi hành công vụ.Nguyễn Việt Cường chính là đối tượng lái xe ô tô Mazda CX5 biển số 29A-450.00 hất cảnh sát lên nắp capo rồi bỏ chạy với tốc độ cao, lạng lách.Nguyễn Việt Cường khi bị bắt.Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Việt Cường khai nhận, khoảng 12h30 cùng ngày, Cường mượn xe ô tô trên của N.V.T (SN 1992, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội) để đi.Khi lưu thông đến khu vực đường Ngũ Hiệp, thuộc địa phận thôn Tương Chúc, xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, Cường bị Tổ tuần tra kiểm soát Công an huyện Thanh Trì dừng xe kiểm tra nồng độ cồn.Do lo sợ sẽ bị xử lý vì chưa có bằng lái xe và đang trong thời gian chấp hành án tù treo nên Cường đã tăng ga lao vào Tổ công tác, hất văng đại úy Đình Văn Ngọc, cán bộ Đội Cảnh sát giao thông - trật tự, Công an huyện Thanh Trì lên nắp capo ô tô rồi bỏ chạy.Quá trình bỏ chạy, Cường điều khiển xe ô tô đi với tốc độ khá cao, lạng lách tránh các xe khác, tình huống rất nguy hiểm cho tính mạng đại úy Ngọc. Chiếc xe này chạy khoảng 200m thì đại úy cảnh sát rơi xuống đường.Qua xét nghiệm, cảnh sát xác định Cường dương tính với ma túy, không có nồng độ cồn trong khí thở.Nguyễn Việt Cường đã có một tiền án về tội gây rối trật tự công cộng vào năm 2022 và bị xử 20 tháng tù treo, 48 tháng thử thách. Khoảnh khắc đại úy cảnh sát bị hất lên nắp capo.Hưởng án treo vẫn vi phạm thì có thể chuyển thành án tùNhìn nhận sự việc này dưới góc độ pháp lý, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, với những gì diễn ra qua clip cho thấy, hành vi của người lái xe ô tô trong tình huống này là nguy hiểm cho xã hội, gây nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng của người tham gia giao thông, đặc biệt là đối với đại úy cảnh sát đang đang bám trên nắp capo.\"Đây là hành vi chống người thi hành công vụ đến mức cần xử lý hình sự. Việc Công an huyện Thanh Trì bắt giữ Nguyễn Việt Cường để điều tra về hành vi chống người thi hành công vụ là hoàn toàn chính xác\", ông Lực nhận định.Luật sư Quách Thành Lực cho biết, điều 330 Bộ luật Hình sự quy định về tội chống người thi hành công vụ, người vi phạm có thể bị phạt đến 7 năm tù giam.Theo đó, người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm: Có tổ chức; Phạm tội 2 lần trở lên; Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; Gây thiệt hại về tài sản 50 triệu đồng trở lên; Tái phạm nguy hiểm.Đặc biệt, luật sư Lực lưu ý, trong trường hợp này, đối tượng Nguyễn Việt Cường đã từng bị kết án vì tội gây rối trật tự công cộng, đang trong thời gian thử thách. Thế nhưng Cường vẫn thực hiện hành vi như trên thì trong khi lượng hình, cơ quan tố tụng sẽ buộc người phạm tội phải chấp hành hình phạt của bản án treo trước đó.Cụ thể, khoản 5, điều 65 Bộ luật Hình sự quy định, trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, thì tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của Bộ luật này.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Người cho mượn xe có trách nhiệm liên đớiTrong vụ việc này cũng có tình tiết rất đáng chú ý là chủ xe tên N.V.T (SN 1992, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội) đã cho Nguyễn Việt Cường mượn chiếc xe ô tô Mazda CX5 để đi trong khi Cường không có giấy phép lái xe, và dương tính với chất ma túy.Luật sư Quách Thành Lực cho rằng, N.V.T hoàn toàn có thể bị xử phạt hành chính vì giao xe cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ.\"Nghị định 123/2021/NĐ-CP quy định, phạt tiền từ 4-6 triệu đồng đối với cá nhân, từ 8-12 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông\", ông Lực nói.Dẫn chiếu đến khoản 1 điều 58 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khỏe theo quy định và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển, ông Lực cho rằng, chủ xe Mazda CX5 này có thể bị xử phạt từ 4-6 triệu đồng. Luật sư Lực cũng cho hay, nếu người cho mượn xe, giao xe cho tài xế không đủ điều kiện tham gia giao thông (không có bằng lái…) mà người này gây tai nạn giao thông đến mức phải xử lý hình sự, chủ xe phải chịu trách nhiệm liên đới.Theo đó, Điều 264 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ thì chủ xe có thể bị phạt tiền từ 3-30 triệu đồng, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1-3 năm.Nếu hành vi gây tai nạn để lại hậu quả rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng có thể bị phạt tù từ 2-12 năm tù.Clip xe ô tô hất đại úy cảnh sát lên nắp capo rồi bỏ chạy.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 2647,
"text": "Có tổ chức; Phạm tội 2 lần trở lên; Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; Gây thiệt hại về tài sản 50 triệu đồng trở lên; Tái phạm nguy hiểm.Đặc biệt, luật sư Lực lưu ý, trong trường hợp này, đối tượng Nguyễn Việt Cường đã từng bị kết án vì tội gây rối trật tự công cộng, đang trong thời gian thử thách. Thế nhưng Cường vẫn thực hiện hành vi như trên thì trong khi lượng hình, cơ quan tố tụng sẽ buộc người phạm tội phải chấp hành hình phạt của bản án treo trước đó.Cụ thể, khoản 5, điều 65 Bộ luật Hình sự quy định, trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, thì tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của Bộ luật này.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Người cho mượn xe có trách nhiệm liên đớiTrong vụ việc này cũng có tình tiết rất đáng chú ý là chủ xe tên N.V.T (SN 1992, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội) đã cho Nguyễn Việt Cường mượn chiếc xe ô tô Mazda CX5 để đi trong khi Cường không có giấy phép lái xe, và dương tính với chất ma túy.Luật sư Quách Thành Lực cho rằng, N.V.T hoàn toàn có thể bị xử phạt hành chính vì giao xe cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ.\"Nghị định 123/2021/NĐ-CP quy định, phạt tiền từ 4-6 triệu đồng đối với cá nhân, từ 8-12 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông\", ông Lực nói.Dẫn chiếu đến khoản 1 điều 58 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khỏe theo quy định và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển, ông Lực cho rằng, chủ xe Mazda CX5 này có thể bị xử phạt từ 4-6 triệu đồng. Luật sư Lực cũng cho hay, nếu người cho mượn xe, giao xe cho tài xế không đủ điều kiện tham gia giao thông (không có bằng lái…) mà người này gây tai nạn giao thông đến mức phải xử lý hình sự, chủ xe phải chịu trách nhiệm liên đới.Theo đó, Điều 264 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ thì chủ xe có thể bị phạt tiền từ 3-30 triệu đồng, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1-3 năm.Nếu hành vi gây tai nạn để lại hậu quả rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng có thể bị phạt tù từ 2-12 năm tù.Clip xe ô tô hất đại úy cảnh sát lên nắp capo rồi bỏ chạy."
}
],
"id": "657",
"is_impossible": false,
"question": "Tình huống pháp lý vụ tài xế hất cảnh sát lên nắp capo rồi bỏ chạy"
}
]
}
],
"title": "Tình huống pháp lý vụ tài xế hất cảnh sát lên nắp capo rồi bỏ chạy"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Cử tri tỉnh Bình Thuận kiến nghị cần có chính sách mang tính toàn quốc quy định chế độ hỗ trợ cho người nghèo không có điều kiện mua đất ở các khu quy hoạch được mua nhà ở xã hội. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng trả lời cử tri tỉnh Bình Thuận như sau: Ngày 27/11/2023, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 (sửa đổi Luật Nhà ở năm 2014). Theo đó: Đối tượng hưởng chính sách về nhà ở xã hội Tại Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 Điều 76 đã quy định về đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội gồm: - Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn; - Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu; - Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị. Khoản 1 Điều 77 quy định, căn cứ điều kiện của địa phương, UBND cấp tỉnh có thể quy định việc hỗ trợ giải quyết bán, cho thuê mua, cho thuê nhà ở xã hội cho đối tượng hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn, hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu. Điều kiện hưởng chính sách về nhà ở xã hội Đối tượng hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn; hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu được mua nhà ở xã hội nếu đáp ứng điều kiện về nhà ở quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 78 (chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó, chưa được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội, chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở dưới mọi hình thức tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó hoặc có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn mức diện tích nhà ở tối thiểu theo quy định của Chính phủ). Đối tượng hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị nếu đáp ứng về điều kiện về nhà ở và thu nhập quy định tại Điều 78 thì được mua nhà ở xã hội. Như vậy, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 đã có chính sách mang tính toàn quốc quy định hỗ trợ cho người nghèo mua nhà ở xã hội. Ngày 8/1/2024, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 19/QĐ-TTg ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 6. Theo đó, Bộ Xây dựng được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng dự thảo Nghị định quy định về phát triển và quản lý nhà ở xã hội và Thông tư hướng dẫn. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Xây dựng đang chủ trì nghiên cứu, xây dựng dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về phát triển và quản lý nhà ở xã hội trong đó có quy định cụ thể về điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 260,
"text": "Ngày 27/11/2023, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 (sửa đổi Luật Nhà ở năm 2014). Theo đó: Đối tượng hưởng chính sách về nhà ở xã hội Tại Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 Điều 76 đã quy định về đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội gồm: - Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn; - Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu; - Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị. Khoản 1 Điều 77 quy định, căn cứ điều kiện của địa phương, UBND cấp tỉnh có thể quy định việc hỗ trợ giải quyết bán, cho thuê mua, cho thuê nhà ở xã hội cho đối tượng hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn, hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu. Điều kiện hưởng chính sách về nhà ở xã hội Đối tượng hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn; hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu được mua nhà ở xã hội nếu đáp ứng điều kiện về nhà ở quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 78 (chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó, chưa được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội, chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở dưới mọi hình thức tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó hoặc có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn mức diện tích nhà ở tối thiểu theo quy định của Chính phủ). Đối tượng hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị nếu đáp ứng về điều kiện về nhà ở và thu nhập quy định tại Điều 78 thì được mua nhà ở xã hội. Như vậy, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 đã có chính sách mang tính toàn quốc quy định hỗ trợ cho người nghèo mua nhà ở xã hội. Ngày 8/1/2024, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 19/QĐ-TTg ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 6. Theo đó, Bộ Xây dựng được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng dự thảo Nghị định quy định về phát triển và quản lý nhà ở xã hội và Thông tư hướng dẫn. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Xây dựng đang chủ trì nghiên cứu, xây dựng dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về phát triển và quản lý nhà ở xã hội trong đó có quy định cụ thể về điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội."
}
],
"id": "658",
"is_impossible": false,
"question": "Quy định cụ thể điều kiện hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội"
}
]
}
],
"title": "Quy định cụ thể điều kiện hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Công ty của bà Lê Thị Hồng Chuyên có trụ sở tại Thành phố Hà Nội. Công ty vẫn thực hiện công bố hợp quy, đăng ký kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu vật liệu xây dựng tại Sở Xây dựng Thành phố Hà Nội từ khi Bộ Xây dựng ban hành các quy chuẩn về vật liệu xây dựng và chấp hành đúng các quy định. Đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu thực hiện tại cơ quan kiểm tra tại địa phương nơi nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa. Nay công ty bà Chuyên thực hiện đăng ký kiểm tra tại Sở Xây dựng Thành phố Hà Nội thì nhận được thông tin, theo quy định QCVN 16:2023/BXD, Sở không cấp đăng ký kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu nữa, hàng nhập tại cửa khẩu địa phương nào thì về địa phương đó đăng ký kiểm tra. Hàng của công ty bà Chuyên thường đi tàu đường biển, cập bến tại cảng Hải Phòng. Tuy nhiên, công ty vẫn có thể mở tờ khai ngay tại Hà Nội hoặc dưới Hải Phòng theo quy định của ngành hải quan. Nếu theo hướng dẫn của Sở Xây dựng, công ty bà Chuyên không được đăng ký với Sở Xây dựng Thành phố Hà Nội mà phải xuống Hải Phòng đăng ký cho dù mở tờ khai bất kỳ đâu. Như vậy là mâu thuẫn với quy định về khai hải quan, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi đi làm thủ tục do toàn bộ nhân viên công ty ở Hà Nội và các thủ tục từ đăng ký tờ khai hải quan, nhập khẩu đến bán hàng đều trên địa bàn Hà Nội. Bà Chuyên hỏi, hướng dẫn của Sở Xây dựng Thành phố Hà Nội như vậy có đúng không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tại Điểm a Mục 3.3.1 Phần 3 Thông tư số 04/2023/TT-BXD ngày 30/6/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng, mã số QCVN 16:2023/BXD quy định về quản lý đối với hàng hóa vật liệu xây dựng nhập khẩu, người nhập khẩu phải thực hiện: \"Đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu thực hiện tại cơ quan kiểm tra tại địa phương nơi nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa\". Tại Mục 5.2 Thông tư số 04/2023/TT-BXD quy định về trách nhiệm của cơ quan kiểm tra tại địa phương đối với hàng hóa vật liệu xây dựng nhập khẩu bao gồm: \"Tiếp nhận hồ sơ công bố hợp quy của tổ chức, cá nhân đối với sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng sản xuất; tiếp nhận, xử lý hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước đối với hàng hóa nhập khẩu; và quản lý, kiểm tra các hoạt động chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy đối với sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng trên địa bàn. Phối hợp với các cơ quan kiểm tra địa phương tại các cửa khẩu để kiểm tra việc thực hiện công tác đăng ký kiểm tra nhà nước và sự phù hợp chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu\". Căn cứ quy định nêu trên thì công ty của bà Chuyên liên hệ với Sở Xây dựng tại nơi nhập khẩu (nơi làm thủ tục hải quan) sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng để nộp hồ sơ và được hướng dẫn về đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 579,
"text": "2023/BXD, Sở không cấp đăng ký kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu nữa, hàng nhập tại cửa khẩu địa phương nào thì về địa phương đó đăng ký kiểm tra. Hàng của công ty bà Chuyên thường đi tàu đường biển, cập bến tại cảng Hải Phòng. Tuy nhiên, công ty vẫn có thể mở tờ khai ngay tại Hà Nội hoặc dưới Hải Phòng theo quy định của ngành hải quan. Nếu theo hướng dẫn của Sở Xây dựng, công ty bà Chuyên không được đăng ký với Sở Xây dựng Thành phố Hà Nội mà phải xuống Hải Phòng đăng ký cho dù mở tờ khai bất kỳ đâu. Như vậy là mâu thuẫn với quy định về khai hải quan, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi đi làm thủ tục do toàn bộ nhân viên công ty ở Hà Nội và các thủ tục từ đăng ký tờ khai hải quan, nhập khẩu đến bán hàng đều trên địa bàn Hà Nội. Bà Chuyên hỏi, hướng dẫn của Sở Xây dựng Thành phố Hà Nội như vậy có đúng không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tại Điểm a Mục 3.3.1 Phần 3 Thông tư số 04/2023/TT-BXD ngày 30/6/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng, mã số QCVN 16:2023/BXD quy định về quản lý đối với hàng hóa vật liệu xây dựng nhập khẩu, người nhập khẩu phải thực hiện: \"Đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu thực hiện tại cơ quan kiểm tra tại địa phương nơi nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa\". Tại Mục 5.2 Thông tư số 04/2023/TT-BXD quy định về trách nhiệm của cơ quan kiểm tra tại địa phương đối với hàng hóa vật liệu xây dựng nhập khẩu bao gồm: \"Tiếp nhận hồ sơ công bố hợp quy của tổ chức, cá nhân đối với sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng sản xuất; tiếp nhận, xử lý hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước đối với hàng hóa nhập khẩu; và quản lý, kiểm tra các hoạt động chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy đối với sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng trên địa bàn. Phối hợp với các cơ quan kiểm tra địa phương tại các cửa khẩu để kiểm tra việc thực hiện công tác đăng ký kiểm tra nhà nước và sự phù hợp chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu\". Căn cứ quy định nêu trên thì công ty của bà Chuyên liên hệ với Sở Xây dựng tại nơi nhập khẩu (nơi làm thủ tục hải quan) sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng để nộp hồ sơ và được hướng dẫn về đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu."
}
],
"id": "659",
"is_impossible": false,
"question": "Đăng ký kiểm tra chất lượng vật liệu xây dựng nhập khẩu tại đâu?"
}
]
}
],
"title": "Đăng ký kiểm tra chất lượng vật liệu xây dựng nhập khẩu tại đâu?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Nghị định 100/2019 quy định việc xử phạt chủ phương tiện (cá nhân hoặc tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự) đối với hành vi: Tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước, đặc tính của xe. Hành vi tự ý thêm đèn LED đổi màu cho xe mô tô được coi là tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước, đặc tính của xe. Bởi chủ phương tiện tháo bỏ đèn cũ, hoặc giữ nguyên đèn cũ (đèn nguyên bản của nhà sản xuất) rồi lắp thêm đèn trợ sáng xe máy vào, là việc thay đổi kết cấu và đặc tính của xe.Với vi phạm này, cá nhân bị xử phạt từ 0,8-2 triệu đồng; đối với tổ chức từ 1,6-4 triệu đồng.Việc thay đổi bộ phận chiếu sáng cho xe máy chỉ được công nhận là không vi phạm pháp luật đối với các trường hợp cụ thể như: Đèn pha xe máy đã bị hỏng, suy giảm chất lượng, đèn bị mờ hoặc giảm khả năng chiếu sáng; Đèn pha xe máy không đủ tiêu chuẩn khi tham gia giao thông, có khả năng gây mất an toàn.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 149,
"text": "Tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước, đặc tính của xe. Hành vi tự ý thêm đèn LED đổi màu cho xe mô tô được coi là tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước, đặc tính của xe. Bởi chủ phương tiện tháo bỏ đèn cũ, hoặc giữ nguyên đèn cũ (đèn nguyên bản của nhà sản xuất) rồi lắp thêm đèn trợ sáng xe máy vào, là việc thay đổi kết cấu và đặc tính của xe.Với vi phạm này, cá nhân bị xử phạt từ 0,8-2 triệu đồng; đối với tổ chức từ 1,6-4 triệu đồng.Việc thay đổi bộ phận chiếu sáng cho xe máy chỉ được công nhận là không vi phạm pháp luật đối với các trường hợp cụ thể như: Đèn pha xe máy đã bị hỏng, suy giảm chất lượng, đèn bị mờ hoặc giảm khả năng chiếu sáng; Đèn pha xe máy không đủ tiêu chuẩn khi tham gia giao thông, có khả năng gây mất an toàn."
}
],
"id": "660",
"is_impossible": false,
"question": "Lắp đèn LED trên xe mô tô có vi phạm?"
}
]
}
],
"title": "Lắp đèn LED trên xe mô tô có vi phạm?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Việc lập quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 đối với một khu công nghiệp là căn cứ lập dự án, cấp giấy phép đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật của khu công nghiệp, đồng thời để xác định cơ cấu chức năng sử dụng đất và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đối với từng lô đất… Xây nhà máy trong khu công nghiệp có phải lập quy hoạch chi tiết? Ông Trần Ngọc Cảnh (Vĩnh Phúc) hỏi, các dự án của chủ đầu tư thứ cấp nằm trong khu công nghiệp đã có quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500 được cấp có thẩm quyền phê duyệt, có phải lập quy hoạch chi tiết xây dựng (đối với dự án đầu tư xây dựng nhà máy, xí nghiệp ≥ 10 ha) hoặc lập quy hoạch tổng mặt bằng (đối với dự án đầu tư xây dựng nhà máy, xí nghiệp < 10 ha) để làm cơ sở lập dự án đầu tư xây dựng, cấp phép xây dựng hay không (vì chủ đầu tư khu công nghiệp và chủ đầu tư thứ cấp là 2 chủ thể khác nhau)? Tại các khu công nghiệp đã có quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 được phê duyệt, chủ đầu tư khu công nghiệp đã chia lô đất công nghiệp (ký hiệu là A) thành các lô đất nhỏ (ký hiệu từ A1 đến A10). Thực tế thu hút đầu tư, chủ đầu tư khu công nghiệp qua nhu cầu đầu tư của chủ đầu tư thứ cấp và cho thuê theo nhu cầu, dẫn đến làm thay đổi quy hoạch chia lô đã được phê duyệt. Ví dụ, các lô A1 đến A10 có diện tích mỗi lô đất là 10.000 m2, cho chủ đầu tư thứ cấp thuê lô đất có diện tích 25.000 m2. Như vậy để cho thuê đất, chủ đầu tư khu công nghiệp đã chia lại lô đất khác với quy hoạch được duyệt. Ông Cảnh hỏi, đối với trường hợp này, chủ đầu tư khu công nghiệp có phải điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết xây dựng khu công nghiệp theo quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 2 Nghị định số 72/2019/NĐ-CP ngày 30/8/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2010/NĐ-CP ngày 4/7/2010 về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý đô thị và Nghị định số 44/2015/NĐ-CP ngày 6/5/2015 quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng trước khi cho chủ đầu tư thứ cấp thuê hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Về việc lập quy hoạch, căn cứ Luật Xây dựng năm 2014, việc lập quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 đối với một khu công nghiệp là căn cứ lập dự án, cấp giấy phép đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật của khu công nghiệp, đồng thời để xác định cơ cấu chức năng sử dụng đất và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đối với từng lô đất… Tuy nhiên, do câu hỏi chưa làm rõ các nội dung trong quy hoạch chi tiết trên đã bao gồm các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, tổ chức không gian đến các lô đất xây dựng nhà máy, xí nghiệp. Trường hợp không có thì phải lập quy hoạch chi tiết để làm cơ sở lập dự án đầu tư xây dựng nhà máy, xí nghiệp. Về điều chỉnh cục bộ quy hoạch, căn cứ Khoản 2 Điều 28 Luật Xây dựng năm 2014: \"2. Đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng trong khu chức năng đặc thù gồm: a) Nội dung đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng gồm việc xác định chỉ tiêu về dân số, sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và yêu cầu tổ chức không gian, kiến trúc cho toàn khu vực quy hoạch; bố trí công trình hạ tầng xã hội phù hợp với nhu cầu sử dụng; yêu cầu về kiến trúc công trình đối với từng lô đất, thiết kế đô thị; bố trí hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật đến ranh giới lô đất; đánh giá môi trường chiến lược;\". Do đó, khi điều chỉnh diện tích các lô đất theo hướng tăng số lượng các lô đất trong khu công nghiệp phải thực hiện điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500 của khu công nghiệp; khi thực hiện điều chỉnh cục bộ phải bảo đảm tuân thủ các quy định về điều kiện điều chỉnh và các quy định pháp luật khác có liên quan.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1999,
"text": "Về việc lập quy hoạch, căn cứ Luật Xây dựng năm 2014, việc lập quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 đối với một khu công nghiệp là căn cứ lập dự án, cấp giấy phép đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật của khu công nghiệp, đồng thời để xác định cơ cấu chức năng sử dụng đất và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đối với từng lô đất… Tuy nhiên, do câu hỏi chưa làm rõ các nội dung trong quy hoạch chi tiết trên đã bao gồm các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, tổ chức không gian đến các lô đất xây dựng nhà máy, xí nghiệp. Trường hợp không có thì phải lập quy hoạch chi tiết để làm cơ sở lập dự án đầu tư xây dựng nhà máy, xí nghiệp. Về điều chỉnh cục bộ quy hoạch, căn cứ Khoản 2 Điều 28 Luật Xây dựng năm 2014: \"2. Đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng trong khu chức năng đặc thù gồm: a) Nội dung đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng gồm việc xác định chỉ tiêu về dân số, sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và yêu cầu tổ chức không gian, kiến trúc cho toàn khu vực quy hoạch; bố trí công trình hạ tầng xã hội phù hợp với nhu cầu sử dụng; yêu cầu về kiến trúc công trình đối với từng lô đất, thiết kế đô thị; bố trí hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật đến ranh giới lô đất; đánh giá môi trường chiến lược;\". Do đó, khi điều chỉnh diện tích các lô đất theo hướng tăng số lượng các lô đất trong khu công nghiệp phải thực hiện điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500 của khu công nghiệp; khi thực hiện điều chỉnh cục bộ phải bảo đảm tuân thủ các quy định về điều kiện điều chỉnh và các quy định pháp luật khác có liên quan."
}
],
"id": "661",
"is_impossible": false,
"question": "Xây nhà máy trong khu công nghiệp có phải lập quy hoạch chi tiết?"
}
]
}
],
"title": "Xây nhà máy trong khu công nghiệp có phải lập quy hoạch chi tiết?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Chưa có chế tài xử phạtHiện nay, ô tô trở thành phương tiện khá phổ biến, được nhiều gia đình sử dụng để di chuyển. Và trên thực tế, phổ biến tình trạng cho trẻ em ngồi trên ghế phụ phía trước cạnh tài xế, thậm chí, đã có bố mẹ cho con nhỏ ngồi chung trên ghế lái.\"Vậy pháp luật quy định như thế nào về việc trẻ em ngồi trên ghế phụ, ghế lái?\", nhiều người tham gia giao thông thắc mắc.Cho trẻ em ngồi cùng ghế lái là tình huống rất nguy hiểm khi tham gia giao thông.Nhìn nhận vấn đề này dưới góc độ pháp lý, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội ) cho biết: Pháp luật về giao thông đường bộ hiện hành chưa có quy định cụ thể về việc trẻ em ngồi ghế phụ phía trước hay thậm chí là ngồi cùng ghế lái.Tại khoản 2, điều 9, Luật Giao thông đường bộ 2008 chỉ quy định xe ô tô có trang bị dây an toàn thì người lái xe và người ngồi hàng ghế phía trước trong ô tô phải thắt dây an toàn. Theo đó, trẻ em có thể ngồi hàng ghế phụ phía trước và phải thắt dây an toàn. \"Vì vậy, việc cho trẻ ngồi ghế phụ phía trước hoặc cùng ngồi ghế lái hiện không được tính là hành vi vi phạm và chưa có chế tài xử phạt cho hành vi này\", ông Lực cho hay.Hành vi nguy hiểm Tuy nhiên, ở góc độ cá nhân, luật sư Lực nhìn nhận, hành vi cho trẻ em ngồi ghế phụ, đặc biệt là cho trẻ em ngồi chung ghế lái là rất nguy hiểm khi tham gia giao thông. Bởi trẻ nhỏ chưa hoàn thiện khả năng suy nghĩ và kiểm soát hành vi. Hơn nữa, trẻ em thường có tính hiếu động, tò mò. Vì vậy, nếu ngồi ở hàng ghế trước, nhất là ngồi chung ghế lái sẽ rất dễ gây phiền phức, rối loạn và mất tập trung cho người lái, dễ dẫn đến tai nạn trên đường.Một cán bộ CSGT Công an TP Hà Nội cũng chia sẻ, để đảm bảo an toàn cho trẻ, cho chính người điều khiển cũng như người xung quanh đang tham gia thao thông, không nên để trẻ em ngồi ghế phụ phía trước và ngồi chung ghế lái.\"Trong trường hợp xảy ra va chạm, túi khí trong xe ô tô có thể bung ra làm tổn hại đến trẻ. Bên cạnh đó, dây đai an toàn vừa vặn với người lớn nhưng khá rộng và không thể chỉnh phù hợp cho trẻ khiến chúng dễ bị lọt ra ngoài, thậm chí bị lao về phía trước nếu có tai nạn xảy ra. Hơn nữa, người điều khiển sẽ mất tập trung và bị cản trở khi có trẻ ngồi cùng ghế lái. Trẻ em hiếu động có thể táy máy nghịch khu vực lái khiến người lái không thể kiểm soát các tình huống phát sinh\", vị CSGT này nói.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội ).TS Nguyễn Xuân Thủy, nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Giao thông vận tải cho rằng, việc cho trẻ em ngồi ở ghế trước, nhất là trẻ ngồi cùng ghế lái sẽ ảnh hưởng đến sự tập trung của lái xe khi phải đồng thời quan sát những hành động của trẻ nhỏ, vừa phải kiểm soát các cháu nếu có những hành động quá khích, hiếu động khi đang ngồi trên xe. \"Những điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của người tham gia giao thông. Những thiết bị an toàn trên xe như dây an toàn, túi khí… được thiết kế dành cho người có chiều cao phù hợp, nếu trẻ em còn nhỏ sẽ không thể phát huy hiệu quả, thậm chí gây nguy hiểm cao hơn\", ông Thuỷ nói.Đề xuất cấm trẻ dưới 10 tuổi không được ngồi ghế trước ô tôTại điều 9 dự thảo quy định về quy tắc chung của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Bộ Công an đề xuất cấm trẻ em dưới 10 tuổi hoặc chiều cao dưới 1,35 m ngồi ở hàng ghế trước của ô tô con, đồng thời trẻ em dưới 4 tuổi phải được chở bằng ghế thiết kế dành cho trẻ em (trừ ô tô kinh doanh vận tải hành khách).Nội dung này hoàn toàn mới so với Luật Giao thông đường bộ năm 2008, bởi luật hiện hành chưa có quy định bắt buộc về độ tuổi, chiều cao cũng như vị trí ngồi của trẻ em trên ô tô.Theo các chuyên gia, việc cấm trẻ em dưới 10 tuổi hoặc chiều cao dưới 1,35m ngồi ở hàng ghế trước của ô tô con, trẻ em dưới 4 tuổi phải được chở bằng ghế thiết kế riêng là đảm bảo an toàn cho trẻ.Bởi khi xe xảy ra sự cố, túi khí bung ra có thể gây thương tích cho trẻ nếu ngồi ở ghế phụ phía trên. Mặt khác, theo nhiều nghiên cứu thì hàng ghế sau mới là hàng ghế an toàn nhất.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 601,
"text": "Pháp luật về giao thông đường bộ hiện hành chưa có quy định cụ thể về việc trẻ em ngồi ghế phụ phía trước hay thậm chí là ngồi cùng ghế lái.Tại khoản 2, điều 9, Luật Giao thông đường bộ 2008 chỉ quy định xe ô tô có trang bị dây an toàn thì người lái xe và người ngồi hàng ghế phía trước trong ô tô phải thắt dây an toàn. Theo đó, trẻ em có thể ngồi hàng ghế phụ phía trước và phải thắt dây an toàn. \"Vì vậy, việc cho trẻ ngồi ghế phụ phía trước hoặc cùng ngồi ghế lái hiện không được tính là hành vi vi phạm và chưa có chế tài xử phạt cho hành vi này\", ông Lực cho hay.Hành vi nguy hiểm Tuy nhiên, ở góc độ cá nhân, luật sư Lực nhìn nhận, hành vi cho trẻ em ngồi ghế phụ, đặc biệt là cho trẻ em ngồi chung ghế lái là rất nguy hiểm khi tham gia giao thông. Bởi trẻ nhỏ chưa hoàn thiện khả năng suy nghĩ và kiểm soát hành vi. Hơn nữa, trẻ em thường có tính hiếu động, tò mò. Vì vậy, nếu ngồi ở hàng ghế trước, nhất là ngồi chung ghế lái sẽ rất dễ gây phiền phức, rối loạn và mất tập trung cho người lái, dễ dẫn đến tai nạn trên đường.Một cán bộ CSGT Công an TP Hà Nội cũng chia sẻ, để đảm bảo an toàn cho trẻ, cho chính người điều khiển cũng như người xung quanh đang tham gia thao thông, không nên để trẻ em ngồi ghế phụ phía trước và ngồi chung ghế lái.\"Trong trường hợp xảy ra va chạm, túi khí trong xe ô tô có thể bung ra làm tổn hại đến trẻ. Bên cạnh đó, dây đai an toàn vừa vặn với người lớn nhưng khá rộng và không thể chỉnh phù hợp cho trẻ khiến chúng dễ bị lọt ra ngoài, thậm chí bị lao về phía trước nếu có tai nạn xảy ra. Hơn nữa, người điều khiển sẽ mất tập trung và bị cản trở khi có trẻ ngồi cùng ghế lái. Trẻ em hiếu động có thể táy máy nghịch khu vực lái khiến người lái không thể kiểm soát các tình huống phát sinh\", vị CSGT này nói.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội ).TS Nguyễn Xuân Thủy, nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Giao thông vận tải cho rằng, việc cho trẻ em ngồi ở ghế trước, nhất là trẻ ngồi cùng ghế lái sẽ ảnh hưởng đến sự tập trung của lái xe khi phải đồng thời quan sát những hành động của trẻ nhỏ, vừa phải kiểm soát các cháu nếu có những hành động quá khích, hiếu động khi đang ngồi trên xe. \"Những điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của người tham gia giao thông. Những thiết bị an toàn trên xe như dây an toàn, túi khí… được thiết kế dành cho người có chiều cao phù hợp, nếu trẻ em còn nhỏ sẽ không thể phát huy hiệu quả, thậm chí gây nguy hiểm cao hơn\", ông Thuỷ nói.Đề xuất cấm trẻ dưới 10 tuổi không được ngồi ghế trước ô tôTại điều 9 dự thảo quy định về quy tắc chung của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Bộ Công an đề xuất cấm trẻ em dưới 10 tuổi hoặc chiều cao dưới 1,35 m ngồi ở hàng ghế trước của ô tô con, đồng thời trẻ em dưới 4 tuổi phải được chở bằng ghế thiết kế dành cho trẻ em (trừ ô tô kinh doanh vận tải hành khách).Nội dung này hoàn toàn mới so với Luật Giao thông đường bộ năm 2008, bởi luật hiện hành chưa có quy định bắt buộc về độ tuổi, chiều cao cũng như vị trí ngồi của trẻ em trên ô tô.Theo các chuyên gia, việc cấm trẻ em dưới 10 tuổi hoặc chiều cao dưới 1,35m ngồi ở hàng ghế trước của ô tô con, trẻ em dưới 4 tuổi phải được chở bằng ghế thiết kế riêng là đảm bảo an toàn cho trẻ.Bởi khi xe xảy ra sự cố, túi khí bung ra có thể gây thương tích cho trẻ nếu ngồi ở ghế phụ phía trên. Mặt khác, theo nhiều nghiên cứu thì hàng ghế sau mới là hàng ghế an toàn nhất."
}
],
"id": "662",
"is_impossible": false,
"question": "Cho trẻ em ngồi chung ghế lái, tài xế có bị phạt?"
}
]
}
],
"title": "Cho trẻ em ngồi chung ghế lái, tài xế có bị phạt?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Đỗ xe là trạng thái đứng yên của phương tiện giao thông không giới hạn thời gian. Tài xế khi đỗ xe được tắt máy, rời khỏi vị trí lái.Còn dừng xe là trạng thái đứng yên tạm thời của phương tiện giao thông trong một khoảng thời gian cần thiết đủ để cho người lên, xuống phương tiện, xếp dỡ hàng hóa hoặc thực hiện công việc khác. Khi dừng xe, tài xế không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí lái.Nghị định 100/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt đã quy định mức xử phạt về vi phạm dừng xe, đỗ xe.Theo đó, tài xế sẽ bị phạt từ 400 - 600 nghìn đồng nếu vi phạm một trong các lỗi: Dừng xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 m; Dừng xe trên đường xe điện, đường dành riêng cho xe buýt; Dừng xe trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước; Rời vị trí lái, tắt máy khi dừng xe; Dừng xe, đỗ xe không đúng vị trí quy định ở những đoạn có bố trí nơi dừng xe, đỗ xe; Dừng xe, đỗ xe trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường; Dừng xe nơi có biển \"Cấm dừng xe và đỗ xe\".Bộ luật Hình sự quy định, trong trường hợp tắt máy và rời vị trí lái khi dừng xe sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng.Theo đó, phạt tiền từ 30 - 100 triệu đồng và phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 - 5 năm với hành vi tắt máy và rời vị trí lái khi dừng xe mà gây ra làm chết người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 1 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61 - 121%; Gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.Với hành vi tắt máy và rời vị trí lái khi dừng xe sẽ bị phạt tù từ 3 - 10 năm, nếu gây ra các hậu quả như làm chết 2 người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122 - 200%; Gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng.Hành vi tắt máy và rời vị trí lái khi dừng xe sẽ bị phạt tù từ 7 - 15 năm, nếu gây ra một trong những hậu quả như làm chết 3 người trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 3 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; Gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 645,
"text": "Dừng xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 m; Dừng xe trên đường xe điện, đường dành riêng cho xe buýt; Dừng xe trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước; Rời vị trí lái, tắt máy khi dừng xe; Dừng xe, đỗ xe không đúng vị trí quy định ở những đoạn có bố trí nơi dừng xe, đỗ xe; Dừng xe, đỗ xe trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường; Dừng xe nơi có biển \"Cấm dừng xe và đỗ xe\".Bộ luật Hình sự quy định, trong trường hợp tắt máy và rời vị trí lái khi dừng xe sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng.Theo đó, phạt tiền từ 30 - 100 triệu đồng và phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 - 5 năm với hành vi tắt máy và rời vị trí lái khi dừng xe mà gây ra làm chết người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 1 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61 - 121%; Gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.Với hành vi tắt máy và rời vị trí lái khi dừng xe sẽ bị phạt tù từ 3 - 10 năm, nếu gây ra các hậu quả như làm chết 2 người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122 - 200%; Gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng.Hành vi tắt máy và rời vị trí lái khi dừng xe sẽ bị phạt tù từ 7 - 15 năm, nếu gây ra một trong những hậu quả như làm chết 3 người trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 3 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; Gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên."
}
],
"id": "663",
"is_impossible": false,
"question": "Thế nào là dừng xe, đỗ xe?"
}
]
}
],
"title": "Thế nào là dừng xe, đỗ xe?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Việc xét chuyển chức danh nghề nghiệp được thực hiện khi viên chức thay đổi vị trí việc làm mà chức danh nghề nghiệp đang giữ không phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm mới. Thủ tục xét chuyển chức danh nghề nghiệp được thực hiện theo quy định của Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn thi hành. Ông Trần Ngọc Tứ (Lai Châu) công tác tại Ban quản lý công trình dự án phát triển kinh tế - xã hội huyện, trình độ chuyên môn: Kỹ sư công nghệ kỹ thuật điện - điện tử; chức danh nghề nghiệp hiện tại Kỹ thuật viên hạng IV; mã số V.05.02.08, bậc 8, hệ số lương 3,26; đã có chứng chỉ hành nghề quản lý dự án; nhiệm vụ chuyên môn: Thực hiện quản lý, giám sát các dự án do UBND huyện quyết định đầu tư. Thời gian giữ chức danh trên từ ngày 11/11/2021 đến nay. Theo nội dung Thông tư số 10/2023/TT-BXD ngày 20/10/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý và chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực xây dựng, tại Điều 4 Danh mục vị trí việc làm có vị trí Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạng III. Ông Tứ hỏi, ông có thể đề nghị chuyển từ vị trí việc làm chức danh Kỹ thuật viên hạng IV sang vị trí việc làm chức danh Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạng III được không? Nếu được thì thủ tục thực hiện như thế nào? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điều 30 Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức, việc xét chuyển chức danh nghề nghiệp được thực hiện khi viên chức thay đổi vị trí việc làm mà chức danh nghề nghiệp đang giữ không phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm mới. Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định việc xét chuyển chức danh nghề nghiệp theo thẩm quyền phân cấp. Trường hợp ông Trần Ngọc Tứ đề nghị chuyển từ vị trí việc làm chức danh Kỹ thuật viên hạng IV sang vị trí việc làm chức danh Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạng III thì phải đáp ứng các tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, khung năng lực vị trí việc làm theo quy định tại Phụ lục 2 Thông tư số 10/2023/TT-BXD ngày 20/10/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn về vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý và chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực xây dựng. Thủ tục xét chuyển chức danh nghề nghiệp được thực hiện theo quy định của Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn thi hành.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 440,
"text": "Kỹ sư công nghệ kỹ thuật điện - điện tử; chức danh nghề nghiệp hiện tại Kỹ thuật viên hạng IV; mã số V.05.02.08, bậc 8, hệ số lương 3,26; đã có chứng chỉ hành nghề quản lý dự án; nhiệm vụ chuyên môn: Thực hiện quản lý, giám sát các dự án do UBND huyện quyết định đầu tư. Thời gian giữ chức danh trên từ ngày 11/11/2021 đến nay. Theo nội dung Thông tư số 10/2023/TT-BXD ngày 20/10/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý và chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực xây dựng, tại Điều 4 Danh mục vị trí việc làm có vị trí Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạng III. Ông Tứ hỏi, ông có thể đề nghị chuyển từ vị trí việc làm chức danh Kỹ thuật viên hạng IV sang vị trí việc làm chức danh Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạng III được không? Nếu được thì thủ tục thực hiện như thế nào? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Điều 30 Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức, việc xét chuyển chức danh nghề nghiệp được thực hiện khi viên chức thay đổi vị trí việc làm mà chức danh nghề nghiệp đang giữ không phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm mới. Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định việc xét chuyển chức danh nghề nghiệp theo thẩm quyền phân cấp. Trường hợp ông Trần Ngọc Tứ đề nghị chuyển từ vị trí việc làm chức danh Kỹ thuật viên hạng IV sang vị trí việc làm chức danh Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạng III thì phải đáp ứng các tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, khung năng lực vị trí việc làm theo quy định tại Phụ lục 2 Thông tư số 10/2023/TT-BXD ngày 20/10/2023 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn về vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý và chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực xây dựng. Thủ tục xét chuyển chức danh nghề nghiệp được thực hiện theo quy định của Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn thi hành."
}
],
"id": "664",
"is_impossible": false,
"question": "Điều kiện chuyển chức danh nghề nghiệp ngành Xây dựng"
}
]
}
],
"title": "Điều kiện chuyển chức danh nghề nghiệp ngành Xây dựng"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Cơ quan ông Nguyễn Anh Phong (Sơn La) đang trình Sở chuyên ngành thẩm định kế hoạch lựa chọn nhà thầu dự án, trong đó có đề nghị áp dụng hình thức chào hàng cạnh tranh cho gói thầu xây lắp công trình đơn giản. Ảnh minh họa. Tuy nhiên, tại thời điểm trình phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu thì giá gói thầu được xác định theo dự toán ở bước thiết kế cơ sở (chưa có bản vẽ thi công được duyệt). Ông Phong hỏi, trường hợp này gói thầu xây lắp có phải đợi sau khi phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công và dự toán rồi mới trình thẩm định phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Khoản 3, 4 Điều 24 Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15 ngày 23/6/2023 quy định về việc chào hàng cạnh tranh được áp dụng đối với gói thầu có giá gói thầu không quá 5 tỷ đồng trong các trường hợp: \"3. Gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã có thiết kế bản vẽ thi công được phê duyệt; 4. Gói thầu hỗn hợp cung cấp hàng hóa và xây lắp, trong đó nội dung xây lắp đáp ứng quy định tại Khoản 3 Điều này\". Kế hoạch lựa chọn nhà thầu quy định tại Chương III Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15. Đề nghị ông nghiên cứu các quy định tại Khoản 3, 4 Điều 24 Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15, quy định về kế hoạch lựa chọn nhà thầu tại Chương III Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15 và các quy định pháp luật khác có liên quan để thực hiện cho phù hợp.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 634,
"text": "Khoản 3, 4 Điều 24 Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15 ngày 23/6/2023 quy định về việc chào hàng cạnh tranh được áp dụng đối với gói thầu có giá gói thầu không quá 5 tỷ đồng trong các trường hợp: \"3. Gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã có thiết kế bản vẽ thi công được phê duyệt; 4. Gói thầu hỗn hợp cung cấp hàng hóa và xây lắp, trong đó nội dung xây lắp đáp ứng quy định tại Khoản 3 Điều này\". Kế hoạch lựa chọn nhà thầu quy định tại Chương III Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15. Đề nghị ông nghiên cứu các quy định tại Khoản 3, 4 Điều 24 Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15, quy định về kế hoạch lựa chọn nhà thầu tại Chương III Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15 và các quy định pháp luật khác có liên quan để thực hiện cho phù hợp."
}
],
"id": "665",
"is_impossible": false,
"question": "Điều kiện áp dụng chào hàng cạnh tranh cho gói thầu xây lắp"
}
]
}
],
"title": "Điều kiện áp dụng chào hàng cạnh tranh cho gói thầu xây lắp"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - UBND cấp tỉnh phân cấp, ủy quyền cho Sở Xây dựng, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, UBND cấp huyện cấp giấy phép xây dựng thuộc chức năng và phạm vi quản lý. Ảnh minh họa. Liên quan đến thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng đối với công trình cấp III, cấp IV trong Khu công nghiệp, Bộ Xây dựng cho biết, theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 103 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 37 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 thì “2. UBND cấp tỉnh cấp giấy phép xây dựng đối với công trình thuộc đối tượng có yêu cầu phải cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn tỉnh, trừ công trình quy định tại khoản 3 Điều này. UBND tỉnh phân cấp, ủy quyền cho Sở Xây dựng, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, UBND cấp huyện cấp giấy phép xây dựng thuộc chức năng và phạm vi quản lý của cơ quan này” và “3. UBND cấp huyện cấp giấy phép xây dựng đối với công trình cấp III, cấp IV và nhà ở riêng lẻ trên địa bàn do mình quản lý”. Về trách nhiệm quản lý Nhà nước của UBND cấp tỉnh, cấp huyện, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 164 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 64 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 thì UBND cấp tỉnh có trách nhiệm: “Thực hiện quản lý Nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng theo phân cấp của Chính phủ; quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn theo quy hoạch, thiết kế xây dựng và giấy phép xây dựng theo quy định của Chính phủ; ban hành văn bản theo thẩm quyền; chỉ đạo tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng, kế hoạch đầu tư xây dựng; được phân cấp, ủy quyền cho UBND cấp huyện, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ, đồ án quy hoạch phân khu xây dựng, quy hoạch chi tiết xây dựng khu chức năng; tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động đầu tư xây dựng”. Tại điểm a khoản 2 Điều 164 Luật Xây dựng năm 2014 thì UBND cấp huyện có trách nhiệm: “Thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn theo phân cấp; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đầu tư xây dựng cho cán bộ, công chức của các cơ quan, đơn vị trực thuộc”. Bên cạnh đó, tại điểm a, điểm b khoản 3 Điều 52 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế thì UBND cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phân công có trách nhiệm: “a) Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực và hành chính lãnh thổ đối với khu công nghiệp, khu kinh tế; b) Hướng dẫn, quy định, thực hiện việc phân cấp, ủy quyền cho Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế thực hiện một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước thuộc thẩm quyền của mình và của cơ quan chuyên môn quản lý Nhà nước theo ngành, lĩnh vực đầu tư, doanh nghiệp, xây dựng, lao động, công nghiệp, thương mại, tài nguyên và môi trường, khoa học và công nghệ, du lịch và ngành, lĩnh vực khác được quy định tại Nghị định này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Quy định tại khoản này được thực hiện trên cơ sở yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1239,
"text": "“Thực hiện quản lý Nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng theo phân cấp của Chính phủ; quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn theo quy hoạch, thiết kế xây dựng và giấy phép xây dựng theo quy định của Chính phủ; ban hành văn bản theo thẩm quyền; chỉ đạo tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng, kế hoạch đầu tư xây dựng; được phân cấp, ủy quyền cho UBND cấp huyện, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ, đồ án quy hoạch phân khu xây dựng, quy hoạch chi tiết xây dựng khu chức năng; tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động đầu tư xây dựng”. Tại điểm a khoản 2 Điều 164 Luật Xây dựng năm 2014 thì UBND cấp huyện có trách nhiệm: “Thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn theo phân cấp; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đầu tư xây dựng cho cán bộ, công chức của các cơ quan, đơn vị trực thuộc”. Bên cạnh đó, tại điểm a, điểm b khoản 3 Điều 52 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế thì UBND cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phân công có trách nhiệm: “a) Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực và hành chính lãnh thổ đối với khu công nghiệp, khu kinh tế; b) Hướng dẫn, quy định, thực hiện việc phân cấp, ủy quyền cho Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế thực hiện một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước thuộc thẩm quyền của mình và của cơ quan chuyên môn quản lý Nhà nước theo ngành, lĩnh vực đầu tư, doanh nghiệp, xây dựng, lao động, công nghiệp, thương mại, tài nguyên và môi trường, khoa học và công nghệ, du lịch và ngành, lĩnh vực khác được quy định tại Nghị định này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Quy định tại khoản này được thực hiện trên cơ sở yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”."
}
],
"id": "666",
"is_impossible": false,
"question": "Thẩm quyền cấp phép xây dựng trong khu công nghiệp"
}
]
}
],
"title": "Thẩm quyền cấp phép xây dựng trong khu công nghiệp"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Liên quan vụ tài xế xe bán tải Lê Tiến Dũng (SN 1987, trú tại Ý Yên, Nam Định) chạy trốn cảnh sát và gây tai nạn liên hoàn, Công an Hà Nội đang điều tra dấu hiệu chống người thi hành công vụ và gây rối trật tự công cộng đối với người này.Trước đó, Dũng bị người dân chặn lại, đập vỡ kính xe bán tải khi tài xế lên đường Vành đai 3. Ngay sau đó, lực lượng công an đến hiện trường, phối hợp người dân bắt giữ đối tượng đưa về trụ sở làm việc.Theo dõi vụ việc, luật sư Đặng Văn Cường (Đoàn Luật sư Hà Nội) cho rằng, hành động chặn xe như trên của một số người đi đường để ngăn chặn hành vi của tài xế Dũng là cần thiết và hợp pháp.Cảnh người dân chặn xe bán tải.Nêu lý do, ông Cường cho biết trước khi bị người dân giữ lại, nam tài xế đã có hành vi vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông. Quá trình bị Công an phường Trương Định kiểm tra, anh ta tiếp tục có dấu hiệu chống người thi hành công vụ và gây rối trật tự công cộng.Chân dung tài xế xe bán tải tông ô tô cảnh sát rồi bỏ chạy gây tai nạn liên tiếpPhẫn nộ cảnh tài xế dương tính ma túy, tông ô tô cảnh sát rồi bỏ chạy, gây tai nạnChưa dừng lại ở đó, khi trốn chạy cảnh sát, người này còn gây ra nhiều vụ tai nạn giao thông khiến ba xe máy và một xe tải khác bị thiệt hại.\"Đó là dấu hiệu vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và cố ý làm hư hỏng tài sản\", luật sư Đặng Văn Cường nêu quan điểm.Chuyên gia nhấn mạnh, người dân chặn giữ tài xế đang trên đường bỏ chạy sau khi gây ra nhiều hành vi là cần thiết. Mục đích để ngăn chặn hậu quả các tai nạn giao thông có thể xảy ra tiếp theo, bảo vệ tính mạng sức khỏe và tài sản của những người tham gia giao thông.Bên cạnh đó, luật sư cho rằng sau khi được công an đưa về trụ sở, Lê Tiến Dũng còn bị xác định dương tính với chất ma túy. Điều này rất nguy hiểm bởi tài xế có thể mất kiểm soát về hành vi do ma túy gây ra.Tài xế Dũng không vi phạm nồng độ cồn, nhưng dương tính với ma túy.Hơn nữa, ông Cường nhìn nhận một tài xế dương tính với chất ma túy mà điều khiển ô tô (là nguồn nguy hiểm cao độ theo luật định), thì rất dễ dẫn đến mất khả năng kiểm soát hoặc dễ bị kích động. Lúc đó, mức độ nguy hiểm của hành vi sẽ tăng gấp bội, chiếc xe bán tải có thể trở thành \"xe điên\".Do đó, theo luật sư, người dân đập phá kính, đưa tài xế xe bán tải ra rời xa vô lăng để cơ quan chức năng bắt giữ là trường hợp bắt người phạm tội quả tang. Đây có thể coi là phòng vệ chính đáng hoặc là tình thế cấp thiết, không phải tội phạm. \"Điều 24 Bộ luật Hình sự cho phép công dân được quyền giữ những đối tượng như thế này để ngăn chặn hậu quả tiếp theo, quá trình bắt giữ có thể gây ra thiệt hại hoặc thương tích nhưng vẫn được loại trừ trách nhiệm hình sự\", luật sư phân tích.Ngoài ra, theo Điều 23 Bộ luật Hình sự, hành vi của một số người dùng mũ bảo hiểm đập vỡ kính chắn gió xe bán tải để bắt giữ tài xế bán tải là cần thiết, được pháp luật cho phép. Vì vậy, họ không bị xử lý và sẽ không phải bồi thường thiệt hại.Clip: Tài xế xe bán tải chạy trốn cảnh sát, gây tai nạn liên hoàn.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 2931,
"text": "Tài xế xe bán tải chạy trốn cảnh sát, gây tai nạn liên hoàn."
}
],
"id": "667",
"is_impossible": false,
"question": "Người dân có được đập kính, khống chế tài xế gây tai nạn bỏ chạy?"
}
]
}
],
"title": "Người dân có được đập kính, khống chế tài xế gây tai nạn bỏ chạy?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Kể từ thời điểm Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 có hiệu lực thi hành, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội có đề xuất điều chỉnh mục tiêu dự án thuộc trường hợp phải điều chỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư thì thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư. Việc xem xét, quyết định điều chỉnh mục tiêu dự án được thực hiện khi xem xét điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, đầu tư công và pháp luật khác có liên quan (ảnh minh họa). Liên quan đến căn cứ để đề xuất điều chỉnh mục tiêu dự án nhà ở xã hội và yêu cầu về lựa chọn nhà đầu tư theo quy định của pháp luật về nhà ở, Bộ Xây dựng cho biết, tại khoản 2 Điều 32 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội quy định: Các dự án nhà ở xã hội đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì không phải thực hiện phê duyệt lại, trừ trường hợp chủ đầu tư đề nghị được điều chỉnh lại nội dung dự án. Đồng thời, tại điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở quy định: Đối với trường hợp quy định tại các Khoản 4, 5 và 6 Điều 9 của Nghị định này thì nội dung văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư, bao gồm: Tên dự án bằng tiếng Việt; Tên chủ đầu tư (nếu đã lựa chọn chủ đầu tư); Địa điểm, ranh giới, quy mô diện tích đất của dự án; Mục tiêu của dự án; Hình thức đầu tư… Mặt khác, khoản 4 Điều 80 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định: Trường hợp dự án xây dựng nhà ở đã được phê duyệt trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà thuộc diện phải điều chỉnh lại nội dung dự án theo quy định tại Khoản 1 Điều 182 của Luật Nhà ở thì chủ đầu tư phải điều chỉnh lại nội dung dự án. Trường hợp nội dung điều chỉnh phải được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận hoặc quyết định chủ trương đầu tư thì chủ đầu tư phải có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh lại quyết định hoặc văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Nghị định này trước khi phê duyệt điều chỉnh bổ sung dự án và triển khai thực hiện. Ngoài ra, khoản 1 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội có quy định: “Việc chấp thuận chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội thực hiện theo quy định của pháp luật đầu tư”. Đáng chú ý, tại khoản 7 Điều 5 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/6/2023) có quy định: “Điều 5. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 30/2019/NĐ-CP ngày 28 tháng 3 năm 2019, Nghị định số 30/2021/NĐ-CP ngày 30/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ 7. Bổ sung điểm m khoản 1 Điều 85 như sau: “1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có các quyền hạn và trách nhiệm sau đây: m) Xem xét, quyết định điều chỉnh mục tiêu dự án đầu tư xây dựng nhà ở đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; việc xem xét, quyết định điều chỉnh mục tiêu dự án được thực hiện khi xem xét điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, đầu tư công và pháp luật khác có liên quan (nếu có). Đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì phải báo cáo các cơ quan này để xem xét, điều chỉnh mục tiêu dự án đầu tư xây dựng nhà ở khi xem xét điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, đầu tư công và pháp luật khác có liên quan (nếu có)”. Theo quy định của pháp luật về nhà ở: Tại thời điểm Nghị định số 100/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, đối với các dự án nhà ở xã hội đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì không phải thực hiện phê duyệt lại, trừ trường hợp chủ đầu tư đề nghị được điều chỉnh lại nội dung dự án. Kể từ ngày 01/4/2021 (thời điểm Nghị định số 49/2021/NĐ-CP có hiệu lực thi hành), đối với việc chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội có đề xuất điều chỉnh mục tiêu dự án thuộc trường hợp phải điều chỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư thì thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư. Kể từ ngày 20/6/2023 (thời điểm Nghị định số 35/2023/NĐ-CP có hiệu lực thi hành) thì UBND cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, quyết định điều chỉnh mục tiêu dự án đầu tư xây dựng nhà ở đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Việc xem xét, quyết định điều chỉnh mục tiêu dự án được thực hiện khi xem xét điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, đầu tư công và pháp luật khác có liên quan (nếu có).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 787,
"text": "Các dự án nhà ở xã hội đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì không phải thực hiện phê duyệt lại, trừ trường hợp chủ đầu tư đề nghị được điều chỉnh lại nội dung dự án. Đồng thời, tại điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở quy định: Đối với trường hợp quy định tại các Khoản 4, 5 và 6 Điều 9 của Nghị định này thì nội dung văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư, bao gồm: Tên dự án bằng tiếng Việt; Tên chủ đầu tư (nếu đã lựa chọn chủ đầu tư); Địa điểm, ranh giới, quy mô diện tích đất của dự án; Mục tiêu của dự án; Hình thức đầu tư… Mặt khác, khoản 4 Điều 80 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định: Trường hợp dự án xây dựng nhà ở đã được phê duyệt trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà thuộc diện phải điều chỉnh lại nội dung dự án theo quy định tại Khoản 1 Điều 182 của Luật Nhà ở thì chủ đầu tư phải điều chỉnh lại nội dung dự án. Trường hợp nội dung điều chỉnh phải được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận hoặc quyết định chủ trương đầu tư thì chủ đầu tư phải có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh lại quyết định hoặc văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Nghị định này trước khi phê duyệt điều chỉnh bổ sung dự án và triển khai thực hiện. Ngoài ra, khoản 1 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội có quy định: “Việc chấp thuận chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội thực hiện theo quy định của pháp luật đầu tư”. Đáng chú ý, tại khoản 7 Điều 5 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/6/2023) có quy định: “Điều 5. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 30/2019/NĐ-CP ngày 28 tháng 3 năm 2019, Nghị định số 30/2021/NĐ-CP ngày 30/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ 7. Bổ sung điểm m khoản 1 Điều 85 như sau: “1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có các quyền hạn và trách nhiệm sau đây: m) Xem xét, quyết định điều chỉnh mục tiêu dự án đầu tư xây dựng nhà ở đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; việc xem xét, quyết định điều chỉnh mục tiêu dự án được thực hiện khi xem xét điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, đầu tư công và pháp luật khác có liên quan (nếu có). Đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì phải báo cáo các cơ quan này để xem xét, điều chỉnh mục tiêu dự án đầu tư xây dựng nhà ở khi xem xét điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, đầu tư công và pháp luật khác có liên quan (nếu có)”. Theo quy định của pháp luật về nhà ở: Tại thời điểm Nghị định số 100/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, đối với các dự án nhà ở xã hội đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì không phải thực hiện phê duyệt lại, trừ trường hợp chủ đầu tư đề nghị được điều chỉnh lại nội dung dự án. Kể từ ngày 01/4/2021 (thời điểm Nghị định số 49/2021/NĐ-CP có hiệu lực thi hành), đối với việc chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội có đề xuất điều chỉnh mục tiêu dự án thuộc trường hợp phải điều chỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư thì thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư. Kể từ ngày 20/6/2023 (thời điểm Nghị định số 35/2023/NĐ-CP có hiệu lực thi hành) thì UBND cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, quyết định điều chỉnh mục tiêu dự án đầu tư xây dựng nhà ở đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Việc xem xét, quyết định điều chỉnh mục tiêu dự án được thực hiện khi xem xét điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, đầu tư công và pháp luật khác có liên quan (nếu có)."
}
],
"id": "668",
"is_impossible": false,
"question": "Điều chỉnh mục tiêu dự án nhà ở xã hội được thực hiện như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Điều chỉnh mục tiêu dự án nhà ở xã hội được thực hiện như thế nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) – Pháp luật về nhà ở không có quy định về thời gian tổ chức hội nghị nhà chung cư thường niên là đầu năm, giữa năm hay cuối năm mà chỉ quy định điều kiện tổ chức hội nghị nhà chung cư. Tổ chức hội nghị nhà chung cư thường niên vào thời gian nào? (Ảnh minh họa). Ông Nguyễn Đình Chiến (Hà Nội) hỏi, tháng 8/2023 ban quản trị nhà chung cư tổ chức hội nghị nhà chung cư thường niên năm 2023, nội dung hội nghị không đúng với quy định tại Điểm a, b và c Khoản 1 Điều 15 Thông tư số 02/2016/TT-BXD thì có được công nhận là hội nghị nhà chung cư thường niên năm 2023 hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Tại Khoản 1 Điều 15 Quy chế Quản lý, sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Thông tư số 02/2016/TT-BXD ngày 15/2/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã quy định hội nghị nhà chung cư thường niên được tổ chức mỗi năm một lần khi: (1) có tối thiểu 30% đại diện chủ sở hữu căn hộ đã nhận bàn giao tham dự hoặc (2) có số lượng ít hơn do các chủ sở hữu nhà chung cư thống nhất. Như vậy, pháp luật về nhà ở không có quy định về thời gian tổ chức hội nghị nhà chung cư thường niên là đầu năm, giữa năm hay cuối năm mà chỉ quy định điều kiện tổ chức hội nghị nhà chung cư. Các nội dung của hội nghị nhà chung cư thường niên được quy định tại Khoản 1 Điều 15 của Quy chế Quản lý, sử dụng nhà chung cư. Do vậy, đề nghị ông đối chiếu trường hợp ông nêu với các quy định của pháp luật nêu trên để thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị ông liên hệ với Sở Xây dựng Thành phố Hà Nội là cơ quan quản lý Nhà nước về nhà ở trên địa bàn để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 623,
"text": "Tại Khoản 1 Điều 15 Quy chế Quản lý, sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Thông tư số 02/2016/TT-BXD ngày 15/2/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã quy định hội nghị nhà chung cư thường niên được tổ chức mỗi năm một lần khi: (1) có tối thiểu 30% đại diện chủ sở hữu căn hộ đã nhận bàn giao tham dự hoặc (2) có số lượng ít hơn do các chủ sở hữu nhà chung cư thống nhất. Như vậy, pháp luật về nhà ở không có quy định về thời gian tổ chức hội nghị nhà chung cư thường niên là đầu năm, giữa năm hay cuối năm mà chỉ quy định điều kiện tổ chức hội nghị nhà chung cư. Các nội dung của hội nghị nhà chung cư thường niên được quy định tại Khoản 1 Điều 15 của Quy chế Quản lý, sử dụng nhà chung cư. Do vậy, đề nghị ông đối chiếu trường hợp ông nêu với các quy định của pháp luật nêu trên để thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị ông liên hệ với Sở Xây dựng Thành phố Hà Nội là cơ quan quản lý Nhà nước về nhà ở trên địa bàn để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền."
}
],
"id": "669",
"is_impossible": false,
"question": "Tổ chức hội nghị nhà chung cư thường niên vào thời gian nào?"
}
]
}
],
"title": "Tổ chức hội nghị nhà chung cư thường niên vào thời gian nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) – Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, chỉ dẫn kỹ thuật đối với vật liệu xây không nung đến nay đã được ban hành đồng bộ, đủ căn cứ làm cơ sở cho các Bộ, ngành và địa phương triển khai thực hiện, thúc đẩy và phát triển vật liệu xây không nung. Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, chỉ dẫn kỹ thuật đối với vật liệu xây không nung đến nay đã được ban hành đồng bộ. Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đề nghị hướng dẫn việc sử dụng gạch không nung, gạch nung tại các dự án do BIDV triển khai. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng trả lời như sau: Việc phát triển đầu tư sản xuất và sử dụng vật liệu xây không nung (VLXKN), hạn chế sản xuất và sử dụng gạch đất sét nung trong các công trình xây dựng là chủ trương của Chính phủ đã được cụ thể hoá tại các Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 phê duyệt Chương trình phát triển VLXKN tại Việt Nam đến năm 2020 và Quyết định số 2171/QĐ-TTg ngày 23/12/2021 phê duyệt Chương trình phát triển VLXKN tại Việt Nam đến năm 2030; Chỉ thị 10/CT-TTg ngày 16/4/2012, về việc tăng cường sử dụng VLXKN và hạn chế sản xuất, sử dụng gạch đất sét nung. Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 09/2012/TT-BXD ngày 28/11/2012 và Thông tư số 13/2017/TT- BXD ngày 08/12/2017 quy định sử dụng VLXKN trong các công trình xây dựng. Về hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, chỉ dẫn kỹ thuật đối với sản phẩm VLXKN, Bộ Xây dựng đã ban hành hoặc xây dựng, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn sau: QCVN 16:2023/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng, trong đó có các sản phẩm VLXKN: Gạch bê tông; sản phẩm bê tông khí chưng áp; tấm tường (tấm tường rỗng bê tông đúc sẵn theo công nghệ đùn ép; tấm tường nhẹ ba lớp xen kẹp; tấm tường bê tông khí chưng áp cốt thép). TCVN 6477:2016 gạch bê tông. TCVN 7959:2017 bê tông nhẹ - sản phẩm bê tông khí chưng áp – yêu cầu kỹ thuật. TCVN 9029:2017 bê tông nhẹ - sản phẩm bê tông bọt và bê tông khí không chưng áp – yêu cầu kỹ thuật. TCVN 9028:2011 vữa cho bê tông nhẹ. TCVN 11524:2016 tấm tường rỗng bê tông đúc sẵn theo công nghệ đùn ép. TCVN 12302:2018 tấm tường nhẹ ba lớp xen kẹp. TCVN 12867:2020 tấm tường bê tông khí chưng áp có cốt thép - yêu cầu kỹ thuật. Chỉ dẫn kỹ thuật thi công, nghiệm thu tường xây bằng block bê tông khí chưng áp (Quyết định số 947/QĐ-BXD ngày 31/10/2011). Như vậy, hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, chỉ dẫn kỹ thuật đối với VLXKN đến nay đã được ban hành đồng bộ, đủ căn cứ làm cơ sở cho các Bộ, ngành và địa phương triển khai thực hiện, thúc đẩy và phát triển VLXKN. Bộ Xây dựng đề nghị BIDV nghiên cứu các văn bản nêu trên trong quá trình sử dụng VLXKN đồng thời, yêu cầu các nhà thầu tư vấn giám sát, nhà thầu thi công tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng vật liệu xây dựng đầu vào. Đồng thời, tuân thủ chặt chẽ các hướng dẫn về sử dụng, hướng dẫn thi công đối với các sản phẩm VLXKN để khắc phục các tồn tại và đảm bảo chất lượng công trình do BIDV đầu tư.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 587,
"text": "Việc phát triển đầu tư sản xuất và sử dụng vật liệu xây không nung (VLXKN), hạn chế sản xuất và sử dụng gạch đất sét nung trong các công trình xây dựng là chủ trương của Chính phủ đã được cụ thể hoá tại các Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 phê duyệt Chương trình phát triển VLXKN tại Việt Nam đến năm 2020 và Quyết định số 2171/QĐ-TTg ngày 23/12/2021 phê duyệt Chương trình phát triển VLXKN tại Việt Nam đến năm 2030; Chỉ thị 10/CT-TTg ngày 16/4/2012, về việc tăng cường sử dụng VLXKN và hạn chế sản xuất, sử dụng gạch đất sét nung. Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 09/2012/TT-BXD ngày 28/11/2012 và Thông tư số 13/2017/TT- BXD ngày 08/12/2017 quy định sử dụng VLXKN trong các công trình xây dựng. Về hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, chỉ dẫn kỹ thuật đối với sản phẩm VLXKN, Bộ Xây dựng đã ban hành hoặc xây dựng, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn sau: QCVN 16:2023/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng, trong đó có các sản phẩm VLXKN: Gạch bê tông; sản phẩm bê tông khí chưng áp; tấm tường (tấm tường rỗng bê tông đúc sẵn theo công nghệ đùn ép; tấm tường nhẹ ba lớp xen kẹp; tấm tường bê tông khí chưng áp cốt thép). TCVN 6477:2016 gạch bê tông. TCVN 7959:2017 bê tông nhẹ - sản phẩm bê tông khí chưng áp – yêu cầu kỹ thuật. TCVN 9029:2017 bê tông nhẹ - sản phẩm bê tông bọt và bê tông khí không chưng áp – yêu cầu kỹ thuật. TCVN 9028:2011 vữa cho bê tông nhẹ. TCVN 11524:2016 tấm tường rỗng bê tông đúc sẵn theo công nghệ đùn ép. TCVN 12302:2018 tấm tường nhẹ ba lớp xen kẹp. TCVN 12867:2020 tấm tường bê tông khí chưng áp có cốt thép - yêu cầu kỹ thuật. Chỉ dẫn kỹ thuật thi công, nghiệm thu tường xây bằng block bê tông khí chưng áp (Quyết định số 947/QĐ-BXD ngày 31/10/2011). Như vậy, hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, chỉ dẫn kỹ thuật đối với VLXKN đến nay đã được ban hành đồng bộ, đủ căn cứ làm cơ sở cho các Bộ, ngành và địa phương triển khai thực hiện, thúc đẩy và phát triển VLXKN. Bộ Xây dựng đề nghị BIDV nghiên cứu các văn bản nêu trên trong quá trình sử dụng VLXKN đồng thời, yêu cầu các nhà thầu tư vấn giám sát, nhà thầu thi công tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng vật liệu xây dựng đầu vào. Đồng thời, tuân thủ chặt chẽ các hướng dẫn về sử dụng, hướng dẫn thi công đối với các sản phẩm VLXKN để khắc phục các tồn tại và đảm bảo chất lượng công trình do BIDV đầu tư."
}
],
"id": "670",
"is_impossible": false,
"question": "Quy định sử dụng vật liệu xây không nung tại các dự án"
}
]
}
],
"title": "Quy định sử dụng vật liệu xây không nung tại các dự án"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Theo quy định tại Nghị định 100/2019, sau khi vi phạm nồng độ cồn, ngoài bị xử phạt hành chính, tài xế đều có thể bị tạm giữ xe.Về chi phí trông giữ được quy định tại Nghị định 138/2021 có hiệu lực từ 1/1/2022.Theo đó, tổ chức, cá nhân vi phạm khi đến nhận lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ không thuộc trường hợp bị tịch thu phải trả chi phí lưu kho, chi phí bến bãi, chi phí bảo quản tang vật, phương tiện trong thời gian bị tạm giữ.Mức chi phí được thực hiện theo quy định của pháp luật về giá.Như vậy, đối tượng vi phạm bị thu giữ xe do vi phạm nồng độ cồn có trách nhiệm chi trả chi phí lưu kho. Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là 7 ngày, kể từ ngày tạm giữ.Ngoài ra, với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh thì có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 30 ngày.Về mức phí trông giữ xe được quy định tại Thông tư 85/2019 hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.Các khoản lệ phí trông giữ phương tiện có sự khác nhau giữa các tỉnh, thành phố.Tại Hà Nội, giá trông giữ xe vi phạm giao thông được quy định tại Quyết định 44/2017. Mức thu xe máy, xe lam là 8.000 đồng/xe/ngày. Xe đạp, xe đạp điện, xe máy điện, xe xích lô là 5.000 đồng/xe/ngày. Xe ô tô đến 9 ghế ngồi và xe tải từ 2 tấn trở xuống là 70.000 đồng/xe/ngày. Xe từ 10 ghế ngồi trở lên và xe tải trên 2 tấn trở lên là 90.000 đồng/xe/ngày.Giá giữ xe vi phạm giao thông tại TP.HCM được quy định tại Quyết định 35/2018, được chia thành nhóm 1 và nhóm 2.Nhóm 1, mức thu với xe đạp (kể cả xe đạp điện), giá tối đa là 4.000 đồng/xe/lượt/ngày, 6.000 đồng/xe/lượt/đêm và 210.000 đồng/xe/lượt/tháng. Nhóm 2 là 6.000 đồng/xe/lượt/ngày, 9.000 đồng/xe/lượt/đêm và 310.000 đồng/xe/lượt/tháng.Với xe ô tô trên 9 chỗ và xe tải có khối lượng chuyên chở lớn hơn 1,5 tấn, mức tối đa 100.000 đồng/xe/4 giờ/lượt và 5.000.000 đồng/xe/tháng. Riêng xe ô tô đến 9 chỗ và xe tải có khối lượng chuyên chở từ 1,5 tấn trở xuống, giá gửi tại quận 1, quận 3 và quận 5 khác với các quận, huyện còn lại.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo quy định tại Nghị định 100/2019, sau khi vi phạm nồng độ cồn, ngoài bị xử phạt hành chính, tài xế đều có thể bị tạm giữ xe.Về chi phí trông giữ được quy định tại Nghị định 138/2021 có hiệu lực từ 1/1/2022.Theo đó, tổ chức, cá nhân vi phạm khi đến nhận lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ không thuộc trường hợp bị tịch thu phải trả chi phí lưu kho, chi phí bến bãi, chi phí bảo quản tang vật, phương tiện trong thời gian bị tạm giữ.Mức chi phí được thực hiện theo quy định của pháp luật về giá.Như vậy, đối tượng vi phạm bị thu giữ xe do vi phạm nồng độ cồn có trách nhiệm chi trả chi phí lưu kho. Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là 7 ngày, kể từ ngày tạm giữ.Ngoài ra, với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh thì có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 30 ngày.Về mức phí trông giữ xe được quy định tại Thông tư 85/2019 hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.Các khoản lệ phí trông giữ phương tiện có sự khác nhau giữa các tỉnh, thành phố.Tại Hà Nội, giá trông giữ xe vi phạm giao thông được quy định tại Quyết định 44/2017. Mức thu xe máy, xe lam là 8.000 đồng/xe/ngày. Xe đạp, xe đạp điện, xe máy điện, xe xích lô là 5.000 đồng/xe/ngày. Xe ô tô đến 9 ghế ngồi và xe tải từ 2 tấn trở xuống là 70.000 đồng/xe/ngày. Xe từ 10 ghế ngồi trở lên và xe tải trên 2 tấn trở lên là 90.000 đồng/xe/ngày.Giá giữ xe vi phạm giao thông tại TP.HCM được quy định tại Quyết định 35/2018, được chia thành nhóm 1 và nhóm 2.Nhóm 1, mức thu với xe đạp (kể cả xe đạp điện), giá tối đa là 4.000 đồng/xe/lượt/ngày, 6.000 đồng/xe/lượt/đêm và 210.000 đồng/xe/lượt/tháng. Nhóm 2 là 6.000 đồng/xe/lượt/ngày, 9.000 đồng/xe/lượt/đêm và 310.000 đồng/xe/lượt/tháng.Với xe ô tô trên 9 chỗ và xe tải có khối lượng chuyên chở lớn hơn 1,5 tấn, mức tối đa 100.000 đồng/xe/4 giờ/lượt và 5.000.000 đồng/xe/tháng. Riêng xe ô tô đến 9 chỗ và xe tải có khối lượng chuyên chở từ 1,5 tấn trở xuống, giá gửi tại quận 1, quận 3 và quận 5 khác với các quận, huyện còn lại."
}
],
"id": "671",
"is_impossible": false,
"question": "Vi phạm nồng độ cồn bị giữ xe, có phải nộp phí?"
}
]
}
],
"title": "Vi phạm nồng độ cồn bị giữ xe, có phải nộp phí?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Cấp công trình xây dựng phục vụ thiết kế xây dựng công trình được quy định trong tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, cấp công trình phục vụ quản lý các nội dung khác được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Bộ Xây dựng đề nghị Công ty TNHH Xây dựng Thành Công nghiên cứu hồ sơ các công trình, hạng mục công trình cụ thể trên tuyến trong Dự án để xác định cấp và áp dụng trong các hoạt động đầu tư xây dựng có liên quan. Mới đây, Bộ Xây dựng nhận được đề nghị hướng dẫn việc đánh giá cấp các công trình nông thôn mới kiểu mẫu, công tác lập E-HSMT đấu thầu qua mạng của Công ty TNHH Xây dựng Thành Công. Liên quan đến vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết, theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng số 62/2020/QH14, thì “Cấp công trình xây dựng phục vụ quản lý hoạt động đầu tư xây dựng quy định tại Luật này được xác định căn cứ vào quy mô, mức độ quan trọng, thông số kỹ thuật của công trình, bao gồm cấp đặc biệt, cấp I, cấp II, cấp III và cấp IV”, \"Cấp công trình xây dựng phục vụ thiết kế xây dựng công trình được quy định trong tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, cấp công trình phục vụ quản lý các nội dung khác được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Về nguyên tắc áp dụng cấp công trình trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng: Theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 3 Thông tư số 06/2021/TT-BXD ngày 30/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định về phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng thì “Trường hợp phạm vi thực hiện cho một công trình, một số công trình hoặc toàn bộ các công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình theo tuyến thì áp dụng cấp công trình xác định theo khoản 2 Điều 2 Thông tư này đối với từng công trình thuộc tuyến”. Theo đó, cấp công trình của một công trình độc lập là cấp cao nhất được xác định theo Phụ lục I và Phụ lục II Thông tư này, trường hợp công trình độc lập không được quy định trong Phụ lục I Thông tư này thì cấp công trình được xác định tại Phụ lục II Thông tư này và ngược lại. Đối với các nội dung phản ánh của Công ty TNHH Xây dựng Thành Công tại Văn bản số 11.12/TC-CV liên quan đến việc xác định cấp các công trình giao thông nông thôn, Bộ Xây dựng đề nghị Công ty TNHH Xây dựng Thành Công, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Kiến Thụy (thành phố Hải Phòng) nghiên cứu hồ sơ các công trình, hạng mục công trình cụ thể trên tuyến trong Dự án để xác định cấp và áp dụng trong các hoạt động đầu tư xây dựng có liên quan. Đối với các nội dung liên quan đến pháp luật về đấu thầu, đề nghị Công ty TNHH Xây dựng Thành Công liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về đấu thầu để được làm rõ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1375,
"text": "Theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 3 Thông tư số 06/2021/TT-BXD ngày 30/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định về phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng thì “Trường hợp phạm vi thực hiện cho một công trình, một số công trình hoặc toàn bộ các công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình theo tuyến thì áp dụng cấp công trình xác định theo khoản 2 Điều 2 Thông tư này đối với từng công trình thuộc tuyến”. Theo đó, cấp công trình của một công trình độc lập là cấp cao nhất được xác định theo Phụ lục I và Phụ lục II Thông tư này, trường hợp công trình độc lập không được quy định trong Phụ lục I Thông tư này thì cấp công trình được xác định tại Phụ lục II Thông tư này và ngược lại. Đối với các nội dung phản ánh của Công ty TNHH Xây dựng Thành Công tại Văn bản số 11.12/TC-CV liên quan đến việc xác định cấp các công trình giao thông nông thôn, Bộ Xây dựng đề nghị Công ty TNHH Xây dựng Thành Công, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Kiến Thụy (thành phố Hải Phòng) nghiên cứu hồ sơ các công trình, hạng mục công trình cụ thể trên tuyến trong Dự án để xác định cấp và áp dụng trong các hoạt động đầu tư xây dựng có liên quan. Đối với các nội dung liên quan đến pháp luật về đấu thầu, đề nghị Công ty TNHH Xây dựng Thành Công liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về đấu thầu để được làm rõ."
}
],
"id": "672",
"is_impossible": false,
"question": "Căn cứ xác định cấp công trình nông thôn mới kiểu mẫu"
}
]
}
],
"title": "Căn cứ xác định cấp công trình nông thôn mới kiểu mẫu"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Dự toán xây dựng công trình được lập theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng và các thông tư hướng dẫn của Bộ Xây dựng. Tại Khoản 6 Điều 20 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP, việc quản lý định mức dự toán xây dựng được phân cấp cho Bộ Xây dựng (ảnh minh họa). Theo phản ánh của ông Lê Thanh Hồng (Bến Tre), hiện nay có 2 mã hiệu định mức để chủ đầu tư lựa chọn lập dự toán cho công tác xây dựng là mã hiệu định mức AC.11221: Đóng cọc gỗ (hoặc cọc tràm) D8-10cm bằng thủ công, chiều dài cọc >2,5m vào đất cấp I và mã hiệu định mức AC.12121: Đóng cọc tre bằng máy đào 0,5m3, chiều dài cọc >2,5m, đất cấp I. Do chưa có định mức đóng cọc gỗ (hoặc cọc tràm) D8-10cm bằng máy cải tiến theo thực tế thi công tại hiện trường nên chủ đầu tư đã lựa chọn mã hiệu định mức: AC.11221 để lập dự toán cho công tác đóng cừ tràm phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương mặt cắt địa chất công trình đa số lớp đất cát pha sét dẻo. Ông Hồng hỏi, biện pháp áp dụng mã hiệu định mức AC.11221 đã phù hợp và tính đúng, đủ hay chưa để đơn vị ông (chủ đầu tư) thực hiện các bước thanh, quyết toán công trình? Ông cũng kiến nghị Bộ Xây dựng sớm ban hành định mức đóng cọc gỗ (hoặc cọc tràm) D8-10cm bằng máy cải tiến để phù hợp với thực tế thi công tại huyện của ông và trên địa bàn tỉnh. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định pháp luật về quản lý chi phí đầu tư xây dựng hiện hành, dự toán xây dựng công trình được lập theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng và các Thông tư hướng dẫn của Bộ Xây dựng. Trong đó, đơn giá xây dựng để lập dự toán được xác định theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP và các dữ liệu vật liệu, nhân công, máy thi công trong dự toán xây dựng công trình thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 8, Điều 9 Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Định mức dự toán công tác đóng cọc gỗ (hoặc cọc tràm) D8-10cm, chiều dài cọc >2,5m, thi công bằng thủ công (mã hiệu AC.11221) và thi công bằng máy đào 0,5m³ (mã hiệu AC.12221) được Bộ Xây dựng ban hành trong hệ thống định mức xây dựng tại Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành định mức xây dựng. Trường hợp định mức ban hành nêu trên chưa phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công, biện pháp thi công của công trình thì chủ đầu tư, đơn vị tư vấn lập dự toán thực hiện theo quy định tại Khoản 4 Điều 21 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP. Phương pháp xác định, điều chỉnh định mức thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục III Thông tư số 13/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về hướng dẫn phương pháp xác định các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật và đo bóc khối lượng công trình. Việc nghiệm thu, thanh toán, quyết toán hợp đồng các gói thầu thi công xây dựng cần thực hiện trên cơ sở các quy định của hợp đồng đã ký kết, phù hợp với hồ sơ mời thầu, loại hợp đồng xây dựng, tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý chi phí, về hợp đồng xây dựng áp dụng cho dự án, công trình và quy định của pháp luật có liên quan. Các địa phương có thể xây dựng mức dự toán đặc thù Theo quy định tại Khoản 6 Điều 20 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP, việc quản lý định mức dự toán xây dựng được phân cấp cho Bộ Xây dựng, các bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành, UBND cấp tỉnh. Theo đó, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm rà soát, cập nhật các định mức dự toán công tác xây dựng đặc thù trên địa bàn địa phương. Do đó, đối với trường hợp công tác thi công có yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công, biện pháp thi công đặc thù trên địa bàn tỉnh Bến Tre (như ông nêu), đề nghị ông tổng hợp, kiến nghị với UBND cấp tỉnh để thực hiện tổ chức rà soát, xác định định mức dự toán đặc thù theo quy định tại Khoản 7 Điều 20 và Khoản 4 Điều 22 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 507,
"text": "Đóng cọc gỗ (hoặc cọc tràm) D8-10cm bằng thủ công, chiều dài cọc >2,5m vào đất cấp I và mã hiệu định mức AC.12121: Đóng cọc tre bằng máy đào 0,5m3, chiều dài cọc >2,5m, đất cấp I. Do chưa có định mức đóng cọc gỗ (hoặc cọc tràm) D8-10cm bằng máy cải tiến theo thực tế thi công tại hiện trường nên chủ đầu tư đã lựa chọn mã hiệu định mức: AC.11221 để lập dự toán cho công tác đóng cừ tràm phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương mặt cắt địa chất công trình đa số lớp đất cát pha sét dẻo. Ông Hồng hỏi, biện pháp áp dụng mã hiệu định mức AC.11221 đã phù hợp và tính đúng, đủ hay chưa để đơn vị ông (chủ đầu tư) thực hiện các bước thanh, quyết toán công trình? Ông cũng kiến nghị Bộ Xây dựng sớm ban hành định mức đóng cọc gỗ (hoặc cọc tràm) D8-10cm bằng máy cải tiến để phù hợp với thực tế thi công tại huyện của ông và trên địa bàn tỉnh. Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định pháp luật về quản lý chi phí đầu tư xây dựng hiện hành, dự toán xây dựng công trình được lập theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng và các Thông tư hướng dẫn của Bộ Xây dựng. Trong đó, đơn giá xây dựng để lập dự toán được xác định theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP và các dữ liệu vật liệu, nhân công, máy thi công trong dự toán xây dựng công trình thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 8, Điều 9 Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Định mức dự toán công tác đóng cọc gỗ (hoặc cọc tràm) D8-10cm, chiều dài cọc >2,5m, thi công bằng thủ công (mã hiệu AC.11221) và thi công bằng máy đào 0,5m³ (mã hiệu AC.12221) được Bộ Xây dựng ban hành trong hệ thống định mức xây dựng tại Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành định mức xây dựng. Trường hợp định mức ban hành nêu trên chưa phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công, biện pháp thi công của công trình thì chủ đầu tư, đơn vị tư vấn lập dự toán thực hiện theo quy định tại Khoản 4 Điều 21 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP. Phương pháp xác định, điều chỉnh định mức thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục III Thông tư số 13/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về hướng dẫn phương pháp xác định các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật và đo bóc khối lượng công trình. Việc nghiệm thu, thanh toán, quyết toán hợp đồng các gói thầu thi công xây dựng cần thực hiện trên cơ sở các quy định của hợp đồng đã ký kết, phù hợp với hồ sơ mời thầu, loại hợp đồng xây dựng, tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý chi phí, về hợp đồng xây dựng áp dụng cho dự án, công trình và quy định của pháp luật có liên quan. Các địa phương có thể xây dựng mức dự toán đặc thù Theo quy định tại Khoản 6 Điều 20 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP, việc quản lý định mức dự toán xây dựng được phân cấp cho Bộ Xây dựng, các bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành, UBND cấp tỉnh. Theo đó, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm rà soát, cập nhật các định mức dự toán công tác xây dựng đặc thù trên địa bàn địa phương. Do đó, đối với trường hợp công tác thi công có yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công, biện pháp thi công đặc thù trên địa bàn tỉnh Bến Tre (như ông nêu), đề nghị ông tổng hợp, kiến nghị với UBND cấp tỉnh để thực hiện tổ chức rà soát, xác định định mức dự toán đặc thù theo quy định tại Khoản 7 Điều 20 và Khoản 4 Điều 22 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP."
}
],
"id": "673",
"is_impossible": false,
"question": "Áp dụng các định mức khi lập dự toán xây dựng thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Áp dụng các định mức khi lập dự toán xây dựng thế nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) – Cơ quan cấp giấy phép xây dựng có trách nhiệm công bố công khai nội dung giấy phép xây dựng đã được cấp trên trang thông tin điện tử của mình. Bên cạnh đó, chủ đầu tư có trách nhiệm công khai nội dung giấy phép xây dựng đã được cấp tại địa điểm thi công xây dựng trong suốt quá trình thi công xây dựng. Chủ đầu tư có trách nhiệm công khai nội dung giấy phép xây dựng trong suốt quá trình thi công (ảnh minh họa). Mới đây, Bộ Xây dựng nhận được kiến nghị của cử tri tỉnh Lạng Sơn gửi tới sau kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV do Ban Dân nguyện gửi đến. Cử tri có đề nghị điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung hoặc hướng dẫn Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng, trong đó bổ sung quy định cụ thể, chi tiết một số quy định việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với các trường hợp đang thi công xây dựng công trình mà không đủ điều kiện cấp giấy phép hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng; quy định cụ thể hình thức công khai giấy phép xây dựng tại địa điểm thi công xây dựng công trình; quy định quy trình xử lý cụ thể đối với hành vi không thực hiện thủ tục để điều chỉnh, gia hạn giấy phép xây dựng”. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết, theo khoản 16 Điều 16 và Điều 81 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP, các trường hợp xây dựng công trình không phép, sai phép, không đúng thiết kế được thẩm định phải thuộc trường hợp đủ điều kiện cấp phép xây dựng hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng hoặc điều chỉnh thiết kế xây dựng mà đang thi công thì mới được phép hoàn thành thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng hoặc điều chỉnh thiết kế xây dựng. Còn đối với các công trình xây dựng đang thi công mà không đủ điều kiện cấp giấy phép hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng thì sẽ bị xem xét xử phạt vi phạm hành chính theo các quy định về đất đai, về xây dựng tại Điều 16 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP. Việc công khai giấy phép xây dựng, hiện nay được quy định tại Điều 5 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/03/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Theo đó, cơ quan cấp giấy phép xây dựng có trách nhiệm công bố công khai nội dung giấy phép xây dựng đã được cấp trên trang thông tin điện tử của mình. Bên cạnh đó, chủ đầu tư có trách nhiệm công khai nội dung giấy phép đã được cấp tại địa điểm thi công xây dựng trong suốt quá trình thi công để tổ chức, cá nhân theo dõi và giám sát theo quy định của pháp luật có liên quan. Về chế tài xử lý hành vi không thực hiện thủ tục để điều chỉnh, gia hạn giấy phép xây dựng được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP. Quy trình xử lý cụ thể đối với hành vi không thực hiện thủ tục để điều chỉnh, gia hạn giấy phép xây dựng được thực hiện theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "(Xây dựng) – Cơ quan cấp giấy phép xây dựng có trách nhiệm công bố công khai nội dung giấy phép xây dựng đã được cấp trên trang thông tin điện tử của mình. Bên cạnh đó, chủ đầu tư có trách nhiệm công khai nội dung giấy phép xây dựng đã được cấp tại địa điểm thi công xây dựng trong suốt quá trình thi công xây dựng. Chủ đầu tư có trách nhiệm công khai nội dung giấy phép xây dựng trong suốt quá trình thi công (ảnh minh họa). Mới đây, Bộ Xây dựng nhận được kiến nghị của cử tri tỉnh Lạng Sơn gửi tới sau kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV do Ban Dân nguyện gửi đến. Cử tri có đề nghị điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung hoặc hướng dẫn Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng, trong đó bổ sung quy định cụ thể, chi tiết một số quy định việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với các trường hợp đang thi công xây dựng công trình mà không đủ điều kiện cấp giấy phép hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng; quy định cụ thể hình thức công khai giấy phép xây dựng tại địa điểm thi công xây dựng công trình; quy định quy trình xử lý cụ thể đối với hành vi không thực hiện thủ tục để điều chỉnh, gia hạn giấy phép xây dựng”. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết, theo khoản 16 Điều 16 và Điều 81 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP, các trường hợp xây dựng công trình không phép, sai phép, không đúng thiết kế được thẩm định phải thuộc trường hợp đủ điều kiện cấp phép xây dựng hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng hoặc điều chỉnh thiết kế xây dựng mà đang thi công thì mới được phép hoàn thành thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng hoặc điều chỉnh thiết kế xây dựng. Còn đối với các công trình xây dựng đang thi công mà không đủ điều kiện cấp giấy phép hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng thì sẽ bị xem xét xử phạt vi phạm hành chính theo các quy định về đất đai, về xây dựng tại Điều 16 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP. Việc công khai giấy phép xây dựng, hiện nay được quy định tại Điều 5 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/03/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Theo đó, cơ quan cấp giấy phép xây dựng có trách nhiệm công bố công khai nội dung giấy phép xây dựng đã được cấp trên trang thông tin điện tử của mình. Bên cạnh đó, chủ đầu tư có trách nhiệm công khai nội dung giấy phép đã được cấp tại địa điểm thi công xây dựng trong suốt quá trình thi công để tổ chức, cá nhân theo dõi và giám sát theo quy định của pháp luật có liên quan. Về chế tài xử lý hành vi không thực hiện thủ tục để điều chỉnh, gia hạn giấy phép xây dựng được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP. Quy trình xử lý cụ thể đối với hành vi không thực hiện thủ tục để điều chỉnh, gia hạn giấy phép xây dựng được thực hiện theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính."
}
],
"id": "674",
"is_impossible": false,
"question": "Trách nhiệm công khai nội dung giấy phép xây dựng"
}
]
}
],
"title": "Trách nhiệm công khai nội dung giấy phép xây dựng"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Bạn đọc Nguyễn Văn Long (quận Thanh Xuân, TP Hà Nội) phản ánh: \"Thời gian vừa qua, tôi thấy không ít trường hợp sử dụng chất ma túy sau đó điều khiển phương tiện giao thông gây tai nạn\".\"Xin hỏi nếu sử dụng chất ma túy điều khiển phương tiện giao thông thì bị xử phạt thế nào, trường hợp nào bị xử lý hình sự?\", bạn Long đặt câu hỏi.Lực lượng CSGT TP Hà Nội kiểm tra ma túy đối với tài xế ô tô.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, sử dụng ma túy khi tham gia giao thông là hành vi bị cấm, tùy mức độ vi phạm mà người điều khiển xe sẽ bị xử lý vi phạm hành chính hoặc có thể bị truy tố trách nhiệm hình sự.Nghị định 123/2021/NĐ-CP quy định lỗi vi phạm giao thông liên quan đến ma túy gồm: Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy; Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy của người thi hành công vụ.\"Có nghĩa là khi cảnh sát giao thông (CSGT) yêu cầu kiểm tra chất ma túy mà tài xế không chấp hành thì sẽ bị lập biên bản xử phạt ở mức như lỗi điều khiển phương tiện giao thông trong cơ thể có chất ma túy\", ông Lực thông tin.Mức phạt của hành vi điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy sẽ bao gồm phạt tiền và tước quyền sử dụng giấy phép lái xe.Cụ thể, người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) thì bị phạt từ 6-8 triệu đồng. Với vi phạm tương tự, người điều khiển xe ô tô bị phạt từ 30-40 triệu đồng; người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng bị phạt từ 16-18 triệu đồng.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).\"Ngoài hình thức phạt tiền, người vi phạm còn bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe hoặc chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (đối với người điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 22-24 tháng. Cùng với đó là bị tạm giữ phương tiện đối với lỗi vi phạm này\", luật sư Quách Thành Lực thông tin.Luật sư Quách Thành Lực cũng cho biết, điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy gây tai nạn cho người khác thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 Bộ luật Hình sự.Một cán bộ CSGT Công an TP Hà Nội cho biết, việc kiểm tra, xử lý lái xe mà trong cơ thể có chất ma túy là một chuyên đề thường xuyên của lực lượng CSGT.Hiện nay, việc kiểm tra lái xe có dương tính với chất ma túy hay không có hai phương pháp, đó là xét nghiệm nước tiểu và xét nghiệm máu.\"Thông thường CSGT sẽ sử dụng biện pháp kiểm tra nước tiểu của lái xe. Hiện nay đã có loại test 5 chân có thể kiểm tra được các chất ma túy như ma túy đá, cần sa, thuốc lắc, thuốc phiện, heroin, cocain. Việc kiểm tra này sẽ chỉ mất vài phút, có kết quả chính xác\", vị cán bộ CSGT này cho hay.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 63,
"text": "\"Thời gian vừa qua, tôi thấy không ít trường hợp sử dụng chất ma túy sau đó điều khiển phương tiện giao thông gây tai nạn\".\"Xin hỏi nếu sử dụng chất ma túy điều khiển phương tiện giao thông thì bị xử phạt thế nào, trường hợp nào bị xử lý hình sự?\", bạn Long đặt câu hỏi.Lực lượng CSGT TP Hà Nội kiểm tra ma túy đối với tài xế ô tô.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, sử dụng ma túy khi tham gia giao thông là hành vi bị cấm, tùy mức độ vi phạm mà người điều khiển xe sẽ bị xử lý vi phạm hành chính hoặc có thể bị truy tố trách nhiệm hình sự.Nghị định 123/2021/NĐ-CP quy định lỗi vi phạm giao thông liên quan đến ma túy gồm: Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy; Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy của người thi hành công vụ.\"Có nghĩa là khi cảnh sát giao thông (CSGT) yêu cầu kiểm tra chất ma túy mà tài xế không chấp hành thì sẽ bị lập biên bản xử phạt ở mức như lỗi điều khiển phương tiện giao thông trong cơ thể có chất ma túy\", ông Lực thông tin.Mức phạt của hành vi điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy sẽ bao gồm phạt tiền và tước quyền sử dụng giấy phép lái xe.Cụ thể, người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) thì bị phạt từ 6-8 triệu đồng. Với vi phạm tương tự, người điều khiển xe ô tô bị phạt từ 30-40 triệu đồng; người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng bị phạt từ 16-18 triệu đồng.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).\"Ngoài hình thức phạt tiền, người vi phạm còn bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe hoặc chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (đối với người điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 22-24 tháng. Cùng với đó là bị tạm giữ phương tiện đối với lỗi vi phạm này\", luật sư Quách Thành Lực thông tin.Luật sư Quách Thành Lực cũng cho biết, điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy gây tai nạn cho người khác thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 Bộ luật Hình sự.Một cán bộ CSGT Công an TP Hà Nội cho biết, việc kiểm tra, xử lý lái xe mà trong cơ thể có chất ma túy là một chuyên đề thường xuyên của lực lượng CSGT.Hiện nay, việc kiểm tra lái xe có dương tính với chất ma túy hay không có hai phương pháp, đó là xét nghiệm nước tiểu và xét nghiệm máu.\"Thông thường CSGT sẽ sử dụng biện pháp kiểm tra nước tiểu của lái xe. Hiện nay đã có loại test 5 chân có thể kiểm tra được các chất ma túy như ma túy đá, cần sa, thuốc lắc, thuốc phiện, heroin, cocain. Việc kiểm tra này sẽ chỉ mất vài phút, có kết quả chính xác\", vị cán bộ CSGT này cho hay."
}
],
"id": "675",
"is_impossible": false,
"question": "Hình phạt nào cho tài xế sử dụng ma túy?"
}
]
}
],
"title": "Hình phạt nào cho tài xế sử dụng ma túy?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Bạn đọc Vũ Thị Thuyết (quận Thanh Xuân, TP Hà Nội) cho biết, hiện cảnh sát giao thông (CSGT) đang tăng cường kiểm tra nồng độ cồn, bất cứ ai điều khiển phương tiện giao thông cũng có thể bị kiểm tra.\"Để giữ gìn vệ sinh và an toàn cho mình và người khác, người bị kiểm tra nồng độ cồn được quyền yêu cầu thay ống thổi mới và từ chối kiểm tra nếu dùng chung ống được không?\", bạn Thuyết đặt câu hỏi.Khi bị kiểm tra, tài xế có thể đề yêu cầu CSGT thay ống thổi nồng độ cồn mới.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, hiện nay không có bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về việc người dân được quyền yêu cầu CSGT thay ống thổi mới khi đo nồng độ cồn.\"Tuy nhiên, để đảm bảo các biện pháp an toàn về sức khỏe, y tế, CSGT sẽ thực hiện việc thay thế ống thổi mới sau mỗi lần sử dụng và thu gom xử lý các ống thổi đã qua sử dụng theo quy định\", ông Lực thông tin.Theo đó, để đảm bảo an toàn sức khỏe, y tế, tránh làm lây lan các bệnh lây truyền qua đường hô hấp, người dân được quyền yêu cầu CSGT thay thế ống thổi mới khi tiến hành đo nồng độ cồn.Tại Điều 10, Điều 11 Thông tư 67/2019/TT-BCA quy định người dân có quyền giám sát việc thi hành pháp luật trong công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông thông qua tiếp xúc, giải quyết trực tiếp công việc hoặc thông qua các thiết bị ghi âm, ghi hình.Tuy nhiên, không có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về quyền yêu cầu thay ống thổi mới. Vì vậy, nếu CSGT không thực hiện, người dân có quyền khiếu nại đối với hành vi của CSGT khi thực hiện nhiệm vụ, nhưng không được quyền từ chối việc kiểm tra nồng độ cồn.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị.Nếu người dân không chấp hành việc kiểm tra nồng độ cồn có thể bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 100/2019 (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP), cụ thể:Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, xe gắn máy sẽ bị phạt tiền từ 6-8 triệu đồng và bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 22-24 tháng nếu không chấp hành yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn.Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô sẽ bị phạt tiền từ 30-40 triệu đồng và bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 22-24 tháng nếu không chấp hành yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn.Một cán bộ CSGT TP Hà Nội cho biết, khi đo nồng độ cồn, lực lượng CSGT sẽ thực hiện hai bước. Bước đầu tiên là kiểm tra định tính và bước tiếp theo là kiểm tra định lượng.Đối với kiểm tra định tính, tài xế chỉ thở vào phễu máy đo vài giây chứ không cần ngậm ống thổi. Nếu không phát hiện cồn trong hơi thở, tài xế sẽ tiếp tục lưu thông.Nếu phát hiện có cồn trong hơi thở, tài xế sẽ được mời vào một khu vực để kiểm tra định lượng. Lúc này, tài xế sẽ được kiểm tra bằng máy dùng ống thổi.\"Khi đo định lượng, mỗi người được kiểm tra sẽ dùng một ống thổi riêng. Trường hợp tài xế nghi ngờ ống thổi dùng chung thì có thể đề nghị CSGT thay ống thổi mới, khi đó lực lượng CSGT sẽ bóc ống thổi mới cho người dân nhìn thấy rồi tiến hành đo định lượng. Thông thường mỗi lần thổi định lượng bằng ống thì CSGT sẽ bỏ ống cũ và thay ống mới để đo người khác\", cán bộ này cho biết.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1869,
"text": "Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, xe gắn máy sẽ bị phạt tiền từ 6-8 triệu đồng và bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 22-24 tháng nếu không chấp hành yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn.Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô sẽ bị phạt tiền từ 30-40 triệu đồng và bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 22-24 tháng nếu không chấp hành yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn.Một cán bộ CSGT TP Hà Nội cho biết, khi đo nồng độ cồn, lực lượng CSGT sẽ thực hiện hai bước. Bước đầu tiên là kiểm tra định tính và bước tiếp theo là kiểm tra định lượng.Đối với kiểm tra định tính, tài xế chỉ thở vào phễu máy đo vài giây chứ không cần ngậm ống thổi. Nếu không phát hiện cồn trong hơi thở, tài xế sẽ tiếp tục lưu thông.Nếu phát hiện có cồn trong hơi thở, tài xế sẽ được mời vào một khu vực để kiểm tra định lượng. Lúc này, tài xế sẽ được kiểm tra bằng máy dùng ống thổi.\"Khi đo định lượng, mỗi người được kiểm tra sẽ dùng một ống thổi riêng. Trường hợp tài xế nghi ngờ ống thổi dùng chung thì có thể đề nghị CSGT thay ống thổi mới, khi đó lực lượng CSGT sẽ bóc ống thổi mới cho người dân nhìn thấy rồi tiến hành đo định lượng. Thông thường mỗi lần thổi định lượng bằng ống thì CSGT sẽ bỏ ống cũ và thay ống mới để đo người khác\", cán bộ này cho biết."
}
],
"id": "676",
"is_impossible": false,
"question": "Tài xế có được yêu cầu CSGT thay ống thổi nồng độ cồn trước khi kiểm tra?"
}
]
}
],
"title": "Tài xế có được yêu cầu CSGT thay ống thổi nồng độ cồn trước khi kiểm tra?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Theo quy định, UBND cấp tỉnh phân cấp, ủy quyền cho Sở Xây dựng, Ban quản lý khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, UBND cấp huyện cấp giấy phép xây dựng thuộc chức năng và phạm vi quản lý của cơ quan này. Thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trong khu công nghiệp. Bộ Xây dựng nhận được văn bản của UBND tỉnh Nam Định đề nghị hướng dẫn về thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng đối với công trình cấp III, cấp IV trong KCN. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng trả lời như sau: Về thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng, theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 103 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 37 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 thì, “2. UBND cấp tỉnh cấp giấy phép xây dựng đối với công trình thuộc đối tượng có yêu cầu phải cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn tỉnh, trừ công trình quy định tại khoản 3 Điều này. UBND cấp tỉnh phân cấp, ủy quyền cho Sở Xây dựng, Ban quản lý KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, UBND cấp huyện cấp giấy phép xây dựng thuộc chức năng và phạm vi quản lý của cơ quan này” và “3. UBND cấp huyện cấp giấy phép xây dựng đối với công trình cấp III, cấp IV và nhà ở riêng lẻ trên địa bàn do mình quản lý”. Về trách nhiệm quản lý Nhà nước của UBND cấp tỉnh, cấp huyện, tại điểm a khoản 1 Điều 164 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 64 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 thì UBND cấp tỉnh có trách nhiệm: “Thực hiện quản lý Nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng theo phân cấp của Chính phủ; quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn theo quy hoạch, thiết kế xây dựng và giấy phép xây dựng theo quy định của Chính phủ; ban hành văn bản theo thẩm quyền; chỉ đạo tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng, kế hoạch đầu tư xây dựng; được phân cấp, ủy quyền cho UBND cấp huyện, Ban quản lý KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ, đồ án quy hoạch phân khu xây dựng, quy hoạch chi tiết xây dựng khu chức năng; tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động đầu tư xây dựng”. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 164 Luật Xây dựng năm 2014 thì UBND cấp huyện có trách nhiệm: “Thực hiện quản lý Nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn theo phân cấp; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đầu tư xây dựng cho cán bộ, công chức của các cơ quan, đơn vị trực thuộc”. Tại điểm a, điểm b khoản 3 Điều 52 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ quy định về quản lý KCN và khu kinh tế thì UBND cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phân công có trách nhiệm: “a) Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực và hành chính lãnh thổ đối với KCN, khu kinh tế. b) Hướng dẫn, quy định, thực hiện việc phân cấp, ủy quyền cho Ban quản lý KCN, khu kinh tế thực hiện một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước thuộc thẩm quyền của mình và của cơ quan chuyên môn quản lý Nhà nước theo ngành, lĩnh vực đầu tư, doanh nghiệp, xây dựng, lao động, công nghiệp, thương mại, tài nguyên và môi trường, khoa học và công nghệ, du lịch và ngành, lĩnh vực khác được quy định tại Nghị định này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Quy định tại khoản này được thực hiện trên cơ sở yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình phát triển KCN, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”. Do đó, căn cứ vào các quy định nêu trên, đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Nam Định tham mưu để UBND tỉnh xem xét, quyết định rõ về việc phân định phạm vi quản lý về đầu tư xây dựng của các cơ quan trực thuộc, làm cơ sở phân cấp thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng để thống nhất quản lý.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 504,
"text": "Về thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng, theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 103 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 37 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 thì, “2. UBND cấp tỉnh cấp giấy phép xây dựng đối với công trình thuộc đối tượng có yêu cầu phải cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn tỉnh, trừ công trình quy định tại khoản 3 Điều này. UBND cấp tỉnh phân cấp, ủy quyền cho Sở Xây dựng, Ban quản lý KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, UBND cấp huyện cấp giấy phép xây dựng thuộc chức năng và phạm vi quản lý của cơ quan này” và “3. UBND cấp huyện cấp giấy phép xây dựng đối với công trình cấp III, cấp IV và nhà ở riêng lẻ trên địa bàn do mình quản lý”. Về trách nhiệm quản lý Nhà nước của UBND cấp tỉnh, cấp huyện, tại điểm a khoản 1 Điều 164 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 64 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 thì UBND cấp tỉnh có trách nhiệm: “Thực hiện quản lý Nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng theo phân cấp của Chính phủ; quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn theo quy hoạch, thiết kế xây dựng và giấy phép xây dựng theo quy định của Chính phủ; ban hành văn bản theo thẩm quyền; chỉ đạo tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng, kế hoạch đầu tư xây dựng; được phân cấp, ủy quyền cho UBND cấp huyện, Ban quản lý KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ, đồ án quy hoạch phân khu xây dựng, quy hoạch chi tiết xây dựng khu chức năng; tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động đầu tư xây dựng”. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 164 Luật Xây dựng năm 2014 thì UBND cấp huyện có trách nhiệm: “Thực hiện quản lý Nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn theo phân cấp; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đầu tư xây dựng cho cán bộ, công chức của các cơ quan, đơn vị trực thuộc”. Tại điểm a, điểm b khoản 3 Điều 52 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ quy định về quản lý KCN và khu kinh tế thì UBND cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phân công có trách nhiệm: “a) Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực và hành chính lãnh thổ đối với KCN, khu kinh tế. b) Hướng dẫn, quy định, thực hiện việc phân cấp, ủy quyền cho Ban quản lý KCN, khu kinh tế thực hiện một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước thuộc thẩm quyền của mình và của cơ quan chuyên môn quản lý Nhà nước theo ngành, lĩnh vực đầu tư, doanh nghiệp, xây dựng, lao động, công nghiệp, thương mại, tài nguyên và môi trường, khoa học và công nghệ, du lịch và ngành, lĩnh vực khác được quy định tại Nghị định này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Quy định tại khoản này được thực hiện trên cơ sở yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình phát triển KCN, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”. Do đó, căn cứ vào các quy định nêu trên, đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Nam Định tham mưu để UBND tỉnh xem xét, quyết định rõ về việc phân định phạm vi quản lý về đầu tư xây dựng của các cơ quan trực thuộc, làm cơ sở phân cấp thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng để thống nhất quản lý."
}
],
"id": "677",
"is_impossible": false,
"question": "Thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trong khu công nghiệp"
}
]
}
],
"title": "Thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trong khu công nghiệp"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Theo quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính, thời hạn ra quyết định xử phạt là 7 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.Vụ việc thuộc trường hợp phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày làm việc. Vụ việc mà cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải trình hoặc phải xác minh các tình tiết có liên quan thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 1 tháng.Đối với vụ việc thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp, cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 2 tháng.Như vậy, thông thường đối với những trường hợp bị xử phạt vi phạm giao thông thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 7 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Trong thời hạn này, người có thẩm quyền xử phạt như là CSGT sẽ ra quyết định xử phạt.Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng quy định: Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính; trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó.Do đó, về nguyên tắc, người vi phạm chỉ có thể nộp phạt khi đã nhận được quyết định xử phạt. Người vi phạm có thể đến sớm hơn ngày ghi trong biên bản để được hỗ trợ giải quyết việc đóng phạt nếu như người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt sớm. Khi người vi phạm nhận được quyết định xử phạt thì có thể đóng phạt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 906,
"text": "Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính; trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó.Do đó, về nguyên tắc, người vi phạm chỉ có thể nộp phạt khi đã nhận được quyết định xử phạt. Người vi phạm có thể đến sớm hơn ngày ghi trong biên bản để được hỗ trợ giải quyết việc đóng phạt nếu như người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt sớm. Khi người vi phạm nhận được quyết định xử phạt thì có thể đóng phạt."
}
],
"id": "678",
"is_impossible": false,
"question": "Bị xử lý vi phạm hành chính, xin nộp phạt sớm được không?"
}
]
}
],
"title": "Bị xử lý vi phạm hành chính, xin nộp phạt sớm được không?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Công ty của bà Lê Thị Tuyết Băng (Gia Lai) trúng thầu và đã ký hợp đồng thi công với chủ đầu tư là Ban quản lý dự án huyện, ngày hết hạn hợp đồng là ngày 26/12/2022, thời gian thực hiện bảo hành 12 tháng (trong hồ sơ đấu thầu: bảo hành 12 tháng). Thời hạn bảo hành công trình tính từ khi nào? Công trình đã hoàn thành đúng hạn và biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình đã ký, đóng dấu ngày 26/12/2022 (gồm có chủ đầu tư, tư vấn giám sát, tư vấn thiết kế, đơn vị thi công). Ngày 25/12/2023, bà Băng mang hồ sơ cho chủ đầu tư để thanh toán tiền bảo hành. Chủ đầu tư không đồng ý và cho biết, ngày hết hạn bảo hành phải kể từ ngày chủ đầu tư bàn giao cho đơn vị quản lý sử dụng (UBND thị trấn) là ngày 3/7/2023 (biên bản ký bàn giao đưa vào sử dụng ngày 3/7/2023 có chủ đầu tư và UBND thị trấn ký, không có đơn vị thi công). Đồng thời, phòng kế toán của chủ đầu tư trả lời, bên nhận thầu chỉ được bên giao thầu hoàn trả tiền bảo hành hạng mục công trình sau khi bên nhận thầu hoàn thành nghĩa vụ bảo hành (12 tháng kể từ ngày có văn bản chấp thuận nghiệm thu của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021). Công trình công ty của bà Băng đã thi công và nghiệm thu bàn giao cho chủ đầu tư đúng hạn, nhưng đến ngày 3/7/2023 chủ đầu tư mới bàn giao cho đơn vị sử dụng. Bà Băng hỏi, vậy ngày tính bảo hành là kể từ ngày nào, tại sao đến ngày 3/7/2023 chủ đầu tư mới bàn giao cho đơn vị sử dụng và bắt buộc bên công ty bà phải chấp nhận ngày bảo hành kể từ ngày 3/7/2023, trong khi đó công trình đã đưa vào sử dụng luôn từ ngày 26/12/2022 (công trình xây dựng vỉa hè gạch teroza đường trung tâm huyện nên thi công xong đưa vào sử dụng luôn)? Việc phòng kế toán của chủ đầu tư bắt buộc đưa vào hợp đồng nội dung: \"Bên nhận thầu chỉ được bên giao thầu hoàn trả tiền bảo hành hạng mục công trình sau khi bên nhận thầu hoàn thành nghĩa vụ bảo hành (12 tháng kể từ ngày có văn bản chấp thuận nghiệm thu của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021)\" là đúng hay sai? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 28 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, nội dung bảo hành công trình xây dựng được chủ đầu tư thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng với các nhà thầu tham gia xây dựng công trình. Thời điểm và thời hạn bảo hành công trình xây dựng được xác định theo quy định tại Khoản 5 Điều 28 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, cụ thể: \"5. Thời hạn bảo hành đối với hạng mục công trình, công trình xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp được tính kể từ khi được chủ đầu tư nghiệm thu theo quy định và được quy định như sau: a) Không ít hơn 24 tháng đối với công trình cấp đặc biệt và cấp I sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công; b) Không ít hơn 12 tháng đối với các công trình cấp còn lại sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công; c) Thời hạn bảo hành đối với công trình sử dụng vốn khác có thể tham khảo quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản này để áp dụng\".",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 240,
"text": "bảo hành 12 tháng). Thời hạn bảo hành công trình tính từ khi nào? Công trình đã hoàn thành đúng hạn và biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình đã ký, đóng dấu ngày 26/12/2022 (gồm có chủ đầu tư, tư vấn giám sát, tư vấn thiết kế, đơn vị thi công). Ngày 25/12/2023, bà Băng mang hồ sơ cho chủ đầu tư để thanh toán tiền bảo hành. Chủ đầu tư không đồng ý và cho biết, ngày hết hạn bảo hành phải kể từ ngày chủ đầu tư bàn giao cho đơn vị quản lý sử dụng (UBND thị trấn) là ngày 3/7/2023 (biên bản ký bàn giao đưa vào sử dụng ngày 3/7/2023 có chủ đầu tư và UBND thị trấn ký, không có đơn vị thi công). Đồng thời, phòng kế toán của chủ đầu tư trả lời, bên nhận thầu chỉ được bên giao thầu hoàn trả tiền bảo hành hạng mục công trình sau khi bên nhận thầu hoàn thành nghĩa vụ bảo hành (12 tháng kể từ ngày có văn bản chấp thuận nghiệm thu của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021). Công trình công ty của bà Băng đã thi công và nghiệm thu bàn giao cho chủ đầu tư đúng hạn, nhưng đến ngày 3/7/2023 chủ đầu tư mới bàn giao cho đơn vị sử dụng. Bà Băng hỏi, vậy ngày tính bảo hành là kể từ ngày nào, tại sao đến ngày 3/7/2023 chủ đầu tư mới bàn giao cho đơn vị sử dụng và bắt buộc bên công ty bà phải chấp nhận ngày bảo hành kể từ ngày 3/7/2023, trong khi đó công trình đã đưa vào sử dụng luôn từ ngày 26/12/2022 (công trình xây dựng vỉa hè gạch teroza đường trung tâm huyện nên thi công xong đưa vào sử dụng luôn)? Việc phòng kế toán của chủ đầu tư bắt buộc đưa vào hợp đồng nội dung: \"Bên nhận thầu chỉ được bên giao thầu hoàn trả tiền bảo hành hạng mục công trình sau khi bên nhận thầu hoàn thành nghĩa vụ bảo hành (12 tháng kể từ ngày có văn bản chấp thuận nghiệm thu của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021)\" là đúng hay sai? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 28 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, nội dung bảo hành công trình xây dựng được chủ đầu tư thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng với các nhà thầu tham gia xây dựng công trình. Thời điểm và thời hạn bảo hành công trình xây dựng được xác định theo quy định tại Khoản 5 Điều 28 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, cụ thể: \"5. Thời hạn bảo hành đối với hạng mục công trình, công trình xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp được tính kể từ khi được chủ đầu tư nghiệm thu theo quy định và được quy định như sau: a) Không ít hơn 24 tháng đối với công trình cấp đặc biệt và cấp I sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công; b) Không ít hơn 12 tháng đối với các công trình cấp còn lại sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công; c) Thời hạn bảo hành đối với công trình sử dụng vốn khác có thể tham khảo quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản này để áp dụng\"."
}
],
"id": "679",
"is_impossible": false,
"question": "Thời hạn bảo hành công trình tính từ khi nào?"
}
]
}
],
"title": "Thời hạn bảo hành công trình tính từ khi nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Theo quy định, thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng được thực hiện theo pháp luật về quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan. Đối với dự án đầu tư xây dựng của doanh nghiệp có sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước, thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng được thực hiện theo pháp luật về quản lý, sử dụng vốn Nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan (ảnh minh họa). Liên quan đến đề nghị hướng dẫn thực hiện dự án xây dựng nhà cụm Hồ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh của Công ty TNHH Một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Nam Đuống, mới đây, Bộ Xây dựng có văn bản trả lời vấn đề này. Bộ Xây dựng cho biết, theo nội dung Văn bản số 11/CV-NĐ ngày 05/01/2024, Cụm thủy nông Hồ là công trình hiện trạng nằm trong khu đất tại thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Do khu đất được cấp cho Công ty Cổ phần Tập đoàn Dabaco Việt Nam xây dựng hạ tầng kỹ thuật nên công trình được di dời, chuyển ra vị trí khác. Kinh phí di chuyển, xây dựng công trình mới được Công ty Cổ phần Tập đoàn Dabaco Việt Nam tự nguyện hỗ trợ, giá trị tổng mức đầu tư hơn 5,0 tỷ đồng. Hiện nay, Báo cáo kinh tế kỹ thuật đã được chủ đầu tư lập, Sở Xây dựng tỉnh Bắc Ninh thẩm định. Về thẩm quyền phê duyệt Báo cáo kinh tế kỹ thuật, Bộ Xây dựng cho biết, tại khoản 2 và khoản 4 Điều 60 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 17 Điều 1 của Luật số 62/2020/QH14: Trường hợp đối với dự án đầu tư xây dựng của doanh nghiệp có sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước, thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng được thực hiện theo pháp luật về quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan. Trường hợp đối với dự án sử dụng vốn Nhà nước ngoài đầu tư công và dự án sử dụng vốn khác (không thuộc trường hợp được quy định nêu trên): Chủ sở hữu hoặc đại diện chủ sở hữu quyết định đầu tư xây dựng hoặc thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Về trình tự phê duyệt, nội dung phê duyệt dự án, quyết định đầu tư xây dựng thực hiện theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Về cơ quan phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu, nội dung về phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu thực hiện theo quy định tại Luật Đấu thầu năm 2023 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2024). Đối với nội dung thẩm tra và phê duyệt quyết toán công trình thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 72 Luật Xây dựng năm 2014 và Điều 35 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1448,
"text": "Trường hợp đối với dự án đầu tư xây dựng của doanh nghiệp có sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước, thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng được thực hiện theo pháp luật về quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan. Trường hợp đối với dự án sử dụng vốn Nhà nước ngoài đầu tư công và dự án sử dụng vốn khác (không thuộc trường hợp được quy định nêu trên): Chủ sở hữu hoặc đại diện chủ sở hữu quyết định đầu tư xây dựng hoặc thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Về trình tự phê duyệt, nội dung phê duyệt dự án, quyết định đầu tư xây dựng thực hiện theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Về cơ quan phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu, nội dung về phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu thực hiện theo quy định tại Luật Đấu thầu năm 2023 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2024). Đối với nội dung thẩm tra và phê duyệt quyết toán công trình thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 72 Luật Xây dựng năm 2014 và Điều 35 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng."
}
],
"id": "680",
"is_impossible": false,
"question": "Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn Nhà nước"
}
]
}
],
"title": "Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn Nhà nước"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Ông Hà Văn Thái (Bắc Giang) được giao thẩm tra một số dự án trụ sở công an xã trên địa bàn một huyện. Mỗi dự án có chủ trương đầu tư riêng do UBND huyện phê duyệt, không được phê duyệt thiết kế định hình, chỉ có thỏa thuận về quy mô với Công an tỉnh. Ảnh minh họa. Các trụ sở có thiết kế kiến trúc, quy mô như nhau, chỉ khác về bố trí mặt bằng và kết cấu móng do vị trí đặt dự án. Các dự án được đầu tư tại các xã khác nhau, thời điểm đầu tư khác nhau theo quyết định chủ trương đầu tư nhưng do cùng một chủ đầu tư là Ban quản lý dự án thực hiện, thuê chung một đơn vị tư vấn thiết kế lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật và chung một đơn vị thẩm tra. Thông tư số 12/2021/TT-BXD có hướng dẫn điều chỉnh chi phí lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật như sau: Sử dụng thiết kế lặp lại hoặc sử dụng lại thiết kế: k = 0,8; chi phí thẩm tra không có hướng dẫn cho trường hợp này. Ông Thái hỏi, chi phí lập báo cáo kinh tế-kỹ thuật từ công trình thứ hai xác định như thế nào khi mà thiết kế chỉ thay đổi kết cấu móng và tổng mặt bằng? Chi phí thẩm tra từ công trình thứ hai xác định như thế nào? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc áp dụng quy định pháp luật về xây dựng tương ứng với thời điểm thực hiện dự án đầu tư xây dựng. Hiện nay, đối với các dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công, dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (dự án PPP) thì việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng thực hiện theo Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng thực hiện theo Điều 31 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP, Phụ lục số VIII Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về ban hành định mức xây dựng. Định mức chi phí lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật xác định theo Mục 2.6 và Bảng 2.3 Mục 2 Chương II Phần II Phụ lục số VIII Thông tư số 12/2021/TT-BXD. Chi phí thẩm tra báo cáo kinh tế - kỹ thuật xác định trên cơ sở định mức chi phí thẩm tra thiết kế và định mức chi phí thẩm tra dự toán ban hành tại Thông tư số 12/2021/TT-BXD nhân với chi phí xây dựng (chưa có thuế giá trị gia tăng) trong báo cáo kinh tế - kỹ thuật và điều chỉnh với hệ số k = 1,2. Đối với công trình có sử dụng thiết kế điển hình, thiết kế mẫu do cơ quan có thẩm quyền ban hành thì chi phí thẩm tra thiết kế, thẩm tra dự toán của công trình được điều chỉnh với hệ số k = 0,36 đối với công trình thứ hai trở đi. Trường hợp áp dụng định mức chi phí tư vấn không phù hợp thì lập dự toán theo Phụ lục VI Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 758,
"text": "Sử dụng thiết kế lặp lại hoặc sử dụng lại thiết kế: k = 0,8; chi phí thẩm tra không có hướng dẫn cho trường hợp này. Ông Thái hỏi, chi phí lập báo cáo kinh tế-kỹ thuật từ công trình thứ hai xác định như thế nào khi mà thiết kế chỉ thay đổi kết cấu móng và tổng mặt bằng? Chi phí thẩm tra từ công trình thứ hai xác định như thế nào? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Việc áp dụng quy định pháp luật về xây dựng tương ứng với thời điểm thực hiện dự án đầu tư xây dựng. Hiện nay, đối với các dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công, dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (dự án PPP) thì việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng thực hiện theo Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng thực hiện theo Điều 31 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP, Phụ lục số VIII Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về ban hành định mức xây dựng. Định mức chi phí lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật xác định theo Mục 2.6 và Bảng 2.3 Mục 2 Chương II Phần II Phụ lục số VIII Thông tư số 12/2021/TT-BXD. Chi phí thẩm tra báo cáo kinh tế - kỹ thuật xác định trên cơ sở định mức chi phí thẩm tra thiết kế và định mức chi phí thẩm tra dự toán ban hành tại Thông tư số 12/2021/TT-BXD nhân với chi phí xây dựng (chưa có thuế giá trị gia tăng) trong báo cáo kinh tế - kỹ thuật và điều chỉnh với hệ số k = 1,2. Đối với công trình có sử dụng thiết kế điển hình, thiết kế mẫu do cơ quan có thẩm quyền ban hành thì chi phí thẩm tra thiết kế, thẩm tra dự toán của công trình được điều chỉnh với hệ số k = 0,36 đối với công trình thứ hai trở đi. Trường hợp áp dụng định mức chi phí tư vấn không phù hợp thì lập dự toán theo Phụ lục VI Thông tư số 11/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng."
}
],
"id": "681",
"is_impossible": false,
"question": "Dự án có thiết kế lặp lại, xác định chi phí thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Dự án có thiết kế lặp lại, xác định chi phí thế nào?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Người đi xe máy có nhiều vi phạmNgày 27/2, Đội CSGT đường bộ số 4 (Công an TP Hà Nội) đã bàn giao 2 người đàn ông đi xe máy SH đánh người trên đường Vành đai 2 trên cao tới Công an quận Hai Bà Trưng (Hà Nội).Theo xác minh ban đầu, vụ việc xảy ra khoảng 16h ngày 25/2. Lúc này N.P.T.A (sinh năm 1996, trú tại Long Biên, Hà Nội) điều khiển ô tô đi trên đường đường Vành đai 2 trên cao hướng cầu Vĩnh Tuy - Ngã Tư Sở.Khi đi đến đoạn phía trên cầu Mai Động, ô tô do A điều khiển bị xe máy SH màu da cam do Trần Văn Hiệp (sinh năm 1986, trú tại quận Hai Bà Trưng) lái chở Trịnh Thịnh (sinh năm 1980) lạng lách, tạt đầu.Trần Văn Hiệp và Trịnh Thịnh tại cơ quan công an.Sau đó, Hiệp và Thịnh đập vào xe của A chửi bới, rồi tiếp tục chạy tạt đầu, chặn xe ô tô màu trắng, biển số 30K-840.XX đi phía trước.Tiếp theo, Hiệp và Thịnh xuống khỏi xe máy, giật cửa xe ô tô màu trắng biển số 30K-840.XX.. Khi hai người trong chiếc ô tô mở cửa xe, hai bên đã xảy ra xô xát.Tại cơ quan công an, Hiệp và Thịnh khai nhận nguyên nhân vụ việc là do trước đó, xe máy SH đã xảy ra va chạm với xe ô tô của A. Hiện, cơ quan chức năng đang tiếp tục xác minh vụ việc. Tuy nhiên, nhìn nhận sự việc dưới góc độ pháp lý, tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng văn phòng Luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho rằng, đây là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như điều khiển xe máy vào đường cấm, lạng lách, đánh võng, không đội mũ bảo hiểm.Clip 2 thanh niên đi xe máy lên đường trên cao, tạt đầu và hành hung tài xế ô tô ở TP Hà Nội.Ngoài vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, hai thanh niên đi xe máy lại có hành vi chặn đầu xe ô tô, hành hung người tham gia giao thông trên xe ô tô, có dấu hiệu gây rối trật tự công cộng và cố ý gây thương tích.Xét hậu quả để xử lý vi phạmTheo luật sư Đặng Văn Cường, cơ quan chức năng sẽ làm rõ nguyên nhân sự việc và xác định hậu quả đối với nạn nhân và xã hội để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.\"Trong vụ việc nói trên, cơ quan chức năng sẽ làm rõ vì sao lại có mâu thuẫn giữa hai người trên xe ô tô và hai người đi xe máy. Từ đó, xác định hành vi của các bên liên quan để đánh giá nguyên nhân, bản chất sự việc\", luật sư Cường nói.Đồng thời, công an cũng sẽ làm rõ hành vi chặn đầu xe và đánh hai người trên xe ô tô đã gây ra hậu quả như thế nào. Trong trường hợp này, cơ quan công an sẽ xét hai hậu quả.Thứ nhất, trường hợp hai người trên xe ô tô có thương tích xảy ra, dù thương tích dưới 11% nhưng nạn nhân đề nghị xử lý thì cơ quan điều tra cũng sẽ khởi tố về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự.Hình phạt cho tội danh này là cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.Tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng văn phòng Luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Thứ hai, trường hợp hai nạn nhân không đề nghị xử lý hình sự về tội cố ý gây thương tích và hậu quả thương tích chưa xảy ra, nhưng đây là hành vi đánh người nơi công cộng và ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội thì cơ quan điều tra cũng có thể khởi tố hai thanh niên đi xe máy về tội gây rối trật tự công cộng theo Điều 318 Bộ luật Hình sự.Còn trường hợp không đủ căn cứ để xử lý hình sự, hai thanh niên đi xe máy SH vẫn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm giao thông đường bộ và hành vi gây rối trật tự công cộng.Ngoài ra, cơ quan chức năng cũng sẽ làm rõ hành vi của hai người trên xe ô tô.Nếu trường hợp kết quả xác minh cho thấy, 2 người này bị đe dọa, uy hiếp và bị đánh trước, sau đó có hành vi dùng vũ lực một cách cần thiết để chống trả thì đây được xem là tình tiết phòng vệ chính đáng, sẽ được loại trừ trách nhiệm hình sự cũng như các trách nhiệm pháp lý khác.\"Rất nhiều người cho rằng, đây là hành vi phòng vệ chính đáng vì các đối tượng đi xe mô tô đã chửi bởi, xúc phạm, chặn xe, hành hung hai người trên xe ô tô. Rõ ràng những người này được phòng vệ, tự vệ, chống trả một cách cần thiết, được sự đồng tình của dư luận\", luật sư Cường phân tích.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Người đi xe máy có nhiều vi phạmNgày 27/2, Đội CSGT đường bộ số 4 (Công an TP Hà Nội) đã bàn giao 2 người đàn ông đi xe máy SH đánh người trên đường Vành đai 2 trên cao tới Công an quận Hai Bà Trưng (Hà Nội).Theo xác minh ban đầu, vụ việc xảy ra khoảng 16h ngày 25/2. Lúc này N.P.T.A (sinh năm 1996, trú tại Long Biên, Hà Nội) điều khiển ô tô đi trên đường đường Vành đai 2 trên cao hướng cầu Vĩnh Tuy - Ngã Tư Sở.Khi đi đến đoạn phía trên cầu Mai Động, ô tô do A điều khiển bị xe máy SH màu da cam do Trần Văn Hiệp (sinh năm 1986, trú tại quận Hai Bà Trưng) lái chở Trịnh Thịnh (sinh năm 1980) lạng lách, tạt đầu.Trần Văn Hiệp và Trịnh Thịnh tại cơ quan công an.Sau đó, Hiệp và Thịnh đập vào xe của A chửi bới, rồi tiếp tục chạy tạt đầu, chặn xe ô tô màu trắng, biển số 30K-840.XX đi phía trước.Tiếp theo, Hiệp và Thịnh xuống khỏi xe máy, giật cửa xe ô tô màu trắng biển số 30K-840.XX.. Khi hai người trong chiếc ô tô mở cửa xe, hai bên đã xảy ra xô xát.Tại cơ quan công an, Hiệp và Thịnh khai nhận nguyên nhân vụ việc là do trước đó, xe máy SH đã xảy ra va chạm với xe ô tô của A. Hiện, cơ quan chức năng đang tiếp tục xác minh vụ việc. Tuy nhiên, nhìn nhận sự việc dưới góc độ pháp lý, tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng văn phòng Luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho rằng, đây là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như điều khiển xe máy vào đường cấm, lạng lách, đánh võng, không đội mũ bảo hiểm.Clip 2 thanh niên đi xe máy lên đường trên cao, tạt đầu và hành hung tài xế ô tô ở TP Hà Nội.Ngoài vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, hai thanh niên đi xe máy lại có hành vi chặn đầu xe ô tô, hành hung người tham gia giao thông trên xe ô tô, có dấu hiệu gây rối trật tự công cộng và cố ý gây thương tích.Xét hậu quả để xử lý vi phạmTheo luật sư Đặng Văn Cường, cơ quan chức năng sẽ làm rõ nguyên nhân sự việc và xác định hậu quả đối với nạn nhân và xã hội để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.\"Trong vụ việc nói trên, cơ quan chức năng sẽ làm rõ vì sao lại có mâu thuẫn giữa hai người trên xe ô tô và hai người đi xe máy. Từ đó, xác định hành vi của các bên liên quan để đánh giá nguyên nhân, bản chất sự việc\", luật sư Cường nói.Đồng thời, công an cũng sẽ làm rõ hành vi chặn đầu xe và đánh hai người trên xe ô tô đã gây ra hậu quả như thế nào. Trong trường hợp này, cơ quan công an sẽ xét hai hậu quả.Thứ nhất, trường hợp hai người trên xe ô tô có thương tích xảy ra, dù thương tích dưới 11% nhưng nạn nhân đề nghị xử lý thì cơ quan điều tra cũng sẽ khởi tố về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự.Hình phạt cho tội danh này là cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.Tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng văn phòng Luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Thứ hai, trường hợp hai nạn nhân không đề nghị xử lý hình sự về tội cố ý gây thương tích và hậu quả thương tích chưa xảy ra, nhưng đây là hành vi đánh người nơi công cộng và ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội thì cơ quan điều tra cũng có thể khởi tố hai thanh niên đi xe máy về tội gây rối trật tự công cộng theo Điều 318 Bộ luật Hình sự.Còn trường hợp không đủ căn cứ để xử lý hình sự, hai thanh niên đi xe máy SH vẫn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm giao thông đường bộ và hành vi gây rối trật tự công cộng.Ngoài ra, cơ quan chức năng cũng sẽ làm rõ hành vi của hai người trên xe ô tô.Nếu trường hợp kết quả xác minh cho thấy, 2 người này bị đe dọa, uy hiếp và bị đánh trước, sau đó có hành vi dùng vũ lực một cách cần thiết để chống trả thì đây được xem là tình tiết phòng vệ chính đáng, sẽ được loại trừ trách nhiệm hình sự cũng như các trách nhiệm pháp lý khác.\"Rất nhiều người cho rằng, đây là hành vi phòng vệ chính đáng vì các đối tượng đi xe mô tô đã chửi bởi, xúc phạm, chặn xe, hành hung hai người trên xe ô tô. Rõ ràng những người này được phòng vệ, tự vệ, chống trả một cách cần thiết, được sự đồng tình của dư luận\", luật sư Cường phân tích."
}
],
"id": "682",
"is_impossible": false,
"question": "Tình huống pháp lý vụ 2 thanh niên tạt đầu ô tô, đánh tài xế trên đường Vành đai 2"
}
]
}
],
"title": "Tình huống pháp lý vụ 2 thanh niên tạt đầu ô tô, đánh tài xế trên đường Vành đai 2"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Cục Cảnh sát giao thông (CSGT), Bộ Công an cho biết, Đội Tuần tra kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc số 4 đang tăng cường kiểm soát, xử lý các trường hợp tránh, vượt và các hành vi khác nguy cơ gây mất an toàn trên các tuyến cao tốc.Cảnh sát sẽ khép kín địa bàn 24/24h, trong đó lực lượng mặc thường phục kết hợp xe công vụ di chuyển trên tuyến và đứng tại các điểm để ghi hình. Sau đó, thông tin được báo cho các chốt liền kề lập biên bản hoặc gửi thông báo phạt nguội đối với tài xế vi phạm.Cơ quan chức năng lưu ý người vi phạm hay chủ sở hữu phương tiện bị phạt nguội cầu lưu ý, khi đến làm việc cần mang theo các loại giấy tờ gồm: Thông báo vi phạm; giấy tờ liên quan đến phương tiện và người điều khiển vi phạm.Clip xe khách vượt ẩu trên cao tốc Cam Lộ - La Sơn.Khi tiếp nhận thông tin, cán bộ chức năng sẽ cho người vi phạm xem lại hình ảnh phương tiện vi phạm. Người vi phạm xác nhận đúng lỗi, CSGT lập biên bản vi phạm và ra quyết định xử phạt.Người vi phạm nhận quyết định xử phạt cần đến địa điểm nộp phạt tại Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại nơi Kho bạc Nhà nước ủy nhiệm thu tiền phạt được ghi trong quyết định xử phạt (hoặc nộp qua bưu điện thu hộ).Sau khi nộp phạt, người vi phạm nộp biên lai cho cán bộ chức năng và nhận lại giấy tờ bị tạm giữ.Nếu sau 15 ngày mà người vi phạm vẫn chưa đến cơ quan chức năng để phối hợp giải quyết vụ việc vi phạm hành chính, Phòng CSGT phối hợp với công an phường, xã, thị trấn để gửi lại thông báo vi phạm tới chủ phương tiện.Trường hợp tài xế vi phạm mà ở các địa phương cách xa cơ quan nơi phát hiện vi phạm, thì có thể đến công an cấp xã hoặc cấp huyện nơi người đó cư trú để giải quyết, xử lý vụ việc vi phạm.Người dân còn có thể thực hiện việc nộp tiền xử phạt vi phạm hành chính qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công Bộ Công an và đăng ký nhận lại giấy tờ bị tạm giữ thông qua dịch vụ bưu chính công ích.Tình trạng vượt trái quy định trên cao tốc diễn ra phổ biến.Cũng theo Cục CSGT, Điều 80 Nghị định 100/NĐ-CP quy định rõ, nếu chủ phương tiện không đến phối hợp giải quyết sau khi bị phạt nguội, CSGT sẽ gửi thông báo cho cơ quan đăng kiểm để đưa vào cảnh báo phương tiện trên hệ thống đăng kiểm.Khi phương tiện đến làm thủ tục kiểm định, cơ quan đăng kiểm thông báo cho người liên quan biết về việc vi phạm đó và đề nghị đi nộp phạt.Sau khi người vi phạm giải quyết vụ việc theo quy định, người có thẩm quyền xử phạt phải gửi thông báo ngay cho cơ quan đăng kiểm biết để xóa cảnh báo phương tiện liên quan đến vi phạm hành chính trên chương trình quản lý kiểm định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 640,
"text": "Thông báo vi phạm; giấy tờ liên quan đến phương tiện và người điều khiển vi phạm.Clip xe khách vượt ẩu trên cao tốc Cam Lộ - La Sơn.Khi tiếp nhận thông tin, cán bộ chức năng sẽ cho người vi phạm xem lại hình ảnh phương tiện vi phạm. Người vi phạm xác nhận đúng lỗi, CSGT lập biên bản vi phạm và ra quyết định xử phạt.Người vi phạm nhận quyết định xử phạt cần đến địa điểm nộp phạt tại Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại nơi Kho bạc Nhà nước ủy nhiệm thu tiền phạt được ghi trong quyết định xử phạt (hoặc nộp qua bưu điện thu hộ).Sau khi nộp phạt, người vi phạm nộp biên lai cho cán bộ chức năng và nhận lại giấy tờ bị tạm giữ.Nếu sau 15 ngày mà người vi phạm vẫn chưa đến cơ quan chức năng để phối hợp giải quyết vụ việc vi phạm hành chính, Phòng CSGT phối hợp với công an phường, xã, thị trấn để gửi lại thông báo vi phạm tới chủ phương tiện.Trường hợp tài xế vi phạm mà ở các địa phương cách xa cơ quan nơi phát hiện vi phạm, thì có thể đến công an cấp xã hoặc cấp huyện nơi người đó cư trú để giải quyết, xử lý vụ việc vi phạm.Người dân còn có thể thực hiện việc nộp tiền xử phạt vi phạm hành chính qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công Bộ Công an và đăng ký nhận lại giấy tờ bị tạm giữ thông qua dịch vụ bưu chính công ích.Tình trạng vượt trái quy định trên cao tốc diễn ra phổ biến.Cũng theo Cục CSGT, Điều 80 Nghị định 100/NĐ-CP quy định rõ, nếu chủ phương tiện không đến phối hợp giải quyết sau khi bị phạt nguội, CSGT sẽ gửi thông báo cho cơ quan đăng kiểm để đưa vào cảnh báo phương tiện trên hệ thống đăng kiểm.Khi phương tiện đến làm thủ tục kiểm định, cơ quan đăng kiểm thông báo cho người liên quan biết về việc vi phạm đó và đề nghị đi nộp phạt.Sau khi người vi phạm giải quyết vụ việc theo quy định, người có thẩm quyền xử phạt phải gửi thông báo ngay cho cơ quan đăng kiểm biết để xóa cảnh báo phương tiện liên quan đến vi phạm hành chính trên chương trình quản lý kiểm định."
}
],
"id": "683",
"is_impossible": false,
"question": "Bị CSGT ghi hình phạt nguội trên cao tốc, tài xế nộp phạt ở đâu?"
}
]
}
],
"title": "Bị CSGT ghi hình phạt nguội trên cao tốc, tài xế nộp phạt ở đâu?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Trường hợp công trình nhà ở thuộc dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở để bán của doanh nghiệp, việc hoàn thiện nhà ở phải bảo đảm phù hợp theo quy hoạch được phê duyệt, thiết kế được thẩm định, phê duyệt, giấy phép xây dựng (nếu có) theo quy định của pháp luật về xây dựng hiện hành. Ảnh minh họa (nguồn: TL). Năm 2015, bà Nguyễn Thị Thanh Bình (Thành phố Hồ Chí Minh) mua nhà ở xây sẵn từ công ty địa ốc và nay muốn hoàn thiện để ở. Tổng diện tích đất 100m2 (5 x 20). Nhà được xây 3,5 tầng, chừa sân sau 5 x 2,3m và sân phơi 20m2 trên tầng áp mái. Nhà có chiều dài 17,7 x 5m với bốn lỗ thông tầng 0,68 x 2,13 = 1,45m2 (trên cầu thang); 3, 2 x 1,7 = 5,44m2 và hai lỗ thông tầng dọc hành lang 2,6 x 0,65 = 1,69m2 và 1,64 x 0,65 = 1,066m2. Diện tích xây dựng thuần trên hồ sơ là 305m2, bằng 30,5% diện tích đất. Dự án có đầy đủ pháp lý. Bà Bình nhận nhà cuối năm 2016, tuy nhiên bà không thể hoàn thiện nhà vì khi chủ đầu tư nhận đất (đã có tường 20cm bao quanh) thì phần không gian và một phần đất đã bị lấn chiếm nên chủ đầu tư không thể thi công sân sau. Do chủ đầu tư chưa thi công sân sau, nên sân sau không có hệ thống thoát nước khiến nước thải sinh hoạt từ bếp ăn, bồn tiểu tràn ra sân. Hiện trạng nêu trên có từ khi bà Bình nhận nhà và tồn tại đến bây giờ, chủ đầu tư không giải quyết được nên vẫn chưa thể giao phần sân cho bà Bình. Vì nhà chưa hoàn thiện, nên bà Bình chưa được cấp sổ đỏ. Do sự bất tiện của các lỗ thông tầng, hành lang hẹp (sau hoàn thiện còn chừng 80cm), nắng thì gay gắt, để thông gió thì mưa hắt, ngoài ra còn nỗi ám ảnh độ cao khi đứng cạnh ô thông tầng, nên phần lớn dân cư trong khu đã lấp lỗ thông tầng từ những năm 2016 – 2018 và toàn bộ đã được cấp sổ đỏ. Những nhà cùng dãy với nhà bà Bình mới cấp sổ đỏ đầu năm 2024, nghĩa là nhiều năm sau khi lấp lỗ thông tầng. Nay gia đình bà Bình có ý định lấp 3 lỗ thông tầng, chỉ để lại lỗ thông tầng trên cầu thang, khi đó diện tích xây dựng thuần là 330m2 ứng với mật độ xây dựng thuần 33% diện tích đất. Như vậy, diện tích xây dựng thuần cho phép với mảnh đất 100m2 trước ngày 5/7/2021 là 80m2 và sau ngày 5/7/2021 là 90m2. Hiện tại, mật độ xây dựng cho phép đã là 90m2 (90%), nên việc để các ô thông tầng như thiết kế là không cần thiết mà vẫn đáp ứng đầy đủ quy định về mật độ xây dựng thuần cũng như hệ số sử dụng đất theo luật hiện hành. Tuy nhiên khi bà Bình lên hỏi công ty địa ốc, Thanh tra xây dựng quận, Sở Xây dựng về việc lấp lỗ thông tầng và viện dẫn QCVN 01/2021/TT-BXD, Điều 89 Luật Xây dựng sửa đổi số 62/2020/QH14 thì được trả lời, nhà trong các dự án do các công ty bất động sản xây dựng không phải là nhà ở riêng lẻ mà thuộc loại hình nhà ở dự án, nên không thuộc phạm vi Bảng 2.8 QCVN 01/2021/TT-BXD, Điểm d Điều 89 Luật số 62/2020/QH14, sẽ bị cấm tập trung vật liệu và hoàn thiện nhà nếu lấp lỗ thông tầng trong nhà dù không vi phạm mật độ xây dựng thuần cũng như hệ số sử dụng đất. Ngược lại, nếu bà đã có sổ đỏ thì có thể lấp lỗ thông tầng và thay đổi mặt bằng trong nhà. Bà Bình hỏi, bà có được phép lấp lỗ thông tầng khi hoàn thiện nhà xây thô đã nhận từ năm 2016 không? Nếu không được phép thì vì sao? Tại sao chỉ được phép lấp lỗ thông tầng khi đã có sổ đỏ? Nếu được phép lấp lỗ thông thì bà cần phải xin giấy tờ gì nữa không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Do nội dung hỏi không gửi kèm đầy đủ hồ sơ thiết kế được phê duyệt của dự án, vì vậy không có đầy đủ cơ sở pháp lý để xem xét nội dung đề nghị giải đáp vướng mắc của bà. Trường hợp công trình nhà ở của bà thuộc dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở để bán của doanh nghiệp, việc hoàn thiện nhà ở (công trình xây dựng) phải bảo đảm phù hợp theo quy hoạch được phê duyệt, thiết kế được thẩm định, phê duyệt, giấy phép xây dựng (nếu có) theo quy định của pháp luật về xây dựng hiện hành. Trường hợp cải tạo, sửa chữa nhà ở (công trình xây dựng) hiện hữu, đề nghị bà liên hệ với cơ quan có thẩm quyền về quản lý trật tự xây dựng ở địa phương để được hướng dẫn theo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 314,
"text": "TL). Năm 2015, bà Nguyễn Thị Thanh Bình (Thành phố Hồ Chí Minh) mua nhà ở xây sẵn từ công ty địa ốc và nay muốn hoàn thiện để ở. Tổng diện tích đất 100m2 (5 x 20). Nhà được xây 3,5 tầng, chừa sân sau 5 x 2,3m và sân phơi 20m2 trên tầng áp mái. Nhà có chiều dài 17,7 x 5m với bốn lỗ thông tầng 0,68 x 2,13 = 1,45m2 (trên cầu thang); 3, 2 x 1,7 = 5,44m2 và hai lỗ thông tầng dọc hành lang 2,6 x 0,65 = 1,69m2 và 1,64 x 0,65 = 1,066m2. Diện tích xây dựng thuần trên hồ sơ là 305m2, bằng 30,5% diện tích đất. Dự án có đầy đủ pháp lý. Bà Bình nhận nhà cuối năm 2016, tuy nhiên bà không thể hoàn thiện nhà vì khi chủ đầu tư nhận đất (đã có tường 20cm bao quanh) thì phần không gian và một phần đất đã bị lấn chiếm nên chủ đầu tư không thể thi công sân sau. Do chủ đầu tư chưa thi công sân sau, nên sân sau không có hệ thống thoát nước khiến nước thải sinh hoạt từ bếp ăn, bồn tiểu tràn ra sân. Hiện trạng nêu trên có từ khi bà Bình nhận nhà và tồn tại đến bây giờ, chủ đầu tư không giải quyết được nên vẫn chưa thể giao phần sân cho bà Bình. Vì nhà chưa hoàn thiện, nên bà Bình chưa được cấp sổ đỏ. Do sự bất tiện của các lỗ thông tầng, hành lang hẹp (sau hoàn thiện còn chừng 80cm), nắng thì gay gắt, để thông gió thì mưa hắt, ngoài ra còn nỗi ám ảnh độ cao khi đứng cạnh ô thông tầng, nên phần lớn dân cư trong khu đã lấp lỗ thông tầng từ những năm 2016 – 2018 và toàn bộ đã được cấp sổ đỏ. Những nhà cùng dãy với nhà bà Bình mới cấp sổ đỏ đầu năm 2024, nghĩa là nhiều năm sau khi lấp lỗ thông tầng. Nay gia đình bà Bình có ý định lấp 3 lỗ thông tầng, chỉ để lại lỗ thông tầng trên cầu thang, khi đó diện tích xây dựng thuần là 330m2 ứng với mật độ xây dựng thuần 33% diện tích đất. Như vậy, diện tích xây dựng thuần cho phép với mảnh đất 100m2 trước ngày 5/7/2021 là 80m2 và sau ngày 5/7/2021 là 90m2. Hiện tại, mật độ xây dựng cho phép đã là 90m2 (90%), nên việc để các ô thông tầng như thiết kế là không cần thiết mà vẫn đáp ứng đầy đủ quy định về mật độ xây dựng thuần cũng như hệ số sử dụng đất theo luật hiện hành. Tuy nhiên khi bà Bình lên hỏi công ty địa ốc, Thanh tra xây dựng quận, Sở Xây dựng về việc lấp lỗ thông tầng và viện dẫn QCVN 01/2021/TT-BXD, Điều 89 Luật Xây dựng sửa đổi số 62/2020/QH14 thì được trả lời, nhà trong các dự án do các công ty bất động sản xây dựng không phải là nhà ở riêng lẻ mà thuộc loại hình nhà ở dự án, nên không thuộc phạm vi Bảng 2.8 QCVN 01/2021/TT-BXD, Điểm d Điều 89 Luật số 62/2020/QH14, sẽ bị cấm tập trung vật liệu và hoàn thiện nhà nếu lấp lỗ thông tầng trong nhà dù không vi phạm mật độ xây dựng thuần cũng như hệ số sử dụng đất. Ngược lại, nếu bà đã có sổ đỏ thì có thể lấp lỗ thông tầng và thay đổi mặt bằng trong nhà. Bà Bình hỏi, bà có được phép lấp lỗ thông tầng khi hoàn thiện nhà xây thô đã nhận từ năm 2016 không? Nếu không được phép thì vì sao? Tại sao chỉ được phép lấp lỗ thông tầng khi đã có sổ đỏ? Nếu được phép lấp lỗ thông thì bà cần phải xin giấy tờ gì nữa không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Do nội dung hỏi không gửi kèm đầy đủ hồ sơ thiết kế được phê duyệt của dự án, vì vậy không có đầy đủ cơ sở pháp lý để xem xét nội dung đề nghị giải đáp vướng mắc của bà. Trường hợp công trình nhà ở của bà thuộc dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở để bán của doanh nghiệp, việc hoàn thiện nhà ở (công trình xây dựng) phải bảo đảm phù hợp theo quy hoạch được phê duyệt, thiết kế được thẩm định, phê duyệt, giấy phép xây dựng (nếu có) theo quy định của pháp luật về xây dựng hiện hành. Trường hợp cải tạo, sửa chữa nhà ở (công trình xây dựng) hiện hữu, đề nghị bà liên hệ với cơ quan có thẩm quyền về quản lý trật tự xây dựng ở địa phương để được hướng dẫn theo quy định."
}
],
"id": "684",
"is_impossible": false,
"question": "Hoàn thiện nhà xây thô phải phù hợp với quy hoạch và thiết kế"
}
]
}
],
"title": "Hoàn thiện nhà xây thô phải phù hợp với quy hoạch và thiết kế"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Gửi câu hỏi đến Báo Giao thông, anh Nguyễn Văn Tiến (quậnNam Từ Liêm, TP Hà Nội) cho biết, giữa tháng 2/2024, anh điều khiển xe máy vi phạm nồng độ cồn ở mức trên 0,4mg/lít khí thở, nên đã bị phạt 7 triệu đồng và tước giấy phép lái xe 23 tháng.\"Xin hỏi, nếu bây giờ tôi tiếp tục vi phạm nồng độ cồn ở mức cao nhất khi lái xe thì có bị tăng mức phạt không?\", anh Tiến hỏi.Hành vi vi phạm nồng độ cồn nhiều lần trong thời gian ngắn được xác định là tình tiết tăng nặng.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, căn cứ theo Nghị định 100/2019 sửa đổi bởi Nghị định 123/2021, người điều khiển xe máy khi có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililit máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở, sẽ bị phạt tiền từ 6-8 triệu đồng, tước giấy phép lái xe từ 22-24 tháng. Đây là mức phạt cao nhất của khung hình phạt tài xế xe máy vi phạm nồng độ cồn.Tại điểm b Khoản 1 Điều 9 Nghị định 118/2021(quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính), quy định đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung phạt tiền được quy định đối với hành vi đó. \"Trong trường hợp có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên, thì áp dụng mức tối thiểu của khung tiền phạt. Nếu có từ hai tình tiết tăng nặng trở lên thì áp dụng mức tối đa của khung tiền phạt. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đã được quy định cụ thể tại Luật Xử lý vi phạm hành chính\", luật sư Lực cho hay.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội)\"Đối với hành vi vi phạm nồng độ cồn lần hai trong thời gian ngắn, ngoài việc bị xử phạt không có giấy phép lái xe (vì lúc này giấy phép lái xe đã bị tạm giữ), thì còn bị xác định là vi phạm nồng độ cồn nhiều lần, tái phạm. Đây được xác định là tình tiết tăng nặng. Do đó, người vi phạm có thể sẽ bị áp dụng mức hình phạt tối đa là 8 triệu đồng thay vì mức trung bình 7 triệu đồng vừa bị phạt\", luật sư Lực nói.Mức phạt lỗi không có bằng lái xe với xe máy dung tích xi lanh dưới 175 cm3 và các loại xe tương tự xe mô tô là từ 1-2 triệu đồng; với xe mô tô hai bánh có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên, xe mô tô ba bánh thì từ 4-5 triệu đồng.Mức phạt lỗi không có bằng lái xe với xe ô tô là phạt tiền từ 10-12 triệu đồng theo quy định.\"Ngoài ra, Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 còn quy định người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả như làm chết người; làm người khác thương tật từ 61% trở lên hay gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng trở lên sẽ bị xử lý về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.Trường hợp người gây tai nạn không có giấy phép lái xe theo quy định hoặc trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, khung hình phạt theo khoản 2 Điều này có thể là phạt tù 3-10 năm\", luật sư Lực thông tin thêm.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Gửi câu hỏi đến Báo Giao thông, anh Nguyễn Văn Tiến (quậnNam Từ Liêm, TP Hà Nội) cho biết, giữa tháng 2/2024, anh điều khiển xe máy vi phạm nồng độ cồn ở mức trên 0,4mg/lít khí thở, nên đã bị phạt 7 triệu đồng và tước giấy phép lái xe 23 tháng.\"Xin hỏi, nếu bây giờ tôi tiếp tục vi phạm nồng độ cồn ở mức cao nhất khi lái xe thì có bị tăng mức phạt không?\", anh Tiến hỏi.Hành vi vi phạm nồng độ cồn nhiều lần trong thời gian ngắn được xác định là tình tiết tăng nặng.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, căn cứ theo Nghị định 100/2019 sửa đổi bởi Nghị định 123/2021, người điều khiển xe máy khi có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililit máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở, sẽ bị phạt tiền từ 6-8 triệu đồng, tước giấy phép lái xe từ 22-24 tháng. Đây là mức phạt cao nhất của khung hình phạt tài xế xe máy vi phạm nồng độ cồn.Tại điểm b Khoản 1 Điều 9 Nghị định 118/2021(quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính), quy định đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung phạt tiền được quy định đối với hành vi đó. \"Trong trường hợp có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên, thì áp dụng mức tối thiểu của khung tiền phạt. Nếu có từ hai tình tiết tăng nặng trở lên thì áp dụng mức tối đa của khung tiền phạt. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đã được quy định cụ thể tại Luật Xử lý vi phạm hành chính\", luật sư Lực cho hay.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội)\"Đối với hành vi vi phạm nồng độ cồn lần hai trong thời gian ngắn, ngoài việc bị xử phạt không có giấy phép lái xe (vì lúc này giấy phép lái xe đã bị tạm giữ), thì còn bị xác định là vi phạm nồng độ cồn nhiều lần, tái phạm. Đây được xác định là tình tiết tăng nặng. Do đó, người vi phạm có thể sẽ bị áp dụng mức hình phạt tối đa là 8 triệu đồng thay vì mức trung bình 7 triệu đồng vừa bị phạt\", luật sư Lực nói.Mức phạt lỗi không có bằng lái xe với xe máy dung tích xi lanh dưới 175 cm3 và các loại xe tương tự xe mô tô là từ 1-2 triệu đồng; với xe mô tô hai bánh có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên, xe mô tô ba bánh thì từ 4-5 triệu đồng.Mức phạt lỗi không có bằng lái xe với xe ô tô là phạt tiền từ 10-12 triệu đồng theo quy định.\"Ngoài ra, Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 còn quy định người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả như làm chết người; làm người khác thương tật từ 61% trở lên hay gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng trở lên sẽ bị xử lý về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.Trường hợp người gây tai nạn không có giấy phép lái xe theo quy định hoặc trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, khung hình phạt theo khoản 2 Điều này có thể là phạt tù 3-10 năm\", luật sư Lực thông tin thêm."
}
],
"id": "685",
"is_impossible": false,
"question": "Tái vi phạm nồng độ cồn có bị tăng mức phạt không?"
}
]
}
],
"title": "Tái vi phạm nồng độ cồn có bị tăng mức phạt không?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Đối với các xã đã và đang tổ chức lập quy hoạch phân khu đô thị, định hướng thành lập phường, sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đô thị theo quy định là cơ sở để đánh giá đảm bảo tiêu chí quy hoạch để xem xét, đánh giá, công nhận xã nông thôn mới nâng cao. Đối với các xã thuộc đô thị đã có quy chế quản lý kiến trúc đô thị theo quy định tại Nghị định số 85/2020/NĐ-CP ngày 17/7/2020 của Chính phủ quy định một số điều của Luật Kiến trúc thì không cần lập quy chế quản lý kiến trúc điểm dân cư nông thôn. Liên quan đến đề nghị hướng dẫn xem xét, đánh giá công nhận tiêu chí 1 – quy hoạch xã nông thôn mới nâng cao đối với các xã thuộc quy hoạch chung đô thị của Sở Xây dựng Trà Vinh, mới đây, Bộ Xây dựng đã có văn bản trả lời vấn đề này. Bộ Xây dựng cho biết, đối với xã thuộc đô thị đã có quy hoạch chung đô thị, quy hoạch phân khu đô thị được phê duyệt, đảm bảo đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao được quy định tại nội dung 1.1 tiêu chí số 1 về quy hoạch theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 – 2025. Ngoài ra, để đảm bảo xét công nhận xã nông thôn mới nâng cao cần đảm bảo nội dung 1.3 tiêu chí số 1 về quy hoạch theo Quyết định số 318/QĐ-TTg, cụ thể: “Có quy hoạch chi tiết xây dựng trung tâm xã hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư mới phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của địa phương và phù hợp với định hướng đô thị hóa theo quy hoạch cấp trên”. Theo Bộ Xây dựng, đối với các xã thuộc quy hoạch chung đô thị và quy hoạch phân khu đô thị đã được phê duyệt thì quy hoạch chi tiết trung tâm xã lúc này sẽ là các trung tâm theo cấp hành chính đô thị và được thực hiện theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, Nghị định số 37/2010/NĐ-CP ngày 07/4/2010 của Chính phủ về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị. Đối với các xã đã và đang tổ chức lập quy hoạch phân khu đô thị (định hướng thành lập phường), sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đô thị theo quy định là cơ sở để đánh giá đảm bảo tiêu chí quy hoạch để xem xét, đánh giá, công nhận xã nông thôn mới nâng cao. Đối với các xã thuộc đô thị đã có quy chế quản lý kiến trúc đô thị theo quy định tại Nghị định số 85/2020/NĐ-CP ngày 17/7/2020 của Chính phủ quy định một số điều của Luật Kiến trúc thì không cần lập quy chế quản lý kiến trúc điểm dân cư nông thôn. Bộ Xây dựng lưu ý, việc đề nghị lấy ý kiến của Hội đồng nhân dân cấp huyện thông qua Quy chế quản lý kiến trúc điểm dân cư nông thôn, cần thực hiện theo quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2013 và Luật số 47/2019/QH14 ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1332,
"text": "“Có quy hoạch chi tiết xây dựng trung tâm xã hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư mới phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của địa phương và phù hợp với định hướng đô thị hóa theo quy hoạch cấp trên”. Theo Bộ Xây dựng, đối với các xã thuộc quy hoạch chung đô thị và quy hoạch phân khu đô thị đã được phê duyệt thì quy hoạch chi tiết trung tâm xã lúc này sẽ là các trung tâm theo cấp hành chính đô thị và được thực hiện theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, Nghị định số 37/2010/NĐ-CP ngày 07/4/2010 của Chính phủ về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị. Đối với các xã đã và đang tổ chức lập quy hoạch phân khu đô thị (định hướng thành lập phường), sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đô thị theo quy định là cơ sở để đánh giá đảm bảo tiêu chí quy hoạch để xem xét, đánh giá, công nhận xã nông thôn mới nâng cao. Đối với các xã thuộc đô thị đã có quy chế quản lý kiến trúc đô thị theo quy định tại Nghị định số 85/2020/NĐ-CP ngày 17/7/2020 của Chính phủ quy định một số điều của Luật Kiến trúc thì không cần lập quy chế quản lý kiến trúc điểm dân cư nông thôn. Bộ Xây dựng lưu ý, việc đề nghị lấy ý kiến của Hội đồng nhân dân cấp huyện thông qua Quy chế quản lý kiến trúc điểm dân cư nông thôn, cần thực hiện theo quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2013 và Luật số 47/2019/QH14 ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương."
}
],
"id": "686",
"is_impossible": false,
"question": "Căn cứ đánh giá, công nhận tiêu chí quy hoạch xã nông thôn mới"
}
]
}
],
"title": "Căn cứ đánh giá, công nhận tiêu chí quy hoạch xã nông thôn mới"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Muốn lắp phải có hồ sơ cải tạoBạn đọc Vũ Văn Toàn (Hạ Long, Quảng Ninh) phản ánh: Dịp Tết vừa qua, đi trên đường tôi thấy một số ô tô con gắn thêm giá trên nóc sau đó có chằng vali và một số hàng hóa như cành hoa đào, xe đạp gấp, đồ gia dụng...\"Xin hỏi, việc gắn thêm giá trên nóc xe ô tô có đúng quy định không và việc chở hàng cồng kềnh như vậy có bị xử phạt?\", anh Toàn hỏi.Muốn lắp thêm giá trên nóc xe ô tô, chủ xe phải lập hồ sơ cải tạo gửi đến trung tâm đăng kiểm thẩm định thì chiếc xe đó mới được đăng kiểm.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, Thông tư 43/2023 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 85/2014 của Bộ GTVT cho phép đăng kiểm 19 trường hợp cải tạo ô tô mà không cần lập hồ sơ thiết kế, trong đó có mục thay thế hoặc tháo bỏ giá nóc của ô tô con.“Điều này có nghĩa chủ xe chỉ được miễn khâu lập hồ sơ thiết kế (bản vẽ và thuyết minh) nhưng vẫn phải lập hồ sơ cải tạo. Điều này có nghĩa là chủ xe không được tự do lắp thêm giá trên nóc xe”, ông Lực nói.Còn theo Thông tư 2/2023/TT-BGTVT sửa đổi Thông tư 16/2021/TT-BGTVT thì xe lắp thêm cản trước, cản sau và giá nóc sẽ bị từ chối đăng kiểm khi giá để hàng, khoang hành lý rơi vào tình trạng không đầy đủ, lắp đặt không chắc chắn, nứt, gãy; không đúng theo thiết kế của nhà sản xuất; không đúng quy cách, không chia khoang theo quy định.Giải thích thêm nội dung này, một giám đốc một Trung tâm đăng kiểm trên địa bàn TP Hà Nội cho biết, theo quy định, khi ô tô lắp thêm giá ở nóc xe mà không có hồ sơ cải tạo, thay đổi kết cấu là không được đăng kiểm.\"Hồ sơ cải tạo gồm có văn bản đề nghị của người dân gửi đến trung tâm đăng kiểm, sau đó trung tâm căn cứ hành lang pháp lý, kiểm tra trực tiếp nếu việc lắp thêm giá trên nóc xe đảm bảo thì trung tâm sẽ cấp giấy cải tạo.Việc lắp đặt giá trên nóc phải căn cứ vào hướng dẫn của nhà sản xuất, không thay đổi chiều rộng của xe. Điều này được thể hiện trong sổ tay hướng dẫn và thông số kỹ thuật của nhà sản xuất đưa ra\", vị này nói.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Tự ý lắp giá trên nóc có bị xử phạt?Trước câu hỏi có được lắp đặt cốp hành lý trên nóc xe ô tô có được hay không, Bộ Công an cho biết, Điểm a Khoản 9 Điều 30 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 123/2021/NĐ-CP) đã có quy định.Theo đó, phạt tiền từ 6-8 triệu đồng đối với cá nhân; phạt tiền từ 12-16 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô thực hiện hành vi \"tự ý cải tạo kết cấu, hình dáng, kích thước của xe không đúng thiết kế của nhà sản xuất hoặc thiết kế trong hồ sơ đã nộp cho cơ quan đăng ký xe hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt\".Đồng thời áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường và tem kiểm định của phương tiện từ 1-3 tháng.Còn luật sư Quách Thành Lực cho biết, đối với chở đồ trên nóc xe con, Nghị định 100/2019 quy định việc chở hành lý hoặc hàng hóa vượt quá kích thước bao ngoài của xe là vi phạm (chiều dài, chiều rộng), mức phạt tiền từ 800 nghìn đến 1 triệu đồng.\"Đối với chiều cao hàng hóa, hiện chưa có văn bản luật nào quy định về chiều cao hàng trên nóc xe con. Tuy nhiên, nếu chở hàng quá cao, gây mất an toàn giao thông, tài xế vẫn có thể bị phạt, ví dụ vượt quá chiều cao giới hạn của gầm cầu, giá long môn... Hơn nữa, khi chở hàng quá cao sẽ ảnh hưởng tới khả năng vận hành của xe, gây mất an toàn\", ông Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực đưa ra lời khuyên, với xe con đã có sẵn giá nóc như thiết kế của nhà sản xuất, tài xế có thể chở đồ, nhưng cần giới hạn không gian trong chiều dài, rộng của xe, đồng thời không chở quá cao, chỉ nên bằng chiều cao của những chiếc valy xếp nằm. Với xe chưa có giá nóc, cần đăng ký cải tạo với cơ quan đăng kiểm.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 82,
"text": "Dịp Tết vừa qua, đi trên đường tôi thấy một số ô tô con gắn thêm giá trên nóc sau đó có chằng vali và một số hàng hóa như cành hoa đào, xe đạp gấp, đồ gia dụng...\"Xin hỏi, việc gắn thêm giá trên nóc xe ô tô có đúng quy định không và việc chở hàng cồng kềnh như vậy có bị xử phạt?\", anh Toàn hỏi.Muốn lắp thêm giá trên nóc xe ô tô, chủ xe phải lập hồ sơ cải tạo gửi đến trung tâm đăng kiểm thẩm định thì chiếc xe đó mới được đăng kiểm.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, Thông tư 43/2023 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 85/2014 của Bộ GTVT cho phép đăng kiểm 19 trường hợp cải tạo ô tô mà không cần lập hồ sơ thiết kế, trong đó có mục thay thế hoặc tháo bỏ giá nóc của ô tô con.“Điều này có nghĩa chủ xe chỉ được miễn khâu lập hồ sơ thiết kế (bản vẽ và thuyết minh) nhưng vẫn phải lập hồ sơ cải tạo. Điều này có nghĩa là chủ xe không được tự do lắp thêm giá trên nóc xe”, ông Lực nói.Còn theo Thông tư 2/2023/TT-BGTVT sửa đổi Thông tư 16/2021/TT-BGTVT thì xe lắp thêm cản trước, cản sau và giá nóc sẽ bị từ chối đăng kiểm khi giá để hàng, khoang hành lý rơi vào tình trạng không đầy đủ, lắp đặt không chắc chắn, nứt, gãy; không đúng theo thiết kế của nhà sản xuất; không đúng quy cách, không chia khoang theo quy định.Giải thích thêm nội dung này, một giám đốc một Trung tâm đăng kiểm trên địa bàn TP Hà Nội cho biết, theo quy định, khi ô tô lắp thêm giá ở nóc xe mà không có hồ sơ cải tạo, thay đổi kết cấu là không được đăng kiểm.\"Hồ sơ cải tạo gồm có văn bản đề nghị của người dân gửi đến trung tâm đăng kiểm, sau đó trung tâm căn cứ hành lang pháp lý, kiểm tra trực tiếp nếu việc lắp thêm giá trên nóc xe đảm bảo thì trung tâm sẽ cấp giấy cải tạo.Việc lắp đặt giá trên nóc phải căn cứ vào hướng dẫn của nhà sản xuất, không thay đổi chiều rộng của xe. Điều này được thể hiện trong sổ tay hướng dẫn và thông số kỹ thuật của nhà sản xuất đưa ra\", vị này nói.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Tự ý lắp giá trên nóc có bị xử phạt?Trước câu hỏi có được lắp đặt cốp hành lý trên nóc xe ô tô có được hay không, Bộ Công an cho biết, Điểm a Khoản 9 Điều 30 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 123/2021/NĐ-CP) đã có quy định.Theo đó, phạt tiền từ 6-8 triệu đồng đối với cá nhân; phạt tiền từ 12-16 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô thực hiện hành vi \"tự ý cải tạo kết cấu, hình dáng, kích thước của xe không đúng thiết kế của nhà sản xuất hoặc thiết kế trong hồ sơ đã nộp cho cơ quan đăng ký xe hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt\".Đồng thời áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường và tem kiểm định của phương tiện từ 1-3 tháng.Còn luật sư Quách Thành Lực cho biết, đối với chở đồ trên nóc xe con, Nghị định 100/2019 quy định việc chở hành lý hoặc hàng hóa vượt quá kích thước bao ngoài của xe là vi phạm (chiều dài, chiều rộng), mức phạt tiền từ 800 nghìn đến 1 triệu đồng.\"Đối với chiều cao hàng hóa, hiện chưa có văn bản luật nào quy định về chiều cao hàng trên nóc xe con. Tuy nhiên, nếu chở hàng quá cao, gây mất an toàn giao thông, tài xế vẫn có thể bị phạt, ví dụ vượt quá chiều cao giới hạn của gầm cầu, giá long môn... Hơn nữa, khi chở hàng quá cao sẽ ảnh hưởng tới khả năng vận hành của xe, gây mất an toàn\", ông Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực đưa ra lời khuyên, với xe con đã có sẵn giá nóc như thiết kế của nhà sản xuất, tài xế có thể chở đồ, nhưng cần giới hạn không gian trong chiều dài, rộng của xe, đồng thời không chở quá cao, chỉ nên bằng chiều cao của những chiếc valy xếp nằm. Với xe chưa có giá nóc, cần đăng ký cải tạo với cơ quan đăng kiểm."
}
],
"id": "687",
"is_impossible": false,
"question": "Gắn giá trên nóc ô tô có bị xử phạt?"
}
]
}
],
"title": "Gắn giá trên nóc ô tô có bị xử phạt?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Liên quan đến vụ nam tài xế ô tô Mazda chặn đường, vác dao quắm chém lốp xe buýt trên đường Hoàng Quốc Việt, Công an quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội cho biết, sáng 20/2, tài xế này đã ra đầu thú.Tài xế \"hổ báo\" này là Nguyễn Lê Tuấn Đức (SN 1991, trú ở phố Ga, Thường Tín, Hà Nội).Nguyễn Lê Tuấn Đức tại cơ quan công an.Cũng theo thông tin từ Công an quận Bắc Từ Liêm, đây là vụ án hủy hoại tài sản. Thiệt hại về tài sản trong vụ việc này được xác định khoảng 20 triệu đồng.Hiện, Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra quyết định tạm giữ hình sự với tài xế này và đang tiếp tục củng cố tài liệu để khởi tố về tội hủy hoại tài sản theo Điều 178 Bộ luật Hình sự.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Luận bàn về sự việc này dưới góc độ pháp lý, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, căn cứ theo khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, tổ chức sẽ bị phạt tiền từ 3-5 triệu đồng và phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu.\"Như vậy, cá nhân đập phá, chém rách lốp xe ô tô của người khác thì được xem là hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 3-5 triệu đồng.Người có hành vi vi phạm còn đồng thời bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung đó là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm. Bên cạnh đó, còn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu tài sản bị đập phá\", luật sư Lực cho hay.Về trách nhiệm hình sự, theo luật sư Lực, căn cứ Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015 về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2 đến dưới 50 triệu đồng thì bị phạt tiền từ 10-50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.Người hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp như: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại điều này mà còn vi phạm; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì cũng bị áp dụng hình thức xử phạt tương tự.\"Như vậy, hành vi đập phá, chém rách lốp xe ô tô của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng thì có thể bị phạt tiền từ 10-50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm\", Giám đốc Công ty Luật Pháp trị cho hay. Tại cơ quan công an, Đức khai nhận, ngày 7/2, khi Đức đang lái ô tô trên đường Hoàng Quốc Việt thì bị xe buýt tạt đầu. Đức liền lái xe ô tô con của mình vượt lên chặn đầu, rồi cầm dao đe dọa tài xế xe buýt, chém nhiều nhát vào lốp chiếc xe này.Thời điểm Đức chém vào lốp chiếc xe, trên xe có nhiều hành khách. Cả tài xế, phụ xe và hành khách đều ngồi im trên xe và dùng điện thoại ghi lại vi phạm này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 2021,
"text": "Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại điều này mà còn vi phạm; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì cũng bị áp dụng hình thức xử phạt tương tự.\"Như vậy, hành vi đập phá, chém rách lốp xe ô tô của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng thì có thể bị phạt tiền từ 10-50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm\", Giám đốc Công ty Luật Pháp trị cho hay. Tại cơ quan công an, Đức khai nhận, ngày 7/2, khi Đức đang lái ô tô trên đường Hoàng Quốc Việt thì bị xe buýt tạt đầu. Đức liền lái xe ô tô con của mình vượt lên chặn đầu, rồi cầm dao đe dọa tài xế xe buýt, chém nhiều nhát vào lốp chiếc xe này.Thời điểm Đức chém vào lốp chiếc xe, trên xe có nhiều hành khách. Cả tài xế, phụ xe và hành khách đều ngồi im trên xe và dùng điện thoại ghi lại vi phạm này."
}
],
"id": "688",
"is_impossible": false,
"question": "Tình huống pháp lý vụ thanh niên \"hổ báo\" chém lốp xe buýt ở Hà Nội"
}
]
}
],
"title": "Tình huống pháp lý vụ thanh niên \"hổ báo\" chém lốp xe buýt ở Hà Nội"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Liên hệ tới đường dây nóng Báo Giao thông, bạn đọc Nguyễn Văn Long (Quan Sơn, Thanh Hoá) chia sẻ, thời gian vừa qua rất nhiều trường hợp bị xử phạt nồng độ cồn ở mức cao, có trường hợp vài chục triệu đồng.\"Xin hỏi với số tiền bị phạt lớn như thế thì có được nộp phạt thành nhiều lần hay không? Và có trường hợp nào được miễn giảm tiền phạt khi vi phạm nồng độ cồn hay không\", bạn Long nêu câu hỏi.Muốn được miễn, giảm tiền phạt vi phạm nồng độ cồn thì người vi phạm phải có điều kiện cần và đủ.Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, theo Luật Xử lý vi phạm hành chính 2020 có hiệu lực từ 1/1/2022, thì việc miễn, giảm áp dụng với người vi phạm luật giao thông bị phạt tiền hai triệu đồng trở lên.\"Như vậy nếu mức xử phạt khi vi phạm nồng độ cồn từ hai triệu trở lên thì người vi phạm có thể được miễn, giảm. Tuy nhiên, đây mới chỉ là điều kiện cần, ngoài ra phải đáp ứng được các điều kiện đủ khác nữa thì mới được miễn, giảm trong nộp phạt vi phạm giao thông\", luật sư Lực nói.Cũng theo Luật Xử lý vi phạm hành chính 2020, những trường hợp được miễn giảm tiền xử phạt hành chính là cá nhân gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn...Theo đó, sẽ miễn giảm một phần tiền phạt còn lại ghi trong quyết định xử phạt với cá nhân do không có khả năng thi hành quyết định nếu thuộc một trong các trường hợp:Đã được giảm một phần tiền phạt mà tiếp tục gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn; Đã nộp tiền phạt lần thứ nhất hoặc lần thứ hai trong trường hợp được nộp tiền phạt nhiều lần nhưng gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn.Người vi phạm nồng độ cồn sẽ được miễn giảm toàn bộ tiền phạt khi đã được hoãn một phần tiền phạt mà tiếp tục gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn.Luật sư Quách Thành Lực – Giám đốc Công ty luật Pháp trị (đoàn luật sư TP Hà Nội).“Để được miễn giảm tiền phạt, người vi phạm phải có đơn đề nghị giảm, miễn tiền phạt kèm theo xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (xác nhận của UBND cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc) gửi người đã ra quyết định xử phạt”, ông Lực hướng dẫn.Trong 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn, người đã ra quyết định xử phạt xem xét, quyết định việc giảm, miễn và thông báo cho người có đơn đề nghị giảm, miễn biết; nếu không đồng ý với việc giảm, miễn thì phải nêu rõ lý do.\"Luật hiện hành cấm đối với người điều khiển phương tiện sử dụng rượu, bia, chính vì thế người dân nên nghiêm chỉnh chấp hành để tránh mức phạt nặng\", luật sư Quách Thành Lực nói.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1431,
"text": "Đã được giảm một phần tiền phạt mà tiếp tục gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn; Đã nộp tiền phạt lần thứ nhất hoặc lần thứ hai trong trường hợp được nộp tiền phạt nhiều lần nhưng gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn.Người vi phạm nồng độ cồn sẽ được miễn giảm toàn bộ tiền phạt khi đã được hoãn một phần tiền phạt mà tiếp tục gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn.Luật sư Quách Thành Lực – Giám đốc Công ty luật Pháp trị (đoàn luật sư TP Hà Nội).“Để được miễn giảm tiền phạt, người vi phạm phải có đơn đề nghị giảm, miễn tiền phạt kèm theo xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (xác nhận của UBND cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc) gửi người đã ra quyết định xử phạt”, ông Lực hướng dẫn.Trong 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn, người đã ra quyết định xử phạt xem xét, quyết định việc giảm, miễn và thông báo cho người có đơn đề nghị giảm, miễn biết; nếu không đồng ý với việc giảm, miễn thì phải nêu rõ lý do.\"Luật hiện hành cấm đối với người điều khiển phương tiện sử dụng rượu, bia, chính vì thế người dân nên nghiêm chỉnh chấp hành để tránh mức phạt nặng\", luật sư Quách Thành Lực nói."
}
],
"id": "689",
"is_impossible": false,
"question": "Trường hợp nào được miễn, giảm tiền phạt vi phạm nồng độ cồn?"
}
]
}
],
"title": "Trường hợp nào được miễn, giảm tiền phạt vi phạm nồng độ cồn?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Công trình xây dựng khẩn cấp được xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo nhằm kịp thời phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 130 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 48 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14. Ảnh minh họa. Địa phương của ông Nguyễn Hưng (Bình Dương) đang thực hiện dự án xây dựng khẩn cấp công trình giao thông. Ông Hưng hỏi, \"xây dựng khẩn cấp công trình\" và \"xây dựng công trình khẩn cấp\" theo quy định tại Khoản 48 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 có giống nhau không? Tại Điều 16 Nghị định số 78/2021/NĐ-CP ngày 1/8/2021 của Chính phủ về thành lập và quản lý Quỹ phòng, chống thiên tai có nêu: \"b) Cứu trợ, hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai: Cứu trợ khẩn cấp về lương thực, nước uống, thuốc chữa bệnh, sách vở, phương tiện học tập và các nhu cầu cấp thiết khác cho đối tượng bị thiệt hại do thiên tai; hỗ trợ tu sửa nhà ở, cơ sở y tế, trường học, xử lý vệ sinh môi trường vùng thiên tai, tu sửa nhà kết hợp làm địa điểm sơ tán phòng tránh thiên tai; hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai; tháo bỏ hạng mục, vật cản gây nguy cơ rủi ro thiên tai; hỗ trợ xử lý đảm bảo giao thông thông suốt cho những đoạn tuyến giao thông đường bộ, đường sắt quan trọng trên địa bàn bị sụt trượt, sạt lở; hỗ trợ kinh phí tu sửa, xử lý và xây dựng khẩn cấp công trình phòng, chống thiên tai tối đa không quá 03 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư 01 công trình\". Tại Khoản 48 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng quy định: \"48. Sửa đổi, bổ sung Điều 130 như sau: \"Điều 130. Xây dựng công trình khẩn cấp 1. Công trình xây dựng khẩn cấp gồm: a) Công trình được xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo nhằm kịp thời phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, các nhiệm vụ cấp bách để bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại theo quyết định của cấp có thẩm quyền. b) Công trình được xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo phải thực hiện nhanh để kịp thời đáp ứng yêu cầu giải quyết các vấn đề bức thiết về bảo đảm an ninh năng lượng, nguồn nước, ứng phó sự cố môi trường, phát triển hệ thống công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ\"\". Ông Hưng hỏi, việc \"tu sửa, xử lý và xây dựng khẩn cấp công trình phòng, chống thiên tai theo Điều 16 Nghị định số 78/2021/NĐ-CP có thuộc trường hợp được quy định Khoản 48 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 hay không? Trình tự thực hiện có theo Điều 58 quản lý đầu tư xây dựng công trình xây dựng khẩn cấp của Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Công trình xây dựng khẩn cấp được xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo nhằm kịp thời phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 130 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 48 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14. Trình tự thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình khẩn cấp thực hiện theo quy định tại Điều 58 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Ông căn cứ các quy định nêu trên và quy định tại pháp luật khác có liên quan để tổ chức thực hiện bảo đảm đúng quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 679,
"text": "\"b) Cứu trợ, hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai: Cứu trợ khẩn cấp về lương thực, nước uống, thuốc chữa bệnh, sách vở, phương tiện học tập và các nhu cầu cấp thiết khác cho đối tượng bị thiệt hại do thiên tai; hỗ trợ tu sửa nhà ở, cơ sở y tế, trường học, xử lý vệ sinh môi trường vùng thiên tai, tu sửa nhà kết hợp làm địa điểm sơ tán phòng tránh thiên tai; hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai; tháo bỏ hạng mục, vật cản gây nguy cơ rủi ro thiên tai; hỗ trợ xử lý đảm bảo giao thông thông suốt cho những đoạn tuyến giao thông đường bộ, đường sắt quan trọng trên địa bàn bị sụt trượt, sạt lở; hỗ trợ kinh phí tu sửa, xử lý và xây dựng khẩn cấp công trình phòng, chống thiên tai tối đa không quá 03 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư 01 công trình\". Tại Khoản 48 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng quy định: \"48. Sửa đổi, bổ sung Điều 130 như sau: \"Điều 130. Xây dựng công trình khẩn cấp 1. Công trình xây dựng khẩn cấp gồm: a) Công trình được xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo nhằm kịp thời phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, các nhiệm vụ cấp bách để bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại theo quyết định của cấp có thẩm quyền. b) Công trình được xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo phải thực hiện nhanh để kịp thời đáp ứng yêu cầu giải quyết các vấn đề bức thiết về bảo đảm an ninh năng lượng, nguồn nước, ứng phó sự cố môi trường, phát triển hệ thống công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ\"\". Ông Hưng hỏi, việc \"tu sửa, xử lý và xây dựng khẩn cấp công trình phòng, chống thiên tai theo Điều 16 Nghị định số 78/2021/NĐ-CP có thuộc trường hợp được quy định Khoản 48 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 hay không? Trình tự thực hiện có theo Điều 58 quản lý đầu tư xây dựng công trình xây dựng khẩn cấp của Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ hay không? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Công trình xây dựng khẩn cấp được xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo nhằm kịp thời phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 130 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 48 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14. Trình tự thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình khẩn cấp thực hiện theo quy định tại Điều 58 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Ông căn cứ các quy định nêu trên và quy định tại pháp luật khác có liên quan để tổ chức thực hiện bảo đảm đúng quy định."
}
],
"id": "690",
"is_impossible": false,
"question": "Thế nào là công trình xây dựng khẩn cấp?"
}
]
}
],
"title": "Thế nào là công trình xây dựng khẩn cấp?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Bạn Nguyễn Văn Thắng (Cầu Giấy, TP Hà Nội) hỏi, trong thời gian nghỉ tết Nguyên đán, nếu đánh bài ăn thua bằng tiền mệnh giá nhỏ vài chục nghìn đồng hoặc nhiều hơn thì có vi phạm pháp luật hay không? Nếu vi phạm thì bị xử lý thế nào?Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, đánh bài là một hình thức giải trí phổ biến của người Việt Nam, tuy nhiên hoạt động này có vi phạm pháp luật hay không cần xem xét nhiều phương diện.\"Căn cứ theo quy định tại Nghị định 144/2021/NĐ-CP, nếu chơi đánh bài giải trí nhưng lại có tính chất được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5 triệu đồng trở xuống thì sẽ bị xử lý hành chính\", ông Lực nói.Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, đánh bài ăn tiền ngày Tết có thể bị xử phạt hành chính hoặc hình sự (ảnh minh họa).Cụ thể, theo Nghị định này, phạt tiền 1-2 triệu đồng đối với hành vi đánh bạc bằng hình thức như xóc đĩa, tá lả, tú lơ khơ, cào ba lá, tứ sắc, tiến lên… hoặc hình thức khác với mục đích thắng thua bằng tiền, tài sản, hiện vật.Phạt tiền 2-5 triệu đồng với hành vi như nhận gửi tiền, cầm đồ, cho vay tại nơi đánh bạc, giúp sức che giấu việc đánh bạc trái phép.Phạt tiền 5-10 triệu đồng đối với hành vi rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác đánh bạc trái phép, dùng nhà, chỗ ở, phương tiện hoặc địa điểm khác để chứa bạc.Luật sư Quách Thành Lực – Giám đốc Công ty luật Phát Trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Ngoài ra, luật sư Quách Thành Lực cho biết, nếu đánh bài mà hội đủ cấu thành tội phạm đối với tội Đánh bạc thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự, theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.\"Nếu người dân đánh bài vài chục nghìn đồng/lượt thắng thua nhưng trên người có tiền và hiện vật có giá trị lên đến 5 triệu đồng; đồng thời, cơ quan điều tra xác nhận là tiền và hiện vật đó được dùng để thực hiện hành vi đánh bạc thì người dân hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự\", luật sư Lực cho biết.Cụ thể, người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 5 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này, chưa được xóa án tích còn vi phạm thì bị phạt tiền 20-100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm, phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.Phạm tội thuộc một trong những trường hợp có tính chất chuyên nghiệp, tiền, hiện vật có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên, có thể bị xử lý hình sự với hình phạt cao nhất lên đến 7 năm tù. Người phạm tội còn có thể bị phạt 10-50 triệu đồng.\"Như vậy, nếu đánh bài chỉ với mục đích giải trí thuần túy thì sẽ không vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, nếu đánh bài mà có cá cược, có mục đích ăn tiền và có dấu hiệu của hành vi đánh bạc trái phép thì có thể bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy mức độ nghiêm trọng của hành vi\", ông Lực nói và đưa ra lời khuyên, người dân tuyệt đối không chơi bài ăn tiền dưới mọi hình thức để tránh gặp rắc rối về pháp lý.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Bạn Nguyễn Văn Thắng (Cầu Giấy, TP Hà Nội) hỏi, trong thời gian nghỉ tết Nguyên đán, nếu đánh bài ăn thua bằng tiền mệnh giá nhỏ vài chục nghìn đồng hoặc nhiều hơn thì có vi phạm pháp luật hay không? Nếu vi phạm thì bị xử lý thế nào?Trả lời nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, đánh bài là một hình thức giải trí phổ biến của người Việt Nam, tuy nhiên hoạt động này có vi phạm pháp luật hay không cần xem xét nhiều phương diện.\"Căn cứ theo quy định tại Nghị định 144/2021/NĐ-CP, nếu chơi đánh bài giải trí nhưng lại có tính chất được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5 triệu đồng trở xuống thì sẽ bị xử lý hành chính\", ông Lực nói.Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, đánh bài ăn tiền ngày Tết có thể bị xử phạt hành chính hoặc hình sự (ảnh minh họa).Cụ thể, theo Nghị định này, phạt tiền 1-2 triệu đồng đối với hành vi đánh bạc bằng hình thức như xóc đĩa, tá lả, tú lơ khơ, cào ba lá, tứ sắc, tiến lên… hoặc hình thức khác với mục đích thắng thua bằng tiền, tài sản, hiện vật.Phạt tiền 2-5 triệu đồng với hành vi như nhận gửi tiền, cầm đồ, cho vay tại nơi đánh bạc, giúp sức che giấu việc đánh bạc trái phép.Phạt tiền 5-10 triệu đồng đối với hành vi rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác đánh bạc trái phép, dùng nhà, chỗ ở, phương tiện hoặc địa điểm khác để chứa bạc.Luật sư Quách Thành Lực – Giám đốc Công ty luật Phát Trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Ngoài ra, luật sư Quách Thành Lực cho biết, nếu đánh bài mà hội đủ cấu thành tội phạm đối với tội Đánh bạc thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự, theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.\"Nếu người dân đánh bài vài chục nghìn đồng/lượt thắng thua nhưng trên người có tiền và hiện vật có giá trị lên đến 5 triệu đồng; đồng thời, cơ quan điều tra xác nhận là tiền và hiện vật đó được dùng để thực hiện hành vi đánh bạc thì người dân hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự\", luật sư Lực cho biết.Cụ thể, người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 5 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này, chưa được xóa án tích còn vi phạm thì bị phạt tiền 20-100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm, phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.Phạm tội thuộc một trong những trường hợp có tính chất chuyên nghiệp, tiền, hiện vật có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên, có thể bị xử lý hình sự với hình phạt cao nhất lên đến 7 năm tù. Người phạm tội còn có thể bị phạt 10-50 triệu đồng.\"Như vậy, nếu đánh bài chỉ với mục đích giải trí thuần túy thì sẽ không vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, nếu đánh bài mà có cá cược, có mục đích ăn tiền và có dấu hiệu của hành vi đánh bạc trái phép thì có thể bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy mức độ nghiêm trọng của hành vi\", ông Lực nói và đưa ra lời khuyên, người dân tuyệt đối không chơi bài ăn tiền dưới mọi hình thức để tránh gặp rắc rối về pháp lý."
}
],
"id": "691",
"is_impossible": false,
"question": "Dịp Tết, đánh bài vui vẻ vài chục nghìn có vi phạm pháp luật?"
}
]
}
],
"title": "Dịp Tết, đánh bài vui vẻ vài chục nghìn có vi phạm pháp luật?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Ông Danh Toàn có câu hỏi liên quan tới các điều kiện cấp phép xây dựng nhà ở riêng lẻ tại đô thị, gửi tới cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn giải đáp. Điều kiện cấp phép xây dựng nhà ở riêng lẻ tại đô thị. Nội dung câu hỏi như sau: Ông Toàn hỏi, nhà ở riêng lẻ thuộc khu vực, tuyến phố trong đô thị đã ổn định nhưng chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng, chưa có quy chế quản lý kiến trúc hoặc thiết kế đô thị thì có được xin thỏa thuận vị trí và quy hoạch tổng mặt bằng trước khi xin cấp phép xây dựng hay không? Quy trình thực hiện như thế nào? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Điều kiện cấp giấy phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ tại đô thị được quy định cụ thể tại Điều 93 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 32 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 và Khoản 12 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ. Theo đó, \"đối với nhà ở riêng lẻ thuộc khu vực, tuyến phố trong đô thị đã ổn định nhưng chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng thì phải phù hợp với quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị hoặc thiết kế đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành\". Pháp luật hiện hành về quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị không có quy định về việc thỏa thuận vị trí và quy hoạch tổng mặt bằng cho nhà ở riêng lẻ trước khi xin cấp phép xây dựng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 242,
"text": "Ông Toàn hỏi, nhà ở riêng lẻ thuộc khu vực, tuyến phố trong đô thị đã ổn định nhưng chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng, chưa có quy chế quản lý kiến trúc hoặc thiết kế đô thị thì có được xin thỏa thuận vị trí và quy hoạch tổng mặt bằng trước khi xin cấp phép xây dựng hay không? Quy trình thực hiện như thế nào? Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Điều kiện cấp giấy phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ tại đô thị được quy định cụ thể tại Điều 93 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 32 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 và Khoản 12 Điều 12 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 của Chính phủ. Theo đó, \"đối với nhà ở riêng lẻ thuộc khu vực, tuyến phố trong đô thị đã ổn định nhưng chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng thì phải phù hợp với quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị hoặc thiết kế đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành\". Pháp luật hiện hành về quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị không có quy định về việc thỏa thuận vị trí và quy hoạch tổng mặt bằng cho nhà ở riêng lẻ trước khi xin cấp phép xây dựng."
}
],
"id": "692",
"is_impossible": false,
"question": "Điều kiện cấp phép xây dựng nhà ở riêng lẻ tại đô thị"
}
]
}
],
"title": "Điều kiện cấp phép xây dựng nhà ở riêng lẻ tại đô thị"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "CSGT có quyền xử phạt giao thông trên đường làngBạn đọc Nguyễn Thế Sơn (Hiệp Hòa, Bắc Giang) hỏi, sử dụng rượu bia rồi đi chúc Tết bằng xe máy trong đường làng thì có vi phạm pháp luật giao thông không? Nếu vi phạm thì bị xử lý thế nào?Trả lời câu hỏi này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, điểm c khoản 2 Điều 6 Thông tư 32/2023/TT-BCA quy định, các tuyến đường làng/xã thuộc tuyến đường, địa bàn tuần tra, kiểm soát của công an cấp huyện. Do đó, công an cấp huyện sẽ có quyền xử lý các vi phạm về hành chính của người dân khi tham gia giao thông ở đường làng.Vi phạm pháp luật giao thông trên đường làng vẫn bị xử lý theo quy định của pháp luật.Vi phạm nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện giao thông là một trong những lỗi mà cảnh sát giao thông (CSGT) có thẩm quyền xử lý.\"Vì thế việc sử dụng rượu bia sau đó đi chúc Tết bằng xe máy ở đường làng (hoặc điều khiển phương tiện giao thông khác) như câu hỏi của bạn Sơn ở trên là vi phạm pháp luật giao thông, theo thẩm quyền thì lực lượng CSGT có quyền xử phạt\", luật sư Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực – Giám đốc Công ty luật Pháp trị (đoàn luật sư TP.HCM)Mức phạt người đi xe máy vi phạm nồng độ cồn Về mức xử phạt vi phạm nồng độ cồn với người điều khiển xe máy, luật sư Quách Thành Lực cho biết, có ba mức xử lý khác nhau.Cụ thể, phạt tiền từ 2–3 triệu đồng đối nếu trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở. Hình phạt bổ sung là tước giấy phép lái xe từ 10-12 tháng.Phạt tiền từ 4-5 triệu đồng nếu trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. Hình phạt bổ sung là tước giấy phép lái xe từ 16-18 tháng.Phạt tiền từ 6-8 triệu đồng đối nếu trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở. Hình phạt bổ sung là tước giấy phép lái xe từ 22-24 tháng.\"Lỗi vi phạm nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện giao thông đang được lực lượng CSGT tập trung cao điểm xử lý. Chính vì để tránh mất tiền, tránh bị tạm giữ phương tiện, tạm giữ bằng lái dịp đầu năm thì mọi người nên tuân thủ nghiêm quy định \"đã uống rượu, bia thì không lái xe\", luật sư Quách Thành Lực đưa ra lời khuyên.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "CSGT có quyền xử phạt giao thông trên đường làngBạn đọc Nguyễn Thế Sơn (Hiệp Hòa, Bắc Giang) hỏi, sử dụng rượu bia rồi đi chúc Tết bằng xe máy trong đường làng thì có vi phạm pháp luật giao thông không? Nếu vi phạm thì bị xử lý thế nào?Trả lời câu hỏi này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, điểm c khoản 2 Điều 6 Thông tư 32/2023/TT-BCA quy định, các tuyến đường làng/xã thuộc tuyến đường, địa bàn tuần tra, kiểm soát của công an cấp huyện. Do đó, công an cấp huyện sẽ có quyền xử lý các vi phạm về hành chính của người dân khi tham gia giao thông ở đường làng.Vi phạm pháp luật giao thông trên đường làng vẫn bị xử lý theo quy định của pháp luật.Vi phạm nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện giao thông là một trong những lỗi mà cảnh sát giao thông (CSGT) có thẩm quyền xử lý.\"Vì thế việc sử dụng rượu bia sau đó đi chúc Tết bằng xe máy ở đường làng (hoặc điều khiển phương tiện giao thông khác) như câu hỏi của bạn Sơn ở trên là vi phạm pháp luật giao thông, theo thẩm quyền thì lực lượng CSGT có quyền xử phạt\", luật sư Lực nói.Luật sư Quách Thành Lực – Giám đốc Công ty luật Pháp trị (đoàn luật sư TP.HCM)Mức phạt người đi xe máy vi phạm nồng độ cồn Về mức xử phạt vi phạm nồng độ cồn với người điều khiển xe máy, luật sư Quách Thành Lực cho biết, có ba mức xử lý khác nhau.Cụ thể, phạt tiền từ 2–3 triệu đồng đối nếu trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở. Hình phạt bổ sung là tước giấy phép lái xe từ 10-12 tháng.Phạt tiền từ 4-5 triệu đồng nếu trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. Hình phạt bổ sung là tước giấy phép lái xe từ 16-18 tháng.Phạt tiền từ 6-8 triệu đồng đối nếu trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở. Hình phạt bổ sung là tước giấy phép lái xe từ 22-24 tháng.\"Lỗi vi phạm nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện giao thông đang được lực lượng CSGT tập trung cao điểm xử lý. Chính vì để tránh mất tiền, tránh bị tạm giữ phương tiện, tạm giữ bằng lái dịp đầu năm thì mọi người nên tuân thủ nghiêm quy định \"đã uống rượu, bia thì không lái xe\", luật sư Quách Thành Lực đưa ra lời khuyên."
}
],
"id": "693",
"is_impossible": false,
"question": "Uống rượu, bia rồi đi chúc Tết trong đường làng có bị xử phạt?"
}
]
}
],
"title": "Uống rượu, bia rồi đi chúc Tết trong đường làng có bị xử phạt?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Gửi câu hỏi đến đường dây nóng Báo Giao thông, bạn Phan Thị Ngọc Ánh (Đông Anh, TP Hà Nội) chia sẻ: \"Tôi đón một xe khách chạy tuyến Hà Nội - Nghệ An để về quê. Trước khi di chuyển, nhà xe thu của tôi hơn 400 nghìn đồng nhưng không giao vé\".\"Như vậy, hành vi không giao vé xe cho hành khách của nhà xe này có vi phạm gì? Nếu có, nhà xe bị xử phạt như thế nào?\", bạn Ngọc Ánh hỏi.Ảnh minh họa.Về nội dung này, đại diện Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an cho biết, theo khoản 15 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, nghiêm cấm hành vi đe dọa, xúc phạm, tranh giành, lôi kéo hành khách; bắt ép hành khách sử dụng dịch vụ ngoài ý muốn; chuyển tải, xuống khách hoặc các hành vi khác nhằm trốn tránh phát hiện xe chở quá tải, quá số người quy định.Bên cạnh đó, điểm c khoản 2 Điều 69 của Luật này quy định người kinh doanh vận tải hành khách có các nghĩa vụ giao vé, chứng từ thu cước, phí vận tải cho hành khách.Như vậy, người kinh doanh vận tải hành khách buộc phải giao vé cho khách và không được sang nhượng khách dọc đường. Nếu vi phạm, họ sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP.Cụ thể, phạt tiền từ 600-800 nghìn đồng đối với hành vi điều khiển xe kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định thu tiền vé nhưng không trả vé cho hành khách, thu tiền vé cao hơn quy định. Trong trường hợp thu tiền vé cao hơn quy định thì buộc phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính.Phạt tiền từ 1-2 triệu đồng đối với người điều khiển xe sang nhượng hành khách dọc đường cho xe khác mà không được hành khách đồng ý; đe dọa, xúc phạm, tranh giành, lôi kéo hành khách; bắt ép hành khách sử dụng dịch vụ ngoài ý muốn. Ngoài ra, người vi phạm còn bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 1 - 3 tháng, theo quy định tại điểm a khoản 8 Điều 23 Nghị định 100/2019/NĐ-CP.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 100,
"text": "\"Tôi đón một xe khách chạy tuyến Hà Nội - Nghệ An để về quê. Trước khi di chuyển, nhà xe thu của tôi hơn 400 nghìn đồng nhưng không giao vé\".\"Như vậy, hành vi không giao vé xe cho hành khách của nhà xe này có vi phạm gì? Nếu có, nhà xe bị xử phạt như thế nào?\", bạn Ngọc Ánh hỏi.Ảnh minh họa.Về nội dung này, đại diện Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an cho biết, theo khoản 15 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, nghiêm cấm hành vi đe dọa, xúc phạm, tranh giành, lôi kéo hành khách; bắt ép hành khách sử dụng dịch vụ ngoài ý muốn; chuyển tải, xuống khách hoặc các hành vi khác nhằm trốn tránh phát hiện xe chở quá tải, quá số người quy định.Bên cạnh đó, điểm c khoản 2 Điều 69 của Luật này quy định người kinh doanh vận tải hành khách có các nghĩa vụ giao vé, chứng từ thu cước, phí vận tải cho hành khách.Như vậy, người kinh doanh vận tải hành khách buộc phải giao vé cho khách và không được sang nhượng khách dọc đường. Nếu vi phạm, họ sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP.Cụ thể, phạt tiền từ 600-800 nghìn đồng đối với hành vi điều khiển xe kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định thu tiền vé nhưng không trả vé cho hành khách, thu tiền vé cao hơn quy định. Trong trường hợp thu tiền vé cao hơn quy định thì buộc phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính.Phạt tiền từ 1-2 triệu đồng đối với người điều khiển xe sang nhượng hành khách dọc đường cho xe khác mà không được hành khách đồng ý; đe dọa, xúc phạm, tranh giành, lôi kéo hành khách; bắt ép hành khách sử dụng dịch vụ ngoài ý muốn. Ngoài ra, người vi phạm còn bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 1 - 3 tháng, theo quy định tại điểm a khoản 8 Điều 23 Nghị định 100/2019/NĐ-CP."
}
],
"id": "694",
"is_impossible": false,
"question": "Nhà xe thu tiền nhưng không giao vé cho khách có bị xử phạt?"
}
]
}
],
"title": "Nhà xe thu tiền nhưng không giao vé cho khách có bị xử phạt?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Gửi thông tin tới Báo Giao thông, bạn Lưu Ngọc An (Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa) chia sẻ, dịp tết Nguyên đán, đã mượn xe ô tô của một người bạn để chở gia đình du xuân. \"Trên đường đi, tôi lo ngại sẽ bị lực lượng cảnh sát giao thông kiểm tra các loại giấy tờ. Xin hỏi, tôi điều khiển xe mà giấy đăng ký xe ghi tên người khác, liệu tôi có bị xử phạt?\", bạn An hỏi.Lực lượng chức năng chỉ xử lý hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (ảnh minh họa).Về nội dung này, đơn vị chức năng của Cục Cảnh sát giao thông cho biết, trong trường hợp thông thường, người điều khiển xe đứng tên người khác tham gia giao thông mà xuất trình được đầy đủ giấy tờ theo quy định thì sẽ không bị xử phạt.Cụ thể, các giấy tờ hợp lệ gồm: Giấy đăng ký xe; Giấy phép lái xe; Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (đối với ô tô)...Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 6 Thông tư 58/2020/TT-BCA ngày 16/6/2020 của Bộ Công an, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày làm giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe, tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng, được phân bổ, thừa kế xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục cấp đăng ký, biển số. Nếu không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong giấy đăng ký xe sang tên của mình) trong thời hạn 30 ngày, chủ xe sẽ bị phạt.Cụ thể, đối với xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô: Phạt tiền từ 400- 600 nghìn đồng đối với cá nhân, từ 800 nghìn đồng đến 1,2 triệu đồng đối với tổ chức (theo điểm a khoản 4 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP).Đối với xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô: Phạt tiền từ 2-4 triệu đồng với cá nhân, từ 4-8 triệu đồng với tổ chức (theo điểm l khoản 7 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP).Theo khoản 10 Điều 80 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe chỉ bị xử phạt nếu bị phát hiện qua hai trường hợp: Thông qua công tác điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông; Qua công tác đăng ký xe.Như vậy, lực lượng chức năng chỉ xử lý hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe, chứ không xử phạt hành vi điều khiển xe do người khác đứng tên.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 716,
"text": "Giấy đăng ký xe; Giấy phép lái xe; Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (đối với ô tô)...Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 6 Thông tư 58/2020/TT-BCA ngày 16/6/2020 của Bộ Công an, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày làm giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe, tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng, được phân bổ, thừa kế xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục cấp đăng ký, biển số. Nếu không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong giấy đăng ký xe sang tên của mình) trong thời hạn 30 ngày, chủ xe sẽ bị phạt.Cụ thể, đối với xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô: Phạt tiền từ 400- 600 nghìn đồng đối với cá nhân, từ 800 nghìn đồng đến 1,2 triệu đồng đối với tổ chức (theo điểm a khoản 4 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP).Đối với xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô: Phạt tiền từ 2-4 triệu đồng với cá nhân, từ 4-8 triệu đồng với tổ chức (theo điểm l khoản 7 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP).Theo khoản 10 Điều 80 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe chỉ bị xử phạt nếu bị phát hiện qua hai trường hợp: Thông qua công tác điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông; Qua công tác đăng ký xe.Như vậy, lực lượng chức năng chỉ xử lý hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe, chứ không xử phạt hành vi điều khiển xe do người khác đứng tên."
}
],
"id": "695",
"is_impossible": false,
"question": "Lái xe ô tô đứng tên người khác đi du xuân có bị phạt?"
}
]
}
],
"title": "Lái xe ô tô đứng tên người khác đi du xuân có bị phạt?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Liên hệ tới đường dây nóng Báo Giao thông, anh Nguyễn Quốc Phương (Hoàng Mai, TP Hà Nội) phản ánh: Rượu, bia thường xuất hiện trong các cuộc vui, nhất là vào dịp nghỉ lễ, Tết. \"Nhiều người có thói quen ép người khác uống rượu, bia mà không lường trước được những hệ lụy. Vậy hành vi ép uống rượu, bia có bị xử lý không?\", anh Phương hỏi.Pháp luật nghiêm cấm hành vi ép người khác sử dụng rượu, bia.Trả lời câu hỏi nêu trên, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, hành vi xúi giục, ép buộc người khác uống rượu, bia là hành vi bị nghiêm cấm căn cứ theo khoản 1, Điều 5 Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia năm 2019.Nghị định 117 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế do Thủ tướng ký ban hành, có hiệu lực từ ngày 15/11/2020 (thay thế Nghị định 176/2013) có các điểm mới, quy định về việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực rượu, bia.Theo đó, tại Điều 30 quy định cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200-500 nghìn đồng đối với người từ đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi uống rượu, bia.Phạt tiền từ 0,5-1 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Uống rượu bia tại địa điểm không được uống rượu, bia (cơ sở y tế, cơ sở giáo dục trong thời gian giảng dạy, học tập, làm việc); Xúi giục, kích động, lôi kéo người khác uống bia.Phạt tiền từ 1-3 triệu đồng đối với các hành vi: Uống rượu, bia ngay trước, trong giờ làm việc, học tập và nghỉ giữa giờ làm việc, học tập; Ép buộc người khác uống rượu, bia. \"Như vậy, hành vi cố ép người khác uống rượu, bia là hành vi vi phạm pháp luật. Đồng thời, trong trường hợp làm người đó mất nhận thức và gây ra thiệt hại thì người ép buộc người khác uống rượu, bia phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại đó\", ông Bình nói.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).Tuy nhiên, việc chứng minh hành vi xúi giục, ép buộc người khác uống rượu, bia chưa có quy định cụ thể. Do đó, căn cứ để xác định có hay không hành vi ép buộc người khác uống rượu, bia là cần người làm chứng hoặc trích xuất camera, những hình ảnh, video trong bàn nhậu thì mới có khả năng xử lý trách nhiệm.\"Nếu không may, người bị ép uống rượu, bia đi đường gây tai nạn và xảy ra hậu quả nghiêm trọng, thì người ép ngoài bị xử phạt, còn đối diện với bản án lương tâm, sẽ ân hận và ám ảnh cả đời\", ông Bình cảnh báo.Luật sư Diệp Năng Bình cũng cho biết, căn cứ tại Điều 103, Điều 106, Nghị định 117/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 124/2021/NĐ-CP quy định về thẩm quyền xử phạt hành vi cố ép người khác uống rượu bia, chủ tịch UBND cấp xã, trưởng công an cấp huyện có thẩm quyền xử phạt hành chính đối với người có hành vi ép buộc người khác uống rượu, bia.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 99,
"text": "Rượu, bia thường xuất hiện trong các cuộc vui, nhất là vào dịp nghỉ lễ, Tết. \"Nhiều người có thói quen ép người khác uống rượu, bia mà không lường trước được những hệ lụy. Vậy hành vi ép uống rượu, bia có bị xử lý không?\", anh Phương hỏi.Pháp luật nghiêm cấm hành vi ép người khác sử dụng rượu, bia.Trả lời câu hỏi nêu trên, luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, hành vi xúi giục, ép buộc người khác uống rượu, bia là hành vi bị nghiêm cấm căn cứ theo khoản 1, Điều 5 Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia năm 2019.Nghị định 117 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế do Thủ tướng ký ban hành, có hiệu lực từ ngày 15/11/2020 (thay thế Nghị định 176/2013) có các điểm mới, quy định về việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực rượu, bia.Theo đó, tại Điều 30 quy định cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200-500 nghìn đồng đối với người từ đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi uống rượu, bia.Phạt tiền từ 0,5-1 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Uống rượu bia tại địa điểm không được uống rượu, bia (cơ sở y tế, cơ sở giáo dục trong thời gian giảng dạy, học tập, làm việc); Xúi giục, kích động, lôi kéo người khác uống bia.Phạt tiền từ 1-3 triệu đồng đối với các hành vi: Uống rượu, bia ngay trước, trong giờ làm việc, học tập và nghỉ giữa giờ làm việc, học tập; Ép buộc người khác uống rượu, bia. \"Như vậy, hành vi cố ép người khác uống rượu, bia là hành vi vi phạm pháp luật. Đồng thời, trong trường hợp làm người đó mất nhận thức và gây ra thiệt hại thì người ép buộc người khác uống rượu, bia phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại đó\", ông Bình nói.Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP.HCM).Tuy nhiên, việc chứng minh hành vi xúi giục, ép buộc người khác uống rượu, bia chưa có quy định cụ thể. Do đó, căn cứ để xác định có hay không hành vi ép buộc người khác uống rượu, bia là cần người làm chứng hoặc trích xuất camera, những hình ảnh, video trong bàn nhậu thì mới có khả năng xử lý trách nhiệm.\"Nếu không may, người bị ép uống rượu, bia đi đường gây tai nạn và xảy ra hậu quả nghiêm trọng, thì người ép ngoài bị xử phạt, còn đối diện với bản án lương tâm, sẽ ân hận và ám ảnh cả đời\", ông Bình cảnh báo.Luật sư Diệp Năng Bình cũng cho biết, căn cứ tại Điều 103, Điều 106, Nghị định 117/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 124/2021/NĐ-CP quy định về thẩm quyền xử phạt hành vi cố ép người khác uống rượu bia, chủ tịch UBND cấp xã, trưởng công an cấp huyện có thẩm quyền xử phạt hành chính đối với người có hành vi ép buộc người khác uống rượu, bia."
}
],
"id": "696",
"is_impossible": false,
"question": "Dịp Tết, ép người khác uống rượu bia có thể bị phạt"
}
]
}
],
"title": "Dịp Tết, ép người khác uống rượu bia có thể bị phạt"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Bạn đọc Chu Văn Hiếu (trú tỉnh Hà Tĩnh) hỏi: Trên đường lái xe ô tô chở gia đình từ TP Hà Nội về quê đón tết Nguyên đán, tôi điều khiển phương tiện chạy vượt quá tốc độ quy định khi đi qua khu vực Nghệ An - Thanh Hóa và bị lực lượng cảnh sát giao thông gửi thông báo phạt nguội.\"Vậy tôi có phải đến trực tiếp trụ sở cơ quan công an địa phương nơi phát hiện vi phạm để nộp phạt?\", người này thắc mắc.Ảnh minh họa.Trả lời bạn đọc, Cục Cảnh sát giao thông (CSGT), Bộ Công an có hướng dẫn như sau: Thông qua các phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính (hệ thống giám sát, thiết bị ghi hình, camera đo tốc độ…), đối với các trường hợp không dừng được ngay phương tiện giao thông để xử lý thì CSGT sẽ xác minh thông tin về phương tiện, chủ phương tiện và gửi thông báo vi phạm về địa phương nơi cư trú.Trước đây, một số tài xế trong quá trình di chuyển qua nhiều tỉnh, thành phố mà vi phạm giao thông, khi trở về nơi cư trú mới nhận được thông báo vi phạm, họ phải di chuyển đến cơ quan nơi phát hiện vi phạm để giải quyết vụ việc, làm mất nhiều thời gian đi lại.Hiện nay, nhằm tạo điều kiện tối đa cho người dân được thuận tiện nhờ các tiện ích do hệ thống dịch vụ công của Chính phủ và Bộ Công an cung cấp, Thông tư số 15/2022/TT-BCA đã quy định rõ các nội dung mới.Theo đó, trường hợp chủ phương tiện, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm hành chính nếu không cư trú, đóng trụ sở tại địa bàn cấp huyện nơi cơ quan công an phát hiện vi phạm hành chính đóng trụ sở, thì có thể đến công an cấp xã hoặc cấp huyện nơi người vi phạm cư trú để giải quyết, xử lý vụ việc vi phạm.Như vậy, thay vì phải mất nhiều thời gian đi lại, người dân có thể đến cơ quan công an cấp xã, cấp huyện nơi mình cư trú để giải quyết các thủ hành hành chính liên quan đến công tác xử lý vi phạm qua hình ảnh.Bên cạnh đó, người dân còn có thể thực hiện việc nộp tiền xử phạt vi phạm hành chính qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công Bộ Công an và đăng ký nhận lại giấy tờ bị tạm giữ thông qua dịch vụ bưu chính công ích. Khi sử dụng dịch vụ công, người dân chỉ cần đến trụ sở cơ quan công an lần đầu tiên để xuất trình các giấy tờ có liên quan; xem thông tin, hình ảnh, kết quả thu thập được về hành vi vi phạm và nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Các bước còn lại đều được thực hiện trên môi trường mạng và nhận lại giấy tờ tận nhà sau khi đã chấp hành quyết định xử phạt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 45,
"text": "Trên đường lái xe ô tô chở gia đình từ TP Hà Nội về quê đón tết Nguyên đán, tôi điều khiển phương tiện chạy vượt quá tốc độ quy định khi đi qua khu vực Nghệ An - Thanh Hóa và bị lực lượng cảnh sát giao thông gửi thông báo phạt nguội.\"Vậy tôi có phải đến trực tiếp trụ sở cơ quan công an địa phương nơi phát hiện vi phạm để nộp phạt?\", người này thắc mắc.Ảnh minh họa.Trả lời bạn đọc, Cục Cảnh sát giao thông (CSGT), Bộ Công an có hướng dẫn như sau: Thông qua các phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính (hệ thống giám sát, thiết bị ghi hình, camera đo tốc độ…), đối với các trường hợp không dừng được ngay phương tiện giao thông để xử lý thì CSGT sẽ xác minh thông tin về phương tiện, chủ phương tiện và gửi thông báo vi phạm về địa phương nơi cư trú.Trước đây, một số tài xế trong quá trình di chuyển qua nhiều tỉnh, thành phố mà vi phạm giao thông, khi trở về nơi cư trú mới nhận được thông báo vi phạm, họ phải di chuyển đến cơ quan nơi phát hiện vi phạm để giải quyết vụ việc, làm mất nhiều thời gian đi lại.Hiện nay, nhằm tạo điều kiện tối đa cho người dân được thuận tiện nhờ các tiện ích do hệ thống dịch vụ công của Chính phủ và Bộ Công an cung cấp, Thông tư số 15/2022/TT-BCA đã quy định rõ các nội dung mới.Theo đó, trường hợp chủ phương tiện, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm hành chính nếu không cư trú, đóng trụ sở tại địa bàn cấp huyện nơi cơ quan công an phát hiện vi phạm hành chính đóng trụ sở, thì có thể đến công an cấp xã hoặc cấp huyện nơi người vi phạm cư trú để giải quyết, xử lý vụ việc vi phạm.Như vậy, thay vì phải mất nhiều thời gian đi lại, người dân có thể đến cơ quan công an cấp xã, cấp huyện nơi mình cư trú để giải quyết các thủ hành hành chính liên quan đến công tác xử lý vi phạm qua hình ảnh.Bên cạnh đó, người dân còn có thể thực hiện việc nộp tiền xử phạt vi phạm hành chính qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công Bộ Công an và đăng ký nhận lại giấy tờ bị tạm giữ thông qua dịch vụ bưu chính công ích. Khi sử dụng dịch vụ công, người dân chỉ cần đến trụ sở cơ quan công an lần đầu tiên để xuất trình các giấy tờ có liên quan; xem thông tin, hình ảnh, kết quả thu thập được về hành vi vi phạm và nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Các bước còn lại đều được thực hiện trên môi trường mạng và nhận lại giấy tờ tận nhà sau khi đã chấp hành quyết định xử phạt."
}
],
"id": "697",
"is_impossible": false,
"question": "Bị phạt nguội khi lái xe về quê ăn Tết, tài xế nộp phạt ở đâu?"
}
]
}
],
"title": "Bị phạt nguội khi lái xe về quê ăn Tết, tài xế nộp phạt ở đâu?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Ít nhất 24 giờ sau khi sử dụng rượu biaTheo quy định xử phạt hành chính tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP), người điều khiển phương tiện giao thông tuyệt đối không được phép sử dụng rượu bia, đồ uống có cồn.Trong những ngày Tết việc nâng chén rượu, ly bia là điều khó có thể tránh khỏi. Việc uống rượu, bia sau bao lâu để lái xe không bị phạt lỗi vi phạm nồng độ cồn là câu hỏi được nhiều người quan tâm.Người dân nên điều khiển phương tiện giao thông sau ít nhất 12 giờ khi sử dụng rượu, bia.Theo các chuyên gia y tế, tốc độ đào thải cồn khỏi cơ thể phụ thuộc nhiều yếu tố, như loại bia rượu, nồng độ cồn trong bia rượu/thực phẩm, uống lúc no hay đói, tuổi tác, giới tính, di truyền, cân nặng của người uống.Có một điều chắc chắn là càng uống nhiều bia, rượu thì nồng độ cồn trong cơ thể càng cao.Ngoài ra, nồng độ cồn còn phụ thuộc vào cơ thể, tình trạng bệnh lý của từng người. Có người ăn uống từ tối hôm trước nhưng sáng hôm sau nồng độ cồn trong máu, trong hơi thở vẫn còn, nhưng có người thì không.Theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), một đơn vị uống chuẩn chứa 10g cồn tương ứng với: một chén rượu mạnh 40 độ (30ml); một ly rượu vang 13,5 độ (100ml); một vại bia hơi (330ml); hoặc 3/4 chai (lon) bia 5% (330ml).Đối với người có cơ chế chuyển hóa bình thường, sau một giờ, gan sẽ dung nạp và chuyển hóa hết một đơn vị cồn. Tuy nhiên, để hết hoàn toàn một đơn vị cồn, cơ thể còn phải mất thêm 1-2 giờ nữa.Những người có chức năng gan suy yếu hay có cơ thể chuyển hóa chậm hơn sẽ mất nhiều thời gian hơn.Theo tính toán, sau 6-12 giờ vẫn đo được nồng độ cồn trong máu, sau 12-24 giờ vẫn đo được nồng độ cồn trong khí thở, sau 36 giờ vẫn đo được trong nước tiểu và sau 72 giờ vẫn đo được khi xét nghiệm mẫu tóc.Hiện nay, cảnh sát giao thông kiểm tra nồng độ cồn dựa trên phương pháp đo bằng ống thở. Như vậy, để đảm bảo an toàn tuyệt đối, ít nhất 24 giờ sau khi uống rượu bia hoặc sử dụng thực phẩm chứa cồn bạn hãy lái xe.Vi phạm nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện giao thông sẽ bị phạt tiền, tước giấy phép lái xe và tạm giữ phương tiện.Có thể bị phạt tới 40 triệu đồng khi lái xe vi phạm nồng độ cồnĐối với những người điều khiển ôtô, xe máy, xe đạp, xe đạp điện nếu trong hơi thở cơ thể có nồng độ cồn chưa vượt quá 50 mg/100 ml máu hoặc 0,25 mg/1 lít khí thở sẽ bị phạt từ 80.000 - 8 triệu đồng. Ngoài ra, nếu vi phạm quá nặng, tài xế có thể bị tước bằng lái xe từ 10 - 12 tháng.Riêng những tài xế có nồng độ cồn vượt quá 50mg đến 80 mg/100 ml máu hoặc quá 0,25 mg - 0,4mg/1l khí thở khi điều khiển ô tô, xe máy, xe đạp, xe đạp điện 200.000 - 18 triệu đồng. Đồng thời, đối với người điều khiển ô tô, xe máy có thể chịu mức xử phạt bổ sung tước bằng lái xe từ 16 - 18 tháng.Khung hình phạt cao nhất đối với người tham gia giao thông có nồng độ cồn vượt quá 80 mg/100 ml máu hoặc vượt quá 0,4 mg/1l khí thở khi điều khiển ôtô, xe máy, xe đạp, xe đạp điện là từ 800.000 - 40 triệu đồng và chịu thêm mức xử phạt bổ sung tước bằng lái xe từ 22 - 24 tháng. Đây được xem là mức xử phạt kịch khung đối với những người tham gia giao thông có sử dụng bia rượu.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1142,
"text": "một chén rượu mạnh 40 độ (30ml); một ly rượu vang 13,5 độ (100ml); một vại bia hơi (330ml); hoặc 3/4 chai (lon) bia 5% (330ml).Đối với người có cơ chế chuyển hóa bình thường, sau một giờ, gan sẽ dung nạp và chuyển hóa hết một đơn vị cồn. Tuy nhiên, để hết hoàn toàn một đơn vị cồn, cơ thể còn phải mất thêm 1-2 giờ nữa.Những người có chức năng gan suy yếu hay có cơ thể chuyển hóa chậm hơn sẽ mất nhiều thời gian hơn.Theo tính toán, sau 6-12 giờ vẫn đo được nồng độ cồn trong máu, sau 12-24 giờ vẫn đo được nồng độ cồn trong khí thở, sau 36 giờ vẫn đo được trong nước tiểu và sau 72 giờ vẫn đo được khi xét nghiệm mẫu tóc.Hiện nay, cảnh sát giao thông kiểm tra nồng độ cồn dựa trên phương pháp đo bằng ống thở. Như vậy, để đảm bảo an toàn tuyệt đối, ít nhất 24 giờ sau khi uống rượu bia hoặc sử dụng thực phẩm chứa cồn bạn hãy lái xe.Vi phạm nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện giao thông sẽ bị phạt tiền, tước giấy phép lái xe và tạm giữ phương tiện.Có thể bị phạt tới 40 triệu đồng khi lái xe vi phạm nồng độ cồnĐối với những người điều khiển ôtô, xe máy, xe đạp, xe đạp điện nếu trong hơi thở cơ thể có nồng độ cồn chưa vượt quá 50 mg/100 ml máu hoặc 0,25 mg/1 lít khí thở sẽ bị phạt từ 80.000 - 8 triệu đồng. Ngoài ra, nếu vi phạm quá nặng, tài xế có thể bị tước bằng lái xe từ 10 - 12 tháng.Riêng những tài xế có nồng độ cồn vượt quá 50mg đến 80 mg/100 ml máu hoặc quá 0,25 mg - 0,4mg/1l khí thở khi điều khiển ô tô, xe máy, xe đạp, xe đạp điện 200.000 - 18 triệu đồng. Đồng thời, đối với người điều khiển ô tô, xe máy có thể chịu mức xử phạt bổ sung tước bằng lái xe từ 16 - 18 tháng.Khung hình phạt cao nhất đối với người tham gia giao thông có nồng độ cồn vượt quá 80 mg/100 ml máu hoặc vượt quá 0,4 mg/1l khí thở khi điều khiển ôtô, xe máy, xe đạp, xe đạp điện là từ 800.000 - 40 triệu đồng và chịu thêm mức xử phạt bổ sung tước bằng lái xe từ 22 - 24 tháng. Đây được xem là mức xử phạt kịch khung đối với những người tham gia giao thông có sử dụng bia rượu."
}
],
"id": "698",
"is_impossible": false,
"question": "Uống rượu, bia sau bao lâu thì lái xe không bị xử phạt nồng độ cồn?"
}
]
}
],
"title": "Uống rượu, bia sau bao lâu thì lái xe không bị xử phạt nồng độ cồn?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "Liên hệ tới đường dây nóng Báo Giao thông, bạn Lê Tường Vy (Bắc Ninh) hỏi: Trường hợp người điều khiển phương tiện vi phạm pháp luật giao thông, bị cảnh sát giao thông (CSGT) thu giữ giấy tờ xe và giấy phép lái xe nhưng không lập biên bản việc thu giữ thì có đúng luật không?\"Nếu CSGT thu giữ giấy tờ của người vi phạm giao thông mà không lập biên bản, thì người vi phạm có thể khiếu nại như thế nào?\", bạn Vy hỏi.Khi lực lượng chức năng tạm giữ giấy tờ liên quan của người vi phạm giao thông thì phải lập biên bản.Về nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, khoản 2 điều 82, Nghị định 100/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính giao thông đường bộ, đường sắt quy định: Tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc để xác minh tình tiết làm căn cứ ra quyết định xử phạt.Tuy nhiên, theo Khoản 9 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính: Mọi trường hợp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề phải được lập thành biên bản.Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, tình trạng của tang vật, phương tiện bị tạm giữ và phải có chữ ký của người ra quyết định tạm giữ, người vi phạm.Trường hợp không xác định được người vi phạm, người vi phạm vắng mặt hoặc không ký thì biên bản phải có chữ ký của hai người làm chứng.Biên bản phải được lập thành hai bản, người có thẩm quyền tạm giữ giữ một bản, người vi phạm giữ một bản.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Như vậy, lực lượng CSGT tạm giữ những giấy tờ liên quan của người vi phạm thì bắt buộc phải lập biên bản tạm giữ giấy tờ theo các quy định như trên. Trường hợp tạm giữ giấy tờ của người vi phạm giao thông mà không lập biên bản tạm giữ là trái luật.Trong trường hợp này, để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, người bị tạm giữ giấy tờ được quyền khiếu nại hành vi hành chính của CSGT đó. Theo khoản 1 điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011: Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.\"Như vậy, nếu có trường hợp tạm giữ giấy tờ mà không lập biên bản, bạn có thể khiếu nại trực tiếp đến đồng chí CSGT có hành vi đó. Nếu bạn không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn mà khiếu nại không được giải quyết thì bạn có thể khiếu nại lên thủ trưởng cấp trên trực tiếp của đồng chí CSGT đó hoặc khởi kiện hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính\", luật sư Lực cho hay.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 75,
"text": "Trường hợp người điều khiển phương tiện vi phạm pháp luật giao thông, bị cảnh sát giao thông (CSGT) thu giữ giấy tờ xe và giấy phép lái xe nhưng không lập biên bản việc thu giữ thì có đúng luật không?\"Nếu CSGT thu giữ giấy tờ của người vi phạm giao thông mà không lập biên bản, thì người vi phạm có thể khiếu nại như thế nào?\", bạn Vy hỏi.Khi lực lượng chức năng tạm giữ giấy tờ liên quan của người vi phạm giao thông thì phải lập biên bản.Về nội dung này, luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, khoản 2 điều 82, Nghị định 100/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính giao thông đường bộ, đường sắt quy định: Tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc để xác minh tình tiết làm căn cứ ra quyết định xử phạt.Tuy nhiên, theo Khoản 9 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính: Mọi trường hợp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề phải được lập thành biên bản.Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, tình trạng của tang vật, phương tiện bị tạm giữ và phải có chữ ký của người ra quyết định tạm giữ, người vi phạm.Trường hợp không xác định được người vi phạm, người vi phạm vắng mặt hoặc không ký thì biên bản phải có chữ ký của hai người làm chứng.Biên bản phải được lập thành hai bản, người có thẩm quyền tạm giữ giữ một bản, người vi phạm giữ một bản.Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).Như vậy, lực lượng CSGT tạm giữ những giấy tờ liên quan của người vi phạm thì bắt buộc phải lập biên bản tạm giữ giấy tờ theo các quy định như trên. Trường hợp tạm giữ giấy tờ của người vi phạm giao thông mà không lập biên bản tạm giữ là trái luật.Trong trường hợp này, để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, người bị tạm giữ giấy tờ được quyền khiếu nại hành vi hành chính của CSGT đó. Theo khoản 1 điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011: Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.\"Như vậy, nếu có trường hợp tạm giữ giấy tờ mà không lập biên bản, bạn có thể khiếu nại trực tiếp đến đồng chí CSGT có hành vi đó. Nếu bạn không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn mà khiếu nại không được giải quyết thì bạn có thể khiếu nại lên thủ trưởng cấp trên trực tiếp của đồng chí CSGT đó hoặc khởi kiện hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính\", luật sư Lực cho hay."
}
],
"id": "699",
"is_impossible": false,
"question": "Làm gì khi CSGT tạm giữ giấy tờ xe mà không lập biên bản?"
}
]
}
],
"title": "Làm gì khi CSGT tạm giữ giấy tờ xe mà không lập biên bản?"
}
|
v2.0
|
{
"paragraphs": [
{
"context": "(Xây dựng) - Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu được quy định tại các Nghị định về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng và Phụ lục X Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ. Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu được quy định tại các văn bản pháp luật về quản lý chất lượng công trình và quản lý dự án đầu tư xây dựng. Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Sở Xây dựng Gia Lai đề nghị hướng dẫn xác định thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình nhà ở riêng lẻ thuộc dự án Khu phố mới Hoa Lư - Phù Đổng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Về vấn đề này, theo Bộ Xây dựng, đối tượng công trình phải được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu trong quá trình thi công và khi hoàn thành thi công xây dựng công trình, thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu được quy định tại các Nghị định về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng và Phụ lục X Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng (theo thời điểm áp dụng của các Nghị định). Thông báo của cơ quan chuyên môn về xây dựng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 72 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, được sửa đổi bổ sung tại khoản 22 Điều 11 Nghị định số 148/NĐ-CP ngày 18/12/2020 và sửa đổi bổ sung tại khoản 11 Điều 1 Nghị định số 10/2023/NĐ-CP ngày 03/4/2023 của Chính phủ và Thông báo của cơ quan chuyên môn về xây dựng cho phép chủ đầu tư nghiệm thu công trình thực hiện theo quy định hoặc thông báo của cơ quan chuyên môn về xây dựng chấp thuận kết quả nghiệm thu hoàn thành công trình đưa vào sử dụng (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015 đến nay) quy định tại các Nghị định số 46/2015/NĐ-CP, số 06/2021/NĐ-CP, số 35/2023/NĐ-CP (theo thời điểm áp dụng) đối với các công trình quy định tại mục 1 nêu trên. Đối với những công trình không thuộc đối tượng được quy định tại mục 1 nêu trên, khi thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua nhà ở, công trình xây dựng trong các dự án phát triển nhà ở thì không có các hồ sơ quy định tại mục 2 nêu trên.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "(Xây dựng) - Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu được quy định tại các Nghị định về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng và Phụ lục X Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ. Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu được quy định tại các văn bản pháp luật về quản lý chất lượng công trình và quản lý dự án đầu tư xây dựng. Bộ Xây dựng nhận được văn bản của Sở Xây dựng Gia Lai đề nghị hướng dẫn xác định thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình nhà ở riêng lẻ thuộc dự án Khu phố mới Hoa Lư - Phù Đổng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Về vấn đề này, theo Bộ Xây dựng, đối tượng công trình phải được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu trong quá trình thi công và khi hoàn thành thi công xây dựng công trình, thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu được quy định tại các Nghị định về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng và Phụ lục X Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng (theo thời điểm áp dụng của các Nghị định). Thông báo của cơ quan chuyên môn về xây dựng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 72 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, được sửa đổi bổ sung tại khoản 22 Điều 11 Nghị định số 148/NĐ-CP ngày 18/12/2020 và sửa đổi bổ sung tại khoản 11 Điều 1 Nghị định số 10/2023/NĐ-CP ngày 03/4/2023 của Chính phủ và Thông báo của cơ quan chuyên môn về xây dựng cho phép chủ đầu tư nghiệm thu công trình thực hiện theo quy định hoặc thông báo của cơ quan chuyên môn về xây dựng chấp thuận kết quả nghiệm thu hoàn thành công trình đưa vào sử dụng (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015 đến nay) quy định tại các Nghị định số 46/2015/NĐ-CP, số 06/2021/NĐ-CP, số 35/2023/NĐ-CP (theo thời điểm áp dụng) đối với các công trình quy định tại mục 1 nêu trên. Đối với những công trình không thuộc đối tượng được quy định tại mục 1 nêu trên, khi thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua nhà ở, công trình xây dựng trong các dự án phát triển nhà ở thì không có các hồ sơ quy định tại mục 2 nêu trên."
}
],
"id": "700",
"is_impossible": false,
"question": "Xác định thẩm quyền kiểm tra nghiệm thu hoàn thành công trình"
}
]
}
],
"title": "Xác định thẩm quyền kiểm tra nghiệm thu hoàn thành công trình"
}
|
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.